Cập nhật mới

Đô Thị  Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả

Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 80


<b>Chương 80</b>

<b>Trà chiều</b>

Nên mô tả giấc mơ ngớ ngẩn này như thế nào đây?

Gió biển thổi dịu dàng, bữa trà chiều kiểu Anh được bày trên bàn.

Một chiếc giỏ mây đựng đầy bánh pancake nhân mứt, một chiếc đĩa sứ tráng men màu đỏ đựng bánh Scone và bánh sandwich xếp chồng lên nhau, một chiếc lọ thủy tinh màu chứa sáu loại mứt kết hợp… Cuối cùng là một ấm trà đen bốc khói.

“Bình sữa và lọ mứt là từ xưởng thủy tinh Murano của Venice, chúng là những tác phẩm nghệ thuật xuất sắc.” John vô cùng hài lòng cầm chiếc tách sứ trắng đựng trà đen lên, đồng thời cho khách của mình xem những bộ đồ thủy tinh đẹp đẽ.

Hoa trong sân đang nở rộ, không phải loại đắt tiền, những đóa hoa rất nhỏ, treo trên dây leo quấn quanh hàng rào gỗ. Những cành lá lớn cắt ánh nắng thành những mảnh vụn, trải ra trong sân, đung đưa theo gió biển. Một chú mèo Anh lông ngắn màu xanh xám ngủ trên chiếc ghế gỗ tự nhiên làm bằng rễ cây hình vòng cung của nó, còn đá chân khi ngủ. Màu đỏ của mái nhà, màu xanh mướt của cây cối, màu sơn trắng của những bậc thang và hàng rào gỗ, mặt biển ở xa xa… những màu sắc ấy thật sống động.

Juan là một kỹ sư trắc địa của một đoàn thám hiểm khảo cổ, anh đã đi đến nhiều nơi, nhìn thấy vô số cảnh đẹp ngoạn mục, anh không bao giờ ngờ rằng một ngày nào đó mình sẽ bị thu hút sâu sắc bởi khoảnh sân của một ngôi nhà bình thường. Mọi thứ ở đây đều chìm trong bầu không khí ấm áp và yên bình, như một bức tranh sơn dầu vùng nông thôn an nhàn và xinh đẹp.

“Nơi này là đâu?” Juan không nhịn được hỏi.

Đây là lần thứ hai anh đưa ra câu hỏi này, nhưng lần này trong giọng điệu không có chút cảnh giác hay thận trọng nào, chỉ có sự ngạc nhiên.

“Giấc mơ của tôi, đương nhiên có một câu nói chính xác hơn, đây là nhà của tôi.” John cầm ấm trà sứ trắng lên, đổ đầy trà đen vào hai chiếc tách còn lại: “Tôi chờ cậu đã lâu rồi đấy, nếu cậu còn không tới, có lẽ tôi phải thức dậy mất.”

“Sao cơ?” Juan trả lời trong vô thức, anh nhanh chóng phản ứng lại. Khi anh ngủ thì đã là đêm muộn, còn nơi John đang ở thì có thể là sáng sớm. “Ông đang ở Anh?”

“Người Anh đương nhiên là ở Anh rồi, tôi là một thám tử đã về hưu.” John ngậm tẩu thuốc, dựa vào chiếc ghế bập bênh, mở tờ báo trên tay ra.

Juan không khỏi nhìn sang người đàn ông Gấu Nâu ngồi ở ghế bên cạnh.

Ông ta không uống trà mà chủ động đưa tay phải ra, giới thiệu về mình: “Xin chào, tôi là Hans Fisher, một nhà trị liệu giấc mơ.”

“Nhà trị liệu gì cơ?” Juan ngờ rằng mình nghe lầm.

Đợi đã, trên đời có nghề trị liệu giấc mơ này không? Đây có phải là một trò lừa đảo? Juan thậm chí bắt đầu nghi ngờ bản thân, liệu anh có bị điên không? Tại sao anh lại có những giấc mơ kỳ quái như vậy?

John vẫy tay một cái, trà chiều bày đầy trên bàn biến mất.

“Tôi rất thích giấc mơ, cậu thấy đấy, không cần dọn bát đĩa, có thể biến ra những gì mình muốn, giống như một ảo thuật gia vậy.”

John dựa vào chiếc ghế bập bênh, không khỏi mỉm cười khi nhìn thấy khuôn mặt giằng xé của Juan khi đang loay hoay tìm kiếm bằng chứng khoa học nhưng lại bị thực tế đánh bại: “…Chàng trai trẻ, cậu làm tôi nhớ đến một người bạn thời trẻ của tôi, ông ấy cũng tin tưởng mạnh mẽ vào khoa học như cậu.”

John chạm mấy đầu ngón tay vào nhau, nói một cách nghiêm túc: “Tất nhiên khoa học lúc nào cũng đáng tin cậy, nhưng vấn đề là con người chưa nắm bắt được toàn bộ bộ mặt của khoa học, vậy, cho nên… Tôi biết những từ này nghe giống câu từ tẩy não của một kẻ nói dối trắng đen lẫn lộn. Hãy nói về những rắc rối mà cậu đang gặp phải thôi nào!”

Juan tỏ vẻ cảnh giác.

John uể oải đưa tay ra hiệu rằng đã đến lúc nhà trị liệu giấc mơ lên sân khấu.

Gấu Nâu Hans nghiêm giọng nói: “Những gì nhà trị liệu giấc mơ có trách nhiệm giải quyết luôn là những điều nằm ngoài giấc mơ, giấc mơ chỉ là cái bóng phản ánh hiện thực.”

Juan đánh giá ông ta, nghĩ rằng người đàn ông này thật kỳ lạ, tên nghe giống người Đức nhưng bề ngoài lại trông giống một người Đông Âu sống trên vùng lạnh ở vĩ độ cao, người này rất phức tạp, khí chất của ông ta có nhiều mâu thuẫn. Nói một cách đơn giản, Hans có tính cách kiên định, khả năng lãnh đạo tuyệt vời, có bóng dáng của Tiến sĩ Marat nhưng xuất sắc hơn Tiến sĩ Marat rất nhiều.

“Anh là người của đội khảo cổ hay nhà thám hiểm à?” Juan chợt hỏi.

“Tôi chuyên nhận những ủy thác liên quan đến sự kiện huyền bí nguy hiểm mà khoa học khó giải thích, điều tra sự thật ẩn bên trong đó.” Hans đáp.

“Anh có một đội của mình!”

Juan rất chắc chắn, Hans bình tĩnh gật đầu.

“Anh đã đi tới rất nhiều nơi, anh… thoát chết vài lần.” Đôi mắt của Juan nấn ná trên khuôn mặt Hans và những vết sẹo trên cổ ông ta: “Anh không đơn giản chỉ là nhà trị liệu giấc mơ, trừ khi công việc đòi hỏi anh phải thách thức Satan trong giấc mơ. Tôi đã từng gặp những người như anh, một tay bắn tỉa đã xuất ngũ, ông ta sống sót qua chiến trường như ác mộng mà không suy sụp, đôi mắt và biểu cảm của ông ta cũng giống như của anh, bởi vì các người đều đã từng nhìn thấy địa ngục.”

Hans im lặng.

John lại bật cười.

Juan quay sang nhìn John. Trực giác mách bảo Juan rằng dù Gấu Nâu Hans là một thủ lĩnh rất dũng cảm nhưng Hans rất kính trọng ông già này, anh không thể bỏ qua John.

John đỡ trán, xua tay nói: “Xin lỗi, tôi chỉ… nghĩ rằng cậu rất xuất sắc.”

Hans tiếp lời. Giọng nói của ông ta bình tĩnh, nhịp điệu trong lời nói cũng chậm rãi nhẹ nhàng, khiến người ta không tự chủ được, phải nghe được lời mà ông ta nói.

“Hãy bắt đầu lại từ đầu, tôi tin rằng cậu đã bắt đầu bị sốt hoặc ý thức hỗn loạn từ khoảng ba hoặc bốn ngày trước, bởi vì cậu cứ chạy vào giấc mơ của tôi và John, John ở Anh còn tôi ở phía đông đảo Greenland, nên xét về thời gian thì cậu gần như đã hôn mê cả ngày.” Hans nhặt một cây bút lên, ngăn Juan hỏi rồi nói tiếp: “Cậu đã hét lên những câu chữ lung tung, bao gồm <i>la bàn</i>, <i>sóng biển</i>, <i>cứu mạng</i>, cậu tin rằng mình đã rơi xuống biển, đang cố gắng bơi.”

Mặt Juan tái nhợt. Dù đã nghe bác sĩ nói điều này, nhưng sự lúng túng không hề giảm bớt mà càng thêm sâu sắc.

“Nếu cậu cảm thấy trải nghiệm của mình có liên quan đến cái la bàn đó, cậu có thể mô tả cái la bàn đó trông như thế nào không?” Hans nghiêm túc hỏi.

“Tôi có thể vẽ ra.”

Juan lấy cây bút và cuốn sổ từ tay Hans, vẽ trực tiếp lên giấy hình dáng của la bàn, mặt số bên trong, và cách quả cầu pha lê phát sáng. Tốc độ rất nhanh.

Juan không biết làm phép thuật trong giấc mơ, và đây không phải là giấc mơ của Juan nên anh không thể biến điều ước của mình thành hiện thực, vì thế kỹ thuật vẽ phác họa nhanh đã khiến John và Hans rất ấn tượng.

“Tôi là kỹ sư trắc địa.” Juan đặt bút xuống, cuối cùng chủ động bắt tay với Gấu Nâu Hans: “Hai vị có thể gọi tôi là Juan, tôi là người gốc Tây Ban Nha, tên đầy đủ rất dài và phức tạp. Tôi tìm thấy chiếc la bàn này trên một vách đá, kể từ khi tôi nhặt được nó, cuộc sống của tôi trở nên hỗn loạn.”

Hans đưa sổ tay cho John. John nhìn la bàn cẩn thận rồi lắc đầu: “Cái này tôi chưa từng nhìn thấy, nhưng chúng tôi có thể suy đoán cậu đã gặp phải chuyện gì, nếu cậu bằng lòng, chúng tôi sẽ giúp cậu trở lại cuộc sống bình thường.”

“Tôi cần phải trả những gì?” Juan xòe tay ra, hỏi một cách thẳng thắn: “Hoặc tôi nên hỏi, các quý ông, tại sao quý vị lại giúp tôi?”

John lại bắt đầu hút tẩu, mỉm cười nói: “Cậu muốn nghe sự thực không? Sự thật là tất cả chúng ta đều không may mắn! Những gì cậu đang trải qua bây giờ là quá khứ của chúng tôi, chúng tôi giúp cậu là vì không muốn cuộc sống yên bình hiện tại của mình đi tong, mối nguy hiểm phải bị b*p ch*t từ trong trứng nước.”

“Tôi đoán, có thể còn vài lời nói dối?”

“Đúng, lời nói dối chính là… chúc mừng cậu, Juan, cậu đã được thần chọn lựa.”

Một cơn gió thổi qua sân, một chiếc lá cây bay xuống đỉnh đầu Juan.

Juan chớp mắt nhưng không cười, ánh mắt anh chậm rãi quét qua khuôn mặt của Hans và John, sau đó anh phát ra âm thanh khó tin: “Tại sao trực giác lại mách bảo tôi, câu nói này cũng là sự thật!”

“Ha ha ha!” John cười lớn, ông quyết định viết những gì trải qua ngày hôm nay vào sách.

<i>Hai tà thần mà chúng tôi cùng quen biết luôn có khả năng đào ra vàng từ giữa bãi cát, cũng như chọn ra chính xác người có năng lực vượt trội trên hành tinh đầy rẫy con người này. Không, tôi không khoe khoang chút nào đâu.</i>

***

Juan gian nan nghe hết bài giảng huyền bí học của Hans về tà thần là gì, tà thần và quyến thuộc của tà thần sẽ mang lại bao nhiêu tai họa, còn phân tích một số lượng lớn các ví dụ điển hình. Juan sụp đổ, anh không muốn tin vào điều vô nghĩa này, nhưng lý trí và trực giác cứ liên tục gõ vào đầu anh, nói với anh rằng mọi chuyện đều là sự thật, anh sắp mắc bệnh tâm thần phân liệt, chia thành một kỹ sư trắc địa tin vào khoa học, và một người bình thường chỉ muốn giải quyết vấn đề.

“Tôi chưa bao giờ tin vào Chúa, giờ quý vị nói với tôi đó là sự thật, rồi lại nói rằng thật không may, trên đời có ác quỷ?” Juan ôm đầu.

Hans sửa lời anh: “Đó không phải ác quỷ, tà thần là một loài sinh vật giống như con người, chỉ là tà thần mạnh mẽ hơn, xuất hiện trên trái đất này sớm hơn con người. Chúng ta gọi họ là thần vì thói quen hàng ngàn năm nay mà thôi, với con người, sức mạnh của họ quả thực có tể sánh ngang với thần.”

“Darwin có biết không?” Juan giật giật khóe miệng, vẻ mặt cứng ngắc.

Hans không tiếp lời.

Juan nhắm mắt lại, đau đớn nói: “Thôi được, tình hình hiện tại là một tà thần đã chọn tôi, chiếc la bàn là vật làm tin, sự bất thường của tôi tất cả là do tôi thoáng nhìn thấy tồn tại huyền bí, tiếp xúc với thế giới chân thực. Xin hỏi tôi phải làm sao để thoát khỏi rắc rối này?”

“Làm cho vị tà thần đó hài lòng, nói một cách đơn giản, hãy hoàn thành những gì ngài ấy muốn cậu làm.” Hans đơ mặt nói.

John giơ tẩu thuốc lên, ra hiệu: “May mắn là vị tà thần này rất hiểu lý lẽ, không phải loại người khó giao tiếp.”

Juan khô khan nói: “Tôi đoán có một bước ngoặc đằng sau <i>nhưng</i>, tôi đang đợi đây!”

“Khụ, nhưng mà… trước khi tà thần này biến mất vào năm ngoái, ngài ấy cùng với đồng minh của mình đã nảy sinh xung đột với hai tà thần khác.” John ngồi thẳng dậy, nhìn chằm chằm vào Juan mà nói: “Vậy là có một tình huống xấu đang xảy ra đây, khi cậu cầm la bàn rơi xuống biển, cậu không chỉ phải đối mặt với vị tà thần rất lịch thiệp kia, mà còn cả ba tà thần khác, và có thể bọn họ vẫn đang đánh nhau. La bàn có thể đã bị thất lạc trong trận chiến, cậu vô tình nhặt được, đây là tình huống tốt nhất. Nhưng căn cứ theo những việc lạ mà cậu nói, la bàn phát sáng, la bàn kéo cậu ra biển, la bàn kiên trì quay trở lại với cậu, tôi nghĩ chúng ta phải đối mặt với một khả năng xấu khác. Tà thần cố tình bỏ lại la bàn, kỳ vọng dùng nó để bắt cóc một con người. Tại sao tà thần lại làm như vậy? Tôi nghi ngờ họ đang bị mắc kẹt ở đâu đó, một nơi hạn chế sức mạnh của họ, không cho phép họ rời đi, trong khi con người có thể ra vào.”

Đôi mắt của Juan càng lúc càng mở to hơn, vẻ mặt méo mó.

John gõ nhẹ lên bàn, nói tiếp: “Tà thần mà chúng tôi quen biết cũng giống như con người, ngài ấy thích tìm những người quen để giúp mình giải quyết vấn đề. Còn Hans là nhà trị liệu giấc mơ, những giấc mơ của Hans cận kề bờ vực nguy hiểm khi tiếp xúc với tồn tại huyền bí, tà thần có thể tùy ý đi vào giấc mơ của cậu ấy. Thế nhưng tà thần lại không dùng Hans, mà đi tìm một người mới, điều này không phù hợp với thói quen của ngài ấy. Loại bỏ mọi khả năng, đáp án chỉ có thể là tà thần không thể tìm thấy Hans, nơi bọn họ bị mắc kẹt rất đặc biệt, họ chỉ có thể ở yên đó để chờ một con người nhặt được la bàn, và cậu đã được <i>chọn</i>.”

John nhìn thẳng vào Juan với vẻ mặt hiền lành, nhưng giọng điệu lại vang dội và mạnh mẽ như một cơn sóng biển đánh vào nham thạch.

“Cậu là kỹ sư trắc địa, vừa rồi khi cậu hỏi thân phận của Hans đã đề cập đến đội khảo cổ và nhà thám hiểm, tôi mạnh dạn đặt ra giả thiết công việc của cậu có liên quan đến hai dạng này, xét cho cùng, cậu không giống một quan chức chính phủ hay một người lính. Quần áo cậu mặc mỗi khi xuất hiện chứng tỏ cậu đang ở vùng nhiệt đới hoặc ở Nam bán cầu. Hôm nay cậu nói năng rất rõ ràng, tôi đoán cậu đã hạ sốt, lúc cậu đi vào cõi mộng là ban đêm. Khi tôi nói tôi sắp thức dậy, cậu thừa nhận điều này đồng thời chỉ ra rất chắc chắn rằng tôi đang ở Anh, cậu biết rõ sự chênh lệch múi giờ giữa chúng ta, cho rằng thời gian ở chỗ tôi là vào sáng sớm. Vậy theo chênh lệch múi giờ thì vị trí của cậu nằm ở phía bên này của Đại Tây Dương, chứ không phải hướng châu Âu đi qua… Thật là trùng hợp, tôi lập tức nhớ tới một tin tức tôi xem mấy ngày trước.”

John nhặt tờ báo trên chiếc ghế bập bênh lên, chỉ bằng một cú búng tay, trang nhất và ngày của tờ báo đã thay đổi.

Nó đã trở thành tờ The Times một tuần trước.

<i>Chính phủ Jamaica thông báo đã thuê đội trục vớt dưới nước giỏi nhất thế giới để khai quật Thủ phủ của Cướp biển Port Royal.</i>



<i>Người dịch: Thám tử John 60 tuổi còn thông minh sáng suốt hơn xưa.</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 81


<b>Chương 81</b>

<b>Tập huấn đặc biệt</b>

Port Royal ở đâu?

Nghe nói đây là một thành phố xấu xa và suy đồi, giống như thành Sodom trong Kinh Thánh. Con người ta không uống nước, họ chỉ uống rượu mạnh. Các vụ giết người xảy ra liên tục trong thành phố, những người nằm trên đường phố hoặc là xác chết hoặc người say rượu. Khu chợ bán đầy những hàng hóa và hàng xa xỉ từ khắp nơi trên thế giới, những chuyến tàu chở vàng đang chờ cập bến. Những tên cướp biển nhảy vào bồn tắm chứa đầy tiền vàng, ôm phụ nữ, vui chơi suốt đêm với vũ khí giơ cao.

Đây là mô tả phổ biến nhất trong các tiểu thuyết phiêu lưu và bút ký hàng hải, đến từ những quý tộc bị cướp biển bắt cóc đến Port Royal nhưng may mắn chờ được tiền chuộc, những nô lệ trốn thoát thành công, thương nhân buôn lậu, và những binh lính Anh đóng quân ở Port Royal.

Để chiếm đoạt của cải của người Tây Ban Nha ở châu Mỹ, người Anh đã công khai bán giấy phép cướp bóc, khuyến khích bọn cướp biển tấn công các tàu biển, đồng thời che chở và cung cấp vật tư cho chúng. Kể từ khi Anh có được Port Royal vào năm 1670, nơi đây đã trở thành nơi neo đậu của hạm đội cướp biển lớn nhất thế giới. Sự thịnh vượng bất thường này kéo dài trong ba mươi năm, cho đến khi một trận động đất lớn phá hủy toàn bộ thành phố.

“…Người ta cho rằng đó là sự trừng phạt của Chúa, vì Thành phố Tội ác không nên tồn tại.”

John nói đến đây thì dừng lại, ông thấy vẻ mặt của Juan đã khôi phục như thường thì mới dừng nói.

Juan choáng váng trước hàng loạt phân tích chính xác của John, anh vô thức thể hiện sự kháng cự của mình, đây là một cách tự bảo vệ trong tiềm thức… không ai thích bị nhìn thấu, mọi người đều sợ những kẻ có thể nắm bắt được bí mật và sự thật thông qua các chi tiết vụn vặt. Tuy nhiên, Juan nhanh chóng thoát khỏi cảm xúc kháng cự này, lý trí buộc anh phải bình tĩnh lại. Juan luồn tay vào tóc, sau đó giật mạnh hai lần.

“Tôi không tin có Chúa, sự thật đã chứng minh là không có, vậy ý ông là… đó không phải là một trận động đất lớn?”

“Không, tôi cũng không biết.” John từ từ dựa vào ghế, giơ tẩu thuốc lên nói: “Tôi cần đi đọc một số tài liệu, đã đến giờ tôi phải dậy rồi, cậu Juan, hẹn tối nay gặp lại.”

Lời vừa dứt, khung cảnh xung quanh bắt đầu mờ đi và méo mó. Nó đang phồng lên. Như một bong bóng xà phòng đầy màu sắc đột nhiên vỡ tung.

Chiếc ghế mà Juan đang ngồi cũng biến mất. Anh đang hoảng hốt thì một bàn tay thô ráp và khỏe mạnh như một chiếc kẹp sắt tóm lấy anh thật chặt. Sau khi thế giới quay cuồng, Juan thấy mình rơi vào một ngôi nhà tối tăm.

Ở đây dường như đang là mùa đông, một ngọn lửa đang cháy trong lò sưởi. Trên giấy dán tường có vết máu hình vòng cung, trên trần nhà và thảm cũng có thể nhìn thấy những vết máu, cửa ra vào và cửa sổ đều đóng kín với nhiều thanh gỗ bị đóng đinh lên, bàn ghế và đồ nội thất cũng được đẩy tới đó. Bên ngoài ngôi nhà có những âm thanh kỳ lạ. Một tiếng gầm trầm thấp và âm thanh lạo xạo kỳ lạ. Giống như có thú dữ đang ngồi gặm xương trước cửa vậy.

Juan cảm thấy rợn tóc gáy, anh vô thức nắm lấy chân nến, thứ đang ở gần anh nhất và có thể dùng làm vũ khí. Sau đó, anh nhìn thấy một chất lỏng màu đen đặc dính trên thanh sắt nơi đặt cây nến. Thứ chất lỏng có mùi hôi thối này dường như đang vặn vẹo.

Bịch. Juan ném cây nến đi bằng tốc độ nhanh nhất, anh thở hổn hển, cố gắng tìm một nơi an toàn trong nhà.

“Xin lỗi, giấc mơ của tôi tệ quá.” Giọng của Gấu Nâu Hans vang lên. Ông ta bước ra khỏi bóng tối, dùng que cời khơi cho lửa trong lò sưởi sáng hơn. Những âm thanh, vết máu và chất lỏng quái dị kia dường như mất đi màu sắc, cũng mất đi cảm giác kinh hãi không thể giải thích được.

Juan bây giờ đã cảm thấy khá hơn, anh gượng cười và hỏi khô khan: “Mấy ngày nay tôi cứ lang thang trong giấc mơ kiểu này à?”

“Đúng thế.”

“…” Juan chửi rủa một câu gì đó bằng tiếng Tây Ban Nha.

“Đây là ác mộng sao? Ý tôi là, ngày nào anh cũng có cùng một giấc mơ à?” Juan nhạy bén phát hiện ra vấn đề.

Hans không trốn tránh, ông ta thẳng thừng nói: “Đúng như cậu nghĩ, tôi là nhà trị liệu giấc mơ, nhưng tôi không thể thoát khỏi những ám ảnh của chính mình.”

Đồng tử của Juan co lại, cơ thể căng lên, anh buột miệng hỏi: “Vậy… đây là địa ngục mà anh từng nhìn thấy?”

Hans vẫn im lặng.

Juan hít vài hơi gấp gáp, anh giơ tay lên rồi lại đặt xuống, như một người muốn trút bỏ cảm xúc cuối cùng chọn cách bình tĩnh lại.

“Tôi đoán, anh không tạo ra một giấc mơ đẹp vì có <i>nhu cầu</i>?” Juan chưa bao giờ ghét bộ não của mình đến thế. Nếu anh không thông minh như vậy thì bây giờ anh đã không tức giận.

Hans tỏ vẻ áy náy, ông ta nghiêm túc xin lỗi: “Tôi đã quyết định thay cậu mà không có sự đồng ý của cậu, tôi rất xin lỗi. Nhưng cậu cần phải được huấn luyện… huấn luyện nhiều hơn tôi dự định ban đầu vì vấn đề tồi tệ hơn dự kiến, khi được la bàn đưa đến chỗ của tà thần lần nữa, cậu phải có khả năng tự bảo vệ mình.”

Juan đang thở hổn hển, như những chiếc ống thổi trong xưởng rèn.

“Cậu cần học cách giữ lý trí, chiến đấu chống lại kẻ thù.” Giọng nói của Hans vững vàng và mạnh mẽ. Ông ta bước đến góc phòng, nhặt một cây gậy gỗ ném xuống thảm trước ánh mắt không thể tin nổi của Juan.

“Có thể cậu sẽ không tìm được vũ khí kịp thời, nhưng ở trong thành phố, nhanh chóng tháo dỡ bàn ghế cũng không phải chuyện khó, vì vậy trước tiên chúng ta cần học cách khắc chữ Rune lên thanh gỗ. Chữ Rune đơn giản nhất có thể giải phóng sức mạnh từ cú đánh của cậu. Thứ hai là sự kết hợp chữ Rune để cây gậy của cậu không bị ăn mòn.” Hans đưa cây gậy cho Juan, nói với giọng khích lệ: “Quái vật cấp thấp nhất là con người và động vật bị ô nhiễm bởi sức mạnh của tà thần, chúng không có lý trí, chỉ biết tấn công bừa bãi. Chỉ cần cậu học được cách né tránh là có thể giết chúng, hiện tại ngoài cửa có một con, đi thôi.”

Juan: “…”

Juan khó khăn vặn cổ, dò hỏi: “Chờ đã, tôi nhớ thứ tôi cần đối mặt là tà thần?”

“Và là bốn tà thần.” Hans nói đến đây, không nhịn được bóp sống mũi như để giải tỏa căng thẳng. Hans nhắm mắt lại rồi mở ra sau vài giây, vẻ mặt vẫn không thay đổi: “Tình hình là thế này, con người chỉ cần đến gần tà thần là có thể phát điên hoặc chết. Cậu cần phải làm quen với loại <i>k*ch th*ch</i> này, cậu thậm chí chưa bao giờ nhìn thấy con quái vật ô nhiễm thấp nhất, điều này rất bất lợi cho sự sống còn của cậu.”

Juan hiểu rồi. Nhưng anh thà không hiểu còn hơn.

“Tôi đã tham gia một khóa huấn luyện đơn giản, ý tôi là… tôi có thể hạ gục một người đàn ông khỏe mạnh trong một cuộc vật lộn.” Juan lắp bắp nói.

“Có lẽ thế vẫn chưa đủ.” Hans chọn cách nói uyển chuyển hơn.

Juan im lặng nhìn ông ta.

Hans bổ sung: “Những sinh vật bị ô nhiễm rất mạnh mẽ, có móng vuốt có răng cưa, da cứng chắc và tốc độ rất nhanh.”

“Anh đang miêu tả Khủng long bạo chúa à?” Juan đờ đẫn hỏi.

Khủng long bạo chúa là tên được các nhà cổ sinh vật học đặt cho một sinh vật thời tiền sử vào năm 1905, Juan là kỹ sư trắc địa của đội khai quật khảo cổ, đây là đối tượng so sánh mà anh khá quen thuộc.

Hans nói thẳng ra: “Không, trong giấc mơ cuối cùng mà cậu phải vượt qua để sát hạch, sức mạnh của con quái vật sẽ gần bằng Khủng long bạo chúa. Nhưng cái thứ đang chặn trước cửa nhà bây giờ lại là con quái vật đột biến yếu nhất, nó chỉ có kích thước bằng một con chó săn, giống như một cục bùn vặn xoắn, cậu có thể hạ gục một người đàn ông khỏe mạnh thì có thể đánh bại nó. Tôi tin rằng cậu có khả năng này, điều cậu thực sự cần làm là vượt qua nỗi sợ hãi trong lòng.”

Hans vỗ vai Juan.

Juan cảm thấy mình sắp sụp đổ rồi, nhưng lý trí lại một lần nữa cho phép anh thoát ra khỏi cảm xúc bị động là muốn hét lên điên cuồng, chỉ ngơ ngác nghe Gấu Nâu Hans giải thích.

“Nhớ đây, bình tĩnh! Tấn công vào mắt của chúng. Vị trí của mắt cũng là của bộ não, đó là điểm yếu chết người của chúng! Nhiều người lẽ ra có thể sống sót nhưng họ đã bị nỗi sợ hãi đánh bại. Sợ hãi là một cảm xúc ăn sâu vào máu thịt và tâm hồn con người. Có những người chưa bao giờ nhìn thấy rắn nhưng họ lại sợ hãi khi nghe thấy từ đó, một số người bẩm sinh đã sợ lửa, đây là những nỗi sợ hãi được tổ tiên để lại cho chúng ta, con người sẽ kế thừa những nỗi sợ hãi cổ xưa. Tà thần là sự tồn tại như thế nào? Khi cậu đến gần họ, nghe giọng nói của họ, cảm nhận hơi thở của họ, mật mã của nỗi sợ chôn sâu trong cơ thể cậu sẽ được mở khóa, hầu hết mọi người sẽ phát điên trong quá trình này, nhưng chúng ta phải giữ được tỉnh táo và lý trí… Cậu không thể nhìn thẳng vào bản thể của tà thần, cậu chỉ cần nhìn vào bóng của họ mà nói chuyện. Tà thần đang ở Port Royal, những người ở địa điểm khai quật khảo cổ đều gặp nguy hiểm khủng khiếp. Tôi không có cách nào để đến Jamaica trong thời gian ngắn, biển Caribe quá xa, thảm họa có thể xảy ra bất cứ lúc nào, Juan, cậu phải nhanh lên…”

Hans nhìn thẳng vào mắt Juan. Sức chú ý vừa phân tán của anh dần dần tụ lại. Những ngón tay cầm cây gậy của Juan trở nên trắng bệch vì siết quá chặt.

“Cậu có thể thuyết phục bạn bè của cậu rời Jamaica.” Hans có vẻ hơi không đành lòng, nhưng chỉ trong chốc lát, ông lại bình tĩnh và kiên định như trước: “Nhưng cậu không thể thoát khỏi tai họa, cái la bàn sẽ theo cậu mãi mãi, đây là<i> mối liên hệ</i> của cậu với tà thần. John từng gặp phải tình huống tương tự, nếu cậu bán hoặc ném la bàn đi, nó sẽ tự động quay trở lại, nếu ai đó ăn trộm hoặc cướp đi la bàn thì người đó sẽ chết.”

Juan nhớ lại tay buôn đồ cổ đã chết.

Anh nhìn Hans, Hans chỉ ra cửa. Giấc mơ một lần nữa “sống lại” với những âm thanh kỳ dị và mùi máu tra tấn thần kinh của Juan.

Nửa giờ sau, Juan bò qua cửa, kéo lê thân thể đầy thương tích.

“Tiếp theo là cái gì nữa?” Juan yếu ớt hỏi.

Hans bắt đầu thay đổi cảnh tượng trong giấc mơ của mình. Họ rơi xuống gần một ngôi làng, xa xa có bóng dáng những con sói khổng lồ đang cắn xé.

Juan nhận thấy vết thương của mình đã phục hồi trong tích tắc.

Lần này, anh còn chưa kịp hành động thì con sói khổng lồ đã lao tới, sau đó Hans một tay ấn cái đầu chảy dãi của con sói, tay kia giữ chặt Juan đang run rẩy, giữ cả hai ở khoảng cách rất gần.

Juan hét lên, nhưng hét mãi rồi không còn âm thanh gì nữa. Anh nhớ rằng đây là giấc mơ do Hans tạo ra, ở đây anh không sợ bị tổn thương, dù có chết cũng sẽ không sao. Hans cũng có thể “dừng lại” mọi việc vào những thời điểm khẩn cấp. Cũng giống như bây giờ, nhìn chằm chằm vào cái đầu sói biến dạng và kinh tởm đó hồi lâu rồi cũng có thể chịu đựng được.





“Chạy đi!”

“Chiến đấu! Đừng quên dùng chữ Rune!”

“Quái vật đã từng là người, chúng không phải quyến thuộc của tà thần, có thể xử lý được!”





Juan chống tay lên cái đầu gối như bị liệt của mình, hỏi một cách khó hiểu: “Tôi cứ tưởng rằng giấc mơ này sẽ kéo dài hơn bốn giờ, nhưng sao lại có cảm giác như ba ngày đã trôi qua vậy.”

“Thời gian trong mơ có thể kéo dài rất lâu.” Hans đáp.

Ông ta đứng cạnh Juan, cao như một ngọn núi… Đây là ảo giác bắt đầu sinh ra khi tinh thần của Juan không thể chịu được áp lực cường độ cao.

“Những con quái vật này đều là thứ anh tự mình trải nghiệm à?” Juan ôm đầu hỏi.

“Phải.”

“Kể cả bài kiểm tra ngày mai mà anh đề cập, anh đã đánh bại được Khủng long bạo chúa?”

“Là thế này.” Hans nghiêm túc giải thích: “Kỳ thực bài kiểm tra không yêu cầu cậu đánh bại quái vật, chỉ cần không bị nỗi sợ nuốt chửng.”

Juan đã lấy lại sức lực vào ngày hôm sau, một lần nữa bước vào giấc mơ, bị Hans đã điều chỉnh lịch trình làm việc để chờ anh kéo thẳng vào một con phố đang cháy. Nhà cửa đổ sập, một con quái vật sừng cong cao đến mười mét lao ra khỏi đống đổ nát, vồ lấy một con thằn lằn cũng khổng lồ không kém.

Juan trợn trừng mắt, sau đó bỏ chạy như điên. Anh cố gắng hết sức để tránh né trong đêm tối, nhưng vẫn cứ bị đè chết hoặc bị quái vật giẫm chết. Mỗi lần sắp chết, giấc mơ sẽ dừng lại, sau đó lại bắt đầu từ đầu, Juan sẽ bị ngẫu nhiên ném vào một góc mới của đống đổ nát để đấu tranh sinh tồn. Một lần, Juan sắp thành công thì lại bị con quái vật thứ ba nhảy ra từ dưới đống đổ nát đánh bay vào biển lửa. Điều khiến Juan suy sụp nhất là một con quái vật đột biến cấp Khủng long bạo chúa thứ tư đã xuất hiện.

“Hans?”

Cuối cùng, khi Juan trèo ra khỏi đống đổ nát để tìm ra chủ nhân của giấc mơ, anh chợt nhìn thấy một chàng trai trẻ trông giống như Hans, tay trái cầm một thanh kiếm bản rộng, tay phải cầm một cây trường thương kỵ sĩ màu trắng bạc lao về phía bốn con quái vật.

Đôi mắt của Juan gần như lồi ra.

Trí tuệ của John và sức mạnh của Hans có thực sự là con người không?

“Tôi nghĩ tà thần đã chọn nhầm người rồi.”

Giấc mơ thay đổi, Juan ngồi trong sân nhà John, thẫn thờ bày tỏ ý kiến của mình.
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 82


<b>Chương 82</b>

<b>Định vị</b>

Mặt trời vừa mọc chiếu lên những cây cọ trên đảo, một bóng người đang cố gắng trèo lên vách đá.

Juan thắt một sợi dây quanh eo, tay cầm một cái cuốc leo núi.

Khóa huấn luyện đặc biệt kéo dài năm ngày trong thời gian thực và khoảng ba mươi lăm ngày trong mơ đã khiến Juan có những thay đổi rõ ràng. Tất nhiên anh không thể một chọi một đánh bại sinh vật thời tiền sử Khủng long bạo chúa, nhưng có thể học tư duy né tránh cũng như cách khiến bản thân trở nên linh hoạt và nhanh nhẹn. Động tác của Juan lúc đầu còn rất vụng về, nguyên nhân là do cơ thể và ý thức còn chưa tương thích, nhưng tốc độ của anh đang dần cải thiện.

Ký ức về chuyến leo lên vách đá dựng đứng này vài ngày trước bắt đầu hiện lên, cùng với những lời dạy của Hans trong giấc mơ. Một thám tử điều tra sự kiện huyền bí chỉ biết chạy trên mặt đất chắc chắn sẽ không sống được lâu. Trong giấc mơ, những con quái vật đột biến sẽ xuất hiện từ nhiều nơi khác nhau để tấn công con người: dưới bóng các tòa nhà, nắp cống, ngọn cây, mái nhà, xe cộ bên đường… Juan dám thề trên kinh nghiệm suýt chết hàng trăm lần của bản thân, chỉ có chỗ mà anh không thể tưởng tượng ra chứ chẳng có nơi nào mà quái vật biến dị không ẩn náu được. Trong thời điểm quan trọng, việc biết leo trèo sẽ giúp ta có thêm một con đường thoát hiểm.

Juan thuần thục kiểm tra các kẽ hở trên vách đá để tìm chỗ đặt chân, bám vào các tảng đá để lên tới đỉnh vách đá. Đứng ở đây nhìn xuống chân, bãi cát vàng trông như dải ruy băng, sóng biển nhấp nhô.

Thủ phủ của Cướp biển Port Royal đang ngủ say dưới làn nước trong xanh.





“Juan, vui lòng cho tôi biết, cậu tìm thấy la bàn ở đâu?”

“Trên một vách đá, điều này có quan trọng không?”

“Nếu coi la bàn như một cái bẫy chuột thì đúng vậy, vị trí của nó rất quan trọng.” Trong sân nhà, John giơ tẩu thuốc lên và nói: “Tôi rất xin lỗi, nhưng về lý thuyết là như nhau, nếu như tà thần muốn dùng la bàn để bắt một con người, thì phải đưa ra lựa chọn tối ưu. Với kinh nghiệm bắt chuột của mình, cậu nghĩ nguyên nhân có thể là gì?”

Juan đã rất khâm phục sự thông thái của John trong những giấc mơ vài ngày qua. Mặc dù phép ẩn dụ này khiến anh rất khó chịu, nhưng Juan vẫn nghiêm túc nghĩ về nó.

“…Bẫy chuột sẽ được đặt ở những nơi chuột hay xuất hiện như nhà bếp, hoặc gần các hang chuột ở các góc.” Nghĩ đến đây, Juan không khỏi phản đối: “Nhưng vách đá đó quá dốc và hiểm trở, đa số người bình thường đều không thể leo lên, điều này không phù hợp với suy đoán.”

John dùng tay gõ nhẹ vào tấm bản đồ trên bàn. Đó là bản đồ hàng hải Jamaica mà ông lục ra được từ một thư viện ở Luân Đôn.

“Hãy vẽ vị trí của vách đá, bao gồm cả hướng trại của cậu, nơi Port Royal chìm, cùng với thành phố hiện tại…”

Juan cầm bút, không chỉ đánh dấu trên bản đồ mà còn vẽ nhanh một bản phác thảo, chúng là góc nhìn từ trên xuống của vách đá, và bản đồ khoảng cách giữa thành phố cũng vách đá trên bãi biển với trại khai quật khảo cổ.

Địa hình ở góc đông nam của Jamaica là một cái vịnh hình lưỡi liềm khổng lồ. Đất liền hình cong, vịnh biển ăn sâu vào trong, phần đất liền trông rất giống một chữ “C” lộn ngược. Port Royal trước đây nằm ở cuối chữ C, còn thủ đô Kingston của Jamaica hiện nay nằm ở vòng cung trên cùng của C, thật trùng hợp là vách đá này lại nằm ở mặt bên của chữ C.

John nhìn những bản phác thảo có bố cục rõ ràng và đơn giản rồi mỉm cười nói: “Cậu nói tà thần chọn nhầm người nhưng tôi không nghĩ vậy, cậu rất xuất sắc, cậu giúp tôi xua tan sương mù trước mắt.”

Không đợi Juan bày tỏ ý kiến, John đã chỉ vào bản đồ, bắt đầu thảo luận nghiêm túc.

“Tà thần đang tìm kiếm một con người, nhưng lại không đặt la bàn của mình ở nơi có nhiều người nhất, chẳng hạn như bến cảng, thay vào đó lại chọn một vách đá hoang vắng, không thể tiếp cận. Điều này có nghĩa là gì?”

“… Là đang đặt ra điều kiện chọn lọc? Tà thần không cần một người kém cỏi, điều kiện là ít nhất phải leo được lên vách đá?” Juan buồn rầu nói.

“Một ý kiến hay, còn gì nữa?” John tiếp tục hỏi.

Juan lắc đầu. Anh chỉ giỏi trong việc nhìn người chính xác, khả năng phán đoán mà anh thể hiện ra khi gặp người lạ cũng giống như thám tử, nhưng suy cho cùng thì anh không phải là một thám tử, anh chưa bao giờ gặp tà thần tên Johnson đó, không thể đoán được tính cách của y.

John nhìn chằm chằm vào bản đồ, nói: “Bởi vì ở đây an toàn.”

“Sao cơ?”

“Nếu có sóng thần hay bão, la bàn giấu ở đây sẽ không bị cuốn trôi, cậu nghĩ rằng khó ai có thể leo lên được vách đá dựng đứng, nhưng nếu la bàn bị chôn vùi trong bùn dưới đáy biển thì khả năng bị phát hiện sẽ còn thấp hơn nữa! Vách đá đã là nơi dễ dàng nhất để bắt con người rồi.” John nói với giọng nặng nề: “Thảm họa thậm chí còn lớn hơn chúng ta dự đoán, thành phố sẽ bị nhấn chìm bởi những cơn sóng lớn bất cứ lúc nào, điều này chắc chắn sẽ xảy ra. Mục tiêu của tà thần là con người, không chỉ là đội khảo cổ của cậu hoặc con người ở thành phố lân cận, mà là cả những con người đã đến chỗ đống đổ nát và xây dựng lại thành phố hàng trăm năm sau.”

Tay chân Juan lạnh ngắt. Anh không muốn nhìn những người ở đội khảo cổ chết. Anh kìm nén sự chán ghét dành cho tà thần, cau mày hỏi: “Tôi phải làm thế nào để ngăn chặn điều này xảy ra?”

John dường như đã đọc được suy nghĩ của Juan nhưng không có ý định sửa sai, luôn cảnh giác và bài xích sức mạnh tà ác mới là cách sinh tồn đúng đắn.

“Cậu leo lên vách đá này, cầm lấy la bàn ở đó, để nó dẫn cậu tới trước mặt tà thần. Đây là nơi an toàn nhất, do chính tà thần lựa chọn. Hãy nhớ tìm kiếm bất kỳ manh mối nào khác trước khi điều đó xảy ra.”

John im lặng vài giây, rít tẩu thuốc: “Tôi cảm thấy sẽ có đấy.”





Juan cầm lấy đèn pin, lấy ra một cái máy dò kim loại đơn giản từ ba lô và kiểm tra dọc theo các vết nứt trên đá. Sau đó máy dò phát ra tiếng bíp. Ngay ở chỗ anh tìm thấy la bàn, dường như có thứ gì đó nằm sâu bên trong!

Juan nhặt cái cuốc lên, nhắm vào vị trí đó và bắt đầu đào. Giữa đống rễ cây và bùn, Juan nhìn thấy một ánh vàng lóe lên. Cùng một sợi dây xích vàng giống hệt, nhưng vật treo trên đó lại khác, hình như là đồng hồ quả quýt?

Tay của Juan bắt đầu run rẩy. Anh nhớ lại những lời dặn dò cuối cùng của John trong giấc mơ đêm qua.

“La bàn tượng trưng cho vị trí, cũng có thể nói là không gian, nếu cậu tìm được một viên ngọc trai, một đồng tiền vàng… mà bị chôn không quá sâu thì chứng tỏ vấn đề không nghiêm trọng, đó là đồ mà đồng minh của người sở hữu la bàn – một vị tà thần khác – dùng để thiết lập <i>kết nối</i> sâu sắc hơn hoặc để bắt được con người thứ hai. Nếu vật đó được giấu rất kỹ, và là một thứ có liên quan đến thời gian thì, Juan, chúng ta gặp rắc rối rồi.”

Ánh nắng chiếu lên lớp vỏ ngoài của đồng hồ quả quýt, mang lại cảm giác choáng váng quen thuộc.

