Cập nhật mới

Khác CỐ NIÊN HOA

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
152059735-256-k353226.jpg

Cố Niên Hoa
Tác giả: PhuongUyen286
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Tác giả: Phương Uyên

Thể loại: Cảm hứng lịch sử, cổ trang, tình cảm

Tình trạng: Đang viết.

Dự kiến khoảng 60 chương.

Ghi chú: Truyện lấy bối cảnh Đại Việt thời Trần, vào những năm của cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứ nhất (1258).

Phần lớn diễn biến truyện dựa vào chính sử.

Tuy nhiên, truyện vẫn có nhiều nhân vật và tình tiết hư cấu, xin đừng đồng nhất truyện và chính sử.

LỜI DẪN

"Người về từ khói lửa binh đao, thấu suốt hợp tan dâu bể.

Người từng thanh gươm yên ngựa, cũng có khi xướng họa đề thơ.

Nghe nói người tu hành, không chay tịnh, chẳng màng giới luật.

Ngạo Phóng cuồng ngâm bước giữa đời, tay nâng niu một đóa hoa.

"Giữa "không" và "có" chẳng bao xa
Xưa nay sống - chết, một thôi mà
Hoa nở năm nay - hoa năm trước
Trăng sáng bây giờ - trăng tối qua" [1]

Đến khi biến loạn sơn hà
Tan hiềm khích
Xóa hận thù
Ngút tận trời hào khí Đông A..."

[1] Lược dịch bài thơ Đốn tỉnh - Tuệ Trung thượng sĩ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

Đại Việt Sử ký Toàn thư - Bản kỷ - Kỷ nhà Trần.

2.

Tuệ Trung Thượng sĩ Ngữ lục - Trần Nhân Tông
3.

Đường xưa mây trắng - Thích Nhất Hạnh, 2005
4.

Truyền thống sinh động của Thiền - Thích Nhất Hạnh
5.

Tư tưởng Việt Nam thời Trần - TS.

Trần Thuận, 2014
6.

Việt Nam Phong tục - Phan Kế Bính, 2014
7.

Mongols in Vietnam: End of one Era, Beginning of Another - Paul Buell
8.

Genghis Khan & the Mongol Conquests 1190-1400 - Stephen Turnbull
9.

Những bài viết trong fanpage Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam: https://www.facebook.com/Thiền-Phái-Trúc-Lâm-Việt-Nam-284745104894673/
10.

Những bài giảng của trang Đạo phật ngày n



yeu​
 
Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 1: GIÓ LỘNG YÊN BANG


Từ lúc tôi còn rất nhỏ, vẫn luôn nghĩ lão già nhà tôi là một người dám nghĩ dám làm, đã làm thì không bao giờ hối hận.

Khi lớn hơn một chút, tôi dần nhận ra lão cũng có tiếc nuối đối với một vài chuyện, còn một vài chuyện đó là gì thì tôi không rõ.

Chỉ biết một trong những chuyện khiến lão ân hận nhất, là cái tên của tôi.

Lão vẫn thường ngán ngẩm thở dài, lẽ ra không nên gọi tôi là Phong, mà phải đặt tên là Thạch.

Ý lão không phải muốn tôi kiên cường vững chãi, chỉ đơn giản là ám chỉ tôi lì lợm, đầu cứng như tảng đá.

Mỗi khi nghe lão than phiền như thế, tôi chỉ biết nhăn răng cười, vì lão... hiểu tôi hơn ai hết.

Tôi vốn là đứa rất cứng đầu, nhất là đối với những chuyện tôi cho là đúng.

Không ít lần, vì sự ngoan cố ấy, tôi mang họa vào thân.

Như lần này, tôi đang ngồi trong nhà lao Tiên Lễ[1], nhấm nháp chiếc bánh dày mua từ lúc sáng.

Trong phòng giam đối diện, tên "đồng phạm" của tôi ngồi khoanh chân, lưng hơi tựa vào tường, mắt nhắm hờ.

Chúng tôi vào đây từ lúc chiều, đến giờ vẫn chưa được cho ăn, chắc hắn cũng đói rồi.

Tôi ngần ngừ nhìn chiếc bánh được bọc trong chiếc khăn để trước mặt.

- Này. – Tôi lên tiếng gọi.

Cứ tưởng hắn sẽ tiếp tục ngồi yên, không có phản ứng gì.

Tôi sẽ giả vờ gọi thêm vài tiếng cho có lệ, sau đó ra vẻ buồn buồn:

- Ta đã có lòng mời, ngươi không ăn thì thôi vậy.

Không ngờ, tôi gọi nhỏ như vậy mà hắn cũng nghe thấy, mở mắt nhìn tôi.

- Chuyện gì?!

Tôi nhìn hắn, rồi lại nhìn xuống chiếc bánh còn nguyên lớp lá xanh mượt, hơi tiếc rẻ một chút, nhưng cuối cùng cũng cầm lên, ném sang cho hắn.

- Cảm ơn. – Hắn bắt lấy gọn gàng với một nụ cười.

- Bánh dày làng Gàu, năm xưa là đặc sản dâng lên cho vua[2] đấy. –Tôi nói, không giấu được chút ấm ức.

Gã con trai chỉ trạc tuổi tôi điềm nhiên mỉm cười, thong thả bóc bánh mà ăn rất ngon lành.

Mãi đến khi ăn xong một lúc lâu, hắn mới nhớ ra là tôi còn tồn tại, chắc cũng nhớ ra lý do khiến tôi bị giam ở nơi này, lên tiếng hỏi:

- Ngươi không phải là người Khoái Châu?!

- Không phải.

Ta chỉ vô tình có việc ngang qua đây, ai ngờ lại bị cô đào hát của ngươi báo hại.

- Ngươi muốn đi đâu?!

- Hồng Lộ.

- Quê nhà ngươi ở đó sao?!

- Không phải.

Ta đi tìm người quen.

- Ngươi là người ở nơi nào?!

- Yên Bang.

Nghe đến chữ này, ánh mắt của hắn bỗng trở nên đông cứng, nhìn chằm chằm tôi một lúc rồi lại tựa vào tường, nhắm mắt, im lặng hệt như lúc nãy.

- Này. – Tôi gọi.

- Chuyện gì. – Hắn vẫn không mở mắt.

- Còn ngươi?! – Tôi cũng không muốn biết quê quán hắn làm gì, chỉ cảm thấy hắn đã biết được về tôi, mà tôi không biết chút gì về hắn, là rất không công bằng.

- Tức Mặc.

- Vậy ngươi với ta cũng xem như là hàng xóm[3].

Ngươi đến Khoái Châu...

- tôi nghĩ một lúc rồi nở nụ cười ma mãnh – ... hẳn là để tìm cô đào hát đó.

- Ngươi ở Yên Bang, chắc đã từng nghe nói đến Dưỡng Chân Trang?! – Hắn không trả lời câu hỏi của tôi.

Thật ra, từ họ Lý đến họ Trần đều rất coi trọng Phật giáo.

Dưỡng Chân Trang lại là nơi tu hành kỳ lạ nhất, nên đừng nói là người ở Yên Bang, dù là người ở vùng xa xôi hẻo lánh, ít nhiều gì cũng phải từng nghe nói đến nơi này.

- Ta không chỉ nghe, mà đã từng đến đó vài lần. – Tôi đáp.

- Nơi đó... kỳ quái thế nào? – Kẻ áo xanh trước mặt tôi ra vẻ tò mò.

- Thật ra cũng chẳng có gì quái lạ.

Chẳng qua là những người tu thiền nơi ấy không ăn chay, vẫn lập gia đình.

Đối với người đời nông cạn vẫn quen thấy người tu hành ăn chay niệm phật thì nơi này có chút trái lẽ thường.

Chỉ vậy thôi.

Nghe tôi nói một hồi, hắn chỉ nhếch môi cười, không bình phẩm gì thêm.

Tôi nghĩ xem còn có chuyện gì để nói cho qua một đêm dài.

Nghĩ một lúc, cơn buồn ngủ kéo đến, tôi cũng bắt chước hắn, dựa lưng vào tường, khép mi lại.

- Phong!

Quỷ tha ma bắt cái tên áo xanh buồng bên cạnh, trong lúc tôi đang mơ màng ngủ thì bị hắn gọi, giật nảy người, đầu đập vào tường đau điếng.

- Chuyện gì?! – Tôi cau có hỏi.

- Vài hôm nữa có được thả ra ngoài, ngươi...

đừng làm khó Nguyệt Nhi có được không?! – Hắn có chút rụt rè.

Nguyệt Nhi... chắc là tên cô đào hát đó.

Nửa tháng trước, tôi trốn khỏi nhà, một mình một ngựa thẳng hướng Hồng Lộ mà đi.

Một mặt muốn tìm người, mặt khác muốn thử cảm giác dong ruổi đó đây, thưởng thức hết đặc sản ở những vùng tôi sẽ đi qua.

Tôi lại là kẻ thích kén cá chọn canh, món nào không thích thì dù chết đói cũng không đụng đũa.

Thứ tôi đặc biệt ghét là những con vật không có chân, những món ăn vừa trơn vừa nhớt, nên từ nhỏ đến lớn chưa từng động đến ếch.

Vậy mà, cách đây vài tháng, một người khách từ Khoái Châu đến chơi lại đọc mấy câu thơ:

"Đi thì nhớ vợ cùng con

Về nhà lại nhớ ếch om Phượng Tường."

Gã ấy lại còn miêu tả tỉ mĩ cách chế biến, màu sắc và mùi vị.

Thế nên, sáng nay dù đã mua sẵn mấy chiếc bánh dày, tôi vẫn muốn để bụng thật đói, đến Tiên Hoa ăn thử món này.

Tôi nghĩ, dù đã quyết tâm đến chết đói cũng không đụng đến những món mà mình không thích, nhưng đến lúc chết đói thật, thì thứ gì trâu bò ăn được ắt là người sẽ ăn được.

Biết đâu nhân dịp này tôi lại biết thêm được một món ngon.

Vậy mà, lúc món ếch còn chưa được dọn ra, tôi đã xung đột với một tên công tử mặt trắng ở Khoái Châu, chỉ vì hắn ta trêu ghẹo một cô đào hát.

Kể từ lúc bước chân ra khỏi nhà, tôi vẫn luôn tự nói với mình nhất định phải giữ an toàn cho bản thân.

Dù thấy người vô tội bị giết trước mặt mình cũng phải giả vờ như không thấy.

Nơi này không phải Yên Bang, không phải là nơi mà dù tôi có gây họa thế nào cũng sẽ có người giải cứu kịp thời.

Vậy mà, đến lúc thấy một cô gái bị ức hiếp trước mặt mình, bản tính hiệp nghĩa rất đàn ông của tôi lại trỗi dậy không kìm được.

Không ngờ, ở bàn bên cạnh, một gã công tử áo xanh cũng nghĩa khí chẳng kém tôi, cùng tôi hợp sức đập tên công tử phong lưu kia một trận.

Kết quả, hai chúng tôi bị quan phủ Khoái Châu giữ lại vì đánh người vô cớ.

Còn nạn nhân, dịu dàng đưa tay lau nước mắt, bảo rằng cô ta không biết tại sao chúng tôi lại xảy ra xung đột với gã kia.

Tôi vẫn chưa hết ấm ức khi nghĩ đến cô ả Nguyệt Nhi, nhưng nhìn ánh mắt rất chân thành của bạn tù bên cạnh, tôi không nỡ trách móc thêm.

- Thôi bỏ đi. – Tôi thở dài. – Dù gì cô ta cũng là người sống ở nơi này, lại còn có cha già phải nuôi dưỡng, không thể gây thù kết oán với bọn chúng.

Trên gương mặt anh tuấn của kẻ áo xanh kia hiện ra một nụ cười buồn.

Tôi lại thở dài thêm một tiếng.

- Ngươi thì hay rồi, có thể làm anh hùng cứu mỹ nhân.

Còn ta, mỹ nhân không những không biết ơn, còn báo hại ta vào ngục cùng ngươi.

- Phong. – Hắn cười cười. – Đợi khi ra khỏi nơi này, ta dắt ngươi đi ăn hết đặc sản Khoái Châu để đền bù, được không.

- Tên ngươi là gì?! – Tôi chợt nhớ ra mình vẫn chưa biết tên hắn, trong khi tên tôi thì hắn đã gọi cả chục lần.

- Khải. – Hắn đáp ngắn gọn, quyết tâm không để tôi biết nhiều hơn hắn.

- Khải. – Tôi nhắc lại, ngữ điệu y hệt như khi hắn gọi tên tôi. – Ếch om Phượng Tường, chả gà Tiểu Quan, còn có chè sen, nhãn lồng...

Quân tử nói rồi phải giữ lời.

Hắn bỗng bật cười khùng khục.

Nhà giam ẩm thấp, tối tăm, tôi không thấy đường để ngủ nên trằn trọc suốt một đêm.

Đến lúc tiếng gà gáy sáng từ đâu vẳng lại, tôi không chịu được nữa, ngồi dậy cất tiếng gọi hắn.

- Khải.

Dậy đi.

- Ta không có ngủ. – Hắn đáp, mắt vẫn nhắm nghiền.

- Đừng nói là ngươi thức suốt đêm qua để nghĩ cách ra ngoài nhé. – Tôi châm chọc. – Đã nghĩ ra được cách nào chưa?!

- Nghĩ ra rồi. – Hắn hờ hững nói. – Tội đánh nhau, cùng lắm là bị phạt tiền, giam một tháng là được thả ra.

- Một tháng?! – Tôi sửng sốt. – Nếu ta không đến được Hồng Lộ, hoặc trở về Yên Bang trong vòng nửa tháng thì sẽ có chuyện lớn đấy.

- Chuyện lớn gì cũng vậy, ta không vượt ngục với ngươi, cũng không mua chuộc bọn quan phủ đâu.

Cũng may, chúng tôi bị giam ở hai buồng riêng biệt, nếu không tôi sẽ lao đến đánh cho hắn một trận, thời gian bị giam giữ sẽ kéo dài thêm.

Tuy hắn khiến tôi sốt ruột, nhưng những lời hắn nói không phải là không có lý.

Với thân phận của tôi, không thể vượt ngục, cũng không thể đút lót để được ra ngoài.

Vậy chỉ có cách khiến bọn chúng cam tâm tình nguyện thả tôi ra.

- Khải. – Tôi lại gọi.

Thầm nghĩ bị giam thêm vài ngày nữa, bài ca "Khải – Phong" sẽ khiến những tù nhân ở các buồng bên cạnh nổi khùng. – Ngươi có biết gì về tri huyện Tiên Hoa không?!

Khải khẽ nhướn mày, suy nghĩ một lúc.

- Cũng không biết nhiều lắm.

Nghe đồn cũng là một vị quan tốt được lòng dân, lại rất thành tâm hướng Phật.

Lần trước ta đến, nghe đồn ông ta còn mời thiền sư Tiêu Dao đến giảng đạo, cho cả người dân đến dự.

- Thiền sư Tiêu Dao?! – Tôi không giấu được vẻ mừng vui. – Ý ngươi là...

Thiền sư Tiêu Dao ở Phước Đường?!

- Hình như là vậy.

Tôi bật cười thành tiếng.

Duyên phận con người quả là kỳ diệu.

- Phong!

Phong! – Khải khẽ gọi, không giấu được vẻ lo lắng.

Tôi vẫn chưa dứt được tràng cười, nhìn sang hắn.

- Khải.

Ở Tức Mặc có đặc sản gì không?!

- Quýt.

- Được, vậy sau khi rời khỏi đây, ngươi cho người mang đến Yên Bang hai xe quýt tạ ơn ta.

Những việc sau đó xảy ra rất nhanh chóng, đến khi đã ra khỏi nhà lao và mời tôi hai đĩa ếch om no căng bụng, Khải vẫn còn mù mờ chưa hiểu.

- Ngươi không cần giấu sự tò mò như vậy, ta chẳng tài giỏi gì đâu. – Tôi thấy hắn tội nghiệp quá nên đành kể thật. – Chẳng qua do ngươi bảo tri huyện Tiên Hoa rất sùng bái Thiền sư Tiêu Dao, ta lại vô tình có giữ một miếng ngọc của người, nên gặp được tri huyện.

Gặp mặt thì chuyện trò vài câu tương đắc, thế là chúng ta được tự do.

Cũng nhờ may mắn cả, ngươi không cần cảm thấy nợ ta.

Tuy nhiên, đừng có quên hai xe quýt.

- Ngươi cũng biết về Phật pháp?! – Hắn hơi ngạc nhiên.

- Sao lại không?!

Nhìn ta phàm tục lắm sao?! – Máu tự ái của tôi bỗng nổi lên vì câu hỏi đầy tính kỳ thị của hắn.

Thật ra, tôi chẳng phải người tu hành, càng không phải là người sùng bái đạo Phật.

Chẳng qua là nhà tôi có rất nhiều kinh Phật.

Khi tôi còn nhỏ, mỗi lần phạm lỗi, lão già sẽ bắt tôi ở trong phòng chép kinh đến thuộc lòng.

Sau này, nhờ việc ấy mà tôi viết được cả hai tay, mỗi tay một kiểu chữ khác nhau.

Cũng nhờ việc ấy, mỗi khi phải trò chuyện với những người lớn tuổi hơn, tôi đều có đề tài để nói, tỏ ra rất uyên bác, rất thông tuệ.

Thế nên khi lớn hơn một chút, mỗi khi buồn buồn hoặc giận dỗi lão già, tôi sẽ lẳng lặng vào thư phòng chép kinh, chủ yếu để mình mau thuộc.

Những lúc ấy lão già sẽ nhận ra tâm trạng tôi bất ổn, liền quan tâm chăm sóc.

Sau này nữa, khi nhận thấy việc chép kinh có trăm cái lợi, chỉ một cái hại là mỏi tay, tôi càng tích cực hơn, không vui không buồn, cứ rảnh ra là chép.

Dần dần, những người được thuê về chép kinh Phật ở Dưỡng Chân Trang lo sợ mất việc làm, họ không cho tôi chép nữa.

Chép nhiều như thế, tôi cũng thuộc rất nhiều, chỉ có điều không hiểu, cũng không giác ngộ được.

Lão già bảo tôi không có tuệ căn, đã thế còn ham ăn ham ngủ ham chơi.

Mãi nhớ chuyện cũ, tôi không nhận ra Khải đã nhìn tôi chằm chằm từ nãy đến giờ.

Bị tôi bắt gặp, hắn không những không bối rối, mà còn cười cười cợt nhã:

- Cũng không phải phàm tục lắm.

Có điều... ta chưa thấy cô gái nào lại tên Phong.

- Ha ha. – Tôi bật cười lớn. – Như vậy chỉ trách ngươi kiến thức nông cạn.

Cái tên có hợp hay không, còn tùy thuộc vào chữ đi cùng nó nữa.

- Chữ gì vậy? – Khải tò mò hỏi.

- Nhã Phong.

Có phải là rất nữ tính không?! – Tôi vênh váo đáp.

Khải "À" một tiếng, gật gù có vẻ đã phục.

- Nếu ngươi cảm thấy cái tên đó quá đẹp đẽ, đẹp đến ngại không dám gọi, cũng có thể gọi ta là Yên Phong – gió ở Yên Bang.

Hắn bật cười, lắc lắc đầu tỏ vẻ không còn cách nào nói lại tôi.

- Này.

Còn ngươi thì sao?

Tên đầy đủ của ngươi là gì?! – Tôi nhất quyết không chịu thiệt dù một chữ.

- Quang Khải.

Tôi hơi bất ngờ, nhưng vẫn cố tỏ vẻ bình thường, mỉm cười nhìn hắn bước ra khỏi quán.

- Có duyên gặp lại.

- Lễ cưới của ngươi và Nguyệt Nhi phải mời ta đấy. – Tôi nói với theo.

Quang Khải ở Tức Mặc, Thiên Trường.

Một mình đến Tiên Hoa để gặp một cô đào hát, dù bị bắt giam cũng không nói ra thân phận, không cầu xin, không hối lộ.

Đó là lần đầu tôi gặp Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải – con trai ruột của quan gia – năm ấy mười sáu, bằng tuổi với tôi.

Tôi lại một mình tiếp tục quãng đường đến Hồng Lộ, vừa đi vừa suy nghĩ vẩn vơ.

Tôi rất tự hào về cái tên của mình, cũng rất khâm phục lão già đã nghĩ ra cái tên mà, gọi một chữ thì cứ ngỡ là một chàng trai phong lưu anh tuấn, gọi hai chữ lại hóa ra một cô gái dịu dàng xinh đẹp hơn người.

Có lần, lúc lão nhắc về cái tên Thạch, tôi lại cố nghĩ xem có chữ nào đi cùng chữ Thạch để tạo thành một cái tên nữ tính giống như Nhã Phong không.

Nghĩ một lúc được mấy cái tên: Cẩm Thạch, Ngọc Thạch,... thấy vẫn chưa vừa ý lắm, tôi mang nỗi thắc mắc ấy đi hỏi lão.

Nhằng nhẵng bám theo lão mất nửa ngày, cuối cùng lão vứt cho tôi một cái tên:

- Thiên Thạch.

[1] Huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên ngày nay

[2] Thời vua Hùng, bánh dày làng Gàu được xem là cống vật tiến vua

[3] Yên Bang và Tức Mặc đều thuộc Nam Định ngày nay.
 
Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 2: NHỚ CÂU KIẾN NGHĨA BẤT VI


Vóc dáng tôi khá cao so với những cô gái cùng lứa tuổi, nhưng lại khá gầy nên cũng được gọi là nhỏ nhắn.

Đáng buồn thay, từ lúc bỏ nhà đi Hồng Lộ đến giờ tuy chưa đầy một tháng, tôi đã đầy đặn lên thấy rõ nhờ những món ngon suốt dọc đường đi, may là lộ phí mang theo vẫn còn đủ để dùng.

Tôi hay tự nói với mình, nốt món này thôi, cho đến khi tôi tìm ra được một món đặc sản mới.

Rồi tôi lại tự trấn an: khi nào tìm được người cần gặp, tôi sẽ rất tự giác quay về Yên Bang, ngoan ngoãn ở lại Dưỡng Chân Trang chép kinh và ăn chay một tháng, đương nhiên không phải để tu hành mà chỉ là để lấy lại vóc dáng mảnh mai khi xưa, nhưng chắc chắn sẽ khiến cho toàn thể trang viện bất ngờ đến mức đang ngủ cũng phải giật mình tỉnh dậy vì hoảng sợ.

Năm ngày trước, tôi đã đến được Hồng Lộ, nhưng người tôi muốn tìm lại vừa mới rời đi.

Tốn thêm vài đồng bạc lẻ, tôi được tên lính canh cho biết người ấy sẽ có mặt ở Thăng Long chậm nhất vào ngày thứ tư của tháng sau.

Ngày bốn tháng tư ở Thăng Long, nếu không phải dự Hội thề Đồng Cổ thì còn có thể có việc gì?!

Từ nhỏ đến giờ tôi cũng chỉ mới nghe nói đến chứ chưa từng được dự lễ hội này nên ngay lập tức nhắm hướng Thăng Long mà đi, một công đôi ba việc.

Không ngờ khi đến Gia Lâm, tôi gặp lại người tôi không muốn gặp nhất: Nguyệt Nhi.

Thật ra tôi rất muốn nói với Nguyệt Nhi, sau này cô ta có hát tuồng chèo thì nên chọn những vai bi thảm, càng bi thảm càng tốt, không cần diễn cũng đạt vô cùng, vì hai lần tôi gặp cô ta đều trong tình trạng chẳng có gì tốt đẹp.

Lần này gặp tôi, cô ta đang lả đi vì kiệt sức.

Là thân con gái, nếu không phải là kẻ hào khí ngất trời, can trường không kém đấng nam tử hán nào như Nhã Phong tôi, sao có thể bôn ba ngược xuôi ngàn dặm?!

Lúc nhìn thấy cô ta ngất xỉu giữa đường, trong đầu tôi chỉ nhớ đến gương mặt ngây thơ nói ra hai chữ "không biết", báo hại tôi phải ở trong ngục chịu khổ một ngày trời.

Tôi không đến cứu thì cô ta cũng không chết được.

Lúc dợn bước đi, trong đầu tôi lại hiện ra gương mặt ương bướng của tên thiếu niên kia, nghĩ đến cảnh hắn ta kề dao vào cổ tôi mà hỏi:

- Phong, tại sao ngươi lại bỏ mặc cô gái của ta?!

Tự dưng tôi hơi ớn lạnh, vội vàng nhìn xuống cây sáo bằng ngọc vẫn đeo bên hông, lần trước lại mang ra làm vũ khí để đánh tên công tử trăng hoa ở quán ếch.

Dẫu sao tôi và hắn cũng từng cùng nhau trải qua hoạn nạn, một mẩu bánh dày cũng chia sẻ, tôi không nên quá tuyệt tình với người mà hắn quan tâm.

Nhưng, kẻ đã cho tôi và Quang Khải cơ hội cùng nhau chịu khổ đó, chẳng phải là cô ả đào hát này sao?!

Cứ nghĩ tới nghĩ lui như thế, rốt cuộc tôi đã đi vòng quanh chỗ cô ả ngất xỉu hết mấy vòng.

Cuối cùng, tôi chợt nhớ đến lời lão già vẫn dạy: sinh mạng con người là thứ quý giá nhất, có thể đánh đập kẻ thù tàn nhẫn, miễn đừng cho họ chết.

Tôi quyết định ra tay nghĩa hiệp, trong đầu không ngừng lẩm bẩm:

- Từ bi, nhất định phải từ bi.

Vốn tôi định sẽ rời đi ngay sau khi cô ta tỉnh, kẻo lại bị liên lụy vào những chuyện không đâu.

Không ngờ cô ta không biết ngại ngùng gì, chỉ sau một vài câu xin lỗi chuyện xưa cho có lệ là lại nhờ cậy được ngay.

Cô ta nhờ tôi đến Thăng Long thì tìm Quang Khải, báo giúp rằng cha cô ta lâm trọng bệnh, cần một số tiền rất lớn để chữa trị.

Tôi cứ tưởng Quang Khải về Tức Mặc, nghĩa là ngược đường đi Hồng Lộ nên mới chia tay hắn lúc ở Khoái Châu, nếu sớm biết hắn cũng đến Thăng Long hẳn là chúng tôi đã có thể kết bạn đồng hành.

- Đây là...?! – Tôi nhìn chăm chăm vào miếng ngọc màu xanh cô ta đưa tới.

- Tín vật của người, nhờ tiểu thư chuyển lời giúp. – Cô ta dùng ánh mắt kiên định nhìn tôi.

Chẳng hiểu là do không muốn dây dưa với cô ả yếu ớt này, hay vì cũng muốn có cơ hội gặp lại tên thiếu niên áo xanh có cái dáng vẻ quen quen kia, tôi không từ chối nữa.

Tôi đưa tạm cho Nguyệt Nhi một phần ba lộ phí, bảo cô ta quay lại Khoái Châu để lo cho cha già, còn tôi lập tức ruổi ngựa đến Thăng Long, đi bất kể đêm ngày.

Dù tôi không thích Nguyệt Nhi đến đâu, cho rằng cô ta không xứng với Quang Khải thế nào, người cha già yếu bệnh tật của cô ta cũng không có lỗi.

***

Ngày bốn tháng tư, tôi đến Thăng Long, đúng vào ngày diễn ra Hội thề Đồng Cổ.

Tương truyền vào thời họ Lý còn trị vì đất nước, thái tử Lý Phật Mã theo lệnh vua cha đi đánh Chiêm Thành, ngang qua Trường Châu [2] , đêm nằm mộng thấy thần Đồng Cổ xin theo phò vua diệt giặc.

Sau khi thắng trận trở về, thái tử rước linh vị thần Đồng Cổ về kinh đô và lập đền thờ.

Đến thời họ Trần, từ năm Kiến Trung thứ tư, Hội thề Đồng Cổ được tổ chức đều đặn mỗi năm, lập đàn treo cờ, toàn thể vương hầu, quốc thích cùng nhau uống rượu có pha máu và cùng đọc lời thề[3].

Lúc nhỏ khi tôi nghe kể chuyện này, đã đập bàn đứng dậy, thấy nghĩa khí hừng hực trong lòng.

Có thứ tình nào vượt qua được cái tình với quê cha đất tổ?!

Có thứ nghĩa nào cao hơn nghĩa của những người từng vào sinh ra tử cùng nhau?!

Tôi đến hội thề vào lúc mặt trời đã lên cao, không kịp xem phần nghi lễ.

Suốt con đường dẫn vào đền thờ, người đi dự hội tấp nập rộn ràng, xiêm y đủ màu sặc sỡ, dập dìu tài tử giai nhân.

Phía trong đền, cờ xí rợp trời, quân lính đứng thành hàng, giáo gươm sáng chói.

Phải mất khá lâu tôi mới chen vào được đến sân đền, không ngừng dõi mắt tìm kiếm một màu áo thiên thanh.

Sau này khi nghĩ lại, sở dĩ tôi chú ý đến Quang Khải và cảm thấy thân quen cũng bởi lần đầu gặp nhau, cậu ta mặc một bộ y phục màu xanh nhạt, giống hệt trang phục thường ngày của người mà tôi mải miết đi tìm.

Đến khi ngôi đền thiêng hiện ra trước mặt, trán tôi đã lấm tấm mồ hôi, mà một người tôi muốn tìm, một người tôi phải tìm, vẫn không thấy tăm hơi.

Tiết trời hơi nóng bức của ngày cuối xuân đầu hạ không khiến những cuộc vui kém phần hào hứng, mà ngược lại còn tăng thêm lửa cho những kẻ tham gia.

Tôi định tìm một bóng cây để tránh nắng, cuối cùng lại tò mò đến xem hội đi cầu mai ở cái ao nhỏ cạnh đền thờ.

Một người đàn ông vóc dáng chắc nịch, mặc bộ áo giao lĩnh màu nâu dài đến bắp chân đang thận trọng bước đi qua chiếc cầu bằng thân cây mai được đặt là là ngang mặt nước.

Phía bên này, dải lụa đào được buộc khéo léo trên một cành trúc đang phất phơ như trêu chọc.

Mỗi bước ông ta đi, chiếc cầu nhỏ lại lắc lư khiến đám người xung quanh hứng chí reo hò, có người lo lắng nhắc nhở.

Gương mặt rám nắng của ông ta ánh lên một vẻ đắc thắng lạ lùng.

Trong ký ức của tôi, cách đây rất lâu rất lâu, tôi cũng từng vừa run rẩy vừa hớn hở đi qua một chiếc cầu tre nhỏ, phía trước là một cậu bé đang đi giật lùi, tay nắm chặt tay tôi.

Chúng tôi cứ nhích từng bước, từng bước khẽ khàng, cho đến khi cả hai cùng rơi xuống, nước dưới ao bắn lên tung tóe, ướt tiếng cười giòn của chúng tôi.

Người đàn ông đã sắp đến bờ, không ngờ chỉ còn một bước chân, lúc ông ta đưa tay đón lấy dải lụa đào, một cơn gió nghịch ngợm trêu đùa đưa dải lụa chệch sang một phía, ông ta rướn người bắt lấy, cuối cùng cả người cùng dải lụa đều rơi xuống nước.

Mặc kệ tiếng cười rộ lên xung quanh, tôi cố giữ vẻ mặt bình thản để không làm người đàn ông kia thêm mất mặt.

Không ngờ sau lưng tôi lại có kẻ không hiểu chuyện:

- Không cần giả vờ nghiêm túc như vậy.

Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải, thân mặc tiêu kim tử phục [4], đầu đội mũ củng thần ba bậc, đứng trước mặt tôi mỉm cười, gương mặt còn sáng rực hơn cả vầng thái dương đang chói trên đầu.

Tôi xuýt xoa một hồi dài vì đã quên mất một điều quan trọng, trong ngày đại lễ như hôm nay, cả Quang Khải và người tôi muốn tìm đều không thể vận màu áo lam ưa thích, tôi có mỏi mắt tìm khắp biển người này cũng hoài công.

- Ta tưởng ngươi đi Hồng Lộ tìm người, sao lại chạy đến Thăng Long?! – Quang Khải tỏ vẻ ngạc nhiên.

Tôi không biết bắt đầu từ đâu, vô thức đảo mắt một vòng tìm thử màu áo tía dát vàng hệt như y phục mà hắn đang mặc trên người, cuối cùng thở dài, đưa mắt đến hàng rượu của một bà cụ già bày tạm dưới gốc đa ở cách đó không xa.

- Chúng ta qua đó ngồi, ta sẽ kể ngươi nghe.

Sau vài câu ngắn gọn, tôi đã kể sơ lược cho hắn tình hình của cô đào hát Nguyệt Nhi, đồng thời đưa cho hắn miếng ngọc đính ước của hai người.

Quang Khải cầm miếng ngọc hồi lâu, bỗng dưng chép miệng:

- Ngốc thật.

- Đúng là ngốc thật. – Tôi chợt đồng tình. – Cô ta bán miếng ngọc đi, không phải là có thể cầm cự được một thời gian sao?!

Quang Khải nhìn tôi bằng một ánh mắt rất lạ kỳ.

Đâu phải tôi không hiểu được cảm giác nhớ nhung một người, trân trọng kỷ vật mà người ấy để lại cho mình.

Tôi nhận lời giúp Nguyệt Nhi cũng một phần vì tôi đồng cảm với sự trông ngóng của cô ta.

Nhưng mà, lão già vẫn hay dạy tôi, tài sản có quý giá đến mấy thì cũng chỉ là vật vô tri vô giác, không thể coi trọng hơn con người.

Hơn nữa, ký ức và sự nhớ thương của ta dành cho một người, nếu thực sự đậm sâu, sẽ không vì mất đi một kỷ vật mà phai nhạt.

Xem ra suy nghĩ này của tôi trong mắt người khác là rất thực dụng, rất vị kỷ.

Không ngờ, Quang Khải xếp cây quạt hắn đang cầm trên tay lại, gõ nhẹ vào vai tôi một cái:

- Phong, thì ra không chỉ cái tên của ngươi giống con trai, mà suy nghĩ của ngươi cũng không có chút nữ tính nào.

Thật lòng tôi không biết câu này là khen ngợi hay phỉ báng.

- Ngươi có gặp lại Nguyệt Nhi, nhớ bảo với ả là ta không thất hứa.

- Ta sẽ báo. – Quang Khải gật gù, rồi như chợt nhớ ra điều gì, hắn đưa tay vào ngực áo – Số tiền ngươi giúp Nguyệt Nhi hôm ấy, để ta gửi lại.

- Không cần. – Tôi dùng cây sáo ngọc đang cầm trên tay ngăn hắn lại. – Dù sao thì... bây giờ ngươi có trả tiền, ta cũng không mua được thứ ta cần mua nữa.

Lúc ấy, ở Gia Lâm, tôi muốn ghé qua Bát Tràng, mua một bộ ấm chén thật đẹp để tặng một người thích ẩm trà.

Quang Khải suy nghĩ gì đó, rồi rót ra hai chén rượu.

- Phong, ngươi đã hai lần giúp ta, sau này dù ngươi có bất cứ việc gì, ta sẽ là người có mặt đầu tiên.

Tôi cầm lấy một chén, lắc lắc nhẹ, nhìn những giọt rượu sóng sánh phản chiếu ánh nắng xuyên qua kẽ lá rồi lại nhìn Quang Khải:

- Lúc nãy ngươi vừa cắt máu ăn thề với những người trong đó – tôi đưa tay chỉ về phía ngôi đền cổ - bây giờ lại muốn tiếp tục sao?!

Hắn có vẻ ngạc nhiên vì tôi biết được những nghi thức diễn ra phía bên trong, nhưng lại không hỏi gì, chỉ bật cười sảng khoái:

- Thề hay không cũng chỉ là một câu nói.

Bằng hữu, hiểu nhau là được.

Tôi cũng mỉm cười, đưa tay cạn chén.

Ly rượu kết giao vừa uống xong, Quang Khải đã hỏi tôi, giọng rất quan tâm:

- Ngươi vẫn chưa tìm được người đó sao?!

Tôi cười nhẹ, lắc đầu, đôi mắt lại vô thức đảo một vòng khắp sân đền.

- Hẳn là người rất quan trọng với ngươi?!

- Khải. – Tôi nói khẽ. – Nếu không quá nặng lòng, ngươi có dám một mình lặn lội từ Yên Bang qua Hồng Lộ, rồi lại đến Thăng Long?!

Nói xong tôi nhận ra mình thật ngốc, hắn là nam nhi, lại là hoàng tử, dù có ngao du hết dãy sơn hà rộng lớn này cũng đâu có gì là to tát.

- Ngươi đi tìm Nguyệt Nhi đi, cô ta đang cần ngươi lắm. – Tôi nói sang chuyện khác. – Nhưng nếu hai người có lấy nhau thì ta chỉ đến ăn tiệc, không gửi quà mừng.

Tôi cố pha trò, nhưng chẳng hiểu sao từ lúc đặt chân đến nơi này, tâm trạng tôi cứ nặng nề u ám như có đám mây đen đang lơ lửng trên đầu.

Khải định nói gì đó, tôi chẳng còn nghe rõ.

Phía góc sân đối diện, một ông đồ già bày những câu đối được viết trên giấy đỏ, đông đúc vương tôn công tử vây quanh để cùng thi thố văn chương.

Duy chỉ có một câu không ai đối được suốt từ sáng đến giờ.

Một dáng hình thư sinh cao cao, hơi gầy từ xa đi đến, hỏi han vài lời rồi điềm đạm đưa câu đối lên trước mặt, ung dung mỉm cười, thong thả mài mực.

Màu áo tía dát vàng trên nguời Quang Khải tỏa ra anh khí hào sảng, còn trên thân người ấy lại mang một vẻ tao nhã cao quý lạ lùng.

Lúc tôi ý thức được hành động của mình, tôi đã đứng trước mặt người ấy, xung quanh là rất nhiều tài tử đang chờ câu đối lại.

Người ấy đặt thỏi mực xuống, đứng đối diện với tôi, trên gương mặt thoáng nhẹ nụ cười.

