Cập nhật mới

Đô Thị  Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả

Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 60


<b>Chương 60</b>

<b>Bình minh</b>

Mưa tạnh.

Khói bốc lên từ đống than hồng giữa tàn tích, phản chiếu ánh sáng mờ ảo của mặt trời buổi sớm.

Sương sớm như bóng ma lang thang khắp nơi.

Mọi thứ trong tầm nhìn dường như đã chuyển sang màu xám, một màu xám trắng buồn thảm.

Hans cảm thấy xương cốt trong cơ thể đều đang kêu gào vì đau đớn. Anh ngơ ngác cúi đầu xuống, phát hiện trong tay mình đang cầm một thanh kiếm bản rộng, giống như vũ khí của mình.

Tại sao lại là “giống”?

Bởi vì thanh kiếm này đã hoàn toàn không thể nhận dạng được, mũi kiếm bị gãy, hai bên lưỡi kiếm đầy những vết mẻ lớn nhỏ. Trên những chỗ mẻ còn có chất nhầy màu xanh đen khả nghi, phát ra âm thanh xèo xèo rất nhỏ, toàn bộ ký tự rune đều đã bị ăn mòn.

Thanh kiếm bản rộng này là món quà trưởng thành của Hans, người mặc áo choàng xám trong giáo phái đều có một món vũ khí tương tự. Mặc dù Hans muốn có trang bị của kỵ sĩ giáo phái, nhưng thanh kiếm này do chính chú Andreas rèn ra, Hans rất trân trọng nó.

Sao mà nó lại trở nên như thế này?

Đầu Hans lại đau nhói.

Ngọn lửa, tiếng la hét, bóng tối, quái vật…

Những cảnh tượng kỳ lạ liên tục thay đổi hiện lên trong đầu anh, Hans ném thanh kiếm bản rộng đi, đau đớn ôm đầu quỳ xuống giữa đống đổ nát. Mồ hôi và máu trên trán hòa vào nhau, từ từ nhỏ xuống mu bàn tay.

Tiếng thở hổn hển đau đớn của Hans dần dần dịu xuống, anh khôi phục tỉnh táo. Việc tiếp xúc gần với những thể biến dị ô nhiễm vẫn gây ra tổn thương tinh thần nhất định cho anh, đánh một hồi anh lại mất đi ý thức, cuối cùng…

Hans đột nhiên ngẩng đầu lên, ánh mắt anh rơi vào một cái bóng nhô lên cách đó không xa. Nó trông giống như chân trước của một con sói hoang. Hans cảm thấy nơi mà mình đang đặt chân có gì đó không ổn, rồi anh lôi ra một vài cái sừng cong như lưỡi liềm dưới đống rác. Những chiếc vảy lấp lánh trong sương sớm, những chiếc răng nanh gãy, tay chân vặn vẹo đang từ từ bị bào mòn khi ngâm trong vũng nước xanh lục…

Hans: “…”

Hóa ra anh bị bao vây bởi xác quái vật!

Không đúng? Từ khi nào anh trở nên mạnh mẽ như vậy? Giết được nhiều quái vật như vậy?

Hans đứng ngây người vài phút thì đột nhiên nghe thấy một giọng nói quen thuộc gọi tên mình.

Là tiếng của Andreas.

Hans nhanh chóng dùng cả tay lẫn chân để bò ra khỏi đống đổ nát.

Anh không biết rằng hành động của mình giống như duỗi một bàn tay ra khỏi “hầm mộ pháo đài” được xây dựng bằng xác của những con quái vật đáng sợ, sau đó thoát ra một cách khó khăn, cộng thêm bùn và máu khắp mặt, trông hệt như một thể biến dị mới.

Đồng tử xám của Andreas co rút lại, khuôn mặt nhăn nhó vì đau đớn. Ông ta vốn đã đầy vết thương, chảy máu quá nhiều, giờ thì đầu óc choáng váng không đứng vững nổi.

Hans ngẩng đầu lên nhìn một cái thì suýt nữa sợ hết hồn, bởi vì “ô nhiễm” trong cơ thể Andreas bắt đầu không ổn định, màu sắc biến đổi liên tục, như muốn phá tan những ràng buộc trong cơ thể.

“Không, chú Andreas!”

Hans xông tới trước mặt Andreas bằng vài bước, lại không dám tùy tiện chạm vào ông ta, hai tay rụt lại một cách hài hước, sau đó lại duỗi ra, lo lắng xoay lòng vòng.

Andreas ho ra máu mấy lần, ông ta nhìn chằm chằm Hans, hơi thở trên cơ thể dần dần dịu lại không còn hỗn loạn vô trật tự nữa.

“Chú không sao.”

“…”

“Chú quên mất, con có đôi mắt có thể nhìn thấy sự thực.” Andreas thở dài, ông ta vuốt mái tóc bẩn đã bết lại thành cục của mình, lạnh lùng nói: “Nếu con đã đọc sách của giáo phái thì cũng biết rằng mọi <i>ô nhiễm</i> đều không thể đảo ngược lại được, chú không còn sống được thêm mấy năm nữa đâu.”

Hans siết chặt tay thành nắm đấm, run rẩy nói: “Nếu không phải tại Giáo chủ…”

“Không! Đây là lỗi của chú!” Andreas thản nhiên nói ra việc ông ta đã luyện một Trưởng lão dùng làm mồi nhử để dụ bạch tuộc khổng lồ ra.

Hans đực mặt ra.

Andreas nhìn cánh tay bị thương nặng của mình, miễn cưỡng kéo dây vải ra, thuần thục băng bó bằng một tay rồi treo cánh tay trên cổ. Ông ta nhìn đống đổ nát, tâm trạng sa sút nói: “Không ngờ lại xảy ra chuyện như thế này, giáo phái bị phá hủy là trách nhiệm của chú…”

“Không phải!”

Hans phản ứng dữ dội, ngay lập tức kể lại những thông tin mình nghe được trong giấc mơ. Vì đang đối mặt với Andreas nên anh không hề có ý định giấu giếm, lúc đầu nghe nhóm lãnh đạo giáo phái vạch trần nhau thế nào thì phẫn nộ nói hết ra như thế.

Những lãnh đạo giáo phái đó có kẻ tham tiền, tham quyền lực, lén lút tiếp cận các ông lớn của các thế lực khác nhau, thậm chí còn muốn can thiệp vào chiến tranh ở một số khu vực (để tìm kiếm vật tế phù hợp).

Mục sư Cornell có thể dùng “sức khỏe và tuổi thọ” làm mồi nhử để Brandon Lớn làm liều ném tiền hỗ trợ cho chuyến thám hiểm, lẽ nào nhóm lãnh đạo giáo phái không biết cách sử dụng thủ đoạn tương tự sao? Họ không những biết cách mà còn keo kiệt hơn cả mục sư Cornell, chỉ sẵn sàng cho một chút lợi ích, trông thì có vẻ là hiệu quả của một bí quyết cổ xưa nào đó, nhưng sẽ không bao giờ liên quan đến thế giới chân thực và tà thần. Như thế vừa không phô trương vừa an toàn.

Nhưng d*c v*ng là thứ không có giới hạn, có lẽ Giáo chủ và các Trưởng lão sẽ đủ thông minh để nắm bắt được mức độ bên trong, những kẻ như Thống lĩnh kỵ sĩ thì khó mà nói được.

Andreas vừa thờ ơ đánh giá đám đồng nghiệp trong lòng, vừa nhìn chằm chằm vào Hans, nói: “Nếu là vì kiếm tiền, chú cũng đang làm.”

“Nhưng chú thì khác!” Hans lập tức phản bác.

Anh cũng “nhìn thấy” những việc làm đáng hổ thẹn của Andreas, là vượt biên và buôn lậu. Thực chất, đây là truyền thống của giáo phái, giáo phái Màu Xám có quyền lực và địa bàn ở Venice, cũng như những khả năng “phi thường”, muốn nuôi sống nhiều miệng ăn như thế thì không thể giữ bàn tay sạch được.

“Chú đang làm vậy vì mọi người trong giáo phái, mà họ đều thấy những việc này phiền phức, vụn vặt và vất vả…”

Hans đột nhiên dừng lại giữa câu, anh thấy ánh mắt Andreas trở nên sắc bén hơn. Hans nhận ra có điều gì đó không ổn, anh đã bị lừa.

Andreas không dám chắc những gì Hans nói về bí mật của giáo phái có phải là sự thật hay không, dù sao thì trong đó cũng có nhiều chuyện mà chính ông ta chưa từng nghe qua. Vì vậy Andreas lấy chính mình làm ví dụ, dễ dàng lừa Hans phản bác thay mình.

“Con nghe ai nói những chuyện này? Chỉ mới có mấy ngày, con liền đột nhiên biết được bí mật của nhóm lãnh đạo giáo phái?” Andreas cảm thấy như Hans đã được thay một bộ óc khác.

Một tín đồ giáo phái cấp thấp hàng ngày chỉ biết cầu nguyện với Chúa bỗng nắm bắt được bí mật mà giáo phái không thể tiết lộ cho ai, đồng thời nhìn thấu được hiện thực của thế giới, lẽ nào Con mắt Hoa Hồng mạnh mẽ đến mức có thể nhìn thấu lòng người?

Câu hỏi của Andreas khiến Hans toát mồ hôi lạnh. Anh đang cố gắng nghĩ ra một cái cớ thì đột nhiên một âm thanh vang lên bên tai anh.

Cộp, cộp.

Tiếng bước chân này khiến tim Hans đập lỡ một nhịp. Anh nhìn thấy phía cuối đống đổ nát mù sương, bóng dáng của Johnson nán lại ở lối vào một con hẻm. Con hẻm chật hẹp, tối tăm đó giống như cái miệng quái vật đang há hốc, lại như mạng nhện giăng sẵn đang chờ đợi con mồi.

Hans âm thầm nghiến răng, anh cố gắng giữ bình tĩnh, ngẩng đầu hỏi Andreas: “Trên đường chú có nhìn thấy ai nữa không? Mẹ của con…”

“Họ đều bình yên.” Trên đường đi, Andreas tìm thấy những người bất tỉnh trên thuyền nhỏ giữa kênh đào, ông ta còn đếm và kiểm tra từng người một, không có người mất tích.

Hans thở phào nhẹ nhõm. Anh nói phải tìm bác sĩ để chữa trị vết thương cho Andreas, rồi đi về phía con hẻm.

“Đứng lại!”

“Còn việc gì không, chú Andreas…”

“Con định đi gặp hai tà thần đó?”

“Cái gì?”

Hans kinh hãi quay đầu lại, lực quá lớn kéo vết thương trên vai khiến anh toát mồ hôi lạnh. Con hẻm kia nằm rất xa, còn có nhà cửa đổ nát và sương mù che phủ, Hans kinh ngạc và nghi ngờ nhìn vào tay Andreas, cho rằng Andreas đã dùng mảnh kính Con mắt Hoa Hồng, vì chiếc hộp gỗ được Hans để lại bên cạnh mẹ mình.

Nhưng tay Andreas trống không. Giống như biệt danh Cú Xám của mình, ông ta có thể phát hiện ra bất kỳ điều gì bất thường, Hans cảm thấy một áp lực vô hình khi nhìn vào đôi mắt này.

“Con, con…”

Andreas nhìn Hans toát mồ hôi lạnh đầy đầu, không nói được một câu hoàn chỉnh, ông ta thuj lại khí thế như thẩm vấn tù nhân, hạ giọng nói: “Đêm qua khi tỉnh dậy, chú nhìn thấy lửa và quái vật, lại còn ở hướng bến tàu…”

Nỗi sợ hãi đó khiến Andreas cảm thấy lạnh cả người. Ông ta bất chấp tất cả, kéo theo cơ thể đầy thương tích của mình lao tới đây, rồi nhìn thấy một cảnh tượng khó tin.

“Con đang tấn công những thể biến dị đó.” Tay cầm kiếm bản rộng, tay kia cầm tấm ván cửa làm lá chắn, cứ thế lao về phía quái vật.

Andreas suýt chút nữa biến dị tại chỗ… Ngoại trừ biến dị ra, ông ta thật sự không nghĩ ra biện pháp nào để có thể cứu Hans khỏi mấy con quái vật.

Kết quả là Andreas càng nhìn càng thấy thật bất ổn. Mỗi lần Hans tấn công đều có thể đánh trúng vào điểm yếu của quái vật, có thể nói đó là công lao của “đôi mắt”, nhưng không có đòn chí mạng nào của quái vật đánh trúng Hans, thậm chí một giọt nước bọt có độc cũng không dính được lên cơ thể Hans, một trò đùa đấy à?

Andreas đập mạnh vào trán hai cái, khi nhìn lại thì vẫn là cảnh Hans mắt đỏ hoe, mất trí và đâm chém như điên. Mặc dù chém rất khó khăn, nhưng quả thực chỉ có quái vật đang bị thương.

“…Sau đó chú phát hiện ra trên mái nhà có người.” Andreas giơ tay chỉ với vẻ mặt vô cảm.

Hans vô thức ngẩng đầu nhìn lên, phát hiện ra rằng nơi đó vừa hay đang đối diện với đống đổ nát, xét về mặt độ cao và khoảng cách thì đó là một nơi tuyệt vời để quan sát trận chiến.

Một cảm giác bất lực lạ lùng dâng lên.

Hans nhìn Andreas, ông ta tựa hồ cũng có biểu cảm tương tự, hiển nhiên là cả đời cũng không bao giờ nghĩ rằng tà thần lại nhàm chán đến thế, ngồi trên mái nhà xem con người đánh nhau với thể biến dị.

“Làm sao chú biết bọn họ… lại là…” Hans yếu ớt hỏi.

Andreas im lặng một phút rồi chậm rãi nói: “Con có bao giờ nghĩ rằng mình không thể đánh bại được nhiều thể biến dị đến vậy không? Luôn chỉ có một đối thủ trước mặt con, nhiều nhất là hai, những thể biến dị khác muốn đánh lén con cũng không được, chúng bị một lực vô hình ghim xuống đất hết rồi.”

Hans: “…”

“Chờ khi con chém gục một thể biến dị, lại một con khác thay thế nó.” Andreas nhìn anh với ánh mắt quái dị.

Hans cảm thấy bây giờ anh rất muốn đào một cái hố để trốn vào, hoặc là cái hố giữa đống xác quái vật vừa rồi cũng tốt lắm.

Andreas nghiêm giọng nói: “Con không hết biết thể biến dị đáng sợ đến mức nào, không, con chưa bao giờ nhìn thấy thể biến dị thực sự, con chỉ thấy những người bình thường vô tình tiếp xúc với ô nhiễm, những con quái vật mà họ biến thành giống như bùn nhão, không có sức chiến đấu, không có ý thức, rất dễ đối phó, nhưng thể biến dị chân chính có một phần sức mạnh của tà thần, bởi vì…”

“Bởi vì các ngươi đã đánh cắp sức mạnh của tà thần.”

Âm thanh đột ngột vang lên khiến Andreas và Hans cùng giật mình, nhanh chóng quay người lại, một người chạm vào vũ khí, một người siết chặt nắm đấm.

Gymir v**t v* chiếc mặt nạ bạc trên mặt, nhìn hai con người đột nhiên dừng chuyển động. Hắn hơi bất mãn, Johnson đang đợi ở đó kìa, Hans lại trì hoãn lâu như vậy.

“Ngươi nên nhớ lời hứa của mình.”

“Tôi sẽ làm được.” Hans thẳng lưng. Vì những người còn sống trong giáo phái, anh chỉ có thể tuân theo mệnh lệnh của tà thần.

Andreas chặn trước mặt Hans, thấp giọng hỏi: “Tôi không biết hai vị muốn gì? Giáo phái không còn tồn tại nữa…”

“Không phải thế, Con mắt Hoa Hồng vẫn còn tồn tại, giáo phái này sẽ sớm được hồi sinh, miễn là con người vẫn còn giữ được công nghệ chế tạo thủy tinh.”

Lời Gymir nói khiến đồng tử của Andreas co lại, ông ta muốn thúc giục Hans chạy trốn, nhưng lại cảm thấy toàn thân cứng đờ, như đã bị hóa đá.

“Hãy nhớ lời ủy thác của chúng ta, đừng tìm cách trốn nợ của tà thần.” Lời của Gymir còn có ẩn ý khác, hắn nhìn Andreas, nói: “Mọi thứ đã <i>mượn</i> đều phải được hoàn trả gấp đôi.”

Nếu tà thần bị đánh cắp sức mạnh mà tỉnh dậy, tà thần nhất định sẽ tìm tới cửa. Cũng như Johnson tìm mục sư Cornell.

“Andreas sẽ không sống được bao lâu, tới ngày đó ngươi có thể cần phải tự mình giết hắn, ngăn chặn hắn biến dị.” Gymir nói xong thì biến mất.

Hans sợ hãi nắm lấy cánh tay Andreas.

Andreas bình tĩnh nhìn anh, nói: “Tất cả những người đã tiếp nhận <i>ô nhiễm</i> trong giáo phái đều sẽ như vậy, dù không có chuyện gì xảy ra, họ cũng sẽ biến thành quái vật vào giây phút cuối cùng của cuộc đời, cho nên, vì Venice, vì thế giới này… con cần phải tự tay giết chú, rồi sau đó tiêu hủy hoàn toàn cơ thể. Đây cũng là bổn phận của Giáo chủ trước kia, để linh hồn kỵ sĩ <i>hy sinh bảo vệ giáo phái</i> được yên nghỉ.”

“Con…”

“Rời khỏi Venice đi, mang theo người của chúng ta… Từ lâu chú đã biết con không thể trở thành người chịu trách nhiệm cho cả giáo phái, chú cũng không rèn luyện con phát triển theo hướng đó. Trái tim của con quá mềm yếu, yêu cầu con giết một người bình thường vô tội bị ô nhiễm, con chắc chắn sẽ không làm được. Nếu con nhìn thấy nguồn gốc của bất hạnh, con thậm chí sẽ thương xót cả quyến thuộc của tà thần…”

Sắc mặt Hans tái nhợt, anh nói: “Chú Andreas, con sẽ cố gắng khôi phục giáo phái, loại bỏ những khuyết điểm này..”

“Không, đó không phải khuyết điểm, con không cần thay đổi.” Andreas rũ mắt xuống, chỉ vào xác quái vật cách đó không xa: “Con chấp nhận biến thành như thế sao?”

“Để bảo vệ giáo phái, con sẵn sàng tiếp nhận sức mạnh, chịu đựng đau đớn.” Hans không chút do dự nói.

“Nhưng người khác thì không.” Andreas cũng không nể tình, nói: “Giáo phái sẽ tái sinh từ tro tàn và đổ nát, rồi vài chục năm nữa, khi hai chúng ta đều chết đi, giáo phái sẽ lại trở thành như ngày nay, đây là điều mà không ai có thể đảo ngược được.”

Hans: “…”

“Khi mọi chuyện kết thúc thì hãy rời đi. Chú sẽ làm Giáo chủ, rồi chú sẽ bồi dưỡng ra một người có thể giết chú, người đó không phải là con.” Andreas đẩy vai Hans, ra hiệu cho anh tiến về phía trước.

Đi về phía một con đường khác.
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 61


<b>Chương 61</b>

<b>Ra đi</b>

Giáo phái Màu Xám có nên tiếp tục tồn tại không?

Không có gì phải nghi ngờ về câu trả lời này.

Dù giáo phái đã làm gì, tương lai sẽ ra sao, thành phố được xây dựng trên khu rừng chết chóc này vẫn cần có sự bảo vệ của giáo phái.

Không phải giáo phái cũng được, dù sao thì vẫn phải là một nhóm người hiểu về tồn tại huyền bí, đồng thời không sợ tồn tại huyền bí.

Tà thần không quan tâm đến sự tồn vong của Venice, nhưng thành phố này có nhiều công trình kiến trúc đẹp, ngoài ra còn có những món đồ thủ công bằng thủy tinh mỏng manh và đẹp mắt, xét về góc độ thẩm mỹ của thần Biển, khu rừng dưới nước tĩnh lặng kia cũng là một thiết kế khá nổi bật. Sẽ thật đáng tiếc nếu nó bị phá hủy.

Thôi vậy, bây giờ vở kịch nội chiến của giáo phái đã kết thúc, những chuyện tiếp theo cứ để nó diễn biến tự nhiên đi. Bây giờ cứ đợi Hans “đọc” sách cổ của giáo phái Màu Xám, xem thử mối quan hệ giữa mục sư Cornell và giáo phái này là gì.

Phải nói rằng lựa chọn thuê Hans làm việc này của Johnson là rất sáng suốt. Những cuốn sách cổ này vốn được cất giữ ở một nơi có rất nhiều bẫy, nếu tà thần mò vào đó, chắc hẳn cả sách lẫn ngôi nhà sẽ cùng hóa thành tro bụi. Khi giáo phái thiết lập những cái bẫy này, họ không sợ tà thần tìm đến “đòi nợ”, mà lo lắng những nhà thám hiểm khác ở bên ngoài giáo phái sẽ vào ăn trộm bí mật. Để Hans đi là không còn vấn đề này nữa.

Hans bây giờ không cần phải lén lút hoàn thành nhiệm vụ, anh có thể vào đọc thoải mái. Vì Giáo chủ đã chết, về cơ bản toàn bộ lãnh đạo cao nhất của giáo phái cũng không còn nữa.

“…Lẽ nào ghi chép và sách cổ quá nhiều, đã lâu như vậy rồi mà còn chưa đọc hết?” Johnson tự nhủ. Y cầm tách cà phê lên, uống cạn sạch chất lỏng thơm ngát trong tách như những người khác trong quán cà phê này.

Hôm qua y đã cho Hans một gợi ý trong giấc mơ, hôm nay họ sẽ gặp nhau ở đây để trả nhiệm vụ.

Trên sàn quán cà phê vẫn còn vài vệt nước, người phục vụ đang lau kính, đồng thời chào hỏi mọi người đi ngang qua một cách nồng nhiệt.

Bầu trời xanh ngắt trong veo, cơn gió mùa hè khiến lòng người dễ chịu vô cùng.

Từng đàn hải âu bay qua quảng trường, bầu không khí kỳ lạ từng bao trùm Venice đã biến mất không dấu vết, chủ yếu là do hầu hết mọi người không nhớ đã từng xảy ra chuyện như vậy.

“Một trận động đất khó hiểu, một cơn lốc xoáy từ biển đã mang đến cho chúng tôi rất nhiều rắc rối đấy.”

“May mắn là không có thiệt hại nghiêm trọng nào xảy ra… Tôi nghe nói bến tàu trên đảo Murano bốc cháy, một khu vực nhỏ nhà cửa cũng bị cơn bão phá hủy, phải đấy, có thể ảnh hưởng đến dân thường ở đó. Xin Chúa phù hộ cho họ!”

Johnson lắng nghe cuộc trò chuyện ở bàn bên cạnh, nhận ra rằng những người đang bàn tán về thời tiết đều là người nước ngoài. Họ đến đây để nghỉ mát, thăm họ hàng, bàn chuyện làm ăn… hoặc là…

Johnson hơi nheo mắt nhìn về phía hai bóng người ở góc đường. Họ trông có vẻ rất kín đáo, nhưng động tác luôn chú ý đến những gì đằng sau cho thấy rõ ràng có gì đó đáng nghi. Đây có phải là đang liên lạc không?

“Thưa ông, đây là cà phê Corretto* mà ông đã gọi.”

<i>* Caffè corretto là một loại đồ uống có cồn chứa caffein của Ý, bao gồm một tách espresso với một lượng nhỏ rượu, thường là grappa, và đôi khi là sambuca hoặc rượu mạnh. Nó còn được gọi là cà phê espresso corretto.</i>

Một người đàn ông mặc trang phục bồi bàn đột nhiên xuất hiện trước mặt Johnson, anh ta còn trẻ, cao ráo, đẹp trai, hẳn là rất được ưa thích.

Johnson: “…”

Johnson vô thức liếc nhìn xung quanh. Cũng còn may, Gymir không có ở đây. Hắn đến lối vào rạp hát để xem áp phích rồi.

Nếu không, mạng sống của người phục vụ này có thể sẽ bắt đầu đếm ngược. Bởi vì ly cà phê này không phải Johnson gọi, y cũng cảm nhận được sự ám chỉ gần như trực tiếp từ đối phương.

Johnson hơi cúi đầu, cố gắng đánh giá “người phục vụ quán cà phê” này bằng phương pháp phân tích của thám tử mà y đọc được trong sách.

Bàn tay không có vết chai, màu da giữa ngón trỏ và ngón cái hơi vàng, trang phục của người phục vụ quán cà phê cũng không vừa, và trên người anh ta có một loại chất tạo mùi của con người được gọi là nước hoa. Johnson không biết giá cả của chất tạo mùi này, nhưng y có thể phân biệt được mình đã ngửi thấy chất tạo mùi này trên bao nhiêu con người. Ừm, chưa từng gặp. Có vẻ như giá không hề rẻ.

Johnson bình tĩnh nghĩ cách từ chối con người này, để giữ gìn ngọn lửa sinh mạng mong manh của anh ta.

Tuy nhiên, đối phương đã tốn công mượn quần áo của người phục vụ thì hiển nhiên sẽ không dễ dàng bỏ cuộc như vậy.

“…Tôi khuyên quý ông đây đừng đi sâu vào bí mật của những người đó.” Người phục vụ hạ giọng, mỉm cười nói.

Vốn dĩ anh ta muốn ghé đến sát bên tai Johnson, nhưng y lại hơi lùi về phía sau, dễ dàng tránh được.

Người phục vụ không tức giận, nói tiếp: “Chắc hẳn quý ông rất tò mò về danh tính của những người đó, nhưng những con quạ này rất xui xẻo, chúng luôn lảng vảng trên những xác chết… Tôi nói thế này đi, bọn chúng là tay sai của một ông trùm nào đó, đang dò la tin tức hoặc là thực hiện các vụ ám sát. Trận phong ba ở Venice lần này chắc hẳn đã làm dấy lên sự nghi ngờ của họ.”

Johnson người không có hứng thú gì với chính trị của nhân loại: “…”

Johnson dường như đã hiểu tại sao không một người bình thường nào ngoài giáo phái từng “nhìn thấy” y và Gymir khi họ đi bộ trong thành phố giữa cơn bão những ngày này.

Người Venice đã quen với việc làm ngơ trước bất cứ điều gì kỳ lạ. Bất kể những điều kỳ lạ này đến từ lĩnh vực huyền bí, hay từ bên kia bờ biển. Dù sao đi nữa, đối với họ thì đó là “những kẻ đến từ bên ngoài có thể phá hủy mọi thứ mà họ không thể chống lại”.

Johnson suy nghĩ, ánh mắt y chợt dán chặt vào góc phố cách đó không xa.

“Rất cảm ơn lời khuyên của anh, đã đến lúc ta phải đi rồi.”

Johnson đẩy tách cà phê đang bốc khói ra, rời khỏi quán cà phê.

Người đàn ông mặc đồ phục vụ ngồi ngơ ngác một lúc, cảm thấy mình đã quên mất điều gì đó.

Johnson tìm thấy Hans bên ngoài quán cà phê.

Hans ngồi xổm ở góc phố, trông như một người vô gia cư lạc lối.

“Tại sao không vào trong? Lẽ nào anh chưa hoàn thành lời ủy thác của ta?” Johnson dừng lại trước mặt anh, gõ gậy batoong xuống mặt đất.

Hans lúng túng đáp: “Tôi không có tiền.”

Johnson: “…” Không biết vì sao mà những “thám tử” nhận ủy thác của y hình như đều rất nghèo?

“Andreas đuổi anh đi mà không đưa tiền cho anh?” Johnson thuận miệng hỏi.

Hans càng xấu hổ hơn, anh nói khô khốc: “Tôi vẫn còn mẹ, không thể tiêu tiền lung tung.” Quán cà phê thuộc về phạm vi tiêu dùng hoàn toàn không cần thiết.

Một vị tà thần đang đợi một con người đến báo cáo nội dung ủy thác cho mình trong quán cà phê, nhưng người kia nghèo quá không vào được? Johnson câm nín.

Hans thì lại cảm thấy bầu không khí kỳ lạ, anh khó mà thích nghi được.

Kể từ khi Andreas tiết lộ việc thể biến dị của nhóm lãnh đạo giáo phái đã chết như thế nào, Hans không còn giữ được trạng thái run rẩy sợ hãi trước tà thần nữa. Nhất là sau khi anh xem qua các ghi chép của giáo phái được Giáo chủ bí mật sưu tầm.

Hóa ra những gì Johnson nói là đúng.

Giáo phái đã luôn bí mật tìm kiếm những sự kiện huyền bí trên khắp thế giới, bằng cách bồi dưỡng và kiểm soát các học giả huyền bí học cùng các đội thám hiểm, để đạt được những lợi ích quan trọng nhất: ký tự rune, phép thuật và kiến thức liên quan đến tồn tại huyền bí.

Mục sư Cornell là một học giả huyền bí học do giáo phái đào tạo ở Anh. Vị mục sư này rất tài năng và cũng rất may mắn, sau khi có được sức mạnh của tà thần, lão đã không ngần ngại vứt bỏ giáo phái, tự mình đi tìm “tồn tại huyền bí” và “đầu tư”.

“… Giáo phái muốn có được kiến thức huyền bí học và sức mạnh mà mục sư Cornell đang nắm giữ, nhưng mục sư Cornell lại trốn ở thị trấn Đá Ngầm Đen, chỗ đó nguy hiểm lắm, giáo phái không dám tới đó, vì vậy họ vẫn giữ liên lạc và đàm phán với mục sư Cornell, đề nghị ông ta giao bút ký ra. Vì Linde là con trai duy nhất của mục sư nên giáo phái cho người theo dõi Linde ở Luân Đôn, cũng có đầy đủ thông tin về Linde. Họ còn phát hiện ra một tồn tại huyền bí mới ở Luân Đôn… Đó là một tà thần mới ra đời, hình dáng có liên quan đến loài bướm.”

Hans bối rối nói: “Phần cuối ghi chép viết rằng vào năm 1925, có một sự kiện nghi ngờ là tà thần thức tỉnh xảy ra ở thị trấn Đá Ngầm Đen, mục sư Cornell đã chết.”

“Ta đã giết lão.” Johnson đáp.

Hans muốn nói lại thôi.

Johnson nhìn anh, nói: “Anh định hỏi về đứa trẻ đó à?”

“Nó… Tôi biết nó không hề có cảm giác sợ hãi, khi nó chết, nó có biết tất cả những điều này không?”

Biết cha ruột của mình đã hiến tế mình cho tà thần để đổi lấy sức mạnh, biết thế giới này phi lý và đen tối đến thế không?

Johnson suy nghĩ một lúc rồi nói: “Nó biết.”

Bởi vì đứa trẻ được đưa lên tàu, ra biển cùng đội thám hiểm. Trong chuyến hành trình dài ngày này, luôn có một số người không biết giữ miệng, vì muốn tìm trò vui hoặc chán ghét vẻ ngoài quái đản của đứa trẻ, nên cố tình tiết lộ nội tình.

<i>Mày thật là “may mắn” biết bao, mày sẽ sớm được trở thành một phần của thần.</i>

Tuy nhiên, họ đã thất vọng. Một đứa trẻ không biết sợ hãi thực sự sẽ không sợ hãi.

<i>Quả nhiên là giống quái vật.</i>

Hans khẽ run lên, ánh mắt buồn bã.

Một lúc lâu sau, Hans mới ngẩng đầu lên, khàn giọng hỏi: “Các ngài còn tới tìm giáo phái nữa không?”

“Ý anh là gì, để trả thù? Không.” Johnson bình tĩnh nói: “Không phải ai cũng có đủ tư cách để <i>gây thù</i> với tà thần. Giáo phái chưa bao giờ trộm được sức mạnh của ta, ta cũng không đến Venice để tiêu diệt giáo phái Màu Xám, ta chỉ tình cờ đi ngang qua thôi.”

Hans há miệng, hỏi với sắc mặt tái nhợt: “Còn những tà thần khác thì sao?”

Johnson quyết định nói thẳng ra.

“Đối với thần cổ xưa, thế giới này đầy sâu bọ, khi thức thì không quan tâm, khi ngủ say thì rất ghê tởm. Những con người hết lòng nghiên cứu huyền bí học cũng giống như những con muỗi muốn hút lấy sức mạnh phi thường từ vị thần cổ xưa đang say ngủ. Loài sâu bọ chỉ muốn một chút thôi, đối với thần thì một chút này hoàn toàn không đáng kể, nhưng lại là một sức mạnh không thể tưởng tượng được đối với con người. Có kẻ thành công, phát điên và chết sau một khoảng thời gian vinh quang ngắn ngủi. Có kẻ thất bại, chết mất xác ngay tại chỗ. Dù thế nào đi nữa, những kẻ thành công đều trở thành nhà tiên tri, nhà hiền triết vĩ đại, nhưng họ đều bị vận rủi quấn lấy, thành tựu càng lớn, danh tiếng trong lịch sử càng nổi trội thì họ càng bất hạnh. Chỉ những người mai danh ẩn tích, không sử dụng sức mạnh một cách bừa bãi mới có thể sống sót cho đến khi già đi và chết. Vì thần cổ xưa thật sự không dễ trêu chọc, cho nên học giả huyền bí học… cũng tức là những tồn tại như giáo phái Màu Xám sẽ chuyển mục tiêu sang những thần mới yếu hơn, như thế an toàn hơn. Suy cho cùng, ô nhiễm tinh thần cũng có phân ra cao thấp, mạnh yếu, chỉ cần đủ may mắn, tìm ra phương pháp đúng đắn, không lén lút nhìn vào bản thể của tà thần thì vẫn khá dễ thành công.”

Mục sư Cornell không phải là người đầu tiên chấp nhận rủi ro, cũng sẽ không phải là người cuối cùng. Lão có được một cơ thể cường tráng, sức lực mạnh hơn người thường rất nhiều, trí nhớ mạnh mẽ hơn, tư duy linh hoạt hơn. Điều này khiến mục sư Cornell dễ dàng trở thành một người uyên bác đa tài, có thể đọc thuộc lòng Kinh Thánh, biết nhiều loại chữ, nghiên cứu nhiều sách cổ khó hiểu.

Tuy nhiên, cả việc nghiên cứu lẫn thám hiểm đều quá tốn kém, mục sư Cornell bèn nhắm vào Brandon Lớn, đề nghị lão làm nhà tài trợ.

Brandon Lớn bị thuyết phục, hay nói đúng hơn là lão bị choáng ngợp trước những gì mục sư Cornell thể hiện. Lão cũng muốn có một cơ thể khỏe mạnh hơn, tốt nhất là sống đến trăm tuổi mà không bệnh tật đau đớn, có tinh lực dồi dào để ăn chơi hưởng lạc, buông thả bao nhiêu cũng được.

Mục sư Cornell đã thực sự đưa Brandon Lớn đi trải nghiệm sự tuyệt vời của sức mạnh huyền bí. Nếu họ dừng lại ở đây, sức mạnh bị đánh cắp sẽ tự nhiên tiêu tan sau khi họ chết. Tồn tại huyền bí bị đánh cắp sức mạnh kia thậm chí còn không nhận thấy sự tồn tại của những con muỗi này. Suy cho cùng, cuộc đời của con người không bằng nổi một số lẻ trong tuổi đời của thần.

“…Tà thần bị mục sư Cornell nhắm đến, bởi vì thời kỳ lột xác sắp đến gần, căn bản không quan tâm đến thế giới bên ngoài.”

Johnson không dùng “ta”, vì lúc đó y vẫn còn chưa hoàn thiện.

“Nhưng sự cân bằng mong manh này cuối cùng đã bị phá vỡ khi một đứa trẻ ra đời. Một đứa con ngoài giá thú của Brandon Lớn và nữ gia sư của gia tộc, một đứa trẻ mới sinh ra đã bị phát hiện ra rằng nó rất đặc biệt, thế là họ muốn nhiều hơn nữa.”

Hans hít một hơi thật sâu: “Thật quá tham lam.” Anh không biết mình đang nói về mục sư Cornell và Brandon Lớn, hay nói về nhóm lãnh đạo giáo phái.

Hans cũng biết được số phận của giáo phái… Trên thế gian này, việc đánh cắp sức mạnh của tà thần phụ thuộc vào sự may mắn, nhưng giáo phái không thể từ bỏ sức mạnh này.

Vẻ mặt Hans cay đắng, anh lấy hết can đảm nói: “Ngài thật sự không thể thả đứa trẻ đó ra sao?”

“… Nó là một phần của ta, ta cũng là nó.” Johnson trả lời.

“Cái gì?”

Johnson phớt lờ cú sốc của Hans, y ném một túi tiền và một cặp kính đen cho Hans.

“Thủy tinh của Venice rất thú vị, chúng ta học thử trong vài ngày, nó có tác dụng ngược với Con mắt Hoa Hồng, đeo lên rồi anh sẽ không còn nhìn thấy thế giới chân thực.” Johnson hơi nhướng mày, nói với vẻ mặt kiêu ngạo: “Ta nghĩ đây là thù lao mà anh cần nhất, còn túi tiền… Chúng ta sẽ sớm rời Venice, những đồng tiền của con người này chẳng có tác dụng gì với chúng ta, anh cứ lấy đi.”

Hans trợn mắt há miệng, anh thử đeo kính vào, quả nhiên không thể nhìn thấy Johnson nữa.

“Sao lại làm được thế này? Ơ?”

Hans tháo kính ra, trước mắt anh vẫn trống rỗng, chỉ còn sót lại chút khí đen do tà thần để lại.

Johnson đi rồi.

***

Johnson đi qua quảng trường, cảm nhận được một mùi lạ trong gió biển.

Nhiệt độ của vùng nước sâu lạnh giá, đáy biển có núi lửa nóng bỏng…

Khi dung nham xé toạc đáy biển và phun trào, nó tạo ra một vụ nổ điếc tai, “những cột khói đen” nối tiếp nhau bốc lên, trong nháy mắt tiêu diệt mọi sinh vật dưới đáy biển, đồng thời lan tỏa những âm thanh và mùi vị kinh hoàng.

Đó là sự rối loạn.

Cũng là sự hủy diệt.

Nhưng rồi những sự sống mới sẽ được sinh ra.

Sau khi dung nham nguội đi, nhiệt độ của nước biển gần đó vẫn cao hơn những nơi khác, biển sâu tựa như một hoang mạc vô tận, với vô số sinh vật đang hướng về ốc đảo.

Những sinh vật nhỏ bé đó tụ tập xung quanh “cột khói”, tham lam ngấu nghiến những chất hữu cơ do vụ phun trào ban tặng. Rồi chúng sinh ra ở đây, chết ở đây, xương cốt dần dần tích tụ, biến đổi từ thế hệ này sang thế hệ khác, cuối cùng biến thành những sinh vật độc đáo không thể rời khỏi “ốc đảo” này.

Tà thần và quyến thuộc của nó cũng có mối quan hệ như thế.

Bụp.

Quả bóng bay trong tay một cậu bé đứng cạnh quảng trường đột nhiên vỡ tung, nó òa lên khóc, người hầu vội vàng bế cậu chủ nhỏ lên dỗ dành, thế nhưng không dỗ được. Một bé gái đang ở gần đó cũng vô cớ đánh rơi con búp bê của mình, khóc thét vì sợ hãi.

Johnson hoàn hồn, lặng lẽ rời khỏi quảng trường. Y vừa bước đi, vừa nhìn vào lòng bàn tay của mình. Dây leo màu đen hiện ra thấp thoáng ở đầu ngón tay.

Johnson ngẩng đầu, nhìn về phía cuối đường.

Gymir đeo một chiếc mặt nạ tinh xảo, âm thầm xuất hiện ở đó.

Chiếc mặt nạ mới được mua. Đôi mắt là thủy tinh xoắn ốc màu vàng và đỏ, bên cạnh còn có những bông hoa làm bằng sợi thủy tinh màu vàng để trang trí.

Hai ngày qua, tà thần đã ghé thăm tất cả các cửa hàng bán đồ thủ công bằng thủy tinh ở Venice, đồng thời còn đến nhà đấu giá để xem món đồ cổ bằng thủy tinh còn đắt hơn cả ngọc ngà châu báu. Tà thần không thể chạm vào các món thủy tinh thành phẩm do giáo phái Màu Xám làm ra, nhưng các đồ thủy tinh khác thì không thành vấn đề.

Chiếc mặt nạ này là một ví dụ hoàn hảo về tính thẩm mỹ của thần Biển, nó hoàn toàn phù hợp với khí chất quyến rũ của người cá.

Johnson không khỏi bị thu hút bởi đôi mắt đỏ vàng trên chiếc mặt nạ.

“Em đang hù dọa những con kiến nhỏ à?” Gymir mỉm cười hỏi. Vừa xuất hiện, hắn đã thấy tất cả con non loài người ở quảng trường đang khóc la. Con non luôn có thể “cảm nhận được” những thứ khác thường, chúng nhạy cảm hơn, dễ sợ hãi hơn.

Johnson im lặng, y hơi xấu hổ.

Cảm giác xấu hổ này chỉ nảy sinh sau khi gặp Gymir.

Nếu muốn dùng một phép ẩn dụ, Johnson cảm thấy mức độ xấu hổ hiện tại chỉ xếp sau cái lần y gặp Gymir bên ngoài hiệu sách trên đường phố Luân Đôn.

Đầu tiên là gặp phải một con người đến gạ gẫm (dù là giả vờ nhưng biểu hiện cũng rất thật), sau đó Johnson bị ảo giác khi cảm nhận được hơi thở của gió biển, cuối cùng là bị Gymir bắt gặp khi sự bất ổn về mặt cảm xúc của mình đang gây ra hỗn loạn.

Johnson mím môi, hạ giọng nói: “Chúng ta có lẽ phải khởi hành.”

Bởi vì y cảm nhận được tiếng gọi của biển sâu, một phản ứng đến từ bản năng.

Cuộc hành trình qua các thành phố của con người đã sắp kết thúc.

Sau khi đã thưởng thức xong trò chơi, cho dù bản thân trò chơi có mới lạ và thú vị đến đâu thì nó cũng sẽ mang lại cảm giác mệt mỏi mơ hồ, đã đến lúc kết thúc.

“Ta rất vui khi nghe được tin này.”

Gymir giữ chặt chiếc mặt nạ, ánh mắt như ngọn lửa thiêu đốt, vuốt qua từng tấc cơ thể Johnson.



<i>Người dịch: Thế là giải đáp thân thế của Johnson rồi nhé.</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 62


<b>Chương 62</b>

<b>Ngày ấy trăng bạc ló dạng</b>

“Tôi phải đi đây.”

Giọng nói nghèn nghẹt nghe như dây thanh quản trong cổ họng bẩm sinh đã có vấn đề, khiến cho câu từ phát ra cũng không rõ ràng.

Lại là một giấc mơ.

Hans chợt giật mình, sau đó đập đầu lên mái nhà. So với chiều cao đến hơn hai mét của anh, gác mái này rõ ràng là quá thấp.

Căn gác mái thấp và tối tăm trước kia nay trở nên ấm áp và sáng sủa. Trên tường bên phải có một lỗ thủng lớn, ánh nắng vàng ấm áp như trải một lớp sa-tanh vàng óng lên sàn gỗ đã mòn. Lớp lụa này êm ấm mềm mại.

Hans ngạc nhiên nhìn ra ngoài thì thấy mây trắng bồng bềnh, từng cơn gió cuồn cuộn thổi vào, cuốn đi bụi bặm trong gác mái, thổi bay đi mùi ẩm mốc nặng nề.

Hans cúi đầu nhìn bàn cờ nhảy bày trước mặt. Trên bàn cờ cũ kỹ bạc màu, những quân cờ thủy tinh vỡ được ánh nắng chiếu vào, màu sắc long lanh, tỏa sáng lấp lánh.

Một cánh tay gầy gò đầy sẹo vươn ra nắm lấy quân cờ.

Đứa bé ngồi trong góc tối duy nhất của gác mái, đôi mắt xanh lam nhạt trông như hai viên ngọc quý hiếm. Tựa như ánh sao.

Hans cầm quân cờ lên theo bản năng, sau đó cẩn thận đặt nó lên ô bàn cờ.

“Cậu… cậu thật sự là một phần của tà thần đó sao?”

Hans không biết Johnson là tà thần nào, trong sách cổ cũng không có ghi chép. Anh chỉ biết Johnson vốn sống trên biển, vì Brandon Lớn đã tài trợ cho một chuyến thám hiểm hàng hải nên anh rất sợ bản thể của con bạch tuộc khổng lồ kia chính là đứa trẻ ở gác mái. Một con quái vật có sức mạnh cao hơn quyến thuộc của tà thần, nhưng không phải tà thần…

Đứa trẻ lặng lẽ nhìn Hans, không trả lời.

Hans cảm thấy không phải nó từ chối trả lời anh, mà là không biết trả lời như thế nào.

“Cậu không tiếp tục sống ở đây à?” Hans rất ngạc nhiên.

Có những giấc mơ là một không gian cố định, dù đang ở đâu thì chủ nhân của giấc mơ vẫn luôn giữ nguyên vẹn khung cảnh đó… Vì trái tim họ mắc kẹt ở đó nên “tôi phải đi đây” không có nghĩa là tà thần rời khỏi Venice, mà là giấc mơ này sẽ không còn tồn tại nữa.

Là một nhà trị liệu, Hans hy vọng đứa trẻ rời khỏi gác mái, nhưng nghĩ đến lời của Johnson, anh cũng không xác định được kết quả này là tốt hay xấu. Điều gì sẽ xảy ra nếu tà thần quyết định xóa bỏ ý thức của đứa trẻ loài người này?

Hans cực kỳ bất an.

Anh khẽ hỏi: “Là tà thần thả tự do cho cậu à?”

“Chính anh đã giúp tôi buông tay.”

Cơ thể của đứa trẻ nhích về phía trước, khuôn mặt quái đản của nó cứ thế lộ ra dưới nắng, mái tóc lưa thưa bị gió thổi bay, trong đôi mắt xanh hiện lên nụ cười.

“Cảm ơn anh.”

Đó là những lời cuối cùng đứa trẻ ở gác mái để lại cho Hans.

Gác mái lắc lư từ bên này sang bên kia, rung chuyển dữ dội.

Hans kinh hoàng nhìn cánh tay của đứa trẻ dài ra, những vết sẹo xấu xí kia cũng biến mất. Đứa bé hóa thành tà thần đã từng thuê anh làm việc, đội mũ chóp đen, mặc áo măng tô có hai hàng nút, đứng trước mặt anh như một quý ông người Anh thực thụ.

Hans: “…”

Anh bị một sức mạnh vô hình đẩy ra khỏi cái lỗ ở gác mái, xuyên thẳng qua những đám mây.

Tõm.

Dưới những đám mây thế mà lại là nước biển trong xanh trải dài vô tận. Lần này trong giấc mơ không có khói đen, dây leo hay quái vật, nó sáng sủa đến mức không có một màu sắc pha tạp nào.

