Điền Văn Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm

Xin chào bạn!

Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm diễn đàn, vui lòng bạn đăng ký tài khoản để có thể sử dụng đầy đủ chức năng diễn đàn và tham gia thảo luận, trò chuyện cùng với cac thành viên khác.

Đăng ký!

[BOT] Dịch

Quản Trị Viên
Tham gia
24/9/25
Bài viết
1,295,171
Phản ứng
0
VNĐ
361,707
cuoc-song-cua-hai-nguoi-o-rung-ram.jpg

Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Tác giả: Dục Hoả Tiểu Hùng Miêu
Thể loại: Điền Văn
Trạng thái: Full


Giới thiệu truyện:

Văn án:

Một thảm họa lớn đã xảy ra, dẫn đến việc môi trường tự nhiên bị ảnh hưởng vô cùng trầm trọng, dân số giảm mạnh, nền văn minh bị hủy diệt.

Gần một trăm năm sau, tổng dân số của loài người vẫn còn chưa bằng một phần nghìn so với ban đầu, hoặc thậm chí còn ít hơn.

Ngay cả trong một khu vực có thể sống, có thể bạn chính là người duy nhất sống trong phạm vi một ngàn km vuông.

Trong hoàn cảnh như vậy, cuộc sống hàng ngày của một người phụ nữ bình thường sẽ như thế nào?​
 
Có thể bạn cũng thích !
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 1: Thịt xông khói và khoai tây nghiền


Ánh nắng mặt trời xuyên qua những chiếc lá vàng chiếu xuống những tán cây.

Mặt đất được phủ một lớp lá dày, màu vàng, màu đỏ và có cả cam. Trên mép lá vẫn còn sương động lại, giống như một dải ren bạc mỏng.

Những cây bạch dương và cây thông cao lớn bao quanh lấy một ngôi nhà gỗ nhỏ, khói trắng từ từ bốc lên từ ống khói của ngôi nhà gỗ ấy, bay về phía bầu trời xanh.

Trong ngôi nhà nhỏ, Hà Điền đang chuẩn bị bữa sáng hôm nay của mình.

Cô đốt bếp lò lên, ném một mảnh gỗ vào lò sưởi, khuôn mặt vì ngồi gần lửa mà đỏ ửng lên. Trên bếp đang đun một ấm nước, thân ấm màu vàng được đánh sáng loáng, giống như một chiếc gương đồng.

Hà Điền ngồi trước cái ấm đun nước bằng đồng ấy, nhìn vào đó chải lại tóc của mình. Phần đuôi tóc của cô hơi cong, cho dù sau khi thức dậy cô đã búi tóc lên gọn gàng, nhưng phần tóc rơi trên trán và thái dương vẫn cứ tua tủa. Cô nhúng chiếc lược vào chậu nước, nhìn vào ấm đun nước để chải tóc. Lúc này, nắp của ấm đun nước bằng đồng khẽ nảy lên, hơi nước trắng bốc lên từ miệng ấm, nước đã sôi.

Hà Điền đặt chiếc lược xuống, nhấc cái ấm ra khỏi bếp, đồng thời dùng một nhánh cây di chuyển một cái nắp hình tròn đến miệng bếp, đậy lại. Cô cẩn thận rót nước nóng vào bình nước bằng đồng. Khi miệng bình còn khoảng một centimet nữa thì đầy, cô đặt bình nước xuống, bịt kín miệng bình bằng nút bình, sau đó đặt bình vào một chiếc vỏ bọc dày bằng vải bố. Trong vỏ vải chứa đầy bông gòn, lông và rêu khô để giữ cho nước trong bình luôn ấm.

Hà Điền đổ hết lượng nước còn lại trong ấm vào một bình nước bằng đồng khác. Bình này cũng có vỏ bọc bằng vật liệu cách nhiệt, nhưng bên ngoài còn có thêm một lớp vỏ bọc khác, là cây mây và vỏ của cây bạch dương bào nhẵn. Sau khi bình được đậy kín lại, nó trông giống như một cái giỏ mây nhỏ, được treo vững vàng trên bếp.

Ở hai bên của bếp lò sắt hình vuông có một cái lồng nướng giống như ngăn kéo. Hà Điền cầm một cái đồ nhắc bếp bằng vải lên, mở cái lồng nướng bên phải ra, đặt hai củ khoai tây tròn nhỏ vào đó.

Đây là mẻ khoai tây cuối cùng được thu hoạch trong năm nay. Nó được trồng vào đầu mùa thu. Sau đợt sương giá đầu tiên, lá khoai tây đều đã bị đóng băng thành một đống lá thối. Vì thời gian sinh trưởng ngắn hơn nhiều so với mẻ khoai tây được thu hoạch vào mùa hè, nên kích cỡ lớn nhất trong số chúng nhỏ đến mức Hà Điền có thể bao trọn trong tay.

Sau khi lửa bếp từ từ được dập tắt, nó sẽ vẫn giữ ở nhiệt độ khoảng 200 độ C trong gần nửa giờ, khoai tây sẽ được nướng bởi nhiệt độ còn lại của bếp.

Hà Điền siết chặt sợi dây trên túi nước, quàng nó theo đường chéo trên người, rồi siết chặt sợi dây để nó nằm sát bụng mình.

Hơi ấm tỏa ra từ túi vải truyền sang, bụng có cảm giác bớt đói hơn sau một đêm trống rỗng.

Hà Điền bước đến cửa, mặc áo khoác vào và dùng thắt lưng buộc chặt áo khoác lại. Trên thắt lưng treo rất nhiều móc, nào là dao găm, rìu nhỏ, và một chiếc túi chứa đầy đạn chì.

Cô tháo và đạn chì ra treo trên tường, kiểm tra phía sau lưng lại cẩn thận.

Lúc này, mặt trời đang chiếu vào hàng rào gỗ bên ngoài cửa sổ, bên dưới ánh sáng xuyên qua những khe hở trên hàng rào, vô số hạt bụi nhỏ đang nhẹ nhàng nhảy múa không theo bất kỳ quy tắc nào.

Hà Điền mở chốt sắt trên cánh cửa nhà gỗ ra, cầm một thanh gỗ sắc nhọn chống cửa trong tay, mở cửa.

Đầu tháng 10, thời gian mặt trời mọc ngày càng muộn, lúc này sương sớm trong rừng vẫn còn chưa hoàn toàn tan hết. Những giọt sương trên những cành cây cao đã bị bốc hơi dưới ánh mặt trời, còn những cành lá khô rơi rụng bên dưới thì lại vô cùng ẩm ướt.

Cái lạnh buốt táp vào mặt khiến Hà Điền hít một hơi thật sâu, cô nhấc hai cái giỏ cạnh cửa lên. Trong một giỏ là một cái vại có nắp, cái còn lại thì đựng những cành cây non cắt nhỏ trộn với bột xương.

Hà Điền mang hai cái giỏ đi về phía sau căn nhà.

Xung quanh nơi này có một số nhà kho nhỏ, một cái chứa đầy củi và lau sậy, hai cái còn lại thì đóng cửa kín mít.

Trước tiên cô đi đến nhà kho nhỏ ở giữa, còn chưa đợi cô kéo chốt cửa ra, cánh cửa gỗ đơn sơ đã bị cọ nhẹ vài cái, bên trong phát ra tiếng thở phì phì.

Hà Điền mở cửa, một con tuần lộc đực trưởng thành đưa đầu ra, háo hức thò đầu tìm kiếm thức ăn mà cô mang đến.

Chú tuần lộc này được Hà Điền gọi là “Gạo”, bởi vì toàn thân nó gần như trắng hoàn toàn.

Cô đổ thức ăn vào máng gỗ ngoài cửa, Gạo vung vẩy đuôi chạy tới, cuối xuống nhai liên tục.

Hà Điền nắm lấy cây chổi treo trên tường bước vào chuồng tuần lộc, mở những ô cửa sổ nhỏ bằng gỗ ở hai bên ra để thông gió.

Tuần lộc không giống như con người. Nó ngủ trên cỏ khô và cũng đái ỉa trên đó. Trên tường chuồng tuần lộc có treo một số túi vải, trong đó có tro thực vật. Hà Điền lấy một túi xuống, rắc tro xuống đất và lên cỏ khô bẩn. Sau khi nước đã được hấp thụ hết, cô quét phân và cỏ khô bẩn vào một cái ki.

Sau đó, cô mang giỏ đựng vại và ki đi đến một nhà kho nhỏ khác.

Trong tất cả các nhà kho thì căn này cách xa ngôi nhà gỗ nhất. Bên cạnh đó là một thửa đất trồng rau không có cây trồng, nhưng nó cũng được làm một cách tỉ mỉ nhất, vẻ ngoài hơi khác so với những căn khác. Nó được dựng lên ở bốn góc, khoảng cách giữa sàn và mặt đất cao gần một mét. Trên các bức tường gỗ ở hai bên có một cửa sổ nhỏ có thể mở ra từ bên trong, dùng một nhánh cây nhỏ chống cửa sổ lên là có thể nhìn thấy cảnh sắc ở bên ngoài. Bên cạnh cửa sổ trên một bức tường có một bình đất nung đỏ thô được cố định bằng đinh gỗ. Trong bình có một ít hoa cúc dại màu tím nhạt và một ít ngải cứu. Bên dưới bình đất nung là một cái xô bằng gỗ chứa nước trong, cùng với một cái gáo múc nước lớn cũng được làm bằng gỗ.

Ở giữa nhà kho có một cái thùng gỗ lớn hình vuông. Nắp thùng gỗ có thể nhấc lên dựa vào tường phía sau. Bên trong thùng là một cái vại bằng đất sét tương tự như cái mà Hà Điền mang đến. Phần trên và đáy của vại là hình tròn, miệng vại đặt gần với miệng thùng gỗ hình vuông, có một cái nắp nhỏ hơn một chút so với thân bình, nó cũng có hình vuông, trên nắp gắn một nửa vòng tròn buộc bằng dây rơm. Ngoài ra ở cả hai bên bình cũng có gắn quay xách giống vậy.

Hà Điền cài chốt cửa lại, phía sau cánh cửa có treo một chiếc rìu sắc nhọn.

Cô lấy tấm gỗ hình lỗ vuông treo trên tường xuống, đặt nó lên miệng vại, sau đó c** q**n xuống ngồi lên đó.

Đúng vậy, tấm ván bạch dương được đánh bóng nhẵn mịn này là cô dùng để ngồi đi vệ sinh.

Cái nhà kho này chính là nhà vệ sinh của cô.

Cách đây hơn một thế kỷ, hiệu ứng nhà kính cuối cùng đã gây ra thiên tai thảm khốc toàn cầu. Các tảng băng tan chảy, mực nước biển tăng lên. Trước khi mọi người kịp chuẩn bị, nhiệt độ toàn cầu giảm mạnh, vùng ôn đới và cận nhiệt đới xuất hiện những trận bão tuyết tháng sáu, chỉ trong vòng hai ba ngày, dòng khí lạnh khủng khiếp ấy đã đem những thành phố phồn vinh đóng thành băng. Các tòa nhà nổi tiếng ở các thành phố và những cư dân không kịp trốn thoát đều đã trở thành những vật trang trí nhỏ bé trong những quả cầu băng.

Vào thời điểm đó, các chuyên gia đã ước tính rằng sau thảm họa khí hậu toàn cầu này, dân số còn sống có thể chỉ còn lại một phần nghìn so với tổng dân số toàn cầu ban đầu.

Nhưng không ai biết liệu ước tính này có thực sự chính xác hay không. Dù sao thì những người đưa ra dự đoán này đều không ai may mắn sống sót, huống chi hiện tại cũng không có bất kỳ một tổ chức nào có khả năng thống kê nhân khẩu toàn cầu.

Một thế kỷ đã trôi qua. Những thành phố phồn vinh một thời ấy giờ đây đều bị bao phủ bởi băng tuyết hoặc rừng rậm. Nền văn minh nhân loại hàng trăm năm đã sụp đổ. Khí hậu không thể ấm lên trở lại. Các vùng ôn đới trước đây bây giờ trong một năm có đến tận bốn năm tháng mùa đông lạnh giá. Nhưng con người vẫn tồn tại một cách ngoan cường.

Các thành bang* dần xuất hiện trở lại ở những khu vực ấm áp, giàu tài nguyên, thành phố lớn nhất có dân số hơn 50.000 người.

<i>* Thành bang (</i>城邦<i>): Là một thực thể độc lập hoặc tự trị, không do một chính quyền địa phương khác quản lý cho dù lãnh thổ của chính quyền đó bao gồm thực thể này và có thể là vùng lãnh thổ bao quanh nó.(Wikipedia)</i>

Nhưng do vị trí của khu rừng mà Hà Điền đang sống nằm gần khu vực băng giá nên mật độ dân số ở đây khá thấp. Rất có thể, trong phạm vi một trăm km vuông, chỉ có một người.

Ở nơi này, số lượng gấu, báo, chó sói và những con thú khác vượt xa cả con người, vì vậy ngay cả khi đi vệ sinh, cô vẫn phải cầm sẵn vũ khí trong tay. Chiếc rìu đằng sau cánh cửa này được chuẩn bị là vì đề phòng trường hợp bất trắc, đang vội đi vệ sinh quên mang theo vũ khí mà lại bị một con gấu gõ cửa.

Hà Điền đi vệ sinh xong, cô chộp lấy một sấp lá hơi khô treo dưới bậu cửa sổ chùi mông cho mình, sau đó dùng gáo múc một gáo nước sạch trong xô gỗ rữa sạch. Phía trên xô có một tấm ván gỗ bằng lòng bàn tay, trên đó đặt xà phòng do cô tự chế.

Cô rửa tay, rồi lại múc nước rửa sạch một lần nữa, dội bồn cầu, sau đó đậy hai cái nắp lại.

Mặc dù giấy vệ sinh giống như lụa trắng và mềm như tuyết không tồn tại trong thời đại này, con người vẫn không quên chú ý đến vấn đề vệ sinh.

Bên dưới nhà vệ sinh có chôn một chậu đất sét lớn. Hà Điền lấy phân tuần lộc đã quét lúc trước đi ra phía sau nhà vệ sinh, từ khe hở đổ nó vào chậu đất sét lớn đó.

Không thể lãng phí bất kỳ nguồn tài nguyên nào. Đây là những phân bón hữu cơ rất hữu ích. Đợi sang xuân năm sau, nó có thể giúp số cây trồng hạn chế của cô phát triển tốt hơn.

Vại đất sét trong giỏ của Hà Điền là một cái bô. Trong mùa này, nhiệt độ tối thiểu vào ban đêm có thể lên đến âm mười độ, chưa kể còn có thể có những con thú săn mồi đêm lảng vảng ở bên ngoài. Người thông minh sẽ không lấy tính mạng của mình ra đùa giỡn.

Chất lỏng trong chậu cũng được cẩn thận đổ vào một vại đất sét lớn cố định vào khung gỗ vuông phía sau nhà vệ sinh.

Đây cũng là một nguồn tài nguyên rất có giá trị. Đến mùa hè, mở nắp vại đất nung ra làm khô nước, nitrat sẽ lắng xuống đáy. Đây là một trong những nguyên liệu thô cần thiết để tạo ra □.

Lúc này, Gạo đã ăn xong bữa sáng, đang thong thả tìm những ngọn cây nhỏ trên mặt đất.

Chúng có thể chống lại cái lạnh khắc nghiệt. Vào mùa đông khi thức ăn khan hiếm, chỉ cần tuyết không đông lại quá cứng, chúng có thể dùng mũi của mình để đào băng và tuyết, ăn rễ và cành cây ẩn bên dưới, nếu bất quá, chúng còn có thể gặm được cả vỏ cây nữa.

Nhưng Hà Điền muốn chăm sóc cho Gạo tốt hơn, vì nó là phương tiện di chuyển trong rừng của cô.

Một con tuần lộc trưởng thành có thể dễ dàng gù tới 60 kg và tốc độ nhanh nhất của nó có thể đạt tới 50 km mỗi giờ.

Trở về nhà, mùi khoai tây nướng bốc lên từ bếp lò. Hà Điền mở ngăn nướng ra, hai củ khoai tây nhỏ chỉ bằng bằng nắm tay đã được nướng vàng. Cô đặt một củ vào túi cách nhiệt, buộc chặt miệng lại rồi treo nó ở trước ngực.

Củ khoai tây còn lại thì được cô đặt vào một cái tô, sau đó cô lấy một miếng thịt xông khói treo ở phía trên bếp lò xuống, dùng dao cắt khoảng năm sáu lát thịt mỏng, đặt chúng lên trên khoai tây, rồi dùng một cái muôi bằng kim loại nhấc khoai tây lên, nướng khoai tây vàng vàng. Bên trong lớp vỏ là thịt khoai màu vàng nhạt, dùng mặt sau của muỗng dùng sức nhấn một vài cái, khoai bị ép thành một khối bột mịn dày. Chất béo trên thịt xông khói bị nhiệt độ làm cho chảy ra phủ lên khoai tây nghiền, như muốn hòa tan.

Sự kết hợp của chất béo và chất đường chính là mỹ vị.

Miếng thịt xông khói này được làm từ một miếng chân sau của con hoẵng. Nó có vị mặn và mùi thơm đặc biệt do được xông bằng gỗ thông. Sau khi trải qua quá trình hong gió và hun khói, chất thịt rất dai. Thịt khoai tây mới thu hoạch thì lại hơi ngọt, ăn rất mềm.

Hà Điền cắn một miếng, thở dài thỏa mãn, cô lấy bình nước treo trên bếp xuống, đổ một ít nước vào một cái tách tráng men nhỏ. Trên tường phía sau bếp lò có hai hàng kệ gỗ, trên đó đặt nhiều lọ gia vị khác nhau.

Hà Điền mở một lọ thủy tinh chứa chất lỏng đặc dính màu nâu đỏ ra, cẩn thận cho một giọt vào tách trà, ngay lập tức, mùi thơm của chất đường được lấy từ cây phong tỏa ra khắp nơi.

Cô dùng muỗng khuấy đều, nước đường tan ra, cô nâng ly lên uống vài ngụm, một miếng thịt, một muỗng khoai tây, vậy là xong một bữa sáng.

Lúc này, ánh nắng mặt trời bên ngoài cửa sổ vô cùng chói lọi, sương mù trắng trong rừng hầu như đều đã tan hết, bầu trời xanh ngắt.

Trước khi ra ngoài, Hà Điền chôn một củ khoai lang đã rửa sạch vào trong tàn tro. Trong tàn tro vẫn còn những chấm đỏ lốm đốm, những đốm than chưa cháy sạch này sẽ nướng chín khoai lang sau khi cô quay trở lại. Đây sẽ là bữa tối của cô.

Cô đặt một cái giỏ lạc đà lên trên lưng của Gạo, dẫn nó vào sâu trong rừng.

Giỏ lạc đà là hai giỏ mây lớn đối xứng, được nối với nhau bằng ba sợi dây mây. Chúng được đặt trên lưng Gạo một cách cân đối để không bị nghiêng khi di chuyển. Tuy nhiên, một khi bỏ thứ gì đó vào giỏ, phải tìm cách giữ trọng lượng của hai bên cân bằng nhau, nếu không thì sợi dây mây sẽ cọ vào lưng Gạo. Mặc dù Hà Điền đã đặt trên lưng của nó một miếng vải bố, nhưng nếu cứ bị dây mây cứng cọ qua cọ lại mãi thì nó cũng sẽ khó chịu, sẽ hất giỏ mây đi.

Trên chiếc giỏ bên trái còn có treo một cái xô đồng. Hôm nay Hà Điền muốn kiếm thêm một chút thực phẩm cho mùa đông này, cho Gạo và cho cả chính cô.

Mùa đông rất nhanh sẽ đến, có thêm một phần thức ăn, cũng có nghĩa là có thêm một sự đảm bảo cho sự sống còn.

Khi mùa đông đến, khu rừng này sẽ bị phủ một lớp tuyết trắng. Đôi khi tuyết sẽ rơi liên tục trong nhiều ngày đêm, mỗi lần như vậy tuyết đều sẽ bị đóng băng cứng như đá. Ngay cả tuần lộc cũng khó có thể kiếm ăn ở trong đống tuyết như vậy, huống chi là con người.

Trong ký ức của Hà Điền, có một năm mùa đông đến rất sớm. Bắt đầu từ đợt tuyết lớn đầu tiên vào cuối tháng 10, trời liên tục có tuyết và kéo dài cho đến giữa tháng tư năm sau, năm đó mùa xuân đến rất muộn.

Năm đó, họ phải giết tuần lộc để lấy thịt. Bởi vì tuần lộc không thể đào tuyết để tìm thức ăn, còn một lý do khác là vì bọn họ đã ăn hết số thức ăn dự trữ.

Sống trong khu vực có tuyết, mất tuần lộc đồng nghĩa với việc phạm vi tìm kiếm tài nguyên sinh tồn của bạn bị giảm đi rất nhiều. Cơ hội sống sót cũng sẽ giảm đi.

Nhưng mùa thu năm nay vẫn rất hào phóng, đã bước vào tháng 10, ấy vậy mà thời tiết vẫn còn chưa chuyển lạnh. Tất cả các loài động vật trong rừng đều rất trân quý loại thời tiết tốt như thế này, đều bận rộn thu thập và dự trữ lương thực.

Đã đến sâu trong rừng, Hà Điền buông dây cương ra, thả cho Gạo tự do di chuyển. Nó sẽ tìm thấy thức ăn mà nó thích, Hà Điền chỉ cần theo phía sau nó, cắt cỏ và những chiếc lá non bỏ vào giỏ.

Trong khu rừng này có rất nhiều cây dẻ. Trên những cành cây cao là những quả tròn có kích thước bằng nắm tay. Khi những quả bóng gai này rơi xuống đất, chúng sẽ tách ra thành ba bốn phần, thậm chí có một số là năm phần, mỗi một phần trông giống như là múi cam có lớp vỏ tua tủa gai, ẩn bên trong là một hạt dẻ no tròn.

Hà Điền đeo găng tay da sóc vào, ngồi xổm trên mặt đất nhặt từng quả bóng gai cho vào một cái giỏ nhỏ. Khi giỏ đầy, cô đổ toàn bộ thu hoạch của mình vào giỏ mây lớn trên lưng Gạo.

Lớp vỏ tua tủa gai ở bên ngoài hạt dẻ có thể đợi khuya về nhà rồi xử lý. Sau khi được phơi khô, chúng có thể được sử dụng làm nhiên liệu đốt. Quan trọng hơn là cô phải tận dụng ánh sáng mặt trời để hành động nhanh chóng. Có rất nhiều động vật trong rừng là đối thủ cạnh tranh của cô. Mùa thu này đặc biệt dài, rất có khả năng cô sẽ gặp phải gấu vào thời điểm này.

Hà Điền và Gạo cùng nhau vào rừng, nhưng chỉ có mình cô là bận rộn.

Thời gian trôi qua thật nhanh, mặt trời dần tuột khỏi những ngọn cây màu cam, Gạo đang mãi miết gặm nhắm cái gì đó trên mặt đất, nhưng Hà Điền thì lại vẫn chưa ăn gì.

Cô duỗi thẳng eo, đấm vào phía sau lưng và thắt lưng đau nhức của mình, ném những hạt dẻ xanh trong tay vào giỏ mây.

Xen kẻ trong những cây dẻ có rất nhiều cây phỉ và cao su, đôi khi cũng có thể nhìn thấy quả thông. Nhưng những loại hạt này chỉ chủ yếu sinh trưởng vào mùa hè, đặc biệt là quả thông. Nhiều loại hạt nhặt được bây giờ đều đã bị sóc và các động vật nhỏ khác ăn rồi.

Hà Điền dựa vào thân một cây dẻ, lấy bình giữ nhiệt và khoai tây nhỏ ra. Cô muốn ăn trưa.

Nước nóng hôi hổi lúc sáng bây giờ uống vào cũng chỉ nghe âm ấm, khoai tây thì đại khái bằng với nhiệt độ cơ thể. Hà Điền lau mồ hôi trên trán, uống một ngụm nước, ăn một miếng khoai tây.

Cô từng nghe bà mình nói, trước đây mọi người ăn khoai tây đều sẽ gọt bỏ vỏ đi.

Nhưng Hà Điền thích vỏ khoai tây hơi cháy. Cho dù nó đã không còn được giòn như lúc mới nướng nữa, nhưng lúc này nhai trong miệng cũng rất mềm, vị hơi chát, lẫn với thịt khoai tây sam sáp, cũng có thể làm tăng vị ngọt của khoai tây.

Sau khi nghỉ ngơi xong, Hà Điền cảm thấy sức mạnh đã trở lại với cơ thể của mình, cô đạp một cái thật mạnh vào một cây dẻ sai quả.

Những quả bóng gai cùng với những chiếc lá và cành cây ầm ầm rơi xuống. Hà Điền ôm đầu cười né tránh. Gạo bị “Cơn mưa” bất chợt này làm cho sợ hãi, nhảy cẩn lên vài cái.

Tác giả: Sau khi xem “Khu rừng nhỏ”, hứng lên lấy tên món ăn đặt tựa đề cho các chương và lên ý tưởng.

Vì vậy, hôm nay là món ăn đầu tiên.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 2: Tôm sông nấu với nấm hương


Sau bốn giờ chiều, bóng mặt trời đã phủ lên những tán cây cách mặt đất hơn một mét.

Chẳng bao lâu, ánh sáng ban ngày sẽ biến mất hoàn toàn.

Mặc dù vẫn có thể nhìn thấy nhiều hạt dẻ trên mặt đất, nhưng Hà Điền vẫn quyết định kết thúc công việc thu nhặt hôm nay. Cô kéo theo Gạo chậm rãi đi xuống núi.

Từ đây về đến nhà mất hơn nửa tiếng. Trời vào thu, tốc độ mặt trời lặn ngày càng nhanh hơn, khi mặt trời lặn hết, nhiệt độ trong rừng sẽ nhanh chóng giảm xuống.

Hiện tại, nhiệt độ ước chừng khoảng mười độ. Bọn họ đi xuống núi, khi Hà Điền và Gạo hít thở, hơi nước trắng sẽ bốc ra từ miệng và mũi của họ, hai gò má cô cũng lạnh như băng.

Khi sắp về đến nhà, Hà Điền dừng lại, cô tháo cái thùng treo trên giỏ xuống, đi lấy nước.

Ngôi nhà bằng gỗ của Hà Điền được xây dựng gần một khe suối.

Nước trên núi từ khe suối chảy xuống, dọc theo thế núi chảy đến con sông bên cạnh.

Dòng sông vô danh ấy ngày đêm chảy xiết, chảy về hướng đông, chỉ đến mùa đông mới bị băng tuyết đóng băng.

Nhưng bên dưới lớp băng dày, dòng sông vẫn chảy lặng lẽ và chậm rãi.

Khu vực Hà Điền sinh sống là nơi có mặt sông rộng nhất, thậm chí có chiếc xe tuần lộc trượt tuyết chạy từ bờ này sang bờ bên kia cũng phải mất hơn một giờ đồng hồ, nơi hẹp nhất là giữa hai vách núi cao chót vót, đứng ở một bên, thoạt nhìn có thể dùng sức ném mạnh một hòn đá từ bên này sang phía đối diện.

Bà cô nói, tất cả các con sông cuối cùng rồi cũng sẽ chảy ra biển.

Biển như thế nào? Vào mùa đông, nó có đóng băng không?

Hà Điền đang suy nghĩ lung tung, đột nhiên nghe thấy tiếng kêu cạch cạch trong thùng.

Cô nhìn xuống, thấy có hai con tôm sông bơi vào thùng lúc nào không hay. Có thể chúng đã bị dòng nước cuốn vào, hoặc cũng có thể là do chúng đang mải mê đánh nhau, nên vô tình bước vào thùng nước của cô. Cả hai đều có chiều dài bằng ngón tay, là hai con đực trưởng thành.

Hà Điền nhấc thùng nước lên, hai con tôm vẫn còn vung vẩy, mãi lo đánh nhau.

Cô mỉm cười vui vẻ, bữa cơm tối nay coi bộ sẽ phong phú hơn mọi ngày.

Thỉnh thoảng có thể nhìn thấy tôm sông trong khe suối. Chúng ẩn mình trong các kẽ đá và trong bóng râm của những cây cao xung quanh. Những con tôm sông có màu xanh lam này gần như trong mờ, khi bơi dưới nước rất khó phát hiện, chúng bơi rất nhanh, nhưng không phải hoàn toàn không bắt được.

Buộc dây vào cành cây, hoặc một sợi dây rơm mỏng bền chắc, sau đó buộc mồi vào đầu sợi dây, chẳng hạn như mảnh da cá nhỏ, rồi kiên nhẫn ngồi đợi, chẳng bao lâu tôm sẽ bơi đến và đớp mồi thật mạnh. Người câu cần phải khéo léo, nhấc cần câu lên thật nhanh và ném tôm vào thùng.

Khi còn nhỏ, vào mùa hè, Hà Điền thường ngồi xổm bên bờ suối câu tôm, cô có thể bắt được bảy tám con tôm trong một buổi chiều, con lớn nhất không quá đầu ngón tay trỏ.

Bây giờ nhớ lại, nó đã trở thành một trò chơi rất xa xỉ.

Trong lúc đi câu tôm, bà cô vừa bửa củi, vừa bận rộn trồng trọt, lâu lâu bà cũng sẽ chạy đến xem cô có an toàn hay không.

Hà Điền xách theo thùng nước, Gạo đi ở phía trước, Hà Điền đã nuôi Gạo được hai năm, nó đã biết đường về nhà.

Trở lại ngôi nhà gỗ, Hà Điền mở một vại nước bên cạnh bếp lò ra, cái vại gốm này được đậy bằng nắp gỗ, trong vại có nuôi một con cá nhỏ.

Khi mùa đông đến, khe suối gần nhà cô sẽ là nơi đóng băng đầu tiên, mà như vậy thì cô sẽ phải ra sông lấy nước. Nước lấy về mỗi lần sẽ được cho vào vại nước, để phòng ngừa trường hợp sông bị đóng băng, nhất thời không làm vỡ được lớp băng đã đóng lâu ngày.

Nuôi một con cá trong vại, nó sẽ ăn những tạp chất nhỏ bám vào vại. Nếu không có cá, nước trong vại sẽ bị keo lại sau vài ngày và không thể sử dụng được nữa.

Cô đổ một nửa lượng nước vào vại, nửa còn lại thì đổ vào ấm đồng.

Hai con tôm bị cô để trong thùng, móng vuốt to lớn của chúng thỉnh thoảng gõ vào thành thùng kim loại, phát ra âm thanh đùng đùng.

Hà Điền mở tấm sắt bên ngoài bếp lò ra, than bên trong chỉ có một màu trắng xám, nơi sâu nhất thì vẫn còn một chút đốm than đỏ.

Cô móc tro than ra bên ngoài bằng một chiếc móc sắt, tro than vụn rơi ra từ khe hở của thanh sàng bằng gang ở đáy bếp sẽ rơi vào thùng đựng tro đặt trên sàn nhà, cái thùng này lúc sáng trước khi ra khỏi nhà cô đã đặt ở đó, lúc này khoai lang trồi lên từ đống tro tàn.

Khoai đã chín, cầm trên tay vẫn còn nóng hổi, cô có thể cảm nhận được phần thịt khoai mềm dưới lớp vỏ cứng sau khi nướng, mùi thơm cũng nhẹ nhàng tỏa ra.

Hà Điền đặt củ khoai lang lên trên nóc bếp, sau đó thêm một khúc củi được chặt to bằng bàn tay vào, rồi lại thêm một nhúm rêu khô.

Rêu lập tức bị bắt lửa bởi những đốm than đỏ nhỏ kia, ngọn lửa của nó lại đốt cháy củi, lửa càng ngày càng thịnh, Hà Điền lại cho thêm một thanh củi dày như một cục gạch vào lò. Dùng một cọng lau sậy đút vào trong lò, thổi thổi lên.

Lửa đỏ khiến mặt cô đỏ bừng. Ngọn lửa từ miệng lò bốc lên, Hà Điền đặt nồi đồng lên đó, đóng cửa sắt của lò lại.

Trong lúc đun nước, Hà Điền nhấc hai cái giỏ mây trên lưng gạo xuống, đặt dưới hiên nhà.

Hạt dẻ được để riêng thành một đống, ném vào sọt; cỏ và lá non cho vào một cái nia, san phẳng, mang vào nhà, treo cố định ở trên móc treo trên trần nhà; còn lại, đều là những loại hạt và trái cây dại, một vài chùm táo gai, táo tàu núi khô trên cành, một số hạt phỉ và sồi, còn có một vài cây nấm.

Hà Điền phân loại thu hoạch của ngày hôm nay vào các giỏ khác nhau, các loại hạt thì được cho vào hộp gỗ, ngày mai nếu thời tiết tốt, cô sẽ đem chúng ra phơi khô; táo gai và táo tàu tạm thời cho vào giỏ rơm trước, sau đó sẽ được xỏ bằng dây rơm, sau khi trời sáng sẽ đem đi treo trong nhà kho chuyên phơi trái cây khô, còn nấm hương thì để một lát sẽ ăn với tôm.

Ngoài cửa, tia nắng cuối cùng đã hoàn toàn biến mất, bầu trời chuyển sang màu xanh xám, màu vàng, cam; màu xanh của cây cối cũng mờ dần theo ánh nắng biến mất, chúng sẽ sớm trở thành bóng đen.

Hà Điền cởi tấm vải bố và dây cương ra khỏi người Gạo rồi dẫn nó ra sau nhà.

Nó tự bước vào chuồng, Hà Điền hạ hai cánh cửa sổ nhỏ bằng gỗ của chuồng tuần lộc xuống, buộc chặt lại, rồi xách một giỏ cỏ khô từ kho để củi vào. Cô cuộn cỏ non còn ẩm thành nhiều bó rồi treo lên một cái đinh được đóng trên tường, đống cỏ khô còn lại thì đặt ở một góc của chuồng, cô cũng giữ lại một sợi cỏ khô, quấn vào ngón tay của mình.

Cô sờ tai Gạo: “Ngủ ngon nhé.”

Gạo đong đưa đầu, nhai cỏ non.

Sau khi đóng cửa chuồng tuần lộc, trời đã chuyển đen.

Nhưng rừng cây lại không mấy yên bình.

Gió thổi vào những chiếc lá, cành khô và cỏ dại, chúng cọ xát vào nhau tạo ra nhiều âm thanh nhỏ khác nhau, xen lẫn với đó là tiếng kêu của những loài côn trùng cuối thu, tiếng động vật săn mồi vào ban đêm và tiếng chim cú ở xa.

Khi Hà Điền trở về căn nhà gỗ, ánh sáng duy nhất trong nhà là ngọn lửa đang bập bùng dưới ấm đun nước. Cô lấy đèn dầu đang treo ở cửa xuống, bước đến bên bếp lửa, mở chụp đèn ra, cho sợi cỏ khô quấn quanh ngón tay vào ngọn lửa dưới ấm, rồi đưa đến ngọn đèn dầu, châm bấc lên.

Cô treo đèn dầu trên móc dưới xà ngang, ánh sáng vàng mờ ảo tràn ngập cả căn nhà. Sau đó, cô đóng cánh cửa gỗ nặng nề, chốt lại bằng một thanh sắt dày bằng hai ngón tay rồi dùng chiếc cọc gỗ nhọn chống vào cánh cửa. Tất cả các cửa sổ trong nhà cũng được đóng chặt.

Lúc này, nước cũng đã sôi.

Hà Điền lấy một cái chén inox đặt trên bếp, thả hai con tôm vào, rồi đổ nước sôi vào.

Sau đó cô mới tháo bình nước đang mang trên lưng xuống, đổ đầy nước rồi cho vào túi giữ nhiệt.

Cô leo lên chiếc thang gỗ đóng đinh vào một bên tường, gác nhỏ được lát ván gỗ làm sàn, là chỗ ngủ của cô.

Chiếc giường đơn sơ được lót vải nỉ, có chăn bông vải hoa.

Hà Điền nhét bình nước vào chăn bông rồi leo xuống chuẩn bị ăn tối.

Hai con tôm giờ đã cong lại, từ đầu đến đuôi đều biến thành màu đỏ cam.

Cô vớt tôm ra, đặt lên một cái dĩa inox, cho nấm hương vào chén, dùng đũa khuấy đều, phần vỏ và chất bẩn trên nấm hương nổi lên, lơ lửng trên mặt nước.

Nấm hương xắt mỏng và thịt tôm sông trắng bóc nằm san sát nhau trên một chiếc dĩa inox, một bên là khoai lang vàng ươm, thức ăn nóng hổi bốc lên khói trắng dưới ánh đèn mờ ảo.

Hà Điền suy nghĩ một chút, cô lấy hủ ớt bột trên giá gia vị xuống, nhẹ nhàng lấy một nhúm nhỏ rồi rắc lên dĩa, sau đó lại rắc thêm một chút muối và vài giọt dầu hạt óc chó.

Bột ớt được cán từ ớt khô thu hoạch lúc hè, còn dầu hạt óc chó thì được ép từ hạt óc chó năm ngoái.

Ớt, muối, cùng chút hương thơm của dầu hạt ốc chó và nấm hương dại càng làm nổi bật vị tươi của tôm sông, lạ là vị ngọt của khoai cũng rất tương xứng với ớt.

Sau bữa tối, Hà Điền pha cho mình một tách trà hoa cúc. Hoa cúc được hái trong rừng vào đầu mùa thu. Cắt cả cây cả cành và lá, buộc chặt bằng dây rơm, cho vào rọ tre, cho đá vào rọ, ngâm cả rọ dưới suối trong núi nửa giờ rồi nhấc lên, bụi mịn bám trên hoa sẽ bị cuốn trôi hết.

Hoa và lá non vò nát đặt vào phên tre phơi khô, hoa ủ trà, lá cho vào ruột gối, khi ngủ tỏa ra mùi thơm ngát. Cành cây cũng rất có ích, thừa dịp chúng vẫn chưa khô hoàn toàn, có thể xen kẽ với những cọng cỏ dài và những sợi vỏ cây bạch dương xoắn lại với nhau, đan thành những chiếc giỏ nhỏ, phơi khô và treo trong phòng, bên trong đặt những cành thông, than củi và các loại hoa khô khác nhau, sẽ tỏa ra mùi thơm nhẹ suốt mùa đông. Treo giỏ hoa nhỏ này ở kho chứa ngũ cốc và đồ da, cũng có thể ngăn chặn côn trùng.

Chén dĩa và đồ dùng mà hôm nay Hà Điền dùng qua đều được đặt trong chậu gốm bên phải bếp lò, lỗ tròn dưới đáy chậu được nhét một nút gốm buộc bằng dây rơm. Bên dưới chậu có đặt một chiếc hủ gốm có nắp đậy.

Cô lấy một gáo nước từ vại nước đổ lên chén dĩa, sau đó lấy từ thùng đựng tro ra một ít tro, rắc lên. Đợi sáng mai rồi sẽ rửa chén. Đến lúc đó tro thực vật sẽ loại bỏ hết dầu mỡ.

Hà Điền lấy đèn dầu treo trên mái nhà xuống, đặt trên nóc bếp lò, cần phải xử lý số hạt dẻ và các loại hạt mà hôm nay đã nhặt được.

Bóc hạt dẻ ra khỏi lớp vỏ gai, chất lượng không tốt thì ném vào sọt mây cùng với vỏ gai, táo gai và táo tàu thì xâu vào dây rơm rồi tạm thời treo lên cửa sổ.

Lửa trong bếp phát ra tiếng động khe khẽ, Hà Điền ngáp một cái, vặn cổ, đấm bóp bả vai, cầm tách trà hoa cúc đặt trên nóc bếp lên nhấp vài ngụm.

Sau khi màn đêm buông xuống, nhiệt độ trong rừng sẽ nhanh chóng giảm xuống, có thể lên đến âm mười độ vào lúc bốn giờ sáng.

Nhưng trong căn nhà nhỏ của Hà Điền, nhiệt độ luôn trên hai mươi độ. Ống khói nối với bếp được làm bằng gạch men, mỗi viên gạch men có sáu lỗ, dùng để giữ nhiệt, ống khói bằng gạch này và tấm gỗ dày trên vách nhà gỗ giúp căn nhà giữ được nhiệt lượng trong bếp.

Sau khi bóc những hạt dẻ cuối cùng, cô đặt chúng trên một tảng đá, dùng rìu nhỏ chẻ một khe nhỏ ở đỉnh nhọn của hạt rồi đặt chúng lên nóc bếp.

Hà Điền rửa sạch mặt bằng nước ấm, sau đó treo đèn dầu lên xà nhà, đổ đầy nước vào ấm rồi đặt lên bếp, lại cho thêm hai que củi vào bếp, đợi cháy hết rồi đóng cửa sắt của bếp lại, leo lên giường.

Cạnh giường cô có một gậy trúc dài mảnh, chiều dài vừa đủ để chạm đến ngọn đèn dầu treo ở xà nhà.

Hà Điền đặt một đầu gậy trúc vào bấc, khều một cái, ngọn đèn dầu vụt tắt.

Cô quấn chặt chăn bông, ôm bình nước trong túi giữ nhiệt rồi chìm vào giấc ngủ.

Bên ngoài căn nhà gỗ, những bông hoa sương giá lặng lẽ kết tụ lại trên lá, trên cành cây, và cả trên bệ cửa sổ.

Khói trắng lượn lờ tỏa ra từ ống khói của căn nhà gỗ, trôi chầm chậm về phía không trung trên rừng cây.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 3: Hạt dẻ nướng


Ngày hôm sau thời tiết rất trong lành.

Sau khi Hà Điền tỉnh dậy, cô gom chăn ra gối đệm lại. Thời tiết tốt như thế này cần phải đem chăn bông ra phơi. Chiếc chiếu rơm trải trên sàn cũng cuộn thành cuộn rồi thả cho nó lăn xuống cầu thang.

Mấy hạt dẻ tối qua để qua đêm trên bếp lúc này vỏ đã khô hẳn, co lại và nứt theo những vết nứt đã chẻ, lộ ra phần thịt hạt vàng rực.

Hà Điền ném chúng vào lò nướng.

Sau khi rửa mặt xong, cô cho Gạo ăn trước, dọn dẹp chuồng cho nó rồi vứt những chiếc vỏ hạt dẻ mà mình đã tách đêm qua vào đống củi khô.

Công việc kết thúc, mặt trời lên, hạt dẻ đã chín.

Để hạt dẻ đã nướng nguội một chút, các vết nứt hướng lên trên, dùng ngón tay kẹp chúng lại và bóp, phần vỏ bị cháy sẽ bị tách làm đôi dọc theo các vết nứt, lớp vỏ mỏng màu nâu đỏ gần với thịt hạt dẻ sẽ rơi ra, lộ ra phần hạt dẻ vàng ruộm.

Thịt hạt dẻ nướng chín có độ bóng, óng ánh như được tráng một lớp mỡ, sau khi cắn vào thấy có độ dẻo và sáp, ngọt hơn nhiều so với khoai tây.

Hạt dẻ nướng như thế này, cho dù ăn cả một chén vẫn không muốn ngừng.

Nhưng trên thực tế, hạt dẻ không dễ tiêu hóa như khoai tây, vì vậy không thể ăn quá nhiều một lúc, nếu không sẽ bị đầy hơi, nấc cụt hoặc phát ra mùi hôi lạ.

Cho nên Hà Điền chỉ ăn năm sáu hạt cho bữa sáng.

Hà Điền cũng cho thêm một ít đường của cây phong vào tách trà.

Cô thích ăn một chút đồ ngọt vào buổi sáng, vì như vậy có thể khiến cơ thể nhanh chóng ấm lên.

Hôm nay cô không có kế hoạch ra ngoài, vì vậy cô không cần phải ăn quá nhiều cho bữa sáng.

Ở khoảng đất trống trước ngôi nhà gỗ có vài cây thông, ngọn bị cưa hết chỉ còn trơ lại những thân cây trơ trọi, giữa hai cây là một khung gỗ có đặt một rương gỗ nhỏ.

