Cập nhật mới

Đô Thị  Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả

Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 40


<b>Chương 40</b>

<b>Tạm dừng</b>

Johnson buông nĩa xuống.

Tình hình hiện tại không cho phép y tiếp tục dùng bữa.

Những ánh mắt nóng bỏng tập trung vào y sẽ sớm gây ra những tác động tiêu cực đáng tiếc.

“Chuyện gì đang xảy ra vậy, tôi chóng mặt quá.” Cô Vanessa là người đầu tiên tỏ ra sợ hãi, cơ thể cô co giật không thể kiểm soát. Cô muốn nhặt lọ muối ngửi, nhưng ngón tay lại chẳng có sức lực.

Bác sĩ Abel vội vàng đến đỡ cô, phát hiện dường như cô đang lên cơn bệnh gì đó. “Trời ơi, cô đây bị động kinh sao?”

Toa tàu suýt chút nữa lại trở nên hỗn loạn, lúc này thì Trưởng tàu cuối cùng cũng đến nơi.

Trưởng tàu là một người đàn ông khoảng năm mươi tuổi, nói được nhiều thứ tiếng, có nụ cười hiền lành, thân thiện và ăn mặc cũng rất bảnh bao. Ông ta không cần phải bận rộn với những công việc thông thường trên xe lửa, chỉ có trách nhiệm ra lệnh cho các đầu bếp và trưởng ca.

Trưởng tàu liếc thanh tra Martin một cái. Ông ta rất không hài lòng, trong mắt ông ta, vị thanh tra đến từ Scotland Yard này là kẻ phá hoại. Anh ta đã quấy rối hành khách toa hạng nhất trên chiếc xe lửa sang trọng này mà không có bằng chứng, còn xác định một chủ ngân hàng Thụy Sĩ có liên hệ với bọn cướp. Ha, đám người Anh, ngoài đạo đức giả ra thì chỉ có thô lỗ.

“Thưa quý vị, tôi là Trưởng tàu Sanger…”

Trưởng tàu tuôn ra thứ tiếng Pháp trôi chảy và hay ho, khiến những hành khách không hiểu tiếng Pháp phải cau mày.

Nhưng cũng đành chịu, đây là đoàn tàu cao cấp của Pháp, còn xe lửa lại đang ở trên nước Pháp. Điều quan trọng nhất là các quý tộc châu Âu về cơ bản đều hiểu tiếng Pháp. Đây là điều họ đã học được từ khi còn nhỏ. Các hành khách toa hạng nhất chắc cũng sẽ hiểu… ngoại trừ doanh nhân người Mỹ bị thương ở cổ họng kia, ông ta chỉ có thể trợn mắt.

“Không, thưa ông Trưởng tàu, những đồng vàng này xuất hiện một cách khó hiểu trong đồ đạc của chúng tôi, điều này xúc phạm đến danh tiếng của chúng tôi.” Quý phu nhân giận dữ ngắt lời Trưởng tàu.

Sanger đau đầu.

Người đàn ông Ý bên cạnh đột nhiên đứng dậy chỉ vào bàn của Johnson và hỏi: “Ông nghĩ bên đó có bao nhiêu người? Chỉ có một người thôi phải không?”

“Sao?” Sanger vô thức muốn nói, đây không phải là một cái bàn trống sao?

Lúc này, nhân viên phục vụ tàu phụ trách toa hạng nhất đột nhiên nói: “Đây là ngài Johnson và ngài Gymir ở khoang số 7 và khoang số 8.”

Khi hai cái tên vừa được xướng lên, Sanger chợt nhìn thấy hai hành khách.

Ông ta nhắm mắt làm ngơ trước chiếc mặt nạ của Gymir và vẻ ngoài nổi bật của Johnson, nhưng lại nhìn người đàn ông Ý một cách kỳ lạ: “Thưa ngài, ngài mệt quá phải không?”

Người đàn ông Ý giận đỏ bừng mặt, đứng dậy định tìm người làm chứng về “thị lực” của mình.

Lúc này, Gymir như trượt tay, gõ chiếc thìa xuống mép chén canh.

Dường như có những gợn sóng vô hình gợn lên trong không khí.

John đột nhiên ngẩng đầu lên, anh cảm thấy một cơn gió lạ thổi qua mình. Gió có vẻ như mang màu xám.

Mọi người ngơ ngác đứng đó, mặt mày đờ đẫn.

Thanh tra Martin giống như một người đang cực kỳ buồn ngủ, chuyển đổi qua lại giữa trạng thái xuất thần và tỉnh táo, như đang cố gắng hết sức để giữ lại ý thức.

John rất thông cảm, nên anh quyết định lặng lẽ bước tới, tặng cho thanh tra Martin một cú đấm vào sau đầu.

Thanh tra ngã xuống đất.

Khi John nhìn lên lần nữa, anh thấy Johnson đã cầm những đồng tiền vàng lên kiểm tra.

Lúc này, bầu không khí trong xe rất kỳ lạ. Mọi người vẫn giữ nguyên động tác, vẻ mặt đờ đẫn và im lặng, như thể đã biến thành con rối.

Ngoài cửa sổ vang lên tiếng còi chói tai, tiếng bánh xe bị trục quay kéo đi và chà xát trên đường ray… John nhận thấy cơ thể ớn lạnh không thể giải thích được. Anh cảm thấy tiếng còi tàu nghe như tiếng hét thảm thiết của con người trước khi chết, tiếng ầm ầm cũng rất giống với âm thanh nền ở thị trấn Đá Ngầm Đen trong cơn ác mộng nước biển màu máu.

Có vẻ như có rất nhiều người đang la hét nhưng lại không giống tiếng người.

John rợn hết cả người.

“Rất kỳ lạ sao?”

Âm thanh vừa êm tai vừa dễ chịu này khiến trán John toát ra mồ hôi lạnh. Anh nhanh chóng định thần lại, nhìn Gymir đổ rượu trắng vào lòng bàn tay mình.

Rượu trong suốt màu vàng nhạt từ từ chảy xuống, như một dòng suối trong vắt, tỏa ra hương thơm say lòng người.

Những ngón tay co lại một cách thoải mái, những chiếc móng tay sắc nhọn trong suốt phản quang đã che khuất tầm nhìn của John, anh chỉ có thể nhìn thấy không một giọt rượu nào trượt khỏi kẽ ngón tay.

John nhanh chóng nhắm mắt lại. Anh phát hiện sau khi Gymir không dùng áo choàng che toàn thân, mỗi động tác của hắn dường như đều có thể thu hút sự chú ý của mọi người, điều này rất nguy hiểm.

Thần Biển trông như đứa trẻ đang nghịch nước, nhưng thực ra đang uống rượu, thản nhiên nói: “Ngươi đang tiến gần đến bản chất của thế giới này rồi, thám tử.”

“Sao cơ?” John cảnh giác hỏi.

Gymir đặt cái chai xuống, nhìn thám tử: “Ngươi vừa nghe thấy âm thanh bất thường.”

John miễn cưỡng nói: “Nồi hơi… thiết bị điện của xe lửa đều như thế này.”

“Không, đó là tiếng rên xiết từ thuở xa xưa.” Gymir giơ một ngón tay lên, khuôn mặt đằng sau chiếc mặt nạ đang mỉm cười.

Dù nhắm mắt nhưng John vẫn có thể <i>nhìn thấy</i> một bóng người mờ ảo, chuyển động đồng bộ với Gymir, đang ngồi trên chiếc ghế cạnh cửa sổ và nói chuyện với anh.

“Vài loài thực vật, vài loài động vật… những thứ đã từng sống trên thế giới này, rồi động đất xảy ra, núi lửa phun trào, nỗi đau đớn, tiếng kêu gào trước cái chết của chúng cũng bị chôn sâu dưới lòng đất giống như cơ thể chúng, dần dần bị bóp méo và biến dạng theo thời gian. Không ngờ con người lại đào chúng lên. Nhét chúng vào lò, để những xác chết bị nghiền nát không thành hình đó bị đốt trong lửa, biến thành cặn bã và tro bụi. Những gì ngươi nghe thấy là tiếng k** r*n đau đớn được phóng thích ra… đẹp đẽ và tuyệt vời làm sao! Ta rất thích chuyến đi do Johnson sắp xếp.”

Giọng nói vui sướng của Gymir lại khiến John tái mặt. Thám tử không còn nhìn vào xe lửa hơi nước và đống than đang vận hành nó bằng ánh mắt bình thường được nữa. Đây là loại xe lửa gì vậy, một đoàn tàu đang thiêu đốt những xác chết, và phát ra tiếng than khóc?

“Lẽ nào sương mù ở Luân Đôn…”

John chợt nhận ra rằng Luân Đôn là một trong những thành phố bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi ngành công nghiệp. Phải chăng đây là lý do Bướm Xám ẩn nấp ở Luân Đôn? Thứ bay lơ lửng trên thành phố ấy không phải là khói bụi mà là tro của những xác chết từ xa xưa, là dấu vết cuối cùng chúng để lại trên thế giới này.

“Đúng vậy, nó quá nhỏ nên ta khó có thể chú ý đến, Johnson cũng không biết, cho đến bây giờ ta mới có câu trả lời. Tóm lại, ở thành phố đó dễ xảy ra chuyện quái dị, tà thần mới ra đời cũng dễ bị con người nhìn thấy. Ta có một đề nghị, nếu ngươi không muốn tiếp xúc với bản chất của thế giới nhiều hơn nữa thì tốt nhất đừng quay lại Luân Đôn.”

Gymir bắt chéo hai tay, nói bằng giọng thoải mái. Tựa như hắn đang quan tâm đến một con mèo hoang quen thuộc, bảo nó đừng lang thang ở những nơi nguy hiểm.

John: “…” Hiểu rồi, sau khi nhiệm vụ này kết thúc, anh sẽ quay lại Luân Đôn và bán hết tài sản.

John khó khăn quay đầu lại, mở mắt ra tìm Johnson.

“Có thể thu hồi những đồng vàng này không?”

“… Không thể.”

Đồng vàng trong tay Johnson đột nhiên lóe lên ánh sáng màu đỏ tươi.

John kinh hãi: “Chuyện gì thế này?”

“Anh còn nhớ ta nói chứ, những đồng vàng này sau đó đã gặp phải một vài sự số, trở nên rất hung hãn?” Johnson bóp chặt đồng vàng, ánh sáng đỏ tươi chói mắt lại lần nữa nhạt đi.

Y thả những đồng vàng Tây Ban Nha lên bàn. Gymir vươn tay ra định cầm lấy chúng, Johnson đập thẳng vào mu bàn tay hắn.

Johnson ngước lên và thấy ánh mắt kỳ lạ của John, y bình tĩnh giải thích: “Những đồng vàng này đã bị vấy bẩn bởi sức mạnh khác, ta vừa kích hoạt chúng ra. Gymir, anh không thể<i> thêm</i> sức mạnh thứ ba vào tiền vàng nữa.”

“Ta không thích những sức mạnh xa lạ trộn lẫn vào hơi thở của em.” Gymir nhất quyết vươn tay ra, lòng bàn tay hắn tách ra một phần bóng tối, cố móc lấy những đồng vàng.

Những sợi dây leo mảnh lập tức xuất hiện trên đầu ngón tay của Johnson, quấn chặt vào bóng đen: “Chúng ta đi tìm nguồn gốc của vận rủi trước.”

“Trước tiên cắt đứt kết nối.” Gymir không chịu bỏ cuộc.

“Sau khi xóa đi sẽ khó tìm được.” Johnson cau mày nói.

“Ta có thể. Vừa rồi khi kích hoạt sức mạnh, ta đã ngửi thấy mùi đó. Đó là một tên đáng ghét. Nếu giữ mối liên hệ với hắn, em sẽ gặp nguy hiểm.” Giọng Gymir có phần giận dỗi.

Johnson ngước lên nhìn: “Anh quen à?”

“Đó là một thần cổ xưa, đang ngủ ở lục địa khác.” Gymir liếc nhìn John, ám chỉ rằng ở đây có một thám tử, hắn không thể nói ra tên thật của tà thần kia.

Johnson phát hiện ra thám tử đút hai tay trong túi quần, mắt nhìn trần toa tàu như thể ở đó có những hoa văn tinh xảo và đẹp đẽ lắm.

Johnson im lặng rút cây leo lại, Gymir nhân cơ hội giật lấy mấy đồng vàng.

“Số tiền em không thể trả cho thám tử này, chỉ mang <i>vận rủi</i> ở bề ngoài. Vấn đề thực sự nằm ở bản chất của chúng.”

“Bản chất của tiền là gì? Vàng?” John tiếp lời theo bản năng.

Vàng không phải là than, lấy đâu ra tiếng kêu khóc từ xa xưa.

Khoan đã!

Cả người thám tử cứng đờ.

Cổ họng anh khô khốc, cuối cùng khi hoàn hồn, anh phát hiện Gymir và Johnson đang nhìn chằm chằm vào mình, như thể đang chờ anh phát biểu ý kiến.

John phải chịu áp lực rất lớn, anh liều mình nói: “Chúng… Những đồng tiền vàng Tây Ban Nha này được đúc ở châu Mỹ, một lục địa khác mà các ngài vừa nói đến. Số vàng bạc này thuộc sở hữu của người dân bản địa châu Mỹ, bởi vì quá trình cướp bóc khá đẫm máu nên lời nguyền đến từ những người bản địa đó? Những người bản địa đó thờ một vị tà thần?”

Gymir dùng ngón tay xoay đồng tiền vàng trong tay, áp lên tai và lắng nghe, giống như con người nhặt ốc xà cừ lên để nghe, hắn nói chậm rãi: “Sức mạnh của máu và vận rủi bắt nguồn từ hàng ngàn năm trước, trải qua nhiều lần hiến tế máu của con người cho các vị thần. Chúng được chôn dưới lòng đất hoặc trong các đền thờ cùng với xương cốt. Những đồng tiền vàng này đã được con người rèn lại từ hàng trăm năm trước, nhưng sức mạnh của chúng đã suy yếu, không thể bị phát hiện, đồng thời chúng cũng có chủ nhân mới.”

Gymir nhìn sang Johnson.

Johnson đang trầm tư, y thật sự không phát hiện ra hơi thở xa xưa trên những đồng vàng này. Thứ nhất, hơi thở đó thực sự rất yếu, thứ hai, y là một tồn tại huyền bí mới sinh ra, sức mạnh của y kém xa thần cổ xưa.

“Tà thần đó…”

“Vẫn còn ngủ, ta rất chắc chắn.” Gymir nghiêm túc nói: “Vậy cho nên chủ ngân hàng đó chắc chắn đang sở hữu thứ gì đó có nguồn gốc tương tự, theo cách gọi của con người các ngươi thì đó là một món đồ cổ từ châu Mỹ, một vật hiến tế mạnh mẽ hơn, nó đã kích hoạt hơi thở của vận rủi trên những đồng tiền vàng. Vì không tìm thấy chủ sở hữu ban đầu nên những đồng vàng căn cứ theo liên hệ để tìm chủ sở hữu mới, đồng thời tuân theo lời nguyền vận rủi từ xa xưa, trả thù tất cả những người <i>không được phép</i> sở hữu chúng.”

John trợn mắt, há hốc miệng.

Johnson trầm ngâm: “Vậy là ban đầu chỉ có người mua tiền vàng, về sau trở thành chỉ cần <i>tiếp xúc</i> với tiền vàng, thì sẽ bị chúng bám theo?”

Gymir ném đồng vàng đi, nói: “Sau khi nhiều chủ sở hữu chết đi, sức mạnh của đồng vàng đã tăng lên…”

Hắn còn chưa kịp nói xong, một tiếng hét đã truyền đến từ bên ngoài toa tàu.

Thư ký của chủ ngân hàng lảo đảo chạy vào: “Bác sĩ? Nghe nói có bác sĩ ở đây, tới cứu người đi!”

Phía sau thư ký là quản gia của Bá tước già, vẻ mặt ông ta khá bình tĩnh, nhưng sắc mặt tái nhợt.

Sự xuất hiện của họ giống như một cơ hội để phá vỡ giấc mơ. Mọi người trong toa xe lần lượt tỉnh dậy sau cơn mê, trực tiếp bỏ qua cuộc tranh luận về “có bao nhiêu người trên bàn”, ký ức tiếp tục với việc thanh tra Martin tố cáo Johnson thông đồng với băng cướp, họ vô thức tránh xa bàn này.

Trưởng tàu Sanger che đầu lại, trong tiềm thức muốn ngăn cản thanh tra người Anh quấy rối hành khách, nhưng khi nhìn xuống thì thấy thanh tra nằm gục trên bàn như đã ngất đi.

Sanger chưa kịp thở phào nhẹ nhõm thì đã thấy quản gia của Bá tước Léglise tiến lại gần thì thầm: “Trưởng tàu, chúng tôi vừa mở cửa khoang của chủ ngân hàng Ball thì thấy ông ấy chảy máu khắp người, sắp chết rồi.”

“Cái gì?” Trưởng tàu hoảng hốt, vội vàng gọi người. “Bác sĩ ở đây… Ấy, bác sĩ làm sao thế?”

Mọi người phát hiện ra ánh mắt bác sĩ Abel đờ ra, mặt đầy vẻ kinh hoàng, ngón tay run rẩy cố gắng chỉ về phía trước.

John giật mình, chợt nhận ra bác sĩ Abel đã từng gặp Johnson.

Vì mọi người trên tàu đều bị ảnh hưởng bởi sức mạnh huyền bí nên ai cũng nhìn thấy Johnson và Gymir. Đối với những hành khách khác, một phần trí nhớ của họ đã bị mờ đi, họ sẽ không cảm thấy điều gì bất thường. Có rất nhiều hành khách trên xe lửa, họ đều là những người xa lạ, chưa từng gặp mặt nên ngay từ đầu ấn tượng đã không sâu sắc, nên hoàn toàn bị lừa.

Nhưng bác sĩ Abel là một ngoại lệ, thám tử sẵn sàng đánh cược, ký ức của Abel về thị trấn Đá Ngầm Đen cũng cùng nhau ùa về. Ý chí của bác sĩ tội nghiệp không thể chịu nổi thử thách này, ông ta đau đầu dữ dội và bắt đầu la hét, rồi ngất đi.

John chỉ kịp đỡ lấy ông ta.

Trong toa ăn lúc này có ba người bất tỉnh, giọng nữ cao cô Vanessa, bác sĩ Abel, thanh tra Martin, cộng thêm một thương nhân xe hơi Mỹ suýt bị hóc chết vừa rồi.

Các hành khách mặt đầy kinh hãi.

Kẻ cướp nào ở đây, họ dám chắc đây là lời nguyền!

John không có thời gian để chần chừ, anh đứng dậy, cầm hộp y tế của Abel lên, vội vàng nói: “Tôi cũng biết một chút về băng bó và thuốc, đi đến toa hạng nhất nhanh lên.”

Tại sao chủ ngân hàng Ball lại đột ngột gặp nạn?

John suy đoán rằng Ball đã an toàn trong một loạt sự kiện về lời nguyền trước đó, có lẽ vì ông ta sở hữu một món đồ cổ nào đó từ châu Mỹ, nó kích hoạt vận rủi của những đồng vàng, đồng vàng coi chủ ngân hàng như trạm trung chuyển, chọn mục tiêu, giết người rồi quay lại trong tay Ball.

Giờ đây, những đồng vàng đã “tìm thấy” Johnson.

Chúng không cần con người này nữa.

Vì Gymir nhất quyết phải xóa đi hơi thở của Johnson, nên những đồng vàng hoàn toàn mất đi “chủ nhân”, chúng được tự do.

Một túi đầy những đồng vàng xui xẻo vừa được thả tự do, ở ngay trên chiếc xe lửa đang lao nhanh này! Nếu không tìm được hết số vàng kịp thời thì sẽ có nhiều người chết hơn!
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 41


<b>Chương 41</b>

<b>Hiện trường án mạng</b>

Ball gục ngã trong khoang riêng của mình.

Cửa đang mở, thân trên của ông ta vẫn tựa vào mép giường, đầu nghiêng sang một bên, mặt trắng như vôi.

Xám ngoét, tái nhợt.

Khuôn mặt vặn vẹo dữ tợn, cộng thêm những nếp nhăn vốn có càng giống như nét vẽ của quỷ dữ, tạo nên một bức tranh sơn dầu mang tên nỗi đau.

Một trong những màu sắc đáng sợ nhất được tạo thành máu tươi.

Trần toa tàu, những bức tường gỗ sồi dùng để cách âm bốn phía, tấm rèm nhung… tất cả đều vấy máu. Máu vẫn chậm rãi chảy xuống, tạo thành từng vũng nhỏ trên sàn.

John đứng ở cửa lô, vẻ mặt hoảng hốt.

Những vũng nước trước mặt anh như trùng lặp với khung cảnh ga tàu Calais nước Pháp. Mái sân ga bị dột, nước nhỏ giọt xuống đất…

Khi đó, chủ ngân hàng Ball giẫm phải vũng nước, ngay cả vớ cũng ướt sũng, ông ta chửi bới nhưng vì Bá tước Léglise đến nên đành phải nhường chỗ, chỉ có thể trút giận lên người nhân viên phục vụ mang hành lý .

“A!”

Tiếng hét của trưởng tàu Sanger đã đánh thức thám tử.

Thư ký của chủ ngân hàng đến sau nhìn thấy tình huống bên trong, sắc mặt đã xấu đến mức khó mà hình dung.

John đưa tay chạm vào cổ Ball, nhưng không còn mạch đập. Thi thể vẫn còn ấm, mùi máu tràn ngập trong toa.

“Lúc các anh vừa rời khỏi đây thì tình hình là thế nào?” John đứng dậy, túm lấy thư ký của chủ ngân hàng mà hỏi.

“Ông ấy, ông ấy đang chảy máu… nhưng chưa chết, tôi thề!”

Thư ký vốn có mái tóc xoăn lọn nhỏ, nhưng bây giờ tất cả đều dính trên vầng trán đẫm mồ hôi. Anh ta trông giống như một con sóc bị rơi xuống nước. Đôi mắt nâu đầy tuyệt vọng và hoảng sợ. Hai chiếc răng cửa khá lớn va vào nhau lập cập, cả người anh ta run lên không thể kiềm chế.

“Quản gia của Bá tước Léglise có thể làm chứng cho tôi! Chúng tôi gõ cửa không được, cũng không nghe thấy tiếng động bên trong, bèn gọi nhân viên phục vụ tàu đến dùng chìa khóa mở cửa… Bên trong cửa còn gài một sợi dây xích, nhưng vừa mở ra liền có mùi máu tanh bay ra… Chúng tôi lập tức nhờ nhân viên phục vụ tàu phá cửa, sau đó lại nhờ anh ta canh cửa.”

Thư ký nhìn sang nhân viên phục vụ tàu toa hạng nhất, người kia gật đầu, mặt trắng bệch: “Khi đó ông Ball ở trong tư thế này nhưng vẫn còn tỉnh táo, ông ấy cầu cứu chúng tôi, nhưng không thể phát ra âm thanh nào…”

Nhân viên phục vụ tàu đã biết đến chuyện những đồng vàng xui xẻo nên rất căng thẳng, thậm chí không dám động vào bất kỳ món đồ nào trong khoang này. Anh ta lắp bắp miêu tả cảnh dằn vặt đau đớn của chủ ngân hàng trước khi chết.

“Ngay sau khi quản gia của Bá tước và thư ký quyết định xuống toa ăn cầu cứu thì máu bỗng chảy ra như suối, chỉ ít giây sau, ông Ball… đã qua đời.” Nhân viên phục vụ tàu cố gắng hết sức để miêu tả cảnh tượng kinh hoàng đó, anh ta không nôn ra ngay tại chỗ đã là do thần kinh vững hơn người thường.

John cũng nhìn thấy vết thương trí mạng. Ngay trên ngực của Ball.

“Trái tim đã biến mất.”

Một giọng nói vang lên từ phía sau.

John quay đầu lại, thấy Gymir đang đứng ở hành lang.

Thám tử nhẹ nhàng ấn vào ngực chủ ngân hàng qua lớp áo, mặc dù bị xương sườn cản trở nhưng anh vẫn cảm thấy một vết lõm bất thường dưới lòng bàn tay.

Gymir nói đúng.

Kiểu chết này đã khiến tất cả mọi người có mặt đều sụp đổ.

Họ có thể chấp nhận một người bị đâm chết bằng dao, bị bắn chết bằng súng, bị bóp cổ đến chết… nhưng trái tim biến mất là cách chết quái đản gì vậy?

“Lúc các anh tới đây, ngực Ball có chảy máu không?” John tiếp tục hỏi.

Thư ký lắc đầu lia lịa: “Không, là tứ chi của ông ấy, ông ấy không thể cử động được, giống như tay chân của ông ấy đã bị cắt đứt bởi những sợi chỉ rất mỏng.”

Lưng của thư ký ép chặt vào cửa khoang bên cạnh, như thể anh ta không đủ can đảm để nhìn vào trong lần thứ hai.

Mắt John nhanh chóng quét qua các vật dụng trong phòng và tư thế của xác chết.

Người trong khoang này tựa hồ nhìn thấy thứ gì đó rất khủng khiếp đột nhiên đứng bật dậy, ông ta chộp lấy thứ trong tay, muốn đánh bay một thứ biết chạy. Gạt tàn và tẩu thuốc bị vỡ.

Tiếp đến, chủ ngân hàng muốn bỏ chạy về phía cửa. Tay ông ta đã chạm vào sợi dây xích cạnh cửa, sau đó ông ta bị kéo ngược trở lại, chiếc nhẫn trên tay để lại vết xước trên mặt tường. Những vết xước đi theo hướng từ trên xuống dưới, có thể thấy Ball bị kéo mạnh xuống đất nhanh đến mức ông ta thậm chí còn không kịp vung tay phải để tấn công kẻ địch phía sau, mà trực tiếp bị kéo thành một dấu dài như vậy.

Sau khi Ball đứng dậy lần nữa, ông ta lại bị một lực rất mạnh đẩy xuống, mép giường chặn lấy cơ thể ông ta.

Rồi ông ta phải đối mặt với nỗi sợ hãi lớn nhất trước khi chết. Tay chân ông ta bị cắt đứt bởi những thứ kỳ lạ và sắc bén, máu chảy không ngừng. Tuy nhiên, những vết thương này không gây tử vong.

John dùng khăn tay che tay, nâng đầu thi thể lên, kiểm tra cằm và cổ.

“Thanh đới đã bị cắt đứt.”

Vết thương này mảnh hơn, chỉ chảy một ít máu là ngừng.

Vết thương trí mạng vẫn là ở ngực.

Cái xác giống như những nô lệ và tù binh được đặt lên đài tế, đầu tiên là cắt gân tay chân, sau đó cắt đứt dây thanh quản, cuối cùng là móc trái tim ra dâng lên thần linh.

John đứng dậy nhìn quanh, rồi lấy ra một cuộn giấy dưới gầm giường. Tờ giấy đã ướt đẫm máu, và bị vò rách.

Lúc này, ông Sanger, nhân viên phục vụ tàu, thư ký của chủ ngân hàng đều đứng cách thật xa, chỉ còn lại Gymir ở cửa lô.

John chỉ vào cục giấy với vẻ mặt cầu xin.

Từ cuộc trò chuyện trên toa ăn vừa rồi, thám tử tin rằng Gymir rất ghét vị thần cổ xưa đang ngủ say ở châu Mỹ, nên thà xóa bỏ hơi thở trên đồng vàng, để tránh duy trì và làm sâu sắc thêm mối liên hệ giữa Johnson với thần cổ xưa kia thông qua vật môi giới là đồng vàng.

Cách làm này có thể được hiểu từ góc độ con người là tính chiếm hữu, kiêu ngạo và tàn bạo. Nhưng John không dám bỏ qua khả năng thứ hai đằng sau chuyện này… Đó là vị thần cổ xưa kia mạnh mẽ và nguy hiểm, Gymir không chắc mình có thể đánh bại được, nên dù chỉ tồn tại một phần nhỏ rủi ro, hắn cũng sẽ không để Johnson thử nghiệm.

Gymir không quan tâm đến sự sống hay cái chết của con người trên xe lửa. Nhưng Gymir chắc chắn sẽ sẵn sàng “giải quyết” những đồng vàng xui xẻo này, tránh việc hiến tế quá nhiều máu cho đồng vàng, rồi một ngày nào đó chúng vượt đại dương “đánh thức” thần cổ xưa của châu Mỹ.

Sau khi nắm rõ tình hình, John tự tin tìm đến tà thần để kêu gọi hỗ trợ.

Johnson phải ở lại toa ăn để ngăn chặn những đồng tiền vàng giết người lần nữa, còn Gymir đến để tìm ra thứ đã kích hoạt sức mạnh của những đồng vàng xui xẻo.

Sự thông minh của thám tử thực sự đã có tác dụng (không, thật ra là do Gymir đã đọc tiểu thuyết trinh thám, biết rằng cục giấy tìm thấy ở hiện trường vụ án mạng là manh mối quan trọng) .

Sau khi anh tỏ thái độ cầu xin, cục giấy tự động bay lên, rồi trải ra.

Như thể thời gian bị quay ngược, vết máu biến mất, những nét chữ lộn xộn xuất hiện trên giấy. Không phải là một lá thư tuyệt mệnh, mà là một bản ghi được lập sau khi nhận ra có điều không ổn. Sau khi chủ ngân hàng Ball bị ngã đập đầu trong thư viện hôm nay, ông ta bắt đầu nghĩ có điều gì đó bất thường.

<i>“…Tôi phát hiện ra rằng mình đã quên số đồng vàng chính xác trong túi này, dù có cố gắng nhớ đến thế nào tôi cũng không thể nhớ được.”</i>

Chữ viết trên tờ giấy dần trở nên lộn xộn, thể hiện sự sợ hãi của chủ ngân hàng.

Ball không thể hiểu tại sao ông ta vẫn chưa phát hiện ra. John thì không ngạc nhiên. Chỉ cần nhìn bác sĩ Abel là biết trí nhớ của con người sẽ bị sức mạnh huyền bí làm mờ đi, không thể phát hiện ra bất kỳ điều bất thường nào cả.

Ball viết một dãy tên lên giấy tương ứng với số đồng vàng đã bán, và số tiền ông ta nhận được.

Thống kê cẩn thận như vậy, ngay cả người ngu ngốc nhất cũng sẽ biết có điều gì đó không bình thường. Trừ khi không phải là một túi tiền vàng nhỏ mà là một bao tải tiền vàng, nếu không thì tại sao bán đi bán lại nhiều lần mà không bán hết.

Chủ ngân hàng Ball nhớ rằng chiếc hộp cổ mà ông ta dùng để cất giữ những đồng vàng nhiều nhất chỉ có thể chứa được năm mươi đồng. Kết quả là ông ta vẫn còn hơn hai mươi đồng bên mình.

Hôm nay ông ta vừa bán một số đồng vàng cho thương nhân xe hơi Mỹ!

<i>“Lời nguyền, lời nguyền không thể tồn tại, nhất định là có người đang bày trò quỷ…”</i>

Khi Ball viết điều này, cây bút của ông ta quẹt ra một đường dài đứt đoạn, theo sau là ba dòng chữ phóng to và lặp đi lặp lại.

<i>“Tôi không biết, tôi không biết gì cả, chuyện quái gì đang xảy ra vậy?”</i>

Nét chữ hoàn toàn lộn xộn, sau đó tờ giấy bị một lực vô hình vò thành một cục, lại thấm máu, rơi trở lại gầm giường.

“Khi hắn bắt đầu lo lắng kiểm tra lại những đồng tiền vàng, hắn phát hiện ra rằng có sai lầm trong số lượng tiền vàng?” John bắt đầu suy luận.

Theo lời khai của hành khách người Ý, chủ ngân hàng đã đếm số lượng tiền vàng khi ông ta rời khỏi thư viện, không nói là thiếu đồng vàng nào cả.

Ball quay trở lại khoang của mình với đống tiền vàng mà “ông ta tưởng không thiếu”. Đầu ông ta càng đau hơn, rồi ông ta chợt tỉnh táo lại, bắt đầu đếm số tiền vàng, càng đếm càng thấy sai. Ông ta chắc chắn không thể nhịn được việc lấy những đồng tiền vàng đó ra và đếm lại.

“…Sau đó hắn phát hiện ra rằng ít hơn một vài đồng so với trong ký ức mà chẳng hiểu tại sao?”

(Mấy đồng vàng tự chạy đến chỗ các hành khách toa hạng nhất) .

“Ball hoảng hốt không biết phải làm gì, hắn bắt đầu tin rằng những đồng tiền vàng thực sự bị nguyền rủa, sợ thương nhân người Mỹ đã mua tiền vàng sẽ chết bất ngờ, nên trốn trong phòng không chịu ra ngoài… Không đúng! Trừ khi hắn là một kẻ keo kiệt trăm phần trăm, chỉ biết giữ tiền, bằng không hắn sẽ có một lựa chọn sáng suốt.”

John bước tới cửa sổ, quả nhiên tìm thấy vài dấu vết gần khung cửa sổ.

Cửa sổ xe lửa thuộc loại trượt lên xuống, khung cửa sổ viền đồng bị vật gì đó cào xước. John lấy kính lúp ra xác định đó là bột vàng và bạc.

Trong cơn hoảng loạn, người ta thường dùng hết sức ném đồ vật đi, nhưng tốc độ xe lửa có chênh lệch với tốc độ ném, nên để lại dấu vết.

“Có lẽ là một cái hộp.” Thám tử thì thầm.

Ball vô cùng kinh hoàng và ném chiếc hộp đựng tiền vàng ra ngoài cửa sổ. Sau đó ông ta khóa cửa sổ và cửa ra vào lại, một mình ngồi trong khoang để chờ cảm xúc dịu lại.

Tiếc rằng vận rủi vẫn đến.

John suy nghĩ một lúc rồi ngẩng đầu lên hỏi: “Vị thần cổ xưa kia, tà thần đang ngủ ở lục địa khác, có phải là Tonatiuh không?”

Tonatiuh, là thần Mặt trời trong thần thoại Aztec của nền văn minh cổ Trung Mỹ. Thổ dân châu Mỹ đã moi tim các tù nhân chiến tranh làm vật hiến tế dâng lên cho ngài.

“Đó không phải tên thật của nó…nhưng, đúng vậy, đó là cách con người gọi nó.”

Gymir nhìn chằm chằm vào thám tử như nhìn một ngọn cỏ đang nảy mầm, hay một chú gà con vừa chui ra khỏi vỏ.

Tuy là một sinh vật nhỏ bé nhưng có thể tạo nên những điều kỳ diệu bằng sức mạnh mà cuộc sống ban tặng. Con người thật thú vị! Dù chỉ có những chi tiết nhỏ nhất cũng phát hiện ra được dấu vết của tồn tại huyền bí mà họ không thể chạm tới.

Dù yếu ớt nhưng có thể “nhìn thấy” bản chất của thế giới theo nhiều cách khác nhau. Họ “nhìn thấy” vi khuẩn cực nhỏ có thể g**t ch*t người, “nhìn thấy” thế giới bên ngoài hành tinh này, nắm vững một số định luật tầm thường của vũ trụ, xây dựng tổ kiến của mình ngày càng lớn hơn.

Gymir tự hỏi, nếu hắn không tiếp cận Johnson, chắc chắn sẽ không thể cảm nhận được niềm vui của bộ môn sắm vai con người.

Cơ sở của bộ môn sắm vai con người, là tìm hiểu con người?

Không, là giữ cho những con kiến này sống sót.

Điều này sẽ mang lại nhiều bất ngờ hơn.

John cảm thấy lưng lạnh buốt, anh vội vàng hỏi: “Thứ vô hình đã g**t ch*t chủ ngân hàng là gì?”

“Nó rất phức tạp, ngươi có thể xem nó như một quyến thuộc của tà thần nhưng chưa thành hình, nếu có đủ máu hiến tế thì nó sẽ ngày càng hoàn thiện hơn… Bây giờ nó chỉ là một vật tàn khuyết, được tạo nên từ tiếng kêu than oán hận của người chết, ý chí của nó được chỉ đạo bởi tiền vàng bị nguyền rủa.”

Câu trả lời của Gymir khiến thám tử chợt bừng tỉnh.

Vậy chính thứ này đã tác quái trong các vụ án trước đó. Đẩy người ta ra khỏi xe ngựa, nhấn chìm người ta dưới đài phun nước, khiến người ta đau tim, và còn biết phóng hỏa…

“Còn hóc xương chết thì thế nào?”

“Nó ảnh hưởng đến ý chí của con người, khiến họ mê sảng và ăn nhầm những thứ đáng lẽ phải nhổ ra. Điều này rất dễ dàng, nó thậm chí không cần phải xuất hiện.”

John ngẩng phắt đầu lên: “Ball ném đồng vàng đi rồi nhưng hắn vẫn chết, hộp đựng tiền vàng lại quay về xe lửa, quay lại với Ball, nhưng trong này không có vật khả nghi nào cả. Tôi nghi ngờ chiếc hộp đựng tiền vàng chính là món đồ cổ đã kích hoạt cho sức mạnh của những đồng vàng xui xẻo, nó phải được làm bằng vàng, như có thể thấy qua dấu vết trên khung cửa sổ… Thứ này còn nguy hiểm hơn cả tiền vàng, chúng ta phải để tất cả hành khách kiểm tra hành lý, bắt đầu từ thư ký của ông Ball.”

——————–

<i>Tác giả nói thế này:</i>

<i>Gymir: Những người mà em nhìn thấy trong toa ăn, không thể để họ chết lung tung thêm, chết quá nhiều, Tonatiuh sẽ tỉnh lại.</i>

<i>Gymir: Còn cần tìm ra món đồ then chốt đã kích hoạt những đồng vàng xui xẻo, nhưng chúng ta không thể dùng mắt tìm kiếm món đồ có sức mạnh của một thần cổ xưa khác trong khi giấu đi sức mạnh của chính mình, nó sẽ trốn đi.</i>

<i>Johnson: Để thám tử đi, đừng để thám tử chết là được.</i>

<i>Johnson: Lần này chúng ta không cần trả tiền, thám tử sẽ tự mình làm việc chăm chỉ.</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 42


<b>Chương 42</b>

<b>Trước mắt tối sầm</b>

Các hành khách toa hạng nhất trên xe lửa được mời lên toa xã giao, rải rác trong ba phòng: salon dành cho nữ, phòng hút thuốc và thư viện.

“Tôi cá là ông Ball đã chết rồi.” Người đàn ông Ý lớn tiếng nói.

Anh ta thấy Bá tước già đang hút xì gà, nói với vẻ mặt khoa trương: “Ở đây không có phụ nữ, tôi nghĩ Bá tước Léglise có thể trực tiếp nói cho chúng ta câu trả lời, vừa rồi quản gia của ngài quay lại nói chuyện, sắc mặt cực kỳ khó coi.”

Bá tước già phớt lờ anh ta.

Quản gia tỏ vẻ bất an, nhỏ giọng nói: “Thưa ngài, ngài đã chạm vào đồng tiền vàng đó…”

“Không có lời nguyền nào cả, chỉ là mấy tên hề mà thôi.” Bá tước già cau mày nói.

Quản gia muốn nói rằng cái chết của Ball thật kỳ quái, nhưng ông ta biết chủ nhân của mình là người cứng đầu, sẽ khó thuyết phục nên đành phải đến gặp nhân viên phục vụ tàu để thương lượng về việc kiểm tra hành lý.

Bá tước già không đồng ý yêu cầu khám xét của người Anh, dù là thanh tra hay thám tử lên tiếng. Quản gia chỉ có thể bí mật ra hiệu cho người hầu kiểm tra hành lý sau lưng Bá tước. Người hầu đồng ý không chút do dự, vì anh ta cũng tìm thấy đồng tiền vàng trong túi của mình. Anh ta sợ xanh mặt, vội vàng đưa nó cho John Doe.

Thám tử tiện tay cầm một chiếc đĩa trống trên toa ăn, đón lấy đồng tiền vàng rồi đưa cho Gymir. Điều này khiến mọi người nhìn họ một cách kỳ lạ.

“Ồ, đây là một học giả huyền bí học rất am hiểu về lời nguyền.” John nói bừa, bịa cho Gymir một thân phận không hề tồn tại.

Kết quả là ánh mắt của mọi người càng kỳ quặc hơn, bởi trong suy nghĩ của hầu hết những người thuộc tầng lớp thượng lưu học giả huyền bí học hoặc là kẻ lừa đảo hoặc là nhà khoa học quái dị, dù sao cũng không phải là một hình ảnh đàng hoàng, cần phải giữ khoảng cách.

Sau đó John thấy mình đang cầm một cái đĩa, thu thập từng đồng tiền vàng, trông hơi giống ăn xin. Mà lại còn dẫn tà thần đi ăn xin.

John: “…” Quá là vô lý.

Khi John đến thư viện, anh thấy bác sĩ Abel đang rụt rè ngồi đối diện Johnson, cứ như một con chim cút.

“Tôi tìm thấy khoảng mười đồng vàng.” John đặt chiếc đĩa lên bàn.

Trưởng tàu Sanger nhìn những đồng vàng như thể nó là bệnh dịch hạch, da thịt trên mặt ông ta run rẩy như muốn ném John cùng với đống tiền vàng ra ngoài cửa sổ.

Những người khác trong thư viện cũng không khá hơn là mấy, nữ giới thì trốn sang salon bên cạnh, còn cánh mày râu ở phòng hút thuốc. Thương nhân xe hơi Mỹ muốn nghe tình hình cụ thể, nhưng bị nhân viên phục vụ tàu thuyết phục rời đi.

“Chuyện lời nguyền vẫn quá buồn cười, tôi nghĩ chúng ta nên tìm ra kẻ sát nhân càng sớm càng tốt…”

Ánh mắt Sanger lóe lên, theo ý của ông ta, nếu chuyện này không thể đè xuống được, ông ta sẽ tìm đại một người làm hung thủ. Tốt nhất là do hận thù cá nhân và không liên quan gì đến Tàu tốc hành Phương Đông, lời nguyền càng không thể tồn tại được, nếu không, sau khi vụ án giết người này được công bố sẽ ảnh hưởng đến việc bán vé xe lửa quốc tế của công ty.

“Ngài thanh tra của chúng ta đâu?” John hỏi.

Anh đoán rằng thanh tra Martin cũng sẽ tỉnh rồi, nhưng sao lại không thấy bóng dáng anh ta ở đây?

“Ồ, chắc cậu ấy mệt quá, sốt rồi còn nói nhảm nên tôi đã tiêm cho một mũi.” Bác sĩ Abel nói khô khan. Ông ta biết rất rõ tình trạng của thanh tra Martin là thế nào, dù sao triệu chứng cũng nhẹ hơn nhiều so với các thủy thủ tàu Gió Tây trước đó, có lẽ ngày mai anh ta sẽ khỏe lại.

Sau đó John phớt lờ sắc mặt đen thui của Trưởng tàu, nhanh chóng kể lại những manh mối tìm thấy trên thi thể chủ ngân hàng Ball.

“Đây đều là những suy đoán vớ vẩn!” Sanger không khỏi hét lên. Trên thực tế, ông ta đã nghe thấy cuộc trò chuyện giữa thám tử và Gymir trong toa hạng nhất.

Sanger bất ngờ bắt gặp ánh mắt của Johnson. Như rơi vào hố băng giữa mùa đông chết chóc, ông ta cảm thấy cơ thể mất kiểm soát, sợ hãi ngã xuống, hồi lâu không thể hồi phục, hệt như một con rối uể oải.

Bác sĩ Abel nhìn Trưởng tàu đầy cảm thông.

“Tonatiuh.”

Johnson nhíu mày thật sâu, quả đúng là một vị thần cổ xưa rất phiền toái. Thảo nào mà Gymir xóa bỏ hơi thở của y không chút do dự, dù để cho những đồng tiền vàng lang thang khắp nơi, cũng phải cắt đứt liên hệ mà Johnson để lại trên chúng.

“Nói thế này đi, nếu thần cổ xưa mà ta cảm thấy sắp thức dậy ở thị trấn Đá Ngầm Đen không phải Gymir, mà là Tonatiuh… thì ta đã bỏ chạy ngay.” Johnson nói với vẻ vô cảm: “Cho nên nơi ẩn náu mà mục sư Cornell nên chọn thực sự không phải là thị trấn Đá Ngầm Đen ở Iceland, mà là châu Mỹ.”

John ho khan, lúng túng nhìn sang Gymir.

Bác sĩ Abel không biết, nhưng anh biết Gymir đã tìm kiếm Johnson suốt hai năm rồi. Johnson hẳn đã bỏ trốn sau khi rời thị trấn Đá Ngầm Đen!

“Thần cổ xưa… Xem ra không nên chọc vào, chẳng phải gặp ai cũng nên chạy trốn sao?” John thăm dò hỏi.

“Không giống nhau.” Johnson đáp.

“Rất khác.” Gymir nhấn mạnh, hắn có vẻ hơi tức giận.

Sự rung chuyển của toa tàu gia tăng, tiếng gầm rú của tàu hơi nước thay đổi độ cao, như thể có vô số giọng nói đang hét lên thảm thiết.

Abel ôm đầu, mắt tối sầm.

Ảo ảnh thoáng qua rồi vụt tắt.

Gymir lấy lại bình tĩnh.

Bác sĩ run rẩy đề nghị được ra ngoài để kiểm tra tình hình. John hối hận vì đã nói sai, nhanh chóng đẩy bác sĩ ra ngoài, đồng thời tiếc thương cho bản thân vì không thể thoát khỏi việc phải tiếp xúc thêm với tồn tại huyền bí.

John chuyển Trưởng tàu đờ đẫn sang chỗ bên cạnh, lại ngồi xuống, nói một cách mệt mỏi: “Tôi bị lạc mất quyển bút ký của mục sư Cornell ở thị trấn Đá Ngầm Đen, nên chưa hiểu sâu hơn về huyền bí học, sau khi về Luân Đôn, tôi đọc một số sách liên quan đến thần thoại, truyền thuyết, trong đó có tiểu thuyết phiêu lưu mạo hiểm của châu Mỹ.”

Vì vậy, thám tử có thể suy ra nguồn gốc thực sự của lời nguyền dựa trên đặc điểm của vật tế là trái tim biến mất.

“Tonatiuh là một vị thần cổ xưa cực kỳ tàn bạo.” Johnson lặp lại: “Không chỉ với con người, mà còn với đồng loại.”

Đồng tử của John co lại.

Johnson nói tiếp: “Nó thích ăn tươi nuốt sống đồng loại, đã ăn gần như toàn bộ tà thần trên lục địa đó, bất kể là kẻ chủ động khiêu khích nó hay các vị thần mới sinh còn yếu ớt.”

Sau khi tà thần chết đi, ký ức của họ sẽ biến thành một mảnh vật chất vô hình, lang thang khắp thế gian. Tà thần mới ra đời sẽ hấp thụ những vật chất này.

Thế nên Johnson biết thần Biển Bắc Âu là thần cổ xưa lười biếng, nên y quyết định nộp đơn xin thông quan (mặc dù cuối cùng vẫn thất bại). Nếu đối mặt với Tonatiuh, Johnson sẽ không giết mục sư Cornell, mà y sẽ bỏ chạy ngay lập tức.

Đó chắc chắn không phải là kiểu chạy trốn bằng chuyến đi vòng quanh trái đất hai lần, tìm các thành phố của con người để ẩn náu như cách y cố gắng thoát khỏi Gymir. Bởi vì Tonatiuh từng trực tiếp nuốt chửng một thành phố của con người, chỉ để săn một tà thần.

“Ta sẽ trốn trên mặt trăng.” Johnson lạnh lùng nói.

Thám tử vô thức ngẩng cổ lên, sau đó phát hiện mình đang ngồi trong toa tàu, không thể nhìn thấy bầu trời.

Dù có nhìn thấy thì bây giờ vẫn là ban ngày…

Không đúng!

John đột nhiên đứng dậy, nghi ngờ hỏi: “Đáng lẽ chúng ta phải đến Thụy Sĩ trong ba tiếng nữa, nhưng tại sao khoảng cách đến ngọn núi tuyết ngoài cửa sổ vẫn không thay đổi?”

“Sau khi phát hiện ra số tiền vàng có liên quan đến Tonatiuh, ta đã mang xe lửa đến đây.” Gymir nói rằng chính hắn là người đã làm việc đó.

John thở phào nhẹ nhõm, từ từ ngồi xuống. Nguy hiểm quá, sợ gần chết.

“Ồ vâng, tuyệt cú mèo. Dù sao thì khi chúng ta dần dần <i>bắt giữ</i> những đồng vàng, những đồng còn lại sẽ nhận ra có điều gì đó không ổn và nhảy ra ngoài cửa sổ chạy mất.” Thám tử vừa cố tự an ủi mình, vừa cuống cuồng tự hỏi nơi này là nơi nào, khe hở thời gian sao? Nếu ở lại quá lâu, liệu hành khách có xảy ra chuyện gì không?

Gymir nhắc anh: “Ngươi muốn toàn bộ người trên xe lửa chết, hay Tonatiuh bị đánh thức vì âm thanh của cuộc hiến tế?”

Johnson nói tiếp: “Nếu anh không muốn một trong hai thứ đó, hãy đi tìm những đồng tiền vàng và hộp vàng cổ càng sớm càng tốt.”

