Cập nhật mới

Đô Thị  Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả

Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 100


<b>Chương 100</b>

<b>Bánh mì và công việc</b>

Con người không thể vào lãnh địa của tà thần được.

Nhưng luôn có những ngoại lệ.

***

Cindy mơ màng, chỉ có thể cảm giác rằng mình đang đứng dưới chân một ngọn đồi lớn. Sương dày lan tràn, đến nỗi cô không thể nhìn rõ toàn bộ ngọn đồi, chỉ có vài tảng đá màu nâu đỏ nhô ra. Có tiếng cát cọ xát nhẹ nhàng trên mặt đất. Khu vực xung quanh trống rỗng một cách kỳ quái, giống như một quảng trường khổng lồ.

Cindy không quá kinh hoảng, cô cũng từng có những giấc mơ tương tự.

Khi mê man nằm trên giường, cô thường có cảm giác cả chiếc giường đang liên tục chìm xuống, sau đó căn phòng trở nên rộng lớn vô cùng, giống như rơi vào một thế giới xa lạ và kỳ quái. Đôi khi những bức tường trống rỗng, đôi khi những họa tiết hình học xuất hiện trên tường. Màu trắng sẽ dần dần biến thành những màu sắc phức tạp, các hình vuông và hình tròn sẽ ngày càng lớn hơn, chuyển từ gọn gàng ngăn nắp sang lộn xộn và hỗn loạn, nhưng ý thức không thể thoát khỏi những ảo giác kỳ lạ này, cánh cửa phòng ngủ ban đầu chỉ cách đó vài bước nay lại xa đến mức dường như không thể chạm tới nó dù có chạy ba ngày ba đêm. Dù có lo lắng thế nào cũng không thể thức dậy được.

“Mình đang nằm mơ.” Cindy lặp lại, chợt nhận ra mình đang cầm thứ gì đó trên tay.

Một khúc bánh mì nhỏ.

Tàu Elizabeth va vào đá và chìm xuống bãi cát lún, chim khổng lồ, ngọn hải đăng…

Một loạt ký ức ùa về trong đầu Cindy, rồi cô nhớ đến những thứ kỳ lạ trong ngọn hải đăng, dường như đang chờ cô khám phá và sử dụng chúng.

Trong số đó có mẩu bánh mì này. Loại bánh mì kiểu Pháp này sẽ cứng lại sau một giờ lấy ra khỏi lò, mùi thơm sẽ dần biến mất. Bánh mì bên trong ngọn hải đăng còn quá mới, mới như khi bánh mì vừa được thợ bánh mì cho vào túi giấy trao cho khách mua hàng, nghĩ sao cũng thấy không ổn lắm, trừ khi trong tháp có hẳn một cái lò nướng bánh mì.

Sau trận chiến và chuyến đi dài, Cindy vừa mệt vừa đói. Trước mắt cô và bà nội có hai lựa chọn, một là cảnh giác, không đụng đến bánh mì, nhìn thức ăn dần thối rữa, cuối cùng bị cơn đói buộc phải liều lĩnh nếm thử; thứ hai là trực tiếp bỏ qua giai đoạn do dự, ăn trước tính sau, cho dù có ma quỷ chờ đợi ở phía sau cũng không cần phải sợ, dù sao thì tình thế cũng đã rất tệ rồi.

Kết quả…

“Đây thực sự là hợp đồng với ma quỷ sao?” Cindy ngơ ngác nhìn bánh mì.

Vậy ra ma quỷ hiểu được điểm yếu của con người, biết rằng con người có thể làm bất cứ điều gì để tồn tại?

Cindy siết chặt khúc bánh mì trong tay, cảm giác rất chân thực, nhưng trực giác mách bảo rằng tất cả những cảm giác đó chỉ là tưởng tượng của cô, bởi vì cô dường như đã ăn xong miếng bánh mì này rồi, sau đó cô bất ngờ xuất hiện ở đây… chẳng lẽ cô đã ngủ quên sao?

“Bà nội?” Cindy đi về phía trước. Cô lo lắng cho bà Fresnel, cô nhớ rằng bà nội cũng ngủ thiếp đi sau khi ăn bánh mì.

Màn sương trắng tràn ngập quảng trường trống trải như vô số bóng ma lơ lửng. Tiếng đế giày cọ xát với cát chân thực đến mức khiến người ta rùng mình.

Đột nhiên, mẩu bánh mì trong tay Cindy bay vụt ra, biến thành một quả cầu ánh sáng nhỏ.

Cindy không thể không đuổi theo nó.

Quả cầu ánh sáng càng bay càng nhỏ, cuối cùng biến mất.

Cindy dừng lại, cô nhìn thấy hai bóng người mờ nhạt hiện ra từ sâu trong làn sương mù dày đặc.

Họ giống như những cái bóng được ánh đèn chiếu lên tấm màn rạp hát, đội chiếc mũ chóp từ thế kỷ trước, mặc áo khoác dài đến đầu gối, người đàn ông bên trái còn cầm một cây gậy batoong để thể hiện địa vị của mình.

Điều này khiến Cindy có một ảo tưởng lố bịch, ngay khi ban nhạc bắt đầu chơi, hai nhân vật đứng yên đó sẽ lập tức thực hiện động tác trò chuyện, đồng thời tấm màn vô hình mở ra, lộ ra bối cảnh tinh xảo và hoàn hảo, nhiều người đi bộ quanh đó, đưa khán giả về với những con phố của nước Anh vào thế kỷ 19. Nhưng Cindy không đợi được âm nhạc, cũng không thấy các diễn viên sân khấu khác.

Cindy quay đầu, đi theo hướng khác. Cô còn phải tìm bà Fresnel.

Johnson: “…” Thế này nghĩa là sao? Nhìn thấy điều gì đó kỳ lạ, bèn giả vờ như không nhìn thấy? Đây là một thói quen tốt!

Gymir nghĩ rằng mình có thể thử thám tử này, hắn ngay lập tức xuất hiện trước mặt Cindy.

Cindy dừng lại, tiếp tục đổi hướng.

Gymir lại đổi hướng theo, lần này còn kéo Johnson đi cùng.

Quảng trường trong làn sương mù trống rỗng và bằng phẳng, không có bất kỳ vật gì làm dấu. Dù Cindy có đi đâu cũng sẽ gặp phải hai cái bóng này. Họ đứng ở rất xa, dù có thế nào cũng không thể nhìn thấy khuôn mặt của họ. Dù có đi thẳng về phía họ, bóng của họ vẫn luôn đứng yên, khoảng cách không bao giờ rút ngắn được, luôn ở trong trạng thái cái bóng mơ hồ. Nếu quay lưng lại và cố gắng tránh xa cái bóng đó, thì một cái bóng bí ẩn khác cũng im lặng sẽ nhanh chóng xuất hiện trước mặt. Những người có ý chí yếu có thể sẽ rơi vào trạng thái tự hoài nghi chính mình một cách nghiêm trọng khi gặp phải tình huống này, gục ngã và la hét trong nỗi sợ vì không thể xác định được phương hướng, thậm chí còn vung vũ khí tấn công lung tung.

Cindy chỉ có hai bàn tay trắng, cô không có vũ khí, nhưng cô muốn có cái gì đó, vì nghi ngờ ma quỷ đang đe dọa mình.

Cindy bỏ cuộc, quyết định lên tiếng phá vỡ sự im lặng lạ lùng: “Thưa các quý ông, tôi đang tìm một bà cụ, bà ấy là bà nội của tôi.”

“Cô là con người duy nhất ở đây.” Cái bóng trả lời.

Cindy không tin cho lắm, cô và bà nội đều ăn bánh mì mà ma quỷ chỉ chọn mình cô sao?

“Tôi nghĩ đây là tin tốt nhưng bà nội tôi có thể không vui.” Cindy cố gắng giữ cho mình bình tĩnh, cô nghĩ rằng bà Fresnel có thể sẽ vô cùng thất vọng, vì bà sẽ không bao giờ để cháu gái mình phải làm việc quan trọng như đàm phán với quỷ dữ.

“Không.”

Cindy nghe cái bóng cầm gậy batoong tiếp tục nói: “Chúng ta từ chối liên hệ với một con người có thể ngủ gật bất cứ lúc nào, tuy đây là một phần của giấc mơ, thể lực và sức chịu đựng của con người sẽ không bị cơ thể ảnh hưởng, nhưng sức sống của bộ não sẽ chi phối hành động và ý chí của cô, ta không muốn thấy nhà thám hiểm đột nhiên bất tỉnh khi đang đi trong đống đổ nát.”

Bà Fresnel có thể ngủ gật bất cứ lúc nào đã dựa vào tuổi già và sự đãng trí của mình để thoát khỏi vận mệnh bị ma quỷ gọi tên.

Cindy không biết phải nói gì. Cô phát ra một âm thanh cảm thán khô khan rồi hỏi một cách bình tĩnh nhất có thể: “Vậy tôi là nhà thám hiểm mà hai quý ông cần?”

“Đúng vậy.” Âm thanh này rất tuyệt vời, phát ra từ cái hình bên phải. Hắn cao hơn, trông kiêu ngạo và lạnh lùng hơn.

Khi Cindy nghe hắn nói, lông tóc khắp người cô dựng đứng và cô run rẩy không kiềm chế được. Cô đã nghe thấy vô số âm thanh, có thứ đẹp đẽ cũng có thứ đáng sợ, nhưng hôm nay âm thanh đẹp đẽ và đáng sợ nhất lại xuất hiện, và cả hai kết hợp một cách hoàn hảo, phá vỡ hoàn toàn sự hiểu biết của Cindy về thế giới. Giống như dâu tây mọc răng cưa, còn bầy ác quỷ thì chơi một bản giao hưởng, Vườn Địa Đàng ẩn sâu trong nham thạch của địa ngục.

Cindy lùi lại một bước, cố gắng kiềm chế bản thân để không bị sụp đổ bởi âm thanh kinh hoàng đó.

Cô lại đứng thẳng lên, mồ hôi ướt đẫm cả đầu.

“…Tôi tưởng đây là một giấc mơ.” Cindy khàn giọng nói.

Tại sao giấc mơ này lại chân thực đến vậy? Cô có thể đổ mồ hôi, cảm thấy hồi hộp, tay chân tê liệt vì sợ hãi.

***

Gymir không ngờ Cindy lại phản ứng lớn như vậy trước âm thanh.

Johnson nheo mắt nhìn kỹ hơn, phát hiện ra quầng sáng mạnh nhất ở vùng đầu của Cindy thực ra chia thành nhiều tầng, vị trí hai bên tai kéo dài ra ngoài một đoạn, rõ ràng là sáng hơn khu vực xung quanh, y không biết làm thế nào để đánh giá thiên phú phát sáng kiểu này.

Johnson thậm chí còn nghĩ đến một loại động vật nào đó trên sa mạc, chúng có cái đầu to, đôi tai cũng rất to, cảnh giác và nhanh nhẹn. Chúng trông có vẻ rất yếu ớt, không có móng vuốt và răng đủ sắc, cũng không có mai dày nhưng lại có thể sống sót trong sa mạc cằn cỗi.

“Cô ta thích ứng được rồi.” Gymir tỏ ra ngạc nhiên.

Johnson định thần lại, đột nhiên phát hiện… khu vực xung quanh đầu Cindy đã sáng hơn, trong khi độ sáng bao trùm cơ thể cô thì lại mờ đi.

Mặc dù tà thần luôn thích dùng ngọc trai để miêu tả con kiến phát sáng trong đàn, nhưng nó thực sự không thể biến thành hình tròn được! Thân thể yếu đuối, làm sao chạy thoát được khi gặp phải tồn tại huyền bí và sức mạnh tà ác đang xâm lấn? Thôi vậy, quên đi, dù sao đây cũng chỉ là giấc mơ, chỉ cần có đầu óc là đủ.

***

Cindy từ từ tỉnh lại. Cô ôm trán nghe bóng người nói chuyện, đây không phải là giấc mơ bình thường.

Nếu bị thương ở đây thì thực sự là bị thương. Nếu chết ở đây thì sẽ thức dậy với vết thương chí mạng tương tự, nếu may mắn thì phát điên và chết, để lại một cơ thể tương đối hoàn chỉnh, nếu không may sẽ biến thành một đống thịt nát, hoặc nổ tung thành một cụm sương máu (Cindy nghĩ đến cảnh con tàu ma xuất hiện ngày hôm nay). Một số người sẽ vô tình xông vào đây khi họ đang ngủ bình thường, điều tiếp theo thì phụ thuộc vào vận may của họ. Đôi khi họ đi loanh quanh ở vùng ngoại vi rồi có thể thoát ra trong tích tắc, đôi khi họ rơi xuống vực thẳm, nhìn thấy những thứ không nên nhìn thấy, mang sự điên rồ này ra khỏi giấc mơ của họ.

“Cô có thể giữ lý trí và tỉnh táo có nghĩa là cô luôn rất may mắn.”

Nghe vậy, vẻ mặt của Cindy trở nên cứng ngắc, toàn thân cô lạnh lẽo. Sự khởi đầu của giấc mơ này thực sự rất quen thuộc. Nhưng trong những giấc mơ đó cô luôn là một đám mây trôi, hay một hạt bụi nhỏ, sau khi bị nuốt chửng bởi thế giới hỗn loạn rộng lớn, cô nhanh chóng bất tỉnh và lang thang khắp nơi, không nhớ được gì. Vậy còn lần này thì sao?

“Vậy đây là nơi nỗi sợ hãi ngự trị, là vương quốc của quỷ dữ?” Cindy ngập ngừng hỏi.

“Có thể nói như vậy.”

“Vậy tôi đang nói chuyện với một vị thần, hay tôi đang giao tiếp với một ác quỷ?”

Nơi sâu thẳm trong sương mù yên tĩnh một giây, sau đó bóng người chậm rãi nói: “Cô có thể kết hợp cả hai thành một, giữa chúng ta không có sự khác biệt cơ bản.”

Trước khi Cindy kịp trả lời, giọng nói đó lại vang lên.

“Cô có thể hình dung những gì sắp xảy ra như một ủy thác của ma quỷ, một công việc tạm thời do tà thần làm thân chủ giao phó, nội dung công việc là tiến vào một di tích. Nơi đây từng là cung điện của thần Trí tuệ Thoth nhưng hiện tại đã mất chủ nhân, chỉ còn sót lại một ít sức mạnh nên độ nguy hiểm không quá cao. Ta tin rằng cô có thể đảm nhiệm công việc này.”

“…”

Cindy thề rằng nếu có bà nội ở đây thì bây giờ bà đã bước vào giai đoạn trả giá rồi, nhưng cô còn trẻ, và cũng không mặt dày đến thế. Nói cách khác, cô chỉ có can đảm chứ không có kinh nghiệm đàm phán kinh doanh.

Cindy thận trọng nói: “Tôi phải trả giá bao nhiêu cho bánh mì và đồ dùng trong ngọn hải đăng? Tôi muốn nghe thử.”

“Trả giá? Không không, đó là một khoản trợ giúp nhỏ, ta hy vọng con người làm việc cho ta sẽ không chết đói, nếu muốn định nghĩa nó, cô có thể coi nó như tiền đặt cọc.” Cái bóng sâu trong sương mù trả lời.

Tiền đặt cọc không thể hoàn lại, bánh mì cũng không thể nhả ra được, xem ra cô chỉ có thể cắn răng mà làm việc.

Cindy cố gắng bắt chước bà Fresnel, hỏi một cách thô lỗ: “Giá đầy đủ là bao nhiêu?”

Cindy thề rằng nếu ma quỷ nói bất cứ điều gì về sự giàu sang vô song, tuổi trẻ và sắc đẹp vĩnh cửu, hay một người tình dịu dàng và ân cần thì cô sẽ quay lưng bỏ đi ngay lập tức! Sau đó cố gắng hết sức để tỉnh lại! Ngay cả khi phải nằm xuống và đập đầu xuống đất!

“Để ta nghĩ xem… Có lẽ một chiếc mũ, cái loại có thể bịt tai, có thể giúp thính giác cô được như người bình thường.”

Cindy: “…”

Đây là câu trả lời cô không hề mong đợi. Thực ra, trước ngày hôm nay, cô không hề cảm thấy khả năng này là gánh nặng, nó còn giúp Cindy tránh bị chim khổng lồ theo dõi, thuận lợi trốn vào ngọn hải đăng.

Giờ nghĩ lại, nếu cô có một chiếc mũ như vậy thì khi tàu Elizabeth đến gần đảo Sable, cô sẽ không bị đau đớn vì nghe thấy khúc ca của tử thần. Sau khi nhận thấy tình trạng bất thường, cô có thể nhanh chóng đội mũ để cách ly những âm thanh này, sẽ không bị sốt cao hay hôn mê, đồng thời có thể chăm sóc bà nội!

Nhưng một chiếc mũ che kín tai là mũ len dệt kim à? Khi sử dụng cần phải gỡ hết các mép cong xuống à? Thế thì có hơi xấu không?

Cindy ngập ngừng hỏi: “Có thể thay thế bằng tai nghe được không?”

“…Tai nghe là gì?” Johnson vô cùng thắc mắc.
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 101


<b>Chương 101</b>

<b>Ba lựa chọn</b>

Tà thần ngủ dưới đáy biển suốt hai mươi tám năm rồi bị Cochro đánh thức, rơi vào khe hở thời gian. Lần này còn quay ngược về trước hàng trăm năm. Cuối cùng cũng giải quyết được Cochro phiền phức (thật ra là đứng xem Bướm Xám giải quyết), vừa lên kế hoạch du lịch mới thì lại gặp tai nạn ở điểm dừng đầu tiên. Không có thời gian để đến các thành phố của con người để quan sát những vật phẩm mới mà con người đã tạo ra trong những năm gần đây.

Tai nghe… Theo mô tả của Cindy, chúng có vẻ là thứ rất thú vị.

“Ta sẽ đi xem thử.”

Xét cho cùng thì mức độ chịu tải sức mạnh huyền bí của mỗi vật là khác nhau, giáo phái Màu Xám ở Venice đã phát hiện ra một loại thủy tinh chịu lực tốt, sau đó rèn nó bằng một phương pháp đặc biệt, một số vật dụng được con người phát minh ra trong thời đại mới thì lại quá nhạy cảm, chẳng hạn như máy chụp hình. Vì thế Johnson không thể đồng ý ngay được.

“Ta đề nghị cô nên chọn một chiếc mũ.” Johnson nghiêm túc nói. Dệt may là một nghề thủ công lâu đời hơn thủy tinh. Các giáo phái bí mật trên khắp thế giới có ít nhất mười cách để tăng thêm sức mạnh huyền bí cho các tấm thảm trang trí. Ổn định, sẽ không có lỗi.

Cindy: “…”

Thực ra, cô còn lo lắng về việc chiếc mũ có phải là một chiếc mũ “bình thường” hay không hơn là liệu nó xấu hay đẹp. Lỡ như nó có màu đỏ như máu, có hình đầu con cừu đực dệt trên đó thì sao?

Cindy chợt tỉnh táo lại, cô lại còn đang nghĩ đến “thù lao” cơ đấy, vấn đề quan trọng nhất bây giờ là phải thoát khỏi đảo Sable chứ!

“Bà nội của tôi đã già rồi, tôi cần phải chăm sóc bà, tôi mong sau khi công việc này kết thúc, bà có thể rời khỏi đảo Chết Chóc này bình yên vô sự, sống những năm tháng tuổi già bình yên ở Canada.” Cindy khéo léo đưa ra yêu cầu thù lao thực sự của mình.

Câu nói này tưởng chừng đơn giản nhưng thực ra lại chứa đựng rất nhiều “điều kiện tiên quyết”. Tuy nhiên, Johnson chỉ nghe được yêu cầu “sống tuổi già bình yên”. Điều này thực ra không hề dễ dàng, bởi “Cindy phải chăm sóc bà nội”, trong khi những con kiến phát sáng luôn thu hút những điều xui xẻo.

“Được, cái này không khó.”

Johnson nói một cách đương nhiên, có một chiếc mũ thì còn phải lo lắng điều gì? Giống như Hans đeo kính… Ờ, được rồi, không có cách nào tránh khỏi chiến tranh giữa con người với nhau. Nếu sau này Cindy lựa chọn chung sống với huyền bí học như Hans thì cũng là sau khi bà Fresnel qua đời, sẽ không mâu thuẫn với yêu cầu hiện tại của Cindy.

“Ta nghĩ, bây giờ cô nên nhìn thử di tích này.” Johnson lùi lại một bước, biến mất trong sương mù.

Sương dày bị gió mạnh cuốn đi.

Khung cảnh xung quanh bỗng trở nên rõ ràng. Đó là một quảng trường rộng lớn và trống trải. Ở rìa quảng trường, vô số cát lún đổ xuống như thác nước, tạo nên một âm thanh chói tai. Thỉnh thoảng, những hạt cát sẽ bay lên mặt đất, theo thời gian sẽ tích tụ một lớp cát nông trên quảng trường. Đây là nguồn gốc phát ra âm thanh ma sát rất nhỏ từ dưới chân Cindy khi cô mò mẫm đi lại trong sương mù dày đặc. Nơi này trông giống như một tàn tích bị nhấn chìm dưới biển. Chỉ là bên ngoài có một rào cản vô hình, ngăn cản nước biển mang theo cát lún xâm nhập.

Khi Cindy nghe thấy tiếng ầm ầm kinh hoàng, cô vô thức bịt tai lại, nhưng dừng lại giữa chừng. Cát lún tạo ra âm thanh cực kỳ hùng tráng, như ca sĩ opera giọng nam cao nổi tiếng nước Ý đứng trên những cây cột của ngôi đền Hy Lạp đổ nát, hát trước gió hú và những ngọn đồi cằn cỗi. Âm thanh này át đi những tiếng kêu gào chết chóc đầy căm hờn, như muốn đè chúng dưới chân.

Phía trước quảng trường là một ngọn núi cao chót vót nguy nga, còn ngọn đồi mà cô thấy trước đây chỉ là những “góc” của nó kéo dài từ hai phía. Bề mặt ngọn núi không nhẵn bóng nhưng có một cánh cửa khổng lồ gắn vào đó, chiều cao của nó vượt xa tháp Eiffel, như thể nó là lối đi được xây dựng cho những người khổng lồ.

Cindy sốc tới mức không cử động được.

Bộp.

Sương mù lại tụ về, bản hợp xướng kinh hãi và hoành tráng cũng dừng lại. Quảng trường lại trở nên yên tĩnh đến chết người.

Bấy giờ Cindy mới dần lấy lại bình tĩnh và tự chủ. Cô nhìn cái bóng xuất hiện trở lại trong làn sương dày, nói với giọng cay đắng: “Tôi nghĩ rằng mình có lẽ không đủ khả năng để làm công việc này, vừa mới ở ngoài cửa mà tôi đã cảm nhận được nỗi sợ hãi vô tận của vũ trụ.”

“Đó là một phản ứng bình thường.” Johnson trả lời.

“…Vậy không bình thường thì sao?”

“Thấy đủ thứ lạ lùng, như thấy đỉnh núi là một con ác quỷ đang phun lửa, coi cửa là cửa vào vực sâu tử thần, tưởng bãi cát lún là dung nham nóng đỏ, bên trong là xác chết cùng với những bong bóng khí sôi ùng ục.”

Cindy: “…”

“Bước vào cung điện nham thạch đi, cô đã vượt qua bài kiểm tra đầu tiên.”

Sương mù lại rút đi, lần này chỉ để lộ ra cánh cửa khổng lồ dẫn l*n đ*nh núi.

“Đợi đã, quãng đường này tôi phải đi bộ ít nhất là ba tiếng mới tới được cửa…”

Cindy đột ngột dừng lại, vì cái bóng trong sương mù đã biến mất.

***

Gymir đứng trên đỉnh núi cao, nhìn xuống thân hình nhỏ bé kia.

Thấy Johnson xuất hiện bên cạnh, hắn vỗ nhẹ vào chỗ bên cạnh: “Khi ra khỏi giấc mơ thì nghe nhạc ở đây, ta cảm thấy âm thanh ở đây là hay nhất.”

Johnson không yêu thích “nghệ thuật” nhiều như Gymir, nhưng y vẫn rất vui lòng chấp nhận kiểu chia sẻ này. Cũng giống như những cuốn sách của con người, những chuyến du hành của con người, tất cả những chất tạo mùi đa dạng và kỳ lạ của con người…

“Sau khi rời khỏi đây, chúng ta có nên đến một chỗ ở bỏ hoang của thần cổ xưa khác không?” Johnson thử hỏi.

Y cảm thấy Gymir có thể không được vui lắm, một nơi ở rất tốt mà lại không có chủ, lẽ ra có thể tùy ý vào và dạo chơi xung quanh, ai ngờ bên trong đã sinh ra một thần mới, tên thần mới này còn làm hư hỏng cấu trúc bên trong cung điện nham thạch khi “phá vỏ”. Bây giờ không biết mức độ thiệt hại bên trong ra sao, nếu đi vào lại sợ có thể gây ra sụp đổ. Người thiết kế kiêm chủ sở hữu của cung điện không thể quay lại sửa chữa, họ chỉ có thể cử một con người không có sức mạnh vào trong kiểm tra tình hình.

Gymir đáp lại Johnson bằng vẻ mặt phiền muộn lặng lẽ. Hắn cũng muốn thế, nhưng ba địa điểm được lựa chọn cẩn thận đều có vấn đề kiểu này hay kiểu khác. Mặc dù vẫn còn những địa điểm thay thế, nhưng chúng kém xa về chất lượng và độ thú vị.

Trừ khi…

“Thật ra chúng ta cũng có thể cân nhắc tìm một ít nhà có chủ.”

“Hả?” Johnson ngơ ngác. Thế nghĩa là sao, tìm tới trước cửa nhà người ta đánh lộn?

“Có vài đồng loại dễ bắt nạt.” Gymir bóng gió.

Johnson: “…”

Hiểu ra rồi, thấy phong cảnh chỗ ngủ của người khác rất đẹp mà thiết kế của ngôi nhà cũng vừa mắt, nên đi vào dạo một vòng. Điểm khác biệt so với nơi ở cũ của thần cổ xưa là một bên thì có thể chơi luôn, một bên thì phải đánh chủ nhà xong mới chơi, phải thêm một bước vận động nữa.

Khóe mắt Johnson bắt đầu giật giật, y không thể không nói: “Thế này… không tốt lắm đâu!”

Đừng hiểu lầm, Johnson vốn không tốt bụng, tà thần không hề có đức tính này.

Lúc trước, khi Johnson thấy ngứa mắt với Bướm Xám ở Luân Đôn, y cũng thích đánh là đánh thôi, mà Luân Đôn còn là địa bàn của Bướm Xám! Người ta chỉ đang yên đang lành sinh sản trên lãnh thổ của mình, làm sao biết có hai tên đồng loại đang tán tỉnh nhau ở ngoài kia, thế là chẳng hiểu sao lại ăn một trận đòn dã man, đúng là bất chấp lý lẽ.

Johnson do dự trước lời đề nghị của Gymir là do thói quen thận trọng của thần mới.

“Không biết khi nào Tonatiuh sẽ trở lại, chúng ta lại đi tạo thêm kẻ thù, như vậy có thực sự tốt không?” Johnson vô cùng lo lắng.

Gymir cảm thấy người yêu do dự như vậy thật dễ thương. Hắn lặng lẽ vươn cái bóng ra, vòng qua ôm lấy vai phải của Johnson. Không có nghịch ngợm sờ mó, cũng không gãi nhẹ.

“Vừa rồi ta đã nói, là đồng loại dễ bắt nạt.”

Gymir không đeo mặt nạ, nham thạch màu nâu đỏ ở sau lưng hòa làm một, tà thần với mái tóc dài đỏ rực trông như đang tựa vào ngai vàng, vẻ mặt như đang mỉm cười, lại như bình luận một cách ngạo mạn: “Tonatiuh mà trở lại, họ sẽ không bao giờ thò đầu ra, nếu chúng ta đến trước cửa nhà, họ sẽ nhận ra sự thật… rằng nơi ẩn náu của mình đã bị lộ, họ không được an toàn, không có thời gian tìm một nơi đủ kiên cố và thoải mái để sống tạm, không chừng họ sẽ chọn cách chủ động đứng lên chống lại thần Mặt trời.”

Johnson hơi mở miệng, sửng sốt. Y suy nghĩ kỹ, hoàn toàn bị thuyết phục bởi “lý do” này, quả nhiên, thần cổ xưa sống lâu hơn thì dày dặn kinh nghiệm hơn.

Johnson không để ý đến xúc tu cái bóng trên vai, háo hức hỏi: “Vậy chúng ta cần tìm thêm vài đồng loại nữa? Đánh thêm vài lần?”

Gymir: “…” Đợi đã, tại sao kế hoạch du lịch đã định sao lại biến thành cẩm nang hướng dẫn đi đánh tà thần tận nhà?

Gymir cố gắng nhớ lại những cuốn sách của con người và lời khuyên của John, nhưng không có cái nào trong đó rằng các cặp đôi con người chiến đấu cùng nhau có thể giúp mối quan hệ của họ bền chặt hơn. Nhưng theo quan điểm của tà thần…không sao cả! Đây là một cách thể hiện sự ăn ý của đồng minh!

“Em nhớ là đi qua lục địa này, có một nơi tuyệt vời.”

Johnson phất tay một cái, để lại một tấm bản đồ trên vách đá. Nó không phải là một bản đồ thế giới trải phẳng mà gần với thực tế hơn, nhưng nó không có các ghi chú về xích đạo, kinh độ, vĩ độ, không có biên giới quốc gia. Đây chính là hình dáng của trái đất thật, nhưng đã bị thu nhỏ lại nhiều lần. Nếu nhìn kỹ, có thể thấy trục trái đất này hơi nghiêng.

Johnson tùy ý xoay nó, tấm bản đồ tưởng chừng như nằm trên bức tường đá phẳng lại “xoay” sang một phía khác.

“Chính là nó!” Johnson chỉ chính xác một nơi nào đó.

Gymir hơi kinh ngạc.

Johnson cúi đầu, cố gắng duy trì ngữ điệu bình tĩnh: “Em đã đi qua rất nhiều nơi, nhớ rất rõ những nơi không vào được.”

Trước kia là vì lo gặp phải thần cổ xưa không thể chọc giận nào đó, bây giờ nó trở thành tấm bản đồ để đi đánh tà thần, điều mà Johnson không bao giờ ngờ tới.

“Con người gọi nó là hồ Khiluk, từ khoảng tháng 6 đến tháng 9, nước hồ sẽ bốc hơi để lộ ra đáy hồ, xuất hiện những vũng cạn, nhìn từ xa trông giống như những đốm tròn khác nhau.”

Vào những thời điểm khác trong năm, nước hồ sẽ xuất hiện nhiều màu sắc khác nhau, thay đổi theo từng tháng, từng mùa, cũng sẽ thay đổi theo nhiệt độ và lượng mưa. Con người thấy điều đó thật kỳ diệu. Johnson nhìn từ rất xa đã biết thần cổ xưa đang ngủ ở đó. Đó còn là một vị thần cổ xưa tính tình rất hiền lành, ít nhất thì hồ Khiluk chưa từng có truyền thuyết kinh dị nào. Con người sống gần hồ thậm chí còn sử dụng nước hồ và phù sa để chữa bệnh qua nhiều thế hệ.

“À, đây là Asik xui xẻo, nó bị thần Mặt trời ăn thịt một nửa, nửa còn lại trốn thoát, vẫn luôn ngủ say ở đây.” Gymir ấn vào bản đồ bằng móng tay trong suốt của người cá, nói với vẻ mặt khó tả: “Tonatiuh không đuổi giết nó, rất bất thường, Typhon nói Tonatiuh muốn đợi cho đến khi Asik bình phục hoàn toàn rồi mới ăn tiếp. Nếu Tonatiuh trở lại, Asik chắc chắn sẽ giúp đỡ tất cả đồng loại là kẻ thù của thần Mặt trời.”

Johnson: “…” Thôi được, bỏ qua tên này.

“Ở đây thì sao?” Johnson lại chỉ vào một lục địa cô đơn trên biển.

Tảng đá Ayers ở Úc, được người châu Âu phát hiện vào năm 1873. Đứng sừng sững giữa một sa mạc cằn cỗi, giống như thần linh đã dời một tảng đá khổng lồ rồi đặt vào đó. Toàn bộ tảng đá có màu đỏ cam, mỗi khi mặt trời mọc hoặc lặn, màu đỏ trên bề mặt sẽ thay đổi nhanh chóng với nhiều sắc thái khác nhau, mắt người về cơ bản không thể phân biệt được những màu sắc phức tạp như vậy.

Johnson đứng nhìn từ xa, biết cái thứ này có thể là… vỏ của một vị thần cổ xưa nào đó! Nó không phải là một phần của bản thể, mà là tấm chăn do hành tinh này đã “đắp” lên thần cổ xưa sau hàng trăm triệu năm.

“Cái này không được, không dễ đánh.” Gymir nói đơn giản: “Tên này là Behemoth.”

Ngoại trừ quái thú khổng lồ Behemoth, ai lại nằm thẳng xuống đất ngủ một cách bất cẩn như vậy, cuối cùng là do trái đất chịu trách nhiệm dọn dẹp, dìm “chiếc giường” xuống lòng đất, rồi lại đắp chăn lên.

“… Vả lại nếu nó trở mình, lục địa này có thể chìm xuống biển luôn, chưa đến ngày tận thế thì nó không nhúc nhích đâu.” Gymir ra hiệu cho Johnson tiếp tục tìm mục tiêu.

Johnson nhìn bản đồ, không khỏi do dự sau khi liên tiếp bị từ chối hai mục tiêu. Sau khi suy nghĩ hồi lâu, y ngập ngừng chỉ vào một nơi.

“Còn ở đây?”

Con người ở đây cũng an cư lạc nghiệp, còn cúng tế thần linh, cảm tạ những cơn mưa, chưa từng có truyền thuyết đáng sợ nào, chắc hẳn cũng là một thần cổ xưa tốt tính?

“Xem nào… đây là nhà của Typhon, không được.” Gymir lập tức nói: “Nó sẽ cho rằng chúng ta tới để kết đồng minh.”

Một mình Cochro đã thành công trong việc khiến Gymir đưa tất cả tà thần có đặc điểm ưa sinh sản vào danh sách đen những kẻ không nên qua lại.



<i>Người dịch:</i>

<i>Hồ Khiluk: Còn gọi là hồ Spotted, là một hồ kiềm nội lưu mặn nằm ở phía tây bắc Osoyoos ở phía đông Thung lũng Similkameen của British Columbia, Canada. Hồ Spotted có nồng độ khoáng chất phong phú. Hồ chứa các trầm tích dày đặc của magiê sunfat, canxi và natri sunfat. Hồ cũng chứa nồng độ cao của tám loại khoáng chất khác và hàm lượng bạc và titan thấp hơn. </i><i>Hầu hết nước trong hồ bốc hơi vào mùa hè, để lộ các khoáng chất nhiều màu. Các “đốm” lớn trên hồ xuất hiện và có màu tùy theo thành phần khoáng chất và lượng mưa theo mùa. Magie sunfat, kết tinh vào mùa hè, là tác nhân chính tạo nên màu đốm. Vào mùa hè, các khoáng chất còn lại trong hồ cứng lại tạo thành các “lối đi” tự nhiên xung quanh và giữa các đốm.</i>

<i>Tảng đá Ayers: hay còn gọi là Uluru, là một tảng đá sa thạch lớn ở miền nam ở Lãnh thổ Bắc Úc tại miền trung tâm nước Úc. Uluru được người Anangu Pitjantjatjara, một tộc người bản địa trong khu vực, xem là linh thiêng. Vùng quanh Uluru có nhiều mạch nước, hang đá và tranh vẽ cổ. Uluru là một Di sản thế giới được UNESCO công nhận.</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 102


<b>Chương 102</b>

<b>Kẻ rình mò</b>

Trong hang động không thể miêu tả nào đó, một tà thần có trăm cái đầu đang ngủ.

Gã khụt khịt mũi trong giấc mơ.

Một cơn gió mạnh từ mặt đất thổi lên, xuyên thẳng qua không gian ổn định này, khiến mặt đất rung chuyển mạnh mẽ.

Con người hoảng loạn chạy khắp nơi, ngơ ngác nhìn những cơn lốc xoáy nối tiếp nhau xuất hiện, tạo thành một cơn bão kinh hoàng và ngoạn mục. Có người đã bị cuốn lên không trung, tiếng hét của họ bị át hẳn đi bởi cơn gió dữ dội.

Trời đất hỗn loạn, cát vàng và bụi bay khắp nơi, thậm chí có cả một lượng lớn nước biển bị hút lên trời. Ranh giới giữa trời và đất bị nghiền nát một cách thô bạo, từng dòng xoáy nước biển không ngừng dâng lên trời, những người bị gió cuốn đi chẳng hiểu sao lại rơi vào đó, bị sặc giữa đống nước biển, sắp chết đuối đến nơi.

“Hứ.” Tà thần hít ngược hơi thở này vào.

Lốc xoáy biến mất không một dấu vết. Nước biển trút xuống tạo thành vô số vũng nước lớn nhỏ, con người nửa mê nửa tỉnh ngâm mình trong đó, ngơ ngác quay cuồng. Thảm họa này xảy ra một cách kỳ lạ, biến mất rất nhanh. Nhiều người vội vàng quỳ xuống tạ ơn vị thần mà bao đời nay họ đã tôn thờ. Họ tin rằng vị thần này đã mang lại lượng mưa dồi dào cho sa mạc khô cằn, còn hiện tượng lạ vừa rồi chỉ là một cơn giận dữ nhỏ của thần.

Typhon vô thức thở ra trong lúc ngủ, ý thức của bản thể trôi nổi trong hư không của cõi mộng, không hề biết đến động tĩnh của con người bên ngoài.

“Kỳ lạ, ta đột nhiên có một dự cảm.” Typhon lẩm bẩm một mình.

Một trăm cái đầu của gã có thể nhìn về bốn phương tám hướng, thấy được hết thảy tình hình dị thường của cõi mộng. Không gian này đã trở lại yên tĩnh, tà thần còn thức cũng không nhiều. Hầu hết đồng loại đã thu lại ý thức hóa thân, quay trở lại với cõi mộng bất biến vĩnh hằng. Dưới góc nhìn của tà thần, đây là một cảnh tượng kỳ diệu và tráng lệ. Vô số “giấc mơ” đủ màu sắc và hình thù kỳ lạ đang trôi nổi trong hư không. Typhon phân biệt khung cảnh thay đổi bên trong “giấc mơ” để xác định nó thuộc về đồng loại nào.

“Dậy đi, Anubis.”

Typhon để hóa thân của mình trôi đến trước một giấc mơ có những ngôi đền và kim tự tháp Ai Cập. Một thiên hà khổng lồ đang chảy chầm chậm trên bầu trời phía trên ngôi đền. Bên ngoài ngôi đền là sông Nile, những ngôi sao phản chiếu ánh sáng xuống dòng sông, sáng rực rỡ muôn màu.

Đầu của Typhon ghé đến gần giấc mơ, gã duỗi móng vuốt to lớn hung ác ra và đẩy mạnh, giấc mơ ngay lập tức bắt đầu rung chuyển từ bên này sang bên kia. Những tảng đá trên đỉnh kim tự tháp bị phong hóa nhanh chóng, một cơn gió mạnh nổi lên trên sông Nile, những cơn sóng lớn đã lật úp vài con thuyền cói đang trôi đằng trước ngôi đền.

Khi các ngôi sao sắp phân tán khắp nơi, ngôi đền gần như sụp đổ, một bóng dáng đen thui với cái đầu chó rừng chậm chạp nổi lên từ đáy sông.

Anubis nhắm mắt nói nhanh: “Cochro chết rồi, thật đấy! Tao đảm bảo! Tao cảm thấy ý chí của nó đã hoàn toàn tan vỡ, biến thành sức mạnh hỗn loạn vô trật tự rồi…”

“Đó không phải điều tao đang hỏi!” Một trăm cái đầu của Typhon đồng thanh nói, khiến kim tự tháp lại rớt thêm vài tảng đá nữa.

Anubis miễn cưỡng mở mắt ra, quay đầu sang một bên, vẻ mặt khó hiểu nói: “Vậy mày định làm gì? Đi tìm Bướm Xám?”

Typhon phẫn nộ: “Lẽ nào tao là loại tà thần chỉ nhớ tới việc tìm bạn tình mới thôi?”

“Bộ không phải sao?”

“…”

Lúc này, một bóng dáng to lớn khác thường bơi tới. Rõ ràng nó có bốn chân, nhưng lại thu gọn dưới bụng, như một con cá sấu khổng lồ đang bơi trong nước. Đây là hóa thân của quái thú khổng lồ Behemoth.

“Tụi mày còn chưa ngủ hả?” Behemoth không quan tâm hai tà thần kia đang định làm gì, lúc này mà không ngủ thì rất thích hợp để nói chuyện, nó nói thẳng luôn: “Tao cứ có một linh cảm kỳ lạ, làm tao không ngủ ngon được, Anubis, mấy chục năm tiếp theo mày đừng ngủ quá sâu, để ý xem có đồng loại nào đột ngột chết mất không… Tao nghi Tonatiuh sẽ âm thầm quay trở lại trái đất, bí mật tấn công đồng loại.”

Lần này thần Mặt trời rất có thể sẽ ăn hết sạch mọi tà thần trên hành tinh này, thực sự không thể lơ là cảnh giác.

Anubis đồng ý, dù sao cũng không cần phải ra ngoài, chẳng qua là không thể ngủ quá sâu, yêu cầu này cũng không quá khắt khe.

“Phải cẩn thận, tất cả các đồng loại đều biết nơi ở của ba chúng ta.” Typhon lên tiếng.

Anubis chưa bao giờ rời khỏi nơi mình sinh ra.

Behemoth cảm thấy bản thể của mình rất cồng kềnh, cứ thế vứt xó ở đó hàng trăm triệu năm không thèm nhúc nhích. Lúc đầu, thần Mặt trời nhìn một cái rồi bỏ đi, chê quá lớn không nuốt nổi.

Còn Typhon thì có quá nhiều đồng minh, quá nhiều con cái nên dù sống ở đâu cũng không thể giữ bí mật được.

“Mày lo lắng quá rồi, đứa chết đầu tiên chắc chắn là Kukulkan, tụi mày nên đi tìm nó.” Anubis phất tay khôi phục lại diện mạo của các kim tự tháp và đền thờ, chuẩn bị chìm xuống đáy sông.

“Tao tìm rồi, không thấy nó.”

Typhon giơ hai cánh tay to hơn cả trăm cái đầu cộng lại lên, dùng móng vuốt gãi từng cái đầu: “Khắp cõi mộng đều không thấy bóng dáng Kukulkan đâu.”

“Nó tỉnh rồi hả?” Quái thú khổng lồ Behemoth cực kỳ kinh ngạc.

Sau khi hình chiếu của họ trong cống thời gian tiêu tan, thần Rắn lông vũ Kukulkan cũng biến mất. Behemoth cứ tưởng rằng tên này chẳng qua là không dám lên tiếng thôi, nhưng không ngờ Kukulkan lại không thèm ngủ nữa luôn. Đúng là ghê gớm thật.

“Nó định chờ Tonatiuh mò đến quyết chiến à?”