Juan nhanh chóng lấy trong túi ra một chiếc hộp, sau đó đeo ba lô leo núi lên lưng, cuối cùng quay đầy nhìn lại khu trại bên dưới.

Anh mở đồng hồ quả quýt và la bàn ra cùng lúc.

Một cơn lốc vô hình kéo Juan vào, hình dáng của anh trở nên vừa mờ ảo vừa méo mó.

Cuối cùng biến mất trong im lặng.

***

Johnson nhìn đồng hồ quả quýt trong tay, thở dài.

Sợi dây leo đen mảnh nhấc đồng hồ quả quýt lên, nhét mạnh vào kẽ nứt trên đá. Chiếc la bàn ở đó ban đầu đã biến mất. Đây là điều tất nhiên, kể từ khi con người đó cầm la bàn này xâm nhập vào khoảng thời gian ngừng trôi này, chiếc la bàn giấu trong khe nứt của đá đã không còn nữa.

“Sâu hơn chút nữa vậy.” Johnson tự nhủ.

Rõ ràng con người kia không tìm thấy đồng hồ quả quýt trong lần đầu tiên, mà chỉ tìm thấy chiếc la bàn.

Gymir ngồi bên cạnh, nhàn nhã đỡ cằm, nói: “Giấu quá sâu, con người có lẽ sẽ không tìm ra được.”

Johnson ngừng động tác lại, vẻ mặt khá chán nản. “Vậy thì anh ta sẽ chết.”

Johnson không có cách nào ngăn cản Cochro, nhưng y và Gymir không thể đồng ý với đề xuất liên minh của Cochro.

“Đừng lo lắng, cho dù con người đó có chết, chúng ta vẫn có thể tìm được con người thứ hai.” Gymir dùng tư duy của tà thần để an ủi: “Dù sao thời gian ở đây cũng dừng lại, chúng ta cũng không vội.”

Nếu Cochro g**t ch*t người sở hữu chiếc la bàn ở đây, thì nó sẽ trở thành một vụ mất tích trong không gian và thời gian ban đầu của anh ta.

“Nhìn theo hướng tích cực, biết đâu sẽ có một thám tử hoặc cảnh sát sẵn sàng điều tra vụ mất tích bí ẩn này? Họ sẽ phát hiện ra rằng người mất tích đã từng hôn mê, nói nhảm và từng lấy được một chiếc la bàn kỳ lạ. Nếu chúng ta may mắn hơn, thám tử sẽ điều tra ra la bàn được tìm thấy ở đâu, và tới đây để đào bới…” Gymir chỉ vào đồng hồ quả quýt, tỏ ý rằng con người thứ hai sẽ bị bắt thành công. “Chỉ cần có <i>mối liên hệ</i>, la bàn sẽ tự động tìm đến <i>người đang giữ đồng hồ quả quýt</i>, sau đó… bùm, người đó sẽ rơi xuống trước mặt chúng ta!”

Johnson: “…”

Johnson nghi ngờ Gymir đã xem quá nhiều kịch, đọc quá nhiều tiểu thuyết. Làm sao có thể trùng hợp như vậy?

“Em vẫn hy vọng rằng con người phát hiện ra la bàn đủ thông minh để biết phải quay lại tìm manh mối.” Johnson nhìn đồng hồ quả quýt bị đất vùi lấp, thở dài một hơi.

Gymir hỏi: “Tại sao em không tự tin vào thám tử mà mình tìm được thế? John chắc chắn sẽ biết, Hans cũng vậy.”

Johnson trừng hắn: “Anh không thể yêu cầu mỗi thám tử đều xuất sắc được, nếu là chúng ta, anh cho rằng chúng ta sẽ phát hiện ra manh mối này sao?”

Gymir: “…” Tà thần chơi trò chơi thám tử nhiều lần đều thất bại, đành phải im lặng.

Johnson nhìn ra mặt biển phía xa, tiếp tục lo lắng: “Chúng ta không thể ngăn cản Cochro giết người, Cochro có năng lực điểu khiển không gian, chúng ta không thể đuổi kịp. Vì vậy, rơi thẳng xuống trước mặt chúng ta là cách duy nhất để con người đó có thể sống sót. Chúng ta chỉ có thể đợi anh ta trên vách đá này, vì đây là nơi rất có thể anh ta sẽ xuất hiện. Hy vọng rằng dù không phát hiện ra đồng hồ quả quýt, anh ta cũng có thể vượt qua nỗi sợ hãi, quay trở lại nơi bắt nguồn cơn ác mộng, thay vì chạy trốn khỏi đảo ngay trong đêm.”

Khi vị trí địa lý của hai khoảng thời gian không thể trùng nhau thì khả năng “rơi” ngẫu nhiên càng lớn. Chỉ khi người đó đứng trên vách đá và mở la bàn thì khả năng xuất hiện ở đây mới là cao nhất. Nếu tìm được đồng hồ quả quýt, nghĩa là 100% cố định được điểm “rơi”, đó là tình huống lý tưởng nhất.

“Như Cochro đã nói, nếu con người này chết, chúng ta không biết khi nào mới có thể đợi được con người thứ hai, sau đó tình thế tiến thoái lưỡng nan mà chúng ta gặp phải vẫn không hề thay đổi, con người thứ hai vẫn sẽ bị Cochro g**t ch*t… hoặc thậm chí tệ hơn, con người đầu tiên vẫn còn có cơ hội thứ hai để du hành xuyên thời gian, để chúng ta phải chuẩn bị sẵn sàng. Nhưng anh có nghĩ sẽ có con người thứ hai không? Chúng ta không thể rời khỏi vách đá này, phải chờ đợi mãi mãi…”

Giọng nói của Johnson đột nhiên im bặt.

Y lùi lại một bước, nhìn vào dòng xoáy đang dần hình thành trước mặt.

Một người đeo ba lô leo núi ngã xuống trước mặt Johnson.

Đồng hồ quả quýt trong tay trái, la bàn trong tay phải.

Johnson ngơ ngác, y nhìn lại vết nứt trên đá, nhanh như vậy sao? Y mới chôn xong mà!

Gymir nhanh chóng nhặt chiếc mặt nạ Venice đeo lên mặt, búng ngón tay.

Sau đó hắn tiến lên một bước, chắn trước mặt Juan, nói với Thảm Bay vừa bóp méo không gian để tới đây: “Tao thừa nhận mày có năng lực, có thể giết người, nhưng đáng tiếc, mày lại kém may mắn!”
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 83


<b>Chương 83</b>

<b>Ra mắt thân chủ</b>

Thảm Bay không đáp lại lời khiêu khích của Gymir, gã đang nhìn Johnson.

Bởi vì Cochro biết rằng đây không phải do may mắn, mà là việc định vị thành công khe hở thời gian, nếu không thì không thể kiểm soát vị trí rơi của một sinh vật nhỏ bé, điều này hoàn toàn nằm ngoài dự đoán của Cochro. Ban đầu Cochro nghĩ rằng đó là “thiên phú” chỉ có được sau khi gã hợp nhất với hóa thân bóng đen của Gymir.

Johnson làm thế nào để làm được?

Thân Bay quan sát Johnson từ đầu đến cuối như thể mới “nhìn thấy” Johnson lần đầu.

Gymir bất mãn thét lên: “Cochro!”

Các mép của tấm thân phẳng dẹp của Thảm Bay cuộn lên cuộn xuống thật nhanh, dường như cho thấy trong lòng gã đang khó mà bình tĩnh.

Johnson không biết về sự thất vọng và ngạc nhiên của Cochro. Bây giờ y chỉ muốn xua đuổi Thảm Bay đi, cứu lấy mạng sống của con người đã ngất xỉu vì cú ngã này.

Băng lan xuống dọc theo nham thạch, toàn bộ vách đá biến thành một con dao băng sắc bén, c*m v** lớp cát ven biển. Từng cây nhũ băng hung dữ mọc đan xen vào nhau, trực tiếp “tạo nên” một chiếc lồng băng kinh dị bao bọc vách đá.

Những khối băng này không phải màu trắng mà có màu xanh đen lạ lùng, ở dạng bán trong suốt, Cochro có thể thấy được Johnson và Gymir bên trong. Quả cầu dây leo cảnh giác giơ lên hai chiếc xúc tu, cùng với một cục nham thạch kỳ lạ tỏa ra ánh đỏ trên thân.

Lớp băng này có thể phản ánh hiện thực à? Cochro bối rối nghĩ ngợi, gã quan sát thật kỹ, cuối cùng nhận ra rằng đây không phải là băng thông thường. Cấu trúc bên trong của nó rất tinh tế, chứa đầy sức mạnh hỗn loạn và mất trật tự. Sau khi ánh sáng đi vào lớp băng dày, nó trải qua quá trình khúc xạ phức tạp và biến đổi năng lượng. Nhìn từ bên ngoài, mọi thứ bên trong đều có “hình dáng và màu sắc chân thực”, nhưng nhìn từ bên trong lớp băng ra thì bên ngoài chẳng có gì ngoài một màu đen u ám, con mắt của những sinh vật bậc thấp không thể nắm bắt được “hiện thực” này. Nếu không thể nhìn thấy thì sẽ không bị tổn thương. Vậy là, để bảo vệ con người đó?

Tất nhiên, Thảm Bay sẽ không ngờ rằng Johnson có thói quen trân trọng đồ chơi. Thay vào đó, gã cảm thấy những lời đe dọa trước đây của mình đã có tác dụng, Johnson sợ rằng con người này sẽ bị giết, lo lắng nếu người này chết thì sẽ không thể tìm thấy một con người khác.

“Thần mới thật hèn nhát.” Cochro tự nhủ.

Thảm Bay quyết định sửa lại các điều kiện của giao ước, biết thời biết thế ấy mà, gã muốn đưa ra một lời mời khác cho Gymir và Johnson. Phải, không chỉ là Gymir, mà còn có Johnson, Cochro quyết định phải coi trọng thần mới này hơn một chút.

Thảm Bay liếc nhìn chiếc lồng băng đen rồi bay đi mất.

***

Juan cảm thấy đau nhức khắp người.

Do cú ngã.

Tay anh vô thức bới móc hai lần, cảm nhận được lớp đất ẩm giữa các ngón tay.

Đợi đã, la bàn và đồng hồ quả quýt đã biến mất!

Juan bật dậy ngay lập tức, tỏ ra cảnh giác.

Gymir nhìn bàn tay của con người kia nhanh chóng đặt vào vũ khí trên thắt lưng, khom lưng, cơ thể co lại, cuộn tròn trong tư thế phòng thủ, đôi mắt nhắm chặt, nghiêng đầu lắng nghe, vành tai hơi giật giật, giống như một con thỏ hoặc con chuột đang sợ hãi.

Johnson cũng thấy lạ lùng. Đây không giống phản ứng của một người bình thường khi gặp phải tồn tại huyền bí. Thành viên giáo phái bí mật sùng bái sức mạnh tà ác à?

Không giống lắm.

Johnson nhìn thấy những món đồ mà Juan mang theo đều được khắc chữ Rune đơn giản, rất thô sơ, như thể được thêm vào tạm thời, chất liệu cũng không lý tưởng.

Trên con người này không có hơi thở đen tối, điên cuồng, vẩn đục do tiếp xúc quá nhiều với tồn tại huyền bí. Anh không tò mò, hoảng sợ, nhìn quanh hay nhảy dựng lên hỏi han như người thường. Cũng không tham lam hay phấn khích như một tín đồ tà giáo… anh chỉ thấy sợ hãi.

Ngay cả cảm xúc sợ hãi cũng được con người này ổn định trong một khoảng thời gian ngắn. Sau đó anh chậm rãi đứng dậy, thăm dò những thứ xung quanh, cuối cùng xác định được môi trường xung quanh tương đối an toàn mới hé mắt ra một chút. Nhưng vẫn cúi đầu, giữ tư thế nhìn xuống đất.

Johnson: “…”

Đúng là bất thường thật, có ai dạy à? Ví dụ khi gặp mặt tà thần cần phải có những biện pháp gì?

Johnson nghĩ câu trả lời sẽ là hãy nhắm mắt lại, cho Gymir thời gian để đeo mặt nạ vào… Dù tà thần không muốn làm hại con người thì tai nạn cũng khó tránh khỏi, nếu tà thần ở trạng thái chiến đấu thì phải có thời gian để tà thần “xua đuổi kẻ địch” và “thay đổi hình thái”. Vẻ mặt của Johnson hơi lạ lùng, đây không phải là điều mà y và Gymir vừa làm sao? Khi tà thần và con người gặp nhau thì phải hoàn thành quá trình “châm chước cho nhau”?

Cộp, cộp.

Âm thanh của giày da bóng bước lên những tảng đá phủ đầy sương trắng vang lên rất rõ ràng.

Thân thể Juan run lên, ngón tay siết chặt thành nắm đấm.

Johnson thấy lạ khi nhìn đôi mắt của con người này dừng lại trên đôi giày của y, sau đó anh từ từ ngẩng đầu lên, nặn ra một nụ cười xấu hơn cả khóc.

“Phản ứng của anh khi nghe thấy tiếng bước chân của ta giống như nghe thấy thần Chết gõ cửa vậy.” Johnson đứng trước mặt Juan.

Tiếng Anh mà Johnson sử dụng rất giống John, xét cho cùng thì cả hai đều là “thân sĩ Luân Đôn”.

Điều này vô hình trung làm giảm bớt áp lực của Juan, anh xoa mặt, uể oải nói: “Xin chào ngài, tôi là Juan, mặc dù tôi không vui lắm khi gặp ngài nhưng đó không phải là lựa chọn của tôi.”

Đúng là lời nói thật lòng đến bất ngờ. Tất nhiên, tà thần thích nghe sự thật hơn là những lời dối trá và xu nịnh. Điều này tiết kiệm thời gian.

Johnson bối rối hỏi lại: “Anh từng gặp ta sao?”

“Không có.” Juan phủ nhận.

Ngay cả trong giấc mơ do Hans tạo ra, tà thần cũng chỉ là một cái bóng mơ hồ, nhìn không rõ mặt. Bởi vì việc khôi phục hình thái tà thần trong giấc mơ là rất nguy hiểm, nó sẽ thu hút sự chú ý của những tà thần đang ngủ khác… Hans giải thích rằng cõi mộng giống như một tảng đá trôi trên dung nham, có thể dễ dàng rơi xuống vực thẳm.

Vì vậy, dù Juan đã trải qua rất nhiều khóa huấn luyện trong mơ cũng chưa bao giờ nhìn thấy ngoại hình của thân chủ tương lai của mình.

Phải, là thân chủ.

John và Hans đã nói với anh rằng tà thần sẽ trả thù lao cho anh, và y còn rất giữ chữ tín. Thậm chí còn có uy tín hơn hầu hết những con người giàu có và quyền lực. Juan muốn phản bác, nhưng nghĩ đến bộ mặt của đám người quyền quý kia, anh lại không nói nên lời.

“Tôi chỉ nghe nói về các ngài, John và Hans… kể cho tôi nghe.” Mặt Juan cứng đờ.

“Sao cơ?” Nghe đến tên John và Hans, cả hai tà thần cùng thốt lên ngạc nhiên.

Juan khô khan nói: “Tôi đến từ đảo Jamaica của năm 1959, vô tình phát hiện ra chiếc la bàn này…”

Juan nhìn thấy thứ Johnson đang cầm.

Johnson cất đồng hồ quả quýt đi, ném lại chiếc la bàn cho Juan.

“Giữ nó, nếu không anh có nguy cơ rơi vào một khe hở thời gian khác.” Johnson giải thích.

Juan chỉ đành giữ chặt chiếc la bàn đã bẫy anh, kể lại ngắn gọn những gì mình trải qua trong những ngày này.

Johnson và Gymir cuối cùng cũng hiểu những phẩm chất đầy mâu thuẫn trên người Juan là từ đâu mà ra. Đặc biệt là khi nghe nói về khả năng của Juan bao gồm vẽ phác thảo nhanh, ghi nhớ địa hình tốt, trí nhớ không gian ba chiều tuyệt vời.

Johnson: “…”

Vậy là họ nhận được một thám tử loài người đã qua huấn luyện ngắn hạn?

Không, cảm giác giống như chú chó và chú mèo quen thuộc nghe tin bạn bị lạc bên ngoài, bèn vội vàng cử một đồng loại biết tìm đường đến đưa bạn về.

“Tôi không hiểu cuộc chiến giữa các vị thần, tôi chỉ hy vọng rằng thảm họa vô danh này sẽ không lan rộng đến thế giới thực, gây ra thảm họa lớn hơn.” Juan nhận thấy bầu không khí trở nên kỳ lạ, anh vội vàng nói: “Ý tôi là thế giới năm 1959, John nói rằng nếu tôi tìm thấy một vật thể thứ hai tương tự như la bàn, chứng tỏ rằng nhiệm vụ này khó gấp đôi, giữa nơi này và thế giới thực có sự chênh lệch về thời gian.”

Gymir sờ vào mặt nạ, hắn phát hiện ra rằng thám tử John thực sự là rất hữu dụng, bây giờ không cần phải giải thích tình huống ở đây cho thám tử loài người mới tới nữa.

Juan nhìn lớp băng đen xám bên ngoài vách đá, ngập ngừng hỏi: “Bướm Xám đang ở ngoài sao? Hans còn nhắc đến tên hai tà thần đó với tôi, tôi phải làm sao tránh được họ?”

Vào vị trí trong một giây, chủ động yêu cầu thực hiện nhiệm vụ. Hiểu rõ nguồn gốc nguy hiểm, cũng hiểu rõ sức mạnh của kẻ thù. Dù nơm nớp lo sợ, nhưng vẫn cố gắng kiềm chế nỗi sợ hãi để đứng trước mặt tà thần chờ lệnh.

Gymir: “…”

Thần Biển cũng im bặt. Cảm giác này diễn tả thế nào đây? Đã quen nhìn những con kiến phát sáng với lòng tự tin, nay lại gặp một con kiến nhỏ bị buộc phải tỏa sáng, cố gắng để đạt tiêu chuẩn nhưng thực sự thì chỉ muốn bỏ chạy ngay lập tức, hóa ra cũng là một niềm vui mới nhỉ?

“Đúng, đây là một khe hở thời gian.” Johnson thì không có thói quen trêu đùa ác như thần Biển, y vẫn muốn giải quyết vấn đề càng sớm càng tốt. Y không hề kén chọn độ sáng của Juan, dù sao thì muốn có được một thám tử loài người cũng không phải chuyện dễ.

Johnson phất tay một cái, một quả cầu nước màu xanh lam lập tức xuất hiện trước mắt Juan. Ở trung tâm của quả cầu nước là một hòn đảo lớn. Johnson phóng to quả cầu nước lên, lớn đến mức gần như chiếm toàn bộ không gian phía trên đầu.

Juan ngay lập tức nhìn thấy một vách đá dựng đứng ở phía đông nam của hòn đảo, nơi có tình trạng băng bao phủ rất kỳ lạ.

“Đây có phải là nơi chúng ta đang ở không?”

Khi mắt Juan lướt qua vách đá, nhìn thấy thành phố phía trước, anh đột nhiên giơ tay lên che miệng, mắt trợn to.

“Ôi Chúa ơi! Royal! Port Royal trước khi nó chìm!”

Juan bùng nổ một niềm hưng phấn tột độ, anh thậm chí còn muốn nằm bò trên mặt quả cầu nước để quan sát thật kỹ sự phân bố của các tòa nhà ở Port Royal.

Thế này thì cần gì phải thám hiểm dưới nước nữa? Anh đã nhìn thấy khung cảnh thành phố thực sự!

Thu thập thông tin làm quái gì? Khi quay trở lại năm 1959, anh sẽ có thể vẽ được bản đồ địa hình ngay lập tức!

Johnson ngơ ngác nhìn linh hồn của Juan tỏa ra một thứ ánh sáng chói lòa. Nếu vừa rồi là một bóng đèn nhỏ nhấp nháy gần như lúc sáng lúc không thì độ sáng lúc này đã gần bằng độ sáng của John. Nhảy một phát liền năm cấp cường độ chỉ trong một giây, thế này là sao?

Juan nhanh chóng điều chỉnh nhịp thở, quay người lại đối mặt với Johnson và Gymir, nụ cười và vẻ mặt trở nên chân thành hơn rất nhiều.

“Thưa các quý ngài, tôi có thể đến gần thành phố này không?”

“Chà, thực ra thì anh cần phải đi… Chúng ta phải tìm ra điểm yếu của khe hở thời gian trong thế giới khép kín này.”

Johnson bối rối nhìn ánh sáng của Juan bắt đầu mờ dần khi cảm xúc của anh dịu xuống, giảm thẳng một đường, nhưng theo từng câu chữ của Johnson, nó ngay lập tức tăng lên ngang tầm với Hans.

Ý chí của con người có thể thay đổi được như thế này à?

Gymir cũng chưa từng nhìn thấy.

“Ban đầu chúng ta cần một con người giúp chúng ta truyền tin, nhưng giờ anh đã ở đây… Thôi được, cơ thể con người nhỏ bé, sức mạnh cũng yếu, dù có làm gì cũng không ảnh hưởng đến khe hở thời gian, trong khi nếu chúng ta đến gần ranh giới diệt vong của thời gian, chúng ta sẽ bị sức mạnh vô hình của thời gian và không gian đẩy ra ngoài. Con người thực sự là những hướng dẫn viên rất giỏi trong việc tìm đường, la bàn sẽ bảo vệ cơ thể anh, viên ngọc này có thể chặn được đòn tấn công của tà thần, nếu bị Bướm Xám và Thảm Bay tấn công, anh sẽ lập tức trở về thời gian ban đầu của mình.”

Johnso giải thích đến đây, Juan liền tiếp lời: “Sau đó tôi sẽ đi đến vách đá, đào đồng hồ quả quýt lên, định vị hạ cánh ở đây, phải không?”

“Ừm, ta sẽ biết ngay khi anh biến mất.” Johnson nghiêm túc trả lời: “Đồng hồ quả quýt có thể định vị thời gian, la bàn có thể định vị không gian, nếu mang theo cả hai bên mình, anh sẽ không thể quay lại thời gian và không gian ban đầu vào thời điểm nguy cấp.”

Juan hiểu rồi.

“Tôi cũng cần một bộ quần áo, nếu không vừa vào Port Royal sẽ lập tức bị nghi ngờ, thậm chí sẽ bị tống vào tù.” Juan xoa hai lòng bàn tay vào nhau, háo hức nói.

Johnson tỏ ra kỳ quái: “Không, anh không cần, thời gian ở đây không trôi đi, ngoại trừ chúng ta, tất cả mọi người đều như tượng đá…”

Johnson khựng lại.

Bởi vì y phát hiện độ sáng của Juan lại lần nữa tăng vọt.

“Hắn đang phấn khích sao?” Gymir thì thầm hỏi.

Johnson đơ mặt đáp: “Nỗi sợ hãi của anh ta đã biến mất, chỉ còn lại phấn khích.”

Juan không thể nghe thấy gì, tim anh đập mạnh, xung quanh anh là niềm hạnh phúc tột độ.

Một thành viên của đội khai quật khảo cổ quay ngược thời gian và không gian, tận mắt quan sát tình trạng ban đầu của thành phố chưa bị phá hủy, có thể chạm vào thoải mái! Ngắm nhìn tùy thích! Ngoại trừ anh ra, tất cả mọi người đều đứng yên!!

Cái này cần tà thần trả tiền sao?

Bảo Juan trả tiền anh cũng chịu!
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 84


<b>Chương 84</b>

<b>Một vấn đề quan trọng</b>

“…Thật tuyệt, vẫn đang là ban ngày, ánh sáng rất tốt.”

Juan đẩy vài chiếc xe gỗ chất đầy bao tải đến dưới mái hiên rồi trèo lên mái nhà.

Thành phố Tội ác này được miêu tả trong các ghi chép là vùng đất của vàng và các hương liệu, nhưng thực ra không đặc biệt đến vậy. Nơi đây không có mái nhà đúc bằng vàng, cũng không có những căn nhà dát đầy đá quý, hầu hết các ngôi nhà đều được làm bằng đá và gỗ, chỉ có những con phố gần phủ Tổng đốc là tương đối gọn gàng sạch sẽ.

“Phủ Tổng đốc, bến cảng, chợ nô lệ, xưởng đóng tàu, chợ… chà, rất nhiều chợ.”

Juan ghi lại phân bố chung của thành phố, sau đó bắt đầu leo xuống. Trèo lên những nơi cao để kiểm tra môi trường xung quanh là rất quan trọng, nhưng những nơi cao cũng rất nguy hiểm, nên thời gian ở đó càng ngắn thì càng tốt.

Lúc này, bánh xe gỗ bị trượt một cái, Juan vội vàng nằm xuống, túm lấy bao tải để giữ thăng bằng. Những ngón tay của anh vô thức bóp vào thứ dạng hạt trong bao tải, rồi xách lớp vỏ bên ngoài lên, quan sát thứ bên trong qua phần vải thô có những lỗ trống nhỏ.

“Hạt bắp.” Juan nhanh chóng đưa ra kết luận, anh ngẩng đầu nhìn lên những tòa nhà gần đó.

Vị trí ban đầu của chiếc xe gỗ này là một bức tường với một cánh cửa nhỏ, một gã đàn ông mập mạp mặc bộ quần áo đầy những vết dầu đứng ở đó, gã cũng say khướt, đang sốt ruột đếm tiền cho người giao hàng. Ngồi xổm bên bức tường là bốn năm tên nô lệ đeo cùm chân. Những nô lệ này gầy gò, chỉ còn da bọc xương, họ dùng xe gỗ làm vật cản, quây lại thành một vòng tròn nhỏ.

Juan trèo lên xe gỗ mới thấy những nô lệ đang cầm một khúc xương đã được mài nhọn c*m v** cái bao tải phía dưới cùng, bàn tay bẩn thỉu đón lấy những hạt bắp khô rơi xuống, có đứa trẻ còn nóng lòng muốn nhét vào miệng.

Juan: “…”

Dù biết đây chỉ là cái bóng còn sót lại của lịch sử, là khoảng thời gian đã bị chôn vùi, nhưng những con người đang giữ nguyên tư thế này vẫn có thân nhiệt chứ không phải tượng sáp hay tượng đá. Vẻ mặt của họ bị đóng băng nhưng linh hồn của họ vẫn tồn tại trong cơ thể.

Trên đường đi, Juan nhìn thấy những gã say rượu trong quán rượu, những tên cướp biển chém giết lẫn nhau trên đường phố và những nô lệ với khuôn mặt đờ đẫn. Quần áo trên người họ nhắc nhở Juan rằng đây là một thời đại hoàn toàn khác, trong Thành phố Tội ác này, chuyện gì cũng có thể xảy ra. Có rất nhiều nô lệ, họ có thể là những thủy thủ vô tội trên các con tàu buôn, hoặc có thể là người bản địa châu Mỹ, muốn cứu cũng không cứu nổi tất cả. Chỉ có thể làm ngơ. Đây không phải là điều mà một thám tử loài người muốn ngăn chặn thảm họa nên làm, cũng không phải là điều mà một nhân viên khảo cổ đang tận mắt chứng kiến lịch sử nên làm.

Juan tưởng rằng mình đã chuẩn bị sẵn sàng, nhưng thực tế không phải vậy.

Những nô lệ ăn trộm bắp này thì khác. Một nô lệ đang kéo bao tải, chuẩn bị vuốt phẳng cái túi bắp vừa bị khúc xương chọc thủng một lỗ rồi nhét trở lại trên xe, như vậy sẽ không còn dấu vết gì; một nô lệ khác đang kéo một chiếc túi khác, nô lệ cầm xương nhọn đang nhắm vào; người đàn ông lớn tuổi nắm lấy vai đứa bé, cảnh giác nhìn về phía sau. Ông chủ của nô lệ đang đếm tiền bắp với gã đầu bếp mập của quán rượu, trong khi nước thải chảy đầy dưới chân. Ngoài con hẻm, hai nhóm hải tặc đang cãi nhau ồn ào, hình như đang xảy ra tranh chấp. Nắng chiếu vào hẻm vừa đủ, chiếu lên những hạt bắp chảy ra khỏi bao.

Đây là một bức tranh sơn dầu có bố cục hoàn hảo, độ tương phản màu sắc mạnh mẽ. Cảnh tượng chân thực cho thấy “hy vọng nhỏ bé” ẩn nấp trong bóng tối của Thành phố Tội ác.

Juan ngơ ngác đứng đó. Anh không thể biết điều khiến anh cảm động là ánh mắt lấp lánh của những nô lệ, nét mặt của họ hay những động tác điêu luyện khi họ ăn trộm bắp. Dù sao đi nữa, Juan cũng không nhịn được đi tới trước mặt đám nô lệ, muốn lấy mấy nắm hạt bắp bỏ vào túi của họ. Nhưng nô lệ lại không có quần áo, chỉ có hai ba mảnh vải, đứa bé kia thậm chí còn tr*n tr**ng nên không có cách nào lén giấu đồ ăn.

Juan tìm chìa khóa cùm chân trên người gã giao hàng, mở ổ khóa nhưng vẫn giữ cho chúng khóa hờ. Anh hy vọng khi thời gian bắt đầu trôi đi lần nữa, những nô lệ này có thể phát hiện ra niềm vui bất ngờ, nắm bắt cơ hội trốn thoát.

“Ngươi đang lãng phí thời gian.” Một giọng nói trầm tuyệt đẹp vang lên từ sâu trong con hẻm.

Thân thể Juan cứng đờ, anh nhìn tà thần đeo mặt nạ Venice, lặng lẽ ném chìa khóa đi.

“Quả thật là vậy…theo quy tắc thời gian, tôi không nên gây ảnh hưởng đến lịch sử.”

Juan thôi nhìn đám nô lệ, chạy ra khỏi con hẻm.

Johnson bước ra từ phía sau Gymir, thắc mắc: “Quy tắc thời gian? Đó là cái gì?”

“Không biết, có lẽ là một từ trong tiểu thuyết của con người chăng?” Thần Biển trầm ngâm: “Có vẻ như nếu quay ngược thời gian thì không được phép thay đổi những chuyện đã xảy ra nhỉ?”

Tà thần không tin vào lối tư duy này, bản chất của tà thần là hỗn loạn mất trật tự, làm bậy mới là chuyện bình thường. Tà thần đã thấy quá nhiều trường hợp sau khi họ quậy phá, quy tắc trật tự sẽ tự động kiểm tra thiếu sót và bổ khuyết, khôi phục lại những điều bình thường. Đây có thể coi là một cơ chế bảo vệ của trật tự, như việc con người sẽ quên đi ký ức về tồn tại huyền bí là một nguyên lý tương tự.

“Suy nghĩ của con người thật là phức tạp, không có gì phải lo lắng cả.” Gymir lẩm bẩm. Ngay cả hắn cũng không thể phá hủy trật tự thời gian của hành tinh này, con người có gì phải sợ chứ!

Trên thực tế, Gymir cảm thấy thám tử loài người này đã dừng ở đây quá lâu mà không có động tĩnh gì, tiến độ phá giải mê cung cũng không có tiến triển gì nên tới đây thúc giục. Dù Juan giải phóng nô lệ hay đi giết người, tà thần đều không quan tâm. Tà thần chỉ để ý đến việc thám tử không chịu làm việc.

“Anh ta mở cùm trên chân đám nô lệ.” Johnson rảnh quá phát chán, mới nhìn xuống chiếc chìa khóa trên mặt đất.

Gymir lười biếng liếc nhìn. Trước khi gặp Johnson, Gymir đã luôn dùng phương buộc thời gian xung quanh mình đứng yên, vì hắn không muốn “tiếp xúc” quá nhiều với con người. Vì vậy, trong mắt Gymir, việc lấy đồ vật ra khỏi tay hoặc từ bên cạnh một con người đang đứng yên là điều bình thường quá chứ gì nữa? Còn phản ứng của con người sau thời gian được phục hồi thì sao? Chuyện đó có liên quan gì tới tà thần!

Nói về bộ môn sắm vai con người thì Johnson rành rẽ hơn.

Johnson suy nghĩ một chút, rồi tùy ý xách đám nô lệ sang con phố bên cạnh.

Juan đang ngồi xổm trong góc nghiên cứu hệ thống cống rãnh của thành phố giật nảy mình vì đám nô lệ đột nhiên xuất hiện trước mặt, anh ép chặt thân thể vào tường.

“Đây là…”

“Anh không muốn cứu họ à?” Johnson kiên nhẫn giải thích: “Vậy thì phải cho họ mặc quần áo, rồi cho thêm một chiếc thuyền. Trên người bọn họ có dấu ấn của nô lệ, thoát khỏi gông cùm thì cũng không thể chạy xa, dù có trốn đến bến tàu cũng sẽ bị binh lính đóng ở đó bắt giữ.”

Juan trợn mắt há hốc miệng.

“Không đúng, ở cảng có đại bác. Không có giấy phép thì thuyền không thể rời cảng.” Johnson nghiêm túc suy nghĩ.

Gymir chậm rãi đi tới, nghe Johnson nói vậy thì vô thức hỏi: “Tại sao cần giấy phép? Đưa người lên thuyền rồi ta đẩy thuyền ra biển chẳng phải là đủ sao? Khi thời gian trôi trở lại, họ đã ở trên biển rồi.”

“Cái này cũng được đấy, nhưng cũng cần cho thêm mấy thùng nước ngọt, và đừng quên đồ ăn.”

Johnson nhìn Juan, tựa hồ đang chờ đợi Juan vui vẻ đi chuẩn bị “vật tư ra khơi”. Y thậm chí còn cảm thấy khó hiểu khi phát hiện Juan không trả lời trong một thời gian dài.

“Không, chưa chắc họ biết lái thuyền.” Juan khô khan nói: “Mà nơi này đầy những cướp biển, cho dù thuyền rời bến cảng ra tới biển, khả năng rất cao sẽ bị tàu hải tặc cướp lần nữa, rồi lại trở thành nô lệ.”

“Là thế à?” Johnson ngạc nhiên. Y cầm gậy batoong khảm sapphire, thở dài, chân thành nói: “Chạy trốn thật là khó.”

Gymir cũng hỏi: “Không còn cách nào khác sao?”

Juan: “…”

Không, tại sao tà thần lại thảo luận với anh về phương án khả thi cho kế hoạch “nô lệ chạy trốn khỏi Port Royal”?

“Chuyện là, diện tích đảo Jamaica rộng lớn, có nhiều suối nên họ có thể từ bỏ lối thoát là chạy thẳng ra cảng, mà đi vòng đường dài xuyên rừng.” Juan không nhịn được lấy bản đồ trong túi ra, bắt đầu vẽ. “Đây là con đường ngắn nhất, nhưng trong khu rừng cũng đầy rẫy những nguy hiểm chết người… à, họ không cần đi. Vậy thì có thể chọn bãi biển này, cách Port Royal ba ngày đường, dưới biển có nhiều rạn san hô ngầm, không có thuyền cập bến. Họ có thể đóng bè để ra biển hoặc trực tiếp cư trú trên bờ biển, Port Royal rất thịnh vượng, cướp biển mang đến của cải và lượng dân cư khổng lồ, không bao giờ thiếu nô lệ. Nếu có nô lệ bỏ trốn, thường thì họ sẽ không đuổi theo ra khỏi thành phố.”

Juan cứng ngắc phát hiện ra hai tà thần đang lắng nghe chăm chú, thậm chí còn rất có hứng thú với kế hoạch sinh tồn tiếp theo.

“Ăn gì?”

“Dừa và khoai lang, đặc biệt là khoai lang, chúng phát triển rất nhanh, lá có thể dùng làm thức ăn cho gia súc.”

“Như vậy là con người có thể sống sót?”

“Khó nói lắm, có thể bị bệnh hoặc bị rắn độc, côn trùng cắn nữa.” Juan dũng cảm nói.

Johnson cau mày, rồi thở dài. Đúng vậy, con người quá mong manh.

Gymir tóm lấy đám nô lệ kia rồi biến mất.

Khi xuất hiện trở lại, Gymir ngáp dài và nói: “Đã thả người rồi, chờ xem vận may của họ đi.”

Juan yếu ớt đề nghị có thể cho họ thêm một số dụng cụ hoặc thức ăn.

“Cái này thì ta biết, ừm… dao, rìu, rượu rum, cánh buồm để giữ ấm vào ban đêm…” Johnson đón lấy ánh mắt khó tin của Juan, bình tĩnh nói: “Ta đọc được nó trong cuốn sách mua ở phố Charing Cross tại Luân Đôn, không đúng sao?”

Juan suy nghĩ một chút, thăm dò hỏi: “Robinson Crusoe?”

“Anh cũng từng đọc à?”

“…”

Juan không chỉ từng đọc mà còn từng nghĩ xem mình sẽ sống sót như thế nào nếu bị đắm tàu. Điều này không phải là ảo tưởng, chuyến đi từ châu Âu đến biển Caribe quá dài, không ai biết những tai nạn nào có thể xảy ra. Anh chưa bao giờ nói với ai về việc này cả, thứ nhất là vì trên tàu phải kiêng kỵ, thứ hai là anh sẽ bị cười nhạo. Juan không ngờ rằng đến sau cùng, sẽ có hai tà thần“thảo luận” với mình một cách hết sức thích thú về việc một người hoặc một nhóm người làm thế nào để sống sót trên đảo.

“Đáng tiếc thời gian đã dừng lại, khi thời gian tiếp tục trôi thì chúng ta đã rời đi, không có cách nào quan sát xem những người này có thể sống ở đó bao lâu.” Gymir tiếc nuối nói.

Juan rùng mình, hoàn toàn tỉnh táo lại. Anh nhận ra tất cả chỉ là một trò chơi khiến tà thần cảm thấy vui thích thôi.

“Tôi sẽ đi ra chợ xem sao, có lẽ sẽ có manh mối thoát khỏi nơi này.” Juan nhanh chóng bỏ chạy.

Johnson không đuổi theo, y quay đầu hỏi Gymir: “Nếu xảy ra động đất lớn, những con người vừa mới được thả ra có chết không?”

“Trên sườn núi sẽ không bị sóng biển cuốn trôi.” Gymir cho biết hắn đã cân nhắc vấn đề này.

Ánh mắt Johnson xuyên thấu vào trong nhà, nhìn thấy Juan đi vào văn phòng quan thuế vụ ở cảng, ngơ ngác nhìn tờ lịch trên tường.

Ngày 7 tháng 6 năm 1692.

“Tức là ngày này?” Johnson lại lặng lẽ xuất hiện phía sau Juan. Y ngồi trên chiếc ghế rộng rãi và thoải mái của quan thuế vụ, lưng thẳng, vẻ mặt điềm tĩnh. “Có vẻ như thành phố này sẽ bị phá hủy vào ngày này, anh có muốn cứu nhiều người hơn không?”

Tà thần có đôi mắt xanh lam nhạt trong hình dạng con người chăm chú nhìn Juan. Luồng không khí xung quanh y đang dần lắng xuống, trở nên trắng nhợt và đông cứng.

“Không…” Juan lùi lại một bước, vẻ mặt như đang giằng co. Sau đó anh va phải thứ gì đó, ngã xuống ghế.

Gymir vừa nhặt một chiếc ghế để chặn đường lui của Juan. Hắn nhìn ánh sáng nhấp nháy của Juan, nghĩ rằng việc trêu chọc thám tử loài người này khá thú vị.

“Có vẻ như để tâm nguyện của ngươi thành hiện thực, giữ lại vịnh biển năm 1959 này, cái giá phải trả sẽ là tiêu diệt Thành phố Tội ác, phá hủy Port Royal của năm 1692.” Đôi mắt ẩn sau chiếc mặt nạ của Gymir hơi nheo lại, giọng nói tuyệt diệu nhưng lại khiến người ta run rẩy toàn thân: “Theo nguyên tắc <i>lịch sử không thay đổi</i> mà con người tin tưởng, điều này không có gì đáng buồn cả. Những người ngươi nhìn thấy này chắc chắn sẽ phải chết, phải không? Mọi thứ đều là chuyện đã từng xảy ra.”

Ý thức của Juan mờ đi một lúc. Anh nhìn thấy khói đen tràn ngập thành phố, sau đó những con sóng lớn lật nhào mọi thứ. Làn khói tượng trưng cho tội ác từ từ bốc lên, sắp quấn lấy mình.

Johnson không nhịn được duỗi dây leo màu đen ra, chọc mạnh vào Gymir. Y đang cố gắng thuyết phục Juan đừng cảm thấy đau buồn về cái chết của những nô lệ trong khe hở thời gian này, Gymir đang làm gì vậy? Dọa thám tử sợ chết khiếp à?

Trong khi họ đang co kéo…

“Không đúng!” Juan thoát khỏi ảo giác trong một giây.

Anh thở hổn hển rồi chợt ngồi thẳng dậy nhìn hai tà thần (Johnson giấu dây leo dưới gầm bàn trong lúc hoảng loạn), nghiêm túc nói: “Sau khi Port Royal bị chìm vào năm 1692, người Anh đã xây dựng lại một Port Royal nữa, nhưng nó bị nhấn chìm trong biển lửa vào năm 1703. Người ta đã xây dựng một thành phố mới – Kingston – ở phía bên kia vịnh, nhưng Nick bạn tôi kể cho tôi nghe… ngọn lửa đó giống như một lời nguyền luôn ám lên thành phố, người dân địa phương tin rằng đó là hồn ma của những tên cướp biển Port Royal ngày xưa đang làm loạn.”

“Sau khi nhặt được la bàn, tôi đã kiểm tra tài liệu ở Jamaica.” Juan lấy cuốn sổ bút ký của mình ra, mở ra và đọc từng mục: “Kingston bị thiêu rụi vào các năm 1780, 1782 và 1843, trận hỏa hoạn năm 1882 là nghiêm trọng nhất, cháy suốt bốn ngày bốn đêm, mọi thứ đều biến thành tro bụi. À, quên mất rằng vào năm 1850, có một đợt bùng phát căn bệnh truyền nhiễm khủng khiếp ở Kingston, dịch tả. Đến năm 1907, một trận động đất lớn lại phá hủy toàn bộ thành phố. Nick nói rằng sóng thần đến từ hướng Port Royal. Nhưng điều này thật vớ vẩn, Kingston ở bên trong vịnh, Port Royal ở bên ngoài, sóng biển phải đến từ biển…”

Nhiệt độ trong văn phòng quan thuế vụ cứ giảm dần.

Juan rùng mình vì lạnh, đột nhiên tỉnh táo. Ý chí sáng ngời vừa mới tăng vọt giờ đây lại yếu đi nhanh chóng.

Juan nhìn hai tà thần, nơm nớp lo sợ nói: “Cho nên theo suy đoán của tôi, khả năng thứ nhất là chúng ta không thể trực tiếp thoát khỏi nơi này, chỉ có thể đến năm 1703 chờ trận hỏa hoạn hoặc tạo ra ngọn lửa rồi đến năm 1780 theo thời gian biểu… tóm lại là khu vực này sẽ bị phá hủy hết lần này đến lần khác. Khả năng thứ hai là cuộc chiến giữa bốn tà thần kéo dài quá lâu, qua lại giữa các khe hở thời gian khác nhau, ảnh hưởng đến mọi thời đại… không nhất thiết phải kết thúc vào năm 1959, có thể tiếp tục kéo dài sang thế kỷ tiếp theo hoặc thậm chí thế kỷ tiếp theo nữa, ngày thoát khỏi đây là không thể xác định được.”

Johnson: “…”

Gymir: “…”

Nói gì đấy, nói lại nghe coi!
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 85


<b>Chương 85</b>

<b>Biến cố</b>

Phủ Tổng đốc, một sân thượng ba tầng ở bên hông tòa nhà.

Đây vốn là nơi dành cho các bà các cô tầng lớp quý tộc nghỉ ngơi và ngắm cảnh, xung quanh là những cây cọ cao và những chiếc lọng làm bằng vải bạt.

Thời gian ngừng trôi vào lúc 9 giờ 16 phút sáng, các quý tộc hoặc đang ngủ sau cả đêm say sưa hoặc đang ăn sáng trên giường, vì thế trên sân thượng chỉ có vài người hầu đang dọn dẹp.

Gymir chơi đùa với trái dừa trên bàn một cách chán nản. Thứ này giống như một quả bóng, nặng trịch, vỏ đủ cứng. Chơi một lúc, tay của hắn bắt đầu biến đổi. Dưới những chiếc vây mỏng như tơ, móng tay trong suốt và sắc nhọn để lại vài vết xước nông trên vỏ dừa.