Hans nổi lên mặt biển, vừa hay thấy được những tấm ván gỗ mục nát của gác mái lần lượt rơi xuống biển, rồi dần dần biến hình trước đôi mắt sửng sốt của anh, gỗ mục “lắp ráp” thành một con thuyền buồm ba cột một cách thần kỳ.

Gió biển thổi đến, cánh buồm căng đầy.

“Uuu…”

Có tiếng kêu dài của cá voi.

Thân hình khổng lồ khuấy lên từng cơn sóng trắng như tuyết, tầng tầng lớp lớp như bọt biển.

Những viên ngọc rực rỡ tỏa sáng giữa sóng nước.

Hans còn muốn nhìn rõ hơn, nhưng đuôi cá voi đập mạnh xuống mặt biển, tạo thành cơn sóng dữ cao đến tận trời.

Hans bị sóng cuốn đi. Cũng may anh là người Venice, và là nhà trị liệu giấc mơ, anh biết cách ổn định tâm trí trước những thay đổi mạnh mẽ trong mơ, nên không bị cuốn ra khỏi giấc mơ ngay lập tức.

Hans sặc nước ho, rồi lại ngoi lên khỏi mặt nước, vừa kịp thấy được bóng cánh buồm đã đi xa.

Cá voi khổng lồ đang dẫn con tàu ma đi về vùng biển mà con người không thể biết đến.

Mặt trời lặn xuống, vầng trăng lưỡi liềm màu bạc từ từ nhô lên.

***

Ào ào.

Thế giới chân thực không có vầng trăng bạc, chỉ có nước biển xanh thẫm.

Con thuyền ba cột buồm lướt trên mặt biển trong đêm tối, nhanh đến nỗi chỉ để lại một vệt bóng mờ trong kính viễn vọng. Nếu người quan sát cố gắng quan sát lại vùng biển này, anh ta sẽ thấy một làn sương mù dày đặc lạ thường.

Sương mù quấn quanh thân thuyền cổ xưa, sóng biển liên tục tràn vào những lỗ hổng trên khoang thuyền, rồi chảy ra từ phía boong thuyền.

Trong khoang thuyền luôn có tiếng sột soạt kỳ dị. Vô số dây leo đen ngòm bò trên boong thuyền, mạn thuyền, cột buồm.

Một cánh tay mảnh khảnh chợt nâng lấy mạn thuyền. Vây mỏng trong suốt trải dài dọc theo cổ tay, nước biển nhỏ giọt dọc theo làn da như sa-tanh màu bạc. Đuôi cá đỏ vàng duỗi ra trên boong thuyền, từng chiếc vảy ánh lên tia sáng đẹp đến nghẹt thở.

Người cá nghiêng đầu sang, dùng đuôi cá giữ lấy một sợi dây leo đang chạy lung tung. Thoáng cái cả con thuyền đã im lặng.

“Yên nào.”

Người cá vén mái tóc dài màu đỏ xõa tung ra sau tai, rồi lười biếng nằm xuống mạn thuyền.

Thân thuyền rung chuyển. Đó là sự rung động của những tấm ván gỗ được quấn bằng dây leo.

Hòa cùng tiếng sóng biển, người cá nhẹ nhàng cất tiếng hát.

Đây là một bài thánh ca của nhà thờ, lẽ ra họ sẽ thưởng thức một buổi hòa nhạc có bài hát này tại nhà hát ở Venice. Bây giờ họ đang ở trên biển. Trên biển vắng lặng, chỉ có tiếng sóng biển và tiếng gió làm nhạc đệm.

Gymir không hát theo ngôn ngữ của con người, hắn chỉ sử dụng giai điệu cao như trên mây này thôi. Tiếng ca kỳ ảo và đẹp đẽ ngay lập tức đánh bay mọi suy nghĩ trong đầu người nghe, để rồi bị nó lôi kéo một cách vô thức, chịu sự thống trị của nó.

Nước biển đang lặng lẽ dâng lên.

Dâng qua đuôi cá, kéo đến thắt lưng của người cá.

Hình thái con tàu dần tan rã.

Thế là tiếng hát đột ngột dừng lại.

Gymir: “…”

Hắn hát vui vẻ trên chiếc thuyền do ý trung nhân “ghép thành”, đang hát ngon lành mà bỗng dưng lại phải tự bơi? Một chiếc thuyền đang yên đang lành lại biến thành đống ván mục nát trôi nổi trên biển?

Khi tiếng ca biến mất, lý trí của “con tàu” nhanh chóng quay trở lại, dây leo lẹ làng vớt những tấm ván về, một giây sau lại trở thành con tàu ma.

Tấm ván gỗ mà Gymir cầm trong tay cứ rung lên không ngừng, hắn vừa buông ra, nó liền bay vụt tới trên mạn thuyền.

Sợi dây leo bị đè dưới đuôi cá ra sức vùng vẫy. Gymir nhặt cây leo lên, quấn nó quanh vai mình, rồi cứ thế quấn từng vòng kéo dài đến cổ tay, cuối cùng phần đầu mảnh mai mềm mại vừa hay nằm gọn trong lòng bàn tay người cá.

Gymir dùng đầu ngón tay nhẹ nhàng trêu chọc cái mầm be bé ở cuối đoạn dây leo.

Dây leo bất động.

Gymir cúi đầu, môi chạm vào cái mầm kia, nhưng chưa kịp l**m thì cả sợi dây leo biến mất với tốc độ ánh sáng. Nó cuộn tròn từ phần cuối lên rồi biến mất luôn khỏi cánh tay và vai của Gymir, rụt vào trong khoang thuyền.

Một cái lỗ lớn xuất hiện trên boong thuyền gần đó, nước biển nhanh chóng tràn vào. Đây là một phản ứng dây chuyền, một dây leo nhạy cảm rụt lại, những dây leo trên cùng một thân chính (hoặc phải nói là các dây leo ở gần người cá) đều bỏ chạy.

Gymir: “…” Lại bị bắt phải bơi.

Người cá bơi về phía cột buồm nghiêng ngả, nhảy lên dễ dàng, thả đuôi cá rũ xuống ngâm trong nước biển. Những chiếc vảy sáng bóng màu đỏ vàng đặc biệt bắt mắt. Mái tóc dài bị sóng biển xối ướt rối bù và bết vào cổ, ngực và lưng.

Tiếng hát kỳ ảo lại vang lên.

***

Ai mà ngờ được rằng đối tượng mê hoặc của người cá lại là một con tàu?

Một con tàu xiêu xiêu vẹo vẹo, sắp vỡ đến nơi.

***

Thị trấn Đá Ngầm Đen.

Biển nổi bão dữ dội, kèm theo những đợt âm thanh quỷ dị khiến người nghe phải thót tim.

Một rào cản vô hình ngăn cách thế giới chân thực với khu vực hoạt động của con người.

Trên vùng biển này, trăng bạc treo cao.

Có những âm thanh kỳ lạ không thể miêu tả vọng lên từ đáy biển.

Trong dung nham đỏ rực, đáy biển tưởng chừng như được khảm bằng xương cốt và hóa thạch của các loại sinh vật cổ xưa lại “nổi lên”, với lửa cháy dữ dội và khí độc khủng khiếp bao quanh.

Trong suốt năm năm qua, vị thần cổ xưa đang say ngủ vẫn luôn “điều chỉnh” cơ thể. Bây giờ, nó cuối cùng đã thoát ra khỏi đáy biển.

Đá ngầm quái quỷ trồi lên từ đáy biển lần này trông càng đáng sợ hơn xưa. Nó dường như có thể phát ra vô số tiếng r*n r* đáng sợ, những hoa văn đen đỏ trên bề mặt của nó trông như khuôn mặt đau đớn của nhiều loài sinh vật, chúng dường như bị vặn xoắn thành những hình dạng kỳ lạ rồi hợp lại với nhau.

Thần Biển, bản thể của Gymir.

Hỗn loạn, mất trật tự.

Đá ngầm quái quỷ cũng không có hình thù gì để có thể miêu tả rõ ràng.

Bầu trời đêm bị nhuộm màu đỏ sẫm, những ngôi sao dường như đang di chuyển chậm rãi trên nền trời.

Đá ngầm quái quỷ vẫn đang tranh thủ thời gian để dung hợp hình hài của mình với những sọc đen đỏ lộn xộn, như muốn biến chúng thành một tác phẩm nghệ thuật.

Cuối cùng, sương mù dày đặc xuất hiện.

Con thuyền ba cột buồm nhẹ nhàng tiến vào thế giới dưới biển đỏ sậm và đáng sợ này.

Vòng xoáy này nối tiếp vòng xoáy khác xuất hiện trên mặt biển.

Bộp.

Tất cả ván gỗ rơi ra, chìm xuống đáy biển.

Người cá nắm tay Johnson, từ từ bơi về phía Đá ngầm quái quỷ đang đứng thẳng.

Đôi mắt vàng kim phản chiếu bóng dáng của Johnson. Đôi môi đỏ thẫm mềm mại áp vào bên tai Johnson, ngâm nga một giai điệu kỳ diệu xa xăm. Những cái bóng tỏa ra từ cánh tay, mái tóc dài và đuôi cá của người cá, quấn quanh con mồi như những sợi tơ. Tiếng ca dần trở nên buồn bã, như Siren đang hát một mình trong đêm tối vì không nhận được tình yêu.

Johnson biết rõ đây là thủ đoạn quyến rũ người khác của người cá, nhưng y không thể kiềm chế mình đi theo bước chân của Gymir. Càng đến gần Đá ngầm quái quỷ, dây leo màu đen càng không nghe lời y, cứ thế nổi lên.

Âm mưu nhỏ bé của thần cổ xưa đã trở thành con át chủ bài lớn nhất vào lúc này: sức mạnh đã được “đồng bộ” đang kêu gọi một sức mạnh khác. Bộ phận thuộc về Gymir hùng mạnh phi thường, Johnson không thể cưỡng lại được.

Linh hồn, thể xác và sức mạnh đều khao khát được hợp nhất.

Lực hấp dẫn mang tên “tình yêu”.

Gymir quấn đuôi cá quanh eo Johnson. Hắn cúi đầu ngậm trái cổ của Johnson vào miệng, giữ nguyên tư thế này tiếp tục hát, để từng âm tiết cộng hưởng cùng mỗi thớ thịt, như ngọn lửa mạnh mẽ xâm chiếm não bộ, thiêu đốt lý trí trong tích tắc.

Johnson dần dần không thể duy trì hình dạng con người của mình.

Người cá nhìn đám dây leo đen quấn quanh người mình, nở nụ cười đầy yêu thương, nhưng ánh mắt lại thấp thoáng nét hung hãn của tay thợ săn.

Gymir vòng tay ôm lấy sinh vật kỳ lạ không thể nhìn rõ hình dáng có chiều cao bằng một người đàn ông (vì còn trong trạng thái cuộn tròn), nhanh chóng chìm xuống biển. Đuôi cá vung lên đưa cả hai bơi đi tạo thành một vệt trắng, trong phút chốc đã đến cạnh Đá ngầm quái quỷ.

Những dây leo đen trong giây lát bám vào đá ngầm, rồi từ từ giãn ra.

Người cá nâng một đoạn dây leo lên áp vào má, mỉm cười.

“Ta khát khao để em cảm nhận được hơi ấm của ta.”

“Cùng với sức mạnh.”

Một giây tiếp theo, người cá biến thành một bóng đen cao lớn không có mặt, bao phủ Đá ngầm quái quỷ và dây leo như một tấm chăn.

Dây leo nhanh chóng bung ra như đang “sinh trưởng”, như sắp “nuốt chửng” Đá ngầm quái quỷ, phần thân chính của nó càng lúc càng lớn hơn, cuối cùng phần hạt nhân dạng rau câu bị ẩn giấu đã xuất hiện.

Cái bóng chen vào điểm kết nối giữa hạt nhân và tám thân chính của dây leo, v**t v* và quấn quýt.

Những hạt vàng trên nh** h** của hạt nhân bất an nảy lên.

Đá ngầm quái quỷ mang theo khí cực độc và dung nham nóng chảy đập thẳng vào nh** h** mềm mại ở gốc dây leo, tám thân chính của dây leo lập tức bùng nổ.

Làn khói trắng kèm theo những tiếng r*n r* quỷ dị không thể miêu tả thành lời.

Những dây leo đang bò, từng nhánh mảnh mai co giật, quất lên bề mặt Đá ngầm quái quỷ, lực của chúng để bẻ gãy các thanh thép, phá hủy núi non trong giây lát.

Đá ngầm quái quỷ sừng sững bất động, chỉ có những sọc đen đỏ trên bề mặt chảy càng nhanh hơn.

Nhiệt độ nóng cháy.

Sức mạnh khủng khiếp.

Va chạm quấn quýt.

Mãi cho đến khi chúng chìm xuống vực sâu của rãnh đại dương.

Dung nham mang đến sức nóng khủng khiếp hơn, tà thần vô thức hy vọng làn nước biển lạnh lẽo có thể tạm thời làm dịu bớt.

Nước biển ở đây không đủ sâu, quá gần với thế giới con người, nên họ vô thức hướng về phía Bắc.


 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 63: Phần 5: Thảm Bay Năm 1958, Bắc Cực


<b>Chương 63</b>

<b>Hành trình tới vùng cực</b>

Năm 1958, Bắc Cực.

Lớp băng bao phủ đại dương vỡ hẳn ra vào mùa hè, biến thành những mảnh băng trôi trên biển.

Những tảng băng này có lớn có nhỏ, nhiều hình dạng khác nhau, xếp chồng lên nhau dọc theo dòng hải lưu, đụng vào rồi văng ra hệt như một vài thiết bị trong công viên giải trí của con người.

Ào ào.

Đầu của Cá Voi Trắng* đẩy tảng băng trôi nhỏ hơn ra, nó phun ra một dòng nước rồi lại từ từ chìm xuống.

<i>* Cá voi trắng (danh pháp hai phần: Delphinapterus leucas) là một loài cá voi, là một trong hai thành viên của họ Monodontidae. Kích cỡ của chúng dài đến 5 mét. Chúng phân bố không liên tục quanh cực ở Bắc Cực và tiểu vùng biển Bắc Cực từ 50 ° đến 80 ° Bắc, đặc biệt dọc theo bờ biển của Alaska, Canada, Greenland, và Nga.</i>

Trong làn nước biển trong xanh tuyệt đẹp như băng, cái trán tròn vo mập ú của Cá Voi Trắng đặc biệt nổi bật. Nó vừa mới trưởng thành, vì tính ham chơi nên đã tách khỏi đội ngũ di cư mùa hè đông đảo, đang lang thang quanh khu vực băng trôi để tìm kiếm bữa tối hôm nay.

Cá Voi Trắng thoáng thấy vài bóng đen lướt qua trước mặt mình. Tư thế bơi khỏe và uyển chuyển, là hải cẩu. Cá Voi Trắng lập tức đuổi theo. Chẳng bao lâu sau, nó nhìn thấy một đàn cá, một đàn cá tuyết thơm ngon…

Chú cá voi trắng trẻ tuổi này vui vẻ gia nhập đội săn của hải cẩu, đồng thời cũng chủ động cung cấp dịch vụ “xua đuổi” đàn cá, hợp tác rất hoàn hảo, thu hoạch được mấy miếng cá tuyết mập mạp ngon lành.

“Cù chít chít.” Cá Voi Trắng phát ra âm thanh vui vẻ, cảm ơn hải cẩu hợp tác.

Tiếc là hải cẩu không nghĩ vậy.

Sau bữa cơm thịnh soạn cũng đến lúc lên đường, Cá Voi Trắng đã chọn một con đường hoàn toàn khác với đội quân di cư… Đúng, nó chính là cá thể đặc biệt ưa nghịch ngợm trong đàn cá voi, chán ghét cuộc sống theo bầy đàn, thích đi là đi, vui vẻ chạy về phía tự do.

Lạc đàn là rất nguy hiểm.

Ở Bắc Cực, nó có hai thiên địch mà nó không đánh lại được: Gấu Bắc Cực đói khát, cá voi sát thủ đến Bắc Cực vào mùa hè. Con cá voi trắng này rất dũng cảm, cũng rất thông minh, đôi mắt của nó có thể nhận biết được những “mảnh băng trôi” bất động nào là do gấu Bắc Cực ngụy trang, sẽ không bao giờ tiếp cận chúng. Thính giác của nó cũng rất nhạy bén, nó đã bắt được âm thanh của một đàn cá voi sát thủ đang giao tiếp từ xa.

Nguy to!

Cá Voi Trắng lặng lẽ bơi đến gần một tảng băng trôi có thể che chắn được mình, lợi dụng màu sắc tương tự để ẩn mình. Chuyển động của nó nhẹ nhàng và im lặng, không có sóng nước lớn khuấy động băng trôi, cũng không tạo thành sự va chạm hoặc vỡ vụn không đáng có cho băng trôi, nó chỉ “trôi” theo dòng nước cùng tảng băng.

Đây là trò chơi trốn tìm liên quan đến sự sống còn. Đánh thì đánh không lại rồi. Nó chỉ có một mình, bên kia có cả đàn. Sức chiến đấu của Cá Voi Trắng chẳng là gì so với cá voi sát thủ, với cá voi sát thủ, nó chỉ là một bữa ăn béo bở biết bơi. Chạy cũng rất khó trốn thoát. Cá voi sát thủ có thể truy đuổi con mồi liên tục trong nhiều giờ đồng hồ. Những chú cá voi con “may mắn” được tham gia cuộc thi bơi đường dài chí mạng kiểu đó không muốn lặp lại cơn ác mộng này.

Nếu bị gấu Bắc Cực nhắm tới, chỉ cần dùng đuôi quét một con hải cẩu tới, gấu Bắc Cực sẽ lao thẳng vào con hải cẩu đang quay cuồng. Cá voi sát thủ thì khác, việc chúng chơi đùa với con mồi chẳng liên quan gì đến việc chúng có no hay không, có muốn ăn hay không, tất cả đều phụ thuộc vào cảm hứng của chúng.

Cá Voi Trắng trẻ tuổi nín thở, ẩn mình trong đống băng trôi, hồi hộp chờ thiên địch đi ngang qua. Lúc này, dưới đáy biển vang lên một âm thanh kỳ lạ. Đàn cá voi sát thủ bị thu hút, bắt đầu lần lượt lặn xuống để xem đó là gì. Cá Voi Trắng thừa cơ hội bỏ trốn. Dù nó cũng rất tò mò, nhưng mạng sống lại quý giá hơn. Thật vất vả bắt nạt hải cẩu mới có được cái thân đầy thịt thế này, không thể cứ tặng cho kẻ khác!

Cá Voi Trắng chạy trốn với tốc độ nhanh nhất có thể, nó vừa chạy vừa suy nghĩ một cách nghiêm túc, hình như nó đã nghe thấy một âm thanh tương tự, nhưng không phải ở Bắc Cực.

***

“Độ sâu hiện tại là 100 mét.”

“Tốc độ 20 hải lý.”

“Mọi thứ đều bình thường.”

“Sonar* đã bắt được một nhóm vật thể không xác định đang tiếp cận tàu ngầm…”

<i>* Sonar (viết tắt từ tiếng Anh: sound navigation and ranging) là một kỹ thuật sử dụng sự lan truyền âm thanh (thường là dưới nước) để tìm đường di chuyển, liên lạc hoặc phát hiện các đối tượng khác ở trên mặt, trong lòng nước hoặc dưới đáy nước, như các loài cá, tàu bè, vật thể trôi nổi hoặc chìm trong bùn cát đáy, v.v.</i>

“Là cá voi sát thủ!”

Trong biển băng vô tận, có một “con cá lớn” đen ngòm quái dị đang di chuyển về phía trước với tốc độ không đổi. Cá voi sát thủ kêu lên một tiếng ngắn rồi tò mò bơi vòng quanh tàu ngầm. Cơ thể tròn trịa của chúng chạm nhẹ vào chiếc tàu ngầm, thấy tốc độ nó bơi rất nhanh thì không nhịn được đuổi theo.

“Rắc rối nhỏ thôi, giữ tốc độ, tăng cường cảnh giác!”

Đèn trong tàu ngầm rất mờ, mọi người đeo tai nghe, thận trọng nhìn vào màn hình hiển thị Sonar.

Nếu những con cá ở biển băng có thể suy nghĩ, hẳn chúng phải rất biết ơn con người vì đã thu hút được sự chú ý của đàn cá voi sát thủ, thậm chí còn “hợp tác” với cá voi sát thủ tiến hành một cuộc chạy đua đường dài.

Cá voi sát thủ dần dần phát hiện ra điểm bất thường, cái thứ to lớn lạnh như băng này dường như không thể giao tiếp được, chạy một lúc lâu rồi mà tốc độ không hề chậm lại, cũng không cần phải nổi lên để thở… Đây không phải là con mồi thuộc loài cá voi mà chúng thích chơi đùa. Khả năng vui chơi bị giảm đáng kể. Đàn cá voi sát thủ cụng đầu quẹt đuôi trao đổi một phen, quyết định từ bỏ thứ kỳ quặc này. Đại dương lớn như thế, có gì không chơi được?

Nhìn mấy tên kia rời đi, những người trong tàu ngầm thở phào nhẹ nhõm. Mặc dù họ mang theo vũ khí, không sợ những con cá voi sát thủ này, nhưng họ không sẵn sàng gánh thêm rủi ro bên ngoài nhiệm vụ.

Đây là một chuyến phiêu lưu mạo hiểm về vùng cực.

“Con cá lớn” mà cá voi sát thủ coi thường, Cá Voi Trắng biết ơn này chính là chiếc tàu ngầm hạt nhân đầu tiên trong lịch sử loài người.

“Ngày 2 tháng Tám, mọi chuyện trên tàu Nautilus diễn ra bình thường, chúng tôi đang tiến đến điểm cực bắc.”

“Tiếp tục lặn xuống, coi chừng những tảng băng trôi.”

Khi những núi băng tan vào mùa hè, những tảng băng vỡ vẫn trôi nổi trên mặt biển, phần chìm xuống dưới biển của chúng lớn hơn nhiều so với thể tích trên mặt biển. Hầu hết những tảng băng trôi này đều đến từ đảo Greenland.

Trên thực tế, chiếc tàu ngầm đã thực hiện chuyến đi vùng cực này một lần vào cuối tháng Sáu. Thật không may, khi qua eo biển Bering, đường đi bị chặn bởi những tảng băng trôi lớn từ Bắc Cực đến, đành phải đợi đến tháng Tám khi băng tan thêm mới thực hiện lần thử thứ hai.

Trên tàu ngầm không chỉ có Hải quân Hoa Kỳ, mà còn có các nhà khoa học từ các phòng thí nghiệm điện tử tiên tiến nhất thời kỳ này. Hoa tiêu dưới băng lo lắng nhìn chằm chằm vào màn hình, bên cạnh anh ta còn nhiều người đang phân tích nhiều dữ liệu khác nhau.

“Đang quét đáy biển, sinh vật lân cận…”

Âm thanh đột ngột dừng lại, tất cả các thiết bị điện tử đều bị ảnh hưởng bởi các sóng nhiễu kỳ lạ.

“Xảy ra chuyện gì?”

“Mọi liên lạc với bên ngoài đã bị gián đoạn!”

“Có phải là từ trường không?”

Lúc này, người điều khiển Sonar đột nhiên bịt tai lại, nghi hoặc nói: “Tôi nghe thấy tiếng kêu của đàn cá voi.”

Khác với cuộc rượt đuổi vui vẻ vừa rồi, âm thanh lúc này đã kéo rất dài. Ngay cả khi không hiểu ngôn ngữ, họ vẫn có thể cảm thấy sự hoảng loạn trong tiếng kêu.

“Ong, ong!”

Biểu đồ hình sóng trên màn hình điện tử xuất hiện một đường thẳng sắc nét kéo cao.

Chiếc tàu ngầm đột ngột rung chuyển.

“Có phải là băng trôi không?”

“Không phải!”

Hoa tiêu dưới băng nuốt nước bọt một cách khó khăn.

Vẻ mặt của người điều khiển Sonar càng khó coi hơn, anh ta lắp bắp: “Thưa ngài, hình như là tiếng gầm của một sinh vật cỡ lớn nào đó.”

Chiếc tàu ngầm lại nghiêng hẳn về bên phải, lần này ghi lại được một dao động sóng lớn hơn.

Nhà khoa học trong phòng thí nghiệm đẩy kính, nói: “Đây không phải âm thanh của bất kỳ sinh vật biển nào được ghi lại trong Thư viện Sonar.”

“Có thể là một trận động đất, hoặc một vụ phun trào núi lửa.”

“Tôi nhớ ở Bắc Cực không có núi lửa?”

“Phương hướng va chạm đến từ lòng chảo đại dương Canada, nơi đó có độ sâu đạt tới 3.800 mét, có thể là đáy biển…”

Lời còn chưa dứt, mọi người đều ngửi thấy mùi khét.

Màn hình điện tử nổ tung.

“Nguy rồi, nhanh dập lửa!”

Còi báo động vang lên trong khoang tàu ngầm. Đèn khẩn cấp màu đỏ sậm bật sáng, khuôn mặt mọi người bị ánh đèn rọi lên như ma quỷ.

Tàu ngầm hạt nhân này đã phục vụ cho quân đội được ba năm, đi được hành trình hơn 20.000 hải lý, dù vụ tai nạn này rất kỳ lạ, nhưng thủy thủ đoàn trên tàu vẫn bình tĩnh thực hiện các thao tác cần thiết.

Một nếp nhăn cao như núi xấu xí sắp hình thành ở giữa trán Hạm trưởng, gã cầm máy liên lạc, kịp thời đưa ra hết mệnh lệnh này đến mệnh lệnh khác. Đúng lúc gã đang định hỏi ý kiến các nhà khoa học xung quanh, chiếc tàu ngầm bất ngờ “lộn nhào” mất kiểm soát. Nhiều người bị va chạm bất tỉnh, nhiều người khác bị thương. Máy liên lạc trong tay Hạm trưởng cũng tuột khỏi tay, bay ra ngoài.

“Bật chế độ khẩn cấp!”

“Hệ thống cân bằng…”

Giọng của Hạm trưởng bị cắt ngang bởi một tiếng hét thảm thiết. Ở vị trí người điều khiển Sonar, một nửa số người bất tỉnh, nửa còn lại ôm đầu vùng vẫy và r*n r*.

Sau đó một điều khủng khiếp hơn đã xảy ra.

Khuôn mặt của một người điều khiển Sonar bị biến dạng, nó vặn xoắn lại như cao su, anh ta phát ra âm thanh khặc khặc quái lạ. Hệt như quá trình biến hình của người sói trong những cuốn tiểu thuyết nhàm chán, đầu anh ta ngày càng nhọn ra, đôi chân dài ra một cách kỳ lạ, những ngón tay biến thành móng vuốt sắc nhọn.

Những người lính cố gắng chế ngự tên xui xẻo đã phát điên này, nhưng nó đánh bị thương mấy người liền trong một khoảng thời gian ngắn, cuối cùng khi móng vuốt sắc nhọn của nó sắp phá hủy một thiết bị…

Pằng.

Tiếng súng vang lên.

Khoang tàu ngầm rơi vào sự im lặng chết chóc, mọi người ngơ ngác nhìn thi thể bị một viên đạn găm vào trán kia, cùng với một nhà nghiên cứu khoa học đang run rẩy cầm vũ khí.

Bạn thân của người vừa chết giận dữ siết chặt tay, nhưng anh ta chưa kịp lên tiếng thì đã bị đồng nghiệp giữ chặt lại. Ai có mắt đều có thể nhận ra cái xác này không còn là “con người” nữa.

Ngoài những người lính, các nhà khoa học cũng cảm thấy họ sắp sụp đổ. Một người đàn ông biến thành quái vật trước mắt họ? Đây không còn là thế kỷ 19, khi mà khoa học trộn lẫn với đủ thứ kỳ lạ. Các vệ tinh nhân tạo đã được phóng lên bầu trời, trái đất đã hoàn toàn bước ra khỏi màn sương mù trước mặt nhân loại. Hành trình tới vùng cực mà họ đang khiêu chiến cũng đang sử dụng khoa học để thực hiện điều mà trước đây chưa ai có thể làm được, thế giới này không còn là nơi các đội thám hiểm nắm quyền làm chủ nữa. Không có khủng long trên cao nguyên Nam Mỹ, không có căn cứ của người ngoài hành tinh ở Nam Cực.

“Tắt hết tất cả Sonar.” Nhà khoa học đứng đầu hét lên đúng lúc.

Đây là dấu hiệu của sự “im lặng”, một phương pháp di chuyển bí mật được sử dụng trong thời chiến, nhưng giờ đây chúng được sử dụng để tránh “kẻ thù” mà họ có thể gặp phải. Trong thế giới tự nhiên, bất kỳ vật thể nào có thể phát ra âm thanh và di chuyển đều có nguy cơ bị động vật tấn công như “kẻ thù”.

“Ông Moore, ông có nghĩ… có quái vật biển ngoài kia không?”

“Không, tôi nghi ngờ chúng ta đã gặp phải một con quái vật khủng khiếp do con người tạo ra, một loại vũ khí chiến tranh mới.” Nhà khoa học đứng đầu nhìn cái xác dưới đất nói: “Tôi cũng nghi ngờ trên tàu có gián điệp, đây thực ra là chất độc, hay chất phóng xạ? Sao lại gây ra đột biến dị dạng như vậy?”

Mặt Hạm trưởng đen cả lại. Nếu đây là một loại ô nhiễm phóng xạ nào đó, tất cả mọi người trong tàu ngầm có thể đã bị kết án tử hình. Được chấp hành nhiệm vụ du hành đến vùng cực là một vinh dự, vậy mà bây giờ lại trở thành thảm họa?

“Ông Moore, xin hãy giữ bí mật, đừng tung tin ra ngoài, điều này sẽ ảnh hưởng đến nhân viên trên tàu ngầm…”

Hạm trưởng còn chưa kịp nói xong thì chiếc tàu ngầm lại có biến đổi. Nó phóng về phía trước với tốc độ cực nhanh, khiến mọi người không đứng vững, chóng mặt hoa mắt.

“Tốc độ… tốc độ vượt quá 30 hải lý!”

“Không, đây không phải tốc độ của chúng ta, có thứ gì đó đang kéo chúng ta!”

Trong biển băng bên ngoài tàu ngầm có một vật thể không thể miêu tả đang trôi nổi. Trên thân nó có vô số đốm màu xanh lam, trông giống như mắt, hoặc một vật trang trí nào đó.

Cơ thể nó giống như một tấm thảm phẳng nhưng có thể dễ dàng cuộn tròn trong nước biển, như một con mực khổng lồ được phóng to lên vô số lần, những vạt gợn sóng duyên dáng bồng bềnh hai bên cơ thể, sở hữu vẻ đẹp đáng sợ có thể khiến người ta phát điên. Nó dựng cơ thể lên thật cao, như muốn trùm kín cả chiếc tàu ngầm. Chỉ gây ra sóng biển dâng cao cùng với sức mạnh kinh hoàng từ từ ép xuống cũng đủ để khiến tàu ngầm rung lắc như điên. Đột nhiên, nó cảm nhận được gì đó, cơ thể di chuyển sang một hướng khác, sau đó phát ra một làn sóng âm “ong ong” đáng sợ.

Vài sinh vật dạng phẳng màu trắng nghe thấy tiếng gọi từ xa, nhanh chóng bơi tới. Những sinh vật này vẫn còn giữ được đặc điểm “hồi còn sống” như vây lưng của cá voi sát thủ hay bộ lông của gấu Bắc Cực, thế nhưng cơ thể của chúng đều bị “dẹp” lại, kích thước nở ra gấp nhiều lần, hệt như từng tấm thảm bay kinh dị đang trôi nổi. Những tấm thảm bay này phủ lên bề mặt tàu ngầm, thoáng cái đã thêm cho tàu một lớp “lót chống bụi màu trắng”.

Nó lại ra lệnh cho quyến thuộc của mình; “lót chống bụi” quấn lấy chiến lợi phẩm, bơi thật nhanh về phía bắc.

Biển băng lấy lại được sự yên tĩnh vốn có.

Một lúc lâu sau, một cột nước cao chợt phun ra từ khe hở của băng trôi.

Cá Voi Trắng trẻ tuổi lúc lắc cái đầu, mắt nó tràn đầy sợ hãi.

Sau vài giây, nó choáng váng chìm xuống đáy biển, nhanh chóng tỉnh lại vì bị sặc nước biển, nó kéo lê cơ thể chẳng hiểu vì sao mà trở nên cực kỳ nặng nề, bơi về phía trước một cách vô cùng khó khăn.

——————–

<i>Tác giả nói thế này:</i>

<i>Tàu ngầm hạt nhân đầu tiên của Mỹ – tàu Nautilus – đã đến điểm cực bắc vào ngày 3/8/1958, sau đó hoàn thành chuyến đi dưới nước xuyên qua vùng cực. Câu chuyện chỉ sử dụng những sự kiện đặc biệt vào thời gian và địa điểm đó, người trên tàu ngầm không phải mang tên này, và chắc chắn họ cũng không gặp phải tà thần. Bên trong tàu ngầm trông như thế nào là do tác giả bịa ra.</i>

<i>Giải thích trình độ công nghệ thời đại này: Năm 1957, Liên Xô phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên trong lịch sử loài người. Năm 1958, Hoa Kỳ phóng cái thứ hai. Cũng trong hai năm đó, Hiệp ước Nam Cực được ký kết và các trạm nghiên cứu khoa học thuộc nhiều quốc gia khác nhau lần lượt được thành lập.</i>

<i>……</i>

<i>Câu chuyện cười về khủng long trên cao nguyên Nam Mỹ bắt nguồn từ “Thế giới thất lạc”, kể về câu chuyện của một đội thám hiểm đã phát hiện ra những sinh vật thời tiền sử trên cao nguyên Nam Mỹ và dấn thân vào cuộc phiêu lưu sinh tồn. Tác giả của cuốn tiểu thuyết này rất quen thuộc với chúng ta, Conan Doyle. Vâng, bạn không nhìn lầm đâu, là tác giả của Sherlock Holmes.</i>

<i>Trên thực tế, ngoài khủng long, ông còn viết về những lời nguyền và xác ướp của người Ai Cập cổ đại… Người ta nói Conan Doyle thích viết tiểu thuyết khoa học viễn tưởng và phiêu lưu lịch sử, nhưng số phận và độc giả buộc ông phải trở thành nhà văn viết tiểu thuyết trinh thám cả đời (thật thảm).</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 64


<b>Chương 64</b>

<b>Cứu mạng với</b>

Ánh nắng đục ra một cái hố trên bề mặt núi băng, như một mặt hồ trong xanh.

Nước hồ chảy đến rìa núi băng, xẻ ra nhiều khe rãnh, dòng nước tuyết trong vắt đổ xuống tạo thành thác nước nhỏ.

Một chú cá voi trắng mệt mỏi đang bơi vòng tròn, không tỉnh táo lắm, tông vào mép núi băng. Nó kêu lên đau đớn, ngẩng đầu lên, sau đó bị dòng thác đổ xuống ào ào “tưới” đầy đầu đầy mặt.

Phụt. Tia nước phun ra từ lỗ phun nước, tạo thành chiếc cầu vồng mỏng manh dưới ánh mặt trời ấm áp.

Cá Voi Trắng lao vào chỗ trũng nhỏ bị nước biển bào mòn dưới núi băng, chỉ thận trọng thò đầu ra khỏi mặt nước để thở một hơi. Khi ló ra ngoài nhìn ngó, trông nó như một con vượn trắng lớn đang ngồi xổm trong lỗ phía sau màn nước.

Bây giờ là mùa hè, thức ăn dồi dào, các đàn cá thường tụ tập gần các núi băng. Cá được đưa đến miệng, dù còn đang bối rối hoảng loạn, Cá Voi Trắng vẫn thêm một bữa cho mình theo bản năng.

Nó là một chú cá voi trắng rất thông minh, nó sẽ không thư giãn và chơi đùa sau khi nguy hiểm đã qua như những đồng loại khác, nó đang suy nghĩ về những gì bất thường vừa xảy ra. Là một chú cá voi lạc đàn (một mình xông pha giang hồ), điều quan trọng là phải quan sát môi trường xung quanh và tích lũy kinh nghiệm.

“Ong?” Cá Voi Trắng thử bắt chước làn sóng âm kỳ lạ đó.

Sau khi nghe thấy âm thanh này, nó đã rơi vào trạng thái hôn mê. Khi đó, dòng nước biển rất bất thường, dưới mặt biển xuất hiện một xoáy nước khổng lồ. Cá Voi Trắng nhìn thấy một con gấu Bắc Cực xui xẻo bị hút vào dòng xoáy đó cùng với băng trôi, không bao giờ ngoi lên nữa. Thật đáng sợ.

Cá Voi Trắng không nhịn được há miệng, nuốt chửng đàn cá bơi vào màn nước.

Ăn no bụng xong, tinh thần cũng khôi phục khá nhiều, Cá Voi Trắng lặng lẽ bơi ra ngoài. Mặc dù núi băng này là nơi ẩn náu tốt, cung cấp đồ ăn tự phục vụ giúp tiết kiệm công sức và tâm trí, nhưng dòng nước đang chảy sai hướng, núi băng thì đang trôi quá chậm. Bây giờ đã là tháng Tám, ngày càng có nhiều cá voi sát thủ đến vòng Bắc Cực để tìm kiếm thức ăn sau khi băng tan, chạy chậm là sẽ thành mồi ngon ngay.

Cá Voi Trắng trẻ tuổi xốc lại tinh thần, lần nữa một mình một cá voi dấn thân vào con đường di cư. Sau khi bơi được khoảng hai giờ, nó đột nhiên nghe thấy một âm thanh kỳ lạ phát ra từ phía trên đầu.

***

Một chiếc máy b** ch**n đ** F3 mang tên Ác Quỷ đã đến bầu trời trên vùng biển băng. Nó bắt đầu lao xuống, âm thanh ầm ầm báo động cho những sinh vật có thính giác nhạy bén dưới biển. Người phi công chiến đấu cẩn thận quan sát mặt biển bên dưới, sự phản chiếu từ mặt băng khiến anh ta cảm thấy mọi thứ đều lấp lánh, đây là một môi trường bay rất bất lợi, dựa trên kinh nghiệm của mình, anh ta nâng thân máy bay lên và quay trở lại giữa không trung.

“…Chim Ưng số 3 báo cáo, không tìm thấy dấu vết khả nghi nào.”

Tàu ngầm hạt nhân Nautilus đã mất tích hơn ba giờ. Xét đến điều kiện phức tạp dưới lớp băng ở Bắc Cực, Bộ chỉ huy mặt đất cho rằng có thể họ đã gặp rắc rối nào đó, đâm phải băng trôi hoặc bị mắc kẹt giữa nhiều núi băng.

Máy b** ch**n đ** không thể dừng lại quá lâu, nó không có khả năng tàng hình như tàu ngầm, mọi hành động của họ đều sẽ bị “kẻ thù” nhìn thấy. Dù đây là Bắc Cực nhưng nếu tiếp tục bay thì sẽ đến lãnh thổ của quốc gia kia, một khi xảy ra hiểu lầm, rất có thể bị một đội máy b** ch**n đ** đuổi theo đánh, đây không phải chuyện đùa. Vì thế máy bay chỉ có thể giả vờ như đang tuần tra, lượn một vòng rồi bay về.

“Không tìm thấy tín hiệu tàu ngầm.”

“Xác nhận, đang trở về.”

“Ong…” Một âm thanh lạ đột nhiên xuất hiện trên kênh liên lạc.

Người phi công chiến đấu cảm thấy đầu mình ong ong theo, cả thế giới đang quay cuồng. Thể chất của anh ta rất tốt, cho dù có quay tròn trên bầu trời hàng chục lần với tốc độ cao cũng sẽ chỉ tạm thời mất tri giác, sẽ hồi phục nhanh chóng. Nhưng bây giờ anh ta đang cảm nhận được một nỗi sợ hãi vô cùng vô tận, âm thanh đó như một cái cưa sắt, đang điên cuồng co kéo trong đầu mình. Cơ thể người phi công bị cột chặt trên ghế nay vùng vẫy như cá mắc cạn, mắt anh ta trợn trắng, miệng sùi bọt mép.

Anh ta đánh liều bằng tất cả ý chí cuối cùng của mình. Ngay trước khi lao xuống biển, chiếc máy b** ch**n đ** lướt trên mặt biển rồi lại lao lên.

“Phù, phù, Chim Ưng số 3 gọi Tổ.”

Phi công thở hổn hển dữ dội, anh ta không nhìn thấy một bóng đen khổng lồ đang nổi lên từ dưới biển. Chiếc máy b** ch**n đ** lao lên không trung, biến mất ở chân trời.

Bóng đen dừng lại một giây rồi lại chìm xuống.

***

Vùng biển băng im lặng chết chóc.

Khoảng mười phút sau, một chú cá voi trắng nổi thẳng lên. Nó phun nước dữ dội, phát ra từng tiếng thở ngắn.

Chú cá voi mập mạp này đang lăn lộn đau đớn trong nước, chuyển động của nó trông giống hệt như chiếc máy b** ch**n đ** đang nhào lộn rồi rơi xuống từ trên không trung. May mắn là nước biển có sức nổi, nếu chìm xuống đến một độ sâu nhất định, nó sẽ bị sặc và tỉnh lại, rồi sau đó sẽ gian nan nổi lên mặt biển phun nước.

Sau khi lặp lại quá trình đó nhiều lần, Cá Voi Trắng cuối cùng đã thành công lấy lại được thăng bằng cho cơ thể. Đôi mắt đen của nó ngập trong sợ hãi, cái đuôi lo lắng đập xuống nước. Nhưng chỉ sau hai cái vỗ nhẹ, nó đã thận trọng dừng mọi chuyển động.

Vừa rồi Cá Voi Trắng nghe thấy trong không trong có âm thanh lạ, nó liền nghĩ tới chuyện xảy ra trước đó. Tuy nó không biết thứ mà cá voi sát thủ truy đuổi là tàu ngầm, nhưng cái quy luật “âm thanh kỳ quái vang lên trước rồi sau đó sẽ xảy ra chuyện khủng khiếp” đã dọa nó sợ, buộc nó phải ra sức tìm một núi băng có chỗ ẩn nấp. Cuối cùng trước khi máy b** ch**n đ** lao xuống, nó đã trốn được sau một tảng băng trôi lớn. Tuy không hữu dụng bằng núi băng, nhưng có còn hơn không.

Cá Voi Trắng không còn nhớ chuyện gì xảy ra tiếp theo. Nó chỉ cảm thấy một xoáy nước “dâng” lên từ dưới đáy biển, dòng nước đang cuộn xoáy dữ dội, bên trong dường như có thứ gì đó. Vị trí của xoáy nước rất sâu, hoàn toàn không thể nhìn thấy được từ mặt biển. Cá Voi Trắng xui xẻo và cả băng trôi cứ thế bị kéo xuống vài trăm mét, may mà khoảng cách đủ xa, xoáy nước lại nhanh chóng biến mất, nếu không nó đã chẳng còn tỉnh dậy được nữa.

“Uuu…” Cá Voi Trắng thận trọng phát ra tiếng kêu buồn bã. Nó đang cầu cứu, đồng thời cảnh báo những đồng loại xung quanh.

Nơi này có nguy hiểm.

Mối nguy hiểm vô hình.

Sợ thì có sợ, nhưng không thể ở yên một chỗ mà khóc, nó phải quy hoạch lại tuyến đường di cư. Cá Voi Trắng run sợ chọn một hướng khác, bơi ngược dòng chảy của biển để có thể gặp thêm nhiều núi băng khác.

Ở Bắc Cực, trong thời gian diễn ra ban ngày vùng cực* không có buổi đêm, nhưng mặt trời vẫn sẽ di chuyển trên bầu trời, các sinh vật biển thông minh có thể phán đoán khi nào nên nghỉ ngơi trên đường di cư. Về phương hướng, chúng có một cơ quan cảm giác khác để định hướng.

<i>* Ban ngày vùng cực hay mặt trời lúc nửa đêm là một hiện tượng tự nhiên diễn ra tại các địa điểm có vĩ độ nằm ở phía bắc của vòng Bắc Cực cũng như ở các địa điểm có vĩ độ ở phía nam của vòng Nam Cực khi mặt trời vẫn còn được nhìn thấy vào thời gian ban đêm tại các địa điểm đó. Khi có thời tiết tốt, mặt trời được nhìn thấy liên tục 24 giờ mỗi ngày.</i>

Cá Voi Trắng sợ con quái vật không tên kia, nó bơi suốt “cả đêm”. Khi mặt trời quay về phía đông, nó mới mệt mỏi dừng lại. Lần trước nó vất vả thế này là do bị một đàn cá voi sát thủ truy đuổi. Cá Voi Trắng không đi tìm cá tuyết yêu thích của mình mà ăn lung tung vài con tôm cá, rồi bắt đầu nhìn ngó xung quanh, cố gắng tìm một nơi nghỉ ngơi đủ an toàn.

Một vật thể nhiều màu sắc trôi lững lờ theo dòng nước tới trước mặt nó.

“Cù chít chít?”

Cá Voi Trắng thận trọng tiến lại gần, nó chưa từng thấy một chiếc dù nhảy nào. Nhưng nó biết con người. Nơi con người sinh sống rất nguy hiểm, nước ở đó có màu đỏ, cá voi sẽ chết nếu đến gần.

Nhìn sinh vật bị trói vào dù nhảy, Cá Voi Trắng đoán đó là một “con người”, nhưng không còn dấu hiệu của sự sống nữa, nếu không thì nó cũng chẳng dám lại gần. Nó bơi một vòng rồi từ từ chìm xuống. Đột nhiên, nó nhìn thấy xác người trong nước mở mắt. Đôi mắt đỏ như máu. Thi thể giống như một núi băng đang tan, máu không ngừng phun ra, tạo thành một màn nước nhỏ.

Cá Voi Trắng sợ quá bỏ chạy. Nó vừa chạy vừa quay đầu lại, phát hiện “thứ” đó trước tiên dẹt ra thành một miếng da, sau đó nở rộng ra nhanh chóng, như con sứa lớn mà nó từng thấy sâu trong biển băng.

Cá Voi Trắng hét lên sợ hãi, vì “sứa” đang đuổi theo. Dù nhảy gắn trên thi thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến tốc độ của “quái vật sứa” này, nên Cá Voi Trắng mới có thể duy trì được lợi thế chạy trước. Nó chạy trong hoảng loạn, vừa chạy vừa la hét kêu cứu. Con người phát điên vì sợ hãi thì thậm chí không nhận ra mình đang nói gì, chú cá voi trắng trẻ tuổi này – là một loài động vật có vú – cũng mắc phải cùng một tật xấu.