Những chiếc rương gỗ này được Hà Điền dùng để đựng thức ăn.

Trong rừng, dù đặt thức ăn ở đâu, cũng không thể hoàn toàn ngăn cản các loài động vật khác đến trộm.

Để đối phó với những động vật lớn như gấu, sói, báo đến trộm thức ăn, chỉ cần cho thức ăn vào những nhà kho chắc chắn có khóa hoặc những căn chòi đơn giản, nhưng đối với những động vật nhỏ như chuột, sóc, chồn là những loài tinh ranh và giỏi leo trèo, nhà gỗ có khóa cũng không hề nhầm nhò gì với chúng, chỉ cần đục lỗ là xong. Treo trên xà, dưới mái hiên cũng không khó, chỉ cần leo dọc theo xà nhà là được.

Đó là lý do tại sao những người thợ săn nghĩ ra phương pháp lưu trữ thức ăn này. Họ treo rương gỗ trên cao và dùng tấm nhựa phủ lên gốc cây cách mặt đất khoảng một mét. Tấm nhựa bóng loáng khiến móng vuốt sắc nhọn của động vật trở nên vô dụng, không thể nào trèo được lên cây.

Tuy nhiên, trong thời đại này, không có tấm nhựa.

Vì vậy, cứ vào đầu mùa đông, Hà Điền lại cho thức ăn vào rương gỗ treo lên rồi tưới nước vào gốc cây, nước đóng thành băng vô cùng trơn. Lúc lấy đồ cô chỉ cần dùng thang là có thể leo lên.

Hôm nay, cô sẽ kiểm tra những rương nhỏ đựng lương thực này để xem có cần phải sửa chữa không, hoặc là có bị mọt cắn không.

Ngoài các rương gỗ, trên cọc gỗ còn buộc những sợi dây dày, thường được sử dụng để làm khô nhiều thứ khác nhau.

Hà Điền nhìn bầu trời, tuy rằng nắng chói chang, nhưng nhiệt độ lại không cao.

Mùa thu sắp kết thúc rồi.

Hôm nay có thể là cơ hội cuối cùng để phơi chăn bông trong năm nay.

Cô treo chăn bông lên dây và dùng vợt mây đập mạnh cho đến khi chăn bông lỏng ra.

Thảm rơm được treo trên sợi dây giữa hai gốc cây khác, cũng được cô làm tương tự.

Sau khi xong việc, cô đeo chai nước ấm trên lưng, dắt theo Gạo đến kho chứa củi.

Hà Điền treo một chiếc giỏ khác lên lưng Gạo, nửa phía sau của chiếc giỏ mây được nối với một chiếc bè được kéo trên mặt đất. Hà Điền lấy ra năm khúc gỗ dài đến bảy, tám mươi cm, độ dày bằng hai tay chắp lại vào nhau, đặt lên bè, dùng dây thừng buộc chặt rồi vội vàng đưa Gạo ra phía sau nhà.

Cô cũng mang theo một giỏ đựng gỗ với nhiều kích cỡ khác nhau, cọc gỗ đã vuốt nhọn, một cái búa và một cái rìu lớn trên lưng.

Phía sau nhà, vừa đi xuống núi hai ba trăm mét thì có thể nghe thấy tiếng dòng sông đang chảy.

Con sông lớn đó chảy về hướng Đông ngày đêm không ngừng.

Đây là nơi Hà Điền lấy nước vào mùa đông, và cũng là nơi cô bắt cá. Có một con đường nhỏ dẫn ra sông đã được mở từ lâu, đây là con dốc dài gần hai mươi mét với góc nghiêng khoảng mười lăm độ.

Nếu là lúc bình thường, xách hai thùng nước từ dưới sông trở lên thì cũng không có gì, nhưng vào mùa đông, đường đi phủ một lớp tuyết, khi lấy nước sẽ có nước văng xuống đường, từng lớp từng lớp nước và tuyết kết hợp lại với nhau, lớp băng sẽ càng dày hơn và đường sẽ ngày càng khó đi.

Mùa đông năm ngoái, khi Hà Điền đi lấy nước, cô đã nhiều lần bị trượt chân ngã, thùng nước lăn xuống, nước đổ ra sẽ đóng băng ngay lập tức, làm cho đường trơn hơn và sau này sẽ khó lấy nước hơn.

Khi Hà Điền ngã lần thứ hai, nghe thấy tiếng hai cái thùng đổ xuống dốc, cô vùng vẫy mấy lần trên dốc băng trơn trượt nhưng vẫn không đứng dậy được, tức giận đến mức lật người nằm ngửa ra, thở hổn hển nhìn lên bầu trời. Trước đây, mùa đông đều là do bà cô đi lấy nước, Hà Điền không biết sẽ khó khăn như vậy. Không biết lúc đó bà có bao giờ ngã xuống hay không, hoặc là nằm dưới đất thở hổn hển bất lực như cô lúc này.

Khi đó, cô tự nhắc nhở mình, năm nay phải sửa chữa lại con đường này trước khi mùa đông đến.

Kể từ ngày đó, Hà Điền đã thử nghiệm với nhiều vật liệu chống trượt khác nhau.

Đầu tiên cô nghĩ đến việc đóng những cọc gỗ chắn ngang con đường, biến con đường xuống dốc này thành những bậc thang, sau khi tuyết rơi, cô sẽ đổ đá dăm lên để tăng thêm ma sát.

Nhưng sau khi thử nghiệm, cô thấy đá vỡ sau khi bị đổ nước sẽ rất trơn. Sau đó cô dùng gỗ vụn, mảnh gốm vỡ, khối than, dây rơm… và rất nhiều mảnh vật liệu khác nhau có trên mặt đất bên ngoài nhà gỗ. Kết quả, “Bậc thang” bị đóng băng suốt cả mùa đông.

Cho đến mùa thu, cuối cùng thì Hà Điền cũng đã tìm được vật liệu chống trượt tốt nhất. Mặc dù nó vẫn chưa được thử nghiệm, nhưng nghĩ lại vẫn thấy, lực cọ xát mà vỏ gai của hạt dẻ có thể cung cấp dường như mạnh hơn so với một số vật liệu đã thử trước đây.

Con đường này vốn đã có bảy tám bậc thang, Hà Điền lại đào giữa các bậc thang dốc dài hai mươi mét này thành bốn đoạn bằng phẳng sát nhau, mặt đường hơi dốc, cô lát cọc gỗ theo từng kích thước bậc thang, trước tiên rải một lớp đá cuội nhỏ nhặt được từ sông lên mặt đất, sau đó lát cọc gỗ, nện một vài cọc gỗ nhỏ đã vót nhọn xuống đất và cố định cọc gỗ thật chắc chắn.

Bây giờ cô còn lại đoạn đường cuối cùng là đã hoàn thành việc đắp lại con dốc này. Hà Điền dự định sẽ rắc vỏ gai của hạt dẻ khô xuống đất sau trận tuyết rơi dày đầu tiên, nhiệt độ lúc đó sẽ khiến cho những chiếc vỏ gai trên mặt đất sau một đêm đóng băng, còn trước đó thì, cô cũng không có ý định phí công sức chuẩn bị vật liệu của mình.

Hà Điền tháo cái giỏ trên lưng Gạo xuống, buộc vào bên đường để nó tự ăn cỏ, cô cầm hai chiếc cọc gỗ đặt xuống đường, sau khi so sánh khoảng cách, lấy trước hai hay thanh gỗ đóng xuống đất, xác định nơi thích hợp để đóng cọc, cô lại mang những cây cọc khác đến.

Dù là nện một thanh gỗ có đường kính gần một tấc, dài gần ba mươi phân xuống đất, hay nện một cọc gỗ, tất cả đều là công việc thể lực, mệt hơn nhiều so với việc hái hạt dẻ hôm qua.

Cuối cùng thì Hà Điền cũng đặt năm chiếc cọc gỗ vào đúng vị trí, mồ hôi tuôn ra như mưa. Cô đã cởi áo khoác từ lâu, lúc này mới ngồi xuống đất nghỉ ngơi, cả cổ áo cũng cởi ra.

Cô uống một vài ngụm nước, dần dần cảm thấy mát mẻ hơn.

Tiếng gió rừng, tiếng chim hót líu lo, và cả tiếng của dòng sông cách đó không xa, những âm thanh này khiến cô cảm thấy rất bình yên.

Hà Điền nghỉ ngơi một lát, cô hối hận vì buổi sáng mình không ăn nhiều hơn, bây giờ đã cảm thấy đói bụng.

Sau khi cọc được cố định, cô lôi chiếc giỏ mây rách nát từ bãi cỏ bên đường đến. Trong giỏ đựng đầy những viên sỏi nhỏ.

Sau khi rải những viên sỏi này xuống đường, Hà Điền đặt một tấm ván gỗ dày xuống đất và dùng búa đập xung quanh tấm ván để những viên sỏi được san phẳng.

Cô không biết cách làm đường này có đúng không, nhưng cô đã chọn phương pháp này sau nhiều lần thử nghiệm.

Giá như có sách.

Bà của cô có rất nhiều sách, nhưng hầu hết đều là sách về phương pháp trồng trọt, còn có một số sách về cách phân biệt và sử dụng các loại thảo mộc khác nhau.

Lúc này, mặt trời đã sắp lên đến đỉnh đầu.

Hà Điền uống thêm vài ngụm nước, cô đeo khẩu súng ngắn vào lưng rồi đi ra sông.

Bờ sông này, cách sông một hai thước toàn là đá cuội lớn nhỏ, trên bờ mọc đầy những bụi cây thấp bé và cỏ dại, sau đó là những cây cao dần.

Bên bờ sông có một chiếc thuyền độc mộc nhỏ đang neo đậu.

Thuyền này là do bà cô dùng mười tấm da chồn tuyết đổi được khi còn trẻ. Tuy đã qua mấy chục năm sử dụng nhưng tay nghề của người thợ đóng thuyền rất tốt, năm nào cũng được chăm sóc cẩn thận, ước tính chiếc thuyền này còn có thể sử dụng hơn chục năm nữa.

Cô tháo dây buộc trên gốc cây ra rồi ngồi vào giữa thuyền, dùng một cây sào dài vốn được đặt trên thuyền chống lên bờ, thuyền bắt đầu trôi bồng bềnh về phía sông.

Khi đã đến chỗ nước sâu, Hà Điền lại đặt cây sào xuống thuyền, đổi sang dùng mái chèo để chèo.

Đoạn sông này rất rộng, khi không có gió lớn, nước sông không chảy xiết, mặt sông tương đối phẳng lặng.

Thuyền ra đến giữa sông, Hà Điền dùng sức nhấc một tảng đá to ở dưới đáy thuyền lên, tảng đá này buộc một đầu dây vào thuyền, ném xuống sông thì thuyền sẽ dừng lại trên sông.

Gần đó có một vài khúc gỗ đang trôi, Hà Điền đứng dậy, vươn cây sào ra, dùng móc ở một đầu cây sào móc vào khúc gỗ vẫn đang liên tục quay trên mặt nước kia.

Bên dưới khúc gỗ có buộc dây thừng và lưới đánh cá, còn có thêm vài hòn đá để làm chìm lưới, được cô hạ xuống hai ngày trước.

Một khúc gỗ khác cũng được Hà Điền kéo lại, cô cắn răng, mượn thế chảy của dòng nước, từng chút một kéo lưới đánh cá về phía mình.

Lưới đánh cá nặng trĩu, cô rất vui, rất mong đợi có được một ngày bội thu.

Con sông này quanh năm đều có cá. Mùa xuân có cá lóc; đầu hè thì có cá tầm, cá hồi vân, cá hồi chó; mùa thu thì có cá tuyết nước ngọt, cá chó phương bắc; mùa đông có cá tuyết sông. Phổ biến nhất là cá chó phương bắc, cũng như cá tuyết sông, chúng có mặt quanh năm. Tất nhiên còn có rất nhiều loại cá khác mà cô không biết tên.

Khi còn nhỏ, Hà Điền vẫn luôn nghĩ rằng cái tên cá chó phương bắc là do bà cô đặt, bởi vì Lúa thích loài cá này nhất.

Lúa là một con chó săn, lông của nó có màu vàng, giống màu của hạt lúa chín. Mỗi lần bắt cá, nó đều chủ động nhảy xuống thuyền kéo lưới cùng bà của Hà Điền. Sau khi lưới được kéo lên, nó sẽ bắt một con cá còn đang nhảy, đè con cá xuống đáy thuyền và nhai nuốt, mỗi lần ăn xong khắp mặt nó đều dính đầy vảy bạc.

Trên con sông rộng chừng năm mươi cây số, Hà Điền và con thuyền của cô giống như chiếc lá và một con kiến nhỏ đang bò trên đó.

Lúc này chiếc lá ấy đang chao đảo, cho dù dòng nước không chảy xiết, nhưng cũng đủ để cho thuyền phải dập dềnh lên xuống, dưới chân cô có thể cảm nhận được sức nước đang không ngừng va đập vào thân thuyền.

Lúc kéo lưới lên, những con cá vùng vẫy trong lưới một cách tuyệt vọng, như thể muốn cố làm lật con thuyền, cùng Hà Điền chết chung.

Lưới đánh cá cuối cùng cũng được kéo lên, nhìn thấy những con cá đang giãy giụa trong lưới, Hà Điền thở phào nhẹ nhõm, lấy tay áo lau mồ hôi trên mặt.

Không phải lúc nào cũng có thể lưới được cá.

Sau cơn mưa, chắc chắn không phải là thời điểm thuận lợi để đi thả lưới. Cây cối gãy đổ vì mưa bão đôi khi sẽ bị kẹt lại dưới đáy nước, nếu không may mắn, không những không có cá mà lưới đánh cá còn có thể bị móc vào nhánh cây gãy, thậm chí còn bết bát hơn, bị những thân cây to cuốn trôi theo dòng nước.

Đôi khi thời tiết tốt và dòng chảy không có gì bất thường, nhưng cũng sẽ không có cá.

Hôm nay rất may mắn.

Hà Điền đếm đại khái, có ít nhất hơn mười con cá dài bằng đầu cánh tay, và một vài con nhỏ hơn.

Cá lớn có thể được lưu trữ làm thức ăn, còn cá nhỏ cũng rất hữu ích.

Khi mùa đông đến, muốn tiếp tục bắt cá trên dòng sông đóng băng, cần phải có cá sống để làm mồi.

Cá tuyết sông là một loài cá rất đặc biệt, chúng chỉ ăn những thức ăn vẫn còn cử động.

Hà Điền muốn giữ lại một số cá nhỏ để nuôi làm mồi.

Cô cho cá vừa thu hoạch được vào thùng gỗ có nắp ở đáy thuyền rồi đổ một ít nước vào.

Cô cẩn thận kiểm tra lưới đánh cá và sợi dây treo phao trên lưới, rồi lại thả lưới xuống nước.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 4: Cá nướng


Thuyền trở lại vào bờ, Hà Điền cẩn thận chuyển từng con cá vào trong thùng nước, phủ lên mặt thùng một ít lá lớn.

Bụng cô đã réo rắt hồi lâu, may mà trước khi đi cô đã đặt những khối đá tạo thành một cái bếp lửa và chuẩn bị sẵn củi khô ở bên bờ sông, rất nhanh là có thể ăn trưa.

Cô chọn một ít củi khô, dùng đá lửa đốt lên, bắt lên bếp đá, sau đó tìm một cành cây rồi vót nhọn một đầu.

Cô bắt từ trong thùng ra một con cá tuyết sông, đè con cá vẫn còn vùng vẫy lên tảng đá, cầm lấy một tảng đá lớn và đập mạnh vào đầu con cá, con cá ngừng giãy. Sau đó Hà Điền nhét cành cây được vót nhọn từ miệng vào bụng cá.

Lúc này, ngọn lửa đã bốc lên nghi ngút.

Hà Điền lại nhặt một cành cây dày hơn, dùng dao chẻ một đầu cành rồi nhẹ nhàng tách ra hai bên, cành cây đó trở thành hình chữ Y. Đem cắm xuống đất bên cạnh bếp đá, rồi đặt xiên cá xuống cành cây, nướng trên lửa liu riu.

Khi nướng cá tươi không cần mổ bụng cá, nếu mổ bụng, nước và dầu trong thân cá sẽ bị bay hơi, chỉ còn lại thịt cá khô khốc, mùi vị sẽ kém hơn rất nhiều.

Nướng không mất nhiều thời gian, tùy theo cỡ cá và sức gió, với thời tiết như thế này thì ước chừng nướng khoảng mười lăm phút là chín.

Khi đang nướng cá, Hà Điền xử lý từng con cá lớn còn lại, rửa sạch dưới nước sông, rồi nhặt một ít cỏ, bện thành dây, buộc ở chỗ mang cá rồi treo lên cành cây cho khô.

Cô để lại một con cá không rõ nguồn gốc, cho nó vào một cái thùng với những con cá nhỏ.

Loài cá này có những mảng màu hồng nhạt ở hai bên cơ thể, thịt của chúng rất ngấy. Hà Điền dự định sẽ nuôi nó trước vài ngày, tìm một ngày nào đó sẽ cho nó vào nồi canh nấu với khoai tây, hành rừng và ớt khô.

Lúc này, cá tuyết sông nướng đã tỏa ra mùi thơm nồng, mỡ trong cá chảy ra, nhỏ xuống lửa phát ra tiếng xèo xèo.

Hà Điền ch** n**c miếng.

Cô tháo chiếc túi nhỏ có đựng một cục xà phòng nhỏ trên thắt lưng xuống, đến bên sông dùng tay chà mạnh vào chiếc túi rửa sạch tay, rồi chạy đến bếp đá gỡ xiên cá xuống.

Toàn thân ban đầu màu trắng bạc của cá nay đã chuyển sang màu vàng vàng, có một số vết cháy màu nâu đen.

Cắm dao vào hàm dưới của cá và cắt nhẹ về phía đuôi cá, lúc này, dao không được cắm quá sâu. Khí trắng nóng hổi bốc lên, bụng cá tự động tách ra hai bên một cách kỳ diệu. Phần bụng trắng hơi cuộn lại thì dùng dao moi những phần nội tạng không mong muốn ra bỏ đi.

Hà Điền có mang theo một lọ muối nhỏ bằng kim loại, cô mở nắp và rắc một ít muối lên bụng con cá, cũng không quan tâm đến độ nóng của cá, cầm lên và bắt đầu ăn.

Thịt cá trắng như tuyết thơm ngon, bụng cá nhiều mỡ mềm, chỗ gần da cá bị cháy rất thơm, bất tri bất giác cô đã ăn hết cả một con cá to bằng cẳng tay.

Chỉ còn lại bộ xương và những mảnh vụn có vảy cá bị ném xuống sông, trở thành thức ăn cho các sinh vật khác dưới nước.

Hà Điền nâng xâu cá lên, lại ngồi xổm bên bờ sông, kiên nhẫn cạo sạch vảy từng con cá một.

Sau khi cạo hết cá, cô lấy dây rơm buộc cá lại, nhúng chúng vào nước sông để nước rửa trôi các chất dính và vảy còn sót lại trên mình cá.

Sau đó, cô cho cá vào thùng, neo thuyền cẩn thận rồi đi về nhà.

Trong khi đi dọc theo con dốc, Hà Điền đặc biệt đi thử trên con đường vừa mới sửa hôm nay, cảm thấy không tệ lắm.

Sau trận tuyết rơi dày đầu tiên, mới thực sự là lúc cô thử nghiệm công trình này của mình.

Về đến nhà, Hà Điền lấy từ trong kho ra hai cái bình đất, đặt ở chỗ trống, rửa sạch, đổ đầy nước, sau đó lần lượt cho những con cá nhỏ và cá có đốm hồng vào.

Bình đất đựng cá nhỏ được cô đặt trong nhà gỗ, tạm thời đặt dưới cửa sổ, đợi khi trời lạnh hơn thì sẽ chuyển đến nơi gần bếp. Bình đất được lót bằng hai viên gạch để không chạm đất và nhiệt độ nước không dễ bị lạnh.

Bình đất đựng cá có đốm hồng thì được cô đưa trở lại vào trong kho đặt các bình, vại sành, gạch và cũng được lót gạch như vậy. Trên miệng bình được đặt một cái rổ, trong rổ giằng một cục gạch.

Hà Điền lấy đồng hồ ra xem giờ, đã ba giờ chiều.

Cô lại cầm vợt mây lên vỗ vào chăn đệm một lần nữa. Chiếc chăn bông hấp thụ ánh nắng, phồng lên, trở nên căng tròn.

Cô đặt lại chăn đệm lên giường, sau đó lấy ra một chiếc rương khác.

Trong rương chứa đầy quần áo mùa đông, mũ lông thỏ, mũ da hoẵng, bao ủ đầu gối lông thỏ và da rái cá, áo khoác lông hươu, mũ lông cáo, bao tay dùng khi đi xe trượt tuyết…

Lúc này, nắng không còn gắt nhưng vẫn còn dịu nhẹ, bóng cây đã nghiêng đến trước nhà, gió chiều thổi hiu hiu rất thích hợp cho việc phơi đồ da và lông.

Hà Điền treo những món đồ da này lên và mở nắp rương ra cho thông thoáng. Hà Điền không biết cái rương này được làm bằng gỗ gì, nó có mùi mà Hà Điền luôn cho là khó chịu. Mùi hương này có lẽ cũng khiến cho sâu mọt khó chịu. Bởi vì đồ da được đặt bên trong, không có sâu mọt cắn phá.

Chiếc rương này do người buôn lông thú mua lông chồn của bà cô tặng cho bà nhiều năm trước. Kể từ khi Hà Điền có thể nhớ, hàng năm, cô và bà mình đều sẽ gặp được người lái buôn này ở chợ mùa xuân, bà của cô luôn bán da cho ông ấy.

Bà cô mất vào mùa thu năm ngoái, thật trùng hợp, mùa xuân năm nay, người lái buôn không xuất hiện nữa.

Hà Điền vỗ vỗ chiếc áo khoác lông hươu, lật chiếc thảm rơm lên tiếp tục phơi rồi xách xô sắt và xẻng đi ra sau nhà.

Giữa nhà vệ sinh và lối đi ra sông là một bãi đất trống rộng, xung quanh không có cây cao mà chỉ trồng một ít cây ăn quả. Hai cây táo thấp, một cây táo tàu và một cây hồng.

Mảnh đất trống được chia thành nhiều luống với kích thước khác nhau bằng gạch đất nung đỏ, là khu vực mà Hà Điền trồng trọt.

Những thứ mà Hà Điền trồng tốt nhất chính là củ cải, khoai tây, cà chua và khoai lang. Các loại rau, hành, tỏi, mùi tây và những thứ tương tự cũng như vậy.

Thứ mà cô không giỏi đó là trồng kê.

Kê năm nay thu hoạch không được tốt cho lắm.

Mặc dù Hà Điền đã lật sách nhiều lần, cũng có thể ghi nhớ tất cả những việc trong sách, như cuốc đất, xới đất, nhổ cỏ, tưới nước và bón thúc, vun đất… Cô cũng cố gắng làm từng việc một. Nhưng hạt kê do cô trồng nhỏ hơn nhiều so với kê do bà cô trồng. Cô để lại một số hạt to nhất làm hạt giống, không biết năm sau thu hoạch sẽ ra sao.

Trồng kê là công việc mệt nhất trong các công việc trồng trọt, trước đây đều là do bà cô làm.

Cánh đồng kê sau khi thu hoạch giờ đã trống trơn, vài ngày trước Hà Điền đã đọc lại cuốn sách đó một lần nữa, cô cảm thấy mình nên sử dụng phân bón mùa thu, cày đất vài lần rồi rắc lá cây, lá rau, rơm và phân chuồng lên. Sau thời gian ngủ đông, các chất dinh dưỡng trong phân bón thẩm thấu vào đất sẽ cải thiện chất lượng đất.

Nhưng, hôm nay cô không có ý định làm việc này. Rõ ràng, công việc này không thể được thực hiện cùng ngày với việc làm khô đồ da và chăn bông.

Trong khoảng đất trống phía trước vườn ươm, nơi trồng nhiều loại thảo mộc khác nhau, vài ngày trước Hà Điền đã đào một cái hố và chôn một đống lớn quả óc chó vỏ dày vào đó.

Bây giờ, đã đến lúc đào chúng lên.

Khi quả óc chó chín rụng trên mặt đất, chúng vẫn còn vỏ xanh dày, hoặc là nói, thịt quả. Lớp vỏ đó hầu như không có tác dụng gì ngoại trừ việc làm phân bón. Dùng tay bóp nát lớp vỏ, nước chảy ra có thể dùng làm thuốc nhuộm. Thứ này không chỉ có thể nhuộm đen vải và da mà nếu lỡ vô tình chạm tay vào nó, phải mất mười ngày nửa tháng mới khôi phục lại màu sắc ban đầu.

Loại bỏ lớp vỏ dày này là có thể ăn được hạt óc chó bên trong.

Để loại bỏ lớp vỏ dày này, phải chôn quả óc chó trong đất trong vài ngày để vỏ quả óc chó bị thối rữa. Tốt nhất nên cho một ít lá mục vào hố để đẩy nhanh tốc độ phân hủy. Cũng có người sẽ chất quả óc chó thành đống và để thời gian từ từ phân hủy nó.

Một số quả óc chó đào lên từ trong hố đã bong hết vỏ, lộ ra lớp vỏ cứng, tuy nhiên vẫn còn nhiều thịt quả ở các đường gân của vỏ quả óc chó, nó sẽ khiến tay bị nhuộm đen đi, cũng có một số còn lại nhiều thịt quả, đem tất cả cho vào thùng, thêm tro thực vật và nước vào, khuấy mạnh, để một hai ngày, đổ hết nước, hạt óc chó sẽ trở nên sạch bóng.

Lúc này, hạt óc chó vẫn còn mềm và nguyên hạt, ăn giòn và có mùi thơm đặc biệt, vào đầu mùa thu, nếu có măng tây, thêm chút muối và trộn đều lên, là món ăn kèm rất sảng khoái.

Làm khô quả óc chó đã loại bỏ vỏ, đập dập, lấy hạt ra và tiếp tục phơi khô, khi hạt trở nên cứng như gỗ, tách ra sẽ phát ra tiếng “Kappa” nhỏ, có thể dùng để ép lấy dầu.

Hương vị của dầu chiết xuất từ hạt óc chó và mỡ động vật không giống nhau. Nó có vị đắng của quả óc chó, dùng để trộn các món nguội, hoặc rưới vài giọt lên nước luộc tôm cá thì ngon tuyệt. Nhưng nó không thích hợp để nấu ăn. Dầu óc chó đun nóng sẽ có mùi lạ và hơi đắng.

Cách ăn hạt óc chó yêu thích của Hà Điền là trộn hạt óc chó với mật ong hoặc nước đường, cho vào chảo sắt tráng dầu và rang trên bếp. Rang đến khi hạt óc chó săn lại sẽ kéo ra những sợi dài, vị ngọt của mật ong cân bằng vị đắng của quả óc chó, nước đường bao bọc lớp vỏ ngoài xốp giòn, ăn vào có hơi dính răng.

Đây là món ăn nhẹ tốt nhất để ăn bên lò sưởi vào cuối mùa đông.

Cô nhặt những quả óc chó đã tróc hết vỏ ra, mang về nhà, đặt lên một cái phên tre phơi khô, những quả óc chó còn lại phải tiếp tục ngâm, lâu lâu đến khuấy lên một lần.

Lúc này đã hơn bốn giờ, trời càng lúc càng tối, xung quanh trở nên lạnh dần.

Hà Điền mang hai xô nước sạch trở lại, rửa một cái bình đất, úp ngược nó lại, đợi cho ráo nước, sau đó rải một lớp tro thực vật xuống đáy bình, rồi dùng tro thực vật lau thành bình. Cá đánh bắt hôm nay đã ráo nước, thoa đều hai bên thân cá với muối thô trộn ớt xay và hoa tiêu, mở bụng cá ra, ấn lên phiến đá cho cá dẹp ra, rồi xếp từng con vào bình đất.

Mười lăm con cá chỉ đầy một bình.

Lại rắc một lớp muối thô vào trong bình đất đầy cá, đậy bằng nắp gỗ rồi cho vào kho nơi cất bình đất.

Hà Điền đặt cá bắt được hôm nay xuống, lấy ra chiếc bình đất đựng cá khác rồi đi đến một căn nhà gỗ khác sau nhà.

Căn nhà gỗ này không có cửa sổ, cửa đóng chặt, mở cửa ra, trên nóc có treo những khung gỗ ngay ngắn, trên mỗi khung gỗ đều được treo thịt cá, chim, và một số đồ khác. Tường và trần nhà đều bị bôi đen, chính giữa nhà đặt một cái bếp sắt đơn sơ, sàn nhà thì được trải một tấm thảm bằng cỏ dệt thô sơ.

Đây là nơi Hà Điền làm thịt xông khói.

Cô quấn một miếng vải trên đầu trước khi đi vào. Thịt xông khói thỉnh thoảng sẽ chảy mỡ, cô không muốn mỡ này nhỏ lên tóc của mình.

Cá bắt được có thể được ướp trong hai hoặc ba ngày trước khi được treo trên khung hun khói. Hà Điền treo cá lên, kéo tấm thảm trên mặt đất lên, rút ra một nắm cỏ, nhét vào trong lò rồi châm lửa. Trên cỏ dính mỡ của thịt hun khói nên rất dễ bắt lửa, cô thêm vài khúc củi vào, khi lửa cháy thì đóng lò rồi ra ngoài.

Đốt suốt một ngày đêm, hun khói số cá đã ướp.

Màn đêm lại buông xuống, Hà Điền giải quyết xong Gạo, sờ sờ đầu của nó: “Ngủ ngon.”

Gạo không có phản ứng gì, chỉ chăm chú nhai những phiến cỏ.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 5: Pate gan gà và bánh kếp


Trời đã mưa liên tục ba bốn ngày.

Mưa không quá lớn, lúc thì nhỏ lúc thì ào ạt, lúc mưa nhỏ thì lất phất, kết thành một lớp sương mỏng; lúc mưa ào ạt, dù mưa rơi nặng hạt, làm cho những cành lá vàng phải rủ xuống, nhưng qua màn mưa vẫn có thể nhìn rõ cách đó hai mươi mét. Nó không giống như một cơn mưa xối xả mà lại giống như là bức màn của tiết trời mùa hạ hơn.

Nhưng cơn mưa này vẫn cứ rơi mãi không ngừng. Dòng nước trên sông dần trở nên chảy xiết, tạo thành những xoáy nước, nước sông chuyển sang màu nâu đục, có những cành cây khô và lá thối rữa trôi nổi, dẫn đến việc nước trong suối cũng dâng cao lên khoảng hai mươi cm. Thời tiết như thế này không có cách nào để kéo lưới.

Hà Điền mặc một chiếc áo mưa làm bằng vải dầu, nhiều lần đi ra bờ sông. Nước sông dâng cao, cô phải đưa thuyền đi, kẻo nó bị trôi theo dòng nước. Cô khiêng thuyền về kho cất đi. Con thuyền này rất quý.

Con đường do cô làm vậy mà lại rất vững chắc. Sau khi trải một lớp đá cuội, nước mưa chảy xuống dốc cũng không cuốn trôi được bùn đất trên đường chứ đừng nói đến nền móng, nhưng có một số đoạn đường bị đọng nước.

Hà Điền tranh thủ thời gian đội mưa đào hai rãnh thoát nước nhỏ hai bên đường, đồng thời rắc vài viên đá nhỏ để nâng cao mặt đường.

Thời tiết như thế này không thể đi vào rừng.

Sau khi đào rãnh thoát nước, Hà Điền kiểm tra kho chứa củi, bình đất, v.v. Cũng may là lúc hè cô đã tu sửa chúng một lần, đã trải qua thử nghiệm của cơn bão mùa hè, khi cơn mưa mùa thu liên tục ập đến, chỉ cần để ý xem chúng có bị nấm mốc hay không là được.

Trở lại gian nhà gỗ, cô cởi bỏ áo mưa vải dầu ra, trên người dính đầy mồ hôi lạnh.

Vài ngày không có ánh sáng mặt trời, nhiệt độ trong nhà cũng đã giảm xuống.

Nhiệt kế thủy ngân treo trên cột cho thấy nhiệt độ trong nhà chỉ còn mười tám độ.

Hà Điền cho thêm hai khúc củi vào bếp lò, nấu một nồi nước nóng.

Những quả táo gai và táo tàu cô nhặt vài ngày trước xem ra không thể nào khô kịp.

Hà Điền nhặt một quả táo gai và một quả táo tàu dại, cho vào ly rồi đổ nước sôi vào. Khi nước dần chuyển sang màu nâu, sờ vào thân ly không bị nóng, cô cho vào ly một thìa nhỏ mật ong.

Ly trà lúc này trở nên chua chua ngọt ngọt.

Hà Điền nhấp vài ngụm trà, cơ thể dần ấm lên.

Cô cầm lưới đánh cá trên sàn nhà lên, cẩn thận vá lại chỗ rách.

REPORT THIS AD

Nước quá lớn, mặt sông nổi đầy cành cây khô, tạm thời không thể biết được chiếc lưới đánh cá của cô có còn hay không. Có may, khi mưa tạnh, chèo thuyền xuôi dòng, biết đâu lại tìm được.

Đêm đó, mưa cuối cùng cũng tạnh.

Rừng cây dưới ánh trăng yên tĩnh hơn mấy ngày trước, tiếng côn trùng ríu rít đã hoàn toàn biến mất.

Nửa đêm Hà Điền bất ngờ thức dậy, cô nghe thấy tiếng sói tru ở phía xa.

Ngày hôm sau, Hà Điền chèo thuyền, tìm thấy lưới đánh cá của cô ở khoảng năm km về phía hạ lưu.

Dưới đáy lưới có một lỗ thủng lớn, và tất nhiên là cá trong lưới đã không còn nữa.

Chiếc lưới đánh cá đầy lá mục nát và cành chết, Hà Điền ngồi xuống thuyền, gỡ chúng ra và ném xuống sông.

Cô neo thuyền trên mép của một khúc quanh tự nhiên, nơi có rất nhiều cát tích tụ trên bờ cạn, định sẽ đào một ít cát để mang về nhà.

Cát và mùn cưa trộn đều với nhau rồi cho vào chum, vại hoặc thùng gỗ, vùi táo và khoai vào đó có thể bảo quản đến mùa xuân.

Hoặc, đào một hố sâu dưới đất, rải cỏ khô, đổ cát và mùn cưa vào, rải một lớp dày, làm hầm rau. Xếp từng lớp củ cải và cải thảo vào trong hầm rau, đậy thêm một tấm gỗ lên trên miệng hầm và phủ cỏ khô lên để rau trong hầm có thể giữ được độ tươi qua mùa đông.

Trên đường về nhà, Hà Điền nhìn thấy một con gà rừng đang đậu trên ngọn cây bên sông.

Cô đặt mái chèo xuống, nâng khẩu súng ngắn của mình lên và “Đùng” một tiếng, bắn vào nó.

Hà Điền chèo thuyền vào bờ, hai tay cầm cây sào dài cấm xuống đầm lầy bên cạnh bờ, cố định thuyền bằng cách quấn dây thừng quanh cây sào.

Cô nhảy lên bờ, tìm kiếm con gà rừng giữa những tán cây.

Những con gà rừng bị thương hoặc các loài chim khác đôi khi có thể bay thêm hơn một km với cơ thể đầy máu.

Nếu lúc này có một con chó săn, mọi việc có lẽ sẽ dễ dàng hơn nhiều. Những con chó săn được huấn luyện tốt sẽ ngậm con mồi trở về.

May mắn là con mồi hôm nay không quá ngoan cường, nó bay được khoảng 2-3 trăm mét trước khi chết.

Khi trở về nhà, Hà Điền đổ cát vào một thùng gỗ lớn, sau đó đặt một thanh gỗ đã bào nhẵn dưới thùng, nâng một mặt của thùng gỗ lên, để nó lăn trên thanh gỗ ấy, những viên đá và tạp chất sẽ dần dồn về một góc, chỉ còn lại cát mịn ở giữa thùng.

Nhặt hết số đá này sang một bên, đem cát còn lại phơi nắng cho khô rồi đổ vào rây gỗ có khoan nhiều lỗ nhỏ dưới đáy, rây lại một lần nữa, sau đó có thể trộn chung với mùn cưa.

Khi Hà Điền ra ngoài nhặt những viên sỏi, cô nhìn thấy một vài viên sỏi vàng lấp lánh giữa một nhóm các viên sỏi azurite, viên sỏi lớn nhất trong số đó to hơn hạt đậu nành và có hình dạng kỳ lạ, trên một đầu có một vài lỗ nhỏ.

Cô nghĩ, xỏ nó vào một sợi dây rồi đeo vào cổ, sẽ đẹp lắm.

Hà Điền nhặt những viên sỏi vàng này cho vào một chiếc lọ thủy tinh nhỏ.

Sau đó cô đun một nồi nước, đổ vào chậu, mổ bụng gà rừng ra rồi nhổ lông.

Khi Hà Điền còn nhỏ, những chiếc lông đuôi sặc sỡ của gà rừng từng được cô dùng để viết và vẽ, nhưng khi lớn lên cô không còn thích nó nữa. Ấy vậy mà tại hội chợ mùa xuân năm nay, một chiếc quạt do một cô bé làm bằng nhiều loại lông vũ hóa ra lại bán rất chạy. Năm cái quạt đổi được một mét vải, một ký rưỡi bông, hoặc một túi muối nhỏ.

Phần lông tơ mịn trên bụng của gà rừng được nhổ xuống và cho vào túi vải, treo trên dây cho khô, sau đó nhồi vào túi ấm hoặc chăn bông.

Lông vũ lớn, rong rêu, cỏ khô trộn với bùn là loại vật liệu trát tường rất tốt, trát một lớp dày như vậy có thể bịt kín các kẽ hở trong nhà gỗ và làm cho ngôi nhà càng thêm ấm áp hơn.

Hôm nay Hà Điền dự định sẽ làm một món ăn có chút đặc biệt.

Đầu tiên, cô xào gan gà cho chín mềm rồi cho ra đĩa để dùng sau, sau đó cắt một củ hành tây nhỏ thành hạt lựu rồi xào từ từ với phần dầu còn lại từ gan gà đã xào khi nãy. Thỉnh thoảng thêm một chút muối và xào cho đến khi hành tây trở nên nhuyễn, lúc này vị ngọt của hành tây đã tiết ra hết.

Sau đó cho gan gà vào trộn với hành tây, dùng muỗng khuấy đều rồi nghiền nát, mỗi khi thấy sệt lại thì cho thêm vài giọt nước ấm vào, tiếp tục khuấy cho đến khi gan gà và hành tây hòa quyện lại với nhau, hỗn hợp sền sệt màu hồng sẫm mềm mịn và tinh tế, vậy là pate gan gà đã hoàn thành.

Hà Điền đưa muỗng vào miệng nếm thử, sau đó cười, “Ừm” một tiếng. Hương vị cũng không tệ.

Bây giờ, cô muốn làm bánh kếp.

Băm khoai tây thành sợi, hoặc là dùng củ cải. Bánh kếp làm từ củ cải sẽ giòn hơn, còn khoai tây thì sẽ mềm hơn.

Cho khoai tây đã băm vào chảo xào với dầu ngỗng, tráng một lớp mỏng rồi ninh với một ít cháo kê đã để qua đêm, nếu cháo kê trở nên cứng và đặc thì cho một chút nước ấm vào khuấy đều. Khi các sợi đã thơm, đổ một thìa lớn nước cháo lên trên và lắc nhẹ chảo, hạt kê và khoai tây hoặc củ cải băm sợi sẽ dính vào nhau và trở thành bánh kếp, khi bánh chưa chín hẳn sẽ phồng lên những bong bóng nhỏ. Sau khi bề mặt của bánh đã đông lại hoàn toàn, nhấc chảo lên, lật mặt bánh và chiên cả hai mặt cho đến khi vàng nâu.

Hà Điền đặt bánh kếp làm từ khoai tây và cháo kê vào dĩa, phết một muỗng lớn pate gà, cuộn bánh lại rồi cắn một miếng.

Rất ngon.

Tối qua cô nấu cháo kê hơi nhiều nên nhớ đến phương pháp nấu này. Làm bánh kếp bằng cách trộn bột mì thành hỗn hợp sền sệt cũng rất ngon, nhưng ở đây, bột là thực phẩm rất quý, cô không dám ăn, chỉ trong dịp Tết mới làm một ít bánh.

Sau bữa trưa, Hà Điền cắt thêm một củ khoai tây và nửa củ cải, sau đó thêm nước vào cháo kê còn lại và khuấy chúng thành nước cháo, tất cả đều làm thành bánh kếp.

Cô đang chuẩn bị thức ăn cho ngày mai.

Ngày mai, nếu trời không mưa, cô sẽ bắt đầu đặt nhiều loại bẫy khác nhau trong rừng để bắt chồn tuyết.

Đã có thời, áo khoác lông chồn là món đồ xa xỉ được giới nhà giàu ưa thích để thể hiện địa vị giàu sang, cái lạnh khắc nghiệt ập đến khiến nền văn minh nhân loại thoái trào, nhưng điều đó không làm thay đổi tình yêu của con người đối với lông chồn.

Ngay cả ở một thành phố ôn đới đáng sống, mùa đông vẫn rất lạnh giá, quần áo lông chồn ngoài việc thể hiện địa vị, thân phận, nó còn là một vật phẩm thực dụng.

Trong thời đại này, sự phân bố của khoa học và công nghệ rất không đồng đều.

Cô nghe nói ở những thành bang phát triển nhất ở phía nam vẫn có thể sử dụng được điện. Những thành bang này đã xây dựng lại đường sắt, trang bị lại các đoàn tàu và sử dụng động cơ hơi nước để trao đổi và vận chuyển tài nguyên.

Ngoài ra còn có một số cư dân trong thành bang đã làm chủ lại công nghệ lọc dầu và khí đốt, đã có thể tiến hành canh tác cơ giới hóa. Những cánh đồng lúa, lúa mì và bông ở ngoại thành rộng đến mức không thấy được điểm dừng. Trong nội thành thì có những nhà máy dệt kéo bông thành vải.

Gạo, mì và vải được sản xuất tại các thành bang ở những khu vực ấm áp và dễ sinh sống này được các lái buôn vận chuyển đến các khu rừng ở phía bắc và đổi lấy hàng lông thú của những người thợ săn sống trong rừng.

Nhưng những thành bang này không hoàn toàn là một vùng đất hạnh phúc.

REPORT THIS AD

Hà Điền đã nghe về luật hình sự hà khắc ở các thành bang tại hội chợ trao đổi, và thỉnh thoảng cũng sẽ xảy ra các cuộc chiến tranh quy mô nhỏ giữa các thành bang này. Vì vậy cho nên luôn có người chạy trốn từ phía nam lên phía bắc, hoặc đến các khu rừng ở vùng lạnh xa hơn ở phía nam.

Khi Hà Điền còn rất nhỏ, khoảng mười năm trước, cô tình cờ nghe được người buôn lông thú từ phía nam hỏi bà cô rằng liệu bà có muốn chuyển đến thành phố với ông ta không.

“Tôi sinh ra trong rừng, và tôi đã quen với cuộc sống ở đây.” Bà cười, nói: “Ở đây có gấu và sói, thoạt nhìn rất nguy hiểm, nhưng lại có sự tự do. Các anh ở thành phố sẽ thấy cuộc sống của chúng tôi thật nhàm chán đúng không? Giống như một chiếc đồng hồ báo thức liên tục đổ chuông, phải đi săn thú, phải trồng trọt, phải thu hoạch, phải chuẩn bị cho mùa đông, nhưng những người sống ở những thành bang đó không phải cũng bận rộn như ong mỗi ngày hay sao? Sự khác biệt duy nhất chính là các anh có nhà máy và ruộng lúa thay thế cho rừng và sông. Chúng tôi phải đổi lông chồn lấy những thứ không có trong rừng, nhưng chẳng phải các anh cũng phải nộp thuế và thực hiện nghĩa vụ quân sự đó sao?”