John: “…”

Nhìn thám tử rời khỏi toa với vẻ mặt rối rắm, chần chừ không nói nên lời, Johnson không khỏi bật cười

“Niềm vui của việc trêu chọc kiến?”

Bóng của Gymir lặng lẽ trải dài ra, quấn quanh cánh tay Johnson.

Johnson suy nghĩ, y cảm thấy John có lúc giống mèo, có lúc giống chó. Khi bị buộc phải làm việc, trông anh như chú chó hoang dầm mình trong mưa, rũ đầu chán nản, cảm nhận được sự vất vả của cuộc sống.

“…Đừng lên mặt trăng.”

“Sao cơ?”

Johnson sững sờ, nhìn vào cái bóng lớn trước mặt.

Gymir thì thầm: “Có những điều thần mới không biết, bởi vì những vị thần biết điều này đều chưa chết.”

Logic này nghe có vẻ kỳ lạ, nhưng Johnson hiểu ngay. Những gì thần mới kế thừa chỉ là ký ức của đồng loại đã chết, nếu thần cổ xưa biết được bí mật mà không chết, thì thần mới không có cách nào biết.

Nhưng Johnson không hiểu tại sao mình không thể lên mặt trăng.

“Kukulkan (thần Rắn lông vũ*) với tốc độ kinh người thoát khỏi cuộc đồ sát bằng cách đó đó thôi.”

<i>* Feathered Serpent là một thực thể hoặc vị thần siêu nhiên nổi bật, được tìm thấy trong nhiều tôn giáo vùng Trung Mỹ. Nó được gọi là Quetzalcoatl trong thần thoại của người Aztec, Kukulkan trong thần thoại của người Yucatec Maya, Q’uq’umatz và Tohil trong thần thoại của người K’iche’ Maya.</i>

Điều Johnson nói về việc chạy lên mặt trăng không chỉ là nói bừa, mà có ví dụ thành công thực tế rồi. Là một tà thần còn may mắn sống sót của lục địa châu Mỹ, hàng loạt lựa chọn của Rắn lông vũ đều vô cùng tuyệt vời, có thể gọi là một ví dụ điển hình.

Khi Tonatiuh chìm vào giấc ngủ sâu, Rắn lông vũ kiêu ngạo chiếm giữ tín ngưỡng của con người trên lục địa đó, trở thành vị thần chính được con người hiến tế cho. Với mùa mưa do thần Rắn lông vũ mang đến, mây đen bao phủ và vạn vật sinh sôi, cực hình của thần Mặt trời Tonatiuh giáng xuống mặt đất sẽ tạm thời chấm dứt, đây chính là truyền thuyết của loài người.

Gymir tháo mặt nạ ra, nụ cười chế giễu hiện trên môi: “Kukulkan cũng là thần cổ xưa, khi nó không tránh khỏi việc ngủ say, em nghĩ nó dám làm tổ ở châu Mỹ sao? Dù cho những con kiến ở đó tin vào nó, xây dựng những ngôi đền và kim tự tháp cao lớn và đẹp đẽ cho nó.”

“Ý của anh là…”

Johnson ngẩng đầu lên hệt như thám tử. Điểm khác biệt là mắt của y có thể nhìn xuyên qua nóc tàu, xuyên qua những tầng mây, và thấy mặt trăng.

“Phải, không có nơi nào trên hành tinh này là an toàn. Khi Rắn lông vũ nghĩ rằng có thể bị thần Mặt trời nuốt chửng khi đang ngủ, nó chỉ còn một lựa chọn duy nhất, đó là một nơi tốt đã giúp nó thoát khỏi vận rủi vô số lần.”

Giọng Gymir đầy vẻ mỉa mai khi nhắc đến Rắn lông vũ, đầy chán ghét khi gọi tên thần Mặt trời.

“Mặt trăng không phải là một nơi tốt đẹp.” Johnson sửa lại.

Ở đó thật cằn cỗi. Cằn cỗi đến mức không có gì cả.

Vì vậy, nếu một thần mới như y chạy tới, có thể trở thành bữa ăn được dâng lên tận cửa cho Rắn lông vũ.

Thật xảo quyệt, khi Rắn lông vũ ăn miếng đầu tiên vào miệng, nó cũng sẽ biết kẻ thù cũ của mình – thần Mặt trời đã thức tỉnh. Vì sự tích thành công của nó được truyền bá rộng rãi, nên nếu không vì tránh xa thần Mặt trời Tonatiuh thì chẳng có tà thần nào chạy lên mặt trăng.

“Mặc dù em đang thiếu một nơi ẩn náu tốt, nhưng em có một trợ thủ đắc lực ở bên cạnh.” Gymir nói đầy ám chỉ.

Cái bóng như một tấm màn che phủ toàn thân Johnson, dường như đã nuốt chửng y vào bụng.

Đúng lúc này, ngoài toa tàu đột nhiên vang lên một tiếng kêu hoảng sợ.

Cánh cửa cũng bị John đột ngột đẩy ra: “Thư ký của chủ ngân hàng Ball chết rồi.”

John nhìn thấy dây leo và bóng đen chưa kịp rút lại, trước mắt anh đột nhiên tối sầm, thế giới quay cuồng.

Anh cảnh giác bám chặt vào khung cửa, quay đầu kịp thời, quay lưng về phía toa tàu.

Chịu đựng cơn đau đầu dữ dội, anh thầm đếm đến mười trong đầu.

Mở mắt ra, cũng may, chưa mù.

——————–

<i>Tác giả nói thế này:</i>

<i>Thám tử: Cảm ơn, tôi nói chưa mù không phải là tính từ mà là nghĩa đen (may mắn thay).</i>

<i>Giải thích chút xíu, cái này không được tính là nhìn thẳng vào bản thể. Cái bóng là hóa thân của Gymir, dây leo chỉ là phần cuối của Johnson, nó cũng được bao bọc trong cái bóng. Suy nghĩ lại, thám tử bị k*ch th*ch trong môi trường đặc biệt, ý chí tạm thời được tăng lên mấy điểm, đạt tới 95. Thành công vượt qua.</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 43


<b>Chương 43</b>

<b>Chọn lựa</b>

“Cậu ổn chứ?” Bác sĩ Abel thận trọng hỏi.

Vì mặt John xanh xao, đầu toát mồ hôi lạnh, trông anh còn tệ hơn cả xác chết trong phòng vệ sinh kia nữa.

Thám tử đưa tay xoa trán, thở dài: “Toa xã giao không có khóa cửa, suýt nữa g**t ch*t tôi rồi.”

“Hả?” Bác sĩ chẳng hiểu ra sao.

John xua tay, không tiếp tục giải thích.

Họ đang ngồi xổm trước cửa phòng vệ sinh của toa hạng nhất, nhìn thi thể nằm bên trong.

Đó chính là thư ký của chủ ngân hàng Ball, trên ngực anh ta có một lỗ thủng đẫm máu, đầu nghiêng sang một bên, vẻ mặt hoảng sợ.

“Bị bắn bằng súng, điều tồi tệ nhất đã xảy ra rồi.” Sau khi bác sĩ Abel khám nghiệm thi thể, ông rầu rĩ nói: “Ngoài tiền vàng bị nguyền rủa, còn có con người gây án mạng.”

Tình trạng của John không tốt lắm, nhưng đầu óc anh vẫn có thể hoạt động bình thường.

“Phòng vệ sinh này nằm ở nơi liên kết các toa, một bên là toa giường nằm hạng nhất, một bên là toa xã giao. Có thể kết luận chỉ có nhân viên trên xe lửa và hành khách toa hạng nhất có thể đi qua đây.”

John nhớ lại lần cuối cùng anh gặp thư ký.

Thứ đầu tiên cần kiểm tra là hành lý của thư ký, sau đó hành khách toa hạng nhất trở về phòng riêng để kiểm tra đồ đạc của mình. Ngoài Bá tước già và quý phu nhân kia ra, vì có người hầu làm việc cho nên họ vẫn ở phòng hút thuốc và salon trên toa xã giao trong thời gian này.

“Thời gian của kẻ sát nhân rất eo hẹp, luôn có người ở hành lang toa hạng nhất. Sau khi kiểm tra hành lý xong, chỉ có khoảng mười phút là đến lúc nhân viên phục vụ tàu phát hiện ra thi thể.” John lấy sổ tay ra, so sánh với đồng hồ của mình, rồi viết nguệch ngoạc thời gian: “Hãy đi kiểm tra xem hành khách toa hạng nhất đang làm gì trong thời gian này.”

“Tìm chứng cứ vắng mặt phải không?” Bác sĩ lấy lại tinh thần, ông có thể làm được việc này.

John cố chịu đựng cơn đau đầu, nói: “Đúng rồi, không cần hỏi những người này.”

Abel cúi đầu, nhận ra con số đầu tiên là khoang số 7 và số 8.

“Là, là Johnson à?”

John im lặng nhìn bác sĩ.

Bác sĩ Abel rụt cổ lại, lúng túng nói: “Thôi được, tôi biết. Bá tước già, quý phu nhân kia, còn có Trưởng tàu tội nghiệp của chúng ta cũng không cần hỏi. Phải rồi, cậu có đối tượng tình nghi chưa?”

“Cô Vanessa.” Thám tử đáp.

“Sao cơ?” Bác sĩ tỏ ra kinh hoàng.

Mặc dù không quen biết giọng nữ cao opera kia, nhưng ông ta có thể nói rằng Vanessa quả thực là một cô gái có học thức, biểu hiện thần kinh suy nhược của Vanessa dường như không chỉ là diễn kịch, cô ấy thực sự bị bệnh. Nếu muốn hỏi ai trong số các hành khách toa hạng nhất gục ngã nhanh nhất trong sự kiện huyền bí này, Abel tin rằng cô Vanessa phải là người đầu tiên.

Bác sĩ Abel dò hỏi: “Chẳng lẽ… cô ấy ít có khả năng là kẻ sát nhân nhất, nên cậu nghi ngờ cô ấy?”

John nhìn Abel không nói nên lời, đây không phải tiểu thuyết trinh thám.

“Ông nhìn kỹ đi, phòng vệ sinh không phải toa xã giao, có khóa cửa, nên thư ký tự mở cửa và thấy người đang đợi bên ngoài. Nếu nhìn thấy một quý cô đang đợi ngoài cửa phòng vệ sinh, ông sẽ làm gì?”

“Ừ, bước sang một bên, nhìn đi chỗ khác, sẽ không nhìn cô ấy vì phép lịch sự…”

“Còn nếu là nam giới?” John hỏi tiếp.

“Mỉm cười và chào hỏi, thậm chí có thể hỏi mượn hộp quẹt hay gì đó.”

Bác sĩ Abel vỗ đầu, hiểu ra.

Quần áo gần vết thương có vết cháy nhẹ, chứng tỏ tầm bắn rất gần. Thư ký nhìn thấy có người cầm súng hướng về phía mình, sao lại không phát hiện ra? Mặc dù tiếng ầm ầm của tàu đủ để che đậy tiếng súng, nhưng nếu thư ký gào thét hoặc chống cự và bỏ chạy, anh ta sẽ không chết một cách im hơi lặng tiếng thế này.

“Không đúng, có lẽ là người có địa vị cao hơn? Tôi cũng sẽ chủ động tránh Bá tước già nếu có gặp ông ta.” Bác sĩ Abel chỉ ra một lỗ hổng.

John giải thích: “Họ sẽ có người hầu đi cùng, họ sẽ không xuất hiện một mình, người hầu sẽ dọn dẹp sạch sẽ phòng vệ sinh trước khi họ vào, nếu thư ký mở cửa mà thấy Bá tước già đứng ở cửa thì sẽ ngạc nhiên.”

“Vậy hung thủ là một phụ nữ…”

Bác sĩ Abel gật đầu, điều này có lý. Thật trùng hợp, hành khách toa hạng nhất ngoài quý phu nhân và hầu gái của bà ta thì chỉ có cô Vanessa.

John nhìn cửa sổ phòng vệ sinh đang mở, rồi nói nhanh: “Súng có lẽ đã bị ném ra ngoài cửa sổ, nếu may mắn, chúng ta sẽ có thể nhìn thấy nó lần nữa.”

“Cậu nói sao?” Bác sĩ lại kinh hãi lần nữa.

Vừa dứt lời, ông ta nhìn thấy ngoài cửa sổ có một khẩu súng ngắn cỡ nhỏ dành cho phụ nữ, trên đó có vật trang trí bằng ngà voi.

Bác sĩ Abel đực mặt ra.

Xe lửa đang đi thẳng về phía trước phải không!

“Này, để tôi nói cho ông một bí mật, trước khi tìm được hết số vàng, chúng ta không thể rời khỏi chuyến xe lửa này, xe lửa cũng sẽ không bao giờ đến được nhà ga.” John hạ giọng, nói xong thì vỗ mạnh vai bác sĩ.

Bác sĩ Abel sắc mặt tái nhợt, hai chân run rẩy.

“Không thể rời đi có nghĩa là gì?”

“Nghĩa đen.”

“…Tôi nhớ mục sư Cornell đã từng nói, đừng tùy tiện đi đến phế tích hay ngôi đền cổ nào đó, nếu lạc vào một thế giới không thuộc về con người, những điều khủng khiếp sẽ xảy ra.” Bác sĩ Abel lắp bắp nói, trước đây ông chỉ xem những lời này là chuyện kể, nhưng bây giờ không dám nữa.

“Không chỉ gặp phải những điều kỳ lạ, mà còn biến thành quái vật!” John nghĩ đến Rosa và Eileen.

Đôi cánh bướm trong suốt rất đẹp, nhưng khuôn mặt của các cô lại thật khủng khiếp. Nhiều thứ không đơn giản như vẻ ngoài của chúng.

“Ông nên chú ý hơn khi điều tra. Động cơ của vụ án này có thể vẫn là những đồng vàng xui xẻo đó.” John dặn dò.

Anh biết Vanessa là nữ diễn viên opera rất nổi tiếng ở Luân Đôn, nhưng giờ đây cô đã trở nên gầy gò và suy nhược thần kinh. Vanessa cũng là người đầu tiên hét lên “lời nguyền” trong toa ăn.

“Cô ấy có thể là hành khách duy nhất ở toa hạng nhất đến từ Luân Đôn giống như ông Ball và thư ký, giết người thì luôn phải có lý do, đặc biệt là mạo hiểm giết người trên xe lửa.”

Bác sĩ Abel vẫn chưa kịp hoàn hồn, ông ta ngơ ngác nói: “Nhưng không phải chúng ta nên tập trung vào việc tìm kiếm tất cả các đồng vàng sao? Chúng ta có thể đợi cho đến khi xe lửa rời khỏi không gian kỳ lạ rồi thảo luận về vụ giết người sau.”

John nghiêm túc hỏi: “Ông có thể bảo đảm đến lúc đó ông còn sống, tôi còn sống, hung thủ còn sống không?”

Câu hỏi đáng thẳng vào trọng tâm của thám tử suýt khiến Abel ngất xỉu tại chỗ.

John đưa tay ra một cách chính xác, đỡ lấy bác sĩ đang run chân đến nỗi cả người trượt dần xuống.

“Kiên cường lên nào.”

Abel tưởng John sẽ nói “ông là bác sĩ duy nhất trên chuyến xe lửa này”, ai ngờ thám tử tung ra một câu: “Dù sao thì ông cũng là người từng trải qua quá trình thần cổ xưa thức tỉnh, đừng có yếu ớt như vậy.”

Bác sĩ muốn chửi bới, muốn ném John qua vai, đập đầu anh vào bồn cầu.

“Tôi sẽ đảm nhận công việc tìm kiếm tiền vàng, giao việc giải quyết vụ án cho ông, được chứ?” John nhìn chằm chằm Abel, ra vẻ “nếu ông không hài lòng, chúng ta sẽ trao đổi nhiệm vụ”.

Abel: “…”

Quên đi, ông không đánh lại thám tử, ông ta đã nhìn thấy kỹ năng của John tại thị trấn Đá Ngầm Đen.

John nhìn theo bác sĩ Abel uể oải rời đi, nụ cười trên mặt đột nhiên biến mất, anh cúi đầu nhìn đồng tiền vàng trong tay. Đúng vậy, đó là một đồng vàng. Anh vừa lấy nó ra khỏi túi áo của bác sĩ Abel.

Abel không phải hành khách toa hạng nhất, theo lý mà nói thì tiền vàng sẽ không “tìm tới” ông ta. Nhưng vừa rồi khi bác sĩ vươn đầu nhìn ra cửa sổ xe, John nhạy bén cảm thấy toàn thân ớn lạnh, như thể có một điều gì đó đáng sợ đang ập đến.

Thám tử dám thề bằng kinh nghiệm đối phó với tà thần của mình, đây chính là cảm giác “bị theo dõi bởi một tồn tại huyền bí”!

John ngay lập tức lén kiểm tra quần áo của mình, anh nhanh chóng tìm thấy một vật tròn trong túi.

Đồng vàng!

John không thể không suy nghĩ tới lý do khiến mình lại bị nhắm tới, sau đó ánh mắt anh nhìn đến thi thể của thư ký.

Là máu?

Hay là trái tim còn tươi?

Đồng vàng có bị thu hút bởi những thứ này không?

John thấy da đầu tê hết cả lên, anh vừa nói vừa quan sát bác sĩ, hết vỗ vai rồi đến đỡ bác sĩ, nhanh chóng “kiểm tra” túi tiền của ông ta. Thám tử đã thành thạo kỹ năng trộm cắp, dễ dàng lấy đi đồng tiền vàng. Vì đã bị đồng tiền vàng nhắm tới, dính vào lời nguyền, nên không cần phải tránh tiếp xúc nữa, nó vô dụng!

John thở dài một tiếng.

Thật là một bi kịch. Khi chọn Tàu tốc hành Phương Đông này, ban đầu anh tưởng rằng mình đã đặt vé toa hạng nhất thông qua phu nhân Caroline, có thể tận hưởng chuyến du lịch bằng xe lửa hạng sang kéo dài hai ngày ở châu Âu, nhưng cuối cùng lại bị cuốn vào vào trò chơi sinh tồn này.

***

Gymir từ xa nhìn toa xe đó, quay lại nói với Johnson: “Có vẻ như chúng ta rất may mắn.”

“Ừm?”

“Có con người chết rồi.” Gymir khẽ nói.

Hắn không nhớ ngoại hình của thư ký của Ball, nên không biết người đã chết là ai. Hắn cũng không quan tâm ai giết con người này, kiến giết lẫn nhau không đáng xem. Nhưng xác của kiến rất hữu ích.

“… Thám tử cũng may mắn nữa.” Gymir dừng lại một giây, giọng nói đầy ý khen ngợi dành cho một viên ngọc phi thường.

Johnson nhìn theo ánh mắt của hắn, mắt của y cũng có thể nhìn thấy từng làn khói đỏ sậm đang tụ tập.

Đây là điều mà con người hoàn toàn không thể nhìn thấy được. Ý chí của những đồng vàng xui xẻo sẽ hình thành nên một con quái vật vô hình. Lúc này con quái vật vô hình đang bị trái tim của vật tế tươi mới hấp dẫn, nó không nhịn được lén nhìn thi thể.

Johnson nhìn John đứng bất động trong phòng vệ sinh, như đang chờ đợi điều gì đó.

“Đi theo thôi, đừng để thám tử chết.” Johnson bước tới.

“Để ta.” Gymir giữ tay Johnson, nói một cách nghiêm túc: “Mặc dù nó chỉ là một quyến thuộc chưa thành hình, sức mạnh không đáng kể, nhưng chưa tận mắt nhìn thấy chiếc hộp cổ kia, chúng ta vẫn chưa biết sức mạnh đã kích hoạt những đồng vàng xui xẻo này có mối liên hệ sâu sắc đến mức nào với thần Mặt trời, nên để ta làm.”

Gymir nhìn Johnson, nhẹ nhàng nói: “Ta cũng biết về thần Mặt trời Tonatiuh nhiều hơn em.”

Khi làn khói đỏ sẫm hình thành, tiếng la hét vang lên từ khắp nơi trên xe lửa.

Con người không thể nhìn thấy những thứ này nhưng lại bị ảnh hưởng, có người uống nước bị sặc, có người bị bệnh, đầu bếp cắt phải ngón tay, nhân viên phục vụ tàu vấp phải thảm. Đây là những rủi ro “nhỏ”, cái ác thực sự sẽ nhắm vào thám tử đang ở gần xác chết nhất.

Đây cũng chính là ý đồ ban đầu của thám tử. Anh đứng đó, dùng chính mình làm mồi nhử chờ quái vật chủ động tấn công.

Thám tử tin rằng Gymir hoặc Johnson sẽ kết liễu nó, anh chỉ cần cố gắng hết sức để sống sót, liều mình chạy thoát là được.

***

Không khí trong phòng vệ sinh trở nên ngột ngạt, dị thường.

Điếu thuốc trên tay John đột nhiên tự động tắt đi dù không có chút gió nào.

Anh cắn điếu thuốc, cười toe toét với con quái vật đang dần hình thành trước mặt. Đúng, John đã đặt cược đúng, ý chí cao quá mức đã cho phép anh nhìn thấy thứ này. Anh vẫn có thể giữ tỉnh táo, không hoảng sợ đến phát điên. Trên tuyến xe lửa này, chỉ có thám tử là mồi nhử có khả năng thoát khỏi sự truy đuổi.

John chỉ có thể và sẽ chỉ chọn cách này.

John nhặt con dao găm lên, rạch một đường nông trên ngực qua lớp áo, chỉ có một chút máu rỉ ra, rồi anh ném con dao găm vào quái vật.

“Đến đây nào, đồ ngốc!”

John quay người bỏ chạy.
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 44


<b>Chương 44</b>

<b>Cuộc rượt đuổi</b>

Con quái vật màu đỏ máu này trông giống như một loại quái thú bị lột da. Nó có chi trước thô kệch, chi sau rắn chắc khỏe mạnh, và một cái đuôi dài. Phần cuối của cái đuôi rất mỏng, giống như một lưỡi dao sắc bén…

John lăn vòng tại chỗ, anh cảm thấy lưng lạnh buốt, áo khoác “rách ra”. Anh nhanh chóng giật bỏ ống tay áo đang treo trên tay để không cản trở việc chạy trốn.

Có tiếng gió xé toạc không khí bên tai anh. Từ khóe mắt, anh có thể nhìn thấy bóng mờ của cái đuôi con quái vật đang quất như roi. John cảm thấy như tóc của mình đã bị cắt đứt một đoạn.

Đó là tóc đấy!

John kêu gào trong lòng, chân vẫn không hề chậm lại, anh lao dọc theo lối đi dài và thẳng tắp của toa tàu như cách di chuyển của loài rắn.

Anh nắm lấy cửa khoang bị khóa rồi nhảy lên, suýt đập đầu vào nóc tàu.

Bụp.

Đèn trên tàu vỡ toang.

John kịp thời cuộn tròn cơ thể, ngay khi tiếp đất, anh dồn lực vào chân phải, trượt dài một cú để tránh lưỡi dao sắc nhọn tiếp theo.

Những khe hở rất mỏng xuất hiện trên các bức tường của toa tàu. Chúng không sâu nhưng đủ để làm người ta rợn người. Bởi vì ngay cả tay nắm cửa bằng kim loại chạm khắc cũng không thể chịu được đòn tấn công, một vết nứt vẫn xuất hiện ở giữa.

John giả vờ lao tới cửa sổ của hành lang bên cạnh, làm như thể định nhảy ra khỏi cửa sổ.

Khi cơn gió hãi hùng kia lại ập đến, John đột nhiên ôm đầu lộn nhào. Anh không quan tâm đến những vết thương do kính vỡ gây ra trên cơ thể, gân xanh nổi lên trên trán, anh nghiến răng lao thẳng vào con quái vật đang đuổi theo mình như một quả bóng cao su khổng lồ. Trong lúc càng lúc càng gần, anh rút vũ khí bằng tốc độ nhanh nhất, bóp cò.

Một tiếng gầm khủng khiếp và kỳ quái vang lên. Làn sương mù màu đỏ sẫm tạo nên con thú đỏ tươi bị kéo ra một phần nhỏ, chuyển động của con quái vật khựng lại trong vài giây.

John phấn chấn lên. Có thể gây ra tổn thương vật lý là tốt rồi, dù sao thì anh sẽ không thể tìm thấy nước thánh hoặc đạn bạc nguyên chất trên xe lửa.

Tất nhiên, hai thứ này cũng chưa chắc sẽ có tác dụng. Theo bút ký của mục sư Cornell, chỉ có chữ rune vẽ đúng mới có thể kiềm chế tà thần và quyến thuộc của tà thần một cách hiệu quả. Nếu không có gì cả, thì đành nổ súng, dù sao thì tình hình cũng sẽ không trở nên tồi tệ hơn được nữa.

Con quái vật giận dữ, nửa toa tàu bị bao phủ trong màn sương mù màu đỏ sẫm.

John nghe thấy tiếng la hét của mọi người từ khắp nơi trong xe lửa, cũng như âm thanh của nhiều thứ bị vỡ.

Qua khe hở của khoang, John nhìn thấy thương nhân xe hơi Mỹ đang nằm run rẩy dưới đất, người hầu bám lấy tường và r*n r* đau đớn, khắp nơi trên cơ thể họ rỉ máu, sương mù đỏ sậm bao quanh họ, như một cơn gió thổi bay lá trên cây, ung dung lấy đi một phần sự sống của cây cối.

Thoạt nhìn chỉ là một chút máu. Máu lẫn với khói đỏ sậm, không khí đột nhiên trở nên khô khốc, nhiệt độ trên tàu không ngừng tăng cao.

John ở gần con quái vật nhất, anh cảm thấy như da mình bị phơi nắng, đến nỗi đỏ bừng và nóng rát. Mồ hôi làm mờ mắt anh, động tác chạy trốn của anh chậm lại. Thám tử đã phải vừa lăn vừa bò.

Anh phớt lờ mùi máu đọng lại trên chóp mũi, trực giác nhạy bén cho phép anh tránh được những đòn chí mạng hết lần này đến lần khác, từ cả chi trước và cái đuôi như lưỡi kiếm của con quái vật.

Khoảng cách từ phòng vệ sinh đến thư viện của toa xã giao chỉ hơn ba mươi feet, nhưng anh có cảm giác như đang bơi qua cả eo biển Anh.

Cuối cùng John cũng đến được cửa thư viện, anh nhận ra rằng bên trong không có ai. Điều này khiến trái tim anh trịu xuống khi chạy vào trong phòng.

Con quái vật phía sau không cho anh thời gian để do dự.

John vất vả lăn một vòng lần nữa để tránh đòn tấn công, đột nhiên cảm thấy một bàn tay khổng lồ túm lấy sau gáy mình, xách anh lên và ném khỏi khoang.

Khoảnh khắc cánh cửa đóng sầm lại, John nhìn thấy một bóng dáng cao lớn mặc áo choàng đen. Chiều cao của toa xe chỉ khoảng 10 feet (3 mét), nhưng nơi cái bóng đứng lại trông như một không gian đột biến và vặn vẹo.

Trống rỗng, sâu vô tận.

Những khung cửa sổ dường như rất xa, những giá sách như đang lơ lửng giữa không trung.

“…”

John nằm trên hành lang, đôi mắt trống rỗng, cơ thể cứng đờ như một tảng đá.

Bên trong cửa vào lúc này.

Con quái vật rơi vào không gian vặn vẹo.

Nó gầm lên, vùng vẫy, móng cào cấu và đuôi quẫy đập một cách điên cuồng. Nó dường như đang dần dần nhỏ đi, bóng đen trong áo choàng khổng lồ bao phủ đầu trên nó, nhanh chóng phủ kín toàn bộ không gian trong tầm mắt.

Trên thực tế, không phải con quái vật đang thu nhỏ mà là nó bị “chìm vào” trong không gian này ngày càng sâu hơn.

Làn khói đỏ sậm cuối cùng cũng tan biến, trở thành những đồng tiền vàng, điên cuồng chạy khắp nơi. Những đồng vàng chẳng những không tìm được lối ra mà còn gặp phải những đồng đội tiền vàng đã “mất liên lạc” trước đó.

Những đồng vàng lóe ánh sáng của máu đang bị ăn mòn. Chúng phát ra những tiếng than khóc thảm thiết, kèm theo những lời thì thầm kỳ lạ từ những nghi lễ hiến tế cổ xưa. Từng hình ảnh hư ảo lần lượt xuất hiện đằng sau những đồng xu, họ như những vật tế bị treo lơ lửng, tay chân buông thõng, lồng ngực trống rỗng.

Đây chính là bộ mặt thật của “lời nguyền”, đồng thời cũng là hình thái đáng sợ nhất, có thể xé xác con người hoặc động vật trong một chớp mắt.

Tuy nhiên, cảnh tượng khủng khiếp này giờ đây lại mang một vẻ hài hước, ảo ảnh vật tế lắc lư, trông như những miếng thịt xông khói treo trong nhà kho, hoặc như xác chết trên giá treo cổ. Nó không thể làm gì khác ngoài việc phát ra tiếng kêu chói tai, lắc lư từ bên này sang bên kia theo nhịp âm thanh.

Bóng đen không mặt trong áo choàng khổng lồ thậm chí còn thấy điều này rất thú vị, hắn nhanh chóng thêm những đồng tiền vàng mới vào đó, sau đó sắp xếp lại bằng kỹ thuật điêu luyện, và khả năng cảm âm tuyệt đối.

Nó nhanh chóng được ghép lại với nhau để tạo thành một nhạc cụ lớn mà con người không thể nhìn thẳng vào, cũng không thể miêu tả.

Nhạc cụ này có sự phân chia chặt chẽ thành thang âm cao và thấp, còn có hình thức phím bấm. Những phím bấm chính là đồng xu, ảo ảnh bị treo lên là ống phát ra âm thanh. Đồng xu bị ăn mòn một xu mỗi lần chạm vào, vì vậy nhạc cụ này có tuổi thọ ngắn.

Vị thần đang chơi nhạc cũng không coi trọng nó chút nào. Giai điệu như một làn sóng dữ dội, hoặc một ngọn núi lửa đang phun trào, thể hiện tinh thần chiến đấu đáng sợ.

Một mặt trời rực cháy đột nhiên xuất hiện trong không gian tối tăm vặn vẹo. Tonatiuh bị khiêu khích trong giấc ngủ say, xuyên qua không gian, liếc nhìn về phía này.

Sức mạnh đó bị bóng đen trong áo choàng đánh tan.

Hậu quả của cú va chạm khiến nhạc cụ tan rã, không gian tối tăm bắt đầu rung chuyển dữ dội, như tuyết nhanh chóng tan chảy dưới ánh nắng, chỉ còn bóng đen kỳ lạ được che phủ trong áo choàng vẫn bất động, nuốt chửng toàn bộ ánh sáng.

Ánh mặt trời thiêu đốt lóe lên một lát rồi từ từ biến mất.

***

Johnson thở phào nhẹ nhõm.

Y đang đứng bên ngoài khoang, rất gần “chiến trường”, nhưng cũng rất xa.

Chiếc xe lửa không thể gặp chuyện.

Nếu Johnson mặc kệ, chắc hẳn chiếc xe lửa sẽ bay lên không trung và tan rã trong tích tắc, con người ở bên trong, thậm chí là một con gà nằm trong tủ đông ở nhà bếp cũng không thể giữ được một cơ thể hoàn chỉnh, mà tất cả đều sẽ biến thành máu và bùn.

Cuộc đối đầu thực sự diễn ra trong một không gian ngoài tầm với của con người.

Thần Mặt trời Tonatiuh bị quấy rầy trong giấc ngủ, tức giận liếc nhìn. Khi thần Mặt trời phát hiện ra kẻ khiêu khích là một hóa thân của thần cổ xưa, nó nhận ra rằng chỉ gửi một hóa thân ra ngoài sẽ không giải quyết được vấn đề, và nó cũng không ở trong điều kiện đủ để thức dậy, nên chỉ ghi nhớ hơi thở của Gymir rồi tiếp tục ngủ.

Cánh cửa khoang lặng lẽ mở ra. Giá sách và bàn ghế ngổn ngang trên sàn.

Gymir đứng đó, với mái tóc dài màu đỏ xõa trên vai, vẻ ngoài có nét đặc trưng của người cá, những chiếc vây mỏng và rộng trong suốt dựng lên trên xương tai, đôi mắt vàng quyến rũ phản chiếu hình bóng của Johnson.

“Thật quá nguy hiểm.”

Johnson bước nhanh vào, chậm rãi dừng lại trước mặt Gymir.

Johnson thực sự không ngờ rằng Tonatiuh lại nhỏ mọn đến mức phải “nhìn” một cái khi một quyến thuộc còn chưa thành hình bị phá hủy.

Thông thường, nếu tất cả quyến thuộc không chết hết thì tà thần sẽ chẳng quan tâm.

Nếu là thần cổ xưa đang ngủ say, từ giờ phút chìm vào giấc ngủ, họ đã không quan tâm đến “của cải” mình để lại. Chừng nào chưa có đồng loại nhảy nhót trước cửa nhà mình, thế giới chưa đi đến hồi kết, họ sẽ không bao giờ thức giấc.

Ngay cả Gymir cũng vậy, bản thể của hắn vẫn đang nằm dưới đáy biển. Những gì tồn tại ở đây chỉ là một phần của thần cổ xưa, là một hóa thân.

Cho nên thái độ “ngươi giẫm chết bông hoa dại trước cửa nhà ta, ta đã nhớ ngươi, chờ ta tỉnh lại sẽ đến giết ngươi” của thần Mặt trời thật sự rất vô lý.

Nhưng khi nghĩ tên này là Tonatiuh, thì… đột nhiên lại rất hợp lý?

Johnson không khỏi lo lắng: “Tonatiuh sẽ tới tìm anh.”

“Đó là điều sẽ chỉ xảy ra vào ngày hành tinh này bị hủy diệt.”

“Con người rất giỏi tìm đường chết, em lo rằng họ sẽ giải phóng hóa thân của thần Mặt trời trước ngày tận thế.”

“Em không giúp ta sao?”

Gymir lại gần Johnson, giọng nói tuyệt diệu đầy sức mê hoặc.

Johnson mất tự nhiên di chuyển một bước.

“Em không được.”

Johnson cảm nhận được thực lực chênh lệch. Là một thần mới, thực lực của y thật sự không là gì cả.

Bóng tối phía sau Gymir lặng lẽ kéo dài, bao quanh Johnson, giọng nói đó như đang ngâm thơ, hoặc là lời thì thầm của ác quỷ:

“Hãy trở thành một phần của ta, hoặc để ta trở thành một phần của em… em biết đấy…”

***

Khi John tỉnh dậy, anh thấy một người rất quen đang ngồi cạnh mình.

Bác sĩ Abel.

“Chúng ta… đã đến Thụy Sĩ rồi à?” John nhìn bầu trời tối đen ngoài cửa sổ, không rõ tình hình cho lắm.

“Đến rồi.” Đôi mắt bác sĩ đầy vẻ ai oán.

John khó chịu hỏi: “Vẻ mặt của ông thế này là sao?”

Bác sĩ Abel hít một hơi thật sâu rồi bi phẫn nói: “Tôi không quên, tôi không quên gì cả! Người trong cả toa xe đều quên mất, họ tưởng chính cô Vanessa nổ súng bắn chết chủ ngân hàng Ball, sau đó giết thư ký của Ball rồi tẩu thoát! Tiền vàng bị nguyền rủa mà Ball mang theo cũng biến mất cùng cô Vanessa!”

John xoa đầu, nghi hoặc nói: “Đây không phải là chuyện tốt sao? Đúng rồi, những người bị thương khác đâu?”

John vẫn nhớ rằng khi con quái vật tấn công, rất nhiều người đã bị ảnh hưởng bởi vận rủi, nhiều đồ vật bị vỡ.

“Không có! Tất cả vết thương của họ đều biến mất! Mọi thứ bị đổ vỡ, bị lật đổ đều được khôi phục lại, tôi đã trơ mắt nhìn thời gian trên đồng hồ quả quýt bắt đầu đảo ngược, khung cảnh bên ngoài cửa sổ xe lửa cũng bắt đầu thay đổi…”

Bác sĩ Abel đau đớn thương tiếc cho sự sụp đổ của thế giới quan khoa học của mình. Ông thà giống như những hành khách khác, quên đi sự kiện kỳ quái xảy ra trên chiếc xe lửa này còn hơn.

“Thi thể của Ball ở đâu? Trái tim của hắn đã biến mất, điều này phải giải thích như thế nào?” John nghi ngờ hỏi.

“Thi thể biến mất.” Bác sĩ Abel nói, mặt vô cảm: “Mọi người đồng thanh nói rằng khi cô Vanessa nổ súng bắn chết Ball, không may ông ta lại gục trên cửa sổ, thi thể lăn ra ngoài và rơi xuống một hẻm núi sâu, ước tính sẽ rất khó tìm thấy, ít nhất phải mất một tuần mới tìm được, nó sẽ bị sói hoặc thú hoang g*m c*n rồi không còn nguyên vẹn gì nữa.”

John không nhịn được mà cười lớn.

Abel tức muốn chết.

Thám tử vừa cười vừa nói: “Điều này hợp lý hơn nhiều so với phép màu sống sót bằng khinh khí cầu sau cơn sóng thần của ông. Tại sao ông lại ghét bỏ người khác?”

Bác sĩ: “…”

Ông ta đã được mời đến Venice để phát biểu về việc này! Bây giờ ông phải làm gì?

Sau khi khôi phục trí nhớ, bác sĩ Abel cảm thấy lời nói của mình thật nực cười. Tại sao ngay từ đầu ông lại tin vào điều đó đến nỗi hào hứng đi nghiên cứu khinh khí cầu suốt ba năm?

——————–

<i>Tác giả nói thế này:</i>

<i>Chúc mừng thám tử đã vượt qua QTE (thao tác nhân vật trong game né trái phải theo biểu tượng, thường xảy ra trong các cuộc rượt đuổi và tính tiết nguy hiểm)</i>

<i>Điều kiện cần thiết để vượt qua thử thách: Điểm thiện cảm. Không thể kiểm tra chỉ số này, nó là một chuỗi ký tự bị cắt xén. Nếu có, tà thần sẽ ném bạn ra khỏi khoang vào phút cuối, nếu không nhân vật sẽ chết.</i>

<i>Nhắc nhở chiến lược: Nếu ý chí của bạn dưới 90, đừng mở mắt khi bị ném. Nhân vật của bạn sẽ thức dậy năm giờ sau cuộc chiến giữa các tà thần.</i>

<i>Chúc mừng bạn đã đạt thành tích “xe lửa sống sót” (đúng rồi, xe lửa đã được cứu).</i>

<i>Chúc mừng đạt thành tích qua cửa chỉ với một mạng.</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 45


<b>Chương 45</b>

<b>Món quà</b>

Tàu tốc hành Phương Đông dừng tại một ga nhỏ ở Thụy Sĩ.

John đứng ở cửa tàu, nhìn một chiếc quan tài đơn giản trên sân ga, trong đó có thi thể của thư ký chủ ngân hàng.

“Phụ nữ thật đáng sợ.” Thanh tra Martin cảm thán.

John lặng lẽ hút thuốc, phớt lờ anh ta.

Trong mắt thanh tra Martin, thư ký là một kẻ xui xẻo, vì đã giúp Ball tìm người mua, dẫn đến cái chết của một người mua nào đó (được cho là người tình của cô Vanessa), từ đó mới rước họa vào thân. Đầu tiên Vanessa giết chủ ngân hàng, sau đó giết thư ký, giả vờ yếu đuối để mọi người không chú ý đến mình, cuối cùng là giả bệnh để lừa bác sĩ, nhưng thực chất cô ta đã nhảy ra khỏi xe lửa, tẩu thoát thành công trong lúc xe đang chạy chậm lại vì phải qua đường hầm.

Khi John nghe cách giải thích này, lông mày anh nhướn cao. Anh rút lại lời nói lúc trước, cái này cũng phi logic như ký ức của bác sĩ về thị trấn Đá Ngầm Đen. Nghe đi, họ đang mô tả một diễn viên opera giọng nữ cao đấy à?

Rõ ràng là siêu trộm xe lửa thì có!

Chỉ có siêu trộm trong tiểu thuyết phiêu lưu của Pháp mới có kỹ năng nhanh nhẹn, khả năng diễn xuất đỉnh cao, và trải nghiệm yêu hận tình thù phức tạp như thế.

Thậm chí có thể đưa ra giả thuyết rằng cô Vanessa, giọng nữ cao nổi tiếng của Luân Đôn, bị tổn thương vì tình rồi lâm trọng bệnh, cô ta đã tìm đến một tên siêu trộm để nhờ giúp đỡ, tên này đồng ý và sẵn sàng cải trang thành cô Vanessa. Kẻ này là nam, được biết đến với cái tên Arsène Lupin.

Nghĩ theo cách này, nghe có vẻ không quá vô lý. Rốt cuộc thì vụ án xảy ra ở nước Pháp.

John cắn điếu thuốc, thở dài.

“Tôi nhất định sẽ bắt được cô ta, băng cướp đang để mắt đến những đồng tiền vàng, nhất định sẽ tiếp tục truy lùng người phụ nữ đó.” Thanh tra Martin tràn đầy tự tin, nói.

Anh ta quyết định rời tàu tại đây, tiếp tục điều tra vụ án, tìm kiếm thi thể chủ ngân hàng và cô Vanessa “đang mất tích”.

John không ngăn cản, cuối cùng anh cũng hiểu được vị thanh tra này. Không phải não của anh ta có vấn đề, mà hình như là do không biết cách sử dụng não. Quên đi, dù sao sau này anh cũng sẽ không có quan hệ gì với Scotland Yard nữa.

John nhìn thanh tra Martin rời đi, anh ta còn bắt đi hai “nhân chứng” là nhân viên phục vụ tàu và bác sĩ Abel.

Hành khách toa hạng nhất sẽ không vui lòng trì hoãn chuyến đi của mình vì một sự cố xảy ra trong chuyến đi.

Cùng xuống xe ở đây còn có Trưởng tàu Sanger. Ông ta đột ngột ngã bệnh, được bác sĩ Abel chẩn đoán là bị đột quỵ nhẹ, điều trị kịp thời vẫn có thể lành bệnh. Tuy nhiên, có vẻ như Trưởng tàu chỉ có thể lựa chọn về hưu.

Về phần thương nhân xe hơi Mỹ bị thương ở cổ họng, ông ta đã chọn tiếp tục đi xe lửa đến Venice để điều trị vết thương nhẹ tuy không gây tử vong nhưng rất đau đớn của mình. Vì lý do bị hóc thức ăn nghe rất nực cười, thương nhân xe hơi xấu hổ đến mức chọn cách trốn trong khoang ngủ, không dám xuất hiện trong toa xã giao.

“Ông không đến Venice nữa sao?” John ôm bác sĩ Abel, chuẩn bị chào tạm biệt.

Với vẻ mặt cay đắng, bác sĩ thì thầm: “Tôi cảm thấy dưới bục sẽ có vô số người đang chờ vạch trần tôi.”

Nếu như trước đây bác sĩ Abel có thể tự tin dùng kinh nghiệm cá nhân và kiến thức khoa học của mình để bác bỏ, thì bây giờ hết rồi.

Bỏ trốn vẫn hơn!

Gặp án mạng trên xe lửa nên chuyến đi bị hoãn lại, ông ta có thể gửi điện tín xin lỗi, nói rằng mình không thể thích nghi với hoàn cảnh, bị bệnh ở Thụy Sĩ nên chỉ có thể bỏ lỡ bài phát biểu này.

Ngoài việc vỗ vai, John không biết phải an ủi thế nào.

“Phải rồi, cô Vanessa…”

“Tôi biết, cô ấy đã qua đời.” Thám tử khẽ thở dài.

Bác sĩ Abel kinh hãi. Ông ta đã ủ rũ suốt kể từ khi nghĩ đến bài phát biểu đó, nên đã không nói cho John biết tin. Làm sao John biết được?

“John… hai vị ấy đã nói với cậu à?”

“Không, tôi suy đoán thôi.” John xoa xoa cái đầu vẫn còn đau, chậm rãi nói: “Cô ấy lờ đờ và hốc hác. Rõ ràng là cô ấy đã chịu một cú sốc rất nặng. Cô ấy trông như đang đi nghỉ để thư giãn, nhưng sức khỏe của cô ấy rất tệ, lại ở một mình mà không có bạn bè quen biết hay người thân thiết nào, điều này rất bất thường.”

Vanessa có thể đã tiếp xúc với tiền vàng bị nguyền rủa ở Luân Đôn nhưng cô không sở hữu nó, đồng thời lời nguyền trên đồng tiền vàng lúc đó chưa quá mạnh, nên cô không chết ngay.

“Cô ấy quả thực đến đây để trả thù, nhưng rất có thể không phải vì người tình mà là vì chính mình.”

“Đúng vậy, khi tôi tìm thấy cô ấy, cô ấy đã thừa nhận ngay khi tôi nói về những suy luận của cậu trong phòng vệ sinh.” Bác sĩ Abel có chút buồn bã.

Kẻ giết người thực sự không đưa ra mọi lý do để bào chữa, hoặc cố gắng hết sức để tạo ra một bằng chứng ngoại phạm hoàn hảo như trong tiểu thuyết trinh thám.

Vanessa chỉ là một người đã đi đến đường cùng, đang nuôi lòng hận thù. Có thể cô không tin những đồng tiền vàng bị nguyền rủa, nhưng cô tin chắc rằng cái chết của người tình là do chủ ngân hàng Ball, cô cũng bị hủy hoại cùng với nó.

“…Cô ấy nói cô ấy liên tục nghe thấy những tiếng động lạ, không ngủ được, ngày đêm đau đớn, suýt nữa bị đoàn kịch đưa vào viện tâm thần, không bao giờ quay lại sân khấu được nữa.”

Bác sĩ không thể quên lời tự sự của Vanessa.

Cô nói không thể hiểu được, cô không hề yêu người tình đã chết nhiều đến thế, vậy đây là lời nguyền hay trò đùa của số phận?

Vanessa đã thuê thám tử điều tra hành tung của chủ ngân hàng Ball. Sau khi phát hiện ông ta đang có ý định trốn khỏi Luân Đôn, cô lập tức mua vé hạng nhất của Tàu tốc hành Phương Đông, cô quyết tâm tự tay g**t ch*t ông ta, g**t ch*t nguồn gốc của sự hủy diệt. Chiếc xe lửa chật hẹp như một chiếc lồng sắt di động, có thể mang đến cho cô cơ hội hoàn hảo để giết người.

Trước khi Vanessa có được cơ hội này, Ball đã chết. Thế là viên đạn của cô đã được chuyển hướng tới mục tiêu thứ hai.

Bác sĩ chợt hỏi: “Cậu cũng nghĩ thư ký của chủ ngân hàng chỉ là tên xui xẻo, không đáng bị giết như thanh tra Martin sao?”

John châm lại điếu thuốc, ánh lửa soi rõ đôi lông mày cau lại và vẻ u sầu trong mắt anh.

“Đúng là hắn xui xẻo, nhưng Vanessa còn xui xẻo hơn, và những người đã chết ở Luân Đôn nữa… Bác sĩ, trên đời này dù không có tà thần thì người tham lam vẫn sẽ gây họa. Ball đã làm hại chính mình, và cả những người khác.”

John cảm thấy mình có trách nhiệm trong việc này. Nếu anh không gửi số tiền vàng vào ngân hàng mà chôn chúng trong vườn của ngôi nhà thì đã tốt hơn rồi. Nhưng tất cả những điều đó sau đó đều là sự tiếc nuối sau khi việc đã rồi, lúc đó anh đã mua vé nên không có đủ thời gian để giấu tiền. Khả năng cao là căn nhà trống ở Luân Đôn sẽ bị kẻ trộm ghé thăm.

Bác sĩ Abel vẫn đang mô tả cái chết của cô Vanessa.

“…Nó rất đột ngột. Trong một khoảnh khắc, toa tàu đầy những người ngã xuống và tự làm mình bị thương. Vanessa mất kiểm soát và hét lên. Cô ấy dường như đang phát bệnh. Tôi muốn cứu cô ấy, nhưng một chiếc bình hoa đã đập vào đầu cô ấy. Khi tôi đứng dậy lần nữa thì đã quá muộn. Cơ thể cô ấy bị bao bọc trong làn khói đỏ sẫm khủng khiếp, nó kéo cô ấy đi.”

Sau đó đồng hồ quay ngược, khung cảnh bên ngoài cửa sổ xe lửa thay đổi, đồ đạc bên trong bắt đầu được phục hồi, vết thương trên cơ thể mọi người cũng biến mất.

Chỉ có Vanessa biến mất.

Bác sĩ Abel buồn bã nói: “Có lẽ cô ấy đã chết rồi. Người chết không thể trở về.”

Thi thể cô vẫn ở nơi kỳ dị đó, nơi thời gian đứng yên, mãi mãi.

Abel nhìn màn đêm xa xa, nhìn dãy núi phủ tuyết ở cuối đường ray.

***

Xe lửa kéo còi dài, từ từ rời khỏi ga.

Giờ đây, cứ mỗi lần John nghe thấy tiếng nồi hơi rít lên, nghĩ đến việc than đá bị xúc vào lò hết lần này đến lần khác, anh lại cảm thấy khó chịu khắp người.

