Cập nhật mới

Khác Cốt cách một quý ông

Cốt Cách Một Quý Ông
Spectre


[Moodboard]

Tóm tắt về cuộc đời, nhân cách, thân phận và số mệnh của Spectre.
 
Cốt Cách Một Quý Ông
Hội Chợ Phù Hoa


Hội chợ phù hoa.

Những kẻ dại khờ,

được dẫn lối,

bởi vầng trăng mảnh.

Một kẻ tham vọng,

tiếp tục chuyến săn

từ ngàn đời trước.

Một kẻ mù quáng,

lần theo lời nguyền,

từ cuốn cổ thư.

Một kẻ điên cuồng,

bị ám bởi bóng hình chết,

đi tìm chính mình.

Tất cả gặp nhau,

nơi phù hoa rực rỡ.

Hội chợ phù hoa.

Những kẻ dại khờ,

đi theo vầng trăng mảnh.

Mà không hay

trăng là kẻ nói dối,

khi khuyết khi tròn.

Một kẻ để lại tim gan,

chôn hồn xuống đất.

Một kẻ lún sâu vào bóng tối,

không tài nào thoát ra.

Một kẻ bừng tỉnh

giữa cơn loạn mê,

nhưng không còn kịp.

Chuyến săn vẫn tiếp tục,

huyết thư vẫn trào.

Tất cả gặp nhau,

nơi phù hoa thành máu.

Bài thơ trên chính là diễn biến của những gì sắp diễn ra ở phần chính của Hội Chợ Phù Hoa.

Các độc giả thân mến, các cậu đoán được bao nhiêu phần rồi 🙂))
 
Cốt Cách Một Quý Ông
Pháo đài tội ác: lối vào (1)


i.

Dưới ánh trăng, dựng lên tấn bi kịch kinh hoàng.

~~~

Đầu máy xe lửa rùng mình hú lên một hồi còi, rục rịch di chuyển trên đường ray dẫn thẳng từ Edinburgh tới Luân Đôn.

Đám đông đứng nhốn nháo trong những khoang hành khách, xì xầm nói chuyện, rồi dáo dác đi tìm chỗ ngồi của mình.

James Cooper ôm cứng lấy cái rương làm từ gỗ sồi, khư khư trước ngực; miệng liên tục lầm bầm những câu xin lỗi trong khi chen chúc vào đám đông đang đứng nhốn nháo dọc suốt khoang ngoài.

Chừng mươi phút sau thì anh tới được chỗ ngồi của mình.

Là một khoang bình dân không có giường nằm, nhưng may thay là có ghế đệm khá êm.

Anh có thể ngủ co mình trên ghế mà không sợ bị đau lưng.

Chuyến đi tới Luân Đôn sẽ tốn kha khá thì giờ.

Chạy cả đêm nay thì ước chừng sáng sớm mai mới tới nơi.

James ngồi rụt mình trên ghế.

Đôi mắt anh phóng ra khỏi không gian chật hẹp của khoang tàu, đăm chiêu nhìn ngắm những vùng làng quê yên bình trôi ngoài cửa kính khi tàu chạy qua cầu cạn Glenfinnan.

Anh đang nghĩ về nhiệm vụ kẻ dẫn đường của mình và mường tượng ra chủ nhân sắp tới mà anh sẽ phục vụ.

Denver nói người ấy là một Bá tước có tiếng ở Luân Đôn.

Anh nghĩ đó hẳn là một nhà quý tộc có tuổi, tóc thoáng hoa râm, phong thái đĩnh đạc, thường xuyên xuất hiện trong những bộ vest dệt từ lông cừu, và một cây gậy batoong bằng bạc nạm nhiều châu ngọc.

Trong cuộc đời mình, James đã làm qua không biết bao nhiêu việc.

Từ việc tay chân trong những đồn điền ở vùng ngoại ô, cho tới dịch vụ mai táng rẻ tiền dành cho tầng lớp dân nghèo ở khu Old Town, đặc biệt là High Street.

Giữa những tháng năm lận đận với cuộc sống mưu sinh ấy, James nghĩ mình đã tìm được một lí do để anh duy trì cuộc sống khốn khổ này.

Mắt anh nhìn thật xa ra những đồng cỏ xanh mướt trải dài bất tận.

Màu xanh ấy làm anh nhớ tới màu mắt của Angelica- cô gái ngọt ngào thành Arles, người nắm giữ trái tim trai trẻ của anh suốt 5 năm trời.

Cũng là người khiến anh bằng mọi cách phải trở thành kẻ dẫn đường để chuộc cô từ tay gã lưu manh Denver- chủ một quán rượu tên Morte van Diablo- hay thực chất là nơi đàng điếm của những gã mọi rợ khu High Street.

Số tiền được trả khi James trở thành kẻ dẫn đường vừa đủ để chuộc Angelica ra khỏi quán rượu.

Và nếu anh sống sót trở về, anh sẽ cầu hôn cô.

Suy nghĩ ấy tựa một dòng suối mát chảy qua những nỗi lo âu, thấp thỏm đang hừng hực trong James Cooper.

Anh yên tâm, chầm chậm khép mắt.

Kể cả trong giấc mơ chập chờn, anh cũng mơ thấy Angelica.

Anh phải cầu hôn cô.

Bằng mọi giá.

Vết phỏng nơi sau gáy vẫn làm James nhức nhối, dù đã kết vảy từ lâu.

Vết phỏng với những hình vẽ ngoằn ngoèo, là dấu ấn chứng minh thân phận của những kẻ dẫn đường.

James xuống ga Waterloo lúc gần trưa, và bắt một chiếc xe ngựa để tới hạt Merton.

Vị Bá tước mà anh sắp phục vụ sống ở đó.

Ngài Victor Shadow, chủ nhân của lâu đài Alleretos- một cơ ngơi đồ sộ nằm ở phía Nam Wimbledon.

"Anh đến Alleretos làm gì vậy?"

Gã phu xe hỏi James, khơi mào câu chuyện trước.

"À, tôi có hẹn với ngài Victor Shadow.

Chỉ là một vài việc nho nhỏ thôi."

Ngưng lại một vài giây, anh tiếp.

"Anh có biết gì về ngài Bá tước chủ nhân của lâu đài đó không?"

Nghe vậy, gã phu xe lập tức phá lên cười.

"Ai trong cái thành phố này cũng biết về ngài Victor Shadow cả."

"Ồ.

Ngài ấy nổi tiếng vậy kia à?"

"Cả nổi tiếng và tai tiếng."

"Tai tiếng?"

"Ngài ấy nổi tiếng vì giàu có và lòng thương người.

Mấy khu dân nghèo như Whitechapel hàng năm được ngài ấy rót vào không biết bao nhiêu tiền cứu trợ.

Ngài còn xây nhiều nhà tế bần cho trẻ mồ côi nữa.

Với tầng lớp dân nghèo, ngài Bá tước cứ như đấng cứu thế ấy.

Nhưng..."

Sau một hồi kể lể say sưa, gã phu xe bất ngờ trầm giọng, ghé sát đầu vào trong khoang xe mà nói rằng.

"Nhưng cũng có lời đồn ngài là một con quỷ giết người không ghê tay."

James bất giác rụt người về sau vì cảm giác rùng mình tựa hồ vừa có một bàn tay lạnh ngắt vuốt dọc sống lưng.

Gã phu xe sau khi nói ra những lời bí hiểm kia thì tiếp tục thúc ngựa băng qua con đường mọc dày những cây dẻ gai.

Đi chừng mươi phút nữa thì xe ngựa dừng lại.

"Đến nơi rồi.

Ngựa chỉ đi được tới đây thôi.

Anh chỉ cần đi hết con đường mòn xuyên qua rừng này là tới."

James thảy vào tay gã phu xe thù lao năm đồng shilling, đoạn ôm chiếc rương gỗ tiến sâu vào khu rừng.

Cảm giác rùng mình ban nãy vẫn chưa chấm dứt, ngược lại còn cào cấu sống lưng nhiều hơn khi anh luồn chân qua những thảm lá dẻ gai vàng sậm.

Khu rừng vắng vẻ tịch không một tiếng động, dẫu là ban ngày nhưng vẫn phảng phất hơi lạnh và vẻ âm u của bóng tối.

Thậm chí, càng đi sâu vào con đường mòn, nhiệt độ càng giảm xuống khiến anh có cảm giác tựa đang bước trong một mê cung đặt sâu dưới lòng đất.

James Cooper bước đi giữa sương mù và trong cái thinh lặng của khu rừng.

Mắt anh dần quen với những hàng dẻ gai đều tăm tắp đứng sừng sững trong sương sớm mờ mờ, rồi thình lình lâu đài Alleretos hiện ra, sửng sốt tựa một đòn đánh bất ngờ vào thị giác.

Lâu đài mà Bá tước Victor Shadow ngự trị là một tòa kiến trúc đồ sộ trung thành với trường phái Gothic sơ kỳ.

Cuộn mình trong từng dầm cột chính là hiện thân cho những gì huyền bí và tối tăm nhất của một thời kì lịch sử.

Tường gạch rêu phong điêu khắc vô vàn khuôn mặt méo mó tựa một bức họa Tuần đêm.

Náu mình dưới bóng các tòa tháp dường như là vẻ tối tăm của những đêm trường Trung Cổ.

Gió đập vào từng thớ gạch nghe như tiếng thét của những linh hồn đau khổ.

Và vờn vẽ trên phần chóp được vuốt nhọn hồ như thấp thoáng vô số bóng ma vật vờ.

Trong một chiều cuối đông, lâu đài Alleretos cứ thế ám vào tâm trí James Cooper một ấn tượng không tài nào phai nhạt.

Không phải vẻ rực rỡ hoàng kim của một quốc vương ngài ngự trên ngai vàng.

Mà là vẻ lặng lẽ của một vị chúa tể đã kinh qua nhiều những thăng trầm chiến trận, đã nhìn thấy đủ cả máu và hoa để trở nên lãnh đạm dẫu đang đứng giữa hoang tàn đổ nát.

James bước qua lối vào với hai bên trồng đầy cây liễu gai.

Đón anh ở trước cổng là một người quản gia tầm tuổi trung niên tên Edward và hai người hầu gái.

Họ giúp anh cất hành trang, dẫn anh tới phòng riêng, dặn dò anh buổi tối sẽ có tiệc thết đãi mà anh sẽ dùng với ngài Bá tước.

James Cooper bỗng thấy hồi hộp.

Những lời nói của tên phu xe về ngài Bá tước vẫn còn luẩn uẩn trong tâm trí anh, và theo anh tới cả khi đã ngồi vào bàn ăn tối.

Lúc này, ngồi đối diện James Cooper ở đầu kia chiếc bàn là một chàng trai trẻ chừng 20 tuổi.

Điển trai, và mang theo cung cách vương giả nhưng xa cách đặc trưng của hoàng tộc.

Đến tận khi cậu ta mỉm cười, ra hiệu mời anh dùng bữa; James vẫn chưa tin vào những gì mình đang đối diện.

Trong tưởng tượng của anh, Bá tước Victor Shadow là một người đàn ông trung niên mang phong thái đĩnh đạc.

Chứ không phải một cậu thiếu niên điển trai với nụ cười thân thiện thế này.

"Có vấn đề gì sao, anh Cooper?"

Cậu thiếu niên mỉm cười, hỏi James với vẻ quan tâm.

Có lẽ dáng vẻ ngây ngốc của anh đã làm ngài Bá tước phải chú ý.

Anh giật mình hắng giọng, đáp lại trong khi cố nặn ra một nụ cười.

"Không có gì đâu, thưa ngài."

Victor lại mỉm cười, nhắc anh hãy tự nhiên dùng bữa.

Không hiểu vì lí do gì, một cảm giác kì quái dâng lên trong anh.

Trong phút chốc, anh cảm thấy e ngại trước sự thân thiện này.

Suốt cả bữa ăn, cả hai người không nói thêm gì với nhau.

Victor Shadow hỏi một vài câu về gia đình và cuộc sống của James trước đây.

Anh trả lời qua loa, nhưng thành thực.

Không khí bữa ăn thoạt trông có vẻ thoải mái, ngoại trừ việc James có cảm giác gai người khi nhìn vào nụ cười của Victor Shadow.

Sau bữa ăn, ngài Bá tước mời anh ngồi lại uống trà, nhưng anh từ chối.

Anh chỉ có duy nhất một suy nghĩ.

Mình không thể chịu đựng được vẻ nhiệt thành ấy thêm một giây nào nữa.

Vậy nên, anh trở về phòng ngủ rất sớm, nhưng mãi tới đêm mới chợp mắt nổi.

Mùi oải hương cao cấp cũng không làm anh dễ ngủ hơn.

Anh nghĩ về nhiều thứ.

Về Angelica, về nhiệm vụ là một kẻ dẫn đường, và về cả Bá tước Victor Shadow- chủ nhân mà anh phải phục vụ.

James không biết, chính những suy nghĩ rối như mớ bòng bong ấy đã trở thành thứ dẫn dắt anh tới một tấn bi kịch kinh hoàng.

Nửa đêm, ngay trước khi chìm vào giấc ngủ, James nghe thấy một tiếng động lớn kinh khủng dội vào màng nhĩ.

Anh giật mình thoát khỏi cơn mộng mị, tim đập thình thịch dưới lớp chăn mỏng, trong khi hai mắt mở thao láo như để đẩy cao sự tỉnh táo.

Tiếng động vừa rồi rõ ràng không phải một tiếng động bình thường.

Nó là một tiếng thét, hay đúng hơn là một tiếng gầm rú được dồn nén bởi sự đau đớn tột cùng, thoát ra khỏi cổ họng, và lập tức im bặt.

Nó dội vào màng nhĩ của James, nghe rất rõ.

Nó ở rất gần, hay nói đúng hơn- là ngay phòng bên cạnh.

James rời khỏi giường, vơ lấy cây gậy polo để ở góc cửa, dò dẫm sang phòng bên cạnh, cố để không phát ra tiếng động.

Cánh cửa phòng của ngài Bá tước không hề đóng mà chỉ được khép hờ.

Một cảm giác bất an dâng lên trong anh.

Hai bàn tay anh nắm chặt cây gậy polo tới mức lộ rõ cả những khớp xương trắng bệch.

Dồn hết mọi sự can đảm, anh đẩy cửa bước vào.

Ánh trăng hắt qua khung cửa sổ không kéo rèm, nhận chìm cả căn phòng trong bể ánh sáng lành lạnh mờ ảo.

Ngài Bá tước đang trong tư thế ngủ gục trên bàn.

Nhưng James biết ngài không hề ngủ, hoặc có chăng- nếu là ngủ, thì đó cũng là một giấc ngủ vĩnh viễn, không bao giờ chấm dứt.

Bởi vì phía sau đầu ngài, máu đỏ đang chảy ròng ròng, ở đúng vị trí xương chẩm và xương đỉnh.

Hai tay ngài buông thõng, dọc theo thân; hai mắt mở trừng trừng, tràn ngập nỗi kinh hoàng.

Máu từ vết thương sau đầu ngài chảy nhiều tới mức tràn cả ra bàn giấy, loang loáng dưới ánh trăng.

James thấy sợ hãi tới độ không thở nổi.

Nhưng điều khiến anh sợ không phải xác chết của ngài Bá tước, mà xuất phát từ bóng đen đang đứng ngay sau lưng ngài.

Một người đàn ông trung niên, dáng vóc cao gầy xương xẩu như một sinh vật tới từ địa ngục.

Quản gia Edward đang cầm trên tay một bình gốm Ba Tư dính đầy máu, mà ở đây- không phải của ngài Bá tước thì còn của ai nữa?

Gương mặt điềm tĩnh thường ngày giờ nhuốm một vẻ nham hiểm tới điên loạn.

Những nếp nhăn trên gương mặt ông ta xô lại để nặn ra một nụ cười nanh ác như quỷ Satan.

Đôi mắt mờ đục đang nhìn xuống thân xác ngài Bá tước bỗng chầm chậm chuyển sang James Cooper.

Giây phút ấy, anh thấy tim mình như ngừng đập.

Vẻ tươi cươi nanh ác trên gương mặt Edward đột nhiên vụt tắt.

Ông quẳng bình gốm sang một bên, bước những bước đều như máy về phía James, gương mặt tỉnh bơ, xụi lơ cảm xúc.

Đáng lẽ James phải gào lên rồi chạy biến khỏi căn phòng này.

Nhưng hai chân anh cứng đờ, rồi lại mềm nhũn ra.

Anh bước giật lùi về phía sau, trong khi quản gia Edward tiếp tục tiến tới.

Ngay khi gót chân anh chạm vào chân tường, cũng là lúc Edward đã áp sát anh ở khoảng cách chưa đầy một gang tay.

"Tôi nghĩ mình sẽ sắp xếp cho anh một khoản kha khá, khoảng 1000 bảng.

Anh sẽ trở về Edinburgh trong ngày mai, không cần phải trở thành một kẻ dẫn đường, vì chủ nhân của anh đã chết."

Giọng nói khô khốc của quản gia Edward lợp trên da James Cooper một lớp sừng gai góc, khiến anh ngứa ngáy và bồn chồn tới mức nảy ra suy nghĩ rằng anh sẽ làm bất cứ thứ gì, chỉ để thoát khỏi nó.

Đúng vậy, làm bất cứ thứ gì.

"Và anh sẽ nói anh không nhìn thấy bất cứ diễn biến nào xảy ra trong căn phòng này, phải không?"

James Cooper cảm thấy ghê tởm trước lòng trung thành của quản gia Edward.

Nhưng anh cũng nghe thấy từ nơi sâu thẳm, bản năng của mình đang gào thét lên.

Sung sướng và hân hoan.

Ơn Chúa!

Tôi đồng ý.
 
Cốt Cách Một Quý Ông
Pháo đài tội ác: lối vào (2)


ii.

Sự kiệt xuất vùi chôn dưới những nấm mồ.

Đệ Nhất Chiến Lược Gia Thời Nhiếp Chính.

~~~

Khoảng chừng một tiếng sau, cảnh sát đã kéo đến chật kín lâu đài Alleretos.

Họ khảo nghiệm hiện trường, thực hiện hỏi cung, và rất nhiều những thủ tục điều tra khác.

Trong cả quá trình ấy, suy nghĩ của James chỉ hướng về những điều mà Edward nói ngày hôm qua.

Ông ta nói anh sẽ nhận được 1000 bảng, chỉ cần anh khai rằng mình không nhìn thấy gì cả.

1000 bảng là con số quá lớn.

Với số tiền đó, anh có thể lập tức trở về Edinburgh, cầu hôn Angelica.

Sau đó nếu cô đồng ý, hai người sẽ tổ chức lễ cưới.

Dùng số tiền ấy có thể mua được một căn hộ nho nhỏ ở khu Lawnmarket.

Rồi họ sẽ cùng mở một cửa hàng nông sản, hoặc một tiệm bánh ngọt.

Cứ thế sống tới già.

Đó vẫn luôn là giấc mộng của James.

Một giấc mộng bén rễ kể từ ngày anh gặp Angelica, rồi cứ thế đâm chồi, lớn lên theo năm tháng, trở thành một bóng cây ngợp xanh cả tâm trí.

Bây giờ, anh đã có thể biến giấc mơ ấy thành sự thực, chỉ cần anh nói rằng.

Tối qua tôi ngủ từ rất sớm, không nghe thấy tiếng động gì cả.

Vì đi đường khá mệt nên tôi ngủ một mạch từ tối, mãi tới khi lâu đài huyên náo lúc gần sáng mới lơ mơ tỉnh dậy.

James tua lại câu trả lời ấy rất nhiều lần trong đầu.

Chốc nữa, khi viên thanh tra của Scotland Yard hỏi, anh chỉ cần trả lời như vậy.

Họ sẽ không thể bắt bẻ anh thêm một câu nào nữa.

Và anh sẽ chạm được tới giấc mơ của mình.

James tự nhủ như vậy.

Anh nhắc bản thân mình phải tỉnh táo khi theo dõi viên thanh tra cảnh sát tra khảo những người hầu trong nhà, nhưng cuối cùng ngập ngụa trong tâm trí anh lại chỉ có hình ảnh ngài Bá tước gục trên bàn với một vết thương sau đầu.

Thảm kịch diễn ra tối hôm qua trở đi trở lại trong tiềm thức của James, như muốn ép anh phát điên trong sự giằng xé của nhân cách.

"Anh Cooper!

James Cooper!"

Viên cảnh sát của Scotland Yard cao giọng gọi James, năm ngón tay khua loạn xạ hòng đánh thức anh khỏi cơn ngẩn ngơ nhất thời.

James đưa ánh nhìn lờ mờ chuyển sang viên thanh tra trẻ, mất vài giây dứt khỏi những suy nghĩ mộng mị, anh khẽ hắng giọng.

"Vâng, tôi đây."

"Phòng của anh ngay bên cạnh phòng của ngài Bá tước, đúng không?"

Viên thanh tra hỏi, đôi mắt lồi của anh ta nhìn James chòng chọc.

Điều ấy bỗng khiến James có cảm giác khó chịu không thể lí giải, anh bắt đầu nhấp nhổm trên ghế.

"Thưa, vâng.

Đúng là vậy."

James Cooper trả lời một cách nhát gừng.

Viên thanh tra nhanh nhạy dường như đã đánh hơi được vẻ bất thường.

"Từ lúc bắt đầu đi ngủ tới lúc bị đánh thức, anh có nghe thấy hay trông thấy điều gì kì lạ không, anh Cooper?"

Câu hỏi ấy tựa một cái chạm vào vết thương đang toác miệng khiến James Cooper giật nảy mình.

Tối qua tôi ngủ từ rất sớm, không nghe thấy tiếng động gì cả.

Vì đi đường khá mệt nên tôi ngủ một mạch từ tối, mãi tới khi lâu đài huyên náo lúc gần sáng mới lơ mơ tỉnh dậy.

Lời khai được lập trình sẵn bắt đầu vang lên trong óc anh, nhưng dù cố gắng cách mấy, anh cũng không thể thốt ra thành lời.

Khuôn miệng mở rồi lại khép, tựa hồ việc nói chuyện cũng khiến anh thấy khổ sở.

"Thưa... tôi... không..."

Lời khai mà anh tự nhủ mình phải nói đã không được thoát ra.

Và anh có cảm giác trước đôi mắt của vị thanh tra kia, những lời giả dối ấy càng bị chôn sâu hơn dưới vũng lầy nhân cách.

Anh thấy giấc mơ về một tương lai êm ấm với Angelica ngày một xa xôi, nhưng tự sâu trong anh, một suy nghĩ phải trở nên dũng cảm đột ngột bùng nổ, trào phộc như một đợt sóng thần.

James hít một hơi thật sâu, cố tránh không nhìn tới quản gia Edward, anh nói.

"Tôi đã nhìn thấy hung thủ, ngài thanh tra."

Viên thanh tra chồm người lên trước.

Còn những người hầu có mặt trong phòng thì bắt đầu xì xầm, bàn tán vô cùng sôi nổi.

"Anh đã nhìn thấy hung thủ?"

"Đúng vậy.

Tôi đã nhìn thấy hắn."

"Mời anh trình bày."

"Tối hôm qua, vì suy nghĩ khá nhiều chuyện nên tôi không thể đi ngủ sớm dù lên giường từ lúc 10 giờ tối.

Khoảng giữa đêm, tôi nghe thấy một tiếng thét to kinh khủng vọng từ căn phòng của Bá tước.

Tôi cầm lấy cây gậy polo ở góc phòng và dò dẫm đi sang phòng của ngài.

Cửa lúc đó không khóa mà chỉ khép hờ.

Tôi cứ thế đẩy cửa vào, và..."

Bây giờ dừng lại vẫn còn kịp.

Một giọng nói vô hình vang lên trong óc James.

Anh biết đó là giọng nói của gã James Cooper si tình luôn ao ước về một tương lai đẹp đẽ bên Angelica, của gã hèn nhát sẵn sàng lấp liếm sự thật để đổi lấy 1000 bảng mà yên ổn sống tới già.

"Tôi cứ thế đẩy cửa vào.

Ngài Bá tước nằm gục trên bàn, và đứng sau lưng ngài là quản gia Edward."

Bầu không khí phút chốc đông cứng lại.

Mọi ánh mắt đang đổ dồn lên James Cooper đồng loạt chuyển sang quản gia Edward.

Đôi mắt lồi của viên thanh tra phóng ra những cái nhìn nghi ngờ, anh ta cất tiếng hỏi.

"Anh nhìn thấy quản gia Edward đứng sau ngài Bá tước?

Và anh nghĩ ông ta là hung thủ?"

"Đúng vậy.

Tôi có thể chứng minh việc tôi khẳng định quản gia Edward là hung thủ là có cơ sở chứ không phải bịa đặt."

Hai bàn tay của viên thanh tra lồng vào nhau đặt trên mặt bàn, gương mặt nhợt nhạt của anh ta chợt nhuốm một vẻ hứng thú xẹt qua vài tia gian xảo.

"Ồ, tôi rất nóng lòng được nghe đấy."

Đôi mắt lồi của anh ta vẫn bám lấy từng biểu hiện trên mặt James.

Chàng trai trẻ ghìm lại cảm giác kì quái không tên, mất vài giây để sắp xếp lại tư duy, đôi mắt anh nhìn thẳng, không còn vẻ nhát gừng, giọng nói anh rành mạch tự tin.

Sự tự tin có được từ việc trung thành với công lý và sự thật.

"Theo những gì các anh đã nói, Bá tước Victor Shadow chết do mất máu bởi một vết thương ở đầu, đúng không?"

"Đúng vậy."

Viên thanh tra đáp, vẻ hứng thú khó dò trên gương mặt vẫn không hề suy giảm.

"Tôi biết các anh đã phong tỏa hiện trường và ngoại trừ người đầu tiên phát hiện ra xác chết là quản gia Edward, trong nhà này không ai được phép bước vào căn phòng của ngài Victor Shadow.

Nhưng tôi có thể miêu tả cụ thể cái chết của ngài Bá tước, vì chính tôi đã ở trong căn phòng đó, trước cả khi các ngài tới."

Hình ảnh căn phòng bị nhận chìm trong bể trăng lạnh và thân xác ngài Bá tước gục trên bàn lại hiện ra trong đầu James.

Anh thấy máu từ vết thương sau đầu ngài tràn ra bàn, rồi tràn cả vào tâm trí anh.

Mùi tanh tưởi sộc lên bịt kín mũi.

Nhưng anh không còn sợ hãi nữa.

Ngay bây giờ, anh sẽ đưa sự thật ấy ra ngoài ánh sáng.

"Ngài Victor Shadow chết vì một vết thương sau đầu, ở trong tư thế nằm gục trên bàn.

Máu ngài chảy rất nhiều, tràn ra cả bàn giấy.

Hung khí là một chiếc bình gốm Ba Tư.

Kẻ sát nhân đã tấn công ngài ấy từ phía sau.

"Tối hôm qua, khi tôi bị đánh thức bởi tiếng động và lần sang phòng ngài, quản gia Edward đang đứng sau lưng ngài, trên tay cầm một chiếc bình gốm Ba Tư vẫn còn đầy máu."

Lời khai của James Cooper kết thúc, đóng chặt quản gia Edward vào tội mưu hại chủ nhân và ghim đầu ông ta dưới đoạn đầu đài.

James nhìn viên thanh tra cảnh sát, chờ đợi những lời khỏi cung cụ thể hơn, hoặc thậm chí, là những lời phản bác sẽ vấy tội danh giết người kia lên người anh.

Anh đợi trong thấp thỏm và sốt ruột.

Nhưng đôi mắt lồi của viên thanh tra vẫn chỉ im lặng nhìn anh, thoảng qua một vẻ tán dương vô cùng bí hiểm.

Đến lúc này, anh mới nhận ra viên thanh tra có một đôi mắt màu lục sẫm.

Màu mắt mà hiếm một người Anh nào sở hữu, giống hệt màu mắt của ngài Bá tước dòng họ Shadow.

Suy nghĩ ấy bỗng chốc khiến James thảng thốt, nhưng rồi anh vội vàng quay đi, thôi không nhìn vào đôi mắt kia nữa.

"Như vậy, chúng tôi sẽ dẫn quản gia Edward về Sở và tiến hành điều tra thêm.

Cảm ơn sự hợp tác trung thực của anh, anh Cooper."

Viên thanh tra thậm chí còn không hỏi thêm bất cứ câu nào, đứng dậy bắt tay James, và nhanh chóng ra lệnh áp giải quản gia Edward về Sở.

Edward bị dẫn đi trong sự bàng hoàng của tất thảy gia nhân trong nhà.

Ai cũng nghĩ ông ta là hiện thân đầy đủ nhất cho một quản gia trung thành tới mức khổ hạnh.

Phục vụ qua 3 đời chủ nhân nhà Shadow, không có vợ hay con cháu; và bất kể tuổi tác đã qua mốc 70, vẫn tận tụy thậm chí là yêu thương Victor Shadow vì ngài là một đứa trẻ thiếu thốn tình cảm từ khi mới lọt lòng.

Một người đã định về Yorkshire an dưỡng tuổi già, ngày ngày quẩn quanh bên một đàn cừu nhỏ và thú vui ủ rượu vang, nhưng chỉ vì bức thư của một thằng nhóc 16 tuổi mà lập tức lặn lội tới Luân Đôn, tiếp tục chức phận làm một quản gia, không một lời ca thán.

Một người đã chứng kiến Victor Shadow lớn lên, từ khi còn là một đứa bé mới lọt lòng, khi ngài vẫn còn được gọi bằng danh xưng rát vàng hoàng tử của thành Luân Đôn, cho tới khi tên ngài được nhuộm bởi máu tươi và sự khiếp đảm dưới những danh xưng như ông hoàng thế giới ngầm hay kẻ bạo chúa của giới quý tộc.

Một người như thế.

Vậy mà lại bị kết vào tội giết chết tượng đài mà ông ta vẫn luôn cung phụng và tôn thờ.

Việc ấy có khác nào bắt Galileo phản lại Copernicus (1), hay ép một kẻ cuồng tín đang tay đập tan thánh giá.

Nhưng dẫu cho có khó chấp nhận thế nào, thì Edward vẫn bị giải đi.

Đám gia nhân trong nhà ngẩn ngơ, dáo dác như bầy rắn mất đầu.

Trong chưa đầy nửa ngày, cơ ngơi đồ sộ, pháo đài sừng sững Alleretos của dòng tộc Shadow đứng trước nguy cơ sụp đổ.

Họ cử hành đám tang mà không có sự chỉ đạo của quản gia Edward.

Buổi chiều hôm đó, rất nhiều người tới tham dự lễ tang.

Chủ nhân đã chết, một kẻ dẫn đường như James Cooper cũng hết chức phận, nhưng anh không trở về Edinburgh ngay, anh muốn nán lại cho tới khi tang lễ và mọi thứ êm xuôi.

James nhớ lại lời tên phu xe nói hôm qua, về việc ngài Bá tước là một nhà từ thiện có lòng thương với tầng lớp dân nghèo.

Anh biết điều đó là sự thực khi trông thấy rất nhiều người dân ăn vận rách rưới đứng kín ngoài hàng rào của lâu đài.

Họ không được phép tham dự đám tang, nhưng vẫn trật tự đứng xếp hàng, và hàng người ấy mỗi lúc một dài tới mức gây khó khăn cho việc di chuyển của những nhà quý tộc đến viếng.

Cảnh tượng ấy bỗng khiến hai hốc mắt James Cooper nóng rực lên.

Đám tang tới gần tối thì kết thúc.

Những người dân nghèo đứng ngoài hàng rào bị xua đuổi bằng vũ lực và những tràng chửi bới thậm tệ.

Trong khi những nhà quý tộc tới viếng, thay vì trở về sau khi đám tang xong xuôi, thì bắt đầu mở tiệc thác loạn trong lâu đài Alleretos.

Cơ ngơi đồ sộ với vô vàn cổ vật trị giá hàng triệu bảng Anh của ngài Bá tước không còn người đứng đầu, lập tức trở thành miếng mồi béo bở cho những kẻ đục nước béo cò.

Những kẻ vài tiếng trước còn khóc lóc thảm thiết trong đám tang, giờ cười sảng khoái bên rượu vang và những điệu nhạc.

Bọn chúng gom tất thảy những đồ đạc có giá trị trong lâu đài, ban đầu còn giả tạo dàn dựng như một cuộc đấu giá, rồi sau đó là phân chia nhau, tới cuối cùng thì biến thành giẫm đạp lên nhau để tranh giành.

Nhiều người hầu trong lâu đài bỏ đi.

Những người còn lại ra sức ngăn cản nhưng lập tức bị làm cho ngậm miệng bằng vũ lực.

James Cooper nhìn thấy cảnh ấy.

Một cảm giác ghê tởm dâng lên trong anh.

Anh thấy ghê tởm những kẻ được coi là chuẩn mực của xã hội này.

Bọn chúng- những kẻ sống trong gấm vóc lụa là, lớn lên từ một môi trường giáo dục đặc biệt; nhưng còn không bằng đám dân nghèo hôm nay xuất hiện ở đám tang.

Cao quý thành bẩn thỉu, đói rách hóa thánh thần.

Xã hội này thực sự đã bị đảo lộn tới không còn hình dạng.

James nhanh chóng rời khỏi bữa tiệc thác loạn của đám quý tộc.

Anh vốn định sáng mai mới rời đi, nhưng trước cảnh tượng kia, anh nghĩ mình không muốn nán lại nơi đây thêm một giây nào nữa.

Luân Đôn hoa lệ cuối cùng lại bẩn thỉu thế này.

Nhưng trước khi rời đi, anh nghĩ mình nên tới thăm mộ của ngài Bá tước lần cuối.

Anh thấy ngưỡng vọng và xót thương cho con người ấy.

Con người nhân hậu và tài giỏi.

Nhà chính trị kiệt xuất, hay đệ nhất chiến lược gia thời Nhiếp Chính.

Victor Shadow, ngài là một con người như thế.

Ít nhất là theo lời của vị linh mục đọc kinh cầu siêu sáng nay.

Mộ của ngài Bá tước nằm ở khu đất rộng ngay phía sau lâu đài- nơi dựng rất nhiều bia mộ của những người cũng mang họ Shadow.

Mảnh đất rộng chừng hơn chục mẫu Anh, ngoại trừ lối vào nối trực tiếp với lâu đài, ba bề xung quanh đều được bọc bởi hào sâu 2 mét.

James đi lướt qua những hàng mộ, trong lòng không khỏi cảm thán trước những tước danh được khắc trên bia mộ.

Bên cạnh việc mang tước hiệu quý tộc, trên bia mộ của những người thừa kế của dòng họ Shadow qua các đời đều khắc vô vàn chức danh được phong tặng bởi Đức Vua và Nữ Hoàng.

Ông nội Victor là Đệ Nhất Hiệp Sĩ được phong tặng bởi Quốc vương George Đệ Tứ, mà người đương thời xem ông như hiện thân của Lancelot (2) tái sinh.

Cha ngài mang danh Đệ Nhất Chiến Thần, trong khi tới lượt ngài thì là Đệ Nhất Chiến Lược Gia Thời Nhiếp Chính.

Nhưng tiếc thay, sự oanh liệt kiệt xuất ấy lúc này cũng đã bị vùi chôn dưới những nấm mồ.

Trước sự sụp đổ của gia tộc danh giá bậc nhất hoàng tộc, Luân Đôn hẳn sẽ phải gánh chịu một trận phong ba.

James tự hỏi, phải chăng cái chết của Victor Shadow chính là dấu chấm hết cho lịch sử chói lọi của những Kẻ Thừa Kế Bóng Tối?

(1) Galileo phản lại chủ nghĩa Copernicus: Galileo hay tên đầy đủ là Galileo Galilie là một nhà thiên văn học, khoa học, triết học người Ý; trong suốt cuộc đời mình ông luôn có một niềm tin vững chắc vào chủ nghĩa Copernicus- chủ nghĩa ủng hộ thuyết nhật tâm thay vì địa tâm như thời Aristoteles.

Cũng chính điều này đã khiến ông bị khép vào tội phản lại Kinh Thánh và bị giam lỏng những tháng ngày cuối đời theo sự giám sát của Tòa án dị giáo La Mã.

Nhắc tới Galileo và niềm tin của ông với Copernicus ở đây để ám chỉ sự trung thành của Edward với Victor, và việc Edward phản bội Victor thì khó tin như Galieo phản lại Copernicus.

(2) Lancelot: là một trong 28 Kỵ sĩ Hội Bàn Tròn, là hiệp sĩ tài ba và thân cận nhất của Vua Arthur, được xem như người dụng kiếm và cưỡi ngựa tài ba nhất thời bấy giờ.

Là một trong những người góp công giúp Vua Arthur đi tìm chén thánh, cho tới khi ông đem lòng yêu vương hậu của Vua Arthur và trở thành một trong những nguyên nhân gây ra nội chiến với Mordred dẫn tới sự sụp đổ của Đế chế Arthur.
 
Cốt Cách Một Quý Ông
Pháo đài tội ác: lối vào (3)


iii.

Đàn chó của ta thì hay đói thịt người.