“Không cần nghĩ tới lời tên thám tử loài người đó nói.” Gymir lười biếng dựa vào ghế.

Trật tự thời gian cái gì chứ? Tà thần sẽ không tuân theo cái thứ đó! Dù lịch sử có biên soạn tất cả thiên tai thành một cuốn sách, thám tử lại gửi lịch trình này đến trước mặt tà thần, Gymir cũng không có ý định tuân theo cái bảng kỳ quặc này, lấp đầy những lỗ hổng cho lịch sử, biến nó thành một cái gọi là vòng khép kín hoàn hảo. Con người luôn tin rằng logic hoàn hảo có nghĩa là sự kết thúc của mọi thứ. Ha, ngây thơ. Bản chất của thế giới là hỗn loạn và mất trật tự, làm sao có cái thứ gọi là vòng khép kín đó kia chứ?

Gymir tháo mặt nạ ra, cười đầy vẻ nghiền ngẫm.

Johnson lo lắng nói: “Điều em quan tâm là thông điệp ẩn giấu đằng sau những thảm họa này.” Bởi vì số lượng thảm họa ở thành phố này đã nhiều quá mức bình thường. Nếu y và Gymir không làm điều đó, lẽ nào lại là Bướm Xám và Cochro?

Gymir chống cằm, đôi mắt vàng kim dõi theo từng động tác của Johnson: “Vậy sao? Ta thì tò mò tại sao con người tiếp tục sống ở đây hơn?”

Hỏa hoạn, động đất và bệnh dịch thay phiên nhau kéo dài hàng trăm năm. Cho đến tận năm 1959, con người vẫn chưa từ bỏ vịnh biển này. Không có nơi nào khác thích hợp để sống trên hòn đảo này à? Sao cứ nhất quyết phải cắm dùi ở cái nơi “bị nguyền rủa” này chứ?

Johnson nghe câu hỏi của Gymir, chìm vào suy tư.

“Đừng nghĩ nữa, đợi Juan quay lại thì hỏi hắn.” Gymir uể oải nói. Sau đó, hắn bóp nát luôn quả dừa, để cùi trắng và chất lỏng bên trong chảy xuống mu bàn tay. Cảm thấy khá thoải mái, Gymir dời mắt sang những sạp bán dừa trong chợ bên dưới. Đồng thời cũng thoáng thấy Juan đang tìm kiếm manh mối dọc theo các chợ.

Juan quan tâm đến tất cả mọi vật phẩm. Anh muốn xem xét mọi thứ, chạm vào mọi thứ.

Tiến độ điều tra rất chậm, nhưng thấy phong cách làm việc không bao giờ bỏ sót một góc nào và ánh sáng thỉnh thoảng lại tăng vọt trên người anh, Gymir quyết định giữ im lặng.

“Anh ta rất nhanh.”

Johnson cũng đang chú ý tới Juan. Sau khi phát hiện ra sự bất mãn tiềm ẩn của Gymir, y suy nghĩ vài phút, cuối cùng cũng tìm được một ưu điểm của Juan. Đúng là như vậy thật, Juan không có thói quen cầm một đồ vật rồi nhìn qua nhìn lại. Anh dường như biết tất cả các thương phẩm trong thành phố này, biết công dụng của mọi thứ.

Johnson cho rằng mình rất hiểu con người, nhưng khi nhìn thấy Juan, y lại phát hiện mình vẫn còn thiếu sót ở khía cạnh này. Hầu hết con người thích tiền vàng, đá quý hoặc các loại chất tạo mùi của con người (rượu, thuốc lá, hương liệu), và bị thu hút bởi những thứ xinh đẹp sáng lấp lánh.

Juan thì khác, anh có thể ngồi xổm trong góc để nhìn xuống cống, cũng có thể nhìn chằm chằm vào chiếc xe gỗ rồi gõ gõ đập đập. Anh cầm áo của tên lính lên xem phù hiệu, lấy ví của quan thuế vụ ra xem chất liệu… bây giờ lại đang cầm trên tay một chiếc móc sắt của cướp biển, xem thử thứ này được gắn trên tay như thế nào, kết quả là áo khoác của tên cướp biển rơi ra cùng với cái móc câu. Juan ngơ ngác nhìn cái gã không hề thiếu tay này, rồi tiện tay tháo khăn bịt mắt của tên cướp biển ra. Ồ tuyệt, mắt cũng không mù.

“Phì.” Johnson không nhịn được cười.

Juan dường như nhận thấy điều gì đó, nhấc chân bỏ chạy.

“Quá sức tò mò, là một thám tử điều tra sự kiện huyền bí tiếp xúc với thế giới chân thực, tỷ lệ tử vong của hắn rất cao.” Gymir soi mói.

Johnson cảm thấy Gymir nói rất có lý, y đang định gật đầu, thì đột nhiên khựng lại, hỏi với vẻ mặt kỳ quái: “Tại sao chúng ta phải quan tâm đến số phận tương lai của một con người?”

Gymir: “…”

À phải! Tà thần chỉ bắt một con người về để làm việc, sau khi nhiệm vụ hoàn thành, người này còn sống hay đã chết thì có liên quan gì tới tà thần? Hắn hình thành thói quen này từ khi nào?

Ồ, là vì John. Gymir nghĩ đến thám tử John là nhớ ra rằng John gần như đã chứng kiến toàn bộ quá trình hắn làm quen với Johnson, điều đó khiến cho con kiến này có ý nghĩa đặc biệt, Johnson cũng cảm thấy đối phương rất có ích cho nên John mới có được đãi ngộ đặc biệt: tà thần không muốn ngươi chết.

Sau đó là Hans ở Venice… Được chứng kiến vở kịch xung đột nội bộ trong giáo phái Màu Xám quả là một niềm vui, và Con mắt Hoa Hồng do con người tạo ra rất thú vị. Vì thủy tinh có thể giúp con người nhìn thấy thế giới chân thực nên tất nhiên nó cũng có thể giúp Hans tạm thời thoát khỏi rắc rối này, không khó để làm ra món đồ nhỏ bé đó, và nó cũng thỏa mãn tính tò mò của Gymir về xưởng thủy tinh Murano. Nó chỉ là một cặp kính, không có bất kỳ sức mạnh nào, hoàn toàn khác với viên ngọc cứu mạng của John. Ai mà ngờ Hans có sức chiến đấu vượt xa người thường đã dựa vào kiến thức về huyền bí học và cặp kính này để đạt được thành tích đáng kinh ngạc: tiếp xúc với sự kiện huyền bí mọi lúc mọi nơi mà không bị kéo xuống vực thẳm.

Đến lượt thám tử loài người thứ ba – Juan. Gymir nhận ra mình đang tự động tưởng tượng về cuộc sống tương lai của Juan. Gymir vô cảm nghiền nát quả dừa đã vỡ thành từng miếng ra vụn hơn.

Juan đằng xa chợt cảm thấy da đầu lại tê dại. Anh cảnh giác nhìn xung quanh, nhanh chóng thay đổi vị trí.

Ánh mắt của Gymir dừng lại trên người Juan, hắn lạnh lùng nói: “Ta nhớ ra một việc.”

“Sao cơ?”

“Ta còn chưa trả thù lao cho con cá voi trắng đó.”

“Cá Voi Trắng cần gì thù lao, nó không phải là con người…”

Johnson đột ngột dừng lại. Dùng tiền để cắt đứt mối liên hệ với con người là một phương pháp đơn giản và dễ sử dụng do y phát minh ra. Nhưng đối với John và Hans, họ không chỉ đưa tiền mà còn đưa những thứ khác. Thù lao không chỉ là tiền mà bất cứ thứ gì dùng được đều có thể tính vào. Nhưng y không nghĩ ra Cá Voi Trắng sẽ đòi thù lao gì. Không thể cho nó một tấn cá chứ?

“Chúng ta đang ở năm 1692, hàng trăm năm trước khi Cá Voi Trắng ra đời, anh có thể từ từ suy nghĩ.” Johnson nhìn Gymir, nói.

Thực ra tà thần không cần phải trả thù lao, đây chỉ là thói quen của Johnson. Gymir quyết định thiếu nợ. Dù sao thì con cá voi trắng đó cũng sẽ không đến đòi nợ.

***

“Chắc là ở đây…” Juan tự nhủ. Anh thò tay vào vết nứt trên tường, nhìn phần phía trên cổ tay biến mất. Anh không cảm thấy đau, bàn tay vẫn còn nguyên vẹn khi lấy nó ra.

Nơi này có một cơn gió thổi qua trán khiến Juan chú ý. Ở nơi thời gian ngừng trôi mà lại có gió thổi, đây là một chuyện kỳ quặc. Juan nghĩ ngay đến ủy thác của tà thần, anh chỉ cần nhìn qua một lần là có thể nhớ được bố cục của đường phố và các tòa nhà, vì vậy mới nhanh chóng phát hiện ra cái khe tường có vẻ rất nổi bật này. Bởi nếu thực sự trong nhà có vết nứt lớn như vậy thì đã phải được sửa chữa từ lâu rồi. Mùa hè ở biển Caribe hay mưa và bão, mà đây lại là bức tường chắn gió biển!

Juan tìm thấy một vài chiếc thùng để đặt chân lên. Anh trèo lên một nơi cao hơn, tiếp tục tìm kiếm dọc theo vết nứt trên tường. Chẳng bao lâu Juan đã phát hiện ra một lỗ hổng vô hình trong không khí, vết nứt trên tường chỉ là phần tiếp nối của lỗ hổng này.

“Phù.” Một nụ cười xuất hiện trên khuôn mặt Juan. Tuy rằng anh rất trân trọng cơ hội quan sát Port Royal, nhưng ở đây quá nguy hiểm, hoàn thành nhiệm vụ và nhanh chóng trở về thời hiện đại là điều tốt.

“Ngài Johnson…” Juan biết tà thần lúc nào cũng để ý đến mình nên trực tiếp giơ cao tay chuẩn bị gọi người.

Ngay vào lúc này, trước mắt anh bỗng tối sầm lại, không khí trở nên lạnh lẽo. Bên tai vang lên những âm thanh kỳ dị, nghe như thể máu thịt của chính mình đang bị nhai nuốt một cách tàn nhẫn. Cơn đau dữ dội truyền từ bộ não nhắc nhở Juan rằng chính tinh thần của anh cũng có thể đang bị nhai. Vô số ảo ảnh méo mó ùa vào trí nhớ của anh, mỗi khuôn mặt quen thuộc… Những ảo ảnh này cười rồi lại cười, mặt chúng đột nhiên rơi vụn lả tả như bùn khô, từng vết nứt xuất hiện, nhãn cầu biến dạng và hàm răng sắc nhọn lộ ra từ bên trong. Chúng vây quanh Juan, dang rộng cánh tay như muốn xẻ anh ra để ăn thịt.

Juan không bỏ chạy, cũng không nhặt vũ khí lên tấn công lung tung. Anh dùng hết sức nhặt chiếc ba lô lên, chụp nó lên đầu, rồi hít thở nặng nề bên trong. Đây là lựa chọn đúng đắn. Bởi sự hoảng loạn có thể khiến con người thở gấp, nhanh chóng rơi vào trạng thái say oxy, làm tăng thêm gánh nặng cho não và dẫn đến ngất xỉu.

Đầu của Juan ngày càng đau hơn, anh nhận ra rằng mình có thể đã gặp phải kẻ thù của Johnson. Anh lại càng không dám mở chiếc ba lô che đầu ra, chỉ có thể tuyệt vọng kìm nén cơn đau, phớt lờ những ảo ảnh xung quanh mình, lần mò theo mấy cái thùng rồi trèo xuống.

Phía trên anh, Thảm Bay Cochro tăng tốc độ cuộn và quạt của cơ thể.

Ảo ảnh mà Juan nhìn thấy trở nên đáng sợ hơn. Tiến sĩ Marat biến thành con quái vật có năm chân, mặt Nick da đen thì mọc đầy mắt, còn gia đình và bạn bè của Juan… Họ kêu la đau đớn, vung vẩy tứ chi như thể đang cầu cứu hoặc đang khóc lóc, người bình thường không thể chống cự loại âm thanh này, cũng không thể tỉnh táo đối mặt với ảo giác đáng sợ này.

Vậy còn Juan thì sao? Juan bò rất vững vàng. Nếu không đau đầu, anh còn có thể di chuyển nhanh hơn một chút.

Thảm Bay: “…”

Johnson và Gymir vừa đuổi đến hiện trường: “…”

“Chúng mày thực sự rất may mắn, khi tìm thấy một con kiến bền chắc thế này.” Cochro nói một cách u ám.

Lần này là ngôn ngữ của tà thần, Juan hoàn toàn không chịu được nữa, anh ôm đầu lăn xuống đất.

“Tao biết chúng mày đã bỏ thứ gì đó lên người nó, để giúp nó quay trở lại thời gian và không gian ban đầu.” Thảm Bay chế nhạo, làn sương đen mà gã quạt ra hoàn toàn bao trùm Juan, ngày càng trở nên nặng nề.

Johnson tiến lên một bước rồi dừng lại.

Cochro cười nói: “Tốt lắm, ngươi đã hoàn toàn nhìn ra ý đồ của ta, ta muốn ném con người này vào khe nứt, sau đó theo nó quay về thời gian ban đầu… Điều này đối với ta không khó, ta chỉ không xác định được thời gian, bị ràng buộc bởi thời gian ở đây, chỉ cần ra khỏi đây, ta có thể dùng năng lực của mình để tìm ra con đường chính xác… Ta nên cảm ơn ngươi vì đã chịu khó giúp ta tìm được một thứ dẫn đường tốt như vậy.”

Johnson nhìn thoáng qua Juan run rẩy toàn thân, vô cảm nói: “Ngươi cảm thấy việc này có thể thành công sao?”

Thảm Bay cuốn lấy Juan bằng sương đen, định nhét vào khe nứt.

Lúc này, bóng dáng của Juan chợt vặn vẹo rồi biến mất tại chỗ.

Cochro bắt hụt, gầm lên giận dữ. Những hoa văn có màu sắc kỳ dị trên lưng Thảm Bay đột nhiên chĩa vào Johnson, hình thành từng con mắt mở to nhìn chằm chằm vào Johnson, gã hỏi: “Ngươi đã làm gì?”

Johnson thực sự có sợ thần cổ xưa, nhưng ở đây y không cần phải sợ một Cochro bị hạn chế sức mạnh, thậm chí có thể nhìn thẳng vào thần cổ xưa đang tức giận.

“Tại sao lại giận?” Johnson giữ vẻ mặt bình tĩnh, xòe tay ra mà nói: “Không phải chính ngươi đã nói là cảm ơn con kiến ngoan cường này sao?”

Thảm Bay: “…”

Gymir khoanh tay, môi cong lên thành một góc độ vui vẻ: “Mày lo sẽ g**t ch*t con người mong manh này nên mới mượn ảo ảnh của Bướm Xám để dụ dỗ hắn đi vào vết nứt, nhưng hắn thể hiện khả năng phản kháng mạnh mẽ, không bị ảo ảnh ảnh hưởng, thế là mày tăng sức mạnh, còn nói chuyện bên cạnh hắn nữa… Ha, mày cho rằng hắn cũng có thể chống lại, phải không?”

Nhưng thực tế lại là không thể.

Juan chỉ có khả năng chống lại ảo ảnh rất tốt, đó là vì anh được huấn luyện trong giấc mơ. Giấc mơ đáng sợ nhất mà Hans có thể nghĩ ra là gì? Gymir và Johnson biết, chẳng phải là Sự kiện sương khói khổng lồ ở Luân Đôn đó sao! Bướm Xám? Ảo ảnh? Sau khi trải qua vô số giấc mơ có thể làm mình chết, Juan có sợ hãi cảnh tượng này không?

Nhưng Cochro đã lầm tưởng rằng Juan là một con kiến rất ngoan cường, thế nhưng Juan không có khả năng chống lại sức mạnh tà ác bên ngoài ảo ảnh! Sau khi cầm cự chưa đầy nửa phút, hàng rào bảo vệ “nguy hiểm đến tính mạng” được kích hoạt, anh lập tức quay trở lại năm 1959. Cochro không có cơ hội nhét người vào trong kẽ hở.

“Vậy sao? Tao còn có một cách khác, là hủy diệt hoàn toàn khe hở thời gian này.” Thảm Bay gầm lên giận dữ: “Nếu tao không thể rời đi, thì chúng mày cứ cùng tao đi lạc mãi mãi đi!”

Cochro va mạnh vào rìa của vết nứt tử thần giữa không trung, khiến vết nứt mở rộng thêm ra. Johnson vội vàng giải phóng sức mạnh, nhưng đã muộn một bước.

Mặt đất rung chuyển nhẹ.

Đầu tiên là đất cát, sau đó là mái nhà vỡ vụn, cuối cùng là cây cối rung chuyển dữ dội.

Thế giới như một tờ giấy mỏng, ban đầu bị dốc sức vò nát, sau đó bị vết nứt đen tối khủng khiếp kia nuốt chửng từng chút một.
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 86


<b>Chương 86</b>

<b>Cuộc hỗn chiến</b>

Khe hở thời gian bình yên cũng như một khu nghỉ dưỡng.

Nó là một thế giới khiến các nhà khảo cổ học loài người phải ngây ngất.

Nó là một miếng bánh ngọt thơm ngon đã được bẻ ra từ lịch sử, vẫn giữ nguyên được hương vị ban đầu, đứng yên mãi không thay đổi.

Khi cân bằng mất đi, miếng bánh ngọt sẽ rơi xuống cống. Nó sẽ bị đủ thứ mùi phức tạp khó ngửi xâm chiếm, bị các loại rác rưởi nuốt chửng, không ngừng trộn lẫn cho đến khi hoàn toàn vỡ nát, mất đi hình dáng ban đầu.

Juan sẽ không trải qua quá trình này, anh đã quay về năm 1959 từ sớm bằng la bàn, Johnson thì lại không có được may mắn đó. Ngay cả tà thần cũng không thể chịu nổi cái “cống thoát nước” điên đảo và hỗn loạn trước mặt.

“Đây là đường hầm thời gian?” Dây leo quấn chặt quanh Đá ngầm quái quỷ.

Xung quanh là một khung cảnh hỗn loạn không thể miêu tả. Ở đây có hàng chục triệu mùi hương khác nhau, vì quá nhiều và quá phức tạp nên trộn lẫn với nhau lại thành mùi hôi thối. Có rất nhiều âm thanh, rất nhiều hình ảnh… Chúng lao ra từ các con đường khác nhau như nước chảy, tụ lại thành một hình ảnh vỡ vụn và vặn vẹo, kèm theo tiếng thì thầm đáng sợ. Cuối cùng là sự chồng chất của nhiều màu sắc khác nhau, không phải màu đen mà là màu trắng thuần. Ánh sáng trắng chói lóa lấp đầy “ống cống” này. Nó không có nguồn gốc, không có kết thúc.

Gymir giải thích: “Không có cách gọi là đường hầm thời gian, đây là nơi nằm ngoài trật tự thời gian bình thường. Em thấy đấy, phải có một nơi để chứa rác như vậy, để cho trật tự thời gian có thể vứt bỏ những thứ không nên tồn tại, rồi tự động sửa chữa lại.”

“Chúng ta là rác rưởi sao?” Johnson hỏi theo bản năng.

“Ờ, vào thời đại năm 1692 thì đúng vậy.” Gymir rất bất lực, đây cũng là lý do khiến họ không thể chống lại đòn tấn công của Cochro.

Đá ngầm quái quỷ thể hiện hình dạng lớn nhất của mình, sử dụng những phần nhô ra như xương hóa thạch trên cơ thể cố gắng đập vào bốn bức tường của lối đi này liên tục, tìm kiếm một vết nứt để trở lại khoảng thời gian bình thường. Nhưng cái cống khổng lồ này quá trơn, không có nơi nào để mượn sức.

“Khoan đã, đó là cái gì…” Quả cầu dây leo bùng nổ, những xúc tu mảnh khảnh chĩa vào một cái bóng ở phía xa.

Giống như có một tấm gương trước mặt, cái bóng đó chính là bản thể của Johnson và Gymir đang quấn chặt lấy nhau. Sự khác biệt là cả hai đang rơi xuống, trong khi các mảnh vỡ dường như đang bay lên trên.

“Đây là ảo ảnh xuất hiện khi dừng lại quá lâu.” Gymir giữ những xúc tu của dây leo lại, an ủi: “Lát nữa còn thấy được những cái bay chéo, rồi bay lùi nữa kìa, bởi vì ở đây không có khái niệm thời gian và không gian, phương hướng trong cảm giác không phải là phương hướng, không có con đường chính xác để đi.”

Johnson chợt nhìn thấy bóng dáng của Thảm Bay Cochro vụt ngang qua trước mặt mình.

Gymir theo bản năng biến ra một cây roi bóng tối, quất mạnh vào cơ thể Thảm Bay. Ảo ảnh tan vỡ. Cùng lúc đó, Đá ngầm quái quỷ ở hướng khác cũng làm động tác quất giống hệt, nhưng ở đó không có Cochro nên trông rất ngớ ngẩn.

Tiếp theo, Johnson liên tục bắt gặp Đá ngầm quái quỷ vung roi bóng tối ở nhiều góc độ và hướng khác nhau, tất cả đều đội một quả cầu dây leo màu đen trên đầu.

Bị buộc phải thưởng thức, Johnson: “…” So với Gymir, trông bản thân y còn ngốc nghếch hơn.

Gymir: “Khụ, tóm lại đây là loại phản ứng dây chuyền, không nên làm như vậy. Chủ yếu là… khi nhìn thấy Cochro, ta lại không nhịn được muốn đánh nó!”

Quả cầu dây leo quyết định giữ im lặng. Nơi chết tiệt này khiến Johnson đau đầu, y siết chặt lấy đá ngầm, rồi đóng kín một phần giác quan của mình.

“Bây giờ phải làm sao?” Johnson hỏi người yêu lớn tuổi của mình. Suy cho cùng, thần cổ xưa sống lâu và biết nhiều điều hơn y.

Ai ngờ Gymir lại trả lời: “Cách an toàn nhất là thả rơi như thế này, thử vận may, rồi sẽ đến lúc gặp được một khe hở thời gian đang mở.”

“…” Johnson cảm thấy những nghi ngờ của mình sắp thành hiện thực, tại sao y lại thấy thần cổ xưa đáng sợ nhỉ? Chỉ vì thần cổ xưa có tuổi thọ cao hơn, ngủ lâu hơn y à? Chờ đến khi sống được hàng chục ngàn hay hàng trăm ngàn năm, liệu y có mạnh hơn những vị thần cổ xưa này không?

Quả cầu dây leo chán ghét vỗ vỗ Đá ngầm quái quỷ, rồi lại cảm thấy người Gymir đặc biệt ấm áp dễ chịu, bèn rút xúc tu lại nằm xuống.

“Anh đã lấy lại được sức mạnh chưa?” Johnson do dự hỏi.

“Rồi, nơi này nằm ngoài trật tự thời gian nên sức mạnh không bị hạn chế.” Gymir xoa xoa những dây leo cuộn tròn.

Johnson nhận ra ý đồ của hắn, lòng tràn đầy nghi hoặc: “Anh muốn dung hợp?”

“Như vậy thì sẽ khó bị chia tách, bằng không chúng ta không cách nào khống chế trạng thái của chúng ta khi bị vết nứt cuốn đi, lỡ như em rơi vào thời cổ đại, ta rơi vào tương lai thì sao? Hiện tại, hơi thở đồng bộ chung trong cơ thể chúng ta đã suy giảm, cần phải được tăng cường.”

Johnson không muốn đồng ý, nhưng những gì Gymir nói có lý.

Năm trong số tám nhánh chính của dây leo vốn đã quấn lấy đá ngầm, chỉ còn lại ba nhánh cuộn chính mình lại thành một cục.

Có thứ chất lỏng nóng rực chảy trong rãnh nứt của đá ngầm mang hình dạng quái dị, nó giống như dung nham, như những mạch máu nổi bật. Khi chủ thể cảm thấy hưng phấn, chúng sẽ lồi lên rất rõ ràng, như những sợi xích màu đỏ như máu xuyên qua xương của các sinh vật thời tiền sử, xoắn chúng lại với nhau; lại như dòng sông máu dưới địa ngục trong truyền thuyết, tẩy rửa những mảnh xương hóa thạch, ghép lại thành một khung cảnh kinh hoàng có thể khiến con người gục ngã.

Các xúc tu ở cuối dây leo vô thức theo chân các “mạch máu”, nhúc nhích về phía trước.

“…Em đang hiểu được hình thái bản thể của anh?” Johnson ngạc nhiên hỏi. Mặc dù y biết rõ về Gymir, quen thuộc với mọi bộ phận của Gymir, nhưng những “nguyên tắc” liên quan đến bản thân sức mạnh lại nằm ngoài tầm hiểu biết của Johnson.

Nó giống như một cuốn sách đặt trước mặt, tiết lộ mọi bí mật. Cuốn sách đã được mở khóa, ta biết từng chữ. Nhưng có một số đoạn ta lại không thể hiểu được, nếu nhất quyết đọc chúng, ta chỉ có thể cố mà đọc lên ý nghĩa trên mặt chữ, chứ không hiểu được hàm ý thực sự.

Bây giờ một điều bất ngờ đã xảy ra.

“Thời gian làm gián đoạn suy nghĩ của em, mang lại một số lợi ích… Em đang nhìn vào những năm ta đã sống, ta được sinh ra như thế nào…”

Đá ngầm quái quỷ dẫn dây leo chậm rãi bò qua, như quấn quanh một v*t c*ng hung ác đầy những gân xanh và mạch máu. Tảng đá cứng chắc này được tạo thành từ vô số xương của các sinh vật thời tiền sử.

“Giống như em thích thuyền gỗ, đây là bộ sưu tập mà ta ưa thích trước khi sinh ra trí tuệ… Chúng vô tình rơi vào khe hở bên ngoài thời gian, sức mạnh dồi dào của sự sống bị ô nhiễm biến dạng thành những tồn tại kỳ lạ, bị ta hấp thụ toàn bộ, trở thành một phần của ta. Vì thế ta luôn ưa thích tiếng kêu của lũ kiến trên hành tinh này, dù là khi còn sống hay sau khi đã chết rất lâu.”

Vùng màu đỏ rực trên bề mặt cơ thể Đá ngầm quái quỷ ngày càng rộng hơn, xương của những sinh vật đó dường như đã chìm vào dung nham, biến mất không dấu vết. Những dây leo đen vô thức lan ra dọc theo màu đỏ rực, tốc độ nhanh đến nỗi hạt nhân hình cầu vỡ ra trong giây lát. Đá ngầm đỏ rực cụng vào phần trước hạt nhân dây leo, hơi khựng lại.

“Vậy nên đừng lo, không có đồng loại nào trên hành tinh này biết rõ nơi này hơn ta đâu, nơi ta sinh ra là một vết nứt không bao giờ lành lại, khe hở thời gian đã mang đến cho ta rất nhiều thức ăn, cũng là nơi thôi thúc ta ra đời…”

Những sợi dây leo chợt bung ra, quấn quanh đá ngầm chỉ cọ xát những hạt vàng ở mép, chứ không chịu chạm vào nh** h**.

Johnson rầu rĩ nói: “Anh lừa em.”

“Hửm?”

“Cái gì mà tránh bị chia tách, cái gì mà đồng bộ sức mạnh chứ…” Thực ra chỉ là lợi dụng để ăn h**p y mà thôi!

“Sao lại thế được?” Giọng nói ngọt ngào tuyệt diệu hóa thành lời thì thầm khủng khiếp: “Em quên Cochro nói gì rồi sao, sức mạnh của em sẽ chồng thêm vào của ta làm tăng thêm hiệu quả <i>đình trệ thời gian</i>? Trong thế giới chân thực, thứ hiệu quả này không phải rất rõ ràng, nhưng ở đây lại khác… Cảm nhận thời gian trôi nhanh đến mức nào sẽ giúp chúng ta tìm được một nơi khác giống như Port Royal, sau đó chúng ta có thể tìm ra một thám tử tiếp theo, lần này không bị Cochro quấy rối nữa chứ!”

Lúc này, không gian đột nhiên rung chuyển kịch liệt.

Dây leo giật mình, một phần nhỏ tuột ra ngoài. Johnson mở các giác quan đang khép kín của mình, chợt nhìn thấy bóng dáng đang gào thét của Thảm Bay Cochro.

“…Ồ, nó đang nhìn thấy nhiều chúng ta ở trong những thời điểm khác nhau, sức mạnh của nó còn có thể phát hiện ra rằng chúng ta đang tìm kiếm một lối thoát.” Gymir liếc Thảm Bay một cái, lần này không còn hứng thú đánh gã.

Đá ngầm lại khảm sâu vào nh** h** rau câu.

Những dây leo hoảng loạn vươn những xúc tu ra gần như bao phủ toàn bộ đá ngầm, không nhìn thấy gì nữa.

“Thôi được, thực sự không nên để Cochro nhìn thấy.” Bóng tối lại bao phủ thêm một tầng bên ngoài dây leo, biến Gymir và Johnson thành một khối vật thể đen không thể phân biệt được.

Thế này là an toàn? Không k*ch th*ch Cochro nữa à?

Đời nào lại thế được. Cái cống này màu trắng, tràn ngập ánh sáng trắng chói mắt. Có một cái bóng không thể miêu tả như vậy để lại vô số ảo ảnh, nó bay ngang, bay dọc, bay khắp bốn phương tám hướng…

Thảm Bay gầm lên giận dữ, gã nuốt chửng cả Bướm Xám.

Đương nhiên là Bướm Xám phản kháng lại, ai thích đi làm đồ ăn của kẻ khác chứ?

“Trận chiến” giữa bốn tà thần làm rung chuyển cả đường cống.

Tuy nhiên, đường cống chứa rác thải dư thừa của tất cả các dòng thời gian trên trái đất tạo ra rất vững chắc, còn biết tự động sửa chữa, không thể tháo dỡ được mà chỉ trở nên hỗn loạn hơn.

Dần dần, những âm thanh khủng khiếp phát ra từ đây bắt đầu lan sang các khu vực khác.

***

Hans đột nhiên ngồi bật dậy khỏi giường.

Vốn dĩ ông định đợi Juan trong giấc mơ để hỏi thăm kết quả. Ông đứng trong tháp chuông của Luân Đôn, chợt nhìn thấy cả bầu trời sụp đổ, giấc mơ bắt đầu rơi xuống vực thẳm vô định…

Hans ngay lập tức phá vỡ giấc mơ, buộc mình phải tỉnh dậy. Trước khi vùng đất trong mơ của chính mình bị sức mạnh tà ác nuốt chửng, ông vẫn được an toàn tuyệt đối, hiện tại chỉ hơi sợ hãi thôi.

“Thuyền trưởng, thế nào rồi?”

“Tôi không sao, nhưng mà… có chuyện rồi.”

“Gì chứ?” Học giả huyền bí học trong đội ngơ ngác nhìn Hans.

Hans vội vàng mặc quần áo, ông phải vào thị trấn gần đó để gọi điện đường dài cho John ở nước Anh.

“Những ngày này không ai được phép ngủ! Ít nhất là không phải hôm nay!” Hans cảnh báo đồng đội của mình. Nhìn thấy vẻ mặt bối rối của mọi người, Hans giải thích: “Giấc mơ của tôi vừa bị một giấc mơ lớn hơn đụng vỡ tan, tôi chỉ nhìn thoáng qua một chút, khẳng định đó có thể là cõi mộng của tà thần hoặc của quyến thuộc tà thần, chỉ có những giấc mơ đáng sợ và kỳ quái đó mới có thể trong chốc lát xé nát những giấc mơ khác và nuốt chửng chúng…”

Cõi mộng giống như một hoang mạc giả tưởng rộng lớn, với vô số giấc mơ trôi nổi trong đó, không liên quan gì đến nhau. Giấc mơ của con người giống như hạt cát, giấc mơ của tà thần là ảo ảnh vô cùng ngoạn mục. Thông thường con người bị những cơn gió mạnh cuốn đi, lạc vào những ảo ảnh tráng lệ và đáng sợ đó, rồi phát điên.

Hans là nhà trị liệu giấc mơ, ông rất chú trọng đến “an toàn giao thông”, nhưng bây giờ một “tai nạn giao thông” vẫn xảy ra, chứng tỏ thứ mất kiểm soát hoàn toàn không phải giấc mơ của ông mà là những ảo ảnh đó.

“Có người quấy rối tà thần đang say ngủ, hoặc sức mạnh nào đó đang tràn ra, càn quét qua cõi mộng.”

Hans vô cùng lo lắng, ông nghi ngờ chuyện này có liên quan đến thân chủ của Juan.
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 87


<b>Chương 87</b>

<b>Thế giới trong mơ bí ẩn</b>

Những xúc tu sức mạnh vô hình vươn ra bên ngoài.

Các tà thần bị quấy rầy, thi nhau tìm kiếm nguồn gốc gây ra chấn động trong giấc mơ của mình. Lúc này, những con người ở quá gần thế giới giấc mơ sâu thẳm này như Hans đã bị quét sạch bởi “tai nạn giao thông” trước đó.

Các xúc tu sức mạnh trao đổi thông tin một cách chậm rãi. Những tiếng lảm nhảm mơ hồ, những lời thì thầm kỳ lạ… Các tà thần rút một phần ý thức ra khỏi trạng thái ngủ say, trôi ra ngoài, đi lang thang trước “xe” của mình.

Những ảo ảnh với nhiều phong cách khác nhau bắt đầu ổn định cấu trúc của chúng, như đang dừng xe để bảo trì. Một số đã gặp “tai nạn”, cần phải lùi lại khỏi những ảo ảnh đã tan vỡ khác. Trong quá trình này, ý thức của tà thần nảy sinh “giao thoa” như một phần tất yếu, buộc phải tham gia vào hoạt động giao lưu. Một số thì chửi bới nhau, đổ lỗi cho bên kia cản đường. Cũng có vài tà thần chỉ đơn giản là bóp nát giấc mơ của mình, ra sức ném mạnh vào ảo ảnh của đối thủ, miễn sao là đối thủ tổn bị thất lớn hơn mình. Đánh nhau thì cũng không nghiêm trọng, đây là giấc mơ thôi, ý thức cãi vã chỉ là một phần nhỏ của bản thể.

Một số tà thần quen biết đồng loại đã đụng vào mình, hận cũ thù mới cùng nhau bùng phát, những tà thần khác ở bên cạnh cũng không thể can ngăn được. Tà thần không có thói quen can ngăn đánh nhau, chẳng qua phải can là vì có nhiều “chiếc xe” va chạm với nhau. Phần đầu xe A c*m v** vào đuôi xe B, nóc xe B lại húc lên gầm xe C, C và A lại bị treo cùng nhau, mà D thì kẹt một cái bánh xe trên thân B… Tóm lại là rối tung hết cả lên. Muốn tháo cái vòng liên hoàn này thì phải hợp tác với nhau. Thế nhưng hai chủ xe trong khu vực trung tâm lại có mối thù cũ với nhau, không chịu di chuyển xe cho đàng hoàng, nhất quyết phải cãi nhau.

Bản thể vẫn còn trong giấc mơ cũng giống như chủ xe vẫn còn ở trong xe, một ngày không rời đi kịp thời thì sẽ phải chịu đựng mùi của đồng loại xa lạ ở cự ly gần. Điều này khiến tà thần rất không hài lòng. Để xóa sạch dấu vết đồng loại để lại, tà thần đã không ngần ngại lựa chọn “phá bỏ” phần giấc mơ bị nhiễm mùi, rồi từ từ khôi phục lại. Tuy nhiên, nếu mức độ tai nạn quá nghiêm trọng, lực va đập quá nặng, diện tích phần dính vào nhau quá lớn thì vẫn cần phải di chuyển nó trước. Suy cho cùng, nếu chỉ có lớp ngoài bị nhiễm mùi, bóc ra thì lớp bên trong vẫn có thể giữ lại, nếu tất cả đều tan thành từng mảnh, một phần ba hoặc thậm chí một nửa giấc mơ sẽ mất đi, chiếc xe sẽ không còn nữa… thì tà thần còn ngủ thế nào được?

Thế giới giấc mơ sâu thẳm của tồn tại huyền bí đang hỗn loạn. Cãi nhau chỗ này, đánh nhau chỗ kia.

Điều vô lý nhất cũng xảy ra, có hai tà thần nọ im lặng nhìn ảo ảnh va chạm vào nhau, không những không lùi ra mà còn vươn ra thêm nhiều xúc tu sức mạnh hơn, thử “nắm tay nhau”, rồi phát hiện ra đồng loại xa lạ này bẩm sinh đã tương thích với sức mạnh của mình, có thể làm đồng minh với nhau. Thế là họ dứt khoát duy trì trạng thái này, bắt đầu giao lưu bằng hóa thân được tách ra. Kết quả của cuộc trò chuyện sẽ quyết định mối quan hệ mà họ tạo dựng thuộc loại nào, đồng minh tạm thời hay hỗ trợ lẫn nhau lâu dài, khi nào mới gặp nhau ngoài đời, liệu có nên sinh con không… Có thể nói, toàn bộ quá trình từ hẹn hò đến kết hôn đều được hoàn tất ngay tại hiện trường vụ tai nạn.

Các tà thần bận rộn giải quyết vụ tai nạn cũng không quên tìm ra kẻ đầu sỏ gây chuyện.

“Là Tonatiuh?”

Thần Mặt trời Tonatiuh thực sự là kẻ tai tiếng. Mỗi khi có chuyện chẳng lành xảy ra, kẻ đầu tiên mà các tà thần nghĩ đến chính là nó. Dù sao đây cũng là cõi mộng hư vô, nếu Tonatiuh xuất hiện tấn công đồng loại thì trong một giây họ sẽ tỉnh lại, không cần phải sợ hãi.

“Không phải thần Mặt trời.”

“Kỳ quái nhỉ, Tonatiuh hiển nhiên cũng đang ngủ, sao nó không có ở đây? Nó không có nằm mơ?”

Ngay cả tà thần không có khả năng suy nghĩ vẫn có thể mơ. Những ai không thể mơ thì chỉ có tà thần không mọc não, thần Mặt trời chắc chắn không phải như vậy.

Lúc này chỉ toàn là thần cổ xưa trao đổi, các tà thần trẻ tuổi rất tự giác giữ im lặng, họ không tuân theo trật tự mà là kính sợ một sức mạnh lớn hơn mình.

“Không biết, ai thèm để ý tới chuyện của Tonatiuh?”

“Có lẽ không phải ở trái đất?”

“Vậy thì nó cũng sẽ xuất hiện chứ, không phải Kukulkan ở đây sao?”

Thần Rắn lông vũ bị nhắc tên kêu lên một tiếng giận dữ, ảo ảnh (xe) của nó thoáng cái đã bị giông bão bao bọc.

Cõi mộng im lặng một lát, rồi các thần cổ xưa bật cười không thèm nể nang gì. Thần Rắn lông vũ cho rằng mình ngủ trên mặt trăng là một chuyện rất bí mật, thực ra, trong mắt thần cổ xưa, đó không phải là bí mật gì cả, chỉ cần đoán thôi cũng biết rồi.

“Mặt trăng ở gần trái đất như vậy, quả thực không thể dùng làm bằng chứng được… biết đâu Tonatiuh chạy tới mặt trời để ngủ rồi?”

“Hay là nó đã tỉnh rồi.”

“Đừng nói chuyện khủng khiếp như vậy!”

Các thần cổ xưa thể hiện cảm xúc mãnh liệt, họ không muốn nhìn thấy một thần Mặt trời điên khùng đứng trước giường mình, đang ngủ ngon lành, ai muốn tỉnh dậy bỏ chạy chứ?

Một chấn động mạnh khác lại đến. Vô số xúc lực lực mạnh đồng thời vươn ra, tóm lấy chút hơi thở còn sót lại.

“Là khe hở thời gian…”

“Sức mạnh thật mạnh mẽ, đã lan tràn đến tất cả không gian bên ngoài trật tự.”

Cho nên cõi mộng là thứ gặp xui xẻo trước tiên, vì nơi đây không có trật tự nào cả, lại có không gian vô tận. Thần cổ xưa còn khá bình tĩnh, các tà thần mới sinh thi nhau điều khiển giấc mơ của mình để tránh dư âm của cú va chạm.

Sau một loạt lời lẩm bẩm kỳ dị, thần cổ xưa đưa ra câu trả lời sau khi trao đổi ý kiến.

“Có thần cổ xưa rơi vào bãi rác ngoài trật tự thời gian.”

Dù là ai cũng sẽ bị lạc nếu đi vào cái cống đó. Là bị lạc chứ không phải chết. Ngoại trừ việc đồng loại giết hại và nuốt chửng lẫn nhau, không có yếu tố nào khác có thể dẫn đến cái chết của tà thần. Vài tà thần trong cõi mộng cũng từng vào khe hở thời gian, nhưng chưa từng vào cái cống kia, đây là một tình huống chưa từng có, nên không thể thảo luận ra kết quả gì được.

“Có phải là Tonatiuh không?”

Thần Mặt trời lại bị lôi ra.

Thần cổ xưa đưa ra suy đoán này tự tin nói: “Tao vừa đếm xong, ngoại trừ Tonatiuh, tất cả các loại đồng khác đều ở đây.”

Đồng loại mà thần cổ xưa nói tất nhiên cũng là thần cổ xưa.

Cảnh tượng ảo ảnh của Thần Rắn lông vũ Kukulkan là một cao nguyên bị bao phủ bởi mưa lớn, sấm sét liên tục lóe lên trên bầu trời. Thân hình khổng lồ của thần Rắn lông vũ nằm bên trên đó, nó không phải là một con rắn lớn như con người tưởng tượng, cơ thể của nó giống như một đám mây đen phát sáng hơn, thứ được gọi là thân rắn thực chất là một cái cột sống có thể tùy ý vặn vẹo. Kukulkan rất thích thú với suy đoán thần Mặt trời rơi vào bãi rác của thời gian, liên tục phát ra những tiếng cười ghê rợn.

“…Không phải thần Mặt trời, mùi này không giống!” Thần cổ xưa vừa lên tiếng phớt lờ sự tức giận của Kukulkan, nói một cách chậm rãi: “Hình như tao từng gặp nó, nhưng không thể nhớ ra được.”

“Chờ đã, tao bắt được một mùi khác, hình như là Cochro?”

“Cái gì?”

Cái tên tai họa chỉ đứng sau thần Mặt trời lại khiến các thần cổ xưa lần nữa phải thốt lên kinh hãi.

Mặc dù tà thần mới sinh ra còn bối rối nhưng cũng không lên tiếng, chẳng bao lâu sau họ đã được “biết đến” thành tựu to lớn của Cochro thông qua xúc tu sức mạnh mà các thần cổ xưa chủ động chia sẻ. Cái thứ đồng loại này rơi vào bãi rác của thời gian thì quả là tuyệt vời. Nếu phải thêm thời hạn cho trạng thái này, họ hy vọng tốt nhất là Cochro sẽ lạc lối ở đó cho đến ngày trái đất bị hủy diệt.

Các tà thần buộc phải bắt đầu thảo luận về khả năng thoát ra khỏi cái cống trong bãi rác đó.

“Sức mạnh tuyệt đối có thể phá vỡ hoặc vượt qua mọi trở ngại, nhưng đồng loại mạnh mẽ như vậy chưa bao giờ được sinh ra trên trái đất, chúng ta cũng chưa từng gặp ai cả.”

“Nếu sức mạnh của hai vị thần cổ xưa kết hợp lại thì sao?”

“Không thể nào…đợi đã, nếu sức mạnh của họ kết hợp lại, họ có thể tạo ra một sức mạnh lớn hơn cả hai tà thần cộng lại…”

Các thần cổ xưa chìm vào im lặng, suy cho cùng thì họ đã tận mắt chứng kiến hai tà thần không đáng chú ý hợp nhất thành thần Mặt trời Tonatiuh. Vấn đề bây giờ là liệu có tà thần nào đồng ý với “yêu cầu hợp thể” của Cochro hay không?

“Đó chính là cái cống của thời gian! Là nơi mà bản thể rơi vào thì rất khó thoát ra!”