Anh xoa xoa cánh tay rồi quay trở lại toa hạng nhất, ngập ngừng bước đến cửa khoang số 7, gõ cửa.

“Thưa ông John Doe, hai vị khách ở khoang số 7 và số 8 nói rằng nếu ông đang tìm họ, thì họ ở trong thư viện.” Nhân viên phục vụ tàu hạ thấp giọng, nói với vẻ mặt đờ đẫn.

Thám tử: “…”

Đã tám giờ tối, toa xã giao lẽ ra phải đóng cửa, nhưng ai bảo hai vị kia có “đặc quyền” chứ. Lý trí của nhân viên phục vụ tàu chắc đã bị ảnh hưởng, làm anh ta nhầm lẫn thời gian.

John quyết định nhờ nhân viên phục vụ tàu mang cho mình một ly rượu whisky. Anh uống cạn trong một hớp, trả tiền boa rồi chậm rãi đi về phía toa xã giao.

John thận trọng gõ cửa.

Cánh cửa tự mở ra.

John nhắm nghiền mắt lại rồi bước vào, anh sợ sẽ thấy thứ gì đó mà mình không nên thấy nữa. Trí nhớ không gian tuyệt vời của John cho phép anh tránh thoát chướng ngại vật dễ dàng, đi đến giữa khoang, sau đó anh cẩn thận mở mắt ra.

Ừ, Johnson vẫn là Johnson, giống một quý ông người Anh. Gymir đeo một chiếc mặt nạ kín kẽ, nhưng John có thể mơ hồ cảm nhận được mái tóc dài màu đỏ đang phát sáng trong bóng tối.

Trên bàn trước mặt Gymir có một chiếc hộp, nó thủng lỗ chỗ như bị thứ gì đó ăn mòn, có màu đen.

“Đây chính là…”

John bất giác hạ thấp giọng, anh lo lắng khi nắp hộp mở ra, một đống tiền vàng sẽ nhảy ra ngoài.

“Sự việc của thần Mặt trời đã được giải quyết. Đừng lo lắng, những đồng vàng đã bị phá hủy, chiếc hộp đã được ta tạm thời sửa lại để đựng đồ.” Gymir nói.

John thở phào nhẹ nhõm, anh nhận ra hai người kia đang ngồi cùng một phía trên ghế sô pha.

John ngồi xuống ghế sô pha đối diện với vẻ mặt nghiêm túc: “Tôi có thể hỏi cô Vanessa đi đâu không?”

Johnson khẽ đáp: “Ý chí của cô ta quá thấp, cô ta liên tục bị ảnh hưởng bởi những đồng vàng xui xẻo, khi vận rủi biến hình và truy đuổi anh, sự ô nhiễm sức mạnh của tà thần đã biến cô ta thành một con quái vật… Ta đã ngăn cô ta lại, nếu không cô ta sẽ giết tất cả hành khách trên tàu.”

“Cô ấy chết rồi?”

“Với tư cách con người, Vanessa đã chết.” Gymir đưa ra một câu trả lời không rõ ràng.

John nghĩ đến những cô gái đã trở thành quyến thuộc của Bướm Xám. Họ tưởng như còn sống nhưng thực ra không còn sống. Anh cũng hiểu được đôi chút.

“Cái này dành cho ngươi.” Gymir phất tay, nắp hộp tự động mở ra.

Một viên ngọc sáng chói nằm bên trong.

Ánh sáng của nó rọi lên vách phòng, dập dờn như từng lớp sóng biển, và thật kỳ lạ, giữa những ngọn sóng lại thấp thoáng bóng dáng của một con tàu đang bồng bềnh.

John thất thần nhìn một phút rồi dứt khoát đóng nắp lại.

“Không được, tôi không thể nhận.”

Thứ thoạt nhìn giống như đồ trang sức quý hiếm, không tiện bán đi, mà nếu cất giữ bên mình sẽ gây ra nguy hiểm tiềm ẩn, lỡ ai đó trộm mất thì sao? Không chừng lại nảy sinh sự kiện Những đồng vàng xui xẻo thứ hai thì sao?

“Chỉ có những người có ý chí kiên định mới nhìn thấy được ánh sáng của nó. Trong mắt hầu hết mọi người, nó chỉ là một quả cầu thủy tinh bình thường. Con người sẽ tự động bỏ qua sự tồn tại của nó, không ai có thể đánh cắp nó, cho dù anh vô tình làm mất, nó cũng sẽ tự động quay lại với anh.” Lần này là Johnson lên tiếng, y nói với giọng điệu không cho phép từ chối: “Xem ra anh rất dễ gặp phải các sự kiện huyền bí, các tà thần khác sẽ không giống như chúng ta, khi anh cảm nhận được nguy hiểm thì đã quá muộn. Viên ngọc này có thể cứu mạng anh một lần.”

“Chỉ có một cơ hội thôi.” Gymir cảnh báo.

Johnson nói thêm: “Tốt nhất không nên thường xuyên mở hộp, giảm tiếp xúc. ”

Tay John hơi run lên. Có lẽ là hơi rượu whisky khiến anh cảm thấy lồng ngực nóng lên.

“Đây là thù lao phải không?”

“Anh cũng có thể coi đó là một món quà.”

John chân thành cảm ơn. Sau khi trải qua sự kiện chạy trốn trong xe lửa, John không bao giờ muốn lặp lại điều đó lần thứ hai trong đời.

Thám tử rất biết điều, đang định rời đi thì bị Gymir ngăn lại.

“Sau khi nhận được thù lao, ngươi cũng nên cung cấp một danh sách sách mới.”

John: “…”

Một khách hàng rất quyền lực mà anh không dám làm mất lòng yêu cầu cung cấp thêm dịch vụ ngoài lề, lẽ nào anh dám từ chối?

John gật đầu cam chịu, cầm bút lên, bật đèn trong thư viện và bắt đầu viết danh sách sách.

Khó quá đi mất. Anh đã liệt kê hết những cuốn tiểu thuyết lãng mạn mình từng đọc lần trước rồi.

John, một thám tử độc thân người Anh, trông giống như người thường đọc tiểu thuyết lãng mạn khi rảnh rỗi à?

Thám tử nhìn tờ giấy mà sầu não.

Venice, Venice… Phải rồi, có thể xem <i>Người lái buôn thành Venice</i> của Shakespeare! John phấn chấn trở lại, có rất nhiều tác phẩm của Shakespeare, ừm, cùng với một số vở kịch kinh điển nữa chứ.

Lúc này, John đã tràn đầy tự tin. Anh nhanh chóng viết xong danh sách sách.

“Ngài sẽ không thất vọng về trí tuệ và tình yêu của con người.”

Người nhận danh sách từ thám tử không phải là Gymir, mà là Johnson. Y dường như muốn kiểm tra nó.

John: “…”

Trong lòng thám tử tò mò, cơn say khiến anh không thể che giấu biểu cảm trên mặt một cách hoàn hảo.

“Ngươi muốn hỏi gì?” Gymir cười sau chiếc mặt nạ.

John lắc đầu để thoát khỏi ảnh hưởng của giọng nói đó, khó nhọc hỏi: “Các ngài thực sự không phải là đang đi hưởng tuần trăng mật à?”

——————–

<i>Tác giả nói thế này:</i>

<i>Nếu Sherlock Holmes là nền tảng của tiểu thuyết trinh thám thì nguồn gốc của siêu trộm là Arsène Lupin của nhà văn Pháp Maurice Leblanc được đăng nhiều kỳ vào năm 1905. Tên trộm này còn được gọi là Kẻ trộm quý ông, thích ăn trộm đồ trang sức, anh ta là người toàn năng (đôi khi xui xẻo), có tài hùng biện và lừa dối, giỏi cải trang, có nhiều thân phận ngụy trang, cấp dưới và vô số nguồn thông tin, rất giàu có, cực kỳ kiêu ngạo. Đôi khi anh ta gửi thư cảnh báo trước khi ăn trộm đồ, gây ồn ào lớn. Đôi khi anh ta trả thù thay người khác một cách âm thầm, những người nhận được ơn huệ thậm chí không biết rằng anh ta đã làm việc tốt đó.</i>

<i>Có những thám tử xuất sắc với nhiều phong cách khác nhau cùng thời với Sherlock Holmes, cũng như trong các thời đại sau đó. Còn Arsène Lupin về cơ bản đã ảnh hưởng đến hình ảnh của tất cả các siêu trộm, bất cứ ai là siêu trộm nổi tiếng đều ít nhiều có bóng dáng của Arsène Lupin.</i>

<i>Nghe nói sau khi nhân vật này trở nên nổi tiếng, do bối cảnh lịch sử người Pháp muốn cạnh tranh với người Anh trong lĩnh vực văn hóa, nhà văn Pháp Maurice Leblanc cũng đã viết câu chuyện về Arsène Lupin đấu trí với Sherlock Holmes, đó là sự sáng tạo có chủ ý … Ừm, thực sự là rất tệ. Nó đã gây ra một sự náo động vào thời điểm đó, cuộc tranh cãi vẫn tiếp tục cho đến ngày nay.</i>

<i>Xét về giá trị văn học và sự xuất sắc trong tác phẩm, Arsène Lupin với hình tượng tồn tại quá vô lý dẫn đến Bug trong cốt truyện, kém xa Sherlock Holmes.</i>

<i>Ngày nay, nếu lùi về trước 100 năm, vào khoảng năm 1920, đó là thời đại mà hai bộ tiểu thuyết đang được xuất bản cùng lúc, cốt truyện rất thú vị. Lúc đó, nhiều độc giả tin rằng họ có thật.</i>

<i>………</i>

<i>Trở lại chương này, John cho rằng vụ án xảy ra trên lãnh thổ nước Pháp, nghĩ đến siêu trộm, lại nói rằng lời giải thích này cũng không đến nỗi vô lý… Thực ra trong đó có sự giễu cợt trên lập trường của người Anh.</i>

<i>Scotland Yard, ám chỉ cảnh sát Luân Đôn, không liên quan gì đến Scotland. John dự định bán bất động sản ở Luân Đôn, nên mới nói rằng sẽ không bao giờ qua lại với Scotland Yard nữa.</i>

<i>(Tôi biết đây là thường thức của nhiều người, nhưng cũng có những độc giả chưa từng xem tiểu thuyết hay phim truyền hình có bối cảnh tương tự. Suy cho cùng, họ sẽ hơi khó hiểu khi lần đầu nghe đến thuật ngữ này.)</i>

<i>………</i>

<i>Thám tử cuối cùng cũng nhận được quà cho người mai mối (thật ra không phải). Hơi rượu bốc lên đầu, anh không khỏi thốt ra câu hỏi từ linh hồn: Hai vị đã đi đến bước nào rồi?</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 46


<b>Chương 46</b>

<b>Truy đuổi</b>

Ý thức của John trôi đi.

Vô số loại âm thanh kỳ lạ cứ quẩn quanh trong tai anh. Rắn độc rít lên, côn trùng gặm lá, ve sầu chật vật hút nhựa cây… Những âm thanh này được khuếch đại vô số lần, như thể chúng đang diễn ra bên trong cơ thể anh, cảm giác thật rùng rợn.

Sau đó, những âm thanh này càng lúc càng lớn. Hầu hết mọi người sẽ thức dậy vào lúc này, người đầy mồ hôi lạnh, co ro trong chăn và run rẩy vì sợ hãi.

John vẫn đang dần chìm xuống trong giấc mơ.

Những âm thanh khiến anh cảm thấy khó chịu tột độ đó chứa đầy ác ý không thể giải thích được, chúng điên cuồng lao tới, như thể muốn biến John thành một phần của chúng.

John đột nhiên cảm thấy một luồng ánh sáng xanh mờ nhạt phát ra từ cơ thể mình, anh vô thức muốn chạm vào viên ngọc.

Phụp.

Một bong bóng khổng lồ bao bọc lấy anh.

Những tiếng thì thầm kỳ lạ đó, nghe như ma cà rồng phơi mình dưới nắng rồi ngay lập tức biến thành làn khói đen, gào thét và thoát khỏi cơ thể John.

Thế giới hỗn loạn và đen tối này cũng được chiếu sáng.

John nhìn thấy những kiến trúc cổ xưa. Có những thành phố, đền thờ và kim tự tháp.

Bong bóng bay nhanh đến mức John không có cơ hội nhìn lại chúng lần thứ hai, vả lại vị trí của chúng ở quá xa, chỉ là một bóng dáng mờ ảo.

Không biết đã trôi qua bao lâu, dường như chỉ vài giây, mà lại dài như hàng thế kỷ. Tiếng sóng biển vỗ tràn vào tai John. Anh thấy mình ngâm mình trong biển. Nước biển trong xanh tựa như một viên ngọc quý, trong vắt tuyệt đẹp.

Thế nhưng John lại cảm thấy sợ hãi, vì anh không nổi trên mặt biển. Từ tầm nhìn của mình, anh thấy mình dường như đang nằm dưới đáy biển, không thể cử động.

Không có rạn san hô, không có đàn cá, chỉ có làn nước trong xanh.

Trống rỗng, chẳng có bất cứ thứ gì.

Tiếng sóng biển vẫn tiếp tục. Chúng nghe có vẻ đều đặn và dễ chịu, nhưng khi đập vào tai, chúng còn đáng sợ hơn những lời thì thầm ác ý vừa rồi. Với sự trống rỗng hàng nghìn năm không hề thay đổi, chúng có thể dễ dàng hủy diệt tinh thần và ý thức của một người.

John đang cố gắng giữ tỉnh táo, lúc này, bong bóng màu xanh nhạt lại rung lên.

Một cái bóng dài và hẹp xông vào thế giới trống rỗng này.

Đó là một con tàu.

Một con tàu ba cột buồm Tây Ban Nha cổ xưa đang đi trên mặt biển, bóng của nó soi thẳng xuống đáy biển.

Con tàu này trông quen mắt vô cùng, John thề rằng đó chính là con tàu ma anh nhìn thấy trong sương mù dày đặc vào ngày tàu Gió Tây bị nạn.

Câu hỏi đặt ra là tại sao con thuyền buồm đen kỳ quái, nát bươm và đáng sợ kia, từ góc độ đáy biển nhìn lên lại trông có vẻ nhẹ nhàng và nhanh nhẹn đến thế? Người nhìn không khỏi bị thu hút bởi nó, và còn vẽ những vòng cung trong lòng theo quỹ đạo luôn thay đổi của nó, ngắm nhìn nó khi chạy chán rồi sẽ tự động thu cánh buồm lại dưới ánh nắng gắt, thả mình trôi theo dòng nước.

Trôi rồi lại trôi… Đợi đã, con tàu đang vỡ vụn!

Con tàu đang thực sự vỡ tan ra, chỉ có điều tốc độ rất chậm chạp. Thân tàu như những cánh hoa nở rộ. Từng tấm ván được tháo xuống, mở ra nhưng không trôi đi. Cột buồm đổ xuống, boong thuyền cũng cong vẹo. Nó mất đi hình dạng lập thể hoàn chỉnh, trở thành một đống vật thể trôi nổi lộn xộn trên biển.

Sóng biển bỗng lớn hơn, như có người cố tình gây rối, sóng liên tục xô đẩy đống ván gỗ.

Vèo.

John kinh ngạc nhìn đống ván ngay lập tức phục hồi, ghép lại thành một chiếc thuyền buồm.

Thuyền buồm ba cột lắc lư, xoay tròn trên mặt biển như không hiểu chuyện gì vừa xảy ra.

Vì không tìm thấy gì, cánh buồm một lần nữa thu lại, tiếp tục trôi theo dòng nước. Và chẳng bao lâu nó lại vỡ ra, trở thành một đống vật thể trôi nổi trên biển.

John: “…”

Chợt hiểu tại sao con tàu ma lại đụng phải tàu Gió Tây. Nhìn bề ngoài, tà thần nào đó trông như một con tàu ma khủng khiếp, thủng lỗ chỗ khắp nơi, nhưng thực chất là đang ngủ say như chết mất rồi.

Đây là ý trung nhân mà thần Biển nhìn thấy trong giấc mơ?

Thám tử cảm giác như mình đang bị nuốt chửng bởi một cảm giác phi lý vô hạn.

<i>“Em ấy thích ván gỗ, gỗ sồi và gỗ tếch là tốt nhất, em ấy thích tự do nổi lên trên mặt biển tắm nắng, em ấy còn trẻ, không quá thích việc chìm xuống đáy biển, và ngủ ở rãnh sâu không có ánh sáng mặt trời… Em ấy quyến rũ, thanh lịch và mảnh mai, mỗi tấc trên cơ thể đều rất linh hoạt, và chạm vào sẽ rất mềm mại…”</i>

John lặng lẽ nhắm mắt lại, ngăn mình không nghĩ đến lời miêu tả của Gymir khi hắn đến gặp anh ở Luân Đôn để ủy thác tìm người (thần).

Một tiếng cá voi kêu thật dài vang đến từ đằng xa.

John ngạc nhiên ngẩng đầu lên và mở to mắt.

Mặt trời đã biến mất, mặt nước chuyển sang màu xanh thẫm mộng mơ, những giọt nước lấp lánh như sao.

Một con cá voi khổng lồ đang chậm rãi nổi lên từ dưới đáy biển. Nó có cặp vây rộng, như thể đang hỗ trợ nó bay vút lên trong lòng biển. Tấm lưng cong với những đốt sống khổng lồ nổi lên, đường cong rất duyên dáng. Nó to khủng khiếp nhưng lại không hề vụng về chút nào, chiếc đuôi mạnh mẽ tạo thành từng đợt cơn dồn dập.

Đầu và lưng của nó được bao phủ bởi vàng ròng sáng chói. Vàng ròng làm nền, vô số ngọc trai và đá quý được khảm bên trên. Những sợi dây chuyền đầy châu báu sáng loáng đung đưa trong sóng biển rồi rơi trở lại lưng cá voi. Số còn lại treo trên đầu thì rủ xuống hai bên khóe miệng khổng lồ, cùng những đường rãnh và đường gân dọc song song trên bề mặt cơ thể.

John không che mắt lại. Anh nghĩ mình sẽ bị đánh tan xác bởi cơn sóng biển đang ập tới.

Lúc này, bong bóng màu xanh bao quanh anh lại cuốn anh lên, nổi lên mặt biển cùng với con cá voi khổng lồ.

Cá voi khổng lồ dang rộng vây và nhảy lên không trung. Ánh trăng bạc phủ lên nó một màu sắc tuyệt vời.

Cá voi khổng lồ phát ra âm thanh du dương tuyệt đẹp, rồi bơi nhanh về phía vùng biển đằng trước. John chỉ kịp bắt được bóng dáng con thuyền buồm đen thấp thoáng.

John đang nhức đầu: “…”

Lẽ nào con cá voi khổng lồ này là hóa thân của thần Biển? Không thể nào lầm được, một vị vua dù giàu có đến đâu cũng sẽ không đeo cho cá voi nhiều châu báu lấp lánh như vậy.

John dám thề rằng viên kim cương lớn nhất kia còn lớn gấp mấy lần viên Koh-i-Noor* trên vương miện của vua nước Anh.

<i>* Có nghĩa là “Mountain of Light” (“Ngọn Núi của Ánh Sáng” theo ngôn ngữ người Ba Tư), là một viên kim cương nổi tiếng với trọng lượng ban đầu 793 carat (khi chưa cắt) kể từ khi được tìm thấy, cách đây 3000 năm TCN. Nó được dùng làm quà tặng cho Nữ vương Anh Victoria và được gắn lên vương miện hoàng gia. Sau khi Ấn Độ giành độc lập năm 1947, Koh-i-Noor đã là trung tâm của cuộc chiến giành quyền sở hữu giữa 4 bên: Anh, Ấn Độ, Pakistan và Afghanistan. Ấn Độ kiên quyết đòi Anh trao trả lại viên kim cương.</i>

Những món châu báu có trọng lượng và độ lớn quá mức này chỉ có thể nói là đồ trang trí trên người cá voi khổng lồ. Điều đáng ngạc nhiên là số vàng ròng kia. Chúng phát ra ánh sáng rực rỡ và nóng cháy, tựa như những ngôi sao, khiến người ta nghi ngờ rằng đây là bộ mặt thật của chúng, còn vàng trong tay con người chỉ là tro tàn sót lại.

Phải thật lâu sau, John mới hoàn hồn. Lúc này, con tàu ba cột buồm và cá voi khổng lồ đã biến mất. Dưới ánh mặt trời, mặt nước lại một lần nữa chuyển sang màu xanh trong veo.

John cố gắng thoát khỏi giấc mơ, anh véo mạnh vào mặt nhưng không thành công. Bong bóng vẫn còn bao quanh anh.

Vùng biển trống rỗng này…

Không, từ khi nào mà dưới đáy biển có thêm san hô vậy?

John cúi đầu, phát hiện nơi này đã từ một thế giới yên tĩnh trở nên sôi động náo nhiệt.

Tiếng kêu của cá voi lại vang lên, lần này là một đàn cá voi bình thường đang đuổi nhau. Một con cá voi bơi cực nhanh phía trước, theo sau là hơn chục con cá voi khác… “Cá voi dẫn đầu” ở phía trước không hề bị quấy rầy, những con khác đuổi theo, húc đầu vào nhau, dùng đuôi để vỗ nhau, những con bị hất ra phía sau vẫn không chịu từ bỏ.

Ban đầu John không hiểu ra sao, nhưng dần dần anh nhận ra rằng đây không phải là một trò đùa mà là một nghi lễ kỳ diệu.

Vì cuộc rượt đuổi này đã kết thúc. Con cá voi đã thành công “bắt kịp” con dẫn đầu hiện đang bơi vòng quanh con dẫn đầu. Sau đó chúng cùng nhau nổi lên, rồi chìm xuống. Chúng bắt đầu tiến lại gần nhau hơn, như thể đang cố tình giữ nguyên tốc độ và tư thế, trông như hai vũ công đầy sức sống.

Những cơn sóng vỗ lên cơ thể to lớn.

Chúng ngập ngừng xòe vây, chạm vào nhau. Cuối cùng, chúng đã đạt được sự ăn ý hoàn hảo, những chuyển động hoàn toàn đồng bộ đưa chúng lại gần nhau hơn mà không làm tổn thương nhau.

Khoảnh khắc tiếp theo, hai con cá voi cùng nhau chìm xuống, chìm xuống vùng biển sâu mà con người không thể nhìn thấy.





Bịch.

John lăn thẳng từ giường xuống sàn, tạo ra một tiếng động lớn.

Giường trên của anh trước kia là thư ký của chủ ngân hàng, nhưng bây giờ trống không, nên không làm bạn cùng khoang sợ hãi.

Cộc cộc.

Ngoài cửa khoang có tiếng gõ vội vàng, sau đó nhân viên phục vụ tàu lo lắng hỏi: “Ông John Doe, ông không sao chứ?”

John nhe răng xuýt xoa bò dậy, may mắn là anh đang nằm ở giường dưới, chăn vẫn còn quấn quanh người nên không bị ngã quá mạnh.

“Không sao đâu, do giường quá hẹp.” John nói qua loa. Anh mở rèm cửa ra thì thấy mặt trời bên ngoài đã lên rất cao, có lẽ đang là khoảng chín, mười giờ.

John vội mặc áo khoác vào, mở cửa cho nhân viên phục vụ tàu.

“Mọi người đều đã dậy, chỉ có ông là người duy nhất im lặng, tôi có hơi lo lắng.” Nhân viên phục vụ tàu ngầm nhắc nhở rằng họ sẽ đến Venice sau bốn giờ nữa.

“Tôi đã có một giấc mơ dài.” Đầu John vẫn còn hơi nặng nề, tiếng kêu dài của những sinh v*t t* l*n đó còn văng vẳng bên tai anh.

Anh chỉ nhớ mình đã uống rượu rồi đi đến toa xã giao tìm Gymir và Johnson, hỏi một câu tai hại chết người. Anh dường như đã mất ý thức! Làm thế nào mà anh quay trở lại khoang của mình được?

John gượng cười rồi đóng cửa khoang lại.

Có một chiếc hộp cổ lồi lõm lung tung trên chiếc bàn nhỏ cạnh giường.

Thám tử vội vàng mở ra.

Ánh sáng xanh như sóng biển tràn ngập không gian chật hẹp này.

Bộp.

John đóng ngay lại trong một giây, lo lắng ánh sáng phát ra từ cửa sổ và khe cửa sẽ bị người khác chú ý. Sau đó anh nhớ tới lời của Johnson, người bình thường không thể nhìn thấy loại ánh sáng này.

John thở phào nhẹ nhõm, ngồi ngơ ngác trên giường.

Không gian đầy những lời thì thầm đáng sợ đó có phải là giấc mơ của các vị thần?

Viên ngọc đưa anh nhanh chóng đi qua những giấc mơ xa xăm nhạt nhòa, cho đến khi đến với giấc mơ của thần Biển. Sau đó, anh nhìn thấy vùng biển trống trải, vắng lặng, con tàu ba cột buồm bất ngờ xông vào, cá voi khổng lồ khoác đầy những vàng ròng và châu báu… Cá voi khổng lồ đuổi theo con tàu ma và biến mất.

Trong nửa sau của giấc mơ, anh được cho xem cảnh một đàn cá voi đang tìm phối ngẫu?

Mí mắt thám tử giật giật, khóe miệng cũng giật giật.

Nhớ lại cuộc rượt đuổi của đàn cá voi, điệu nhảy của kẻ chiến thắng cuối cùng và bạn đời… Được rồi, anh đã hiểu.

John biết chuyện gì đang xảy ra trong giấc mơ ly kỳ đêm nay của mình rồi. Đây chính là câu trả lời của thần Biển, dành cho câu hỏi thám tử.

Thần Biển về bản chất không phải là con người, đã đọc tiểu thuyết lãng mạn của con người vì muốn tán tỉnh một người bạn đời theo cách của con người?

Không, đó là cùng nhau nhảy múa, mà là bắt chước động tác của ý trung nhân.

Cuộc rượt đuổi đã kết thúc từ lâu. Gymir không có đối thủ, hắn không cần thắng ai cả, chỉ cần đuổi kịp Johnson là được.

Sau đó là một quá trình bắt chước và đồng bộ lâu dài, trong bước này, cả hai bên phải thể hiện đủ sự ăn ý và thấu hiểu lẫn nhau. Đối với tà thần, có thể còn phải điều chỉnh bước sóng của sức mạnh và hòa nhịp hơi thở. Trong giai đoạn sau nữa, họ sẽ bắt đầu thử tiếp xúc với nhau.

Johnson và Gymir lang thang khắp các thành phố của con người, du lịch như con người. Nhìn thì có vẻ họ rất quan tâm đến con người nhưng thực ra họ chỉ mượn một địa điểm. Con người chỉ là vùng biển đó, là những con sóng tầm thường mà thôi.

Johnson sẽ không chủ động làm hại những sinh vật yếu ớt này, Gymir cũng vậy. Họ chỉ đang “chơi với nước”. Vừa chơi vừa duy trì sự ăn ý. Họ gia tăng tình cảm thông qua trò chơi này, trở nên thân thiết hơn bằng cách bắt chước chuyển động của nhau.

Đây là một nghi lễ cổ xưa, cũng là cách trực tiếp nhất để thể hiện “không gây hại cho đối phương”. Người được theo đuổi nhìn thấy sự kiên trì và nghị lực, còn người theo đuổi thể hiện sức mạnh và sự toàn năng của mình.

Đó là một trò chơi đầy niềm vui cho cả hai bên tham gia buổi lễ. Khi ngừng rượt đuổi nhau và bơi cùng nhau trong đại dương bao la, họ đã vô cùng thân thiết dù là nổi lên hay chìm xuống, siết chặt, va chạm với nhau, rồi tình yêu nảy sinh.

Bước cuối cùng sẽ diễn ra sâu dưới đáy biển, nơi không còn ánh sáng, trong một thế giới mà con người không thể chạm tới.

Cho nên…

“Đây không phải là tuần trăng mật, là một chuyến du lịch tình yêu!” John tự nhủ.

——————–

<i>Tác giả nói thế này: </i>

<i>Hóa thân của thần Biển đã đề cập trước đó, cá voi khổng lồ khoác đầy những vàng và châu báu, một bóng đen cao lớn không có khuôn mặt.</i>

<i>Cá voi xuất hiện trong chương này là một con cá voi lưng gù.</i>

<i>Bóng đen là một loại thủy quái trong thần thoại Bắc Âu, có hình dáng giống như một tên Giám Ngục** to lớn. Trong nhiều phiên bản, bóng đen trong áo choàng nó đột nhiên nổi lên từ biển, bao phủ con tàu… Còn cái tôi dùng thì cho rằng đó là cá đuối, một con siêu siêu lớn.</i>

<i>** Chính là con Giám Ngục trong Harry Potter đó quý vị.</i>

<i>Cá voi lưng gù, cá đuối đều là những loài chơi trò rượt đuổi khi tìm kiếm bạn tình, đuổi kịp rồi sẽ lao vào nhảy đôi →_→</i>

<i>Cách tán tỉnh này cũng xảy ra ở một số loài chim.</i>

<i>……</i>

<i>Gymir và Johnson lần đầu gặp nhau, Gymir đã thất bại vì dùng quy trình trực tiếp nhất của tà thần, nên quyết định chuyển sang phương thức này.</i>

<i>Đúng, những tà thần khác không làm như thế này.</i>

<i>……</i>

<i>Vậy giấc mơ của thám tử chính là câu trả lời của Gymir.</i>

<i>Đuổi theo √</i>

<i>Đ</i><i>ồng bộ√</i>

<i>Tiếp xúc √</i>

<i>Ở bước thứ ba, hơi thở và sức mạnh đang thử dung hòa (sức mạnh ổn định phong ấn trong viên ngọc là biểu tượng của sự thành công), còn biểu hiện bên ngoài là dây dưa hàng ngày, đồng thời tiếp tục nội dung bước thứ hai.</i>

<i>Bước thứ tư sẽ không bao giờ xảy ra ở thế giới loài người.</i>

<i>Không có chuyện đó đâu, hai tà thần mà gì gì đó thì cái xe lửa này còn tồn tại không?</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 47


<b>Chương 47</b>

<b>Tới ga</b>

Trong nhận thức của mọi người, thời gian trên xe lửa giống như bị một bàn tay vô hình bóp méo. Ngày đầu tiên trôi qua dài dằng dặc một cách kỳ lạ, thậm chí còn có án mạng, nhưng ngày thứ hai trôi qua nhanh đến mức nực cười, chỉ trong chớp mắt đã là buổi trưa.

Người phục vụ của toa ăn đưa thực đơn, theo lệ thường thì hôm nay là món Ý. Nguyên liệu tươi ngon, vừa được mang từ ga Milan của Ý đến.

Bá tước già đau đầu nên không đến, quản gia của ông ta đang yêu cầu đầu bếp nấu món súp kiểu Pháp. Quản gia hình như cả đêm không ngủ, quầng mắt thâm đen.

“Tàu tốc hành Phương Đông không thoải mái như những quyển bút ký du lịch của các nhà văn.” Một hành khách nhỏ giọng phàn nàn, ông ta gặp ác mộng cả đêm, rối tung lên đến mức sáng ngủ dậy không nhớ được nội dung gì, chỉ cảm thấy mệt mỏi.

Vài hành khách khác đồng ý, một số phản đối.

“Không, không, du lịch vào mùa hè khiến người ta thấy khó chịu hơn thì có.”

“Chính vì vụ giết chủ ngân hàng mà tôi không ngủ ngon được. Tôi sợ có người lẻn vào khoang lúc nửa đêm… hoặc là mai phục ngoài hành lang phòng vệ sinh và bắn tôi.”

“Ha ha ha, điều đó không thể xảy ra được! Anh chưa hề lừa dối một quý ông sang trọng, cũng không có khả năng vứt bỏ một cô gái trẻ đáng yêu, làm tan nát trái tim cô ấy. Kẻ thù của anh có nhiều khả năng thuê một tên côn đồ phục kích anh trong một con hẻm tối tăm hoặc một nhà kho ở bến tàu hôi hám hơn là tự mình làm điều đó. Dù thế nào đi nữa, giá vé Tàu tốc hành Phương Đông không phải là con số nhỏ!”

“Ồ, thưa phu nhân đáng kính. Nếu tôi mà có trí tuệ như bà thì tôi đã không phải lo lắng đến mức thức cả đêm đến tận rạng sáng mới phát hiện ra điều này!”

Bên cạnh đó, người đàn ông Ý luôn nịnh nọt quý phu nhân cũng không chịu thua kém, cố gắng tham gia vào cuộc trò chuyện. Họ hoàn toàn quên mất chuyện những đồng vàng và lời nguyền, thậm chí còn tưởng rằng đó là câu chuyện do tờ báo lá cải ở Anh bịa đặt ra.

“Đừng nói về những người Anh nữa… Có Chúa mới biết họ chán đến mức nào khi tin vào những điều như vậy.” Người đàn ông Ý khoa trương vung tay: “Có quá nhiều câu chuyện như thế này ở Venice cách đây hàng trăm năm, những xác ướp từ Ai Cập, mặt dây chuyền của những tù nhân bị hành quyết, ồ, có lẽ còn có những chiến lợi phẩm do quân Thập tự chinh từ Viễn Đông mang về? Người ta nói trên đó có lời nguyền của tín đồ dị giáo! Nhưng chúng chẳng có tác dụng gì, thưa phu nhân, có rất nhiều nhà thờ cổ ở Venice, Chúa đang theo dõi chúng ta.”

Anh ta thuần thục kể về các nhà thờ khác nhau ở Venice, đồng thời chân thành mời quý phu nhân đến nhà hát opera để thưởng thức những vở kịch cổ điển.

Johnson nghiêng đầu chăm chú lắng nghe.

Gymir đang nhìn vào đĩa của mình mà ngẩn người.

Đó là món mì Ý nấu với rượu trắng và bơ, ăn kèm với sò ốc. Sợi mì có màu đen tuyền, nĩa ăn cũng bị nhuộm đen. Ngoài ra còn có những xúc tu mực chiên nằm rải rác trên bề mặt, độ lửa vừa phải đấy, trắng mềm và hơi cháy, dường như còn có thể cựa quậy.

John vừa bước vào toa ăn: “…”

Một tà thần đeo mặt nạ bạc, lặng im nhìn đĩa mì Ý nhuộm màu đen của con mực.

Hình ảnh này có tác động rất lớn. Thám tử ho dữ dội, anh rất muốn biết ai đã giới thiệu món này cho Gymir.

Gymir ngẩng đầu lên.

John tìm một chỗ trống, yêu cầu người phục vụ trong toa ăn đem món mì ống với sốt húng quế lên. Đối với cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng, anh cố gắng hết sức để phớt lờ nó.

Đúng vậy, chỉ cần phớt lờ hai kẻ ngồi trên cái bàn đó như những hành khách khác trong toa hạng nhất, anh có thể dễ dàng tận hưởng khung cảnh tuyệt đẹp bên ngoài cửa sổ, cùng với một món Ý chính tông sắp được đặt trước mặt.

Thế giới này vẫn giống như trước đây, chỉ cần chấp nhận một nhiệm vụ với khoản thù lao hậu hĩnh là có thể vui vẻ đi du lịch vòng quanh thế giới, tận hưởng ánh nắng mà Luân Đôn không có.

Cuộc sống thật dễ chịu và tươi đẹp.

John đưa ra kết luận trong sổ tay của mình, nếu muốn tránh tiếp xúc với sự kiện huyền bí, điều quan trọng là phải giả vờ như không nhìn thấy.

Anh cần phải luôn quan sát phản ứng của những người xung quanh, đừng cư xử như một thám tử tinh tường, luôn phát hiện ra những chi tiết mà người khác không thể để ý… Hãy dùng khóe mắt để quan sát, giữ nguyên nét mặt, còn nếu không được thì học hỏi bác sĩ Abel, bịa ra cách giải thích khoa học.

“Ha.” Gymir khẽ cười. Hắn dễ dàng “nhìn thấy” những gì thám tử đang nguệch ngoạc trên sổ tay.

Con người luôn ngây thơ như vậy.

Trong thế giới chân thật xám xịt này, một viên ngọc trai thực sự nổi bật. Khi chưa tiếp xúc với tồn tại huyền bí, bề mặt viên ngọc như bị phủ một lớp bụi, có thể lẫn vào đá mà không thu hút sự chú ý của quyến thuộc của tà thần. Sau khi trải nghiệm tại thị trấn Đá Ngầm Đen, bụi bặm đã bị quét sạch, ánh sáng này sẽ tiếp tục hút sức mạnh huyền bí cho đến khi bị ô nhiễm và nuốt chửng.

Đây chính là nguyên nhân chính khiến tồn tại huyền bí không thể bị tiếp xúc. Ngay cả khi may mắn tránh được sự ô nhiễm sức mạnh của tà thần, “vận rủi” vẫn sẽ ập đến dồn dập.

Gymir vốn dĩ không quan tâm đến tính mạng con người, bởi vì cuộc đời một người quá ngắn ngủi, thực ra trong mắt tà thần, không có sự khác biệt giữa việc sống đến ba mươi tuổi và sống đến trăm tuổi. Cũng giống như con người hiếm khi vất vả đi giúp đỡ loài kiến, chỉ để giữ cho một con nào đó sống sót thêm vài phút nữa. Mặc dù vài phút này có thể quan trọng đối với kiến, nhưng lại chẳng đáng được nhắc đến trước mặt con người.

Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng thám tử là một con kiến may mắn. Anh đã “chứng kiến” mối quan hệ kỳ diệu giữa tà thần và tà thần.

Nếu thành phố của con người là một vùng biển nơi hai con quái vật khổng lồ của biển sâu rượt đuổi và bơi lội, thì một mảng bọt nước luôn là nhân chứng kia sẽ có ý nghĩa đặc biệt trong mắt quái thú khổng lồ, chúng hy vọng trước khi mình chìm xuống đáy biển, bọt nước không biến mất.

Tốt nhất là sau khi hoàn thành trọn vẹn nghi lễ cổ xưa này, nổi lên mặt nước trở lại, ngọn lửa sinh mệnh của John Doe mới dần tắt đi. Đây mới gọi là một minh chứng hoàn hảo.

Vậy thám tử cần sống được bao lâu?

Khoảng năm mươi năm?

Hay sáu mươi, bảy mươi năm?

Gymir không chắc chắn về thời gian cụ thể, dù sao thì cuộc đời của tà thần thì quá dài, còn đời người thì quá ngắn.

Thế là thám tử đã trở thành một con kiến mà việc “sống thêm vài phút nữa” có ý nghĩa vô cùng to lớn.

Tất nhiên, cái gọi là ý nghĩa chỉ là ý tưởng đơn phương của Gymir. Hắn phát hiện ra rằng con người thường gọi thứ này là lãng mạn, là một vật trang trí dùng để nâng tầm bầu không khí. Sau khi giải quyết được đồng vàng ngày hôm qua, Gymir đã đề cập ý tưởng này với Johnson.

Johnson: “…” Nghĩ kỹ lại, quả thực là một bầu không khí rất lãng mạn, nên y đồng ý ngay.

Và John Doe nhận được một món quà, một viên ngọc chứa đựng sức mạnh của hai tà thần. Quả thực nó có thể cứu mạng, nhưng năng lực quan trọng nhất của nó là che đậy ánh sáng của con người này, ngăn cản ý chí quá cao của John sẽ thu hút một vài thứ hỗn tạp đến ăn thịt anh.

“Con người vốn không nên nhìn vào thế giới chân thực. Sự thiếu hiểu biết là nền tảng để họ sống cuộc sống bình yên.”

Gymir nhìn mọi người trong toa tàu.

Johnson thản nhiên nói: “Bây giờ chúng ta đã cung cấp nền tảng này cho thám tử, em tin rằng anh ta là một người thông minh.” Chắc chắn sẽ sống đến vài thập kỷ nữa.

Johnson nhìn chăm chú vào viên ngọc trên người John. Đó là sự kết hợp hoàn hảo giữa hơi thở của y và sức mạnh của Gymir.

“Đêm qua viên ngọc đã bị giấc mộng tiêu hao, uy lực ngược lại còn tăng lên… Anh cho anh ta thấy cái gì trong mơ vậy?” Johnson nghi hoặc hỏi.

Giọng điệu của Gymir đột nhiên trở nên thất thường, như thể đang trốn tránh: “Không có gì đâu, em thấy hắn vẫn còn nguyên vẹn, là biết hắn đã không nhìn thấy những gì đáng lẽ không nên thấy.”

“Thật sao?”

Johnson không tin. Y nghi ngờ thần Biển đã gieo điều gì đó kỳ lạ vào giấc mơ của John. Trước đây Johnson không chắc chắn lắm, nhưng giờ y đã hiểu Gymir.

Thần Biển nhìn có vẻ lười biếng nhưng thực ra lại không hề yên phận chút nào, chỉ cần có cơ hội là Gymir có thể phát huy đến đỉnh cao… Theo cách nói của loài người, đây có thể là năng khiếu của một nghệ sĩ. Trên hành tinh này, Gymir là nhạc sĩ xuất sắc nhất trong số các tà thần.

“Ừ, có lẽ sẽ có một chút bất ngờ.” Thần Biển học theo cách con người làm, chống khuỷu tay lên mặt bàn và tựa cằm vào mu bàn tay xếp chồng lên nhau. Trông ngây thơ và vô hại.

Nếu hắn tháo mặt nạ ra, nhìn Johnson bằng đôi mắt vàng kim thuần khiết, đôi môi mỏng màu đỏ thẫm khẽ hé ra, thốt lên những lời vừa rồi với chất giọng tuyệt diệu, thì dù lời hắn nói có lố bịch đến đâu, Johnson cũng có thể tạm thời bị mê hoặc mà tin hắn.

Thật đáng tiếc khi có con người ở đây. Gymir phải tuân thủ luật chơi. Hắn không thể tháo mặt nạ của mình, làm ảnh hưởng đến lũ kiến ở đây.

Johnson nhắm mắt lại rồi mở ra, nếu như không tập thành thói quen trong hai năm qua, y thật sự không có cách nào chống lại sự cám dỗ này.

“Bất ngờ của anh có nghĩa là sử dụng con người để thông báo việc giữa anh và em?”

Johnson cảm thấy ngoại trừ loại khùng điên mất trí như thần Mặt trời Tonatiuh, không có tà thần nào khác thích chọc giận hai đồng loại cùng lúc, nhất là hai đồng loại có hơi thở hòa quyện hoàn hảo đến vậy. Một trong hai còn là thần cổ xưa.

“Đúng thế.”

Gymir nóng lòng muốn tuyên bố với tất cả đồng loại trên trái đất rằng hắn đã tìm thấy ý trung nhân, và rằng hắn có mối liên hệ thật sâu sắc với y, đã phát triển một sự ăn ý phi thường. Vì vậy, món quà trong tay thám tử nhất thiết phải tồn tại.

Bất cứ quyến thuộc của tà thần nào nhìn thấy viên ngọc này đều sẽ thốt ra lời thì thầm, kể lại điều cần được chú ý này. Có hai tà thần đã lập giao ước, có thể nảy sinh một mối quan hệ thân thiết hơn đồng minh. Những lời thì thầm của chúng sẽ được truyền đến chủ nhân thông qua liên kết sức mạnh, và thế là thông điệp sẽ bay vào cõi mộng của các tà thần. Dù là thần cổ xưa hay thần mới đều sẽ tiếp nhận thông điệp này một cách thụ động.

Khóe môi ẩn sau chiếc mặt nạ của Gymir nhếch lên.

Johnson: “…” Công bố tin mừng thì đáng để vui thế à? Rõ ràng chuyện này không liên quan gì đến đồng loại khác, nghệ sĩ quả thật rất thích phô trương.

Nghe tiếng còi dài của tàu hơi nước, ăn đồ ăn của con người và nhìn Gymir ngồi trước mặt, Johnson chợt nhận ra mọi thứ đang thay đổi. Trước kia y chỉ có thể một mình ngồi trong xe, nhìn phong cảnh xa xa, chứ không bao giờ thưởng thức tiếng còi gầm rú.

Lòng bàn tay của Gymir biến thành một cái bóng, cái bóng dần dần bao trùm lên đĩa ăn, nuốt chửng món ăn có màu sắc kỳ lạ.

“Khoan đã.”

Johnson cầm nĩa lên, cuốn đi phần mì Ý mực đen* còn sót lại trên đĩa: “Em rất tò mò về cách con người nấu loại thức ăn này, ý chí của họ rõ ràng rất mong manh.”

<i>* Tiếng Anh là Squid Ink Spaghetti, tiếng Ý: spaghetti al nero di seppia. Mực tươi mềm được nấu trong nước sốt có chứa mực của chính nó, làm tăng thêm hương vị của biển và màu đen đậm cho nước sốt. (Cái này là một web du lịch nào đó viết, chứ tìm hình cái món này trông đen đen hơi dị =.=)</i>

“Tại sao em không gọi món này cho chính mình, mà để đầu bếp con người ở đây nấu nó cho ta?” Gymir nghiêng đầu hỏi.

“Em nghĩ anh thích nó.” Johnson bình tĩnh trả lời.

Đáng tiếc sự dao động sức mạnh của y không nói lên điều đó. Gymir nhìn y thật sâu, nhìn thấy những dây leo cuộn tròn dưới lớp vỏ con người. Tất cả đã cuộn lại mất rồi.

Gymir nói với giọng nghiêm túc: “Ta quả thực rất thích.” Thích những xúc tu đen và mềm mại đó, tư thế duỗi thẳng và quấn vào nhau của chúng.

“Cảm ơn quý ông quý bà đã chọn Tàu tốc hành Phương Đông Simplon… Trong hai giờ nữa, chúng ta sẽ đến điểm dừng cuối cùng của chuyến đi, hòn ngọc nước Ý, Thành phố nước Venice.”

Nhân viên phục vụ tàu toa hạng nhất thay mặt Trưởng tàu Sanger thực hiện nhiệm vụ, anh ta ra lệnh cho người phục vụ toa ăn rót nửa ly sâm panh cho mỗi hành khách toa hạng nhất.

Mọi người mỉm cười và nâng ly, xem như là chào tạm biệt những người bạn đồng hành trên chặng đường ngắn này.

Gymir nhìn ly rượu trong suốt chứa đầy rượu màu vàng cam, ngón tay dài trắng trẻo nhẹ nhàng giữ đáy ly, nhấc nó lên như một con người.

Điểm khác biệt là Gymir chỉ nhìn vào Johnson.

Johnson cũng nâng ly rượu lên, vách ly thủy tinh mỏng manh nhẹ nhàng chạm vào nhau.

Đây là một hành động rất đơn giản đối với con người, không cần lo lắng về việc làm vỡ ly, cũng không cần lo lắng về việc dùng lực quá mạnh khiến rượu bắn tung tóe.

Còn hai “người” ngồi ở bàn này thì sao?

Sức mạnh vừa phải, hoàn hảo.

Họ nhìn nhau và mỉm cười, vì sự ăn ý của mình.

Venice, thành phố con người nằm gần biển nhất.

Con người sẽ dừng chân trước biển rộng, nhưng họ thì không.

Đây là điểm khởi đầu mới cho mối quan hệ của họ.

——————–

<i>Tác giả nói thế này: </i>

<i>Gợi ý: Sau khi cốt truyện Venice kết thúc, là đến lúc chìm xuống biển.</i>

<i>………</i>

<i>Bản chất của tà thần là tà ác và hỗn loạn, không có sức mạnh nào để “bảo vệ”.</i>

<i>Vậy nếu muốn bảo vệ tính mạng của thám tử thì phải làm thế nào?</i>

<i>Tất nhiên là đóng dấu [Đây là con người mà chúng ta muốn giết] [Chúng ta đã đặt trước mạng sống của con người này].</i>

<i>Những tà thần khác suy nghĩ, rút lui thôi.</i>

<i>……</i>

<i>[Hãy nhớ rằng, bất kỳ món quà nào cũng không miễn phí, bạn phải trả giá]</i>

<i>Nhiều năm sau, một học giả huyền bí học nói với John: Tà thần đưa cho ông thứ này có ý đồ xấu. Họ muốn giết ông. Mạng sống của ông đã thuộc về họ rồi.</i>

<i>John: Tôi sống tới 90 tuổi.</i>

<i>Học giả huyền bí học: Quà tặng nào cũng có cái giá của nó, con người không nên nhận bất cứ thứ gì từ tà thần.</i>

<i>John: Tôi sống tới 90 tuổi, tôi rất khỏe mạnh.</i>

<i>Học giả huyền bí học: …</i>

<i>Johnson (ngáp): Đặt hàng trước rồi vẫn có thể không đến lấy mà.</i>

<i>Gymir (ngáp): Còn hơi sớm.</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 48: Phần 4: Con Mắt Hoa Hồng Năm 1930, Venice


<b>Chương 48</b>

<b>Hải âu</b>

Venice, năm 1930.

Những mái nhà màu đỏ đẹp đẽ và ngay ngắn tỏa sáng lấp lánh trong ánh hoàng hôn, cửa sổ kính của các tòa nhà gần mặt nước được tô thêm một màu đỏ tươi.

Tiếng chuông của tháp nhà thờ Thánh Mark vang vọng, một con hải âu trắng xám lướt qua bầu trời thành phố.

Nó thuần thục tránh những ngọn tháp Gothic cao chót vót và những cây thánh giá thanh mảnh, nhẹ như một chiếc thuyền gondola (loại thuyền mũi nhọn độc đáo của Venice) di chuyển trên kênh đào của thành phố, đôi cánh xòe rộng ra cắt xuyên qua làn gió, những đám mây trôi lờ lững là những gợn sóng mà nó khuấy lên.