“Mày thấy chuyện đó có thể xảy ra không?” Typhon cười khinh bỉ.

Hai tà thần còn lại đều im lặng, họ cảm thấy khả năng Kukulkan chạy trốn khỏi mặt trăng còn cao hơn. Không đúng, thần Rắn lông vũ sẽ lo lắng chạy nửa đường thì đụng độ thần Mặt trời, nên sẽ không học theo Bướm Xám chạy đến nơi sâu thẳm trong vũ trụ làm gì. Nghĩ như vậy lại thấy Kukulkan sống thật khó khăn, không dám ra ngoài, không thể trở lại trái đất, chỉ có thể co rúm lại trên mặt trăng.

“Hử?”

Một trong những cái đầu của Typhon đột nhiên nhìn về một góc của khoảng không. Gã tìm thấy một giấc mơ đặc biệt ở đó. Được tạo thành tạm thời, mà lại có mùi của ba tà thần? Chuyện gì xảy ra thế?

Typhon nhớ tới trong vụ va chạm hàng loạt trước đó, hình như có hai đồng loại vô tình gặp được nhau, rồi lập giao ước ngay tại chỗ luôn, lẽ nào là…

Typhon liền từ biệt Behemoth và Anubis, rồi vui vẻ chạy đến đó.

***

Cindy đi bộ một lúc lâu, ý thức của cô trở nên nặng trĩu, mất khả năng phán đoán về khoảng cách và thời gian. Những bức tường đá cao chót vót ở hai bên dường như có thể sụp đổ trong giây tiếp theo, tạo cho người ta áp lực rất lớn. Đế giày cọ trên mặt cát, tiếng bước chân vang vọng trong hành lang trống trải, như không có điểm dừng.

Cindy mấy lần tưởng mình đã tới cửa rồi, nhưng khi nhìn lên, cánh cửa khổng lồ vẫn còn ở rất xa phía trước. Mồ hôi lạnh lăn trên trán cô xuống đất, tạo thành một vệt nông cùng với dấu chân của cô. Cô vẫn đang tiến về phía trước. Không do dự, không nao núng, không nhìn lại.

Bịch.

Con đường bằng phẳng bỗng nhiên biến thành một con dốc, Cindy trượt chân và ngã thẳng xuống đó. Cô vô thức muốn tóm lấy thứ gì đó, khi ngẩng đầu lên, cô chợt phát hiện hai bên không phải nham thạch mà là cửa đá đã mở ra.

Thế này là sao? Cindy rất kinh ngạc. Cô đến lối vào di tích từ khi nào, tại sao cánh cửa đá vốn đóng kín lại đột nhiên mở ra? Con dốc trơn trượt quá, Cindy lăn vào đó như một quả bóng, không sao dừng lại được. Cô tưởng mình sẽ chảy máu đầu, nhưng khi nằm trên mặt đất, cô phát hiện bên dưới rất mềm. Đó là cát vàng.

Trong cung điện tối đen như mực, lại có tiếng sột soạt kỳ lạ. Cindy thò tay vào túi và tìm thấy một chiếc bật lửa. Hình như những vật này cũng đã theo cô vào cõi mộng. Cindy đứng dậy mở nắp bật lửa. Ánh đèn dầu mờ mờ chiếu sáng khung cảnh bên trong cung điện nham thạch. Cánh cửa vốn đã rất cao, nhưng không ngờ độ cao của tòa nhà bên trong còn khủng khiếp hơn nữa, thậm chí ngẩng đầu lên cũng không thể nhìn thấy trần nhà. Bây giờ trên đỉnh có hai ba cái hố, cát vàng liên tục chảy xuống như thác nước, làm cho mặt đất của cung điện đủ lớn để chứa một con rồng khổng lồ này chất đống cát vàng.

Cindy nhìn một cái rồi tắt bật lửa để tiết kiệm nhiên liệu bên trong, tránh làm mất đi dụng cụ thắp sáng duy nhất của mình. Cô không biết rằng mình đã đưa ra một lựa chọn rất đúng đắn. Vì sàn nhà, cột trụ và tường của cung điện đều được bao phủ bởi những hoa văn kỳ lạ. Nhìn vào chúng sẽ khiến người ta rơi vào trạng thái hỗn loạn điên khùng.

Cindy khó khăn bước về phía trước, lúc này cô vẫn chưa phát hiện ra rằng nhiên liệu trong bật lửa sẽ không bao giờ cạn đi.

***

Khi cổng cung điện nham thạch mở ra, Johnson lập tức xóa tấm bản đồ trên tường đá. Mặc dù y cảm thấy Cindy nhất định có thể vào trong cung điện, nhưng vẫn cần thám tử tự mình mở ra con đường đó, họ chỉ có thể dùng ảo ảnh để che phủ cung điện nham thạch.

Cindy cần di chuyển từ lĩnh vực của tà thần này sang địa bàn của tà thần khác. Con người yếu đuối nên sẽ không bị bài xích. Nhưng nó cũng không dễ dàng. Đây là bài kiểm tra sức bền và ý chí, nếu dao động dù chỉ một chút cũng sẽ bị “đẩy lùi”.

Cindy đi mất hai giờ đồng hồ, điều này vượt quá sự mong đợi của Gymir. Gymir vốn tưởng rằng mình sẽ phải ngồi đây nghe bản giao hưởng của cát lún cả buổi chiều!

Khi cánh cửa từ từ mở ra, sức mạnh bên trong và bên ngoài luân chuyển, bản nhạc vốn khoáng đạt vốn dĩ bỗng nhiên thay đổi giai điệu. Giống như mặt trống bị nhão ra rồi, một chiếc kèn clarinet bị chặn hai lỗ khí, chiếc vĩ cầm trong tay concertmaster bị đứt dây.

Gymir cau mày thật sâu, không nhịn được nói: “Nếu cung điện nham thạch không bị phá hoại, khi cửa mở ra em sẽ nghe thấy khúc nhạc tuyệt đẹp hòa cùng tiếng sóng biển.”

Đó cũng là bản nhạc hay nhất của cung điện nham thạch. Bây giờ tất cả đã lạc điệu.

Johnson phát hiện ra hơi thở của Gymir đã thay đổi, đó là một tâm trạng cực kỳ cáu kỉnh, chỉ muốn lôi tên thần mới đã phá hủy cung điện nham thạch ra đánh cho một trận tơi bời.

Johnson thử tưởng tượng nếu có một chiếc thuyền buồm cực kỳ tinh xảo neo đậu ở Port Royal, mỗi bộ phận của nó dường như được thiết kế riêng cho y, thế rồi chiếc thuyền gỗ này bị Cochro nghiền nát, thủng lỗ chỗ, rất khó sửa chữa lại nguyên vẹn… Tốt lắm, y cũng đang siết chặt nắm đấm của mình.

“Chờ mọi việc ở đây kết thúc, chúng ta có thể đi tìm nó.” Johnson đề nghị. Trong chế độ xã hội thông thường của tà thần, bản thể đến thăm nhà thường sẽ chỉ có hai mục đích.

Gymir ban đầu không nhận ra “nó” này là để chỉ ai, nhưng khi nhìn thấy vẻ mặt đồng cảm và khó chịu của Johnson, hắn chợt thấy vui vẻ trở lại. Hiểu rõ sở thích của nhau, bắt chước hành vi và suy nghĩ của nhau… chẳng phải đây là quãng thời gian “yêu say đắm” mà Gymir muốn tìm về đó sao? Lúc đầu họ ở Luân Đôn, ở Pháp, ở Venice… ở vùng cao nguyên Scotland, trong rừng nguyên sinh, dưới biển… cũng đã rượt đuổi nhau, bồi đắp sự ăn ý như thế đó.

“Được, mặc kệ tên này trốn ở đâu, chỉ cần là nơi ở của tà thần mà ta không quen biết, chúng ta đều sẽ vào xem xét.” Gymir quyết định đổi kế hoạch du lịch thành kế hoạch đi đánh tà thần, miễn là nó có thể bồi đắp tình cảm, thì nội dung là gì không quan trọng!

Lúc này giấc mơ bỗng nhiên rung chuyển nhẹ.

Gymir và Johnson cùng ngẩng đầu lên.

Ranh giới của giấc mơ này chính là khu vực cát lún khổng lồ của đảo Sable trong hiện thực, tác dụng che chắn của nó rất tốt, nếu ở bên ngoài nhìn vào giấc mơ sẽ không thể thấy được bên trong. Trong vòng xoáy cát lún có hơn năm trăm con tàu, và còn nhiều xác người hơn. Johnson không cho Cindy nhìn thấy cảnh tượng kinh hoàng này, nhưng thực tế những thứ này có tồn tại, chúng cùng nhau tạo thành “bức màn” bao quanh giấc mơ.

Bây giờ giữa những xác chết và những con tàu bị chìm có bóng đen hung dữ và quái dị thò ra, giống như một con quái vật nặng nề bước qua cửa sổ bên ngoài ngôi nhà, sau đó cúi đầu xuống, nhìn chằm chằm vào nhà với đôi mắt đỏ rực.

Một cái, hai cái… vô số cái đầu. Bức màn cát lún dày nặng ban đầu được vén lên, những cái đầu hung dữ lấp đầy khoảng trống trong cát lún. Cái đầu khổng lồ giống như thằn lằn, hoặc như một con thú dữ, với lửa và nọc độc chảy ra từ miệng.

“Typhon!” Gymir đứng bật dậy.

“Em ở lại đây, ta đi <i>nói chuyện</i> với Typhon.” Gymir tức giận đến nỗi bật cười, hắn có giống một tà thần lịch thiệp không vậy?

Hắn còn chưa đến cửa gây rắc rối đâu đấy, thế mà Typhon dám tự mình mò đến?
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 103


<b>Chương 103</b>

<b>Thừa nhận đi</b>

Khi những cái đầu hung ác đó nhìn vào giấc mơ, Johnson đã cảm nhận được áp lực.

Nếu một đồng loại mạnh mẽ và xa lạ xuất hiện xung quanh, tà thần sẽ cảm thấy chán ghét theo bản năng. Đây là lời cảnh báo, là lời gợi ý cho một cuộc cạnh tranh sinh tồn, tà thần không thích tiếp xúc với đồng loại, trừ trường hợp đặc biệt.

Johnson chưa kịp phản ứng thì Gymir đã thoát khỏi giấc mơ. Johnson nhìn thấy cái bóng khổng lồ vừa gào thét vừa đập văng hơn hai mươi cái đầu của Typhon, buộc gã phải thu lại ánh mắt soi mói của mình. Màn cát vàng lại phát huy tác dụng, giấc mơ một lần nữa trở nên khép kín bí ẩn. Phần còn lại của những con tàu chìm đang trôi nổi trong cát lún, cất lên bản hợp xướng khóc than chết chóc.

Johnson liếc nhìn di tích kia. Thám tử vẫn đang lê bước trong cung điện nham thạch để tìm kiếm manh mối, không bị ảnh hưởng. Cũng may là Gymir đã hành động nhanh chóng. Giấc mơ tan vỡ sẽ không làm tà thần bị thương, nhưng con người bên trong thì khó mà nói trước được. Đảo Sable chỉ còn chưa đầy mười người sống sót. Nếu có chuyện gì xảy ra với Cindy, Johnson sẽ buộc phải từ bỏ việc thăm dò cung điện nham thạch này. Và thiệt hại ở đây sẽ trở nên trầm trọng hơn, chẳng bao lâu nữa, “điểm du lịch” được Gymir yêu quý này sẽ không còn tồn tại. Như vậy không được.

Những xúc tu dây leo của Johnson vươn tới không gian riêng thuộc về mình, xoa xoa hai chiếc thuyền buồm được đặt ở đó. Y yêu thích món quà này bao nhiêu, thì cũng mong đảo Sable được nguyên vẹn bấy nhiêu.

Johnson nhìn lên bầu trời, thấy một tấm màn cát vàng che khuất tầm nhìn. Để giữ cho giấc mơ ổn định, Johnson không có cách nào rời đi, chỉ có thể ngồi đây lo lắng cho Gymir.

Thế là tình thế hiện tại trở thành: Gymir đánh Typhon, Johnson duy trì giấc mơ, thám tử đang khám phá di tích.

Mỗi “người” đều có công việc riêng, không thể giúp đỡ lẫn nhau, sốt ruột cũng chỉ có thể chịu đựng, hướng phát triển này thật lạ lùng.

***

“Đừng đánh nữa, đừng đánh nữa!” Typhon ôm đầu bỏ chạy.

Đáng tiếc, gã có quá nhiều đầu, có thể ôm được một phần lớn, nhưng sẽ luôn bỏ sót ba hoặc năm cái. Sau đó những cái đầu này sẽ bị Gymir đánh te tua. Bị đánh thật thê thảm.

Thực ra, với sức mạnh của thần cổ xưa Typhon thì sẽ không khốn khổ đến thế. Thế nhưng nơi này là cõi mộng, Typhon xuất hiện ở đây chỉ là một hóa thân ý thức chứ không phải bản thể, vũ khí mạnh nhất của Typhon là chất độc hoàn toàn vô dụng, lúc đánh nhau không dùng được gì cả. Typhon không có ý định gây chiến với Gymir, cũng không gọi con cái và đồng minh đến giúp đỡ, dù sao thì bị đánh vì nhìn lén chuyện đó nghe cũng xấu hổ quá. Nhưng chạy thì gã lại không chạy nhanh bằng Gymir có hóa thân bóng đen sở hữu thiên phú thời gian.

“Sao mày chỉ đánh vào đầu chứ?” Một cái đầu của Typhon giấu dưới những cái đầu bị đánh khác, giận dữ hỏi.

Cơ thể của quái thú Typhon cũng rất lớn, nếu không thì làm sao có thể nhét vừa nhiều đầu như vậy? Nhưng Gymir thậm chí còn không nhìn vào những bộ phận đó, chỉ đánh đầu, đánh vào mắt và mũi, làm cho Typhon tức giận không thôi, miệng phun lửa đen.

Gymir cười khẩy: “Mày có quá nhiều đầu cho nên mới thích nhìn trộm khắp nơi.”

“Tao đang tìm Tonatiuh!” Typhon phẫn nộ nói.

“Hử?” Gymir rất bất ngờ. Nhìn khung cảnh trống trải xung quanh, nơi này đã cách xa giấc mơ ở đảo Sable, Gymir dừng lại. Cái bóng biến đổi thành hóa thân cá voi khổng lồ, nhìn chằm chằm Typhon từ bên trên.

Typhon theo bản năng muốn ngẩng đầu lên, nhưng đầu lại bắt đầu đau nhức. Gã toét miệng nhe răng bày tỏ sự nghi ngờ về tung tích của thần Mặt trời, đồng thời nhấn mạnh rằng mình chỉ “vô tình” phát hiện ra giấc mơ đặc biệt này trong một góc.

Cá voi khổng lồ quẫy đuôi với vẻ khinh thường.

Gymir đã nghe nói đến thói xấu của Typhon từ lâu. Mỗi khi Typhon thấy đồng loại đang làm việc đó là lại không nhịn được tới nhìn lén. Không, gã không muốn tham gia, mà chỉ muốn xem phương pháp, tổng kết ra các kỹ thuật và phương thức thực hiện. Typhon không bao giờ ép đồng loại lập giao ước với mình, vì trong hoàn cảnh bình thường, gã không cần ép buộc gì cả. Một tà thần biết tất cả, hiểu tất cả, còn có thể sinh ra con cháu xuất sắc với đối tượng giao ước của mình như Typhon, nhìn sao cũng là lựa chọn hàng đầu để kết thành đồng minh.

Typhon không nghĩ thói quen của mình có gì sai, xét cho cùng, trong hoàn cảnh bình thường sẽ không tà thần nào quan tâm đến việc bị “nhìn” cả. Không ngờ lần này vừa đến đã bị Gymir đập cho một trận. Typhon vừa bối rối vừa tức giận.

“Không phải lần trước tao cũng thấy mày dung hợp với thần mới đó rồi sao?” Typhon đang nói về chuyện xảy ra trong cống thời gian.

Trên thực tế, lúc đó Gymir đã bao bọc Johnson trong cái bóng, không cho Typhon xem “nội dung” bên trong.

Typhon có quá nhiều đầu, ý tưởng của gã cũng khác với những tà thần khác, đoán chừng gã cũng chẳng quan tâm có thấy rõ hay không, chỉ cần ghi lại phương pháp dung hợp là được, biết đâu Typhon có một cuốn sổ tay chứa đầy những từ ngữ không thể miêu tả, trong đó ghi lại những quan sát về các phương pháp giao phối và suy đoán về sở thích của Typhon đối với các tà thần khác.

Nghĩ đến đây, Gymir không nhịn được mà đánh Typhon thêm trận nữa.

“Đừng đánh nữa, đánh nữa là tao gọi Behemoth đó!” Typhon nóng nảy làm cho cơ thể của gã phình lên nhiều lần, tất cả các đầu cùng nhau gầm lên: “Tao đâu có biết giấc mơ đó là do mày tạo ra, tao chỉ túm lấy bên ngoài nhìn một cái, có thấy rõ gì đâu.”

“Không thấy thật chứ?” Gymir bật cười.

“Thôi được.” Typhon cũng biết mình có nhiều mắt, nếu nói dối thì sẽ không có đồng loại nào tin cả.

“Tụi mày đang ở nhà Thoth.” Typhon thắc mắc: “Đây có phải là một cách giao phối mới không? Tại sao tao nhìn mà không hiểu gì?”

Chạy tới hang ổ bỏ hoang của người khác làm chuyện đó sẽ rất thú vị à? Typhon suy nghĩ sâu xa, nếu lần sau muốn thử thì nên thử với ai?

“Mày cho tao nhìn thêm một cái…” Typhon phát hiện ra hơi thở của Gymir trở nên nguy hiểm hơn. Gã không chịu nhượng bộ, quyết định vạch trần sự thật (Typhon đoán bừa thôi).

“Trong giấc mơ này có mùi của ba tà thần, mãi đến khi tới đây tao mới nhận ra đó là mày, Gymir. Về việc mày đang làm gì ở nhà Thoth? Không cần phải nói, tao biết… Đây là mùi của tà thần mới sinh ra, đồng minh của mày chỉ là thần mới, tụi mày không thể trực tiếp sinh ra hậu duệ tà thần được! Cho dù may mắn thành công thì mày và thần mới đó cũng sẽ tiêu hao rất nhiều sức lực, nhưng tụi mày lại không hề có dấu hiệu đó! Hãy thừa nhận đi, tụi mày đã phát hiện ra bí mật của Thoth!”

Cá voi khổng lồ kiêu ngạo nhìn chằm chằm vào Typhon: “Cái này không có gì bí mật, tà thần đó được sinh ra từ vật thí nghiệm bị Thoth vứt bỏ, sớm muộn gì mọi người cũng sẽ biết.”

“Ha ha, mày thừa nhận! Mày thừa nhận mày sử dụng vật thí nghiệm bị Thoth vứt bỏ trong lúc chế tạo tà thần để làm phôi thai hậu duệ! Đồ của Thoth đều nguy hiểm, sao mày có gan làm vậy? Mẹ kiếp, mày còn thành công nữa chứ, tụi mày sinh ra một hậu duệ xuất sắc!”

Gymir: “…”

Gymir hít một hơi thật sâu, quyết định ngày hôm nay phải tuyên chiến với Typhon tại đây, đánh cho đến khi đồng minh của Typhon thức tỉnh hết mới dừng.

***

Màn cát vàng rung chuyển, giấc mơ khẽ lay động.

Johnson đứng dậy ngay lập tức. Y dường như nghe thấy một âm thanh ầm ầm kinh hoàng, cuộc chiến bên ngoài rất khốc liệt? Johnson cẩn thận duy trì sự ổn định của giấc mơ, sức mạnh của y lan rộng, nhanh chóng mở rộng đến đầu kia của giấc mơ, kết nối với đảo Sable trong hiện thực.

“Hử?”

Johnson phát hiện đảo Sable trong thế giới thực cũng đang thay đổi. Bên ngoài đảo Chết Chóc bị sương mù dày đặc bao phủ có rất nhiều t** ch**n. Con người phát hiện bất thường ở đảo Chết Chóc à?

Johnson cẩn thận tính toán, đã một ngày một đêm trôi qua từ khi tàu Elizabeth gặp nạn. Ngoài việc con tàu mất tích bí ẩn, không có phản hồi nào từ trạm cứu hộ của đảo Sable, vậy nên con người biết ở đây đã xảy ra chuyện gì đó. Chỉ có điều bọn họ phái thẳng vài chiếc t** ch**n đến thay vì tàu cứu hộ, tình huống này có vẻ hơi kỳ lạ.

Johnson thu hồi một phần nhỏ ý thức của mình, cẩn thận “quan sát” những t** ch**n này.

Bụp.

Đó là một âm thanh rất nhỏ, nhỏ đến nỗi những tà thần khác sẽ không nhận ra. Nhưng Johnson khác với những tà thần khác, để truy lùng mục sư Cornell, y đã “nhìn thấy” nhiều giáo phái bí mật. Những giáo phái này có ở khắp nơi trên thế giới, có nguồn gốc lịch sử khác nhau, phần lớn đều rất yếu ớt, chỉ biết thờ cúng một tà thần nào đó và quyến thuộc, số ít thì ẩn nấp rất sâu như giáo phái Màu Xám ở Venice. Các giáo phái và quần thể bí mật này sẽ lắp đặt một số thiết bị “cảnh báo” để tự bảo vệ, hoặc dò xem “quyến thuộc của tà thần” có giáng xuống đàn tế hay không.

Johnson không cần phải đến quá gần, đôi khi chỉ cần liếc nhìn thêm vài cái sẽ khiến những chữ Rune này tỏa sáng rực rỡ, khiến cái gọi là “kết giới thần thánh” bị phá vỡ, rồi sẽ thấy các học giả huyền bí học hét lên hoảng loạn, các tín đồ bái lạy trong trạng thái vui mừng như điên. Vì vậy, âm thanh quen thuộc này khiến Johnson ngay lập tức biết rằng những t** ch**n này không đơn giản như bề ngoài.

Quả nhiên, con người không chỉ biết đảo Chết Chóc đã gặp nạn, mà còn biết vụ việc này có liên quan đến “tồn tại huyền bí”. Quyền lực giáo phái bí mật ảnh hưởng đến chính quyền con người, hay chính quyền con người lôi kéo học giả huyền bí học?

Johnson hơi tò mò.

Nhưng bây giờ y không có thời gian.

Johnson thu hồi ánh mắt, ý thức tách rời trở về với giấc mơ, chờ đợi thám tử bước ra khỏi di tích.

***

Trong di tích, Cindy mất thăng bằng, ngã xuống cồn cát, chiếc bật lửa bay ra khỏi tay cô. Cô hét lên một tiếng ngắn rồi lập tức điều khiển cơ thể lăn theo hướng đó, chộp lấy dụng cụ chiếu sáng duy nhất trong gang tấc.

“Ủa?” Xung quanh có ánh sáng?

Cindy rơi vào một lối đi, ban đầu nơi này được bao phủ bởi cát vàng, không thể nhìn rõ lối vào. Những bức tường sáng mờ mờ, có những cây cột ở giữa để ngăn cách, không biết tại sao đá lại trong mờ, như những chiếc vại đá lớn kỳ lạ, bên trong có nhiều dấu vết khả nghi.

Cindy liếc nhìn rồi quay đi, cố gắng hết sức giữ bình tĩnh, tiếp tục bước về phía trước. Đằng trước lại chìm trong bóng tối, bởi vì các vại đá phát sáng đều bị vỡ. Với ánh sáng yếu ớt từ chiếc bật lửa, Cindy nhìn thấy những vết bẩn màu đen đang chảy ra, xương gãy và những đường ngoằn ngoèo trên mặt đất. Có vẻ như một con quái vật đáng sợ đã tàn phá lối đi này, nó đập vỡ tất cả các vại đá trong suốt, ăn tất cả những gì có thể cho vào bụng rồi ngang ngược đập phá các bức tường và cột trụ ở đây.

Cindy không biết cung điện nham thạch này kiên cố đến mức nào, cần bao nhiêu sức mạnh để phá vỡ nó, nhưng những dấu vết phá hoại này khiến cô hiểu được sự khủng khiếp của con quái vật này.

Con quái vật còn ở đây không?

Cindy lắng nghe cẩn thận nhưng không có âm thanh đáng ngờ nào cả. Cô nín thở, lo lắng con quái vật sẽ đột ngột lao ra từ đâu đó. Cuối cùng, cuộc thám hiểm đã dừng lại. Bởi vì phía trước đã sụp đổ, không có đường đi qua.

Cindy cẩn thận giơ chiếc bật lửa lên, nhìn thấy một vết nứt lớn kéo dài từ dưới lên trên tường, khuất đằng sau trần nhà đen tuyền nơi cô không thể nhìn thấy. Dấu vết ở đây là rõ ràng nhất, phác họa gần như rõ ràng hình dáng của con quái vật. Cơ thể của nó giống như một cái ống dài, hoặc là một con rết phóng to, với vô số móng vuốt sắc nhọn ở hai bên cơ thể…

“A!” Cindy đau đớn ôm đầu. Nỗi sợ hãi vô căn cứ đang bào mòn ý chí của cô.

Sau đó, một luồng sức mạnh nhanh chóng “kéo” Cindy ra ngoài. Cô mơ hồ mở mắt ra nhưng chỉ nhìn thấy cát vàng đang rơi xuống.

Giấc mơ đang tan biến.

Cảm giác ấm áp dần dần quay trở lại cơ thể cô, mí mắt Cindy trở nên nặng trĩu.

“Cindy, dậy đi, Cindy.” Là tiếng gọi của bà nội.

***

“Cô ta thành công rồi! Không chỉ nhìn thấy cái lỗ lớn trên đỉnh cung điện nham thạch bị hư hại, mà còn nhìn thấy thần mới trông như thế nào!”

Johnson cầm một quả cầu nhỏ phát sáng chứa ký ức quý giá, thứ có được nhờ sự “kết nối” của thám tử. Sau khi đưa Cindy đi, Johnson cầm quả cầu ánh sáng định đưa cho Gymir.

Bức màn cát vàng tan rã, cung điện nham thạch biến mất.

Johnson đột nhiên cảm thấy áp lực vô cùng. Y đứng trong cõi mộng hư không, như người vừa vén cửa lều bước ra ngoài, ngơ ngác nhìn bảy tám hình chiếu hóa thân tà thần bên ngoài lều. Giây tiếp theo, Johnson được cái bóng khổng lồ của Gymir quây vào lòng.

Đối diện với Gymir là Typhon với mấy cái đầu trong tư thế kỳ lạ. Có cái đầu bị nghiêng vẹo, vài cái thì trở nên dẹp lép, có cái lại thì bị thu nhỏ lại phía sau những đầu khác.

“Xảy ra chuyện gì?” Johnson lo lắng hỏi, nếu không ổn thì chạy, đây chỉ là cõi mộng.

Gymir đón lấy quả cầu trí nhớ, truyền sức mạnh vào nó. Tất cả những hình ảnh Cindy nhìn thấy sau khi bước vào cung điện nham thạch dần dần hiện ra.

“Đây là góc nhìn gì vậy? Lùn quá vậy?” Có tà thần thấp giọng phàn nàn.

“Là con người, cung điện nham thạch sắp sập rồi, bọn tao không vào được.” Gymir đối mặt nhiều tà thần như vậy mà khí thế cũng không hề kém cạnh.

Đoạn ký ức này rất dài nhưng vì tốc độ tư duy của tà thần nhanh hơn con người gấp nhiều lần, nên có thể chiếu lại toàn bộ nội dung với tốc độ bất thường. Cái chính là phần Cindy bước vào lối đi, nhìn thấy cảnh tượng lộn xộn trên mặt đất. Cuối cùng, đoạn ký ức dừng lại ở dấu vết thân hình con rết đập vào tường.

“Đúng là thần mới.”

“Sinh ra từ đống đồ bỏ đi của Thoth.”

“Typhon sai rồi, lời Gymir nói mới là thật.”

Các tà thần nhỏ giọng thì thầm.

Tất cả những con mắt có thể mở ra trên đầu Typhon đều mở to. Gã không muốn thừa nhận chút nào, chẳng hóa ra chịu đánh vô ích rồi sao?

Quái thú khổng lồ Behemoth ngoạm lấy lưng Typhon, ném gã cho tà thần khác, sau đó cúi đầu nói với Gymir và Johnson: “Xin lỗi, tụi mày không dùng phế phẩm của Thoth để tạo ra hậu duệ tà thần, là Typhon suy đoán bừa bãi, tụi tao suýt nữa thì tin chuyện này.”

Johnson kinh ngạc sững sờ.

Chuyện gì vừa xảy ra vậy?

Tin đồn này thật quá đáng!

Gymir không khách sáo: “Kêu Typhon giúp tao tìm ra thần mới này, nó hấp thụ sức mạnh còn lại của Thoth, thân xác của nó là nguyên liệu tốt nhất để sửa chữa cung điện nham thạch.”

“Tụi mày muốn chiếm cung điện nham thạch?” Behemoth nghi hoặc hỏi.

Johnson đột nhiên chủ động nói: “Không, chúng ta chỉ muốn hòn đảo giữ nguyên như cũ, âm thanh nó tạo ra rất hay.”

Behemoth nhìn Johnson thêm một cái.

“Khoan đã!” Typhon vùng vẫy giơ móng vuốt ra: “Tao sẽ giúp tụi mày tìm thần mới này, nhưng tụi mày không thể giữ cung điện nham thạch đã sửa chữa cho riêng mình, tất cả đều có quyền sử dụng.”

Ngoại trừ Johnson không hiểu câu này có ý gì, ý thức hóa thân của những tà thần khác khựng lại một chút, rồi bỏ đi như không có chuyện gì xảy ra.

“Nè, tụi mày không có hứng thú sao?”

Typhon vươn cổ ra gọi đồng minh.

Behemoth tới trước mặt Gymir, thì thầm: “Đánh thoải mái, không sao hết.”

Dù sao cũng nằm trong cõi mộng, không có gì phải lo.
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 104


<b>Chương 104</b>

<b>Ngư lôi</b>

Dù là đồng loại nhưng Johnson vẫn cảm thấy những thần cổ xưa này thật khó hiểu.

Nhất là quái thú Typhon.

Hành vi của Typhon là hoàn toàn là phi logic, một giây trước gã còn phàn nàn đồng minh không ân cần chu đáo, giây tiếp theo, những cái đầu chán nản đó lại ngẩng cao lên, khôi phục lại tư thế uy nghiêm.

“Được rồi, chúng ta đi tìm tà thần mới sinh này thôi!”

“…”

Typhon cho rằng cung điện nham thạch rất tốt, đáng tiếc là không thể thu hút đồng minh làm những việc thú vị.

“Quên đi, cho tụi mày vậy!” Typhon bất đắc dĩ nói.

Gymir nhìn Typhon bằng ánh mắt lạnh lùng.

Chỉ nhìn, không đánh.

Mặc dù Behemoth nói cứ đánh thoải mái, nhưng Gymir lại không làm vậy. Dù Typhon có quậy thế nào, chỉ cần hét lên, gã vẫn có thể gọi được bảy, tám đồng minh với cả tá đứa con đến, không thể đánh bại được gã. Thừa lúc Typhon đi lẻ làm khùng làm điên mà đánh cũng không sao, dù gì Typhon cũng không để bụng, nhưng trước mặt Behemoth thì lại khác. Typhon thấy đồng minh bên cạnh mình là sẽ rất muốn duy trì tư thế uy nghiêm đó. Trước đây Gymir không hiểu được tâm lý này, nhưng sau khi có Johnson, hắn ngay lập tức hiểu được một vài điều.

“Mày định tìm ở đâu vậy, trong cõi mộng?” Gymir xấu xa hỏi. Tà thần mới sinh sẽ không ngủ nhanh như vậy đâu, nó ăn chưa đủ no thì sao mà ngủ?

Typhon lắc lư mấy cái đầu, cố tình phớt lờ Gymir, quay ra hỏi Johnson đến đảo Sable từ khi nào, làm thế nào tìm thấy dấu vết của thần mới, sinh vật bị ô nhiễm sức mạnh trông như thế nào.

Các câu hỏi đều rõ ràng và hợp lý, làm cho Johnson nghi ngờ rằng Typhon đã đổi một bộ não khác… Không, hơi khó khăn vì gã sẽ phải thay hàng trăm cái não.

Gymir không vui, nhưng Behemoth đang ở gần đó, họ đứng im lặng như thể đang cùng giám sát Typhon.

Typhon không thấy sao cả nhưng Johnson phải chịu rất nhiều áp lực.

Theo gợi ý của Gymir, Johnson nhanh chóng giải thích xong tình hình.

Nghe nói bầy chim khổng lồ đột biến thông minh còn có thể hợp tác với nhau, Typhon tiếc nuối nói: “Thoth luôn biết nhiều hơn chúng ta một chút, nó dường như có thể kiểm soát tình hình đột biến ở những sinh vật nhỏ bé này, muốn biến thành cái gì thì biến thành cái đó. Tụi mày thấy không, ngay cả mấy con vật nhỏ bị ô nhiễm bởi chút sức mạnh còn sót lại cũng có tỷ lệ lột xác thành công cao hơn.”

“Đừng có mơ, Thoth đã đi từ lâu rồi.” Quái thú khổng lồ Behemoth lạnh nhạt nói.

Johnson sáp lại gần Gymir, nhìn sang bằng ánh mắt dò hỏi.

Gymir nghĩ xong gật đầu.

Khóe mắt Johnson giật giật, y hiểu rồi, quái thú Typhon từng thể hiện tình cảm với thần Trí tuệ Thoth, nhưng Thoth từ chối. Nghĩ đến việc Thoth quyết tâm trực tiếp tạo ra hậu duệ bằng tay chứ không muốn thông qua sinh sản, Johnson nghi ngờ Typhon lúc này chủ động như vậy chỉ để xem trò cười của Thoth.

Typhon thông báo hết một lượt cho các đồng minh, tương đương với việc hét lên với cả thế giới rằng một thần mới đã ra đời trong đống rác thải ở nhà của Thoth! Tiếc thay thần mới này đã làm hư nhà của Thoth, thế nên phải bắt nó về sửa cung điện nham thạch. Từ đó trở đi, tất cả tà thần trên trái đất đều biết Thoth đã làm chuyện như vậy. Nếu sau này có ai đó rời trái đất một lần nữa, có thể tà thần đó còn truyền bá câu chuyện đến nơi sâu thẳm trong vũ trụ. Nếu lúc bấy giờ Thoth đã “tạo ra” đồng loại thì không sao, nhưng nếu chưa bao giờ thành công, bỗng một ngày nọ Thoth nghe thấy chuyện đống rác mà mình vứt bỏ ở nhà đã lâu lột xác thành công, chẳng phải sẽ tức chết sao?

Johnson suy nghĩ vài giây rồi nhìn Typhon với ánh mắt kỳ lạ.

Typhon: “…” Lạ ghê, sao cái tên thần mới mà Gymir thích này cũng có vẻ muốn đánh mình thế nhỉ?

Không thể nào!

Typhon định phô trương sức mạnh của mình, gã thổi ra một luồng… à, cả trăm luồng khói đen. Làn khói từ từ thành hình, tạo ra một bản đồ khổng lồ trong không gian hư vô.

Bản đồ này rõ ràng hơn nhiều so với bản đồ Johnson vẽ trên mặt đá. Màu đen và màu xám đậm nhạt khác nhau tạo thành địa hình phức tạp trên hành tinh thu nhỏ, thị lực của tà thần có thể phân biệt rõ ràng đất, nham thạch và địa tầng. Những chỗ lồi lõm trên bề mặt là rừng và núi, còn chỗ trũng là sông hồ và hẻm núi. Từ những hang động trên vách đá được nhân loại biết tới, cho đến thế giới ngầm mà nhân loại chưa biết… tinh tế và chính xác.

Johnson không nhịn được tìm một địa điểm quen thuộc, so sánh với trí nhớ của mình, phát hiện quả thực giống hệt nhau.

Mấy cái đầu hung ác nhìn xuống “hành tinh”, đây là thứ đồ chơi trên móng vuốt của gã.

Thần cổ xưa hiểu hành tinh dưới chân mình đến mức độ này? Bao gồm mọi khúc sông và mọi hẻm núi? Bởi dù sao thì địa hình luôn biến đổi, những ngọn núi sẽ dâng cao, những dòng sông sẽ thay đổi dòng chảy, những hang động sẽ sụp đổ… Thần cổ xưa đã ngủ say từ lâu lắm rồi, trong ấn tượng của Johnson, thần cổ xưa luôn thờ ơ với những thay đổi của thế giới và sự sống đang phát triển mạnh mẽ trên hành tinh này, cứ nhìn vào Gymir là hiểu ngay. Lẽ nào y đoán sai?

Trong lòng Johnson nảy sinh mối nghi ngờ rất lớn, nhưng vẻ mặt của y không có gì bất thường. Trong cảm giác của Behemoth và Typhon, Johnson chỉ “ngạc nhiên” trong giây lát, cảm xúc nhanh chóng bình tĩnh trở lại. Chỉ có Gymir chú ý đến, lặng lẽ duỗi ra một xúc tu cái bóng, nhéo nhẹ lên mu bàn tay y.

Typhon: “…”

Mười mấy con mắt trượt xuống, quay một vòng lại rồi trở về vị trí ban đầu, giả vờ như không nhìn thấy gì. Nhưng chuyển động của Typhon rõ ràng đến mức cả Johnson và Gymir đều không bỏ sót.

“Ừm, ở vùng biển gần hòn đảo này không có chỗ thích hợp để làm tổ, thay vì vượt biển, nhiều khả năng nó sẽ chọn vùng đất gần trong tầm tay.” Typhon kiêu hãnh chỉ vào hành tinh thu nhỏ, bắt đầu thuần thục bới móc các hang động, lục lọi trên các đỉnh núi tuyết, chỉ ra hết sào huyệt này đến sào huyệt khác mà tà thần có thể sẽ chọn trúng.

Càng nghe, mắt của Johnson càng sáng hơn. Y biết những nơi nào có tà thần định cư, nhưng Gymir không chắc đã biết chủ nhân ở đó là ai, Typhon thì khác, Typhon dường như biết tất cả.

Typhon rất tự hào, gã còn muốn nói thêm vài lời, nhưng đột nhiên cảm thấy ớn lạnh sau lưng.

Behemoth ngáp dài, còn Gymir lạnh lùng nhìn vào cổ gã, như thể đang quyết định xem nên ra tay như thế nào.

Lưng của Typhon căng ra, gã nhanh chóng quay cái đầu đang lén nhìn đi nơi khác.

***

Bên ngoài đảo Sable, không khí vô cùng nặng nề. Sương mù dày đặc giống như một tấm màn che khổng lồ, bao phủ cả vùng biển phía trước.

Một chiếc t** ch**n treo Cờ sọc sao* trên boong, một gã đàn ông mặt sẹo cầm trong tay chiếc kính viễn vọng, nhìn chòng chọc về hướng đảo Chết Chóc.

<i>* Theo tiếng Anh, quốc kỳ Hoa Kỳ có tên là Stars and Stripes (Cờ sọc sao) hoặc có tên gọi là Old Glory (Vinh quang cũ). Quốc kỳ này là nguồn gốc cho tên gọi “Hoa Kỳ” hay cụm từ “Đất nước cờ hoa” trong tiếng Việt.</i>

“Phóng ngư lôi vào đảo Sable ngay lập tức!” Cầu vai và đồng phục của người đàn ông cho thấy gã có địa vị cao, nhưng trông gã vô cùng xấu xí, môi sứt đi một mẩu, một vết thương dài nhất gần như xẻ khuôn mặt gã ra làm đôi, sống mũi cũng bị gãy, các binh lính luôn bất giác cúi đầu tránh né khi nhìn thấy gã.

“Không được!” Hạm trưởng ngăn cản. Một chiếc thuyền của Anh đã biến mất ở khu vực này, có thể đã gặp nạn, nếu bọn họ dám nổ súng, rắc rối sau đó sẽ tăng gấp đôi.

Người đàn ông mặt sẹo nhìn Hạm trưởng với ánh mắt nham hiểm, nói: “Anh có biết Hạm trưởng mà tôi từng theo bây giờ đang ở đâu không? Anh ta vẫn đang được điều trị, thậm chí không nhận ra người vợ thân yêu của mình! Thậm chí tôi cũng suýt nữa bị coi là kẻ điên, bị nhốt vào bệnh viện tâm thần, tất cả đều là vì nhiệm vụ một năm trước!”

Chính là sứ mệnh xuyên qua Bắc Cực đó!

Việc tàu ngầm hạt nhân Nautilus bị lạc ở biển băng Bắc Cực không phải là bí mật trong quân đội Mỹ. Nhưng chính xác thì chuyện gì đã xảy ra với tàu Nautilus, tại sao lại có nhiều người xuất ngũ như vậy, tại sao có người lại chết, thì không mấy ai biết được sự thật. Dù sao thì nó cũng không đơn giản chỉ là đi lạc rồi tông vào núi băng, vì nhiều máy b** ch**n đ** đã bị rơi cùng lúc đó. Tuy nhiên, hầu hết mọi người đều bị thu hút bởi cuộc xung đột quốc gia ngoài sáng, cho rằng đó là một cuộc xung đột cục bộ, không ai nghĩ về nó theo cách phi khoa học.

Lần này Hạm trưởng nhận lệnh, khi nhìn thấy người đồng nghiệp trước mặt rõ ràng “có quen biết” nhưng giờ lại “không nhận ra” kia, ông ta sốc đến mức phải liếc nhìn giấy chứng minh mấy lần. Sau khi nhận ra sự việc xảy ra ở Bắc Cực năm 1959 là hoàn toàn bất thường, Hạm trưởng càng không dám hỏi một lời. Hiện tại đối phương chủ động nói ra, sắc mặt Hạm trưởng trở nên khó coi, ông ta nghe ra hàm ý uy h**p.

“Thứ mà kẻ thù của chúng ta có không phải là súng, chúng là những con quỷ vô hình, vừa rồi lũ quỷ đã phát hiện ra chúng ta.” Gã mặt sẹo nói năng lạnh lùng và gay gắt.

Mặc dù những người phía sau gã đều mặc quân phục, nhưng họ trông không giống binh lính chút nào. Trên giấy tờ tùy thân của họ có một tên bộ phận mà Hạm trưởng chưa từng nghe tới. Hạm trưởng cứ luôn cảm thấy toàn thân khó chịu khi bắt gặp ánh mắt của những người này. Nên được mô tả như thế nào? Giống như thứ gì đó vừa lạnh như băng lại vừa nhớp nhúa, rất dị hợm.

Những kẻ này còn mang theo một số dụng cụ kỳ lạ. “Dụng cụ” là một cách mô tả rất lịch sự, chúng là những đồ dùng thô sơ, búp bê bằng gỗ chạm khắc, thánh giá, tất cả đều trông giống như những món đồ tà thuật. Khi một số binh lính phục vụ trên t** ch**n nhìn thấy thứ này, họ không khỏi cười lớn, còn định ném những đồ “giẻ rách” này xuống biển, hậu quả là mụn mủ lan khắp người, tới giờ vẫn đang nằm trong bệnh xá trong tình trạng sốt cao.

Hạm trưởng cảm thấy những người này cũng không khác gì ma quỷ. Ông ta vừa căm ghét, vừa hy vọng có thể nhanh chóng kết thúc nhiệm vụ, để những người này cút ra khỏi tàu của mình.