Trong khi lũ vô dụng, ngươi biết đấy, chúng quá đông.

~~~

Kẻ Thừa Kế Bóng Tối.

Đó là tên gọi của những hậu duệ nhà Shadow mà James nghe được từ đám kẻ hầu người hạ trong lâu đài.

Hẳn là những kẻ sinh ra trong một gia tộc bóng tối, dùng thành tích sáng chói truyền từ đời này sang đời khác để duy trì thứ bóng đêm quyền lực vĩnh hằng.

Nhưng sự vĩnh hằng ấy tới đây cũng đã là hồi kết thúc.

James nghĩ thầm, một vẻ tiếc rẻ và xót thương, cúi đầu trước bia mộ của Bá tước Victor Shadow.

Nghĩa địa tĩnh lặng tuyệt đối, dường như tới cả những đợt gió vốn dĩ khoa trương cũng buộc trở nên lặng lẽ để thể hiện sự cung kính trầm mặc trước những vị lãnh chúa đã an nghỉ dưới mảnh đất này.

Thế nhưng sự trầm mặc ấy chẳng kéo dài được lâu.

Bể bóng tối đang yên ả thình lình bị khuấy mạnh bởi một chuỗi tiếng động khẽ tới độ chỉ như bụi đất ma sát vào không khí.

James Cooper căng tai ra lắng nghe, cố gắng bắt lấy từng sợi âm thanh rất nhỏ của những gót giày gõ đều đều lên lớp đất khô xốp của nghĩa địa.

Hai vai anh cứng lại trong một thoáng, rồi anh chầm chầm đưa mắt nhìn ra chung quanh.

Bóng đêm dày đặc tới nỗi anh chẳng thể nhìn thấy bất cứ thứ gì.

Tiếng đế giày kia quyện với tiếng gió, vờn quanh tai anh, kích thích óc tưởng tượng và nỗi sợ hãi, chơi đùa với những giác quan rồi ép chúng tới một giới hạn căng thẳng nhức nhối.

James thậm chí còn cảm nhận được tiếng thở rất khẽ đang vởn sau tai mình.

"Anh James Cooper."

Một giọng nói trầm tới độ không lọc ra cảm xúc vang lên ngay đỉnh đầu James Cooper, và anh có cảm giác quả tim mình vừa nhảy ra khỏi lồng ngực.

James hốt hoảng quay người về sau, nheo mắt trước ánh đèn le lói được hắt bởi chiếc đèn bão từ phía đối, thân hình rụt lại như một sinh vật bóng tối sợ sệt trước những luồng ánh sáng.

Trước mắt anh là gương mặt điển trai của ngài Bá tước Victor Shadow.

Ánh đèn vàng vọt hắt lên gương mặt góc cạnh của ngài gợi liên tưởng tới một ý niệm về sự xưa cũ xa xăm.

Nước da ngài Bá tước trông luôn nhợt nhạt quá mức so với người sống.

Và ngay lúc này, nó khiến James liên tưởng tới một xác chết mới đội mồ sống dậy.

Anh giật lùi về sau, vấp phải một mô đá và ngã ngồi xuống đất.

Ngài Bá tước chìa tay về phía anh, mỉm cười.

"Không cần căng thẳng như thế, anh Cooper.

Tôi không phải ma."

Có con ma nào lại đi nhận nó là ma chứ?

James tự trả lời như thế trong đầu, nhưng dĩ nhiên sự sợ hãi đã ngăn không cho anh tỏ ra hài hước một cách gượng gạo như thế.

"Tại sao... ngài..."

Chàng trai trẻ chỉ lắp bắp được vài câu, rồi lập tức im bặt.

Anh vẫn chưa hết kinh hoàng.

Victor Shadow đang đứng sờ sờ trước mắt anh, nguyên vẹn như không có chuyện gì xảy ra.

Vậy thì kẻ nằm gục trên bàn tối hôm qua và kẻ được cử hành tang lễ hôm nay, rốt cuộc là kẻ nào?

"Đó sẽ là một câu chuyện dài.

Trước tiên, cứ đứng dậy đã nào, anh Cooper."

Bàn tay ngài Bá tước vẫn chưa thu lại.

Sau một thoáng chần chừ, James đưa tay nắm lấy.

Khi đó anh đã nghĩ ấy chỉ là một cái nắm tay đơn thuần, mà không biết rằng trong tương lai, nó chính là sợi dây nối kết sinh mệnh của anh với pháo đài tội ác sừng sững của Victor Shadow.

"Để cho anh được sáng tỏ thì, Edward."

Ngài Bá tước cao giọng gọi, và từ sau lưng ngài, quản gia Edward bất ngờ tiến lên.

Vẫn là dáng vẻ trung thành quen thuộc, nhưng trong mắt James lại chỉ có hình ảnh ông ta đứng sau lưng ngài Bá tước với chiếc bình gốm dính máu.

Điều ấy khiến gương mặt anh tràn ngập một vẻ khinh ghét xen lẫn đề phòng.

Như đọc được biểu hiện ấy, Victor lên tiếng.

"Hãy nghe Edward trình bày và anh sẽ hiểu ngọn ngành về tấn bi kịch này, Cooper."

Sau khi nhận được cái gật đầu cho phép của Victor, quản gia Edward bắt đầu câu chuyện của mình.

Bằng một giọng nói, thậm chí còn khô hơn của ngài Bá tước.

"Mọi sự bắt đầu từ nửa tháng trước, vào buổi tối tôi cùng Bá tước và tiểu thư Eleanor từ Edinburgh trở về Luân Đôn trong đêm, sau khi cô Eleanor đã thắng cuộc đấu giữa các vật tế và ngài Bá tước có được một kẻ dẫn đường.

Trên quãng đường trở về Luân Đôn, đoàn người của chúng tôi đã bị phục kích bởi 30 kẻ mặc đồ đen.

Bọn chúng tập trung tấn công vào ngài Bá tước và tiểu thư Eleanor Austen.

Những kẻ tay sai như chúng tôi dĩ nhiên sẽ dồn toàn lực để bảo vệ chủ nhân mà không màng tới mạng sống của mình.

Sau một hồi giằng co, cuối cùng thì chúng cũng bị đẩy lùi, ngài Bá tước và cả tiểu thư Eleanor Austen đều bình an vô sự.

Sau trận đấu, người của chúng tôi và cả những kẻ phục kích đều không có tổn thất gì nghiêm trọng."

"Tạ ơn Chúa!"

James Cooper cảm thán, cơ mặt căng cứng khẽ khàng giãn ra.

Anh đang hoàn toàn tập trung vào câu chuyện của quản gia Edward.

Victor thấy biểu hiện nhẹ nhõm của James thì bất ngờ bật cười.

Đôi mắt màu lục sẫm nhìn anh, ngài hỏi.

"Anh không thấy điều gì bất thường sao?"

"Bất thường?"

James cau mày hỏi lại, có cảm giác hơi chột dạ.

"30 đấu lại 10, không hề xảy ra bất cứ tổn thất gì cho cả hai bên, và bọn chúng còn rút lui khi chưa động được một mũi kiếm vào ta, anh không thấy điều này vô cùng bất thường?"

James Cooper cứng họng.

Dĩ nhiên anh thấy nó bất thường, nhưng chỉ là sau khi ngài Bá tước nói ra thôi.

"Khi kẻ tấn công nhắm vào ta, anh nghĩ sự chú ý của những người phe ta sẽ tập trung vào ai nhiều nhất?"

"Dĩ nhiên là vào ngài, bọn họ có nhiệm vụ phải bảo vệ ngài."

"Đó là lối suy nghĩ thông thường, và bất cứ ai khi lâm vào tình huống ấy cũng sẽ suy nghĩ như anh.

Đó là điểm mù và cũng là lỗ hổng trong tư duy của con người."

Mũi giày của ngài Bá tước vạch lên nền đất, di chân tạo một hình tròn to nằm chính giữa và những hình rất nhỏ ở xung quanh.

"Khi nhìn vào đây, anh sẽ chỉ chú ý tới hình tròn to nhất, đúng không?

Giống như trong trận phục kích kia, mọi sự chú ý đều dồn cả vào ta và Eleanor Austen.

Sự tồn tại của đám tay sai xung quanh ta tự khắc trở nên nhỏ bé và mờ nhạt như những hình tròn nhỏ.

Khi ấy, trong tâm tưởng họ chỉ xuất hiện duy nhất một suy nghĩ: bảo vệ ta.

Đừng nói tới mạng sống của những kẻ khác, có lẽ tới cả mạng sống của mình cũng không màng tới.

Đó mới là âm mưu thực sự của kẻ đứng sau cuộc phục kích."

"Bọn chúng khiến chúng tôi tập trung vào ngài Bá tước nhưng lại mất cảnh giác với xung quanh.

Tạo ra một lỗ hổng trong lối liên kết tác chiến thông thường bằng việc áp đảo về số lượng.

Và cũng từ lỗ hổng ấy, bọn chúng âm thầm chuyển mục tiêu.

Vì số lượng lên tới 30 tên, trong khi phần đông vẫn đi theo lối đánh lấy mục tiêu là ngài Bá tước, thì một số kẻ chuyển hướng tách ra và tấn công tôi.

Có khoảng bảy tám tên, nhưng kì lạ là chúng không hề muốn giết tôi.

Tôi chỉ bị đánh bất tỉnh, và vài tiếng sau khi tỉnh lại, thì tôi đã nằm trong một căn nhà bỏ hoang ở ngoại thành Edinburgh."

"Vậy tại sao ban nãy ông lại nói cả hai bên đều không xảy ra tổn thất gì?

Quản gia Edward mất tích cơ..."

Những lời chưa nói hết bị James nuốt ngược lại cổ họng.

Đến lúc này, cuối cùng anh cũng nhìn ra được sự bất thường thực sự.

"Chẳng lẽ trong đám phục kích kia có kẻ cải trang thành quản gia Edward và theo ngài trở về Luân Đôn?"

"Đúng thế.

Anh hiểu ra vấn đề rồi đấy."

Trong giây lát, James có cảm giác mồ hôi lạnh đổ ròng ròng thấm ướt lưng áo.

Một gã nông dân như anh thậm chí còn chưa từng được diện kiến quá năm nhà quý tộc, chứ đừng nói đến việc chứng kiến những âm mưu đấu đá chính trường thế này.

Nhận ra vẻ mặt tái nhợt của James Cooper, quản gia Edward điều chỉnh âm giọng để làm dịu đi bầu không khí căng thẳng.

"Sau khi tỉnh lại, tôi nhận ra mình bị nhốt trong một căn nhà bỏ hoang với khoảng trên dưới năm tên canh gác bên ngoài.

Tôi đã gặp phải một chút khó khăn khi tự cởi dây trói và hạ gục bọn chúng để thoát ra.

Cuộc đào thoát ấy để lại cho tôi vết thương ngay mu bàn tay trái, nhưng giờ thì nó cũng sắp lành rồi."

"Ông... tự cởi trói và thoát ra?"

"Vâng, thưa ngài."

"Một quản gia thôi... sao có thể?"

"Edward từng là hầu cận đi bên cạnh ông nội ta và theo cha ta ra chiến trường.

Hầu cận của Đệ Nhất Hiệp Sĩ và Đệ Nhất Chiến Thần đâu thể tầm thường được?"

Victor mỉm cười, trong giọng nói không giấu được vẻ khen ngợi hiếm hoi dành cho người quản gia già.

Edward từng có thời trai trẻ hào sảng trên lưng ngựa và mang theo phẩm chất được trui rèn bởi thương mác chiến tranh.

Khi chấp nhận làm quản gia cho ngài, bản năng ấy đã tạm thời ngủ yên và có lẽ, là đang dần dần mai một bởi tuổi già.

Nếu không, những kẻ phục kích hôm đó đừng nói tới việc đánh ông bất tỉnh, tới cả cơ hội chạm vào người ông cũng không có.

Trưởng thành từ chiến trường cũng là lí do ông rất kiệm lời và luôn mang vẻ mặt lãnh đạm.

Một người đàn ông đã thấy đủ máu rơi trên cả chiến trường và chính trường, đã từng chứng kiến hai đời chủ nhân oanh liệt ngã xuống bởi những tính toán âm mưu.

Một người đàn ông như thế, sẽ chẳng còn bất cứ thứ gì có thể chạm tới cảm xúc của ông ta nữa.

"Sau khi thoát ra ngoài, tôi tức tốc trở về Luân Đôn.

Nhưng thay vì lập tức trở về lâu đài, tôi nán lại một quán trọ ở gần Merton và quan sát tình hình.

Là một quản gia, tôi nắm rõ tất thảy lịch trình của ngài Bá tước.

Từ việc mỗi sáng thứ Năm hàng tuần ngài sẽ có hẹn chơi cờ với Quốc vương, thứ Tư là tới trường đua ngựa và hai ngày cuối tuần sẽ đi săn trong rừng.

Những lần ngài ra ngoài, quả nhiên, vẫn có sự xuất hiện của tên quản gia giả mạo kia.

Vì lo sợ khả năng ngoài tôi ra còn có những kẻ tay sai khác bị quân địch trà trộn, tôi loay hoay nghĩ cách báo tin cho ngài Bá tước, thậm chí còn nghĩ tới hạ sách đột nhập vào lâu đài.

Nhưng ngay khi đang lâm vào thế bí mà tình hình thì gấp gáp, tôi nhận được một lá thư từ chủ nhân.

Bức thư được mang tới thẳng phòng trọ mà tôi đang ẩn nấp bởi Aro- con diều hâu của ngài."

"Kể từ sau vụ ám sát kia, ta đã phần nào đoán đọc được mục đích thực sự của kẻ đứng đằng sau, nhưng chưa thể chắc chắn.

Ta đã nghĩ tới trường hợp có kẻ trà trộn, nhưng chưa rõ có bao nhiêu kẻ giả mạo và giả mạo những ai.

Vậy nên ta đã làm một phép thử.

Anh nghĩ ta thử bằng cách nào, James?"

Ngài Bá tước hướng về phía James Cooper với vẻ chờ đợi, nhưng anh ngần ngại lắc đầu.

"Khá đơn giản thôi, ta tập hợp 10 kẻ tay sai kia lại và mời họ uống trà chiều, coi như lời cảm ơn vì đã bảo vệ ta khỏi cuộc tập kích.

Trong buổi uống trà ấy, ta có nói một câu thế này Edward, thêm sữa và chanh vào trà cho khách.

Đó là lúc buổi sàng lọc bắt đầu.

Trong số mười kẻ tay sai thân cận nhất của ta, có kẻ thích sữa còn có những kẻ chỉ thích chanh, cũng có những kẻ không ưa cả hai thứ.

Là quản gia lâu năm của ta, Edward thuộc nằm lòng điều này.

Nhưng tên giả mạo, dù có học thuộc mọi thông tin liên quan tới ta cũng không thể biết những thứ như vậy.

Vậy nên hắn ta thêm cả sữa vào chanh vào mỗi tách trà."

"Lúc này ta đã xác định được Edward bị giả mạo, nhưng vẫn chưa rõ trong mười kẻ kia có kẻ nào giả mạo hay không.

Vậy nên ta quan sát bọn họ.

Một số tỏ ra ngạc nhiên vì không được phục vụ như thông thường và đòi đổi tách khác.

Duy chỉ có hai kẻ- dù bị phục vụ sai, gương mặt vẫn không biến sắc và lặng lẽ uống.

Vậy là ta đã lọc ra những kẻ gián điệp trà trộn vào."

James Cooper thấy lưng áo mình ướt sũng dù gió đang nổi lên ngày một lớn.

Victor Shadow thậm chí còn để ý và thuộc lòng sở thích uống trà của những kẻ tay sai dưới trướng ngài.

Ngài là kẻ đứng ở ngôi vị cao chót vót mà rất ít kẻ với tới, nhưng ngài không đứng từ trên cao mà kiêu ngạo và khinh bỉ những kẻ ở dưới.

Ngài dùng tầm nhìn từ trên cao ấy để bao quát, thiết lập và điều khiển bàn cờ.

Là những chiến lược được vạch nên từ mọi điều nhỏ nhặt nhất.

Tìm ra gián điệp chỉ dựa vào một tách trà.

Victor Shadow rốt cuộc là sinh vật gì vậy?

"Sau khi cô lập được kẻ khả nghi, ngài làm gì tiếp theo?"

"Ta coi như chưa có chuyện gì xảy ra, cho người ngược trở lại Edinburgh tìm tung tích của Edward.

Chúng báo cáo lại rằng tìm thấy một căn nhà bỏ hoang ở ngoại ô, bên trong có dây trói bị cắt đứt và ngoài cửa là vài tên bị giết chết bằng dao găm.

Ta đoán Edward đã thoát ra, vậy thì chắc chắn ông sẽ trở về Luân Đôn.

Với kinh nghiệm nhiều năm trên chính trường, Edward nhất định sẽ không hành động nóng vội mà trước tiên sẽ âm thầm quan sát.

Ta chỉ cần cho người đi theo và chú ý tới những kẻ theo dõi ta gần đây, mất chừng hai ngày thì lần ra nơi ẩn nấp của Edward.

Sau đó, ta gửi một bức thư, cùng Edward thiết lập bẫy dụ những kẻ gián điệp kia vào tròng."

"Hóa ra mọi hành tung của tôi đều đã bị ngài đoán đọc.

Tôi còn lo sợ ngài sẽ bị kẻ giả mạo kia lợi dụng."

"Ta không còn là thằng bé 15 tuổi năm xưa tuyệt vọng tới mức phải viết thư thỉnh cầu ông trở lại Luân Đôn nữa rồi, Edward."

Victor đáp, gương mặt hiện lên một vẻ ôn hòa pha chút trẻ con hiếm thấy.

Giống như một cậu thiếu niên dẫu có tung hoành ngang dọc, trước người cha hay người ông của mình, cũng sẽ hóa thành một đứa trẻ mà thôi.

"Một trong những kẻ bị Edward giết chết chính là tay sai của Denver- gã chủ quán rượu Morte van Diablo, kết hợp với việc đám người kia chỉ trà trộn vào người của ta chứ không giết ta; ta kết luận rằng bọn chúng muốn cướp đi kẻ dẫn đường mà ta đã thắng được trong cuộc đấu.

Nếu giết ta ngay từ lúc đó, kẻ dẫn đường nghiễm nhiên sẽ không lộ mặt.

Chỉ có một cách duy nhất là bám theo ta, trở thành người thân cận của ta, đợi khi kẻ dẫn đường xuất hiện sẽ lập tức giết chết ta và đoạt lấy kẻ dẫn đường.

Chúng vẫn để Edward sống, là bởi sau khi giết ta, chúng sẽ đổ toàn bộ tội lỗi lên người ông."

Một lớp sương mù vừa tan ra trong đầu James Cooper, thì một lớp khác lại kéo tới, dày đặc hơn nhiều.

"Vậy khi tôi xuất hiện rồi, ngài chỉ cần giết chết những kẻ kia thôi, sao còn mất công dàn dựng cái chết giả làm gì?"

"Bởi vì ta cũng không tin anh."

Victor nở nụ cười, đáp bằng giọng kiệt khô cảm xúc khiến người nghe rét lạnh.

"Anh không thắc mắc vì sao tối hôm qua, dẫu cơ thể vô cùng mệt mỏi bởi chuyến đi dài, nhưng anh vẫn không thể ngủ?"

"Là do tôi suy nghĩ quá nhiều chuyện thôi."

"Đó có thể là một phần lí do.

Nhưng còn một lí do nữa, trong bữa tối hôm đó mà anh ăn cùng với ta, tất thảy đồ uống và món tráng miệng đều là cà phê.

Trong phòng anh còn đốt tinh dầu oải hương.

Oải hương với dung lượng vừa phải sẽ chữa chứng mất ngủ, nhưng khi dùng quá liều lượng sẽ tạo cảm giác bồn chồn và đau đầu.

Tất cả đã được an bài, chỉ để anh không ngủ trước khi màn kịch bắt đầu."

Chỉ để tôi không ngủ trước khi sa vào bẫy thì đúng hơn.

James nhẩm trong đầu, và dĩ nhiên anh đủ khôn ngoan để không thốt nó ra thành lời.

"Buổi tối hôm đó, ta cố tình ở một mình trong thư phòng tới khuya, vì ta biết sau khi anh xuất hiện, thì đêm đó sẽ là thời khắc những kẻ kia kia hành động.

Quả nhiên giữa đêm hôm đó tên giả mạo Edward mang trà vào cho ta, trong khi thập thò ngoài cửa là hai cái bóng lén lút- là hai kẻ gián điệp còn lại.

Trước khi hắn kịp rút con dao giấu dưới đáy đĩa đặt bánh ngọt, người mà ta bố trí lập tức đánh úp.

Và tất cả bọn chúng bị tóm gọn.

"Một trong ba tên sau đó được hóa trang thành ta, bị ép ngồi lên bàn, và bị đánh vào đầu bởi chiếc bình gốm Ba Tư.

Tiếng thét khiến anh mò sang phòng ta là của hắn chứ không phải của ta, nhưng người cầm chiếc bình gốm đầy máu khi ấy là quản gia Edward thật.

Còn ta khi ấy thì đang nép sau tấm rèm, quan sát biểu hiện của anh.

Nếu khi đó anh không tỏ ra ngạc nhiên và kinh hoàng, ta chắc chắn đã giết anh rồi.

Vì trước tình huống ấy, chỉ có kẻ gián điệp đã được biết trước về kế hoạch mới không cảm thấy sững sờ."

Ngài nhầm rồi, còn cả dạng người như ngài nữa.

Một lần nữa, James lẩm nhẩm trong đầu và không nói ra thành lời.

"Khi đó ta đã chắc chắn về thân phận của anh rồi, mấy thứ kịch bản đằng sau về việc 1000 bảng Anh chỉ là để thử bản lĩnh của anh thôi.

Nếu anh đồng ý nhận số tiền đó và im miệng, ta sẽ vẫn dùng anh nhưng sẽ nghĩ ra những đối sách thích hợp.

Thế nhưng ta mừng vì anh là một kẻ trung thực và có nghĩa khí.

Sự tự tin của anh khi ta hỏi cung khiến ta khá hài lòng."

"Ngài hỏi cung?"

"Anh thậm chí còn không nhận ra ta chính là viên cảnh sát của Scotland Yard kia à?"

Màn kịch kết thúc bằng một nụ cười của ngài Bá tước.

Chỉ có 5 phút trôi qua, mà James Cooper cảm tưởng như hai chân mình mềm nhũn vì những bắp cơ căng cứng.

Trong suốt quá trình nghe cặp chủ tớ nhà Shadow giảng giải về mọi thứ, không chỉ trí óc anh phải tập trung cao độ để tiếp thu những thông tin, mà toàn bộ giác quan và bắp thịt trên người anh cũng buộc phải ở trong trạng thái căng thẳng.

Một người ngoài cuộc khi nghe kể lại còn có tâm trạng như vậy, thì những người nằm ở trung tâm như Victor Shadow và quản gia Edward- rốt cuộc phải chịu đựng áp lực tới mức nào?

Với kẻ không có bản lĩnh, khi rơi vào tình thế này có lẽ đã bị ép tới phát điên, chứ đừng nói tới việc tỉnh táo để diễn kịch và ra đối sách.

Từ trong âm mưu để thiết lập âm mưu, mượn đối thủ để diệt đối thủ.

"Vậy ba kẻ gián điệp kia ngài xử lý thế nào rồi?"

"Chúng đang ở ngay trước mặt anh đấy."

Victor mỉm cười, đoạn hơi hất cằm về phía đối diện.

James Cooper nương theo ánh mắt ngài mà tìm bóng dáng của ba kẻ gián điệp, và anh suýt ngã ngồi xuống đất một lần nữa khi trông thấy ba xác người được treo lủng lẳng trên một trạc cây vươn ra trên mặt hào sâu 2 mét.

Không phải tự dưng mà lâu đài Alleretos được bọc quanh bởi hào sâu 2 mét.

Đến lúc này James mới để ý, ẩn dưới làn nước tĩnh lặng kia là những con vật khổng lồ gớm ghiếc đang lặng lẽ trườn bò.

Ngài Bá tước mỉm cười, nhận từ tay quản gia Edward một bộ cung tên.

Ngài nheo mắt xác định mục tiêu, chỉ trong một lần giương cung, ba sợi dây thừng treo xác của ba kẻ gián điệp buộc liền với trạc cây lập tức bị cắt đứt.

Ba cái xác rơi thẳng xuống hào sâu 2 mét bên dưới, và nhờ vào ánh trăng, James đã kịp trông thấy rất nhiều cái mõm dài đầy răng nhọn nhô lên khỏi mặt nước để đợp lấy xác của những kẻ xấu số.

Tiếng gầm rú lẫn trong tiếng xương thịt nhai rau ráu.

Đó là khi James nhận ra bọn họ vẫn chưa hề chết.

Dưới hào sâu kia nuôi đầy cá sấu.

Và họ vừa bị ăn sống.

"Đàn cá sấu thỉnh thoảng lại thèm thịt tươi.

Đó là lí do duy nhất ta để ba tên gián điệp kia sống tới tận bây giờ."

Ngài Bá tước mỉm cười, đôi mắt màu lục sẫm của ngài nhìn thẳng vào mắt James Cooper.

Phút chốc, anh thấy một lớp biểu bì như vẩy sừng lợp một lượt trên da.

Lí do duy nhất ngài khiến ba kẻ đó được sống là vì bầy cá sấu của ngài.

Vẻ tươi cười sặc mùi cảnh cáo khi ngài thốt ra câu ấy khiến James có cảm tưởng lời đe dọa ấy là dành cho anh chứ không dành cho những kẻ đã chết.

Ngài cho anh trông thấy cái kết của những kẻ dám đóng kịch để mưu hại ngài, cũng là nhắc nhở anh về cái kết của chính anh- một khi anh có tư tưởng làm vậy.

"Anh có biết ta sẽ làm gì với những kẻ đang thác loạn trong lâu đài không?"

Ngài Bá tước đột ngột hỏi, mắt ngài nheo lại nhìn theo hướng đang diễn ra buổi thác loạn của những kẻ quý tộc.

"Tôi không biết, thưa ngài."

Nhưng chiếu theo cái cách ngài đối xử với ba kẻ gián điệp kia, thì chắc chắn không có điều gì tốt đẹp.

"Ta sẽ không cho phép kẻ nào giẫm đạp lên sự tự tôn của ta, bất kể khi ta còn sống hay đã chết."

Một cảm giác run sợ dâng lên trong mắt James Cooper, khi anh trông thấy dáng vẻ của ngài Bá tước lúc thốt ra câu ấy.

Khóe miệng ngài kéo lên tạo một nụ cười cân xứng tới mức hoàn hảo, nhưng đôi mắt màu lục sẫm thì mờ mịt bóng tối và bão giông.

Với một vẻ thong thả ung dung, ngài đưa tay lên miệng và huýt sáo.

Khi âm thanh ấy vừa phát ra, trong đám liễu gai mọc đầy lối vào lâu đài bắt đầu vang lên tiếng loạt xoạt.

Thình lình từ trong những bụi cây hàng chục con chó ngao Neapolitan bắt đầu xồ ra, hung hãn tựa một đàn thú đói mồi.

Như những chiến binh cảm tử dũng mãnh và nhanh nhạy nhất, bốn chân của chúng sải nhanh trên trảng cỏ trong khi mũi đánh hơi mùi thịt người quyện với hương rượu vang đắt tiền.

Chúng lao thẳng vào lâu đài- nơi bữa tiệc thác loạn của đám quý tộc đang được diễn ra.

James không đếm được trong đó có bao nhiêu con, anh chỉ biết, khi đứng từ xa nhìn lại, đàn chó ấy đông và chạy san sát nhau như một đàn kiến.

Đàn chó dữ lao vào lâu đài trong sự kinh hoàng của tất thảy bọn quý tộc.

Bầu không khí náo nhiệt bị chọc thủng bởi những cái nanh chó cứng tựa thép và sắc tựa dao.

Qua lối cửa chính, đàn chó nối nhau tràn vào lâu đài, và ngay khi chúng đã vào gần hết, cánh cửa gỗ lập tức được đóng chặt, cố định bằng hơn chục tấm ván dày đóng chéo ngoài cửa.

Tiếng chó sủa, tiếng xương thịt bị nghiền nát, còn có cả tiếng người.

Họ gào khóc, kêu cứu trong tuyệt vọng.

Nhưng một khi chó ngao Neapolitan đã ra trận, chúng sẽ không dừng lại, cho tới khi nhai nát vụn tới từng mẩu xương.

Lâu đài Alleretos cuối cùng trở thành cái lồng nghiền thịt người xa hoa bậc nhất.

Nhiều kẻ không thoát được bẳng cửa chính bèn chạy lên các tầng cao hơn, bị dồn tới chân tường bởi đàn chó ngao, cuối cùng bế tắc mà nhảy khỏi ban công để tìm lối thoát trong vô vọng.

Tiếng gào khóc bện vào tiếng chó sủa vọng âm âm trong bóng đêm.

Dù cách xa hàng chục mét, nhưng James cũng có thể ngửi thấy mùi tanh lộn của máu.

"Bá tước... ngài..."

Anh lắp bắp, dường như không tin vào sự dã man của chàng trai 20 tuổi đang đứng trước mặt.

"Đàn chó của ta thì hay đói thịt người.

Còn những kẻ vô dụng nhưng ngông cuồng, anh biết đấy, chúng quá đông."

Và ngài mỉm cười tới độ sán lạn, đáp bằng giọng điệu của một nhà tư bản đích thực.

"Chỉ là một dạng chuyển đổi nguồn đầu tư thôi, anh Cooper.

Với những thứ hết giá trị, anh rút vốn và lấy nó để đắp vào nơi đáng đầu tư hơn.

Ở đây cũng vậy.

Đám người kia vốn không có tác dụng, ngược lại còn ngông cuồng, vậy nên ta chọn đầu tư cho đàn Neapolitan."

Trước hành động độc ác kia, James vẫn cố tin vào hình ảnh vị Bá tước giàu lòng thương người sẵn sàng quyên góp hàng triệu bảng mỗi năm cho dân nghèo.

Anh cố tìm lấy một điểm tốt trong con người ngài, và thật may, cuối cùng anh cũng tìm ra.

Với ngài; chó, người và cá sấu đều bình đẳng, không phân biệt thứ bậc giống loài.

Vai trò của chúng sẽ được định mức bởi giá trị mà chúng mang lại.

Hóa ra, đến cuối cùng, ngài vẫn là con người công bằng và vô cùng yêu thương động vật.

"Trời cũng sắp sáng rồi, chúng ta nên dùng điểm tâm và đi ngủ để sang mai lên đường tới Edinburgh, anh Cooper."

Ngài Bá tước nói với một vẻ thản nhiên, và dường như những tiếng gầm rú trong lâu đài kia không mảy may ảnh hưởng tới tâm trạng ngài.

Đôi mắt màu lục của ngài vô cùng tĩnh lặng nhưng lại sáng rực lên.

Trong giây phút, ánh nhìn nham hiểm ẩn giấu như loài diều hâu ấy khiến anh sững sờ.

Anh như nhìn thấy một bóng áo choàng đen bay phấp phới giữa nghĩa trang vắng lặng của rất nhiều năm trước.

"Khi nhìn ta cháu trông thấy cái gì, thì ta chính là thứ ấy."

Mùi máu tanh xen vào những kí ức xa xưa khiến James lợm mửa, và anh chậm rãi lắc đầu.

Điều đáng sợ là, dẫu mùi máu có làm anh buồn nôn, nhưng thủ đoạn tàn nhẫn của Victor Shadow lại không khiến anh ghê tởm.

Có lẽ là bởi anh đã tận mắt trông thấy những kẻ đang gào thét trong lâu đài kia- ban chiều còn khóc lóc tỏ ra vô cùng tiếc thương trước cái chết của Victor, và ngay buổi tối đã thác loạn trên cái chết của ngài.

Cũng có lẽ bởi anh đã trông thấy kẻ giả mạo Victor chết vì chiếc bình gốm Ba Tư táng vào đầu, mà nếu không đủ khôn ngoan thì kẻ ngồi đó sẽ là chính ngài ấy.

Đứng trước một kẻ như Victor Shadow, những kẻ ngu ngốc và yếu hèn sẽ sợ sệt và căm thù.

Còn những kẻ can đảm và đủ bản lĩnh sẽ muốn trung thành tới độ nguyện dâng cho ngài cả sinh mạng.

James Cooper vẫn không ngừng nghĩ về những gì vừa được nghe và nhìn thấy.

Chỉ trong một lần hành động; Victor Shadow tìm ra và triệt hạ những mầm mống gián điệp, xác định và thử lòng trung thực của kẻ dẫn đường, đồng thời giết sạch những kẻ có tư tưởng chống đối ngài dù chỉ trong tâm tưởng.

Đây không đơn giản là hoàn thành một mục tiêu, cũng không phải một mũi tên trúng hai mục đích; mà là một nước đi xuất ra sẽ chiếu tướng cả bàn cờ.

Một cảm giác vừa sợ hãi vừa nể phục dềnh dàng trong mắt James Cooper.

Sự tàn nhẫn của một kẻ bạo chúa.

Đầu óc chiến lược của một nhà quân sự.

Sự tính toán và đa nghi của một chính trị gia tư bản.

Quả nhiên, Bá tước Victor Shadow rất xứng với danh xưng trên tấm bia kia.

Đệ Nhất Chiến Lược Gia Thời Nhiếp Chính.
 
Cốt Cách Một Quý Ông
Pháo đài tội ác: lối vào (4)


iv.

Tới quỷ dữ còn phải sợ nước thánh.

Vậy Victor Shadow, hãy cho ta chiêm ngưỡng nỗi sợ của ngươi là gì?

~~~

James Cooper ngồi thừ người trên ghế, gương mặt phờ phạc tái mét như người mới ốm dậy.

Suốt đêm qua anh không chợp mắt.

Tính cả đêm hôm trước là gần 2 ngày trời anh không ngủ.

Chừng nửa đêm hôm qua thì tiếng chó sủa và tiếng người la hét im bặt.

James nghĩ những âm thanh ấy khiến anh sợ, nhưng khi nó không còn vang lên nữa, anh thậm chí còn thấy kinh khiếp hơn.

Yên lặng đồng nghĩa tất cả bọn họ đều chết cả rồi.

Chết theo kiểu kinh khủng nhất.

Bị nhai vụn tới từng mẩu xương.

Sau khi những âm thanh rùng rợn ấy lặng đi, James lén nhìn về phía lâu đài qua cửa sổ.

Anh thấy người huấn luyện chó xua đàn Neapolitan về, hàm răng con nào cũng nhễu máu và dính đầy thịt sống.

Từ bên trong lâu đài, ánh nến chập choạng hắt vào những khung cửa kính đầy máu.

Một cảm giác buồn nôn dâng lên, anh vội vàng ngồi bật dậy, gập bụng nôn mửa.

Dạ dày trống không thắt lại, James thấy rệu rã và cổ họng thì chua lòm.

Anh cứ thế thức tới sáng bảnh.

Khoảng chừng 6 giờ sáng thì có người tới đánh thức anh.

Cùng với ngài Bá tước và một cô gái tóc đỏ mà quản gia Edward giới thiệu là tiểu thư Eleanor Austen, anh ăn sáng qua loa bằng hai cái bánh sừng bò, rồi họ lên tàu tới Edinburgh.

Còn bảy ngày nữa là tới đêm Walpurgis.

Trước khi Hội Chợ Phù Hoa diễn ra, những người tham gia sẽ có mặt ở một bữa tiệc gọi là Buổi Gặp Mặt.

Trời xâm xẩm tối, tàu cập ga Waverley, bốn người bọn họ và cả con diều hâu của ngài Bá tước nhanh chóng lên một chiếc xe ngựa để tới địa điểm tổ chức Buổi Gặp Mặt.

Edinburgh giống trái tim của Scotland, được tạo hóa cất giấu kĩ càng tựa hòn ngọc quý giữa lòng bảy ngọn đồi, dễ bề phòng thủ mà khó tấn công.

Được bao quanh bốn bề bởi trùng điệp núi sông, phồn hoa chói mắt lọt thỏm giữa những hoang sơ cây cỏ.

Victor Shadow chăm chú nhìn vào tấm bản đồ phác họa chi tiết địa thế của thủ thành Edinburgh, một tay đưa lên chống cằm, tay còn lại thỉnh thoảng chạm vào những đường vẽ bằng mực hằn trên lớp da thuộc.

Edinburgh được bao quanh bởi bảy ngọn đồi, lấy pháo đài Edinburgh tọa lạc trên đỉnh núi lửa Castle Rock làm trung tâm, trăm năm vẫn kiêu hãnh quay mặt ra vùng Biển Bắc luôn rộ sóng gầm gào.

Con người là sinh vật có bản năng vươn tới những thứ nhộn nhịp hào nhoáng, vậy nên cuộc sống sinh hoạt của toàn thành Edinburgh cũng được hình thành từ trục trung tâm là Lâu Đài.

Người ta bắt đầu dựng những nhịp cầu bắc ngang khe núi sâu ngăn cách bảy ngọn đồi.

Đặc biệt nhất phải kể đến cầu South Bridge với 19 nhịp bắt từ khu phố cổ High Street và kết tại đường North College (1).

"Anh nói Hội Chợ Phù Hoa diễn ra ở South Bridge đúng không?"

Victor hỏi, trong khi mắt vẫn nhìn chăm chú vào tấm bản đồ.

"Đúng vậy, thưa ngài."

"Chẳng lẽ hội chợ đó diễn ra công khai?"

Đôi mày màu nâu nhạt của ngài Bá tước đã bắt đầu cau lại vẻ khó chịu.

Với địa hình thế này, nếu hội chợ diễn ra ở South Bridge, đó chắc chắn sẽ là một lễ hội lộ thiên.

Một hội chợ buôn bán người được tổ chức lộ thiên?

"Sẽ rất khó để giải thích bằng lời, thưa ngài.

Chốc nữa khi tôi dẫn ngài tới, ngài sẽ hiểu ngay thôi."

Khuôn mặt nhợt nhạt của James Cooper vụt lóe lên một nét tươi tỉnh rồi tắt ngúm rất nhanh.

Anh dõi ra ngoài cửa sổ, để đôi mắt đỏ tia máu được xoa dịu bởi màu thạch nam nở rộ tím biếc.

Xe ngựa xóc nảy thêm chừng mươi phút nữa thì tới nơi.

Họ xuống xe, trời vừa tối hẳn.

Hôm nay không phải đêm trăng tròn nhưng cũng có chợ đêm họp ở High Street, ngay dưới chân cầu South Bridge.

Ngay khi vừa bước ra khỏi xe ngựa, bốn người đã lập tức bị nhấn chìm trong cái ồn ã của phiên chợ trộn với mùi thức ăn lẫn hơi người.

Ngài Bá tước thoáng cau mày vì những đợt âm thanh xì xào dội vào tai.

Ngài luôn ghét sự ồn ào, vì đó là thứ ngài không bao giờ hiểu được.

Eleanor quấn chặt thêm vòng khăn voan để che đi mái tóc giả đỏ rực.

Đôi môi mướt son sẫm màu của cô mấp máy dưới lớp vải thưa, có thể là đang càu nhàu vì phiên chợ náo nhiệt, hoặc đang nguyền rủa ngài Bá tước- người đã khăng khăng yêu cầu cô giả trang trong mái tóc đỏ vướng víu này mà không vì lí do gì.

James thành người dẫn đầu đoàn người.

Đôi chân anh thoăn thoắt rẽ đám đông, sau nhiều lần quẹo trái phải thì dừng trước một gian hàng bán chất đốt nằm ở cuối chợ.

Gian hàng sập xệ và tạm bợ, lại nằm ở cuối chợ nên rất ít khách qua.

Chủ quán là một bà lão già mặc áo chùng thâm, mái tóc bạc trắng giấu gọn trong vành khăn đen quấn kín theo kiểu Hồi giáo.

Bà có một đôi mắt lồi, trắng dã, trợn trừng dưới hàng mày thưa, trông mờ mịt song không kèm nhèm.

Bốn người đứng trước gian hàng sập xệ và trước mặt bà lão, James cất tiếng nói.

"Lạ thật, chợ phiên lại chẳng có đèn.

Này bà lão, bà vui lòng bán cho tôi một cây đuốc được không?"

Victor đứng ngay cạnh James Cooper, đôi mắt màu lục thoáng đảo chung quanh.

Ở phiên chợ này đuốc đốt sáng choang, lời mào đầu kia chắc chắn là ám hiệu.

Quả nhiên, khi nghe được câu nói ấy, bà lão lập tức ngẩng phắt đầu, đôi mắt đùng đục nhìn như muốn chọc thủng những vị khách trước mặt.

Ban đầu bà nhìn James rồi rời đi rất nhanh, sau đó hai con ngươi trắng dã dõi thẳng vào Victor và Eleanor.

Ngài Bá tước nhìn vào đôi mắt đang bấu chặt lấy mình, bỗng thoáng cau mày vì vẻ hoang tàn quá độ.

Là một đôi mắt gợi liên tưởng tới hai ngọn núi lửa đã tàn, cũng đã từng hừng hực chói lòa cho tới khi lửa đỏ nguội lạnh chỉ còn trơ lại một màu điêu tàn xám xịt.

"Một trong bốn người phải ở lại.

Chỉ có kẻ dẫn đường, chủ nhân và vật tế được phép vào thôi."

Bà lão cuối cùng cũng rời mắt khỏi ngài Bá tước, nói bằng giọng thều thào lẫn cả âm hơi, bàn tay nhăn nheo lập cập châm cho James một bó đuốc.

Quản gia Edward nghe thấy vậy, lập tức cúi đầu và lui về sau hai bước.

Kẻ dẫn đường nhận lấy cây đuốc từ tay bà lão, và thay vì rời đi, họ bước vào sâu hơn trong gian hàng.

Ánh lửa nhập nhoạng soi sáng phòng ốc tối tăm, thình lình từ trong bóng tối một toán người xông ra, khoảng ba bốn tên, đều là những tay vạm vỡ.

Chúng giật lấy cây đuốc trong tay James, giằng mạnh cổ áo anh và sau khi nhìn thấy hình xăm sau gáy, lập tức xô anh về phía trước bằng một dáng vẻ thô bạo.

Kẻ dẫn đường đã được xác nhận nhờ hình xăm sau cổ, vậy nên họ được thông qua.

Họ tiếp tục lần mò trong bóng tối, đi hết căn phòng rồi dừng trước một cánh cửa ngách đằng sau gian hàng.

Dù cách một lần cửa gỗ nhưng không khó để nghe thấy tiếng xì xào rất lớn ở bên kia cửa.

"Đây là cánh cửa sẽ dẫn tới Hội Chợ Phù Hoa."

James nói rồi đưa tay vặn khóa cửa, và ngay khi cánh cửa vừa bật ra, thế giới nằm sau cửa gỗ lập tức ùa cả vào phòng.

Trước mắt họ mở ra một không gian rộng lớn vượt xa căn phòng chật hẹp mà họ đang đứng.

Đám đông qua lại chật như nêm.

Tiếng người nói chuyện huyên náo lẫn trong tiếng lèo xèo của bếp củi, cả mùi gỗ cháy đượm và mùi bánh nướng trong lò.

James đưa cây đuốc hướng về phía trước, nhìn Victor và Eleanor mà nói với một giọng xen lẫn sự tự hào.

"Chào mừng các vị đến với thành phố dưới lòng đất South Bridge Vaults."

Victor đưa mắt nhìn chung quanh để đánh giá tình hình.

Hóa ra cánh cửa sau của gian hàng này nối với một khu vực đường hầm nằm dưới gầm cầu South Bridge, lại được xây cao so với đường hầm chừng nửa feet để cân bằng với những căn nhà cùng nằm trên phố.

James thụp người nhảy xuống khỏi bậc cửa, theo ngay sau là Victor và Eleanor.

"Trong khi mặt cầu là nơi di chuyển thuận lợi cho hoạt động giao thương thì ở bên dưới chân của những nhịp cầu, người dân cũng tận dụng xây nhà và chợ buôn bán, càng tiến sâu tới gần lâu đài thì càng nhộn nhịp.

Những nơi đó được gọi là South Bridge Vaults (2).

Tất cả bao gồm hơn 120 căn hầm được dựng ngay dưới chân cầu và có tường cao che kín.

Các căn hầm ấy được phân chia dần theo độ sâu tính từ mặt đất.

Những căn hầm gần nhất là nơi buôn bán tấp nập diễn ra, đi sâu thêm một chút nữa là những căn hầm trống dùng cho việc tổ chức các hội thảo bí mật, và ở nơi sâu nhất là khu dân cư của tầng lớp dân nghèo."

Vừa dùng ngọn đuốc soi đường, James vừa giảng giải khi bọn họ đi dọc đường hầm bê tông tối mịt.

Victor trầm ngâm đôi giây, rồi nói.

"Hội chợ phù hoa được tổ chức ở đây?"

"Đúng vậy, thưa ngài."

"Nếu còn bao gồm cả khu dân cư và chợ buôn bán, vậy chắc chắn sẽ còn những lối đi khác để vào South Bridge Vaults đúng không?"

"Đúng vậy thưa ngài.

Thực ra cánh cửa chúng ta mới đi qua không phải lối vào chính của nơi đây."

"Điều đó đồng nghĩa với việc để vào nơi này cũng như vào Hội Chợ Phù Hoa thực chất không quá khó khăn?"

"Đúng là vào South Bridge Vaults thì không hề khó khăn, nhưng để vào Hội Chợ Phù Hoa thì lại là chuyện khác."

James đưa bó đuốc đang cầm trong tay cho Victor, đoạn đứng quay lưng về phía ngài.

Bàn tay anh lần lên cổ áo sơ mi trắng, chậm rãi tháo từng nút cúc.

Giữa đường hầm vắng tanh, chiếc áo được cởi bỏ lộ ra thân hình ốm yếu của kẻ dẫn đường, nhưng điều sửng sốt hơn cả là những đường vẽ vằn vện kín khắp tấm lưng gầy xương xẩu.

Thực chất nó giống như một hình xăm.

Một hình xăm trải khắp lưng với muôn vàn đường thẳng đan cài và kết nối với nhau tạo ra một tấm bản đồ.

"Đây là lí do chúng tôi được gọi là kẻ dẫn đường.

Mỗi kẻ dẫn đường đều mang trên lưng một tấm bản đồ dẫn đến Hội Chợ Phù Hoa.

Nơi chúng ta đang đứng chính là điểm bắt đầu trên bản đồ."

Victor nhìn vào tấm bản đồ trên lưng James Cooper, cất tiếng hỏi.

"Anh có thuộc tấm bản đồ này không?"

"Không, thưa ngài.

Chúng tôi không được phép biết về bản đồ dẫn đến hội chợ.

Đó là lí do chúng được xăm trên lưng chứ không phải những bộ phận khác.

Bây giờ tôi sẽ đi theo sự chỉ dẫn của ngài."

Victor soi đuốc tới gần để nhìn rõ những đường mực xăm trên lưng James, đoạn khẽ gật đầu.

"Được rồi.

Trước tiên tới đi thẳng tới ngã ba kia rồi rẽ trái."

Men theo những đường vằn vện của tấm bản đồ, họ từng bước hướng đến dấu X màu đỏ vẽ trên lưng James, cũng là tiến gần tới nơi được gọi là Hội Chợ Phù Hoa mà rất nhiều người khao khát.

Người ta thường nói hệ thống đường hầm South Bridge Vaults là nơi phản ánh chính xác nhất xã hội Scotland thời bấy giờ.

Quả nhiên, qua ánh lửa bập bùng từ ngọn đuốc mà Victor cầm trên tay, nhịp sinh hoạt của người dân sống dưới những căn hầm hiện lên sống động tới rùng rợn.

Ánh sáng dường như là thứ phản ánh điều kiện sống ở nơi đây.

Càng đi xuống sâu, ánh sáng càng thưa dần, điều kiện sống cũng theo đó mà bị bóng tối ăn mòn, giảm dần từ sung túc tới bần tiện.

Ba người bước đi trong căn hầm, mà sự thay đổi của khung cảnh xung quanh khiến họ cảm tưởng rằng mình đang bước trong một đường hầm thời gian, càng đi càng có cảm giác như đang rời xa nền văn minh nhân loại.

Nếu như ở phía trên, cảnh tượng buôn bán còn sung túc huyên náo, thì càng xuống dưới, những hốc cubby (3) bẩn thỉu, những nhà thổ, những ổ cờ bạc xuất hiện càng nhiều.

Trong khi ở các khu phía trên, con người di chuyển linh hoạt, buôn bán, nói cười; thì khi xuống dưới, những cái bóng ốm nhách lờ đờ vì thuốc phiện, những gương mặt đen đúa nép trong một góc tường xuất hiện nhan nhản trong từng ngóc ngách.

Nơi ánh sáng không thể chiếu tới cũng là nơi văn minh bị giảm xuống mức âm.

Bóng tối có thể dịu dàng bao dung vì nó sẵn sàng đỡ lấy những kẻ bẩn thỉu nhất, nhưng đó lại là sự dịu dàng đáng nguyền rủa vì nó sẽ nuốt chửng con người.

Ban đầu, đường dẫn tới Hội Chợ Phù Hoa vẫn còn le lói ánh đèn và lác đác người qua lại, nhưng càng xuống sâu thì bóng tối càng quánh đặc hơn.

Dần dà, ánh sáng duy nhất mà họ có được là từ ngọn đuốc nhỏ, và thứ hơi ấm duy nhất họ cảm nhận được là từ hai người còn lại.

Không còn bất cứ dấu hiệu của sự sống nào nữa.

Họ vẫn miệt mài đi, cố gắng chạm tới dấu X đỏ tươi trên bản đồ mặc cho bóng đêm vươn những xúc tu ra quấn chặt họ.

Sự tĩnh lặng tưởng như bóp nghẹt họ, nhưng rồi họ bắt đầu nghe thấy vọng đến từ phía xa, tiếng nói cười, tiếng ca vũ vang động cả đường hầm yên ả.

Những đọt sáng lóe lên xuyên qua khe nứt trên tường.

Bước chân họ gấp gáp hơn.

Dấu gạch chéo trên bản đồ đã ở ngay trước mắt rồi.

Aro nhạy với sự thay đổi không gian nhanh hơn tất thảy.

Ngay từ khi nghe thấy tiếng huyên náo còn vọng từ rất xa, nó đã đập cánh và vụt bay đi.

Nhóm người Victor rẽ trái thêm một lần thì rẽ hẳn vào một căn hầm rộng khủng khiếp.

Trước cửa hầm có bốn kẻ đứng canh gác.

James bị giữ lại ở cửa vì kẻ dẫn đường không được phép tham dự Hội Chợ Phù Hoa, mặc dù hôm nay mới chỉ là Buổi Gặp Mặt.

Chỉ có Eleanor và Victor được phép vào.

Ngay khoảnh khắc mũi giày balmoral vừa bước qua ngưỡng cửa hầm, đôi đồng tử đã quen với bóng tối của ngài co lại vì thứ ánh sáng chói lòa rọi thẳng vào mắt.

Bày ra trước mắt Victor và Eleanor là một căn hầm rộng bằng 20 căn hầm khác cộng lại.

Trong đó chứa trên dưới 100 người cả nam cả nữ đang đi lại, uống rượu, nhảy múa và cười đùa.

Ở ngay giữa hầm đốt một đống lửa cao chưa tới đầu người.

Người ta di chuyển xung quanh đó, trên tay ai nấy đều cầm những ly rượu vang, vừa ngất ngưởng men say vừa nói cười điên dại.

Victor nhìn vào gương mặt của khách tham gia hội chợ.

Phần đông bọn họ đều đang tỏ ra phấn khích quá đà, ánh mắt mờ mịt song mê loạn như trúng phải tà thuật.

Ngay khi ngài Bá tước vừa mới bước chân vào căn phòng, lập tức có một gã phục vụ đi tới đưa cho mỗi người một ly rượu.

Eleanor cầm lấy và sau khi đợi gã phục vụ đi khuất, lập tức hất tất cả số rượu xuống sàn.

Victor nhìn thấy hành động ấy, môi khẽ nhướn một nụ cười.

"Tại sao lại hất đi?"

"Nhìn biểu hiện khác thường của đám người kia kìa.

Chẳng có thứ gì miễn phí mà tốt đẹp, không phải vậy sao?"

Victor không đáp, chỉ thuận tay đưa cho một gã đàn ông đứng gần đó ly rượu của mình, đoạn đi sâu hơn vào căn hầm và tiến tới gần đống lửa.

Đứng ở vị trí trung tâm căn phòng, ngài bắt đầu đưa mắt quan sát kết cấu của nơi đây.

Hầm được xây bằng bê tông, trần cao 20 foot, rộng tới hơn nửa dặm vuông Anh.

Dọc theo những bức tường là hệ thống nhà giam được thiết kế tối giản.

Lấy chân tường làm chuẩn, những cánh cửa ngục cao từ dưới đất chạm tới trần nhà được dựng lên, là loại song thưa đan từ những cột sắt đặc to chừng cổ tay người lớn.

Cứ thế chạy khắp 3 bức tường của căn hầm tạo nên hệ thống phòng giam đơn giản nhưng không thể công phá.

Tất cả những phòng giam đều có điểm nhìn hướng thẳng ra một nơi duy nhất: khoảng trống rộng rãi đang diễn ra lệ hội lửa.

Nhưng ở thời điểm hiện tại thì chúng đều trống không.

"Cô nghĩ những phòng giam kia dựng lên nhằm mục đích gì?"

Sau một hồi chú tâm quan sát tới mức không chú ý tới xung quanh, Victor đột nhiên quay về phía sau và hỏi Eleanor.

Lúc ấy ngài mới nhận ra cô đang đứng cách xa mình một khoảng, gương mặt cau có vì bị vây quanh bởi ba bốn gã thanh niên lạ mặt.

Bọn chúng trêu ghẹo, nghịch ngợm tấm khoăn voan quấn tóc của cô, nhìn vào đôi mắt cô và nở những nụ cười khả ố.

Victor có thể trông thấy hai nắm đấm của cô đang nắm chặt.

Cô đang kìm lại khao khát muốn giết người.

Ngài bước tới gần, gương mặt tỉnh bơ nhìn ba gã thanh niên, giọng nói thốt ra nghe nhẹ nhưng gió thổi.

"Cút đi."

Ba gã nọ lập tức dừng lại mọi động thái, chuyển sự chú ý sang Victor.

Nụ cười trên mặt chúng vụt tắt, và chúng tiến về phía ngài với một vẻ hăm dọa chẳng có chút nguy hiểm.

Không đợi chúng lên tiếng, cây gậy bạc trong tay ngài Bá tước vung lên, quật thẳng đầu tên bước lên trước tiên, lực mạnh tới độ khiến hắn ngã vật ra đất và thổ một ngụm máu.

"Trước khi tao nổi giận."

Nhưng chừng ấy dường như không khiến chúng sợ hãi mà chỉ khiến cơn giận của chúng bùng lên.

Hai kẻ còn lại siết chặt quai hàm, phăm phăm sấn xổ tới gần ngài với một vẻ hoàn toàn mất kiểm soát.

Ngài Bá tước không nói nhiều, chỉ hướng cây gậy bạc về phía chúng, tay còn lại khẽ vặn đầu gậy, và lưỡi kiếm nhọn hoắt lập tức bật ra.

Bước chân của một trong hai tên khựng lại.

Chỉ cần tiến thêm một phân, mũi kiếm kia sẽ cắm phập vào cổ hắn.

"Chúng mày có vẻ không hiểu tiếng người, vậy tao có nên đối xử với chúng mày như động vật?"

Mặc dù ngài nói vậy, nhưng vốn dĩ cách ngài đối xử với người và với động vật nào có khác nhau.

Thế nhưng rõ ràng cách sử dụng cây gậy bạc và lời cảnh cáo của ngài đã khiến những kẻ kia sợ.