Mặc dù không chết, nhưng sẽ rất nhàm chán và ngột ngạt. Chỉ khi hành tinh này biến mất, dòng thời gian bị phá hủy hoàn toàn thì mới có thể đạt được tự do. Lỡ như tà thần bị mắc kẹt kia tin vào lời ngon tiếng ngọt của Cochro thì sao?

“…Sao tao cứ cảm thấy như là Cochro cố tình rơi vào chỗ đó để dụ dỗ một đồng loại?”

“Không có đâu, cái giá quá cao, đối phương thà chết không đồng ý thì thế nào?”

“Có lẽ đây là hậu quả của việc không đồng ý?”

Các thần cổ xưa lại im lặng, đồng thời còn nảy sinh lòng tò mò hiếm có, họ háo hức muốn biết tại sao cuộc chiến này lại bắt đầu, bắt đầu như thế nào, thế cục hiện tại diễn ra ở mức độ nào.

“Mày nói cũng không đúng, Cochro không hề phù hợp với chúng ta, nó đã thử nhiều phương pháp khác nhau để sinh ra hậu duệ, kết quả chỉ có một bầy quyến thuộc tạm chấp nhận được thôi… thậm chí không có một hậu duệ nào đạt tiêu chuẩn đồng loại cả! Bởi vì nó thấy trên trái đất không có đồng minh nào phù hợp nên quyết định ra đi… Giờ nó lại chạy về trái đất, đây là điều kỳ lạ nhất phải không…”

Những tiếng xì xào đứt quãng truyền đạt sự nghi ngờ của tà thần.

Cuối cùng có một vị thần cổ xưa nào đó đã nghĩ ra cách, tạm thời hợp nhất sức mạnh của tất cả tà thần, lần theo dư âm của chấn động để gửi nó vào đường cống thời gian, tạo ra một hình chiếu giả tạm thời để xem điều gì đang thực sự xảy ra ở đó.

“Dù sao thì chúng mày cũng không muốn giữ lại phần vừa bị đập vỡ, hãy tận dụng giá trị còn lại của nó đi!”

Ngoại trừ hai tà thần muốn lập giao ước ngay tại chỗ, các tà thần còn lại không chút do dự giao ra mảnh vỡ ảo ảnh.

***

Xúc tu sức mạnh biến thành vô số ảo ảnh, đồng thời xuất hiện khắp bốn phương.

“Có thứ gì đó lọt vào đây!”

Gymir là người đầu tiên nhận thấy điều gì đó kỳ lạ, hắn kể lại tình hình bên ngoài cho Johnson không thể nhìn thấy gì.

Cochro vừa điên cuồng ngấu nghiến Bướm Xám, vừa không ngừng đập nát tàn dư ảo ảnh màu đen cực kỳ chướng mắt của Gymir và Johnson đang ôm cứng lấy nhau, diệt được mười cái thì lại có trăm cái khác xuất hiện, gã hạ quyết tâm dù có diệt hết cả trăm cái cũng phải tìm ra người thật. Vì vậy Cochro đã phát hiện ra ảo ảnh sức mạnh của các tà thần khác ngay khi chúng xuất hiện.

“Kukulkan, Anubis, Typhon, Behemoth…” Thảm Bay gọi tên đám bạn cũ này một cách hằn học. Không cần hỏi, Cochro cũng biết những kẻ này đến đây để xem trò vui.

Gymir rút lại một phần bóng đen che phủ dây leo và đá ngầm, như mở một cửa sổ nhỏ. Qua cửa sổ, Johnson nhìn thấy hết hình chiếu này đến hình chiếu khác xuất hiện trong con đường này.

Những hình chiếu này không phải là bản thể của thần cổ xưa, mà là dáng vẻ chúng được con người ca ngợi và miêu tả. Bởi vì thứ thức tỉnh lúc này chính là hóa thân hướng ngoại nhất trong ý thức của họ, cũng là hóa thân giao tiếp với con người nhiều nhất. Rắn khổng lồ nhiều cánh, người đàn ông có đầu chó rừng, một con quái vật có vô số đầu, quái thú khổng lồ có răng nanh và khoác lông thú dày trên người…

Trên thực tế, có nhiều bóng mờ hơn nữa, nhưng hình dáng không lớn và rõ nét như bốn vị thần cổ xưa nên Johnson bỏ qua.

“Cái này coi như đạt được mục đích của chúng ta sao?” Johnson đơ ra nhìn.

Mục tiêu ban đầu là tìm ra một thám tử, mục tiêu trung hạn là truyền bá tin tức, mục tiêu cuối cùng là thoát khỏi khe hở thời gian. Kết quả là thám tử trở về nhà mất rồi, môi trường xuống cấp thành bãi rác nằm ngoài trật tự thời gian, nhưng tin tức đã lan truyền rộng rãi trong thế giới tà thần rồi sao? Sao nhiều thần cổ xưa đến xem tình hình quá vậy?

“Chúng ta làm ầm ĩ như vậy, bọn họ không tỉnh lại mới là lạ.” Thần Biển cười khẩy.

Gymir không muốn phải buông Johnson ra, nên dứt khoát giữ nguyên tư thế này.

Quái vật Typhon với vô số con mắt đã bắt được chính xác hơi thở của Gymir, sau đó từng cái đầu lắc lư: “Thì ra là Gymir! Lỗi của tao, tự nhiên tao quên mất mày.”

“Tao cũng quên.” Quái thú khổng lồ Behemoth nói thẳng thừng.

Thần Rắn lông vũ phì cười.

Còn thần Chết Anubis đang suy nghĩ liệu có thật sự có vị thần cổ xưa tên Gymir hay không.

Johnson cảm thấy Gymir đang trở nên tức giận, lửa giận của hắn nhắm vào Anubis.

“Quên đi, ta không tức giận, một tà thần không bao giờ ra ngoài thì thiếu thường thức là chuyện bình thường.” Gymir lẩm bẩm.

Johnson: “…” Khi mắng người ta, anh không sợ vô tình tổn thương chính mình sao?

Gymir ngại ngùng bổ sung: “Đây chỉ là sức mạnh phóng chiếu, chỉ có thể mắng, không thể đánh trúng được.”

Quái vật Typhon có nhiều đầu đến nỗi không đếm xuể đã hiểu ra rất nhiều điều sau khi nhìn thấy Gymir, những cái đầu của gã bắt đầu thay phiên nhau lên tiếng.

“Thì ra mày để mắt tới Gymir.”

“Rất ít đồng loại biết về Gymir, và thật không may là tao cũng vậy.”

“Thời gian cộng với không gian… mày thật tham lam, Cochro!”

Thảm Bay cười khẩy: “Cái này không phải là tham lam! Muốn có thêm sức mạnh thì có gì sai?”

Một nửa số đầu của Typhon lắc lắc dữ dội, toàn bộ nửa còn lại nghiêng đầu nhìn Cochro: “Vấn đề là mày không thể thành công. Điều đó không phải là hiển nhiên sao?”

Cochro giận đến mức quên mất Bướm Xám trong bụng, khiến cho Bướm Xám giãy thoát được một phần cơ thể.

“Chà, chúng mày thực sự rất hợp nhau.” Quái thú khổng lồ Behemoth nhìn Gymir, rồi lại nhìn Cochro. Mỗi bên ôm một thần mới, sau đó sử dụng các phương pháp khác nhau để hợp nhất, vậy là sao? Cạnh tranh xem ai có thể khai thác sức mạnh thần mới tốt hơn? Nuốt chửng trực tiếp hiệu quả hơn hay giao phối hiệu quả hơn?

“Hợp cái gì? Tao với Cochro không có ăn ý gì sất! Tao đang ôm người yêu… đồng minh của tao, loại vĩnh viễn!” Gymir giận dữ nói.

“Ấy?”

Bốn vị thần cổ xưa đồng loạt nhìn sang Johnson. Nhưng không nhìn thấy, vì Gymir đã kịp thời kéo cái bóng che đi khoảng hở, trở lại thành một vật thể màu đen khó tả.



<i>Người dịch: Nếu xét lý lịch theo thần thoại của con người thì:</i>

<i>Kukulkan mang hình hài của một con rắn. Theo một số giai thoại, vị thần này là một con rắn lông vũ lớn lên trong hang động trước khi nổi lên trong một trận động đất. Theo truyền thuyết của người Maya, thần Rắn Kukulkan là một trong ba vị thần đã tạo ra Trái đất.</i>

<i>Anubis là vị thần mình người đầu chó rừng có liên quan đến quá trình ướp xác và cuộc sống sau cái chết trong văn hóa Ai Cập cổ đại. Anubis được gắn với việc ướp xác và bảo vệ người chết cho cuộc hành trình về thế giới bên kia.</i>

<i>Typhon là người con cuối cùng của nữ thần Đất mẹ Gaia và thần vực thẳm vô tận Tartarus (em của Gaia). Typhon được coi như một quái thú với âm mưu lật đổ ngôi Zeus để trở thành Vua của các vị thần và loài người. Typhon được cho là một loại sinh v*t t* l*n nhất và hình dạng kỳ lạ nhất từng được biết đến từ trước đến nay, có thân người và hàng trăm đầu rắn khác nhau.</i>

<i>Behemoth là một loài sinh vật thần thoại được đề cập đến trong tác phẩm Sách Job, 40:15-24. Theo thần thoại, nó là con thú to lớn nhất trên cạn, sánh ngang với Leviathan dưới biển và Ziz trên không. Ngày nay, Behemoth được dùng như một từ ẩn dụ để chỉ một thực thể có kích thước khổng lồ và sức mạnh phi thường. Sinh vật này được cho là hư cấu theo nguyên mẫu một con hà mã với đôi ngà voi.</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 88


<b>Chương 88</b>

<b>Dã tâm của Cochro</b>

Johnson không chịu được nữa.

Y không mặt dày đến độ có thể tiếp tục “dung hợp” dưới cái nhìn chòng chọc của các tà thần khác. Cho dù độ dày da mặt cho phép, những những cảm giác kỳ quái liên tục chất vấn Johnson, hiện tại có phải là lúc phải làm việc nào đó không?

Gymir nhận thấy quyết tâm từ chối của dây leo, hắn lúng túng nhắc nhở: “Chúng ta vẫn chưa tìm được lối ra của cống thời gian.”

“…”

Johnson nói cứ đợi cho đến khi hình chiếu của bốn vị thần cổ xưa biến mất rồi mới “tìm” tiếp, dù sao thì “thời gian” ở đây chẳng có ý nghĩa gì.

Gymir ngay lập tức tỏ ra thù địch với những đồng loại đang xem cuộc vui, giống như Cochro. Rốt cuộc thì cả bọn cũng không thể giúp được gì, mà lại toàn nói những điều vô nghĩa.

“Xem đủ rồi thì cút xéo.”

Các thần cổ xưa tất nhiên là sẽ không cút, sức mạnh đưa vào những hình chiếu này không thể lấy lại được, đợi cho đến khi sức mạnh cạn kiệt rồi tự tiêu tan không tốt hơn sao?

Tất cả đầu của Typhon đều duỗi thẳng ra, cố gắng quan sát Johnson từ mọi góc độ, nhưng đáng tiếc là chẳng nhìn thấy gì, chỉ có thể thở dài tiếc nuối. Cảnh tượng hàng trăm cái đầu đồng loạt thở dài quả thật ngoạn mục. Nó ngoạn mục đến nỗi nếu có một khinh khí cầu ở trước mặt, nó có thể bay lên trời ngay lập tức. May mắn đây chỉ là một hình chiếu. Bản thể của Typhon không biết là đang ngủ ở đâu, ý thức được chia ra vẫn còn trong thế giới giấc mơ, nên dù cơn bão hình thành bằng tiếng thở dài có dữ dội đến đâu, Johnson cũng sẽ không bị thổi bay.

“Gymir, tao cứ tưởng rằng dù tất cả thần cổ xưa đều có đồng minh, thì mày cũng là ngoại lệ, nhưng thực sự không ngờ…” Typhon lúc lắc đầu, bóng của gã trông như một ngọn núi nhấp nhô.

Quái thú khổng lồ Behemoth giơ móng vuốt lên, giọng nói uy nghiêm vang vọng: “Tạm dừng! Chúng ta nên hỏi tại sao Gymir lại rơi vào đường cống của thời gian? Còn mày nữa, Cochro! Lẽ ra mày đã chọn rời bỏ trái đất đi vào vực sâu của vũ trụ rồi, tại sao lại đột ngột quay trở lại? Đám hậu duệ của mày đâu?”

Đó là một câu hỏi hay. Johnson vốn đã lo lắng về điều này, y không có quyến thuộc, nhìn dáng vẻ lười biếng sợ rắc rối của Gymir là biết thần Biển cũng chắc chắn không có. Tuy quyến thuộc của tà thần xuất hiện trước mặt tà thần khác cũng chỉ để chết, nhưng quyến thuộc của Thảm Bay là hậu duệ của gã, tức là hậu duệ của tà thần và tà thần, tất nhiên Johnson sẽ lo lắng chúng đột nhiên xuất hiện để tiếp viện cho Cochro.

Không ngờ Thảm Bay nghe xong câu hỏi này thì phản ứng dữ dội, gã vặn vẹo cơ thể Bướm Xám một cách hung ác, nghiến răng nghiến lợi.

“…Hết rồi? Chết hết rồi?” Typhon nghiêng đầu hỏi.

“Câm miệng!” Cochro gào vào mặt Typhon.

“Đấy, tao đã nói từ sớm rồi mà, rời khỏi trái đất không phải là một lựa chọn hay đâu.” Typhon thở dài.

Thảm Bay cười khẩy: “Tất nhiên mày sẽ nói kiểu đó rồi, bởi vì mày chỉ có tầm nhìn hạn hẹp, chỉ có thể nhìn thấy những gì ở phía trước.”

Typhon không hề tức giận, nhưng thần Rắn lông vũ đang xem kịch lại nổi giận.

“Cochro, mày đang chửi ai?”

“Há, tất nhiên là chúng mày.”

Trong khi Cochro và thần Rắn lông vũ đang chửi bới nhau thì Johnson vùng ra được, khôi phục thành quả cầu dây leo cuộn tròn.

Quả cầu dây leo muốn Gymir rút lại cái bóng che phủ cơ thể mình, Gymir không chịu, còn thì thầm: “Typhon cũng giống Bướm Xám, có thể trở nên mạnh mẽ bằng cách sinh sản, ta không muốn nó nhìn thấy em.”

Johnson: “…”

Trên thực tế, Johnson biết điều này, ngay cả con người cũng biết điều đó. Trong thần thoại Hy Lạp được con người ghi lại, Typhon có một trăm đầu đã sinh ra nhiều quái vật nổi tiếng, trong đó có con chó địa ngục ba đầu, rắn chín đầu Hydra, v.v.

Typhon là Bướm Xám phiên bản có não. Tự gã có thể sinh ra con cháu, cũng có thể kết hợp với thần cổ xưa khác để sinh con, trong số đó, các hậu duệ xuất sắc nhất vừa được sinh ra đã tà thần. Vì thế Typhon có địa vị rất cao trong số các tà thần, không nói tới phương diện khác, chỉ riêng con cái và đồng minh tạm thời của gã ra xếp hàng cũng đã lên tới con số mười mấy, tà thần khác làm sao có thể cạnh tranh được? Typhon không phải là loại tà thần hống hách và tàn bạo, không ép buộc đồng minh, cũng không bắt con mình làm nô lệ, quyền lực của gã là vô hình, lúc bình thường không có tà thần nào đặc biệt tôn trọng gã, nhưng vào thời điểm quan trọng…

“Nếu Typhon muốn cướp em, sẽ có hơn mười tà thần tới giúp nó đó, chúng ta chỉ có thể nằm ở đây không ra ngoài.” Gymir rối rắm nói.

Johnson muốn cười, nhưng cũng cảm thấy người yêu mình như vậy thật đáng yêu.

“Typhon muốn gì ở em nào? Anh đã nói Typhon sẽ không ép buộc tà thần khác mà.”

“…” Ừ thì Gymir hiểu đấy, nhưng hắn vẫn không thích.

Quả cầu dây leo mềm ra, để mặc cái bóng của Gymir v**t v* phần cuối của những xúc tu nhạy cảm đó.

Typhon nhận ra rằng không thể nhìn thấy Johnson nên chỉ tập trung chú ý vào Bướm Xám.

Sinh lực của Bướm Xám rất ngoan cường, Cochro đã ăn hết một nửa cơ thể nó, nhưng nó ngay lập tức thoái hóa trở lại hình dạng sâu bướm, mọc ra vô số răng bằng thịt. Bây giờ nó không còn là một con sâu vặn xoắn nữa mà là một núi dao. Những cái răng cưa sắc bén này không chỉ thể hiện về mặt máu thịt mà còn thể hiện cả sức mạnh, tâm hồn, ý chí… ai muốn nuốt chửng Bướm Xám thì phải chịu thương tích do bị cắt xẻ dã man. Cũng giống như đặc điểm ban đầu của Bướm Xám là tư lợi cực đoan, dù có giao phối thì cũng chỉ cần khí quan của đối phương, phần đồng loại biết nói nằm bên ngoài gắn liền với khí quan kia thì nên cút xéo.

Cochro không đi theo con đường thông thường mà chích chồi mầm vào từ phần lưng Bướm Xám, điều này khơi dậy sự hung hãn của Bướm Xám. Lần trước khi Johnson nhìn thấy Bướm Xám ở Bắc Cực, y đã phát hiện hàm răng sắc nhọn của sâu bướm ngày càng mất kiểm soát, bây giờ lại càng cường điệu hơn.

“Phù!” Typhon cảm thán.

Typhon nghiêng một nửa số đầu sang hỏi Behemoth: “Thật sự không có cách nào cứu bọn họ sao? Tao thích thần mới này đấy?”

Nửa số đầu còn lại hỏi Anubis: “Mày nghĩ cách giùm coi!”

Hai vị thần cổ xưa cùng lắc đầu, từ chối ý tưởng điên rồ của Typhon.

Lúc này Cochro hạ quyết tâm giải phóng sức mạnh, giọng nói của gã vừa lạnh lùng vừa điên cuồng: “Gymir, tình cảnh khốn đốn này cũng không thay đổi suy nghĩ của mày sao? Vậy thì đừng trách tao!”

“Khoan đã, mày định làm gì?” Typhon trở nên nghiêm túc, quan sát Thảm Bay.

Johnson còn quá trẻ, Gymir không chịu giao lưu với những tà thần khác, họ khó có thể hiểu được tâm lý của Cochro, nhưng Typhon thì khác.

Typhon gần như ngay lập tức nhìn thấu kế hoạch của Thảm Bay.

“…Thứ mày thèm muốn là thuộc tính sức mạnh của Gymir, mày si mê tồn tại mạnh mẽ có thể được sinh ra từ sự hợp nhất giữa không gian và thời gian, vì vậy mà mày sẵn sàng từ bỏ ý chí của chính mình, điều gì đã k*ch th*ch mày? Cochro, vũ trụ thì vô tận, số lượng tà thần nhiều như sao trên trời, những tồn tại mạnh mẽ đó làm đảo lộn hoàn toàn trí tưởng tượng của chúng ta. Mày luôn có nhiều tham vọng, đó là điều tốt và cũng là điều xấu. Tao đã từng khuyên nhủ mày, nhưng mày vẫn nhất quyết rời khỏi trái đất để nhìn thấy nhiều khả năng hơn… bây giờ gặp nguy hiểm, tao không phản đối việc quay về tìm đồng minh, nhưng mày dùng phương pháp này sao?”

Cochro hoàn toàn phớt lờ Typhon, gã ghét giọng điệu của Typhon. Chui rúc trên hành tinh nhỏ bé này thì có tương lai gì chứ?

“Gymir, mày nên suy nghĩ kỹ đi, thần Mặt trời Tonatiuh ra đời là do hai tà thần như thế nào hợp nhất? Tao và mày không mạnh hơn sao, không thích hợp hơn sao?” Cochro nghiến răng nói: “Mày thích tên thần mới này, nó quả thực có lợi cho sức mạnh của mày, tao thậm chí còn đồng ý để nó tham gia vào màn dung hợp vĩ đại này! Lẽ nào mày từ bỏ việc trở thành vị thần quyền năng nhất trên trái đất, hay thậm chí trong vũ trụ này, một sự tồn tại thống trị và phá vỡ trật tự hữu hình và quy luật vô hình hay sao?”

Gymir lười biếng hỏi: “Rồi sao?”

Thảm Bay ngây ra.

Gymir phì cười: “Trở nên mạnh mẽ xong rồi sao? Mày định chinh phục toàn bộ vũ trụ? Đi giết lũ tà thần đã làm hại hậu duệ của mày? Rồi tìm thêm nhiều tà thần nữa để sinh thêm con? Có mệt không vậy? Tại sao tao phải chịu mệt mỏi chung với mày? Chúng ta có thân thiết lắm không? Chúng ta là bạn bè sao?”

Cochro im lặng, rồi xì ra một câu từ kẽ răng: “…Mày sẽ phải đồng ý khi thần mới mà mày yêu thích đối mặt với nguy cơ tử vong.”

Johnson vô cùng bất an, dây leo bám thật chặt vào đá ngầm.

Hình chiếu của các thần cổ xưa dần trở nên mờ nhạt. Typhon ngẩng đầu lên, ánh mắt nghiêm túc.

Lúc này, trong đường cống đột nhiên xuất hiện rất nhiều vết nứt, ngọn lửa thiêu đốt lăn ra từ từng vết nứt, kèm theo hình bóng đáng sợ.

Thần Rắn lông vũ Kukulkan là kẻ đầu tiên hét lên, bóng dáng của nó lập tức biến mất.

Typhon nghiêm giọng quát: “Quả nhiên là mày! Lúc đó có mấy đồng loại đột ngột chết, là mày tiết lộ vị trí của họ cho Tonatiuh… Là Tonatiuh cho mày? Cái thứ dấu ấn thu hút Tonatiuh đến săn mồi… Chúng mày đã âm thầm lập giao ước gì?”

“Hừ, nhiều năm trước, người mà tao muốn dung hợp quả thực là Tonatiuh, nhưng tao cảm thấy tiềm lực của nó đã đến tận cùng.” Thảm Bay né tránh ngọn lửa cuồng nộ ngập trời đến từ vô số dòng thời gian, cười điên cuồng và đắc ý: “Nếu chúng ta ở nơi khác, dấu ấn săn mồi sẽ không đủ để đánh thức Tonatiuh đang say ngủ, nhưng chúng ta đang ở ngoài trật tự thời gian đấy! Những khoảng thời gian mà Tonatiuh thường xuyên hoạt động sẽ đáp lại lời kêu gọi này, trút hết sức mạnh của mình… Sắp rồi, chúng ta sắp được chứng kiến thời cổ đại khi thần Mặt trời tồn tại!”

Để khắc phục những vết nứt này, trật tự thời gian sẽ loại bỏ những “tồn tại” gây ra vết nứt trong cống.

“Ban đầu tao không muốn làm vậy đâu, vì tao không chắc chúng mày ở đâu, nhưng thật trùng hợp…” Thảm Bay vừa vẫy cơ thể vừa lẩm bẩm kỳ dị: “Gymir, tao nhìn thấy <i>dấu vết</i> rất mờ nhạt trên sức mạnh của mày, mày đã chạm vào đồ của Tonatiuh?”

Johnson đột nhiên siết chặt dây leo. Việc y lo lắng khi gặp phải những đồng vàng xui xẻo đã xảy ra. Một chút “liên hệ” nhỏ bé không đáng kể này vẫn gây ra chuyện trước khi nó bị sức mạnh của Gymir triệt tiêu hoàn toàn.

Cochro cười khẩy: “Cảm ơn tao đi, Gymir, vốn tao định dùng phương pháp này để thoát khỏi chỗ quái quỷ này, nhưng bây giờ tao sẵn sàng dẫn chúng mày cùng đi!”

“Cút!” Gymir thề sẽ giúp Bướm Xám xẻ Thảm Bay thành một vạn mảnh, dù thiếu một mảnh cũng không được.

Vô số Tonatiuh trong vô số dòng thời gian đang xé nát khe hở thời gian mà nó có thể tìm thấy, nước miếng nhỏ giọt lan tràn ra như lửa. Sau đó, sức mạnh phục hồi trật tự đã được kích hoạt. Một vết nứt lớn xuất hiện trong đường cống.

Johnson chỉ cảm thấy trước mắt mình toàn là ánh sáng trắng, thế giới đang quay cuồng, y ra sức ôm lấy Gymir, thậm chí còn cảm thấy có chút hối hận…. nếu ở trạng thái hợp nhất thì không sợ bị chia cắt!

Gymir cảm thấy sức mạnh của mình cạn kiệt nhanh chóng, cảm giác bị đàn áp quen thuộc này khiến hắn căm ghét, hắn quay trở lại quá khứ. Đối mặt với Tonatiuh trong tình trạng thế này thì không có khả năng trốn thoát. Nhưng Gymir sẽ không bao giờ đồng ý với đề nghị của Cochro, thậm chí hắn còn muốn nhét luôn Cochro vào miệng thần Mặt trời.

Rầm.

Từ trên trời giáng xuống.

Đá ngầm quái quỷ đập ra một cái hố lớn trên mặt đất.

Cái bóng nhanh chóng bám lên mép hố, thò đầu thận trọng nhìn ra ngoài. “Thành phố này trông không giống như thời cổ đại?”

“Nhìn lửa kìa.” Quả cầu dây leo cũng trèo lên theo, cẩn thận nhìn ngó.

Ngọn lửa đang lơ lửng giữa không trung, bất động. Đám đông cũng bất động. Cả thành phố bừng sáng bởi ngọn lửa nhưng người dân không bỏ chạy, tiếp tục sinh hoạt như thường lệ, họ dường như không biết rằng đang có hỏa hoạn.

Gymir biến thành hình dạng con người, nắm tay Johnson đang biến đổi cùng lúc, họ ngây người đứng đó, nhất thời không biết chuyện gì đang xảy ra.

Tonatiuh đâu? Cochro đâu? Bướm Xám đâu?

Lúc này, một người mặt dính đầy bụi bặm xám xịt chạy về phía họ, giữ tư thế mắt nhìn xuống đất kỳ lạ, hét lớn: “Ngài Johnson, cuối cùng các ngài đã tới! Đây là Kingston vào năm 1882 mà tôi đã đề cập! Khi tôi đến đây không có lửa, chỉ là một ngày bình thường, chẳng qua thời gian như đứng lại… Vừa rồi ở đây có một tiếng động lớn, cả thành phố đột nhiên chìm trong biển lửa, tôi gần như sợ chết khiếp.”

“Juan?” Johnson không dám tin, hỏi: “Không phải anh nên quay lại năm 1959 sao?”

“Ờ, tôi về rồi, nhưng tôi đã đào khắp trên đỉnh vách đá mà vẫn không tìm thấy đồng hồ quả quýt.” Juan lúng túng nói: “Sau đó tôi cầm lấy la bàn, không hiểu sao nó lại đưa tôi đến năm 1882.”



<i>Người dịch:</i>

<i>Tà thần không mạnh bằng quy tắc của vũ trụ đâu, ít nhất là cái đám trên trái đất.</i>

<i>Cerberus là con chó săn ba đầu của Hades, có đuôi rắn, được sinh bởi Echidna và Typhon, là con vật canh giữ ở cổng địa ngục. Ngoài ra, cũng có con vật canh cửa địa ngục khác như Orthrus, người anh em hai đầu của nó. Cerberus giữ cổng cho Hades, đảm bảo chỉ có linh hồn người đã chết mới được vào, và ngăn không cho bất kỳ ai ra.</i>

<i>Hydra là một con rắn có 7 hoặc 9 đầu, là con của Echidna và Typhon. Khi chém đứt đầu nó thì từ chỗ bị đứt liền mọc ra hai cái đầu mới.</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 89


<b>Chương 89</b>

<b>Ngọn lửa tuôn chảy</b>

Juan đã bị mắc kẹt trong thành phố tĩnh lặng này trong ba ngày.

Lúc đầu anh nhất quyết chỉ uống nước, ăn bánh mì khô mà mình mang theo. Sau đó anh không thể chịu đựng được nữa. Thức ăn dùng cho lúc khẩn cấp trong ba lô nhanh chóng cạn kiệt, Juan chỉ có thể thử “lấy” thức ăn ở đây. Juan không biết việc ăn đồ ăn trong quá khứ sẽ có ảnh hưởng gì với cơ thể mình, nhưng nếu không ăn thì anh sẽ chết đói. Juan ưu tiên chọn trái cây. Sau tám tiếng thấp thỏm bất an, anh mới dám chắc rằng cơ thể mình vẫn ổn, có thể tiêu hóa thức ăn cũng như bổ sung lượng nước và năng lượng đã mất.

Không có gì đặc biệt ở Kingston năm 1882, Juan vẫn nghiêm túc vẽ một bản đồ thành phố đơn giản trên sổ tay, cố gắng thăm dò thành phố và tìm kiếm những “khe hở”. Nếu bỏ qua những lo lắng về số phận của chính mình, Juan thậm chí còn thích thú với hoạt động thám hiểm thế này. Không có cánh cửa nào chặn được anh, anh có thể quan sát mọi ngóc ngách của thành phố một cách thoải mái, biết được giá cả hiện tại, kiểm tra các chuyến tàu buôn lậu tại cảng, v.v. Khi mệt thì có thể tìm một nơi để nghỉ ngơi, không ai đuổi anh đi.

Juan hiếm khi thay đổi vị trí của đồ đạc ở đây. Anh kính sợ thành phố yên tĩnh này, không phải vì người dân ở đây mà vì chính bản thân lịch sử. Khi Juan xem lịch, anh biết rằng một thảm họa sẽ thiêu rụi thành phố sắp xảy ra ở đây. Anh còn đặc biệt kiểm tra kho dầu trong thành phố, kiểm tra từng kho cảng nhưng không tìm thấy nguồn gốc của ngọn lửa.

Trời đã sập tối, gió không mạnh lắm, nhìn lá cờ và cây cao trên cao là biết.

Dù lạ lùng nhưng thật ra nguyên nhân gây cháy rất nhiều, cũng khó xác định. Người ta cho rằng trận hỏa hoạn thiêu rụi toàn bộ Luân Đôn năm 1666 là do một người thợ làm bánh mì quên tắt bếp gây ra. Bệnh dịch đã khiến hàng vạn người chết ở Luân Đôn vào năm 1665, tấm áo choàng đen của thần Chết đã bao trùm cả thành phố, nhưng một trận hỏa hoạn đã giải quyết được mọi vấn đề. Chỉ có một số ít người chết trong đám cháy vì không thể trốn thoát kịp thời, phần lớn đều mất nhà cửa, nhưng đồng thời cũng thoát khỏi lưỡi liềm của thần Chết.

Thám tử Juan vừa được phổ cập về sự kiện huyền bí tin rằng có một số sự thật đằng sau trận hỏa hoạn nổi tiếng trong lịch sử liên quan đến tà thần và sức mạnh tà ác mà con người không nên biết. Có thể một hoặc một vài thám tử giấu tên đã liều mạng để giải quyết khủng hoảng. Nhưng họ đã làm điều đó như thế nào?

Juan từng tin tưởng vững chắc vào khoa học, nay anh rất đau khổ. Anh cố gắng ngủ nhưng dù ở năm 1882 hay năm 1959 đều không gặp được Hans và John. Sự kết nối giữa những giấc mơ bị gián đoạn một cách khó hiểu. Giống như đi đến một đất nước mà mình không hiểu ngôn ngữ nhưng lại quên mang theo từ điển dịch những cụm từ thông dụng, anh cảm thấy không chắc chắn, dù cầm vũ khí trên tay vẫn rất bất an.

Thảm họa có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Không thể cứu được thành phố trong quá khứ nữa, nhưng Juan muốn giữ gìn mọi thứ vào thời gian và không gian của năm 1959. Áp lực khủng khiếp khiến anh không thể ngủ được, hầu như cứ mỗi giờ là anh lại thức dậy một lần.

Juan chỉnh đồng hồ sang chế độ bấm giờ, đánh dấu lịch trên sổ tay, chuẩn bị tinh thần cho việc bị mắc kẹt lâu ngày. Ai mà ngờ khi anh đang vừa gặm chuối vừa vẽ, một luồng không khí nóng tràn qua cửa sổ. Với một tiếng “vụt”, tấm rèm cửa sổ bốc cháy.

Juan nhảy dựng lên vì giật mình, xông đến dập lửa. Sau đó, anh cảm thấy mặt đất đột ngột rung chuyển, có một tiếng động lớn rung trời vang lên. Juan suýt chút nữa bị tủ trong phòng khách sạn đập vào. Anh khó nhọc trèo ra ngoài, kéo rèm cửa ra, bất thình lình nhìn thấy cảnh tượng ngày tận thế.

Ngọn lửa đỏ rực trôi bồng bềnh như mây, vẽ nên một bức tranh sơn dầu rực rỡ trên bầu trời. Nó cũng giống như một thùng sơn đỏ được ném ra ngoài, lơ lửng giữa không trung, chuẩn bị đồ ụp xuống đất. Các cụm lửa là những giọt nước, tạo thành một đường cong như vòng cung. Cột cờ phía xa đã bắt đầu bốc cháy. Ngọn lửa lan dọc theo cột gỗ xuống đất.

Juan hít một hơi, cuối cùng anh cũng hiểu được vụ hỏa hoạn ở Kingston năm 1882 xảy ra như thế nào rồi. Không ai có thể cứu được một thảm họa thiên nhiên tầm cỡ này! Juan vội vàng nhét đồ đạc của mình vào ba lô, không chút do dự chạy như điên về phía bến cảng, không dám lãng phí một phút nào. Anh sợ nếu chạy quá chậm thì sẽ bị thiêu chết trong thành phố này.

Thế rồi trong lúc chạy, chiếc la bàn trong túi anh rung lắc dữ dội. Juan lấy nó ra xem thử. Nắp ngoài của la bàn tự động bật ra, quả cầu pha lê tỏa sáng lấp lánh như đang dẫn đường. Ban đầu Juan muốn tránh khu phố đang chìm trong khói, nhưng ngay khi anh đổi hướng, la bàn cứ nhảy nhót liên tục cho đến khi anh điều chỉnh lại lộ trình của mình. Năm phút sau, Juan “kết nối” thành công với Johnson. Gặp được thân chủ tà thần, thám tử thở phào nhẹ nhõm, ít nhất anh không còn phải lo lắng bị mắc kẹt ở đây mãi mãi.

“Đống lửa này là…”

“Dư âm sức mạnh của một thần cổ xưa, đừng lại gần.”

Johnson nhắc nhở, y không muốn nhìn thấy Juan bị thiêu chết.

Juan nghĩ đến lần trước khi mình buộc phải quay trở lại năm 1959. Cơ thể anh run lên, anh cảnh giác hỏi: “Chẳng lẽ là tà thần đã tạo ra nhiều ảo ảnh đó, định giết tôi sao?”

“…Không phải kẻ đó.”

“Bướm Xám?” Juan nhớ lại tin tức mà Hans cho mình biết.

Biểu cảm của Johnson hơi lúng túng pha lẫn phức tạp: “Không phải, có một sự cố xảy ra, đây là tà thần thứ ba… con người các anh gọi là thần Mặt trời Tonatiuh.”

Juan trợn trừng mắt, vô thức lùi về phía sau mấy bước, mặt lộ vẻ khó tin: “Tại sao lại có thêm nữa?”

Cảnh hỗn chiến nguy hiểm giữa bốn tà thần bây giờ lại tăng độ khó, tăng số lượng lên năm?

Juan chỉ đơn giản là hoảng sợ, nhưng Johnson lại cảm nhận được cảm xúc xấu hổ kéo dài liên tục, bởi vì lời Juan nói tựa hồ đang chất vấn y cùng Gymir, tại sao bọn họ lại khiêu khích thêm một kẻ địch khác? Thám tử loài người đã rất khổ rồi, nếu tiếp tục nữa, thật sự sẽ không còn đường sống sót.

“Khụ, thần Mặt trời là do Thảm Bay gọi tới.” Johnson không thể đọc thẳng tên thật của Cochro ra.

“Đánh không lại thì gọi bạn bè tới giúp?” Juan không nhịn được nhìn sang Gymir bên cạnh, rồi lại nhìn Johnson. Ý nghĩa rất rõ ràng, bạn của hai ngài đâu?

Johnson: “…”

Gymir: “…”

Tà thần không có bạn bè thì có sao đâu? Lẽ nào còn phải chờ một con người nhỏ bé cười chê?

Johnson vội vàng giải thích trước khi Gymir nổi giận: “Thần Mặt trời Tonatiuh không phải bạn của Thảm Bay, tình hình của Tonatiuh rất đặc biệt, nó rất tàn bạo.”

Juan nhớ ngay đến những bức tranh khảo cổ và những cuốn sách về di tích châu Mỹ, rùng mình ớn lạnh. Những người bản xứ châu Mỹ thờ thần Mặt trời sẽ mổ lồng ngực của tù binh và lấy trái tim ra để hiến tế cho Tonatiuh, chỉ vì họ tin rằng thứ nhiên liệu tốt nhất cho mặt trời cháy mãi mãi chính là máu tươi, xác của những người bị tàn sát đã lấp đầy cả đáy hố dưới đàn tế. Dẫu vậy, những tín đồ của thần Mặt trời vẫn lo “không đủ nhiên liệu”. Nhìn ngọn lửa đỏ rực trên bầu trời lúc này, Juan càng thấy sợ hãi hơn.

“Chúng ta sẽ rời đi ngay lập tức chứ?” Juan tích cực đề nghị: “Tôi đã tìm thấy khe hở thời gian trong thành phố này, chỉ cần chúng ta đủ nhanh thì có thể tránh được việc chạm trán trực tiếp với thần Mặt trời, Thảm Bay, Bướm Xám?”

Johnson im lặng nhìn anh.

“Sao thế? Lẽ nào tôi nói sai?” Juan lo lắng hỏi.

Gymir sờ sờ mặt nạ trên mặt, lạnh lùng nói: “Trước đó ngươi đã nói, thành phố này từng trải qua rất nhiều thảm họa.”

“Đúng, chỉ riêng hỏa hoạn quy mô lớn đã có bốn lần.” Juan đột nhiên dừng lại, vẻ mặt anh đầu tiên là mơ hồ, sau đó dần dần tỉnh ngộ, cuối cùng là sợ hãi: “Ý ngài nói là những tà thần đó đang ở hiện trường hỏa hoạn trong các thời đại khác?”

Trận hỏa hoạn năm 1882 là nghiêm trọng nhất, đây cũng là nơi Johnson và Gymir rơi xuống. Ngọn lửa của Tonatiuh đã lan rộng ra nhiều thời gian và không gian khác dọc theo khe hở thời gian.

“Những vết nứt mà ngươi phát hiện ra, kể cả những vết nứt mà ngươi không phát hiện ra, giờ đã bị ngọn lửa này lấp đầy hết rồi.” Gymir cau mày giải thích.

Juan đực mặt ra. Công việc được ủy thác mà anh làm suốt ba ngày nay đều vô ích. Mấu chốt là…

“Chúng ta nên làm gì bây giờ?”

“Cầm cái này trước đi.” Johnson ném một viên ngọc trai.

Juan nhận được bùa hộ mệnh, lén thở phào nhẹ nhõm. Như vậy thì anh có thể quay trở lại năm 1959 nếu gặp nguy hiểm. Đợi đã, có vẻ như anh cũng nghĩ như vậy vài ngày trước, nhưng sau đó anh lại đến năm 1882? Juan siết chặt viên ngọc, nặn ra một nụ cười còn xấu hơn cả khóc.

Ngọn lửa càng lúc càng thấp, diện tích cháy ngày càng mở rộng.

Gymir kiểm tra lại, phát hiện ở đây thực sự chỉ có họ và thám tử .

“Điều này không bình thường, nếu Tonatiuh đã đáp lại lời kêu gọi của Cochro, ngọn lửa sức mạnh đã cháy lan theo khe hở thời gian đến đây, tại sao lại không nhìn thấy bóng dáng của nó…”

Gymir ăn ý nhìn sang Johnson, cả hai cùng nghĩ ra một vấn đề.

Thần Mặt trời quả thực có thể du hành thời gian, tức là đáp lại tiếng gọi từ trong đường cống dù đang ở thời cổ đại, dù sao thì đường cống cũng nằm ngoài trật tự thời gian. Nhưng những sức mạnh này đã chảy lung tung đến năm 1882 và ba thời đại khác. Điều này có nghĩa là gì? Nó cho thấy vào thời điểm xảy ra bốn trận hỏa hoạn từ năm 1703 đến năm 1882, thần Mặt trời Tonatiuh hoàn toàn không có mặt trên trái đất! Nếu không, dòng thời gian sẽ trấn áp Tonatiuh giống như đã làm với Cochro và Gymir, thế thì ngọn lửa còn có thể nhảy nhót như thế này không?

Johnson im lặng nhìn Gymir, vậy ra tình hình hiện tại là thế này: thần Mặt trời mà các tà thần cho rằng đang ngủ yên trên trái đất thực ra đã bỏ chạy từ lâu; còn Cochro mà họ tưởng đang đi vào vùng sâu thẳm của vũ trụ đã lặng lẽ quay trở lại. Không có thông tin nào mà thần cổ xưa nắm được là chính xác sao?

Gymir không hề xấu hổ chút nào. Thông tin sai lệch có liên quan gì đến thần Biển vạn năm không hề di chuyển cơ chứ?

“Bản thể của Tonatiuh sẽ không xuất hiện trong thời gian ngắn nữa, vì nó không ở trái đất, nhưng những ngọn lửa này rất phiền phức…”

Gymir hơi nhíu mày, sức mạnh của hắn thì bị áp chế, Johnson lại là bên bị ngọn lửa khắc chế, nếu như y lợi dụng dòng thời gian không chảy để cố sức dùng băng xua đuổi ngọn lửa thì sao?

“Chờ một chút, đây là năm 1882, em đã sinh ra rồi.” Johnson bất đắc dĩ nhắc nhở Gymir, lần này y chỉ có thể đứng nhìn, nếu không vừa rồi leo ra khỏi hố cũng sẽ không vất vả như vậy.

Gymir vô thức hỏi: “Vậy em đang làm gì?”

Johnson cũng trả lời theo bản năng: “Theo cách tính thời gian của con người, cơ thể của em xuất hiện vào khoảng năm 1800, năm 1882, em đã có khả năng tư duy, đang lênh đênh trên biển tìm kiếm mục sư Cornell… lấy lại sức mạnh mà lão đã cướp đi của em.”

Gymir thở dài tiếc nuối: “Sao em không đến thị trấn Đá Ngầm Đen sớm hơn?”

Johnson: “…”

Vào 40 năm sau, y đã sở hữu khả năng suy nghĩ mà còn không thể chống đỡ được đòn tấn công tinh thần của thần Biển, bị người cá quyến rũ đến nỗi đầu óc trống rỗng, phải hoảng sợ bỏ chạy. Nếu đổi lại là Johnson không có kinh nghiệm, và tuổi tác (thời gian tự nhận thức tỉnh táo) chỉ ở con số hàng chục… thế chẳng phải là vừa khóc vừa chạy à?

Johnson đen mặt đẩy Gymir ra.
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 90


<b>Chương 90</b>

<b>Cuốn lấy</b>

Ngọn lửa như tấm lụa sa tanh màu đỏ bao trùm bầu trời thành phố.

Những cột lửa nhanh chóng lan xuống đất dọc theo những vật liệu dễ cháy trên cao. Những thứ bị cháy đầu tiên là nhà thờ, Tòa thị chính, nhà hát… và tất cả những tòa nhà cao tầng đẹp đẽ, những ngọn tháp và cột cờ cao chót vót của chúng hệt như dây ngòi, “bắt lấy” tai họa. Năm 1882, cấu trúc chính của các tòa nhà trong thành phố vẫn được làm bằng gỗ nên đám cháy lan nhanh. Tia lửa cháy dữ dội rơi xuống đất như mưa.

Juan tránh trái tránh phải, chạy nhanh nhất có thể. Anh vừa đưa Johnson đi kiểm tra một khe hở thời gian mà anh tìm thấy, quả nhiên đúng như tà thần suy đoán, ngọn lửa từ trong khe hở chảy ra, căn bản không thể tới gần. Bây giờ chỉ có thể thoát khỏi thành phố càng sớm càng tốt để tránh thảm họa này. Nhưng như thể vận mệnh cứ cắm đầu xuống đất cảm thấy mọi thứ còn chưa đủ tệ, phải biểu diễn ngay một màn nhảy cầu cao.