“Chỉ có thể bắn một trái ngư lôi.”

Đảo Sable là thuộc về Canada, còn chiếc thuyền mất tích là của Anh. Nhưng vì có người Mỹ trên tàu nên tìm lý do cũng được, cứ nói rằng một nhóm cướp biển Nam Mỹ đã chiếm đảo Sable, g**t ch*t những nhân viên cứu hộ trên đảo và bắt cóc hành khách tàu Elizabeth không may bị nạn. Họ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc chiến đấu với bọn cướp biển.

Ngư lôi vẽ ra một vệt nước dài rồi lao vào làn sương mù dày đặc.

Hạm trưởng lặng lẽ đếm thời gian, gã mặt sẹo giơ chiếc kính viễn vọng lên quan sát.

Không có động tĩnh nào trong làn sương dày. Theo tầm bắn dự tính, ngư lôi đã trúng vào đảo Sable và phát nổ. Cho dù bắn trượt, lúc này hẳn là nó đã xuyên qua sương mù, đi vào một vùng biển khác phía trước, đạt đến phạm vi tầm bắn tối đa sẽ nổ tung mới đúng.

Giờ thì ngư lôi đâu?

“Không thể nào, khoáng vật sắt từ trên đảo Sable không thể có sức mạnh như vậy…”

Các thiết bị trước đó không thể phát hiện được tình hình trong sương mù, nhưng những người trên t** ch**n không hề hoảng sợ, điều này thỉnh thoảng cũng xảy ra, họ cũng rất tự tin vào vũ khí của mình, dù thực sự có khỉ đột hay khủng long thời tiền sử như trong phim thì hỏa lực của họ chắc chắn có thể đập tan những con quái vật đó thành từng mảnh.

Lòng bàn tay Hạm trưởng đổ mồ hôi lạnh, ông ta cảm thấy lòng tin này đang dần biến mất khi kim giây trên đồng hồ quả quýt nhích tới từng chút một.

“Bắn tiếp!” Giọng nói khàn khàn biến dạng.

***

Vừa nhớ lại “bản đồ” do Typhon đưa ra, Johnson vừa rời cõi mộng trở về hiện thực. Mới mở mắt ra, y đã thấy vài vật thể đen thùi lùi đang chạy loanh quanh trong bãi cát lún bên ngoài đảo Chết Chóc.

Cá à?

Hình như không phải.

Sau khi Johnson nhận dạng cẩn thận, cuối cùng y cũng nhận ra mấy thứ này dường như là ngư lôi được chở trên tàu của con người.

Cũng may là trước khi gặp gỡ Gymir, y rất thích thích lang thang trên biển, đã từng nhìn thấy thứ này. Thuyền gỗ thông thường sẽ nổ tung thành từng mảnh nếu tiếp xúc với thứ đồ này, không làm sao ghép lại được nữa.

Thuyền buồm của Johnson sợ cái này, nhưng nhà thần cổ xưa thì không! Bãi cát lún khổng lồ này có thể nuốt chửng bất cứ thứ gì chúng gặp phải, tốc độ của ngư lôi ngày càng chậm, như thể đang mắc kẹt trong một đầm lầy.

Bùm!

Cuối cùng một quả ngư lôi nổ tung.

Vòng xoáy cát lún bị ảnh hưởng, tiếng than khóc chết chóc mà nó đang trình diễn cũng lạc điệu.

“Cái gì thế?” Gymir cau mày, hắn rất không vui.

Bây giờ cung điện nham thạch đã bị phá hủy một nửa, chỉ còn lại xác tàu chìm đang biểu diễn bên ngoài, con người còn dám tới tàn phá?
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 105


<b>Chương 105</b>

<b>Không có cứu viện</b>

Tiếng ầm ầm đánh thức Cindy.

Cô nhảy dựng lên khỏi tấm ván cứng đơ, tóc còn dính vài cọng rơm.

“Bà nội…”

Câu nói của Cindy nghẹn lại trong cổ họng, vì cô nhìn thấy bà Fresnel còn đang ngủ gật trên ghế, và còn ngáy rất khẽ. Tiếng nổ quen thuộc vẫn văng vẳng bên tai. Ban đầu Cindy tưởng đó là một cuộc không kích, nhưng bà Fresnel hiển nhiên không nghe thấy, chứng tỏ âm thanh đó xảy ra ở “cõi huyền bí”.

Đầu Cindy đau nhức. Cô chịu đựng cơn choáng váng dữ dội và đứng dậy để kiểm tra cánh cửa bị chặn, chắc chắn rằng nó không bị hư hại, sau đó lê những bước nặng nề leo lên cầu thang, bám vào bức tường gồ ghề được trát bằng xi măng không bằng phẳng, chuẩn bị l*n đ*nh ngọn hải đăng xem thử tình hình. Cảm giác mệt mỏi khi đi bộ hơn mười tiếng đồng hồ trong giấc mơ cũng được mang theo ra ngoài. Bắp chân đau nhức, đầu gối mỏi như thể có hai bao cát nặng trịch buộc vào.

Cindy phải gấp mấy lần thời gian mới lên được ngọn hải đăng, cô ngồi bệt xuống đất thở hổn hển. Xung quanh vẫn còn sương mù dày, cô không thể nhìn rõ mặt đất cũng như nước biển phía xa. Hòn đảo biệt lập này dường như đã bị thế giới lãng quên, và dường như nó đã bị một sức mạnh kỳ lạ nào đó đày đến một không gian vô danh.

Cindy nhớ mọi chuyện xảy ra trong giấc mơ. Cung điện nham thạch cao ngất và ngoạn mục, không gian bên trong bị bỏ hoang chứa đầy cát vàng, cũng như sàn nhà và cột trụ bị hư hỏng… Đã từng có một con quái vật bị mắc kẹt ở đó, nhưng rồi nó đã trốn thoát khỏi di tích, biến mất không dấu vết.

Điều này khiến Cindy rất lo lắng. Cô lo quái vật này sẽ ẩn nấp trên đảo, tấn công những người sống sót trên tàu Elizabeth hoặc tấn công ngọn hải đăng. Tàn tích trong giấc mơ nghe nói là nơi sinh sống của thần Trí tuệ Thoth, vậy mà con quái vật đó có thể tạo ra những vết nứt sâu như vậy trên tường. Vết nứt kéo dài đến tận trần nhà có thể cao tới cả trăm mét, sức mạnh khủng khiếp này khiến người ta ớn lạnh toàn thân. Ngọn hải đăng ở đảo Sable là một công trình bình thường làm bằng đá và xi măng, quái vật có thể dễ dàng đập nát nó thành từng mảnh.

Nhưng Cindy không còn nơi trú ẩn nào an toàn hơn để lựa chọn, đây là một hòn đảo hoang. Cô thậm chí còn không chắc liệu các hành khách khác của tàu Elizabeth có còn sống hay không. Nếu như… nếu điều gì đó tồi tệ xảy ra với tất cả họ, những người duy nhất còn sống trên đảo sẽ chỉ có Cindy và bà Fresnel. Đây là một điều khủng khiếp. Họ không có nhu yếu phẩm, lương thực hạn chế. Không có liềm hoặc hạt lúa mì, mà có thì cũng vô ích, họ không biết cách trồng trọt. Ngoài ra còn có một bầy chim khổng lồ săn mồi hung dữ sinh sống trên đảo.

Cindy nghĩ đi nghĩ lại, tuyệt vọng phát hiện ra rằng mình chỉ có thể đợi “quỷ dữ” thực hiện lời hứa, nếu không họ sẽ không thể thoát khỏi hòn đảo chết chóc này.

Lúc này, một thanh âm sắc bén đáng sợ xuất hiện. Nó nghe như tiếng kêu của chim báo tang trong truyền thuyết ma quái, thê lương, chói tai, đột ngột khiến người ta mất cảnh giác, giống như cái chết sẽ tới ngay sau đó…

Cindy hạ thấp người xuống theo bản năng, trước khi cô kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra thì mọi thứ lại dừng lại. Âm thanh chói tai và đáng sợ biến thành tiếng động cơ kỳ lạ, rồi lại rất giống một bánh xe chỉ có thể chạy không tải, phát ra tiếng lạch cạch.

Cindy cứng ngắc ngẩng đầu lên, nhìn thấy một cảnh tượng khó tin.

Một thứ màu đồng thau đang lơ lửng giữa không trung…

Đúng, đó là một quả đạn đại bác, Cindy thề rằng cô không nhìn lầm, mặc dù nó lớn hơn bất kỳ quả đạn đại bác nào cô từng thấy.

Quả đạn xoay xuyên qua làn sương mù dày đặc, xuất hiện ngay trước ngọn hải đăng. Nó giống như một mũi khoan điện lớn đang khoan xuyên qua bức tường, không khí bị nén lại biến dạng nhẹ, gây ra những gợn sóng. Quả đạn đại bác này chỉ cách ngọn hải đăng vài thước, chỉ một chút nữa thôi là có thể thổi bay nửa trên của ngọn hải đăng thành vụn.

Cindy cảm thấy ngay cả khi có thể lăn xuống cầu thang vào thời điểm quan trọng này, cô cũng sẽ không thể thoát khỏi đám mây tử thần. Cô và bà nội sẽ bị chôn vùi trong đống đổ nát. Nếu không may, có lẽ họ thậm chí không có cơ hội sống sót, bị đá rơi thẳng xuống đầu mà chết. Sắc mặt Cindy rất xấu, cô đứng dậy từ dưới đất, muốn lao xuống đánh thức bà nội theo bản năng, trốn khỏi ngọn hải đăng.

Nhưng giây tiếp theo, động tác của cô dừng lại. Bởi vì có một âm thanh vang lên phía trên đầu cô, đó là tiếng bước chân. Bức tường bên ngoài của ngọn hải đăng phẳng lì thẳng đứng, không có những chiếc thang sắt treo bên ngoài để di chuyển như tháp nước trong thành phố. Đặc biệt với đỉnh tháp nhọn này, đừng nói là người, ngay cả chim cũng không có nơi để đặt chân lên.

Vấn đề quan trọng là Cindy nhớ được bước chân này, cô đã nghe thấy chúng trong giấc mơ.

Cindy nín thở nhìn Johnson bước vào tòa tháp… Như đang bước trên một cầu thang vô hình, y đi vòng nửa vòng từ đỉnh tháp rồi thong thả bước qua cửa sổ, động tác dễ dàng như bước qua cửa một cửa hàng.

Khi Johnson sử dụng ngoại hình của con người, mọi hành vi đều tuân theo những quy ước của thế kỷ 19. Y cởi mũ ra, sau đó phát hiện mặt Cindy lấm bụi, áo bị rách một lỗ thì dời mắt đi.

Cindy vô thức đưa tay chạm vào thì phát hiện ở đó có vết thương khá nông, có lẽ do lúc đứng dậy quá vội, bị mép ván cào xước. Cô vén tóc che đi lỗ rách trên vai, sau đó cô cũng không quan tâm lắm, trước mắt còn có chuyện quan trọng hơn.

“Xin chào, thưa ngài.”

Cindy cố gắng hết sức để tỏ ra bình tĩnh, nhưng đôi mắt cô cứ vô thức liếc nhìn quả đạn đại bác vẫn đang quay tại chỗ ở bên cạnh. Nỗi sợ hãi khi vừa thoát khỏi cái chết hiện rõ trong mắt cô. Thực ra, bên cạnh nỗi sợ hãi, còn có sự tức giận nhiều hơn.

“Cô biết cái này?”

Johnson vừa phát hiện ra quả đạn đại bác là vội vàng tới đây ngay, suy cho cùng, thám tử thông minh và dễ sử dụng là tài nguyên quý hiếm, chết một người là mất một người. Mặc dù có John, Hans và Juan trong danh sách tùy chọn, nhưng Juan nhát gan, Hans bận rộn suốt ngày với các sự kiện huyền bí, và John không còn trẻ nữa.

Bãi cát lún bên ngoài cung điện nham thạch chỉ có thể “bắt” ngư lôi chứ không thể bắt được đạn đại bác bắn từ trên không. Nổ mất một ngọn hải đăng thì không đáng ngại, nhưng nếu nó sụp xuống và làm hỏng cấu trúc bề mặt của đảo Sable thì sao? Không thể mạo hiểm!

Johnson nhìn Cindy, nói thẳng: “Có mấy con tàu từ ngoài đảo đến, nói theo kiểu của con người, chúng là t** ch**n.”

“…”

Cindy im lặng. Khi nhìn thấy quả đạn đại bác xuất hiện, cô đã có cảm giác nghi ngờ rồi. Sự khác biệt duy nhất là thứ này do tàu b*n r* hay do máy bay thả xuống. Nhưng xét theo tư thế của quả đạn đại bác, trông như một chiếc máy khoan điện đang chạy không tải tại chỗ…

Cindy siết chặt những ngón tay đang buông thõng, cơn tức giận trong lòng sắp biến thành ngọn lửa, đốt cháy hết lý trí của cô. Dù là ai, khi biết rằng chẳng những không chờ được hãng tàu hay chính phủ giải cứu, mà còn bị đẩy thẳng xuống địa ngục, bị tiêu diệt cùng với lũ quái vật trên đảo, họ cũng rất khó để kiềm chế cảm xúc của mình.

Đặc biệt đối với Cindy và bà Fresnel, đạn đại bác là bóng ma tâm lý rất lớn, hồi đó họ khó khăn biết bao nhiêu mới có thể sống sót dưới các cuộc không kích trong chiến tranh, nhưng ngày hôm nay họ suýt nữa phải quay trở lại vòng luân hồi của số phận. Chết trong vụ đánh bom, thi thể bị chôn vùi trong đống đổ nát. Cindy đã nhìn thấy những xác chết như vậy mỗi khi đống đổ nát được đào lên. Đôi khi cháy đen như những bức tượng đá thô ráp; đôi khi nó trông giống một ma-nơ-canh bằng nhựa bị ném ra từ một cửa hàng bách hóa, với bàn tay đã gãy màu trắng xám, làm sao cũng không gom lại cơ thể hoàn chỉnh.

Cindy cố nén cảm giác buồn nôn. Cô nhắm mắt hít một hơi thật sâu, sau đó buộc mình phải mở mắt lần nữa, nhìn thẳng vào quả đạn đại bác giữa không trung, khàn giọng hỏi: “Thưa ngài, cho hỏi ngài có thấy lá cờ treo trên tàu không?”

Johnson liếc nhìn về phía xa. Một làn sương mù bên ngoài ngọn hải đăng trôi vào, bắt đầu biến hình trước mắt Cindy. Không có màu sắc, nó chỉ “thể hiện nguyên vẹn” hình dáng của lá cờ.

“Là người Mỹ.”

Cindy hơi ngạc nhiên, nhưng không quá ngạc nhiên. Nơi này gần với châu Mỹ, cho dù có nhận được báo cáo bất thường ở đây, t** ch**n của Anh cũng không thể đến kịp. Canada mặc dù là thành viên của Khối thịnh vượng chung, nhưng thực sự thì quân đội nước này không đông đảo cho lắm.

“Người Mỹ có biết chuyện gì đã xảy ra trên hòn đảo này không?” Cindy lại hít một hơi thật sâu.

Johnson dùng cây gậy batoong khảm sapphire chỉ xuống mặt đất, nói đầy ám chỉ: “Sự thật về hòn đảo này không liên quan gì đến con người, con người không cần biết rốt cuộc chuyện gì đã xảy ra ở đây.” Y nhìn Cindy, giọng điệu bình tĩnh và vẻ mặt ôn hòa. “Nhưng ta nghĩ ý cô đang nói đến những con chim đột biến. Sương mù dày đặc che khuất tầm mắt của con người, chặn tất cả các phương tiện liên lạc trên đảo, họ không thể nhìn thấy những gì đang xảy ra trên đảo, chỉ có thể dựa vào suy đoán.”

“Suy đoán? Đây chẳng phải là lần đầu tiên sao…” Cindy lập tức nhớ đến Sự kiện sương khói khổng lồ ở Luân Đôn năm 1952, rồi nghĩ đến đủ những câu chuyện kỳ lạ ở nông thôn. Mặc dù về mặt lý trí, cô biết rằng hầu hết những điều này là bịa đặt, nhưng nếu chỉ có 10%, không, một nửa trong số đó là sự thật! Thế giới này có thể nói là đẫm máu và hỗn loạn biết bao!

“Trên tàu có người hiểu về huyền bí học, ta không biết họ từ đâu đến, nhưng họ thấy đảo Sable bị sương mù dày đặc bao phủ nên biết ở đây đang có sự kiện huyền bí chưa biết tới.” Johnson mô tả bằng ngôn từ dễ hiểu: “Trước đó, con tàu cũng đã bắn vài ngư lôi.”

Đây hoàn toàn là cách đối phó với những nguy cơ tiềm ẩn, họ lo sợ quái vật chạy ra khỏi đảo Sable.

Cindy gần như nghẹt thở. Kể từ khi tàu Elizabeth va vào đá ngầm, mỗi khi cô nghĩ rằng tình hình đã tồi tệ lắm rồi, thì thực tế lại cho cô thêm một cái tát, nói với cô rằng mọi thứ có thể trở nên tồi tệ hơn. Chuyến tham quan xui xẻo này là cái quái gì vậy?

“Xin lỗi, nhưng… nếu bọn họ biết ở đây có một di tích cung điện có giá trị, liệu bọn họ có lựa chọn thay đổi ý định không?” Cindy không nhịn được hỏi.

Johnson gật đầu, sau đó lại lắc đầu. Học giả huyền bí học háo hức khám phá bất kỳ tàn tích nào của tà thần, nếu họ biết rằng trên đảo chỉ có một đàn chim khổng lồ và một con ốc sên, họ có thể sẽ từ bỏ kế hoạch đánh bom hòn đảo. Nhưng hòn đảo này thì không thể giao cho con người được. Ngày xưa con người không có khả năng vào cung điện nham thạch, làm vậy cũng chỉ tạo thêm xác tàu đắm trong cát lún, nhưng bây giờ… Con người không còn như xưa nữa, cung điện nham thạch huy hoàng một thời cũng đã bị hủy hoại.

“Mọi chuyện sẽ được giải quyết, cô cũng sẽ nhận được thù lao của mình. Hãy nhớ rằng, đừng bao giờ nhìn ra ngoài, quay lại ngọn hải đăng đi.”

Johnson nâng vành mũ, bước ra khỏi ngọn hải đăng, bóng dáng y biến mất trong màn sương.

Cindy nhìn quả đạn đại bác, rồi từng bước lùi vào cầu thang.

Lúc này, quả đạn đại bác đột nhiên rẽ sang một góc, như bị một lực vô hình đẩy ra, lại phát ra một tiếng rít chói tai đáng ngại, chạy ngược về nơi nó được bắn tới.

***

Một cái bóng khổng lồ bao phủ trên đảo Chết Chóc.

Những quả đạn đại bác lần lượt văng ra đột ngột, như đậu Hà Lan trong vỏ, một số phát nổ thành pháo hoa giữa không trung, một số bay trở lại t** ch**n.

Johnson đi tới phía trước hòn đảo, nhìn những con tàu đang bốc cháy, cùng tình hình hỗn loạn ở đó.

Chim khổng lồ vỗ cánh phành phạch, trôi nổi trên mặt nước biển, cơ thể nặng nề khiến chúng không thể bơi linh hoạt như các loài chim biển thông thường. Trên thực tế, những con chim này cũng bối rối. Một giây trước chúng đang đi theo con người trên đảo hoang, cố gắng săn mồi, giây tiếp theo chúng lại xuất hiện dưới biển? Chúng nghe thấy tiếng tàu, nhìn thấy con người đang la hét, liền hào hứng tiếp cận các con tàu với ánh mắt thèm thuồng.

“Anh không định ném con ốc sên khổng lồ đó ra ngoài à?” Johnson nghi ngờ hỏi.

“Vỏ của nó có thể che đi các vết nứt. Để ngăn nó chết đói, ta đã biến nó thành một tác phẩm điêu khắc bằng đá.” Gymir trả lời.

Johnson nhìn lại, không chỉ con ốc sên khổng lồ mà cả những người sống sót trên tàu Elizabeth cũng đang trong tư thế đóng băng, thể hiện trạng thái thời gian ngừng trôi.

“Khi đến đúng nơi, chúng ta sẽ đuổi những người này đi.”

Cái bóng chìm xuống, như một cơn bão kinh hoàng chợt hình thành một cái “đuôi” chạm đất. Nhưng đây không phải là một cơn lốc xoáy. Luồng không khí xoắn ốc hướng xuống này chỉ đơn giản là “cuốn” Johnson lên, để y chìm trong vòng tay của cái bóng.

Cái bóng đang bao trùm hòn đảo thốt ra lời thì thầm không thể miêu tả, nhưng đối với Johnson, đó chỉ là lời than phiền của người yêu.

“Phiền chết đi được, hòn đảo này đã mất khả năng di chuyển, ta còn phải đẩy nó.”

Để duy trì sự toàn vẹn của cảnh quan cát lún trên đảo Chết Chóc, không thể đưa nó vào một không gian khác như một chiếc thuyền buồm.

Gymir chỉ có thể chọn cách…

Khiêng cả hòn đảo đi.
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 106


<b>Chương 106</b>

<b>Truyền thuyết mới</b>

Chuyện xảy ra tiếp theo đối với tà thần rất đơn giản nhưng trong mắt Cindy lại quá đỗi viển vông.

Đảo Sable không ngừng lắc lư, chấn động.

Bà Fresnel giật mình tỉnh dậy nhưng không nghĩ đó là thiên tai, mà cho rằng mình gặp ác mộng. Họ vẫn còn ở trên tàu, mà con tàu chỉ đang gặp phải một cơn bão lớn trên biển, sóng gió dữ dội làm tài rung chuyển.

Cindy cẩn thận giải thích, rồi cô nhận ra có điều gì đó không ổn, trí nhớ của bà Fresnel đã bị lẫn lộn. Dù là cát lún hay chim khổng lồ, bà đều cần Cindy nhắc nhở nhiều lần trước khi nhớ ra được.

Cindy kinh hoàng phát hiện ra rằng bà nội của mình bắt đầu bị sốt. Mặc dù trong hộp thuốc nhỏ cô mang theo có thuốc, nhưng ở đây không có nước ngọt, chỉ có rượu do “quỷ dữ” để lại. Cindy bám vào tường trèo qua, tìm kiếm hồi lâu mới tìm thấy một chai rượu trắng nồng độ cồn thấp. Cô đưa cho bà Fresnel uống vài ngụm, nhưng cảm thấy đây không phải là giải pháp. Nhưng bên ngoài ngọn hải đăng tối đen như mực, âm thanh ầm ầm khủng khiếp thật bất thường. Cindy không có nơi nào để kêu cứu, chỉ có thể ôm bà Fresnel đang ngủ say rúc vào góc dưới chân tháp.

Chẳng bao lâu sau, Cindy rơi vào trạng thái nửa mơ nửa tỉnh.

***

Cát và đá trên đảo Sable bay tứ tung. Đây không phải là một tính từ tượng hình, mà cát vàng thực sự đang bay trong không trung, như một cơn bão cát trên sa mạc.

Những dây leo màu đen quấn quanh ngọn hải đăng như một mạng nhện khổng lồ kỳ lạ, dây leo mềm mại, uyển chuyển có một vẻ đẹp dị thường (không phải ngọn hải đăng nơi Cindy đang ẩn náu, vì hai đầu trái và phải đảo Sable đều có hải đăng). Bên ngoài ngọn hải đăng có thêm một lớp “đeo bám” như thế này khiến nó trông như lâu đài nơi ác quỷ sống trong những bức tranh địa ngục, chỉ còn thiếu một vầng trăng máu và đầm lầy bùn dưới tháp. Nếu ai đó không may nhìn thấy khung cảnh này, họ sẽ thêm một chút màu sắc cho nó bằng chính máu thịt của mình.

Những dây leo đang di chuyển. Dây leo thò vào trong cơn bão cát như đang mò mẫm thứ gì đó.

Rất nhanh sau đó, cái “lưới” này đã bắt được một chiếc thuyền. Đó là một chiếc thuyền buồm rách nát, với một cái xác mắc kẹt giữa các lan can của boong thuyền, quần áo và phụ kiện trông giống như của một tên cướp biển thế kỷ 17. Dây leo không mấy hứng thú, đẩy con thuyền trở vào trong bão cát. Chiếc thuyền nhanh chóng chìm xuống, biến mất trong vòng chưa đầy mười giây.

Chẳng bao lâu, con tàu thứ hai được vớt lên. Đó là một chiếc tàu hơi nước có mái chèo với vỏ bằng sắt, bánh xe bị rỉ sét. Khi Johnson nhấc tàu lên, bánh xe lập tức long ra, suýt chút nữa thì phá hủy ngọn hải đăng, cũng may là dây leo phản ứng đủ nhanh, kịp thời túm lấy những linh kiện bị gãy này. Thứ có dạng thùng tròn này hình như là lò nung của động cơ hơi nước? Những dây leo thô dày hơn thì xách con tàu, trong khi những dây leo mảnh hơn bắt lấy những vật thể rơi xuống, cố gắng gắn chúng lại với nhau. Nhưng không thành công. Thôi bỏ đi, cả thuyền và linh kiện bị ném trở lại cơn bão cát.

Tiếp tục trục vớt, thu được nửa thùng tiền vàng, nửa thùng rượu rum, cùng vô số bộ xương… Johnson không lấy cái nào cả, cứ thế vừa vớt vừa ném cho đến khi tàu Elizabeth “nổi lên khỏi mặt nước”. Dây leo thò vào trong khoang thuyền, lôi xác một con chim khổng lồ ra, lắc lắc. Con tàu chứa đầy cát, hầu hết đồ đạc bên trong vẫn còn nguyên vẹn, một vài vật dụng nhẹ và xác chết đã bị cát lún cuốn đi.

“Có bao nhiêu con chim khổng lồ chết trên tàu?”

Johnson vừa nhìn con tàu vừa tìm kiếm. Thân của một con chim khổng lồ bị mắc kẹt, dính cứng trong khoang tàu, nếu kéo mạnh, thân tàu có thể bị hỏng. Johnson suy nghĩ một chút, quyết định để lại cái xác này trên thuyền, nếu không những người sống sót như Cindy sẽ không thể giải thích được việc có nhiều người chết trên thuyền. Tất nhiên, ngoài Cindy, ký ức của những người khác sẽ trở nên mờ nhạt.

“Tìm thấy rồi? Cả thuyền và con người đều ném lại, đi thôi.” Cái bóng bao trùm trên bầu trời đảo Sable thúc giục dây leo.

“Chờ một chút, đây là nơi nào?” Johnson suy nghĩ nhiều hơn Gymir một chút, y biết về sự khác biệt giữa các quốc gia. Với đà tiến của những con tàu trước đó, không chừng vừa phát hiện ra tàu Elizabeth là người ta sẽ bắn con tàu nổ tung ngay lập tức. Muốn ném cũng phải chọn nơi đấy.

***

Cindy nghe thấy tiếng hát khi đang ngủ mê man.

Một âm thanh đẹp đẽ đầy cám dỗ chết chóc.

Cô vùng vẫy trong tuyệt vọng, chợt tỉnh dậy và thấy mình nằm trên mặt đất, những viên đá sắc nhọn cứa vào lòng bàn tay cô.

Đằng trước là bóng dáng run rẩy của bà Fresnel, bà bước đi với vẻ mặt tê dại, như thể đang bị điều gì đó thao túng.

“Bà nội!” Cindy đứng dậy đi ngăn bà lại. Nhưng cô không thể đánh thức bà Fresnel, mà còn bị kéo ra ngoài.

Một bóng đen xuất hiện trước làn sương mù dày đặc.

Cindy hoảng hốt ôm lấy bà Fresnel, ngay lúc này, cô nghe thấy một tiếng ho nhẹ.

“Đừng nóng ruột, đây là thù lao của cô.”

Cindy ngơ ngác nhìn lên, thấy Johnson đang đứng trước mặt cô.

“Chiếc mũ sẽ xuất hiện trên bàn của cô sau khi cô đến nơi an toàn, bây giờ đã đến lúc cô phải rời khỏi đảo Chết Chóc, còn đầu đuôi câu chuyện về vụ đắm tàu này… ta nghĩ cô sẽ biết cách nói như thế nào để bảo vệ mình và bà lão này.” Johnson làm dấu tay im lặng, sương mù dày đặc phía sau tự động tan đi.

Cindy kinh ngạc nhìn bóng đen trước mắt lộ ra bộ mặt thật.

Là tàu Elizabeth!

Xét theo biểu hiện của Johnson, có vẻ như việc một con tàu xuất hiện ngay chính giữa hòn đảo là điều bình thường.

Cindy đỡ bà Fresnel đang mơ màng đi vài bước, bất ngờ nhìn thấy vài người sống sót với bề ngoài nhếch nhác đang đờ đẫn leo lên cầu thang của tàu. Trong đó có cả một vị giáo sư già dù cố gắng thế nào cũng không thể trèo lên được, chỉ có thể quơ tay lên trời.

Cindy: “…”

Johnson: “…”

Johnson dường như khẽ gọi một cái tên.

Cindy không nghe thấy rõ, chỉ nhìn thấy vị giáo sư già bay lên không trung và trượt xuống khoang thuyền.

“Không, tôi tự leo được, tôi và bà nội đều lên được.” Cindy sợ hết hồn, từ chối lời đề nghị trải nghiệm leo thuyền một lần là thành công của tà thần.

Johnson lùi lại một bước, tránh đường cho cô.

“Cô sẽ cập bến khi cơn bão dịu đi.”

Cindy dừng lại, vẻ mặt phức tạp: “Cho hỏi tôi vừa nghe được… tiếng hát huyền thoại của Siren phải không?”

Vẻ mặt bình tĩnh của Johnson thay đổi, y dường như đang mỉm cười hoặc đang nhớ lại điều gì đó mà mình yêu thích.

“Đúng vậy.” Johnson đưa tay nâng vành mũ lên rồi biến mất tại chỗ.

Giông tố gào thét quanh đảo Sable, tựa như xứ sở ma quỷ trong truyền thuyết.

Vùng biển nó đi qua đầy sóng gió.

Một lúc lâu sau, mặt trời mới quay trở lại chiếu sáng mặt biển.

Một con tàu rách nát dường như bị cơn bão bỏ rơi ở đây.

***

Tháng 8 năm 1959.

Tàu Elizabeth đã mất tích 5 ngày được tìm thấy gần quần đảo Bermuda*.

<i>* Bermuda (trong lịch sử được gọi là Bermudas hoặc Quần đảo Somers) là một Lãnh thổ hải ngoại thuộc Anh ở Bắc Đại Tây Dương.</i>

Người ta nói rằng con tàu đã đi vào vùng biển Canada trước khi biến mất, nhưng khi được tìm thấy một lần nữa, nó đã đi chệch hướng hàng nghìn hải lý, mắc kẹt gần một hòn đảo trong tình trạng rách nát tả tơi. Có người nói họ gặp phải một cơn bão, người khác lại bảo họ bị người ngoài hành tinh bắt cóc, nhưng điều thú vị hơn cả là vị trí con tàu được tìm thấy.

Bermuda là nơi lưu truyền vô số câu chuyện phi lý kể từ thế kỷ 19. Vụ tai nạn của tàu Elizabeth một lần nữa tăng thêm cảm giác huyền bí cho địa điểm huyền thoại này. Nhiều người khi nghe đến cái tên Bermuda đều cho rằng rất hợp lý. Họ không buồn đi sâu tìm hiểu lý do, mà thay vào đó là hào hứng cầm tờ báo lên để đọc cuộc phỏng vấn của phóng viên với một thuyền viên may mắn sống sót.

Thuyền viên này là lái chính của tàu Elizabeth.

“…Chuyện xảy ra rất đột ngột. Thiết bị đột nhiên hỏng, sau đó vùng biển xung quanh bị bao phủ trong sương mù dày đặc. Khoảng nửa giờ sau, con tàu mất lái, chắc hẳn đã gặp phải một dòng nước ngầm kỳ lạ nào đó. Các hành khách rất hoảng loạn, họ chen chúc lên boong thuyền, không chịu quay lại dù chúng tôi cố gắng thuyết phục đến đâu. Tôi nghĩ đó là lúc vụ thương vong đầu tiên xảy ra. Cái gì? Tôi không chắc chắn, vâng, đầu tôi bị thương, lại có vết rách lớn như thế này này, nên trí nhớ của tôi rất hỗn loạn.”

Những người đọc báo giải trí sẽ cau mày mắng phóng viên khi đọc đến đây, tại sao lại đi tìm một kẻ ngốc như vậy mà phỏng vấn?

“Tên lái chính này đang nói dối, quá rõ ràng mà! Trên con tàu này có hơn ba trăm người tính cả thuyền viên hành khách, khi được phát hiện, chỉ còn lại bảy người sống sót! Ai biết được chuyện gì đã xảy ra trên tàu?”

“Ôi Chúa ơi, ý anh là… có tội ác sao? Mọi người đang giết nhau à?”

“Không phải chuyện này chưa từng xảy ra trước đây. Những chuyến đi biển thảm họa, người ta giành giật thức ăn và nước uống…”

Trong quán cà phê, một người biết nhiều tin tức đã đứng ra chỉ trích suy đoán này. Bởi khi tàu Elizabeth được tìm thấy, thân tàu chỉ bị thủng một lỗ lớn, còn kho chứa vẫn nguyên vẹn.

“Còn rất nhiều đồ ăn thức uống dư lại, thuyền vẫn chưa đầy người, người ta không chuẩn bị đồ ăn theo đúng số người và ngày tháng cho những chuyến đi biển đường dài đâu, họ luôn tính đến việc chậm trễ do bão hoặc các tình huống bất ngờ khác. Vì vậy, trên tàu Elizabeth có đủ thức ăn để giữ cho ba trăm người sống sót trong một tuần nữa, trong khi họ chỉ mất tích có năm ngày.”

Không cần thiết phải giết nhau vì tranh giành thức ăn và nước uống.

Tờ báo bị mắng đã nhanh chóng đăng một bài báo tiếp theo. Tám người sống sót được cho là có các triệu chứng như điên loạn, mất trí nhớ, vì lái chính là nhân viên của hãng tàu, bản thân ông ta phải gánh những trách nhiệm nhất định nên phóng viên mới có cơ hội phỏng vấn.

Tuy nhiên, các phóng viên báo lá cải của Anh thì có thể vứt bỏ đạo đức, họ cứ như ruồi nhặng, có thể ngửi thấy bất kỳ dấu vết nào của điều gì đó bất thường.

<i>“Bên trong tàu Elizabeth đầy xác chết”:</i> Đây là một bài mô tả rất đẫm máu. Người ta nói rằng các cabin và hành lang chứa đầy những tay chân bị cụt. Điều này đã được các thành viên của đội cứu hộ tiết lộ. Toàn bộ đội cứu hộ đều gặp nhiều vấn đề tâm lý khác nhau, cùng được đưa đến bệnh viện.

<i>“Những người sống sót nói rằng sinh vật thời tiền sử đã tấn công con tàu”: </i>Dưới đây là một số hình ảnh bị mờ, có dấu vết trông như bị móng vuốt cào hư hại trên tường. Một xác chết trông rất giống một con khủng long, nó có thân hình vạm vỡ, cao hơn một cánh cửa, trên người dường như có một lớp lông vũ màu đen. Một số nhà khoa học đã đứng ra phủ nhận rằng đây không phải là khủng long mà là xác đà điểu với đạo cụ giả (móng vuốt và mỏ sắc nhọn).

<i>“Tàu bị kéo đi, chính phủ đã phong tỏa tin tức”: </i>Bài báo này tiết lộ rằng vào ngày xảy ra vụ việc có t** ch**n xuất hiện ở vùng biển này, vụ đắm tàu không phải là thiên tai mà bị ảnh hưởng bởi một trận chiến quy mô nhỏ chưa được tiết lộ.

Kẻ thù của Cờ sọc sao là ai?

“…Đúng, chính là đất nước đó. Họ đã phát triển thành công tàu ngầm hạt nhân vào năm ngoái… Chắc chắn đúng, tàu ngầm vượt qua Bắc Cực, lẻn vào vùng biển châu Mỹ, nhưng bị người Mỹ phát hiện, một trận chiến lớn đã nổ ra giữa hai bên tại vùng biển này. Tàu Elizabeth chỉ là một kẻ xui xẻo đi ngang qua mà thôi.”

Những tiêu đề giật gân treo trên trang nhất của các tờ báo, và những đứa trẻ bán báo lại chạy loanh quanh trong đám đông.

Từ quán cà phê đầu phố đến bến xe, rồi đến phòng khách của những ngôi nhà trong thành phố, người ta thản nhiên nhặt báo lên, lấy vấn đề này làm đề tài buôn chuyện.





“Thưa ông, tiền thừa của ông.”

Người bán báo và bản đồ trên đường không nhịn được đánh giá Johnson, rõ ràng cảm thấy kỳ lạ khi nhìn thấy kiểu ăn mặc chỉ dành cho những bữa tối hoành tráng của giới thượng lưu vào ban ngày. Nhưng, có lẽ là một diễn viên? Đánh giá từ vẻ bề ngoài thì chắc là vậy! Người bán hàng nhanh chóng chuyển sang người mua tiếp theo, hình ảnh của Johnson mờ dần trong tâm trí anh ta.

Johnson có thể đọc hết tờ báo trong vài giây, y mua nó chỉ vì người bán hàng cứ nhìn chằm chằm vào mình. Y đang dạo quanh thành phố, dường như có thể nghe thấy mọi người nói về việc này ở khắp mọi nơi.

Tàu Elizabeth.

Điều này là không thể trước đây.

Một sự kiện huyền bí không rõ ràng, diễn ra một cách âm thầm, dù có ồn ào đến đâu và có bao nhiêu người chết thì cũng sẽ sớm lắng xuống. Những người sống sót sẽ quên đi những gì đã xảy ra, cố gắng tìm ra lời giải thích hợp lý. Học giả huyền bí học và những tín đồ tà giáo sẽ đến sau khi biết tin, nhưng chỉ là để tranh giành sức mạnh chứ không phải công khai sự việc. Trên thế giới này có rất nhiều người chết đi mỗi ngày, con người sống đã không dễ dàng gì rồi, sao họ có thể quan tâm đến một thảm họa xảy ra ở một nơi mà họ chưa từng nghe nói đến?

Thế nhưng…

Nghe vô số giọng nói thảo luận về tàu Elizabeth với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau, Johnson cuối cùng cũng ý thức được.

Thế giới đã thay đổi.

Sự thay đổi này không phải về việc tàu của con người đã trở nên kiên cố như thế nào, hỏa lực đã tăng lên bao nhiêu (xét cho cùng, trong mắt tà thần, sự chênh lệch giữa sức chiến đấu 0,5 và 5 không lớn lắm), không phải là chiếc “tai nghe” và những tiện ích mới lạ khác mà Cindy nhắc đến, cũng không phải là sự thay đổi ở trang phục của con người, mà là một thứ vô hình nào đó, một thứ Johnson tạm thời không thể hiểu được.

Dường như trong mắt con người, hành tinh này bỗng trở nên nhỏ bé hơn.

Đàn kiến bắt đầu nhìn ra những thứ bên ngoài tổ của mình.
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 107: Phần 8: Trăng Máu Năm 1959, Mặt Trăng


<b>Chương 107</b>

<b>Một bức điện khẩn</b>

“Rẹt… tin vui làm lòng người rạo rực đây, máy thăm dò mặt trăng số 3 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, nó đã chụp được bức ảnh mặt sau của mặt trăng… Đây là hình ảnh mà con người chưa từng được thấy…” Radio đang phát chương trình phát sóng tiếng Nga với giọng điệu vô cùng sôi nổi xen lẫn từng đợt nhiễu sóng nặng.

Một đĩa bánh mì phết bơ được đặt phịch một cái trên bàn, đánh thức chàng trai đang nghe radio.

“Thuyền trưởng?” Cậu thanh niên vội đứng dậy.

“Nên đổi xách xưng hô đi, bây giờ chúng ta không còn thuyền nữa, chiếc thuyền đánh cá chúng ta thuê mùa này cũng phải trả lại, bão tuyết sắp đến, không thích hợp để ra khơi nữa.”

Hans Fisher chủ động lấy chai rượu từ trong tủ ra. Ông vừa mới cạo râu, trông trẻ hơn bình thường nhiều. Gió lạnh ngoài cửa sổ cuốn theo những bông tuyết đập vào kính, Hans nhìn qua rồi kéo lớp lông dày chống gió lên để che đi những khe hở của cửa ra vào và cửa sổ. Căn phòng không rộng rãi, Hans phải hơi cúi đầu mới bước đi được, nếu không đầu sẽ đập vào mái nhà. Ngọn lửa cháy hừng hực trong lò in bóng dáng cao lớn của Hans lên tường, trông như một con gấu Bắc Cực đang kiếm ăn.

Người ngồi bên bếp lửa sưởi ấm cười ha ha.

“Thôi được, đội trưởng, chúng tôi luôn lo lắng rằng anh có thể vô tình bị thợ săn bắn phải khi ra ngoài trong thời tiết như thế này.”

Có ba người trong phòng. Hans, học giả huyền bí học sợ lạnh, và cậu thanh niên gầy yếu đang vọc radio. Cậu thanh niên tên Tom, cậu ta có đôi bàn tay rất khéo léo, thích cải tạo mọi thứ, thường nghĩ ra những điều mới mẻ cùng học giả huyền bí học trong nhóm.

“Hôm nay có nghe thấy đài nào thú vị không?” Hans kéo ghế ra, ngồi xuống và múc cho mình một tô khoai tây hầm.

“Không, có điều…” Học giả huyền bí học William nhún vai, xòe tay nói: “Người Nga muốn lên mặt trăng.”

“Người Mỹ cũng muốn đấy.” Tom cầm bánh mì lên nhúng vào nước súp đặc, vừa nói vừa cắn.

Đây là trận đấu giữa hai nước lớn. Chỉ sử dụng trái đất làm địa điểm thi đấu không còn làm họ hài lòng nữa, thế là kế hoạch không gian đã được đưa vào chương trình nghị sự. Nếu là một người bình thường, chắc chắn anh ta sẽ có niềm yêu thích đặc biệt với tên lửa, vệ tinh nhân tạo, máy thăm dò mặt trăng, mong rằng ngày con người đặt chân lên mặt trăng sẽ đến thật sớm. Thám tử chuyên điều tra sự kiện huyền bí thì không thoải mái như thế. Biết quá nhiều là một gánh nặng, cũng là một lời nguyền.

“Tôi xem qua sách cổ, hỏi tất cả <i>bạn bè</i> mà tôi có thể liên lạc.” Học giả huyền bí học William nghiêm túc nói: “Họ đều nói có tà thần ngủ trên mặt trăng.”

Hans nhai càng lúc càng chậm.

Tom lặng lẽ di chuyển vị trí của mình, rụt cổ vào gặm bánh mì.

Sau vài phút im lặng, Hans đột nhiên hỏi: “Các cậu nghĩ có thể là ai?”

“Ờ, tà thần đó sao? Ghi chép rất mơ hồ, có đủ loại giả thiết, nếu muốn nói phản ứng đầu tiên… tôi đoán trên mặt trăng phải là thần Trí tuệ Thoth.”

