Cập nhật mới

Đô Thị  Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả

Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 120


<b>Chương 120</b>

<b>Miễn tiếp khách</b>

Cõi mộng hư vô.

Trong vương quốc của Anubis, các kim tự tháp và đền thờ vẫn đứng vững, ánh sáng của thiên hà vắt ngang qua giấc mơ gần đây vô cùng rực rỡ, các tà thần nghi ngờ đây chính là dấu vết còn sót lại của ngọn lửa ánh sáng của Tonatiuh, không tiêu hóa được thì chỉ có thể lóe sáng như thế chứ sao?

Sau khi trải qua trận chiến trăng máu, mọi người đều biết thiên hà này không phải là vật trang trí vô dụng của giấc mơ mà rất có thể là hóa thân của Anubis. Tương ứng với thiên hà trên bầu trời đêm là dòng sông Nile phía trước ngôi đền. Dòng sông tối đến mức không thể nhìn thấy đáy. Hai “dòng sông” một trên một dưới đang thong thả chảy xuôi, cái nào mới là Anubis? Chắc chỉ có Typhon mới biết.

“Yên lặng, tụi mày định làm gì?” Typhon duỗi thẳng cổ, khói lửa bừng bừng nhìn xung quanh (thật sự có lửa đang cháy).

Kỳ thật thì những tà thần tới xác nhận tình hình chủ yếu muốn hỏi hai việc. Một là tình trạng của thần Mặt trời Tonatiuh, hai là quê hương của Anubis ở đâu? Mục đích quan tâm đến vết thương của Tonatiuh là để xác nhận xem sắp tới có thể ngủ yên trong bao lâu. Về điểm thứ hai thì tình hình phức tạp hơn.

Đa số tà thần đều có ác ý với “kẻ ngoại lai”. Mặc dù có vô số giọt nước giàu năng lượng trong hang động trái đất rộng lớn, tà thần có thể tăng sức mạnh của mình bằng cách tìm một vị trí tốt và nằm ở đó, nhưng nhà của mình là nhà của mình, nếu nghe tin có kẻ ngoại lai không quen biết đang ăn chực ở đây, tất nhiên là ai cũng vô cùng chán ghét. Đây không phải là đặc điểm của riêng trái đất, mà mọi “ốc đảo” trong vũ trụ đều như vậy. Anubis âm thầm ẩn náu nhiều năm, còn ngụy trang hoàn hảo như vậy chính là để tránh những rắc rối này.

Giờ đây, cái gì phải đến cũng đã đến.

“Không có Anubis thì bây giờ tụi mày đang bị thần Mặt trời làm thịt rồi.” Typhon tức giận nói.

Lời Typhon nói só sức đe dọa với thần mới, nhưng với thần cổ xưa không ăn thua cho lắm. Trong lòng họ vẫn còn chút bất mãn vì bị lừa dối.

“Anubis, mày chỉ biết trốn đằng sau Typhon thế này hả?”

Dòng sông trong giấc mơ kim tự tháp vẫn tĩnh lặng.

Typhon ngẩng cao đầu, còn mấy cái đầu ở hai bên thì cúi xuống, lẻn đến gần mấy đồng minh đang có sắc mặt xấu xí của mình.

“Fenrir, Anubis không có ác ý với chúng ta hay hành tinh này, nó chỉ tình cờ khám phá ra trái đất thôi.”

“Behemoth, tao đã nói Anubis có một bí mật… bí mật này có thể giúp chúng ta đánh bại Tonatiuh, tao không nói dối, à, có lẽ bí mật đó lớn hơn một chút.”

Typhon vừa cố gắng lôi kéo các đồng minh đang không vui, vừa la lối với các tà thần khác.

“Anubis đã đánh đuổi Tonatiuh, nếu nó thực sự có ý đồ xấu thì đã nuốt chửng nhiều đồng loại từ hồi mới tới trái đất, nhưng nó không làm vậy, nếu hôm nay tụi mày đòi đuổi nó đi cũng phải tự hỏi liệu mình có đủ khả năng hay không.”

Quả thực, có một Typhon chặn ở đây thì 1/3 số thần cổ xưa đều có vấn đề về lập trường rồi. Giả sử mà ra tay đánh thật thì…

“Đúng rồi, bên tao còn có Gymir.” Typhon ưỡn ngực lên, đe dọa các vị thần.

Lại tăng thêm một lá bài tẩy, các thần cổ xưa bắt đầu lưỡng lự. Vì Gymir mới vừa giúp Typhon đánh Tonatiuh xong. Mặc dù Gymir luôn không thích qua lại với đồng loại, nhưng gần đây Gymir hành xử bất thường vô cùng, ngay cả bản thể còn chạy ra hoạt động, rất khó xác định lập trường của hắn. Các tà thần vẫn không thích rời khỏi hang ổ của mình, bởi tư thế khi nằm xuống ban đầu cũng là trạng thái tốt nhất, chỉ cần cử động một chút, những giọt nước trong hang động đã đông đặc trên “bề mặt” cơ thể sẽ chảy đi mất, tính ra là tổn thất hết sức mạnh tích lũy hàng chục năm, thậm chí hàng trăm năm, vậy nên họ mới chọn đến gây sự trong cõi mộng.

Đây cũng là lý do tại sao Typhon lại kiêu ngạo như vậy. Nếu đổi lại là trong hiện thực, Typhon sẽ không nói gì nhiều, mà sẽ đưa Anubis đi, chạy trước rồi tính sau, cũng chưa nói là sẽ không quay lại! He he, đám đồng loại tới gây rối có giỏi thì canh chừng ở Ai Cập, canh giữ cửa hang ổ của Anubis mãi mãi đi! Vậy cũng không sợ, Typhon có bản đồ chi tiết của cả hành tinh này, chỉ tìm tổ mới cho Anubis thôi phải không? Không thành vấn đề, quá đơn giản. Một khi hang ổ này bị phát hiện thì lại chạy trốn! Liệu các tà thần có từ bỏ giấc ngủ, không ngừng tìm kiếm kẻ ngoại lai không? Chắc chắn là không.

Typhon đắc thắng nghĩ, nên gã đã thắng ngay từ đầu rồi mà. Có điều là đồng minh thì vẫn phải dỗ dành, phải xin lỗi thì xin lỗi, phải nịnh nọt thì nịnh nọt. Còn cả loại cần lôi kéo nữa…

Typhon lại nghĩ tới Gymir, gã chia ra một hóa thân đi tìm Gymir, lấy việc giúp sửa chữa cung điện nham thạch làm điều kiện, lôi kéo Johnson và Gymir đứng về phía mình, cố gắng biến những lời bịa đặt của mình thành sự thật.

***

Vị trí của đảo Cát Lún là một bí ẩn lớn đối với nhân loại. Ngay cả khi nước Mỹ sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, còn thông báo cho các quốc gia khác, đưa ra những lời hứa suông, bán những “công nghệ” hoàn toàn không tồn tại, mô tả sự kiện huyền bí như là một nền văn minh tiền sử và người ngoài hành tinh, tập hợp đội ngũ có sức mạnh công nghệ mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ, thì vẫn không thể căn cứ theo điện đài ma quái để tìm ra vị trí đảo Chết Chóc.

Nhưng đối với tà thần thì việc này rất dễ, chỉ cần nghe âm thanh là có thể tìm thấy. Cung điện nham thạch hôm nay cũng đang chơi khúc giao hưởng tử thần. Tuy hơi lạc điệu, lại còn ngắt quãng nhưng không ảnh hưởng gì đến việc tìm kiếm.

Typhon nhanh chóng đến vùng biển ngoài đảo Cát Lún, rồi phát hiện ra một “không gian” bao bọc bên dưới hòn đảo như một rào chắn.

“…”

Typhon chớp mắt, thứ này quá quen thuộc với gã. Mỗi lần trao đổi sâu sắc với đồng minh mà không muốn bị làm phiền, gã cũng dựng lên một rào cản như vậy. Gymir còn nói không muốn cùng Johnson “thử” trong cung điện nham thạch đấy? Kết quả thì sao? Typhon bị chặn ngoài cửa, tức tới nỗi bật cười. Cung điện nham thạch sắp sập không dùng được thì trốn ở đáy biển dưới hòn đảo mà chơi hả?

“Gymir? Mau dậy đi coi!”

Tiếng gào thét ầm ầm khiến vùng cát lún khổng lồ quanh đảo rung chuyển.

Bản nhạc lạc nhịp hơn trước.

Những người canh chừng bên điện đài vô tuyến ở khắp nơi trên thế giới ghi nhận sự thay đổi bất thường này trong tâm trạng phấn chấn.

***

Hai dây leo nằm rũ rượi dưới đáy biển.

Nước ở đây sâu khoảng vài nghìn mét, tình cờ lại là nơi yên nghỉ của cá voi*. Xác cá voi không rõ danh tính này chỉ còn lại xương sườn màu trắng xám và một ít thịt, vốn dĩ có rất nhiều loài nhuyễn thể và cá biển sâu đang tụ tập ở đó, giờ những con có thể chạy đều đã trốn thoát, những con di chuyển chậm còn lại đã biến thành những hạt cát đen li ti.

<i>* Kình Lạc (hay Whale Fall) là một thuật ngữ để chỉ khi cá voi chết đi, xác của chúng chìm xuống đáy biển ở độ sâu lớn hơn 1000 mét, và khi chạm xuống đáy biển, những cái xác này trở thành thức ăn cho các sinh vật ở biển sâu trong hàng chục năm. Những xác cá voi chìm xuống sẽ thu hút nhiều sinh vật. Danh sách các sinh vật quan sát được xuất hiện ở đây bao gồm: các loài chân giống khổng lồ, các loài tôm, tôm hùm, tôm thương phẩm, giun biển, các loài cá thuộc lớp Myxinidae, họ Somniosidae, cua, hải sâm và loài giun thây ma. Các hệ sinh thái Whale Fall phân bố rải rác nhưng tập trung nhiều nhất là quanh các tuyến đường di cư của cá voi.</i>

Nước biển không ngừng rung chuyển, những bông hoa băng kết tinh rải rác khắp nơi trong nước, duyên dáng và lộng lẫy. Cá, tôm, mực và các sinh vật khác liên tục bị hoa băng “dính” lấy, đông cứng ngay lập tức. Kết quả là trong nước biển xuất hiện một loạt những khối hổ phách trong suốt, chúng vẫn giữ nguyên tư thế như khi còn sống, thậm chí màu sắc cơ thể cũng không thay đổi nhiều.

Những bông hoa băng từ từ rơi xuống, sau khi va chạm với nhau, chúng hình thành những tinh thể băng lớn hơn. Đáy biển được bao phủ bởi một lớp tinh thể băng dày, đóng băng cả những bộ xương cá voi, khiến nó trông giống như một chiếc giường tạm thời.

Có một khối vật thể không thể phân biệt được nằm giữa giường. Toàn thân nó có màu đen và đỏ, lớp màu đỏ dường như là ánh sáng phát ra từ ngọn lửa ẩn sâu bên trong. Đây là nguồn gốc tạo ra sự chấn động của nước biển.

Những dao động vô hình khiến các tinh thể băng mỏng manh lần lượt vỡ tan, “chiếc giường” này cũng vật lộn theo một chu kỳ sụp đổ, đóng băng, vỡ tan và đóng băng lại liên tục. Xương cá nhìn có vẻ đang duy trì nguyên trạng, nhưng thực chất đã được trộn lẫn với nham thạch, cá, tôm và tinh thể băng từ lâu. Bộ xương màu trắng ởn này ngày càng lớn hơn, các “xương sườn” ở hai bên không ngừng dài ra. Đó là một chiếc giường hoàn hảo biết tự động điều chỉnh vị trí và tăng diện tích.

Hai sợi dây leo mảnh mai lặng lẽ nhô ra từ khe hở giữa các xương sườn, như thể giường quá nóng, làm chủ nhân không thể không duỗi đôi chân ra. Quả thực là chúng ra ngoài để hít thở. Đầu dây leo bị cuộn lại rất chặt, nhưng cành thì chẳng có chút sức lực nào, buông thõng treo lủng lẳng dưới đáy biển. Có cành đầu tiên, thì sẽ nhanh chóng có cành thứ hai.

Hành động bỏ trốn này dường như đã bị phát hiện, biên độ dao động của nước biển đột ngột tăng mạnh hơn, không còn sự sống nào trong hàng rào chắn vây quanh vùng nước này, từ trên xuống dưới tràn ngập những âm thanh kỳ lạ quái dị, như dung nham đang sôi trào tuôn chảy, kèm theo âm thanh sắc bén của những dòng sông băng chuyển động và nứt vỡ. Tất cả những cành dây leo rũ xuống đều rụt về trong nháy mắt.

Một chiếc xương sườn bị gãy. Ngay sau đó, những xương sườn đóng băng ban đầu bao quanh “chiến trường” cùng bị bẻ gãy. Tốc độ đóng băng không theo kịp nhu cầu phục hồi, chiếc giường bằng xương cá voi bị hư hại hoàn toàn.

Vật thể đó lăn ra.

Đoạn cuối các nhánh của quả cầu dây leo bám vào đá ngầm quái dị màu đỏ rực, như một dãy những đóa hoa nở rộ. Những nhánh dây leo quấn chặt quanh những khối đá hung dữ dị hợm nhô ra, Đá ngầm quái quỷ trông như một bộ xương hóa thạch của vô số sinh vật ghép lại với nhau, càng khiến nó trở nên quái đản và kỳ dị hơn.

Đây là khung cảnh địa ngục, là một bức tranh hủy diệt, một cảnh tượng hỗn loạn mà không một cây bút vẽ nào trên thế giới có thể sao chép được. Ngay cả khi có những con người phi thường với ý chí mạnh mẽ có thể nhìn thoáng qua dù chỉ một chút hình ảnh này, họ cũng không thể diễn tả hết nỗi kinh hoàng đó, mà chỉ có thể trở thành vật tế bằng máu và thịt.

***

Typhon lê bước nặng nề lên đảo Cát Lún. Gã nằm bò ra trên đảo, một cái đầu nhẹ nhàng đập xuống đất, những cái đầu còn lại thò xuống biển, quan sát rào chắn vững chắc kia.

“Dữ dội quá vậy?” Typhon lẩm bẩm.

Mặc dù rào chắn có thể che khuất tầm nhìn của tà thần, nhưng những dao động năng lượng thoát ra từ bên trong có thể giải thích được tất cả. Rõ ràng Gymir đang say mê chìm đắm trong việc trao đổi sâu sắc với đồng minh.

Typhon biết rất rõ niềm vui của việc này, ba năm hay năm năm cũng không phải là nhiều, kéo dài mười hay hai mươi năm cũng có thể.

“Lẽ nào mình phải ngủ ở đây một giấc?”

Sau khi Typhon nhận ra dù có hét thế nào cũng vô ích, gã bắt đầu chìm vào dòng suy nghĩ. Dù sao cũng tới rồi. Typhon cũng rất muốn có cung điện nham thạch này.

“Không, ta không thể đi.”

Typhon quyết định thảo luận việc khôi phục cung điện nham thạch với Gymir, cùng với việc chia quyền sử dụng nó.

Tà thần tập trung trước giấc mơ của của Anubis trong cõi mộng cuối cùng cũng rời đi, Typhon thở phào nhẹ nhõm, nhưng chẳng mấy chốc lại trở nên đau khổ.

Tên thần mới được sinh ra từ đống rác thí nghiệm của thần Trí tuệ Thoth rồi gần như phá nát cung điện nham thạch bây giờ đang trốn ở đâu? Ban đầu không khó để tìm ra nó, nhưng hiện tượng trăng máu đã đánh thức tà thần trên diện rộng, sự kiện huyền bí xảy ra khắp nơi trên hành tinh này, tên thần mới kia ẩn giấu tung tích của mình trong đó, rất khó truy tìm.

Vào thời điểm quan trọng, Gymir lại không thèm đi tìm!

Đã nói là sửa cung điện nham thạch kia mà? Sao lại đưa đồng minh đi ngủ tại chỗ luôn vậy!

Typhon tức tối nghiến răng.

Thôi, chờ vậy.
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 121: Phần 9: Vực Sâu Vô Tận Năm 1960, Gruzia


<b>Chương 121</b>

<b>Âm thanh quái dị</b>

Năm 1960, phía bắc dãy núi Kavkaz.

Giữa những ngọn núi nhấp nhô kéo dài, có thể nhìn thấy những đồng cỏ vùng cao rộng lớn. Những cánh đồng xanh bạt ngàn, những tảng đá trắng xám nằm rải rác trên sườn đồi, khó có thể phân biệt được đó là đàn cừu của người dân du mục hay là nham thạch. Tuyết tích tụ rất rõ ràng ở phía khuất gió của những đỉnh núi tương đối cao, gió mạnh thổi tung lớp sương băng mỏng, nó sẽ nhanh chóng tan chảy trên đầu ngón tay con người, chỉ để lại một chút nước lạnh.

Juan không khỏi rụt cổ lại, kéo cổ áo lên cao hơn.

“Nhanh lên, tất cả nhanh lên.” Từ phía sau vang lên tiếng thúc giục thiếu kiên nhẫn.

Juan cúi đầu, bước nhanh đến chỗ một người Nga ở đầu hàng.

Người đàn ông này khoảng năm mươi tuổi, nước da thô ráp, dáng người cao lớn, vẻ mặt tức giận, đang cố gắng kìm nén lửa giận. Ông ta quay lại thì thấy Juan, bèn hạ giọng nói: “Xin lỗi, Juan, tôi cũng không ngờ…”

“Ông Telegin, đó không phải lỗi của ông.” Juan lắc đầu, nghi ngờ số phận của mình đen như bùn. Hãy nhìn xem những gì anh đã trải qua trong hai năm vừa rồi đi!

Anh có một công việc tốt, gia nhập đội của tiến sĩ Marat, khai quật Thủ phủ của Cướp biển ngày xưa là Port Royal, sau đó buộc phải thực hiện một cuộc hành trình chạy trốn xuyên thời gian và không gian.

Sau khi nghỉ việc và rời Jamaica, tâm trạng chán nản, anh quyết định đến thăm bán đảo Apennini để tìm di tích thành phố cổ Pompeii… Và rồi anh lại xui xẻo đến nỗi cái thị trấn mà mình nghỉ chân trên đường bị ảnh hưởng bởi sức mạnh của tà thần, còn anh thì bị mất trí nhớ suốt nửa tháng, tiếp đến là chiến đấu với không khí, trở thành trò cười thì thôi không nói, lại còn tự làm cho mình kiệt sức.

Sau khi dùng la bàn để tận mắt nhìn thấy vẻ huy hoàng của thành phố Pompeii của La Mã, chuyến du lịch thư giãn kết thúc, Juan trở về hiện tại để rồi phải đối mặt với một vấn đề thực tế và tàn khốc. Tiền tiết kiệm của anh đã hết, anh cần tìm việc làm.

Vốn dĩ đây không phải là một nhiệm vụ khó khăn. Là một kỹ sư trắc địa xuất sắc, một chuyên gia sinh tồn nơi hoang dã, mỗi năm Juan đều nhận được nhiều lời mời làm việc hết sức chân thành, ngoài các đội thám hiểm khoa học ra còn có vài đội phiêu lưu săn tìm kho báu do tư nhân tài trợ cũng đưa ra thù lao hậu hĩnh. Tuy nhiên, đội thám hiểm săn tìm kho báu thường liên quan đến những tranh chấp về việc trộm văn vật và phá hủy di tích, nên Juan sẽ từ chối những lời mời đó.

Không phải do phẩm chất đạo đức cao thượng gì cả, Juan chọn như thế chỉ vì một lý do rất đơn giản: anh sợ chết. Thợ săn kho báu tàn sát lẫn nhau là tin tức mới sao? Không phải, những tình tiết này gần như đã bị dùng nát trong tiểu thuyết và phim ảnh cả rồi. Không cần đến văn vật quý hiếm hay kho báu giá trị, chỉ một rương vàng thôi cũng có thể gây ra ẩu đả và đấu súng. Đặc biệt là những đội thám hiểm tư nhân, họ thường xuyên phải vượt biên trái phép, đi sâu vào rừng rậm để tìm kiếm những thứ đáng kinh ngạc, đôi khi là loài hoa quý hiếm, đôi khi là một bộ tộc bản địa tôn thờ dị giáo, nghe nói là có thể kéo dài tuổi thọ, nhưng về cơ bản đây chỉ là những lời nói dối nhằm đánh lừa những người giàu có và quyền lực mà thôi.

Sau khi tiếp xúc với tồn tại huyền bí, Juan hiểu rằng đó có thể không phải là lừa đảo, mà là sức mạnh do tà thần hay quyến thuộc của tà thần để lại. Điều này càng khiến Juan quyết tâm ném những lá thư mời như vậy vào thùng rác.

Không được nhận những công việc có thù lao hậu hĩnh, vậy đoàn thám hiểm khoa học chính quy thì sao? Juan cũng không dám đi. Anh vẫn giữ liên lạc với các đồng nghiệp, biết rằng chỉ trong vòng nửa năm ngắn ngủi đã có bảy, tám đội thám hiểm khoa học gặp tai nạn. Các đội này đều có một điểm chung: họ được chính phủ của một quốc gia tài trợ để khám phá kỳ quan thiên nhiên hoặc di tích đền thờ nào đó. Juan không phải là một trong những con người bình thường ngu dốt ngoài kia, liên tưởng đến hiện tượng trăng máu năm ngoái, anh lập tức nghĩ ra nguyên nhân: các chính phủ đang nỗ lực tìm kiếm tồn tại huyền bí, tiêu diệt hoặc khai thác nguồn sức mạnh này.

Nhưng nỗi sợ hãi của con người đến từ những điều chưa biết. Hans nói trong cõi mộng rằng nỗi sợ hãi này sẽ không bị loại bỏ khi kiến thức ngày càng tăng lên, mà sẽ giúp con người khám phá ra một thế giới rộng lớn nằm ngoài sức tưởng tượng hơn nữa. Lòng tham của con người không thể biến thành con thuyền nhỏ đưa nhân loại tiến về phía trước, mà chỉ có thể làm họ bị nuốt chửng hoàn toàn bởi miền biển tối tăm vô tận.

Nền văn minh nhân loại đã mò mẫm hàng ngàn năm trong thời kỳ mông muội, thế vẫn chưa đủ, sẽ phải mất hàng chục ngàn, thậm chí hàng trăm ngàn năm nữa để từ từ phát triển. Giống như những sinh vật khổng lồ từng thống trị thế giới đang nằm dưới địa tầng, để giống loài mình tồn tại đủ lâu trên trái đất thì cần phải tiến hóa, phải phát triển… cho đến khi cơ thể và ý chí con người có thể miễn cưỡng chịu đựng được thứ sức mạnh này. Bây giờ chắc chắn là không thể được, chỉ có thể chết mà thôi.

Vì vậy, Juan đã tìm kiếm trong một thời gian dài, cuối cùng nhờ vào quan hệ và người giới thiệu, anh đã trở thành trợ lý cho một nhà khảo cổ học rất nổi tiếng. Ông Telegin này là người Nga, là giáo sư tại một trường đại học ở Pháp. Dạy học thì sẽ không bao giờ gặp nguy hiểm phải không nào!

Kết quả là tai nạn xảy ra vào tuần thứ hai sau khi Juan đến làm việc. Một nhóm người xông thẳng vào nhà của Telegin, giết cô hầu gái sắp la hét rồi dùng vũ lực bắt cóc họ. Họ bị bịt mắt rồi nhét vào một cái xe hơi màu đen. Khí gây mê khiến họ bất tỉnh. Khi tỉnh lại, cả hai đang ở trên một con tàu chở hàng quốc tế, còn bị nhốt riêng. Con tàu chở hàng đi qua biển Đen, vào biển Caspi qua kênh đào và cuối cùng đến Tây Á. Bây giờ vừa xuống khỏi trực thăng, họ đã bị binh lính vũ trang hạng nặng xua đến một cái lều trên sườn núi.

Lều rất rộng, bên trong trống rỗng. Một người Đông Âu có vẻ ngoài lạnh lùng bước tới, những người lính chịu trách nhiệm áp giải họ đến đây đồng loạt đứng nghiêm chào. Người Đông Âu này nói tiếng Nga, Juan không biết gã đang nói về cái gì. Đột nhiên, một cây súng chĩa vào trán Juan. Giáo sư Telegin chạy tới, hét lên để ngăn cản.

Juan không cử động. Chuyện này đã xảy ra một lần cách đây hai ngày, khi họ vừa xuống thuyền và vẫn bị bịt mắt, anh suýt nữa đã bị giết. Sau đó, Telegin kể cho Juan nghe rằng có người chất vấn tại sao một người Latinh lại được đưa đến đây. Nguyên nhân Juan sống sót cũng rất đơn giản, là do giáo sư Telegin đã nói với những người này vào đêm họ bị bắt cóc rằng anh là một kỹ sư trắc địa dã ngoại xuất sắc. Nếu không có câu nói này, Juan có lẽ đã trở thành xác chết, nằm trong đồn cảnh sát cùng với cô hầu gái bất hạnh kia rồi.

Sau một lần thoát khỏi cái chết trong gang tấc nữa, Juan nhìn người đàn ông Đông Âu cất vũ khí. Chẳng bao lâu sau, trong lều chỉ còn lại anh và giáo sư Telegin.

“Bây giờ ông nên nói cho tôi biết chuyện gì đã xảy ra.” Juan thấp giọng hỏi.

Telegin nói với vẻ mặt mệt mỏi và thất vọng: “Một tháng trước, tôi đã từ chối công việc ở quê nhà vì biết rằng nó có thể rất nguy hiểm, vì bạn bè tôi và học trò của họ đều biến mất ở đây. Tôi rất xin lỗi, không chỉ là một vụ mất tích đơn giản…”

Juan chọn cách ngắt lời ông ta, nói thẳng hết ra: “Tôi biết, ông là một học giả huyền bí học.”

“Cậu…” Giáo sư Telegin rất ngạc nhiên.

Juan im lặng quan sát ông ta, với tư cách là trợ lý, tất nhiên anh đã nhìn thấy những giá sách trong nhà của giáo sư Telegin. Trước đây Juan sẽ không quan tâm đến, bởi vì các nhà khảo cổ học đều thích nghiên cứu các biểu tượng và văn bản cổ. Nhưng giáo sư Telegin thì khác, ông ta biết một số kiến thức về huyền bí học. Khi Juan phát hiện ra bí mật này, anh đã muốn nghỉ việc ngay, nhưng ví tiền lép kẹp đã ngăn anh lại. Bây giờ có vẻ như anh nên nghỉ việc ngay lúc đó rồi đi ăn xin thì hơn!

Juan thầm thở dài, rồi nói một cách đầy ẩn ý: “Tôi gặp phải một vài sự kiện phản khoa học ở Jamaica, nên đã rời nhóm của tiến sĩ Marat…”

Giáo sư Telegin hiểu ra, vẻ mặt càng thêm cay đắng, ông ta hạ giọng nói: “Bây giờ thì dễ giải thích rồi, đây là núi Arabika ở Gruzia, trên ngọn núi này có rất nhiều hang động, về cơ bản thì dân du mục biết vị trí của mỗi hang động. Nhưng vào năm ngoái, trên núi đột nhiên xuất hiện một cái hang mới, người dân sống ở các thị trấn cách xa đây nghe thấy những tiếng động lạ vào ban đêm, rất đáng sợ, giống như tiếng người khổng lồ ngáy vậy.”

“Sau đó thì sao?”

“Đầu tiên là cừu mất tích, sau đó là dân du mục.”

Juan không nhịn được nói: “Tà thần không ăn thịt người, có thể là quyến thuộc của tà thần.”

Giáo sư Telegin gật đầu lung tung, sầu lo nói: “Không tìm thấy thi thể nào, ban đầu người ta suy đoán rằng người mất tích có thể đã trượt chân rơi vào hang động nào đó và bị mắc kẹt, sau một hồi tìm kiếm thì không thấy đâu cả, thay vào đó lại phát hiện ra tiếng động lạ phát ra từ cái hang động mới xuất hiện. Bạn tôi cũng là một học giả huyền bí học, bức điện cuối cùng anh ấy gửi cho tôi nói rằng có <i>thứ gì đó</i> ở sâu trong hang, bên trong hang rất phức tạp, có nhiều ngã rẽ.”

Juan hiểu ra rồi.

Cũng giống như công cuộc chuẩn bị cho cuộc đua vào không gian, hai siêu cường cạnh tranh trên nhiều lĩnh vực khác nhau, anh bỏ ra một điểm sức mạnh, tôi phải bỏ ra ba điểm. Người Mỹ lập ra một cái cơ quan bí mật, người Liên Xô cũng phải có một cái cơ quan bí mật như thế. Lúc này, dù là người ngoài hành tinh hay quái vật trong truyền thuyết xuất hiện, họ cũng chỉ có một ý tưởng duy nhất là bắt giữ cá thể sống đó trước kẻ địch, sau đó kéo về nghiên cứu. Điều này đã khiến việc phát hiện ra hang động bí ẩn ở Gruzia được coi trọng. Có thể họ đã cử vài nhóm người đi điều tra nhưng không tìm được đường, hoặc đơn giản là họ không quay lại.

Juan đau đầu.

Anh muốn rửa sạch vận rủi của mình.

***

Trong lều sáng lên ánh đèn yếu ớt. Vải lều phản chiếu bóng của Juan, và cả bóng của đám binh lính tuần tra xung quanh cùng với giá đựng vũ khí hạng nặng trong doanh trại, như thể có những bóng ma đang bao vây.

“Chờ đã, đây là âm thanh gì?” Juan đột nhiên hỏi. Anh nghe thấy những âm thanh ngắt quãng phát ra từ căn lều bên cạnh.

Telegin chăm chú lắng nghe vài giây: “Hình như là điện đài ma quái.”

“Sao cơ?” Juan không phải là người yêu thích radio, lại cố tình tránh xa tồn tại huyền bí nên không biết về điện đài này.

“Đó là một chiếc điện đài thần bí xuất hiện sau sự kiện trăng máu năm ngoái, có người không nghe được âm thanh nhưng có người lại nghe được, một vài âm thanh còn có thể gây ra ảo giác.” Giáo sư Telegin đứng dậy, cẩn thận mở lều ra, lính canh cửa ra lệnh cho ông quay trở lại.

Nhân cơ hội này, Juan đã tìm được nguồn phát ra âm thanh, đó là một chiếc xe kéo ở phía xa. Chiếc xe kéo được sơn màu ngụy trang bên ngoài, có ăng-ten cao dựng đứng, đằng trước thêm một cái loa.

“Cái quái gì thế?” Juan không hiểu nổi. Sau đó anh cảm thấy mặt đất rung chuyển nhẹ.

Mặt Telegin tái nhợt đi.

“Uỳnh…” Một âm thanh kỳ lạ đột nhiên xuất hiện trên ngọn núi đối diện với xe kéo, nghe như tiếng sấm rền vang.

Juan nhanh chóng nhắm mắt lại, đưa tay giữ giáo sư Telegin lại. Dù trời đã tối nhưng Juan không muốn vô duyên vô cớ mất mạng.

Giáo sư Telegin không ngừng run rẩy.

Juan ngạc nhiên nhìn ông ta.

Telegin cười khổ: “Tôi là học giả huyền bí học nhưng chưa từng tiếp xúc với sức mạnh huyền bí.”

Juan: “…”



<i>Người dịch:</i>

<i>Gruzia là bắt nguồn từ tiếng Nga, trong tiếng Anh là Georgia. Gruzia là một quốc gia ở khu vực Kavkaz, nằm tại giao giới của Tây Á và Đông Âu, phía tây giáp biển Đen, phía bắc giáp Nga, phía nam giáp Thổ Nhĩ Kỳ và Armenia, và phía đông nam giáp Azerbaijan.</i>

<i>Dãy núi Kavkaz, hoặc gọi mạch núi Cáp-ca (chữ Anh: Caucasus Mountains) là mạch núi phân chia giới hạn hai châu lục. Đỉnh núi cao nhất của nó là Elbrus, chiều cao so với mức mặt biển của nó là 5.642 mét, đồng thời cũng là đỉnh núi cao nhất ở châu Âu.</i>

<i>Biển Đen hay Hắc Hải là một biển nội địa nằm giữa Đông Nam châu Âu và vùng Tiểu Á. Biển Đen được nối với Địa Trung Hải qua eo biển Bosporus và biển Marmara.</i>

<i>Biển Caspi</i> <i>là hồ nước lớn nhất trên thế giới tính về cả diện tích và thể tích. Vì không thông với đại dương nên đây đúng là một hồ nước tuy mang tên “biển” vì độ rộng lớn của nó. Hồ cũng được gọi là biển vì nước hồ có vị mặn của muối. Biển Caspi nằm giữa Nga ở bờ phía bắc và Iran ở bờ phía nam. Đông tây giáp các nước Turkmenistan, Kazakhstan và Azerbaijan.</i>

<i>Arabika nằm ở dãy núi Gagra của Cộng hòa Abkhazia ở tây bắc Gruzia, với điểm cao nhất là 2.661 mét so với mực nước biển. Được cấu tạo từ đá vôi. Hang động sâu nhất thế giới, Hang Kurubiyara, nằm ở ngọn núi này.</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 122


<b>Chương 122</b>

<b>Hộp nhạc</b>

Lại có một tiếng gầm dài nghèn nghẹt.

Lần này có cảm giác như mặt đất đang rung chuyển, Juan mất thăng bằng, ngã xuống đất trong khi vẫn bám chặt vào tấm vải lều.

“Bọn họ điên rồi, thật sự điên rồi.” Sắc mặt giáo sư Telegin tái nhợt, ông ta nói.

Juan đồng ý với nhận định này, nhưng đáng tiếc là họ đang gặp nguy hiểm, đánh giá đúng sai ở đây không thể cứu được mạng sống của họ. Juan đẩy Telegin một cái, ra hiệu cho ông ta đi tìm binh lính bên ngoài: “Đi hỏi xem bọn họ đang làm gì, nếu có thể thì ngăn cản bọn họ.”

Giáo sư Telegin lập tức tỉnh ra, vội vàng gật đầu.

Tay lính mất kiên nhẫn, giơ vũ khí lên, giáo sư Telegin buộc phải rút lui, nở một nụ cười xấu xí và ra hiệu một cách tuyệt vọng. Hai phút sau, ông ta đen mặt quay lại.

“Lũ điên…” Telegin tức giận chửi bới bằng tiếng Nga.

Juan không hiểu được câu nào cả, nhưng nhìn vẻ mặt của Telegin thì rõ ràng đó không phải là tin tốt.

Telegin thở một hơi nặng nề, lấy lại bình tĩnh, bắt đầu kể lại tình huống mà mình đã hỏi thăm được. Tay lính chỉ quát mắng hai câu đơn giản, nghe như nếu không dùng loa phóng thanh này thì sẽ bắt Telegin và Juan phải vào hang để thăm dò.

“Họ cho rằng thứ trong hang chỉ là quái thú… Không, không, giọng điệu của họ nghe như thể đang nói về hổ ăn thịt người, cứ dụ nó ra rồi giết là xong ấy.” Giáo sư Telegin đau đớn nhắm mắt lại: “Bọn họ còn cho rằng đây là thể hiện sự tôn trọng mạng sống của những nhà thám hiểm của chúng ta đấy!”

Trán Juan nổi gân xanh, anh hít một hơi thật sâu rồi hỏi: “Những người bình thường chưa từng tiếp xúc với tồn tại huyền bí nghĩ như vậy thì không có gì đáng ngạc nhiên, nhưng đây không phải là cơ quan bí mật của đất nước các ông sao? Chắc là đã thành lập được nửa năm rồi chứ, lẽ nào chưa gặp phải sự kiện huyền bí nào cả, sao lại giải quyết vấn đề một cách thô bạo như vậy?”

Giáo sư Telegin mở miệng nhưng không thốt ra được câu nào.

Juan đột nhiên hiểu ra, đúng vậy, dân tộc Nga lớn lên trong thế giới băng tuyết nên mới có tính khí này.

“Thật ra, tôi rất ngạc nhiên khi họ không dùng pháo bắn phá ngọn núi.” Telegin cười khổ.

“Không, có thể người Mỹ đã bắt được một hoặc vài quyến thuộc của tà thần, nên người Liên Xô cũng muốn bắt sống, ném bom xuống núi sẽ chỉ nhận về cái xác.” Juan cảm thấy đầu óc mình rất sáng suốt, nhìn thấy mọi việc rất rõ ràng. Nhưng vậy thì có tác dụng gì chứ?

Juan và Telegin nằm phục trên mặt đất, run rẩy sợ hãi nghe tiếng gầm rú bên ngoài. Đám lính bên ngoài lều dường như đã nhìn thấy bóng dáng của họ, cho rằng họ hèn nhát, vừa cười vừa chửi rủa mấy câu.

“Cậu cho rằng thứ trốn trong hang là tà thần, hay quyến thuộc của tà thần?” Telegin run giọng hỏi.

Juan tự nhủ, anh thấy sao thì có tác dụng gì? Cũng chẳng thay đổi được sự thật!

“Đương nhiên hy vọng là một quyến thuộc của tà thần, mà phải là loại sinh vật biến dị lang thang, kiểu quyến thuộc không có nơi nào để đi trong lúc tà thần đang ngủ say ấy.” Juan lục túi. Anh không có bất kỳ vũ khí nào trên người, thậm chí không có bút hay đèn pin.

Theo lý mà nói thì họ nên tìm cách trốn thoát khỏi doanh trại, nhưng đi bộ trên đường núi vào ban đêm vốn đã nguy hiểm, vả lại họ cũng không có vật tư gì cả. Nhưng nghĩ theo hướng tích cực thì quanh đây chắc chắn không có con sói nào đâu. Động vật hoang dã đều bỏ chạy vì sợ tiếng động lạ.

Juan đỡ lấy vai Telegin, thấp giọng hỏi: “Giáo sư muốn cứu người ở đây không?”

Telegin trả lời thẳng thắn: “Lúc này nên cân nhắc tính mạng của chính mình vẫn hơn!”

Juan thở phào nhẹ nhõm, anh sợ giáo sư Telegin sẽ nói mấy lời yêu nước gì đó, về lý thì tất nhiên là đúng, nhưng trong nhiều trường hợp nó không có tác dụng. Juan khác với Telegin, anh không có bạn bè hay người thân ở vùng núi này, anh chỉ lo lắng thứ trong hang sẽ chạy ra làm hại các thị trấn ở xa.

Mặt đất lại rung chuyển, tiếng gầm càng lúc càng lớn.

Juan xuất thần nhìn cái điện đài vô tuyến đang phát ra âm thanh ồn ào trên xe kéo, lòng tự hỏi, cái gọi là điện đài ma quái này đang phát thứ quái quỷ gì vậy? Tiếng khiêu khích hay thị uy à?

Giáo sư Telegin nói cái điện đài này có tần số đặc biệt, rất đều đặn, vài ngày một lần sẽ xuất hiện, rất dễ chờ được nó. Nhưng tất cả những người cố gắng ghi lại âm thanh đều thất bại, những gì họ nhận được chỉ là một loạt tạp âm của dòng điện. Vậy là người Liên Xô hiện nay đang sử dụng âm thanh của điện đài ma quái… thảo nào mà lại chọn cách “khiêu khích” quái vật trong hang động vào lúc nửa đêm, vì thời gian phát của điện đài không cố định, chỉ có thể chờ đợi.

Vậy cùng lúc đó, trên trái đất chắc hẳn có rất nhiều người đang nghe điện đài ma quái này, họ đang làm gì vậy? Một người yêu thích tồn tại huyền bí như Telegin, ngồi trong phòng làm việc của mình để ghi chép; hay là như những người Liên Xô ở doanh trại này, tưởng mình đã phát hiện ra công dụng tuyệt vời của điện đài ma quái, bèn phát huy tối đa tác dụng của sóng radio lạ lùng này… đi khiêu khích tồn tại huyền bí.

Juan nghĩ đến đây, trái tim anh như rơi vào một hố băng, toàn thân lạnh buốt.

***

“Thượng tá Stanley, có tác dụng! Cái điện đài có tác dụng thật đấy!”

Cùng với một tiếng nổ lớn, một con quái vật bò ra khỏi khu mỏ bỏ hoang. Nó trông giống như một con khỉ đột, có hai đầu, lông xơ xác thối rữa, những mảng khoáng chất cứng bao phủ bề mặt cơ thể. Con quái vật gầm lên, đập văng cái xe bọc thép chặn lối vào mỏ, đồng thời đập nát điện đài vô tuyến với ăng-ten dựng đứng. Phần thân cứng của chiếc xe bị móp sâu xuống, ngay sau đó xe tăng bắt đầu tấn công con quái vật. Con quái vật bị đạn pháo bắn cho phải hét lên, cố gắng chạy trốn ra vùng núi xa xôi.

Gã mặt sẹo cầm kính viễn vọng, khoe nụ cười nham hiểm: “Ông Moore, đây chính là vị thần đã giết hàng chục người ở thị trấn Blackwood, còn bọn tín đồ dị giáo thì thờ cúng nó đấy, thực chất nó chỉ là một con khỉ đột.”