Bỗng người đưa bàn tay ra trước, động tác như định lau nước mắt cho tôi.

Tôi bước lùi lại một bước, xấu hổ cúi đầu, lúng ta lúng túng lau đi gương mặt đã ướt đẫm tự bao giờ.

Phải mất một lúc lâu, tôi mới tìm lại được giọng nói đã đi lạc đâu mất của mình, ngước mặt lên nhìn người ấy, cố nở một nụ cười bình thường nhất:

- Tiên sinh!

Trong ánh mắt bình thản như nước của người ấy chợt thoáng một vẻ xót xa.

Người ấy nhìn tôi một lúc rồi mỉm cười trìu mến.

Cây quạt đang cầm trên tay bỗng gấp lại rất nhanh, người ấy gõ nhẹ lên đầu tôi rồi hỏi:

- Đói bụng rồi, phải không?!

[1] Trích thơ Lục Vân Tiên (Nguyễn Đình Chiểu):

Nhớ câu kiến nghĩa bất vi / Làm người thế ấy cũng phi anh hùng

[2] Hữu ngạn sông Mã, nay thuộc xã Yên Thọ, Ý Yên, Nam Định

[3] Lời thề dưới thời Trần: "Làm con phải hiếu, làm tôi phải trung; ai bất trung bất hiếu, thì xin thần minh làm tội"

[4] Áo bào màu tía dát vàng, trang phục đại lễ của vương hầu thời Trần, theo Ngàn năm áo mũ, Trần Quang Đức.
 
Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 3: AI XUÔI VẠN LÝ


Suốt một tháng ròng, tôi một mình đi từ Yên Bang lên Hồng Lộ rồi lại từ Hồng Lộ về Thăng Long, đến hôm nay chen chúc trong lễ hội này mỏi mắt kiếm tìm cũng chỉ vì muốn gặp lại người.

Thế mà khi người ấy đứng trước mặt rồi, tôi lại cố tỏ ra bình thản như thể lần cuối gặp nhau là mới hôm qua.

Người ấy không hề thay đổi, vẫn đôi mắt đen trầm tĩnh sâu thẳm như lòng giếng, vẫn nụ cười nửa chân thành nửa như trêu chọc, vẫn xem tôi là một đứa trẻ còn mê ăn mê ngủ, chẳng hề biết rằng tôi vẫn luôn cố gắng để trưởng thành.

"Đói bụng rồi, phải không?!"

Từ khi người hỏi câu ấy đến giờ, tôi vẫn đứng chôn chân, giữ nguyên nụ cười gượng gạo, không biết phải nói gì mới đúng.

Sáng nay tôi khởi hành rất sớm, vừa vào ngõ làng Bưởi đã chạy ngay đến hội thề nên quả thật chưa có gì vào bụng.

Nhưng mà sau hơn một năm không gặp, câu đầu tiên có ai lại than đói bao giờ?!

Nếu tôi lại phụng phịu gật đầu, nhất định người ấy sẽ bật cười đắc ý.

Sĩ diện bỗng nhiên trỗi lên, tôi nhanh nhảu lắc đầu nguầy nguậy:

- Không...

Không đói!

Chẳng biết người có nhận ra ý tôi muốn phủ nhận hai lần hay không.

Bọn thư sinh đứng xung quanh đợi suốt từ nãy đến giờ đã bắt đầu sốt ruột, có kẻ lên tiếng giục:

- Mọi người vẫn đang mong câu đối trả của tiên sinh.

Ông đồ già đứng bên thư án cũng gật đầu cười hiền hậu.

Người mỉm cười không nói gì, chậm rãi lấy ra một túi tiền nhỏ đặt lên bàn, sau đó đưa mắt nhìn những người đang có mặt, cuối cùng ánh mắt dừng lại ở chỗ tôi:

- Đối không được là thua hết tiền ăn cơm đấy.

Nói rồi, người thong thả bước đến hàng chè xanh, ngồi xuống rót một bát đầy từ từ thưởng thức, để lại tôi một mình trước gian hàng câu đối và ánh mắt vừa tò mò vừa thách thức của đám văn nhân.

Tôi nhìn theo bóng dáng người thư sinh chưa đầy ba mươi tuổi, trong lòng chợt mơ hồ xúc động.

Người mặc áo tím thêu chỉ vàng kia là Hưng Ninh Vương Trần Tung, con trai trưởng của Yên Sinh Vương Trần Liễu.

Người có dáng vẻ thanh nhã và đôi tay cầm bút đẹp đẽ tưởng như trói gà không chặt đó là An phủ sứ Hồng Lộ - viên tướng quân trấn giữ vùng đất phía đông Đại Việt hơn một năm nay.

Người vừa gặp lại đã muốn thử xem tôi tiến bộ đến chừng nào ấy, không ai khác hơn chính là người đã từng ngày nhìn tôi khôn lớn, dạy dỗ tôi từng chút một, là lão già yêu quý nhất đời tôi.

Lão vẫn luôn trái tính dở người như vậy.

Không muốn mất mặt trước bọn nho sĩ suốt ngày mở miệng ra là trọng nam khinh nữ, lại càng không muốn làm lão thất vọng, tôi nghiêm túc cầm câu đối lên xem:

"Trúc thanh, tùng thanh, chung khánh thanh, thanh thanh tự tại."[1]

Câu đối vang lên trong đầu thì mắt tôi như thấy được một vùng nước non xanh ngát của Yên Bang, tai tôi nghe rõ tiếng rì rào khi gió đưa mình qua những khóm trúc và tiếng chuông vang rền mỗi buổi chiều tà ở trang viện Dưỡng Chân.

Thảo nào mà lão già nhà tôi, người tuy trong lòng chẳng xem ai ra gì nhưng luôn thích tỏ ra khiêm tốn, lại có hứng thú với thử thách này.

Tôi nhìn sang hàng chè lão đang ngồi, bắt gặp ngay ánh mắt của lão.

Tôi mỉm cười đầy tự tin rồi quay người lại, cầm bút lên chấm vào nghiên mực vài lần để kéo dài thời gian suy nghĩ.

Liền sau đó, tôi thoăn thoắt đưa bút lướt trên trang giấy đã bày sẵn, nét chữ hiện ra dưới bàn tay phải mạnh mẽ dứt khoát tựa rồng bay.

"Sơn sắc, thủy sắc, yên hà sắc, sắc sắc giai không."[2]

Tôi đặt bút xuống, không tiếc vì chưa có dịp cho mọi người thấy nét chữ dịu dàng như phượng múa khi tôi cầm bút bằng tay trái vì lão già từng nói, dù biết rõ bản thân tài năng trác tuyệt cũng phải luôn giữ thái độ khiêm nhường.

Ông đồ cầm câu đối lên xem:

- Màu non màu nước màu mây khói tuy bình yên đẹp đẽ nhưng tất cả đều là hư không.

Khi viết câu đối này, trong đầu tôi chợt nhớ lại một câu chuyện cũ.

Hơn ba năm trước, có một vị tăng đến Dưỡng Chân Trang tìm lão già để thỉnh giáo về Phật học khi tôi đang ngồi chép kinh ở chiếc bàn nhỏ đặt trong thư phòng của lão.

Lúc vị tăng ấy ra về, lão gọi tôi lại gần:

- Phong, người lúc nãy đến đây để hỏi việc gì?

- Ngài ấy hỏi người: tại sao trong kinh lại nói "Không tức là sắc, sắc tức là không".

- Đáp án thế nào?

- Im lặng.

Câu trả lời của tôi không hề sai, vì lúc đó lão đã im lặng một hồi lâu, nhưng vị tăng kia vẫn chưa chịu hiểu ra ý lão: chúng ta nhận biết được sự im lặng không phải là bởi vì tai chúng ta không nghe được gì, mà bởi vì tai ta nghe được thứ âm thanh là im lặng.

- Còn gì nữa? – Lão vẫn muốn thử thách khả năng ghi nhớ của tôi.

Tôi nhanh nhẹn đọc lại bài kệ lão giảng khi nãy:

- "Sắc tức thị không, không tức thị sắc

Tam thế Như Lai phương tiện lực.

Không bổn vô sắc, sắc vô không,

Thể tánh minh minh phi thất đắc."[3]

- Nhớ rất tốt. – Lão buông một câu khen ngợi hiếm hoi.

Tôi vênh mặt, ngoác miệng ra cười.

- Chép phạt không tập trung.

Nghe lỏm người lớn nói chuyện.

Chép thêm hai quyển nữa.

Khi lão đã không còn ở cạnh tôi, nghĩ lại chuyện cũ, tôi có không ít lần cảm thấy oán hận chất chồng.

Nếu không phải vì lão lớn hơn tôi mười hai tuổi, nếu không phải tôi đang ở nhà của lão, ăn cơm của lão, tiêu tiền của lão, nếu không phải những thứ tôi biết là do lão dạy, hẳn là tôi đã không do dự mà cho lão một trận nhớ đời.

Không đúng!

Phải là vài trận nhớ đời, để lão bỏ cái vẻ tưng tửng quái gở thích hành hạ kẻ khác kia đi.

Vậy mà... sao tôi lại lặn lội đi tìm lão?!

Một giọng nói vang lên từ đám văn sĩ vây quanh:

- Hay.

Đối rất chỉnh!

Ông đồ trịnh trọng đưa lại cho tôi túi bạc lúc nãy lão đặt trên bàn, tôi nhận lại đồng thời từ chối món tiền thưởng:

- Ta xin biếu lại để ông mua giấy mực.

Những lời tán tụng sau đó không làm tôi để tâm cho lắm, vì lão già nhà tôi đã rời khỏi hàng chè, vẫn như khi tôi còn nhỏ, đi rất thong thả để tôi kịp đuổi theo sau.

***

- Trừ đói bụng ra, đúng là trên đời không có gì làm khó được em. – Lão điềm nhiên gắp thức ăn vào chén.

- Dù không đối lại được, em vẫn có đủ tiền mời người ăn một bữa ngon mà. – Tôi cãi lại, không muốn thừa nhận động lực thật sự khiến tôi cố gắng là muốn làm cho lão tự hào.

- Dạo này em giàu vậy sao?!

- Hơn một năm qua, em không có tiêu tiền của chị cho...

- Tôi bỏ lửng câu nói vì không muốn kể lể dài dòng.

Một buổi sáng tháng giêng năm ngoái, tôi thức dậy đã thấy một phong thư đặt trên bàn, lão già để tôi ở lại Yên Bang, âm thầm đến nhậm chức ở Hồng Lộ.

Tôi vừa buồn vừa giận nhưng cố gắng để không rơi một giọt nước mắt nào, mà bắt đầu lập kế hoạch tìm hiểu đường đi và để dành tiền.

Chuyến đi này của tôi tuy không gặp nguy hiểm hay khó khăn gì to lớn, nhưng tôi cũng đã dành ra rất nhiều công sức để chuẩn bị và vượt qua quãng đường xa đó.

- Sao em lại đi cùng Quang Khải?

Quang Khải...

Đúng rồi, Quang Khải!

Thảo nào từ lúc rời khỏi đền Đồng Cổ đến bây giờ tôi cứ ngờ ngợ là mình đã quên một điều gì đó.

Hóa ra vừa nhìn thấy lão già, tôi đã bỏ quên Quang Khải ở gánh rượu của bà lão, thậm chí lúc đi theo lão già về quán trọ này tôi cũng không tạm biệt hắn được một câu nào.

Tôi nhăn nhó, thở dài.

- Em quên chào cậu ta rồi!

- Em có nói cho cậu ta biết thân phận của mình không? – Lão đưa đĩa thịt nướng thơm phức lại trước mặt tôi.

- Em không nói.

Cậu ta thậm chí còn không biết em và cậu ta cùng họ.

Nhưng mà...

Lão nhướn mắt nhìn tôi.

- ... lúc nãy em vội vàng chạy đến trước mặt tiên sinh, còn khóc lóc nữa... chắc cậu ta ít nhiều cũng đoán ra được.

Lão không nói gì, thong thả gắp thức ăn.

- Cũng có thể cậu ta vội vã đi tìm cô đào hát của cậu ta, không có nhìn thấy...

Tôi lắp bắp một hồi rồi lại thở dài, rõ ràng tôi không nên để Quang Khải ta biết được người tôi muốn tìm là Hưng Ninh Vương – anh họ của hắn ta.

- Cậu ta là người bạn đầu tiên của em...

Là đồng đội, là bạn tù, còn là bằng hữu mới kết giao nữa...

- Em vào tù khi nào?! – Câu hỏi lạnh lùng của lão khiến tôi suýt nghẹn, tôi lại kể điều không nên kể.

- Do hiểu lầm thôi, sau đó em lại được thả ra ngay. – Tôi cố cười thật tươi tỉnh.

Lão thở dài một tiếng, lại đẩy mấy đĩa thức ăn về gần phía tôi hơn.

- Ăn no rồi lên phòng tắm rửa nghỉ ngơi, sáng mai lên đường về nhà.

Tôi vội vã buông đũa, chạy đến đứng chặn trước mặt lão, khóe mắt ửng đỏ.

Vốn định sẽ khóc lóc kể khổ, nào là bị ngã ngựa trầy hết chân tay, nào là có hôm phải dầm mưa, có hôm phải chịu đói, có hôm phải ngủ trong tù..., không ngờ cuối cùng chỉ nói được một câu:

- Tiên sinh, người muốn đuổi em về Yên Bang thật sao?!

Có chút xót xa hiện lên trong mắt lão.

Lão nhìn lướt xuống tay chân tôi, sau đó cười cười, cây quạt cầm trên tay lại gõ vào đầu tôi một cái:

- Ta là An phủ sứ, không thể đi khỏi Hồng Lộ quá lâu.

Tôi ngớ người một lúc, lập tức hiểu ra, nói với theo bóng người vừa đi lên cầu thang:

- Dạ!

Đêm hôm ấy tôi trằn trọc không ngủ được, chỉ mong trời sáng.

Mặt trời vừa ló dạng, tôi đã đến phòng lão gõ cửa, không ngờ lão đã trang phục chỉnh tề, ngồi đọc sách bên cửa sổ.

Ánh nắng sớm mai lấp lánh trên bộ y phục màu lam quen thuộc, rạng rỡ trên gương mặt lão mỉm cười trìu mến:

- Phong, về nhà thôi.

***

Chúng tôi mất khoảng năm ngày đi từ Thăng Long về Hồng Lộ.

Dọc đường đi, tôi không quên năn nỉ lão ghé lại ăn những món mà lần trước vì vội nên tôi đã phải bỏ qua.

Lão luôn bảo là phải tận dụng thời gian để quay về, nhưng rồi cũng ra lệnh cho phu xe vòng qua chỗ này một hồi, ghé lại chỗ kia một chút.

Đến làng Bát Tràng ở Gia Lâm, tôi khăng khăng đòi vào xem, lão kiên quyết:

- Ở đấy chỉ có gốm thôi, không có đồ ăn, em vào làm gì?

- Em muốn mua một món tặng tiên sinh mà. – Tôi bày ra bộ dạng tiu nghỉu.

- Ta uống hết bát chè là phải quay trở ra đấy. – Lão nhượng bộ.

- Dạ.

Tôi nhanh nhảu cúi đầu chào rồi chạy đi, được vài bước, tôi liền quay lại.

- Sao vậy?

Đổi ý không muốn mua tặng ta nữa sao?

- Tặng chứ!

Nhưng lần trước em cứu người nên... hết tiền rồi. – Tôi vừa than thở vừa xòe tay ra.

Lão phì cười, đặt vào tay tôi một túi tiền.

Lựa chọn mất một lúc khá lâu, tôi cũng chọn được một bộ ấm chén men trắng có hình hoa sen và sóng nước được vẽ bằng màu lam[4] mang về.

Năm nào Dưỡng Chân Trang cũng nhận được rất nhiều lễ vật là đồ gốm, nhưng món quà tự tay tôi mua tặng hẳn là phải có ý nghĩa đặc biệt hơn.

Dù rằng... món quà ấy tôi mua tặng lão bằng tiền của lão.

***

Khi thức dậy vào buổi sáng ngày thứ sáu, tôi nhận ra mình đang ở trong một căn phòng bày trí y hệt như căn phòng ở Yên Bang.

Trong tủ, y phục đã được chuẩn bị sẵn, phần lớn là màu trắng ưa thích của tôi.

Còn có một bộ áo lam[5] vạt chéo thêu hình mộc lan, hệt như bộ mà tôi vẫn mặc mỗi khi vào Dưỡng Chân Trang chép phạt.

Tôi ngắm nghía bộ áo lam một lúc lâu, không kìm được lại ôm nó vào lòng, thấy mắt mình ươn ướt.

- Nhã Phong, cháu dậy rồi à?! – Sau lưng tôi vang lên giọng nói ồm ồm quen thuộc.

- Bác Dương! – Tôi vui mừng quay lại nhìn người vú nuôi đã chăm sóc lão già nhà tôi từ lúc nhỏ. – Lâu ngày không gặp trông bác trẻ ra nhiều, cháu không nhận ra đấy!

- Con bé này...! – Bác Dương phì cười, bưng mâm thức ăn đến đặt trên chiếc bàn lớn giữa phòng. – Cậu cả ra ngoài từ sớm rồi, dặn cháu ngoan ngoãn ở nhà, đừng đi lung tung kẻo lạc.

Tôi cười toe toét rồi nhanh chóng thưởng thức bữa sáng thơm ngon, không quên nịnh nọt vài câu:

- Mặc kệ lão.

Có món ngon bác Dương nấu là cháu vui cả ngày rồi.

Ăn sáng xong, tôi đi một vòng phủ An phủ sứ tham quan.

Bao quanh khoảng sân rộng lớn là một cổng lớn và ba dãy nhà dài.

Trong sân có hồ sen và vài cây cổ thụ, còn có một cây mộc lan nho nhỏ, dường như mới được trồng không lâu lắm.

Trong phủ chỉ có một vài gia nhân.

Tôi hỏi thăm một người thì biết thư phòng của lão nằm ở giữa dãy nhà chính, cạnh căn phòng đối diện cổng vào.

Tôi dợn mở cửa, người nô bộc đã vội vã ngăn lại:

- Tiểu thư, không ai được vào thư phòng của An phủ sứ!

Tôi nhìn gương mặt lo lắng của anh ta mà không khỏi cảm thương.

Lão già nhà tôi nổi tiếng là vừa gần gũi vừa nghiêm khắc với kẻ dưới, nô bộc ở Yên Bang tuy rất mến chủ nhưng cũng chưa từng dám coi thường kỷ luật, chẳng trách...

- Nhã Phong, cháu cứ vào đi.

- Bác Dương! – Người nô bộc trẻ thảng thốt kêu.

Tôi gật đầu, nhanh chóng mở cửa bước vào:

- Cháu cảm ơn bác Dương!

Khi khép cửa lại, tôi còn kịp nghe lời người vú già dặn dò anh nô bộc chỉ vừa theo hầu chủ nhân được một năm:

- Tiểu thư Nhã Phong là ngoại lệ cho tất cả quy định của An phủ sứ, cậu phải nhớ điều này.

Căn phòng này cũng không khác gì so với căn phòng ở Dưỡng Chân Trang.

Ngoài một chiếc bàn lớn để lão làm việc và đọc sách, ở góc bên kia phòng còn có một chiếc bàn con con.

Tôi bước đến gần xem, thấy lớp bụi bám trên chiếc bàn lớn thậm chí còn dày hơn chiếc bàn nhỏ này.

Tôi dùng chiếc chổi lông phủi sạch bụi bám trên bàn và kệ sách, chép thêm vài câu kệ mà lão thích treo lên các bức vách, tiện tay vẽ thêm vài bức tranh, đến khi xong việc thì mặt trời đã khuất.

- Lại thành phòng của trẻ con rồi. – Lão vừa về đến đã than phiền.

- Trông đẹp hơn mà. – Tôi bướng bỉnh.

Lão bước đến chiếc bàn dài, ung dung ngồi xuống, tay gõ gõ nhẹ trên bàn.

Tôi đã pha sẵn một bình trà đợi lão về nên lập tức rót cho lão một chén đầy.

Lão vừa uống trà vừa đưa mắt nhìn khắp phòng, chỉ cười cười mà chẳng nói gì thêm.

- Nhưng vẫn còn thiếu một thứ. – Tôi giả vờ nhăn nhó.

- Ngăn thứ ba từ ngoài đếm vào, kệ trên cùng. – Lão đáp.

Tôi liền chạy đến tìm, quả nhiên ở đó có một bức tranh mộc lan do chính tay lão vẽ.

Rất lâu trước đây, có lần tôi hỏi trong số những loài hoa kính Phật, lão thích nhất hoa nào.

Lão nghĩ một lúc rồi trả lời là mộc lan.

Thế là ngày nào tôi cũng hái rất một vài đóa mộc lan thả vào bát nước mang đặt trên bàn lão.

Hái đến khi cây mộc lan trong vườn không kịp nở hoa cho tôi hái, tôi buồn bã mất mấy ngày.

Khi ấy, lão đã vẽ một bức tranh y hệt bức tranh này treo ở trên tường, bảo rằng như vậy là ngày nào chúng tôi cũng có thể vừa ngồi đọc sách vừa ngắm mộc lan, không sợ cây ra hoa không kịp nữa.

- Người đã vẽ rồi sao không chịu treo lên? – Tôi vừa đi loanh quanh tìm chỗ treo vừa thắc mắc.

- Ở Hồng Lộ này không có ai nằng nặc đòi ngắm hoa mới chịu đọc sách nên không cần thiết phải treo. – Lão giữ giọng nói lạnh nhạt quen thuộc.

Tôi không nói lại nữa vì đã tìm thấy được một vị trí vừa ý, để từ hướng bàn của lão lẫn của tôi đều có thể nhìn rõ được.

Ngắm nghía một lúc, tôi lại sực nhớ một việc nên chạy ào về phòng, lục tung túi hành lý mới tìm được một phong thư màu đỏ, tôi mang đến đưa trước mặt lão:

- Gì đây? – Lão ngạc nhiên.

- Tiền mừng tuổi người gửi về Yên Bang hôm Tết. – Tôi ngập ngừng. – Em chưa từng mở ra đâu.

Từ ngày lão rời đi, đều đặn một tháng sẽ gửi về một phong thư, trong đó có một lá thư dặn dò công việc gửi cho chị, lá thư còn lại gửi cho tôi.

Tôi sẽ hồi âm bằng những câu chuyện vụn vặt trong suốt một tháng qua, gửi lại kèm với thư của chị báo cáo tình hình.

Tôi đã tính toán để bỏ nhà đi Hồng Lộ ngay sau khi hồi âm lá thư của lão, nghĩa là tôi có vỏn vẹn một tháng trước khi lão gửi lá thư tiếp theo và nhận ra tôi đã không còn ở Yên Bang.

Còn vì sao tôi lại quyết định đi vào lúc ấy, là bởi vì tháng trước đó tôi đã nhận phong bao lì xì này của lão.

Gần mười năm qua, đây là năm đầu tiên tôi đón giao thừa không có lão.

- Năm nay lớn rồi, không nhận tiền lì xì nữa phải không? – Lão cười cười trêu chọc.

- Không phải.

Em... muốn chính miệng chúc Tết người. – Tôi ấp úng mãi mới nói được những chữ cuối cùng.

Lão phì cười, cầm lại phong bao:

- Tết đã qua lâu rồi ai lại nhận lì xì, sẽ bị xui xẻo đấy.

Mặt tôi liền xịu xuống.

- Cũng sắp đến Tết giữa năm[6]. – Lần này lão gõ đầu tôi bằng phong bì đỏ đang cầm.

Vẻ hớn hở lại về với tôi.

Hôm ấy, chúng tôi ăn một bữa cơm rất ngon lành do bác Dương chuẩn bị.

Cuối cùng sau hơn một tháng lang bạt, tôi đã trở về nhà, mà ngôi nhà ấy không hẳn là một căn nhà nào cụ thể ở Yên Bang hay Hồng Lộ.

[1] Câu này nghĩa là: Âm thanh của trúc, âm thanh của tùng, âm thanh của chuông khánh, tất cả âm thanh đều tự tại.

[2] Câu này nghĩa là: Màu của núi, màu của nước, màu của mây khói, tất cả đều là hư không.

[3] Dịch thơ:

"Sắc tức không, không tức sắc

Ba đời Như Lai phương tiện đặt

Không vốn không sắc, sắc không không

Thể tánh sáng ngời không được mất."

[4] Vào thời Trần, làng Bát Tràng chuyên sản xuất gốm sắc trắng và cũng là nơi xuất hiện loại gốm vẽ hoa lam.

[5] Y phục của Phật tử.

[6] Tết Đoan ngọ, mồng năm tháng năm âm lịch.
 
Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 4: HOÀNG HÔN NHƯ LỬA


Từ lúc về Hồng Lộ đến giờ, việc của tôi mỗi ngày chỉ là ăn, ngủ, đọc sách và chép kinh để luyện chữ.

Mỗi ngày thức dậy soi gương lại thấy gương mặt phúc hậu thêm một chút.

Kế hoạch ăn chay để lấy lại vóc dáng mảnh mai chưa thể thực hiện được, vì ở phủ Tiết độ sứ chẳng có người nào nấu món chay ngon như đầu bếp ở Dưỡng Chân Trang.

Bấy giờ là giữa mùa hạ, trời nóng đến mức tôi lười bước ra khỏi phòng để ăn trưa.

Hôm nay lão già có việc ra ngoài, bác Dương rất hiểu ý, dặn người mang cơm đến tận phòng cho tôi, còn thêm cốc trà hoa cúc.

Đánh chén no nê, tôi lăn ra ngủ một giấc đến chiều, xem như để tạm quên đi cái nóng.

Căn phòng mở tung cửa sổ, chỉ rũ nhẹ một bức màn thưa.

Thảng hoặc, một cơn gió nhẹ thổi vào đưa theo hương mộc lan cuối mùa.

Lúc lâu sau, bên ngoài vang lên tiếng chổi ai đang quét sân, từng nhát đều đều, khô khốc.

Sột soạt... sột soạt...

Tiếng động lặp đi lặp lại như làm phiền khiến tôi khó chịu, khẽ chau mày, mồ hôi bắt đầu rịn ra trên trán.

Mùi nồng nồng của lá khô đang cháy như tiếp thêm sức nóng, cả người tôi hâm hấp, mơ màng không rõ là mê hay tỉnh.

Tôi hé mắt, nhìn thấy những hình ảnh thân thương đã không gặp từ lâu lắm.

...

"Tuệ An giỏi quá, quét sân nhanh hơn dì rồi!"

"Lần trước dì dặn cháu phải giúp mẹ làm việc nhà, cháu không có quên đâu!"

Tôi nhìn người thiếu phụ có nụ cười thật hiền, vênh váo tự hào.

Sột soạt.

Sột soạt.

Một cây chổi lớn và một cây chổi nhỏ thi nhau tạo ra những tiếng động vui tai.

Những chiếc lá vàng ngoan ngoãn đuổi nhau về một góc.

Mùi khói đốt lá khô tỏa lên trời ngai ngái, xen lẫn tiếng lửa reo tí tách.

...

"Mẹ!

Chúng ta chạy đi đâu vậy?!"

"An, ngoan, chúng ta phải rời khỏi nơi này!"

"Dì có đi cùng chúng ta không mẹ?"

Mẹ tôi thoáng ngập ngừng, trong mắt còn hiện lên chút xót đau.

"Dì con đã đi trước, đến một nơi rất xa rồi..."

Tất cả hành lý được thu dọn rất vội vàng.

Con rối vải mà tôi yêu thích nhất cũng bị bỏ quên.

...

"Một.

Hai.

Ba.

Bốn. ...

Tám.

Chín.

Mười.

An, cậu nấp kỹ chưa, tôi bắt đầu tìm nhé!"

Tôi khoái chí nép mình sau cánh cửa tủ, chắc mẩm cu Đất không thể tìm thấy mình.

Tôi lẩm nhẩm đếm, hơn số một trăm mà cậu ta vẫn chưa tìm được tôi, cả tiếng bước chân cũng không còn nghe thấy.

Tiếng chổi quét sân của mẹ tôi cũng im bặt tự lúc nào, chắc là mẹ đã ra nhà sau để nấu cơm.

Cu Đất cũng thật ngoan cố, tìm lâu như vậy mà vẫn không chịu thua.

Tôi bèn hé cửa định bước ra ngoài, mùi khói đốt lá bỗng xông vào mũi, nồng nặc, cay xè.

Bên ngoài có tiếng la thất thanh: "Gió lớn quá!

Cháy nhà rồi!"

Tôi hoảng hốt định chạy ra ngoài, nhưng chân vừa chạm đất đã bị ai đó nhấc bổng lên, miệng tôi muốn kêu la nhưng đã bị một bàn tay bịt chặt.

Tôi dùng hết sức cắn thật mạnh, mùi máu tanh tràn khắp miệng.

Đối diện với tôi là một người thanh niên trạc hai mươi tuổi có dáng vẻ rất thư sinh nhưng đôi mắt nhìn tôi lại phản chiếu ánh lửa đỏ ngầu như máu.

Chẳng hiểu sao khi ấy, tôi không la hét hay bỏ chạy, mà lại rất tin tưởng, nói như cầu xin người đó:

"Mẹ tôi...

Cứu mẹ tôi!"

Người ấy kéo tôi sát vào ngực, bàn tay rướm máu ôm chặt gáy tôi, mắt tôi bị đôi vai rộng che hết tầm nhìn, chỉ nghe người ấy thì thầm rất khẽ:

"Ta xin lỗi."

Người ấy ôm tôi chạy đi, một mảnh vai áo cháy sém.

Lúc lao ra khỏi căn nhà đang rực lửa, qua làn nước mắt, tôi thoáng nhìn thấy mặt trời đang khuất dần sau dãy núi.

Cả không gian nhuộm một màu đỏ rực.

"Mẹ tôi vẫn còn trong nhà!

Cứu...!"

Tôi choàng tỉnh, cả người ướt mồ hôi nhưng đôi mắt lại ráo hoảnh.

Bước đến bên cửa sổ, tôi nhìn ra sân, đống tro đốt lá vẫn còn âm ỉ cháy.

Mặt trời đang khuất dần, đổ sắc đỏ lên những tàn cây.

***

- Bác Dương ơi, vừa có khách đến phải không ạ?

- Phong, cháu dậy rồi à?!

Vừa có người mang tặng phẩm từ Thăng Long đến cho cậu Cả.

- Quà gì thế ạ?!

- Một túi hạt sen, một túi long nhãn, đang để trong phòng khách đấy.

Thường ngày, hẳn là tôi sẽ reo lên sung sướng vì mùa hè mà ăn chè hạt sen long nhãn thì chẳng còn gì bằng, nhưng bây giờ, đầu óc tôi vẫn còn váng vất vì giấc mơ ban nãy nên chỉ cười nhẹ rồi tìm cách tránh đi.

- Cháu đến thư phòng đọc sách.

Ngồi một lúc lâu, tôi vẫn không thể đọc vào một trang sách nào.

Những hồi ức thời thơ ấu vốn được tôi giấu kín trong lòng, ít khi nào dám nhớ.

Đến tận bây giờ, tôi vẫn chưa thực sự chấp nhận được việc mẹ tôi đã mất trong buổi chiều đỏ lửa ấy, mà vẫn xem như mẹ đang đi đến một nơi nào đó xa xôi, rồi sẽ có ngày quay trở lại.

Đầu bỗng dưng đau nhức, tôi gục lên bàn, thở dài thườn thượt.

"Tên em là gì?"

"Lý Tuệ An."

"Nhớ, từ nay tên của em là Trần Nhã Phong.

Ta sẽ gửi em đến chỗ Thiền sư Tiêu Dao."

"Ngài là ai?"

"Một thời gian nữa ta sẽ đón em về."

"Mẹ của em..."

Tôi không nói được trọn câu vì người ấy đã đặt tay lên môi tôi ngăn lại, ánh mắt chân thành:

"An." – Đó là lần đầu tiên người ấy gọi tên thật của tôi. – "Ta nhất định sẽ bảo vệ em."

Chỉ vì câu nói ấy, chỉ vì ánh nhìn tha thiết ấy, tôi vô thức đặt lòng tin vào một người xa lạ chẳng biết từ đâu đến, ngây thơ đi theo người ấy suốt những năm qua.

Có lần, vì muốn hiểu rõ ngọn ngành, tôi gợi lại chuyện năm đó.

Đáp lại câu hỏi của tôi chỉ là một ánh mắt buồn thăm thẳm, đến mức khiến tôi thấy đau lòng, đến mức khiến tôi cảm thấy việc có biết hay không cũng chẳng còn quan trọng nữa.

Bỏ qua mối quan hệ trên danh nghĩa, bỏ qua những ân oán mà tôi không hiểu được, thứ khiến chúng tôi gắn bó với nhau bền chặt nhất có lẽ là sự đồng cảm của những đứa trẻ cô độc.

Giao thừa đầu tiên tôi ở Yên Bang, sau những lời chúc mừng, sau buổi tiệc rộn ràng, tôi bắt gặp người ấy đứng một mình bên hồ sen.

Tôi đến bên cạnh, ngồi bệt xuống, đong đưa đôi chân nhỏ trên mặt hồ lạnh lẽo.

Người ấy trùm lên người tôi một tấm áo choàng rồi chẳng ai nói với ai câu gì, chúng tôi cứ một đứng một ngồi như thế cho đến khi mặt trời ló dạng.

"Lúc ta còn nhỏ hơn em bây giờ, mỗi năm đến giao thừa đều rất vui."

Giọng nói của người ấy lạnh như sương sớm.

"Sau đó, mẹ của ta bị người ta cướp mất."

Người ấy kể lại chuyện này với ngữ điệu không khác gì một người lớn bâng quơ nhớ lại: "Lúc nhỏ ta bị em trai giành đĩa bánh."

"Dẫu sao, khi ấy ta vẫn biết được tin tức của người, biết người bình an mạnh khỏe.

Còn bây giờ, ta cũng như em, đều là những đứa trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ."

Năm đó, Hưng Ninh Vương Trần Tung cũng chỉ là một cậu thanh niên vừa mới trưởng thành.

Có khác chăng, người con trai trẻ tuổi ấy lại sinh ra và lớn lên trong thời khắc chuyển giao của hai triều đại.

Và khác chăng, là gia đình của người lại chính là nạn nhân của ván cờ quyền lực được xoay vần bởi một bàn tay kẻ khác.

Tôi gượng đứng lên, mặc đôi chân gần như tê cóng, bước đến đưa tay nắm lấy bàn tay to lớn cũng đang lạnh giá.

"Tiên sinh, em chưa nhận được lì xì!"

Những ánh nắng đầu tiên của năm mới nghiêng nghiêng soi trên gương mặt tĩnh lặng như hồ sen bên dưới, người ấy nở một nụ cười, nắm tay tôi dắt vào trong.

Tiên sinh, nếu chúng ta đều là cô nhi, vậy chúng ta hãy trở thành một gia đình.

Tôi đã quen với việc ở cạnh lão già như một lẽ dĩ nhiên, ít khi nào nhớ lại nguyên nhân đã gắn kết hai con người xa huyết thống.

Lẽ nào chỉ bởi vì vài nhát chổi đưa, một mùi khét cháy, từng sự việc năm xưa lại thi nhau hiện về rõ ràng như vậy?!

Thời gian quả thật có sức mạnh phi thường, không chỉ vùi chôn ký ức mà còn có thể thay đổi hoàn toàn những mối quan hệ.

Nhiều năm trước đây, làm sao nghĩ được sẽ có ngày mỗi lần tôi nhớ đến vị tiên sinh nho nhã kia lại dùng những tên gọi như "lão già đáng ghét", và lắm lúc lầm bầm nguyền rủa lão vì cái tính dở người.

Nghĩ đến đây, tôi chợt thấy đói bụng và nhớ đến món chè hạt sen long nhãn.

Quà đưa từ Thăng Long đến, hẳn là của quan gia thay mặt Hoàng hậu quá cố gửi cho con trai người.

Tôi được nghe kể lại, mẹ ruột của lão già, cũng chính là công chúa Thuận Thiên triều Lý, là Hoài Vương phi của Yên Bang, từ khi bị cưỡng ép trở thành Hoàng hậu của Nguyên Phong hoàng đế triều Trần cho đến tận lúc nhắm mắt xuôi tay, vẫn chưa bao giờ quên rằng mình còn có một người con trai với Yên Sinh Vương Trần Liễu.

Khi thì hộp trà thơm, khi thì chút đặc sản, người mẹ ấy vẫn luôn len lén chăm sóc đứa con mà mình không thể ở cạnh bên.

Bao giờ quà gửi đến cũng không có danh tính, nhưng đủ để khiến lão già trầm ngâm cả một ngày dài, còn ánh mắt lại lấp lánh chút hạnh phúc nhỏ nhoi.

Điều kỳ lạ là từ khi Hoàng hậu qua đời, những món quà không tên tuổi vẫn được đều đặn gửi đến Yên Bang, bây giờ là Hồng Lộ.

Lão già nhận, nhưng thường không đụng đến mà cho tôi hoặc bác Dương.

Đó không phải là bổng lộc của vua ban, mà đơn giản là một lời xin lỗi, một chút quan tâm kín đáo của vị hoàng đế năm nào không thể ngăn được việc người ta ép mình bỏ người vợ đã nhường cho mình ngai vị, ép chị dâu mình đang bụng mang dạ chửa về làm vợ của mình.

Lão già nhà tôi nhận, vì lão không hề oán hận vị quân vương chí tình chí nghĩa nhưng ít quyền hành thuở ấy.

Lão không đụng đến, vì dù một người có thấu hiểu có – không, được – mất đến đâu, vẫn có những nỗi đau họ không cách nào buông bỏ.

Nhớ ra một việc, tôi đứng bật dậy, chạy đến chiếc tủ nhỏ ở cạnh bàn của lão già, kéo ngăn kéo dưới cùng.

Quả nhiên ở đó có một chiếc khăn tay nhỏ màu lam với đóa mộc lan đang thêu dang dở.

Người đã không thể trở về để hoàn thành trọn vẹn đường kim mũi chỉ, nhưng lão già của tôi vẫn trân quý như báu vật, gói trọn nỗi nhớ mong của một đứa con xa mẹ từ thuở bé.