Một cú rẽ sắp đưa nó lao ra khỏi bến cảng, tiến thẳng đến biển Adriatic ở phía xa…

Pằng.

Lông vũ bay tán loạn, nhuốm màu đỏ thẫm.

Nước bắn tung tóe khắp nơi, xác con hải âu trôi nổi trên kênh đào.

Một người chèo thuyền ngạc nhiên ngẩng đầu lên, nhìn quanh quất. Hai bên kênh đào không có người qua lại, cũng không có bóng dáng khả nghi nào đang mang súng, vả lại ông ta cũng không nghe thấy tiếng súng nào, dường như con hải âu kia chỉ bất thình lình gãy cánh rơi xuống.

Người chèo thuyền không ngần ngại quá lâu, ông ta vội chèo thuyền tới chỗ xác chim hải âu, vui vẻ đưa tay vớt nó lên. Đây là một bữa thịt đấy nhé. Bình thường, những tên cướp biển này thích cướp cá đang phơi khô của người dân, giật bánh mì trên tay bọn trẻ, có muốn cũng khó bắt được chúng, bởi chúng bay quá nhanh và quá cao. Hôm nay mang con hải âu này về nhà nấu lên, coi như là xả cơn giận cho mình.

Mái chèo ngừng khuấy nước, người chèo thuyền hơi nghiêng về phía trước. Lòng bàn tay thô ráp nắm lấy đôi cánh của con hải âu một cách chính xác, nhấc nó lên khỏi mặt nước.

“Ủa?” Trọng lượng trên tay không đúng. Quá nhẹ.

Sau đó người chèo thuyền nhìn thấy một cảnh tượng vô cùng kỳ dị .

Con hải âu chỉ có một cái vỏ trống rỗng, như thể toàn bộ máu thịt đã nổ tung từ bên trong, xương cốt gãy vụn, miễn cưỡng dính lại với nhau bằng mớ lông vũ, trông như một cục rác bị nghiền nát.

Người chèo thuyền kêu lên một tiếng, kinh hoàng ném xác hải âu xuống nước.

Lúc này, ở phía xa xa vang lên tiếng kim loại va chạm kỳ lạ, ông ta vội vàng nhảy khỏi thuyền, bơi đến bậc thềm ven kênh của một ngôi nhà, dùng ván gỗ che giấu thân mình.

Chẳng mấy chốc, một nhóm người mặc áo choàng xám xuất hiện. Họ đeo những chiếc mặt nạ sắt kỳ lạ, đeo găng tay hiệp sĩ bằng kim loại với những đốt ngón tay màu bạc cũng kỳ lạ không kém, trông hệt như quân thập tự chinh trong các bức tranh tường thời Trung cổ, chỉ trừ việc họ không có áo giáp kim loại.

Bọn người áo choàng xám nhanh chóng phong tỏa khu vực nhỏ này, chặn cứng hai ngã tư đường duy nhất trên đất liền. Sau đó, bọn họ tìm được một chiếc thuyền nhỏ không biết từ đâu (ở đây trước cửa nhà nào cũng có thuyền), chèo ra giữa kênh đào, vớt xác hải âu bằng kìm sắt thật dài, nhét vào bao tải, tiếp đó lấy ra một chiếc lưới lớn, thả nó xuống nước vớt một lúc.

Người chèo thuyền nằm giữa đống ván gỗ, ngó ra từ khe hở để nhìn lén.

Bọn người áo choàng xám cẩn thận nhặt nhạnh hết những sợi lông vũ vương vãi khắp nơi, kể cả máu thịt. Bao tải không tiện để đựng máu, bọn họ phải dùng hũ sành.

“…Vừa rồi có người nghe thấy tiếng động, có thể có một nhân chứng đang trốn ở gần đây.”

Giọng nói của một tên áo choàng xám truyền rõ ràng vào tai người chèo thuyền, ông ta lập tức trở nên căng thẳng.

Người chèo thuyền biết những kẻ kỳ dị này. Họ là một giáo phái bí mật ở gần đó, dường như có hậu trường rất sâu xa nào đó, bởi vì ông ta từng chứng kiến người hàng xóm của mình bị bọn họ bắt đi, đi báo cảnh sát thì chỉ nhận được một lý do nực cười là bỏ trốn vì nợ nần. Kể từ ngày đó, người chèo thuyền bèn trốn tránh những kẻ này, ông ta nghi ngờ giáo phái này thờ cúng ma quỷ.

Người chèo thuyền lo lắng nhìn tên áo choàng xám cầm đầu – một người đàn ông cao lớn với mặt nạ sắt được vẽ những ký tự màu đỏ kỳ lạ – nhảy lên chiếc thuyền gondola của mình.

Tên cầm đầu cúi xuống xem xét đồ đạc trên thuyền, sau đó phát ra một tiếng cười khinh thường từ trong cổ họng. “Đó là một con chuột hèn mọn, hãy tìm ra nó.”

Người chèo thuyền giật thót, cố gắng thu mình vào trong. Âm thanh va chạm của kim loại vang lên trên đầu ông ta, lạch cạch lạch cạch, như thể chúng đang dẫm lên trái tim của ông.

bọn người áo choàng xám thô bạo hất tung vật che phủ trên những chiếc thuyền gần đó lên, dùng mái chèo khuấy nước, hoặc đập mạnh vào những kẽ hở giữa những cọc gỗ dưới các ngôi nhà.

Người chèo thuyền kinh hãi nhìn mái chèo càng lúc càng gần, vừa rồi suýt chút đã đập trúng người ông. Đang lúc ông ta chuẩn bị nín thở lặn xuống nước để trốn thoát thì đột nhiên có tiếng nói từ trên bờ truyền đến.

“Hoa hồng đang chảy máu.”

“…Để mặc con chuột đó, đi thôi.”

Cuộc tìm kiếm đột nhiên dừng lại, tiếng bước chân hỗn loạn dần dần đi xa.

Người chèo thuyền không dám ra ngay, đợi thêm mười phút nữa rồi nằm trên ván ngó ra ngoài để chắc chắn không có nguy hiểm rồi mới bơi ra.

Người đầy nước là nước, ông ta leo lên thuyền của mình trong bộ dạng nhếch nhác. Rõ ràng trời không lạnh nhưng người chèo thuyền cứ run lên từng đợt, ông ta gian nan chèo thuyền, một lòng muốn rời khỏi nơi này càng sớm càng tốt.

Mặt trời dần về tây, thủy triều mang theo những đợt sóng nhẹ, nhịp nhàng đập vào thân thuyền. Kênh đào rẽ vào một góc phía trước, rồi đột nhiên trở nên thông thoáng, nơi này không còn hẻo lánh nữa, khu vực gần bến tàu sẽ có rất nhiều người qua lại.

Người chèo thuyền rùng mình, vội chèo thuyền vào khu cảng, nơi có nhiều chiếc thuyền gondola tương tự đang đậu.

Những người chèo thuyền khác đang mời chào khách, họ ăn mặc tươm tất, ngóng trông về phía nhìn những hành khách bước xuống khỏi chiếc tàu du lịch lớn. Những ai có thể nói tiếng Pháp hoặc tiếng Anh trôi chảy chen lên phía trước, ra sức tự quảng cáo cho mình.

Mái tóc và bộ quần áo ướt đẫm khiến người chèo thuyền xui xẻo này không dám chen lên. Ông ta sợ người quen nhận ra mình, rồi lại hỏi vì sao lại rơi xuống nước, thế nên chỉ đành ngồi xổm trong một góc, định đợi gió biển hong khô quần áo cho mình, hoặc đợi mặt trời lặn hẳn. Người chèo thuyền sốt ruột vô cùng, lại thấy lạnh lẽo một cách khó hiểu, ông ta rụt đầu nhìn ngó xung quanh, cố gắng tìm một chỗ tránh gió.

Đột nhiên ông ta nhìn thấy hai người kỳ lạ.

Người bên trái trông giống một quý tộc đến từ nước Anh, một quý ông trẻ tuổi và đẹp trai, đường nét gương mặt y được ánh tà dương nhuộm lên một vầng hào quang vàng sẫm, đẹp hơn tất cả những tác phẩm điêu khắc bằng đá cẩm thạch do các nghệ sĩ hàng trăm năm trước để lại trong nhà thờ.

Người còn lại đeo một chiếc mặt nạ bạc tinh xảo, có mái tóc xoăn dài màu đỏ thẫm tuyệt đẹp, kết hợp với chiều cao cực kỳ bắt mắt, không còn nghi ngờ gì nữa, hắn hẳn phải là tâm điểm của đám đông.

Nhưng những người chèo thuyền đang mời gọi khách và những người bán hàng thủ công dường như không nhìn thấy họ, tất cả như một đàn cá đang bơi về phía thức ăn nhưng biết tránh né tàu thuyền, cứ tự động tránh hai người này ra.

Hai người họ cũng tận hưởng sự nhàn nhã khi không bị quấy rầy, hài lòng mãn nguyện hết đi rồi dừng dọc theo con đường trên cảng. Thỉnh thoảng lại chỉ vào tháp chuông và các tòa nhà ở phía xa, nghiêng đầu trò chuyện thân mật.

Người chèo thuyền vô tình bị thu hút bởi bóng dáng của họ, ông ta vươn cổ ra, hệt như một con thủy cầm ngộ nghĩnh. Chợt, người chèo thuyền gặp đôi mắt xanh lam của vị quý tộc nước Anh nọ. Chân ông ta mềm nhũn, và chẳng hiểu sao ông ta lại ngồi bệt xuống đất. Mặt người chèo thuyền xanh mét, các ngón tay tê cứng, ông ta sắp không thở nổi nữa.

Cộp. Cộp.

Đôi giày da bóng loáng đắt tiền bước đi trên nền gạch khảm đầy màu sắc của bến cảng. Tiếng động này dường như xuyên qua những âm thanh hối hả của con người, che phủ cả tiếng còi tàu hơi nước, trùng khớp một cách hoàn hảo với âm thanh phát ra từ tháp chuông nhà thờ.

Thứ vô hình đang trói chặt người chèo thuyền cũng theo đó vỡ tan, ông ta kinh hoàng bò dậy, nhìn người hoàn toàn không thấy rõ mặt mũi này.

“Thưa ông?”

“Thuyền của ông giá bao nhiêu một ngày?”

Đầu người chèo thuyền gục xuống, ông ta lắp bắp nói một con số.

Quý ông trẻ tuổi điển trai quay đầu lại, thì thầm gì đó với người bạn thân thiết của mình – ồ, không cần phải nghi ngờ, cứ nhìn vào khoảng cách xã giao gần như bằng không giữa họ là biết – sau đó gật đầu với ông ta, đưa ra mười đồng đồng lia* bạc.

<i>* Lia: Italia dùng đồng lira. Nhưng người Việt xưa thường gọi đồng lira là “lia”. Vì sao? “Lia” là phiên âm từ gốc tiếng Pháp “lire”, phiên bản tiếng Pháp của “lira” tiếng Italia. (Theo bài viết của trang Hán-Việt Thông Dụng trên Facebook)</i>

Là đồng bạc, không phải tiền giấy.

Người chèo thuyền vô thức chộp lấy đồng tiền. Đã quá muộn để hối hận, người chèo thuyền chỉ có thể nói vài tiếng Anh khô khan, rồi đưa hai vị khách lên chiếc thuyền gondola của mình.

“Thưa ông, hành lý của các ông…”

“Ồ, đã gửi đến khách sạn rồi, không cần ông giúp.”

Người chèo thuyền thề rằng ông đã nhìn thấy họ bước xuống tàu hơi nước, không có người hầu nào đến nhận lệnh của họ cả, công nhân vận chuyển hành lý ở cảng từ đầu đến cuối đều không nhìn thấy họ. Nghĩ tới cảnh tượng kỳ dị ở bến cảng, người chèo thuyền càng đổ nhiều mồ hôi lạnh hơn.

“…Thưa quý ông, đến quảng trường Thánh Mark chứ? Giờ này vẫn có thể kịp nghe cầu nguyện buổi chiều, rồi đến cầu Rialto, tôi đảm bảo quý vị sẽ không thất vọng với những hàng quán ở đó đâu.”

Người chèo thuyền cố gắng giữ bình tĩnh, ông ta quơ mái chèo, chiếc thuyền gondola đang chuẩn bị hướng về khu phố sầm uất theo hầu hết các thuyền phía trước.

Lúc này, người chèo thuyền chợt cảm thấy thuyền của mình xoay nửa vòng cung, hướng về đoạn kênh đào hẻo lánh mà ông ta vừa mới rời khỏi.

“Không, chờ đã!” Người chèo thuyền chỉ kịp hét lên một tiếng ngắn ngủi trước khi mất kiểm soát cơ thể. Ông ta kinh hoàng nhìn chính mình đang chèo thuyền đến nơi mà ông ta đã vớt được con hải âu trước đó.

Ánh hoàng hôn nhuộm cho làn nước một màu đỏ tươi chói mắt và ghê rợn, đó là điềm chẳng lành.

Những ngón tay trắng nõn thon thả vươn xuống nước cạnh mạn thuyền rồi nhanh chóng rút lại, sau đó người chèo thuyền nghe người đeo chiếc mặt nạ tinh xảo cất tiếng nói bằng một giọng tuyệt diệu khó tả: “Ở ngay đây… Thứ nhỏ bé không may đã chết đó. Có người đang sử dụng một vật thể nào đó để nhìn vào thế giới chân thực, thật không may, hôm nay khi hắn nhìn về hướng này, lại tình cờ gặp chúng ta, hắn không muốn chết, nên chỉ có thể vội vàng chuyển <i>tổn thương</i> cho một con chim biển bay ngang qua.”

“Một con chim biển, không đủ để gánh hết toàn bộ tổn thương, chắc là hắn đang đau đớn muốn chết.” Quý ông người Anh nhẹ nhàng điềm tĩnh nói ra những điều khủng khiếp.

“Ừ, là con chim biển chết chứ không phải người chèo thuyền đi ngang qua này, xem ra vật phẩm dùng để nhìn vào thế giới chân thực được đặt ở nơi cao…”

Hai người cùng đứng dậy, như muốn xác định độ cao của những tòa nhà gần đó.

Mái của các công trình công cộng ở Venice có màu trắng xám, hầu hết các ngôi nhà bình thường đều có màu đỏ, nên nhà thờ rất dễ thấy.

“Là ở đó sao?”

“Đặt cược vào tòa tháp bên phải, thế nào?”

“…Không thế nào cả, người chèo thuyền chúng ta thuê sắp chết rồi.”

Người chèo thuyền không thể ngẩng đầu lên, ý thức của ông ta đang mờ dần. Như thể rơi vào vực thẳm không đáy, ông ta gào thét yếu ớt, âm thanh phát ra không lớn hơn một con chuột. Da của ông ta phủ đầy thứ vảy kỳ lạ, thân hình trông như sắp mọc thêm cánh tay thứ ba, thứ tư, vai cũng đã biến dạng kỳ lạ.

“Ông ta chạm vào xác con chim biển, bị ô nhiễm mất rồi, vốn có thể sống thêm được vài ngày, nhưng cuối cùng ông ta lại đến bến cảng.” Johnson thở dài.

Nếu không gặp phải họ, người chèo thuyền chắc chắn sẽ biến thành một con quái vật mất lý trí trong vài ngày tới, rồi sẽ bị người ta bắn chết.

Giờ đây… ông ta tiếp xúc thêm nhiều sức mạnh huyền bí. Tuy rằng vẫn hóa thành quái vật, nhưng ít nhất sẽ không phải trở thành một đống bùn không ra hình dạng gì, nếu may mắn, ông ta có thể còn giữ được trí nhớ.

Sự ô nhiễm là không thể đảo ngược. Bởi vì thần không có cách nào loại bỏ mọi ô nhiễm mà vẫn đảm bảo “sự toàn vẹn của con người”.

“Ý chí của kẻ này quá thấp.” Gymir cau mày, chỉ vừa chạm vào thi thể mà đã chết à?

“Đừng so sánh với thám tử.”

“Thôi được.”

Gymir quay đi, nhìn về phía tòa tháp ở phía xa.

Thú vị biết bao.

Thành phố này không ngờ lại có một báu vật có thể đề phòng sức mạnh huyền bí, những con người đóng giữ ở đó sử dụng nó để quan sát tình hình xung quanh thành phố vào mỗi buổi tối sao?

“Chúng ta vừa mới tới Venice, còn chưa kịp dạo chơi… đã bị phát hiện?”
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 49


<b>Chương 49</b>

<b>Điều tra</b>

Quá trình biến dạng kết thúc nhanh chóng.

Một con quái vật gầy như que củi có bốn cánh tay, cái đầu dài và hẹp nằm phục trên thuyền. Nó có màng màu xám giữa các ngón tay, làn da trông như nham thạch màu xám đen, quần áo rách rưới treo trên người nó, âm thanh kỳ lạ vừa khàn vừa khó nghe phát ra từ cổ họng của nó, trộn lẫn với một vài từ ngữ của con người.

“Hải âu… giáo phái bí mật… bến cảng…” Con quái vật không còn tỉnh táo, chỉ lặp đi lặp lại những lời này.

Johnson nhìn thấy vài mẩu ký ức vụn vỡ “chảy” ra, trong đó có nhóm những kẻ lập dị mặc áo choàng xám, ăn mặc như kỵ sĩ mang áo giáp hạng nặng.

“Ông ta không thể giữ lại ký ức của con người.” Johnson nhắm mắt lại.

Để một kẻ bị ô nhiễm lang thang trong thành phố của con người, hậu quả thế nào là có thể lường trước được.

Gymir tháo mặt nạ bạc của mình ra, người chèo thuyền kinh hãi cuộn tròn dưới ánh mắt chăm chú của hắn, cuối cùng biến thành một tác phẩm điêu khắc bằng đá quái dị.

Nhìn từ phía trước chỉ có thể thấy được phần xương lưng gầy yếu nhô ra của người chèo thuyền, cũng như hai cánh tay đang ôm đầu. Hai cánh tay thừa ra còn lại rũ xuống hai bên cơ thể, trên đó mọc ra những chiếc gai xương khiến chúng trông như đôi cánh ác quỷ teo tóp, dù có một cảm giác kỳ dị tồn tại, nhưng cảm giác này càng làm sâu sắc thêm cái gọi là “sự chân thực”, khiến con người lầm tưởng rằng đó là kiệt tác của một nhà điêu khắc bậc thầy nào đó.

“Chúng ta hãy cùng thử xem cơ chế phòng thủ của thành phố này nhạy đến mức nào.”

Tượng đá xuất hiện trên nóc một tòa nhà ở phía xa, bề mặt đá thô ráp nhanh chóng hòa vào làm một với môi trường xung quanh, như thể nó đã có mặt ở đó từ lâu, trải qua hàng trăm năm phơi nắng phơi gió. Mặt trời chỉ vừa kịp quét qua bề mặt bức tượng, rồi chìm xuống dưới đường chân trời. Tượng đá đứng lặng lẽ trên mái nhà.

“Không có dao động năng lượng.” Johnson khẳng định.

Gymir lại đeo mặt nạ lên: “Món đồ để nhìn trộm thế giới chân thực đó có lẽ chỉ sử dụng được vào ban ngày.”

Sau đó, họ nhìn nhau, rồi không hẹn mà cùng hướng sự chú ý về tháp chuông phía xa. Vừa rồi giáo phái bí mật đã nhìn trộm Johnson và Gymir ở đó.

“Nếu họ đủ thông minh, thì giờ này sẽ không còn ai trên tháp chuông.” Johnson trầm ngâm.

Học giả huyền bí học thường đánh giá những gì mình gặp phải dựa trên “tình huống phản đòn”.

Tuy Gymir và Johnson sử dụng hóa thân để thu bớt sức mạnh lại, nhưng về bản chất họ vẫn là tà thần, dù con người dùng phương pháp nào để nhìn lén tà thần, họ cũng sẽ phải trả giá đắt. Nếu giáo phái bí mật đó thực sự nghiên cứu về “huyền bí học”, thì phải biết mức độ nghiêm trọng của sự việc. Không chạy, chẳng lẽ ngu ngốc ở đó chờ chết sao?

Mặc dù đây là một sự hiểu lầm, Johnson cũng không thể đi giải thích điều đó với con người. Giải thích rằng y đến đây không phải để phá hủy thành phố mà chỉ để vui chơi, cùng lắm là nghe opera và nếm thử thứ chất tạo mùi do con người pha chế. Thứ nhất, đối phương sẽ không tin, thứ hai, Johnson không kiên nhẫn như vậy. Suy cho cùng, chính giáo phái bí mật đó đã chủ động tìm đến cái chết, làm xáo trộn tâm trạng tốt đẹp của họ.

“Đây là tổ kiến. Chúng có đủ chỗ để ẩn náu.” Gymir chậm rãi nói. Hắn trầm ngâm nhìn vào đôi mắt xanh nhạt của Johnson.

Nhân tiện, họ có thiếu thứ gì không nhỉ? Một thám tử có thể lẻn vào giáo phái kia để điều tra và xác định cái gọi là báu vật đó là thứ gì? Quả nhiên con kiến có ích luôn khiến người ta phải nhớ nhung.

“John đâu?”

“Chạy rồi.” Johnson đáp.

Chạy rất nhanh, John gửi thư xin lỗi từ bưu điện của ga xe lửa, từ chối vụ ủy thác mà mà lẽ ra anh phải nhận ở Venice, đồng thời gửi kèm theo một tấm séc, đó có lẽ là tiền đặt cọc ủy thác mà thám tử nhận được từ trước.

John trả lại khoản tiền này, quay đầu mua ngay một tấm vé xe lửa. Anh không quan tâm đến chỗ ngồi tốt hay tệ, cũng không hỏi đích đến, anh chỉ muốn rời khỏi Venice và hai tà thần càng sớm càng tốt. Hết sức quyết đoán.

Tính ra bây giờ có lẽ John đã chạy xa hàng trăm cây số rồi.

Gymir im lặng một lúc rồi hỏi: “Venice còn có thám tử nào khác không?”

Sau khi thử cuộc sống nhàn nhã sai khiến kiến làm việc còn mình thì lo yêu đương trong khi chờ đợi kết quả, thần Biển vốn có bản tính lười biếng không thể không tìm kiếm giải pháp thay thế.

Johnson lắc đầu nói: “Có thì chắc chắn là có, nhưng nếu để dùng tạm, khó có thể tìm được thám tử có sức mạnh ý chí đủ cao.”

Johnson không muốn thêm một hàng tượng ác quỷ đủ loại lên nóc các tòa nhà ở Venice. Tà thần để lại dấu ấn “đã ghé thăm nơi này” theo cách này nghe có vẻ khá hoang đường.

“Vậy thì chúng ta tự mình đi kiểm tra?” Gymir thử đề nghị, hắn nhận thấy Johnson đang do dự.

“Mặc dù tất cả lũ kiến đã chạy trốn, nhưng trên tháp chuông nhất định vẫn còn có manh mối.” Gymir tiếp tục thuyết phục, hắn ghé sát tai Johnson, cố gắng động viên ý trung nhân của mình cùng bước vào một cuộc phiêu lưu lớn: “Tiểu thuyết trinh thám của con người đấy, em đã đọc nhiều rồi mà, có gì khó khăn đâu.”

Nhân vật chính trong tiểu thuyết cũng cần sử dụng khả năng suy diễn logic, tà thần như họ thì chỉ cần không bị mù, dùng mắt nhìn một cái thôi cũng có thể phát hiện ra rất nhiều bí mật.

“Cải trang thành con người để điều tra?” Johnson kinh ngạc hỏi.

Gymir ung dung trả lời: “Đúng vậy, đây cũng là một trò chơi con người rất thú vị, em không thích sao?”

“Em…” Johnson ngẩng đầu nhìn Gymir.

Không phải y phản đối, mà chỉ nhớ lại việc trước đó mình đã tìm kiếm trong thị trấn Đá Ngầm Đen suốt ba ngày vẫn không tìm thấy “vật tế mấu chốt” được giấu trong hầm nhà thị trưởng. Mãi cho đến khi John Doe tỉnh dậy sau giấc ngủ, Johnson mới biết được manh mối quan trọng đó bằng cách theo dõi thám tử. Nói ra cái trình độ điều tra này thật sự rất xấu hổ, nhưng đó là sự thật, bằng không thì Johnson đã chẳng mất đến vài thập kỷ để tìm kiếm mục sư Cornell, suýt chút nữa thì để lão sống yên bình cho đến cuối đời.

“Không sao đâu, chơi thôi mà!” Gymir tiếp tục dụ dỗ.

Thực ra, không tìm được cũng chẳng sao, việc nhìn lũ kiến trốn chạy khắp nơi trong sợ hãi vẫn có thể xem là một niềm vui. Mặc dù các thành phố của con người trông có vẻ khác nhau, nhưng về cơ bản chúng cũng tương tự nhau, cứ coi như một trò chơi mới! Với tiền đề là cố gắng không làm tổn hại đến tính mạng của loài kiến , đi điều tra một giáo phái bí mật.

Cảm nhận được cảm xúc của Gymir, Johnson cuối cùng cũng gật đầu đồng ý. Đã năm năm trôi qua từ ngày ở thị trấn Đá Ngầm Đen đến Venice, đúng như Gymir đã nói, y đã đọc nhiều tiểu thuyết của con người rồi, theo lý thuyết thì hẳn cũng nên có thêm chút khả năng điều tra?

“Thôi được.”

Johnson nói xong thì phát hiện ra Gymir còn vui mừng hơn trước.

Johnson: “…”

Vừa rồi còn lười biếng không muốn động đậy mà, sao mới nháy mắt đã có hứng thú với trò chơi thám tử quá vậy? Phải chăng tâm trạng của thần cổ xưa dễ thay đổi, hay sự ăn ý giữa y và Gymir chưa đủ? Sao không thể hiểu được thế này?

Gymir lặng lẽ mỉm cười sau chiếc mặt nạ.

Khi Johnson do dự, Gymir phát hiện ra mình cực kỳ muốn nhìn thấy dáng vẻ khó xử của y.

***

Dù không có người chèo, chiếc thuyền gondola vẫn nhẹ nhàng lướt về phía trước trong bóng đêm.

Venice không giống Luân Đôn. Ở đây có nhiều đèn điện tân tiến hơn, rất sáng và sẽ không nồng nặc thứ mùi gay mũi. Tuy nhiên, điều này đòi hỏi công nhân phải đi gạt từng cái cầu dao một. Do đó, đèn bật rất chậm, phải chờ hàng chục giây lại có thêm một cái đèn bật sáng, ánh sáng tập trung ở những phố tương đối thịnh vượng, hầu hết các kênh đào vẫn tối đen, chỉ có thể dựa theo những cây cầu có đèn đường ở xa xa, để lần lượt đi qua những cây cầu đá và cầu gỗ.

“Con người có thể nhảy qua mái nhà, leo lên tháp chuông đó không?” Gymir nghiêm túc hỏi.

Đi đường vòng cả nửa ngày trời, thần Biển phát hiện ra kênh đào ở Venice quá mức phức tạp, tưởng chừng như là con đường ngắn nhất, ai ngờ nó lại đột nhiên rẽ ngoặt, rồi càng đi càng xa tháp chuông hơn.

Cái gì, lên bờ đi bộ à?

Thành phố này được xây dựng bằng cách đóng những cọc gỗ khổng lồ dưới nước, rồi đặt những phiến đá và gạch trên những cọc gỗ đan xen dày đặc này. Đôi khi giữa hai ngôi nhà không có con hẻm nào, chỉ có dòng nước chảy qua.

Đường phố thường chỉ tồn tại ở một phía của dãy nhà, không thể đi vòng qua được. Chỉ có các quảng trường ở trung tâm thành phố cũng như các khu phố thương mại và bến cảng sầm uất mới có thể chứa được lượng lớn người qua lại. Nếu muốn đi đường tắt, chỉ có thể nhảy qua tấm ván gỗ trước cửa nhà, hoặc giẫm lên mái hiên để đi qua những ngã tư.

“Nếu đủ linh hoạt, có lẽ không thành vấn đề.” Johnson nhớ lại cuộc chạy trốn liều lĩnh của John trên Tàu tốc hành Phương Đông, xác nhận điều đó là đúng. “Nhưng quần áo của chúng ta không thích hợp.” Johnson nhìn xuống bộ trang phục của quý ông người Anh mà mình đang mặc.

“Thôi vậy, ta sẽ quan sát phương hướng từ dưới nước.” Cái bóng sau lưng Gymir chìm xuống nước như một tấm thảm mỏng.

Vùng nước tối tăm tựa như một khu rừng chết. Vô số cọc gỗ rậm rạp âm thầm nâng đỡ thành phố xinh đẹp như một kỳ tích này. Chúng hoàn toàn không tiếp xúc được với không khí, chỉ có thể ngước nhìn ánh nắng mỏng manh xuyên qua sóng nước, ánh nắng đã từng nuôi dưỡng chúng.

Nước biển làm cho những cọc gỗ này trở nên đen bóng và cứng chắc… Sau khi vượt qua giai đoạn ăn mòn ban đầu, chúng hầu như không thay đổi gì nữa, chỉ còn lại tầng tầng lớp lớp hải tảo và những loài động vật có vỏ rải rác bao phủ.

Một bóng đen khổng lồ bơi trong nước, khi nó cố gắng tìm đường đi… Những cọc gỗ im lặng đó đột nhiên thức tỉnh, sò và tảo thi nhau rơi xuống, những ngôi nhà bắt đầu rung chuyển. Người trên mặt nước hét lên kinh hãi.

Cái bóng rời khỏi đáy nước với tốc độ cực nhanh, nhảy trở lại cơ thể Gymir dọc theo đuôi thuyền gondola.

Gymir mở mắt ra. Cái bóng vừa bị tách ra tương đương với một phần của hắn, nhưng không có riêng.

“Ta phát hiện ra một điều thú vị.” Gymir nhìn quanh những ngôi nhà đang rung chuyển.

“Dưới nước có cái gì à?” Johnson cúi đầu nhìn xuống.

“Nền móng của thành phố này là một khu rừng… Đã từng là một khu rừng rất rộng lớn, tràn đầy sức sống, hay nói cách khác là có nhiều hơn một khu rừng. Tất cả đều là gỗ có tuổi đời hàng chục đến hàng trăm năm tuổi, những loại cây này dù có bị chặt ngã, mất đi bộ rễ thì thân cây vẫn giữ được sức sống còn sót lại.”

Sau đó chúng được chuyển đến đây.

Chìm xuống biển.

Vào điểm cuối của cuộc đời và ở thế giới bên kia dài đằng đẵng, chúng không thể chạm tới ánh nắng trên mặt nước.

Còn phải dùng thi hài của mình để chống đỡ những tảng đá nặng nề, để cho kẻ thù truyền kiếp đã giết hại và tra tấn chúng – con người – sinh sống và bước đi trên chúng.

“Ta đã nhìn thấy nhiều tổ kiến, nhưng không nhiều cái giống như Venice.”

Trong mắt tà thần, bất cứ thứ gì cũng có thể dùng làm vật liệu xây tổ, kể cả cây cối, xác động vật thật và xác người. Tà thần không quan tâm, thậm chí còn thích thú, nhưng con người còn sáng tạo hơn tà thần, thế này có thực sự hợp lý không?

“Tại sao con người luôn vô thức sử dụng những phương pháp tàn ác nhất để giết hại đồng loại và các sinh mạng khác, sau đó xử lý thi hài của chúng một cách đầy sáng tạo, để cho những lời nguyền rủa và than khóc văng vẳng bên tai, say ngủ ngay bên cạnh gối của mình?”

Gymir không thể hiểu nổi. Hắn tận mắt chứng kiến nước biển bị nhuộm đỏ bởi xác cá voi. Hắn chắc chắn rằng con người không thể tận hưởng được tiếng r*n r* đau đớn tuyệt vời của than đang cháy, họ cũng không thể ưa thích tiếng vang của lời nguyền xuyên suốt cả khu rừng chết chóc này.

“…Cái này à, em nghĩ đây có thể là lý do khiến giáo phái bí mật kia phải đóng quân ở Venice, cảnh giác và đề phòng sức mạnh huyền bí?” Johnson ngập ngừng nói.

Xét cho cùng, con người sống ở đây không khác gì sống trong miệng núi lửa.

Nếu có một tà thần nào đó, hoặc một vài quyến thuộc của tà thần đến gây rối, thì sẽ có nguy cơ thức tỉnh “khu rừng chết chóc”.

——————–

<i>Tác giả nói thế này:</i>

<i>John: Thực lòng mà nói, với tư cách là một người Anh, lần đầu tiên đến Venice, tôi không cảm nhận được ánh mặt trời tươi đẹp, mà là một cảm giác sợ hãi, không rét mà run, tôi lập tức chọn cách bỏ chạy. Tôi có cảm giác như thành phố này được xây dựng trên một vực thẳm, dù tôi không biết tại sao…</i>

<i>………</i>

<i>Câu hỏi của Gymir là từ góc nhìn của tà thần chứ không phải của tác giả. Venice là một thành phố xinh đẹp với những kỳ quan kiến trúc, khu rừng dưới nước, những tảng đá trên mặt nước.</i>

<i>………</i>

<i>Gymir: Ta có thể đi trên mái nhà không, như thế nhanh hơn.</i>

<i>Johnson: Chắc là có thể, John cũng giẫm lên tường chạy vài bước.</i>

<i>Thám tử: Xin cảm ơn, đó là trong tình huống sống còn, bình thường thì tôi không thể!</i>

<i>Tác giả: Hãy đợi thêm tám mươi năm nữa, quý vị có thể chạy theo bản đồ trong game, như vậy sẽ không bị lạc. Vấn đề là trong game có thể đi trên mái nhà.</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 50


<b>Chương 50</b>

<b>Tháp chuông bốc cháy</b>

Cơn chấn động kéo dài khoảng mười phút, tiếng thì thầm của khu rừng dưới nước mới dần biến mất.

Màn đêm yên bình ban đầu đã hoàn toàn bị phá vỡ, người dân hoảng loạn chạy ra khỏi nhà, chèo thuyền với hy vọng thoát ra được vùng nước thoáng hơn. Tiếng trẻ con khóc, tiếng la hét hoảng loạn, tiếng mái chèo vỗ lên mặt nước và tiếng thuyền bè va vào nhau…

“Chắc chắn là động đất, có thể sẽ có sóng thần!”

Venice là một thành phố được xây dựng trên một đầm phá ven biển, nó không có tường thành, nước biển chính là bức tường thành của nó.

Có một vòng đê chắn sóng bên ngoài thành phố, để tránh tác động của sóng biển và thủy triều lên xuống đối với thành phố. Ở đó cũng có một ngọn hải đăng, lúc này ánh đèn đang nhấp nháy… Có người đang dùng gương phản quang để gửi tín hiệu.

“Nguy hiểm, tránh né, cảnh giác…” Johnson nhìn chằm chằm vào ngọn hải đăng phía xa, thì thầm đọc lại ý nghĩa của tín hiệu.

Gymir tò mò hỏi: “Em hiểu à?”

“Tín hiệu hàng hải của con người là thứ thông dụng.”

“Kiến thức cần thiết để ngụy trang thành con tàu ma hù dọa con người?”

“… Và cả cờ hiệu.”

Johnson không có cách nào thắp đèn tín hiệu trên con tàu ma, y chỉ có thể giật một mảnh vải mục nát để giả làm lá cờ. Nhưng việc đọc hiểu con thuyền bên kia hay ngọn hải đăng đằng xa đang nói gì cũng rất quan trọng, hù dọa con người cái quái gì chứ, y thường không làm những trò trẻ con như vậy!

“Em không thích hù dọa con người.” Johnson không thể không đính chính, y nghiêm túc nói: “Thông thường con người nhìn thấy em khi họ đụng vào em trong một cơn bão, hoặc khi con tàu của họ gặp nạn, và họ sắp chết vì thiếu nước hoặc thức ăn.”

Gymir xòe tay: “Nhưng xét về mặt kết quả thì không có gì khác biệt cả.”

Johnson: “…”

“Người dân Venice có hiểu ý nghĩa của tín hiệu trên ngọn hải đăng không?” Gymir nhìn những con người vội vã chạy trốn bên cạnh thuyền, cùng với những chiếc đèn bão đung đưa trên tay họ.

“Không, họ chỉ đang sợ thôi, rất ít người ngẩng đầu lên nhìn ngọn hải đăng.”

Nếu chịu nhìn, họ sẽ biết hiện tại mối nguy hiểm do cơn chấn động gây ra đã qua đi.

Kênh đào được vô số ngọn đèn bão soi sáng, đồng thời, vẻ mặt bồn chồn sợ hãi của con người cũng được soi sáng. Lúc họ mới rời khỏi cửa nhà, kênh đào không quá tắc nghẽn, nhưng chèo thuyền đi mãi, họ lại bị mắc kẹt trong đám đông thuyền. Lúc này, nếu ai đó đủ linh hoạt và nhanh nhẹn thì có thể nhảy qua nhảy lại giữa các con thuyền mà không lo bị rơi xuống nước.

Gymir đợi rất lâu mà vẫn không tìm được người như vậy. Hắn thở dài thất vọng, tạm thời không đợi được con kiến xuất sắc thứ hai rồi.

Johnson cảm thấy rằng nếu đây là một nhiệm vụ điều tra, vậy thì họ đã làm hỏng việc ngay từ đầu, ít nhất một nửa thành phố đã bị đánh động. Nghĩ đến đây, Johnson vô thức thốt ra.

“Vậy thì đã sao nào? Chẳng phải giáo phái bí mật đó đã biết chúng ta tới rồi sao?” Gymir ngạc nhiên hỏi.

Khu rừng chết chóc chấn động hẳn là điều mà học giả huyền bí học đã lường trước nhỉ! Tà thần mà, luôn gây ra hiện tượng lạ!

Johnson ngây ra, nhận ra rằng thực sự đúng là như vậy.

“A, tháp chuông kìa.” Gymir chỉ về phía trước, nói.

Lạc đường trên kênh đào ở Venice có gì đáng sợ đâu? Cứ đi theo những chiếc thuyền khác, chen chen lấn lấn rồi cũng sẽ đến đích. Không muốn đi cũng không được ấy chứ.

Johnson bước lên chiếc thuyền gondola bên cạnh, nhanh chóng lên bờ. Hết cách, thuyền của họ đang ở giữa kênh đào, không thể vào gần bờ được.

Đường phố nối với một quảng trường nhỏ, tháp chuông không quá cao, nó là một công trình tiêu chuẩn cạnh nhà thờ. Nhà thờ rất cũ, không có cửa sổ vòm nhọn kiểu Gothic, hay mái vòm tròn kiểu Byzantine, nó giống một bức tường xám cũ kỹ hơn, nếu không có cây thánh giá là tiêu chí của nhà thờ, tòa nhà chìm trong màn đêm này sẽ không thu hút được sự chú ý của người khác.

Gymir chú ý tới vị trí ánh nhìn của Johnson.

“Đi xem tháp chuông trước.”

Johnson không phản đối. Vì y “thấy được” cả hai tòa nhà đều không có ai, trống rỗng hoàn toàn, nên thứ tự trước sau không quan trọng.

Bốn mặt tháp chuông được bao quanh bởi đá và gạch, cánh cửa duy nhất bị khóa. Chiếc khóa rất nặng, thoạt nhìn không quá bắt mắt, sau khi tháo vỏ ngoài bằng sắt ra mới thấy bên trong có những bánh răng và dây xích phức tạp.

Johnson “cảm nhận” thử độ dài của sợi xích, nhận thấy chúng đi sâu vào tường, kéo thêm nhiều bánh răng khác nữa, tuy rằng y không hiểu được tác dụng của những thứ này, nhưng có thể đoán được.

“Có bẫy.”

Nếu không có chìa khóa đặc biệt để mở khóa, sau khi cửa tháp chuông bị phá bằng bạo lực, cơ chế bẫy bên trong sẽ được kích hoạt.

Gymir khựng lại, quay đầu nhìn Johnson. Ý định của hắn rất rõ ràng, là muốn chơi trò gì hưng phấn hơn, trải nghiệm thử bẫy của con người? Hay là khiêm nhường hơn, không kích hoạt bẫy của con người?

Johnson vươn tay nắm lấy ổ khóa cửa.

Những sợi dây leo màu đen mọc ra từ các khớp và đầu ngón tay, dễ dàng đẩy tất cả lò xo kim loại bên trong chiếc ổ khóa cơ học phức tạp này.

Rắc.

Khóa mở.

Johnson nhìn Gymir, giải thích: “Con người rất giỏi mở khóa, em chắc chắn.”

Vì vậy, đây không phải là thất bại trong việc ngụy trang làm con người.

Gymir chấp nhận cách nói này này: “Không nên kích hoạt cái bẫy này cũng tốt, để không làm hỏng dấu vết do giáo phái để lại khi rút lui.”

Johnson: “…” Những từ vựng này đều học từ tiểu thuyết trinh thám không?

Dù sao đi nữa, họ đã vào được tháp chuông một cách suôn sẻ.

Một cầu thang xoắn ốc cổ xưa bằng đá dẫn lên mái nhà. Giữa tháp chuông là nơi ẩn giấu bẫy, trông nó như một cây cột tròn khổng lồ.

Khi Johnson bước lên bậc đầu tiên, chân y hơi lún xuống, đồng thời y nghe thấy tiếng vô số bánh răng chuyển động nhẹ nhàng. Cả tòa tháp chuông dường như bỗng “sống” dậy. Đây là âm thanh do máy móc phát ra, cũng có thể hiểu là ánh mắt nhìn lom lom vào kẻ đột nhập, và những lời thì thầm đầy ác ý.

Khóe miệng ẩn sau chiếc mặt nạ của Gymir nhếch lên.

Johnson không còn gì để nói.

Sơ ý quá. Ngoài khóa cửa còn có thiết bị kích hoạt ở bậc thang đầu tiên? Tại sao con người lại có nhiều cạm bẫy đến thế?

“Còn đi lên không?” Gymir hỏi.

Johnson không chút do dự đáp: “Đương nhiên.” Đã tới trước cửa rồi, lẽ nào còn quay lại?

Tiếng bước chân của cả hai bắt đầu vang lên trong tháp chuông, cùng với tiếng máy khởi động liên tục.

Những mũi tên sắt nhọn hoắt được b*n r* từ lò xo máy. Lực bắn rất mạnh, nếu là con người, có lẽ sẽ bị mũi tên ghim thẳng vào tường. Dây leo màu đen bắt được một mũi tên nhọn, rồi bắt lấy chiếc mũ bị rơi khi Johnson tránh mũi tên.

Bậc thang đột nhiên lộn ngược mười bậc liên tiếp, lộ ra một cái hố đen sâu hoắm cùng hàng loạt lưỡi đao dựng đứng như gai. Gymir trực tiếp biến thành một cái bóng xám, lơ lửng giữa không trung.

Vô số dây leo khác nhe nanh múa vuốt lấp đầy không gian chật hẹp của cầu thang, cái thì nắm lấy những viên gạch nhô ra, cái lại tức giận chặn lỗ bẫy b*n r* mũi tên, cái khác dứt khoát duỗi ra siết lấy bánh răng đang quay.

Bóng đen cuộn lại thành một đường viền, chọc chọc vào quả cầu dây leo đang phát triển điên cuồng như xù lông lên, nhắc nhở: “Chúng ta đã nói là giả làm con người mà.”

Quả cầu dây leo cứng đờ, rồi phát ra giọng nói trầm trầm: “…Dù sao cũng không có ai ở đây cả.”

Chỉ cần kết quả là “thành công lên đến đỉnh tháp chuông” là được rồi, dùng phương pháp nào cũng chẳng quan trọng!

Dưới sự oanh tạc liên tục của nhiều loại bẫy khác nhau, Johnson đã hoàn toàn mất đi hình dạng con người. Dây leo bảo vệ phần lõi, trông như một quả cầu gai đang lăn… miễn là bỏ qua những xúc tu đen trải dài ra bốn phương tám hướng.

Mỗi đoạn xúc tu có thể cuộn tròn linh hoạt, mỗi đoạn đều có ngạnh như dây leo, ở các đoạn chia tách ra còn có răng xoắn ốc có thể dễ dàng cắn vỡ mọi kim loại cứng rắn. Các bánh răng trong phòng máy trung tâm của tháp chuông đã bị phá hủy hoàn toàn theo cách này. Công việc này không khó, không cần phải thành thạo về cơ khí, chỉ cần cách một đoạn thì cắn một miếng, miễn là các bánh răng không còn truyền động cho nhau thì không thể thực hiện được các thao tác cơ học phức tạp nữa.

Âm thanh hoạt động của bẫy trong tháp chuông ngày càng nhỏ hơn. Bóng đen vẫn bất động, dán sát trên quả cầu dây leo, cùng nhau “nhích” về phía trước.

Gymir muốn khen ngợi Johnson, nhưng hắn cảm thấy tâm tình của Johnson không có chút kiêu ngạo nào, chỉ có tức giận, cho nên Gymir lựa chọn yên lặng nằm yên đó.

Phụt!

Ngọn lửa chợt bùng lên ở hai bên cầu thang kéo dài đến đỉnh tháp. Ngọn lửa nhảy múa trên khay đá, màu sắc rất kỳ quái, không thể phân biệt được nhiên liệu là gì.

“Đây hình như không phải là một cái bẫy… Không, sau khi bẫy bị phá hủy, khe hở phía trên khay sẽ tự động mở ra.”

Trong khi quả cầu dây leo đang chăm chú nghiên cứu thì cái bóng xám đột nhiên nở ra, “nuốt chửng” khay lửa gần nhất. Bóng đen từ từ lùi lại, ngọn lửa trên mâm chẳng mấy chốc lại bùng lên. Một mùi gay mũi lan tràn trong không khí.

“Hình như là phốt pho trắng.”

Nếu chất này dính vào động vật và con người, nó sẽ đốt cháy xuyên qua da thịt, cho đến khi xương cháy thành than.

Gymir vừa dứt lời đã nhìn thấy các khay đồng loạt nghiêng đi, ngọn lửa trộn lẫn với chất bên trong cùng “chảy” ra ngoài.

Cùng lúc đó, các khay phía trên bắt đầu lần lượt nổ tung. Lửa, nhiên liệu lỏng khả nghi phun ra khắp nơi. Trong đêm, tòa tháp chuông biến thành một ngọn đuốc khổng lồ, cháy sáng hừng hực.

Johnson: “…”

Gymir: “…”

Có vẻ như không thể lên tới đỉnh tháp rồi. Trong tình huống này, cho dù có lên đến đỉnh tháp cũng sẽ không còn tìm thấy bất kỳ dấu vết nào! Chứ đừng nói tới việc phân tích nguồn gốc, nhân số, nơi ẩn náu mới của giáo phái bí mật này!

Dây leo đen đều rút lại, đánh bay những đốm lửa tung tóe. Johnson không sợ lửa phốt pho, nhiệt độ này còn chưa đủ nóng để đốt cháy cơ thể y, vả lại trong cơ thể y hoàn toàn không có protein.

Tuy nhiên đòn tấn công này lại có tác dụng rất tốt đối với quyến thuộc của tà thần. Cơ thể của những con quái vật bị ô nhiễm đó về cơ bản vẫn được cấu tạo từ máu thịt bình thường, chẳng qua là máu thịt đã bị đột biến, nhiễm phải sức mạnh huyền bí. Những ngọn lửa thế này đã đủ khiến chúng phải rú lên đau đớn, thậm chí thiêu chúng thành tro bụi.

“Người của giáo phái bí mật có thể đang nhìn vào nơi này.” Gymir phân tích.

Không chừng bọn họ còn đang mong đợi tháp chuông sụp đổ, và một con quái vật đáng sợ xuất hiện từ trong ngọn lửa. Một con quái vật có thể bị con người làm hại thì sẽ không quá đáng sợ!

Thế là Gymir và Johnson lại bắt đầu đứng trước hai sự lựa chọn, có nên giả vờ bị thương bởi ngọn lửa rồi chạy ra khỏi tháp chuông, chờ giáo phái bí mật tự dâng mình đến cửa không? Hay là nên tận hưởng dịch vụ mát-xa ấm áp bất ngờ trong tháp chuông đang bốc cháy, khiến các thành viên giáo phái kia phải vừa kinh hãi vừa nghi ngờ, lại không thể tìm ra sự thật nhỉ?

“Ta có cách này!” Gymir nảy ra một ý tưởng.

***

Venice dưới sắc trời đêm.

Phía trước cửa sổ kính hình vòm bên trong một nhà thờ nào đó, nơi vừa hay có thể nhìn thấy tháp chuông đang cháy như ngọn đuốc ở phía xa.

Mấy người mặc áo choàng xám khiêng một chiếc rương to và nặng đi tới.

Chiếc rương cao bằng một người.

Bọn người áo choàng xám thuần thục “dỡ” ván gỗ ở các cạnh của chiếc rương ra, để lộ ra thứ gì đó trông giống như một chiếc kính viễn vọng thiên văn.

Đế và thân nó bằng kim loại được khắc những ký tự phức tạp, ngoài ra còn có một vài thứ phụ kiện bánh răng phức tạp.

Bắt mắt nhất là mảnh kính gắn trên miệng ống kính viễn vọng.