“Thời gian bắt đầu trôi rồi.”

Juan lau đi một nắm tro bụi bay lên mặt, đồng tử của anh co lại, tất cả là do gió thổi. Giây tiếp theo, tiếng hét của con người vang vọng bên tai. Juan như bị ném từ một nơi yên tĩnh đến một khu chợ ồn ào, đầu óc ong lên, suýt chút nữa thì tưởng mình bị điếc.

“Có cháy!”

“Cứu tôi với!”

Đối với những người bình thường, đây vốn là một buổi tối rất bình thường. Có người vội vã về nhà, có người chuẩn bị mặc cả với người bán hàng lần cuối, có người ngồi trước cửa sổ hóng chuyện. Đột nhiên, lửa từ trên trời rơi xuống, tóc và quần áo của vài người bắt lửa cháy như thế. Cùng lúc đó, những sạp hàng phủ bạt, thùng gỗ đựng hàng hóa, xe chở thùng rượu trên phố đều biến thành đống lửa, bỗng chốc bốc cháy ngùn ngụt như những đồ trang trí trên bãi biển để thu hút du khách châu Âu vào ban đêm. Lửa cháy bốn phương tám hướng, người ta chạy về phía đông, bị cây đổ chặn đường thì lại quay người lao về phía tây.

Juan bị đám đông cuốn lấy, chỉ có thể cố gắng hết sức để không bị chen ngã. Vẻ mặt mọi người đều đầy hoảng sợ. Họ dường như không thể nhìn thấy những đám mây lửa đang trôi trên đầu, chỉ biết nhìn chằm chằm vào những nơi bắt lửa và hét lên.

Juan gần như bị nghiền nát. Ba lô của anh bị kẹt giữa nhiều người, không thể rút ra được, sau đó cả người Juan cứ thế bị kéo về phía sau. Nếu quai ba lô không đủ chắc chắn thì có lẽ lúc này nó đã không còn nữa. Giày cũng vậy. Nếu đôi giày leo núi này không được cột chặt để ngăn côn trùng bò vào thì chúng đã bị dẫm bay mất từ lâu rồi. Con người thật nhỏ bé vô cùng trước sức mạnh của đám đông va chạm khủng khiếp này. Juan một tay giữ chặt ba lô, hơi nghiêng người để tránh bị va đập thêm.

Đúng lúc này, một nhà thờ đang cháy ở phía xa mất đi các dầm gỗ chính chống đỡ, các cửa sổ kính nặng nề cùng với khung cửa rơi xuống, vỡ tan tành. Một khu vực rộng lớn trên đường phố bị “dọn sạch” trong chốc lát, để lại một đống đổ nát. Khói và bụi bốc lên thổi vào mặt người ta như một cơn bão.

Juan bị sóng xung kích đẩy đi loạng choạng, anh kịp thời ôm đầu nín thở, may mà không bị thương, chỉ có xung quanh toàn là tiếng ho dữ dội.

Nhiều người bị bụi che hết tầm mắt, họ sợ hãi khua tay, xô ngã những người bên cạnh hoặc tông vào những đồ vật đang cháy bên đường.

Chỉ trong vài phút, nhiều người đã chết trong đám cháy hoặc bị chôn vùi dưới đống đổ nát trước mắt Juan, anh thậm chí không thể dừng lại để đỡ những người bị ngã, anh như một con ốc mượn hồn bị sóng biển đánh choáng váng, không thể làm gì khác ngoài việc bám chặt vào ba lô của mình.

“Ngài Johnson?” Juan hét to hết sức. Anh chưa bao giờ cảm thấy thị lực của mình kém, nhưng bây giờ anh phát hiện ra rằng mình không thể nhìn thấy bất cứ thứ gì ở xa.

Đám đông giẫm đạp lung tung, khói dày đặc tràn ngập. Cộng với ngọn lửa ngày càng thấp trên đầu, cái chết như một bàn tay to lớn siết lấy trái tim Juan. Juan cố gắng hết sức để giữ bình tĩnh, nhưng ngọn lửa đỏ đang trôi như một đám mây khiến dây thần kinh anh giật mạnh, cộng thêm đám đông sợ hãi xung quanh thực sự có thể khiến người ta không kìm được tiếng hét, mất trí mà không thể giải thích được.

Bốp. Juan tông vào trụ cứu hỏa bên đường, chân đau khủng khiếp. Đôi mắt anh sáng lên, anh dùng hết sức ôm lấy thứ vỏ sắt rắn chắc này, trụ qua đám đông điên cuồng nhất.

Khi Johnson đến nơi, y tình cờ nhìn thấy Juan đang lấy dụng cụ trong ba lô ra để vặn vòi cứu hỏa. Johnson đã nhìn thấy vật này ở trung tâm thành phố Luân Đôn, nhưng y không biết nó dùng để làm gì.

Một tia nước áp suất cao phun ra từ trụ cứu hỏa nhưng hiệu quả lý tưởng, ngôi nhà đang cháy bên cạnh vẫn cứ tiếp tục cháy.

“Lửa của tà thần làm sao có thể dùng nước dập tắt được?” Johnson xách cổ áo Juan lên rồi đi.

Juan sửng sốt, anh không hiểu vì sao Johnson trông thì có vẻ cao tương đương anh lại có thể dễ dàng thực hiện hành động này, cứ như thể anh là một đứa trẻ chỉ mới vài tuổi. Juan cúi đầu xuống, phát hiện mình cách mặt đất ít nhất ba feet. Anh lại ngẩng đầu lên, trực quan nhìn thấy chênh lệch độ cao không hề thay đổi.

Trật tự thế giới và mọi logic hợp lý sẽ trở nên hỗn loạn khi đối mặt với tà thần.

Juan cuối cùng cũng hiểu được ý nghĩa thực sự của những lời Hans nói trong giấc mơ. Chiếc la bàn trước đó đưa anh du hành xuyên thời gian và không gian, tay buôn đồ cổ chết vì một lời nguyền, tuy chuyện này kỳ quái nhưng tình tiết như vậy vẫn có thể tìm thấy trong tiểu thuyết, không phải Juan chưa từng đọc sách hay xem phim, anh vẫn có thể miễn cưỡng chấp nhận thế giới phi khoa học này. Còn bây giờ thì không thể.

Đầu của Juan đau nhức, anh rơi xuống bãi biển kèm theo một tiếng uỵch. Nhìn lên lần nữa, anh thấy mình đã rời khỏi thành phố.

Gymir đứng dưới gốc cây dừa, nhìn chằm chằm vào một vết nứt trên không đang tỏa ra ánh sáng đỏ yếu ớt.

“Đây là…” Juan bò dậy, chắc chắn rằng đây là một trong số những vết nứt mà anh đã phát hiện ra trước đó. Anh còn xé một trang trong bút ký đưa cho Johnson. “Không phải là chúng ta không thể đi ở đây à…”

“Thần Mặt trời Tonatiuh không ở trên trái đất, sức mạnh đến từ thời cổ đại của nó là có hạn… Ý ta là, những ngọn lửa này có số lượng hữu hạn, giờ chúng đang chảy qua chảy lại giữa bốn thời đại, điều đó có nghĩa là việc mạo hiểm đi vào sẽ dẫn đến các Kingston khác nơi có hỏa hoạn.” Gymir khoanh tay, lạnh lùng nói: “Chúng ta không quan tâm, nhưng kẻ địch của chúng ta rất nóng lòng, nó nóng lòng muốn tìm tới chúng ta.”

Mục tiêu của Cochro là Gymir, sao gã có thể bỏ cuộc được!

“Để Cochro gánh lấy đau đớn khi mạo hiểm vượt qua khe hở thời gian rồi bị thiêu đốt trong biển lửa đi.”

Johnson nhìn sang Juan bỗng nhiên đau đầu vì nghe đến tên thật của tà thần, vươn tay ra hiệu.

Gymir gật đầu, bắt đầu hát lên những âm thanh đáng sợ và quyến rũ của người cá hướng về phía vết nứt.

Sức mạnh của Johnson và Gymir tuy bị trấn áp nhưng đặc tính của tà thần sẽ không thay đổi. Juan nhanh chóng mất ý thức, viên ngọc vỡ tan, bóng dáng anh mờ dần rồi biến mất.

Dưới gốc dừa trên bãi biển, người cá vén mái tóc dài đỏ rực sang một bên, hài lòng ngồi, đuôi cá vừa đủ chạm đến những con sóng vỗ vào bờ.

Những người ở gần đó nghe thấy tiếng hát, đờ đẫn bước tới, rồi nhanh chóng ngã xuống từng người một. Tiếng hát bay đến trong thành phố đang bị lửa thiêu đốt, con người vùng vẫy bỗng quên đi nỗi đau và sự hoảng loạn. Sự áp chế của thời gian đã làm giảm đi rất nhiều sức mạnh hủy diệt tâm trí và làm ô uế máu thịt trong tiếng hát của người cá. Đám đông không còn chen chúc hóa ra còn đông hơn những người vừa hoảng loạn trốn thoát và sống sót. Có người trong số họ đang khóc, có người đang cười, trông thật ngốc nghếch. Tiếng hát dường như đã mở ra một sự kế thừa nào đó sâu thẳm trong huyết thống, nhắc nhở loài người về những ký ức kinh hoàng từ thuở xa xưa đến từ tổ tiên và biển cả.

Johnson liếc nhìn những con người này, phớt lờ họ.

Gây ảnh hưởng đến con người là một tác dụng phụ của tiếng hát, Gymir một lòng một dạ muốn “dụ” kẻ thù đến, giống hệt như những người cá trong thần thoại và truyền thuyết đang chờ mong con tàu đụng phải đá ngầm.

Johnson chăm chú lắng nghe, lúc đầu y còn chút không vui, nhưng cân nhắc đến tình hình, y vẫn giữ im lặng. Bây giờ nghe một lúc lâu rồi, Johnson cảm thấy giọng hát này hơi khác so với lúc Gymir hát cho mình nghe… Đó có lẽ là sự khác biệt giữa việc một thợ săn cầm hũ mật ong vừa đi vừa dụ dỗ con mồi đi theo, và việc lấy mật ong bôi lên người để dụ con mồi l**m… Tại sao lại giống như đang bắt một con gấu nhỉ? Johnson từ chối thừa nhận mình là một con gấu hoang không thể cưỡng lại cám dỗ nên chạy đến l**m mật.

Người cá vẫn tiếp tục hát. Sức mạnh bị hạn chế, tiếng hát không thể chạy theo những vết nứt đến các thời đại khác nhau của Kingston như ngọn lửa của thần Mặt trời, nhưng những tà thần đang lọt qua vết nứt này thì sẽ “trúng số”. Tất cả phụ thuộc vào may mắn. Gymir không nghĩ đó là vấn đề lớn. Chắc hẳn Cochro cũng đang tìm kiếm tung tích của hắn và Johnson dựa trên hướng đi của ngọn lửa.

“Đến rồi.”

Johnson bỗng biến sắc, ôm lấy Gymir rồi bỏ chạy. Người cá nằm trên vai Johnson, nhìn chằm chằm vào vết nứt bỗng phun ra thêm nhiều lửa hơn. Giống như một đài phun nước phiên bản rực lửa.

Thảm Bay đang vùng vẫy để thoát ra khỏi vết nứt, bên ngoài cơ thể có vài vết lốm đốm do bị lửa thiêu. Mặc dù vết thương này chẳng là gì đối với thần cổ xưa, nhưng trạng thái thảm hại này vẫn khiến Gymir vui mừng một cách khó hiểu.

“Đến rồi!” Gymir không mấy thiện cảm chào Thảm Bay, ngạc nhiên hỏi: “Bướm Xám đâu? Nuốt không nổi ói ra rồi?”

Cochro rơi vào những thời đại bị áp chế sức mạnh, nhưng Bướm Xám vẫn mạnh như ban đầu, kết quả còn cần phải hỏi sao?

Điều này khác với tình hình năm 1692, khi đó Bướm Xám bị Cochro kiểm soát, sau này Cochro đã trở mặt đòi nuốt chửng Bướm Xám, dù tà thần đó không có não thì cũng sẽ không chung sống hòa bình với Cochro.

“Chậc chậc, từ bụng tới cổ họng, rách bao nhiêu?”

Nhưng nếu Cochro muốn chạy trốn, Bướm Xám thực sự không thể đuổi kịp.

Gymir cọ cọ lên cổ người yêu, tay chống cằm như đang xem một trò đùa.

“Mày còn dấu ấn của thần Mặt trời thứ hai không?”

Thảm Bay phát cáu trước thái độ “để xem mày còn trò gì khác” của Gymir, gã không nói một lời, tông thẳng vào khe nứt. Càng nhiều lửa phun ra hơn, khung cảnh xung quanh bắt đầu rung chuyển.

“Mày lại muốn về cái cống…” Gymir vừa nói đến đây thì cảm giác được trật tự thời gian lại bị kích hoạt.

Đường cống hiển nhiên không muốn tiếp quản mấy tên tà thần đã làm nó tổn thương nữa. Trật tự thời gian bèn nhanh trí tiến hành chia tách. Tách ngọn lửa khỏi mấy tên tà thần này.

Sau trận rung chuyển làm trời đất nghiêng ngả, Johnson buộc phải chuyển sang trạng thái quả cầu dây leo, uốn lượn quấn dọc theo vai và lưng người cá. Gymir hài lòng thỏa dạ sờ lên món trang sức mới trên đầu và cơ thể mình, thậm chí còn kéo một sợi dây leo vòng quanh eo mình.

Rầm.

Lại một cái hố lớn nữa.

Trong chớp mắt, nước biển đổ ào ào vào đáy hố.

Người cá nổi lên mặt nước nhờ sóng biển, nhìn thành phố yên bình phía xa, chìm vào suy nghĩ. Đây là thời đại nào? Hắn và Johnson ở đây đợi Cochro? Hay đợi thám tử loài người bây giờ?

Số phận đã đưa ra lựa chọn cho Gymir.

Nhìn về phía Thảm Bay đang rơi xuống ở xa xa, người cá vén dây leo treo trên tóc lên, môi nở một nụ cười nham hiểm và tàn nhẫn:

“Tốt lắm, Cochro, để tao xem thần Mặt trời tỉnh giấc trở về trái đất trước, hay là tao giết được mày trước.”
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 91


<b>Chương 91</b>

<b>Chuyến du hành vô nghĩa</b>

Những sợi dây leo màu đen nổi bật trên làn da trắng ngần như ngọc trai, trông hệt như một hình xăm tà ác. Những nhánh mảnh khảnh ở cuối dây leo hơi giương ra, vặn vẹo một cách bất an. Nó biến người cá xinh đẹp quyến rũ trong truyền thuyết thành một sinh vật bí ẩn, màu đen tượng trưng cho cái ác đang xâm chiếm lớp vảy vàng rực rỡ, những xúc tu của không thể miêu tả gác trên vây mỏng trong suốt không tì vết, vài chiếc gai độc cuộn lại hình xoắn ốc xuất hiện trên chiếc cổ thon và b* ng*c lộ ra ngoài.

Thành phố tĩnh lặng đang ngủ trong màn đêm, không ai nhìn thấy cảnh tượng tượng trưng cho cái chết này.

Người cá chìm xuống biển. Đuôi cá khuấy động từng đợt sóng, tránh hết xoáy nước này đến xoáy nước khác.

Thảm Bay đang chạy trốn phía trước. Đây là một nỗ lực thất bại khác của Cochro, gã đã “rút” ra khe hở thời gian nhiều lần liên tiếp, nhưng lần nào cũng rất gần với dòng thời gian bình thường, lần xa nhất chỉ là vào năm 1692.

Đối với con người, hai trăm năm mươi năm là một khoảng thời gian dài, nhưng trong mắt tà thần, thời gian đó còn chưa đủ để họ ngủ một giấc lấy lại sức. Khi Cochro lặng lẽ trở về trái đất từ sâu trong vũ trụ, gã đang bị thương, tình trạng thể chất này chắc chắn không phù hợp để tìm kiếm đồng minh nên gã chọn cách nghỉ ngơi. Bây giờ có một vấn đề xảy ra. Dù có nhảy nhót lung tung trong dòng thời gian thế nào đi chăng nữa, gã cũng vẫn không thể vượt qua được “khoảng thời gian để nghỉ ngơi và hồi phục” này, dẫn đến sức mạnh của gã vẫn luôn bị hạn chế.

Cochro nghiến răng nghiến lợi vì giận, gã chỉ ngủ có năm trăm năm trong dòng thời gian dài đằng đẵng của trái đất, khoảng thời gian này quả thực không đáng kể. Không giống như Gymir, Gymir chắc chắn sẽ bị hạn chế sức mạnh nếu quay về quá khứ, nên Cochro thực sự có cơ hội chiến thắng rất cao. Không thành công một lần là chuyện bình thường, thất bại hai lần thì xui xẻo, nhưng còn không trúng đến ba lần năm lần thì là bất thường.

“Chính xác thì mày đã làm gì?” Cochro không thể không hỏi.

Gã nhớ rằng Gymir luôn không hề sợ hãi, thậm chí còn lao ra đuổi giết ngay khi nhìn thấy gã, không hề lo lắng về việc Cochro đang hồi phục sức mạnh, Thảm Bay lại càng nghi ngờ Gymir đã ngấm ngầm tác động đến phán đoán thông thường của trật tự thời gian.

Gymir: “…” Không đầu không đuôi, hỏi cái quái gì thế?

Rồi sau đó từ giọng điệu giận dữ của Thảm Bay, Gymir cuối cùng cũng hiểu được câu hỏi của Cochro.

“Không, tao chẳng làm gì cả.” Chẳng qua là hắn đọc thời gian biểu do thám tử loài người đưa ra, rồi biết những khoảng thời gian bất ổn đáng ngờ của khu vực này.

Còn về phần lý do tại sao không lo lắng về khả năng phục hồi sức mạnh của Cochro… Gymir tự tin rằng mình còn chưa mù, không phải có thành phố ở ngay bên cạnh đó sao? Thành phố trông sạch sẽ và ngăn nắp hơn năm 1882, phong cách kiến trúc cũng gần với thời điểm hắn quen biết Johnson hơn, vậy thì còn cần phải do dự gì nữa?

Cochro không tin một chữ nào của Gymir. Gã kêu gọi thần Mặt trời Tonatiuh, ngọn lửa tuôn chảy hiện ra trước mặt dọc theo khe hở thời gian, theo lý mà nói thì rất có thể họ sẽ bị dịch chuyển về thời cổ đại, chạm trán Tonatiuh đang muốn đi săn, nhưng kết quả thì sao? Cochro từ chối thừa nhận rằng mình đã thất bại, cũng phủ nhận rằng mình gặp xui xẻo, gã tin chắc rằng Gymir đã làm trò gì đó.

“Tonatiuh sẽ tới!” Thảm Bay phẫn nộ kêu gào.

“Không sao, tao sẽ giao xác của mày cho nó.” Gymir cay nghiệt nói: “Tonatiuh thích ăn thịt đồng loại, nó không quan tâm ai cung cấp thức ăn.”

Thảm Bay cười khẩy: “Không, nó tham lam vô độ, không buông tha bất cứ đồng loại nào ăn được.”

Thần cổ xưa bị ức chế sức mạnh chính là món ngon nhất trong mắt thần Mặt trời.

Cochro tin rằng mối nguy hiểm chết người có thể khiến Gymir “thay đổi quyết định”, bởi vì đó là cách mà gã tỉnh ngộ. Không có gì quan trọng bằng sức mạnh.

Đồng minh? Hậu duệ? Bản thân?

Không có gì đáng để Cochro coi trọng hơn “yếu đuối”.

Trước đây, Cochro không có cảm giác sợ hãi này, gã thậm chí còn nghĩ rằng đó là thứ chỉ loài kiến mới có. Khi nỗi sợ hãi lần đầu tiên xuất hiện trong não Cochro, nó nhanh chóng bén rễ, cứng đầu như cỏ dại, dù Cochro có làm gì cũng không thể nhổ bỏ được nó.

“Mày sẽ phải cảm tạ tao, không có lựa chọn để dung hợp nào thích hợp hơn tao!”

Thảm Bay tiếp tục gào thét, quả cầu dây leo chỉ thấy quá ồn ào. Móng tay sắc nhọn của người cá để lại những vết cắt sâu trên lớp biểu bì của Thảm Bay. Gymir di chuyển cực kỳ nhanh trong lòng biển, đó là lý do tại sao hắn chọn hóa thân này. Khi sức mạnh bị hạn chế, cái bóng không có sức tấn công cao, cá voi khổng lồ sẽ cồng kềnh khi chiến đấu, đều không bằng người cá.

Johnson đột nhiên phát hiện ra một cách sử dụng sức mạnh mới, tất cả dây leo đều dựng ngược lên, nhanh chóng đóng băng, trông như từng sợi dây leo mọc đầy những ngạnh. Không, đó là một tấm lưới khổng lồ sắc bén. Có băng làm rào cản, Johnson có thể phát động tấn công mà không cần chạm vào bản thể của Thảm Bay. Chỉ có điều bây giờ bề ngoài của người cá càng trở nên kỳ quái hơn, giống như một con quái vật biển mặc áo giáp có gai màu trắng.

Cochro vừa né tránh để trì hoãn, vừa tìm kiếm các vết nứt, không tin rằng lần này mình lại xui xẻo nữa.

Cochro cố gắng sử dụng thiên phú không gian của mình, Johnson cũng sử dụng các xúc tu ở đầu dây leo để thăm dò luồng không khí. Nhưng trong cuộc truy đuổi khốc liệt, họ không tìm thấy gì.

Máu của Thảm Bay đổ ra dần rơi xuống biển. Cả vùng vịnh biển như nồi súp đang sôi, nước dâng cao, như đang chuẩn bị cho một tai họa khủng khiếp đang ập đến.

Johnson đột nhiên ngẩng đầu lên, y cảm nhận được hơi thở của la bàn.

Juan đến rồi.

Cochro cũng có phản ứng cùng lúc.

***

Sóng biển như một bức tường cao, phá hủy những cây cọ trên bãi biển trong tích tắc. Cảng cũng chỉ còn lại khung cảnh hỗn loạn sau khi sóng biển rút. Một số thuyền nhỏ bị dạt vào các khu dân cư ven biển, mũi thuyền đâm vào tường nhà.

Khuôn mặt lấm lem bùn đất, Juan ôm lấy ngọn đèn đường, nhìn nước biển rút dần, thở hổn hển. Ngay sau đó, anh cảm thấy phía sau lưng lạnh buốt, bên tai vang lên một âm thanh kỳ lạ không thể giải thích được.

Juan buông lỏng tay, rơi xuống. Cát bùn còn sót lại trong nước biển giống như một cái bẫy, kéo anh về phía nước biển với lực kéo rất mạnh. Juan phải cố nén cơn đau đầu dữ dội để vật lộn. Dù hai chân không thể cử động chút nào nhưng vẫn cố gắng quẫy đạp.

Rắc.

Juan nghe thấy tiếng xương mình gãy. Anh cũng nghi ngờ đây là ảo giác, vì trong ảo ảnh anh có thể nghe thấy tiếng côn trùng bò trong mạch máu, tiếng sủi bọt của trái tim bị xé toạc. Còn về cơn đau… trong cảm giác khủng khiếp do tà thần gây ra, sự tồn tại của tứ chi thường không được cảm nhận rõ ràng, bộ não bị cơn đau dữ dội chiếm giữ hoàn toàn.

Juan nhắm mắt lại, mơ hồ nghe thấy tiếng gió rít mạnh, cùng với mùi tanh của nước biển?

Sau đó tầm nhìn của anh tối sầm lại, anh bất tỉnh.

***

Thảm Bay còn nhớ Juan. Cochro không do dự khi quyết định g**t ch*t con người đã phá hỏng kế hoạch của gã.

Nhưng vận may của Juan là một điều bí ẩn. Anh bị mắc kẹt trong bãi cát lún, bị sóng biển đang rút đi cuốn thẳng ra biển. Trong tình huống nguy cấp, ngay cả những người thông thạo kỹ năng bơi lội cũng khó có thể thoát được, sống sót hay không hoàn toàn phụ thuộc vào số phận.

Khi Cochro xuất hiện phía trên Juan, máu chảy ra từ vết thương của Thảm Bay có thể biến anh thành một vũng bùn nhão chỉ biết gào thét trong một giây, không cần thiết phải cứu, bởi vì đống bùn từ máu thịt đó sẽ tan rã trong giây tiếp theo. Thế nhưng sau đó Juan rơi vào dòng nước và cát lún…

Johnson đóng băng cả bãi biển trước khi Thảm Bay bắt kịp Juan. Băng rất giòn, bị nước biển đập vào vài lần là sẽ sụp đổ, nhưng Cochro bây giờ thậm chí còn giòn hơn, gã đập thẳng vào bức tường băng. Quả cầu dây leo nhanh chóng ném một viên ngọc trai ra, Juan lại biến mất mà không kịp mở mắt ra. Điều này cũng cho thấy máu của tà thần đang ăn mòn vùng đất này.

“Vừa rồi em thấy vỏ la bàn bị nứt.” Johnson lo lắng nói, y có linh cảm chẳng lành.

Lúc này Cochro cười lớn, thế giới tĩnh lặng vặn vẹo, sau đó giăng đầy vô số vết nứt như thủy tinh.

“Muốn giết tao hả? Đáng tiếc, bản thân máu thịt của tà thần đã có thể phá vỡ trật tự.” Thảm Bay nhìn Gymir mỉa mai, châm biếm hắn vì hắn chưa từng giết đồng loại nên không biết được điều này. “Tao đang dùng chính mình để phá vỡ nơi này từng chút một, tới đây, tao nghĩ mày sẽ rất ngạc nhiên khi thấy…”

Các vết nứt vỡ ra, thứ thoát ra không phải là ngọn lửa đáng sợ, cũng không phải thần Mặt trời thức giấc, mà là một con sâu bướm khổng lồ trông như một núi thịt.

Johnson: “…”

Gymir: “…”

Cả hai trơ mắt nhìn con sâu bướm nuốt chửng Cochro ngay trong một cú đớp.

Sau đó, máu thịt của nó xé nát thân xác Thảm Bay như một cối xay có răng nhọn.

Tiếng thét kinh hoàng khiến quả cầu dây leo không khỏi cuộn tròn lại, tiện tay dùng hai xúc tu bịt tai người cá.

“Thám tử loài người đó nói năm 1850 có bệnh dịch bùng phát ở Kingston, có bao nhiêu người chết nhỉ?”

“Em không nhớ… nhưng có khá nhiều, ở đây vốn rất dễ xảy ra dịch bệnh, còn có thi thể của những người bị cướp biển g**t ch*t năm đó…”

Quả cầu dây leo khựng lại, cùng người cá đứng ngơ ngác nhìn Bướm Xám.

Vậy là họ đã tận mắt chứng kiến việc du hành xuyên thời gian và không gian khiến Bướm Xám trở nên mạnh mẽ hơn như thế nào? Nó đã lớn lên điên cuồng trong những khe hở thời gian khác nhau? Nhiều tác động tiêu cực khiến cho thần cổ xưa Thảm Bay ngày càng yếu đi, cuối cùng toi mạng như thế này?

Bướm Xám bắt đầu lột xác dữ dội khi Cochro giằng co trước cái chết. Nó đã sinh ra một cơ thể nhẹ nhàng và hoàn chỉnh. Đôi cánh khổng lồ trong suốt sinh ra những đường hoa văn kỳ lạ, trông rất giống hoa văn trên lưng Thảm Bay.

Bướm Xám không thèm nhìn đến Johnson và Gymir, mà bay thẳng lên trời.

Cùng lúc đó, thế giới này cũng hoàn toàn tan vỡ, Johnson lại rơi vào vòng xoáy đen tối và đảo lộn. Y cảm thấy Gymir biến thành cái bóng quấn lấy mình.

“Bướm Xám đi đâu rồi?” Johnson bất an hỏi.

“…Rời khỏi trái đất, nếu ta hiểu đúng ý nghĩa tiếng kêu của nó.”

Bướm Xám không có não, chỉ hành động theo bản năng. Khi trở nên mạnh mẽ, trong tiềm thức nó sẽ tìm kiếm lãnh thổ cho riêng mình, trái đất tràn ngập mùi của những đồng loại đang ngủ say, tất cả đều không phải là đối tượng giao phối lý tưởng.

Johnson vô thức xoa xoa dây leo xúc tu: “Liệu nó có bị các vị thần ngoài hành tinh đánh cho chạy về như Cochro không?”

Gymir nói thẳng: “Ta không biết, cho dù có thì cũng phải rất lâu sau đó.”

***

Năm 1959, khu cắm trại trên bờ biển đảo Jamaica.

Tiến sĩ Marat đang chuẩn bị dẫn mọi người đi thăm dò địa hình dưới nước thì bất ngờ nghe thấy tiếng ồn ào.

“Xảy ra chuyện gì?”

“Juan mất tích, tay trợ lý của anh ta không tìm được người, nên tới đây tìm anh.”

Tiến sĩ Marat nghe xong, tức giận ấn trán.

Chuyên gia lặn bên cạnh cũng rất tức giận: “Juan bị cái gì vậy? Mấy ngày nay không gặp được, hắn cứ thần bí như vậy, chẳng lẽ lại bị bắt cóc sao?”

Tiến sĩ Marat đang định nói thì chợt cảm thấy người mình lảo đảo, lều cũng rung chuyển.

“Động đất?”

Tiến sĩ Marat chộp lấy sổ tay và ba lô của mình, những người còn lại xách dụng cụ và máy móc, hoảng loạn lao ra khỏi lều, tập trung trên bãi biển để quan sát xung quanh.

“Yên lặng, không sao hết! Tất cả bình tĩnh!” Tiến sĩ Marat giật lấy một cái loa, cao giọng hét lớn.

Cơn chấn động chỉ kéo dài hơn mười giây, biên độ rung chuyển không quá lớn, chỉ có điều là xảy ra quá đột ngột, mà tất cả người trong đội khảo cổ đều biết rằng Port Royal bị động đất phá hủy, trận động đất lớn gần đây nhất xảy ra vào năm 1907, về mặt lý thuyết thì trong vòng hai trăm năm này thành phố sẽ được an toàn, nhưng con người không tránh khỏi sợ hãi.

“Thu dọn đồ đạc, rút lui lên vùng đất cao hơn trước!”

Tiến sĩ Marat ước tính đây là trận động đất có cường độ khoảng 5 độ richter, nhưng ông ta không biết tâm chấn ở đâu nên không thể ở lại bãi biển, phải chuẩn bị ứng phó với sóng thần.

“Cứu tôi với…”

Giọng nói yếu ớt lọt vào tai, mọi người lúc đầu đều giật mình, sau đó kinh ngạc nhìn về phía đống hộp thiết bị phía sau lưng mình. Không biết từ lúc nào mà trong khoảng trống giữa những chiếc hộp lại có thêm một người. Cơ thể của anh bị uốn cong thành một vòng cung kỳ lạ, như thể bị đè ép và tra tấn, nhìn vào thật đáng sợ.

“Juan?”

“Anh ấy sốt cao, gãy chân rồi!”

Mọi người đều sửng sốt, không hiểu Juan làm cách nào mà “lẻn” vào vòng tròn này ngay trước mũi họ. Điều đáng sợ nhất là Juan không hề tự mình “vào”, chắc chắn anh không thể cử động được với những vết thương thế này.

Nick nghe thấy họ gọi tên Juan từ xa thì vội chạy tới, thấy bộ dạng của Juan, gã kinh hãi vẽ dấu chữ thập là lẩm bẩm “nguyền rủa”, “lời nguyền của ma cướp biển”, khiến khung cảnh càng trở nên hỗn loạn hơn.

Tiến sĩ Marat chạy ra tìm một chiếc xe tải, phanh gấp ngay trước cổng khu cắm trại, mở cửa nhảy ra ngoài, hét lên: “Còn đứng đó làm gì? Dọn đồ đi, đưa người tới bệnh viện nữa!”

Khi Juan được nâng lên, anh lẩm bẩm trong cơn mê sảng. Một vật thể sáng lấp lánh rơi xuống từ người anh.

Mắt của Nick lồi cả lên, gã rất sợ hãi, chỉ vào la bàn mà lắp bắp: “Chính là nó.”

Nhưng nhân viên đội khai quật khảo cổ bận rộn không để ý đến gã. Nick kinh hãi đứng đó, gã muốn nhặt chiếc la bàn lên nhưng lại không dám đến gần. Khi người ta khiêng Juan lên xe xong, Nick mới rối rắm chạy tới, cúi người xuống, sau đó tay gã chạm vào tay người khác, kết quả là cả hai đều không nhặt được la bàn.

“Tiến sĩ Marat?”

Tiến sĩ Marat im lặng nhìn Nick.

“Cái này kỳ quái lắm… Thật đấy, Tiến sĩ, xin hãy tin tôi! Nó có lời nguyền!” Nick hoang mang giải thích.

Tiến sĩ Marat không tin một chữ nào về cái lời nguyền này, nhưng điều làm ông ta ngạc nhiên là những người khác dường như đều bị mù có chọn lọc, ngoại trừ chính ông ta và trợ lý của Juan, không ai “nhìn thấy” món đồ bằng vàng chói lóa này.

Vậy có hợp lý không?

Tiến sĩ Marat lấy trong túi ra một hộp xì gà rỗng, dùng khăn tay quấn vào bàn tay, nhặt chiếc la bàn ném vào hộp trống.

Khi hộp xì gà đóng lại đánh cạch một tiếng, Nick thấy nhẹ nhõm hẳn, như thể ma quỷ đã quay trở lại trong cái chai của nó.

“Xin lỗi, thưa quý vị, có thể vui lòng trả lại chiếc la bàn bị hư hỏng đó cho ta được không?”

Một giọng nói đột nhiên vang lên.

Tiến sĩ Marat và Nick đều giật bắn mình, quay phắt người lại.

Họ nhìn thấy một quý ông người Anh đội mũ chóp đen lặng lẽ đứng trên bãi biển, ăn mặc hoàn toàn không phù hợp với nhiệt độ theo mùa của vùng biển nhiệt đới. Y còn rất trẻ và tuấn tú, đôi mắt xanh nhạt kia lại như hồ nước thăm thẳm không đáy, toát ra vẻ lạnh lùng khiến người ta phải thót tim.

Cho dù là những công nhân địa phương đang hoảng loạn, hay nhân viên đội khảo cổ đang di chuyển thiết bị… đám đông đi ngang qua quý ông này, nhưng họ hoàn toàn không nhận thức được sự hiện diện của người lạ mặt đó.
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 92


<b>Chương 92</b>

<b>Hào hiệp</b>

Juan mở mắt ra, nhìn thấy trần nhà ướt đẫm nước.

Dấu vết này trông khá quen thuộc.

Đúng, đây chính là phòng bệnh nơi anh ở lúc trước.

Juan cố gắng ngồi dậy, sau đó anh nhìn thấy chân phải của mình treo lơ lửng trên không bằng băng gạc.

“Gãy xương à?”

Juan cố gắng nhớ lại nhưng trải nghiệm du hành thời gian lần thứ ba quá ngắn ngủi, anh chỉ nhớ mình gần như bị sóng biển cuốn trôi ngay khi vừa đặt chân xuống đất. Juan không nhớ tà thần xuất hiện như thế nào, còn anh đã sống sót như thế nào.

“Đợi đã, la bàn đâu?”

Juan vội vàng đưa tay mò mẫm dưới gối nhưng không tìm thấy. Các túi áo bệnh nhân cũng trống rỗng, trên tủ, ngăn kéo cạnh giường bệnh cũng không có thứ gì.

Nguy rồi!

Juan lo lắng về việc chiếc la bàn sẽ bị người lạ nhặt được, vì trông nó có giá trị rất cao, có thể người ta sẽ tìm cách bán nó, nhưng đây là vật thuộc về tà thần, còn bị ràng buộc với người sử dụng. Kẻ nào tìm cách chiếm hữu chiếc la bàn này có thể sẽ chết như tay buôn đồ cổ.

Juan ngẩng đầu lên, nhìn thấy Nick bưng đĩa cơm bước vào, anh lập tức vui vẻ muốn hỏi thăm tình hình, thế nhưng Juan phát hiện vẻ mặt của Nick rất cứng ngắc, thậm chí gã còn đi cùng tay cùng chân.

“Xảy ra chuyện gì vậy?”

Nick lắc đầu lia lịa, ánh mắt kinh hãi, liên tục ra hiệu.

Juan khó hiểu: “Phía sau tôi? Ở đó có gì không?” Nếu anh nhớ không lầm thì đó là cửa sổ, còn đây là tầng ba.

Juan quay đầu lại, đồng tử co rút ngay lập tức. Bệ cửa sổ vừa rồi trống rỗng, vậy mà giờ lại có người đứng trên đó.

Johnson trông thoải mái và tự nhiên như bước lên bậc thềm của nhà hát opera, mặc bộ lễ phục dài với hai hàng cúc áo, cầm theo gậy batoong khảm sapphire. Điều duy nhất không hợp với ngoại hình là cuốn tạp chí màu sắc sặc sỡ trên tay y. Đây là một tạp chí địa phương đưa tin về việc chính phủ hỗ trợ đội khảo cổ trong việc trục vớt kho báu trong Thủ phủ của Cướp biển. Nó cũng giới thiệu các khách sạn nghỉ dưỡng, đồ ăn bãi biển mùa hè, v.v. cho khách du lịch từ châu Âu và Hoa Kỳ. Vì ngôn ngữ chính thức của Jamaica là tiếng Anh nên Johnson có thể hiểu được.

“Anh đã tỉnh?” Johnson cất tạp chí đi, lấy hộp xì gà từ trong túi ra.

Juan suýt chút nữa tưởng rằng tà thần cũng có thói quen hút xì gà, lại còn hút cùng nhãn hiệu với của Tiến sĩ Marat, ai ngờ khi Johnson mở hộp xì gà, bên trong lại là chiếc la bàn bằng vàng kia. Trên vỏ ngoài của la bàn có những vết nứt như mạng nhện. Juan kinh hoàng, anh nghi ngờ rằng xương của mình đã bị gãy giống như vậy.

“Không, anh bị cuốn vào trong cát lún, không tự cứu được nên bị thương.” Johnson cảm thấy mọi suy nghĩ của Juan đều được viết trên mặt, nên hết sức dễ hiểu.

Đáng tiếc Juan lại cho rằng tà thần có thể đọc được suy nghĩ… Đọc suy nghĩ thì được thật, nhưng bình thường tà thần không dùng khả năng này với con người, bởi vì dùng xong là con người sẽ thành phế thải, phế thải theo nghĩa đen, là loại rác sẽ được đưa vào lò đốt rác.

Juan vô thức ôm chân, liếc nhìn Nick, không biết nên hỏi Johnson về tình hình hiện tại của anh như thế nào trong khi phải che giấu sự thật.

Nick nhắm mắt lại, run rẩy ngồi trên mép giường và gọi tên Chúa.

“Đừng lo lắng, hôm qua ta đã gặp trợ lý công việc của anh, cùng với người lãnh đạo đội khai quật khảo cổ các anh, Tiến sĩ Marat.”

Lời Johnson nói khiến Juan giật mình, “quen biết” tà thần không phải là điều tốt.

Johnson tiếp tục giải thích như một người có khả năng đọc suy nghĩ chu đáo: “Họ nhìn thấy chiếc la bàn, có thể gây ra một số tác động xấu…”

Nick đọc to lời cầu nguyện.

Juan: “…”

“Anh ta nghĩ ta là ảo ảnh, đồng thời là bản thân lời nguyền, con người các anh có câu chuyện cổ tích về một con quỷ bị mắc kẹt trong một chiếc la bàn hay gì đó phải không?”

“Nó ở trong chai.” Juan trả lời theo bản năng.

Johnson gật đầu: “Ồ, dù sao thì ma quỷ cũng sẽ giết người mở nút chai… ý ta là người mở la bàn, cho nên anh ta cứ giả vờ như không nhìn thấy ta, vừa rồi anh ta muốn cảnh cáo anh, hy vọng anh đừng đáp lời ta, nhưng anh lại hoàn toàn hiểu sai ý anh ta.”

Nick càng run rẩy mạnh hơn, sau đó mắt gã trợn trắng, người ngã xuống đất bất tỉnh.

Juan vội vàng nắm lấy tay gã, vì không thể xuống giường nên chỉ có thể vươn cổ quan sát tình trạng của Nick.

“Anh ta không sao, sau khi ta đi, anh ta sẽ quên hẳn chuyện này.” Johnson bình tĩnh nói: “Anh ta nhìn thấy tồn tại huyền bí là do quá thân thiết với anh, khi mọi điều bất thường biến mất, sự việc sẽ được giải quyết.”

“Tiến sĩ Marat thì sao?” Juan vẫn chưa quên người thứ hai mà Johnson vừa nhắc đến.

“Ông ta cũng…” Johnson suy nghĩ vài giây, đổi tính từ “sáng” đi, chuyển sang một cách nói uyển chuyển hơn: “Ông ta có khả năng nhìn thấy hiện thực giống như anh, vì vậy anh có thể phải giải thích điều đó cho ông ta.”

Thần kinh của Juan căng lên.

“Trên thực tế, chúng ta đã gây ra trận động đất lớn năm 1907 khi thoát khỏi khe hở thời gian, có thể anh không nhớ. Khi đạt tới mốc thời gian bình thường là năm 1959, một trận động đất nhỏ cũng đã xảy ra. Tuy rằng quy mô không lớn, nhưng ta nghĩ anh không thích hợp ở lại đây tiếp tục đào bới, anh rất có thể sẽ lại thấy bóng ma, gặp phải ảo giác… Nếu anh không muốn phát điên, ta khuyên anh nên tìm một công việc khác.” Johnson ngồi xuống chiếc ghế cạnh giường của Juan, cũng chính là chiếc ghế mà Nick vừa ngồi ban nãy.

Juan liếc nhìn Nick đang nằm trên mặt đất với vẻ mặt phức tạp, rồi nhìn sang tà thần có vẻ như chỉ đến thăm bệnh nhân bình thường thôi.

“Được rồi, trước khi từ chức, tôi sẽ đưa cho Tiến sĩ Marat vài bức vẽ chính xác về Port Royal.” Juan kiên quyết hoàn thành công việc của mình, anh không muốn từ bỏ kho báu quý giá nhất mà cuộc phiêu lưu này mang lại.

Mặc dù có cầm bản đồ hoàn nguyên đi trục vớt những tàn tích chìm trong cát dưới nước vẫn rất tốn công sức, nhưng nó sẽ giúp họ bớt phải đi nhiều đường vòng. Ví dụ, xác suất tìm thấy vàng đã tăng lên gấp nhiều lần, thời gian tìm kiếm được rút ngắn đi rất nhiều. Ít nhất họ có thể đưa ra câu trả lời cho chính quyền địa phương đã thuê họ.

Johnson tỏ ra không quan tâm đến vấn đề này, y chỉ đến đây để thanh toán khoản thù lao còn lại.

“Sao cơ?” Juan kinh hãi.

Hóa ra tà thần thật sự trả tiền?

Đợi đã, hình như anh chỉ hy vọng không có chuyện gì xảy ra với Kingston vào năm 1959? Như vậy là tà thần thấy rất hài lòng, tăng mức thù lao lên?

Johnson ấn vỏ la bàn xuống, mở nó ra. Quả cầu pha lê bên trong tự động nổi lên, lần này phản chiếu một hình ảnh rõ ràng lên bức tường đối diện giường bệnh.

Đó là một thành phố cổ tựa lưng vào núi, quay mặt ra biển. Vì các tòa nhà quá nhỏ nên chỉ có thể thấy được phong cách tổng thể là kiểu La Mã. Vịnh biển nằm ngay gần thành phố, những ngọn núi ở phía xa dường như đang tỏa ra khói dày đặc.

“Đây là…!” Juan ngừng thở, nhìn hình chiếu với vẻ khó tin.

Đâu là nơi mà các nhà khảo cổ và các đội khai quật thực địa thèm muốn nhất?

Bán đảo Apennini, bên dưới núi lửa Vesuvius, thành phố cổ Pompeii.