Tôi mang chiếc khăn ra vườn, phơi trên sợi dây căng ngang hai nhánh mộc lan.

Nắng đã tắt hẳn nhưng cái nóng vẫn còn hầm hập.

Một vài cơn gió nhẹ thổi qua lay nhẹ chiếc khăn, đóa mộc lan rung rung như tiếc nuối.

Tôi ngẩn ngơ nhìn, bất chấp thời gian và cái bụng đang sôi cồn cào.

Khi tôi quay lại, lão già đã đứng đó tự bao giờ.

- Tiên sinh về rồi. – Tôi cố giấu một chút hoảng hốt.

- Ừm. – Lão đáp gọn lỏn, mắt hướng về phía chiếc khăn đang phơ phất.

- Em... thấy đã cất lâu rồi nên mang ra phơi cho thoáng gió! – Tôi ấp úng giải thích.

Lão cười nhẹ, quay người đi vào nhà.

- Sương đêm xuống rồi, còn phơi nữa khăn sẽ ướt đấy.

Tôi chợt nhớ ra, vội chạy đến gỡ khăn xuống, mang trở vào phòng cất thận cẩn thận.

Bên ngoài bỗng vẳng lại tiếng đàn, lúc trầm đục như tiếng thác gào, lúc nhặt lúc khoan như tiếng mưa rơi trên mái ngói.

Tôi về phòng mình lấy cây sáo ngọc, chậm rãi bước theo thanh âm ấy đến bên hồ sen.

Tiếng sáo từ từ cất lên, hòa với tiếng đàn.

Vẳng trong tiếng gió nghe như có ai thầm thì hát theo, lời buồn não nuột:

"Ai làm lỡ chuyến đò ngang

Cho sông cạn nước hai hàng biệt ly..."
 
Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 5: CHUYỆN CŨ HỌ TRẦN


"Phật Phật Phật bất khả kiến

Tâm tâm tâm bất khả thuyết.

Nhược Tâm sinh thì thị Phật sinh

Nhược Phật diệt thì thị Tâm diệt.

Diệt Tâm tồn Phật thị xứ vô

Diệt Phật tồn Tâm hà thì yết..."[1]

- Em không chép kinh Phật, lại đi chép thơ của ta để làm gì?

Tôi ôm trán nhăn nhó, nhìn lên lão già đang nhịp nhịp cây quạt vừa gõ tôi một cú đau điếng:

- Tiên sinh, thơ của người có biết bao nhiêu giác ngộ, em chép thơ người là học hỏi mà!

- Em đang bị phạt.

Thơ của ta thì ngắn hơn kinh Phật. – Lão vừa nói vừa đi lại chỗ kệ sách, nhìn nhìn một lúc rồi đưa tay rút ra một quyển.

- Tiên sinh, em đói bụng rồi. – Tôi tiu nghỉu. – Từ lúc về nhà đến giờ em chưa được ăn gì cả, đã phải chép đến gãy cả tay. – Vẫy vẫy cánh tay mềm oặt, tôi làm ra vẻ sắp chết đến nơi.

Lão già vẫn không mảy may ngoái đầu lại nhìn tôi, mang quyển sách vừa tìm được đi thẳng ra cửa.

- Đợi ta một chút, sắp được ăn rồi.

Tôi thở dài não nuột, gục xuống bàn.

Nhìn lên tường, bức tranh vẽ đóa mộc lan khẽ lay như trêu tức.

Một ý nghĩ quái đản nảy ra trong đầu tôi: "Không biết mộc lan ăn vào có sao không?".

Sở dĩ bây giờ tôi phải ở đây chép phạt, là vì nhân lúc lão già vắng nhà mấy hôm, tôi đã lén chạy ra ngoài.

Thật ra lén ra ngoài không phải vấn đề, nhưng không kịp trở về nhà trước lão lại là vấn đề.

Sáng nay lúc tôi về đến cửa đã thấy kiệu của lão ở trong sân, chỉ có thể ngoan ngoãn đi thú tội.

Sở dĩ mấy hôm trước tôi phải lẻn ra ngoài, vì tôi nhận được thư của Quang Khải nhờ một đứa trẻ đưa đến phủ.

Hắn ta muốn nhờ tôi làm chứng cho lễ cưới của hắn và Nguyệt Nhi.

Quang Khải vốn là hoàng tử yêu quý của quan gia, việc hôn nhân dĩ nhiên phải tìm được nơi xứng đáng.

Nguyệt Nhi lại là đào hát, dù cho quan gia có rộng lượng phóng khoáng đến thế nào cũng không thể chấp nhận cô ả làm chính thất.

Hoàng tử nạp thiếp vốn không cần nghi lễ cầu kỳ, nhưng Quang Khải vốn là người có tình có nghĩa, cha của Nguyệt Nhi lại vừa mới qua đời, hắn không muốn cô ả chịu ấm ức quá nhiều, nên kiên quyết tổ chức một lễ cưới đầy đủ trình tự, chỉ khác là, chứng hôn chỉ có mình tôi.

Lúc mới nghe chuyện này, tôi thấy vô cùng cảm động, cũng rất nể phục, đã buông ra một câu:

- Hưng Đạo Vương nhiều năm trước đây dám xông vào dinh Nhân Đạo Vương để giành lấy công chúa Thiên Thành, hôm nay Chiêu Minh Vương ngươi lại dám tự định đoạt hôn nhân với một thường dân.

So với lão già nhà ta, ngươi và Hưng Đạo Vương mới thật giống anh em cùng một mẹ sinh ra.

Ánh nhìn sắc lẹm của Quang Khải cho tôi biết mình đã nói sai rồi.

Lão già nhà tôi là con trai của An Sinh Vương Trần Liễu và công chúa Thuận Thiên.

An Sinh Vương lại là anh trai của quan gia.

Những việc xảy ra sau này, tôi không dám hỏi lão, chỉ dám nhân lúc lão vắng mặt mà hỏi bác Dương và những người lớn tuổi ở Dưỡng Chân Trang.

Nghe bảo khi tôi còn chưa sinh ra đời thì hoàng cung xảy ra biến cố.

Hoàng hậu lúc đó là công chúa Chiêu Hoàng – em gái của công chúa Thuận Thiên – không sinh được con, công chúa Thuận Thiên lại đang mang bầu Tĩnh Quốc Vương Khang, bị ép gả cho quan gia, trở thành hoàng hậu, sinh được ba người con nữa, Quang Khải là một trong số đó.

Cho nên, Quang Khải chính là em trai cùng mẹ của lão già, còn Hưng Đạo Vương lại là em cùng cha với lão già, là anh em chú bác với Quang Khải.

Lúc đầu khi cố tìm hiểu những việc này, tôi đã phải ghi ghi chép chép cho đỡ nhầm.

Càng tìm hiểu càng thấy rối rắm, tôi lại nghĩ chẳng đời nào mình gặp nhiều tôn thất như thế, nên đã bỏ qua.

Cuối cùng chỉ còn nhớ được câu chuyện giữa hai anh em quan gia, vì nó liên quan trực tiếp đến lão già.

Lão già đối với quan gia không có oán giận, thậm chí còn có nhiều phần kính trọng, chỉ là không thể thân thiết được.

Đối với những người em cùng mẹ khác cha, tôi nghĩ lão cũng âm thầm quan tâm, nhưng không gần gũi, vì tôi biết Quang Khải lại là nhờ một vụ đánh nhau ở Tiên Lễ.

Lão biết được tôi kết bạn với hắn cũng không ngăn cản, không bảo đề phòng, có khi nào là muốn mượn cơ hội này hóa giải mối bất hòa giữa hai nhánh huyết mạch họ Trần hay không, tôi chẳng rõ.

Chỉ biết bây giờ hẳn chưa phải thời cơ.

Lễ cưới chỉ có ba người, nhưng rất nghiêm trang trước hương hồn cha của Nguyệt Nhi.

Tôi hỏi Quang Khải sao không bảo gia nhân giúp hắn chuẩn bị, hắn đáp:

- Chiêu Minh Vương rồi sẽ phải lấy một vị công chúa tiểu thư.

Lễ cưới này là của Quang Khải muốn cho Nguyệt Nhi một chút rỡ ràng.

Tôi thực sự cảm động bởi lòng chân thành của tên hoàng tử trẻ tuổi này.

Lúc Nguyệt Nhi bước vào trong trang phục cô dâu, tôi nghĩ mình hiểu được tại sao Quang Khải lại si mê ả ta đến thế.

Xinh đẹp dịu dàng, lại có một chút lúng liếng đa tình của kẻ hát xướng, không đoan trang khuôn phép đến nhàm chán như những vị tiểu thư khuê các.

Ả ta lại có cái nét yếu đuối để người khác muốn chở che, không có vẻ quyền uy hoặc anh khí ngang với nam nhi như những cô công chúa họ Trần vốn tinh thông võ nghệ.

Tôi không ưa ả, nhưng nhìn những giọt nước mắt hạnh phúc của ả lúc đó, tôi cũng thấy động lòng.

Trước lúc Quang Khải đưa Nguyệt Nhi về phủ, hắn không quên cảm ơn tôi:

- Lúc kết giao đã hứa sau này sẽ giúp người hết lòng, không ngờ chưa gì lại phải nhờ ngươi đến lần thứ ba.

Bỗng dung trong đầu tôi nảy ra một ý nghĩ:

- Nếu ngươi muốn tạ ơn thì giúp ta tìm tung tích của một cung nhân họ Lý.

Nét mặt Quang Khải chợt đông cứng lại.

- Người này có quan hệ thế nào với ngươi?

- Ta có một người bạn ở Dưỡng Chân Trang, trước kia có quen biết với cô cung nhân này, nhưng rồi bặt vô âm tín.

Khi ta đi về hướng Thăng Long, người ấy có nhờ ta nghe ngóng giúp.

Sau đó, Quang Khải có ngập ngừng ý rằng tìm tung tích người họ Lý ở thời này rất khó, tôi cũng trả lời qua quýt, rằng tiện thì nhờ hắn giúp, nếu không được cũng chẳng có gì quan trọng.

Trong những năm qua, mỗi khi nghĩ đến việc này tôi đều có cảm giác do dự, nửa muốn tìm hiểu lại nửa muốn gạt đi, sợ rằng khi biết được thêm điều gì đó, cuộc sống hạnh phúc yên ổn mà tôi đang có bây giờ sẽ tan biến hết.

Tôi biết rõ suy nghĩ này là ích kỷ, nhưng chỉ cần mỗi ngày được đọc sách chép kinh bên cạnh lão già, tôi đã không mong gì hơn nữa.

Cuộc sống của lão đã đủ những biến cố rồi, không cần thiết có thêm việc do tôi mang đến.

Sáng nay khi trở về, tôi thành thật thú nhận mọi chuyện với lão già, trừ việc nhờ Quang Khải tìm người.

Mỗi lúc kể chuyện, tôi chẳng bao giờ kể được một cách khách quan, mà luôn phải nhận xét vài câu:

- Ả đào hát Nguyệt Nhi xem như hạnh phúc hơn người, được một hoàng tử như Quang Khải yêu thương.

- Em thực sự cho rằng lễ cưới này của Quang Khải chỉ là vì tình yêu? – Lão già điềm nhiên hỏi.

- Tiên sinh, ý người là sao? – Tôi ngơ ngác.

- Quang Khải là người thế nào, có thể chịu được việc để người ta sắp đặt hôn nhân của mình mà không có chút phản kháng nào ư?

Tôi im lặng.

- Lẽ nào từng ấy năm qua, cậu ta chỉ có mình em là bạn hữu, nên mới phải nhờ em làm chứng hôn?

Tôi ngơ ngác một lúc rồi chợt hiểu ra:

- Hắn cảm thấy có lỗi với người vì chuyện năm xưa, nên muốn mượn chuyện này và thông qua em để bày tỏ thái độ phản đối những cuộc hôn nhân chính trị sao?

Phát hiện này làm tôi bần thần mất một lúc lâu, cho đến khi lão già lên tiếng:

- Cũng không hẳn là có lỗi, chỉ là không biết nên đối mặt với nhau bằng cách nào thôi.

Hơn nữa... lúc cha ta qua đời, khắp nơi có lời đồn rằng An Sinh Vương vẫn còn ghi hận, dặn dò Quốc Tuấn nhất định phải thay mình đoạt giang sơn.

Chính vì thế, đến bây giờ ta và Quốc Tuấn cùng với các con của quan gia vẫn chưa thể hòa thuận với nhau.

- Có chuyện này nữa sao? – Tôi kinh ngạc đến há hốc mồm. – Sao lại như vậy được?!

Những năm qua Hưng Đạo Vương không chỉ nhất mực trung thành mà còn có bao nhiêu công lao hiển hách, người người xưng tụng...

Lão già nở một nụ cười nhạt:

- Em nghĩ giữa lúc sắp lâm chung của một vương gia, những lời ông ấy trăn trối với con mình, nhất là những điều phản nghịch như vậy, có thể để người ngoài nghe thấy được à?!

Tôi đưa tay che miệng.

Cốc.

Cây quạt trên tay lão lại gõ nhẹ lên trán tôi, và hai chữ "chép phạt" tiếp theo của lão khiến tôi quên sạch những điều phức tạp đang làm tôi rối trí từ nãy đến giờ:

***

Lúc nhỏ tôi cứ nghĩ người tu hành rất lương thiện, và nghĩ người khác đều lương thiện.

Từ khi đi theo lão già, tôi mới biết, "tu" nghĩa là rèn luyện chính bản tính của mình, nhưng vẫn phải mở to mắt để nhìn thấu tâm tư, cả tốt đẹp lẫn xấu xa của người đời, chứ không phải gặp ai cũng xem là Bồ tát.

Lúc này, nghĩ lại những gì lão nói, tôi nhớ ra gương mặt Quang Khải lúc ấy, không hẳn là hạnh phúc đến vỡ òa giống Nguyệt Nhi, mà có mấy phần đắc thắng, vì đã tự mình cưới được người mình chọn.

Lễ cưới này, tuy có tình yêu và cũng để làm Nguyệt Nhi hạnh phúc, nhưng phần nhiều là để thỏa mãn tự tôn của hắn.

Xem ra tôi vẫn còn quá non nớt so với một vị hoàng tử cùng tuổi với mình, nói gì đến những người đã lọc lõi ngoài kia.

Tôi có thể yên ổn đi từ Yên Bang lên Hồng Lộ, chẳng qua vì lão già luôn cử người âm thầm bảo vệ cho tôi.

Tôi biết từ lâu nhưng đều giả vờ như không biết, giả vờ như mình rất bản lĩnh có thể một mình ngao du thiên hạ.

Quyển kinh Phật đã chép xong, tôi vẫn không thấy bóng dáng lão già quay lại.

Sáng nay hình như có khách đến tìm lão, là người ở kinh đô, tôi đoán thế vì tuy chỉ có ít tùy tùng đi theo, trang phục lại giản dị nhưng phong thái lại rất quy củ, không giống những nữ tì ở phủ quan lại mà tôi từng gặp.

Tôi đói đến mệt lả người, nên không đợi lão nữa mà chạy xuống bếp tìm bác Dương.

Băng qua sân, ngang qua phòng khách, lão già vừa mở cửa bước ra, đi cạnh bên là một cô gái nhỏ chừng mười bốn mười lăm tuổi.

Cách đây không lâu, trước khi đến được Hội thề Đồng Cổ, tôi từng có dịp gặp cô ấy.

Lần đó, tôi đang say sưa thưởng thức món phi cầu Sài [2]ở một quán ăn lớn thì nghe tiếng ồn ào ở bàn bên cạnh.

Một vị tôn thất đang lớn tiếng cho rằng chủ quán coi thường mình, đòi đánh nhau để giải quyết[3].

Chủ quán tầm ba mươi tuổi, vóc người cao lớn khỏe mạnh nhưng trông rất ôn hòa, luôn miệng xin lỗi và mong được bỏ qua để anh ta tiếp tục làm ăn.

Vị tôn thất kia không đồng ý, thái độ rất hiếu chiến.

Tôi trông thấy bất bình, nhưng nghĩ đến đêm ngủ trong nhà lao Tiên Lễ, lại thôi ý định xen vào chuyện người ta.

Đúng lúc ấy, một giọng nói nhỏ nhẹ, thanh như tiếng chuông đồng cất lên:

- Đức ông, xin bỏ qua cho chủ quán lần này.

Người bước đến là một thiếu nữ, dung mạo đoan trang, không quá xinh đẹp nhưng thần thái rất ung dung, khiến tôi thấy tự xấu hổ vì mình lớn tuổi hơn nhưng lại không được nửa phần thanh nhã như cô ấy.

Vị tôn thất giật mình nhận ra thiếu nữ ấy là ai, định gọi tên thì thiếu nữ đã đưa tay ra hiệu im lặng.

Nàng mỉm cười dịu dàng nhưng ánh mắt rất nghiêm khắc:

- Chuyện hôm nay chỉ có ta và ngài biết, được không?

Chỉ với hai câu nói và một ánh mắt đã dẹp tan được cuộc xung đột không đáng có, tôi thực sự bị ấn tượng và tò mò về thân phận của cô gái này.

Đến giờ, tôi vẫn còn nhớ như in vẻ mặt của nàng khi ấy, nửa thân thiện, nửa lạnh lùng, không quá xinh đẹp nhưng lại thu hút lạ kỳ.

Không ngờ hôm nay, những điều tôi thắc mắc lại được giải đáp tại An phủ sứ của lão già.

Tôi bước đến trước mặt hai người, khẽ gật đầu chào, bất ngờ hơn cả là cô gái ấy nhận ra tôi:

- À, ta đã gặp chị một lần ở quán ăn hôm trước. – Nàng nói câu này kèm một cái nháy mắt tinh nghịch, như nhắc tôi giữ im lặng về câu chuyện không mấy đáng tự hào kia.

Tôi chưa biết nên xưng hô thế nào, chỉ có thể gật đầu đáp lại.

Ngay lúc ấy, lão già lên tiếng giới thiệu:

- Phong, đây là công chúa Phụng Dương, con gái của Tướng quốc Thái sư, con nuôi của quan gia, sắp trở thành vương phi của Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải đấy.

Tôi bật cười, cảm thấy nhân duyên thật là kỳ diệu.

Ở Tiên Lễ, tôi kết giao với Quang Khải nhờ một vụ ẩu đả.

Đến Đồng Cổ, tôi lại quen vương phi tương lai của hắn nhờ một vụ xung đột khác.

Vương phi của Quang Khải...

Mà khoan...

Quang Khải vừa mới cưới vợ mà ?!

[1] Dịch nghĩa:

"Phật, Phật, Phật không thể thấy được

Tâm, tâm, tâm không thể nói được.

Khi Tâm sinh thì Phật sinh

Khi Phật diệt thì Tâm diệt.

Không có chỗ nào diệt Tâm mà còn Phật

Diệt Phật mà còn Tâm thì bao giờ cho hết..."

(Phật tâm ca – Tuệ Trung Thượng Sĩ, Thơ văn Lý Trần, NXB Khoa học xã hội, 1977)

[2] Con phi là một loại hải sản vừa sống ở nước mặn, vừa sống ở nước lợ, trông giống con trai biển, nhưng vỏ mỏng hơn.

Phi cầu Sài là đặc sản vùng sông Trà, ranh giới giữa hai huyện Hậu Lộc và Hoằng Hóa hiện nay, trong thời phong kiến được xem là món quý dâng lên vua chúa.

[3] "Bấy giờ các vương hầu phần nhiều coi việc đánh nhau bằng tay không và một mình đi cướp là dũng cảm." (Trích Đại Việt Sử ký Toàn thư)
 
Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 6: BAO GIỜ CHẠCH ĐẺ NGỌN ĐA


Tôi vừa mới trốn đi làm chủ hôn cho Quang Khải, phạt còn chưa chịu xong thì "vương phi" của hắn lại đang đứng trước mặt tôi, trong một lúc tôi cảm thấy mình thật hồ đồ.

- Tên chị là Phong sao, nghe thật hay! – Tiếng nói du dương của công chúa cất lên làm tôi sực tỉnh.

- Nhã Phong.

Công chúa nghe đã giống tên con gái hơn chưa? – Tôi cười ngớ ngẩn vì Phụng Dương vừa nheo nheo mắt, đáng yêu khôn tả.

Cây quạt trên tay lão già gõ nhẹ lên trán tôi.

- Đói bụng chưa, sao còn đứng ngẩn ở đây?!

Lão vừa nhắc thì bụng tôi lại biểu tình, tôi liền nhanh nhảu:

- Công chúa ở lại dùng bữa nhé, mấy món bác Dương làm ngon lắm, tuy không thể sánh với ngự trù nhưng lại rất có hương vị đặc trưng vùng Hồng Lộ, nàng nhất định sẽ thích.

Nàng nhoẻn miệng cười, tiếng nói thanh thanh lại vang lên:

- Hôm nay là mồng một, Phụng Dương ăn chay cầu phúc cho quan gia và phụ mẫu.

Hy vọng lần sau có thể được thưởng thức tài nghệ của đầu bếp phủ Tiết độ sứ!

Nói rồi, nàng điềm đạm cúi chào lão già, thong thả bước ra về.

Tôi nhìn theo, lẩm bẩm trong vô thức:

- Sao lão Tướng quốc vô lương tâm ấy lại có một cô con gái hiền thục thế này?

Lão già đứng sau vò đầu tôi rối tung cả lên rồi bỏ đi.

Tôi xoay người đuổi theo lão, léo nhéo châm chọc:

- Tuệ Trung Thiền sư có nghe gì không, người ta không tu hành mà mồng một cũng ăn chay cầu phúc...

- Hôm trước ta nghe báo lại Dưỡng Chân Trang mới nhận thêm người nên thiếu mấy bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa...

- Lão phe phẩy quạt, lời nói rất dịu dàng như đang kể chuyện nhà chứ chẳng phải hù dọa trẻ con.

Bước chân tôi liền sững lại, rồi nhanh nhảu hướng về phía nhà bếp:

- Tiên sinh, em đi lấy rượu cho người nhé, hôm nay bác Dương làm chả rươi đấy, người muốn uống rượu làng Vân hay là rượu Kim Long?

Món chả rươi khiến tôi no căng bụng còn lão già chỉ ăn một ít, vừa ăn vừa nhấm rượu.

Tôi sợ lão lại bắt tôi chép phạt nên suốt bữa ăn chẳng dám hỏi gì, cuối cùng vẫn không nhịn được:

- Quan gia ra lệnh cho Quang Khải cưới công chúa Phụng Dương thật sao, tiên sinh?!

- Phụng Dương là ái nữ của Tướng quốc, lại là nghĩa nữ của quan gia, đương nhiên muốn chọn cho nàng ấy một nơi xứng đáng.

Quang Khải là người thích hợp nhất. – Lão đưa tay lấy bát rượu trước mặt tôi, không cho tôi uống nữa.

- Ý công chúa thế nào?

Tiên sinh đã dạy nàng ấy thế nào? – Tôi vội giữ lấy tay lão.

- Trẻ con không được tò mò quá. – Lão đưa tay búng lên trán tôi đau điếng.

Tôi nhăn nhó đưa tay xoa xoa trán.

Lão thấy vẻ phụng phịu của tôi liền bảo:

- Phụng Dương có mang đến biếu một ít nem do nàng ấy tự tay gói, đến thư phòng lấy ăn đi. – Lúc nào lão cũng xem tôi là một đứa trẻ con không bao giờ lớn, cứ mang đồ ăn ngon ra để dỗ dành.

Tôi đến thư phòng, bâng quơ dọn dẹp mấy quyển sách trên bàn, nghĩ mãi không thông suốt.

Quang Khải là người bạn đầu tiên tôi kết giao, tôi thật lòng mong hắn có được một mối nhân duyên như ý.

Tuy tôi chỉ mới gặp Phụng Dương có hai lần nhưng nàng ấy thực sự mang lại cảm giác dễ chịu và tin tưởng cho người đối diện.

Thật đáng tiếc, trong lòng Quang Khải đã có Nguyệt Nhi, với tính cách của hắn chắc chắn hắn sẽ ngầm phản đối cuộc hôn nhân này, dù có ngoan ngoãn cưới Phụng Dương về cũng không thể yêu thương thắm thiết, như thế thật tội cho nàng.

Tôi nhìn đĩa nem để trên bàn sách, mân mê một gói vừa chặt vừa khéo trên tay, tùy hứng ngâm nga:

"Hò ơ...

Bao giờ chạch đẻ ngọn đa

Sáo đẻ dưới nước thì ta lấy mình

Bao giờ cây cải làm đình

Gỗ lim làm ghém thì mình lấy ta..."

Vừa dứt câu hò đã thấy lão già đã đứng ở cửa.

Tôi hơi bất ngờ, gương mặt lão dường như chẳng mấy vui, tự dưng trong một lúc không biết phải nói gì nên cứ nhìn nhau như thế.

Rồi lão cười nhẹ hỏi tôi:

- Còn đau không?

Tôi vô thức đưa tay lên sờ trán, lắc lắc đầu.

Lão bước đến ngồi xuống bàn đối diện tôi, lấy bừa một quyển sách giở ra đọc.

Chúng tôi cứ lặng im một lúc lâu.

- Tiên sinh, sao xưa kia ngài lại lấy chị của em? – Tôi cất tiếng hỏi, đây là điều mà tôi thắc mắc đã nhiều năm.

Lão đưa tay lên trán tôi, xoa xoa chỗ đau khi nãy:

- Sao tự dưng lại hỏi việc này? – Giọng lão rất nhẹ nhàng.

- Quang Khải cưới Nguyệt Nhi vì yêu, phải cưới Phụng Dương vì lệnh vua khó cãi.

Còn tiên sinh?

Tiên sinh không yêu chị của em, cũng không bị quan gia buộc cưới...

- Tôi rất khí thế, đến những chữ cuối cùng vẫn không dám nhìn thẳng vào mắt lão.

Lúc lão đón tôi từ chỗ Thiền sư Tiêu Dao về, tôi đã có thêm một người chị, và một thân phận mới là cháu gái của một vị quan tứ phẩm.

Ngày tôi về phủ cũng là ngày chị được gả cho Hưng Ninh Vương – một người tu hành không giới luật – đến nay đã mấy năm rồi.

Khi lão còn ở Yên Bang, "vợ chồng" họ chưa từng ở chung phòng, lúc nào cũng tương kính như tân nhưng mỗi tháng chỉ gặp đôi lần.

Chị tôi giúp lão quản lý thu chi và gia nhân, còn lại chỉ chuyên tâm đọc sách, vẽ tranh, chăm sóc dạy dỗ tôi.

Chị ấy là một người rất dịu dàng nhưng cũng rất nghiêm khắc, gia nhân và người ở Dưỡng Chân Trang đều kính trọng.

Tôi đã từng thử dọ hỏi về thân thế cũng như chuyện giữa chị và lão nhưng chẳng bao giờ thu được kết quả gì.

Sống trong hoàn cảnh ấy nhiều năm như thế, dần dần tôi gần như đã quên cả việc chị là vợ chính thức của lão, cũng như việc trên danh nghĩa lão là anh rể của tôi.

Lão vẫn nhìn tôi như chờ đợi, tôi nói tiếp:

- Nếu như năm đó tiên sinh chỉ vì muốn tìm một danh nghĩa hợp lý để đón em về phủ, vậy...

"Vậy thân phận của em lại quan trọng đến thế nào?!".

Những chữ cuối cùng bị tôi nuốt lại, vẫn không nỡ nhắc đến chuyện khiến lão đau lòng, dù tôi chẳng rõ việc ấy là gì.

Tôi không nói nữa, cúi gằm mặt, tay mân mê một chiếc nem, mãi mới bóc xong lớp lá gói bên ngoài, đưa cho lão.

Lão thở nhẹ một tiếng, đón lấy chiếc nem đưa lên miệng:

- Người ta nói công chúa Phụng Dương đảm đang khéo léo hơn người, quả không sai.

Tôi nhìn lão ăn nem rất tập trung, buột miệng hỏi:

- Tiên sinh thích món này không, em sẽ học cách làm?!

Lão hơi ngạc nhiên, ngẩng lên nhìn tôi rồi lại cười cười:

- Em đừng gây thêm việc cho bác Dương nữa, bác ấy đã lớn tuổi rồi.

Bàn tay ấm áp ấy lại xoa xoa đầu tôi, lão nhìn thẳng vào mắt tôi, chân thành như nhiều năm trước, ngày chúng tôi lần đầu gặp nhau lão đã nhìn tôi như thế, lời lẽ khi ấy vẫn còn nguyên trong tâm trí, khiến tôi đã dẹp hết mọi thắc mắc trong lòng mà đi theo lão:

"An, ta nhất định sẽ bảo vệ em."

***

"Nghe vẻ nghe ve

Nghe vè sợ nước

Giai nhân đi trước

Quân tử bước sau

Hương bay ngạt ngào

Thì ra ít tắm

Giai nhân thẹn lắm

Chẳng dám chung đường

Quân tử can trường

Cớ sao ngại tắm..."

Tiếng bọn trẻ đồng thanh đọc bài vè đã xa dần, gương mặt của kẻ ngồi trước mặt tôi vẫn không vơi sát khí.

Tôi đang ngồi ở một quán ăn rất gần phủ Tiết độ sứ, tiếp chuyện với Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải – người vừa rạng sáng đã sai gia nhân đến phủ tìm tôi.

Cũng may lão già nhà tôi dù gì cũng là anh trai khác cha của hắn, nếu không hẳn là hắn đã phá cửa xông vào phủ để lôi tôi đi chất vấn.

Lúc đó lão già vừa đến gọi tôi đi ăn sáng, nhìn thấy người ta dẫn tôi đi lão chỉ lắc đầu cười, mặc cho tôi nhìn lão tha thiết, cố lắp bắp mấy từ:

- Tiên sinh, cứu mạng!

Công chúa Phụng Dương đến phủ Tiết độ sứ hỏi ý kiến lão già đã là chuyện nửa tháng trước.

Tôi nghĩ mãi vẫn không biết nên làm thế nào mới tốt, chỉ nghĩ được rằng nếu Phụng Dương chủ động từ hôn, quan gia sẽ chẳng nỡ ép nàng.

Do đó, tôi trằn trọc mất mấy đêm cố nghĩ ra cách, kết quả là nghĩ được bài vè nói xấu Quang Khải.

Phụng Dương cao quý như thế, lúc nào tôi gặp nàng cũng là mái tóc được chải gọn gàng, áo váy chẳng một nếp nhăn, trên người luôn thoảng hương thơm dìu dịu.

Quang Khải là hoàng tử văn võ song toàn, nghe nói lại thạo nhiều ngôn ngữ, tìm mãi chẳng được điểm yếu gì của hắn nên tôi đành nghĩ ra hạ sách này.

Tốn thêm một ít tiền mua kẹo bánh, tôi đã dỗ được đám trẻ con lan truyền khắp nơi, từ Hồng Lộ đến Thiên Trường, ai ai cũng biết Chiêu Minh Vương ngại tắm.

Tôi biết Quang Khải chẳng cần suy nghĩ cũng biết ai giở trò, nhưng tin rằng đến khi công chúa hủy hôn, hắn ta sẽ hiểu ra và cảm kích người bằng hữu đã hết lòng vì hắn.

Điều tôi không ngờ đến nhất là cô bé Phụng Dương kia, chẳng những không vội vội vàng vàng bỏ chạy mà còn rất ngoan ngoãn chấp nhận việc ban hôn.

Tin tức về lễ cưới vừa được truyền ra, tôi chạy đến tìm lão già mếu máo:

- Tiên sinh, lần này em lành ít dữ nhiều rồi.

Lão đã cười mất một ngày, còn viết cả bài vè ra giấy, treo ở thư phòng, mỗi lần nhìn đến lại cười thành tiếng, mặc kệ kẻ sắp bị giết là tôi đây lẽo đẽo theo sau xin cứu mạng.

Nhục mạ hoàng tử, dù quan gia không biết ai để xử tội nhưng Quang Khải chắc chắn sẽ không để tôi yên.

- Ai bảo ngươi làm thế?! – Giọng nói của Quang Khải lạnh như băng. – Ngươi có biết nửa tháng nay mọi người nhìn ta với con mắt gì không?!

- Ngươi đừng giận, đừng giận. – Ta vội vội vàng vàng rót trà cho hắn. – Ta chỉ muốn giúp ngươi thoát được hôn sự với công chúa, ta biết ngươi yêu Nguyệt Nhi lắm mà...

Hắn đặt thanh kiếm lên bàn, "cạch" một tiếng nghe lạnh cả người.

- Ta có nhờ ngươi giúp?!

- Lẽ nào ngươi muốn cưới Phụng Dương? – Tôi cố gắng cười cười giả lả.

- Ta không nói việc đó, ta nói cách ngươi làm.

- Chỉ tại Chiêu Minh Vương quá hoàn mỹ, mặt nào cũng ưu tú không có điểm đáng chê nên ta đành phải nghĩ đến việc này.

Ngươi xem, ta đâu có bảo ngươi cộc cằn vũ phu, càng không bảo ngươi ong bướm trụy lạc, việc lười tắm chỉ là... chỉ là một khuyết điểm nhỏ xíu thôi mà. – Tôi khoa tay múa chân, cuối cùng chụm tay giơ giơ trước mặt hắn.

- Việc nhỏ?

Chiêu Minh Vương ta chiến tích lẫy lừng, tiếng thơm người người ca tụng, lưu danh thiên cố, lỡ như lại được hậu thế nhớ đến vì ngại tắm...?!

- Không đâu không đâu, chẳng có sử gia nào dám chép lại việc ấy đâu. – Tôi xua xua tay, cố làm hắn nguôi giận.

Quang Khải hớp một ngụm trà, cố nén cơn tức giận trong lòng xuống, sắc mặt vẫn rất khó coi.

- Ta biết là ta nghĩ không chu đáo, khiến ngươi mất mặt.

Nhưng dù gì... ngươi cũng còn nợ ta mấy lần ơn nghĩa, hay là... xem như ta đổi hết, trả hết cho ngươi có được không?

- Được. – Giọng hắn vẫn lạnh lùng. – Ta đã giúp ngươi tìm được tin tức về cung nhân họ Lý đó, bây giờ không cần nữa. – Nói rồi đứng lên đi, không quên mang theo thanh kiếm báu.

- Này, đợi đã, ta không đổi nữa...

- Tôi vội chạy theo níu lấy áo choàng của hắn.

Tức thì, thanh kiếm của Quang Khải hướng về phía tôi, vẫn chưa rút ra khỏi vỏ.

Hắn tấn công mấy đòn liên tiếp, tôi chỉ biết tránh né, đợi hắn trút giận xong.

Dù thân phận cao quý, dạn dày bản lĩnh, cuối cùng hắn vẫn chỉ là cậu con trai mới lớn, sĩ diện ngút trời nên tức giận khi bị người khác bêu xấu cũng là điều dễ hiểu.

Hắn ra chiêu càng lúc càng nhanh, tôi bị vờn đến mệt lả.

Đến khi tôi nhìn thấy thanh kiếm hắn hướng về phía mình, không kịp né tránh, chắc mẩm lần này bị thương rồi thì cây sáo ngọc của tôi vụt đến, đỡ lấy đòn tấn công của Quang Khải.

Người áo lam trước mắt tôi vẫn là một thư sinh nho nhã, bàn tay thon dài cầm cây sáo ngọc đấu với Quang Khải một hồi lâu, không có ý giành phần thắng mà chỉ để cậu ta trút hết bực dọc trong lòng.

Quang Khải lúc đầu rất ngạc nhiên, dừng tay một thoáng rồi tiếp tục đánh.

Tôi ngồi xuống thở không ra hơi, mồ hôi nhễ nhại, say mê nhìn hai vị hoàng tử đang đọ sức.

Họ quả thực có nhiều nét rất giống nhau, từ hình dáng đến chiêu thức, chẳng trách tôi lại nhanh chóng kết thân với tên Chiêu Minh Vương này đến vậy.

Cuối cùng Quang Khải cũng chịu dừng tay, ngồi xuống ghế, tôi vội vàng mang trà đến mời, hắn ta uống một hơi cạn sạch, mắt vẫn nhìn về phía lão già.

Lão ung dung đứng bên lầu cao, phe phẩy quạt cho ráo mồ hôi rồi đưa cây sáo lên môi thổi, một khúc nhạc đồng quê của bọn trẻ chăn trâu.

Tôi lạnh người, sợ Quang Khải lại nhớ đến bài vè kia nhưng hắn không nói gì, tâm trạng như cũng bình ổn hơn, lại tự tay rót một ít trà.

Bản nhạc đã dứt, lão già lại từ tốn đến trước mặt Quang Khải:

- Công chúa từng đến tìm ta, hỏi xem nàng ấy có nên đồng ý hôn sự này không.

Ánh mắt Quang Khải lộ rõ vẻ ngạc nhiên, lão già thong thả nói tiếp:

- Ta bảo nàng rằng phu thê là do duyên phận, nếu thực sự hai vị có duyên, chia cắt thế nào cũng không dứt được, nếu vô duyên, dù gặp nhau sớm sớm chiều chiều cũng không thể thành chồng thành vợ.

Phụng Dương đã tin vào duyên phận của mình, trò nghịch ngợm của Nhã Phong chẳng qua là một cách lấy lửa thử vàng thôi, dù ngọn lửa này leo lét hơn cả ánh đèn dầu sắp lụi.

Tôi liếc nhìn lão, gương mặt đáng ghét ấy nở một nụ cười nhàn nhạt.

Nếu như không nể tình lão đến kịp lúc cứu tôi khỏi bị thương, tôi nhất định ghi hận câu nói mỉa mai này.

Quang Khải im lặng hồi lâu, lão già lại ung dung ngắm nhìn cây sáo ngọc trên tay, dường như có một vết xước do lúc đánh nhau, lão nhìn tôi, nheo nheo mắt tỏ ý sẽ đền bù.