“…Oe oe… ầm ầm… pặc… ong…”

Cá voi trắng là sinh vật giỏi nhất đại dương ở khoản “học nói”, trong đời nó đã nghe được rất nhiều âm thanh, chỉ cần có ấn tượng sâu sắc thì nó có thể bắt chước giống y như thật.

Thế là quái vật sứa sứa đuổi theo phía sau, Cá Voi Trắng chạy trốn phía trước. Cá Voi Trắng cũng liên tục phát ra tiếng kêu của cá voi sát thủ khi đi săn, tiếng cánh quạt tàu ngầm, tiếng động cơ máy bay, tiếng núi băng tan vỡ, tiếng kêu của quái vật, sóng hạ âm của xoáy nước… tái hiện một cách hoàn hảo những gì nó đã trải qua trong hai ngày này. Sau khi phát lại hết một lần, Cá Voi Trắng dùng chính âm thanh của mình để cầu cứu. Vì quá mệt nên tốc độ của Cá Voi Trắng không thể không chậm lại, nó càng lúc càng hoảng sợ.

Lúc này, một xoáy nước khổng lồ lại xuất hiện dưới đáy biển. Lần này Cá Voi Trắng không còn khả năng chống cự nữa, nó bị hút vào xoáy nước cùng với con quái vật mang dù nhảy kia.

***

Bộ chỉ huy mặt đất ở Bắc Mỹ.

“Cái gì, ba chiếc máy b** ch**n đ** chỉ trở về có hai?”

“Vâng, thưa ngài… Chiếc máy bay đó sau khi mất liên lạc, thì biến mất hoàn toàn, có thể nó đã rơi xuống biển.”

“Hai người còn lại đâu?”

“Họ hôn mê ngay khi vừa rời khỏi máy bay, hiện tại đang sốt cao, vẫn còn nói nhảm. Thiết bị liên lạc trong cabin bị hỏng, chúng tôi đang kiểm tra hộp đen…”

Lúc này, có sự cố nhiễu điện đột ngột từ phía bên kia đường dây liên lạc.

“A lô! A lô?”

Sau khoảng ba phút, liên lạc được kết nối lại, có người thở hổn hển nói: “Thưa ngài, chúng tôi nghe thấy tiếng la hét và những tiếng lầm bầm kỳ lạ của phi công trong hộp đen, người bên phòng phân tích kết nối âm thanh với phía tôi. Sau khi nghe những âm thanh này, tôi cảm thấy chóng mặt và buồn nôn, nhưng các triệu chứng tương đối nhẹ, các binh sĩ trong phòng phân tích đã nôn mửa hết rồi.”

***

Cá Voi Trắng đã choáng váng vì xoáy nước.

Khi sức mạnh của xoáy nước dần suy yếu, Cá Voi Trắng vùng vẫy tỉnh lại, rồi nó nhận ra nơi đây hoàn toàn tối tăm, hẳn là một vùng biển sâu. Cá voi trắng có thể lặn hàng trăm mét, nhưng không bằng cá voi sát thủ. Những sinh vật phát sáng lóe lên bên ngoài đều là những loài mà Cá Voi Trắng chưa từng thấy, nó hoảng sợ.

Hiện tại áp lực nước bên trong và bên ngoài xoáy nước khác nhau, vẫn còn có thể bảo vệ được cơ thể của nó, nếu xoáy nước biến mất hoàn toàn, Cá Voi Trắng sẽ bị ép vỡ phổi mà chết ngay… Nó không hiểu nguyên lý nhưng nó biết câu trả lời. Xoáy nước kéo nó sâu hơn xuống đáy đại dương, nơi này không có không khí, nếu nó không nổi lên nhanh chóng, nó sẽ chết đuối.

Cá Voi Trắng chợt nhìn thấy “quái vật sứa” trong xoáy nước. Sự đe dọa của cái chết đã khiến chú cá voi non nớt ham chơi này trở nên hung dữ, nó dùng đuôi tát thật mạnh vào con quái vật. Xác người dù có nở ra nhiều lần sau khi biến thành quái vật thì vẫn không to bằng cá voi trắng. Răng của cá voi trắng không dùng để nhai thức ăn mà để cố định con mồi, những chiếc răng dài và thon ẩn trong nướu giống như những chiếc đinh xuyên qua cơ thể quái vật.

Bùm.

Quái vật nổ tung.

Vô số khí trào ra, biến thành bong bóng, Cá Voi Trắng vội vàng bơi tới để hít thở. Nó cảm giác được cơ thể đang biến đổi, có chút ngứa ngáy, và đau đớn. Cá Voi Trắng choáng váng mở miệng, lặp lại đoạn ghi âm mô phỏng tiếng “quái vật tấn công tàu ngầm + máy bay của con người”.

Ngay khi nó sắp bất tỉnh vì đau đớn, một bong bóng khổng lồ ở đâu nổi lên, bao bọc nó bên trong. Một trăm mét bên dưới bong bóng là một chiếc máy b** ch**n đ** đã bị biến dạng do áp lực của vùng nước sâu. Xa hơn năm trăm mét ở phía dưới có một bong bóng lớn khác, bên trong có một chiếc tàu ngầm. Tấm “lót chống bụi màu trắng” ban đầu bao phủ tàu ngầm đã biến thành máu thịt vụn, bôi đầy lên mặt trong thành bong bóng, đồng thời treo trên vỏ tàu ngầm một lớp dày, trông vô cùng khủng khiếp.

Dường như có tiếng nước sôi đột nhiên phát ra từ đáy vực sâu tối tăm. Thêm nhiều bong bóng nổi lên trên, mang theo tàu ngầm, máy b** ch**n đ** và Cá Voi Trắng hướng về phía mặt biển.

Một cành dây leo khổng lồ từ từ vươn ra khỏi bóng tối, vô số xúc tu mảnh mai dò dẫm xung quanh. Tiếp theo là cành thứ hai. Được dây leo quấn ở giữa là Đá ngầm quái quỷ có những đường sọc đen đỏ chảy dài, trên bò đầy những mầm nhỏ ở đầu ngọn của dây leo, chúng dường như có tính kết dính, khi tách ra còn kéo theo một dòng chất lỏng màu đen dài không rõ là gì.

Sau khi Đá ngầm quái quỷ rời đi, nh** h** dạng rau câu ở dưới gốc dây leo vẫn giữ nguyên hình dạng lõm xuống. nh** h** cố gắng phục hồi nhiều lần, nhưng không thể ép trở lại được, những hạt vàng khảm trên nh** h** xỉn màu ảm đạm, như thể đã được mài giũa kỹ lưỡng. Vài hạt trực tiếp bật ra ngoài, vài hạt lại lún sâu vào khối thịt như rau câu, biến thành những hố nhỏ không thể bật lại được.

Đá ngầm quái quỷ rơi xuống đáy biển, thoáng chốc tản ra thành một đống đá lộn xộn, một phần của nó bị tách ra, đầu tiên biến thành một cái bóng đen khổng lồ trông như cái áo choàng, sau đó nặn ra những xúc tu mảnh mai quấn lấy dây leo, nhào nặn khối rau câu đã cứng đờ. Chuyển động của dây leo vẫn rất chậm chạp, hoàn toàn không có tốc độ co rút linh hoạt nào.

Bóng đen lại biến đổi, một người cá có vảy màu đỏ vàng từ từ quẫy đuôi, ngồi thẳng lên nh** h**. Tư thế của hắn lười biếng, nhưng đôi mắt lại nhìn thẳng lên trên.

“Ủa?”

Người cá đã khám phá ra bong bóng cá voi trắng đang liên tục mô phỏng âm thanh.

Lúc này, nh** h** chậm chạp co rụt lại, vang lên tiếng rì rầm không thể miêu tả.

Đây là ngôn ngữ thuộc về tà thần.

Người cá cúi đầu, dùng móng tay mân mê những hạt vàng ủ rũ trên nh** h** rau câu.

[Có đồng loại cố tình quấy rối giấc mơ của chúng ta, còn ném xuống đây một đống đồ của con người.]

——————–

<i>Tác giả nói thế này:</i>

<i>Cá voi trắng, được mệnh danh chim hoàng yến, chim sơn ca (âm thanh vốn có của chúng tuyệt đẹp và đa dạng), chim anh vũ, sáo mỏ ngà (bậc thầy trình diễn nhại giọng) của đại dương. Chúng đã được ghi nhận là từng bắt chước âm thanh con người nói chuyện (cụm từ đơn giản).</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 65


<b>Chương 65</b>

<b>Ngủ nướng</b>

Johnson ngủ rất say.

Đây là lần đầu tiên y ngủ say kể từ khi ra đời đến nay. Những giấc ngủ trước đó chỉ có thể coi là “ngủ trưa” trong từ điển tà thần.

Johnson không biết thời gian đã trôi qua bao lâu, ý thức của y đang trôi nổi trong hư không. Ở đây không có âm thanh, cũng không có màu sắc. Ngủ rồi ngủ, y bỗng cảm thấy rất mệt mỏi, mở mắt ra, giấc mơ lập tức thành hình.

Ánh mặt trời chiếu xuống rạn san hô xanh ngắt ở vùng biển nông, y nằm trên bãi biển, cát trắng như tuyết được ánh nắng sưởi ấm, y thấy thoải mái đến mức không muốn cử động. Thủy triều dần dâng lên qua vai, rồi qua lồng ngực mịn màng…

Một bàn tay hơi lạnh nhẹ nhàng đặt lên ngực Johnson. Những chiếc vây cá như tấm lụa óng ánh, sáng lấp lánh trong sóng nước. Những chiếc móng tay trong suốt sắc nhọn cọ nhẹ nhàng dọc theo đường nét của các thớ cơ.

Johnson đưa tay ra nắm lấy những ngón tay đang nghịch ngợm của người cá. Y nghe thấy một tiếng cười khúc khích, rồi lồng ngực nhột nhột, Johnson buộc phải đưa thêm một tay ra.

Sóng bắn tung tóe.

Người cá vòng tay qua lưng Johnson, ôm y thật chặt rồi bơi về phía biển.

Biển trong giấc mơ rất nông, nông đến mức chỉ hơi dùng sức là có thể dẫm lên bãi cát dưới đáy biển. Nước biển trong vắt, trông càng có vẻ nông hơn, như thể có thể chạm tới đáy chỉ bằng một cánh tay. Khác với thế giới chân thực, nơi này không có đàn cá hay sinh vật nào khác, chỉ có những rạn san hô đầy màu sắc… San hô dù có cứng đến mấy thì khi chạm vào cũng chỉ như ghế sô pha cứng thôi, sẽ không làm xước da. Vì đây là cảm giác của tà thần, giấc mơ do tà thần tạo nên. Hải quỳ cực độc chỉ là một tấm thảm mềm, còn rạn san hô sắc nhọn chỉ là những vật trang trí dễ bị đập vỡ.

Johnson thoát khỏi vòng tay của người cá, vòng ra phía sau rạn san hô, bơi vào một cái hang có cấu tạo phức tạp. Gymir nằm chờ như đang rình mồi, bất ngờ xuất hiện từ những nơi mà Johnson không ngờ tới. Trong cuộc rượt đuổi, họ đá tung các rạn san hô, cuộn tròn khiến từng mảng hải quỳ biến dạng, cuối cùng trôi nổi trong nước biển. Cơ thể tr*n tr** ngâm mình trong làn nước biển xanh biếc. Sau khi sắc đỏ dần dần dịu đi, màu da trở lại nhợt nhạt.

Gymir trở mình, ôm Johnson đang mơ màng ngủ vào lòng, nằm ngửa trên mặt nước rồi bắt đầu hát. Vùng đất trong mơ thay đổi theo tiếng hát, ngày chuyển sang đêm, ánh trăng bạc phủ lên thế giới một ánh sáng dịu nhẹ. Nốt nhạc kỳ diệu và đẹp đẽ cuối cùng dần tan vào sóng biển, Gymir cũng nhắm mắt lại.

Thời gian chậm rãi trôi qua, giấc mơ cũng dần phai nhạt, lộ ra thế giới chân thực bên ngoài giấc mơ.

Đây là vùng biển sâu đáng sợ và tối tăm.

Người cá đột nhiên mở mắt, ấn Johnson vào lòng mình, rồi dùng ánh mắt lạnh như băng nhìn lên phía trên vực thẳm.

Vô số bong bóng tuôn ra.

Giấc mơ đang rung chuyển.

Johnson nhận thấy rồi. Ngay sau đó, ý thức của y đã quay trở lại cơ thể. Nước biển lạnh lẽo khiến Johnson cảm thấy khó chịu vô cùng, một thứ rất ấm áp rời khỏi cơ thể y, sự mệt mỏi khiến suy nghĩ và cử động của y đều ở trong trạng thái vô cùng chậm chạp.

“Sao lại tỉnh dậy?” Johnson mơ màng hỏi.

Dây leo bám vào nham thạch, trên đó có những dấu vết bị quất đánh rất đáng ngờ, như thể ở đây có hai con thú thời tiền sử đang đánh nhau dữ dội, khắp nơi đều là cảnh tượng khủng khiếp của sự tàn phá và hủy diệt. Phần rìa có dung nham phun trào và tích tụ, trông như những ngọn núi gồ ghề.

“Dung nham nguội rồi.” Johnson nhỏ giọng thì thầm. Y thực sự không còn sức lực, cũng chẳng có tinh thần để thức dậy. Ngay cả câu trả lời của Gymir cũng trôi vào não y từng chữ rời rạc.

“Có đồng loại… ném đồ của con người xuống đây…”

“Đồ của con người?” Johnson lặp lại, sau đó lại mơ màng nói: “Có gì thú vị thì giữ lại xem thử.”

Gymir: “Không được, nếu nó nổ ở đây, em sẽ cảm thấy khó chịu, và nơi này cũng sẽ trở nên rất sáng.”

“Con người có thứ gì mạnh đến vậy sao?” Johnson lẩm bẩm.

“Đó là một sức mạnh tồn tại trên hành tinh này, trong vũ trụ này, con người chỉ phát hiện ra nó thôi.”

Không thấy Johnson trả lời, Gymir cúi đầu nhìn xuống thì thấy những dây leo đang treo bất động trên tảng nham thạch, Johnson lại ngủ thiếp đi.

Gymir: “…” Hắn thử dùng tay nhéo nh** h**.

nh** h** rau câu nảy nhẹ lên, “đẩy” người cá ra ngoài không thương tiếc, sau đó nh** h** lật ngược lại, dây leo từ từ co về. Johnson nghe thấy tiếng cười trong giấc ngủ, y cáu kỉnh xoay người lại, cố gắng làm cho mình thoải mái hơn, nhưng tay chân không chịu vâng lời nên chỉ có thể tiếp tục nằm ngủ trong tư thế dang rộng.

Người cá đã quẫy chiếc đuôi cá vàng đỏ của mình, bơi lên trên.

Đây là rãnh biển Nansen, có độ sâu 5.500 mét. Điểm thấp nhất của biển băng Bắc Cực.

***

Thời gian quay ngược trở lại trước khi tàu Nautilus rơi xuống rãnh biển.

Đây là ngày thứ hai sau khi tàu ngầm mất liên lạc.

Khi mọi thứ vượt khỏi tầm kiểm soát, thậm chí nằm ngoài phạm vi khoa học, hướng đến những thảm họa kỳ quái và không thể tưởng tượng nổi, nỗi sợ hãi chiếm lấy bộ não con người. Thêm vài người trong khoang tàu biến thành đủ loại quái vật, Hạm trưởng chỉ có thể ra lệnh g**t ch*t họ. Trong thời gian này, có binh sĩ vô tình bị một con quái vật làm bị thương, vết thương chuyển sang màu tím đen. Người bị thương sốt cao, không còn ý thức. Lo ngại những người này cũng sẽ biến thành quái vật, họ trói những người bị thương vào giường, tập trung trong một cabin, do các nhân viên y tế của tàu ngầm chăm sóc.

“…Số lượng bạch cầu của người bị thương rất cao, chúng tôi không thể kiểm tra chi tiết hơn. Chúng tôi tin rằng đó là một loại virus.”

“Không, tôi đã kiểm tra tất cả các cabin của tàu ngầm, không tìm thấy chất phóng xạ nào, Hạm trưởng và những người trong phòng thí nghiệm điện tử của chúng ta cũng vẫn khỏe mạnh.”

“Virus có thời gian ủ bệnh!”

Một nhà nghiên cứu khoa học và một người lính y tế bắt đầu tranh cãi.

Những đường gân nổi lên trên mu bàn tay cầm máy liên lạc của Hạm trưởng, gã chưa kịp nổi giận thì binh lính đã đến báo tốc độ tàu ngầm lại tăng lên.

“Có thể xác định được vị trí cụ thể không?”

“Vâng, chúng ta đã vượt qua Điểm cực bắc, đang hướng tới… vùng biển phía đông bắc đảo Greenland!”

“Tốc độ 32 hải lý.”

Hạm trưởng nghiêm túc phát thông cáo toàn tàu, gã tin rằng bộ chỉ huy mặt đất sẽ triển khai kế hoạch cứu hộ dự phòng ngay giây tiếp theo khi tàu ngầm mất liên lạc, và họ đã bị mất liên lạc hơn 24 giờ, hoạt động cứu hộ chắc chắn đang được tiến hành.

“Nhưng… chúng ta bị một con quái vật bắt cóc.”

“Không có quái vật, đó chỉ là một sinh vật biển rất lớn! Bị kẻ địch của chúng ta điều khiển!”

“Nhưng chúng ta không nên tới Greenland, không phải là nên tới Siberia sao?”

Hạm trưởng mặt đen như đáy nồi, quần mắt thâm xanh, gã không nghỉ ngơi một ngày một đêm liên tục rồi, bây giờ nghe được những lời bàn tán này thì không khỏi bực bội. Cho dù có được cứu, gã và những người lính này cũng sẽ bị thẩm tra rất nghiêm ngặt, khỏi nghĩ đến tương lai nữa, không phải ra tòa án quân sự đã là may rồi. Hạm trưởng cố ý bỏ qua chuyện này, chuyện quan trọng nhất lúc này chính là giữ được tính mạng, giữ được chiếc tàu ngầm quý giá này… như vậy thì tội danh sẽ nhẹ hơn nhiều.

“Hạm trưởng.” Nhà khoa học đứng đầu chợt bước tới thì thầm: “Chúng tôi đã sử dụng kính viễn vọng và các thiết bị thăm dò sinh vật để phân tích các <i>sinh vật</i> bao phủ bề mặt tàu ngầm, da của chúng rất giống với da của cá voi.”

“Vậy quái vật đó là một con cá voi à? Đợi đã, chúng?”

“Đúng vậy, cái gọi là quái vật được tạo thành từ rất nhiều sinh vật biển, chúng không tạo ra bất kỳ âm thanh nào, và không giao tiếp.”

Hạm trưởng cảm thấy hoang đường khôn tả, gã không nhịn được hỏi: “Ý của ông là, chúng ta gặp được <i>tạo vật của Frankenstein</i>?”

Frankenstein là nhà sinh vật học trong tiểu thuyết khoa học viễn tưởng <i>Frankenstein</i>, người đã ghép ra một con quái vật từ tám xác chết. Thật trùng hợp, nơi cuối cùng Frankenstein và con quái vật kia chết lại là ở Bắc Cực.

“Đó chỉ là tiểu thuyết thôi mà!” Hạm trưởng rít lên qua kẽ răng.

Nhà khoa học đứng đầu đáp: “Tên của chiếc tàu ngầm của chúng ta cũng xuất phát từ tiểu thuyết.”

Cái tên Nautilus xuất phát từ tiểu thuyết khoa học viễn tưởng <i>Hai vạn dặm dưới biển</i>, vì tàu ngầm hạt nhân có khả năng đi vòng quanh thế giới, cho nên khi chiếc tàu ngầm này được hạ thủy, người ta đã đặt cho nó cái tên này với niềm hy vọng lớn lao, tượng trưng cho giấc mơ đã trở thành hiện thực. Nếu tàu ngầm hạt nhân có thể trùng tên với chiếc tàu ngầm Nautilus kia, thì tại sao vũ khí sinh học do kẻ thù phát triển lại không thể bắt chước Frankenstein? So với Frankenstein, tên lửa và vệ tinh nghe còn có vẻ vô lý hơn, càng giống những câu chuyện bịa đặt hơn trong tai người thường.

“…Hạm trưởng, tôi cũng không tin vào suy đoán này, nhưng sự hiểu biết của tôi không thể giải đáp được những sự việc đang xảy ra hiện giờ. Giống như tôi đã quay trở lại thời thơ ấu ngu dốt của mình, nơi mọi thứ tôi thấy đều là bí ẩn.” Nhà khoa học đứng đầu thở dài.

Lúc này, tàu ngầm bất ngờ rung chuyển dữ dội.

“Hạm trưởng! Chúng ta đang chìm!”

“Cái gì?”

“Độ sâu là 250 mét, đang tiếp tục tăng lên!”

Độ sâu cho phép lặn của tàu Nautilus không sâu lắm, đó là nguyên nhân chính khiến ban đầu họ bị núi băng chặn lại, không thể hoàn thành hành trình vùng cực vào tháng Sáu.

“Hơn 300 mét, vỏ tàu ngầm sẽ không chịu nổi!”

Hạm trưởng vừa bước vào phòng điều khiển chính đã nghe thấy cảnh báo chống va chạm, gã vô thức cột chặt mình vào ghế. Sau đó tàu ngầm bắt đầu quay tròn.

“…Chúng ta đã tiến vào một xoáy nước lớn. Tất cả nhân viên chú ý!”

Các kim quay số của thiết bị đều đã chỉ vào giá trị tối đa ở bên phải, không ai biết được độ sâu hiện tại. Dòng nước xoáy này đã kéo họ xuống vực thẳm của cái chết… Trong cơn choáng váng và kinh hoàng tột độ, có người cầm lấy cây thánh giá trong túi, bắt đầu đọc kinh. Khi chiếc tàu ngầm ngừng quay, trong cabin im lặng đến chết người.

Chiếc tàu ngầm được bong bóng bao lấy, lặng lẽ trôi giữa biển. Những con người đã hôn mê không biết mình đã thoát chết… Lớp “lót chống bụi màu trắng” đã bắt giữ chiếc tàu ngầm đang chống lại ánh nhìn của Gymir từ xa.

***

Tà thần thức dậy rất chậm. Ngủ hàng chục năm rồi, nằm nướng thêm ba tiếng thì đã sao?

Trong khoảng thời gian mà Gymir đang cà kê, lại có thêm một máy b** ch**n đ**, một con cá voi trắng.

Ừm, cá voi trắng?

Nghe xong tiếng kêu cầu cứu thảm thiết của Cá Voi Trắng, Gymir quyết định buông Johnson ra để thức dậy. Hắn muốn xem thử rốt cuộc là đồng loại nào đến gây sự!

Người cá bơi vụt qua bong bóng với tốc độ cực nhanh, nó như một tia sáng đỏ vàng vọt lên từ vực thẳm, chiếu sáng đôi mắt thất thần của Cá Voi Trắng đang co lại trong vô số bọt bong bóng.

“Cù chít?” Cá Voi Trắng đang chảy máu mắt, cũng chảy máu đầu. Trước khi nhắm mắt bất tỉnh, Cá Voi Trắng cảm nhận được mùi hương quen thuộc từ biển.

***

Vô số bong bóng bỗng nhiên xuất hiện trên mặt biển, giống như một cái vạc đang sôi.

Chẳng bao lâu sau, nguyên liệu trong nồi súp đã xuất hiện.

Máy b** ch**n đ** bị hư hại, tàu ngầm có màu đen và đỏ bị bôi đầy máu thịt trên bề mặt…

Cá Voi Trắng được bong bóng đưa đến trên một tảng băng trôi, thân hình nặng nề của nó liên tục trượt xuống, khi nó sắp rơi xuống biển và lại “chết đuối”, một bóng đen khổng lồ nổi lên từ đáy biển, cái đuôi dễ dàng tạo nên một cơn sóng lớn, dễ dàng “hất” văng một con cá voi trắng nặng vài tấn cùng với một lượng lớn nước biển lên một núi băng lớn. Núi băng tình cờ lại lõm vào ở giữa, tạo thành một hồ nước biển tự nhiên. Bụng Cá Voi Trắng ép vào mặt băng, nó trượt xuống hồ nước.

Một con cá voi khổng lồ được dát vàng và châu báu lấp lánh nổi lên từ mặt biển, đầu nó to đến nỗi có thể dễ dàng nhìn thấy hồ nước trên núi băng cao hàng chục mét. Ừm, mực nước vừa phải, kích thước cũng phù hợp. Cá voi trắng rơi vào trong với tư thế nằm úp bụng xuống, sẽ không chết đuối, lỗ khí vẫn còn đang phun nước kìa! Mỡ của cá voi trắng rất dày, sẽ không bị chết cóng.

Cá voi vàng kim khổng lồ hài lòng lặn xuống, chờ chú cá voi trắng xui xẻo đang hôn mê tỉnh lại để hỏi tình huống cụ thể.

——————–

<i>Tác giả nói thế này:</i>

<i>Johnson đang ngủ ngon lành nhưng sẽ không bị bỏ lại một mình, bản thể của Gymir vẫn nằm bên cạnh kia mà, sẽ không bị đánh úp đâu.</i>

<i>………</i>

<i>Hóa thân vô hại với con người của Gymir: thầy bói, phù thủy Ả Rập, khách du lịch đeo mặt nạ, tóm lại là tất cả hình dáng con người.</i>

<i>Hóa thân vô hại với Cá Voi Trắng của Gymir: cá voi khổng lồ, và tất cả hình dáng con người.</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 66


<b>Chương 66</b>

<b>Nỗi buồn của Cá Voi Trắng</b>

Một tiếng sau.

Hồ nước trên núi băng vang lên tiếng đuôi Cá Voi Trắng vỗ dữ dội.

Nước biển bay lên không trung mang theo những mảnh băng trắng xóa, tạo thành cảnh tượng sương mù hòa lẫn pha lê băng kỳ diệu.

Cá Voi Trắng đã tạo nên tuyệt tác này đang ra sức vùng vẫy. Đầu nó bị kẹt mất rồi. Nơi này là ở đâu? Khe núi băng à? Khi bất tỉnh, nó đã bơi vòng vòng, đâm đầu vào nơi sâu nhất trong núi băng?

Cá Voi Trắng cố gắng hết sức mà cũng không “rút” đầu ra được. Cá voi có lớp mỡ dày dưới da nên nó không thấy quá lạnh, nhưng những loài động vật bị mắc kẹt trong khe núi băng chỉ có hai số phận, một là chết đói, hai là bị những kẻ săn mồi mò đến vì nghe thấy tiếng kêu cứu ăn thịt.

Tại sao đầu mình lại to thế? Cá Voi Trắng suy nghĩ trong hoảng loạn và buồn bã. Đợi đã, cảm giác này hơi sai sai. Đầu dường như có thể di chuyển? Cá Voi Trắng thử quay đầu sang trái sang phải, phát hiện mình quả thực có thể di chuyển được với biên độ nhỏ, nhưng chỉ có giới hạn ở mức này, không có không gian rộng hơn để hoạt động. Nó không nhìn thấy được chuyện gì đang xảy ra phía sau, chỉ biết nước ở đây rất nông, mỗi khi bụng nó chìm xuống là sẽ chạm vào mặt băng.

Sau khi Cá Voi Trắng giãy giụa lung tung một lúc, mực nước giảm xuống đáng kể, nó không dám cử động nữa, cố gắng suy nghĩ về tình hình hiện tại. Nếu nơi này thông với biển thì sau khi nước biển bị hất văng ra sẽ có nước khác chảy vào, nhưng lưng của Cá Voi Trắng đang lộ ra trong không khí lạnh, như vậy đây chính là phần núi băng gồ lên cao, hoàn toàn tách biệt với nước biển. Vậy làm thế nào nó đến được đây?

Đầu nó nhức buốt, nhất là chỗ bị kẹt.

Rắc, rắc.

Những hạt băng mịn cọ vào đầu nó rồi lăn xuống.

Cá Voi Trắng vừa cố gắng chơi trò kéo co với núi băng, vừa nhớ lại những gì mình đã nhìn thấy trước khi hôn mê. Lúc này nó có cảm giác như bị cái gì đó lạnh buốt vỗ vào lưng, va chạm rất nhỏ, kích thước này thường là vây của một con cá hồi, hoặc một con hải cẩu nhỏ.

Cá Voi trắng phớt lờ, tiếp tục giằng co.

Vị trí bị vỗ lần này chuyển sang lỗ phun nước.

Phụt.

Cá Voi Trắng giận dữ phun nước.

Phiền quá nha, bộ không thấy đang bận sao? Hải cẩu non nhà ai vậy, có thể nắm đầu về được không? Còn quậy nữa là cho một cái đuôi thật đó!

Gymir biến thành người đứng bên bờ hồ trên núi băng: “…”

Sau đó Cá Voi Trắng nghe được một giọng nói thật hay, bảo nó đừng cử động.

Cá Voi Trắng ngạc nhiên dừng lại. Các loài cá voi khác nhau có ngôn ngữ khác nhau, giọng nói lúc này nghe hơi giống cá voi lưng gù, với âm sắc trầm và dài. Bây giờ là mùa hè, cá voi lưng gù sẽ di cư ra vùng biển có nhiệt độ thấp hơn, có điều đây là Bắc Cực, không lẽ là là một con cá voi lưng gù non bị lạc đường? Nó nhớ đến những “đôi cánh” thật dài ở hai bên của cá voi lưng gù, vỗ lên người quả thực giống hải cẩu!

Cá Voi Trắng vội phát ra tiếng kêu cứu: “…Đầu tôi bị kẹt rồi.” (Từ sau trở đi sẽ dùng phương pháp đàm thoại mô phỏng ngôn ngữ cá voi)

Cá Voi Trắng vừa cựa quậy, vừa thể hiện tình thế khó khăn của mình, còn không quên căn dặn chú “cá voi lưng gù non” nhỏ tuổi nghịch ngợm: “Đừng kêu to, sẽ thu hút cá voi sát thủ, chúng nó thích ăn lưỡi của cá voi con nhất, còn có gấu Bắc Cực, cào một vuốt là có thể xẻ đôi bụng cá voi!”

Gymir: “…” Đây chính là lý do làm con cá voi nhà mi vùng vẫy trong hồ nước trên núi băng mà có chết cũng không phát ra một tiếng động?

“Phụ cái coi, bộ nghe không hiểu à?” Cá Voi Trắng sốt ruột, nó sợ nhất là những con cá voi ngu ngốc không hiểu được lời nói, không hiểu được ý của nó.

Lúc này, một bàn tay ấn vào đầu nó, “kéo” nó ra một cách dễ dàng.

Cá Voi Trắng choáng váng hết cả đầu, máu từ trán chảy vào cái miệng đang há hốc. Nó nhìn chằm chằm vào sinh vật có hai tay và hai chân trước mặt, hét lên hoảng hốt: “Người, con người?”

“Ta không phải con người.” Gymir túm đuôi Cá Voi Trắng lên, ném nó xuống biển.

Từ độ cao hàng chục mét, Cá Voi Trắng suýt nữa thì bị đập cho bất tỉnh. Nhưng nó có một cơ thể khỏe mạnh, sau khi bị sặc nước biển thì tỉnh lại, nó không cần suy nghĩ đã cắm đầu bỏ chạy ngay.

Đang chạy, Cá Voi Trắng đột nhiên thấy trước mắt tối đen như mực. Tiếp theo đó là nước biển dâng cao, một nỗi kinh hoàng không thể miêu tả cứ thế xuất hiện. Nó vội quẫy đuôi đổi hướng khác, càng bơi càng sợ hãi, mặt biển dường như đã lật úp, sắp đè thẳng xuống rồi! Bầu trời sụp đổ rồi sao? Tại sao bầu trời có thể sáng lấp lánh?

Cá Voi Trắng cuối cùng cũng nhìn rõ, đó là một con cá voi cực kỳ to lớn.

Khi cá voi khổng lồ nổi lên mặt nước, tất cả những đàn cá vốn ở phía trên sinh vật này đều buộc phải “rơi” xuống lưng nó, sau đó cá voi khổng lồ lật người giữa biển, tấm lưng nghiêng đi kết hợp với dòng nước chảy ngược tạo nên hiệu ứng trời đất đảo lộn.

Cá Voi Trắng sững sờ. Nó chưa bao giờ nhìn thấy một con cá voi lưng gù lớn đến như vậy. Chiều dài cơ thể của Cá Voi Trắng khoảng bốn mét, chỉ tương đương với một rãnh dọc hình thoi ở bên cạnh bề mặt cơ thể của cá voi khổng lồ… vừa hay cùng có màu trắng.

Phần lưng cá voi khổng lồ có màu đen sẫm, xương lưng gồ lên rõ ràng như mọi con cá voi lưng gù khác, chỗ lõm do khớp và da hình thành vừa hay được dùng để “đặt” đống châu báu khảm trên đế bằng vàng, chúng được kết nối với nhau bằng những sợi dây xích vàng tinh xảo, cùng với mười mấy xâu chuỗi ngọc trai trắng như tuyết rũ xuống hai bên đầu. Mặt trời và băng trôi của Bắc Cực phản chiếu ánh sáng rực rỡ của đống vàng ròng và châu ngọc, vô cùng chói mắt.

Cá Voi Trắng không biết những vật phát sáng này là gì, nhưng vẻ ngoài khoa trương của chúng khiến nó sốc vô cùng, suy cho cùng, trong suy nghĩ của nó, cả con mồi và kẻ đi săn đều cần học cách ẩn náu để tồn tại.

“Đừng nhìn ta, soi lên mặt biển hay núi băng, nhìn lại chính mình đi.” Gymir nhắc nhở.

“Chít cù?”

Cá Voi Trắng bối rối nổi lên, ngơ ngác tìm vị trí có thể nhìn thấy cái bóng của mình. Sau đó nó choáng váng. Trên đầu nó có một chiếc sừng thật dài, màu trắng, có hoa văn không đều trên vỏ.

“Tôi đã biến thành kỳ lân biển?” Cá Voi Trắng cuối cùng cũng biết tại sao mình lại mắc kẹt ở núi băng. Là tại cái sừng này! Thảo nào làm gì cũng không thể rút ra được.

“…Khi ta thả mi ra khỏi bong bóng, mi vẫn chưa mọc ra thứ này.”

Gymir cũng nhìn Cá Voi Trắng. Hắn có thể giúp những sinh vật có ý chí mạnh mẽ ổn định sự ô nhiễm trên cơ, điều này không hẳn là tốt, bởi vì về cơ bản đó là việc thay thế ô nhiễm của tà thần này bằng ô nhiễm của tà thần khác, nên ô nhiễm mà Cá Voi Trắng phải gánh chịu thực sự ngày càng nghiêm trọng hơn.

Sự biến dị của con cá voi trắng này rất kỳ lạ. Sau khi nó sợ hãi, trên da nó mọc ra rất nhiều vảy trong suốt, phản chiếu màu sắc và ánh sáng xung quanh, khiến bản thân trở nên “vô hình”. Cái sừng dài hai mét kia chứa đầy sức mạnh hỗn loạn mất trật tự, là khu vực ô nhiễm tập trung. Kỳ lân biển thông thường có sừng màu đen với hoa văn xoắn ốc, những đường nét trên chiếc sừng trước mặt hắn lại thay đổi liên tục, nếu con người và những sinh vật bình thường nhìn chằm chằm vào nó sẽ nhanh chóng mất ý thức.

Gymir: “…”

Hắn muốn đánh thức Johnson dậy để xem con cá voi trắng này. Sao lại có một sinh vật may mắn thế chứ? Biến ô nhiễm thành “đột biến có lợi”, rồi “tập trung và dự trữ” phần còn lại lên trên đầu, biến nó thành vũ khí?

“Khi sắp chết lúc trước mi đã nghĩ gì?” Gymir không kìm lòng được, hỏi.

Cá Voi Trắng đờ đẫn trả lời: “Hối hận vì đã không trốn kỹ.”

“Còn gì nữa không?”

Lý do này chỉ có thể giải thích được chức năng thay đổi màu sắc để tàng hình của vảy chứ không thể giải thích được tại sao lại mọc sừng.

“…Nếu tôi là kỳ lân biển, tôi có thể dùng cái sừng dài của mình để chọc vật thể lạ đó, không cần phải bơi quá gần.”

Cá Voi Trắng tủi thân vô cùng, nó kể cho Gymir nghe những chuyện đã xảy ra trong hai ngày qua. Nó đang vui vẻ bắt nạt hải cẩu và ăn cá tuyết, thì bất ngờ bị tàu dưới đáy biển của con người quấy nhiễu, rồi một con quái vật khủng khiếp xuất hiện, khiến nó sợ hãi suýt chết. Lần thứ hai thì tàu của con người đổi thành tàu bay của con người (Cá Voi Trắng không phân biệt được tàu bay và máy bay), những thay đổi khác đều giống nhau. Lần thứ ba Cá Voi Trắng tưởng mình đã đến vùng biển an toàn nên buông lỏng cảnh giác, nhìn dù nhảy nổi trên biển thì thấy rất thú vị nên bơi lại nhìn (Gymir không ngạc nhiên chút nào, cá voi trắng là loài hay tò mò nhất trong tất cả các loài cá voi), kết quả là con người trong dù nhảy bất ngờ phụp một cái biến thành quái vật sứa truy đuổi Cá Voi Trắng một cách hung hãn.

“Uuuuu.” Cá Voi Trắng đau lòng. Răng của nó rất ngắn, không thể dùng để tấn công con mồi, nó cũng không có cái sừng dài oai phong như kỳ lân biển, vì thế khi tấn công con quái vật sứa đó, nó rất tuyệt vọng, chỉ muốn tạm thời làm kỳ lân biển. Bây giờ mạng sống và cái thân mạp mạp của nó đã được cứu, nhưng nó đã thực sự biến thành chủng tộc khác mất rồi!

Nó không muốn làm kỳ lân biển! Kỳ lân biển không biết ca hát, thích đánh nhau, vào mùa hè ngày nào cũng húc đầu vào đồng loại, biến thành đồ ngốc hết cả rồi! Vào mùa xuân thì lang thang qua những khe nứt của núi băng, chiều rộng của “đường di chuyển” có hạn, kỳ lân biển bơi phía trước sẽ bị con phía sau chọc cho thành đồ ngốc! Nếu vô tình “đụng mặt trong ngõ”, phải dùng chiếc sừng dài của mình để đối đầu với nhau! Thật ngu ngốc!

“Tôi có thể biến trở lại được không?” Cá Voi Trắng mong ngóng hỏi.

“Không thể.”

Cá voi vàng kim khổng lồ nhìn cái tên đang hú hét này, muốn quất nó vào trong hồ nước trên núi băng lần nữa cho bộ óc nguội đi, tỉnh táo trở lại. Không được, hắn còn cần dùng con cá voi trắng này để tìm ra tên khốn đã quấy rầy giấc mơ của hắn và Johnson.

Gymir kiên nhẫn nói: “Mi không có biến thành kỳ lân biển, con kỳ lân biển nào có thể nói được thứ ngôn ngữ cá voi phức tạp như vậy?”

“Ả?” Cá Voi Trắng sững sờ, sau đó thử phát ra nhiều âm thanh khác nhau mà nó ghi nhớ.

Gymir buộc phải thưởng thức một buổi phát sóng sinh thái bốn mùa Bắc Cực. Tiếng cá voi sát thủ kêu, tiếng gấu Bắc Cực gõ mặt băng, tiếng hải cẩu kêu, tiếng sói Bắc Cực tru… May mà bây giờ là mùa hè, lại còn ở trong biển băng, nếu ở gần bờ biển với vùng đất hoang đóng băng, tiếng sói tru quá giống thật có thể gây ra phản ứng dây chuyền.

Gymir khá kinh ngạc. Hắn nhận ra con cá voi trắng này cũng là kẻ nổi bật trong các loại đồng loại, âm vực rất rộng, khả năng kiểm soát ngữ điệu tốt.

“Bắt chước lại âm thanh mi vừa tạo ra trong bong bóng dưới đáy biển xem.”

“Không được đâu, con quái vật sẽ xuất hiện sau khi nghe thấy âm thanh đó.” Sau cú sốc, khả năng tư duy của Cá Voi Trắng đã hồi phục, não của nó hoạt động bình thường trở lại. Nó kinh hoảng nói: “Con quái vật đó, xoáy nước đó… xuất hiện sau khi nghe thấy âm thanh của con tàu và thuyền máy con người mà tôi tạo ra!”

Đúng vậy, tà thần không nhìn xem Cá Voi Trắng là gì, mà chỉ “định vị” Cá Voi Trắng phát ra âm thanh thông qua quái vật sứa đột biến kia, xem nó như một tạo vật của con người mà kéo vào dòng nước xoáy.

Thần Biển: Cá Voi Trắng có thể tổng kết ra nguyên nhân khiến nó suýt mất mạng, giỏi lắm.

“Ta đang ngủ ở phía dưới.” Gymir đột nhiên lên tiếng.

Cá Voi Trắng ngu ngốc nhìn đôi mắt to của cá voi vàng kim khổng lồ.

Gymir nói tiếp: “Dòng xoáy dẫn thẳng tới hang ổ của ta, phía trên giường của ta.”

Cá Voi Trắng hét lên một tiếng ngắn ngủi.

“Con quái vật tấn công con người và mi, thực ra là đến đây để tìm ta.”

Cá voi vàng kim khổng lồ giương cao vây phải to lớn của nó, như một ngọn núi đè lên đầu, đồng thời kéo theo nước biển tạo thành một sức mạnh khủng khiếp, chỉ cần một đòn là có thể dễ dàng vỗ con mồi thành từng mảnh xác chết, máu thịt và xương cốt đều hòa nhau không thể tách rời.

Cá Voi Trắng muốn chạy, nhưng lại phát hiện mình không thể cử động được. Nỗi sợ hãi vô bờ bến lại vây quanh nó. Nó bất lực nhìn cơn sóng biển do cá voi khổng lồ vỗ ra cuốn lấy mình rồi hất tung lên mặt biển. Cá Voi Trắng vừa ho sặc sụa vừa phun nước.

Gymir như một cái bóng bơi dưới mặt biển, hắn nhìn Cá Voi Trắng nói: “Lập tức bắt chước tiếng kêu, càng to càng tốt! Ta phải bắt được tên khốn đó!”

——————–

<i>Tác giả nói thế này:</i>

<i>Thám tử không phải là con người thì sẽ không bị bắt nạt à?</i>

<i>Ai nói thế chứ?</i>

<i>………</i>

<i>Kỳ lân biển và cá voi trắng cùng một họ về mặt sinh học, chỉ khác chi.</i>

<i>Chiếc sừng dài của kỳ lân biển thực chất không phải là sừng theo nghĩa thông thường, mà là những chiếc răng dị dạng, nhô ra ngoài, chỉ có ở con đực.</i>

<i>Ngoài ra cũng có ghi chép về cá voi có hai sừng (răng).</i>

<i>Kỳ lân biển có màu đen nhưng màu sắc nhạt dần khi trưởng thành. Người ta cho rằng cũng đã ghi nhận được những cá thể già có màu trắng.</i>

<i>Kỳ lân biển trắng, thú một sừng chân chính (tăng điểm ngoại hình) bơi lội trong làn nước vùng cực xanh băng giá, đẹp như tranh vẽ.</i>

<i>—</i>

<i>Người dịch: Kỳ lân biển (Monodon monoceros) (tiếng Anh: Narwhal) là một loài động vật có vú sống ở biển kích cỡ trung bình thuộc phân bộ Cá voi có răng (Odontoceti), sống quanh năm ở vùng Bắc Cực. Cùng với cá voi trắng, chúng là hai loài duy nhất còn sinh tồn trong Họ Kỳ lân biển (Monodontidae). Đặc trưng của kỳ lân biển là con đực có một chiếc ngà dài, thẳng, có rãnh xoắn ở hàm trái phía trên của chúng (do đó mới được gọi là “kỳ lân”). Chúng được tìm thấy chủ yếu ở vùng biển Bắc Băng Dương thuộc Canada và xung quanh đảo Greenland, nhưng hiếm khi dưới vĩ tuyến 65° Bắc.</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 67


<b>Chương 67</b>

<b>Nguồn gốc của kẻ gây chuyện</b>

Cá Voi Trắng run lẩy bẩy.

Những vảy vô hình trên bề mặt cơ thể nổi lên từng cái một, nó cố gắng giấu mình sau núi băng.

Ào ào. Sóng biển đưa đến chiếc tàu ngầm vỏ nhầy nhụa và chiếc máy b** ch**n đ** rách nát, chúng được “dựng” trên sườn núi băng như thể bị mắc cạn. Mồi đã vào vị trí. Chỉ cần đợi kênh phát thanh phát sóng nữa thôi.

Tâm trạng kinh hoảng bất an của Cá Voi Trắng gần như trở thành vật chất thực trong mắt Gymir, tựa như một đám mây nhỏ trôi trên mặt biển. Có thứ này tồn tại, công dụng tàng hình của vảy biến dị còn có ích gì?

Cá Voi Trắng phát ra tiếng động cơ máy bay yếu ớt.

“Kêu to lên!” Gymir thúc giục.

Cá Voi Trắng: “…” Khó quá đi, tạo ra âm thanh sẽ thu hút sự chú ý của con quái vật, sau một phút là nó tiêu đời. Nếu không chịu lên tiếng, nó sẽ bị con cá voi lưng gù khổng lồ này giã thành tương thịt luôn.

Không phải Cá Voi Trắng nhát gan đâu, mà là động vật bẩm sinh đã kém hơn con người trong việc khắc phục nỗi sợ hãi trong lòng. Vì chúng dựa vào trực giác để sinh tồn nhiều hơn, cũng nhạy bén hơn, chúng sẽ bỏ chạy nhanh chóng ngay khi cảm nhận được nguy hiểm, vậy nên Cá Voi Trắng đang chiến đấu chống lại bản năng của nó. Cái gì? Lần trước à, tại nó sợ quá nên kêu bậy bạ thôi.

Gymir đe dọa không thương tiếc: “Có lẽ mi cần giúp đỡ một chút?”

“Không!”

Cá Voi Trắng bị dọa, decibel tiếng động cơ của máy b** ch**n đ** bắt đầu tăng lên. Lúc đầu nó còn lạc điệu, sau đó càng ngày càng vang to hơn. Cá Voi Trắng ra sức phun tia nước để thở, nếu không thì âm thanh không thể nối liền được.

Nước biển đột nhiên trở nên sâu hơn, một xoáy nước khổng lồ xuất hiện.

Cá Voi Trắng chưa kịp chạy trốn, nó kinh hoàng khi nhìn thấy chính mình… Không, là cả ngọn núi băng đang bị dòng xoáy cuốn đi, nó chưa bao giờ chứng kiến cảnh tượng đáng sợ như vậy. Con quái vật đó thậm chí còn không thèm quan tâm đó là tàu ngầm hay máy b** ch**n đ** của con người, cũng không chỉ bắt lấy cái loa Cá Voi Trắng, nó muốn tất cả! Cả ngọn núi băng này cũng muốn!