“Đúng vậy, là khỉ đột.” Ông già nói không chút do dự: “Mang cái xác về căn cứ để khám nghiệm cũng chỉ dẫn đến kết luận này, giống như sinh vật đột biến mà chúng ta phát hiện ở Bắc Cực lúc đó, bề ngoài trông như cái thảm da, hung ác, khát máu và không có lý trí… ghép các mảnh cơ thể lại với nhau để kiểm tra cũng chỉ là vài loài sinh vật biển, rồi mười mấy con chim khổng lồ suýt đánh chìm tàu kia nữa, thực ra chỉ là những con chim biển. Chúng nó và cả chúng ta, những người trên tàu ngầm Nautilus, đều như nhau, chỉ là những kẻ xui xẻo chứ không phải kẻ thù.”

Stanley Mặt Sẹo từ từ quay đầu lại, nhìn ông lão như nhìn một con chó đã chết.

Trợ lý của ông ta tái mặt vì sợ hãi, hắn cảm thấy Stanley là một con thú khát máu có thể xé xác người ta bất cứ lúc nào. Nhưng ông lão lại phản ứng rất trì trệ, như thể không cảm nhận được thứ sát khí khủng khiếp này, vẫn tiếp tục nói những lời kích động khiêu khích.

“Anh nói anh không sợ kẻ địch, nhưng thực ra anh rất sợ, bởi vì anh không ngu ngốc, khi phát hiện không làm cách nào xác định được vị trí của điện đài ma quái, anh đã biết rõ rằng công nghệ và vũ khí của con người không thể đối phó được…” Ông lão không thể nói những lời tiếp theo, bởi vì Stanley đã lao tới túm lấy cổ áo ông.

“Khụ khụ.” Ông lão chật vật tìm chút khoảng trống rồi lập tức đâm Stanley một “nhát dao” nữa: “Anh dùng điện đài ma quái để dụ quái vậy ra, nhưng lại không muốn đến quá gần chiến trường. Tại sao? Anh không tin vào hỏa lực à? Không, anh đang mong đợi một con quỷ mới chân chính, một con quỷ có thể đánh lại ác quỷ đảo Chết Chóc, để con quỷ giận dữ này lao đến đảo Chết Chóc, thay mặt anh tìm kẻ thù.”

Vẻ tức giận trên mặt Stanley biến mất từ lúc nào, gã chậm rãi buông tay ra. “Ông Moore, tôi thừa nhận, trí tuệ của ông quả thực vượt xa người thường.”

Con quái vật khỉ đột ở phía xa đã bị hỏa lực lớn bắn nát, nằm co giật trên mặt đất. Xe tăng bị nghiền nát, xe bọc thép bị lật và còn cả thi thể của hơn chục binh lính…

“Đội mũ bảo hiểm, mặc quần áo bảo hộ, kéo cái thứ to lớn này đi.” Stanley cầm máy bộ đàm lên, lạnh lùng ra lệnh.

Ông lão thở hổn hển, được trợ lý đỡ lấy, trợ lý của ông ta không khỏi phàn nàn: “Ông Moore, ông thực sự không nên xúc phạm Thượng tá.”

“Cậu không hiểu đâu.” Ông già nhìn thẳng vào hắn.

Trợ lý chợt cảm thấy sợ hãi, bởi vì đôi mắt của ông Moore hơi kỳ lạ, nó màu đỏ, rất giống của Thượng tá Stanley.

Ông già ngừng nói. Ông ta đoán được mọi chuyện từ phản ứng của trợ lý. Ông lão thầm nghĩ, ông cũng giống như Stanley… không, cũng giống như con khỉ đột này vậy, ông đang dần biến đổi, mất đi lý trí. Ông lão còn biết rằng những con quái vật bị bắt hoặc những mảnh cơ thể quái vật này đang được sử dụng cho thí nghiệm trên người.

Bọn tín đồ dị giáo Salem chết một loạt, lại có những kẻ khác tìm đến. Thật nực cười làm sao, khoa học và phép thuật phù thủy được kết hợp với nhau, cố gắng biến con người thành quái vật với sức mạnh vô hạn.

***

Johnson giật mình tỉnh giấc.

Những dây leo cuộn tròn dưới đáy biển thoắt cái bung ra, các tinh thể băng vỡ tan.

“Có chuyện gì xảy ra?” Johnson chưa bao giờ có cảm giác như vậy trước đây, giấc mơ hình như bị thứ gì đó xô lệch đi, làm y không kịp phản ứng đã phải trở về thực tại.

Đá ngầm quái quỷ từ từ “kéo” những dây leo rải rác lên, đắp lại trên người mình.

“Vừa rồi có mấy tên tà thần chạy đến ngoài giấc mơ của chúng ta, chúng nó cãi lộn ồn ào quá, khiến ta tỉnh giấc… Ta vẫn bảo vệ em nên em không nghe thấy gì cả.” Giọng Gymir lười biếng và chậm rãi.

Đầu tiên Johnson bị giọng nói này mê hoặc đến nỗi hơi khựng lại, sau đó vài dây leo đột nhiên nhấc lên. “Sao cơ?!” Tại sao tà thần lại tìm tới cửa gây phiền phức?

Gymir uể oải nói: “Nghe nói là chúng nó ở nhà nghe thấy tiếng nhạc của cung điện nham thạch, lười để ý tới, nhưng mà nhạc lạc nhịp quá nên mới tìm tới hỏi ta bao giờ sửa được.”

“Hả?” Quả cầu dây leo bối rối, sắp sửa tự thắt mình thành nút.

Y và Gymir đang đi du lịch vòng quanh thế giới à? Không phải họ ở đáy đại dương bên dưới hòn đảo sao? Đảo có trôi đâu! Không, có rất nhiều tà thần đang ngủ trên đất liền, cho dù hòn đảo có trôi dạt cũng không thể trôi đến trước cửa nhà họ được!

Johnson quyết định thức dậy.

“Đừng lo, để bọn họ đi tìm Typhon đi.” Đá ngầm quái quỷ lại túm lấy dây leo, lôi lôi kéo kéo.

Càng cảm thấy bối rối hơn, Johnson buột miệng: “Việc này có liên quan gì đến Typhon?”

“Ờ, nghe nói tiếng nhạc lạc điệu của cung điện nham thạch còn được phối với tiếng ngáy của Typhon.”

“Cái gì?” Johnson ngay lập tức nhận ra rằng Typhon có thể ở ngay trên đầu mình. Ở trên đảo Cát Lún. Y cũng ngay lập tức nghĩ ra vì sao lại có chuyện tiếng nhạc và tiếng ngáy đang được phát ra trên khắp thế giới. “Đó là thứ Hans đưa cho chúng ta, hình như gọi là radio.”

Johnson giật mạnh dây leo của mình, như thể đang chơi kéo co với Đá ngầm quái quỷ, y kinh hãi hỏi: “Tiếng của chúng ta cũng bị nghe thấy sao?”

“Không, ta đã mở ra không gian riêng, âm thanh không thể truyền đi được.” Gymir lưu luyến nh** h** mềm mại của dây leo.

Nhưng Johnson không còn dễ bị lừa như trước nữa.

“Chúng ta ở ngay dưới đảo Cát Lún! Bản thân không gian khép kín là sự tồn tại đặc biệt, sao tiếng cát lún chơi nhạc lại không bị ảnh hưởng được chứ? Không được, em muốn ra ngoài! Chúng ta phải ra ngoài!”



<i>Người dịch: Tiếng khiêu khích hay thị uy à? Cười chết =)))))</i><b> </b>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 123


<b>Chương 123</b>

<b>Nghi vấn</b>

Là một thần mới, Johnson không muốn nổi tiếng.

Các thần cổ xưa uy danh hiển hách, có nhiều kẻ thù, tính khí thất thường. Đối với những đồng loại nhỏ yếu, thần cổ xưa có thể không buồn để ý đến, mắt nhắm mắt mở bỏ qua. Nếu trở nên nổi tiếng thì không còn được hưởng đãi ngộ lừa bịp cho qua rồi chạy thoát như thế này nữa.

Sao cơ? Gặp nguy hiểm thì có thể gọi Gymir? Thế thì có khác gì Typhon? Johnson không thể làm điều đó. Chẳng lẽ tà thần không muốn giữ thể diện à? Typhon là thần cổ xưa, đồng loại sẽ không nghi ngờ sức mạnh và danh tiếng của Typhon, đây là lợi ích khi sống lâu, Johnson thì không có lợi thế như vậy.

Thế nhưng điện đài vô tuyến “buộc” Johnson phải nổi tiếng.

Điều này khác với viên ngọc mà họ tặng cho John Doe, viên ngọc được giấu trong hộp, không đeo trên người, cũng không mang ra trưng bày khắp thế giới. Và dù con người có mạnh mẽ đến đâu thì có thể gặp bao nhiêu sự kiện huyền bí trong suốt cả cuộc đời chứ (Johnson tặng viên ngọc trai vào năm 1930, lúc đó không thể tính đến khả năng vận chuyển trong tương lai của nhân loại)? Có bao nhiêu sự kiện huyền bí trong số đó liên quan đến một tà thần thức tỉnh? Xác suất gặp phải rất thấp, mà vị tà thần đó có khả năng cao là thần mới. Thế thì không có gì phải sợ cả.

Nói cách khác, khi Cochro, Typhon và các thần cổ xưa khác phớt lờ y hoặc gọi y là “đồng minh của Gymmir”, Johnson không hề tức giận mà còn vui vẻ nữa.

Giờ thì rắc rối đến rồi. Ngay cả đồng loại không thích hỏi thăm về đồng minh của tà thần nhất cũng có thể phải dỏng tai hỏi đồng minh của Gymir là ai? Tại sao chỉ lập giao ước thôi mà cũng phải làm ồn ào cho tất cả đồng loại đều biết? Lẽ nào là chuẩn bị sinh ra một hậu duệ cực kỳ mạnh mẽ, để tất cả đồng loại trên trái đất làm chứng?

Nghĩ đến đây, Johnson càng nỗ lực kéo lại những dây leo bị Đá ngầm quái quỷ bám lấy rồi trôi lên mặt biển.

“Khoan đã.” Gymir chỉ có thể đi theo. Dù sao thì Typhon vẫn còn ở ngoài đó. Gymir không muốn Johnson ở một mình với Typhon, một giây cũng không được.

Không gian khép kín lặng lẽ tan vỡ, sương mù hơi tản ra. Johnson ngay lập tức nhìn thấy con quái vật nhiều đầu Typhon đang ngủ say sưa trên đảo. Tiếng ngáy đó rất độc đáo, mỗi lần phát ra đều vừa khớp với bản giao hưởng lạc nhịp.

Johnson: “…”

Thế tức là Typhon không hề nói dối, gã rất giỏi thưởng thức âm nhạc do cung điện nham thạch phát ra, ngay cả trong khi đang ngủ. Chỉ có điều Johnson không hiểu nổi, bản thể của Typhon đang ngủ ở Lençóis Maranhenses thì thôi, hóa thân là để ra ngoài làm việc, sao gã cũng tìm chỗ ngủ thế này? May mà diện tích đảo Cát Lún rất rộng, nếu không sẽ chẳng thể chứa nổi hóa thân của tà thần này.

Ánh mắt của Johnson lại rơi vào cái đuôi của Typhon.

Một chân sau và đuôi bị mắc kẹt trong cát lún, như thể hai thanh gỗ bị nhét vào trong một cây đàn, thảo nào mà tiếng nhạc lại càng khó nghe hơn. Đối với Typhon, kiểu mát xa bằng cát lún này có thể rất thoải mái, nhưng đối với những con tàu đang chìm trong cát lún thì chướng ngại vật này lại mang tính hủy diệt, trực tiếp tiếp xúc với hóa thân của tà thần thì có thể có kết cục tốt đẹp hay sao? Thế là những mảnh vụn này nối tiếp nhau vỡ vụn, biến thành nhiều hạt bụi nhỏ hơn.

Johnson đau lòng nhắm mắt lại, siết chặt các ngón tay thành nắm đấm. Nếu Johnson mà có hóa thân mạnh mẽ như thần cổ xưa thì chắc chắn bây giờ đã đấm cho gã một phát rồi.

Rầm.

Lạ thật? Tại sao đòn tấn công tưởng tượng lại có âm thanh?

Johnson mở mắt ra, đúng lúc nhìn thấy hóa thân bóng đen của Gymir bay lên, mở tung áo choàng của mình. Typhon bị Gymir đánh văng xuống biển.

“…Gymir, mày tỉnh rồi hả?”

Typhon ngáp dài, nổi lên mặt biển làm sóng biển cuộn trào quanh mình. Nhịp ngáp của mấy cái đầu cũng không đều, có cái vừa mở miệng, cái khác khác đã hoàn thành động tác một cách thoải mái, có lẽ là theo thứ tự tăng dần từ trái sang phải. Ngáp một lần vẫn chưa đủ, lại làm thêm một lượt từ phải sang trái.

Ánh mắt của Johnson vô tình bị hành động buồn cười này thu hút. Sau đó tầm nhìn của y tối sầm lại, cái bóng bao phủ lấy y.

Gymir lại đá cho Typhon một cú thật mạnh, đẩy Typhon xuống đáy biển một lần nữa, nhưng lần này mãi không thấy gã trồi lên. Trong khi Johnson đang băn khoăn thì Gymir chợt nhớ ra điều gì đó, áo choàng bóng tối nhanh chóng chìm xuống biển.

Johnson do dự một giây, sau đó yên lặng lại gần mặt biển lắng nghe.

“…Dấu vết này rất thú vị, tụi mày thích sự thay đổi nhiệt độ hả? Những vụn băng này được hình thành như thế nào, tao nghĩ Fenrir chắc chắn sẽ thích cái này, tao có thể thử… Đừng đánh nữa, Gymir mày lại đánh tao? Mày đá tao xuống không phải để tao thấy dấu vết của tụi mày để lại sao… Gì chứ, không phải? Vì tao phá hủy tàu của con người trong cát lún, mày điên đó hả? Tàu của con người trôi nổi đầy trên biển kìa, lấy bao nhiêu tùy thích, tao đi kéo về cho mày mười mấy cái?”

Nước biển khuấy động, cát lún trở nên hỗn loạn, tiếng nhạc cũng chớp tắt.

Johnson lùi về sau.

Tâm trạng của y đang rất phức tạp. Trước khi gặp Gymir, Johnson là một tà thần không quan tâm đến việc ai giao phối với ai, y không có hứng thú với những thông tin này, cũng không liếc nhìn thêm cái nào nếu tình cờ gặp phải. Sau này y không những học được hàng loạt cảm xúc như “xấu hổ” từ Gymir, mà giờ đây những dao động cảm xúc này còn lên đến tầm cao mới?!

Johnson nghĩ đến việc Typhon hào hứng đi trải nghiệm với một vị thần cổ xưa nào đó, xong chuyện rồi Typhon còn tự hào nói với đồng minh, đây là phương pháp được Gymir và Johnson áp dụng, có mới lạ không, có thú vị không… Cuộc trò chuyện trên sẽ được lặp lại ít nhất bảy hoặc tám lần. Không chỉ bao gồm đồng loại trên trái đất, mà còn có thể thêm tà thần từ bên ngoài trái đất như Anubis trong tương lai. Thế thì tà thần bên ngoài trái đất sẽ nghĩ thế nào, đánh giá thế nào?

Johnson: “…” Đừng nói gì cả, dù sao cũng rất hối hận. Hối hận đến mức Johnson đã nhanh chóng đưa ra quyết định sau này không bao giờ để lộ bản thể của mình trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cứ để mình là “đồng minh của Gymir” trong miệng đồng loại đi, tuyệt đối không nhắc đến tên mình.

Khi Johnson định thần lại sau cú sốc nặng nề đến từ Typhon, y nhớ ngay đến cái “điện đài vô tuyến” kia. Y tìm thấy ngọn hải đăng, chộp lấy vật phẩm kỳ lạ của con người, nhanh chóng nhét nó vào chiều không gian được dùng làm nhà kho của mình.

Kết quả là việc phát sóng toàn cầu của điện đài ma quái đột ngột kết thúc.

Johnson đứng bất động trong ngọn hải đăng như một pho tượng đá.

Đột nhiên một cột nước khổng lồ dựng thẳng lên trời, Typhon chạy ra khỏi đáy biển.

“Đánh nữa là cung điện nham thạch hư thật đấy.”

Lời ngăn cản của Typhon có hiệu quả, Gymir ngừng đuổi theo.

Gymir chất vấn: “Trừ mày ra, ai thèm lan truyền điệu nhạc của cung điện nham thạch ra khắp thế giới? Còn dùng âm thanh này để quấy rối đồng loại đang ngủ khác nữa?”

“Đợi đã, chuyện này không liên quan tới tao!” Typhon lắc đầu, bối rối nói: “Đúng là tao rất muốn gọi tụi mày dậy để sửa hòn đảo này, nhưng tao thực sự không làm chuyện đó mà, giờ tao tránh mặt đồng loại còn không kịp kìa. Lúc trước bọn nó bao vây Anubis, làm ồn ào quá trời, khó chịu muốn chết.”

“Vậy là mày đang trả thù bọn nó?”

“Không phải, tao không làm!” Typhon kêu oan.

Gymir nheo mắt, tiếp tục tra hỏi: “Tao còn nghe được ở trong cõi mộng, mày nói với đám tà thần đó, tao cũng là đồng minh của mày, đứng về phía mày với Anubis?”

“Hả? Tao không có nói vậy.” Typhon lắc đầu thật nhanh, động tác mạnh đến mức tạo thành một cơn lốc nhỏ trên biển. Gã vừa lắc đầu vừa tự tin phản bác: “Hơi thở của chúng ta không có chỗ nào dung hòa được hết, tà thần nào có mắt cũng có thể nhận ra không phải là đồng minh, sao tao lại nói dối như vậy làm gì? Tao chỉ nói là mày ủng hộ việc Anubis ở lại trái đất… Khoan đã, mày nghe tao nói, Anubis phục kích thần Mặt trời Tonatiuh, giải quyết được một vấn đề lớn cho chúng ta, đó là sự thật! Tonatiuh chưa chết, có thể mấy ngàn năm mấy vạn năm sau sẽ quay lại, mày định đuổi Anubis đi sao?”

Gymir phản ứng rất lạnh nhạt. Nhiều năm sau thì sao? Tới lúc đó chênh lệch sức mạnh giữa Anubis và Tonatiuh có giống như bây giờ hay không thì rất khó nói. Tà thần cũng không có tình bằng hữu sát cánh chiến đấu, lấy oán báo ân cũng không biết xấu hổ, càng không chọn phe dựa trên những tình cảm này, đạo đức và luật lệ của con người không có tác dụng với tà thần. Trên thực tế, Gymir cũng chẳng có ý kiến gì về việc Anubis sống ở đâu, hắn chỉ không hài lòng khi Typhon tùy tiện dùng hắn như một con bài mặc cả để đe dọa đồng loại.

“Tại sao nhiều tà thần đang nằm trong tổ lại nghe thấy tiếng nhạc của cung điện nham thạch, còn chạy tới giục tao thức dậy sửa đảo? Không phải mày làm, không lẽ là Behemoth hay một trong những đồng minh của mày?” Gymir chế nhạo.

Typhon trợn trừng mắt nói: “Cái chuyện này rất kỳ quái, nhưng tao thật sự không biết…”

“Em biết.” Một giọng nói yếu ớt đột nhiên cắt ngang cuộc tranh cãi giữa hai vị thần cổ xưa.

Typhon tò mò quay đầu lại.

Gymir kinh ngạc nhìn ngọn hải đăng, thay đổi hóa thân, biến thành hình dạng con người đáp xuống sau lưng Johnson. Trực giác nói cho Gymir biết Johnson tựa hồ rất kinh ngạc, lại như bị cái gì k*ch th*ch, tâm trạng của y cực kỳ bất ổn.

Cái bóng dán sát vào lưng và cổ Johnson, từ từ duỗi dài ra, Gymir thì thầm hỏi: “Sao thế?”

Johnson nhạy cảm rụt người lại, nhưng buộc mình phải đứng yên.

“Con người đã làm điều đó.” Johnson yếu ớt nói.

“Sao cơ?” Gymir vẫn chưa phản ứng kịp.

Typhon đã phải ngạc nhiên hỏi ra thành lời: “Khúc nhạc của cung điện nham thạch được con người lan truyền ra khắp hành tinh này? Sao lại thế được? Tao nghe nói âm thanh này mới xuất hiện gần đây thôi mà!”

Con người cũng giống như sâu bọ vậy, sâu bọ làm được điều này sao? Chẳng phải sâu bọ không thể gửi ngay cả một tin nhắn đơn giản đến một tổ sâu bọ khác sao?

“Đó là vì… Một vài con người từng tiếp xúc với tồn tại huyền bí đã cải tạo một vật phẩm của con người nào đó, vô tình khiến vật phẩm đó nhiễm hơi thở của tà thần, cuối cùng vô tình trở thành vật trung gian để lan truyền.” Johnson giải thích.

Tuy Gymir và Typhon chưa bao giờ nghe nói đến những thứ như điện đài vô tuyến, nhưng vẫn hiểu ý nghĩa bên trong. Suy cho cùng, tà thần có thể được nghe thấy hàng ngày những gì con người gọi là sóng vô tuyến, hơn nữa đã quen nghe chúng từ lâu, coi chúng là tiếng gió, tiếng sóng biển, hoặc là những tạp âm nhỏ không đáng để chú ý.

“Thì ra là vậy.” Typhon ngẫm nghĩ.

Gymir vẫn còn một câu hỏi, hắn nhìn Typhon, sau đó chọn nắm tay Johnson, dùng ý thức dung hòa còn sót lại để hỏi: “Vậy sự thật chính là con người trên khắp hành tinh đang sử dụng những công cụ giống nhau, vô tình thu được âm thanh của hòn đảo này, cũng phát hiện ra điều bất thường trong âm thanh này, dùng nó làm vũ khí điều tra các sự kiện huyền bí… Nhưng làm sao em biết được chuyện này?”

Johnson ngước mắt lên với vẻ mặt phức tạp.

Gymir: “…”

“Em cảm nhận được.” Johnson không biết mình nên có vẻ mặt gì, dù sao thì y cũng cảm thấy bất lực.

“Điện đài vô tuyến là của Hans đưa cho em, nó sinh ra liên hệ với em, trước khi chúng ta xuống đáy biển, có thể ai đó đã nghe thấy âm thanh nhưng không làm gì cả. Ai ngờ trong khi em đang ngủ, họ dùng thứ này để đối phó với các sinh vật đột biến, đối phó với quyến thuộc của tà thần, lại còn phát cho các thần cổ xưa và thần mới đang ngủ nghe… Bây giờ cảm giác như cả thế giới tràn ngập những <i>kết nối</i>, lại còn là cái loại mắc nợ em.”
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 124


<b>Chương 124</b>

<b>Vào hang</b>

Núi Arabika.

Bầu trời đầy sao, màn đêm tĩnh lặng.

Juan quấn chăn ngủ ngon lành trong lều.

Telegin trở mình, trợn mắt nhìn trợ lý của mình, không hiểu tại sao Juan vẫn có thể ngủ được. Gió lạnh thổi qua ào ào, lều vải hơi lọt gió, Telegin không nhịn được hắt hơi.

Đây đã là ngày thứ bảy họ bị đưa đến doanh trại, mọi việc đang trở nên tồi tệ. Tất nhiên không phải là đãi ngộ của họ, mà là “tiến độ nhiệm vụ”.

Trong doanh trại tích trữ rất nhiều vũ khí hỏa lực hạng nặng, một cái rãnh rất sâu đã được đào, có thể thấy đội ngũ này đã chuẩn bị rất tốt để chiến đấu với “quái vật”, đáng tiếc là kế hoạch dụ quái vật tự rời khỏi hang đã hoàn toàn đi vào bế tắc. Điện đài ma quái đã không xuất hiện trong suốt bảy ngày qua. Giáo sư Telegin nhìn thấy binh lính tiến sâu vào núi, ném bom khói và có thể cả khí độc vào hang động, nhưng chẳng có tác dụng gì cả.

Núi Arabika là một ngọn núi được hình thành từ đá vôi, xung quanh núi có rất nhiều hang động lớn nhỏ được hình thành do nước chảy xói mòn. Nhìn bề ngoài, những hang động này tưởng chừng như không nối liền nhưng khi ném bom khói vào, cả nửa đỉnh núi đều bị khói bao phủ. Điều này là do hệ thống nước ngầm bên dưới, con người không thể đi qua những khe hở giữa các khối đá, nhưng khói sẽ không bị chặn lại. May mắn ở chỗ con quái vật ẩn nấp trong hang rất lớn (dựa trên phân tích tiếng gầm), nếu không thì chỉ chặn một cái lỗ cũng vô ích. Nếu nơi ẩn náu của quái vật chuyển từ một cái hang thành cả ngọn núi thì làm sao bắt được?

Giáo sư Telegin cố gắng tìm ra giải pháp cho những người lính trong doanh trại, hết nghĩ đến lửa lại nghĩ đến nước, nghĩ mãi cũng không có ý tưởng gì, ông ta lại càng không ngủ được, chỉ có thể nằm đó nhìn lên mái lều. Ông ta nghĩ, không ngày mai thì cũng ngày kia là người đứng đầu doanh trại sẽ cho người cầm vũ khí ép họ vào hang để thăm dò.

Telegin cố gắng giải thích sự nguy hiểm của con quái vật, nhưng những người này không nghe lọt tai câu nào, họ thậm chí còn cười nhạo ông ta là kẻ nhát gan, cho rằng ông ta đã ở Pháp quá lâu nên nhiễm luôn tật xấu của người Pháp. Telegin tin rằng họ rất dũng cảm, nếu đây là một cuộc chiến, tất cả họ đều sẵn sàng ở trần ôm súng lao về phía kẻ thù, thế nhưng tuyệt đối không thể áp dụng những phương pháp liều lĩnh ngông cuồng để đối phó với tồn tại huyền bí.

Telegin thở dài, ông ta đã gặp người cầm quyền trong doanh trại. Đó là một người có thái độ cứng rắn, một kẻ độc đoán chuyên quyền mà chỉ cần ra lệnh là phải thấy cấp dưới của mình hành động ngay lập tức, không cho phép bất cứ ai đưa ra ý kiến phản đối, cũng không muốn nghe những lời “vô nghĩa” của gáo sư Telegin. Ông có năng lực, ông là chuyên gia trong lĩnh vực này, vậy thì tuyệt, ông cứ làm việc của mình là được. Không có thường thức huyền bí học, không có tà thần gì cả, toàn là phép phù thủy thôi! Quái vật đều là những sinh vật đột biến do bị nhiễm một loại virus thời tiền sử hoặc virus ngoài hành tinh nào đó!

Giáo sư Telegin suýt lên cơn đau tim vì tức giận. Trong đêm lạnh giá này, ông ta vừa lo điện đài ma quái không xuất hiện thì mình và Juan sẽ bị ép vào hang động để thăm dò tình hình, lại vừa lo điện đài ma quái xuất hiện trở lại thì con quái vật trong hang cuối cùng sẽ bị chọc giận rồi chạy ra ngoài tàn sát tất cả.

Lúc này, Telegin nghe thấy những âm thanh hỗn loạn từ cách đó không xa truyền đến, ông ta nhìn qua khe hở của lều, phát hiện một vài người trông không giống binh lính. Trông có vẻ như là người cùng nghề, ngoài ra còn một người mặc quần áo dân du mục. Họ bị nhét vào một căn lều gần đó, vẻ mặt hoảng sợ, miệng thì nóng nảy thảo luận, nội dung câu chuyện khiến Telegin nhớ đến mình của lúc đầu.

Giữa lúc hỗn loạn, Telegin đột nhiên nghe thấy một âm thanh rất không hài hòa.

“Khò, khò…”

Tiếng ngáy của Juan không lớn, nhưng cứ đâm thẳng vào tim người nghe. Telegin trợn mắt hồi lâu, cuối cùng thừa nhận đây là một khả năng đặc biệt, khác với người chỉ biết nói miệng như ông ta, Juan là một nhà nhà thám hiểm chân chính đã từng đi qua những vùng đất hoang vu không người.

Ngày hôm sau, Telegin với khuôn mặt mệt mỏi và quầng thâm đen xì dưới mắt nhìn Juan quấn chăn quanh người ngồi trên mặt đất trong vẻ mặt ngơ ngác, ông ta không nhịn được hỏi: “Cậu chưa tỉnh à?”

“Không, phải là ngủ không ngon.” Juan ngáp một cái.

“Cậu nói sao?” Telegin tức điên, thậm chí muốn chất vấn ngủ cả đêm không dậy lấy một lần gọi là ngủ không ngon à?

Juan dụi dụi mắt, chân thành nói: “Tôi không nằm mơ như tôi muốn.”

“…”

“Giấc mơ rất quan trọng.” Juan thở dài.

Kể từ khi sự kiện trăng máu kết thúc, Juan đã không còn gặp Hans và những người khác trong giấc mơ của mình. Trong những ngày này, Juan đã cố gắng liên lạc với Hans nhưng không thành công. Có vẻ như sau khi sử dụng cái la bàn vàng kia xong, một thứ xiềng xích vô hình đã được tháo gỡ. Juan vui vẻ được một thời gian, điều đó có nghĩa là anh không còn dính vào một thế giới thần bí và nguy hiểm nữa, anh có thể trở lại cuộc sống bình yên như trước.

Bây giờ Juan hối hận rồi, anh cố gắng không tiếp xúc với tồn tại huyền bí, nhưng tồn tại huyền bí vẫn tìm đến anh.

Vận may chết tiệt, số phận chết tiệt!

“Dậy đi!” Cái lều bị giật mở thật mạnh.

Telegin và Juan bị áp giải ra ngoài mà chưa kịp ăn sáng, cùng với những người ở lều bên cạnh.

“Tối hôm qua tới đây à? Trông quen quen, tôi đi hỏi xem.”

Telegin thử chào những người ở đó, sau khi trò chuyện với nhau mới biết họ quả thực là đồng nghiệp. Và còn là người Pháp.

“Đó là nhà thám hiểm nổi tiếng Lotta, tôi đã xem những bài viết của ông ấy về châu Phi.”

“Sao ông ta lại tới đây?”

“Đến dãy núi Kavkaz để thám hiểm, nhưng xui xẻo quá, nghe dân du mục ở gần đó kể về những tiếng động lạ trong hang động nên rất thích thú, bèn đổi lộ trình chạy đến đây, sau đó bị phát hiện!” Giáo sư Telegin lắc đầu thở dài, khu vực gần núi Arabika đã bị phong tỏa cả rồi, dân địa phương vô tình đi vào sẽ bị đuổi đi, người nước ngoài chắc chắn sẽ bị giam giữ!

Ông Lotta này có bộ râu đen, dáng người thấp và chắc nịch. Ông ta dẫn theo hai trợ thủ, một nam một nữ, ngoài ra còn một người dân du mục làm hướng dẫn viên. Điều họ lo lắng là bị giam giữ không rõ lý do. Ông Lotta xua tay, cố gắng giải thích bằng thứ tiếng Nga bập bẹ rằng mình không phải là gián điệp.

Ngay sau đó, người đứng đầu doanh trại đến, vẫn với phong thái quen thuộc, sau khi nghe cấp dưới báo cáo, xác nhận rằng đoàn người Lotta chỉ là nhà thám hiểm thì gật đầu bỏ đi. Từ đầu đến cuối không nói một lời nào với ông Lotta.

Lotta tưởng mình sẽ được thả như người du mục kia, nhưng không ngờ sau bữa sáng gồm bánh mì cứng như đá và đồ hộp, nữ trợ lý của ông ta bị giữ lại làm con tin trong doanh trại, còn những người khác bị binh lính dẫn sang vách đá phía đối diện.

Giáo sư Telegin sắp ngất đến nơi.

Juan nhìn đám người Lotta vẫn chưa biết gì, cũng không biết làm sao nhắc nhở họ, vì đám lính bên cạnh còn đang vác súng kia kìa.

Nam trợ lý của Lotta hiểu lầm vẻ mặt của Telegin và vẻ khó xử của Juan, không biết nghĩ gì mà lại cho rằng họ bị đưa đến thung lũng để hành quyết, sợ quá nhảy xuống sườn núi tìm cách bỏ trốn. Sau đó hắn bị gãy cổ. Sườn núi này nhìn có vẻ thoai thoải, nhưng thực ra bên dưới thảm cỏ xanh lại toàn là đá vôi, đừng nói là con người, dù một con cừu lăn xuống cũng sẽ gãy xương. Đội ngũ mất thành viên một cách bất ngờ như vậy.

Mặt ông Lotta tái mét, hò hét mấy lần cũng không có kết quả, ông ta cũng nhận ra sự việc này không bình thường. Đặc biệt là sau khi leo lên sườn núi, ông ta nhìn thấy một bãi mìn. Các quả mìn bị chôn dưới đất được đánh dấu bằng những lá cờ nhỏ, chôn khá nông và thưa thớt, có thể nhìn thấy rõ chốt va chạm trên đó.

Sau khi xuyên qua bãi mìn, Juan cuối cùng cũng nhìn thấy hang động bí ẩn kia. Nó không nằm trên vách núi mà là trong một lỗ đen trên đỉnh sườn núi. Cửa hang hơi nghiêng theo độ dốc của núi, thực sự là một hang động ngầm, nếu không được cho biết trước, Juan sẽ nghĩ đó là động rỗng được hình thành giữa hai mẩu nham thạch. Cửa hang không lớn, xung quanh toàn cỏ mọc. Juan ước tính trực quan rằng cái hang này chỉ đủ lớn để hai người có thể đi sát cạnh nhau. Nó không có gì nổi bật, không có mùi khó chịu, cũng không có gió lạnh thổi ra, thoạt nhìn có thể sẽ nghĩ rằng nó chỉ sâu ba bốn mét.

Doanh trại cung cấp thiết bị thăm dò, dây thừng và quần áo, cơ sở vật chất dùng trong trắc địa được đề xuất. Sau đó họ bị xua vào hang.

“…Cái hang này rất sâu.” Telegin chuyển sang dùng tiếng Pháp.

Chỉ có ba người trong đội ngũ tạm thời này. Telegin và Juan đi cùng nhau, Telegin lại là người Nga nên Lotta rất cảnh giác với ông ta. Sau khi nghe câu chuyện ngắn gọn về việc người bạn của Telegin mất tích ở đây và con quái vật trong hang, Lotta vẫn luôn im lặng. Họ dùng dây treo, chỉ hạ xuống khoảng mười mét là dẫm phải mặt đất bằng phẳng trơn trượt.

Juan tự nhủ rằng từ đây trở đi, hành trình tìm đến cái chết trong hang động bí ẩn có thể chính thức bắt đầu. Juan thấy hang động dần dần thu hẹp lại nhờ ánh sáng của đèn pin, lối đi kéo dài xuống phía dưới với độ dốc khoảng bảy mươi độ. Nếu bất cẩn lăn xuống, có thể sẽ bị ngã chết hoặc mắc kẹt tại lối đi trong hang.

“Đoạn đường này rất dài… Bạn tôi đã thử rồi, dùng hết cuộn dây leo núi dài một trăm mét nhưng vẫn không thăm dò được đến cùng, bạn tôi bèn trèo lên, định bổ sung thêm đồ dùng trước rồi lại xuống, anh ấy đã viết thư cho tôi.” Telegin cố gắng nhớ lại nội dung bức thư và những thông tin đã nghe được trong doanh trại những ngày này. “Chỉ cần chúng ta mang ra được cái gì đó hữu ích, nhìn kỹ hơn các vách hang động, những khe hở giữa nham thạch, nơi nước tích tụ.”

Giáo sư Telegin muốn nói tiếp, ông Lotta đã thấp giọng quát lên: “Câm miệng.” Đã biết trong hang có quái vật, sao còn dám nói hoài không dứt?

Juan thấy chẳng sao cả, dù là tà thần hay quyến thuộc của tà thần thì cũng không giết người bằng cách phân biệt âm thanh. Giữ im lặng thật ra không có ích gì, tiếng tim con người đập, tiếng máu chảy, nhiệt độ cơ thể… những thứ này không thể che đậy được. Đừng nói là tồn tại huyền bí, ngay cả những con sói hoang cũng có khả năng theo dõi rồi âm thầm tấn công con người.

Trước đây Juan đã từng vào hang động, anh không thích môi trường này cho lắm. Tối tăm, ngột ngạt, và không biết điều gì sẽ xảy ra. Đó có thể là một đàn dơi, hoặc cũng có thể là những con rắn độc. Hang động này đã bị “quái vật” chiếm giữ, coi như tránh được những rắc rối này, Juan đi suốt chặng đường mà không nhìn thấy một con bọ nào.

Vách hang lúc to lúc nhỏ, nơi rộng rãi có thể chứa được một chiếc xe tải quân sự, nơi hẹp thì phải nghiêng người sang một bên để lách qua, nhiều lần Telegin suýt trượt chân lăn xuống – vách đá mà ông ta đang bám vào đột nhiên biến mất, biến thành một đoạn đứt gãy trống, bên trong có tiếng gió gào thét, còn có thể nghe thấy tiếng nước chảy yếu ớt.

“Đây là một ngã ba đường.” Lotta ném một hòn đá nhỏ xuống, lắng nghe tiếng nó lăn xuống sau khi chạm đất, nói một cách chắc chắn. “Phải dùng dây treo hơn hai mươi mét mới xuống được.”

“Không đủ dây, chúng ta sẽ không đi hướng này.” Juan kiên định nói.

Lotta không phản bác, mặc dù ông ta yêu thích phiêu lưu mạo hiểm, nhưng bảo vệ mạng sống mới là điều quan trọng nhất lúc này.

Sau khi mò mẫm khoảng một trăm mét, Juan cảm thấy có gió đồng thời thổi từ hai phía lại, trước mặt anh lại là một bức tường đá cứng.

“Con đường ở hướng này.” Telegin và Lotta đồng thanh nói.

Ba người bắt đầu rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan, không biết nên đi theo hướng nào. Hai bên đều có gió lạnh, con đường đi vào đều rất sâu.

“Có thể hang động bên trong núi Arabika thông nhau, chúng ta có cơ hội trốn thoát.”

Lời giáo sư Telegin nói khiến mắt Juan sáng lên.

“Trợ lý của tôi đang bị nhốt trong doanh trại, tôi không thể bỏ đi được.” Lotta cáu kỉnh nói.

Đội ngũ tạm thời dường như nảy sinh bất đồng ý kiến, Juan lập tức khuyên nhủ: “Có lẽ cả hai con đường đều dẫn xuống lòng đất, không có đường nào để trốn thoát cả, chúng ta tranh cãi ở đây cũng vô ích, nên lựa chọn càng sớm càng tốt…”

Juan đột nhiên cảm thấy đau đầu dữ dội.

Sạt sạt sạt.

Có một âm thanh lạ phát ra từ lối đi bên phải.

“Bên này!” Juan cố gắng tóm lấy giáo sư Telegin, lao sang lối đi bên trái.

Lotta cũng rơi vào trạng thái khó chịu dữ dội, ông ta không biết chuyện gì đang xảy ra nhưng bản năng thôi thúc ông ta đi theo.

Juan toàn thân run rẩy, tóc gáy dựng đứng.

Lúc này, con đường bỗng nhiên bị gián đoạn, Juan hụt chân một cái, cả ba người cùng nhau xuống.

Tõm.

Bên dưới hang động là một đầm nước. Diện tích đầm nước rất rộng, cách đoạn cuối lối đi chỉ bốn năm mét, Juan thoát chết trong gang tấc.

“Nhanh lên, hít một hơi thật sâu.” Anh dẫn theo Telegin và Lotta đang sợ hãi cùng lặn xuống nước.

Trong hang tối đen như mực, không thể nhìn thấy gì. Dòng nước ở đáy đầm chảy rất nhanh, Juan bị cuốn đi một quãng đường dài, cuối cùng bị đẩy vào một khúc cua do nham thạch tích tụ lên tạo thành. Lực tác động đã được ba lô đỡ lấy, chỉ hơi đau nhức. May mắn trong bất hạnh, mực nước vẫn cách vách hang một khoảng.

Juan ngoi lên mặt nước, thở hổn hển rồi lao tới cứu Telegin cũng đang nằm trên tảng đá.

“Đó là… quái vật à?” Telegin run giọng hỏi.

“Không phải.” Juan không cho Telegin thở phào, nói tiếp: “Đó là tà thần.”

“Cái gì?” Telegin hét lên.

Lotta không biết đã trôi dạt đến đâu, đang hét gọi về hướng này từ xa.

Telegin nắm chặt lấy tay Juan, run rẩy hỏi: “Cậu, có chắc không?”

Juan gật đầu, rồi nhớ ra nơi này tối quá, không thấy gì cả. “Tôi chắc chắn.”

Juan nghĩ, theo kinh nghiệm đau đầu khi gặp bốn tà thần của anh thì thứ vừa rồi chính là tà thần.

Rất may là họ chạy nhanh, chạy kịp thời, nên mới không đụng phải.
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 125


<b>Chương 125</b>

<b>Tìm đường</b>

Nhiệt độ nước của sông ngầm trong hang rất thấp, cái lạnh thấm vào từng khe hở trong xương.

“Không thể nào! Không phải đâu!” Telegin nghe thấy tiếng răng mình va vào nhau lập cập, không biết là vì lạnh hay vì sợ. Mặc dù không thể nhìn thấy gì ở đây, ông ta vẫn trợn to mắt, rít lên ý kiến của mình: “Sức mạnh của tà thần sẽ ảnh hưởng đến môi trường xung quanh, dù là động vật hay thực vật đều sẽ xuất hiện đột biến, núi Arabika chỉ có vài vụ mất tích thôi… Không thể là tà thần! Nếu là tà thần, thì chúng ta đã chết khi vừa vào hang động rồi.”