Mãi sau, tên hoàng tử trẻ tuổi đứng lên, trước khi ra về còn nói mấy câu, không có vẻ gì là tức giận:

- Dưỡng Chân Trang đúng là một nơi kỳ lạ, Thiền sư không chay tịnh, đệ tử lại có một kẻ đi gieo tiếng xấu cho người khác.

Hắn quay đi rồi, lão già bật lên tiếng cười khe khẽ, tay vỗ vỗ lên đầu tôi.

Tôi vẫn chưa hỏi được tung tích người họ Lý, xem ra khó lòng nhờ hắn được nữa.

Lão già thấy tôi thở dài thì tưởng tôi đói bụng, quay sang hỏi chủ quán có món gì ngon, tôi liền níu tay áo lão:

- Chúng ta về nhà đi.

Lão tỏ vẻ ngạc nhiên, ánh mắt lại có phần lo lắng, nhìn tôi khắp lượt:

- Lúc nãy có bị thương ở đâu không?

Tôi lắc lắc đầu, không muốn lão biết tôi có điều giấu diếm:

- Sáng nay bị hắn ta kéo đi sớm quá, em buồn ngủ.

Ánh mắt lão lại thoáng nét cười, lão xoay lưng lại.

Tôi ngơ ngẩn một lúc rồi nhớ ra thói quen thuở bé, bước đến bám lấy cổ lão, thấy mình được nâng lên rất cao.

Lão bước đi thật chậm, giọng nói khẽ khàng êm như ru:

- Em yên tâm, ta rất chăm tắm rửa, không bốc mùi đâu.

Tôi bật cười, vòng tay ôm cổ lão thật chặt, áp mặt vào vai lão.

Tấm lưng thư sinh áo lam ấy thật ra rất rộng, rất vững vàng.

Tôi không nhớ đã bao nhiêu lần mình thiếp đi như thế, dù là giữa lửa khói mịt mù, dù là giữa nơi rừng thiêng nước độc, chỉ cần có lão, tôi nhất định sẽ bình yên.

Trong giấc mơ dặt dìu theo nhịp bước chân, tôi nghe văng vẳng tiếng ru của dì lúc còn thơ bé:

"À ơi...

Một duyên, hai nợ, ba tình

Chiêm bao lẩn khuất bên mình năm canh..."

Đặc sản vùng Tứ Kỳ - Hải Dương (Hồng Lộ thời Trần): chả rươi được làm bằng thịt rươi trộn với trứng, vỏ quýt và gia vị sau đó rán lên.

Rượu Làng Vân là loại rượu nấu bằng gạo nếp cái hoa vàng trồng trên cánh đồng làng Vân Xá, xã Vân Hà, Việt Yên, Bắc Giang, với men rượu bí truyền của làng Vân.

Đây là loại rượu nổi tiếng dâng vua thời phong kiến.

Rượu Kim Long nấu tại làng Kim Long, xã Hải Quế, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.
 
Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 7: NGỌC BẤT TRÁC, BẤT THÀNH KHÍ


Tôi được cõng về nhà, ngủ quên trên lưng lão lúc nào chẳng rõ, đến khi mở mắt ra thì đã giữa trưa.

Tôi mơ màng dụi mắt bước xuống giường, chợt hốt hoảng vì bóng người ngồi cạnh cửa sổ nên hét lên một tiếng.

"Cái bóng" như cũng giật mình, liền bước đến trước mặt tôi:

- Thấy ác mộng sao? – Đập vào mắt tôi là gương mặt quen thuộc của lão.

- Sao người lại ở đây? – Tôi thở hắt ra.

Lão nhướng mày có vẻ ngạc nhiên rồi đưa cây sáo ngọc đang cầm trên tay ra trước mặt.

Vết xước gây ra lúc đánh nhau với Quang Khải đã không thấy đâu nữa, thay vào đó là một chữ "Tuệ" vừa được khắc rất rõ nét.

Tôi ngẩn ngơ một lúc, có lẽ đầu óc vẫn còn đang bận thưởng thức món gà nướng trong mơ nên không sao hiểu được:

- Tiên sinh đã nói em không được dùng cái tên Tuệ An nữa cơ mà?

- Ai bảo em đây là chữ "Tuệ" của tên em? – Lão nhìn tôi khó hiểu.

- Chứ còn gì...? – Tôi mau mắn. – Chẳng lẽ lại là Tuệ Trung?

Nhưng sáo của em mà! – Tôi túm lấy tay áo của kẻ vừa cười khẩy định bỏ ra ngoài mang theo cây sáo của tôi.

- Vẫn cần phải mài lại một chút. – Lão đẩy nhẹ trán tôi rồi bước ra phía mái hiên trước thư phòng.

Tôi xuống bếp lấy đầy một đĩa vải được mua từ Khoái Châu về, mang đến ngồi bệt dưới hiên, vừa ăn vừa quan sát lão.

Lão chăm chú mài nhẵn bóng chỗ vừa mới khắc, gương mặt nghiêng nghiêng dưới nắng hè.

Vị thư sinh áo lam trước mặt tôi thực sự rất... tuấn tú, rất khôi ngô, mắt sáng, mày thanh, sống mũi thẳng tắp.

Lão còn chưa đầy ba mươi tuổi, chỉ vì tính tình hơi lạnh nhạt kỳ quái, và lúc nào cũng như đang chăm con mọn là tôi nên tôi luôn có cảm giác lão đã già rồi.

- Nhìn gì đấy?

Bóc cho ta một quả nào. – Lão nói, không ngẩng đầu lên.

- Trước giờ người đâu thích món này. – Tôi nhìn xuống cái đĩa sắp trống không.

- Ừ nhỉ, vậy sau này không cần sai người đi mua ở xa vậy nữa. – Lão vẫn ngắm nghía thành quả của mình, giọng rất thản nhiên.

Tôi bóc liền hai quả đưa đến tận miệng lão, không quên xu nịnh:

- Đúng là tiên sinh món gì cũng sành hơn người khác, vải trồng ở thôn Tam Đa vừa dày vừa ngọt, báo hại em háu ăn không dừng được.

Hay là lần sau mua nhiều một chút, em sẽ bóc sẵn cho người cả một đĩa, vừa đọc sách vừa ăn chắc là thích lắm...

Lão phì cười, giơ cây sáo ra phía nắng để xem cho rõ, màu ngọc trắng ánh xanh trong vắt.

Sao trên đời này lại có người lúc đánh đàn thì cao quý tao nhã, lúc thổi sáo thì tự tại tiêu dao?!

Có ai ngờ bàn tay thon dài, quen cầm bút, ưa phe phẩy quạt ấy đã từng vung kiếm, cũng từng giết hổ.

Năm tôi lên mười tuổi, em trai lão là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn sau một lần liều mạng cuối cùng cũng được ban hôn với người trong mộng là công chúa Thiên Thành nên rủ lão đi săn để ăn mừng.

Tôi tò mò nên đã lẻn theo, còn cẩn thận giấu một con dao nhỏ trong người.

Hai người họ cứ đi mãi, đi mãi vào sâu trong rừng, tôi không thể nào theo kịp hai người đàn ông cao lớn nên hụt hơi, đành ngồi nghỉ tạm trong một hốc đá cho lại sức rồi sẽ quay về.

Dưới ánh nắng, khu rừng lá đỏ rực lên một màu tráng lệ.

Không ngờ trời đổ mưa to, cả khu rừng tối sầm lại, chẳng mấy chốc tôi đã ướt như chuột lột.

Đợi mãi mà mưa vẫn không ngớt hạt, tôi tìm cách quay lại con đường cũ, ngờ đâu càng đi càng lạc.

Vừa đói, vừa lạnh, mưa lại khiến dốc đá trơn trượt, tôi sảy chân, thấy trời đất quay cuồng, khi hoàn hồn đã nghe tiếng gầm gừ trước mặt.

Đó là lần thứ hai trong đời tôi thấy cái chết đến gần như thế.

Ánh mắt sáng quắc của nó khiến tay chân tôi cứng đờ, còn cả răng nanh, móng vuốt...

Những thứ ấy cắm vào da thịt chắc là đau lắm.

Tôi chẳng nghĩ được gì, thấy cổ họng mình nghẹn lại, không thể kêu la, chỉ run rẩy lùi từng chút một.

Con hổ gầm lên một tiếng, vồ tới, tôi liều mạng nhảy sang bên phải, bị nó cào một đường dài trên vai trái, máu chảy thành dòng.

Cũng may, có lần tôi nghe anh em lão nói chuyện với nhau, biết được rằng hổ vẫy đuôi bên này thì sẽ nhảy về phía bên kia mới tránh được một lần.

Nhưng vết thương trên vai tôi đau điếng, chẳng còn chút sức lực nào.

Con hổ say máu lại gầm lên, tôi thét lên, người co rụt, nhắm chặt mắt.

Mãi mà không thấy cơn đau nào ập đến, tôi lại cảm giác như có vòng tay ai đó ôm chặt lấy mình.

- Chị! – Tôi không dám tin vào mắt.

- Phong, đừng sợ, ổn rồi. – Chị đưa tay vuốt mồ hôi trên mặt tôi, dịu dàng trấn an.

- Sao chị lại ở đây...

Tôi ngơ ngác rồi nhìn về hướng phát ra tiếng gầm, chợt thấy nỗi sợ còn lớn hơn lúc nãy:

- Tiên sinh!!!

- Ở yên đó! – Lần đầu tiên tôi thấy lão mất bình tĩnh.

Hóa ra tôi đã vô thức muốn lao đến nhưng bị chị giữ chặt cánh tay.

Lão và Hưng Đạo Vương đang hợp sức giết con thú dữ.

Quần thảo hồi lâu, cả ba đều bị thương.

Tôi thấy máu loang lổ trên màu áo lam quen thuộc, nghe tim thắt lại, chỉ hận mình đã gây họa liên lụy mọi người.

Lão không thể chết, không thể chết!

Hai anh em nhìn nhau như ngầm thỏa thuận điều gì, Hưng Đạo Vương vụt chạy đi, con hổ đuổi theo, lão lập tức đạp lên thân cây lấy đà rồi phóng lên lưng nó, một đao cắm thẳng xuyên cổ, tiếng rống vang vọng cả khu rừng.

Lão nhảy xuống khỏi người nó, toàn thân là máu, đứng giữa khu rừng lá đỏ, mái tóc đã ướt sũng vì mưa, nước chảy thành dòng trên gương mặt, đôi môi vẽ lên một nụ cười nhàn nhạt.

Tôi vùng khỏi tay chị, chạy đến sà vào lòng lão, quên cả đau, quên cả mệt, ôm chặt lão không buông, nước mắt cứ thế tuôn ra.

- Cô nhóc liều lĩnh đi theo bọn ta vào rừng, giờ biết sợ rồi đấy. – Tiếng Hưng Đạo Vương đùa cợt, tôi mặc kệ.

Vòng tay lão vẫn ôm chặt lấy tôi, bàn tay vuốt nhẹ lên tóc trấn an.

Lão thì thầm rất dịu dàng:

- Ngoan nào, ta ở đây rồi!

- Tiên sinh có đau không? – Tôi vẫn vùi mặt trong lòng lão. – Em sợ lắm.

Có tiếng cười khe khẽ.

- Sợ thì sau này đừng tò mò nữa, biết không?

- Em sợ tiên sinh chết. – Tôi lắc đầu, người vẫn run rẩy từng cơn.

Hưng Đạo Vương ở bên nghe thấy liền bật cười sảng khoái:

- Cô bé đừng lo, anh cả không chết được đâu!

Bọn ta đâu phải lần đầu đánh hổ.

Tôi ngước lên nhìn lão, nhìn thật kỹ, chỉ muốn chắc chắn rằng lão vẫn đang ở cạnh.

- Phong, ngoan nào, nhanh về nhà băng bó vết thương. – Chị tôi vẫn ôn tồn, định dìu tôi đứng dậy.

Không ngờ, lão bế bổng tôi lên, nhìn tôi rất nghiêm túc:

- Ta hứa, ta sẽ không chết.

Rồi cứ thế bế tôi về đến tận nhà.

- Sao chị lại ở đây?

- Vương gia biết em sẽ lén đi theo nên bảo chị trông chừng, không ngờ em té xuống đồi mất dấu.

- Tiên sinh theo dõi em sao.

- Nếu không sao ta có thể đến nhanh như thế?!

Mới đó mà đã sáu năm.

Vết sẹo trên vai tôi giờ đã nhạt nhưng ký ức thì cứ như mới hôm qua.

Nỗi sợ mất đi người quan trọng nhất với mình ấy, tôi không bao giờ quên được.

- Đang nghĩ xem nên đòi ăn món gì có phải không, bổng lộc của ta tháng này bị em tiêu sạch cả rồi. – Lão đã hoàn thành tác phẩm, đưa đến trước mặt tôi.

- Hừ...

- Tôi lườm lão, cầm lấy cây sáo ngọc giờ đã có thêm chữ "Tuệ". – Em đang nhớ lại chuyện lúc nhỏ thôi.

Sau khi vết thương của tôi lành lại, lão bắt tôi học võ.

Tuy là không thể đánh thắng được ai nhưng ít nhất phản ứng sẽ lanh lẹ hơn, khi cần chạy cũng nhanh hơn.

Đông A phái của họ Trần chủ yếu sử dụng đao pháp, nhưng lão luôn cho rằng tôi không hợp dùng đao, bảo tôi dùng một thanh trúc để tập luyện.

Ít lâu sau, một ông chủ hiệu buôn đến Dưỡng Chân Trang để học về Phật pháp, khi ra về có biếu lão một khối ngọc trắng mua từ phương bắc.

Lão gọi tôi đến, bảo rằng sẽ làm cho tôi một cây sáo ngọc đẹp chưa từng có, còn khi nào hoàn thành thì phải xem tôi học đao pháp, đánh đàn và thổi sáo mất bao lâu.

Lúc đầu tôi rất hăng hái tập luyện, lão cũng làm rất nhanh, chẳng mấy chốc mà cây sáo đã thành hình.

Về sau khi chạm đến những kỹ thuật khó hơn, có hôm tôi nản chí chẳng làm được gì, lão cũng mang cây sáo cất vào trong hộp, sau đó còn dọa mang đi bán.

- Tiên sinh, không phải là em bỏ cuộc giữa chừng, nhưng thật sự ngón đàn này rất khó luyện, tay em bật máu cả rồi, cầm đũa ăn cơm cũng rất đau...

Tôi giơ giơ bàn tay bé xíu với đầu móng tay bị xước nham nhở ra mong lão động lòng, chẳng ngờ lão ngửa lòng bàn tay ra trước mặt tôi.

Bàn tay thư sinh ấy có những vết chai, tôi biết, vì lão đã bao lần dắt tay tôi, nhưng hôm ấy lại có thêm nhiều vết thương như bị vật nhọn chém phải.

- Em nghĩ một vị vương tử sinh ra đã biết cách đẽo ngọc để làm sáo cho em?!

Từ lúc đó, tôi không than vãn nữa.

Mất thêm một tháng cây sáo đã hoàn thành.

Tôi vẫn nhớ lúc tôi thổi bài nhạc đầu tiên, lão đã đánh đàn hợp tấu với tôi, còn mời cả Hưng Đạo Vương và mọi người ở Dưỡng Chân Trang đến dùng cơm.

Ký ức nào cũng như mới hôm qua và ngọt đến mềm lòng.

Bất giác tôi kéo tay lão, mở bàn tay ra xem.

Lão bật cười, rút tay lại rồi xoa đầu tôi đến khi rối bù lên cả.

Mỗi người đều có một quá khứ không muốn ai chạm đến, còn tôi, quãng đời từ lúc lọt lòng mẹ cho đến năm lên sáu là điều tôi không thể nhắc, cũng không dám nhắc.

Quãng đời sau đó của tôi tràn ngập hình bóng lão, có lúc tôi đã quên đi việc mình vốn dĩ họ Lý, cứ ngỡ từ lúc sinh ra tôi đã là người của họ Trần ở Vạn Kiếp rồi.

Trớ trêu thay đó chẳng phải sự thật, lòng tôi vẫn đau đáu một câu hỏi về tung tích của dì và sự thật đằng sau đám cháy đã hại chết mẹ tôi.

Lão chỉ vô tình đi ngang đó thôi ư?

Vậy còn câu "ta xin lỗi" khi ấy, cùng ánh mắt tha thiết đó nghĩa là gì?

Lẽ nào chỉ vì không thể cứu được cả tôi và mẹ mà dùng cả cuộc đời để bù đắp cho tôi?

Khi nghĩ lại, có rất nhiều việc đã xảy ra vào cái năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 16 đó.

Mẹ lão qua đời vào một ngày đầu hè, sau đó không lâu thì tôi gặp lão, cũng trong năm ấy, lão bắt đầu tu tại gia và lập Dưỡng Chân Trang, lấy danh nghĩa cầu phúc cho mẹ và mong đất nước thái bình, tập trung tìm hiểu Thiền và Phật giáo.

Khi ấy lão cũng chỉ lớn hơn tôi của bây giờ một tuổi, rút cuộc tuổi thơ lão đã xảy ra những chuyện gì, mà khiến một chàng trai mới mười bảy đã giống như trải qua nửa đời người?

Nếu thực sự một lòng hướng Phật, sao không chay tịnh tu hành mà vẫn nhận ấn phong hầu, vẫn dẫn quân chinh phạt để máu tươi nhuộm đầy tay?!

Nếu như chỉ mượn lớp áo Thiền tông để giảm sự đề phòng của người ở Tức Mặc, sao có thể thấu suốt Phật pháp, ung dung tự tại như đã buông bỏ mọi âu lo của cuộc đời như thế?!

Rốt cuộc, tôi vẫn chọn cách hoàn toàn tin cậy, giao phó, một lòng đi theo, và chấp nhận một con người đầy những mâu thuẫn không thể nào hiểu được.

Hai hôm sau, Quang Khải lại cho người đến hẹn tôi, hóa ra hắn vẫn chưa về Tức Mặc.

Tôi phân vân mãi, sợ hắn nhớ chuyện tắm gội mà lại đuổi đánh tôi như hôm trước.

Lão già thấy tôi loanh quanh chỗ cổng vào, cứ cầm cây sáo lên rồi đặt xuống, thương tình bước đến trấn an:

- Yên tâm đi đi.

Lần trước em rêu rao cậu ta lười tắm nên bị trút giận. – Lão lại cười hệt như lần đầu nghe bài đồng dao tôi đặt. – Nhưng chuyện qua rồi, cậu ta dù gì cũng là hoàng tử, sẽ không nhỏ nhặt vậy đâu.

- Em trai của người nên người bênh vực. – Tôi bĩu môi. – Hắn ta vừa ngang tàng vừa nóng nảy...

Nụ cười trên môi lão bỗng dưng sững lại.

- Em xin lỗi, em đã nói sai rồi.

Lão thở nhẹ một tiếng, lấy cây sáo ra khỏi tay tôi.

- Chiêu Minh thật ra là một đứa trẻ rất đáng thương. – Giọng lão bỗng trở nên đầy thông cảm.

- Tên hoàng tử ấy đáng thương sao?

Hắn vừa ra đời đã có thân phận cao quý, chính người cũng kể rằng quan gia rất yêu quý hắn, giờ hắn vừa lấy được người trong mộng lại sắp được ban hôn với Phụng Dương xinh đẹp.

Chỉ có cô bé Phong lương thiện khả ái mới bi thảm này, từ lúc gặp hắn chả có gì tốt đẹp, vừa ngồi tù, vừa bị đuổi đánh, đến nỗi cây sáo yêu quý cũng bị liên lụy phải mang tên của người khác...

Lúc tôi nói đến mấy chữ cuối cùng, lão nhìn chăm chăm vào chữ "Tuệ" trên cây sáo, hỏi tôi có vẻ rất nghiêm túc:

- Tên có một chữ trùng với pháp danh của ta khiến em cảm thấy thảm hại đến vậy sao?!

Sao tôi lại không nhớ đến việc lão nhặt tôi về nuôi rồi mới tu hành nhỉ?!

Bỗng dưng tôi cảm thấy cuộc đời mình thật ra cũng không bi thảm lắm, tôi nhăn nhở cười, kéo lão vào thư phòng rót một chén trà.

- Tiên sinh kể cho em nghe chuyện Quang Khải đáng thương đi.

Lão khẽ lắc đầu, hớp một ngụm trà rồi phe phẩy quạt:

- Lúc cậu ta mới ra đời, nghe nói bị phát chứng kinh suýt nữa là mất mạng.

Quan gia và mẹ ta... và hoàng hậu rất lo lắng, túc trực ngày đêm bên giường bệnh.

Lúc sau, quan gia lấy áo của Thượng hoàng và gươm báu truyền quốc để cạnh bên, bảo cậu ta rằng nếu khỏi bệnh sẽ ban cho hai món đó.

- Hắn ta sống đến tận bây giờ? – Tôi kinh ngạc. – Hóa ra từ lúc lọt lòng đã có tham vọng hơn người, nghe được tặng vật báu là tự dưng khỏi bệnh.

Lão lại cười thành tiếng, suýt nữa bị sặc trà.

- Vậy có gì đáng thương đâu? – Tôi đưa khăn tay cho lão.

- Đáng thương ở chỗ khi cậu ta khỏi bệnh rồi, quan gia bảo rằng gươm báu truyền quốc không thể trao bừa bãi, chỉ ban cho áo của Thượng hoàng thôi.

- Gì cơ?

Dụ con nít người ta sống lại rồi trở mặt ngay được á? – Tôi đập bàn đứng dậy, máu chính nghĩa trong người bỗng dưng sôi sục. – Ôi...

Quang Khải đáng thương, vừa ra đời đã bị chính cha mình thất hứa.

- Cho nên...

- Lão cố nhịn cười. – Em lại còn đi đồn khắp mấy châu việc cậu ta ngại tắm, thật sự rất quá đáng.

Tôi thẫn thờ ngồi phịch xuống ghế, nghệch mặt ra:

- Em đã hiểu...

Đợi lão uống xong trà, chừng cũng đến giờ hẹn Quang Khải ở quán ăn lần trước, tôi cất cây sáo lên kệ sách rồi hăng hái đi ra cửa:

- Em biết lỡ như cậu ta lại đánh em thì phải mang chuyện gì ra để thoát nạn rồi.
 
Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 8: TÓC MAI SỢI VẮN SỢI DÀI


Khi tôi đến quán ăn, Quang Khải đã cho bày sẵn một bàn hai hàng rượu đựng trong chén lớn.

Tôi còn chưa kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra, từ đầu bàn bên kia hắn đã hất hàm:

- Uống cạn đi, rồi ta cho ngươi biết chuyện của cung nhân họ Lý.

Cái tên hoàng tử hẹp hòi này, thì ra vẫn còn để bụng!

- Đã cho ngươi đánh một trận rồi vẫn chưa hả dạ sao? – Tôi nhăn nhó.

- Đánh ngươi là vì bài đồng dao chết tiệt đó.

Hôm nay là ngươi nhờ vả ta, cũng nên uống vài chén rượu tỏ lòng biết ơn. – Hắn nhếch miệng cười.

- Nhờ vả?!

Này!

Ai đã giúp ngươi ra khỏi tù chỉ trong một đêm?

Ai giúp cô đào hát của ngươi đưa tin?

Ai làm chủ hôn cho hai người?...

- Phong, chính ngươi đã nói mang hết những ơn nghĩa đó đổi lấy lời xin lỗi với ta mà?!

Tôi thật muốn đấm vào gương mặt tỏ vẻ ngây thơ kia một cái, tôi có nói như thế nhưng lúc đó hắn đã vung kiếm đánh tôi đâu?!

Cố nén cơn giận trong lòng, tôi lẩm bẩm:

- Đúng là vừa sinh ra đã bị vua cha lừa gạt nên trưởng thành cũng lệch lạc theo.

"Cạch" một tiếng, thanh kiếm của hắn lại chống lên bàn.

Đôi mắt thường ngày luôn sáng lấp lánh bỗng dưng trở nên lạnh lẽo đến rợn người:

- Tại sao ngươi lại biết chuyện này?

Hình như tôi đã lỡ miệng nói điều không nên nói.

Ai bảo... ai bảo lão kể cho tôi ngay lúc ra khỏi nhà làm chi, trên đường đến đây tôi cứ nghĩ về nó mãi.

Mặt vẫn không biến sắc, tôi nhìn hắn:

- Tiên sinh kể với ta từ lúc ta còn bé xíu, cũng không ngờ ta sẽ gặp ngươi, chỉ trách vận của ngươi đen đủi...

Ánh mắt đang nhìn chằm chằm vào tôi vẫn không di chuyển.

- ...

à không, không ngờ chúng ta có duyên đến vậy, giữa thiên hạ rộng lớn này cũng vẫn gặp được nhau.

Hắn thở dài, lắc nhẹ đầu rồi thong dong ngồi xuống, bưng một chén lên uống.

Cảm thấy không tiện ngồi lâu cũng chẳng hy vọng hỏi được tin tức gì, không khéo lại còn làm mối quan hệ giữa Vạn Kiếp và Tức Mặc thảm hại hơn, tôi đành kiếm cớ ra về:

- Dù gì cũng cảm ơn ngươi đã nhọc công, nhưng ta không uống được nhiều rượu.

Việc của ta, ta sẽ tự tìm hiểu vậy, ngươi về chuẩn bị lấy vợ đi.

Tôi chào hắn rồi quay người đi nhanh về phía cửa.

- Phong! – Hắn gọi lúc tôi đã bước một chân ra ngoài. – Ngươi cũng biết ta sắp phải lập chính thất rồi, mai ta sẽ về Tức Mặc, uống với ta một hôm đi. – Những từ cuối cùng nghe như thì thầm, lại như khẩn khoản.

Phải chăng những người sinh ra trong hoàng tộc dù sôi nổi hay trầm tĩnh cũng đều có một dáng vẻ cô độc khiến người khác đau lòng đến vậy?!

Nghĩa khí trong lòng bỗng nổi lên, tôi quay lại bàn rượu, đập tay lên mặt bàn một tiếng:

- Được.

Hôm nay để anh hầu chú.

Nhưng cho công bằng, anh hỏi chú một câu thì mới uống cạn một chén, được không?!

Hắn bật cười, khoác vai tôi kéo tôi cùng ngồi xuống ghế.

- Này này, chú đã tắm chưa mà choàng vai bá cổ, anh vẫn chưa say, không dễ mắc lừa đâu nhé. – Tôi đẩy hắn ra.

Quang Khải đưa tay cốc đầu, tôi nhanh nhẹn tránh được.

Hắn cầm lấy một chén đầy, làm động tác mời:

- Ta hỏi trước, tại sao ngươi lại theo Hưng Ninh Vương đến tận đây, ngươi là gì của ông ta?! – Vừa hỏi xong hắn đã uống một hơi cạn sạch, còn không để tôi kịp từ chối.

- Này...

- Tôi định vặn lại song thấy cũng chẳng ích gì. – Chẳng phải ngươi đã điều tra cả rồi sao, còn hỏi nữa?

Rượu là ngươi trả tiền đấy, cứ uống thỏa thích đi.

Nói rồi, tôi gọi liền mấy món ngon.

Hắn uống thì mặc hắn, tôi vẫn cứ phải ăn no bụng nếu không sẽ say chết mất.

- Tiên sinh là anh rể của ta. – Tôi vừa nhâm nhi cái chân gà nướng vừa từ tốn trả lời. – Ngài ấy chăm sóc ta từ bé nên bọn ta còn thân thiết hơn ruột thịt.

Tết năm nay ngài ấy không về Yên Bang, ta liền chạy đến đây tìm, giữa đường thì bị ném vào ngục với ngươi.

- Ngươi thân thiết với anh rể của mình như thế, chị ngươi sẽ nghĩ gì?! – Hắn tò mò thực sự.

Tôi đưa một chén rượu đầy cho hắn, đợi hắn uống cạn mới từ tốn nói:

- Chị của ta chẳng nghĩ gì đâu...

- "Vì bọn họ vốn đâu có phải vợ chồng", những lời này may mà tôi kịp giữ lại. – Ngươi biết không, đối với ta, lão già là một người rất đặc biệt, rất quan trọng, nhưng không phải như ngươi đang tưởng tượng đâu!

- Sao lại gọi ông ấy là lão già?! – Quang Khải ơi là Quang Khải, cứ hỏi liên tục thế này thì ngươi sẽ gục trước cả ta thôi.

Tôi lại đẩy một chén về phía hắn.

- Ngươi không cảm thấy lão ấy rất giống như một ông cụ đã ngũ tuần sao?!

Từ suy nghĩ đến hành động, đều như đã sống qua mấy cuộc đời. – Tôi không rõ câu này là chê trách hay ca ngợi.

- Ờ...

đúng. – Hắn như ngộ ra điều gì.

- Ở Tức Mặc ai cũng bảo Hưng Ninh Vương rất khác người, chắc là do tu hành, đã hiểu rõ đạo lý.

Nhưng ta thấy kiếm pháp của ông ta linh hoạt như thế, không giống lời ngươi nói, không thể cho là già được.

- Này, đó là ta gọi đùa thôi.

Hoàng tử ở Tức Mặc có phải người nào cũng đáng chán giống ngươi không?! – Tôi hỏi xong chợt thấy hối hận vì chén rượu Quang Khải nhanh tay đưa tới.

Tôi đành uống cạn, nhìn hắn thong thả trả lời:

- Ta là người thú vị nhất trong số đó.

Thật đúng là anh em, rất biết cách làm người tức chết.

Tôi với tay lấy một chén nữa, uống cạn:

- Ngươi... ghét lão già của ta không?! – Tôi bỗng dưng rất muốn hỏi câu này.

- Sao lại ghét?!

- Vậy có thương không?!

- Có thay đổi được gì đâu?!

- ...

Tôi không nhớ hôm ấy mình về nhà bằng cách nào vì khi tỉnh dậy đã là mấy ngày sau.

Từ nhỏ tôi đã không uống được nhiều rượu, nếu không sẽ cảm thấy khó thở, đau đầu, toàn thân còn bị rộp da.

Trong phủ lúc nào cũng có sẵn thuốc do lão già tự điều chế để dự phòng, nhưng mỗi khi tôi uống được một chén thì đều bị lão ngăn lại nên chẳng mấy khi cần đến.

Lần này vì một câu nói của tên bằng hữu đó, tôi ốm một trận thừa sống thiếu chết.

Nghe bác Dương kể lại, tuy lão không lớn tiếng nhưng dường như cũng đã răn đe Quang Khải mấy câu.

Nằm trên giường bệnh, tôi mơ hồ nhớ lại những gì bọn tôi đã nói trong lúc ngà ngà say.

Quang Khải bảo rằng theo như hắn điều tra, người họ Lý tôi cần tìm đã sớm rời khỏi cung Lệ Thiên vào năm Thiên Ứng Chính Bình thứ tư.

Tháng giêng năm ấy sét đánh một lượt ba mươi chỗ trong thành Đại Xá nên quan gia đã ân xá cho một số cung nữ của triều Lý được về quê.

Hắn còn bảo, ngay sau đó, Hiển Hoàng Trần Liễu – cũng chính là thân phụ của lão già – can tội cưỡng gian cung nữ cũng chính ở cung Lệ Thiên này nên bị giáng làm Hoài Vương.

Việc này tôi chưa từng được biết, nhưng không thấy bất ngờ vì mọi người đã giấu biệt đi.

Quang Khải bảo lão già không giống như phụ thân mình mà trầm tĩnh và có năng lực hơn nhiều, tuy không thường xuyên gặp mặt nhưng luôn được quan gia nhắc đến đầy ưu ái, các đại thần cũng đánh giá rất cao.

Một kẻ kiêu ngạo như hắn, dù không ưa Hưng Đạo Vương nhưng cũng kính trọng lão mấy phần, nhất là sau lần so kiếm đó.

Hắn cũng uống rất nhiều, trong lúc say hắn đã nói tôi là người bạn mà hắn trân trọng nhất vì tôi rất giản đơn.

Mà, lão già lại là một người hắn không hiểu được, hắn sợ tôi không hạnh phúc.

Giữa cơn mê mê tỉnh tỉnh, tôi nhớ lão đã bế tôi một quãng rất xa, túc trực ngày đêm, còn trách rất dịu dàng: "Sao lại uống nhiều như vậy?!".

Quán rượu hôm ấy có cả mấy thương nhân từ biên giới mới về, kể chuyện quân Mông Cổ đã dẹp tan Đại Lý của Đoàn Thị ở phía nam, xem chừng muốn bước chân sang Đại Việt, không khéo phải tính chuyện mang gia quyến đi lánh nạn.

Quang Khải tức giận quát một trận, dọa họ chạy mất trong khi rượu thịt còn ngổn ngang.

Trong lòng tôi cứ sợ lỡ như có giặc thì lão phải xuất chinh.

Hình như tôi đã nắm tay lão rất chặt, còn vừa khóc vừa nói mớ: "tiên sinh đừng ra trận".

Tôi nghe tiếng lão cười hiền: "Ta là quan văn, ra trận thì giúp được gì?".

Người nói dối, chính Quang Khải còn bảo nếu hôm ấy cả hai dùng hết sức chưa chắc hắn đã thắng được người.

Có tiếng chim hót ríu rít ngoài sân và mùi cá nướng thơm lừng, trời đã về chiều.

Tôi ngồi dậy nhìn tay chân mình một lượt, thật may đã hết rộp da rồi, chắc nhờ mấy bát canh rau má mà lão cố dỗ dành tôi uống, "ngoan nào, uống hết đi, ta sẽ không phạt em chuyện say rượu nữa".

Tôi thay một bộ áo trắng được xếp sẵn trong tủ, rửa mặt sạch sẽ, chải tóc gọn gàng, véo má mấy cái cho ửng hồng tươi tắn rồi bước ra ngoài.

Hôm nay trời đẹp, gió thổi hiu hiu làm rơi một đóa mộc lan, tôi cài lên tóc, mấy hôm nay chắc là bộ dạng của tôi chẳng ra gì.

- Cô Phong, khỏe chưa mà ra đây, ngoài này gió lắm!

- Chị Hạnh, sao chị lại ở đây?! – Tôi ngạc nhiên nhìn người thị nữ thân cận của chị mình đang đột ngột xuất hiện ở phủ Tiết độ sứ. – Chị cả đến rồi sao?!

Chị Hạnh gật đầu, cười rất tươi:

- Vừa mới đến sáng nay thôi, đang ở thư phòng nói chuyện với cậu cả, cô đến đó đi, tôi sẽ mang ít mứt hạt sen vào.

Tôi đi đã mấy tháng rồi, chắc là chị lo cho tôi lắm.

Từ lâu tôi đã xem chị là ruột thịt vì dù chị chẳng hay ngọt ngào, cũng chẳng chiều chuộng tôi như lão nhưng chưa bao giờ để tôi thiếu thốn một thứ gì.

Có lão ở đó chắc chị sẽ chẳng mắng tôi đâu.

Nghĩ thế, tôi hăm hở đến thư phòng.

- Sao ngài lại để Phong đi cùng Trần Quang Khải?! – Cửa thư phòng không đóng kín, tôi nghe tiếng chị vọng ra, bước chân liền sững lại.

- Chiêu Minh là người tử tế, hai đứa lại rất quý mến nhau, nàng không cần lo lắng. – Giọng lão đều đều.

- Ta vừa đến đây đã thấy con bé nằm trên giường bệnh, ngài lại bảo ta đừng lo lắng?!

Tên Chiêu Minh Vương đó dù tốt thế nào cũng là người Tức Mặc, ngài lại để nó kết giao.

Ngài nuông chiều con bé đến hư rồi. – Chị tôi luôn ôn hòa điềm đạm, không hiểu sao hôm nay lại ít nhiều gay gắt.

- Nó hư hay không, ta chịu trách nhiệm mà.

Đứng bên ngoài, tôi cười tít mắt.

- Ngài không định tìm cho nó một nơi tử tế sao?

Cứ theo ngài chạy đông chạy tây, giờ còn chơi với một tên con trai khác cả ngày, nơi nào dám hỏi?!

- Ta nuôi nó cả đời. – Lão vô cùng kiên định.

- Vậy ngài đợi đến khi nó mấy tuổi thì nạp thiếp?! – Chị tôi rất thản nhiên.

- Đủ rồi đấy.

Chị tôi không hiểu rằng câu trả lời trong lòng tôi và lão vốn đã có từ khi chúng tôi gặp nhau rồi.

Trong phòng không có thêm âm thanh gì, mãi mới nghe chị lại cất tiếng, có phần dịu dàng hơn trước:

- Ta nói thật lòng, nếu ngài thực sự muốn cưới Phong...

- Im miệng. – Có tiếng chén trà bị đặt mạnh lên bàn.

Chắc chị tôi cũng rất bất ngờ vì chưa bao giờ lão nặng lời như thế. – Nàng đang xúc phạm cả ta và Phong đấy, biết không?!

Căn phòng lại rơi vào im lặng.

Tôi định rời đi thì nghe giọng lão:

- Phong muốn lấy chồng, ta sẽ chọn cho nó nơi tốt nhất.

Nó muốn cứ như vậy ở bên ta, ta sẽ bảo bọc nó suốt đời.

Ta không thể lấy nó làm vợ, cũng không muốn lấy.

Đúng vậy.

Đây chính là những gì chân thành nhất mà lão cho tôi, cũng như tôi chưa bao giờ nghĩ rằng sẽ lấy lão làm chồng.

Chúng tôi cứ như thế bên nhau năm năm tháng tháng đến lúc cả hai không còn trên đời nữa chẳng được sao?!

- Ngài muốn tu hành thực sự hay vì không thể bước qua mặc cảm?! – Tiếng chị bỗng nhẹ như cơn gió.

- Đều chẳng liên quan.

- Vương gia, tuy chúng ta là vợ chồng hữu danh vô thực, ta không nên can thiệp vào việc của ngài, nhưng ta coi Phong như em ruột, ngài cứ để nó dang dở như vậy rồi có hối hận không?!

Tôi nghe tiếng lão cười rất khẽ:

- Nàng hiểu ta được bao nhiêu, lại hiểu Phong được bao nhiêu?!

Tôi dựa vào tường, cúi mặt, mấy lọn tóc rũ xuống che nụ cười mỉm, hương mộc lan thoang thoảng quanh người.