“Cứu mạng!” Cá Voi Trắng khóc òa lên tại chỗ.

Lúc này, mực nước biển đột nhiên dâng cao, trong phút chốc ngập qua đáy núi băng. Cá Voi Trắng suýt nữa bị sóng biển cuốn trôi, nó ngơ ngác nhìn cá voi vàng kim khổng lồ đến mức khó mà tưởng tượng nổi bơi qua núi băng. Tốc độ rất nhanh nhưng thân hình lại quá lớn, nên trong cảm giác của Cá Voi Trắng, mọi thứ dường như đang chuyển động chậm.

Những mảnh vụn và hạt băng bị tông rơi xoay tròn trên biển. Những chuỗi ngọc trai dài hai bên đầu cá voi lưng gù đung đưa thật cao, thoạt nhìn giống như những hạt băng nhỏ, phản chiếu ánh sáng rực rỡ. Chiếc vây khỏe mạnh đáng sợ kia đẩy nhẹ một cú, ngọn núi băng cao lớn đã rời khỏi vị trí ban đầu, lui về sau với tốc độ cao, cũng tránh được lực kéo của xoáy nước.

Cá Voi Trắng không thể tưởng tượng được sức mạnh này, chỉ là một chiếc vây, vỗ nhẹ nhàng có một cái mà thôi!

Sóng biển dữ dội sinh ra vì cá voi vàng kim khổng lồ, đuôi cá vỗ l*n đ*nh núi băng, một tảng băng lớn bị rung chuyển, rơi xuống, tình cờ chắn mất tầm nhìn của Cá Voi Trắng. Núi băng rung chuyển dữ dội trong sóng biển, thế giới như đang quay cuồng.

Chiếc sừng dài trên đầu Cá Voi Trắng khoét ra một rãnh trên mặt băng, những mảnh băng bay ầm ầm xuống đầu và mặt nó. Nó lắc đầu, quay người lại, phát hiện dòng xoáy đã biến mất, chỉ có thể nhìn thấy bóng tối vô tận đang lan tràn dưới lòng biển sâu… Đó là tấm lưng sẫm màu của cá voi lưng gù, cùng đống châu báu khảm trên vàng lấp lánh… Hệt như những ngôi sao rơi xuống biển trong đêm, sau cùng biến mất nơi vực sâu của biển băng.

Phụt.

Cá Voi Trắng nổi lên mặt nước, nơm nớp lo sợ chờ đợi trong vài phút. Không có gì xảy ra cả. Con quái vật tạo ra xoáy nước chắc đã bị cá voi lưng gù kéo đi rồi phải không?

Cá Voi Trắng run run người, không nhận ra mình đang run cho đến khi nghe thấy tiếng cái sừng dài cọ vào mặt băng vang lên tiếng răng rắc. Nó cố gắng bình tĩnh lại, nhưng phát hiện vài phút sau mình vẫn còn run rẩy, nó đành phải lờ đi. Nó đào một cái hố nhỏ bên sườn núi băng, co rúm mình vào trong, không dám cử động. Lý trí mách bảo nó bây giờ nên nhân cơ hội trốn thoát, nhưng Cá Voi Trắng lại không dám ra ngoài.

***

Gymir lần theo nguồn sức mạnh của dòng xoát, nhanh chóng xác định được vị trí của đối thủ. Hình thái cá voi vàng kim khổng lồ rất thuận lợi dưới biển nên hắn không đổi sang hóa thân khác. Và khi khoảng cách ngày càng gần, Gymir đã cảm nhận được hơi thở của tà thần này, biết được thân phận của đối phương.

“Cochro!”

Tiếng gầm của cá voi vàng kim khổng lồ làm rung chuyển cả vùng biển. Nhiều sinh vật cảm nhận được một nỗi sợ hãi không thể giải thích. Gymir nhanh chóng di chuyển đến phía trên một dãy núi ngầm ở đáy biển băng.

Một sinh vật kỳ dị trông như tấm thảm từ từ bay ra khỏi vực thẳm, trên bề mặt cơ thể có những sọc phức tạp, liên tục chuyển đổi giữa màu đen, đỏ và tím, nhưng không có vạch phân chia màu sắc rõ ràng, chỉ đơn giản là một bảng pha màu lớn lấy ba màu này làm chủ đạo, toát ra vẻ đẹp kỳ lạ trong sự hỗn loạn. Cái đẹp này chỉ có tà thần mới có thể thưởng thức, những sinh vật khác chỉ nhìn thôi cũng sẽ phát điên.

Gymir nói giọng lạnh băng: “Cút!”

Thảm Bay đổi sang tư thế khác, như đang triển lãm những đường sọc của mình, màu sắc thay đổi nhanh hơn.

Tà thần tên Cochro này thường chỉ có một vòng hoa văn hình con mắt màu xanh lam ở mép sau lưng, nhưng giờ đây sắp trở thành tấm bảng trưng bày tranh trừu tượng của con người. Những màu sắc hỗn loạn đó xuất hiện dưới dạng xoáy nước, sắp xếp lộn xộn và nuốt chửng lẫn nhau, trong một giây có thể thay đổi vô số kiểu dáng, đủ để thu hút sự chú ý của bất kỳ tà thần nào.

“Tao đi qua một thành phố của con người, nơi đó tên là Luân Đôn.” Thảm Bay Cochro tiếp tục đóng vai trò là bảng màu dưới đáy biển của mình, phát ra tiếng thầm thì không thể miêu tả: “Trước đây tao từng tìm mày, mày lại từ chối, ngủ say mấy chục triệu năm, không ngờ mày lại thay đổi ý định? Tìm một thần mới để sinh đẻ hậu duệ?”

Gymir thử cảm nhận, phát hiện viên ngọc tặng cho John Doe đã được sử dụng, tâm trạng của hắn ngay lập tức trở nên tồi tệ. Hắn không hề có hứng thú nói chuyện với Cochro, hóa thành cái bóng lao về phía Thảm Bay.

Nên làm gì nếu gặp một tên mặt dày trơ trẽn đến tán tỉnh mình? Bỏ chạy như Johnson sao? Không, đó là chiến lược mà thần mới thiếu sức mạnh lựa chọn. Cách xử lý đúng đắn tất nhiên là chiến đấu, đánh cho nó chết. Đánh chết rồi là sau này không còn phải lo lắng nữa.

Thảm Bay lập tức phồng lên như được bơm khí. Vừa né tránh, gã vừa tiếc nuối nói: “Hóa thân này của mày thật xứng đôi với tao.”

Hóa thân bóng đen của thần Biển là một cái bóng mặc áo choàng khổng lồ, không có khuôn mặt, cũng không có hình thái nào xét về mặt ý nghĩa. Nhưng quả thực là nó trông giống như một tấm thảm.

Gymir làm lơ gã.

Bị ảnh hưởng bởi sức mạnh của hai tà thần, dãy núi dưới đáy biển bắt đầu sụp đổ.

“Tao đã đến đảo Thrace xem qua, bản thể của mày đã chuyển đi nơi khác, nếu không phải là muốn sinh ra hậu duệ, tại sao thần cổ xưa như chúng ta lại dùng đến bản thể chứ?” Thảm Bay như một con dơi giữa biển, tùy ý cuộn thân mình để tránh đòn tấn công của “Chúa tể bóng tối” gần như có thể xé nát cơ thể của gã.

Âm thanh ầm ầm vang đi thật xa, rất xa.

Ở sâu trong rãnh biển Nansen, Johnson bất thình lình mở mắt ra.

“Tiếng gì thế?”

Dây leo co lại nhanh chóng, chuẩn bị phòng thủ cho trận chiến theo bản năng. Nhưng tay chân của y hơi ngang bướng. Trên dây leo còn sót lại một ít chất nhầy màu đen, văng lên vách đá, rồi từ từ chảy xuống.

Johnson không có hóa thân nào khác ngoài hình dạng con người. Y chỉ có thể duy trì hình dạng bản thể, đến gần với đáy biển đang “chảy”.

Bản thể của Gymir cư trú ở đó, trông như sự chắp vá ngẫu nhiên của hóa thạch và dung nham. Nó từ từ tụ lại thành một tảng đá ngầm nhô ra, “bảo vệ” những dây leo đang cuộn tròn một cục ở sau lưng mình, sau đó thay đổi vị trí trên dưới của đá, nâng quả cầu dây leo đã rút nhỏ lại hàng trăm lần l*n đ*nh đầu đá ngầm, cho Johnson một “tầm nhìn đẹp”.

“Anh đang… đánh nhau với ai?” Johnson nhận ra sức mạnh của một trong hai bên. Hai mươi tám năm dung hòa với nhau không một khe hở, không thể nào nhận lầm.

Đá ngầm quái quỷ im lặng.

“Hửm?” Quả cầu dây leo giơ một cành mảnh ra, chọc chọc đá ngầm.

“Là một tên đáng ghét, Cochro.”

“Em chưa bao giờ nghe đến cái tên đó.” Quả cầu dây leo không hiểu.

Gymir không muốn giải thích, nhưng rắc rối đã tìm đến trước cửa nhà rồi, không giải thích cũng không xong.

Nếu nói thần Mặt trời Tonatiuh ở châu Mỹ là kẻ địch mà mọi tà thần không sẵn lòng đụng độ nhất, thì Cochro có thể bám sát và chiếm lấy vị trí thứ hai. Bản thể của Tonatiuh trông ra sao e rằng chỉ có thần Rắn lông vũ biết, bởi vì tất cả tà thần từng gặp Tonatiuh đều bị nó ăn mất rồi.

Bản thể của Cochro thì được nhiều người biết đến, hình dáng giống như cái mà con người gọi là tấm thảm. Gã thèm muốn cơ thể đồng loại giống như thần Mặt trời, điểm khác biệt nằm ở chỗ thần Mặt trời muốn thỏa mãn cái bụng của mình, trong khi Cochro lại muốn ép đồng loại sinh ra hậu duệ của gã. Dù gặp phải đồng loại nào, gã cũng sẽ không buông tha. Khác với phương thức phối hợp lẫu nhau theo thoả thuận của tà thần để sinh con, Cochro là kẻ thắng sẽ chi phối cơ thể kẻ thua cuộc. Chồi mầm mà gã truyền vào sẽ dốc sức hấp thu sức mạnh của đồng loại mang thai, sau khi hậu duệ ra đời, Cochro sẽ giữ lại những hậu duệ thừa kế hoàn hảo sức mạnh của đồng loại, trực tiếp ăn thịt những đứa chưa hoàn thiện.

Johnson nghe xong thì kinh hãi hỏi: “Cochro rất mạnh sao?” Khiêu khích đồng loại như vậy mà lần nào cũng thành công, còn chưa bị đánh chết?

“Không, nó có thiên phú chi phối không gian, nhiều đòn tấn công kích đều vô dụng. Những đồng loại chưa từng bị nó chinh phục đều rất mạnh mẽ, cũng rất ghê tởm nó, nhưng xua đuổi không xong, mà đánh thì không chết được. Hơn nữa Cochro sẽ nhân cơ hội <i>tiêm</i> chồi mầm vào đối thủ trong lúc chiến đấu, rất nhiều thần cổ xưa trong lúc bất cẩn bị nó ám hại, chỉ có thể vừa cắn nuốt chồi mầm vừa điên cuồng đuổi giết Cochro, thật kinh tởm. Thế là một vài tà thần dứt khoát đồng ý lời tán tỉnh của Cochro, rồi chuyển sang lập giao ước, cùng nhau chia sẻ sức mạnh nuôi dưỡng hậu duệ. Dù sao thì sức mạnh dùng để sinh ra hậu duệ cũng chẳng là gì đối với thần cổ xưa hùng mạnh.”

Quả cầu dây leo chợt im lặng.

Gymir vội bổ sung ngay: “Ta không có.”

Johnson: “…”

Gymir nghiêm túc nói: “Hóa thân bóng đen của ta không có thực thể, thường thì ta dùng hóa thân này để đánh Cochro, thủ đoạn của nó không có tác dụng với ta.”

Johnson suy nghĩ một lúc rồi hỏi: “Tại sao Cochro lại xuất hiện ở đây?”

“Ta cũng không biết.” Gymir trầm tư.

Khi Cochro biến mất, con người vẫn chưa xuất hiện trên trái đất, nên con người không có ghi chép gì về gã. Dù là thần cổ xưa thần cổ xưa, nhưng không có cái tên quen thuộc với con người. Các thần mới ra đời không biết đến sự tồn tại của Cochro.

“Nhiều tà thần cho rằng Cochro đã chết hoặc đã rời khỏi trái đất. Ta vẫn luôn nghĩ như vậy, nhưng không ngờ nó vẫn còn ở đây.” Gymir chợt cau mày: “Luân Đôn có thể đã gặp chuyện?”

“Cái gì?”

“Viên ngọc mà chúng ta cho thám tử đã được sử dụng.”

Johnson giật mình, kiểm tra mối liên hệ theo bản năng, y lo lắng rằng thám tử John đã chết. Cũng may là chưa. Tuy nhiên, trước đó họ đã cảnh báo cho thám tử rằng Luân Đôn sẽ có nguy cơ gặp rắc rối lần nữa.

“Lẽ nào là do con Bướm Xám đó?”

“Đúng rồi, lúc chúng ta đang ngủ, Bướm Xám chạy ra gây náo loạn, nó liên tục phát ra âm thanh kêu gọi giao phối, Cochro đã bị nó đánh thức!”

Gymir rất là phiền muộn: “Ta dám chắc Bướm Xám đã bị nó bắt đi rồi, mà thôi, dù sao hai tên này cũng là cùng một giuộc với nhau. Mấu chốt bây giờ là Cochro chưa thỏa mãn, muốn tiếp tục tìm kiếm đồng loại có thể sinh ra hậu duệ, kết quả là tìm thấy chúng ta.”

——————–

<i>Tác giả nói thế này:</i>

<i>Ai bảo gửi thiệp mời đám cưới tự động, xảy ra chuyện rồi chứ gì (He he).</i>

<i>……</i>

<i>Không thể dùng tư duy con người để đánh giá tà thần, Cochro không phải là một tay chơi, cũng không phải là đồ cuồng đ*ng d*c, chỉ là một tà thần gia tăng sức mạnh thông qua phương thức sinh sản thôi, sự khác biệt giữa nó và Bướm Xám nằm ở chỗ nó không phải tự mình sinh con.</i>

<i>……</i>

<i>Nguyên hình của Cochro là giun dẹp biển. Một sinh vật có hình dạng dẹp trong đại dương, thường có thân hình sặc sỡ, hoa văn đa dạng, trông giống như một tấm thảm.</i>

<i>Giun dẹp biển là loài lưỡng tính, khi gặp đồng loại trong thời gian giao phối, chúng sẽ lao tới chiến đấu với đồng loại, để xem cơ quan sinh dục đực của con nào có thể c*m v** trong đồng loại. Điều đặc biệt nhất ở loài sinh vật này là vũ khí chúng dùng để săn bắt và tấn công hàng ngày cũng chính là cơ quan đó.</i>

<i>Vì vậy có thể nói, nếu hằng ngày tu luyện, siêng năng luyện kiếm, một ngày nào đó gặp được đồng loại, đó sẽ là lúc quyết định ai phải sinh con (khụ).</i>

<i>—</i>

<i>Người dịch: Con giun dẹp đó là Pseudoceros trên Wikipedia, nói chung nhìn ngoại hình cũng được, với điều kiện nhìn xa xa. Còn cái nết của Cochro trong truyện kỳ lắm nha, xứng đáng bị đập.</i>

<i>Ai thắc mắc vụ gửi thiệp, thì đầu đuôi câu chuyện là ở chương 47 nha quý vị.</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 68


<b>Chương 68</b>

<b>Thuyền trưởng Gấu Nâu</b>

Thảm Bay mở rộng thân hình mềm mại, xoay chuyển tự do trong dòng nước cuồn cuộn. Màu sắc sặc sỡ và các tuyến đường né vòng cung lạ thường có một vẻ đẹp độc đáo.

Cochro là một trong những tà thần có thể chiếm được cảm tình của đồng loại chỉ bằng vẻ bề ngoài, miễn là gã đừng có mở miệng nói chuyện.

“…Tao rất ngạc nhiên, tao không nghĩ là mày lại đổi ý, chẳng phải mày luôn ghét việc sinh sản cùng đồng loại sao?” Cochro vừa nói chậm rì rì vừa né đòn: “Tao nghĩ thần mới mà mày để mắt tới chắc chắn phải rất đặc biệt, lẽ nào nó có khả năng lạ thường nào đó?”

Cơn giận của Gymir dâng trào. Cái bóng biến thành hình thái như một quả bóng có gai đáng sợ, kéo và giằng xé khoảng không gian này.

Thảm Bay chạy vụt qua khe nứt không gian.

Cầu gai bóng đen truy đuổi gắt gao.

Những rung động dưới đáy biển ngày càng lớn, kéo theo ảnh hưởng đến vùng nước phía trên. Những làn sóng âm thanh vô hình vang vọng trong biển băng. Đàn cá đến gần trực tiếp bị nổ tung thành từng mảnh vụn máu me nhoe nhoét, sứa bờm sư tử có hình thể khổng lồ thoáng chốc khô quắt lại, vỡ ra rồi biến thành bột phát sáng trôi nổi.

Nham thạch biến dạng, vỏ trái đất nhô lên. Dung nham nóng đỏ gào thét phun ra, tạo thành những cột khói đen cao lớn, sức nóng và sức mạnh của vụ nổ cuộn lên gần mặt biển như một cơn lốc.

Dòng nước xoáy chạy xuyên từ dưới đáy biển lên, tựa như một cây cột khổng lồ. Do nhiệt độ và tốc độ dòng chảy hoàn toàn khác với nước biển xung quanh, nên màu sắc cũng khác nhau. Từ trên mặt biển nhìn xuống, trông giống như một hố đen quỷ dị chợt xuất hiện bên dưới biển băng.

“Chim Ưng số 7 phát hiện dị thường…”

Câu nói chưa kết thúc thì một luồng không khí đã bắn lên cao, chiếc máy b** ch**n đ** lăn lộn như một người say rượu giữa trời cao. Phi công cố gắng hết sức mới có thể quay trở lại độ cao an toàn.

“Phù.” Phi công đeo kính bảo hộ nhìn thấy những vết nứt trên kính buồng lái, cùng với sương giá đang lan rộng, anh ta hét toáng lên với thiết bị liên lạc đã bị vô hiệu hóa: “Không tìm thấy kẻ địch, lặp lại, không tìm thấy kẻ địch hoặc vũ khí nghi ngờ của kẻ địch, một xoáy nước xuất hiện dưới biển, đủ lớn để nuốt chửng một chiếc tàu ngầm.”

Hộp đen ghi lại tất cả âm thanh.

Người phi công chiến đấu muốn nói điều gì khác, nhưng cơn đau đầu dữ dội đã cướp đi chút ý thức cuối cùng của anh ta. Đó là trận chiến giữa hai vị thần cổ xưa, tuy những dao động năng lượng còn sót lại không thể trực tiếp xé nát chiếc máy b** ch**n đ** cách đó hàng ngàn mét trên mặt biển, nhưng cơ thể yếu đuối của con người không thể chịu được tác động như vậy.

Máy bay mất lái, cắm đầu lao xuống tầng mây.

Ầm.

Máy bay đáp xuống một núi băng, phát nổ tại chỗ. Làn khói dày đặc và ngọn lửa mà nó tạo ra trông như một ngọn hải đăng, báo hiệu cho những người đang điều tra ở vùng biển băng Bắc Cực này rằng lại xảy ra chuyện rồi.

Trên tàu phá băng câu cá, một người đàn ông trung niên râu ria lởm chởm, mặc áo lông dày đặt kính viễn vọng xuống.

“Người Mỹ không chịu nhớ lâu gì hết, lại mất thêm một chiếc máy bay nữa.”

Cả mái tóc của người đàn ông trung niên này được nhét vào một chiếc mũ da. Ông ta đang đeo một cặp kính râm quái dị, vừa không giống kính bảo hộ dùng trong các chuyến thám hiểm vùng cực, cũng chẳng phải kiểu dáng đang thịnh hành trên các cửa sổ quảng cáo, mà trông giống như đồ cổ được khai quật từ mấy cái rương cũ.

Không phải là nó xấu, nhưng mà… đôi tròng kính tròn màu đen này nhìn từ xa trông y hệt như quầng mắt của một con gấu nâu. Thêm vào sống mũi cao, râu quai nón, ngoại hình thô kệch và chiếc áo khoác nặng nề. Chẳng khác nào một con gấu đang đứng thẳng. Vẻ ngoài như vậy có thể bị cảnh sát tuần tra trong thành phố coi là kẻ khả nghi, cần phải theo dõi, nhưng ở một nơi như Bắc Cực, đây mới chính là một thủ lĩnh mạnh mẽ và đáng tin cậy.

“Thuyền trưởng, chúng ta đi tiếp về trước nữa không?”

“Không, đổi hướng đi.”

Thuyền trưởng Gấu Nâu đeo kính râm sải bước vào trong khoang thuyền, lấy thước đo đi đo lại trên bản đồ trải khắp mặt bàn.

Trên chiếc thuyền này có tổng cộng sáu người, ngoại trừ thuyền trưởng, năm người còn lại có ngoại hình hoàn toàn khác nhau, màu da cũng không đồng nhất. Họ giống một đội thám hiểm hơn, có học giả nho nhã hiền lành, cũng có thanh niên gầy gò và nhanh nhẹn. Họ dùng tiếng Anh khi trao đổi, nhưng khẩu âm thì khác nhau rất nhiều, xen lẫn các từ tiếng Pháp, tiếng Na Uy và tiếng Ý.

“…Mặc dù chúng ta nghe lén điện đài của Mỹ, nhưng nếu không có sổ mật mã, chúng ta cũng chẳng thể biết được nội dung liên lạc.”

“Tà thần cư ngụ ở đây, ai đến đây đều sẽ chết.”

“Nhưng nếu bị người Mỹ phát hiện, chúng ta có thể bị họ bắt… chúng ta trông giống ngư dân lắm sao?”

“Đủ rồi!” Thuyền trưởng Gấu Nâu ngẩng đầu lên, nhìn mọi người bằng đôi mắt ẩn sau cặp kính râm.

Giọng ông ta rất trầm, rất có tính đe dọa.

“Tôi đã từng đến Bắc Cực một lần, ở đây dù là mùa hè cũng dễ bị lạc đường, cộng thêm tình hình hiện tại rất phức tạp, người Mỹ còn dám lái máy bay với tàu ngầm qua đây, gây ra cho chúng ta rất nhiều khó khăn, nhưng cũng giúp chúng ta tránh được một vài rủi ro.”

Ngón tay ông gõ nhẹ lên bản đồ, sự chú ý của mọi người cũng chuyển dịch sang đó.

“Chúng ta đang ở trên dòng hải lưu này, nếu cứ mặc kệ hết mọi chuyện, chúng ta có thể đi theo đống băng trôi này đến eo biển Bering… Tàu ngầm Mỹ đang đi ngược hướng với chúng ta, tôi dám khẳng định rằng họ đã đi theo cách này trong nửa đầu của cuộc hành trình, bởi vì dòng hải lưu này là lớn nhất, là biển chỉ dẫn rõ ràng nhất cho việc định hướng ở vùng cực. Tuy nhiên vì mục tiêu của họ là Điểm cực bắc, nên họ sẽ rẽ ở ngay đây. Mấy cái máy b** ch**n đ** phía trên chúng ta xuất hiện hai ngày trước, chứng tỏ vào lúc đó tàu ngầm đã xảy ra chuyện!”

Mọi người trong đội không thể không gật đầu. Đó là tàu ngầm hạt nhân đấy, việc người Mỹ ngày càng lo lắng đã giải thích được rất nhiều vấn đề.

Thuyền trưởng Gấu Nâu làm dấu hình chiếc quạt trên bản đồ rồi nói tiếp: “Bây giờ vùng biển trước mặt chúng ta cũng đang có vấn đề, máy b** ch**n đ** rơi từ trên cao xuống, nơi nó đụng độ với tà thần hay quyến thuộc của tà thần có thể cách chúng ta rất xa, nhưng phải nằm trong phạm vi này.”

“Chờ một chút, phạm vi này quá lớn!” Có người phản đối.

“Bởi vì tôi không biết tốc độ của chiếc máy b** ch**n đ** này!” Thuyền trưởng đứng thẳng lên, giận dữ nói: “Tôi không biết tốc độ di chuyển của tàu ngầm hạt nhân.”

Vì vậy, vòng tròn màu đỏ tượng trưng cho nguy hiểm chỉ có thể vẽ lớn hơn.

Thuyền trưởng cầm bút chỉ vào từng người một: “Cậu biết không? Hay là cậu?”

Mọi người vội vàng lắc đầu.

Họ đều có xuất thân gần giống nhau, còn ai không biết lai lịch của ai? Học thuộc lòng danh sách tà thần thì được, vẽ chữ Rune bằng tay không cũng được, bình thường thì mở khóa, trèo cửa sổ, phá giải bẫy rập đều không thành vấn đề, nhưng với công nghệ cao thì thực sự không thể được… Không phải là họ không học được, mà là công nghệ của thời đại này phát triển quá nhanh, hoàn toàn xa rời nhận thức của người bình thường.

“…Thật ra, tôi có nằm mơ cũng muốn được sở hữu chiếc tàu lặn Nautilus trong tiểu thuyết, vậy thì hữu ích biết bao!” Học giả huyền bí học trong đội thở dài.

Thuyền trưởng cười khẩy: “Đừng nghĩ tới, thứ này quá nguy hiểm, trên hành tinh này có rất nhiều tà thần đang ngủ say, khi bọn họ tìm thấy thứ đồ của con người trước cửa nhà mình, hoặc bị những thứ này đánh thức, kết quả sẽ như bây giờ đấy.”

Con người đã sử dụng tàu ngầm để chiến đấu mà không gặp sự cố. Một tàu ngầm Mỹ chuẩn bị vượt Bắc Cực thì lại xảy ra chuyện!

Thuyền trưởng Gấu Nâu cất bản đồ, đang định nói thì sắc mặt đột nhiên thay đổi, tay phải siết lấy mặt dây chuyền hoa hồng thủy tinh cách một lớp quần áo. Mặt dây chuyền đang nóng lên. Các thuyền viên khác cũng làm động tác tương tự. Đầu tiên, họ cầm lấy bùa hộ mệnh trên người với vẻ mặt ngạc nhiên, sau đó nhanh chóng rút vũ khí lao về phía boong thuyền.

Bùa hộ mệnh không bị vỡ, chứng tỏ không phải là quyến thuộc của tà thần mà là một sinh vật bị nhiễm sức mạnh của tà thần. Hầu hết những thứ này đều không có lý trí, sẽ chỉ tấn công các sinh vật sống một cách bừa bãi. Họ chỉ có một chiếc thuyền này thôi đấy!

Bắc Cực không giống Nam Cực, ở đây không có đất. Vào mùa hè, các tảng băng tan chảy, ngay cả gấu Bắc Cực cũng không có nơi ở và phải bơi. Mặc dù nhiệt độ hiện nay khoảng mười độ nhưng nhiệt độ nước biển không cao đến thế, nếu họ rơi xuống biển ướt sũng và bị mắc kẹt trên băng trôi, ngay cả một đội như đội của họ cũng sẽ có ít cơ hội sống sót hơn nhiều.

Các thuyền viên khéo léo chiếm giữ nhiều vị trí khác nhau trên tàu, một tay cầm súng, một tay cầm vũ khí lạnh, cảnh giác quan sát mặt biển.

“Kỳ lạ, sao không thấy gì?”

Mặt biển trống rỗng.

Chẳng có gì ở trên đầu.

Chàng trai gầy gò kia tiến lại gần thuyền trưởng, chỉ xuống đáy thuyền. Bùa hộ mệnh còn đang nóng, nên thứ đó nhất định là đang trốn dưới thuyền.

Thuyền trưởng Gấu Nâu rất nóng tính, ông ta cầm lao xiên cá lên, sải bước tới mạn thuyền, giơ tay tháo kính râm, nhìn xuống biển.

“Hử?” Thuyền trưởng ngây người ra.

Một con cá voi cả người trắng bóc? Còn mọc một cái sừng? Đây là cái gì? Thú một sừng đại dương? Không đúng, con cá voi này còn có vảy kìa! Tuy là sức mạnh tà ác, nhưng tại sao lại ổn định như vậy… Không xong, không thể nhìn cái sừng dài đó qua lâu!

Thuyền trưởng nhanh chóng đeo kính râm vào, làm động tác “chờ” với cả đội.

Lúc này, thuyền đột ngột chao đảo, mỏ neo ở đáy tàu bị vật gì đó kéo đi, con thuyền đang lao về một hướng khác.

Mọi người đều sửng sốt, lo đứng cho vững rồi nóng lòng hỏi: “Thuyền trưởng? Sao không ra tay?”

“Là một con cá voi trắng.” Thuyền trưởng bối rối nói: “Không giống như những sinh vật ô nhiễm mà chúng ta gặp phải trước kia, nó vẫn còn sống, hình thái biến dị rất ổn định.”

Đã có một thoáng chốc, thuyền trưởng hoài nghi ở Bắc Cực có một giáo phái bí mật do các loài cá voi tổ chức hay không, cũng giống như giáo phái của con người, chúng dốc lòng nghiên cứu cách sử dụng sức mạnh của tà thần, rồi tăng cường cho mình một cách hoàn hảo, trở thành cá voi có sức mạnh phi thường?

“Nó biết tàng hình, sức lực cũng rất lớn…”

Thuyền trưởng chưa kịp nói xong đã thấy một núi băng hiện ra trên biển phía trước. Núi băng không có gì đặc biệt, có ở khắp mọi nơi tại Bắc Cực. Vấn đề là núi băng này lại trông rất quái dị, phần đỉnh bị cắt cụt một đoạn thì thôi đi, ở giữa còn có một cái hố rất lớn, trông như một hồ nước. Có một chiếc tàu ngầm trong hồ. Tàu ngầm là loại “tàu vỏ sắt” có vẻ ngoài đặc biệt, chỉ cần đã từng xem những bức ảnh đen trắng đăng trên báo thì sẽ không nhầm đâu.

Mọi người: “…”

Dụi mắt, sau đó dụi mắt thật mạnh. Không chỉ có tàu ngầm, còn có một cái máy b** ch**n đ** hư hỏng mắc kẹt trong khe hở dưới chân núi băng. Chuyện gì đang xảy ra? Cá voi trắng thấy người Mỹ gặp nạn nên đi tìm người khác tới giúp đỡ? Không đúng, thuyền trưởng nói là con cá voi trắng này bị ô nhiễm nên đột biến!

Đúng lúc mọi người đang ngơ ngác, bỗng nhiên cảm thấy bùa hộ mệnh trên người bắt đầu nứt vỡ.

“Nguy rồi!”

Dưới mặt biển đột nhiên tối đen lại, phạm vi vô cùng rộng lớn, như bầu trời đột nhiên tối sầm rồi lật ngược xuống biển. Có những ngôi sao tỏa sáng lấp lánh trong bóng tối. Nỗi sợ hãi vô biên đang lan rộng. Mọi người đều ý thức được đây có thể là hóa thân của tà thần. Họ nhắm mắt lại, cố gắng nghĩ cách trốn thoát.

Lúc này, Cá Voi Trắng đang kéo thuyền giải trừ trạng thái vô hình, buông mỏ neo ra, nịnh nọt bơi về phía cá voi vàng kim khổng lồ, phát ra một tiếng cá voi ngân thật dài. Quái vật đã bị bắt chưa? Nếu chưa bắt được, nó đã tìm thấy tàu đầy những người ở đây! Đó là mồi câu mới! Cá Voi Trắng muốn dùng chiếc thuyền đánh cá này để đổi lấy sự “tự do” của mình.

Gymir: “…”

Hắn vừa đánh Cochro xong, Cochro lại dùng năng lực không gian của gã chạy trốn mất rồi, Gymir chỉ có thể quay lại đón Johnson. Nghĩ tới con cá voi trắng thú vị này, hắn bèn đưa Johnson lên xem, kết quả lại gặp phải điều bất ngờ khác nữa này?

Cá voi vàng kim khổng lồ lắc lắc người, đột nhiên biến mất.

Trên núi băng xuất hiện thêm hai người nữa.

Johnson không hiểu được ngôn ngữ của cá voi, lúc đầu y không biết chuyện gì đang xảy ra, đến khi nhìn thấy chiếc thuyền đánh cá, cùng với người đàn ông trông như con gấu nâu và cặp kính râm tròn ngộ nghĩnh, khuôn mặt y cứng đờ.

“Hans?”

Cặp kính được làm ở Venice năm đó đeo vào lại xấu đến thế này à?

——————–

<i>Tác giả nói thế này:</i>

<i>Hai thám tử sở hữu thông tin khác nhau đã gặp nhau!</i>

<i>…</i>

<i>Cá Voi Trắng: Thuyền của con người, tôi đã nghe nói về loại thuyền này, là thuyền rất thích săn giết cá voi, hừ, bắt về nộp cho ông lớn để đổi lấy tự do của mình thôi.</i>

<i>Hans thuê thuyền đánh cá: ???</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 69


<b>Chuông 69</b>

<b>Ôn chuyện</b>

Thuyền trưởng Gấu Nâu lê bước chân nặng nề đi lên núi băng.

Ông cởi mũ ra, cúi chào Johnson.

Johnson: “…”

Hai mươi tám năm đã trôi qua. Chàng thanh niên bồng bột của của giáo phái áo choàng xám, đã trở thành thuyền trưởng trung niên của đội thám hiểm, là thủ lĩnh tuyệt đối của một nhóm người chuyên điều tra sức mạnh huyền bí.

Thời gian đã phát huy hiệu quả rõ ràng nhất của nó trên con người. Johnson có cảm giác như nhìn thấy bóng dáng của Cú Xám Andreas trên người Hans. Đôi mắt sắc bén, vẻ mặt cương nghị, và còn rất can đảm. Vừa rồi Hans chỉ dùng một cử chỉ đơn giản là có thể trấn an các thuyền viên đang hoảng loạn trên tàu… Họ tin rằng Hans có thể dẫn dắt mọi người thoát khỏi tình thế khó khăn, nếu Hans không làm được thì những người còn lại cũng không làm được. Đây là lòng tin mà người ta có thể giao phó cả tính mạng.

Rồi Johnson nhớ ra nhà trị liệu trong giấc mơ gác mái đã vụng về thuyết phục đứa trẻ, chợt cảm thấy mình không còn kinh ngạc nữa. Một con kiến phát sáng được các đồng loại kiến chú ý vì sự xuất sắc của nó, điều này lạ lắm sao?

Chỉ có điều…

“Ta nhớ chú của anh muốn anh làm một người bình thường, tránh xa tồn tại huyền bí, tránh xa nguy hiểm. Ông ta còn ra lệnh cho anh rút khỏi giáo phái.” Johnson nhìn Hans, nói.

Cái giọng điệu ôn chuyện này khiến biểu cảm của các thành viên khác trong đội càng thay đổi “dữ dội”.

Thử tưởng tượng trên một núi băng trôi nổi giữa Bắc Cực có hai người đàn ông trông như vừa bước ra từ một nhà hát opera, đó là cảnh tượng kỳ lạ đến thế nào? Ăn mặc quá trang trọng rồi đấy, giống hệt những người tham dự vũ hội xã giao của giới thượng lưu cách đây hàng chục năm. Một trong hai người còn đeo mặt nạ Venice trang trí bằng thủy tinh màu. Thằng ngu cũng biết rằng họ không thể là người sống sót đi ra từ tàu ngầm và máy b** ch**n đ** kia. Con người bình thường sẽ không xuất hiện ở Bắc Cực với trang phục như vậy!

Tất cả các thành viên trong đội thám hiểm đều có thể lấy bùa hộ mệnh vỡ nát của mình ra thề, cái bóng đen khổng lồ vừa xuất hiện trên biển chính là hóa thân của tà thần, sau đó bóng đen biến mất, họ mở mắt ra thì thấy hai người đàn ông đang đứng trước mặt thuyền trưởng Hans lúc này. Đây mà không phải hóa thân của tà thần, thì có thể là quyến thuộc của tà thần sao? Quyến thuộc không bao giờ có hình thái con người hoàn hảo như vậy!

Bây giờ câu hỏi được đặt ra là, tại sao thuyền trưởng lại “quen biết” hai tà thần này? Lại còn có vẻ như đang gặp lại bạn cũ thế kia? Quái quỷ thật đấy!

Con người đang nhìn tà thần, tà thần cũng đang nhìn vào họ.

Johnson thầm nghĩ, đây chính là cả một chiếc thuyền chứa đầy trân châu phát sáng!

Tổng cộng có sáu người, với độ sáng khác nhau. Người có độ sáng yếu nhất giống như phủ một lớp men trong suốt lên viên đá, nói là đang phát sáng thì hình như không phải vậy, nói không tỏa sáng thì nhìn kỹ lại thấy thực sự có phát sáng. Bốn người còn lại khá hơn một chút, ít nhất sẽ không bị coi như những viên đá. Kém xa Hans. Thế nên Gymir chỉ nhìn một cái rồi mất đi hứng thú.

Johnson muốn nói lại thôi.

Hans quay đầu nhìn đồng đội trên thuyền, lập tức hiểu Johnson muốn nói gì, ông ta ho khan một tiếng: “À thì, tôi có cho họ biết… về vẻ ngoài của họ trong thế giới chân thực.”

Johnson bừng tỉnh ngộ, thế thì dễ hiểu thôi. Thảo nào mà những người này lại đứng cùng nhau căn cứ theo độ sáng! Nhìn tư thế đứng và khoảng cách từ trước ra sau của họ thì biết đây là đội hình cảnh giác khi gặp phải kẻ địch mạnh. Độ sáng càng cao, à không, phải là người có khả năng chống lại sức mạnh tà ác cao hơn sẽ đứng càng gần phía trước hơn.

Trong mắt Hans, biểu cảm của Johnson trùng khớp một cách lạ lùng với vẻ mặt của đứa trẻ trên gác mái khi chơi cờ nhảy.

Hans: “…”

Ông ta lau mặt bằng bàn tay to như chân gấu, rồi bắt đầu giải thích, về cuộc chiến tranh khủng khiếp đã bùng nổ ở thế giới loài người hai mươi năm trước, ảnh hưởng đến nhiều dân thường.

“…Mặc dù mẹ tôi không chết trong chiến tranh, nhưng lại thiếu thuốc men và lương thực, chúng tôi đã phải rất cố gắng để sống sót, thời cuộc hỗn loạn, những người bỏ giáo phái theo tôi cuối cùng cũng bị chia cắt hết.”

Trong giọng nói của Hans có nỗi bi thương. Và một chút thù hận.

“Trong ngơi làng mà chúng tôi ẩn náu xuất hiện quyến thuộc của tà thần, nhiều người đã bị giết, trong đó có mẹ tôi.”

Hans tháo kính ra, sử dụng chữ Rune đã học để chế tạo vũ khí, đặt bẫy và tiêu diệt lũ quái vật. Bởi vì ông có thể nhìn thấy hiện thực, nhìn thấy điểm yếu của quái vật, có thể đâm trúng điểm yếu đó kịp lúc. Khi đó, một nửa cơ thể của Hans đã bị chất độc ăn mòn, nhưng cuối cùng ông vẫn sống sót.

“Tôi đã gặp người cộng sự đầu tiên của mình trong hang ổ của quái vật, một đứa trẻ.” Hans cười toe toét, nhìn lên chiếc thuyền đánh cá phía sau.

Chàng trai dáng vẻ gầy gò kia yếu ớt giơ tay lên đáp lại.

Hans có giọng nói rất lớn nên không chỉ Johnson, mà những người khác trên tàu đánh cá đều có thể nghe thấy những gì ông ta nói.

“Ờ, lúc đó thằng nhóc còn quá nhỏ, tôi không thể bỏ lại được, tôi định quay lại Venice, ai ngờ chúng tôi gặp phải một nhóm quái vật mới trên đường.”

Nghe đến đây, Johnson không nhịn được lên tiếng: “Chờ đã, cặp kính này…”

“Phải, rất cảm ơn ngài, tôi biết cặp kính này không những có thể ngăn cách thế giới chân thực, mà còn giúp tôi không bị tồn tại huyền bí chú ý đến.” Hans cúi người xuống chào lần nữa rồi nghiêm túc hỏi: “Ngài Johnson, có thể mấy năm này ngài chưa rời khỏi Bắc Cực, không biết bên ngoài xảy ra chuyện gì.”

Johnson: “…Ừm, ta đang ngủ.”

Lúc này, Gymir bước tới.

Vừa rồi Cá Voi Trắng định nhân cơ hội chuồn đi sau khi “giao nộp thuyền”, nhưng lại bị Gymir “dẫn” về. Cá Voi Trắng kêu lên một tiếng ấm ức, sừng của nó đang bị Gymir tóm trong tay.

Gymir phớt lờ bề mặt gồ ghề của núi băng, cứ như đang đi trên đất bằng. Tay phải của hắn hơi giơ lên, trông như đang lơ lửng trên không, vươn ra ngoài mặt biển, chỉ khi Cá Voi Trắng buộc phải giải trừ khả năng tàng hình thì mọi người mới phát hiện ra sự thật bên dưới “không khí”.

Các thuyền viên: “…”

Nếu thay cái sừng bằng một sợi dây, vậy trông sẽ giống như dắt chó đi dạo, cố gắng thêm chút nữa thì có thể bỏ qua được. Bỏ qua cái quái gì chứ! Đây là cá voi trắng? Tại sao nó lại hú dài như sói?

Johnson cũng kinh ngạc đờ người, thậm chí y còn dùng tay chạm vào cái đầu tròn vo của Cá Voi Trắng để xác nhận nó thực sự là một con cá voi.

Cá Voi Trắng nghe thấy Gymir hình người phát ra âm thanh của cá voi lưng gù thì sợ ngu người, thế là lại phát ngẫu nhiên hiệu ứng âm thanh sinh thái Bắc Cực.

Gymir lặng lẽ đưa tay, dìm Cá Voi Trắng trở lại dưới biển.

Tốt lắm, tiếng sói hú đã biến mất.

Johnson: “…”

Hans nhìn Cá Voi Trắng với ánh mắt khá là đồng cảm.

Cuộc trò chuyện bị gián đoạn bởi tiếng kêu của Cá Voi Trắng cuối cùng cũng có thể được tiếp tục. Trải nghiệm của Hans tuy phức tạp nhưng lại đơn giản.

Khi chiến tranh kéo dài, khắp nơi hỗn loạn. Những quyến thuộc của tà thần mà chủ nhân còn đang ngủ say vốn luôn phải ẩn náu, bây giờ có cơ hội, mà chúng đã chán ăn xác chết từ lâu nên sẽ tấn công người sống, điều này khiến hành trình về nhà của Hans trở nên vô cùng khó khăn. Hans đã trưởng thành như vậy, còn quen biết rất nhiều bạn bè. Trong số họ có người ở lại, có người rời đi, cũng có người không may đã chết.

Sau cùng Hans cũng về lại Venice. Khi ấy Cú Xám Andreas đã qua đời, người kế thừa giáo phái không thích Hans, theo cái kiểu bẩm sinh đã thấy ngứa mắt nhau. Vì vậy, họ không ở lại Venice quá lâu, rồi lại bắt đầu cuộc phiêu bạt của mình.

Nói đến đây, Hans liếc nhìn Gymir và Johnson với vẻ mặt phức tạp.

Hans năm nay bốn mươi sáu tuổi, trong những đêm khuya thanh vắng cũng từng nghĩ, nếu như ngày đó không có chuyện gì xảy ra với giáo phái Màu Xám, thì với thói tham lam và hành vi dựa dẫm vào thế lực các nước của nhóm lãnh đạo giáo phái, chắc chắn họ sẽ bị cuốn vào vào cuộc chiến này. Vốn liếng tích lũy hàng thế kỷ của giáo phái Màu Xám chỉ có thể đối phó với tồn tại huyền bí và sức mạnh tà ác, máy b** n*m b*m mà đến, tất cả những thứ đó đều vô dụng. Vì vậy, rất khó để nói liệu thảm họa bạch tuộc khổng lồ năm đó rốt cuộc là đã phá hủy giáo phái Màu Xám rồi để nó tái sinh, hay gây ra khủng hoảng trước để tránh một thảm họa lớn hơn. Dù sao thì khu rừng chết chóc cũng không sao cả, Venice đến nay vẫn đang đứng vững trong sự bảo vệ của giáo phái Màu Xám.

“…Lúc đầu tôi đưa những người bạn đồng hành của mình về quê hương của họ, nhưng sau đó, tôi thấy vẫn còn một vài người không có nhà để về, thế là chúng tôi đi lang thang khắp nơi.”

Hans lại đội mũ lên, nhìn thẳng vào ánh mắt tò mò của Johnson, dõng dạc nói: “Chúng tôi là đội nổi tiếng nhất trong lĩnh vực huyền bí, thường nhận các đơn hàng thám hiểm, đôi khi giúp đỡ những người bị cuốn vào sự kiện huyền bí.”

Trải nghiệm này thực sự là quá đặc sắc, Johnson thực sự muốn Hans viết một cuốn tự truyện.

Không ngờ, Hans lại ho sặc sụa khi nghe đến hai chữ tự truyện.

“À thì… tôi đã thử, không được, tôi không thể viết ra được.”

Hans có vẻ ngượng ngùng. Ông đã đọc rất nhiều sách, nhưng đáng tiếc toàn là sách cổ về huyền bí học, kiến thức y học, địa lý và hàng hải, ông chưa bao giờ đi học tử tế, không viết được thứ gọi là văn chương.

“Nhưng John nói anh ấy sẽ viết cho tôi.”

“Anh có quen John?” Johnson kinh ngạc.

Gymir cũng ngẩng đầu lên.

Lúc này hai tà thần hoàn toàn không ý thức được có bao nhiêu người tên là John trên hành tinh này, cái chính là vì trong lòng họ chỉ có một John, vả lại… Cochro gây chuyện kia từng đến Luân Đôn, từng gặp Bướm Xám. Viên ngọc mà Johnson và Gymir đưa cho John còn bị vỡ! Chẳng phải điều này chứng tỏ đã xảy ra một thảm họa lớn ở Luân Đôn sao?

“Đúng vậy, chúng tôi đã gặp nhau ở Luân Đôn sáu năm trước.” Hans nghiêm túc trả lời.

Đội ngũ phiêu bạt bốn phương này đã nhận một nhiệm vụ hết sức khó khăn là điều tra sự kiện sương mù ở Luân Đôn năm 1952.