Giáo sư Telegin nói có sai không? Không sai.

Nếu Juan chưa từng gặp tà thần thì chắc chắn sẽ tin vào “lý lẽ” và “thường thức huyền bí học” của Telegin. Nhưng Juan đã từng gặp hóa thân của tà thần, anh biết nếu tà thần không muốn gây ra tai họa, họ có thể ẩn mình trong đám đông, bởi vì hầu hết mọi người đều không thể nhìn thấy sự tồn tại của họ. Mặc dù luôn có bão tố, dịch bệnh, sương mù dày và các hiện tượng khác khi họ xuất hiện, nhưng so với những thảm họa thiên nhiên khủng khiếp được mô tả trong sách thì có thể coi là êm đềm. Hơn nữa, các tà thần còn có chênh lệch mạnh yếu, sức mạnh của họ còn có thể bị hạn chế do hoàn cảnh đặc biệt… Đây chính là kinh nghiệm quý giá mà cuộc phiêu lưu vượt thời gian và không gian đến Thủ phủ của Cướp biển mang lại cho Juan.

Juan không biết tình hình của tà thần ẩn nấp trong hang động này ra sao, cũng không có hứng thú muốn biết, dù sao thì anh cũng chỉ cần xác định hai điều: thứ nhất, cái thứ này là tà thần, cho nên không được bất cẩn; thứ hai là phải thoát khỏi cái hang này.

“Giáo sư Telegin, tôi không đùa, cũng không cần phải dọa ông đâu.” Juan có thể cảm nhận được lực nắm của Telegin trên cánh tay mình lớn đến thế nào, anh không đẩy ông ta ra mà chỉ nhắc nhở: “Hơn nữa dù chỉ là sinh vật đột biến, nếu tiếp xúc lâu dài thì chúng ta cũng sẽ bị ảnh hưởng, trong khi ở đây khắp nơi đều có nước.”

Telegin lập tức trèo lên đá.

Người Liên Xô cho rằng những sinh vật đột biến đó đã bị nhiễm virus, điều này thực ra cũng có lý, thứ đột biến này có thể lây truyền được. Các mạch nước ngầm ở núi Arabika phát triển mạnh, quanh năm xói mòn các lớp đá trên núi, các dòng nước thông với nhau trở thành nguồn lây nhiễm tự nhiên.

“Chúng ta rơi từ đâu xuống?” Telegin đưa tay ra thì phát hiện đã chạm lên đến trần hang.

Đá ở đó sắc bén đến nỗi cắt rách luôn găng tay của Telegin. Đây là loại găng tay dày dùng khi leo núi, xét thấy con người thường bị trầy xước trong lúc bám vào đá khi mất thăng bằng nên mới trang bị, nhưng không thể chống lại độ sắc bén của đá vụn trên đỉnh hang. Telegin cảm thấy không ổn liền rụt tay lại, nước chảy vào găng tay theo vết rách, ông ta rùng mình, suýt nữa thì tưởng có một con côn trùng đang bò vào. Bình thường thì Telegin chẳng thèm quan tâm đến một con bọ, dù có độc cũng chỉ cần hất nó đi là xong. Nhưng ở đây tối quá không nhìn thấy gì cả, ông ta lại còn bị tin tức vừa rồi dọa cho hết hồn.

“Cậu nói đúng, chúng ta cần phải trốn thoát.” Telegin hít một hơi thật sâu, bắt đầu tìm đường. “Nơi này… xung quanh chỉ có vách đá.”

Telegin thấy mình và Juan đang ở trong cái gọi là “hốc khí” của hang động, bốn mặt là đá, dưới chân là nước. Nếu mực nước dâng lên, cái hốc nhỏ này sẽ bị ngập hoàn toàn. Nguồn không khí trong hốc khí là khe đá, lượng tồn không xác định, tùy thuộc vào khoảng cách giữa cái hốc này và mặt đất. Từ khi vào hang, họ đã đi bộ hơn ba giờ, đường đi trong hang có lúc dốc, có lúc lại bằng phẳng, rất khó để tính toán họ đã đi xuống sâu bao nhiêu dưới lòng đất. Lúc trước trong ba lô có khí áp kế, nhưng bây giờ không tiện lấy ra kiểm tra. Tóm lại là họ không thể ở đây lâu được, một khi không khí trở nên loãng hơn, cơ thể cũng sẽ yếu đi do thiếu oxy, sẽ rất khó để bơi ra ngoài.

Telegin kinh hãi. Ông ta có vài kinh nghiệm từ các cuộc thám hiểm khoa học thực địa, nhưng tất cả đều trong tình huống có đủ nguồn cung vật tư, thám hiểm hang động là một môi trường khắc nghiệt, ông ta chỉ từng đọc được thông tin về phương diện này.

Ào ào.

Xung quanh vang lên tiếng nước và tiếng Juan th* d*c.

“Dưới nước có đường, đi theo tôi.” Juan bình tĩnh nói.

“Cậu phát hiện nhanh thế?” Telegin cảm thấy hơi thất vọng, phát hiện mình không những không đủ bình tĩnh, còn chậm một bước trong việc tìm đường.

Juan đáp: “Vừa rồi tôi nghe thấy tiếng ông Lotta gọi chúng ta ở đằng kia, nên tôi đi về hướng đó, quả nhiên ở đó có một khe hở trên vách đá dưới nước.”

Họ không thể quay lại theo đường cũ. Thứ nhất, họ không biết tà thần còn ở đó hay không, thứ hai, trước đó họ ngã lăn xuống đầm nước, xuống thì dễ chứ leo lên thì không đơn giản chút nào. May mà nước ở đây không quá sâu, nếu không sức nặng của một cái ba lô cũng đủ kéo họ xuống đáy.

Telegin không biết mình đã bơi được bao xa, sau khi rời khỏi hốc khí, ông ta nổi lên hai lần để thở, cuối cùng cảm thấy mực nước đang rút dần. Ông ta leo lên bờ, nằm đó nghỉ ngơi.

“Lotta đâu?”

“Không biết, tôi không thấy ông ta.” Juan cởi ba lô chống thấm nước, lấy ra một chiếc đèn pin.

Đột nhiên đèn bật sáng, Telegin vội nhắm mắt lại, nước mắt chảy dài trên khuôn mặt. Telegin mất khoảng hai phút để thích ứng với độ sáng. Ông phát hiện nơi này là một hang động lớn hơn, một bên là dòng sông ngầm đang tiếp tục chảy, một bên là một lối đi trong hang chứa đầy những khối đá vụn nằm rải rác. Mặt đất và vách hang ẩm ướt, không bằng phẳng, đầy những vết nứt nhỏ.

“Đó là cái gì?” Giáo sư Telegin kinh hãi hỏi.

Ông ta nhìn thấy những chùm lông tơ màu xanh tươi thò ra từ các khe hở. Chúng dường như bị ánh sáng đánh động, đang ra sức giãy giụa. Chẳng mấy chốc, một con lăn xuống đất, nó giống như một con sâu bướm, phát ra âm thanh sạt sạt. Rồi con thứ hai, con thứ ba… chúng tập hợp lại hành một quả cầu khổng lồ kỳ dị, miệng chảy ra thứ bùn có mùi hôi thối, cùng với những âm thanh quái đản, một cặp mắt màu xanh vàng lòi ra khỏi khe nham thạch, nhìn chằm chằm vào Telegin.

“Không, không…” Telegin ôm đầu, khuôn mặt vặn vẹo méo mó, không ngừng la hét.

“Giáo sư, bình tĩnh, không có gì cả! Ông đang bị ảo giác!”

Juan lao tới giữ chặt ông ta, kịp thời nhét một mảnh vải vào miệng Telegin để giúp ông ta không cắn phải lưỡi. Telegin cuộn tròn trên mặt đất run rẩy. Juan tắt đèn pin, lần mò dùng ống tay áo ngâm trong nước lạnh để lau trán cho giáo sư Telegin. Thật ra thì chỉ có thứ rêu thường thấy nhất trong các vết nứt của đá, Telegin đột nhiên sụp đổ, có lẽ là vì suýt phải chịu ảnh hưởng của tà thần. Juan nghe Hans nói người có ý chí quá kém cỏi sẽ chết ngay tại chỗ, còn người bình thường có thể chống chịu trong một thời gian, sau đó xuất hiện triệu chứng mê sảng. Juan nghĩ đêm nay Telegin có thể sốt cao, nhưng anh không ngờ nó lại xảy ra nhanh đến vậy.

Anh không chỉ lo lắng cho Telegin mà còn nghĩ đến ông Lotta mất tích, khiến anh càng lo lắng hơn. Juan nghi ngờ Lotta vừa rồi cũng lên cơn, hôn mê rồi bị dòng sông cuốn vào sâu hơn trong hang. Các triệu chứng mê sảng kéo dài ít nhất ba ngày, thường là bảy ngày. Nếu tình trạng nghiêm trọng thì có thể cả đời này cũng không khỏi được. Đáng lẽ phải đưa đến bệnh viện, nhưng họ đang ở trong một hang động ngầm không biết sâu bao nhiêu, tiến thoái lưỡng nan.

Juan lo lắng muốn bứt tóc, bất cứ khi nào anh cảm thấy vận may của mình đã chạm đáy thì tiếp theo đó, mọi chuyện sẽ phát triển theo hướng tốt hơn, cái đáy này sẽ sụp đổ ngay lập tức, đưa anh đi trải nghiệm cảm giác ngạt thở như khi nhảy khỏi vách đá.

“Ơ?” Juan đột nhiên cảm thấy chân mình trượt đi, suýt nữa thì ngã.

Là băng.

Một lớp băng mỏng xuất hiện trên nền hang động.

Juan vốn đã cảm thấy lạnh, nhưng vì anh vừa mới từ dưới nước lên bờ, chưa kịp phơi quần áo, cảm giác ớn lạnh toàn thân là chuyện bình thường, bên cạnh đó, anh còn lo lắng k*ch th*ch Telegin nên phải tắt đèn pin, chỉ có thể lần mò trong bóng tối, vậy là Juan không chú ý đến sự thay đổi nhiệt độ.

Rắc, rắc.

Âm thanh vô cùng nhỏ bé của những khối băng đang va chạm.

Juan vội quay lại, bật đèn pin để kiểm tra tình hình.

Ánh sáng chiếu lên mặt nước, có một người đang lặng lẽ đứng đó.

Bịch.

Juan sợ quá suýt đánh rơi đèn pin, anh lùi lại một bước và đụng phải giáo sư Telegin đang cuộn tròn trên mặt đất. Hai người va vào nhau, đầu gối của Juan đè lên vai và lưng của Telegin, cả hai cùng rên lên vì đau.

“Phù, phù…”

Juan không hiểu tiếng động đó phát ra từ đâu, mãi một lúc sau anh mới nhận ra đó là do mình đang thở hổn hển. Anh lảo đảo đứng dậy, cố gắng cầm chiếc đèn pin bị đụng lệch bằng những ngón tay đẫm mồ hôi, hỏi với giọng phức tạp: “Ngài Johnson?”

Người trên mặt nước chậm rãi bước tới.

Juan thực sự không hiểu tại sao Johnson có thể bước được những bước chân đều đặn dễ nghe trên lớp băng mỏng trên mặt nước. Âm thanh đó lại còn giống hệt như tiếng giày da bóng bước trên sàn đá cẩm thạch. Lẽ nào là sở thích của tà thần?

Johnson: Tưởng rằng việc bắt chước tiếng bước chân của con người có thể làm giảm bớt căng thẳng cho thám tử.

Lần này Johnson mặc một chiếc áo măng tô đen kiểu Anh, bên trong là một chiếc áo len màu xám nhạt, quanh cổ là một chiếc quàng khăn len kẻ sọc quấn hờ, và đôi giày da bóng quen thuộc dưới chiếc quần dài ống thẳng màu đen.

Bộ trang phục này không có gì sai, ngoại trừ địa điểm nó xuất hiện.

Juan hỏi, miệng khô khốc: “Tôi xin lỗi, đây… đây là nhà của ngài Johnson phải không?”

“Không phải.” Johnson cau mày. Một cái hang hoàn toàn không có chút ánh sáng mặt trời nào, con đường rộng nhất cũng không thể chứa nổi một chiếc thuyền? Có tặng y cũng chẳng thèm!

Chưa kể là trong môi trường tối tăm và chật hẹp này, ngay cả dòng năng lượng tràn vào cũng không lý tưởng… Có rất nhiều hang ổ “đáng sống” dành cho tà thần trên trái đất, nhưng cái tổ này thì không có tên trong danh sách, thậm chí còn không đủ điều kiện để có mặt trên bản đồ “bất động sản còn trống” của Typhon. Đó là lý do tại sao nó bị một thần mới nào đó chiếm giữ. Đúng, thần mới, và có vẻ không mạnh.

Johnson nhìn Juan, có vẻ rất kinh ngạc: “Sao anh lại ở đây?”

Juan muốn nói rằng đây chính là điều anh muốn hỏi. Nhưng trước mặt tà thần, đặc biệt là một vị tà thần rất có uy tín (có trả thù lao), thỉnh thoảng thích đùa ác (nhìn Juan mất trí nhớ chiến đấu với không khí), Juan vẫn nhanh chóng điều chỉnh thái độ của mình, thuật lại vấn đề bằng những câu đơn giản nhất.

Sau đó vẻ mặt của Johnson càng lúc càng kỳ quái.

Juan thề rằng anh đã nhìn thấy khóe miệng Johnson giật giật.

“…Phát âm thanh của điện đài ma quái vào trong hang bằng loa?” Johnson không biết phải nói gì. Những con kiến này thực sự dám nghĩ dám làm? Điều quan trọng là hình như y còn phải cảm ơn lũ kiến này. Bởi vì những kẻ nghe thấy tiếng điện đài ma quái mà hoảng sợ bỏ chạy đều là quyến thuộc của tà thần hoặc sinh vật đột biến, các tà thần chỉ cảm thấy ồn ào chứ không đáp lại.

Vậy thì đồng loại có phản ứng này sẽ là ai? Rất có thể nó chính là sản phẩm từ rác thải của thần Trí tuệ Thoth, đồng thời cũng là nguyên liệu sửa chữa cung điện nham thạch mà Gymir đang tìm kiếm, vì thế nó mới phản ứng dữ dội khi nghe thấy bản hòa âm chết chóc đến từ đảo Cát Lún. Hãy tưởng tượng xem sau khi trốn thoát khỏi nơi sinh ra, âm nhạc lại xuất hiện là nghĩa lý gì?

Johnson nhìn xuống giáo sư Telegin đang bất tỉnh, rồi nhìn sang Juan đang cảnh giác và phát sáng vì bị k*ch th*ch.

“Anh đã gặp tà thần đó rồi?”

“Gần như vậy.” Juan rất sợ hãi.

“Ta cần tìm nó.” Johnson nói thẳng, y thu lại hơi thở và sức mạnh của mình, lớp băng mỏng nhanh chóng tan chảy. “Từ giờ trở đi, ta là một nhà thám hiểm bị lạc vào hang động này, hay một kẻ thăm dò bị ép vào đây giống như anh… tùy anh thích nói sao, ta phải giả làm con người.”

Juan muốn nói điều gì đó, nhưng lại ngậm miệng lại.

“Sao thế?” Johnson hỏi thám tử.

Juan nói một cách khéo léo: “Ngài cần phải thay quần áo, thay đổi tiếng bước chân, nếu không dù tôi không bật đèn pin cũng chẳng ai tin ngài là con người.”
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 126


<b>Chương 126</b>

<b>Sai lầm trong nhận thức</b>

Juan phải mang theo ba lô nên rất khó cõng giáo sư Telegin. Đây là một cái hang, nhiều chỗ chật hẹp rất khó đi qua, cõng người trên lưng để đi là không thực tế, nếu muốn kéo người về phía trước thì lại không có vật gì thích hợp để làm cáng.

Điều mà Juan lo lắng không phải là vấn đề trong mắt Johnson, chỉ một giây là có thể giải quyết.

Juan kinh ngạc nhìn giáo sư Telegin gục đầu đứng dậy, mắt vẫn nhắm chặt, động tác cứng đờ và chậm chạp, theo sau Juan từng bước một về phía trước. Cho dù là leo trên hang động, chui qua khe hở hay bơi qua dòng chảy ngầm, các chuyển động của hai người đều giống hệt nhau.

Juan: “…”

Juan càng cảm thấy lạnh hơn. Cái này chính xác là một “thây ma” bất tỉnh nhưng còn thở được! Nhìn xa hơn về phía trước, anh càng muốn tắt thở, người dẫn đường lại là một tà thần cải trang thành con người. Vậy khi nào cuộc phiêu lưu thám hiểm hang động này mới có thể kết thúc?

Johnson không thích phong cách của bộ quần áo leo núi trên người Juan chút nào, sau khi suy nghĩ vài phút, y thay cho mình chiếc áo khoác màu nâu, quần vải bạt dày sậm màu, và đội thêm cái mũ màu xám đen. Bộ trang phục này trông rất giống hình minh họa của một tạp chí cũ từ những năm 1920.

“Lần đầu tiên ta gặp John Doe, anh ta đã mặc quần áo như thế này.” Johnson nghiêm túc giải thích với Juan. Một thám tử tay chân nhanh nhẹn có thể mặc như thế này thì tà thần cũng có thể, không thể nào không giống người!

Juan hiểu được ẩn ý của y, nên quyết định nuốt lời thuyết phục xuống, tiếp tục giữ im lặng.

Johnson cũng “thay” tiếng bước chân cũ bằng tiếng bước chân của Juan. Nó là một kiểu thay thế rất cứng ngắc, như thể tiếng bước chân cũng giống một cái đĩa than có thể phát ra bất cứ thứ gì theo ý tà thần muốn, dù sao thì nó hoàn toàn không khớp với nhịp điệu chuyển động của Johnson.

Và thế là một hiện tượng kinh dị không thể giải thích được đã ra đời. Trong hang động tối tăm quanh co, phía trước vang lên tiếng bước chân của mình, phía sau có một con bù nhìn đang bắt chước động tác của mình. Juan không khỏi trợn mắt, thật là thần kỳ, thế mà anh không sợ đến chết! Chẳng những không sợ chết khiếp mà còn rất yên tâm! Suy cho cùng, tà thần là người dẫn đường.

Sau vài phút, Juan đã hối hận.

Ánh đèn pin chiếu vào “con đường” đột nhiên gãy mất trước mặt, Juan đờ đẫn nhìn Johnson đang ở cách đó bảy tám mét, nói: “Tôi không thể nhảy qua khoảng cách này được.”

“Hở?”

Johnson bối rối quay đầu lại, nhìn chăm chú vào một đoạn lối đi đã sụp đổ. Y bước đi rất dễ dàng như thể chỉ đang bước qua một cái hố nhỏ, một giây trước vẫn ở phía trước Juan, giây tiếp theo đã ở đầu bên kia của hố.

Juan không thể không nhấn mạnh: “Người bình thường không thể nhảy qua, thêm một lần chạy đà nữa cũng vô ích, nhà vô địch thế giới thì ngoại lệ.”

“Nhà vô địch thế giới?” Johnson không hiểu.

Juan buộc phải giải thích: “Họ là những người có thể lực tốt nhất trong loài người.”

Johnson nhìn Juan một cái, gật đầu, tỏ ý đã hiểu.

Juan: “…” Anh cảm thấy mình bị tà thần chê rồi, nhưng anh không thể chứng minh được điều đó.

Johnson khẽ thở dài: “Chỉ có thể tìm một con đường khác, phải đi đường vòng rất lâu.” Tầm nhìn của tà thần không bị ảnh hưởng bởi ánh sáng, có thể nhìn xuyên qua đá và ngọn núi, con đường mà y chọn phải là con đường ngắn nhất và nhanh nhất.

Juan càng cảm thấy kỳ lạ hơn, giống như tà thần đóng vai trò là hướng dẫn viên miễn phí với một tấm bản đồ chỉ đường chính xác, ai ngờ con người không thể đáp ứng được kỳ vọng, không thể vượt qua được, hướng dẫn viên không còn cách nào khác là phải nhảy trở lại từ vách đá đối diện, dẫn con người xuống núi để tìm con đường mới. Thế giới này thực sự đang ngày càng trở nên vô lý.

Juan cúi đầu, quay lại trong im lặng.

“Ủa?” Johnson đang đi phía trước đột nhiên biến mất khỏi ánh đèn pin. Juan sửng sốt, lối đi không bị chặn, bên cạnh cũng không có ngã rẽ!

“Ở đây.” Johnson cúi xuống, vẫy tay với Juan.

Juan nhìn vách đá phía trên đầu mình một cách vô cảm. Anh đã sai, thật ra có một ngã rẽ, chẳng qua là nằm ngay phía trên đầu. Đây là lần thứ hai họ đi trên con đường này, Juan cả hai lần Juan đều không nhận ra điều đó cho đến khi Johnson gọi anh. Juan đánh giá độ cao, phát hiện ra rằng mình có thể leo lên bằng móc và dây thừng, anh bắt đầu leo lên một cách dứt khoát.

Đoạn đường bên trên rất thấp. Juan cụng đầu đánh cốp, Telegin trèo lên ngay sau anh cũng bị cụng đầu y hệt.

Juan: “…”

Juan không còn sức để nói nữa. Anh không thể hiểu nổi khi nhìn Johnson trước mặt, đoạn hang này chỉ cao nửa mét, làm thế nào mà Johnson đứng thẳng và đi được? Bóp méo không gian à? Quả nhiên tà thần không liên quan gì đến khoa học hay logic cả.

Juan di chuyển cẩn thận trong tư thế khom người. Không khí trong lối đi thấp này cũng ngột ngạt, sau mười phút, thể lực của Juan cạn kiệt, anh chỉ có thể ngồi xổm ở đó để thở.

Johnson nhận thấy thám tử không theo kịp, y suy nghĩ một chút rồi ân cần động viên: “Kiên trì một lát nữa, phía trước là có thể đổi đường.”

“Đó là lối đi mở phải không?” Giọng Juan như bị bóp nghẹt.

“Không, có một con sông, có thể trôi dọc theo sông một lúc.” Johnson nghĩ rằng đây là một cách đi lại tiết kiệm sức lực.

Juan không nhịn được nữa: “Con người khi ngâm mình trong nước lạnh lâu, cơ bắp sẽ bị chuột rút, nguy cơ đuối nước tăng cao.” Anh thấy hết rồi, tà thần dẫn đường không đáng tin chút nào!

Johnson tiếc nuối nghĩ, không thể đi đường tắt, phương án tiết kiệm sức cũng bị bác bỏ, con người đi thám hiểm khó thật đấy.

Trong lúc giải lao, Juan lắng nghe tiếng nước chảy, hỏi một câu hỏi mà anh đã ấp ủ từ lâu.

“Xin lỗi, thưa ngài Johnson, ngài có quen biết tà thần sống ở đây không?”

“Sao anh lại cho rằng các tà thần có quen biết nhau?”

Các học giả huyền bí học khác mà nghe tà thần hỏi như vậy có lẽ sẽ sợ quá ngậm miệng luôn, không bao giờ nhắc đến chủ đề này nữa, nhưng Juan dựa vào cảm giác của mình phỏng đoán, lời Johnson nói có thể hiểu theo nghĩa đen, anh chỉ cần thành thật trả lời là được.

“Ồ, tôi nghĩ đối với tà thần, trái đất giống như một khu phố trong thành phố của con người, các tà thần dù không thân thiết với nhau thì cũng quen mặt nhau.”

“Nếu người hàng xóm cùng khu nhà không bao giờ ra khỏi cửa thì sao?”

“A…” Juan hơi hiểu ra rồi, nhưng cũng không hiểu quá rõ: “Nhưng dù sao thì cũng nên biết là trong nhà có người hay không, người đang ở đó là ai chứ?”

“Nhà có nhiều nhưng hàng xóm lại ít, hơn nữa những hàng xóm này có thể lặng lẽ tăng lên hoặc biến mất… dù chuyển sang nhà khác hay sang khu phố khác cũng sẽ không nói cho người khác biết, vậy ai biết được có bao nhiêu người sống trong khu phố này, và họ sống ở đâu chứ?”

Johnson không giải thích tại sao hàng xóm lại biến mất vô cớ, nhưng Juan đã chứng kiến cuộc đối đầu giữa bốn tà thần ở Thủ phủ của Cướp biển, anh nhanh chóng hiểu ra. Hay thật, đây là một khu phố của bọn sát nhân! Không có giới hạn, không có quy tắc!

Juan toàn thân ớn lạnh, sợ hãi hỏi: “Ngài Johnson đến thăm hàng xóm, là, để…” Để giết đồng loại à?

Johnson nghĩ từ “thăm” thật kỳ lạ, vì nó không phải là từ được sử dụng trong xã hội của tà thần, nhưng y nhanh chóng hiểu được những gì Juan chưa nói.

“Vẫn chưa chắc chắn lắm, ta phải tận mắt nhìn thấy tà thần này rồi mới tính tiếp.” Johnson trầm ngâm.

Tà thần ẩn nấp trong cái hang này rất giỏi che giấu hơi thở của nó. Nếu thám tử Juan không rơi xuống hang, Johnson sẽ chỉ đi ngang qua doanh trại để xem xét vì tiền nợ sử dụng điện đài ma quái thôi, chứ không hề phát hiện ra có một tà thần ẩn nấp trong lòng ngọn núi này, có lẽ y cũng sẽ giống như những con người đó, cho rằng đó là một sinh vật đột biến hoặc một quyến thuộc của tà thần.

Điều này rất thú vị.

Johnson đã từng gặp và từng nghe nói tới hàng chục tà thần. Không có tà thần nào có thiên phú ẩn nấp như vậy. Đánh giá từ kinh nghiệm trưởng thành của bản thân Johnson, hình thái của bản thể tà thần đã hoàn thiện trước khi lý trí tỉnh táo được sinh ra, có ý thức mơ hồ về bản thân, có những thói quen hành vi nhất định, và có những sở thích riêng.

Ví dụ như bản thể của Johnson tìm thấy một con thuyền buồm Tây Ban Nha dưới đáy biển, chui vào đó ghép cái này dính cái kia lại với nhau, khi nâng con tàu lên mặt nước để phơi nắng thì bị đội tàu dẫn đường của con người phát hiện. Tà thần sẽ không che đậy được sức mạnh và hơi thở mà mình tỏa ra, những thuyền viên đầu tiên phát hiện ra con tàu ma đều bị điên hoặc đã chết. Theo truyền thuyết con tàu ma trong sách vở của loài người, họ tin rằng trên con tàu ma có lời nguyền và cũng có kho báu. Những người tin vào lời nguyền thì đi đường vòng, may mắn sống sót. Những người tin vào kho báu thì liều lĩnh lên tàu, chết không toàn thây. Khi học giả huyền bí học và đội thám hiểm điều tra tồn tại huyền bí lần lượt xuất hiện, quỹ đạo di chuyển của con tàu ma bị phát hiện, chính vì thế mới có kế hoạch của mục sư Cornell và khoản đầu tư của Brandon Lớn, rồi dẫn đến bi kịch hoang đường là hiến dâng vật tế cho tà thần con tàu ma.

Vì vậy, ngay cả một thần mới bẩm sinh không có lý trí hoặc chưa sinh ra lý trí nhìn chung đều không có thói quen lẩn trốn. Bầu không khí hỗn loạn, mất trật tự của tà thần và những ảnh hưởng bất thường đến môi trường xung quanh là bẩm sinh. Thần mới sẽ không che giấu hơi thở của mình cho đến khi phải đào sâu tìm hiểu về đồng loại và những sinh vật mỏng manh trên trái đất, bởi vì họ hoàn toàn không có khái niệm này.

Johnson tin chắc rằng trong số những đồng loại đang sống, không có tà thần nào hiểu rõ hành vi của con người hơn mình! Chẳng lẽ thần mới trong hang động này giỏi hơn y trên phương diện kiến thức này? Không thể nào, đó chắc chắn là phế phẩm thí nghiệm của thần Trí tuệ, thần mới trốn thoát khỏi cung điện nham thạch sinh ra với nỗi sợ bị “chủ nhà” phát hiện, dù chủ nhà không còn ở trên trái đất nhưng nó vẫn giữ được thiên phú này.

Johnson càng nghĩ càng thấy có lý, ánh nhìn của y xuyên qua vô số bức tường đá, hướng vào sâu trong hang động.

“Nghỉ ngơi đủ chưa?” Johnson ôn hòa hỏi thám tử.

Juan lặng lẽ bò dậy, anh có dám nói chưa đủ không? Tà thần làm người dẫn đường, anh còn làm được gì? Nếu từ chối thì không thể thoát ra được, còn không từ chối… xu hướng phát triển của sự việc là đi tìm tà thần trong hang đấy!

“Tôi có thể đưa giáo sư Telegin lên mặt đất được không?” Juan cẩn thận thăm dò khả năng trốn thoát.

Johnson liếc nhìn Telegin đang bất tỉnh, rồi nói: “Theo cách nói của con người, ông ta có thể bị đưa vào nhà thương điên.”

Mặt Juan tái nhợt, anh nghĩ đến những chuyện tệ hại hơn, tỉ như sau khi đột biến bị đưa đi làm thí nghiệm trên người. Juan biết rằng một số người từng tiếp xúc với tồn tại huyền bí có những đột biến nhẹ, chẳng hạn như mắt của Hans và tai của Cindy. Nếu giáo sư Telegin không may thể hiện ra triệu chứng này thì ông sẽ gặp rắc rối.

“Giáo sư Telegin còn có thể cứu được không? Hoặc tôi có thể để ông ấy lại một nơi khô ráo, an toàn trong hang, khi tôi quay lại thì cứu ông ấy.” Juan cố gắng nghĩ ra giải pháp.

Johnson khá kinh ngạc: “Anh có thể nhớ được con đường đã đi qua sao?” Y đã từng thấy khả năng nhận biết phương hướng của Juan trước đây, nhưng đó là khi ở trên mặt đất.

“Rất miễn cưỡng, tôi chỉ chắc chắn 80%.” Juan không nói dối, bộ não của anh chính là bản đồ. Nếu nơi này không tối tăm, hang động không bị nước xói mòn làm cho phân tán thì không phải 80%, anh dám nói 100% có thể tìm được đường ra, sẽ không bị lạc!

Johnson lắc đầu nói: “Không được, tà thần này rất giỏi ẩn nấp, ta không phát hiện được sự thay đổi sức mạnh yếu ớt như vậy, chỉ có thể dựa vào con người. Người tên Telegin này đang trong tình trạng thần trí hỗn loạn do bị ảnh hưởng bởi tà thần trong hang, nên ông ta sẽ phát hiện mục tiêu chúng ta đang theo dõi nhanh hơn anh.”

Juan: “…” Anh sai rồi, hóa ra trong mắt tà thần dẫn đường, họ là công cụ thăm dò kẻ thù.

Hay cho cái gọi là lợi dụng lẫn nhau.

Lúc này Johnson bổ sung thêm một câu rất đúng lúc: “Ta sẽ trả thù lao.”

Lý trí của Juan muốn từ chối, nhưng cơ thể anh không thể kiểm soát được, anh nghe thấy mình phát ra một câu mừng rỡ: “Thật sao?”



<i>Người dịch: Thám tử nào được Johnson bới ra từ trong đám người cũng có những khả năng bẩm sinh hơn người, và luôn xui xẻo. =))</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 127


<b>Chương 127</b>

<b>Mất kiểm soát</b>

Hai giờ sáng, ánh đèn trong khu doanh trại mờ ảo, không có lính tuần tra, bầu không khí có phần bất thường.

Trạm gác bằng đá kiên cố đối diện núi Arabika chật kín người.

“Báo cáo, không có âm thanh bất thường.”

“Không phát hiện người thăm dò đã vào hang.”

Những ngọn núi xám đen tắm trong ánh trăng nhìn từ kính viễn vọng quân dụng trông như một bức tranh trừu tượng vô danh được tạo nên từ những mảnh bóng đổ. Vì đã đóng quân ở đây hơn một tháng, người quan sát nhắm mắt cũng vẽ ra được cách nham thạch phân bổ trên sườn núi này, cho dù là một cái bóng mơ hồ, họ cũng có thể so sánh nó với khung cảnh ban ngày trong trí nhớ của mình, loại bỏ từng mối nghi ngờ.

Đây là giờ thứ mười sáu tính từ khi Juan, giáo sư Telegin và ông Lotta bước vào hang động bí ẩn. Ngày thứ chín điện đài ma quái biến mất. Con quái vật ẩn náu trong hang mấy ngày nay không hề gây ra tiếng động nào, có người đã nghi ngờ rằng quái vật đã đào một lối đi khác để trốn thoát khỏi núi Arabika. Người phụ trách doanh trại quyết định cử người vào thăm dò hang động sau khi cân nhắc toàn diện từ nhiều khía cạnh.

Trong giờ đầu tiên, một vài binh lính còn bí mật đặt cược vào khả năng sống sót của Juan và những người khác.

Vào giờ thứ tư, doanh trại tăng cường cảnh giác phòng thủ. Tất cả các xe bọc thép đều phải có người điều khiển, súng đạn phải trong trạng thái sẵn sàng, đề phòng quái vật bất ngờ lao ra khỏi hang tấn công.

Đến giờ thứ tám, mọi người đều nôn nóng chờ đợi.

Vào giờ thứ mười, bầu không khí bắt đầu trở nên kỳ lạ. Dù sao đi nữa, đội thám hiểm được cử vào hang cũng phải quay trở lại, bởi vì thời gian sử dụng đèn pin có hạn, những lá cờ nhỏ dùng để đánh dấu và dây thừng mà họ được trang bị để tránh bị lạc cũng vậy, ba người có thể mang theo bao nhiêu trong ba lô? Trọng lượng mười kilogram là giới hạn, ngay cả khi không có quái vật, việc khám phá hang động vẫn đầy rẫy những rủi ro khó lường.

Đây là lý do tại sao người đứng đầu doanh trại không muốn để cho binh lính của mình mạo hiểm vào hang động. Hang vừa tối tăm vừa chật hẹp, có nhiều khúc quanh ngoằn ngoèo, có chỗ cao thấp khác nhau do nước chảy bào mòn, có thể có côn trùng độc hoặc rắn độc ẩn náu trong các kẽ đá. Ở một nơi như thế này, sức mạnh về quân số chỉ là vô ích. Những người thiếu kinh nghiệm phiêu lưu mạo hiểm mà chui vào thì chỉ có chết.

Nhưng những người lính trong doanh trại lại không nhận ra rằng mình được “chăm sóc”, bởi trong mắt họ, kẻ hung ác và tàn ác nhất trên thế giới luôn là “con người”. Đây là thường thức mà cuộc chiến tranh từ mười mấy năm trước đã dạy cho họ. Dù là người ngoài hành tinh hay quái vật bị nhiễm virus, chẳng phải chỉ cần mặc quần áo nhiều hơn, dày hơn là bắt được nó sao? Trì hoãn ở trên núi lâu như vậy làm binh lính bắt đầu than phiền, họ cho rằng cấp trên làm việc chậm chạp, không dứt khoát cũng không sảng khoái chút nào.

Những cảm xúc nóng nảy này trở nên cực kỳ rõ ràng vào tối nay. Ban ngày mọi người đều nhận được lệnh đề phòng con quái vật xông ra, có thể tự do tấn công, thế nhưng chờ mãi đến tận đêm khuya mà núi Arabika vẫn không có động tĩnh gì.

Điều này rất khó xử. Nếu không bắt được quái vật thì không thể rút lui, họ sẽ phải tiếp tục đóng quân trong núi. Những bầy sói hoang và linh dương hoang dã ban đầu sinh sống ở vùng núi này đều bị quái vật dọa chạy hết, muốn săn bắn cải thiện thức ăn thì phải đi qua nhiều ngọn núi khác. Tín hiệu ở vùng núi không tốt, thiết bị thu tín hiệu duy nhất được cài đặt cố định để theo dõi một kênh duy nhất trong thời gian dài, họ không thể nghe tin tức từ Moscow hay nghe các trận đấu thể thao, cuộc sống thật ngột ngạt.

“…Chúng mày nghĩ ba người nước ngoài đó có chết trong hang động không?”

Trong doanh trại bên dưới trạm gác, vài người lính ngồi đằng sau một chiếc xe bọc thép hạng nhẹ đang thì thầm nói chuyện. Bên cạnh họ là một chai rượu được chuyền tay nhau, mỗi người một ngụm trong gió đêm lạnh lẽo xen lẫn vụn băng.

“Là người Pháp, lâu lắm rồi mà không thấy ra, chết chắc.”

“Không phải người Pháp là cái đám mới bị bắt ngày hôm qua sao, tao nghe nói trước đó là một giáo sư khảo cổ học người Nga đang làm việc tại Pháp, tên Telegin ấy, ông ta còn nói chuyện với tao, mà bị người Pháp lây cái bệnh hèn nhát rồi… Còn một tên nữa có vẻ là người Tây Ban Nha hoặc Mỹ Latinh gì đấy?”

“Bọn họ mà chết, ngày mai có thể sẽ phái một đội vào trong hang tìm kiếm.”

“Đáng lẽ phải làm việc này từ lâu rồi… Đợi một chút, tụi mày nghe xem là tiếng gì?”

Người nói đang uể oải nửa nằm trên mặt đất, nhưng đột nhiên gã lật người lại, áp tai sát xuống đất.

Có rung động nhẹ.

Ngoài ra còn tiếng gầm loáng thoáng.

“Có vấn đề!”

“Quái vật vẫn còn ở trong lòng núi, đúng vậy! Tên này gần mười ngày không nhúc nhích, còn tưởng rằng nó chạy thật rồi!”

Bọn họ nhảy lên vì phấn khích.

Ầm.

Đột nhiên một cái hố lớn xuất hiện trên mặt đất.

Hai người mất cảnh giác rơi thẳng vào đó. Còn một người nữa đang cố sức bám lấy mép hố, chân đá loạn xạ. Những người khác nhanh chóng nắm lấy cánh tay gã, rồi trơ mắt bất lực nhìn chiếc xe bọc thép bên cạnh trượt xuống hố. Lính trên xe bọc thép phản ứng rất nhanh, mở cửa nhảy ra ngoài.

Doanh trại trở nên hỗn loạn, mấy cái hố lớn đột nhiên xuất hiện, trong đó có một cái nằm ngay dưới lều, nuốt chửng hơn chục thùng vật tư và người đang nghỉ ngơi. Mọi người phẫn nộ hét lên, gọi tên những đồng đội rơi xuống hố, đáng tiếc chỉ có một vài người bám được vào khe hở trên đá, có cơ hội leo lên thoát thân.

Khói xám không thể nhìn thấy bằng mắt thường bốc lên từ dưới hố, từ từ lan ra bên trong doanh trại. Cảm xúc của con người dần trở nên điên cuồng, một tiếng súng vang lên, tình thế bắt đầu mất kiểm soát. Họ dường như nghĩ rằng con quái vật đang ẩn náu trong một cái hố phía trước, đồng đội của họ đã bị ăn thịt, thế là họ cầm vũ khí lên, bắn điên cuồng xuống bên dưới. Đạn cắm sâu vào đất và các tảng đá, trúng vào các thùng vật tư và xe bọc thép dưới hố, đạn lạc rải rác khắp nơi, liên tục có người bị thương do đạn lạc, ngã xuống vũng máu. Cho dù loa phóng thanh của doanh trại có hò hét to đến đâu cũng không thể ngăn chặn được sự hỗn loạn.

Mặt đất ngày càng rung chuyển dữ dội hơn, ngày càng xuất hiện nhiều hố sụt. Người đang chạy ở đó một giây trước mà thoắt một cái đã biến mất. Mặt đất của doanh trại như biến thành một cái sàng, thủng lỗ chỗ khắp nơi. Lều và xe cộ nghiêng ngả, kho đạn dược ở phía xa còn xảy ra một vụ nổ quy mô nhỏ. Những người vẫn còn giữ được lý trí nhìn khung cảnh hỗn loạn xung quanh, ấn lên cái trán đau nhức, không hiểu tại sao mọi người đột nhiên phát điên, hai mắt đỏ hoe.

“Đó là ảo giác, họ đang gặp ảo giác…”

Một âm thanh mơ hồ lọt vào tai, ánh sáng và bóng tối lay động, rồi ngửi thấy mùi khói thuốc súng nồng nặc.

“Bình tĩnh! Tất cả rời khỏi doanh trại, tập trung tại trạm gác!”

Người phụ trách doanh trại rống lên như muốn vỡ phổi, bảy tám bóng người lảo đảo lao ra khỏi làn khói.

Tất cả đều thảm hại, ánh mắt mờ mịt, vẻ mặt hoảng sợ. Nỗi sợ hãi này đến rất đột ngột, nhưng mạnh mẽ như một cơn sóng thần, ngay lập tức đánh tan ý chí kiên định như tường đồng vách sắt. Ý thức của họ dường như đang vùng vẫy trong cơn lũ, thậm chí họ không thể suy nghĩ mạch lạc được, chỉ có thể chạy theo dòng nước, đi theo những giọng nói quen thuộc, nghe theo bản năng để chống lại những đòn đánh điên cuồng của đồng đội… Ngay khi nỗi sợ hãi của họ sắp lên đến đỉnh điểm, sắp bị cơn lũ nuốt chửng thì mọi âm thanh đột nhiên biến mất.