Nghe được câu trả lời của học giả William, Tom nháy mắt, bắt đầu cười thầm. Thần Trí tuệ Thoth? Quả nhiên là đáp án chuẩn mực của học giả huyền bí học!

Mặc dù tà thần này mang đến vô số tai họa nhưng kiến thức mà gã mang lại cũng khiến vô số người phát điên. Ngay cả khi những ghi chép về việc con người thành công nhận được “ân huệ” cũng có ở Ai Cập cổ đại và Hy Lạp cổ đại, nhưng học giả huyền bí học hiện đại vẫn sẽ đặt thần trí tuệ Thoth lên hàng đầu, dù có điên cũng khó có thể kiểm soát được niềm khao khát này. Nói cách khác, phát điên là kết cục có thể đoán trước được của hầu hết học giả huyền bí học, mà nếu đã vậy, sao lại không chọn sức mạnh mà mình mong muốn?

“Thoth… Biểu tượng của Thoth là trăng non, và trong số các tà thần, Thoth cũng sẵn sàng nói chuyện với những kẻ hèn mọn hơn mình.”

“Không, William, kỳ thực có rất nhiều tà thần mang biểu tượng mặt trăng.” Hans nghiêm túc nói.

Nghi lễ mời tà thần giáng lâm và sự kiện huyền bí thường diễn ra vào ban đêm, gắn liền với tai họa, chết chóc, loạn lạc, nếu “mặt trăng” thực sự được sử dụng để sàng lọc, Hans – người quen thuộc với sách cổ của giáo phái Màu Xám – có thể kể tên hơn chục tà thần một lượt. Trong đó có thần cổ xưa, cũng có thần mới. Tất nhiên có cả vị mà Hans rất quen thuộc… thần Biển Gymir.

Hans xoa xoa lông mày, gạt vị tà thần khó lòng miêu tả đó ra sau đầu, rồi quay lại vấn đề nghiêm trọng trước mắt. Chắc chắn họ không thể làm gì để ngăn cản các nhà khoa học của hai đất nước kia khám phá mặt trăng. Không nhiều người biết đến sự tồn tại của đội họ, và người có ảnh hưởng nhất hiện nay có lẽ là chính phủ Anh. Điều này cũng là do Sự kiện sương khói khổng lồ ở Luân Đôn năm 1952 và những ảnh hưởng tiêu cực kéo theo sau đó.

“Máy thăm dò mặt trăng chỉ chụp vài tấm ảnh thôi, sẽ không có chuyện gì đâu, tà thần không dễ tỉnh ngủ đến vậy.” Là học giả huyền bí học trong đội, William cũng kiêm nhiệm thư ký, anh ta chủ động an ủi Hans, sẵn đó yêu cầu đội trưởng lo liệu công việc. “Hôm qua tôi nhận được một bức điện khác từ Luân Đôn, yêu cầu chúng ta tới quần đảo Bermuda để điều tra vụ việc tàu Elizabeth xảy ra cách đây hơn một tháng.”

“Ủa? Tôi chưa từ chối vụ này sao?” Hans nghi ngờ hỏi.

Tom ngồi bên cạnh loay hoay với chiếc radio, lẩm bẩm: “Đúng thế, nghe nói chính phủ Anh đã thuê rất nhiều người để giám định dấu vết.”

Có xác của một sinh vật đột biến trên tàu. Thứ này là báu vật quý giá của mọi giáo phái bí mật, Hans không có hứng thú cạnh tranh với các “đồng nghiệp” của mình, ông đã chọn con đường khác từ nhiều năm về trước.

“…Chú còn chưa biết phải không? Đội trưởng, đảo Sable mất tích rồi!” Tom làm một cử chỉ cường điệu, cố tình hạ giọng: “Tin tức này đã bị che giấu từ lâu, nhưng gần đây nó mới bị lộ ra ngoài. Người Mỹ sắp lật tung cả vùng biển đó lên rồi mà vẫn không tìm thấy hòn đảo đang di chuyển đó. Không có gì dưới đáy biển, không có gì trên không trung cả! Người Mỹ đã đuổi theo nó đến tận quần đảo Bermuda, giờ thì đang đòi xác tàu Elizabeth.”

Hans không quan tâm đến chủ đề này. Ông biết chính phủ Anh cuối cùng sẽ buông tay, và sau đó sẽ có sự trao đổi lợi ích. Ông không có hứng thú trở thành con bài mặc cả trên bàn cược của các chính trị gia. Hans mở chai whisky, im lặng lắng nghe cuộc thảo luận sôi nổi giữa hai thành viên trong nhóm.

“Nghe nói ngày hôm đó quân Mỹ bị tổn thất nặng nề lắm, có một chiếc tàu bị chìm.”

“Bọn họ muốn lấy được manh mối từ những người sống sót trên tàu Elizabeth, những người này đã được chính phủ Anh sắp xếp chữa trị, họ không thể nhúng tay vào.”

“Không phải tất cả những người sống sót đó đều điên sao? Họ không nhớ gì cả!”

“Không, có một vị giáo sư già đã hồi phục tốt, ông ấy kể lại một phần trải nghiệm tương đối hoàn chỉnh, nhưng dường như ông ấy đã tận mắt chứng kiến tàu Elizabeth bị cát lún nuốt chửng, ông ấy trốn thoát lên hòn đảo cùng với những người sống sót khác, gặp phải một con quái vật to bằng một ngôi nhà, rồi bằng cách nào đó mà ông ấy đã quay trở lại tàu.”

Đối với một bác sĩ tâm thần, đây là bằng chứng cho thấy bệnh nhân đang bị ảo giác, nhưng những người như Hans lại không nghĩ vậy, họ biết rằng đó là một mô tả hoàn toàn đúng sự thật. Trong hàng trăm năm, các học giả huyền bí học và các giáo phái đã nhiều lần nghiên cứu về hòn đảo Chết Chóc này, nhưng chỉ có thể khám phá những bí ẩn của nó chứ không thể tiếp cận được sức mạnh của nó. Cuối cùng mọi người đều thống nhất ở đó có một vị tà thần đang ngủ say. Bây giờ thì tà thần tỉnh lại rồi.

“…Có vẻ như bọn họ đang muốn bới móc bí mật của đảo Sable nên để mắt tới khả năng của đội trưởng chúng ta, muốn tìm ra manh mối nào đó trong giấc mơ của những người sống sót đó.”

“Cơ quan bí mật của Mỹ được thành lập khi nào? Kỳ lạ, sao trước đây chưa từng nghe nói đến?”

“Đừng nhắc tới nữa, là do vụ tàu ngầm trôi dạt ở Bắc Cực năm ngoái chứ sao.”

Học giả huyền bí học William với tay lấy chai whisky trên bàn ăn, mỉa mai nói: “Nếu người Mỹ sẵn sàng ra giá thì sẽ có người sẵn sàng bán mạng cho họ. Nhưng tôi nghe nói đó là một nhóm người Salem*.”

<i>* Salem là một thành phố thủ phủ quận Essex trong tiểu bang Massachusetts, Hoa Kỳ. Các phiên tòa xét xử phù thủy Salem là một loạt các phiên điều trần và truy tố những người bị buộc tội là phù thủy ở Massachusetts từ tháng 2 năm 1692 đến tháng 5 năm 1693. Hơn hai trăm người đã bị buộc tội. Ba mươi người đã bị kết tội, mười chín người trong số họ đã bị xử tử bằng cách treo cổ (mười bốn phụ nữ và năm người đàn ông). Một người đàn ông khác đã chết dưới sự tra tấn sau khi từ chối nhận tội, và ít nhất năm người đã chết trong các nhà tù đầy bệnh tật.</i>

“Tín đồ tà giáo?” Hans hơi bất ngờ.

Tom khẽ nói: “Ai chà, chú nghĩ đi là sẽ biết, phương pháp của tín đồ tà giáo là trực tiếp và hiệu quả nhất, đồng thời bọn chúng còn cung cấp cách đạt được sức mạnh dễ dàng và nhanh chóng nhất. Nếu chúng ta đi theo đám tín đồ tà giáo đó vào làm việc cho các chính trị gia thì chắc chắn chúng ta sẽ bị đào thải!”

Phát hiện ra đội trưởng Gấu Nâu đang trừng mắt với mình, Tom ngậm miệng ngay.

Ngọn lửa vẫn cháy đượm trong lò. Hans đặt ly rượu xuống, xử lý đống thư trên bàn. Thư từ khắp nơi trên thế giới gửi về, đều liên quan tới “tồn tại huyền bí”.

“Chúng ta còn bao nhiêu tiền?” Hans buột miệng hỏi.

William lấy sổ tay ra, nghiêm túc nói: “Ban đầu dự định cuối năm là chúng ta sẽ nhận việc, vì năm ngoái ở Bắc Cực tiêu hao quá nhiều, bùa hộ mệnh bị hỏng hết, thậm chí còn phải bồi thường một chiếc thuyền, ngay cả số tiền chính phủ Anh chi trả tiếp theo cũng không đủ bù đắp chi phí lắm đâu. Nhưng hai tháng trước, đội trưởng, anh đột nhiên nhặt được một khoản tiền và một cặp kính ở cạnh gối.”

Hans cau mày, sửa lại: “Là thù lao của tà thần, tôi đã hoàn tất một nhiệm vụ huấn luyện trong giấc mơ.”

“Được rồi, tôi sẽ ghi vào sổ sách như thế.” Giọng điệu của William không hề chân thành chút nào.

Tom thò đầu sang, rồi vặn đi một cách buồn cười để nhìn sổ tay, phát hiện William thực sự viết như vậy. Hiển nhiên, Tom còn nhớ Johnson và Gymir. Cậu ta còn từng làm nhân viên pha chế tạm thời cho hai tà thần này, dù cho “tiếp đãi” không thành công nhưng quả thật là “có quen”.

Cũng nhờ sự xuất hiện của hai tà thần đó, Tom mới phát hiện ra rằng thế giới của Hans Fisher thực chất được chia làm hai phần. Một phần đen tối, đáng sợ và không may mắn, như cái cây mọc bừa bãi trên những chiếc gai mang tên tồn tại huyền bí. Phần còn lại là tia nắng xuyên qua những đám mây, chiếu xuống đống đổ nát phi lý và hỗn loạn này.

Cũng như bây giờ, rõ ràng mọi người vẫn đang nói hai chữ “tà thần”, nhưng tâm trạng và giọng điệu đã hoàn toàn khác trước.

William hỏi tiếp: “Nhân tiện, sáng nay tôi cũng nhận được một tấm séc từ Anh, trong thư có ghi lời cảm ơn nhà trị liệu giấc mơ, tôi nên ghi chép khoản này như thế nào?”

Hans lại cầm ly rượu lên, nói nghèn nghẹt: “Đó là công việc do tà thần giới thiệu, khách hàng là một bà lão, cùng một quý cô. Họ cứ mãi mắc kẹt trong một tầng hầm trong cuộc không kích ở Luân Đôn năm 1940.”

Tom kinh hãi: “Tà thần cũng có thể giới thiệu công việc? Đợi đã, có ai trả phí môi giới cho tà thần không?”

Hans: “…”

Nói một cách chính xác, tà thần không “giới thiệu”, đó là một liên hệ được tự động tạo ra, khách hàng tự tìm đến cửa nhà. Hans vẫn chưa hiểu tại sao cô Cindy Fresnel lại gia nhập câu lạc bộ thám tử của tà thần này nữa! Dù sao đi nữa, cô Fresnel là người rất kín tiếng, rất giỏi giữ bí mật.

Cộc cộc cộc.

Cửa bị gõ vang.

Ba người đồng thời nhìn ra cửa, thấy một chữ Rune hình con nòng nọc sáng lên trên giá treo áo bằng gỗ, màu xanh lục. Điều này có nghĩa người gõ cửa là bạn bè, có mang cùng loại bùa hộ mệnh.

Hans sải bước tới, mở cánh cửa nặng nề ra.

Người bước vào mang theo một cơn gió lạnh. Anh ta lấy ra một bức điện từ trong tay và đưa cho Hans.

“Điện khẩn, gửi từ Luân Đôn.”

Người khách bước đến bàn, cầm chai whisky lên uống hết chỗ rượu còn lại, sau đó xoa xoa những ngón tay lạnh cóng rồi thở một hơi thoải mái.

Hans rút bức điện tín ra, phát hiện trên đó chỉ có hai chữ.

<i>Mặt trăng</i>, cùng với biểu tượng tượng trưng cho nguy hiểm trong lĩnh vực huyền bí.

“Họ đã tìm thấy gì?” Hans hỏi một cách vô cảm.

“Không biết, nhưng nhất định là một rắc rối lớn, nếu không tin tức sẽ không truyền đến chỗ chúng ta.”

Hans khoác lên mình chiếc áo khoác lông dày, ra hiệu cho những người khác đi theo.

Năm giờ sau, họ đợi trực thăng đến đón tại một thị trấn nhỏ ở Greenland.

“Tôi cần biết tình hình cụ thể.” Hans đứng trong tuyết, tóc rối tung vì gió mạnh nhưng vẫn nhất quyết không cử động, không cho các thành viên trong nhóm lên máy bay.

“…Ông Fisher, ở đây gió và tuyết quá lớn nên ông không thể nhìn thấy mặt trăng, nếu thấy rồi thì ông sẽ không hỏi tôi câu hỏi này! Lạy Chúa, thủy triều đang dâng cao trên khắp trái đất, bắt đầu từ đêm qua!”
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 108


<b>Chương 108</b>

<b>Khúc dạo đầu của ngày tận thế</b>

Brazil, Lençóis Maranhenses.

Gió biển đến từ Đại Tây Dương mang theo mưa lớn, tạo thành những hồ nước xanh ngọc nối tiếp nhau trên nền cát trắng mịn.

Chúng thật ngoạn mục và xinh đẹp, đứng trên đỉnh cồn cát, có thể nhìn thấy sa mạc nhấp nhô hình lưỡi liềm được khảm những viên ngọc lục bảo lớn nhỏ. “Đáy hồ” được bao phủ bởi cát trắng tuyệt đẹp. Hồ trong vắt như thủy tinh, nhìn thoáng qua có thể nhìn thấy đáy. Sau khi được cung cấp dinh dưỡng dồi dào trong mùa mưa, cây xanh mọc rải rác ở vài nơi nhưng chủ yếu tập trung ở rìa sa mạc. Nếu bước lên những cồn cát để đi vào sâu trong sa mạc, sẽ chỉ thấy bãi cát trắng mịn không có cỏ mọc trên đó, và những “hồ nước” đẹp say lòng người.

Trong mắt con người, đây là thiên đường trong mơ, là nơi của những điều kỳ diệu. Người dân sống gần đó tạ ơn thần linh đã ban cho lượng mưa đủ nhiều, thờ cúng thần linh với lòng thành kính được truyền lại từ tổ tiên. Hơn nữa, sa mạc kéo dài miên man này đã ngăn cản bọn thực dân đổ bộ, khiến nơi này miễn cưỡng giữ được vẻ yên bình.

Bây giờ trời đã khuya, con người vốn nên đi ngủ sớm, rồi dậy đi làm vào ngày hôm sau, nhưng không khí hôm nay thật bất thường.

“…Sao lại có trăng màu đỏ?”

“Trong mùa mưa năm nay, bất ngờ có lốc xoáy nổi lên, nhà cửa bị thổi bay, chắc thần linh đang nổi giận!”

Trăng lưỡi liềm đỏ trông hệt như một con thuyền báo tử tượng trưng cho điềm rủi. Ánh trăng chiếu xuống sa mạc trắng xóa khiến lòng người kinh hãi. Trẻ con thì vẫn đang gào khóc, cây trồng gần nhà phát ra những tiếng xào xạc dưới cơn gió biển dữ dội, những âm thanh trước kia nghe có vẻ bình thường này dường như không còn bình thường dưới ánh trăng máu, con người càng hoảng loạn thì họ càng cảm thấy sợ hãi, nỗi sợ hãi càng làm tăng thêm những cảm xúc tiêu cực này.

“Chờ một chút, trời sẽ sáng nhanh thôi.”

Mọi người an ủi nhau, nơm nớp lo sợ nhìn vầng trăng máu ngoài cửa sổ, không dám ra khỏi nhà.

Nơi cuối sa mạc trắng, sóng biển dâng trào.

Một bóng người bước ra khỏi sóng biển, trên quần áo không có vết nước. Một chiếc áo sơ mi cổ cứng màu xám nhạt, một chiếc áo khoác sọc nhỏ màu tối, một chiếc nơ đơn giản được buộc bằng một dải ruy băng màu đen. Khuy măng sét bằng sapphire tôn lên đôi mắt xanh lam nhạt, không thể nhìn rõ khuôn mặt trong bóng tối, ánh trăng chỉ chiếu lên những đường nét của góc nghiêng. Như ai đó bước ra từ tạp chí thời trang Paris, như một nhân vật bị mắc kẹt trên màn hình đen trắng, đẹp trai và lịch lãm, nhưng lại có khí chất dị thường pha trộn giữa bóng tối và ánh sáng.

Phía sau y, nước biển chợt dâng cao, một con cá voi khổng lồ nổi lên. Thân hình to lớn như một ngọn núi, với đủ loại vàng bạc châu báu lấp lánh dán trên người. Chiếc vây dài quất mạnh lên bờ biển, gây ra những chấn động dữ dội.

Những hồ nước cạn xinh đẹp như ngọc trên sa mạc biến mất chỉ sau một cú “đánh”.

“Đừng đánh đừng đánh, tao tới đây.”

Một cơn lốc nhỏ cuộn lên trên đỉnh cồn cát.

Một con thằn lằn nhiều đầu cao mười mấy mét xuất hiện trên cồn cát. Nó có một cái đuôi dài, các chi sau phát triển to khỏe, ba cặp chi trước, một vòng khoảng mười hai cái đầu mọc quanh cổ. Nó còn có một đôi cánh khổng lồ trên lưng. Chúng không phải là đôi cánh dơi mỏng như những con rồng hung ác trong truyền thuyết phương Tây, mà có lông vũ, màu trắng sáng, giống như cánh thiên thần trên các bức tranh tường ở mái vòm của Tòa thánh. Khi đôi cánh được nâng lên, một vầng sáng óng ánh vụt qua.

Đây là một hóa thân của Typhon. Nó lơ đãng bay qua các đụn cát, chọn bừa một tảng đá trông rất vừa mắt, rồi nhìn thẳng vào mắt cá voi khổng lồ giữa sóng biển.

“Đã tìm được vật liệu sửa chữa đảo Sable chưa?” Typhon giơ sáu chi trước lên, nồng nhiệt chào hỏi.

Cá voi khổng lồ lạnh nhạt nhìn Typhon. Nếu không vì sự cố bất ngờ, Gymir sẽ không bao giờ đưa Johnson đến đây.

Đây là nơi bản thể Typhon đang ngủ say. Nếu không có tà thần nằm dưới sa mạc, làm cho nước biển, nước mưa và bất kỳ loại nước nào khác đều không thể thấm xuống dưới thì làm sao kỳ quan Lençóis Maranhenses xuất hiện được? Là “điểm du lịch” suýt được Johnson nhắm đến làm lựa chọn thứ ba, phong cảnh của Lençóis Maranhenses rất ngoạn mục, thuyền buồm có thể trượt lên cao trên cồn cát rồi rơi xuống hồ nước bên dưới. Điều bất lợi là ở đây còn có thêm một tà thần còn thở, và còn sống.

Lençóis Maranhenses không phải là đảo Sable, kẻ sống ở đây là Typhon chứ không phải Cochro. Gymir không thể đuổi Typhon đi được. Sức mạnh của bản thể của Typhon khác với trong cõi mộng, dù có đánh bại được gã thì cũng không nên đánh, tên này còn một đống đồng minh ngoài kia. Ngoài ra, cái quý giá của đảo Sable là cung điện nham thạch, còn phong cảnh của Lençóis Maranhenses chỉ xuất hiện khi Typhon đang nằm ở đó, đuổi Typhon đi rồi thì còn ngắm cái gì? Lẽ nào tự mình nằm xuống cho đủ số?

Tâm trạng của Gymir đang rất tồi tệ. Typhon trước mặt là một trong những nguyên nhân gây ra tâm trạng tồi tệ đó, và trăng máu là nguyên nhân thứ hai.

“Tìm thần mới trong nhà Thoth cái gì nữa, Tonatiuh đang đến kìa.” Cá voi khổng lồ nói ồm ồm. Nghe như tiếng sấm rền vang rền khắp bầu trời, xen lẫn tiếng sóng biển gầm thét.

Ánh sáng của trăng máu trong mắt tà thần là hậu quả tác động của các tầng sức mạnh đang xung đột. Sự tồn tại của nó chứng minh rất rõ ràng một thực tế… Thiên thể nhỏ bé nằm ngoài trái đất này đã trở thành chiến trường giữa hai tà thần thức tỉnh hoàn toàn. Giờ đây, dư âm đó đã xâm nhập vào bầu khí quyển của trái đất, nhiều người nhìn thẳng vào trăng máu đều đang gặp ảo giác.

“Kukulkan đã biến mất khỏi cõi mộng từ lâu.” Typhon thở dài, tỏ vẻ tuy mọi người đang chê cười thần Rắn lông vũ là nhát gan, nhưng kết quả chứng minh người hiểu rõ Tonatiuh nhất vẫn là thần Rắn lông vũ.

Lần nào cũng thoát khỏi miệng thần Mặt trời tàn bạo là một thành tích đáng nể, Kukulkan không sống vô ích bao nhiêu năm qua, cũng không lãng phí kinh nghiệm của mình chút nào. Thần Rắn lông vũ quả quyết chọn cách thức dậy, nhờ đó giành được cơ hội chiến đấu vì sự sinh tồn.

Quả nhiên là Tonatiuh xuất hiện.

Typhon vung chân, bắt đầu phân tích tình hình: “Xét theo tính cách của Kukulkan, bất cứ khi nào tìm được cơ hội trốn thoát, nó sẽ lập tức chọn cách rời khỏi trận chiến, chạy trốn đến trái đất.”

Khi đó, chiến trường sẽ dịch chuyển đến bầu trời phía trên trái đất, rồi đến một đại dương hoặc một lục địa nào đó. Vô số sinh vật sẽ biến thành tro bụi trong ngọn lửa, lũ lụt xối xả sẽ nhấn chìm tất cả các lục địa. Typhon không quan tâm đến loài kiến sống trên hành tinh này. Nhưng nếu họ khoanh tay đứng nhìn Kukulkan bị thần Mặt trời ăn mất, thì chính họ sẽ là người gặp tai họa chết chóc tiếp theo. Typhon không muốn đặt cược xem Tonatiuh ăn bao nhiêu loại đồng loại xong thì sẽ thỏa mãn. Lỡ thần Mặt trời muốn ăn sạch hết tất cả thì sao?

“Chúng ta phải chuẩn bị cho điều tồi tệ nhất.” Giọng Typhon vang lên ầm ầm.

Johnson lùi về sau một bước, cá voi khổng lồ dùng sóng biển đỡ lấy y.

“Typhon có ý gì?” Johnson cảm nhận được áp lực khủng khiếp do Typhon giải phóng ra. Điều tồi tệ nhất là cái gì?

Gymir khẽ đáp: “Bản thể thức tỉnh, tham gia chiến đấu.”

Thế thì không phải là cuộc chiến giữa hai tà thần mà là giữa hàng chục tà thần. Về cơ bản, nó tương đương với lời thông báo về khởi đầu cho một thảm họa tuyệt chủng hàng loạt đối với sự sống trên trái đất.

“…Không còn cách nào khác sao?” Johnson không muốn thấy nền văn minh nhân loại biến mất như thế này.

Nó quá đột ngột, giống như món đồ chơi yêu thích bỗng nhiên bị hỏng, món ăn yêu thích bỗng nhiên biến mất. Dù <i>căn phòng trái đất</i> này cuối cùng có được bảo tồn nguyên vẹn hay không thì cũng khó có thể chấp nhận nỗi tiếc nuối và thất vọng khi nhìn thấy nơi vốn dĩ tràn đầy những thứ hay ho trở nên trống rỗng.

Cá voi khổng lồ biến thành một cái bóng đen mặc áo choàng. Gymir dùng các xúc tu bóng tối của mình nhẹ nhàng chạm vào cổ tay, vai và đỉnh đầu của Johnson trong hình người… lặng lẽ an ủi y.

Lúc này, độ sáng của trăng máu bắt đầu tăng lên. Chưa nói đến con người, ngay cả Johnson cũng chưa bao giờ nhìn thấy ánh trăng “sáng” như vậy. Nó chiếu sáng tất cả những tầng mây trên bầu trời đêm, gần giống như một mặt trời bị yếu đi. Nếu không chú ý, người ta có thể cho rằng ánh bình minh đang bắt đầu buông xuống, màn đêm sắp trôi qua!

Sắc mặt Johnson trở nên khó coi, hình người của y dần dần sụp đổ dưới ánh trăng. Đầu tiên là tóc, sau đó là da, đầu ngón tay… Những dây leo màu đen tranh nhau lao ra, tạo thành phòng ngự trên bề mặt cơ thể y, chống lại sức mạnh khủng khiếp của ánh trăng.

Sức mạnh này có tác dụng lớn nhất đối với tà thần, tiếp đến là quyến thuộc của tà thần, sinh vật đột biến, tín đồ tà giáo đã ăn trộm sức mạnh, học giả huyền bí học… Còn với người bình thường, họ chỉ cảm thấy đau đầu hoặc ù tai không rõ nguyên nhân.

Gymir nhanh chóng chìm xuống biển cùng Johnson.

Hóa thân của Typhon dang rộng đôi cánh, tạo ra một cơn bão cát nhỏ. Nó bay lên trên những hạt cát nhô cao, mười hai cái đầu cùng nhau gào thét ầm ĩ, cùng với ngọn lửa đang chảy ra và nọc độc bốc mùi, một đám mây xoáy đen hình thành trên vùng biển này.

“Kéc kéc…”

Người dân gần Lençóis Maranhenses choáng váng, ngất xỉu vì âm thanh kinh hoàng.

Âm thanh bay thẳng lên mây, lan ra bốn phương tám hướng.

***

“Sóng xung kích bất thường được ghi lại!”

“Địa điểm, bang Amapá, Brazil!”

“Sóng xung kích lan về cao nguyên Brazil, Đại Tây Dương…”

Trăng máu khiến hai quốc gia vốn đã có vệ tinh nhân tạo rơi vào tình trạng căng thẳng cao độ, họ phát hiện ra những dữ liệu bất thường từ mặt trăng hết lần này đến lần khác. Vệ tinh không phải là toàn năng, dữ liệu của chúng bị trì hoãn, và chúng phải hoạt động theo quỹ đạo. Ngay khi các nhà khoa học Mỹ và Liên Xô đang cố gắng sử dụng vệ tinh của họ để thu thập thêm dữ liệu thì một điều bất ngờ đã xảy ra.

“…Vừa xảy ra ở trái đất! Đây là giá trị phản hồi của áp suất không khí!”

“Không, chúng ta không thể lấy được số liệu chi tiết hơn, sóng xung kích có thể vẫn đang mạnh lên!”

Hết cuộc gọi này đến cuộc gọi khác phát đi, hết tin nhắn khẩn cấp này đến tin nhắn khẩn cấp khác truyền vào.

Bên dưới trăng máu.

Trên hành tinh xanh này, các tà thần tỉnh dậy từ cõi mộng không vội vàng di chuyển bản thể, mà trước tiên tách ra hóa thân, đáp lại tiếng gầm của Typhon.

“Đây không phải là sóng xung kích tăng cường! Ngay tại đây… một nguồn mới xuất hiện ở thượng nguồn sông Amazon.”

“Và cao nguyên Brazil!”

“Châu Úc…”

Màn hình trong phòng điều khiển đột nhiên đồng loạt tắt, mọi người hoảng sợ đứng dậy. Tin tức bị gián đoạn. Chỉ có tiếng bíp bíp phát ra từ micro, đầu bên kia của radio có rất nhiều tiếng ồn hỗn loạn.

Người phụ trách lo lắng đến mức túm lấy bừa lấy người nào đó, hét lên: “Tín hiệu vệ tinh đâu?”

“…Chúng tôi không thể nhận được bất cứ thứ gì, chỉ có những đoạn mờ ảo bị xáo trộn nghiêm trọng!”

Khi âm thanh phát ra, mọi người lập tức bịt tai lại, không ai đứng được. Ảo giác khủng khiếp này cho họ biết, thế giới đang rung chuyển, vô số âm thanh đang than khóc. Có người đau đớn lăn lộn tại chỗ, có người hôn mê bất tỉnh.

***

“A a a…” Phi công trực thăng hét lên sợ hãi.

Chiếc máy bay cũng theo đó quay tròn, rơi xuống điên cuồng.

Hans trực tiếp kéo bỏ những thanh chắn không cần thiết giữa cabin phía sau và buồng lái, bao gồm cả ghế ngồi, lao tới kéo cần điều khiển lên. Máy bay ngừng rơi, nhưng vẫn quay vòng vèo nghiêng ngả như người say rượu.

“Bình tĩnh, tỉnh táo lại!” Hans ném chiếc tai nghe trên đầu phi công đi.

Tom gầy nhỏ cũng chạy tới tắt radio. Các thành viên khác trong nhóm vội vàng lấy ra vật phẩm có chữ Rune, thông qua phương pháp này coi như tạm thời cứu tỉnh được người trên máy bay.

Sau một hồi vật lộn và cố gắng, cuối cùng máy bay cũng hạ cánh an toàn xuống một vùng tuyết.

Tom lăn lộn lao xuống, nôn mửa như điên ngay khi chạm đất.

“Không, cho đến khi người của chúng ta học được cách lái máy bay, tôi thề tôi sẽ không bao giờ bay nữa, rủi ro quá cao.” Tom thở hổn hển nói.

Hans loạng choạng bước xuống, nhặt áo khoác của Tom lên và trùm lên đầu cậu ta. Bản thân Hans cũng che kín hết đầu mình, ông hít một hơi thật sâu, dùng ngón tay hạ kính xuống, nhìn chằm chằm vào trăng máu.

“…”

Hans nhanh chóng đẩy kính lại như cũ, cắm đầu ngã xuống đất.

“Đội trưởng?”

“Không sao… tôi không sao.”

Hans cố gắng vươn tay ra, miễn cưỡng đứng dậy, hai mắt ông nhắm nghiền, hai vệt máu chảy xuống quanh co.

“Trời đất ơi!” William vừa là học giả huyền bí học, vừa là đồng đội lâu dài của Hans, anh ta nhận ra tính nghiêm trọng của vấn đề ngay lập tức.

Hans lau máu trên mặt đi, chớp mắt, nhìn xuống đất. Mắt ông đỏ hoe vì mao mạch bị vỡ, nhưng vết thương còn chịu đựng được, không quá nghiêm trọng.

“Sức mạnh rất khủng khiếp… chắc chắn là đến từ thần cổ xưa, may mắn là mặt trăng ở xa nên tôi mới không nhìn rõ tình hình trên đó.”

Hans cầm lấy viên thủy tinh có khắc chữ Rune do Tom đưa cho, đưa lên gần mắt, hút ra một luồng sương đen, viên thủy tinh vỡ tan.

“Nếu còn muốn sống thì tôi không được dùng kính viễn vọng thiên văn.” Hans cau mày, đây vốn là kế hoạch ban đầu của ông, nhưng hiện tại xem ra chẳng khác gì tự tìm đến cái chết.



<i>Người dịch:</i>

<i>Lençóis Maranhenses: là một vườn quốc gia nằm ở bang Maranhão, ở phía đông bắc Brazil. </i><i>Đây là một khu vực thấp, bằng phẳng, đất đai thường xuyên bị ngập lụt cùng với những cồn cát lớn. Có diện tích khoảng 1500 km², và mặc dù có lượng mưa phong phú nhưng hầu như là không có thảm thực vật tại đây. Bao gồm nhiều đụn cát trắng, lớn và sâu, trông Lençóis Maranhenses như một sa mạc, nhưng thực tế không phải vậy. Nằm ngay ngoài lưu vực Amazon, khu vực này thường có mùa mưa vào đầu năm. Mưa đã tạo nên một khung cảnh dị thường: nước sạch tụ lại ở các thung lũng giữa đụn cát, đồng thời một lớp đá không thấm nước dưới cát ngăn chặn việc nước thấm xuống đất. Kết quả là những đầm phá màu xanh và đen nằm gi</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 109


<b>Chương 109</b>

<b>Kêu gọi</b>

Kẽo kẹt… Uỳnh.

Xa xa truyền đến một âm thanh lạ nghe mà ê cả răng, sau đó là một tiếng nổ lớn.

Mặt đất lắc lư trong chấn động.

“A!”

Phi công trực thăng bất ngờ tỉnh dậy, nhảy dựng lên định bỏ chạy ra ngoài. Sau đó hắn bị một bàn tay mạnh mẽ giữ lại tại chỗ. Phi công còn vô thức lần mò vũ khí ở thắt lưng nhưng không có gì.

“Bình tĩnh, tỉnh táo lại, chúng ta đã an toàn… tạm thời an toàn, chúng ta đang ở trên mặt đất.”

Phi công nhớ ra âm thanh này, khi hắn sắp bị rơi, chính người đàn ông trông như con gấu nâu này đã cứu hắn ra khỏi sóng âm quái đản và đáng sợ đó. Hắn nhìn thẳng vào mặt Hans, thở hổn hển hồi lâu rồi đột nhiên quay đầu nhìn ra ngoài lều. Tiếng động lạ vẫn tiếp tục.

Hans giải thích: “Đó là tiếng sông băng đang vỡ trượt và cọ xát vào nhau, vừa rồi một mảng lớn của nó sụp đổ, rơi xuống biển biến thành một núi băng trôi.”

Phi công hoang mang hỏi: “Nhưng tôi nhớ là chuyện này chỉ nên xảy ra vào mùa hè thôi?”

Bây giờ là tháng 10, đang là mùa đông ở Greenland. Ánh mắt Hans trốn tránh, vẻ mặt tựa hồ hơi phức tạp, nhưng cuối cùng lại không nói gì.

“Thiếu tá đâu?” Phi công vội vã hỏi.

“Bị đập đầu khi máy bay hạ cánh khẩn cấp, bị thương nặng, vẫn hôn mê.”

Thiếu tá kia mới là người phụ trách liên lạc với Hans. Nhiệm vụ ban đầu là đưa Hans và đội của ông đến sân bay duy nhất trên đảo Greenland, sau đó đáp máy bay quân sự tới Luân Đôn, đây là một nhiệm vụ bí mật. Ai ngờ xảy ra tai nạn giữa đường.

“Chúng ta bị tấn công sao?” Phi công nghi ngờ mình gặp ác mộng. Hắn sẽ không bao giờ quên chuyện đã xảy ra, bầu trời sụp đổ trước mắt, vô số quái vật biến dạng nhảy ra từ trong không khí, như thể chúng đang ngủ yên bên cạnh con người, nhưng con người không thể nhìn thấy chúng.

Hans ậm ừ cho qua: “Coi như là vậy.”

Lúc này, bên ngoài có người hét lớn tên Hans.

Hans rời khỏi căn lều được dựng lên tạm bợ.

Phi công nghiến răng, cài nút áo khoác thật chặt rồi bước ra ngoài. Sau đó hắn nhìn thấy một cảnh tượng khó tin.

Những đàn chó khổng lồ trắng như tuyết, to như sư tử đang chạy trên cánh đồng băng. Căn lều nằm trên sườn núi khuất gió, chiếc trực thăng đậu trên mặt đất bằng phẳng đã bị móng vuốt của chúng xé nát. Máy bay chỉ còn lại phần vỏ rách tan nát. Những con chó trắng này thậm chí còn không có ý định tấn công cái thứ bằng thép to lớn kia, chẳng qua là máy bay đang cản đường chúng. Đứng trên cao có thể nhìn thấy rõ hàng trăm con chó trắng như vậy, chúng cũng được bao phủ bởi băng đông cứng, rất chắc chắn, có những vết nứt sắc nhọn, hình thành trên cơ thể và đầu của chúng “bộ xương ngoài” giống như áo giáp, khiến chúng trông càng hung ác hơn.

“Cái này, cái gì thế này?” Phi công lắp bắp hỏi.

Hans liếc nhìn hắn, xác nhận phi công không hề có dấu hiệu điên loạn… Muốn trở thành một phi công xuất sắc thì ý chí và sức chịu đựng phải vượt xa người thường… Dù thế nào đi nữa, tỉnh táo là điều tốt.

“Là quyến thuộc của tà thần đã thức tỉnh.”

Hans nhìn qua cánh đồng băng, đến nơi xa hơn đang phát ra những tiếng ầm ầm. Lúc này mây đen đã che khuất trăng máu trên bầu trời đêm, gió và tuyết ngập trời, nhiệt độ giảm mạnh. Trừ Hans, những người khác đều không khỏi co rúm cổ lại, dù vậy, mặt họ gần như tê dại vì lạnh.

“Đội trưởng, chúng ta…” Tom cảnh giác nhìn chằm chằm vào những con chó trắng, lo lắng chúng sẽ lao lên sườn núi. Dù sao ở đây cũng có người sống, đó là bữa cơm ngon cho lũ quyến thuộc của tà thần.

“Chúng vừa mới chui lên khỏi vực sâu bên dưới lớp băng, nóng lòng muốn đáp lại lời kêu gọi của chủ nhân.” Học giả huyền bí học William liếc nhìn căn lều, trong đó có radio đã tắt, anh ta rất muốn ghi lại “sóng âm” của vị tà thần đang thức tỉnh này.

William hạ giọng, hào hứng nói: “Chắc chắn là Skyra! Quyến thuộc của Skyra từng được ghi lại, là quái thú khổng lồ hình dạng như chó, có người nói rằng tà thần này đang ngủ trên một hòn đảo nào đó ở Địa Trung Hải, nhưng không ngờ lại ở trên đảo Greenland.”

Vẻ mặt Hans trông rất nặng nề. Một tà thần ngủ say bên dưới sông băng Greenland tỉnh dậy dưới sự chiếu xạ của trăng máu. Trước tình hình đó, ngay cả thám tử chuyên điều tra sự kiện huyền bí có kiến thức sâu rộng cũng bối rối. Chẳng phải là máy thăm dò của con người đã đánh thức thần cổ xưa trên mặt trăng sao? Tại sao tà thần trên trái đất cũng gây ồn ào? Chuyện gì đã xảy ra thế này?

Hans chỉ có thể nhớ lại những ghi chép về tà thần Skyra trong sách của giáo phái Màu Xám. Rất ít, gần như không có. Skyra là loại tà thần không bao giờ giao tiếp với con người, không có tín đồ, ẩn giấu rất sâu, không học giả huyền bí học nào có thể cướp được sức mạnh. Trong thần thoại và truyền thuyết của con người, Skyra là một con quái vật biển, nó – hoặc phải nói là ả – có thân trên gợi cảm và xinh đẹp, nhưng vòng eo lại mọc ra sáu cái đầu chó hung ác, phần th*n d*** trông như thế nào thì không ai biết, người thì cho rằng là cơ thể của một con thú hoang, người khác lại cho rằng đó là đuôi của một con rắn khổng lồ.

“Dù thế nào đi nữa, chúng ta cũng không thể đến được Luân Đôn.” Hans nhìn lên bầu trời đêm thăm thẳm, ngập ngừng nói: “Tác động của trăng máu lớn hơn chúng ta tưởng tượng, tôi có dự cảm không lành.”

Lúc này, Hans vẫn chưa biết rằng biến động trên đảo Greenland không phải là một sự kiện cá biệt. Những tình huống tương tự đã xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới. Còn tai nạn như máy bay rơi, xe lửa trật bánh, tàu bè lạc đường thì không xảy ra nhiều, cái chính là vì tà thần nơi tà thần ngủ rất xa xôi hẻo lánh, nên cơ hội “đụng phải” không nhiều.

Nhiều thảm họa lại xảy ra ở những thành phố cổ kính và lâu đời. Tại Venice, con ác quỷ bằng đá trên nóc một tòa nhà nào đó đã mở mắt dưới ánh trăng máu, cơ thể bằng đá nhanh chóng biến thành một chất giống như bùn, nó gầm lên một tiếng dài, bất ngờ lao thẳng vào đám đông trên mặt đất. Trong cống rãnh và ngõ tối của Luân Đôn, những tên tội phạm đang cướp giật bỗng cảm thấy ớn lạnh, rồi nhìn thấy một bóng dáng phụ nữ duyên dáng với đôi cánh. Trong ngôi đền cổ của Ai Cập, những cột đá đột nhiên vỡ tan, lũ quái vật lần lượt bò ra khỏi các ngôi mộ.

Quyến thuộc của tà thần bị trăng máu đánh thức, quyến thuộc của tà thần nghe thấy lời kêu gọi của chủ nhân, những sinh vật đột biến thoát ra khỏi phong ấn của chúng dưới ảnh hưởng của trăng máu…

Trong đêm nay, vô số người đã chứng kiến tồn tại huyền bí, tất cả đều phát điên. Những kẻ sử dụng sức mạnh huyền bí một cách bừa bãi và tín đồ tà giáo đã xảy ra những đột biến khủng khiếp dưới trăng máu, họ mất đi hình dạng con người, mặt mũi dị dạng, thế nhưng sức mạnh vẫn còn trong cơ thể họ, họ nhanh chóng gây ra vô số vụ giết người đẫm máu, cho đến khi bị vũ khí nóng bắn nổ tung thành từng mảnh. Các cơ quan bí mật mới thành lập ở một số nước đã phải hứng chịu đòn nặng nề theo cách này.

Đây là giờ thứ 30 kể từ khi trăng máu xuất hiện.

***

“Sông Amazon và cao nguyên Brazil… đồng minh đều sống gần nhau thế à? Châu Úc, ờ, đó là Behemoth… Đợi đã, trên đảo Greenland cũng có à?” Johnson lắng nghe những sóng âm đang đáp lời Typhon, gần như vẽ lên một bản đồ thế giới để so sánh. Johnson từng đến đảo Greenland, thế mà y không để ý rằng có một đồng loại ở đó.

Gymir phân biệt các âm thanh, ngay lập tức trả lời: “Đó là Skyra, con gái của Typhon.”

“Hồ Lerna phía nam biển Aegea…”

“Hydra, con trai của Typhon.”

“Cao nguyên Anatolia…”

“Chimera, đứa con cuối cùng của Typhon, yếu quá nên không thể gọi là tà thần.”

“Sinh ra cùng ai đấy?”

“Ta cũng không biết.”

Gymir có thể biết những đồng loại này là vì họ phát ra âm thanh, phạm vi hoạt động ban đầu không xa hang động và đảo nơi người cá sinh sống, không thì ai mà thèm quan tâm Typhon từng sinh ra bao nhiêu đứa con?

Johnson đợi một lúc nhưng không tìm thấy “nguồn tín hiệu” mới nào, biết rằng hành động triệu hồi Typhon đã kết thúc.

“Đây đều là đồng minh và con của Typhon à?”

“Ừ.”

“Vậy còn thần cổ xưa khác… không có một ai à?” Johnson thấy thật khó hiểu, Tonatiuh đến rồi, tại sao họ lại phớt lờ chứ. Đầu tiên là trăng máu, sau đó là tiếng gọi của Typhon, dù có ngủ say đến thế nào thì tà thần cũng phải biết có chuyện gì đó không ổn. Quên thần mới đi, không đủ can đảm cũng chẳng có thực lực để tham gia vào những việc kiểu này, nhưng còn thần cổ xưa khác thì sao?