“Hôm đó là ngày 7 tháng Mười Hai, Luân Đôn đã chìm trong sương mù dày đặc suốt 40 giờ, giao thông hoàn toàn tê liệt, mắt người bình thường không thể nhìn thấy gì xa hơn 3 feet. Sương mù có màu vàng và tỏa ra mùi hôi thối, nhiều người muốn chạy trốn ra ngoài để cầu cứu, nhưng không thể thoát ra khỏi làn sương mù dày đặc đó.

“Cả nước Anh, không, cả châu Âu đều hoảng hốt. Chính phủ Anh không biết chuyện gì đã xảy ra, nhưng những người biết về tồn tại huyền bí đều cảm thấy đó là tà thần thức tỉnh. Tình hình quá mức tồi tệ, cả thành phố đang dần bị ô nhiễm bởi sức mạnh của tà thần, trở thành sào huyệt của tồn tại tà ác. Đó là thủ đô của một đất nước, có hàng triệu dân đang sinh sống!”

Miệng Hans khô khốc khi nói quá nhiều. Ông ta vô thức l**m môi, sau đó phát hiện ra một chai rượu whisky trước mặt.

Hans: “…”

Johnson nhìn xuống chai rượu mà Gymir lấy ra, bừng tỉnh nói: “Ồ, cái này chúng ta mua trên Tàu tốc hành Phương Đông năm 1930, không hợp khẩu vị lắm, để ở đây sẽ rất lãng phí, tặng cho anh. Đừng lo lắng, nó là chất tạo mùi của con người 100%… Ý ta là, do con người pha chế, không bị ô nhiễm.”

Thấy hai tà thần có vẻ rất hứng thú, tựa hồ chuẩn bị dời ghế ra ngồi chờ nghe kể chuyện, Hans yên lặng cầm lấy chai rượu uống một ngụm.

Lúc này, vẻ mặt của các thuyền viên đều đã méo mó, kinh ngạc đến nỗi ngũ quan sắp dời nhà đi hết.

“…Chà, đó là nơi tôi quen biết John. Anh ấy tự xưng là John Doe, là một thám tử đã nghỉ hưu, vốn đã chuyển đến sống ở một ngôi làng ven biển nước Anh, nếu không có thảm họa này xảy ra, anh ấy nói sẽ không bao giờ đặt chân đến Luân Đôn nữa. John có quen với quyến thuộc của tà thần đó, nhờ sự giúp đỡ của anh ấy mà chúng tôi đã lập ra được một kế hoạch chi tiết, cuối cùng đánh đuổi tà thần ra khỏi Luân Đôn.” Vẻ mặt của Hans chứng tỏ ông ta đang nhớ lại sự phối hợp hoàn hảo trong hành động lần đó. “John Doe quả thật là rất xuất sắc, rất khôn ngoan.”

Johnson, Gymir: “…”

Tưởng tượng thử xem thám tử John và Hans bắt tay nhau cùng hành động, một người có trí tuệ, một người có vũ lực. Không không, cả hai đều có giá trị vũ lực và đầu óc. Chỉ có điều John không hiểu chữ Rune và huyền bí học cũng không thể tấn công tà thần bằng vũ khí, còn Hans không biết rõ về Bướm Xám, cũng quá tuân thủ lề lối của giáo phái chứ không được linh hoạt và có thể nghĩ ra đủ loại mưu kế như thám tử John.

Chà, thật đáng tiếc.

Không ngờ đấy!

Johnson không nhịn được dùng dây leo nhẹ nhàng đẩy Gymir.

Gymir giả vờ như không nhận ra.

“…Nhưng vấn đề này không được giải quyết một cách triệt để, tà thần ở Luân Đôn là một con Bướm Xám, chúng tôi phát hiện ra nó đang thu hút một tà thần khác, mặc dù chúng tôi đã cố gắng hết sức nhưng tà thần thứ hai vẫn dễ dàng phá hủy vẫy rập và chữ Rune của chúng tôi, mang theo Bướm Xám bị thương đi mất.”

Hans nói rất nặng nề: “Luân Đôn được cứu nhưng có đến hơn bốn ngàn người đã chết… vẫn còn nhiều người bị ô nhiễm, đang chịu đựng đau khổ khủng khiếp, những năm gần đây, gần như tất cả học giả huyền bí học và giáo phái bí mật từ khắp nơi trên thế giới đều tập trung về Luân Đôn.”

——————–

<i>Tác giả nói thế này:</i>

<i>Tóm tắt và bổ sung cho chương này:</i><i>Bướm Xám bị hai thám tử loài người bẫy, rồi bị Cochro bắt mất.</i><i>Thám tử John đã nghe lời đề nghị của Johnson, rời khỏi Luân Đôn, nhưng đứng trước thảm kịch quá lớn, John lại trở về, đồng thời tìm được quyến thuộc của tà thần là Rosa và Eileen làm nội ứng cho mình (He he, mối quan hệ đấy).</i><i>Thám tử đã nghỉ hưu, hiện đang làm nhà văn, viết tự truyện cho Hans, thỉnh thoảng thêm mình vào cốt truyện.</i><i>Tự truyện của Hans Fisher, câu đầu tiên của chương mở đầu: “Cuộc sống luôn đầy rẫy những bất ngờ, và vận rủi cho phép chúng ta gặp nhau.”</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 70


<b>Chương 70</b>

<b>Trao đổi thông tin</b>

Hans không bao giờ có thể quên được khung cảnh tận thế ở Luân Đôn.

Cả thành phố chìm trong bóng tối, khắp nơi vang lên những tiếng la hét đau đớn. Những ngôi nhà đó đều là mồ chôn của con người, khác biệt duy nhất là sang trọng hay sơ sài.

Đường phố trở nên hỗn loạn, xe hơi đâm nhau và thi thể nằm la liệt bên đường, cùng với bọn côn đồ đang cướp bóc các cửa hàng. Những tên tội phạm này không tác oai tác quái được lâu. Họ lợi dụng bóng tối để ra ngoài mặc sức hoành hành, rồi bị bóng tối nuốt chửng, trở thành thức ăn cho quái vật đột biến. Máu bắn tung tóe trên tường cao, mùi hôi thối khắp nơi, những âm thanh kỳ lạ ẩn trong màn sương mù dày đặc, còn có thể nghe thấy tiếng cắn xé và gặm nhấm. Con người có ý chí yếu hơn một chút sẽ bị nỗi sợ hãi nuốt chửng chỉ vì ở trong một môi trường như vậy.

Ngay cả những thám tử có kiến thức sâu về tồn tại huyền bí vẫn cần thần kinh vững vàng để hỗ trợ họ vượt qua nỗi sợ hãi, tiếp tục mò mẫm tiến về phía trước trong làn sương mù… Không ai biết khi nào quái vật sẽ nhảy ra, bạn phải sẵn sàng chiến đấu bất cứ lúc nào. Và sẵn sàng đón nhận cái chết bất cứ lúc nào. Chỉ một đoạn đường ngắn cũng sẽ bị tấn công nhiều lần. Ngay cả khi chiến đấu cũng không thể mất cảnh giác, bởi lũ quái vật có thể thò móng vuốt ra từ trong bóng tối bất cứ lúc nào, kéo bạn hoặc đồng đội của bạn đi. Bạn phải bình tĩnh khi truy đuổi quái vật, không được rơi vào bẫy săn mồi của chúng.

Đây không còn là thành phố nữa, mà là địa ngục nuốt chửng người sống.

“Tà thần chỉ ở lại Luân Đôn bảy ngày đã khiến hàng ngàn người chết, hàng chục ngàn người mất tích, tổng số người chết dần vì ô nhiễm trong những năm qua là hàng chục ngàn người.” Hans nốc whisky, vẻ mặt khó coi, nói: “Đây là sự kiện huyền bí nghiêm trọng nhất châu Âu trong hàng trăm năm qua.”

Điều đáng sợ hơn nữa là tà thần chỉ ra đi chứ không hề bị “phong ấn”. Tà thần có thể bắt đầu một thảm họa mới bất cứ lúc nào. Không ai biết tà thần sẽ để mắt tới thành phố nào tiếp theo.

“Vậy là các ngươi đuổi theo đến Bắc Cực?”

Gymir âm thầm gật đầu, thông tin mà Hans mang đến đã ăn khớp với với nửa sau “lời giải thích” của Cá Voi Trắng.

Johnson cau mày nói: “Các anh rất can đảm nhưng cũng rất liều lĩnh. Nếu đã biết đó là tà thần, lại còn là thần cổ xưa đã mang Bướm Xám đi…”

“Cái gì, thần cổ xưa?” Các thuyền viên ngay lập tức hét lên.

Ngay cả ngũ quan của Hans cũng bị “dịch chuyển” ở một mức độ nhất định do cơn sốc. Ừ, trông lại càng giống một con gấu nâu nổi đóa hơn rồi.

“…”

Johnson chợt nhớ tới ngay chính y cũng chưa từng nghe tới cái tên Cochro, con người càng không có khả năng biết đến gã. Không có ghi chép nào về Cochro, giống như Bướm Xám, được xếp vào một trong số thần mới.

Gymir thẳng thừng tuyên bố một cách vô tình trước ánh mắt kinh hoàng của con người: “Đúng vậy, kẻ đã mang Bướm Xám đi là một thần cổ xưa.”

“Các anh có thể gọi gã là Coch, đó là một phần tên thật của gã.” Johnson không muốn con người trên chiếc thuyền này bị “kết nối” với Cochro, đó không phải là chuyện hay.

Lòng tốt này ngay lập tức được Hans và các thuyền viên hiểu biết về tồn tại huyền bí tiếp nhận. Mặc dù việc tà thần “thân thiện” đi ngược lại với quan điểm nhận thức truyền thống, nhưng tính cách của tà thần như thế nào sẽ không chịu ảnh hưởng bởi sở thích của con người, lỡ có gặp phải tà thần mà giữ được mạng sống của mình đã là quá may mắn rồi.

“…Ờm, Sau sự kiện sương khói ở Luân Đôn, chúng tôi gọi tà thần đó là Thảm Bay kh*ng b*, còn những quyến thuộc được tạo ra là Túi Da, bởi vì tất cả thể biến dị bị ô nhiễm nhưng ổn định tựa hồ đều đã bị hút cạn máu và nước, thân thể dẹp lép và bành trướng ra, giống như một cái túi da rỗng, còn có thể bay lên không trung. Các Hiệp hội nghiên cứu tồn tại huyền bí trên thế giới thảo luận vài ngày, cho rằng bản thể của tà thần này là dơi hoặc một loài sinh vật hút máu giống đỉa.”

Không, sai quá sai. Gymir thầm nhủ.

Hans thở dài nặng nề: “Nếu là thần cổ xưa, tức là những gì chúng tôi suy đoán đều sai.”

“Đúng vậy, những Túi Da đó chỉ là những tôi tớ, công cụ tạm bợ của nó, quyến thuộc… quyến thuộc chân chính của Coch là con cái của nó, đông lắm.”

Lời của Gymir một lần nữa gây sốc cho thám tử loài người. Một con Bướm Xám Luân Đôn chưa giải quyết xong đã lòi ra một cái Thảm Bay kh*ng b*. Hai tà thần chưa giải quyết được, lại được biết Thảm Bay kh*ng b* là thần cổ xưa, có một đám con cháu. Thế này là gì? Party gia đình của tà thần à?

“Tất nhiên, tin tốt lúc này là ta chưa nhìn thấy mấy đứa con của Coch.” Câu này của Gymir là nói với Johnson.

Johnson không hề thả lỏng, đây là đồng loại đầu tiên có “ác ý” mà y gặp phải kể từ khi sinh ra. Tất nhiên, Johnson cũng từng có xung đột với tà thần khác, nhưng đều có thể dễ dàng giải quyết, chỉ cần giải thích hoặc chủ động nhượng bộ, đối phương thường không thèm quan tâm.

Cochro lại có mục đích rõ ràng.

“Đợi đã, mục tiêu của Cochro là anh, hay là em?” Johnson hạ giọng hỏi, cố gắng không để con người nghe thấy.

Gymir im lặng.

Johnson nghi hoặc hỏi: “Anh không biết?”

“Ta nghĩ là ta, nhưng nó cứ liên tục nói về em, có vẻ rất quan tâm đến em.” Thần Biển nghiến răng nghiến lợi nói.

Núi băng bị cảm xúc của tà thần tác động, rung chuyển dữ dội.

Hans lùi lại một bước, cố gắng giữ thăng bằng.

“Em không có gì đặc biệt cả, gã sẽ bỏ cuộc ngay khi nhìn thấy em.” Johnson thuyết phục Gymir bình tĩnh lại. Johnson rất bình tĩnh, là một thần mới, y bình thường như vậy đấy.

“Làm sao có thể chứ, em rất đặc biệt!” Phản ứng của Gymir đặc biệt dữ dội.

Johnson rất bất ngờ.

Ngay khi Johnson nghĩ rằng Gymir sẽ lập tức tiết lộ một vài bí mật mà y chưa biết, giúp y khám phá ra những sức mạnh “đặc biệt” nào đó, thần Biển giận dữ bày tỏ hình thái của bản thể Johnson mềm mại và xinh đẹp như thế nào, cùng với sự nhạy cảm và linh hoạt của tứ chi, và những điểm dễ thương trong tính cách nữa chứ.

Johnson: “…” Từng xúc tu trên người đều rất ngứa ngáy, muốn đánh thần Biển.

Johnson chịu đựng hết lần này đến lần khác, nhưng Gymir vẫn tiếp tục không biết tự giác kể ra “ưu điểm của Johnson”, so với các tà thần khác thì khác biệt biết bao.

Hans ngồi trên đất: “…”

Thuyền viên bị sóng biển ầm ầm vỗ cho ngã ngửa: “…”

Con người không muốn nghe lén, chủ yếu là do hai tà thần quá chu đáo với họ, không dùng ngôn ngữ không thể miêu tả nào đó mà lại nói tiếng Anh. Chẳng hiểu vì lý do gì mà Gymir càng lúc càng nói to hơn, khiến họ phải nghe luôn cả nửa sau của “lời tỏ tình chân thành”. Mà khoan, chắc là lời tỏ tình chân thành nhỉ? Sao có mấy từ nghe có vẻ quen quen thế kia? Hơi giống với cách diễn đạt trong tiểu thuyết tình yêu của con người?

Bịch.

Johnson đá Gymir một phát.

Gymir đứng yên bất động.

Một giây sau, thần Biển nhận ra có điều gì đó không ổn, não của tà thần bắt đầu đọc “kiến thức tình yêu của con người” với tốc độ chóng mặt, sau đó hắn đưa ra một lựa chọn rất chính xác.

“Ta dẫn Cá Voi Trắng đi loanh quanh xem sao.”

Gymir nhặt Cá Voi Trắng cơ bản không hề biết việc gì đã xảy ra lên, nhanh chóng bước sang bên kia núi băng.

“Cù? Cá?” Cá Voi Trắng kêu lung tung suốt một đường, nghe như một con hải âu lớn thường đến Bắc Cực nghỉ hè. Sừng của Cá Voi Trắng bị khống chế, nó buộc phải bơi đi.

“Ờm, đó là thú cưng à?” Hans chủ động phá tan bầu không khí lúng túng. Một nhà trị liệu giấc mơ đủ tư cách phải có tài năng giải quyết mọi bầu không khí đáng sợ.

“Mới nhặt được, con cá voi này gặp phải Coch, suýt chết. Chúng ta không nuôi thú cưng, đó là thói quen của con người.” Johnson giải thích. Gymir rời đi cũng mang theo cả nguồn gốc khiến Johnson bối rối, y nhanh chóng khôi phục lại trạng thái thờ ơ và bình tĩnh.

“Ngài! Tôi nhớ ra rồi, thì ra là các ngài!” Một thuyền viên nào đó của Hans bỗng kêu lên thật lớn.

Cá Voi Trắng cố gắng quay đầu lại, Gymir dừng bước, đôi mắt đằng sau chiếc mặt nạ hơi nheo lại.

Thuyền viên kia bắt gặp ánh mắt vô cảm của Johnson thì không khỏi run lên, tiếp đó bị chính thuyền trưởng Gấu Nâu nhà mình trừng một cái, chỉ đành lắp bắp nói: “Các người, mọi người quên rồi à? Ông John Doe và viên ngọc bị vỡ đó, bùa hộ mệnh quý giá đã cứu mạng ông ta… Những học giả huyền bí học đến Luân Đôn đều nói rằng thứ đó rất tà ác, ai sở hữu nó chẳng khác nào hiến mạng cho tà thần đó, nó là quả bom hẹn giờ chết người có thể trở về số 0 bất cứ lúc nào.”

Biểu cảm của các thuyền viên khác bắt đầu trở nên kỳ lạ. Bởi vì họ nhớ rằng thám tử hoàn toàn không coi trọng những lời cảnh báo này, còn nói…

“Đó chỉ là thù lao cho người mai mối thôi?”

Mọi người, kể cả Hans, nhìn Johnson rồi lại nhìn Gymir.

Johnson: “…”

Vẻ mặt bình tĩnh và thờ ơ của y sụp đổ.

Tốt lắm, đúng là thám tử mà y quen biết, rất dũng cảm.

***

Mặc dù tà thần rất muốn đến nước Anh để nói chuyện ra cho lẽ với thám tử, nhưng Gymir không thể yên tâm nếu chưa giải quyết Cochro.

Thế là chiếc thuyền đánh cá mà Hans thuê từ quần đảo Greenland đã chào đón hai “hành khách” ngoài dự kiến. Các thuyền viên rất lúng túng. Họ không muốn có trải nghiệm du hành cùng với tà thần chút nào.

Và phải nói thế nào nhỉ? Họ đang chở một đôi tà thần yêu nhau say đắm đi gây chuyện với hai tà thần đang có kế hoạch giao phối và sinh sản? Mục tiêu còn có thể có một gia đình lớn rất đông con?

Diễn biến này quá ly kỳ! Các thuyền viên dám thề bằng kinh nghiệm nhiều năm vào sinh ra tử phiêu lưu điều tra tồn tại huyền bí của mình, cả thế giới chưa bao giờ nghe đến chuyện kỳ quặc như vậy!

“Mà này, thuyền trưởng… Phải làm gì với tàu ngầm của Mỹ?” Thuyền viên chỉ vào núi băng, rối rắm hỏi.

Hans dùng ngón tay gõ nhẹ vào cặp kính trên sống mũi rồi sẵng giọng đáp: “Bên trong có rất nhiều người còn sống, chẳng qua là đều đã hôn mê, khi tỉnh lại họ sẽ tìm cách tự cứu mình, chúng ta không cần lo lắng.”

Thuyền viên nhìn chiếc tàu ngầm mắc kẹt trong cái hồ tự nhiên trên núi băng, thầm nghĩ khi người Mỹ đến cứu chắc hẳn sẽ choáng váng hết cho xem.

Hans sải bước vào khoang thuyền, giới thiệu cho Johnson và Gymir xem “dụng cụ” mà họ dùng để theo dõi Cochro và Bướm Xám. Vỏ kim loại, có nhiều dây dẫn, cắm thêm thiết bị thu sóng dài, nửa bộ phận còn lại được cố định trên nóc thuyền đánh cá.

“…Dựa trên sóng vô tuyến, nó phát hiện được một số âm thanh mà con người không thể nghe được. Chúng tôi ghi chép dữ liệu trong nhiều năm rồi phân tích và tổng kết ra địa điểm là Bắc Cực.” Học giả huyền bí học chịu trách nhiệm vận hành thiết bị, lần đầu tiên thử giới thiệu phát minh của mình trước mặt tà thần, trán lấm tấm mồ hôi, cố gắng mỉm cười: “Đây là mẫu chúng tôi thu âm ở Luân Đôn.”

Tất cả mọi người nhanh chóng đeo bịt tai dày lên trước khi cái nút được nhấn xuống.

“Là con Bướm Xám ở Luân Đôn.”

Sau khi nghe âm thanh xong, Gymir chìm vào dòng suy nghĩ. Hắn tưởng Hans đuổi theo Cochro mới đến Bắc Cực, nhưng không ngờ vẫn là Bướm Xám.

“…Tên này dẫn Bướm Xám đến làm tổ ở Bắc Cực? Vừa tìm kiếm chúng ta vừa cùng Bướm Xám sinh sản?” Gymir cười khẩy.

Thời điểm trả thù đã đến.

Đi lật tung cái giường ngủ tạm bợ của Cochro thôi!

——————–

<i>Tác giả nói thế này:</i>

<i>Đám sương khói khổng lồ 1952 là thảm kịch ô nhiễm môi trường xảy ra trong lịch sử có thật ở Luân Đôn, khiến hàng nghìn người thiệt mạng.</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 71


<b>Chương 71</b>

<b>Hành khách tạm thời</b>

Những tảng băng trôi nổi trong nước, trông như một chiếc ly thủy tinh chân cao màu xanh thật lớn, bên trong chứa đầy đá viên.

Có lẽ trong mắt tà thần, thế giới thực sự là như thế này, họ có thể uống hết nước trong “ly” chỉ bằng một hơi. Tàu ngầm và máy bay của con người không gì khác hơn là những viên đá trong ly cocktail này, cùng những lát chanh và vỏ cam được trang trí trên mép ly.

Sau đó, Hans thực sự nghe thấy tiếng rót rượu whisky vào ly đá.

Khi quay lại, ông nhìn thấy một thành viên thành thạo pha chế rượu trong đội của mình đang nơm nớp lo sợ đứng trước mặt hai tà thần, phục vụ cho họ.

Hans: “…”

Thuyền trưởng Gấu Nâu bất lực ngồi xuống chiếc bàn đơn sơ, một mình ông ta đã chiếm lấy hai chiếc ghế.

Hans nhìn Johnson và Gymir, nói: “Xin đừng hù dọa bạn đồng hành của tôi, sẽ không có ai lái thuyền mất. Thuyền ngày nay không dùng mái chèo, nếu hỏng thì phải có thợ cơ khí sửa chữa, khó sửa lắm.”

Khoang thuyền rất tối, chỉ có một bóng đèn treo trên sợi dây điện. Sau khi lênh đênh trên biển một thời gian dài, chắc chắn trong khoang thuyền sẽ có mùi lạ. Nhiều vật dụng trên chiếc thuyền đánh cá này đã rách nát, và vô cùng cũ kỹ, nếu kéo nó vào bờ có thể trực tiếp biến thành quán bar dành cho những thuyền viên già hoài cổ. Dưới ánh sáng mờ mờ này, trên mặt mọi người như bị bôi một lớp dầu sáp, người ngợm lấm bụi, chẳng khác gì bộ bàn ghế tồi tàn ở khoang thuyền.

Nhưng hôm nay thì khác. Trên bàn bày đầy những thứ rượu đắt tiền và những chiếc ly thủy tinh trong suốt như pha lê (ly được mua từ Venice, nằm trong bộ sưu tập của tà thần). Những thứ này phản chiếu ánh sáng, tỏa ra mùi rượu thơm ngát êm dịu.

Johnson lại càng không bị ảnh hưởng bởi môi trường tối tăm này. Bản thân y là một tồn tại tỏa sáng với nguồn sáng của riêng mình, đôi mắt xanh nhạt trong veo tuyệt đẹp, là một người đàn ông điển trai và vô cùng quyến rũ.

Thuyền viên vô thức nhìn đi nơi khác, nhưng lại vô tình chạm phải Gymir ở bên cạnh.

Chiếc đèn điện treo ngay phía trên bàn khiến chiếc mặt nạ Venice tinh xảo trở nên đặc biệt rực rỡ. Thủy tinh xoắn ốc pha trộn màu đỏ vàng dường như có sự sống, ánh sáng làm say lòng người của nó nhấp nháy theo quy luật, như một trái tim tươi sống.

Đôi mắt của thuyền viên pha chế rượu đơ ra, miệng chai whisky cứ nghiêng nghiêng, rượu đã sắp tràn ra khỏi mép ly.

Tách.

Hans một tay cầm chai rượu, tay còn lại giơ lên búng ngón tay trước mắt thuyền viên.

Thuyền viên chợt tỉnh táo, quay người lại rồi đập đầu thật mạnh vào ván của khoang thuyền.

Johnson: “…”

Tư thế thật thuần thục, chọn lựa thật dứt khoát, phải chăng đây chính là cái mà Hans gọi là “đội điều tra tồn tại huyền bí chuyên nghiệp được thuê”? Nói thế nào nhỉ, ý chí tuy không cao nhưng khả năng hồi phục lại tốt.

Johnson nhịn không được hỏi: “Cứ đập như vậy lâu ngày, đầu óc không có vấn đề gì sao?” Suy cho cùng, con người còn mong manh hơn cả sứa.

Hans thở dài, đưa mắt ra hiệu cho thuyền viên kia ra ngoài hóng gió nghỉ ngơi một lát.

“Vì vậy tôi mới nói, xin đừng hù dọa họ. Hành động vô ý của ngài sẽ ảnh hưởng đến sự tỉnh táo của họ, họ nhạy bén hơn người thường, đây vốn là một điều tốt, nhưng bây giờ lại thành một việc xấu. Hơn nữa họ không phải là những người mà ngài thường trò chuyện, cả về thể chất lẫn tinh thần đều không được… kiên cố như vậy?”

Hans suy nghĩ ba giây, cố gắng tìm được một từ thuận tiện cho tà thần lý giải.

Vẻ mặt Johnson trở nên cổ quái: “Tức là không thể đối xử với bọn họ như thái độ với anh, bởi vì bọn họ không tài giỏi bằng anh?”

Hans xua tay, lúng túng nói: “Không thể nói là tài giỏi đâu nhỉ… Ý chí không phải là thứ bẩm sinh đã có sao?”

“Thiên phú là một chuyện, nhưng sẽ trở thành thế nào còn tùy thuộc vào mỗi người.” Johnson có quyền lên tiếng hơn Gymir trong chuyện này, vì y đã quan sát con người nhiều hơn thần cổ xưa: “Có những đứa trẻ bẩm sinh đã có năng khiếu, nhưng khi lớn lên ý chí của chúng trở nên tầm thường.”

Johnson liếc nhìn Hans, chợt nhận ra mặc dù mắt của Hans có thể nhìn thấy hiện thực, nhưng chỉ có thể nhìn thấy người khác, không nhìn thấy chính mình. Mà thể biến dị “Con mắt Hoa Hồng” do con người tạo ra không quá mạnh mẽ và hoàn hảo, cũng như không thể đánh giá hiện thực qua hình ảnh phản chiếu. Dù Hans nhìn vào gương hay nhìn hình ảnh phản chiếu của chính mình trên mặt nước, ông cũng chỉ có thể nhìn thấy một ảo ảnh méo mó.

Johnson chỉ có thể lấy ví dụ: “Nếu tính theo độ phát quang, hiện nay anh đã tăng lên một chút so với năm xưa.”

“Vậy sao?” Hans lẩm bẩm.

Vẻ mặt Hans không có chút vui vẻ nào. Bởi vì ông biết rằng cái gọi là phát quang kia thực chất được tạo nên từ sự thất vọng, đau khổ và mất mát liên tục. Hans đã chứng kiến nhiều người chìm trong đau đớn tột cùng, họ không thể vượt qua được. Ngay cả sau khi chiến tranh kết thúc, ý chí tinh thần của những người đó vẫn tiếp tục suy giảm nhanh chóng, cuối cùng họ bị cái chết nuốt chửng… Đó không phải là bệnh tật về thể xác, nhưng nó còn khủng khiếp hơn bệnh tật thể xác.

“Nếu đó là ánh sáng, thì có lẽ đó là ngọn nến soi sáng loài người ra khỏi bóng tối!” Hans dường như đã nhớ ra điều gì đó, nghiêm túc nói: “Người sáng nhất mà tôi từng <i>thấy</i> là John Doe. Khi đó, Luân Đôn bị bao phủ trong một làn sương mù dày đặc khủng khiếp, khiến ánh sáng ấy càng rõ ràng hơn…”

Hans chợt nghĩ, không phải chứ, sao tự nhiên lại bắt đầu kể chuyện. Tuy nhiên, hai hành khách có địa vị đặc biệt vẫn rất hứng thú, Johnson dùng ánh mắt thúc giục ông ta tiếp tục nói.

“Hai vị nên về Anh gặp John thì hơn! Về việc trục xuất Bướm Xám, còn có nhiều chi tiết tôi không biết, chỉ có John biết.” Hans chân thành nói.

Johnson: “…”

Y dám cá rằng nếu John biết những gì Hans vừa nói, có lẽ sẽ rời khỏi nước Anh ngay trong đêm. Nhìn vẻ mặt thật thà chất phác như gấu của Hans, Johnson không thể xác nhận liệu Hans có cố ý hay không.

Kết quả, Hans đã chủ động thừa nhận là mình cố ý, nhưng không có ác ý.

“Viên ngọc của John vỡ rồi, anh ấy đã mất bùa hộ mệnh, nếu Bướm Xám hoặc các tà thần khác xuất hiện trở lại, John sẽ gặp nguy hiểm.”

Gymir gật đầu, nói rất đúng. Tình cờ là hắn cũng muốn nói chuyện với thám tử xem cuộc sống hôn nhân của con người sẽ như thế nào, kể từ khi Johnson tỉnh dậy sau giấc ngủ sâu, y cứ tránh né sự tiếp xúc của hắn.

Gymir đã từng nghĩ sau khi “thức dậy” sẽ trải qua khoảng thời gian lười biếng và thư giãn ra sao. Đầu tiên phải nổi lên mặt biển, người yêu trẻ tuổi của hắn không thích đáy biển tối tăm, ngủ mấy chục năm là quá nhiều rồi, vậy nên phải ra vùng biển có nắng ấm, để Johnson có thể trôi lờ lững và đắm mình trong ánh nắng thỏa thích. Sau đó đi tìm ván gỗ, thay vỏ “con tàu ma” cho Johnson. Tốt nhất phải là gỗ sồi mới toanh và chắc chắn. Giải pháp cụ thể là đánh cướp tàu của con người. Sau khi xong việc, Gymir sẽ ngồi trên tàu và hát trong hình hài người cá. Hắn tin chắc Johnson đã phơi nắng đủ nhiều sẽ lại bị mê hoặc, rơi vào vòng tay của hắn, lần này phải chọn đến Nam Cực đánh một giấc nữa.

Bây giờ kế hoạch đã rối tung cả lên. Thần Biển rất chi là không vui.

Gymir bí mật quan sát mọi ngóc ngách trong khoang thuyền. Không được, quá rách nát. Chất lượng gỗ cũng kém, thân chính của thuyền là kim loại, chắc chắn Johnson sẽ không thích. Con người đang làm trò gì thế? Càng đóng thuyền càng kỳ lạ! Nghĩ đến chiếc tàu ngầm lúc trước, thần Biển hiếm khi sầu lo như bây giờ, lẽ nào phải quay lại thị trấn Đá Ngầm Đen để cướp thuyền đánh cá nhỏ?

Johnson không biết Gymir đang nghĩ gì. Sự chú ý của y dời sang cuốn tạp chí cạnh bàn, trang bìa có hình một nhóm cao bồi. Những chiếc mũ mới lạ, những bộ trang phục y chưa từng thấy trước đây…

Hans im lặng cầm lấy cuốn tạp chí. Ông không tìm được mảnh vải nào sạch nên đành phải dùng áo của mình lau, sau đó cầm lên lắc mấy cái, sau khi chắc chắn rằng không còn vết dầu hoặc vụn thức ăn nào trên đó mới đặt tạp chí trở lại trên bàn.

Johnson: “…”

Mặc dù thái độ của Hans rất tốt, nhưng Johnson đột nhiên không muốn đọc quyển sách này nữa.

“Khụ, chúng ta nói về cái này đi.” Johnson chỉ vào thiết bị vô tuyến cạnh đó và nói: “Chúng ta còn cách đích đến bao xa?”

“Với tốc độ hiện tại thì khoảng nửa ngày đường.”

Hans cũng an tâm hơn, ông thực sự không có kinh nghiệm trong việc tiếp đãi tà thần, nhưng lại rất giỏi điều tra các sự kiện huyền bí. Tình hình hiện tại có thể nói là Hans đã “bị động” nhận lời ủy thác, đưa Gymir đi tìm hang ổ tạm thời của Cochro. Tuy nhiên, mục tiêu ban đầu của Hans cũng là ở đó, nên coi như hai tà thần gia nhập đội nửa chừng.

Các thuyền viên sợ hãi trong vô thức, nhưng lý trí biết rằng để tà thần đối phó với tà thần là cách tốt nhất để hoàn thành nhiệm vụ. Thế là họ cố gắng hết sức để vượt qua nỗi sợ hãi, nhớ lại quy tắc cứu mạng mà sách cổ đã dạy: “Đừng đến gần tà thần. Nếu không còn cách nào khác, hãy lấy lòng tà thần”, rồi chăm chỉ áp dụng. Suy nghĩ kỹ lại, muốn lợi dụng tà thần mà còn không chịu nói vài lời tử tế thì coi sao được, nên chủ động một chút thì hơn. Thế nên mới có chuyện chủ động chạy đến pha rượu cho tà thần. Thực ra, kế hoạch ban đầu là chia sẻ áp lực với thuyền trưởng Hans đang phải kể chuyện cho tà thần. Đáng tiếc là họ không thể chịu nổi những dao động sức mạnh vô thức phát ra từ hai vị tà thần “vừa kết thúc cuộc sống hạnh phúc”, bây giờ tập thể cùng đứng nhếch nhác trên boong thuyền hóng gió.

Gymir rất hài lòng với Hans. Hắn chọn cách đi thuyền chậm là vì không muốn đánh động Cochro, cái tên này rất giỏi chạy trốn. Vả lại Hans còn có một bản dữ liệu định vị, là thành quả của nhiều năm kiên trì ghi lại của những con người này. Khi đó, Gymir vẫn còn đang ôm ý trung nhân của mình mà ngủ, không nghe thấy bất kỳ âm thanh nào từ bên ngoài. Bây giờ Bướm Xám đã im lặng từ lâu, nếu Hans không bị Cá Voi Trắng lôi về, Gymir đã chẳng thể tìm ra hang ổ tạm thời của Cochro dựa trên manh mối này.

Gymir nhìn bản đồ Hans trải ra, thận trọng gật đầu: “Đến nơi đó xong, các ngươi lập tức quay đầu về.”

“Thế nhưng…” Hans muốn nói rằng khu vực này rất rộng lớn, có thể cần phải định vị thêm.

“Cá Voi Trắng sẽ đảm nhận nhiệm vụ thăm dò thay ngươi, tàu của con người quá ồn ào, không phù hợp.” Thái độ khinh thường của thần Biển thể hiện hết sức rõ ràng, quang minh chính đại.

Johnson nói thêm: “Vùng nước sâu rất lạnh, con người sẽ khó thoát ra ngoài nếu gặp nguy hiểm.”

Hans không còn gì để nói.

***

Sáng sớm ngày 4 tháng Tám.

Trời vẫn sáng bừng, vùng biển băng này chẳng có gì khác biệt.

Một thuyền viên cầm chiếc máy vô tuyến đã tháo rời, cẩn thận đưa cho Johnson.

“Ấn vào chỗ này, nếu khoảng cách rất gần, nó sẽ lập tức khởi động.”

“Không thể ngâm nước?” Johnson xác nhận lại.

Thuyền viên kinh hãi nói: “Đương nhiên là không.”

Johnson im lặng đòi lấy một cái chậu trên thuyền để đặt thứ này vào, nếu không để lâu trên băng trôi cũng sẽ bị hỏng.

Giống như khi con tàu cập bến, Hans tiễn hai hành khách có thân phận đặc biệt, sẵn tiện còn tháo kính ra chào hỏi Cá Voi Trắng bên cạnh mạn thuyền.

Cá Voi Trắng bơi theo suốt chặng đường đến nơi này, đây không phải là hướng của dòng hải lưu, nó chưa có gì bỏ bụng, đang rất không vui, không nhịn được dùng chiếc sừng dài của mình húc vào mạn thuyền.

“Không xong rồi, biến dạng rồi!”

Thuyền viên hoảng sợ hét lên, chiếc thuyền bị móp vào rất rõ ràng. Cũng may đây là một chiếc thuyền đánh cá có vỏ bằng sắt rất kiên cố, nếu làm bằng gỗ thì có lẽ sẽ bị thủng mất.

Hans lấy một miếng thịt bò sống trong bếp ném xuống biển.

Cá Voi Trắng nghi ngờ bơi tới. Nó rất cảnh giác, sẽ không ăn bất cứ thứ gì nó chưa từng thấy trước đây. Nhưng cái này có mùi thơm quá! Cá Voi Trắng háu ăn cứ há miệng, hút mạnh vào, sắp để lại vết trên miệng.

Gymir mất kiên nhẫn liền biến thành một cái bóng, vớt miếng thịt bò đang chìm dưới biển nhét vào miệng Cá Voi Trắng.

“Đi tìm thứ khiến mi thấy khủng hoảng, cảm nhận được nó thì lập tức bỏ chạy.” Gymir để lại dấu vết sức mạnh bên ngoài cơ thể Cá Voi Trắng, giúp sinh vật đột biến này có mối liên hệ trực tiếp hơn với hắn, hữu ích hơn Hans là con người về mọi mặt.

Gymir dùng tay giữ Cá Voi Trắng, lạnh lùng đe dọa: “Không cho kêu, không được phát ra âm thanh nào, nếu không mi sẽ bị biến thành miếng thịt này.”

Cá Voi Trắng: “…” Vừa tủi thân vừa sợ hãi lặn xuống.
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 72


<b>Chương 72</b>

<b>Xoay chuyển</b>

Cá Voi Trắng vừa bơi vừa nhai thịt bò bằng răng.

Loại thịt đông lạnh này thực ra không thích hợp cho nó ăn. Thớ thịt quá thô, không có mỡ dày, không mềm chút nào, nhai rất tốn sức. Tuy nhiên, sau khi đột biến, răng của Cá Voi Trắng đã trở nên sắc bén hơn rất nhiều, có thể dễ dàng xuyên vào thịt như những chiếc đinh thép, rồi nhai cắn từ từ.

Ngoại trừ thứ gọi là sừng dài nhưng thực chất là một chiếc răng dị dạng kia ra, những chiếc răng khác vẫn rất ngắn, khi toét miệng ra vẫn chỉ thấy cái miệng toàn là thịt, không có gì đáng sợ.

Vì vậy, khi Cá Voi Trắng gặp phải một con moóc đang săn mồi dưới nước, gã mập ú kia đã từ bỏ con mực mà mình đang truy đuổi, không chút do dự lao về phía Cá Voi Trắng… Moóc là thiên địch của kỳ lân biển, nó đã nhận lầm sinh vật trước mặt, cho rằng Cá Voi Trắng là một con kỳ lân biển đã già.

Cá Voi Trắng chỉ sửng sốt một giây, rồi chọn ngay chế độ va chạm tốc độ cao.

Moóc to lớn vụng về không nhanh bằng cá voi trắng trong nước. Cả hai bên đều hung hãn, chỉ khi khoảng cách đến gần hơn, moóc mới nhận ra “con mồi” có gì đó không bình thường. Nhưng cái thân hình khổng lồ nặng vài tấn của nó không thể thắng lại dễ dàng được.

Rầm.

Âm thanh va chạm dưới nước nghe không quá vang dội.

Moóc lúc lắc cái đầu, nó to mập hơn, nhanh chóng vượt qua được di chứng của cú va chạm, nó ngạc nhiên nhìn Cá Voi Trắng cũng đang lắc đầu.

Kỳ lân biển không dùng sừng để tấn công kẻ thù. Cá Voi Trắng vốn còn chưa thể quen với việc mình có sừng dài, chỉ biết đầu mình rất cứng, nên đã chọn cách “đụng” trực tiếp. Kết quả là thất bại, chỉ để lại một vết nông trên da con moóc kia. Vì mỡ của moóc quá dày, da cũng rất dai, các nếp gấp trên cơ thể chồng lên nhau. Đây cũng chính là lý do tại sao kỳ lân biển có sừng dài như vậy nhưng lại không dùng làm vũ khí. Trong những kẻ sống ở biển băng, ai mà không có một lớp mỡ dày kia chứ?

Con moóc giận dữ lao tới, nó muốn ấn vào lỗ phun khí của Cá Voi Trắng, cho con mồi chết đuối.

Cá Voi Trắng sợ cá voi sát thủ, vì nó không thể chạy nhanh hơn bọn xấu xa đó, nhưng một con moóc đi lẻ thì có gì phải sợ, nó ghì đầu lại tiếp tục húc… Sao, mày có thể cứng hơn núi băng à? Thật trùng hợp, chiếc sừng dài biến dạng này rất chắc chắn, không dễ bị gãy.

Moóc tát mấy cái đều vô ích, cơn giận làm nó mụ mị đầu óc, quay sang dùng chính hai chiếc răng của mình để đâm Cá Voi Trắng.

Rắc.

Răng của moóc gãy mất rồi.

Bên ngoài Cá Voi Trắng có một lớp vảy dùng để tàng hình, trông thì tưởng mỏng, không màu, nhưng tác dụng của nó tương tự như nham thạch. Đừng nói là moóc, dù cá mập trắng lớn cắn một miếng cũng sẽ mất hơn chục chiếc răng.

Răng của moóc thực chất dùng để cắt băng, giúp cơ thể nặng nề của chúng leo lên băng trôi dốc, đôi khi để chiến đấu với đồng loại, khỏe hơn nhiều so với sừng của kỳ lân biển. Lúc này moóc ngơ ngác nhìn chiếc răng bị gãy của mình, cơn đau càng khiến nó tức giận hơn.

Hai sinh vật nặng hàng tấn lăn tròn trong nước.

Lăn tới lăn lui, Cá Voi Trắng chợt run lên, nhớ lại lời Gymir nói. Còn đánh nhau gì nữa? Còn phải nhanh chóng đi tuần tra, lặn xuống tìm kiếm những địa điểm khả nghi, nếu không sẽ trở thành một miếng thịt!

Cá Voi Trắng bỏ chạy.

Trong mắt con moóc, điều này có nghĩa là do đối thủ thể hiện sự sợ hãi yếu đuối. Con moóc này rõ ràng là đầu óc không được sáng suốt cho lắm, nó gầm gừ đuổi theo. Cá Voi Trắng càng lặn càng sâu, tốc độ lại nhanh, moóc sớm mất dấu, chỉ biết lòng vòng tại chỗ, phát ra từng tràng tiếng kêu giận dữ.

Cá Voi Trắng tiếp tục nhai miếng thịt bò trong miệng, không hề để ý đến.

Ở độ sâu khoảng 400 mét, Cá Voi Trắng bắt đầu cảm thấy có gì đó không ổn. Đáng lẽ phải có những đàn sứa phát sáng hoặc một số sinh vật nhỏ trong suốt bơi lội, mực là món ăn ngon lành nhất ở đây, nhưng hiện tại chúng đã biến mất. Nó ngập ngừng bơi về phía trước một khoảng, mùi lạ càng nồng nặc hơn.

Cá Voi Trắng chần chừ, bản năng mách bảo nó rằng đây là một nơi nguy hiểm. Tuy nhiên, tính từ cảm xúc được Gymir sử dụng là “khủng hoảng”, được “truyền tải” một cách hoàn hảo tới thám tử đang khẩn trương nhậm chức thông qua ám chỉ bằng sức mạnh, nên Cá Voi Trắng biết rằng mức độ “nguy hiểm” ở đây không đạt tiêu chuẩn.

Cá Voi Trắng cảm nhận lượng oxy dự trữ trong phổi, quyết định ở lại thêm ba phút nữa để xem chuyện gì đang xảy ra. Nó tiếp tục lặn xuống. Nó di chuyển thận trọng, tất cả các hệ thống giác quan đang cố gắng hết sức để tiếp nhận nhiều thông tin khác nhau từ biển.

Không có một âm thanh nào, một sự im lặng chết chóc.

Sau khi đột biến, thị lực của Cá Voi Trắng cũng được cải thiện, nó có thể cố gắng phân biệt được các vật thể đang chuyển động ở nơi gần như không có ánh sáng này. Tất nhiên, nếu có thứ gì đó không thở, không có nhịp tim, lại không cử động, chỉ lặng lẽ ẩn nấp trong vùng biển tối tăm, thì… cho dù Cá Voi Trắng có bơi ngang qua vật này cũng không thể phát hiện được.

Vấn đề là hiện tại Cá Voi Trắng đang cảm thấy như vậy. Và nó có thể nghĩ ra những tình huống thậm chí còn đáng sợ hơn. Ví dụ, đây không phải là một vùng biển sâu mà giống một hang động không đáy đang bốc mùi hơn, có thể là cái miệng há rộng của một con quái vật biển khổng lồ.

“Uuu.” Cá Voi Trắng không khỏi kêu lên một tiếng thật nhỏ. Nó sợ hãi bởi giọng nói của chính mình, ngừng bơi, thậm chí không dám cử động vây. Cơ thể cứng ngắc từ từ chìm xuống.

Không có bất cứ chuyển động nào xung quanh. Cá Voi Trắng cuối cùng lại vẫy đuôi tiếp tục bơi về phía trước. Lúc này, nó nhìn thấy một bóng trắng xuất hiện từ phía dưới. Cái bóng rất lớn nhưng chuyển động lại rất chậm, chỉ có thể nhìn thấy một phần “phình ra” trên lưng của nó.

Cá Voi Trắng bối rối nghĩ, đây có phải là đồng loại không? Không, nơi này đã rất sâu rồi (hơn năm trăm mét cũng không phải là sâu lắm, nhưng cá voi trắng hiếm khi lặn đến chỗ sâu như vậy). Chú cá voi trắng này còn rất trẻ, chưa từng thấy sinh vật biển bạch tạng nào ngoại trừ đồng loại, cũng không biết trên thế giới có tồn tại cá voi sát thủ trắng và cá voi lưng gù trắng. Vậy nên Cá Voi Trắng do dự một lát, không rút lui ngay mà đứng yên tại chỗ cố gắng nhận diện.

“Da” không được đầy đặn lắm, vẻ bề ngoài bành trướng và phồng lên trông hơi giống một con sứa. Sứa Cyaneidae ở vùng biển sâu Bắc Cực không có kích thước quá lớn như thế này. Cả “tán dù” đủ lớn để che phủ cả một con cá voi trắng. Điều đáng sợ hơn nữa là cái “tán dù” đang nổi lên nhanh nhất dường như dẫn đầu một quần thể lớn, phía dưới tán dù là hàng loạt những vật có hình dạng tấm da màu trắng mềm nhũn trải dài liên miên, nhìn từ xa trông như núi băng đang sụp đổ, băng trôi tranh giành nhau bay qua.

Cá Voi Trắng thấy đầu óc choáng váng, nó quyết đoán quay người lại, vây đuôi và các cơ trên cơ thể quẫy mạnh, lao về phía mặt biển như một mũi tên nhọn.