- Ngài nói muốn Phong sống như một cô gái bình thường, nữ nhi không lập gia thất có được xem là bình thường không?!

Ngài không sợ sẽ có người hoài nghi thân phận cô em vợ ở mãi trong phủ Hưng Ninh Vương mà chẳng chịu lấy chồng?!

Mãi lâu sau, tôi mới nghe lão đáp:

- Việc này...

để khi Phong lớn lên rồi mới tính.

Thế nào là mặc cảm, thế nào là thân phận?!

Tôi không hiểu những điều này.

Chỉ biết mình hiểu rõ suy nghĩ trong lòng lão nên chẳng có gì phải buồn phiền.

Ừ, việc sau này để sau này mới tính.

Tôi đứng thẳng người, định trở về phòng thì chị Hạnh mang một đĩa mứt to đi đến:

- Cô Phong sao còn đứng ngoài này?!

Cửa phòng bật mở, chị tôi thảng thốt:

- Phong, em đến bao giờ?!

Tôi quay lại, gật đầu với chị rồi quay sang nhìn lão.

Ánh nhìn của lão chợt sâu hun hút:

- Còn đau chỗ nào không?!

Tôi lắc lắc đầu.

Lão bước đến gần, định chạm lên đóa mộc lan tôi cài trên tóc.

Tôi liền giật lùi, nhanh tay gỡ xuống, giấu sau lưng, cười cười nhìn lão.

Lão không chọc tôi hôm nay võ vẽ tập làm thiếu nữ, cũng không khen tôi đã dễ coi hơn bộ dạng bị rộp da hôm trước, chỉ một tia ngỡ ngàng thoáng hiện trong đáy mắt rồi lại tắt ngay.

- Lần sau dù muốn bằng hữu vui lòng cũng không được ngốc như thế nữa. – Lão đưa tay vuốt tóc tôi.

- Em xin lỗi.

Lão cười nhẹ, tôi cũng mỉm cười, đầu cúi thấp.

Ánh ráng chiều chiếu lên vạt áo lam của lão một màu nhàn nhạt, yên bình.

Chúng tôi cứ đứng ở đó rất lâu.

Đóa mộc lan sau lưng tôi bị vò nát rồi thả bay đi.

Phải chi có thể như thế này mãi mãi, chẳng cần khôn lớn...!

Ca dao:

"Tóc mai sợi vắn sợi dài

Lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm"
 
Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 9: THUỞ TRỜI ĐẤT NỔI CƠN GIÓ BỤI


- Phong, cháu đừng ngồi nhìn cái bếp nữa, đi tắm đi, lúc nào chín bác sẽ mang ra rồi mời luôn cậu cả và cô đến dùng.

- Không được, cháu lấy món này để xin lỗi chị, cháu phải tự tay làm từ đầu đến cuối.

Tôi đón lấy đĩa bánh đậu xanh từ tay bác Dương, bốc một mẩu bỏ vào mồm cho đỡ đói, mắt vẫn chăm chăm nhìn những vụn trấu đang cháy âm ỉ phát ra âm thanh tí tách.

Nghe nói món rươi vần niêu đất này phải nấu gần nửa ngày mới đúng hương vị trứ danh của vùng Tứ Kỳ, tôi đã đợi từ sáng đến giữa chiều, chắc cũng sắp ăn được rồi.

- Bác Dương đúng là đầu bếp tài hoa, theo lão già đến Hồng Lộ mới một năm mà cả món đặc sản cầu kỳ này cũng biết nấu.

May nhờ có bác bày cho, nếu không cháu cũng chẳng biết làm thế nào. – Tôi nịnh bợ.

- "Tháng chín đôi mươi, tháng mười mồng năm".

Mùa rươi năm ngoái, cậu cả đã nhờ bác đi xem dân địa phương nấu món này, vì biết có người sẽ háu ăn. – Bác Dương lấy que củi gạt gạt bụi tro phía ngoài, để lộ lớp trấu đỏ hồng bọc quanh niêu đất.

- Thảo nào sáng nay...! – Tôi thảng thốt reo lên, nhớ lại lúc vừa đi ra khỏi cửa, anh Thân – phu xe của lão – đã gọi tôi đến đưa cho một túi rươi to ụ còn đang giãy giụa. – Hôm nay đúng là ngày hai mươi tháng chín...

- Từ nhỏ cháu vẫn sợ mấy con vật trơn láng, chắc cậu cả nghĩ vậy nên mới nhờ cậu Thân đi tìm giúp cháu đấy.

- Cháu cũng nghĩ thế ạ, nhưng mà...

- Tôi ngập ngừng, cảm thấy hơi xấu hổ. – Mấy tháng qua đi khắp nơi cháu đã ăn hết mọi thứ rồi, cả lươn, cả rắn... bọn chúng đều ngon lắm bác à!

Có điều, sao lão đoán được tôi đã biết về món ăn này nên sẽ chạy ra khỏi nhà vào đúng sáng nay?!

- Mỗi ngày có vô số người ra vào Dưỡng Chân Trang, tin tức nhạy bén là chuyện đương nhiên, tin về thức ăn ngon lại càng là sở trường của em... – Lão từ đâu trở về, ung dung vào bếp, không thèm nhìn tôi lấy một lần mà bước thẳng đến nhấc niêu đất ra khỏi đống tro. – Chà, thơm thật!

- Đây là món em làm cho chị. – Tôi ngăn không cho lão giở nắp niêu dù bụng cũng sôi cồn cào vì mùi rươi, mùi lá gừng và vỏ quýt thơm lừng. – Em đã báo hại chị ấy lo lắng bấy lâu nay, em phải có gì bù đắp.

Lão nhướn mày nhìn tôi một lúc, sau đó quay sang bác Dương nói với giọng buồn buồn:

- Đành vậy, bác Dương giúp cháu chuẩn bị ít đậu phụ và tương.

Cũng tại cháu tu hành mà phá giới nên phải chịu, vừa cất công phái người đi tìm rươi to nhất ngon nhất mang về, vừa phiền bác học cách nấu từ năm ngoái, cuối cùng vẫn không được ăn ngon.

Tôi nghe lão kể khổ mà bật cười.

Không biết lão đã rút cây quạt ra từ bao giờ, gõ lên trán tôi đau điếng.

Tôi đưa tay xoa xoa trán xong lại nhìn lão cười nhăn nhở.

- Đi tắm rồi vào ăn cơm. – Lão vứt lại cho tôi một câu rồi bước về phía thư phòng.

***

- Không ngờ cô Phong nhà chúng ta không chỉ kiếm thuật chẳng thua kém chàng trai nào mà vào bếp cũng khiến bao nhiêu cô gái phải hổ thẹn thế này. – Chị tôi từ lúc thử miếng đầu tiên cứ xuýt xoa khen mãi.

- Chị ăn nhiều vào. – Tôi vừa nói vừa gắp thêm một đũa to vào bát chị. – Dạo này chị gầy quá, cũng tại em hư.

Lão ngồi ở đầu bàn, điềm nhiên gắp từng miếng rươi lên ngắm nghía rồi thong thả đưa lên miệng, có vẻ rất tập trung thưởng thức hương vị món ăn.

Tôi nhìn mãi cũng không thấy lão nói được một câu dễ nghe, bèn lên tiếng châm chọc:

- Tuệ Trung tiên sinh, món ăn dân dã này chắc không so được với cơm đậu phụ nước tương của đầu bếp phủ Tiết độ sứ.

Lão cười cười, vẫn không dừng đũa:

- Trong những việc liên quan đến ẩm thực, ta chưa bao giờ nghi ngờ năng lực của em.

Tôi cũng không biết câu này là khen ngợi hay đả kích.

-

Sau này quân đội chúng ta không sợ đói rồi. – Chị tôi ngắm nghía mẩu bánh lòng.

- Bếp quân đội không có nếp cái hoa vàng, không có lạc vừng thượng hạng, Phong không bỏ cơm đã là may.... – Lão nhấp một ngụm trà.

Tôi không chú tâm đến ý châm chọc trong lời nói của lão mà trở nên lo lắng:

- Lần này chị đến không phải vì muốn dẫn em về sao...?!

Chị tôi đặt cốc trà đang uống dở xuống, nhìn tôi rồi lại quay sang nhìn lão:

- Lúc ở nhà có mỗi mình em chị đã không giữ được, huống chi là đến đây...

Hóa ra, tin tức của tên thương nhân suýt bị Quang Khải đánh ở quán rượu không phải là vô căn cứ.

- Chị ra ngoài có việc, trên đường gặp được người hay đến Dưỡng Chân Trang nghe giảng, ông ta có người thân sống trên đất Tống nên được tin sứ giả Mông Cổ đang trên đường đến Đại Việt rồi.

Chị không biết triều đình đã nhận được tin hay chưa, vẫn nghĩ nên nói với vương gia.

- Ngay sau khi nàng đến đây ta đã cho người đến Thăng Long báo tin rồi.

Quân Mông Cổ sau khi tiêu diệt Đại Lý sẽ đánh Nam Tống.

Có thể chúng sẽ hỏi mượn đường Đại Việt để tấn công từ phía nam, nhân tiện tìm thời cơ chiếm cả Đại Việt.

Dù không phải như thế, sau khi chúng đánh bại Nam Tống sao lại bỏ qua cho mảnh đất nhỏ bé nằm sát cạnh bên như chúng ta.

Triều đình không phải chưa từng nghĩ đến việc này, chỉ là không ngờ bọn chúng lại thôn tính Đại Lý nhanh như thế...

- Vương gia, tin tức về sứ giả của địch không đến từ chiến trường mà lại do ngài báo, những kẻ họ Trần đó sẽ không nghi ngờ gì chứ?! – Giọng nói của chị bỗng có chút ngờ vực, tôi biết chị vốn không thích những người ở Tức Mặc.

- Ta cũng họ Trần. – Lão già cười nhẹ, lại nâng cốc trà đưa lên miệng. – Thật ra tình cảm của hai chi Tức Mặc và Vạn Kiếp không đến mức như nàng nghĩ, huống hồ đây là chính sự, dù có bao nhiêu hiềm khích cũng phải lấy lợi ích của muôn dân làm trọng, nàng không cần lo việc đó.

Tôi nhìn lão rất lâu, rất lâu, không nói gì cả.

Lão uống xong cốc trà thì quay sang nhìn tôi:

- Sao vậy, sợ ta phải ra trận sao?!

Tôi lắc lắc đầu, nói chậm từng chữ một:

- Nếu tiên sinh ra trận, người nên sợ hãi là bọn Mông Cổ.

Em chỉ sợ tiên sinh không cho em cùng chiến đấu.

Nhưng nếu thực sự không giúp được gì, em sẽ ngoan ngoãn ở nhà không làm vướng bận, tiên sinh đừng lo lắng...

Lão rướn người đến xoa xoa đầu tôi, cười thật hiền:

- Chưa chắc chiến tranh với Mông Cổ đã xảy ra, hơn nữa, em đừng nghĩ ta tài giỏi đến vậy, triều đình còn rất nhiều vị đại thần có tài thao lược.

Ta là quan văn, ta có chiến trường của riêng mình.

Tôi nhìn lão, thầm nghĩ người chẳng bao giờ sống đúng với vai trò của mình cả, chẳng có người tu hành nào lại trái tính dở hơi như thế, chẳng có vị quan văn nào lại vung gươm bạt đao giết hổ nhẹ nhàng như thế...

- Sau khi xong việc ở đây chị sẽ về lại Yên Bang.

Chúng ta cũng nên chuẩn bị sẵn sàng cho mọi tình huống.

Chị không bắt tôi về cùng chắc vì biết tôi không muốn xa lão trong lúc này.

Ngộ nhỡ chiến tranh có xảy ra biết đâu chúng tôi sẽ không còn cơ hội gặp lại nữa.

Sau bữa cơm tối, chúng tôi ai về phòng nấy.

Ngày thường nếu ăn no tôi sẽ buồn ngủ rất nhanh nhưng hôm nay tôi nằm mãi mà vẫn không ngủ được, bèn đến thư phòng tìm cây sáo ngọc để thổi một bài tiễn chị.

Tôi tìm trên kệ lẫn trong ngăn tủ vẫn không thấy, đành ôm cây thất huyền cầm của lão ra sân.

Khi tôi đến gốc mộc lan, lão cũng vừa đến, trên tay là cây sáo của tôi.

Cả hai cười nhẹ rồi ngồi xuống chiếc bàn con kê cạnh bên, không hẹn mà cùng tấu khúc Cao sơn lưu thủy.

Khúc nhạc này thường chỉ được tấu bằng đàn, nhưng lão đã nghĩ ra cách thổi sáo để hòa tấu với tôi.

Tiếng nhạc lúc trầm lúc bổng, khi nhặt khi khoan, gợi nhớ về những ngày ở Vạn Kiếp, chúng tôi gồm cả chị và Hưng Đạo vương thong dong ruổi ngựa trên đồi, bên suối.

Hưng Đạo vương chắc cũng sắp đến Hồng Lộ gặp lão, nhưng lần này hẳn là anh em họ không thể vô tư uống rượu trò chuyện như trước được.

Tiếng nhạc đã dứt từ lâu, chúng tôi vẫn ngồi yên lặng.

Cuối cùng tôi lên tiếng:

- Ngày mốt em sẽ theo chị về Yên Bang.

Lão im lặng đợi tôi nói tiếp.

- Tiên sinh từng nói sở trường của quân Mông Cổ là tốc chiến tốc thắng nên chúng sẽ không mang theo nhiều hành lý.

Em muốn quay về chỉnh đốn quân đội của tiên sinh và nhờ mọi người chuẩn bị lương thực, biến nó thành thế mạnh của quân ta.

Em biết chị đã quen quán xuyến những việc này, nhưng dù sao em mới chính là truyền nhân do chính tay tiên sinh dạy dỗ, có những việc em sẽ làm tốt hơn chị.

Nếu như sóng yên gió lặng... em lại có rất nhiều thứ để ăn rồi! – Tôi cố ra vẻ nhăn nhở sau một hồi nói những điều khá nặng nề.

Một cơn gió thổi qua làm mấy sợi tóc mai bay lòa xòa trước mặt tôi, lão đưa tay giúp tôi vén ra sau vành tai, vẫn im lặng như chờ đợi tôi giải đáp điều lão đang thắc mắc.

- Em đã nói dù chiến trường của tiên sinh là gì em cũng sẽ đồng hành.

Tuy là khó khăn lắm em mới đến được Hồng Lộ... nhưng em về Yên Bang sẽ làm được nhiều việc hữu dụng giúp tiên sinh hơn là ở lại nơi này. – Tôi ngập ngừng một chút rồi lại rất quả quyết. – Tiên sinh cho phép em về cùng chị nhé.

Tôi thấy trong nụ cười của lão có chút xúc động, dường như là vui mừng, lại dường như không nỡ.

Lão đưa cây sáo lại cho tôi rồi đưa tay vỗ nhè nhẹ lên tóc:

- Ta đã bảo, giao cho em những việc liên quan đến ăn uống ta rất yên lòng.

***

Chị tôi tuy rất mạnh mẽ nhưng dù sao trên danh nghĩa cũng là chính thất của một vương gia, không tiện cưỡi ngựa đi khắp nơi nên chúng tôi về Yên Bang bằng xe ngựa.

Buổi sáng ngày lên đường, lão già tiễn bọn tôi ra tận cổng thị trấn, lại đứng dặn dò hồi lâu.

- Làm việc gì cũng nên cẩn thận, phải giữ an toàn cho bản thân mình trước, hiểu không? – Lão đã nói câu này lần thứ ba trong ngày.

Tôi gật gật đầu, cười toe toét.

Chị tôi đứng ở phía xa cũng gật nhẹ đầu cười mỉm.

- Cũng may tiên sinh bắt em chép phạt kinh Phật rất nhiều và những người kính trọng tiên sinh đa số đều biết em, em có thể nhờ họ đóng góp lương thực và kinh phí cho quân đội nếu cần.

Ấy... tiên sinh đừng chau mày, em không lợi dụng Phật giáo vì lợi ích cá nhân đâu! – Tôi vội phân bua.

Lão nheo nheo mắt:

- Thật không?

Sao ta lại nghe nói em mượn danh nghĩa Thiền sư Tiêu Dao để thoát ra khỏi ngục?!

- Cái đó... là bất đắc dĩ, em sẽ cẩn trọng hơn... – Tôi ngập ngừng. – Lần trước em vừa đi vừa ăn nên mới mất gần một tháng.

Giờ em đi cùng chị, chắc chưa đến hai mươi ngày đã về đến Yên Bang.

Hơn nữa...

ít nhiều em cũng học được chút y thuật của người, em có thể tự lo cho mình và giúp người khác được mà.

Lão phì cười, nói rất dịu dàng:

- Xuất phát đi, kẻo lại không kịp đến nơi nghỉ chân trước khi trời tối.

Tôi cứ nhìn lão, lại không biết nói gì, liền chui vào xe lấy ra cây sáo ngọc dúi vào tay lão:

- Em cho tiên sinh mượn thổi cho đỡ buồn chán, người nhất định phải mang trả nó lại cho em không trầy xước đấy.

Lão hơi chần chừ, nhìn tôi:

- Em lấy gì tự vệ?!

- Tuệ Trung tiên sinh! – Tôi bật cười. – Ngài đừng nói với em ngài là người tu hành nên không phạm sát giới, đánh giặc cũng dùng cành tre ngọn trúc không làm chúng mất mạng nhé.

Em biết ngài chẳng phải một nhà sư mẫu mực đâu!

Có tiếng lão cười khe khẽ, tôi cũng cười nhưng nghe mắt mình cay cay, vội quay đi:

- Em phải đi rồi, chị đang đợi.

Chân vừa dợn bước, tôi nghe lão gọi tên mình:

- Phong, đợi đã.

Tôi vừa xoay người lại, lão đã kéo tôi vào ôm trong lòng, không buông lơi, không quá chặt, vừa đủ dễ chịu và ấm áp.

- Sau khi chúng ta thắng trận này, ta sẽ về Dưỡng Chân Trang nghỉ ngơi một thời gian.

Tôi gật gật đầu, vòng tay ôm lấy lão, một giọt nước mắt rơi xuống thấm trên vai áo màu lam thanh nhã.

Chúng tôi cứ đứng như thế một lúc.

- Chị, chúng ta đi nào!

Tôi vén rèm cửa xe ngựa nhìn ra vẫy vẫy tay cười chào lão rồi không nhìn lại nữa, cùng chị băng băng tiến về phía trước, biết rằng có ánh mắt vẫn dõi theo đến khi xe chúng tôi đi xa khuất.

Tuy tôi không ở cạnh lão trong những ngày sắp đến nhưng chúng tôi vẫn đang kề vai sát cánh trên chiến trường của riêng mình và nhất định sẽ sớm gặp lại nhau thôi.

Câu đầu tiên trong Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn, bản Nôm của Đoàn Thị Điểm, ý chỉ chiến tranh.

Thành ngữ chỉ mùa rươi ở Hải Dương (dưới thời Trần có tên là Hồng Lộ).

Bánh lòng Kinh Môn: đặc sản của Hải Dương được làm từ nếp cái hoa vàng, lạc, vừng, thịt ba chỉ...

Cổ cầm, đàn có 7 dây, xuất xứ từ Trung Hoa.

Cao Sơn lưu thủy là khúc nhạc cổ của Trung Hoa có từ thời Xuân Thu Chiến Quốc (năm 771 đến 476 TCN) gắn với điển tích về tình tri kỷ giữa Bá Nha và Tử Kỳ.

Theo sách Lã thị xuân thu: "Bá Nha cổ cầm, Chung Tử Kỳ tại ngoại thiết tính chi viết: nguy nguy hồ như thái sơn, dương dương hồ như lưu thủy" (Bá Nha gảy đàn, Chung Tử Kỳ ở ngoài nghe trộm , khen rằng: ngun ngút như núi Thái Sơn, cuồn cuộn như dòng nước chảy).
 
Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 10: CHIỀN VẮNG AM THANH


- Trời vẫn còn sáng, chúng ta cứ cố đi thêm chút nữa biết đâu sẽ thấy nhà dân, đi mà, anh Thân...!

- Cô Phong ơi, tôi đã nghe lời cô không dừng sớm lúc còn ở trong thị trấn, nhưng chúng ta đã đi từ giờ Thân đến đầu giờ Dậu vẫn chỉ có đồi núi hoang vu thế này, bây giờ quay lại tìm nơi nghỉ hãy còn kịp.

- Không được, em không muốn ngày mai phải lặp lại quãng đường này, em muốn về Yên Bang càng sớm càng tốt. – Tôi vừa cố thuyết phục người phu xe thân tín của lão già, vừa nhìn ra cửa cố tìm thấy nơi nào có người, nhưng ngoài cây cối chỉ có vài chú chim đang bay về tổ, trời càng lúc càng lạnh dần và sương bắt đầu rơi.

- Cậu Cả bảo tôi theo cô và mợ về chính là vì muốn đảm bảo hai người được an toàn, nếu cậu ấy biết tôi chiều ý cô để lạc trong núi giữa đêm thế này sẽ mắng tôi chết mất...

- Em ngủ trong rừng cũng được. – Tôi nhìn sang chị, chợt nhớ lần này tôi không phải đang một mình phiêu bạt. – Ý chị thế nào?

Chị tôi nãy giờ vẫn đang nhắm mắt lim dim ở góc xe, mỉm cười nói rất dịu dàng:

- Chúng ta đi thêm một lúc, nếu vẫn không tìm thấy chỗ trọ thì tìm một nơi khô ráo đốt lửa cho qua đêm nay vậy.

Anh Thân nghe chị tôi nói thế thì không phản đối gì nữa, cứ theo đường mòn mà đánh xe đi.

Được một quãng, tôi bỗng thấy trước mặt có những vệt sáng lấp lánh phản chiếu ánh hoàng hôn.

Đến gần hơn chút nữa, hóa ra đó là một hồ nước trong vắt rộng mênh mông, bao quanh bởi những dãy núi chập chùng ẩn hiện màu tím thẫm và một vùng bình nguyên xanh rì.

Tôi nhìn ra rẻo đất phía xa xa, một làn khói mỏng manh vấn vít tỏa lên cao, quyến luyến với ánh chiều tà.

- Khói bếp kìa, chúng ta có chỗ nghỉ rồi! – Tôi reo lên mừng rỡ.

Khi xe ngựa đến nơi, thì ra đó không phải nhà dân mà là một cái am nhỏ được đặt rất khéo cạnh hồ.

Hàng rào dựng bằng ống tre, xếp đều chằn chặn, buộc lại bằng dây thừng trăm mối giống hệt nhau.

Tôi bước vào sân, một bác tiều phu già đang đun nước, lửa reo tí tách, ấm sực.

- Cô tìm ai? – Bác ngẩng đầu, ôn tồn hỏi.

- Bọn cháu bị lỡ đường định tìm nơi nghỉ, sáng mai sẽ đi sớm.

Không biết bác có thể cho bọn cháu ở lại đây không ạ?! – Tôi lễ phép thưa.

Bác tiều phu nhìn tôi một lúc, chống gối đứng lên, nhấc ấm nước mới đun từ tốn châm vào bình trà bằng gốm men xanh đặt trên kệ bếp.

- Bác cũng chỉ là người đốn củi ở gần đây ghé vào thắp hương cho Đức Phật, cháu đợi tí nữa Cụ về thì báo lại một tiếng, am này đã lâu không đón khách phương xa, chắc là Cụ sẽ vui lắm đấy.

- Cụ ấy là người đã dựng am này ạ? – Tôi tò mò, đưa mắt nhìn mái ngói âm dương đã rêu phong lợp đều tăm tắp, những viên gạch tường vừa khít không một khe hở, cửa trước cửa sau nằm thẳng một đường.

- Đúng vậy, Cụ đi hái thuốc cũng sắp về rồi.

Cháu và người nhà cứ vào nghỉ ngơi dùng nước, nhưng đừng tùy tiện di chuyển đồ đạc trong am, Cụ không vừa ý đâu. – Bác vừa nói vừa mang khay trà đặt lên bàn thờ.

- Cháu biết rồi, cảm ơn bác ạ!

Bác tiều phu này tuổi trạc ngũ tuần mà vẫn luôn nhắc về cụ nào đấy với vẻ đầy nể trọng như thế, lại thêm cách bố trí mọi thứ đối xứng, chỉn chu đến bức bối của am nhỏ này, hẳn đó là một cụ già quắc thước gần đất xa trời, đầu tóc bạc phơ, tay chống gậy trúc nhẵn bóng, miệng luôn làu bàu "cổ nhân có dạy...".

Tôi len lén thở dài nghĩ xem đêm nay sẽ khó ăn khó ngủ thế nào đây, nhưng nghĩ lại thì vẫn tốt hơn qua đêm với lũ thú rừng, tôi liền thấy vui vẻ, ra xe mời chị vào trong.

Bác tiều phu sau khi dâng trà thắp hương thì từ giã chúng tôi để ra về.

Bác bảo đây là Na Ngạn của Lộ Lạng Giang, hồ kia gọi là hồ Cấm Sơn, cách không xa có một ngôi làng nhỏ chừng mười hộ dân sinh sống.

Cụ nửa năm trước đến đây đã giúp họ dựng am nhỏ này để mọi người vừa có chỗ thờ phụng, vừa có nơi dừng chân khi muốn đến hồ ngoạn cảnh.

Tôi ngồi nghỉ ngơi một lúc, vừa ra ngoài rửa mặt thì đã nghe tiếng vọng từ cửa trước:

- Ai đã di chuyển cái đôn này của Cụ?! – Tiếng nói trầm thấp, nhưng nghe thế nào cũng không giống một ông già.

Tôi vội chạy ra xem thì nhìn thấy một chàng trai toàn thân mặc trang phục đen, tuy giản dị nhưng không một nếp nhăn, đang quan sát chiếc bàn đá đặt hướng ra hồ.

- Lúc nãy ta thấy mấy viên sỏi trắng được xếp thành hình gì đó nên mới nhấc đôn lên xem cho rõ, nhưng ta đã đặt về chỗ cũ...

Hắn quay lại nhìn tôi, giọng nói vẫn đều đều nhưng gương mặt cực kỳ nghiêm trọng:

- Không đúng vị trí ban đầu, cô đặt chệch sang phải một nhánh cỏ rồi.

Tôi há hốc mồm, không tin vào những gì tai mình vừa nghe thấy.

Tên thanh niên này nhìn sao cũng chỉ trên hai mươi một chút mà lại khó tính còn hơn cả lão già nhà tôi?!

Mà khoan, lúc nãy hắn nói, "ai đã di chuyển cái-đôn-này-của-cụ"...

- Cụ họ Trần, còn cô tên gì?

Cô đến viếng am hay thưởng cảnh hồ?!

Tôi chết lặng nửa người, hóa ra "Cụ" là tên của hắn...!

***

Nếu không kể đến cái sự kỹ tính già nua còn hơn cả cái tên thì Trần Cụ là một gia chủ rất hiếu khách và nấu ăn ngon đến nuốt cả lưỡi.

Hắn ra hồ bắt mấy con cá tầm mang về, nửa nướng với củ riềng, nửa nấu măng chua làm tôi ăn no căng bụng.

Chị tôi vốn giữ lễ với người mới quen mà vẫn không khước từ được mấy món ăn của hắn.

Anh Thân cũng tiếc rẻ vì sớm mai còn phải đánh xe nên không dám uống thật nhiều món rượu nếp cái hoa vàng do hắn tự tay ngâm, hắn liền tặng anh một bình lớn mang về.

Tôi thấy tiếc cho chị Hạnh, phải chi chị không ở lại Hồng Lộ thêm vài hôm để thăm người thân mà đi cùng chúng tôi thì đã được thưởng thức món cá tươi ngon bậc nhất nhưng chỉ sống ở vùng nước lạnh này.

Cơm no rượu say, hắn bố trí cho chúng tôi hai gian phòng nhỏ để nghỉ ngơi.

Phòng tôi và chị rất sạch sẽ gọn gàng, cả hai ngọn đèn dầu cũng được đặt đối nhau cân xứng hai bên góc.

Tôi để chị đi nghỉ trước còn mình bước ra sân tìm hắn.

Hắn ngồi bên chiếc bàn đá mà tôi đã kê lại chiếc đôn lúc chiều, tay đang gỡ mấy sợi tơ của cây đàn thập lục, cắt bớt một đoạn ở đầu dây rồi buộc lại.

Tôi lên tiếng hỏi:

- Làm việc gì ngươi cũng phải kỳ công như vậy sao?!

- Nếu khúc đàn chưa hết mà dây đứt thì làm thế nào? – Hắn đáp, mắt vẫn chăm chú vào mấy sợi dây đàn.

Tôi đưa tay kéo khay trà đặt cạnh hắn, rót hai tách rồi thong thả ngồi xuống.

- Ngươi gặp Tuệ Trung tiên sinh lúc nào, ở đâu?!

Lần này, hắn hơi ngạc nhiên, bỏ dở việc đang làm.

- Sao cô lại biết Cụ là đệ tử của thầy?!

Tôi không biết lão già đã nhận hắn làm đệ tử, chỉ phỏng đoán mà hỏi thôi.

- Ở chốn rừng núi hoang vu này, người đã dựng được một am thờ Phật lại không ngại nướng cá uống rượu, nếu không phải từng được lão ấy chỉ dạy thì có thể là ai chứ?! – Tôi hớp một ngụm trà. – Hơn nữa, món cá tầm nướng riềng của ngươi có vị cơm mẻ thơm dịu, đây là bí quyết rất ít người từng nghe qua.

- Cụ chỉ bỏ có một chút mà cô cũng nhận ra?! – Hắn sửng sốt.

Tôi cười nhạt, trong lòng thầm nghĩ ta đây chính là sư tỷ của ngươi, cái ngươi biết ta cũng biết, cái ta biết chưa chắc ngươi đã biết.

Nếu không phải vì ngươi không chỉ có cái tên Cụ, tính tình già cỗi mà còn có gương mặt không hề giống một cậu trai bằng tuổi ta, ta đã sớm gọi ngươi là sư đệ rồi.

- Ngươi từng nghe lão nhắc đến người tên Phong chưa? – Tôi hỏi.

- Trần Nhã Phong?!

Cô chính là cô Nhã Phong sao?! – Hắn nói như reo, từ cụ già bỗng hóa thành đứa trẻ. – Lúc Cụ ở phủ Tiết độ sứ, sư phụ vẫn nhắc cô suốt.

Thầy nói cô là truyền nhân giống thầy nhất, lại hay nhắc mọi người trong phủ có gặp món gì ngon cũng phải báo lại để sau này có dịp thầy cho cô ăn thử.

Đúng là cô Nhã Phong nên lưỡi mới tinh như thế...

Tôi nghe hắn nói mà trong lòng sung sướng râm ran, ngoài mặt vẫn ra vẻ thờ ơ mân mê tách trà:

- Lão còn nói gì nữa không?!

- Sư phụ bảo... tuy cô là người thông minh nhất trong số những người thầy từng dạy bảo, nhưng tính hơi tùy hứng, ngông cuồng, nhiều lúc làm thầy phải đau đầu.

Trước khi Cụ bái sư, thầy bắt Cụ phải hứa rằng dù thế nào cũng không được giống cô...

Không phải lão đã nói tôi giống lão nhất sao?

Thì ra lão cũng biết bản thân phiền toái và gàn dở thế nào.

Chẳng trách, sống gần nửa đời người lại nhận một tên đệ tử khuôn vàng thước ngọc đến đáng sợ như Trần Cụ, chắc muốn để lại cho hậu thế một truyền nhân nghiêm túc chỉn chu.

- Ngươi gặp lão bao giờ? – Tôi đẩy tách trà về phía hắn.

- Gần hai năm trước, sư phụ trên đường đến Hồng Lộ nhậm chức có đi ngang qua huyện Tiên Hoa, lúc đó Cụ đang bị quan binh vây đánh, thầy đã cứu Cụ mang về.

Tiên Hoa chính là nơi tôi đã ngồi tù cùng Quang Khải.

Có vẻ như lão không có duyên với huyện này, người thân nào của lão cũng gặp nạn ở nơi đó cả.

- Ngươi làm gì mà bị người ta vây đánh?

- Cụ đi kiện tri huyện Tiên Hoa. – Hắn nhấp ngụm trà rồi nói tiếp. – Cô Nhã Phong cũng biết nước ta có lệ mười lăm năm mới xét duyệt quan lại, mười năm mới xét thăng cấp một lần, chức quan nào khuyết thì lấy quan khác tạm giữ, đợi đúng hạn xét duyệt mới bổ nhiệm lại. – Tôi gật gật đầu, hắn nói tiếp. – Tri huyện Tiên Hoa lúc ấy chỉ là tên sư gia của quan tri huyện quá cố, hắn chỉ tạm thay chức một năm nên ra sức vơ vét, sưu cao thuế nặng, còn bắt cả người già đi làm ruộng.

Cụ đi ngang thấy chuyện bất bình liền đến cửa quan đòi kiện. – Ánh mắt Trần Cụ khi nhắc đến những việc này vẫn còn vẻ tức giận.

Chắc nhờ chuyện này mà bây giờ tri huyện đã là một vị quan biết điều hiểu chuyện, yêu thương dân chúng, Trần Cụ xem như đã làm được một việc tốt.

- Ngươi là người ở đâu?! – Tôi nói sang chuyện khác.

- Cụ quê ở Cứu Liên.

Nhưng Cụ đã thề không đặt chân lên đất Cứu Liên lần nào nữa.

- Sao lại như vậy? – Tôi tò mò.

- Họ nói mẹ Cụ không chồng mà chửa, nói Cụ là đứa không cha. – Giọng hắn chùng xuống.

- Vậy... nếu sau này ngươi làm quan, được bổ nhiệm về đất ấy thì ngươi định thế nào, có dám chống lệnh vua không?! – Tôi cố pha trò.

- Thì Cụ ngồi kiệu, đi võng hoặc kêu gia nhân cõng, suốt ngày sẽ ngồi ở trên ghế, trên giường.

Cụ vẫn giữ lời thề không bao giờ đặt bàn chân của Cụ lên đất ấy. – Hắn nói cực kỳ nghiêm túc, tôi suýt sặc trà, phải giả vờ ho khùng khục.

Cụ đã chỉnh xong dây đàn, bắt đầu gảy.

Tôi nghe hắn tấu Ngư tiều vấn đáp mà tha thiết nhớ cây sáo ngọc của mình, không biết giờ lão già đang thổi khúc gì.

Tiếng đàn của hắn khiến tôi không thể ngồi yên, bèn lấy hai tách trà còn lại trên khay, chập vào nhau gõ nhịp.

Khúc nhạc này vang lên giữa chốn non xanh nước biếc thật không gì hợp hơn.

Đàn đã lặng tiếng từ lâu mà tai tôi vẫn như nghe rõ những lời đối thoại ung dung khẳng khái của hai người, mắt nhìn mông lung vào bóng núi đen thẳm phía xa xa.

Một lúc sau, hắn cất tiếng hỏi, vẻ như có gì ấm ức:

- Cô Nhã Phong biết dùng tách uống trà chơi nhạc, sư phụ chưa dạy Cụ món này sao thầy lại bảo Cụ đã học hết mọi thứ rồi, nên ra ngoài tự mình trải nghiệm vài năm?!

Lão vắng nhà chưa được hai năm, trong đó có nửa năm tôi đã ở Hồng Lộ, sao lại có thể dạy hết mọi thứ cho Trần Cụ được?!

Tôi nghĩ một lúc rồi hỏi lại hắn:

- Trước lúc đó ngươi có nghe lão đánh đàn không?

- Có!

Sư phụ dạy Cụ khúc Phượng cầu hoàng, thường ngày thầy vẫn đàn rất hay nhưng không hiểu sao hôm ấy lại đánh lạc đi một nhịp, Cụ liền nhắc nhở...

Tôi cố hết mức mới không phá lên cười.

Lão vẫn hay biến tấu những nhạc khúc cổ tùy theo tâm trạng của mình, thường ngày không thích nhất là ai bình phẩm chuyện này.

Nhưng trớ trêu là, tiên sinh, không phải người nhận dạy cho Trần Cụ vì muốn có một đệ tử không tùy hứng, làm việc gì cũng thật chuẩn xác hay sao?!

Thảo nào suốt thời gian tôi ở phủ Tiết độ sứ chưa bao giờ nhìn thấy hắn, cũng chưa bao giờ nghe lão nhắc tên.

- Cô Nhã Phong, cô hiểu sư phụ nhất, cô nói xem có phải Cụ lỡ lời làm thầy giận nên thầy muốn đuổi Cụ đi không?!

Thì ra hắn không ngốc như tôi nghĩ, chẳng qua chỉ là nghiêm túc và thật thà quá mà thôi.

Tôi thấy hắn buồn rầu rất tội, liền tìm lời an ủi:

- Ngươi đừng lo, chuyện cũng qua lâu rồi, lão không phải là người để bụng mấy chuyện vặt vãnh ấy đâu.

- Cô nói thật chứ? – Hắn nhìn tôi, đôi mắt sáng rực, chân thành.

- Đương nhiên! – Tôi cũng mỉm cười, không thể thật lòng hơn.

***

Sáng hôm sau, chúng tôi lên đường lúc mặt trời vừa ló dạng.

Nếu không vì chuyện quân Mông Cổ có lẽ tôi đã ở lại vài ngày để ngắm hết vẻ đẹp của hồ Cấm Sơn qua từng thời điểm trong ngày.

Một lúc nào đó tôi nhất định sẽ đưa lão đến đây, cùng uống rượu ăn cá tầm, cùng đánh đàn thổi sáo.

- Đây là thanh kiếm Cụ được bác thợ rèn ở làng bên đặc biệt đúc cho.

Cụ vốn muốn mang về tặng sư phụ, nhưng nghĩ lại, tặng cho cô Nhã Phong làm vật phòng thân trên đường chắc làm đẹp lòng thầy hơn cả.

Thanh kiếm vừa khéo rất thuận tay tôi và được chế tác vô cùng trang nhã, trên vỏ kiếm còn có một chữ "Tuệ", chắc do Trần Cụ nhờ khắc lên tặng lão.