“Mặc dù thần cổ xưa đều biết Tonatiuh tham lam, nhưng chúng nó chỉ quan tâm đến bản thân mình thôi.” Gymir không nói thẳng, nếu trước đây không dính líu đến chuyện này thì chính hắn cũng không thèm quan tâm đến việc thần Mặt trời Tonatiuh trở lại trái đất. Lý do rất đơn giản, họ không quan tâm trái đất sẽ ra sao, cũng không quan tâm bao nhiêu đồng loại sẽ chết, miễn là bản thân không chết.

Typhon thì khác, gã sẽ lo lắng cho con cái và đồng minh của mình. Nói theo kiểu của con người thì là gia đình lớn sự nghiệp lớn, không dám đánh cược. Bởi nếu Tonatiuh ăn bừa một tà thần nào đó thì cũng có tỷ lệ đụng chạm tới Typhon rất cao. Typhon chắc chắn không muốn đợi đến khi có chuyện gì xảy ra rồi mới hối hận.

Gymir đưa Johnson quay lại mặt biển.

Typhon được mây đen bao bọc, bao trùm toàn bộ vùng biển, gã giống như một vị vua ngồi trên ngai vàng, chờ đợi phản ứng của thần dân.

Johnson: “…” Cảm giác này rất kỳ quặc. Giống như tham dự một buổi họp mặt gia đình không phải của mình vậy?

“Được rồi, chúng ta nên đi thôi.” Typhon lớn tiếng nói. Cơ thể khổng lồ bay dọc theo bề mặt hành tinh, giống như một cơn bão di chuyển nhanh.

Johnson nhìn Typhon “ăn” mất bản thể của tất cả hậu duệ, cơ thể phồng lớn lên, sau đó “ăn” luôn hóa thân của đồng minh. Typhon biến thành một người khổng lồ vô cùng khó tả, đầu gã giống như một hòn đảo, mọc ra đủ loại con mắt, thân thể biến dạng vặn vẹo bị bao bọc trong ngọn lửa và sương mù có độc.

Gymir cũng biến thành cái bóng, nuốt chửng quả cầu dây leo, biến Johnson trở thành một phần của cơ thể mới hình thành này. Điểm khác biệt là động tác của Gymir nhanh hơn Typhon rất nhiều. Cái bóng và dây leo như là một thể, hoàn toàn không thể phân biệt được.

Cái đầu người khổng lồ của Typhon vẫn giữ được những đôi mắt thuộc về các tà thần khác nhau, đồng thời cơ thể cũng giữ được một số đặc điểm là cánh, móng vuốt sắc nhọn và đuôi rắn.

“Tao ngửi thấy mùi của Tonatiuh.” Typhon dang rộng đôi cánh, nhìn chằm chằm vào trăng máu qua những đám mây đen. Người khổng lồ không còn bay nữa, mà giống như bước lên những bậc thang vô hình, từng bước đi vào vũ trụ. Từ trái đất lên mặt trăng, nhẹ nhàng như sang thăm nhà hàng xóm.

Tốc độ của Gymir nhanh hơn Typhon, cái bóng khổng lồ nổi lên theo sự thay đổi của đường rạng đông của trái đất, “tan” vào bầu trời như một lớp sương đen vô hình. Vị trí này cho phép Johnson nhìn thấy mặt trời mọc ở một bên và mặt trăng đang dần lặn ở bên kia…

Cảm giác này giống như đẩy cửa nhà, thò đầu ra ngoài khi không thể chịu đựng được nữa, tức giận nhìn sang căn nhà nhỏ bên cạnh, sẵn sàng tóm đầu mấy tên khốn nạn đang đánh nhau ồn ào trong căn nhà này ra.



<i>Người dịch:</i>

<i>Đường rạng đông hoặc đường chạng vạng, là một đường di chuyển phân chia giữa ban ngày và ban đêm của một thiên thể. Đường rạng đông được định nghĩa là tập hợp các điểm trên một hành tinh hoặc vệ tinh tự nhiên nơi mà các đường thẳng đi qua sao của nó là tiếp tuyến. Một người quan sát ở vùng thuộc đường rạng đông của các hành tinh có khí quyển sẽ thấy bầu trời chạng vạng bởi vì sự tán xạ ánh sáng bởi các hạt trong lớp khí quyển.</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 110


<b>Chương 110</b>

<b>Bề mặt mặt trăng</b>

Mặt sau của mặt trăng.

Nơi đây là một thế giới hoang vắng. Mặt đất được bao phủ bởi những hố nông lớn nhỏ đủ loại, ngoài ra thì có đá vụn.

Theo quan điểm của tà thần, nó cằn cỗi, khô khan, màu sắc buồn tẻ. Bất kể là nhiệt độ, từ trường hay trọng lực… tất cả đều sẽ mang lại màu sắc cho vật thể. Với sức mạnh của các quy tắc, các màu sắc khác nhau sẽ tuôn chảy ra. So ra thì mặt trăng “đơn giản hơn” rất nhiều, như thể bức tường vôi thô lộ ra sau khi lột bỏ một lớp trang trí bên ngoài sống động và phức tạp.

Johnson chưa từng lên mặt trăng. Mọi thứ y nhìn thấy đều mới mẻ. Nhưng đây rõ ràng không phải là thời điểm tốt để thong thả đi dạo.

Tonatiuh đang ở đây.

Sức mạnh tàn bạo còn sót lại khiến Johnson cảm thấy rất khó chịu, y rúc sâu hơn vào cái bóng.

Gymir như một lớp khói mù lướt qua mặt trăng, phần cuối của “chiếc áo choàng” vô hình chạm xuống mặt đất, rồi cứ thế “nổi” lên cao. Gymir nhận thấy rằng một vài nội dung đã được “thêm” vào ý thức của mình, bao gồm cả sự thay đổi nhiệt độ của một hòn đá, và đây là những chi tiết mà thần cổ xưa không mấy để ý đến. Đây hẳn là thiên phú của quả cầu dây leo, chỉ cần cơ thể chạm vào vật gì đó là có thể nhanh chóng phán đoán kích thước và các đặc điểm khác của vật đó. Rất hữu ích cho Gymir.

Đá vụn trên mặt đất bắt đầu lặng lẽ lăn đi. Một người đá có vẻ ngoài quái dị đứng dậy. Thân nó làm bằng đá vụn, các khớp và hạt nhân là những vệt bóng mờ ảo đến mức không thể phân biệt được. Thêm nhiều người đá nhỏ sinh ra từ bên dưới tấm áo choàng bóng tối vô diện, chúng nhanh chóng “lăn” ra bốn phương tám hướng, tìm kiếm dấu vết thần cổ xưa.

Một trong số đó tình cờ lăn trúng vào mu bàn chân của Typhon vừa đáp xuống mặt trăng.

Bộp.

Người đá vỡ vụn, vài vệt bóng mờ mỏng manh bay về phía xa.

Typhon với hình thể như như một ngọn núi cúi đầu xuống cười toe toét, như thể đang chế nhạo.

Gymir vừa mới “thu hồi” vệt bóng mờ chợt quay lại, nhận ra đó là Typhon thì không có hứng thú, chỉ mặc kệ gã.

“Hơi thở của cuộc giao tranh giữa hai thần cổ xưa tràn ngập khắp nơi trên này.”

Johnson nhìn những vết lốm đốm trên mặt đất, màu đỏ sậm và màu tím đen trộn lẫn với nhau. Sức mạnh của một bên vẫn còn sót lại nhiệt độ, của bên kia thì gây ra cảm giác tê dại khi chạm vào. Johnson vốn tưởng rằng vừa đến mặt trăng sẽ thấy được thần Mặt trời đánh nhau với thần Rắn lông vũ, nhưng cuối cùng chỉ là một mớ hỗn độn, không có thủ phạm.

Có thể không ở khu vực này, hoặc có thể ở phía bên kia của mặt trăng. Khả năng lớn hơn là Tonatiuh đã tạo ra một không gian săn bắn khép kín, còn Kukulkan xui xẻo không trốn thoát được.

Bây giờ phải tìm ra không gian săn bắn này ở đâu, còn phải phá vỡ nó. Đây là lý do tại sao có những người đá nhỏ lăn lộn khắp mặt đất. Chúng không rắn chắc, chúng chỉ là những hòn đá, dù là con người cũng có thể đập tan chúng bằng một cây gậy. Nhưng chúng lăn rất nhanh, có giác quan nhạy bén…

Johnson trơ mắt nhìn một người đá nhỏ rơi vào hố thiên thạch, lăn một lúc lâu mà không lăn ra ngoài được, rồi cứ lòng vòng dưới cái hố đó.

Johnson: “…”

Người đá vỡ ra thành một đống dưới đáy hố. Những sợi nhỏ của cái bóng vứt bỏ đá vụn, trượt ra ngoài tìm đá vụn mới tại chỗ, một người đá mới toanh lại bắt đầu công việc khám phá. Thậm chí trong lúc đi, người đá nhận thấy một bộ phận nào đó trên cơ thể mình không bằng phẳng, rất khó lăn, thế là vứt đi luôn, thay thế linh kiện mới.

Nhìn những sợi tơ của cái bóng đó khéo léo lắp ráp các bộ phận, Johnson cuối cùng cũng nhận ra Gymir đã học được gì từ mình. Chậc… Johnson không chịu thừa nhận mình đã dạy lung tung cho thần cổ xưa đâu nhé.

Càng ngày càng có nhiều viên đá lăn dưới bóng đen trong áo choàng, giống như một “cơn gió” mạnh thổi trên mặt trăng, tất cả đá vụn đều đang chuyển động. Những viên đá không đủ tiêu chuẩn sẽ bị loại bỏ, số còn lại được lựa chọn cẩn thận sẽ tự động thành lập một đội, lăn lông lốc đi.

Trên mặt trăng không có không khí, mọi âm thanh ở đây đều là những dạng dao động mà con người không thể nghe thấy. Lúc này chuyển động của đá vụn giống như tiếng đập vào tường ngoài và khung cửa của ngôi nhà, có nhịp điệu kỳ lạ trong sự hỗn loạn.

Typhon ở đằng xa nhìn lên đầy bối rối. Typhon đang sử dụng phương pháp riêng của mình (mắt) để tìm kiếm dấu vết ở bãi săn, đâu biết rằng không tìm thấy thần Rắn lông vũ, mà lại thấy đồng đội mình tạm thời chiêu mộ có hành vi như đang chiếm lĩnh lãnh thổ.

Gymir bây giờ giống như thần Chết trong truyền thuyết của loài người, một cái bóng cao lớn không có khuôn mặt, bên dưới tấm áo choàng hư vô là bệnh dịch khủng khiếp đang được gieo rắc, theo những bước chân lướt như bay của hắn, những viên đá lăn ngày càng nhiều dường như muốn trải dài khắp cả mặt trăng.

Johnson nhìn người đá dưới chân mình với nhiều cảm xúc lẫn lộn.

Cộc, cộc, cạch!

Người đá lăn được hai bước rồi ngã xuống.

Mặt trăng rất không bằng phẳng.

Người đá “lăn” trên mặt trăng như dòng nước lũ, đổ đầy nhiều hố thiên thạch bằng đá vụn vừa bỏ đi. Sau khi lấp đầy, chúng lại “đứng” lên. Ban đầu là một quả cầu bị cắt ra (có hình dạng như hố thiên thạch), sau đó lắc lư nghiêng ngả tách ra các chi, khó mà nói được là có năm chân hay mười chân, chủ yếu phải xem hình dạng nào di chuyển dễ dàng hơn.

Chẳng bao lâu sau chúng lại bị chặn đường bởi hố thiên thạch lớn hơn, một cái hố mặt trăng ngoạn mục. Những viên đá này miệt mài bền bỉ tập hợp lại với nhau, như một đám dân bản địa chen chúc nhảy nhót quanh một cái hố lớn. Kết quả của sự tích tụ từng lớp là một người khổng lồ có chiều cao không kém Typhon xuất hiện, người khổng lồ đá bước lên hố mặt trăng để vào dãy núi trung tâm mặt trăng.

Đây là dãy núi dài nhất trên bề mặt mặt trăng, dài khoảng một ngàn kilomét, độ cao khoảng ba đến bốn ngàn mét. Địa hình ở đây rất phức tạp, có nhiều đỉnh núi dựng đứng, vách đá và hẻm núi chồng lên nhau, giống như một mê cung khổng lồ.

Typhon hậm hực khịt mũi, cũng bước vào hẻm núi, chen cho người khổng lồ đá tan rã.

Gymir không hề tức giận, những viên đá nhân cơ hội này tản ra, tiếp tục tìm kiếm trong dãy núi mê cung.

Núi lửa và dung nham là mạch máu dày đặc của một hành tinh, Typhon đã quen tìm kiếm dấu vết đồng loại dọc theo những mạch máu này, đặc biệt là những “vết thương bề mặt” bất thường, và những bóng đen “dư thừa” ra một cách rõ ràng, làm như vậy đảm bảo bắt đâu trúng đó.

Thế nhưng mặt trăng đã “chết”. Núi lửa đã bị dập tắt hoàn toàn khoảng một tỷ năm trước. Những con đường để phun trào đã bị chặn cứng, tối tăm không có chút ánh sáng nào, dù nhìn ở góc độ nào cũng hoàn toàn chết lặng.

“Trong núi không có.” Typhon rầu rĩ nói.

“Giữa không trung không có.” Hóa thân cái bóng của Gymir từ từ đáp xuống đỉnh một vách đá.

Men theo dãy núi trung tâm về phía nam, nơi đó có đỉnh núi cao nhất trên mặt trăng. Cao gần 10.000 mét. Typhon có cảm giác Tonatiuh đang ở đó. Gã phát ra một làn sóng âm thanh gầm rú có sức tàn phá khủng khiếp, dang rộng đôi cánh, lao vào đỉnh núi. Sau đó Typhon trượt xuống cùng với ngọn núi sụp đổ.

Gymir: “…”

Johnson: “…”

Lúc này, một đám người đá nhỏ lăn tới dưới chân họ, sợi tơ cái bóng dâng lên tạo thành một đường dài, như thể đang chỉ phương hướng.

Gymir đến “điểm được phát hiện” ngay lập tức.

Một cái hố.

Có một vật thể bằng kim loại đen thui nằm bên trong.

“Đồ do con người tạo ra?” Gymir hỏi. Con người biết ném đồ lên mặt trăng từ khi nào? Gymir không nhịn được liếc nhìn trái đất ở phía xa, sau đó nhìn mặt trăng dưới chân mình, ước tính khoảng cách giữa hai bên.

Cũng may là Johnson có đọc báo, nhớ ra cái máy thăm dò mặt trăng. Thứ này hẳn là máy thăm dò số 2 bị rơi xuốn đây vào tháng trước.

“Dưới vết nứt có mùi thần cổ xưa… Là của Kukulkan.”

Gymir trôi vào cái hố, nắm lấy chiếc máy thăm dò quý giá đã ngừng hoạt động của con người rồi ném sang một bên. Những sợi tơ của cái bóng “chảy” sâu vào trong theo vết nứt, độ sâu càng gia tăng thì tâm trạng của Gymir càng trở nên nặng nề hơn.

Quả thực có một hang ổ kín ở dưới đó!

Xét theo dấu vết thì đây là nơi Kukulkan đã ngủ suốt bao năm qua.

Thần Rắn lông vũ rất cảnh giác, nó ẩn giấu rất giỏi, nào ngờ có một ngày một cái máy thăm dò của con người từ trên trời rơi xuống tình cờ đập vào đỉnh đầu nó, à không, là vào mái nhà của nó. Thần Rắn lông vũ chưa kịp phản ứng, thì hơi thở của nó đã phả ra ngoài thông qua kẽ hở.

“Vào thời điểm đó, thần Mặt trời có thể đã đến không gian vũ trụ lân cận, nó bị thu hút bởi tàu thăm dò do con người phóng ra…”

Thành thật mà nói, bất kỳ tà thần nào nhìn thấy một vòng cung b*n r* từ trái đất đều không thể không liếc nhìn nó một cái. Dẫu sau thì chỉ có thiên thạch rơi xuống trái đất, chứ làm gì có chuyện bắn ngược ra ngoài? Thế rồi sau khi nhìn thêm một cái, nó phát hiện ra một người bạn “thân và quen”. Một đứa bạn rất ngon và rất quen?

Trên đây đều là nguyên nhân và hậu quả mà Johnson đoán bừa thôi. Dù sao cũng chỉ có một vết nứt, một cái máy thăm dò của con người, một cái tổ bị phá hủy hoàn toàn ở đây, mà lại chẳng tìm thấy thần Rắn lông vũ để phỏng vấn, không đoán bừa thì làm gì.

“Grào…”

Dao động vô hình lọt vào tai.

Gymir cảnh giác ngẩng đầu, nhận ra đó là giọng của Typhon.

“Lẽ nào Tonatiuh ở đó thật?”

Gymir lao tới chân đỉnh núi đã sụp đổ một nửa với tốc độ nhanh nhất.

Một con trăn khổng lồ đang cắn chặt vào cánh của Typhon.

Typhon tức giận đấm nó một cú: “Nhìn rõ ràng, là tao!”

Cơ thể con trăn khổng lồ rung chuyển.

Bấy giờ Johnson mới thấy rõ, bản thể của thần Rắn lông vũ không phải là một con rắn, nó thực ra là một đám mây đen không có hình dạng, còn cái cơ thể trông giống con trăn kia là xương lưng của nó, rất dài, có thể vặn xoắn theo ý muốn.

“Mày đừng hòng biến thành Typhon để lừa tao!” Kukulkan cũng gầm lên.

Johnson vô thức phân tích theo: Thần Rắn lông vũ thành công thoát khỏi trận chiến, nhưng không đủ thời gian để chạy, chạy về phía trái đất sẽ bị đuổi kịp nên chỉ có thể tạm thời trốn trong núi, có ngờ đâu lại bị Typhon tông một cú lộ tẩy.

Không phải! Kukulkan trông cứ như bị Tonatiuh ép cho phát điên rồi, nó thật sự trốn thoát thành công chưa? Trước đó họ suy đoán thần Mặt trời đã lập bãi săn, nên họ không tìm được dấu vết của hai thần cổ xưa, nhưng bây giờ rõ ràng không phải vậy. Thần Mặt trời đâu?

Dù là Gymir “cuộn” đá vụn trên bề mặt mặt trăng, hay là Typhon tông vào núi, và tiếng gào thét của Kukulkan cũng đều truyền đi rất xa, sao Tonatiuh có thể không biết?

“Không phải, đi mau.” Những dây leo trong cái bóng giật giật một cách lo lắng.

Gymir không hề do dự, ngay lập tức làm theo ý kiến của Johnson, nhanh chóng rút lui.

Sau đó hắn nhìn thấy một ánh sáng chói mắt.

Phát ra từ mặt đất.

Giống như mặt trời đang mọc, ánh sáng và sức nóng khủng khiếp lấp đầy không gian này, đây không phải là ngọn lửa mà là một vật chất vô hình có thể đốt cháy mọi thứ, chúng dao động liên tục, tạo thành một cái lưới xé xác con mồi.

Ngọn lửa ánh sáng tuôn chảy ra, tạo thành một bóng đen. Nó có bốn cánh tay, hai cái đầu một trên một dưới xếp chồng lên nhau. Thật khó để tưởng tượng rằng tận cùng của ánh sáng lại là bóng tối khủng khiếp đến thế, ngoại trừ màu đen, không thể nhìn thấy bất cứ thứ gì khác trên cơ thể của nó, không có khuôn mặt rõ ràng, chỉ có những đường nét.

Bốn cánh tay của thần Mặt trời vươn về phía trước nhưng lại bắt hụt.

Chiếc áo choàng khổng lồ của hóa thân cái bóng bị ánh sáng chói lóa đánh tan mất một nửa, Gymir tập trung sức mạnh, kịp thời rút lui thật xa. Những sợi tơ của cái bóng thi nhau vùng vẫy trong tấm lưới được dệt bởi ánh sáng và sức nóng, phát hiện khó thoát ra được, bèn dứt khoát cắm đầu xuống đất.

Cuộc phục kích của Tonatiuh thất bại, nó cũng không tức giận, mà còn cười điên cuồng.

Kukulkan thét lên muốn bỏ chạy, thế nhưng hàm răng sắc nhọn của nó cắn quá sâu, bây giơ đang ghim sâu vào vai và cánh của Typhon, không thể thoát ra được. Typhon tức giận đá lên người thần Rắn lông vũ (chắc là vào bụng), cuối cùng cũng thoát khỏi tên ngốc đang cầm chân mình, rồi quay người hung hăng lao về phía thần Mặt trời.

“Thất vọng ghê.”

Tonatiuh nuốt một phần sợi tơ của cái bóng không kịp trốn thoát, chép miệng liếc Gymir và Johnson, chê bai: “Không ngon lắm, trái đất không sinh ra đồng loại nào ngon hơn sao? Hay là chúng nó không dám tới gặp tao?”
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 111


<b>Chương 111</b>

<b>Lá chắn</b>

Johnson choáng váng.

Ý thức và giác quan của y đã rơi vào trạng thái trì trệ.

Đây chỉ mới là ảnh hưởng từ ngọn lửa của Tonatiuh.

Johnson cuối cùng cũng hiểu được nguyên nhân vì sao trước đây có nhiều tà thần trở thành đồ ăn của thần Mặt trời như vậy, nếu thực lực không đạt đến trình độ nhất định thì ngay cả cơ hội trốn thoát cũng chẳng có. Ngọn lửa chỉ là dấu chân của Tonatiuh, những dấu tích còn sót lại này có mùi giống với các thần cổ xưa khác, khiến cho các tà thần dễ đánh giá sai lầm về Tonatiuh, chờ khi đến trước thần Mặt trời mới nhận ra tình hình hoàn toàn khác với những gì trong tưởng tượng.

Johnson đã từng thấy bản thể của Gymir. Xét theo thái độ của Gymir, có thể biết hắn cũng giống với các thần cổ xưa như Typhon và Behemoth. Thần mới sẽ sợ hãi trước họ, cảm thấy khủng hoảng và áp lực, thậm chí là đầu óc trống rỗng chỉ nhớ mỗi việc chạy trốn, nhưng sẽ không hoàn toàn mất đi khả năng phản kháng. Thuộc tính hỗn loạn của tà thần không miễn dịch lẫn nhau, thần mới yếu đuối đương nhiên là sẽ bị ảnh hưởng, nhưng sự tồn tại như thần Mặt trời Tonatiuh thực sự rất vô lý.

Vô lý đến mức Johnson muốn nghi ngờ Tonatiuh là một giống loài khác.

Còn con người à? Johnson tin rằng khi con người nhìn thấy bản thể của Tonatiuh sẽ không trải qua quá trình đột biến, mà biến thành máu trong một giây. Thậm chí sẽ không có máu.

Ngọn lửa bao quanh thần Mặt trời tưởng chừng êm đềm, nhưng lại vô cùng hung bạo. Nó giống như cái miệng đầy máu của một con quái thú khổng lồ, ngấu nghiến không gian bao phủ trong ngọn lửa bằng hàm răng sắc nhọn vô hình, không buông tha bất kỳ “thứ thức ăn” quý giá nào. Đừng nói đến máu thịt, ngay cả đá cũng không thể thoát khỏi tai họa này. Những viên đá vướng vào sợi tơ của cái bóng dần dần biến thành cát mịn trong ngọn lửa.

“…Chúng mày là món ăn mà Cochro tìm cho tao hả?”

Bóng đen trong ngọn lửa né được đòn tấn công của Typhon, mắt nó vẫn dán chặt vào Gymir. Nó không tiếp tục nói, nhưng ngay cả Johnson với ý thức mơ màng cũng có thể cảm nhận được mùi của sự chê bai trong đó.

Quả cầu dây leo thu thập đủ sức mạnh từ trong cái bóng, cuối cùng cũng dần hồi phục. Ngay khi tỉnh dậy, y lập tức phối hợp với cái bóng của Gymir để chống lại ngọn lửa.

“Hử?” Tonatiuh phát hiện ra sức mạnh đặc biệt này có khả năng làm cho “thời gian ngừng trôi”, ngọn lửa bùng lên chóng mặt.

Gymir lập tức lùi lại. Hắn không hiểu phương pháp tấn công của Tonatiuh nên chỉ có thể lựa chọn để Typhon chắn trước mặt.

Typhon không hề bận tâm chút nào, gã vừa nhìn thấy Tonatiuh là trở nên cực kỳ phẫn nộ. Một lớp vật thể có vảy kỳ quặc xuất hiện trên bề mặt cơ thể của người khổng lồ, phun ra làn khói độc dày, ngọn lửa ánh sáng thiêu cháy một lớp thì lại có lớp khác phun ra thay thế. Có vẻ như thần Mặt trời không thích ăn thứ này, nó sẽ làm ô nhiễm ngọn lửa ánh sáng, Tonatiuh vốn trông giống như mặt trời nay lại trở thành một quả cầu ánh sáng màu xanh lục.

“Typhon!” Thần Mặt trời ghê tởm tóm lấy người khổng lồ, quật xuống đất thật mạnh.

Ngọn lửa ánh sáng ăn mòn lớp vảy, cơ thể Typhon khó tránh khỏi bị thương, sức mạnh và máu theo vết thương chảy ra. Chất lỏng này có màu tím đen.

Đòn tấn công của Tonatiuh trở nên bạo lực hơn, như muốn đánh tan hóa thân tà thần được hợp nhất này. “Typhon, mày còn không dùng tới bản thể, mày tưởng cái xác chắp vá này có thể đánh bại tao hả?”

Bản thân Typhon rất mạnh mẽ, nhưng khả năng chiến đấu của gã thực sự rất kém. Chỉ trong chốc lát, Johnson đã phải cau mày liên tục nhiều lần, một cơ hội bị lãng phí mất rồi.

Gymir cho rằng Typhon giỏi chịu đòn, thực tế là gã có thể chống cự thêm được một lúc, nhưng hắn cũng không tiếp tục đứng nhìn nữa. Áo choàng bóng tối đột nhiên mở rộng, động tác cắn nuốt sức mạnh của ngọn lửa ánh sáng trở nên chậm hơn rất nhiều.

Hiệp đầu của trận chiến tà thần thực chất là sử dụng ảnh hưởng của thuộc tính hỗn loạn tương ứng của mình, nếu không thể chống chọi được thì sau hiệp này đã hẹo mất rồi. Hiệp hai là đòn tấn công ăn mòn sức mạnh lẫn nhau. Ngọn lửa ánh sáng của Tonatiuh rõ ràng đã kiềm chế hết tà thần ở đây, đánh liều là không thắng được rồi, đây cũng là lý do chính khiến các tà thần nghe tên thần Mặt trời là trốn tránh.

Nhưng không phải là hoàn toàn vô phương.

Typhon cho Gymir xem chiến thuật tấn công hiệp ba.

“Nắm lấy cơ hội.” Gymir nói với Johnson.

Vô số đá vụn tụ tập lại lần nữa, nhanh chóng biến thành năm người khổng lồ lao vào ngọn lửa ánh sáng. Mặc dù chúng bị phá nát nhanh hơn nhưng sợi tơ của cái bóng sẽ cản trở đòn tấn công trong thời gian ngắn. Gymir phát hiện ra rằng bản năng của thần Mặt trời là nuốt chửng sức mạnh và nuốt chửng mọi thứ có thể trở thành thức ăn, vậy thì hắn sẽ lợi dụng bản năng này.

“Không được…”

Johnson sốt ruột khi phát hiện Tonatiuh phản ứng rất nhanh, người khổng lồ đá cản trở cũng không đạt được hiệu quả như mong muốn. Việc tiêu hao sợi tơ của cái bóng cũng phải được tính đến, nếu cứ để thời gian trôi qua, bên mình sẽ thiệt thòi hơn. Johnson cố gắng thao túng sức mạnh để tăng gấp đôi số lượng người khổng lồ đá, đồng thời nhảy vào ngọn lửa ánh sáng theo trình tự quy định, cuối cùng cũng giúp Gymir âm thầm tung một cú đấm trúng vào người thần Mặt trời.

“Không được.”

Gymir lặp lại, hắn nhìn viền ngoài cái bóng của mình mờ hẳn đi một lớp do tiếp xúc với bản thể Tonatiuh. Tổn thất kiểu này trong một lần có thể chấp nhận được, mười lần trăm lần cũng chẳng là gì, nhưng trận chiến của tà thần có thể kéo dài hàng trăm ngày.

Cái bóng và quả cầu dây leo quay đầu nhìn về phía xa gần như cùng lúc.

Kukulkan bị Typhon ném ra ngoài đã biến đâu mất rồi. Ý thức tự giác bỏ chạy thật mạnh mẽ.

“Bắt lấy nó.” Johnson và Gymir đồng thanh nói.

“Typhon, chỗ này giao cho mày, tao đi bắt Kukulkan về đây.” Gymir lo Typhon sẽ nghĩ rằng mình đang lâm trận bỏ trốn, nên mới lên tiếng thông báo.

Nào ngờ Typhon làm như không nghe thấy gì, bị đánh ngã thì đứng dậy, liên tục sản sinh vảy và sương độc, cắn xé Tonatiuh.

Gymir không dám lãng phí thời gian, lần theo dấu vết mà đuổi theo, từ xa vẫn có thể nghe thấy tiếng cười khinh thường của Tonatiuh và tiếng gầm gừ của Typhon.

“…Asik… Harpy…”

Johnson biết Asik, tà thần đã bị Tonatiuh ăn mất một nửa, đang ngủ ở hồ Khiluk. Y cũng đã nghe nói đến Harpy, đó là một bầy quyến thuộc của tà thần, rất thường thấy cách đây hai ngàn năm, thường xuyên qua lại giữa nhiều châu lục để truyền tin cho tà thần. Harpy là loại quyến thuộc của tà thần mà con người tiếp xúc nhiều nhất, chúng có cơ thể và đôi cánh của loài chim, và khuôn mặt của con người… thật ra là giống hoa văn trên mặt loài cú đêm, ngũ quan bằng phẳng, đôi mắt sắc bén.

Không biết từ khi nào, số lượng Harpy bắt đầu giảm dần, cuối cùng biến mất. Johnson không nghĩ nhiều, vì tình huống này quá phổ biến, chủ nhân tà thần ngủ say, quyến thuộc sẽ giảm hoạt động, thậm chí chìm vào giấc ngủ, y cũng không biết đám quái vật đầu người mình chim này thuộc về đồng loại nào.

“Asik là đồng minh của Typhon, Harpy là con của Typhon.” Gymir giải thích.

Johnson: “…” Thì ra Typhon tới để trả thù. Lại còn kéo cả gia đình đến đánh chung?

Không phải, với tà thần, một đồng minh chẳng mấy quan trọng, chứ đừng nói là đồng minh của đồng minh, Behemoth không coi trọng hoàn cảnh của Asik. Với Typhon, gã có quá nhiều con, gã nhất định sẽ trân trọng những đứa vừa sinh ra đã là tà thần, nhưng loại quyến thuộc như Harpy thì không đáng tiếc, chết sạch rồi thì có thể sinh ra tiếp.

Vậy nên việc trả thù thì không phải giả, nhưng quan trọng hơn là những đồng minh và những đứa con vẫn còn sống của Typhon. Johnson đã xác nhận rằng cả Skyra và Hydra đều có sức mạnh trung bình. Chimera thì càng khỏi nói, sống lâu như vậy mà vẫn chẳng hơn gì một thần mới, tà thần yếu hơn nó mà Johnson từng thấy chắc chỉ có Bướm Xám phiên bản gặp lần đầu ở Luân Đôn. Con cái chẳng ra sao, đồng minh thì phải tự mình đứng ra lôi kéo, Typhon sống vất vả thật.

Đang nghĩ ngợi, Johnson nhìn thấy Kukulkan. Cái con này thực sự chạy rất nhanh, nó đã vòng sang phía bên kia của mặt trăng, chuẩn bị chuồn về trái đất. Về tốc độ thì Gymir không thể đuổi kịp thần Rắn lông vũ, nhưng vì Kukulkan sợ vỡ mật rồi, nhất quyết phải đi vòng nửa vòng…

“Không!”

Áo choàng bóng tối của Gymir cuốn lấy Kukulkan, kéo nó đi.

Thần Rắn lông vũ liều mạng vùng vẫy, nhưng vì trước đó nó đánh với thần Mặt trời đã bị thương, mà lợi thế sức mạnh của Gymir và Johnson thể hiện ở việc làm thời gian ngừng trôi, chỉ cần bị “bao phủ” thì ưu thế về tốc độ của thần Rắn lông vũ không thể phát huy được.

Gymir nhanh chóng lao trở lại chiến trường.

Đúng như hắn và Johnson dự đoán, bản thể của Kukulkan – đám mây phát sáng đó – quả thực có tác dụng phòng ngự nhất định đối với ngọn lửa ánh sáng của thần Mặt trời. Đây cũng là nguyên nhân quan trọng khiến thần Rắn lông vũ có thể tồn tại đến ngày nay.

Typhon lại bị đánh ngã xuống đất, nhưng thay vì bị thần Mặt trời tấn công, gã lại nghe thấy tiếng hét của Kukulkan. Typhon ngơ ngác ngẩng đầu lên, thấy Gymir “giơ cao” Kukulkan và đập về phía thần Mặt trời. Không, không phải là đập, mà giống như mặc áo khoác và cầm khiên hơn. Tất cả mắt của Typhon đều đang chớp chớp.

Tonatiuh bị đánh xong cũng bối rối. Vì đòn tấn công của Gymir còn bị thần Rắn lông vũ ngăn cách, hầu hết sức mạnh của đòn tấn công này đều do Kukulkan hứng chịu! Thế này là đang đánh thần Mặt trời, hay đang giết thần Rắn lông vũ?

Kukulkan kêu gào thảm thiết, chất vấn Gymir đang muốn giết mình phải không.

“Mày ngu thật hả, không biết phải làm gì à?” Gymir chế nhạo.

Johnson thì tốt bụng (?), nhắc nhở Kukulkan cách đúng đắn để làm một cái khiên, cứ chịu tổn thất là đủ rồi.

Thần Rắn lông vũ tức đến nỗi khúc xương nằm trong cụm mây vẹo hẳn đi. Một tên thần mới dám nói chuyện với nó như thế này? Thế nhưng thần Rắn lông vũ không ngu, trong tình huống thế này thì cố giữ lấy thể diện cũng vô dụng, nếu tiếp tục chống đỡ thì người chết đầu tiên nhất định sẽ là nó. Có uất ức đến đâu cũng chỉ có thể hợp tác.

Kukulkan chủ động chia ra một phần sức mạnh của mình bao phủ mặt trước của cái bóng, đồng thời di chuyển cơ thể chính sang một bên, tùy theo mức độ tiêu hao của lớp “lá chắn” đó mà tiến hành bổ sung bất cứ lúc nào.

Lần này, đòn tấn công của Gymir cuối cùng cũng có tác dụng. Trước khi thần Mặt trời kịp phản ứng, Johnson lại liếc sang Typhon ở bên cạnh. Lá chắn thì càng nhiều càng tốt phải không nào.

Typhon bị dây leo và cái bóng kéo lại vẫn không phản ứng gì, đến lúc ăn một đòn nặng nề của thần Mặt trời mới chợt nhận ra vai trò của mình. Lần này Johnson không cần phải làm gì nữa, Typhon đã tự mình chộp lấy chiếc khiên Kukulkan, khoác lên người, lao tới ôm chặt thần Mặt trời.

Ánh sáng chói lòa đột nhiên giảm xuống.

Ngọn lửa ánh sáng biến mất trong chốc lát.

Trong tai chỉ còn lại những lời chửi rủa giận dữ của thần Rắn lông vũ.

Sao mà Gymir có thể bỏ lỡ cơ hội tốt như vậy, sức mạnh khủng khiếp quất sang như một cơn sóng thần

***

Đảo Greenland.

Gió tuyết dừng lại vào lúc bình minh.

Hans dẫn người đi thiết lập chữ Rune xung quanh nơi cắm trại, họ không chắc liệu những con chó khổng lồ kia có quay lại tấn công hay không. Không lâu sau, bầu trời đột nhiên trở nên sáng sủa hơn. Phản ứng đầu tiên của Hans là cúi đầu, không nhìn lên trời.

Nhưng viên phi công xui xẻo đó thì lại không có ý thức cảnh giác này, hắn không những nhìn mà còn hét lên thảm thiết. Liên tục chạm trán với sự kiện huyền bí, tinh thần của hắn trở nên mong manh dễ vỡ, giờ thì hoàn toàn điên loạn. Hắn vừa tru vừa khóc, Hans vội vàng ấn hắn xuống, dùng mấy viên thủy tinh khắc chữ Rune để ngăn cản phi công biến dị.

“Vào trong lều ngay.”

Hans dẫn mọi người chui vào những căn lều nhỏ dựng tạm. Qua tấm bạt dày, có thể nhìn thấy mặt trời chói chang xuất hiện trên bầu trời.

Ba phần tư đảo Greenland nằm trong vòng Bắc Cực, ở đây tuy không phải nhưng vẫn chịu ảnh hưởng của đêm vùng cực, thời gian ban ngày rất ngắn. Mặt trời bây giờ rất kỳ lạ, vị trí của nó lại càng kỳ lạ hơn.

“Đó là mặt trăng.” Hans nói với sắc mặt rất xấu. Họ không thể làm gì được, con người không thể lên mặt trăng, cũng không thể làm gì để ngăn chặn sự thay đổi này.

Thấp thỏm sợ hãi chờ đợi một lúc, mặt trăng đột nhiên trở lại bình thường, nhưng lần này màu đỏ như máu lại chuyển sang màu trắng xanh.

Hans: “…”

Có nhiều hơn hai vị thần cổ xưa đang đánh nhau trên mặt trăng?

Hiệp đầu gây ra trăng máu, hiệp hai xuất hiện mặt trời giả, đến hiệp ba, một sức mạnh mới chiếm được ưu thế?

Sao mặt trăng đông vui quá vậy?



<i>Người dịch:</i>

<i>Thật ra nguyên lý đánh đấm hiệp ba cũng đơn giản, mây đen thì che khuất mặt trời đó mà.</i>

<i>Bọn tà thần này đánh nhau như tấu hài =))</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 112


<b>Chương 112</b>

<b>Trái đất chân chính</b>

Johnson không biết mặt trăng thay đổi màu sắc dữ dội đến mức nào, y cũng không quan tâm đến điều đó.

Một vụ nổ lớn xảy ra sau khi dòng năng lượng va chạm, giống như khi nước biển cực lạnh gặp dung nham cực nóng. Vụ nổ xảy ra ở nhiều cấp độ cùng lúc, làm rung chuyển không gian một cách dữ dội. May mắn đây là hành tinh “chết”, không có dung nham sâu dưới lòng đất trào lên tham gia cuộc vui, nếu không mặt trăng có lẽ sẽ phải đổi màu lần nữa.

Johnson đứng ở trung tâm của chấn động lại một lần nữa rơi vào trạng thái trì trệ. Y nghe thấy tiếng gào thét giận dữ của thần Mặt trời, tiếng gầm của Typhon, và cái cảm giác lạnh băng dịu dàng… từ Gymir.

Sau khi hấp thu được sự hỗ trợ đến từ mọi mặt này, dần dần khôi phục lại, Johnson phát hiện trình độ sức mạnh của mình đã bị cưỡng ép tăng lên. Một vài vật chất vô hình mơ hồ và hỗn loạn cuối cùng cũng lộ ra bộ mặt thực sự của chúng.

Thời gian, không gian, cùng với… ngọn lửa ánh sáng của Tonatiuh. Chúng không hoàn toàn hòa vào làm một, mà chứa đầy những vết nứt không đồng đều. Thần cổ xưa tung ra những đòn tấn công tạo thành nhiều vết nứt lớn hơn, rồi lại cố gắng hết sức để không rơi vào vết nứt, giống như việc nhảy qua nhảy lại bên trên đầm lầy không đáy, trong khi cố gắng đá ngã đối thủ.

Sức mạnh của Tonatiuh tương tự như một vũng lầy mới, nó không chỉ có thể bảo vệ sự ổn định của bản thân khỏi bất kỳ ngoại lực nào can thiệp vào, mà còn chủ động nuốt chửng những kẻ xâm nhập. Chức năng che chắn của Typhon và thần Rắn lông vũ là để “mở” ra một con đường có thể đi qua, không chỉ đảm bảo Gymir không bị cắn nuốt, con đường này còn “đưa” các sức mạnh của các vũng lầy bên ngoài vào một cách hiệu quả, nhằm cố gắng làm tan rã ngọn lửa ánh sáng của Tonatiuh từ bên trong.

Ngọn lửa ánh sáng rực rỡ biến thành một quả cầu tròn vặn xoắn không đều. Có nhiều vết nứt gớm ghiếc ở giữa. Những vết nứt cũ đang dần được sửa chữa, còn Gymir đang chăm chú xé ra những vết nứt mới.

Johnson trước đó chỉ có thể kéo Typhon ra làm lá chắn. Lúc này đã “nhìn rõ” những thay đổi bên trong, y đột nhiên nhân lúc cả Gymir và Tonatiuh đều không chú ý, ra tay với một vết nứt khác sắp lành. Lực không mạnh lắm, nhưng vết nứt bị xé ra đó lại tình cờ nối tiếp với vết nứt bên cạnh. Khoảnh khắc hai vết nứt nối liền nhau, phần nằm giữa sụp đổ. Dao động không gian tăng mạnh hơn, vùng không gian sụp đổ nuốt chửng luôn một phần nhỏ của ngọn lửa ánh sáng.

Thần Mặt trời lập tức chú ý đến Johnson, vị thần mới yếu ớt vẫn luôn ẩn náu trong cái bóng. Trên thực tế, Tonatiuh đã biết Cochro có ý đồ gì ngay khi lần đầu tiên nhìn thấy cặp đồng minh này. Chẳng qua là muốn phá bỏ giao ước của người khác chứ gì? Nó rất khinh thường, còn cho rằng thật buồn cười, không phá hoại được thì gọi nó ra ăn thịt người ta? Tonatiuh không mấy bận tâm đến hành vi giới thiệu đồ ăn này, nhưng nó chê hai đồng loại này không ngon. Vì những đặc tính mạnh mẽ nên dù khó ăn đến đâu, nó cũng phải nuốt vào.

“…Có lẽ tao nên hỏi Cochro đi đâu rồi.” Giọng nói của thần Mặt trời gây ra một làn sóng dao động của ngọn lửa ánh sáng, gọt phăng đi mất một lớp mây mù trên người Kukulkan.

Kukulkan tức gần chết, Cochro tấn công Gymir thì mắc mớ gì tới nó chứ? Vì sợ Tonatiuh, Kukulkan thậm chí còn ẩn náu trên mặt trăng, ngay khi nghe tin thần Mặt trời có thể quay lại là nó lập tức tỉnh ngủ, cảnh giác đề phòng thế rồi mà họa vẫn từ trên trời ập xuống. “Ký hiệu đồ ăn” của Cochro rõ ràng là nhằm vào Gymir mà?

“Cochro chết rồi.” Gymir đáp.

“Cái gì?” Kẻ hét lên lại là thần Rắn lông vũ.