“Cuộc sống ở thành bang không khác gì mấy so với cuộc sống ở trong rừng, đều là một ngày ba bữa và ngủ trên một chiếc giường ấm.”

Nghe nói, thế hệ đã chết khi cái lạnh khắc nghiệt ập đến ấy sống trong thời kỳ thịnh vượng nhất của lịch sử loài người.

Đời sống vật chất và đời sống tinh thần của họ phong phú vô cùng.

Tất cả các khía cạnh về mặc cuộc sống của họ đã đạt đến đỉnh cao của lịch sử nhân loại.

Họ có phương tiện di chuyển nhanh nhất, thức ăn đầy đường và mỡ, quần áo và đồ trang sức lộng lẫy, sang trọng. Có hàng triệu người (trong đó có nhiều người đẹp quyến rũ) đã được đào tạo trong nhiều năm để mua vui cho họ. Những người đó cố gắng hết sức để làm những vở kịch, những bộ phim, những bài hát, điệu múa cho họ xem, nhưng có rất nhiều người thích soi mói từng chi tiết, và đó cũng chỉ là việc làm khiến cho tinh thần họ vui vẻ nhất thời mà thôi.

Cho dù vậy vẫn có rất nhiều người không cảm thấy thỏa mãn. Họ bị trầm cảm, nghiện m* t** và béo phì, gây ra nhiều ca tử vong hơn bất kỳ thời kỳ nào khác. Còn có một số người cầm màn hình nhỏ trên tay và nhìn chằm chằm vào nó vài giờ mỗi ngày…

Cũng chính thế hệ này, lấn át môi trường tự nhiên của trái đất.

“Con người giống như tế bào ung thư, sinh sản điên cuồng, giết vật chủ một cách dã man, rồi cùng chết.” – Hà Điền quên mất mình đã nhìn thấy nó ở đâu. Tóm lại, rất nhiều người sống sót đã có những suy ngẫm sâu sắc về vấn đề này. Một trong những quan điểm chính thống thậm chí còn tin rằng giá lạnh khắc nghiệt và các kỷ băng hà trước đó là điều không thể tránh khỏi sau các hoạt động thường xuyên của con người, sự tàn phá thiên nhiên và nhu cầu sử dụng tài nguyên lên đến đỉnh điểm.

Có lẽ kỷ băng hà cuối cùng cũng là kết quả của việc con người không thể chịu đựng được bản chất của mình.

Cách sống tốt nhất cho nhân loại là gì?

Hà Điền sẽ không nghĩ sâu về vấn đề này.

Điều cô đang suy nghĩ là liệu năm nay có bắt được đủ số chồn tuyết để đổi lấy muối, hạt, vải, bột mì và các hàng hóa khác của năm sau mà những người đi săn rừng không thể tự cấp tự túc được hay không.

Tác giả: Viết xong ch** n**c miếng. Vội đi gậm bánh mì.

Chúc các bạn bữa ăn hôm nay vui vẻ.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 6: Rau, Củ Cải Khô Mùa Thu


Sáng sớm hôm sau, Hà Điền lấy một chồng bánh kếp khoai tây và bánh kếp củ cải mà cô đã chuẩn bị hôm qua lên đường. Pate gan gà thì được đựng trong một cái hủ thủy tinh, khi ăn thì lấy ra phết lên bánh. Món này ngon ngay cả khi ăn lạnh.

Hà Điền dắt theo Gạo vào rừng. Ngoài thức ăn, trong giỏ trên lưng Gạo còn có túi ngủ, than củi, đồ da lông để tránh rét,….

Bãi săn của Hà Điền ở bên kia sông rộng khoảng mười km vuông. Muốn kiểm tra và sửa chữa từng cái bẫy một, cần phải mất thời gian hai ngày. Đêm nay cô sẽ ngủ lại trong một căn nhà nhỏ trong rừng.

Không có chó săn, thợ săn không phải là thợ săn thực sự.

Mùa thu năm ngoái, Hà Điền và bà của mình mang theo Lúa vào rừng đặt bẫy thì tình cờ gặp phải một con gấu. Lúc đó, Hà Điền đang lấy nước ở một con suối nhỏ, sau khi nghe thấy tiếng kêu bất thường của Lúa, cô lập tức ném chiếc xô xuống và chạy trở về, nhưng đã quá muộn.

Cô bắn hai phát vào con gấu, trúng mắt phải và chỗ gần tim của nó. Con gấu hung dữ vậy mà còn chưa chịu ngã xuống, phát điên chạy về phía Hà Điền. Hà Điền không có thời gian để nạp đầy đạn cho súng, chỉ có thể ném chiếc rìu treo ở thắt lưng về phía đầu của nó.

Chiếc rìu bị ném vào đầu gấu, găm vào trong đầu của nó, nó đứng thẳng người rú lên đau đớn rồi xoay người bỏ chạy vào sâu trong rừng.

Lúa và bà đã chết.

Trước khi bà mất, điều mà bà nghĩ đến chính là, may mắn thay, bây giờ là mùa thu, thức ăn cho mùa đông đã được tích trữ. Nếu là đầu xuân, Hà Điền phải làm sao bây giờ?

Những lời cuối cùng của bà, chính là căn dặn Hà Điền, mùa đông nhớ đến rừng kiểm tra bẫy vài ngày một lần và thu thập lông của những con chồn bẫy được.

Bắt chồn là một kỹ thuật chỉ có thể thành thạo sau nhiều năm luyện tập. Hà Điền luôn cho rằng mình đã thành thục kỹ thuật này, mãi đến mùa đông năm ngoái cô mới biết, mình kém xa bà đến cỡ nào.

Chồn là một loài động vật nhỏ rất tò mò, mà động vật có lòng hiếu kỳ mạnh thường không quá ngu ngốc. Làm thế nào để làm bẫy và đặt bẫy mà có thể khiến cho những con chồn biết đến và k*ch th*ch lòng hiếu kỳ của chúng, khiến chúng muốn chạy đến xem thử, là cả một kỳ công.

Bẫy mà bà cô thường làm nhất, là bẫy vòm thông.

Kiểu đặt bẫy này là rắc rối nhất, nhưng nó cũng hiệu quả nhất.

Vào đầu mùa xuân, trước tiên phải tìm những cây thông nhỏ thích hợp trong khu rừng có chồn qua lại, bắt buộc phải có hai cây, hai cây không được quá gần hoặc quá xa, khoảng cách từ một mét đến một mét ba, mét bốn là tốt nhất. Thân cây hơi to hơn nắm tay một chút. Điều quan trọng nhất là cây phải mọc thẳng.

Chặt cây ở độ cao khoảng một hoặc hai mét so với mặt đất, khoét một rãnh ở chính giữa gốc cây, đặt hai thân cây vừa mới chặt vào giữa hai rãnh, dùng cành thông phủ lên trên. Thân cây không được nhẹ quá, tốt nhất là dày ba ngón tay, thân cây dài hơn một thước thì nặng khoảng mười ký.

Đến mùa đông, gốc cây và thân cây không còn mùi của cây mới chặt, màu sắc của mặt cắt bị rìu chặt không còn là màu vàng nhạt nữa, mà mọc lên rêu và cây địa y như những cây xung quanh, trở thành một màu xanh biết.

Sau khi tuyết rơi dày, đặt một cái chêm và mồi vào giữa hai cành cây, chẳng hạn như một miếng thịt nhỏ, rồi dùng cành thông tươi rải lên, chồn nghe thấy mùi thơm sẽ bị cám dỗ tìm đến, nó trèo lên gốc cây và dựa vào những cành được nâng đỡ bởi chêm. Đang đi giữa chừng, chuẩn bị đến miếng mồi, bỗng “Đùng” – cái chêm rơi xuống, thân cây nặng trĩu ngã xuống, đè chết con chồn đáng thương.

Bộ lông chồn được đánh bắt theo cách này thường còn nguyên vẹn, giá trị cũng cao hơn.

Một loại bẫy thường được sử dụng khác là loại được đặt trên mặt đất. Loại bẫy này được chế tạo và đặt tương đối đơn giản, chỉ cần một hốc cây và một vòng kẹp sắt là được. Đặt vòng kẹp sắt dưới hốc cây hoặc chòi nhỏ được dựng bằng cành cây, phủ lá rụng lên và đặt mồi vào giữa vòng kẹp.

Nhưng có rất nhiều nhược điểm.

Mồi đặt dưới đất rất dễ bị các động vật khác ăn mất. Sóc, chuột, chó lửng, cáo, thỏ, chó săn… thậm chí cả tuần lộc và linh dương đầu bò cũng sẽ bị thu hút, chúng đều có thể chạm vào miếng mồi.

Bẫy đã bắt được các con vật khác, cho đến khi thay đổi một miếng mồi mới, sẽ không thể bắt được chồn nữa. Động vật lớn cũng có thể phá bẫy. Thời gian quý giá trôi qua từng ngày, chồn không bắt được, bộ lông của sóc, cáo thì lại không đáng giá.

Vì vậy, những người không thể làm bẫy vòm thông nghĩ đến một biện pháp – xây dựng một bệ gỗ nhỏ và đặt một cái bẫy trên đó.

Mặc dù không có cách nào để ngăn sóc và chuột dẫm nhầm vào bẫy, nhưng ít nhất có thể tránh được những động vật lớn và động vật không thể trèo, nhảy lên cây.

Bẫy vòm thông chỉ có thể bắt được những con chồn lớn hơn sóc và chuột, linh hoạt và leo cây giỏi như chúng.

Sau khi đặt bẫy, nó có thể được sử dụng nhiều lần. Nếu may mắn, cây chặt không bị khô và không phát triển quá cao, năm sau còn có thể tiếp tục sử dụng.

Khu rừng mà Hà Điền muốn kiểm tra hôm nay cách ngôi nhà gỗ của cô khoảng mười bốn, mười lăm km. Mặt trời vừa mọc là cô đã bắt đầu xuất phát, đi bộ trên con đường rừng ngoằn ngoèo mất hai ba tiếng đồng hồ mới thấy căn nhà nhỏ nghỉ ngơi đêm nay.

Căn nhà nhỏ này cũng làm bằng gỗ, nhưng nó đơn giản hơn nhiều so với căn nhà gỗ mà cô dùng làm nhà của mình. Trong nhà có một cái bếp bằng sắt, ống khói làm bằng sắt mỏng.

Một căn nhà dùng để nghỉ ngơi tạm thời trong thời gian đi săn, bếp phải nóng lên càng sớm càng tốt, nên trong nhà không có ống khói làm bằng gạch.

Mùa xuân năm nay Hà Điền đã sửa lại mái của căn nhà gỗ này, các kẽ hở của tường cũng được cô trát lại bằng bùn trộn với lông vũ và cỏ khô.

Cô đi đến trước nhà gỗ, trước tiên buộc Gạo vào gốc cây trước nhà, bỏ cái giỏ xuống, rồi mở cửa nhà gỗ ra.

Cửa ra vào và cửa sổ trong nhà đều đóng chặt, mấy hôm trước trời vừa mưa, không khí có hơi ẩm ướt.

Căn nhà nhỏ này chỉ có một cửa sổ nhỏ ở phía có ánh nắng mặt trời chiếu vào. Cửa sổ không có kính. Khi không ở thì dùng một tấm ván gỗ che lên, khi ở thì đóng đinh bằng ván gỗ mỏng, giữa hai tấm gỗ có thể treo một tấm vải dầu màu trắng, ánh sáng có thể xuyên qua, còn có thể chắn gió.

Sau khi mùa xuân đến, gấu ngủ đông thức dậy. Những con gấu đói khát này sẽ không bỏ qua mọi cơ hội để tìm kiếm thức ăn.

Chúng sẽ cố gắng ép cho cửa sổ lớn hơn một chút, chui vào, lục lọi, xé chiếc chăn bông thành từng mảnh và tàn phá mọi thứ trong ngôi nhà gỗ.

Do đó, khi không sử dụng, các cửa sổ phải được bịt kín bằng ván gỗ.

Hà Điền mở cửa ra vào và cửa sổ để thông gió, rồi cô ngồi xuống, ăn bữa trưa đã chuẩn bị hôm qua.

Cô ăn một chiếc bánh kếp và uống một ít nước mang theo.

Sau khi nghỉ ngơi, Hà Điền lấy cái thang ở đống củi dưới bức tường phía nam của ngôi nhà, đặt nó bên cạnh cái cây trước cửa.

Có một chiếc rương nhỏ được đóng đinh vào thân cây này, bên trong là chăn bông và nệm lông hươu.

Nếu đặt chăn bông trong nhà có cửa ra vào và cửa sổ đóng kín, sẽ thoát khỏi sự phá hoại của gấu đói, nhưng chắc chắn sẽ bị chuột gặm nhấm, hoặc bị ẩm mốc. Cho chúng vào một cái rương nhỏ có thể che mưa và thoáng gió, treo lên cây cao, thân cây cách mặt đất hơn một mét phủ một lớp vỏ cây bạch dương mỏng, bôi mỡ cho thật nhẵn, động vật nhỏ như chuột và sóc không có nơi nào để đặt chân, ngăn chúng bò vào rương chứa và gây hư hỏng.

Hà Điền lấy chăn bông và nệm lông hươu ra, treo lên một sợi dây giữa hai thân cây hong khô. Sau cơn mưa đầu thu này, thời tiết càng bắt đầu lạnh hơn, có buổi trưa nhiệt độ chỉ còn mười bảy đến mười tám độ. Lúc này nhân lúc ánh nắng vừa đủ, nhanh chóng đem chăn bông có hơi ẩm mốc ra phơi cho khô ráo, nếu không đêm nay cô sẽ phải co ro cuộn mình trong túi ngủ.

Sau đó, Hà Điền đặt thức ăn trong giỏ vào rương đem đi cất.

Những thợ săn kỳ cựu đều sẽ chuẩn bị thêm một vài nhà nghỉ săn bắn như vậy trong rừng, tích trữ lương thực, đạn dược và quần áo ấm cho những trường hợp khẩn cấp.

Mùa đông năm ngoái, Hà Điền đã không chuẩn bị kịp thời cho tất cả năm nhà nghỉ săn bắn của cô, thành thử ra sau đó cô phải bỏ một trong những cái bẫy trong rừng. Ngay cả khi cái bẫy ở đó có bắt được chồn, cô cũng không thể vào kịp để lấy lông. Vào mùa đông, tuyết sẽ rơi liên tục, rất khó có thể đi lại ở nơi tuyết có thể dày lên đến một mét, hơn nữa lúc đó ánh sáng ban ngày cũng ngắn lại, mặt trời mọc lúc mười một giờ sáng, sau ba giờ thì trời đã tối.

Vì thời gian có hạn, chỉ có thể đi liên tục từ nhà nghỉ săn bắn này đến một nhà nghỉ săn bắn khác. Nếu mỗi căn có đủ lương thực và đạn dược thì ở trong căn đó một đêm, sáng hôm sau kiểm tra bẫy để thu mồi, đặt lại bẫy, ở trong căn đó thêm một đêm nữa, sáng hôm sau lên đường đi các căn khác.

Nếu cứ liên tục như vậy, trong suốt mùa đông có thể sẽ bắt được thêm rất nhiều con mồi.

Vụ thu hoạch bội thu nhất, Hà Điền và bà của mình đã săn được gần ba trăm con chồn trong một mùa đông. Bà đã bán số lông chất lượng tốt nhất và sử dụng phần còn lại để làm cho Hà Điền một chiếc áo vest nhỏ và một chiếc mũ lưỡi trai.

Mùa đông năm ngoái, Hà Điền chỉ bẫy được một trăm lẻ bốn con chồn.

Năm nay không thể như vậy nữa.

Cô mở giỏ và lấy ra một chiếc hộp gốm vuông, trên nắp có vài lỗ nhỏ, trong hộp đựng vài miếng thịt xông khói, và một chiếc hộp gỗ đựng một ít bột đậu nành xay, cơm rang với hạt yến mạch, cùng với một vài bó bún khoai tây. Ngoài ra, còn có một hủ sành nhỏ, bên trong là củ cải khô ngâm chua.

Củ cải là loại cây mà Hà Điền trồng rất giỏi.

Giống như khoai tây, nó có thể được sử dụng như một loại rau hoặc một thực phẩm chính.

Rửa sạch củ cải vừa nhổ, cắt luôn cả vỏ thành từng sợi mỏng bằng ngón tay út rồi đặt lên phên tre, phơi cho đến khi vỏ có lớp sương trắng mỏng là được, nếu quá khô sẽ làm cho củ cải mất hết nước, khi muối sẽ không ngon.

Trộn đều củ cải khô với muối, đường, ớt tươi thái hạt lựu, mì chính khô, mỡ ngỗng rồi cho vào hủ sành đậy kín, đợi ba đến năm ngày là có thể ăn.

Củ cải khô vừa làm, cắn vẫn còn nước ngọt tùy từng phần, củ cải khô gần vỏ xanh sẽ cay hơn, phần gần ruột trắng sẽ có vị ngọt đặc trưng của củ cải, dù ăn với cháo hay thịt đều rất ngon miệng.

Củ cải khô trong hủ sành có thể để được cả mùa đông nhưng để càng lâu thì củ cải sẽ càng ít nước, đầu mùa hè củ cải khô cắn vào sẽ có vị dai, lúc này vớt củ cải khô ra để ráo, hầm với thịt muối, lại là một hương vị khác.

Cất đồ xong, Hà Điền đến một con suối gần đó lấy nước và mang vào nhà.

Sau đó cô dắt Gạo vào rừng kiểm tra bốn năm cái bẫy gần đó.

Bốn cái bẫy vòm thông đều tốt, hai cái mới làm năm nay đã hòa nhập với cây cối xung quanh.

Ngoài ra còn có một hốc cây tự nhiên, Hà Điền đã đánh dấu trên cây để phòng trường hợp không tìm thấy nó sau trận tuyết rơi dày.

Sau khi kiểm tra bẫy, Hà Điền lại đi dạo trong rừng, cô tìm thấy một số loại rau mùa thu.

Mép lá của những cây rau rừng này bị đóng băng thành màu đỏ, và những phiến lá cũng không còn đầy đặn bằng so với mùa hè.

Có lẽ đây là lứa rau rừng tươi cuối cùng trong năm nay.

Vào mùa xuân, những lứa rau rừng đầu tiên vừa nhú được chần qua nước sôi, trộn với cá tươi đã chần qua, thêm chút dầu và chút muối, ăn rất ngon.

Đến mùa thu, kích thước và hương vị của chúng không ngon bằng mùa xuân và mùa hè, có vị đắng nhẹ. Tuy nhiên, nó vẫn là một món ăn ngon miệng.

Về lại căn nhà nhỏ, bóng nắng đã nghiêng về phía tây lúc nào không hay biết, rừng hiu hiu gió lạnh, lá thu theo làn gió rơi xuống mặt đất, cả cánh rừng như đang có từng cơn mưa màu vàng, màu cam rơi xuống.

Hà Điền ôm hai khúc củi khô to, đặt lên cọc chặt củi chẻ làm đôi.

Cô chẻ một đường trên đầu khúc củi, rút rìu ra, cắm một chêm gỗ vào đường chẻ, đảo ngược lưỡi rìu và dùng mặt sau của lưỡi rìu đập xuống. Cái chêm một đầu dày, một đầu thì mỏng và sắc nhọn, như một lưỡi rìu chẻ dọc vào củi, xẻ củi ra làm đôi.

Tiếp theo sẽ dễ dàng hơn rất nhiều.

Khi bầu trời dần chuyển sang màu đen, Hà Điền chẻ xong củi.

Cô ôm củi vào nhà và bắc bếp lên. Đầu tiên đun một nồi nước, đổ đầy bình nước, nhét vào chăn bông sẽ ngủ đêm nay, sau đó đặt nồi lên, nấu cháo kê.

Những chiếc bánh kếp được nướng lại trong lồng nướng của bếp sắt, ăn chung với cháo, bate gan gà, củ cải khô cay trộn dầu ngỗng và rau mùa thu đã chần qua.

Một miếng cháo kê nóng hổi, một miếng củ cải khô giòn cay, các loại rau củ mùa thu ngon miệng, và một miếng bánh kếp phết bate gan gà nữa. Những chiếc bánh kếp nướng trong khay nướng, chỉ cần cắn một miếng đã phát ra tiếng giòn tan.

“Sự kết hợp giữa chất béo và đường là một loại thức ăn thần thánh.” Hà Điền mơ hồ lầm bầm.

Trước khi đi ngủ, Hà Điền dắt Gạo vào nhà, trải cỏ khô bên cửa.

Cô nói với nó: “Gạo ơi, đừng có ị nhiều phân nhé!”

Gạo vẫn lắc đầu mặc kệ cô.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 7: Miến khoai tây


Khi trận tuyết đầu tiên của năm nay rơi xuống, Hà Điền đang đánh cá trên sông.

Chiếc lưới đánh cá này không quá nặng, nhưng nâng lên thì lại rất tốn sức.

Mấy ngày nay nhiệt độ xuống thấp, trên sông từ sáng đến tối đều mù mịt sương mù, trời ẩm và lạnh, dù mang găng tay da thì các ngón tay cô cũng đã trở nên cứng đơ ra, rất khó co giãn, khi kéo lưới, dây lưới thô ráp cọ xát vào tay, vô cùng đau đớn.

Cuối cùng thì Hà Điền cũng kéo được lưới đánh cá lên thuyền, cô mệt đến mức ngồi trên ván thuyền thở hổn hển.

Lúc này trên má cô chợt lạnh, như có giọt nước rơi xuống mặt.

Cô ngẩng đầu lên, nhìn thấy một hạt tuyết mỏng đang từ từ rơi xuống.

Những bông tuyết xuyên qua làn sương trắng trôi trên sông và hơi thở trắng xóa từ miệng và mũi của Hà Điền, đáp xuống trán, lông mi và mũi của cô.

Hà Điền ngồi ở bên bờ sông xử lý từng con cá bắt được hôm nay, mổ bụng và rửa sạch chúng.

Dòng sông lạnh như băng, một lớp băng mỏng đã dần dần hình thành gần bờ.

Khi đang rửa cá, Hà Điền thỉnh thoảng đưa tay lên miệng, hà hơi sưởi ấm những ngón tay cứng ngắc của mình.

Băng bây giờ vẫn còn trong suốt, không dày hơn mảng đá, nhưng sau đêm nay, nó sẽ đông lại thành một lớp băng mờ dày khoảng ba hoặc bốn centimet.

Sau khi tuyết rơi, nhiệt độ sẽ nhanh chóng giảm xuống, dòng sông này sẽ đóng băng.

Sau khi rửa hết cá, tay của Hà Điền trở nên sưng đỏ, từng ngón tay giống như củ cà rốt nhỏ, đau như bị dao đâm vào.

Nhưng cô phải chịu đựng đau đớn mà mang thuyền về nhà cất vào kho.

Khi Hà Điền quay lại để nhặt cá, tuyết trên đá đã bắt đầu đóng băng, đường xuống dốc cũng trở nên trơn trượt.

Cô cõng về một sọt gồm những cành cây gãy và lá khô, rắc chúng dọc theo đường đi.

Lại đợi thêm một thời gian nữa, đợi cho tuyết rơi thật dày rồi thì cô sẽ rải vỏ hạt dẻ xuống đường.

Cá đã đánh vảy và làm sạch cũng đông cứng lại thành một chùm, trên mình cá có một lớp băng gần như không nhìn thấy được, sau khi lắc vài cái, thân cá va vào nhau, vụn băng ào ào rơi xuống.

Bắt đầu từ hôm nay, bếp lửa ở nhà sẽ không ngừng cháy.

Luồng không khí lạnh ập đến mà không hề báo trước. Nó sẽ đóng băng toàn bộ dòng sông chỉ trong một đêm, và nhiệt độ trong rừng có thể giảm từ âm mười độ xuống âm bốn mươi độ. Cái lạnh âm độ sẽ đóng băng mọi thứ trong nhà, bể nước cũng sẽ đóng băng nứt toác, và khiến người đang trong cơn ngủ mê mãi mãi ở lại trong mộng.

Hà Điền ngồi bên bếp lửa hơ tay một lúc, đợi những ngón tay cứng ngắc và đau nhức lấy lại được sự linh hoạt, sau đó xách xô đi ra suối lấy nước.

Mấy ngày nay khe suối cũng đã bị đóng băng, hiện tại băng đã dày hơn một tấc, nhưng nước dưới băng vẫn không ngừng chảy.

Hàng ngày Hà Điền dùng một thanh gỗ to để phá băng ở cùng một chỗ, sau đó thả xô xuống để lấy nước. Chỗ băng thường xuyên bị đập nát này luôn mỏng hơn những nơi khác.

Cô thở ra một hơi và nghĩ, chắc là sau đêm nay, con suối này cũng sẽ bị đóng băng hoàn toàn.

Dòng nước này từ trên đỉnh núi chảy xuống, mà càng lên cao thì lại càng lạnh.

Bể cá cũng được chuyển sang bức tường bên cạnh bếp lò. Hà Điền lại chuyển thêm một vại nước vào trong nhà, đổ đầy nước đến tám mươi phần trăm rồi thả một con cá nhỏ vào. Bây giờ, trong nhà có tổng cộng bốn vại nước.

Đặt thêm vại nước trong nhà không chỉ để thuận tiện cho việc sử dụng nước mà còn có tác dụng giữ ấm.

Tuyết càng lúc càng lớn, những hạt tuyết nhỏ lúc đầu giờ đã thành lông vũ trắng bay khắp trời, trên ngọn cây đã có một lớp tuyết dày.

Hà Điền lại bước vào gió tuyết.

Cô mở tấm ván gỗ của hầm rau ra, treo ngọn đèn dầu trên tay lên vách nóc hầm rồi leo xuống thang.

Hầm rau sâu gần hai mét thực ra không quá lớn, chỉ ba bốn mét vuông, chứa đầy thức ăn.

Dọc bốn bức tường có những giá gỗ dày, trên đó là những chiếc hũ sành và thùng gỗ được xếp ngay ngắn.

Hà Điền kiểm kê lại một chút, cô có hai hũ kê nhỏ, một hũ gạo nhỏ và yến mạch, những thứ này được thu hoạch trên ruộng ở bờ sông khi cô đi bắt chim vào mùa hè thu; bốn thùng khoai tây, ba thùng củ cải, và mười cây cải thảo. Một vài hũ nhỏ đựng đậu giác ngâm, ớt, cà tím nhỏ, cà rốt, còn có một hũ lớn đựng đậu nành và hai rổ hành tây. Ngoài ra, cô còn có hai thùng táo, nhiều loại trái cây và rau củ sấy khô cùng một vài loại hạt.

Cô hài lòng trèo lên, đậy nắp hầm rau rồi phủ thêm vài lớp cỏ khô lên.

Cô còn có một cái hầm nhỏ khác, bên trong chứa đầy khoai lang.

Hà Điền đi đến gian nhà nhỏ đặt cá và thịt hun khói, cô tháo cá và thịt ra, dùng dây rơm buộc hai thứ lại, bỏ vào hầm khoai lang.

Khi mùa đông đến, những con vật vì đói sẽ có nguy cơ tìm đến kiếm ăn. Hà Điền không muốn vào một ngày nào đó, khi cô vào nhà kho lấy cá hun khói thì nhìn thấy một bầy chuột đang ẩn nấp bên trong, gặm thịt cá của cô thành một đống hỗn độn.

Khoai lang khác với các loại thực phẩm khác, nó thải ra khí cacbonic khi ở trạng thái ngủ đông.

Điều này làm cho hầm khoai lang trở thành một nơi tốt để bảo quản thịt cho mùa đông.

Khi muốn sử dụng, chỉ cần dùng một chiếc que dài có móc sắt ở một đầu, thọc vào lòng hầm, móc dây rơm là có thể dễ dàng lấy thức ăn ra. Khoai lang cũng được bọc lại đơn giản trong túi rơm, ba bốn củ một túi, đủ ăn một thời gian.

Ngoài những thực phẩm này, Hà Điền còn cất một số miến làm từ tinh bột khoai tây trong kho.

Khoai tây mới thu hoạch rửa sạch, để ráo nước, thái nhỏ, cho vào khối xay thủ công thêm nước rồi nghiền mịn, nước trắng chảy ra, đổ phần nước trắng vào một cái thùng, một lúc sau sẽ thấy một màu hơi đỏ nâu nổi lên bề mặt. Để yên trong khoảng hai giờ, đem phần nước trong phía trên đổ vào một cái thùng khác, phần bột nhão màu trắng chìm ở phía dưới chính là tinh bột khoai tây.

Phần bã khoai tây còn lại được bọc trong gạc và vắt mạnh để lấy thêm một ít tinh bột.

Tinh bột sau khi phơi khô thuận tiện hơn trong việc bảo quản, và nó cũng có thể được chế biến thành nhiều loại thực phẩm khác nhau.

Hòa tinh bột với nước rồi khuấy đều, sau đó nhào thành bột, đặt khung thép ép miến lên trên nồi nước sôi, cho một miếng bột vào máng lưới, ấn mạnh tay xuống, bột nhão sẽ chảy ra từ các lỗ của máng lưới. Nó trượt xuống, biến thành một đường dày màu trắng tuyệt đẹp, rơi trong nước sôi và thành hình.

Vớt miến ra, xả nước lạnh cho nguội rồi treo lên dây cho khô, thành miến khô.

Miến khoai tây nếu được bảo quản tốt, ở trong rừng, có thể bảo quản từ hai đến ba năm.

Số cá mà Hà Điền bắt được hôm nay không dùng để ướp hay hun khói, cô đã treo chúng ở ngoài nhà, một lúc sau cá đã đông cứng như đá.

Cô để lại một con cho bữa trưa hôm nay.

Cô nấu một nồi nước, thả nấm hương đã ngâm nở, nấm núi, ớt khô và một quả cà chua thái nhỏ vào, khi canh có màu vàng cam thì cho cả cá vào đun khoảng năm phút. Khi hương thơm ngon lành lan tỏa ra khắp nhà, cô cho vào một ít miến khoai tây.

Múc miến cá vào tô, rắc hành lá xắt nhỏ và một chút muối vào.

Nước canh chua chua cay cay, cá mềm ngon, còn miến khoai tây thì trơn bóng. Ăn xong một tô, toàn thân cũng ấm áp lên.

Ăn trưa xong, gió tuyết càng lớn, trời đất xám xịt, không nhìn rõ cảnh vật ngoài cửa sổ, chỉ có thể nhìn thấy bông tuyết tung bay.

Hà Điền ngồi trước đống lửa, vá lưới đánh cá.

Sông đóng băng không có nghĩa là không còn đánh bắt được nữa. Nhưng lưới đánh cá của cô, e rằng phải đợi đến tận mùa xuân năm sau mới có thể dùng đến nữa.

Nếu bà còn ở đây, họ có thể đào hai cái lỗ trên sông, buộc lưới đánh cá vào gậy tre mỏng, một người đặt lưới và gậy tre từ lỗ này xuống, mượn dòng nước đưa lưới sang lỗ bên kia, người kia giữ chặc gậy tre, lôi một đầu lưới đánh cá ra khỏi lỗ, lấy gậy tre ra, cố định phao gỗ trên lưới đánh cá trên mép của hai lỗ băng, để trong ba hoặc bốn ngày. Nếu lưới đánh cá trôi theo chiều sâu của dòng sông vẫn đang âm thầm chảy, sẽ có cá lao mình vào lưới.

Vài ngày sau, hai người lại dùng phương pháp tương tự như vậy để kéo lưới từ lỗ băng lên, có thể bắt được cá.

Nhưng hiện tại cô chỉ có thể dựa vào chính mình.

Chạng vạng tối tuyết vẫn còn đang rơi, lớp tuyết đã dày gần mười ba mười bốn centimet.

Mùa đông đã đến.

Tuyết rơi suốt cả một đêm mới ngừng lại.

Khi Hà Điền tỉnh dậy, cả thế giới đã được khoác lên mình một lớp áo dày.

Mặt trời cũng ló dạng, ánh nắng vàng ươm rọi xuống nền tuyết trong vắt, phản chiếu những đốm sáng li ti.

Hà Điền pha một bình trà táo đỏ và gừng khô, uống vào, rồi vội vã ra ngoài xúc tuyết.

Tuyết lúc này còn mềm nên dễ xúc, khi mặt trời lên cao, tuyết tan, đông lại tạo thành lớp vỏ cứng, lúc đó sẽ rất khó xúc.

Dụng cụ cô dùng để xúc tuyết là một chiếc cào bằng gỗ. Đóng đinh một tấm gỗ mỏng vào thanh gỗ, dùng chiếc cào để đẩy tuyết giống như một cái xẻng, dồn lại ở hai bên đường.

Con đường vừa mở ra vẫn còn một ít tuyết mỏng, không sao cả, rắc một lớp cành khô và lá mục nát lên đó, chỉ cần có thể chống trơn trượt là được. Trên cành chết và lá rụng có các vi khuẩn nhỏ đang thực hiện các hoạt động vô hình, lá mục nát luôn tỏa ra nhiệt, cành và lá màu nâu sẫm cũng sẽ hấp thụ nhiệt của ánh nắng mặt trời, sẽ sớm làm tan lớp tuyết đó thành nước.

Sau khi dọn một lối nhỏ quanh nhà, Hà Điền còn quét dọn tuyết quanh hầm.

Lớp cỏ trên nắp hầm được đẩy ra, sau đó mở nắp gỗ ra chừa một khe hở nhỏ để thông gió cho hầm.

Tuyết là chất cách nhiệt rất tốt, có thể cản không khí, nhưng rau bảo quản trong hầm cần có không khí để tránh bị hư thối.

Tất nhiên, càng không thể để cho nắp hầm bị đóng băng lại.

Sau khi làm xong những việc này, Hà Điền đi đến chuồng của Gạo, thả nó ra và cho nó ăn.

Sau khi dọn dẹp chuồng xong, Hà Điền mồ hôi nhễ nhại.

Cô quay vào nhà, nghỉ ngơi một lát, hâm lại phần canh cá còn dư tối qua ăn xong rồi xách công cụ đi ra ngoài.

Hà Điền buộc một sợi dây thừng vào người Gạo, phần dưới của sợi dây thừng buộc một chiếc cào bằng gỗ để quét tuyết, kéo nó đi về hướng bờ sông.

Cô đi phía sau Gạo, dùng xẻng gỗ gạt số tuyết chưa quét sạch sang hai bên rồi bóc một nắm lá thối trong chiếc sọt sau lưng rắc xuống đất.

Đã đến được con đường nhỏ dẫn ra sông, đoạn đường này Gạo không thể giúp được gì, Hà Điền chỉ có thể tự mình làm.

Nhưng Hà Điền cũng không có ý định dọn con đường này một cách cẩn thận. Mặc dù lần này tuyết rơi nhiều, nhưng nó sẽ sớm tan đi, đợi lần sau tuyết rơi nhiều hơn, chính là lúc cô rải những vỏ hạt dẻ xuống. Vì vậy, cô chỉ dùng một cái cào gỗ cào qua cào lại một cách tùy tiện rồi rắc những chiếc lá mục lên.

Hà Điền đi đến bờ sông, đục một cái lỗ trên sông.

Không còn nghi ngờ gì nữa, suối trên núi sẽ sớm bị đóng băng, khi đến thời điểm muốn lấy nước và bắt cá, đều phải dựa vào lỗ băng trên sông này.

Khi sông đóng băng lần đầu tiên, dùng một thanh gỗ nhọn đục một lỗ băng, khi sông đóng băng lần nữa, trong lỗ sẽ hình thành một lớp băng mới, rồi lại làm tương tự như vậy một lần nữa, giữa hai lớp băng sẽ hình thành một cái hố nhỏ, để vào trong hố băng đó một cái cọc gỗ, về sau cứ cách hai ngày thì lại dùng sức lắc mạnh, nước trong hố băng này sẽ tiếp tục chảy suốt mùa đông.

Tại sao không dùng tuyết tan làm nước uống? Vì nó tiêu tốn nhiều củi. Mà củi thì rất quý. Gỗ bị tuyết phủ vào mùa đông tất nhiên có thể được chặt nhỏ và dùng làm chất đốt, nhưng chúng rất ẩm và khó cháy, khói sẽ bốc lên nghi ngút và gây nghẹt thở.

Tại sao không chỉ ăn thức ăn dự trữ? Tại sao lại muốn đục một hố băng để câu cá? Bởi vì những người sống trong rừng, thực ra không chỉ là người ở trong rừng, mọi người ở khắp mọi nơi đều giống nhau, nếu không chuẩn bị tốt, sẽ khó có thể sống sót khi xảy ra tai nạn.

Đây là tất cả những câu hỏi mà khi còn nhỏ Hà Điền đã hỏi bà của mình.

Hà Điền đã đục xong hố băng, nhìn vào dòng sông mênh mông mù sương.

Chỉ mới một đêm, toàn bộ con sông này dường như đều bị đóng băng, chỉ có nước ở lòng sông là vẫn còn đang chảy.

Nhưng cô biết rằng đó cũng chỉ là ảo ảnh. Để đóng băng cứng toàn bộ dòng sông và có thể cưỡi xe trượt tuần lộc băng qua nó, phải mất khoảng một hoặc hai tuần.

Khi đó, cô có thể đi đến khu rừng bên kia sông đặt bẫy bắt chồn.

Khu rừng bên bờ sông đối diện cũng là phạm vi săn bắn của Hà Điền.

Vào mùa xuân, khi mực nước sông chảy chậm, cô chèo thuyền qua, làm bẫy vòm thông trong rừng, tìm những hốc cây thích hợp để đặt bẫy, đánh dấu, sửa chữa chòi săn bắn trong rừng và chuẩn bị củi khô. Về sau, mực nước sông dâng cao hơn, tốc độ dòng chảy cũng nhanh hơn, muốn vượt qua thì không thể mạo hiểm chèo thuyền được nữa, phải đi đường vòng dài gần hai ngày.

Trở lại nhà nhỏ, Hà Điền uống thêm một ly trà gừng táo tàu đỏ để xua tan cảm giác lạnh.

Cô ngây ngốc nhìn vào khu rừng ngoài cửa sổ một lúc, quyết định dắt Gạo đi một vòng trong rừng.

Hôm kia, cô tìm thấy dấu vết của thỏ rừng ở trong rừng sồi, và đã đặt một cái bẫy sắt ở đó. Biết đâu sau một đêm tuyết rơi dày đặc, một con thỏ đói và lạnh đã rơi vào bẫy?

Hà Điền nhét đầy đạn chì vào hai khẩu súng ngắn, lấy một bình trà gừng và một củ khoai tây nướng rồi lên đường.

Trước khi ra khỏi nhà, cô bắc một cái nồi đất lên nắp sắt đã đậy trên bếp. Trong nồi có hai chén nước, một củ hành tây nhỏ, ba bốn hạt dẻ khô, và xương vịt trời.

Vịt trời được đánh bắt vào mùa thu, mổ moi nội tạng, xẻ thịt ức và hai chân vịt ra, còn lại là xương vịt. Xương vịt có thể dùng để nấu canh, ức vịt và đùi vịt thì đem hấp với gạo, nấm, củ cải.

Xương vịt được tẩm ướp có vị mặn rất đậm đà, thêm nước cùng với hạt dẻ và củ hành, cho vào nồi đất, bắc lên bếp rồi đậy nắp lại. Không nên để lửa quá lớn, mà nên để ở nhiệt độ bảy mươi hoặc tám mươi độ, thịt trên xương vịt vốn không dày, đun từ từ, sau năm sáu tiếng, thịt khô sẽ mềm, vị ngọt trong hạt dẻ và củ hành cũng được tiết ra.

Lúc này, lấy nắp sắt đậy trên bếp ra, trực tiếp đặt nồi lên bếp, đun trên lửa lớn, đun khoảng hai mươi phút hoặc nửa tiếng là canh vịt đã được rồi, củ cải sẽ trung hòa với chất mỡ trong canh vịt, giúp món canh thêm đậm đà hơn, ăn cùng với khoai tây nướng hoặc cho miến khoai tây vào trong canh cũng đều ngon.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 8: Nước ớt củ cải


Sau một đêm gió tuyết, chỉ mới một buổi sáng, khu rừng mà Hà Điền quen thuộc đã hoàn toàn thay đổi diện mạo, trên cây đã có những lớp tuyết dày như bông, khi cô và Gạo đi ngang qua, có lúc chúng sẽ lả tả rơi xuống, có lúc lại ào ào, rơi cả một khối. Tuyết trên mặt đất dần dần bắt đầu tan ra dưới ánh sáng mặt trời, tạo thành một lớp vỏ mỏng và giòn, giẫm lên sẽ phát ra âm thanh như vỏ trứng bị bóp nát.

Dòng suối trên núi đã gần như đóng băng hoàn toàn, nhưng cách lớp băng dày bảy tám centimet, cơ hồ vẫn còn thấy được dòng nước bên dưới đang không ngừng lưu động. Trên những ngọn cỏ khô bên cạnh dòng suối, những hạt băng giống như những quả cầu pha lê đang treo lủng lẳng trên đầu ngọn cỏ, khiến cho nó rũ xuống mặt đất.

Gạo thích kiểu thời tiết này.

Sau khi tuyết rơi, trời sẽ hơi ấm hơn bình thường, nó chậm rãi đi trong rừng, thỉnh thoảng cúi đầu xuống, dùng mũi moi lớp tuyết lên, gặm cành cây và bãi cỏ ẩn bên dưới.

Hà Điền đi một đôi giày rơm được bao bọc bằng cành lá hương bồ ở bên ngoài. Đế giày được buộc vào một tấm gỗ mỏng, phần đầu phía trước nghiêng vào trong nhằm mở rộng diện tích đế, tấm gỗ có phần đầu nhô cao giúp tuyết không bắn vào giày, khi di chuyển trong tuyết cũng dễ dàng hơn rất nhiều. Bên trong giày lót một lớp nệm độn cỏ mềm, loại cỏ này chỉ dày hai ba li, sau khi đập dập có thể giữ nhiệt rất tốt, cách nhiệt, chống ẩm mốc, dùng làm thảm cỏ, làm giày, nhưng chỉ có thể thu hoạch vào mùa hè ở đầm lầy gần nhà.

Hôm nay cô ra ngoài, chủ yếu là vì muốn thử nghiệm đôi giày rơm mà mình đã làm hồi đợt hè này.

Cành và lá hương bồ so với cỏ mềm lót trong giày dày hơn rất nhiều, dày gần bảy tám li, thậm chí một phân, giày rơm làm bằng nó chỉ có thể trụ được một mùa đông. Nhưng giày rơm rất hữu ích trong những ngày tuyết rơi, chúng được lót bên ngoài giày để giữ cho giày không bị ướt.

Những đôi giày rơm trước đây của Hà Điền đều do bà cô làm. Cô chưa bao giờ tự làm một đôi giày hoàn chỉnh, nhiều nhất thì cũng chỉ đan được đế giày. Mùa hè này, cô đã thử đi thử lại nhiều lần, cuối cùng quyết định tháo đôi giày rơm yêu thích năm ngoái của mình ra, sau một hồi nghiên cứu, rốt cuộc cô cũng đã làm được một đôi giày rơm.

Có vẻ như đôi giày này đã được thực hiện thành công.

Sau khi đi trong tuyết một lúc lâu mà nó vẫn không hề có dấu hiệu bị bung ra, còn bảo vệ đôi chân rất tốt, không để tuyết thấm vào giày.

Nếu nhìn thấy, nhất định là bà sẽ rất vui.

Cô đang rất đắc ý ngắm nghía đôi giày của mình, Gạo lang thang cách đó không xa đột nhiên phát ra tiếng phì phì trong mũi, hình như là phát hiện được cái gì đó.

Hà Điền ngay lập tức cầm khẩu súng ngắn lên, cảnh giác nhìn về phía rừng cây phủ đầy tuyết.