Cả doanh trại lặng ngắt như tờ. Tiếng gào thét chói tai và vật lộn, tiếng đạn bắn vừa rồi… đã biến mất. Những người đứng bên ngoài doanh trại có thể nhận ra qua làn khói của ngọn lửa rằng bên trong thậm chí không có một bóng người. Như có một con quái vật xuất hiện, nuốt chửng tất cả những người đang sống trong tích tắc.

“Mau dập lửa!”

Một câu nói đã đánh thức tất cả mọi người. Nếu tiếp xúc với lửa quá lâu, đạn sẽ nổ. Đến lúc đó họ sẽ thực sự tiêu đời. Người ta hết sức cảnh giác khi lao vào hiện trường vụ cháy, tưởng rằng sẽ nhìn thấy một con quái vật gớm ghiếc và đáng sợ đang cố thủ trong doanh trại.

Nhưng không.

Người sống và người chết cùng ngã xuống đất, như đang bất tỉnh, cho dù bị lửa thiêu đến cũng không có phản ứng. Những rung động liên tục từ dưới mặt đất cũng biến mất. Quái vật đã chạy đi mất? Hay lại về dưới lòng đất ẩn náu?

Một người lính vác theo đồng đội bất tỉnh suýt nữa bị bắt lửa, đứng ngây người trong doanh trại. Sau đó, gã nhìn thấy một chiếc lều bị sập đang vặn vẹo.

“Đứng yên!” Gã cao giọng hét lớn, như muốn trút bỏ nỗi sợ hãi và bất an của mình.

Trước khi gã bóp cò, giọng nói của một cô gái vang lên từ bên trong.

“Không, không, cứu tôi với!” Đó là nữ trợ lý của ông Lotta đã bị bắt làm con tin trong doanh trại, mặt cô đầy nước mắt, cô cố gắng bò ra ngoài.

“Cô đã ở đây suốt thời gian qua à? Cô đã nhìn thấy gì?”

Hai người bất đồng ngôn ngữ, không thể giao tiếp dù đang hét vào mặt nhau.

Người lính thận trọng bước tới, đột nhiên liếc thấy một bóng người đứng ở rìa hố sụt. Gã nhanh chóng quay lại, giơ vũ khí lên cao, nhắm thẳng vào đó.

Đó là một người đàn ông đeo một chiếc mặt nạ sáng lòe lòe kỳ lạ, ăn mặc như một diễn viên kịch nói.

Một cảm giác nhức nhối như dùi đâm đột nhiên xuất hiện không vì lý do gì, người lính bóp cò không chút do dự.

Viên đạn bay đến trước mặt người đàn ông kỳ quái rồi dường như biến mất, không có máu, không có tiếng trúng đạn, không có gì.

“A…” Người lính ném vũ khí, ôm đầu bỏ chạy.

Nữ trợ lý của ông Lotta bị bỏ lại, ngơ ngác nhìn về phía trước, người đàn ông đeo mặt nạ không xuất hiện trong tầm nhìn của cô, trong mắt cô, tên lính đột nhiên phát điên rồi bắn sạch một băng đạn vào không khí.

***

Gymir bước lên chiếc lều đã sập, đi đến bên cái hố lớn nhất trên mặt đất. Hắn không ngạc nhiên khi con người trong doanh trại này có thể nhìn thấy mình. Mấy ngày nay Gymir đã gặp phải tình huống này rất nhiều lần… tất cả đều là thính giả của điện đài ma quái.

Nếu không thường xuyên nghe thì coi như có tiếp xúc với tồn tại huyền bí, sẽ thấy rất nhiều điều kỳ lạ, thậm chí còn bị bệnh nặng, nhưng rồi khi điện đài ma quái biến mất hoàn toàn, vận rủi này sẽ biến mất khỏi cuộc đời họ. Nhưng nếu lợi dụng điện đài ma quái, còn tạo ra “liên kết” với tà thần, quyến thuộc của tà thần hay các sinh vật đột biến khác thì mọi chuyện sẽ phức tạp hơn. Nếu gặp sinh vật đột biến thông thường thì chỉ có khả năng bị lây nhiễm đột biến, nếu chạm đến sức mạnh của tà thần khác thì nguy cơ tử vong sẽ tăng lên gấp mấy lần, thậm chí hàng chục lần.

Gymir tin rằng nếu hắn và Johnson ngủ dưới đáy biển thêm một năm nữa thì khi tỉnh dậy họ sẽ không phải lo lắng gì cả, những con người dám lạm dụng sức mạnh huyền bí của điện đài ma quái đã chết hết một loạt rồi, phần còn lại nếu không muốn chết thì sẽ không dám tiếp tục sử dụng điện đài ma quái.

Tóm lại là do thức dậy không đúng lúc!

Bây giờ số người chết vẫn chưa đạt đỉnh điểm, vì điện đài ma quái mới chỉ được phát liên tục trong nửa năm. Tà thần không quan tâm đến sự sống hay cái chết của loài kiến. Điều Johnson quan tâm là… trong số những người sử dụng điện đài ma quái, xác suất xuất hiện kiến phát sáng là rất cao, cao hơn rất nhiều so với quần thể bình thường! Điều này dễ dàng hơn nhiều so với việc tìm kiếm thông thường! Điện đài ma quái đã lọc tự động cho họ! Nguyên lý thì đúng, mỗi tội là khối lượng công việc hơi nặng nề. Việc quan sát lần lượt từng đàn kiến một khá tốn thời gian.

Gymir đuổi Typhon đi, đi dạo quanh thành phố của loài người vài lần để xem Johnson có hứng thú với điều gì không, rồi cùng Johnson đi tìm những con kiến phát sáng. Thỉnh thoảng gặp chỗ khả nghi, Gymir sẽ tách khỏi Johnson, đến thăm tà thần đang ngủ để hỏi xem có dấu vết của vật liệu sửa chữa cung điện nham thạch hay không.

Gymir xuất hiện ở núi Arabika vì “phát hiện” Johnson đã ở lại đây cả ngày. Có thám tử mới à? Trò chơi mới? Hay là…

Khi Gymir đến doanh trại thì tình cờ nhìn thấy một khung cảnh hỗn loạn. Có thứ gì đó ẩn sâu dưới lòng đất dường như đang chạy trốn. Khoan đã, là một đồng loại?

Gymir nhìn Johnson trong hang núi phía xa, sau đó nhìn xuống mặt đất. Đây chính là tà thần bị Johnson dọa chạy sao?

Vậy thì Gymir tất nhiên phải hợp tác với Johnson, chẳng hạn như chặn lối ra.

Gymir bước vào doanh trại, hơi thở của hắn ngay lập tức khiến tên kia từ bỏ ý định trốn thoát, rút lui xuống lòng đất một lần nữa.
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 128


<b>Chương 128</b>

<b>Lũ lụt trong hang động</b>

Tách.

Giọt nước rơi trên trán Juan.

Juan giật mình.

Nghe thấy những giọt nước từ trên vách đá rơi xuống như mưa rào, Juan nhanh chóng cất chiếc túi ngủ quấn quanh người đi.

“Nước dâng lên?” Juan kinh hãi hỏi.

Đang là tháng Tư, khi đợt tuyết cuối cùng trên núi tan, mực nước trong các sông ngầm dâng cao. Những hang động ban đầu không chứa nước cũng đã bị ngập nước, nước tràn qua các khe hở trên đá đi đến nơi khác. Khi một người đi trong hang động, dòng sông không nhất thiết phải ở bên cạnh hoặc dưới chân anh ta, mà có thể là ngay trên đầu, ví dụ như bây giờ, nghe âm thanh là biết được.

Chỉ sau vài phút, nước đã tích tụ trên mặt đất. Nếu toàn bộ lối đi ngập trong nước, con người sẽ giống như những con bọ bị mắc kẹt bên trong, không thể trốn thoát. Hơn nữa, đường đi trong hang rất phức tạp và rất khó để thay đổi lộ trình, đôi khi đi suốt ba tiếng đồng hồ mà không thấy một ngã rẽ nào trên đường. Đôi khi chọn ngã rẽ thì thấy rõ ràng là một con đường đi lên dần dần, nhưng chưa được vài phút sau là lối đi đột ngột rẽ xuống, một đường thẳng xuống lòng đất. Nếu lũ lụt kéo đến thì hối hận cũng đã muộn.

“Ngài Johnson?” Juan hoảng loạn kêu lên.

Đèn pin của anh đã hết pin, đèn pin trong ba lô của giáo sư Telegin cũng bị lục ra, giấu vào túi, chưa đến thời điểm quan trọng là không nỡ dùng. Bây giờ anh buộc phải bật lên, ánh sáng của đèn pin rất yếu, hầu như chỉ có thể nhìn thấy rõ trong phạm vi vài bước.

Telegin nằm bất động trong túi ngủ, nửa người đã bị ngâm trong nước đọng. Tim Juan đập thình thịch, anh vội chạy tới kiểm tra tình hình. Chưa chết, còn thở. Trán ông ta vẫn nóng hừng hực, miệng lảm nhảm nói những điều vô nghĩa. Chỉ có điều ông ta đã tiêu tốn rất nhiều sức lực do phải “đi” một quãng đường dài trong ngày, còn phải thực hiện một loạt các động tác khó như leo dây trong hang, ngồi xổm di chuyển, bơi qua sông. Ngay cả trong trạng thái mê sảng, được điều khiển bằng sức mạnh kỳ lạ, giáo sư Telegin cũng không còn sức để đứng dậy làm gì nữa, chỉ có thể nói mớ.

Juan không có tâm trạng nghe những lời vô nghĩa của Telegin. Anh dùng đèn pin soi khắp xung quanh, không thấy bóng dáng của Johnson.

“…” Có bắt chước con người thì cũng nên bắt chước cho ra dáng chứ, hết giờ làm rồi đi về là thế nào?

Tà thần biến mất vào thời điểm quan trọng, Juan chỉ có thể kéo Telegin lên để chuyển đến vùng đất cao hơn. Đồng hồ của Juan bị ngâm trong nước, đã ngừng hoạt động. Anh không biết bây giờ là mấy giờ, chỉ có thể ước tính đại khái mình đã ở trong hang bao lâu. Dù sao thì cũng chưa đầy ba ngày, Telegin chắc chắn sẽ không tỉnh lại. Sau khi gian nan đi một đoạn, chiếc túi ngủ quấn quanh người Telegin hoàn toàn chìm trong nước, nhờ sức nổi của nước, việc kéo nó trở nên dễ dàng hơn một chút, ít nhất thì đáy túi ngủ cũng giảm ma sát với đá.

“Nguy rồi.”

Juan đột nhiên nghe thấy tiếng nước chảy thay đổi. Anh cầm đèn pin lên soi, giật mình nhìn thấy trước mặt có một khe hở mà mắt thường có thể nhìn thấy, nước đang chảy ào ào từ đó vào. Juan hít một hơi, nhận ra tình hình còn tệ hơn anh tưởng, có thể có một con đường bên cạnh cũng ngập trong nước, mực nước còn cao hơn ở đây. Nước dần dâng cao, Juan vẫn bị mắc kẹt trong con đường này, không có lối thoát.

Đột nhiên, tầm nhìn của anh mờ đi. Juan như bị một bàn tay to lớn vô hình kéo “trượt” đi gần trăm mét thật nhanh trong lối đi, rồi rơi xuống một con dốc chéo phía trên. Juan xoa xoa cái mông đau nhức của mình, trợn mắt ngơ ngác nhìn nước lũ chảy ào ào trước mặt.

Không đúng, sao ở đây sáng thế?

Juan quay lại và thấy Johnson đang cầm trên tay một chiếc đèn pin rất quen thuộc, đứng đó lặng lẽ nhìn anh.

“…Thứ ta tìm thấy ở doanh trại.” Johnson nhấc cái ba lô màu xanh quân đội lên.

Juan vươn đầu ra nhìn, hay thật, có khoảng mười mấy cái đèn pin. Bên cạnh đèn pin là năm hộp cá và một chai vodka.

Juan: “…”

Lúc này, Juan nhớ lại trải nghiệm khi mình mất trí nhớ trong thị trấn đổ nát ở Ý. Khi đó Juan thật lòng cảm thấy mình rất may mắn vì luôn có thể tìm được thức ăn nước uống trong những ngôi nhà còn nguyên vẹn. Tại sao những thứ này không bị những người sống sót khác phát hiện? Bởi vì anh là người tỉnh táo duy nhất trong thị trấn. Những người sống sót đó ở trong trạng thái mê sảng, chỉ lấy đồ ăn đặt lộ liễu bên ngoài, còn những cái thùng giấu dưới gầm tủ sách và lon đồ hộp dưới gầm giường thì chắc chắn là an toàn, dù có điều lạ là người Ý lại thích tích trữ đồ hộp của Anh.

Hóa ra tất cả đều do tà thần sắp đặt!

Juan đờ đẫn cầm lấy “gói tiếp tế vật tư”, anh nghi ngờ tà thần đã cướp kho của doanh trại. Chuyện này sẽ sớm bị phát hiện thôi, không biết những người Liên Xô kia sẽ nghĩ thế nào. Thức ăn và rượu thì có thể bị ăn vụng, nhưng đèn pin bị đánh cắp thì sao? Đóng quân tại doanh trại là đơn vị lính của cơ quan bí mật quốc gia đang điều tra sự kiện huyền bí nữa đấy, lớn chuyện rồi!

Nhưng Juan không thể từ chối nguồn cung cấp vật tư này, dù sao mạng sống của mình vẫn quan trọng hơn. Những thứ khác thì chỉ có thể lo lắng sau khi rời khỏi hang động này một cách an toàn.

“Nhân tiện, ta còn tìm thấy một người trên đường.” Johnson bước sang một bên, cho Juan nhìn thấy ông Lotta nằm trong vũng bùn.

Juan tưởng rằng nhà thám hiểm này đã gặp chuyện bất hạnh rồi, không ngờ ông ta vẫn còn sống.

“Thật tốt, ba người chúng tôi đã cùng nhau đi vào.” Juan đến gần Lotta, vẻ mặt anh đột nhiên cứng ngắc.

Mặt ông ta đỏ bừng vì cơn sốt, môi trắng bệch và bong tróc, miệng còn lẩm bẩm những từ lạ lùng. Một bệnh nhân khác bị mê sảng. Tuyệt vời, một cái thây ma mới đã được thêm vào đội. Juan cảm thấy mình sống khó quá.

“Ồ, ta có một tin tốt và một tin xấu.” Johnson nói, bắt chước giọng điệu trong tiểu thuyết.

Juan thấy da đầu tê dại, anh nói khô khan: “Tôi đoán cả hai tin tức này đều không tốt cho tôi?”

Johnson bật cười. Juan luôn thú vị, không thông minh bằng John nhưng đùa với anh rất vui.

“Đồng minh… của ta đã đến, anh đã từng gặp rồi.” Johnson đưa ra một tín hiệu rõ ràng cho Juan.

“Là ngài Gymir?” Đồng tử của Juan co lại.

Juan không biết chuyện đó khi ở Jamaica, nhưng sau này anh đã liên lạc với Hans nhiều lần, thậm chí còn đi đọc sách cổ, sao có thể không biết Gymir là ai? Theo kiến thức huyền bí học, thần Biển Gymir trong thần thoại Bắc Âu là một vị thần cổ xưa với hùng mạnh, sở hữu của cải vô tận và giọng nói đầy mê hoặc.

“Tin xấu là doanh trại đã sụp đổ, tà thần trong hang động này cố gắng trốn thoát nhưng lại gặp phải Gymir, bây giờ vị thần mới mà ta rất muốn gặp này đã trốn sâu hơn vào hang động… căn cứ theo thể lực của con người, chúng ta có thể phải mất mười ngày mới đến được đó!”

Juan: “…”

Johnson ôn hòa nói: “Anh có thể đổi cách nghĩ khác để an ủi chính mình, lần trước có bốn tà thần, lần này chỉ có ba.”

***

Giáo sư Telegin thức dậy trong mùi thịt bò thơm phức quanh mình. Ông ta đã quen với mùi vị của loại đồ hộp này, vài ngày trước, lính trong doanh trại thích cho nó vào nồi hầm chung với khoai tây và hành tây. Nếu ở Pháp, ông sẽ không bao giờ nhìn đến món ăn này lần thứ hai. Tuy nhiên, dạ dày và ruột của ông ta không chịu nghe lời, cứ kêu ùng ục, cổ họng thì rất khô.

Telegin cảm thấy tay mình cứng ngắc giơ lên rồi đưa một thìa thức ăn vào miệng.

Thật thơm, thật ấm áp.

Ở đây lạnh quá.

Telegin không nhịn được nghĩ. Ý thức hỗn loạn của ông ta vừa mới cảm nhận được đau đớn thì đã nhanh chóng được cảm giác ấm áp này xoa dịu.

Telegin lại ngủ thiếp đi.

Không biết qua bao lâu, Telegin nghe thấy có người gọi tên mình, còn tát thật mạnh vào má.

“Tỉnh lại… tỉnh nhanh lên, không xong rồi, giáo sư Telegin vẫn chưa tỉnh lại, ông ấy đã hạ sốt rồi kia mà?”

“Có lẽ là quá mệt.”

Đây là một người Anh đang nói, nghe giọng cũng có thể nhận ra, Telegin mơ màng nghĩ. Mí mắt của ông ta nặng như có một khối sắt đè lên, dù cố gắng thế nào cũng không thể mở được.

“Nếu như ông ấy vẫn không tỉnh lại, có khi nào sẽ xảy ra đột biến không?” Juan lo lắng hỏi.

Không!

Telegin không biết sức mạnh từ đâu đến, ông đột nhiên mở mắt ra, cố gắng dựng thẳng người lên, kinh hãi nói: “Tôi không sao, tôi không biến thành quái vật!”

“…”

Mười phút sau.

Telegin sờ vào chiếc túi ngủ dùng làm đệm bên dưới, kéo chiếc lều được ghép bằng vải bạt không thấm nước, nhìn chai rượu Vodka nằm trong góc, suýt nữa thì tưởng rằng mình đã trốn thoát khỏi hang động ma quái trên núi Arabika. Thật không may, bên ngoài tối như mực, đưa tay ra là có thể chạm vào cái trần ẩm ướt của hang động nham thạch. Phía trước là một dòng sông ngầm đang chảy xiết, chiếc lều được dựng khéo léo trên một mỏm đá nhỏ nhô ra. Trước lều có một đống lửa, trên đun một nồi canh.

“Cậu vừa nói… khu doanh trại của Liên Xô sụp đổ, rất nhiều thứ trôi xuống sông ngầm? Cậu đã vớt được tất cả những thứ này? Kể cả cái lều và cái nồi này à?” Giáo sư Telegin ôm đầu, nghi ngờ mình vẫn đang bị ảo giác.

“Là thật đấy.” Giọng của Juan hơi yếu ớt.

Trên thực tế, chỉ một phần nhỏ là trôi dạt đến thật. Hệ thống mạch nước ngầm đan xen với nhau cực kỳ phức tạp, làm sao mà tất cả lại tình cờ trôi đến ngay trước mặt anh cho thỏa sức lựa chọn được? Đừng hỏi, tất cả là vì tà thần đam mê phiêu lưu và săn tìm kho báu nên đi thu thập vật tư từ khắp nơi trong hang động.

Giáo sư Telegin vẫn không thể hiểu nổi: “Tại sao doanh trại lại sụp đổ?”

“Ờm, chắc là tà thần đó đã tức giận, người Liên Xô tưởng quân địch ở ngọn núi đối diện, nhưng không ngờ rằng tà thần đã chạy đến dưới chân họ phát động tấn công.” Juan đã nghĩ sẵn mọi cái cớ rồi, bây giờ anh giải thích hết sức thuần thục.

Sao cơ? Sự thật?

Johnson có thể nói thẳng mọi sự thật cho Juan biết, nhưng Juan không thể nói sự thật cho Telegin… nếu không Juan sẽ phải giải thích tại sao mình quen biết tà thần. Và sẽ khiến Telegin sợ chết khiếp.

“Ngài Johnson đây, là do tôi… do tôi cứu lên, ngài ấy là người Anh, ngoài ra còn có một người bạn đồng hành bị bắt vào doanh trại, lúc nửa đêm, họ chưa kịp vào hang thì mặt đất sụp đổ, thế là rơi vào hang rồi bị dòng sông ngầm cuốn trôi đến đây.”

Juan đã cố gắng hết sức để bịa ra câu chuyện dối trá này. Hết cách rồi, Johnson không thích bộ quần áo leo núi mà họ đang mặc. Người thám hiểm hang động làm sao có thể mặc bộ quần áo phổ biến cách đây năm mươi năm.

“Người Anh…” Đúng như dự đoán, Telegin không hỏi thêm câu nào nữa. Trong mắt ông ta, đám người Anh đều rất kỳ cục.

Johnson cũng không nói gì, chỉ đứng đó quan sát dòng sông.

Giáo sư Telegin sờ trán rồi đột nhiên hỏi: “Làm thế nào chúng ta đến được đây? Tôi dường như đã hôn mê rất lâu, hình như còn ăn súp thịt bò, hành tây và khoai tây trong lúc mộng du?”

“Là tôi đút cho ông, sao ông có thể mộng du chứ?” Khóe miệng Juan hơi co giật, anh nhanh chóng đổi chủ đề: “Chúng ta cũng bị lũ cuốn đến đây, nhưng tôi tỉnh sớm hơn ông.”

Telegin có cảm giác như mình đã giẫm phải thứ gì đó, khi cúi đầu xuống thì thấy đó chính là ông Lotta. Lotta vẫn đang hôn mê.

Telegin thở dài: “Dù thế nào đi nữa, ba người chúng ta vẫn còn sống đã là may mắn lắm rồi.”

Vẻ mặt của Juan đờ đẫn.

Không, nếu không có Johnson, cả ba người họ đã chết rồi.

Ngoài lương thực và đồ dùng, trong ba ngày qua, họ còn nhiều lần trải qua những nguy hiểm như suýt chết đuối, suýt ngã chết, suýt bị vách đá sập đè chết, thậm chí là suýt bị mắc kẹt giữa chừng một lối đi hẹp, không thể di chuyển rồi chết đói.
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 129


<b>Chương 129</b>

<b>Lời nói dối và sơ hở</b>

“Chúng ta không thể ở lại đây, lũ đang dâng cao nhanh lắm, một khi hang động sụp đổ, đây sẽ là nấm mồ của chúng ta.” Kiến thức lý thuyết của giáo sư Telegin rất phong phú, ông ta lập tức chỉ ra mối nguy hiểm tiềm ẩn lớn nhất hiện nay.

Juan có thể nói gì? Anh chỉ chịu trách nhiệm gật đầu.

Giáo sư Telegin mượn ánh lửa để vào lều kiểm kê đồ dùng. Những thứ khác thì không tính, nhưng có vài thứ ít nhất phải cho vừa vào ba lô, hoặc làm sao cho dễ mang theo, nếu không thì dù có hữu ích đến đâu cũng sẽ phải vứt đi, chẳng hạn như cái nồi kia.

“Khoan đã! Juan, cậu đốt lửa bằng loại nhiên liệu gì? Bị nước lũ cuốn đi mà nó không ướt à?” Telegin nghi ngờ hỏi.

“Ờ, là cồn khô. Chúng ta rất may mắn, thứ này được đựng trong lọ kín, tôi tưởng là đường hoặc muối ấy chứ, khi cạy ra thì mới biết là nhiên liệu.”

Juan nói thật, nhưng nguồn gốc của thứ này không phải từ trận lũ mà là từ trong tay tà thần. Quả thực là họ may mắn, bởi vì tà thần không biết đây là cái gì, nó bị kẹp trong đống đồ dùng, và là bất ngờ do Juan phát hiện ra. Ngay cả Juan cũng không thể từ chối bữa ăn nóng hổi trong hang động tối tăm sâu không thấy đáy này.

Bất hợp lý cái gì? Dạ dày nói rằng nó rất hợp lý! Và khi đã no thì có thể bịa ra một cái cớ ngay thôi! Juan cảm thấy áy náy vì đã khuất phục, nhưng nếu phải lựa chọn lại, anh vẫn sẽ chọn đốt lửa bằng cồn khô trong lon sắt và ăn món thịt bò hầm khoai tây nóng hổi.

“Thế mồi lửa thì sao?”

“…”

Juan lấy ra một vật gì đó từ trong túi, lắc lắc rồi bình tĩnh nói: “Cái bật lửa này không thấm nước, nhưng bên trong không có nhiều dầu lửa lắm, tôi nghĩ chỉ dùng được hai lần thôi.”

“Ầy, đừng nói hai lần, hai ngày nữa cũng chưa chắc chúng ta có thể ra ngoài!” Giáo sư Telegin lắc đầu, quay người bước vào trong lều.

Juan thở phào nhẹ nhõm.

Telegin cảm thấy đau nhức cả người, còn tay chân thì bầm tím hết cả. Ban đầu ông nghĩ đó là vết thương va đập do bị nước lũ cuốn trôi, nhưng cơn đau nhức không giống như bị thương mà thay vào đó là cảm giác cơn đau vẫn kéo dài do tích tụ axit lactic sau khi đi bộ trong núi rừng hoang dã suốt ba ngày. Telegin cúi đầu kiểm tra quần áo thì phát hiện vải ở khuỷu tay và đầu gối đã sờn rách rất nhiều, vài chỗ bị nham thạch sắc nhọn cào xước, như thể mình đã bò trong hang động. Cuối cùng, ánh mắt ông dừng lại ở đế giày.

Khoan đã, không đúng!

Làm sao đế giày có thể bị mòn do lũ cuốn? Cát, sỏi và vết hằn trên đế giày, cũng như quần áo…

Giáo sư Telegin không suy nghĩ nhiều, ông đột nhiên mở lều ra, nhìn thấy Juan bị một bóng đen vồ ngã xuống đất. Telegin giật mình, vô thức tìm kiếm vũ khí, may mắn thay là có ánh lửa, ông thấy rõ khuôn mặt của bóng đen.

“Ông Lotta? Bình tĩnh lại!”

Telegin lao tới ngăn cản, nhưng người Pháp này rất khỏe, biết kỹ năng chiến đấu, có sức bùng nổ đáng kinh ngạc. Ông ta ghìm chặt vai Juan.

Juan vùng vẫy hai lần là nhận ra không có cách nào để trốn thoát. Anh tưởng Lotta đang trong trạng thái điên loạn, nhưng khi nhìn lại thì thấy mặc dù mắt Lotta đỏ bừng, sắc mặt tái nhợt nhưng ánh mắt và vẻ mặt cho thấy người này rất tỉnh táo.

“Tôi sẽ không tin những lời nói dối của các người! Các người thật ra là ai? Mục đích là gì?” Lotta giữ chặt Juan, nhưng mắt lại dán chặt vào Johnson, gầm lên một cách hung ác: “Tôi có vấn đề về khớp thái dương, khi hôn mê, tôi sẽ nghiến chặt răng, nếu dùng sức mở ra sẽ bị thương… Nhưng tôi không bị thương nên đồ ăn không phải do người khác đổ vào mà là do chính tôi ăn, nhưng tôi không tự nguyện ăn, vì tôi không dùng thói quen nhai để phòng bệnh, bây giờ khi nói chuyện, khớp bên má của tôi phát ra tiếng động! Đây không phải là do một hay hai bữa, tôi chắc chắn đã không ăn uống <i>đúng cách</i> trong ba ngày.”

Juan: “…”

Hiểu rồi, anh không có năng khiếu làm tội phạm, sơ hở ở khắp nơi. Nhưng ai có thể nghĩ ra được chuyện này chứ? Juan thở dài trong lòng, hóa ra thói quen nhai và nhịp điệu không đúng cũng có thể giữ lại làm bằng chứng.

“Tôi không biết, có lẽ các khớp xương của ông đã đụng vào đá nên làm lệch khỏi vị trí trong trận lũ.” Juan cố gắng hết sức để tranh luận.

Telegin nhìn qua, phát hiện ra rằng ông Lotta quả thực đang ở trong tình trạng lôi thôi hơn mình rất nhiều, trên mặt có nhiều vết thương nhỏ, quần áo thì rách rưới hơn. Điều này là chắc chắn, suy cho cùng thì người đàn ông này thực sự đã trôi nổi giữa dòng sông ngầm trong vài giờ cho đến khi được Johnson vớt lên.

Telegin thiên vị Juan hơn về mặt tình cảm, mặc dù cũng thấy có một số điểm đáng nghi nhưng ông tin tưởng vào nhân phẩm của Juan hơn, anh không cần phải nói dối, không liên quan gì đến việc tại sao họ lại ở đây, dù có nghĩ thế nào thì đó cũng không thể là âm mưu của Juan.

“Đúng đấy, ông Lotta, ông bình tĩnh đã!”

“Tôi không thể bình tĩnh được, một trong những trợ lý của tôi đã chết, bây giờ cậu lại nói rằng doanh trại đã sụp đổ, mọi thứ đều bị cuốn trôi đến đây, còn Alice thì sao… trợ lý khác của tôi, cô ấy cũng bị giết à?” Lotta gào to với đôi mắt đỏ hoe.

Juan im lặng.

Ngọn lửa tiếp tục cháy, ánh sáng chiếu vào một bên mặt Johnson, y hoàn toàn không giống một người leo núi trong chuyến thám hiểm dãy núi Kavkaz. Quần áo của Johnson quá nguyên vẹn, đó cũng là một sơ hở, nhưng Juan không thể thuyết phục tà thần xé quần áo.

Ngay khi Juan đang run rẩy sợ hãi, anh nhìn thấy Johnson chỉ vào dòng nước lũ, nói: “Có người đang trôi tới.”

Cái gì?

Juan, Telegin và Lotta đồng loạt quay lại.

Họ thấy một cái bóng đen xám trong làn nước chảy xiết được ngọn lửa chiếu sáng.

Có người thật kìa!

Juan kinh hãi.

Ông Lotta buông tay, lao thẳng vào dòng nước, kéo người vào “bờ”.

Sau đó họ chìm trong bầu không khí im lặng chết chóc. Đó là một xác chết, một nửa cơ thể đã bị méo mó nhưng vẫn có thể nhận dạng được quần áo và khuôn mặt.

“Là anh ta, người lính tuần tra trước lều của chúng ta những ngày này.” Sắc mặt Telegin tái nhợt.

Lotta đã không nói gì trong một thời gian dài.

Chuyện doanh trại sụp đổ là có thật, nước lũ cũng thật sự cuốn người vào đây, nhưng người này lại không may mắn. Juan muốn hỏi Johnson xem nữ trợ lý của Lotta thế nào rồi, nhưng Lotta và Telegin vẫn còn ở đây nên anh không thể hỏi thẳng được.

“Chúng ta không thể ở lại đây, hang động sẽ sụp đổ.” Telegin lặp lại, ông vỗ vai Lotta, cố gắng đánh thức ý chí sinh tồn của người kia.

Lotta cứng ngắc quay đầu lại, nhìn chằm chằm vào Juan, hỏi: “Chúng ta đã ở trong hang bao lâu rồi?”

“Tôi không biết, tôi vừa tỉnh dậy đã ở đây rồi.” Juan chỉ có thể lấy cớ mất trí nhớ.

Tiếp xúc với sự kiện huyền bí sẽ gây ra mất trí nhớ, anh… có kinh nghiệm.

Juan đau đớn nói: “Kể từ khi chúng ta nghe thấy tiếng động lạ trong hang, tôi quay đầu bỏ chạy, sau khi rơi xuống dòng sông ngầm, ba người chúng ta bị lạc nhau, tôi và giáo sư Telegin đi chung. Tôi chỉ nhớ rằng tôi đã kéo giáo sư, cố bơi qua một hang động hẹp, rồi bất tỉnh trong nước.”

Telegin so sánh ký ức của mình trước khi hôn mê, phát hiện ra rằng quả thực đúng như vậy.

“À, chuyện này rất phổ biến, con người tiếp xúc với tồn tại huyền bí sẽ bị rối loạn trí nhớ sau khi sốt cao, có thể chúng ta đã trải qua một cuộc trốn chạy kinh khủng nào đó.” Telegin nhìn xuống đế giày, xoa xoa cơ bắp đau nhức, tưởng tượng ra những hành động anh hùng của mình trước lũ sinh vật đột biến.

“Cái gì là tồn tại huyền bí?” Ông Lotta ngẩng đầu lên. Trong mắt ông ta, Telegin là đồng bọn của Juan, toàn nói về những điều người khác không hiểu, lại còn người xướng người họa.

“Nghe này, không phải chúng tôi không muốn giải thích, mà là ông nghe xong chắc cũng không tin đâu… Ok, tôi nói!” Juan giơ hai tay lên, cố tỏ ra chân thành và thân thiện: “Có một con quái vật ở sâu trong hang động này, tôi nghĩ người Liên Xô đã nói với ông về điều đó, trên thực tế, trước đây chúng ta suýt nữa đã gặp phải nó, loại quái vật này rất mạnh mẽ, có một số học giả thích nghiên cứu những thứ này. Chắc hẳn ông đã từng nghe rồi, huyền bí học… Ồ, không phải bói toán, quả cầu pha lê, phép thuật phù thủy và những thứ lừa đảo khác, họ nghiên cứu một loài sinh vật kỳ lạ tồn tại lâu hơn cả khủng long, được ghi lại trong một số cuốn sách cổ và di tích.”

Lotta nhìn anh chằm chằm, không nói gì.

Juan tiếp tục với giọng điệu dễ hiểu đối với các nhà khảo cổ và nhà thám hiểm: “Có rất nhiều truyền thuyết về quái vật trên khắp thế giới, đa số là những cá thể độc nhất chứ không phải là một loài, chúng có vẻ ngoài hung dữ, còn thích ăn thịt con người, tất cả những người gặp phải chúng đều chết. Những mô tả về chúng đều mơ hồ, chẳng hạn như trốn dưới gầm giường nhìn thấy một cái bóng to lớn kỳ lạ, hay là thấy nó có nhiều đầu và có thể phun ra lửa trong giấc mơ…”

“Sinh vật thời tiền sử? Hành trình đến trung tâm trái đất?” Lotta hỏi với giọng mỉa mai.

Juan: “…”

“Đừng kể lại tiểu thuyết khoa học viễn tưởng nữa, cho dù trải nghiệm của chúng ta dưới lòng đất có kỳ quái đến đâu, chúng ta cũng không thể bịa ra một cuốn<i> Hành trình vào tâm Trái đất</i>.” Lotta giận dữ nói xong thì chỉ vào Johnson: “Các người không cảm thấy người này kỳ quái sao? Nếu tin rằng sâu trong hang động có quái vật, sao không nghi ngờ lai lịch của người đàn ông này?”

“Ờ?” Giáo sư Telegin cẩn thận suy nghĩ một chút, đột nhiên trở nên cảnh giác: “Hắn chẳng lẽ là…”

Juan nín thở.

“…Là tín đồ tà giáo?”

Nghe xong nửa câu sau, phần không khí mà Juan nén trong ngực không biết chạy đi đâu mất.

Johnson chỉ quan sát họ tranh luận, thuyết phục và đổ lỗi cho nhau. Bây giờ thấy ba người đang nhìn chằm chằm vào mình, Johnson không hề lo lắng chút nào, lại còn bình tĩnh nói: “Ta cũng không biết, chuyện ta bị nước cuốn trôi đến đây là do Juan nói với ta, nhưng doanh trại bị sập là có thật, ta đã tận mắt chứng kiến.”

Juan: “…”

Hay thật, những gì tà thần nói hoàn toàn là sự thật. Johnson quả thật đã nhìn thấy tàn tích của doanh trại, tìm thấy rất nhiều vật tư ở đó! Nhưng nghe thì có vẻ như Johnson đã rơi vào hang động sau đó hôn mê giống như họ, không thể nhớ được chuyện gì đã xảy ra trong hang khi tỉnh dậy.

“Giáo sư Telegin này đã nhiều lần nhắc nhở, hang động có thể sụp đổ, chôn vùi chúng ta ở chỗ này, ta cảm thấy hiện tại không phải lúc tranh cãi.” Johnson nghiêm túc nhắc nhở: “Ta nghĩ khi trong tiểu thuyết xảy ra cảnh này, chúng ta đều mắng nhân vật ngu ngốc, khi gặp nguy hiểm làm sao có thể chỉ nhớ tranh luận mà không bỏ chạy? Quái vật đó là gì không quan trọng, quan trọng là chúng ta còn sống, và muốn thoát ra ngoài, phải không?”

Lotta tức giận thở phì phò, giáo sư Telegin thì gật đầu lia lịa. Juan thầm nhủ tà thần thực sự đang nhập vai một con người là thành viên đoàn thám hiểm một cách chân thực và đầy cảm xúc như vậy à?

Johnson đi ngang qua Juan, liếc mắt ra hiệu cho anh.

Juan cảm thấy lưng lạnh toát. Anh hiểu ra rồi, nước lũ là có thật, nên các đường đi trong lòng núi sẽ sụp đổ thật.

Họ vội vàng thu dọn đồ dùng, chia thành bốn chiếc ba lô. Một tấm bạt chống nước còn dư ra được quấn quanh thi thể, đặt cạnh đống lửa đã tắt.

Họ lội xuống nước và đi sâu vào hang, không chọn đi về hướng thượng nguồn của sông ngầm, bởi vì giáo sư Telegin và ông Lotta đều tin chắc rằng những con đường sẽ sụp đổ từ trên xuống dưới sau khi dòng nước xiết chảy qua. Đi ngược dòng lên thượng nguồn là tự sát, thà đi theo dòng nước chảy để tìm một ngã rẽ.

Telegin và Lotta vừa mới thoát khỏi cơn sốt cao và rất yếu, đương nhiên bị tụt lại phía sau. Nhưng Lotta không tin Juan, càng không tin Johnson, ông ta nhất quyết tự mình lựa chọn hướng đi. Juan lo Lotta sẽ ngã chết, nhưng không thể thuyết phục được ông ta. Lotta trông có vẻ có kinh nghiệm thám hiểm hang động, ông ta nằm trên mặt đất lắng nghe âm thanh và gõ vào vách đá để xác định phương hướng.

Sau khi đi bộ ba giờ, họ đến một con đường mà nước đọng ít hơn đáng kể, độ dốc cũng ngày càng tăng lên. Cả nhóm đều rất vui mừng, nhưng vào lúc này, hang động đột nhiên bắt đầu rung chuyển.

“Nguy rồi, sắp sập rồi!” Telegin hét lên, ôm đầu.

Juan bất lực nhìn một hòn đá từ trần hang rơi xuống, đập vào lối đi giữa anh với Telegin và Lotta. Juan hét to tên hai người, nhưng càng ngày càng có nhiều đá rơi xuống, đến khi anh bò dậy được thì phát hiện đã bị chặn hoàn toàn.

“Juan!” Telegin cũng rất đau đớn.

Juan lớn tiếng trả lời: “Tôi ổn, các ông thế nào?”

“Tôi với ông Lotta không bị thương, này, Juan…”

“Tôi và ngài Johnson phải tìm cách khác, các ông cứ tiếp tục đi! Chúng ta sẽ gặp nhau trên mặt đất!” Juan kiên quyết nói. Vật tư bên chỗ Telegin có thể cầm cự được thêm bốn hoặc năm ngày. Về phần Juan, đương nhiên anh còn phải hoàn thành nhiệm vụ ủy thác của tà thần.

“Vụ sụp đổ vừa rồi…” Juan nhìn Johnson.

“Là ta làm.” Johnson nhìn lại Juan, gật đầu hỏi: “Anh đang rất khó xử, không bịa chuyện được nữa rồi, phải không?”

Juan: “…” Cái này là tại ai?
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 130


<b>Chương 130</b>

<b>Tăng giá</b>

Johnson đã đọc đoạn “đội thám hiểm nghi ngờ lẫn nhau, tranh cãi và chỉ trích lẫn nhau” một cách nghiêm túc.

Đúng như y đã nói vừa rồi, trong tiểu thuyết luôn có những tình tiết như vậy, khi con người rơi vào tình thế tuyệt vọng chắc chắn sẽ xảy ra tranh chấp. Ngay cả khi không có những lời nói dối do Juan bịa ra, họ vẫn sẽ xảy ra xung đột dữ dội do thất vọng, bức xúc, khác biệt về quan điểm và vân vân, thậm chí không thể nói ai đúng ai sai, đó chỉ là một cách để trút bỏ cảm xúc của họ.

Nguy hiểm nhất là sau xung đột. Đội ngũ có thể bị chia rẽ, mâu thuẫn dần tích tụ, cộng với nhiều mối đe dọa tử vong từ môi trường bên ngoài, ý chí của con người dần bị tiêu hao bởi những “sự tra tấn” này. Cuối cùng, sẽ có người phát điên, có người tấn công đồng đội, có người quyết định một mình bỏ đi tìm đường thoát thân.

Đối với tà thần, kiểu kịch bản này rất thú vị, và đi sâu vào trải nghiệm này cũng rất thú vị. Nhưng đội của Juan quá nhỏ, tổng cộng chỉ có ba người, không thể phát triển những tình tiết phức tạp hơn. Johnson không muốn thám tử chết, con người tên Telegin kia thì dường như có mối quan hệ tốt với thám tử. Chỉ còn lại một Lotta, người đầy cảnh giác, không có tình cảm với hai người còn lại, còn dẫn dắt Telegin nghi ngờ Johnson. Thôi quên đi, chờ xem trò chơi đấu đá nội bộ trong đội thám hiểm vào lần sau vậy!

Vậy là Johnson quyết định một công đôi việc: chia đội “thủ công”. Chia cắt về mặt vật lý, buộc phải tách nhau ra.