Nước biển rung chuyển và lắc lư. Cá Voi Trắng nhanh chóng mất phương hướng, điều này khiến nó sợ hãi. Bản năng sinh tồn của cá voi là xác định hướng của mặt biển, vì chúng cần lên mặt biển để thở. Dù có chuyện gì xảy ra đi chăng nữa, Cá Voi Trắng sẽ không bao giờ nhầm lẫn hướng đi của “sự sống”, đây là khả năng bẩm sinh, giống như con người không cần học cách thở. Bây giờ nó dường như đã bị tước đi khả năng này, đầu nó càng ngày càng nặng. Những thứ giống như tấm da màu trắng kia ở khắp xung quanh nó. Dù vẫn còn xa, nhưng “chúng” đang ngày càng gần hơn.

Cá Voi Trắng chỉ có thể chọn bừa một hướng, đội cái sừng dài… đội cái răng dài của mình lao về phía trước. Nó có thể đã lặn xuống vùng biển sâu hơn, hoặc có thể bị quấy nhiễu nên di chuyển sai hướng. Lượng oxy trong phổi có hạn, Cá Voi Trắng hoảng sợ chạy bừa.

Đúng lúc này, Cá Voi Trắng chợt nghe thấy một tiếng “mắng chửi” loáng thoáng.

Là con moóc kia.

Cá Voi Trắng không thể hiểu được ngôn ngữ của moóc, nhưng có thể xác định được nguồn gốc của tiếng kêu. Cái tên ban nãy bị gãy răng kia vừa chửi bới vừa đuổi theo nó không buông, chắc hẳn đã bơi loanh quanh ở vùng nước phía trên một hồi vì không cam tâm, biết đâu lại tìm một mảnh băng trôi nào đó để nằm chờ nó ngoi lên thở, rồi thừa cơ đánh lén.

Hừ.

Cá Voi Trắng bắt đầu điều chỉnh các cơ của thanh quản, rung động để tạo ra âm thanh. Bắt chước hoàn hảo tiếng chửi bới của moóc, bật chế độ mắng chửi cuồng nhiệt. Tiếng kêu của moóc vốn giống âm thanh của đàn cá voi, tràn đầy năng lượng, lại the thé, có thể thay đổi thành nhiều âm điệu, “tiếng chửi rủa” có nhiều biến thể phong phú.

Trong việc mắng chửi lẫn nhau này, nếu chỉ biết bắt chước, mà lại còn bắt chước rất đơn điệu, thì chắc chắn sẽ không kéo dài được lâu. Cá Voi Trắng rất thông minh, nó ghi nhớ tất cả các “tiếng chửi rủa” của moóc, phát lại chúng trong một giây, còn có thể thu thập các tài liệu mới, gia công xử lý rồi phát lại.

Đúng như dự đoán, con moóc bị chọc giận. Tiếng gào thét mơ hồ ban đầu ngày càng lớn hơn. Trong cơ thể moóc có rất nhiều máu, chứa được nhiều oxy. Nó có thể lặn sâu hơn cá voi trắng, nó đến đây để trả thù.

Cá Voi Trắng vô cùng vui sướng, lần theo tiếng chửi rủa của moóc mà bơi hết mình.

Đó là hướng mặt biển!

***

Gymir im lặng.

Hắn biến từ trạng thái bóng đen trở lại hình người.

Johnson nghi hoặc ngẩng đầu lên: “Sao thế? Không phải vừa rồi anh nói Cá Voi Trắng đang ở trong cảm xúc khủng hoảng và tuyệt vọng vô cùng, hẳn là đã gặp phải <i>thứ gì đó</i> dưới đáy biển hay sao?”

Dựa vào sự kết nối sức mạnh, Gymir sẽ ngay lập tức xác định được vị trí của Cá Voi Trắng, thuận tay cứu nó đồng thời lao vào hang ổ tạm thời của Cochro.

“Khủng hoảng biến mất rồi.”

Gymir nhìn chăm chú về phía mặt biển xa xa, nhanh chóng nhắm mắt lại khi nhìn thấy những tấm da màu trắng đang nhấp nhô để không đánh động đối phương bởi “ánh mắt của tà thần”.

“Biến mất? Cá Voi Trắng chết rồi?” Johnson ngạc nhiên, y có hơi tiếc nuối, con cá voi trắng này cũng khá thú vị.

“Chưa chết.” Thần Biển rít qua kẽ răng một câu: “Nó đang vui sướng.”

Johnson: “…”

***

Chiếc sừng dài của Cá Voi Trắng không có tác dụng với lớp mỡ dày, nhưng lại rất hiệu quả đối với những thứ giống như tấm da màu trắng kỳ lạ đó. Chọc cái nào trúng cái đó. Đội tấm da lên giống như vừa đội chăn vừa thi bơi tốc độ cao trong biển.

Cá Voi Trắng quen với cái này lắm. Thi bơi tốc độ cao, hay còn gọi là chế độ chạy trốn cuộc truy đuổi của cá voi sát thủ, tiền cược là mạng sống. Cuộc chạy đó kéo dài vài giờ, nhưng bây giờ thì sao? Nó cách mặt biển có bao xa đâu, sợ gì, xung phong!

Cá Voi Trắng vừa lao tới vừa tiếp tục “mắng chửi” moóc.

Các tấm da màu trắng dường như nhận thấy con mồi sắp trốn thoát nên đều lao tới. Hết tấm thảm lông này đến tấm thảm lông khác cố “chụp lên” trước Cá Voi Trắng đang bơi.

Bản năng của Cá Voi Trắng cho nó biết, không thể để những thứ này dính vào da mình, dù nó có vảy bảo vệ cũng khó có thể cầm cự quá lâu. Hơn nữa, độ dày của những thứ này khi xếp chồng lên nhau có thể chặn lỗ khí của nó. Nếu như bị bao phủ trên người, tốc độ nhất định sẽ bị ảnh hưởng, cơ thể sẽ càng ngày càng nặng… Thế là xong đời.

Cá Voi Trắng ra sức vọt về phía trước. Lúc này nó phát hiện tốc độ dòng chảy đã chậm lại, rõ ràng là nó đã dùng hết sức mình, nhưng tốc độ lại càng chậm lại.

Đợi đã, là do cái sừng, có nhiều hơn một con quái vật thảm da trên đầu sừng. Chúng đang cuộn tròn cơ thể giữa những cơn sóng hỗn loạn, cố gắng “quấn” cả sừng lẫn cá voi lại.

Nguy rồi!

Tốc độ chậm lại, quái vật thảm da xung quanh cũng đang tiến đến gần. Trong vực thẳm biển băng bên dưới còn có vô số tấm thảm da màu trắng đuổi theo.

Vào thời khắc mấu chốt, Cá Voi Trắng một lần nữa bộc lộ thiên phú chủng tộc của mình… cơ thể của nó lộn nhào giữa biển. Quay tròn như con quay, quái vật thảm da đang quấn vào sừng dài thì giống như cối xay gió, trực tiếp “đánh” bay những con quái vật khác cố gắng đến gần.

Johnson lúc này được Gymir dẫn xuống biển: “…”

Y nhìn thấy Cá Voi Trắng đang ngoi lên như con quay, đấu đá lung tung, dốc sức mắng chửi. Những sinh vật thảm da đang bao vây đuổi theo cứ bị ném ra ngoài, rồi lại bổ nhào lên, thành một dòng chảy vô tận, trông như một cây “cột trắng” kinh dị đang nhô lên từ đáy biển, mà Cá Voi Trắng là kẻ đứng đầu trên đỉnh cột.

“Ấy, sao lại lệch rồi?” Johnson vô thức hỏi.

Hướng đi lên thẳng đứng bỗng biến thành đường cong, từ cột trắng biến thành dải ruy băng trắng trong lòng biển.

Gymir: “…Con moóc kia sợ quá chạy rồi.”

Moóc cũng không phải thật sự ngu ngốc, đang vừa chửi thề vừa lặn xuống tìm cách trả thù, đột nhiên nhìn thấy cảnh tượng kinh hoàng này làm sao mà không chạy trốn cho được? Nhưng nó vẫn gắt gỏng, vừa chạy vừa mắng.

“Nhưng nơi này cách mặt biển không bao xa nữa.” Johnson nhìn lên núi băng phía trên.

“Những sinh vật đột biến đó đã chặn tầm nhìn của Cá Voi Trắng, nó không thấy được.”

Gymir trầm ngâm nửa phút rồi nói: “Đã đến lúc phải giải cứu, con moóc kia sợ quá không dám lên tiếng nữa, thám tử của chúng ta đã lạc đường, đang chui xuống đáy biển một lần nữa rồi.”
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 73


<b>Chương 73</b>

<b>Đóng băng</b>

Cá Voi Trắng chạy trốn như điên.

Bơi rồi bơi, nó phát hiện xung quanh dần dần sáng sủa hơn.

Quái vật thảm da ùn ùn kéo đến bao vây nó trở nên thưa thớt hơn một chút, có thể nhìn thấy nước biển bên ngoài.

Nước biển được chiếu sáng bởi mặt trời!

Cá Voi Trắng hào hứng đuổi theo ánh phản quang, lao về phía mặt biển.

Một tia nước phun ra thật cao.

Cá Voi Trắng sung sướng hít một hơi từ cái không khí se lạnh của vùng cực qua lỗ phun nước, cơ thể nó trở nên nhẹ hơn nhiều, thậm chí còn cảm thấy như mình có thể làm một cuộc thi nổi nhanh 600 mét nữa ngay lập tức. Nó lúc lắc cái đầu, thử mắng moóc một câu nữa, định đi tìm và “cảm ơn” đàng hoàng người bạn mới gặp được trên đường kia, kết quả không cần nghĩ cũng biết, con moóc kia đã trốn đi từ lâu rồi.

Cá Voi Trắng không thấy tiếc nuối gì lắm, nó còn phải đang chạy trốn đây này, hít thở xong là phải tiếp tục đội thảm da chạy tiếp đây.

“Ưn?”

Nước biển đã hoàn toàn thay đổi.

Những cột băng kỳ lạ đang trải dài trên biển. Các cột băng đến từ băng trôi trên mặt biển và dưới đáy núi băng khổng lồ. Chúng đang điên cuồng duỗi dài về phía sâu trong biển, kèm theo âm thanh “răng rắc răng rắc” lạnh buốt, tưởng chừng như biến thành những bậc thang băng tự nhiên đi sâu xuống biển, xây dựng nên các lối đi phức tạp trong lòng biển. Từng cột băng đều dốc và nhẵn, lơ lửng quanh “cầu thang” còn có “sương” kỳ lạ đang bay.

Dưới biển sao lại có sương?

Cá Voi Trắng kinh hãi. Bản năng mách bảo nó không được chạm vào làn “sương” đang lơ lửng đó, bởi vì những quái vật thảm da ban đầu đuổi theo nó đang chạy trốn như điên giữa biển, khi gặp phải làn sương, chuyển động của chúng trở nên chậm chạp, sau đó chúng bị những cột băng kỳ lạ không ngừng lớn dần đuổi kịp. Chỉ trong thời gian ngắn như vậy thôi mà số lượng sinh vật thảm da đã giảm đi hơn một nửa.

Cá Voi Trắng tình cờ nhìn thấy một con thảm da phía bên phải bị đồng loại đè trúng cột băng, thứ đó ra sức vùng vẫy để thoát khỏi, nhưng bề mặt cơ thể vẫn nhanh chóng bị bao phủ bởi một lớp sương giá, tạo thành hoa văn băng không có quy luật, một hàng nhỏ “gai băng” rất mảnh xuất hiện ở mép tấm thảm da vốn mềm dẻo linh hoạt. Những chiếc gai băng “đi” quanh cơ thể quái vật thảm da một vòng, cuộc giằng co dừng lại.

Cá Voi Trắng không hiểu khoa học, nó không biết rằng những gai băng đó đến từ độ ẩm tế bào trong cơ thể quái vật thảm da bị đông lạnh nứt vỡ. Băng giá đã phá hủy cơ thể của những quái vật thảm da này, biến chúng thành một phần của cột băng, tư thế vùng vẫy bị đông cứng trước khi chết càng làm tăng thêm vẻ đẹp kỳ dị cho những cột băng.

Cá Voi Trắng hiển nhiên là không biết thưởng thức loại nghệ thuật này, nó chỉ cảm thấy sợ hãi. Nỗi sợ hãi vô biên. Thấy một cột băng khác sắp thành hình, Cá Voi Trắng chúi đầu liều mạng lặn xuống. Vùng biển ngập nắng phía trên không còn tượng trưng cho ấm áp và sự sống, mà là một mê cung chết chóc được tạo nên từ những cột băng. Với thân hình to lớn, Cá Voi Trắng không có cách nào di chuyển linh hoạt để tránh né các cột băng đang lớn dần lên. Nó rùng mình khi nghĩ đến việc mình bị đóng băng ở đó, biến thành một bức tượng điêu khắc bằng băng.

Nước biển như đang thay đổi. Cá Voi trắng cúi đầu nhìn xuống, phát hiện nhiều sinh vật nhỏ cũng đang rơi xuống.

Cột băng vẫn chưa đuổi tới đây!

Cá Voi Trắng đang hoang mang bối rối bỗng bị một lực vô hình “nâng lên”, nó hoảng hốt hét lên, rồi chợt phát hiện thứ bao bọc mình là một cái bong bóng.

Bong bóng khí!

Cá Voi Trắng phấn khích quay đầu lại, quả nhiên nhìn thấy Gymir. Dù nó không thể phân biệt được hình dáng con người, nhưng chiếc mặt nạ sáng bóng kia lại quá dễ thấy. Bên ngoài bong bóng chẳng mấy chốc đã bị bao phủ bởi một lớp băng mỏng, Cá Voi Trắng tò mò dùng đầu cụng vào, đến khi nhớ ra mình đã mọc sừng, nó sợ quá vội vàng rụt lại. Sau đó nó thấy chiếc sừng đã lún sâu vào bong bóng trong suốt, nhưng bong bóng vẫn rất vững chắc.

“Áng?” Cá Voi Trắng bắt đầu thích thú, đang định chơi bong bóng bằng sừng của mình thì nghe thấy giọng nói của Gymir.

“Nằm yên!”

“…” Cá Voi Trắng đổi sang dùng đuôi vỗ nhẹ vào vách trong suốt của bong bóng.

Giọng Gymir lạnh đi: “Thịt đông lạnh.”

Cá Voi Trắng không dám cử động. Nó không muốn trở thành một miếng thịt chứ đừng nói đến thịt đông lạnh.

Vì thế khi Johnson đến đây, y đã nhìn thấy một con cá voi trắng đáng thương đang nằm trong bong bóng.

Mê cung băng giá chết chóc tráng lệ này được tạo ra bởi sức mạnh của Johnson. Mục đích là để phong tỏa vùng biển này.

“…Là mùi của Bướm Xám.” Johnson nói rất chắc chắn.

Xác nhận xong, y ra tay không chút do dự, thế là Cá Voi Trắng có thể thoát khỏi vòng vây của đống thảm da kia để lên mặt biển hít thở. Nhưng những sinh vật thảm da đó lại chết quá đơn giản, quá nhanh chóng. Điều này khiến Johnson lòng đầy nghi ngờ.

“Cái này không khác sinh vật biến dị bình thường chút nào, chất lượng… quá kém thì phải!”

Đây là hậu duệ của thần cổ xưa thật à, một con cá voi trắng mà cũng không bắt được nghĩa là sao? Bầy thảm da màu trắng đó trông chẳng có vẻ gì là có não cả. Không trí tuệ, không sức mạnh… chỉ dựa vào số lượng?

Johnson không thể hiểu được, y nhìn Gymir, ý nghĩa rất rõ ràng… “Anh chắc là Cochro tìm Bướm Xám để sinh con chứ không phải sinh đồ ăn chứ?”

Gymir: “…”

Cochro có thói quen ăn luôn cả hậu duệ, bởi không phải lúc nào gã cũng hài lòng về mọi hậu duệ, bây giờ thừa ra một bầy lớn thế này là do ăn không hết, hay là quá khó nuốt? Đây quả là một câu hỏi hay.

“Kém cỏi quá, ta đoán chắc Cochro nuốt không trôi đấy.” Khóe miệng Gymir giật giật.

“Vậy mà vẫn sinh nhiều con thế?” Johnson không thể hiểu được.

Gymir không nói gì, mà chỉ chỉ xuống đáy biển. Chỉ là suy đoán vô căn cứ, thà vào nhà đánh nhau còn hơn… Khụ, vào nhà tìm hiểu xem chuyện gì đang xảy ra.

“Cochro rất có thể không có ở đây, em nghi đây chỉ là hang ổ của Bướm Xám.” Johnson đóng băng những sinh vật thảm da đó gần mặt biển, không tốn nhiều sức mạnh quá, nhưng cũng đủ cho một thần cổ xưa nhận ra rằng lãnh địa của mình đã bị xâm phạm. Johnson không muốn xem buổi biểu diễn trực tiếp cảnh Cochro và Bướm Xám tạo ra hậu duệ.

Giờ này có lẽ Cochro đã biết họ đang tới. Sức mạnh của tà thần xuyên thấu từ trên xuống dưới, đã phong tỏa toàn bộ khu vực này.

Cá Voi Trắng đã hoàn thành tốt nhiệm vụ với tư cách là người dò đường, Gymir xác định được vị trí gần đúng của hang ổ Bướm Xám thông qua “liên hệ”. Các cột băng đã lan đến xung quanh họ, Gymir chủ động nắm tay Johnson, mặt băng phản chiếu hình ảnh của họ. Không phải bóng dáng con người. Dây leo đen xoắn lại, tảng đá kinh khủng và hỗn loạn.

“Uuu…”

Cá Voi Trắng đau đớn lăn lộn. May mắn là bề mặt bong bóng đã được bao phủ bởi những hoa băng, ngăn cách một lớp, mà đây còn là một hình phản chiếu vặn vẹo, Cá Voi Trắng mới không chết đi một cách vô nghĩa.

Johnson giật mình vì âm thanh, dây leo trong ảnh phản chiếu bất mãn chọc vào Đá ngầm quái quỷ.

“Đưa nó lên mặt biển đi.” Nơi này sắp trở thành chiến trường.

Bong bóng nhanh chóng nổi lên trên.

Gymir biến thành một cái bóng khổng lồ, “nuốt chửng” quả cầu dây leo rồi rơi thẳng xuống đáy biển. Tốc độ của cái bóng rất nhanh, nó vẫn đang dần dần biến hình, vô số xúc tu dài vươn ra càn quét đáy biển.

Những mảnh hoa băng kỳ lạ hình thành dưới đáy biển. Những tinh thể băng rơi xuống đáy biển tối tăm như một cơn mưa. Cái bóng mô phỏng những xúc tu của dây leo rung chuyển nhẹ nhàng, như thể đang lọc hơi thở do tinh thể băng mang theo.

“Bướm Xám… Cochro… sinh sản…” Lời thì thầm không thể miêu tả đến từ bên trong cái bóng. Đồng thời, tất cả cảnh vật ở vùng biển này đều được ghép nối xen kẽ nhau trong tầm nhìn của “nó”.

Bản thể của Bướm Xám giống như một con nhộng khổng lồ, Bướm Xám quấn mình vào bên trong nghĩa là nó chưa hoàn thành triệt để quá trình tiến hóa của bản thể. Phía sau con nhộng có một cái lỗ, những tấm thảm da màu trắng đó bay ra từ đó.

Đồng thời, cấu trúc cơ thể của Bướm Xám cũng hoàn toàn lộ ra trước mắt Johnson và Gymir.

Johnson nhanh chóng nhắm mắt lại, trong suy nghĩ của y tràn ngập sự kinh ngạc hỗn loạn vô trật tự. Quá bất ngờ, đến nỗi bị ảnh hưởng bởi sự tấn công hỗn loạn của đồng loại.

“Anh từng nói Cochro có thể bơm trực tiếp chồi mầm vào đồng loại.”

“Phải.”

Đây là điểm đáng hận nhất của Cochro, gã sinh sản mà không cần hòa trộn sức mạnh, chỉ cần cưỡng ép “đâm” vào cơ thể đồng loại, thậm chí là bộ phận nào trên cơ thể cũng không quan trọng. Nếu đồng loại này không đủ sức tiêu hóa chồi mầm thì buộc phải sinh ra hậu duệ của Cochro.

Phương pháp trăm trận trăm thắng này bị Bướm Xám phá vỡ mất rồi.

Bướm Xám là loại tà thần có thể tăng cường sức mạnh thông qua sinh sản, nó có một cơ quan sinh sản chiếm phần lớn cơ thể. Nhưng lại mọc đầy những chiếc răng sắc nhọn. Nếu có một loại đồng loại muốn giao phối với Bướm Xám, chắc chắn sẽ phải chịu cảnh bị xay nát máu thịt hết sức đẫm máu. Tùy vào mục tiêu có đủ cứng rắn hay không, có thể phá vỡ được vô số vòng răng sắc nhọn đáng sợ của Bướm Xám hay không.

Johnson chợt nhớ ra rằng cô gái đột biến mà y nhìn thấy ở Luân Đôn năm đó cũng bị ô nhiễm tập trung biến đổi theo xu hướng tương tự.

“Lúc đó em đã cảm thấy tình trạng ô nhiễm này rất kỳ quái, không tăng cường thể lực, không thể khiến con người thông minh hơn, tăng khả năng phòng vệ trước ô nhiễm tinh thần, mà chỉ là…” Mọc răng trong người.

Và một khi những chiếc răng sắc nhọn khát máu này nhận được “chất dinh dưỡng”, chúng sẽ nhanh chóng khiến cho con người bị sức mạnh đó ký sinh hoàn thành việc lột xác, biến thành quyến thuộc của Bướm Xám. Chúng có đôi cánh tuyệt đẹp, hình thái tuyệt vời, tốc độ đáng kinh ngạc, tuy tay chân mỏng manh nhưng chúng cũng giống như Bướm Xám, không thể “đụng vào” được.

Không tà thần nào muốn bị tổn thương như thế này. Cochro cũng không muốn. Vì vậy gã đã tận dụng tối đa ưu thế của mình, tiêm chồi mầm vào lưng của Bướm Xám. Thế như răng của Bướm Xám cũng sinh ra theo, cứ thế nghiền nát chồi mầm. Cứ mỗi mảnh vụn nhỏ sẽ sinh ra một bầy quái vật thảm da.

Bướm Xám chẳng cần hậu duệ mạnh mẽ, nó chỉ cần số lượng quyến thuộc vô cùng vô tận, có thể sinh ra một vạn con thì quyết không chỉ dừng lại ở hàng trăm. Còn về việc hậu duệ quá yếu, không đánh đấm gì được thì sao? Bướm Xám không quan tâm, nó không hề lựa chọn phát triển một bộ não biết suy nghĩ hợp lý, lý trí hoàn toàn không cần thiết đối với tà thần. Ý thức hỗn loạn này thực sự sẽ trở thành một lợi thế khi phải đối mặt với loại đồng mạnh mẽ.

Cochro đã không thể “khống chế” Bướm Xám. Bướm Xám chỉ sinh sản theo cách mình muốn. Sao cơ, Cochro không hài lòng? Cochro có thể giết Bướm Xám, ăn Bướm Xám, nhưng đừng mơ có được một hậu duệ ưng ý.

“Ha.” Johnson không khỏi bật cười. Chuyện này thực sự hài hước không chịu nổi, thì ra các tà thần tăng thêm sức mạnh bằng cách sinh sản đều xuất sắc như thế à?

Hóa thân bóng đêm của Gymir bất ngờ cuộn gần hết các xúc tu, quất mạnh xuống nham thạch dưới đáy biển.

Đá vụn sụp xuống, một tấm Thảm Bay khổng lồ với nhiều màu sắc sặc sỡ, liên tục biến đổi từ từ bay ra.

“Đồng minh mà mày tìm được quả nhiên rất đặc biệt.” Thảm Bay nhìn chằm chằm vào quả cầu dây leo ẩn trong cái bóng. Cochro có thể cảm nhận rõ ràng sức mạnh đang bao trùm vùng biển này, điều này càng khiến gã tin tưởng hơn vào ý tưởng của mình. “Mày thấy chưa, sự dung hợp hoàn hảo sức mạnh của hai tà thần thường mang lại cho chúng ta những hiệu quả bất ngờ. Đóng băng cả một vùng biển… Trước đây mày không có năng lực này đấy thôi.”

Gymir nhìn Thảm Bay, châm chọc nói:

“Vậy sao? Tao còn đang định chúc mừng mày, Cochro. Cuối cùng mày đã tìm được đồng minh phù hợp nhất, sức mạnh của chúng mày hòa quyện một cách hoàn hảo. Mày xem kìa, mỗi hậu duệ mà Bướm Xám sinh ra trông đều giống như những sinh vật bị mày làm ô nhiễm, nhưng chúng đẹp biết bao, không giống những sinh vật ô nhiễm vẫn còn mang bộ lông đặc trưng của chúng khi còn sống. Nếu mày chê màu sắc buồn tẻ của mấy đứa con, vậy chờ lúc bản thể của Bướm Xám lột xác xong, màu cánh của nó chắc chắn sẽ được di truyền cho hậu duệ, tới lúc đó Bướm Xám cung cấp vảy màu, mày cung cấp hoa văn, dù có sinh cả vạn đứa cũng vẫn đảm bảo không đứa nào giống đứa nào.”
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 74


<b>Chương 74</b>

<b>Không phải như thế</b>

Nước biển đang cuộn trào.

Không phải vì hoạt động núi lửa dưới đáy đại dương, mà vì quá lạnh.

Mặt biển là mái vòm lộng lẫy của mê cung, khổng lồ, và không thể phá hủy. Những cột băng tiếp tục kéo dài xuống dưới trở thành cột trụ của mê cung, cuối cùng nối từng đôi lại với nhau tạo thành một bức tường băng kín gió.

Giờ đây vùng biển này như bị úp bên dưới một chiếc lồng băng úp ngược. Mặc dù rất nhiều nước biển đang chảy trong lồng, nhưng mọi thứ đang có những thay đổi dữ dội. Bởi khi nước biển đóng băng, một lượng lớn muối bị đẩy ra khỏi băng, hòa vào nước biển gần đó, nồng độ muối khác nhau khiến nhiều dòng chảy ngầm xuất hiện ở vùng biển này, có cái dâng lên, cái lại hạ xuống. Phạm vi đóng băng càng lớn, tốc độ càng nhanh thì những dòng nước ngầm vô hình này càng mãnh liệt, cuộn trào như trong một nồi súp.

Rắc.

Những mảnh băng mỏng trôi nổi trên biển, va chạm vào nhau.

Dòng chảy ngầm dễ dàng phân tán lớp băng mỏng. Nhưng lớp băng mỏng ần lượt xuất hiện nhiều hơn, dòng nước ngầm mang theo những tinh thể băng nhỏ này, tựa như một dải Ngân hà treo trên “bầu trời” tối tăm. Các ngôi sao của dải Ngân hà tỏa sáng rực rỡ, cho thấy cái lạnh cực độ đã hoàn toàn thống trị vùng biển này.

Băng chưa bao giờ xâm chiếm vùng nước có độ sâu như vậy. Rãnh đại dương vốn lẽ ra không hề thay đổi trong hàng chục ngàn năm qua nay bị bao phủ trong cơn bão lạnh giá, sương giá lan rộng trên bề mặt đá biển rắn chắc, tạo thành những hình thù vặn vẹo hỗn loạn.

Bướm Xám đang nằm trong tổ tập trung sinh sản hậu duệ cũng nhận thấy có điều gì đó không ổn, cơ thể nặng nề bọc trong kén bỗng bắt đầu rung chuyển. Những tấm thảm trắng kia nhận được mệnh lệnh, điên cuồng dồn lại thành một vòng vải che phủ, bảo vệ chặt chẽ Bướm Xám bên trong. Kiểu bảo vệ này có vẻ nực cười và yếu đuối trong mắt ba tà thần còn lại.

“…Thật đáng tiếc, mấy đứa con này dường như không nghe lời mày.” Gymir chế giễu không thương tiếc. Tất nhiên Gymir biết Cochro không quan tâm đến những “hậu duệ” này, nhưng thần Biển làm sao có thể bỏ lỡ cơ hội làm cho Cochro buồn nôn?

Những họa tiết trên Thảm Bay không ngừng thay đổi, giống như những suy nghĩ phức tạp của Cochro.

Ngày càng có nhiều tinh thể băng trong nước biển.

Gymir chọn đối đầu, vì hắn không chắc những “đứa con thật” của Cochro ở đâu.

Những hậu duệ đó đều được tà thần sinh ra, nếu được Cochro giữ lại thì chắc chắn chúng đã thừa hưởng một năng lực đặc biệt nào đó, chúng không phải là thứ ăn hại như bọn quái vật thảm da, ngay cả một con cá voi trắng cũng không bắt nổi. Nhưng khi Cochro biến mất thì những quyến thuộc này cũng biến mất. Đây là một yếu tố không xác định.

Dù Gymir rất muốn đánh cho Cochro tàn phế ngay lập tức, nhưng hắn sẽ không để cơn tức giận chi phối mình. Trên thế giới này chỉ có Johnson mới có thể khiến Gymir từ bỏ lý trí, bị cảm xúc thao túng.

Cochro không có tư cách này!

Gymir vừa câu giờ để chờ đợi vương quốc băng giá mở rộng, vừa chế nhạo Cochro, muốn thăm dò xem những hậu duệ của Cochro rốt cuộc thì đang ẩn náu ở đâu. Nhưng Cochro vẫn không có phản ứng gì, chỉ lơ lửng giữa biển, màu sắc bên ngoài cơ thể đổi qua đổi lại.

“Mày đang làm trò gì? Thể hiện sự quyến rũ đáng thương của mình?” Gymir cảnh giác hỏi.

Cochro luôn tỏ ra như đang tán tỉnh người khác bất cứ lúc nào, Gymir đã quen rồi, kết quả bây giờ hắn mới nhận ra mình đã bất cẩn, để cho gã này khoe khoang trước mặt Johnson trong một thời gian dài như thế.

Quả cầu dây leo ẩn mình trong cái bóng, không nhịn được chọc chọc Gymir.

Thảm Bay bật ra một tiếng cười quái đản.

Johnson: “…”

Trước đó Johnson đã có một cảm giác kỳ lạ, bây giờ y có thể chắc chắn. “Cochro tìm anh, hình như không phải để sinh con.”

“Không, đầu óc nó không thể nào nhét thêm bất cứ thứ gì khác được!”

Cái bóng và dây leo liên tục thì thầm.

“Gã tốn bao công sức tìm kiếm anh ở Bắc Cực, nhưng lại chỉ chọn mấy thứ vật dụng của con người để ném xuống, tại sao? Ném đống thảm da này không được sao?”

“Nó tình cờ gặp phải tàu ngầm và máy bay? Nghĩ rằng chúng quá ồn ào?” Gymir trả lời theo bản năng.

Johnson: “…”

Gymir nhanh chóng nhận ra rằng hắn đang suy đoán về Cochro dựa trên những sở thích của chính mình. Đối với Gymir, vùng biển băng ở Bắc Cực yên bình mà lại có tàu ngầm và máy bay của con người vòng quanh, thực sự ồn ào và chướng mắt. Vì khoảng cách quá xa nên ngay cả muỗi mà hắn cũng không thèm đối phó, nhưng nếu muỗi bị ném tới trước giường thì lại khác. Không tháo dỡ luôn thì còn chờ gì? Nghe nói sức nổ của chiếc tàu ngầm đó rất mạnh, gây tiếng độn rất lớn, nhìn thấy thứ này, thần Biển có tức giận không?

“Cả hai đều là thần cổ xưa, cũng như anh hiểu hành vi khó ưa của gã, Cochro cũng hiểu thói quen của anh.” Johnson nghiêm túc suy đoán, y nghi ngờ Cochro cố ý tìm những thứ này về để đánh thức Gymir, còn đống thảm da kia à, Gymir sẽ chỉ liếc mắt một cái rồi thôi, thần Biển quá lười (lời đồn từ trước khi gặp Johnson), hắn sẽ không chịu thức dậy.

Bị Johnson ám chỉ là lười biếng, Gymir: “…”

Gymir còn không thể phản bác, bởi vì hắn quả thực lười biếng, không muốn động đậy.

“Ta nghi ngờ nó đang nhắm vào em.” Gymir nói, rồi lại vô thức ôm chặt lấy quả cầu dây leo hơn nữa.

“Sinh ra một tấm thảm da có thể sử dụng năng lực băng giá? Hay một tấm thảm da mọc đầy những xúc tu dây leo?” Johnson rất muốn đập cho người yêu của mình tỉnh lại, y chỉ là một thần mới bình thường, không có năng lực sinh sản như Bướm Xám, Cochro nhắm vào y làm gì kia chứ?

“Hậu duệ do Bướm Xám sinh ra tuy là rác rưởi nhưng lại có khả năng lan truyền ô nhiễm khủng khiếp nhất, chúng ta đã thấy ở Luân Đôn rồi, vô số bươm bướm bay ra từ sông Thames, bột vảy có thể từ từ ăn mòn người dân toàn thành phố.”

Chồi mầm của Cochro thoắt một cái đã làm tăng kích thước của hậu duệ Bướm Xám lên vô số lần. Một tấm thảm lớn có thể rắc được bao nhiêu bột vảy? Trước khi vùng biển này bị Johnson đóng băng, chỉ có vài chục mét nước biển phía trên cùng là còn dấu hiệu hoạt động của sự sống, tại sao các sinh vật khác lại biến mất, cái này cần phải hỏi sao?

Cá Voi Trắng rất may mắn, nó đã có đột biến do tà thần mạnh hơn gây ra, nên không bị ảnh hưởng bởi quái vật thảm da. Những quái vật thảm da này có sức mạnh thấp kém đáng thương trong mắt tà thần, nhưng đối với sinh vật bình thường và con người, chúng vẫn là một thảm họa.

Johnson cho rằng nếu Cochro đi cướp đoạt hậu duệ do thần mới sinh ra, một hậu duệ đơn lẻ dù trông có vẻ hữu ích nhưng cũng không đáng để liệt vào “hậu duệ ưu tú”, không so sánh được với hậu duệ Bướm Xám có số lượng khổng lồ. Thảm da có sức chiến đấu rác rưởi và hậu duệ mà sức chiến đấu hạng nhất hạng nhì thật ra đều giống nhau trong mắt tà thần.

Gymir không mấy hài lòng với lời Johnson nói, nhưng lý trí mách bảo hắn rằng Johnson nói đúng. Gymir đã khám phá Johnson từ trong ra ngoài, từ tinh thần đến thể xác, hắn biết rất rõ rằng y thực sự không có gì “đặc biệt”.

“Nó có thể giống ta thì sao, thích em ngay khi nhìn thấy em.” Gymir vẫn lo lắng.

Johnson không nhịn được nói: “Theo logic thì Cochro vẫn luôn thèm muốn anh, đột nhiên phát hiện ra anh có ý trung nhân, như vậy nhiều khả năng gã sẽ có hứng thú với em phải không?”

“Không, đây là logic của con người!” Gymir kiên quyết phủ nhận.

“… Bất kể logic đó là của ai, Cochro mất kiên nhẫn rồi kìa.” Johnson bất lực nhắc nhở.

Cái bóng có vô số xúc tu ngừng lời thì thầm không thể miêu tả, ngước nhìn lên Thảm Bay ở đối diện.

Thảm Bay khoe bản thể của mình rất lâu, chủ yếu là những sọc có thể biến đổi đa dạng kia, rồi bên kia bắt đầu thì thà thì thầm, nghe có vẻ như đang cãi nhau?

Cochro rất muốn nhìn thấy đôi đồng minh kia cãi nhau, nhưng gã không thể đợi được nữa. Kích thước của “Ngân hà” ngày càng lớn hơn, các tinh thể băng trôi theo dòng chảy đã hình thành nên vài “Ngân hà” mới, chờ khi cơn bão cực lạnh ảnh hưởng triệt để đến vùng biển này, tốc độ đóng băng sẽ không thể tưởng tượng nổi. Đối với tà thần, muốn phá những lớp băng này chỉ hơi tốn sức thôi, nhưng chúng sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng di chuyển trong không gian của Cochro khi né tránh trong trận chiến.

“Thần mới mà mày để mắt tới rất phù hợp với năng lực của mày…”

“Hừ.”

Gymir cười khẩy, phù hợp cái gì? Hắn và Johnson phải mất một thời gian rất dài mới có thể phối hợp với nhau được. Đóng băng cực lạnh ở quy mô này tất nhiên không chỉ nhờ vào năng lực của Johnson, mà còn có sức mạnh của hắn trợ giúp. Điều này chỉ có thể đạt được bằng sự dung hợp sức mạnh không một kẽ hở, nếu không thì tại sao tà thần lại gọi mối quan hệ này là “đồng minh”? Ngay cả sức mạnh cũng có thể hòa vào làm một trong khoảng thời gian ngắn, mối quan hệ này có thể không bền chặt à?

“Tao luôn nghĩ là mày thông minh đấy, Gymir.” Thảm Bay phớt lờ tiếng Bướm Xám gào thét phía dưới, chậm rãi nói: “Trông mày có vẻ lười biếng, một khi gặp được thứ mình thực sự mong muốn, mày sẽ giành lấy nó bằng mọi giá.”

Quả cầu dây leo và cái bóng: “…”

Thảm Bay cuộn lại rồi xòe ra, như một nhà diễn thuyết với hai cánh tay dang rộng, phía sau là “bầu trời” đêm đầy sao.

“Nhìn đi, hóa thân bóng đen của mày có khả năng làm thời gian ngừng trôi, hoàn toàn dung hòa với sức mạnh của băng giá, chúng ta hiện đang trải nghiệm sức mạnh của <i>nó</i>.”

Quả cầu dây leo lặng lẽ chọc cái bóng, cái bóng mất tự nhiên nói: “Đừng chọc nữa, ta biết em thích hóa thân người cá hơn.”

Gì mà cái bóng kết hợp hoàn hảo với quả cầu dây leo chứ, thật phi lý!

Đó là logic của con người!

Logic tà thần biến mẹ đi!

Ngoại trừ những tà thần không có não, số còn lại chắc chắn hoàn toàn ủng hộ nhận định của Cochro. Nếu không muốn trở nên mạnh mẽ hơn thì tại sao phải tìm bạn đời? Tại sao phải sinh con? Rảnh quá à?

“…Tao nhìn thấy sức mạnh của mày và đồng minh của mày, tao tán thành với lựa chọn của mày.” Thảm Bay lầm bầm.

Johnson ngây người, rồi nhanh chóng có dự cảm chẳng lành.

“Mày ghét hậu duệ, chúng ta không cần phải có con, nhưng tao phải nhắc mày, mày nên thử với tao… sức mạnh không gian của tao và sức mạnh làm dừng thời gian của mày, tại sao không nghĩ xem sẽ xảy ra những thay đổi sẽ mạnh mẽ như thế nào sau khi chúng được dung hợp hoàn hảo.”

Gymir: “…”

Cùng lúc đó, quả cầu dây leo trong cái bóng co rụt lại một cách khó chịu. Johnson chưa bao giờ nghĩ rằng lý luận logic yếu kém của mình thực sự có thể giành chiến thắng. Cochro quả thực đã luôn nhắm vào Gymir, gã thậm chí còn từ bỏ ý định có con, nhưng sự thật này lại khiến Johnson thấy tức giận.

Đó là thần cổ xưa, một thần cổ xưa hùng mạnh. Cochro nói đúng, nếu hai sức mạnh này kết hợp hoàn hảo thì không ai biết nó sẽ mạnh đến mức nào. Tà thần sẽ ăn tà thần, tà thần cũng sẽ chọn cách hợp nhất với một tà thần khác mãi mãi, trở thành một vị thần hùng mạnh hơn. Nghe nói thần Mặt trời Tonatiuh có lai lịch như thế, đây cũng là giao ước mạnh mẽ và thành công nhất mà Johnson từng nghe đến, thần Mặt trời Tonatiuh thực ra là sản phẩm của sự kết hợp giữa hai tà thần. Rất ít tà thần sẵn sàng đưa ra quyết định như vậy, bởi vì sau khi dung hợp hoàn toàn sẽ không còn phân biệt được ai và ai, không có bản thể nguyên thủy, dung hợp sẽ chỉ sinh ra thần linh mới và ý chí mới.

Thảm Bay nhìn chằm chằm Gymir, nói bằng giọng điệu quỷ dị: “Mày chọn một thần mới, chẳng phải là để hoàn toàn áp chế ý chí của nó, để mình làm kẻ nắm quyền chủ đạo sao?”

Gymir bùng nổ. Cái bóng mọc ra những chiếc xúc tu dài, quất mạnh về phía Thảm Bay: “Mày câm miệng!”

Gymir sốt ruột.

Nhờ trò chơi ở thành phố con người, thần Biển mới biết được sự tồn tại của cậu bé tên Johnson Brandon kia. Tất cả đều rất giống nhau, so với sức mạnh mênh mông cuồn cuộn của thần cổ xưa, thần mới chẳng khác gì đứa trẻ ngày ấy, chỉ là một vật tế. Một khi hai tà thần lựa chọn hợp nhất, Johnson sẽ giống như đứa trẻ đó, trở thành một phần rất nhỏ trong ý thức của thần mới. Quá chính xác, đây là điều cấm kỵ của Johnson!

Gymir tức giận đến mức muốn xé xác Thảm Bay thành từng mảnh, nhưng hắn cũng sợ Johnson trúng kế ly gián của Cochro.

Gymir vội giải thích: “Không phải vậy, ta không muốn ăn thịt em, cũng không muốn chúng ta trở thành một… Không đúng, chúng ta có thể duy trì là một, nhưng chúng ta không thể trở thành một thân thể.”

Johnson: “…”

Sau khi hiểu được ý của Gymir, quả cầu dây leo vô thức bảo vệ hạt nhân rau câu. Johnson không biết nên xấu hổ, hay thả lỏng. Đúng thế, Gymir sẽ từ bỏ “một số hoạt động trước khi ngủ say dưới đáy biển” à? Dung hợp à? Làm sao được chứ!

Lúc này, tiếng gầm của Bướm Xám đã thay đổi, những hoa văn kỳ lạ sáng lên xung quanh hang ổ của nó khiến Johnson chợt tỉnh táo lại.

“Đây là cái gì?”

Những sinh vật thảm da đó dường như bị một sức mạnh vô hình kéo đi, nuốt chửng. Bướm Xám cuối cùng cũng rũ bỏ cái kén, hai đôi cánh lộng lẫy trong nháy mắt bao phủ cả vùng biển.

Johnson cảm thấy ý thức chìm xuống, toàn thân nóng bừng.

“Nguy rồi.”

Johnson cố gắng suy trì tỉnh táo, nhưng sức ảnh hưởng của Bướm Xám quá lớn.

Ngân hà đang sụp đổ.

Băng đang vỡ.

Bướm Xám cũng đang ra sức vùng vẫy như con côn trùng tội nghiệp mắc vào lưới.

“Cảm nhận được chưa? Sức mạnh do xung đột của chúng ta tạo nên… bị tao chuyển vào cơ thể của Bướm Xám, nó lột xác thành công rồi, có thể kiểm soát số phận của đồng loại không đủ cho mày hài lòng sao?”

Thảm Bay cười điên dại, tiếp tục phóng ra sức mạnh của mình một cách bất chấp.

“Mày có thể giữ đồng minh của mình, và chấp nhận tao nữa. Tao nghĩ làm thế cũng dễ dàng, thần mới mà mày đang bảo vệ rất yếu, không ảnh hưởng gì đến sự hợp nhất sức mạnh của chúng ta…”

“Cút!”

Gymir hoàn toàn bùng nổ.

Hắn quan tâm đến Johnson, lý trí hoàn toàn mất kiểm soát.

Cái bóng nhanh chóng bành trướng, sức mạnh khủng khiếp làm xáo trộn mọi thứ ở đây.

Trật tự bị đảo ngược, các quy tắc hỗn loạn.

Với một âm thanh rung chuyển kinh khủng.

Một cái động rỗng hỗn loạn và mất trật tự xuất hiện ngay tại chỗ, giống như một góc của thế giới đã sụp đổ.

Động rỗng tồn tại khoảng ba giây, sau đó co rút mạnh, tiếp đó vang lên một tiếng động lớn còn đáng sợ hơn trước.

Âm thanh này làm gián đoạn sự chuyển động của hành tinh, lan truyền đi rất rộng rất xa.

Sau đó mọi thứ khôi phục lại yên bình.

Băng tan, sức mạnh bay tán loạn, các tà thần đều biến mất.
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 75


<b>Chương 75</b>

<b>Khe hở thời gian</b>

Bịch.

Một tiếng động nặng nề.

Quả cầu dây leo đáp xuống một bãi cát vàng kim óng ả.

Những xúc tu nhỏ xíu màu đen vung vẩy lung tung để gạt cát, nó lăn đi khoảng 30 feet rồi rơi thẳng xuống biển.

“…”

Mười giây sau, Johnson nhếch nhác nổi lên giữa mặt biển. Y ướt sũng cả người, trên tóc còn dính một cọng rong biển, cúi đầu nhìn xuống, cạnh cổ áo còn một con cua màu đỏ treo lủng lẳng.

Johnson bối rối túm lấy con cua, tự hỏi làm sao thứ này có thể sống sót sau khi tiếp xúc với bản thể của mình “ở khoảng cách gần”. Con cua bất động, hai cuống mắt phía trước lớp vỏ cứng không có phản ứng ngay cả khi bị chạm vào. Nó không chết, cũng không như đang sống.

Đợi đã, thời gian đã dừng lại.

Johnson quay người nhìn ra biển.

Ánh nắng chiếu xuống làn nước trong xanh tuyệt đẹp, những con sóng lấp lánh, óng ánh như vàng ròng. Sóng biển vẫn giữ nguyên hình dáng nhấp nhô, sóng đánh thành bọt trắng như tuyết đông cứng lại giữa không trung, như những tác phẩm nghệ thuật tinh xảo.

Khi Johnson đưa tay chạm vào, sóng lập tức vỡ ra, nước biển tưới đầy mặt y. Johnson lẳng lặng “làm sạch” nước biển bám trên người, đồng thời, nơi y đang đứng xuất hiện những mảng băng trôi.

Sau khi xác nhận bản thể không bị thương, việc sử dụng sức mạnh không có vấn đề gì, Johnson nhanh chóng rút lại sức mạnh của mình. Băng trôi tan chảy. Nhiệt độ ở đây rất cao, nước biển nóng lên dưới cái nắng đổ lửa.

Johnson ném con cua xuống biển, đi về phía bờ. Y đã khôi phục lại diện mạo của một quý ông người Anh, mái tóc gọn gàng, đội mũ chóp màu đen, tay phải lấy ra một chiếc đồng hồ quả quýt bằng vàng rất đẹp. Kim đồng hồ nạm đá quý đang tiến gần đến chữ số La Mã IV, đó là thời điểm y rời Venice vào năm 1930.

Cái đồng hồ quả quýt này đã được cải tạo bằng sức mạnh của tà thần. Sau khi rời khỏi kho vật phẩm không tồn tại trên thế giới này của tà thần, kim đồng hồ hơi run lên, sau đó bắt đầu xoay nhanh, cuối cùng dừng lại ở thời điểm khoảng chín giờ hai mươi.