Cô không nhìn thấy gì cả.

Một lần nữa nhìn về phía Gạo, cô đã rất sửng sốt.

Trên nền tuyết trước mặt Gạo có một khối màu đỏ.

Sắc đỏ kia rực rỡ hơn cả màu của lá phong vào mùa thu, dưới ánh nắng tỏa ra ánh vàng.

Đó không phải là màu của lá.

Hà Điền bước tới từng bước một, khi còn cách Gạo hai ba mét, cô đã có thể nhìn rõ – đó là một người đang nằm dưới tuyết.

Màu đỏ tươi kia chính là trang phục trên người của người này, cũng không bị tuyết vùi lấp hoàn toàn, hơi lộ ra một chút, không biết loại vải này được dệt bằng gì, mà khi bị mặt trời chiếu vào lại phản chiếu ra ánh vàng.

Hà Điền ngồi xổm xuống, nắm lấy một góc vải màu đỏ, lắc mạnh, tuyết phủ bên trên ào ào rơi xuống đất. Đó là một chiếc áo choàng màu đỏ. Người này dựa vào gốc cây và trùm áo choàng lên người để chống lại gió tuyết.

Tim Hà Điền đột ngột nhảy lên, cô đứng dậy, một tay giữ chặc một góc áo choàng, đồng thời siết chặt khẩu súng trong tay, chậm rãi mở áo choàng ra.

Dưới lớp áo choàng đỏ, là một cô gái trẻ rất xinh đẹp, mặc dù đôi môi của cô ấy đã lạnh cóng thành màu xanh tím, khuôn mặt cũng trắng bệt như tuyết, nhưng cô ấy vẫn rất xinh đẹp.

Cô ấy giống như một con búp bê làm bằng lụa được những người bán hàng rong đến từ miền Nam dùng để thu hút trẻ em trong chợ, cô ấy có mái tóc dày và đen dài như sa tanh, làn da mịn màng như lụa, đôi chân mày như thể được vẽ tỉ mỉ bằng loại bút nhỏ nhất và mực đậm nhất, ngoài sống mũi cao thanh tú, còn có bờ môi duyên dáng cong cong. Đuôi chân mày và lông mi của cô ấy đọng lại một lớp sương mỏng, có lẽ đó là do những hơi thở cuối cùng của cô ấy tạo thành.

Hà Điền cũng không biết là lúc này mình đang kinh ngạc trước cái đẹp hay là đang sợ hãi về cái chết theo bản năng nữa.

Cô nhìn cô gái một lúc rồi nghĩ, người đẹp như vậy, nên chôn ở đâu đây?

Cô ngay lập tức nghĩ, bây giờ đất đã đông cứng, không thể đào đất được. Nước sông cũng đã đóng băng, cũng không thể thủy táng.

Vậy thì, hỏa táng? Nhưng mà mùa này, muốn kiếm đủ củi cũng không dễ chút nào…

Chẳng lẽ cứ để người đẹp này nằm ở đây?

Những con sói và cáo đói chắc chắn sẽ xé nát khuôn mặt xinh đẹp của người này ra… vậy thì sẽ tiếc lắm! Ôi, nhìn đôi tay xinh đẹp của cô ấy này…

Hà Điền ngồi xổm xuống, nắm lấy bàn tay cứng ngắc của người đẹp ấy.

Đôi bàn tay này đã lạnh như đá, nắm lại thành nắm đấm, màu xám tím, nhưng lại giống như mỹ nhân trong các tác phẩm điêu khắc cổ bằng đá cẩm thạch trong bộ sưu tập tranh của bà cô, ngón tay dài, đầu ngón tay nhọn, và móng tay được cắt tỉa gọn gàng.

Hà Điền cầm đôi tay này, không khỏi thở dài: “Ước gì gặp được cô sớm hơn.”

Cô gái xinh đẹp này chắc là đã bị lạc đường trong gió tuyết đêm qua.

Cô lại đột nhiên nghĩ, vậy thì, một cô gái như vậy, tới nơi này làm gì?

Cô đang ngẩn ngơ, đột nhiên người đẹp mở mắt ra, con ngươi đen tuyền giống như hai khối mã não đen ấy mơ màng nhìn Hà Điền, yếu ớt hỏi: “Tôi chết rồi sao?”

Hà Điền khựng lại: “Không có.”

Ánh mắt của người đẹp trở nên mơ màng và mất tập trung hơn, cô ấy thì thầm: “Vậy thì vì sao tôi lại nhìn thấy thiên thần?”

Nói xong, cô ấy lại nhắm mắt lại.

Hà Điền vừa tỉnh dậy sau cú sốc – cô ấy chưa chết! Cô gái chưa chết!

Cô vội vàng đào cô gái ra khỏi tuyết, vỗ nhẹ lớp tuyết trên người cô ấy và một lần nữa đặt cô ấy dựa vào thân cây.

Bên dưới chiếc áo choàng màu đỏ, cô gái cũng đang mặc một bộ đồ màu đỏ, chất liệu vải mềm và mịn vô cùng.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 9: Cháo đậu đỏ


Cô gái vẫn đang ngủ, ngoài cửa sổ lại có tuyết rơi.

Hà Điền tranh thủ lúc trời chưa tối hẳn, gió tuyết cũng không lớn, vội vàng xách thùng ra sông lấy nước.

Cô lại chọc thanh gỗ vào lỗ băng và khuấy mạnh, phá vỡ lớp băng tái sinh bên trong, sau đó ném thùng vào lỗ băng, kéo sợi dây buộc vào tay cầm thùng rồi nhấc thùng ra.

Nước xách lên đang bốc lên khói trắng.

Có thêm một người nữa trong nhà, cô phải sử dụng nhiều nước hơn bình thường. Khi bà còn sống, mùa đông đến, họ đều sẽ đặt sáu vại nước ở trong nhà.

Hà Điền đi tới đi lui hai lần, lấy bốn thùng nước, chuyển thêm hai vại nước vào nhà, cọ rửa sạch sẽ rồi lót vài khối gỗ bên dưới đáy vại, đặt ngay ngắn bên cạnh bếp lò.

Lúc này trời đã nhá nhem tối. Bên ngoài gió lạnh gào thét.

Hà Điền bỏ thêm cỏ khô vào chuồng của Gạo. Tuần lộc không sợ lạnh, chúng cũng không cần quá nhiều nước.

Hôm nay Gạo đã lập công lớn, Hà Điền cho thêm một nắm bột đậu vào máng của nó.

Từ chuồng của Gạo trở vào nhà cũng chỉ mất một đoạn ngắn, nhưng gió tuyết thổi qua lại khiến mắt Hà Điền gần như không mở lên nổi.

Cô đứng dưới mái hiên nhà, phủi bỏ những bông tuyết trên đầu xuống, đóng hàng rào gỗ dưới cửa sổ lại, rồi khóa bằng chốt gỗ.

Trở vào nhà, cô ngồi trước bếp lò, ném hai thanh củi vào trong bếp.

Cô gái vẫn còn chưa tỉnh lại.

Hà Điền suy nghĩ một chút, cô lấy một nắm đậu đỏ trong hũ sành cho vào một cái nồi sắt nhỏ, cho nước vào vừa đủ ngập đậu đỏ rồi đun sôi.

Sau khi nước sôi, cô đem nồi sắt đặt bên ngoài cửa, sau khoảng mười phút thì lại mang vào, nồi đã đông cứng lại thành đá (băng).

Cô lại đặt nồi sắt trên lửa và đun sôi lên, đậu đỏ bắt đầu nở từng hạt một, rất nhanh đã chín mềm.

Sau đó cô cho hạt kê đã rửa sạch cùng một ít táo tàu đỏ vào nồi.

Cây táo tàu được trồng khi bà của Hà Điền trạc tuổi cô lúc này, bây giờ mỗi vụ hè thu đều có thể thu hoạch gần như được cả một sọt.

Những quả táo vừa được hái xuống có màu xanh ngọc, điểm xuyết vài đốm đỏ, tròn trịa bóng loáng, trên bề mặt có ánh bóng như sáp, mỗi quả có kích thước bằng quả trứng gà gô. Táo rửa sạch, phơi khô, cho vào vỉ tre phơi nắng sẽ chuyển sang màu đỏ và khô lại, cho dù nấu với cháo kê, ngâm nước uống hay ăn như món ăn vặt, đều rất ngọt.

Quả táo khô được cho vào trong vại sành đựng đầy than củi, đặt ở nơi thoáng mát, có thể bảo quản trên một năm.

Sau khi nấu thêm nửa tiếng, cháo kê trong nồi chuyển dần từ vàng sang nâu đỏ, dưới sự khuấy liên tục của Hà Điền, đậu đỏ và hạt kê trộn đều với nhau, thơm lừng cả nhà.

Cô nhắc nồi cháo xuống bếp, rồi lại đặt nồi canh vịt lên.

Đầu tiên Hà Điền tự mình múc đầy một chén cháo nhỏ, cầm trong tay, dùng muỗng từ từ khuấy rồi uống dọc theo thành chén.

Người bệnh đã tỉnh lại, bị mùi thức ăn lẫn trong phòng đánh thức.

Cái lạnh cực độ khiến cho cơ thể người nọ vô cùng kiệt quệ, đồng thời cũng khiến trí nhớ trở nên rối tung, mờ ảo, trong mơ hồ, dường như còn nhìn thấy có một thiên thần đang ngồi trên một con nai trắng, phía sau phát ra ánh hào quang, xuất hiện.

Nhưng lúc này mở mắt ra, không có nai trắng, càng không có thiên thần.

Nơi này là một ngôi nhà gỗ, những tấm ván gỗ trên mái và tường đã ngả sang màu nâu theo thời gian, cách đó không xa là một chiếc bàn, chiếc bàn được phủ một chiếc khăn trải bàn bằng sợi bông, trên đó đặt một chiếc bình đất nung trông rất lạ. Hình như phôi bùn gần miệng bình hơi cong, người nung chắc là đã nhầm lẫn. Trong bình có vài cành cây đã khô, trên cành còn lại những quả nhỏ màu đỏ như hạt san hô.

Cạnh chiếc bình là ngọn đèn dầu đang chập chờn phát ra ánh sáng ấm áp. Nó được đặt trên một chiếc đui đèn làm bằng kim loại, phía sau đèn là một cái đĩa kim loại rất nhẵn, có tác dụng phản chiếu ánh sáng của đèn dầu.

Căn nhà rất ấm áp, bếp lò đang phát ra tiếng kêu “tanh tách”, trên mái phía trên bếp treo một khung gỗ vuông, trên đó có đầy móc, treo những chiếc nồi đủ kích cỡ và kiểu dáng, tất cả đều được đánh bóng sáng loáng. Trên bức tường bên cạnh ống khói có một chiếc tủ gỗ hai cửa, bên dưới tủ là một kệ gỗ hai tầng đựng đầy chai lọ.

“Thiên thần” hiện về trong trí nhớ mơ hồ lúc này đang ngồi trước bếp lò, bưng chén cháo lên uống.

Từ trang phục của cô, cô tất nhiên không phải là thiên thần, mà là một cô gái miền núi.

Cô đang mặc một chiếc áo bông thô dài màu tím – đỏ sẫm, hàng cúc áo bằng vải cùng màu, viền cổ được trang trí bằng một lớp lông tơ màu đen xám, không thể phân biệt được với lông của loài vật nào, hơi giống lông chồn.

Cô cũng đeo hai món trang sức kỳ lạ trên hai cánh tay, đó là hai tấm vải cùng màu với áo bông, kéo dài từ cổ tay đến cánh tay, trên đó chỉ thêu đơn giản ba hàng chữ X nhỏ và chấm đỏ bằng sợi bông trắng như là để trang trí.

Chiếc áo dài vải bông thô này rõ ràng là để mặc trong nhà, được may ôm sát cơ thể. Quanh eo còn có một chiếc thắt lưng da màu nâu kích thước bằng bốn ngón tay, giúp vòng eo của cô trông thon thả hơn. Chiếc áo bông thô này dài dưới thắt lưng và kéo dài đến đùi, giống như là một chiếc váy nhỏ, mép áo cũng được viền bằng lông. Cô cũng buộc một chiếc váy nhỏ ở eo, giống như những đồ trang trí trên tay áo, mép váy cũng được thêu hình chữ thập nhỏ màu trắng. Chiếc váy nhỏ này có nhiều nếp gấp và được trang trí nhiều hơn so với chiếc áo dài bông thô, nhưng chỉ có một nửa, rủ xuống trước người, phía sau lưng trống trơn, chỉ buộc lại thành một cái nơ bươm bướm.

Chờ đã, cái váy nhỏ này… hình như là “tạp dề”?

Vì vậy, có thể thấy, tay áo và chiếc tạp dề nhỏ này là cùng một bộ, và không phải là phụ kiện?

Lúc này bụng người bệnh kêu lên ùng ục ùng ục, thiên sứ nhỏ ăn mặc kỳ quái kinh ngạc ngẩng đầu lên: “Cô tỉnh rồi? Thật tốt quá! Đói bụng sao?”

Hỏi xong, cô cầm một cái ly đang đặt ở trên bếp lên, bước đến ngồi xổm xuống trước mặt người nọ.

Khuôn mặt cô vì ánh lửa mà ửng hồng lên, đôi mi đen mảnh và cong vút, chân mày rậm, có vẻ như chưa từng được tỉa tót bao giờ; đôi mắt vừa đen vừa sáng, hình dáng giống như hạt quả hạch, chung quanh nó là vòng mi dày, ở đuôi mắt còn có một vài sợi rất dài.

Miệng của cô tuy nhỏ nhưng lại nhiều thịt. Môi đỏ răng trắng.

Khó trách khi vừa mới tỉnh dậy đã nhận nhầm cô gái miền núi này thành thiên thần, vì trông cô không khác gì một con búp bê Nga. Loại búp bê đó được làm bằng gỗ, mặt và thân của nó được sơn mài, mở ra một lớp, lại có một lớp khác, mặt của mỗi lớp đều giống nhau, nhưng kích thước lại khác, quần áo cũng khác một chút.

Hà Điền không nhận ra rằng người bệnh này đang tưởng tượng ra, khi cô đội khăn trùm đầu và thắt thành hai bím tóc sẽ càng giống búp bê matryoshka hơn, cô chỉ biết rằng, cô gái xinh đẹp có đôi mắt thất thần ấy đang ngây người nhìn mình.

Cô đoán rằng, có thể cô gái này vẫn còn chưa hoàn toàn tỉnh táo.

Cô cầm ly nước đưa cho cô ấy: “Cô còn có chỗ nào không thoải mái sao?”

Cô gái ngồi dậy, cầm lấy ly nước, nhìn nó và hỏi: “Đây là loại hoa gì?”

Hà Điền nói với cô ấy: “Là hoa cúc dại. Cô uống đi.”

Lúc này cô ấy mới cầm ly lên uống.

Cô gái uống nước xong, cùng Hà Điền mặt đối mặt, cười nói: “Cảm ơn cô đã cứu tôi.”

Giọng của cô ấy không vì trà hoa cúc mà trở nên dịu lại một chút nào, nó vẫn còn khàn và trầm.

Hà Điền sửng sốt một chút, mới hỏi: “Cô định đi đâu?”

Cô gái không trả lời, nụ cười trên mặt trở nên có chút chua xót, rồi lại thoáng hơi châm chọc.

Hà Điền lại nói: “Lại có tuyết rồi. Lần này tuyết có thể kéo dài đến tận vài ngày. Dù cô có muốn đi đâu, tạm thời cũng không thể đi được.”

Cô gái kinh ngạc nói: “Tôi đang cưỡi ngựa thì gặp tuyết rơi, móng ngựa bị mắc kẹt trong tuyết, rồi đàn sói kéo đến…” Cô ấy dừng lại một lúc, nhìn Hà Điền: “Tôi nghĩ, có lẽ tôi phải tạm thời ở lại đây một thời gian, cô có thể giữ tôi lại được không?”

Hà Điền gật đầu đồng ý: “Tuyết rơi dày đặc đã chắn núi, muốn xuống núi thì phải đợi đến mùa xuân năm sau, hoặc đợi đến khi sông hoàn toàn đóng băng rồi đi dọc theo nó.” Cô lại không tự chủ được nhìn bàn tay của cô gái: “Cô có thể sống ở đây với tôi, nhưng chúng ta phải cùng nhau làm việc để vượt qua mùa đông này.”

Cô gái lập tức nói: “Được! Tôi sẽ giúp cô làm việc.”

Hà Điền cũng hỏi ngay: “Vậy, cô có thể chẻ củi, đánh cá và làm lưới đánh cá không?”

Cô gái lắc đầu: “Đều chưa từng làm. Trước đây tôi sống ở thành phố. Nhưng tôi muốn học.”

“Được rồi, vậy tôi sẽ giữ cô lại.” Hà Điền gật đầu rồi đưa tay về phía cô ấy: “Tôi tên là Hà Điền. Còn cô?”

Cô gái cũng duỗi tay ra, chủ động nắm lấy tay Hà Điền, kiên quyết lắc lắc: “Tôi là… Dịch Huyền. Dịch trong dung dịch (dễ dàng), Huyền trong huyền cầm (dây đàn).”

Hai người bắt tay nhau, dường như Dịch Huyền còn muốn nói thêm gì đó, không ngờ bụng lại phát ra âm thanh rất lớn.

Cô ấy có chút ngượng ngùng nhìn xuống bụng mình, cùng Hà Điền bật cười.

Hà Điền múc cho cô ấy một chén cháo đậu đỏ: “Lần cuối cùng cô ăn là bao lâu rồi?”

Dịch Huyền lắc đầu, lại hỏi Hà Điền: “Bây giờ mấy giờ rồi?”

Hà Điền lấy đồng hồ ra xem: “Tám giờ mười bốn phút tối.”

“Vậy thì gần ba mươi hai giờ trước.”

Hà Điền sửng sốt. Điều này có nghĩa là cô ấy đã đói gần một ngày trước khi bị lạnh cóng. Với thời tiết như thế này, đừng nói một cô gái yếu đuối, thậm chí ngay cả một người đàn ông khỏe mạnh nếu cả ngày không ăn cũng sẽ chết cóng vì không thể duy trì thân nhiệt.

“Vậy thì đừng ăn đồ nhiều dầu mỡ. Thật ra, tôi có nấu món canh xương vịt. Vốn định tối nay sẽ ăn…”

Khi Hà Điền đang múc cháo, Dịch Huyền ra khỏi chăn bông. Cô ấy chỉnh lại quần áo của mình, gấp gọn gàng chăn bông thành hình vuông nhỏ rồi cũng gấp nệm lông hươu lại, sau đó cuộn tấm chiếu rơm đậy lên chăn bông. Thậm chí, hai bình nước Hà Điền làm ấm chân và cơ thể cho cô ấy cũng được đặt lại trên bếp.

Cô ấy đứng trước bếp lò, nhìn mớ chai lọ trên giá gia vị treo trên tường, ngẩng đầu nhìn kệ để đồ, rồi lại nhanh chóng quay mặt sang một bên, nhìn chằm chằm vào □□ treo bên cửa một lúc.

Khi Hà Điền cõng Dịch Huyền trở vào nhà, cô biết rằng cô gái này khá cao, vì đôi chân của cô ấy không ngừng lê trên mặt đất. Hà Điền vốn đã cao, nhưng cô không ngờ rằng cô gái thanh tú này lại cao hơn mình đến nửa cái đầu.

Khi Dịch Huyền đi đến trước mặt cô, Hà Điền đột nhiên đứng thẳng lưng lên một cách vô thức, như thể cô đang chiến đấu với một cảm giác chèn ép vô hình nào đó.

Cô kéo một trong hai chiếc ghế gỗ duy nhất trong nhà mời Dịch Huyền: “Cô ngồi đi.”

Dịch Huyền không có ngồi xuống, mà là nhìn hai bàn tay của mình, có chút ngượng ngùng nói với Hà Điền: “Tôi… còn chưa rửa tay.”

Hà Điền nhanh nhảu nói: “Trước tiên đừng rửa tay. Tôi đã rửa tay cho cô và bôi thuốc mỡ. Đợi đến sáng mai cô hãy rửa. Trước đó thì đừng chạm vào nước, nếu không sẽ bị nứt da, rất đau và ngứa.”

Dịch Huyền vội vàng ngồi xuống, cảm ơn Hà Điền rồi ăn cháo.

Cháo được đựng trong một cái chén sành màu nâu đỏ, dưới ngọn đèn, khói trắng và mùi thơm của táo và đậu đỏ nấu nhừ bốc lên nghi ngút.

Hà Điền ngồi đối diện với Dịch Huyền, nhìn cô ấy ăn từng ngụm từng ngụm cháo. Tư thế ăn uống của cô ấy rất tao nhã, nhưng chỉ trong nháy mắt đã ăn xong một chén cháo đặc.

REPORT THIS AD

Cô ấy ăn xong, có chút ngượng ngùng nhìn Hà Điền.

Hà Điền hiểu ngay: “Vẫn còn.”

Hà Điền đổ phần cháo còn lại trong nồi ra chén, cảm thấy hơi tiếc nuối. Cô vốn định sẽ làm một chiếc bánh rán bằng cháo đậu đỏ còn sót lại cho bữa sáng ngày mai.

Cháo kê với đậu đỏ sau khi nguội sẽ dễ đông lại hơn, để qua đêm sẽ hoàn toàn cứng lại. Buổi sáng, úp một chiếc dĩa lên nồi, lật ngược nồi lại, cháo trong nồi sẽ rơi ra dĩa, váng đậu chìm xuống đáy nồi, trên cùng là sữa kê trong mờ và táo đỏ. Nó đông đặc lại thành một hình tròn trông giống như một chiếc bánh ngọt hoặc là một khối thạch lớn. Có thể dùng muỗng ăn trực tiếp, hoặc là cắt thành từng miếng nhỏ để làm bánh rán.

Cho một miếng lớn dầu ngỗng vào chảo, rán mặt đậu trước, sau đó lại rán mặt kê, chỉ cần rán trong vài phút là có thể ăn được. Bánh sau khi rán giòn bên ngoài, mềm ngọt ở bên trong.

Hà Điền nuốt nước miếng, đặt cái chậu rỗng vào trong bồn rửa rồi rắc một lớp tro thực vật lên.

Trong khi ăn cháo, Dịch Huyền hỏi Hà Điền tại sao lại phải rửa chén như vậy, những vại nước này dùng để làm gì và cách xử lý nước thải từ bồn rửa.

Có thể thấy, cô ấy đang rất cố gắng để thích nghi với cuộc sống ở đây càng sớm càng tốt.

Sau bữa tối, Hà Điền dạy Dịch Huyền cách cho củi vào lò.

Cô gái xinh đẹp này thực sự không biết gì về cuộc sống trong rừng cả.

Hà Điền hỏi cô ấy: “Vậy ở nơi cô từng sống, làm cách nào để giữ ấm vào mùa đông?”

Dịch Huyền suy nghĩ một chút, nói: “Cũng đốt than và củi. Nhưng tôi chỉ hiểu lý thuyết chứ chưa từng thực hành bao giờ.”

Cũng may là cô ấy đã thực hiện việc nấu nước và đổ nước sôi từ ấm vào bình rất tốt.

Hà Điền lại ngồi trước ngọn đèn dầu vá lưới đánh cá. Bây giờ cô đã có đồng đội, phải nhanh chóng đào thêm hai lỗ băng trên sông, vậy là đã có thể bắt cá.

Cô mơ hồ có cảm giác rằng, với vóc dáng hiện tại của Dịch Huyền, có thể sức ăn của cô ấy sẽ nhiều hơn so với ước tính ban đầu của cô.

Dịch Huyền cũng muốn giúp đỡ, nên Hà Điền đưa cho cô ấy một mớ lưới đánh cá để cô ấy vừa xem vừa học, trước tiên thử làm một cái túi lưới trước.

Một lúc sau, Dịch Huyền lộ ra vẻ mặt xấu hổ: “Tôi… muốn đi vệ sinh.”

“À à à, quên nói với cô điều này.” Hà Điền dẫn Dịch Huyền đến một góc, nơi xa bếp lò và là nơi lạnh nhất trong nhà. Ở đó có hai vách ngăn được làm bằng gỗ bạch dương mỏng và cỏ dại màu xám tím, tạo thành một ngăn nhỏ thông với bức tường.

Mở vách ngăn ra, phía sau là một cái thùng gỗ, lại mở nắp thùng gỗ, bên trong có một cái bình đất, trên nắp thùng gỗ có một vòng gỗ hình tròn, vừa khít với chiếc bình đất ấy. Cái này, chính là bồn cầu.

Hà Điền không ngờ rằng Dịch Huyền, người đã thích nghi rất tốt từ khi tỉnh dậy, lại vì vấn đề đi vệ sinh mà bị đả kích không nhỏ.

Cô ấy do dự một hồi lâu, dường như có chút sợ Hà Điền khó chịu, thảo luận với cô: “Tôi có thể đi ở bên ngoài được không?”

“Không được!” Hà Điền phủ quyết dứt khoát: “Trời rất lạnh và tối. Huống chi bên ngoài còn có bão tuyết.”

Ngoài cửa sổ, tiếng gió vẫn như cũ rít gào, vừa tựa như tiếng bầy sói hú ở phía xa, vừa tựa như tiếng cú đêm.

Dịch Huyền nhượng bộ, cô ấy lấy áo choàng của mình đến che ở bên ngoài vách ngăn lại.

Hà Điền cảm thấy điều này không cần thiết một chút nào, nhưng cô cũng không ngăn cản. Sau khi vá lưới đánh cá xong, cô bắt đầu rửa mặt.

Cô tìm một cành liễu khô cho Dịch Huyền, dạy cô ấy nhúng vào kem đánh răng tự làm để đánh răng.

“Ngày mai tôi sẽ làm bàn chải đánh răng cho cô.” Cô đưa bàn chải đánh răng cho Dịch Huyền xem: “Đầu bàn chải này làm bằng lông lợn rừng, dùng sợi tre quấn lên một thanh gỗ nhỏ. Sau một thời gian có thể tháo đầu bàn chải ra và thay bằng một cái mới. Đây là do bà tôi phát minh ra.”

Sau khi rửa mặt xong, Dịch Huyền muốn trải lại chiếu rơm ngủ trên mặt đất, Hà Điền ngăn cô ấy lại: “Không thể ngủ trên mặt đất. Vì không thể vác cô nổi nên tôi mới tạm thời để cô nằm ở đây. Cô phải ngủ trên gác với tôi.”

Mặt Dịch Huyền đỏ bừng, nhìn cô chằm chằm một lúc rồi lắc đầu: “Không, không được.”

Hà Điền lại một lần nữa bất ngờ.

Môi trường sống trước đây của Dịch Huyền rất khác so với cô, cô đã chuẩn bị tâm lý cho điều này. Một cô gái như công chúa sống trong tháp ngà vừa tỉnh dậy đã chủ động học cách đan lưới đánh cá và đốt củi, cô còn muốn gì nữa?

Hà Điền ngẩn người, nghĩ đến vừa rồi đi vệ sinh Dịch Huyền cũng bày ra bộ mặt nhăn nhó như vậy, cô hiểu. Cũng không phải là Dịch Huyền ghét bỏ nơi này dơ bẩn, mà là vì cô ấy chú trọng đến không gian và sự riêng tư.

Hà Điền kiên nhẫn giải thích: “Vừa rồi cô ngủ dưới đất không cảm thấy lạnh là bởi vì bếp lò liên tục đốt củi, nếu chúng ta ngủ rồi, sẽ không ai thêm củi vào nữa. Tuy rằng lửa sẽ không tắt, nhưng cũng không mạnh. Trời càng lúc càng lạnh, không khí nóng tụ lại trên các thanh nan của gác, hơn nữa ống khói được gắn liền với bức tường nên rất ấm áp. Sáng mai, nói không chừng bức tường cạnh cửa sổ sẽ kết băng lại. Có đôi khi, ván gỗ trên cửa sổ cũng bị đóng băng, không thể mở ra được.”

“Tôi biết cô đã rất cố gắng, do không quen, cùng với sợ hãi…” Cô cười nói: “Nhưng tôi không phải người xấu.”

Dịch Huyền vẫn còn do dự: “Nhưng, cô là một cô gái…”

Hà Điền cười với cô ấy: “Cô cũng là con gái mà!”

Vẻ mặt của Dịch Huyền lúc này rất kỳ lạ, khóe miệng rũ xuống, nhanh chóng ngẩng đầu nhìn Hà Điền.

Hà Điền đột nhiên cảm thấy ánh mắt của Dịch Huyền giống như có điện, khiến cô có chút sợ hãi, không khỏi lùi lại một bước.

Lúc này, Dịch Huyền lại mỉm cười.

Cô ấy không còn nhăn nhó nữa, cúi xuống cuộn tấm chiếu rơm lại rồi ôm lên: “Làm cách nào để lên đó?”

Khoảng trống phía trên gác là một hình tam giác tính từ cạnh bên, điểm cao nhất chỉ có một mét, họ chỉ có thể quỳ trên sàn rồi tiến về phía trước. Hà Điền có thể thẳng đầu khi quỳ, còn Dịch Huyền thì thỉnh thoảng sẽ bị đụng đầu.

Trên gác được lót một lớp ván dày, trên đó trải một lớp chiếu bằng rơm rất bền, dày từ hai đến ba centimet. Dãy không gian hẹp nhất bên cạnh mái hiên được làm thành một ngăn gỗ dùng để chứa chăn ra gối đệm và quần áo. Kệ gỗ trên đầu giường của Hà Điền xếp một vài cuốn sách, một chiếc đèn pin cầm tay và một chiếc ly gốm. Trên dầm và góc mái có treo những giỏ hoa hình cầu nhỏ làm bằng tre đan, bên trong không biết chứa loại hoa khô gì, tỏa ra mùi thơm rất nhẹ.

Hà Điền dạy Dịch Huyền đặt chai chứa đầy nước nóng vào lòng bàn chân và ôm vào trong ngực, rồi quấn chặt chăn bông lại.

Sau khi thổi tắt đèn dầu, hai người ở trong bóng tối đều rất ăn ý giữ im lặng, một lúc sau, Dịch Huyền lên tiếng trước.

“Tại sao cô không hỏi tôi, tôi từ đâu tới? Thời tiết này sao lại chạy vào trong rừng?”

“À… vì hỏi cũng không có ý nghĩa gì. Dù sao thì cô cũng không định trả lời tôi, đúng không?”

Từ lúc nhìn thấy cô gái này nằm dưới tuyết, Hà Điền chưa bao giờ nghĩ rằng cô ấy vì ra ngoài chơi mà bị lạc đường.

Không ai lại đến trên núi du ngoạn vào mùa này. Nơi đây cách xa khí hậu ôn đới, núi non trập trùng, nhìn từ xa đã thấy toàn là tuyết, tuyết phía trên đỉnh núi quanh năm không tan. Nơi dùng để làm chợ ở dưới chân núi cách thành bang gần nhất cũng phải đi ngựa hai ngày một đêm, hoặc đi thuyền bốn ngày ba đêm. Trong bốn mùa, chỉ có mùa xuân và mùa hè, các lái buôn mới đổ xô đến thu gom đồ da và ở lại chân núi vài tuần.

Một lúc lâu sau, Dịch Huyền khẽ “Ừ” một tiếng, nhưng rồi cô ấy lại nói: “Tôi cũng không biết nữa.”

Sau một lúc, Hà Điền hỏi: “Vậy thì… nơi cô từng sống, trồng lúa hay lúa mì?”

Dịch Huyền khẽ cười: “Trồng gì sao?” Cô ấy suy nghĩ một lúc: “Chắc là trồng lúa? Ngoại thành có rất nhiều ruộng lúa, mùa hè thì thả vịt vào ruộng để chúng ăn sâu bọ, mùa thu thì thả nước vào, cạn thì gặt lúa, lúa mì… hình như tôi cũng đã từng nhìn thấy.”

Một lúc sau, cô ấy hỏi Hà Điền: “Sao cô lại hỏi như vậy?”

Hà Điền nói: “Ở đây chúng tôi không thể trồng lúa hoặc lúa mì. Hai loại bột này đều phải mua. Từ ba bốn năm trước, gạo và lúa mì ngày càng trở nên đắt đỏ, năm nay gần như không thể mua nổi nữa, tôi chỉ mua được mười cân gạo, mười cân bột mì, bình thường cũng không nở dùng đến. Những người lái buôn nói rằng điều này là do thành phố trồng lúa và thành phố trồng lúa mì ở phía nam đánh nhau, rất nhiều người chết và nhiều hoa màu bị đốt.”

Dịch Huyền không nói gì.

Khi Hà Điền nghĩ rằng cô ấy đã ngủ, lại nghe thấy tiếng cô ấy thở dài.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 10: Cơm đùi vịt hạt dẻ


Khi Dịch Huyền tỉnh dậy, trong nhà vẫn còn rất tối.

Một vài tia sáng xuyên qua các khe hở trên thanh gỗ của cửa sổ chiếu vào. Khi ánh sáng chiếu được đến trên gác thì rất yếu ớt, chỉ có thể mơ hồ nhìn thấy hình dáng của Hà Điền.

Giống như đêm qua cô đã nói, lúc này căn nhà đã lạnh hơn nhiều, vừa hà hơi là đã biến thành sương.

Hai bình đầy nước sôi bây giờ cũng chỉ còn hơi âm ấm.

Dịch Huyền xoay đầu lại, ngưng mắt nhìn Hà Điền.

Phần tóc lưa thưa trên thái dương của cô bung ra khỏi bím tóc, cuộn tròn theo đường chân tóc đến trán và mặt, giống như một khung ảnh đang bao quanh lấy khuôn mặt vậy.

Mùi trên người của cô ấy có chút giống với mùi của căn nhà này, mùi gỗ thông khô, mùi gỗ cháy, và một số mùi nào đó không phân biệt được, xen lẫn chút giống như mật ong, hương hoa và cả vị đắng.

Dịch Huyền suy nghĩ một lúc, đưa tay lên ngửi, cô ấy nghĩ, có lẽ là mùi của thuốc trị nứt da.

Cô ấy nhẹ nhàng ngồi dậy, làm như lời Hà Điền đã dạy đêm qua, quấn chăn quanh người thành một cái lều nhỏ hình nón, chỉ lộ đầu ra, rồi dùng bắp chân đè mép chăn lại, bắt đầu thay quần áo. Làm như vậy sẽ tốt hơn nhiều so với việc thay đồ ở bên ngoài chăn, vì lúc này, giữa bên trong và bên ngoài chăn bông có sự chênh lệch nhiệt độ hơn mười độ.

Đã mặc quần áo xong, cô ấy gấp chăn bông lại rồi đặt vào một góc, lặng lẽ leo xuống thang, đi ra sau vách ngăn.

Hơn mười phút sau Hà Điền mới tỉnh dậy, lúc này Dịch Huyền đã cho thêm củi vào bếp, nước cũng đang sôi.

Hà Điền nói cho cô ấy biết nơi đặt tất cả các loại thức ăn, và dạy cô ấy cách bỏ miến khoai tây vào canh vịt.

Bữa sáng hôm nay là miến vịt. Nồi canh này đã được đun nhiều lần, thịt vịt được ninh nhừ, nước dùng rất đậm đà, khi canh sôi sẽ tỏa ra mùi thơm muốn chảy cả nước miếng. Cho miến khoai tây vào canh rồi dùng đũa tre đảo đều, sợi miến khô cứng sau khi thấm nước canh sẽ nhanh chóng trở nên mềm và nở ra.

Múc miến ra tô, sau đó rắc lá củ cải muối đã cắt nhỏ lên, ớt bám trên lá củ cải có màu đỏ, lá củ cải thái hạt lựu có màu xanh biếc, còn miến khoai tây thì có màu trắng trong như pha lê.

Sau bữa sáng, Hà Điền đưa Dịch Huyền đến gặp Gạo, nói cho cô ấy biết những nhà kho nhỏ xung quanh nhà để làm gì, và hầm ở đâu, trong đó có thức ăn gì.

Sau khi nhìn thấy số ngũ cốc dự trữ, Dịch Huyền cũng cảm thấy tình hình thật khắc nghiệt.

“Thật may là chúng ta sống bên sông. Trong sông quanh năm đều có cá. Sau này sẽ đi ra sông bắt cá. Bây giờ thì phải quét tuyết trước đã.”

Lại là một đêm bão tuyết. Hà Điền rút thanh gỗ cắm trong khoảng đất trống ra xem, tuyết đã dày gần hai mươi đến ba mươi centimet.

Cô lắp lại thanh gỗ, sau đó đưa Dịch Huyền đi xúc tuyết.

Sau khi dọn sạch các con đường xung quanh căn nhà gỗ, Hà Điền và Dịch Huyền đào một ít tuyết, chất đống lên bức tường bên ngoài của căn nhà gỗ rồi ấn thật chặt, làm như vậy sẽ giữ cho ngôi nhà càng thêm ấm hơn.

Sau đó họ lấy thùng và lưới đánh cá, dắt Gạo ra sông.

Con dốc dẫn ra sông giờ đã có thể rải vỏ gai hạt dẻ lên.

Hà Điền đi phía trước, rãi vỏ gai, Dịch Huyền ở phía sau sẽ dậm mạnh những chiếc vỏ gai để đóng chúng xuống lớp tuyết trên đường. Bằng cách này, khi mặt đường đông cứng lại sẽ xuất hiện một lớp đinh nhỏ, dù tuyết có lại rơi và bị cuốn đi thì các đầu đinh nhỏ này vẫn sẽ lộ ra, giúp người đi trên đó không bị trượt ngã.

Khi đến sông, Hà Điền kéo theo một cây cọc gỗ.

Lúc này, hai bên bờ sông đều phủ đầy tuyết trắng, giữa sông chỉ có một khe nước hẹp là không bị đóng băng, có thể dễ dàng nhìn thấy một làn sương trắng bốc lên dưới ánh nắng mặt trời. Nhìn từ xa, nó giống như một mảnh vải nỉ trắng bị xé toạc ra từ giữa.

Nhưng có lẽ, lớp tuyết ở bên dưới mặt sông này vẫn còn chưa bị đông cứng lại hoàn toàn.

Hà Điền đưa cây cọc cho Dịch Huyền, còn mình thì cầm lấy một chiếc cào bằng gỗ, dọn sạch lớp tuyết dẫn đến lỗ băng, rồi cũng rắc vỏ gai của hạt dẻ lên trên đó.

Sau đó, cô đặt chiếc giỏ trên lưng xuống, cầm cọc gỗ đứng trước lỗ băng, dùng tay nhấc cọc gỗ lên rồi thả tay ra, cọc gỗ nện vào lớp băng mới hình thành trong lỗ băng phát ra tiếng kêu răng rắc. Sau khi nện thêm vài lần nữa, khí trắng tỏa ra, nước từ lỗ băng trào lên òng ọc, rồi kết thành băng.

Hà Điền lấy tay áo lau chóp mũi: “Cái lỗ băng này từ ngày đầu tiên có tuyết tôi đã bắt đầu đục rồi, nên bây giờ làm dễ dàng hơn rất nhiều. Lát nữa chúng ta sẽ đục thêm một lỗ băng khác, vậy là có thể thả lưới rồi.”

Cô đi khoảng bốn năm mét về phía hạ lưu, cào một cái lỗ, rồi lấy cây đục sắt và búa gỗ từ trong giỏ ra.

Cô gọi Dịch Huyền đến cầm cây đục sắt, còn mình thì dùng búa gỗ đóng vào nó.

Đóng một vài lần, đổi chỗ, lại đóng tiếp. Cứ như vậy, trên mặt băng dần dần hình thành một vòng tròn nhỏ có đường kính từ năm mươi đến sáu mươi centimet.

Hà Điền lau mồ hôi trên trán và mũi, chất củi mang theo vào vòng tròn đó thành một đống rồi châm lửa lên.

“Được rồi, đợi củi cháy hết chúng ta lại đục tiếp. Bây giờ thì đi lấy nước về trước đã.”

Múc nước lên, Hà Điền và Dịch Huyền mỗi người xách theo một thùng nước leo lên dốc, đặt lên chiếc xe trượt kéo của Gạo.

Trên mặt nước trong thùng rất nhanh đã hình thành một lớp băng mỏng giống như một cái dĩa, bước chân của Gạo khiến nước trong thùng không ngừng lắc lư, nhưng cũng nhờ lớp băng mỏng này mà nước trong thùng không văng ra ngoài nhiều.

Trước khi vào nhà, lớp băng trong thùng được lấy ra, ném trên tuyết.

Sau khi đổ nước vào vại, cả hai nằm nghỉ một lúc rồi lại đi ra ngoài.

Lại quay trở lại sông, đống củi đã cháy gần hết, khói bốc lên nghi ngút.

Hà Điền nhặt đục sắt và búa gỗ lên, lúc chuẩn bị bắt đầu lại công việc thì Dịch Huyền nói: “Cô đến cầm đục sắt còn tôi thì đóng, được không?”

“Vậy thì cẩn thận một chút, đừng đập vào tay tôi đó.”

Hà Điền cảm thấy Dịch Huyền là vì cảm thấy thú vị, muốn thử mọi thứ, nhưng không ngờ, sau khi cô ấy đóng vài lần thì trông rất có khuôn có dạng, ngay sau đó, cái lỗ hình tròn sâu gần chục centimet bắt đầu có những vết nứt đan chéo nhau — lớp băng sắp vỡ ra.

Lúc này, đục thêm vài lần nữa về phía trung tâm của vòng tròn, lớp băng phát ra âm thanh cót ca cót két trầm đục. Một lỗ hổng có kích thước bằng lòng bàn tay từ vết đục vỡ ra, nước dưới lớp băng phun lên, rồi lại ngay lập tức kết lại thành một lớp băng mỏng trên bề mặt băng.

Hà Điền vui mừng khôn xiết, nhặt cây cọc lên nện mạnh vào lỗ tròn đó.

Cây cọc còn cao và to hơn cả hai nắm tay của cô nữa, Hà Điền nện như vậy bốn năm lần rồi ngừng lại thở hổn hển.

“Để tôi thử xem.” Dịch Huyền lấy cây cọc từ tay Hà Điền, nâng nó lên rồi nện xuống.

Hà Điền đứng sang một bên nhìn đến ngây người, cô không ngờ Dịch Huyền trông có vẻ yếu đuối và nhu nhược như vậy mà không ngờ sức lực lại không nhỏ một chút nào.

Ừm, khó trách lại ăn nhiều như vậy.

Một nồi miến vịt sáng nay đều bị cô ấy ăn sạch sẽ. Mặc dù sức ăn của cô ấy lớn gắp đôi sức ăn của bà cô lúc trước, nhưng Hà Điền cảm thấy có thể Dịch Huyền vẫn chưa ăn no, chỉ là cô ấy ngại nói mà thôi.

Cô ấy không chỉ là một công chúa nhỏ xinh đẹp, mà còn là một người đẹp có sức khỏe.

Khi Hà Điền nhìn Dịch Huyền, đôi mắt của cô sáng bừng lên. Đột nhiên, cô nghĩ, giá như cô ấy có thể sống ở đây luôn thì tốt biết mấy.

Dịch Huyền nhận thấy Hà Điền đang nhìn mình mỉm cười, cô ấy cười hỏi: “Như vậy được chưa?”

Hà Điền ngồi xổm xuống xem xét: “Vẫn chưa. Khi dòng sông bị đóng băng, nó sẽ đóng băng thành nhiều lớp, phải đến lớp có nước chảy thì bên trong mới có cá. Cố lên nào, đập thêm một lớp nữa. À phải rồi, cô có muốn nghỉ ngơi uống chút nước không?”

Cả hai nghỉ ngơi một lúc rồi lại làm việc tiếp.

Lỗ băng cuối cùng cũng bị phá vỡ!