“Chỉ có một cơ hội để sử dụng.” Johnson đóng la bàn lại, nói với Juan đang đỏ bừng cả mặt vì phấn khích: “Phương pháp là trước tiên đến điểm trùng lặp không gian, sau đó mở la bàn này ra, nó có thể đưa anh đến thành phố trong hình ảnh này, dùng cách mà anh quen thuộc để tìm khe hở thời gian trong thành phố đứng yên, sau đó mở lại la bàn để quay về. Sau khi sử dụng, nó sẽ mất hết sức mạnh, quả cầu pha lê sẽ vỡ tan, nó trở thành một chiếc la bàn thông thường.”

Johnson buông tay ra. Juan vội vàng bắt lấy la bàn, giống như đang nhìn người tình trong mộng của mình, hoặc là như đang cầm chiếc chìa khóa có thể mở được kho báu vàng ròng.

Johnson khẽ mỉm cười, quay về phía cửa sổ. Nếu có thể, y cũng muốn được nhìn thấy Juan vừa la hét vừa khám phá thành phố cổ đó, chắc hẳn sẽ rất thú vị. Đây cũng là lý do chính khiến Gymir sẵn sàng bỏ ra sức mạnh để chi trả khoản thù lao này.

“Cảm ơn!” Juan tỉnh táo lại, vội vàng hét với theo sau lưng Johnson.

Johnson nâng vành mũ lên chào tạm biệt như một quý ông, rồi bóng dáng y biến mất giữa bóng cây đung đưa trong màn đêm đen kịt.

***

Gió biển rải những cánh hoa khắp trong sân.

Gymir sờ sờ mặt nạ trên mặt, đứng trước cửa biệt thự gỗ, cười nửa miệng nói: “Có vẻ như ta nên gõ cửa?”

Trong nhà không có động tĩnh gì.

Giống như có người nhất quyết giả chết.

“Thôi được rồi.” Gymir nâng cằm lên, mặt biển phía sau hắn bắt đầu có sóng dâng trào cuồn cuộn không hề báo trước.

“Đừng!” John bất ngờ đẩy cửa sổ ra, nửa người nằm bò trên bậu cửa sổ một cách lôi thôi, làm vỡ cả chậu hoa cúc đặt ở đó.

Gymir nghiêng đầu đánh giá John, đầu tiên hắn không nhận thấy sự già nua của thám tử, suy cho cùng thì tà thần phân biệt kiến sẽ chọn nhìn vào độ sáng trước tiên, mà độ sáng của John là lý tưởng.

“Đáng lẽ ngươi phải đoán được sẽ có khách như thế nào tìm đến trước cửa nhà, tại sao lại giả vờ như không có chuyện đó chứ?” Gymir cảm thấy con người thật là khó hiểu.

Thần Biển bước vào trong sân, liếc nhìn con mèo đang run rẩy dưới gốc cây, rồi lại chuyển sự chú ý sang chính ngôi nhà.

“Đây là thù lao của Johnson cho ngươi ở Luân Đôn năm đó?”

“Chứ không thì sao?” John lẩm bẩm, lấy ấm trà ra và bắt đầu rót trà đen: “Ngài có hiểu lầm gì về thu nhập của thám tử sao? Ngay cả ông Sherlock Holmes vĩ đại cũng cần phải thuê cùng một căn hộ với người khác, thông thường, càng kiếm được nhiều thì chúng tôi càng tiêu pha nhiều, vì phải đi lại nhiều nơi, còn phải ứng phó với những khó khăn bất ngờ… Tôi phải nói rằng, những khách hàng hào phóng như các ngài thật hiếm có.”

“Tôi có thể biết ngài đã trả cho Juan bao nhiêu không? Xin hãy tha thứ cho sự tò mò không đúng thời điểm của tôi.” John âm thầm thay đổi chủ đề.

Gymir chọn chiếc ghế bập bênh thoải mái nhất trong sân, hắn hơi ngả người ra sau, cau mày nói: “Định vị cho chuyến du hành đến Pompeii.”

Ngay cả khi có kinh nghiệm dày dặn và từng chứng kiến nhiều sự kiện lớn, John cũng phải sửng sốt.

“Wow.” John cảm thán theo một cách rất không giống người Anh, ông không nhịn được nói: “Đối với Juan thì cái này là quá hào phóng.”

Gymir không có cảm giác gì. Đây là gợi ý của Johnson, y cho rằng trong tiểu thuyết phiêu lưu truy lùng kho báu của con người, có một địa điểm nổi tiếng hơn cả Port Royal. Gymir đến đó xem thử, xác nhận khe hở thời gian thực sự tồn tại, rất dễ xác định vị trí. Dù sao cũng chỉ là một con người, trật tự thời gian sẽ không để ý tới tồn tại nhỏ yếu như vậy.

Gymir nhìn xuyên qua bức tường, thấy một khung hình trên lò sưởi trong phòng khách của ngôi nhà. John ở giữa bức ảnh, bên cạnh ông là một người phụ nữ với những nếp nhăn trên khuôn mặt, nhưng vẫn có thể nhận ra vẻ ngoài xinh đẹp của bà khi còn trẻ.

“Vợ và con của ngươi?”

“Đúng thế, ông Sherlock Holmes chưa kết hôn, ông ấy có thể mua được một căn nhà ở nông thôn, còn tôi vẫn phải nuôi một gia đình!” John bế con mèo lông ngắn đang run rẩy lên, cảm thấy thú cưng của mình thật đáng thương, bị tà thần dọa cho xù hết cả lông, móng của nó bấu chặt vào cúc quần áo của ông, sống chết cũng không chịu buông ra. Nếu biết sớm thì ông đã bảo vợ con mang con mèo đi nghỉ cùng. Thật không may, việc mang thú cưng lên tàu thuyền hoặc xe hơi sẽ rất rắc rối, lại còn vất vả nữa. John thực sự không phải là một người giàu có, khi để gia đình đi nghỉ (đi lánh nạn), ông không đủ khả năng chi trả phí đắt đỏ đến vậy.

“Hôm qua Hans đã gọi cho tôi, nói rằng cậu ta đã gặp ngài, tôi biết các ngài sẽ đến.” John vươn đầu ra, như muốn tìm kiếm bóng dáng Johnson trên con đường phía cuối hàng cây nở hoa.

Gymir gõ đốt ngón tay lên bàn trong sân, lạnh lùng nói: “Ngươi lập gia đình được bao lâu rồi.”

“Ờ, hai mươi sáu năm?”

“Mối quan hệ của các ngươi như thế nào?”

“…”

John chợt nhận ra rằng Gymir có thể đã cố tình tìm cơ hội để đến đây gặp riêng mình.

Quả nhiên, vào giây tiếp theo, tà thần nói thẳng: “Con người sẽ chung sống như thế nào sau khi đã cưới nhau? Ý ta là, sau khi có quan hệ thể xác thân mật và cộng hưởng tâm hồn, làm thế nào để quay trở lại trạng thái của thời kỳ yêu nhau say đắm?”

John: “…”

John ngập ngừng hỏi: “Tôi lập danh sách đọc cho ngài nhé?”

Gymir không đáp, nhưng John có thể nhìn ra được rằng thần Biển không hài lòng chút nào.

“Chà, tôi khuyên các ngài nên quay lại nơi lần đầu gặp nhau, nhớ lại quá khứ ngọt ngào, cũng có thể đến một địa điểm mới để bắt đầu lại trò chơi tình cờ gặp mặt khi mà em không biết tôi và tôi không biết em.” John nói một lúc, chợt nhận thấy tư thế ngồi của Gymir đã thay đổi một cách tinh tế, từ ngạo mạn sang trạng thái hơi thích thú “ta đang nghe”.

Ha, tà thần.



<i>Người dịch:</i>

<i>Pompeii là một thành phố La Mã cổ đại bị chôn vùi bởi tro bụi núi lửa, hiện tàn tích nằm ở vùng Campania, Ý, thuộc địa giới công xã Pompei, gần thành phố Napoli. Pompeii cùng với thành phố chị em là Herculaneum cùng bị hủy diệt và chôn vùi hoàn toàn bởi một vụ phun trào kéo dài hai ngày của núi lửa Vesuvius năm 79. Pompeii bị vùi dưới 18 mét tro và đá bọt. Tàn tích này bị lãng quên trong 1.700 năm kế tiếp cho đến khi được bất ngờ phát hiện vào năm 1748. Từ đó đến nay, việc khai quật Pompeii đã cung cấp một cái nhìn sâu rộng về cuộc sống của một thành thị thời cực thịnh của Đế quốc La Mã.</i>

<i>Núi Vesuvius là một núi lửa tầng nằm ở vịnh Naples, Ý, cách Naples 9 kilômét (5,6 mi) về phía đông và gần bờ biển. Đây là núi lửa duy nhất ở châu Âu nằm trên đất liền đã từng phun trong vòng hàng trăm năm qua, mặc dù hiện nay không còn ghi nhận thêm những đợt phun trào mới.</i>

<i>Bán đảo Ý hay bán đảo Apennini là một trong ba bán đảo lớn của Nam Âu. </i><i>Hình dạng của bán đảo khiến nó có biệt danh là Lo Stivale (Giày ống/ủng). Ba bán đảo nhỏ tạo nên hình dạng đặc trưng này là Calabria, Salento và Gargano.</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 93: Phần 7: Đảo Chết Chóc Năm 1959, đảo Sable


<b>Chương 93</b>

<b>Tiếp cận cái chết</b>

Năm 1959, Bắc Đại Tây Dương.

Trên bầu trời xuất hiện một tia sáng màu cam nhàn nhạt, chẳng mấy chốc, mặt trời đã mọc lên, như nhảy ra từ đáy biển sâu.

Tàu Elizabeth đang lướt đi giữa những con sóng, thân tàu lắc lư nhè nhẹ.

Ánh nắng chiếu vào cửa sổ thủy tinh trên khoang thuyền, nhiều hành khách thức giấc. Không phải do tác dụng cản sáng của rèm cửa quá kém, mà vì họ ngủ không ngon. Ngay cả cabin hạng hai trên tàu cũng hơi nhỏ, nếu nhét hai cái vali vào, hành khách hơi mập chút thôi cũng phải xoay người sang một bên để tránh bị ngã xuống giường khi mở tủ quần áo. Họ đã lênh đênh trên biển hơn hai mươi ngày, trừ những ai bị say sóng nghiêm trọng, còn lại những người khác đều đã thích nghi với cảm giác tròng trành, và một số vấn đề cũng nảy sinh.

Trước hết là chăn ga gối đệm ẩm ướt, người ta cho rằng khoang hạng tư ở phía dưới bị nấm mốc, thậm chí có người còn nhìn thấy chuột trong phòng. Trên tàu có nuôi mèo, đây là một thói quen được thừa hưởng từ Thời đại Khám phá để đối phó với những con chuột có thể mang vi rút truyền bệnh. Không biết liệu kỹ năng săn bắt của mèo trên tàu Elizabeth đã kém đi hay do lũ chuột đó đặc biệt tinh ranh, nhưng việc chuột phá hoại đã diễn ra được ba ngày. Có một lần, trước sự chứng kiến của đông đảo hành khách, một con chuột chui ra từ gầm bàn trong nhà hàng, nhảy lên chiếc đèn chùm treo trên trần nhà rồi rơi bịch xuống váy một phụ nữ.

“…Bà cứ tưởng đây là chuyện chỉ xảy ra ba mươi năm trước.” Bà của Cindy mỉa mai nói. Bà cứ lải nhải kể lại cảnh tượng trong nhà hàng tối qua.

Cindy năm nay hai mươi hai tuổi, là một cô gái trẻ trung xinh đẹp người Anh, ở cùng bà nội trên tầng hai của con tàu này. Có hơn ba trăm hành khách trên tàu Elizabeth, nhưng tàu chưa đầy tải, con tàu hơi cũ, giá vé cabin ở mức trung bình cho tuyến đường này. Những người thực sự giàu có sẽ không đi loại tàu này, tương ứng với đó, cơ sở vật chất trên tàu Elizabeth cũng khó có thể đáp ứng được yêu cầu của hành khách.

“Bà ơi, đây đúng là chiếc tàu của ba mươi năm trước.”

“Cái gì? Bà có nói tàu sao? Ý bà là đám người kia kìa!” Bà của Cindy không vui nói: “Người phụ nữ đó chỉ biết la hét, còn người đàn ông bên cạnh cô ta cũng chỉ biết la hét? Làm thế nào một người như vậy có thể sống sót trong chiến tranh?”

“Nhiều người sợ chuột vì chúng có thể truyền bệnh sang người.” Cindy kiên nhẫn giải thích. Cô vội vàng trải giường, mở cửa chuẩn bị đỡ bà nội lên boong thuyền cho thoáng khí.

Thật trùng hợp, cánh cửa bên trái cũng mở ra. Một gã đàn ông chào cô với giọng điệu ngả ngớn: “Thưa cô Fresnel, và bà Fresnel, thời tiết hôm nay thật đẹp phải không?”

Mặt Cindy tối sầm lại. Đây là Smith, một người Mỹ ở trong cabin bên cạnh. Kể từ khi lên tàu, gã luôn tìm cách để bắt chuyện với cô. Cindy biết rằng nhiều người thích những cuộc tình bất ngờ trên những con tàu vượt đại dương để giải tỏa nỗi cô đơn, sau khi xuống tàu mỗi người một ngả, không ai quan tâm đến ai. Nhưng cô đang đi du lịch với bà nội, một người đàn ông thông minh thì nên biết rằng cô không có thời gian rảnh rỗi, cũng không có hứng thú chơi trò tình ái kiểu này. Nhưng tay Smith này vẫn cứ bám lấy cô như một con chó ghẻ.

Cindy đóng mạnh cửa lại. Qua cánh cửa, cô gái người Anh vẫn nghe được cuộc trò chuyện giữa Smith và một hành khách khác.

“Xin chào, thưa ông Smith, hôm nay lại thất bại à?”

“Đó là một phần nét quyến rũ của cô Fresnel, phải không?”

“Ha ha!”

Tiếng cười chứa đầy sự ăn ý giữa đám đàn ông với nhau. Theo đuổi một cô gái có khuôn mặt xinh đẹp là trò tiêu khiển tuyệt vời nhất trong một hành trình nhàm chán. Nếu cô gái dễ thỏa hiệp quá, họ sẽ cảm thấy nhàm chán, chẳng có gì thú vì cả.

Cindy đen mặt nói với bà nội: “Bà nói đúng, những người này nên được ném về thời kỳ chiến tranh.”

Bà Fresnel đang ngồi trên giường chợp mắt. Bà đã già, hay ngủ quên giữa chừng cuộc trò chuyện, trí nhớ cũng không tốt lắm. Bây giờ bà chợt tỉnh dậy, mơ hồ hỏi: “Chúng ta tới rồi sao? Chúng ta có nên xuống tàu không?”

“Chưa đâu, bà à, chúng ta còn trên biển.”

“Xa thật đấy.” Bà Fresnel lẩm bẩm.

Lúc này, thân tàu đột ngột chao đảo. Có tiếng la hét ở hành lang và các tầng trong khoang thuyền, tiếng đồ đạc rơi xuống ầm ầm.

Bà Fresnel lúc đầu choáng váng, ánh mắt bối rối, sau đó đột ngột đứng dậy, nắm lấy tay Cindy định bò xuống gầm giường.

“Bà nội, không sao đâu, chúng ta đang ở trên thuyền, không có máy bay Đức tới ném bom đâu.” Cindy lo bà Fresnel cố sức quá sẽ bị trật thắt lưng, nên nhanh chóng đỡ bà, kiên nhẫn giải thích.

Phản ứng này của bà Fresnel bắt đầu từ ngày thứ ba họ lên tàu. Lúc đó có bão, trời lại đang tối, tàu va đập rất mạnh, bà Fresnel tỉnh dậy vì nghĩ rằng mình đang ở dưới tầng hầm, bom sẽ rơi xuống bất cứ lúc nào.

“Bà xem, không có bụi rơi trên tường và trần nhà, cũng không có tiếng còi cảnh báo máy bay bên ngoài.” Cindy ôm lấy bà nội, cố giữ giọng điệu nhẹ nhàng. Cô tựa đầu vào vai bà Fresnel: “Con cũng lớn rồi, con có thể ôm bà rồi!”

Bà Fresnel dần dần tỉnh táo lại, bà chạm vào mặt cháu gái, tỉnh lại sau dòng ký ức hỗn loạn: “Chúng ta đi ăn sáng nhé?”

Cindy gật đầu. Cô không hề để tâm đến cú lắc vừa rồi của tàu, sóng biển nổi lên là chuyện bình thường.

“Tốt nhất là con gọi phục vụ mang đồ ăn lên!” Cindy không muốn để bà nội một mình trong phòng, và cũng lo con tàu sẽ lại chao đảo.

“Không cần đâu, chỉ đi bộ một đoạn ngắn thôi!” Bà Fresnel bắt đầu càm ràm về việc những người phục vụ ở nhà hàng trên tàu đòi quá nhiều tiền boa, không đủ chu đáo, trên người có mùi lạ khiến bà khó chịu. Cũng giống như mọi bà cụ người Anh bình thường, bà chỉ kén chọn hơn một chút mà thôi.

Cindy bước tới cửa sổ, định quan sát tình hình bên ngoài. Lúc này, cô nhận thấy bầu trời bên ngoài đang tối dần với tốc độ có thể nhìn thấy bằng mắt thường. Mây đen đã che khuất mặt trời.

“Tốt hơn là gọi người phục vụ bà ạ, trời có thể sẽ mưa.” Cindy quay lại nói.

Thân tàu lắc lư và va đập thêm vài lần nữa.

Cindy mở cửa, thấy hai người mặc đồ thuyền viên đang trò chuyện ở cuối hành lang, cô đang định chào hỏi thì nghe thấy lời họ nói.

“Tại sao… không sớm hay muộn… mà ở quanh đây…” Các thuyền viên thì thầm, giọng nói của họ toát lên sự lo lắng lạ lùng.

Cindy hơi cau mày. Tai của cô rất thính, khả năng này không gây cho cô nhiều rắc rối, bình thường cô sẽ phớt lờ những âm thanh đó như khi nghe tiếng chim hót trên cành, và trong những lúc cần thiết, chỉ cần lắng nghe kỹ, cô có thể nghe được những âm thanh rất nhỏ. Trong đó có cuộc trò chuyện hiện tại giữa hai thuyền viên.

“Lái chính không nói gì, nhưng máy móc của chúng ta có vấn đề từ một giờ trước.”

“Thuyền trưởng đang tìm người sửa chữa thiết bị ở đuôi tàu…”

“Radio cũng bị hỏng.”

“Cậu nhìn bầu trời bên ngoài đi, thế là bình thường à? Tôi nhớ bản tin tôi nhận được trên radio ngày hôm qua nói rằng hôm nay sẽ là một ngày nắng đẹp.”

Nói đến đây, hai thuyền viên để ý đến Cindy và nhanh chóng gượng cười.

Cindy lên tiếng hỏi: “Chào các anh, tốc độ thuyền hình như đã chậm lại. Có phải bão không?”

“À, phải… Không phải, không sao đâu thưa cô, cô được an toàn trong phòng mình.” Thuyền viên lúng búng nói xong quay người bỏ chạy.

Cindy nhìn họ rời đi, rồi quay trở lại phòng thì thấy bầu trời bên ngoài đã tối hơn. Những giọt nước xuất hiện trên cửa kính. Trời đang mưa sao? Cindy lại nhìn ra ngoài, thứ cô nhìn thấy không phải là mây đen mà là sương mù dày đặc màu trắng. Tàu Elizabeth dường như đã đâm vào một làn sương mù, những giọt nước trên kính là do sương lạnh ngưng tụ mà thành. Tai Cindy khẽ động đậy, hình như cô nghe thấy vài âm thanh kỳ lạ.

Lúc này, trên boong thuyền, vài hành khách kinh ngạc nhìn khung cảnh thay đổi xung quanh mình. Có người thì kêu lên, có người lại lấy kính viễn vọng ra nhìn.

“Chúa ơi, chuyện này thú vị quá. Giống như một bộ phim vậy.” Smith hào hứng nói với điếu xì gà trong miệng: “Hòn đảo tách biệt với phần còn lại của thế giới, được bao quanh bởi sương mù, trừ khi có một con tàu vô tình đi vào, không thì rất khó để tìm thấy… Chúng ta sắp khám phá ra đảo Đầu Lâu à?”

“Đảo Đầu Lâu*?”

<i>* Đảo Đầu Lâu là tên thường được dùng để mô tả một hòn đảo hư cấu lần đầu tiên xuất hiện trong bộ phim King Kong năm 1933 và sau đó xuất hiện trong các phần tiếp theo, ba bản làm lại và bất kỳ phương tiện truyền thông nào khác dựa trên King Kong. Đây là nơi sinh sống của King Kong và một số loài sinh vật khác, chủ yếu là thời tiền sử và trong một số trường hợp là các loài đáng lẽ đã tuyệt chủng từ lâu trước khi các loài động vật có vú xuất hiện, cùng với một xã hội nguyên thủy của con người.</i>

“Ừ, có thể có những hòn đảo nơi sinh vật thời tiền sử tồn tại, tin tôi đi, nếu điều đó xảy ra thì tất cả chúng ta đều sẽ nổi tiếng!”

Một vài hành khách nhìn Smith nghi ngờ, trong khi những người khác đã xem phim cũng đồng tình với nhận định của Smith, vui vẻ trò chuyện với gã.

“Thưa quý ông quý bà, xin rời boong thuyền và trở về khoang thuyền, sương mù ngày càng dày, chúng tôi phải chịu trách nhiệm về an toàn của quý vị.” Người lái chính cầm loa trong tay, hô to với hành khách trên boong thuyền.

Trong thời gian ngắn, sương mù đã dày đến mức người đứng trên boong thuyền không thể nhìn thấy lái chính đứng trước cửa kính cabin tầng hai.

Một số người bắt đầu bất an, trong khi những người khác vẫn nói chuyện và cười lớn: “Không sao đâu. Thời tiết trên biển hay thay đổi. Tôi đã đi con đường này ít nhất chục lần, chưa từng nghe thấy có chỗ nào kỳ lạ ở đây. Không có khủng long, không có đảo Đầu Lâu, tin tôi đi, dù có thì cũng phải ở vùng biển mà con người hiếm khi tới, nếu không thì làm sao mà giữ bí mật!”

Người đang nói tuy có vẻ kiêu ngạo, nhưng lúc này ai cũng muốn nghe lời an ủi như thế. Ngay lập tức, một số hành khách đã chủ động mời quý ông này tới nhà hàng để nói chuyện về cách làm ăn giữa châu Mỹ và châu Âu là như thế nào.

Lộ trình cố định của tàu Elizabeth là từ Anh đến Nova Scotia ở miền nam Canada. Nova Scotia có nghĩa là “New Scotland” trong tiếng Latinh, chỉ cần nghe tên cũng có thể biết nó giống với New London, New Orleans của Mỹ, là nơi đổ bộ trong Thời đại Khám phá, thành phố được thành lập bởi những kẻ thực dân. Hành khách kia nói đúng, đây quả thực là một tuyến đường biển rất sầm uất.

Thân tàu lại rung lắc nhẹ. Lần này không ai quan tâm đến nó nữa, chỉ xem như do sóng lớn hơn. Chỉ trừ vài thuyền viên biết nội tình, cùng với Cindy.

“Bà nội!” Cindy đánh thức bà nội đang ngủ gà gật, nghiêm túc nói: “Con nghe thấy những tiếng động không hay.”

Bà Fresnel ngáp một cái trước, sau đó nhìn cháu gái mình với vẻ mơ màng.

“Đó là âm thanh của cái chết… ở rất xa, nhưng chúng đang nói chuyện…”

Bà Fresnel tỉnh táo lại ngay.

Hồi Cindy mới ba bốn tuổi thì quân Đức ném bom Luân Đôn, bà Fresnel gần như phải bế cháu gái chạy qua chạy lại giữa đống đổ nát và nơi trú ẩn mới có thể sống sót. Khi Cindy bắt đầu biết nói, cô bé đã thể hiện ra điều khác lạ, cô dường như có thể nghe thấy những âm thanh bất thường. Vụ việc nghiêm trọng nhất xảy ra vào năm 1952, khi Cindy mười lăm tuổi chạy về từ trường học, kể với bà rằng cô nghe thấy tiếng cái chết đang nói chuyện, nó ở khắp mọi nơi trong thành phố. Khi đó, bà Fresnel vẫn còn khỏe và trí nhớ chưa bắt đầu suy giảm, bà liền xin cho cháu gái nghỉ phép, hai bà cháu chạy về quê ngay trong đêm.

Chuyện xảy ra tiếp theo khiến bà Fresnel phải kinh sợ cho tới tận bây giờ. Nhiều người đã chết ở khu vực họ sinh sống, chính phủ cho biết đã xảy ra một đợt bùng phát khói bụi độc hại, trong những năm tiếp theo, người ta vẫn tiếp tục chết. Luân Đôn rộng lớn đến mức nếu người ta không để ý thì sẽ khó nhận ra con số tử vong liên tục sau đó lớn đến thế nào. Nhưng Cindy luôn kể cho bà Fresnel nghe về những âm thanh cô nghe được, cuối cùng họ quyết định rời nước Anh, đến nương nhờ vào con trai út của bà Fresnel, chú của Cindy.

“Đáng lẽ bà cháu mình không nên lên chiếc thuyền này.” Cindy lo lắng vặn vẹo ngón tay mình. Đối với cô, con tàu đang dần đến gần với cái chết, điều gì đó khủng khiếp sắp xảy ra. Nhưng Cindy không biết nó sẽ ra sao.

“Cầm lấy súng của con.” Bà Fresnel trực tiếp ra lệnh cho cháu gái mở vali. “Bà không quan tâm đó là cướp biển, sương mù có độc hay thứ quái vật nào đó…”

Bà Fresnel chưa kịp nói xong thì thân tàu bỗng nghiêng đi thật mạnh, như thể nó bị vật gì đó kéo đi.

Cindy thậm chí còn nghe thấy tiếng thuyền viên hét lên sợ hãi ở bên ngoài: “Không thể nào! Chúng ta còn cách xa đảo Chết Chóc lắm mà, ít nhất mười hải lý, sao có thể bị từ trường của nó ảnh hưởng?”

“Im đi, cậu quên hòn đảo đó có thể di chuyển à?”

“Không…”

“Có vấn đề gì đó, chuyện này chắc chắn không bình thường!”

Cùng lúc đó, âm thanh chết chóc đột ngột được khuếch đại đâm vào tai Cindy như một lưỡi dao. Cindy bịt tai lại vì đau, trông cô có vẻ kinh hoàng. Cô chưa bao giờ nghe thấy âm thanh chói tai sắc bén như vậy.

“Cindy!” Bà Fresnel ôm lấy cháu gái, hét lớn.

Ý thức của Cindy dần chìm vào bóng tối, cô dường như “nhìn thấy” một hòn đảo hình trăng lưỡi liềm dài và hẹp nổi trên mặt biển. Không, nói là trăng lưỡi liềm thì thật có lỗi với mặt trăng, nó trông chẳng khác nào một cọng mì Ý vừa dài vừa cong. Có một vòng sốt salad dày đặc bao quanh cọng mì Ý, ồ không, đó là cát. Nó giống như một hòn đảo kỳ quặc lơ lửng trên bãi cát lún, những tiếng kêu chết chóc đó phát ra từ bãi cát lún xung quanh và bên dưới hòn đảo. Vô số những con tàu chìm chồng lên nhau thành từng lớp được bao bọc trong cát lún. Do ảnh hưởng của dòng hải lưu lên vùng cát vàng này, những con tàu bị chìm này thực ra có thể “di chuyển” quanh đảo.

Trong cơn choáng váng, Cindy cứ tưởng mình đang nhìn thấy một hình ảnh kỳ lạ trong sách, giống như một thổ dân thu nhỏ những cái đầu người rồi xâu thành vòng cổ, đeo trên người mình… Phần hài cốt của những con tàu này liên tục phát ra tiếng rì rầm của cái chết.

Đột nhiên những chuyển động dừng lại, tất cả đều nhìn chằm chằm vào tàu Elizabeth đang ngày càng đến gần hơn.



<i>Người dịch:</i>

<i>Đảo Sable (tiếng Pháp: Île de Sable) hay đảo Sandy (tiếng Anh: Sandy Island) là một đảo ma được cho là nằm giữa Úc và Nouvelle-Calédonie thuộc Pháp tại biển San hô. Hòn đảo này xuất hiện trên một số bản đồ thế giới, bao gồm cả Google Maps, song thực tế là nó không tồn tại. Theo chế độ xem mặc định trên Google Earth thì khu vực hòn đảo được các ảnh điểm đen bao phủ. Việc hòn đảo này không tồn tại lần đầu tiên được công bố bởi một số người say mê phát thanh nghiệp dư vào tháng 4 năm 2000. Họ lưu ý rằng hòn đảo đã hiện diện trên một số bản đồ song không xuất hiện trong các bản đồ khác như Times Atlas of the World, 10th Edition vào năm 1999. Một phát hiện tương tự được phát hiện bởi các nhà khoa học Úc vào năm 2012 trên tàu RV Southern Surveyor khi họ đang nghiên cứu kiến tạo mảng trong khu vực. Trong chuyến hành trình, họ nhận thấy một sự khác biệt giữa các bản đồ khác nhau và quyết định đi thuyền đến vị trí được cho là tồn tại hòn đảo để xác minh sự thật. Họ đã không tìm thấy hòn đảo nào và đáy biển của khu vực đó có độ sâu 1.400 mét (4.600 ft).</i>

<i> </i>

<i>Vụ sương khói ở Luân Đôn năm 1952 là sự kiện có thật, trong truyện thì là lúc Bướm Xám kêu gọi Thảm Bay tới rồi bị John và Hans bắt tay đánh đuổi.</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 94


<b>Chương 94</b>

<b>Đường cùng</b>

Cindy bị đánh thức bởi nhiều tiếng kêu cứu khàn khàn.

Cô ôm đầu đứng dậy thì thấy bà nội đang cảnh giác canh cửa, tay bà cầm một khẩu súng ngắn nhỏ mà phụ nữ thường dùng.

“Cindy, con thế nào rồi?” Bà Fresnel phát hiện cháu gái mình đã tỉnh, mừng rỡ bước tới sờ trán Cindy. “Con bị sốt, bà đã cho con uống thuốc, nhưng vẫn không có tác dụng.”

Bà Fresnel đã quen với cơn sốt của cháu gái, tình trạng này xảy ra mỗi khi Cindy nghe thấy âm thanh bất thường. Có lúc bà Fresnel đã rất lo lắng, thậm chí còn tốn tiền tìm một bác sĩ tư nhân đắt tiền. Tuy nhiên, khi Cindy lớn lên, tần suất sốt bắt đầu giảm dần, giống như một đứa trẻ trở nên khỏe mạnh khi trưởng thành. Ngay khi bà Fresnel nghĩ rằng bệnh của Cindy đã được chữa khỏi thì vào năm 1952, Cindy bị sốt cao ba ngày ba đêm liên tục, còn nói nhiều lời nhảm nhí. Vậy là bà Fresnel đã có thể suy ra mức độ nghiêm trọng của vấn đề dựa trên phản ứng của Cindy.

“Lần này con chỉ ngủ có nửa tiếng thôi.”

Nhìn ánh mắt mong chờ của bà nội, Cindy cảm thấy vô cùng cay đắng.

“Không, ở đây nguy hiểm lắm bà.” Cindy nhẹ nhàng nói. Triệu chứng ù tai nghiêm trọng của cô thuyên giảm, không phải vì họ đã thoát khỏi nguy hiểm mà vì họ đã rơi xuống vực sâu. “Những… âm thanh chết chóc đó đang lan rộng ra bên ngoài, còn chúng ta đã tiến vào khu vực trung tâm, giống như tâm bão sẽ yên tĩnh hơn ở ngoài vậy.”

Bà Fresnel sững sờ.

Cindy nắm chặt tay bà nội như muốn lấy thêm sức mạnh từ hành động này.

Nửa phút sau, bà Fresnel vùng thoát khỏi tay Cindy, nói một cách thô lỗ: “Được rồi, bà nên nói cho con biết tình hình hiện tại. Con tàu va phải đá ngầm, nhưng tình hình có vẻ rất phức tạp, con tàu đang dần nghiêng.”

Bất cứ ai sống sót sau chiến tranh đều biết rằng việc khóc lóc hay la hét trong hoảng loạn khi đối mặt với thảm họa là điều vô ích. Tốt hơn hết là nên tiết kiệm năng lượng để suy nghĩ về các vấn đề.

Cindy bám vào tường, cảm thấy thân tàu đã nghiêng hơn 30 độ.

“Đáy thuyền có thể bị vỡ, chúng ta hãy ra boong thuyền.”

“Ồ, vậy thì con phải cẩn thận. Một vài hành khách bao vây thuyền viên, họ đã xảy ra xung đột trên boong thuyền.”

“Vì sao ạ?”

“Hỏi hay lắm.” Bà Fresnel lầm bầm: “Làm sao bà biết được mấy thằng ngốc nghĩ gì?”

Hai bà cháu thận trọng rời khỏi phòng, nhìn thấy đám đông hoảng loạn ở cuối hành lang. Đúng như dự đoán, bên ngoài đã xảy ra xô xát, boong thuyền chật kín người.

“Đừng cử động, phía dưới có cát lún, nếu ngã xuống chắc chắn sẽ chết!” Lái chính tuyệt vọng kêu lên.

Cindy nhìn xuống, thấy một nửa dưới thân tàu đã chìm vào trong lớp cát mịn. Với dòng cát chảy nhanh do nước cuốn, có thể chẳng bao lâu nữa, tàu Elizabeth sẽ chìm hẳn xuống một ngôi mộ cồn cát.

Đây cũng là nguyên nhân chính khiến người ta hoảng sợ. Trước khi Cindy tỉnh dậy, một vài hành khách đã nhảy ngoài qua lan can bất chấp thuyền viên ngăn cản. Họ cảm thấy trọng lượng của con tàu thép khổng lồ quá lớn nên mới không thể nhúc nhích, trong khi trọng lượng của con người lại tương đối nhẹ. Sau đó họ rơi vào đường cùng.

Cindy ra hiệu cho bà Fresnel cầm chắc súng. Cô bước đến bên lan can và nhìn xuống, chỉ thấy vài vật dụng nằm rải rác trên cát vàng.

Mũ, một chiếc giày lẻ loi…

Một cái cổ tay rũ xuống nổi lên trên nền cát vàng.

Cindy đang thất thần thì bất ngờ có người va vào mình, cô lập tức giữ vững cơ thể, cúi đầu xuống thì phát hiện một người phụ nữ đang mê sảng.

“…Chỉ trong chốc lát, họ đã biến mất, biến mất! Có ma quỷ ở dưới đó!”

Những người đàn ông xung quanh cô ta cũng không khá hơn là bao, họ đều trông tái nhợt và sợ hãi quá mức. Những người còn lại tức giận, muốn thuyền trưởng phải giải thích, làm cho thuyền trưởng hoảng sợ dẫn người trốn vào trong phòng lái, người khác thì phá cửa ở bên ngoài, tạo nên tình trạng lộn xộn. Lái chính và thuyền viên liên tục chặn những hành khách đang sợ hãi cắm đầu chạy lung tung khắp nơi, sợ họ bị rơi khỏi boong thuyền rơi xuống bãi cát lún do đám đông xô đẩy.

“Mọi người, bình tĩnh! Chúng ta sẽ có người tới giải cứu sớm thôi!”

“Có một trạm cứu hộ trên hòn đảo này! Họ sẽ tìm thấy chúng ta sớm thôi…”

Cindy tình cờ nhìn thấy tay Smith đáng ghét kia lao tới túm cổ áo lái chính, vừa phun nước bọt vừa ra sức lắc mạnh: “Anh cố ý đưa chúng tôi đến nơi quỷ tha ma bắt này phải không? Ha, thừa nhận đi, các người đã cấu kết với hải tặc, nếu không thì giải thích vì sao các người biết mọi thứ về hòn đảo này đi chứ?”

Lái chính rất cường tráng, ông ta thẳnh tay xách Smith sang một bên, ném mạnh về phía trước. Các hành khách giật mình, còn có người hoảng sợ chạy vào cabin, suýt tông ngã bà Fresnel.

Pằng.

Một tiếng súng vang lên.

Mọi người ngồi xổm xuống hoặc ôm đầu theo phản xạ.

Tất cả mọi người, kể cả thuyền viên, đều ngơ ngác nhìn một bà cụ người Anh mặt đầy những nếp nhăn và mái tóc bạc thưa thớt giơ cao khẩu súng, họng súng hướng lên trên, khói liên tục bốc ra từ đó.

“Hãy im lặng một lúc!” Bà Fresnel không vui nói: “Mười mấy tên ngu ngốc đã chết, tôi cũng không muốn cùng con tàu này chìm trong cát!”

“Đúng vậy, chúng ta nên để thuyền trưởng ra mặt giải thích rõ ràng tình hình hiện tại.” Người thứ hai đứng lên là một quý ông cao tuổi.

Cindy cũng nhìn thấy một số người đặt tay lên eo mình một cách kín đáo. Hiển nhiên, cô và bà nội không phải là những người duy nhất mang vũ khí lên tàu. Cindy bước tới chỗ bà nội, chắn đi những ánh mắt giận dữ của đám đông.

Lúc này thuyền trưởng đổ mồ hôi đầm đìa mới bước ra, ông ta không bình tĩnh bằng lái chính, miệng đang nói mà mắt cứ liếc về phía sương mù dày đặc xa xa.

“Tôi xin lỗi thưa quý vị, đây là đảo Sable, có thể một vài người trong các vị đã từng nghe đến tên nó.”

“Nơi đó là ở đâu? Đừng vòng vo nữa.”

“Đúng đấy!”

Thuyền trưởng sửng sốt hỏi: “Quý vị không biết à?”

Quý ông cao tuổi kia do dự nói: “Hình như tôi đã nghe một bài ca dao cổ, có cách phát âm như thế này trong đó, giống như <i>nấm mồ trên biển</i>, hay nơi ma quỷ trú ngụ…”

“Đúng vậy, chính là nó.” Thuyền trưởng đáp nhanh.

Hành khách trên tàu càng hoảng sợ hơn, Smith dẫn đầu gầm lên: “Tôi sẽ nộp đơn khiếu nại công ty các người, điều này sẽ không giúp các người rửa sạch nghi ngờ đâu, tại sao tàu Elizabeth lại chạy đến nơi nguy hiểm này?”

“Im lặng!” Lái chính không nhịn được lại ném Smith sang một bên, mặt ông ta đầy râu, trông rất dữ tợn.

Trận sương dày này xuất hiện mà không có dấu hiệu báo trước, trước khi sương mù lan rộng, bảng đồng hồ và radio đã bị trục trặc. Nỗi bất an trong nội tâm của thuyền viên hoàn toàn mất kiểm soát và lên đến đỉnh điểm khi tàu Elizabeth va vào đá ngầm rồi mắc kẹt trong cát lún, còn đám hành khách chỉ biết nói những điều vô nghĩa này đang kéo sự việc đến gần một vực thẳm tồi tệ khác.

“…Từ khi trạm cứu hộ được xây dựng trên đảo Sable, mấy chục năm rồi không có vụ đắm tàu nào! Thưa quý ông quý bà, quý vị chưa bao giờ nghe đến tên nghĩa địa đại dương này nữa phải không? Tôi cũng muốn nói với quý vị rằng lần trước tất cả mọi người bị tai nạn tử vong là do thuyền viên đã nhảy khỏi thuyền bỏ trốn mà không đợi người cứu hộ!”

Lái chính th* d*c, nhìn chằm chằm vào đám người.

Không ai dám lên tiếng.

Lúc này, lái chính bước tới trước mặt bà Fresnel, nghiêm túc nói: “Xin cảm ơn, thưa bà.”

Bà Fresnel trở lại với bộ dạng run rẩy thường ngày, được cháu gái đỡ lấy, bà nói lớn: “Không, tôi nghĩ cậu nên học theo bà già này, bắn thêm vài phát súng lên trời, nếu không thì giữa sương mù dày thế này, liệu người trong trạm cứu hộ có thấy tàu chúng ta đâm vào đá ngầm không?”

“Ôi Chúa ơi! Ý tôi là, lẽ ra chúng ta nên làm việc này từ lâu rồi!” Smith vội vàng nói.

Nhưng mọi chuyện không đơn giản như vậy. Vừa rồi ở đây có ít nhất hai trăm người hò hét ầm ĩ, tiếng động này không phải còn lớn hơn tiếng súng sao?

“Xin lỗi, tôi có thể hỏi hòn đảo này rộng bao nhiêu không?” Cindy lên tiếng hỏi.

Lái chính rõ ràng không quen nói chuyện với nữ giới chưa chồng, ông ta nhìn bà Fresnel, ngập ngừng nói: “Nó rất lớn, hay phải nói là rất dài và hẹp, tính cả bãi cát lún, chắc phải hơn 30 dặm vuông Anh, diện tích bằng 1/9 Toronto và lớn hơn một vài thành phố nhỏ.”

Cindy đã đoán trước câu trả lời này. Nếu không lớn thì làm sao vùng cát lún xung quanh đảo Sable có thể “nhốt” được hàng trăm chiếc tàu chìm, dẫn đến hình dạng của chiếc “vòng cổ” kỳ lạ. Đây là lần đầu tiên Cindy có ảo giác rõ ràng như vậy, điều này khiến cô rất bất an. Bây giờ họ bị mắc kẹt trên chiếc thuyền này, không biết khi nào con thuyền sẽ hoàn toàn chìm vào trong cát lún. Cindy dường như nghe thấy tiếng kim đồng hồ kêu tích tắc bên tai. Khi thời gian hết, cái chết sẽ đến.

Mọi người nhìn về phía cuối màn sương dày đặc và hét lớn, thuyền trưởng cũng cử người mang pháo sáng tới, bắn liên tiếp nhiều phát. Khói từ ngọn lửa đỏ rực rất dễ thấy, mọi người cuối cùng cũng trở nên vui vẻ.

“Như vậy thì người của trạm cứu hộ nhất định sẽ thấy được!”

Không lâu sau đó, hình như có bóng người thấp thoáng xuất hiện trong sương mù, mọi người càng hưng phấn hơn.

Cindy liền dìu bà nội vào trong khoang thuyền. Cô lo lắng boong thuyền quá đông người, đám đông sẽ phát điên khi cứu hộ đến, sẽ dễ xảy ra tai nạn.

“Chúng ta phải thu dọn đồ đạc trước, chiếc thuyền này chắc chắn là không vớt lên được nữa, chúng ta mang theo hết hành lý sẽ không thể xuống thuyền được.” Cindy quyết đoán mang theo giấy tờ tùy thân, nhét những món trang sức có giá trị vào túi, không quên lấy băng đạn, cột thêm con dao găm vào bắp chân dưới ống quần.

Cô nhận thấy cửa phòng bên cạnh đang mở, đó là khoang của Smith. Cindy không chút do dự lẻn vào, lấy đi chiếc bật lửa. Khi bước ra, cô chợt cảm thấy ù tai dữ dội. Không cần suy nghĩ, Cindy nhanh chóng bỏ chạy về phòng mình, khóa cửa lại bằng chút sức lực cuối cùng của mình.

“Ngoài kia có thứ gì… nguy hiểm…” Cindy túm lấy tay áo của bà nội, nói ngắt quãng.

Bà Fresnel phản ứng cũng rất nhanh, bà lập tức kéo rèm lại, không hề nhìn ra ngoài. Rồi bà cụ nghe thấy những tiếng hét thót tim, như thể đang có một vụ thảm sát trên boong thuyền.

Bộp. Thứ gì đó dính nhớp bay lên cửa sổ, từ từ trượt xuống mặt kính.

Bà Fresnel ôm lấy Cindy, không chút do dự chui xuống gầm giường.

Có người chạy loạn xạ trên hành lang, có người đập mạnh vào mọi cánh cửa trong tầm mắt.

“Đây là phòng của tôi, chết tiệt, ra khỏi đây!” Smith hét lên, theo sau là tiếng đập cửa và đánh nhau bình bịch. Không biết cuối cùng ai thắng ai thua, nhưng cửa phòng bên cạnh đã bị đóng lại đánh rầm một tiếng.