Cạch.

Johnson dùng ngón tay đóng đồng hồ quả quýt lại, nhét nó vào túi áo khoác. Y cảm thấy chức năng của thứ này vẫn còn hơi thiếu sót. Nó chỉ có thể xác định thời gian trong ngày thông qua vị trí của mặt trời, trái đất và mặt trăng, nó nên tiến thêm một bước nữa, xác định được cả ngày tháng mới tốt.

Johnson nhanh chóng tìm ra vật thứ hai, một chiếc la bàn pha lê to cỡ lòng bàn tay. Bên trong la bàn không phải là kim, mà là một quả cầu pha lê màu xanh lam. Quả cầu từ từ bay lên trong lòng bàn tay Johnson, quay một vòng tròn rồi lại rơi xuống, mắc kẹt trong rãnh trên bề mặt la bàn.

Con người không thể nhìn thấy những thay đổi trên la bàn, nhưng mắt của Johnson thì khác. Quả cầu pha lê này mô phỏng trái đất dưới chân y, “điểm rơi” của nó chính là nơi Johnson đang đứng, nguyên tắc định vị tương tự như đồng hồ quả quýt.

“Xa thế à?”

Johnson thấy mình đang đứng ở nơi mà con người gọi là biển Caribe của Đại Tây Dương. Đó là một vùng biển nhiệt đới gần xích đạo. Biển đầy những đá ngầm rải rác, bờ biển là vách đá dựng đứng tưởng chừng như không có dấu vết của con người.

Johnson nâng vành mũ lên, đi dọc theo bãi biển về phía trước. Y đi đến đâu, tất cả dấu chân đều bị sức mạnh tác động, âm thầm lún xuống, cát nhanh chóng lấp đầy những khoảng trống.

Johnson đang suy nghĩ. Y nhớ rõ ràng mọi chuyện xảy ra trước đó, thậm chí còn cảm nhận được sức mạnh khủng khiếp bùng nổ khi Gymir nổi điên lên.

Johnson chẳng cảm nhận được sự kết hợp hoàn hảo giữa thời gian và không gian mà Thảm Bay Cochro lải nhải, y chỉ nhìn thấy cảnh tượng kinh hoàng sau khi va chạm rồi mất cân bằng của chúng. Tựa như có một bàn tay khổng lồ đã bóp dẹp thế giới trước mặt, sức mạnh biến thành một vật chất hư không hỗn loạn, ăn mòn trật tự và quy luật như nước chảy. Trọng lực, từ trường… tất cả đều là một mớ hỗn độn. Màu sắc biến mất, âm thanh bị nuốt chửng.

Cùng lúc đó, cơ thể họ bị kéo xé một cách dữ dội, không tự chủ được mà trượt về phía vực thẳm hư vô. Suy nghĩ và ký ức đều bị biến thành những mảnh vỡ, điều cuối cùng Johnson cảm nhận được là cái bóng đã quấn chặt lấy cơ thể y, rơi vào vực thẳm vô tận.

Sau đó?

Y tỉnh dậy trong làn nước biển được đun nóng bởi mặt trời. La bàn cho y biết rằng mình đã di chuyển từ Bắc Cực đến một hòn đảo nhiệt đới bằng cách nào đó khó hiểu. Nơi này rõ ràng đang ở trong trạng thái thời gian ngừng trôi.

Đầu tiên Johnson phải tìm hiểu xem phạm vi bất thường này lớn đến mức nào, sau đó y phải tìm thấy Gymir càng sớm càng tốt, đồng thời còn phải cẩn thận để tránh chạm trán với kẻ thù trước khi gặp được người yêu của mình.

Vượt qua cả rừng dừa và cọ, Johnson không tốn chút sức nào để “đi” lên vách đá dựng đứng bên bờ biển. Ý định ban đầu của y là tìm một điểm trên cao, để nhìn xung quanh. Nhưng mặt sau của vách đá thẳng đứng như một tấm bình phong này lại là cảnh tượng mà Johnson chưa bao giờ ngờ tới.

Đó là một thị trấn có quy mô rất lớn. Các mái nhà có kích thước khác nhau được sắp xếp một cách có trật tự, bao gồm cả nhà thờ và đền thờ. Một số ngôi nhà trông tùy tiện như thể chỉ lấy những viên gạch xếp chồng lên nhau một cách bừa bãi, trong khi nhiều tòa nhà khác lại rất cầu kỳ và tinh xảo, với những bức tượng điêu khắc bằng đá cao ngất dùng làm cột cho tường ngoài, và những cổng vòm kiểu La Mã. Thị trấn rất thịnh vượng, có hơn mười khu chợ và vô số cửa hàng. Bến cảng phía xa tấp nập thuyền buồm, xếp hàng dài đến tận đầm phá ngoài cùng của ngọn hải đăng. Tất cả mọi thứ đều đang đứng yên. Cờ không lay động, con người không trao đổi.

Sau khi bước vào thị trấn này, Johnson mới ngửi thấy bầu không khí đặc biệt ở đây.

Rượu, thức ăn và mùi hôi thối.

Trên đường phố không có nhiều người, nhưng lại rất nhiều quán rượu, bên trong thì đầy những gã say rượu. Họ nằm trên bàn như xác chết, nằm trên giường phụ nữ, tóc tai bẩn thỉu và quần áo thậm chí còn bẩn hơn. Đặc điểm chung của họ là có mang theo vũ khí, dù say đến chết, vẫn có thể nhìn thấy những thứ này bên cạnh và trên tay họ. Có dao, súng hỏa mai mồi cò, móc sắt, và cả những cái búa có đầu nhọn.

Bát đĩa bừa bộn trên bàn, những xâu cá muối treo trên xà ngang của quán rượu, gà vịt còn sống thì ở ngoài sân sau. Một ít thịt vụn và xương bị vứt ở góc phố hoặc hẻm, mấy người vô gia cư với những vết bầm tím trên mặt, thậm chí mất tay thiếu chân đang tranh giành thức ăn, đối thủ của họ không phải là đồng loại mà là lũ chó hoang hung ác đang chảy dãi và lũ chuột tụ tập thành bầy.

Johnson khẽ cau mày.

Quá hôi thối. Không phải là mùi rượu và chất nôn mửa trộn lẫn, cũng không phải mùi rác rưởi và nước thải trong những góc tối, mà là một thứ mùi lạ chỉ tà thần mới có thể cảm nhận được, mùi của x*c th*t thối mốc và ý chí hỗn loạn. Trong mắt Johnson, những con người bất động này giống như những bức tượng đang tỏa ra khói xám, chỉ cần một chút ô nhiễm từ sức mạnh tà ác là sẽ trở nên biến dạng.

Nếu mô tả bằng ngôn ngữ loài người thì đây là một góc bị Thượng Đế bỏ quên, là thành phố tội lỗi. Địa điểm thờ cúng yêu thích của giáo phái bí mật. Sự hỗn loạn và cái chết thu hút tà thần. Johnson không khỏi thắc mắc, đây có phải là nguyên nhân khiến “y” hay là “bốn tà thần bọn họ” rơi vào đây?

Johnson nhìn các cửa hàng hai bên, lòng càng ngày càng nghi ngờ. Y đã đến rất nhiều thành phố và thị trấn của con người, nhưng không có nơi nào cũ kỹ đến thế này, hệt như những bức tranh minh họa trong sách. Cửa sổ bám đầy vết dầu và bụi bặm, kính không được lau sáng bóng, cũng không có mấy tấm áp phích được vẽ rất đẹp. Không có ma-nơ-canh hay đèn điện trong cửa hàng quần áo. Những viên đá quý đặt trong hộp thì xỉn màu do không được đánh bóng và cắt gọt hoàn hảo.

Cuối cùng Johnson dừng lại trước một ngôi nhà cao được trang trí công phu.

Dù người sống ở đây cũng say khướt và nằm la liệt, bàn ghế bừa bộn dính đầy cặn thức ăn, nhưng có thể nhìn ra khá nhiều chi tiết tại đây. Quần áo của họ rất cầu kỳ, nhưng dù là nam hay nữ, Johnson cảm thấy họ ăn mặc giống như các diễn viên trong nhà hát opera, nhất là những chiếc cổ áo xếp nếp hình bánh xe vô cùng khoa trương, và những chiếc quần bó sát dưới đầu gối. Bên cạnh nửa con gà nướng còn sót lại là một thứ trái cây đã được cắt ra. Lớp vỏ bên ngoài có màu xanh đen xen kẽ, giống dưa hấu, nhưng một nửa thịt quả có màu trắng, phần thịt màu hồng nhạt được chia thành từng múi.

Johnson: “…”

Được rồi, y đã xác định nhất định có vấn đề gì đó về thời gian. Đây không phải là thời đại mà y được “sinh ra”, có lẽ phải lùi về trước vài trăm năm. Không, điều đó không chính xác. Johnson vừa suy ngẫm vừa bước đi, y có thể đang ở trong một vết rách nào đó của thời gian, nên mọi thứ xung quanh đều dừng lại.

Làm thế nào để quay trở lại?

Johnson rất đau đầu.

Lúc này y đang đi về phía khu vực sầm uất và thịnh vượng nhất thị trấn: bến cảng.

Trên bến tàu có phu khuân vác, thuyền viên, cũng như các nhân viên thuế và quân nhân trong bộ đồng phục chỉnh tề. Treo trên cột cờ là lá cờ có nền xanh nhạt, với chữ thập đỏ và sọc chéo màu trắng trông rất giống cờ nước Anh. Có một con tàu ba cột buồm với boong thuyền hai tầng rất đẹp đang neo đậu ở bến tàu, họng pháo đen bóng. Bên ngoài cảng là đủ loại thuyền buồm khác nhau, hầu hết đều là thuyền buồm hạng nhẹ có tốc độ rất nhanh. Vài cái có thêm một cánh buồm đuôi, cái thì thay thế hoàn toàn bằng cánh buồm tam giác linh hoạt, có những cái lại di chuyển cột buồm về phía trước đến vị trí mũi tàu và đặt nằm nghiêng để bắt chước một chiếc thuyền buồm ba cột kiểu Địa Trung Hải.

“Hử?”

Johnson đang ngắm nhìn từng chiếc thuyền buồm, bất ngờ nhìn thấy một bóng đen không có hình dạng rõ ràng đang chậm rãi di chuyển từ chiếc thuyền buồm này sang chiếc thuyền buồm khác bên cạnh, đầu tiên phần rìa của cái bóng thò ra những chi mảnh và tròn, không có đường nét gì đặc biệt, chăm chú gõ nhẹ vào boong thuyền, như đang kiểm tra hàng hóa để quyết định có chọn chiếc thuyền này hay không.

Đây có lẽ là một hình ảnh rất kinh dị, dưới ánh nắng chói chang, trên đầu những con người ngu dốt, ma quỷ biến thành cái bóng chiếm cứ mũi tàu, vươn những xúc tu quái dị ra để tiếp cận một con tàu khác, mà những thủy thủ trên của con tàu ấy vẫn tựa vào mạn tàu và hò hét ầm ĩ về phía ngoài cảng, nhắm mắt làm ngơ trước những xúc tu đen sì đang ở rất gần trong tầm tay.

“Gymir?” Johnson vừa ngạc nhiên vừa nghi ngờ, gọi.

Cái bóng lập tức rớt xuống từ trên cánh buồm. Nhanh như một con cá lao xuống biển, thậm chí không làm một tia nước nào bắn lên.

Johnson: “…”

Đầu tiên, một cái bóng cá voi khổng lồ xuất hiện dưới đáy biển, mặt biển bị ép phải phồng lên xô đẩy tất cả thuyền buồm làm chúng lắc lư, con người còn bất động trên thuyền ngã thành một đống. Cá voi khổng lồ nhanh chóng biến mất, một người cá tóc đỏ và đuôi vàng xuất hiện giữa sóng biển.

“Đã xảy ra chuyện gì? Chúng ta đang ở đâu?” Người cá nắm lấy lan can gỗ cạnh bến tàu, ngơ ngác nhìn bến cảng hình như đang trong trạng thái thời gian ngừng trôi.

Johnson không nhịn được hỏi: “Vừa rồi anh đang tìm em à?” Trong trạng thái vô thức, ngụy trang thành cánh buồm, kiểm tra từng con tàu?

Gymir hơi ngoảnh đầu đi, đôi mắt vàng kim nhấp nháy.

“…Không phải.” Dường như hắn đang tìm kiếm một món quà cho Johnson trong giấc mơ. Có nhiều thuyền buồm thế này quả là tuyệt vời.

“Có lẽ chúng ta đang ở trong khe hở thời gian, sức mạnh của anh và Cochro đã gây ra một hậu quả kỳ quặc, giờ thì không biết làm cách nào để quay trở lại… Dù anh luôn giữ chặt lấy em, chúng ta vẫn rơi xuống hai bên bờ biển của hòn đảo này, Cochro và Bướm Xám có thể còn cách xa chúng ta hơn… Em vừa xem xét thị trấn này, quần áo và vật dụng của con người ở đây cho thấy nơi này hẳn là một thời đại từ hàng trăm năm trước, Gymir?”

Johnson phát hiện người cá vẫn đang nhìn mấy con thuyền, có vẻ không được tập trung.

“Ồ, để ta suy nghĩ nào, ta nghe nói có một số tà thần thỉnh thoảng lại rời khỏi thời điểm hiện tại, nhưng sức mạnh sẽ bị hạn chế rất nhiều.”

Người cá bơi về phía Johnson, sau đó một người ở dưới biển, một người đứng trên bờ nói chuyện.

“Ta có cảm giác như đang mang một vật nặng trên lưng, ý thức cũng không tỉnh táo cho lắm, thậm chí không thể chuyển sang dạng bản thể.”

“Vậy sao? Nhưng em không bị ảnh hưởng?” Johnson ngạc nhiên hỏi.

Gymir một tay chống cằm, tay kia xòe ra, bất lực nói: “Em vẫn chưa tồn tại ở thời đại này mà! Nếu không có một bản thân khác hạn chế, đương nhiên là không cảm thấy sức mạnh của mình bị áp chế rồi.”



<i>Người dịch: Lá cờ trong truyện giải thích như sau:</i>

<i>Quốc kỳ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland được biết đến một cách rộng rãi dưới tên gọi Union Jack (Jack nghĩa là lá cờ treo trên tàu biển để thể hiện quốc tịch). Quốc kỳ này được sử dụng làm cờ của Liên hiệp Anh kể từ năm 1606 khi England và Scotland được hợp nhất. Mẫu cờ nguyên thủy là sự kết hợp giữa chữ thập đỏ của cờ Anh và hai vạch chéo trắng trên nền xanh của Scotland. Hai vạch chéo đỏ của Ireland được thêm vào năm 1801 khi Ireland trở thành một bộ phận của Vương quốc Liên hiệp. Xứ Wales không hiện diện trên the Union Jack, vì xứ Wales chỉ là một Công quốc thuộc Anh.</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 76


<b>Chương 76</b>

<b>Trò chơi mới</b>

Cột nước hùng vĩ bắn thẳng lên trời cao.

Nó ngoạn mục đến mức có thể nhìn thấy kỳ quan này bao phủ bầu trời ngay cả từ khoảng cách xa.

“Nguy rồi, chạy mau!” Thuyền trưởng Hans ngay lập tức chạy tới bàn điều khiển, kéo cần van động cơ xuống phía dưới cùng. “Chú ý va chạm!”

Dù không hét lớn như Hans, sắc mặt các thuyền viên cũng thay đổi rõ rệt, họ nhanh chóng tóm lấy một thứ mà họ cho là chắc chắn.

Học giả huyền bí học trên tàu lấy ra mấy cái chai pha lê, đập mạnh vào mạn thuyền, miệng chai vỡ ra, một ít bột mịn tràn ra ngoài. Chữ Rune họ khắc trên boong thuyền đánh cá nhanh chóng sáng lên, hấp thụ sức mạnh của những thứ bột vô danh này. Thân thuyền lập tức sáng lên một quầng sáng màu nâu nhạt. Chàng trai gầy gò nhảy vào khoang thuyền, vừa dùng dây thừng cố định mình vừa thổi phồng chiếc bè cứu sinh đơn giản.

Một đội thám hiểm thực sự dày dặn kinh nghiệm sẽ không giống như trong phim, chỉ biết đứng đực mặt ra kinh hãi như hóa đá khi chứng kiến những thảm họa thiên nhiên, để rồi lãng phí khoảng thời gian tự cứu quý giá nhất. Dù là núi lửa phun trào hay một vụ nổ lớn thì những giây đầu tiên đều thực sự rất đẹp. Khi làn sóng xung kích quét qua, tiếp theo sẽ là một sức mạnh hủy diệt.

Điều đầu tiên Hans trải qua là cảm giác không trọng lượng. Bởi vì mực nước biển giảm mạnh đột ngột, một lượng lớn nước biển bị sức mạnh không thể miêu tả đẩy về phía hố đen vực thẳm, rồi bắn thẳng lên trời. Sau đó thân tàu bắt đầu xóc nảy, chân vịt chạy không tải chật vật đẩy chiếc thuyền đánh cá ra xa.

“Rẽ trái ba mươi độ! Rẽ đi!” Học giả huyền bí học bám lấy mạn thuyền, vừa vừa cố giữ thăng bằng vừa hét lớn.

Khi đối mặt với sóng xung kích, phương hướng và vị trí của con tàu cũng rất quan trọng, nếu không thân tàu sẽ trực tiếp vỡ toang. Chiếc thuyền đánh cá gian nan điều chỉnh hướng đi. Lúc này, một đợt sóng xung kích khủng khiếp ập đến. Thân tàu rung chuyển dữ dội, như thể bị một bàn tay vô hình tóm lên không trung.

Hans gầm gừ, toàn thân treo lơ lửng trên bảng điều khiển.

Rắc.

Ông đã làm gãy cần van. Thứ bay ra ngay sau đó là cánh quạt và một phần đuôi tàu. Thuyền đánh cá thương tích đầy mình sau đợt va chạm đầu tiên. Đợt thảm họa thứ hai là một lượng lớn nước biển đột ngột đổ ập xuống. Sóng cao đến tận trời, đáng sợ nhất là trong sóng còn có vô số khối băng, thậm chí có cả núi băng.

Hans ném cặp kính của mình đi, tiếp tục quay bánh lái, những đường gân xanh trên cổ nổi lên. Trong gang tấc tránh thoát một cái bóng kinh hoàng ở giữa sóng biển. Đồng thời, chữ Rune trên thân tàu cũng đang hoạt động, miễn cưỡng chống lại sức mạnh mang tính hủy diệt này. Các thuyền viên bám lên sợi dây, bò vào trong khoang thuyền một cách khó khăn.

Lúc này, một mũi tên nhọn màu trắng cưỡi trên gió và sóng, xuyên qua nhiều chướng ngại vật tiến đến.

Hans phấn chấn hẳn lên.

Là con cá voi trắng đó!

Với tầm nhìn xuyên vào hiện thực của ông và khả năng định hướng dưới nước của Cá Voi Trắng, họ chắc chắn có thể trốn thoát!



Hai giờ sau, các thuyền viên đỡ Hans lên bè cứu sinh. Nước biển trong khoang thuyền đã cao bằng nửa người. Chiếc thuyền đánh cá thủng lỗ chỗ, có thể sẽ chìm trong vài phút nữa. Hans th* d*c.

Trên mặt biển cạnh đó là Cá Voi Trắng cũng đang nằm ngửa khóc thút thít. Da của Cá Voi Trắng rướm máu. Nếu không có lớp vảy biến dị bảo vệ, nó chắc chắn không thể thoát khỏi thảm họa kinh hoàng này. Nhìn chiếc bè cứu sinh rời xa, Cá Voi Trắng lật người lại, chậm rãi đi theo.

Các thuyền viên khác mang túi đựng đồ ăn và nước uống, học giả huyền bí học còn mang theo một chiếc radio.

Xẹt xẹt.

“Không được rồi, toàn là tiếng điện xẹt… Lần này chắc người Mỹ sợ tè ra quần nhỉ.”

“Người Nga chắc cũng thế thôi.”

Chàng trai gầy gò giận dữ nói: “Đúng là gặp ma… Sau khi rời khỏi vùng biển đó, chúng ta đã rút lui đủ xa, không ngờ vẫn còn bị ảnh hưởng.”

Học giả huyền bí học cười xuề xòa: “Đừng than thở, những bốn tà thần đấy, bốn! Sao cậu không tưởng tượng họ đánh nhau thì sẽ ra sao?”

“Ờ, tôi có nghĩ tới mà. Nhưng tôi nghĩ đến lúc đó trái đất có thể bị hủy diệt, nhân loại cũng vậy, nên không cần phải suy nghĩ nhiều thế đâu.”

“Đợi đã, con cá voi này đang theo chúng ta để làm gì?”

“Có lẽ muốn thịt bò?” Hans nhắm mắt nói.

Các thuyền viên: “…”

Cá Voi Trắng lấy được thịt bò, vui vẻ ra về. Không có tà thần buộc nó làm việc nữa, Cá Voi Trắng muốn một mình tiếp tục cuộc hành trình di cư đến tận cùng thế giới.

“Thật ra tôi còn hơi không nỡ để nó đi.” Học giả huyền bí học lẩm bẩm.

Nhìn bóng Cá Voi Trắng đi xa, cũng có thuyền viên lo lắng thay nó, bỗng nhiên biến thành kỳ lân biển, sau làm làm sao còn tìm đồng loại chơi đùa, giao phối thế nào đây.

Hans dần chìm vào giấc ngủ.

Khi ông tỉnh dậy lần nữa, vừa hay nghe thấy một giọng nói trong trẻo phát ra từ cái radio của học giả huyền bí học. Hoa Kỳ đang có bài phát biểu trên truyền hình và đài phát thanh, chúc mừng việc tàu ngầm hạt nhân Nautilus thành công đến được Điểm cực bắc.

“…Bọn họ ngồi trên núi băng rồi trôi đến Điểm cực bắc à? Ấy, thuyền trưởng tỉnh rồi!”

Hans miễn cưỡng mở mắt ra, khó khăn hỏi: “Chúng ta đang ở đâu?”

“Chúng ta sắp đến điểm rút lui trong kế hoạch rồi, nhờ ơn cơn sóng khổng lồ đó, dù suýt chút nữa nhấn chìm chúng ta dưới đáy biển nhưng nó cũng cuốn chúng ta ra xa hàng trăm cây số, hoàn toàn thoát khỏi phạm vi tìm kiếm của người Mỹ. Theo đài phát thanh thì người Mỹ cũng đã tìm thấy tàu ngầm của họ.”

Các thuyền viên không ngạc nhiên chút nào, vì người sống sót sau sự kiện huyền bí thường sẽ mất đi những ký ức liên quan sau khi tỉnh dậy khỏi cơn hôn mê, ngoại trừ những người có ý chí đặc biệt cao. Những người còn sống trong tàu ngầm có thể cho rằng mọi tai nạn đều xảy ra do từ trường vùng cực rối loạn, cộng thêm việc tông phải núi băng.

“Sự kiện bí mật ở Bắc Cực năm 1958… cột nước kinh hoàng dưới đáy biển, thiên tai sóng lớn, cùng với tàu ngầm hạt nhân mất tích ba ngày đã bổ sung thêm một hồ sơ bí mật cho người Mỹ.” Học giả huyền bí học khoanh tay thở dài.

“Thuyền trưởng, nhiệm vụ của chúng ta đã kết thúc chưa?”

“Có lẽ thế…” Hans cố gắng ngồi dậy, ngập ngừng nói: “Không có sự cố nào khác xảy ra sau đó, về cơ bản có thể khẳng định tác động tiếp theo của Bướm Xám đã tạm dừng. Tất nhiên, chúng ta không thể lơ là cảnh giác, vẫn phải sử dụng máy móc để dò tìm các tín hiệu liên quan.”

“Hy vọng rằng tà thần Bướm Xám này sẽ biến mất, ít nhất là một trăm hai trăm năm nữa sẽ không xuất hiện.” Học giả huyền bí học lầm bầm.

Hans nhìn biển băng ở phía xa, lòng bỗng thấy lo lắng không thể giải thích được. Bởi vì Hans cảm thấy Johnson là loại tà thần sẽ quay lại để chào hỏi, y không chỉ có vẻ ngoài quý tộc mà còn tuân theo lễ nghi xã hội có đầu ắt phải có đuôi, nên tình hình hiện tại có hơi kỳ lạ.

“…Có lẽ là bị trì hoãn bởi điều gì đó, hoặc tà thần còn có nhiều bí mật mà con người chúng ta không biết, họ đã chuyển chiến trường đến khu vực ngoài tầm với của con người.”

***

Johnson đẩy đẩy Gymir đang nằm bò trên vai mình.

“Trước tiên biến lại hình người đi.” Johnson khó chịu ấn vào đuôi cá quấn quanh eo mình.

“Rõ ràng em rất thích…” Gymir nói nhỏ. Trước đó khi họ ở Luân Đôn, Paris và Venice, Johnson không bao giờ từ chối tiếp xúc với hắn. Tại sao sau khi thức dậy lại bắt đầu làm khác đi thế?

Gymir tự tìm cho mình một lý do rất hợp lý: “Sức mạnh của Cochro có lẽ cũng bị áp chế, nhưng Bướm Xám thì không, nên bây giờ ta cần em bảo vệ.” Người cá buông tay, rơi trở lại biển, ngước nhìn Johnson với vẻ mặt ngây thơ vô tội.

Johnson đột nhiên nhắm mắt lại, sau đó nghiến răng nghiến lợi nói: “Gymir, không, đừng quyến rũ em!”

Một tràng cười ngọt ngào vang lên, người cá lặn xuống biển. Mặt nước gợn sóng từng vòng.

“Đừng đi xa.” Johnson vội vàng mở mắt. Sau đó y cảm thấy chân mình trĩu xuống.

Một con cá voi lưng gù nhỏ lấp lánh ánh vàng đang nằm đó. Độ dài có lẽ đủ để làm một chiếc áo choàng. Những món trang sức bằng vàng trên người cá voi lưng gù cũng đồng loạt thu nhỏ lại, nó tốn sức vặn vẹo cơ thể, những chiếc vây dài cố tóm lấy ống quần của Johnson. Chỉ tiếc là nó nặng quá.

Johnson buộc phải nâng con cá voi bằng cả hai tay, thế nhưng vẫn suýt nữa thì trượt tay, vì da cá voi quá trơn, y chỉ bắt được sợi dây xích vàng mỏng manh trên lưng nó.

Cá voi lưng gù quẫy đuôi, tuột khỏi tay Johnson và lại rơi xuống biển.

Johnson: “…”

Thôi vậy, theo tình hình này thì Bướm Xám tạm thời sẽ không xuất hiện, có lẽ nên tìm cách thoát khỏi khe hở thời gian này trước.

“Anh nói trước đây có tà thần gặp phải tình huống này, bọn họ xử lý thế nào?” Johnson hỏi.

Một giọng nói nghèn nghẹt từ dưới biển truyền đến: “Ta không biết, ta chỉ nghe nói thôi, không quen biết bọn họ.” Thần Biển Gymir ngủ quanh năm, bản tính lười biếng, không có điều kiện cũng như cơ hội để biết những bí mật này.

“Nhân tiện, việc hợp nhất sức mạnh mà Cochro đã đề cập…”

“Nó bị điên đấy.” Gymir quả quyết nói.

Bởi vì những sinh vật khác sẽ phát điên rồi chết khi đối mặt với tà thần, giữa tà thần với nhau cũng không miễn dịch trước sức sát thương này, nên phát điên là một cách miêu tả rất hợp lý, tất cả tà thần đều có thể hiểu được ý nghĩa của từ này.

Tuy nhiên, Johnson cảm thấy Cochro không điên, Thảm Bay có vẻ rất nghiêm túc, lý thuyết dung hợp đó cũng phù hợp với quan niệm của tà thần. Johnson không nhịn được hỏi: “Chúng ta, em… suy nghĩ của em phải chăng quá gần với logic của con người.”

“Logic và hành vi tình yêu của con người thì có gì không hay?”

Gymir lặng lẽ xuất hiện phía sau Johnson. Lần này ở dạng con người. Không đeo mặt nạ. Mái tóc dài màu đỏ xõa trên vai, đôi mắt vàng kim phản chiếu dáng vẻ của Johnson, khuôn mặt hoàn hảo lập tức át đi cái nắng oi bức và khốc liệt nơi đây.

“Cách con người, cá voi hoặc các động vật khác hành xử… nếu chúng ta muốn, thì có gì không được chứ?” Gymir hỏi lại.

Tất nhiên không sao cả, thế giới của tà thần hỗn loạn vô trật tự, không ai có thể khống chế được ai, cũng không có quy tắc thống nhất nào cả, chỉ có cách chung sống mà mọi người cùng thích thôi. Nếu không thích hoặc không đồng ý, cứ đánh là xong. Thế nên dù Cochro có rất lý thì cũng không có đồng loại nào thèm “để ý” đến gã.

Johnson còn quá trẻ, y chưa tiếp xúc nhiều với đồng loại, khi đã hiểu ra vấn đề, y sẽ không còn suy nghĩ và rối rắm về chuyện này nữa.

“Trước tiên chúng ta hãy xác định khe hở thời gian này là thế nào đã, sau đó tìm ra cách… Phải rồi, hòn đảo này nằm ở vị trí nào trên trái đất.”

Johnson lấy la bàn ra cho Gymir xem.

Gymir quả nhiên là có hứng thứ với sản phẩm được đã qua cải tạo của con người, lật đi lật lại để xem.

Johnson nhìn thế giới trước mắt nơi thời gian đứng yên, nhanh chóng phát hiện ra manh mối. Trên bến tàu nhộn nhịp, những nô lệ khuân vác hàng đang làm việc dưới sự chỉ huy của đốc công. Họ có màu da khác nhau, đều đeo cùm nặng ở chân, vài người trong số họ trông không giống nô lệ chút nào, vẫn có thể nhìn ra được sự hoàn chỉnh và tươm tất ban đầu của những bộ quần áo rách rưới bẩn thỉu đó.

“Bọn họ là lính.” Johnson đi đến kết luận mà không gặp nhiều khó khăn.

Đồng phục hải quân quá rõ ràng, mặc dù cái áo đã mất đi hai tay, những chiếc cúc kim loại đẹp mắt cũng mất hết. Người nô lệ vốn là binh lính vừa bước đi vừa nhìn chằm chằm vào bóng lưng của đốc công với ánh mắt hung ác.

Johnson nhìn quanh những nô lệ đang khuân vác hàng hóa. “Còn có thương nhân, tội phạm lưu đày, thủy thủ…”

“Làm sao em biết được?” Gymir chộp lấy la bàn, đi theo Johnson. Thần Biển nghĩ rằng đây là trò chơi thám tử con người mới. Giống như những gì được viết trong tiểu thuyết, chỉ cần nhìn vào vẻ bề ngoài là có thể đánh giá nghề nghiệp và tuổi tác của một người.

Johnson chỉ cho Gymir nhìn: “Người này có một dấu ấn trên người, trước đây chúng ta đến rạp xem đã từng nhìn thấy hoa văn này phải không? Còn người này, quần áo vẫn còn nguyên, chắc vừa bị bắt thôi, giày của hắn có giấu đồng xu bạc, đôi giày cũng rách rồi, chiều rộng của cơ thể… hắn ta hơi mập, không giống thường dân, có thể là một thương nhân.”

Thủy thủ thì càng không cần phải nói, thời bấy giờ đều là thuyền buồm, lòng bàn tay thủy thủ thường có những vết hằn sâu do dây thừng để lại.

“Em nói đúng.” Gymir nhìn thủy thủ trên chiếc thuyền bên cạnh, rồi nhìn người nô lệ đang vác hàng. Ngay cả khi không hiểu, hắn vẫn có thể tìm thấy những điểm tương đồng bằng cách so sánh.

Gymir khám phá ra niềm vui mới. Trên người những con kiến mà trước đây hắn không muốn nhìn nhiều lần.

“Tội phạm lưu đày thì dễ hiểu, còn binh lính, thủy thủ, thương nhân tại sao lại trở thành nô lệ? Bọn họ bị bắt sao?” Gymir nhớ lại những gì mình đã thấy từ những vở kịch và sách của con người, ngẩng đầu nhìn lên những lá cờ tung bay trên bến cảng, rồi nói thêm: “Bị người Anh bắt à?”

“Thật kỳ lạ, đây có thể không phải là một bến cảng bình thường.”

Johnson phát hiện ra rằng mình vẫn biết quá ít về lịch sử loài người. Y không biết chuyện gì đã xảy ra ở nơi này trong thời đại này, thậm chí còn không biết tên của hòn đảo này. Chỉ có thể tiếp tục tìm kiếm manh mối.

Johnson bước đến chỗ nhân viên thuế cảng, lục túi của gã để tìm giấy tờ tùy thân. Thì ra tên nhân viên thuế này kém cỏi đến mức không hề mang theo giấy tờ bên mình.

“Tìm được rồi!”

Gymir nắm chặt một cuốn sổ nhỏ bìa màu nâu, rõ ràng hắn có chung một ý tưởng như Johnson, và hắn may mắn hơn.

Johnson bước tới, thấy Gymir đang đứng trước một chiếc bàn. Ngồi đó là một quan chức trông như đang thẩm tra tiêu chuẩn các tàu vào cảng, bên cạnh toàn là binh lính Anh vác những khẩu súng trường dài kiểu cổ, họ còn kéo một thứ gì đó trông giống như một hàng rào cắm đầy những ngạnh sắt. Ở góc độ của con người, rất khó để vượt qua cửa ải này. Nhưng trong mắt tà thần, đây chỉ là một hàng rào sơ sài.

“…Một phần của Đế quốc Anh… Port Royal*?”

<i>* Port Royal là một thành phố nằm ở cuối Palisadoes của Cảng Kingston, thuộc đông nam Jamaica. Được thành lập vào năm 1518, thành phố là trung tâm thương mại vận tải biển trong vùng biển Caribe trong nửa sau của thế kỷ 17. Năm 1692, Nó đã bị phá hủy bởi một trận động đất, một cơn sóng thần và sau đó là hỏa hoạn. Các cơn bão nghiêm trọng đã thường xuyên làm hư hại thành phố này và một trận động đất nghiêm trọng xảy ra trong năm 1907.</i>

Johnson đọc những chữ trên cuốn sổ: “Hình như em đã nhìn thấy cái tên này ở đâu đó.”

Gymir hỏi: “Một tờ báo, hay một cuốn tiểu thuyết? Hay một tấm áp phích dán trên cửa hàng?”

“Tiểu thuyết phiêu lưu!” Johnson đáp một cách chắc chắn. Trí nhớ của tà thần vượt xa con người, nhưng đối với những điều không thú vị và chưa được chú ý đặc biệt thì cần phải sắp xếp lại trí nhớ.

“Em phải suy nghĩ.” Johnson thuận tay lấy ra một chồng tiểu thuyết của con người với nhiều bìa khác nhau, nhét cho Gymir một nửa. Ý nghĩa quá rõ ràng, hoặc là dựa vào trí nhớ hoặc là đọc sách.

Tất nhiên là lựa chọn thứ hai nhanh hơn, dù sao thì tà thần cũng có thể đọc được mười trang nội dung trong một giây, mà đây còn là hiệu ứng kéo dài do không quen với ngôn từ của con người.

Mười phút sau.

Một đống sách đã chất cao trên mặt đất.

“Tìm được rồi, ở đây.” Johnson giơ một cuốn tiểu thuyết phiêu lưu săn tìm kho báu trên biển lên, đầu tiên mắt y bắt gặp từ đó, sau đó dừng cuốn sách lại tại trang này.

“Biển Caribe… Port Royal, Thủ phủ của cướp biển?”

“Ta biết trong số con người còn có hải tặc, bọn họ không phải đang hoạt động trước cửa nhà ta sao?” Thần Biển Gymir nghi ngờ hỏi.

Johnson cho rằng Gymir đang nói về người Viking, là một thần mới đồng thời yêu thích con tàu ma, y biết sau này có những tên cướp biển chuyên cướp tàu chở vàng của Tây Ban Nha.

“Sách kể rằng vào năm 1692, Port Royal đột ngột chìm xuống đáy biển. Thành phố tội lỗi từng là nơi cư trú của vô số tên cướp biển này cùng với toàn bộ tài sản của nó đã bị biển cả giận dữ nuốt chửng… Vô số nhà thám hiểm đã cố gắng lặn xuống để trục vớt kho báu chứa đầy vàng ròng xưa kia…”

Johnson ngừng đọc, vẻ mặt trông có vẻ kỳ lạ.

Gymir vô thức chỉ vào chính mình: “Vậy đây là do chúng ta làm ra?”

Johnson nhìn thị trấn phồn hoa này, muốn nói lại thôi.

<i>—</i>

<i>Người dịch: Có ông chồng nhiều hóa thân cũng thú vị ha, biến tới biến lui.</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 77: Phần 6: La Bàn Thời Gian Năm 1959, Jamaica


<b>Chương 77</b>

<b>Lời nguyền và kho báu</b>

Năm 1959, đảo Jamaica.

Dưới làn gió biển về đêm, một lớp vật chất trong suốt màu xanh huỳnh quang nổi trên bãi cát ở bờ biển. Đó là những con sứa do thủy triều theo mùa mang đến.

Người dân địa phương đã quen với cảnh tượng này, họ không thấy gì kỳ lạ. Vả lại “cảnh đẹp” này chỉ mang lại rắc rối. Gai độc của sứa sẽ dọn sạch sẽ đàn cá ở vùng biển nông, nếu chúng bị bỏ lại trên bãi biển, không được dọn dẹp kịp thời thì sẽ đốt cả ngư dân.

“…Đó là ngọn lửa của linh hồn người chết, cứ bồi hồi trên Thành phố Tội ác.” Người đang nói là một người đàn ông địa phương với làn da ngăm đen, vừa đi vừa làm dấu thánh giá trên ngực bằng ngón tay. Gã đứng trên vách đá cạnh bờ biển, nhắm mắt lại, không muốn lại gần chút nào.

“Này, Nick, đừng sợ hãi thế.”

Một người đàn ông gốc Latinh cõng chiếc ba lô leo núi lớn nói với giọng nhanh nhẹn: “Hãy thử tưởng tượng xem, Thành phố Tội ác đã chìm xuống đáy biển hơn 250 năm trước, chôn vùi cùng nó là hàng đống vàng ròng, nó là một kho báu khổng lồ!”

Nick da đen lắc đầu như điên nói: “Tin tôi đi, đào bới sẽ mang lại xui xẻo!”

Người đàn ông gốc Latinh xòe tay, chỉ vào chiếc lều lớn bên dưới và nói: “Nick, đây chỉ là một công việc. Chính phủ đã thuê đội ngũ giỏi nhất, ký hợp đồng với nhà khảo cổ học dưới nước nổi tiếng nhất thế giới, chỉ cần phát hiện được kho báu thì đất nước các anh sẽ sớm trở nên giàu có. Đến lúc đó, dù là phúc lợi hay giáo dục đều sẽ được cải thiện, sẽ có nhiều du khách đến tham quan Thủ phủ của Cướp biển này nữa.”

Vẻ mặt Nick thay đổi.

“Thế nhưng…”

“Hãy nghĩ về tương lai, Nick, không phải mẹ anh đang b*n n**c dừa ở bãi biển gần đó sao? Tin tôi đi, các anh sẽ nhanh chóng có tiền để mua một cửa hàng, mở một nhà hàng hoặc khách sạn.”

Người đàn ông gốc Latinh là một kỹ sư trắc địa trong đội khảo cổ khai quật, anh thuê Nick làm hướng dẫn viên, đồng thời là trợ lý tạm thời.

Vách đá dựng đứng này không dễ leo lên, chỉ có người dân địa phương mới biết chỗ nào để đặt chân trên vách đá, chỗ trũng nào thuận tiện cho việc mượn sức.

Kỹ sư trắc địa rất hài lòng với người trợ lý này, vì Nick rất chăm chỉ, không phải là loại người sống lười biếng qua ngày. Khuyết điểm duy nhất có lẽ là việc Nick luôn tỏ ra chống cự với công việc khai quật. Đêm nay nhìn thấy thủy triều mang sứa đến, cảm xúc của Nick hoàn toàn không kìm nén nổi nữa, gã bắt đầu lẩm bẩm mấy câu điên khùng.

“Thưa ông, tôi thừa nhận rằng ông nói có lý, nhưng dưới nước thật sự có lời nguyền…”

“Gọi tên tôi đi, Nick. Chúng ta là bạn.” Kỹ sư trắc địa mở ba lô leo núi, lấy kính viễn vọng ra quan sát mặt biển.

Nick vẫn không muốn đến gần vách đá, đối với gã, khung cảnh ba mặt bị bao quanh bởi ánh sáng màu xanh huỳnh quang thực sự rất ngột ngạt.

“Thôi được, ông Juan, chính vì chúng ta là bạn nên tôi mới nói điều này.” Nick lại làm dấu thánh giá, nói với giọng run run: “Hãy thử nghĩ xem, ở đây ai cũng biết có kho báu, nhưng có ai từng đào được thứ gì ra chưa?”

Kỹ sư trắc địa Juan sửng sốt, sau đó quay đầu lại với vẻ mặt khó hiểu: “Chưa ai sao?”

Nick nói lớn hơn: “Không một ai!”

Gió biển thổi vào từng cơn, từ trên nhìn xuống, mặt biển xanh thẫm lấp lánh, khung cảnh vốn hùng vĩ và tuyệt đẹp bỗng khiến trái tim của kỹ sư trắc địa Juan như bị ghì xuống. Kỳ lạ, anh có quá nhạy cảm không? Juan tin vào khoa học, anh không phải là tín đồ sùng đạo gì, không quan tâm đến những lời nguyền rủa.

Đúng như những gì vừa rồi nói để động viên Nick, Juan cho rằng việc khai quật Thủ phủ của Cướp biển Port Royal này là một việc tốt. Bởi vì kho báu đang ngủ say dưới đáy biển, nếu cứ bỏ mặc nó ở đó thì sớm muộn cũng sẽ có người đến cướp đi. Đặc biệt là những nhà thám hiểm được các tập đoàn tài chính tài trợ, họ là bọn giặc cướp không hơn không kém, luôn phá hủy các di tích và công trình quý giá. Tốt hơn hết là để chính phủ đi đầu, như vậy thì các nhà khảo cổ học mới có những khám phá đáng kinh ngạc, trở nên nổi tiếng trên thế giới, nền kinh tế của đất nước này có thể được hồi sinh ở một mức độ nhất định.

Kỹ sư trắc địa lắc lắc đầu, cười nói: “Các thợ lặn đã xuống để thăm dò rồi, Port Royal chìm ở độ sâu 23 đến 36 feet dưới nước (7 mét đến 11 mét), trước đây người ta không thể trục vớt được kho báu vì mặt nạ lặn chưa được phát minh ra, bây giờ có nhiều thiết bị tiên tiến hơn, có thể ở dưới nước trong hai giờ. Dù sao cũng là đào bới mà, anh nên biết, ngay cả đào bới trên mặt đất cũng rất tốn công, trong khi chúng ta còn phải tìm kiếm kho báu trong một thành phố.”

Dù Port Royal lúc đó có là Thủ phủ của Cướp biển, vàng có ở khắp nơi thì nó vẫn là một thành phố. Thành phố thì sẽ như thế nào? Sẽ có vàng ở nơi nô lệ sinh sống à? Sẽ có vàng trong quán rượu nơi các thủy thủ mua vui à? Chỉ có cách tìm ra kho cảng hoặc địa điểm giao dịch của bọn cướp biển thì mới có thu hoạch.

“Cho dù là một thành phố không người ở trên mặt đất, chúng ta cũng phải mất vài ngày mới tìm được vàng chứ đừng nói đến một thành phố chìm trong bùn dưới đáy biển.” Juan vỗ vai trợ lý của mình, an ủi: “Việc khai quật kho báu không hề dễ dàng, ngay cả đội ngũ chuyên nghiệp như chúng ta cũng không thể hoàn thành công việc trong vài tháng, hãy nghĩ đến những nhà thám hiểm ôm mộng làm giàu đi, họ có đủ kiên nhẫn không?”

Nick tỏ ra do dự.

Trên thực tế, người dân địa phương đã cố gắng đi vớt rồi. Ai mà chẳng có ước mơ được giàu sang? Tuy nhiên, không một ai, kể cả thợ lặn được chính phủ cử đến, tìm thấy vàng trong “Thành phố Tội ác”. Nếu thực sự còn cách nào khác thì ai lại muốn đi thuê một đội khảo cổ nước ngoài?

Có lẽ đúng là do là thiếu công nghệ nên không tìm ra, chứ không phải do lời nguyền… Nick cố gắng thuyết phục chính mình.

“Chúng ta sẽ ở đây đợi mặt trời mọc.” Juan nói về kế hoạch của mình.

Lúc bốn giờ sáng thủy triều rút, mặt trời sẽ mọc rất nhanh, khi ấy có thể quan sát rõ ràng địa hình đáy biển.

“…Chi phí để dùng trực thăng quá cao, mà lại còn quá ồn ào.” Juan nhéo tai mình, xác nhận tình hình với Nick lần nữa: “Thủy triều sẽ cuốn những con sứa này đi chứ!”

Bây giờ nhìn thì có vẻ đẹp như trong mơ, nhưng đến khi bắt đầu làm việc, những thứ trong suốt dính nhớp này sẽ thật đáng ghét.

Nick gật đầu.

Juan thở phào. Anh dụi mắt, bắt đầu gọi Nick đi dựng lều.

“Nơi này không có muỗi, khá tốt.” Juan xoa xoa ngón tay, đốt lửa trại, chuẩn bị xiên bắp đi nướng. Tiếc thay gió quá mạnh, anh thử hai lần mà không thành công, nên phải bỏ cuộc trong tiếc nuối.

Juan lấy cái lon đồ hộp từ ba lô ra. Đây là thứ tốt đấy, anh sống bằng trái cây và thịt bò muối đóng hộp suốt chặng đường từ Tây Ban Nha đến biển Caribe.

“Tới thử xem.” Juan nhiệt tình gọi Nick.

Nick không mấy hứng thú. Trên đảo có quá nhiều trái cây rồi, còn thịt bò muối đóng hộp thì Nick cho rằng nó rất khó ăn, tệ hơn cá nhiều.

Juan không để ý, anh kẹp thịt bò muối vào bánh mì, moi ra nửa chai mứt rồi phết đầy lên.

“Sẽ phải đợi lâu đấy, Nick, anh nên nghỉ ngơi trước đi!”

Juan nhìn Nick chui vào trong lều, một tay cầm kính viễn vọng, tay kia cầm chiếc bánh sandwich tự làm rồi đi đến bên vách đá, anh muốn ngắm nhìn bãi biển sáng màu huỳnh quang theo mùa này. Những ánh sáng xanh biến đổi liên tục và đầy vẻ rực rỡ đó thực sự rất hấp dẫn.