Chúng lập tức cun cút cúi đầu rồi lẩn vào đám đông huyên náo.

"Cảm ơn ngài."

Eleanor lên tiếng, nhưng vẻ mỉa mai trên gương mặt chẳng đồng nhất với lời nói chút nào.

"Hình như cô gặp khó khăn trong việc tỏ ra chân thành?"

"Tôi giống ngài thôi."

Eleanor đáp lại rất nhanh, vẻ trơ trơ tới mức khiến người khác vừa khinh bỉ lại vừa khâm phục.

Ngài Bá tước thôi không đôi co, chỉ phát ra một điệu cười gằn thay cho lời đáp.

Không còn kèn cựa, hai người họ tập trung vào diễn biến xảy ra trong căn hầm.

Từ phía cửa, một đoàn người tiến vào thu hút sự chú ý của tất thảy đám đông.

Sự kinh động ấy xuất phát từ cách họ tô vẽ vẻ ngoài của mình: đoàn người gồm sáu người, tất cả đều mặc trang phục theo kiểu thổ dân, nam nữ đều ở mình trần và chỉ mang một mảnh vải quấn ngang hông, từ đầu tới chân được nhuộm trong màu bột.

Bốn người mang màu xanh dương, đen, trắng và đỏ chia nhau kiệu trên vai một nam mang màu xanh lá cây và một nữ mặc váy trắng đội đầu vương miện kết từ hoa cỏ.

Bọn họ tiến về phía đống lửa trong tiếng hát hò ca tụng của đám đông.

Những kẻ xung quanh xưng tụng họ như những vị thần nhưng khúc hát của họ thì không được tươi sáng như vậy.

"Kìa kìa trong lửa đỏ.

Mùa Xuân bị xẻo tùng.

Thần Cây thì chết cháy.

Níu Đông lại nơi đây."

Điệu hát ấy lặp đi lặp lại nhiều lần, lời lẽ rùng rợn được cất lên bằng giọng điệu hào hứng tôn thờ bỗng chốc gợi cảm giác thật quái đản.

"Đây là một tục lệ trong lễ hội Lửa của Edinburgh (4) đúng không?"

Eleanor nhìn cảnh đám người kia kiệu nhau tới gần đống lửa, trầm giọng hỏi Victor.

"Có lẽ vậy.

Trong hai kẻ được kiệu kia, cô gái mặc trang phục giống với Bà Chúa Mùa Xuân còn gã trai mang vẻ ngoài của Thần Cây Xanh.

Những kẻ đứng ở dưới kiệu họ có lẽ lần lượt tượng trưng cho Nhà Thông Thái là màu xanh dương, Đội Cận Vệ là màu đen, các Nữ Chiến Binh thân cận là màu trắng và màu đỏ là những Vị Thần Của Sự Hỗn Mang."

Victor đáp trong khi mắt vẫn nhìn vào đám người đang diễu hành.

Ngay khi tới gần ngọn lửa, Bà Chúa Mùa Xuân và Thần Cây Xanh được đặt xuống đất.

Những kẻ cầm thừng và gậy sắt đã đứng đợi sẵn từ trước, lúc này phăm phăm tiến tới trói nghiến cặp nam nữ kia vào cọc, đặt họ đối lưng và buộc xung quanh bằng dây thừng.

Hai kẻ vạm vỡ tiến đến nâng hai đầu cọc sắt đặt lên vai.

Chúng bước tới gần đống lửa và không do dự, hơ cái cọc đang buộc chặt đôi nam nữ lên ngọn lửa.

Tiếng gầm rú của đôi nam nữ hòa lẫn với tiếng hát ngợi ca của đám đông.

Rồi thình lình tách ra từ đám đông là một gã lăm le trong tay một thanh gươm.

Đám người tham gia buổi gặp mặt bắt đầu rộ lên.

"Tùng xẻo!

Tùng xẻo!

Tùng xẻo!"

Bọn chúng hét lên như thế, và vẻ ghê tởm ngày một dâng cao trong mắt Eleanor.

Gã đàn ông nọ tuốt gươm khỏi vỏ, mỉm cười trước sự tán tụng của đám đông.

Gã vung thanh gươm trong tay lên và chỉ bằng hai nhát, cắt đứt cổ họng của đôi nam nữ.

Tiếp đó là màn đùa giỡn của lưỡi gươm với xác của hai kẻ đã chết.

Lửa đỏ thiêu đốt họ trong khi thanh gươm cứa vào những vị trí mạch máu tập trung dày đặc trên cơ thể họ.

Hai kẻ vạm vỡ đang đỡ cọc sắt chầm chậm xoay đều đầu cọc trong tay như động tác khi nướng một con cừu.

Máu từ những vết cắt hành xác nhỏ tong tỏng xuống đống lửa đang cháy hừng hực bên dưới.

Chất lỏng tiếp xúc với than củi nóng đỏ khiến khói bốc lên mù mịt.

Khói than tràn vào phổi khiến Victor suýt nữa ho sặc sụa.

Nhưng rõ ràng đó không phải một ngụm khói bình thường.

Bởi ngay lúc này, cơ thể ngài đang bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu lạ.

Một cơn lạnh kéo đến chạy dọc sống lưng rồi xộc thẳng lên đại não khiến mọi dây thần kinh gần như bị hơi lạnh làm cho đông cứng.

Lỗ chân lông trên cơ thể trương phình lên phản ứng trước cảm giác rét run đang giần giật trong từng mao mạch.

Victor trợn trừng hai mắt nhưng thị giác lại bị che khuất bởi thứ ảo ảnh khó chịu, cảnh vật chung quanh thoắt trở nên nhòe mờ.

Ngài lắc mạnh đầu để ép mình tỉnh táo, nhưng không thành.

Dồn lại chút trí lực cuối cùng, ngài đưa mắt nhìn quanh phòng.

Khói từ đống lửa bốc lên ngày một nhiều trộn lẫn với từng phân tử khí.

Tất cả những kẻ có mặt trong phòng đều lâm vào trạng thái như Victor; đầu óc tê liệt, thể xác quay cuồng.

Càng những kẻ ở gần đống lửa thì biểu hiện càng nặng.

Một tia sáng bất chợt lóe lên giữa lớp sương mù đang bao phủ lấy tâm trí Victor.

Không mùi không màu không vị, khiến đầu óc tê liệt và tạo ra ảo ảnh khi hít vào.

Điều này gợi Victor nhớ tới một loài hoa độc mà ngài từng trông thấy trong một lần công du tới Colombia.

Hoa Borrachero (5), hay còn được biết tới với cái tên Hơi thở của quỷ.

Bột hoa Borrachero đã được tẩm vào gỗ, gỗ đó được đem đốt cháy khiến toàn bầu không khí của căn hầm bị nhiễm độc.

Nhưng lượng độc ấy chưa đủ nhiều nên những kẻ có mặt trong phòng ban đầu chỉ có biểu hiện trúng độc nhẹ: nhảy múa mất kiểm soát, cười ngây dại, tinh thần bị kích thích quá đà.

Victor và Eleanor đã nhầm.

Khách của hội chợ không bị đầu độc bởi rượu.

Họ bị đầu độc bởi chính bầu không khí này.

Khí độc tính tụ dần trong phổi cho tới khi đợt khói bốc lên, giống như giọt nước làm tràn li khiến những giới hạn của con người bị ép tới vụn nát.

Họ chính thức rơi vào trạng thái tê liệt hoàn toàn.

Rồi chút tỉnh táo cuối cùng ấy cũng mau chóng trượt khỏi hồn trí ngài.

Hai cánh tay Victor bị bẻ giật về sau, một bàn tay thô bạo đưa lên dúi mạnh sau đầu buộc ngài cúi gằm xuống.

Đừng bao giờ cúi đầu, vương miện của con sẽ rơi xuống.

Thứ thuốc quái quỷ bắt đầu phát huy tác dụng, chạm vào và lôi ra những phần kí ức già úa giờ đã quá đỗi xa xăm.

Victor bị đẩy vào một trong những căn buồng giam, cửa sắt lập tức khép chặt lại.

Khung cảnh hỗn mang nhòe mờ, lập lờ giữa tỉnh và mê, ngài thấy trong phòng giam còn hai kẻ nữa.

Gã trai trẻ mắt nâu sánh và mái tóc đồng màu đang dựa lưng vào tường, ung dung nhởn nhở giữa muôn vàn gông sắt.

"Bá tước, thật vui khi gặp ngài ở đây."

Lời nói thốt ra cùng với một điệu cười khùng khục phát ra từ cổ họng, bề ngoài thế đấy mà không phải.

Bá tước, ngài cũng có lúc thảm hại thế này?

Victor muốn cười gằn nhưng mọi nhận thức của ngài giờ đông cứng.

Khi lí trí sắc lạnh bị vuốt xuôi, thứ đầu tiên lên ngôi sẽ là cảm xúc nguyên bản không được che lấp.

Victor thấy một cơn thịnh nộ trào dâng cuồn cuộn trong từng tơ máu.

Không còn được lí trí cản lại, ước chừng nó sẽ bộc phát sớm thôi.

Ngài sẽ đập phá, cắn xé, điên loạn như bất cứ kẻ trúng thuốc nào.

Như những kẻ trong các phòng giam còn lại.

Như bất cứ kẻ tầm thường nào.

Thình lình một bóng áo trắng blouse dừng lại trước cửa buồng giam.

Là một gã đàn ông trung niên thoạt qua trông như một con đười ươi thông thái với ánh nhìn thi thoảng lại lóe lên vẻ gian xảo.

Victor biết ông ta, và ngài thậm chí đã từng suýt giết ông ta.

Áo blouse lay động khi bập bùng phía sau là lửa đỏ.

Gã đàn ông ấy ngồi thụp xuống, qua song sắt, hàm răng ông ta nhe ra trắng ởn như một hàm răng chó.

"Mày có thấy không, Victor?

Bây giờ tao phải cúi xuống mới có thể nhìn thấy mày."

Ông ta tuôn ra một tràng cười khanh khách, hai hàm răng nghiến chặt và nói như rít qua từng kẽ răng.

"Ác quỷ còn phải sợ nước thánh.

Vậy Victor Shadow, ngay bây giờ, cho tao được trông thấy nỗi sợ của mày là gì?"

Ánh lửa bập bùng đằng sau bóng áo blouse thình lình bị dập tắt.

Cả căn hầm rộng rơi vào một bể tối om.

Hơi thở ngài Bá tước ngày một dồn dập, lồng ngực ngài vặn xoắn trong khi mồ hôi lạnh túa ra ướt sũng lưng áo.

Ngài ngửi thấy mùi tanh lộn của song sắt trộn với máu người.

Những dây thần kinh bị đóng băng bởi chất độc hoa Borrachero chầm chậm rã ra trước đợt tấn công hầm hập của nỗi sợ.

Câu nói của gã mặc áo blouse trắng liên tục vẳng lên trong óc Victor.

Nhưng không, ngài như đang nghe thấy một giọng nói khác.

Victor Shadow, nỗi sợ của ngươi là gì?

(1) South Bridge: hay còn có tên là khác cây cầu phía Nam, ở Edinburgh, bao gồm 19 nhịp cầu bắt đầu từ High Street tới Chambers Street.

Sơ đồ địa hình của Edinburgh.

Đường dài kia là South Bridge

(2) North College: tên cũ của Chambers Street, một khu phố cổ ở Old Town, Edinburgh.

(3) South Bridge Vaults: hệ thống đường hầm nằm dưới South Bridge, gồm hơn 120 căn hầm xây bằng bê tông.

Khánh thành vào năm 1788 với mục đích trao đổi giữa các thương nhân, nhưng sau này nó trở thành nơi ở của tầng lớp dân nghèo và nơi trú ẩn của những kẻ tội phạm.

Sau này tới giữa những năm 1800, khu này được xóa sổ khi chính quyền đổ hàng tấn gạch đá xuống để vùi lấp.

Tuy nhiên tới năm 1980 người ta tìm thấy một lối đi bí mật khác để tiến vào căn hầm và từ đó nó trở thành một địa điểm tham quan, nổi tiếng với những lời đồn về ma quỷ.

Minh họa cho sơ đồ South Bridge Vaults

(4) Hốc cubby: những hốc nằm san nhau được dựng lên bằng bê tông, dùng để chất đồ đạc và làm nhiều việc khác, là đặc trưng nổi bật của South Bridge Vaults.

Hốc cubby

(5) Lễ hội Lửa của Edinburgh: hay ở Đức và Hà Lan còn gọi là Walpurgis.

Được tổ chức vào đêm 1-5 hàng năm.

Các vũ công ở mình trần và tô bột màu lên người nhảy nhót quanh đống lửa.

Ý nghĩa của lễ hội là xua đuổi tà ma và đón mùa xuân trở về sau những ngày đông lạnh giá.

(6) Hoa Borrachero: là một loại hoa xuất xứ từ Colombia, màu trắng hoặc vàng có hình dáng như hoa loa kèn.

Nổi tiếng như một loại độc dược chế tạo ra loại ma túy nguy hiểm nhất hành tinh- Scopolamine.

Khi hít phải phấn hoa này đối tượng sẽ đánh mất sự tỉnh táo, rơi vào một trạng thái gần như thôi mien, hoàn toàn mất sức kháng cự và thậm chí là nghe theo sự chỉ đạo của kẻ khác.

***Lưu ý: tất cả những mô tả về địa lý trong chương này đều là những địa danh có thậ (ngoại trừ căn hầm không biết có hay không).

Mình viết chương này chủ yếu là nhờ thông tin trên mạng và hỏi một người bạn.
 
Cốt Cách Một Quý Ông
Pháo đài tội ác: lối vào (5)


Lưu ý quan trọng: trước khi đọc chương này, các bạn hãy ngược lại đọc chương Vị Bá tước 20 khuôn mặt (1) để hiểu toàn bộ dụng ý của tác giả.

v.

Chúng ta đều giống nhau, đều ghét bị kiểm soát và thua cuộc.

~~~

Bọ rùa, bọ rùa.

Bay nhanh khỏi nhà.

Nhà mi đang cháy.

Con mi cũng cháy.

Tất cả trừ một.

Và nó là Ann.

Victor thấy mình đứng dưới chân cầu thang của lâu đài Alleretos.

Xung quanh thật vắng lặng.

Hoàng hôn chiếu qua khung cửa sổ nửa khép nửa mở, chảy dài rồi chạm vào mũi giày ngài.

Bài đồng dao quen thuộc được cất lên bởi thứ giọng chói gắt chỉ toàn âm cao.

Giọng người lớn đấy mà giống tiếng trẻ con mới khóc lại cười.

Chẳng lọt qua tai mà xộc thẳng vào đầu ngài Bá tước.

Bàn tay Victor đặt lên tay vịn cầu thang, ngài bước từng bậc từng bậc thang một, thần trí hoàn toàn trôi theo những giai điệu của bài đồng dao cổ.

Mọi rào chắn đều hạ xuống, lí trí được ru ngủ bởi giai điêu ấy, khẽ khàng phủ phục rồi nằm yên.

Đầu óc ngài trống rỗng, và ngài chỉ có duy nhất một suy nghĩ là lần theo bài hát ấy.

Qua khung cửa sổ, ánh nắng vẫn chảy dài, chảy vào những góc tối trong lâu đài Gothic đượm vẻ âm u.

Gót giày ngài Bá tước bước đều trên những bậc thang.

Thật lạ, hôm nay chúng lại liên tục kêu kẽo kẹt như đang phát ra những lời nguyền rủa.

Nhưng Victor chẳng nghe thấy âm thanh ấy, ngài chỉ nghe thấy bài đồng dao.

Bàn tay trắng xanh vẫn miết dọc trên tay vịn.

Victor đi qua rất nhiều tầng của lâu đài, đi qua mọi ngóc ngách.

Còn kì lạ hơn cái cầu thang kêu kẽo kẹt, tất cả các phòng đều đóng kín, chẳng thấy bóng dáng một tên gia nhân nào.

Victor vẫn tiếp tục đi, có lúc ngài như thấy mình lạc giữa những dãy hành lang dài sâu hun hút, ngẩn người trước bức họa vẽ cả gia đình khi ngài còn nhỏ và cha mẹ của ngài chưa chết.

Đã từ rất lâu rồi, Victor yêu cầu những kẻ gia nhân trong nhà đốt hết tranh đi, vậy mà vẫn có kẻ cả gan giữ lại.

Ngài Bá tước nghĩ tới đàn chó Neapolitan của ngài.

Chắc hẳn bọn chúng cần một bữa thịnh soạn nữa để xoa dịu cơn thèm thịt.

Nhưng sự không vừa lòng với những gia nhân xuôi đi rất nhanh, bởi trong giây lát nhìn thấy những bức tranh ấy, tâm trí của Victor nhất thời được giải thoát khỏi sự ám ảnh của bài đồng dao về con bọ rùa.

Ngài bỗng muốn ngủ một giấc dài trên những kí ức mà các bức tranh ấy gợi lên.

Nên ngài chầm chậm khép mắt.

Bọ rùa, bọ rùa.

Bay nhanh khỏi nhà.

Nhà mi đang cháy.

Con mi cũng cháy.

Tất cả trừ một.

Và nó là Ann.

Thế nhưng ngài chẳng thanh thản được lâu, bài đồng dao lại vang lên lần nữa, vươn ra hệt một sợi xích khóa lấy tâm trí ngài.

Vẫn là thứ giọng nghe như tiếng trẻ con cười khanh khách, nhẩn nha nhưng lại muốn thúc giục bước đi của Victor.

Giọng hát ấy sộc thẳng vào đầu ngài Bá tước, gương mặt thư thái đang chiêm ngưỡng những bức tranh đột nhiên co rúm lại.

Ngài đưa tay giật lấy những bức họa, ngấu nghiến điên cuồng xé thành nát vụn.

Bọ rùa, bọ rùa.

Bay nhanh khỏi nhà.

Nhà mi đang cháy.

Con mi cũng cháy.

Tất cả trừ một.

Và nó là Ann.

Giai điệu ấy dường như biết xuôi theo cảm xúc của Victor.

Ngài lơ là, nó thúc giục.

Ngài phẫn nộ, nó dịu êm.

Giai điệu vang lên giờ không giống tiếng trẻ con cười nữa, thật giống với tiếng mẹ ru khi ngài còn nhỏ, ngài Bá tước nghĩ thầm.

Gương mặt rúm ró vì giận dữ thoáng giãn ra, ngài rời khỏi dãy hành lang treo đầy tranh vẽ.

Tốt nhất ngài nên đi tìm nơi phát ra tiếng hát thì hơn.

Nghĩ vậy, bước chân đều tăm tắp của ngài lại hướng tới những bậc cầu thang.

Bài đồng dao kia tiếp tục ngân lên, mừng vui như một tiếng tán thưởng reo hò.

Victor lướt qua rất nhiều căn phòng, nhưng cái nào cũng khóa kín cả.

Ngài cũng chẳng định mở ra.

Bởi tiếng hát kia không phát ra từ đó.

Đây là một trò ú tim, và việc duy nhất ngài cần làm là đi tìm nơi phát ra tiếng hát.

Tâm trí nói với Victor như vậy.

Bài đồng dao nói với Victor như vậy.

Vậy là ngài tiếp tục đi.

Đi mãi đi mãi, tới tận khi hoàng hôn đã dần tắt chỉ còn thoi thóp những ngụm nắng tàn.

Victor đã đi hết cả lâu đài ngoại trừ căn phòng gác mái nơi đỉnh tháp.

Căn phòng chẳng ai thèm đặt chân tới.

Đúng thế, chỉ còn căn phòng đó.

Victor lần tới căn phòng gác mái, những nhịp cầu thang dưới chân ngài phát ra tiếng kẽo kẹt ngày một lớn.

Chẳng giống như đang nguyền rủa nữa, có lẽ giống như đang cầu nguyện, như đang kêu cứu, đang run rẩy.

Bọ rùa, bọ rùa.

Bay nhanh khỏi nhà.

Nhà mi đang cháy.

Con mi cũng cháy.

Tất cả trừ một.

Và nó là Ann.

Bài đồng dao ấy lại vang lên, nhưng lần này nó không còn xa xôi nữa, nó ở rất gần rồi, chỉ còn cách ngài một lần cửa gỗ.

Từ nãy tới giờ Victor không hề mở bất cứ cánh cửa nào, nhưng lúc này thì ngài sẽ mở.

Ngài đã tìm được nó.

Tiếng hát ám lấy tâm trí ngài, yêu cầu ngài, thúc giục ngài, phải tìm được nó.

Victor đưa tay đẩy phiến cửa, bụi bám trên đó phả thẳng vào mặt ngài, nhưng cuống họng ngài thậm chí còn chẳng buồn phản ứng.

Căn phòng gác mái nhiều bụi, Victor ghét những thứ bẩn thỉu nhưng ngài vẫn bước vào.

"Xin chào Victor."

Giữa phòng đặt một cái lồng sắt hình vuông, loại lồng mà người ta chỉ dùng để nhốt những con thú không ai kiểm soát được.

Kẻ trong lồng đó cất tiếng chào Victor, nhưng hắn đang quay lưng về phía ngài.

Gương mặt hắn hướng về phía ô thoáng hẹp chỉ bằng một bàn tay, hắn mỉm cười ngẩng đầu tận hưởng ánh hoàng hôn đậu trên mặt như đang hứng lấy sự ban phát của Chúa Trời.

Victor bước tới gần cái lồng sắt.

Kẻ kia chẳng phải người lạ, hắn là kẻ mà ngài biết rất rõ.

"Chào cậu, Harrison Shaw."

Kẻ ngồi trong lồng sắt nghe thấy tên mình được gọi liền lập tức quay lại.

Cái mũi trapper màu nâu đội sùm sụp che kín cả nửa gương mặt, nhưng điều đó chẳng thể giấu đi vẻ vui mừng nở rộ trên gương mặt hắn.

Hắn vui mừng vì tên mình được Victor xướng lên.

"Cậu vẫn còn nhớ tôi sao, Victor?"

"Đúng thế, tôi vẫn còn nhớ tới cậu."

Và tôi đã đi tìm cậu.

"Tôi còn tưởng cậu đã lãng quên tôi khi nhốt tôi trong căn phòng này và trong cái lồng sắt này."

Harrison Shaw lúc này đã đứng hẳn dậy, từng bước chậm rãi tiến tới gần song sắt ngăn cách hắn và Victor.

"Cậu vẫn còn nhớ tôi, tôi vui lắm."

Vành mũ trapper che kín đôi mắt và cả nửa sóng mũi hắn, nếu không có lẽ lúc này Victor đã trông thấy một đôi mắt rộn rã nét cười.

"Vậy hãy thả tôi ra đi Victor, tôi biết trong tay cậu có chìa khóa."

Giọng điệu Harrison thoắt trở nên êm ái đầy dụ dỗ.

Victor cúi mắt nhìn vào lòng bàn tay mình.

Đúng là ngài đang cầm một chiếc chìa khóa gỉ sét trong tay.

"Tôi không thể thả cậu ra.

Vì cậu sẽ hủy hoại tôi."

Victor phản kháng lại lời dụ dỗ của Harrison, nhưng gương mặt và cả ánh mắt của ngài thì mờ mịt như đang bị thôi miên.

"Tôi sẽ không hủy hoại cậu, Victor.

Cậu đã quên rồi sao?

Quên cái ngày mà tôi xuất hiện?"

Harrison Shaw lại lên tiếng, giọng nói hạ xuống một tông vừa phải để hòa với tâm lí đang do dự của Victor.

Victor không đáp lại lời hắn, gương mặt ngài vẫn cứng đơ như tượng sáp.

Và thế là Harrison lại nở một nụ cười, giọng của hắn thoắt biến đổi, vút cao chát chúa như phán xét.

"Cậu còn nhớ những đứa trẻ của hạt Merton không, Victor?

Những đứa trẻ mà mỗi buổi chiều cậu đều ngồi dưới tán dẻ gai trước cổng dinh thự và lắng nghe chúng hát?"

Đôi mắt đang khép hờ của ngài Bá tước bỗng chốc mở bừng ra, hai con ngươi màu lục sẫm đảo liên tục.

Trạng thái tĩnh lặng cân bằng bị phá vỡ, ngài lập tức bước giật lùi về sau, hoảng sợ tránh xa những song sắt và tránh xa cả con người đang đứng trong lồng.

Nhưng bàn tay của Harrison thình lình vươn ra thộp lấy vai ngài.

Vẻ vui mừng lộ rõ trên khóe môi khi hắn nhận ra sự chao đảo trong tâm lí Victor.

Giọng hắn cất lên nghe dồn dập như một bản Rhapsody, như một hàm răng sói đuổi theo để cắn phập vào ngài Bá tước.

"Đúng rồi, tôi biết mà.

Cậu vẫn còn nhớ chúng.

Cậu vẫn còn nhớ những đứa trẻ của hạt Merton.

Cậu vẫn còn nhớ buổi tối hôm đó, cậu ngồi trong cái lồng sắt này, ngồi ở vị trí của tôi và nhìn chúng chết."

Những lời nói tai ác của Harrison vang lên xói mạnh vào đại não khiến Victor có cảm giác buốt nhói.

Những lời nói đó như một bàn tay xương xẩu thọc sâu vào mặt hồ kí ức của ngài, khuấy đảo và tìm ra những mảnh vụn mà ngài vô tình- hay cố ý bỏ quên.

Đôi mắt màu lục của Victor bất giác nhìn vào trong lồng sắt.

Nhưng ngài chẳng còn trông thấy Harrison Shaw nữa, ngài trông thấy chính ngài.

Năm 10 tuổi.

Ngồi giữa bóng tối của căn phòng gác mái, thu lu trong một góc lồng sắt, gào khóc nhìn những đứa trẻ của hạt Merton bị giết ngay trước mặt.

Ngay từ khi còn nhỏ, Victor đã chỉ có một mình.

Kí ức tuổi thơ của Victor được lấp kín bởi những buổi chiều ngồi lặng im dưới tán dẻ gai trước cổng dinh thự, dõi mắt nhìn theo những đứa trẻ hạt Merton chơi đùa ở bên kia bìa rừng.

Hình ảnh ấy lặp đi lặp lại trong nhận thức của ngài, dần dần hóa thành một nỗi ám ảnh không tền về sự cô đơn và trống rỗng tới hoang hoải.

Những cảm giác khó chịu ấy tích tụ giống bụi bẩn trong một bể nước trong, chẳng ai lọc đi cũng chẳng ai buồn khuấy lên, cứ rơi dần rơi dần rồi nằm yên dưới đáy.

Nhìn qua thì tưởng nước vẫn trong, ai ngờ đã đóng thành cặn làm bẩn luôn cả bể.

Nhưng một đứa trẻ dễ bị vấy bẩn mà cũng dễ được tẩy trong.

Sự cô độc ban đầu chẳng đủ để bóp méo bản tính lương thiện của trẻ nhỏ trong Victor.

Không ai lọc không ai khuấy thì ngài tự mình tìm cách.

Không chịu thua trước nỗi cô đơn càng không quỳ gối trước sự tự do đã bị chuẩn mực gia đình kiềm tỏa.

Một buổi chiều, Victor tới làm quen với những đứa trẻ của hạt Merton.

Trẻ nhỏ thì chẳng biết tước vị chức danh, càng chẳng vì hai điều ấy mà hắt hủi những người bạn của mình.

Vui vẻ và chân thành, bọn chúng cho Victor nhập cuộc chơi cùng.

Đó có lẽ là ngày vui nhất trong cuộc đời Victor Shadow.

Ngài chơi trò cướp biển với rất nhiều những đứa trẻ khác.

Ngài đã thực sự được trải qua cảm giác khi là một đứa trẻ con.

Không violin, không Corelli.

Không tập cung tên, không sách quân sự.

Không phải Bá tước, càng không là Kẻ Thừa Kế Bóng Tối.

Đó là ngày duy nhất trong cuộc đời mình, Victor tháo xuống sự hoàn hảo gắng gượng đúc nên từ thi ca và vàng bạc.

Nhưng mẹ Victor thì ám ảnh bởi cái vỏ mà ngài muốn tháo xuống ấy.

Bà không thích ngài giao du cùng những đứa trẻ trong hạt Merton.

Bà bảo chúng bẩn thỉu, và rất nhiều từ ngữ khó nghe khác mà ngài không thể hiểu được.

Hôm trước Victor vừa phá nát một cây đàn dương cầm và bẻ gãy rất nhiều đĩa nhạc của Corelli, tới hôm nay ngài lại bỏ một buổi tập bắn cung để trốn ra ngoài chơi với những đứa trẻ của hạt Merton.

Tối đó ngài trở về lâu đài với một vài vết thương, chẳng là gì so với bàn tay phồng rộp vì tập bắn cung quá nhiều.

Mẹ ngài đợi ở cửa.

Bà lúc nào cũng xinh đẹp và kiêu sa, bất kể là khi giận dữ.

Bà chăm sóc và giám sát Victor sát sao như thể ngài là nỗi ám ảnh của bà.

Những biểu hiện nổi loạn gần đây và cả những vết thương trên cơ thể ngài hôm nay đẩy tâm lí vốn đã bất ổn của bà đến bờ vực bùng nổ.

Con đang muốn phá hỏng cái khuôn vàng mà chúng ta đã đúc nên cho con?

Victor lớn lên trong một cái khuôn, một cái khuôn bằng vàng, được đúc nên từ những định kiến và chuẩn mực.

Ngài cứ thế lớn lên, mặc cho máu chảy đầm đìa, hoàn hảo tới khó tin, không siêu vẹo, không khuyết điểm.

Sau đó mẹ Victor còn nói rất nhiều điều nữa, ngài nghe không hết và không nhớ nổi.

Ngài chỉ nhớ mình đã gào lên và ném một tách trà nóng bỏng về phía bà.

Gấu váy muslin lãnh trọn tách trà, bà đứng im như phỗng, sững sờ.

Đứa con hoàn hảo của bà hóa ra lại đầy khuyết điểm.

Chắc hẳn những đứa hỗn hào kia đã khiến con trở nên thế này.

Bà nói thế, nói mà như rít qua từng kẽ răng.

Bà giật lấy tay Victor, thô bạo lôi ngài đi mà như chạy trên những bậc cầu thang.

Rồi bà tống ngài vào cái lồng sắt đặt trong căn phòng gác mái, khóa chặt cửa lại.

Victor thậm chí còn chẳng biết cái lồng có ở đó từ bao giờ.

Ngài bị nhốt trong đó tròn một ngày đêm, không ăn không uống, cũng không ai đoái hoài.

Nhưng ngài chẳng buồn bận tâm.

Sau khi được thả ra, ngài sẽ đi tìm những đứa trẻ của hạt Merton, sẽ cùng những chuyến phiêu lưu của chúng đi khắp nước Anh, vòng ra biển khơi, và không trở về đây nữa.

Đêm hôm đó những đứa trẻ của hạt Merton xuất hiện trong căn phòng gác mái.

Victor mừng rỡ vì nghĩ chúng tới giải thoát ngài.

Nhưng thật lạ, tất cả bọn chúng đều bị bịt chặt miệng còn hai tay thì bị trói sau lưng.

Rồi mẹ ngài xuất hiện sau cánh cửa, bà vẫn thật xinh đẹp.

Xinh đẹp tới chói lòa.

Trên tay bà là một cái roi da, Victor nghĩ cái roi ấy dành cho ngài, nhưng không phải.

Ta sẽ không làm con tổn thương.

Vì con phải lớn lên thật hoàn hảo.

Lại là hoàn hảo.

Victor nghe tới thuộc.

Và cái roi trong tay bà vung lên, quất thẳng vào những đứa trẻ tội nghiệp của hạt Merton.

Chân của đám trẻ trông bị trói, chúng chạy khắp phòng và gào thét khi những vết roi hằn đỏ trên da.

Nhưng vô dụng.

Cái roi trong tay mẹ Victor vẫn vung lên, bà đuổi theo chúng, dồn chúng tới góc tường, liên tục quất xuống với một nụ cười điên dại.

Victor ngồi trong lồng sắt, hai mắt nhắm chặt, nhưng mũi ngửi mùi máu và tai nghe tiếng gào.

Rồi tới chính ngài cũng khóc.

Dù cái roi ấy chẳng chạm vào ngài dù nửa phân.

Ban đầu những đứa trẻ còn chạy để tránh những đường roi, rồi chúng nhanh chóng mệt lả, kiệt sức vì những vết thương.

Tới cả khi không còn tiếng hét vang lên nữa, Victor vẫn còn nghe tiếng roi quất đều đều.

Ngồi sau song sắt, ngài không còn nhận thức được điều gì nữa.

Ngài chỉ ngửi thấy mùi tanh lộn của sắt gỉ trộn với mùi máu tươi.

Chẳng biết bao lâu trôi qua, chỉ biết khi hai hốc mắt của Victor đã khô cạn thì tiếng roi cũng im bặt.

Một bàn tay nhơn nhớt vươn qua những chấn song để chạm vào má ngài.

Victor sợ hãi hé mi mắt.

Là mẹ ngài, vẫn thật xinh đẹp và kiêu sa, dù cho hai gò má trắng ngần giờ nhuộm hồng bởi máu.

Con sẽ được lớn lên trong cái khuôn vàng.

Và con sẽ là sinh vật hoàn hảo nhất, thánh thần nhất.

Bà mỉm cười khi nói thế.

Và đôi mắt màu lục của ngài chậm rãi mở ra nhìn bà, ráo hoảnh...

"Đó cũng là chính lúc mà tôi xuất hiện, Victor."

Harrison Shaw cười khanh khách, vô cùng hài lòng khi tìm được một mảnh vụn trong hồ sâu kí ức của Victor Shadow.

Ngài Bá tước chầm chậm đưa mắt nhìn kẻ đang đứng trong lồng sắt, tới chính ngài cũng thấy sững sờ về kí ức đó.

Ngài biết rằng nó vẫn luôn ở đó, trong bộ não và trong dòng hồi ức của ngài.

Nhưng từ trước tới nay ngài không biết đến sự hiện diện của đêm tối kinh hoàng ấy, là bởi ngài đã nhét nó vào một cái hộp rồi quẳng xuống mặt hồ kí ức khi ngài mở đôi mắt lục sẫm ráo hoảnh ra nhìn người mẹ xinh đẹp của ngài, và sau đó chính thức khóa kín nó cùng với Harrison Shaw vào cái lồng sắt đặt trong pháo đài tội ác.

Trước vẻ sững sờ của Victor, Harrison Shaw chậm rãi tháo cái mũ trapper che kín nửa khuôn mặt xuống.

Dưới những tia sáng thoi thóp còn sót lại của buổi hoàng hôn, gương mặt hắn lộ ra.

Màu mắt, vầng trán, khóe miệng, chân mày, tất cả đều như được đúc từ khuôn là vị Bá tước đứng bên ngoài song sắt.

"Không, phải nói rằng, đó chính là lúc mà tôi được sinh ra."

Giọng hắn trầm xuống, thong thả nhả từng chữ một, thầm thì ngân dài ngân dài rồi ngân mãi.

"Tôi xuất hiện khi cậu bất lực trước người mẹ tâm thần của mình, khi cậu ngồi sau song sắt và gào khóc nhìn những đứa bạn của mình bị giết, khi linh hồn thống khổ của cậu kêu gào đòi sự tự do."

Victor không còn kháng cự nữa, mi mắt ngài chầm chậm khép.

"Tôi được sinh ra từ những đau khổ, bí bức và cả sự yếu đuối của cậu, Victor.

Vậy nhưng cậu lại nhốt tôi trong cái lồng này, nhốt tôi vào căn phòng bám bụi trong pháo đài tội ác của cậu."

Nơi đây chính là pháo đài tội ác của Victor.

Chẳng phải lâu đài Alleretos đồ sộ theo trường phái Gothic sơ kỳ.

Là lâu đài được dựng lên sừng sững trong tâm tưởng ngài; từ những tội lỗi, nỗi đau, sự sợ hãi, kí ức, và cả lòng kiêu hãnh.

"Tôi sinh ra từ những thất bại của cậu, Victor.

Từ sự yếu kém của cậu."

Harrison Shaw vươn sát tới gần song sắt, thì thầm vào tai Victor.

Giây phút ấy, đôi mắt đang khép hờ của Victor chợt mở bừng ra.

Ngài dộng mạnh bàn tay vào song sắt, mắt đối mắt với Harrison, lời nói thốt ra tưởng như cao ngạo ngút trời nhưng đôi đồng tử lại run rẩy đầy bất ổn.

"Đừng có đùa với ta.

Ta sinh-ra-là-để-chiến-thắng."

"Đúng vậy, cậu sinh ra là để chiến thắng.

Và đó cũng là lí do mà tôi đươc sinh ra.

Sinh ra để hoàn thiện cho những chiến thắng ấy, để khiến cậu trở thành một con người bất bại."

Giọng Harrison Shaw thoắt trở nên dịu hòa nhưng mãnh liệt, vừa xoa dịu cơn thịnh nộ của Victor lại vừa kích thích lòng tự cao của vị Bá tước trẻ.

Con ngươi đang mở trừng lên chậm rãi co lại, Victor đưa mắt nhìn Harrison.

"Cậu là Victor, và tôi là Harrison, chúng ta là hai bản thể tách biệt.

Nhưng Victor, chúng ta đều giống nhau.

Chúng ta được sinh ra để chiến thắng và chúng ta khao khát chiến thắng.

Bàn tay đang túm chặt vai Victor của Harrison Shaw chầm chậm nới lỏng, từ một cái nắm vai cưỡng chế hóa thành một cái vỗ vai đầy tin tưởng.

"Vậy cậu sẽ mở khóa cho tôi chứ Victor?"

Victor bất giác nắm chặt chiếc chìa khóa gỉ sét trong tay.

"Kẻ đó nhốt cả hai chúng ta sau những song sắt, Victor.

Những kẻ tầm thường ấy đã muốn thách thức chúng ta."

Harrison tiếp tục nói, nhẫn nhại và kiên trì.

Chìa khóa trong tay Victor thoáng động, rồi ngài chậm rãi tra chìa vào ổ.

Một nụ cười nở trên môi Harrison, hắn bước ra khỏi lồng sắt, bước ngang qua Victor.

"Chúng đã muốn thách thức chúng ta."

"Chúng đã muốn thách thức chúng ta."

"Vậy thì Victor..."

"Vậy thì Harrison..."

"Hãy để cho chúng được chiêm ngưỡng..."

"Hãy để cho chúng được chiêm ngưỡng..."

"Thế nào là nỗi sợ hãi và cơn thịnh nộ của bậc thánh thần."

"Thế nào là nỗi sợ hãi và cơn thịnh nộ của bậc thánh thần."

Khoảnh khắc Harrison lướt qua vai Victor, khóe miệng họ mấp máy cùng một nhịp và trong cùng một lúc.

Cũng vào khoảnh khắc ấy, một kẻ bước vào cũi sắt và một kẻ hướng về phía cửa ra vào.

Họ đứng đối lưng vào nhau, nhưng trong một giây, trên hai gương mặt giống nhau như đúc đã cùng nở một nụ cười.

Harrison Shaw rời khỏi phòng, trong khi Victor ngồi vào cái lồng sắt, gương mặt hướng về phía ô thoáng chỉ bằng lòng bàn tay, tận hưởng ánh trăng rọi lên mặt như hứng lấy phúc lành được ban phát bởi Chúa trời.

Dáng vẻ ngài lúc này hệt như Harrison Shaw khi còn ngồi trong lồng sắt.

Bọn họ đã đổi chỗ cho nhau.

Harrison Shaw và Victor Shadow, hai bản thể cùng nằm trong một thân xác, và một kẻ vừa nhường lại ngôi thống trị.

Harrison Shaw nhìn bóng lưng Victor quay về phía mình, hắn mỉm cười và khép cửa lại.

"Nghỉ ngơi được rồi, vị vua kiêu ngạo của ta."

Người góa phụ thấy cơ thể đang bất động trên đất của Victor Shadow khẽ cựa.

Sau khi trúng phải thứ thuốc độc kia, anh ta thậm chí còn bất tỉnh lâu hơn Eleanor.

"Ngài ngủ lâu hơn tôi nghĩ đấy, Bá tước."

Eleanor chào hỏi với một giọng điệu mỉa mai.

Gã chủ tiệm Midnight Poison- chẳng biết vì lí do gì cũng xuất hiện trong phòng giam này, hưởng ứng câu chọc ngoáy của Eleanor bằng một tràng cười khô khốc.

Victor Shadow mở bừng hai mắt rồi chậm rãi ngồi dậy.

Dáng vẻ linh hoạt khoan khoái không xuất hiện bất cứ dấu hiệu nào chứng tỏ anh ta vừa trúng phải thuốc phiện.

Điều ấy bỗng dưng khiến Eleanor có một dự cảm không lành.

Gã Bá tước ngồi thẳng dậy, chậm rãi vươn vai, vẻ mặt thư thái và nhẹ nhõm như thể anh ta vừa được giải thoát khỏi chốn tù ngục đọa đầy.

Hành động vươn vai ấy khi đặt trong tổng thể tính cách lẫn vẻ ngoài nghiêm túc thường ngày của Victor Shadow, bỗng dưng giống như một nốt nghịch tai đánh mạnh vào tri giác của người nhìn.

Eleanor và Spectre đưa mắt nhìn nhau, trong giây lát dâng lên một cảm giác bất an khó mà lí giải.

Và kẻ kia cuối cùng cũng quay lại nhìn hai người.

Đôi mắt màu lục sẫm sáng lên một vẻ tươi cười, rồi hắn cất giọng.

Là chất giọng cao nhưng chỉ toàn thanh bằng kéo căng giây cảm giác người nghe khiến họ phát điên.

Thứ âm thanh có độ ngân rung chỉ có thể vọng tới từ hoặc tít trời xa hoặc sâu dưới đất; hoặc Chúa giáng thế, hoặc Satan vùng dậy.

"Xin chào.

Tôi là Harrison Shaw."

Hắn nói thế, với một nụ cười.

Dành cho ai không rõ về chương này: Victor bi mắc chứng MPD hay multi personality disorder.

Là chứng bệnh tâm lí mà trong cơ thể người bệnh sẽ xuất hiện ít nhất 2 nhân cách hoàn toàn tách biệt nhau.

Những người mắc MPD thường là những người phải chịu những cú sốc tâm lí khi còn nhỏ, từ đó những nhân cách khác được sinh ra để bảo vệ nhân cách chủ thể khỏi những tổn thương.

Ở đây, Harrison Shaw chính là nhân cách thứ 2 của Victor Shadow.

***Các cậu thân mến, sau chương này tớ sẽ nghỉ ngơi một thời gian.

Vì khoảng hơn 1 tuần nay, chính xác là 9 ngày gần đây, tớ đã tốn quá nhiều chất xám cho Cốt cách một quý ông và tớ thấy mệt huhu.

Trong 9 ngày, tớ đã viết được 30k words đó các cậu 🙁(( Nên hẹn gặp lại các cậu vào một ngày không xa, nhé.
 
Cốt Cách Một Quý Ông
you've never seen the men like them


Fanart Victor Shadow by MyLy97

Bá tước thích nuôi chó nuôi diều hâu nuôi cá sấu của các cậu là một con người đẹp trai thế này đây =)))

Khi Bá tước mỉm cười =)))

Fanart Spectre by Hoàng Anh

Con người nghèo khổ làm chủ tiệm trà Midnight Poison.

Con người thích chọc ngoáy Bá tước và thả thính cô gái của ngài =)))

Bản đầy đủ này.

Sherrinford Doyle by Vanessaoith

Thám tử ngáo ngơ, tương lai sẽ trở thành kẻ thù truyền kiếp của Bá tước =)))

Đáng lẽ là series cho các anh nam nhưng vì ảnh này chị quá đẹp quá sang chảnh và cũng vì chị ghê gớm không kém gì đàn ông =)))

Fanart Eleanor Austen by Hoàng Anh

Đây chính là Góa phụ đen, là ác phụ tai tiếng của thành Luân Đôn, là cô gái may mắn (bất hạnh) lọt giữa rừng quý ông của truyện =))
 
Cốt Cách Một Quý Ông
Những đứa con bị Chúa bỏ quên (1)


i.

"Có rất nhiều thứ trong trời đất mà triết học của các ngươi chẳng thể vươn tới nổi."

~~~

"Sao cơ?"

Eleanor cau mày nhìn gã Bá tước đang ngồi cách mình hai sải tay, xoáy sâu vào vẻ tươi tỉnh trên gương mặt hắn.

Mặc dù cô không tin những gì hắn vừa nói, nhưng vẻ ngoài này lại khiến cô không thể không tin.

Victor Shadow sở hữu tất cả vẻ đẹp chuẩn mực nhất của hoàng tộc, nhưng là vẻ đẹp cứng nhắc như được tạc ra từ đá.

Nó lạnh và vô hồn, có lẽ xuất phát từ đôi mắt màu lục sẫm luôn tỏa ra ánh nhìn nghiêm nghị mà sắc nhọn.

Nhưng rõ ràng kẻ trước mặt cô không như vậy.

Vẫn là những nét đẹp hoàng tộc ấy, nhưng không phải như tạc ra từ đá, mà sống động tới mức khiến cô rùng mình.

Thấp thoáng sau vẻ tươi cười trong đôi mắt và cái nhếch lên của khóe miệng tựa hồ là một nhân cách đầy điên loạn.

"Tôi nói tôi là Harrison Shaw."

Hắn đáp, vẫn mỉm cười.

Giờ thì Eleanor nhận ra tới cả giọng nói của Victor Shadow cũng đã thay đổi.

Victor sở hữu âm giọng trầm nhưng không ấm.

Còn giọng của kẻ này chát chúa toàn âm cao, hơn nữa còn mang vẻ thản nhiên tuyệt đối, tới độ Eleanor cảm nhận rằng dẫu cả bầu trời sụp xuống đôi vai cũng không khiến hắn hoảng sợ.

"Vậy Victor Shadow đâu?"

Spectre hỏi, và có lẽ chính gã cũng thấy nực cười với những gì mình vừa nói ra.

Gã và Eleanor đã bắt đầu tin vào những thứ vô lý mà tên Harrison Shaw này nói.

"Victor hả?"

Hai mắt gã đảo lên trần nhà khi nói, ra chiều rất suy tư.

Rồi thình lình gã nhìn thẳng vào Spectre và Eleanor, nhe răng cười.

"Tôi nhốt cậu ấy vào cái lồng sắt rồi."

"Cái lồng sắt?"