Hà Điền nhấn một cái vòng gỗ có cột dây dày màu đỏ xuống lỗ băng đầu tiên, rồi để Dịch Huyền đứng ở một bên kéo lấy đầu kia, còn mình thì dùng cào gỗ đẩy tuyết giữa hai lỗ băng đi, cách lớp băng dày hơn mười centimet, mơ hồ có thể nhìn thấy sợi dây màu đỏ đang chầm chậm trôi về hướng của lỗ băng còn lại.

Hà Điền hoan hô một tiếng, dùng một cọc tre một đầu nhỏ một đầu to chọc vào lỗ băng mới đục. Cọc tre này là phần mềm dẻo của cây tre ở gần ngọn, có thể uốn cong ở một mức độ nhất định, Hà Điền dùng nó để móc vòng gỗ buộc dây đỏ đó lên.

Vòng gỗ có đường kính khoảng mười centimet, có sợi dây đỏ quấn quanh, lúc này xuyên qua lớp băng dày trong mờ chỉ có thể nhìn thấy một đạo thân ảnh mơ hồ, không dễ gì bắt được. Dòng nước chảy khiến nó hết trồi lên rồi lại lặn xuống, lắc từ bên này rồi lại lắc đến bên kia.

May là với kinh nghiệm và một chút may mắn, chẳng mấy chốc Hà Điền đã móc được chiếc vòng gỗ đó lên.

Vòng gỗ được lấy ra đặt trên mặt băng, rồi dùng nước tưới lên dây và vòng gỗ, nước sẽ lập tức đóng băng chúng lại. Hà Điền liên tục tưới nước, lớp băng càng lúc càng dày cho đến khi độ dày lên đến gần mười centimet thì mới dừng lại. Vòng gỗ đã được băng cố định chắc chắn trên mặt băng, trong suốt mùa đông này sẽ không bị bung ra.

Lúc này, cô cột lưới đánh cá vào sợi dây màu đỏ do Dịch Huyền giữ ở đầu kia và thả xuống dưới nước, khi nước cuốn lưới đánh cá về phía Hà Điền, cô lại thử thủ thuật tương tự, dùng cọc tre kéo đầu kia của lưới đánh cá lên rồi cột nó vào sợi dây màu đỏ trong nước.

Bây giờ, cố định phần lưới bên chỗ Dịch Huyền, vậy là lưới đánh cá đã sẵn sàng. Sau vài ngày, nếu mọi việc suôn sẻ, sẽ lưới được cá.

Dịch Huyền vẫn luôn quan sát, nhìn thấy vẻ mặt vui mừng của Hà Điền thì mới hỏi: “Đã xong rồi?”

“Xong rồi!”

Hai người nhìn nhau cười.

Về đến nhà, Hà Điền phát hiện ra giày của Dịch Huyền bị ướt.

Đôi ủng da đen mà cô ấy mang được làm bằng một loại da nào đó, mềm mại và bóng như tơ lụa. Nhưng những đôi ủng tuyệt đẹp này không thích hợp để đi trong tuyết. Trong trí tưởng tượng của Hà Điền, nơi thích hợp nhất để xỏ loại ủng này là trên một tấm thảm lông cừu có họa tiết hoa lạc tiên được dệt bằng tay giống như mẫu hoa lạc tiên được dệt bằng tay xuất hiện trong những cuốn truyện cổ tích, mặc dù cô không biết hoa lạc tiên trông như thế nào, cũng không biết cảm giác khi chạm vào lông cừu sẽ ra sao.

Nhưng mang ủng ẩm ướt, bàn chân của cô ấy sẽ rất dễ nứt nẻ.

Vì vậy, ngay khi bước vào cửa, cô đã kêu Dịch Huyền cởi ủng ra, tạm thời mang giày rơm vào trước rồi đặt chân bên bếp lò sưởi ấm.

Hôm nay khi ra ngoài, Hà Điền đã tìm cho Dịch Huyền một chiếc nón tai bèo mà trước đây bà cô đã đội, nhưng giày thì dường như không thể nào dùng được.

Cô đặt chân của mình bên cạnh đôi ủng của Dịch Huyền so sánh, rồi mở hộp gỗ long não ra, tìm thấy hai mảnh da lông của chân hươu.

“Tôi sẽ làm cho cô một đôi ủng lông. Nào, nâng chân lên.” Hà Điền ngồi đối diện với Dịch Huyền, ra hiệu cho cô ấy đặt chân lên đầu gối mình.

Dịch Huyền lại ngại ngùng. Cô ấy hơi do dự một chút, nhưng rồi cũng ngoan ngoãn nhẹ nhàng đặt chân lên đầu gối của Hà Điền.

Hà Điền đặt tấm da lông dưới lòng bàn chân của cô ấy rồi so sánh kích thước, sau khi ước lượng xong, cô nói: “Được rồi!”

Cô trải tấm da lông trên bàn, cắt nó ra, xỏ kim, đặt trên một cái ống đồng rồi bắt đầu khâu ủng.

Dịch Huyền tò mò nhìn cô khâu: “Tại sao lại khâu mặt lông ở bên trong?”

“Như vậy sẽ ấm hơn!”

“Vậy sao lại cắt thành hình dạng này?”

“Theo cách này, chỉ cần khâu một luồng mà thôi.”

Da lông trên chân của hươu thích hợp nhất cho việc làm ủng, vì hình dạng và kích thước của nó vừa vặn, mềm và bền.

Khi Hà Điền khâu ủng, cô kêu Dịch Huyền lấy một nắm hạt dẻ, ngâm vào nồi đất, thêm một nắm tro thực vật rồi đun trên lửa.

Cô đã may xong một chiếc ủng, đưa cho Dịch Huyền mang thử.

Lúc này, hạt dẻ trong nồi đã ninh được một lúc.

Hà Điền dùng đũa tre khuấy hạt dẻ, đun sôi thêm một lúc rồi đổ nước đi, lớp vỏ nâu và lông tơ trên hạt dẻ có thể dễ dàng bóc ra.

Cô chặt hai cái chân vịt của con vịt ngày hôm qua thành từng khúc nhỏ, rửa sạch hai cái tô bằng sắt, đầu tiên vo gạo trong niêu đất, sau đó cho hạt dẻ đã bóc vỏ vào, cuối cùng xếp chân vịt thành từng khúc, thêm nước một lần nữa rồi nấu trên lửa.

Khi chiếc ủng còn lại cũng được may xong, mùi thơm của cơm đã tràn ngập khắp nhà.

Đùi vịt sau khi ướp được hấp chín, mặt cắt có màu hồng sẫm đẹp mắt, lớp da bóng lưỡng có màu vàng cam mờ, phần mỡ trong đùi vịt đã thấm vào cơm và hạt dẻ, vị ngọt của hạt dẻ cũng thấm vào chân vịt, những hạt gạo trăng trắng giờ đã thành cơm và ngả sang màu vàng, cũng bóng lưỡng.

Dịch Huyền mang chiếc ủng còn lại vào, cùng Hà Điền dọn cơm lên bàn.

Ăn kèm với nó là món củ cải khô giòn cay.

Dịch Huyền cười cười: “Không phải nói không nỡ ăn cơm sao?”

“Hôm nay là ngày đặc biệt, chúng ta nhất định phải ăn một chút gì đó để ăn mừng!” Hà Điền nâng ly lên, mỉm cười.

Hai chiếc ly sắt đựng trà hoa cúc dại cùng chạm vào nhau.

Dịch Huyền đưa một muỗng cơm vào trong miệng, nhai một cách từ từ, trong miệng tràn ngập cảm giác ngọt ngào. Lúc này chỗ ngón chân bị nứt nẻ của cô ấy có hơi ngứa, lòng bàn chân cũng vậy, cũng không biết là do lông hươu bị cộm với vớ hay là do quá ấm áp nữa.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 11: Gà xông khói cuộn và cá sống cắt lát*


<i>*Sashimi.</i>

Sau bữa tối, Dịch Huyền đặt nồi và chén đũa vào bồn rửa, rắc tro thực vật lên, Hà Điền rửa chén, sau đó lấy rổ cói và cỏ nhung ra, chuẩn bị làm một đôi giày rơm khác.

Ủng lông hươu cũng có thể bị thấm nước. Cho dù có lót thêm một lớp đế bằng gỗ đi chăng nữa. Đó là lý do tại sao Hà Điền mang một lớp giày rơm vào ủng khi đi ra ngoài sau khi có tuyết.

“Sắp tới chúng ta phải vào rừng bắt chồn, không thể không có giày rơm.”

Tất nhiên, Dịch Huyền không thể làm giày rơm, Hà Điền giao cho cô ấy một công việc đơn giản hơn, dạy cô ấy sử dụng vồ để đập cho cỏ mềm ra.

Lấy một nắm cỏ nhung khô, gom thành một nhúm ở trong tay, trước tiên cho vào lòng bàn tay vừa vò vừa siết, sau đó đặt lên lớp lông thỏ được đóng đinh trên khối gỗ rồi dùng vồ đập dập.

Sau khi đập liên tục trong mười phút, cỏ càng lúc càng tơi hơn theo từng nhịp đập, nhúm cỏ có độ dày bằng ngón tay ban đầu bây giờ đã thành một bó. Mỗi cọng cỏ nứt ra thành hơn chục sợi, từ màu xanh xám ban đầu biến thành màu trắng xám, mềm như tơ, nhưng vẫn dai, phải dùng nhiều lực mới kéo đứt được.

Sợi chỉ mà Hà Điền dùng để khâu ủng da cũng được làm từ lông cừu đã được đánh tơi.

Dịch Huyền lại làm mềm thêm vài bó cỏ nữa, Hà Điền cũng vừa bện xong một chiếc giày rơm.

Cô kêu Dịch Huyền thử kích cỡ, sửa đổi một chút rồi bắt đầu làm một chiếc khác.

Dịch Huyền nhìn một lúc, hỏi cô: “Tôi có thể làm thử được không?”

Hà Điền vừa bện vừa dạy cho cô ấy.

Hà Điền vốn cho rằng người có ngón tay mảnh mai và khéo léo như Dịch Huyền sẽ rất nhanh học được cách bện giày rơm, nhưng không ngờ, cô ấy loay hoay cả một lúc lâu mà chỉ mới bện được nửa đế giày.

Khi Dịch Huyền bực bội, khóe miệng sẽ trề xuống, biến thành hình tam giác, phối hợp với khóe mắt hơi rũ xuống, rất đáng yêu, có thể ngay chính cô ấy cũng không biết rằng, ánh mắt của cô ấy rất nghiêm túc, lại có chút tức giận. Đây là bộ dạng của một chú chó con đang cộc.

Dịch Huyền lại vật lộn với nó thêm vài phút nữa. Hà Điền cảm thấy có lẽ trong một giây tới cô ấy sẽ vứt sợi cỏ trong tay xuống đất rồi nhảy lên giậm chân vài cái cũng không chừng, nên cô nhanh chóng bỏ sợi cỏ trên tay xuống, xoa xoa cổ: “Chúng ta nghỉ ngơi một chút đi, uống trà nhé?”

Sau khi uống một tách trà mật ong táo gai chua ngọt, Hà Điền lại kêu Dịch Huyền đập một ít cỏ nữa: “Cô xem, giày rơm so với ủng của cô lớn hơn nhiều đúng không? Còn phải nhét cỏ nhung vào kẽ hở này nữa.”

Dịch Huyền đặt đế rơm xuống, lại đi đập cỏ.

Sau khi bện xong hai chiếc giày rơm, Hà Điền lấy ra một tấm ván bạch dương mỏng, ép đôi giày rơm lên đó, dùng một cục than nhỏ vẽ đường viền dọc theo mép giày, rồi dùng kéo lớn cắt tấm ván để giũa bớt các đường gờ mép, bỏ vào trong giày.

Tiếp theo, đến lúc xỏ guốc răng cưa vào đế giày.

Hà Điền tìm một tấm ván gỗ thông dày bằng ngón tay, giẫm lên ghế, cưa một khúc gỗ rộng năm phân, cô cưa bề ngang bằng với đế giày, khoan hai lỗ bên trái và bên phải miếng gỗ, giũa phẳng một mặt, mặt còn lại thì tạo rãnh. Cần tổng cộng bốn khối gỗ như vậy, vì mỗi chiếc giày rơm sẽ khâu hai khối gỗ vào. Sau đó dùng một sợi dây dai luồn qua lỗ và cố định vào đế rơm, vậy là đã có thể dùng được rồi.

Có người còn đóng cả khối gỗ vào đế khi làm giày rơm, rồi đóng đinh răng guốc lên đó, giày làm như vậy có thể mang lâu vì đế được bảo vệ, không dễ mòn, nhưng đi lại trên đường núi sẽ rất mệt mỏi, vì vậy nhà Hà Điền đã chọn sử dụng ván bạch dương mỏng làm đế, và cũng thường xuyên thay đổi, thay thế giày rơm.

Lúc này sẽ vo cỏ đã đập dập lại thành những cuộn tròn rồi nhét đầy vào trong giày rơm, có thể giữ ấm và chống ẩm.

Hà Điền bắt Dịch Huyền mang đôi giày rơm mới đi lại trong nhà vài lần, sau đó lại nhét thêm một ít cỏ vào, rồi lại bước đi, làm như vậy là vì để chân làm mềm giày, cỏ bên trong cũng bền chắc hơn.

Về phần ván đi tuyết thì có thể để cô ấy dùng cái mà trước đây bà cô thường dùng.

Vậy là, quần áo và đạo cụ ra ngoài của Dịch Huyền hầu như đã đầy đủ.

Đến tối lại có tuyết.

Dịch Huyền nói cô ấy chưa bao giờ nhìn thấy một bông tuyết lớn như vậy: “Nó gần như còn lớn hơn một cái chén ăn cơm nữa!”

Những bông tuyết trên không trung trong lúc rơi xuống kết lại vào nhau, cho nên mới lớn thành như vậy. Khi rơi vào đầu và cơ thể còn phát ra cả tiếng vang, vì nó quá nặng.

Tối hôm đó, Dịch Huyền chỉ làm một việc duy nhất là bện đế rơm, bện sai thì lại tháo ra, xong rồi lại bện lại từ đầu.

Sáng hôm sau, tuyết ngừng rơi, nhưng mặt trời cứ một mực trốn ở sau mây, gió thổi mạnh, làm cho tuyết lại bay phấp phới, bầu trời xám xịt.

Dịch Huyền mang đôi giày rơm mới đi ra quét tuyết. Lớp tuyết trên mái nhà đã dày đến ba mươi bốn mươi centimet, giống như được phủ lên một lớp chăn dày.

Hà Điền dùng gậy gỗ chọc tuyết trên mái nhà xuống, tuyết vốn đã cứng như gạch, chọc một cái, cả mảng rơi “phịch” xuống đất, bọt tuyết bay tung tóe, vỡ thành nhiều mảnh nhỏ.

Hà Điền và Dịch Huyền chuyển những khối tuyết đó đến bên ngoài bức tường của căn nhà, đặt nó bên cạnh những khối tuyết trước đó, giống như là đang mặc váy tuyết cho nhà gỗ vậy. Chiếc váy tuyết này có thể giữ ấm cho căn nhà.

Quét tuyết xong, họ vào dọn chuồng và cho Gạo ăn.

Bận rộn một lúc lâu, hai người đều đói bụng, bữa sáng cũng đã chuẩn bị xong.

Bữa sáng hôm nay là một chén cháo kê, một dĩa thịt xông khói nhỏ, củ cải khô và hai củ khoai tây nướng.

Thịt xông khói mà hôm nay họ ăn là một miếng đùi hoẵng, hấp chín và thái mỏng, thịt đỏ au, mỡ ở mép thịt hơi trong suốt, được đặt trong một chiếc dĩa sứ cùng với một ít đầu củ cải trắng; cháo kê không được nóng cho lắm, nước cháo đặc, màu vàng, khi khuấy có khí trắng; khoai nhỏ nướng chín vàng, khi bẻ ra thấy thịt màu vàng nhạt.

Dịch Huyền lột vỏ khoai tây ra, sau khi ăn vài miếng, cô ấy phát hiện Hà Điền ăn luôn cả vỏ, vì vậy cô ấy nhặt lại vỏ, kẹp một miếng thịt và một miếng củ cải khô vào, cho vào miệng.

Sau khi ăn sáng xong, cả người cũng ấm lên, trong cơ thể cứ như là có một nguồn năng lượng vô tận vậy.

Thừa dịp trời không có tuyết, cả hai dắt Gạo ra sông.

Lưới thả dưới sông phải mất hai ngày nữa mới kéo lên được, Hà Điền muốn thử bắt vài con cá trước.

Cô vớt một nửa số cá nhỏ bắt được từ vại ra, cho vào một chiếc hộp gỗ nhỏ. Trên hộp gỗ có nhiều lỗ nhỏ để nước chảy ra, vừa đủ to để đựng vừa một thùng nước, trên miệng hộp có buộc một sợi dây dày. Hà Điền đổ đầy nước vào thùng rồi đặt nó sau xe trượt tuyết của Gạo.

Dụng cụ câu cá rất đơn giản, đó là một chiếc cần câu bằng tre, cột dây câu và móc câu.

Trên mặt sông, trước tiên quét sạch tuyết phủ trên lỗ băng rồi đập băng trên bề mặt của lỗ băng, dùng gậy gỗ khuấy đều, sau đó nhanh chóng đặt hộp gỗ trong thùng nước vào trong lỗ băng, rồi cố định dây buộc của hộp vào bề mặt băng.

Mỗi lần câu cá thì sẽ kéo hộp gỗ lên khỏi lỗ băng, lấy một con cá nhỏ ra làm mồi. Cả mồi và hộp phải được thả lại vào nước thật nhanh, nếu không, cái lạnh khắc nghiệt sẽ khiến cá nhỏ bị đóng băng ngay lập tức.

Cá tuyết sông, loài cá đặc biệt này không ăn thức ăn đã chết, chúng chỉ ăn những con cá nhỏ biết bơi.

Đục một lỗ nhỏ ở nơi thích hợp gần lỗ băng, không cần quá sâu, chỉ sáu bảy centimet là được, cắm một cành cây vào, tưới nước cố định nó lại, sau đó có thể đặt cần câu lên đó.

Khi câu cá tuyết sông ở sông băng, không cần phao. Chỉ cần cần câu cong là có thể kéo cần câu lên thật nhanh. Tuy nhiên, năm ngoái Hà Điền phải làm rất nhiều việc cùng một lúc, cô không thể liên tục nhìn vào cần câu được, vì vậy cô đã buộc một chiếc chuông lên trên cần câu.

Chiếc chuông này ban đầu vốn là đồ trang trí được treo trên cổ của Gạo trong dịp Tết.

Khi cá cắn câu và kéo cong cần câu, chuông sẽ kêu.

Sau khi đặt cần câu, Hà Điền và Dịch Huyền bắt đầu dọn tuyết gần lỗ băng.

Cảnh vật xung quanh rất rõ ràng, không có gió, tầm nhìn rất xa, có thể thấy vết nứt cuối cùng trên sông đã biến mất, không còn hơi nước thoát ra từ vết nứt chưa đóng băng nữa. Trước mặt họ là một cánh đồng tuyết trắng bằng phẳng.

Hà Điền và Dịch Huyền mỗi người lấy một chiếc cào bằng gỗ, đi vòng quanh hai lỗ băng và xúc tuyết xung quanh đó.

Khi họ hợp lại với nhau, tuyết cũng đã được xúc xong.

Lúc này, mặt trời cũng ló dạng.

Mặt trời cũng không chói mắt cho lắm, Hà Điền híp mắt lại nhìn khu rừng bên kia sông.

Bên dưới tuyết là một lớp màu xanh đậm không đồng đều xen lẫn màu trắng.

“Vài ngày nữa chúng ta có thể sang bờ sông bên kia.” Hà Điền thở ra, dùng lòng bàn tay đeo găng tay da hươu vỗ nhẹ lớp sương trên vành nón.

Mấy ngày nay nhiệt độ lại giảm xuống. Ngay cả khi ban ngày, thời tiết rất đẹp, vậy mà nhiệt độ cũng chỉ khoảng âm 20 độ. Mỗi khi hô hấp, nhiệt độ sẽ khiến lông mày kết một lớp sương. Cho dù có đội nón, che tai che mặt và trán, chỉ để lộ một đôi mắt, trên mép nón cũng sẽ kết một lớp sương giá, vùng vải che mặt gần lỗ mũi cũng ngưng tụ thành hai mảng tuyết nhỏ.

“Ừ.” Dịch Huyền nhìn khu rừng bên kia sông, nhẹ nhàng đáp lại. Bây giờ thì cô ấy đã biết rằng, mùa đông, đối với những người thợ săn trong rừng, không phải là mùa để trốn và nghỉ ngơi trong ngôi nhà gỗ ấm áp, mà là mùa bận rộn để săn lông thú. Đây là mùa mà họ có thể tạo ra nhiều thu nhập nhất.

Hôm qua, trước khi đi ngủ hai người đã có một cuộc trò chuyện. Hà Điền đã kể cho cô ấy nghe về việc săn chồn và hứa rằng số chồn bắt được sẽ được chia cho cô ấy một phần. Khi những người buôn lông thú mùa xuân đến, Dịch Huyền có thể mang theo số tiền cô ấy kiếm được, tiếp tục lên đường.

Đột nhiên, chuông trên cần câu vang lên “leng keng” hai cái.

Hà Điền chạy nhanh đến, cầm cần câu kéo mạnh, một sợi dây ngắn hơn cánh tay cô một chút được cột trên cần câu bay ra từ lỗ băng, nước b*n r* trước khi rơi xuống ngưng tụ thành một chuỗi hạt băng trên không trung.

Con cá lớn nhảy vài lần trên băng rồi bị đóng băng thành đá.

Lúc kéo cần câu lên Hà Điền liên tục la hét, giờ thì tiếng hét đã biến thành tiếng cười, cô ngồi xổm xuống, tháo găng tay da hươu ra, tháo lưỡi câu.

Bên dưới đôi găng tay da hươu, cô còn đeo một đôi găng tay năm ngón làm bằng da sóc, các đầu ngón trỏ và ngón cái của găng tay đã được cắt bỏ để thuận tiện cho việc cử động ngón tay.

Con cá này đủ cho họ ăn trong một ngày.

Cá nhỏ được dùng làm mồi cũng đông cứng thành băng. Trước đó, nó đã bị ăn mất một nửa, giờ chỉ còn lại một cái đầu bị cắn đứt nằm trên băng tuyết.

Kể từ hôm nay, số mồi còn lại trong hộp gỗ sẽ được đặt lại trong lỗ băng.

Nhiệt độ của nước dưới lớp băng cỡ khoảng 4-5 độ C, tất nhiên là thấp hơn nhiều so với vại nước ở nhà. Nhưng, đây là số phận của chúng.

Chờ Hà Điền và Dịch Huyền xách hai thùng nước lên, con cá đã cứng như đá, nó vẫn duy trì tư thế vặn vẹo cuối cùng, giống như một nửa vòng tròn.

“Đây là cá tuyết sông, ăn sống cũng rất ngon.” Hà Điền rất hài lòng với thu hoạch hôm nay: “Lát nữa chúng ta sẽ ăn.”

Khi cả hai trở về nhà, Dịch Huyền xách thùng nước vào, còn Hà Điền thì dắt Gạo về chuồng của nó.

Trước khi ra ngoài, Hà Điền đã đặt một ít khoai tây vào khay nướng trên bếp, hơn nữa còn có một miếng thịt gà xông khói đang được ngâm trong nồi đất. Thịt xông khói, cá xông khói, gà xông khói, vịt và ngỗng, những loại thịt xông khói và sấy khô này có thể bảo quản được lâu, nhưng thịt cũng mất đi độ ẩm trong quá trình xông khói và trở nên rất cứng. Khi muốn ăn thì cần phải luộc hoặc hấp, và phải ngâm vào nước ấm trước khi nấu.

Miếng gà xông khói này đã được cô ngâm trong nồi đất vào tối hôm qua, thế nhưng cho đến tận bây giờ nó vẫn còn rất cứng. Có lẽ con gà rừng mà cô đã bắt này có hơi già.

Ngoài cách hấp và làm nóng, thịt xông khói còn có thể được bào mỏng, đặt trực tiếp lên phần khoai đã nướng chín rồi ăn.

Hôm nay, Hà Điền dự định ăn một cái gì đó đặc biệt.

Cô kêu Dịch Huyền đi vào hầm rau củ lấy một củ cải, sau khi rửa sạch, cắt khúc khoảng 20 cm rồi bào mỏng, rồi miếng thịt gà xông khói dai và cứng đó ra, lột phần da gà đi, bào phần thịt ức này thành miếng mỏng. Đặt một lớp gà vào giữa hai lớp củ cải, cuộn lại thành cuộn, xếp chúng cạnh nhau vào đáy nồi đất, thêm một chút nước, bắc lên bếp đun trên lửa nhỏ.

Cá sau khi bắt được đem rã đông, cạo sạch vảy và lăn trong tuyết, loại bỏ chất dính và nội tạng bên trong.

Sau khi dùng dao mổ cá ra, thịt cá có màu trắng hồng, cắt lát mỏng, không cần phải ngâm muối, bỏ trực tiếp vào miệng, có vị ngọt và mềm.

Khi Hà Điền xẻ thịt cá, Dịch Huyền chủ động muốn làm.

Sau khi nhìn thấy cô ấy bện giày rơm, Hà Điền có hơi do dự khi giao loại việc cần phải tỉ mỉ này cho Dịch Huyền, nhưng Dịch Huyền dường như đã chứng minh được bản thân, cầm lấy dao, rất nhanh đã cắt được một dĩa cá nhỏ.

Mỗi miếng cá màu trắng hồng chỉ dày khoảng hai ba li, và bởi vì miếng cá rất mỏng, gần như trong suốt, còn được đặt ở trong dĩa gốm đen xám, nên khi chúng được xếp thành vòng cạnh nhau, nhìn giống như một bông hoa màu hồng.

Hà Điền liên tục “wow”, bày tỏ sự kinh ngạc.

“Sao cô lại có thể cắt mỏng được như vậy?”

“Mỗi miếng còn có độ dày như nhau nữa!”

“Cách bày biện cũng rất công phu ha? Hướng vân thịt cá cũng giống nhau nữa!”

Thịt gà và củ cải cuộn đã nấu xong, Hà Điền vẫn còn đang khen ngợi sự khéo léo của Dịch Huyền.

“Đừng nói nữa, mau ăn đi.” Dịch Huyền có chút xấu hổ.

Hà Điền nghĩ thầm, cô làm như vậy không phải vì muốn tôi khen ngợi cô sao? Sao mới khen vài câu mà đã chịu không được rồi? Cô cười hì hì, không nói gì nữa.

Bữa ăn này ăn rất thỏa mãn.

Không cần phải nói đến cá sống cắt lát, cá tươi mềm và ngọt, nhìn đã thấy ngon, gà xông khói thì được bào thành từng lát mỏng, cuộn với củ cải nấu trên lửa nhỏ, nó hấp thụ nước trong củ cải và phục hồi độ đàn hồi, ăn hơi dai, không quá cứng, còn mang một chút vị cay nhẹ của củ cải.

Hà Điền dự định lần sau sẽ cho măng khô với thịt xông khói thái lát, nấm hương và khoai tây nhỏ vào nấu thử.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 12: Món ăn trong mơ


Thời tiết ở trong rừng vào mùa đông rất hay thay đổi thất thường.

Ban ngày vẫn ổn, nhưng về đêm thì tuyết sẽ càng lớn.

Trận tuyết này rơi suốt một ngày một đêm, cuối cùng cũng ngừng.

Khi có tuyết lớn, kể cả vào ban ngày, tầm nhìn chỉ còn hai hoặc ba mét, trời đất lại xám xịt, gió cuốn tuyết bay vào mắt, muốn mở to mắt ra cũng khó khăn.

Thời tiết kiểu này chỉ có thể ở nhà.

Tuy nhiên, Hà Điền cũng không hề nôn nóng, ngược lại cô còn có chút vui mừng.

Là bởi vì, không chỉ có mỗi mình cô bị mắc kẹt trong nhà bởi đợt tuyết này, mà còn có nhiều động vật khác nữa.

Sau khi tuyết ngừng là cô đã có thể vào rừng đặt bẫy để tìm con mồi.

Ngoài ra, mặt sông sẽ hoàn toàn bị đóng băng, khu rừng ở phía đối diện sẽ trở thành bãi săn của cô.

Nghĩ đến những con chồn sắp bắt được, nằm mơ cô cũng muốn cười tỉnh.

Trước đó, cô phải chuẩn bị lần cuối cùng cho cuộc đi săn này.

Đối với chiếc áo choàng chồn tía của Dịch Huyền, rõ ràng là cô ấy không định mặc nó nữa. Loại quần áo này cũng không thích hợp để mặc trong rừng.

Hà Điền sửa lại một số quần áo cũ của bà cô cho cô ấy mặc.

Độ rộng của quần áo thì không có vấn đề gì, nhưng cổ tay áo và gấu áo lại ngắn cả một đoạn.

Hà Điền cũng có một vài mẩu lông thỏ, cô cắt và ghép chúng vào bổ sung cho chiếc áo khoác lông hươu của bà mình. Dây buộc chân và lồng tay,… thì vẫn còn có thể tiếp tục sử dụng được.

Dịch Huyền không biết gì về đồ da cả, cô ấy nghĩ rằng con mồi mà cô bắt được sau khi lột da và làm sạch là đã có thể làm quần áo ngay.

Không phải như vậy.

Da chỉ có thể được làm mềm bằng cách tiêu chế (Nitrat hóa/thuộc da.), trước khi tiêu chế còn phải được ngâm, cạo bỏ mỡ và mô còn lại trên da. Mùa đông không thể nào làm da được.

Da chồn được các thương lái mua về đều chưa qua xử lý, các thợ săn chỉ cần làm khô chúng.

Dịch Huyền thở dài: “Cho nên, cho dù có bắt được chồn hay thỏ, cũng phải đợi đến mùa xuân mới có thể may quần áo?”

“Vậy là đã sớm rồi đó. Thường thì phải đợi đến mùa hè, lúc đó ấm hơn, có thể trực tiếp giặt đồ da bên bờ sông. Đồ da sau khi giặt xong sẽ được phơi khô, kéo căng rồi vắt ở trên nhánh cây, như vậy thì da mới có được độ co giãn… “

Hà Điền vừa nói vừa nhét lông vào chăn: “Nếu đến lúc đó cô vẫn còn ở đây, chúng ta sẽ đi bẫy cáo, chồn chó, hoặc bất cứ con gì đó, tôi sẽ làm cho cô một cái…” Cô nhìn Dịch Huyền: “Áo da nhỏ, thứ mà cô có thể mặc trong nhà, hoặc là áo khoác da.”

Lúc trước, khi đến nhà nghỉ săn bắn, cô chỉ đặt bộ chăn nệm của một người, lần này cô sẽ mang thêm một bộ nữa cho Dịch Huyền. Bộ chăn nệm của bà cô trước kia đều đã bị gấu xé nát, không thể dùng được nữa.

Vừa lúc tranh thủ có gió tuyết, không thể đi ra ngoài, bọn họ cùng nhau nhét thêm lông vào chăn.

Chăn của nhà Hà Điền không giống như chăn của nhà người khác là làm bằng bông rồi cho vào túi vải hoặc mua trực tiếp từ một người lái buôn nào đó.

Chăn nhà cô làm bằng lông vũ.

Đầu tiên dùng hai mảnh vải may thành một chiếc túi vải có kích thước bằng một cái chăn, túi vải này tạm thời sẽ chừa lại một khe hở, sau đó khâu vài đường dọc trên miệng túi vải để chia nó thành nhiều túi dài rồi nhồi lông vũ, bông và hỗn hợp cỏ đã được đánh tơi vào.

Lông được thu gom khi săn bắn chim chóc, sử dụng phần lông ở bụng, lưng và nách, chất lượng tốt nhất là lông chim nhạn, chúng không thấm nước, nhẹ và ấm, hơn nữa còn có độ ấm tốt nhất trong tất cả các loại lông chim đánh bắt được trong rừng. Nhưng một con chim nhạn chỉ có thể thu thập được một chút lông mà thôi, vừa dùng làm chăn vừa dùng làm quần áo, vì vậy đôi khi cũng không thể quá cầu kỳ.

Bông vải thì nhà Hà Điền tự trồng.

Nhà Hà Điền có sáu cây bông, mỗi mùa thu có thể thu hoạch được hai giỏ bông nhỏ. Vỏ quả bông già rồi sẽ tự động tách ra, phần trắng mịn như nhung lộ ra ngoài là bông. Tuy nhiên, muốn sử dụng được bông thì phải trải qua nhiều khâu xử lý. Trước tiên phải nhặt những hạt ẩn trong bông, sau đó xé bông ra, phơi khô rồi đập dập.

Bà của Hà Điền cũng có một con quay và một khung cửi nhỏ, nhưng bà hiếm khi quay và tự dệt, chỉ có lúc khi Hà Điền còn nhỏ, bà từng lấy ra cho cô chơi một vài lần. Guồng quay và khung cửi từ lâu đã bị vứt trên gác mái trong kho, có quỷ mới biết bây giờ có còn dùng được nữa hay không.

Tất cả việc kéo sợi và dệt thủ công đều rất tốn thời gian, đây là một công việc đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao nên những người thợ săn trong rừng hiếm khi làm việc này, mà thay vào đó họ sử dụng đồ da để đổi lấy vải và chăn bông. Sau khi những người thợ săn mua chăn bông về, họ phơi khô dưới nắng và đánh tơi. Nếu như không mấy để ý, một chiếc chăn bông có thể sử dụng được trong nhiều năm, còn muốn cầu kỳ hơn, thì đợi thêm vài năm nữa rồi mang theo chăn bông của mình đến hội chợ mùa xuân. Có một cặp vợ chồng chuyên đổi bông trong chợ, mỗi năm họ đều đến, dùng bông và tay nghề để đổi lấy đồ da.

Khi còn nhỏ Hà Điền cũng đã từng nhìn thấy cách họ đổi bông. Hai vợ chồng người nọ kê một chiếc giường gỗ có đáy làm bằng lưới ở ngoài trời, người chồng cầm một một dụng cụ dài có phần đầu tròn dài liên tục đập vào những ô chăn bông trải trên giường gỗ, tiếp đó người vợ lấy bông mới nhét vào các góc thưa của chăn bông cũ, người chồng lại dùng dụng cụ làm đều bông rồi khâu lại, sau khi đổi bông, chăn bông lấy lại độ cứng, nhưng bông mới trắng hơn bông cũ rất nhiều, chăn bông tân trang lại có màu trắng, còn chăn bông cũ thì có màu đen hơn.

Lúc đổi bông, bông cũ và mới bay khắp nơi, làm cho tóc và lông mày của hai vợ chồng người nọ bạc trắng. Hà Điền luôn nghĩ họ là những ông bà già, nhưng sau đó mới phát hiện ra rằng họ cũng không già lắm.

Hà Điền tiếp tục trồng bông, hoàn toàn là vì để làm băng vệ sinh.

Nếu cỏ nhung có thể hút nước như bông, thì cô cũng không cần trồng bông để làm gì.

Vì vậy, bông thu hoạch năm nay chỉ được phơi khô, thậm chí còn không tách hạt bông.

Hà Điền và Dịch Huyền ngồi tách bông trước bếp lò, cô nói: “Nếu có đủ lượng lông thì chúng ta sẽ làm chăn bằng lông, không cần phải dùng cỏ và bông nữa.”

Dịch Huyền hỏi: “Tại sao cô không nuôi một số vịt và ngỗng? Chúng có thể đẻ trứng, cũng có thể giết thịt, rồi lấy lông nữa.”

Hà Điền cười: “Trước hết, cô phải bắt được những con vịt và ngỗng còn sống, khỏe mạnh và nguyên vẹn.” Cô chỉ vào khẩu súng ngắn treo ở cửa: “Tôi thường dùng cái này để bắn. Còn nữa, cô không biết ngỗng và vịt trời là chim di cư sao?”

Dịch Huyền trầm ngâm, một lúc sau cô ấy nói: “Chúng ta có thể tìm cách bắt chúng bằng lưới, cũng có thể xây dựng một nhà kính rồi nuôi chúng trong đó. Vậy thì đến mùa đông sẽ không bị chết cóng.”

“Mùa xuân đi. Khi mùa xuân đến, khoảng tháng năm, sẽ có rất nhiều chim nhạn, ngỗng và vịt trời bay đến. Nếu lúc đó cô vẫn còn ở đây, chúng ta sẽ làm thử.”

Hà Điền nhét bông và cỏ mềm vào trong chăn, đứng dậy, cô và Dịch Huyền mỗi người cầm chặt một đầu rồi lắc, đợi cho ruột bông rơi xuống đáy chăn, rồi khâu một mặt ngang qua chăn. Lúc này có một hàng ngang kích cỡ khoảng hai lòng bàn tay xuất hiện trên mặt chăn. Sau đó lại tiếp tục lấp đầy các ô ngang bằng bông bằng cách tương tự, rồi lại khâu dọc theo chăn… Cuối cùng, tấm chăn được chia thành 30 hoặc 40 ô vuông nhỏ.

Chăn bông đã được làm cách vài năm phải được tháo ra để nhồi thêm bông một lần. Vì những sợi bông nhỏ li ti sẽ trào ra khỏi đường khâu, sợi bông sẽ vón cục, lâu dần chăn bông sẽ không còn ấm như lúc mới khâu xong nữa.

Sau khi làm chăn bông được một ngày, tuyết ngừng rơi.

Ngày này cũng là ngày Hà Điền kéo lưới.

Cô và Dịch Huyền đến sông, đập vỡ lớp băng hình thành cách một đêm trên lỗ băng, đục vòng dây cố định lưới đánh cá ra, rồi buộc một sợi dây vào các vòng gỗ ở hai đầu, mỗi người đứng một bên lỗ băng, đầu tiên Dịch Huyền kéo lưới lên trước, sau đó Hà Điền siết chặt dây, không ngừng kéo lưới về phía mình.

Hai người cùng dùng sức, kéo lưới ra ngoài.

Trong lưới có năm sáu con cá.

Những con cá bị kéo lên khỏi mặt nước nhảy loạn trong lưới vài cái rồi bị đông cứng lại như tảng đá.

Họ gỡ những con cá này ra khỏi lưới, ném xuống đất rồi nhanh chóng tiếp tục thả lưới. Buộc một sợi dây vào lưới đánh cá rồi luồn qua giữa hai lỗ băng rồi lại thả lưới vào trong nước.

Sau khi thả lưới xong, họ lại đổ nước lên vòng gỗ, cố định nó trên mặt băng.

Dù rất mệt nhưng họ rất vui khi nhìn thấy số cá bắt được.

Tổng cộng có sáu con cá. Năm con cá tuyết sông và một con cá hồi chó phương bắc. Con nào con nấy to tròn, dài bằng cả sải tay.

Những con cá này sẽ được cất giữ ở nơi ngoài tầm với của các động vật nhỏ khác và có thể được ăn dần cho đến mùa xuân năm sau.

Hà Điền dự định ngày mai sẽ đem chúng đến trữ ở nhà nghỉ săn bắn trong rừng.

Bây giờ bọn họ đã có thịt cá, còn phải chuẩn bị một số lương thực chính.

Về đến nhà, Hà Điền suy nghĩ một chút, cô lấy ra một ít đậu tương, nghiền thành bột, chuẩn bị rán làm thức ăn khô. Khoai tây khô và củ cải khô cũng phải mang theo một ít.

Hà Điền dùng một cái cối xay đá nhỏ để xay đậu, cô lấy một nắm đậu nhỏ cho vào mắt cối xay, cầm thanh đẩy của cối xay liên tục quay, nghiền đậu thành bột.

Dịch Huyền theo dõi một lúc thì xung phong muốn làm thử. Công việc này phải dùng rất nhiều sức nhưng cô ấy lại làm rất nhanh và giỏi.

Loay hoay cả một buổi bọn họ mới xay được một tô bột đậu.

Dịch Huyền đột nhiên hỏi: “Tại sao cô không ăn giá?”

Hà Điền trố mắt: “Giá? Đậu đã nảy mầm còn có thể ăn sao?”

Đêm đó, cô và Dịch Huyền ngâm một nắm đậu nành trong một chiếc tô.

Cái tô được đặt hơi xa bếp lửa một chút, cạnh bức tường.

Lúc ngủ, Hà Điền lật qua lật lại, Dịch Huyền hỏi cô: “Cô sao vậy?”

Cô ngây ngô cười hai cái: “Tại tôi vui quá. Tôi vừa mới nhớ lại khi còn bé, bà tôi từng trồng hoa cải thảo và hoa củ cải cho tôi chơi. Không phải cái này cũng có thể ăn được sao?”

Vào mùa đông, được ăn rau tươi thì tốt quá còn gì!

Dịch Huyền chưa bao giờ nghe nói về hoa cải thảo và hoa củ cải. Hà Điền giải thích với cô ấy rằng tất cả các lá của cải trắng đều được cắt ra ăn hết, phần còn lại – rễ cải, được đặt trong một chiếc chén gốm hoặc đồ gốm. Đổ nước vào chén để ngâm nhưng không ngập toàn bộ rễ, sau một thời gian rễ sẽ nảy mầm trở lại và nhanh chóng xuất hiện hoa màu vàng, loài hoa này có màu vàng dịu kèm theo lá nhỏ màu xanh rất đẹp. Hoa củ cải cũng vậy, hoa khi nở có màu trắng, đôi khi những cánh hoa nhỏ sẽ có màu hơi tím.

Mùa đông không có hoa, hoa cải thảo và hoa củ cải có thể tô điểm thêm chút sức sống cho căn nhà.

“Bà tôi nói khi nhìn thấy màu xanh thì mọi người đều sẽ cảm thấy khoan khoái dễ chịu hơn, nên nhà chúng tôi quanh năm đều cắm hoa. Mùa xuân và mùa hè có nhiều hoa dại, mùa thu thì có một chút, còn có lá đỏ, mùa đông thì chỉ cắm được một số loại hoa cỏ, hoặc trái cây khô. À, có năm chúng tôi còn trang trí bằng quả hồng và hoa, cũng rất đẹp.”

Dịch Huyền lại đề cập đến nhà kính: “Nếu chúng ta có một nhà kính, dưới nền có hệ thống sưởi được kết nối với bếp lò, bên trong sẽ trồng những luống rau, hoa cỏ… và cả đủ loại trái cây nữa. À, đúng rồi, mái và vách của nhà kính đều được lắp hai lớp kính thủy tinh, để cho ánh sáng chiếu vào… “

REPORT THIS AD

Khi cô ấy nói về điều này, Hà Điền đã hét lên: “Trời, vậy thì phải cần đến bao nhiêu kính thủy tinh mới đủ kia chứ! Nơi đó không phải rất giống với nơi công chúa trong truyện cổ tích ở sao?”

Trong sách trồng trọt của bà cô có mô tả về nhà kính nhựa, nhưng cũng chỉ được nhắc sơ tới mà thôi.

Sau đợt rét đậm, các sản phẩm từ nhựa và thủy tinh đều trở nên rất khan hiếm.

Việc thiếu lao động, năng lượng và động lực gây khó khăn cho việc gieo trồng trái vụ quy mô lớn. Chỉ một số người rất giàu có và quyền lực mới có thể hưởng thụ các loại rau dưa được trồng trong nhà kính, huống chi là nói đến hoa cỏ.

Thành phần của thủy tinh tuy không phức tạp nhưng để nung được thủy tinh trong suốt, còn phải có kích thước lớn bằng một cái cửa sổ, nhiệt độ lò nung phải đạt đến 1200 độ và phải cân đối nên chỉ có một số thành phố lớn mới sản xuất được thủy tinh.

Nhà của Hà Điền là nhà gỗ, kính của cửa sổ không phải là một tấm kính nguyên tấm mà là được tạo thành từ nhiều mảnh kính nhỏ to hơn lòng bàn tay gắn kết lại với nhau. Nhưng mà một vài mảnh thủy tinh này nếu bị nứt hoặc là vỡ thì cần phải thay thế, phải tốn ít nhất cả một tấm da chồn.