Nó không trong suốt.

Nó thậm chí còn không bằng phẳng.

Màu sắc của tròng kính giống như ánh hoàng hôn đang tuôn chảy, nhìn kỹ sẽ thấy nó có nhiều lớp cực kỳ phức tạp, hoa văn bên trong thoạt nhìn giống như một bông hồng, nhưng nếu nhìn lâu sẽ cảm thấy chóng mặt. Những đường nét đó dường như đang sống lại, như một chiếc kính vạn hoa, chiếm lĩnh bộ não và võng mạc con người.

Bịch. Một tên áo choàng xám phụ trách vận chuyển đồ vô tình nhìn vào tròng kính mấy lần, cứ thế ngã lăn xuống ngất đi.

“Kéo xuống, cứ luôn có loại rác rưởi này cản đường.” Người nói có khuôn mặt già nua, mặc một cái áo dài tương tự như Giám mục.

Giáo chủ chậm rãi đội chiếc mũ sắt nặng nề của hiệp sĩ thời trung cổ lên, sau đó vỗ nhẹ vào vai người đứng bên phải mình: “Hans, đã đến lúc cậu cống hiến hết mình cho giáo phái, và cho thành phố này.”

Người đàn ông im lặng gật đầu, cầm mặt dây chuyền bùa hộ mệnh trong tay rồi bước đến trước kính viễn vọng.

Tất cả người mặc áo choàng xám đều giơ vũ khí lên, nhắm vào anh, như thể anh sắp biến thành quái vật.

Hơi thở của người đàn ông trở nên nặng nề hơn một chút. Anh bắt đầu điều chỉnh kính viễn vọng, sau đó nhắm mắt lại và chờ đợi.

“Mở cửa sổ.”

“Chuẩn bị, cảnh giác.”

Cửa sổ mái vòm bằng kính của nhà thờ được mở ra, kính viễn vọng cũng từ từ vươn ra ngoài cửa sổ, thấu kính hoa hồng tỏa ánh đỏ thẫm trong đêm tối.

Thân thể người đàn ông nằm trên kính viễn vọng bỗng run lên dữ dội.

“Hans, cậu nhìn thấy gì?”

“Cái bóng… chỉ là cái bóng, cái bóng khủng khiếp do ngọn lửa chiếu ra!”

Hans hét lên thảm thiết, sau đó ngã ngửa xuống đất, đôi mắt anh như bị bao phủ bởi một tầng vảy trắng như lớp màng. Mặt dây chuyền hộ mệnh lăn xuống, chuyển sang màu đen hoàn toàn, bị ăn mòn rồi biến dạng.

Hans thở hổn hển, nói bằng tất cả sức lực của mình: “Một cái đầu hình tròn, thon dài và khổng lồ, cạnh đầu có hai vây giống như đôi cánh, tóc của nó… không, có thể là những xúc tu sinh ra từ cơ thể nó, xúc tu rất dài, chúng uốn cong ngẫu nhiên, trên phủ đầy những chiếc răng sắc nhọn đáng sợ, có lẽ là giác hút… nó tỏa sáng khắp người…”

Giọng nói của Hans càng ngày càng thấp, anh bắt đầu ôm đầu rên la.

“Cậu ấy sống sót, cậu ấy không bị ô nhiễm ngay lập tức, nhanh lên! Bùa hộ mệnh, tiêm cho Hans một mũi morphine nữa!” Giáo chủ vội vàng hét lên.

Có người bên cạnh lập tức lên tiếng: “Thưa Giáo chủ, theo nhận định của chúng tôi, chúng tôi nghi ngờ đó là kẻ cầm đầu quyến thuộc của tà thần, nó là một con quái vật mạnh mẽ, chỉ đứng sau tà thần, nhưng con người có ý chí mạnh mẽ có thể sống sót khi nhìn thấy bản thể của chúng.”

“Hãy lập kế hoạch, chúng ta sẽ đuổi tên đó đi hoặc phong ấn nó!” Giọng Giáo chủ đầy tự tin, lão quay lại ra lệnh: “Hãy đến thư viện của giáo phái tra xem, những quyến thuộc của tà thần nào trông giống bạch tuộc.”

“Vâng!”

***

Tháp chuông.

Trên cầu thang rực lửa, quả cầu dây leo nằm bò trên trán cá voi khổng lồ.

Không, không nên gọi là cá voi khổng lồ, vì hóa thân hiện tại của Gymir chỉ dài bốn feet (một mét hai). Chính ngọn lửa đã phóng đại bóng của nó lên vô tận, phản chiếu trên bức tường ở đỉnh tháp chuông.

“Vung thêm vài lần nữa, tỏ ra giận dữ hơn nào!”

Cá voi chỉ huy quả cầu dây leo trên đầu, còn không hài lòng dùng đôi vây của mình nghịch nghịch những sợi dây leo đen đang xòe ra, để chúng di chuyển với biên độ rộng hơn.

——————–

<i>Tác giả nói thế này:</i>

<i>Dù hóa thân là gì thì bản chất của tà thần vẫn không thay đổi, nên cá voi khổng lồ không sợ lửa phốt pho.</i>

<i>Trong thế giới của bộ truyện này không có tà thần tên là Cthulhu, cũng không có đại ca bạch tuộc này đâu.</i>

<i>Bóng của các nhân vật chính khi nằm cạnh nhau trông giống như đại ca Cthulhu, chỉ là do tác giả đang quậy thôi.</i>

<i>………</i>

<i>Trước cửa lớn của tháp chuông</i>

<i>Gymir: Chế độ khó? Chế độ đơn giản?</i>

<i>Johnson: Tất nhiên là phải chọn đơn giản, mở cửa.</i>

<i>Sau đó biến thành Chế độ khó mất rồi.</i>

<i>Johnson tháo bẫy một lèo, kích hoạt Chế độ địa ngục.</i>

<i>Johnson+Gymir: …</i>

<i>Johnson: Chúng ta nên chọn lối thoát? Hay chọn bất động?</i>

<i>Gymir: Hãy thử hình thái kết hợp đội vợ lên đầu mà ta chờ đợi từ lâu đi (không)</i>

——————–

<i>Dịch chương này cười xỉu. =)))</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 51


<b>Chương 51</b>

<b>Quái vật trên gác mái</b>

Ngọn lửa phốt pho cháy dữ dội, khói đen nghẹt thở nhanh chóng lấp đầy tháp chuông, những bậc cầu thang đá được nung nóng.

Một bóng đen khổng lồ khủng khiếp từ từ bay lên giữa ngọn lửa, những xúc tu mạnh mẽ của nó xuyên qua làn khói đen, gác lên cửa sổ tháp chuông. Xúc tu cuộn tròn từ trái sang phải, để lại những vết răng đáng sợ trên nham thạch cứng.

Chất lỏng làm cháy chảy trên cầu thang đã bị cơ thể con quái vật đè lên dập tắt.

Nó như một kẻ hủy diệt thành phố, một thần chết báo trước ngày tận thế của loài người, xuất hiện trong đêm tối hỗn loạn rối ren.

Grào. Tiếng gầm thét nghe như núi đang sụp đổ, kéo theo cả tiếng vọng kinh hoàng.

Các bức tường rung chuyển, tất cả cửa sổ kính gần đó vỡ tan, sóng âm vang vọng giữa các tòa nhà, lan rộng ra khắp thành phố. Nước không hiểu sao lại dâng cao, tất cả thuyền mắc kẹt trên kênh đào đều bị va đập, có người ngã xuống, có người bị đồ vật đập phải.

“Ôi Chúa ơi!” Con người gào khóc trong khi không tỉnh táo.

Sự hỗn loạn lắng xuống một cách kỳ diệu trong một phút, vì rất nhiều người đã nằm bẹp dưới đất, không có sức để đứng dậy. Lúc này phốt pho trắng đã cháy hết, ngọn lửa trong tháp chuông cũng tắt, chỉ còn lại những luồng khói gây ngạt thở.

Trên quảng trường dưới tháp chuông.

Gymir đeo mặt nạ lên, ngẩng đầu nhìn lên “sân khấu biểu diễn” vừa rồi, có vẻ rất hài lòng với khung cảnh hoành tráng mà mình nhanh trí nghĩ ra.

Mùi khói từ đám cháy phốt pho nồng nặc khiến Johnson luôn có cảm giác như cơ thể dính phải thứ một mùi khó phai, y cúi đầu ngửi với vẻ mặt chán ghét, không hiểu tại sao Gymir lại không cảm nhận được điều đó?

Thực ra thì trải nghiệm “mát-xa ấm áp” bất ngờ của giáo phái bí mật cũng khá là hiệu quả. Điểm bắt lửa của lửa phốt pho thấp. Ngay cả khi cháy dữ dội, nhiệt độ của ngọn lửa vẫn thấp hơn so với đám cháy thông thường. Nếu không sợ loại lửa có thể ăn sâu vào tận xương này như tà thần, quả thực có thể cảm thấy ấm áp dễ chịu, khiến ta muốn ngủ khi nó đang nướng mình.

Điều này càng khiến Johnson muốn tìm đến giáo phái bí mật kia hơn nữa, nếu căn hầm của giáo phái này đầy những “thiết bị tự hủy” như vậy, y… chắc chắn sẽ thử lại lần nữa.

“Anh cố tình ngụy trang ra cái bóng giống con bạch tuộc đó à?” Johnson quay lại nhìn Gymir, đồng thời cố gắng nghĩ xem có tà thần nào trông giống con bạch tuộc không.

Không có bạch tuộc. Nhưng có khá nhiều tà thần có xúc tu. Phải chiếm tỷ lệ ít nhất là ba trên mười! Cái gì, ba mươi phần trăm nghe có vẻ không cao à? Tà thần là một sinh vật hỗn loạn, mất trật tự, ngoại hình không có bất cứ quy luật nào cả. Xúc tu đã là một đặc điểm rất nổi bật trong số các đồng loại. Tuy nhiên, hình dạng xúc tu của mỗi người rất phong phú đa dạng. Ví dụ, các xúc tu của Johnson không liên quan gì đến vòi của bạch tuộc.

“Đừng nghĩ nữa, ta không ngụy trang thành đồng loại khác đâu.” Gymir bày tỏ rằng hắn không đổ lỗi cho tà thần khác.

“Vậy thì…”

“Em không để ý sao? Trong thần thoại và truyền thuyết của con người, những con quái vật khổng lồ giống bạch tuộc rất thường xuất hiện.” Gymir tiện tay lấy ra một cuốn sách, lật ra trang minh họa rồi đưa cho Johnson.

Hình ảnh trên đó là một con mực khổng lồ quấn quanh con tàu ba cột buồm, cố gắng kéo con tàu xuống đáy biển trong cơn bão dữ dội.

“Ừ, em đã nhìn thấy rồi, nhưng chúng không thể là quyến thuộc của tà thần.”

Trông nó quá “bình thường”, không hỗn loạn gì cả. Nó chỉ là con bạch tuộc hay con mực phóng to lên rất nhiều thôi… Thôi được, con người quá mỏng manh, những con quái vật như thế này quả thực đã đủ đáng sợ.

Johnson cẩn thận nhớ lại, xác định rằng những sinh vật như vậy đã phát triển mạnh mẽ trên trái đất từ hàng trăm triệu năm trước, có thể vẫn còn một số cá thể sống sót dưới biển sâu, sau đó, chúng hoặc xác của chúng được vài con người không may nhìn thấy, và những truyền thuyết tương tự xuất hiện.

“Con người luôn tin vào những gì có cơ sở.” Gymir cất cuốn sách vào cái bóng.

Johnson phần nào hiểu ra: “Vậy là anh đang tạo ra một truyền thuyết tà thần mới?”

Gymir lắc lắc ngón tay, nghiêm túc nói: “Không phải thần, mà là một loại quái vật mạnh mẽ mà con người có thể đối phó.”

Lỡ như giáo phái bí mật biết tà thần đã đến Venice, không muốn chống cự mà rủ nhau bỏ chạy hết thì sao? Thế thì còn chơi gì nữa? Chìa khóa đầu tiên để tìm ra kẻ địch là không để kẻ địch chết. Trò chơi thám tử khi ngụy trang thành con người thật là khó!

“Tiếng gầm vừa phát ra không phải từ em, cũng không phải ta, mà là âm thanh của một ngọn núi lửa phun trào dưới rãnh đại dương.”

Gymir đã chuẩn bị kỹ lưỡng từ lâu. Hắn đã phát hiện ra rằng con người khó có thể chống lại được các sóng âm ở một tần số nhất định. Hắn đã lục tung bộ sưu tập của mình, thấy rằng âm thanh này là thiết thực nhất, tiếng nổ hỗn loạn cũng còn có thể bị che lấp bởi tháp chuông đang cháy.

“Con người sẽ bị đau đầu, mệt mỏi, hôn mê… Nếu như thám tử của chúng ta ở đây, anh ta có thể phân biệt rõ ràng hai cái này, nhưng anh ta lại không có mặt!”

Gymir vui vẻ giang rộng hai tay, bắt chước nghi thức khai mạc trong rạp hát của con người, nói với Johnson: “Thành phố này sắp trở thành một sân khấu khổng lồ, đã sẵn sàng cho cuộc phiêu lưu chưa?”

***

Bốn người mặc áo choàng xám khiêng một người đàn ông bất tỉnh, long khom đi qua lối đi vừa thấp vừa chật hẹp.

Các bức tường của lối đi được vẽ đầy những ký tự kỳ lạ. Màu sắc của các ký tự rất quỷ dị, có màu đen sẫm bóng nhờn như dầu mỡ tinh luyện, có vài cái lại đỏ tươi đến rợn người. Những hình thù đen và đỏ đan xen này tạo thành những họa tiết phức tạp nối tiếp nhau. Nếu chúng được vẽ trên mặt đất quảng trường, nhất định sẽ có người hét lên là pháp trận triệu hồi ác quỷ rồi ngất đi, vì những đường nét này như đang sống, chúng chảy trong các rãnh tường như có sinh mệnh.

Mỗi lần đi được một đoạn đường, nhóm người phải dừng lại chờ vài giây. Lối đi vang vọng tiếng bánh răng chuyển động lạch cạch, hiển nhiên có bẫy ẩn sau bức tường và trần nhà. Khi cánh cửa đá cuối cùng từ từ mở ra, nhóm người áo choàng xám nhanh chóng bước vào, tất cả đều không hẹn mà cùng thở phào nhẹ nhõm.

Phía trước là những căn phòng bằng đá sơ sài, giống ngục tối thời trung cổ. Lối vào ngục tối cắm một ngọn đuốc.

Phía trên ngọn đuốc là một thứ không tương thích với toàn bộ ngục tối: một chiếc đèn treo thủy tinh. Thủy tinh được nung thành màu đỏ đẹp mắt với nhiều sắc thái khác nhau. Nhìn từ xa, nó trông giống như những dây leo trong vườn mà bà chủ nhà tự hào, chúng được cắt tỉa cẩn thận, cành lá uốn lượn theo quy luật nhất định, những bông hồng hé nở vươn đầu ra ngoài. Kiệt tác này có thể gọi là một kho tàng nghệ thuật, tỏa ra màu của lớp caramen ngọt ngào trên chiếc bánh dưới ánh sáng vàng của ngọn đuốc.

“Đừng nhìn cái đó.” Tên áo choàng xám cầm đầu nghiêm giọng quát.

Những người khác buộc mình phải cúi đầu xuống, bước dọc theo các bậc thang vào ngục tối. Họ tìm một căn phòng bằng đá tương đối sạch sẽ, sau đó đặt người mà mình đang khiêng lên một cái bệ đơn giản làm bằng những phiến đá.

“Có chăn không? Ở đây lạnh quá!” Tên áo choàng xám cầm đầu lớn tiếng hỏi.

Chẳng mấy chốc, có người tìm thấy một chiếc chăn bẩn thỉu trong tủ. Nó có màu xám đen, chắc chắn không phải màu nguyên bản của nó. Tuy nhiên, nó đủ dày. Thật kỳ lạ, đang là tháng bảy nhưng trong ngục tối lại lạnh lẽo khôn tả.

“…Chăn có mùi hơi mốc, thôi kệ, dùng được là đủ.”

Nhóm người bận rộn một lúc, cuối cùng cũng tìm đủ đồ, là gom góp từ những căn phòng khác. Người cầm đầu lắc chiếc bình đất trống trong tay, ra lệnh cho một tên thủ hạ ra ngoài tìm ít sữa về.

“Hans sẽ ở lại đây vài ngày đấy.”

“Hans rất may mắn, cho đến nay vẫn chưa có dấu hiệu đột biến nào.”

“Khi tỉnh dậy sẽ được Giáo chủ tán thưởng, trở thành nhân vật hàng đầu trong giáo phái.”

Nghe thấy đoạn đối thoại đầy vẻ ngưỡng mộ này, tên áo choàng xám cầm đầu cười khẩy nói: “Cho các người dùng Con mắt Hoa Hồng để nhìn cái tháp chuông đang cháy đó, các người có vui lòng không?”

Ba người còn lại lập tức ngậm miệng.

Người cầm đầu khóa cửa phòng đá, bốn người rời khỏi ngục tối.

Lúc này, tiếng k** r*n thảm thiết mơ hồ văng vẳng vọng ra từ sâu trong ngục tối.

“Cái tên đấy còn chưa chết à?”

Gã đàn ông thấp bé kéo chiếc áo choàng xám của mình, vừa bước đi vừa nói: “Tính ra hắn cũng sống dai thật, hình như đã sống trong ngục của giáo phái hơn một năm rồi?”

“Cái đó không phải sống dai.” Người cầm đầu lập tức mắng mỏ: “Cậu gia nhập giáo phái đã mười năm rồi, chưa thấy đủ nhiều người tiếp xúc với sức mạnh của tồn tại huyền bí, bị ô nhiễm, bị nguyền rủa à?”

“Ừm, thực ra hầu hết mọi người đều có thể thoát khỏi ác mộng bằng cách dựa vào ký tự rune, nếu bị ô nhiễm hoàn toàn, thường sẽ không kéo dài được bảy ngày. Nhưng tên đó đã sống được hàng trăm ngày! Vậy còn không phải là sống dai, là ý chí mạnh mẽ sao?”

Người cầm đầu lạnh lùng nói: “Có ý chí mạnh mẽ hay không, tôi không biết. Tôi chỉ nghe Giáo chủ nói, tồn tại huyền bí mà tên này <i>khiêu khích</i> muốn hắn tiếp tục lang thang ở ranh giới giữa sự sống và cái chết. Nghĩ thử xem, biến thành quái vật rồi trực tiếp bị xử tử tốt hơn, hay là chật vật sinh tồn như một đống bùn tốt hơn?”

Nhóm người: “…”

Tiếng bước chân dần dần xa dần, mí mắt của Hans đang nằm trên phiến đá cũng bắt đầu run run.

Người đàn ông này có cảm giác như mình đang bước đi trong một hành lang tối tăm. Trước mặt chỉ có một luồng ánh sáng vàng ấm áp, phía sau sâu không thấy đáy, anh cứ thế đi, phát hiện ra hành lang lại biến thành một cầu thang bằng gỗ.

Cầu thang rất sơ sài, ván gỗ hơi mục nát, khi dẫm lên sẽ phát ra tiếng cọt kẹt đáng báo động, tưởng chừng như có thể sập xuống bất cứ lúc nào. Thân hình Hans cao lớn, anh phải khom lưng xuống, nghiêng người sang một bên mới có thể leo lên.

Hình như có một căn gác mái ở phía trên.

Lúc này, Hans đột nhiên nghe thấy âm thanh phát ra từ bên trong.

“Mày là con quái vật, thứ sâu bọ tội nghiệp!” Giọng một đứa trẻ the thé chửi rủa một cách gay gắt.

Hans thò đầu ra khỏi cầu thang. Anh thấy một cậu bé mặc quần áo của gia đình thuộc giai cấp thân hào nông thôn nước Anh mấy chục năm trước, tay vung vẩy chiếc roi ngắn chỉ vào một đống gì đó trong bóng tối sâu thẳm của căn gác mái mà chửi bới.

“Đều do mày! Đều tại mày! Nên tao mới bị đưa đến đây để mạo danh mày!”

Roi ngựa đập lên sàn nhà mục nát, hất tung đám bụi lớn, thằng bé quất vào thứ không rõ hình dạng kia như đang đánh một con vật.

Hans lập tức tiến lên ngăn cản, nhưng anh không thể cử động, buộc phải sử dụng một tư thế và vị trí kỳ lạ để nhìn lén những chuyện đang xảy ra trong gian gác mái này.

Hành động tra tấn của thằng bé kia không thể tiếp tục, nó lùi lại từng bước một.

Một ông già bước ra từ trong bóng tối, khuôn mặt lão đầy dấu vết của tử thi, đôi môi tím tái, thân hình lắc lư, dang hai tay về phía thằng bé: “Linde, đứa nhỏ nghịch ngợm này, con nên tuân theo mệnh lệnh của ta, ở lại trong trang viên này đi.”

Thằng bé hét lên, đánh rơi roi ngựa, quay người bỏ chạy. Kết quả là nó đụng phải một người đàn ông khác mặc quần áo mục sư.

Sắc mặt mục sư tái nhợt, mặt hơi sưng lên vì bị ngâm trong nước, lão giữ lấy cơ thể thằng bé, vừa cười vừa nói: “Linde, cha tới đón con đây, cuối cùng cha cũng tìm được kho báu, có thể đến nhà Brandon đổi con về rồi.”

Gian gác mái rung chuyển dữ dội, biến thành một cái cối xay gió lớn đang quay tròn trước mặt Hans.

Thằng bé dường như bị giam cầm ở đó, đầu gối dính chặt vào sàn, buộc phải chuyển động thật nhanh theo đó, nó gào thét lạc cả giọng.

Một cái bóng khổng lồ vặn vẹo từ từ hiện ra từ góc gác mái, vô số dây leo nhỏ xíu màu đen mọc ra từ thân nó, giữ vững gác mái đổ nát, rồi con quái vật nhìn thằng bé mà không nói một lời.

Thằng bé cũng nhanh chóng mất đi vẻ non nớt, chỉ trong vài giây, từ một cậu bé thành một thanh niên, rồi thành một ông già với mái tóc trắng. Cuối cùng, toàn bộ tóc đều rụng hết, gã gầy gò đến mức không nhìn ra hình dạng, chỉ còn lại một đôi mắt nâu đầy sợ hãi và hận thù.

“Quái vật! Quái vật!” Linde hét lên như điên.

Con quái vật im lặng nhìn Linde, như đang chờ đợi điều gì đó, như đang thưởng thức dáng vẻ điên rồ của Linde.

Cơ thể Linde dần dần biến dạng, da của gã bong tróc ra, như bùn hôi thối.

Con quái vật phát ra một tiếng thì thầm kỳ lạ, những biến đổi của Linde chợt dừng lại.

Khung cảnh gác mái như bị một cơn lốc màu xám nuốt chửng, rồi thằng bé cầm roi lại bắt đầu đánh đập và chửi bới trong cơn giận dữ.

“Tao vốn có tương lai tươi sáng, có xuất thân tốt, lại bị buộc làm vật thay thế cho một đứa con ngoài giá thú! Lại còn là một con quái vật xấu xí như mày!

“Cha của chúng ta là ác quỷ tham lam! Mày là con ác quỷ nhỏ! Tại sao tao lại bị lũ điên các người liên lụy? Mày đáng phải chết ở chỗ này, thối rữa ở chỗ này!”

Bấy giờ ông già và mục sư lần lượt xuất hiện, gác mái rung chuyển, quái vật xuất hiện.

Linde già nua bị buộc phải quỳ xuống, đầu gần như bị ấn xuống sàn bởi một sức mạnh vô hình, lưng gã phát ra một âm thanh kèn kẹt khi phải gánh trọng lượng quá nặng, gã không thể di chuyển, “đối mặt” với con quái vật màu đen trong gác mái.

“Giết tao đi!” Linde gào thét điên cuồng.

Sau đó lại biến đổi, lặp lại lần nữa.

Khi vòng quay thứ ba sắp kết thúc, Hans cuối cùng cũng không nhịn được nữa, tức giận hỏi: “Ông là đồ ngốc à?”

Con quái vật màu đen ở gác mái và Linde cùng lúc vặn cổ lại, nhìn sang với tư thế kỳ quái.

Toàn thân Hans cứng đờ, tóc dựng đứng lên. Tấm gỗ trước mặt anh đổ sập xuống. Một đôi mắt nâu và một đôi mắt xanh lam nhạt đang nhìn chằm chằm vào Hans đang nằm cuộn tròn ở cửa gác mái.

Hans: “…”

Cảm giác được hơi thở kinh hoàng sắp nuốt chửng mình, Hans thầm chọn lọc từ ngữ trong đầu, nói thật nhanh: “Giải pháp cho cơn ác mộng là tìm ra nguồn gốc! Ông nên xin lỗi, Linde!”

“Mày nói cái gì?” Linde quát lên. Khuôn mặt gã dần dần biến dạng, răng nhô ra, hộp sọ méo mó.

Hans nhìn Linde lại sắp biến thành quái vật, anh nuốt nước bọt, cố gắng giữ bình tĩnh: “Tôi không hiểu được quan hệ phức tạp giữa các người, cái gì là người thay thế, cái gì mà liên lụy ai, là một mớ hỗn độn… Nhưng tôi rất giỏi giúp mọi người thoát khỏi ác mộng, đó chính là điều khiến ông bị rối, phải không?”

Động tác của Linde khựng lại.

Hans nói ngay: “Hãy nghĩ về sự khởi đầu của mỗi cơn ác mộng, khi ông còn nhỏ có hành vi bạo lực với một đứa trẻ khác, ông có nghĩ điều này là đúng không?”

Linde gầm lên, bắt đầu biến đổi lần nữa.

Lần này Hans không sợ hãi chút nào.

Quả nhiên, trước khi Linde kịp lao tới, gã đã bị dây leo màu đen quấn chặt lại, con quái vật màu đen vẫn luôn im lặng kia đang đánh giá Hans.

“…Và khi kết thúc giấc mơ của ông, nó chỉ nhìn ông như thế này, nó đang chờ đợi lời xin lỗi của ông, đứa trẻ cũng đang ở gác mái lúc đó.”

Hans lo lắng nếu không nói xong càng sớm càng tốt sẽ nguy hiểm đến tính mạng, nên anh cố gắng nói nhanh hơn: “Ông luôn oán trách Brandon Lớn đó, căm ghét người cha mục sư của ông, căm hận đứa bé bị tráo đổi với ông, nhưng ông không bao giờ nghĩ về những sai lầm của mình. Cho nên Linde, ông sẽ bị ác mộng nuốt chửng, chịu tra tấn vô tận, vĩnh viễn không thoát ra được!”

——————–

<i>Tác giả nói thế này:</i>

<i>Người trong giấc mơ của Linde không phải là bản thể của Johnson, nó chỉ có thể coi là một phần rất rất nhỏ trong sức mạnh của Johnson.</i>

<i>Vì vậy Hans sẽ không phát điên khi nhìn thấy nó, dù sao ý chí của anh ấy cũng đạt đến 80.</i>

<i>Nói chính xác hơn thì đó là nhân cách của đứa trẻ Johnson Brandon đã biến mất trong ý thức tà thần.</i>

<i>Tính tình của nhân cách này rất đơn giản, nó hành hạ Linde, đồng thời nó cũng đang chờ Linde xin lỗi.</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 52


<b>Chương 52</b>

<b>Ác mộng</b>

Gian gác mái lơ lửng giữa không trung, bên dưới là vực thẳm vô tận.

Những làn sương đen bốc lên từ sàn nhà, những bức tường không ngừng uốn cong khiến người ta choáng váng.

Hans cố gắng hết sức giữ bình tĩnh, nhìn thẳng vào con quái vật màu đen ở gác mái.

Hans đã từng xem rất nhiều hình ảnh minh họa về quái vật trong sách tranh của giáo phái bí mật, hầu hết đều xuất phát từ những giấc mơ… Đó cũng là nơi con người dễ tiếp xúc với tiếp xúc với sức mạnh huyền bí nhất.

Khi con người ngủ, tâm trí của họ có thể lang thang đến những nơi mà họ thậm chí không biết, có thể tiếp xúc và trao đổi với tâm trí của các sinh vật khác. Có thể là thực vật, cũng có thể là động vật, nguy hiểm nhất là quyến thuộc của tà thần… Ác mộng thường xảy ra trước bờ vực nguy hiểm, con người sẽ nhanh chóng tỉnh dậy, những người không may mắn sẽ bị sức mạnh huyền bí quấn lấy, khiến họ yếu ớt và bệnh nặng.

Giáo phái bí mật mà Hans gia nhập đã chữa trị căn bệnh này cho con người từ thế kỷ XII. Ngoài việc cầu nguyện và uống nước thánh, họ còn đưa cho bệnh nhân mặt dây chuyền hộ mệnh, nghe bệnh nhân kể về những gì mình thấy trong cơn ác mộng, hướng dẫn bệnh nhân cách thoát khỏi sự đeo bám của giấc mơ. Tuy nhiên, loại dịch vụ này chỉ dành cho giới quý tộc và doanh nhân giàu có.

Lãnh đạo cấp cao của giáo phái quan tâm nhiều hơn đến ký tự huyền bí và các di tích cổ xưa, các thành viên bình thường cũng ưa thích việc tăng cường sức mạnh cho bản thân hơn là đi lý giải giấc mơ của người khác. Những người giỏi giải mộng thường là những thành viên nữ của giáo phái, họ dịu dàng và giàu lòng kiên nhẫn… Đồng thời, địa vị của phụ nữ trong giáo phái cũng không cao.

Hans học những kỹ năng này từ mẹ mình, cha anh mất sớm vì hy sinh cho giáo phái, tổ tiên của anh đều là thành viên của giáo phái. Cuộc sống vốn dĩ rất nghèo khó nên mẹ của Hans không còn mong đợi con mình có những năng lực phi thường nữa, bà mong con mình sẽ được giới quý tộc đánh giá cao nhờ khả năng giải mộng này, rồi thoát ly khỏi giáo phái, phục vụ những kẻ quyền thế. Đàn ông có thể làm thư ký, bác sĩ gia đình cho quý tộc, nhưng phụ nữ thì không.

Trực tiếp rời bỏ giáo phái không phải là một lựa chọn sáng suốt. Cuộc sống của người dân thường sẽ càng khó khăn hơn, họ sẽ không còn khả năng tự bảo vệ mình. Kết quả là Hans phát hiện ra ở trong giáo phái này, có quá nhiều người tính toán như mẹ mình.

Tuy nhiên, vẻ ngoài của Hans khi trưởng thành rất đáng thất vọng, anh quá cao, dáng người to lớn cường tráng, chỉ cần trừng mắt một cái là có thể dọa trẻ con khóc, không thích hợp làm bác sĩ.

Điều quan trọng hơn là với ngoại hình to như con gấu, anh không có cách nào để hòa nhập vào xã hội thượng lưu. Hans không còn cách nào khác là phải từ bỏ con đường làm bác sĩ. Nhưng như thế không có nghĩa là anh đã quên kỹ năng và khả năng giải mã giấc mơ. Bây giờ nó chẳng hữu ích đấy thôi?

Con quái vật màu đen cố thủ ở gác mái im lặng nhìn Hans.

Nó dùng các chi giống như dây leo để giữ chặt Linde đang gào thét. Hành động này khiến nó trông giống con người hơn, trong khi Linde đang bị mắc kẹt giữa những cơn ác mộng lại giống một con quái vật phi lý trí hơn.

“Ông có muốn sống không?” Hans cao giọng hơn.

Linde ngừng vùng vẫy, khuôn mặt biến dạng của gã lộ rõ sự khao khát và mong đợi.

Hans kiên trì nói chuyện với Linde, vì Linde là chủ nhân của giấc mơ này.

“Xin lỗi đi, còn gì có thể quan trọng hơn mạng sống của chính mình chứ?” Hans khuyên nhủ.

Linde chậm rãi cúi đầu, lẩm bẩm: “Xin lỗi, xin lỗi…”

Sự chú ý của con quái vật trên gác mái lại quay trở về với Linde.

Linde bỗng gầm lên, cơ thể gã không ngừng giãn nở, đầu áp vào trần nhà, giọng gã vang vọng dữ dội trong giấc mơ: “Không! Tất cả đều không phải là thật! Chúng mày là lũ dối trá!”

Gác mái sụp đổ tan tành trong phút chốc, sương mù màu đen bao phủ giấc mơ, chỉ còn lại tiếng cười hoang dại của Linde.

Tấm ván mà Hans đang túm lấy đã rơi xuống theo anh, anh rất lo lắng.

Anh đã đọc về những bệnh nhân như vậy trong sách cổ, nhìn thì có vẻ họ đã đột phá phong tỏa của cơn ác mộng, nhưng trên thực tế, họ đã khiến cơn ác mộng trở nên phức tạp hơn… Giấc mơ càng đơn giản thì nguồn gốc càng rõ ràng, giải quyết cũng sẽ càng dễ dàng.

Bây giờ thì xin lỗi không còn giải quyết được mọi chuyện nữa rồi.

Hans nặng nề ngã xuống đất. Anh ngước lên thì thấy đây là một chiếc xe ngựa, bên ngoài là khung cảnh miền quê nước Anh.

Linde thời thơ ấu ngồi trên xe ngựa, vẻ mặt u ám, hai tay nắm chặt.

“Khi nào tôi có thể về nhà?”

Ngồi cạnh là Brandon Lớn, vẫn giữ bộ dạng đã chết đi, lão nói bằng giọng lạnh lùng: “Mục sư Cornell đã mang theo con trai ta, tài sản của ta, họ ra biển rồi. Nếu ông ta không thể mang về thứ ta muốn, ta sẽ không trả lại cậu.”

“Đồ điên! Các người điên hết rồi!” Linde nhảy dựng lên, hét.

Brandon Lớn không phản ứng.

Khi Hans nhìn thấy cảnh tượng này, anh biết rằng đây hoàn toàn chỉ là tưởng tượng của Linde.

Khi còn nhỏ, Linde không dám phản đối gì cả, chỉ cảm thấy chán nản, nên mới trút hết mọi phẫn nộ trong giấc mơ. Cơ thể đột biến của Linde đánh vỡ cỗ xe, gã xé nát Brandon Lớn thành từng mảnh.

Giấc mơ lại trở nên mơ hồ, Hans lại bắt đầu rơi xuống.

Sau đó là ở trong phòng sách của Brandon Lớn, biết không có tin tức gì về đoàn thám hiểm của mục sư Cornell, lão trút giận lên Linde, dọa giết Linde. Linde lại bùng nổ.

Cảnh tượng trong giấc mơ biến đổi lần thứ tư, đây là phòng bệnh của Brandon Lớn, lão sắp chết. Linde cười điên dại.

Vào lần thứ năm, Linde mưu sát người anh trai trên danh nghĩa của mình, con trai cả của Brandon Lớn, người thừa kế gia tộc.

“…Là tao! Tất cả những gì tao có đều là do tao đã nỗ lực để có được! Nhà Brandon nợ tao! Cha tao cũng nợ tao!” Linde hét lên với vẻ mặt dữ tợn: “Họ đối xử với tao như một con sâu tội nghiệp, một thứ rác rưởi vô dụng! Bọn họ đáng chết! Gia tộc Brandon còn muốn khởi kiện đòi tài sản? Đây là những thứ thuộc về tao!”

Đầu Hans đau như búa bổ, anh phải ôm lấy trán mình.

Những giấc mơ đến rồi đi, Linde nói tới nói lui, nhưng thực ra cũng chỉ có cùng một ý nghĩa. Linde không muốn xin lỗi, gã cảm thấy mình đúng.

“Đứa bé kia thì sao?” Hans không nhịn được hỏi.

Linde đột nhiên cúi đầu, nhìn chằm chằm vào Hans.

Hans cảm thấy có lẽ mình không thích hợp làm bác sĩ thật, vì sự kiên nhẫn của anh ngày càng mất đi. Hans muốn lập tức bỏ mặc tên này, nhưng anh vẫn bị mắc kẹt trong giấc mơ này, khi sự việc được giải quyết xong thì anh mới có thể thoát ra được!

“Quả thực là ông rất bất hạnh, nhưng ông cũng đã giành được đủ thứ đền bù cho mình, nhưng đứa bé kia thì sao? Nó đã làm gì có lỗi với ông?”

“Đền bù đủ rồi? Tức cười, cái mà tao cần phải tranh giành sao gọi là đền bù được?”

Linde gào thét, cơ thể gã biến dạng ngày càng nghiêm trọng hơn. Gã hủy diệt mọi thứ trong tầm mắt như một con thú hoang, Hans phải liên tục né tránh các đòn tấn công của Linde.

“Nếu không có con quái vật kia, con ác quỷ kia! Tất cả những chuyện này có thể xảy ra sao? Thật nực cười, bọn họ thực sự tin rằng có thể có được sức mạnh của thần bằng cách hiến tế một con quái vật cho thần! Đồ điên! Con quái vật do lão điên sinh ra đã khiến bọn tin vào lời nói dối này, nó chính là nguyên nhân gây ra tai họa!”

Hans càng nghe càng cảm thấy không ổn.

Hiến tế? Thần? Sức mạnh?

Người bình thường có thể coi những lời này là lời nói điên rồ của Linde, nhưng Hans xuất thân từ một giáo phái bí mật, thì sẽ không bỏ qua điểm đáng ngờ trong đó.

“Đứa trẻ đó trông như thế nào?” Hans lớn tiếng hỏi.

Linde hoàn toàn không nghe được tiếng của anh, chỉ lo tấn công và cắn xé.

Hans ngừng chạy, giơ nắm đấm đánh Linde một trận điên cuồng. Vóc dáng to như gấu giờ đây đã đóng một vai trò rất lớn.

Thú hoang à? Đánh!

Răng nanh sắc nhọn à? Bẻ!

Hans không quan tâm đến vết thương do bị cắn trên người, anh nhấc bổng Linde lên, ném gã xuống đất như một cái túi vải rồi dùng chân giẫm lên.

“Nói chuyện đàng hoàng được không?”

“…”

Linde tựa hồ đã kiệt sức, bóng dáng của gã lúc thì rõ ràng, lúc thì mơ hồ. Giấc mơ cũng chuyển sang màu xám trắng như bị phai màu.

Hans nhận ra rằng mình đã đánh hơi quá tay. Anh bực bội nghĩ mình quả thật không thích hợp làm nhà trị liệu ác mộng, may mà gã này không phải là người có quyền lực gì, nếu không giáo phái sẽ trừng phạt anh thật nặng.

“Này!” Hans lại nhấc Linde lên, lắc lắc.

Lúc này, trong không gian giấc mơ đột nhiên xuất hiện rất nhiều dây leo màu đen, ngăn không cho nó sụp đổ.

Một đứa trẻ mà anh không nhìn rõ khuôn mặt đang đứng đằng xa, nhìn chằm chằm vào Hans.

Hans lùi lại một bước, anh bắt đầu hoảng sợ.

“Cậu, cậu không phải là sản phẩm do Linde tưởng tượng ra! Cậu không phải là con quái vật hiện ra từ trái tim Linde sau khi ông ta rơi vào giấc mơ nguy hiểm và bị ô nhiễm!”

Trước đó Hans không sợ con quái vật gác mái, vì dù trông nó đáng sợ đến đâu thì tất cả đều sinh ra từ ác ý của Linde, Linde cho rằng đối phương thật đáng ghét thì hình ảnh của người đó xuất hiện trong giấc mơ sẽ càng đáng sợ hơn.

Bây giờ rõ ràng Linde đã bất tỉnh, giấc mơ sắp sụp đổ, mạng sống của Linde sẽ tan biến theo nó, nhưng con quái vật gác mái lại xuất hiện!

Nó còn ngăn cản giấc mơ sụp đổ.

Nó không muốn Linde chết một cách đơn giản như vậy.

Đây là sinh vật đã xâm chiếm giấc mơ của Linde, một con quái vật thực sự.

Nói cách khác, chính con quái vật gác mái thống trị giấc mơ này chứ không phải Linde.

Hans: “…” Dằn vặt bấy lâu, thế mà anh nhận nhầm mục tiêu điều trị.

Hans thất vọng ngồi bệt xuống đất. Chạy trốn là thoát không được rồi, anh phải tìm cách.

Từ những lời Linde nói, không khó để thấy rằng có nguyên nhân khiến con quái vật gác mái bám chặt lấy Linde. Cơ thể ban đầu của nó có thể là đứa trẻ bị giam ở gác mái rồi sau đó bị đưa đi hiến tế.

Hans đương nhiên biết “hiến tế” này có nghĩa là gì, cũng biết “thần” là cái gì. Bởi vậy mà anh mới cảm thấy sợ hãi, điều này có nghĩa là hiến tế đã thành công, đối phương ít nhất cũng là một quyến thuộc của tà thần.

Hans nghĩ đến chuỗi sự kiện xảy ra ở Venice ngày hôm nay, anh nghi ngờ rằng tất cả chúng đều có liên quan đến nhau… Vào buổi xế chiều, Con mắt Hoa Hồng phát hiện ra tung tích của tồn tại huyền bí, khu rừng dưới nước rung chuyển, tháp chuông cháy và con quái vật bên trong, anh rơi vào cơn ác mộng sau khi nhìn thấy bản thể của con quái vật.

Vì Venice, vì giáo phái… Vì mẹ, anh phải phá giải cơn ác mộng này!

Hans lấy lại bình tĩnh, anh ném Linde sang một bên, kiên quyết bước về phía đứa trẻ.

Đứa bé mặc một bộ quần áo tồi tàn, để lộ đôi tay ở ngoài. Có hai mảng giống như khối u trên khuỷu tay nó, trên cơ thể nó có nhiều vết sẹo màu nâu sẫm, cùng với nhiều vết lở loét. Tóc thưa thớt, suy dinh dưỡng, mí mắt dày một cách kỳ lạ, như một con búp bê rách nát trong nhà kho.

Đứa trẻ mở mắt ra. Con ngươi màu xanh lam nhạt, đôi mắt trong veo và điềm tĩnh.

Từ đôi mắt này, Hans xác định đây chính là bản thể của quái vật gác mái. Cùng lúc đó, trái tim Hans thắt lại. Nếu anh nhớ không lầm thì dáng vẻ và biểu cảm này… chính là “vật tế bẩm sinh” mà giáo phái và các học giả huyền bí học từng ghi nhận.

Những người như vậy không biết sợ hãi từ khi ra đời. Đặc điểm ngoại hình kỳ lạ sẽ xuất hiện từ khi mới chào đời, không thể che giấu được.

Những kẻ say mê nghiên cứu tồn tại huyền bí sẽ tìm kiếm những người có ngoại hình này trên khắp thế giới, mong muốn có được sức mạnh phi thường thông qua việc dùng vật tế này làm vật trung gian.

——————–

<i>Tác giả nói thế này:</i>

<i>Người không biết sợ hãi từ khi ra đời … Đó là bởi vì vỏ não không tiết ra một số hormone nhất định, cũng có người cho rằng một phần nào đó trong bộ não gặp vấn đề.</i>

<i>Đây là rối loạn di truyền lặn, có đặc điểm bên ngoài là hội chứng không biết sợ, nếu bị thương, vết thương sẽ chuyển sang màu đen, làn da kém sắc và xuất hiện nhiều vết phát ban khác nhau.</i>

<b>Chương 53</b>

<b>Hai chiều</b>

“Hử?”

Johnson đột nhiên dừng bước.

Ai đó đã chạm vào điểm cuối của sức mạnh mở rộng của y, cảm giác này thật lạ lùng.

Con kiến tầm thường đang cố gắng nhón chân lên chạm vào bản thể của thần linh, hoàn toàn không biết rằng mình đang bước vào cõi chết.

***

Hans nửa quỳ trên mặt đất. Dù vậy, anh vẫn cao hơn đứa trẻ rất nhiều, để nhìn thẳng vào đôi mắt xanh nhạt vô cảm kia, Hans chỉ có thể cúi đầu, ôm lấy vai nó mà nói: “Đừng tiếp tục chờ đợi lời xin lỗi từ một thứ súc vật, điều đó không đáng đâu.”

Cảnh tượng trong giấc mơ lại thay đổi, họ trở về căn gác mái đổ nát và tối tăm.

Roi ngựa của Linde rơi xuống sàn, gã nằm trên mặt đất với khuôn mặt bầm tím sưng vù, răng mất vài chiếc.

Sự biến dạng trên cơ thể Linde cũng biến mất. Gã bây giờ trông giống như một đứa trẻ bị đánh đập dã man, bộ dạng nhếch nhác, ánh mắt sợ hãi, muốn kêu cứu nhưng chỉ có thể phát ra những âm thanh kỳ lạ, vì má sưng quá lớn nên mắt trái chỉ còn là một khe hở, còn mắt phải thì sưng đến nỗi không thấy đâu nữa.

Hans: “…”

Những tổn thương trong giấc mơ không được phục hồi nhanh chóng sau khi chuyển cảnh à? Tại sao vết thương được giữ nguyên vẹn thế?

Hans đưa mắt nhìn về phía đứa trẻ kỳ quặc trên gác mái, ngập ngừng hỏi: “Tôi đoán sai à? Cậu không quan tâm đến lời xin lỗi của Linde nữa, chỉ muốn ai đó đánh ông ta thôi?”

Nếu điều này có thể chữa lành một trái tim tan vỡ, một đứa trẻ tội nghiệp bị tà thần ô nhiễm và biến thành quái vật, thì Hans nghĩ mình có thể đánh thêm vài hiệp nữa, dù sao cũng không cần tốn nhiều công sức.

“Họ… dùng cậu làm vật tế cho vị thần nào vậy?” Hans bức thiết hỏi, anh nhanh chóng nhận ra sự liều lĩnh của mình, cố gắng nói chậm lại: “Thật ra trên đời này có rất nhiều quyến thuộc của tà thần, trong đó có một số còn lưu giữ ký ức của con người giống như cậu vậy, chỉ cần thần của họ hoàn toàn ngủ say, họ sẽ không bị khống chế…”

Gác mái ngập trong những âm thanh sột soạt kỳ lạ. Những dây leo đen cứ kéo dài mãi, biến nơi này thành một hang ổ quái dị, kín như bưng.

Hans theo bản năng muốn lao ra ngoài, chạy trốn khỏi nơi khủng khiếp này. Nhưng nghĩ đến con quái vật đáng sợ xuất hiện ở Venice, anh nghiến răng chống lại bản năng sợ hãi, vẫn bất động. Việc có thể thoát khỏi giấc mơ này hay không đã không còn quan trọng nữa, không thể bỏ qua manh mối. Nếu có thể cứu được linh hồn của một đứa trẻ vô tội, còn cứu được cả thành phố này thì thật đáng giá.

Nghĩ đến đây, Hans cố gắng hết sức phớt lờ những biến đổi xung quanh, anh nóng lòng hỏi: “Cậu đang ở đâu, ra khỏi giấc mơ này rồi tôi sẽ tìm cậu, tôi sẽ không lừa cậu, nhất định sẽ tìm…”

Mọi thứ bỗng tối đen như mực, mọi âm thanh đều biến mất.

Hans cảm thấy lòng bàn tay trống rỗng, đứa trẻ đó đã không biến mất.

Cộp, cộp.

Tiếng bước chân vang lên từ thế giới yên lặng chết chóc.

Có ai đó đã bước vào giấc mơ này.

Không, phải là có thứ gì đó đã lần theo cơn ác mộng để tìm đến đây.

Hans căng thẳng đến mức không thở được. Anh thậm chí còn có một cảm giác hoang đường… như thể mình là một kẻ buôn người đang bắt cóc một đứa trẻ, không may đụng phải người giám hộ của nó.

Lúc này, một giọng nói lạnh như băng vang lên khiến toàn thân anh run rẩy: “Anh đang tìm ai?”

Bóng tối rút đi như thủy triều.

Đứa trẻ có vẻ ngoài kỳ quái đứng trước mặt anh, miệng phát ra giọng nói của một người đàn ông trưởng thành hoàn toàn khác với vẻ ngoài.

“Anh muốn đưa ta đi đâu?”

Hans há miệng, nhưng không phát ra được âm thanh nào. Anh cảm thấy tất cả xương cốt trong cơ thể mình đang kêu gào, thúc giục anh chạy trốn.

Anh lùi lại từng bước một.

Trường hợp tồi tệ nhất! Trường hợp kinh khủng nhất!

Đứa trẻ này không phải là quyến thuộc của tà thần, mà đã bị tà thần nuốt chửng hoàn toàn.

Tà thần không thể giữ lại ký ức vật tế, đây là một cái bẫy?

Gác mái rung chuyển dữ dội, giấc mơ đang tan vỡ.

Hans nghe thấy tiếng hét thảm thiết phát ra từ Linde.

Mặt đất của gác mái biến thành một cơn lốc màu xám khổng lồ, đứa trẻ bị cơn lốc nuốt chửng.

Nơi trung tâm lốc xoáy, dường như có một người đàn ông đang đứng ở đó.

Giọng nói của y như xa như gần, bóng dáng cũng mờ ảo.

“Anh muốn cứu đứa trẻ này? Đáng tiếc, anh đã đến muộn năm mươi năm.”

Đầu Hans quay cuồng như thể bị ai đó dùng gậy đánh mạnh.

Sau đó dưới chân anh trống rỗng, anh rơi xuống vực thẳm vô tận.