"Cái lồng sắt ở trong pháo đài tội ác.

Nó là lối vào pháo đài đấy.

Các người không biết đâu.

Victor giấu nó rất kĩ, tới tôi cũng không có được chìa khóa."

Harrison trả lời khi cúi đầu nghịch chiếc carvat đang đeo trên cổ, sau khi nghịch chán thì hắn tháo hẳn ra.

Spectre bỗng có cảm giác như mình đang nói chuyện với một tên tâm thần.

Kẻ tự xưng là Harrison Shaw này có phong cách nói chuyện hệt một đứa trẻ.

"Vậy sao cậu lại ở trong thân xác Victor?"

"Chúng tôi đổi chỗ cho nhau.

Victor cần sự giúp đỡ của tôi nên tôi thế chỗ cậu ấy."

"Đổi chỗ cho nhau?"

Gương mặt Eleanor đầy vẻ thắc mắc khi thốt ra những lời ấy.

Tới giờ cô vẫn nghĩ Victor Shadow trở nên thế này là bởi tác dụng từ khí độc mà bọn họ hít phải.

"Có rất nhiều thứ trong trời đất này mà triết học của các người không thể với tới được đâu.(1)"

Harrison Shaw đột nhiên đổi giọng.

Đôi mắt màu lục trợn lên dưới hàng mày sắc, trong khi khóe môi hắn kéo lên tạo một nụ cười rộng và cân xứng tới quái đản.

Vẻ ngơ ngác trên gương mặt hắn phút chốc hóa thành vẻ méo mó dị dạng tới lạnh gáy.

Eleanor và Spectre bắt đầu cảm nhận được sự bất thường từ kẻ kia.

Vẻ nguy hiểm của Victor Shadow luôn ẩn nhẫn dưới cái lốt quý ông chuẩn mực tới chói lòa.

Còn Harrison Shaw lại chọn lớp vỏ bọc ngơ ngác vô hại để che đi nhân cách thực sự của hắn.

Nhưng hắn che giấu không giỏi như Victor.

Và chính điều này lại khiến hai người họ buộc phải nâng cao sự đề phòng lên mức cao nhất.

Sau khi nhận ra cái nhìn thận trọng của Eleanor và Spectre hướng về phía mình, Harrison thu lại nụ cười, thoáng nhướng mày rồi đưa mắt nhìn quanh phòng, miệng huýt sáo khe khẽ ra vẻ vô tư như chẳng có chuyện gì xảy ra.

Được một lúc thì hắn bước gần tới cửa ngục, thò tay qua song sắt mà kéo áo tên canh ngục đứng ngoài.

Kẻ kia lập tức trừng mắt nhìn Harrison, hất cằm quát.

"Muốn gì?"

"Tại sao tao lại bị nhốt vào đây?"

Gã cai ngục nhìn Harrison bằng ánh mắt nhìn một tên có vấn đề về đầu óc, khoảng vài giây sau mới đáp lại bằng giọng giật cục.

"Cút xa ra nếu mày không muốn ăn đòn."

Harrison nghe thấy vậy thì nở nụ cười, áp sát người vào song sắt nhà giam.

Hắn kéo một cái nhìn sắc bén từ đầu tới chân gã quản ngục, vươn tới thì thầm vào tai gã, giọng trầm bổng lên xuống như một khúc ru, kéo thành một sợi dây thừng cuốn chặt lấy kẻ đang đứng ngoài song sắt.

"Tao biết mày tới từ xứ Wales, mày còn có một cô vợ mới cưới đang chờ tin mày về.

Nhưng mày thì ở đây, cun cút canh gác trong bóng tối nhưng mỗi ngày vẫn bị ăn đòn bầm dập, làm bạn với hầm ngục và ngày ngày không được mở miệng trò chuyện với bất kì ai.

Tao cũng biết những đứa quản ngục như chúng mày, mỗi phút mỗi giây đều sống trong nỗi lo sợ về cái chết."

Gương mặt tên cai ngục mờ mịt, nhìn Harrison bằng ánh mắt ngạc nhiên tới độ sững sờ.

Yết hầu gã chuyển động phập phù dưới lớp da mỏng.

Bàn tay Harrison đưa lên thu hút sự chú ý của gã cai ngục rồi thình lình búng cái tách.

"Vậy sao mày không kể cho tao lí do vì sao mày phải làm việc ở đây nhỉ?"

Sau cái búng tay của Harrison Shaw, mí mắt của gã cai ngục chợt khép lờ đờ.

Gã nhìn vô định về phía trước, nhìn vào Harrison, nhưng lại như đang dõi về một nơi xa xăm không thuộc về thực tại.

"Bọn tao được thuê để canh gác chúng mày cho tới đêm Walpurgis."

Harrison liếc nhìn một lượt những phòng giam đóng kín còn lại.

Đều là những vị khách hôm trước tham gia Buổi Gặp Mặt của Hội Chợ Phù Hoa.

"Đêm Walpurgis sẽ có điều gì xảy ra?

Tại sao mày chỉ cần canh gác tới đêm Walpurgis thôi?"

"Vì ngày hôm đó chúng mày sẽ chết."

Đôi mắt màu lục nghe tới đó liền sáng rực, Harrison thấp giọng hơn.

"Chúng tao sẽ chết thế nào?"

"Người ta sẽ treo chúng mày lên cao, lấy đi tim gan và tất cả những gì chúng mày có."

"Tại sao họ lại làm vậy?"

"Vì họ muốn chạm tới quyền năng của Chúa."

Câu nói của tên cai ngục lọt vào tai khiến Eleanor thoáng rùng mình.

Nửa tháng trước ở quán rượu Morte van Diablo, một vị khách lạ cũng nói với cô và Victor như vậy khi giải thích về Hội Chợ Phù Hoa.

Chạm tới quyền năng của Chúa.

Bằng xác thịt của những kẻ phàm trần.

"Họ ở đây là ai?"

Harrison tiếp tục hỏi, khuôn mặt không hề biến động trước những thông tin kinh khủng mà gã cai ngục vừa thốt ra.

"Nhóm tinh hoa bí ẩn."

"Đó là ai?"

Đúng lúc gã cai ngục định mở miệng trả lời thì một tên quản giáo đi tới, dộng mạnh vào mặt gã một cú đấm.

Tên quản giáo đưa mắt gầm gừ nhìn Harrison.

Hắn chỉ đáp lại bằng một cái nhún vai và quay người đi sâu vào trong gian phòng giam.

Gã cai ngục kia sau khi ăn một đấm thì bừng tỉnh, đôi mắt khép lờ đờ mở to vẻ ngơ ngác như vừa thoát khỏi cơn mê.

Tên quản giáo thô bạo liên tục giáng xuống đầu gã những trận đòn.

Eleanor và Spectre không quan tâm đến tên xấu số ấy.

Họ chỉ quan tâm tới kẻ tự xưng là Harrison Shaw trong khi sở hữu thân xác của Victor Shadow.

Harrison vừa đọc vanh vách về thân phận và cuộc sống của gã cai ngục kia.

Điều này không quá khó hiểu, đó có thể là khả năng đọc vị cơ thể người.

Victor Shadow cũng có khả năng này.

Nhưng điều quái đản là, bằng một cách thần bí đầy khó hiểu, hắn đã ép tên cai ngục khai ra gần hết những thông tin về Hội Chợ Phù Hoa.

Đó còn chưa kể đến biểu hiện của tên cai ngục.

Thẫn thờ và ngơ ngác như đang đánh mất hồn trí.

Eleanor trừng mắt nhìn Harrison Shaw với vẻ đề phòng, quấn chặt hơn chiếc khoăn voan trên đầu để che đi mái tóc đỏ.

Trước khi thời điểm thích hợp tới, không được phép để lộ mái tóc của cô.

Victor Shadow đã nói như thế khi bọn họ ngồi trên tàu tốc hành tới Edinburgh.

Tới tận bây giờ cô vẫn không rõ ý anh ta thời điểm thích hợp ở đây là khi nào.

Sự xuất hiện của tên Harrison Shaw kia và những thông tin mà tên cai ngục nói ra khiến Eleanor căng thẳng cực độ.

Victor Shadow, rốt cuộc lúc này anh đã ở chỗ quái nào?

"Nhắm mắt lại, đừng nhìn hắn ta."

Âm giọng trầm thấp của Spectre thình lình vang lên bên tai Eleanor khiến cô giật mình rụt người lại.

Thấy vậy, gã lập tức nở nụ cười, gương mặt điển trai sáng bừng giữa phòng giam ẩm thấp.

Tới bây giờ Eleanor mới để ý gã chủ tiệm Midnight Poison có một nụ cười rất đẹp.

"Đừng có thì thầm vào tai tôi."

Eleanor liếc xéo vẻ tươi cười của gã, nói với một vẻ khó chịu.

"Sẽ như cô muốn."

Spectre nhún vai đáp, vẫn chưa thôi cười cợt.

"Sao lại không được nhìn hắn ta?"

"Vì tôi thấy khó chịu khi cô làm vậy."

"Cái gì?"

"Tôi ghen đấy."

Tới mức độ này thì Eleanor quay phắt lại, trừng mắt nhìn Spectre, nhưng chỉ được chừng vài giây thì sắc mặt cô thoáng dịu lại.

Đôi mắt đen láy xẹt qua một vẻ quỷ quyệt, cô mỉm cười tiến sát tới gần Spectre, vươn tay nắm lấy cổ áo gã mà kéo tới gần sát khuôn mặt mình.

"Đúng không?

Anh ghen đúng không?"

Gương mặt Spectre thoáng qua một vẻ bất ngờ trái ý.

Quả nhiên rất xứng danh ác phụ của thành Luân Đôn.

Khi bị trêu ghẹo không những không ngại ngùng càng không tức giận, ngược lại còn thuận chiều mà tấn công ngược lại.

Nhưng dĩ nhiên Spectre cũng không phải tay mơ trong trò cưa gái.

Gã cúi sát gương mặt mình tới gần Eleanor, đôi mắt nâu sẫm chuyển xuống đôi môi của người góa phụ.

Eleanor không phải đứa đần, cô dĩ nhiên nhìn ra ánh mắt đó đang đặt ở đâu.

Dừng lại trên môi cô vài giây, Spectre chuyển hướng nhìn thẳng vào mắt cô.

"Nếu như tôi ghen thật thì cô định làm gì?"

Gương mặt Eleanor không biến sắc.

Cô cũng bắt chước Spectre, chuyển tầm mắt xuống đôi môi đang hé mở của gã, ánh mắt đầy vẻ lẳng lơ mời gọi.

"Vậy thì..."

Cô chủ động rướn người, để môi mình chạm gần vào môi gã chủ tiệm trà, chậm rãi từng chút để tiến tới một nụ hôn bùng nổ.

Ngay khi môi hai người còn cách nhau có nửa phân, Eleanor thình lình dùng hai tay ghì chặt lấy vai Spectre, hướng đỉnh đầu cụng mạnh vào trán gã ta.

Gã chủ tiệm trà đang đợi một nụ hôn thình lình bị tấn công thì không kịp phản ứng, đầu bật về sau đập mạnh vào tường đá.

Eleanor nhếch môi cười khinh bỉ, trước khi ngồi lùi ra xa còn không quên quẳng lại một câu cảnh cáo.

"Đừng có giở trò tán tỉnh cợt nhả với tôi."

Spectre bị cụng mạnh đầu vào tường, không những không giận dữ mà còn chẳng buồn ngồi thẳng dậy, uể oải dựa luôn vào tường đá.

Đôi mắt mới vài giây trước còn rực lửa tình giờ xụi lơ, tựa như hứng thú trong gã đã bị rút sạch đi mất.

Chán nản nằm dài ra nền đất, gã mấp máy môi, dửng dưng và uể oải.

"Tán tỉnh cô là đùa nhưng lời cảnh cáo kia là thật.

Đừng nhìn hay nghe bất cứ thứ gì tên Harison Shaw kia nói.

Muốn nghe hay không thì tùy cô thôi."

Dứt lời, gã quay mặt vào tường, nhắm mắt ngủ.

Thái độ gã thay đổi nhanh còn hơn một cái chớp mắt.

Mới vài giây trước còn trăng hoa tán tỉnh, vậy mà thoắt cái đã thành phớt tỉnh tới độ dửng dưng.

Eleanor bỗng cảm thấy đau đầu.

Xung quanh cô dường như đều là những kẻ thích che giấu đi nhân cách thực sự của mình.

Hoặc tới chính bản thân cô cũng vậy.

Harrison Shaw không biết đã tới gần cánh cửa sắt từ bao giờ, lúc này đang ngồi tựa lưng vào những song sắt, hướng mắt nhìn Eleanor.

"Sẽ không phiền nếu tôi đọc sách lớn một chút chứ?"

"Chắc chắn rồi."

Harrison thấy vậy thì gật đầu vui vẻ, khẽ huýt sáo trong khi lôi từ ngực áo một cuốn sách cổ có bìa màu nâu sậm thuộc từ da thú.

Eleanor thoáng nhìn qua bìa của cuốn sách.

Là cuốn Đêm thứ mười hai của Shakespeare.

Harrison thận trọng mở từng trang sách, đôi mắt nhìn chăm chú trong khi miệng đọc thành tiếng những lời kịch.

Âm độ không quá lớn nhưng đủ để những kẻ đứng ngoài song sắt nghe thấy.

Giọng hắn nghe không giống giọng người, mà là thứ âm trộn lẫn thanh cao thấp chồng chéo gập ghềnh, kéo căng giây thần kinh của người nghe làm họ muốn phát điên.

Dẫu vậy nhưng không cách nào từ chối mà phải tiếp nhận thẳng vào đầu.

"Nếu không muốn bị giết chết bởi sự tù đày này, thì hãy trở thành nô lệ của ta."

"If you will not be murdered by this captivity, let be my servant."

"Thật ra ta không phải kẻ khát máu tới thế.

Lẽ ra mọi việc đã được giải quyết bằng việc trả lại ta những gì người đã lấy.

Như sự tự do."

"The offence is not of such a bloody nature.

It might have since been answered in repaying what you took from me, which, freedom."

"Đúng, với chìa khóa trong tay người.

Những ngôi sao đã nhuộm đen ta, và có lẽ số mệnh tai ác ấy sẽ vấy lên cả người.

Vậy nên ta sẽ để người đi, khi cả hai ta được giải thoát khỏi những điều tội lỗi này."

"By your key, yes.

My stars shine darkly over me.

The malinancy of my fate might perhaps distemper yours.

Therefore i shall accept your leave when we are released from those evils."

Harrison Shaw cứ ngồi tựa lưng vào tường, chăm chú nhìn vào những trang sách phả mùi cổ xưa, ngâm nga rồi lại thầm thì những lời thoại của vở Đêm Thứ Mười Hai trứ danh.

Hắn đọc đi đọc lại những phần thoại mà Antonio nói với Sebastian, khi là những lời tỏ tường thống thiết về cõi lòng, khi lại là những dòng hồi tưởng đẫm máu về lần gây hấn trên biển với Bá tước Orshino.

Hắn đọc nhiều lần, lặp đi lặp lại tới độ muốn người nghe phải thuộc lòng, chán ghét, ám ảnh rồi sợ hãi nó.

Thỉnh thoảng giữa những lúc đọc vở kịch, gã lại cao giọng hát.

Giọng hát thì khác hẳn giọng đọc, không gập ghềnh mà êm ái xoa dịu, uốn lượn khẽ khàng như một con rắn, trườn bò vào tai người nghe rồi nằm luôn trong đó.

"Ladybird, ladybird

Fly away home,

Your house is on fire,

Your children shall burn!

All except one and her name was Ann."(2)

Bọ rùa bọ rùa

Bay nhanh khỏi nhà

Nhà mi đang cháy

Con mi cũng cháy

Tất cả trừ một

Và nó là Ann.

Cứ thế cứ thế, Harrison Shaw ngồi tựa lưng vào song sắt, mải miết đọc những lời kịch chắp vá và hát bài đồng dao về con bọ rùa.

Kể từ sau lần tên cai ngục kia bị Harrison dụ khai hết về Hội Chợ Phù Hoa, cứ cách hai tiếng lại có một lần đổi ca giữa cai ngục của mỗi phòng.

Trước mỗi phòng giam đều có hai tên đứng canh, cứ hai tiếng là bọn chúng sẽ đổi chỗ cho nhau, phòng này đổi cho phòng khác, luân chuyển theo vòng tròn.

Có lẽ là để tránh việc bị tù nhân mua chuộc.

Bọn họ ngày ngày bị giam cầm trong ngục tối, cơm và nước đều được đưa vào đầy đủ.

Spectre chỉ nằm ngủ, hoặc cũng có thể gã nhắm mắt nhưng không hề ngủ.

Harrison Shaw thì vẫn cứ đọc và hát, gần như là cả ngày.

Eleanor ăn uống đầy đủ, không lo lắng u sầu.

Tất cả đều thản nhiên dù thanh gươm của Damocles (3) đang treo ngay đỉnh đầu.

Dường như tất cả đều quên mất họ sắp chết, rằng chỉ vài ngày nữa họ sẽ bị treo lên như những cái móc sắt, bị moi hết tim gan để làm vật tế thần.

Chẳng mấy chốc đã tới ngày diễn ra Hội Chợ Phù Hoa.

Đêm Walpurgis đến, khoảng khắc giao thời giữa đêm đông và ngày xuân, khoảnh khắc mọi sinh vật địa ngục trồi lên và bị đánh đuổi bằng gậy lửa, cũng chính là lúc mà nhóm tinh hoa bí ẩn dùng xác thịt của những kẻ trần tục để chạm tới quyền năng của Chúa Trời.

(1) Một lời thoại của Hamlet trong vở kịch cùng tên của William Shakespeare.

Là câu trả lời cho bạn của Hamlet khi họ thấy Hamlet đột nhiên thay đổi tình tính một cách khác thường, điên loạn.

(2) Bài hát Ladybird trong tuyển tập Tommy Thumb's Pretty Song xuất bản năm 1744 tại Anh.

Là tuyển tập bằng tiếng Anh đều tiên của thể loại nursery rhymes (dùng để chỉ những bài thơ hay bài hát ngắn truyền thống dành cho trẻ con, theo ý hiểu của mình thì có thể gọi là đồng dao với dân Việt Nam).

(3) Thanh gươm của Damocles: xuất phát từ câu chuyện ngụ ngôn được phát triển bởi triết gia Roman Cicero, về câu chuyện này thì khá dài, các cậu có thể google là thấy rất nhiều.

Nhưng đại ý cụm từ thanh gươm của Damocles là phép ẩn dụ về một mối nguy hiểm hiển hiện.
 
Cốt Cách Một Quý Ông
Những đứa con bị Chúa bỏ quên (2)


(Fanart Eleanor cho chương này của @Vanessaoith )

ii.

Thế nào là một thiên tài?

~~~

Bị giam trong ngục tối, những tù nhân gần như không xác định được đêm với ngày.

Nhưng có lẽ ước chừng khoảng nửa ngày trước đêm Walpurgis, người ta bắt đầu rục rịch chuẩn bị cho Hội Chợ Phù Hoa.

Ở chính giữa căn hầm dựng lên một sân khấu cao tới hai mét, phủ thảm nhung đen, trên đó lại đặt đủ loại nhạc cụ tạo thành một dàn giao hưởng.

Đằng sau khán đài chất một đống củi lớn cao tới đầu người.

Ở trước cửa mỗi nhà giam treo một hàng những cái lưỡi câu lớn bằng sắt nung.

Nếu đúng như những gì tên cai ngục hôm qua đã nói, thì những tù nhân sẽ được móc vào những lưỡi câu đó rồi bị moi hết tim gan làm vật tế thần.

Bọn họ sẽ bị treo như người ta treo thịt lợn ở ngoài chợ.

Ở những gian phòng khác, đám tù nhân bắt đầu cố gắng thò những cánh tay ra khỏi song sắt, gào khóc, van xin để được thả ra ngoài.

Nhưng đáp lại họ chỉ là sự dửng dưng của những tay cai ngục và tràng chửi rủa mạt hạng của tên quản giáo.

Trong mấy dãy nhà giam, chỉ có duy nhất một gian phòng mà sự điềm tĩnh vẫn thản nhiên bao trùm.

Spectre đã thôi không nhắm mắt.

Gã uể oải dựa lưng vào tường đá, gương mặt phờ phạc vẻ ngái ngủ nhưng đôi mắt nâu sậm thì sáng quắc khi quan sát những chuyển động bên ngoài trấn song.

Eleanor ngồi cách gã không xa, cũng đang ngồi lặng lẽ chú mục vào những gì đang diễn ra bên ngoài phòng giam, dường như đang suy tính gì đó.

Harrison thì đã ngừng hát và đọc sách từ lâu.

Hắn ngồi đối lưng với song sắt, hai chân xếp bằng ngay ngắn trên đất, tĩnh tại ở trong tư thế ngồi thiền, dường như còn chẳng buồn quan tâm tới sự hỗn loạn chết chóc xung quanh.

Hắn biết tất cả tù nhân đều đang sợ hãi cái móc câu kia.

Nhưng hắn chẳng sợ.

Vì chỉ vài phút nữa thôi, hắn sẽ thoát ra ngoài.

Harrison Shaw nghĩ thế và bắt đầu huýt sáo khe khẽ.

"Nếu không muốn bị giết chết bởi sự tù đày này, thì hãy trở thành nô lệ của ta."

"If you will not be murdered by this captivity, let be my servant."

"Thật ra ta không phải kẻ khát máu tới thế.

Lẽ ra mọi việc đã được giải quyết bằng việc trả lại ta những gì người đã lấy.

Như sự tự do."

"The offence is not of such a bloody nature.

It might have since been answered in repaying what you took from me, which, freedom."

"Đúng, với chìa khóa trong tay người.

Những ngôi sao đã nhuộm đen ta, và có lẽ số mệnh tai ác ấy sẽ vấy lên cả người.

Vậy nên ta sẽ để người đi, khi cả hai ta được giải thoát khỏi những điều tội lỗi này."

"By your key, yes.

My stars shine darkly over me.

The malinancy of my fate might perhaps distemper yours.

Therefore i shall accept your leave when we are released from those evils."

Harrison khẽ nhẩm những lời thoại ấy trong đầu, không kìm lại được sự thích thú mà khúc khích cười một mình.

Đã tiếp xúc với Harrison Shaw suốt một tuần qua, nhưng khi nhìn những biểu cảm vừa ngờ nghệch vừa điên loạn của hắn cọ quậy sống động trên gương mặt vốn như tạc của Victor Shadow, Eleanor vẫn không ngăn được cảm giác kỳ dị dâng lên nơi đáy mắt.

Chẳng mấy chốc khách đã kéo tới Hội Chợ Phù Hoa, đông tới ngán ngẩm.

Điều này nằm ngoài dự tính của Eleanor.

Hôm trước khi tên cai ngục nhắc tới những khách tham dự như một nhóm tinh hoa bí ẩn, cô đã nghĩ bọn chúng ít hơn thế này.

Eleanor nghĩ rằng 50 người đã là nhiều, nhưng ở đây khách kéo đến lên tới cả trăm.

Bọn chúng lượn lờ trước cửa những phòng giam, bàn tán cười cợt về những kẻ bị nhốt sau song sắt.

Ánh mắt chúng khát máu, bẩn thỉu và điên dại khi đánh giá những mặt hàng.

Có nhiều kẻ khen Eleanor có một đôi mắt đẹp và thì thầm về giá cả với nhau.

Harrison lúc này đã đổi tư thế ngồi.

Hắn quay mặt về nơi diễn ra hội chợ, lòng bàn tay áp vào song sắt, đôi mắt màu lục trừng lên quan sát tất thảy những kẻ lượn lờ bên ngoài phòng giam.

Hắn ngồi im như một pho tượng đúc từ thạch cao.

Đôi mắt quan sát và thâu nhận mọi thứ vào bộ não.

Không ai biết hắn đang nghĩ gì.

Và có lẽ, nếu không có những giọt mồ hôi chảy dọc hai bên tóc mai, người ta còn nghĩ hắn đã chết cứng từ lâu.

Harrison Shaw đang trong trạng thái tập trung tuyệt đối.

Lũ khách khứa dạo quanh các dãy nhà giam được một lát thì Hội Chợ bắt đầu.

Một dàn nhạc công xuất hiện và nhanh nhẹn vào vị trí, chẳng mấy chốc, giai điệu của bản Hallelujah Chorus bắt đầu ùa vào mọi ngóc nghách của căn hầm.

Âm cello hòa lẫn với thanh trầm của tuba ngân đè lên cái ẩm thấp của căn hầm.

Thứ khí nhạc cổ điển và thanh tao dường ấy lại cất lên giữa một nơi bẩn thỉu nhớp nhúa thế này, phút chốc trở nên thật phô trương tới mỉa mai.

Đống củi chất cao tới đầu người đã được châm lên.

Lửa cháy hừng hực, đốt nóng không khí và soi sáng cả căn hầm.

Sau khi bản nhạc kết thúc, đám khách dự hội chợ mới kéo tới tập trung quanh sân khấu.

Đoàn nhạc công lui xuống trả lại sân khấu cho kẻ chủ trì đêm nay.

Từ cửa ra vào căn hầm, một gã đàn ông tầm tuổi trung niên tiến vào trong tiếng ca tụng của đông đảo khách khứa.

Ông ta khoác áo blouse trắng, cặp kính cận đặt trễ trên sống mũi, người gầy như quỷ đói, và mang dáng vẻ của một con đười ươi thông thái khiến người nhìn bất giác sinh ra cảm giác khó chịu.

Eleanor nhìn kẻ mặc áo blouse trắng đang tiến vào ấy, trong mắt dâng lên một vẻ kinh ngạc đầy ghê tởm.

Đó không ai khác ngoài gã Tiến sĩ Robert Knox của Đại học Edinburgh, kẻ cách đây không lâu bị Victor Shadow bắt được khi đang mua bán tử thi, cũng là kẻ đã đưa ra chỉ dẫn cho Eleanor và Victor tới nơi này.

Robert Knox tiến lên sân khấu, cố tình vòng qua cửa phòng giam của Eleanor và Victor, nhe hàm răng trắng ởn mà nở một nụ cười chó sói.

Trong phút chốc, Eleanor như sáng tỏ mọi vấn đề.

Robert Knox có lẽ là kẻ đứng sau Hội Chợ Phù Hoa.

Kể từ vụ ma cà rồng ở Edinburgh, tới việc Victor tra khảo ông ta về thông tin của Hội Chợ Phù Hoa.

Ngay từ ban đầu, Robert đã cố tình sắp xếp để đưa hai người họ vào tròng.

Victor Shadow đã tính sai một nước cờ.

Nếu lúc này anh ta không xuất hiện, nước đi sai ấy sẽ khiến anh ta thua cả.

Nghĩ tới đó, Eleanor đưa mắt nhìn gã Bá tước đang ngồi quay lưng về phía mình.

Vẫn là tấm lưng thẳng tắp luôn vươn cao đầy kiêu hãnh, nhưng lúc này nó đang rung lên dữ dội.

Harrison Shaw mở to mắt nhìn Robert Knox tiến lên sân khấu.

Hắn đang cười ngặt nghẽo, tới độ đôi vai rộng rung lên bần bật từng hồi.

Ban đầu hắn kìm lại tiếng cười ấy trong cổ họng, rồi theo những bước chân của Robert Knox, âm thanh khanh khách lanh lảnh ấy vỡ ra, man dại và khoái trá.

Không ai hiểu vì sao Harrison Shaw cười.

Robert Knox đứng giữa sân khấu rộng lớn, giữa muôn vàn tiếng tung hô, giữa ánh lửa cháy tới chói lòa, mở rộng thanh quản mà gào lên trong niềm hứng khởi.

"Ladies and gentlemen!!!"

Đám đông đang bao quanh sân khấu đáp lại bằng những nụ cười chào đón và tiếng tung hô.

Cũng trong khoảnh khắc ấy, khoảnh khắc Robert Knox đứng trên đài cao hét lên Ladies and gentlemen, Harrison Shaw quay đầu nhìn Eleanor.

Ánh lửa bập bùng chiếu sáng nửa gương mặt hắn.

Và hắn mỉm cười, đôi mắt màu lục sáng rực lên trong bóng tối.

"Victor có thể thua, còn ta thì không."

Victor tính sai một nước đi và nó có thể khiến anh ta thua cả bàn cờ.

Eleanor nhớ là mình đã nghĩ như vậy.

Đúng vậy, cô đã nghĩ thế chứ không hề nói ra.

Một cảm giác kì quái kéo tới xâm chiếm mọi giác quan của Eleanor.

Cô thấy mình đổ mồ hôi lạnh khi nhìn vào nụ cười của Harrison Shaw, nhưng điều đáng sợ hơn là, trong một khoảnh khắc, tất cả những tên cai ngục của các phòng giam, không hiểu vì lí do gì đồng loạt quay người, dùng chìa khóa gài ở bên hông mà mở khóa tất cả những cánh cửa sắt đóng kín.

Động tác của chúng nhanh và đều như máy, đôi mắt mờ mịt và gương mặt cứng đờ.

Biểu hiện của chúng hệt như tên cai ngục mà Harrison đã nói chuyện cùng ngày hôm trước.

Chúng hành động như thể cơ thể kia không còn là của chúng nữa.

Tất cả thực hiện động tác mở khóa trong cùng một lúc, đều tăm tắp và không lệch đi một giây.

Chúng làm vậy ngay khi cụm từ Ladies and Gentlemen phát ra từ miệng Robert Knox.

Khách khứa vẫn mải mê tập trung sự chú ý vào những gì xảy ra trên sân khấu, yên tâm rằng vật tế của chúng đã được những tên quản tù canh gác mà không biết rằng, đám tù nhân sau khi thấy cửa được mở khóa nhưng không có ai cản lại, sau một hồi ngây người ngơ ngác, sớm đã giẫm đạp lên nhau mà chạy ra ngoài.

Mãi tới khi tiếng huyên náo vang lên ngày một lớn, bọn chúng mới quay lại xem xét chuyện gì đang diễn ra.

Nhưng không còn kịp nữa.

"Đóng cửa lại!

Đóng cửa lại!"

Robert Knox sau vài giây thuỗn đơ vì không hiểu chuyện gì xảy ra, lúc này ra sức gào thét ra lệnh cho bốn tên lính canh ở cửa.

Cửa bê tông lập tức được khép chặt lại, ngăn cách hoàn toàn cả khách khứa lẫn tù nhân với bên ngoài.

Nhìn hàng loạt những phòng giam bị mở tung, Robert Knox nghĩ mình đang nằm mơ.

Chẳng ai hiểu chuyện gì xảy ra với những tên cai ngục.

Chẳng ai hiểu lí do vì sao chúng lại đột nhiên mở cửa những phòng giam khi chưa có lệnh ban xuống.

Không một ai biết lí do, ngoại trừ một người.

Spectre đột nhiên phá lên cười.

Gã dựa vào tường đá, vừa lắc đầu vừa cười ngặt nghẽo, trong tiếng cười lại như pha lẫn cả cay đắng và thán phục.

Không ngờ trên đời người như vậy thật sự tồn tại.

Kẻ có khả năng xâm nhập và thao túng tâm trí của đối phương chỉ bằng lời nói.

Chẳng trách hắn nói Victor cần sự giúp đỡ của hắn.

Harrison Shaw hóa ra chính là loại thiên tài, không đúng, phải gọi là loại quái vật như vậy.

Ngay từ khi hắn xuất hiện và ép tên cai ngục nói hết những gì mà hắn muốn nghe, Spectre đã nghi ngờ Harrison Shaw sở hữu một khả năng phi thường: ám thị và thôi miên kẻ khác bằng lời nói.

Đó là lí do Spectre cảnh báo Eleanor không được nghe bất cứ thứ gì Harrison nói ra.

Nhưng mọi thứ chỉ dừng lại ở mức nghi ngờ, bởi những ngày sau đó, Harrison rất thành công trong việc chứng minh hắn là một kẻ vô hại: ngày ngày hát đồng dao và đọc kịch.

Nếu thực sự sở hữu kĩ năng thôi miên, hắn ta đã sớm thôi miên những tên cai ngục và để chúng mở cửa thả hắn ra ngoài.

Nhưng hóa ra mục đích của hắn không đơn giản như vậy.

Suốt một tuần, hắn ngồi đọc lời thoại của cuốn Đêm thứ mười hai và hát bài đồng dao Con bọ rùa, tưởng như vô hại bâng quơ mà lại là ngầm dựng lên một ám thị đối với tất cả những tên cai ngục nghe được nó.

Tới lúc này, Spectre đã hiểu rõ lí do vì sao Harrison đọc những lời thoại chắp vá, và thậm chí, biến tấu và đọc sai lời kịch.

"If you will not be murdered by this captivity, let be my servant."

If you will not murder me for my love, let me be your servant.

"The offence is not of such a bloody nature.

It might have since been answered in repaying what you took from me, which, freedom."

The offence is not of such a bloody nature [...] It might have since been answered in repaying what we took from them,which, for traffic's sake.

"By your key, yes.

My stars shine darkly over me.

The malinancy of my fate might perhaps distemper yours.

Therefore i shall accept your leave when we are released from those evils."

By your patience, no.

My stars shine darkly over me.

The malinancy of my fate might perhaps distemper yours.

Therefore i shall crave of you leave that i may bear my evils alone.

Harrison Shaw đã biến đổi lời kịch của vở Đêm Thứ Mười Hai để lồng vào đó những ám thị.

My servant.

Freedom.

Your key.

Và released.

Tất cả đều ám chỉ tới việc giải thoát, bằng chìa khóa mà những tên cai ngục mang bên mình.

Cứ hai tiếng một lần bọn chúng lại đổi phòng gác cho nhau, luân chuyển theo hướng vòng tròn.

Cứ thế, suốt một tuần, kẻ nào cũng gác qua phòng của Harrison, lắng nghe hắn đọc kịch và tiếp nhận vào đầu những ám thị.

Thế nhưng, đó mới chỉ là ám thị về hành động, để những tên cai ngục thực hiện hành động, Harrison Shaw còn phải tạo ra một mệnh lệnh.

Đó là lí do bên cạnh việc đọc lời kịch, hắn còn hát bài đồng dao về con bọ rùa.

Spectre đã chú ý đến việc Harrison Shaw sở hữu dây thanh quản khác người.

Giọng nói là thứ mà bất cứ thiên tài thôi miên nào cũng cần biết cách điều khiển.

Harrison có thể dễ dàng điều chỉnh âm giọng của mình cao hoặc thấp, lên xuống khúc khuỷu hoặc ngang ngang êm tai.

Điều này tác động rất lớn tới tâm lý người nghe, khiến họ giận dữ hoặc dễ chịu, sợ hãi hoặc an tâm.

Khi đọc kịch để truyền ám thị về hành động, hắn dùng giọng lên xuống dồn dập, mang tiết tấu thúc ép và vội vã.

Nhưng khi gài mệnh lệnh, hắn lại dùng giọng dịu êm như ru ngủ, giã mềm tâm trí người nghe.

Lady-bird, lady-bird.

Harrison khi hát bài đồng dao kia đã nhả giọng như vậy.

Cố tình kéo dài để tạo ra hiện tượng gần âm.

Ladies and gentlemen.

Một người khi dính ám thị, chỉ cần mệnh lệnh vang lên là sẽ thực hiện hành động như một cái máy, bất kể mệnh lệnh đó có được phát ra bởi người tạo ám thị hay không.

Mệnh lệnh là lady-bird, hành động là mở khóa bằng chìa.

Đó là lí do ngay khi Robert Knox vừa nói Ladies and gentlemen, tất cả cai ngục đồng loạt mở khóa phòng giam.

Cửa hầm bị đóng kín, khách khứa và tù nhân bắt đầu hỗn loạn như một đàn ong vỡ tổ.

Hầm bê tông khép chặt khiến không khí không thể ùa vào, đống lửa cao quá đầu người lại đốt cháy oxy.

Người ta bắt đầu giẫm đạp, cấu xé lẫn nhau điên cuồng để giành giật từng hớp khí thở.

Căn hầm vốn rộng giờ chật chội tới mức hít thở cũng là việc khó khăn.

Harrison đã rời khỏi nhà giam tự lúc nào, lúc này đang đứng giữa sân khấu trải thảm nhung đen, lửa đỏ bập bùng sau lưng còn bóng tối đổ dài trước mặt.

Gương mặt hắn bị bóng tối khuất lấp, chỉ có đôi mắt màu lục là sáng rực lên một niềm vui thích tới điên dại.

Đó là khi Eleanor nhận ra, thế nào mới là cái ác sục sôi trong huyết quản ở hình thái nguyên bản nhất.

Harrison Shaw vươn tay nhấc lên chiếc violin đặt trên sân khấu, trong một khoảnh khắc, Eleanor thấy đầu óc choáng váng khi nhìn những vệt máu được vẽ trong lòng bàn tay hắn.

Một chữ GIẾT được vạch lên bởi máu tươi.

Harrison quay mặt về phía Eleanor, mỉm cười tới thanh thoát giữa điên cuồng hỗn loạn, mỉm cười tới rét lạnh giữa lửa cháy ngang tàn, hắn cất giọng.

Là thứ giọng chỉ có thể vọng tới từ tít tận trời cao hoặc sâu dưới lòng đất, hoặc Chúa giáng thế hoặc Satan vùng dậy.

"Các ngươi có muốn trông thấy thánh thần?"

Và hắn cúi đầu, đặt dây kéo lên bản Hallelujah Chorus.

Tiếng violin dịu dàng réo rắt trườn vào bầu không khí bị hun nóng hừng hực bởi nỗi hoảng loạn, trong một khoảnh khắc xoa dịu phần nào sự sợ hãi đang cào xé đám đông.

Thế nhưng bản sonata mới chỉ vừa đi hết phần chậm và chuẩn bị tiếp tục với phần nhanh [1] thì đột ngột bị ngắt phựt để chuyển sang một bản Rhapsody tiết tấu thúc ép dồn dập.

"Mau bịt tai lại!"

Spectre gào lên với Eleanor, hai bàn tay đang đưa lên áp chặt vào tai để thứ âm thanh kia không có cơ hội lọt vào.

Eleanor không rõ lí do vì sao gã lại yêu cầu cô bịt tai lại, nhưng xét hoàn cảnh lúc bấy giờ, đây rõ ràng không phải trò đùa, càng không phải là một lời cảnh cáo bâng quơ.

Và chẳng để hai người phải đợi lâu, những thứ vốn là không tưởng đã nhanh chóng thành sự thực.

Harrison Shaw đứng trên đài cao độc tấu violin, dáng vẻ cúi người kéo đàn giữa ánh lửa đỏ khiến hắn trông thoát tục như đang gánh trên mình sứ mệnh tạo nên nghệ thuật.

Hoặc không, có lẽ chính bản thân hắn đã là một loại nghệ thuật tinh tế thanh cao bậc nhất.

Phần chậm của bản Hallelujah Chorus đan xen với tiết tấu dồn dập tới vỡ tim của khúc Rhapsody, cứ thế gối đầu nối tiếp nhau lặp đi lặp lại nhiều lần, chẳng mấy chốc đã biến thành một liệu pháp thôi miên hiệu quả bậc nhất.

Trí não con người vốn hạn hẹp yếu đuối lại liên tục bị tác động bởi những giai điệu khi êm ái khi gấp rút, khi sâu lắng khi dồn dập, chẳng mấy chốc sẽ dẫn tới trạng thái mất thăng bằng.

Đây vốn là một liệu pháp thường được dùng trong thôi miên- tạo ra sự mất cân bằng trong bộ não để khiến những rào chắn tâm lý hạ xuống, đối tượng rơi vào tình trạng không kiểm soát được trí óc và làm theo những mệnh lệnh được giao.

Ban nãy những khách tham gia hội chợ lượn lờ ngoài lồng sắt trong khi bản Hallelujah Chorus được tấu trên sân khấu.

Rất nhiều kẻ đã đứng trước cửa phòng giam của Harrison.

Khi đó hắn ngồi ngay gần cửa, lòng bàn tay áp chặt lên những song sắt.

Và trong lòng bàn tay, lại có một chữ GIẾT được vạch bằng máu tươi.

Là một kẻ sở hữu biệt tài ám thị, không khó để hắn khiến ám thị GIẾT kia lọt vào đầu những kẻ lượn lờ trước cửa phòng giam.

Nếu như việc lồng ám thị vào lời kịch mà hắn áp dụng cho những tên cai ngục là ám thị gián tiếp, thì ám thị GIẾT dành cho những khách tham gia là ám thị trực tiếp.

Bọn chúng tiếp nhận ám thị GIẾT khi nghe bản Hallelujah Chorus.

Harrison bây giờ lại dùng bản Hallelujah Chorus kếp hợp với Rhapsody để tạo ra trạng thái mất thăng bằng.

Trong trạng thái bị thôi miên và nghe thấy bản nhạc đó, trong đầu bọn họ sẽ chỉ hiện lên duy nhất một hành động.

GIẾT.

Hàng chục rồi hàng trăm người đột ngột vùng lên giữa đám đông đang choáng váng vì sự mất cân bằng của não bộ.

Không có bất cứ loại vũ khí nào trong tay nhưng bọn chúng vẫn xông lên như những con thú mất kiểm soát.

Chúng được ban lệnh GIẾT, nhưng không có đối tượng cụ thể là ai, vậy thì chúng sẽ giết bất cứ thứ gì mà chúng vớ được.

Một viễn cảnh khiếp đảm nhanh chóng được vẽ lên dưới đường bút dẫn là những giai điệu ma quỷ phát ra từ cây Stradivarius mà Harrison đang cầm trên tay.

Đám đông bên dưới sân khấu bắt đầu đánh nhau, cắn xé, làm mọi cách để giết chết lẫn nhau.

Mùi máu chẳng mấy chốc đã dậy lên quyện với những tiếng gào khóc điên cuồng.

Dưới ánh lửa đỏ, khung cảnh hàng trăm người xông vào cào xé lẫn nhau hiện lên rõ ràng tới mức sững sờ.

Dưới sân khấu là thế, nhưng trên khán đài cao hai mét phủ thảm nhung đen, Harrison Shaw vẫn hơi cúi đầu, hai mắt khép hờ, môi hé nụ cười, say sưa trong những giai điệu mà mình tạo ra, hoặc chính là say sưa thưởng thức bầu không khí tanh tưởi chết chóc này.

Thế nào là một thiên tài âm nhạc?

Không phải khả năng sáng tác khi mới lên bốn tuổi, càng không phải những thứ sáo rỗng như kĩ năng thẩm âm hơn người.

Thiên tài âm nhạc là khi chỉ với một cây đàn mà có thể điều khiển cả một đám đông.

Kịch Shakespeare thay cho gươm, đàn violin thay cho kiếm; chẳng cần bất cứ chiến thuật quân sự nào cũng có thể khiến máu đổ xuống thành dòng.

Harrison Shaw đứng giữa lửa đỏ, tấu lên khúc hát của Chúa tái sinh [2].

Sân khấu tội ác này, chính hắn là kẻ dựng lên, là kẻ làm chủ và sẽ là kẻ kết thúc.

Buông tay thả cây đàn violin rơi khỏi khán đài, Harrison bật cười ngạo nghễ giữa muôn vàn lửa đỏ.

"Không phải tội phạm tâm thần trí tuệ cao, gọi ta là kẻ bạo chúa thanh tao hạng nhất."

Eleanor thấy âm thanh bập bùng phủ kín tai, chỉ có nụ cười man dại của Harrison Shaw là hiện ra thật rõ.

Cô vẫn túm chặt lấy khăn voan quấn quanh đầu.

Victor Shadow nói rằng khi thời điểm thích hợp tới mới được tháo khăn ra.

Cô không biết ý anh ta thích hợp ở đây là khi nào.

Cô chỉ biết, nếu ngay bây giờ mà không làm gì, anh ta sẽ thua cuộc còn cô thì chết.

Người góa phụ rời khỏi phòng giam, chen nhanh qua đám đông đang cào cấu lẫn nhau, tiến dần tới sân khấu trải thảm nhung mà Harrison đang đứng.

Hắn cụp mắt nhìn cô, mỉm cười.

"Tôi đã nói tôi là bản thể hoàn thiện của Victor Shadow."

Eleanor không quan tâm tới những gì hắn nói, chầm chậm đưa tay tháo xuống chiếc khăn voan quấn quanh đầu.

Mái tóc đỏ rực được xõa tung, rực cháy giữa căn hầm tối tăm và hòa lẫn với độ gắt của đống lửa đang cháy sau lưng Harrison.

"Tôi muốn gặp ngài, Bá-tước-Victor-Shadow."

[1] Cấu trúc của một bản sonata thường bao gồm 2-4 phần (movement), chủ yếu là 3.

Thông thường được chia theo: chậm-nhanh-chậm-nhanh.

[2] Hallelujah Chorus: là một bản giao hưởng được viết bởi George Frideric Handel.

Có truyền thuyết rằng Handel viết nên bản oratorio này từ tiếng đàn của các thiên thần.

Lời bản nhạc là sự mô tả về cuộc sống, cái chết và sự hồi sinh của Chúa.

[Chú thích cả chương]: trong chương này mình có sử dụng một số kiến thức liên quan tới ám thị và thôi miên như tạo ra ám thị và điều kiện để thực hiện ám thị, cũng như một liệu pháp được sử dụng trong thôi miên là liệu pháp làm mất cân bằng.

Để giải thích một cách ngắn gọn thì ám thị và thôi miên là một liệu pháp tâm lý mà người thực hiện sử dụng ánh mắt, cử chỉ, và đặc biệt là lời nói để tác động lên tâm lý đối phương, khiến họ rơi vào trạng thái mất kiểm soát về não bộ và làm theo lời của mình.

Cái này theo mình hiểu thôi nên không biết có đúng không, nhưng ám thị thì thiên về hướng gián tiếp (tức là khiến đối phương tiếp nhận nó theo kiểu vô tình), còn thôi miên thì mang tính trực tiếp hơn (trực tiếp đưa mệnh lệnh vào đầu).

Mình viết chương này có dựa trên tư liệu lược dịch từ trang web tamlyhoctoipham.com và cuốn sách Mysterious Powers của Colin Wilsons.

Trong đời thực thực ra cũng có những nhân vật sở hữu khả năng như Harrison Shaw, thậm chí còn dã man hơn nhiều.

Các cậu có thể google về phù thủy thôi miên Wolf G.

Messing để biết thêm chi tiết.
 
Cốt Cách Một Quý Ông
Những đứa con bị Chúa bỏ quên (3)


iii.

Hắn là bản thể hoàn thiện của Victor Shadow.