Johnson nhớ ra Typhon từng nói Kukulkan đã biến mất khỏi cõi mộng, sau đó không làm sao liên lạc được với nó nữa, quả thật nó không hề biết việc Cochro bị Bướm Xám ăn mất rồi. Khó mà giải thích việc này nhỉ, một thần cổ xưa bị thần mới ăn thịt… thần mới còn chạy trốn ra ngoài vũ trụ… Chuyện vô lý thế này lại không có bằng chứng, thần Mặt trời đời nào chịu tin. Mà không, sao phải giải thích? Đang đánh đấm túi bụi rồi, còn quan tâm Cochro chết hay sống với Tonatiuh nghĩ cái gì để làm gì chứ? Cứ tiếp tục phá các vết nứt là đủ.

Gymir trao đổi với Johnson trong tâm trí, hắn nhẹ nhàng chạm vào quả cầu dây leo, như đang kiểm tra tình trạng của Johnson, lo lắng liệu việc y ở phía sau phá vết nứt có gây quá tải, làm tổn thương bản thể hay không. Lúc đầu, dây leo mặc kệ Gymir, nhưng sau đó cảm thấy phiền quá, nhân cơ hội này để đánh thần Mặt trời không tốt sao?

“Em không sao.”

“…” Cuối cùng Gymir cũng thôi lo lắng.

Johnson cân nhắc, nói: “Cochro đã đúng một điều, thần Mặt trời là sự tồn tại đáng sợ mà nếu gặp nó, hầu hết tà thần sẽ kinh hoàng khi nhận ra sức mạnh của chính mình là quá thấp kém.”

Cochro lên kế hoạch “đánh thức” Tonatiuh để “dạy dỗ” Gymir và Johnson, lời đe dọa này thực ra là có tác dụng, nhưng đáng tiếc là hiệu quả đã bị “trì hoãn”. Bây giờ có Typhon, có cả Kukulkan.

Nhắc mới nhớ, tiếng hét của Kukulkan có lớn quá không nhỉ?

Johnson vô thức ngẩng đầu lên. Y bị tiếng ồn quấy rầy, đến nỗi sợi tơ của cái bóng vừa phá vết nứt phải run rẩy mấy lần.

Sau khi quan sát, Johnson nghi ngờ tiếng kêu của thần Rắn lông vũ là một hình thức tấn công. Sóng âm sở hữu sức mạnh xuyên thấu khiến cho các vết nứt trên nhiều cấp độ tồn tại của sức mạnh xuất hiện những hoa văn gợn sóng. Đặc biệt là khi thần Rắn lông vũ trong truyền thuyết của con người luôn xuất hiện kèm theo sấm sét và mưa lớn, ngăn chặn ánh nắng gắt kinh khủng, xoa dịu cái nóng như thiêu như đốt của trái đất…

Nghĩ theo hướng này thì cách y và Gymir “sử dụng” đồng đội là rất chính xác. Đánh không lại thần Mặt trời có lẽ vì thần Rắn lông vũ la hét còn chưa đủ lớn? Đúng vậy, cơn giông không đủ mạnh.

Johnson: “Em cảm thấy Kukulkan hơi ngốc.”

Gymir đột nhiên nghe được câu này, trong lòng bối rối, nhưng hắn vẫn đáp lại trong ý thức: “Nghĩa là sao?”

“Mặt trăng không phải là nơi thích hợp để nó phát huy sức mạnh.”

Ngọn lửa ánh sáng của Tonatiuh vẫn duy trì sức mạnh đáng sợ trên hành tinh chết chóc không có không khí này, thần Rắn lông vũ thì sao? Kukulkan cần một hành tinh đầy bão tố. Sao Mộc không được, nó quá giống mặt trời, nhưng sao Thổ trông có vẻ được.

Gymir nói: “Chúng ta không nên đi quá xa trái đất.”

“Sao cơ?” Johnson không thể hiểu câu nói này.

“Nhìn lại đi, bây giờ chắc em có thể nhìn thấy rồi.”

Johnson cuối cùng cũng tìm được trong khoảng trống một cơ hội để quay lại nhìn hành tinh xanh kia.

Không, đó không phải là một hành tinh.

Trong vũ trụ tối đen như mực, vị trí của trái đất trông hệt như một cái hố lớn bỗng nhiên lõm xuống, một hang động bí ẩn nhìn không thấy đáy.

Nó thậm chí không phải là một hình cầu.

Đó là một không gian kỳ lạ bị kéo dài và xoắn lại bởi sức mạnh vô hình.

Một cái hố như vậy xuất hiện mà không hề báo trước giữa vũ trụ bao la, và dù nhìn từ góc độ nào cũng chỉ có thể nhìn thấy lối vào, không thể nhìn thấy lòng hố ở phía dưới.

Mặt trăng nằm ở rìa của cái hố sụt này, đứng ở đây có thể thấy rõ sức mạnh của muôn màu muôn vẻ và các vật chất vô hình khác nhau ào ạt vút qua mặt trăng chảy vào trong hố, hình thành hàng loạt thác nước ngoạn mục, còn mặt trăng… như tảng đá khổng lồ phía trên thác nước, có vẻ lung lay sắp đổ.

Johnson choáng váng trước góc nhìn của thần cổ xưa này.

“Đây là cái gì?”

“Bản chất của trái đất, nguyên nhân khiến em và ta ra đời.”

Có rất nhiều hành tinh trong vũ trụ nhưng rất ít trong số đó có sự sống. Càng có ít hành tinh có thể sinh ra tà thần. Một vài tà thần ra đời ngay trong không gian không thể miêu tả, bất kể thời gian hay không gian đều không thể định vị họ, họ là những tồn tại hoàn toàn thoát ly khỏi trật tự, cũng không thể được các dạng sống hữu hình mô tả hoặc tưởng tượng ra.

Ngoài ra còn có vài tà thần như Gymir và Johnson, sinh ra trên hành tinh tưởng chừng như không bắt mắt này. Họ sẽ “thân thiện” hơn một chút, gần “trật tự” hơn một chút, đồng thời con người cũng có thể miêu tả hình dạng của họ thành một thứ gì đó gần gũi với thế giới thực. Cái gọi là không bắt mắt này, chỉ là đối với những loài có cấp độ sinh mệnh không đủ cao.

Johnson chưa bao giờ rời khỏi trái đất. Nếu y sẵn lòng đứng trong không gian tối tăm này để quan sát trái đất thật lâu, ngay cả khi không có góc nhìn của thần cổ xưa, thì theo thời gian, dần dần y cũng nhận thấy điều gì đó không ổn, ví dụ có rất nhiều sức mạnh hỗn loạn xung quanh rìa trái đất, nhiều hơn mức độ bình thường. Chỉ tiếc là vừa bước ra đã phải tìm kiếm Kukulkan, ngay sau đó thì thần Mặt trời xuất hiện, quấy rầy cảm quan và ý thức của Johnson một cách nghiêm trọng.

Trong khoảnh khắc này, Johnson đã hiểu ra rất nhiều điều. Có nhiều điều trước đây y từng nghi ngờ, nhưng vì chúng quá thường gặp nên chưa suy nghĩ sâu sắc.

Tại sao tà thần không phải làm gì cả, chỉ cần ngủ thôi cũng tăng sức mạnh. Tại sao có vài nơi trên trái đất lại rất “thoải mái”, thích hợp làm hang ổ của tà thần, có lẽ vì chúng là điểm mà “thác nước” trút xuống?

Tại sao Typhon đã không hoạt động nhiều năm nhưng vẫn có bản đồ địa hình rõ ràng của hành tinh này… Mặc dù thần cổ xưa đã có hang ổ êm ấm của riêng mình nhưng Typhon vẫn có lòng tiếp tục đi tìm đồng minh mới, sinh ra những đứa con mới, vậy thì phải luôn chú ý đến “bản đồ bất động sản phiên bản trái đất”.

Và tại sao tà thần lại phải đứng trước hai sự lựa chọn, ở lại trái đất hoặc đi đến nơi sâu thẳm trong vũ trụ. Hóa ra nơi sinh ra họ này là một ốc đảo trong sa mạc thần kỳ. Trước khi thực sự có thể thoát ra khỏi sa mạc này, chỉ có thể tiếp tục tìm kiếm những ốc đảo khác và lang thang trong đó. Bên ngoài <i>sa mạc vũ trụ</i> mới là nơi mà mọi tà thần đều khao khát. Nhưng hầu hết tà thần đều không làm được, thử nghĩ xem trên trái đất – nơi sinh họ này – đã đầy rẫy những nguy hiểm, có khả năng bị đồng loại g**t ch*t và nuốt chửng, thì sao nơi sâu thẳm trong vũ trụ là một ngoại lệ được?

Cochro đuổi theo đòi lập giao ước với Gymir, gã muốn hợp nhất thành một vị thần mới, không chỉ vì khao khát sức mạnh mà còn hy vọng bỏ qua hành trình lang thang lâu dài và vô vọng này. Gã không muốn nằm ở trái đất chờ một ngày nào đó trưởng thành, cũng không muốn tiếp tục lang thang ở nơi sâu thẳm trong vũ trụ, chỉ muốn một bước chạm tới bầu trời.

“Thảo nào mà trước kia Cochro từng để mắt tới Tonatiuh, nhưng sau đó lại từ bỏ thần Mặt trời.” Johnson chợt nhận ra.

Khi Cochro bước vào vũ trụ, nhận thấy Tonatiuh mạnh mẽ hóa ra cũng chỉ có vậy, vẫn chưa thể đạt được đẳng cấp sức mạnh mình mong muốn, thế là gã thay đổi mục tiêu.

“Thảo nào mọi người lại nói Cochro quá tham lam.”

Johnson nghĩ ra rất nhiều chi tiết, cũng biết rằng nếu trước đây Gymir có giải thích cho mình, thì dù nói bao nhiêu đi nữa cũng không rõ ràng bằng việc đứng đây “nhìn” tận mắt.

“Ta cứ tưởng vài năm nữa, mười mấy năm nữa mới có ngày này.” Giọng Gymir đầy oán hận.

Hắn thực sự muốn đưa Johnson xuống đáy biển tiếp tục ngủ!

Thêm một lần dung hợp nữa là đủ rồi, hắn có rất nhiều điều để nói với Johnson, ngồi nhàn nhã trên mặt trăng để ngắm khung cảnh này không tốt hơn sao? Chắc chắn không phải là để Johnson vừa giúp đỡ vừa nói chuyện trong trận chiến với thần Mặt trời.

Không có bầu không khí gì hết!

Hắn uổng công đọc rất nhiều sách của con người, còn học hỏi kế hoạch từng bước để quay lại thời kỳ yêu say đắm từ John nữa chứ… thứ tự thời gian bị xáo trộn cả rồi!
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 113


<b>Chương 113</b>

<b>Bất an</b>

Trận chiến của tà thần nếu không thể kết thúc trong thời gian ngắn, thì sẽ kéo dài thật dài, rất nhàm chán và rất nguy hiểm. Chán là suy nghĩ của tà thần thôi, còn nguy hiểm là hiện thực. Nó sẽ mang đến sự hủy diệt cho vô số sinh vật, gây ra sự sụp đổ của lớp vỏ trái đất, sự hỗn loạn của trật tự thời gian và không gian cùng nhiều hậu quả tiêu cực khác.

Giờ đây, mặt trăng ở rìa “hố sụt” đang phát ra thứ ánh sáng đặc biệt. Là tảng đá trên vách núi, hay tảng đá chắn dòng chảy trước hang tối, mặt trăng sẽ tự nhiên dẫn dắt sức mạnh tác động lên vực thẳm vô tận phía sau. Bây giờ có một cảnh tượng ngoạn mục khôn tả đang diễn ra, vài dòng nước ban đầu chảy vào hố lớn trái đất này bắt đầu “bay lên”, vặn xoắn rồi trút về phía nơi sâu thẳm trong vũ trụ. Nơi gánh chịu đầu tiên là sao Hỏa, sau đó là sao Kim. Sức mạnh hỗn loạn và huyền bí quét qua thiên hà này như một cơn sóng thần.

Con người trên trái đất giơ kính viễn vọng thiên văn lên, lo lắng quan sát bầu trời. Bản đồ sao bỗng xuất hiện hiện tượng sai lệch khó hiểu. Sao Kim xuất hiện trước bình minh cũng bắt đầu phát ra màu đỏ như máu.

Đồng thời, tác động tiêu cực của trăng máu ngày càng mở rộng. Thông tin liên lạc qua vệ tinh bị gián đoạn hoàn toàn, thông tin liên lạc qua điện thoại quay số chỉ khôi phục trong một giờ rồi nhanh chóng tê liệt. Bật điện đài vô tuyến lên thì chỉ toàn tạp âm ồn ào, đôi khi có những tiếng la hét quái dị khó hiểu phát ra. Tài chính và nền kinh tế buộc phải ngừng hoạt động, thị trường chứng khoán ngừng giao dịch, nhiều người lần đầu tiên bắt đầu chú ý đến bầu trời trên đầu họ.

“…Đó là hoạt động của vết đen mặt trời, không còn nghi ngờ gì nữa!”

Đây là một lý thuyết được các nhà kinh tế học người Anh đưa ra vào năm 1875, đó là suy thoái kinh tế có tính chu kỳ, hoạt động của vết đen mặt trời cũng vậy, chính vết đen mặt trời khiến mùa màng nông nghiệp sụt giảm, sau đó nền kinh tế sụp đổ.

Mặc dù hầu hết các chủ ngân hàng đầu tư không hiểu vết đen mặt trời là gì, nhưng họ rất quen thuộc với thuật ngữ này, lấy ra là dùng luôn, bất kể nó có hợp lý hay không. Khi mọi người đang hoảng loạn, họ thở dài và ném ra thuật ngữ này, rồi ngay lập tức thu hút được sự chú ý và phỏng vấn từ các phương tiện truyền thông.

Khi người ta không thể xem TV thì báo chí vẫn có thị trường tiêu thụ. Trăng máu kinh dị kia đang treo ngay trên bầu trời, ai cũng đều thấy, không thể che giấu. Trong hai ngày qua, số lượng phát hành báo đã tăng vọt.

Các nhà thiên văn học cho rằng hiện tượng trăng máu thường thấy khi có nguyệt thực toàn phần, còn các nhà kinh tế học vẫn nói về vết đen mặt trời. Không hiểu sao hai bên lại bắt đầu cãi nhau trên các mặt báo. Đầu tiên là ngày tháng không trùng khớp, vào thời điểm này còn chưa có trăng tròn, chứ đừng nói đến nguyệt thực, hơn nữa trăng máu còn chuyển sang màu xanh lục và xanh lam trong thời gian ngắn… Thứ hai, đây không phải là chu kỳ hoạt động của vết đen mặt trời, lý thuyết này vốn chỉ là bịa đặt.

Trên các đường phố và quảng trường trong thành phố, đã có người giương cao các khẩu hiệu về ngày tận thế và sự phán xét, lớn tiếng rao giảng. Trong nhà thờ ở các thị trấn nông thôn thì có người cầu nguyện chân thành, trong khi những người khác lặng lẽ trốn xuống tầng hầm, phấn khích hét lên rằng Đức Chúa Trời thật sắp đến trái đất.

Người phát điên, người bối rối, người đột nhiên biến mất… Thế giới đang chìm trong hỗn loạn. Kiểu hỗn loạn này không biểu hiện bằng sự đau đớn về thể xác, cũng không có ồn ào đầy khói thuốc súng, nó như một con quỷ thầm lặng, ẩn nấp xung quanh con người.

Nói theo cách này cho dễ hiểu, hầu hết mọi người sẽ chỉ thấy mới lạ hoặc khó chịu khi cụ già hàng xóm đột nhiên nổi điên, hoặc đứa trẻ hàng xóm khóc suốt ngày đêm, chứ không coi đó là dấu hiệu của thảm họa. Người ta quan tâm hơn đến việc khi nào TV, điện thoại, đài radio trong nhà sẽ trở lại bình thường, mắt họ dán chặt vào tin tức trên báo. Nếu báo chí không đề cập đến điều gì đó thì tất nhiên nó đã không xảy ra!

Cho dù đó là một vụ tai nạn máy bay, xe lửa trật bánh, hay một con tàu bị mất tích… Những tai nạn này không ly kỳ như chuyện xảy ra với tàu Elizabeth, số người chết và mất tích chưa tới ba con số, nhìn thế nào cũng không bắt mắt bằng trăng máu, những vụ tai nạn không liên quan gì đến đất nước của họ thì sẽ không xuất hiện trên mặt báo.

Người ta không thể mua báo, hay nghe được nhiều tiếng nói hơn từ bên ngoài khu vực địa phương của họ, ngay cả hiện tượng trăng máu cũng phải được thông qua báo chí để khẳng định nó đang diễn ra trên toàn thế giới, chứ không phải một sự việc xúc phạm đến nhà thờ và Chúa ở gần đó.

Sao cơ? Một nhà thiên văn học nổi tiếng đột nhiên đổ bệnh? Người ta mở báo ra, suy đoán ông già này đổ bệnh là do mấy lời nói tục tĩu của các nhà kinh tế học.

Hôm nay người ở đồn cảnh sát tìm thấy thi thể trong cống thoát nước? Họ đều là những kẻ lang thang, Chúa phù hộ cho những người tội nghiệp đó!

Cảm thấy đau đầu hoặc cảm thấy không khỏe? Đây đều là những vấn đề nhỏ thôi, đặt lịch đi bác sĩ quá tốn kém.

Có những cơn ác mộng kỳ lạ, nhìn thấy ảo giác? Có lẽ do quá mệt… không có gì to tát, chỉ cần nghỉ ngơi một ngày là sẽ ổn thôi.

Ngược lại với những hành vi phớt lờ các dấu hiệu nguy hiểm này, con người ngày càng trở nên lo lắng và nóng nảy. Có thể thấy tài xế xe hơi thò đầu ra la hét giận dữ ở khắp nơi trên đường, người trong quán cà phê trên phố bắt đầu đánh nhau, người đưa thư bên đường bị chó cắn rất nặng…

Cạch.

Cindy Fresnel đóng sầm cửa lại, dùng một tay ấn chiếc mũ len lên đầu… Cảm ơn thời tiết tháng 10 ở Luân Đôn giúp việc đội chiếc mũ này không trở nên quá kỳ lạ… cô cảm thấy tai mình được yên tĩnh hơn rất nhiều.

Đầu tiên cô đến thăm bà nội đang ngủ gật trong phòng ngủ, rồi dặn bà Hampton mới được thuê đến làm việc nhà hãy về nhà sớm.

Bà Hampton suýt bị thương ở tay khi gọt khoai tây, trông bà có vẻ rất lo lắng, nghe nói con trai út của bà bị bệnh, đêm nào cũng sốt. Bà Hampton cảm ơn lòng tốt của Cindy rồi vội vã rời đi.

“Gần đây luôn có chuyện xảy ra, buổi tối đừng ra ngoài.” Cindy không nhịn được nhắc nhở.

Cindy cảm thấy bà Hampton có thể chưa nghe được câu nói này, vì bà ấy đang ở trong trạng thái xuất thần.

Thật tệ hại.

Cindy đứng trong phòng, tuyệt vọng suy nghĩ. Ngôi nhà này là một cái lồng, thành phố là một cái lồng lớn hơn nữa. Nguy hiểm đến từ khắp nơi, không biết khi nào nó sẽ bùng phát. Lần này dù có trốn về nông thôn cũng không tránh được tai họa, ở nông thôn không có cảnh sát lại càng nguy hiểm hơn, rồi còn đủ loại tín đồ dị giáo.

Cindy kiểm tra các cửa ra vào và cửa sổ, đặt những chiếc bẫy đơn giản để đảm bảo nếu có ai cố lẻn vào nhà, một tiếng động lớn sẽ lập tức đánh thức cô hoặc bà Fresnel.

Chỉ một ngày trước, có hai gương mặt lạ lang thang bên ngoài nhà Cindy. Cô biết họ không phải là kẻ trộm mà là người được chính phủ Anh cử đến để “giám sát” hai bà cháu. Nghe nói rằng mỗi người sống sót được “chữa lành tinh thần” sẽ nhận được đãi ngộ như thế. Ngôi nhà hiện tại của Cindy là nhà thuê, những người dân xung quanh không biết chuyện đã xay ra với hai bà cháu. Những ngày này Cindy bận liên lạc với người thân ở Canada, cố gắng tìm cách an toàn hơn để đến châu Mỹ. Trăng máu xuất hiện đã phá vỡ mọi kế hoạch. Hai kẻ theo dõi đã biến mất.

Hôm nay Cindy nhìn thấy họ trên một con phố khác, nghe nói có một vụ giết người xảy ra ở đó, một giáo sư đại học nổi điên vào lúc nửa đêm và bóp cổ người vợ đang ngủ chung giường với mình, còn viết nhiều biểu tượng kỳ lạ lên tường và trần nhà của ngôi nhà. Thật tồi tệ, bạn không bao giờ biết khi nào người hàng xóm của mình hoặc một người qua đường nào đó sẽ đột nhiên phát điên. Những vũ khí giết người rất dễ tìm: dao làm bếp, gậy gỗ, kẹp lửa…

Cindy tìm thấy lọ thuốc ngủ trong ngăn kéo của bà nội, cô thêm hai giọt vào ly nước của mình, liếc nhìn đồng hồ rồi nhanh chóng chìm vào giấc ngủ.

***

Đây là cánh đồng băng hoang vắng, có gió tuyết gào thét. Trong giấc mơ thì không lạnh. Trong khu rừng xa xa có ánh mắt làm người ta phải bất an, những đôi mắt thú màu xanh lục lóe lên như thể có một bầy sói đang rình mò gần đó.

Cindy bước nhanh về phía căn lều duy nhất có ánh lửa trên cánh đồng băng.

Ba người đã ngồi bên đống lửa trước lều. Khuôn mặt của họ đều rất mờ mịt. Từ ngày đầu tiên trăng máu xuất hiện, ngay cả cõi mộng cũng trở nên bất ổn, thậm chí có lần còn bị đứt đoạn giữa chừng, giống như tín hiệu thông tin không ổn định. Vì vậy ngoại trừ nhà trị liệu giấc mơ, Cindy không biết hai người kia trông như thế nào, cô chỉ có thể phán đoán tuổi tác và quốc tịch của họ qua giọng nói.

“…Tình hình vô cùng nghiêm trọng, tôi đã cố gắng <i>liên lạc</i> với mọi người mà tôi có thể tìm được.”

Cindy nhận ra giọng nói của nhà trị liệu giấc mơ Hans, đây là một người rất có năng lực, rất cẩn thận và hiền lành, dù ngoại hình và giọng nói của ông ta hoàn toàn trái ngược với kết luận này.

“Nam Mỹ, châu Âu, Đông Nam Á… Tất cả giáo phái bí mật đều gặp khủng hoảng, mất đi một nửa nhân sự chỉ trong ba ngày, mà thế cũng thôi, còn có tín đồ dị giáo cảm nhận được hơi thở hoạt động của tà thần, tưởng rằng đó là dấu hiệu cho thấy tà thần sắp thức tỉnh nên đi bắt cóc phụ nữ và trẻ em làm vật tế.”

Cindy đến không làm gián đoạn cuộc trò chuyện của họ, họ gật đầu với cô, nhích ra chừa một chỗ trống.

Tiếp theo, Cindy nghe nói về các biện pháp của chính phủ Mỹ, Anh và các nước khác. Không có gì mới, chỉ là che giấu thông tin và cố gắng hết sức để điều tra sự thật. Vớ vẩn hơn nữa là Mỹ đề xuất dùng tên lửa mang bom hạt nhân lên ném bom mặt trăng, chấm dứt trăng máu.

“Kế hoạch này đã được tiến hành.” Hans giải thích.

Đây là thông tin do mật vụ Anh có được, người Mỹ cho rằng đây là hành động đúng đắn. Người Anh không muốn phản đối, dù sao cũng không có cách nào tốt hơn, hơn nữa đây chính là thứ vũ khí mạnh nhất trong tay con người. Chỉ có những thám tử từng tiếp xúc với tồn tại huyền bí mới biết đó chắc chắn là ý tưởng ngu xuẩn nhất trần đời!

“Làm sao để ngăn cản?” Người đàn ông tên Juan khẩn thiết hỏi.

Hans ghì giọng nói: “Chỉ sợ là chúng ta không thể.”

Cindy cũng im lặng. Qua sự việc này, cô càng hiểu rõ những người ngồi đây cũng bình thường như mình. Bình thường không phải là chỉ kiến thức và năng lực của họ, mà là địa vị xã hội. Họ không có địa vị đủ cao, không giữ chức vụ quan trọng trong chính phủ, cũng không phải là người phát ngôn của báo chí và truyền thông, thậm chí không thể tiết lộ thông tin và khơi dậy chỉ trích của dư luận.

“Lẽ nào chúng ta phải trơ mắt… nhìn mọi thứ diễn ra sao?” Juan kích động hỏi.

“Đúng, chúng ta thậm chí không thể cảnh báo người khác.”

“John…”

“Chúng ta không thể lên mặt trăng, cũng không thể liên lạc được với <i>quý ông quan trọng</i> kia, thực ra chúng ta phải giữ được nhận thức tỉnh táo, tà thần là gì? Tà thần không quan tâm đến loài kiến sống trên hành tinh này, cho dù có một hoặc hai tà thần có hứng thú với con người thì họ cũng không đại diện cho toàn bộ tà thần.”

Cindy nghe mà ớn lạnh toàn thân, đôi khi cô sợ những lời nói của ông John, vì ông ấy luôn đánh tan tâm lý may rủi trong lòng cô, nhưng đôi khi cô lại mong được nghe ông nói.

“Phải, tôi có một suy đoán tồi tệ đây.” John nhìn sang Cindy, giơ tay ra hiệu: “Hans, cậu vừa mới gặp quý cô trẻ tuổi này cách đây không lâu, tức là <i>quý ông đó</i> vẫn còn hoạt động trong các thành phố của loài người, du hành qua một số sự kiện huyền bí, và theo như chúng ta biết, ngài ấy vừa mới kết thúc giấc ngủ của mình cách đây hai năm. Hiện nay cõi mộng chấn động, trăng máu xuất hiện, có dấu hiệu tà thần trỗi dậy hoặc hoạt động trên khắp thế giới, quý ông đó không thể nào không biết gì được.”

Theo kinh nghiệm của Hans, Johnson ít nhất sẽ xuất hiện trong giấc mơ của họ, cho họ biết nên trốn ở đâu mới là an toàn.

Nhưng không có.

“Ngài ấy đang ở trên mặt trăng.” Lời John nói mang lại sự im lặng chết chóc.

Juan nhảy dựng lên trước, hoảng sợ hỏi: “Điều này không thể được, Johnson… Ý tôi là bọn họ sẽ không làm chuyện như vậy.”

“Tại sao lại không? Nếu có một trận chiến nổ ra giữa các tà thần thì mặt trăng đã là chiến trường ít gây thiệt hại cho con người nhất rồi.” Hans nói ồm ồm.

“Bom hạt nhân…”

“Với tà thần, đó chỉ là một hòn đá tương đối lớn thôi, chỉ có thể chọc giận tà thần chứ không làm hại được họ. Tất nhiên chúng ta vẫn hy vọng tốt nhất là tà thần đừng quan tâm hòn đá đó từ đâu bay đến, giống như con người không quan tâm đến bầy kiến vất vả cực khổ vận chuyển một hòn đá lớn hơn trọng lượng của chúng vô số lần.”

John vỗ nhẹ vai Hans: “Cậu cần phải tỉnh dậy, khung cảnh trong giấc mơ này nghĩa là gần nơi cậu cắm trại có quyến thuộc của tà thần phải không? Mọi người phải cẩn thận, điều thực sự quan trọng lúc này là khi nào cuộc chiến trên mặt trăng sẽ kết thúc và bên nào sẽ thắng. Nếu mất quá nhiều thời gian hoặc kết quả không lý tưởng… trái đất hoặc nhân loại sẽ phải chào đón ngày tận thế, tất nhiên tin tốt là ít nhất chúng ta cũng được ở bên gia đình và bạn bè.”

Cindy cúi đầu lẩm bẩm: “Chúng ta chỉ có thể chờ đợi lời phán xét của số phận thôi sao?”
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 114


.

<b>Chương 114</b>

<b>Lá bài tẩy của Typhon</b>

Có người tin rằng họ sống theo sự sắp đặt của số phận. Có người lại không hề tin có một thứ gọi là định mệnh. Có lẽ từ lâu họ đã nhìn thấu rằng bản chất của thế giới là xấu xa và hỗn loạn, tai họa là thứ không bao giờ có thể bị đánh bại, họ chỉ có thể cố gắng cùng tồn tại với chúng.

Hans cất con dao găm có khắc chữ Rune sang một bên, nhìn thi thể con chó trắng khổng lồ biến thành một đống thịt nhão không ra hình thù gì.

Đây là ngày thứ năm họ bị mắc kẹt trên cánh đồng băng. Cánh đồng băng Greenland bị cô lập với thế giới, khi radio bị hỏng, thế giới bên ngoài rơi vào hỗn loạn, không cách nào tìm được địa điểm cụ thể để giải cứu, họ chỉ có thể tự cứu mình. Không chỉ phải đối mặt với thời tiết xấu, ảnh hưởng của trăng máu, mà còn phải đối mặt với quyến thuộc của tà thần Skyra.

Những con chó khổng lồ này dường như đang dọn dẹp lãnh thổ cho chủ nhân của chúng, thỉnh thoảng lại tuần tra cánh đồng băng, Hans đã gặp chúng ba lần trên đường đi. Hai lần trước coi như đã tránh được, nhưng không ngờ hôm nay lại bị buộc phải tiếp xúc trực tiếp.

Hans quay lại, thấy hai người đồng đội của mình bị thương, nhưng còn vị Thiếu tá ban đầu chịu trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ liên lạc kia thì được bảo vệ tốt. Tom có ý kiến phản đối, học giả huyền bí học trong nhóm liền kéo Tom sang một bên, cả hai thì thầm một lúc.

Hans không cần phải nghe cũng biết họ đang nói gì. Phải, có những thay đổi cần phải được thực hiện. Cũng giống như sự lựa chọn của giáo phái Màu Xám ở Venice hồi đó, nếu ta không chiếm lãnh thổ nào đó thì tín đồ tà giáo sẽ chiếm giữ. Nhưng các chính trị gia không bao giờ đáng tin cậy.

Hans lặng lẽ nhìn vào sâu trong cánh đồng băng, suy nghĩ hồi lâu.

Ông lại nghĩ đến Cú Xám Andreas, nghĩ đến mẹ mình. Vì sự tự do khó khăn mới giành được và tính mạng này, ông sẽ không chọn tham gia bất kỳ thế lực nào, nhưng ông không còn ngăn cản hay từ chối để những đồng đội của mình quyết định phục vụ trong cơ quan bí mật của nhà nước, đồng thời cũng sẽ đào tạo cẩn thận những người trẻ đó.

Nếu như trăng máu cuối cùng mang đến ngày tận thế cho loài người thì tất nhiên không cần phải suy nghĩ gì cả, nếu không, chuyện ngu ngốc như thả bom hạt nhân thực sự không thể xảy ra nữa. Ngoài ra, nếu sử dụng quyền lực nhà nước để theo dõi tung tích những tín đồ tà giáo đó, bắt giữ và ngăn chặn kịp thời thì nhiều người sẽ không chết, tình hình sẽ không trở nên tồi tệ thêm. Suy cho cùng, nếu tà thần liên tục bị con người hiến tế và quấy rối… tà thần thật sự sẽ thả ra một hóa thân, để xem thử là con muỗi nào cứ mãi vo ve không ngừng.

Hans không khỏi thở dài khi nghĩ đến tin tức từ châu Mỹ.

“Tay Thiếu tá đó sợ hết hồn khi nhìn thấy xác con chó khổng lồ.” Tom lặng lẽ chạy tới, nháy mắt nói.

Trên thực tế, đó không phải là một cái xác, mà là một vũng bùn. Nhưng nhìn thấy cảnh tượng này cũng đủ để người bình thường gặp ác mộng cả tháng trời.

“Đừng dọa hắn phát điên.” Hans thuận miệng nói: “Đe dọa được một người cũng không có tác dụng, phải làm từ từ.”

“…Chú biết rồi à?” Tom có hơi xấu hổ, cậu ta không nghĩ lâu dài gì cả, chỉ muốn cho cái tay bảnh bao đó được thấy thế giới chân thực mà thôi. Vũ khí nóng không phải là toàn năng, trên thế giới này có những “quái thú” mà đạn không thể đối phó được.

“Vô ích thôi, hắn sẽ chỉ cho rằng vũ khí của chúng ta không đủ uy lực, hỏa lực không đủ.” Hans nói thẳng thừng.

Tom há miệng, nhận ra rằng đây thực sự là những gì đã xảy ra, cậu ta lúng túng đứng đó xoa xoa tay.

“Trên thực tế, cả thế giới đều đang bị ám ảnh bởi sức mạnh của V* kh* h*t nh*n, đặc biệt là người Mỹ, họ thậm chí còn nóng lòng muốn tìm được mục tiêu để chứng minh sức mạnh của loại vũ khí này một lần nữa, đừng nói là trên mặt trăng có tà thần, dù không có gì cũng chẳng thể cản được bọn họ ném bom lên đó.” Học giả huyền bí học William tiến tới, nhận xét với giọng điệu khắc nghiệt.

Đôi lông mày cau lại của Hans giãn ra một chút.

William rất thông minh, anh ta nhận ra khúc mắc trong lòng Hans, bèn thì thầm: “Cho nên dù tương lai có thế nào đi chăng nữa thì chắc chắn sẽ có chuyện như thế này xảy ra.”

Nếu không tận mắt nhìn thấy bom hạt nhân là vô dụng, không bị ngã một vố thật đau, thì cái gọi là cơ quan bí mật của chính phủ sẽ không bao giờ được coi trọng, các thám tử dù phải trả giá bằng tính mạng cũng không bao giờ được tôn trọng, những kiến thức về chữ Rune và huyền bí học sẽ bị coi là những “thủ thuật nhỏ”, không khác gì những mũi tên độc của người dân bản địa và bài thuốc trường sinh của thầy phù thủy. Về mặt nhu cầu thì quả thật là vậy, suy cho cùng, những người có quyền lực chỉ mong muốn hai thứ này.

Hans xoa trán, ra hiệu cho mọi người thu dọn đồ đạc xong thì tiếp tục lên đường. Họ phải rời khỏi khu vực cánh đồng băng này càng nhanh càng tốt, nếu không sẽ có nhiều quyến thuộc của tà thần đuổi kịp. Skyra không phải là một tà thần quá hùng mạnh, một mình Hans có thể đánh gục được hai con chó khổng lồ thế này, nhưng chúng đi theo bầy đàn nên rất khó giải quyết.

Gió gào thét như điên, tuyết càng rơi dày hơn. Hans nhớ đến Cindy, khi chia tay trong giấc mơ cách đây năm ngày, cô gái trẻ đã chủ động tiết lộ tên mình cũng như việc cô là một người sống sót trên tàu Elizabeth, đồng thời hỏi làm cách nào để có thêm kiến thức về huyền bí học. So với Juan chỉ muốn biết ký tự bùa hộ mệnh, Cindy Fresnel thích hợp trở thành thành viên của đội điều tra tồn tại huyền bí hơn, khi cô có đủ năng lực, tư cách người sống sót của tàu Elizabeth sẽ trở thành một phần lý lịch và là con đường để cô gia nhập một bộ phận nào đó thuộc chính phủ Anh. Chính nhờ Sự kiện sương khói khổng lồ ở Luân Đôn mà Hans mới có thêm mối quan hệ về phương diện này, người Anh từng chịu tổn thất lớn nên biết tôn trọng tồn tại huyền bí hơn người Mỹ. Nhưng Cindy Fresnel vẫn còn quá trẻ, cô ấy cần thời gian để trưởng thành…

“Chúng ta không thể chết ở đây!” Hans nói với những người khác trong đội, cũng với chính mình.

***

Johnson không hề biết rằng chỉ trong vài ngày ngắn ngủi vừa qua, những thám tử trong “kho sưu tập” của y đã đạt được một sự ăn ý nhất định. Y cũng không biết tình hình hiện tại của trái đất. Việc y vẫn có thể giữ được tỉnh táo đã khiến Typhon ngạc nhiên.

Johnson còn quá trẻ, thần cổ xưa chỉ liếc một cái là biết ngay. Cũng giống như diện mạo của nham thạch và địa tầng, tà thần được sinh ra trong hang động rộng lớn đặc biệt mang tên trái đất, được nuôi dưỡng và bồi đắp bởi những luồng sức mạnh vô hình, những thành phần năng lượng này khác nhau tùy theo từng thời đại, thậm chí cả màu sắc cũng khác biệt rất rõ ràng, nên rất dễ nhận biết. Dấu vết trên người Johnson… quá nông… nông đến mức hầu như không nhìn thấy được sự phân lớp. Thần mới này còn trẻ trung biết bao, bằng thời gian trái đất quay quanh mặt trời được ba trăm vòng là cùng, không thể nhiều hơn.

Thần cổ xưa lấy các lớp trên cơ thể làm đơn vị để làm căn cứ phán đoán tuổi tác, thần mới như Johnson nhìn chung sẽ không tham gia vào các trận chiến giữa thần cổ xưa với nhau, nếu bị cuốn vào sẽ không tồn tại được lâu. Dù Johnson được Gymir bảo vệ, nhưng tình huống này vẫn rất đặc biệt.

Cũng như Typhon lúc này, thật ra gã không “đơn độc”, cơ thể hiện tại của Typhon được tạo thành từ hóa thân của chính gã cộng với hóa thân của đồng minh, và bản thể của một vài hậu duệ nữa. Thế nhưng bây giờ đôi mắt của những đứa con của Typhon đã nhắm lại, chứng tỏ chúng đã mất đi ý thức.

Vậy mà…

Typhon buộc phải thừa nhận rằng giao ước giữa Gymir và Johnson mạnh hơn giao ước của gã.

Lúc này, đôi mắt thuộc về Behemoth trên đầu Typhon chớp chớp, truyền đạt một tin tức. Sự giao tiếp này xảy ra ở cấp độ ý thức, ngoài các đồng loại hợp nhất với nhau ra, các tà thần khác đều không nghe được. Chiến thuật của Typhon lặng lẽ thay đổi, gã bắt đầu va chạm với thần Mặt trời một cách có ý thức.

Ngay từ một ngày trước, chiến trường đã rời khỏi mặt trăng, tiến vào không gian vũ trụ. Những luồng lửa nhảy múa trong bóng tối, gây ra những hiện tượng kỳ lạ trên bầu trời sao.

Tonatiuh rất bức bối. Trận chiến bước vào ngày thứ sáu, tình thế không khác gì ngày đầu tiên, có thể nói là hoàn toàn bế tắc. Hai bên thay đổi nhiều phương thức tấn công, nhưng cuối cùng lại rơi vào cái vòng luẩn quẩn của cắn nuốt và tiêu hao lẫn nhau.

Tonatiuh nóng nảy và bẳn tính, nó đã gặp phải rất nhiều kẻ thù, trong đó có những đối thủ mạnh mẽ đến mức phải chiến đấu hàng chục năm mới tìm được cơ hội trốn thoát, nhưng chưa bao giờ có kẻ thù vừa không có sức mạnh mà lại hợp tác ăn ý (?) thế này. Không thể rũ bỏ, không thể nghiền nát, mà lại còn không ngon!

Hành vi nuốt chửng của ngọn lửa ánh sáng là thụ động, Tonatiuh không thể tự mình kiểm soát được. Thức ăn được “nhét vào” miệng thần Mặt trời là sương độc của Typhon, một chút ít sợi tơ của cái bóng chẳng ngon lành gì, cùng với “vỏ ngoài” của Kukulkan.

Tonatiuh rất thích khúc xương trong bản thể của thần Rắn lông vũ, nhưng đáng tiếc là da dày quá, mất công cắn mãi mà cũng chỉ gặm được một miếng. Vốn dĩ đây không được coi là nhược điểm, thậm chí có thể coi là ưu điểm, bởi xét cho cùng thì nó có thể để dành ăn rất lâu. Tonatiuh không ngại lãng phí một chút thời gian cho món ăn ngon, đó là sự hưởng thụ, nhưng giờ đây tình thế đã hoàn toàn thay đổi!

Tonatiuh bị buộc phải ăn rác trong sáu ngày có lẽ đã đủ tức giận, ngọn lửa ánh sáng bỗng dâng lên, tỏa ra luồng hơi thở thiêu đốt càng đáng sợ hơn.

Nhiệt độ cao làm biến dạng không gian.

Typhon liên tục rút lui, ném Kukulkan lại rồi bỏ chạy. Thần Rắn lông vũ tức điên lên mắng mỏ, Gymir kịp thời bắt được nó, thuận tay giơ lên chắn trước mặt mình.

Kukulkan: “…”

Giữa tiếng gào thét của thần Rắn lông vũ, Tonatiuh hung hãn cười rồi bành trướng lên gấp mấy lần, như muốn nuốt chửng kẻ địch trong một đòn.

Tốc độ của Gymir đủ nhanh, nên Tonatiuh chỉ gặm được một chút “cái đuôi” của Kukulkan. Quả cầu dây leo vẫn đang chăm chú xé các vết nứt không gian, không biết tại sao đột nhiên biến thành hè nhau cùng tẩu thoát, Typhon là kẻ nhanh nhất, theo sau là y và Gymir.

Tonatiuh hệt như một mặt trời đang chuyển động, đuổi theo không chịu buông.

“Xảy ra chuyện gì?” Johnson ngơ ngác, thua nhanh quá nên y thậm chí không biết chuyện gì đang xảy ra?

“Typhon đột nhiên bỏ chạy, ta nghĩ nó định dùng con át chủ bài của mình để chống lại thần Mặt trời.” Gymir trả lời.

“Anh chắc chứ?”

“Kế hoạch chống lại Tonatiuh của Typhon ngay từ đầu không có chúng ta.” Gymir nhắc nhở.

Johnson suy nghĩ nghiêm túc lại, quả thực đúng là như vậy. Tà thần không tin vào bất cứ đồng loại nào ngoài đồng minh và con cái. Typhon cũng không dám chắc Gymir có chịu góp sức hay không, nên gã phải chuẩn bị sẵn đường lui cho mình.

“Giống như Tonatiuh đã nói, Typhon đến mà không dùng tới bản thể, nó ngu đến nỗi tin rằng giao ước của mình đủ mạnh để ghép một đống hóa thân lại rồi đánh bại thần Mặt trời à?”

Ờm, Johnson chìm trong suy nghĩ, nếu nói Typhon ngu thế thì quả thật là hơi khó hiểu. Có điều… Typhon chắc là không ngu ngốc như vẻ ngoài của gã đâu. Sau khi xác nhận sự thật này, lại nghĩ đến biểu hiện cứ chịu đòn rồi tiêu hao của Typhon mà xem, quả thật cái cơ thể mà gã ráp lại này là dùng để câu giờ chứ còn gì? Cho nên mới nói, Gymir chờ đợi thủ đoạn giành chiến thắng của Typhon từ rất lâu rồi, thậm chí đã bắt đầu mất kiên nhẫn.

Johnson chợt bừng tĩnh, rồi y bắt đầu lo lắng: “Tonatiuh có mắc bẫy không?”