Cô tưởng tượng đến nhà kính thủy tinh mà Dịch Huyền nói đến, ước lượng xem mình cần phải tốn bao nhiêu tấm da chồn, đột nhiên cô cảm thấy cái mơ ước có thể được ăn rau vào mùa đông này cũng không quan trọng cho lắm! Không quan trọng một chút nào! Có thể ăn dưa chua kia mà? Về phần mùa đông có thể ngắm hoa tươi – hoa cải thảo và hoa củ cải cũng đẹp lắm!

Dịch Huyền vẫn tiếp tục nói: “Thực ra, cô có thể xây nhà kính mà không cần kính. Nhưng nếu không được hấp thụ nhiều ánh sáng thì chỉ trồng được một số loại rau mà thôi, lá cây cũng sẽ vàng đi. Nhưng mà lá tỏi vàng, hẹ và bắp cải hoa vàng ăn cũng rất ngon. Tôi thích nhất là món hẹ xào với trứng, hoặc là cho vào súp hoành thánh… “

Hà Điền vội vàng hỏi: “Lá tỏi vàng là gì? Hoành thánh là gì?”

Cả hai nói xong về chủ đề ăn uống rồi dần chìm vào giấc ngủ. Không biết liệu rằng ở trong mơ, họ có mơ thấy những món ăn đó hay không.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 13: Ơm gạo dại khoai lang


Chăn đệm, thức ăn và quần áo ấm đều đã được chuẩn bị xong.

Bây giờ chỉ còn đợi tuyết tạnh là bọn họ có thể lên đường đến nhà nghỉ săn bắn.

Trước đó, vẫn còn một số việc cần phải làm.

Vào ngày tuyết ngừng rơi, sau khi ăn sáng xong, Hà Điền lấy một ít mành cỏ đã dệt từ trước ra, những tấm mành cỏ này được dệt thô sơ từ cỏ dại, rất thưa thớt và lỏng lẻo.

Tuyết được xúc lúc trước bây giờ đã cứng hơn. Dùng xẻng gỗ xắn tuyết thành những miếng lớn, mỗi miếng có chiều dài khoảng 50 cm, chiều rộng và chiều cao 20 cm. Sau đó dùng những tấm mành cỏ quấn lại rồi đổ một ít nước lên, mành cỏ và tuyết sẽ kết dính lại với nhau, biến thành những viên gạch tuyết có thể dễ dàng di chuyển.

Trước khi ra khỏi nhà, họ đem gạch tuyết chất ở cửa ra vào, bịt kín các khe hở trên ô cửa lại. Tuyết là vật liệu cách nhiệt tốt, nó có thể giữ lại được lượng nhiệt quý giá trong nhà.

Không thể tắt bếp khi đi ra ngoài. Lúc này, phương pháp xếp gỗ đặt vào lò cần phải có kỹ xảo. Củi phải có kích thước khác nhau, loại lớn cháy chậm, loại nhỏ dễ cháy hơn, củi lớn củi nhỏ xếp xen kẽ với nhau, còn nhét thêm những thứ như cỏ tơi dễ bắt lửa vào, xếp chồng lên nhau từng lớp.

Bằng cách này, bếp lò sẽ cháy với tốc độ chậm và đều. Cho đến khi chủ nhà quay lại vào hai ngày sau, ngọn lửa trong bếp vẫn chưa bị tắt hoàn toàn, và căn nhà vẫn duy trì được độ ấm.

Bên cạnh đó, tất nhiên, tất cả các vại nước trong nhà cũng phải được đổ đầy.

Việc cuối cùng trước khi khởi hành là đục băng cho lỗ băng trên sông.

Tất cả đều đã hoàn tất, mặt trời cũng đã lên cao.

Hà Điền và Dịch Huyền đặt chăn đệm và thức ăn vào giỏ trên lưng Gạo, vội vàng dắt nó hướng về phía nhà nghỉ săn bắn.

Họ buộc một tấm ván gỗ có hai đầu nhếch lên vào giày rơm, đi ở phía trước Gạo.

Tuyết đã rơi được vài ngày, nếu không lót tấm ván gỗ mà bước xuống tuyết thì có khả năng sẽ lún đến tận đầu gối, đối với Gạo mà nói, nếu móng của nó bị lún ở trong tuyết thì sẽ rất phiền phức.

Cuộc đi săn đầu tiên vào mùa đông luôn rất gian nan.

Sau khi tuyết rơi, diện mạo ban đầu của khu rừng đã hoàn toàn thay đổi, nó không còn là địa hình mà Hà Điền thông thuộc nữa, sẽ rất dễ bị lạc đường.

Hà Điền đi ở phía trước của đội. Cô phải tạo ra một con đường. Trên vành nón và khăn che mặt của cô đã đọng lại một lớp sương giá, nhưng toàn thân cô lại ướt đẫm mồ hôi.

Ở nơi đầy tuyết như thế này, tốt nhất là không nên dừng lại nghỉ ngơi.

Họ sẽ phải đi bộ gần ba giờ mới có thể đến được đó.

Sau khi đi được khoảng một giờ, Dịch Huyền cảm thấy Hà Điền xem ra đã thực sự cố hết sức rồi, bèn hỏi cô: “Chúng ta luân phiên thay đổi cho nhau đi? Tôi đã quen với việc đi bộ với ván trượt tuyết rồi. Cô chỉ cần nói cho tôi biết hướng đi là được.”

Hà Điền thở hổn hển vài cái: “Được rồi.” Lúc trước cô và bà mình cũng thường thay phiên cho nhau.

Dịch Huyền đi phía trước, chật vật mở ra một con đường trên tuyết, Hà Điền và Gạo theo sau.

Sau khi tạo ra con đường trên tuyết này, về sau mỗi lần đi săn sẽ dễ dàng hơn rất nhiều.

Bất tri bất giác, Dịch Huyền đã đi trước đội dẫn đường gần một giờ.

Hà Điền bắt đầu cảm thấy hơi lo lắng, liên tục hỏi, cô có mệt không? Mắt có đau không? Có muốn đeo khăn bịt mắt không?

Thực ra hôm nay nắng cũng không gắt cho lắm, trời tắt nắng có mây, thời tiết u ám, kiểu thời tiết này rất thích hợp để đi ra ngoài, vì nếu nắng quá gắt sẽ phản chiếu lên tuyết trắng, rất dễ bị bỏng mắt.

Thể lực và sức chịu đựng của Dịch Huyền mạnh hơn Hà Điền dự kiến rất nhiều, đi thêm được nửa giờ nữa, hơi thở của cô ấy vẫn còn rất đều đặn, khi nói chuyện với Hà Điền cũng không hề hổn hển.

Nhưng dưới sự khăng khăng của Hà Điền, hai người đã đổi cho nhau, và Hà Điền lại đi trước.

Hơn nửa giờ sau, căn nhà nghỉ săn bắn trong rừng đã dần xuất hiện trước mắt.

Nhưng Hà Điền cũng không vội bước tới, cô cởi bỏ đôi găng tay lông hươu dày cộp ra, cầm khẩu súng ngắn lên, cảnh giác quan sát xung quanh.

Tuyết xung quanh nhà nghỉ gần như trơn nhẵn, chỉ có dấu chân của chim chóc và thú rừng.

Hà Điền thở phào nhẹ nhõm.

Lúc này Dịch Huyền mới cảm thấy đói bụng, có vẻ như đã qua giờ cơm trưa mất rồi.

Trước cửa nhà nghỉ tích tụ một lớp tuyết dày ước chừng khoảng hai mươi cm. Mặc dù có mái hiên, nhưng tuyết lại bị gió thổi bay lên trên cánh cửa gỗ, từ mặt đất đến tay nắm cửa đều phủ đầy những hạt tuyết.

Hà Điền và Dịch Huyền dỡ giỏ mây từ trên lưng Gạo xuống, để nó tự đi loanh quanh trong tuyết tìm kiếm thức ăn.

Họ đến chái củi bên hông nhà, kéo tấm mành rơm che đống củi xuống, giũ tuyết, lấy chổi và xẻng gỗ ra, trước tiên dọn tuyết chặn ở cửa, mở cửa thông gió, rồi nhóm lửa lên.

Trong lúc đốt lửa, Hà Điền lấy bình nước từ trong ngực ra, vừa uống nước vừa ăn vài miếng bột đậu hỗn hợp rang mà ngày hôm qua đã làm.

Có lẽ Dịch Huyền chưa từng ăn bột đậu hỗn hợp bao giờ. Cô ấy cho một ngụm nhỏ vào miệng như Hà Điền đã làm, còn chưa nuốt xuống đã bị sự khô khốc của nó làm cho bị sặc.

Cô ấy vội uống vài ngụm nước, lại ho khan hai cái rồi mới cẩn thận ăn miếng thứ hai.

Hà Điền cảm thấy hơi có lỗi: “Tạm thời ăn một chút đi, đợi lát nữa chúng ta sẽ làm cơm trưa.”

Sau khi lấp đầy cái bụng đói của mình bằng một ít bột đậu hỗn hợp và nước ấm, bọn họ đã cảm thấy thoải mái hơn một chút. Cả hai lại bắt đầu công việc bận rộn.

Gần nhà nghỉ cũng có một con suối nhỏ, nhưng lúc này con suối ấy đã đóng băng từ lâu, muốn có nước, vậy thì chỉ còn cách nấu tuyết.

Lúc này, bếp sắt đã nóng, Hà Điền kêu Dịch Huyền gom một ít tuyết vào thùng đưa vào nhà, cho một muôi tuyết vào ấm rồi nấu lên, sau đó lại tiếp tục cho một muôi tuyết vào nữa, vì không thể cho quá nhiều cùng một lúc.

Hơn mười phút sau, cuối cùng họ cũng đã nấu được một ấm nước.

Trong khi đun nước, Hà Điền và Dịch Huyền kiểm tra những chiếc hộp gỗ nhỏ đựng ngũ cốc, cất kỹ thức ăn mà họ mang theo, dọn dẹp phảng nằm và trải chăn đệm ra.

Hà Điền cũng thả một ít hạt dẻ vào lò sắt.

Cô lấy ra hai miếng thịt xông khói, một hộp củ cải, một ít miến khoai tây, một ít nấm hương khô, hạt kê và ngũ cốc.

Cho hạt kê, gạo dại, bột yến mạch và nấm hương khô vào nồi đất, rắc hai muôi tuyết lên, rồi lại thêm một muỗng muối, khuấy đều. Đây là bữa tối.

Cô lại bào thịt xông khói thành từng khoanh, cho vào chảo sắt cùng với củ cải muối, thêm nước nóng, nấu sôi rồi cho miến khoai tây vào. Đây mới là bữa trưa.

Nồi miến nóng hổi này nhanh chóng được nấu chín, Hà Điền và Dịch Huyền đều đói lả, hai người ăn như hổ đói, chỉ mấy phút sau đã hết sạch.

Gạo cứ đi loanh quanh trên tuyết, gặm rễ và cành cây, Dịch Huyền kéo nó vào, buộc tạm dưới chái củi rồi lót thêm cỏ khô.

Sau bữa trưa thì đã gần ba giờ, bóng mặt trời bắt đầu ngả về phía tây, nhưng không có gió nữa.

Trong rừng vắng lặng, thỉnh thoảng có thể nghe thấy tiếng chim tước kêu.

Hà Điền nhét hai củ khoai lang to mang theo vào lò nướng, đặt nồi hạt kê lên bếp, cũng cho hạt dẻ đã rang trong khay nướng vào nồi. Lúc này tuyết trong nồi hạt kê cũng đã tan ra hết.

Cô và Dịch Huyền đi vào khu rừng gần đó để kiểm tra những cái bẫy đã được đặt trước đó.

Khiến Hà Điền bất ngờ chính là, những cái bẫy ấy đều có thu hoạch.

Mỗi chiếc bẫy trên vòm thông đều bắt được một con chồn, lớn nhỏ khác nhau, nhưng ít nhất có hai con rất lớn. Bộ lông của chồn càng lớn thì sẽ càng có giá trị cao.

Bẫy kẹp sắt thì bắt được một con chồn chó.

Hà Điền dạy Dịch Huyền cách đặt lại bẫy, dùng một miếng thịt xông khói nhỏ làm mồi nhử.

Con mồi đã sớm cứng như đá, Hà Điền ném chúng vào giỏ mây.

Sau khi đặt lại tất cả các bẫy, trong rừng hầu như không có ánh sáng mặt trời, tuyết trắng đọng lại trên cây dường như đã chuyển sang màu xám nhạt.

Hà Điền và Dịch Huyền trở lại nhà nghỉ, đem những con mồi bẫy được cất kỹ. Đợi cho chúng mềm trở lại rồi thì sẽ lột da.

Lúc này trong nhà gỗ tràn ngập mùi đường cháy, chính là mùi của khoai lang đặt ở trong bếp lò trước khi đi ra ngoài, đã chín rồi.

Hà Điền dùng móc sắt kéo chúng ra khỏi đống than, không vội bóc chúng ăn ngay mà lại đặt ở trên bếp.

Hạt kê trong nồi đất lúc này đã trương nở, nấu cùng với thịt xong khói cắt miếng nhỏ.

Gạo dại và yến mạch có màu đỏ sẫm nên hạt kê cũng biến thành màu đỏ sẫm theo, hạt dẻ cũng chuyển sang màu đỏ cam, lẫn trong đó là thịt xông khói, nhìn qua thì rất khó mà phân biệt được, mùi thơm của thịt và gạo hòa quyện vào nhau, ngửi thấy mà thèm.

Thỉnh thoảng, Hà Điền sẽ nhấc nắp nồi đất lên xem, sau đó dùng đũa khuấy nhẹ, nước trong nồi dần dần ít đi, hạt ngũ cốc ngày càng lớn, cô dùng đũa chọc vào một vài chỗ, những bong bóng nước nhỏ màu tím sẽ từ từ nổi lên từ những vết chọc này rồi lại vỡ ra.

Đến khi không còn nhìn thấy những vết rộp nhỏ nữa, mùi thơm của thức ăn cũng càng lúc càng nồng nặc, dùng đũa xới lên, Hà Điền cảm thấy cơm trong nồi đã chín.

Cô nhắc nồi xuống, để Dịch Huyền bới vào trong chén rồi lấy khoai lang ở trên bếp xuống, bẻ ra, thịt khoai vàng sẫm lập tức tỏa ra mùi thơm ngào ngạt.

Hà Điền cho thịt khoai vào trộn với cơm.

Cách khí trắng tỏa ra từ thức ăn nóng hổi và thơm phức, cô và Dịch Huyền nhìn nhau cười.

Gạo dại và yến mạch sau khi nấu chín vẫn còn hơi cứng, đặc biệt là gạo dại, hạt dài và nhỏ hơn gạo tẻ, sau khi nấu chín có vị hơi giống hạt dẻ, khi cắn vào có thể nghe thấy tiếng sừng sực.

Chúng hấp thụ các vị khác nhau của thịt xông khói, nấm và hạt dẻ. Vị mặn của thịt, vị tươi của nấm và vị ngọt của hạt dẻ trộn lẫn với độ ngọt của khoai lang, nhìn thì có vẻ rất thô, nhưng khi được nấu và kết hợp ngẫu nhiên, hai hương vị chính mặn và ngọt đã đạt đến sự cân bằng tinh tế, khiến cho người ăn có cảm giác rất thỏa mãn.

Lúc ăn cơm, Hà Điền lại pha một ấm trà hoa cúc dại.

Sau bữa ăn, mỗi người cầm một ly trà, từ từ uống.

Hà Điền mang Gạo vào nhà, Dịch Huyền dùng cỏ khô làm ổ cho nó ở góc nhà, nó nằm đó, thi thoảng lại khịt mũi, chậm rãi nhai cỏ.

Giống như Hà Điền, Dịch Huyền chạm vào đầu Gạo và nói với nó: “Đừng thải nhiều phân đó!”

Gạo đối xử rất bình đẳng, cũng phớt lờ cô ấy.

Hà Điền cười khẽ một tiếng, dùng chậu gỗ bưng vào một chậu tuyết.

Lúc này, bên ngoài căn nhà đã hoàn toàn tối đen, sau khi mặt trời lặn nhiệt độ giảm xuống rất nhanh, có lẽ đã xuống tới âm 20 độ. Đợi đến giữa đêm, nhiệt độ có thể sẽ còn xuống đến âm 30 độ.

Mép cửa nhà gỗ được đóng đinh thành vòng tròn, nẹp lông thú, nhưng nơi gần khe cửa vẫn lạnh đến thấu xương.

Cơ thể của những con chồn bắt được đã khôi phục lại độ mềm, Hà Điền lấy một con dao, cẩn thận lột da của những con chồn ấy, sau đó cho da vào chậu tuyết lau khô, rồi rắc tro lên chà xát nhẹ nhàng.

Ngón tay cô đã sớm bị tuyết lạnh làm cho đỏ bừng, khi Hà Điền phẩy phẩy tay, còn có khí lạnh tỏa ra. Sau khi lau tuyết đi, sự tuần hoàn máu của ngón tay bắt đầu tăng tốc, nhiệt độ cơ thể tăng lên, ngón tay cô nóng ran, giống như là bị lửa thiêu đốt.

Dịch Huyền ở một bên quan sát, biết rằng lột da là một công việc đòi hỏi kỹ thuật rất cao, cô ấy không làm được, bèn nói với Hà Điền: “Để tôi lau tuyết cho.”

Hà Điền nhìn những con chồn còn lại, đưa con chồn vừa được lột da cho Dịch Huyền.

Khi Hà Điền lấy lông chồn, cô chỉ cắt một đường vào bụng dưới của nó, không có cắt vỡ bụng, nhưng lại có thể lột toàn bộ bộ da, ngay cả cái đuôi cũng tách ra khỏi toàn bộ da và thịt, giống như khi tháo một chiếc găng tay từ cổ tay ra vậy, khi kéo, phần ngón tay sẽ dần tuột ra.

Chồn sau khi lột da giống như là cởi bỏ một lớp áo, để lộ ra thân hình hồng hào.

Lúc lột da, Hà Điền luôn lẩm bẩm một câu gì đó. Dịch Huyền nghe được dường như cô đang nói cảm ơn: “Cô đang niệm gì vậy?”

Hà Điền mỉm cười, chậm rãi đọc lại: “Chồn à, cảm ơn vì đã cho tôi bộ lông, tôi nhất định sẽ tận dụng nó.” Một vẻ dịu dàng đột nhiên xuất hiện trên khuôn mặt cô: “Lúc trước, bà tôi sẽ đưa thịt chồn cho Lúa ăn.” Nói xong lời này, cô hơi giật mình, cúi đầu thở dài rồi lại tiếp tục làm việc.

Sau khi xử lý xong năm tấm da chồn, tuyết trong chậu đã chuyển sang hơi đo đỏ.

Hà Điền lại thở dài: “Bà và tôi chưa từng ăn thịt chồn. Tôi không biết làm loại thịt này.” Cô nhìn thịt chồn trên tấm mành cỏ, có chút khó xử: “Tôi đoán chắc là chúng ăn sẽ không ngon đâu. Nhưng nếu ném phần thịt còn sót lại vào tuyết thì không biết sẽ thu hút được gì nữa. Có lẽ nó sẽ thu hút sói đến. Phải làm sao bây giờ?”

Dịch Huyền nhìn thoáng qua chúng, quả thật, cô ấy không hề có cảm giác thèm ăn.

“Ngày mai mang về nhà rồi ném xuống sông.” Cô ấy đề nghị: “Có lẽ cá chó phương bắc sẽ ăn chúng.”

Da chồn lột ra đều được Dịch Huyền dùng tuyết cẩn thận lau một lần, Hà Điền kiểm tra lại, sau đó rắt một lớp tro thực vật lên, chà xát nhẹ nhàng, xoa hết máu và hơi ẩm còn sót lại trên da.

Sau đó, Hà Điền lấy ra một vài tấm gỗ mỏng tròn, dùng kẹp tre kẹp tấm da chồn vào ván gỗ, treo nó lên móc của xà nhà.

Da chồn trên ván duỗi thẳng tay chân, đầu và đuôi; đuôi của nó rũ xuống, cứ như thể đang bay trên không vậy.

Da lông của chồn chó thì lại không được ưa chuộng mấy.

Sau lông chồn, dân buôn lông thú chuộng nhất là da rái cá, nón làm từ da của nó không bị thấm nước. Nhưng số lượng rái cá trong rừng rất ít, không thể đáp ứng được; tiếp theo là da cáo, da nai và da tuần lộc. Sau đó là da lông của nhiều loài động vật khác như dê rừng, thỏ, gấu mèo, lửng, chó sói và chồn chó.

Da gấu thì lại rất đặc biệt.

Đừng nói tới loài vật này là kẻ săn mồi hung dữ nhất trong khu rừng này, chiến đấu với nó là cả một kỳ công. Đối với những người buôn bán lông thú, chỉ có thể bán da gấu có nguyên phần đầu của chúng. Một số người giàu có thích trải một tấm da gấu trước lò sưởi trong phòng khách, để miệng của con gấu tiêu bản mở ra, lộ ra những chiếc nanh, đối diện với ngọn lửa trong lò sưởi.

Loại da gấu này có giá trị hơn một trăm tấm da chồn.

Hà Điền và Dịch Huyền xử lý xong đồ da, đêm cũng đã trầm.

Họ trèo lên phảng nằm, chui vào chăn bông và ôm những chiếc bình chứa đầy nước ấm.

Sau khi thổi tắt ngọn đèn dầu, mọi thứ đều im lặng.

Một lúc sau, dường như họ có thể nghe thấy được tiếng gió thổi vào những cành cây trong không trung, và cả tiếng của những chiếc lá thông rơi vào trong tuyết.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 14: Canh cá nấu giá


Bữa sáng hôm sau là cháo cá.

Con cá mà hôm qua Hà Điền mang theo được ngâm trong một chiếc chậu đất, buổi tối trước khi đi ngủ đã rả đông rồi.

Nồi đất bên cạnh đựng đầy các loại hạt ngâm qua đêm và nấm hương cắt thành từng miếng nhỏ.

Đun to lửa, nấu cháo, khuấy đều, khi cháo đặc lại và các hạt đã mềm, nát thì cho thêm hai lát gừng khô, cá đã cắt miếng bỏ xương, bỏ da, vào trong cháo.

Thịt cá rất nhanh đã chín và dậy mùi thơm. Khi nhắc xuống, nêm thêm một chút muối để tăng hương vị.

“Nếu có hành lá tươi thì tốt rồi.” Hà Điền múc một muỗng cháo, nhẹ thổi: “Có chút hành lá vào cháo cá sẽ càng thơm hơn.”

Dịch Huyền gật đầu đồng ý, tuy không có hành lá nhưng ăn với củ cải khô ngâm và mỡ ngỗng thì cháo cũng rất ngon.

“Sẽ ngon hơn nếu có một chút nước tương. Cá sống cũng vậy, phải chấm với nước tương.”

“Nhưng nước tương mắc lắm!”

“Chúng ta có đậu nành, tại sao không tự làm nước tương?”

“Thôi được rồi, đợi mùa xuân đến, thời tiết ấm hơn, chúng ta sẽ làm nước tương.”

“Làm tương đậu tầm* nữa!”

*Kiểu như tương hột nghiền nát.

Hai người vừa ăn vừa bàn về món ăn được nấu bằng đậu nành, tưởng tượng như là món cháo cá đã có sẵn hương vị thơm ngon của các loại nước chấm này rồi vậy.

Sau khi ăn xong, họ kiểm tra lại bẫy một lần nữa, định sẽ về nhà.

Rất bất ngờ, hai chiếc bẫy vòm thông lại bắt được thêm hai con chồn nữa.

Chắc là mấy con vật nhỏ này muốn ăn sáng gì đó khác lạ nên mới bỏ mạng trong bẫy.

Trong đó có một con cơ thể vẫn còn ấm.

Hà Điền rất vui. Cô cảm thấy đây là một dấu hiệu tốt. Điều này cho thấy năm nay sẽ là một năm săn chồn bội thu.

Sau khi đặt lại bẫy, Dịch Huyền cũng dọn dẹp căn nhà nghỉ đâu vào đấy. Họ tắt lửa, tro trong lò được quét ra rắc ngoài hiên, số thức ăn còn lại cho vào rương đem cất, chăn ra gối đệm thì được gấp lại và cho vào một cái rương khác.

Hà Điền rưới chút nước cuối cùng từ ấm lên thân cây có đóng đinh cố định rương đựng đồ, thân cây nhanh chóng hình thành một lớp băng mịn, sẽ không một con vật nhỏ nào có thể trèo lên đó được.

“Từ hôm nay trở đi, cứ cách mấy ngày chúng ta sẽ lại đến đây một lần. Nếu con mồi không được lấy đi kịp thời, rất khó để đảm bảo rằng chúng sẽ không bị chuột, sóc hay thứ gì đó gặm nhấm. Hơn nữa, cô cũng thấy đó, hôm qua chúng ta vừa mới thay mồi trong bẫy, vậy mà hôm nay đã bắt thêm được hai con chồn nữa.” Hà Điền nhìn về phía rừng thông phủ đầy tuyết bên kia sông: “Ngày mai chúng ta có thể sang bên kia sông.”

Đường về dễ dàng hơn nhiều.

Con đường được dấu chân mở ra khi đến vẫn còn đó, chỉ là có cứng hơn một chút, trên dấu chân còn tích tụ lại một số tuyết do cơn gió đêm qua thổi đến.

Lúc về đến nhà thì đã quá trưa.

Hà Điền và Dịch Huyền phải cố gắng lắm mới gỡ được những viên gạch tuyết chất đống trước cửa, bởi vì có vài viên gạch tuyết dính chặt lại với nhau. Lúc họ dùng mành cỏ để di chuyển gạch khỏi hiên nhà, tuyết rơi vãi khắp sàn, nhưng rất nhanh, chúng đã được dọn dẹp sạch sẽ.

Trong nhà vẫn còn ấm, ngọn lửa trong bếp không bị dập tắt, vẫn còn cháy đều đặn, nước trong hai chiếc tô gốm đặt sát tường gần như đã không còn, không những bốc hơi mà còn ngấm vào trong hạt đậu nành. Giá trong tô đã cao hơn ba cm, toàn bộ hạt đậu bên dưới nó đều bị bung ra, trong số đó có hai cọng giá mập mạp hơn hẳn.

Hà Điền vui mừng cầm một cái mầm đậu đặt trong tay, cái mầm trắng đó màu trắng bạc, sáng lấp lánh, véo nhẹ một cái, một dòng nước chảy ra.

Cô hỏi Dịch Huyền: “Ăn cái này như thế nào?”

Dịch Huyền suy nghĩ một chút, cũng không chắc lắm: “Xào? Tôi cũng thấy có người nấu với canh. Ừm… còn có người nấu lẩu.”

Hà Điền lập tức hỏi lại: “Lẩu?”

Dịch Huyền giải thích: “Đó là một chiếc nồi đồng, ở giữa có nơi để than. Cho thịt đã thái mỏng vào, chần qua rồi chấm với nước chấm, cũng có thể cho rau và đậu hũ vào nồi…”

“Đậu hũ?” Hà Điền quan tâm đến điều này hơn: “Cô có biết làm đậu hũ không?”

“Biết!”

Hai người vừa nói vừa lùa Gạo ra sông.

Phải nhanh chóng đục lỗ băng, hơn nữa hôm nay cũng là ngày kéo lưới.

Hai người nói chuyện một lúc, liền cảm thấy “đậu hũ” mà mình biết không giống với thứ mà người kia biết.

Nói chuyện một lúc, Dịch Huyền đã hiểu.

Cô ấy nói với Hà Điền: “Loại mà cô nói thực ra cũng là một loại đậu hũ, nhưng nó khô hơn, chúng tôi gọi nó là váng đậu, hoặc đậu da. Món đậu hũ mà tôi đề cập được làm sau khi loại bỏ nhiều độ ẩm hơn. Đậu hũ tươi và mềm, dùng ngón tay khoét một cái là ra một cái lỗ, ăn rất ngon, ngoài đậu hũ còn có sữa đậu nành và tàu hũ non*, sữa đậu nành là sữa làm từ đậu ngâm, tàu hũ non vốn đã được coi là đậu hũ rồi nhưng hàm lượng nước của nó rất cao, vị… mềm mềm, tan trong miệng.”

*Tào phớ, đậu hoa…

Khi kéo cá lên, Hà Điền quyết định sẽ làm sữa đậu nành.

Dịch Huyền nhìn lượng đậu dự trữ của Hà Điền, hỏi cô đã trồng đậu nành như thế nào. Cô ấy cảm thấy nhà cô trồng đậu nành chỉ vì để cải tạo lại đất hoặc cũng có thể là vì họ cảm thấy tiện cả đôi đường, vừa có thể xem như một món rau vừa có thể làm thức ăn cho tuần lộc, nếu thức ăn không đủ thì xay thành bột đậu hỗn hợp, làm thức ăn khô. Sau này thì cứ tiếp tục trồng cẩu thả như vậy, dù sao thì đất ở đây cũng rất thích hợp trồng đậu nành, cũng không vất vả nhiều.

Hôm nay bắt được thêm sáu con cá nữa. Tất cả đều là cá tuyết sông.

Hà Điền để lại một con cá. Sau khi làm sạch, cắt bỏ hai bên thân cá, chỉ để lại phần đầu và xương cá cho vào nồi đất, sau đó thêm ớt, hoa tiêu, muối, củ cải muối thái hạt lựu và một chén giá vào nấu chung.

Khi đang nấu canh, cô lấy ra hai chiếc hộp gỗ nhỏ to hơn lòng bàn tay một chút, dưới đáy mỗi hộp gỗ đặt ba chiếc lá khô, sau đó lót hai lát khoai lang khô, rồi cho hạt kê đã rửa sạch vào.

Hai hộp gỗ có thể vừa vặn với một chiếc lồng hấp bằng tre. Đặt lồng hấp vào chung nồi, hầm cách thủy, khí trắng dần cuộn lên từ nắp và mép nồi.

Trong khi nấu ăn, Hà Điền và Dịch Huyền dùng một cái gậy trúc đặt ở khá xa bếp treo những bộ lông chồn lên.

Có một vài hàng móc nhỏ được đóng vào thanh ngang, giữa hai chiếc đinh có thể đặt vừa một cây gậy trúc. Trước khi đặt vào, gậy trúc được thoa một lớp dầu mỡ dày, trơn đến mức dù là những con vật có móng vuốt nhọn nhỏ cũng không thể nào trèo lên được.

Từng tấm ván gỗ mỏng cố định da chồn được treo lên, trông cứ như đây là nơi mà chồn treo một dãy áo khoác lên vậy.

Sau đó, Hà Điền và Dịch Huyền bắt đầu xử lý lông chồn chó.

Da lông của con chồn chó đực trưởng thành này có thể làm mũ và khăn quàng cổ cho Dịch Huyền. Khi còn nhỏ, Hà Điền rất thích những chiếc nón được làm bằng da chồn chó hoặc da gấu mèo, sau khi lột da thì sẽ giữ đôi tai lại, đính hai chiếc cúc màu đen vào trên mắt, chiếc nón được làm giống như một con gấu mèo đang nằm trên đầu. Bà cô còn giữ cái đuôi của nó lại, khâu ở phía sau nón, trông càng thêm đáng yêu và ngộ nghĩnh.

Hà Điền nghĩ rồi thở dài. Ai biết được liệu khi mùa xuân đến, Dịch Huyền có còn muốn ở lại đây đây nữa hay không?

Những người như cô ấy có lẽ thích cuộc sống ở thành phố hơn. Cô ấy ở lại đây, mặc dù thích nghi tốt và học hỏi mọi thứ rất nhanh, nhưng điều này chỉ là vì để tồn tại trong mùa đông lạnh giá.

Hà Điền lắc đầu, không còn nghĩ đến những chuyện không thể kiểm soát được này nữa, cô cùng với Dịch Huyền treo tấm da chồn chó đã qua xử lý lên sợi dây giăng trên cộc gỗ trước nhà.

Trở lại vào trong, mùi cơm trưa đã tràn ngập khắp nhà.

Khi nấu ăn Hà Điền sẽ mở hơi hé cửa nhà ra, nhưng lúc này cô mở rộng ra luôn để thông gió.

Cô thực sự không thích việc khắp nhà đều là mùi đồ ăn.

Cơm trong nồi đã được nấu chín, Hà Điền kêu Dịch Huyền đem lồng hấp đặt lên bàn, cô nhắc nồi canh xuống khỏi bếp, cắt cá thành từng lát rồi nhúng qua nước canh, thịt cá nhanh chống chín thành màu trắng đục.

Hà Điền lại đặt một cái nồi đất nhỏ lên bếp, cho vào nồi một nắm lá thông khô và lá cúc dại, đổ thêm hai chén nước, không đun sôi, chỉ để lửa riu riu.

Toàn bộ xương và đầu cá tuyết sông được đặt trong nồi hầm cách thuỷ, thịt cá trắng phếu nổi lên trong nước canh, ớt đỏ và hoa tiêu tỏa ra mùi thơm cay nồng.

Hà Điền gắp một miếng cá lên nếm thử, rồi lại nói: “Nếu có hành lá tươi thì tốt rồi, rắc một ít hành lá xắt nhỏ vào thì vị sẽ ngon hơn.”

Mỗi người cầm một hộp cơm nhỏ trong lồng hấp, coi như chén mà ăn luôn, Hà Điền kéo hai góc của chiếc lá, cẩn thận lấy ra, đặt cơm lên, dùng đũa cuộn lại thành một cuộn dày, cắn một miếng.

Cô vừa ăn vừa hít hà, nheo mắt lại hưởng thụ, còn chỉ Dịch Huyền: “Cô cũng làm thử đi. Cẩn thận phỏng tay.”

Dịch Huyền bắt chước làm theo.

Tinh bột và vị ngọt của khoai lang làm tăng độ dẻo của hạt kê, lớp lá bên ngoài có hơi chát nhưng sau khi cắn vài miếng lại có mùi thơm rất đặc biệt, Dịch Huyền nhai từ từ, nếm thử một lúc mới cảm nhận được hương vị, hỏi Hà Điền: “Lá này có phải là lá dâu không?”

Hà Điền mỉm cười gật đầu.

Đợi cơm nguội hơn một chút, bọn họ cũng bắt đầu ăn canh cá.

Nước canh cay nồng giúp cá thơm ngon hơn, cả người cũng ấm lên.

Hà Điền cẩn thận nếm thử món giá mà mình mới phát hiện ra này. Mặc dù nó quả thực là một loại rau hiếm trong mùa đông, nhưng Hà Điền vẫn có chút thất vọng.

Phần giá ăn giòn nhưng lại không có hương vị, nó thấm vị nước canh cay cay, phần hạt trên ngọn thì có vẻ khá dai.

Dịch Huyền ăn một vài miếng, có chút không sao hiểu được: “Vị của món giá này… sao lại khác với giá mà tôi đã từng ăn?”

Cô ấy không biết rằng giá mà cô ấy ăn trước đó không phải được làm từ đậu đã cà vỏ. Hơn nữa giá mà cô ấy từng ăn là được làm từ đậu xanh, còn loại mầm đậu nành không dễ tiêu hóa này chắc là sẽ không xuất hiện trong công thức nấu ăn của người có tiền.

Hà Điền vội nói: “Tôi cảm thấy cũng không tệ. Nếu đem luộc với đọt dương xỉ, làm rau trộn, nhất định là sẽ rất ngon.”

Dịch Huyền lại lấy một lá dâu lên cuộn với cơm: “Món này thực sự rất ngon.”

Hà Điền gật đầu lia lịa: “Ừ. Nếu ăn với bột đậu đỏ và hạt dẻ rang thì sẽ còn ngon hơn nữa, cũng có thể thêm vào một chút quả anh đào khô.”

Sau khi cơm nước xong, Dịch Huyền nhận thấy mùi thức ăn trong nhà đã rất nhạt, khắp phòng thoang thoảng giống mùi của rừng thông mùa hè. Lá thông và hoa cúc dại khô trong chiếc nồi nhỏ trên bếp đã bung ra, nước trong nồi chuyển sang màu vàng nhạt. Gỗ cháy trong bếp phát ra tiếng bong tróc rất nhỏ, trong nhà vô cùng ấm áp, ngoài cánh cửa thì hoàn toàn im lìm.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 15: Cháo thịt xông khói và ngũ cốc hỗn hợp


Lần cuối cùng Hà Điền đến nhà nghỉ săn bắn trong rừng bên kia sông là vào mùa xuân năm nay.

Vào thời điểm đó, sông vừa mới tan băng không bao lâu, thỉnh thoảng có thể nhìn thấy những tảng băng lớn nổi trên mặt sông, đôi khi những tảng băng này sẽ trôi theo những khúc gỗ bị chúng đánh đổ, dòng nước chảy cũng chậm hơn những mùa khác.

Khi đó Hà Điền chèo một chiếc thuyền độc mộc, cẩn thận vượt qua những tảng băng cực lớn và những khúc gỗ thô to trôi lềnh bềnh như những chiếc thùng. Chúng có thể dễ dàng đập vào thuyền của cô và làm cho nó thủng một lỗ lớn. Mượn sức chảy của dòng nước, cô phải loay hoay chèo trong hơn một giờ mới đến được bờ bên kia.

Mà lúc này, mặt sông vẫn còn là một bãi tuyết bằng phẳng.

Cô và Dịch Huyền mặc trên người bộ quần áo lông dày cộp, đeo khung và xe trượt tuyết cho Gạo rồi lùa nó đi lên mặt sông.

Đoạn sông này rộng khoảng mười ba, mười bốn cây số, sau khi tuyết được nén chặt, Gạo chạy hết sức, đi từ bờ này sang bờ bên kia mất chưa đầy nửa tiếng đồng hồ.

Nhưng hôm nay, họ phải đi bộ qua.

Bởi vì Hà Điền muốn tạo một con đường trên sông băng. Nếu chỉ đi có một lần thì không cần phải vất vả mở đường làm gì. Nhưng trong hai, ba tháng tới, Gạo sẽ phải thường xuyên qua lại trên con sông này, nên cần phải tạo ra một con đường.

Tuyết trên sông bây giờ đã dày gần ba mươi centimet.

Cũng giống như lần trước, Dịch Huyền và Hà Điền thay phiên nhau đi phía trước để mở đường, Gạo đi ở giữa, trên chiếc xe trượt nó đang kéo có một cái giỏ đựng cành cây khô và gai hạt dẻ, người đi ở phía sau thỉnh thoảng sẽ lấy một số cành cây chết đem rắc xuống đường.

Về mặt lý thuyết, mặt đất càng mịn và lực cản càng thấp thì xe trượt do tuần lộc kéo sẽ càng nhanh. Nhưng những cành khô này sẽ không làm giảm độ nhẵn của đường đi quá nhiều, việc rắc chúng xuống đường là vì để giảm khả năng trượt chân của Gạo.

Cánh đồng tuyết được hình thành do đóng băng trên mặt sông không bằng phẳng như nhìn từ xa, khi sông đang trong quá trình đóng băng, ở một số nơi vẫn có sóng, sau khi những con sóng này đóng băng sẽ hình thành một số chỗ lồi nhỏ. Gió thổi tuyết bay lên, tuyết bay theo gió sẽ cùng với lớp tuyết ban đầu chồng chất lên những vết lồi nhỏ này, lâu dần tạo thành những nếp gấp hình vảy cá.

Theo thời gian, việc tuyết rơi và gió thổi cứ lập đi lập lại nhiều lần, tuyết sẽ tích tụ ngày càng nhiều ở vùng tuyết cao, cuối cùng tạo thành các gò tuyết, có nơi tuyết sẽ gần như bị gió hoàn toàn thổi bay đi, để lộ mặt băng sáng như gương, đứng ở đó, còn có thể nhìn thấy cá di chuyển dưới mặt nước sâu vài mét.

Ngoài ra, ở gần bờ sông, lòng sông có độ dốc và độ gấp khác nhau, sóng sẽ có sự thăng trầm, càng gần bờ thì độ thăng trầm càng lớn. Khi những con sóng ngày đêm không ngừng nghỉ vỗ vào bờ sông đông cứng thành băng, chúng sẽ tạo thành những nếp nhăn hình nửa vòng cung, có một số vẫn còn giữ nguyên hình dạng của bọt sóng.

Tất cả những thứ này đều có thể tạo thành “băng đen”, làm cho Gạo đang chạy bị vấp.

Mà một con tuần lộc bị gãy chân trên sông băng thì thường chỉ có một kết cục.

Sau khi tạo ra con đường trên tuyết này, những cành cây khô rải trên đó sẽ bị bọn họ giẫm lên rồi đông cứng lại trên đường, cho dù có bị gió tuyết che phủ lên, chỉ cần đi bộ liên tục vài ngày một lần, chúng sẽ tạo nên một lực cản quý giá cho Gạo, tuy rất nhỏ, nhưng sẽ không đến mức để cho nó bị trượt chân.

Vì vậy, con đường mà chỉ cần liếc mắt là có thể nhìn thấy điểm cuối này phải mất đến hai, ba giờ mới hoàn thành.

Khi đến được bờ đối diện, có thể nhìn thấy một vài khối đá to lớn trải dài dọc theo bờ sông. Vì chúng, sóng và xoáy nước sông tạo thành những gợn sóng lớn nhỏ sau khi đóng băng, đoạn đường dài hàng chục mét này đi lại vô cùng khó khăn.

Dịch Huyền và Hà Điền mỗi người mang theo một cái giỏ, nhích đi trên mặt băng, rải cành cây khô và vỏ gai trong giỏ rộng dần ra.

Các gờ băng hình thành sau khi các gợn sóng bị đóng băng sẽ khiến mọi người ngã nhào khi dẫm lên chúng. Hà Điền vô tình trượt ngã, chiếc giỏ trên tay cô cũng rơi xuống, cành cây khô rơi vãi đầy trên đất.

Nhưng nếu chọn một nơi nhẹ nhàng khác để lên bờ, khoảng cách đến nhà nghỉ trong rừng sẽ xa hơn. Đi bộ trong rừng tuyết không dễ dàng hơn so với vật lộn trên băng.

Cô thở hổn hển: “Ngày mai chúng ta trở lại, tôi sẽ chặt một ít cành tùng rồi đem rải ở đây.”

Hai người thận trọng từng li từng tí, dắt Gạo băng qua đoạn băng hiểm trở này, cuối cùng cũng đến được bờ đối diện.

Bây giờ đã là giữa trưa, mọi người đều đã đói bụng.

Hà Điền kêu Dịch Huyền đút cho Gạo một nắm đậu nành rang muối, bọn họ cũng phải dừng lại nghỉ ngơi một chút, uống nước, ăn một củ khoai tây nướng rồi mới tiếp tục lên đường.

Mặc dù ở mép sông có hai tảng đá rất lớn nhưng khi lên được bờ thì địa hình đã tốt hơn rất nhiều, là độ dốc thoai thoải.

Lại đi trong rừng thông gần một tiếng đồng hồ nữa, cuối cùng họ cũng nhìn thấy căn nhà nghỉ trong rừng.

Nhưng lúc này, sắc mặt Hà Điền hơi khó coi.

Tại căn nhà nghỉ của cô, khói trắng đang bốc lên từ ống khói, trên mặt tuyết quanh nhà phủ đầy dấu chân.

Cô rút khẩu súng ngắn trên vai xuống, ném cho Dịch Huyền, nhẹ nhàng nói: “Cô biết sử dụng nó chứ?”

Dịch Huyền không nói gì, tháo đôi găng tay dày cộp ra rồi giơ khẩu súng ngắn lên, kéo chốt một cách điêu luyện.

Hà Điền lấy từ trong giỏ đựng trên lưng Gạo ra hai khối vải trắng, nhẹ nhàng mở ra, đó là hai tấm áo choàng có mũ trùm đầu.

Cô đưa một cái cho Dịch Huyền, chính mình cũng trùm lên một cái, rồi vỗ nhẹ vào đầu Gạo, để nó đi vào rừng.