- Cảm ơn ngươi.

Sau khi bọn ta đi khỏi, ngươi cũng nên tìm dịp đến Hồng Lộ gặp tiên sinh hoặc ít nhất biên một phong thư để lão biết tung tích của ngươi.

Tài hoa của tiên sinh còn vô kể, ngươi nên cố gắng học thêm.

Đừng lo, ngươi đã về đến cửa sẽ không bị lão đuổi đi đâu!

Tuy trong lòng không thật vui vì tôi vẫn muốn mình là người duy nhất được lão truyền dạy mọi thứ, nhưng lúc này tôi rất mong thêm người có năng lực lại đủ thân tín ở bên cạnh lão.

Tình hình quân Mông Cổ tôi không tiện nói ra, chỉ có thể tìm cách thuyết phục Trần Cụ về cạnh lão sớm ngày nào hay ngày ấy.

- Cụ biết rồi!

Cụ sẽ đến xin thầy tha lỗi, cô Nhã phong cứ yên tâm.

Chị tôi cũng đến chào hắn và cảm ơn mấy tiếng, anh Thân thì cười suốt vì được bình rượu ngon.

Tất cả chúng tôi lên xe ngựa hướng về phía đường mòn.

Xa xa, ánh bình minh đang rực rỡ xuyên qua những tàn cây...

Chữ trong bài Cư trần lạc đạo của Trúc Lâm Đại Sĩ, tức Phật Hoàng Trần Nhân Tông.

Đây được xem là sáng tác tiếng Nôm đầu tiên của Việt Nam.

"Núi hoang rừng quạnh, ấy là nơi dật sĩ tiêu dao; chiền vắng am thanh, chỉn thực cảnh đạo nhân du hý."

Giờ Thân: từ 3 giờ đến 5 giờ chiều.

Giờ Dậu: từ 5 giờ đến 7 giờ tối.

Am: Với người Việt, Am là nơi thờ Phật (Hương Hải am tức Chùa Thầy, Thọ Am tức Chùa Đậu – Hà Nội...) cũng có khi là ngôi miếu nhỏ thờ thần linh của xóm làng - Vào thế kỷ XV (thời Lê sơ) là nơi ở tĩnh mịch để đọc sách làm thơ của văn nhân. (Theo website Ban Tôn giáo Chính phủ:


Ngũ tuần: Năm mươi tuổi.

Hiện là huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư: "Cứ 15 năm 1 lần xét duyệt, 10 năm thăng tước 1 cấp, 15 năm thăng chức 1 bậc.

Chức quan nào khuyết thì chức chánh kiêm chức phó.

Chánh phó đều khuyết thì lấy quan khác tạm giữ, đợi đủ hạn xét duyệt thì bổ chức ấy".
 
Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 11: KHÁC MÁU TANH LÒNG


Sau khi tạm biệt Trần Cụ, chúng tôi mất thêm gần một ngày loanh quanh trong núi.

Tôi vừa ốm dậy đã đi xa, thêm vùng rừng núi ẩm thấp, khí hậu thất thường nên người cứ không tỉnh táo.

- Mợ cả, cô Phong, hôm nay chúng ta nghỉ sớm nhé, vừa đến thị trấn dưới núi tôi sẽ tìm chỗ trọ! – Người phu xe lo lắng cho sức khỏe của tôi.

- Em vẫn ổn mà anh Thân! – Tôi gắng cất giọng líu lo. – Trời vẫn còn sớm, em nhớ mấy món chay ở Dưỡng Chân Trang lắm rồi!

Có tiếng cười khe khẽ vọng lại, xe đi nhanh hơn một chút.

Tôi vén mành tre nhìn ra phía trước, ánh nắng chiếu nghiêng nghiêng làm tôi phải nheo mắt, qua con dốc này thôi là đã đến đồng bằng.

Về nhà sớm hơn một ngày, chúng tôi sẽ có thêm một ngày để thu xếp.

Tôi vẫn chưa biết nên dùng lý do gì để kêu gọi dân chúng ở Yên Bang tập trung quân đội và lương thực.

Cuộc chiến với Mông Cổ chưa chắc đã nổ ra, tôi không thể làm lòng dân xáo động trước khi tin tức từ tiền tuyến đưa về.

Có cách nào danh chính ngôn thuận, không làm mọi người lo sợ mà vẫn có được sự chuẩn bị tốt nhất không?

Nếu tiên sinh là tôi, lão sẽ làm gì?!

Đang mải suy nghĩ, tôi không để ý xe ngựa đã đi chệch khỏi đường mòn.

Chị tôi dường như cũng nhận ra sự lạ, khẽ hỏi:

- Anh Thân, sao vậy?!

- Cô hãy vào trong xe, tôi nghĩ chúng ta gặp cướp rồi! – Anh thấp giọng trả lời.

Quỷ tha ma bắt!

Đúng là hồng nhan họa thủy, chỉ tại nhan sắc tôi hơn người nên mới xảy ra cớ sự này!

Tôi với lấy thanh kiếm mà Trần Cụ đã tặng, ngồi nép sau mành cửa.

Chị tôi cũng đã sẵn sàng để đánh trả bất cứ lúc nào.

Đường dốc lởm chởm khiến xe ngựa không di chuyển được nhanh nhưng cũng từ từ rời xa phía đường mòn mà bọn chúng đang mai phục.

Tôi liếc ra phía ngoài mành, những bóng đen trên ngọn cây dần khuất khỏi tầm nhìn.

- Qua khỏi phiến đá phía trước chúng ta nhảy xuống, đừng để chúng biết ta đã bỏ xe. – Vẫn giọng nói trầm trầm bình tĩnh của người phu xe thân tín, cũng là cận vệ trung thành mà lão già đã nhường cho tôi.

- Được. – Tôi và chị đáp, lúc này bỗng nhiên tôi không thấy buồn khi chị Hạnh bị hụt món cá tầm thơm ngon nữa.

Trước mặt chúng tôi là một phiến đá lớn được mưa rừng gọt đẽo thành một hình thù kỳ dị, tạo với vách núi một hốc tối khá rộng, vừa đủ để ba chúng tôi ẩn nấp đợi bọn cướp bỏ đi.

Chỉ còn vài bước, khi chúng tôi chuẩn bị nhảy khỏi xe thì con ngựa bỗng giẫm phải vật gì đó dưới đất, lồng lên, hất cả người và xe ngã nhào.

Tôi lăn mấy vòng trên mặt đất, tay cố nắm chặt thanh kiếm không buông, tới khi vừa định thần đã thấy mấy bóng đen ập đến.

- Anh Thân, coi chừng rương châu báu...! – Tôi giả vờ hét lên để hướng sự chú ý của chúng đến chiếc xe đang vướng lại giữa hai thân cây lớn.

Không có tên cướp nào lao về phía ấy, xem ra chúng thật sự đến đây vì nhan sắc của tôi rồi.

Chết tiệt, bọn bây không biết ông đây là một trang hảo hán đầu đội trời chân đạp đất sao?!

Bọn chúng có tổng cộng mười người.

Từ nãy đến giờ anh Thân và chị đã giết được bốn, hiện mỗi người đang quần thảo vói một tên, có đến bốn tên đánh về phía tôi khiến tôi né tránh đến mệt đừ người.

Tôi đánh nhau với bọn cướp hồi lâu mà kiếm vẫn chưa rút ra khỏi vỏ.

Cũng may, vì không muốn phạm sát giới nên tôi học món tránh né này rất thành thạo, chỉ nhân lúc bọn chúng không để ý dùng thân kiếm đánh vào mạn sườn, vào gáy, vậy mà bọn này cứ như mình đồng da sắt, gục rồi lại đứng lên đánh tiếp, nếu như không giết chúng, e rằng...

- Phong, rút kiếm ra! – Chị tôi hét lớn.

- Cô Phong, giết bọn chúng để tự vệ, Phật sẽ không trách cô đâu! – Anh Thân dường như cũng đã thấm mệt, giọng nói không còn bình tĩnh.

Tôi biết anh rất muốn đến giúp tôi nhưng tên đang đấu với anh không phải hạng tầm thường.

Giết bọn chúng, tôi không sợ Phật trách phạt, chỉ là...

Bốn tên cướp vẫn không ngừng vung đao chém tới, hóa ra bọn chúng không cần nhan sắc, thứ bọn chúng muốn lấy là mạng của tôi.

Tôi cứ lùi mãi, lưng tựa vào vách núi, xoay người liên tục, những nhát đao liên tục chém xuống sát bên, cả người tôi đều xây xát, rát buốt tận xương.

- Chết! – Một tên cướp hét to, nhảy lên cao đồng thời giáng mạnh đao từ trên xuống, trông hắn cứ như đao phủ đang thi hành án tử...

Nguy rồi!

Tôi tuốt kiếm ra muộn quá!

Có tiếng mũi tên xé gió, vụt qua tàn cây, cắm phập vào hai tên cướp trong đó có tên đang định chém tôi.

Tiếng vó ngựa từ sau vọng đến.

- Cô Nhã Phong, mau lên ngựa!

Eo tôi bị người ta từ sau kéo mạnh, nhấc bổng lên.

Khi tôi đã ngồi vững, tôi thấy hai tên cướp còn lại xông về phía chị, vai áo chị dường như thấm đỏ.

Tôi giục ngựa chạy về phía ấy, sau lưng tôi Trần Cụ lại giương nỏ, hai mũi tên cắm phập vào ngực bọn cướp.

Anh Thân cũng vừa xử lý xong tên đầu đàn.

Đúng lúc ấy, tên duy nhất còn lại vung đao muốn giết chị, nhưng ngựa của Trần Cụ và kiếm của tôi đã nhanh hơn, máu tên cướp tung tóe khắp nơi.

Tạ ơn Trời Phật, sóng gió đã qua rồi.

- Phong, em có sao không, có bị thương ở đâu không?! – Chị đưa tay lên vai trái bịt chặt vết thương đang rỉ máu, miệng vẫn không ngừng lo lắng cho tôi.

Hơi thở đều đặn đã trở về.

Tôi khẽ lắc đầu, xuống ngựa, bước đến cỗ xe đang ngã chỏng chơ, tìm một lúc mới thấy chiếc khăn tay trong túi hành lý để lau sạch vết máu trên thanh kiếm mà không để ý bộ y phục trắng của mình đã loang lổ, lấm lem.

Tôi cứ lau mãi, thân kiếm sáng bóng vẫn như còn ánh đỏ nhờ nhờ.

Ngày trước, có lần tôi hỏi lão già tại sao vẫn dẫn quân dẹp loạn, lão bảo tu hành không có nghĩa là không phạm sát giới, mà phải vung gươm đúng nơi, đúng lúc để bảo vệ những người mình cần bảo vệ.

Lúc từ giã lão, tôi cũng đã để lại cây sáo ngọc của mình, quyết tâm từ nay vì mọi người mà chiến đấu bằng mũi tên ngọn giáo.

Tôi không sợ Phật Tổ trách phạt tôi, chỉ là, tôi không ngờ được lần đầu tay tôi nhuốm máu tươi lại không phải máu của giặc Mông, mà là máu của người có cùng tiếng nói với mình...

***

Trong lúc tôi xử lý vết thương cho chị và anh Thân, Trần Cụ giúp chúng tôi dựng lại cỗ xe gãy đổ và buộc vào con ngựa của hắn.

Con ngựa theo chúng tôi từ Hồng Lộ giẫm trúng bẫy thú, chân đã bị thương nặng không đi tiếp được, tôi băng bó rồi giao nó lại cho tên sư đệ tính tình quái gở kia.

- Ta quên mất ngươi là người chu đáo thế nào, sao lại tin ngươi dễ dàng để mặc bọn ta tự mình xuống núi chứ.

Lần này cũng may là có ngươi đến kịp. – Tôi cười cười cảm ơn hắn.

- Cụ tin cô Nhã Phong có bản lĩnh, vùng này cũng chưa từng xảy ra cướp bóc nhưng Cụ vẫn muốn đảm bảo mọi người được an toàn. – Hắn vừa nói vừa giúp tôi lau sạch bùn đất đang bám trên đôi chân rướm máu, vẻ rất chăm chú như đang nâng niu một món đồ gốm đắt tiền ở Bát Tràng.

Cũng may tôi đã mang theo hộp thuốc của lão già để dự phòng bất trắc.

Tôi suy nghĩ hồi lâu, cuối cùng quyết định nói với Trần Cụ chuyện quân Mông Cổ, bảo hắn ngay lập tức đến Hồng Lộ gặp lão già, không được bám theo chúng tôi nữa.

- Cụ đưa mọi người an toàn về Dưỡng Chân Trang rồi sẽ đi tìm sư phụ, cô Nhã Phong đừng lo lắng quá, thầy rất tài giỏi, sẽ không xảy ra chuyện gì đâu! – Hắn vẫn không chịu nghe lời.

- Ta là sư tỷ của ngươi, cũng là em vợ của Hưng Ninh vương Trần Tung, đây là lệnh. – Tôi nói gằn từng tiếng một.

- Phong! – Chị tôi ngỡ ngàng, cả anh Thân lẫn Trần Cụ đều sửng sốt.

- Bọn ta ở hậu phương có thể gặp bao nhiêu nguy hiểm chứ.

Hồng Lộ là biên giới phía nam của Thăng Long, không biết áp lực lớn đến nhường nào, nếu tiên sinh xảy ra chuyện gì bất trắc...

- Tôi vội gạt đi suy nghĩ ấy. – Ta đã được chứng kiến tài bắn nỏ bách phát bách trúng của ngươi.

Nếu Cụ thực sự ngưỡng mộ, kính trọng ta thì mau chóng đến cạnh người. – Tôi nhìn hắn bằng ánh mắt không thể chân thành hơn được.

- Cụ đã hiểu.

Đưa mọi người đến thị trấn rồi Cụ sẽ đi ngay.

***

Hôm ấy, chúng tôi nghỉ ở một quán trọ nhỏ.

Bữa tối có thịt rừng nướng và cơm lam nhưng tôi ăn chẳng thấy ngon, có lẽ vì cơn sốt nhẹ và những vết thương lúc đánh nhau làm người cứ lâng lâng, ngầy ngật.

- Em lo lắng cho vương gia như vậy mà vẫn kiên quyết về Dưỡng Chân Trang, quả nhiên là không tin tưởng chị. – Chị tôi nói khẽ lúc anh Thân đã rời bàn ăn, trong quán chỉ còn lác đác vài vị khách.

- Chị cả, chẳng lẽ chị cũng bị sốt sao?! – Tôi đẩy cốc trà gừng còn bốc khói ra trước, rướn người đưa tay sờ trán chị.

- Phu xe Nguyễn Văn Thân theo chúng ta không chỉ để làm vệ sĩ mà còn để đảm bảo chị không làm bậy, đúng không? – Chị vẫn giữ giọng nói không cảm xúc, nghiêng đầu tránh tay tôi.

Không sai.

Tôi kiên quyết cùng chị về Yên Bang bởi không dám tin chị sẽ vì họ Trần mà tận lực chuẩn bị cho kháng chiến.

Dù cho chị thật tâm vì đất nước mà chống giặc, có gì đảm bảo chị sẽ không nhân lúc loạn lạc tiếp cận hoàng tộc để thanh toán việc riêng?!

Trong mắt tôi, chị vẫn luôn xa cách đến mức tôi không hiểu được, khiến tôi một phần kính ba phần sợ.

Tôi biết lão già để chị quán xuyến việc nhà nhưng vẫn luôn âm thầm cử người theo dõi chứ không hoàn toàn dựa vào thư chị gửi hàng tháng.

Không ít lần tôi tự hỏi, nguyên nhân lão cưới chị làm chính thất có phải vì muốn công khai giữ chị ở Yên Bang để tiện bề giám sát hay không.

Thân phận chị là gì mà lão phải nhọc công đến thế?!

- Tiên sinh từng dạy em, đã dùng người sẽ không nghi, đã nghi sẽ không dùng.

Việc chị không ưa gì những người ở Thăng Long, em và tiên sinh đều biết rõ. – Tôi trở nên nghiêm túc, lựa lời thật cẩn thận. – Nhưng, những năm qua ai cũng thấy chị chăm lo cho người dân ở thái ấp thế nào.

Một vị chủ nhân như thế sẽ không vì chuyện riêng mà làm ảnh hưởng đại cuộc, khiến nhân dân khốn khổ.

So với việc cứ nghi ngờ hỏi đi hỏi lại, thể hiện lòng tin tuyệt đối và kỳ vọng cao đôi khi có tác dụng khuyến khích người khác làm việc tốt cho mình hiệu quả không ngờ.

Đây là điều tôi đã học được sau nhiều lần thấy lão già cảm hóa thành công những kẻ ban đầu không tuân phục.

- Nguyên nhân em kiên quyết phải trở về, là vì...

- Tôi liếc nhanh những vị khách đang ngồi trong quán, càng thấp giọng hơn. – Em còn phải thuyết phục Vũ Thành vương kề vai sát cánh với chúng ta.

Ngoài Hưng Đạo vương là anh em khác mẹ, Quang Khải và hoàng thái tử Trần Hoảng cùng vài hoàng tử công chúa đang sống ở Thăng Long là em khác cha, lão già nhà tôi còn hai người em ruột – một là Tĩnh Quốc vương Trần Quốc Khang, đứa con từ lúc còn trong bụng mẹ đã phải gọi chú là cha, người còn lại là Vũ Thành vương Trần Doãn.

Do nhiều khác biệt về tính tình và quan điểm, Vũ Thành vương không thân thiết với người anh em nào ở Vạn Kiếp hay Tức Mặc.

Từ lúc hoàng hậu Thuận Thiên qua đời quyền lực của ông ta càng suy yếu, mùa thu năm ngoái không biết nghĩ thế nào đã chạy sang đất Tống, cuối cùng bị một vị Thổ quan ở Tư Minh bắt lại giao cho triều đình.

Nhờ phước ông ta, bao nhiêu công sức Hưng Đạo vương và lão già nhà tôi xây dựng lòng tin với Tức Mặc bỗng dưng đổ sông đổ bể, người ta lại lời ra tiếng vào rằng chi Vạn Kiếp vẫn ghi nhớ thù xưa.

- Hóa ra là vậy...

- Gương mặt chị tôi giãn ra đôi chút.

- Cũng tại em cứ muốn lập công mới khoe với mọi người, không ngờ khiến chị suy nghĩ nhiều như vậy. – Tôi nở nụ cười cợt nhả. – Sao anh Thân đi cho ngựa ăn lâu vậy nhỉ, không biết lúc chiều anh ấy bị thương có nặng không, để em xuống xem giúp anh ấy. – Tôi khoác thêm áo choàng rồi đứng dậy.

- Đừng ở ngoài lâu, gió lạnh. – Chị dặn với theo.

Chuồng ngựa ở sân sau quán trọ, cách dãy nhà chính một khoảng sân.

Tôi kéo áo choàng trùm kín tóc để tránh gió, che miệng ho vài tiếng, thấy mắt hoa lên cả.

Đúng là thần y cũng không tự chữa được bệnh cho mình, chỉ một cơn cảm xoàng cũng khiến tôi khổ sở thế này.

Vết thương ở lòng bàn chân báo hại tôi lò dò mãi mới đến được gần chuồng ngựa, tôi lên tiếng gọi:

- Anh Thân, anh có ở đây không?!

Không có tiếng trả lời, tôi bèn đến chỗ con ngựa hôm nay đã cứu mạng tôi, thêm ít cỏ cho nó rồi thu dọn định quay vào.

Chẳng ngờ vừa đứng lên, tôi bị choáng, thấy trước mắt bỗng dưng tối sầm lại, ngã nhào xuống đất.

Trong cơn mê mê tỉnh tỉnh, tôi nghe văng vẳng giọng một người nam, không phải cái giọng nói trầm trầm đáng ghét của lão già, cũng không phải cái giọng ngang phè phè của Trần Cụ:

- Cô gì ơi, cô gì ơi, cô bị làm sao vậy?!

Tôi bị hắn lay gọi mãi một lúc, sau đó bế bổng lên, đưa đi đâu chẳng rõ.

Tôi cố cựa mình, nhấc đôi mi đang nặng như đeo chì, đập vào mắt tôi là gương mặt lo lắng của chị và anh Thân, còn có...

Một bàn tay ấn chén thuốc đắng ngắt vào miệng ép tôi uống hết, hình như tôi đã hất cả vào người hắn.

Đồ vô lễ, to gan!

Lão già dỗ ta uống thuốc bao giờ cũng rất dịu dàng...

- Phong, ngoan nào! – Chị đỡ tôi vào lòng, kiên nhẫn dỗ dành. – Uống thuốc cho mau khỏi, chị đưa em quay lại gặp tiên sinh nhé.

- Không được...

- Tôi hoảng hốt, cố giữ chút tỉnh táo sau cùng nắm chặt tay áo chị, nhắc đi nhắc lại nơi mình muốn đến. – Em phải về Yên Bang, em còn nhiều việc phải làm...!
 
Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 12: LỄ BẠC TÂM THÀNH


"Trộm nghĩ rằng:

Cây cao bóng mát

Quả tốt hương bay

Công tài bồi xưa những ai gây

Của quí hóa nay con cháu hưởng

Ơn Trời Đất Phật Tiên, Chư vị Tôn thần

Sau nhờ ơn Tổ tiên gây dựng, kể công tân khổ biết là bao

Đến nay con cháu dồi dào, hưởng miếng trân cam

Nay nhân mùa gặt hái

Gánh nếp tẻ đầu mùa

Nghĩ đến ơn xưa

Cày bừa vun xới,

Sửa nồi cơm mới

Kính cẩn dâng lên

Thường tiên nếm trước

Mong nhờ Tổ phước

Hòa cốc phong đăng

Thóc lúa thêm tăng

Hoa màu tươi mới

Làm ăn tiến tới

Con cháu được nhờ

Lễ tuy đơn sơ

Tỏ lòng thành kính"

Vừa dứt lời, cậu nhóc cung kính lạy trước bàn thờ lớn đặt giữa sân, lại lầm rầm khấn nguyện điều chi rồi bước lùi ra khỏi chiếu.

Ngay lập tức dáng vẻ ngây thơ của một đứa trẻ mới lên chín lại quay về:

- Phong, lễ Cơm Mới năm nay em đã thuộc làu bài khấn rồi, chị thấy giỏi không? – Thằng bé toe toét cười khoe hàm răng sún. – Em dùng tiền công chăn trâu để mua mâm hoa quả này cầu phúc cho thầy u ở nhà đấy!

- Ngoan lắm!

Đợi mấy hôm nữa chị xong việc lại dạy em viết chữ. – Tôi vui vẻ xoa mái tóc xơ xác của nó đến rối bù lên.

- Thật không? – Đôi mắt thằng nhỏ liền sáng rỡ. – Nửa năm nay Phong không có ở nhà, bọn em buồn lắm, buồn đến không học nổi luôn...

- Mấy chữ cuối ngân thật dài, thật ngọt, nó định dụi vào lòng tôi làm nũng.

- Lại kiếm cớ lười học chứ gì! – Tôi nhanh nhẹn né người sang một bên, đưa tay cốc đầu nó một cái rõ đau.

- Oan quá! – Nó gào như khóc. – Cô Thiên Hương nghiêm lắm, ngày nào cũng dạo một vòng xem bọn em có đến học đủ không, sao em dám trốn!

Chị tôi quả nhiên không làm bọn tôi thất vọng.

Lũ trẻ nhà nghèo này được lão già đích thân xin phép cha mẹ chúng cho đến Dưỡng Chân Trang học mỗi ngày, trước do lão dạy, sau đó đến tôi dạy, khi tôi rời khỏi thì chị đã nhờ người đến dạy.

Tuy danh phận chị là chính thất của Hưng Ninh vương, nhưng phần vì những người hầu trong nhà biết ý, phần khác mọi người ở Dưỡng Chân Trang vẫn quen gọi lão là thầy Tuệ Trung, nên cuối cùng chỉ có anh Thân – phu xe của lão – gọi chị một tiếng "mợ cả" vì thường xuyên tiếp xúc với người ngoài.

Thiên Hương... cái tên này thật hay biết bao nhiêu!

Chị có thừa nhan sắc, luôn lễ độ dịu dàng, khi cần vung kiếm lại là một cao thủ, đúng là chỉ có lão già nhà tôi...

Tôi là nữ mà nhìn chị đi đi lại lại đón tiếp mọi người đến cúng dường, sắp xếp bày trí mọi việc đâu ra đấy, luôn tay luôn chân mà cử chỉ vẫn khoan thai còn không rời mắt được.

À, mà tôi cũng không chắc mình là nữ nữa!

Mấy ngày trước, tôi đã được đưa về Yên Bang, cơn sốt và vết thương trên người cũng gần bình phục hẳn.

Việc tôi lo nghĩ lấy cớ gì bảo mọi người chuẩn bị quân đội và lương thực bỗng trở nên thừa thãi vì từ Hồng Lộ gửi tin về, quan gia đã ra lệnh các tướng hội quân, do Hưng Đạo vương làm tiết chế.

Vừa hay đến rằm tháng mười, chúng tôi chẳng cần mất nhiều công sức truyền tin vì bá tánh từ khắp nơi đã tập trung đến cúng dường.

- Em ra chơi với mọi người đi, đợi cúng xong sẽ có rất nhiều thức ăn ngon đấy, tha hồ no nhé! – Tôi lại xoa đầu thằng nhóc thêm chập nữa rồi đi về phía Phật đường.

Dưỡng Chân Trang có thể coi là một thiền viện, chỉ là không có trụ trì, không có thứ bậc, sư sãi và dân chúng các vùng lân cận đều có thể đến bất cứ lúc nào, được tiếp đãi trọng hậu món chay món mặn và được đọc sách, đọc kinh bao lâu tùy thích.

Trang viện có ba Phật đường lớn và hai dãy nhà dài cho khách thập phương trú lại, khu chúng tôi ở nằm hơi khuất, cách sân chính một hành lang nhỏ ngang hồ.

Người phục vụ trong trang và những người chép kinh Phật được lão thuê về tuy rất tha thiết được làm công quả nhưng lão nhất quyết không đồng ý, ai không nhận tiền hàng tháng thì không được làm việc nữa.

Lão bảo rằng họ muốn tích công đức thì cứ tận tâm làm tốt công việc của mình, rảnh rỗi thì giúp đỡ mọi người, còn muốn phục vụ lâu dài và nhiệt huyết thì vẫn phải đảm bảo cơm ăn áo mặc cho gia đình trước đã.

Dù rằng chỉ mình tôi bất kể chép kinh Phật đến mỏi cả tay cũng chẳng nhận được thêm tí tiền tiêu vặt nào, tôi vẫn rất tán thành cách nghĩ này.

Phật đường chính nằm ở vị trí cao nhất, trước sân có lư hương lớn bằng đồng luôn nghi ngút khói nhang.

Mộc lan chỉ được trồng trong khu ở của chúng tôi, còn sân lớn trồng toàn cây đại, lúc nào cũng mát rượi và thơm ngát.

Tôi bước lên thềm nhìn vào trong, mọi người đang đọc sáu thời sám hối, tôi cứ thế đứng bên ngoài cửa điện lắng tai nghe.

"Đây là nghiệp sát

Bạo ngược lộng hành

Không phát lòng từ

Bốn loài một thể

Vì không biết rõ

Giết hại mặc tình

Hoặc là giết lầm

Hoặc là cố ý

Hoặc tự mình giết

Hoặc bảo người làm..."

Từng lời sám hối cứ vang vang làm tâm trí tôi trôi dạt đâu đâu chẳng rõ.

Cho đến khi mọi người đã tụng xong, lục tục kéo nhau ra sân trước, tôi mới giật mình ngẩng đầu lên, một vị hòa thượng đang nhìn tôi với nụ cười rất hiền từ.

- Sư ông! – Tôi chắp tay vái chào.

Vị này là thiền sư Tiêu Dao, sư phụ của lão già, cũng là người đầu tiên hướng dẫn cho tôi về Phật pháp lúc tôi được gửi đến Phúc Đường.

- Huệ Tâm, con khỏe hẳn chưa? – Nghe sư ông hỏi tôi bỗng dưng muốn khóc, nhớ lại những ngày mình còn thơ bé, nhà cháy, mẹ mất, lúc ấy còn chưa thân với lão già, chính sư ông đã chăm sóc tôi từng chút một.

Pháp danh này cũng chính người đặt cho tôi, nhưng bấy lâu nay ai cũng bảo tôi chỉ giỏi chép kinh chứ chẳng tu hành gì được nên không ai gọi nó, dần dần tôi cũng quên đi.

- Con ổn rồi ạ.

Không ngờ sư ông lại đến đây giúp bọn con...

- Cơn xúc động qua, nỗi áy náy lại trỗi dậy trong lòng.

Quả thật tôi đã từng nghĩ đến việc lợi dụng uy tín của Dưỡng Chân Trang mà chiêu binh mãi mã nếu đến bước đường cùng.

- Các con vì đất nước mà dốc sức, ta chỉ đến xem có thể giúp được gì không.

Sao lúc nãy con không vào trong điện? – Thì ra dáng vẻ tần ngần của tôi không qua mắt được sư ông.

- Con...

- Tôi không biết nên đáp thế nào, hồi lâu mới thấp giọng thưa. – Con đã giết người.

Dù hắn là cướp, nhưng hắn cũng là người dân Đại Việt. – Tôi nhìn xuống bàn tay mình đang mở ra rồi nắm chặt. – Con cứ nghĩ đôi tay này chỉ nhuốm máu giặc Thát thôi.

Con không còn là con bé Huệ Tâm ở Phúc Đường của sư ông ngày đó nữa rồi...

- Tôi bỗng dưng thấy giận bản thân mình, chỉ giết một tên cướp đã khiến tôi lòng dạ rối bời như thế, làm sao đòi chống giặc?!

Sư ông vẫn nhìn tôi, không nói gì chỉ giữ mãi nụ cười hiền hậu.

- Một lúc nào đó con sẽ hiểu, khi con từng bế một đứa trẻ trên tay, sau này dù nó bao nhiêu niên kỷ, tính tình có thay đổi thế nào, trong mắt con nó vẫn sẽ là một sinh linh bé bỏng ngây thơ.

Huống hồ...

- Sư ông vỗ nhẹ lên đầu tôi. – Huệ Tâm của sư ông dằn vặt như thế này nghĩa là Phật vẫn ở tại lòng con.

Có cơn gió nhẹ thoảng qua, tảng đá trong lòng tôi bỗng hóa thành chiếc lông ngỗng bay đi đâu mất.

Nếu có mặt ở đây hẳn là lão già cũng sẽ nói y như thế, không cầu kỳ, không cao siêu, cũng không cần tôi giác ngộ.

Tôi mỉm cười, cúi mặt, nước mắt chảy thành dòng.

- Đúng rồi, sư ông có nhớ tri huyện Tiên Hoa không?

Năm ngoái sư ông đến giảng pháp, ngài ấy nhớ và nhắc mãi.

Tiên sinh nhà con còn nhận thêm một đệ tử ở Tiên Hoa đấy, tên hắn là Trần Cụ.

Cũng may hắn không ở Dưỡng Chân Trang, nếu không con sợ rằng cả nhang cũng phải cắm ngay hàng thẳng lối, mấy đứa trẻ chép kinh mà sổ đậm một nét chắc không được ăn cơm...

- Tôi liến thoắng không ngừng.

"Tên đó mà xuất gia, hắn nhất định lấy pháp danh là Thích Đối Xứng", những lời vô lễ này đương nhiên tôi chỉ giữ trong lòng.

***

- Cậu Nam, rương thuốc này tôi mang vào kho nhé?

- Anh để phía bên kia, ta phải phân ra từng loại đã.

Tôi đứng sau tàng liễu, quan sát Nguyễn Nam ghi chép số thuốc và lương thực do mọi người quyên góp.

Kẻ đã phát hiện ra tôi ngất xỉu ở quán trọ gần Cấm Sơn hóa ra là một tên thầy thuốc.

Chị tôi đã lôi kéo hắn về Yên Bang phụ giúp việc thu gom thảo dược.

Nhìn dáng vẻ chăm chú và ân cần của tên thanh niên mới ngoài hai mươi tuổi, tôi không thể không tán thưởng mắt nhìn người của chị.

- Bác gì ơi! – Nguyễn Nam vừa đi đến cuối hàng người vừa tươi cười hỏi. – Bác đến tặng thuốc phải không, sao từ nãy giờ cứ đứng mãi không vào?!

- Dạ, tôi...

- Người đàn ông tay lấm chân bùn giật mình khi bị gọi đến, rụt rè đưa bó thuốc được gói bằng tấm vải sờn. – Tôi chỉ có một ít này thôi, mong ngài nhận giúp.

- Thất diệp nhất chi hoa! – Nguyễn Nam nhìn thứ củ sần sùi gói trong bọc vải. – Đây là cây thuốc hiếm mọc sâu trong núi, sao bác biết mà hái được?

Nét mặt người đàn ông liền trở nên rạng rỡ:

- Năm ngoái bà nhà tôi bị rắn độc cắn tưởng đâu toi mạng, may nhờ thầy Tuệ Trung tìm thứ này về trị mới qua khỏi.

Tôi vừa nghèo vừa ít học, biết đất nước có giặc cũng không giúp được gì...

Nguyễn Nam chăm chú lắng nghe, một tay hắn nắm chặt cây thuốc quý, tay kia đặt lên bờ vai gân guốc của người đàn ông thô lậu.

- Từng này thuốc là bao nhiêu người khỏi chết...

Bác đi hái thuốc chỗ núi non hiểm trở, có bị thương ở đâu không? – Giọng nói hắn đầy sự chân thành.

Mãi đến khi mọi người đã ra về cả, tôi mới bước đến khen hắn một câu:

- Ngươi làm thầy thuốc hay buôn hàng mứt mà miệng ngọt như đường vậy?

Hắn cười nhẹ, vứt cho tôi quả quýt.

- Nếu tôi không biết cách dỗ bệnh nhân, bây giờ em đâu có sức đứng đây mà châm chọc.

Ai châm chọc ai chứ?

Tôi mặc kệ những lời hắn nói, ung dung lột vỏ quýt, vừa ăn vừa đi lòng vòng quan sát số lương thảo nhận được hôm nay.

- Hôm nay em cứ đi đi lại lại, cẩn thận kẻo vết thương ở lòng bàn chân vừa kéo da non lại nứt ra, vừa ngứa vừa rát, tối không ngủ được lại càu nhàu chỉ khổ tôi thôi. – Hắn chăm chú nhìn mấy loại cây cỏ trong chiếc rương to được một nhà rất giàu ở làng bên mang đến biếu.

- Tại y thuật của ngươi thấp kém, nếu có tiên sinh ở đây thì ta đã khỏi lâu rồi. – Tôi kéo tay hắn nhét đống vỏ quýt mới lột vào rồi đi thẳng.

- Nhã Phong! – Hắn gọi giật ngược làm chân tôi sững lại. – Thuốc tôi để ở phòng em, ăn cơm xong nhớ uống.

Tôi biết bây giờ tôi không thể so được với Hưng Ninh vương, nhưng sẽ có ngày...

Những lời cuối cùng của hắn như tiếng thầm thì, tôi bỏ xuống bếp tìm đồ ăn nên không nghe rõ nữa.

***

Đến giữa chiều thì mọi người ai ở gần đã về nhà nấy, ai ở xa cũng được sắp xếp chỗ nghỉ ngơi, trang viện trở lại tĩnh lặng như ngày thường.

Tôi không có việc gì phải làm nên ra hành lang bắc ngang hồ ngồi hóng gió, vừa nghĩ ngợi vừa cắn hạt dưa.

Giờ đã là chớm đông, chẳng có búp sen nào nở.

Lũ cá lâu ngày không gặp tôi nên có vẻ lạ lẫm, ngơ ngác trốn dưới đám lá không dám trồi lên.

Cũng phải, nửa năm qua tôi đã khác đi nhiều, tóc dài ra, gương mặt cũng thêm mấy phần anh khí.

Chợt nhớ đến sử sách thường miêu tả vẻ đẹp trầm ngư lạc nhạn của các mỹ nhân, tôi dáo dác nhìn lên trời xem thử có con chim nào vừa rớt xuống hay không.

"Tiên sinh, em chưa nhận được lì xì."

Thời gian trôi qua nhanh thật, cũng hồ sen này, mới đó mà đã mười năm.

Tết Đoan Ngọ năm nay, lão đền bù cho tôi một phong bao rất to rất nặng, tôi lại dành tiền ấy đến Trung Thu đi mua đèn lồng treo đầy trong phủ, báo hại có lần một vị quan đến tìm lão vừa đến cửa đã bước ra vì ngỡ đi nhầm.

Phủ Tiết độ sứ không có nhiều sen, mộc lan cũng không to đẹp như ở Dưỡng Chân Trang, càng không có ai biết ướp trà hoa vừa ý lão, thời gian qua chắc lão phải đích thân làm.

Tên Trần Cụ đó chắc chắn chỉ mới học nghề làm cá vì họ Trần vốn là ngư dân, hắn không thể nào học được tuyệt kỹ ướp trà mà tôi phải làm đi làm lại bao nhiêu năm mới thành thạo được.

Sắp đến nếu Hồng Lộ trở thành tiền tuyến, lão có ướp đủ trà sen để uống chưa?!

Thật ra trong lòng tôi vẫn ít nhiều ấm ức việc lão nhận Trần Cụ làm đồ đệ.

Tôi nghĩ thế nào cũng không tưởng tượng ra cảnh lão già trái tính của tôi và tên Thích Đối Xứng đó khi ở cùng một chỗ sẽ ra sao.

Có khi buổi học cuối cùng là như thế này:

- Sư phụ, con nhớ hôm trước thầy dạy mới vào trận phải xuất con tốt bên phải trước, sao hôm nay thầy lại đánh con bên trái?

- Trần Cụ, con uống thử đi, trà ta mới pha không có độc đâu!

À, nghĩ như thế thì tội cho lão quá, một vị thiền sư đức cao vọng trọng như lão nhất định phải từ bi, dù rành độc dược đến mấy cũng không dùng, biết đâu tình cảnh lại thế này:

- Sư phụ vẫn khỏe chứ ạ?