~~~

"Tôi muốn gặp ngài.

Bá-tước-Victor-Shadow."

Harrison đang đứng trên đài cao, cụp mắt ngạo nghễ nhìn Eleanor, gương mặt luôn hiển hiện một vẻ thản nhiên trong phút chốc co rút lại khi màu tóc đỏ rực kia đập mạnh vào thị giác.

Hắn trợn trừng hai mắt, siết chặt quai hàm tới lộ đường gân xanh, rít qua kẽ răng.

"Tại sao cô vẫn còn sống?"

Eleanor không hiểu hắn đang nói gì, nhưng cô tiếp tục lặp lại.

"Tôi muốn gặp ngài.

Bá.Tước.Victor.Shadow."

Cô gằn mạnh từng chữ, giọng nói cay nghiệt nhưng kiên quyết cất lên, xói mạnh vào lòng kiêu hãnh của bản thể đang ngủ yên trong cơ thể Victor Shadow, đồng thời cũng chạm tới nơi nhạy cảm nhất của nhân cách mang tên Harrison Shaw.

Đôi mắt màu lục vằn lên nhìn Eleanor.

Một cái nhìn độc địa và rực hận thù.

Nhưng Eleanor cảm nhận được trong vẻ kích động của hắn dường như còn có cả sự sợ hãi và trốn tránh.

Hắn ngồi thụp xuống đất, hai tay đưa lên ôm lấy đầu, liên tục lẩm bẩm gì đó mà cô nghe không rõ.

Red.

Red.

Hắn lặp lại cái tên ấy nhiều lần, với một thái độ thù hằn nhưng lại hoang mang cực độ.

Sau một thoáng suy nghĩ, Eleanor bước lên khán đài, bước tới gần Harrison.

Cô ngồi thụp xuống để gương mặt mình lọt vào tầm nhìn của đôi mắt lục sẫm.

Nhìn gã Bá tước luôn luôn thẳng lưng kiêu ngạo lúc này co rúm lại như một đứa trẻ, dẫu đây không thực sự là Victor Shadow nhưng vẫn khiến Eleanor có cảm giác vừa kì quái vừa chua xót.

Kiêu ngạo và khát máu tới vậy, cũng có lúc yếu đuối thế này.

Harrison đưa đôi mắt lục sẫm lên nhìn Eleanor, cô dường như trông thấy nó đang bị bao phủ bởi một màng nước.

"Red..."

Hắn nói, giọng gần như nghẹn lại vì những cảm xúc hỗn loạn đồng loạt xâm chiếm mọi tri giác.

Eleanor vòng tay qua cổ Harrison, để đầu gã tựa vào vai mình, trông thì như muốn xoa dịu sự hoang mang của hắn, nhưng trong đôi mắt lại đặc sệt vẻ phòng bị đầy căng thẳng.

Cô đang dùng mọi giác quan để cảm nhận những biến đổi tinh vi nhất của kẻ mà mình ôm trong vòng tay.

Harrison hơi tựa đầu lên vai Eleanor, tội nghiệp hệt một đứa trẻ vừa bị bắt nạt và phải ăn một trận đòn đau.

Thoáng ngập ngừng, Eleanor đưa tay vuốt khẽ mái tóc màu bạch kim như muốn trao cho hắn một niềm an ủi, nhưng tận sâu bên trong, những dây thần kinh cô đang căng lên đầy nhức nhối.

Harrison dụi sâu hơn vào hõm cổ Eleanor.

Và cô thấy mình gần như run lên vì lạnh khi thấy đôi vai của hắn- trong một thoáng ngắn ngủi khe khẽ rung bần bật từng hồi.

Điều này làm cô nhớ tới dáng vẻ của Harrison khi chờ đợi Robert Knox gào lên ladies and gentlemen để kích hoạt ám thị của hắn.

Đôi vai hắn rung lên không phải vì sợ.

Nó rung lên vì hắn đang cố kìm nén một nụ cười.

Khi suy nghĩ ấy xẹt qua đầu cũng là lúc Eleanor cảm nhận có một vật nhọn hoắt chạm vào cổ mình.

Thậm chí còn chẳng buồn suy nghĩ mà phản ứng theo bản năng, bàn tay cô lập tức vung lên chặt mạnh một đòn ngang gáy Harrison.

Nhát đánh khiến hắn bất tỉnh ngay tức khắc, đầu gục hẳn vào vai cô.

Cùng lúc đó một tiếng keng thanh thúy vang lên.

Eleanor quay lại nhìn, lòng rét run khi thấy một con dao găm nhọn hoắt vẫn còn hơi dính máu nằm trên đất.

Sau gáy cô truyền tới một cảm giác nhoi nhói như kim đâm.

Khi đưa tay chạm vào chỗ nhói thì thấy một chất lỏng nhơm nhớp phủ lấy những đầu ngón tay.

Nếu chỉ chậm hai giây nữa, hẳn Harrison đã cắm phập con dao kia xuyên qua gáy Eleanor.

Sự nghi hoặc của Eleanor Austen chưa bao giờ sai.

Harrison có thể là một thiên tài điên dại, nhưng tuyệt đối không ngờ nghệch.

Hắn trưng ra vẻ ngoài như một đứa trẻ, nhưng là một đứa trẻ ranh mãnh tới độ sẵn sàng giết chết hàng trăm người chỉ để thỏa mãn thú vui và cái tôi của nó.

Eleanor cúi người xốc thân hình của gã Bá tước lên, chật vật đỡ anh ta chui vào một phòng giam trống không và khép cửa lại, hạn chế tối đa việc tiếp xúc với những kẻ đang bị dính ám thị ở ngoài.

Cô đặt Victor nằm trên đất, còn mình thì ngồi bó gối ở một góc phòng giam.

Và cô cứ thế im lặng chờ đợi.

"Tôi đã chờ rất lâu rồi đấy, Harrison."

Victor khẽ mỉm cười, không quay lưng lại nhưng ngài biết Harrison Shaw đang tiến về phía ngài, tiến tới gần cái lồng sắt đặt trong pháo đài tội ác.

Ngài có thể cảm nhận sàn gỗ dưới chân đang rung lên, hay chính pháo đài Alleretos được dựng lên trong tâm tưởng cũng đang rung lên trước cơn chao đảo tâm trí của Harrison.

Bước chân Harrison dồn dập, có vẻ như hắn đang mất kiểm soát.

Victor vẫn không quay lại, lặng im dõi mắt nhìn ánh nắng tràn vào căn phòng gác mái qua ô thoáng chỉ nhỏ bằng lòng bàn tay.

Harrison Shaw đập mạnh hai tay vào những thanh sắt gỉ sét, rít lên qua từng kẽ răng.

"Tại sao cô ta lại ở đó?"

Lúc bấy giờ, Victor mới chầm chậm quay lại nhìn Harrison.

Đối diện với vẻ giận dữ của hắn, ngài Bá tước chỉ mỉm cười điềm nhiên.

"Vậy là ngươi quay trở lại căn phòng này vì nhìn thấy cô ta, đúng không?

Ngươi đang trốn tránh.

Cô gái đó đã khiến ngươi mất kiểm soát."

Harrison không đáp, chỉ nghiến răng ken két.

"Cô ấy là điểm yếu của ngươi, đúng không?"

Victor khẽ bật cười khi nói, đẩy cánh cửa của cái lồng sắt và bước ra ngoài.

Khoảnh khắc Victor bước ngang qua Harrison, hắn đột nhiên cười khanh khách.

"Victor, ngươi cũng biết cô ta.

Ngươi cũng biết đứa con hoang màu đỏ ấy."

Bước chân Victor khựng lại trong vài giây, rồi lại tiếp tục rảo đều.

"Ta không biết cô ấy."

Ngài trả lời, vươn tay đẩy mạnh Harrison vào trong cái lồng sắt.

Lần đổi chỗ này tới đây là kết thúc.

"Ngươi nói dối!"

Harrison gào lên, bàn tay liên tục đấm mạnh vào những song sắt han gỉ.

Những song sắt đó đang thít chặt lấy bản ngã của hắn, bóp nghẹt sự tự do và khao khát thống trị của hắn.

"Sao ngươi lại nghĩ ta nói dối?"

Victor đứng ngoài song sắt, dùng ánh mắt vui thích như thưởng thức một trò chơi để nhìn Harrison.

"Ta và ngươi cùng chia sẻ những kí ức, Victor.

Ngươi chỉ tạm thời không nhớ cô ta là ai.

Nhưng khi ngươi nhớ lại rồi, thì pháo đài của ngươi và cả thân xác của ngươi sẽ đều do ta thống trị."

Victor dường như không quan tâm tới những lời Harrison nói.

Ngài cúi người, dùng chiếc chìa khóa gỉ sét khóa cửa lồng sắt lại.

Mọi thứ đã trở về đúng với vị trí mà nó đáng phải vậy.

Victor là kẻ kiểm soát, và Harrison là con thú dữ buộc phải bị nhốt trong lồng.

"Kí ức cũng chỉ là kí ức thôi, Harrison.

Nếu nó đã là kí ức, vậy có lẽ ta nên chôn vùi nó xuống lòng đất, cùng với thân xác của cô gái mà ngươi gọi là Red kia."

Dứt lời, ngài khẽ nở nụ cười, nhìn khuôn mặt giống hệt mình ở bên kia song sắt.

"Lần này ngươi làm tốt lắm, Harrison.

Nhưng đừng bao giờ quên ta mới là kẻ nắm giữ chìa khóa của cái lồng."

Nói xong, không đợi Harrison đáp lại nửa lời, Victor bước nhanh ra khỏi căn phòng gác mái bám đầy bụi.

Trước khi cánh cửa gỗ mục khép lại, ngài đưa mắt nhìn kẻ đang ngồi trong lồng sắt, cất giọng thì thầm.

"Đừng bao giờ đi vượt quá giới hạn mà ta đặt ra cho ngươi.

Ngươi chỉ cần nhớ lấy điều đó là được."

Eleanor ngồi bó gối nhìn thân hình bất động của Victor Shadow nằm trên đất, trong đầu chầm chậm tua lại những sự kiện từ tuần trước, khi cô và Victor ngồi trên tàu tốc hành tới Edinburgh.

Ngày hôm đó trong không gian chật hẹp của khoang tàu, có lẽ là lần đầu tiên cô nhìn thấy sự hệ trọng tới như vậy trên gương mặt Victor Shadow.

Anh ta luôn là kẻ tự tin trong mỗi nước đi của mình, chỉ cần xuất quân là chắc chắn sẽ giành chiến thắng.

Nhưng đó có lẽ là lần duy nhất cô thấy được sự mờ mịt trong đôi mắt Victor.

Anh ta không biết mình sẽ thắng hay thua.

"Trong trường hợp xấu nhất, có lẽ tôi sẽ phải đi tới hạ sách cuối cùng.

Hoặc không, sẽ có kẻ ép tôi phải đưa ra hạ sách đó dù tôi không muốn."

Eleanor khi ấy không hiểu Victor Shadow muốn ám chỉ điều gì, nhưng tới giờ phút này thì cô đã hiểu.

Hạ sách đó chính là giải thoát cho Harrison Shaw và mượn năng lực thiên tài của hắn.

"Tới lúc đó, tôi sẽ phải đối mặt với một thứ mà tôi không thể khống chế.

Vậy nên chỉ khi thời điểm thích hợp thực sự đến, cô mới được lộ mái tóc giả này ra."

Tới tận giờ phút này, khi chứng kiến những gì đã qua và nhớ lại mọi điều Victor Shadow nói, lớp sương mù bao quanh con người thật của Victor chầm chậm tan ra trong tâm trí Eleanor.

Sau khi Victor bị nhốt thì Harrison mới xuất hiện, nhưng cuốn Đêm thứ mười hai đã có ở trong ngực áo hắn ta từ trước đó.

Cuốn sách đó được Victor mang theo bên mình.

Ngay từ ban đầu, anh ta đã dự tính tới trường hợp sẽ phải để Harrison thế chỗ mình, dùng cuốn sách kia và phô trương tài năng ám thị của hắn.

Và rồi gã Bá tước đó yêu cầu Eleanor hóa trang để diện mạo trông giống với cô gái tên Red chính là để kiểm soát sự thống trị của Harrison, không cho phép hắn đi quá xa.

Gã hậu duệ nhà Shadow thậm chí còn tính toán tới tất cả những điều này trước cả khi bước chân vào Hội Chợ.

Eleanor từng nghe ai đó nói về Victor Shadow, rằng trong một cuộc chơi anh ta luôn đi trước kẻ khác ít nhất là hai bước.

Nhưng giờ thì cô nhận ra, Victor không chỉ đi trước hai bước, ngay khi anh ta bước chân cuộc chơi, điều đó đồng nghĩa với việc anh ta đã nắm mọi thứ trong lòng bàn tay mình.

Không phải là kẻ tới đích đầu tiên, mà là kẻ nắm rõ và thiết lập toàn bộ cục diện.

Là kẻ bao quát, quan sát, và điều khiển.

Harrison nói hắn là bản thể hoàn thiện của Victor.

Eleanor nghĩ hắn nói không hề sai.

Victor thao túng kẻ khác bằng việc tác động vào điểm yếu.

Harrison trực tiếp điều khiển hành động của kẻ khác bằng khả năng ám thị không tưởng của mình.

Victor có thể là một kẻ tàn khốc và nhẫn tâm.

Harrison là hiện thân đầy đủ nhất của cái ác ở hình thái nguyên bản.

Victor thông thạo đàn và biết ngâm nga sonnet của Shakespeare.

Harrison dùng đàn và thơ để khiến máu tươi đổ xuống.

Trong trận chiến này, trận chiến giữa hai nhân cách nằm trong cùng một bản thể.

Harrison Shaw và Victor Shadow.

Harrison có thể là thiên tài, nhưng Victor lại là kẻ có thể thao túng các thiên tài.

Và lần này, gã Bá tước đó đã thao túng được một kẻ thiên tài nguy hiểm nhất.

Một kẻ điều khiển và một kẻ thao túng.

Eleanor đang tự hỏi, rốt cuộc trong hai người họ ai là kẻ ưu việt hơn?

Và một câu hỏi khác, câu hỏi khiến cô thoáng rùng mình khi nghĩ tới.

Điều gì sẽ xảy ra khi Victor và Harrison dung hợp thành một?

Thân hình đang bất động trên đất của Victor khẽ cựa quậy.

Ngay khi bắt được chuyển động ấy, Eleanor siết chặt lấy con dao khi nãy mà Harrison dùng để đâm cô, áp sát hông và hướng mũi dao nhọn về phía Victor, cẩn thận quan sát từng thay đổi của anh ta.

Trước tiên là đôi mắt màu lục đang khép chặt chầm chậm mở ra, bắt gặp ánh lửa hắt từ ngoài vào thì hơi nheo lại.

Một chân thoáng co lại, còn hai khuỷu tay thì chống xuống đất để đẩy thân mình ngồi dậy.

Kẻ đó lắc mạnh đầu để xua đi cảm giác choáng váng, đưa mắt nhìn xung quanh và dừng lại ở con dao Eleanor đang cầm trên tay.

"Xem ra Harrison đã làm gì cô nhỉ, tiểu thư Eleanor Austen?"

Gương mặt với những nét đẹp hoàng tộc lại khôi phục vẻ lạnh lẽo như được gọt nên từ đá.

Victor nhếch môi cười nhìn Eleanor, giọng nói trầm lạnh cất lên vừa như đùa cợt vừa mỉa mai.

Trái tim đang bị treo lên của Eleanor cuối cùng cũng rơi vào đúng vị trí của nó trong lồng ngực.

Cô đã nới lỏng con dao con dao một chút, nhưng không vội cất đi.

Dù nét mặt và giọng nói, cả ngữ điệu là của Victor Shadow; thế nhưng chưa thể chắc chắn, vì Harrison cũng là một kẻ đóng kịch rất giỏi.

Victor bỏ qua sự nghi hoặc trong mắt Eleanor, mở cửa song sắt và bước ra ngoài.

Ngài đưa mắt nhìn khung cảnh hỗn loạn đẫm máu của căn hầm.

Tàn lửa bay khắp nơi, vô số xác chết nằm la liệt còn những kẻ sống thì ngồi thẫn thờ, miệng và tay dính đầy máu nhưng gương mặt ngơ ngác như thể không biết mình vừa làm ra việc gì.

Hẳn đây chính là kết quả khi Harrison Shaw phô bày khả năng của hắn.

Sau một hồi quan sát, Victor quay trở lại phòng giam, đưa đôi mắt với cái nhìn tĩnh lặng nhìn Eleanor.

"Spectre đâu rồi?"

Quả tim mới trở về lồng ngực của Eleanor lại giật thót lên.

Cô vội vàng liếc qua Victor một khắc rồi lập tức chạy ra ngoài.

Cô cũng đưa mắt tìm, thậm chí còn sang cả những phòng giam khác, thế nhưng bóng dáng của gã chủ tiệm trà vẫn biệt tăm.

Cửa đang đóng, rốt cuộc gã đi đâu được?

Chẳng lẽ gã đã bị đám người kia ăn sống không còn một mẩu xương?

Nhưng Eleanor biết điều đó không có khả năng xảy ra.

Chính điều này khiến nỗi bất an trong cô dâng lên ngày một lớn.

Victor nhìn cô, gương mặt không biến động dù chỉ một cái cau mày, nhưng bàn tay nắm lấy những song sắt sớm đã siết chặt như muốn bóp vụn những thớ sắt trong tay.

"Cô có để ý không, Eleanor?

Tất cả những kẻ bị nhốt buổi tối hôm đó, đều là các cặp chủ nhân và vật tế.

Họ được nhốt trong cùng một phòng giam."

Như cô và Victor Shadow.

Eleanor hít vào một hơi thật sâu, đưa mắt nhìn Victor, vẻ kinh ngạc xen lẫn bồn chồn dâng lên trong hai con ngươi đen láy.

Có lẽ cô thấy giọng mình hơi run lên.

Vì giận hoặc vì sợ.

"Spectre không có vật tế.

Hắn ta chỉ có một mình."
 
Cốt Cách Một Quý Ông
Những đứa con bị Chúa bỏ quên (4)


iv.

Người đàn ông mang dáng hình của loài diều hâu.

~~~

Victor khẽ gật đầu đáp lại lời Eleanor, đảo mắt nhìn quanh như đang suy tính điều gì đó.

Kể từ lúc bước chân vào căn hầm này, ngài đã lờ mờ cảm nhận được nơi đây là một cái lồng nhốt cỡ đại.

Cả một nơi rộng hơn nửa dặm vuông mà chỉ có duy nhất một lối vào là cánh cửa luôn có 4 người canh gác.

Cánh cửa đó được đúc từ bê tông dày nửa mét.

Một khi đã đóng lại thì không thể mở ra được nữa.

Điều này đồng nghĩa với việc, nếu không tìm được lối ra khác, gần 100 kẻ đang có mặt trong hầm sẽ chết dần chết mòn mà không ai phát hiện.

Spectre đã thoát khỏi hầm tức vẫn còn lối đi bí mật, chỉ là không rõ rốt cuộc lối đi đó nằm ở chỗ nào.

Suy nghĩ đó khiến Victor đi quanh phòng giam, thử gõ vào những bức tường gạch và cả nền đất dưới chân, hi vọng có thể tìm thấy một lối ra được ngụy trang dưới những thớ gạch xám.

"Trong suốt một tuần bị nhốt Spectre có biểu hiện đáng ngờ nào không?"

Victor hỏi Eleanor, bàn tay mang găng da vẫn lần trên những bức tường xám.

"Hắn không làm gì cả.

Suốt một tuần hầu như chỉ nằm một chỗ."

"Chỉ nằm một chỗ?

Không hề di chuyển vị trí?"

"Gần như là vậy.

Hắn chỉ rời chỗ nằm của mình khi tới giờ được thả ra để làm những nhu cầu sinh hoạt cá nhân."

"Các tù nhân được thả ra thế nào?

Theo nhóm hay từng người một?"

"Bọn chúng che mắt tù nhân, là đi theo nhóm.

Những người cùng một phòng sẽ đi cùng nhau."

Đôi mày nâu nhạt khẽ cau lại một vẻ suy tư, đoạn Victor mở lời.

"Chúng ta thử tới phòng giam mà các người bị nhốt trước đó."

Eleanor là người đi trước dẫn đường.

Mặc dù các gian phòng giống hệt nằm san sát nhau nhưng không khó để cô nhớ chính xác vị trí của gian phòng mà mình đã bị nhốt.

Đó còn chưa kể cuốn Đêm thứ mười hai mà Harrison đọc vẫn còn vứt chỏng chơ trên đất, ngay trước cửa ngục.

Victor đẩy cánh cửa sắt bước vào, thận trọng đưa mắt quan sát xung quanh rồi hỏi.

"Spectre thường nằm ở đâu?"

"Góc tường phía trái."

Eleanor trỏ tay vào góc tường nơi suốt một tuần Spectre đều nằm lì ở đó.

Victor bước theo hướng tay trỏ của cô, nhưng mới chỉ được chừng mươi bước đột nhiên dừng khựng lại.

Ngài đưa tay khẽ đẩy Eleanor đứng lùi về phía sau, đôi mắt màu lục xoáy mạnh cái nhìn vào góc phòng tối mờ.

Trong cái im ắng của hầm ngục, không khó để nhận ra những tiếng lục đục phát ra nơi góc phòng; nhưng không phải từ bên trên, mà vọng ra từ bên dưới những viên gạch xám.

Ngay vị trí Eleanor vừa chỉ- nơi Spectre luôn ngồi trong một tuần bị giam- lúc này đang vang lên những chuỗi âm thanh khô khốc của vật cứng đập vào nền gạch.

Victor lùi về sau hai bước đồng thời đẩy Eleanor đứng sau lưng mình, dồn toàn bộ sự chú ý vào góc phòng đang phát ra tiếng động.

Âm thanh bí hiểm kia vang lên ngày một lớn và dồn dập, rồi thình lình viên đá xám ốp sàn nhà bị đẩy bật tung lên, lộ ra một khoảng trống hoác đủ để một người lớn chui vừa.

Hóa ra lối thoát khỏi căn hầm là một đường đi bí mật nằm sâu dưới lòng đất với cửa vào nằm ở chính nơi mà Spectre luôn ngồi.

Hắn không rời khỏi vị trí là bởi không muốn có kẻ khác phát hiện ra- mà ở đây chính là hai kẻ cùng phòng là Eleanor và Harrison Shaw.

Sau khi viên gạch bị bật tung thì tiếng động im bặt.

Một bàn tay dính đầy máu run rẩy thò lên từ khoảng trống mà viên gạch tạo nên, vươn ra bám lấy nền gạch xám.

Rồi sau đó tới tay còn lại của kẻ đó cũng thò lên, bấu chặt những ngón tay trên đất, lấy đó làm điểm tựa để nâng lên cả thân mình.

Ngay khi đầu kẻ kia lộ ra khỏi miệng hố, vẻ căng thẳng trên gương mặt Victor và Eleanor lập tức dịu xuống.

James Cooper nghiến chặt răng, dồn sức tới mức cả gương mặt chuyển sang màu trắng bệch để ngoi lên khỏi cái hố.

Sau một hồi chật vật, cuối cùng anh cũng đứng vững được trên mặt đất.

Gương mặt chất phác uể oải ngẩng lên nhìn ngài Bá tước và nở nụ cười, trong phút chốc dường như làm sáng bừng cả căn hầm tối đặc.

James bước về phía Victor, những bước chân thoáng run rẩy nhưng anh gồng mình để nó không quá xiêu vẹo.

Đôi mắt ngài Bá tước ánh lên một vẻ tán thưởng nhưng nhiều nhất vẫn là nghi ngờ.

Ngài luôn luôn như vậy.

Luôn đề phòng trong mọi trường hợp.

"Sao anh lại biết lối đi đó, James Cooper?"

Victor hỏi khi James bước tới gần ngài.

Lúc này khi anh chỉ còn đứng cách một sải tay, ngài mới nhận ra gương mặt James trắng bệch và uể oải như một tờ giấy vị vò nát.

"Trên bản đồ có vẽ, thưa...ngài."

James đáp lại với một nụ cười.

Nụ cười đó vẫn thật sáng bừng trên gương mặt nhợt nhạt của anh.

Nhưng giọng anh thì thều thào như người đang ốm bệnh.

"Trên bản đồ có vẽ?"

James không trả lời mà chỉ thò tay vào trong túi áo lôi ra một vật màu trắng đùng đục, mỏng và đàn hồi hơn da thú, vẫn còn thoảng mùi máu tanh.

Trên bề mặt trơn nhẵn của vật ấy là những đường xanh đỏ vằn vện đan cài vào nhau tạo ra một tấm bản đồ.

Bàn tay James Cooper run lẩy bẩy khi chìa vật đó về phía Victor.

Và có lẽ không chỉ bàn tay mà cả cơ thể anh đang run lên dữ dội.

Mồ hôi trên gương mặt anh đổ ra nhiều tới mức làm ướt sũng cả phần tóc mái lòa xòa trước trán.

Victor dường như khựng lại trong khoảnh khắc nhận lấy tấm bản đồ từ tay James.

Có lẽ trong suốt quãng thời gian quen biết gã hậu duệ nhà Shadow, chưa một lần nào Eleanor trông thấy anh ta sững sờ như thế.

Ngài Bá tước thậm chí còn không buồn nhìn tấm bản đồ.

Đôi đồng tử màu lục chú mục vào thân hình đang run rẩy của James Cooper, chậm rãi lần theo quãng đường mà ban nãy anh ta đi từ góc phòng tới chỗ ngài.

Trên nền đá xám và trong bóng tối của phòng giam, những vệt máu ươn ướt rải theo từng bước đi của James Cooper, thậm chí còn nhuộm đỏ cả hai bàn chân anh.

Hóa ra đó là lí do sắc mặt anh trắng bệch hệt một tờ giấy còn những bước đi thì chập choạng như đang giữa cơn say.

Bản đồ được xăm trên mình những kẻ dẫn đường.

James Cooper biết được lối đi bí mật ấy vì anh ta đã lột đi mảng da lưng để lấy tấm bản đồ.

Cả Victor và Eleanor đều nhanh chóng hiểu ra mọi vấn đề.

Hai kẻ vốn dĩ hiểm độc gần như nhau, coi mạng người chỉ như đá lót dưới chân; vậy mà trước sự thật ấy bỗng cảm thấy quá đỗi sững sờ.

Có lẽ bởi với những kẻ quá quen với chết chóc và sự hiểm ác, mỗi khi đứng trước sự hi sinh và lòng tốt sẽ luôn cảm thấy thật bẽ bàng.

James Cooper là một kẻ dẫn đường, mới chỉ nhận Victor làm chủ nhân chưa đầy một tháng.

Anh đã làm tròn nhiệm vụ dẫn đường như những kẻ khác.

Anh có thể cứ thế bỏ mặc sự sống của ngài.

Nhưng anh đã không làm vậy.

Anh muốn hoàn thành nhiệm vụ của mình tới tận cùng.

Là một kẻ dẫn đường trung thành dẫn dắt chủ nhân tới sự thật cuối cùng của Hội Chợ Phù Hoa.

James gần như không lưu tâm tới vẻ sững sờ kia.

Cơn đau cấu xé sau lưng và cảm giác rát đét khi lưng áo cọ vào những thớ thịt trần nói với anh rằng, anh không còn nhiều thời gian nữa.

"Ngài phải.. xoay ngược bản đồ."

Giọng nói thều thào của James đánh động vẻ thất thần trên gương mặt Victor, và ngài lập tức khôi phục lại vẻ nghiêm túc tới lạnh nhạt thường ngày.

Dùng tay xoay ngược lại tấm bản đồ, ngài nhìn chằm vào những đường ngang dọc hiện ra trên tấm da người.

Nếu như khi đi vào, dấu X màu đỏ ám chỉ căn phòng này là điểm kết thúc, thì khi xoay ngược bản đồ nó bỗng trở thành điểm bắt đầu.

Xoay chéo thêm một chút nữa, sẽ thấy lối vào của đường hầm và cả vị trí căn hầm đều được đánh dấu chéo màu đỏ, nằm hai bên và cân xứng với nhau.

Lấy đó là điểm mốc và gióng theo đường thắng xuống, ngay ở chỗ hai đường giao sau sẽ trùng với một dấu X khác.

Không hề được đánh dấu màu đỏ mà trùng với đường màu của những lối đi khác.

Nối hai dấu đỏ kia với vị trí dấu X bị giấu đi ấy sẽ ra một chữ V.

Hội Chợ Phù Hoa.

Vanity Fair.

Chữ V.

Trong chữ V kia, một nơi là điểm bắt đầu và một nơi là điểm kết thúc.

Cả hai đều đánh dấu bằng màu đỏ.

Chỉ còn một nơi bị giấu đi, là nơi trung tâm của chữ V lớn.

Đó mới chính là nơi phù hoa bắt đầu.

Victor nhìn như thôi miên vào tấm bản đồ, vẻ hứng thú bừng lên khi những chân tướng dần dần lộ ra trước mắt.

James Cooper trông thấy vẻ hào hứng tới nham hiểm trên gương mặt ngài Bá tước, trong lòng phút chốc cảm thấy thật nhẹ nhõm và sẵn sàng buông xuôi.

Anh nghĩ tấm da lưng của mình trao cho người này thật xứng đáng.

Trong đầu James chậm rãi lướt qua những kí ức thơ trẻ của rất nhiều năm trước đây, khi anh vẫn còn là đứa bé hạnh phúc có đầy đủ cả cha mẹ và một người em gái.

Cha của James cũng từng là một Kẻ Dẫn Đường giống như anh bây giờ.

Hội Chợ Phù Hoa không phải mới chỉ xuất hiện vài năm gần đây như đa số vẫn biết.

Nó đã tồn tại gần một trăm năm, phát triển theo năm tháng và là mầm mống cái ác được gieo xuống Edinburgh bởi những kẻ cai trị của Hội ngầm Mockingbird.

Đa số những kẻ sống dưới bóng tối của khu Old Town đều biết đến Mockingbird- tổ chức tội phạm lớn nhất nắm quyền thống trị một nửa địa bàn của Scotland.

Kể từ khi thành lập, hàng năm bọn chúng đều tổ chức Hội Chợ Phù Hoa vào dịp mùa xuân, thu hút rất nhiều nhà quý tộc và thương nhân giàu có tới dự bằng những trò điên rồ bệnh hoạn.

Bọn chúng thường làm những trò bẩn thỉu quái dị liên quan tới cơ thể người, thi thoảng là đầu độc khách khứa theo một kiểu u mê ngọt ngào bằng ma tuý cùng các chất gây nghiện.

Từng có tiền lệ một năm diễn ra Hội Chợ Phù Hoa, tất cả khách tham dự đều phát điên khi trở về vì trước đó đã dùng phải một loại chất gây nghiện chết người chế biến từ hoa độc.

Có Hội Chợ ắt phải sinh ra những Kẻ Dẫn Đường.

Số phận của họ cũng không lấy gì làm khá khẩm.

Kẻ may mắn thì sống sót để hưởng thụ tiền công kiếm được, kẻ đen đủi thì bỏ xác dưới hầm ngầm.

Thế nhưng năm nào số may mắn cũng ít hơn số đen đủi.

Bóng tối của khu South Bridge Vaults không buông tha bất cứ kẻ nào một khi cả gan dấn thân vào.

Năm cha của James Cooper trở về sau đêm Hội Chợ Phù Hoa, ông mất đi một cánh tay, hấp hối nằm trước cửa nhà sau khi được một người đàn ông lạ mặt cõng về.

Có lẽ suốt cả đời này James cũng không quên được người đàn ông 30 tuổi ấy.

Người mà anh không hề biết tên và cũng không gặp lại thêm một lần nào trong đời, nhưng đôi mắt màu lục và mái tóc bạch kim của ông ta đã vĩnh viễn im đậm trong tâm trí anh như tượng đài về một con người vĩ đại nhất.

Cha anh nói người đàn ông đó là chủ nhân của ông.

Ông đã hi sinh một cánh tay mình cho chiến thắng của người đó.

Một chiến thắng vang dội và rực rỡ nhất.

Người ấy đã đánh tan hang ổ nơi diễn ra hội chợ đẫm máu, giải thoát cho những tù nhân bị bắt bởi Hội Mockingbird, đồng thời mang lại sự sống cho rất nhiều kẻ dẫn đường, đưa họ thoát khỏi bóng tối nhớp nhúa của những đường hầm bí mật.

Cha anh gọi đó là người đầu tiên phá thủng được tấm lưới nhền nhện của Hội Chợ Phù Hoa.

Và bất ngờ hơn cả, ông ta còn là một người xuất thân từ tầng lớp quý tộc.

Một quý tộc lại sẵn lòng cõng cha anh trên lưng thoát khỏi đường hầm của Hội Chợ Phù Hoa, đưa ông về tới tận nhà rồi lại gửi đến một bác sĩ giỏi nhất chữa trị cho ông dù cho chỉ vài ngày sau đó, việc mất máu quá nhiều đã khiến ông không thể qua khỏi, lặng lẽ trút xuống hơi thở cuối cùng.

Một người có thân phận cao quý dường ấy lại đến đám tang vắng hắt nghèo túng của cha anh, chỉ đứng lặng hồi lâu trước bia mộ mà không nói lời nào.

Cho tới khi tất cả đã về hết, người đàn ông đó mới trở thành người rời đi cuối cùng.

James ngày hôm đó đã đưa tay quệt qua hàng nước mắt, nức nở nhìn người đàn ông đó rồi hỏi.

"Tên của ngài là gì?"

Vạt áo chùng đen của người đó bay phấp phới trong ánh chiều tà trông như đôi cánh loài diều hâu đang sải rộng.

Ông ta quay lại nhìn James mỉm cười, tháo chiếc mũ chóp cao đắt tiền đang đội xuống rồi đặt lên đầu anh, cất giọng hiền lành.

"Khi nhìn ta cháu nghĩ tới điều gì thì ta chính là điều đó."

Đầu óc James lúc ấy trống rỗng, chỉ bập bùng duy nhất hình ảnh chiếc áo choàng vừa rộng vừa dài của người đó bay phấp phới rồi mất hút sau những rặng thông mọc thẳng.

Nhìn người đàn ông đó, anh chỉ nghĩ tới diều hâu.

Loài chim có thể không được ưu ái ban cho những đặc điểm để trở thành loài thống trị bầu trời, nhưng lại là loài khôn ngoan và tham vọng bậc nhất, sẵn sàng dùng móng vuốt của mình để chống lại hàm răng của một con hổ dù biết cuộc đấu ấy sẽ là đánh cuộc bằng cả tính mạng.

James nhìn thấy tất cả những điều ấy trong đôi mắt màu lục thấu suốt của người đàn ông lạ mặt kia.

Đôi mắt ấy ám ảnh anh rất nhiều năm, người đàn ông ấy cũng gần như trở thành lí tưởng của anh.

Cho tới khi James gặp Victor Shadow.

Anh sững sờ nhận ra, đôi mắt ngài Bá tước, quả thật rất giống với người đàn ông đó.

Kể từ sau khi người đàn ông lạ mặt kia đánh tan Hội Chợ Phù Hoa, khoảng chừng 6 năm sau đó, Edinburgh yên bình và giảm hẳn những vụ mất tích, tỉ lệ hút thuốc phiện cũng được giảm đáng kể.

James nghe loáng thoáng đã có một hiệp định được dựng lên giữa các thành viên của một hội kín lấy tên Vogel.

Họ hợp tác nhưng đồng thời kìm nén sự bành trướng của nhau vô cùng khốc liệt.

Một thành viên trong hội Vogel đã tạo áp lực cho Mockingbird ở Edinburgh, đưa ra một vài chính sách về trật tự mới, kìm hãm và không cho phép Hội Chợ Phù Hoa được cử hành.

Thế nhưng sự yên bình ấy kéo dài chẳng được bao lâu.

Thế giới ngầm vài năm sau đó rung chuyển dữ dội bởi cái chết của 2 trong số 5 kẻ đứng đầu hội Vogel.

James Cooper nhận ra mầm mống cái ác vốn dĩ chưa bao giờ được diệt sạch.

Nó chỉ đơn giản là tạm ngừng vươn cao cành lá để cắm rễ sâu xuống đất.

Hội Chợ Phù Hoa trở lại khi James lên 16 tuổi.

Trong một trận náo loạn của những tên đầu sai thuộc Mockingbird, mẹ và em gái anh bị cưỡng hiếp trần trụi trước mặt anh rồi bị lôi xuống thành phố ngầm dưới chân cầu phía Nam.

Một năm sau, anh tìm thấy xác họ bị vứt tại bãi rác thành phố sau khi đêm Hội Chợ kết thúc.

Anh sững sờ nhìn cái xác trần truồng đầy vết tích bạo hành của hai người phụ nữ quan trọng cuộc đời mình, nằm lọt thỏm giữa đống rác rưởi bẩn thỉu.

Nơi khoé miệng họ có một dòng máu đỏ thẫm đã khô cứng.

Em gái và mẹ James đã cắn lưỡi tự tử vì không chịu đựng nổi sự nhục nhã mà bóng tối khiếp đảm của South Bridge Vaults mang lại.

Trái tim James Cooper trong lúc ấy tràn ngập hận thù cùng bất lực.

Anh nhớ tới bóng áo chùng đen của người đàn ông 6 năm trước xuất hiện trong đám tặng của cha anh.

Anh nhớ tới đôi mắt mang theo sự khôn ngoan và kiên định của loài diều hâu.

Và rồi anh khẩn thiết van cầu mong người ấy lại xuất hiện.

Xuất hiện để đập nát thành phố ngầm bẩn thỉu nhớp nhúa kia, để thiêu cháy những đêm Hội Chợ Phù Hoa truỵ lạc tới không còn tính người, để làm dịu đi nỗi đau giằng xé quả tim anh mỗi khi nhắm mắt lại và trong thấy mẹ cùng em gái mình nằm giữa bãi rác.

James đã trông thấy cái ác đục mòn thành phố Edinburgh.

Trông thấy Hội Chợ Phù Hoa rút cạn sự sống của người dân ngót gần 10 năm trời.

Cũng là từng ấy năm anh chờ đợi người đàn ông mặc áo chùng đen mang dáng hình của loài diều hâu năm xưa xuất hiện.

Xuất hiện để thực hiện mong mỏi tới tột cùng của anh.

Xoá bỏ sự thống trị của những kẻ thuộc hội Mockingbird.

Tới bây giờ, cuối cùng anh cũng đã đợi được rồi.
 
Cốt Cách Một Quý Ông
Những đứa con bị Chúa bỏ quên (5)


iv.

Đừng đặt niềm tin vào mối quan hệ mập mờ.

~~~

Máu trên lưng James chảy ra ngày một nhiều, lênh láng trên sàn nhà và nhuộm đỏ cả một vùng gạch xám.

Chút gắng gượng cuối cùng trong anh rốt cuộc cũng cạn kiệt.

Cả thân hình anh mềm nhũn đổ sập xuống đất, lồng ngực rít lên hấp hối chút hơi tàn.

Mắt anh mờ đi, gần như chẳng còn ý thức được bất cứ điều gì nữa.

Lập lờ giữa tỉnh và mê, sau rất nhiều những hồi tưởng về mẩu kí ức ứa máu, bóng hình Angelica lại chập chờn hiện lên với một nụ cười tươi rói như một mũi kim chọc thẳng vào trái tim anh.

Mí mắt anh khép hờ, môi lẩm bẩm gì đó mà chẳng ai nghe rõ.

Đôi mắt màu lục sẫm của ngài Bá tước dừng lại trên thân xác bê bết máu của James Cooper.

Và thậm chí chẳng cần tốn thời gian suy nghĩ hay cân nhắc, ngài khom lưng cúi mình, quỳ một gối xuống đất để đối diện với kẻ dẫn đường đang hấp hối.

Có lẽ giây phút đầu gối trái của Victor chạm xuống nền gạch xám, cả người còn tỉnh táo như Eleanor và kẻ sắp chết như James đều thấy sững sờ.

Trong mắt bọn họ và trong tiềm thức của toàn giới quý tộc thành Luân Đôn, Victor Shadow là ai?

Còn không phải quý ông hoàn hảo luôn được kẻ khác tụng ca, là thứ cao xa không thể với tới dù là cho những kẻ cùng thuộc về chủng tộc thanh cao bậc nhất như ngài?

Còn không phải kẻ nắm lấy mọi thứ trong tay, khoác lên vẻ ngoài sáng lòa nhưng bên trong mục nát, vẫn điềm nhiên đứng trên cao để làm chuẩn mực cho toàn xã hội?

Và còn không phải kẻ bạo chúa ngự trên đỉnh pháo đài được dựng lên từ tội ác, cứ thế thách thức và chờ đợi kẻ khác gào khóc dưới chân hoặc chật vật leo lên từng bậc thang để đối trọng với sự kiêu ngạo của bậc vua chúa?

Một kẻ như thế.

Một kẻ luôn ở vị thế từ trên cao để kẻ khác ngưỡng vọng.

Một kẻ được ban cho đặc quyền ra lệnh và chà đạp kẻ khác dưới chân.

Vậy mà lúc này lại đang uốn gối trước một kẻ làm thuê, một kẻ cận kề với cái chết, một kẻ cả đời luôn trong thân phận để người khác tự do giẫm đạp.

Ngày hôm đó trong bóng tối của căn hầm, mùi ẩm thấp trộn lẫn với mùi máu tanh.

Kẻ cao quý bậc nhất cúi mình trước kẻ mạt hạng bậc nhất.

Kẻ bạo chúa cúi mình trước kẻ dân nô.

Con quỷ đội lốt một quý ông cúi mình trước con người.

Cái ác cúi mình trước cái thiện.

Sự vô cảm đã bị khuất phục bởi sự hi sinh thuần tuý gần như vô điều kiện.

Đôi mắt đang lờ đờ của James Cooper bất chợt mở bừng ra, rốt cuộc sau một hồi kinh ngạc, anh cũng mỉm cười.

Bá tước Victor Shadow, quả thật rất giống với người đó.

Họ sinh ra trong tầng lớp quý tộc, nhưng họ đồng thời ghê tởm tầng lớp ấy.

James Cooper nhận ra điều ấy ở Victor khi anh trông thấy ngài vào cái đêm hôm ấy- cái đêm ngài ra lệnh thả chó cắn xé những tên quý tộc có mặt trong lâu đài Alleretos.

Ngài giết bọn chúng không phải để trả thù.

Ngài làm vậy vì ghê tởm bản chất của những kẻ tự xưng là cao quý ấy.

Hai bàn tay đeo găng da của Victor xốc vai James Cooper, ngài nói.

"Ngồi dậy và nói hết những gì anh muốn nói.

Dù thế nào cũng không được phép yếu hèn và dễ dàng cúi đầu, dù cho đó là cái chết."

Hai đầu gối run lẩy bẩy của James Cooper quỳ trên nền đá lạnh, đối diện với Victor.

Ngài Bá tước nói anh hãy trút hết những lời cuối cùng.

Anh có rất nhiều điều cần nói.

Nhưng anh chỉ im lặng.

Victor đối diện với sự câm lặng gắng gượng của James, sau một thoáng chờ đợi, nét mặt chợt giãn ra như nén một tiếng thở dài.

"Ta sẽ chuộc cô gái mà anh yêu khỏi quán rượu đó, mua cho cô ấy một cửa hiệu, hưởng lợi tức 200 bảng mỗi năm cho tới già.

Số tiền đó không phải để đáp lại sự hi sinh của anh.

Hãy coi như ta là một kẻ đi mua và anh là kẻ bán.

Ta mua tấm bản đồ từ da lưng này."

Lời nói ấy lùng bùng bên tai khiến sự câm lặng của James chợt nứt vỡ như một chiếc mặt nạ gốm.

Ngài Bá tước đã nói ra hết thảy những gì anh muốn nói.

Không chỉ hạ gối để nói chuyện với anh, ngài còn hạ thân phận mình để thấu hiểu anh.

Hoặc có lẽ, cả hai người họ chẳng ai phải vươn lên cũng chẳng ai phải cúi xuống để chạm tới người kia.

Bởi dù có cao quý hay mạt hạng thì bọn họ đều ngang bằng nhau ở một thứ duy nhất: lòng kiêu hãnh của một quý ông.

Sẽ chẳng một người đàn ông nào muốn cầu xin kẻ khác vàng bạc chỉ vì mình sắp chết.

Cũng như chẳng có một bề tôi nào muốn dùng sự hi sinh của bản thân để đổi lấy tiền tài.

Đó là lí do James Cooper nhất quyết không mở miệng nói ra tâm nguyện cuối cùng.

Victor đã thấu hiểu bởi chính ngài cũng mang một niềm kiêu hãnh như vậy.

Niềm kiêu hãnh không cho kẻ khác đo đạc sự tự tôn của bản thân bằng tiền bạc.

Victor Shadow đến tận cùng vẫn là một kẻ độc ác tinh tế tới vậy.

Kẻ khác dùng máu để dâng lên chiến thắng của ngài, và ngài thì dùng lòng kiêu hãnh của chính mình để thấu hiểu đối phương.

James Cooper lúc này mới lôi ra từ túi áo khoác một chuỗi ngọc trai trắng ngần.

Anh đã mua nó trước khi lên đường tới Luân Đôn gặp Victor Shadow, luôn luôn đặt nó trong ngực áo để nhắc nhở bản thân phải sống sót trở về và cầu hôn Angelica.

Nhưng có lẽ giờ không còn được nữa rồi.

Nắm lấy chuỗi ngọc trong lòng bàn tay dính máu, anh chìa về phía Victor Shadow.

Hai hốc mắt dù cơn đau hành xác vẫn ráo hoảnh, lúc này khi cổ họng cất lên tiếng thều thào- nước mắt trong suốt mới vòng quanh và chực chờ tràn ra.

"Xin ngài, hãy đưa cho người con gái tôi yêu chuỗi hạt nàng cần, và nói lại rằng tôi yêu nàng ấy."

Victor đã có thể cứ dùng bàn tay đeo găng của mình mà nhận lấy.

Nhưng ngài lại chậm rãi tháo nó ra, bàn tay trắng xanh sạch sẽ vươn tới gần bàn tay lấm bẩn đầy máu của James Cooper, nhận lấy chuỗi vòng.