***

“Em phát hiện ra cái gì?” Gymir thò đầu sang. Vài cái bóng mảnh và dài lặng lẽ quấn quanh bàn tay Johnson, hơi kéo y về phía mình.

Nhờ màn đêm che chắn, vài sợi dây leo mềm mại mọc ra từ tay áo Johnson, ngăn cản mấy cái bóng không biết điều kia bò cao hơn lên cánh tay y.

“Một con người đã đột nhập vào… giấc mơ mà em đã tạo ra.”

Johnson suy nghĩ ba giây, xác định người kia không mất mạng tại chỗ.

Nhưng Linde có vẻ đã chết. Khi y bước vào giấc mơ đó, Linde chỉ còn thoi thóp. Sự xuất hiện của Johnson làm giấc mơ mất cân bằng hoàn toàn, khiến Linde bốc hơi và biến mất ngay lập tức như sương mù bị mặt trời chiếu vào.

Johnson thoát khỏi dòng suy nghĩ của mình, phát hiện mình bị quấn quanh bởi một cái bóng khổng lồ.

“Sao lại có con người? Con người mà ta không biết? Hắn đặc biệt à?” Gymir bất mãn hỏi.

Johnson để mặc cái bóng của Gymir xoa lên cổ mình, y nhìn đám đông hỗn loạn ở đằng xa, nghiêm túc nói: “Đó là manh mối tự mình tìm đến, một manh mối giúp chúng ta không cần phải lang thang khắp nơi trong thành phố tối tăm.”

“Ồ?” Động tác của Gymir khựng lại.

“Đó chính là giáo phái bí mật chúng ta đang tìm kiếm, em chắc chắn.” Johnson đáp.

Gymir nghiêng đầu, thắc mắc tại sao hắn và Johnson ở bên nhau từ đầu đến cuối, vậy tại sao manh mối lại không chạy vào tay mình?

“Em đã làm gì?” Gymir hỏi một cách tò mò và khiêm tốn, cố gắng học một số thủ thuật ngụy trang làm con người để phá án.

Johnson im lặng, nên nói thế nào nhỉ?

“Anh còn nhớ Linde Brandon không? Kẻ được cứu khỏi bệnh viện ở Luân Đôn hai năm trước!”

Nhắc đến cái tên Brandon thì Gymir có ấn tượng. Màn biểu diễn của lũ kiến lần đó thật đặc sắc, quá hay ho.

Johnson giải thích lại phát hiện của mình, Gymir hơi cau mày: “…Ý em nói, người đã cứu Linde rất có thể là giáo phái bí mật đang bảo vệ Venice?”

“Ít nhất thì gã đã mượn sức mạnh của giáo phái này để che giấu bản thân, thủ đoạn này rất hiệu quả, em không ngờ gã đang ở gần mình đến vậy.” Johnson điềm tĩnh hơn Gymir một chút, y biết con người đã đạt được những thành tựu to lớn trong lĩnh vực huyền bí học. Thành tích này tuy không có gì đáng nói trước thần cổ xưa, nhưng chỉ cần không bị thần “nhìn vào” thì những thủ thuật nhỏ này lại rất hiệu quả.

“Anh ta lạc vào cơn ác mộng bị thống trị bởi sức mạnh của em, giấc mộng thuộc về Linde, con người này hiểu về hiến tế, biết về mối quan hệ giữa tà thần và quyến thuộc, đồng thời còn có thể… chữa trị ác mộng?” Johnson nói nói đến đây thì không chắc chắn cho lắm, bởi vì sau khi con người kia cố gắng thuyết phục Linde mà không có kết quả, anh ta đã giơ nắm đấm lên đánh Linde một trận tơi tả.

Phương pháp này có thể giúp con người thoát khỏi ác mộng à?

Hình như là không?

Johnson sờ sờ chóp mũi, gạt đi nghi hoặc này, tiếp tục phân tích: “Nếu không có <i>liên hệ</i> thì không thể tiến vào giấc mơ, cho dù có đi nhầm vào cũng không thể. Chúng ta mới đến thành phố này, người có liên hệ với chúng ta chỉ có thể là thành viên của giáo phái bí mật, đặc biệt là người trước đó đã dùng <i>vật chưa rõ</i> kia để nhìn lén chúng ta. Trừ khi có nhiều giáo phái trong thành phố này, , nếu không thì nơi con người đó đang nằm chắc chắn là nơi trú chân của giáo phái bí mật mà chúng ta đang tìm kiếm.”

Gymir xoa ngón tay đang đặt trên vai Johnson, trầm ngâm nói: “Có lý đấy, Linde bị nguyền rủa và người nhìn thấy con quái vật tháp chuông đều bị tổn thương tinh thần khá lớn, cần một nơi an toàn và kín đáo để hồi phục, khi họ bất tỉnh, có thể cơ thể họ đang ở rất gần nhau, nên đã bước lầm vào giấc mơ…”

Nơi này quả thực là vùng trung tâm của giáo phái! Chỉ riêng hiệu ứng chia cách có thể “cắt đứt liên hệ” của Linde thôi đã rất quý giá rồi.

“Tìm được không?”

Cần phải dịch câu hỏi của Gymir ra thành: Có thể tìm ra nơi ẩn náu đó mà không phá hủy các tòa nhà của thành phố không?

“Được.” Johnson nói với nét mặt lạ lùng: “Phải cảm ơn sai lầm của con người kia, lời hứa của anh ta đã <i>làm sâu sắc thêm</i> mối liên hệ, chỉ đúng hướng cho em.”

Hans cho rằng đứa trẻ trên gác mái là quyến thuộc của tà thần, anh muốn tìm hiểu nguồn gốc sức mạnh của tà thần xâm chiếm thành phố bằng cách thuyết phục nó. Rất thiếu thận trọng, hành động cảm tính, hứa hẹn lung tung. Tuy nhiên, mong muốn cứu đứa trẻ lúc đó lại là thật lòng.

Johnson giấu đi cảm xúc trong mắt, bình tĩnh nói: “Là một con kiến biết phát sáng.”

“Vậy chúng ta còn chờ đợi gì nữa?”

***

Hans nằm trên sàn đá cứng ngắc. Ý thức của anh dường như đã trở thành một bóng ma, trôi nổi trong hầm ngục.

Chiếc đèn treo bằng thủy tinh ở lối vào hầm ngục lóe lên màu đỏ chói mắt, đồng thời phát ra âm thanh vừa kỳ lạ vừa đáng sợ.

Không lâu sau, một nhóm người mặc áo choàng xám xông vào hầm ngục, tay cầm vũ khí có khắc ký tự rune, tỏ ra hết sức lo lắng.

Hans vội nói chuyện với họ, nhưng không ai nhìn thấy Hans.

Nhóm người áo choàng xám xác nhận Hans ở trong phòng không sao, rồi lập tức đi đến căn phòng cuối cùng của hầm ngục. Hans cũng bay theo.

Căn phòng này được trang bị những vật dụng đơn giản hàng ngày, có một chiếc giường và một chiếc bàn, khác hẳn với căn phòng mà Hans đang nằm, nhìn là biết có người sống ở đó lâu dài. Nhưng những bức tường đá phủ đầy những dòng chữ lộn xộn, một số được viết bằng ngón tay thấm đẫm máu.

Thù hận, đồ điên, Brandon, quái vật… Bốn chữ này được viết không biết bao nhiêu lần, nhiều chữ cái chồng lên nhau làm người ta nhìn mà choáng váng.

Một thi thể không đầu nằm vắt ngang qua căn phòng. Cái đầu không bay ra ngoài, cũng không nổ tung. Hình ảnh không hề thảm thiết như trong tưởng tượng. Cái xác trông giống như bị thứ gì đó đốt cháy phần đầu hơn, bên cạnh thi thể còn sót lại một ít tro đen cháy đen.

Nhóm người áo choàng xám cẩn thận lấy đồ dùng ra, niêm phong toàn bộ tro và xác chết.

“…Người đàn ông tội nghiệp cuối cùng đã được giải thoát!”

“Nghe nói là người Luân Đôn?”

“Im đi, nếu không nên tò mò thì đừng tò mò.” Người cầm đầu áo choàng xám nghiêm giọng quát.

Hans biết người thủ lĩnh này, theo độ tuổi, lẽ ra anh nên gọi ông ta là chú Andreas, nhưng dù có gọi thế nào thì ông ta cũng phớt lờ anh.

Trước khi rời đi, thủ lĩnh Andreas đã đến bên giường của Hans, nhờ bác sĩ trong giáo phái chữa trị cho Hans.

“Cậu ta vẫn tạm ổn, chỉ là đôi mắt…” Bác sĩ vạch mí mắt Hans ra, nhìn vào đôi mắt bị phủ vảy trắng rồi ngập ngừng nói: “Có lẽ là không khôi phục được.”

Andreas gật đầu, ghìm giọng nói: “Thế đã là may mắn rồi, anh cũng biết đấy… Nếu nó sống sót, có thể Giáo chủ sẽ bắt nó tiếp tục sử dụng Con mắt Hoa Hồng, nhưng hiện tại mắt nó có vấn đề thì không còn nguy cơ như vậy nữa.”

“Quái vật lần này là gì, có làm cho Venice bị hủy diệt không?”

“Tôi không biết.” Andreas sa sầm mặt đáp.

Hans muốn nói với Andreas rằng quái vật xông vào thành phố lần này có liên quan đến xác chết vừa rồi. Anh cũng muốn thừa nhận sai lầm ngu ngốc của mình, anh đã chọc giận một tà thần trong giấc mơ.

Hans cố gắng gào thét, đuổi theo Andreas, nhưng lại bị chặn ở lối vào hầm ngục. Hans cuối cùng cũng nhận ra rằng mình đang ở trong một trạng thái tinh thần đặc biệt, ý thức của anh bị phân tán khắp hầm ngục, anh có thể “nhìn thấy” hoặc “nghe thấy” những gì xảy ra ở đây.

Nhưng người khác không thể nhìn thấy anh.

Hans vừa đau đớn vừa hối hận.

Lúc này, một cơn gió lạnh vô hình thổi vào hầm ngục, trên tường xuất hiện một lớp sương trắng thật mỏng.

Trước khi chiếc đèn treo thủy tinh kia kịp đổi màu và gửi “cảnh báo” ra bên ngoài, nó đã vỡ toang. Bột màu đỏ thẫm bay lả tả khắp trong hầm ngục như tuyết rơi, rồi bị đông cứng trong lớp băng dày.

Sương trắng che phủ ký tự rune, cái lạnh dập tắt ngọn đuốc.

Hầm ngục vốn phải phải tối tăm, nay lại có lớp băng lấp lánh màu hoa hồng đỏ chiếu sáng xung quanh, tựa như trong một giấc mơ.

Cộp, cộp.

Lại là tiếng bước chân đó.

Ý thức của Hans dường như bị xua đuổi, càng lúc càng co lại, cuối cùng bị ép vào trong cơ thể đang nằm trên chiếc giường đá, kinh hoàng nhìn bóng tối bên ngoài căn phòng đá.

Tà thần đến rồi.

<i>……</i>

<i>Trong thế giới của Cthulhu có một câu nói rất quan trọng, cảm xúc lâu đời nhất và mạnh mẽ nhất của con người là nỗi sợ hãi, nỗi sợ hãi lâu đời nhất và mạnh mẽ nhất đến từ những điều chưa biết.</i>

<i>Tôi không biết có cuốn tiểu thuyết nào khác có bối cảnh như vậy không, nhưng tóm lại suy nghĩ đầu tiên của tôi là, nếu ai đó sinh ra mà không sợ hãi thì sao?</i>

<i>Tất nhiên, thể xác và tinh thần của người này không thể chống lại sức mạnh của tà thần, giống như sự sống tiến đến gần mặt trời sẽ chỉ có thể hóa thành tro bụi.</i>

<i>Nhưng trong hoàn cảnh đặc biệt, liệu một câu chuyện đặc biệt có xảy ra không? Đây là cách nhân vật chính Johnson của chúng ta xuất hiện.</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 53


<b>Chương 53</b>

<b>Hai chiều</b>

“Hử?”

Johnson đột nhiên dừng bước.

Ai đó đã chạm vào điểm cuối của sức mạnh mở rộng của y, cảm giác này thật lạ lùng.

Con kiến tầm thường đang cố gắng nhón chân lên chạm vào bản thể của thần linh, hoàn toàn không biết rằng mình đang bước vào cõi chết.

***

Hans nửa quỳ trên mặt đất. Dù vậy, anh vẫn cao hơn đứa trẻ rất nhiều, để nhìn thẳng vào đôi mắt xanh nhạt vô cảm kia, Hans chỉ có thể cúi đầu, ôm lấy vai nó mà nói: “Đừng tiếp tục chờ đợi lời xin lỗi từ một thứ súc vật, điều đó không đáng đâu.”

Cảnh tượng trong giấc mơ lại thay đổi, họ trở về căn gác mái đổ nát và tối tăm.

Roi ngựa của Linde rơi xuống sàn, gã nằm trên mặt đất với khuôn mặt bầm tím sưng vù, răng mất vài chiếc.

Sự biến dạng trên cơ thể Linde cũng biến mất. Gã bây giờ trông giống như một đứa trẻ bị đánh đập dã man, bộ dạng nhếch nhác, ánh mắt sợ hãi, muốn kêu cứu nhưng chỉ có thể phát ra những âm thanh kỳ lạ, vì má sưng quá lớn nên mắt trái chỉ còn là một khe hở, còn mắt phải thì sưng đến nỗi không thấy đâu nữa.

Hans: “…”

Những tổn thương trong giấc mơ không được phục hồi nhanh chóng sau khi chuyển cảnh à? Tại sao vết thương được giữ nguyên vẹn thế?

Hans đưa mắt nhìn về phía đứa trẻ kỳ quặc trên gác mái, ngập ngừng hỏi: “Tôi đoán sai à? Cậu không quan tâm đến lời xin lỗi của Linde nữa, chỉ muốn ai đó đánh ông ta thôi?”

Nếu điều này có thể chữa lành một trái tim tan vỡ, một đứa trẻ tội nghiệp bị tà thần ô nhiễm và biến thành quái vật, thì Hans nghĩ mình có thể đánh thêm vài hiệp nữa, dù sao cũng không cần tốn nhiều công sức.

“Họ… dùng cậu làm vật tế cho vị thần nào vậy?” Hans bức thiết hỏi, anh nhanh chóng nhận ra sự liều lĩnh của mình, cố gắng nói chậm lại: “Thật ra trên đời này có rất nhiều quyến thuộc của tà thần, trong đó có một số còn lưu giữ ký ức của con người giống như cậu vậy, chỉ cần thần của họ hoàn toàn ngủ say, họ sẽ không bị khống chế…”

Gác mái ngập trong những âm thanh sột soạt kỳ lạ. Những dây leo đen cứ kéo dài mãi, biến nơi này thành một hang ổ quái dị, kín như bưng.

Hans theo bản năng muốn lao ra ngoài, chạy trốn khỏi nơi khủng khiếp này. Nhưng nghĩ đến con quái vật đáng sợ xuất hiện ở Venice, anh nghiến răng chống lại bản năng sợ hãi, vẫn bất động. Việc có thể thoát khỏi giấc mơ này hay không đã không còn quan trọng nữa, không thể bỏ qua manh mối. Nếu có thể cứu được linh hồn của một đứa trẻ vô tội, còn cứu được cả thành phố này thì thật đáng giá.

Nghĩ đến đây, Hans cố gắng hết sức phớt lờ những biến đổi xung quanh, anh nóng lòng hỏi: “Cậu đang ở đâu, ra khỏi giấc mơ này rồi tôi sẽ tìm cậu, tôi sẽ không lừa cậu, nhất định sẽ tìm…”

Mọi thứ bỗng tối đen như mực, mọi âm thanh đều biến mất.

Hans cảm thấy lòng bàn tay trống rỗng, đứa trẻ đó đã không biến mất.

Cộp, cộp.

Tiếng bước chân vang lên từ thế giới yên lặng chết chóc.

Có ai đó đã bước vào giấc mơ này.

Không, phải là có thứ gì đó đã lần theo cơn ác mộng để tìm đến đây.

Hans căng thẳng đến mức không thở được. Anh thậm chí còn có một cảm giác hoang đường… như thể mình là một kẻ buôn người đang bắt cóc một đứa trẻ, không may đụng phải người giám hộ của nó.

Lúc này, một giọng nói lạnh như băng vang lên khiến toàn thân anh run rẩy: “Anh đang tìm ai?”

Bóng tối rút đi như thủy triều.

Đứa trẻ có vẻ ngoài kỳ quái đứng trước mặt anh, miệng phát ra giọng nói của một người đàn ông trưởng thành hoàn toàn khác với vẻ ngoài.

“Anh muốn đưa ta đi đâu?”

Hans há miệng, nhưng không phát ra được âm thanh nào. Anh cảm thấy tất cả xương cốt trong cơ thể mình đang kêu gào, thúc giục anh chạy trốn.

Anh lùi lại từng bước một.

Trường hợp tồi tệ nhất! Trường hợp kinh khủng nhất!

Đứa trẻ này không phải là quyến thuộc của tà thần, mà đã bị tà thần nuốt chửng hoàn toàn.

Tà thần không thể giữ lại ký ức vật tế, đây là một cái bẫy?

Gác mái rung chuyển dữ dội, giấc mơ đang tan vỡ.

Hans nghe thấy tiếng hét thảm thiết phát ra từ Linde.

Mặt đất của gác mái biến thành một cơn lốc màu xám khổng lồ, đứa trẻ bị cơn lốc nuốt chửng.

Nơi trung tâm lốc xoáy, dường như có một người đàn ông đang đứng ở đó.

Giọng nói của y như xa như gần, bóng dáng cũng mờ ảo.

“Anh muốn cứu đứa trẻ này? Đáng tiếc, anh đã đến muộn năm mươi năm.”

Đầu Hans quay cuồng như thể bị ai đó dùng gậy đánh mạnh.

Sau đó dưới chân anh trống rỗng, anh rơi xuống vực thẳm vô tận.

***

“Em phát hiện ra cái gì?” Gymir thò đầu sang. Vài cái bóng mảnh và dài lặng lẽ quấn quanh bàn tay Johnson, hơi kéo y về phía mình.

Nhờ màn đêm che chắn, vài sợi dây leo mềm mại mọc ra từ tay áo Johnson, ngăn cản mấy cái bóng không biết điều kia bò cao hơn lên cánh tay y.

“Một con người đã đột nhập vào… giấc mơ mà em đã tạo ra.”

Johnson suy nghĩ ba giây, xác định người kia không mất mạng tại chỗ.

Nhưng Linde có vẻ đã chết. Khi y bước vào giấc mơ đó, Linde chỉ còn thoi thóp. Sự xuất hiện của Johnson làm giấc mơ mất cân bằng hoàn toàn, khiến Linde bốc hơi và biến mất ngay lập tức như sương mù bị mặt trời chiếu vào.

Johnson thoát khỏi dòng suy nghĩ của mình, phát hiện mình bị quấn quanh bởi một cái bóng khổng lồ.

“Sao lại có con người? Con người mà ta không biết? Hắn đặc biệt à?” Gymir bất mãn hỏi.

Johnson để mặc cái bóng của Gymir xoa lên cổ mình, y nhìn đám đông hỗn loạn ở đằng xa, nghiêm túc nói: “Đó là manh mối tự mình tìm đến, một manh mối giúp chúng ta không cần phải lang thang khắp nơi trong thành phố tối tăm.”

“Ồ?” Động tác của Gymir khựng lại.

“Đó chính là giáo phái bí mật chúng ta đang tìm kiếm, em chắc chắn.” Johnson đáp.

Gymir nghiêng đầu, thắc mắc tại sao hắn và Johnson ở bên nhau từ đầu đến cuối, vậy tại sao manh mối lại không chạy vào tay mình?

“Em đã làm gì?” Gymir hỏi một cách tò mò và khiêm tốn, cố gắng học một số thủ thuật ngụy trang làm con người để phá án.

Johnson im lặng, nên nói thế nào nhỉ?

“Anh còn nhớ Linde Brandon không? Kẻ được cứu khỏi bệnh viện ở Luân Đôn hai năm trước!”

Nhắc đến cái tên Brandon thì Gymir có ấn tượng. Màn biểu diễn của lũ kiến lần đó thật đặc sắc, quá hay ho.

Johnson giải thích lại phát hiện của mình, Gymir hơi cau mày: “…Ý em nói, người đã cứu Linde rất có thể là giáo phái bí mật đang bảo vệ Venice?”

“Ít nhất thì gã đã mượn sức mạnh của giáo phái này để che giấu bản thân, thủ đoạn này rất hiệu quả, em không ngờ gã đang ở gần mình đến vậy.” Johnson điềm tĩnh hơn Gymir một chút, y biết con người đã đạt được những thành tựu to lớn trong lĩnh vực huyền bí học. Thành tích này tuy không có gì đáng nói trước thần cổ xưa, nhưng chỉ cần không bị thần “nhìn vào” thì những thủ thuật nhỏ này lại rất hiệu quả.

“Anh ta lạc vào cơn ác mộng bị thống trị bởi sức mạnh của em, giấc mộng thuộc về Linde, con người này hiểu về hiến tế, biết về mối quan hệ giữa tà thần và quyến thuộc, đồng thời còn có thể… chữa trị ác mộng?” Johnson nói nói đến đây thì không chắc chắn cho lắm, bởi vì sau khi con người kia cố gắng thuyết phục Linde mà không có kết quả, anh ta đã giơ nắm đấm lên đánh Linde một trận tơi tả.

Phương pháp này có thể giúp con người thoát khỏi ác mộng à?

Hình như là không?

Johnson sờ sờ chóp mũi, gạt đi nghi hoặc này, tiếp tục phân tích: “Nếu không có <i>liên hệ</i> thì không thể tiến vào giấc mơ, cho dù có đi nhầm vào cũng không thể. Chúng ta mới đến thành phố này, người có liên hệ với chúng ta chỉ có thể là thành viên của giáo phái bí mật, đặc biệt là người trước đó đã dùng <i>vật chưa rõ</i> kia để nhìn lén chúng ta. Trừ khi có nhiều giáo phái trong thành phố này, , nếu không thì nơi con người đó đang nằm chắc chắn là nơi trú chân của giáo phái bí mật mà chúng ta đang tìm kiếm.”

Gymir xoa ngón tay đang đặt trên vai Johnson, trầm ngâm nói: “Có lý đấy, Linde bị nguyền rủa và người nhìn thấy con quái vật tháp chuông đều bị tổn thương tinh thần khá lớn, cần một nơi an toàn và kín đáo để hồi phục, khi họ bất tỉnh, có thể cơ thể họ đang ở rất gần nhau, nên đã bước lầm vào giấc mơ…”

Nơi này quả thực là vùng trung tâm của giáo phái! Chỉ riêng hiệu ứng chia cách có thể “cắt đứt liên hệ” của Linde thôi đã rất quý giá rồi.

“Tìm được không?”

Cần phải dịch câu hỏi của Gymir ra thành: Có thể tìm ra nơi ẩn náu đó mà không phá hủy các tòa nhà của thành phố không?

“Được.” Johnson nói với nét mặt lạ lùng: “Phải cảm ơn sai lầm của con người kia, lời hứa của anh ta đã <i>làm sâu sắc thêm</i> mối liên hệ, chỉ đúng hướng cho em.”

Hans cho rằng đứa trẻ trên gác mái là quyến thuộc của tà thần, anh muốn tìm hiểu nguồn gốc sức mạnh của tà thần xâm chiếm thành phố bằng cách thuyết phục nó. Rất thiếu thận trọng, hành động cảm tính, hứa hẹn lung tung. Tuy nhiên, mong muốn cứu đứa trẻ lúc đó lại là thật lòng.

Johnson giấu đi cảm xúc trong mắt, bình tĩnh nói: “Là một con kiến biết phát sáng.”

“Vậy chúng ta còn chờ đợi gì nữa?”

***

Hans nằm trên sàn đá cứng ngắc. Ý thức của anh dường như đã trở thành một bóng ma, trôi nổi trong hầm ngục.

Chiếc đèn treo bằng thủy tinh ở lối vào hầm ngục lóe lên màu đỏ chói mắt, đồng thời phát ra âm thanh vừa kỳ lạ vừa đáng sợ.

Không lâu sau, một nhóm người mặc áo choàng xám xông vào hầm ngục, tay cầm vũ khí có khắc ký tự rune, tỏ ra hết sức lo lắng.

Hans vội nói chuyện với họ, nhưng không ai nhìn thấy Hans.

Nhóm người áo choàng xám xác nhận Hans ở trong phòng không sao, rồi lập tức đi đến căn phòng cuối cùng của hầm ngục. Hans cũng bay theo.

Căn phòng này được trang bị những vật dụng đơn giản hàng ngày, có một chiếc giường và một chiếc bàn, khác hẳn với căn phòng mà Hans đang nằm, nhìn là biết có người sống ở đó lâu dài. Nhưng những bức tường đá phủ đầy những dòng chữ lộn xộn, một số được viết bằng ngón tay thấm đẫm máu.

Thù hận, đồ điên, Brandon, quái vật… Bốn chữ này được viết không biết bao nhiêu lần, nhiều chữ cái chồng lên nhau làm người ta nhìn mà choáng váng.

Một thi thể không đầu nằm vắt ngang qua căn phòng. Cái đầu không bay ra ngoài, cũng không nổ tung. Hình ảnh không hề thảm thiết như trong tưởng tượng. Cái xác trông giống như bị thứ gì đó đốt cháy phần đầu hơn, bên cạnh thi thể còn sót lại một ít tro đen cháy đen.

Nhóm người áo choàng xám cẩn thận lấy đồ dùng ra, niêm phong toàn bộ tro và xác chết.

“…Người đàn ông tội nghiệp cuối cùng đã được giải thoát!”

“Nghe nói là người Luân Đôn?”

“Im đi, nếu không nên tò mò thì đừng tò mò.” Người cầm đầu áo choàng xám nghiêm giọng quát.

Hans biết người thủ lĩnh này, theo độ tuổi, lẽ ra anh nên gọi ông ta là chú Andreas, nhưng dù có gọi thế nào thì ông ta cũng phớt lờ anh.

Trước khi rời đi, thủ lĩnh Andreas đã đến bên giường của Hans, nhờ bác sĩ trong giáo phái chữa trị cho Hans.

“Cậu ta vẫn tạm ổn, chỉ là đôi mắt…” Bác sĩ vạch mí mắt Hans ra, nhìn vào đôi mắt bị phủ vảy trắng rồi ngập ngừng nói: “Có lẽ là không khôi phục được.”

Andreas gật đầu, ghìm giọng nói: “Thế đã là may mắn rồi, anh cũng biết đấy… Nếu nó sống sót, có thể Giáo chủ sẽ bắt nó tiếp tục sử dụng Con mắt Hoa Hồng, nhưng hiện tại mắt nó có vấn đề thì không còn nguy cơ như vậy nữa.”

“Quái vật lần này là gì, có làm cho Venice bị hủy diệt không?”

“Tôi không biết.” Andreas sa sầm mặt đáp.

Hans muốn nói với Andreas rằng quái vật xông vào thành phố lần này có liên quan đến xác chết vừa rồi. Anh cũng muốn thừa nhận sai lầm ngu ngốc của mình, anh đã chọc giận một tà thần trong giấc mơ.

Hans cố gắng gào thét, đuổi theo Andreas, nhưng lại bị chặn ở lối vào hầm ngục. Hans cuối cùng cũng nhận ra rằng mình đang ở trong một trạng thái tinh thần đặc biệt, ý thức của anh bị phân tán khắp hầm ngục, anh có thể “nhìn thấy” hoặc “nghe thấy” những gì xảy ra ở đây.

Nhưng người khác không thể nhìn thấy anh.

Hans vừa đau đớn vừa hối hận.

Lúc này, một cơn gió lạnh vô hình thổi vào hầm ngục, trên tường xuất hiện một lớp sương trắng thật mỏng.

Trước khi chiếc đèn treo thủy tinh kia kịp đổi màu và gửi “cảnh báo” ra bên ngoài, nó đã vỡ toang. Bột màu đỏ thẫm bay lả tả khắp trong hầm ngục như tuyết rơi, rồi bị đông cứng trong lớp băng dày.

Sương trắng che phủ ký tự rune, cái lạnh dập tắt ngọn đuốc.

Hầm ngục vốn phải phải tối tăm, nay lại có lớp băng lấp lánh màu hoa hồng đỏ chiếu sáng xung quanh, tựa như trong một giấc mơ.

Cộp, cộp.

Lại là tiếng bước chân đó.

Ý thức của Hans dường như bị xua đuổi, càng lúc càng co lại, cuối cùng bị ép vào trong cơ thể đang nằm trên chiếc giường đá, kinh hoàng nhìn bóng tối bên ngoài căn phòng đá.

Tà thần đến rồi.
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 54


<b>Chương 54</b>

<b>Bán rẻ linh hồn</b>

Johnson không có ý định hù dọa con người đâu.

Tại vì giày da bóng luôn gây ra tiếng ồn khi đi lại thôi mà.

Cái gì, sao lại phải đi giày da bóng? Ồ, đó là trang phục chuẩn mực của một quý ông người Anh. Bất cứ khi nào mặc quần áo của con người thì lại luôn có những vấn đề tương tự.

Nếu như để Johnson cho lời khuyên, y sẽ nói một cách chắc chắn rằng nghe được tiếng bước chân của tà thần là điều tốt, điều này giúp phân tích được tà thần đang sử dụng hình thái nào, nếu đó là âm thanh kéo lê cơ thể hết sức kỳ lạ thì hẳn là thật tồi tệ rồi, còn một hóa thân biết đi giày trông không có vẻ gì là muốn giết người, phải không nào?

Cộp, cộp.

Tiếng đế giày giẫm lên mặt băng vang đi rất xa.

Johnson bước càng lúc càng chậm, y nhận thấy con người trong hầm ngục kia đã sợ đến suýt ngất rồi.

Không phải thế chứ? Tiếng bước chân rõ ràng như vậy, sợ cái gì?

Người bình thường không hiểu được điều này, nhưng anh là thành viên của một giáo phái bí mật, có kiến thức sâu sắc về huyền bí học, thế mà lại không thể phân tích được ý nghĩa đằng sau tiếng bước chân của tà thần?

Johnson hơi thất vọng.

Nhưng y nhanh chóng nghĩ đến một lý do khác, có lẽ do quá lạnh? Y liếc nhìn lớp băng rắn chắc xung quanh. Đây là tác động tiêu cực sinh ra từ việc y dùng sức mạnh để “định vị”.

Gymir cũng đang quan sát bức tường hầm ngục, bột mịn màu đỏ thẫm tuyệt đẹp bị đóng băng trong lớp băng dày, trong suốt như pha lê. Dù là đang tìm kiếm một con kiến biết phát sáng, nhưng nơi con kiến sống lại lấp lánh, quả là kỳ lạ phải không!

“Đây là cái gì vậy? Pha lê?”

“Có lẽ đó là thủy tinh, một loại đá quý trong suốt do con người tạo ra.” Johnson giải thích.

Gymir đưa tay ra và chạm vào bức tường.

Những khối băng lặng lẽ tan chảy, những hạt mịn sáng lấp lánh kia “chảy” vào tay Gymir. Những đám bụi màu hoa hồng đỏ này vẽ nên những móng vuốt sắc nhọn, những màng trong mờ, cùng với chiếc vây cá mượt như tơ dính trên cổ tay trong bóng tối. Giống như đang ôm ấp một giấc mơ tuyệt vời. Ánh sáng yếu ớt phản chiếu trên mái tóc đỏ xoăn dài, dòng nước róc rách thấm ướt áo, chảy dọc theo cánh tay, tụ lại thành vũng dưới chân.

Gymir tháo mặt nạ, mỉm cười với Johnson đi đằng trước.

Johnson vì nhận ra Gymir đang “phá đám” ở đằng sau nên chuẩn bị ngăn cản: “…”

“Đừng làm tan băng, ký tự rune trên tường sẽ bị kích hoạt.” Johnson khó khăn nặn ra từng chữ qua kẽ răng.

Tạm thời chưa thể đánh động giáo phái bên ngoài được. Dịch vụ xoa bóp ấm áp của ngọn lửa phốt pho rất tuyệt, nhưng trong hầm ngục vẫn còn con người mà họ đang tìm kiếm, con người quá mỏng manh.

Johnson bước vào căn phòng đá nơi Hans đang ở.

Nhìn một người đàn ông có thân hình cường tráng, vẻ ngoài hung dữ đang cuộn tròn đáng thương trên giường (do bị đông cứng) thì sẽ mang lại cảm giác thế nào?

Johnson: “…”

Dùng một phiến đá làm giường thì cũng thôi đi, nó lại còn quá ngắn, không thể duỗi thẳng chân được. Giáo phái này nghèo lắm sao?

“Hử?” Hình như ánh hào quang phát ra từ con người này hơi phân tán quá thì phải? Johnson nhanh chóng nhận ra rằng đây là di chứng của cơn ác mộng, ý thức không thể quay trở lại cơ thể một cách suôn sẻ, chỉ có thể lơ lửng như thế này.

“Xảy ra chuyện gì?” Gymir đeo mặt nạ vào lại, biến bàn tay của mình trở lại hình dạng con người, bước vào hầm ngục.

Quả cầu ánh sáng ý thức của Hans vụt một cái trượt xuống gầm giường đá.

Trong tầm nhìn của Hans lúc này, Johnson chính là con quái vật gác mái được phóng to, hình dáng mờ ảo được bao bọc trong những vòng khói giống như dây leo. Làn khói này kéo theo một vệt dài, nối liền với một bóng đen khác kỳ lạ hơn và to lớn hơn. Nó là con quái vật chỉ xuất hiện trong những cơn ác mộng, đầu chạm đến trần hầm ngục, khi cơ thể khổng lồ di chuyển vào, nó mở rộng ra để lấp đầy từng phân không gian trong phòng. Dường như nó đang tuyên bố rằng thế giới sẽ chìm xuống vực thẳm, mọi thứ sẽ bị nuốt chửng.

Không phải là một tà thần!

Mà là hai!

Hans tuyệt vọng rúc vào gầm giường. Anh không cách nào khống chế được nỗi khiếp sợ trong lòng, cơ thể cứng ngắc rơi xuống.

Bịch.

Cơ thể nằm trên giường đá lập tức lăn xuống. Một tiếng r*n r* đau đớn như sắp chết vang lên, Hans lảo đảo bò dậy, theo cái cách có thể xác.

Ban đầu Johnson còn đang phiền muộn về việc làm thế nào giải quyết vấn đề ý thức và cơ thể của Hans không tương thích, ai ngờ họ hù dọa một cái, anh liền tự mình khỏi bệnh?

Hans cong lưng lại, khó khăn ngẩng đầu lên. Đôi mắt quái dị phủ vảy trắng dường như có thể nhìn thấy sự vật, anh sợ hãi nhìn Johnson và Gymir.

“Mắt của anh ta…”

Dường như là bị sức mạnh làm ô nhiễm, nhưng chỉ là đột biến, không có dấu hiệu chuyển biến xấu thêm.

Johnson chưa bao giờ gặp phải tình trạng này.

“Hơi lạ một chút, có lẽ nó có liên quan gì đến thứ đó trong giáo phái của họ chăng? Hắn nhìn thấy bóng của chúng ta thông qua một thứ gì đó có thể nhìn trộm vào thế giới chân thực, cộng với ý chí, sự may mắn, thêm vào mối liên hệ với cơn ác mộng, nên thành ra như thế này.”

Gymir đánh giá Hans. Lúc đầu hắn không hài lòng lắm, con kiến này biết phát sáng thì có phát sáng thật, nhưng độ sáng không cao. Nhưng với đôi mắt đột biến đặc biệt này thì Hans lại trở thành chủng loài quý hiếm.

“Các ngài… Các ngài định làm gì?” Hans yếu ớt hỏi, anh đi được vài bước thì lại ngã xuống. Tiếng anh phát ra rất nhỏ, đầu óc thì choáng váng, nhưng anh vẫn kiên trì.

“Ngươi có thể nói với chúng ta về giáo phái của các ngươi.”

“Không…”

“Vậy chúng ta nói về cảnh tượng thành phố này khi bị phá hủy đi, khu rừng chết chóc phát ra những tiếng rên bi thảm, những xác chết im lặng dưới nước hàng trăm năm phá bỏ xiềng xích, ôm lấy ánh nắng, sau đó hấp thu sức mạnh từ những ngôi sao, nhóm lên ngọn lửa hận thù, cùng thành phố này cháy thành tro bụi.”

“Không!” Hans lấy lại được chút sức lực, anh cố gắng ngẩng đầu lên, trừng mắt nhìn Gymir.

Johnson cũng đang nhìn Gymir, ra hiệu bằng mắt: Mất bao công sức mới tìm được một con kiến phát sáng, đừng dọa nó sợ chết khiếp.

“Ngươi có hiểu về vết thương của mình không?” Gymir cố tình kéo dài giọng, giọng nói của hắn có sức mạnh mê hoặc lòng người.

Nhưng trong mắt Hans, âm thanh cũng có màu sắc. Lời nói của con quái vật này giống như một đám mây khí độc, tỏa ra ánh sáng xanh lục quỷ dị. Hans vô thức bịt tai lại, nhưng ánh sáng xanh mê hoặc kia vẫn nhanh chóng lan rộng, bao trùm lấy anh và một tà thần khác trong phòng. Đầu óc Hans choáng váng, theo bản năng sai khiến ah tuân theo mệnh lệnh của giọng nói này. Để giữ tỉnh táo, Hans buộc phải tự đập đầu xuống nền đất lạnh giá.

Gymir: “…”

Dù không sử dụng hóa thân người cá, nhưng hành động của Hans vẫn làm hắn thấy mất mặt lắm. Có sinh vật nào trên hành tinh này có giọng nói hay hơn hắn không? Không có! Gymir chưa bao giờ trải qua tình huống bị ghét vì giọng nói của mình.

“Bình tĩnh bình tĩnh, đó là do đôi mắt của anh ta.” Johnson giữ cánh tay của Gymir lại, nhắc nhở hắn.

Johnson quay sang nói với Hans: “Biến đổi sẽ khiến phần đời còn lại của anh chìm trong đau đớn, nhìn thấy những thứ không nên thấy là một cực hình không thể tưởng tượng được đối với con người.”

“Tôi có phần còn lại của cuộc đời mình không?” Hans ngơ ngác hỏi.

Hai tà thần đến Venice, anh đang ở khoảng cách gần nhất, liệu anh còn có thể sống sót không?

“Cũng không hẳn là thế.” Johnson quyết định tự mình lên tiếng, tránh trường hợp giọng nói của Gymir khiến Hans sợ hãi đến phát điên. “Chỉ cần đạt được điều mình muốn, chúng ta không nhất thiết phải phá hủy thành phố.”

“…” Hans muốn nói điều gì đó nhưng rồi ngậm miệng lại.

luật của giáo phái viết rằng không thể tin lời tà thần nói. Tà thần về cơ bản sẽ không giao tiếp với con người, nếu có thần sẵn lòng làm điều này thì chỉ là để đùa giỡn với con người, để nhìn thấy cảnh tượng bi thảm hơn mà thôi.

“Ta muốn biết tại sao Linde Brandon lại xuất hiện ở Venice, tại sao lại được giáo phái của anh bảo vệ?” Johnson tiếp tục.

Thông thường để làm tê liệt con người, ban đầu tà thần sẽ đưa ra một yêu cầu tầm thường, rất dễ thực hiện, nhưng sẽ có cạm bẫy ẩn sau yêu cầu đó.

Mặt Hans tái nhợt. Theo yêu cầu trong luật của giáo phái, lúc này nên nhanh chóng tự sát để tránh xảy ra những điều khủng khiếp hơn. Nhưng tà thần dường như nhìn ra được ý đồ của anh, toàn thân Hans cứng đờ, không thể cử động.

“Anh đã thấy giấc mơ đó. Đứa trẻ trên gác mái. Nó được hiến tế cho thần khi mới sáu tuổi.”

Giọng nói của Johnson như một cơn gió, không ngừng trôi vào tâm trí Hans. Mặt Hans tái xanh.

“Anh biết ý nghĩa của hiến tế, cũng biết học giả huyền bí học và những nhà thám hiểm điên cuồng theo đuổi loại vật tế bẩm sinh này là để làm gì.” Johnson dừng lại vài giây, rồi chậm rãi nói những lời tàn khốc: “Chúng muốn đánh cắp sức mạnh của thần, dùng vật tế làm vật môi giới, để vật tế chịu đựng sự đau đớn và tổn thương, rồi có được một số biến đổi <i>được phép cùng tồn tại</i>. Giáo phái của anh đã làm điều tương tự phải không?”

“Chúng tôi… muốn bảo vệ thành phố này.” Hans khó khăn nói.

Gymir mỉa mai hỏi: “Khu rừng bị nguyền rủa do chính các ngươi tạo ra?”

Hans không trả lời được.

Khu rừng chết chóc bên dưới Venice, ban đầu không ai khám phá ra, có lẽ vào khoảng thế kỷ XIV, người ta phát hiện ra mối nguy này. Nhưng thành phố này là trung tâm của thời kỳ Văn hóa Phục hưng châu Âu, viên ngọc quý của biển Adriatic, sự giàu có và danh tiếng của nó được cả thế giới biết đến, nó còn là một lãnh thổ độc lập và tự trị mà các quý tộc cai trị thành phố không thể từ bỏ.

Nhờ đó, giáo phái phát triển thịnh vượng, trở thành sức mạnh huyền bí bảo vệ thành phố, trở thành nền tảng của thành phố này trong một thời gian dài, sống chết cùng Venice. Dù là ai trở thành người cai trị thành phố này, cũng phải chấp nhận sự tồn tại của giáo phái.

“Nhưng chúng tôi chưa giết một đứa trẻ nào… Ít nhất trong một trăm năm qua, giáo phái không làm điều đó.” Hans kiên định nói.

“Anh biết bao nhiêu về giáo phái của mình? Anh có phải là thủ lĩnh cấp cao trong giáo phái của mình không?”

Hans ngừng nói, trán toát mồ hôi lạnh.

Trên thực tế, anh cũng biết rằng giáo phái không hề thương tiếc gì những thường dân bị “ô nhiễm” hoặc “có khả năng bị ô nhiễm”. Khi đối tượng bị ô nhiễm biến thành một quý tộc giàu có và địa vị, cách xử lý sẽ ngay lập tức thay đổi, sẽ có kế hoạch điều trị, có biện pháp bảo vệ. Ví dụ, người vào ở trong hầm ngục này chắc chắn là những người còn giá trị đối với giáo phái.

Hans biết giá trị của mình nằm ở đâu, nhưng còn Linde thì sao? Linde không phải học giả huyền bí học, gã dường như đã mất hết tài sản, trở thành một kẻ khốn khổ tay trắng, giáo phái đưa Linde đến Venice, đồng thời cũng thu hút tà thần đằng sau cơn ác mộng của Linde, vậy có đáng không?

“…Bởi vì giáo phái mà anh dâng lên lòng trung thành đó, biết về nghiên cứu của mục sư Cornell, biết về cuộc phiêu lưu trên biển mà Brandon Lớn tài trợ năm xưa, biết đứa trẻ đó đã được hiến tế cho ai. Họ cũng thèm muốn sức mạnh này, chắc chắn sẽ có được nó.”.”

“Không, điều đó là không thể!” Hans gào thét điên cuồng: “Giáo chủ sẽ không mạo hiểm sự tồn vong của giáo phái và Venice!”

“Anh nói đúng, vậy có thể ông ta đã tìm những người khác để thử nghiệm, tiếp xúc với sức mạnh huyền bí ở các thành phố khác trên thế giới, thất bại sẽ không ảnh hưởng tới Venice, thành công thì có thể mang về những kiến thức mới về tồn tại huyền bí. Có lẽ trong khoảng thời gian dài dằng dặc trước kia, các đời thủ lĩnh của giáo phái đều làm vậy, nếu không thì những ký tự rune và hình vẽ ở lối đi bên ngoài là từ đâu ra? Tại sao giáo phái này lại có thành tựu cao trong môn huyền bí học như vậy?”

Johnson nói rồi nói, y chợt nhận thấy đôi mắt của Gymir sáng rực. Johnson đã chơi quá rành rẽ trò chơi thám tử này rồi!

Hans ôm đầu đau đớn, khàn giọng lặp đi lặp lại: “Tất cả đều là để bảo vệ Venice!”

Anh dường như không phản bác, mà thay vào đó là đang cố gắng thuyết phục chính mình một cách tuyệt vọng.

“…Mục sư Cornell, lão đã ăn trộm sức mạnh của ta, từ khi còn trẻ lão đã rất khỏe mạnh, không mắc bệnh tật gì, không sợ lạnh giá, lại có sức mạnh phi thường.”

Giọng nói của Johnson như dòng nước, thấm vào từng kẽ hở trong căn phòng. Hans dù có bịt tai thế nào cũng không thể ngăn được sức mạnh của âm thanh này.

“Vì vậy Brandon Lớn sẵn sàng tài trợ cho chuyến thám hiểm, thậm chí giao nộp một đứa con. Lão khao khát có thêm quyền lực, muốn được sống lâu hơn. Giáo chủ của anh, hay các đời Giáo chủ từ xưa đến nay, họ có đặc điểm như vậy không? Sống lâu hơn những người khác, có sức mạnh đáng kinh ngạc, không bao giờ bị bệnh tật hành hạ trước khi chết.”

Johnson nhìn đôi mắt Hans dần trở nên bi thương và đờ đẫn.

“Ta không quan tâm giáo phái này đã đánh cắp bao nhiêu sức mạnh của thần, ta chỉ quan tâm đến phần của mình. Đi điều tra mục sư Cornell đi, tìm hiểu lão và giáo phái này có liên quan gì, tìm hiểu xem đứa trẻ trên gác mái đã đi về phía cái chết như thế nào, xem liệu có ai được lợi ích gì trên xương cốt của nó không. Đây cũng chính là lời hứa của anh, phải không?”

Hans nhìn Johnson, như thể đang nhìn ác quỷ. “Nếu tôi làm vậy… ngài có thả linh hồn của đứa trẻ đó ra không?”

Johnson: “…”

Hình như vừa tự đào hố cho mình rồi, y không thể đồng ý cái này được. Y không thể lột bỏ một phần của mình.

Lúc này Gymir bước ra giải cứu: “Ngươi nên biết, chỉ cần bị ô nhiễm thì không bao giờ có thể trở lại hình dáng ban đầu, dù là thể xác hay linh hồn.”

Tay Hans run rẩy, khuôn mặt anh vặn vẹo.

Gymir nhìn từ trên xuống, giọng nói của hắn như một lời nguyền tròng vào cổ Hans: “Thành phố này, giáo phái này, tất cả những gì ngươi hy vọng đều có thể được giữ gìn, chỉ cần tìm ra sự thật về một sự việc, thế nào?”

Hans nắm chặt hay tay, nhắm mắt lại, để mặc lời nguyền trói buộc mình.

——————–

<i>Tác giả nói thế này:</i>

<i>Venice quả thực đã tương đối độc lập ở châu Âu trong một thời gian dài, có một lịch sử rất thú vị.</i>

<i>……</i>

<i>Vì lập trường và được hun đúc từ nhỏ, Hans không thể chấp nhận quan điểm “tà thần không muốn làm hại con người” và “tà thần cũng có ý tốt” dễ dàng như John.</i>

<i>Thực ra tà thần nguy hiểm lắm đấy.</i>

<i>Johnson không phải bỗng nhiên có được kỹ năng này, y rất giỏi khi nói về chuyện liên quan đến mình, còn lừa được một kẻ làm thuê về.</i>

<i>………</i>

<i>Hans tuyệt vọng: Tôi sẽ chết, tôi chắc chắn sẽ không sống sót.</i>

<i>Johnson+Gymir: Xong chuyện thì phải trả bao nhiêu nhỉ?</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 55


<b>Chương 55</b>

<b>Gây rối</b>

Nước mưa chảy dọc xuống theo cửa sổ hoa hồng của nhà thờ.

Tiếng nước dột chảy tí tách tí tách, ký tự rune ẩn giấu trên tường nhà thờ phát sáng nhè nhẹ.

Thủ lĩnh áo choàng xám Andreas nhìn chằm chằm vào bức tường vài giây.

“Giáo chủ đang đợi anh.” Một thành viên giáo phái đội mũ sắt nhỏ giọng thúc giục.

Andreas thu ánh mắt lại, bước nhanh về phía phòng làm việc của Giáo chủ.

Cứ một đoạn trên hành lang lại có kỵ sĩ được vũ trang tận răng đứng bảo vệ.

Trang phục của của kỵ sĩ khác với áo choàng xám thông thường, họ mặc áo giáp có khắc ký tự rune, trên chiếc mũ sắt còn có một dấu hiệu hoa hồng hình bầu dục. Những thanh kiếm dài và khiên trên người họ đều được chế tạo đặc biệt, tỏa ra ánh sáng kim loại kỳ lạ, trên khiên là huy hiệu hoàn chỉnh của giáo phái – bàn tay phải cầm thánh giá bị dây leo hoa hồng quấn chặt lấy đang rỉ máu.

Các kỵ sĩ nghiêng đầu nhìn chằm chằm Andreas.