Cindy cố chịu đựng cơn đau đầu, cô nhìn thấy chất lỏng màu đỏ tươi từ từ chảy vào theo khe cửa. Sau đó là những âm thanh rất kỳ lạ vang lên, như thể có thứ gì đó nặng nề đang bị kéo đi, phát ra âm thanh cọt kẹt kinh dị.

Một cái bóng khổng lồ phản chiếu trên kính cửa sập, đầu của nó cao hơn vị trí mặt kính, chỉ có thể nhìn thấy chiếc cổ dài và phần lưng lồi ra.

Với tư cách là người Anh, điều đầu tiên Cindy nghĩ đến chính là Quái vật hồ Loch Ness. Nhưng rõ ràng Quái vật hồ Loch Ness không thể chỉ cao 10 feet (khoảng 3 mét), và cũng không thể mọc đầy lông vũ.

Có phải là đà điểu không?

Con đầu tiên đi qua.

Con chim khổng lồ thứ hai còn đang ngậm một cánh tay đẫm máu trong miệng.

Cindy: “…”

Cô thấy vai mình nặng trĩu, nhìn xuống thì thấy bà nội chẳng hiểu vì sao mà bất tỉnh.

Lúc này, con chim khổng lồ có vẻ đã để ý đến căn phòng bên cạnh, nó bắt đầu gõ cửa.

Rầm.

Ván cửa bị thủng.

Trong tiếng la hét hỗn loạn và tiếng k** r*n thảm thiết của Smith, Cindy lấy tấm trải giường để đắp cho mình và bà nội dưới gầm giường, rồi nhặt khẩu súng ngắn, chĩa qua khe hở trên tấm trải giường tới bức tường ngăn của cabin bên cạnh.

Vách ngăn liên tục bị va đập, bị gõ lên. Nó giống như tiếng động phát ra khi một sinh v*t t* l*n nào đó bước vào một căn phòng chật hẹp, chuẩn bị đi săn. Bên trái xuất hiện một hình bầu dục trông giống như đầu cánh, lập tức lại có thêm dấu chân.

Dưới gầm giường tối tăm, bụi không ngừng rơi xuống. Cindy có cảm giác như đã quay trở lại tầng hầm của Luân Đôn, mặc dù trong tay cô có nhiều hơn một khẩu súng so với hồi đó, nhưng cảm giác tuyệt vọng khủng khiếp này cũng không hề nhẹ hơn chút nào. Người bình thường không bao giờ có thể chống lại thảm họa, họ cũng không thể ảnh hưởng đến sự khởi đầu và kết thúc của thảm họa. Họ chỉ có thể co rúm lại, đấu tranh để sinh tồn…

Rầm.

Bức tường sụp đổ ầm ầm, khói bụi tràn ngập.

Ngay lúc con chim khổng lồ thò đầu ra, Cindy nổ súng.

Trúng ngay vào trán.

Con chim khổng lồ lùi lại một bước, rồi phẫn nộ lao tới trước.

Viên đạn thứ hai trúng vào con mắt biến dạng của nó.

Bàn tay Cindy tê dại vì cú giật của súng.

Con chim khổng lồ ngã xuống, cơ thể to lớn của nó vừa vặn che mất khoảng trống trên bức tường.
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 95


<b>Chương 95</b>

<b>Thuyền buồm mới</b>

Một chiếc thuyền buồm hoàn toàn mới của Anh sản xuất trong thế kỷ 17 đang lướt nhanh trên biển.

Một cánh buồm dọc bổ sung có thể giúp đổi hướng một cách linh hoạt, cánh buồm phía sau bị gió thổi bay giống như một trái vải thiều căng mọng, ánh nắng chói chang xuyên qua cánh buồm, phủ lên nó một thứ ánh sáng pha lê kỳ lạ.

“Người Anh ở Port Royal thực sự rất giỏi bảo trì thuyền buồm.” Johnson rất thích món đồ chơi mới này, những xúc tu dây leo bò trên boong thuyền trơn bóng đẹp đẽ. “Nghe nói họ đổ dầu ô liu lên boong thuyền.”

Trên đài quan sát ở cột buồm, Gymir uể oải ngáp dài. Đuôi cá tỏa ra ánh sáng vàng đỏ huyền ảo chói lóa dưới ánh mặt trời. Hắn chống cằm nhìn mặt trời, đôi mắt vàng nheo lại.

“Em có muốn thử con tàu cướp biển kia không?” Gymir hỏi.

Hắn đã tranh thủ chọn lựa, “thu được” hai con tàu ở Port Royal. Tiêu chuẩn của thần Biển rất cao, chất liệu ván gỗ kém là không thèm, có nhiều phần mục nát cũng không thích, khoang thuyền có mùi hôi quá thì không lấy. Tiêu chí cuối cùng loại bỏ gần như toàn bộ tàu, chỉ còn lại tàu Thống đốc Jamaica của hải quân Anh, và một chiếc tàu cướp biển đang neo đậu để sửa chữa “vinh dự được chọn”.

Johnson nói con tàu cướp biển có thể thuộc sở hữu của một thủ lĩnh cướp biển nổi tiếng lúc bấy giờ. Đáng tiếc là con tàu này đã không treo cờ cướp biển sau khi vào Port Royal, mà dựa trên những kiến thức tà thần có được từ tiểu thuyết phiêu lưu mạo hiểm, chỉ nhìn vào lá cờ cũng rất khó để biết tên của thủ lĩnh hải tặc nổi tiếng lúc bấy giờ. Mà ai thèm quan tâm chứ, có thuyền là được. Johnson cho rằng con mắt thẩm mỹ của Gymir rất khá. Y đã ngắm nghía rất nhiều thuyền buồm ở Port Royal.

Trước đây, y đã rất hạnh phúc khi vớt được một con thuyền buồm Tây Ban Nha gần như nguyên vẹn từ dưới đáy biển. Bởi vì hầu hết các tàu bị chìm chỉ còn lại một lớp vỏ rỗng, các loài động vật có vỏ bám vào tàu nặng hơn chính thân tàu, cần phải được làm sạch. Nếu thiếu quá nhiều bộ phận thì việc ghép lại sẽ rất rắc rối. Nó giống như trò chơi dây của trẻ con, có những tư thế chỉ cần xòe ngón tay ra theo ý muốn, cũng có những cái rất phiền toái, buộc các ngón tay phải móc lấy nhiều sợi dây theo thứ tự. Mặc dù bản thể của y có số lượng xúc tu dây leo rất lớn, nhưng ai lại muốn thực hiện công việc lắp ráp phức tạp nếu có thể làm cho đơn giản hơn? Vì thế sau khi Johnson có ý thức, y vẫn giữ lại con tàu cũ nát đó, thân tàu có nhiều lỗ thủng đến nỗi có thể mạo danh một con tàu ma.

Mỗi chiếc thuyền ở Port Royal đều rất hoàn chỉnh, sau khi Johnson biết nơi này nhất định sẽ bị phá hủy, y cũng muốn chọn một con thuyền cho mình, nhưng nhìn tới nhìn lui đều không mấy hài lòng. Cái này có quá nhiều cánh buồm, vận hành phức tạp; cái đó có quá ít họng pháo, các xúc tu dây leo không được tự do; cái nọ quá xấu; cánh buồm của cái kia quá bẩn… Tóm lại, y nhìn hồi lâu mà không có hành động gì, thậm chí còn mất đi hứng thú lựa chọn.

Johnson không ngờ Gymir lại lấy được hai chiếc thuyền, cả hai đều khá tốt. Đặc biệt, tàu Thống đốc này rộng rãi đẹp đẽ, cabin của thuyền trưởng và cabin nghỉ được trang bị thảm mềm, trong khoang đạn có trữ lượng dồi dào, lăn lên những quả bóng sắt đặc ruột tròn vo đó rất thoải mái. Tất cả thuốc súng đen thì vứt đi, vô dụng.

Khi Johnson nghe Gymir hỏi mình có muốn đổi thuyền không, y do dự một lúc rồi từ chối. Bởi vì những xúc tu ở cuối hai dây leo của y đang ấn vào quả cầu sắt và lăn nhẹ nhàng, không hẳn là chơi mà chỉ là lăn lăn ấn ấn như xoa bóp, thú vị lắm.

Tàu cướp biển kia được Gymir kéo ra khỏi bến, khoang tàu về cơ bản là trống rỗng. Không có thảm, không có đồ nội thất sang trọng, không có những quả bóng sắt đặc ruột. Nó không phải là xấu nhưng phù hợp để dùng khi phơi nắng và ngủ gật hơn.

“John đã làm đám cưới chưa?” Johnson chợt hỏi.

Gymir lập tức cảnh giác: “Sao lại hỏi thế?”

“Anh ta chắc đã sáu mươi tuổi rồi nhỉ? Nếu không kết hôn, có lẽ sẽ không có con.” Johnson nghiêm túc bày tỏ suy đoán của mình: “Em muốn xem con của anh ta có phát sáng hay không.”

“Ồ, hắn có một đứa con trai, nhưng ta không gặp.” Gymir từ từ thư giãn, đuôi cá lại rũ xuống trên ván gỗ.

Gymir đã kể cho Johnson nghe về ngôi biệt thự bên bờ biển nơi John sống, con mèo mà John nuôi, và bức ảnh đặt trước lò sưởi.

Khi đến Luân Đôn năm 1927, thần Biển cũng có hứng thú với máy chụp hình của con người, định chụp thử một tấm ảnh, ai ngờ máy chụp hình phát nổ ngay tại chỗ. Khung cảnh lúc đó vô cùng hỗn loạn, khói dày đặc bốc lên trong tiệm chụp hình, con người vô cùng kinh hãi, không hề biết nguyên nhân sự việc là do một tà thần vô hình đang chơi đùa với chiếc máy chụp hình để không ở đó.

“Ta đã đi ngay sau khi đưa viên ngọc cho John.” Gymir cho rằng hắn không nói dối, việc hắn hỏi chuyện thám tử xảy ra trước khi đưa viên ngọc.

Họ đang phóng nhanh trên Bắc Đại Tây Dương.

Một ngày trước, Johnson đến gặp Hans ở Greenland, phát hiện ra cặp kính của Hans đã bị thất lạc trong lúc chạy trốn ở Bắc Cực. Nghĩ đến nỗ lực của Hans trong việc huấn luyện Juan trong giấc mơ, Johnson đã chế tạo một cặp kính mới, giống như viên ngọc trai đền bù cho John. Các thành viên trong nhóm của Hans đều có vẻ mặt kỳ lạ, ánh mắt của họ rất khó giải thích… tà thần cho đồ còn kèm theo cả dịch vụ hậu mãi, bạn có tin được không?

“Anh thực sự không muốn đi tìm con cá voi trắng đó à.”

“Không tìm.” Gymir kiên định đáp.

Hắn có thể cảm giác được nó vẫn còn sống, thế là đủ rồi, thù lao cái gì chứ! Tà thần không làm chuyện đó! Hơn nữa, sau này chắc chắn sẽ không cần tới Cá Voi Trắng nữa. Có phải là John đâu. Lợi ích lớn nhất của việc trả thù lao là đảm bảo rằng thám tử còn sống, nếu John cũng chết nhanh như những thám tử khác từng tiếp xúc với tà thần thì Gymir sẽ không thể nhận được lời khuyên bổ ích nào tiếp theo.

Johnson nghi ngờ liếc nhìn người cá. Những dây leo đen vươn ra từ họng pháo bên mạn tàu, treo lủng lẳng trên đó, tựa như đang hóng gió biển. Thông thường vào lúc này, người cá chắc chắn sẽ xuất hiện ở đây, nắm lấy dây leo để nghịch những xúc tu mềm mại ở đoạn cuối, hoặc là ca hát. Nó ảnh hưởng lớn đến việc điều hướng. Vì vậy hôm nay Gymir khá bất thường.

Johnson cũng không muốn nhắc nhở Gymir, từ sau khi quen biết hắn, khoảng thời gian rảnh rỗi như thế này thật hiếm có. Sóng vỗ rì rào trên thân thuyền, ánh mặt trời ấm áp, dây leo thoải mái vươn mình khắp nơi. Johnson dường như đã quay trở lại cuộc sống trôi dạt trên biển ngày xưa, ngoại trừ việc trên thuyền có thêm một người cá.

Người cá cảm nhận được cảm xúc vui sướng tỏa ra từ y. Gymir hơi nghiêng đầu, chìm đắm trong suy nghĩ. Có vẻ như thám tử nói đúng, giữ khoảng cách thích hợp sẽ thực sự gia tăng tình cảm.

Tiếp theo là bước thứ hai, không thể lúc nào cũng để mặc một bên chọn địa điểm du lịch, phải tạo ra những bất ngờ hợp lý, tốt nhất là đi nơi nào đó mà bên kia chưa từng đến. Điểm này thì khá khó khăn với tà thần, tiền bạc và thể lực không thể cản bước tà thần lang thang khắp nơi, trong khi Johnson lại trẻ tuổi và hiếu động. Vì vậy, Gymir đề nghị đến những ngôi nhà cũ của thần cổ xưa để thăm thú.

Sau khi nhiều thần cổ xưa rời bỏ trái đất, nơi ở của họ vẫn còn đó. Bởi vì thần cổ xưa không chết, sức mạnh vẫn còn, nó tiếp tục tạo ra những hiện tượng kỳ lạ, thần mới vẫn không dám đến gần, sợ sẽ chọc giận chủ nhân ở đó.

Johnson ngay lập tức có hứng thú với ý tưởng này, Gymir đã đề xuất một loạt địa điểm làm tài liệu tham khảo.

Đầu tiên là cao nguyên Nam Mỹ, nơi sinh ra thần Rắn lông vũ Kukulkan. Nơi đó thường xuyên có giông bão, hầu như ngày nào cũng có mưa, lượng nước mưa lớn tạo thành vô số dòng sông trên cao nguyên, cuối cùng đổ xuống rìa cao nguyên thành thác nước hùng vĩ. Johnson rất muốn đi, nhưng lại do dự khi nghĩ đến thần Mặt trời, lỡ như thần Mặt trời trở lại trái đất, điểm dừng chân đầu tiên là nhà cũ của thần Rắn lông vũ thì sao? Giả sử đụng độ nó thì đúng là oan quá.

Gymir lại nhắc đến “Con mắt sa mạc Sahara” của châu Phi. Đó là những vòng tròn đồng tâm khổng lồ. Các lớp vòng tròn có vẻ hỗn loạn nhưng tổng thể lại rất đều đặn, loại tà thần thích hoa văn có quy luật này rất hiếm có, Gymir nghĩ Johnson có thể thích phong cách này. Không ngờ Johnson lại nói đã từng tới đó rồi, Gymir tiếc nuối nói rằng xem ra tà thần đó đã chết, còn thần Biển ngủ một giấc là hàng ngàn năm không ra ngoài nên không biết tin tức gì cả.

Địa điểm thứ ba, Gymir không chắc nó ở đâu, vì hòn đảo đó biết di chuyển.

“Hòn đảo được bao quanh bởi cát lún có thể nuốt chửng mọi thứ. Bên dưới hòn đảo hình trăng non là một cung điện nham thạch, mái và tường của nó có thể tạo ra nhiều loại âm thanh. Hòn đảo này có lẽ vẫn còn đó… chủ nhân của nó rất mạnh mẽ.”

Johnson càng nghe càng thấy quen thuộc, y liếc nhìn hướng đi hiện tại.

“Đảo Sable?”

“Hử?” Gymir ngơ ngác.

Johnson giải thích: “Đây là tên do con người đặt cho hòn đảo chết chóc biết di chuyển đó, hàng trăm con tàu bị chìm trong bãi cát lún quanh đảo, kể từ khi con người có thể vượt qua đại dương này, tàu bè đã liên tục bị nuốt chửng, mãi cho đến khi em sinh ra, con người dường như đã tìm ra cách cho tàu tránh khỏi đó.”

“Hình trăng non à?”

“Phải!”

“Đúng nó rồi, chúng ta đi xem xem.” Người cá nhận thấy tâm trạng vui vẻ của Johnson càng thêm đậm đà, không khỏi hỏi: “Em rất thích hòn đảo đó?”

“Đúng vậy, trước kia em không dám tới gần, dưới bãi cát lún có rất nhiều thuyền…” Johnson đột nhiên dừng lại. Một dây leo bò lên cột buồm, thân mật sáp đến gần người cá. “Nhưng bây giờ em đã có thuyền tốt hơn, không cần những thứ đó nữa.”

“Không sao đâu, chủ nhà không có ở nhà, em muốn gì thì cứ lấy!” Gymir nói thẳng. Bản thân chủ nhà cũng không biết rằng có rất nhiều tàu bị chìm xung quanh, vậy thì lấy vài cái cũng có sao đâu!

Gymir cố nhịn không chạm vào dây leo mà để mặc cho dây leo cọ vào vai, lưng và má mình.

“Anh biết rõ hòn đảo kia như thế là vì muốn cướp nó?” Johnson đột nhiên hỏi, y nhớ tới Gymir đã nói gì về đặc điểm của cung điện dưới đảo.

“Không phải.” Gymir phủ nhận thẳng thừng, hắn giống loại người tùy tiện đi tranh giành vật phẩm của tà thần khác à? Thế thì phiền toái lắm, hắn lười như vậy làm sao làm được? “Chủ nhân của nó dùng cung điện để chơi nhạc, ta cũng đi xem, lúc đó, hòn đảo nằm ở Địa Trung Hải, không xa hang động có thể khuếch đại âm thanh nơi ta ở.”

Johnson: “…”

Thực ra là vì có chỗ ở tốt nên lười đi tranh giành chứ gì! Johnson biết rất rõ về nhóm tà thần này rồi, về cơ bản thì ai cũng có thể làm bất cứ điều gì mình muốn, miễn là khả năng cho phép.

“Được rồi, dù sao thì hòn đảo tên Sable này đang ở ngay phía trước chúng ta, rất gần.”

“Vậy sao?” Gymir hơi ngạc nhiên.

“Chà, hơi gần với tuyến đường hàng hải của con người, em cần che đậy một chút.” Johnson triệu hồi một màn sương dày, thuyền buồm nhanh chóng biến mất trong màn sương mù.

Lớp sương mù dày đặc này vẫn đang chạy với tốc độ rất nhanh, phạm vi che phủ của nó luôn được duy trì trong một vùng nhất định, nhìn từ xa trông giống như một cơn bão đang di chuyển. Chẳng qua là thời tiết kỳ lạ thường xuyên xảy ra trên biển, thuyền viên có kinh nghiệm sẽ tránh xa hiện tượng mưa lớn trong khu vực cố định như thế này.

“Thế thì lên đường thôi!” Gymir khá là tự hào vì đã chọn được một nơi mà cả Johnson và mình đều có hứng thú.

“Nhân tiện, em còn chưa hỏi ai là chủ nhân của hòn đảo này…”

“Con người gọi nó là Thoth, thần Trí tuệ.”
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 96


<b>Chương 96</b>

<b>Tàn sát</b>

Lái chính của tàu Elizabeth nằm trong nhà kho thở hổn hển. Mặt ông ta đầy máu, lòng sợ hãi hoang mang. Có hai người sống sót khác đi cùng ông ta. Một giờ vừa qua là cơn ác mộng kinh hoàng nhất mà ba người họ từng trải qua trong đời.

Lúc đó thuyền viên và hành khách đang rất kích động chờ đợi được giải cứu. Khi nhìn thấy bóng dáng của “nhân viên cứu hộ cưỡi ngựa tuần tra đảo” xuất hiện trong màn sương mù dày đặc, bầu không khí háo hức đã lên đến đỉnh điểm, họ cởi mũ ra và cố hết sức hò hét.

Đối phương hiển nhiên cũng chú ý tới động tĩnh nơi này, dừng lại mấy giây, sau đó đi thẳng tới đây.

Lái chính là người nhận ra có điều gì đó không ổn sớm nhất.

“Từ khi nào mà đảo Sable nhiều ngựa đến thế?”

Hòn đảo quả thực rất lớn, nhưng trạm cứu hộ chỉ có ba nhân viên thường trực nên không cần nuôi quá nhiều ngựa. Nhìn những “kỵ sĩ” quá mức mảnh khảnh trên “lưng ngựa” và dáng chạy kỳ dị của “ngựa”, lái chính dù không suy nghĩ cũng biết con số này không khớp với số lượng nhân viên cứu hộ.

“Đó không phải là nhân viên cứu hộ!”

Những “kỵ sĩ” đó lao ra từ làn sương mù, bóng dáng hiện rõ trước mắt mọi người. Tất cả kinh hoàng khi phát hiện ra chúng là một đàn chim khổng lồ cao 10 feet (3 mét), với chiếc mỏ khổng lồ cứng rắn khủng khiếp, trên đầu mỏ có móc sắc nhọn như một con đại bàng. Bên dưới đôi mắt đỏ tươi và bộ lông màu nâu vàng là những cơ bắp xoắn vặn gồ lên. Chính vì thân hình chúng quá cường tráng nên mới bị nhìn lầm thành ngựa. Cái gọi là kỵ sĩ trên lưng ngựa thực ra chính là cái cổ dựng đứng của lũ chim khổng lồ, chúng mượn màn sương mù dày đặc che phủ để tạo ra sự hiểu lầm khủng khiếp này. Do vẻ ngoài kỳ lạ và hung dữ của loài chim khổng lồ này nên không ai có thể nhầm chúng với đà điểu trong vườn thú hay rạp xiếc, ngay cả khi chưa từng nhìn thấy đà điểu.

Một số người sụp đổ, gào khóc tại chỗ, bỏ chạy vào khoang thuyền.

Có người vội vàng hét lên: “Bình tĩnh, xung quanh có cát lún, chúng nó không qua được.”

Đúng!

Bãi cát lún vừa bị nguyền rủa ngay lập tức trở thành một hàng rào phòng thủ. Tuy nhiên, rào cản này thậm chí còn yếu hơn sương mù. Hơn chục con chim khổng lồ đã bước lên bãi cát, dường như không bị ảnh hưởng gì. Sau đó, chúng lao về phía con tàu, và dù con người muốn tự lừa dối mình, nói rằng nơi con chim đứng không có cát lún thì cũng không thể được.

Trước khi những kẻ tấn công lên tàu, những người sợ hãi đã xô đẩy và giẫm đạp nhau, gây ra số lượng thương vong lớn. Mọi người liên tục rơi khỏi tàu. Có người nắm lấy lan can cạnh thân tàu, giãy giụa trong khi lơ lửng trên không rồi bất ngờ “bay” lên. Một con chim khổng lồ dùng cái mỏ có móc cong đâm vào lưng gã, rồi mang theo con mồi chạy về trong màn sương. Tiếng thét chói tai truyền đi rất xa.

Lái chính bất lực nhìn những con chim khổng lồ đó nhẹ nhàng vỗ cánh, nhảy lên cao vài mét, dùng móng vuốt và chiếc mỏ sắc nhọn để leo lên tàu Elizabeth một cách dễ dàng. Tiếp theo đó là một vụ thảm sát trên boong tàu. Hầu hết hành khách bất tỉnh ngay lập tức, họ không thể cử động cơ thể, chỉ cảm thấy sợ hãi. Vì khoảng cách khá xa nên những người còn lại đã kịp thời trốn vào khoang thuyền, và tìm được nơi ẩn náu trên thuyền giống như Cindy.

Nhưng những con chim khổng lồ đó không ở lại bên ngoài để “thưởng thức” con mồi. Chúng theo vào bên trong tàu Elizabeth, lần ra từng con mồi bằng cách đánh hơi. Sau khi những con quái vật tàn ác này cắn một miếng thịt tươi, chúng không nhịn được nhìn về phía những người sống có thể nhảy nhót di chuyển. Một số người đẩy đồng đội của mình đến bên chân quái vật, tưởng rằng họ có thể trốn thoát bằng cách này, nhưng chim khổng lồ lại ngừng cắn xé sau khi con mồi chết, tiếp tục đuổi theo họ.

Lái chính thậm chí còn không nhớ mình đã trốn vào nhà kho phía sau bếp bằng cách nào.

“…Có phải chúng ta là những người duy nhất còn lại trên tàu không?”

“Không, vừa rồi có tiếng súng lẻ tẻ, xen lẫn tiếng la hét, còn có người khác!”

Nỗi tuyệt vọng lan tràn trong lòng họ. Cả ba người đều bị thương, người nặng nhất bị gãy tay phải. Trên vai lái chính bị mất một miếng thịt, ông ta cảm thấy trán mình nóng bừng, chất lỏng màu đỏ tươi rỉ ra từ vết thương.

“Tôi không chịu được nữa.” Lái chính lẩm bẩm.

Lúc này, tay nắm cửa phòng chứa đồ đột nhiên bị vặn xuống. Mọi người sợ hãi, đồng loạt giơ vũ khí lên.

“Chờ một chút, có thể vặn tay nắm cửa thì phải là con người.”

“Vậy cũng không được, chúng ta không thể mở cửa.”

Họ đang tranh cãi, cửa lại bị gõ nhẹ.

“Có ai không?”

Đó là giọng của một cô gái trẻ, gấp gáp nhưng không hề hoảng sợ.

“Trong nhà kho có những thứ có thể gây nổ, nếu các người không dùng, có thể đưa cho tôi được không?”

Người sống sót: “…”

***

Mười phút trước, Cindy đã đánh thức được bà nội đang bất tỉnh. Xác con chim khổng lồ chặn khoảng trống trên tường giúp cô có đủ thời gian thở một hơi. Cô nghe thấy tiếng súng dữ dội. Cindy không biết có bao nhiêu người chết trên tàu, bao nhiêu người may mắn trốn được như cô.

“Chúng ta cần tìm cách.”

Đây là một con tàu đang chìm, dù có chỗ ẩn náu tốt đến mấy cũng không thể trụ được lâu vì cát lún sẽ buộc người ta phải ra khỏi khoang thuyền.

Bà Fresnel đã im lặng từ khi được Cindy cứu tỉnh lại, lúc này bà bất ngờ chạm vào súng ngắn.

Cindy phản ứng nhanh chóng, giữ chặt tay bà Fresnel lại.

“…Bà nội.” Cindy thấp giọng cầu xin.

Hai cánh tay, một còn trẻ trung khỏe mạnh, cánh tay còn lại có làn da chảy xệ và vết đồi mồi ở mu bàn tay.

“Bà muốn ra đi nhẹ nhàng thôi, Cindy. Bị cát lún nuốt chửng đau đớn lắm, bà cũng không muốn bị con quái vật đó ăn thịt.” Bà Fresnel kiên quyết nói.

“Không, bà không nghĩ vậy đâu, bà chỉ lo sẽ kéo chân con.” Cindy tin rằng bà nội của cô hoàn toàn không phải là loại người sẵn sàng tự tử, nếu cô đưa súng cho bà nội, bà Fresnel sẽ lao vào lũ chim khổng lồ với vũ khí trong tay để câu giờ cho cô chạy trốn.

“Bên ngoài là cát lún, con cũng không thể chạy ra ngoài được.” Cindy thấp giọng thuyết phục.

Bà Fresnel cứng rắn nói: “Chúng ta đều nghe thấy tiếng súng, có những người khác còn sống trên thuyền, con nên đi theo họ.”

Cindy nắm tay bà Fresnel không buông, tiếp tục kiên trì: “Bà không cần làm như vậy, bà cứ ở lại đây, để con cầm vũ khí đi ra ngoài nghĩ cách. Con có thể nghe thấy tiếng của lũ quái vật đó, bà nội, bà phải tin con.”

Năm phút sau, Cindy rời cabin.

Hành lang khoang thuyền nồng nặc mùi máu và mùi hôi thối. Cindy giẫm phải một vũng máu thịt không xác định ở cửa, gần như trượt chân, cô đưa tay ra để bám vào tường, nhưng lại chạm phải một thứ nhớp nháp khác. Cindy không hề lau tay. Hành lang này cơ bản không có chỗ nào sạch sẽ để bước chân lên, toàn là vết móng vuốt của chim khổng lồ, vết máu bị kéo lê, những xác chết nát bươm…

Cindy nhìn chằm chằm vào hành lang, cẩn thận lắng nghe chuyển động xung quanh, nhanh chóng nhảy qua chướng ngại vật trên mặt đất. Cô đã hình thành khả năng này khi mới bốn tuổi trên những con phố đổ nát sau những trận ném bom. Nhờ vào thính giác nhạy bén của mình, Cindy đã thành công tránh được lũ chim khổng lồ đang đi săn, lẻn vào bếp. Sau đó cô phát hiện cửa nhà kho đã bị khóa, có người ở bên trong.

“…Tôi cần bột mì, bột ca cao, đường trắng và nến.”

Cindy gõ cửa rồi bước tới điểm mù nơi người ở bên trong nổ phát súng đầu tiên sẽ không bắn trúng, thúc giục: “Tàu vẫn đang tiếp tục chìm, chẳng bao lâu nữa cát lún sẽ phủ qua boong thuyền, dù chúng ta có trốn ở đâu thì sau khi con tàu bị cát lún hoàn toàn nuốt chửng cũng sẽ thành nấm mồ.”

Ngay cả kho chứa cũng không được bịt kín hoàn toàn, cát lún sẽ tràn vào trong, nhanh chóng lấp đầy mọi ngóc ngách của khoang thuyền, tới lúc đó thực sự chỉ có ngõ cụt.

Rồi cánh cửa mở ra.

***

Cách đó mười lăm hải lý.

Một cụm sương dày đang di chuyển với tốc độ cao đột nhiên dừng lại, lặng lẽ nhìn chằm chằm vào khu vực sương mù dày hơn, lớn hơn phía trước.

“Là ở đây à?” Johnson hỏi Gymir để xác nhận.

Gymir nhắm mắt trả lời: “Ừ, ta nghe thấy tiếng cung điện nham thạch đang chơi nhạc rồi, khi thủy triều lên xuống, cát lún sẽ chảy vào từ các lỗ của cung điện, phát ra những bản nhạc tuyệt đẹp… Tất nhiên, âm thanh hơi đơn điệu, nhưng kết hợp với những con tàu bị chìm và tiếng than khóc của những hồn ma xung quanh hòn đảo lại rất phù hợp.”

Johnson buộc phải ngắt lời người cá đang bày tỏ suy nghĩ của mình về buổi biểu diễn opera tử thần này.

“Không, nơi này hình như có một thứ mùi vị khác thường, khác hẳn lần trước khi em đi ngang qua.” Johnson vất vả tìm cách miêu tả: “Trước đây nó giống như một ngôi mộ yên bình, hồn ma đều im lặng ngủ say, nhưng bây giờ chúng đã tỉnh dậy.”

“Hở?”

Ngay khi Gymir chuẩn bị nói, một vụ nổ bất ngờ phát ra từ phía bên kia hòn đảo. Nó xa đến nỗi con người không thể nghe thấy được, chỉ có tà thần nghe thấy. Gymir cau mày, âm thanh chói tai này giống như tạo thêm nhiều tạp âm cho bản nhạc. Sau đó là ba vụ nổ nữa xảy ra liên tiếp.

Johnson: “…”

Chắc chắn đã có chuyện gì đó xảy ra.

Johnson nhắc nhở Gymir: “Chờ một chút, em phải đổi một chiếc thuyền khác.”

Đồ sưu tập mới quá hoàn chỉnh, nó sẽ chìm nếu gặp phải cát lún, nên chỉ có thể đổi thành con tàu ma lâu đời nhất của Tây Ban Nha. Vì “khung xương tàu” là chính bản thân Johnson, mà tà thần sẽ không bị cát lún nuốt chửng nên y không có gì phải sợ.

Con tàu ma đen thui và mục nát xông thẳng vào trong sương mù dày đặc. Tốc độ không hề chậm chút nào, nó nhanh chóng áp sát đảo Sable. Tầm nhìn của tà thần không bị ảnh hưởng bởi sương dày, họ nhìn thấy hiện trường vụ thảm sát.

Mười mấy con chim khổng lồ đột biến đang vây quanh một con tàu mắc kẹt trong cát lún. Chúng nó rít lên, nhưng lại do dự.

“Kỳ lạ, sao chúng không lên thuyền? Vừa rồi bị đánh bom sao?” Johnson thắc mắc.

Lúc này trận chiến quyết định bắt đầu.

Những người sống sót trên tàu dường như có kỹ năng bắn súng tốt. Lũ chim khổng lồ trở thành mục tiêu tự nhiên do thân hình to lớn của chúng. Nếu sức mạnh đột biến không khiến chúng trở nên cực kỳ mạnh mẽ, nhiều con sẽ không thể đứng dậy sau khi bị bắn trúng. Chúng rất tức giận. Liên tục có người chết thê thảm, những người còn lại như mất trí, điên cuồng tấn công quái vật, tình hình dần trở nên hỗn loạn. Lợi thế của loài người tiếp tục bị thu hẹp.

Bịch.

Một miếng thịt được ném ra ngoài.

Chim khổng lồ đột nhiên quay đầu lại nhìn về phía đó.

Một bà lão người Anh cầm con dao làm bếp trong tay, cắt một miếng từ thứ trông như xác một con chim khổng lồ rồi tiếp tục ném ra ngoài.

Bầy chim khổng lồ điên cuồng lao tới.

Pằng, pằng, pằng.

Bảy tám người sống sót vô thức phối hợp tấn công, bắn bị thương ba con chim khổng lồ, g**t ch*t hai con.

Chim khổng lồ không phải là sinh vật phi lý trí, chúng bắt đầu rút lui.

“Tiếp đi, thấy không? Xác của những con quái vật này có thể nổi trên cát lún! Giẫm lên xác của chúng đi ra ngoài, chúng ta sẽ được cứu!” Một người đàn ông hét lên bằng tất cả sức lực.

Johnson và Gymir phớt lờ ông ta, cùng nhìn về phía cô gái đang trốn bên cạnh. Thỉnh thoảng cô lại bắn vài phát súng, mỗi phát bắn đều trúng vào mắt chim, và mỗi lần chim khổng lồ vỗ cánh tấn công, cô gần như đều có thể tránh được trong gang tấc.

Chỉ có một lý do duy nhất khiến tà thần bị kiến thu hút, đó chính là độ sáng. Johnson đã nhìn thấy loại kiến phát sáng liên tục, nhấp nháy lúc sáng lúc tắt, nhưng loại kiến toàn thân chỉ có một quầng sáng mỏng, ánh sáng chủ yếu tập trung ở đầu trông như một cái đội mũ bảo hiểm bong bóng… thì chưa từng thấy qua! Y nhớ đến những thợ lặn mình từng gặp ở Jamaica.

“Đây… quả nhiên là nhà của thần Trí tuệ Thoth? Còn biết thu hút thám tử có đặc tính trí tuệ à?”

“Không, là âm thanh, cô ta có thể nghe thấy vài âm thanh phát ra từ tồn tại huyền bí.”

Gymir rút ra cách phân loại ánh sáng của kiến từ trí nhớ của mình, giải thích cho Johnson. Nếu chỉ nghe thấy mà không đủ ý chí để bảo vệ não bộ thì con người này chắc đã phát điên từ lâu.
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 97


<b>Chương 97</b>

<b>Chạy thoát thân</b>

Lũ chim khổng lồ còn lại đã bỏ chạy.

Cindy ngã gục xuống đất, khi đó cô mới nhận ra miệng mình đầy máu, để giữ bình tĩnh, cô cắn bị thương nướu răng của mình. Cánh tay phải của cô sưng tấy và đau đớn, mặc dù cô đã cố gắng hết sức để lợi dụng thân tàu làm đệm chống lại lực giật của súng, nhưng khi chim khổng lồ lao tới, Cindy không có nhiều thời gian để lựa chọn. Khi bà Fresnel lao ra với con dao làm bếp, Cindy không hề quan tâm đến tư thế bắn sao cho bớt tốn sức, chỉ có thể bóp cò súng mạnh nhất có thể.

Chỉ trong vài phút, Cindy đã bắn cạn hai băng đạn. Đây là toàn bộ hàng tồn kho trong vali. Nếu lũ chim khổng lồ không rút lui, Cindy sẽ phải dùng đến con dao làm bếp mà bà nội mang ra… Với sức mạnh của cô thì không đủ để đánh bại những con quái vật này bằng cận chiến, nhưng dù sao thì một người dũng cảm cũng phải làm gì đó khi đối mặt với cái chết, thay vì nhắm mắt lại la hét.

Cindy chỉ nghỉ ngơi nửa phút trước khi khó khăn đứng dậy để xem tình trạng của bà Fresnel. Bà Fresnel đã lớn tuổi, sức khỏe không còn như xưa, bà hoàn toàn dựa vào adrenaline để chống đỡ. Giờ đây, nguy hiểm đã qua, bà rơi vào trạng thái kiệt sức. Cindy lảo đảo đi về phía bà nội, cơ thể nghiêng ngả, ngã xuống đất.

Những người sống sót xung quanh đang hò reo. Hầu hết họ đều bước ra sau khi nghe thấy tiếng nổ.

Gợi ý của Cindy dùng để thuyết phục người lái chính là giết càng nhiều chim khổng lồ đi riêng lẻ càng tốt, giảm số lượng chim khổng lồ, không gian chật hẹp bên trong con tàu là cơ hội duy nhất của họ. Vụ nổ bột làm bị thương khoảng năm con chim khổng lồ, Cindy bồi thêm phát súng đầu tiên, sau đó cô không cần lãng phí công sức để nói nữa.

Mỗi hành khách và thuyền viên sống sót sau vụ thảm sát này về cơ bản đều đã giết được một con chim khổng lồ. Sau khi nhìn thấy hoặc nghe thấy ai đó đang liều mạng chiến đấu với chim khổng lồ, họ nhanh chóng nhận ra rằng đây là khoảnh khắc sinh tử. Vụ nổ đẩy nhanh tốc độ chìm của tàu Elizabeth, nếu tiếp tục lẩn trốn sẽ là ngõ cụt, tham gia chiến đấu, nổ súng sau lưng chim khổng lồ chẳng những có thể tăng khả năng sống sót mà còn không phải là một rủi ro lớn. Chiến đấu trong hoàn cảnh tuyệt vọng là như thế này, một khi tham gia, người ta sẽ nhanh chóng quên đi nỗi sợ hãi của mình.

Lũ chim khổng lồ phát hiện ra con mồi đang phản công, sau khi gọi nhau để xác định số thương vong của đồng loại, chúng nhanh chóng thoát khỏi khoang thuyền chật hẹp, canh chừng bên ngoài và chờ đợi con mồi chui ra, cát lún sẽ giúp chúng đẩy con mồi ra ngoài.

Người sống sót không còn cách nào khác là tập trung toàn bộ vũ khí cho những ai có thể chiến đấu, lao ra chiến đấu với chim khổng lồ. Cindy hòa lẫn vào trong số họ, vốn dĩ không được chú ý đến, tuy cô là phụ nữ, nhưng chỉ cần có thể chiến đấu vào lúc này thì không ai quan tâm đến giới tính hay tuổi tác làm gì.

Sau khi chim khổng lồ bỏ chạy, người sống sót khác phát hiện cô gái trẻ người Anh này vẫn còn sống sót, thậm chí có vài người có cảm xúc phức tạp hơn, bởi vì họ nhận thấy Cindy bắn súng rất chính xác, nhanh chóng giải quyết được những nguy hiểm, rắc rối mà mình gặp phải trong trận chiến. Họ không thể tưởng tượng được điều này từ vẻ bề ngoài, một cô gái trẻ xinh đẹp, và một bà già tóc bạc trắng… Quả nhiên là chưa đến giây phút cuối cùng thì sẽ không bao giờ biết được linh hồn như thế nào đang ẩn giấu trong một cơ thể bình thường?

Lái chính đang vịn vào mạn thuyền, tai phải của ông ta bị chim khổng lồ cắn mất, máu chảy ra liên tục, vết thương trên vai cũng rách toạc. Ông ta không phải là người bị thương nặng nhất, có hai người nằm trên boong thuyền, máu rỉ ra từ ngực, hơi thở yếu ớt, có lẽ là không chịu được nữa.

“Ai có hộp sơ cứu?”

“Bác sĩ của tàu đã chết, phòng điều trị nằm dưới cát lún.”

“Không có ai từng xuống đó à?”

“…Có, tôi lấy được băng gạc và thuốc giảm đau.”

Mọi người tay chân luống cuống giúp băng bó.

Sau đó, một vấn đề thực tế hơn được đặt ra trước mắt họ, họ phải rời khỏi con tàu này, hành trình tiếp theo sẽ còn đáng sợ hơn.

“Có thể còn có những con chim khổng lồ trên đảo, nếu chúng ta đánh bại được đợt đầu tiên, số còn lại…”

Đảo Sable không có cây cối, chỉ có nham thạch và cỏ, tìm chỗ trốn cũng khó khăn, nếu bị chim khổng lồ đánh lén giữa sương mù dày thì không có đường nào sống sót. Điều tệ nhất là sau đợt tiêu hao này, lượng đạn sắp hết. Đối mặt với một con quái vật như chim khổng lồ, không có súng, liệu họ có thể thắng chỉ bằng gậy gỗ và dao làm bếp không? Tiếng reo hò dần dần tắt đi. Mọi người bắt đầu nhận ra rằng họ không chiến thắng, họ chỉ trì hoãn cái chết của chính mình mà thôi.

“Chúng ta buộc phải đến trạm cứu hộ, ở đó có radio.” Lái chính nói trong lúc ôm lấy vết thương đã băng bó.

Lập tức có người lên tiếng phản đối, hỏi vị trí trạm cứu hộ.

Lái chính chỉ nghe nói về tình hình ở đảo Sable, chưa từng đến đây, không thể đoán được phương hướng trong sương mù, diện tích bãi cát lún lại rất rộng, có ma mới biết trạm cứu hộ cách đây bao xa.

“Sau khi sương tan lại lên đường, đây là đảo hoang, chúng ta không có đủ lương thực và nước ngọt.” Lái chính kiên trì.

Boong tàu Elizabeth đã lún ngang với với mặt cát vàng, ai ngồi trên đó đều có thể cảm nhận được sự rung chuyển của thân tàu, như thể có một bàn tay vô hình nào đó đang kéo họ xuống vực thẳm.

Họ giẫm lên xác chim khổng lồ, rồi dùng gậy gỗ và dây thừng đẩy xác chim trượt trên mặt cát lún, “mở ra” một con đường có thể đi được. Lúc đầu, họ lo lắng xác của chim khổng lồ sẽ chìm xuống sau khi bị giẫm lên vài lần, những người đứng sau không thể sử dụng được, nhưng bất ngờ là xác chim khổng lồ bị chìm xuống lại nhanh chóng nổi lên một lần nữa, giống như một con vịt cao su bơm hơi trong bồn tắm.

“Thực ra đây là loại chim gì?”

Johnson ở xa cũng có cùng câu hỏi. Sự khác biệt nằm ở chỗ con người thắc mắc về chủng loại của chim khổng lồ, còn tà thần thắc mắc chúng bị ô nhiễm như thế nào. Johnson dừng con tàu ma ở nơi khuất tầm nhìn của con người, sương mù dày đặc che khuất sự hiện diện của y.

“…Chúng có lý trí, số lượng rất nhiều, lại không đơn độc, có đồng loại đang thao túng đằng sau à?”

Johnson nghĩ đến con cá voi trắng nhỏ ở Bắc Cực, để đạt được cách tăng sức mạnh hoàn hảo không phải là điều dễ dàng. Hơn nữa, đây là nơi ở trước đây của thần Trí tuệ Thoth, cát lún và đá vẫn còn mang hơi thở của Thoth, chim khổng lồ không bị cát lún nuốt chửng, điều đó chứng tỏ sức mạnh của chúng đều đến từ cùng một nguồn.

Johnson cảnh giác hỏi: “Lẽ nào thần Trí tuệ Thoth đã về?”

Nơi sâu thẳm trong vũ trụ đáng sợ đến vậy sao? Những kẻ đi ra ngoài đều không thể sống yên ổn, phải chạy về tìm cách tăng cường sức mạnh như thằng điên thế à?

“Không, Thoth mà quay lại thì không thể im lặng thế này!” Gymir phủ nhận.

Johnson: “…”

Trước khi y đặt ra những câu hỏi nghi ngờ, Gymir lập tức giải thích: “Thoth đã nghiên cứu mọi sinh vật trên hành tinh này, nó có thể dễ dàng tạo ra một con quái vật quyến thuộc đáng sợ hơn con này. Nếu nó thực sự quay lại, chắc chắn nó sẽ thả quyến thuộc vào thẳng các thành phố của con người ngay lập tức, để kiểm tra xem đàn kiến này đã phát triển đến mức nào trong thời gian nó vắng mặt.”