Juan im lặng rùng mình. Anh cầu nguyện rằng nhiệm vụ ủy thác của tà thần này sẽ được hoàn thành càng sớm càng tốt.

Chẳng biết gió từ đâu thổi tới vù vù, hang động lạnh lẽo và ẩm ướt khiến cái lạnh thấm vào tận xương tủy. Juan đang quấn một tấm bạt không thấm nước bên ngoài quần áo, nhét mép vải vào cổ tay áo và thắt lưng, đây là cách đơn giản nhất để chống lạnh, trước đây anh cho rằng nó hữu ích, nhưng bây giờ dường như không có tác dụng. Hình như khi số lượng người giảm đi, một bầu không khí lạnh lẽo vô hình dày đặc dệt thành một tấm lưới lớn, giấu ở cuối lối đi tối tăm không một tia sáng, chờ đợi anh rơi vào.

“…”

Một cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng Juan. Anh có cảm giác như mình đang đi bên trong cổ họng của một con quái vật, đang bị nó nuốt chửng. Nhưng điều này là không thể. Không thể có kiểu tiếp xúc “thân mật” này, bởi dù chỉ đến gần tà thần cũng đủ cho con người phát điên mà chết.

Juan cảm thấy miệng đắng nghét. Lúc này, lối đi trở nên dốc hơn, dốc đến gần tám mươi độ, Juan chỉ có thể bám vào những tảng đá trên vách đá, khó khăn di chuyển xuống dưới bằng dây thừng. Những viên đá mà anh đặt đế giày lên thỉnh thoảng bị trượt, người thiếu kinh nghiệm có thể sợ hãi buông tay ra mà ngã xuống.

Juan phải hít thật sâu nhiều lần trước khi tiếp đất thành công ở cuối con đường. Anh bật đèn pin lên thì phát hiện nơi này là một mỏm đá nhô ra, phía dưới vẫn không thấy đáy.

“Nơi này cao bao nhiêu?” Juan vừa hỏi vừa cuộn dây thừng.

“Khoảng một trăm mét.” Johnson nhanh chóng chuyển đổi sang các giá trị đơn vị của con người, y đã quen với việc con người hiện đại không sử dụng feet mà là đơn vị mới “mét” khi tính toán các giá trị chính xác.

Juan nhéo vùng giữa lông mày, thở hắt ra. Khoảng cách một trăm mét không có gì đáng nói trên mặt đất, người có tốc độ chậm một chút vẫn có thể chạy qua trong hơn hai mươi giây. Tuy nhiên, nếu nó được quy đổi thành khoảng cách thẳng đứng trong một hang động thì lại là một con số khiến người ta nhìn thôi cũng sợ.

Ở đây không có ánh sáng, đèn pin chỉ có thể chiếu sáng một khu vực hạn chế, địa hình phức tạp, đầy nham thạch sắc nhọn có thể cắt vào quần áo và da, đá có thể rơi ra, nguy cơ tử vong tăng gấp đôi. Ba ngày trước, trợ lý của Lotta đã nhảy xuống sườn núi để chạy trốn, con dốc rõ ràng rất thoải nhưng vẫn bị ngã gãy cổ.

Phù.

Không sao đâu, Juan tin rằng Johnson sẽ không mặc kệ anh ngã chết trước khi tìm được tà thần kia. Cùng lắm là ngã gãy xương! Juan vừa cột một sợi dây thừng quanh eo, vừa cố gắng tự an ủi mình.

Johnson trông thì có vẻ không quay đầu nhìn lại, nhưng thực tế y đang theo dõi từng hành động của Juan. Con người có thể làm được đến đâu trong môi trường khắc nghiệt này… đây là thông tin trực quan đấy, học được rồi thì sau này sẽ có ít sơ hở hơn khi gia nhập đội thám hiểm của con người. Những thứ quá đơn giản, không thể trở thành chướng ngại vật trong mắt tà thần lại rất khó khăn với con người. Johnson trước đây luôn tiếp xúc với con người trong các thành thị, y không có khái niệm gì về việc con người có thể đi liên tục được bao xa, có thể leo lên ngọn núi cao bao nhiêu.

Suy cho cùng, trong tiểu thuyết, những nhân vật chính giỏi phiêu lưu mạo hiểm đều có thể lực dồi dào và nghị lực phi thường, có thể du hành qua sa mạc Gobi, chống lại khủng long, tiêu diệt ma quỷ, chiến đấu với cá mập dưới biển… Tóm lại là Johnson nằm mơ cũng muốn có một nhân vật chính, à không, một thám tử như vậy. Nhưng ở thế giới thực, không có thám tử thiên tài như Sherlock Holmes, cũng không có thuyền trưởng Nemo.

<i>* Thuyền trưởng Nemo, hay còn gọi là Hoàng tử Dakkar, là nhân vật trong tiểu thuyết Hai vạn dặm dưới đáy biển và Hòn đảo bí mật của Jules Verne. </i>

Sau chuyến thám hiểm hang động này, Johnson đã bổ sung thêm rất nhiều “thường thức”, chẳng hạn như con người không thể nhảy qua một cái hố rộng bảy hoặc tám mét, con người sẽ bị chuột rút nếu bơi trong nước quá lạnh. Phải rồi, không nhìn thấy ánh sáng mặt trời trong thời gian dài có thể khiến con người buồn bã, uất ức hoặc cáu kỉnh.

Johnson nhìn độ sáng đang giảm dần của thám tử lo lắng u sầu, đột nhiên lên tiếng: “Anh muốn thù lao là gì?”

“A?” Juan giật mạnh sợi dây, mặt nghệt ra.

Phải mất một phút, bộ não của anh mới khôi phục lại khả năng suy nghĩ, vẻ mặt trong nháy mắt thay đổi.

“Tôi, còn được lựa chọn sao?” Juan kinh ngạc.

“Chỉ cần không phải là nơi ở của tà thần khác…” Nói được nửa chừng, Johnson chợt nhớ tới hành vi tìm đến tận cửa uy h**p đồng loại của Gymir, vội vàng sửa miệng: “Chỉ cần còn nằm trên trái đất là được.”

Juan: “…” Nghe kìa nghe kìa, lẽ nào còn có di tích của nền văn minh nào đó không còn nằm trên trái đất?

Vẻ mặt của Juan rõ ràng quá, Johnson gật đầu nghiêm túc: “Có, chẳng hạn như Atlantis.”

“Không phải nó đã chìm dưới đáy biển sao?” Juan càng kinh ngạc hơn.

“Atlantis đã tiếp nhận công nghệ của nền văn minh ngoài hành tinh, nó không phải là một thành phố mà là một con tàu vũ trụ. Người Atlantis phát hiện ra tà thần có tồn tại, cũng chịu ảnh hưởng của sức mạnh tà ác, họ biết mình không thể đánh bại tà thần nên để bảo tồn nền văn minh và cả tộc người, họ quyết định rời trái đất, chạy trốn đến một thiên hà khác. Sau khi phi thuyền bay lên khỏi mặt đất, nước biển tràn vào hố sâu nên trong truyền thuyết xa xưa trên trái đất, người Atlantis đã xúc phạm thần linh làm cho thành phố chìm xuống đáy biển chỉ sau một đêm.”

Johnson giải thích xong, Juan lắp bắp hỏi: “Vậy tại sao nó lại được tính vào danh sách các di tích?”

“Tàu vũ trụ đã rơi gần sao Hỏa, nghe nói là do đâm vào một trong những mặt trăng của sao Hỏa. Ở đó còn sót lại một số tàn tích, hai vệ tinh của sao Hỏa vốn không có hình cầu, sau khi bị đâm trúng lại càng xấu hơn.”

Nghe giọng điệu chê bai này đi, Juan há miệng, nhưng không có âm thanh nào phát ra. Anh không ngờ mình lại cùng tà thần thảo luận về một chủ đề công nghệ tiên tiến như vậy.

Khoan đã.

Juan đột nhiên tỉnh ngộ. Con người không biết mệt mỏi tìm tòi khám phá hành tinh dưới chân mình, nhưng những vấn đề khó khăn này chẳng là gì đối với tà thần. Nếu không thì ai lại muốn tiếp thu kiến thức từ tà thần, đây là sự lựa chọn được ưa chuộng nhất ngoài trường thọ, sức mạnh và tiền tài.

Chắc chắn không thể mơ tới tàn tích thành phố cổ trên sao Hỏa, Juan nghĩ đến nhiều cái tên nhưng cuối cùng tất cả đều biến mất.

Johnson ngạc nhiên nhìn ánh sáng trên người thám tử lại trở nên ảm đạm. Thế này là sao, thất vọng khi biết rằng không thể lên sao Hỏa?

Johnson còn đang suy nghĩ thì nghe Juan lúng túng nói: “Tôi có thể đổi thù lao thành tiền được không?”

“Sao?”

“…Tôi nghèo quá.” Trái tim của Juan rỉ máu mỗi khi nói một chữ.

Từ bỏ thù lao như vậy để chọn tiền, đúng là một sự sỉ nhục, nhưng không có tiền thì không thể sống được! Không tính những cái khác, nếu anh có tiền thì cần quái gì phải làm trợ lý cho giáo sư Telegin, thế thì đã chẳng cần phải ở đây rồi. Ai có thể đảm bảo lần sau gặp sự kiện huyền bí sẽ có tà thần quen mình đến cứu nữa?

Cái gì? Lấy đồ cổ trong di tích à? Những thứ đó được mang về xuyên qua thời gian và không gian, không có dấu vết lắng đọng của lịch sử, nhiều nhất chỉ được coi là hàng nhái.

Trực tiếp lấy vàng? Đó là một ý tưởng hay nhưng Juan lo lắng những thứ này sẽ bị “tuồn” ra ngoài, gây ra những cái chết bí ẩn. Juan đã nghe câu chuyện về “những đồng vàng xui xẻo” từ John rồi, ai dám đảm bảo rằng trong một thành phố được định sẵn sẽ bị diệt vong sẽ không có một món đồ nào đó nhiễm phải hơi thở của tà thần? Anh không thể đánh cược.

Nhìn thám tử cứ nhấp nháy lúc sáng lúc không, Johnson cẩn thận suy nghĩ: “Anh cần bao nhiêu? La bàn thời gian khó làm, nhưng ta có rất nhiều vàng và ngọc, có thể cho anh tùy ý, coi như là tăng thêm thù lao.”

Juan: “…”

Có một điều Juan không hiểu là tại sao các tà thần khác lại không giàu có như thế? Chẳng hạn như tà thần trong hang này?

***

Gymir nằm trên sườn núi.

Tuyết ở một bên núi Arabika đã tan hết, những khe hở trên đá nhanh chóng được lấp đầy bởi hoa dại và cỏ xanh. Những vách đá dựng đứng cực kỳ hiểm trở lộ ra, có thể nhìn thấy hai hoặc ba hang động bằng mắt thường.

Gymir có thể nghe thấy tiếng nước lũ chảy dưới lòng đất.

Doanh trại bị sập đã thay đổi hoàn toàn, một nửa đã chìm trong nước. Nguyên nhân là do xe bọc thép rơi và các đồ lặt vặt khác đã chặn lối vào hang, nước lũ không có nơi nào để thoát đi mà chỉ có thể tràn qua các khe hở của cửa hang, trông vô cùng thê lương. Một vài người đang tìm kiếm những người sống sót trong các vũng nước và đống đổ nát, cũng có thể đang điều tra sự thật.

Sau khi xác định rằng trong số họ không có con kiến phát sáng ưng ý nào, Gymir đã phớt lờ những người này. Hắn đã chọn vị trí rất tốt, khả năng ngụy trang của hắn thì không thể chê vào đâu được… Hắn là một cái bóng, ai sẽ để ý cơ chứ?

“AAA…”

Một tiếng hét chói tai vang lên từ trạm gác bằng đá phía trước doanh trại. Đó là một tòa nhà được bảo tồn tốt, có người bên trong.

Gymir khẽ cau mày, quay đầu nhìn lại, bối rối khi thấy có người thực sự đã “nhìn thấy” mình.

Người dám nhìn thẳng vào hóa thân bóng đen của tà thần giờ đã biến thành một vũng máu thịt, truyền thuyết kinh dị trong doanh trại này lại tăng thêm một cái.

Gymir bất động. Hắn sẽ không rời đi, chỉ khi nào hắn còn ở trên mặt đất thì thần mới trong hang động kia mới không dám đào hố lung tung để chạy trốn, và trò chơi phiêu lưu của Johnson có thể tiếp tục.

Gymir nhìn sâu vào trong lòng núi theo thói quen.

“Ủa?” Sao lại đi nhanh như vậy? Tốc độ của thám tử đột nhiên tăng lên, quả nhiên là vì Johnson giúp thám tử thoát khỏi đồng loại không phát sáng, không còn gánh nặng thì thoải mái hơn nhiều à?

Cái bóng tiếp tục lười biếng nằm phơi nắng, “theo dõi” cuộc phiêu lưu trong hang động ở cả hai nơi.

“Đi sai rồi.” Gymir thất vọng nhìn đội của Telegin và Lotta.

Juan và Johnson đã đi xuống độ sâu sáu trăm mét dưới lòng đất, còn một đội khác đang cố gắng tiếp cận mặt đất thì lại lang thang trong lối đi mê cung, lòng vòng qua lại.

Chẳng hiểu tại sao mà họ luôn có thể tránh được sự lựa chọn tồi tệ nhất (dẫn xuống lòng đất), nhưng lại không thể chọn được con đường đúng đắn, có lúc khoảng cách thẳng đứng so với mặt đất chỉ là vài chục mét, chiến thắng đã ở trong tầm tay, nhưng chỉ lát sau lại bỏ qua một ngã rẽ quan trọng, bị lạc vào khu vực sâu ba trăm mét.

Vậy rốt cuộc Johnson và Juan tìm ra tà thần trước hay hai người này ra khỏi hang trước?

Gymir vui vẻ đoán.



<i>Người dịch:</i>

<i>Có đủ loại truyền thuyết về Atlantis trên mạng, tác giả chỉ chọn một cái rồi bịa thêm, nhưng mà nghe cũng vui.</i>

<i>Johnson giàu chắc là vì vơ vét đống tàu chìm, cộng thêm một ông chồng giàu =)))</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 131


<b>Chương 131</b>

<b>Tấn công</b>

Độ sâu của hang tăng lên, không khí trở nên loãng hơn.

Juan buộc phải thở hổn hển.

Lúc này, hang phía trên đã ngập trong nước, cứ tưởng nhiều vách đá bị sập là điều xấu, hóa ra lại là điều tốt, không khí trong lành tràn vào hang nhiều hơn.

“Ở đây có thể nghỉ ngơi.” Johnson dẫn Juan tới một cửa hang bằng phẳng.

Juan dùng đèn pin chiếu về phía trước, phát hiện ra cái hang này rộng không đến nửa mét, khe hở dài, hẹp và ngoằn ngoèo.

“Chúng ta không thể đi hướng này.” Juan lập tức ngăn cản.

“Ta biết, nhưng khe hở này thông với tầng trên, có một chút không khí trong lành.” Johnson giải thích, đây là điểm bổ sung oxy tự nhiên mà y tìm ra cho thám tử.

Juan: “…”

Juan không cảm động chút nào hết. Nếu trả thù lao hào phóng cùng với sự quan tâm đúng lúc đều nhằm mục đích khiến bạn sẵn sàng làm việc, hoặc thậm chí phải trả giá bằng mạng sống của chính mình, thì chỉ cần bạn không phải là kẻ ngốc, bạn sẽ luôn suy ngẫm xem liệu điều đó có đáng giá hay không. Vấn đề của Juan nằm ở chỗ “không đáng thì cũng phải đi”, các thám tử khác chưa từng trải qua hậu quả của việc từ chối Johnson, Juan cũng không dám thử. Tà thần giữ chữ tín là bởi vì tà thần đang vui vẻ.

Juan tựa đầu vào khe đá ở cửa hang, hít thở vài hơi, cảm giác tức ngực cũng nhẹ nhõm đi một chút.

Nhưng anh thấy mùi không khí này hơi lạ.

Hôi tanh…

Là ảo giác sao?

Trong hang động chắc chắn sẽ xuất hiện những mùi lạ, mùi tanh có thể đến từ vi khuẩn kỵ khí trong nước hoặc từ các hố sâu dưới lòng đất thải ra khí độc.

“Có cái gì đó ở trong đó.” Johnson đột nhiên nói.

Juan chưa kịp phản ứng, Johnson đã đưa tay ra, nhẹ nhàng vẫy, tiếng ma sát nghe ê cả răng lập tức phát ra từ vết nứt trên đá. Như thể có thứ gì đó mắc kẹt bên trong đang vùng vẫy. Juan sợ hãi nhắm mắt lại, ôm đầu co rúm thành một cục.

“Không phải tà thần, cũng không phải sinh vật biến dị, chỉ là xương thôi.” Johnson khẽ nói.

Juan mở mắt ra, nhìn thấy một vật tròn vo “chạy” ra khỏi vết nứt hẹp trên đá.

Cạch.

Juan nhìn xuống, thấy một hộp sọ màu trắng. Anh sợ quá lùi lại, đèn pin bay ra ngoài.

Johnson bắt được đèn pin. Đây là vật phẩm tiêu hao, dùng là sẽ hết nên phải tiết kiệm.

Juan đã đánh rơi đèn pin bảy tám lần trong nhiều tình huống nguy hiểm khác nhau trên đường đi, buộc phải làm quen với hành vi hạn chế tổn thất của tà thần, anh nhận lại công cụ chiếu sáng từ tà thần với vẻ mặt cứng đờ, bắt đầu nghiên cứu hộp sọ trên mặt đất.

Nó thực sự là hài cốt của con người. Nhưng nó quá sạch sẽ, không có thịt hay lông, cũng không thấy vết máu còn sót lại. Điều này khiến hộp sọ trông rất giả tạo, giống như mô hình trong lớp sinh học ở trường đại học.

Juan lại nhìn vết nứt trên đá, nó hẹp đến mức chỉ có một con mèo mới có thể lọt qua, con người chắc chắn không thể lách vào.

“Chẳng lẽ ở đầu kia của lối đi này có một cái khe ngoài rộng nhưng trong nhỏ, người này bị trượt chân ngã xuống, xương cốt mắc kẹt trong khe hở?” Juan kinh hãi hỏi.

Johnson bác bỏ suy đoán này, trả lời: “Chỉ có hộp sọ này trong hang.”

“Ờm!” Juan nghĩ chắc mình không thể hỏi là ai đã làm rớt đầu vào khe đá phải không? Đây không phải là máy chém của người Pháp, làm sao cái đầu không có thân lại có thể lăn tròn khắp nơi được? Ầy, dù sao cũng là nạn nhân không may mắn, có lẽ là người bạn mất tích của giáo sư Telegin chăng?

Juan lục trong ba lô, lấy ra một mảnh vải, quấn quanh hộp sọ, đặt lại vào khe đá rồi dùng dao găm khắc một cây thánh giá đơn giản lên tảng đá bên cạnh.

Đó không phải là một ngôi mộ lý tưởng, nhưng không có cách nào khác, không gian trong ba lô có hạn. Vào thời điểm đó, hàng chục ngàn thi thể được đặt trong hầm mộ của các nhà thờ ở châu Âu. Một số ngôi mộ còn tách xương sọ, xương chân, xương ức của người đã khuất rồi chất thành các bức tường hoặc bệ xương trông rất hoành tráng, nhưng lần nào Juan cũng cảm thấy rợn người, nghĩ rằng thứ này chẳng khác nào hố xương trong tàn tích của nền văn minh Nam Mỹ cổ đại.

Juan thở dài, cầu nguyện cho người bị nạn.

Johnson lặng lẽ quan sát, khi Juan đứng lên, y mới tò mò hỏi: “Nếu người này không tin vào Chúa thì sao?”

“…Trên hành tinh này chỉ có hai loại thần, một loại là tà thần, một loại chưa từng tồn tại.” Juan ủ rũ nói.

Johnson suy nghĩ, thấy cũng có lý.

Thần cổ xưa cũng có tín đồ, kể cả Gymir, tất cả nhân loại từng đi thuyền qua biển băng Bắc Âu ngày xưa đều tôn thờ (kính sợ) thần Biển. Trên thực tế, phần lớn sức mạnh của thần Biển là do con người tưởng tượng ra. Gymir không hề có hứng thú lật thuyền của con người, cũng không có tính khí thất thường quá đáng, các vụ đắm tàu trên biển phần lớn là do vấn đề thời tiết, người bình thường không dễ gặp phải sự kiện huyền bí.

Nhưng con người không biết điều này. Con người sợ cái mà họ chưa biết, tà thần là thế, thiên tai cũng thế, họ không thể phân biệt được. Vì thế họ bịa ra đủ thứ chuyện, viết ra truyền thuyết cho các vị thần, biến nỗi sợ hãi thành sự phục tùng, tôn thờ và cầu xin lòng thương xót, bào chữa cho sự thất bại, tìm kiếm một nơi để gửi gắm giữa cuộc sống bất hạnh. Ảo tưởng quá nhiều, nhiều “vị thần” vốn không tồn tại sẽ xuất hiện. So với tà thần, tất nhiên những vị thần không tồn tại sẽ nhân từ hơn, sẽ bảo vệ loài người, tuân thủ quy tắc hơn, sẽ mang lại cho nhân loại rất nhiều lợi ích… Đã không tồn tại thì tất nhiên là muốn bịa đặt thế nào cũng không thành vấn đề. Đã không tồn tại thì tín ngưỡng khác biệt cũng có vấn đề gì đâu?

Johnson cho rằng lời Juan nói rất thú vị, hoặc có thể nói là con người ở thời đại này đã trở nên thú vị. Trong quá khứ, giáo phái Màu Xám vốn đã nắm vững kiến thức và sức mạnh kỳ lạ của huyền bí học vẫn phải dùng tín ngưỡng làm lá chắn, làm ngọn cờ để kiểm soát các thành viên cấp dưới. Các thành viên giáo phái thật lòng cảm thấy rằng mình là nô lệ của Chúa, đang xua đuổi các thế lực tà ác thay Chúa… Trước khi rời Venice, Hans vẫn tin tưởng vào cách giải thích này!

Juan đã nghỉ ngơi đủ, lại bắt đầu lên đường. Trong tình trạng kiệt sức tột độ và đi giữa bóng tối sâu thẳm, anh có ảo giác rằng hang động dường như không có đáy. Lối đi có lúc lên, có lúc xuống, có đoạn ngoằn ngoèo, rẽ trái rẽ phải.

Juan nằm bò ở gần vách đá, nghe thấy âm thanh ầm ầm, nhưng anh không thể biết đó là hoạt động của dung nham dưới lòng đất hay là tiếng nước lũ của sông ngầm. Anh bắt đầu mất phương hướng. Thính giác cũng trở nên trì trệ. Juan nghi ngờ rằng mình đang bị ảo giác, anh nghe thấy tiếng gió trong kẽ đá, tiếng hú của những con thú không xác định. Nhưng Johnson nói không có gì cả, chỉ có tiếng đá lăn xuống và tiếng nước nhỏ giọt từ trên trần hang.

Juan xoa xoa cái đầu choáng váng của mình, bò càng lúc càng chậm. Anh không chú ý rằng Johnson đang dẫn đường phía trước quay lại nhìn mình với vẻ mặt lạ thường.

Vù.

Tiếng gió lại xuất hiện. Juan đột nhiên nhìn thấy một cái xúc tu mảnh mai kỳ lạ đang múa may trong không trung như một ngọn roi.

Đây là ảo giác gì?

Juan vô thức giơ đèn pin lên, sau đó cơ thể lập tức cứng đờ. Ánh sáng của đèn pin biến mất, vật tư tiêu hao này đã mất đi công năng của nó, nó tắt từ khi nào? Không có ánh sáng từ đèn pin, tại sao anh có thể “nhìn thấy” xúc tu đang múa may? Không, hình như lại có thêm một cái nữa!

Juan đột nhiên nghe thấy tiếng tim mình đập dữ dội, như sắp văng ra khỏi lồng ngực. Anh cũng cảm thấy các cơ trên toàn thân đang co giật, dường như muốn “bỏ nhà ra đi”. Máu biến thành dung nham, khiến toàn thân đau rát vì nóng, anh mở miệng muốn kêu cứu, nhưng từ cổ họng phát ra một âm thanh kỳ lạ, méo mó và khản đặc.

Rầm.

Một con thuyền độc mộc thô sơ bị lật ngược, ụp thẳng lên đầu Juan. Anh bị đập ngã xuống đất, bất tỉnh.

Và nơi anh đứng ban đầu lại có thêm một con quái vật đáng sợ.

Nó trông giống như một con rết được phóng đại vô số lần, đầu mọc ra năm sợi râu dài như roi, rất dẻo dai và mềm mại. Phần lớn cơ thể nó được giấu trong vết nứt của nham thạch, chỉ có cái đầu nhô ra ngoài. Trong miệng nó là những vòng tròn răng sắc nhọn sắp xếp kỳ lạ, hỗn loạn và kỳ dị đến mức chỉ nhìn thôi cũng có thể khiến người ta phát điên. Trên đầu không có mắt, chỉ có đống râu trông giống như một con hải quỳ đang nở hoa, phía dưới râu là một cái miệng hình thù khủng khiếp.

Quái vật đã cắn hụt. Nó lưỡng lự quay trái quay phải, những cái râu như ngọn roi đang lần mò xung quanh như đang tìm tòi dấu vết của con mồi. Chẳng bao lâu sau con quái vật đã phát hiện ra thuyền độc mộc lộn ngược.

Sạt sạt.

Một phần khác của cơ thể con quái vật lộ ra. Nó đang chuẩn bị dùng râu bắt lấy thuyền độc mộc, chờ đợi khoảnh khắc con người sợ hãi quay lại, nhìn thấy rồi gào thét như điên. Nếu may mắn, con mồi sẽ vỡ vụn thành từng mảnh ngay tại chỗ, phun vào cái miệng đang há rộng của nó.

Con quái vật phán đoán theo bản năng rằng con mồi này có sức sống mạnh mẽ, có thể cần cắn một miếng. Vừa rồi nó đã cắn hụt, lần thứ hai chắc sẽ không xảy ra như thế. Quái vật nâng cao đầu và thân, răng và cơ miệng của nó di chuyển lung tung, trông như một thợ săn phấn khích.

Rầm.

Thuyền độc mộc vỡ tan thành từng mảnh, mảnh gỗ văng tứ tung.

Cùng lúc đó, quái vật dạng con rết bị lôi ra ngoài, cơ thể của nó bị kéo hẳn ra khỏi hang động nơi nó đang ẩn náu. Sương trắng lan tràn dọc theo cơ thể dạng côn trùng khổng lồ hung ác, đồng thời ngày càng dày hơn. Quái vật vùng vẫy điên cuồng, nhưng nó đã rơi vào bẫy, bắt đầu từ lúc nó nhắm vào vào hai con người đang tiếp cận hang ổ. Con quái vật này không có não, không có “thường thức về con người”, nên nó không nhận thấy điều gì kỳ lạ… Làm sao thuyền độc mộc có thể xuất hiện từ không khí giữa một hang động trong lòng đất? Đó không phải là thám tử được giấu bên dưới thuyền độc mộc lộn ngược, đó là mồi nhử, là bẫy chuột!

Johnson ẩn mình trong bóng tối, lặng lẽ chờ đợi con mồi mò đến vị trí mà y đã chuẩn bị sẵn.

Sau đó…

Những sợi dây leo trói con quái vật bị lớp băng vây kín lại. Quái vật vùng vẫy với lực rất lớn, băng không ngừng vỡ ra, nhưng tốc độ đóng băng nhanh hơn tốc độ phá vỡ. Johnson có được sức mạnh của Gymir bằng một vài phương thức đặc biệt, phong ấn bằng băng này còn có thêm hiệu quả thời gian ngừng trôi, tà thần rơi vào bẫy gầm lên giận dữ, nhưng không thể ngăn được động tác của mình ngày càng chậm lại.

Đối mặt với nguy cơ sinh tử, nó không còn quan tâm đến con người nhỏ bé đang nằm đó nữa mà bắt đầu ra sức chui vào khe nứt trên đá. Nó tưởng rằng chỉ cần mình chạy thì hang động sẽ sụp đổ và đánh trúng kẻ thù, buộc kẻ thù phải buông tay.

Nhưng điều nó mong đợi hoàn toàn không xảy ra, bản thể hoặc hóa thân của đối thủ có thể xuyên qua các lỗ và khe hở giỏi hơn nó. Khe hở dù dài, hẹp hay quanh co bao nhiêu cũng không bị ảnh hưởng. Ngược lại, sương giá trên bề mặt hang đá bắt đầu xâm nhập vào khe hở bên trong. Nước trên vách hang cũng đóng băng. Hang động trơn trượt và phức tạp ban đầu đã biến thành một đường trượt băng, nó không thể kiểm soát được tốc độ của mình, không thể thoát khỏi kẻ thù, như thể nó đang bị “đóng băng” cùng với chính hang ổ của mình. Nó buộc phải phát ra tiếng kêu xin tha yếu ớt.

Dây leo phớt lờ nó.

Tiếp tục quấn quanh, nghiêm túc kéo lên trên.

“Gymir!”

Đừng có xem kịch nữa, đến nhận hàng đi chứ.
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 132


<b>Chương 132</b>

<b>Chiến lợi phẩm</b>

Liệu tà thần có từ chối một con mồi biết phát sáng không?

Không.

Chỉ cần là đang thức, nhìn thấy một vật hơi phát sáng cứ lảng vảng trong hang ổ của mình, ai có thể từ chối? Ngay cả khi không thích kiến, không có tính tò mò thì cũng sẽ thấy chán ghét.

Tà thần có ý thức lãnh thổ rất mạnh. Thường thì ngoại trừ đồng loại và quyến thuộc, rất ít kiến tiếp cận được bản thể của tà thần. Kiến quá nhỏ, di chuyển quá chậm… thực sự không muốn duỗi chân ra để bắt nó lại à? Không muốn đè bẹp nó, khôi phục lại hang ổ yên tĩnh của mình à?

Johnson thử đặt mình vào vị trí đó suy nghĩ, y tin chắc rằng không có tà thần nào có thể bỏ qua con mồi phát sáng.

Đặc biệt là thần mới trong hang động này, mùi của nó được che giấu hoàn hảo. Khi cơ thể của nó co lại trong hang, con người sẽ chỉ bị ảnh hưởng nhẹ, cảm thấy chóng mặt, buồn nôn. Chỉ khi râu và cơ thể thần mới cách con người chưa đầy một mét thì phản ứng bất lợi khi gặp tà thần trực diện mới xảy ra…

Juan từng mô tả cho Johnson nghe trải nghiệm ngày đầu tiên vào hang, anh nghe thấy tiếng động sàn sạt lạ lùng, toàn thân cảm thấy khó chịu và đau đầu dữ dội, sợ quá bỏ chạy luôn… Vào thời điểm đó, tà thần giống con rết này có lẽ chỉ cách Juan, Telegin và Lotta một lớp tường đất và đá. Đó không phải là chạm trán trực diện, mà là vị trí bị chồng chéo trong hai lối đi của mê cung. Khoảng cách giữa đội thám hiểm của Juan và tà thần là độ dày của lớp đá và lớp đất giữa hai con đường. Cũng may là Juan phản ứng nhanh, không đi vào “phạm vi trí mạng”.

Mọi bản thể tà thần đều được bao quanh bởi một vòng tròn phạm vi trí mạng đối với con người và các sinh vật khác. Vòng tròn này chia thành nhiều khu vực vô hình: khu vực trong cùng tượng trưng cho tàn sát tất cả các loài khác ngoại trừ đồng loại của tà thần, sau đó là khu vực cho phép sinh vật đột biến và thám tử xuất sắc có thể tiếp cận, khu vực thứ ba là phạm vi an toàn cho thám tử thông thường, khu vực thứ tư mới đến con người bình thường, sau đó có thể còn có những khu vực tiêu chuẩn phức tạp hơn dành cho các sinh vật khác trên trái đất, ít nhất thì voi và gà không cùng trên một cấp độ, chim và côn trùng không cùng tiêu chuẩn. Đây không phải là bảng tổng kết của tà thần, mà là do học giả huyền bí học của con người viết ra.

Là một tà thần, Johnson rất muốn thêm một câu vào cuốn sách cổ này: Viết sai rồi.

Khu vực bị ảnh hưởng của tà thần hoàn toàn không phải là vòng trong cùng mà là một vòng tròn lớn hơn, lớn đến mức con người không thể tưởng tượng được. Khu vực này thường trùng với lãnh thổ của tà thần. Tại sao con người cho rằng trong ranh giới mà một con côn trùng phải chết, một tà thần sẽ không cảm nhận được sự hiện diện của một tà thần khác đang đứng đó? Giác quan của tà thần nhạy bén hơn nhiều!

Johnson lật lại cuốn sách một lần nữa. Ồ, học giả huyền bí học con người viết phần kiến thức này là đang nghiên cứu “phạm vi trí mạng” chứ không phải “phạm vi sản sinh phản ứng bất lợi”, thế thì không sao cả.

Thế nhưng từ “thường thức của tà thần” của Johnson, hay là “thường thức của thám tử” mà Juan học từ cõi mộng, và cả “thường thức của học giả” mà giáo sư Telegin học được trong sách cổ huyền bí học đều không khớp với thần mới trong hang động này.

Phạm vi nguy hiểm của nó là một vòng tròn đơn nhất. Bất kể là tà thần, sinh vật đột biến, con người, động vật hay côn trùng… đều chỉ có thể “phát hiện ra” nó ở khoảng cách như nhau. Nghe có vẻ cực kỳ công bằng. Công bằng đến nỗi mà năm khu vực đã được chia đều. Lấy con người làm ranh giới phân chia, thám tử có ý chí siêu cao thì miễn cưỡng có thể chạm đến được nửa đầu của đội và may mắn sống sót, trong khi người bình thường rơi vào nửa đội sau, sẽ chết ngay tại chỗ. Lần đầu tiên Juan tiếp xúc với thần mới trong hang động đã diễn ra như thế.

Nhưng lần thứ hai là một cái bẫy.

Trên bề mặt núi Arabika, cái bóng như một làn khói, lại như một chiếc túi nhựa đen kín gió, bay vào hang theo gió núi.

Gymir không thích những hang động, trừ khi chúng có tiếng vang tốt và có cấu tạo tinh tế. Hắn không thích loại hang động chật hẹp, tối tăm và có nhiều lối đi này. Theo con mắt thẩm mỹ của thần Biển, ngọn núi này từ lâu đã bị nước chảy bào mòn trở thành động rỗng, vậy thì chỉ giữ lại những phần chính làm trụ cột, đập bỏ mọi thứ cần đập bỏ, vứt bỏ nham thạch và đất đá dư thừa, sửa chữa cẩn thận theo cấu trúc tiếng vang, cuối cùng là dọn núi Arabika đến đặt ở Nam Cực, gió hú sẽ xuyên qua các lỗ lớn nhỏ trên núi, không phải là lại có thêm một phòng hòa nhạc mới sao? Cái lạnh cũng phù hợp với sở thích của Johnson, còn có thể khống chế độ dày của lớp băng, điêu khắc ra những hoa văn tuyệt đẹp.

Gymir nghiêm túc suy nghĩ. Rồi hắn nhanh chóng từ bỏ kế hoạch này, vì hắn không có tay nghề tốt như thần Trí tuệ Thoth. Cũng tại Thoth rời khỏi trái đất.

Sau khi vào hang, hóa thân cái bóng của Gymir xuyên qua lớp đất nham thạch với tốc độ nhanh nhất. Tà thần trong hang đang bị dây leo cuốn lấy, cảm nhận được hơi thở của Gymir thì lại hoảng sợ vùng vẫy. Những dây leo dứt khoát ngừng kéo, ép chặt tên này qua lớp băng.

Rầm.

Cả ngọn núi rung chuyển trong cuộc giằng co sức mạnh giữa hai tà thần.

“Tại sao cái tên này mạnh như vậy?” Johnson khó hiểu. Nếu không có hiệu ứng giảm tốc, ngưng trệ của băng và thời gian, Johnson có lẽ đã bị tà thần này kéo chạy loạn xạ khắp hang động, khi đó sẽ xảy ra tình thế tiến thoái lưỡng nan là thần mới không thể thoát khỏi Johnson, mà dây leo cũng không thể bắt được con rết.

Cái bóng lặng lẽ che phủ không gian phía trên lối đi này.

Thần mới đột nhiên dừng vùng vẫy, run lẩy bẩy. Áp lực và ảnh hưởng tiêu cực của thần cổ xưa khiến nó mất đi khả năng chống cự.

“…Là nó à?” Có phải là thần mới đã chạy trốn khỏi cung điện nham thạch trên đảo Cát Lún không? Dù Johnson gần như chắc chắn về câu trả lời, nhưng y vẫn muốn xác nhận lại với Gymir.

Gymir không đáp.

Những dây leo buông lỏng ra, tạo thành một tấm lưới treo trên vách đá xung quanh. Johnson đang trong tư thế chiến đấu, nhìn chằm chằm vào đối thủ thì bất ngờ cơ thể bị cái bóng chạm nhẹ, sau đó cả hai hòa vào với nhau như nước chảy, không một khe hở.

Johnson lòng đầy thắc mắc, duỗi ra một xúc tu dây leo từ trong áo choàng bóng tối, khó hiểu hỏi: “Nó rất khó xử lý sao?” Sao phải dung hợp?

“Em đã nói là không muốn lộ bản thể của mình trước tà thần khác.”

“Hở?” Johnson nhớ ra quyết định của mình, nhưng…

“Nó không phải vật liệu để sửa chữa cung điện nham thạch à?” Johnson dùng xúc tu dây leo gõ nhẹ vào vỏ băng, nghi hoặc hỏi. Đã thảo luận làm thế nào để giết nó rồi, sao còn quan tâm xem nó đã nhìn thấy bao nhiêu bí mật? Johnson không hiểu: “…Và nó cũng không có não giống Bướm Xám.”

Gymir: “…” Không, đó không phải lý do. Thực ra, khi Gymir đang xem trò vui vừa rồi, hắn chợt nhận ra rằng mình không thích thấy Johnson dùng bản thể đánh nhau một chút nào.

Những dây leo đó rất mạnh mẽ, Đá ngầm quái quỷ đã từng bị quấn chặt có quyền lên tiếng! Những răng cưa lởm chởm trên dây leo có độc tính cực cao, cực kỳ mạnh mẽ, có thể xuyên qua tứ chi, là một trải nghiệm tuyệt vời khi sức nóng thiêu đốt lan tỏa khắp cơ thể, người cá cũng có quyền lên tiếng!

Dù quả cầu dây leo có thu nhánh chính lại để che hạt nhân nh** h** trong trận chiến, nhưng nh** h** rau câu phủ đầy hạt vàng không chỉ là điểm yếu mà còn là điểm mạnh nhất của Johnson, vị trí này có nghĩa là dây leo đã bọc lấy kẻ thù triệt để, khiến nó trở thành vị trí tốt nhất để phát huy sức mạnh, Johnson sẽ xoắn nát hoàn toàn con mồi rơi vào “vòng tay” của mình.

Chỉ thoáng nghĩ về cảnh tượng đó thôi là Gymir đã không thể chịu đựng. Không được không được, bất kỳ loại đồng nào chạm vào vòng tay của ý trung nhân đều phải bị nghiền nát ngay lập tức. Không, có nát rồi cũng không cho đụng vào!

Johnson chú ý tới dao động cảm xúc của Gymir trong trạng thái dung hợp, hiểu ra chân tướng: “…”

Dây leo giận dữ nhảy ra ngoài cái bóng.

“Anh nghĩ gì đấy? Giữa em với nó vẫn còn cách một lớp băng kìa?” Băng còn là sản phẩm có được do sức mạnh của Johnson và Gymir dung hợp lại!

Gymir ậm ừ đáp: “Băng rất có ích, ta biết mà.” Nếu không có băng, hắn đã xông vào từ lâu rồi, chứ còn chờ đến bây giờ sao?

Dây leo tiếp tục chọc cái bóng một cách giận dữ.

Lần này, cái bóng không hòa vào dọc theo các xúc tu của dây leo mà rất hợp tác lõm vào thành thành một cái hố nhỏ, trông như một miếng thịt trên bụng cá voi khổng lồ.

Dây leo hơi khựng lại, rồi thử chọc sâu hơn nữa.

Cái bóng cũng lún sâu xuống theo, đồng thời vặn vẹo trong tư thế bồng bềnh, giả vờ bị dây leo đẩy lùi.

“…Mang nó đi nhanh lên! Em còn phải kiểm tra tình hình của thám tử.” Johnson bất lực thu lại dây leo, biến trở lại hóa thân hình người.

“Juan chưa chết.”

“Suýt chết.”

Johnson nhấn mạnh, rất khó để cứu một con người yếu ớt thoát khỏi miệng của tà thần có tốc độ cực nhanh đấy. Vừa không thể để con người này chết vì ở quá gần với tà thần (ném ra thuyền độc mộc), vừa không thể để con người bị đá vụn trong hang động rơi xuống đè chết, lại cũng không thể để thần mới trốn thoát…

“Khu vực đó quá sâu, con người không thể thở được, sẽ chết nếu hôn mê quá lâu.” Johnson giao chiến lợi phẩm cho Gymir, quay người bước sâu hơn vào trong hang.