Họ đang chạy về phía trái đất, Tonatiuh thì có thể quay người bỏ đi bất cứ lúc nào. Dù Typhon có giăng bẫy gì, nếu thần Mặt trời không chịu giẫm lên thì kế hoạch đó cũng sẽ uổng phí thôi.

“Ta nghĩ là có, Tonatiuh sắp nổ tung rồi kìa.” Gymir giải thích đơn giản.

Johnson im lặng nhìn “con diều” mà Gymir xách trong tay, cùng với thần Mặt trời đang giận như điên phía sau. Cái bóng chịu trách nhiệm cua gấp, còn quả cầu dây leo có nhiệm vụ di chuyển vị trí của Kukulkan, tránh cho thần Rắn lông vũ thực sự bị gặm mất.

“Tonatiuh tin rằng trên trái đất không có kẻ thù nào có thể đối phó được với nó, cho nên nó sẽ không để chúng ta đi…”

Gymir chưa kịp nói hết câu, một dòng sông đen khổng lồ hoành tráng đột nhiên xuất hiện trước mặt hắn. Thần Mặt trời như lao đầu thẳng vào vũng lầy, ngọn lửa ánh sáng biến mất trong tích tắc. Cái bóng và quả cầu dây leo cũng bị ảnh hưởng, bị bóng tối bao phủ.

Johnson thật khó để diễn tả cảm giác này, y không thể cử động được, thậm chí không thể truyền một ý nghĩ cho Gymir, thân xác như bị nhét vào một cái hố khủng khiếp, chịu sự dò xét của một đồng loại đáng sợ nào đó.

Johnson cảm thấy Gymir đang cố gắng giữ lấy y để “nổi lên”.

Phụt.

Dòng sông đen nhổ cái bóng và quả cầu dây leo ra.

Johnson th* d*c. Hình thức hợp nhất giữa y và Gymir buộc phải kết thúc bất ngờ, người cá bảo vệ thật kỹ những dây leo đang bò lung tung trên cơ thể mình với vẻ mặt cảnh giác.

“Đây là…”

Johnson thấy rõ có ánh sáng ở phía sâu bên trong dòng sông đen.

Tonatiuh đang đối đầu với tà thần mang hình dạng dòng sông đen phục kích bên ngoài bầu khí quyển trái đất. Trận chiến diễn ra vô cùng khốc liệt, dòng sông đen trải rộng như một lớp lụa, bao trùm một khu vực ngày càng rộng lớn.

Johnson nhìn lên, phát hiện Typhon cũng đã “tan rã”, hậu duệ và đồng minh của gã đồng loạt hóa thành những tia sáng rơi xuống trái đất, chỉ còn lại Typhon đứng đó.

“Đồng minh của ngươi?” Johnson hỏi theo bản năng.

“Tất nhiên.” Typhon có nhiều cái đầu ưỡn ngực kiêu hãnh.

“Ở đâu ra đó?” Gymir đầy vẻ bối rối, hắn nhìn chằm chằm vào dòng sông đen như thể nhìn thấy cái thứ gì đó quá sức vô lý.

“Chờ đã, em có một suy đoán.” Johnson đột nhiên quay đầu lại nói với Gymir: “Em nhớ anh đã nói với em cách đây không lâu, có một tà thần là đồng minh của Typhon, nhưng nó chưa bao giờ để lộ bản thể, rất lười… rất bí ẩn, nghe nói là từ khi sinh ra nó đã nằm đó, không cử động, không chiến đấu, mỗi khi có thần cổ xưa tới gây rắc rối, toàn là Typhon giúp nó giải quyết. Có thể nói, ngoài Typhon ra, không có đồng loại nào hiểu được nó cả.”

Gymir thốt ra một từ qua kẽ răng: “Anubis!”

Thần Chết Anubis.

Người cá nói bằng giọng khẳng định: “Màu sắc của các tầng trên người Anubis không bình thường, nó không phải là tà thần do trái đất sinh ra, đây là lý do tại sao nó không bao giờ ra ngoài?”

Typhon hất đầu, dương dương tự đắc. Sao hả, bộ chỉ có tà thần của trái đất được đến nơi sâu thẳm trong vũ trụ, chẳng lẽ không có tà thần hùng mạnh nào ưa thích môi trường trên trái đất, lặng lẽ lang thang tới đây sống và ngủ để tăng cường sức mạnh sao? Tonatiuh quá ngạo mạn! Quả thực không có tà thần nào trên trái đất mạnh hơn nó, nhưng trên trái đất cũng không chỉ có tà thần bản địa!

Sức mạnh của Anubis rất kỳ lạ, rất đặc thù, tà thần ở trái đất chưa bao giờ nhìn thấy loại sức mạnh này trước đây. Tất nhiên, để lừa được thần Mặt trời vẫn rất khó, Anubis cũng không đủ mạnh để đánh bại thần Mặt trời một cách nhẹ nhàng, chỉ có mai phục mới có thể phát huy hết sức mạnh của Anubis, vậy nên Typhon đã lên kế hoạch chi tiết.

“Mày cũng được lắm, đồng minh của mày cũng khá.” Typhon hài lòng nói với Gymir.

Đó là một trận chiến hợp tác thành công. Tiêu hao sức mạnh của Tonatiuh, thành công dẫn Tonatiuh vào bẫy.

Cái gì? Kukulkan? Nửa đường tham gia thôi mà, coi như cũng góp chút sức đi.

Typhon quay đầu lại, nhìn Kukulkan đầy soi mói.
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 115


<b>Chương 115</b>

<b>Kết quả đại chiến</b>

Johnson chưa bao giờ hiểu được ý nghĩa thực sự của câu “Typhon có nhiều đồng minh, Typhon không thích hợp để trở thành kẻ thù” sâu sắc như bây giờ. Johnson chẳng thể nào hiểu nổi, quan sát Typhon rồi, y vẫn không làm sao nhìn ra được sức hấp dẫn đặc biệt của gã. Cochro có bề ngoài đẹp là do màu sắc và hoa văn trên lưng, còn Typhon có gì, nhiều đầu à?

Cảm nhận được sự tò mò của đồng loại trẻ tuổi, Typhon lại càng tự hào hơn.

Gymir đẩy một sợi dây leo đang ngóc lên cao trên vai xuống, không cho Johnson đến gần Typhon.

Johnson: “…” Nhìn cái thì đã sao? Họ ở một bên của dòng sông đen, còn Typhon ở bên kia, cách nhau rất xa.

“Kukulkan sẽ trả thù chúng ta.” Gymir tìm một cái cớ để chuyển hướng sự chú ý của Johnson.

Lúc này Johnson mới nhớ tới sự tồn tại của thần Rắn lông vũ, đuôi dây leo vô thức cuộn tròn lại, cứ thế treo trên tóc và vai của Gymir.

Thần Rắn lông vũ đang “kiểm tra” những tổn thất của mình. Cơ thể bằng mây khói phồng lên như cá nóc, Johnson nhìn rõ những lỗ thủng lỗ chỗ, tất cả đều là dấu vết bị ngọn lửa ánh sáng của thần Mặt trời đốt cháy, ngoại trừ cái xương sống ra, về cơ bản không có bộ phận nào còn nguyên vẹn. Kukulkan giận dữ thu nhỏ cơ thể lại, lấp chỗ này một tí, vá chỗ kia một tẹo, làm cho những cái lỗ ít lộ ra hơn, vậy mới coi như tạm giữ được vẻ ngoài tươm tất của tà thần. Nhìn vào mức độ thương tích này, Johnson cảm thấy thần Rắn lông vũ phải mất đến vài ngàn năm mới mong bình phục. Cho dù Kukulkan có muốn gây rắc rối thì cũng không thực tế.

Quả nhiên thần Rắn lông vũ liếc Typhon, vô thức tránh xa dòng sông đen, liếc nhìn người cá đang đội dây leo trên đầu, không nói một lời mà rơi thẳng xuống trái đất.

Sau khi đi qua bầu khí quyển trái đất, đám mây đen với thể tích khổng lồ ngay lập tức bao trùm một vùng biển. Sấm sét tím liên tục xẹt qua xẹt lại trong mây đen, thần Rắn lông vũ khuấy động sóng gió dữ dội, tiến về phía Nam Mỹ. Tất cả tàu bè xuất hiện trên đường đi của cơn bão đều vỡ tan tành thành từng mảnh như bánh quy, chìm xuống đáy biển. Một tà thần dù có bị thương nặng thì sức mạnh của nó vẫn là điều con người không thể tưởng tượng được. Kukulkan không trút giận lên con người, nó không rảnh để nhìn đến lũ kiến, nó chỉ muốn trở về hang ổ, về nơi nó được sinh ra – cao nguyên Nam Mỹ – càng sớm càng tốt. Tốc độ của thần Rắn lông vũ rất nhanh, từ đầu đến cuối cơn bão này chỉ mất vài phút là kết thúc, nơi nó đi qua, đất liền đều biến thành đầm lầy.

Cơn bão này còn xảy ra trong bóng tối. Bởi vì bản thể dòng sông đen của thần Chết Anubis còn đang treo ngang trên bầu trời của trái đất, che hết ánh mặt trời. Johnson muộn màng nhận ra rằng cuộc phục kích do Typhon dàn dựng sẽ gây ra nỗi kinh hoàng như thế nào đối với con người trên trái đất.

Sau nhiều ngày liên tục xuất hiện trăng máu, một vật thể phát sáng trông giống như mặt trời nhưng có kích thước nhỏ hơn nhiều đột nhiên xuất hiện trên bầu trời… Do Typhon bỏ chạy, Gymir và Johnson mang Kukulkan đi, ánh sáng cũng không còn bị che khuất nữa… Cái thứ giống như sao chổi này lại đang rơi thẳng về phía trái đất. Không ai biết sao chổi này đến từ đâu. Nó đột nhiên xuất hiện, bất ngờ hướng về phía trái đất. Tình huống này… dù muốn cũng không thể giấu được, hầu hết con người trên trái đất đều có thể nhìn thấy. Bất cứ ai có mắt, đứng ngoài nhà ngẩng đầu nhìn lên là đều có thể chứng kiến cảnh tượng kinh hoàng này.

Ngọn lửa ánh sáng khủng khiếp của Tonatiuh sẽ khiến nó trông sáng hơn cả mặt trời thật, con người thậm chí sẽ không nhận ra ngay rằng trái đất bị sao chổi đâm vào, mà cảm thấy rằng cả thế giới sẽ bị thiêu rụi. Dù thần Mặt trời vẫn ở ngoài bầu khí quyển, người có ý chí yếu ớt sẽ phát điên ngay tại chỗ. Không, sau khi nhìn thấy trăng máu trong nhiều ngày, nhiều người đã bị tra tấn khủng hoảng, tinh thần đang ở trên bờ vực suy sụp… Đây là cọng rơm cuối cùng làm gãy lưng con lạc đà.

Bản thể của Anubis mang đến bóng tối, tạm thời cứu rỗi loài người, để rồi mang đến… nỗi sợ hãi lớn hơn. Bởi vì thứ bóng tối này đã đạt đến mức tận cùng, kỳ dị hơn cả nhật thực toàn phần hoặc nguyệt thực toàn phần, nhìn lên bầu trời sẽ thấy mặt trời, mặt trăng và các vì sao dường như đều biến mất, ngay cả kính viễn vọng thiên văn cũng không thể bắt được bất kỳ dấu vết nào của một ngôi sao hay một hành tinh.

Con người sẽ nghĩ gì? Các hành tinh khác trong hệ mặt trời đã biến mất hay trái đất bị một con quái vật vô danh nuốt chửng? Có lẽ họ sẽ cảm thấy trái đất đã rơi vào một không gian khác mà khoa học không thể giải thích được!

Sức mạnh của Anubis không đáng sợ bằng Tonatiuh, nhưng sức ảnh hưởng của nó cũng không hề nhỏ. Trong bóng tối vô tận này, những cảm xúc sâu kín nhất trong nội tâm con người sẽ bị k*ch th*ch.

Trời ạ!

Dây leo lại một lần nữa nóng lòng vươn mình về phía trước, lần này hướng về phía trái đất.

Gymir biết ngay Johnson đang lo lắng điều gì. Bộ sưu tập đồ chơi yếu ớt dễ vỡ ấy mà.

“Cuộc chiến vẫn chưa kết thúc.” Gymir giải thích, họ vẫn phải chờ kết quả, nếu Anubis không thể đấu một chọi một, họ có thể phải chơi ván thứ hai.

Johnson đè nén lo lắng của mình, quay đầu nhìn lại dòng sông đen. Đúng, sự tồn tại của Tonatiuh là nguy cơ lớn nhất.

Typhon đã sẵn sàng ngay bên cạnh, gã tách ra vài cái đầu c*m v** dòng sông đen, như đang nói chuyện với Anubis. Ngọn lửa ánh sáng của thần Mặt trời nhấp nháy trong dòng sông đen, rất khó nhìn rõ. Nó suýt nữa thì “đốt cháy” đầu Typhon. Typhon đột nhiên rút đầu ra, gần như nhảy ra khỏi dòng sông đen.

“Tonatiuh…”

Typhon chửi rủa, có lẽ cảm thấy xấu hổ, gã lập tức lấy lại tư thế uy nghiêm, bay lơ lửng trên dòng sông đen để quan sát trận chiến.

Johnson: “…”

Bóng tối vây quanh ngọn lửa ánh sáng, xung đột bạo lực liên tục nổ ra ở những khu vực ngoài tầm với của Typhon, Gymir và Johnson. Johnson chỉ thấy dư âm vang vọng trên dòng sông đen, “nước sông” như một dải lụa sa-tanh nhẹ nhàng rung lên. Ngọn lửa ánh sáng nhìn từ bên kia lớp “vải” dày dặn và lộng lẫy, như những điểm đỏ pha vàng kim đang nhuộm lên đó.

Johnson không kìm được quay sang nhìn Gymir.

Màu này rất hợp với người cá. Nền là một vực thẳm vô tận ngoằn ngoèo (trái đất), một dòng sông đen đang chảy, giấu bên trong nó là một quả cầu ánh sáng nóng đỏ. Bên dòng thác đổ vào vực thẳm, người cá với mái tóc dài đỏ rực đang nhìn chằm chằm vào con mồi giữa dòng sông đen. Vai và lưng hắn căng cứng, cánh tay duỗi thẳng tắp được quấn dây leo đen sẫm, các xúc tu cuối cùng bò trên vây mỏng trong suốt ở cổ tay.

Dây leo khẽ chuyển động, những đầu mềm và mảnh của nó cuộn thành từng vòng dọc theo cành, biến thành từng “quả cầu nhỏ” treo trên khuỷu tay và vai của người cá. Bản thể của Johnson có mười sáu thân chính, ba mươi hai nhánh phụ, sáu mươi bốn cành nhỏ… tiếp tục phân nhánh cho đến ngọn cuối cùng. Bây giờ y rút gọn lại chỉ còn thân chính, còn những nhánh phụ khác trở thành những quả cầu nhỏ xinh xắn treo trên thân chính, khiến ngoại hình của người cá trông càng kỳ dị hơn.

Đầu của Typhon vẫn ở tư thế chính diện để theo dõi trận chiến, nhưng ánh mắt lại cứ vô thức hướng về phía Gymir.

Gymir rất không vui. Hắn lại biến về dạng áo choàng bóng tối, giấu quả cầu dây leo đi mất.

“Được rồi, nếu mày đã sẵn sàng để đánh Tonatiuh lần nữa… Anubis, tao tới đây.” Typhon hét lên, nhảy xuống dòng sông đen.

Johnson tưởng rằng dòng sông đen sẽ hợp tác với Typhon để biến thành một hình thái dung hợp mới, nhưng nào ngờ dòng sông đen vẫn tiếp tục rung chuyển.

Phụt.

Typhon bị dòng sông đen phun ra, đầu trên chân dưới. Mắt Typhon đờ đẫn, tất cả đầu của gã đều có vẻ rất ngu ngốc.

Cái bóng giật giật không đều, đó là do quả cầu dây leo đang cười. Johnson không nhịn được.

Typhon mất mặt, vô cùng tức giận, vừa hét gọi tên Anubis vừa tìm cách cắm đầu vào dòng sông đen để trao đổi.

Dòng sông đen bỗng “cuộn” thành từng vòng một, như dải lụa đang điên cuồng quấn lấy thứ gì đó, đầu Typhon cắm hụt.

Trước khi Typhon kịp nổi giận lần nữa, một quả cầu ánh sáng lao vụt ra khỏi dòng sông đen.

Gymir phản ứng cực nhanh, tóm lấy Typhon đang choáng váng làm lá chắn, chặn trước quả cầu ánh sáng.

“Á!”

Typhon tru lên, khi mở mắt ra lần nữa, gã phát hiện thần Mặt trời đã trốn về phía nơi sâu thẳm trong vũ trụ.

Ngọn lửa sáng rõ ràng đã trở nên tối hơn. Tonatiuh bị thương. Vết thương này cũng nghiêm trọng không kém gì thần Rắn lông vũ. Thần Rắn lông vũ có thể trở về nơi nó sinh ra để ngủ cho vết thương mau lành hơn, Tonatiuh lại không phải là tà thần “sinh ra tự nhiên”, cái giá của sức mạnh là không có nơi để ẩn nấp chờ ngày hồi phục. Tonatiuh không dám ở lại trái đất, ở đây có quá nhiều kẻ thù, nên nó chỉ có thể liều mạng thoát ra khỏi vòng vây, bỏ chạy thật nhanh.

“Đuổi theo không?” Gymir hỏi ý kiến của Typhon một cách tượng trưng.

Typhon vùng vẫy thoát khỏi tay cái bóng, quay lại nhìn dòng sông đen.

Dòng sông đen cuộn lại thành hình trụ bắt đầu quay tròn, nước sông tạo thành hình dạng hóa thân rất quen thuộc với con người của Anubis: một người Ai Cập với cái đầu chó rừng.

“Rất khó bắt kịp, nó tăng tốc bằng cách tiêu hao sức mạnh của chính mình.” Anubis nói chậm rì: “Tao tính rồi, chúng ta phải đuổi tới đầu kia của hệ Ngân Hà, quá nguy hiểm, không thể xác định trên đường đi có chuyện gì.”

Mắt của Typhon sáng lên, dùng móng vuốt giữ chặt Anubis, hỏi tình hình chi tiết. Anubis không muốn nói nhiều, nhưng Typhon không chịu để hắn yên, cuối cùng là Typhon liên tục lay, còn hắn thì cứ mỗi câu hỏi chỉ đáp một tiếng.

Tóm lại là lần này Tonatiuh đã chịu tổn thất lớn, ít nhất phải mấy chục ngàn năm nữa mới dám mò về trái đất báo thù. Tuy nhiên, thực lực và đặc tính sức mạnh của Anubis đã bị lộ, hắn không thể nào làm con át chủ bài của Typhon để lừa Tonatiuh thêm lần nữa.

Typhon rầu rĩ.

“Có lẽ mấy chục ngàn năm sau sẽ có tà thần mới ghé thăm trái đất?” Anubis nói bừa: “Không phải bảy ngàn năm trước tao đã tới đây sao?”

“Vậy thì phải nói với đám đồng loại kia, không được đuổi họ đi.” Typhon chớp mắt.

Tâm trạng của Gymir rất phức tạp. Hắn rất khâm phục Anubis, Anubis lo lắng danh tính của mình sẽ bị tà thần của trái đất phát hiện, gây ra rắc rối không đáng có, bèn tìm một chiếc giường để ngủ, rồi không bao giờ di chuyển. Hoá thân cũng ngụy trang khéo léo, rõ ràng là có hiểu biết về nền văn minh của lũ kiến trên trái đất lúc bấy giờ, ngay cả giấc mơ cũng trang trí một cách hoàn hảo. Nếu Typhon và thần Mặt trời Tonatiuh không “gây rối”, không chừng Anubis có thể sống ở trái đất cho đến khi hắn thấy chán.

Cảm xúc của Johnson càng phức tạp hơn. Y dùng tư duy của con người để đưa ra các giả định, luôn cảm thấy rằng Typhon sắp lấy một tờ rơi quảng cáo hôn nhân ra dán bên ngoài trái đất, trân trọng mời các tà thần có hứng thú với ốc đảo trái đất vào ở, Typhon chịu trách nhiệm lựa chọn địa điểm làm tổ, tìm đồng minh lý tưởng… Thậm chí có thể xuất bản về một tấm gương đã thành công, Anubis. Mà khoan, Anubis đến từ thiên hà nào? Tình hình phát triển sức mạnh trên trái đất như thế nào? Có hài lòng về đồng minh Typhon này không?

Johnson còn đang suy nghĩ, Gymir đã nhanh chóng xoay người hướng về phía trái đất.

“Ấy, khoan đã.” Johnson thực sự muốn biết câu trả lời cho những câu hỏi đó.

“John, Hans, Juan, Cindy…” Gymir lần lượt đọc tên các thám tử.

“A!” Johnson đột nhiên tỉnh táo trở lại, y không còn muốn hóng chuyện nữa, đang vội về trái đất đây.
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 116


<b>Chương 116</b>

<b>Cứu viện</b>

Bão tuyết đang hoành hành, các vết nứt lần lượt xuất hiện trên mặt đất đóng băng.

Mọi người trốn trong những ụ tuyết đã đào, bịt tai lại trong đau đớn.

Một âm thanh sắc bén và kỳ lạ vang vọng trong không khí.

“…Skyra tới rồi.”

Sắc mặt Hans trông rất xấu xí, ông tìm thấy một cái vỏ kim loại trong túi, mở nó ra để lộ một chiếc kim bạc gấp lại có móc. Trong quá trình qua lại với tồn tại huyền bí sẽ luôn có những tình huống tiến thoái lưỡng nan, chẳng hạn như bây giờ. Chiếc kim này có thể chọc thủng màng nhĩ. So với tính mạng, thính giác không đặc biệt quan trọng.

“Không!” Tom muốn ngăn cản Hans.

Để thoát khỏi cánh đồng băng này, họ đã lần lượt giết sáu quyến thuộc của tà thần, cả đạn dược và thủy tinh khắc chữ Rune đều cạn kiệt, tất cả mọi người đều bị thương, chỉ còn lại một mình Hans có thể chiến đấu. Không ngờ lần thứ ba chạm trán không phải với chó khổng lồ mà là với chính tà thần.

Hans cầm cây kim bạc, thở gấp, ánh mắt kiên định.

Bộp.

Âm thanh kỳ lạ đột nhiên biến mất.

Thế giới đã trở lại với sự im lặng, yên tĩnh đến mức người ta nghi ngờ mình bị điếc.

Tom kinh hãi nhìn Hans, suýt nữa còn tưởng Hans đã chọc mình một kim.

Hans nghiêm túc lắc đầu với cậu ta.

Tom đột ngột nín thở.

Đúng vậy, ngoài việc tà thần đã bỏ đi, còn có một khả năng khác là tà thần đã phát hiện ra lũ kiến.

Bên ngoài ụ tuyết yên tĩnh đến lạ thường, ngay cả tiếng gió gào thét cũng biến mất. Hans vô thức dùng kim đâm vào ngón tay mình, xác nhận rằng mình không bị ảo giác. Thời gian trôi qua, Hans dần chuyển từ cảnh giác sang nghi ngờ. Ông ra hiệu cho Tom đừng cử động. Những người khác đã bất tỉnh, nằm ngửa trên ụ tuyết. Hans len chân vào khoảng trống giữa đám người, khó khăn di chuyển đến cửa, thứ dùng để chắn gió và tuyết là một tấm bạt, mà còn được cắt từ lều ra.

Hans nhìn thấy rõ ràng một bóng người phản chiếu trên khung vải.

Một cái bóng không thể xuất hiện trên cánh đồng băng, không có quần áo dày nặng hay mũ nón.

Tròng mắt của Tom gần như lọt ra khỏi hốc mắt, hóa thân của Skyra trong huyền thoại là thân trên người, th*n d*** quái vật. Cái bóng này là nam giới, không phải nữ, hơn nữa nó mặc quần áo mỏng manh chứ không có tr*n tr**ng. Và nó có chân, mà hình dạng của đôi giày kia trông quen quen.

Tom đột nhiên tỉnh lại, Hans tháo kính ra nhìn vào cái bóng.

“Ngài Johnson?”

Hans thở phào nhẹ nhõm sau khi xác nhận, nhưng ông chưa kịp nói thêm gì thì tiếng gió hú lại ập đến. Vải bạt bị đóng băng cứng ngắc, mặt người trông nhợt nhạt dưới ánh đèn pin. Cái bóng biến mất.

“Đi mất rồi.” Tom thở hổn hển, nhìn Hans nói: “Chú có nghĩ Skyra đã đi rồi không?”

Hans: “…”

Ông cầm đèn pin trèo ra khỏi ụ tuyết. Gió và tuyết che khuất tầm nhìn, có điều không còn thấy mấy cặp mắt xanh lục phản quang của chó khổng lồ, cảm giác ớn lạnh kinh hoàng khiến người ta run rẩy toàn thân cũng biến mất.

Tom cũng bò ra ngoài. Cậu ta im lặng vài phút rồi đột nhiên nói: “Ngài Johnson hình như không mặc bộ quần áo thế kỷ 19 đó nữa?”

Tại vì chiếc mũ chóp cao kiểu đó khá rõ ràng. Tà thần tự mình chứng minh người Anh có thể thay đủ kiểu quần áo, nhưng giày thì không.

“Còn nữa, sao Skyra lại bỏ đi? Bị đuổi đi à?” Tom bối rối hỏi: “Trong tình huống này, chúng ta có phải trả phí cứu mạng không? Dù sao thì lần nào ngài Johnson cũng cho đội trưởng phí ủy thác mà.”

Hans nhìn chằm chằm vào Tom, như thể muốn nhét một quả cầu tuyết vào miệng cậu ta.

***

Johnson tất nhiên không định tìm thám tử để đòi thù lao. Con người có thể cho y cái gì chứ? Chỉ cần những thám tử này không chết quá sớm là y hài lòng lắm rồi. Cuộc đời con người rất ngắn ngủi, tốt nhất là không nên có bất kỳ chỗ trống nào cho đến khi y tìm được thám tử mới để lấp đầy bộ sưu tập của mình. Nếu chuyện đáng tiếc như vậy thật sự xảy ra, có lẽ y sẽ phải chìm xuống đáy biển ngủ một giấc, chờ khi nào tỉnh dậy thì thử vận may ở một thành phố của con người. Nhưng vấn đề là Johnson không muốn ngủ.

“…Juan quá nhát gan, Cindy không đủ khỏe, còn Hans, ồ, đầu óc của Hans giờ đã hoạt động tốt hơn rồi.”

Tà thần hay bắt lỗi hoàn toàn không biết tiêu chuẩn của mình khắc nghiệt đến thế nào. Lòng dũng cảm của Juan đứng đầu trong cả đội khảo cổ, trong khi Cindy có thể vừa cõng bà nội trên lưng vừa tìm thấy ngọn hải đăng trong sương mù.

Tất cả là lỗi của John!

Cũng không phải thám tử John thực sự giỏi đến mức không ai có thể sánh bằng, mà do số lượng sự kiện huyền bí John gặp phải khi còn trẻ cũng không lớn, đa số lại liên quan đến Johnson và Gymir nên dễ xử lý hơn, điều đó để lại ấn tượng sâu sắc cho tà thần.

Hans vẫn rất quan trọng. Đứa trẻ trên gác mái là một phần của Johnson, y chú ý đến Hans nhiều hơn, đó là điều bình thường.

Johnson cảm thấy mình đến vừa đúng lúc, nếu đến muộn hơn, Skyra sẽ phá hủy toàn bộ cánh đồng tuyết… Skyra không có hứng thú với việc từ từ tìm kiến dưới tuyết. Cảm nhận được ý đồ của Johnson, Skyra liếc nhìn y rồi bỏ đi không nói lời nào. Đây cũng là một kiểu giao tiếp xã hội của tà thần, không muốn đánh nhau thì tránh mặt nhau.

Johnson cười cười cân nhắc, liệu y và Skyra có được coi là quen biết nhau hay không? Nếu nói không hề quen biết, thì họ đã cùng nhau tham gia vào trận chiến trăng máu, nhưng nếu bảo là quen… là hình thái kết hợp của Typhon quen biết với trạng thái dung hợp của cái bóng và quả cầu dây leo à?

Điều này thật kỳ lạ.

Đặc biệt, thuộc tính sức mạnh của họ lại trùng hợp với nhau một cách bí ẩn.

Băng giá, gió tuyết…

Johnson ngờ rằng Skyra không bỏ đi vì tình bạn trong trận chiến trăng máu, mà là hoảng sợ bỏ chạy trước hơi thở kinh hoàng và hung bạo tỏa ra từ Gymir đột nhiên xuất hiện. Suy cho cùng, việc quyến thuộc bị giết chẳng lớn cũng chẳng nhỏ. Đa số tà thần coi quyến thuộc là nô lệ và đồ ăn, nếu tốt hơn thì coi là người hầu và thú cưng, Skyra có lẽ là loại thứ hai, sau khi phát hiện ra rằng thiếu một vài con trong đàn chó khổng lồ, ả phát ra tiếng gầm khiến cho cánh đồng băng có thêm vô số vết nứt sâu, chắc chắn sang năm sẽ có thêm một trăm ngọn núi băng ở vùng biển gần Greenland.

Tóm lại, Hans và những người khác cho rằng Johnson đuổi Skyra đi, còn Johnson cho rằng là công lao của Gymir.

“Cá Voi Trắng thế nào rồi?” Johnson hỏi thêm một câu, y không thể xác định được vị trí của con cá voi trắng đó thông qua “kết nối”, dù sao thì người có kết nối không phải là y.

Gymir ngoi lên từ biển, hắn dọa Skyra bỏ chạy, trên người vẫn tỏa ra khí thế kinh khủng.

Johnson còn nghi ngờ rằng Cá Voi Trắng ban đầu không sao, rồi nhìn thấy Gymir thế này mới có sao.

“Trốn dưới đáy biển, nhìn thấy ta là la hét ỏm tỏi.” Gymir không muốn nhớ lại chút nào.

Cá Voi Trắng có tật xấu là ghi nhớ âm thanh khi có việc gì đó xảy ra trong đầu rồi tự động phát lại… cảm giác thật khó diễn tả.

Johnson muốn cười, nhưng bây giờ không phải lúc để cười.

“Đi thôi.”

Johnson đã vẽ sơ đồ đường đi cho ba điểm còn lại.

Băng qua Đại Tây Dương, trạm kế tiếp là nước Anh.

***

Thành phố vẫn ở duy trì nguyên trạng, ngoại trừ vài nơi bốc lên làn khói dày cuồn cuộn.

Cửa sổ cửa hàng bị vỡ, vài xác chết bị giẫm đạp máu me be bét nằm trên mặt đất. Hàng hóa trộn lẫn với kính vỡ, các bức tường được bao phủ bởi những biểu tượng nguệch ngoạc, một phần là những khẩu hiệu điên cuồng, số còn lại là những chữ cái không thể đọc được. Ánh nắng chiếu vào những dấu vết này càng khiến chúng kinh dị hơn.

Xe cảnh sát đã phong tỏa nhiều dãy nhà, nơi chắc chắn là nơi ở của những người giàu có, và các tòa nhà chính phủ quan trọng.

Trong thành phố, vẫn có thể nghe thấy những tiếng súng lác đác, nhìn thấy vài ngọn lửa đang cháy và con người la hét điên cuồng.

Một mảnh báo bị gió thổi bay, rơi bộp xuống một vũng bùn đen kỳ lạ. Tiêu đề vẫn còn nguyên vẹn. <i>“Một đợt khủng hoảng kinh tế mới gây ra bạo loạn trong các đô thị trên khắp thế giới.”</i>

Johnson liếc nhìn thoáng qua rồi tập trung vào vũng bùn đang chảy ra từ con hẻm.

“Quái vật! Quái vật ở khắp mọi nơi!” Người vô gia cư rúc vào thùng rác, nhìn thấy Johnson, gã lập tức thò đầu ra, vừa quơ tay vừa hét lên: “Chúng ta đã chết từ lâu rồi. Đây là địa ngục! Địa ngục chờ phán xét!”

Johnson đi qua con hẻm, nhìn thấy rất nhiều thi thể, loại không phải biến dị. Túi của họ chứa đầy những món đồ có giá trị, kẻ cầm dao, người cầm súng. Các xác chết ở trong tình trạng kinh dị, có cái vỡ đầu, cái khác bị xẻ làm hai nửa. Hai con quái vật biến dị vặn vẹo đang g*m c*n xác chết.

Pằng.

Một viên đạn bay ra từ tầng hai, trúng vào trán một con quái vật.

Da của quái vật rất dày, nó chưa chết, nó gào thét ngẩng đầu lên, trèo thẳng lên ống nước.

Johnson bình tĩnh bước qua khu vực hỗn loạn. Áo vest sọc nhỏ màu xanh xám, áo sơ mi màu xám nhạt, hai khuy măng sét nạm Sapphire. Mái tóc đen được chải sang một bên, nhẹ nhàng dán vào sau gáy, chỉ có phần trước trán hơi lộn xộn. Y bước qua những xác chết thối rữa, như thể bước đi trên mặt đất bằng phẳng, không gặp bất kỳ trở ngại nào. Không có vết máu nào dính lên giày da bóng.

Cindy nằm trên bệ cửa sổ tầng hai, nhắm vào quái vật: “…”

Cơ thể của những con quái vật biến dị vặn vẹo, chúng dường như đang chạy trốn, nhưng khi chúng quay đầu lại, cơ thể chúng không chịu tuân theo, sau đó mới xuất hiện cảnh tượng nực cười kiểu như suýt bị vặn mất đầu. Hai tiếng hú thảm thiết nghèn nghẹt vang lên. Cột băng màu đen và đỏ mọc ra từ trong cơ thể quái vật. Giống như một tác phẩm nghệ thuật kỳ dị được xiên trên cột thủy tinh, quái vật bị nâng lên cao. Chẳng bao lâu, các cột băng vỡ ra, xác quái vật biến thành bùn.

Vẻ mặt Cindy cứng ngắc, cô gượng cười rồi nhanh chóng cất súng đi, nhưng không biết trong tình huống này phải chào hỏi ác quỷ… à không, tà thần như thế nào.

Johnson vô thức muốn nâng vành mũ lên, nhưng lại phát hiện người ở thời đại này không còn đội mũ.

“Quần áo rất đẹp, thưa ngài, trên trang bìa tạp chí thời trang Paris số tháng 9.” Cindy buột miệng thốt lên như mất trí.

Johnson không hề ngạc nhiên chút nào, y quả thực đã bắt chước theo bức ảnh, điểm khác biệt là có thêm khuy măng sét, và thay cà vạt bằng nơ.

Nhớ lại hành vi tháo kính nhìn chằm chằm vào mình của Hans, Johnson ngờ rằng con người có tật xấu là không thể nhận ra người ta sau khi thay quần áo. Xét cho cùng, tà thần có rất nhiều hóa thân, có khi thay “quần áo” đồng nghĩa với thay đổi cả hình dạng. Nhưng chỉ một bộ quần áo thôi thì chưa đến nỗi thế chứ.

“Thảm họa đã kết thúc chưa?” Cindy bức thiết hỏi.

“Điều đó phụ thuộc vào định nghĩa của cô về thảm họa.” Johnson đáp.

Trận chiến trăng máu kết thúc, Tonatiuh trốn thoát, Anubis đã thu lại hình thái bản thể của mình, màn đêm vô tận bao trùm trái đất cũng biến mất.

Nhưng trên trái đất vẫn còn nhiều tà thần.

Những tà thần bị Typhon và trăng máu đánh thức.

Họ không xuất hiện, có lẽ là vẫn tiếp tục ngủ, nhưng không ai biết họ có muốn trở mình hay ngáp một cái không.

“Tai họa không bao giờ kết thúc, rất tiếc, đã đến lúc ta phải đi.”

Johnson quay người bỏ đi.
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 117


<b>Chương 117</b>

<b>Thị trấn bị lãng quên</b>

Đây là một thị trấn nhỏ vô danh.

Không phải là nó thực sự không có tên, chỉ là mọi người đã quên mất rồi.

Có tà thần đã giáng lâm xuống nơi đây.

May mắn thay, tà thần này không phải là con của Typhon, cũng không phải đồng minh của Typhon, mà là một thần mới. Nó không làm gì cả, chỉ vì bị trăng máu đánh thức nên ra ngoài nhìn vài cái, thấy mọi chuyện đều ổn liền quay về ngủ.

Nhưng thảm họa mà nó mang đến thật tàn khốc, một nửa thị trấn đã biến thành đống đổ nát, chỉ có một phần mười số người sống sót. Tinh thần của họ đang trong trạng thái mơ hồ, vẻ mặt của họ bàng hoàng, họ đang lẩm bẩm tên của Chúa. Người ngồi trên đống đổ nát, người khác lang thang trên đường phố. Họ không thể nhớ tên của chính mình, không thể nhớ người thân và bạn bè của mình, đầu óc trống rỗng, chỉ mơ hồ nhớ được vài đoạn ngắn, và chỉ có thể tìm kiếm người và khung cảnh quen thuộc như những bóng ma.

Thế nhưng, thị trấn đã thay đổi đến mức không còn ra hình dạng gì nữa.

Johnson đi trên đường phố của thị trấn bị lãng quên, quần áo và vẻ ngoài bắt mắt của y không thu hút được sự chú ý của bất kỳ ai. Không phải người thường làm ngơ hóa thân của tà thần. Mọi người ở đây đều có thể nhìn thấy Johnson, nhưng bộ não của họ không thể suy nghĩ mạch lạc được, chỉ có thể đờ đẫn “quét” qua khung cảnh trước mặt, sau đó đờ đẫn di chuyển đến nơi khác, tiếp tục vừa lẩm bẩm vừa lang thang.

Johnson đi thẳng về phía một khách sạn.

Đó là một tòa nhà khá hoàn chỉnh, một người đàn ông đang ngồi trên bậc thềm phía trước khách sạn, trên đầu gối anh là một chiếc ba lô du lịch lớn, anh đang lật giở một quyển bút ký bụi bặm.

Có lẽ vì Johnson dừng lại trước mặt nên người đàn ông mới từ từ ngẩng đầu lên.

“Xin chào?”

“…”

Johnson nhìn Juan với khuôn mặt đầy bụi và máu, không khỏi thắc mắc chuyện gì đã xảy ra với con người? Y chỉ thay một bộ quần áo khác, khó nhận ra đến vậy sao? Hans phải tháo kính ra, Cindy thì suy nghĩ mất cả phút, Juan thì quên hẳn luôn?

Johnson giẫm mạnh bước chân, âm thanh của giày da bóng truyền thẳng vào tai Juan.

“Khuôn mặt của anh… trông rất quen, và đôi giày này, tôi dường như đã gặp ở đâu đó trước đây.” Juan nói với vẻ mặt mơ màng.

Đúng vậy, hóa thân của tà thần trước mặt anh đã thay đổi hết mọi bộ phận, trừ giày và mặt.

“…Sự việc là như thế này, tôi ngồi ở cửa khách sạn suy nghĩ rất lâu, nhưng tôi không nhận ra nơi này là ở đâu.” Juan ôm đầu đau khổ nói: “Tôi mở nhật ký ra, phát hiện ra kế hoạch của mình là ngồi xe lửa đến Ý, sau đó trên đường gặp phải trăng máu, người trên xe phát điên, tôi cảm thấy nơi có đám đông người tụ tập quá nguy hiểm nên xuống xe đi bộ về phía trước.”

Johnson gật đầu, hóa ra không phải là bệnh <i>thay quần áo thì không nhận ra người</i>.

“Sau đó thì sao?”

“Tôi không nhớ nữa.” Juan nhét sổ tay vào ba lô, cười méo xệch: “Bao gồm cả việc làm thế nào tôi đến được đây, thị trấn tên là gì, chuyện gì đã xảy ra ở đây… Người dân trong thị trấn thật kỳ lạ, họ không thể giúp được tôi, có lẽ tôi nên đến đồn cảnh sát. Mà quên, anh là ai? Có lẽ tôi từng gặp anh, anh có biết tôi không?”

Johnson: “…”

Đây là lần đầu tiên y gặp phải tình trạng thám tử mất trí nhớ. Thông thường, sau khi sự kiện huyền bí kết thúc, những người bình thường còn sống sót đều mất trí nhớ, thám tử thì nhớ tất cả. Nếu không thì cấp độ ý chí cao của họ chỉ để trưng bày thôi sao? Ánh sáng rực rỡ chỉ để làm chói mắt là vô ích sao? Tà thần ảnh hưởng đến thị trấn này không mạnh lắm kia mà…

Khoan đã! Johnson nhớ ra rồi, thám tử Juan này ấy mà, hơi đặc biệt. Là một viên ngọc biết phát sáng, anh lại cứ nhấp nháy liên tục, rất không ổn định. Hiểu rồi, chỉ là do xui xẻo nên mất trí nhớ. Johnson nhìn Juan đang chuẩn bị phiêu lưu trong thị trấn đổ nát, lòng có nhiều cảm xúc lẫn lộn.

“Tên của anh là Juan.”

“Tôi nhớ điều này. Tôi cũng biết rằng tôi là kỹ sư trắc địa, chuyên vẽ bản đồ khảo sát địa chất và thám hiểm thực địa, đã từng làm việc cho chính phủ Jamaica, nhưng có lẽ tôi đã phạm sai lầm, ba tháng trước tôi đã mất công việc này.” Juan ngập ngừng hỏi Johnson: “Xin lỗi, chúng ta đã gặp nhau ở đâu?”

Thấy ánh mắt nghi ngờ và cảnh giác của Juan, Johnson cảm thấy sự việc bắt đầu trở nên thú vị.

Đúng vậy, người dân trong cả thị trấn đều trong tình trạng ý thức mơ màng, ngơ ngác đi loanh quanh, chỉ có thám tử khác họ thôi. Sau khi Juan vượt qua giai đoạn “ngạc nhiên” ban đầu, không phải đã đến lúc anh phải nghi ngờ thân phận của Johnson sao? Mặc dù không biết chuyện gì đã xảy ra nhưng thị trấn tan hoang cũng đủ để minh họa cho sự khủng khiếp của thảm họa này, Johnson lại ăn mặc như người mẫu tạp chí thời trang đang chờ chụp ảnh trong studio, không không, khí chất của y giống một quý tộc giàu có mà thất đức hơn, phân tích dưới góc độ phim ảnh và tiểu thuyết phiêu lưu thì rõ ràng là một nhân vật phản diện đúng nghĩa, chỉ thiếu mỗi dòng chữ “Tôi là kẻ xấu” trên mặt.

Juan tràn đầy nghi ngờ về danh tính của Johnson. Đặc biệt là khi Johnson có thể gọi tên anh ngay khi vừa gặp mặt.

“Chúng ta đã gặp nhau ở biển Caribe.” Johnson trả lời.

Y khéo léo tránh thời gian và địa điểm. Bởi vì nói đúng ra, họ gặp nhau tại Thủ phủ của Cướp biển Port Royal vào năm 1692, nhưng sự thật này nghe như lời của kẻ điên rồ.

“Vậy sao?” Juan lặng lẽ kiểm tra vũ khí.