Trong khoảnh khắc chuỗi ngọc đã nằm gọn trong tay Victor Shadow, James bất chợt dùng bàn tay nắm chặt lấy cổ tay ngài, đôi mắt đỏ ngầu nhìn ngài, anh dồn hết số sức lực còn lại để nói.

"Hãy giống như cha ngài, mang lại ánh sáng cho thành phố này."

Chút sức lực sau cùng dần dần rút khỏi thân xác mềm oặt của James.

Cả thân mình đang quỳ trên đất của anh đổ ập xuống sàn một lần nữa, nhưng lần này, đôi mắt lờ đờ rồi chầm chậm khép chặt.

Chỉ vài giây sau, lồng ngực căng cứng của anh dừng lại những nhịp phập phồng khó nhọc cuối cùng.

Cả phòng giam im lặng như tờ.

Đôi mắt màu lục sẫm của ngài Bá tước lưu lại trên tấm lưng đẫm máu của James vài giây, trong đầu chậm rãi ghi nhớ lại những lời trăn trối cuối cùng của kẻ dẫn đường.

James nhắc tới cha ngài, lại bảo ngài hãy mang lại ánh sáng cho thành phố ngầm dơ bẩn của khu Old Town.

Victor chợt thấy thật kinh ngạc lẫn mỉa mai.

Từ bao giờ một kẻ sinh ra trong bóng tối lại có quyền đem lại ánh sáng?

Những suy nghĩ và thắc mắc hỗn độn lướt qua đầu Victor, ngài chậm rãi đứng thẳng dậy, cất chuỗi vòng vào sâu trong áo, phủi bàn tay và đeo găng trở lại.

Ngay khi chiếc găng da bọc lấy những ngón tay trắng xanh, vẻ vô cảm và nghiêm nghị trên gương mặt lại được phục hiện như thể tất cả những cảm xúc trước đó của ngài chỉ là một cái mặt nạ vừa bị lột phắt đi.

Victor đột nhiên nhìn thẳng vào Eleanor, hỏi một cách vô cùng nghiêm túc.

"Cô có tin tôi không, tiểu thư Eleanor Austen?"

Eleanor không cảm thấy rung động hay bối rối trước câu hỏi đầy hàm ý đó.

Cô chỉ cảm nhận được sự nguy hiểm ngụy tạo bằng những lời lẽ đường mật khốn kiếp.

"Dĩ nhiên là không, thưa ngài."

Cô đáp lại bằng một vẻ mỉa mai.

Và quả nhiên, vẻ nghiêm túc trên gương mặt Victor Shadow lập tức biến mất.

Ngài thoáng nhếch môi, cao giọng buông một lời khen châm biếm.

"Rất tốt!"

Eleanor trả lời đúng như những gì Victor dự đoán và cũng đúng như những gì ngài muốn.

Ngài không cần một kẻ dễ dàng đặt niềm tin vào những mối quan hệ mập mờ không rõ ràng.

Ngài cần những kẻ đặt niềm tin vào một thứ khác, mãnh liệt hơn.

Ngài muốn thứ niềm tin xuất phát từ nỗi sợ về cái chết.

Nở một nụ cười xán lạn, ngài nói.

"Vậy để tôi nói rõ thế này, tiểu thư Austen.

Bây giờ tôi để cô lựa chọn.

Hoặc cô ở đây, không có bản đồ và tự tìm lối thoát khỏi căn hầm.

Cô có thể không thoát mà ở đây cho tới khi chết khô, nếu muốn.

Tóm lại cô sẽ được giải thoát khỏi tôi như cô vẫn ao ước, còn sự sống chết của cô thực ra tôi cũng không quan tâm lắm."

Sắc mặt Eleanor trong giây phút đó bỗng chốc xám xịt hẳn đi.

"Đó là lựa chọn thứ nhất.

Lựa chọn thứ hai đơn giản hơn nhiều.

Cô chỉ cần tin tôi là đủ."

Tin tôi để dấn thân vào cái chết.

Tên khốn này luôn dùng vẻ dửng dưng khi buông ra lời hăm dọa, và lấy lời lẽ hoa mỹ để lấp liếm đi những mối nguy hiểm chết người.

Eleanor có thể nghe thấy tiếng mình đang nghiến răng ken két, đôi mắt đen láy trừng lên như muốn ăn tươi nuốt sống vẻ thản nhiên trên mặt Victor Shadow.

"Tôi tin ngài."

"Lựa chọn sáng suốt đấy, tiểu thư Eleanor."

Một vẻ tươi cười đầy hiểm ác nở rộ trên gương mặt Victor.

Rồi cả hai người họ nhanh chân bước về phía lối vào bí mật nằm ở góc phòng.

Bỏ lại xác chết của James Cooper và bóng tối của căn hầm lại sau lưng, tiến về ánh sáng thực sự của Hội Chợ Phù Hoa.

Hay là dấn sâu hơn vào con đường của quỷ dữ.
 
Cốt Cách Một Quý Ông
Những bàn chân nóng (1)


i.

Hiểm nguy trui rèn nên một loại bản năng: khao khát sự sống và gan lỳ trước cái chết.

~~~

Eleanor cầm bản đồ và Victor soi đuốc, cứ thế cùng nhau đi xuyên qua bóng tối của đường hầm South Bridge Vaults.

Hơn một tuần bị giam trong tù cộng thêm những sự kiện choáng váng của buổi tối hôm nay, cơ thể Eleanor mỏi rã tới từng đốt xương nhưng đầu óc thì căng lên đầy bức bối.

Hơn một tuần sống trong bóng tối của căn hầm, chưa bao giờ cô cảm thấy thèm khát ánh sáng mặt trời như thế.

Cô chỉ ước mọi việc kết thúc thật nhanh để có thể vùi đầu trong một giấc ngủ.

Một giấc ngủ thật sâu, nhưng đừng có vĩnh hằng.

Men theo bản đồ, họ tiến vào con đường hẹp chỉ vừa một người đi.

Không gian im ắng tuyệt đối, chỉ có tiếng gót giày chạm xuống nền bê tông dội vào tường đá rồi hất ngược trở lại tai họ.

Eleanor chưa bao giờ có cảm giác yên tâm khi đi cùng Victor Shadow.

Chưa kể đến việc Victor luôn dấn vào những nơi cổ quái nguy hiểm, chính bản thân anh ta đã là một mối nguy hiểm chết người.

Nhưng riêng lần này Eleanor lại có dự cảm xấu hơn bao giờ hết.

"Tại sao ngài lại có hứng thú với mấy thứ phù phiếm mang màu sắc Gothic này?

Cất công tóm cổ hai tên trộm xác và tới tận đây.

Mục đích của ngài là gì vây?"

Eleanor lên tiếng phá tan sự im lặng giữa hai người.

Đây vốn là điều mà cô thắc mắc ngay từ khi nhận được bức thư của Victor Shadow.

Gã hậu duệ nhà Shadow tuyệt nhiên không phải loại anh hùng bóng đêm thích dọn dẹp rác rưởi tội ác của thành phố trong thầm lặng.

Việc anh ta cất công tới tận Edinburgh để bắt những kẻ trộm xác và lần tới hang ổ của chúng rõ ràng không phải để phục vụ cho mục tiêu thực thi công lý.

Hành động đó ẩn chứa một động cơ khác.

Thứ động cơ nhơ bẩn giấu sau lớp vỏ anh hùng.

Bước chân đều như máy của Victor trong giây lát hơi khựng lại rồi tiếp tục nhịp liên tục như cũ.

Ngưng lại chừng vài giây, ngài mới cất lời.

Giọng nói trầm nhưng lạnh âm âm giữa bóng tối của căn hầm, gọi về một vài kí ức kì bí xa xăm.

"Nguồn cơn của mọi việc bắt đầu từ 3 năm trước, khi tôi 17 tuổi, mới tiếp nhận tước vị được gần 1 năm.

Đó là một sự việc xảy ra ở đảo quốc Haiti.

Một nơi cách rất xa vương quốc Anh, và thậm chí- vượt ra khỏi những nhận thức của con người."

Haiti, năm 1825.

Trận bão dữ dội đêm qua đã khiến con tàu Sư Tư Trắng của Hải quân hoàng gia Anh hư hỏng nặng.

Ván ghép tàu bị sóng đánh tan tác trôi nổi khắp mặt biển Caribbean, hơn một trăm người trên tàu bao gồm cả thủy thủ và hai quan đại thần đều mất tích.

Nghĩ lại trận bão đêm qua, dù là những kẻ đã quen thuộc với biển cả cũng phải thấy rùng mình.

Suốt cả ngày hôm đó trời nắng chói chang và mặt biển thì yên tĩnh.

Buổi tối những tay thủy thủ vẫn còn ngồi trên mạn tàu vừa uống rượu vừa húp xì xụp nồi cháo cá, vậy mà tới nửa đêm khi tất cả đều đang ngủ say, bầu trời thình lình trút một cơn bão dữ dội như đang giáng xuống sự trừng phạt của Chúa Trời.

Mưa lớn kèm theo gió giật mạnh, một lát sau thì xuất hiện vòi rồng.

Mặt biển chao đảo rung lắc như thể ở dưới đáy đại dương có một con quái vật đang liều mình quẫy đạp.

Các thủy thủ dưới sự điều khiển của ngài Công tước Josh Sanders gồng mình kéo căng buồm chống chọi với cơn thịnh nộ của thiên nhiên.

Tiếng hò hét ban đầu vang lên đầy kiên cường và khí thế, nhưng rồi bão ngày một lớn và không hề có dấu hiệu sẽ ngừng trong ít nhất là một giờ đồng hồ.

Thiên nhiên khoan khoái thả tung cơn cuồng phong hiểm ác, còn sức người thì cứ dần dần bị rút cạn sau từng nhịp kéo căng dây thừng.

Chỉ khoảng hai giờ sau, mọi cố gắng của thủy thủ trên tàu đã bị nghiền nát bởi cơn bão điên cuồng, cứ thế để mặc cho vòi rồng há miệng nhai ngấu nghiến lấy Sư Tử Trắng- con tàu mang trên mình niềm kiêu hãnh của hoàng gia với nhiệm vụ đi chinh phục những vùng đất mới để mở rộng đế quốc.

Trước khi Sư Tử Trắng bị nuốt trọn vào lòng đại dương, ngài Josh Sanders đáng kính đã gắng sức chỉ huy đám thủy thủ điều chỉnh hướng đi của con tàu áp sát chuỗi đảo Antilles.

May mắn rằng khi chỉ còn cách đảo chưa đầy một hải lý thì con tàu mới vỡ toang.

Những tay thủy thủ giỏi lặn đã kịp thời nhảy xuống nước và hộ tống hai vị quan đại thần cập bờ.

Hai vị quan đại thần-không ai khác- chính là Công tước Josh Sanders và Bá tước Victor Shadow.

Vào buổi sáng hôm sau, như thông thường, mặt trời lại ló rạng rực rỡ tới chói lòa sau mỗi cơn giông.

21 người bao gồm cả thủy thủ và hai vị quan đại thần đã cập bờ an toàn tại đảo quốc Haiti- một trong những quốc gia thuộc đảo Hispaniola nằm trong Đại Antilles.

Lương thực và mọi thứ đều mất sạch sau trận bão đêm qua.

Họ chỉ còn cách đi sâu hơn vào trong đảo, tìm sự giúp đỡ và nghĩ cách liên lạc về đất liền.

Họ đã nghĩ rằng với danh phận là những thần tử đến từ Đế quốc Anh, hẳn họ sẽ được tiếp đãi nồng hậu và thậm chí nếu may mắn- còn có thể được cấp thuyền để trở lại đất liền.

Nhưng họ không biết rằng ở đảo quốc Haiti- nơi mà họ mới đặt chân lên, người da trắng bị coi như một chủng tộc tội đồ.

Những thủy thủ và hai quan đại thần tiến vào một ngôi làng nằm ngay sát vùng vịnh Caribbean.

Ngay khi họ xuyên qua đường rừng rậm và đi tới gần nơi dân cư tập trung đông đúc, cảnh tượng đập vào mắt họ khi ấy có lẽ đã trở thành thứ thuốc độc ngấm vào tim phổi khiến họ suốt đời không quên nổi.

Rải rác trên con đường mù mịt dưới khí trời khô hanh là những người da màu mình gầy trơ xương, vật vờ qua lại như những kẻ mất hồn.

Ngay khi trông thấy đoàn người, họ bắt đầu trừng mắt nhìn, xì xầm rồi hò hét với nhau bằng giọng địa phương.

Lát sau thì có một toán người sầm sập chạy đến với gậy gộc thô sơ trên tay.

Họ đều đang ở độ tuổi thanh niên, nhưng thần sắc gương mặt thì như những ông già 100 tuổi.

Da xanh bủng dính lấy bộ xương, đầu trọc tóc lơ thơ, di chuyển thì kém linh hoạt vì một chân luôn lê lết trên nền đất.

Từ cơ thể họ như tỏa ra thứ mùi ẩm mốc của đất cát và mùi mục ruỗng của cái chết.

Đám người đó tiến đến trói nghiến hơn 20 thần tử đến từ vương quốc Anh.

Ban đầu họ chống cự quyết liệt và ra sức giải thích, nhưng khi họ càng giải thích thì những người dân xứ Haiti càng phẫn nộ.

Chẳng mấy chốc, không chỉ có đám người kì quái kia mà rất nhiều dân thường cũng xông vào tấn công họ.

Một lát sau, tất cả đều buộc phải khuất phục và bị trói chặt bằng những cuộn dây thừng.

Cả ngày hôm đó bọn họ không được cho ăn, chỉ được cấp một chút nước để uống.

Buổi tối, tất cả bị đưa tới một ngôi nhà nằm sâu trong làng.

Nơi mà ở đó, những nỗi kinh hoàng trong cuộc đời họ thực sự bắt đầu.

Ngôi nhà được dựng lên bằng gỗ ọp ẹp, xung quanh treo rất nhiều những đầu động vật phơi khô, xác cóc chết, các loại thảo dược, và cả hình nhân thế mạng.

Giữa phòng đốt một đống lửa nhỏ, và ngồi xung quanh đống lửa là ba người đàn ông trung niên mặc áo rộng tay màu trắng, quấn trên đầu dải khăn cùng màu.

Họ xì xầm bằng thứ tiếng bản địa mà những người Anh không thể hiểu được.

Rồi đám người kì dị ban sáng tiến tới cởi trói cho những thủy thủ, nhưng vẫn ép họ quỳ xuống và khống chế tay ở sau lưng.

"Bokor."

Một trong những kẻ đang giữ lấy những người thủy thủ hướng về phía ba gã đàn ông ngồi bên đống lửa mà gọi.

Ba người lục đục đứng dậy, tiến về phía 21 gã đàn ông đến từ chủng tộc đáng bị nguyền rủa, trên tay mỗi người đều cầm một cái bát chứa loại bột màu đen kịt.

Dưới vành khăn trắng, họ trừng đôi mắt trắng dã lên nhìn những kẻ đang quỳ rạp trên đất, rồi chầm chậm khép mắt, lầm rầm những câu thần chú trong cổ họng.

Một lát sau thì ba pháp sư kia bắt đầu di chuyển quanh những tù nhân.

Tất cả dân làng và cả đám người cổ quái ban chiều sớm đã lùi ra xa tới tận cửa.

Sau một hồi lầm rầm, ba vị pháp sư dùng bàn tay bịt găng cẩn thận mà vốc một nắm bột màu đen từ trong cái bát, rắc lên đầu và bôi vào gan bàn chân của những kẻ tù nhân.

Khoảnh khắc chất độc màu đen ấy chạm vào da, 21 người đàn ông khỏe mạnh bỗng chốc có cảm giác toàn thân lạnh ngắt như thể linh hồn đã rời khỏi thân xác họ.

Cơ thể rã rời, mặt mũi trắng bệch, hơi thở yếu ớt tới mức không thể cảm nhận được mạch cổ chuyển động.

Rồi sau một hồi chìm trong trạng thái ấy, quả tim của họ ngừng đập.

Những thủy thủ và kể cả hai vị quan đại thần đều không rõ sau khoảnh khắc tim ngừng đập ấy bọn họ đã phải trải qua những gì, họ chỉ biết sau này khi tỉnh lại, thì họ đang nằm trong một cỗ quan tài đen đúa, lổm ngổm xung quanh là dòi bọ và những động vật sống sâu trong lòng đất.

Mặc dù chiếc quan tài đã được đào lên, nhưng họ dường như thấy vẩn quanh mũi mình là mùi đất ẩm mốc và mùi xác thịt mục ruỗng.

Sau khi được chôn cất và rồi lại đào lên, 21 tù nhân bị điệu trở lại ngôi nhà nơi mà họ bị ám lên chất độc màu đen và tưởng mình đã chết, một lần nữa đối diện với ba bokor của ngôi làng.

Lần này treo trước mặt họ là những chiếc lọ bằng thủy tinh có đậy nút kín, tổng cộng 21 lọ ứng với 21 tù nhân.

Những pháp sư kia tiếp tục đi quanh họ, lầm rầm khấn vái, rồi lại vốc lên một nắm bột- nhưng lần này là màu vàng ngà, rắc lên người họ.

Đám ngươi không có biểu hiện như lần trước.

Họ chỉ cảm thấy mệt mỏi rã rời, đầu óc tê dại như thể hồn trí đã trượt khỏi thân xác họ.

Sau đêm tối bí ẩn ấy, họ được thả ra, nhưng gần như chẳng ai còn có ý định chạy trốn nữa.

Tất cả bắt đầu sống chung với dân làng, lao động và làm tay sai cho ba thầy pháp được cả làng trọng vọng.

Họ luôn trong trạng thái mệt mỏi, xương cốt rã rời khiến việc đi lại cũng gặp khó khăn, và thậm chí cả cảm giác muốn ăn uống cũng dần biến mất.

Chẳng bao lâu sau, 21 thần tử đến từ đế quốc Anh- những người chỉ một tháng trước còn sở hữu thân hình cao lớn và nước da hồng hào- nay sắp trở thành những cái xác chết khô.

Da xanh bủng, gầy như quỷ đói, sắc mặt luôn trong trạng thái uể oải lờ đờ.

Hoàng gia Anh sau hơn nửa năm bặt tin tức từ con tàu Sư Tử Trắng đã sốt ruột phái đoàn thuyền khác đi tìm.

Bởi lẽ mạng sống của những thủy thủ kia có thể như cỏ rác, nhưng sự sống còn của hai quan đại thần là Công tước Josh Sanders và Bá tước Victor Shadow sẽ ảnh hưởng tới cả hoàng thất.

Sau rất nhiều ngày lênh đênh trên biển, đoàn thuyền tìm kiếm của Hải quân hoàng gia cuối cùng cũng có được kết quả.

Họ tìm thấy một vài mảnh vỡ của Sư Tử Trắng trôi dạt tới bờ vịnh Jamaica, và sau một vài ngày men theo hải lưu và tìm kiếm quanh đảo Hispaniola, cuối cùng đoàn tìm kiếm đã lần ra tung tích của hai vị quan đại thần và những thủy thủ còn lại.

Không khó để quân đội hoàng gia áp đảo những dân đen của ngôi làng ven vịnh.

Hai vị quan đại thần và những người thủy thủ được giải thoát, lên tàu và trở về đất liền trong tình trạng đã chết một nửa.

Gầy ốm xanh xao, thần trí không tỉnh táo, cử động chân tay lờ đờ, và đặc biệt là dáng đi khập khiễng với một chân lê lết trên nền đất.

"Sau khi trở lại đất liền, phải mất tới nửa năm sau tôi mới khôi phục lại được trạng thái bình thường.

Tuy nhiên thỉnh thoảng vẫn hay bị đau đầu mỗi khi có nhiều việc căng thẳng."

Victor Shadow kết thúc câu chuyện kì lạ về đảo quốc Haiti khi hai người ra khỏi con đường hẹp.

Phía trước mặt đã sớm thấy lửa sáng bập bùng.

Đó là chuyến đi nguy hiểm đầu tiên trong cuộc đời Victor, và nó giống như một cánh cửa mở ra rất nhiều những cuộc phiêu lưu chết người khác trong cuộc đời ngài.

Liên tục bị ném vào những hiểm nguy, gần tới bờ vực giữa sống và chết đủ nhiều để trui rèn nên thứ bản năng liều lĩnh tới không tưởng: hào hứng trước những mối nguy, khao khát sự sống và gan lỳ trước cái chết.

"Hóa ra ngài không phải kiểu xác thịt vàng ngọc chỉ để bày trong tủ kính nhỉ?"

Eleanor cất giọng mỉa mai, và Victor chỉ nhếch môi cười mà không đáp, để mặc cho người góa phụ suy diễn bất cứ điều gì cô muốn.

Thế nhưng câu chuyện kì quặc đó rõ ràng không phải điều Eleanor thực sự muốn nghe.

Thứ mà cô muốn nghe là động cơ đằng sau việc Victor bằng mọi giá phải vào Hội Chợ Phù Hoa bất kể việc đánh cược mạng sống bản thân vào nguy hiểm.

"Vụ việc đó có liên hệ thế nào với Hội Chợ Phù Hoa?"

Lần này thì cô hỏi thẳng vào vấn đề.

"Sau khi trở về từ Haiti, khoảng một tháng sau thì Công tước Josh Sanders mất tích.

Người ta nói ông ta đã lên một con thuyền lớn, thẳng hướng tới vùng biển Caribbean.

Và kể từ đó tới nay đã hơn 2 năm, Sanders vẫn biệt tích.

Thế nhưng hàng tuần vẫn luôn có thư của ông ta gửi về cho nhà vua, nội dung chủ yếu là trao đổi về tình hình triều chính.

Vậy nên dù không xuất hiện, Josh Sanders vẫn được xem như một trong những đại thần đứng đầu."

Giờ thì Eleanor đã phần nào hiểu được lí do Victor Shadow muốn vào Hội Chợ Phù Hoa.

Khi ở Haiti, trước thứ bùa phép của các bokor, bọn họ đã từng chết đi, bị chôn cất và rồi lại sống lại.

Lời đồn về ma ca rồng ở Edinburgh xuất hiện từ những xác chết mất tích mà thủ phạm là những kẻ trộm xác để bán lại cho những nhà khoa học.

Thế nhưng chính hai kẻ trộm mà Victor bắt được đã nói rằng, đó chỉ là bán lẻ.

Vậy một số lượng lớn xác chết mất tích, liệu có phải chỉ dừng ở việc bán lại cho trường đại học để phục vụ nghiên cứu?

Nhưng thứ mà Victor Shadow lưu tâm không phải việc những xác chết đó được dùng vào việc gì, thứ mà anh ta quan tâm là: ai là người sử dụng những xác chết đó?

Josh Sanders trở về từ cõi chết rồi lại ngược trở lại Haiti- nơi bắt đầu những nỗi kinh hoàng mà ông ta chưa thể lí giải; biệt tích tới nay nhưng vẫn trao đổi với nhà vua qua thư từ nên vị thế gần như không hề suy giảm.

Sự việc lúc này đã móc nối tới nội các triều đình.

Victor Shadow đang có tham vọng thâu tóm quyền lực trong triều đồng thời mở rộng địa bàn trong thế giới ngầm.

Muốn thế ắt phải trừ khử những quan đại thần nắm quyền đe dọa tới anh ta.

Josh Sanders mất tích và làm việc qua thư từ.

Đồng nghĩa với việc Victor ở ngoài sáng còn ông ta trong tối.

Quan đại thần trong triều nhìn qua thì như đang cống hiến cho nhà vua, thực chất lại là một cuộc chiến ngầm trừ khử lẫn nhau để thâu tóm quyền lực.

Trong một trận chiến như thế, sẽ rất nguy hiểm khi đối phương lẩn trốn còn mọi động thái của bản thân đều phô bày ngoài ánh sáng.

Chẳng trách Victor Shadow lập tức tóm lấy manh mối về vụ trộm xác, dù liên hệ giữa nó và Josh Sanders rất mong manh.

Ngài Bá tước muốn khử Josh Sanders càng sớm càng tốt.

Victor vẫn bước về phía trước, gót giày gõ đều trên nền đất lạnh.

Giọng nói của ngài cất lên, trầm thấp tưởng như hòa cùng nhịp âm thầm của bóng tối.

"Josh Sanders trở lại Haiti và mất tích chừng ấy năm.

Tôi vẫn luôn đặt ra một câu hỏi, phải chăng ông ta đã bị thu hút bởi thuật hồi sinh người chết của những tộc người ở Haiti và đang tự mình tìm câu trả lời sau thứ quyền năng bí ẩn ấy?

Những vụ đào mộ và xác chết biến mất, liệu có khả năng bên cạnh việc sử dụng cho nghiên cứu khoa học, chúng còn được sử dụng cho việc thử nghiệm thứ ma thuật bóng tối là hồi sinh người chết?"
 
Cốt Cách Một Quý Ông
Những bàn chân nóng (2)


ii.

Ai đẽo nên những con búp bê?

~~~

Riêng trong ngày hôm nay đã có tới hơn mười người tìm đến trụ sở cảnh sát của Edinburgh, với trên tay là những con búp bê bằng gỗ trong hình thù gớm ghiếc.

Tất cả đều mô phỏng hình dáng của một con người.

Họ nói rằng nếu như cảnh sát không sớm vào cuộc, công viên Hollyrood sớm sẽ hóa thành một nơi trưng bày búp bê ma.

Ngay lúc này, những con búp bê như thế đang được rải đầy nhóc trong từng lối đi bụi cỏ của khu công viên hoàng gia nổi tiếng.

Sherrinford khi ấy cũng đang có mặt ở Edinburgh.

Hay nói chính xác hơn, anh có mặt ở chính trụ sở cảnh sát và chứng kiến người dân tìm đến rồi ném vào mặt thanh tra của sở đám búp bê kia kèm theo nỗi hoang mang của họ.

Con người luôn dễ bị dọa dẫm bởi những thứ không đâu.

Và hiệu ứng đám đông thì luôn thực đáng sợ.

Chỉ bằng vài con búp bê gỗ, kẻ đứng sau trò này đã thành công trong việc trêu đùa cả thành Edinburgh.

Bằng chứng là người dân đã kéo đến chật kín công viên Hollyrood khi Sherrinford tới hiện trường điều tra.

Thậm chí còn không thiếu những tay săn ảnh và cánh nhà báo.

Sherrinford trông thấy một vài kẻ làm việc cho tờ Times.

Anh đã nhẵn mặt với chúng qua hàng chục vụ án.

Viên thanh tra của Scotland Yard nhanh chóng lách qua đám đông đứng chật kín cả những con đường lát đá.

Đôi mắt màu lam lướt nhanh qua những con búp bê nằm trơ trọi trên đất, rồi anh dò dẫm trên từng vuông cỏ, lùng sục trong từng bụi cây, say mê và tập trung như thể những tạp âm xung quanh không hề tồn tại.

Trong tầm nhìn và trong nhận thức của anh lúc này, chỉ tồn tại một thứ duy nhất là hình thù của những con búp bê gỗ.

"Huy động lực lượng tập trung tất cả búp bê lại cho tôi."

Sherrinford nói trong khi chui rúc vào một bụi lý gai.

Anh ra lệnh mà quên mất mình không ở London mà đang làm việc với đội của Scotland.

Mấy viên cảnh sát trợn mắt nhìn anh, có vẻ vừa kinh ngạc vừa bực dọc trước điệu sẵng giọng ra lệnh của Sherrinford.

Sự im lặng nói với Sherrinford Doyle rằng anh đang quá phận, nên anh khẽ hắng giọng.

"Chúng ta nên tập trung tất cả búp bê lại.

Tôi nhìn ra chúng có một vài điểm đáng ngờ."

Chừng hơn một tiếng sau, tất cả búp bê được tập trung lại một chỗ, xếp lên thành một đống cao tới nửa người.

Dân chúng hiếu kì xúm đầu xem rồi bàn tán xôn xao.

Sherrinford chẳng nói chẳng rằng phăm phăm tiến tới gần đống búp bê, sau một hồi bới móc thì lôi ra đúng 17 con búp bê có hình thù hoàn toàn khác nhau.

Anh xếp chúng ngay ngắn trên đất, hơi cau mày khi đánh giá.

"Số lượng búp bê phải lên tới hàng nghìn con, nhưng chúng chỉ phỏng theo hình dáng của 17 con này."

Những tiếng ồ thán phục vang lên khe khẽ.

"Nếu chỉ muốn đùa nghịch và hăm dọa, việc tạo hình tới 17 con búp bê khác nhau rõ ràng là một việc vô nghĩa.

Tôi nghĩ số 17 này mang một ẩn nghĩa nào đó.

À không, không phải số 17, mà là hình dáng của 17 con búp bê này mới mang ẩn nghĩa."

Đôi mắt màu lam của viên thanh tra nhìn như muốn xuyên thủng thớ gỗ sồi để lôi ra những thứ mà 17 con búp bê thật sự cất giấu.

Những con búp bê này không hề xinh đẹp- dĩ nhiên, nếu không muốn nói là quá xấu.

17 con búp bê mô phỏng 17 hình người, trai gái ở độ tuổi khác nhau.

Mỗi con lại được mặc vào một bộ quần áo riêng biệt.

Sherrinford vươn tay nhấc lên con búp bê khắc theo hình dáng một cô gái trẻ tuổi tóc màu nâu vàng.

Bỗng nhiên có tiếng kêu khe khẽ vọng ra từ đám đông, mang vẻ nghi ngờ lẫn thảng thốt.

"Là Mary!?"

Đôi tai của Sherrinford rất nhanh đã bắt được tiếng nói ấy.

Anh quay đầu nhìn cô gái trẻ đang rẽ đám đông tiến về phía mình.

Nhịp bước của đôi giày cao gót vội vàng và hoảng sợ.

Cô gái trẻ có vẻ hơi kích động.

Ban đầu cô định giật con búp bê trên tay Sherrinford nhưng kịp thời kìm lại khi trông thấy cái nhìn chòng chọc của đám đông.

Cô hắng giọng và lùi về sau, giọng nói dù đã cố gắng ghìm giữ nhưng vẫn không thể che đi vẻ run rẩy.

"Tôi là Janet Brown, hiện đang sống ở khu Old Town.

Ngài cho thể cho phép tôi xem con búp bê này được không, thưa ngài thanh tra?"

"Dĩ nhiên rồi, thưa cô."

Sherrinford chìa cho cô gái trẻ con búp bê gỗ.

Anh linh cảm rằng cô gái này biết thứ gì đó.

Thứ sẽ trở thành mấu chốt của vụ án này.

Cô gái xăm soi con búp bê một cách cẩn trọng.

Ban đầu đôi mắt cô mở lớn, Sherrinford có thể trông thấy mi mắt của cô hơi run lên.

Rồi cô vội vàng dúi lại con búp bê vào tay người thanh tra, hấp tấp như thể muốn tống khứ nó đi ngay lập tức trước khi điềm xui kéo đến và ám vào người.

"Con búp bê này có gì đặc biệt với cô sao, cô Brown?"

"Tôi không rõ, thưa ngài.

Nhưng nhìn nó thực sự rất giống một người quen của tôi.

Ý tôi là con búp bê này như thể được khắc theo hình dáng của bạn tôi vậy.

Tôi không chắc, thưa ngài.

Có lẽ chỉ là trùng hợp thôi.

Dù sao Mary cũng sở hữu một vẻ ngoài khá phổ thông."

"Có thể cho tôi biết thêm về bạn của cô không?

Hoặc, cô biết đấy, nếu có ảnh của cô ấy thì càng tốt."

"Cô ấy tên Mary.

Mary Patterson.

Chúng tôi quen biết nhau đã 5 năm nay rồi.

Còn về ảnh thì tôi nghĩ tôi có giữ một tấm ở trong túi."

Cô gái tên Janet Brown chìa về phía Sherrinford một bức ảnh đen trắng.

Bức ảnh chụp cô đứng cạnh một cô gái khác, có vóc người hơi đậm, tóc màu nâu vàng, gương mặt đầy đặn và một đôi mắt hơi xếch.

Cô gái đứng cạnh Janet ở trong tấm ảnh quả nhiên có những đường nét rất giống với con búp bê gỗ mà Sherrinford cầm trên tay.

Người thanh tra có thể cảm nhận được mạch máu dưới da đang sôi lên ùng ục.

Anh có cảm giác sự thật mình sắp được tiếp cận không chỉ đơn giản là trò đùa về những con búp bê gỗ.

"Bạn cô, Mary Patterson hiện giờ đang ở đâu, cô Brown?"

Giọng Janet đột nhiên trở nên nghẹn ngào.

Cô cầm lại bức ảnh nhét cẩn thận vào trong túi, đoạn đáp trả.

"Cô ấy mất tích đã một tháng nay rồi, thưa ngài."

"Cô ấy mất tích rồi?

Cụ thể sự việc thế nào?"

"Cách đây khoảng một tháng, ngày hôm đó tôi và Mary đang dạo chơi trên phố, trời lúc ấy cũng hơi tối rồi.

Chúng tôi gặp hai người đàn ông lạ mặt, họ tiếp cận bắt chuyện và ngỏ ý mời chúng tôi về nhà ăn tối.

Ngài biết đấy, mặc dù nói ra những lời vô cùng dễ nghe và tử tế, nhưng khi nhìn vào gương mặt nanh ác của hai kẻ đó, tôi đã biết chúng không phải loại người lương thiện.

Tôi từ chối không đi về nhà hai gã đàn ông, nhưng Mary- cô ấy vẫn luôn ham vui và nhẹ dạ, thì lại lập tức bằng lòng.

Kể từ hôm đó, cô ấy không còn trở về nhà nữa."

"Vậy cô có báo cho gia đình cô ấy không?"

"Tôi không thể, thưa ngài.

Tôi không thể.

Cha của Mary là một người đàn ông nghiêm khắc, gia trưởng và cực kỳ cổ hủ.

Ông ấy thà tin rằng Mary đã chết, còn hơn là biết rằng cô ấy bỏ đi theo hai gã đàn ông rồi không trở về nhà."

Sherrinford hơi xiết con búp bê gỗ trong lòng bàn tay.

Đoạn anh quay sang những thanh tra còn lại, nói.

"Tôi nghĩ chúng ta cần lục lại tất cả hồ sơ các vụ mất tích trong nửa năm gần đây.

Phác lại chân dung của 17 con búp bê này và dán khắp thành phố, mong rằng sẽ có ai đó nhận ra người nhà của họ- giống như cô Janet Brown đây."

Nói xong, anh quay sang Janet.

"Cảm ơn những thông tin mà cô cung cấp, cô Brown.

Cô vừa đóng góp cho màn vạch trần một âm mưu thế kỷ.

Và tôi sẽ cảm thấy rất biết ơn nếu cô có thể phác họa lại chân dung của hai gã đàn ông đó."

"Dĩ nhiên, thưa ngài.

Tôi nghĩ hai kẻ đó sống ở khu dân cư dưới gầm cầu South Bridge Vaults.

Khu phố mà hôm đó tôi và Mary đi dạo ở ngay gần đó.

Sau khi Mary đồng ý, tôi thấy họ đi về hướng này."

"Rất tốt.

Vậy thì cô sẽ về Sở và phác lại chân dung của chúng, nếu cô không phiền."

"Tôi không phiền chút nào, thưa ngài.

Còn một việc nữa, tôi không biết có đóng góp gì cho vụ án không..."

Janet nói một cách ngập ngừng, mắt liếc nhìn con búp bê gỗ trong tay Sherrinford.

"Nhưng trong lần cuối cùng tôi gặp Mary, tức là vào buổi tối hôm đó, cô ấy mặc bộ váy giống hệt con búp bê này."

Quan tài dưới đất mà xác trên cây

Lướt trên cỏ úa nhìn bia hỏi rằng.

Gió thổi hướng Nam hay Bắc?

Lấy tay hay lấy mắt?

Không không, tôi chỉ muốn lấy linh hồn.

Burke ngồi tựa vào quầy tính tiền, lẩm nhẩm bài đồng dao với một vẻ thích thú quái dị nở trên khóe miệng.

Hare thấy thế thì ngẩng đầu khỏi bàn tính, gằn giọng quát.

"Im mồm đi, sao mày lúc nào cũng lảm nhảm cái bài hát quái đản đó thế?"

"Mày không thấy nó rất vui à?

Nó làm tao nhớ tới những ngày mình đi trộm xác.

Haha.

Bọn nó còn đồn đại là do ma cà rồng."

Burke đáp lại lời gã bạn bằng một vẻ hồn nhiên hơi ngờ nghệch, mắt nhìn vào đám đông mọi rợ đang đi lại trong quán trọ của nhà Hare.

Cũng đã gần một tháng rồi hai gã không đi trộm xác.

Và có lẽ gã sẽ không bao giờ đi trộm xác nữa.

Kể từ sau sự việc lần đó.

Burke dụi đầu thuốc lá vào cạnh bàn, nheo mắt nhìn Hare.

"Thằng quý tộc đó không biết ra sao rồi nhỉ?"

Những ngón tay thoăn thoắt trên bàn tính của Hare bỗng khựng lại.

Gã không ngẩng đầu lên, nhưng đôi môi thâm xì vì thuốc phiện của gã nhếch một nụ cười hiểm ác.

"Có khi chết mất xác trong Hội Chợ Phù Hoa rồi.

Lão Robert Knox muốn bẫy nó mà.

Còn nó thì lại nghĩ rằng nó là kẻ nắm được thóp.

Vẻ ngoài và túi tiền thường tỉ lệ nghịch với trí não, mày biết đấy."

Hare đáp lại Burke với một thái độ dạy đời.

Burke im lặng, hơi khép mắt tận hưởng nốt những ngụm khói thuốc còn đọng lại trong cổ họng.

Những kẻ từng rơi vào lưới nhền nhện của Hội Chợ Phù Hoa được chia làm hai kiểu, hoặc là sẽ sa bẫy và bị nuốt trọn, hoặc sẽ đủ sức mạnh để dùng vuốt mà phá tan cả lưới.

Burke và Hare đã từng nghe đồn và chứng kiến ngót nghét 30 lần diễn ra Hội Chợ Phù Hoa, và trong 30 lần ấy, chỉ có duy nhất một kẻ rơi vào mà phá tan được lưới.

Sau buổi tối hôm đó, thi thoảng gã vẫn hay nghĩ về tên quý tộc Luân Đôn kia.

Nhớ tới ánh mắt sắc lạnh và nụ cười nham hiểm của hắn.

Kẻ đó gợi gã nhớ về một gương mặt đã từng gặp trước kia.

Kẻ đã ghi tên vào lịch sử của các phiên chợ phù hoa ảo ảnh.

Dòng suy nghĩ vô định của Burke thình lình bị cắt ngang bởi tiếng đẩy cửa hơi thô bạo.

Một gã đàn ông trông cục mịch mang theo gió và bóng đêm tiến vào.

Hắn ta có vóc người gầy gò, da ngăm đen kiểu dân lao động, râu ria xồm xoàm cộng thêm chiếc mũ rách kéo xụp xuống khiến gương mặt gần như bị che khuất.

Hắn đi tới quầy tính tiền, vừa đi vừa gập người ho sù sụ, dằn lên mặt quầy mấy đồng tiền nhàu nát.

"Tôi muốn thuê một căn phòng, kèm thêm cả bữa tối nữa."

Hare ngẩng lên nhìn người khách mới tiến vào, chẳng hề khó chịu với sự cộc cằn và vẻ ngoài bẩn thỉu kia, vì đó là những thứ gã đã quá quen thuộc.

Những vị khách vào nhà trọ này đều như vậy.

Nhưng từ khóe mắt gã chợt lóe lên một tia ranh mãnh khi trông thấy vị khách kia chốc chốc lại gập người ho.

"Ngài không sao chứ?"

Người khách cố kìm xuống cơn ho, đáp.

"Không có gì, chỉ là bệnh lao mãn tính thôi.

Tôi cũng chẳng buồn bận tâm nữa.

Tử thần có thể đến cướp cái mạng còm này bất cứ lúc nào."

Hare nheo mắt nhìn vẻ ốm yếu của người khách, trong một thoáng gã liếc sang nhìn Burke và bắt gặp tên bạn cũng đang nhìn người khách kia bằng ánh mắt của một con sói rình mồi.

Gã kín đáo nởnụ cười, vơ lấy mớ tiền lẻ rồi đếm, đoạn hất cằm nhìn bà vợ- người phụ nữ đang cặm cụi dọn bàn cho khách cách đó không xa.

"Đưa anh ta lên căn phòng ở cuối dãy tầng hai."

Người phụ nữ nghe thấy thế liền giật nảy mình; ánh mắt tràn ngập một vẻ tội lỗi, ghê tởm và hoảng loạn không thể lí giải.

Sau vài giây đứng thuỗn đơ không buồn phản ứng, cuối cùng dưới cái nhìn như muốn đốt cháy đối phương của Hare, cô đành cúi đầu đi về phía người khách, lí nhí bảo ông ta đi theo mình.

Chẳng mấy chốc bóng dáng của cả hai đã khuất sau chân cầu thang tối mịt.

Khoảng chừng hai tiếng sau thì quán trọ Hare William đóng cửa.

Đêm hôm nay Burke không về.

Hắn và Hare nhậu tới giữa đêm, dĩ nhiên người phục vụ cho buổi ăn uống ngả ngớn của chúng là người vợ tội nghiệp.

Bọn chúng vừa uống rượu vừa thì thầm bàn với nhau về một kế hoạch nào đó.

Một kế hoạch, hoặc sẽ khiến nhà trọ này nhấn sâu thêm vào vũng lầy bóng tối, hoặc sẽ khiến mọi thứ bẩn tưởi nó ôm trong mình được phơi bày ngoài ánh sáng.

Giữa đêm hôm đó, dãy cầu thang ọp ẹp vang lên những tiếng bước chân âm thầm.

Burke cầm thừng và Hare cầm giá nến, cả hai lặng lẽ bước qua dãy phòng trọ với những cánh cửa khép chặt.

Men rượu trong cuộc nhậu ban nãy khiến bước chân của chúng hơi loạng choạng, nhưng chẳng hề gì, bởi vì tâm trí của chúng đang được một thứ khác dẫn đường.

Ấy là ảo vọng về những tờ tiền mới coóng, những chai whisky ủ lâu năm, những đĩa thịt cừu tưới đẫm sốt bạc hà, và rất nhiều rất nhiều những thứ phù phiếm khác.

Chúng đi tới căn phòng nằm ở cuối dãy tầng hai.

Hare lục lấy xâu chìa khóa gài ở thắt lưng, tra chìa vào ổ, khẽ vặn rồi đẩy cửa bước vào.

Phòng không thắp đèn.

Chỉ có ánh sáng từ giá nến thì không đủ xua đuổi bóng đêm, nhưng Hare có thể trông thấy một bóng người đang nằm quay lưng vào tường, chăn kéo lên che gần kín đầu.

Kẻ đó ngủ rất say, tới mức dẫu tiếng bước chân của Burke và Hare vang lên cũng không buồn động đậy.

Hare hất cằm ra lệnh cho Burke, và tên đồng đội hiểm ác nhưng cục mịch từ từ tiến tới gần kẻ đang nằm trên giường, kéo căng sợi thừng trong tay rồi vòng qua cổ người kia, siết mạnh.

Đúng lúc đó từ trong góc phòng vụt ra một bóng đen, nhác trông không quá cao lớn nhưng vô cùng rắn chắc.

Người đó lao nhanh về phía Burke, thẳng thừng dộng cho gã một đấm trúng ngay thái dương khiến gã ngã bổ xuống sàn.

Hare thấy vậy thì siết chặt quai hàm, dùng giá nến cầm trên tay vung thật mạnh về phía kẻ lạ mặt.

Nhưng giá nến còn chưa chạm tới người đó dù chỉ nửa phân, gã đã thấy cổ tay mình bị bẻ ngoặt về sau một cách bất thình lình.

Burke lồm cồm bò dậy, nhặt lấy giá nến rơi trên đất, định lao vào tấn công kẻ kia.

Nhưng bước chân gã chùn lại ngay tức khắc khi gã nghe thấy tiếng chạy rầm rập trên dãy hành lang cổ.

Âm thanh ấy đi kèm với ánh sáng hừng hực ngoài cửa sổ khiến Burke và Hare thất kinh.

Chẳng mấy chốc cánh cửa phòng bị đá bật ra, dàn ngay lối đi là vô số những thanh tra mặc đồng phục của Sở cảnh sát Edinburgh.

Ánh sáng mà bọn họ mang tới cuối cùng cũng khiến Burke và Hare nhìn rõ tất thảy mọi điều.

Người nằm trên giường không phải là ông khách ốm yếu sắp chết vì bệnh lao, mà là người vợ luôn tủi hổ và cam chịu của Hare.

Cô đang nhìn chồng mình đứng giữa những họng súng của cảnh sát, vừa lắc đầu trong khi hai hàng nước mắt rơi lã chã, nhưng đâu đó trong đôi mắt của cô là một sự nhẹ nhõm như vừa được giải thoát khỏi xiềng xích tù đày.

Kẻ nằm trên giường không phải tên khách bệnh tật, vậy thì hắn ở đâu?

Hare đưa đôi mắt trố lồi nhìn một lượt quanh phòng, hai con ngươi lồng lên như muốn rớt ra khỏi tròng khi trông thấy một gã thanh niên đang cúi đầu tháo xuống cái mũ rách và bộ râu giả.

Sherrinford lôi từ trong túi cặp kính mắt tròn quen thuộc, cẩn thận gài lên sống mũi.

Đoạn anh đưa mắt nhìn hai tên trộm xác- hay nên gọi là hai tên sát nhân đang đứng giữa phòng, dùng khớp tay trỏ để đẩy kính, anh nói.

"Burke William và Hare William, hai anh bị bắt vì tội trộm xác và là hung thủ giết chết 17 người."
 
Cốt Cách Một Quý Ông
Những bàn chân nóng (3)


iii.

Muốn giấu một chiếc lá thì hãy giấu trong rừng.

~~

Burke và Hare William bị trói tay điệu đi khi vẫn chưa tỏ tường chuyện gì mới xảy ra.

Sherrinford nheo mắt nhìn theo bóng dáng của bọn chúng, đoạn quay sang người thiếu phụ đang đăm đắm nhìn chồng bị áp giải bởi hàng chục cảnh vệ.

Tự trong lòng anh cảm thấy biết ơn với người phụ nữ này.

Cũng nhờ cô mà vụ án búp bê gỗ trong công viên Hollyrood cùng với hàng loạt vụ mất tích mới được giải quyết.