Thường ngày gà chỉ gáy một tiếng thầy đã thức, hôm nay nó đã đập cánh ba lần chuẩn bị gáy tiếng thứ hai.

Ngay chiều hôm ấy:

- Cụ, đừng luyện thư pháp nữa, vào ăn cháo gà với thầy nào!

Xem ra trong số nam giới họ Trần mà tôi quen, Quang Khải là kẻ bình thường nhất.

Nhắc đến Quang Khải mới nhớ, không biết giờ hắn thế nào rồi...

Rằm tháng mười hàng năm, còn gọi là tết Hạ Nguyên.

"Tháng 9, xuống chiếu, lệnh tả hữu tướng quân đem quân thủy bộ ra ngăn giữ biên giới, theo sự tiết chế của Quốc Tuấn." (Đại Việt Sử ký Toàn thư, Bản Kỷ, Nhà Trần).

Lục thì sám hối khoa nghi: vua Trần Thái Tông đã soạn sáu nghi sám hối riêng biệt cho sáu thời trong một ngày đêm (khuya, sáng, trưa, chiều, đầu hôm, nửa đêm); mỗi thời, sám hối tội lỗi của một trong sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý), có nghi thức đầy đủ từ lúc dâng hương cho đến khi hồi hướng (Cư sĩ Hạnh Cơ Nguyễn Hữu Lợi, 2000).

Cây 7 lá 1 hoa, thuộc họ hành tỏi, có công dụng trị rắn cắn, sốt cao, co giật, các loại mụn độc sưng thủng.

Chim sa cá lặn.
 
Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 13: TUYẾT BAN MAI LÂU DÀI CHI ĐÓ


Dưỡng Chân Trang ngày thường nếu không có lũ trẻ là một nơi tương đối buồn chán, tôi tự tìm niềm vui cho mình mãi cũng thành quen, những trò nghịch phá mọi người càng lúc càng phong phú.

Ví dụ như bây giờ, mùa đông, không gì vui hơn trò câu cá.

- Anh Nam, bên phải của anh, dưới đám lá ấy!

- Lá nào? – Nguyễn Nam nhìn sang phải.

- Lá sen.

Thân hình cao lớn bỗng như hóa đá, hắn hỏi lại tương đối dịu dàng:

- Nhã Phong, theo như tôi biết thì trong hồ sen không thể có lá tre được!

- Cái lá sen hình tròn ấy!

Hắn khẽ thở dài rồi lội nước đi về góc hồ bên phải, lật mấy phiến lá to đùng lên cũng không tìm được mảnh vỏ hạt dưa nào.

- Tôi không thấy! – Hắn kêu to.

- Giời ạ!

Cái lá sen hình tròn màu xanh lục kia kìa!

Tôi biết "con cá" dưới hồ đang phát hỏa trong lòng còn ngoài da thì lạnh cóng.

Ai bảo hắn đột ngột đến sau lưng trong lúc tôi đang mải làm thơ, báo hại tôi giật mình hất cả đống vỏ hạt dưa xuống hồ.

Tôi giả vờ mếu máo sợ làm chết cá lão già sẽ phạt, toan xắn quần lội xuống vớt thì tên thầy thuốc kia đã nhanh chóng lao xuống trước, bảo chân tôi mới lành không thể ngâm nước được.

Đã nửa canh giờ trôi qua, tôi nhìn hắn lội bì bõm vớt cho kỳ sạch mà phải cố nén để khỏi bật cười, khổ không sao tả xiết.

- Thấy rồi! – Nguyễn Nam lật một phiến lá lớn, bên dưới là cả cụm vỏ bị mắc lại, hắn toan đưa tay vớt.

Tõm!

Viên đá trên tay tôi rơi đúng vào giữa, đám hạt dưa lại tản ra bốn phía.

- Xin lỗi, tôi trượt tay! – Tôi đứng trên thành hồ bên này nói vọng sang.

Nếu tôi là con cá dưới hồ kia, có lẽ tôi sẽ phóng lên bờ nhai luôn người đang câu cá.

Ngồi mãi ngoài trời cũng thấy lạnh, tôi chưa biết tìm cớ nào để vào trong thì gia nhân đến báo:

- Cô Phong, có ông phủ Kiệm ở làng Keo mang lễ vật sang, cô ra nhận giúp!

Quả nhiên ở hiền sẽ gặp lành, tôi hăm hở đi ngay.

Trước đây tôi có hỏi lão già, do sinh ở làng Keo nên thân mẫu ông bá phủ đặt tên là Kiệm hay do nhờ có ông Kiệm mà làng ấy mới đổi tên Keo, lão chỉ cười không đáp.

Người bên làng ấy mỗi lần sang đây lễ Phật đều sẵn tiện than vãn một hồi, nào là ông ta trả công cho nhân đinh thì ít ỏi, bán lại ruộng cho người khác thì tận mười quan một diện, gấp đôi giá của triều đình, quanh năm không bao giờ thấy làm phước hay giúp đỡ một ai, cả bữa cơm chính mình ăn cũng cực kỳ kham khổ, người thân bị ốm cũng ngại chi tiền cho thầy thuốc, chỉ lấy việc mở rương đếm châu báu mỗi ngày làm lạc thú.

Một kẻ như thế, hôm nay lại mang đến đây bốn đôi bò, hai xe gạo và một rương vàng làm ai nấy đổ mồ hôi lạnh.

Tôi không giấu được tò mò bèn lẻn vào căn phòng nhỏ phía sau bàn thờ Phật nghe xem ông ta đang khấn vái những gì.

- Nam mô a di đà Phật!

Xưa nay Kiệm con không cho ai được một đồng, nay lại chi rất nhiều của cải cho quân đội, lòng xót dạ đau.

Mong Phật chứng cho tấm lòng con mà phù hộ con bình yên qua khỏi nạn này, xóm làng xung quanh có cháy rụi thì cái thân con vẫn ấm êm, bạc vàng không sứt mẻ, kho thóc nguyên lành, sau chiến tranh sẽ tăng được giá, một vốn bốn lời.

Tí nữa tôi đã bật cười sằng sặc.

Nhớ lại trước đây, tôi cũng không ít lần nghe đượcnhững lời cầu khẩn đầy toan tính hơn thua, nào là so bì lễ vật, nào tranh phầnbuôn may bán đắt.

Hóa ra cũng có khi lúc quỳ dưới chân Phật là lúc lòng người sân si hơn cả.

Đợi ông ta khấn vái xong, tôi đĩnh đạc ra tiễn khách:

- Ông bá thật có lòng, con thay mặt thầy Tuệ Trung cảm ơn ông ạ!

- Không có gì!

Không có gì!

Chỉ là chút lòng thành...

Nhưng mà, đúng là Phật ở Dưỡng Chân Trang linh lắm phải không? – Ông ta có vẻ vẫn chưa yên tâm.

- Con nghe mọi người đến đây khấn vái đều được như ý cả.

Có điều...

- Làm sao?

Có vấn đề gì? – Ông ta sốt ruột.

- Có điều mọi người đến đây đều là Phật tử quen mặt, ông bá mới đến có một lần, con sợ hôm nay đông người quá, Phật không nhớ nổi...

Ông ta ngẩn ra một lát rồi tặc lưỡi:

- Vậy, vài hôm nữa ta lại đến cho chắc nhỉ?

Tôi cười giả lả:

- Vâng, tốt nhất là ông đến thêm ba bốn lần nữa cho vững dạ!

Bóng ông bá đã khuất xa tầm mắt, tôi nghe tiếng vỗ tay lộp bộp sau lưng:

- Em buôn thần bán thánh như thế không sợ Hưng Ninh vương trách phạt sao? – Nguyễn Nam đã thay quần áo chỉnh tề tự lúc nào.

- Anh thì biết cái gì, nếu lão ở đây chắc chắn sẽ làm như thế! – Tôi nhếch mép cười, đưa tay dắt một đôi bò rồi ra hiệu cho mọi người mang số lễ vật vào trong. – Đi với Phật mới mặc cà sa, còn đi với cái lão bần tiện này, quấn lá chuối cũng xa xỉ quá rồi.

Nguyễn Nam cũng đưa tay dắt một đôi bò, sải bước đến cạnh tôi:

- Đã khinh ông ta như thế, em còn nhận lễ vật làm gì?

- Có phải anh ngâm nước lâu quá nên phát sốt rồi không, ông ta giàu trên xương máu người dân, đây lại là lúc cần tiền, cần lương thực, tôi chưa lừa ông ta mang cả gia tài đến đã là từ bi đức độ đủ xây chín bậc phù đồ!

Không biết tên thầy thuốc kia nghĩ gì mà bật cười khùng khục, lát sau lấy đâu ra một búp sen nho nhỏ phớt hồng đưa cho tôi:

- Tặng em này.

Tôi chưa kịp phản ứng đã bị hắn ụp cái lá sen màu vàng nhạt lên đầu:

- Tôi tìm mãi mới được một cái lá sen không tròn lắm, không phải màu lục đấy.

***

Thần Phật sống ở Dưỡng Chân Trang quả nhiên linh hiển, tôi vừa nghịch ngu ban chiều thì quả báo đến liền tức khắc.

Ngâm nước nửa ngày trời, Nguyễn Nam lăn ra ốm, chị cả bắt tôi chăm sóc hắn.

Cái tên này rõ ràng là bày trò, chỉ hắt hơi vài tiếng, người âm ấm mà hắn đã nằm bẹp dí, than thở miệng đắng cổ rát, vòi ăn cháo do tôi nấu.

Khốn nỗi, lão già có ăn cháo bao giờ, tôi không biết nấu nên đánh vật trong bếp đến khi trời tối.

- Ngươi còn sống không?

Dậy ăn cháo này! – Tôi lay tên thầy thuốc đang say ngủ.

- Em không dịu dàng với người ốm được sao?

Ban chiều còn gọi tôi là "anh" nghe ngọt lắm cơ mà? – Hắn làu bàu.

- Muốn dụ ngươi xuống nước nên mới gọi thế.

Đồ háo sắc, thấy gái đẹp là tít mắt! – Tôi dúi bát cháo vào tay hắn.

- Thì cũng tại người ta xinh nên giờ tôi mới khổ sở như vầy! – Hắn nhìn chăm chăm vào bát cháo hành, đưa muôi lên miệng thổi. – Chà, ngon quá!

Tôi cứ tưởng em không biết nấu ăn...?!

Tôi nằm dài ra bàn, che miệng ngáp:

- Trên đời này chỉ có việc Trần Nhã Phong ta không muốn làm, không có việc ta không làm được.

Nguyễn Nam không đáp lại, chỉ cặm cụi ăn, ăn được vài miếng lại xuýt xoa:

- Ngon thật đấy! – Rồi bỗng như nhớ ra điều gì, hắn bỗng ngậm ngùi. – Hồi u tôi còn sống, ngày nào tôi cũng được ăn ngon thế này...

Tôi giương đôi mắt đang long lanh nước vì buồn ngủ nhìn hắn hồi lâu rồi nói rất ngọt ngào:

- Để u ngồi đợi mày ăn lâu là bất hiếu lắm đấy con giai ạ!

Kẻ đang ốm kia dường như mắc nghẹn.

Tôi mang bát thuốc đến đưa cho hắn rồi mang khay và bát cháo ra ngoài, mặc kệ hắn có uống thuốc ngoan ngoãn hay không.

Tôi rửa xong cái bát mà Nguyễn Nam đã dùng thì liền thổi lửa đun nóng lại phần cháo còn trên bếp, múc một bát to để lên khay rồi mang ra sân, nhìn qua lại không thấy ai mới vào điện Phật chính, bước đến bàn thờ đặt giữa điện, giở tấm nhiễu che bức tường phía sau tượng Phật ra, đẩy nhẹ bức vách rồi nhanh chóng chui vào phía trong mật thất.

Cầm lấy cây đuốc đặt ở góc tường, tôi đi xuống một đoạn cầu thang hẹp, đến một phòng giam nơi có người đã ở rất lâu.

Người đó ngồi xoay mặt vào trong, tóc xõa dài, bộ áo vương gia xưa kia đã bạc màu, biết có người đến cũng không quay lại.

- Nghe Hưng Ninh vương nói lúc nhỏ ngài rất thích ăn cháo trứng, tôi mang đến một ít, ngài ăn cho nóng.

Bờ vai người kia khẽ động, hắn cười lạnh:

- Nếu anh trai ta nghĩ đến tình thân đã không giam ta ở nơi này, càng không theo hầu tên vua đó!

Tôi đến khổ với tên Trần Doãn cứng đầu này, lần nào tôi đến hắn cũng chỉ nói được mấy câu.

- Có tù nhân nào sung sướng như ngài không?

Cơm bưng nước rót, kẻ hầu người hạ.

Chỉ sợ sắp tới giặc Thát tràn sang, chẳng ai còn tâm trí mà nhớ đến cái phòng giam này, ngài có chết rục cũng không ai biết! – Tôi hăm dọa. – Ngài muốn sống thì mau hối cãi, hợp tác với anh và em trai ngài chống giặc kìa.

Vũ Thành vương nghe đến đây thì hơi xoay mặt lại để lộ sống mũi cao thẳng tắp, giọng nói vẫn trầm trầm:

- Giặc Thát tràn qua?

Rất tốt!

Cứ để bọn chúng giẫm đạp lẫn nhau mà chết cả đi!

Quỷ tha ma bắt cái tên vương gia vừa ngu vừa hèn!

Tôi đưa chân toan đạp đổ bát cháo cho kẻ kia đói lả để không còn sức già mồm, song lại nghĩ dẫu gì hắn cũng là đứa em ruột thịt mà lão già từng thương yêu, tôi đành đạp lên song cửa nhà giam rồi hậm hực bỏ đi.

***

Mấy hôm sau, lão già cho phu dịch chạy trạm mang thư khẩn báo về, tôi nhận thư liền đi tìm chị.

Khi tôi mở cửa phòng, chị đang đốt dở thứ gì đó trong chậu đồng, thấy tôi thì cuống cuồng dập lửa rồi giấu mảnh giấy chưa cháy vào dưới gối.

Chị tròn mắt nhìn tôi một lúc, vẻ lúng túng hiện rõ trên gương mặt, tôi tìm chuyện nói tránh đi:

- Có thư của tiên sinh, em mang vào chị em mình cùng đọc.

Chị tôi khẽ thở phào rồi chỉ vào đĩa bánh đặt trên bàn.

Tôi bốc một cái bỏ vào mồm, thong thả giở thư, lão già bảo bọn tôi phải nhanh chóng mang số quân lương góp được chia thành những phần nhỏ đưa đến các trạm gần Thăng Long, gửi nhờ vào các chùa ở đó.

Gửi kèm thư của lão còn có một bức thư của Trần Cụ ghi rõ cách chế tạo và sử dụng nỏ.

Tôi chợt thấy nhẹ nhõm, hắn đã đến bên cạnh lão rồi.

Việc chế tạo và huấn luyện cho quân lính cách sử dụng nỏ nhanh chóng được tiến hành.

Tôi từng nghe lão kể rằng cách đây rất lâu, có ông vua tên Thục Phán đã được rùa thần ban móng để làm nỏ Liên Châu mà tiêu diệt giặc.

Lâu dần, cung tên trở nên phổ biến hơn, tôi đoán là do dễ sử dụng hơn, nên tôi không còn thấy mấy người dùng nỏ nữa cho đến khi gặp Trần Cụ.

Trong thư hắn bảo ở gần Yên Bang có một người hắn từng nhận làm thầy, nếu tôi mời được người này về giúp thì có thể hoàn thành một số lượng lớn vũ khí trong thời gian rất ngắn.

Chỉ có điều, người này tính tình quái lạ, ít ai trò chuyện được quá ba câu.

Tôi nghe thế càng tò mò hơn, không cần biết có giúp được gì cho quân đội hay không cũng muốn gặp thử một lần.

Sáng hôm sau, tôi hăm hở nhắm hướng núi Thiên Thai mà đi, mất hai ngày cũng đến được ngôi chùa trên đỉnh núi.

Chùa rộng trăm gian, nghe nói trước đây là hành cung của họ Lý, sau này khi họ Trần trị vì thì bị bỏ phế chẳng ai lui tới nữa.

Xung quanh chùa có một vườn cây, vào mùa xuân sẽ hồng rực những chùm hoa đào lớn.

Tôi vào chính điện thắp một nén nhang rồi bước ra sân dạo, đi đến cuối vườn mới thấy một người đang loay hoay đẽo đá.

Ông ta tuổi quá lục tuần, tóc đã bạc trắng, lưng còng, lại mất một chân, gương mặt khắc khổ có phần đáng sợ.

Ông ta biết có người đến cũng không nhìn lấy một lần, cứ chăm chú vào công việc.

Tôi ngồi xổm xuống cạnh bên nhìn ông ta khắc.

Cái đầu rồng dần hiện ra sau mỗi nhát dao, bàn tay điêu luyện khác hẳn lúc lão già chật vật mãi mới đẽo được cây sáo ngọc cho tôi.

Cho đến khi ông ta đưa thành phẩm lên ngắm nghía, tôi mới giơ tay chỉ vào một điểm trên bức tượng:

- Đẹp quá, nhưng cái vảy này hơi nhỏ hơn những cái khác rồi ông ạ!

Cuối cùng ông ta cũng chịu nhìn tôi một cái, đoạn lại nhìn chỗ vảy rồng tôi vừa chỉ, đưa dao sửa lại.

Tôi ngồi thêm một lúc thì đói bụng, đứng dậy co duỗi chân một hồi rồi nhìn về phía sau chùa, hỏi ông ta:

- Ông để thịt ở chỗ nào, cháu nấu cơm ông cháu mình cùng ăn nhé!

Ông ta sững người một lúc rồi đặt bức tượng xuống, chống gậy đứng lên, tôi chạy đến đỡ, ông ta không đẩy ra mà cùng tôi bước thấp bước cao đi về phía bếp.

Đến khi đã ăn xong bữa cơm có thịt kho, canh rau ngon lành của tôi, ông ta mới lên tiếng hỏi:

- Nhóc con, tên gì?

Tôi đặt bát canh uống dở xuống bàn, lễ phép thưa:

- Câu này ông hỏi cháu nên không được tính là câu thứ ba đâu, cháu tên Phong ạ!

Rõ ràng trong thư tên Thích Đối Xứng đã nói không ai có thể trò chuyện được với ông già này quá ba câu nên tôi mới cố im lặng đến giờ đấy chứ!

Không ngờ ông lão có gương mặt khó đăm đăm ấy bật cười, hất hàm về phía tôi bảo:

- Xuống núi đi, mặt trời sắp lặn.

Tôi hốt hoảng đứng dậy:

- Cháu đã nói câu lúc nãy không tính mà, câu này cũng không tính, cháu mới nói hai câu sao đã bị ông đuổi đi rồi?! – Mắt tôi hoe hoe đỏ vì tức.

- Nhóc con! – Ông lão phì cười. – Khóc to lên.

Để xem một đứa được cả Trần Tung và Trần Cụ tín nhiệm mà cho biết nơi ở của ta có thể mít ướt thế nào.

"Tuyết ban mai lâu dài chi đó,

Thân người đời nào có bao lâu,

Nhộn nhàng trong cuộc bể dâu,

Xuân xanh mới đó bạc đầu rồi đây."

(Sám thảo lư)

Diện: Mẫu, theo cách gọi dưới thời Trần.

Ca dao:

"Dù xây chín bậc phù đồ

Không bằng làm phúc cứu cho một người"
 
Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 14: THIẾU THỜI


Có vẻ như mấy lão già tài năng hơn người đều rất quái gở, thích ra vẻ thần thần bí bí và làm khó người khác.

Tôi nhìn ông lão trước mặt, thu lại mấy giọt lệ vừa định nhỏ, thở dài rồi đứng lên chào:

- Vậy cháu về đây ạ, ông nhớ giữ ấm, trời sắp trở lạnh rồi.

Ông ta không có vẻ gì như muốn cản, chỉ nhướn đôi mày:

- Bỏ cuộc sớm thế?

Tôi lễ phép thưa:

- Trần Cụ bảo cháu ông từng dạy hắn.

Tiên sinh cũng bảo trước đây hai người có giao tình.

Nếu ông đã biết thân phận của cháu mà vẫn đuổi cháu về thì hẳn là ông có lý do riêng.

Chế tạo vũ khí cho quân đội là chuyện sống còn, cháu không thể giao cho một người không nguyện ý làm được ạ.

Cháu xin lỗi vì đã quấy rầy ông!

Tôi cúi chào, quay người bước ra khỏi bếp.

- Lão biết nhóc bao giờ? – Bước chân tôi liền sững lại. – Cháu còn chưa nói cháu là gì của Trần Tung?!

Tôi lập tức xoay lại phía ông lão, cố giấu vẻ vui mừng:

- Thưa, tiên sinh là anh rể, cũng là thầy của cháu.

Gương mặt khắc khổ lại giãn ra với nụ cười sảng khoái:

- Thằng ranh này cũng tìm được truyền nhân rồi đấy!

Tôi há hốc mồm vì lần đầu nghe có người gọi lão già khó tính đức cao vọng trọng kia là "thằng ranh".

Không nén được tò mò, tôi hỏi:

- Ông với tiên sinh nhà cháu thân lắm ạ?

Ông lão hất hàm về phía bên kia chiếc bàn, tôi nhanh nhảu ngồi xuống, chăm chú lắng nghe.

Ngày xửa ngày xưa, có một chàng vương gia trạc tuổi tôi đã một mình đến ngôi chùa trăm gian trên núi Thiên Thai để xem có thể khôi phục việc hương khói ở đây không.

Chàng lên được giữa đường thì ngựa giẫm trúng bẫy khuỵu xuống, liền đó mấy mũi tên vun vút lao ra.

Chàng nhanh nhẹn tránh né, còn đuổi theo tóm được kẻ đang giương nỏ.

Thủ phạm là một người đàn ông trung niên chỉ còn một chân, trong lúc cố bỏ chạy thì vấp ngã lăn xuống đồi, người xây xước cả.

Vị vương gia lấy túi thuốc mang theo giúp ông ta cầm máu, còn đưa ông về ngôi nhà nhỏ trong rừng.

Suốt dọc đường đi, ông ta không ngừng mắng mỏ:

- Bỏ tao ra!

Mày ăn mặc đẹp đẽ như thế chắc chắn là tôn thất họ Trần!

Tao cấm bọn bây lên núi làm bẩn nơi thờ phụng thiêng liêng!

Chàng trai trẻ chẳng nói chẳng rằng, đợi đến khi dìu ông ta về đến nơi rồi, lại rót cho ông ta tách trà, chàng mới từ tốn bảo:

- Tôi tên Tung, thầy tôi là Trần Liễu, u tôi là Lý Ngọc Oanh, kể ra tôi cũng là một nửa người họ Lý, biết đâu còn có họ hàng với ông cũng không chừng!

Người kia sửng sốt.

Chàng trai trẻ thản nhiên bước đến chái bếp, nhìn quanh quất chỉ thấy một chĩnh gạo đã vơi và mấy bó rau rừng.

Chàng lại tự tiện cầm chiếc nỏ ông ta vừa đặt xuống mà bước ra ngoài.

- Ranh con!

Ngươi định làm gì?

- Đi săn hổ về ăn tối! – Chàng nói rồi vụt chạy đi.

Mãi lâu sau, chàng trai quay lại, không có hổ mà chỉ có vài con chim bị trúng tên.

- Đây là nơi chay tịnh tu hành, ngươi đừng đem máu vào đây! – Người đàn ông trung niên hơi gay gắt.

- Chay tịnh mà vẫn cầm nỏ định giết người, xem ra tôi với ông không những cùng họ mà còn tu cùng chùa nữa. – Chàng cười cười, thản nhiên vặt lông mấy con chim vừa săn được.

- Ngươi không được vô lễ! – Ông thực sự tức giận.

- Thế nào là Phật, thế nào là ma? – Chàng trai nhìn ông bằng đôi mắt thấu suốt, nói chậm rãi từng lời. – Một ngày tụng mấy thời kinh để bù lại những thù hận chất chồng có thể đắc đạo không?

Việc ông muốn giết tôi, với người trọng họ Lý là thiên kinh địa nghĩa, với thầy u quyến thuộc của tôi lại là tội ác không thể thứ tha.

Sự việc vốn chỉ như thế, và chỉ xảy ra trong khoảnh khắc chứ đâu kéo dài như niềm vui nỗi buồn của người đời.

Tốt hay xấu, thiện hay ác đều do cách nhìn nhận của mỗi người, mà cách nhìn ấy lại là gì nếu không phải là những yêu ghét đã bám rễ rất sâu trong lòng họ?!

Ông có giết được một trăm kẻ muốn lên núi thì họ Trần vẫn cứ trị vì, dân chúng vẫn cứ an cư lạc nghiệp, chỉ có ông đến lúc nhắm mắt xuôi tay vẫn quẩn quanh mối hận của hai gia tộc.

Giang sơn là của bách tính vạn dân, nào phải của một nhà một họ, nếu họ Trần vô năng, lòng dân tự sẽ có phán quyết, ông chỉ cần ngồi uống trà đợi xem là được.

Người đàn ông thừ người suy nghĩ rất lâu, mãi sau mới nhếch mép cười:

- Kẻ hai họ như ngươi nói gì mà chẳng thuận.

- Có thể.

Hoặc họ Lý không nhận, họ Trần không ưa, cũng là một cách nhìn. – Chàng trai bắt đầu đánh lửa.

Lại im lặng mất một hồi, người trung niên hỏi người trẻ tuổi:

- Ngọc Oanh... mấy năm qua nàng ấy có hạnh phúc không?!

Bàn tay đương trở xâu chim trên lửa hồng bỗng như hóa đá.

- Ông chú của tôi là một người tình nghĩa, tôi đã thôi lo lắng cho bà ấy lâu rồi. – Chàng đáp, mắt vẫn chăm chú vào khoảng không trước mặt.

Đến khi lũ chim đã được nướng chín vàng, chàng mời người nọ một xâu, cố ý đưa qua đưa lại trước mũi ông ta mấy lần, mặc kệ cái bụng đang sôi, ông ta kiên quyết lắc đầu không nhận.

Chàng trai ngắm nghía phần thức ăn ngon lành, tặc lưỡi tiếc rẻ:

- Ông đi đứng không tiện lại ở nơi rừng thiêng nước độc, chỉ ăn chay làm sao đủ sức.

Món ngon mà tôi ăn một mình cũng mất vui... – Như chợt nhớ ra điều gì, chàng đứng phắt dậy. – Tôi quên mất trong hành lý có mấy tai nấm ngon lắm, nướng lên ăn ngọt như thịt gà ấy, để tôi lấy cho ông.

Mắt người trung niên bỗng vụt sáng, chàng trai quay lại bắt gặp ngay tia nhìn ấy, nụ cười nhoẻn nhanh chóng trở thành một tràng cười sảng khoái:

- Tôi đùa đấy, không ăn chay thì mang nấm theo làm gì!

Người đàn ông kia đưa tay với lấy cây nỏ treo trên vách.

- Ấy, ông đừng nóng! – Chàng trai trẻ xua tay. – Tôi chỉ muốn cho ông biết lòng ông không tịnh.

Miệng chỉ nuốt rau rừng nhưng trong lòng thèm thịt cá, cố kiềm chế khổ sở về lâu về dài sẽ sinh oán giận, tuyệt nhiên chỉ mang thêm tội chứ chẳng thành chính quả đâu! – Rồi chàng cất giọng ngâm nga:

"Khiết thảo dữ khiết nhục,

Chủng sinh các sở thực.

Xuân lai bách thảo sinh,

Hà xứ kiến tội phúc?

Trì giới kiêm nhẫn nhục,

Chiêu tội bất chiêu phúc.

Dục tri vô tội phúc,

Phi trì giới nhẫn nhục.

Như nhân thượng thụ thì,

An trung tự cầu nguy.

Như nhân bất thượng thụ,

Phong nguyệt hà sở vi?"

(Có nghĩa là:

"Ăn thịt và ăn cỏ,

Chúng sinh loài nào có thói quen của loài đó.

Như mùa xuân đến, trăm hoa cỏ sinh sôi,

Có chỗ nào nhìn thấy tội hay phúc đâu?

Trì giới và nhẫn nhục,

Chỉ chuốc tội chứ không chuốc phúc.

Muốn biết không tội phúc,

Thì đừng trì giới, nhẫn nhục.

Như khi người trèo lên cây,

Là đang trong bình an lại tự tìm lấy nguy hiểm.

Nếu người ta không trèo cây,

Thì gió lay, trăng dọi, có làm gì được.")

Chừng thấy người nọ đã xuôi xuôi, chàng lại xuống nước:

- Ông ăn một ít đi cho vết thương chóng lành, sáng mai tôi cùng ông lên núi.

Hôm sau, mặt trời vừa ló dạng, hai người đã khởi hành lên chùa.

Chốn này xưa kia là hành cung, vốn có đường đi thuận tiện nhưng sau nhiều năm bị bỏ hoang, hoặc cây cỏ mọc lên, hoặc đá lở lấp đường, có những đoạn chàng phải cõng ông mới qua được.

Người đàn ông nọ rất ngạc nhiên vì chàng trai trông không khác gì một thư sinh lại dẻo dai mạnh khỏe hơn người.

Lúc chàng xắn tay áo làm lộ ra hình xăm chạy dọc từ bả vai trái nổi bật trên làn da trắng trẻo, ông cứ thấy sự đời tréo ngoe kỳ lạ thế nào.

Khi lên đến được ngôi chùa cũ, nhìn dáng vẻ ngẩn ngơ luyến tiếc vàng son của người tuổi đã xế chiều, chàng trai trẻ thở hắt ra một hơi rồi bảo:

- Nơi này hoang vu hiểm trở, chùa cũng cũ nát rồi, không thích hợp làm hành cung cho lắm.

Tôi sẽ báo lại triều đình chọn nơi khác vậy.

Đoạn, chàng quay sang phía người đang ngơ ngác:

- Ông muốn ở lại đây bây giờ hay đợi tôi cho người dọn sạch đường đi rồi mới trở lên?

Gương mặt người đàn ông cơ hồ xúc động.

Lúc chàng trai trẻ từ biệt ông để xuống núi, ông hỏi đùa:

- Dù lý lẽ thế nào, ngươi là kẻ tu hành mà cứ ăn thịt uống rượu thì bao giờ thành Phật được?

Chàng đáp lại một câu mà ông còn nhớ mãi:

- Tôi không cần thành Phật.

Phật cũng chẳng muốn thành tôi.

Sau này, phần vì nhiều việc liên tục xảy ra, phần vì không tiện để người xung quanh chú ý, vị vương gia ấy chưa có lần nào trở lại ngôi chùa trên núi nữa.

Đến giờ thì tôi hiểu tại sao lão già nhà tôi nhất định phải viết chen vào lá thư của Trần Cụ một câu "quen biết".

Một lần gặp mặt này của lão còn đáng giá hơn bao năm tên Thích Đối Xứng kia tầm sư học đạo.

Lão không nói gì thêm hẳn vì muốn tôn trọng ông cụ Lý Đảm, để ông ta tự mình lựa chọn có tiết lộ thân phận hay không.

Thật không ngờ, trước khi gặp tôi, lão già từng là một thanh niên sôi nổi và lém lỉnh hơn cả Hưng Đạo vương lúc trẻ lẫn Quang Khải bây giờ.

Nuôi dạy một đứa trẻ quả thật có thể khiến đàn ông lão hóa rất nhanh.

Ông cụ kể xong, hai bên ngồi nhìn nhau một lúc, tôi lại đứng dậy chào:

- Cảm ơn ông đã kể cháu nghe chuyện lúc xưa của tiên sinh.

Cháu xin phép về ạ.

Sau này cháu sẽ cùng tiên sinh đến thăm ông.

Ông cụ đi cùng tôi ra cửa.

- Trần Tung cho cháu biết việc có quen lão, hẳn cũng muốn lão xuống núi một chuyến.

Nhóc con cứ vậy ra về không sợ bị hắn trách phạt sao?

- Lúc nãy cháu nghĩ ông nhất định có lý do riêng.

Sau khi nghe chuyện rồi, cháu lại càng phải tôn trọng ý nguyện của ông hơn cả.

Tuy rằng nếu được ông giúp thì chẳng gì bằng, nhưng không đẩy người khác vào thế khó xử là đạo lý mà tiên sinh dạy cháu, ngài ấy sẽ không phạt cháu đâu, ông đừng lo ạ.

Ông lão mỉm cười hiền hậu.

- Mười mấy năm qua ở nơi này ta vẫn luôn ngẫm nghĩ những gì hắn nói.

Ta cứ đợi rồi lại đợi, xem thử họ Trần nhà hắn đến khi nào mới bị dân chúng lật đổ, nhưng cuối cùng chỉ gặp được một đứa trẻ ngoan ngoãn biết điều...

- Ông thở dài. – Xem ra hắn không sai.

Tôi mím môi, đợi ông nói tiếp.

- Nếu một kẻ trẻ tuổi như hắn còn thông suốt được, kẻ đầu bạc như ta cũng nên sáng mắt rồi.

Vả lại, ta còn nợ hắn một ân tình...

Tôi mừng vui khôn tả, nói như reo:

- Ông đồng ý giúp bọn cháu hở ông?

Thế thì tốt quá...!

Đoạn, tôi nhớ ra một việc.

– Vậy...

ông có thể đợi mấy hôm nữa được không, cháu còn vài thứ phải giải quyết ở nhà, vừa xong cháu sẽ cho người đón ông ngay ạ.

Ông cụ vẫn giữ nụ cười hiền:

- Trời tối rồi, cháu cứ nghỉ lại đây cho an toàn.

- Ông đừng lo ạ, cháu biết võ mà!

Tiết kiệm được ngày nào thì tốt ngày ấy, cháu phải nhanh lên mới kịp!

Ông tiễn tôi ra cổng, trước khi tôi đi còn nhận xét:

- Nhóc con và tên ranh kia quả thật giống nhau.

- Câu này là khen hay chê ạ? – Tôi tròn mắt hỏi.

***

Phủ An phủ sứ ở Hồng Lộ đã vắng người, Dưỡng Chân Trang vào ngày thường lại càng yên tĩnh.

Mỗi người trong trang viện đều có tập võ nên cũng chẳng cần mấy lính canh.

Có thể nói, ban đêm trộm muốn lấy gì cũng dễ dàng.

Lạ thay, mười mấy năm qua chưa có tên nào bén mảng.

Hoặc chúng nể sợ uy danh của ngài Tuệ Trung, hoặc vốn dĩ ngoài tượng Phật, mấy quyển kinh và ít hương đèn ra, nơi này chẳng có gì đáng lấy.

Thế mà, chắc dạo này trang viện đang tích trữ nhiều của cải nên có vài tên nổi lòng tham.

Bốn năm bóng đen không biết được ai giúp mà lẻn vào từ cửa sau, chạy đến điện Phật chính.

Bọn chúng chui hẳn xuống dưới bệ thờ, lật bức nhiễu lên mà loay hoay mãi không tìm thấy nơi nào có cơ quan để mở cửa mật thất.

Năm tên chia nhau lục lọi khắp điện, hết xoay lư hương lại nhấc bình hoa.

Một lúc lâu, có một kẻ nóng nảy giơ chân đạp vào bức vách sau tấm nhiễu, cửa cứ thế mở ra, không có khóa.

Cả bọn lẻn vào trong, không quên cẩn thận che đậy mọi thứ như lúc đầu.

Chúng mò mẫm trong đoạn hành lang vừa hẹp vừa tối một hồi thì đến được nơi muốn đến.

Một tên hướng phía phòng giam, khe khẽ gọi:

- Vương gia, bọn thuộc hạ đến rồi!

Vũ Thành vương ngồi sau song gỗ kia vẫn không quay đầu lại.

Bọn trộm khốn khổ lại loay hoay tìm cách mở khóa, không dám gây tiếng động lớn nên chẳng thể vung đao chém.

Hẳn bọn chúng cũng có nghề, ổ khóa vừa to vừa nặng cuối cùng bật mở.

- Cậu Nam tinh mắt thật, uổng công tôi mang đuốc đến định soi cho cậu. – Trần Thiên Hương – nữ chủ nhân của trang viện từ đâu bước vào, dịu dàng cười nói.

Bọn chúng bị bất ngờ nhưng vẫn phản ứng rất nhanh, ba tên lập tức xông đến tấn công thiếu phụ, dồn nàng vào một góc để mở đường thoát thân.

Nguyễn Nam lập tức tung cửa phòng giam, chạy đến nắm tay người trong đó kéo đi:

- Vương gia xin thứ lỗi!

Tức thì, người kia vung chân đạp mạnh làm hắn mất đà, khi đứng vững đã thấy một thanh gươm kề ngay cổ.

Hắn kinh hoảng thét:

- Ngươi không phải Vũ Thành vương!!!

Trích bài Trì giới kiêm nhẫn nhục của Tuệ Trung Thượng sĩ (Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập II), NXB Khoa học xã hội, 1988)
 
Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 15: HẬU PHƯƠNG


- Mấy hôm trước chúng ta vừa đi cùng nhau cả một quãng đường xa, không ngờ cậu Nam quên tôi nhanh như vậy. – "Vũ Thành vương" một tay hất lọn tóc lòa xòa trước mặt, tay còn lại vẫn lăm lăm thanh kiếm.

- Nguyễn Văn Thân! – "Con cá" vừa mắc câu hét lớn.

Nhân lúc bọn lâu la mất tập trung vì lo cho tên thủ lĩnh, nữ chủ trên danh nghĩa của Dưỡng Chân Trang đã chiếm thế thượng phong.

Nàng vung kiếm tặng cho mỗi tên một nhát chém trên cánh tay buộc bọn chúng buông vũ khí.

Nguyễn Nam thừa dịp anh phu xe nhìn sang phía mợ cả mà gạt chân rồi bỏ chạy về phía đường hầm.

Hắn không ngờ được nóc đường hầm còn cách trần mật thất một khoảng.