Johnson vô thức nghĩ đến các loại quái vật đã tấn công các thành bang trong truyền thuyết của loài người. Y vẫn luôn cho rằng đó là quyến thuộc của tà thần, hay thể biến dị đặc biệt nào đó, không ngờ rằng nó còn bao gồm cả bãi thử nghiệm của Thoth?

“Khi đó, Thoth cảm thấy sự phát triển của nền văn minh loài kiến như con người rất chậm chạp và không thú vị, lại nghe nói nơi sâu thẳm trong vũ trụ có vài nền văn minh loài kiến mạnh hơn nhiều so với trái đất, không dễ dàng bị diệt vong, nên mới ra đi mà không hề tiếc nuối.” Gymir tin rằng Thoth coi thường trái đất vì gã cảm thấy con người ở đây không chịu cố gắng chút nào.

Johnson không còn gì để nói, trong đầu y lại thầm phản bác, con người cũng khá thú vị đấy chứ.

“Vẫn chưa rõ chuyện gì đã xảy ra với hòn đảo này, chúng ta hãy chờ xem.” Gymir thờ ơ nói.

Màn trình diễn sinh tồn của con người trên đảo hoang trước mắt đang rất đặc sắc! Có hơn chục con chim khổng lồ trên đảo, khi nào chúng mới phát hiện ra những con mồi này? Khi những người sống sót phát hiện sương mù không bao giờ tan, họ sẽ cãi nhau phải không nào!

Về phía trạm cứu hộ trên đảo Sable… Johnson nhìn về hướng đó, phát hiện một lỗ lớn trên tường nhà. Nhân viên cứu hộ đã bị giết, những người sống sót vẫn có thể sử dụng ngôi nhà này làm hầm trú ẩn chứ? Chắc là có, dù sao thì có ba bức tường và một mái nhà cũng tốt hơn nhiều so với một bãi cỏ trống trải.

Vậy thì, cần phải làm gì? Johnson suy nghĩ rồi vô thức thốt lên.

“Bịt các lỗ bằng đồ nội thất.” Gymir gợi ý, hắn đã từng chứng kiến những người thuộc giáo phái Màu Xám làm vậy.

Johnson lắc đầu: “Không được, sẽ có khoảng trống, sau nhà có mười mấy túi đậu, hình như là để cho ngựa ăn, em thấy cái đó khá tốt.”

“Đậu cũng không được, họ còn phải ăn thứ này để tồn tại.”

“Vậy chắc là nhặt đá!” Có rất nhiều đá trên đảo, Johnson nhìn quanh, tiếc nuối khi phát hiện là không dùng được. Những viên đá này dường như “mọc lên” trong lòng đất, hòa vào làm một với chính hòn đảo. Con người không thể đập vỡ chúng nếu không có búa.

Gymir nhắc nhở Johnson đang mất tập trung: “Cô ta đang đi xuống… thật kỳ lạ, cử động rất linh hoạt, trông chẳng giống như đang cõng thêm một người.”

Johnson vội vàng quay đầu lại, nhận ra rằng mình gần như đã bỏ lỡ màn trình diễn của “thám tử mới”.

Những người sống sót đi phía trước đã sử dụng xác chim khổng lồ để tạo ra một lối đi tương đối an toàn.

Cindy dùng sợi dây cột chặt bà Fresnel sau lưng. Cô trông run rẩy lảo đảo, như thể sẽ rơi vào cát lún ngay trong giây tiếp theo, nhưng bước đi của cô rất chính xác, mỗi động tác đều không hề do dự. Tổng trọng lượng của hai bà cháu họ cộng lại nhỉnh hơn một người đàn ông trưởng thành một chút, nhưng cũng không hơn là bao. Mỗi khi xác chim khổng lồ chìm xuống, Cindy sẽ kịp thời di chuyển. Điểm yếu về thể lực trở thành thủ phạm chính cản trở Cindy trong nửa sau đoạn đường, có vài lần Johnson tưởng cô sẽ trượt chân và mắc kẹt trong bãi cát lún.

“Đó, đó là gì?”

Bóng dáng một con tàu hiện ra giữa làn sương mù dày khiến mọi người hoảng sợ hét lên.

Cindy đang tập trung băng qua khu vực cát lún, không hề bị phân tâm, không để ý đến tình hình bên ngoài.

Tà thần quá tập trung quan sát chuyển động của một con kiến phát sáng nào đó mà không để ý rằng con tàu ma đang ngày càng đến gần bãi biển.

“Phù.” Chặng đường trên cây cầu nổi bằng xác chim khổng lồ đã kết thúc, Cindy bước lên bãi cát sâu đến bắp chân, lê bước về phía một tảng nham thạch, chuẩn bị ngồi xuống nghỉ ngơi.

Lúc này cô mới nghe thấy tiếng la hét của những người sống sót.

Cindy đột nhiên ngẩng đầu lên, nhìn thấy một chiếc thuyền buồm mục nát với nhiều lỗ thủng trên thân tàu. Cô nghe thấy một tiếng sột soạt lạ lùng, có thứ gì đó ẩn trong thuyền! Một cái gì đó biết bò!

Cindy sợ đến nỗi không thở được, cô ra sức siết chặt cánh tay bà Fresnel trên vai mình, rồi phát hiện lòng bàn tay bà nội cũng ướt đẫm mồ hôi lạnh.

“Là con tàu ma sao?”

“Mọi người bình tĩnh… Ít nhất đã có hàng trăm con tàu bị chìm trong bãi cát lún của đảo Sable, cát lún không ngừng di chuyển cả ngày lẫn đêm, có khi lại phun ra <i>thứ gì đó</i>, đây chỉ là một con tàu trống rỗng mà thôi!” Lái chính vội hét lên, ông ta không biết tại sao đầu mình lại đau, nhưng mọi người đều sợ hãi hét lên như thể bị mất trí sẽ thu hút chim khổng lồ đến!

Con tàu ma dường như nhận ra mình đã làm sai, từ từ trôi ngược về trong làn sương mù.

Lúc này, một giọng nói quái dị với giọng điệu khác thường vang lên: “Hãy nhìn tháp quan sát!”

Mọi người vô thức quay đầu lại, nhưng con tàu ma đã biến mất, họ không nhìn thấy gì.

Người đàn ông vừa hét lên kia ngã xuống đất, máu trào ra từ cổ họng, mắt gã lồi ra, rồi co giật dữ dội. Khuôn mặt của gã bị biến dạng, răng bắt đầu rụng đi, miệng phình ra một cách bất thường.

Mọi người đều sợ hãi tránh xa kẻ vừa co giật vừa kiên trì bò đi này.

“Người cá, tôi thấy rồi… người cá…” Một âm thanh mơ hồ và quỷ dị.

Lái chính đã ngu cả người. Chim khổng lồ cũng có thể cho là loài vật thời tiền sử chưa từng được con người phát hiện ra, nhưng người cá là cái gì? Người cá trên con tàu ma…

Sinh vật không còn có thể gọi là con người kia vẫn đang cố gắng diễn đạt phát hiện của mình, rồi đột nhiên nổ tung thành một đám sương máu, hoàn toàn biến mất.

Chỉ còn lại những người sống sót từ tàu Elizabeth với gương mặt kinh hoàng, cùng một mảng nhỏ sương trắng nhuốm đỏ, và mặt cỏ nhuốm máu.

“A!”

Lần lượt có người ôm đầu gục xuống, chìm vào hôn mê.

Cindy cố chịu đựng cơn đau đầu, gấp gáp hỏi bà Fresnel: “Bà nội, bà sao rồi?”

“Bà không sao, thị lực của bà kém, sao có thể nhìn được từ khoảng cách xa như vậy? Họ đang nói cái gì vậy, con tàu ma à?” Bà Fresnel đổ mồ hôi lạnh vì lo lắng cháu gái mình đi trên cầu phao cát lún, lúc này, bà nhìn thấy hành vi điên cuồng của những người xung quanh thì liền cảnh giác: “Cindy, chúng ta phải rời đi càng sớm càng tốt, bãi biển không an toàn.”



<i>Người dịch:</i>

<i>Tạo vụ nổ bằng bột, nguyên lý là nổ bụi, là quá trình đốt cháy nhanh các hạt mịn lơ lửng trong không khí trong một địa điểm kín. Vụ nổ bụi có thể xảy ra khi bất kỳ vật liệu dễ cháy dạng bột phân tán nào có mặt ở nồng độ đủ cao trong khí quyển hoặc môi trường khí oxy hóa khác, chẳng hạn như oxy nguyên chất. </i><i>Nổ bụi là mối nguy hiểm thường gặp trong các mỏ than, thang máy, silo chứa ngũ cốc, và các môi trường công nghiệp khác. Chúng cũng thường được các nghệ sĩ hiệu ứng đặc biệt, nhà làm phim và thợ pháo hoa sử dụng, vì vẻ ngoài ngoạn mục và khả năng được chứa an toàn trong một số điều kiện được kiểm soát cẩn thận.</i>

<i> </i>

<i>Thoth = nhà khoa học điên</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 98


<b>Chương 98</b>

<b>Nơi trú ẩn</b>

Đảo Sable đằng sau làn sương mù dày đặc lộ ra bộ mặt tàn bạo lạnh lùng trước mắt Cindy.

Bãi cát vàng quanh đảo đang ngâm nga khúc nhạc chết chóc, cỏ dại mọc trong các kẽ nứt của nham thạch, chúng có màu xanh xám xù xì, thiếu sức sống khiến người ta thậm chí còn nghi ngờ đó là cây giả.

Đá, đá, đá có ở khắp nơi.

Đất mà cỏ dại có thể mọc lên được tích lũy qua vô số năm tháng là “món quà” được gió mang đến từ những vùng đất liền xa xôi. Tương tự như vậy, các cơn bão hàng năm cũng cuốn đi một lớp “đất nổi trên bề mặt” khỏi đảo. Cuộc giằng co qua lại này diễn ra trong một thời gian thật dài, trên đảo Sable đã lâu không còn cây cối. Cho đến khi chu kỳ khí hậu của hành tinh lại thay đổi, các cơn bão đột nhiên giảm bớt, cuối cùng đất đã tích lũy được một chút lợi thế, nuôi dưỡng những hạt cỏ dại theo gió bay đến, bộ rễ mạnh mẽ và phát triển của cỏ dại cũng bám lấy đất, cuối cùng chúng đã thành công… Mặc dù trước đó, vô số cỏ dại đã biến mất.

Những đám cỏ dại này giống như những người nông dân bị đày đến đây làm việc vất vả. Những cơn bão sẽ tàn phá nhà cửa của chúng hết lần này đến lần khác, cùng với mạng sống của chúng. Cuối cùng, một ngày nọ, chúng đứng vững được, tích cực lớn mạnh, lan rộng trong các kẽ đá của đảo Sable, cho đến khi làm thay đổi bộ mặt xám xịt của hòn đảo Chết Chóc.

Cindy đương nhiên không có cách nào biết được những câu chuyện này, cô chỉ nghe thấy giọng nói.

Âm thanh của cỏ dại.

Dù chỉ là một loại cỏ dại bình thường, nhưng chúng mọc bên ngoài ngôi nhà của thần cổ xưa, không tránh khỏi bị nhiễm mùi của tồn tại huyền bí. Tuy nhiên, thứ hơi thở này quá yếu, không có chút sức mạnh nào. Chúng chỉ là những cây cỏ dại “biết nói”. Âm thanh nhỏ đến mức không nghe được, ẩn trong tiếng sóng biển.

“Con nghĩ, trạm cứu hộ ở hướng đó.” Cindy nhìn theo hướng cỏ dại mọc um tùm.

Người và ngựa trong trạm cứu hộ, ngay cả chính ngôi nhà cũng có thể làm nơi trú ẩn cho cỏ dại, không giống như những tảng đá lạnh lẽo đó. Trùng hợp thay, Cindy cũng cần một nơi ẩn náu.

“Có lẽ chúng ta không thể ở lại trạm cứu hộ quá lâu, hy vọng ở đó có bản đồ hòn đảo, và mấy thứ vật tư.” Bà Fresnel thì thào. Bà đã nghỉ ngơi đủ, được Cindy đỡ, bước thấp bước cao tiến về phía trước.

Mặc dù họ muốn tránh xa bờ biển, nhưng mặt đất không bằng phẳng, khu vực gần bãi cát lún tương đối bằng phẳng hơn. Cindy dùng gậy batoong của bà nội để dò đường, liên tục gõ xuống mặt đất.

Lúc đầu, Cindy còn lo sẽ gặp phải rắn bò ra khỏi bãi cỏ giữa những tảng đá, sau khi đi được một lúc, cô nhận ra rằng mọi chuyện có thể còn tệ hơn cả việc gặp rắn, vì không có côn trùng hay động vật nhỏ nào trên đảo Sable cả, cô bắt đầu kinh hoàng suy nghĩ về ý nghĩa thực sự của “đảo Chết Chóc”. Suy cho cùng, với hoạt động hàng hải của con người, một số loài động vật sẽ được du nhập ngoài tầm kiểm soát ra khắp thế giới, chẳng hạn như loài chuột. Đảo Sable có người và ngựa sống lâu dài, nên tàu tiếp tế chắc chắn sẽ đến đảo Chết Chóc này định kỳ. Một lần đến không mang theo, hai lần không có, nhưng nhiều lần rồi mà cũng chẳng có gì?

Hay là… đã chết cả rồi?

Cindy cảm thấy lạnh sống lưng.

***

Dưới góc nhìn của tà thần, sau khi Cindy rời nhóm người sống sót, cô đã vượt qua nhiều nguy hiểm bất ngờ trên đường đi. Cô đã chọn một con đường quanh co vòng vèo, nhìn thì có vẻ phi logic, nhưng chỉ cần có tầm nhìn đủ rộng là hiểu được lý do cô làm như vậy… Cô đang tránh vùng cát lún mở rộng đột ngột, vòng qua bầy chim khổng lồ đang nghỉ ngơi.

Nếu có một thợ săn xuất sắc ở đây, anh ta sẽ cẩn thận chọn hướng ngược gió để tránh xung đột với những con quái vật này. Cindy và bà Fresnel thì rắc cát khắp đầu khắp mặt rồi hoàn toàn dựa vào “trực giác” của Cindy để tiến về phía trước. Trên đảo không có nhiều chim khổng lồ, theo tiếng gọi của đồng loại, chúng dần tập trung về phía bãi cát lún nơi tàu Elizabeth bị chìm, giống như một đội đi săn đang tập hợp. Nhiều lần, chim khổng lồ suýt đánh hơi được con mồi, tìm thấy Cindy. Tình huống tương tự như kẻ mạo hiểm cầm trong tay một cây gậy thăng bằng, đi trên dây thép băng qua eo biển. Nguy hiểm nhưng lại đẹp mắt.

“Cô ta đang sợ cái gì?”

Cindy đột ngột thay đổi lộ trình, còn Gymir vô thức tìm kiếm chim khổng lồ gần đó. Không có.

Johnson đang xem xét cát lún, loại cát này phân bố không đều, thường tập trung với số lượng lớn ở những nơi có nhiều đá hơn, và tập trung ở hai đầu hòn đảo. Tàu Elizabeth bị hút bởi lực hút khủng khiếp này, thật không may, đây cũng là khu vực có nhiều cát lún nhất, chỉ cần bước ra ngoài thì tình hình sẽ khá hơn rất nhiều.

Johnson cũng nhìn thấy một bến tàu sơ sài, giống như trạm dừng của một trạm tiếp tế, cát lún ở đó rất mỏng, chỉ cần mở đủ công suất là tàu có thể thoát ra. Tất nhiên đó là trước khi đảo Sable xảy ra đột biến. Diện tích bãi cát lún đang ngày càng mở rộng trên quy mô lớn, một nửa bến tàu đã bị cát vàng nuốt chửng.

Cindy như đang lội trong đầm lầy chết chóc, bước đầu tiên cát lún chỉ đến mắt cá chân, bước tiếp theo đã là một cái hố lớn đủ khiến cô mắc kẹt cả người. Nhưng Cindy có thể nghe thấy tiếng cười hung ác của thần chết, cô luôn có thể kịp thời tránh những cạm bẫy này.

Lúc này Cindy lại đi vòng quanh, phản ứng đầu tiên của tà thần là tìm kiếm mối đe dọa, nhưng không tìm thấy.

Nhìn Cindy thỉnh thoảng lại chiến đấu với không khí, Johnson trầm ngâm suy nghĩ rồi hỏi: “Có phải là căng thẳng quá mức không?”

“Không, không, con người có thể phát hiện ra những dấu vết nhỏ mà chúng ta không hề biết.” Gymir nhấn mạnh.

“…Em có cảm giác như cô ta đang sợ thứ gì đó vô hình nên liên tục đổi sang hướng khác an toàn hơn.”

Con đường an toàn không chỉ có một, Cindy đã thay đổi nhiều lần do nội tâm rất bất an.

“Họ sắp tới rồi.”

Thứ xuất hiện trong làn sương mù dày là một ngọn hải đăng.

Đúng vậy, so với trạm cứu hộ, địa điểm gần nơi tàu Elizabeth bị chìm nhất thực ra là ngọn hải đăng ở đầu này của hòn đảo. Hải đăng đứng ở nơi nguy hiểm nhất để nhắc nhở tàu thuyền không đến gần. Bây giờ đèn đã tắt. Ngọn hải đăng cao lớn như một người khổng lồ làm bằng đá đen, đứng im lìm trong làn sương dày.

“Tốt quá.” Bà Fresnel rất hài lòng với nơi trú ẩn này.

Bức tường bên ngoài ngọn hải đăng thẳng và dốc, độ cao đáng kinh ngạc, chim khổng lồ không thể bay tới đó. Cầu thang dẫn lên nơi cao thường có hình xoắn ốc và rất hẹp, đó là loại địa hình dễ phòng thủ. Nhược điểm là không có lối thoát. Một khi phải liên tục rút lui, trèo lên đến đỉnh tháp thì chỉ có đường chết. Nhưng điều bà Fresnel cần không phải là một lối thoát. Trên hòn đảo hoang vắng, nơi sương dày không tan quá đỗi kỳ quái này, chạy ra khỏi hải đăng cũng có kết cục giống như nhảy xuống khỏi đỉnh tháp.

Sau khi Cindy xác nhận rằng không có con chim khổng lồ nào trong tháp và trong sương mù, bà Fresnel gần như muốn cầu nguyện Chúa ngay để cảm ơn Ngài đã ban cho nơi trú ẩn này.

“Bà nội, cửa đang khóa.” Cindy không mở được cửa. Cửa của ngọn hải đăng rất chắc chắn, mục đích là để có thể chống chịu được bão tố.

“Có vẻ như cô ta không biết mở khóa.” Johnson cau mày.

Cindy từng học bắn súng, có thể đã học được một vài kỹ năng sơ cứu y tế, nhưng rõ ràng là một cô gái Luân Đôn trẻ tuổi và giàu có sẽ không đi học cách bẻ khóa. Cả giáo dục gia đình lẫn nền giáo dục xã hội đều không có nội dung này.

Điều này khiến khán giả lo lắng. Cô đã đánh bại chim khổng lồ, không sợ chết, lội qua cát lún và sương mù dày đặc, cuối cùng cũng tìm được nơi ẩn náu lý tưởng, ai ngờ cô lại không mở được ổ khóa? Tất nhiên, tà thần có thể giúp đỡ mà không để lại dấu vết, nhưng cả Johnson và Gymir đều cho rằng sự “giúp đỡ” của mình sẽ dùng ở chỗ quan trọng hơn chứ không phải… mở một cái ổ khóa sắt thông thường?

Cindy không hề biết rằng có “ai đó” đang lo lắng cho mình. Cô đang nghĩ về tất cả những gì mà lái chính của tàu Elizabeth nói về đảo Sable.

Hòn đảo này rất rộng lớn, việc tuần tra và bảo trì hàng ngày tốn rất nhiều thời gian. Các ngọn hải đăng được xây dựng ở hai đầu hòn đảo, khoảng cách giữa chúng là xa nhất. Nhân viên cứu hộ đóng ở đảo Sable phải có chìa khóa bên mình, nhưng lỡ họ làm mất thì sao? Ngay cả khi đánh mất chìa khóa trên sân bóng, người ta cũng phải nằm rạp xuống đất hoặc cúi xuống và đi theo con đường mình đã đi, rồi kiên nhẫn và cẩn thận tìm kiếm. Còn đây là một hòn đảo biệt lập với đá ở khắp mọi nơi, cỏ dại mọc trong các vết nứt giữa các tảng đá! Hòn đảo này lại có diện tích bằng 1/9 thủ đô của Canada. Nếu quên chìa khóa ở trạm cứu hộ, lẽ nào phải cưỡi ngựa quay lại lấy sao?

Nghĩ rằng có người thích để chìa khóa dự phòng dưới tấm thảm chùi chân hoặc chậu hoa, Cindy nhanh chóng nảy ra ý tưởng. Cô tìm kiếm xung quanh tòa tháp, và thấy chìa khóa cửa dưới một tảng đá.

Đối với tà thần thì nó hơi giống phép thuật. Johnson không thể nghĩ ra được, không phải vì y không có năng khiếu làm thám tử, cũng không phải vì thiếu trí tuệ, mà vì y không có loại “kinh nghiệm sống” này.

Tóm lại, Cindy và bà nội của cô – bà Fresnel – đã thành công tiến vào ngọn hải đăng, ngay lập tức bắt đầu tất bật chuẩn bị biến nơi đây thành một nơi ẩn náu lý tưởng.

Và điều kỳ diệu đã xảy ra.

Sau khi Cindy kiểm tra cầu thang, cô bất ngờ tìm thấy vài chai rượu trong góc. Không bám bụi, nhãn mác còn nguyên vẹn và giá cả thì đắt đỏ. Chúng nên được tìm thấy tại các cuộc đấu giá hoặc các khách sạn nghỉ dưỡng sang trọng chứ không phải trong một ngọn hải đăng trên đảo hoang. Chất tạo mùi của con người do tà thần cung cấp.

Bà Fresnel tìm thấy vài cái bánh mì trên bàn của ngọn hải đăng. Chúng tươi đến mức trông như vừa mới nướng, thậm chí còn rắc cả hạt mè bên trên. Vài tờ báo được lót dưới bánh mì, vài cuốn tạp chí chất bên chân bàn, những thứ này có thể dùng làm nhiên liệu để đốt.

Tất cả đều lấy ra từ bộ sưu tập vô dụng của Johnson. Johnson luôn tiêu tiền để mua những thứ y không cần dùng đến, mua không phải là vấn đề, cái chính là người bán thứ đó “nhìn thấy” y.

Cindy cũng tìm thấy một túi đậu nành trên đỉnh tháp, hiển nhiên là khẩu phần ăn cho ngựa. Vấn đề là người của trạm cứu hộ không thể vận chuyển đậu nành lên nơi cao như vậy. Gymir đã tiện tay lấy nó từ trạm cứu hộ và đặt lên tháp cao, chỉ bởi vì Cindy và bà Fresnel đều ở dưới chân tháp.

Đây không còn là nơi trú ẩn nữa, nó chẳng khác gì căn nhà cầu được ước thấy của phù thủy.

“Bà nội!” Khi Cindy quay lại, cô thấy bà Fresnel đang ăn bánh mì, làm cô giật mình. Sao có thể tùy tiện ăn những thực phẩm không rõ nguồn gốc này?

“Chúng ta phải cầm cự ở đây rất lâu, có thể phải bảy ngày sau mới được cứu.” Bà Fresnel ám chỉ rằng nếu không ăn thì sẽ chết đói.

Họ chỉ kịp mang theo một ít kẹo, một lọ muối, một chiếc bật lửa và những con dao làm bếp từ trong bếp. Bà Fresnel không ngần ngại quyết định tự mình ăn thử, nếu không có vấn đề gì thì để Cindy ăn.

“Một số loại thuốc phản ứng rất chậm. Sau khi dùng, chúng ta có thể…” Trở thành một con quái vật.

Cindy nuốt lời định nói vào. Cô nhặt tờ báo lên, thấy đó là tờ The Times, xuất bản năm 1927.

“Hãy nhìn mặt tích cực đi Cindy, nếu đây là bẫy của ma quỷ thì ít nhất đó cũng là một con quỷ nước Anh, hoặc có thể nói được tiếng Anh.” Bà Fresnel đã đi được một con đường dài, giờ đã kiệt sức, bà ngáp dài và nói: “Khi cần bán linh hồn, chúng ta vẫn có cơ sở để mặc cả!”

“Bà nội!” Cindy ngăn bà Fresnel tiếp tục nói những lời chẳng lành.

“Không… thành thật mà nói, bà không thực sự quan tâm đây là món quà của Chúa hay hợp đồng của ma quỷ… miễn là con có thể sống sót…” Bà Fresnel lẩm bẩm, nhắm mắt lại, gà gật ngủ.

Cindy lặng lẽ cầm nửa chiếc bánh mì trong tay bà nội, đặt dưới mũi và cẩn thận ngửi. Còn rất mới, không thấy dấu hiệu gì bất thường.

Ác quỷ sao?

Cindy do dự vài giây rồi đưa bánh mì lên miệng, cắn miếng bánh đầu tiên.
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 99


<b>Chương 99</b>

<b>Mái nhà thủng rồi</b>

Những người sống sót trên bãi biển lần lượt tỉnh dậy.

Ký ức về con tàu ma giống như một ảo giác, thậm chí họ còn không chắc chuyện đó có xảy ra hay không.

Nhưng trên mặt đất vẫn còn vết máu, ít nhất là ba người trong đội mất tích.

“Bà Fresnel và cháu gái đi đâu mất rồi.”

“Ôi Chúa ơi…”

Không ai nghĩ Cindy và bà Fresnel lại tự ý bỏ đi. Hòn đảo hoang này đầy rẫy những hiểm nguy, sương mù vẫn chưa tan, một cô gái trẻ làm sao có đủ can đảm đưa bà nội lớn tuổi rời khỏi đám đông?

“Họ đã bị giết. Chắc chắn có thứ gì đó đã ăn thịt họ.” Một người đàn ông gục xuống và ôm đầu nói.

Lái chính mấp máy môi, nhưng không nói gì.

Mộ trong số hai thuyền viên trốn trong nhà kho cùng lái chính ban đầu đã chết, còn người còn lại thì chế nhạo: “Điều đó không hẳn là đúng, các người đều đã đánh giá thấp cô Fresnel kia.”

“Ý anh là kỹ năng bắn súng của cô ấy rất chính xác?” Một người sống sót khác hỏi.

“Không phải.” Thuyền viên ngay lập tức nói về vụ nổ bụi.

Một cô gái trẻ đẹp liệu có thể một mình bước qua hành lang khoang thuyền đầy xác chết, bình tĩnh gõ cửa, sau đó rắc bột mì vào một cabin chật hẹp khép kín tạo thành cái bẫy, cuối cùng lợi dụng lối đi hẹp của khoang thuyền để dụ chim khổng lồ vào bẫy, còn cô thì nhảy lên lối đi hẹp trên boong để tránh vụ nổ hay không.

“… Thưa quý vị, các vị hãy suy nghĩ xem, có một người phụ nữ như vậy không? Cô ta nhất định là phù thủy!”

“Thật buồn cười, làm sao có thể có phù thủy, bây giờ không phải là thế kỷ 17 đâu!” Một người sống sót giận dữ đáp trả.

Đây là một ông già có vẻ ngoài giống như một học giả, ông ta đã từng đứng lên phát biểu khi bà nội của Cindy bắn súng để dọa đám đông, ông mang theo hai vệ sĩ. Học giả già nói xong thì phát hiện xung quanh im lặng, ông ta kinh ngạc nhìn bốn phía, thấy mọi người đều có vẻ mặt do dự. Kể cả số ít phụ nữ sống sót.

“Đợi đã? Các vị thực sự tin là có phù thủy?”

Sau vài giây im lặng, có người do dự rồi nói: “Nhưng… thưa ông, tất cả chúng tôi đều nhìn thấy con tàu ma, một số người đã nhìn thấy người cá…”

Nếu những thứ này tồn tại, chẳng phải phù thủy là bình thường sao?

“Ngu xuẩn, phù thủy dùng vũ khí nóng để chiến đấu với chim khổng lồ à?”

“Nhưng họ đã biến mất, bỏ chạy rồi! Nếu họ đã chết thì ít nhất chúng ta cũng có thể nhìn thấy dấu vết, vết máu hoặc mảnh quần áo!” Tay thuyền viên nọ kích động nói: “Đây hoàn toàn không phải là đảo Sable, mà là nơi săn mồi của quỷ dữ! Mụ phù thủy đã đưa chúng ta tới đây!”

“Đủ rồi!” Lái chính lên tiếng ngăn cản trận cãi cọ điên cuồng.

Gã thuyền viên thở hồng hộc, không cam tâm: “Nếu chim khổng lồ xuất hiện lần nữa, không thể nào chỉ mang hai người đó đi, tha cho chúng ta đang bất tỉnh!”

“Ngay cả khi đúng như cậu đã nói… nếu ma quỷ tàn nhẫn nhấc chúng ta lên rồi lại đặt xuống, nhìn chúng ta la hét, đấu tranh và nghi ngờ lẫn nhau, rồi lấy đó làm vui thì sao?” Học giả già mỉa mai hỏi.

“Chắc chắn ông đã bị mụ phù thủy già đó mê hoặc!” Gã thuyền viên gào thét.

Vệ sĩ của học giả già cũng không mấy hiền lành, họ tiến lên một bước, trừng mắt dữ tợn nhìn thuyền viên.

“Các người thực sự không biết tại sao cô Fresnel lại rời đi sao? Chúng ta không có lương thực, không có nước ngọt, không đủ đạn dược, không cần đợi ác quỷ đến, tối nay sẽ có người chết thôi!” Học giả già vạch trần điều mà lái chính không muốn vạch trần. Nhìn thấy vẻ mặt sợ hãi và nghi ngờ của mọi người, học giả già cũng cảm thấy hơi hối hận. Nhưng tại thời điểm này, lừa dối chính mình chẳng có ích gì. “…Nếu nói theo cách truyền thống, cô Fresnel không có người bảo vệ đáng tin cậy, cô ấy còn có một gánh nặng, nếu ma quỷ ở trong chúng ta, mục tiêu đầu tiên hắn sẽ nhắm tới là những con cừu non như họ.”

“Không có con cừu nào có thể giết được chim khổng lồ, cô ả là một mụ phù thủy khủng khiếp!” Thuyền viên gân cổ gầm lên.

“Phù thủy là người mà cậu có thể tùy ý g**t ch*t, đó chính là điều cậu thật sự muốn nói.”

Học giả già có thể nhìn thấu nỗi sợ hãi ẩn giấu trong lòng gã thuyền viên, có lẽ chính gã cũng không nhận ra. Gã sợ cô Fresnel, lo lắng mình sẽ trở thành nạn nhân khi cần phải ăn thịt người để tồn tại, gã sợ rằng mình sẽ giống như chim khổng lồ, rõ ràng là mạnh mẽ nhưng không hiểu sao lại rơi vào bẫy và bị thương, rồi bị g**t ch*t dưới họng súng.

“Đừng ồn ào nữa, các người đang thu hút quái vật!”

Vừa dứt lời, mọi người đã nhìn thấy bóng dáng quái dị trông như đang cưỡi ngựa xuất hiện trong làn sương mù dày đặc phía xa.

Chim khổng lồ tới rồi!

“Nguy rồi, chạy mau!”

Những người sống sót hoảng sợ bỏ chạy. Họ cố gắng xác định phương hướng nhưng sương dày đã cản trở tầm nhìn của họ. La bàn không có tác dụng, từ trường ở đây bị rối loạn. Khi chạy, họ phát hiện lũ chim khổng lồ dường như không muốn tấn công ngay lập tức mà bám theo họ không xa cũng không gần, giữ ở một khoảng cách mà họ có thể nhìn thấy cái bóng nhưng không thấy được bộ mặt hung dữ của chúng. Liên tục có người vấp phải đá, còn người khác thì bị mắc kẹt trong cát lún. Mấy con chim khổng lồ dừng lại để quan sát những người bị thương, cũng như những người đang vùng vẫy, la hét trong bãi cát lún, như thể nghi ngờ đây là một cái bẫy.

“…Chúng có thể giao tiếp bằng lời nói, chúng biết chuyện gì đã xảy ra trên con tàu đó.” Gymir đang quan sát những sinh vật bị ô nhiễm này. Hành động nhanh nhẹn, có thể giao tiếp, có tinh thần cộng đồng và có thể chạy ở tốc độ cao.

“Không đủ thông minh.” Johnson nói thêm.

Lũ chim khổng lồ theo dõi con mồi cho đến khi người bị thương có thể đứng dậy bỏ chạy, chúng mới từ từ đi đến khu vực cát lún, lôi kẻ tội nghiệp kia ra. Nghe thấy tiếng la hét thảm thiết từ phía sau, những người sống sót đổ mồ hôi đầm đìa và chạy nhanh hơn.

“Không, bởi vì bọn chúng mới vừa mới sinh ra chưa bao lâu, thật ra chúng không nắm rõ địa hình hòn đảo này, thậm chí còn không quen sử dụng thân thể cao lớn như vậy.” Nếu khả năng sau đột biến của chúng được phát huy toàn diện, sẽ không còn một người sống nào trên tàu.

Bây giờ câu hỏi đặt ra trước mặt Gymir là ai đã “lây nhiễm” những con chim này, kẻ đó muốn làm gì. Nếu là bình thường, ngay cả Johnson cũng sẽ không quan tâm đến vấn đề này chứ đừng nói là Gymir. Nhưng trước đó có Cochro gây rắc rối, sau đó lại có thần Mặt trời Tonatiuh đe dọa, không ai có thể biết trước được điều gì sẽ xảy ra tiếp theo. Thế là tà thần quan sát chim khổng lồ, chim khổng lồ đi theo những con người đang chạy trốn, cho tới khi đến được trạm cứu hộ trên đảo.

“Nhà còn nguyên vẹn, không có hư hại gì.”

“Bên trong có đèn!”

Một ngôi nhà hiện ra từ sau màn sương mù dày đặc, từ tầng hai trở lên thì rất khó có thể nhìn rõ, tầng ba có hai ngọn đèn vàng ấm áp. Bức tường bên ngoài màu trắng xám dường như được làm bằng xi măng, tường bên ngoài có những vòng tròn với hoa văn màu nâu không đều, trông rất mờ trong sương mù.

“Khoan đã!” Học giả già được hai vệ sĩ thay phiên nhau cõng bỗng trợn mắt, đồng tử co rút lại, như thể vừa nhìn thấy điều gì đó khủng khiếp.

Người vệ sĩ lập tức đi chậm lại, nhưng những người khác phớt lờ lời nói của ông, nhất là gã thuyền viên vừa cãi nhau với ông. Gã là người đầu tiên lao tới trước cửa nhà, không thèm suy nghĩ gì đã lao thẳng vào cánh cửa trắng xám.

“Cứu tôi với…” Giọng của thuyền viên đột ngột nghẹn lại.

Gã nhìn xuống lòng bàn tay mình, tại sao cửa lại mềm?

Sau đó gã bay cao lên trời.

Ngực gã bị thủng một lỗ lớn, hệt như một con cá ngừ treo trên mũi lao.

Những người khác kinh hãi chứng kiến một chiếc cưa máy khổng lồ màu trắng xám nhô ra từ “ngôi nhà” và đâm thẳng vào con mồi.

“Đó là một con quái vật!” Học giả già hét toáng lên: “Nhìn kỹ mái nhà xem, có nhà nào mà cửa sổ treo trên mái không?”

“…Đó không phải là tầng ba sao?”

Sương quá dày, chỉ khi đến gần mới nhận ra rằng không phải từ tầng hai trở lên bị sương mù bao phủ, mà là hoàn toàn không có tầng hai. Hai cửa sổ phía trên “ngôi nhà” được mở ra, hai uống mắt đen “bật ra” với đôi mắt phát sáng, nhìn chằm chằm con mồi tiến tới cửa một cách đáng sợ.

“Giáo sư Rolix, con này, là ốc sên sao?” Vệ sĩ lắp bắp hỏi.

“Tôi đoán là vậy.”

Học giả già ngơ ngác trả lời, vệ sĩ lập tức vác ông bỏ chạy.

Gã thuyền viên bị radula* của ốc sên cuộn lại, gã kêu lên thảm thiết, nhưng đã im bặt trước khi bị đưa vào “cánh cửa” tối tăm.

<i>* Radula </i><i>là một cấu trúc giải phẫu được động vật thân mềm sử dụng để kiếm ăn, đôi khi được so sánh với lưỡi. Đây là một dải kitin có răng nhỏ, thường được sử dụng để cạo hoặc cắt thức ăn trước khi thức ăn đi vào thực quản. Radula là đặc trưng của động vật thân mềm và được tìm thấy ở mọi lớp động vật thân mềm ngoại trừ động vật hai mảnh vỏ, thay vào đó, chúng sử dụng lông mao, vẫy các sợi nhỏ đưa các sinh vật nhỏ vào miệng.</i>

Đầu óc mọi người đều trống rỗng, vô thức bỏ chạy.

Con ốc sên khổng lồ này rõ ràng đã thừa hưởng đặc tính di chuyển chậm. Khi nó ăn xong con mồi trong miệng, những con người còn lại đều chạy ra khỏi phạm vi săn mồi của nó, nó lại từ từ nằm xuống đất.

“Đảo Quỷ! Ma quỷ đang trêu chọc chúng ta!” Có người không chịu nổi áp lực, phát điên, liên tục cười quái dị.

Những người khác cũng kiệt sức, ngã gục xuống đất.

Lũ chim khổng lồ luôn đi theo họ có vẻ không dám đến gần nơi này, dường như chúng cũng biết rằng ở đây có một gã to lớn mà chúng không thể đánh lại được.

Những người sống sót run lên, răng đánh lập cập: “Quái vật cải trang thành căn nhà…”

“Đừng đùa, ốc sên bò trên mặt đất, phóng to lên mấy lần thì trông giống như một ngôi nhà, do chúng ta không nhìn rõ.” Lái chính âu sầu nói.

Những lời này không thể an ủi được ai, kể cả chính ông ta.

“Tôi không hiểu, những con quái vật này ăn gì?” Học giả già lẩm bẩm.

Với kích thước khổng lồ, chắc hẳn bọn chúng phải ăn nhiều khủng khiếp, nhưng đây là một hòn đảo hoang!

***

Johnson đứng trên lưng con ốc sên khổng lồ, dùng gậy batoong khảm sapphire gõ gõ.

Cạch cạch.

Hơi cứng?

Johnson gõ lần nữa, rắc một tiếng, một mảnh vỏ nhỏ nứt ra.

Con ốc sên lúc đầu không hề hay biết bỗng nhiên đứng dậy, chiều cao của “ngôi nhà” tăng lên một đoạn, hai cuống mắt xoắn lại, đôi mắt sáng rực, nhìn trừng trừng đầy hung ác về phía “con bọ” vừa xuất hiện ở phía sau. Nó ngã về phía sau, vỏ sau đập mạnh xuống đất.

Bóng dáng Johnson thoáng chốc mờ đi, rồi xuất hiện ở một nơi khác, y im lặng nhìn con ốc sên khổng lồ giận dữ lăn lộn tại chỗ.

Tại khu vực mà ốc sên sinh sống ban đầu, trong các kẽ đá có vết máu và lông rụng.

“Đó là thức ăn của nó, có lẽ là chuột.” Gymir phán đoán.

Johnson nói thêm: “Chuột khổng lồ sau đột biến.”

Gymir cho rằng con ốc sên này rất sáng tạo, nằm ngay bên trên tổ chuột khổng lồ để săn mồi.

Lúc này, thân thể của con ốc sên đã hoàn toàn di chuyển ra xa, một hơi thở mơ hồ từ dưới khe đá phủ đầy lông truyền ra.

“Khoan đã, là ngay đây!” Gymir thuận tay ném con ốc sên khổng lồ ra ngoài vài dặm Anh, một cơn gió mạnh khác cuốn đi mớ lông rụng.

Đám đông ở đằng xa không nhìn thấy Johnson và Gymir xuất hiện trong màn sương mù, họ chỉ nghe thấy tiếng ầm ầm, chỉ có thể lê đôi chân đau nhức và yếu ớt của mình để bỏ chạy.

“Nhà của Thoth bị vỡ ra rồi.” Gymir đứng trước vết nứt tối đen như mực, thử nhìn xuống.

Cung điện nham thạch lẽ ra phải sâu hàng trăm mét phía dưới, nhưng vết nứt này lại dẫn thẳng tới nơi ở cũ của thần Trí tuệ Thoth.

Nguồn gây ô nhiễm đã được tìm thấy.

Đối tượng đầu tiên bị sức mạnh tà ác tấn công hẳn là chuột và côn trùng được con người mang đến đảo. Chúng giết lẫn nhau, phát hiện ra nguồn gốc của luồng hơi thở này, tranh nhau chiếm giữ nó. Trong quá trình này, các nhân viên cứu hộ và ngựa trên đảo Sable đã thiệt mạng. Rồi đến lượt những chú chim vô tình đậu xuống hòn đảo này. Cuối cùng là tàu Elizabeth xui xẻo.

“Vết nứt này hình thành cách đây chưa đầy bảy ngày.”

Gymir nhìn Johnson, Johnson nhìn Gymir.

Sự kiện lớn nhất làm rung chuyển cõi huyền bí trong mấy ngày gần đây là gì? Tất nhiên là cuộc đại chiến trong cống thời gian, thứ đã đánh thức tất cả tà thần!

“Nhà của thần Trí tuệ lại trong tình trạng tồi tệ thế à? Có vậy thôi mà cũng hư hại sao?” Johnson không thể tin được.

“Không, có thứ gì đó đang chạy ra từ bên trong.” Gymir nói ngay.

Trong nhà của thần Trí tuệ Thoth không biết vì sao lại có một tà thần mới ra đời, sau vụ tai nạn giao thông ở cõi mộng, những giấc mơ của tà thần khác va chạm đã khiến thứ này sinh ra khả năng tự nhận thức, đột nhiên thức tỉnh.

Johnson tỏ ra bối rối sau khi nghe suy đoán này.

“Vậy… lẽ nào nó là hậu duệ của Thoth?”

“Thần Trí tuệ không có con cháu, thực ra có cảm giác nó giống như…” Đống rác bị bỏ rơi tự lột xác sống dậy hơn.

Gymir trầm ngâm, nói: “Ta nhớ ra một điều, Thoth đã nghiên cứu rất kỹ cách tạo ra đồng loại, mô phỏng nhiều điều kiện, nhưng cuối cùng đã thất bại.”

Johnson không thể hiểu nổi, cách dễ nhất để có được đồng loại là tìm đồng minh, hay tìm đồng minh để sinh con, không phải sao? Ý tưởng đằng sau việc tạo ra tà thần thủ công là gì?

Gymir thờ ơ nói: “Vì nó là Thoth, vừa sinh ra nó đã thích nghĩ về việc một thứ gì đó được sinh ra như thế nào, bản chất của nó là gì, tại sao nó tồn tại… tà thần cũng không ngoại lệ!”

Gymir đưa tay vào vết nứt, toàn bộ đảo Sable lập tức rung chuyển dữ dội.

“Không được, không vào được. Cái thứ mới ra đời đó chắc đã đập nát nhà Thoth để thoát ra ngoài, đây là cái hố lớn nhất, không thể chạm vào được nữa… Cung điện nham thạch hiện nay đã từ chối sức mạnh của mọi tà thần, cố xâm nhập sẽ phá hủy cấu trúc của cung điện nham thạch.”

Làm vậy thì Gymir sẽ không vui, hòn đảo di động biết hát này khá thú vị.

Thần Biển dễ dàng tóm lấy con ốc sên đang chật vật bò về kia, ấn con ốc không não vào khe nứt, chặn đường luồng khí tà ác kia thoát ra ngoài.

“Tìm một thám tử đi vào từ cổng chính của cung điện nham thạch xem sao.”

Tình cờ có sẵn một người trên đảo.



<i>Người dịch: Nói lại lần nữa, Thoth thực sự là nhà khoa học điên, nghe cái thuyết tạo thần đó có giống người ta làm nhân bản con người không chứ =.=</i>
 
Back
Top Bottom