Lần này không cần giả làm người, y nhanh chóng đến nơi Juan đang nằm bất tỉnh, phát hiện đầu và mặt của thám tử đầy những vết thương nhỏ, trán nóng bừng, hơi thở yếu ớt.

Nhìn lên lần nữa, Telegin và Lotta không những không tìm được lối lên mặt đất mà còn bị mắc kẹt trong một đường hầm sâu hơn cả nơi cắm trại đã chìm trong nước lũ, hơn nữa, do thần mới vùng vẫy để thoát thân va vào vách đá, nên lối đi bị đá chặn cả trước lẫn sau, không thể đi được.

Thôi vậy, đưa cả ba người lên mặt đất thôi.

***

Trạm gác bằng đá vốn được xây ở phía đối diện núi hoàn toàn im lặng, cửa sổ bị che bằng bạt nặng. Bàn ghế bị lật đổ xuống đất, hai thi thể đẫm máu nằm trên mặt đất. Một người đang trốn sau tủ, cố gắng kìm nén những âm thanh kỳ lạ phát ra từ cổ họng, trên bề mặt da gã mọc đầy vảy. Hai người lính cầm súng đứng ở cửa, nhìn chằm chằm vào phía sau tủ với vẻ mặt hoảng sợ. Đạn b*n r* trong căn phòng trống, những tiếng pằng pằng nghe rất náo nhiệt.

Johnson im lặng đứng đằng sau họ.

“Ai đó?”

Tên lính đang định thay băng đạn đột nhiên nhìn thấy bóng người phía sau qua phản chiếu của báng súng. Gã hét lên thất thanh, nhanh chóng quay người lao về phía Johnson. Ý chí của gã đang trên bờ vực suy sụp, nhưng tốc độ phản ứng và ứng phó với nguy hiểm vẫn giúp con người này toát ra khí thế mạnh mẽ, gã rút con dao găm chiến đấu của mình ra, một tên lính khác giơ vũ khí lên bắn một loạt đạn về phía Johnson.

Nhưng những đòn tấn công này dường như rơi vào một cơn lốc vô hình, khoảng cách từ vị trí của họ đến chỗ Johnson chưa đầy nửa mét, một người cầm dao xông đến nhưng cả một phút cũng không chạm tới được, viên đạn của người kia bắn trúng trần nhà và bức tường từ nhiều góc độ kỳ lạ, tạo thành một biểu tượng to lớn và kỳ lạ.

Rầm.

Cánh cửa trạm gác đóng sầm lại.

Hai tên lính ngơ ngác đứng ngoài cửa, một người bóp cò vô ích, nòng súng đã bắn rỗng phát ra tiếng tạch tạch máy móc, con dao găm trong tay người còn lại c*m v** tường, không làm sao rút ra được.

“Hù, khà…”

Một tiếng động lạ vang lên.

Sinh vật biến dị phủ đầy vảy đang rúc vào góc hành lang, tựa hồ không hiểu tại sao cái tủ lại biến mất, tại sao lại xuất hiện ở đây. Hai bên trợn mắt nhìn nhau, sau đó một đợt xung đột khác nổ ra. Tiếng la hét và tiếng gào thét dần đi xa.

Sau cánh cửa gỗ, luồng khí xoay chuyển trong trạm gác, xác chết nhanh chóng bị phong hóa, biến thành một đống sỏi.

Johnson mở cửa sổ, ba người đàn ông nặng như bao tải “trôi” vào. Không còn cách nào khác, toàn bộ doanh trại đã sụp đổ, khắp nơi chỉ còn lại đống đổ nát và dấu vết do nước lũ để lại, chỉ có căn chòi gác này còn nguyên vẹn, có thể chắn được gió lạnh.

Sau khi xác nhận rằng thám tử sẽ không chết, Johnson rời khỏi căn chòi. Y phát hiện Gymir vẫn ngồi ở vị trí ban đầu lặng lẽ quan sát thần mới.

“Tại sao không mang đi?” Johnson nghi hoặc hỏi.

“Cái tên này… có vấn đề.” Áo choàng bóng tối bày ra hình dạng đang suy nghĩ.

“Vấn đề gì vậy?” Johnson quả thực cũng cảm thấy thần mới này có rất nhiều điểm kỳ quái, trước hết là cách nó sinh ra đã rất lạ lùng, sau đó là tập tính thích mai phục, ẩn nấp, đánh lén, cuối cùng là hình như có thói quen ăn thịt người. Kiến thì có gì ngon?

Trên thực tế, hầu hết tà thần không ăn thịt người, không phải vì coi thường con người mà vì hầu hết các sinh vật đều biến thành sương máu trước khi đến gần họ. Phạm vi sát thương của tà thần trong hang rất mỏng, điều này cho nó khả năng săn mồi. Khoảnh khắc con người nổ tung thành sương máu hoặc phát điên tình cờ lại chính là lúc rơi vào miệng nó hoặc bị nó cắn. Johnson thấy lạ nhưng không đi sâu tìm hiểu, dù sao thì nó cũng là một tà thần “phi tự nhiên”.

“Không, thí nghiệm của thần Trí tuệ Thoth có thể còn nằm ngoài dự đoán của chúng ta.” Gymir trầm ngâm.

Johnson không hiểu.

Gymir khẽ nói: “Thần mới sinh ra từ đống rác này trông rất giống một thần cổ xưa, một thần cổ xưa đã chết nhiều năm trước.”

Johnson giật mình: “Thần cổ xưa sống lại?”

“Không.” Gymir nhìn thần mới trong hang động với vẻ khinh thường, nói: “Sự khác biệt giữa nó và thần cổ xưa đó giống như khoảng cách giữa kiến và con người vậy.”



<i>Người dịch: Cái đoạn phạm vi ảnh hưởng của tà thần nghe nhức nhức cái đầu nha, dịch xong cũng chưa hiểu lắm nữa =.=|||</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 133


<b>Chương 133</b>

<b>Thần cổ xưa đáng sợ</b>

Johnson không quan tâm thần mới này trông giống ai, cũng không muốn nghiên cứu nội dung thí nghiệm của thần Trí tuệ , y chỉ vào cái thứ đang vặn vẹo đang vùng vẫy trên mặt đất: “Vật liệu này còn hữu dụng không?”

Cung điện nham thạch còn sửa được không? Nếu không sửa được, Gymir sẽ thất vọng, Johnson nghĩ.

“…Chúng ta cần tìm Typhon.” Gymir rít lên một câu qua kẽ răng.

Johnson rất ngạc nhiên, theo suy nghĩ của y, cho dù nguồn gốc của thần mới này có kỳ lạ đến đâu, cứ giết nó xong là không còn vấn đề gì cả. Tà thần không có nguyên tắc không được làm hại đồng loại, Johnson cũng sẽ không coi tà thần nào khác là tồn tại đặc biệt, ngoài Gymir.

“Thoth không bao giờ làm những điều vô ích, tên này được sinh ra như thế nào, thực sự chỉ là một tai nạn hay là một mối nguy hiểm tiềm ẩn mà Thoth để lại trên trái đất, chúng ta phải tìm ra sự thật.” Gymir hơi cáu kỉnh, hắn không muốn tìm đến Typhon, nhưng ai bảo Typhon có nhiều đồng minh chứ và kiến thức sâu rộng? Gymir giải thích với Johnson: “Nó chưa tiến hóa ra bộ não, chúng ta không thể nhìn thấy trí nhớ của nó, chỉ có thể tìm đồng loại có khả năng này.”

Johnson hiểu ra, hóa ra là đang xem xét ký ức của con rết trong hang động này, khám phá bí ẩn về sự ra đời của nó.

“Typhon biết à?”

“Nó không biết, nhưng chắc chắn nó biết ai làm được.”

“…Anh không biết à?” Johnson ngạc nhiên.

Y tưởng rằng cùng là thần cổ xưa, Gymir sẽ hiểu rõ thiên phú và năng lực của đồng loại, biểu hiện của Gymir trước đây cũng đã chứng minh điều này. Thần Mặt trời, Cochro, sự chênh lệch về sức mạnh giữa bản thể và hóa thân của Typhon… chẳng phải tất cả đều do Gymir kể cho Johnson đó sao?

Sao cơ, Gymir không biết Anubis là tà thần ngoại lai? Đó là tại Typhon xảo quyệt còn Anubis thì quá kín đáo nên mới giấu kín được nhiều năm như vậy. Tất cả tà thần trên cả trái đất đều không biết, chứ có phải chỉ riêng thần Biển đâu, cái này không tính.

Vì thế khi Gymir đột nhiên nói không biết, còn muốn đi hỏi Typhon, Johnson nghi ngờ mình nghe lầm.

Gymir: “…” Nếu biết sẽ có ngày này, hắn sẽ chịu khó đi hóng hớt thêm, ngủ ít đi mấy năm.

“Đồng loại nào chưa bao giờ đến gây rắc rối thì ta không biết năng lực của họ.” Gymir buồn bực nói. Không đánh nhau thì làm sao mà biết?

Ví dụ như thần Trí tuệ Thoth, Gymir chẳng biết gì về tà thần này ngoài những danh hiệu như “người sành âm nhạc” và “kiến trúc sư”. Đừng nói đến việc Thoth đang nghĩ gì khi “tạo ra thần linh”, mục đích của gã là gì, thậm chí hắn còn không biết Thoth có quen biết vị thần cổ xưa đã chết từ lâu kia hay không.

Chuyện này thì phải hỏi ai?

Chỉ có Typhon, cũng chỉ có thể là Typhon.

***

Gió biển thổi qua những cồn cát hình lưỡi liềm, những hạt cát mịn như muối kia trắng ngần tuyệt đẹp. Vào mùa khô, khung cảnh ngoạn mục của Lençóis Maranhenses biến mất, chỉ còn lại những cồn cát nhấp nhô.

Johnson đến đây lần thứ hai.

Lần trước là ban đêm, ảnh hưởng của hiện tượng trăng máu làm y không có tâm trạng quan sát kỹ càng môi trường xung quanh, bây giờ nhìn lại mới thấy quả nhiên xứng danh là hang ổ được Typhon – kẻ nắm giữ thông tin “bất động sản” trên toàn thế giới – lựa chọn cẩn thận.

Những cồn cát ấm áp và thoải mái này mặc dù nằm gần xích đạo nhưng hàng năm vẫn nhận được lượng mưa dồi dào để làm mát. Cát chất đống trên lớp vỏ ngoài, sóng biển dâng cao ào ạt cọ rửa, gió biển dữ dội v**t v*, thỉnh thoảng có một trận lốc xoáy hay cuồng phong… Cái này cao cấp hơn nhiều so với giường dung nham chỉ cung cấp hơi nóng, nhìn vào lựa chọn này xem, có rất nhiều dịch vụ mát xa không ngừng nghỉ trong khi ngủ.

Johnson thử tưởng tượng nơi này thành hang ổ của mình, nhưng lại tiếc nuối từ bỏ. Y không phải là thần cổ xưa khổng lồ nên không cần loại giường mát xa này. Đúng vậy, nó không thích hợp, không liên quan gì đến việc không đánh lại Typhon.

Johnson nhìn những cồn cát này, sau đó nhìn bờ biển phía trước cồn cát, rồi nhẹ nhàng thở dài. Thật ra, thuyền không chỉ có thể chạy trên biển mà còn có thể lướt trên bãi cát mịn. Lao từ trên cao thẳng xuống biển, hay lao lên cồn cát khi thủy triều dâng cao, thế không vui à? Tiếc thay đây là hang ổ của Typhon.

Lúc này trên cồn cát bất ngờ xuất hiện một lốc xoáy, hóa thân của Typhon xuất hiện.

“…Oáp, xảy ra chuyện gì? Đến chơi mà còn mang quà à?” Typhon tò mò vỗ cánh, nhìn xuống đánh giá tà thần trong hang bị đông cứng.

Johnson im lặng nhìn con Typhon chỉ cao đến đầu gối mình.

Typhon vừa bước đi, vừa vỗ cánh phàn nàn: “Chúng mày tới không đúng lúc gì cả, tao đã dùng hết hóa thân rồi, cái này chỉ là tạm thời nặn ra thôi, chỉ có mỗi một cái đầu, khó chịu quá!”

Gymir lạnh lùng hỏi: “Hóa thân của mày đâu?”

“Một cái đang hòa giải xung đột trong cõi mộng, thuyết phục mọi người bình tĩnh, không gây rắc rối cho Anubis… Thực ra thì giờ này tao vẫn phải đứng trước cửa nhà Anubis kìa, thế là mất hai cái rồi. Tao còn phải xin Behemoth tha thứ, còn phải đi tìm Fenrir…”

<i>* Fenrir: Một con quái vật trong thần thoại Bắc Âu, bề ngoài là sói khổng lồ, có thể nuốt chửng mặt trời và mặt trăng.</i>

Typhon đột nhiên ngẩng đầu lên, trừng Gymir: “Mà này, chúng mày bắt nạt con gái Skyra của tao với Fenrir phải không? Sao nó nói chúng mày sai con người tới giết mấy quyến thuộc của nó.”

“Không phải con người mà chúng tao sai đi.” Gymir khoanh tay chế nhạo: “Quyến thuộc của Skyra vô dụng quá, cả con người cũng không thể thắng nổi.”

“Ê, mày có thể nói vậy trước mặt tao, chứ đừng có chọc tức Fenrir, nó sẽ tìm đến gây rắc rối cho mày đó!” Typhon lắc đầu lia lịa.

Nhưng vì động tác của gã quá mạnh, cái đầu lắc lư qua lại thành ra bóng mờ.

Johnson: “…”

Typhon phát hiện ra không ổn, vội vàng dừng lại.

“Cái cổ này lỏng lẻo, trống rỗng chẳng có gì… thực sự không quen.” Typhon phàn nàn rằng cái đầu này có quá nhiều không gian để cử động, làm cho nó không biết lắc đầu nữa rồi.

Gymir mất kiên nhẫn chỉ xuống đất.

Sau khi tiến vào lãnh thổ của thần cổ xưa Typhon, tà thần trong hang này sợ quá nên giả chết luôn, bây giờ trông giống như một cục băng điêu khắc.

“Nhìn kỹ xem, cái thứ này giống ai?”

Dưới ánh nắng mặt trời, mấy cọng râu dài trên đỉnh đầu thần mới và những hoa văn hình tròn trên thân hiện rõ.

Typhon chìm vào dòng suy nghĩ.

“Tao không nhớ có tà thần nào ngắn như vậy, trông thế này.” Typhon dùng chân ra hiệu, nói một cách chán ghét.

Gymir dứt khoát loại bỏ lớp băng. Tà thần trong hang tiếp tục giả chết.

“Ừm?”

Typhon cuối cùng cũng phát hiện ra điểm kỳ lạ của tà thần trong hang. Phạm vi ảnh hưởng cực mỏng không thể hiện sức mạnh yếu kém, mà là do thuộc tính giỏi đánh lén và ẩn nấp. Điều này khiến Typhon nhanh chóng nhớ đến một con quái vật, một đồng loại kinh tởm.

“Jormungandr!”

Đây là Mãng xà trần gian trong thần thoại và truyền thuyết của con người, tương truyền rằng nó rất lớn, đầu đuôi nối liền, bao quanh toàn bộ thế giới.

Tất nhiên Johnson cũng đã nghe nói đến tên của vị thần cổ xưa này, nhưng có quá ít câu chuyện về nó, chỉ biết rằng nó rất to lớn, sẽ ngủ yên cho đến ngày tận thế của hành tinh này. Điều này không khác gì những truyền thuyết về thần cổ xưa khác!

Sau khi có được tầm nhìn của thần cổ xưa, nhìn thấy bộ mặt thật của trái đất, Johnson đã hoàn toàn hiểu được lời tiên tri “thần cổ xưa sẽ thức dậy khi các ngôi sao di chuyển đến một vị trí nhất định và ngày tận thế sẽ thực sự đến” có nghĩa là gì.

Mọi hành tinh đều có tuổi thọ nhất định, trái đất cũng không ngoại lệ. Nói cách khác, cái hang động lớn đang liên tục nhỏ giọt dung dịch thạch nhũ này sớm hay muộn cũng sẽ sụp đổ. Trong hang có đủ loại nhũ đá kỳ lạ… À không, phải là những tà thần được sinh ra bởi sức mạnh hỗn loạn, và vào thời điểm ngày tận thế đến, họ buộc phải thức dậy di cư, tìm kiếm một nơi ở mới ở nơi sâu thẳm trong vũ trụ. Vì vậy, đây hoàn toàn không phải là một lời tiên tri! Đây là điều chắc chắn sẽ xảy ra, chẳng qua là quyến thuộc của tà thần, thần mới và học giả huyền bí học con người không hiểu được chân tướng nên xem nó như lời tiên tri về ngày tận thế. Mức độ hoang đường của lời tiên tri này cũng tương đương với việc chỉ vào mũi con người mà nói rằng cơ thể họ sẽ thối rữa sau khi chết.

Johnson im lặng thất thần, y đang suy nghĩ xem mình và Gymir sẽ đi đâu nếu trái đất thực sự bị phá hủy, vũ trụ thì to quá.

Typhon thì sao? Không cần phải hỏi, gã này chắc chắn sẽ dẫn theo một nhóm đồng minh cùng một bầy con, đi theo Anubis đã có kinh nghiệm du hành vũ trụ.

Ôi chao.

Johnson bắt chước hành vi khi ngạc nhiên của con người, hít một hơi nhẹ nhàng.

Chẳng lẽ việc Typhon tìm Anubis làm đồng minh, rồi hiện đang cố gắng hết sức để bảo vệ tà thần ngoại lai này, còn chạy khắp nơi thuyết phục đồng minh thực sự là do sự cân nhắc đến phương diện này?

Cách Johnson nhìn Typhon đã thay đổi.

Typhon không hiểu chuyện gì đang xảy ra, chỉ dang rộng đôi cánh và rướn cổ lên để thể hiện tư thế uy nghiêm của mình theo bản năng. Chỉ tiếc là lùn quá.

Gymir mặt vô cảm quất con hóa thân Typhon chỉ cao ba mươi centimet bay sang phía bên kia cồn cát.

Typhon đá chân rồi bay nhanh trở lại.

“Chúng ta nói về Jormungandr, thứ này… đã rút nhỏ rất nhiều lần, nhìn có vẻ hơi giống.”

Typhon đi vòng quanh tà thần trong hang, miệng lẩm bẩm, trông hệt như một con ong mật đang vo ve.

Johnson muốn nói rằng Jormungandr là một con mãng xà khổng lồ, còn thần mới này giống một con rết hơn, không giống lắm đâu, nào ngờ Typhon nói tiếp: “Jormungandr cứ bành trướng như phát điên ấy, quấn quanh hành tinh này, bọn tao nghi ngờ nó muốn nuốt chửng trái đất.”

“Cái gì?”

“Đúng, đó là sự thật.” Typhon ngẩng đầu lên nói với Johnson: “Nó có tham vọng lớn lắm, trước giờ vẫn cứ âm thầm phát triển cơ thể, các tà thần khác thì thu sức mạnh lại, còn nó thì rất cực đoan, chỉ phát triển về hình thể. Lúc đầu bọn tao không biết nó đang làm trò gì, sau này khi phát hiện ra thì nó đã có kích thước gần bằng một nửa trái đất rồi.”

Johnson: “…”

“Sau đó bọn tao giết nó luôn, chuyện này xảy ra từ rất lâu rồi, lúc chưa có sự sống trên trái đất nữa kìa, thần Mặt trời Tonatiuh lúc đó cũng chưa dung hợp thành công!” Typhon tiếp tục nói với vẻ uy nghiêm: “Sau này Anubis kể cho tao nghe, nó đã từng thấy tà thần như vậy ở những nơi khác. Nuốt một hành tinh vào bụng là phương pháp nguyên thủy nhất và hiệu quả nhất, sức mạnh sẽ nuôi dưỡng bên trong cơ thể của nó, chỉ cần không có sự can thiệp từ bên ngoài hoặc bên trong, chúng sẽ dần dần nuốt chửng hệ mặt trời, rồi đến hệ ngân hà… Trong vũ trụ còn có một lý thuyết nói rằng nếu một tà thần như vậy nuốt chửng cả phần vũ trụ này thì nó sẽ phát triển thành một chúa tể rất đáng sợ, có thể đồng thời tồn tại và không tồn tại trong vô số thời gian và không gian.”

Johnson chỉ vào tà thần trong hang nằm trên đất, hỏi mà không dám tin: “Giống như con này?”

“À, không, tao đang nói về đặc tính che giấu bản thân.”

Typhon lại lắc đầu, cái đầu lúc thì vẹo sang bên trái, lúc lại quặt sang bên phải.

Những gì mà loại tà thần như Jormungandr làm tương đương với việc nuốt chửng bàn ăn của mọi người, phá nát nhà của mọi người, ai mà chịu được? Việc này tất nhiên là phải được thực hiện trong âm thầm lặng lẽ, nhưng điều này rất khó đối với tà thần, thể chất của họ sẽ quyết định địa bàn được vạch ra của mình nổi bật như một vòng tròn được vẽ bằng mực rất thô dày.

“…Jormungandr có thiên phú ẩn nấp kiểu này.”

Typhon nói xong, ánh mắt của ba tà thần đều đổ dồn vào con rết đang giả chết.

Johnson phải mất một thời gian dài mới tìm lại được giọng nói của mình, y hiếm khi gặp phải tình trạng ăn nói không trôi chảy.

“Ừ, vậy thì… thí nghiệm thần Trí tuệ Thoth thực sự thất bại sao? Có khi nào Thoth đã nuôi dưỡng ra một con Jormungandr số 1, rồi đi đến nơi sâu thẳm trong vũ trụ tìm một hành tinh ăn được để thí nghiệm không? Và chúng ta đang nhìn thấy một sản phẩm thất bại do Thoth vứt bỏ?”



<i>Người dịch:</i>

<i>Trong thần thoại Bắc Âu, Jormungandr được cho là con thứ của khổng nhân Angrboða với thần Loki, nhưng cũng có truyền thuyết dân gian Iceland cho là loài rết biển sống lâu mà thành tinh.</i>

<i>Tự nhiên lại ngẫm ra, size gap của cặp đôi nhà này rất là ngon nha =))</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 134


<b>Chương 134</b>

<b>Giám định tại hiện trường</b>

Thần Trí tuệ Thoth đã làm gì?

Câu trả lời chỉ có thể tìm thấy trong ký ức của “thần mới trong hang động” này.

Vì vậy vật liệu xây dựng này không thể bị giết.

Thế là, Gymir không quan tâm đến những chuyện khác cũng không muốn nhìn thấy Typhon đã chủ động gửi “quà” đến tận cửa nhà gã.

Typhon đột nhiên phải tiếp quản một vấn đề lớn như vậy, gã không gầm gừ giận dữ trên cồn cát, cũng không mắng mỏ thần Trí tuệ không biết đã đi về đâu trong vũ trụ, mà chủ động bắt tay vào “công tác quy hoạch”.

“…Đứa con mạnh mẽ nhất của tao, Hydra, có được ký ức của con mồi bằng cách nuốt chửng một phần cơ thể của nó. Chúng ta còn cần tìm Argus (người khổng lồ trăm mắt), nó có thể thông qua các dấu vết tích tụ sức mạnh trên bản thể tà thần để xác định chính xác tuổi của tà thần, đã chiến đấu với những tà thần nào, kết thành đồng minh với những tà thần nào, những điều này xảy ra khi nào… hy vọng Argus có thể nhìn ra những nguyên vật liệu mà Thoth đã sử dụng khi tạo ra thần từ trên người thần mới này. Nhân tiện, chúng ta cũng nên gọi Anubis, nó từng đến rất nhiều hành tinh, có thể sẽ cung cấp một số thông tin mà chúng ta chưa biết.”

Typhon tiếp tục bay vòng quanh như một con ong mật, chẳng bao lâu sau đã chốt được danh sách.

“Chỉ có ba tà thần này thôi, tao phải vào cõi mộng tìm chúng nó, như thế sẽ nhanh hơn.” Hóa thân của Typhon nói xong thì hướng đầu xuống, cắm thẳng vào cồn cát rồi biến mất.

Johnson: “…” Sự an toàn của căn nhà thực sự là quan trọng nhất. Chỉ cần nghe nói trái đất sắp mất rồi, tà thần có lười biếng thế nào cũng sẵn sàng hành động ngay lập tức.

Johnson đến gần Gymir, hắn lập tức ăn ý biến thành cái bóng, hòa vào làm một với dây leo.

Họ không đợi lâu, một cụm Mây đen khổng lồ bay lơ lửng trên bầu trời từ phía xa đang lại gần. Mây đen như đang chuẩn bị gây ra một cơn bão khủng khiếp, che khuất cả mặt trời. Mặt biển cũng từ từ dâng cao, ngày càng dâng cao, tạo thành một con rắn kỳ lạ có chín đầu. Sóng biển cuộn trào chính là chiếc cổ rắn vươn dài, nhấp nhô và vặn vẹo.

“Anubis, Hydra.”

Mây đen là hóa thân của thần Chết, không có hình dáng hay khuôn mặt, tỏa ra mùi khiến tà thần trái đất khó chịu.

Hydra tỏ vẻ kinh tởm, bơi sang hướng khác. Ngay khi Johnson đang nghĩ xem đồng minh của Typhon sẽ cư xử như thế nào với đứa con riêng của đồng minh thì Hydra gầm lên giận dữ. Mây đen không lên tiếng, thu mình lại nhường đường cho Hydra.

Johnson phiên dịch dựa theo cảm nhận của mình là: Hydra muốn đánh nhau, Anubis lười để ý.

Hydra rõ ràng là rất nóng tính, nó có vẻ không ưa bất cứ ai, lại quay sang gào thét với áo choàng bóng tối đang lặng lẽ trôi bồng bềnh.

Johnson không thoải mái. Y chợt nhận ra cách giao tiếp này thực ra là một hiện tượng phổ biến trong thế giới tà thần. Hầu hết các tà thần đều không thích nói chuyện, tuy có thể bộc lộ rõ ràng những gì mình muốn nói nhưng lại thích truyền tải những cảm xúc mạnh mẽ hơn là nói năng mạch lạc, giống như cách Hydra đang làm hiện nay.

Johnson nghĩ, ừm, nói một cách nghiêm túc thì tà thần đầu tiên mà y giao tiếp chính là Gymir. Là vào hai năm sau khi gặp Gymir (bị người cá dọa chạy mất), trong làn sương mù dày trên đường phố Luân Đôn, trong tay họ đều đang cầm những cuốn sách của con người. Đó là một tình huống giao tiếp rất không giống tà thần.

Không phải, Johnson chợt nhớ ra lúc đó họ không hề “nói chuyện”, chỉ nhìn nhau, Gymir đưa cho y một bức ảnh mà John từng mang theo, khiến Johnson nhận ra sự thật ngượng ngùng đằng sau cuộc truy đuổi. Lần “giao tiếp” đó hoàn toàn không được thực hiện thông qua ngôn ngữ, có thể đó là hơi thở, có thể là sách của con người, hoặc có thể là hình dáng Gymir giả làm con người đi lại trong thành phố, dù sao thì câu nói duy nhất cũng là do Johnson nói… bởi vì thám tử xuất hiện, Johnson đã nhắc nhở Gymir rằng họ nên đi rồi.

Dây leo thở dài bên trong cái bóng, tà thần quả thực là sinh vật không cần ngôn ngữ.

Gymir không biết Johnson đang nghĩ gì, hóa thân bóng đen đang hơi bành trướng ra, tản ra một luồng hơi thở hỗn loạn kh*ng b*.

Hydra cáu kỉnh bị hơi thở này tạt vào mặt, im lặng trong vài giây.

Anubis không phản ứng gì, hắn vẫn là một đám mây đen dở sống dở chết.

Ánh mắt của bốn tà thần cùng đổ dồn vào thần mới trong hang động.

Hydra vung vẩy đầu, nhào lên tợp một phát.

“…”

Cái đuôi của thần mới trong hang động đột nhiên mất đi một đoạn, nó đau đớn nhảy dựng lên, vô thức cố gắng đào xuống đất tìm một khe hở để ẩn nấp.

Nhưng bên dưới cồn cát này… là bản thể của Typhon.

Hóa thân của Typhon xuất hiện, xách theo thần mới trong hang động, tức giận hỏi: “Có chuyện gì vậy?”

Khi nhìn thấy chín cái đầu của Hydra đang cùng cắn một đoạn cơ thể, Typhon ném thần mới trong hang động cho Gymir, xông lên đánh con.

“Mày ăn nhiều như vậy làm gì? Chỉ cần một cái đầu là đủ, còn lại nhả ra hết! Còn phải dùng nó để sửa chữa cung điện nham thạch!”

Typhon giật thức ăn từ miệng rắn, nối mấy cái chi tàn phế lại với nhau. Sức sống của tà thần rất mạnh mẽ, chỉ cần không bị nghiền nát vụn ra thì vẫn có thể dán lại được. Chỉ có điều Typhon ghép không cẩn thận lắm, làm một đoạn chân xoay lên trời.

Thần mới trong hang động nhanh chóng tự vặn vẹo cơ thể của chính mình, thế mà có thể xoay lại cho đúng hướng, có thể thấy là nó đang cố gắng để sống sót.

Tám cái đầu của Hydra lần lượt bị đánh, cái đầu còn lại trốn ở ngoài cùng thì đang cẩn thận nhai, nhai một lần mất những mười phút. Thế là âm thanh duy nhất trên bãi biển chỉ còn tiếng gió cùng tiếng răng sắc nhọn va vào nhau. Cuối cùng, Hydra ngẩng cao đầu, kêu một tiếng buồn rầu.

“Nói coi!” Typhon vỗ cánh một phát, làm chín cái đầu của Hydra cùng nhau đập xuống đất.

Sóng biển ập vào rạn san hô, mặt đất phát ra âm thanh ầm ầm đáng sợ, sóng xung kích lan rộng trong sa mạc, tạo thành những vòng cung cong tuyệt đẹp. Con người không biết sự thật chắc hẳn nghĩ rằng ở đây đang có động đất.

“Không có gì cả, khi tên này được sinh ra, Thoth đã biến mất lâu rồi.” Hydra quả nhiên có thể nói được, chỉ là giọng rất khó nghe.

Hydra bực bội miêu tả những gì mình “nhìn thấy”.

Thần mới trong hang động sinh ra ở cung điện nham thạch, ăn hết “đồ phế thải thí nghiệm khác” và cả những vật phẩm mà Thoth để lại trong cung điện, bất cứ thứ gì có chút sức mạnh, dù sống hay chết, đều chui vào bụng nó. Sau khi ăn sạch không còn gì nữa, nó muốn rời đi, nhưng không tìm được đường ra, cung điện nham thạch quá kiên cố. Cho đến ba năm trước, xung đột nổ ra giữa Cochro và Gymir ở Bắc Cực, đồng thời ảnh hưởng đến cả cõi mộng và hiện thực, thức tỉnh thần mới mày, cũng làm hỏng bài nhạc mà cung điện nham thạch đang chơi. Thần mới chớp lấy thời cơ, phá tung cung điện rồi trốn khỏi đảo.

“Đồ phế thải thí nghiệm khác là cái gì?” Gymir hỏi thẳng.

Hydra không muốn trả lời, Typhon ấn đầu nó thúc giục: “Nói!”

Hydra giận điên lên, húc văng hóa thân cao mười mét của Typhon.

Dây leo ẩn trong cái bóng nhìn hai cha con bay lượn khắp nơi, lại bất giác phân tâm. Con cái của Typhon về cơ bản đều thừa hưởng hiện tượng nhiều đầu, điều gì sẽ xảy ra nếu chúng gặp nhau, rồi dùng đầu cụng vào nhau? Đây có phải là một hình thức thi đấu tà thần không?

Bên kia, Hydra lắc cổ, thấp giọng nói: “Không biết nữa, trông như một đống những vũng bùn.”

“Không phải thi hài của tà thần?”

“Không phải!” Hydra khẳng định, bản thân nó thuộc loại tà thần thích ăn đồng loại, nhưng không quá mạnh cũng không độc ác như thần Mặt trời. Thứ Hydra ăn nhiều nhất chính là quyến thuộc của các tà thần. Vì vậy nó biết rành rẽ các loại sức mạnh khác nhau trên trái đất. “Cái con này không pha trộn bất kỳ thành phần nào khác ngoài trái đất, là sản phẩm của trái đất, rất tinh khiết, cũng rất gớm ghiếc… Nói cụ thể hơn thì miếng đầu tiên ăn vào thấy rất đậm đà, rất thơm ngon, đủ loại hương vị, đến miếng thứ hai thì không được nữa rồi, hương vị và sức mạnh bị trộn lung tung với nhau.”

Hydra buộc phải tiếp tục đưa ra lời bình luận về thực phẩm, mà lại còn ngay trước mặt “nguyên liệu” nữa chứ, Johnson thầm nghĩ thần mới trong hang động không có não chắc cũng là một hạnh phúc.

Nhiệm vụ nếm thử của Hydra kết thúc, nó dứt khoát bỏ đi luôn.

Typhon và Gymir, Johnson chuyển sự chú ý sang một “chuyên gia đánh giá nguyên liệu” khác đang có mặt.

Mây đen phồng lên rồi chậm rãi nói: “Tao chưa bao giờ thấy tà thần yếu như vậy, đây nhất định là sản phẩm thất bại, tao không thể nhìn ra Thoth có từng thành công hay không qua một sản phẩm thất bại.”

Nếu không có cái gọi là sản phẩm thành công thì Typhon và những tà thần khác chỉ đang tự hù dọa chính mình mà thôi. Nếu có những sản phẩm thành công thì đó là bao nhiêu? Thoth đã lấy đi một tai họa, nhưng liệu có để lại cái nào khác trên trái đất không? Tất cả đều là những nghi vấn treo lơ lửng trong lòng tà thần, họ không thể ngủ được cho đến khi tìm hiểu rõ.

“Mày nên nghe thử ý kiến của Argus Trăm Mắt.” Thần Chết thận trọng nói. Anubis đề nghị Typhon tìm nhà phê bình thứ ba vắng mặt – Argus “có thể nhận biết thức ăn bằng mắt, không cần nếm thử bằng miệng”.

“Quên đi, Argus Trăm Mắt không có ở nhà, tao cũng không tìm thấy nó ở cõi mộng!” Typhon tức tối nói: “Tên này vô tình tìm được một đồng minh thích hợp trong sự kiện va chạm trong cõi mộng lần trước, chắc chắn đã đi đến hang ổ của tên kia rồi, mùi dung hợp khác nhau nên rất khó tìm.”

Sau đó Typhon kể cho Gymir và Johnson nghe về tai nạn bất ngờ do va chạm trong cõi mộng gây ra lần đó.

Johnson: “…” Thật là không ngờ được, họ và Cochro đi qua đi lại giữa những thời đại khác nhau lại có thể giúp cho hai tà thần khác kết thành đồng minh?

“…Lần trước gặp một giấc mơ đang dung hợp trong cõi mộng đó, tao còn tưởng là Argus Trăm Mắt, ai mà ngờ tao mới thò đầu qua nhìn một cái đã bị Gymir đánh.” Typhon tức giận chỉ vào cái bóng nói: “Tao đâu có biết là chúng mày!”

Gymir: “…”

Typhon nhân cơ hội để trốn tránh trách nhiệm: “Nếu Gymir mà không đánh tao, để tao lần lượt tìm kiếm mấy giấc mơ đang dung hợp trong cõi mộng, tao nhất định sẽ phát hiện ra vị trí Trăm Mắt từ lâu rồi!”

Cái bóng nhẹ nhàng vặn vẹo, phát ra một âm thanh lạ lùng và nguy hiểm: “Sao tao nhớ là, lúc đó mày giải thích… mày đang đang tìm kiếm dấu vết của thần Mặt trời Tonatiuh trong cõi mộng cho nên mới nhìn trộm khắp nơi.”

Thân hình Typhon đột nhiên cứng đờ.

Gió thổi qua những cồn cát, Mây đen im lặng, cái bóng cũng im lặng, sa mạc và bờ biển rất yên bình.

“Ờ, ha ha! Tất cả chỉ là hiểu lầm thôi, tao sẽ đi vào cõi mộng tìm tiếp, nhất định sẽ tìm được.” Hóa thân của Typhon mờ đi, sắp biến mất.

“Khoan đã!” Johnson chợt kêu lên.

Typhon phớt lờ y, thế là Gymir không vui, cái bóng cuốn Typhon quay lại như một cơn gió.

“Nghe Johnson nói xong.” Áo choàng bóng tối lạnh lùng nói.

Typhon không hiểu, Johnson là thần mới, không đủ tư cách làm nhà phê bình thẩm định.

Johnson cũng rất lúng túng, nếu trong hoàn cảnh khác, y sẽ không bao giờ nói chuyện trước mặt thần cổ xưa, nhưng bây giờ nhìn thấy Typhon la lối đòi đi tìm tà thần thứ ba mà vẫn không thu được thông tin hữu ích nào, Johnson không nhịn được nữa.

“Chúng ta nên tìm hiểu về… đồng minh và con cái của thần Trí tuệ Thoth?” Johnson nói một cách nghiêm túc.

Theo phương thức điều tra của con người, trong những vụ án đã xảy ra từ quá xa xưa, nghi phạm có thể đã bỏ trốn cùng với bằng chứng, hoàn toàn không có mặt ở trái đất, thùng rác ở nơi ở cũ của nghi phạm đã được dọn sạch, không còn manh mối quý giá nào được giữ lại, vậy thì hãy đi điều tra các mối quan hệ của nghi phạm!

Chẳng hạn như động cơ.

Chẳng hạn như liệu Thoth có tiết lộ suy nghĩ và kế hoạch của mình hay không.

Chỉ tìm chuyên gia giám định số rác còn lại thì có ích gì?

Gymir ủng hộ ngay: “Đúng là thế, Typhon, mày nói xem?”

Typhon thở dài, xòe móng vuốt: “Cái gã Thoth này, nguyên nhân duy nhất khiến nó chủ động tiếp xúc với đồng loại là để khoe khoang… khoe những tác phẩm mới và những khám phá mới của nó này, chẳng hạn như ngôn ngữ chúng ta đang nói hiện nay, do Thoth phát minh… chẳng hạn như cung điện nham thạch, do Thoth thiết kế và xây dựng. Thoth không có đồng minh, không có con cái, khi nó ra đi cũng đã mang theo tất cả quyến thuộc, không có thông tin gì về việc này đâu!”
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 135


<b>Chương 135</b>

<b>Dùng trí tuệ</b>

Không ai biết thần Trí tuệ Thoth đang ở đâu, cũng không ai biết kế hoạch của gã.

Thậm chí cũng khó để chắc chắn liệu có một kế hoạch nuốt chửng trái đất như vậy hay không.

Tất cả đều như một bí ẩn không có khởi đầu hay kết thúc, không có người trong cuộc, không có manh mối, chỉ có một đống rác khả nghi.

Johnson cuộn dây leo lại, nghĩ, đây chẳng phải là công việc của thám tử loài người sao? Khám phá những điểm đáng ngờ, tìm kiếm sự thật, nào ngờ nó lại liên quan đến tồn tại huyền bí và các thần linh từ rất xa xưa, cuối cùng lại trở thành nhiệm vụ lớn: ngăn chặn thảm họa ngày tận thế và giải cứu thế giới. Dưới góc nhìn của thám tử loài người , ban đầu nó chỉ là một cuộc thám hiểm hang động. Giờ đây, thám tử của vụ án bí ẩn này đã từ con người biến thành tà thần.

Johnson ngây ra. Y dành cả ngày để thu thập các thám tử trong thành phố của con người, bắt chước con người, nhưng chưa bao giờ nghĩ rằng mình sẽ thực sự dùng đến những kỹ năng này.

Cái bóng nhẹ nhàng v**t v* dây leo.

“Em đang nghĩ gì?” Gymir phát hiện Johnson vẫn luôn suy nghĩ, nhưng bởi vì suy nghĩ quá nhanh, quá phức tạp, hắn khó có thể phân biệt được.

Johnson không nói gì, y cử động, nhìn ra xung quanh.

Đây là cõi mộng.

Typhon ném tà thần trong hang cho Anubis canh giữ, đồng thời dẫn Johnson và Gymir vào cõi mộng. Typhon triệu hồi đồng minh của mình, xây dựng một giấc mơ khép kín để làm nơi hội họp, thông báo tình hình bất ngờ ở đây, yêu cầu mọi người cung cấp tung tích của Argus Trăm Mắt.

Những tà thần này còn nhớ rõ về vụ va chạm giao thông trong cõi mộng lúc trước, lập tức báo ra tên của đồng minh mới của Trăm Mắt, thậm chí còn chủ động đi tìm. Kết quả không như ý muốn, hang ổ của tà thần đó trong hiện thực cũng trống rỗng.

Gymir thì tỏ ý rằng hắn đã lường trước điều này. “Nếu tà thần lập giao ước với nhau thì sẽ tìm nơi khác thay vì chọn tổ của riêng mình.” Bởi nếu gây ra động tĩnh lớn quá, làm hỏng cả giường thì sẽ phải tìm một tổ mới để ở, như thế thì lỗ vốn rồi.

Johnson: “…” Đây quả thực là sự thật, nhưng sau khi nghe được điều này, y lại vẫn xấu hổ đến mức muốn dùng dây leo chặn miệng Gymir lại.