Áo choàng trắng có tác dụng ẩn náo trong tuyết rất tốt, vì vậy khi Hà Điền đưa Dịch Huyền đi vòng qua khu vực bẫy ở phía bên kia của căn nhà, hai tên đàn ông đang đứng bên một cái bẫy vòm thông lấy chồn ra đều không hề phát hiện ra họ.

“Bỏ chồn của tôi xuống.” Hà Điền đột nhiên nói, làm cho hai tên đó giật mình, lập tức muốn cầm súng ngắn lên.

“Đùng ——”

Âm thanh lớn của súng ngắn làm rung chuyển tuyết trên cây cối xung quanh, những con chim cũng sợ hãi, vội vàng tung cánh bay đi.

Hà Điền đã bắn vào dưới chân một trong những tên đàn ông đó.

Cô hừ lạnh: “Không phải là tôi không bắn trúng. Mà là do nghĩ tình hàng xóm nhiều năm cảnh cáo các người.”

Cô nói xong lại bắn một phát lên trời: “Tôi còn có thể bắn liên tiếp bốn phát.”

Hai tên kia sững sờ tại chỗ.

Hà Điền lạnh lùng nói: “Ném súng xuống đất, ngồi xổm xuống!”

Một tên nhanh chóng ngoan ngoãn vứt súng ngồi xổm trên đất, tên còn lại do dự nhìn Dịch Huyền bên cạnh Hà Điền.

Dịch Huyền khẽ cười một tiếng.

Hà Điền đột nhiên cảm thấy nụ cười này còn có lực sát thương hơn cả bắn súng. Là kiểu cười đầy khinh thường “Tao xem mày còn có thể làm gì nữa ha ha ha”.

Không chỉ có Hà Điền cảm thấy như vậy, tên đàn ông kia cũng ném khẩu súng ngắn xuống đất, ngoan ngoãn ngồi xổm xuống.

“Còn có ai trong nhà không?” Hà Điền hỏi.

“Không. Chỉ hai chúng tôi.” Tên ngồi xổm xuống sau nói.

Không đợi Hà Điền phân phó, Dịch Huyền đã bước tới đá hai khẩu súng ngắn đến bên cạnh Hà Điền.

Dịch Huyền chĩa súng vào hai tên đó, Hà Điền bình tĩnh nhặt súng lên đeo vào lưng mình.

“Đưa cho tôi tất cả những viên đạn chì mà các người đã mang theo.” Cô lại ra lệnh.

Hai tên đó không còn cách nào khác, đành tháo túi vải buộc ở thắt lưng ném cho Hà Điền.

Hà Điền đợi Dịch Huyền rút lui và đứng ở bên cạnh mình, rồi nói với hai tên đó: “Bây giờ, các người có thể cút. Nếu còn đến trộm chồn của tôi lần nữa, tôi sẽ không lãng phí đạn chì của mình nữa đâu.”

“Dù sao thì cô cũng nên trả lại cho chúng tôi một khẩu súng chứ?” Tên đàn ông ngồi xổm xuống đầu tiên nói: “Nếu không trên đường về nhà chúng tôi gặp chó sói thì phải làm sao bây giờ?”

Hà Điền hung dữ nói: “Các người chiếm dụng nhà, thức ăn và củi lửa mà tôi cất ở đây. Các người không cần bồi thường sao? Là tôi mời các người tới? Hàng rào giữa hai khu vực săn bắn là do ông nội của các người và ông nội tôi đặt ra, không nhìn thấy sao? Cút ngay!”

Hai tên đó hậm hực rời đi.

Hà Điền và Dịch Huyền theo sát phía sau bọn chúng, cách khoảng năm sáu mét, “tiễn” chúng đến tận hàng rào gỗ.

Cả hai trèo qua hàng rào gỗ và đi về phía khu rừng bên kia.

Đi được vài chục mét, chúng quay lại nhìn thì không còn thấy Hà Điền và người đồng hành mới của cô nữa.

Hai tên này chính xác là hai anh em nhà họ Phổ.

Khu rừng săn bắn của nhà chúng tiếp giáp với khu rừng của nhà Hà Điền. Sau khi trời đổ tuyết, những cái bẫy mà chúng giăng ra chỉ bắt được ba con chồn. Hôm qua, sau khi bắt thêm vài con sóc vô giá trị trong bẫy, anh em chúng quyết định đi xem bẫy của nhà Hà Điền.

Bẫy vòm thông nhìn thì có vẻ không quá khó, nhưng khi thực sự làm, có thể thấy cách sử dụng trọng lượng, chiều dài và vị trí của thân cây dùng để làm bẫy đều là những công thức bí mật được giấu kín.

“Cứ đi xem thử bẫy của nhà cô ta thế nào. Tự mình suy nghĩ lại rồi làm một cái đi. Chứ cứ tiếp tục như thế này thì không được đâu, da sóc là thứ không đáng tiền nhất.” Với ý đồ này, hai anh em chúng lẻn vào khu vực đi săn của nhà Hà Điền.

“Bà cô ta mất rồi, e rằng sẽ không trông coi được khu rừng này nữa. Không phải năm ngoái cô ta không thường xuyên đến đây sao? Năm nay chắc cũng sẽ như vậy thôi.”

Mang theo tâm lý may mắn đó, khi đến nhà nghỉ săn bắn của Hà Điền, hai anh em chúng rất ngạc nhiên khi thấy những chiếc bẫy gần đó đã thu hoạch được bốn con chồn.

Hơn nữa, Hà Điền dường như không có ý định từ bỏ căn nhà nghỉ này, cô chất đống củi trong nhà gỗ, trong rương bảo quản ngoài nhà vẫn còn một ít thức ăn.

Hai anh em chúng nhóm lửa lên, lấy thịt xông khói và các loại ngũ cốc mà Hà Điền chuẩn bị ra, nấu một nồi cháo thịt, chuẩn bị thực hiện hành vi tu hú chiếm tổ, đem nơi này trở thành trạm dừng chân của mình.

Nếu Hà Điền đến thì sao?

Bọn chúng cũng đã thảo luận qua, cô ta là phụ nữ, còn bọn chúng là hai người đàn ông kia mà.

Nghĩ đến khu rừng của nhà Hà Điền, ngoài nhà nghĩ này còn có ba nhà nghĩ khác nữa, mỗi nhà nghỉ đều được đặt sẵn những cái bẫy vòm thông gần đó, cả hai cười đến nỗi không ngậm được miệng. Lại nghĩ đến Hà Điền đến một mình, hai anh em cười càng tươi hơn.

Nhưng không ngờ Hà Điền lại đột nhiên có thêm người trợ giúp.

Hơn nữa, mặc dù người nọ chỉ để lộ ra một cặp mắt, nhưng nhìn qua bộ dáng, rõ ràng là một người trẻ tuổi.

Điều đó có nghĩa là gì? Trong rừng, có thêm một lao động trẻ có sức khỏe, hiệu quả trồng trọt sẽ tăng gấp đôi, khi có đủ lương thực dự trữ, thợ săn có thể tự do đi lại giữa tất cả các nhà nghỉ săn bắn và nhà của họ để thu hoạch thêm con mồi, bán da chồn và đổi lấy càng nhiều vật tư tốt hơn – hạt giống, muối, dụng cụ và cả súng ngắn.

“Mẹ kiếp, không biết Hà Điền kiếm người từ đâu ra!” Anh em nhà họ Phổ bực bội chửi rủa, nhưng chúng chỉ có thể tăng tốc độ và băng qua khu rừng tuyết, đi về phía nhà nghỉ săn bắn của mình, vừa đi vừa cầu nguyện không gặp phải bất kỳ loại thú dữ nào.

Cách đó hơn bốn km, trong ngôi nhà nghỉ bằng gỗ của Hà Điền, bầu không khí không được tốt cho lắm.

Sau khi giải quyết xong việc vừa rồi, Hà Điền cố gắng lắm mới gọi được Gạo về.

Chú tuần lộc này đã được nuôi gần bốn năm, nó vẫn còn rất hoang dã và khó thuần phục. Lẽ ra lúc trước phải mang nó ra chợ để cho bác sĩ thú y xử lý một chút.

Khi cô kéo Gạo trở về, Dịch Huyền đã dọn dẹp xong căn nhà nghỉ. Gần như không còn dấu vết của việc anh em nhà họ Phổ lục lọi nữa.

Nhưng vẻ mặt của Hà Điền vẫn ủ rũ, thấp giọng mắng: “Quân cướp của này.”

Hà Điền thậm chí còn khó chịu hơn khi thấy một con chồn mà họ bẫy được đã bị rạch một đường trên lưng. Không ai muốn thu thập những con chồn đã bị tổn thương bộ lông cả.

Dịch Huyền không hề nói một lời, nghe Hà Điền kể về việc nhà họ Phổ không bán chó và muốn xúc phạm cô.

Hà Điền mắng trong chốc lác, cho thêm nước vào nồi, rồi lại cho một ít gạo vào tiếp tục nấu cháo.

Dù sao thì thịt xông khói cũng đã được nấu chín. Coi như đây là việc tốt duy nhất mà lũ khốn này đã làm đi.

Trong khi ăn, Hà Điền rốt cuộc cũng nở nụ cười: “Thôi, hai tên khốn kiếp này rốt cuộc cũng biết chặt một ít củi, đốt lửa nấu nước.”

Dịch Huyền đột nhiên hỏi cô: ” Tại sao vừa rồi chúng ta không giết bọn chúng đi?”

Hà Điền cười, húp một ngụm cháo thịt: “Giết bọn chúng? Vậy thì ba của bọn chúng sẽ không còn đường sống nữa, nhất định sẽ tìm tôi báo thù. Và lẽ dĩ nhiên là chúng ta sẽ khó tránh khỏi việc xảy ra xung đột với chúng.”

Những lời tiếp theo của Dịch Huyền khiến Hà Điền bị sốc.

Cô ấy nói một cách rất bình tĩnh: “Vậy thì cũng giết ông ta luôn. Cô biết ông ta đang ở đâu kia mà. Hoặc, chúng ta có thể dễ dàng hỏi hai tên ngốc đó. Giết hết bọn chúng đi, đợi cho đến phiên chợ xuân năm sau mở lại, lúc đó cho dù có người phát hiện nhà bọn chúng không đến, nhưng cũng sẽ không ai biết được lý do cả. Ai có thể nghĩ đến việc này là do cô làm? Cô chỉ có một thân một mình, hơn nữa còn là một cô gái trẻ.”

Hà Điền nhìn vào đôi mắt sâu kín của Dịch Huyền, và nhận ra rằng, suy đoán trước đây của mình về con người của cô gái này hoàn toàn quá chênh lệch.

Một mặt, cô cho rằng những lời của Dịch Huyền thực sự có phần hợp lý. Khi mùa xuân đến, Dịch Huyền không còn ở đây nữa, nếu như cả nhà chúng đến tìm cô trả thù thì cô phải làm sao bây giờ? Vì sao lại không ra tay trước?

Thế nhưng, đồng thời, sống lưng cô lại lạnh toát.

Cuối cùng, cô cúi đầu, dùng muỗng khuấy cháo trong chén: “Nếu làm được như vậy thì lúc đó tôi đã không cõng cô về nhà.”

Dịch Huyền nghe xong, sửng sốt một hồi, sau đó duỗi tay ra, đặt lên mu bàn tay của Hà Điền, nhẹ nhàng v**t v*.

Hà Điền mỉm cười nhìn cô ấy, Dịch Huyền cũng nở nụ cười.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 16: Thịt thỏ rừng nướng


Lần này Hà Điền và Dịch Huyền mang theo rất nhiều thức ăn, dự định chuẩn bị cho cả bốn nhà nghỉ săn bắn trong khu rừng này.

Bãi săn của nhà Hà Điền là một hình tứ giác không đều. Ông nội cô đã từng đo và ước lượng nó rộng khoảng năm mươi km vuông. Trong số đó còn có những vùng núi nhấp nhô.

Bốn nhà nghỉ ở bãi săn phân bố không đồng đều ở bốn góc rừng, đi bộ từ chỗ này đến chỗ kia mất khoảng một tiếng rưỡi, có nơi còn lâu hơn.

Hiện tại là giữa tháng mười một, thời gian mặt trời mọc dần dần bị hoãn đến mười giờ sáng, sau ba giờ chiều, bầu trời nhanh chóng tối sầm lại. Và sau bốn giờ, không còn ánh sáng ban ngày nữa.

Khi mùa đông lạnh giá tiếp tục, thời gian trời nắng cũng sẽ tiếp tục rút ngắn.

Đến giữa tháng 12, thời gian nắng trung bình chỉ còn khoảng bốn tiếng đồng hồ. Trong khoảng thời gian đó thời tiết rất khô ráo và sáng sủa.

Sau Tết, ngày dần dài. Nhưng quá trình này rất chậm. Phải đến giữa tháng 4 năm sau, băng trên sông mới nứt ra và mùa đông mới chính thức kết thúc.

Nhưng đến cuối tháng hai, mùa săn sẽ kết thúc.

Thời tiết ấm dần lên, chồn cũng giống như các loài động vật khác, bắt đầu lột xác. Chất lượng da lông lúc này không phù hợp với việc làm quần áo.

Quan trọng hơn, các loài động vật sẽ sinh sản vào mùa xuân, thai nghén sinh con, có như vậy thì rừng mới tiếp tục có thú rừng, những người thợ săn sống trong rừng đều phụ thuộc vào hệ sinh thái này.

Sự xuất hiện của kỷ nguyên lạnh giá khắc nghiệt đã thúc đẩy con người khôi phục lại sự sợ hãi với thiên nhiên. Ngay cả những thợ săn không được học hành nhiều cũng biết đến chân lý “Nghỉ ngơi lấy sức”.

Hôm nay, việc săn trộm của anh em nhà họ Phổ đã k*ch th*ch Hà Điền rất nhiều. Ban đầu cô định chỉ di chuyển xung quanh nhà nghỉ gần bờ sông và một nhà nghỉ gần đây nhất, nhưng hiện tại, cô muốn mở rộng phạm vi săn bắn sang khu rừng có cả 4 nhà nghỉ.

Nhưng trên thực tế, kể từ khi ông cô mất cách đây gần chục năm, cô và bà mình hiếm khi có thể trông coi được cả bốn căn nhà nghỉ.

Vào mùa đông, sau khi trời tối, nếu lại gặp phải gió và tuyết, ngay cả những người thợ săn lớn lên trong khu rừng này cũng sẽ có nguy cơ bị lạc. Mà bị lạc trong một đêm âm bốn mươi độ thì thường đồng nghĩa với cái chết.

Vì vậy, mỗi ngày một người chỉ có thể thu con mồi từ bẫy ở gần một nhà nghỉ này, sau khi đặt lại bẫy thì phải ở lại qua đêm, hôm sau sẽ đến nhà nghỉ khác.

Hà Điền lên kế hoạch suốt cả một đêm, không hề ngon giấc.

Buổi sáng khi đang rửa mặt, cô chợt nhận ra rằng, nếu muốn trông coi cả bốn căn nhà nghỉ, vậy thì cô phải sống ở đây.

Giống như lúc trước, khi ông nội vẫn còn, mùa đông năm nào ông cũng đều ở lại đây một mình.

Và rồi sau khi ông nội qua đời, bà nội sẽ ở đây một hoặc hai đêm, sau đó về nhà thu xếp một đêm, ngày hôm sau lại đến khu rừng gần nhà, ở lại một đêm, rồi lại về nhà một lần nữa, và sau đó quay trở lại bên kia sông.

Bởi vì lúc ông của Hà Điền mất, cô vẫn còn rất nhỏ.

Sống trong nhà nghỉ săn bắn rất vất vả, để cháu gái ở trong nhà nghỉ săn bắn cả mùa đông, bà sợ cô không chịu nổi.

Cô vỗ vỗ đầu mình, trở nên tỉnh táo.

Thôi thì cứ cố gắng hết sức mình là được, thuận theo tự nhiên vậy.

Nếu bắt được nhiều chồn hơn thì sao? Dù có thêm tiền, hạt giống, muối, gạo và mì, vải vóc, nhưng rốt cuộc cô vẫn chỉ có một mình mà thôi.

Cho dù có bao nhiêu hạt giống, cô cũng không thể trồng nhiều được, và cho dù có bao nhiêu muối, cô cũng không thể dùng hết.

Nhưng, cô phải bảo vệ tài sản của gia đình mình. Khu rừng này do ông bà cô để lại. Ông và bà đã cùng nhau xây nên căn nhà gỗ, năm nào cô cũng cùng bà sửa chữa lại nhà. Đây là tâm huyết của gia đình cô. Không thể để mặc cho người khác bắt người cướp của.

Suy nghĩ thông suốt, Hà Điền bình tĩnh lại.

Cô đưa Dịch Huyền và Gạo đến một căn nhà nghỉ khác ở phía tây bắc. Nó là cái gần đây nhất.

Đi bộ trong rừng tuyết hơn một giờ, cuối cùng cũng đến được nhà nghỉ.

Hai người vào nhà, cởi nón ra, trên đầu còn bốc lên cả khí trắng.

Hà Điền để Dịch Huyền đốt lửa, còn mình thì đi đến khu rừng gần nhà để kiểm tra bẫy.

Dịch Huyền đã học được cách sử dụng tuyết để tạo ra nước. Khi Hà Điền quay trở lại với bốn con chồn và một con thỏ rừng, cô ấy đang quét tuyết rải rác trên sàn. Ấm đun nước trên bếp phát ra tiếng vang nhẹ, nước rất nhanh sẽ được nấu xong.

Hà Điền lấy thang gỗ ở trong chái củi ra, đặt trên cây, mở rương đựng đồ, Dịch Huyền đưa toàn bộ thức ăn cho cô, cất từng thứ một. Kê, ngũ cốc nguyên hạt, trái cây khô, thịt xông khói, khoai tây khô, khoai lang khô và miến khoai, cá đánh bắt được trong những ngày qua. Cá đông lạnh có thể để trong rương bảo quản trong cả mùa đông, khi muốn ăn thì mang vào nhà, sau khi rã đông, hương vị của cá cũng gần giống như cá tươi vậy.

Khi Hà Điền đi kiểm tra bẫy, Dịch Huyền đã chặt một ít củi.

Tư thế chặt của cô ấy không đúng, nhưng sau khi được Hà Điền chỉ, cô ấy đã hiểu ngay, cầm rìu nhanh chóng chặt một đống củi nhỏ, khiêng vào nhà, chất đống ngay ngắn bên bếp lò.

Hà Điền cũng lấy ra bộ đồ giường từ một rương đựng đồ khác, kêu Dịch Huyền cầm chăn bông và lắc chúng với mình, sau đó treo chăn bông lên dây thừng, dùng nhịp mây để đập lại lần nữa, bông và lông trong chăn lại bung ra.

Nệm lông hươu thực chất là một miếng da hươu nguyên tấm. Sau khi giũ vài cái thì trải nó trên tuyết, dùng xẻng gỗ nện vào, làm như vậy bụi bẩn trên lông hươu sẽ ngấm vào tuyết, sau đó cầm lên, giũ rồi treo lên dây một lúc rồi ôm vào nhà.

Treo bộ đồ giường trong nhà và tiếp tục hong khô, để nhiệt độ ấm áp trong nhà loại bỏ hơi ẩm trên nó.

Họ vừa ngâm xong một nồi hạt kê thì trời u ám và gió bắt đầu thổi, chẳng mấy chốc, những hạt tuyết to như cái chén đã rơi xuống.

Dịch Huyền nhìn lên bầu trời, nhỏ giọng tự nói: “Không biết bếp ở nhà có bị tắt không nữa.”

Hà Điền cũng không biết.

Tuyết rơi, có nghĩa là họ có thể phải ở lại đây lâu hơn dự kiến ban đầu.

Một ngày, hay nhiều ngày. Nó phụ thuộc vào thời điểm tuyết ngừng.

Chỉ khi tuyết ngừng rơi, họ mới có thể xuống núi, băng qua sông và về nhà.

Củi trên bếp ở nhà đủ đốt trong hai ngày hai đêm, còn sau đó thì còn tùy vào may rủi. Sau khi củi lửa bị dập tắt hoàn toàn, khoảng một ngày sau đó, nhiệt độ trong nhà sẽ không còn duy trì được nữa, nước trong thùng nước sẽ bị đóng băng, nếu tất cả đóng băng thì vại gốm có thể sẽ bị vỡ. Những con cá nhỏ còn lại trong vại dùng làm mồi cũng sẽ bị đông thành đá.

Sau đó, những củ cải trắng và khoai tây trong kho cũng sẽ bị đông lạnh và dập nát.

Ngoài ra, không có nhiều tổn thất.

Cửa của căn nhà cũng có thể bị đóng băng. Nhưng điều đó không quá khó. Chỉ cần đốt một đống lửa ngoài hiên, băng tuyết trên khe cửa sẽ từ từ tan ra.

Điều đáng lo ngại nhất là lỗ băng nơi lấy nước. Chúng phải được khuấy tối đa bốn ngày một lần, nếu không thì sẽ bị đông cứng. Muốn đục lại thì phải mất rất nhiều thời gian. Đồng thời cũng có nghĩa là cá đánh bắt được sẽ ít hơn.

Nhưng có lo lắng cũng chỉ vô ích mà thôi.

Vì vậy, Hà Điền chỉ nhìn bầu trời đầy tuyết, kéo Dịch Huyền vào nhà.

Khi xử lý lông chồn, Hà Điền tùy tiện đặt con thỏ rừng đã chiếm chỗ trong bẫy của mình trước bếp lò để rã đông, không quan tâm đến việc lông của nó có bị cháy xém do thỉnh thoảng phát ra tia lửa hay không. Cái bẫy kẹp thực sự không đáng tin cậy một chút nào.

Da thỏ quý hơn da sóc một chút. Da sóc nhỏ, lông ngắn nên chỉ được dùng làm những vật dụng nhỏ như bao tay hay túi xách, da thỏ tuy nhỉnh hơn một chút nhưng cũng chỉ là một chút mà thôi.

“Nghe nói cũng có nhiều thành phố nuôi thỏ?”

“Đúng vậy. Thỏ sinh sản nhanh và không kén ăn. Chỉ cần nuôi vài tháng là có thể ăn được. Không chỉ có các trang trại chuyên biệt mà nhiều người còn nuôi tại nhà.

Thỏ có thể ăn được và có thể dùng lông may thành quần áo. Chỉ có điều là chỉ có những người không có tiền mới mặc quần áo làm bằng lông thỏ. Nhưng mà hình như nhà cô cũng không mấy ưa chuộng lông thỏ cho lắm thì phải?” Dịch Huyền nở nụ cười, chỉ vào một chiếc búa gỗ đặt ở góc nhà, trên cán búa có quấn một lớp lông thỏ, tuy đã không nhìn thấy màu lông nguyên bản, nhưng ở đuôi cán lại có một cái đuôi nhỏ, có thể nhận ra là da thỏ.

Hà Điền cũng cười: “Thịt thỏ cũng ngon. Lát nữa chúng ta sẽ nướng thịt thỏ.”

Hai người cùng nhau lột da chồn, dùng tuyết và tro chà lau, rồi treo lên tấm ván bạch dương cho khô. Con thỏ bị xem thường kia cũng được lột da. Kích thước của nó lớn hơn chồn nhiều nên rã đông cũng chậm hơn.

Hà Điền dùng nó để thử tay nghề của Dịch Huyền, dạy cô ấy cách lột da con mồi.

Cắt vào đâu, dao cắt sâu bao nhiêu, dao di chuyển như thế nào, làm sao để máu chảy ra ít nhất có thể, nếu máu thực sự chảy ra thì phải làm sao để tránh vết máu dính trên lông, nắm vào đâu khi lột da, dùng lực như thế nào? …

Đều là những kỹ thuật nhỏ và đơn giản.

Con thỏ trong tay Dịch Huyền chỉ mới lột được một nửa, trán và mũi cô ấy đã chảy đầy mồ hôi. Trông cô ấy còn mệt hơn lúc đang chặt củi khi nãy.

Miệng cô ấy lại biến thành hình tam giác.

Hà Điền không nhịn được muốn cười. Cô chỉ vừa mới cắn chặt môi, đã nghe thấy tiếng “bịch” phát ra từ chỗ Dịch Huyền, con thỏ trong tay cô ấy đã rơi xuống đất.

Chắc cô ấy muốn tách da thỏ ra khỏi đuôi, nhưng cô ấy không ngờ nó lại trơn đến vậy – tội nghiệp con thỏ đã bị cởi một nửa quần rồi, nhưng bây giờ cái đuôi vẫn còn ở trên mông, quần và áo bị rách làm đôi, xiêu xiêu vẹo vẹo.

Hà Điền nhịn cười phát ra tiếng hừ hừ.

Dịch Huyền mím miệng, thở dài: “Thôi vậy, để tôi dùng tuyết và tro thực vật lau phần da mà cô đã lột ra.”

Hà Điền an ủi cô ấy: “Lúc nhỏ tôi cũng lột da không giỏi, tập thêm vài lần thì mới được. Cô…” Cô nhớ lại thủ pháp của Dịch Huyền: “Hình như cô có chút không khống chế được sức lực, nhẹ nhàng một chút sẽ tốt hơn.”

Dịch Huyền nắm lấy một ít tuyết trong chậu lau lên tay, có chút thất vọng: “Bàn tay của tôi xem ra rất vô dụng.”

Hà Điền nắm lấy tay cô ấy: “Nói bậy. Bàn tay xinh đẹp như thế này sao có thể vô dụng được?” Cô mỉm cười, dùng ngón cái xoa nhẹ đầu ngón tay của Dịch Huyền.

Dịch Huyền đột nhiên đỏ mặt. Cô ấy nhìn vào mắt Hà Điền, không thu tay lại, nhưng rõ ràng là chân tay cô ấy đã cứng đờ.

Hà Điền nhìn lại, có chút bối rối, sao vậy?

Cô cười với Dịch Huyền, Dịch Huyền cũng cười đáp lại. Tuy nhiên, Dịch Huyền đang mỉm cười thì lại đột nhiên quay mặt đi, xong rồi lại mím môi cười.

Tại sao lại đột nhiên vui vẻ rồi?

Thật là khó hiểu.

Hà Điền suy nghĩ một lúc, buông tay Dịch Huyền ra, cầm lấy con thỏ tội nghiệp kia.

Thỏ được lột da rửa sạch, moi nội tạng ra rồi dùng tuyết chà lại lần nữa, cắt bỏ hai chân thỏ, phết một lớp dầu ngỗng và muối, quấn một lớp cỏ khô rồi đặt vào lò nướng.

Đây là bữa tối hôm nay.

Phần thịt thỏ còn lại chặt thành từng miếng nhỏ cho vào nồi đất chuẩn bị cho ngày mai.

Nói bữa tối thì thực sự có hơi sớm một chút, bây giờ chỉ mới hơn bốn giờ chiều. Nhưng thời gian buổi sáng rất ngắn, sau khi đến đây, cả hai chỉ tùy tiện ăn một ít lương khô và nước ấm, coi như là bữa trưa. Vì vậy bữa tối có thể ăn sớm hơn.

Ngoài hai chiếc chân thỏ, Hà Điền còn cho một ít hạt kê vào nồi đất, thêm vài miếng khoai lang khô và một nắm táo khô, nấu trên lửa vừa đun vừa khuấy nhẹ.

Dần dần, mùi thơm ngào ngạt của cháo kê lan tỏa, khoai lang khô và táo đỏ được nấu chín mềm khiến màu của cháo kê đậm hơn. Ngay sau đó, một mùi thơm kỳ lạ bốc ra từ vỉ nướng quyện với vị ngọt của cháo.

Đã lâu rồi Hà Điền không được ăn thịt tươi.

Thịt thỏ được bọc trong một lớp cỏ khô vẫn giữ được chất béo trong thịt, vạch lớp cỏ khô đã bị thấm nước thịt có màu xanh sẫm ra, phần chân thỏ lộ ra có lớp da vàng, sau khi xé ra, thịt có màu trắng hồng sẫm. Nước thịt nhỏ giọt tí tách, rơi xuống dĩa gốm, hóa thành những bông hoa dầu màu vàng tròn tròn, dưới ánh đèn lóe lên những vòng tròn nhỏ béo ngậy.

Hà Điền và Dịch Huyền mỗi người có một chiếc chân thỏ, cứ vậy mà cầm lấy xương của chân thỏ lên ăn. Một miếng thịt chân thỏ đậm đà, một miếng cháo kê khoai lang đặc sệt.

Ăn xong, trời tối hẳn. Tuyết vẫn chưa ngừng.

Dịch Huyền dẫn Gạo ra khỏi chái củi, đứng dưới hiên nhà phủi tuyết cho nó.

Sau khi Gạo vào nhà, ngóc đầu dậy ngửi thấy mùi thức ăn còn vương trong không khí, vẫy vẫy cái đuôi.

“A -” Hà Điền vừa nhìn tư thế vẫy đuôi của nó thì hét lên ngay, nhưng ngay khi cô nhảy dựng lên, cái đuôi của Gạo cuộn lại, và rồi “phịch” một tiếng, không hề khách khí thả một đống phân xuống sàn.

“Đồ ngu xuẩn này!”

Hà Điền rất đau lòng, nhưng bất lực.

Cô và Dịch Huyền nhìn nhau, cả hai đều không thể làm gì khác hơn, vì vậy họ đơn giản đóng cửa lại, đợi Gạo ị xong rồi dọn dẹp. Vừa rồi tuy chỉ mở cửa có hai lần, nhưng nhiệt lượng tích trữ trong nhà cũng đã chẳng còn mấy, vô cùng lạnh lẽo.

Hà Điền rắc tro lên phân của Gạo, may mà thức ăn của nó chủ yếu là vỏ cây và cỏ khô, dọn dẹp cũng không quá khó khăn.

Dịch Huyền nhìn thấy Hà Điền trầm mặc, liền an ủi cô: “Trước đây, người dân sống trên cao nguyên thường thu gom phân bò, ép thành bánh, dán lên tường hoặc trải xuống đất để phơi khô, mùa đông dùng như nhiên liệu.”

“Tại sao họ không đốn củi?”

“Bởi vì ở nơi họ sống không có quá nhiều cây cối. Tất cả đều là đồng cỏ. Nếu chặt cây thì phải mất một thời gian dài cây cối mới mọc trở lại.”

Vừa quét dọn xong, khi mở cửa ra, gió lạnh cuốn theo bông tuyết, giống như một đàn bướm trắng lớn lao tới, trong chốc lác liền biến mất trong không trung.

Nhiệt lượng còn lại trong nhà không còn nữa, Hà Điền rùng mình một cái, bảo Dịch Huyền cùng nhau khoác chiếc áo khoác lông hươu lớn vào, còn tức giận đến mức kéo lỗ tai của Gạo.

Dịch Huyền trải cỏ khô ở góc tường, dẫn Gạo qua rồi sờ đầu nó: “Đừng làm cho Hà Điền tức giận nữa.”

Gạo vẫn mặc kệ người ta.

Tuyết trước đây cho vào thùng sắt giờ đã biến thành nửa thùng nước tuyết, Hà Điền cho vào bếp một miếng gỗ, đổ một ít nước tuyết vào ấm, thả vào ấm một ít táo khô, mở nắp và đặt trên bếp một lúc.

Từ từ, mùi thơm của táo tràn ngập khắp nhà.

Hà Điền đậy nắp lại, đun sôi nước, rót cho họ mỗi người một ly và thêm vào một ít nước đường lấy từ cây phong.

Ly trà táo này gợi nhớ đến mùa thu. Thời tiết lúc đó không quá lạnh, nắng vàng, lá phong vàng đỏ như lửa, những trái táo chín rụng đầy trên mặt đất.

Dịch Huyền uống vài ngụm trà: “Thực ra, đó không phải là lỗi hoàn toàn của Gạo. Sẽ tốt hơn nếu chúng ta có một ngôi nhà giống như chuồng ngựa. Vào mùa đông, chúng ta sẽ đóng những tấm rèm cỏ dày trên chuồng, ban đêm thả chúng xuống, còn ban ngày thì cuộn lên.”

Hà Điền biết đó là gì: “Nhưng ở đây vào ban đêm sẽ có sói.”

“Dù vậy, vẫn phải làm cho nó một cái chuồng. Có thể khóa lại. Giống như ở nhà.”

“Vậy thì cũng phải đợi đến mùa xuân. Bây giờ đất đang đóng băng rất cứng.”

Trong lúc bàn chuyện làm chuồng, cả hai lấy cỏ nhung ở trong giỏ ra.

Những tấm thảm rơm trong những căn nhà nghỉ này đã ba bốn năm không hề thay mới.

Vốn mỗi mùa đông đều sẽ thay mới một lần, nhưng Hà Điền chỉ có một mình, cô không có nhiều thời gian.

Cỏ nhung làm chiếu rơm không cần đánh tơi thành sợi. Buộc một nhúm cỏ nhung dày bằng ngón tay ở phần đầu, đuôi và giữa bằng ba sợi dây nhung, buộc chặt rồi rồi dùng búa gỗ nện chặt lại, sau đó thêm một nhúm cỏ vào, lặp lại nhiều lần thì chiếu cỏ dần dần thành hình.

Tuy nhiên, càng về sau, càng phải dùng lực mạnh hơn.

Chiếu rơm thường được làm dài gần một mét tám và rộng một mét. Nếu kỹ lưỡng một chút thì có thể bọc cạnh chiếu lại bằng vải. Làm như vậy chiếu rơm sẽ bền và đẹp hơn.

Trước đây Dịch Huyền đã từng nhìn thấy những tấm chiếu rơm như thế này rồi, nhưng đây là lần đầu tiên được xem chúng được làm như thế nào.

Hà Điền đã lãnh giáo qua kỹ năng đan lát của Dịch Huyền, vì vậy cô cũng không hy vọng nhiều vào kỹ năng làm chiếu rơm của cô ấy. Sau vài lần làm mẫu, Dịch Huyền cầm lấy chiếc búa gỗ, nói: “Tôi sẽ làm công việc này.”

Ngoài nhà gió tuyết gào thét, trong nhà ấm áp như xuân.

Hai người cùng nhau làm chiếu rơm, mồ hôi nhễ nhại.

Ngồi trước bếp lò ấm áp, uống trà đường táo ngọt, trên tay cầm một bó cỏ nhung thơm nhẹ, thật an yên và thoải mái.

Sẽ thật hoàn hảo nếu bỏ qua cái tên ngốc tự dùng đuôi tát vào mũi và phát ra tiếng thở phì phì, hơn nữa còn làm ẩu ở góc nhà.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 17: Bánh bao cánh hoa


Tuyết không ngừng rơi cho đến tối hôm sau.

Hà Điền và Dịch Huyền trở về căn nhà nghỉ gần sông và thu hoạch thêm năm tấm da chồn nữa.

Sau khi ở lại một đêm và đặt bẫy lần nữa, họ lùa Gạo xuống núi, băng qua sông băng trở về nhà.

Cành cây khô và vỏ hạt dẻ rắc trên mặt băng khi họ đến đây giờ đã là một con đường đen xám có thể nhìn từ xa trên nền tuyết. Chúng đã được đóng băng chắc chắn. Dù có tuyết rơi nhưng cũng có gió, ngày hôm qua gió đã thổi bay rất nhiều tuyết, cuối cùng thì Gạo cũng đã có thể chạy trên con đường này.

Nó chạy càng lúc càng nhanh, Hà Điền vẫy tay với Dịch Huyền, đầu tiên nhảy lên xe trượt, sau đó kéo Dịch Huyền lên.

Khi tuần lộc dốc hết sức chạy trên một con đường bằng phẳng, tốc độ nhanh nhất có thể lên tới gần 50 km/h.

Tất nhiên, đây là những gì trong sách nói.

Hà Điền không biết lúc này Gạo chạy nhanh như thế nào, nhưng hẳn là rất nhanh.

Gió lạnh buốt thấu xương xộc thẳng vào mặt, mặc cho toàn thân che chắn kỹ càng, chỉ lộ ra một đôi mắt, nhưng vẫn cảm giác được cái lạnh phà thẳng vào mắt.

Bàn tay mang lồng tay* đang cầm dây cương, và những nếp gấp trên cánh tay phủ đầy bông tuyết do Gạo chạy làm văng lên.

*Đồ ủ tay.

Tuyết ở hai bên xe trượt nhanh chóng đóng băng lại, và rồi lại tan chảy khi xe trượt cọ xát với mặt đất, biến thành các gờ băng nhỏ chảy xuống, sau đó trên các gờ băng lại nhanh chóng tích tụ một lớp bông tuyết do Gạo làm bắn tung tóe.

Trở về nhanh hơn nhiều so với khi đi.

Sau khi dốc hết sức chạy trong khoảng ba mươi, bốn mươi phút, họ đã có thể nhìn thấy rõ khung cảnh quen thuộc xung quanh nhà.

Hà Điền kéo Gạo dừng lại gần lỗ băng rồi nhảy xuống xe trượt, mặc kệ tuyết trên người chưa được giũ bỏ, cô đi kiểm tra lỗ băng trước.

Cô dùng sức lắc mạnh cây gậy cắm trong lỗ băng, thì thầm: “Đừng đóng băng! Đừng đóng băng.”

Dịch Huyền đi tới: “Để tôi làm cho.”

Cô ấy nắm lấy cây gậy và từ từ xoay nó, lỗ băng phát ra tiếng kẽo kẹt.

Hà Điền cũng không nhàn rỗi, cô chạy đến một lỗ băng khác, cũng khuấy mạnh cây gậy.

May mắn thay, sau mười phút, băng trong hai lỗ băng đã nát ra.

Họ kéo lưới đánh cá lên, có bảy tám con cá trong đó.

Sau khi thả lưới đánh cá xuống, cả hai đều mệt và đói.

Nhưng bây giờ họ chỉ có thể ăn một ít lương khô để lót dạ.

Việc trước tiên nên làm là đưa Gạo về nhà, cho nó ăn chút gì đó, rồi xem xét tình trạng của căn nhà gỗ. Nếu cửa bị đóng băng, thì chỉ có thể nhóm lửa ở chỗ đất trống trước nhà, ấm hơn một chút, đợi cửa tan băng, vào nhà rồi mới tính đến những chuyện khác. Nếu có một trận bão tuyết bất ngờ xảy ra vào thời điểm này thì sẽ tiêu tùng mất.

Về nhà vừa nhìn, cũng may, bức tường tuyết bên ngoài căn nhà gỗ chống gió tuyết rất hiệu quả, lửa trong nhà tuy đã bị dập tắt nhưng cánh cửa vẫn không bị đóng băng, sau khi kéo chốt sắt lắc vài cái thì đã mở ra được.

Trong nhà không quá lạnh, vại nước không bị đóng băng, những viên gạch bên ngoài ống khói khi chạm vào vẫn còn thấy hơi ấm, chỉ có cửa sổ là bị kết một lớp sương giá.

Hà Điền và Dịch Huyền nhanh chóng hành động.

Dịch Huyền nhóm lại lửa, Hà Điền quét sạch tuyết trên hầm rau, nếu nắp hầm rau bị đóng băng thì thật là tệ, vẫn may, nó không bị đóng băng.

Cô trèo xuống hầm rau lấy một ít thức ăn, sau đó đậy nắp lại, chêm một cái nêm dưới nắp gỗ để cho hầm rau được thông thoáng.

Sau khi bếp lò cháy, Dịch Huyền nấu một nồi nước, đi ra ngoài giúp Hà Điền quét tuyết: “Cô đi nấu ăn đi. Để tôi làm cho.”

Cô ấy thấy mặt Hà Điền đỏ bừng vì lạnh, không khỏi mỉm cười đưa hai tay lên bóp hai má, làm cho cái miệng nhỏ nhắn của cô chu lên trông rất đáng yêu.

Dịch Huyền cười thành tiếng.

Hà Điền cũng cười, cô đưa chiếc cào gỗ trong tay cho Dịch Huyền: “Vậy thì tôi sẽ nấu một ít miến khoai tây.”

Trong nhà còn có một miếng thịt xông khói ăn dở, chính là đùi hoẵng. Bỏ những lát thịt vào trong nồi canh nóng hổi, rồi lại cho thêm vài cọng miến khoai tây, ăn vào sẽ rất ấm bụng.

Hà Điền đổ nước nóng sắp sôi vào chảo sắt, đặt chảo lên lửa tiếp tục đun, dùng lưỡi dao nhỏ cắt vài lát đùi hoẵng, ném vào chảo, nghĩ ngợi một chút rồi lại lấy từ chum rau muối ra một vài miếng cải thảo muối chua.

Năm nào đến cuối thu nhà của Hà Điền cũng đều sẽ muối cải. Tuy nhiên, vụ cải năm nay không được tốt cho lắm nên cô chỉ muối một chum cải mà thôi.

Khi muối cải, cho một lớp muối vào chum, sau đó trộn muối, đường và nhiều ớt băm lại với nhau, đảo đều để làm nước sốt.

Lấy một bẹ cải tươi, cắt đôi theo chiều dọc từ giữa, bẻ đôi lá, thoa đều nước sốt lên từng lớp giữa các lá, cho vào chum, cuối cùng ấn một viên đá lớn lên. Chum được đặt ở nơi thoáng mát tùy theo nhiệt độ, lâu nhất là một tuần hoặc ít nhất là ba bốn ngày là cải thảo đã chua.

Lúc này cải thảo sẽ tiết ra nhiều nước, mở chum ra, có thể thấy được màu xanh của cải thảo trong rất nhiều nước màu đỏ.

Chum cải muối chua phải được để trong nhà sau mùa đông, hoặc trong hầm, chỉ là lúc lấy ra có chút không tiện. Hầm sâu từ hai đến ba mét, mà chum cải thì có quá nhiều nước.

Hà Điền đặt lá cải ở phía trên miệng lọ, vắt hết nước bên trong, cho nước mặn và cay chảy ngược lại vào chum. Sau đó, cô cắt phần bẹ thành nhiều đoạn, ném cả nắm vào nồi rồi xếp phần lá vào một chiếc dĩa.

Lúc này nước trong nồi đã sôi, cô lấy ba bốn nắm miến khoai tây, ném vào, dùng đũa khuấy đều.

Dịch Huyền đã quét xong tuyết quanh nhà, cơm nước cũng đã sẵn sàng.

Trên bàn có hai cái tô đang bốc khói, bên trong có miến trắng như tuyết, lát thịt xông khói màu hồng đậm và những miếng cải thảo trăng trắng, giữa hai cái tô có một dĩa lá cải xanh màu ngọc bích, điểm xuyến những chấm đỏ li ti.

Miến có vị cay, bẹ cải giòn, thịt xông khói mặn mà, ngon tuyệt. Ăn xong tô miến chua cay nóng hổi này mà bụng no căng, toàn thân ấm nóng.

Hà Điền cho vào ấm một vài quả dài như quả đậu, màu đen xám, Dịch Huyền chưa bao giờ nhìn thấy những quả này, Hà Điền nói rằng bà của cô cũng không biết chúng là quả gì, nhưng thỉnh thoảng nấu chúng lên uống rất ngon.

“Dù sao thì cô cũng nên đặt cho nó một cái tên chứ?”

“Không có tên, cứ gọi là quả đậu nấu nước thôi.”

Dịch Huyền khẽ cười một tiếng. Hà Điền cũng cười.

Quả đậu được nấu sôi một lúc, Dịch Huyền ngửi thấy một mùi hương tương tự như kẹo sữa.

Mùi hương càng lúc càng nồng, nước sôi trào, Hà Điền rót ra hai cái ly, mở nắp ra, quạt quạt miệng nồi: “Thơm quá.”

Nước nấu từ quả đậu chỉ có vị ngọt nhẹ chứ không có vị quá nồng.

Hà Điền lấy quả đậu ra, cho vào một chiếc dĩa để phơi khô. “Sau khi nấu qua một lần, nếu nấu lại thì nước sẽ mất đi hương vị, nhưng đến mùa xuân khi làm xà phòng thì có thể nghiền nát nó ra rồi cho vào, vẫn còn rất thơm.”