Johnson nhìn thoáng qua đã nhận ra động thái nhỏ của anh, y chẳng để bụng chút nào, nhất quyết đi theo Juan vì muốn tham gia vào cuộc phiêu lưu “tìm lại ký ức” này. Trò chơi thám tử được giao đến tận nhà rồi, cớ gì không chơi?

“Anh không bị mất trí nhớ à?”

“Ta vừa đến thị trấn này.”

“Vậy sao, tình hình bên ngoài ra sao? Ở đây không liên lạc được.” Juan nhấc điện thoại ở quầy lễ tân khách sạn lên, nhưng không có âm thanh gì.

Có lẽ đường dây điện thoại bị đứt mất rồi, Juan lại bật radio lên, chỉ có tạp âm. Anh thử quay thêm vài lần nữa thì đột nhiên thu được một kênh có âm thanh mơ hồ. Thật không may, đó là tiếng Ý, Juan vất vả để phân biệt ý nghĩa trong đó.

“Mặt trăng, tai họa… bạo động…”

Johnson lắng nghe vài giây rồi chậm rãi nói: “Nó nói rằng cuộc bạo loạn đã kết thúc, bầu trời cũng như thông tin liên lạc đã trở lại bình thường, kêu gọi những kẻ côn đồ có vũ trang trở về nhà nếu không chúng sẽ bị bắn chết ngay tại chỗ.”

“Anh biết tiếng Ý à?”

“Bạn của ta thích opera.”

“Tôi đoán người bạn này chắc chắn không phải là tôi. Đợi đã, chúng ta là bạn bè à?”

“Không phải.”

“…” Juan chớp mắt. Johnson trả lời nhanh quá, nhanh đến nỗi anh không biết nên bày tỏ thái độ gì. “Vậy chúng ta là người xa lạ? Hay kẻ thù?”

“Không, ta thuê anh làm việc, anh đã giúp ta giải quyết một vấn đề khó khăn.”

Johnson không biết việc Juan mất trí nhớ là tạm thời hay vĩnh viễn. Dù sao thì y cũng thấy sự việc rất thú vị, y quyết định rằng mình sẽ không nói ra sự thật mà phải để Juan tự mình điều tra. Hiện tượng trăng máu đã được giải quyết, nền văn minh của loài kiến trên trái đất không có nguy cơ bị tiêu diệt, sân chơi đã được cứu! Thị trấn bị lãng quên này trong mắt Johnson chỉ là một địa điểm phiêu lưu mới lạ, thậm chí cả thám tử cũng có sẵn tại chỗ rồi.

Trực giác của Juan cứ gào thét liên hồi, anh cảm nhận được hơi thở nguy hiểm trên người Johnson, nhưng tiềm thức mách bảo anh rằng có thể tin tưởng đối phương, miễn là đừng đến quá gần. Tiềm thức này chứa đầy những mâu thuẫn và phi logic. Vì vậy anh lựa chọn ngậm miệng không hỏi, mà là âm thầm cảnh giác.

Juan tìm thấy đồn cảnh sát trong đống đổ nát, không may là nó đã bị hư hại nặng nề, thậm chí chẳng thể dọn dẹp ra được một mảnh đất hoàn chỉnh, xác chết vẫn còn chất thành đống bên dưới. Anh chỉ có thể quay lại lựa chọn thứ hai, tìm kiếm tòa soạn báo.

Tòa soạn báo sẽ lưu trữ những tờ báo cũ không ai dùng đến, không chỉ có thể biết tên của thị trấn, mà còn có thể biết vị trí địa lý của nó, và cách đến các thành phố lân cận. Đôi khi chúng ta cũng có thể tìm ra nguyên nhân gây ra thảm họa ở đây, suy cho cùng, nhiều thảm họa đã có dấu hiệu cảnh báo trước khi xảy ra.

“Ta nghĩ anh nên đi ga xe lửa.” Johnson đề nghị.

Việc có những bất đồng khi chơi trò chơi thám tử là điều bình thường!

“Thị trấn này không có xe lửa đi qua, tôi đã phải đi bộ tới đây, nhà ga có thể ở thị trấn phía trước.” Juan nhìn Johnson với vẻ mặt kỳ quái hơn trước: “Làm sao anh đến được đây?”

Johnson: “…”

Tà thần không sử dụng phương tiện giao thông, thuyền là đồ chơi, không dùng khi phải di chuyển.

“Anh nói vậy, ta mới nhận ra… à, ta không nhớ.”Johnson đột nhiên phát hiện ra rằng mất trí nhớ là một lý do hoàn hảo.

Đáng tiếc, biểu cảm của Johnson không đạt tiêu chuẩn, y thậm chí không thể mô phỏng được vẻ mặt hoảng sợ thất thố. Ánh mắt và vẻ mặt của Juan tràn đầy sự hoài nghi.

Lúc này họ đi vòng quanh phố, thấy một người đàn ông đang đứng trên đống đổ nát của nhà thờ. Bộ trang phục của hắn thậm chí còn khoa trương hơn Johnson, giống như một diễn viên bước ra từ sân khấu kịch hay màn ảnh rộng, hơn nữa hắn còn đeo một chiếc mặt nạ Venice đắt tiền và lộng lẫy. Điều kỳ lạ hơn nữa là hắn đang đứng trên một cây thánh giá, mà trông cây thánh giá đó như được nhặt tạm từ đống đổ nát và c*m v** giữa gạch ngói vụn…

Juan tỏ ra bối rối, anh không hiểu tại sao người đàn ông này lại làm như vậy.

Johnson cũng nhìn thấy Gymir, y cảm thấy hơi kỳ lạ, nhưng tâm trí y vẫn đang dừng lại trên câu hỏi tại sao Gymir lại đến muộn. Trạm trước đó là nước Anh, y đi giải cứu Cindy, Gymir đi tìm John. Nhưng Johnson đã kết thúc hành trình đến Anh, vội tới tìm Juan ở Ý, chơi trò thám hiểm thị trấn đổ nát hồi lâu rồi, sao giờ Gymir mới đến? John có gặp rắc rối không? Loại rắc rối rất khó giải quyết?

Johnson còn đang suy nghĩ, Gymir đã bỏ qua luôn thám tử đang vác ba lô du lịch, từ từ bước xuống cây thánh giá, đi vòng ra phía sau Juan, đưa tay ra và nói với Johnson: “Xin chào, trông em thật quen, ta có quen em không?”

Johnson: “…”

Chuyện gì đã xảy ra thế? Đừng đùa chứ, vừa mới chia tay hai giờ trước, lúc đó y đã mặc bộ đồ này rồi! Hơn nữa, tà thần có nhận biết đồng loại bằng quần áo đâu.

“Khi nhìn thấy em, ta cảm nhận được một niềm vui từ tận đáy lòng, nó giống như ánh nắng chiếu vào chúng ta lúc này vậy.”

“…”

Johnson và Juan đồng thời ngẩng đầu, nhìn ánh sáng chiếu xuyên qua giữa những đám mây.

Thành thật mà nói, ngay cả từ góc độ con người, chùm ánh sáng mặt trời chia thành từng dải phía trên tàn tích bụi bặm này trông quả thật đẹp mắt. Dù là một gã vô gia cư ăn mặc rách rưới đứng bên dưới, chỉ cần đôi mắt có vẻ tang thương hơn một chút, vẻ mặt trống rỗng hơn một chút là có thể trở nên rất thần thánh.

Chứ đừng nói là Johnson.

Im lặng một lúc, Johnson đơ mặt hỏi: “John đã nói gì với anh?”

“John là ai?” Gymir dùng tay ấn chiếc mặt nạ, nghiêm túc nói: “Đây chẳng phải là thị trấn bị lãng quên sao? Chúng ta đã quên đi quá khứ, chỉ còn lại cảm giác quen thuộc với nhau.”

Hắn khẽ cười, trong giọng nói của hắn có một sức mạnh quyến rũ lạ thường.

Vẻ mặt của Juan trống rỗng. Anh ngơ ngác đứng trên đường, khi định thần lại thì phát hiện mặt trời đã sắp lặn.

Người đàn ông đeo mặt nạ và Johnson đã đi đâu mất rồi.

“…”

Juan lấy cuốn sổ tay trong túi ra, giận dữ viết lại những gì đã trải qua trong ngày, anh còn phải tiếp tục tìm kiếm manh mối, điều tra những gì đã xảy ra ở đây.



<i>Người dịch: Gymir lại nhập vai rồi.</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 118


<b>Chương 118</b>

<b>Trò chơi</b>

Trong hai ngày tiếp theo, Juan mất công chạy khắp tòa soạn báo, ngân hàng, bưu điện… gian nan “khôi phục” lại hành trình của mình trong đống đổ nát, cuối cùng nhận ra mình đang đi đến di tích thành phố cổ Pompeii của Ý.

Di tích thành phố cổ!

Juan lấy chiếc la bàn vàng mà anh vẫn giữ sát bên mình ra theo bản năng. Thứ này được giấu rất kỹ, chứng tỏ nó rất quan trọng, nhưng la bàn hình như bị dính keo, không mở ra được.

Anh đã nhìn thấy các bài báo đưa tin về hiện tượng trăng máu trong tòa soạn, ngoài ra còn có những bài phát biểu dài về cuộc khủng hoảng kinh tế, vết đen mặt trời và sụt giảm sản lượng ngũ cốc. Juan một lòng tôn thờ khoa học, càng đọc càng cảm thấy vô lý, tất cả đều là lời bịa đặt vô nghĩa. Juan từng cho rằng người dân trong thị trấn này đều điên rồ, nhưng bây giờ thì hay rồi, hóa ra cả thế giới đều điên rồ.

Juan đau đầu. Điều rắc rối hơn nữa là anh phát hiện ra mình đang bị theo dõi. Đối phương hoàn toàn không có ý định che đậy, luôn giữ khoảng cách đủ gần, như thể đang giám sát Juan. Điều này khiến Juan rất căng thẳng. Người đàn ông tự xưng là Johnson vẫn còn là một bí ẩn, không rõ lai lịch là gì, “người bạn” đeo mặt nạ của y thậm chí còn không giống người tốt, tới giờ này Juan vẫn chưa nhìn thấy mặt hắn.

Loại người nào mới phải giấu mặt?

Kẻ bị truy nã?

Một nhân vật nổi tiếng thường xuyên xuất hiện trên báo chí và truyền hình?

Bản năng mách bảo Juan ngăn mình không suy nghĩ nữa.

Bằng cách phân tích dấu vết trong đống đổ nát, anh kết luận rằng cư dân của thị trấn này bị mất trí, rơi vào ảo giác, sau đó tàn sát lẫn nhau. Giống như một loại khí độc. Người Đức đã sử dụng bom khí độc vào năm 1915. Tuy Juan không hiểu tại sao một thị trấn nhỏ lại bị khí độc tấn công, nhưng ngoài điều đó ra, Juan thực sự không tìm được lời giải thích hợp lý hơn.

Khi số thực phẩm còn sót lại trong tàn tích của thị trấn đã gần cạn kiệt, cảnh sát cuối cùng cũng đến.

Không, có vẻ như là quân đội.

Juan ngay lập tức trốn trong đống đổ nát của nhà thờ, nhìn những cư dân thị trấn đang mơ màng bị c**ng b*c mang đi. Những người mất trí ra sức giãy giụa, kêu la gào thét, dường như đã quyết tâm ở lại nơi này, như bầy chim bị phá tổ chỉ biết ngơ ngác đứng trên cành cây gần đó, không chịu rời đi.

Cảnh tượng này thật sự bi thảm, nhưng điều khiến Juan hoảng sợ hơn nữa là người ta dường như coi những người sống sót này như kẻ côn đồ, thậm chí còn trói họ bằng dây thừng rồi nhét vào xe tải, sau đó thậm chí không có ý định vùi lấp lại tàn tích, bọn họ chỉ đi quanh thị trấn một vòng rồi bỏ đi.

Juan: “…”

Trời bắt đầu mưa, anh vừa lạnh vừa đói, trên người chỉ có một chiếc chăn rách nát trong phòng xưng tội của nhà thờ. Nước Ý rõ ràng là một nơi có nhiều nắng, khí hậu ôn hòa. Có ma mới biết tại sao trời lại lạnh đến thế.

Có một vết nứt chéo khá dài ở nơi ẩn náu, trước đó Juan lén nhìn qua vết nứt này để xem chuyện gì đang xảy ra bên ngoài, bây giờ mưa không ngừng trút xuống, mặt đất đã ướt hẳn, thậm chí còn có nước đọng. Juan run lên vì lạnh, anh nghiến răng nghiến lợi, quyết định đội mưa ra ngoài để tìm một nơi trú ẩn khác. Nếu không khi trời tối sẽ càng khó khăn hơn.

***

Johnson đang ngồi bên cửa sổ một ngôi nhà đổ nát, cách nơi Juan ẩn náu chỉ hai con phố, y có thể dễ dàng nhìn thấy mọi hành động của thám tử xui xẻo bị mất trí nhớ này.

Trò chơi thám tử này trở nên thật kỳ lạ. Gymir sẽ bất thình lình nhảy ra từ một nơi nào đó mà Johnson không ngờ tới mỗi ngày, sau đó nghiêm túc thảo luận về “cách khôi phục trí nhớ” với y.

Johnson: “…”

Tuy rằng khi đóng giả làm người, y sẽ bịa ra những lời nói dối, có khi là bác sĩ, có khi là một quý tộc hào phóng, sẵn sàng đóng vai thám tử, nhưng y vẫn cảm thấy không đúng.

Johnson muốn nói chuyện với John.

Trên thực tế, ngày đầu tiên phát hiện ra Gymir giả vờ mất trí nhớ, y đã bỏ Juan lại để đến Anh. Nào ngờ John không có ở biệt thự bên bờ biển đó. Johnson muốn tìm John thông qua “liên hệ”, nhưng lại phát hiện một sức mạnh quen thuộc ngăn cản mình. Phải, vì ảnh hưởng từ việc dung hợp sâu sắc của bản thể, Gymir có thể dễ dàng che đậy “mối liên hệ” khiến Johnson không thể tìm thấy John.

Tuy nhiên, Johnson vẫn tìm thấy một lá thư do John để lại. Thư được giấu ngay sau khung ảnh. Johnson cầm bức ảnh của John cùng vợ con lên, một lá thư rơi ra. Vị thám tử thông minh đó đã giải đáp thắc mắc cho Johnson chỉ bằng vài câu, đồng thời vẫn tránh được số phận xui xẻo chọc giận tà thần.

Sau khi đọc lá thư, Johnson trở lại thị trấn vô danh với nhiều cảm xúc lẫn lộn.

Gymir không chỉ tạo ra những cuộc gặp gỡ tình cờ, hắn còn lấy vé xe lửa của Juan và mời Johnson cùng mình lên xe lửa đi du lịch (mặc cho Juan tái mặt vì sợ hãi khi phát hiện ra vé xe lửa mất tích một cách bí ẩn), hắn lấy tờ báo có hình trăng máu ra hỏi Johnson có muốn ra biển chơi vào đêm trăng sáng không.

Thấy Gymir biểu diễn ngày càng nghiêm túc, Johnson còn không dám cắt ngang hắn. Johnson rất lo lắng Gymir quá phấn khích, đòi y phải chạy vài vòng trên trái đất, bỏ trốn hai năm để hắn đuổi theo… thế thì phải làm sao? Gây ra chuyện ồn ào như vậy, liệu Typhon có nhìn lén không? Lỡ như Typhon đuổi theo cười nhạo họ thì sao?

Da đầu của Johnson tê dại.

Bây giờ chỉ là chơi trò chơi thám tử và mất trí nhớ trong một thị trấn đổ nát, vậy đã đủ thú vị rồi.

***

Juan bước vào bưu điện, anh xoa hai tay vào nhau thật nhanh, chuẩn bị lên tầng hai giật rèm cửa xuống làm áo ấm. Anh đã đến đây ba lần, lục soát tất cả các ngăn kéo và tủ. Bao gồm cả những người cái bị khóa, Juan cũng tìm cách để phá chúng ra xem xét. Cộng thêm trí nhớ bẩm sinh, Juan rất quen thuộc nơi này, cho dù trời đã tối, không nhìn thấy gì trong bưu điện, anh vẫn có thể tự do di chuyển.

Sau đó Juan đá vào một cái tủ, chân đau buốt.

Nét mặt của anh đông cứng lại.

Đây là lần thứ ba rồi đấy.

Trước đây anh có thể giải thích rằng những cư dân mất trí trong thị trấn đã vào trong nhà, di chuyển đồ đạc xung quanh, nhưng bây giờ mọi người đều bị bắt đi cả rồi, làm gì còn người nữa? Vậy nên vẫn là Johnson cùng người đàn ông đeo mặt nạ bí ẩn kia? Chính xác thì họ muốn làm gì?

Juan tiếp tục đi về phía trước với tâm trạng nặng nề, chẳng mấy chốc anh đã tìm thấy một thùng bánh quy ở gần bệ cửa sổ. Thùng bị bịt kín, rất kín kẽ. Juan mò mẫm trong đệm ghế sô pha bên cạnh, tìm thấy một chai rượu rum khác. Mở ngăn kéo ra, có một hộp đạn và một khẩu súng.

“…”

Mặc dù những ngày qua anh sống sót bằng cách tìm kiếm thức ăn trong các ngôi nhà, nhưng những vật dụng này đáng lẽ không nên tồn tại trong tòa nhà trước mặt anh. Nhất là súng, cứ như thể những người đứng sau nhìn thấu được cuộc khủng hoảng trong thị trấn, biết hôm nay Juan suýt chút nữa bị những người Ý vô lý đó bắt đi, nên đã cung cấp thêm vũ khí.

Rất chu đáo.

Chu đáo đến mức rùng rợn.

Juan lùi lại một bước, cơ thể đập mạnh vào tường. Anh muốn hét lên để gọi Johnson và người đàn ông mà anh không nhìn rõ mặt bước ra, nhưng điều này chỉ thể hiện sự sợ hãi và thảm hại của anh.

Không phải anh không có lựa chọn khác, anh có thể bỏ chạy! Đường bên ngoài thị trấn không bị phong tỏa! Cho dù ở đây có bí mật gì, chúng liên quan gì đến quá khứ của anh, anh cũng không quan tâm.

Còn chiếc la bàn khó hiểu đó, cùng lắm là vứt nó đi!

***

Rạng sáng, Juan lén lút trèo ra khỏi bưu điện qua cửa sổ tầng hai.

“Anh chàng muốn điều tra sự thật này dường như đã bỏ cuộc, thật đáng tiếc!” Gymir khẽ thở dài.

Johnson im lặng, không biết nên tiếp lời thế nào. Dù sao thì… y không quen Gymir, chỉ là bạn đồng hành cùng nhau tìm kiếm sự thật thôi. Nhưng Johnson vô tình “nhìn thấy” Gymir giấu manh mối trong chiếc két sắt trên tầng hai của bưu điện, két sắt này được đặt bên trong vách ngăn của bức tường.

Ngoài tiền và chứng khoán, còn có những “manh mối” được Gymir chuẩn bị kỹ càng. Thông qua manh mối này, Juan có thể dần dần tìm ra sự thật, nguồn gốc của sự hỗn loạn ở thị trấn này: Một thần mới đang ngủ trong lâu đài bỏ hoang bên ngoài thị trấn. Chỉ cần có nhu cầu, đồng loại cũng có thể được lôi ra làm đạo cụ trò chơi. Đặc biệt tại nơi thần mới này sinh sống, có thể tiếp tục theo dõi những câu chuyện của tín đồ tà giáo, cũng như những quái vật hút máu trong tiểu thuyết phiêu lưu ly kỳ của con người.

Vì lo Juan không đến gần được hang ổ của thần mới, Johnson còn đến chỗ Hans dạo một vòng, lấy về một khẩu súng và một hộp đạn có khắc chữ Rune.

Dù là Gymir đưa manh mối hay Johnson đưa thức ăn và vũ khí, họ đều làm việc đó “sau lưng nhau”, họ vẫn phải duy trì tình trạng mất trí nhớ bề ngoài.

Giờ thì Juan bỏ chạy.

Không chơi nữa.

Thị trấn này không phải là một hòn đảo hoang, Juan không rơi vào đường cùng như Cindy. Johnson do dự hai giây giữa việc tạo ảo ảnh để ngăn bước chân Juan và việc để Juan rời đi, y quyết định bỏ qua, tha cho thám tử tội nghiệp và xui xẻo này vậy.

Còn những manh mối và thông tin trong két sắt cùng những vũ khí y giấu trong ngăn kéo thì coi như làm bẫy để bắt được thám tử mới đi, có thể nó sẽ sớm được phát hiện, cũng có thể nhiều năm sau sẽ có ai đó đến đào bới đống đổ nát và phát hiện ra.

“Đã đến lúc chúng ta phải đi.”

“Đi nơi khác để tìm lại những kỷ niệm quý giá sao?”

“…”

Johnson lặng lẽ rút ra một cuốn sách, y nghi ngờ rằng mình sẽ phải tìm những câu chữ trong các bài Sonnet* của Shakespeare để đáp lại phát ngôn khoa trương của Gymir. Phải rồi, cuốn sách này cũng do thám tử John gợi ý.

<i>* Sonnet: là một hình thức thơ có nguồn gốc từ Ý; Giacomo Da Lentini được coi là người đã phát minh ra thể loại thơ này. </i><i>Đến thế kỷ thứ mười ba sonnet được chuẩn hóa thành một bài thơ mười bốn dòng với một luật gieo vần nghiêm ngặt và một cấu trúc nhất định.</i>

***

Juan ném chiếc la bàn vàng vào ngăn kéo, nhưng chân anh dường như đã mọc rễ tại chỗ, không thể rời đi. Anh nghĩ đi nghĩ lại, cảm thấy vứt đi thế này thì quá tùy tiện, sẽ bị người khác nhặt lại.

Juan tìm thấy một chiếc hộp gỗ trong đống đổ nát, đặt chiếc la bàn vào đó, chôn nó dưới gốc cây lớn khi rời khỏi thị trấn, thậm chí còn cẩn thận xóa đi mọi dấu vết xung quanh nó. Lúc rời đi, Juan cứ tiến lên một bước thì vô thức quay đầu lại một lần. Cuối cùng anh hạ quyết tâm, nhanh chóng bỏ chạy.

Ngắm mặt trời dần ló dạng, Juan bỏ lại cơn ác mộng của thị trấn bị lãng quên phía sau, mỉm cười. Anh duỗi tay ra, đột nhiên toàn thân cứng đờ. Những ngón tay run rẩy, anh thò tay vào túi và rút ra một chiếc la bàn có dây xích vàng.

“A…” Tiếng hét thảm thiết của Juan vang vọng khắp vùng hoang dã.

Johnson thậm chí còn không chớp mắt. Đây mới chỉ là sự khởi đầu thôi. La bàn sẽ không ngừng quay trở lại với Juan. Juan bây giờ sợ hãi bao nhiêu thì Juan của mười ngày tới sẽ sung sướng bấy nhiêu.

“Muốn đánh cược không?” Johnson nghiêng đầu hỏi.

Quý ông người Anh ở thế kỷ 19 thích đến câu lạc bộ chơi bài, cá cược đua ngựa, cá cược bất cứ thứ gì đáng để tiêu khiển. Johnson không có thói quen này, nhưng lời nói của y vẫn toát lên phong thái này. Lần cuối cùng y cá cược với Gymir là ở nhà hát Luân Đôn, à không, là khi theo dõi vụ tranh chấp tài sản của gia tộc Brandon ở Tòa án Luân Đôn.

“Cược cái gì?”

“Anh ta sẽ không lấy lại được trí nhớ cho đến khi nhìn thấy di tích.”

Gymir nheo mắt lại, nhận ra rằng đây là một ván cược thua chắc. Nhưng thua như thế nào cũng là một trò chơi.

“Được, người thua cược phải nói ra một bí mật.”

“Bí mật?” Johnson rất thắc mắc.

***

Hơn mười ngày sau, Juan mặt mày hốc hác và râu ria xồm xoàm đã có mặt tại đích đến ban đầu mà anh ghi trong sổ tay, thành phố cổ Pompeii. Anh đã thấp thỏm lo sợ suốt cả chặng đường, nhưng không có ai theo dõi anh, cũng không có người đuổi giết mà anh nghĩ tới.

Juan lê bước đến bên cạnh di tích, mặt trời vừa mọc chiếu lên mặt anh, cũng chiếu lên đống đổ nát cổ kính phủ đầy bụi đã lâu ngày này.

Juan đột nhiên cứng đờ, vẻ mặt anh từ bối rối chuyển sang xuất thần, đến không thể tin nổi, cuối cùng đọng lại ở kinh hãi.

“Không! La bàn của tôi!”

Thù lao của tà thần cho anh! Anh ném đi mất rồi!

Juan ngay lập tức lấy lại toàn bộ ký ức, chộp lấy ba lô điên cuồng lục lọi. Không có trong ba lô, không có trong túi áo, lần cuối cùng anh ném la bàn đi là khi nào? Anh không hại chết ai cả, phải không? La bàn rơi vào tay người khác là sẽ có chuyện đấy!

“Phù.” Cuối cùng cũng tìm được chiếc la bàn, Juan khóc vì sung sướng.

Johnson đứng xa xa: “…”

Mặc dù đã đoán được kết quả này, nhưng y vẫn cảm thấy rất thần kỳ khi tận mắt chứng kiến cảnh tượng này. “Độ sáng” của Juan ngay lập tức tăng vọt lên, triệu chứng mất trí nhớ được chữa khỏi trong một giây. Đúng như dự đoán, không cần y phải giúp đỡ gì cả.

“Em đã thắng, có muốn biết bí mật không?” Gymir mỉm cười hỏi.

Johnson cảnh giác nói: “Không muốn biết.”

Gymir kiên quyết: “Nào nào, một quý ông hào phóng và uy tín phải tuân theo lời hứa của mình.”

Johnson: “…”

Trò chơi ngụy trang làm con người này nên dừng lại đi thôi.

Gymir nói với giọng điệu đau khổ: “Ta vừa khôi phục được một chút ký ức, muốn chia sẻ với em.”

Nói rồi, không chờ Johnson kịp phản ứng, một quả cầu ánh sáng màu xám đã bị Gymir nhét vào trong cơ thể y.

Johnson bất thình lình nhìn thấy thám tử John trẻ tuổi bị nước biển cuốn lên một hòn đảo xa lạ. Vài con người khác bị chôn sâu trong cát, cơ thể đen kịt và tứ chi vặn vẹo. John cố gắng đứng dậy, vài thứ đồ vật rơi ra từ trên người anh, rồi John nhanh chóng bất tỉnh.

Một tấm ảnh bay lên từ trong đống đồ vật.

Johnson nhớ tấm ảnh này, mí mắt y giật giật. Quả nhiên, giây tiếp theo, y nhìn thấy sức mạnh huyền bí trong ảnh được kích hoạt, “phát đi phát lại” cảnh y đi tìm mục sư Cornell. Kèm theo âm thanh lạ lùng không thể miêu tả, chủ nhân của ký ức chơi đùa cho đến khi tấm ảnh mất đi sức mạnh.

Johnson: “…”

Y muốn bỏ đi ngay lập tức, đi đến một nơi Gymir không thể tìm thấy!
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 119


.

<b>Chương 119</b>

<b>Điện đài thần bí</b>

Vào tháng 12 năm 1959, những bất thường về khí hậu do sự kiện trăng máu gây ra dần dần biến mất. Thảm họa đã kết thúc nhưng ảnh hưởng nó để lại vẫn kéo dài âm ỉ trong bóng tối.

Đầu tiên, chính phủ của một số quốc gia bắt đầu trao đổi một số thông tin bí mật, bổ sung vài khoản chi bí mật vào kế hoạch tài chính cho năm tiếp theo, kèm theo đó là huy động khẩn cấp một vài phương tiện nhất định, trưng dụng căn cứ nào đó, v.v. Dù làm rất bí mật nhưng hành động của họ quá lớn. Ngay cả những người không biết nội tình cũng chú ý đến những hiện tượng bất thường này, bao gồm nhưng không giới hạn việc bị các nhân viên chính phủ kỳ quặc đến thăm để ghi lời khai, tay hàng xóm khoác lác rằng nhìn thấy người ngoài hành tinh bị cảnh sát bắt đi điều tra, khu mỏ bỏ hoang nhiều năm bất ngờ bị phong tỏa, sách và nhật ký được sưu tầm bởi những người say mê với phép thuật phù thủy và biểu tượng huyền bí bị mang đi khỏi nhà của họ…

Vì con người ở thời đại này chỉ có thể sử dụng điện thoại đường dài, điện báo và radio để liên lạc, nên họ không biết rằng những điều như vậy không chỉ xảy ra xung quanh họ, mà còn ở nhiều quốc gia khác. Nhiều người thậm chí còn cho rằng mấy tay hàng xóm ưa khoe khoang và tin vào phép thuật phù thủy đã phạm tội gì đó. Ví dụ như nhân lúc thành phố hỗn loạn và bạo động nổ ra để trộm cướp các cửa hàng, hoặc là tổ chức tà lễ* trong hầm ở nhà hoặc ngoài trời…

<i>* Tà lễ hay còn gọi là Lễ Đen (Black Mass) một khái niệm dùng để chỉ các buổi lễ phản thánh của cộng đồng người thờ phụng quỷ Satan (Đạo Satan). Đây là một buổi lễ thường được cử hành bởi các nhóm Satan khác nhau (nhất là đối với Giáo hội Satan), tà lễ này được cho là đã tồn tại trong nhiều thế kỷ dưới nhiều hình thức khác nhau và có chủ ý là một sự nhạo báng và báng bổ đối với một Thánh lễ Công giáo.</i>

Những thứ này không gây tò mò bằng một khu vực quân sự bị cấm mới toanh xuất hiện ở vùng hoang dã, nhất là ở Mỹ, đám người đam mê đi bộ đường dài mang theo ba lô, cầm điện đài vô tuyến tự chế, sống trong những túp lều giữa thiên nhiên hoang dã, say sưa mô tả những gì họ tưởng tượng ra qua điện đài. Họ thu hút được rất nhiều người nghe, cũng như những người hâm mộ cuồng nhiệt chờ đợi kênh và thời gian phát thanh.

“Đây là bang Nevada, bắt đầu từ khoảng một năm trước, hàng phòng ngự ở đây càng trở nên chặt chẽ hơn. Tôi luôn nói rằng ở đây có người ngoài hành tinh, bây giờ tôi chắc chắn rằng người Mỹ đã thực sự phát hiện ra sự sống ngoài hành tinh. Không không, ý của tôi là, người ngoài hành tinh đã phát động một cuộc tấn công vào trái đất… Đúng vậy, chính là những cuộc bạo loạn xảy ra vào tháng trước, đừng nghe mấy nhà kinh tế học và thiên văn học nói vớ vẩn, họ đều là những kẻ dối trá! Họ đang lừa dối chúng ta! Các phi thuyền của người ngoài hành tinh vô hình, chúng b*n r* một loại vũ khí khiến bạn chóng mặt, đau đầu và thậm chí là mất trí nhớ tạm thời! Hãy thử nghĩ xem, bạn hoặc gia đình, bạn bè của bạn có mắc phải triệu chứng này không? Và những thông báo tử vong không thể giải thích được đó, tại sao hàng xóm của tôi lại chết? Tại sao bạn tôi lại chết? Cảnh sát nói với tôi rằng họ đã tham gia vào một cuộc bạo loạn hoặc một cuộc diễu hành của tín đồ dị giáo! Thật nực cười. Chúng tôi muốn nhìn thấy cái xác, nhưng không có cái xác nào cả! Điều này có bình thường không?”

Tất nhiên là không bình thường.

Lượng khán giả nghe kênh phát thanh ngày càng tăng. Một phần trong số họ thậm chí còn là quan chức chính phủ, giáo sư và nhà báo. Với kinh nghiệm và kiến thức của mình, họ không nên tin những lời nói vô căn cứ như vậy, nhưng hiện tượng trăng máu quả thực rất kỳ lạ. Khoa học không thể giải thích được, nhiều điều bất thường xảy ra sau đó cho thấy rằng một số quan chức chính phủ có thể đã biết gì đó. Khi họ không thể tìm ra sự thật thông qua các mối quan hệ và kênh thông tin cá nhân, hoặc bị từ chối một cách tàn nhẫn và lạnh lùng, những nghi ngờ như một hạt giống chôn trong lòng họ bắt đầu bén rễ và nảy mầm. Đặc biệt, các phương tiện truyền thông truyền hình và báo chí không muốn đề cập đến điều cấm kỵ này, họ chỉ đăng vài bài báo rỗng tuếch, một số trường hợp ngoại lệ lẻ tẻ cũng chỉ đưa tin phần đầu, không có phần tiếp theo. Điều này chẳng những không giải quyết được những nghi ngờ mà còn khiến mọi người trở nên nóng nảy hơn.

Chẳng bao lâu sau, những điện đài bí mật này cũng lần lượt biến mất. Không còn gì để nghi ngờ, họ cũng bị bắt đi hoặc bị cảnh cáo nghiêm khắc. Người ta chỉ có thể vặn nút vô ích, điều chỉnh tần số, mong tìm được một chiếc điện đài còn sót lại.

Sau đó… có người phát hiện ra một chiếc điện đài lạ.

Nó thậm chí không thể được gọi là điện đài, bởi vì hầu hết thời gian không có âm thanh, thỉnh thoảng có thể nghe thấy tiếng sóng biển. Có người cho biết họ nghe thấy tiếng kêu khóc của những hồn ma, tiếng pháo kích, hiệu ứng âm thanh kinh hoàng của gió bão dữ dội. Cái tên “điện đài ma quái trên biển” nhanh chóng lan truyền trong giới đam mê radio. Ngày càng có nhiều người tìm kiếm, chờ đợi chiếc điện đài này, muốn thử xem mình có thể nghe được những âm thanh gì.

Đây chính là truyền thuyết kỳ lạ về điện đài ma quái.

Ai cũng cảm thấy chiếc điện đài này sẽ sớm biến mất, tuy nhiên, nó vẫn luôn tồn tại…

***

Nam Thái Bình Dương, đảo Sable đang trôi lênh đênh.

Không, có lẽ nó nên được đổi tên. Cung điện nham thạch của thần Trí tuệ, ngôi nhà mới mà thần Biển Gymir nhặt được… Thôi thì gọi nó là đảo Cát Lún dựa trên vẻ ngoài của nó đi.

Ở vùng biển cách xa tuyến đường hàng hải của con người có nhiều hòn đảo lớn nhỏ khác nhau, đảo Cát Lún được bao bọc bởi sương mù. Với công nghệ và kỹ thuật vệ tinh hiện nay của loài người, họ không thể nhìn thấy dấu vết của nó, cũng không thể phát hiện ra sự tồn tại của nó. Khi trời quang đãng, ngọn hải đăng trên đảo thỉnh thoảng sẽ lộ ra ngoài màn sương mù, dù không còn sáng nữa nhưng không ai có thể ngờ rằng một trong những ngọn hải đăng đã xảy ra sự cố.

“Đây là cái gì?”

Johnson vô tình nhìn thấy thứ gì đó trên đỉnh ngọn hải đăng, trông quen quen. Tà thần nhanh chóng tìm ra sự tồn tại của nó trong trí nhớ của mình.

“Điện đài… của Hans đưa?”

Nghe nói là đã được cải tiến đặc biệt, có thể thu được âm thanh của Bướm Xám, lúc đó dùng để tìm ra tung tích của Bướm Xám ở Bắc Cực. Vì kết quả của sự kiện Bắc Cực là rơi vào khe hở thời gian, nên y không thể kịp thời trả lại vật này cho Hans.

Ngọn hải đăng là một trong số ít công trình kiến trúc của con người trên đảo Cát Lún, Johnson thỉnh thoảng đến thăm nó. Ngọn hải đăng này vốn là nơi ẩn náu trước đây của Cindy và bà nội của cô. Khi Johnson đến đây lần trước, y thu lại những “vật tư” mà Cindy không sử dụng… sau đó thì mang cho Juan dùng ở thị trấn vô danh.

Về phần thiết bị điện đài này, Johnson tìm nó là vì nhớ ra người trong đội ngũ của Hans có sử dụng một thứ giống như “bịt tai” ở Bắc Cực, sau khi nhận dạng qua tạp chí, y xác định thứ này hình như chính là “tai nghe” mà Cindy nói. Tuy nhiên, kết cấu của nó hơi lạ, nên cuối cùng Johnson quyết định dùng mũ len để trả thù lao. Chiếc điện đài được cải tạo này thì bị y bỏ quên trong ngọn hải đăng.

Bây giờ Johnson phát hiện ra rằng thứ này còn đang vận hành.

“Kỳ lạ.”

Johnson nhặt thứ to lớn nặng nề này lên, nhìn mà không thể hiểu nổi. Đồ đạc của con người lẽ ra phải có điện mới dùng được, trong ngọn hải đăng thì không có điện, thứ này bị sao vậy? Thật ra là cái gì ảnh hưởng đến nó? Có thể là do đảo Sable… à không, do đảo Cát Lún có hiệu ứng lan tỏa âm nhạc tự nhiên, cũng có thể là do kết hợp với sương mù ở ngoại vi đảo, cộng thêm phản ứng dây chuyền do hiện tượng trăng máu gây ra…

“Nó đang phát bài ca của đảo Chết Chóc.” Gymir bất ngờ xuất hiện bên ngoài ngọn hải đăng, cúi đầu lắng nghe.

Johnson lạnh mặt nói: “Xin lỗi, hôm nay quan hệ của chúng ta là thế nào? Người xa lạ? Bạn đồng hành tình cờ gặp trên đường? Hay là hai con người đã từ bỏ quá khứ và đang theo đuổi tình yêu?”

Gymir: “…”

Gymir giữ cánh tay Johnson lại, bế y lên rồi nhảy từ ngọn hải đăng xuống biển.

Điện đài tiếp tục bị lãng quên trong ngọn hải đăng.

Mây đen lần nữa che khuất mặt trời, sương mù dâng lên, ngọn hải đăng biến mất trong sương mù, âm thanh truyền ra bên ngoài cũng ngưng lại.

***

Nước Mỹ, trong một căn cứ bí mật.

Một người đàn ông với khuôn mặt đầy sẹo đứng trước bàn.

Gã từng là thành viên của tàu ngầm hạt nhân Nautilus, cũng xuất hiện trên t** ch**n bên ngoài đảo Sable. Sau khi trải qua hai thảm họa, vẻ ngoài của gã càng hung dữ hơn, ánh mắt cũng trở nên nham hiểm và lạnh lùng hơn, như một con thú dữ có thể gào thét cắn xé thịt sống bất cứ lúc nào, khiến người ta thấy khó chịu toàn thân.

Ngồi đối diện bàn là một ông lão, ông ta từng là nhà khoa học đứng đầu trong nhiệm vụ tàu ngầm đi xuyên qua Bắc Cực, sau hơn một năm điều trị, lý trí và ý thức của ông ta dần hồi phục.

Bây giờ chỉ còn hai người họ sống sót sau chiến dịch đó. Những nhân viên trên tàu ngầm không chết vào năm ngoái thì đều đã chết vì hiện tượng trăng máu năm nay. Nguyên nhân cái chết rất đa dạng, có người do điên loạn, có người tự phóng hỏa thiêu chết mình, thậm chí có người còn bị tín đồ tà giáo bắt cóc mang đi hiến tế.

Những tài liệu này được trải ra trên bàn trước mắt ông lão. Khuôn mặt của nhà khoa học già đầy đau khổ.

“Đây là một cuộc chiến!” Gã mặt sẹo nói một cách gay gắt: “Chiến tranh nghe có vẻ phức tạp nhưng thực ra rất đơn giản, chỉ cần tìm ra kẻ thù và tiêu diệt chúng, vậy là chúng ta có thể giành chiến thắng! Cách duy nhất để gột rửa vết nhơ và khôi phục danh dự là đánh bại kẻ thù!”

“Chúng không phải là con người, thậm chí không phải là những sinh vật mà chúng ta có thể tưởng tượng.” Ông lão ngẩng đầu lên, hỏi thẳng thừng: “Thượng tá Stanley, tôi nghe nói thành viên trong cơ quan bí mật mà anh thành lập đều đã chết trong vụ chiếc tàu chở khách của Anh bị mất liên lạc cách đây hơn ba tháng, còn gây ra thiệt hại nặng nề cho hai chiếc t** ch**n. Nếu không nhờ hiện tượng trăng máu giúp anh được gọi về khẩn cấp, tôi đoán bây giờ anh đã bị đưa ra tòa án quân sự rồi.”

Rầm.

Cái bàn bị đập mạnh lên, sau đó là sự im lặng ngột ngạt.

Một lúc lâu sau, giọng nói nham hiểm đó vang lên: “Ông Moore, vậy là ông không chịu giúp chúng tôi? Ông muốn phản bội đất nước, phản bội cả nhân loại à?”

“Tôi nghe nói các anh dự định sử dụng V* kh* h*t nh*n.” Ông lão không trả lời thẳng vào vấn đề.

Stanley Mặt Sẹo nhìn ông ta một phút, rồi cười khinh thường: “Ông thấy sao?”

Ông lão Moore lạnh nhạt đáp: “Anh không làm được, vì cần phải tính toán quỹ đạo của tên lửa trước khi phóng, đến lúc mọi thứ đã sẵn sàng thì hiện tượng trăng máu đã biến mất.”

Trên trán Stanley Mặt Sẹo nổi lên hai đường gân xanh, gã nhấc cổ áo ông lão từ bên kia cái bàn, nói bằng giọng điệu đầy sự đe dọa: “Chỉ cần tôi gật đầu, tư liệu về ông sẽ bị đóng dấu <i>đã tử vong</i> ngay lập tức. Tôi biết ông có nhiều học trò, ông có địa vị cao, ông có nhiều bạn bè làm việc cho chính phủ và quân đội, nhưng ông đã phát điên hai năm, bị giám sát trong viện điều dưỡng hai năm, trong mắt bọn họ, ông đã là biểu tượng của quá khứ rồi.”

Lúc này, có tiếng gõ cửa rất gấp gáp.

“Thượng tá, nhận được âm thanh mới từ điện đài ma quái.”

“Chờ!”

Stanley Mặt Sẹo nhìn động tác chật vật của ông lão, buông tay ra, hài lòng nói với vẻ trịch thượng: “Tôi nghĩ ông Moore sẽ có lựa chọn đúng đắn.”

Nói xong, gã sải bước rời đi. Cánh cửa mở ra, và lại bị đóng sầm lại.

Ông lão ngã xuống ghế.

Từ ngoài cửa vọng vào tiếng nói chuyện loáng thoáng.

“…Có người đang nói chuyện, không thể nghe rõ nội dung… sau đó thanh âm phát ra gây nên hỗn loạn, bảy người nghe điện đài đều bị ảo giác, nói rằng nhìn thấy Siren…”

“Mẹ kiếp, nói lại lần nữa xem?”

“Giọng nói đó rất hay, rất động lòng người, nhưng lại khiến người ta ảo giác, cho đến nay, không ai có thể lặp lại rõ ràng nội dung.”

“Ăn hại! Chẳng phải tôi đã nói âm thanh do điện đài ma quái phát ra rất giống âm thanh lạ mà chúng ta ghi được ở ngoại vi đảo Sable sao? Tìm ra nguồn gốc của nó, chúng ta có thể tìm thấy đảo Chết Chóc bị mất tích, tìm ra những con quái vật đó!”
 
Back
Top Bottom