Sherrinford đưa tay đẩy lại gọng kính rồi bước ra khỏi phòng, sắp xếp lại tất thảy dữ kiện vụ án trước khi đặt chúng ngay ngắn vào một ngăn tủ trong bộ não.

Trước tiên, hãy ngược trở lại một tháng trước, thời điểm Sherrinford lần đầu tiên đặt chân lên mảnh đất này vì lời đồn đại ma cà rồng xuất hiện ở Edinburgh.

Ngay từ khi nghiên cứu những bài báo đưa tin về vụ ma cà rồng ở Edinburgh, Sherrinford đã gần như nắm được tất thảy chân tướng của vụ án này.

Quan tài không có dấu hiệu nạy phá, xác chết biến mất như bốc hơi, lời đồn về những âm thanh gầm rú trong nghĩa trang, và rồi người ta bắt đầu dùng tỏi rồi thánh giá.

Con người thường sợ hãi những gì họ không thể lí giải.

Nhưng họ lại không muốn thừa nhận sự thiếu hiểu biết ấy, nên họ bắt đầu gắn cho những thứ không thể hiểu được một kiểu lí giải đầy huyền bí và siêu nhiên.

Một kiểu lí giải với nguyên nhân xuất phát từ những thế lực mà con người không thể can dự đến: ma quỷ.

Nhưng rốt cuộc chẳng có ma cà rồng nào cả, có chăng chỉ là lũ trộm xác còn ác hơn ma quỷ, cùng nạn đói xác chết ngày ngày âm thầm đục khoét những kẻ đang sống.

Vào ngày đầu tiên tới nghĩa trang Greyfriars Kirkyard khảo nghiệm hiện trường, Sherrinford đã bắt gặp đám tang của một gia đình nông dân.

Sau khi chôn cất xong, họ cắm xuyên qua mộ phần một cọc sắt để ngăn không cho xác chết đội mồ hóa thành ma cà rồng.

Sherrinford đã đánh dấu ngôi mộ đó.

Sáng hôm sau, khu nghĩa trang xuất hiện một vụ đào xác, nhưng ngôi mộ kia vẫn y nguyên.

Xung quanh mộ xuất hiện vết chân giày xéo rất mới và trên tấm bia đá hằn lên dấu của một lưỡi xẻng.

Những ngày sau đó, ngôi mộ có cọc cắm xuyên kia vẫn nguyên vẹn, dù cho những vụ trộm xác cứ đều đều xuất hiện.

Điều này củng cố cho giả thiết mà Sherrinford đặt ra về lũ trộm xác để bán cho những nhà khoa học.

Bọn chúng cần những cái xác nguyên vẹn, càng tươi càng tốt.

Màn kịch về lời đồn ma cà rồng có thể được lí giải dễ dàng, thế nhưng lại có một câu hỏi khác: vì sao chúng phải đánh tráo quan tài mà không trực tiếp lấy xác ra khỏi mộ?

Việc đánh tráo quan tài sẽ dễ bị chú ý, tốn thời gian và tốn sức lực hơn.

Tại sao chúng phải chọn cách mạo hiểm ấy?

Chỉ có một cách giải thích hợp lý nhất.

Thứ chúng cần không chỉ có mỗi cái xác.

Chúng còn cần cả quan tài.

Đến lúc này lại xuất hiện một giả thiết mới.

Nếu chỉ dùng cho nghiên cứu cơ thể người, tại sao phải cần có cả quan tài?

Và nếu không dùng cho nghiên cứu, thì những xác chết đựng trong quan tài ấy, được bán đi đâu?

Đó cũng chính là câu hỏi khiến Sherrinford ở đây suốt gần một tháng trời.

Những vụ trộm xác xuất hiện thưa dần rồi biến mất hẳn.

Đúng lúc đó thì vụ búp bê gỗ ở Hollyrood rộ lên.

Sherrinford đã kết hợp với cảnh sát của Edinburgh, đối chiếu hình dáng của 17 con búp bê gỗ với những vụ mất tích trong 1 năm trở lại đây.

Quả nhiên 10 trong 17 con búp bê trùng với chân dung của những người mất tích.

Nhờ vào bản phác thảo chân dung được cung cấp bởi Janet Brown- bạn thân, cũng là người chứng kiến vụ mất tích của một trong số 17 nạn nhân, họ đã khoanh vùng được nghi phạm và lần được tới khu nhà trọ của Hare William.

Sherrinford đóng giả làm một vị khách nghèo khổ ốm yếu, sắp chết vì bệnh lao.

Anh cố tình thu hút sự chú ý, thể hiện cho Burke và Hare thấy rằng anh là một mục tiêu vô cùng dễ xơi.

Ban đầu anh chỉ có ý định sẽ hành động một mình, nhưng thật may mắn cho Sherrinford khi anh gặp được sự giúp đỡ bất ngờ từ người vợ của Hare.

Trong lúc dẫn Sherrinford lên phòng trọ, người phụ nữ đã vừa run rẩy vừa nói trong khi nước mắt trực chờ tràn khỏi bờ mi.

Cô ấy nói rằng đêm nay anh sẽ bị Burke và Hare giết, rằng căn phòng mà cô sắp dẫn anh lên là căn phòng đặc biệt mà Hare chỉ dành cho những nạn nhân của hắn.

Sau một hồi trấn an và trao đổi qua lại, Sherrinford cho người phụ nữ biết anh chính là thanh tra của Scotland Yard đến đây điều tra.

Người phụ nữ ban đầu ngỡ ngàng rồi có ý trốn tránh, nhưng cuối cùng vẫn đồng ý hợp tác giúp anh giăng bẫy hai kẻ sát nhân.

Cuối cùng, Burke và Hare William bị bắt với đầy đủ cả bằng chứng và nhân chứng.

Thanh tra của sở Edinburgh sau khi lục soát khu nhà trọ đã tìm thêm được một xác chết mà bọn chúng chưa kịp bán, bộ xẻng cuốc còn dính đất khu nghĩa trang Greyfriars Kirkyard, cùng dây thừng và thuốc độc được giấu dưới gầm giường phòng Hare.

Vụ án khép lại mĩ mãn, nhưng Sherrinford thì không cho là vậy.

Bởi vẫn còn một câu hỏi chưa được giải đáp.

Tại sao chúng lại trộm cả quan tài?

Bước chân Sherrinford rời khỏi những bậc thang cũ ọp ẹp dẫn xuống tầng một, trong phút chốc mũi anh hơi nhăn lại vì mùi hôi thối gắt mũi bốc lên khi anh ngang qua cánh cửa ngách dẫn tới đằng sau khu nhà trọ.

Đoạn anh quay sang mấy tay khảo sát hiện trường.

"Các anh có ngửi thấy mùi hôi thối không?

Đằng sau khu nhà trọ được lục soát kĩ càng rồi chứ?"

"Chúng tôi dĩ nhiên ngửi thấy mùi hôi thối chứ, nó rõ ràng quá mà.

Còn đằng sau khu nhà trọ chủ yếu là chuồng ngựa và chuồng gia súc, lại ở cạnh bãi rác tập trung của khu này.

Nó có mùi kinh khủng như vậy là phải.

Anh không tưởng tượng được đâu.

Rác và xác động vật chết chất đống ngoài đó."

Sherrinford bỏ lời giải thích kêu ca ấy ra ngoài tai.

Kéo vạt áo lên bịt ngang mũi, anh đi qua cánh cửa ngách và rảo bước về phía mảnh đất phía sau nhà trọ.

Bởi cạnh bãi rác tập trung lớn nên nơi đây không có người ở.

Chỉ có cơ man là rác và hàng loạt xác động vật chết đang phân hủy.

Lớp vải dạ của áo măng tô không thể ngăn mùi hôi thối xộc thẳng vào mũi Sherrinford.

Nhưng anh không quan tâm tới điều ấy, chiếc đèn bão trong tay anh vẫn rọi thẳng về phía trước, cố moi ra thứ hôi thối thật sự nằm sâu trong hàng ngàn tấn rác kia.

Và cuối cùng thứ ấy cũng xuất hiện.

Ấy là một căn chòi sập xệ nằm ở cuối dãy nhà trọ.

Bên trái là chuồng ngựa và bên phải là cả một đống rác lớn.

Sherrinford bước về phía ấy.

Theo ngay sau anh là một vài viên thanh tra khám nghiệm hiện trường.

Họ đi theo vì tò mò, mà vì bắt buộc cũng có.

Càng tới gần căn gác chòi kia, mùi hôi thối của xác chết phân hủy bốc lên càng nồng đậm, tới độ một vài người đã phải đưa tay lên bịt miệng.

Hàng mày của Sherrinford nhíu chặt như dính lấy nhau, nhưng đôi mắt của anh lại mở to, sáng quắc hơn bao giờ hết.

Không chần chừ, anh đưa tay lên đẩy mạnh phiến cửa.

Giây phút cánh cửa bật tung, mùi hôi thối lập tức xộc ra khiến những viên thanh tra cốt cán suýt nữa ngã ngửa vì sốc.

Dưới ánh sáng hắt từ chiếc đèn bão trên tay Sherrinford, khung cảnh kinh hoàng bên trong căn gác chòi bắt đầu hiện lên rõ rành rành.

Dọc bốn bức tường là vô vàn những chiếc quan tài dựng đứng, bên trong là xác chết đã bắt đầu phân hủy, tỏa ra thứ mùi đặc trưng của thời gian mục nát.

Dưới ánh trăng hắt vào qua những lỗ thủng trên mái nhà, thật rõ và cũng thật kinh khủng khi nhìn vào những gương mặt đã bị chuột và giòi bọ gặm thủng lỗ chỗ.

Đếm sơ qua thì trong căn phòng này phải chứa tới gần 30 xác chết.

Sherrinford ngồi xổm xuống đất, đặt chiếc đèn bão sang một bên, cẩn trọng xem xét một xác chết có dấu hiệu phân hủy nhẹ nhất.

Thế nhưng dựa vào dấu hiệu vết lục đã lan tới ổ bụng, chứng tỏ nạn nhân này đã chết trong khoảng 2-3 ngày rồi.

Vết hoen tử thi xuất hiện dọc phần lưng, mang màu đỏ tươi- dấu hiệu của việc chết bởi chất độc.

Sherrinford dùng đèn soi rõ từng centimet trên cơ thể nạn nhân, đôi mắt dần lạnh đi khi nhìn thấy những vết hoen tử thi rải khắp cơ thể và đặc biệt là một lớp bột màu đen đọng mờ ở dưới gan bàn chân.

"Lớp bột này đáng ngờ thật.

Phải chăng nó là nguyên nhân tử vong?"

Một trong những người khám nghiệm hiện trường đáp khi thấy Sherrinford nhìn chằm chằm vào vết đen trên gan bàn chân của tử thi.

Viên thanh tra xuất sắc của Scotland Yard không đáp.

Anh trầm ngâm một hồi lâu như đang ngụp lặn trong làn nước tĩnh lặng của mặt hồ kí ức, để nước tràn vào khiến đầu óc tỉnh táo, đánh thức những tri thức nằm sâu dưới đáy hồ.

"Anh đã từng nghe tới tà thuật Voodoo chưa?"

"Tà thuật Voodoo?

Tôi chưa từng nghe thấy.

Có liên quan tới vụ án này sao?"

"Tôi e là vậy."

Sherrinford đáp một cách thận trọng, trong khi cẩn thận đặt lại bàn chân của thi thể vào trong quan tài.

"Đó là một tôn giáo được tôn sùng ở Haiti, một đảo quốc thuộc vùng vịnh Caribbean.

Bản chất của tôn giáo Voodoo vốn rất minh bạch và trong sạch, tuy nhiên nó có một vài biến thể theo hướng tiêu cực, mà người ta gọi là tà giáo.

Những kẻ theo tà giáo này đặt niềm tin vào những trò nguyền rủa trên hình nhân thế mạng và thậm chí là tin vào việc hồi sinh người chết.

Cách đây 3 năm đã có một vụ mất tích liên quan đến tà giáo này.

Mà nạn nhân chính là những thủy thủ cùng hai vị quan đại thần trên con tàu Sư Tử Trắng.

"Hơn 20 người trên con tàu trở thành nô lệ suốt gần 1 năm trời trên đảo Haiti.

Sau này khi được hoàng gia giải thoát về, họ đã thuật lại quãng thời gian ấy như một trải nghiệm kinh hoàng nhất.

Họ bị đưa tới một căn nhà đầy rẫy xác động vật chết của những pháp sư, bị phù phép, chết đi rồi được chôn cất, sau vài hôm thì thấy mình sống lại, vật vờ và yếu ớt như thể đã mất đi nửa linh hồn.

Điều đáng nói là khi bị đưa vào căn nhà ấy, họ được những pháp sư rắc lên gan bàn chân một lớp bột màu đen nhánh.

Lớp bột ấy khiến họ hoa mắt, đổ mồ hôi, sức lực bi rút cạn, rồi quả tim của họ cũng từ từ ngừng đập.

Vụ việc này tính tới nay vẫn là một ẩn số mà Scotland Yard vẫn chưa thể lí giải.

Nhưng tôi thì có một giả thiết thế này."

"Mấu chốt của trò đào mộ rồi hồi sinh kia nằm ở chất độc màu đen được rắc lên gan bàn chân những nạn nhân.

Nếu như nó chẳng phải thứ bột huyền bí ma thuật gì cả mà chỉ là một dạng chất độc, thì mọi thứ trở nên đơn giản hơn nhiều.

Trong suốt 3 năm nay tôi đã nghiên cứu rất nhiều loại độc.

Tôi có hẳn một bộ sưu tập, gồm tổng cộng 121 loại độc có thể gây chết người.

Trong số đó có độc của loài cá nóc rất gần với yêu cầu của trò chơi hồi sinh này.

Khi trúng phải một lượng vừa phải, cơ thể nạn nhân sẽ xuất hiện những dấu hiệu gần như chết, mà ở đây chúng ta sẽ gọi là trạng thái chết giả.

Nhiệt độ cơ thể giảm, đổ mồ hôi, tim và mạch đập yếu tới mức không thể nghe thấy.

Rồi sau đó họ lại được chôn cất, khi đang trong trạng thái đã mất đi toàn bộ ý thức.

"Chừng một hôm sau họ sẽ đào những cái xác lên, đưa chất độc ra ngoài cơ thể, đánh thức những nạn nhân và tiếp tục khống chế họ bằng chất độc từ cây cà độc.

Một loại độc chất có tính an thần cực mạnh, khiến nạn nhân chìm trong trạng thái mê man, dễ bị kiểm soát.

Vậy là họ gần như mất đi toàn bộ ý thức, không còn ý định phản kháng, trở thành nô lệ lao động cho những pháp sư của ngôi làng.

Nguyên do lí giải cho giả thiết họ bị khống chế bởi độc chất chứ không phải phép thuật nằm ở bàn chân bị rắc lên chất bột màu đen.

Tất cả nạn nhân sau khi bị trúng tà đều đi khập khiễng, vì bàn chân đó là nơi trực tiếp tiếp nhận chất độc từ cá nóc.

Còn một yếu tố nữa, đó là khi trở về đất liền, sau một năm thì 20 nạn nhân năm xưa đã có thể trở về với nhịp sống như bình thường."

Những viên điều tra hiện trường còn lại nhìn Sherrinford bằng ánh mắt mịt mờ, dường như không thể kịp tiêu hóa hết những gì anh vừa nói.

Sherrinford cũng chẳng trông đợi bọn họ sẽ hiểu được anh.

Anh chỉ muốn nói ra những nghĩ vấn cất giấu trong lòng bấy lâu nay, khao khát muốn phần nào xua đi lớp sương mù đang bao quanh sự thật.

"Nhưng đó cũng chỉ là suy luận của tôi, phần nhiều là phán đoán dựa vào lời kể của những người thủy thủ trở về từ Haiti, cộng với một vài hiểu biết về tôn giáo Voodoo được biết qua sách vở.

Cũng có thể những suy đoán đó là sai bét, bởi chính tôi cũng chưa được trông thấy thứ bột màu đen ấy có hình dạng như thế nào.

Nhưng nếu vết màu đen xuất hiện ở thi thể này thực sự liên quan tới thuật hồi sinh xác chết của tà giáo Voodoo, thì tôi cá là các anh sẽ phải tiếp nhận một vụ án thú vị mà cũng hóc búa bậc nhất."

Sherrinford nói rồi bước ra khỏi căn phòng sặc mùi xác chết phân hủy, định bụng trở về nhà chính và đặt vài câu hỏi chưa kịp hỏi với vợ của Hare.

Thế nhưng khi vừa mới bước ra khỏi cửa đã bắt gặp cô đứng đợi ở đó từ bao giờ.

"Bà William?"

Người phụ nữ lắc đầu.

"Gọi tôi là Jane Bernet, thưa ngài."

"Ồ, dĩ nhiên rồi, cô Jane Bernet.

Có việc gì khiến cô ra tận đây sao?"

"Tôi sực nhớ ra một điều này, không biết nó có giúp ích cho các ngài không.

Nhưng cách đây vài hôm đã có một người đàn ông đến tìm tôi và hỏi về Hare cùng những tội ác của hắn.

Ông ta dường như biết tất cả mọi thứ, thưa ngài.

Về việc Burke và Hare trộm xác rồi bán lại cho Robert Knox."

"Kẻ đó đến tìm cô rồi hỏi cô những gì?"

"Ông ta hỏi tôi về 17 nạn nhân bị hai tên sát nhân đó giết trong nhà trọ này.

Hare có thói quen quái đản là chụp lại hình các nạn nhân trước khi bán xác lại cho Robert Knox.

Tôi đã lấy những tấm hình đó cho người đàn ông kia, khi ông ta hứa sẽ khiến hai gã đó vào tù và trả cho tôi một khoản tiền lớn."

Đôi mắt màu lam của Sherrinford trong phút chốc sẫm lại.

Lời hứa sẽ khiến Burke và Hare vào tù, hàng ngàn con búp bê gỗ rải trong công viên Hollyrood mô phỏng hình dáng 17 nạn nhân.

Sherrinford cuối cùng cũng có thể xâu chuỗi lại những mắt xích còn rời rạc cuối cùng.

"Cô có nhớ hình dáng của người đàn ông đó không?"

"Ông ta có vẻ thuộc tầng lớp thượng lưu.

Là một đàn ông trung niên, mặc áo đuôi tôm đắt tiền.

Dáng vẻ lãnh đạm và lịch sự."

"Còn gì nữa không?

Thứ gì đó đặc biệt.

Như là một hình xăm hoặc vật tùy thân gì đó."

"À, ông ta có một chiếc đồng hồ quả quýt bằng vàng ròng, ở nắp đồng hồ có khắc hình một con diều hâu tung cánh."

Người thiếu phụ vừa dứt lời, hai bàn tay Sherrinford chầm chậm nắm chặt tới mức lộ những khớp xương trắng bệch.

Lại là diều hâu.

Một tiếng kêu tai ác chợt vọng lên giữa đêm trăng tĩnh mịch.

Quạ đã kéo đến đậu kín nóc của căn chòi chứa đầy xác chết.

Chú thích: Trong chương này, phân đoạn lí giải về thủ thuật hồi sinh người chết của tộc người ở Haiti được mình viết dựa trên công trình nghiên cứu của nhà nhân chủng học Wade Davis- người vào 1982 đã từng đến Haiti để điều tra chân tướng sự thật đằng sau việc hồi sinh người chết của giáo phái Voodoo tại Haiti.
 
Cốt Cách Một Quý Ông
Pháo đài tội ác: dấu vết (1)


i.

Kiệt xuất vùi chôn dưới xương tàn.

Quá khứ phản chiếu qua lửa đỏ.

~~~

Xác chết nằm ngổn ngang khắp lối đi dẫn tới nơi phù hoa thực sự bắt đầu.

Ngọn đuốc trên tay Victor soi tỏ những đôi mắt trắng dã vô hồn, thấm vào da Eleanor thứ cảm giác lạnh run dẫu hình ảnh ấy được phản chiếu qua lửa đỏ.

Câu chuyện kì bí ở Haiti vẫn còn quanh quẩn trong óc cô.

Bởi phàm là những gì không thể có lời giải, thì càng có sức ám ảnh kéo dài.

"Vậy ngài đang nghi ngờ Công tước Josh Sanders là người đứng sau hội chợ phù hoa, mua bán xác người để làm phép thử cho thuật hồi sinh người chết?"

Victor không trả lời câu hỏi của Eleanor, đáp lại bằng loạt câu kể đều đều như máy đếm.

"Josh Sanders là ông trùm của Edinburgh, địa bàn hoạt động tập trung nhiều ở khu Old Town, có trụ sở được ngụy trang dưới lốt của một quán rượu rẻ tiền."

Là quán rượu hôm trước bọn họ vào.

Morte van Diablo.

Victor Shadow hẳn đã điều tra từ trước đó, nhưng vẫn sẵn sàng bước vào.

Ý nghĩ gã Bá tước nhà Shadow mắc bẫy của Robert Knox rồi lọt lưới Hội Chợ Phù Hoa dần dần lung lay trong suy đoán của Eleanor.

Rõ ràng Victor Shadow không phải dạng người ngây thơ như thế.

Một khoảng im lặng nữa lại kéo dài giữa hai người họ.

Đường hầm tối đen ẩm thấp chỉ còn vọng lại những tiếng bước chân đều đều.

Rồi chẳng bao lâu sau họ đã tiến tới gần vị trí điểm giao của chữ V trên bản đồ.

Lối đi từ nãy tới giờ vắng vẻ rặt không một bóng người lúc này đã bắt đầu đông đúc dần.

Ấy là những kẻ ăn vận vô cùng bí hiểm với trang phục áo chùng đen bao kín thân và mang mặt nạ kiểu bác sĩ dịch bệnh, đều đi theo nhóm hai người.

Đi giữa những kẻ kín bưng từ đầu tới chân như vậy, Victor và Eleanor bỗng có cảm giác bất an như thể đang bị lột trần dưới những đôi mắt nanh ác đằng sau lớp mặt nạ.

Chỉ còn một khúc quanh nữa là đi tới điểm giao của chữ V trên tấm bản đồ.

Nhịp chân của Victor bỗng khựng lại trong đôi giây rồi thình lình bẻ ngoặt hướng đi, đứng áp sát lưng vào bức tường nằm ở phía khuất so với đường chính dẫn tới căn phòng bí ẩn trên tấm bản đồ.

Từ phía xa có hai bóng người đang tiến về phía này, mặc áo chùng đen và đeo mặt nạ.

Eleanor cảm thấy người bên cạnh mình dường như đang đè nén hơi thở của bản thân xuống.

Cô đã đoán ra Victor muốn làm gì.

Vậy nên cô chỉ cần phối hợp.

Hai kẻ xấu số kia tiến tới ngày một gần mà không hề nhận ra ở phía này có hai con sói đang kiên nhẫn chờ đợi họ tự dẫn xác đến bộ nanh của chúng.

Ngay khi hai kẻ đó vừa lướt qua khúc quanh mà không một chút phòng bị, Victor lập tức vươn tay nắm lấy tóc gáy một tên giật ngược về sau.

Tiếng xương cổ gãy giòn tan vang lên, thân hình cao lớn của hắn chầm chậm ngã vật xuống đất.

Tên còn lại ngay khi trông thấy đồng đội của mình thình lình đổ sập xuống, há miệng định kêu thì lập tức cảm thấy sau đầu mình đau nhói như bị gót nhọn của một đôi giày cắm sâu vào.

Chưa đầy vài giây sau cũng mềm nhũn ngã vật ra đất.

Eleanor thu chân về, gương mặt hơi ánh lên một vẻ bất mãn khi nhận ra rốt cuộc cô vẫn không nhẫn tâm bằng tên quý tộc kia.

Nhưng hai người họ không có thời gian để so đo tị nạnh vặt vãnh nhiều.

Nhanh chóng kéo xác hai người kia vào chỗ tối của khúc quanh, lột đồ của họ rồi lập tức mặc vào.

Tới khi kéo xuống chiếc mũ chùm của thi thể kia, Eleanor bất giác hít một hơi thật sâu, đoạn khẽ trầm giọng.

"Xem này, cô gái này không mang mặt nạ bác sĩ dịch bệnh, cô ta mang mặt nạ Morreta bằng vải ren."

Victor dường như lờ mờ hiểu được sự lăn tăn của Eleanor.

Ngài vươn tay tháo chiếc mặt nạ của cô gái kia xuống, vạch mí mắt để nhìn đồng tử và tháo mũ trùm để xem mái tóc của cô ta.

Là một đôi mắt màu đen và một mái tóc cũng màu đen nhánh.

Thật thích hợp với tiêu chuẩn của một vật tế.

Hèn gì từ nãy tới giờ họ chỉ thấy người ta đi theo nhóm hai người.

Đó là bởi họ là những cặp chủ nhân và vật tế.

Eleanor bỗng sực nhớ lại lời nói của tên cai ngục vài hôm trước khi gã bị Harrison Shaw gặng hỏi.

Gã nói bọn họ sẽ trở thành vật tế của một nhóm tinh hoa bí ẩn.

Như vậy những người mặc áo choàng và mang mặt nạ này chính là nhóm tinh hoa bí ẩn đó?

Kết nối tất cả dữ kiện nắm được từ đầu tới giờ, từ việc buổi buôn bán người đáng lẽ sẽ diễn ra êm xuôi nếu không bị Harrison Shaw phá hủy, cho tới một địa điểm kì lạ được cho là nơi phù hoa thật sự bắt đầu, cuối cùng là một nhóm người tinh hoa bí ẩn ở nơi đây.

Eleanor phỏng chừng đã đoán được trình tự cơ bản của Hội Chợ Phù Hoa này.

Ban đầu bọn họ cùng những khách quan khác bị lừa tới Buổi Gặp Mặt, bị chuốc thuốc phiện và bị bắt nhốt, từ khách tham gia trở thành đối tượng để mua bán trả giá.

Ngay từ đầu, kẻ tổ chức đã "chọn lọc" trong đám khách xem ai mới xứng là nhóm tinh hoa bí ẩn.

Những kẻ đó sẽ tham gia Hội Chợ vào tối nay, mua bán những thứ mình thích kể cả cho đó có là đôi mắt của một cô gái hay cái đầu của một chàng trai.

Tiếp đó sau khi mua bán xong bọn chúng mới tham gia Hội Chợ Phù Hoa thực sự.

Với những thứ mình đã mua ấy, chạm tới quyền năng của Chúa ở nơi phù hoa thực sự bắt đầu.

"Không có thời gian suy nghĩ nhiều đâu, mau chóng mang mặt nạ vào đi."

Victor khoác áo và mặt nạ của tên kia vào, trầm giọng thúc giục Eleanor.

Sau khi trang phục đã tinh tươm, bọn họ rời khỏi chỗ nấp tối tăm, nhanh chóng hướng tới nơi phù hoa thực sự bắt đầu.

Trước mắt họ ánh sáng mỗi lúc một rực rỡ hơn, thế nhưng không có tiếng nói cười mà chỉ có tiếng của những bước chân di chuyển khô khốc âm thầm.

Cuối cùng họ cũng đã tới điểm giao của chữ V trên tấm bản đồ từ da lưng, nơi bắt đầu và cũng là nơi sẽ kết thúc mọi nỗi kinh hoàng.

Đó là một căn phòng còn lớn hơn căn phòng trước đó gấp hai lần, số lượng kẻ canh gác cũng đông hơn gấp ba.

Victor và Eleanor sóng vai bước qua cánh cửa, thế nhưng ngay lập tức bị chặn lại bởi hai tên cao lớn như hộ pháp.

Victor đưa mắt nhìn chúng, một cái nhìn thay thế hết thảy mọi câu đe dọa cảnh cáo cần nói.

Kẻ đó khẽ hắng giọng, nói bằng thứ âm trầm khàn.

"Ngài biết quy định mà, vật tế phải được cách ly."

Dứt lời tên canh cửa lập tức vươn bàn tay thô ráp của hắn tóm chặt lấy bả vai của Eleanor, đẩy cho một tên gần cửa khác.

Hắn ta lập tức bẻ ngoặt tay cô về phía, điệu vào trong căn phòng.

Victor dõi mắt nhàn nhạt nhìn hai cái bóng đó khuất dần rồi cũng tiến vào trong phòng.

Ngay khi mũi giày của ngài Bá tước chạm tới ánh sáng chói gắt của bữa tiệc, một thứ mùi gay gay như mùi xác chết phân hủy lập tức xâm chiếm lấy khoang mũi khiến ngài khẽ nhăn mày.

Dù đã qua một lớp mặt nạ nhưng thứ mùi ấy vẫn vô cùng dễ nhận biết, khiến ngài hoài nghi rốt cuộc nếu không mang mặt nạ thì nó sẽ còn kinh khủng thế nào.

Victor đưa mắt nhìn xung quanh, đôi mắt màu lục ban đầu lạnh rét tới cực điểm, rồi sau đó lóe lên vẻ hứng thú sáng rực, kết lại cho chuỗi cảm xúc phức tạp ấy lại là vẻ lãnh đạm không nhìn ra dấu vết.

Lí giải cho biểu cảm khó hiểu ấy của ngài Bá tước hẳn cũng phải là một khung cảnh có một không hai.

Xung quanh căn hầm đặt những cái lồng được thiết kế theo kiểu lồng nhốt chim cảnh, nhưng theo kích thước cực lớn có thể nhốt được con người.

Điều đặc biệt là những cái lồng ấy được làm bằng một loại vật liệu màu trắng hếu, nhìn qua có vẻ khá bột nhưng rất cứng, là những thanh thẳng đuột có đầu nối to ghép lại với nhau.

Nhìn qua rất giống xương người.

Lồng được treo lơ lửng bằng dây thừng nối với trần nhà.

Dây thừng lại được bọc ngoài bằng vàng đun chảy vừa tăng vẻ xa hoa kệch cỡm vừa tăng sự chắc chắn.

Trần, đáy và khóa lồng cũng được làm từ vàng.

Bên trong lồng là những vật tế khi nãy bị giữ lại, áo chùng đen và mặt nạ Moretta cũng bằng ren đen.

Màu đen vô cùng nổi bật giữa màu xương trắng.

Sự sống mơn mởn của thiếu nữ cực kỳ sống động đối lập với mùi xác chết bủa vây trong căn hầm.

Lồng xương trắng và khóa bằng vàng giam nhốt người đẹp.

Hẳn là một khung cảnh thanh tao tới tột cùng.

Thật hiếm hoi Victor nhếch môi cười.

Thẩm mỹ của kẻ tổ chức bữa tiệc này hẳn cũng không tệ.

Ngài lại tiến sâu hơn vào căn phòng.

Giống như bữa tiệc mô phỏng lễ hội lửa diễn ra hơn một tuần trước, giữa phòng vẫn là một đống lửa cao quá đầu người, nhưng có lẽ lần này gỗ không còn được tẩm độc như lần trước nữa.

Khách khứa thay vì quá khích thì lần này lại khá trầm mặc, chỉ thỉnh thoảng ghé tai nhau thì thầm vài câu rồi lại đi loanh quanh phòng để ngắm nhìn những vật tế.

Ở ngay sau đống lửa cách chừng 20 mét về phía cuối phòng là một bục cao phủ thảm nhung.

Thế nhưng không có kẻ trình diễn nào cả.

Sân khấu trống trơn, chẳng có lấy một bóng người hay đồ vật.

Khoảng chừng một lát sau, từ lối cửa đi của căn phòng xuất hiện hai hàng người mặc áo chùng đen mang mặt nạ dịch bệnh tiến vào.

Thay vì làm lễ rước như lễ hội lửa lần trước, lần này đi giữa hai hàng người đó chỉ có một kẻ cũng mặc trang phục áo choàng và mặt nạ, chống theo bên mình một cây trượng gắn đầu lâu mạ bạc.

Dưới lớp mặt nạ gớm ghiếc, kẻ đó đưa đôi mắt uể oải lại khinh khỉnh liếc nhìn đám đông xung quanh, rồi từng bước chân nhẹ nhàng thanh thoát tiến về phía sân khấu, nhún người nhảy phắt lên bục cao để hưởng thụ sự chiêm ngưỡng chờ đợi của tất thảy mọi người.

Sự xuất hiện của thầy tư tế báo hiệu cuộc vui đêm nay đã bắt đầu.

Nhưng gã tư tế này có vẻ không được nhiệt tình cho lắm.

Gã còn chẳng buồn mở miệng mà chỉ đưa tay lên vẩy khẽ, ra hiệu cho những kẻ tay sai vén rèm sân khấu lên.

Bức rèm vừa được mở ra, từ sau cánh gà lập tức có những kẻ đẩy lên sân khấu nào bàn dài phủ khăn trắng tinh, dao bạc sáng choang, những lọ thủy tinh đựng bột đen như chứa bột phép, đầu lâu người rồi xác cóc chết, và dĩ nhiên không thể không kể đến một cỗ xe đẩy bốn bánh đặt trên đó một vật thuôn dài hình chữ nhật được phủ khăn trắng nom như một cỗ quan tài.

Robert Knox chẳng biết từ bao giờ đột nhiên lù lù xuất hiện từ sau cánh gà, tiến tới đứng gần gã tư tế, cầm trên tay một con dao bạc và một dụng cụ kỳ lạ có đầu uốn cong như hình dáng một cái muỗng.

Tiếng mở khóa leng keng vang lên ở bên hông của sân khấu.

Một vật tế bị điệu lên bục cao trong trạng thái gần như bất tỉnh.

Bọn chúng đặt cô gái tội nghiệp ấy lên chiếc bàn phủ khăn trắng.

Đám đông đang chầu chực quanh sân khấu như một đàn chó đói mồi bỗng dưng hóa im lặng.

Đôi mắt kẻ nào kẻ nấy hau háu sáng quắc một vẻ chờ đợi đầy điên loạn.

Gã tư tế đứng ở một bên xem trò hay, đôi mắt chẳng biết vì lí do gì vẫn không ngừng đảo quanh đám khách khứa đứng trong căn phòng.

Robert Knox dùng con dao bạc khứa hai đường mở rộng khóe mắt của vật tế đang nằm trên bàn.

Cô gái đang bất tỉnh thế nhưng có lẽ bởi cơn đau kia quá mức kinh khủng, cô lập tức co người hét lên.

Ba kẻ tay sai xông tới ghìm giữ cơ thể đang cựa quậy của cô gái, rồi gã bác sĩ điên loạn giơ dụng cụ kì lạ với một đầu uốn cong kia lên, chậm rãi thọc nó thật sâu vào mắt cô gái trẻ.

Máu đỏ tươi bắn ra tấm khăn trắng như hoa nở rộ.

Đám đông lập tức ồ lên đầy phấn khích.

Chỉ có đôi mắt Victor cứ thế lạnh dần.

Còn tên tư tế cuối cùng cũng đã dừng việc đảo mắt quanh đám đông, xoáy thật sâu cái nhìn vào một kẻ nào đó.

Bi kịch đôi khi bắt đầu- hoặc kết thúc đều bằng một tiếng thét.
 
Cốt Cách Một Quý Ông
Pháo đài tội ác: dấu vết (2)


ii.

Điên rồ và vĩ đại, đôi khi cách nhau một đường chỉ.

~~~

Đôi con ngươi của cô gái xấu số được đặt vào một cái khay bằng thủy tinh, từ hai hốc mắt trống hoác của cô, máu tuôn ra ròng ròng nhuộm đỏ cả gương mặt nhợt nhạt.

Tấm khăn trải bàn đã ướt sũng, chuyển sang màu đỏ tươi.

Cô gái run lên từng hồi trong cơn mê man, và rồi như một món đồ thí nghiệm đã cạn kiệt giá trị, cô bị đưa xuống cùng với chiếc bàn nhễu máu.

Thế nhưng trò chơi tai ác không chỉ dừng lại ở đó.

Chiếc bàn khác lại được đẩy lên cùng với một cô gái đang hôn mê nằm trên đó.

Robert Knox tiếp tục việc làm ghê tởm của hắn, dùng dụng cụ đặc biệt kia để khoét lấy đôi ngươi của cô gái thứ hai đặt vào một cái khay.

Sau đó hắn gắp lấy đôi ngươi của cô gái thứ nhất để đặt vào hai hốc mắt sâu hoắm còn trống trên gương mặt cô gái đang nằm trên bàn, sau cùng, dùng chiếc kim khâu cực nhỏ tỉ mỉ khâu lại hai đuôi mắt đã bị rạch ban nãy.

Từ đầu đến cuối, gã tiến sĩ đều trung thành với một dáng vẻ vừa thận trọng vừa hào hứng như người nghệ nhân đang tạo ra một con búp bê bằng vải.

Toàn bộ quá trình ấy được Victor thu trọn vào tầm mắt, và ngài nghĩ rằng mình đã phần nào đoán được bọn chúng đang làm gì.

Tráo đổi đôi mắt từ người này sang người khác được thực hiện bởi một tiến sĩ giải phẫu tài giỏi nhưng cũng điên loạn bậc nhất ngành Y, nếu Victor đoán không nhầm, bọn chúng đang thực hành thí nghiệm cấy ghép các bộ phận trên cơ thể người.

Quả là một ý tưởng điên rồ và ngông cuồng, thế nhưng không thể phủ nhận, nếu thí nghiệm này thành công, đây sẽ là một bước tiến dài có thể thay đổi cả triều đại.

Bọn chúng đang cố gắng tạo ra một thứ gì đó.

Cô gái sau khi trải qua quá trình phẫu thuật tươi sống kia thì gần như chỉ còn thoi thóp vì những cơn đau buốt óc tấn công dồn dập và cũng vì mất máu quá nhiều.

Robert Knox tiến tới gần kiểm tra hơi thở và mạch đập của cô, đoạn quay xuống nhìn đám khách khứa đang chờ đợi bên dưới khán đài.

"Như các vị đã thấy, sau khi trải qua cuộc tái tạo, cô gái này gần như đã chết.

Và giờ chúng tôi sẽ khiến cô ấy sống lại mạnh khỏe hơn bao giờ hết, với phép thuật của vị tư tế đây."

Hắn vừa dứt lời, đám đông lập tức ồ lên phấn khích, đưa mắt tìm hình ảnh của vị tư tế quyền năng bí hiểm.

Lúc bấy giờ, tên tư tế từ đầu tới cuối đều đứng bên cạnh quan sát với vẻ thưởng thức- mới chầm chậm bước lên.

Gã mặc chiếc áo chùng đen, tay đeo găng da, mang mặt nạ, cầm theo một chiếc lọ chứa thứ bột màu đen nom như bột phép.

Gã cúi mắt nhìn cô gái đang nằm trên bàn, thọc tay vào cái lọ vốc ra một nắm bột đen, lầm rầm trong cổ họng đôi câu thần chú rồi rắc thứ bột ấy khắp người cô gái trẻ.

Hình ảnh tên tư tế với nắm bột phép trong phút chốc giống như một dòng điện xộc thẳng vào mọi giác quan của Victor.

Trải nghiệm kinh khủng ở Haiti vài năm trước bỗng chốc sống dậy trong tiềm thức của ngài; nỗi kinh hoàng về tên pháp sư được gọi bằng danh xưng bokor, về loại bột màu đen đựng trong lọ sứ, những cơn choáng sốc khiến tim ngừng đập, và cả màn hồi sinh từ cái chết bí hiểm như thể có phép màu.

Tất cả những thứ ấy sống lại, cọ quậy trong nấm mộ kí ức vốn tưởng đã phủ xanh trong tâm trí của ngài Bá tước, sống động tới mức ngài có cảm giác hãi hùng.

Thế nhưng khi những kí ức ở Haiti được gọi về cũng là khi cánh cửa cuối cùng dẫn tới sự thật về Hội Chợ Phù Hoa được mở ra.

Lí do bọn chúng chọn những vật tế tóc đen và mắt đen.

Lí do chúng mua bán xác chết.

Lí do tên tư tế kia cầm theo lọ sứ đựng thứ bột màu đen.

Một tia sáng xám lạnh xẹt qua đôi đồng tử màu lục sẫm của ngài Bá tước rồi vụt tắt rất nhanh.

Qua hốc trống của chiếc mặt nạ, ngài tiếp tục đưa mắt quan sát Robert Knox và tên tư tế diễn trò trên sân khấu.

Sau khi tên tư tế rắc thứ bột ấy lên, cô gái lập tức co giật liên hồi.

Mí mắt mới được khâu lại tưởng như không còn sức để nâng lên lúc này vằn ngược đầy dữ tợn.

Mồ hôi tuôn ra ướt đẫm gương mặt cô.

Người ta thấy cô ngồi bật dậy, thở gấp, đôi ngươi vốn không thuộc về cơ thể cô bấy giờ đảo liên hồi.

Biểu hiện ấy khiến đám đông phấn khích hơn bao giờ hết, có một tên thậm chí còn trực vùng lên sân khấu.

Thế nhưng, Robert Knox mới là kẻ hào hứng nhất.

Hắn giang rộng hai tay, hét lên đầy cảm thán điên cuồng.

"Là quyền năng của Chúa!

Chúng ta đã chạm tới quyền năng của Chúa và đạt tới đỉnh cao trong giải phẫu cơ thể người."

Rất nhiều tiếng tán dương vang lên, còn trung tâm của sự tán dương ấy là cô gái trẻ- lúc này vẫn không ngừng vã mồ hôi như tắm; chừng vài khắc sau, cơ thể cô cứng đờ lại, mắt vẫn trợn trừng, rồi từ từ đổ ập xuống bàn trong cơn sững sờ hụt hẫng của toàn thể khách khứa.

Nét cười trên gương mặt Robert Knox cứng đờ lại.

Sau một giây thuỗn đơ, hắn cắm đầu lao tới gần cô gái đã chết cứng, nhìn lướt qua lớp bọt trắng đọng trên khóe miệng cô, kiểm tra mạch cổ và hơi thở.

Cái lạnh ảo giác khi chạm vào cơ thể người chết chầm chậm truyền tới mọi giác quan của hắn.

Sự thất vọng trên gương mặt nom giống loài đười ươi rõ rệt tới mức- người ta tưởng như niềm kiêu hãnh là một bác sĩ tài ba của hắn sắp gục xuống cái bàn dài đầy máu kia.

Gã quay đầu nhìn tên tư tế, chậm chạp lắc đầu.

Bên dưới khách mời bắt đầu vang lên tiếng xì xào.

Chiếc bàn cùng cô gái lại được đưa xuống, không ai bảo ai nhưng họ biết, thí nghiệm này đã thất bại.

"Sắp đạt tới rồi!

Sắp đạt tới rồi..."

Robert Knox lẩm bẩm như thế trong cơn mê man.

Một cô gái nữa lại được đưa lên, rồi lại được đưa xuống với hốc mắt trống không.

Cứ thế, cứ thế, những chiếc bàn và những vật tế liên tục được đưa lên rồi lại đưa xuống.

Hứng thú và sự chờ đợi của mọi người chậm rãi nguội dần và bị rút kiệt khi thấy những chiếc bàn trắng tinh được đẩy lên rồi lại bị đẩy xuống sau khi đã đẫm máu với một thi thể thiếu nữ trên đó.

Ở hai bên hông của khán đài, những chiếc lồng xương còn nhốt người mỗi lúc một giảm dần, chẳng mấy chốc đã chỉ còn lại chưa tới mười chiếc.

Tới lúc này Victor mới đưa mắt nhìn chiếc lồng đang nhốt Eleanor.

Sân khấu đã đẫm máu, Robert Knox dần mất kiểm soát và điên loạn, khách khứa cũng gần như chẳng còn kiên nhẫn để xem trò đùa máu me này nữa.

Màn trình diễn này nên kết thúc ở đây được rồi.

Victor đưa mắt nhìn hơn 30 chiếc lồng làm từ xương người được đặt rải rác ở hai bên hông của sân khấu.

Chúng đều được treo cao cách mặt đất chừng 20 feet, một độ cao đủ để nếu nhảy ra từ lồng thì sẽ bị thương.

Lồng được treo cao bằng dây thừng bọc ngoài là vàng trắng để gia cố thêm độ chắc.

Dây thừng treo những chiếc lồng với xà nhà được điều khiển lên xuống theo cơ chế của ròng rọc.

Mà cần điều khiển ròng rọc thì nằm ở đằng sau khán đài.

Ngài Bá tước đã quan sát tất thảy những điều ấy kể từ giây phút mới đặt chân vào căn phòng, và giờ sẽ là lúc ngài áp dụng sự quan sát ấy.

Âm thầm lách mình qua đám đông đang đứng nhốn nháo, Victor lẻn ra sau khán đài trong sự mất cảnh giác của tất thảy mọi người.

Quả nhiên ở phía sau khán đài là hơn 30 chiếc ròng rọc ứng với hơn 30 cái lồng xương được treo ngoài kia.

Cũng bởi vật tế đã bị đưa ra gần hết nên ở chỗ này chỉ có một tên canh giữ chịu trách nhiệm điều khiển ròng rọc.

Victor thận trọng bước về phía hắn, rút lấy con dao găm giắt bên hông rồi dứt khoát phóng tới.

Lưỡi dao ghim thẳng vào ngực trái, hắn lập tức ngã vật xuống.

Victor bước tới gần những chiếc ròng rọc.

Thừng treo lồng xương chỉ được mạ vàng ở riêng phần dây treo với trần nhà, phần còn lại nối với ròng rọc thì vẫn là thừng bện bình thường.

Victor dùng dao găm cắt đứt một sợi dây gần nhất.

Dây treo lồng được cố định bởi ròng rọc, lúc này thình lình bị cắt phựt lập tức rơi tự do trong không trung.

Bọn chúng làm lồng bằng xương người, trong khi xác người để đạt đến độ phân hủy chỉ còn trơ lại xương thì xương cũng sẽ đạt tới một độ xốp nhất định.

Đó là lí do bọn chúng phải cố định những mấu nối bằng sắt đồng thời lợp đáy và trần của lồng thay vì cũng là xương thì lại là bạc trắng.

Một chiếc lồng rơi tự do rồi kéo theo sau đó là rất nhiều chiếc lồng khác cũng đồng loạt rơi xuống.

Rơi từ độ cao 10 feet kết hợp với việc va chạm lẫn nhau khiến những bộ xương nhanh chóng vỡ vụn, bụi trắng tung lên như sương mờ.

Victor nhìn cảnh tượng ấy, chậm rãi vòng lên trước khán đài, rút ra một cây củi từ đống lửa cao đang cháy hừng hực ở giữa phòng, ném thẳng vào đống xương vụn có một số đã hóa thành bột trắng.

Photpho có sẵn trong xương người sau khi xương hóa bột tích tụ lại rất nhiều trong không khí và trên mặt đất, khi gặp lửa đỏ lập tức bùng lên.