Johnson nhìn những hóa thân của tà thần vừa mờ ảo vừa quái dị xung quanh mình, cảm thấy toàn thân khó chịu. Đây là lần thứ hai rồi, vô tình tham gia cuộc họp gia đình của Typhon, y cảm thấy lạc lõng, không muốn đứng đây nữa.

“Em có một ý tưởng.” Johnson nói nhanh.

Thế nhưng Gymir hoàn toàn không thắc mắc gì, trực tiếp “phát” tiếng nói của y ra ngoài.

Ở trạng thái hợp nhất, dây leo hơi rụt lại. Dưới cái nhìn của nhiều tà thần, y ẩn sâu vào trong cái bóng, giọng nói vẫn trong trẻo và uy lực.

“Chúng ta có thể dùng con người để tìm Trăm Mắt.”

“…” Các tà thần không lớn tiếng chất vấn, nhưng hơi thở mà chúng tỏa ra rõ ràng là đang giễu cợt, khinh thường đề nghị buồn cười này.

Sau khi trải qua sự kiện trăng máu, Johnson không còn cảm thấy lo lắng khi đối mặt với thần cổ xưa, ngay cả khi có hơn chục tà thần đang vây quanh trong lúc này, cùng lắm thì chạy, ở đây là cõi mộng thì sợ cái gì! Để Typhon tự mình giải quyết những rắc rối mà Thoth bỏ lại đi! Ai mà không phải là tà thần tính tình xấu xa, lười giao tiếp với đồng loại chứ? Mọi người đều giống nhau, nếu đã bị buộc phải cung cấp thông tin và điều tra sự thật thì phải chịu đựng những khuyết điểm của tà thần khác!

Johnson ỷ vào bảo vệ kép của cõi mộng và cái bóng, lờ đi ánh mắt của những tà thần này, bình tĩnh giải thích suy nghĩ của mình. Giờ đây mọi manh mối đều hướng về thần Trí tuệ Thoth, còn có những điểm kỳ lạ trên người “thần mới” ra đời trong cung điện nham thạch, khiến ai cũng nóng lòng muốn biết sự thật.

“…Nếu có một sản phẩm thành công như vậy tồn tại, Thoth vẫn đặt thứ này ở trái đất mà không mang theo, tất cả tà thần đều không phát hiện ra nó… Sản phẩm thành công này che giấu sự tồn tại của nó như thế nào? Có phải giống như Anubis không bao giờ lộ bản thể không? Hay là nó không bao giờ ngủ?”

Các tà thần im lặng một lúc rồi bắt đầu bàn tán bằng đủ loại hình thức khác nhau, bao gồm nhưng không giới hạn ở gầm gừ, dung hợp hóa thân, tiếng thì thầm lạ lùng, những cú húc đầu…

Typhon đang bận đẩy đồng minh của mình ra bằng móng vuốt và đôi cánh của mình, vừa đẩy vừa trừng mắt nhìn Johnson: phân tích vấn đề thì cứ phân tích đàng hoàng, tại sao lại lấy Anubis làm ví dụ?

Johnson giả vờ như không để ý.

Cái bóng lặng lẽ cuộn một góc của mình lên, vỗ tay khen ngợi dây leo.

“Ngay cả tà thần không có khả năng tự suy nghĩ cũng sẽ xuất hiện trong cõi mộng sau khi ngủ, chẳng qua giấc mơ của họ là một cảnh tượng hoàn toàn hỗn loạn.” Typhon dang rộng đôi cánh, cố gắng thể hiện ra một tư thế uy nghiêm, lấy danh nghĩa để giải quyết vấn đề, tạm thời trấn áp sự bất mãn của các tà thần khác.

Typhon nhìn quanh giấc mơ, cao giọng nói: “Thần mới như thế này không nhiều cũng không ít, tổng cộng chỉ có mười mấy đứa thôi.”

Tốc độ trái đất sinh ra tà thần không nhanh lắm. Chỉ là trong thời đại thần cổ xưa đang ngủ yên này, các thần mới có rất nhiều hy vọng sống sót miễn là không bị đồng loại ăn mất.

“Tao đã từng <i>thấy</i> đám thần mới này hết rồi, tao biết bọn nó sống ở đâu, có thể tìm thấy từng đứa một.” Typhon vỗ cánh nói tiếp. Không phải chỉ là một cuộc sàng lọc quy mô lớn thôi sao, đơn giản!

Các tà thần: “…”

Typhon chợt nhận ra mình đã nói hớ, vội vàng ngụy biện: “Tao chỉ xem qua thôi, không muốn phát triển đồng minh mới, thần mới yếu lắm.”

Lần này đến lượt Gymir không vui. Thần mới thì sao? Johnson rất tốt.

Typhon quyết định ngậm miệng.

Johnson bất lực nói: “Typhon ngươi quên à? Hydra đã nói, Thần mới chúng ta bắt được ở cung điện nham thạch cũng bị đánh thức bởi sự kiện tai nạn trong cõi mộng, lẽ nào ngươi có nhớ sự tồn tại của nó? Ngươi dám nói mình có đầy đủ thông tin về thần mới không?”

Typhon ấp a ấp úng đáp: “Ờm, hai trăm năm nay ta ngủ rất say, không có thời gian…”

Johnson biết rõ như vậy, bởi vì khi họ gặp nhau lần đầu, Typhon rõ ràng không quen y, cũng không biết Bướm Xám. Điều này cho thấy hồ sơ quan sát trái đất và danh sách liên lạc với đồng loại của Typhon không được cập nhật mọi lúc mọi nơi, việc cập nhật chỉ giới hạn trong thời gian hóa thân của Typhon hoạt động, chẳng hạn như hiện nay. Trước đây, Johnson từng hoảng sợ trước tấm bản đồ chọn tổ lý tưởng của tà thần vô cùng tinh tế và chính xác của Typhon, suýt nữa thì tưởng rằng một trăm cái đầu của Typhon luôn quan sát mọi thay đổi của trái đất!

“Nhưng sản phẩm thành công của Thoth… nếu có thì nó đã ra đời từ hàng ngàn năm trước, ta phải biết hoặc có ấn tượng! Chỉ bị nó qua mắt thôi…” Typhon vắt óc suy nghĩ.

Gymir nói một cách vô cảm: “Đừng nghĩ nữa, trước kia mày chưa từng hoài nghi thì làm sao hiện tại có thể nghĩ tới? Tà thần có hóa thân, chỉ cần không nhìn thấy bản thể thì mày không thể biết được.”

Johnson đồng ý với cách giải thích này, bây giờ cuối cùng y cũng có thể đề xuất vai trò của con người.

“Thần mới sinh ra từ đống rác mà chúng ta bắt được rất nhạy cảm với âm thanh của cung điện nham thạch, nó gầm lên khi nghe âm thanh đó. Con người trên hành tinh này đang ở trong một thời kỳ lạ thường, có những cá nhân ở thượng tầng trong số họ mơ hồ nhận thức được sự tồn tại của chúng ta, nhưng họ vẫn đang ở giai đoạn thiếu hiểu biết nên không sợ hãi, đang sốt sắng tìm kiếm những <i>hiện tượng bí ẩn</i> từ khắp nơi trên thế giới. Điều trùng hợp hơn nữa là âm nhạc do cung điện nham thạch phát ra lại được con người sử dụng như một công cụ để <i>phát hiện và xác nhận</i> sự tồn tại của tà thần cũng như các sinh vật đột biến. Cung điện nham thạch đã bị hư hỏng, bài nhạc của nó bị lạc điệu nghiêm trọng, lúc đó… ta và Gymir ở dưới hòn đảo, còn Typhon đang ngủ trên đảo, những âm thanh này cũng bị lẫn vào rồi bị bóp méo bởi một thứ của con người gọi là điện đài, vì vậy những tà thần không quen với cung điện nham thạch sẽ không bao giờ nghe ra được nguồn phát mà chỉ cảm thấy âm thanh đó rất ồn ào khó chịu. Và chuyện lạ đã xảy ra, tại sao một nhóm tà thần lại đến tìm Gymir, tìm Typhon, còn biết chính xác rằng đây là bản nhạc lạc điệu của cung điện nham thạch, bảo Gymir sửa lại?”

Johnson nói một mạch đến đây, rồi cuối cùng nhìn chằm chằm vào Typhon, hỏi lại: “Ai nghe được nguồn gốc của bản nhạc? Ai kể cho mọi người biết!”

Typhon ngây ra.

Những tà thần khác cũng bừng tỉnh, bắt đầu tranh luận sôi nổi. Họ cố gắng nhớ lại, có người chỉ vào người khác, tà thần bị chỉ định liền tự biện hộ rằng mình nghe được đồng loại khác nói.

“Đủ rồi!” Typhon gầm lên, cả giấc mơ khép kín lập tức im bặt.

Typhon chậm rãi dang rộng đôi cánh, chìm vào ký ức.

Theo lý mà nói thì thì chỉ có hai tà thần biết được nguồn gốc của tiếng ồn, là Typhon và Gymir.

Johnson ngủ rất say, từ đầu đến cuối không hề giao tiếp với đồng loại trong cõi mộng, thậm chí không biết có vài tà thần đã tìm đến giấc mơ, giục Gymir sửa chữa cung điện nham thạch. Gymir không muốn dậy chút nào, hắn đang thoả mãn ôm Johnson vào lòng mà ngủ, nếu không bị quấy rầy thì có thể ngủ mấy chục năm, không thể nói cho những tà thần kia biết tiếng ồn từ đâu đến.

Mà những tà thần đó tìm Gymir trước, bởi vì Gymir ngủ nướng không thèm để ý nên mới tìm tới Typhon. Các hóa thân của Typhon còn đang bận rộn với chuyện của Anubis, hóa thân ngủ trên đảo Cát Lún của gã thì chỉ vừa ngủ vừa ngáy thôi, không biết gì cả.

Vậy câu hỏi đặt ra là, không phải Gymir tiết lộ, cũng không phải Typhon nói ra, thì ai đã xác nhận điều đó?

Johnson lên tiếng hỏi: “Có tà thần nào trên trái đất yêu âm nhạc và có trình độ âm nhạc cao hơn thần Biển Gymir không? Kẻ vẫn có thể nghe ra được bản nhạc của cung điện nham thạch bị lạc điệu giữa tiếng ngáy của Typhon… và những âm thanh nhiễu mà ta và Gymir tạo ra ở bên dưới hòn đảo?”

Không tà thần nào lên tiếng, Typhon lắc đầu.

Sau đó, đám con cái nhiều đầu của Typhon cũng lắc đầu.

Johnson cố gắng hết sức để đè nén sự ngượng ngùng khi đề cập đến chuyện riêng tư của mình, nói chung thì tà thần sẽ không xấu hổ về những chuyện như vậy, y đành phải làm ra vẻ như không quan tâm.

Johnson bình tĩnh nói thêm câu cuối cùng: “Ta phải nhắc mọi người rằng sau khi cung điện nham thạch mất Thoth, phạm vi phát nhạc của nó rất hẹp, bản nhạc của cung điện nham thạch bị lạc điệu, chủ yếu là do thần mới mà chúng ta bắt được đã phá hoại cung điện, chuyện này xảy ra cách đây hai năm… cách đây hai vòng trái đất quay quanh mặt trời!”

Quá ngắn, sẽ không có tà thần nào nghe được âm thanh lạc điệu này! Chưa kể đến những tiếng ồn trộn lẫn, rồi biến thành sóng vô tuyến thông qua điện đài vô tuyến, thế mà vẫn nghe được! Vậy nên có vấn đề, tà thần đã nói ra nguồn gốc bản nhạc rất đáng nghi!

Typhon cáu kỉnh cắn đôi cánh của mình. Nhược điểm của việc quen biết quá nhiều đồng loại đã lộ ra, gã không thể biết ai là người đưa ra kết luận này trước tiên, chỉ nhớ rằng họ đã cùng nhau chạy tới kêu ca phàn nàn.

Lúc này Behemoth đột nhiên lên tiếng: “Là Leviathan!”

“Cái gì? Nhưng tuổi của Leviathan không khớp!” Typhon kinh hãi.

Thần cổ xưa Leviathan thuộc nhóm lâu đời nhất, tương tự như Typhon và Behemoth. Thậm chí còn già hơn cả Gymir.

“Tao chắc chắn, chính nó đã nói về nguồn gốc của âm thanh đó! Nguyên nhân là gì… thì tao cũng không biết, nhưng bọn mày nhớ gì không? Leviathan không thích nói chuyện, cho nên trong số tà thần chủ động phàn nàn lần này lại có nó thì quả thực là một chuyện rất kỳ lạ! Tao còn tưởng lần trước trước là Cochro, rồi lần trước là Tonatiuh quậy quá nên đánh thức nó.” Behemoth nghiến răng nghiến lợi nói.

Johnson vô cùng bất ngờ, y tưởng lần này bắt được một tà thần vài ngàn năm tuổi, trùng với thời điểm Thoth rời trái đất, nhưng ai ngờ lại bắt được một thần cổ xưa? Sự thật đằng sau bí ẩn này dường như ngày càng phức tạp hơn.

“Đi tìm nó!” Typhon đứng bật dậy.

“Không, ta muốn tiếp tục phát… điện đài vô tuyến.” Johnson khó nhọc nói. Nếu vị thần cổ xưa này đến phàn nàn, tức là hang ổ của nó cũng đã bị con người phát hiện, điều đó rất tốt.

Typhon ngập ngừng nói: “Sử dụng con người? Để Leviathan chủ động đến tìm ta, hay tìm Gymir?”

“Đúng, nhất định là Leviathan rất muốn tới hỏi thăm tin tức, chúng ta phải dùng trí tuệ, không thể trực tiếp đánh nhau như lúc đối phó với thần Mặt trời.” Johnson suy nghĩ, rồi nói: “Còn Argus Trăm Mắt, nếu đã là… lập giao ước, chắc chắn sẽ gây ra hiện tượng bất thường nào đó trong mắt con người, con người cũng sẽ dùng điện đài ma quái để đối phó với tồn tại huyền bí này, mà điện đài ma quái thuộc về ta.”

Chỉ cần điện đài ma quái tiếp tục phát sóng, Johnson tiếp tục tìm kiếm lần lượt thì tung tích của chuyên gia giám định cuối cùng – Trăm Mắt – cũng có thể được tìm ra.

Còn việc quấy rầy tà thần giao phối, quấy rối những giấc mơ ngọt ngào của họ… mặc kệ chứ!

Trái đất sắp gặp tai họa rồi kìa, vẫn còn ngủ à? Dậy đi!

Typhon hào hứng gật đầu: “Cứ làm như thế, sử dụng con người!”

Không ngờ có thể sử dụng con người, quá là tuyệt vời!

“Mở điện đài ma quái, xác định vị trí của Trăm Mắt, chờ Leviathan đến tìm chúng ta!”

Chỉ cần làm ba điều này!

Những điều ban đầu khó hiểu sau khi được phân tích theo cách này đã có phương hướng ngay lập tức!

Cái bóng quấn chặt dây leo hơn.

Tự hào.
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 136: Phần 10: Cơn Sóng Kinh Hoàng Năm 1960, Chile


<b>Chương 136</b>

<b>Phóng viên</b>

Năm 1960, Chile.

Tháng Năm đang là cuối thu, nhiệt độ càng ngày càng lạnh.

Nhìn ra biển từ cửa sổ quán rượu ở cảng Montt, biển ở đây đẹp như một tấm gương xanh nhạt.

Đây là biển Montt, vịnh biển có hình dạng lõm, hải đảo chắn bớt gió và sóng bên ngoài, nước biển ở đây phẳng lặng không gợn sóng, dưới ánh hoàng hôn phản chiếu, khách ghé thăm thậm chí nghi ngờ mình đang lạc vào thế giới trong mơ.

Davy đang ngồi trong quán rượu, tay cầm một cuốn sổ tay.

Đối diện anh, một người đàn ông da đen vừa uống bia vừa nói: “…Nghe nói mỏ đồng đã ngừng hoạt động được một tháng, bên dưới lở đất, nhiều người đã thiệt mạng. Các tàu chờ vận chuyển đồng và đá tiêu đều bị chặn ở cảng Valparaíso, không thể đi đâu, thuyền tải trọng nhỏ hơn không chen vào được, đành phải đến cảng Montt.”

<i>* Đá tiêu hay tiêu thạch, hỏa tiêu, nha tiêu, tiêu toan giáp, diễm tiêu, mang tiêu, Bắc đế huyền châu (các tên gọi từ tiêu thạch trở đi là từ Hán-Việt, trong đó 3 tên gọi cuối cùng chỉ thấy có trong các thư tịch cổ của Trung Quốc) là dạng khoáng vật của kali nitrat (KNO3), còn được gọi là diêm tiêu (nghĩa là muối của đá tiêu).</i>

“Anh có thấy tàu Mỹ nào không?” Davy hỏi.

Người đàn ông say khướt ngước lên nói: “Mỹ à? Ợ, chẳng phải họ luôn ở trên biển sao?” Vừa nói, gã vừa làm động tác, giống như một con chó chạy đi chạy lại.

Những người đang uống rượu ở bàn bên cạnh nhìn thấy hành động này thì cười lớn.

Davy cầm bút, có hơi lúng túng.

Davy là một phóng viên báo lá cải người Mỹ.

Chile là nước sản xuất quặng đồng lớn nhất thế giới, cũng có quặng sắt chất lượng rất cao, trước khi những thứ này được vận chuyển ra khỏi cảng để đến các quốc gia khác, chúng đã trở thành những con số giao dịch trên Phố Wall, giờ đây, mỗi ngày chúng bị kẹt lại ở đây, tài sản của một vài người đang âm thầm bốc hơi khỏi tài khoản của họ. Nếu tình trạng này tiếp tục, sẽ có một nhóm người khác xếp hàng ở Phố Wall để nhảy lầu tự tử.

Nhưng Davy không quan tâm đến sự sống chết của những nhà đầu tư đó, những gì anh muốn viết không phải là tin tức kinh tế.

Sau khi trả tiền rượu, Davy mặc áo khoác, rời khỏi quán rượu.

“Hắt xì.” Trời lạnh đến mức Davy nghi ngờ thông tin thời tiết do đài phát thanh địa phương ở Chile công bố là hoàn toàn sai, lẽ ra bây giờ phải là mùa đông. Có phải tuyết sắp rơi không? Davy rụt cổ trở về khách sạn nơi anh đang ở.

Cảng Montt trước đây chỉ là nơi tàu đánh cá neo đậu, phong cảnh rất đẹp. Bắt đầu từ ngày tài nguyên khoáng sản được khai thác, Anh và Hoa Kỳ đã sử dụng nhiều công ty khác nhau để kiểm soát hoạt động vận tải đường sắt và sản xuất năng lượng của đất nước này, vì thế Davy có thể dễ dàng nhìn thấy những người nước ngoài có khuôn mặt giống mình ở đây, đồng thời cũng có thể tìm được một khách sạn có điều kiện tốt, nơi tất cả những người phục vụ đều biết nói tiếng Anh.

Davy bật radio lên, định nghe xem thời tiết sắp thay đổi thế nào, nhưng đột nhiên anh chợt nhớ ra điều gì đó, anh quay sổ tay về trước mặt mình, từ từ điều chỉnh tần số theo một dãy số. Sau mười phút cố gắng, Davy bỏ cuộc. Cái radio cũ kỹ này còn tệ hơn cả mẫu cũ mà Davy từng sử dụng khi còn nhỏ, không thể nào thu được tín hiệu của điện đài ma quái huyền thoại. Davy không biết mình quá xui hay quá may mắn, anh cố tình chờ đợi kênh điện đài huyền bí này nhưng không bao giờ nghe được.

Davy nghe thấy tiếng động từ phòng bên cạnh, anh liền lặng lẽ đứng dậy, áp cái ly vào bức tường mỏng để nghe lén. Nhưng nghe tới nghe lui vẫn chỉ là những tin tức kinh tế về quặng đồng và quặng sắt.

Davy thầm chửi rủa, đặt ly xuống, chán nản nằm trên giường. Có một vết ố ở góc trần phòng khách sạn trông như một con quái vật màu đen đang vặn vẹo, kết hợp với giấy dán tường phồng lên phía sau do ẩm ướt tạo ra một ảo giác… có một con quái vật nằm im lìm ở đó, thân mình ẩn dưới tấm giấy dán tường màu xanh, chỉ có cái đầu gục xuống bên mép trần nhà, lặng lẽ nhìn xuống Davy.

Davy đột nhiên nhảy dựng lên. Anh ôm trán, cố gắng để mình thư giãn. Đây là bệnh cũ của Davy, anh luôn nhầm lẫn các vết bẩn, chó mèo đi lạc và những đồ vật hư hỏng trong nhà kho là quái vật.

Khi Davy lên bảy tuổi, anh bị bạn bè xúi giục nên đã đi thám hiểm một nghĩa trang bị bỏ hoang ở thị trấn lân cận, kết quả là anh biến mất trong ba ngày, rồi được tìm thấy khi đang ngủ trong một mương thoát nước khô cạn. Lúc tỉnh dậy, anh không nhớ gì cả, chỉ mắc phải căn bệnh này. Bác sĩ nói Davy bị điên, linh mục nói Davy không đủ sùng đạo, còn bà phù thủy lại nói Davy đã quấy nhiễu vong linh nào đó.

Những trải nghiệm này đã biến Davy thành một chàng trai trẻ bị ám ảnh bởi phép thuật phù thủy, tôn giáo, biểu tượng ma quái và bói toán. Sau nhiều năm nghiên cứu, anh không những không phát hiện ra quái vật hay thần thánh được nhắc đến trong huyền bí học mà còn vạch trần nhiều thủ đoạn giả ma quỷ hù dọa con người. Tình cờ là các chương trình truyền hình thám hiểm nhà ma bỏ hoang đang rất được ưa chuộng, nhiều phương pháp xua đuổi ma quỷ cũng rất phổ biến ở Mỹ. Davy chẳng hiểu sao lại được xuất hiện trên một kỳ của chương trình, nhờ sự dũng cảm và cẩn thận của mình, anh đã nhận được một công việc ngắn hạn tại đài truyền hình. Sau khi chương trình siêu nhiên kết thúc, anh trở thành phóng viên báo lá cải thông qua lời giới thiệu của những người bạn mới. Anh rất giỏi viết về những vụ án siêu nhiên giật gân, đồng thời cũng rất giỏi thu thập thông tin, còn chụp được một số bức ảnh tai tiếng nên có một cuộc sống khá ổn.

Sự bình yên này đã bị phá vỡ cách đây nửa năm.

Hiện tượng trăng máu.

Davy nhất quyết tin rằng sự gián đoạn liên lạc, sự bất thường khi quan sát thiên thể, và cảm xúc bất thường của con người… đều do tàu vũ trụ của người ngoài hành tinh gây ra. Mọi chuyện diễn ra sau đó đều là minh chứng cho quan điểm này, chẳng hạn như căn cứ bí mật do Mỹ thành lập, rồi thì điện đài ma quái, hoặc là những sinh vật dị dạng xuất hiện trên khắp thế giới, Davy tin rằng chắc chắn phải có người ngoài hành tinh trong số đó. Đáng tiếc chính phủ các nước đều nhất quyết không tiết lộ. Davy thề sẽ tìm ra sự thật, ý tưởng điên rồ của anh đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ bạn bè và cấp trên, thậm chí một số người còn vung tiền để tài trợ cho anh.

Và đây là cuộc phiêu lưu dài nhất và xa nhất của Davy. Thông tin đáng tin cậy mà anh có được từ nhiều nguồn khác nhau là: Một cơ cấu chính phủ đáng ngờ nào đó đã “lôi kéo” tín đồ dị giáo ở thị trấn Salem đang trốn tại Công ty Phát triển Khai thác mỏ ở Chile, Nam Mỹ. Davy cũng nhận được hai bức ảnh mờ, một bức là một xác chết bị đập nát, rất to lớn và trông không giống một sinh vật bình thường, bức còn lại là hình ảnh một chiếc xe bọc thép và một chiếc xe tăng, lớp ngụy trang trên thân xe có biểu tượng mà Davy quen thuộc. Biểu tượng này đã có từ năm 1958, Davy đã xác nhận sự hiện diện của các nhân viên cơ quan chính phủ đeo biểu tượng này nhiều lần trong các “sự kiện siêu nhiên bí ẩn”. Kết hợp với những hiện tượng bất thường trên thị trường tương lai, Davy tin chắc rằng lần này anh sẽ bắt được dấu vết của người ngoài hành tinh.

Vào thời điểm quan trọng này, tại sao căn bệnh cũ lại tái phát?

Davy nhắm mắt mở ngăn kéo, lấy ra một lọ thuốc, đổ một viên ra rồi nuốt vào. Toàn thân anh đổ mồ hôi, mạch máu trên trán không ngừng đập. Trước đây, vấn đề của anh không quá tệ, nghỉ ngơi một thời gian hoặc ngủ một giấc là sẽ khỏi, nhưng gần đây có vẻ như bệnh ngày càng nghiêm trọng hơn. Nếu nghĩ kỹ lại thì nó bắt đầu từ khi hiện tượng trăng máu xảy ra…

Davy mở mắt, nhìn lọ thuốc đã vơi một nửa với vẻ mặt u ám, uống quá nhiều thuốc an thần này có thể bị nghiện. Anh quyết định lần này trở về Mỹ, anh phải đến bệnh viện để kiểm tra.

“Có lẽ thực sự có điều gì đó… mà khoa học không thể giải thích được.” Davy tự nhủ, rồi chẳng mấy chốc anh đã phủ nhận ý kiến của mình: “Không, không, đó là điều mà khoa học của nhân loại không thể giải thích được. Đó là người ngoài hành tinh… Nó không phải là virus mà là một quang phổ nhất định, não bộ con người sẽ bị ảnh hưởng nếu tiếp xúc với ánh sáng đó trong thời gian dài.”

Khi Davy bị mất tích khi còn nhỏ, có một giả thuyết phổ biến ở Mỹ cho rằng anh đã bị người ngoài hành tinh bắt cóc. Davy không tin rằng bộ não của mình đã bị người ngoài hành tinh chỉnh sửa, nhưng anh tin rằng mình phải khác người bình thường, anh nhạy cảm hơn với những điều này.

Anh bước vào phòng vệ sinh, rút khăn ra, làm ướt rồi lau mặt thật mạnh. Rồi anh chuẩn bị tinh thần, sau đó lại nhìn lên những vết ố trên trần nhà.

“Phù.” Davy thở phào nhẹ nhõm. Đó là một vệt xám loang lổ, bị bỏ lại bởi một người trang trí không có tay nghề.

Davy mở rèm, lấy bản đồ ra đối chiếu với bản đồ khu vực khai thác mỏ trên bàn làm việc để tính cách lẻn vào chụp ảnh, bất ngờ, anh nhìn thấy chiếc lá còn sót lại trên cửa kính. Sáng sớm nay trời có mưa, nó bị gió thổi mạnh vào cửa sổ. Lá cây khô héo, vàng khè, bị côn trùng đục lỗ lởm chởm, làm lộ ra những đường gân của thực vật. Không biết tại sao mà trong mắt Davy, những đường gân này tạo thành hình dạng của bản đồ Chile, chúng hẹp và dài, vị trí của các lỗ nhỏ kia trông cũng giống như các khu mỏ.

Chiếc lá đã mất đi sự sống.

Một dự cảm rất xấu mạnh mẽ hiện lên trong tâm trí anh.

Đây là cảm giác tim đập nhanh mà anh chưa từng trải qua trước đây.

Davy đập lưng vào tường, tiếng quát giận dữ vang lên từ phòng bên cạnh khiến Davy chợt tỉnh táo lại, thì ra anh đang lùi lại như điên cho đến khi không còn đường lui. Anh nghe thấy mình đang thở hổn hển, cảm nhận cơn đau đầu mơ hồ.

Davy hít một hơi thật sâu, khi mở mắt ra lần nữa, anh lao tới chỗ chiếc vali, nhanh chóng nhét đồ vào rồi xách lên, sau đó chạy xuống lầu yêu cầu trả phòng.

Người phục vụ rất ngạc nhiên, trời đã tối, các chuyến phà không còn hoạt động nữa, lẽ nào vị khách này định bắt xe lửa để đi? Gã hỏi Davy liệu anh có muốn gọi taxi không, và thành công kiếm được khoản tiền boa nhỏ.

“Tôi phải đợi bao lâu?” Davy cáu kỉnh hỏi.

“Xin lỗi… Có thể mất một giờ, nhưng có thể bắt kịp xe lửa…” Người phục vụ giải thích bằng tiếng Anh bập bẹ.

Davy chỉ cảm thấy những câu này đã vỡ ra thành từng từ, sau đó dần dần biến thành các chữ cái, rải rác trong không khí. Anh nhìn chằm chằm vào miệng người phục vụ, không thể hiểu được người này đang nói gì.

“Thưa, thưa ông?” Người phục vụ hoảng sợ trước cái nhìn thẳng tắp của Davy.

Mắt Davy đỏ hoe, vẻ mặt đờ đẫn nhưng hai tay lại siết chặt thành nắm đấm.

Người phục vụ cầm ống nghe điện thoại, lắp bắp giải thích rằng đây là lúc tài xế của công ty dịch vụ vận chuyển về nhà ăn uống nghỉ ngơi, thực sự không tài nào có mặt ngay được.

Cổ Davy đột nhiên vặn vẹo như một thây ma.

“…Đây là cái gì?” Davy vô thức hỏi.

Người phục vụ nghe thấy, bối rối nhìn xung quanh.

Vị trí của khách sạn này rất tốt, có thể nhìn thấy khung cảnh bên bờ biển và một góc bến tàu từ đại sảnh. Davy nhìn thấy một bóng người đứng trên cột đèn. Đó chắc chắn không phải là nơi để con người đứng! Trang phục của người này trông giống như quý ông người Anh của thế kỷ 19, tay y còn cầm một cây gậy batoong khảm sapphire, tư thế nhìn từ phía sau rất tao nhã.

Davy nhận thấy vẻ mặt của người phục vụ ngơ ngác, biết rằng đây lại là một ảo giác khác.

Ảo giác chết tiệt!

Đó có thể không phải là một người, mà là hình ảnh phản chiếu của tòa nhà hoặc bóng của những cành lá đung đưa!

Davy xách vali lên, đi đến chỗ ghế sô pha cạnh sảnh khách sạn. Anh nghiến răng nghiến lợi lấy lọ thuốc trong túi ra rồi uống một viên nữa. Sau khi đếm đến ba trăm trong đầu, Davy cảm thấy tim mình đập càng lúc càng nhanh, anh chửi thề rồi mở mắt ra, thấy cái bóng trên đèn đường đã biến mất.

Quả nhiên là ảo giác.

Davy đứng dậy nhưng đột nhiên mất thăng bằng, anh lại ngã xuống ghế sô pha.

Bởi vì mặt đất đang rung chuyển.
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 137


<b>Chương 137</b>

<b>Biển Montt</b>

Trong gió có mùi hôi rất nhạt.

Johnson khẽ cau mày. Y có thể nhìn thấy nơi rất xa, còn có thể xác định nguồn gốc của mùi này.

Biển Montt đang thay đổi, luồng khí cực độc đang từ từ tràn ra từ dưới địa tầng, hòa vào nước biển. Con người không thể nhìn thấy những cột khói vàng lắc lư này, cũng như không nhận thức được nguy cơ đang đến gần.

Nhưng trong mắt Johnson, thành phố này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn.

Côn trùng đang bò lung tung, có những tiếng xào xạc rất nhẹ trong bụi cây. Đàn chim biển bay quanh bến tàu, thu hút những ánh nhìn ngạc nhiên của ngư dân và phu khuân vác. Chuột lao ra khỏi hang của chúng như điên, trèo qua tường, chạy loạn xạ qua ống thoát nước hoặc mái nhà, mớ lông xám đen của chúng vẫn còn dính đầy cặn cống bẩn thỉu, khiến những người qua đường vô tình nhìn thấy cảnh tượng này phải hét lên kinh hãi, sau đó tay chân luống cuống nhặt đồ lên bắt đầu đuổi theo.

Đôi mắt của Johnson quét qua các tòa nhà trong thành phố, quan sát con người di chuyển xung quanh trong những tổ kiến tinh xảo do chính họ tự xây, ngâm mình trong đủ loại chất tạo mùi. Bia sủi bọt trong quán rượu, một gia đình đang thưởng thức bữa tối tại nhà, điếu xì gà trên tay doanh nhân…

Johnson đột nhiên nhìn thấy thứ gì đó sáng lấp lánh. Y quay đầu lại thì thấy một người đàn ông đang xách vali đang điên cuồng lục lọi đồ đạc rồi ra sức nhét thuốc vào miệng. Ánh sáng của ý chí dần trở nên ảm đạm dưới ảnh hưởng của thuốc an thần.

Johnson biết rằng con người đã phát minh ra thuốc để điều trị các chứng rối loạn hưng cảm khác nhau từ nhiều thập kỷ trước, nhưng đồng thời, thuốc an thần cũng có thể làm tê liệt các giác quan của con người, khiến họ trở nên đờ đẫn và thèm ngủ. Những người tiếp xúc với sự kiện huyền bí lâu dài chắc chắn sẽ bị ác mộng và ảo giác hành hạ, tác dụng của thuốc vừa hay lại có thể giúp họ thoát khỏi nỗi đau đó. Nhược điểm là dùng thuốc quá liều có thể hủy hoại cơ thể và ý chí của họ. Đối với những người đã trở lại cuộc sống “nhẹ nhàng” nhờ sự trợ giúp của thuốc, một khi gặp lại sự kiện huyền bí, họ thường khó cưỡng lại được cám dỗ tăng liều để giữ tỉnh táo. Đôi khi lựa chọn cách tự sát chậm này thậm chí còn đúng đắn, bởi vì không thể nghỉ ngơi đủ đồng nghĩa với việc không còn đủ năng lượng để giải quyết vấn đề, đối phó với các nguy cơ… Uống thuốc sẽ không chết ngay, nhưng nếu không kịp thời thoát khỏi khu vực xảy ra sự kiện huyền bí thì chắc chắn sẽ chết.

Johnson cho rằng đây có thể là suy nghĩ của con người có ý chí tinh thần suy yếu trước mặt mình! Suy cho cùng thì những làn khói vô hình này đôi khi bám vào một số vật thể nhất định, thể hiện sự tồn tại của chúng trước mặt những con người có năng lực cảm ứng cao, con người sẽ diễn giải ảo ảnh này thành nhiều thứ quen thuộc khác nhau, rồi từ đó cảm nhận được nỗi sợ hãi khủng khiếp.

Chạy đi.

Càng nhanh càng tốt, ở đây sẽ có một thảm họa, Johnson thầm nghĩ.

Y biến mất khỏi cột đèn đường, xuất hiện trên đê chắn sóng của bến cảng. Đám đông tự động tản ra trước mặt Johnson, họ không nhìn thấy người đàn ông ăn mặc kỳ lạ này.

Chó mèo trong thành phố bắt đầu kêu gào và sủa dữ dội. Một con chó săn màu đen to lớn giằng đứt xích, chạy loạn xạ trên bến tàu, làm đổ các thùng hàng, cắn người và hàng hóa cản đường nó. Tiếng la hét và gào rú phát ra từ đám đông, một vài công nhân bến tàu chộp lấy gậy gỗ đuổi theo con chó điên. Nhưng càng chạy xa, họ càng cảm thấy chóng mặt, trước mắt xuất hiện bóng chồng.

“Tôi không uống rượu kia mà?”

“Con heo ngu ngốc, là động đất!”

Bến cảng hỗn loạn.

Người ta nhìn thấy những chiếc thùng phuy xếp chồng lên nhau nặng tổng cộng hơn nửa tấn đang lắc lư từ bên này sang bên kia. Có người mất thăng bằng ngã xuống, nhưng họ chưa kịp đứng dậy thì đã bị những người khác giẫm đạp lên. Lúc này đầu óc con người trở nên trống rỗng, không nghĩ ra được cách nào, ngoại trừ một suy nghĩ duy nhất là “chạy”. Họ thậm chí không biết phải chạy đi đâu, chỉ biết cắm đầu mù quáng đi theo hướng của đám đông.

Bịch.

Một người đàn ông cảm thấy mình va vào tường, vội nắm lấy lan can sắt của bến cảng nhưng sức mạnh của của đám đông từ phía sau vẫn “hất” anh ta sang một bên, đẩy anh ta xuống biển. Anh ta sợ hãi ôm lấy cây cột, cố gắng trèo lên, rồi cũng muốn biết mình vừa va vào cái gì, vừa ngẩng đầu nhìn lên đã thấy Johnson.

Tóc đen nhánh, quần áo kiểu cổ xưa, làn da nhợt nhạt và khuôn mặt tuấn tú, còn có khí chất quái dị không thể giải thích được này…

“…” Người đàn ông chìm thẳng xuống biển, dùng tay chân bơi một quãng xa rồi mới dám lên bờ.

Ngày càng có nhiều người nhìn thấy Johnson. Nhưng mối đe dọa của trận động đất vẫn còn đó, họ không còn sức lực hay tâm trí để suy nghĩ về vấn đề này, chỉ có hình dáng của “người” này in sâu vào tâm trí họ. Khi mặt đất ngừng rung chuyển, sự hỗn loạn lắng xuống, họ vẫn nhớ đến người đàn ông lạ mặt đó. Người đó là ai, tại sao lại đột ngột xuất hiện? Tại sao trong tình huống giẫm đạp hỗn loạn đó, xung quanh người này vẫn duy trì được khoảng cách khoảng một mét, như thể không ai có thể đến gần y?

“…Tôi đã nhìn thấy sứ giả của thần Chết, kỵ sĩ tuyên bố Cuộc Phán Xét Cuối Cùng!” Một ông già quần áo bẩn thỉu giơ cao hai tay, hét lên trên đường. Ông ta nhanh chóng bị đội bảo vệ cảng kéo đi.

Trong cơn say, những người công nhân vừa ra khỏi quán rượu buộc phải làm thêm giờ, vừa chửi bới vừa phân loại đống hàng hóa bừa bộn.

“Trận động đất chết tiệt đã làm chai rượu của tôi rơi xuống khỏi mặt bàn, tôi còn chưa uống hết nửa chai!”

“Được rồi, may là chúng ta ở trong quán rượu… Nhìn vết máu trên mặt đất kìa.”

Các công nhân im lặng nhìn những người bị thương đang r*n r* đau đớn được khiêng sang một bên, ngoài ra còn hai người khác nằm đó thẳng đơ, mặt phủ đầy vải trắng.

“Xin Chúa ban phước lành cho họ.” Mấy người công nhân làm dấu thánh giá trên ngực rồi cúi xuống tiếp tục làm việc.

Lúc này, mặt đất lại rung chuyển, một anh chàng đặc biệt xui xẻo đập đầu vào thùng, máu lập tức chảy ra ào ào.

Mức độ hoảng loạn do trận động đất thứ hai gây ra thậm chí còn bị phóng đại hơn. Những người đang khóc lóc hoặc im lặng làm việc như con cá bị ném vào chảo dầu, vùng vẫy để nhảy lên, cố gắng trốn thoát, nhưng trận động đất khiến họ loạng choạng nghiêng ngả, chạy được vài bước thì lại trở về vị trí ban đầu. Trên các tòa nhà bắt đầu xuất hiện những vết nứt, những nơi không kiên cố đã sụp đổ. Khói và bụi tràn ngập không khí.

Chẳng mấy chốc mọi thứ đã bình thường trở lại. Người nằm trên mặt đất khi cảm nhận được nhịp đập mạnh mẽ trong lồng ngực, nhận ra rằng mình đã sống sót, họ lập tức đứng dậy, vừa khóc vừa cười chạy về nhà.

Lúc này, ánh hoàng hôn hoàn toàn biến mất ở đường chân trời, trận động đất khiến toàn thành phố mất điện, đồng thời tuyên bố thành phố đã chìm trong hỗn loạn. Đầu tiên là cửa hàng của người Mỹ bị đập phá, sau đó là kho vận chuyển của người Anh. Màn đêm được ngọn lửa chiếu sáng, lửa và máu tươi cùng nhau cháy hừng hực.

Johnson đang ngồi trên nóc nhà đối diện khách sạn với vẻ mặt nghiêm nghị, nhưng lại làm ngơ trước cảnh tượng bi thảm đang diễn ra trước mắt, như thể y đang nghĩ đến những vấn đề khác. Bóng tối che khuất bóng dáng y, cho đến khi Gymir lặng lẽ xuất hiện phía sau. Cái bóng gác lên vai Johnson như làn nước chảy, kéo hẳn Johnson vào vòng tay của bóng tối.

Tà thần thì thầm trong bóng tối: “…Có phải là ở đây không?”

“Con người thường xuyên sử dụng điện đài ma quái ở đây, không có dấu vết của sinh vật đột biến, nhưng cảm giác rất kỳ lạ… rất giống núi Arabika.”

Johnson duỗi dây leo chỉ về phía nam, những tuyến đường sáng màu kéo dài ra mọi hướng lập tức hiện lên trong mắt Gymir.

“Dùng các đường hầm mỏ do con người đào để ẩn nấp?”

“Phải, ở đây có rất nhiều quặng, con người cảm thấy rất hữu dụng.”

Johnson thản nhiên nói, dùng tay không dán lên một bản đồ địa hình.

Những khu mỏ này cách nhau hàng ngàn mét, con người không mạnh đến mức có thể nối liền chúng với nhau, nhưng cảnh tượng hiện ra trước mắt tà thần lúc này chính là hệ thống đường hầm khổng lồ dưới lòng đất. Quy mô của nó thậm chí còn kinh khủng hơn cái ở núi Arabika.