“Nếu đây là linh hồn của người chết thì đơn giản quá rồi.” Juan không khỏi bật cười, tự nhủ: “Họ có thể cho tôi biết chuyện gì đã xảy ra vào ngày hôm đó của năm 1692, tốt nhất là cho tôi biết luôn vị trí của nhà kho của bọn cướp biển.”

Juan ngáp một cái, không hiểu sao lại ngủ quên khi chưa ăn hết chiếc bánh sandwich.

“…Juan?”

Khi kỹ sư trắc địa bị Nick lắc mạnh để đánh thức, mặt anh tái nhợt, toàn thân nóng bừng.

“Thưa ông, ông cảm lạnh vì gió biển sao?” Nick lo lắng hỏi.

Juan cố gắng đứng dậy, anh cảm thấy như mình đã gặp ác mộng, nhưng anh không thể nhớ mình đã mơ thấy gì. Giờ anh chỉ thấy cơ thể mình vô cùng nặng nề, còn đầu thì đau nhức.

Lúc này, mặt trời đã nhô lên khỏi đường chân trời, ánh vàng rực rỡ phủ khắp mặt biển, đúng như dự đoán, đàn sứa đêm qua đã biến mất không dấu vết.

“Tôi phải làm việc.” Juan ấn ngón tay lên trán, chợt nhìn thấy vết nứt trên nham thạch bên cạnh mình lóe lên. “Nick, anh có thấy không?”

“Sao cơ?” Nick da đen nghệt mặt ra.

Juan nhặt dụng cụ lên lục lọi trong khe nứt: “Ở đây có thứ gì đó, Chúa ơi, nếu ánh bình minh không tình cờ chiếu vào đây thì sẽ không có ai nhìn thấy nó.”

“Ông còn đang sốt…”

“Không sao, chỉ là cơn ác mộng.” Juan không biết tại sao, nhưng từ lúc nhìn thấy tia sáng lấp lánh đó, anh cảm thấy như vừa uống một ly rượu mạnh, cơn đau đầu biến mất, tinh thần phấn chấn hơn.

Juan nhanh chóng tìm thấy kho báu đầu tiên của mình.

“La bàn?”

Juan giơ lên một sợi dây xích vàng không hề có vết bẩn bằng cách nào đó, mở la bàn ra, tìm thấy một quả cầu pha lê mắc kẹt trong rãnh bên trong, khung la bàn sáng bóng, không biết nó được làm từ chất liệu gì.

“Trông không giống đồ thủ công của thế kỷ 17, phần vỏ này… được các nghệ nhân Anh làm vào đầu thế kỷ này, không phải là đồ cổ, ở đây cũng có khắc năm, một cửa hàng ở Luân Đôn năm 1927.” Juan rất thất vọng, nhưng vì thứ này được làm rất tinh xảo, có vẻ có giá trị nên anh vẫn bỏ chiếc la bàn vào túi. “Có thể là của nhà thám hiểm si mê kho báu hải tặc nào đó làm rơi.”

Juan vui vẻ nói với Nick: “Theo hợp đồng, toàn bộ kho báu hải tặc khai quật được đều phải giao cho chính phủ, nhưng đây không phải là đồ cổ, ta có thể tự quyết định làm gì với nó, khi về thành phố chúng ta sẽ đi hỏi giá.”

***

Năm 1692, đảo Jamaica, nơi thời gian ngừng trôi.

Sóng cuồn cuộn, một con cá voi lưng gù khổng lồ đính đầy những vàng và trang sức đang lướt đi. Johnson ngồi trên lưng nó.

“Phạm vi của khe nứt thời gian lần này chủ yếu là ở hòn đảo kia, đây là điểm tận cùng rồi, không có cách nào vượt qua.” Cá voi lưng gù nhẹ nhàng húc về phía trước.

Một rào cản vô hình bỗng sáng lên. Johnson và Gymir cùng cảm thấy chóng mặt dữ dội, đó là tác dụng của quy tắc vũ trụ. Muốn phá vỡ nó thì phải trả giá, hoặc phải có đủ sức mạnh để phá vỡ trật tự. Vốn thần cổ xưa có thể làm được, nhưng vấn đề là…

“Nếu sức mạnh của anh và Cochro đều bị áp chế, điều đó có nghĩa là cả hai đều không thể mở ra một lối đi mới, làm sao chúng ta có thể quay trở lại?”

Câu hỏi của Johnson khiến thần Biển rơi vào im lặng. Cá voi lưng gù chậm rãi quay người, lại bơi về phía Port Royal.

“Chúng ta cần một sức mạnh từ bên ngoài để phá vỡ khe nứt thời gian này.” Gymir suy nghĩ rất lâu, nảy ra một ý tưởng.

Johnson lo lắng nói: “Sức mạnh từ bên ngoài ở đâu ra chứ, không đồng loại nào biết chúng ta bị mắc kẹt ở nơi này.”

Cá voi lưng gù nhìn tấm thân lấp lánh ánh vàng của mình, chợt nảy ra một ý tưởng: “Sách nói khu cảng này sẽ chìm xuống đáy biển, lại còn nói đây là Thủ phủ của Cướp biển?”

Gymir biết rằng cướp biển rất thích vàng. Trong thần thoại Bắc Âu, tất cả tàu chìm xuống biển đều được cuốn vào kho báu của thần Biển Gymir. Người ta sợ hãi trước cơn thịnh nộ và uy quyền của thần Biển, nhưng cũng muốn làm giàu bằng ngành hàng hải, trong số đó, cướp biển là những kẻ sùng bái thần Biển nhất.

“Không phải cuốn tiểu thuyết phiêu lưu đó đã viết vậy sao? Luôn có người muốn vớt kho báu hải tặc, cho nên…”

“Chúng ta có thể tìm một thám tử?”

Johnson nhìn cá voi lưng gù, cá voi lưng gù nhìn y. Một cảm giác vui mừng hết sức ăn ý tựa như một mầm non mới nhú trong lòng đất xuất hiện.

“…Thứ tạo ra <i>kết nối</i> nên đặt ở đâu?”

“Không thể ở trên bến cảng, nhà cũng không được, đến lúc đó tất cả sẽ sụp đổ.” Gymir trở lại hình dạng con người, tích cực đề xuất: “Không biết nó sẽ chìm xuống đáy biển sâu đến mức nào, sẽ không dễ dàng tìm thấy.”

“Còn vách đá biển đó thì sao?” Johnson chỉ vào vách đá mà y đã leo lên trước đó, nó rất cao, cách xa thị trấn, có thể may mắn còn sót lại.

Johnson lấy chiếc la bàn trong túi ra, giơ nó lên dưới ánh nắng chói chang, mở ra cạch một cái. Quả cầu pha lê trong la bàn được ánh sáng mặt trời nhuộm thành màu vàng kim.

Johnson nhìn vào la bàn, mỉm cười nói: “Cần phải có đủ ý chí và may mắn mới nhìn thấy được nó, sau đó chúng ta có thể đi vào trong mơ để chào đón con người may mắn này, để hắn truyền tin tức cho chúng ta.”



<i>Người dịch: Nick gọi Juan là ông không phải vì Juan già, mà chỉ là cách gọi tôn trọng thôi.</i>

<i>Port Royal là một thành phố nằm ở cuối Palisadoes của Cảng Kingston, thuộc đông nam Jamaica. Được thành lập vào năm 1518, thành phố là trung tâm thương mại vận tải biển trong vùng biển Caribe trong nửa sau của thế kỷ 17. Năm 1692, nó đã bị phá hủy bởi một trận động đất, một cơn sóng thần và sau đó là hỏa hoạn. Các cơn bão nghiêm trọng đã thường xuyên làm hư hại thành phố này và một trận động đất nghiêm trọng xảy ra trong năm 1907.</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 78


<b>Chương 78</b>

<b>Chiếc la bàn kỳ quái</b>

Một chiếc xe tải lao lên đê chắn sóng một cách khó khăn dọc theo con đường được lát đá tạm thời. Phía sau xe tải chứa nhiều dụng cụ khai quật hạng nặng, cùng với một số vật tư. Đê chắn sóng chỉ đủ rộng cho một chiếc xe tải đi qua, nếu kỹ năng lái xe không tốt, xe sẽ bị lật và lăn thẳng xuống biển. Tài xế bấm còi thật mạnh, người nghe thấy liền nhảy xuống dốc cạnh bờ kè để tránh.

“Shit!” Tài xế nhìn thấy một người khác đang cúi đầu đi phía trước xe, dường như không nghe thấy tiếng còi. Gã thò đầu ra khỏi cửa sổ bên không có kính, hét lên: “Tránh đường!”

Kết quả là người đàn ông kia không có phản ứng gì. Một người da đen đang vác cái rương ở bên đường nhảy lên đê chắn sóng, nhanh chóng kéo người xuống.

“Uống bao nhiêu rượu rồi hả?” Tài xế giận dữ mắng.

Juan hoang mang đờ đẫn, sắc mặt tái nhợt, trông thực sự giống như say rượu. Nhưng người trợ lý da đen của Juan biết rằng kỹ sư trắc địa này không những không nghiện rượu mà thậm chí anh còn chưa bao giờ uống một ly bia. Nick đưa tay ra quơ mạnh trước mặt Juan, cuối cùng nhìn thấy tiêu cự trong mắt anh chậm rãi tập trung lại, như thể anh đang tỉnh dậy từ trong một giấc mơ.

“Nghe này Juan, ông nên đi gặp bác sĩ đi, cả ngày hôm nay ông cứ sốt hoài.”

“Sốt nhẹ thôi!” Juan yếu ớt sửa lại, anh lau bụi trên mặt, bứt tóc đầy lo lắng: “Tôi đã uống thuốc rồi, đó là thuốc kháng sinh có trong rương thuốc của tôi, tôi đảm bảo là ngày mai sẽ lấy lại được sức lực.”

“Thế nhưng…”

Nick da đen muốn tiếp tục thuyết phục nhưng Juan đã nắm lấy cánh tay gã, nhấn mạnh: “Tôi chỉ bị hứng gió lạnh cả đêm, nhức đầu và sốt, không nôn mửa, không tiêu chảy, không phải là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đến tính mạng, tôi chỉ cần quay lại lều chợp mắt một lát.”

Nick nghĩ đi nghĩ lại, thấy cũng đúng. Sự bất thường của Juan có thể là do “tác dụng của thuốc”. Suy cho cùng, Juan không có triệu chứng nào khác, chắc đó không phải là vấn đề lớn.

“Vậy ông nghỉ ngơi đi, sáng mai tôi sẽ gọi ông.” Nick đưa Juan đến cửa lều.

Là kỹ sư trắc địa trong đội khảo cổ, Juan có một chiếc lều riêng để anh đặt các công cụ và bản vẽ của mình. Mặc dù Juan còn đang chóng mặt, nhưng anh vẫn nhớ lấy ví ra, đưa cho Nick một ít tiền.

Nick giật mình từ chối: “Chúng tôi được thuê làm việc, thù lao do chính phủ trả, ông không cần phải trả thêm nữa.”

“Cầm đi, đây là số tiền bán la bàn hôm nay, chúng ta sẽ chia đều.”

Juan nhìn Nick đang xấu hổ, nói lớn: “Hôm qua tôi đã gặp cái gã được chính phủ cử đến để chịu trách nhiệm về tiền lương và tài chính của công nhân, nhìn là biết một tên khốn. Rõ ràng đã nói tiền lương được trả hàng ngày, nhưng bây giờ công nhân chỉ mới được trả lương ngày đầu tiên, ngày mai tôi sẽ nói chuyện với Tiến sĩ về vấn đề này.”

“Cảm ơn.” Vẻ mặt Nick phức tạp, gã im lặng cầm lấy tiền, cúi đầu bước ra khỏi lều.

Juan kéo rèm trong lều xuống, cởi chiếc áo khoác dính đầy cát và bùn ra, ngước lên thì thấy lũ côn trùng bay đang quay tròn gần ngọn đèn bàn.

“Thật đáng chết!”

Juan loay hoay tìm thuốc đuổi côn trùng và thuốc diệt côn trùng. Anh không sợ cảm lạnh, nhưng anh rất sợ các loại bệnh nhiệt đới, các tạp chí khoa học từ lâu đã nói rằng những căn bệnh này lây lan qua muỗi.

Đột nhiên, tay của Juan khựng lại. Anh tìm thấy thứ gì đó treo trên dây xích trong ba lô của mình. Juan từ từ rút vật đó ra, đập vào mắt anh là màu vàng sáng bóng.

Cạch.

Juan buông lỏng ngón tay, la bàn rơi xuống đất. Hơi thở của anh trở nên nặng nề, anh không nhịn được giơ tay ôm lấy đầu, chìm vào mê man.

Tại sao chiếc la bàn đã bán lại quay trở lại?

Tuy rằng anh bị sốt, đầu óc hơi choáng váng mơ màng, nhưng anh dám chắc là mình nhớ chính xác. Sáng nay anh đã bán chiếc la bàn này cho một tay buôn đồ cổ.

Việc chính phủ Jamaica thuê các nhà khảo cổ dưới nước khai quật kho báu hải tặc đã được đăng tải trên báo chí châu Âu, đương nhiên sẽ có rất nhiều “ruồi” ngửi thấy mùi và bay tới đây. Tay buôn đồ cổ này là một trong số đó, gã sẽ mua một số tác phẩm nghệ thuật địa phương, sau đó bắt chước và gia công thành cái gọi là kho báu hải tặc, rồi bán cho những nhà sưu tập người Mỹ có quá nhiều tiền.

Juan biết rất rõ chiêu trò này, nên anh đã bịa ra một câu chuyện về chiếc la bàn, nói rằng đó là di vật của một nhà thám hiểm người Anh nào đó, khoác lác nghe cứ như thật.

Tay buôn đồ cổ kia ngoài mặt thì cười ha ha, nhưng thực ra gã không tin câu chuyện của Juan lấy một chữ, cũng sẽ chẳng đi tìm hiểu tên của nhà thám hiểm kia. Sau khi lấy được món đồ đó, gã nhất định sẽ xóa đi năm và địa chỉ cửa hàng Luân Đôn trên vỏ la bàn, làm cho nó cũ đi, ngụy tạo thành một món đồ cổ từ Thời đại Khám phá*. Gã cũng sẽ bịa ra một “huyền thoại cướp biển” cho chiếc la bàn kỳ lạ này, chẳng hạn như đài phun nước trường sinh, người cá và những câu chuyện khác, nếu không thì làm sao giải thích được lý do trong la bàn không có kim, mà là một quả cầu pha lê? Chắc chắn là vào một ngày đặc biệt nào đó, dùng một phương pháp đặc biệt nào đó để quả cầu pha lê phản chiếu ra một tấm bản đồ huyền bí! Đó là con đường dẫn đến vùng đất huyền thoại!

<i>* Thời đại Khám phá hay Thời đại Thám hiểm là cách gọi phổ biến về những khám phá địa lý của châu Âu vào khoảng thời kỳ cận đại, phần lớn trùng lặp với kỷ nguyên thuyền buồm, khoảng từ đầu thế kỷ 15 đến thế kỷ 18 trong lịch sử châu Âu. Trong thời kỳ này, người châu Âu bắt đầu đi khám phá thế giới và mở mang chân trời địa lý của họ. Gần đây, một số sử gia gọi thời kỳ này là Thời kỳ Tiếp xúc (tiếng Anh: Contact Period) hay Thời đại bành trướng của châu Âu.</i>

Kiểu phát triển câu chuyện này có thể được tìm thấy bằng cách lướt qua một cuốn tiểu thuyết phiêu lưu hoặc tiểu thuyết khoa học viễn tưởng bất kỳ. Tất nhiên Juan cũng sẽ không tin, từ quyết định bán chiếc la bàn không chút do dự có thể cho thấy anh là người rất tin vào khoa học.

Tuy nhiên, vào lúc này, Juan gặp phải một vấn đề khó giải thích được bằng cách khoa học.

Tại sao la bàn quay trở lại?

Juan lấy ví của mình ra, đếm lại số tiền mặt. Đúng vậy, cộng với số tiền anh vừa trả cho trợ lý da đen Nick, khoản tiền tay buôn đồ cổ trả để mua chiếc la bàn vẫn còn trong túi anh! Juan sờ lên cái trán hơi nóng của mình, ngồi bệt xuống ghế gấp, ngơ ngác nhìn ví tiền và la bàn. Nick có ăn trộm la bàn về không? Juan nhớ lại vẻ mặt vừa rồi của Nick, phát hiện đầu mình càng ngày càng nặng, không thể suy nghĩ được vấn đề gì. Anh cố gắng đứng dậy nhưng không thể kiểm soát được cơ thể mình.

Trong tầm nhìn dần dần mờ đi, anh dường như đã bắt được một thứ gì đó, cầm trong tay rất nặng, và còn sáng bóng.

***

“Ục ục ục.”

Juan cảm thấy một chuỗi bong bóng phun ra từ miệng mình. Anh tỉnh dậy vì sặc nước. Nước biển làm cay mắt anh, anh phải chật vật quạt cánh tay để nổi lên mặt biển. Xa xa là bến cảng, hình như còn có rất nhiều tàu bè. Nắng quá chói chang khiến Juan không thể nhìn rõ tình hình ở đó, vì vậy anh chỉ có thể thả lỏng cơ thể hết mức có thể, lợi dụng sức nổi của nước biển để đạp nước tung tóe.

Sau đó anh cảm thấy có thứ gì đó quấn quanh tay phải của mình.

“Ơ?”

Juan ngơ ngác nhìn chiếc la bàn treo trên dây xích vàng. Chiếc la bàn trong tay anh không ngừng rung động, như thể có thứ gì đó sắp b*n r*. Juan hoảng sợ dời ngón tay ra, rồi nghe thấy một tiếng tách, la bàn tự động mở ra. Quả cầu pha lê kỳ lạ đó sáng lên, sáng hơn cả đèn điện. Juan há hốc miệng, không cần suy nghĩ, anh kéo mạnh sợi dây xích để ném chiếc la bàn đi.

[Thú vị.]

Một giọng nói quỷ dị vang lên phía sau anh.

Juan nhanh chóng quay đầu lại. Trong tầm mắt của anh còn sót lại một vài hoa văn đen và đỏ đan xen nhau, anh không biết chúng là gì, nhưng cảm giác run rẩy từ sâu trong tâm hồn nói với Juan rằng đó là một thứ cực kỳ khủng khiếp, không nên biết đến, cũng không nên nhìn thấy.

[Con người… sức mạnh này… ngươi là do Gymir đưa tới…]

Ngôn ngữ lạ lùng không thể miêu tả như kiến đang bò trong huyết quản. Càng không muốn nghe, càng không thể cưỡng lại được cảm giác này. Cảnh tượng trước mắt Juan bắt đầu mờ đi. Anh hét lên sợ hãi, nhưng không thể nghe thấy âm thanh do mình phát ra.

Con sóng khổng lồ như bức tường cao đã nhấc anh lên, đẩy anh về phía bờ biển. Juan không nhìn thấy, nhưng có một con cá voi lưng gù khổng lồ đang tạo thành sóng lớn, trên cái lưng đen nhánh của nó có một người đang ngồi.

“Cochro!”

Gymir biến thành cái bóng nửa đường xông tới, còn Johnson thì rơi xuống biển. Nước biển nhanh chóng đóng băng.

Thảm Bay dứt khoát lao ra khỏi mặt biển, lơ lửng giữa không trung một cách kỳ dị, lần này nó thực sự trông giống như một tấm thảm bay trong Nghìn lẻ một đêm.

Cái bóng do Gymir biến hình duỗi “móng vuốt” và “răng nanh” ra, truy đuổi Thảm Bay.

Johnson: “…”

Y đã từng chứng kiến cảnh này ở Bắc Cực.

Mặc dù tình huống giống hệt nhau, nhưng tốc độ và sức mạnh đều bị giảm đi vô số lần. Khí thế khủng khiếp hủy diệt thế giới đã không còn nữa, sức mạnh phá vỡ quy tắc và trật tự cũng không còn chút nào, cơ thể không còn kéo thành bóng mờ, trong không khí không còn tiếng r*n r* do bị xé nát, chỉ còn lại nước biển bên dưới nhấp nhô dập dờn, vài giọt nước bắn tung tóe lên có thể coi như nể mặt hai vị thần cổ xưa.

“Phì.” Johnson không khỏi bật cười. Y nhanh chóng ngẩng đầu nhìn lên trời, giả vờ như không có chuyện gì xảy ra.

Cái bóng và Thảm Bay: “…”

Hai vị thần cổ xưa giận dữ trừng nhau, nhưng trong thâm tâm đều biết rằng tình thế trước mắt đã thay đổi, không còn đến lượt họ đánh nhau nữa.

“Johnson!” Gymir gọi viện binh của mình. Hắn không thể đánh chết Cochro, chẳng lẽ Johnson không thể?

“Mày dám để thần mới đó đến gần?” Cochro lật người, để lộ hai thứ dạng cột trắng ẩn dưới cơ thể đầy sọc của Thảm Bay.

Johnson vô thức nhắm mắt lại, Gymir tức giận xông lên đá gã.

Cochro đã bị áp chế sức mạnh nhưng vẫn có kỹ năng đáng sợ là chọc ai người đó mang thai.

“Ta có thể đóng băng…” Johnson đột ngột dừng lại, vì y cảm nhận được sức mạnh của Bướm Xám, y lập tức nhìn chăm chú vào lớp lụa trắng mà Thảm Bay bảo vệ trên bụng.

“Ngươi tìm được Bướm Xám?” Johnson đau đầu hỏi.

Cochro cười khẩy: “Sau khi phát hiện ra sức mạnh của mình bị áp chế, ta nhận thấy không gian này có điều gì đó bất thường rồi. Với năng lực bẩm sinh của mình, ta có thể dễ dàng tìm ra tung tích của các ngươi, đương nhiên ta phải chọn cách tìm kiếm Bướm Xám.”

Đánh Johnson? Đánh không lại thần mới! Đánh Gymir? Hai tà thần tội nghiệp đánh nhau cũng chẳng ích gì! Đi nhặt Bướm Xám không có đầu óc trước vậy.

Cochro đắc ý khoe ra Bướm Xám được bọc trong kén, nếu Johnson thử tấn công gã thì Bướm Xám sẽ đánh trả.

“…Bướm Xám cực kỳ căm ghét hơi thở của các ngươi đấy.” Thảm Bay tùy ý cuộn mình, nói đầy vẻ ám chỉ.

Quả thật, ban đầu lúc ở biển sâu Bắc Cực, Bướm Xám bị thương chui vào trong kén, vốn tưởng là đang trong trạng thái không hoạt động, nhưng sau khi cảm nhận được bầu không khí bên ngoài, nó liền phát ra tiếng kêu phẫn nộ.

Johnson, Gymir: “…”

Ngoại trừ chuyện ở Bắc Cực, họ đã ra tay đánh Bướm Xám hồi còn ở Luân Đôn ba mươi năm trước. Tà thần này dù không có não nhưng vẫn nhớ kẻ thù.

“Sao nào, mỗi người chúng ta lùi lại một bước?” Cochro gian xảo nói. Gã cố tình kéo dài giọng, còn cảm thán hết sức khoa trương màu mè: “Các ngươi làm cách nào để kéo một con kiến vào trong khe hở thời gian?”

Johnson vô thức nhìn về phía bờ biển, cơn sóng biển vừa rồi là do Gymir mượn hóa thân cá voi khổng lồ để tạo ra, không phải là sức mạnh của tà thần nên không cần phải lo lắng về việc nhấn chìm con người, chỉ có điều…

“Đáng lẽ la bàn phải đưa hắn đến gặp chúng ta trong giấc mơ, tại sao lại kéo cả cơ thể đến?” Johnson không nghĩ ra. Y quyết định đi xem thử con người kia.

Bến cảng tan hoang, sóng biển tràn vào bờ kè, làm lật tung vài thùng hàng, khiến nhiều thuyền buồm va chạm vào nhau. Một nửa số thuyền buồm này là tàu cướp biển, thậm chí nếu không phải thì chúng cũng chở theo đạn đại bác, kho đạn đã phát nổ sau cú va chạm.

Johnson vội vã quay lại, băng giá ngay lập tức đóng băng những con tàu đang lắc lư và bốc cháy. Gymir vội vàng “đẩy” những chiếc thuyền còn nguyên vẹn sang bên kia bến tàu.

“Không thấy đâu cả?” Johnson không cảm nhận được sự hiện diện của la bàn, lòng tràn đầy nghi ngờ.

“Con người đó đã trở về thời gian và không gian ban đầu.”

Thảm Bay từ từ bơi qua, leo lên một chiếc thuyền bị hỏng, thân tàu được cơ thể gã phủ lên lặng lẽ mục nát, rạn nứt, những thuyền viên bất động biến thành những xác chết teo tóp. Đây không phải Cochro đang ăn, mà là Bướm Xám.

Johnson nhìn gã đầy cảnh giác.

“Đừng lo lắng, chúng ta đều muốn quay lại đúng dòng thời gian, thoát khỏi khe hở thời gian này, phải không? Chúng ta nên hợp sức, chúng mày nên đồng ý với tao.” Cochro nói một cách nham hiểm xảo trá: “Nếu chúng mày từ chối lòng tốt của tao, lần sau khi con người đó xuất hiện, đoán xem ai sẽ xuất hiện đầu tiên bên cạnh con người đó, tao hay Ephanodil?”

“Câm ngay!” Gymir tức giận, hắn không thích Cochro gọi tên thật của Johnson.

Cochro cười khẩy: “Tao đã mất đi phần lớn sức mạnh, nhưng tao vẫn có thiên phú, tao có thể lập tức cảm nhận được sự tồn tại của con người đó, việc giết một con người rất đơn giản. Có lẽ mày có thể <i>bắt cóc</i> một sinh vật thứ hai vào khe hở thời gian, tao sẽ tiếp tục giết, cho đến khi mày đồng ý với đề nghị của tao.”
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 79


<b>Chương 79</b>

<b>Rắc rối</b>

Juan mơ mơ màng màng mở mắt ra. Anh nghe thấy có người đang nói chuyện với mình, nhưng không phân biệt được nội dung. Vài câu từ đứt quãng trôi vào não anh.

“…Tấn công… la bàn… có thể đã rơi xuống biển…”

Sau đó là bóng dáng của Nick da đen, hình như gã đang nói gì đó với bác sĩ. Xung quanh nồng nặc mùi thuốc khử trùng. Tường trắng, trần nhà cũng trắng, có cả nhân viên y tế đeo khẩu trang.

Juan có thể nghe thấy giọng nói của những người đó, nhận ra một số gương mặt quen thuộc, nhưng bộ não của anh không thể suy nghĩ, không thể ghép các thông tin thu thập được lại với nhau, cũng không thể nhận ra mình đang trải qua điều gì, chuyện gì đang xảy ra. Ý thức của anh chỉ có thể suy trì trong vài giây, cứ thế lúc có lúc không.

Đột nhiên một ngày anh cảm nhận được sự hiện diện của cơ thể, bộ não của anh bắt đầu hoạt động bình thường. Những ký ức rời rạc đó được “xô đẩy” ra trước mắt anh như dòng nước chảy, nối liền với nhau. Trước hết, đây là bệnh viện, anh đã được đưa đến bệnh viện. Sau đó, anh gặp rắc rối. Nếu chỉ bị cảm và sốt thì không cần phải nhập viện.

Juan cảm thấy cổ họng mình khô rát, anh vùng vẫy ngồi dậy, lúc này có tiếng hét vang lên từ ngoài cửa. Cô y tá da nâu nhanh chóng gọi bác sĩ, đồng thời cho Juan một ly nước.

“…Sốt cao không rõ nguyên nhân, chúng tôi đã kiểm tra máu và phân của cậu, loại trừ các bệnh truyền nhiễm cấp tính, viêm ruột thừa, viêm màng não…” Tiếng Anh của bác sĩ chuẩn hơn nhiều so với tiếng y tá.

Mặc dù ngôn ngữ chính thức của Jamaica là tiếng Anh, nhưng Juan không thể hiểu được nhiều từ mà người dân địa phương nói. Ban đầu, Juan chọn thuê Nick giữa một nhóm người làm trợ lý cho mình vì anh có thể hiểu được Nick đang nói gì. Thật không may, trong bệnh viện còn có một tình huống khác mà anh không thể hiểu được tiếng Anh.

“Xin lỗi, bác sĩ, tôi thực sự không hiểu thuật ngữ y khoa, ngôn ngữ mẹ đẻ của tôi là tiếng Tây Ban Nha.” Juan chỉ vào đôi chân bị trói vào giường bệnh và cánh tay vừa được giải thoát ra khỏi dây trói, mặt vô cảm hỏi: “Tôi muốn biết, tôi có bị bệnh tâm thần không?”

Bác sĩ nhìn Juan và nói thẳng: “Trong ba ngày qua, cậu có triệu chứng mê sảng, nói những điều vô nghĩa, la hét, thực hiện các hành động lặp đi lặp lại.”

Đồng tử của Juan co lại, anh ngập ngừng hỏi: “Tôi đang chạy trốn?”

“Cậu đang bơi.” Bác sĩ mở hồ sơ bệnh án ra, nói mà không nhìn lên: “Cái này có liên quan đến việc cậu từng rơi xuống biển, giờ cậu đã tỉnh táo, tôi nghĩ không cần giám định tâm thần, Tiến sĩ Marat của đội khai quật khảo cổ cũng có thể tiết kiệm được một khoản chi phí.”

Ông ta buông lời một cách đâu ra đấy: “Nếu cảm thấy khó chịu thì hãy bấm chuông gọi y tá, tôi sẽ tan làm lúc năm giờ, nếu Tiến sĩ Marat đến bệnh viện trước giờ đó, vui lòng mời đến văn phòng gặp tôi.”

Juan nhìn bác sĩ đi ra khỏi phòng bệnh.

Nick da đen suýt đụng phải bác sĩ ở cửa. Nick hoảng sợ lùi lại ba bước, liên tục xin lỗi rồi nhìn bác sĩ rời đi trước khi loạng choạng bước qua cửa.

“Ôi Chúa ơi! Ông Juan, cuối cùng ông cũng tỉnh lại!” Nick giống như một con cừu đi lạc cuối cùng đã tìm được vị linh mục, gã lấy tay ôm đầu, còn đứng tại chỗ quẫy vài lần, nhấn mạnh sự phấn khích và suy sụp của mình.

Sau khi y tá đo nhiệt độ rồi rời đi, Juan hỏi ngay: “Chuyện gì xảy ra vậy?”

“Ông không nhớ gì sao?” Nick kêu lên, gã sợ hãi nói: “Chính là tay buôn đồ cổ đó, gã nói rằng chúng ta đã ăn trộm la bàn, đây là lần đầu tiên gã làm ăn ở Jamaica, quyết định <i>dạy</i> chúng ta một bài học vì không biết điều. Thế là gã thuê mấy người nửa đêm lẻn vào lều ở công trường bên bờ biển…”

Bởi vì công tác trục vớt mới bắt đầu, chưa có thu hoạch gì, người chịu trách nhiệm canh gác trại cũng không để ý nên người ngoài mới dễ dàng lẻn vào.

“…Rồi bọn chúng cướp lấy la bàn, ném ông xuống biển, cũng may là Tiến sĩ Marat ban đêm không ngủ được, nhìn thấy bóng người khả nghi liền gọi người đuổi theo, bắt quả tang tại trận. Sau đó ông được phát hiện đang trôi nổi trên biển, thương tích khắp người. Nếu chậm hơn, ông có thể đã bị chết đuối rồi.”

“Đợi đã, ý anh là tôi đã bị đánh?” Juan hoàn toàn không nhớ điều này. Anh chỉ nhớ chiếc la bàn kỳ quái đó. Không hiểu sao rơi xuống biển? Đúng là vậy, còn suýt nữa bị cơn sóng lớn cuốn trôi!

“Lúc đó là mấy giờ?”

“Ờ, hình như đã mười giờ tối.”

“Không thể nào.” Juan nhớ rõ ánh mặt trời chói chang, quả cầu pha lê bên trong la bàn đang tỏa sáng rực rỡ dưới ánh nắng.

Nick có vẻ do dự, rõ ràng là không biết trả lời như thế nào, chủ yếu là vì bộ dáng không còn lý trí của Juan mấy ngày trước khiến gã sợ hãi, gã lo lắng mình có thể nói sai điều gì đó khiến Juan khó chịu.

Juan cũng đang nhìn chằm chằm vào trợ lý của mình. Việc Juan giỏi nhất không phải là trắc địa, hay khai quật khảo cổ mà là “nhìn người”. Anh đánh giá con người rất chính xác, điều này đã giúp ích rất nhiều cho công việc và cuộc sống của anh. Juan từng nghi ngờ Nick đã đánh cắp chiếc la bàn khi thấy nó xuất hiện trở lại, nhưng dựa trên những phản ứng mà anh quan sát được bây giờ, Juan tin rằng sự việc không liên quan gì đến Nick.

“Hãy kể cho tôi nghe về chiếc la bàn đó.” Juan ngồi dậy trên giường bệnh, bình tĩnh hỏi.

“La bàn?” Nick vô thức lộ ra vẻ phản kháng.

Juan liền hỏi: “Có phải cảnh sát tin tay buôn đồ cổ đó, cho rằng chúng ta đã lấy trộm la bàn không?”

“Đúng!” Nick ôm đầu giận dữ nói: “Tôi giải thích thế nào họ cũng không tin, Tiến sĩ Marat cũng trách tôi… Tay buôn đồ cổ đó còn nhận diện được ông, nói rằng gã tìm thấy chiếc la bàn trong lều của ông.”

“Sau đó thì sao?”

“Ôi Chúa ơi! Vấn đề nằm ngay ở đây, tay buôn đồ cổ nhất quyết là đã lấy la bàn trong lều của ông ra, sau đó đánh mất trong lúc hỗn loạn, có thể là rơi xuống biển, nhưng gã không chịu thừa nhận, còn vu cáo cho Tiến sĩ Marat và bệnh viện, nói sau sự việc có người lợi dụng lúc hỗn loạn lấy trộm la bàn, dù sao đó cũng là một sợi dây xích bằng vàng.”

Nick gần như phát khóc lên, những ngày này gã phải chịu rất nhiều áp lực. Juan bị đánh khắp người, vừa nói nhảm vừa sốt cao nên không giúp được gì cho gã. Đội khảo cổ và bệnh viện rất tức giận vì bị tay buôn đồ cổ cắn ngược, sự việc lại do Juan và Nick khơi ra, nên đương nhiên chẳng ai thèm nể mặt họ. Trên thực tế, Nick đã bị đội khai quật khảo cổ sa thải. Nếu đây không phải là Jamaica, hoặc nếu họ dễ dàng tìm được một kỹ sư trắc địa có tay nghề cao để thay thế Juan thì anh cũng sẽ mất việc.

“Để tôi suy nghĩ xem, giờ tay buôn đồ cổ đó ở đâu?” Juan đau đầu hỏi.

“Trong cục cảnh sát.”

Nick nói điều này là nhờ Tiến sĩ Marat.

Với tư cách là người phụ trách dự án khai quật dưới nước, Tiến sĩ Marat chất vấn rằng tại sao người ngoài có thể lẻn vào công trường, tại sao họ có thể tìm ra chính xác vị trí lều của Juan, nếu sau này văn vật và kho báu vàng ròng bị mất thì ai sẽ chịu trách nhiệm. Những lời này trực tiếp chặn miệng các quan chức chính phủ Jamaica. Tiến sĩ Marat sau đó lại chất vấn tay buôn đồ cổ có bằng chứng nào chứng minh kỹ sư trắc địa Juan đã ăn trộm và lừa tiền không, việc tìm thấy chiếc la bàn trong lều là do tay buôn đồ cổ và người của gã nói, không ai nhìn thấy cả.

Tiến sĩ Marat cũng gay gắt chỉ ra rằng chẳng qua tay buôn đồ cổ không biết tại sao mình lại đánh mất đồ, nhưng muốn bù đắp tổn thất nên mới nhắm vào Juan và đội khảo cổ. Kế hoạch thực sự của tay buôn đồ cổ là nếu chiếc la bàn bị Juan đánh cắp, gã sẽ lấy lại đồ, nếu không phải thì rất có thể Juan sở hữu những món đồ tương tự, lấy về bán kiếm bộn tiền cũng không lỗ, ai bảo Juan đã bị lộ là người của đội khảo cổ chứ? Trong mắt tay buôn đồ cổ, Juan đích thực là một con cừu mập mạp chờ bị xẻ thịt.

Tiến sĩ Marat cũng không vu khống suông, bởi vì có rất nhiều thứ được tìm thấy trên người những kẻ đó, tất cả đều bị đánh cắp khỏi khu cắm trại. Nhưng ai cũng biết rằng đây không phải là bằng chứng, những người đó chỉ có thói quen trộm cắp vặt, trong đó có cả những công nhân làm việc ban ngày trong công trường. Vậy là Tiến sĩ Marat thực chất vẫn nghi ngờ Nick đã lấy trộm la bàn, gây ra vụ việc rắc rối này, còn về phần sau này ai đã lấy la bàn thì không ai biết.

Nick rất tủi thân.

“Tôi sẽ giải thích cho Tiến sĩ Marat.” Juan vỗ vai Nick nói.

Trái tim của Juan nặng trĩu. Điều gì đang xảy ra với chiếc la bàn này?

Nick thận trọng nhìn Juan: “À thì… Ngoài những tên khốn đó, cảnh sát sau đó cũng lục soát lều của ông, biến mọi thứ thành một mớ hỗn độn. Nghe nói bọn cướp đã lấy trộm kính viễn vọng, bút máy, mực, dao cạo râu của ông… có điều những thứ này đã được tìm lại, chỉ có vài cái bị đập vỡ thôi…”

Juan xoa đầu, đau khổ hỏi: “Còn có tin tức nào tệ hơn sao?”

“Có!” Một giọng nói vang lên ngoài cửa.

“Tiến sĩ Marat?” Juan và Nick cùng kêu lên.

Tiến sĩ Marat của đội khai quật khảo cổ là một người Nam Âu ở độ tuổi bốn mươi, đã rụng hết tóc, dáng người cao lớn, để râu quai nón, trông rất khỏe mạnh cường tráng.

Tiến sĩ Marat bước đến giường bệnh, khoanh tay thở dài: “Juan thân mến, cậu đã gây ra chuyện lớn rồi.”

Juan rất xấu hổ, chỉ có thể xin lỗi.

Thế rồi Tiến sĩ Marat tung ra một quả bom.

“Tay buôn đồ cổ đã chết đêm qua.”

“Sao cơ?”

Nick sốc đến nỗi mắt gần như lồi ra ngoài.

Juan cảm thấy ớn lạnh toàn thân, anh nhớ lại cái ký ức kỳ lạ mà mình không chắc là mơ hay thực đó. Anh đang ngâm mình trong nước biển, trên tay cầm một chiếc la bàn phát sáng, bên tai nghe thấy một âm thanh kỳ lạ, sau đó là con sóng che trời lấp đất.

“Gã chết thế nào?”

“Không biết, nghe nói không có dấu hiệu gì cả, mũi miệng chảy máu.” Tiến sĩ Marat rất bực bội.

Juan nhớ ra lời bác sĩ dặn, vội vàng báo về cuộc hẹn đến văn phòng cho Tiến sĩ Marat.

“Hay quá, tôi vừa định hỏi, nghe nói có người từ bệnh viện đến đồn cảnh sát khám nghiệm tử thi, có lẽ họ biết nguyên nhân cái chết của tay buôn đồ cổ.” Tiến sĩ Marat vừa nói vừa liếc nhìn Nick.

Juan ngay lập tức làm chứng cho trợ lý của mình rằng vấn đề la bàn không liên quan gì đến Nick, nếu có thể, anh muốn thuê lại Nick sau khi điều tra rõ ràng mọi chuyện.

“Được rồi, sau khi cậu xuất viện chúng ta sẽ nói chuyện.” Tiến sĩ Marat rời đi, nhưng Juan lại không thể bình tĩnh được.

Trực giác mách bảo anh rằng cái la bàn kia đã bị nguyền rủa, còn lý trí của anh lại bác bỏ suy đoán phản khoa học đó.

***

Đêm đó, cơn bão làm cửa sổ bệnh viện rung bần bật lên.

Juan nằm trên giường không tài nào ngủ được. Anh đi vòng quanh phòng bệnh và hành lang, đóng tất cả các cửa sổ lại, nước mưa ướt đẫm nửa người. Y tá nhìn thấy liền đẩy Juan trở lại phòng bệnh, lo lắng anh bị sốt, cô còn đo nhiệt độ cho anh, nghiêm khắc ra lệnh cho Juan không được rời khỏi giường.

Juan đã rất đau đầu khi biết chuyện các nhân viên y tế do bệnh viện cử đến sơ cứu cho anh trên bãi biển lại bị tay buôn đồ cổ vu cáo là kẻ khả nghi đã lấy trộm la bàn. Bây giờ đứng trước yêu cầu nghiêm khắc của cô y tá, Juan không tranh cãi mà chọn tiếp tục nằm ngắm trần nhà.

Anh vòng tay ra sau đầu làm gối. Đột nhiên, anh cảm thấy có vật gì cứng cứng dưới gối. Juan nhấc chiếc gối lên, dán mắt vào chiếc la bàn gắn dây xích vàng. Cánh tay anh run rẩy không thể kiểm soát.

Juan biết rằng nếu thứ này đã ở đây ngay từ đầu thì sẽ có ai đó phát hiện ra nó. Vậy đó có thể là ai? Ai đã đặt thứ này dưới gối khi anh đi ra hành lang? Anh là người duy nhất ở phòng này, các giường khác đều trống, cửa sổ vẫn đóng. Phòng nghỉ của y tá ở hướng khác. Juan tuy rời khỏi phòng bệnh nhưng vẫn không ngừng chú ý đến động tĩnh trong hành lang. Anh thề rằng không có ai bước vào căn phòng này cả. Trừ khi có ai đó có thể bất chấp gió mưa vào ban đêm để cạy cửa sổ ra, lẻn vào phòng bệnh. Tại sao một người có kỹ năng như vậy lại đặt một chiếc la bàn dưới gối của anh? Đây là để vu oan cho anh, hay là để dọa chết anh?

Lần này Juan không dám chạm vào la bàn, anh dùng ga giường để lót tay, cẩn thận nhặt la bàn lên, băn khoăn không biết giấu nó ở đâu. Juan dám nói sự thật với Tiến sĩ Marat, nhưng anh không dám nói những điều tưởng như điên rồ đó với cảnh sát Jamaica. Sẽ còn tệ hơn nếu có người ở bệnh viện phát hiện ra. Quần áo không có túi nên chỉ có thể nhét vào trong gối.

Juan dự định sẽ mở to mắt cho đến bình minh.

Lại có chuyện kỳ lạ xảy ra, vừa rồi anh không buồn ngủ chút nào, nhưng mí mắt lại nặng trĩu như thể treo cả tảng đá trên đó.

Juan đặt chiếc gối trở lại vị trí ban đầu rồi cuộn mình xuống, gác đầu lên ván giường chứ không ngủ trên gối.

Anh dần mất đi ý thức, chìm vào giấc mơ.

***

Ào ào.

Lại là tiếng sóng biển rì rào.

Juan cảnh giác nhảy dựng lên tại chỗ, vào tư thế chiến đấu.

Sau đó, anh va vào bậc thang gỗ, phải ôm chân phải nhảy lò cò vì đau.

“Ha ha, đúng là thanh niên.” Một giọng Anh trầm thấp vang lên.

Juan nhìn thấy trong sân bày một cái bàn và một cây dù che nắng, một ông già với mái tóc hoa râm đang dựa vào một chiếc ghế bành, miệng ngậm tẩu thuốc.

Xa xa là làn nước biển trong xanh, còn đây là một ngôi nhà nằm trên sườn núi. Gần đó là những biệt thự mái đỏ có kết cấu tương tự như nhau, hoa nở rộ trong sân, trời nắng và trong, gió biển mát lạnh. Đây chắc chắn không phải là Jamaica ở vùng biển nhiệt đới.

“Xin chào ông, tôi có thể hỏi nơi này ở đâu không?” Juan thận trọng hỏi, đứng cạnh bậc thang.

“Đây là một giấc mơ.” Ông lão chậm chạp nói: “Cái này thì phải hỏi cậu đấy, vì sao lại chạy vào trong giấc mơ của tôi la hét ba ngày liền.”

“Cái gì?” Juan kinh hãi. Anh vô thức cảm thấy đối phương đang đổ tội cho mình. Cuộc sống của anh đã rối tung hết cả lên, đủ thứ chuyện không thể giải thích được đã xảy ra. “Thưa ông, con người không thể đi vào giấc mơ của người khác được.”

“Thông thường thì đúng là không thể.” Ông già đập tẩu thuốc xuống bàn, lúc này, một người đàn ông từ cuối con đường rải sỏi bước tới.

Juan từng nghĩ Tiến sĩ Marat là nhà thám hiểm cường tráng nhất mà anh từng thấy, nhưng bây giờ anh biết mình đã sai, người đàn ông cõng chiếc ba lô cao bằng nửa người, tay cầm một cây gậy leo núi kia mới đúng là cường tráng thật, giống hệt như một con gấu nâu đứng thẳng người. Đôi mắt của ông ta có màu đỏ kỳ lạ, và khi Juan bị ông ta nhìn một cái, lông tóc trên người anh dựng đứng cả lên.

“Nạn nhân thứ hai bị cậu quấy rối trong mơ mấy ngày nay đến rồi.” Ông già mỉm cười nói.

Gấu Nâu dừng lại trước cửa sân, bỏ mũ ra và gật đầu với Juan.

Juan phân tích theo bản năng, trực giác nói cho anh biết người kia không phải là một tên xã hội đen hung ác, anh thậm chí còn cảm thấy ông ta thân thiện? Quả là hoang đường!

“Nào, mời ngồi.” Ông già vỗ nhẹ lên bàn, trong sân đột nhiên xuất hiện thêm hai chiếc ghế bập bênh.

Lúc này Juan mới nhìn rõ dáng vẻ của ông già.

Trông ông ta như sáu mươi tuổi, nhưng lại giống bốn mươi, những nếp nhăn đó không hề chứng tỏ sự già nua của ông, mà như tô điểm thêm chút dấu vết năm tháng. Đôi mắt ông ta rất sáng, chứa đựng ánh sáng trí tuệ, cánh tay rất khỏe mạnh, có thể thấy được cả cơ bắp bên dưới lớp quần áo. Dường như ông ta có thể nhấc chiếc ghế bên cạnh lên bất cứ lúc nào rồi đánh bất tỉnh kẻ thù.

“Cậu có thể gọi tôi là John.” Ông già cười tủm tỉm, nói.
 
Back
Top Bottom