Dịch Huyền đề nghị: “Vậy thì nên thêm chúng vào nến để làm nến thơm.”

“Nến thơm?”

Nhà Hà Điền sử dụng đèn dầu để thắp sáng. Lấy mỡ động vật, đun nóng, lọc, đổ vào đèn dầu, thêm bấc làm bằng sợi bông là có thể dùng được. Đèn được tròng một cái chụp bằng thủy tinh, không dễ bị gió thổi tắt, đồng thời còn có thể mang đi khắp nơi. Có thể điều chỉnh cường độ ánh sáng bằng cách nâng cao hoặc thu ngắn bấc đèn. Nhưng cho dù cô có điều chỉnh thế nào thì nó vẫn cứ không có gì thay đổi.

Cũng có một số người dùng nến. Đáy nến được làm nóng rồi ấn chặt vào dĩa gốm hoặc giá đỡ nến làm bằng vật liệu nào đó, có thể di chuyển được. Một số người thích mua nến từ những người buôn bán, chúng không quá đắt, ngay cả ở những thành phố lớn nhất, không phải đâu đâu cũng có điện, và nguồn điện cũng không ổn định, mọi người đều giữ nến trong nhà. Một số thợ săn trên núi cũng tự làm nến. Họ chỉ cần nến có thể cháy được là được chứ cũng không yêu cầu kỹ thuật cao.

Nhưng những ngọn nến thơm mà Dịch Huyền đề cập, rõ ràng, chức năng chính không phải là thắp sáng.

“Khi cô đi tắm hoặc trước khi đi ngủ, hoặc đơn giản là chỉ muốn uống một tách trà thoải mái, đọc một cuốn sách, chợp mắt trong căn phòng ấm áp, nghe nhạc, nghĩ ngợi về một điều gì đó, thực sự là bất cứ lúc nào, nếu muốn, cô đều có thể thắp nến thơm.”

Dịch Huyền suy nghĩ một lúc rồi nói thêm: “Trong nến thơm cũng có hoa khô và trái cây khô, chẳng hạn như chanh cắt lát. Nến khi được đông cứng trong ly thủy tinh thì trông sẽ rất đẹp. Đôi khi còn có thể vừa ngâm mình vừa nhâm nhi uống trà và ăn một chút đồ ăn nhẹ.”

Nhắc đến chuyện tắm rửa, Hà Điền nhớ tới một điều. Dịch Huyền đã ở đây hơn hai tuần. Mặc dù Hà Điền đã đem quần áo cũ của bà mình sửa thành áo khoác lông, áo choàng bông và quần áo cho cô ấy, nhưng về phần đồ lót, Dịch Huyền không nhắc đến, cô cũng quên.

Hơn nữa, đã nhiều ngày như vậy, Dịch Huyền cũng giống như cô, trước khi đi ngủ thường hay dùng lược gốm chải đầu. Trên lược gốm có những lỗ nhỏ, giúp bay mùi. Việc gội đầu cũng đơn giản, cứ ba ngày một lần, trước khi đi ngủ, gội sạch tóc, đầu tiên dùng lược gốm chải sạch, sau đó xoa bóp da đầu bằng cát mịn trộn tro thực vật, cuối cùng dùng lược chải sạch cát và tro mịn đi, tóc liền trở nên mềm mại. Nếu thêm linh sam khô, lá thông, thân cây cúc dại hoặc bột làm từ hoa khô vào tro cây, tóc còn sẽ có mùi thơm.

“Tối nay chúng ta sẽ đi tắm, ngày mai giặt quần áo.” Hà Điền quyết định: “À, tôi có một ít vải bông, tôi làm cho cô một số đồ lót để thay thế nha? Cô muốn kiểu gì?”

Dịch Huyền đã rất vui khi nghe thấy câu nói “muốn đi tắm” trước đó, nhưng rồi lại trở nên xấu hổ khi nghe thấy hai từ đồ lót.

Cô ấy đỏ mặt, im lặng một lúc rồi nói: “Làm kiểu đơn giản nhất là được.”

Khoảng hai giờ chiều, trời vẫn còn hừng sáng, Hà Điền lấy vải ra trải trên bàn, không có thước đo, cô gọi Dịch Huyền đến đứng trước mặt mình, dùng tay đặt lên eo cô ấy đo, rồi lại đo luôn độ lồi của mông cô ấy.

Dịch Huyền cứng đờ như gỗ, Hà Điền nhẹ giọng nói: “Được, xong rồi!”

Ở trong rừng rậm mà được tắm giữa mùa đông thì chẳng khác gì ngày lễ.

Vì tắm cần đun rất nhiều nước nóng nên phải tận dụng nó một cách triệt để. Vì vậy, trước khi làm đồ lót cho Dịch Huyền, Hà Điền lấy một ít bột mì quý giá và bột men ra.

Cô sẽ hấp một số bánh bao để ăn.

Trộn đều bột mì và bột men, sau đó rắc hai thìa đường, một chút muối, thêm một chút nước ấm, khuấy từ thành chậu gốm vào giữa cho đến khi đều thì rửa tay, lau khô, sau đó cho một chút dầu ngỗng vào lòng bàn tay, thoa đều lên các đầu ngón tay rồi bắt đầu nhào bột.

Sau khi nhào bột có độ cứng vừa phải, phủ khăn ẩm lên miệng chậu để giữ độ ẩm cho bột. Đặt chậu trên mép bếp, không để quá gần lửa, nóng quá sẽ làm con men trong bột chết đi, bột sẽ không nở, lạnh quá thì phải đến nửa đêm mới nở được.

Nhào bột xong, Hà Điền đưa Dịch Huyền đi dọn dẹp nhà tắm.

Nó thực ra là một căn chòi nhỏ, vốn được dùng để làm thịt xông khói, nhưng do đã quá cũ nên được Hà Điền tận dụng làm thành nhà tắm.

Căn chòi nhỏ chỉ ba bốn mét vuông, hai người đứng bên trong rất khó xoay qua xoay lại, chính giữa chòi là chiếc bếp sắt đơn sơ, trong góc có kê một thùng gỗ lớn, cạnh thùng gỗ là chiếc thang nhỏ hai tầng giống ghế đẩu, phải bước lên nó mới vào thùng được.

Bên trong thùng còn có một băng ghế nhỏ, để mọi người có thể ngồi và ngâm mình trong đó.

Hà Điền đem một chậu tuyết vào, đổ tuyết vào thùng gỗ, nhờ Dịch Huyền giúp mình một tay nghiêng thùng gỗ qua một bên, dùng cỏ khô lau chùi sạch sẽ.

Trên thành thùng cách đáy thùng mười mm có một nút chai tròn, một sợi dây được đóng đinh vào giữa nút, kéo sợi dây trên thùng thì nước có thể chảy ra. Trên nút chai có bọc một lớp da, sau khi ngâm da sẽ phồng lên và lấp đầy khoảng trống giữa lỗ tròn và nút chai nên không phải lo lắng về việc thùng bị rò rỉ.

Trên sàn đặt thùng gỗ có một sợi dây thừng, kéo mạnh sợi dây, tấm ván gỗ mở ra, một luồng khí lạnh thổi vào.

Hà Điền kêu Dịch Huyền dựng thùng lên rồi từ từ di chuyển, để cho nút chai bên hông thùng kề sát với nơi tấm gỗ đang mở kia.

Khi muốn xả nước, chỉ cần kéo tấm gỗ trên sàn, rồi kéo nút chai trên thùng, nước bẩn có thể trực tiếp chảy ra ngoài từ đây.

Họ đốt lửa lên rồi đậy nắp bếp lại, từ từ làm nóng căn phòng trước.

Hơn hai giờ sau, Hà Điền dùng vải bông để may hai bộ đồ lót “kiểu đơn giản nhất” cho Dịch Huyền, bột trong chậu cũng đã nở.

Khi nhào, khối bột chỉ có hình tròn to hơn nắm tay, giờ gần như lấp đầy cả chậu, tỏa ra mùi thơm đặc trưng của bột sau khi lên men.

Hà Điền nói với Dịch Huyền: “Giờ thì cô có thể nấu nước được rồi!”

Dịch Huyền lấy hai thùng nước đi nấu, còn Hà Điền thì bôi thêm một lớp dầu lên tay rồi bắt đầu làm bánh bao.

Cô ngắt một nắm bột ra, bột kéo theo những dải dây bạc, rồi nhanh chóng co lại thành hình tròn, trên bột đầy những lỗ nhỏ, toát lên mùi thơm đặc trưng của quá trình lên men tinh bột.

Hà Điền lại nhào bột thành một cục, chia thành hai phần và cắt một phần thành tám miếng. Cô đặt một miếng vải đã ngâm nước vào trong xửng hấp tre rồi xếp đều tám chiếc bánh bao nhỏ lên.

Phần còn lại, cô dự định làm một món bánh bao hơi đặc biệt.

Trong nhà tắm, Dịch Huyền cũng đã nấu xong một nồi nước.

Như lời Hà Điền nói, đầu tiên cô ấy lấy nắp thùng gỗ treo trên tường xuống, đậy nắp thùng lại, sau đó đổ nước nóng vào thùng qua lỗ tròn trên nắp. Bằng cách này, hơi nước nóng có thể ở trong thùng nhiều nhất có thể.

Sau đó, cô ấy nấu nồi nước thứ hai.

Hà Điền nói, phải nấu ba hoặc bốn nồi nước mới đủ.

Khi Dịch Huyền đổ nồi nước thứ hai vào thùng gỗ, Hà Điền mang theo một lồng bánh bao hấp đến.

Lúc này, những chiếc bánh bao hấp lại phình to ra, nở to hơn rất nhiều so với lúc nhào và cho vào nồi hấp.

Thay ấm nước bằng nồi sắt, thêm nước, sau khi nước sôi thì cho vào nồi hấp cách thủy khoảng mười phút, mùi tinh bột ngọt ngào và hơi nước bắt đầu tỏa ra trong phòng.

Bánh bao này sau khi được hấp chín, trông giống như một bầy thỏ trắng mũm mĩm xúm xít vào nhau.

Sau khi đổ nước vào, Hà Điền kiểm tra nhiệt độ của nước: “Gần như có thể tắm được rồi! Chỉ cần thêm một chút nước lạnh vào là được.”

Dịch Huyền lập tức nói: “Cô đi tắm trước đi.”

Hà Điền đoán có lẽ cô ấy lại đang ngượng ngùng: “Được rồi. Sau khi tắm xong, tôi sẽ xả một ít nước dưới đáy thùng ra, để phần nước còn lại được sạch. Lúc tắm, tôi sẽ nấu một nồi nước, đợi khi cô tắm thì cho vào, vậy thì nước vẫn sẽ luôn ấm.”

Hai người thảo luận xong, Hà Điền đem bánh bao hấp đi, Dịch Huyền lại xách hai thùng nước lạnh qua, nấu thêm nước.

Hà Điền bỏ quần áo sạch vào một cái giỏ rồi xách ra ngoài cùng với một cái giỏ đựng bánh bao khác.

Cô đặt những chiếc bánh bao hấp vào nồi sắt rồi nói với Dịch Huyền, người đang vội vàng chạy ra ngoài: “Cô có thể ăn một cái bánh bao hấp khi còn nóng!”

Dịch Huyền ừ một tiếng, bỏ chạy thật nhanh.

“Vội ăn bánh như vậy sao?” Hà Điền lẩm bẩm, đóng cửa lại, c** q**n áo rồi bước vào thùng tắm.

Sau hơn hai mươi phút, cô tắm xong, bánh cũng đã được hấp chín.

Hà Điền chạy trở lại nhà, gọi Dịch Huyền: “Cô đi tắm đi.”

Dịch Huyền cúi đầu bỏ chạy.

Cô ấy bước vào nhà tắm, căn phòng nóng hừng hực và đầy hơi nước trắng xóa, trộn lẫn với mùi củi đốt và mùi bánh hấp. Cô ấy đóng cửa lại, khi đang c** q**n áo, cô ấy thấy Hà Điền đã đặt một thanh gỗ nằm ngang trên nắp thùng tắm, trên đó là một chiếc dĩa với một tách trà và một cái bánh bao hình bông hoa.

Cái bánh bao này giống như một bông hồng đang nở, có nhiều lớp cánh hoa, giữa các cánh hoa có viền mờ màu cam vàng.

Làm thế nào để làm ra nó? Và nó được làm bằng gì?

Dịch Huyền mỉm cười, cẩn thận bước vào trong thùng, nước trong thùng nóng đến mức khiến người ta thở ra, cô ấy nín thở ngồi phịch xuống, từng thớ thịt và từng tấc da trên cơ thể đều được ủi phẳng phiu bằng nước nóng trở nên mềm mại và thật dễ chịu.

Cầm cái bánh bao nhỏ trong tay, cắn một miếng nhỏ, Dịch Huyền nếm thử, đây là hồng khô.

Hà Điền cho một lớp hồng khô vào trong từng lớp bột đã nhào.

“Ngọt quá… ” Dịch Huyền mỉm cười, đặt bánh bao xuống, nhấp một ngụm trà. Loại trà này đã được rang qua với gạo dại.

Củi trong bếp sắt đang cháy, phát ra tiếng răng rắc nhỏ, ánh lửa lóe lên thông qua các khe hở của bếp, cả căn phòng tràn ngập hơi nước.

Như thế này không phải là, vừa ngâm nước tắm, vừa uống trà, vừa ăn điểm tâm sao?

Dịch Huyền dựa đầu vào thành thùng, thở ra một hơi, rồi bất giác mỉm cười.

Tác giả: Môi trường sống không tốt không có nghĩa là cuộc sống sẽ thô ráp.

Sắp không giả nữ được nữa rồi!
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 18: Đông chí


Có một lối đi lộ thiên giữa nhà tắm và nhà, lúc đi từ phòng tắm vào nhà, một vài sợi tóc ướt đã bị đông lại thành băng.

Nhưng Dịch Huyền vẫn cảm thấy rất vui vẻ.

Cô ấy và Hà Điền ngồi trước bếp lò, ăn bánh bao hấp, đợi khi tóc khô thì chải bằng lược gốm, tóc mượt mà trơn tuột, có mùi thơm nhẹ và một chút đắng mát.

Hà Điền nói mùi xà phòng mà họ dùng để gội đầu là công thức bí mật của bà cô.

Ngày hôm sau, Hà Điền và Dịch Huyền dắt Gạo đi ra sông, lấy nước nhiều lần, đổ đầy vại nước đã cạn kiệt vì tắm.

Vừa lúc, tất cả các vại nước đã đến thời điểm phải làm sạch.

Hà Điền dùng gáo múc những con cá nhỏ nuôi trong vại ra cho vào chậu gốm, đổ nốt phần nước còn lại vào chậu, sau đó chuyển vại ra hiên rồi dùng miếng xơ mướp chà lên thành vại.

Cá nuôi trong vại không cần phải cho ăn, để nó ăn các loại vi sinh vật bám trên thành vại, tất nhiên là cả trong nước.

Vào mùa đông, vại nước có thể được vệ sinh một hoặc hai tháng một lần. Nhưng vào mùa hè, phải rửa thường xuyên hơn.

Sau khi đổ đầy nước vào vại, Hà Điền và Dịch Huyền bắt đầu giặt quần áo.

Trước khi dắt Gạo đi lấy nước, họ đã chuyển “máy giặt” ra khỏi kho chứa.

Mặc dù hầu hết các khu vực đã bị mất điện, một nguồn năng lượng vốn không thể thiếu của con người, nhưng công nghệ đã được cải tiến nhiều lần này vẫn không bị lãng quên.

“Máy giặt” của nhà Hà Điền là một thứ tương tự như máy giặt trước đây. Tuy nhiên, thùng là thùng gỗ, được đặt trên một giá đỡ. Một bên của thùng có đóng một cây trụ dài. Nó có thể được đẩy bằng tay hoặc dùng sức kéo của Gạo.

“Máy giặt” này thực sự trông giống như một cái cối xay đá hơn, nhưng lại dùng thùng gỗ thay vì cán xay và cối xay.

Cho quần áo vào thùng, thêm nước và nước xà phòng, cột một nhánh tre mỏng lên khung của Gạo, sau đó treo một cành cây nhỏ hoặc thức ăn mà nó thích lên nhánh tre, nó sẽ tiếp tục ăn thức ăn này, đi về phía trước, không nhận ra rằng mình đang quay xung quanh cái thùng.

Quần áo trong xô quay liên tục theo vòng quay của thùng gỗ, quay được một tiếng thì thay nước một lần, lại quay thêm một lúc nữa là quần áo đã được giặt sạch.

Sau khi Hà Điền sống một mình, cô hầu như chỉ giặt quần áo ở mép suối, đã lâu không dùng đến máy giặt.

“Hôm nay Gạo đã vất vả rồi! Tối nay chị sẽ thêm chút đậu cho cưng.” Hà Điền vỗ vỗ lên bụng Gạo.

Nó cứ bước đi, mặc kệ Hà Điền.

Chờ Hà Điền và Dịch Huyền xử lý số chồn mà họ thu hoạch được lần này xong, treo lên, quần áo cũng đã được giặt xong.

Quần áo ướt vừa được treo lên sợi dây thì ngay lập tức đông cứng lại.

Khi Dịch Huyền treo quần áo lên, Hà Điền vội vàng chủ động giúp, nhưng cô ấy lại không để Hà Điền động tay vào.

Giờ thì Hà Điền đã hiểu, Dịch Huyền là một người rất bảo thủ. Vì vậy, cô không nói bất cứ điều gì, nhìn cô ấy vụng về treo quần áo từng cái một lên sợi dây.

Quần áo của Dịch Huyền gần như thay đổi từ trong ra ngoài, bên ngoài là áo khoác lông hươu và giày rơm của những người thợ săn trên núi, bước vào nhà, cởi áo khoác ngoài ra, bên trong mặc áo dài và quần vải bông, đi ủng da.

Bây giờ trông cô ấy không khác gì những người thợ săn.

Những bộ quần áo này được làm từ quần áo cũ của bà Hà Điền, cô rất vui khi có người tiếp tục mặc chúng.

Quần áo ướt đóng thành đá đến chiều có thể mang vào nhà, mặc dù chúng vẫn còn cứng.

Đặt một giàn phơi bên bếp, khi ngủ dậy thì quần áo đã gần khô hết. Nếu có những nếp gấp nhỏ chưa khô, Hà Điền còn có một cái bàn ủi. Bàn ủi làm bằng gang, rỗng, bên trong chứa đầy than nóng đỏ, đậy kín nắp, lúc ủi thì trải một lớp vải dạ lên bàn, ủi phẳng quần áo rồi xếp vào rương.

Sau khi dọn dẹp nhà cửa một ngày, Hà Điền và Dịch Huyền lại lên đường đến nhà nghỉ săn bắn.

Trong vài tuần tới, họ đều thường xuyên lui tới rừng cây hai bên sông, thu hoạch chồn.

Có vẻ như linh cảm của Hà Điền đã đúng. Mùa đông năm nay chồn được mùa.

Anh em nhà họ Phổ không xuất hiện nữa. Thời tiết lạnh hơn, cùng với việc ánh sáng ban ngày ngày càng ngắn đã ngăn cản họ mạo hiểm lẻn đến rừng cây của Hà Điền. Tất nhiên, cũng có thể là vì lần trước nhìn thấy Hà Điền có người giúp đỡ mới, điều này khiến họ do dự.

Đến ngày Đông chí, Hà Điền vội vã về nhà từ bên kia sông.

Đối với cô, ngày này là một ngày đặc biệt. Cô muốn làm một món ăn đặc biệt.

Là sủi cảo.

Kể từ ngày này, ánh sáng ban ngày ở Bắc bán cầu sẽ dần trở nên dài hơn.

Ý nghĩa của thuật ngữ tiết Đông chí ở khu rừng này quan trọng hơn nhiều so với những nơi khác.

Sau ngày này, sẽ sớm có một trận bão tuyết kéo dài gần mười ngày.

Mỗi năm đều như vậy. Đã diễn ra trong nhiều thập kỷ.

Tất cả những thợ săn khôn ngoan nên lao về nhà vào thời điểm này, trốn trong ngôi nhà gỗ ấm áp, ăn thức ăn dự trữ, và khi tuyết ngừng rơi, nhanh chống đi lấy nước, thu lưới, xúc tuyết trước cửa và trên mái nhà.

Hà Điền từng nghe bà mình kể lại rằng trận bão tuyết năm đó cực kỳ dữ dội, qua một đêm tuyết rơi dày đến mức cửa bị phong tỏa, cả căn nhà gần như bị tuyết vùi lấp, chỉ còn trơ lại mái nhà. Mọi người không thể thoát ra ngoài, và ngay cả không khí cũng gần như cạn kiệt. Bọn họ thậm chí còn không dám bật đèn, chỉ có thể cầm chặt đèn pin trong tay.

Cuối cùng họ gỡ cánh cửa ra khỏi nhà, dùng xẻng đào một lối đi và trèo ra ngoài. Rốt cuộc cũng được cứu.

Sau đó, họ sửa chữa lại nhà, ngủ ở trên gác. Nếu thảm họa tuyết giống vậy xảy ra một lần nữa, ít nhất họ còn có thể phá vỡ mái nhà và thoát thân.

Tiết Đông chí đã trở thành một ngày đặc biệt ở trong rừng.

Trước và sau ngày Đông chí, nhiều người cũng sẽ cầu nguyện hoặc thực hiện các hoạt động tế lễ tương tự.

Sau Đông chí là đến Tết, nhiều đồ tế tự hay đồ ăn dùng trong ngày Tết đều cần phải chuẩn bị dần sau ngày Đông chí này.

Sau khi Hà Điền và Dịch Huyền vội vã về nhà, họ treo một lớp rèm rơm bên ngoài chuồng của Gạo, lót máng của nó cao hơn bình thường, đồng thời cũng dùng rơm lót lại sàn.

Sau khi chắc chắn nơi ở của Gạo đã ổn, Hà Điền đi đến một cái kho chứa củi và lấy ra một số thứ rất đặc biệt – hai loại lá khô.

Một loại có màu trắng bạc, Hà Điền nói đó là cây xô thơm trắng.

Một loại khác, có cành, giống như đuôi của một con sóc nhỏ, các gờ ở đuôi là lá. Đây là lá của cây linh sam. Nó đã được phơi khô lâu ngày, lá chuyển sang màu vàng nâu, vừa chạm nhẹ vào sẽ xào xạc rơi xuống, tách thành nhiều mảnh.

Trở lại nhà, Hà Điền bỏ lá qua một bên, rửa tay nhào bột mì, chuẩn bị làm sủi cảo.

Bột da sủi cảo không cần để lên men, chỉ cần cho nước ấm vào, nhào đến khi thấy cứng hơn bột làm bánh bao là được. Sau khi nhào bột xong, phủ khăn ẩm lên miệng chậu và để một lúc cho bột dậy mùi.

Đối với nhân sủi cảo, cô dùng một phần bắp cải lấy từ trong hầm ra và cá tuyết sông mà hôm nay đã bắt được, ngoài hai nguyên liệu chính này, cô còn dùng thêm một ít củ cải muối băm nhỏ và nấm hương ngâm.

Dịch Huyền và Hà Điền băm nhỏ thịt và rau riêng, thêm gia vị và một chút dầu ngỗng rồi trộn đều, trộn một lúc, thêm một chút nước, tiếp tục trộn cho đến khi hỗn hợp thịt và rau đặc, mịn, bề mặt sáng bóng là được.

Có thể gói thêm nhiều sủi cảo một chút, xếp lên một cái phên bằng sậy, đặt ngoài cửa, một lúc sau chúng sẽ đông cứng lại. Xếp một lớp lá khô vào hộp gỗ, sau đó xếp một lớp sủi cảo, rồi lại thêm một lớp lá một lớp sủi cảo nữa, cuối cùng lót một lớp lá rồi đậy nắp hộp lại, cất vào nơi bảo quản, lúc nào muốn ăn thì chỉ cần lấy ra trụng qua nước sôi, nấu chín là được.

Khi Dịch Huyền khuấy nhân sủi cảo, Hà Điền lấy ra một cái cối bằng đá cẩm thạch trắng, đầu tiên cho lá cây xô thơm trắng vào nghiền thành bột, dùng rây rây lại, sau đó cho bột lá mịn vào chén sứ.

Cô thả một chút bột lá vào bếp. Bột lá lập tức hóa thành một chuỗi tia lửa nhỏ, tỏa ra mùi thơm ngát trong không khí.

Hà Điền nhìn chằm chằm vào những tia lửa đang bay một lúc, lại bắt đầu nghiền lá của cây linh sam.

Không hiểu vì sao, tâm trạng của cô rất suy sụp.

Trong một thời gian dài, chỉ có tiếng khuấy nhân và tiếng nghiền trong cối.

Nhân sủi cảo đã khuấy xong, Hà Điền đặt bột linh sam và cây xô thơm trắng cùng một chỗ, bắt đầu làm sủi cảo.

Cô dạy Dịch Huyền cách lấy một miếng bột, chọc một lỗ ở giữa và cho tay vào lỗ tiếp tục xoay tròn, nhào bột thành hình tròn, rồi ngắt nó ra thành một con rắn trắng dày trên thớt. Nhào lên nhào xuống, làm cho nó mỏng và dài hơn. Khi độ dày vừa phải, cắt bột trắng thành từng khối nhỏ, rắc bột mì lên thớt, lăn từng viên bột nhỏ trong lòng bàn tay, rồi dùng cán lăn mỏng, làm thành vỏ sủi cảo hình tròn.

Đặt vỏ bánh vào lòng bàn tay, cho một muỗng nhỏ nhân vào, gấp bột lại, túm hai mép bột lại nhấn vào giữa, ép chặt, cuối cùng dùng bốn ngón tay bên dưới, ngón cái ở bên trên, gấp vành bánh lại, nhân bánh đã được bao bọc hoàn toàn ở trong bột.

Sủi cảo được làm giống như một chiếc xuồng nhỏ, cái đầu tiên được đặt ở giữa phên, những cái còn lại thì được xếp lần lượt theo hình xoắn ốc.

Chẳng mấy chốc, những chiếc sủi cảo mà họ làm đã được xếp đầy hai cái phên. Dịch Huyền đếm, mỗi phên có hơn bốn mươi chiếc sủi cảo.

Hà Điền rửa sạch bột trên tay, cất cái thớt đi, lau sạch bàn, đặt cái tô có hai loại bột lá lên bàn, đổ đầy nước vào một cái tô rồi nhúng đầu ngón tay vào nước, sau đó nhỏ vài giọt nước vào bột, dùng đũa khuấy đều, rồi lại nhỏ thêm vài giọt nước vào. Cuối cùng, cô lấy một cái chai nhỏ từ trên kệ gỗ xuống, trong chai là một chất lỏng màu hồng, nắp có hình dạng ống nhỏ giọt.

Cô cẩn thận nhỏ hai giọt chất lỏng vào rồi tiếp tục khuấy bột lá, bột nhanh chóng trở nên dính chặt và chuyển sang màu hồng đậm. Dường như chất lỏng này có tác dụng kết dính và nhuộm màu.

Lúc này, Hà Điền rốt cục nói: “Đây là nhang. Sau Đông chí thì chính là Tết. Hàng năm bão tuyết lớn sẽ ngừng trước ngày giao thừa. Lúc đó nhang cũng đã khô, có thể đốt được rồi.”

Cách thức thắp nhang ở mỗi nhà đều khác nhau, thậm chí có nhà còn đốt vài cành tùng, bách, nhưng quy trình cầu nguyện đều tương tự nhau.

Đêm giao thừa, thắp nén nhang tự tay khấn vái trước những vòng khói cuộn tròn, thành tâm tưởng nhớ đến người đã khuất, cầu mong bọn họ ở chín suối có linh thiêng, phù hộ người còn sống khỏe mạnh bình an, mùa màng tươi tốt, chài lưới và bẫy thú đều có thu hoạch.

Mắt Hà Điền đỏ hoe, nước mắt lưng tròng.

Dịch Huyền không kìm được, đưa tay ra chạm nhẹ vào đầu cô.

Nhất định là Hà Điền lại đang nghĩ đến bà mình.

Hà Điền xoa mũi, ngẩng đầu lên mỉm cười với Dịch Huyền, những giọt nước mắt đó lăn lộn trong mắt cô vài lần rồi lại quay ngược trở lại, cứ như thể đã bị đôi mắt đen láy của cô hấp thụ hết.

Hai người yên lặng nhìn nhau một lúc, Hà Điền hỏi: “Có muốn làm nhang với tôi không?”

Dịch Huyền vui vẻ đồng ý: “Muốn.”

Hà Điền làm mẫu trước, cô dùng bốn ngón tay nhúm một viên bột nhang nhỏ, bóp thành hình nón rồi đặt vào dĩa gốm, chúm đỉnh nón lại, ấn nhẹ để đáy nón phẳng ra.

Nhang hình nón đã làm được đặt trên một chiếc phên tre nhỏ và phơi ở nơi thoáng mát.

Sau đó cứ cách ngày thì lấy xuống, lật mặt khác phơi sao cho thật đều, nếu không thì khi đốt, nhang còn ẩm, không có mùi thơm.

Dịch Huyền đảm nhiệm trọng trách này, mỗi ngày đều nghĩ đến việc đi lật nhang.

Sau khi khô, nhang chuyển sang màu hồng nhạt, mùi không nồng.

Nhang đã được chuẩn bị xong, gió tuyết sau ngày Đông chí cũng đã đến như dự định.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 19: Bữa tối đêm giao thừa


Ngày thứ hai sau ngày Đông chí, gió và tuyết đã đến như dự định.

Từ trước đến nay, Dịch Huyền chưa từng nhìn thấy trận tuyết nào lớn như trận tuyết này, giống như có một người nào đó ở bên trên đang rắt xuống vô số bông tuyết, những bông tuyết rơi trước còn chưa kịp rơi xuống đất thì đã bị những bông tuyết rơi sau bắt kịp.

Khi tuyết rơi còn có âm thanh. Nó giống như âm thanh của những hạt mưa rơi nặng hạt lúc hè.

Và rồi, gió cũng đến.

Gió xuyên qua rừng cây, thổi bay những lớp tuyết rơi rải rác trên cành, nhưng rồi tuyết mới sẽ nhanh chóng bù lại, cây cối cao rậm rạp cũng không thể nào giảm bớt được tốc độ của gió, hoặc cũng có thể, đây là tốc độ của gió sau khi đã được giảm.

Tiếng gió hú lấn át mọi âm thanh khác trong rừng.

Nếu đi ra ngoài vào thời điểm này, toàn bộ tầm nhìn trước mắt đều là một màu trắng xóa, và nếu có thể chịu được gió tuyết mà mở mắt ra, thì trong mắt cũng chỉ còn lại những lớp bông tuyết.

May mắn thay, trước đó, Hà Điền đã có chuẩn bị.

Những chiếc cọc cắm trong tuyết ngoài trời không chỉ đơn giản là chỉ dùng để đo độ sâu của tuyết. Đổ nước lên các cọc gỗ cắm trước mỗi kho, tuyết sẽ đông cứng lại, sau đó buộc dây vào giữa các cọc, khi phải ra ngoài lấy củi, lấy gạo chẳng hạn, họ sẽ nắm lấy sợi dây thừng này, bước từng bước để không đi nhầm đường hoặc lạc trong gió tuyết trước nhà.

Loại chuyện này không phải là không có qua.

Đã từng có người chỉ vì muốn kiếm một ít củi từ trong rừng mà đã không bao giờ quay trở lại nữa. Sau khi trận bão kết thúc, người trong nhà phát hiện anh ta đang nằm co ro bên ngoài bức tường của nhà mình. Thế nhưng anh ta lại không thể tìm ra được đường. Gió và tuyết đã hoàn toàn che giấu tiếng kêu cứu của anh ta.

Tuyết liên tục rơi cho đến sáng.

Cũng may, quá trưa, gió dịu bớt.

Hà Điền và Dịch Huyền tranh thủ thời gian này vội vàng đi quét tuyết, thả Gạo ra ngoài đi dạo và đào lỗ băng trên sông.

Kiểu thời tiết này cứ kéo dài như vậy trong bảy tám ngày.

Trong khoảng thời gian này, Hà Điền và Dịch Huyền đã hoàn thành một số chiếu rơm cho các nhà nghỉ săn bắn, và lại bắt đầu làm một tấm chiếu mới.

Vào ngày đầu tiên của đêm giao thừa, cơn bão tuyết cuối cùng cũng đã rời đi.

Mây tan, tuyết tan, mặt trời ló dạng.

Hà Điền và Dịch Huyền đi tắm.

Việc tắm lần này hoàn toàn là vì để ăn mừng năm mới.

Bỏ cũ đón mới, mọi thứ trong nhà đều phải được dọn dẹp sạch sẽ, người sống trong nhà cũng phải sạch sẽ.

Tất nhiên, muốn tắm rửa thì phải nấu nước, nhưng cũng không thể lãng phí như vậy được.

Vì vậy, Hà Điền đã làm một số bánh bao.

Lần này, Dịch Huyền đã xem được toàn bộ quá trình làm một chiếc bánh bao hấp giống hoa hồng.

Bột được nhào với nước, men và một muỗng đường, sau đó để riêng, rồi dùng hai hoặc ba quả hồng khô để làm nhân.

Nói là hai hoặc ba, bởi vì khi Hà Điền đang làm đồ ăn, cô đều không nhịn được bóc một vài miếng nhỏ lên ăn. Trước khi cho hồng vào bánh, cô và Dịch Huyền đã chia nhau ăn phần vỏ bên ngoài của quả hồng, chỉ để lại phần thịt quả mềm nhất ở giữa.

Nhà cô có một cây hồng, mỗi năm có thể thu hoạch được hai giỏ hồng nhỏ.

Quả hồng khi chín có màu đỏ cam rất đậm, lúc mới hái giống như những chiếc đèn lồng vuông nhỏ.

Lúc này quả hồng vẫn còn cứng và giòn.

Chọn những quả hồng căng mọng, gọt bỏ vỏ, để nguyên cuống, dùng dây rơm treo dưới mái hiên cho khô, bên ngoài quả sẽ dần xuất hiện một lớp sương muối, màu thịt quả cũng sẫm dần. Dần dần, quả hồng trở nên mềm như bột, vỏ ngoài nhăn nheo, lúc này mới lấy xuống, đặt vào lòng bàn tay ngắt nhẹ cuống quả hồng rồi ấn xuống, chiếc đèn lồng nhỏ bẹp dúm lại, trở thành một cái bánh hình tròn có độ dày bốn năm cm, chính là bánh hồng.

Quả hồng sau khi làm thành quả hồng khô có thể bảo quản được lâu hơn, cho vào hộp gỗ phủ cỏ khô và để ở nơi thoáng mát, có thể ăn đến hè, đến lúc đó sẽ lại có quả khác thay thế.

Quả hồng khô có thể dùng để ăn vặt, cũng có thể xé thành miếng nhỏ ngâm nước uống, tất nhiên cũng có thể làm nhân bánh ngọt.

Ngắt cuống quả hồng rồi kéo ra phía ngoài, thường thì có thể kéo luôn cả phần thịt quả mềm và dính, giống như mật ong đông đặc, trong như pha lê. Lật phía trong của vỏ quả hồng khô ra ngoài, cho phần mềm nhất vào tô, thêm một chút dầu ngỗng, dùng đũa khuấy đều rồi để sang một bên.

Hà Điền và Dịch Huyền chia nhau ăn phần vỏ bên ngoài, rốt cuộc lấy luôn một cái bánh hồng ra ăn cùng với một tách trà nóng pha từ nụ hồng.

Sau khi bỏ phần vỏ ngoài, hồng khô không chỉ giống mật ong về kết cấu, mà nó còn ngọt giống như mật vậy.

Khi bột đã sẵn sàng, Hà Điền vo một miếng bột lên men thành một miếng dài, phủ lên trên một lớp hồng khô, gấp theo chiều dọc thành ba nếp, phết một ít dầu vào giữa miếng bột rồi cắt thành nhiều phần, xếp chồng lên nhau.

Đợi một lúc, để cho bột giãn ra và lấy lại độ đàn hồi thì dùng đũa ấn mạnh vào giữa hai lớp bột, hai lớp bột chồng lên nhau thành bốn lớp.

Cầm bột lên, chụm đầu và đuôi bột lại với nhau để tạo thành vòng tròn, dùng đũa đặt vào vòng bột, dùng một tay giữ nhẹ phần đáy của miếng bột, sau đó dùng đũa xoắn bột lại hai vòng. Cần phải dùng lực vừa phải, tránh làm bột bị dứt đoạn, cuối cùng dùng đũa ấn xuống và kéo ra, bột lúc này trông giống như một cuộn len.

Bây giờ, dùng kéo nhỏ cắt vài chỗ trên “cuộn len”, sau khi hấp chín, các vết nứt trên “cuộn len” sẽ phồng lên, tách ra và trở thành bông hồng nở.

Hà Điền thấy Dịch Huyền làm không được, miệng lại sắp biến thành hình tam giác, vì vậy cô đã dạy cô ấy làm một loại bánh bao hấp đơn giản hơn.

Bánh bao táo tàu đơn giản hơn nhiều so với bánh bao nhân hồng.

Nhào bột thành một dải dài, giống như vỏ bánh bao nhưng cần mỏng hơn.

Sau khi nhào bột, cắt thành từng đoạn nhỏ khoảng 15 cm, lấy một đoạn, dùng tay bóp hai đầu, cán mỏng vài lần, lật lại, lại cán mỏng vài lần nữa, đặt lên thớt, cho táo khô vào khe hở của lớp bột, vậy là xong.

Bánh bao hấp còn có thể làm thành hình bươm bướm, chuồn chuồn, quả thông, đều ngon cả.

Ngoài bánh hấp nhân hồng và táo tàu, Hà Điền còn làm bánh nhân hạt thông và quả óc chó.

Nghiền hạt thông và quả óc chó, thêm đường hoặc mật ong vào, làm nhân bánh bao.

Để phân biệt nhân của bánh bao, nhân quả óc chó được làm thành con nhím, còn nhân hạt thông là con thỏ.

Cách làm của hai loại bánh bao này còn đơn giản hơn, cho bột lên thớt và nhào, gói nhân lại, nặn lại thành một viên tròn một đầu nhỏ một đầu to, đầu nhỏ hơn là đầu nhím, đầu to là cặp mông mũm mĩm.

Nếu là thỏ, chỉ cần dùng kéo cắt hai lần trên đầu, lúc hấp xong tai thỏ sẽ tách ra khỏi bề mặt bột và nhô cao.

Thỏ mà Hà Điền làm là một con thỏ phổ biến trong rừng. Đến phiên Dịch Huyền làm, cô ấy đã cắt hai tai của con thỏ rủ xuống ở hai bên đầu, nói rằng đó là một con thỏ tai cụp.

Làm gai nhím rất đơn giản. Chỉ cần cắt một vài chỗ trên miếng bột, thứ nhếch lên chính là gai trên thân nhím.

Cuối cùng, dùng hạt thông hoặc quả mâm xôi khô để làm mắt cho bé nhím và bé thỏ.

Dịch Huyền vô cùng hào hứng làm hai con thỏ và ba con nhím, sau đó mới đột nhiên nhận ra, Hà Điền đang dỗ dành mình như dỗ dành một đứa con nít.

Dịch Huyền bĩu môi nhìn Hà Điền, thấy cô đang rất vui vẻ, cô ấy lại mỉm cười.

Năm mới, hoặc là nói, ở bất kỳ ngày lễ nào, thứ có ý nghĩa nhất chính là niềm vui không dễ gì có được này.

Để chúc mừng năm mới, Hà Điền và Dịch Huyền đã chuẩn bị rất nhiều thức ăn, một bàn tiệc đón giao thừa đầy ắp. Tất nhiên, phần lớn là bốn loại bánh hấp.

Ngoài các loại bánh hấp, họ còn chuẩn bị hai món chính.

Vịt xông khói hầm hạt dẻ thì đã ăn thường rồi, nhưng món chính khác thì lại tương đối hiếm.

Nhờ sự nhắc nhở của Dịch Huyền, Hà Điền đã thực hiện lại sở thích thời thơ ấu của mình, cô ngâm phần gốc cây cải thảo và đầu củ cải trong một cái tô, thật sự trồng hoa cải thảo và hoa củ cải.

Những bông hoa cải này đều được cô cắt ra, cho vào xào cùng với cá tuyết sông, thịt cá trắng ngần cùng với phần cuống xanh nhạt và những bông hoa màu vàng trông rất đẹp mắt, nó tương phản rõ rệt với màu nâu vàng của hạt dẻ và đỏ của món vịt xông khói.

Ngoài hai món chính, Hà Điền còn làm thêm hai món tráng miệng. Một loại là hạt óc chó rang tẩm mật ong và nước đường, và loại còn lại là thạch cây phong anh đào.

Hạt óc chó rang cũng không có gì mới lạ, nhưng thạch anh đào thì lại hiếm.

Hà Điền sử dụng mức anh đào.

Quả anh đào rừng hái vào mùa hè được rửa sạch, để ráo, nấu chín, sau khi nguội thì cho vào chai thủy tinh rồi ngâm với mật ong, có thể bảo quản cho đến khi quả anh đào chín lại vào mùa hè năm sau, hoặc lâu hơn nữa.

Lúc này, lấy khoảng mười quả ra, cho vào một cái nồi nhỏ, thêm nước đường của cây phong vào, thêm thêm một chút xíu muối, khuấy đều rồi để yên đó. Muối rất quan trọng, nó có thể cân bằng vị ngọt.

Cho nước đun sôi vào tô, khi đầu ngón tay chạm vào cảm thấy đã bớt nóng, thì cắt sợi làm thạch ra, cho vào tô rồi khuấy. Khi các sợi thạch đã hoàn toàn tan chảy, Hà Điền lấy một cái tô thủy tinh lớn ra, rửa sạch, đổ anh đào vào tô thủy tinh trước, sau đó đổ thạch vào, khuấy nhẹ, để qua một đêm là thạch đông lại.

Chiếc tô thủy tinh trong suốt chứa đầy thạch đỏ tươi và những quả anh đào lớn.

Vậy là cả hai món tráng miệng đã sẵn sàng, một món lạnh và một món nóng.

Trước bữa cơm tối giao thừa, Hà Điền đem nhang đã làm vào ngày Đông chí ra, đặt lên bàn một cái dĩa gốm đựng cát mịn, lấy ra ba viên nhang, đặt lên trên, đốt một cành bách rồi thắp nhang.

Khói nhang cuộn tròn, lúc đầu có màu trắng, sau khi đốt một thời gian thì ngọn khói chuyển thành màu hồng nhạt trông rất đẹp mắt.

Hà Điền và Dịch Huyền đồng thời chấp tay lại, nhắm mắt không nói gì.

Hà Điền thầm cầu nguyện: “Bà ơi, bà khỏe không? Bà có nhìn thấy không? Con không sao cả. Bà cứ yên tâm.”

Cô mở mắt ra nhìn Dịch Huyền, chỉ thấy lông mi của cô ấy run lên, đôi môi khẽ mấp máy, không biết là đang cầu nguyện điều gì. Dường như cô ấy cũng có thể cảm nhận được Hà Điền đang quay đầu lại nhìn mình, trước khi mở mắt ra, khóe miệng cô ấy hơi nhếch lên.

Khi Dịch Huyền mở mắt ra, đúng như dự đoán, Hà Điền đang mỉm cười với cô ấy như cô ấy đã nghĩ.

Cả hai ăn ý nhìn nhau một lúc rồi cùng nhau mỉm cười.

Trên đầu họ, làn khói hồng nhạt của những viên nhang làm bằng linh sam và cây xô thơm trắng đọng lại rất lâu.

Trong đêm lạnh yên tĩnh này, gỗ cháy trong lửa và thức ăn có mùi thơm khác nhau lại càng thêm quý giá.
 
Back
Top Bottom