Lửa nhanh chóng lan ra, chẳng mấy chốc hai bên hông của khán đài đã đỏ rực màu lửa.

Khách có mặt trong hội chợ vốn đã không muốn xem trò thử nghiệm đẫm máu của Robert Knox nữa, thấy lửa bùng lên thì hoảng loạn, lập tức chen nhau thoát thân theo lối ra vào của căn hầm.

Victor ung dung xoay người nhìn cảnh tượng ấy.

Trong khi hầu hết đều chạy ra cửa để thoát thân, duy nhất chỉ có một kẻ chạy lên khán đài, vội vàng lao về phía cỗ quan tài im lìm được phủ khăn trắng.

Dưới lớp mặt nạ, ngài Bá tước nhếch môi cười.

Quả nhiên, phải có cháy thì chuột mới chịu lòi đuôi.

Ngài siết chặt con dao găm trong tay, len qua đám đông để tiến gần tới kẻ đang tức tốc chạy tới chỗ cỗ quan tài.

Thế nhưng trong một khắc ngắn ngủi, giữa đám đông hỗn loạn chen lấn, xuyên qua màn lửa cháy kinh người, ngài chợt trông thấy 4 chiếc lồng vẫn còn chứa vật tế mà ban nãy ngài vẫn chưa cắt đứt dây nối ròng rọc.

Một trong số đó có nhốt Eleanor- lúc này vì tác dụng của thuốc mê mà vẫn còn say ngủ.

Lửa xung quanh đang dần cháy lớn tới không tưởng nổi.

Theo phản ứng quen thuộc của một kẻ không quan tâm tới gì khác ngoài mục đích của bản thân, ngài đã xoay người tiếp tục bước đi.

Thế nhưng mới được vài bước, trong đầu ngài lại hiện lên hình ảnh Eleanor khi nói.

Tôi tin ngài.

Nàng góa phụ đó thốt ra câu nói lãng mạn ấy với một giọng điệu thù hằn và gương mặt đầy vẻ căm hận không khuất phục, thế nhưng, dù sao cô ta cũng đã đặt mạng sống của mình vào tay ngài.

Mà ngài thì có nguyên tắc làm việc luôn rõ ràng, không ảnh hưởng đến danh dự đối phương, càng không ảnh hưởng đến danh dự và uy tín của bản thân mình.

Bước chân ngài Bá tước đã dừng lại, xoay nhanh về hướng đám cháy.

Hai bàn tay ngài nắm chặt, và ngài lầm bầm trong cổ họng.

"Đó là lí do ta không bao giờ muốn động vào phụ nữ."
 
Cốt Cách Một Quý Ông
Pháo đài tội ác: dấu vết (3)


iii.

"Tôi đưa cho cô một sợi dây.

Việc leo lên hay không phụ thuộc vào cô vậy."

~~~

Victor siết lại dây buộc mặt nạ, không một khắc chần chừ lao thẳng vào đám cháy trước mặt.

Lửa đã vây kín lối dẫn vào phía sau khán đài, điều này đồng nghĩa với việc ngài không thể tới được chỗ đặt cần điều khiển ròng rọc treo những chiếc lồng.

Một thoáng suy nghĩ xẹt qua đầu Victor, và ngài cúi người nhặt lấy một đoạn dây thừng trên đất- tàn dư còn lại của những chiếc lồng xương với thừng treo mạ vàng.

Ngài cuộn sợi thừng vào tay, sau khi ước chừng đã đủ dài thì lập tức chạy về phía chiếc lồng của Eleanor.

Eleanor nằm mê man trong lồng vì tác dụng của morphin.

Cô không biết mình đã ngủ bao lâu, chỉ biết rằng tới khi cô lơ mơ tỉnh dậy thì xung quanh chỉ có một màu đỏ rực của lửa cháy.

Phần đáy lồng nhốt được làm bằng vàng bị hun bởi lửa cũng nóng ran lên, đến mức dù cho cơ thể đã gần như không còn sức lực, nhưng cô vẫn phải cố gượng đứng dậy.

Đứng từ vị trí trên cao, cô chẳng nhìn thấy gì khác ngoài biển lửa đỏ rực.

Và rồi cũng từ biển lửa ấy, một chấm đen thình lình xuất hiện ngạo nghễ xuyên thủng qua màu đỏ ngang tàn, lao nhanh về phía cô.

Người đó bỗng đưa mắt lên nhìn Eleanor, đôi mắt màu lục sẫm ẩn sau lớp mặt nạ quái dị lóe lên giữa sắc lửa đỏ.

Lúc bấy giờ Eleanor mới thoáng nhếch môi cười khinh bỉ.

Ngài cũng biết giữ lời đấy nhỉ, Bá tước.

Người góa phụ tự lầm bầm như thế, đôi mắt đen láy thích thú nhìn dáng vẻ Victor vừa vội vã vừa chật vật vượt qua đám cháy đang ngày càng lan rộng.

Khoảng chừng vài phút sau thì Victor tới được chỗ treo lồng nhốt của Eleanor, trên tay là cuộn dây thừng nhặt được từ những chiếc lồng treo đã bị rơi nát.

Ngài đưa đôi mắt tĩnh lặng lên nhìn Eleanor, chẳng nói chẳng rằng cầm lấy một đầu của đoạn dây dừng, xoay nhanh nhiều vòng trong không khí.

Eleanor Austen cũng chẳng phải kẻ ngốc, lập tức nằm rạp xuống bất chấp đáy lồng bạc đang bị lửa hun nóng, sẵn sàng bắt lấy sợi dây khi Victor quăng lên.

Bởi độ cao gần 10 feet so với mặt đất, phải sau 4 lần thử, Eleanor mới bắt được sợi dây.

Victor lao vào giữa đám cháy để cứu cô, đó là bởi anh ta là một kẻ biết giữ lời hứa.

Và chỉ có vây, không hơn không kém.

Như lúc này đây, anh ta trao cho cô cơ hội để sống- trao cho cô một sợi dây thừng, còn có thoát chết được không lại là việc của cô.

"Tôi không phải vệ sĩ, quản gia, hay tệ hơn là người trông trẻ, thưa cô Austen."

Cuối cùng Victor cũng chịu mở miệng, nhưng lại chẳng phải để nói một câu trấn an, hay một lời động viên tử tế nào cho cam.

Đưa mắt im lặng nhìn Eleanor thêm vài giây nữa, ngài lập tức quay đầu chạy về phía sâu khấu trải thảm nhung, dứt khoát nhẹ nhõm như vừa hoàn thành được nhiệm vụ cần làm.

Ngài đã trao cho Eleanor sợi dây để cô ta leo xuống, còn xuống được hay không là việc của cô ta.

Victor nhếch môi cười gian ác.

Nếu đủ thông minh thì cô ta sẽ biết cách thoát xuống bằng việc lợi dụng đám cháy này.

Eleanor nắm lấy sợi dây, gấp rút nghĩ cách thoát thân.

Sợi dây Victor mang cho cô rất dài, đủ cho cô dùng để leo xuống, khoảng 1 mét ở phần đầu dây còn được rát một lớp vàng mỏng.

Sau một lát suy tính, Eleanor thả đầu dây rát vàng ấy xuống đám lửa đang cháy hừng hực.

Cô muốn nung chảy lớp vàng này.

Thời gian cấp bách trôi đi, cô có cảm giác phần đáy lồng sắp bị hun chảy.

Chẳng còn nhiều thì giờ nữa.

Người góa phụ tháo xuống chiếc mặt nạ bằng ren, gấp lại rồi buộc chặt qua mũi và miệng để tránh khói độc tràn vào phổi.

Rồi cô kéo đầu dây rát vàng kia lên.

Thời gian được canh vừa chuẩn, vàng rát ngoài dây thừng đã có dấu hiệu nóng chảy.

Eleanor nắm lấy đầu sợi dây đã được nung nóng ấy dính vào phần đáy của chiếc lồng, lại buộc thêm một vòng dây nữa qua những chấn song làm từ xương để tăng thêm phần chắc chắn, đầu thừng còn lại cô buộc chắc một vòng quanh bụng mình.

Cô đứng dậy, giật lùi về phía cuối lồng, lưng áp vào những chấn song.

Hít một hơi thật sâu, cô lấy đà rồi chạy thật nhanh về phía bên kia của cái lồng, trước khi đầu chạm vào những khúc xương cứng thì lập tức xoay người, để lưng tiếp xúc với phần chấn song làm bằng xương, mượn lực từ cú va chạm đánh gãy những chấn song đó, sau đó cả cơ thể rơi thẳng ra ngoài.

Chiếc lồng đung đưa dữ dội trước cú va chạm mạnh còn Eleanor thì rơi tự do trong không khí.

Cô mở trừng hai mắt nhìn mặt đất đang gần ngay trước mắt, siết chặt sợi dây đang buộc quanh bụng mình, thầm cầu nguyện nó sẽ không bị đứt trước khi cô chạm chân được xuống mặt đất.

Eleanor có thể nghe thấy tiếng gió hòa lẫn tiếng lửa nổ lép bép vang lên rất rõ ràng bên tai.

Cô vẫn tiếp tục rơi, mặt đất đã mỗi lúc một gần, và rồi thình lình cô thấy eo mình bị siết chặt bởi sợi dây buộc quanh bụng.

Sợi thừng đã giãn căng, Eleanor ngừng rơi, cô chỉ còn cách mặt đất nửa feet nữa.

Một khoảng cách an toàn.

Eleanor thở phào, cảm giác mọi sức lực của mình đều bị rút cạn.

Cô tháo nút sợi dây đang buộc quanh bụng, cả cơ thể lập tức rơi thẳng xuống đất.

Khoảng cách không cao nhưng đủ khiến cô ê ẩm.

Eleanor cảm giác như mình sắp chết, nhưng lửa đỏ xung quanh nói với cô nếu lúc này cô không đứng dậy thì cô sẽ chết thật.

Thế nên mặt dù hai chân đã mềm nhũn và cổ họng thì khô rát vì thiếu khí thở, cô vẫn lồm cồm bò dậy.

Cô cởi chiếc áo choàng đang mặc trên người, vừa chạy nhanh khỏi đám cháy vừa dùng áo choàng để dập lửa khi cần, cố gắng chọn những điểm không có lửa mà chạy qua để giảm thiểu tổn thương xuống mức thấp nhất.

Cô cứ thế chạy mãi, chạy mãi, cho tới khi thoát khỏi vùng lửa cháy dữ dội thì trên người đã xuất hiện không biết bao nhiêu vết bỏng rộp.

Trước khi ngất đi, cô chỉ thấy cảm giác lạnh buốt nhưng vô cùng dễ chịu tạt thẳng vào người mình.

Một ai đó cúi xuống bế thốc cô lên, gương mặt điển trai vô cùng quen thuộc.

Tóc nâu và đôi mắt cùng màu, còn ai khác ngoài tên chủ tiệm kì quái của Midnight Poison?

Spectre cúi mặt nhìn cô, thì thầm trong khi hai chân bước như chạy.

"Tôi cứu cô theo lời của Bá tước."

Qua vai áo màu đen của hắn, Eleanor chỉ kịp trông thấy cánh cửa hầm chầm chập khép lại.

Lửa đỏ nuốt lấy hình bóng của Victor Shadow đang đứng giữa căn phòng hoang tàn, sau khi nhìn thấy hai người dần khuất bóng thì lặng lẽ quay đầu, bước lên sân khấu phủ thảm nhung đen như bước lên đoạn đầu đài đang gầm rú bài ca chết chóc.

Victor bước về phía sân khấu- nơi một người đàn ông mặc áo chùng đen đang gắng sức di chuyển cỗ quan tài phủ khăn trắng.

Cũng bởi vì đám cháy, ai nấy đều lo chạy thoát thân, chỉ có riêng người đàn ông này lại chạy ngược trở lại sân khấu, bằng mọi giá bảo vệ cỗ quan tài như thể đây là một vật vô cùng quan trọng.

Victor đã để ý thấy, trong lần thử nghiệm suýt thành công đầu tiên, cũng chính người đàn ông này là người vui mừng hơn cả.

Ông ta thậm chí còn có ý định chạy lên cả khán đài.

"Dừng lại được rồi đấy, Công tước Josh Sanders."

Victor kéo cần đóng cửa hầm, rõ ràng đang muốn cô lập bản thân cùng với người đang loay hoay bên cỗ quan tài kia.

Sau khi nghe tiếng gọi, kẻ đó chỉ dừng lại một khắc rồi lại tiếp tục dùng sức kéo cỗ quan tài.

Kiên trì và nhẫn nại tới mức, tưởng như việc chết chìm trong biển lửa này cũng không thể ngăn cản được bước chân của ông ta.

Victor thấy ông ta không phản ứng, lập tức bước đến, dộng thẳng vào xương hàm một đấm khiến ông ta ngã vật xuống.

Người đàn ông thấy vậy thì nghiến răng, thụng mạnh vào bụng ngài một cú chớp nhoáng.

Victor hơi giật lùi về sau vì cơn đau, nhưng vẫn kịp đưa tay lên giật phăng lấy chiếc mặt nạ của kẻ đó.

Mặt nạ bị giật xuống, gương mặt ông ta lộ ra.

Mái tóc muối tiêu và làn da hơi nhăn nheo của tuổi trung niên, hai con mắt đen nhánh thấu suốt, lóe lên vẻ gian trá, sống mũi khoằm và cái miệng rộng.

Chính xác là Công tước Josh Sanders, nhưng gầy guộc và già nua hơn xưa rất nhiều, thậm chí còn mang nét khổ cực gió sương, khác xa với vẻ đạo mạo quyền quý vài năm trước trong ấn tượng của Victor.

Josh Sanders đổi mục tiêu từ cỗ quan tài sang Victor, với cương vị là một cựu tướng sau này lui về làm đại thần nhiếp chính, mặc dù tuổi đã bước sang trung niên, nhưng không khó để ông đối phó với gã Bá tước điển trai sạch sẽ nhà Shadow.

Bằng chứng là ngay khi tiếp cận Victor, ông ta liền hung hăng ra đòn liên tục.

"Tao sẽ cho mày được toại nguyện, chết ở đây, Bá tước ạ."

"Khua tay múa chân như diễn trò mà cũng dám đánh lại tao?

Mày nên cút về với mấy thứ chiến lược của mày thì tốt hơn đấy."

"Đệ Nhất Chiến Lược Gia?

Nhưng có vẻ Chiến Lược Gia của Đức Vua không giỏi đánh đấm lắm nhỉ?"

Josh Sanders vừa dồn dập tung về phía Victor những cú đấm chí mạng, vừa luôn miệng chửi rủa.

Victor nghiến răng chống lại những đòn tấn công ấy, nhưng chỉ được phân nửa, dường như ngài thậm chí còn không có cơ hội phản công.

Josh Sanders càng đánh càng hăng, liên tục dồn Victor lùi về phía đám lửa cháy, dứt khoát khiến sự chống cự của ngài buộc phải buông xuôi.

Gương mặt Victor bắt đầu bầm tím, máu rỉ ra từ khóe miệng, nhưng đôi mắt vẫn lầm lì tới mức đáng sợ, thậm chí trước mỗi câu chửi của Josh Sanders ngài còn nhếch môi cười.

Josh Sanders dồn Victor vào đám lửa, dùng chân thụi mạnh một đạp giữa bụng khiến ngài Bá tước ngã nhào xuống, ho ra một ngụm máu.

Ngài bật cười, chống tay trên đất, đưa đôi mắt màu lục sáng quắc gian xảo nhìn ngài Công tước, thì thào trong khi gương mặt nhễu máu.

"Vậy ngài có biết vì sao Đức Vua trao tặng tôi danh hiệu Đệ Nhất Chiến Lược Gia không?

Công tước Josh Sanders?"

Josh Sanders bật cười khinh bỉ, tung về phía Victor một đấm, nhưng lần này ngài Bá tước lập tức vươn tay ra tóm lấy cổ tay ông.

Nụ cười trên môi tắt ngấm, ngài nói như rít qua kẽ răng.

"Bởi vì tôi là kẻ biết khi nào nên hi sinh một thành trì để chiếm lại cả vương quốc."

Chưa dứt lời, con dao găm trong tay Victor nhanh như cắt cắm thẳng vào bụng ngài Công tước đang đắc ý vì nghĩ mình sắp chiến thắng.

Ông nhăn mặt đưa tay lên ổ bụng vừa bị dao xuyên thủng, run run ngã ngửa ra sàn.

Victor lúc này mới đưa tay lên quệt máu ngang miệng, chống tay đứng dậy.

"Bởi vì tôi biết đánh giá đối thủ quá sức hay vừa sức để đưa ra chiến lược thích hợp."

Ngài nói trong khi đưa chân nghiến lên vết thương ở bụng Josh Sanders khiến ông ta rú mạnh lên.

"Bởi vì tôi biết đôi khi nên chịu đòn để đối phương mất sức và mất cảnh giác, cuối cùng đợi thời cơ để phản kích một đòn chết ngay."

Chân ngài Bá tước vung lên, sút thẳng vào đầu Josh Sanders khiến ông ta lăn một vòng trên đất.

Ngài Công tước rên lên một cách khó nhọc, máu từ vết thương trên bụng chảy ra nhuộm đỏ cả nền đất, ông đã gần như mất toàn bộ sức lực.

Lúc này Victor mới bước lên sân khấu nơi vẫn còn đặt cỗ quan tài được phủ khăn trắng.

Ngài kéo tấm khăn xuống, lộ ra trước mắt là một xác chết phụ nữ nằm trong cỗ quan tài bằng thủy tinh.

Nhưng ngài cũng không rõ đây có nên được gọi là xác chết hay không, bởi trái với vẻ tím tái phân hủy như bình thường, xác chết này gần như vẫn giữ nguyên được màu da, thậm chí khi nhìn qua còn thấy vẻ cứng đơ như tượng sáp.

Xác chết này có những nét vô cùng giống với phu nhân Công tước Sanders khi còn sống.

Sự tương đồng này phần nào lí giải được lí do Josh Sanders bày ra trò cấy ghép rồi hồi sinh xác chết trong buổi tối hôm nay.

Victor đưa tay đẩy mạnh quan tài khỏi sân khẩu khiến nó rơi xuống sàn vỡ toang.

Josh Sanders lập tức điên cuồng gào lên như một con thú bị thương, từng bước lết về phía cái xác kì lạ ấy.

Ngài Bá tước cúi người đưa tay chạm vào xác chết kia.

Cảm giác như chạm vào da người nhưng lại không da người, cứng đơ như được phủ một lớp sáp cứng.

Một ý tưởng kì quái lướt qua óc khiến ngài đưa mắt nhìn Josh Sanders với vẻ hoài nghi.

"Ông đã bơm sáp để bảo toàn xác chết?"
 
Cốt Cách Một Quý Ông
Pháo đài tội ác: dấu vết (4)


iv.

"Chim Nhại thấy thế liền đắc ý

Những tưởng sẽ được chia phần hơn.

Đâu ngờ giữa đường chợt đứt cánh

Rơi thẳng xuống hố quỷ u linh."

~~~

Vết thương nơi ổ bụng khiến việc di chuyển đối với Josh Sanders trở thành một nỗ lực đòi hỏi sự cố gắng bằng cả mạng sống.

Thế nhưng ông vẫn không màng; không thể đi được bằng chân, ông chống hai khuỷu tay xuống nền đất, dùng sức kéo lê thân mình về phía trước.

Ông nghe thấy trong giọng nói của gã Bá tước nhà Shadow vẻ khinh bỉ và ghê tởm khi hỏi liệu có phải ông dùng sáp để bảo toàn xác của Catherine hay không.

Ông biết việc làm ấy trong mắt bất cứ ai, với bất cứ chuẩn mực nào- đều là điên cuồng và man rợ.

Nhưng ông nào quan tâm đến những ánh mắt và định kiến của người ngoài ấy.

Josh Sanders vươn tay chạm vào những ngón tay cứng đờ như đúc từ sáp của Catherine.

Cô ấy đang nằm giữa đống thủy tinh vỡ nhưng lại không hề chảy máu.

Từ xưa khi còn sống và ngay đến tận bây giờ, Catherine đối với ông vẫn luôn là một tạo vật tuyệt vời nhất, hoàn hảo nhất, bất diệt nhất.

Josh Sanders siết chặt những ngón tay của Catherine, mí mắt ông giật giật như muốn tuôn ra một hàng nước mắt.

Ông áp đôi tay lạnh ngắt ấy lên má mình, cảm giác xưa cũ năm nào chợt ùa về chiếm lấy mọi giác quan và tim óc ông.

Hiện ra trước mắt ngài Công tước, bập bùng giữa những tàn lửa nổ như pháo sáng, là kí ức về ngày đầu tiên Josh Sanders gặp Catherine.

Ấy là vào một buổi sáng mùa thu diễn ra cuộc đua thuyền hoàng gia trên sông Thames, với người giám sát và trao thưởng là Quốc Vương George lỗi lạc.

Cuộc đua gồm những gia tộc lừng lẫy nhất hoàng tộc tham gia, thu hút rất nhiều người dân cũng như những quý tộc khác đến xem.

Josh Sanders ngày hôm đó là người đại diện cho cả tộc Sanders, mang trên mình áp lực và kì vọng phải chiến thắng.

Người xem đặt cược cho những đấu thủ rất sôi nổi.

Josh Sanders là một trong những người được đặt cược nhiều nhất, vậy mà cuối cùng ông lại thua cuộc, thậm chí còn thua cuộc một cách nhục nhã.

Charles Shadow về nhất, còn ông là người về cuối cùng trong cuộc đua.

Không chỉ vậy, lại còn là người tham gia duy nhất bị lật thuyền.

Josh vẫn nhớ như in những tiếng cười rần rần khắp hai bên bờ sông khi ông ngoi lên với cơ thể đẫm nước sông.

Cha mẹ ông thậm chí xấu hổ đến mức quay mặt đi, không thèm nói lấy nửa lời.

Những lời cười chê khiến ông phẫn nộ, nhưng việc chẳng có bất cứ ai tiến đến khi ông trở lại bờ còn đáng phẫn nộ hơn.

Bọn họ đều dồn hết về phía kẻ chiến thắng.

Điều này khiến ông cảm nhận rõ ràng thế nào là ba chữ kẻ-thất-bại.

Vậy mà Catherine đã tới, với một cái khăn trắng bông và đôi bàn tay vẫn còn thoảng hương bánh mì.

Cô gái làm bánh ấy đã tiến về phía ông, người duy nhất tiến về phía ông, chỉ mỉm cười đưa cho ông chiếc khăn rồi quay người đi mất dạng.

Josh Sanders khi ấy vừa thấy biết ơn, cảm động lại vừa thấy xấu hổ và phẫn nộ.

Có khi nào cô gái đó đang thương hại mình?

Suy nghĩ thiển cận và nông cạn ấy khiến ông nắm chặt lấy chiếc khăn, đuổi theo cô gái lạ mặt có đôi tay thơm mùi bánh mì nướng.

Ông nhớ mình đã đuổi tới đúng cửa tiệm mà cô gái làm việc, là một cửa hiệu bánh nhỏ nằm ở khu Old Town.

Ông đứng chắn trước mặt cô, vừa thở vừa hỏi.

Cô đang thương hại tôi à?

Tôi không thương hại ngài.

Trong cuộc đời này chẳng ai có quyền thương hại kẻ khác.

Cô nói thế, vẫn dịu dàng dù Josh Sanders gần như nổi điên.

Tôi chỉ đưa khăn vì khi ấy tôi đang cầm một chiếc ăn, còn ngài thì đang ướt.

Nói xong, cô mỉm cười bước vào tiệm bánh, để lại Josh Sanders đứng một mình thẫn người giữa đường phố.

Sau ngày hôm đó, ngài Công tước nhà Sanders như bị trúng phải bùa phép, ngày nào cũng lui tới tiệm bánh nhỏ nằm ở cuối đường Old Town.

Đều đặn như thế suốt hai năm chẳng thiếu một ngày nào, cuối cùng Josh Sanders cũng lấy được Catherine làm vợ- nhưng là trong sự thóa mạ của họ hàng và toàn thể giới quý tộc.

Thời buổi ấy làm gì có chuyện một Công tước đi lấy một cô gái bán bánh, hay một quý tộc đi lấy một ả dân đen nghèo hèn.

Bọn họ vốn có tư tưởng điên cuồng về danh phận của mình, về việc mình là một chủng tộc thuần chủng thanh cao bậc nhất.

Thế nên hôn lễ của Josh Sanders giống như một cái tát vào sự tự tôn và niềm kiêu hãnh của họ.

Ngài Công tước trẻ thì chẳng buồn quan tâm đến điều ấy, vẫn hạnh phúc trong hôn lễ của chính mình.

Khi bắt đầu chuyện tình với Catherine ông đã là một kẻ phá tan chuẩn mực.

Vậy nên chẳng có lí do gì để ông không phá đi những chuẩn mực khác sau khi cô chết đi.

Nửa năm sau khi ông trở về từ lần suýt chết ở Haiti, Catherine qua đời vì bệnh phổi.

Khi cô vẫn còn đang trong thời gian bị bệnh, Josh điên cuồng tìm mọi cách để chữa bệnh cho cô.

Những bác sĩ giỏi nhất được vời về, những loại thuốc tốt nhất được sử dụng, nhưng tất cả đều vô ích.

Catherine cứ thế mỗi ngày một yếu đi.

Trong số những chuyên gia được mời đến để trị bệnh cho Catherine có một người khá đặc biệt.

Tiến sĩ Robert Knox của Đại học Edinburgh, sau rất nhiều lần lui đến dinh thự của nhà Sanders, một hôm đã nói với ngài Công tước rằng- Catherine có thể sống khỏe mạnh tiếp nếu có một lá phổi khỏe mạnh khác thay thế.

Thế nhưng cấy một bộ phận vào cơ thể người là một việc không tưởng, những bác sĩ cùng ngành khác đã chửi ông điên rồ vì ý tưởng này.

Không có cách chữa trị dứt điểm, nửa năm sau Catherine qua đời.

Quá đau đớn và không thể chấp nhận được sự thật đã mất cô, Josh Sanders nhờ đến những bác sĩ ngành giải phẫu để hỏi về cách bảo quản xác chết.

Họ gợi ý cho ông một cách mà các phòng giải phẫu cơ thể người khi ấy hay áp dụng, đó là bơm sáp vào cơ thể.

Sáp nóng chảy được bơm vào người Catherine qua đường cuống họng và các mạch máu, họ còn phủ lên da cô một lớp mỏng khác để tránh việc da bị hư hại.

Josh Sanders đặt cô vào một chiếc quan tài thủy tinh, cẩn trọng bảo quản trong nhà, còn mình thì điên dại đi tìm những giáo phái, tà thuật để hồi sinh người chết.

Trải nghiệm chết chóc ở Haiti rõ ràng sẽ không bao giờ phai nhạt trong tiềm thức của ông.

Và ông vẫn luôn đặt ra câu hỏi rốt cuộc họ đã làm gì để đưa ông từ cõi chết trở về.

Ông tin rằng nếu như có thuật hồi sinh bí hiểm ấy, ông sẽ khiến Catherine sống lại.

Đó là lí do Josh Sanders căng buồm quay trở lại Haiti, nhưng lần này ông đi theo với một đạo quân được chuẩn bị kĩ càng.

Khi tới được Haiti rồi trở về, ông mang về một bokor và rất nhiều thứ bột màu đen mà chúng dùng để hồi sinh người chết.

Bokor đó sau này chính là thầy tư tế của ông.

Đã có được thứ bột màu đen ấy, họ có thể bắt đầu việc hồi sinh cho Catherine.

Thế nhưng đây lại là một việc chứa nhiều rủi ro, vậy nên họ nảy ra ý định thử nghiệm trên những xác chết khác.

Rất nhiều lần thử nghiệm, hàng chục xác chết được sử dụng nhưng kết quả mang lại vẫn không mấy khả quan, Josh Sanders nghĩ mình đã phát điên trong tuyệt vọng.

Thế nhưng chính trong lúc ông tuyệt vọng nhất, Robert Knox lại tìm đến.

Nói rằng ông ta có thể hồi sinh Catherine, nhưng là theo một cách khác.

Ông ta sẽ tạo ra một Catherine khác, bằng cách tìm những cô gái có vẻ ngoài giống với Công tước phu nhân.

Sẽ rất khó để tìm ra một người giống hoàn toàn như thế, do vậy họ sẽ tìm những người có những bộ phận riêng lẻ tương đồng, sau đó lấy đi từng bộ phận của mỗi cá thể để ghép lại làm một.

Catherine có đôi mắt và mái tóc màu đen.

Đó là lí do điều kiện để chọn các vật tế là tóc đen và mắt đen.

Xác chết được Josh Sanders mua lại với số lượng lớn từ những tay trộm xác, làm dấy lên tin đồn về ma cà rồng ở Edinburgh.

Câu chuyện Gothic kì bí này lôi kéo rất nhiều người tò mò đến nghiên cứu rồi tìm tòi, nhưng ông không bao giờ ngờ tới trong đó còn có Victor Shadow.

Trong ấn tượng của ông, đây là một con cáo, một con quái vật, và một kẻ sẽ không bao giờ quan tâm đến những thứ không liên quan đến mình.

Thế nhưng bởi gã Bá tước đó đã tìm tới tận hang ổ của ông, nên ông buộc phải giăng bẫy.

Josh Sanders để Robert Knox là mồi dẫn dụ Victor Shadow tới Hội Chợ Phù Hoa, tạo ra một bữa tiệc giả gọi là Buổi Gặp Mặt.

Trong bữa tiệc này cũng có rất nhiều những kẻ mà ông nghi ngờ rằng mục đích chúng tìm đến không phải để chạm tới quyền năng của Chúa mà là để thám thính.

Ông đã cho sử dụng chất độc trong bữa tiệc ấy, nhốt bọn chúng vào trong những chiếc lồng, nhưng vạn lần không thể nghĩ tới rằng con quái vật trong Victor Shadow đã phát điên.

"Ông làm tất cả những điều ấy, kể cả Hội Chợ Phù Hoa, chỉ để hồi sinh cái thứ này?"

Victor cất tiếng khiến dòng hồi tưởng của Josh Sanders bị chặn đứng.

Ông ta mơ màng ngước mắt lên rồi bật cười khanh khách, vừa nói vừa nghiến răng.

"Đúng vậy, tao đã làm tất cả những thứ này, và tao sẽ có thể làm nhiều hơn thế để mang Catherine quay trở lại."

Lúc bấy giờ Victor mới ngồi xuống cạnh cái xác, đưa mắt nhìn bộ dạng thảm hại của Josh Sanders, ngài mỉm cười, giọng nói cất lên đầy vẻ giễu cợt.

"Si tình quá nhỉ?"

Vẻ căm hận và bất lực trong đôi mắt Josh Sanders đột nhiên biến chuyển thành một vẻ đắc ý như là chiến thắng.

Ông ta gắng sức vươn người tới gần Victor, bàn tay dính máu nắm lấy cổ áo ngài, đôi mắt hơi mờ nước trừng lên nhìn ngài, gằn từng chữ trong niềm hả hê và thương hại.

"Phải rồi, tao quên mất.

Thứ-quái-vật-như-mày-thì-đâu-thể-cảm-nhận-thế-nào-là-tình-yêu?"

Hai chữ quái vật mà Josh Sanders thốt ra giống như một đòn đánh thật đau vào tâm lý của Victor.

Ngài luôn nhạy cảm với hai chữ quái vật, bởi bên trong ngài luôn có một con quái vật.

"Cái gì?"

Victor túm chặt lấy cổ áo Josh Sanders, đôi mắt vằn lên hằn tia máu.

Ngài Công tước vẫn khục khặc cười đắc ý, nói trong khổ sở.

"Ôi Victor tội nghiệp, vậy là Charles Shadow đã giấu sự thật ấy để bảo vệ mày.

Không, ông ta chỉ đang hủy hoại mày thôi."

"Ý ông là gì?"

"Nếu cha mày đã muốn bảo vệ mày khỏi bí mật ấy, thì Victor, tao cũng sẽ làm vậy.

Tao cũng sẽ để mày chết rục trong những ảo tưởng của chính mày."

Josh Sanders vừa nói vừa cười.

Ông ta đã tới giới hạn.

Máu chảy ra từ vết thương khiến ông ta sắp cạn kiệt sức lực.

Nhưng ông tao bỗng nhiên híp mắt như đang suy nghĩ gì đó, đưa mắt nhìn hình xăm loài Chim Nhại trên cổ tay mình, đoạn bật cười khanh khách, vừa cười vừa lắc đầu.

"Charles Shadow vẫn luôn là một kẻ khôn ngoan như thế.

Nhưng sai lầm duy nhất của hắn ta, sai lầm duy nhất đã hủy hoại hắn, chính là sinh ra mày."

Victor thoáng cau mày trước câu cảm khái của Josh Sanders.

Trong tâm tưởng dường như đang có một trận bão quét qua, nhưng ngài vẫn trụ vững sự điềm tĩnh trên gương mặt.

Victor biết sẽ không thể hỏi thêm gì nếu cứ tiếp tục tra khảo một kẻ đến cái chết cũng không sợ.

Vậy nên ngài buông cổ áo ông ta ra, đứng thẳng dậy.

"Vậy là ông sẽ không nói nhỉ?"

Victor Shadow nhếch môi cười trong khi mắt cụp xuống nhìn Josh Sanders, lửa bập bùng nửa sáng nửa tối sau lưng.

Nhìn gã Bá tước lúc này giống hệt Charles Shadow khi còn trẻ, nhưng là giống Charles khi chuẩn bị làm điều ác.

Josh Sanders vẫn luôn căm ghét lại đố kị và ngưỡng mộ dáng vẻ ấy của Charles Shadow.

Dáng vẻ của kẻ biết mình sẽ làm gì và biết mình sẽ chiến thắng.

"Dù-có-chết-cũng-không-nói."

"Được thôi."

Victor bước tới gần cái xác của Công tước phu nhân Catherine Millie Sanders.

Ngài nhặt lên một mảnh thủy tinh, rồi trước sự phản đối điên cuồng của Josh Sanders, ngài dùng đầu nhọn ấy khứa thật mạnh lên cánh tay của thi thể.

Bây giờ khiến cái xác này chảy máu là điểu không thể, nhưng phá đi sự hoàn hảo tuyệt diệu nhất mà Sanders luôn tôn thờ thì thừa sức.

"Cho ông thấy thêm một bằng chứng vì sao tôi là Đệ Nhất Chiến Lược Gia được Quốc Vương phong tặng."

Rất nhiều những vết xước khác xuất hiện trên tay và mặt của thi thể, còn Josh Sanders thì cấu xé gào thét điên cuồng như thể những vết thương đó ở trên cơ thể của chính ông ta.

Victor đang phá đi tượng đài, tín ngưỡng mà ông ta nhất mực tôn thờ.

"Vậy ông có nói- hay là không?"

Victor hỏi sau khi đã để lại kha khá vết xước trên làn da bằng sáp của thi thể Công tước phu nhân.

Josh Sanders đưa đôi mắt đỏ ngầu nhìn ngài, miệng bặm chặt lại khiến quai hàm bạnh ra đầy dữ tợn.

Victor nhìn thấy vẻ cố chấp ấy, gật đầu.

"Được thôi.

Tôi thấy có vẻ xác chết này quá cứng.

Có nên dùng lửa để nó mềm ra?"

Dứt lời, ngài nắm lấy phần tóc của xác chết kéo lê trên nền đất, sẵn sàng hướng về phía đám lửa.

Josh Sanders hoảng hốt lết nhanh theo, bất chấp vết thương không ngừng rỉ máu.

"Nói-hay là không?"

Victor hỏi lại một lần nữa, gằn mạnh từng chữ.

Lần này thì ngài Công tước quỳ sụp xuống, nước mắt đã mấp mé hai mí mắt.

"Ta sẽ nói."

Victor có được điều mình muốn lập tức quẳng cái xác cứng đờ về phía Josh Sanders.

Ngài Công tước ôm lấy thi thể đầy những vết rạch trong lòng, nâng niu trân trọng như thể đang bảo vệ lấy tín ngưỡng của cuộc đời ông.

Điều đau đớn nhất trên đời này không phải cái chết, điều đau đớn nhất là phải trông thấy tín ngưỡng của bản thân bị hủy hoại và sụp đổ.

"Giờ thì nói đi, đừng phí thêm thời gian của tôi nữa."

Josh Sanders lúc bấy giờ mới ngẩng đầu lên nhìn ngài Bá tước, với đôi mắt ngập đầy những hận thù, ông ta gằn giọng như đang dồn vào ấy tất cả sự phẫn nộ.

"Mày vẫn luôn cho rằng mẹ mày năm xưa chết là bởi bệnh tật hả, Victor?"

Câu nói ấy giống một đòn tấn công cực mạnh vào thành trì kiên cố dựng lên trong tâm trí của Victor.

Ngài như thấy pháo đài ấy đang chuẩn bị chao đảo, chao đảo, rồi dần dần lộ ra sơ hở.

"Ông nói gì?"

"Mẹ mày chết không phải vì bệnh tật, Victor, không phải vì bệnh tật.

Cái lồng sắt đặt trên tầng gác mái, mày nhớ không?

Bà ấy chết không phải do bệnh tật.

Chính mày là kẻ đã giết bà ấy.

Chính mày và con quái vật đang tồn tại trong cơ thể mày."

Âm giọng vừa thì thầm vừa gằn mạnh của Josh Sanders xói mạnh vào đại não Victor khiến đầu ngài đau như bị hàng ngàn nhát búa bổ mạnh.

Dư chấn từ việc lần trước Harrison Shaw thoát ra vẫn còn.

Sau lần ấy, pháo đài trong tâm tưởng mà Victor dựng lên đã bị lung lay.

Harrison Shaw có thể xuất hiện dễ dàng hơn nếu hắn có cơ hội.

Chính mày là kẻ đã giết bà ấy.

Chính mày và con quái vật đang tồn tại trong cơ thể mày.

Con quái vật đang tồn tại trong cơ thể mày.

"Tại sao lão ta lại nói thế, Harrison?"

Victor đứng trước cánh cửa của chiếc lồng sắt nhốt Harrison Shaw, cất giọng hỏi.

Khác với lần trước, lần này cửa lồng đã không còn khóa nữa.

Cái khóa để giam nhốt con quái vật đã biến mất rồi.

Harrison quay lại nhìn Victor, nhìn gương mặt giống y hệt hắn, mỉm cười trong khi cất giọng cao vút khanh khách.

"Cậu lại quên rồi, Victor.

Trí nhớ của cậu kém thật đấy."

"Chuyện gì đã xảy ra?

Cậu đã làm gì?"

"Tôi đã giải thoát cho chúng ta.

Giải thoát chúng ta khỏi người phụ nữ tâm thần ấy."

Victor thấy lồng ngực mình đau thắt lại khi nghe Harrison nhắc tới người phụ nữ tâm thần.

Ngài nhớ đó là cách gọi ghê tởm mà lũ quý tộc dùng để gọi mẹ ngài, trốn lủi sau lưng bà ở mỗi bữa tiệc để gọi, để bình phẩm rồi cười cợt.

Trong trí nhớ của Victor, mẹ ngài từng đâm đến chết một con mèo Anh lông trắng chỉ vì buổi hôm đó nó đi chơi lạc trong rừng và dính một chút bùn vào bộ lông.

Ngài cũng nhớ không biết bao nhiêu lần bà ném cả đĩa thức ăn nóng hổi vào những người hầu gái chỉ vì một giọt nước sốt dính ra vành đĩa.

Ngài cũng không thể quên mẹ ngài luôn huấn luyện để ngài trở thành một sinh vật hoàn hảo nhất, thánh thần nhất, bất kể bao nhiêu đớn đau ngài phải nhận trên thân mình.

Mẹ Victor bị ám ảnh bởi những điều hoàn hảo.

Bà căm ghét và sẽ hủy hoại nếu như thứ ấy không còn hoàn hảo nữa.

Đó là lí do bà tạo ra một cái khuôn bằng vàng để Victor lớn lên.

Là lí do vì sao bà giết những đứa trẻ của hạt Merton chỉ vì ngài chơi với chúng.

Hoàn hảo là nỗi ám ảnh và cũng là tín ngưỡng của bà.

Một người như thế, một người bị rèm pha là kẻ tâm thần, là mẹ của Victor.

Dù có là kẻ tâm thần, dù có không biết bao nhiêu lần bà ép Victor tới bức bối cùng cực để tuân theo chủ nghĩa hoàn hảo mà bà đề ra, dù ngài có thấy ngộp thở và muốn phá tan cái khuôn hoàn hảo của bà, dù có thế nào chăng nữa, bà vẫn là mẹ của ngài.

Là người mẹ duy nhất của ngài.

"Cậu đã làm gì?"

Victor nghe thấy giọng mình run run.

Mỗi lần đối thoại với Harrison Shaw trong pháo đài tội ác, đối thoại với nhân cách và lương tâm của chính mình, ngài luôn trong trạng thái không thể kiểm soát cảm xúc.

Harrison thấy thế thì cười rất đắc ý, ngồi thụp xuống rồi qua những song sắt, ngước đôi mắt màu lục với ánh nhìn điên loạn của mình lên nhìn Victor.

"Vào cái ngày hôm đó, ngày mà linh hồn thống khổ của cậu kêu gào khao khát thoát ra khỏi cái lồng và người mẹ điên khùng, cậu đã đánh thức tôi dậy.

Và tôi tỉnh dậy, đúng như khát khao và ước nguyện của cậu.

Khi tôi mở mắt ra, khung cảnh lúc ấy- để tôi nói cho cậu nghe, Victor- là một khung cảnh thú vị vô cùng.

Xác của những đứa trẻ nằm ngổn ngang trên đất, còn người phụ nữ đó thì vấy đầy máu khắp thân thể, nhưng lại không phải máu của bà ta.

Bà ta vươn bàn tay dính máu bẩn thỉu ấy chạm vào tôi-à không, chạm vào chúng ta.

Cậu biết không, tôi ghét những thứ bẩn thỉu, tôi ghét máu.

Và tôi biết bà ta là nguồn cơn gây ra sự đau khổ cho cả tôi và cậu.

"Vậy nên tôi thò tay ra túm lấy mái tóc vàng của bà ta, nắm chắc lấy nó và liên tục dộng đầu bà ta vào những song sắt.

Cậu chỉ là một đứa trẻ nhưng tôi thì không, Victor.

Tôi là hiện thân đầy đủ nhất của những gì mà cậu muốn vào khi đó: sức mạnh, sự tàn độc, và cả trí óc.

Tôi liên tục dộng đầu bà ta vào những song sắt cứng với một nụ cười.

Tôi rất thích việc ấy.

Thích việc hành hạ người khác và nhìn chúng đau đớn, khổ sở.

Một lúc rất lâu sau, có khoảng 4 5 gã đàn ông ập vào, trong đó có cả cha cậu.

Ông ta gào lên ép tôi dừng tay dù vầng trán của người phụ nữ đó đã nát bấy.

Còn phần hay nhất ở đây này."

Harrison đột nhiên dừng lại, nhe răng cười.

Gã trừng mắt nhìn Victor qua song sắt, giọng nói cất lên âm u như vọng lên từ hố quỷ u linh.

"Tôi dừng tay và tự mình bẻ cong những song sắt để bước ra, đứng thẳng lưng như cách vẫn hay được dạy và nói rằng: "Xin chào, tôi là Harrison Shaw"."

Josh Sanders thở hồng hộc, cảm giác như máu trong người sắp bị rút kiệt qua vết thương trên bụng, thế nhưng ông vẫn gắng mở miệng nói, nhìn gương mặt đang cúi gằm im lìm không đoán ra được biểu cảm của Victor mà nói.

"Vào cái ngày hôm đó, khoảnh khắc bọn tao ập vào phòng và trông thấy mày cầm trong tay cái đầu nát bấy của mẹ mày, và rồi lại thấy mày dùng tay trần bẻ cong những song sắt để tự mình thoát ra.

Bọn tao đã biết mày là một con quái vật, một con quái vật.

Harrison Shaw.

Haha.

Mày đã nuôi một con quái vật trong chính cơ thể mày, Victor."

Ngài Bá tước không nói nửa lời, cũng chẳng buồn ngẩng đầu lên, cứ thế dùng tay túm lấy Josh Sanders và cái xác của ông ta mà ném thẳng vào biển lửa đang cháy hừng hực.

Điều kinh khủng nhất là ngài chỉ làm việc ấy với một tay.

Trong lửa đỏ, Josh Sanders vẫn vòng tay ôm lấy xác của người mà ông ta luôn tôn thờ nhất, dồn hết chút sức lực cuối cùng để gào lên với tấm lưng đang quay đi của Victor.

"Ngươi không sợ sẽ bị Chúa Trời trừng phạt sao, Victor?"

Bóng lưng ngài Bá tước khựng lại trong vài giây, rồi ngài chầm chậm quay lại nhìn Josh Sanders, giọng nói cất lên chẳng còn trầm thấp như bình thường mà cao vút chót gắt.

Josh sững sờ nhìn gã Bá tước nhà Shadow qua lửa ánh đỏ.

Đôi mắt màu lục với vẻ điên loạn nhởn nhơ ấy, khuôn miệng đang hé để lộ nụ cười nanh ác như loài quỷ hút máu ấy, ông ta vĩnh viễn không bao giờ quên.

Là thằng bé 14 tuổi dưới vóc dáng của Victor Shadow nhưng sở hữu một bản năng và nhân cách hoàn toàn khác.

Thằng bé mà rất nhiều năm trước đã bước ra từ cái lồng sắt và thẳng lưng giới thiệu như để khẳng định bản thể của mình.

Tôi là Harrison Shaw.

"Vì sao phải sợ, trong khi Chúa Trời đã ở trong chính bản thân ta rồi?"

Kẻ đó chỉ buông lại một câu như thế rồi thẳng bước rời khỏi căn hầm.

Bỏ lại sau lưng hắn là một mớ hỗn loạn, cùng một nhân cách đang bị giam nhốt dưới đáy sâu của sự bàng hoàng và tuyệt vọng.

**Chú thích: trong thế kỷ 19, tại Anh hay rộng hơn là tại châu Âu, một số nhà khoa học sử dụng phương pháp bơm sáp để bảo quản xác chết phục vụ cho việc nghiên cứu.

(hình minh họa cho việc bơm sáp để bảo quản xác chết, nguồn Discovery News)
 
Back
Top Bottom