Andreas lặng lẽ cởi chiếc áo choàng màu xám của mình ra. Ông ta là một người đàn ông khoảng bốn mươi tuổi, mái tóc vàng kim đã chuyển sang màu nâu, trên má có nhiều vết sẹo, nhưng chúng tương đối nông, nhìn từ xa trông giống nếp nhăn hơn, một đôi mắt sẫm màu to hơn người thường và sắc bén như một con cú.

Biệt danh của Andreas là Cú Xám. Một trong những Thống lĩnh của giáo phái Màu Xám.

Giáo phái có một cái tên bằng tiếng La Mã cổ, dài và khó phát âm. Người bên ngoài thường gọi họ là giáo phái Màu Xám, vì thói quen ẩn náu lâu năm, màu sắc quần áo và bản chất không được Giáo hội Công giáo công nhận của họ. Dù sao thì cũng bị gọi như vậy từ lâu rồi, thậm chí ngay cả nội bộ giáo phái cũng tự xưng như vậy. Suy cho cùng, ngoại trừ những học giả cao cấp chuyên nghiên cứu sách cổ, rất ít người có thể phát âm chính xác những chữ cổ đó.

Trong giáo phái Màu Xám, trừ Giáo chủ và Trưởng lão ra, còn có năm Thống lĩnh. Andreas có địa vị thấp nhất, ông ta cần phải chạy khắp thành phố để giải quyết các vấn đề, còn cấp dưới của ông ta toàn là “người thi hành”, tức là những người mặc áo choàng xám đó.

Những kỵ sĩ này không thuộc quyền quản lý của Andreas, và họ cũng không hề tỏ ra tôn trọng Andreas, xem ra thì ngay cả một con ruồi bay qua hành lang cũng sẽ bị họ kiểm tra.

Trong mắt Andreas hiện lên sự mỉa mai, nhưng ông ta nhanh chóng giấu đi. Ông ta đứng trước một cánh cửa làm bằng kính màu ghép lại thành hình Cây Trí tuệ, nhẹ nhàng gõ cửa.

“…Nó đang ẩn giấu trong thành phố này, thưa ngài Công tước, tôi chắc chắn về điều đó.” Giọng Giáo chủ vang lên từ trong phòng. “Venice đang gặp khủng hoảng, nhưng chúng tôi có thể giải quyết nó… Thưa ngài? A lô? Người đâu! Đi kiểm tra các đường dây điện bên ngoài!”

Andreas đẩy cửa bước vào thì thấy Giáo chủ đang tức giận ném điện thoại lên cái đế bằng ngà voi của chiếc điện thoại.

Andreas cúi xuống chào, sau đó nói với giọng cứng ngắc: “Chắc do trời mưa lớn quá, ảnh hưởng đến đường dây.”

Qua cửa kính phòng làm việc, có thể nhìn thấy bầu trời mây đen vần vũ.

Có mấy bức tượng kỵ sĩ đứng trên sân thượng đối diện, những thanh kiếm trong tay kỵ sĩ chỉ xuống đất, tạo thành khung cảnh gồm nhiều thác nước nhỏ, cùng với những cột nước chảy ra từ mái vòm và những cửa sổ hình vòm nhọn… Tòa nhà hàng trăm năm tuổi đó dường như đã trở thành vật trang trí ở trung tâm của một hồ phun nước lớn với hàng trăm cửa xả nước.

Đường phố và quảng trường sẽ nhanh chóng trở thành những kênh đào mới.

Mưa lớn như vậy là rất hiếm.

Và rất bất thường.

Mùa hè ở Venice nóng và khô, lượng mưa thường tập trung vào mùa đông. Bây giờ là tháng bảy. Đầu tiên là một trận động đất không có nguyên nhân, sau đó là mưa lớn như trút nước, ngay cả người ngu ngốc nhất cũng sẽ cảm thấy có gì đó bất ổn.

Vừa rồi Andreas đi ra ngoài, nhìn thấy một đám quý tộc đang chen chúc nhau trên bến cảng chuẩn bị rời đi. Hành lý của họ được chất cao hơn ngọn đồi, những người hầu dùng cơ thể mình che chắn gió mưa, phục vụ chủ nhân của họ, bên kia là những người khuân vác và người chèo thuyền đang run rẩy trước gió mưa, không có nơi trú ẩn.

“…Thôi vậy, họ sẽ quay lại khi chuyện này kết thúc.”

Andreas hoàn hồn, nhận ra rằng Giáo chủ đang nói đến những ông lớn lẽ ra phải ở lại Tòa thị chính Venice để tìm cách giải quyết, nhưng bây giờ lại chạy ra bến cảng hoặc ga xe lửa.

“Đã tìm thấy dấu vết của bạch tuộc khổng lồ chưa?”

Giáo chủ có xương gò má nhô lên rất cao, ba nếp nhăn rất sâu nằm ngang trán, là một ông già cao gầy và hà khắc. Khi lão nghiêm khắc nhìn chằm chằm Andreas, giọng điệu gay gắt và hoạnh họe của lão càng rõ rệt hơn: “Đã là ngày thứ ba rồi.”

“Là giờ thứ 28.” Andreas lạnh lùng sửa lại, ông ta cúi đầu nói: “Con mắt Hoa Hồng nhìn thấy thế lực tà ác xâm chiếm Venice vào xế chiều ba ngày trước, đêm đó tháp chuông cháy dữ dội, theo hình dạng quái vật mà Hans đã nhìn thấy, ngài chắc chắn rằng đó chính là bạch tuộc khổng lồ trong truyền thuyết, rạng sáng ngày hôm sau, tôi đã chỉ huy tất cả mọi người tìm kiếm, tính đến thời điểm hiện tại là tổng cộng 28 giờ.”

Tính khí cứng ngắc này chính là nguyên nhân chính khiến Giáo chủ chán ghét Andreas, lão lười nói nhiều, lạnh nhạt nói: “Cậu nên biết rằng thời gian của chúng ta không còn nhiều, hiện tại mưa lớn đã gây ra thiệt hại rất lớn cho Venice…”

Giáo chủ chợt ngừng nói, nghi ngờ ngẩng đầu nhìn lên mái nhà.

Cùng lúc đó, Andreas cũng nhanh chóng đi tới cửa sổ, cảnh giác nhìn ra ngoài.

Trong phòng làm việc chỉ có thể nghe thấy tiếng hạt mưa xối xả đập vào cửa kính, và tiếng nước rỉ ra ngoài hành lang phía xa.

Andreas một lần nữa cảm thấy bất an lạ thường, như thể có thứ gì đó nguy hiểm đang đến gần nhà thờ.

“Giáo chủ, ký tự rune cảnh báo hôm nay đã sáng mấy lần?” Andreas hỏi.

Giáo chủ lúc này không còn quan tâm đến vấn đề lễ nghi của Andreas, lão chậm rãi lắc đầu nói: “Chúng đã không còn bình thường kể từ ba ngày trước, điều đó cũng dễ hiểu thôi, có quái vật đang cố thủ trong thành phố này. Chỉ cần<i> Hoa Hồng không chảy máu</i> thì ở đây vẫn an toàn, không bị thứ không thể miêu tả theo dõi.”

Andreas cau mày thật chặt, hiển nhiên ông ta có ý kiến khác.

Giáo chủ lạnh giọng nói: “Cậu đang sợ cái gì? Nếu thật sự có quái vật xông vào nơi này, chúng ta còn tiết kiệm được công sức đi tìm kiếm.”

“Nếu Giáo chủ bằng lòng rút bớt một nửa kỵ sĩ trước cửa nhà ngài, thay thuộc hạ của tôi canh giữ ngã tư hoặc các cửa của nhà thờ, tôi sẽ rất cảm kích.” Andreas mặt lạnh như tiền đáp.

“Cậu thật quá ngang ngược, Cú Xám!” Giáo chủ nổi giận đùng đùng.

Andreas không nhượng bộ: “Hans đã bị mù vì nhìn vào bản thể của con quái vật, nó cần được chăm sóc tốt hơn, nhưng ngài lại ra lệnh cho kỵ sĩ của giáo phái thẩm vấn nó? Chỉ vì cái tên Linde Brandon đã chết trong hầm ngục đó? Cái gã như đống bùn đó à?”

“Cú Xám, đây không phải chuyện cậu nên hỏi!” Giáo chủ nheo mắt lại đầy nguy hiểm, bất mãn cảnh cáo.

“Hans là do tôi chăm sóc lớn lên, nó cũng như con trai của tôi, Giáo chủ chọn nó dùng Con mắt Hoa Hồng, không phải nhằm vào tôi sao?” Giọng điệu của Andreas cũng trở nên dữ dội hơn, đầy tức giận: “Nếu nó xui xẻo, thứ nó nhìn thấy không phải là bạch tuộc khổng lồ mà là một tà thần, hiện tại nó đã chết rồi!”

Johnson đang nghe lén từ trên mái nhà thờ thì cảm thấy cánh tay mình bị kéo nhẹ một cái.

Gymir đang lật sách bên cạnh y, chỉ vào hình minh họa một con bạch tuộc đang quấn lấy một con tàu.

Ừm, bạch tuộc khổng lồ.

Johnson: “…”

Chơi trò đố vui với con người rất thành công.

Cuộc trò chuyện trong phòng làm việc vẫn tiếp tục.

“Hans có tài năng phi thường, cậu ta nên đảm nhận nhiều trách nhiệm hơn, tôi tưởng cậu biết điều này, cậu ta đang trả giá vì Venice…”

“Giáo chủ, xin hãy nhìn vào mắt tôi và nhắc lại lần nữa! Vì Venice?”

Phòng làm việc im lặng đến chết người. Johnson không khỏi thắc mắc Cú Xám Andreas đã mang thứ gì ra để uy h**p Giáo chủ.

Nhưng ngôi nhà thờ này không giống như một tòa nhà bình thường, những nét chữ rune trải khắp trên gạch đá có tác dụng ngăn cách. Mặc dù tà thần vẫy tay một cái là có thể phá hủy, nhưng như vậy sẽ đánh động lũ kiến.

Màn kịch nội chiến của giáo phái Màu Xám chỉ vừa mới bắt đầu!

Điều gì có thể xảy ra trong ba ngày?

Có nhiều quan điểm trái ngược nhau trong nội bộ giáo phái, Giáo chủ tin rằng có thể giải quyết được “bạch tuộc khổng lồ” trong khi các thủ lĩnh cấp cao khác lại phản đối.

Hôm nay, hai Trưởng lão trực tiếp bỏ đi, mang theo thuộc hạ của mình lên tàu ở cảng với danh nghĩa bảo vệ những nhân vật lớn trong Tòa thị chính. Giáo chủ đã ngầm ưng thuận như vậy. Để có thể duy trì giáo phái, buộc phải chuẩn bị cho điều tồi tệ nhất.

Mặc dù Hans vẫn bị giam trong hầm ngục, nhưng những vấn đề liên quan đến anh đã gây ra nhiều tranh chấp giữa các thủ lĩnh của giáo phái. Andreas nghe tin Giáo chủ định dùng Hans làm mồi nhử để đối phó bạch tuộc khổng lồ nên mới không kìm được cơn tức giận.

“Cú Xám! Tôi ra lệnh cho cậu mang theo Hans, đi thuyền tới đảo ngoài Venice, chúng ta nhất định phải chọn một chỗ thích hợp làm chiến trường.”

“Đối phó một con bạch tuộc khổng lồ trên biển? Đây là quyết định của Giáo chủ và các thủ lĩnh giáo phái?” Giọng nói giận dữ của Andreas xuyên thẳng qua tường: “Chúng ta hoàn toàn không biết hậu quả của việc giết con quái vật này. Nếu nó là hậu duệ của tà thần nào, hoặc là sản phẩm của sự kết hợp của hai tà thần, Venice sẽ thất thủ vào đúng thời điểm chúng ta tưởng đó là chiến thắng! Tà thần sẽ thức tỉnh!”

Trên mái nhà.

Johnson nhanh chóng lấy “tay” bịt miệng Gymir lại, ngăn không cho thần Biển cười ra tiếng khi nghe cụm từ “sản phẩm của sự kết hợp”.

Gymir chớp chớp mắt, giơ tay lên v**t v* những sợi dây leo đen, rìa móng tay cạo nhẹ vào nơi rẽ nhánh của dây leo, và đầu những xúc tu mềm nhất.

Johnson rùng mình.

Ký tự rune trên tường nhà thờ lại sáng lên.

Andreas bất ngờ đẩy cửa sổ ra, trèo lên bức tường thẳng đứng với khả năng giữ thăng bằng mà con người không bao giờ có được, lên đến mái nhà trong vài giây. Ông ta đứng dưới cơn mưa lớn, cả người ướt sũng, đôi mắt đen sắc bén quét qua mọi nơi khả nghi gần đó.

Johnson và Gymir chen chúc sau ngọn tháp nhỏ kiểu Gothic dùng để trang trí ở phía trước bên phải của mái nhà.

Ngọn tháp tuy thông thoáng đón gió từ mọi phía, không che chắn được gì, nhưng có dây leo màu đen dính lấy cơ thể rồi treo lơ lửng giữa không trung, ẩn mình trong điểm mù dưới cái bóng của thánh giá nhà thờ, ngay cả Thống lĩnh Andreas có biệt danh Cú Xám cũng khó mà phát hiện ra sự tồn tại của họ.

Thám tử con người chắc hẳn có thể làm được điều này khi điều tra phải không? Johnson thầm nghĩ, miễn là có sợi dây thừng. Bầu trời bây giờ tối đen, mưa thì lại rất to.

Gymir muốn lên tiếng.

Johnson nhất quyết bịt miệng hắn bằng dây leo. Y tin rằng giọng nói của Gymir rất đặc biệt, chắc chắn sẽ bị người của giáo phái phát hiện.

Andreas đang cẩn thận tìm kiếm trên mái nhà.

Gymir đợi quá lâu nên chán, hắn khẽ mở miệng, nhẹ nhàng l**m những dây leo kia, ngậm lấy những đoạn cong và mềm nhất ở cuối.

Vẻ mặt của Johnson thoáng chốc méo mó.

Những dây leo đen run rẩy, cố gắng thoát ra, nhưng cái bóng phía sau Gymir ngay lập tức quấn lên, giữ chặt chúng lại.

Gymir quay đầu lại, cắn dây leo trong miệng, đôi môi đỏ thẫm nở nụ cười quyến rũ, nhưng vẻ mặt lại rất ngây thơ. Em đã nói là không nên đánh động đến lũ kiến, em cũng không được cử động, ta sẽ giữ chắc nó cho em.

Mấy sợi dây leo màu đen cùng “nổ” gai.

Những chiếc gai nguy hiểm này thật ra không thể làm tổn hại đến hóa thân của thần Biển.

Gymir dùng lưỡi cọ lên những chiếc gai mọc ra từ dây leo, cảm nhận được sự run rẩy của dây leo, nheo mắt lại vì sung sướng. Hắn tiến thêm một bước, giữ cố định những vật nhỏ bé tội nghiệp đó bằng răng, cẩn thận không bỏ qua một sợi dây leo, không sót một cái gai nào.

Dây leo buộc phải cuộn tròn.

Cuộn lại thành từng vòng tròn một.

Đây là phản ứng của Johnson với sự căng thẳng. Y có thể thu nhỏ bản thể của mình xuống chỉ còn một phần trăm, cũng có thể nhanh chóng mở rộng cơ thể của mình khi phục kích. Khi ngọn của một nhánh bị k*ch th*ch, các nhánh bên và nhánh chính của nó cũng sẽ bị ảnh hưởng, chỉ mất mười giây là toàn bộ nhánh chính sẽ bị “lây nhiễm” nhanh chóng.

Sự nhạy cảm này ban đầu là một lợi thế cho việc đi săn. Tình cảnh bây giờ có nghĩa là một trong mười sáu nhánh chính của bản thể Johnson đã bị “phế bỏ”, một phần mười sáu thân hoàn toàn mềm nhũn.

“Chúng ta, sẽ, rơi xuống…” Johnson nghiến răng nói.

Cái bóng phía sau Gymir ngay lập tức tiếp quản nhiệm vụ của dây leo đen đang nâng đỡ thân hình của họ, nhưng vào lúc này lại không ngừng vặn vẹo, lung lay sắp đổ, đồng thời còn lặng lẽ di chuyển vị trí của họ, trốn ra đằng sau Andreas.

Dù không tìm thấy gì nhưng trong lòng vẫn thấy bất an, Andreas không bỏ cuộc, ông ta lấy ra một mặt dây chuyền hoa hồng thủy tinh, thầm niệm bùa chú bằng chữ rune.

Bụp.

Hoa hồng đã vỡ.

Mặt Andreas biến sắc rõ rệt, miệng ông ta huýt sáo, cảnh báo cho người trong giáo phái.

Gymir trực tiếp biến thành bóng đen, hệt như một tấm chăn, cuốn lấy Johnson rồi biến mất trong màn mưa.

Nghe lén thất bại, chạy trước rồi tính.

——————–

<i>Tác giả nói thế này:</i>

<i>Các nhánh của sao biển đuôi rắn Gorgon có thể dài tới hơn một mét khi duỗi thẳng hoàn toàn, nhưng khi cuộn tròn thì nó chỉ lớn vài centimet.</i>

<i>……</i>

<i>Bạch tuộc khổng lồ, còn gọi là quái vật khổng lồ biển Bắc, tức là Kraken.</i>

<i>Bởi vì tác giả đã viết về nhân vật phụ có tên này trong các tiểu thuyết khác, nên chúng ta sử dụng bạch tuộc khổng lồ làm tên cho nó đi.</i>

<i>Truyền thuyết kể rằng nó xuất hiện ở Iceland và Na Uy, tức là địa bàn của thần Biển Bắc Âu Gymir đấy.</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 56


<b>Chương 56</b>

<b>Tiếp tục trò chơi</b>

Johnson đen mặt đẩy Gymir ra.

Y có hơi bồn chồn bất an.

Gymir theo sau, không quá xa cũng không quá gần, nắm bắt một khoảng cách vừa phải.

Những tòa nhà ven đường như đang buông xuống từng bức rèm mưa, tạo thành một tấm chắn trong suốt độc đáo. Khi họ đi qua chúng, nước mưa tự động tránh ra, dường như không có chuyện gì xảy ra, thế nhưng ánh đèn tỏa ra từ vài tòa nhà đã phơi bày những bí mật của tà thần.

Cái bóng đang thay đổi.

Bóng của Gymir lặng lẽ vươn ra một đoạn, chọc chọc cái bóng của Johnson.

Johnson bước đi nhanh hơn.

Cái bóng buông tay ra, sau đó cẩn thận vòng ra phía tới trước bóng của Johnson, vẫy vẫy cái chi tròn vo không có ngón tay của mình, nó đột nhiên “dựng” lên khỏi vũng nước đọng trên mặt đất, cái bóng chuyển từ mặt phẳng sang hình ba chiều, nhẹ nhàng lướt qua mu bàn tay Johnson như một cái đuôi. Trước khi Johnson cúi đầu xuống, nó đã nhanh chóng rút lại, biến mất không còn dấu vết.

Johnson: “…”

Y nghĩ Gymir đang tận hưởng việc này. Nếu Johnson không phá vỡ sự im lặng, Gymir có thể chơi trò này theo nhiều cách khác nhau.

“Chúng ta nên nói chuyện.” Johnson đột nhiên dừng bước, quay người lại.

Gymir ngẩn ra trong giây lát, những xúc tu bóng đen vươn dài ra “ôm” hụt.

Lúc này, một bức tường đá trắng xám tình cờ phải chiếu bóng của họ: Cái bóng cao lớn không nhìn rõ khuôn mặt nhanh chóng vặn vẹo rồi sắp xếp lại, biến thành một người cá với mái tóc dài buông xõa chiếm cứ tảng đá ngầm. Người cá ngẩng đầu lên, góc nghiêng hoàn hảo khiến ánh nhìn của người khác bất giác chìm đắm trong đó.

Chuyển động của người cá cũng trùng khớp với Gymir một cách lạ thường, hắn nhìn Johnson như thể đang nhìn kho báu yêu quý của mình.

Johnson: “…” Tà thần cũng thực sự không dễ gì giữ được tỉnh táo trước sự quấy rối thế này, thật đấy.

Johnson rất muốn dùng dây leo che đi đôi mắt và khuôn mặt Gymir, hoặc là giật phăng chiếc mặt nạ rồi đeo lại lên mặt thần Biển. Đây là cách gọn gàng đơn giản nhất. Nhưng Johnson không dám. Không một dây leo nào dám vươn ra. Gần một nửa cơ thể y vẫn còn đang tê cứng.

“Vì ta quá vội vàng? Em không vui sao?” Gymir hạ giọng thì thầm.

Dù lần này Gymir không cố ý dùng âm thanh quyến rũ, nhưng sức ảnh hưởng vẫn còn tồn tại. Sức mạnh của tà thần là bẩm sinh, và gắn liền với cảm xúc của họ, họ có thể kiểm soát được cường độ nhưng không thể xóa bỏ hoàn toàn sự tồn tại của nó.

“Sau này khi chơi trò chơi thám tử loài người, ta chắc chắn sẽ nghiêm túc.” Gymir hứa hẹn.

Johnson muốn nói lại thôi.

Gymir đứng yên bất động. Nhưng trong bóng tối trên tường, người cá đã duỗi tay ra bám lấy vai Johnson, chiếc vây mỏng trên cổ tay cọ nhẹ vào cổ y, đuôi cá quấn quanh eo y.

Mưa trút xuống ào ào, nước đọng dần dâng lên cao hơn phần đuôi của cái bóng, hệt như Siren trong truyền thuyết đang mê hoặc con người, chờ thủy triều dâng cao là có thể đưa con mồi về hang ổ dưới biển sâu.

Johnson khó khăn nói: “Không phải việc ngụy trang con người.”

“Ừ?”

Gymir rất bối rối, và vì không có thám tử John làm cố vấn tình yêu ở đây, hắn bắt đầu nhớ lại những gì vừa xảy ra. Trí nhớ của tà thần cho phép hắn dễ dàng nhớ lại khung cảnh xung quanh, âm thanh, mùi vị, thậm chí cả một cơn gió nhẹ thổi qua.

Lẽ nào là bạch tuộc khổng lồ? Con người tên Andreas kia nói rằng con quái vật trong ngọn lửa trên tháp chuông có thể là hậu duệ của một tà thần nào đó, hoặc là sản phẩm của sự kết hợp giữa hai tà thần.

Suy đoán của Andreas thực ra rất có lý. Những con quái vật mạnh hơn quyến thuộc của tà thần nhưng lại yếu hơn tà thần thông thường chỉ có hai nguồn gốc này. Cái gọi là hậu duệ của tà thần không có nghĩa là nó được sinh ra từ sự kết hợp của hai tà thần, bởi vì tà thần có thể tự mình duy trì nòi giống, ví dụ như Bướm Xám ở Luân Đôn, hậu duệ của nó cũng là một phần sức mạnh của nó. Điều này rất phổ biến.

Gymir đột nhiên nghĩ tới tình huống hiện tại giữa mình và Johnson, lập tức hiểu ra y muốn nói chuyện gì.

“Em muốn hỏi về hậu duệ?” Gymir nhướn mày thật cao.

Johnson không muốn nói về chuyện đó, nhưng lại không thể không nói.

Tà thần và tà thần cũng có thể sinh ra con cái… chỉ cần họ muốn là được… Tuy nhiên, trường hợp này hiếm gặp, chủ yếu là vì quá tốn thời gian và công sức, tà thần lại chẳng có nhiều kiên nhẫn đến thế.

Johnson đột nhiên nhận thấy Gymir rất có hứng thú với sự tồn tại của con quái vật bịa đặt kia, lẽ nào… Nghĩ đến khả năng này, Johnson chống cự theo bản năng, y lùi lại một bước.

Gymir không khỏi bật cười, hắn hơi cúi đầu áp vào trán Johnson, âm thanh phát ra như tiếng ngâm tụng, lại như lời thì thầm của ác quỷ: “Đừng suy nghĩ nhiều, chuyện đó sẽ không xảy ra đâu. Mặc dù có con là một cách để mở rộng lãnh thổ, tăng thêm những thuộc hạ trung thành, nhưng nó sẽ làm suy giảm sức mạnh của chính chúng ta. Chúng ta không phải là những vị thần có sức mạnh sinh sản, có thêm con cái cũng không khiến chúng ta mạnh mẽ hơn.”

Cái con Bướm Xám ngu ngốc đó lại khác. Đó là loại tà thần chỉ cần sinh đẻ, sinh đẻ nữa, sinh đẻ mãi thì có thể trở nên mạnh mẽ. Những tà thần như vậy hoặc cực kỳ yếu ớt, hoặc là cực kỳ hùng mạnh, không có cấp bậc tầm trung nào khác. Vì trên con đường trở nên mạnh mẽ hơn, mô hình tự sinh sản sẽ sớm trở nên vô dụng, nếu muốn trở nên mạnh mẽ hơn, chỉ có thể tìm đồng loại để sinh sản, mà các tà thần khác có thể sẽ không quan tâm cũng chẳng kiên nhẫn.

Tà thần nào đã có vô số kinh nghiệm tìm kiếm bạn tình mà vẫn sống sót thì chắc chắn rất mạnh mẽ. Tương tự, việc tà thần có con cháu hay không thường không liên quan gì đến mong muốn của chính mình. Nếu gặp một đồng loại đến tán tỉnh, mà mình đánh không lại, không muốn chết thì đành phải đồng ý thôi.

Đây cũng là lý do thứ hai khiến Johnson rối rắm, y không biết về quá khứ của Gymir cả.

Gymir bắt đầu phát ra một chuỗi âm tiết dài quái dị.

Từng hòn đá trong thành phố, từng cọc gỗ dưới nước đều đang run rẩy.

Bóng tối bao trùm cả thành phố, nỗi sợ hãi lấp đầy trái tim con người.

Thần Biển đang đọc tên thật của mình.

“…Ta không có hậu duệ, trước kia không có, tương lai cũng sẽ không có.”

Bóng của người cá nằm lên vai Johnson, nhẹ nhàng vui vẻ nói: “Ta cam đoan, bạch tuộc khổng lồ chỉ dùng để lừa gạt con người.”

***

Hans đứng loạng choạng, đập đầu vào bức tường hầm ngục. Anh tái mặt khi nghe những tiếng hét hoảng loạn ở phía xa vọng lại.

“Chấn động vừa rồi, là tà thần…” Hans lẩm bẩm một mình.

Cảm giác của anh không thể sai được, hai tà thần đó có lẽ đã mất kiên nhẫn rồi!

Đó là cơn thịnh nộ của thần!

Hans đã mắc kẹt ở đây hai ngày nay và bị giáo phái thẩm vấn, không thể thực hiện lời hứa điều tra sự thật.

“Thả tôi ra, tôi có thể cứu Venice!” Hans sốt ruột vô cùng, không nhịn được hét to.

Nhưng không ai để ý đến anh. Vì tiếng chuông cảnh báo cao nhất trong căn cứ của giáo phái vang lên, có người hoảng sợ muốn bỏ chạy, người khác lại định lao ra ngoài liều mạng.

Hans đập mạnh hết mức có thể vào cánh cửa hầm ngục, anh càng lúc càng lo lắng.

Đúng lúc này, tiếng bước chân gấp gáp đột nhiên truyền đến từ lối đi, Hans chưa kịp vui mừng thì đã bị một bàn tay mạnh mẽ kéo lên.

“Đưa hắn đi, dùng tốc độ nhanh nhất ra biển!”

“DỪNG TAY!”

Tiếng hét giận dữ của Andreas cũng vang lên, ông ta nhanh chóng chạy về phía Hans.

“Thả nó ra!”

“Cú Xám, đây là lệnh của Giáo chủ, sự sống còn của Venice phụ thuộc vào ngày hôm nay! Nếu tình cảm của anh và Hans sâu sắc như vậy, Giáo chủ cho phép các người cùng sống chết!” Người vừa nói là Thống lĩnh kỵ sĩ của giáo phái, gã ngạo nghễ ngẩng đầu, dễ dàng ném Hans về phía Andreas.

Hans cao to cường tráng như một con gấu, lại bị Thống lĩnh kỵ sĩ ném đi dễ như ném một con Shar-Pei. Anh nhìn chằm chằm vào Thống lĩnh kỵ sĩ.

“Thằng mù này đang nhìn gì?”

“…Ô nhiễm.” Hans thấp giọng lẩm bẩm, sau đó anh nhìn thấy Andreas, vẻ mặt càng thêm phức tạp.

Andreas siết chặt nắm tay, ngay lập tức dẫn Hans ra ngoài hầm ngục.

Trong lối đi có rất nhiều cạm bẫy, Hans lảo đảo bước đi, khi gần đến lối ra, cuối cùng anh cũng không nhịn được nữa: “Chú Andreas, mọi người… các người đều chấp nhận sức mạnh ô nhiễm của tà thần để tăng cường sức mạnh cho bản thân?”

“Con thấy rồi.” Giọng Andreas rất thấp, ông ta nói một câu khẳng định.

Lúc đầu, ông ta còn đỡ Hans bước ra ngoài, nhưng rồi phát hiện ra rằng Hans dường như có thể nhìn thấy chữ rune trên lối đi và biết chính xác cách tránh nó, ông ta biết ngay mắt của Hans có thể đã biến đổi theo cách mà mình không muốn thấy.

“Đừng bao giờ để ai biết! Đôi mắt của con!” Andreas cảnh cáo.

Ngoài lối đi có rất nhiều người đang chờ đợi, cơ bản đều là người mặc áo choàng xám, còn có một đội kỵ sĩ giáo phái, họ đã được thông báo phải đi thuyền ra biển để “dụ” bạch tuộc khổng lồ xuất hiện. Mặc dù khuôn mặt của họ bị che khuất bởi áo choàng hay mũ sắt, vẫn có thể nhìn thấy nỗi sợ hãi và nghi ngờ không sao xua tan được.

Andreas không muốn dẫn họ đi vào chỗ chết, nhưng ông ta không còn lựa chọn nào khác.

Vừa rồi nhà thờ bị một sức mạnh vô danh nhìn lén, chứng tỏ nơi này đã bị tà thần nhắm đến… Mặc dù thế lực của giáo phái Màu Xám ở Venice đã ăn sâu bén rễ, nhưng họ chỉ có ba căn cứ phòng ngự hoàn thiện, một là tháp chuông, hai là nhà thờ này, giờ đây giáo phái buộc phải rút lui về nơi cuối cùng. Hầu hết con cái và người thân của các thành viên giáo phái đều sống gần đó. Vì vậy không có thời gian để do dự.

Andreas nắm lấy vai Hans, vội vàng nói: “Hãy thông minh lên… khi xuống biển, ngay khi quái vật xuất hiện, thì con chạy đi.”

***

“Hửm?”

Cái bóng của người cá trên tường vặn vẹo một lúc rồi lại biến thành một bóng đen cao lớn.

Gymir đeo mặt nạ lên, nhắc nhở Johnson: “Người của giáo phái bí mật kia rời khỏi nhà thờ rồi.”

Một nhóm người đi thẳng đến bến tàu, trong khi một nhóm khác tản ra, lợi dụng tác dụng che giấu của ký tự rune để bước đi trong mưa.

“Đi hướng nào?” Gymir hỏi.

“Tất nhiên là tìm Giáo chủ.” Johnson buột miệng.

Johnson vẫn còn hơi xấu hổ vì vừa mới nói về một chủ đề nào đó. Đây có lẽ là nhược điểm của tuổi trẻ, trước đây y không cân nhắc đến những chi tiết này, nhưng khi chợt nhận ra vấn đề thì lại bị thần cổ xưa đem ra bàn luận thẳng thắn không chút cố kỵ. Bây giờ sự việc đã được giải quyết, nhưng y lại nhận ra khuyết điểm trẻ tuổi và thiếu kinh nghiệm của mình đã bị vạch trần, rất xấu hổ.

Johnson cố gắng hết sức để giữ bình tĩnh, y rất biết ơn những con người ở giáo phái kia đã nhảy ra kịp thời để chuyển hướng sự chú ý.

“Hơi thở của Hans đã ra đến bờ biển, kế hoạch nhằm vào <i>bạch tuộc khổng lồ</i> có thể rất thú vị, nhưng nếu mất dấu Giáo chủ, chúng ta sẽ không biết lũ kiến này trốn đi đâu.” Johnson đề nghị.

“Em nói đúng, vở kịch nội chiến trong giáo phái không thể kết thúc sớm như vậy được.” Gymir thở dài.

Khi ở trên Tàu tốc hành Phương Đông, thần Biển cũng rất mong chờ đến nhà hát kịch ở Venice. Kết quả là khi đến cổng nhà hát kịch, họ lại phát hiện ra đã ngừng biểu diễn.

Các dàn nhạc và đoàn kịch khắp thành phố đã ngừng biểu diễn!

Xin hỏi là tại sao?

Động đất đấy, cả thành phố hỗn loạn suốt nửa đêm.

Trời mưa như trút nước này, tất cả các quý tộc quyền thế đều bỏ chạy…

Đây chính là lý do tại sao sau khi thuê được một Hans, tà thần lại không nhàn nhã lang thang trong thành phố để giết thời gian, mà tiếp tục ngụy trang thành con người để chơi trò thám tử, nằm trên nóc nhà thờ nghe lén.

——————–

<i>Tác giả nói thế này:</i>

<i>Tiết mục: Mạo hiểm k*ch th*ch! Đại chiến bạch tuộc khổng lồ!</i>

<i>Tà thần nói rằng chúng ta không hợp tác, các ngươi cứ tự mình lênh đênh trên biển đi.</i>

<i>Tiết mục: Nội chiến giáo phái Màu Xám</i>

<i>Tà thần nói tuyệt vời, chúng ta muốn xem cái này.</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 57


<b>Chương 57</b>

<b>Murano</b>

Tiếng mưa rơi liên miên không ngớt, nghe như một bản giao hưởng vui tươi.

Tiếng bước chân hỗn loạn dần hòa hợp với nhịp điệu vô hình của bản nhạc.

Giáo chủ bỗng nhiên cảm thấy tim đập nhanh, lão lập tức hét lên: “Dừng lại.”

Các kỵ sĩ giáo phái bên cạnh Giáo chủ lập tức vây quanh lão thật chặt chẽ, cảnh giác quan sát bốn phía.

Nước đã nhấn chìm bắp chân.

Những ngôi nhà gần đó có thể có người, nhưng sau khi nhìn thấy những người ăn mặc kỳ lạ ở bên ngoài, họ lập tức chọn cách trốn sau tấm rèm, không dám thò đầu ra nhìn kỹ hơn.

Giáo chủ ra hiệu cho kỵ sĩ bên cạnh lấy trong túi ra một vật gì đó. Một mặt dây chuyền thủy tinh hình hoa hồng. Mưa rơi trên bề mặt của mặt dây chuyền trong suốt như pha lê, khiến nó tỏa ra màu sắc lộng lẫy.

“…”

Johnson đang ở trên sân thượng phía xa nhanh chóng quay đầu nhảy xuống kênh đào cạnh mình cùng với Gymir trước khi kỵ sĩ niệm chú.

Hai tà thần anh nhìn tôi, tôi nhìn anh, duy trì im lặng mười giây.

“Thủy tinh?”

“Hoa hồng?”

Tần suất hai thứ này xuất hiện hình như hơi cao?

Johnson trầm ngâm nói: “…Trước đó khi Andreas trèo lên mái nhà thờ, hắn lấy mặt dây chuyền hoa hồng này ra làm máy dò.”

“Còn có thứ bột màu đỏ đông cứng trong lớp băng ở hầm ngục, có thể nó vốn là một sản phẩm thủy tinh cỡ lớn, vì chúng ta đến nên bị vỡ vụn.” Gymir bổ sung.

Johnson nói tiếp: “Hans dùng Con mắt Hoa Hồng nên suýt mất mạng. Đây là lời Andreas nói khi tranh cãi với Giáo chủ.”

Thu thập các manh mối điều tra đã xong, gần như chắc chắn vũ khí bí mật của giáo phái Màu Xám chính là “Hoa Hồng”. Điều ly kỳ nằm ở chỗ thứ vũ khí này thực chất được làm bằng thủy tinh. Ngay cả đối với con người, thủy tinh cũng là một thứ rất dễ vỡ, sao có thể sử dụng nó để chống lại thế lực tà ác? Có gì sai sai ở đây?

Gymir vô thức nhìn vào những ô cửa kính của tòa nhà bên cạnh. Kiểu dáng của những ô cửa sổ màu này rất đẹp, có nhiều màu sắc khác nhau, chúng hoàn toàn khác với Luân Đôn, dường như là nét đặc trưng của Venice.

“Khoan đã.” Johnson đột nhiên lôi ra một cuốn sổ nhỏ.

Đây là cẩm nang tham quan thành phố do Tàu tốc hành Phương Đông Simplon tặng cho du khách của toa hạng nhất.

Có rất nhiều hình ảnh minh họa đẹp mắt trong này, bao gồm tên đường và số nhà của khách sạn nghỉ dưỡng cũng như vị trí của các trang trại sản xuất rượu vang, nhà hát, nhà thờ và Tòa thị chính. Đây thực chất là một hoạt động kinh doanh, cổ đông của công ty xe lửa giường nằm hạng sang quốc tế thường có các loại sản nghiệp khác, chẳng hạn như các nhà hàng và khách sạn được đề cập trong cẩm nang này.

Vì cẩm nang được phát cho những người thuộc tầng lớp thượng lưu đến Venice nghỉ dưỡng nên trong đó có nhiều nội dung mà Johnson không quan tâm, ví dụ như nhà thờ nào bán phiếu xá tội có thời hạn lâu nhất, câu lạc bộ nào có không khí vui vẻ, nhà hàng nào có đầu bếp Pháp xuất sắc. Y chỉ xem những phần liên quan đến nhà hát và dàn nhạc, đồng thời mua lịch biểu diễn vào mùa hè, chỉ tiếc là không dùng được. Sau đó cẩm nang bị ném vào một góc cho mọc mốc.

Khi Johnson lấy nó ra, trên đó còn treo lủng lẳng một sợi rong biển màu đỏ tía, bìa cẩm nang đã bị nước biển làm phai màu một chút. Y phải mất chút công sức mới có thể mở nó ra nguyên vẹn thay vì làm nát vụn.

“Xem đây này.”

Đảo Murano. Nằm ở vùng biển phía Tây Bắc của Venice, đây cũng là hướng mà nhóm người giáo phái Màu Xám đang chạy tới.

Đảo Murano nổi tiếng nhất với xưởng thủy tinh. Theo lời cuốn cẩm nang, đây là xưởng thủy tinh thủ công lành nghề và uy tín nhất ở châu Âu, từng mang lại khối tài sản khổng lồ cho Venice, là quốc bảo của Venice, chỉ tiếc rằng nó đã suy tàn trong những năm gần đây. Theo mô tả trên cẩm nang, cách đây hàng trăm năm, mỗi người thuộc tầng lớp thượng lưu đều sở hữu một số lượng lớn đồ thủy tinh Murano để trang trí trong nhà.

“…Có thể làm việc như những người thợ thủ công dệt ren ở Calais, <i>dệt nên</i> những hoa văn tinh xảo trên đồ thủy tinh trong ngọn lửa, bao gồm cả chân dung và huy hiệu của quý tộc… Có thể tạo thành những đốm sáng chảy trên bề mặt thủy tinh, biểu diễn một màn ảo thuật kỳ ảo của sắc màu.”

Johnson đọc đoạn văn bằng tiếng Pháp này lên.

Cẩm nang này không dành cho người đến tham quan xưởng thủy tinh cổ trên đảo Murano, vì xưởng gần như đã đóng cửa hoàn toàn rồi, vinh quang của nó đã dần lụn bại khi Cộng hòa Venice sụp đổ vào thế kỷ 18, thứ mà cẩm nang thực sự muốn giới thiệu là một nhà đấu giá ở Venice.

Nhà đấu giá dự định tổ chức một cuộc đấu giá đồ thủy tinh Murano trong tháng này. Chúng đều là đồ cổ từ hàng trăm năm trước, được bảo quản hoàn hảo, tay nghề thủ công tinh xảo.

Ngoài ra còn có một bức ảnh đen trắng trên cẩm nang, hình ảnh rất mờ, có thể nhận ra đó là một chiếc Chén Thánh được sử dụng trong các nghi lễ tôn giáo, có một lý lịch khá vẻ vang, nhiều tên tuổi lớn đã từng sở hữu nó, định giá của nó là một chuỗi số không.

Nhân loại coi trọng lịch sử của nó, còn tà thần chỉ quan tâm đến nguồn gốc đằng sau nó.

“Thủy tinh, Venice, lịch sử huy hoàng hàng trăm năm, nghề thủ công tiên tiến nhất của loài người, đã sản xuất ra nhiều đồ dùng cho tôn giáo…”

Bằng cách kết hợp những từ này, ngay cả khi không có khả năng của thám tử, họ cũng có thể ghép lại thành một manh mối hoàn chỉnh.

“<i>Con mắt Hoa Hồng</i> phát hiện ra chúng ta, là do xưởng thủy tinh Murano làm ra dưới sự kiểm soát của giáo phái Màu Xám? Con người thực sự đã phát hiện ra cách nhìn vào thế giới chân thực thông qua việc thay đổi màu sắc?” Gymir nhìn chằm chằm vào bức ảnh đen trắng, nhưng không nhìn ra điều gì phi thường trên cái Chén Thánh này.

Johnson nghiêm túc nói: “Có vẻ như chúng ta cần phải tập kích một kỵ sĩ giáo phái, cướp lấy một mặt dây chuyền thủy tinh hoa hồng về nghiên cứu rồi.”

***

Bầu trời tối sầm, gió lạnh rét buốt nối tiếp nhau thổi qua từng cơn lại từng cơn.

Hans không thể không hắt hơi. Anh ngẩng đầu nhìn lên bầu trời, ánh hoàng hôn đỏ thẫm ẩn thật sâu đằng sau những đám mây dường như đang báo hiệu một điềm chẳng lành.

Thân thuyền lắc lư từ bên này sang bên kia, sóng biển cùng cơn mưa lớn quét qua không thương tiếc. Quay đầu nhìn lại từ xa, khu vực trung tâm của Venice từ lâu đã trở thành một cái bóng xám không rõ ràng, giờ lại càng thêm mờ ảo trong cơn mưa.

Andreas đứng ở mũi thuyền, vẻ mặt trang nghiêm. Ông ta như một bức tượng điêu khắc, dù giông bão có dữ dội đến đâu cũng không xê dịch một phân nào.

Ông ta có thể kiên trì, nhưng những người dưới quyền thì không.

“…Thống lĩnh, không có động tĩnh gì cả!” Một người mặc áo choàng xám bắt đầu than thở.

Mọi người từ sợ hãi chuyển sang thấp thỏm lo âu, cuối cùng tê dại và trống rỗng, vì mặt họ sắp bị gió biển thổi méo rồi. Ngoài việc trời lạnh, lạnh quá, trong đầu họ chẳng còn ý nghĩ nào khác. Thậm chí có người bắt đầu hy vọng rằng con quái vật sẽ nhanh chóng xuất hiện, đừng trì hoãn nữa, khi màn đêm buông xuống, ngoài biển sẽ càng lạnh hơn.

“Thống lĩnh, đã bốn tiếng rồi, anh có nghĩ chúng ta…”

“Không được.” Andreas kiên quyết từ chối.

Thỉnh thoảng, ông ta có cảm giác ớn lạnh sau lưng, ông ta dám chắc chắn rằng có một sự tồn tại không thể miêu tả đang theo dõi mình.

“Mọi người hãy xốc lại tinh thần, khi màn đêm buông xuống, quái vật sẽ xuất hiện.”

***

“Mọi chuyện ở chỗ Hans thế nào rồi?” Gymir thuận miệng hỏi.

“Còn trôi nổi trên biển.” Johnson nhìn về phía xa, lơ đãng nói: “Cứ một thời gian em sẽ để ý một lần, có Hans duy trì <i>liên hệ</i>, tình huống ở đó sẽ không lọt ra khỏi tầm mắt của chúng ta.”

Trước mặt họ, một kỵ sĩ giáo phái đang nằm thẳng đơ, hôn mê bất tỉnh.

Mặt nạ sắt của kỵ sĩ có ký tự rune phòng thủ, tuy rằng gã chỉ là một con kiến tầm thường trước mặt tà thần, nhưng khi bị sức mạnh của tà thần tấn công, những thứ mà kỵ sĩ mang theo có thể đảm bảo rằng gã sẽ hét lên thảm thiết để cảnh báo cho giáo phái.

Ai có thể ngờ rằng tà thần lại lặng lẽ xuất hiện sau lưng mình, tấn công bằng một cây gậy batoong bằng gỗ trăn cơ chứ?

Johnson vung vẩy cây gậy batoong của mình, nhận thấy dùng nó làm vũ khí cũng khá thuận tay. Chỉ có điều là viên Sapphire ở đầu gậy batoong quá lớn, nếu bất cẩn là sẽ đánh thủng một lỗ trên đầu con người, y cần phải kiểm soát sức đánh.

“Rất thành công.”

Gymir nhìn vết thương sau gáy của kỵ sĩ, chân thành khen ngợi ý trung nhân của mình. Điều này khá khó đối với tà thần, ít nhất là Gymir không làm được cái việc đánh ngất một con người mà không để gã chết.

Gymir không có kỹ năng đánh ngất người khác nên hắn không phụ trách làm việc đó, nhưng hắn có thể giấu xác… à không, giấu người bất tỉnh. Thuyền gondola trên kênh đào bên cạnh rất thích hợp, chỉ cần nhét vào, phủ bạt lên là được.

“Thật đáng tiếc, trên người hắn không có mặt dây chuyền hoa hồng!” Johnson tiếc nuối nói.

Gymir thì không để bụng lắm: “Tìm tên khác?”

Một giờ trước, Giáo chủ đã dẫn người vào hang ổ được che giấu kín đáo nhất của giáo phái.

Quả nhiên là đảo Murano.

Những ngôi nhà ở đây tương đối bình dân, không có tình trạng cứ một đoạn lại xuất hiện một nhà thờ lớn hoặc dinh thự quý tộc với phong cách khoáng đạt và diện tích rộng lớn. Từ những cây cầu đến các ngôi nhà đều rất tự nhiên, nói cách khác là không có gì đặc sắc cả.

Sau khi Johnson đi lòng vòng hai lần thì bắt đầu thấy mình sắp lạc đường.

Cũng may là có những thành viên giáo phái kia đóng vai trò “biển chỉ dẫn”. Họ đang tuần tra một cách đầy cảnh giác.

Johnson muốn bật cười khi thấy những người này tưởng rằng mình đang ẩn nấp rất kín đáo, nhưng thực tế họ lại ở dưới cầu, dưới mái hiên hoặc trong khoảng trống giữa các cọc gỗ dưới nước. Không chút khó khăn gì cả.

Johnson chỉ không nghĩ đến một việc, nếu có một thám tử loài người ở đây, anh ta chắc chắn sẽ gặp khó khăn trước cách cải trang hoàn hảo như tắc kè hoa này. Ngay cả khi thị lực của thám tử đủ tốt để phát hiện ra điều gì đó bất ổn, anh ta vẫn không có khả năng lặng lẽ lẻn ra sau lưng các thành viên giáo phái để chơi trò đánh lén. Những nơi ẩn náu đó vốn dĩ đã rất hẹp, có vị trí xảo quyệt, xung quanh thì toàn là nước. Chỉ có ma mới mò ra phía sau tấn công được!

Không phải ma, nhưng đáng sợ hơn cả ma quỷ, Johnson đang chọn mục tiêu tiếp theo.

“Đừng tìm dưới nước, hãy tìm một nơi cao, tốt nhất là nơi có thể che gió mưa.” Gymir ở bên cạnh đang khoa tay múa chân, bày mưu tính kế: “Đội trưởng của chúng nhiều khả năng có mặt dây chuyền hoa hồng hơn, những kẻ như vậy nhìn chung không sẵn sàng để mình phải chịu khổ đâu.”

“Thế còn chỗ trên cao?”

“Con người có tầm nhìn hẹp, không ở trên cao thì không thể nhìn thấy mọi thứ, làm một thủ lĩnh thì nhất định phải tìm được một vị trí tốt, dễ tiến dễ lùi đúng không!”

Johnson gật đầu, điều đó có lý.

Thế là họ đã đánh ngất tên kỵ sĩ giáo phái xui xẻo thứ hai.

Tên này quả thực mạnh hơn một chút, ngay khi gậy batoong bằng gỗ trăn vung tới, gã còn kịp quay đầu lại, định nhảy xuống khỏi mái nhà để trốn.

Gymir bất ngờ xuất hiện trước mặt kỵ sĩ giáo phái, ấn đầu gã lại, khiến kỵ sĩ vẫn giữ nguyên vị trí ban đầu không thể cử động, uất ức nhận một gậy.

Kỵ sĩ giáo phái trợn mắt nhìn Gymir với vẻ không dám tin. Trong mắt gã, người đàn ông đeo mặt nạ Venice này có cánh tay khỏe đến mức nực cười. Rồi gã liếc thấy hung khí đánh mình bất tỉnh qua khóe mắt, viên Sapphire khảm trên đầu gậy batoong suýt làm gã bị chói mù mắt. Một viên đá quý được cắt hoàn hảo như thế này, có giá trị cao biết bao nhiêu. Tại sao một người như vậy lại đến để đánh ngất mình? Lại còn ở một vị trí kỳ lạ thế này nữa chứ, dưới mái hiên? Bọn họ làm thế nào để đứng trên một bức tường thẳng đứng?