Johnson chỉ có thể “hình dung” ra những “lối đi” ở tầng trên, y không biết chuyện gì đang diễn ra bên dưới. Y cũng sẽ không mạo hiểm để điều tra tình hình. Typhon vẫn chưa phản hồi nhưng Behemoth nghi ngờ đó là một thần cổ xưa, Johnson sẽ không hành động gì cho đến khi Gymir đến.

“Chấm đỏ mà em đánh dấu trên bản đồ này là gì?” Gymir hỏi.

“Vị trí điện đài ma quái từng xuất hiện.”

Trong thời gian này, Johnson ném cái điện đài vô tuyến kia vào ngọn hải đăng trên đảo Cát Lún, còn y tự mình ra ngoài tìm kiếm “liên hệ”. Y buộc phải “làm quen” với các cơ quan bí mật của nhiều quốc gia khác nhau, cũng như nhiều quyến thuộc đang “lưu lạc bên ngoài” của tà thần, sẵn tiện còn thưởng thức luôn các sinh vật dị dạng theo nhiều hướng đột biến khác nhau.

“Đây là Cục Điều tra Hiện tượng Bất thường của Mỹ, họ đã bắt giữ nhiều sinh vật đột biến, g**t ch*t một vài quyến thuộc… Chỉ có nơi này, bọn họ dùng điện đài ma quái nhiều lần mà vẫn không thu hoạch được gì.” Johnson dừng lại một giây, dường như cảm thấy chuyện này vẻ hơi hoang đường, lại rất trùng hợp, vậy nên trong giọng điệu của y pha thêm chút hương vị không thể giải thích được: “Con người dường như cho rằng đây là kho báu đáng được nghiên cứu sâu, rất quan tâm đến nó, không chỉ đóng quân ở đây mà còn vận chuyển thêm nhiều vũ khí đến.”

Hành động này quá lớn, trong khi không chỉ có Mỹ kiểm soát Chile, mà còn cả Anh. Khi việc vận chuyển quặng đồng bị dừng lại, các nước châu Âu khác cũng tập trung sự chú ý vào đây.

“…Hiện tại có người của bảy hoặc tám quốc gia ở đó, có vẻ như tất cả các cơ quan bí mật của các quốc gia loài người mà em từng gặp trong thời gian này đều ở đây.” Johnson thấy vụ việc này thật sự rất trớ trêu.

Con người đoán đúng, ở đây có bí mật, quả thực có một con cá lớn. Nhưng bí mật này liên quan đến ngày tận thế của trái đất, và cũng liên quan đến vụ việc mà tà thần đang điều tra.

Đính chính lại, là sự thật đang được gia đình Typhon cùng với gia đình Johnson và Gymir điều tra. Đúng rồi, thời buổi này, sự kiện huyền bí phức tạp đến mức cần tà thần ra làm thám tử đấy!

Đây vẫn chưa phải là kết thúc. Johnson vốn luôn yêu thích trò chơi đóng vai con người đã rất ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng các tổ chức điều tra được thành lập bởi các chính phủ trên khắp thế giới đều tập trung tại đất nước này… Nếu cộng thêm cả Typhon sẽ đến đây ngay sau khi nhận được tin tức từ Johnson, các tà thần trong gia đình của Typhon, thế thì nơi này sẽ rất đông vui. Đông vui đến nỗi Johnson cảm thấy dây leo của mình đang tê dại.

“Theo lý mà nói, ở đây không thể có mùi của địa bàn của tà thần mới đúng, kẻ mà chúng ta muốn bắt… ẩn náu rất sâu, rất kín đáo.” Johnson chỉ vào mùi hôi thối xung quanh biển Montt, hỏi: “Nhưng đây là cái gì? Anh có cảm thấy nó không? Cái thứ sức mạnh của tà thần rất nhẹ nhưng đang dần trở nên mạnh mẽ hơn?”

Gymir gật đầu: “Thứ đó sắp đi ra từ trong lòng đất, nó đã chọn vùng biển này làm lối ra.”

“Có phải Typhon đã đánh động nó không?” Johnson thầm tiếc nuối. Đã thống nhất phân công lao động rõ ràng, điều tra sự thật rồi mà, lẽ nào Typhon không biết đóng kịch?

Gymir biến thành hình dạng con người, ngồi cạnh Johnson, vai kề vai nhìn mặt nước biển tưởng chừng như lặng yên.

“Không, nó hành động rất chậm, hình như không muốn thu hút sự chú ý của đồng loại… Nếu thực sự thấy mình bị lộ, vậy còn cần che đậy làm gì? Cứ xông thẳng ra là được!” Gymir ước tính thời gian: “Đại khái là khoảng giờ này ngày mai nó mới chui ra được, có lẽ chúng ta có thể tạo cho nó một bất ngờ.”

Johnson quay đầu lại nhìn phóng viên Davy mặt mày xanh xao đang run rẩy trong khách sạn.

Chỉ còn hai mươi bốn giờ để con người trốn thoát.



<i>Người dịch:</i>

<i>Đại thảm họa động đất Valdivia 1960 hoặc trận động đất lớn Chile ngày 22 tháng Năm là động đất mạnh nhất từng được ghi nhận. Kết quả là sóng thần ảnh hưởng đến miền nam Chile, Hawaii, Nhật Bản, Philippines, miền đông New Zealand, đông nam Australia và quần đảo Aleutian. </i><i>Tâm chấn của trận động đất này nằm gần Lumaco, cách thủ đô Santiago khoảng 570 km về phía Nam, với Valdivia là thành phố bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Sự rung chuyển đã gây ra những cơn sóng thần cục bộ làm vỡ nặng bờ biển Chile, với sóng cao tới 25 mét. Sóng thần chính chạy qua Thái Bình Dương và tàn phá Hilo, Hawaii. </i><i>Số người chết và tổn thất tiền tệ phát sinh từ thảm họa lan rộng này là không chắc chắn. Các ước tính khác nhau về tổng số người thiệt mạng từ trận động đất và sóng thần đã được công bố, trong khoảng từ 1.000 đến 7.000 người thiệt mạng.</i>

<i>Túm lại là tác giả viết phần này cũng dựa trên một sự kiện có thật.</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 138


<b>Chương 138</b>

<b>Đếm ngược (1)</b>

Ánh lửa làm biến dạng thành phố đang bị bao trùm trong bóng tối.

Từ cửa sổ khách sạn nhìn ra, nó thấp thoáng mơ hồ như quỷ dữ đang nhe nanh múa vuốt.

Davy nằm trên sàn, anh nghi ngờ mình đã rơi vào một cơn ảo giác nghiêm trọng hơn. Có tiếng la hét vọng tới từ xa xa vờn quanh tai anh, mặt đất rung chuyển, trần nhà cũng lắc lư. Những con đường sáng sủa bên ngoài khách sạn bây giờ đã hoàn toàn thay đổi, như thể bị bao phủ trong bóng tối vô tận, con người không ngừng lao vào bóng tối và không bao giờ quay trở lại.

Rầm.

Một chiếc xe hơi mất lái lao thẳng vào cửa khách sạn.

Khung cửa sập xuống, gạch rơi xuống khắp sàn, Davy không may bị một mảnh kính vỡ bay qua cứa rách trán. Nhưng anh cũng rất may mắn, mảnh thủy tinh không c*m v** mắt hoặc vùng giữa hai lông mày của anh… không g**t ch*t anh tại chỗ. Cơn đau cuối cùng đã đánh thức ý chí uể oải, Davy nhận ra khách sạn hiện đang trống rỗng, anh nằm đằng sau chiếc sô pha bị lật úp, chỉ lộ ra phần đầu. Phần lớn đá vụn và kính đều bị cái ghế sô pha to và nặng chặn lại, một con cá duy nhất lọt qua lưới đã “giúp” Davy tỉnh táo trở lại.

Davy loạng choạng đứng dậy, đúng lúc nhìn thấy có người đang khó nhọc trèo ra ngoài cái xe.

“Cứu tôi! Cứu tôi với!” Đầu của người phụ nữ nọ đầy máu, không thể nhìn rõ khuôn mặt.

Davy phát hiện nửa đầu cái xe đã bị đá vụn vùi lấp, chỉ có người ngồi ghế sau còn sống. Cửa xe bị vặn vẹo biến dạng, hoàn toàn không thể mở ra được. Davy không hiểu được tiếng Tây Ban Nha mà người phụ nữ đó đang nói, anh nhặt một cây lau nhà làm đòn bẩy, cố gắng nhấc mảnh gạch lớn đè trên mui xe phía trước ra, giúp người bên trong có thêm không gian để di chuyển. Nhìn thấy thi thể tài xế, tiếng khóc trong xe càng lớn.

Đầu Davy kêu ong ong, từng cơn đau nhói lên liên hồi, anh cố kéo mở cửa xe hồi lâu, đột nhiên bên ngoài vang lên những âm thanh hỗn loạn cùng với ánh lửa lờ mờ. Anh cảnh giác nấp sau chiếc xe đã tan tành, đồng thời ra hiệu cho người phụ nữ bên trong xe. Bất chấp rào cản ngôn ngữ, may mắn thay, họ đều nhận thức được sự nguy hiểm. Người phụ nữ ngay lập tức nằm xuống gầm ghế xe, Davy cũng trốn về dưới ghế sô pha.

Tiếng ồn ào ngày càng gần hơn, Davy nhìn thấy bọn côn đồ đang cầm đuốc. Trên người chúng bê bết máu, tay cầm chai rượu, vung gậy gỗ, gậy sắt và say khướt. Trên con phố này có rất nhiều cửa hàng do người nước ngoài mở, bọn chúng lao vào cướp đồ, nhưng con người chỉ có một đôi tay, khi nhìn thấy thứ gì đó tốt hơn, chúng không cần thứ mình đang cầm nữa, tiện tay vứt xuống đất, giẫm nát thành từng mảnh trong nháy mắt.

Davy càng lo lắng hơn, anh muốn tìm khẩu súng ngắn trong vali của mình, nhưng tình trạng của anh quá tệ, nhìn cái gì cũng có bóng chồng, một hồi lâu vẫn không vặn được mật khẩu chính xác của khóa vali. Chẳng bao lâu sau, điều anh lo sợ đã xảy ra.

Những tên côn đồ này là người địa phương, biết rõ khách sạn này nên có lẽ định cướp của những vị khách giàu có ở đây. Chúng xông vào, cạy quầy thu ngân, vừa hò reo vừa chia tiền.

Lúc này, từ ngoài đường truyền đến tiếng súng. Bốn giờ sau trận động đất, cảnh sát cảng Montt cuối cùng cũng có mặt. Trong đêm tối hỗn loạn, không chỉ có bọn côn đồ bị trúng đạn mà còn có người dân hoảng sợ chạy trốn. Vì vậy những người trốn ra khỏi nhà mình đều bị buộc phải quay trở lại căn nhà chật chội.

Cảnh sát đã giải cứu người phụ nữ mắc kẹt trong xe cũng như Davy bị “đè bẹp dưới ghế sô pha”.

“…Trận động đất có gây ra nhiều thiệt hại không?”

“Các bệnh viện đang quá tải.” Viên cảnh sát tưởng Davy muốn tìm bác sĩ để băng bó vết thương, anh ta nói bằng tiếng Anh dở tệ: “Chúng tôi không còn nhân lực dư thừa, các anh phải ở lại đây.”

“Có xe nào rời cảng Montt không?”

“Dư chấn vẫn chưa kết thúc, nếu anh lái xe ra ngoài, kết cục của anh rất có thể sẽ như thế này.” Viên cảnh sát liếc nhìn Davy, chỉ vào chiếc xe đang cắm đầu trên tường khách sạn.

Davy bức thiết hỏi: “Xe lửa thì sao? Cảng cũng có tàu…”

Viên cảnh sát mất kiên nhẫn đáp: “Một đoạn đường ray bị sập, xe lửa không thể chạy được, bến tàu có quá nhiều người, một số người bị giẫm chết. Này anh, tôi khuyên anh không nên đến đó đâu, trước những thảm họa do Chúa mang đến, không có người dân từ bất kỳ quốc gia nào được đối xử đặc biệt.”

Davy phát hiện ý chí của mình lại dần dần yếu đi, anh nhìn viên cảnh sát há miệng rồi ngậm miệng nhưng lại không thể phân biệt được những từ ngữ mà anh ta đang nói. Dường như có một âm thanh trầm thấp quái dị khác ẩn giấu trong những phát âm bập bẹ đó. Anh không thể hiểu được, nhưng nhịp điệu rất giống với nhạc chơi trong tang lễ. Davy kinh hãi lùi lại vài bước.

Viên cảnh sát cảm thấy người nước ngoài này quá nhát gan, anh ta không lãng phí thêm thời gian nữa mà dứt khoát rời khỏi khách sạn.

Cửa sổ bị vỡ, trong khách sạn rất lạnh. Davy cảm thấy như đang ngồi trong nước đá, trên người không có chút hơi ấm nào, anh chộp lấy vali chạy ra khỏi cửa.

“Không được, bên ngoài rất nguy hiểm!” Người phụ nữ còn sống sót hoảng sợ hét lên.

Davy không thể nghe thấy gì. Anh đứng trên đường, cảm thấy hơi thở của bóng tối và cái chết vây quanh mình như thủy triều. Đột nhiên anh dường như cảm thấy điều gì đó, nhìn lên nóc nhà ở phía đối diện. Nhờ ánh lửa từ xa, Davy nhìn thấy cái bóng mơ hồ.

Lại là người Anh lại mặc trang phục thế kỷ 19 đó.

Lần này Davy nhìn thấy khuôn mặt của y. Dù ở rất xa nhưng đôi mắt xanh đó dường như có ma lực, nó in sâu vào trái tim anh. Davy run rẩy không ngừng, mặt tái xanh, không thở được, anh ngã vật xuống đất.

“Chạy… chạy trốn… chỉ còn 20 giờ nữa…” Davy vô thức lẩm bẩm, loạng choạng đứng dậy rồi chạy nhanh về phía trước.

***

Johnson yên lặng nhìn Davy ngã xuống rồi đứng dậy.

Gymir nghiêng đầu sang hỏi: “Em không thích con người đó à?”

Theo thói quen của Johnson, y không bao giờ chỉ “nhìn” một cái, đưa ra gợi ý để trốn thoát rồi thôi. Y thường sẽ bước tới trò chuyện, hoặc giả làm người Anh cũng đang bị mắc kẹt trong thành phố, cùng chơi trò trốn thoát trong đêm với con người này mới phải.

“Chúng ta đang điều tra âm mưu của thần Trí tuệ Thoth!” Johnson nghiêm túc nhấn mạnh, hiện giờ không phải lúc chơi trò chơi!

Nếu suy đoán trước đó là đúng thì Leviathan chính là đồng phạm của Thoth, chịu trách nhiệm thực hiện kế hoạch nuốt chửng trái đất này. Sản phẩm thành công chịu trách nhiệm thực hiện kế hoạch do thần Trí tuệ Thoth tạo ra hiện đang nằm dưới chân họ. Tính theo thời điểm Thoth rời trái đất, âm mưu này đã kéo dài ít nhất ba ngàn năm.

Bây giờ không ai biết tiến độ của kế hoạch này đến đâu, vật thí nghiệm thành công này đã chui sâu vào lòng đất đến mức nào? Nếu lõi trái đất bị tổn hại, hành tinh này về cơ bản không còn đường cứu sống nữa, sau khi xử lý xong Leviathan, mọi người cứ chuẩn bị thu dọn hành trang rồi đi lang thang trong vũ trụ đi! Nếu lõi trái đất chưa bị tổn hại thì càng không nên đánh động tà thần ẩn náu dưới lòng đất, kẻo nó phát hiện ra không còn đường trốn thoát lại chơi bài phá nhà tự sát.

Vậy nên Johnson không tùy tiện sử dụng sức mạnh của mình, cảng Montt cũng không phải là sân chơi an toàn, ai biết được chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo?

Sau khi nói xong về tình hình hiện tại, Johnson bắt đầu giải thích “những khuyết điểm” của Davy: “…Ý chí của anh ta đã suy yếu, cho dù lần này có trốn thoát, sau này lại tiếp xúc với sự kiện huyền bí cũng khó mà giữ được mạng.”

Yêu cầu cơ bản để trở thành một thám tử xuất sắc là gì? Phát sáng à? Không, là có thể tái sử dụng nhiều lần! Nếu không phải vì điều này, tại sao Johnson lại phải trả thù lao bằng những thứ khác ngoài tiền? Tại sao lại quan tâm đến tính mạng và trạng thái tinh thần của những thám tử này?

Giá trị của phóng viên tên Davy này quá thấp, không có tiềm năng nào cả. Thảm họa sắp xảy ra với cảng Montt lại quá lớn, đến mức không thể tưởng tượng được, Johnson không thể đảm bảo rằng một con người có thể sống sót sau thảm họa như vậy.

“Hơn nữa, chúng ta có thể ủy thác cho anh ta làm gì? Điều tra động thái của những cơ quan bí mật của chính phủ loài người? Chúng ta có quan tâm đến chuyện này không?” Johnson xòe tay.

Sự kiện lần này hoàn toàn không yêu cầu sử dụng thám tử loài người. Dù mối quan hệ giữa Leviathan và thần Trí tuệ Thoth cũng như toàn bộ sự thật của âm mưu này vẫn chưa được làm sáng tỏ, nhưng nó đã nằm ngoài phạm vi mà con người có thể “giúp đỡ”. Cảng Montt không phải là vực sâu không đáy của núi Arabika, không cần con người làm mồi nhử trong bẫy để lôi ra tà thần ẩn sâu trong lòng đất.

Vì vậy, hỡi những con kiến phát sáng bị mắc kẹt trong thành phố này, hãy chạy đi, chạy càng nhanh càng tốt.

Johnson cảm thấy mình xử lý như vậy là rất chính xác.

“…Mấu chốt không phải là những nguyên tắc này, mà là em không thích con người này.” Gymir lặp lại với vẻ mặt thích thú: “Nếu John ở đây… hắn đã già, không còn sức lực để đi mạo hiểm cho chúng ta nữa, theo lý thuyết vừa rồi của em thì hắn cũng là một thám tử vô giá trị, nhưng em nhất định sẽ không nghĩ như vậy, em sẽ tìm cách đưa hắn đi thay vì để hắn tự mình chạy.”

Johnson: “…”

Nói cũng phải.

Nghĩ đi nghĩ lại, ychợt phát hiện ra sự khác biệt.

“Vậy tại sao đây, vì không vừa mắt sao?” Gymir tiếp tục hỏi.

Johnson rất say mê trò chơi đóng vai con người, Gymir lại rất chú ý đến sở thích của Johnson, dù sao cũng không có việc gì để làm, tà thần đó phải mất hai mươi tiếng nữa mới xuất hiện kia mà.

Johnson cẩn thận suy nghĩ rồi trả lời: “Em không thích thói quen uống thuốc mỗi khi bị ảo giác của anh ta.”

Tinh thần rệu rã là chuyện của bản thân con người, nhưng vì con người này không muốn đối mặt với sự thật và tồn tại huyền bí nên đương nhiên không có khả năng giao tiếp. Tất nhiên là tà thần cũng không thích qua lại với thám tử loài người như vậy.

“Anh nghĩ xem, anh ta có thể trốn thoát khỏi thành phố này không?” Johnson nhìn theo bóng lưng Davy.

“Thật khó nói, còn phải xem vận may.” Gymir cho rằng điều kỳ diệu nhất trên thế giới này chính là vận may. Sinh vật càng yếu ớt thì tác động của nó sẽ càng lớn.

***

“Có một trận động đất ở cảng Montt!”

“Cường độ bao nhiêu?”

“Có lẽ là khoảng cấp năm, không mạnh lắm…”

Người này chưa kịp nói xong thì mặt đất lại rung chuyển nhẹ, ánh đèn trong văn phòng khu khai thác mỏ đung đưa từ trái sang phải. Sau khoảng vài giây, mọi thứ trở lại bình thường.

Gã đàn ông mặt đầy sẹo xách cổ áo tên cấp dưới vừa báo tin, vẻ mặt hung dữ hỏi: “Đây là cái mà cậu bảo là không mạnh lắm à?”

“Báo báo Thượng tá Stanley, là dư chấn. Loại động đất này luôn đi kèm với một số dư chấn…”

“Dư chấn lớn hơn cả cơn chấn động vừa rồi?” Stanley Mặt Sẹo giận dữ hỏi.

Người kia lắp bắp trả lời: “Có lẽ vùng động đất xảy ra dư chấn gần khu mỏ này hơn.”

Lúc này, ông lão ngồi trong góc ho khan.

Stanley Mặt Sẹo buông tay ra, giọng lạnh lùng hỏi: “Hình như giáo sư Moore có ý kiến khác?”

“Chúng ta không thể tiếp tục ở lại khu mỏ.” Ông già đơ mặt ra, nói.

Cơ quan bí mật của Mỹ do Stanley chỉ huy đã bắt được vài sinh vật đột biến ở khu mỏ này, sau đó phát hiện ra rằng điện đài ma quái vẫn hoạt động, hầu như mỗi lần sử dụng đều sẽ xảy ra một vụ lở đất quy mô nhỏ, nhưng những sinh vật đột biến đã bị bắt giữ cả rồi, thứ còn đang ẩn náu dưới lòng đất thật ra là cái gì?

“Chúng ta không thể đi được, chúng ta đã ở đây quá lâu rồi… vừa không đạt được điều mình muốn, vừa thu hút thêm cả người Anh, người Pháp…” Stanley thở hổn hển giận dữ.

Giáo sư Moore cao giọng: “Thượng tá, tôi tin rằng anh đã nhận được thông tin đó, khoảng hai mươi ngày trước, người Liên Xô đã chịu tổn thất nặng nề ở Gruzia, sự việc đáng tiếc được cho là xảy ra ở vùng núi Arabika, chúng ta chưa biết chi tiết cụ thể, nhưng chắc chắn rằng họ cũng đang sử dụng điện đài ma quái để bắt những sinh vật đột biến, anh không tin hỏa lực của người Liên Xô sao? Bọn họ không chống cự được cái thứ đó thì chúng ta làm sao có thể?”

Câu nói này rõ ràng đã chọc giận Stanley, gã gầm lên như một con thú.

“Mấy con gấu ngu ngốc chỉ biết uống rượu đó à? Giáo sư Moore, ông đang xúc phạm tôi và cấp dưới của tôi… Ngay cả chuyện họ sử dụng điện đài ma quái cũng chỉ là đang bắt chước Hoa Kỳ.”

Giáo sư Moore nghe xong liền chửi thầm, điện đài ma quái ở ngay đó, ai cũng có thể sử dụng, không ai có thể ngăn cản người khác sử dụng. Khoa học cũng như huyền bí học, chúng là một loại chân lý, và chân lý là thứ đã tồn tại sẵn trên thế giới này, chỉ chờ con người khám phá ra nó. Người Mỹ có thể phát minh ra bom nguyên tử, lẽ nào các nhà khoa học nước khác lại không thể phát minh ra V* kh* h*t nh*n?

Lúc này, bóng đèn treo trên dây lại bắt đầu lắc lư trái phải.

Giáo sư Moore nhìn ánh sáng ban mai mờ nhạt bên ngoài, sắc mặt tái nhợt: “Động đất mỗi lúc một mạnh hơn, đây không phải là dư chấn! Chúng ta phải rời khỏi đây trước khi quá muộn.”
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 139


<b>Chương 139</b>

<b>Đếm ngược (2)</b>

Khi ngày tận thế đang đến, mặt trời vẫn mọc.

Bầu trời không có những đám mây màu lạ, biển Montt vẫn êm đềm, đẹp như một thiên đường.

Đáng tiếc thành phố cảng này vẫn còn lưu lại dấu vết của cơn hỗn loạn đêm qua. Xe đâm vào nhau, tường nhà cháy đen, đồ tạp nham vương vãi trên đường phố… Những dải dây phong tỏa màu xanh và trắng ngăn cách quảng trường với đường phố, người bị thương loạng choạng đi xung quanh với vẻ hoang mang. Xe cứu thương bận rộn chở người qua lại, xe cảnh sát tuần tra. Tội ác dường như đã biến mất cùng với bóng tối, lại ẩn vào một góc vô hình nào đó.

Các công ty vận tải và công ty khai thác mỏ đã tổ chức một đội an ninh vũ trang, đứng canh gác bên ngoài các ngân hàng và kho cảng với vẻ hung tợn, họ bắt được nhiều “côn đồ” đã phóng hỏa, đánh đập tùy tiện. Nếu tội ác có dấu vết thì chính là những kẻ giữ gìn trật tự được thuê bằng tiền này, khuôn mặt quen thuộc là vậy, nhưng tâm hồn chúng tràn ngập mùi bùn đen hôi hám mới mẻ… Chúng giả vờ là những người vô tội, thay một bộ da mới, đi trên đường và tiếp tục tận hưởng quyền lực tạm thời do sự hỗn loạn này mang lại.

Trước mối đe dọa này, ngày càng có nhiều người chọn cách trốn trong nhà, vì bên ngoài quá nguy hiểm. Có thể những bức tường, những cửa sổ bịt kín và cửa ra vào chặn bằng đồ đạc không thể ngăn cản được những tên côn đồ này, nhưng có thể mang lại sự yên ổn nhất định về mặt tâm lý.

Johnson đi qua con hẻm chật hẹp tối tăm, y nhìn thấy gần đó có vài cái lán sơ sài, những người bên trong hoảng sợ nhìn ra ngoài qua những khoảng trống. Bên kia con hẻm là tòa nhà thương mại của cảng, với mặt đồng hồ vỏ đồng kiểu Anh treo trên bức tường bên ngoài. Kim ngắn hơn chỉ vào số tám La Mã.

Còn mười hai giờ nữa…

“… Mùi đó vẫn chưa quá rõ ràng.” Johnson hơi cau mày, thì thầm.

Một làn sương mù màu sáng mà con người không thể nhìn thấy từ từ tràn ra từ đáy biển, nó thúc đẩy sự hỗn loạn và điên cuồng, đồng thời khuếch đại mọi cảm xúc tiêu cực. Nghe có vẻ đáng sợ nhưng với các học giả huyền bí học, mức độ đột biến này chỉ có thể coi là giai đoạn đầu. Họ sẽ nhặt những cuốn sách cổ nặng nề lên, dùng kinh nghiệm của bản thân để đảm bảo rằng đó chỉ là một vài quyến thuộc của tà thần gây rắc rối, mức độ nguy hiểm không cao.

Nếu con người đã như vậy, thì tà thần có bản tính kiêu ngạo sẽ phản ứng ra sao? Đúng là một năng lực thiên bẩm lý tưởng! Nó quả thực là một năng lực tuyệt vời dành cho những kẻ có âm mưu, nó đã ẩn nấp và phát triển một cách lặng lẽ, chờ đợi cơ thể đủ lớn rồi nuốt chửng toàn bộ hành tinh trong một cú đớp. Thời gian dành cho các tà thần phản ứng chỉ còn vài ngày. Mà khoảng thời gian này có được lại là vì tà thần ẩn sâu trong lòng đất kia cố tình kéo dài để không đánh động các đồng loại.

Johnson cảm thấy đầu dây leo của mình đang căng ra. Y đang hồi hộp, phấn khích và hoảng sợ. Y không thể đánh giá khoảng cách giữa mình và kẻ thù dựa trên hơi thở của nó, nhưng rõ ràng thứ này chắc chắn không phải là thứ mà y – một thần mới – có thể xử lý được. Kể cả có thêm Gymir thì cũng khó nói.

“Typhon chuẩn bị đến đâu rồi?” Johnson thấp giọng hỏi. “Theo” sau lưng y là một cái bóng dài và hẹp, thoạt nhìn trông giống như một cái bóng bình thường do ánh nắng chiếu xuống tạo thành. Nhưng khi Johnson cúi đầu xuống, cái bóng trên mặt đất lại không làm động tác tương ứng.

“…Typhon sắp tức điên lên rồi.” Giọng của Gymir nghe như đang trong mơ. Sự thật cũng gần như vậy, hắn cần phải duy trì liên lạc với cõi mộng mà không để lộ mùi của mình, nên chỉ có thể “bám” vào người Johnson, hành động cùng y.

Tình hình hiện tại là cảng Montt đã được chọn làm chiến trường nhưng các bên đều đang cố gắng hết sức để che giấu sự thật này. Tên tà thần nào đó muốn nuốt chửng cả hành tinh thì không cần phải nói, chỉ tính riêng phe Johnson… Johnson và Gymir không muốn kẻ thù biết mình đã đến, còn Typhon không muốn kẻ thù biết mình đã phát hiện ra bí mật. Với Johnson và Gymir thì còn dễ, nhưng Typhon thực sự đang gặp rắc rối, có rất nhiều tà thần ở bên phe của gã, lại yêu cầu phải giỏi diễn xuất, giả vờ như không biết gì để đối phó với kẻ thù có thể mò đến hỏi thăm thông tin.

“Đúng là Leviathan à?”

“Phải… Các tà thần chỉ không để ý đến chi tiết nhỏ chứ không phải đồ ngu.”

Vì phân tích trong cuộc họp lần trước cho thấy nghi ngờ đổ dồn vào Leviathan, nên lần này Typhon và các đồng minh chắc chắn sẽ để ý xem ai là kẻ bất thường. Có lẽ từ trước đến nay Leviathan đã quá suôn sẻ nên đánh giá thấp đồng loại. Tất nhiên, nhiều khả năng các tà thần trái đất này không bao giờ cần phải suy nghĩ, bởi vì hàng ngày đã quen không động não nên tà thần đều trông như một lũ ngốc. Nhưng thực chất, não của tà thần không phải là vật trang trí, nó vẫn có thể hoạt động nếu muốn, nên Leviathan đã quá bất cẩn.

“Qua đó chứng tỏ thần Trí tuệ Thoth quả thực không có ở trái đất.” Gymir nói thêm.

Johnson: “…”

Các người có nghiêm túc không?

Xác nhận thông tin quân địch bằng cách này à?

Johnson không nhịn được hỏi: “Điều gì sẽ xảy ra nếu sự thực là Thoth mặc kệ cho Leviathan bị vạch trần để khiến các anh đưa ra những phán đoán sai lầm?”

Gymir: “…”

Đây là một vòng lặp vô hạn, mày thử đoán xem tao có đoán được rằng mày nghĩ vậy không… Thế thì còn phân tích vấn đề kiểu gì nữa?

Johnson ho khan: “Dù sao thì hãy nhắc Typhon chú ý, lần trước nó để Anubis phục kích thần Mặt trời, lần này đừng để Thoth phục kích chúng ta.”

Gymir thừa nhận Johnson đã đúng, hắn rút ý thức khỏi thế giới bên ngoài, hoàn toàn chìm vào cõi mộng, biến thành một cái bóng theo sau Johnson trong vô thức.

Johnson dẫn Gymir tiếp tục bước về phía trước.

Là một thành phố sắp chào đón sự thức tỉnh của tà thần, cảng Montt vẫn giữ được vẻ ngoài “bình thường”. Chỉ một số người có thể nhìn thấy Johnson, nhiều người khác lại làm ngơ y.

“Sứ giả của thần Chết đã đến, thiên thần đã thổi lên hồi kèn của ngày tận thế…”

Johnson nghe thấy tiếng người đang khóc và la hét ở tòa nhà gần đó, nhưng chưa kịp nói xong thì đã bị người nhà bịt miệng lại. Họ sợ gặp rắc rối, và cũng không hiểu tại sao người thân của họ lại la hét với đường phố vắng tanh như thể đã nhìn thấy điều gì đó khủng khiếp lắm.

Johnson cúi đầu nhìn xuống, chợt nhận ra mình đã không để ý khi đang lơ đãng, cái bóng phía sau cơ thể y bị kéo căng ra thành hình cong, như muốn nhấc lên khỏi mặt đất để bay lơ lửng. Johnson nhanh chóng nhét hóa thân bóng đen của Gymir vào cái bóng con người mà y tạo ra để ngụy trang.

Phù, bình thường rồi.

Cũng còn may, để tránh đánh động đến tà thần ở đây, Gymir đã nén hết mùi của hóa thân lại, phần vừa vô tình lộ ra chỉ là một góc, chưa đủ để con người nhìn thấy nổ tung thành một đống máu thịt, nhưng tác động của nó quả thực có thể hủy hoại tinh thần và tư duy của một người có ý chí yếu ớt.

Động tác của Johnson hơi khựng lại, y chợt nghĩ, đây chỉ là sự khác biệt giữa chết sớm và chết muộn mà thôi.

Thảm họa đang giáng xuống.

***

Còn có một cảng nước sâu khác cách cảng Montt vài ngàn mét.

Các tàu chở hàng cập cảng nằm sát cạnh nhau, đại diện các công ty khai thác mỏ đang sứt đầu mẻ trán để làm việc với các quan chức chính phủ, nhưng câu trả lời mà họ nhận được lại không hề lý tưởng. Trận động đất hôm qua cũng đã ảnh hưởng tới những khu mỏ ở rất xa, thậm chí có nơi còn xảy ra sụt lún quy mô nhỏ. Ngay cả khi không có lệnh phong tỏa, việc khai thác cũng không thể tiếp tục.

Tất nhiên, điều cản trở các công ty khai thác mỏ không phải là an toàn của công nhân, mà là các cơ quan bí mật lớn của Hoa Kỳ và châu Âu. Người của công ty khai thác mỏ không hiểu tại sao nơi này lại bị phong tỏa suốt một tháng trời, trong khi đằng sau họ là thế lực tư bản khổng lồ, tài nguyên khoáng sản từ Chile lại liên quan đến lợi ích của nhiều bên. Người thông minh đã nhận ra rằng có thể có những rắc rối lớn hơn nhưng họ không thể làm gì được, áp lực từ hội đồng quản trị đã khiến họ rụng sạch tóc.

Hôm nay lại là một ngày nữa không có tiến triển gì.

“Những người đó là ai?”

“…Là bọn người chiếm giữ khu mỏ, không biết từ đâu đến.”

Người của công ty khai thác mỏ quan sát những người mặc đồng phục chiến đấu màu đen và đồng phục ngụy trang lên một con tàu ở cảng rồi ra khơi.

Một phóng viên báo lá cải trốn trong đám đông lặng lẽ chụp ảnh. Nhưng bức ảnh này không thể giải thích được điều gì, trên quần áo của những người đó không có phù hiệu, trên mặt họ không có dòng chữ nào cả, có thể nói họ là người Mỹ, cũng có thể nói họ là người Anh.

Phóng viên báo lá cải lẻn vào tổng đài điện thoại ở cảng, chen qua các giám đốc công ty khai thác mỏ đang cầm ống nghe lo lắng đổ mồ hôi, đến góc có đánh dấu là đường dây nội địa của Chile, trả tiền cho nhân viên trực tổng đài để gọi tới số khách sạn ở cảng Montt.

“Thưa ông, đường dây liên lạc bên kia đã bị gián đoạn.”

“Cái gì, trận động đất dữ dội đến thế à?” Tay phóng viên báo lá cải đầu trọc ngạc nhiên hỏi, anh ta không có mặt ở khu mỏ nên chỉ cảm thấy nơi này lắc lư mấy cái nhưng không mạnh.

“Không, có thể là do hệ thống dây điện, có lẽ buổi tối sẽ sửa được…”

“Được, tối nay tôi sẽ quay lại.”

Phóng viên báo lá cải này là bạn của Davy. Vì địa điểm xuống tàu khác nên anh ta đến đây trước để điều tra tình hình. Vừa chụp được một thứ hữu ích, thậm chí còn chưa rửa ảnh ra đã nóng lòng muốn gọi Davy mau chóng đến đây, anh ta muốn nói cho Davy biết manh mối đang ở ngay đây.

Phóng viên báo lá cải chật vật lách người ra ngoài, nhưng lần này lại chọc giận một một người đàn ông to lớn, gã kia dùng ngực đẩy anh ta, khiến phóng viên báo lá cải xui xẻo loạng choạng ngã vào đám đông. Tiếng mắng chửi vang lên. Phóng viên báo lá cải cảm thấy trước mắt đang quay cuồng, anh ta không hiểu ra sao, chẳng lẽ mình ngã một cái mà bị chấn động não rồi?

Bịch.

Tiếng đồ đạc rơi xuống đất.

“Động đất kìa!”

Những tiếng hét hoảng sợ nói với anh ta rằng đó không phải là một cơn chấn động não, và anh ta nên chạy trốn rồi. Anh ta hoảng sợ đứng dậy chạy ra ngoài, chạy một lúc, anh ta thấy mặt đất đã ngừng rung chuyển. Ngoại trừ đám đông sợ hãi chen chúc nhau, xung quanh họ không có gì thay đổi, mặt đất không có vết nứt nào, những ngôi nhà cũng không sụp đổ.

“Hầy, chỉ là rung lắc nhẹ thôi, đáng sợ quá.” Phóng viên báo lá cải vui mừng nói.

Giám đốc công ty khai thác mỏ bên cạnh anh ta thì chửi bới, vì nếu cứ tiếp tục như vậy thì khu mỏ càng khó có thể bắt đầu công việc.

“Tin tốt, tin tốt! Một mỏ đồng đã được mở!”

“Sao cơ?”

“Đúng thế, đột nhiên… dây phong tỏa xung quanh khu mỏ đó được dỡ bỏ, không biết chuyện gì đã xảy ra.”

Đám đông tụ tập lại với nhau, bàn tán xôn xao.

Phóng viên báo lá cải chợt nhớ đến bức ảnh mà anh ta vừa chụp, một nhóm người vội vã rời đi bằng thuyền.

“Không đúng… không phải, chắc chắn đã có chuyện gì đó xảy ra.”

Phóng viên báo lá cải loay hoay cân nhắc giữa hai lựa chọn là chạy trốn và đến khu mỏ để phỏng vấn. Cuối cùng, anh ta nhớ lại những chiếc thùng đủ loại mà những người đó mang theo, trông rất giống những thứ máy móc tinh vi, anh ta tin rằng bên trong có những bí mật nào đó.

“Những thứ này nhất định sẽ được mang về Mỹ, không có cách nào nhìn thấy được, phải nghĩ cách ở đây thôi.” Dù sao thì ở đây còn có nhiều khu mỏ khác bị phong tỏa.

***

Mười hai giờ trưa, Davy ngồi dưới đất thở hổn hển.

Chiếc vali của anh đã mất. Nó đã bị cướp. Anh giấu vũ khí, thuốc men, giấy tờ và một ít tiền mặt trên người. Davy cố gắng nheo mắt đọc các biển báo bên đường, rồi tuyệt vọng nhận ra rằng mình chỉ đi được khoảng mười cây số dù đã cố gắng hết sức.

Phía trước là khu nghỉ ngơi, có một khách sạn và tiệm sửa xe. Xe quá tải chạy qua đoạn đường này quá nhiều lần khiến cho mặt đường toàn là ổ gà lồi lõm, gây hại nghiêm trọng cho lốp xe, hiện tại trước cửa tiệm sửa xe đang có một nhóm người tranh cãi ồn ào.

Davy cúi xuống, vòng qua góc đường rồi chui vào một chiếc xe không khóa cửa, tài xế vẫn đang đứng hóng chuyện. Anh nhấn ga một cách điên cuồng, lao ra đường giữa những tiếng la hét và chửi bới.

***

“Phóng viên kia đã trốn đến đâu rồi?” Ý thức của Gymir thoát ra khỏi cõi mộng, quay sang hỏi Johnson đang ngồi trong một quán cà phê tồi tàn.

“Không xa lắm.”

Trái tim Johnson nặng trĩu, không phải vì Davy, mà vì cuộc sống mà y ưa thích, vì những thám tử loài người khác. Nếu có vấn đề gì xảy ra trong lõi trái đất, cảng Montt sẽ không phải là nơi duy nhất phải hứng chịu thảm họa. Dù là John và Cindy ở nước Anh, hay Hans ở đảo Greenland và Juan ở dãy núi Kavkaz cũng vậy… Đây là ngày tận thế của cả hành tinh và toàn thể nhân loại. Vì vậy, chẳng ích gì khi nhìn Davy trốn thoát, tất cả chỉ là một canh bạc. Trốn thoát khỏi cảng Montt cũng chưa chắc thoát khỏi phạm vi của thảm họa này; nếu mọi chuyện phát triển đến tình thế tồi tệ nhất thì dù có chạy cố gắng đến đâu cũng vô ích.

“Typhon không thể kêu gọi đồng minh theo cách công khai như trước, cũng không thể trực tiếp tới đây, làm vậy sẽ đánh động kẻ thù, nó sẽ mất một thời gian.” Gymir duỗi một góc cái bóng ra, quàng qua vai Johnson.

Lúc này, một chai Coca lăn tới bên chân Johnson.

Bàn ghế và tường bắt đầu rung chuyển.

Bên ngoài hầu như không có tiếng khóc hay tiếng la hét, trận động đất giống như một công tắc đóng băng, nhấn một cái thì con người dừng mọi công việc, ôm đầu và thu mình lại ở một nơi mà họ cảm thấy an toàn ở gần đó theo thói quen, khi cơn chấn động dừng lại, mọi thứ trở lại bình thường. Đốc công vung roi đánh công nhân tiếp tục chửi bới, người quét đường giẫm phải rác gây tiếng ồn ào, còn trẻ em thì trốn trong nhà khóc lóc.

Ánh tà dương đang chìm xuống.
 
Back
Top Bottom