Đáng tiếc những thắc mắc này không thể được giải đáp, kỵ sĩ rơi vào trạng thái hôn mê.

“Tìm đi.”

Vì lo rằng sức mạnh của tà thần sẽ kích hoạt các vật phẩm có ký tự rune trên người thành viên giáo phái, nên Johnson và Gymir không thể sử dụng dây leo hoặc bóng đen, mà chỉ có thể tìm kiếm “bằng tay” trong lốt con người. Nhưng điều đó không thành vấn đề, lần đầu lạ, lần sau quen tay ngay thôi mà. Quá trình tìm kiếm cũng thật thú vị.

“Hộp thuốc lá, chìa khóa, thánh giá, túi đựng tiền…”

Gymir nhìn một cái ném một cái, tất cả đều trượt xuống nước.

Johnson bất ngờ nắm lấy tay Gymir, ngăn không cho hắn chạm vào nữa.

Một sợi dây chuyền bạc từ từ tuột ra khỏi cổ kỵ sĩ, dưới lớp quần áo lóe lên một luồng ánh sáng đỏ nhạt lộng lẫy.

Mặt dây chuyền hoa hồng.

——————–

<i>Tác giả nói thế này:</i>

<i>Thủy tinh Murano hay còn gọi là thủy tinh Venice, tay nghề thủ công đỉnh cao đẹp tuyệt vời. Có thể làm ra nhiều loại sản phẩm thủy tinh, bao gồm tượng điêu khắc, đèn chùm, chân dung, hoa và bình thủy tinh. Có đủ loại màu, màu nào cũng đẹp.</i>

<i>Một số người có thể cho rằng thủy tinh không có giá trị, nhưng thủy tinh Murano từng góp phần tạo nên một Venice thịnh vượng. Vào thế kỷ 13, một viên bi thủy t*nh h**n hảo có thể được sử dụng trực tiếp làm tiền.</i>

<i>Venice nổi tiếng vì sự giàu có, trước sự trỗi dậy của Thời đại Khám phá, đồng tiền vàng của nó từng là loại tiền tệ có hàm lượng vàng cao nhất ở châu Âu, địa vị tương đương với đồng đô la Mỹ.</i>

<i>Thủy tinh Murano đã trải qua ba lần thăng trầm trong lịch sử, lần thứ ba phục hưng chỉ kéo dài đến năm 1950.</i>

<i>Năm 1866, Venice được sáp nhập vào nước Ý. Năm 1930, Mussolini ra lệnh xây dựng một con kênh nối Venice với đất liền để tăng cường kiểm soát Venice. Vì vậy, trong câu chuyện của phần này, dân thường xa lánh người ngoài hoặc những kẻ kỳ dị không phải vì biết đến sự tồn tại của giáo phái, của tồn tại huyền bí và các thế lực tà ác mà vì bối cảnh thời đại.</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 58


<b>Chương 58</b>

<b>Hy sinh</b>

Mặt dây chuyền chỉ có kích thước bằng ngón tay cái, có hình dạng một bông hoa hồng sống động như thật.

Đỏ đậm rực rỡ, đỏ ửng say đắm, hồng nhạt nhẹ nhàng, trắng sữa căng mọng…

Sự chuyển đổi giữa bốn màu này vô cùng hoàn hảo, tổng thể mặt dây chuyền như có một luồng sáng đang chảy quanh.

Từ góc độ của con người, đây là một tác phẩm hoàn hảo của một tay nghề thủ công điêu luyện, người ta phải ngạc nhiên cảm thán trước màu sắc tuyệt vời được hình thành từ trong ngọn lửa.

Trong mắt tà thần, thứ này tuy không thể gọi là hoàn hảo nhưng nó có đặc điểm là “chân thực”.

Chân thực là gì?

Đối với con người và các loài động vật khác sống trên hành tinh này, cấu trúc các cơ quan và bộ não của chúng quyết định những gì chúng có thể nhìn và nghe thấy.

Có những âm thanh mà con người không thể nghe thấy, không có nghĩa là nó không tồn tại. Màu sắc mà mắt người có thể phân biệt được cũng có hạn, nhưng đôi khi con người sẽ lần mò ra “chân thực” một cách thần kỳ, điều đó được thể hiện chủ yếu trong những tác phẩm nghệ thuật đó. Ví dụ như một bức tranh sơn dầu với những đường nét hỗn loạn, kỳ quặc và khoa trương, một bản nhạc khiến người sáng tác ra nó phải phát điên, hay một tác phẩm điêu khắc khiến người ta phải buồn nôn hoặc sợ hãi. Tất cả đều miêu tả thế giới chân thực, nhưng cách diễn đạt quá khốc liệt.

Mặt dây chuyền thủy tinh trước mắt họ là một kiệt tác trong lĩnh vực khám phá tồn tại huyền bí của con người. Sự hòa trộn màu sắc khiến người ta cảm thấy hoàn hảo là nhờ phối hợp được màu sắc của thế giới chân thực, dù nhìn dưới góc độ của tà thần cũng không có sự hỗn loạn hay xung đột đặc biệt nào.

Bản chất của thế giới là sự hỗn loạn, nó thực sự là dị đoan trong thế giới chân thực này.

Trong quá trình sản xuất mặt dây chuyền, những màu sắc đối lập và xung đột được sắp xếp lại, những màu giống nhau được tập trung lại, nên nó mới có thể “tươi tắn và thoát tục” đến vậy. Chính sự đặc biệt này đã mang lại cho nó chức năng cảnh báo. Khi bị ảnh hưởng bởi sức mạnh hỗn loạn, nó sẽ vỡ tan ngay lập tức.

Thủy tinh mong manh, con người mong manh.

Tạo nên những kiệt tác phi thường.

Rắc.

Mặt dây chuyền hoa hồng trên cổ kỵ sĩ giáo phái vỡ tan.

Chỉ vì “ánh mắt tập trung” của hai tà thần.

Johnson thở dài tiếc nuối: “Là tiếng chuông cảnh báo báo trước sự xâm lấn của sức mạnh huyền bí cho giáo phái bí mật này, nó thực sự rất mạnh mẽ.”

Gymir đang ngây người. Lần trước khi hắn đọc một cuốn sách của con người, từng thấy viết về một nhạc sĩ cách đây một trăm năm vẫn sáng tác một bản giao hưởng xuất sắc trong tình trạng đã mất hoàn toàn thính giác. Giờ đây mặt dây chuyền thủy tinh này cũng chứng tỏ con người có thể “mù quáng chế tạo ra” một hỗn hợp màu sắc gần như tiếp cận được trật tự trong tình huống không thể nhìn thấy thế giới chân thực.

“Làm sao mà ra được như thế nhỉ?”

Bột màu đỏ thẫm từ từ bay lên, tập trung trên các ngón tay của Gymir. Sau khi mặt dây chuyền bị vỡ, những đặc tính đặc biệt của nó không còn nữa, chỉ còn lại độ sáng vốn có của vật liệu.

“…Thứ thủy tinh này được trộn với kim loại, chắc hẳn là một công thức bí mật.” Gymir nói không chắc chắn lắm.

Johnson lại lôi cuốn cẩm nang kia ra, đọc được mô tả của nhà đấu giá về Chén Thánh: Thủy tinh Murano màu đỏ như máu, trong có thành phần vàng ròng.

Johnson không có mấy hứng thú với công thức bí mật, mà y muốn tận mắt chứng kiến cách mặt dây chuyền này được chế tạo ra. Y dám chắc là Gymir cũng có ý tưởng tương tự.

Thật đáng tiếc…

Không làm thế được.

Nếu bị tà thần nhìn vào, mặt dây chuyền hoa hồng sẽ mãi mãi không thể thành hình.

Nó là một sự tồn tại vô cùng mong manh, chỉ có thể ra đời trong một công xưởng thuộc về con người theo cách mà các thế lực tà ác không thể “phát hiện”.

***

Hans đang sốt.

Anh đã lênh đênh trên biển suốt mười tiếng đồng hồ chỉ để hứng gió lạnh, luôn cảnh giác, cũng cố gắng giữ tỉnh táo.

Đến rạng sáng, Andreas ra lệnh quay trở lại, Hans ngay lập tức bất tỉnh.

Hans nghe thấy loáng thoáng sự tức giận và hối hận trong giọng nói của Andreas, nhưng anh biết rằng nguyên nhân của cơn bệnh này là do “tiếp xúc với sự kiện huyền bí”.

Ý thức của Hans chìm vào giấc mơ có căn gác mái quen thuộc.

Lần này gác mái trống rỗng, chỉ có bụi bặm, vài cuốn sách dùng để học chữ đã tả tơi và một bộ cờ nhảy thiếu quân.

Cờ nhảy là một trò chơi rất phổ biến ở Anh. Đã từng có một thương nhân người Anh đặt mua một số lượng lớn cờ nhảy bằng thủy tinh màu ở Venice, số tiền này đã cứu được một công xưởng sắp đóng cửa. Sau này, trò chơi này cũng bắt đầu trở nên phổ biến ở Venice, có nhiều cách chơi khác nhau tùy theo khu vực.

Hans nhặt từng quân cờ bị vỡ lên, sắp xếp chúng ngay ngắn. Quá trình này hơi tốn công sức, vì các quân cờ nằm rải rác ở mọi ngóc ngách của gác mái, một số bị kẹt trong khe hở giữa những tấm ván gỗ, rất khó tìm thấy.

Khi gom đủ các quân cờ, Hans dường như nghe thấy tiếng cười.

Tiếng cười của trẻ con.

Sau đó, giấc mơ tối tăm và chật hẹp có biến chuyển dữ dội, anh thấy dưới chân trống rỗng, thấy mình rơi vào một thế giới kỳ lạ.

“Giáo chủ?”

Hans thấy Giáo chủ già nua đang giận dữ nói gì đó, phía dưới là các kỵ sĩ giáo phái quỳ đầy dưới đất. Thống lĩnh kỵ sĩ từng chế giễu Hans đủ điều kia đang siết chặt chiếc mặt nạ sắt trong tay, mạnh đến nỗi các ngón tay đỏ bừng lên.

Hans nhận thấy góc nhìn của mình thật kỳ lạ, anh dường như đang đứng phía trên một ngôi nhà không có mái, tầm nhìn của anh có thể “bắt” được mọi chi tiết ẩn giấu trong bóng tối. Chẳng hạn như Giáo chủ tuy rằng đang tức giận nhưng vẫn lặng lẽ thò tay phải xuống gầm bàn, nơi đó chắc là có một cái nút khởi động bẫy; Thống lĩnh kỵ sĩ bề ngoài có vẻ ngoan ngoãn phục tùng, nhưng thực chất gã đã giận đến mức lén sờ vào vũ khí giấu ở thắt lưng nhiều lần, chẳng qua là đang kiềm chế không ra tay.

Giọng nói của họ không được rõ ràng cho lắm, cộng thêm việc trong mắt Hans, những kẻ đứng đầu giáo phái ít nhiều gì cũng có dấu hiệu “ô nhiễm”, nên trông có vẻ như đây là một vở kịch quái dị.

Giáo chủ, các Trưởng lão, các Thống lĩnh mà Hans từng kính trọng và ngưỡng mộ… có kẻ thì da xanh, có kẻ thì đầu dị dạng, có kẻ mắt đỏ như máu, cũng có kẻ mọc vảy trên người. Hệt như một lũ quái vật khoác trên mình bộ quần áo lãnh đạo giáo phái, dịch chuyển thân hình dị dạng, vụng về diễn một màn kịch nhằm bôi nhọ giáo phái Màu Xám.

“Không!”

Hans nhắm mắt lại trong đau đớn.

Những âm thanh và hình ảnh đó vẫn liên tục chảy vào tâm trí anh.

Âm thanh dần dần rõ ràng hơn, Hans có thể nghe được nội dung tranh cãi của đám người đứng đầu giáo phái này. Có người chỉ trích Andreas không cố gắng hết sức, có người cho rằng con quái vật đã rời khỏi Venice, cũng có Trưởng lão chỉ trích Giáo chủ đã dễ dàng rời bỏ căn cứ tại nhà thờ trên đảo chính Venice.

Trong khi họ đang cãi vã thì bất ngờ có một người hầu trong giáo phái đến báo rằng một cuộc tấn công khác nhằm vào kỵ sĩ giáo phái vừa xảy ra. Vì những kỵ sĩ này đều bị đánh bất tỉnh bằng phương thức vật lý, tài sản mang theo trên người cũng bị cướp sạch, nên không hề giống hành động của quyến thuộc của tà thần chút nào. Sự việc này trở thành ngòi nổ cho một cuộc tranh cãi mới.

Thống lĩnh kỵ sĩ phủ nhận thuộc hạ của mình là rác rưởi. Gã kiên trì khẳng định trong việc này có bàn tay của những thế lực khác tham gia vào… thế lực của con người đã ra tay, mục đích là nhằm kiểm soát hoàn toàn Venice – thành bang luôn nằm ngoài tầm tay của nước Ý.

Sau đó nhóm lãnh đạo giáo phái lần lượt vạch trần tội lỗi của nhau, chỉ ra ai đã được hưởng lợi từ quý tộc nào, ai đã sớm ngả mũ đi theo nhân vật lớn nào, bao gồm nhưng không giới hạn người bản địa Venice, thế lực của riêng nước Ý, một Trưởng lão tham lam nhất thậm chí còn bị cáo buộc nhận tiền từ cả Đông Nga và Giáo hội Công giáo, còn mua đất và biệt thự ở Anh.

Tượng Chúa trên cây thánh giá im lặng xem trò hề này. Các bức tượng điêu khắc những vị thánh của giáo phái thời xưa được đặt dọc hai bên phòng cũng đang dõi theo những hậu duệ này.

Hans tự hỏi phải chăng tà thần đã làm gì đôi mắt của mình, giấc mơ này cũng rất có thể là ảo ảnh do tà thần tạo ra. Nhưng anh nhìn thấy Andreas nhiều lần sốt ruột quay đầu, cuối cùng lợi dụng lúc hỗn loạn rời đi.

Lúc này, ngoài cửa sổ xuất hiện một hình ảnh phản chiếu khủng khiếp.

Bạch tuộc khổng lồ xuất hiện giống như trong truyền thuyết, thân hình nó to lớn như một ngọn núi, những xúc tu của nó quét ngang qua cửa kính, gây ra những chấn động ầm ầm đáng sợ.

Chiếc đèn chùm thủy tinh trong phòng vỡ tan ngay lập tức, Giáo chủ vừa kinh hoảng vừa tức giận nhảy dựng lên, hét lớn tên Andreas, còn mấy Trưởng lão thì trốn dưới gầm bàn. Thống lĩnh kỵ sĩ cầm vũ khí lao vào màn mưa, nhưng không tìm thấy gì. Bóng dáng bạch tuộc khổng lồ đã biến mất trong bóng tối.

Cuộc cãi vã trở nên căng thẳng hơn. Nhưng tranh cãi sẽ không đi đến kết quả, mà chỉ khiến xung đột bùng phát triệt để.

Màn sương đen như tấm màn rạp hát, rất chu đáo hạ xuống, khi nó được kéo ra lần nữa, cũng là lúc vở kịch thứ hai bắt đầu.

Một Trưởng lão đã gặp chuyện.

Lão mang theo thân tín và tiền tài của mình, chuẩn bị rời đi ngay trong đêm, nhưng khi lên đến thuyền thì biến thành một con quái vật không có lý trí, cơ thể cao lên tới bốn mét, mặt vặn vẹo, chảy ra nước bọt như bùn, sau khi giết thuộc h* th*n cận thì bị Thống lĩnh kỵ sĩ vừa đuổi tới xử tử.

Thi thể Trưởng lão được quấn trong một tấm vải trắng viết đầy những ký tự rune, Giáo chủ làm lễ trừ tà rồi dùng lửa đốt thành tro bụi. Tro cốt được đưa vào bình một cách trang trọng.

Hans đã từng nhìn thấy chiếc bình đó trước đây. Tất cả những vật dụng và nguồn nước bị ô nhiễm sẽ được cho vào bình chứa này, nghe nói Giáo chủ sẽ xử lý nó. Nhưng lần này Hans đã tận mắt chứng kiến “quá trình xử lý” đó.

Giáo chủ cho người trộn tro cốt, nước và một số thứ kỳ lạ vào với nhau, ra lệnh cho một kỵ sĩ nằm xuống tầng hầm đầy ký tự rune rồi bôi thứ “thuốc cao” đó lên khắp người kỵ sĩ.

Sau một loạt những tiếng hét thảm thiết, kỵ sĩ kia từ một con người bình thường trở thành một “con người có đặc tính kỳ dị” trong mắt Hans, đồng thời còn nhận được mặt dây chuyền hoa hồng.

Mặt dây chuyền hoa hồng không chỉ có khả năng phát hiện ra các thế lực tà ác đang tiếp cận, mà còn theo dõi xem tính cân bằng trên người đã tiếp nhận ô nhiễm có bị phá vỡ hay không. Đóa hoa hồng mong manh này cũng như tinh thần kỵ sĩ trong điều lệ của giáo phái. Kiên trì, danh dự, hy sinh…

Hans phát hiện ra rằng, ngoại trừ chú Andreas của mình, mọi lãnh đạo trong giáo phái đều không mang mặt dây chuyền hoa hồng, cũng không sử dụng những “thánh vật” tương tự.

Ngày xưa anh không thể đến gần được nhóm lãnh đạo giáo phái, nhưng giờ đây đôi mắt anh đã có thể “nhìn thấy” ánh sáng huy hoàng đó. Nó thật đặc biệt, màu đỏ say đắm lòng người đó, như sự tồn tại ổn định duy nhất trong thế giới hỗn loạn này. Mặt dây chuyền nhảy nhót trên cổ Andreas hệt như ngọn lửa đang cháy.

Màn thứ ba của vở kịch, Andreas tuần tra dọc theo căn cứ của giáo phái, mặt dây chuyền hoa hồng trong tay ông ta vỡ nát hết lần này đến lần khác, sau cùng Giáo chủ không thèm đưa cho ông ta thêm mặt dây chuyền nào nữa, đồng thời toàn thể giáo phái đều nhận được tin dữ: Thế lực tà ác đã bao vây họ.

Những thành viên giáo phái bình thường còn có thể trốn thoát, nhưng những kỵ sĩ giáo phái có “sức mạnh phi thường” thì lần lượt gặp bất hạnh. Có người bị đánh bất tỉnh, người lại bị sốt cao, số khác thì dứt khoát biến thành quái vật.

Sự hoảng loạn lan rộng trong căn cứ.

Đêm hôm đó, cái bóng của bạch tuộc khổng lồ lại xuất hiện, nó dùng xúc tu v**t v* tòa nhà này như một món đồ chơi.

Hans gần như nghẹt thở.

Anh nhìn từng gương mặt quen thuộc đang cầu nguyện các vị thần trước thánh giá, đồng thời chứng kiến trạng thái biến dị của nhóm lãnh đạo giáo phái ngày càng trở nên đáng sợ hơn. Cuối cùng, hệ thống phòng thủ sụp đổ, bởi không chỉ có thế lực tà ác bên ngoài mà còn bởi những “quái vật” liên tục xuất hiện bên trong căn cứ.

Mặc dù giáo phái còn chưa vỡ trận, nhưng cũng chẳng khác gì đã tan rã.

Hans rất nóng lòng tìm kiếm bóng dáng của Andreas, thế nhưng chủ nhân của giấc mơ này dường như không để ý nhiều đến Andreas, y thích xem bộ dạng lôi thôi của Giáo chủ hơn, thích xem cảnh bọn Trưởng lão kia vạch trần khuyết điểm của nhau, thậm chí vung tay đánh nhau.

Hans thậm chí còn cảm nhận được một cảm xúc kỳ lạ, như thể chủ nhân của giấc mơ đang buồn bực hỏi người bạn của mình, anh đã nhặt cờ nhảy cho ta, ta sẽ cho anh thấy những điều thú vị, tại sao anh lại không vui?

***

“Thật phiền toái…”

Johnson phát hiện Hans ở trong mơ sắp phát điên rồi, y không biết người này vào được bằng cách nào, nhưng đã đến lúc Hans phải phát huy vai trò của mình. Johnson trực tiếp đuổi Hans ra khỏi giấc mơ. Nếu không có sự cố nào khác xảy ra, Hans tỉnh dậy rồi sẽ lao đi tìm Andreas, sau đó bảo vệ những người thân và bạn bè mà anh coi là quan trọng.

“Andreas đã đi trộm sách cổ của giáo phái.” Gymir báo cho Johnson biết tình hình mới nhất.

Đó mới là của cải quan trọng của giáo phái. Cú Xám Andreas ngay từ đầu đã không mấy kính trọng Giáo chủ, giờ đây ông ta không chút do dự lựa chọn “giữ gìn giáo phái”.

Andreas biết mình không thể rời đi được nữa, ông ta sẽ sắp xếp mọi việc, sau đó đối mặt với “bạch tuộc khổng lồ” và chiến đấu đến giây phút cuối cùng.

“Để đảm bảo rằng Hans và những người khác rời đi ngay lập tức, hắn sẽ dùng chính mình làm mồi nhử, chủ động đến tìm chúng ta.” Gymir tháo mặt nạ ra, mỉm cười nói.

***

Trong căn hầm tối tăm, Hans cảm thấy toàn thân lạnh như băng.

“Không, chú Andreas, con không thể…”

“Hãy cầm lấy, đừng đánh mất, đây là thánh vật quan trọng nhất trong giáo phái của chúng ta.”

Đôi mắt của Andreas vẫn sắc như dao dưới ánh nến yếu ớt. Bên dưới chiếc áo choàng xám mà ông ta đang mặc chứa đầy các loại vũ khí khắc ký tự rune, và hai khẩu súng. Ông ta đẩy một chiếc hộp nặng về phía Hans, dặn đi dặn lại: “Có các rãnh để đặt thấu kính bên trong, còn có loại len cashmere thượng hạng lấp đầy các khoảng trống như một tấm đệm, nhưng hãy cố gắng đừng để nó bị va đập.”

“Là, là Con mắt Hoa Hồng?” Hans run tay.

“Phải, chú trộm ra từ xưởng thủy tinh, đánh ngất người canh gác.” Andreas nói những lời đủ để giáo phái mang ông ta ra kết tội hỏa thiêu nhưng vẻ mặt vẫn bình tĩnh, còn vỗ thật mạnh vào vai Hans: “Con mắt Hoa Hồng do tổ tiên giáo phái để lại, Trưởng lão đi theo quý tộc rời Venice trước đó đã lấy đi một mảnh, hiện tại ngoài cái để trong phòng Giáo chủ ra, chỉ còn lại cái ở xưởng này thôi.”

Hans biết rằng chỉ có nhờ Con mắt Hoa Hồng trợ giúp mới có thể tạo ra những mặt dây chuyền đó, tạo ra nhiều đồ trang sức đa dạng có khả năng cảnh báo. Nếu không thể nhìn thấy kẻ thù thì làm sao có thể đối phó với kẻ thù?

“Chú Andreas, chú có thể giao Con mắt Hoa Hồng cho người khác, cho con ở lại gia nhập đội của chú…”

“Không!” Andreas đột nhiên ngắt lời Hans, ông ta nhìn thẳng vào đôi mắt phủ vảy trắng quái dị của Hans.

Ông ta châm tẩu thuốc, như thể đang xuất thần hoặc đang suy nghĩ điều gì đó.

Khoảng năm phút sau, Andreas cuối cùng cũng lên tiếng: “Thật ra, mảnh kính trong phòng Giáo chủ đã bị phá hủy rồi.”

“Cái gì?” Hans kinh hãi.

Andreas hơi nôn nóng, đồng thời cũng hối hận, ông ta nói với giọng điệu phức tạp: “Xin lỗi, chú vẫn luôn giấu con. Khi chú phát hiện ra con có thể nhìn thấy… những bất thường trên người Giáo chủ, Thống lĩnh kỵ sĩ, nói chung là trên người chúng ta, chú đã có vài suy đoán, sau đó khi cơn sốt của con kéo dài, chú đã đi đọc lại sách cổ, xác nhận rằng các triệu chứng của con rất giống…”

“Rất giống cái gì?”

“Hoa hồng chỉ là biểu tượng của giáo phái chúng ta, trong giáo lý truyền thống, hoa hồng là biểu tượng cho máu của các vị tử vì đạo. Nó được gọi là Con mắt Hoa Hồng, không phải vì màu sắc và hoa văn mà vì sự hy sinh. Để ngăn chặn việc các thành viên giáo phái phải hy sinh trong hiến tế, vị tổ tiên giáo phái đầu tiên và cũng là người cuối cùng có thể <i>nhìn thấy thế giới chân thực</i>, đã sử dụng tay nghề sản xuất thủy tinh mà mình quen thuộc nhất để tạo ra Con mắt Hoa Hồng đầu tiên. Sau đó, các thế hệ thành viên giáo phái tiếp theo đã nhìn thấy thế giới phi thường qua lăng kính này, và phải trả giá bằng mạng sống của mình, cuối cùng có được Con mắt Hoa Hồng hoàn hảo, thông qua công cụ này để tạo ra thánh vật mà con biết.”

Andreas xoa đầu Hans, việc này thực ra không hề dễ dàng, vì Hans quá cao.

Bây giờ Hans cúi đầu xuống, để mặc bàn tay đó dừng trên đầu.

“Chú không biết chuyện gì đã xảy ra, nhưng đôi mắt của con… Sức mạnh của Con mắt Hoa Hồng thay thế thị giác của con, nó sẽ khiến con phải gánh chịu bất hạnh giống như bậc tiền bối đã <i>nhìn thấy thế giới chân thực</i> kia. Chú muốn con tránh xa tất cả lãnh đạo giáo phái, chú rất lo lắng bọn họ sẽ phát hiện ra bí mật này, thà rằng con bị bệnh nằm trên giường còn hơn… Chú đã sai lầm, Hans. Giờ đây giáo phái sắp bị tiêu diệt, hãy mang theo tất cả những gì chú đưa cho con, chạy trốn đi! Càng xa càng tốt! Khi cần thiết, dù có từ bỏ Con mắt Hoa Hồng cũng không sao, mạng sống của con cũng quan trọng không kém.”

Đầu Hans bỗng nhẹ bẫng, bàn tay kia đã rời đi.

Andreas rời khỏi tầng hầm như một bóng ma.

“Không!” Hans kinh hoảng đuổi theo.

Giọng nói nghiêm khắc của Andreas từ xa truyền đến: “Con muốn chúng ta chết vô ích sao? Hãy nhớ bản đồ chú đưa cho con, nắm bắt cơ hội! Đưa mẹ con và những người bên ngoài hầm trốn đi! Chúng ta làm vậy vì muốn giữ những người thân yêu của mình còn sống, đừng làm chú phải thất vọng! Chú đã giấu hết sách cổ ở đây, con mang theo được bao nhiêu hay bấy nhiêu, khi nào có cơ hội thì quay lại lấy thêm.”

——————–

<i>Tác giả nói thế này:</i>

<i>Hầu hết các động vật có vú đều có ba loại tế bào hình nón có thể nhận diện ánh sáng đỏ, xanh lam và xanh lục, chúng ta gọi đó là ba màu cơ bản. Tất cả màu sắc mà con người nhìn thấy đều dựa trên ba màu này, nhưng có một số sinh vật trên trái đất có ít hoặc nhiều loại tế bào hình nón hơn, chẳng hạn như tôm tít có mười sáu loại.</i>

<i>Nghĩ mà xem, có thể bạn sẽ cho rằng mọi màu sắc xung quanh mình đều hài hòa, càng đơn giản thì càng hài hòa. Thực ra, trong mắt tôm tít, thế giới hoàn toàn không như thế này. Thế giới chân thực phức tạp quá, màu sắc phong phú quá, con người chẳng hiểu gì về màu sắc cả (Ê này).</i>

<i>À, tóm lại là nếu con người đột nhiên có được thị giác của tôm tít (nhìn thấy những thứ không nên thấy), vậy thì hiển nhiên là đầu óc quay cuồng, toàn là bóng chồng, màu sắc lộn xộn, nếu kết hợp đồng bộ cả thêm âm thanh, giác quan, v.v. chẳng phải sẽ dễ khiến mọi người phát điên sao?</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 59


<b>Chương 59</b>

<b>Đêm hủy diệt</b>

Đêm nay là đêm bi thảm nhất trong lịch sử của giáo phái Màu Xám.

Nó bắt đầu chỉ bằng một đám cháy, một vài sự hỗn loạn.

Điểm hỏa hoạn nằm ở phía đông n*m c*n cứ của giáo phái.

Giáo chủ nhận được tin tức liền biết Andreas đã xông ra ngoài cùng một nhóm thuộc h* th*n cận.

“Ngu xuẩn! Cú Xám không thấy kết cục của Trưởng lão trước đó sao?”

Thống lĩnh kỵ sĩ vừa giận vừa lo, gã cho rằng Andreas đã chết rồi. Đúng là gã rất ghét Andreas, nhưng gã cũng mong giáo phái có thể tiết kiệm sức chiến đấu để chống lại con quái vật trong trận chiến cuối cùng, Andreas được coi là lưỡi dao mạnh nhất, bây giờ con dao lại tự đâm đầu vào đá? Cú Xám Andreas mà chết, chẳng phải xác suất sống sót của họ sẽ giảm xuống thêm nữa sao?

Trên khuôn mặt già nua của Giáo chủ hiện lên vẻ giễu cợt: “Giám sát kênh đào hướng tây bắc, chuẩn bị thuyền bè, chúng ta sẽ rút lui từ đó!”

“Cái gì?” Thống lĩnh kỵ sĩ kinh hãi không thôi. Thống lĩnh kỵ sĩ luôn tin rằng Giáo chủ có quân bài bí mật, đây cũng là nguyên nhân khiến gã kiên trì đến cùng, không trở mặt với Giáo chủ.

Giáo chủ liếc nhìn Thống lĩnh kỵ sĩ, kẻ ngang ngược không khác gì Andreas nhưng lại thiếu đầu óc hơn Andreas.

“Andreas quả thực định đi tự sát, hắn đã phát hiện chỉ có <i>người bình thường</i> mới có thể rời khỏi nơi này.”

Bất cứ ai có được “sức mạnh phi thường” bằng phương pháp bí mật của giáo phái sẽ trở thành mục tiêu của bạch tuộc khổng lồ. Trong tình huống này, Cú Xám sẽ lựa chọn thế nào?

Giáo chủ lãnh đạm nói: “Hắn sẽ dẫn người của mình đi thu hút sự chú ý của bạch tuộc khổng lồ, đồng thời bí mật chỉ thị cho người khác trốn thoát.”

“Đáng hận!” Thống lĩnh kỵ sĩ nổi giận, trong mắt gã, một kẻ không tuân lệnh như Andreas còn tệ hơn cả một tên hèn nhát chạy trốn khỏi chiến trường, dám trực tiếp vứt bỏ giáo phái, tự mình quyết định mọi việc. “Hắn đã phá bỏ lời thề! Hắn không đổ tới giọt máu cuối cùng vì giáo phái!”

“Đủ rồi, chúng ta đi thôi.” Giáo chủ cau mày, lão mỉa mai hỏi: “Hay là cậu muốn ở lại đây, gia nhập đội của Andreas?”

Thống lĩnh kỵ sĩ: “…”

Cho đến lúc ra đi, Thống lĩnh kỵ sĩ vẫn tin rằng Andreas đã phá hỏng toàn bộ cục diện, giáo phái vốn còn sức chiến đấu, nhưng bây giờ mọi chuyện đã kết thúc.

“Thống lĩnh, gia đình chúng tôi còn ở trong những ngôi nhà phía sau.” Vài kỵ sĩ giáo phái ngập ngừng nói.

“Vậy thì cậu trở về!” Thống lĩnh kỵ sĩ cáu kỉnh nói.

Lúc này, từ xa xa vang lên những âm thanh kỳ quái ngắt quãng. Có cái như tiếng kêu khi hấp hối của những sinh vật cỡ lớn, cái lại như tiếng gió rít gào phá hủy nhà cửa. Không ai biết Andreas còn sống hay đã chết, nhưng khi nghe thấy những tiếng động này, mọi người đều cảm thấy ớn lạnh trong lòng.

“Đi thôi!”

“Nhưng thưa Thống lĩnh, gia đình chúng tôi…”

“Không đi thì cút!”

Thống lĩnh kỵ sĩ giận dữ vung roi. Gã nhìn thuộc hạ của mình quay đầu bỏ chạy với đôi mắt đỏ hoe, chạy về phía hiện trường vụ cháy có những bóng đen và tiếng động kỳ lạ, một số người khác thì do dự một lúc lâu, cuối cùng cũng không quay lại.

Trong bóng tối, liên tục có thuyền tiến vào kênh đào.

“Đợi đã, đó là thuyền của tôi!”

Dường như có giọng nói phát ra từ trên bờ, theo sau đó là một tiếng r*n r* nghèn nghẹt.

“Giáo chủ, đã phát hiện ra người của Andreas, bọn chúng đang ở bên phải bến tàu.”

Giáo chủ nhìn chằm chằm vào những bóng người đông đúc ở phía xa, lão dễ dàng nhận ra Hans, thấy Hans đang giận dữ tranh cãi với kỵ sĩ giáo phái.

Khắp nơi trên đảo đều có thuyền, nhưng hầu hết đều dùng để di chuyển trong kênh đào trên đảo, nếu muốn rời khỏi nơi này thì phải dùng thuyền lớn. Hans muốn giữ một con thuyền cho người của mình, ngay khi chuẩn bị ra tay, anh đã nhận thấy nhóm người thứ hai đang đến bến tàu. Là thân tín của một Trưởng lão khác.

Hans nghiến răng nghiến lợi rời đi. Những người ở bên anh đều được Andreas giao phó cho anh, họ là người thân được những người mặc áo choàng xám trung thành đi theo Andreas gửi gắm lại. Một nửa trong số họ là người già và trẻ em, còn lại là phụ nữ, trong đó có mẹ của Hans.

Ngoại trừ Hans, chỉ có vài thiếu niên mang vũ khí. Họ phải nhịn nhục, bất đắc dĩ rẽ vào một con hẻm khác, tìm kiếm một chiếc thuyền nào đó đã được giấu đi.

Phía đông hòn đảo là lửa cháy hừng hực, bến tàu phía sau lưng cũng hỗn loạn.

Hans đột nhiên dừng chân, kinh hãi nhìn ngôi nhà phía xa.

Anh nhìn thấy một con quái vật, một con quái vật trông như thằn lằn lao ra khỏi đám cháy, điên cuồng phá hủy các tòa nhà.

***

Johnson nhìn con quái vật rồi nhìn sang Andreas cả người đầy vết thương.

Vốn dĩ trong đêm nay, y và Gymir sẽ ngồi trên mái nhà xem vở kịch do giáo phái Màu Xám dốc hết sức biểu diễn. Andreas quyết định đưa Hans đi, bản thân ông ta thì dẫn người đâm đầu vào chỗ chết, đây là một diễn biến cốt truyện rất hay.

Thực chất, bạch tuộc khổng lồ chỉ là một cái bóng được phóng to, dù có mang theo sức mạnh của tà thần khiến con người đau đầu, khiến mặt dây chuyền hoa hồng tan nát, nhưng nếu muốn đại chiến với bạch tuộc khổng lồ, diễn màn kịch tính như cái chết của một anh hùng gì đấy, thì còn phải xem tà thần có hợp tác hay không.

Gymir nghĩ diễn biến bên phía Hans thú vị hơn. Hans vừa khóc vừa ch** n**c mũi, chật vật trốn chạy trong màn đêm hỗn loạn này, thật đáng xem biết bao!

Johnson: “…”

Mặc dù một lời khó nói hết, còn hơi quá đáng nữa chứ, nhưng những gì Gymir nói đều có lý.

Hans là con người đã nhận lời ủy thác của tà thần, họ vẫn phải cứu mạng Hans đấy! Tốt nhất là nên xem qua, kẻo Hans sẽ bị nhóm lãnh đạo giáo phái g**t ch*t trên đường chạy trốn mất.

Còn Andreas thì cứ bỏ đấy cũng không sao, dù sao Andreas cũng không tìm được bạch tuộc khổng lồ, ông ta sẽ không thể tự sát, đúng không nào!

Ai ngờ lại xảy ra chuyện!

Andreas vẫn thực hiện kế hoạch “dẫn dụ bạch tuộc khổng lồ” của Giáo chủ, chẳng qua là đổi mồi nhử từ Hans thành một Trưởng lão cấp cao của giáo phái. Cú Xám trực tiếp đánh bất tỉnh người đó, rồi mang ra “luyện” bằng phương pháp bí mật của giáo phái.

Không phải là hiến tế, mà là luyện.

Nghe nói đó là thuật luyện kim của một học giả huyền bí học thời Trung cổ, Trưởng lão đã biến thành một con quái vật trong pháp trận ký tự rune, sau đó bị bùa chú kìm hãm đứng tại chỗ gào thét. Sự cân bằng trên người nhóm lãnh đạo giáo phái rất dễ bị phá vỡ, Andreas chẳng ngần ngại gì khi “luyện” lão.

Ý tưởng này vốn rất hay ho. Nếu trong bãi săn của mình xuất hiện một “đồng loại” tới giành con mồi, bạch tuộc khổng lồ chắc chắn sẽ ra mặt tiêu diệt con quái vật này. Sau đó Andreas và những người khác thừa cơ hỗn loạn để tấn công, nếu may mắn thì có thể diệt trừ được bạch tuộc khổng lồ, còn nếu xui xẻo thì kéo dài thời gian, tạo cơ hội cho Hans trốn thoát.

Thế nhưng bạch tuộc khổng lồ chỉ là sự tồn tại giả tạo. Chỉ có bộ sưu tập các nguồn âm thanh kinh dị do Gymir sưu tầm rồi phát ra thôi.

Đây là lần đầu tiên Andreas làm chuyện này, bạch tuộc khổng lồ mãi vẫn chưa xuất hiện, con quái vật do Trưởng lão biến thành vẫn còn một chút ý thức, có lòng căm thù mãnh liệt đối với Andreas. Thế là con quái vật đã mất kiểm soát.

Johnson đi theo Hans xem tình hình bên phía Giáo chủ, đến khi vội vàng quay về thì phát hiện nơi này gần như đã bị san bằng thành bình địa.

“Xem như hắn may mắn.” Johnson tiện tay ném Andreas trên mái nhà.

Con quái vật đang lao vào Johnson dường như cảm nhận được điều gì đó, đột nhiên dừng lại, quay đầu bỏ chạy.

Cái bóng phía sau Gymir đã duỗi ra vô số chi, chuẩn bị xé nát nó. Hắn nhìn theo con quái vật chạy trốn, không nhịn được nói: “Cái này cũng rất may mắn.”

“Nguy rồi, nó chạy về phía xưởng thủy tinh.”

Mặc dù đồ thủy tinh trong nhà kho thật sự không bền chắc chút nào, nhìn cái đã vỡ, nhưng Johnson không vui khi thấy chúng bị một thể biến dị ô nhiễm phá hủy.

“Để ta đuổi theo.” Gymir phát hiện ra rằng thực sự không thể ngồi yên xem màn kịch này.

***

“Nó tới rồi!”

Tiếng hét khủng hoảng đến độ lạc cả giọng phá tan sự im lặng của màn đêm.

Mặt đất rung chuyển rất nhẹ, theo sau là tiếng vỡ của các sản phẩm thủy tinh khác nhau.

Những người trốn trong nhà hoàn toàn tuyệt vọng, tuy đang ôm đầu nhưng tiếng hét thảm thiết bên ngoài vẫn vang vọng bên tai. Các cửa sổ được che kín bằng vải đen không xuyên thấu, còn được đóng gỗ chắc chắn, nên họ không thể thấy được chuyện gì đang diễn ra bên ngoài.

Những người ở lại đây có rất ít khả năng chiến đấu, họ là bác sĩ và thợ thủ công, trong cơn hoảng loạn, họ đã chọn kho của xưởng thủy tinh để trốn. Mặc dù nơi này đủ kín đáo, nhưng đối với lũ quái vật, con người ẩn náu trong nhà chẳng khác nào thịt trong hộp, dù có trốn kỹ đến đâu cũng vô ích, đập vỡ hộp lon là phá hủy xong xuôi. Vì thế cái chết chỉ là vấn đề sớm hay muộn.

Mặc dù các thành viên của giáo phái đã được giáo dục theo cách này, họ biết rõ tà thần có sức mạnh như thế nào, quyến thuộc của tà thần tàn bạo ra sao, nhưng khi thảm họa ập đến, không ai có sự chuẩn bị sẵn sàng, bình tĩnh chấp nhận số phận của mình.

“Tại sao? Tại sao ác quỷ lại tới Venice?” Một ông già hét lên đầy bị phẫn.

Người thợ bên cạnh lo lắng giọng nói của ông ta sẽ thu hút sự chú ý của quái vật nên vội vàng bịt miệng ông già lại. Đôi bàn tay thô ráp cảm nhận được những giọt nước mắt nóng hổi của ông lão chảy dọc theo những nếp nhăn, bản thân người thợ cũng đang khóc thầm trong bóng tối.

Tiếng la hét ngoài cửa sổ ngày càng lớn hơn, kèm theo đó là những tiếng gầm rú kinh hoàng của lũ quái vật đang hoành hành. Có vẻ như một ngôi nhà bị sập, rồi có một vụ nổ lớn đã xảy ra.

“Phương hướng không đúng.”

Những người trốn thoát đang dựa vào tường lắng nghe.

Bị Gymir truy đuổi, con quái vật quay trở lại, tiến thẳng về phía bến tàu.

Johnson: “…”

Gymir: “…”

Vì sợ vô tình làm hỏng các tác phẩm nghệ thuật bằng thủy tinh nên Gymir và Johnson không phát huy sức mạnh thực sự của mình. Kết quả là con quái vật còn đủ sức để chạy trốn, lại còn chạy trong trạng thái sợ hãi điên cuồng, hoàn toàn không theo hướng mà Gymir xua đuổi.

“Hans cũng đang ở gần bến tàu.” Johnson nói.

Quên đi, dù sao thì xưởng thủy tinh cũng đã được cứu rồi, giờ có thể quay lại cứu Hans.

Đêm nay chẳng giống như xem diễn kịch gì cả, cứ như đội cứu hỏa trong thành phố của con người, cố gắng hết sức để cứu những thứ mỏng manh biết phát sáng đó.

***

Con quái vật hoảng sợ bỏ chạy, dễ dàng phá hủy các tòa nhà trên bến tàu.

Gymir đang chuẩn bị tiêu diệt thể biến dị này.

Lúc này, một cái bóng vặn vẹo quái dị hơn thế nữa đứng lên. Nó cao bảy tám mét, toàn thân đen kịt, trên đầu có mười mấy cái sừng cong, nước bọt nhỏ xuống từ hàm răng sắc nhọn có thể ăn mòn đá.

Ai nhìn thấy nó cũng cảm thấy cơn đau như đầu mình nổ tung, những kỵ sĩ giáo phái còn sống thì kinh hãi bỏ chạy khắp nơi.

Con quái vật sừng cong dường như vẫn còn chút ý thức, nó chộp lấy con thằn lằn da xanh do Trưởng lão biến thành vừa chạy thoát khỏi đống đổ nát, bắt đầu đánh nhau.

“Giáo chủ đâu?”

Thống lĩnh kỵ sĩ đầu đầy máu bức thiết hỏi trong đống đổ nát.

Kỵ sĩ giáo phái bị gã túm lấy thì hai mắt trống rỗng, dường như đã mất trí.

Thống lĩnh kỵ sĩ đấm mạnh vào người kia. Người nọ thở hổn hển dữ dội, máu đen chảy ra từ miệng, lắp bắp nói: “Ở ngay… Ngay phía sau chúng ta, chính là thứ đó.”

Thống lĩnh kỵ sĩ choáng váng, gã cảm thấy mình lúc thì nóng lúc thì lạnh. Gã buông tay ra, loạng choạng rời khỏi đống đổ nát, nhưng bất ngờ bị một lực mạnh đánh văng ra ngoài.

Cuộc chiến giữa thằn lằn da xanh và quái vật sừng cong đã lan đến đây.

Nhìn móng vuốt của quái vật sừng cong càng lúc càng gần mình, đầu Thống lĩnh kỵ sĩ như muốn nổ tung. Gã không cam lòng gào lên, tứ chi vặn vẹo, sau đó gã bị tưới nước bọt có độc khắp toàn thân, tiếp đến nữa là vô số gạch vụn chôn vùi gã.

Nửa phút sau, một con thú không da màu đỏ như máu, ngoại hình giống sói lao ra khỏi đống đổ nát, hung hãn lao về phía quái vật sừng cong.

Gymir: “…”

Thần Biển im lặng nhìn con quái vật thứ tư bò ra khỏi đống đổ nát, hùng dũng gia nhập vào cuộc chiến.

Khi Johnson xách Hans trèo lên mái nhà, cả y lẫn Hans đều kinh ngạc ngây người.

“Chuyện gì xảy ra?”

Sự ăn mòn của sức mạnh tà ác có khả năng lây lan, nhưng sức mạnh mà nhóm lãnh đạo giáo phái sử dụng tương đối ổn định, cứ nhìn Andreas là biết, nếu có ý chí kiên định, không bị ai hãm hại thì không thể vô duyên vô cớ biến thành quái vật.

“Người của giáo phái tụ tập ở bến tàu này, rồi… ừm, bọn họ không kịp trốn thoát, bị trọng thương, thế là biến dị.”

Gymir chỉ con quái vật sừng cong, giới thiệu với Hans đây là Giáo chủ, rồi chỉ vào con sói máu hung dữ, nói là Thống lĩnh kỵ sĩ. Vở kịch tiếp tục diễn ra, mọi người chuẩn bị vứt bỏ mặt nạ của mình, thay bằng mũ trùm quái thú hết cả rồi.

Hans ngồi ngơ ngác.

Ngôi nhà họ đang đứng rất gần bến tàu, chỉ cần chèo qua hai con kênh đào là có thể biến mất trong vùng biển được màn đêm bao phủ. Nhưng lúc này Hans lại bị Johnson “bắt” lên nóc nhà, còn người trên bảy tám chiếc thuyền trên kênh đào đều đã bất tỉnh. Họ bị thương bởi những làn sóng âm thanh khủng khiếp do bốn con quái vật phát ra ở bến tàu gần đó. Những kỵ sĩ giáo phái đã được huấn luyện, người trốn trong nhà hoặc dưới hầm còn có thể giữ lại chút tỉnh táo, nhưng người già và phụ nữ trên thuyền thì không chịu đựng được.

Đầu óc Hans lơ mơ, hình như anh nghe thấy tiếng mẹ mình khóc, và những người quen đang cầu nguyện.

“Chúa ơi, tại sao ác quỷ lại đến Venice?”

Bởi vì ác quỷ trước mặt chúng ta là Giáo chủ, là chính chúng ta…

“Lạy Chúa ở trên cao, xin hãy cứu con tôi.”

Có thể trên thế giới này có Chúa thật, nhưng ngài không quan tâm đến sự sống hay cái chết của con người.

Con người chỉ thấy được tà thần, chỉ có những tồn tại không thể miêu tả, con người mượn sức mạnh của tà ác, rồi thất thủ trước sức mạnh.

Vảy trắng mờ dần, mắt Hans đỏ rực chảy máu.

Anh chợt gầm lên giận dữ, nhảy khỏi mái hiên, nhặt một cây trường thương bằng bạc bên cạnh thi thể kỵ sĩ giáo phái, hướng về phía con thằn lằn da xanh đang bị thương nặng trong trận chiến. Trên trường thương có khắc ký tự rune, là một vũ khí được giáo phái tận tâm rèn ra.

Thằn lằn da xanh hét lên thảm thiết, bị trường thương bằng bạc đâm xuyên qua ngực.

Hans lại vung thanh kiếm bản rộng trong tay, chém đứt một cánh tay của quái vật, phần bị chém lìa ngay lập tức biến thành tro bụi.

Ba con quái vật còn lại đều quay sang nhìn Hans. Cảm giác khủng hoảng đủ để phá hủy một người bình thường, nhưng Hans có thể nhìn thấy vết thương trên cơ thể chúng, bắt kịp thân hình nhanh nhẹn của chúng. Anh không hề sợ hãi, vung vũ khí của mình, lao vào bóng tối vô tận.

——————–

<i>Tác giả nói thế này:</i>

<i>Johnson: …</i>

<i>Gymir: …</i>

<i>Dứt khoát ngồi xuống xem Hans đại chiến thể biến dị của nhóm lãnh đạo giáo phái thôi.</i>

<i>Treo máy một cách hợp lý, dù sao thì quái vật có thể bị thương, nhưng Hans không thể chết.</i>

<i>………</i>

<i>Những con quái vật này đều do con người biến đổi mà ra, Hans được buff thêm Con mắt Hoa Hồng, sức mạnh ý chí cao, sau đó… anh phát huy sức sát thương cao của các đòn tấn công vật lý.</i>

<i>—</i>

<i>Người dịch: Hai ông tướng phá tanh bành cái đảo của người ta rồi.</i>
 
Back
Top Bottom