Từ khoảng trống ấy, một bóng dáng pha lẫn nét thướt tha xinh đẹp tuyệt trần của thiếu nữ và sự oai dũng anh tuấn của thiếu niên nhẹ nhàng nhào lộn một vòng đẹp mắt trước khi đáp xuống giương kiếm chặn ngang đường thoát của tên cướp ngục.

- Nhã Phong...! – Hắn thảng thốt kêu lên.

Thừa thãi!

Một nhân vật xuất chúng như thế ở chốn thanh tịnh hẻo lánh này còn có thể là ai?

Tôi đưa tay phủi bớt mạng nhện bám trên bộ áo lam, cố nén đau vì cú nhảy làm động vết thương ở lòng bàn chân, tự nhủ lần sau không thể hiện bằng cách này nữa.

Mấy năm qua không có ai chui vào đường hầm chơi trốn tìm càng không có ai leo lên tận nóc, giờ bụi bám nhện giăng đầy.

Cũng may khí độ của tôi đã lấn áp vẻ nhếch nhác chứ không thì mất hết cả oai phong.

- Bất ngờ?

Ngươi tưởng giờ này ta vẫn còn ngắm trăng trên núi Thiên Thai chứ gì?

Con ngựa của Trần Cụ đổi cho bọn tôi không ngờ lại là ngựa quý, lúc đi mất hai ngày mà khi về phi nước đại chỉ mất một ngày một đêm đã đến nơi.

Không biết thường ngày nó có bị tên đó bắt chạy đủ một vạn tám nghìn bước mới được ăn hai mươi chín nhánh cỏ không?

- Từ đầu đã là cái bẫy...? – Nguyễn Nam nghiến răng.

- Đừng ra vẻ như mình là nạn nhân thế. – Tôi nhếch mép cười, đưa tay xoa xoa cổ. – Ông đây cũng mất không ít máu vì bọn sát thủ trong rừng đấy.

Tiếc cho ngươi là Trần Cụ xuất hiện không đúng lúc báo hại ngươi không diễn được vở anh hùng cứu mỹ nhân, đành phải đổi sang tuồng lương y như từ mẫu.

Hắn thoáng kinh ngạc nhưng ngay lập tức lấy lại vẻ thâm trầm, cơ hồ hiểu ra mọi sự:

- Vậy chuyện ba tháng trước...

- Hắn chỉ tay về phía chị tôi. – Cô ta hậu tạ gã chăn trâu một rương vàng vì kịp mang tử tô đến cũng là giả?

Tôi đảo mắt, gật gật đầu tỏ vẻ tán thưởng.

- Các người bảo trong phủ có tôn thất ăn cá biển nên ngộ độc, sau đó lại cho gia nhân gấp rút chuẩn bị thanh bì...

- Mắt hắn nheo nheo lại. – Đây đều là kế để dụ bọn ta xuất hiện?

Thật ra kế hoạch này ban đầu tôi không biết.

Mấy tháng trước, chị tôi đã khua chiêng gióng trống thưởng cho một anh trai nghèo một khoản tiền rất lớn khiến xóm dưới làng trên đều bàn tán, sau đó lại phơi thanh bì khắp cả trang viện.

Tử tô và thanh bì đều là thành phần trong bài thuốc trị chứng háo suyễn từ lúc mới sinh của Vũ Thành vương.

Những việc này vừa có thể gây sự chú ý đối với những kẻ hầu cận đang ráo riết tìm kiếm tung tích chủ nhân, vừa không gây bất kỳ sự nghi ngờ nào cho những người không biết chuyện.

Đúng là chỉ có lão già nhà tôi mới nghĩ ra phương thức dụ rắn ra khỏi hang quái đản này.

Hẳn là lão vẫn luôn theo dõi hành tung bọn thuộc hạ của em trai lão để đề phòng chúng làm càng.

Nếu không phải vì quân Thát sắp tấn công, hai chi Vạn Kiếp và Tức Mặc nhất định phải đồng tâm hiệp lực, chắc lão cũng không cần tìm cách ép bọn chúng hành động làm gì.

- Thế nào? – Tôi cười cười, hất hàm hỏi hắn. – Giờ thì ông thầy lang đã biết thuốc không chỉ dùng để cứu người hoặc hại người, mà còn có thể bắt người nữa phải không?

- Không ngờ Hưng Ninh vương cũng được xem là một vị cao tăng lại dùng mưu ma chước quỷ. – Nguyễn Nam nhếch mép mỉa mai.

Tôi thở dài đánh thượt:

- Hôm trước ta vừa nói với ngươi, đi với Phật mới cần mặc cà sa, chưa gì ngươi đã quên... – Đoạn, khóe môi vẽ lên một nụ cười hàm tiếu say đắm lòng người. – Hơn nữa, ngươi đừng ra vẻ thất vọng như thế.

Nếu ngươi thực sự đánh giá cao tiên sinh nhà ta, ngươi đã sớm nhận ra đây là cái bẫy rồi.

Vũ Thành vương từ nhỏ có chứng háo suyễn, một người anh có lý nào để em trai mình ở trong cái nơi tối tăm ẩm thấp thế này?

Nói đi cũng phải nói lại, cũng nhờ ngươi cho rằng tiên sinh vô tình vô nghĩa nên mới vội vội vàng vàng chạy đến cứu người, giúp bọn ta giải quyết sớm một mối lo.

- Thật ra lúc đầu bọn ta không đoán được lũ cướp trong rừng là người của ngươi đâu. – Anh Thân lên tiếng. – Nhưng ai bảo bọn chúng cứ tập trung tấn công người võ nghệ yếu nhất cả bọn mà mãi không giết được...

Tôi liền tặng cho anh phu xe thân tín của lão già một cái nhìn sắc như dao.

- Tiếc thay, đó lại là người thông minh nhất nên các người mới xôi hỏng bỏng không. – Anh ta liền chữa cháy.

- Thế nào, ta diễn vai bệnh nhân có hợp không, anh thầy thuốc? – Tôi ghé sát mặt hắn, lại nở nụ cười nghiêng nước nghiêng thành. – Đố ngươi tìm khắp các giáo phường có cô đào hát nào tài sắc vẹn toàn như thế...

Quai hàm Nguyễn Nam cứng lại, nhanh như cắt, hắn ta vung kiếm, tôi vội nhảy lùi về sau, chị tôi và anh Thân lập tức lao đến tấn công.

Tôi đưa tay lên môi, hướng về phía đường hầm huýt sáo một tiếng, nhóm vệ binh mười người đã giáo mác ập vào bao vây bọn chúng.

Chị tôi vẫn lăm lăm thanh kiếm chĩa ngay mạn sườn Nguyễn Nam, đe dọa một cách rất nhẹ nhàng:

- Đầu hàng đi, ngươi không thoát được đâu!

Hắn đảo mắt một vòng tính kế mở đường tháo chạy.

- Bên ngoài đều là quân sĩ.

Mấy hôm nay họ luyện tập chăm chỉ mà chưa có cơ hội chém người bằng xương bằng thịt, ngươi chạy ra đó chắc họ vui mừng lắm.

Nói rồi, tôi vỗ tay hai tiếng, bên ngoài điện vang dậy tiếng "có" và âm thanh gươm rút khỏi bao.

Gương mặt Nguyễn Nam rất khó coi, cuối cùng hắn gằn từng tiếng một:

- Giỏi thì giết ta cho chóng.

Ta không muốn ở đây làm trò đùa cho cô nữa.

Tôi nhìn hắn hồi lâu, rất muốn cho hắn biết lão già nhà tôi vốn từ bi, hắn là người dân Đại Việt, dù dùng cực hình thế nào nếu không phải việc chẳng đặng đừng sẽ không cho hắn chết.

Song cảm thấy dù nói sao hắn cũng chẳng thèm tin, tôi đành hỏi:

- Thuộc hạ dưới trướng Vũ Thành vương tiên sinh đều ít nhiều quen biết.

Ngươi không phải.

Tại sao lại liều mạng cứu ông ta?

Đôi mắt đang nheo nheo của hắn giãn ra một chút.

- Trước vô tình gặp vương lúc vương đang phát cơn háo suyễn, ta chỉ tiện tay cứu người, không ngờ vương mời về phủ thết đãi như thượng khách, còn không tiếc lời khen ngợi tán thưởng với người ngoài.

Nay vương gặp nạn, sao ta có thể làm ngơ được?

- "Gặp nạn". – Tôi cười khẩy. – "Sĩ vị tri kỷ giả tử, nữ vị duyệt kỷ giả dung".

Năm xưa ở nước Tần có một người tên là Trí Bá Dao đem quân đánh Triệu Tương Tử, không ngờ bị họ Triệu liên kết với họ Hàn và họ Ngụy đánh cho đại bại.

Dự Nhượng chỉ là một khách khanh, nhớ ân tình Trí Bá Dao từng trọng đãi mình mà thay tên đổi họ, tự biến mình thành một tên hành khất, bị vợ nhận ra vì tiếng nói lại nuốt than nóng cho giọng đổi khác để tìm cách hành thích Triệu Tương Tử báo thù.

Họ Triệu vốn căm thù Trí Bá Dao đến mức chặt đầu hắn làm bình đựng rượu cũng có thể trọng Dự Nhượng là kẻ trung thành mà năm lần bảy lượt tha mạng sống.

Ngươi không mưu hại bọn ta mà chỉ muốn cứu người, huống hồ người ngươi muốn cứu lại là em trai ruột thịt của tiên sinh, bọn ta có lý do gì để giết?

- Hừ. – Nguyễn Nam cười lạnh. – Các người tốn công sức bày nhiều trò như thế chỉ để chứng tỏ Hưng Ninh vương rất nhân hậu chắc?

- Ồ!

Lần này ngươi đoán đúng rồi! – Tôi reo lên tán thưởng.

Chị tôi và anh phu xe đứng sau lưng hắn cố nén cười, tôi nói tiếp:

- Ta thấy ngươi còn đáng nể hơn ông Dự Nhượng kia, vì chủ ngươi thờ thực chất lại là một kẻ chẳng ra sao, đang yên đang lành tự dưng chạy sang đất Tống, chưa bị giết đã là may!

- Cô đừng vô lễ.

Chắc chắn ngài ấy cho rằng kẻ thù của kẻ thù là bạn! – Hắn cố biện minh.

Tôi bật cười:

- Ở đâu ra cái chân lý kẻ thù của kẻ thù là bạn?

Ta chỉ biết kẻ thù của kẻ thù nhất định sẽ lợi dụng ngươi để đối phó với kẻ thù thôi!

Sau đó, tôi khẽ thở dài:

- Đó là chưa kể, ở đây vốn chẳng có kẻ thù nào.

Vạn Kiếp và Tức Mặc tuy không gắn bó nhưng làm gì có ai bạc đãi ông ta?

Trong lúc tiên sinh nhà bọn ta và Hưng Đạo vương cố gắng gây dựng lòng tin với những người trong hoàng cung thì ông ta một tay phá sạch. – Tôi nhìn Nguyễn Nam bằng đôi mắt buồn buồn. – Ngươi không cảm thấy lần này bị bọn ta bắt được là rất may mắn sao?

Nếu ngươi xông vào nhà giam ở Thăng Long, không những không cứu được người mà còn ăn hại cả chi Vạn Kiếp, anh em nhà tiên sinh mà thất sủng thêm, đời này đừng hòng Vũ Thành vương của ngươi được xá tội.

Đôi mắt của Nguyễn Nam giãn ra chút nữa.

- Cô Phong, chúng ta nên xử lý hắn thế nào đây? – Anh Thân lại cất lời, lần này có vẻ thận trọng hơn.

- Giờ ai nấy đều bận rộn, em cũng chả rỗi hơi mà cử người đi canh giữ hắn. – Đoạn, tôi giơ hai ngón tay lên trước mặt Nguyễn Nam. – Ta cho ngươi hai lựa chọn.

Hoặc ngươi bỏ cuộc và đi thật xa đừng bao giờ để ta thấy mặt, nên nhớ, khi Triệu Tương Tử biết Dự Nhượng không bao giờ bỏ mộng báo thù đã phải nhẫn tâm giết đi để trừ hậu họa.

Cách thứ hai...

- Tôi nhìn hắn chân thành. – Theo bọn ta chống giặc, cố mà lập đại công rồi xin ân xá cho chủ của ngươi hoặc xin vào nhà giam hầu trà cho ông ta.

Đôi mắt Nguyễn Nam mở to, trống rỗng.

- Ngươi ở lại nơi này suy nghĩ, sáng mai cho ta biết.

Hắn nhìn tôi rất lâu rồi thấp giọng hỏi:

- Nhã Phong, rốt cuộc đâu mới là bộ mặt thật của cô?

Tôi cười khục:

- Ta có nhiều bộ mặt thật lắm, ngươi đang hỏi bộ nào?

Mặc kệ hắn có tức giận hay không, tôi nháy mắt với anh Thân và chị, ba người cùng nhau rời khỏi, chỉ để vệ binh ở lại canh giữ mấy tên kia.

Khi đến trước đường hầm, tôi hơi ngoảnh lại, nói khẽ:

- Ngươi luôn miệng hỏi ta ngươi có điểm gì không sánh được với tiên sinh.

Ta cho ngươi biết, nếu ngài ấy tìm thấy một búp sen nở giữa trời đông nhất định sẽ cẩn thận chăm sóc đến khi nó nở thành hoa rồi gọi ta đến xem, không bao giờ cắt ngang ngọn như ngươi.

"Còn đợi đến khi gương sen chín sẽ tách hạt mang đến cho ta ăn nữa", tôi giữ những lời này lại trong lòng rồi bước ra ngoài.

***

- Phong, chị thấy bọn em giả tiếng quân sĩ có giống không? – Thằng bé nhe hàm răng sún cười toe toét.

- Giỏi lắm, mai chị sên mứt cho bọn em ăn nhé! – Tôi xoa đầu, ra hiệu lũ trẻ mau về nhà ngủ.

Nhìn bọn trẻ tung tăng chạy đi, tôi nói một mình:

- Đã bảo giải quyết việc nhà thì có ai giữa đêm kéo quân đội bao vây Phật điện cho cả làng chú ý, ngươi đừng nghĩ mình ngu rồi tưởng ai cũng ngốc như mình chứ!

Bỗng đâu sau lưng vang lên tiếng nói:

- Bọn trẻ chỉ hô một tiếng mà có mứt ăn, tôi đóng giả tù nhân đói khát nửa tháng trời chắc được thưởng to lắm cô Phong nhỉ?

Tôi nén cười xoay lại bảo anh Thân:

- Đáng ra em làm cho anh cả nồi thịt đông to ú ụ cơ. – Tôi vòng tay diễn tả. – Nhưng ban nãy có ai bảo kiếm thuật em thấp kém, em buồn quá quên mất cách nấu thịt đông rồi!

Chị tôi ra sau, cười khúc khích:

- Tôi còn một xấp the đẹp lắm, mai tôi gửi anh Thân mang về tặng chị nhà!

- Không cần đâu, mợ cả, tôi chỉ đùa thôi! – Anh phu xe vội xua tay.

- Cần chứ!

Từ khi về Yên Bang anh đã ghé nhà lúc nào đâu.

Em mà là chị Thân, em mua quả mít về ăn sạch rồi lấy vỏ cho anh quỳ. – Tôi hù dọa.

- Tuân lệnh tiểu thư! – Anh ấy pha trò.

Chúng tôi mỗi người đi một hướng, tôi không về phòng ngủ mà đến thư phòng của lão già.

Nửa năm qua không có tôi ở đây, người trong phủ lại không có ai dám bén mảng vào, báo hại hôm tôi về vừa khỏi ốm đã phải bò ra quét dọn.

Hầu hết kinh Phật đã mang sang Phật điện, mấy quyển sách lão hay đọc cũng được mang đi Hồng Lộ, nơi này chỉ còn mấy bức vẽ của cả tôi và lão, một vài quyển sách cổ và một bát tô đựng nước có đóa mộc lan tôi để vào trước khi lên đường đến núi Thiên Thai.

Tôi lấy cây chổi lông quét bụi trên mặt bàn rồi mang giấy bút ra viết thư cho lão báo tình hình, sáng mai nhờ anh Thân cho người chuyển đi sớm.

Viết xong thì gà cũng vừa gáy sáng, tôi gục cả nửa người trên mặt bàn, ngáp ra nước mắt nhớ lại lần cuối cùng gặp mặt, khi ấy lão ôm tôi trong lòng rất dịu dàng, từ tốn bảo:

- Việc của Doãn ta đã sắp xếp được một nửa rồi, nửa còn lại trông cậy vào em.

Nhớ, quan trọng nhất vẫn là an toàn của bản thân. – Tôi gật gật đầu, lão tiếp. – Sau khi chúng ta thắng trận này, ta sẽ về Dưỡng Chân Trang nghỉ ngơi một thời gian.

Tiên sinh à, người bảo người có chiến trường của riêng mình thì em bảo chiến trường của người là gì em cũng sẽ đi theo.

Người muốn làm hậu phương vững chãi của Thăng Long thì để em lập một hậu phương tuyệt đối yên tâm cho người vậy.

- Trận này em thắng rồi, có phải rất lợi hại không? – Tôi đưa tay đẩy nhẹ đóa hoa héo rũ trong bát nước.

Mãi chẳng có tiếng trả lời, tôi thở dài, vùi mặt vào khủy tay, nói khẽ:

- Thật ra lúc đó em cũng sợ lắm, nhỡ thất bại thì biết tính thế nào...?

Tử tô: tên dùng trong Đông y của lá tía tô.

Thanh bì: vỏ quýt còn xanh phơi khô, dùng làm thuốc.

Háo suyễn: tên trong Đông y của chứng hen suyễn.

"Sĩ vị tri kỷ giả tử, nữ vị duyệt kỷ giả dung": Kẻ sĩ vì người thưởng thức mình mà chết, nữ tử vì người mình thích mà trang điểm (Trích Chiến quốc sách).
 
Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 16: VẠN NIÊN LÀ VẠN NIÊN NÀO


"Tiên sinh,

Việc nhà đã lắng, việc nước tạm yên.

Danh sư quý danh sư nên rời chùa,

Cố nhân trọng cố nhân đành xuống núi.

Cơn gió nhẹ vì ngọn núi cao mà hóa cuồng phong

Chốn Dưỡng Chân thanh dã, sen nở mùa đông, ngày ngày ngóng đợi tin hồng

Xin người bảo trọng."

Tôi đọc đi đọc lại thư mình viết tối qua, không khỏi tự cảm phục bản thân sau một ngày vất vả vẫn có thể viết được những dòng vừa thần thần bí bí vừa chi tiết không sót mục nào lại chứa chan tình cảm.

Mãi lâu sau tôi mới gấp lại đưa cho anh Thân, đây là lá thư đầu tiên tôi gửi trực tiếp cho lão già mà không phải đi kèm thư của chị.

Tôi nhìn theo cho đến khi bóng anh khuất sau dãy hành lang.

Nếu có thể, tôi thật muốn gửi tôi đến Hồng Lộ cho rồi, có cơn gió nhỏ nào không muốn cả đời quẩn quanh trong lòng núi?

Ý nghĩ thơ mộng ấy bắt nguồn từ một buổi chiều nhàn rỗi, tôi ngủ trưa dậy đi tìm lão già, tìm mãi đến tận đầu làng, thấy lão đang điềm nhiên ngồi tựa gốc cây đa cạnh ruộng lúa, lim dim mắt.

Nghe tiếng chân tôi đến gần, lão đưa ngón tay lên môi ra hiệu cho tôi im lặng.

Tôi nhìn dáo dác, xung quanh chẳng có ai, lại nghĩ lão làm gì cũng có lý do nên bèn ngồi xuống cạnh bên, nhìn về hướng lão đang nhìn, nhìn mãi cũng chỉ thấy trời xanh, mây trắng, lúa vàng, và dãy núi ẩn hiện xa xa.

- Sao tiên sinh không nghỉ trong nhà mà chạy ra đây? – Tôi che miệng ngáp.

- Ta đang thiền, không phải ngủ.

Khi ấy tôi còn rất bé, trố mắt lên nhìn lão:

- Sao mà thiền được, người đâu có ngồi kiết già, ở đây cũng không có bồ đoàn...

Chưa nói hết câu, tôi đã bị lão bế bổng lên đặt vào lòng, tay vỗ nhẹ lên đầu bảo ngồi yên.

Tôi thở dài, nhìn ra phía ruộng.

Những cơn gió dìu dịu lay nhẹ bông lúa chín, cả cánh đồng khẽ uốn lượn như một dòng sông gợn sóng lăn tăn chảy về phía núi.

Bất chợt một ý nghĩ nảy ra trong đầu, tôi xoay người lại đối diện lão:

- Tên của tiên sinh trên là chữ núi, dưới là chữ cao, vậy nên người đặt tên em là gió phải không?

Tuy chúng ta không phải lúc nào cũng có thể cảm nhận được trên da nhưng không lúc nào là không có gió.

Dẫu gió có nghịch ngợm hay dữ dội thế nào vẫn bị núi chặn lại, vẫn không thể chạy sang phía bên kia mà không len lỏi vào lòng núi?

Đến giờ nghĩ lại tôi cũng không biết cô bé Nhã Phong chưa đầy mười tuổi ấy làm sao nghĩ được những lời hoa mỹ như vậy.

Mắt lão vẫn nhắm hờ, chỉ có khóe môi khẽ nhếch:

- Ta gặp em vào một ngày hè...

Tôi vội vã gật đầu, chớp chớp mắt đợi chờ, lòng đầy háo hức.

- ... năm đó trời hơi nóng.

***

"Chiến trường" của tôi không bận rộn như tôi từng mong đợi.

Hoặc là, tôi đã quá háo hức với việc trở về sắp xếp mọi việc, háo hức với kế hoạch dụ Nguyễn Nam sa bẫy, háo hức tìm gặp cụ ông Lý Đảm...

để rồi khi tất cả những mục tiêu ấy đã gần như hoàn thành cả, tôi lại thấy một sự trống vắng trong lòng.

Ban đầu tôi còn tưởng mình đói bụng, chạy xuống bếp nấu một bát bún cá thật to.

Ăn no rồi lại tưởng mình chông chênh vì thiếu ngủ, lăn ra đánh một giấc đến chiều.

Lúc tỉnh dậy, cảm giác bồn chồn khó chịu kia vẫn chưa tan biến.

Tôi nghĩ mãi mới chợt hiểu ra, cuộc sống của tôi trước đến giờ đều là cố gắng hoàn thành từng việc từng việc một.

Khi lão già còn ở cạnh, lão thường ra kỳ hạn cho tôi học được một món nào đấy, hết thư pháp lại đến đánh cờ, hết thất huyền cầm lại sang tướng số, chẳng bao giờ rỗi rãi.

Khi lão đi rồi, ngoài những "nhiệm vụ" lão bắt tôi thực hiện trong thư gửi về hàng tháng, tôi còn bận nghiên cứu đường đi và phong tục các nơi cho chuyến phiêu lưu đến Hồng Lộ của mình.

Khoảng thời gian duy nhất thảnh thơi biếng nhác là nửa năm qua bên lão.

Bây giờ, cảm giác không biết nên làm gì tiếp theo thực sự khiến tôi thấy bất an.

Tôi thả bộ lững thững về phía đầu làng.

Cổng làng trầm mặc khuất sau bụi tre già, hai chữ "Vạn Niên" đã không còn rõ nét mà đôi câu đối khắc trên hai thân cột cũng đã rêu phong:

"Mộc xuất thiên chi do hữu bản

Thủy lưu vạn phái tổ tòng nguyên"

(Cây sinh ngàn nhánh do từ gốc

Nước chảy muôn nơi bởi có nguồn)

Tôi nheo nheo mắt nhìn tên làng một lúc, đưa tay định chạm lên chữ "vạn" trên cột thì nghe tiếng kêu lớn:

- Bỏ tay ra!

Quay người lại nhìn, hóa ra ông trưởng làng đang vung gậy dọa bọn trẻ con định hái trộm quýt nhà ông.

Thấy ông nhìn sang phía mình, tôi vội cúi gập người chào.

Ông đi rồi tôi bất giác phì cười, nhớ lại chuyện mười năm trước, lão già dẫn tôi đi dự lễ thành hoàng.

Trong lúc lão đang đánh cờ tướng với một cụ già và mọi người đang chăm chú theo dõi trò đấu vật, tôi chạy đến hỏi già làng:

- Ông ơi, sao làng này lại gọi là Vạn Niên ạ?

Già làng xoa đầu tôi hiền hậu:

- Làng ta có tên đó vì đã được nghìn năm tuổi rồi đấy cháu!

Tôi gãi gãi đầu, đi đến chỗ lão già nhà tôi, đưa tay kéo nhẹ chòm râu của ông cụ ngồi đối diện rồi nhanh chóng trốn vào vòng tay lão.

Tôi ôm chặt cổ lão, nói khẽ:

- Tiên sinh ơi, ông trưởng làng là yêu quái đấy, mau chạy thôi!

Lão vuốt tóc tôi một hồi rồi hỏi:

- Ai bảo em thế?

Tôi ngoái nhìn ông cụ kia lần nữa, lo lắng bảo:

- Già làng bảo em làng này thành lập từ nghìn năm trước.

Lúc nãy làm lễ mọi người lại tạ ơn trưởng làng xưa đã khai hoang vỡ đất.

Vậy chẳng phải ông ấy đã một nghìn tuổi rồi sao, chỉ có yêu quái mới sống lâu đến thế!

Tôi không biết có phải vì mối hận ấy không mà lần nào tôi gặp trưởng làng cũng đều bị ông ấy la mắng, khi thì vì trộm trái cây, khi thì vì hái hoa.

Ông còn đến mách lão già báo hại tôi chép kinh đến rụng cả tay.

Chỉ riêng lúc ông đến tìm lão đánh cờ hoặc hỏi về Phật pháp tôi mới được yên thân.

Tôi trèo lên cây đa năm xưa lão hay ngồi, đưa mắt nhìn cảnh vật.

"Thanh bình" và "nhàm chán" đôi khi chỉ cách nhau một gang tay.

Thời điểm này mỗi năm, mọi người đã bắt đầu chuẩn bị ăn Tết.

Nào làm cỏ, nào quét tước, nào đắp lại đường đê.

Đối với những người nông dân suốt đời chân bám ruộng đồng, Tết có lẽ là dịp rộn ràng nhất, đáng mong đợi nhất, bởi nó làm đổi khác cái nhịp sống thường ngày của họ, khiến cho họ có một cái gì để mong chờ, để nôn nao.

Tôi từng hỏi lão già, từ ba mươi đến mồng một sang năm thì cũng là một ngày, có cái gì đã giữ lại những đau buồn năm cũ?

Lão bảo đó là niềm tin, là hy vọng, là một thứ có vẻ ngây ngô nhưng lại cực kỳ quý giá mà ai lỡ đánh mất rồi, cuộc sống sẽ ảm đạm vô cùng.

Tôi nghĩ chính vì thế mà thời khắc giao thừa mới thiêng liêng.

Năm nay, ước ao được bình yên đón năm mới có lẽ càng thiết tha hơn cả.

Tôi nhìn ra phía xa xa, bên ngoài cánh cổng này có bao nhiêu điều mà những người như ông trưởng làng của tôi cả đời không biết đến, cũng chẳng để tâm.

Lão già từng dặn tôi chỉ được kể chuyện với bọn trẻ con để khích lệ chúng đi đó đi đây mở mang tầm mắt.

Còn với những người già hoặc đã yên bề gia thất, cuộc sống của họ vốn bình yên, hạnh phúc, đủ đầy, những kẻ thích rong ruổi có tư cách gì mà đến bảo cho họ biết họ đã bất hạnh thế nào vì cả đời chỉ quẩn quanh lũy tre, giếng nước?

Cánh cổng làng như có một phép màu, phong giữ những điều thân thương như máu thịt, dù qua bao nhiêu tháng năm cũng không dời đổi.

Như cánh đồng này, như ngọn núi kia, như đàn trâu nhẩn nha trong bóng hoàng hôn, như đôi trai gái tìm nơi vắng vẻ để tình tự mà sợ thầy u nhìn thấy.

Rất tiếc, họ có đề phòng thế nào cũng không ngờ trên cây có một cao thủ thân pháp phi phàm, càng không ngờ một Phật tử đắc đạo như tôi lại có hứng thú với chuyện bọn trẻ yêu đương nhắng nhít.

Tôi ngồi chống cằm, vểnh tai nghe:

- Rồi khi nào cậu định sang nhà em thưa chuyện? – Thiếu nữ rụt rè ướm hỏi chàng thư sinh đang ngồi tựa vai nàng.

- Tôi hứa với nàng đợi ra giêng, nhưng giờ đất nước đang cần, tôi phải sẵn sàng ra trận bất cứ lúc nào, chắc hẹn nàng đợi tôi thêm chốc nữa.

"Hò ơ...

Mình rằng mình quyết lấy ta

Ðể ta hẹn cưới hăm ba tháng này

Hăm ba nay đã đến ngày

Ta hẹn mình rày cho đến tháng giêng

Tháng giêng năm mới chưa nên

Ta hẹn mình liền cho đến tháng hai

Tháng hai có đỗ có khoai

Ta lại vật nài cho đến tháng tư

Tháng tư ngày chẵn tháng dư

Ta lại chần chừ cho đến tháng năm

Tháng năm là tháng trâu đầm

Ta hẹn mình rằng tháng sáu mình lên

Tháng sáu lo chửa kịp tiền

Bước sang tháng bảy lại liền mưa ngâu

Tháng bảy là tháng mưa ngâu

Bước sang tháng tám lại đầu trăng thu

Tháng tám là tháng trăng thu

Bước sang tháng chín mù mù mưa rươi

Tháng chín là tháng mưa rươi

Bước sang tháng mười đã đãi mưa đông

Quanh đi quẩn lại em đã có chồng

Như chim trong lồng, như cá cắn câu..."

Đôi trai gái trợn mắt nhìn lên, tôi thản nhiên nhe răng cười nhìn xuống, chớp chớp mắt đầy vô tội, phẩy phẩy tay:

- Em hát vu vơ chứ không nghe gì cả, hai bác tiếp tục đi, đừng ngại!

Cô gái vừa thẹn, vừa dỗi, nhìn sang chàng trai một lúc rồi giậm chân một cái, bỏ đi.

Chàng thư sinh vội vã đuổi theo sau, í ới gọi tên nàng.

Tôi đợi họ đi khỏi mới dám ôm bụng cười.

Đây không phải lần đầu tiên tôi khiến các anh trai làng chết đứng.

Tết năm ngoái, tôi buồn vì vắng lão nên bày trò xem quẻ ở Dưỡng Chân Trang, chủ yếu muốn nói mấy câu tốt lành để ai nấy đều vui vẻ.

Không ngờ có một chàng công tử con quan nọ đến đút lót cho tôi vài đồng bạc, dặn kỹ lát sau phải nói với cô con gái ông đồ rằng chàng và cô hợp tuổi hợp duyên, nhất định sẽ thành đôi lứa.

Tôi vốn tốt bụng, vội vã nhận lời, nói y những gì chàng trai căn dặn:

- Lúc nãy cậu hai nhà ông huyện có mang bạc đến nhờ tôi bảo chị rằng hai người chính là duyên trời định, nhất định sẽ nên đôi!

Tôi nghe nói sau đó cô gái lấy một anh học trò của thầy mình.

Từ nhỏ đến lớn tôi chẳng biết thế nào là yêu đương, cũng không muốn tìm hiểu làm gì.

Tôi chỉ biết tình thương của lão già dành cho tôi luôn được bộc lộ bằng những hành động rất cụ thể, không để tôi lạnh, sợ tôi đói, không bao giờ cho phép tôi gặp nguy hiểm thích chọc tôi cười.

Từ đó, tôi vô cùng kỳ thị thứ đầu môi chót lưỡi của bọn trai làng, dù là lời nói thật lòng đến đâu chăng nữa.

Tôi cười chán lại nghe bụng đang reo, đang tìm đường trèo xuống để về nhà ăn cơm thì bắt gặp một dáng người quen quen đang đứng nhìn tôi trân trối.

Quỷ tha ma bắt, hôm qua tôi biểu diễn trong mật thất, chân trái đã hơi đau, giờ Nguyễn Nam đứng trước mặt, tôi bèn cắn răng tung người đáp xuống lăn một vòng trên đất rồi phủi tay đứng dậy ngay, nghe nhoi nhói nơi chân phải.

Tôi mặc kệ, hất hàm hỏi hắn:

- Ngươi là rùa hả, rời khỏi nhà ta từ sáng mà giờ mới bò đến đầu làng?

Hắn cười cười đáp:

- Tôi sang làng bên cạnh dạo khắp một vòng, thấy con gái làng này vẫn đẹp nhất.

Tôi nhếch mép mỉa mai, hắn tiếp:

- Không những đẹp, còn độc đáo hơn người nữa.

Tôi "ha ha" vài tiếng rồi quay lưng đi về phía Dưỡng Chân Trang.

Nguyễn Nam lẽo đẽo theo sau, hồi lâu lại lên tiếng gọi:

- Em không định an ủi hoặc động viên tôi tiếng nào sao?

Tôi nhún vai rồi vẫn tiếp tục đi.

Tên lang băm kia lại sải bước đến cạnh:

- Này, dù gì chúng ta giờ cũng ở cùng chiến tuyến, có phải em nên nói vài câu củng cố lòng tin của tôi không, ví dụ như sau này không dụ tôi vào bẫy nữa?

Tôi ngoảnh sang phía hắn:

- Ngươi mất lòng tin với ta thì còn quay lại làm gì?

Hắn suy nghĩ một lúc mới đáp:

- Tôi quay lại, nhưng vẫn là con chim sợ cành cong, bất an nhiều thứ lắm.

Tôi đứng lại, nheo mắt nhìn hắn, nghiêm túc bảo:

- Chỉ có con bò mới sợ cành cong thôi.

Cả cái cây có đổ xuống thì con chim vẫn còn đôi cánh, hiểu chưa?

Nguyễn Nam im bặt, ngoan ngoãn theo sau.

Chừng về đến gần nhà, hắn mới lại lên tiếng hỏi:

- Nhã Phong à, con bò nào leo lên cây mà biết sợ?

- Tại nó ngốc.

Bò mà!

***

Khi bọn tôi về đến, không khí trong trang viện im ắng lạ thường.

Anh Thân ngồi trên bậc cửa đợi tôi, thấy Nguyễn Nam cũng cùng về, anh hơi do dự.

- Bây giờ Nguyễn Nam đứng cùng phía với chúng ta. – Tôi cười nhẹ.

- Có mấy nhà sư phương Bắc mang lương khô đến biếu.

Tiêu Dao đại sư và mợ cả đang tiếp họ.

Tôi nhìn anh phu xe lại nhìn sang Nguyễn Nam, thấp giọng bảo:

- Vậy chúng ta cứ đợi bên ngoài.

Ba chúng tôi đến bờ hồ ngồi đợi, mãi sau cũng thấy họ rời khỏi đại sảnh.

Có hai người, một già một trẻ, gương mặt tương đối hiền từ phúc hậu.

Rất nhiều người phương Bắc sống ở Đại Việt, tôi biết, còn gặp một vài người có tổ tiên đã sang đây từ xa xưa, họ nói thứ tiếng kinh trọ trẹ và rất tốt tính.

Thế nhưng đó là chuyện của ngày thường, còn thời điểm bây giờ, sự nhiệt tình của họ có phải không được thích hợp không?

Lão già từng dạy tôi, bọn quân Thát giỏi nhất là phái gián điệp trà trộn vào nước khác để dò la, tôi nhất định phải đề phòng.

- Phong! – Chị tôi vẫy tay gọi trong lúc tôi đang mải mê suy nghĩ.

Chúng tôi theo chị vào sảnh chính, sư ông đang xem phần lương khô chứa trong hai chiếc túi lớn.

Đó là thịt lợn được cắt sợi lớn, ướp kỹ, phơi khô, có thể giữ được rất lâu.

Nghe nói đây là cách bọn người Thát bảo quản lương thực để đi đường xa, vừa tiện, vừa nhẹ, nhiều nơi đã học theo.

- Nhưng họ là thầy tu, vốn dĩ nên chay tịnh. – Tôi tự nói với chính mình.

- Đúng vậy.

Ban nãy chị cũng thắc mắc điều này, họ bảo nhờ dân làng chuẩn bị giúp để mang ủng hộ quân ta.

- Mợ cả, vậy chúng ta làm gì với số lương khô này đây, lỡ như... – Anh Thân hơi thấp thỏm.

- A di đà Phật, thức ăn quý giá, huống hồ đây còn là công sức của bao người, không thể tùy tiện bỏ đi. – Sư ông tôi nói rồi đưa tay cầm lấy một sợi thịt khô toan đưa lên miệng.

- Sư ông! – Tôi vội kêu lên.

Nguyễn Nam đã nhanh nhẹn hơn một bước, hắn nắm chặt cổ tay sư ông, cười cười bảo:

- Tiêu Dao đại sư là bậc cao tăng đắc đạo, không phá giới như Hưng Ninh vương.

Đó là chưa kể...

Bọn tôi chưa kịp phản ứng, hắn đã vớ một mẩu quẳng vào miệng nhai ngấu nghiến.

Trong một lúc tôi không biết làm gì, chỉ đành trân trân quan sát phản ứng trên mặt hắn.

- Ối! – Nguyễn Nam bỗng ôm bụng, cúi gập người.

- Cậu Nam! – Sư ông, anh Thân và chị tôi đồng loạt kêu lên.

Cái tên lang băm này lẽ nào lại bỏ mạng vì độc dược?

Hắn run run một lúc rồi chợt ngẩng lên nhìn:

- Em thật không quan tâm tôi sống chết thế nào à?

Bốn người chúng tôi thở hắt ra một lượt.

Tôi giẫm mạnh lên chân hắn rồi bỏ ra ngoài.

Xem ra số thức ăn này vô hại thật.

Khi bình tâm nghĩ lại, có thể hai vị hòa thượng kia là người Tống, muốn Đại Việt giúp cản chân quân giặc.

Cũng có thể, thời gian dài sống ở đây đã khiến họ thật lòng yêu mến sông núi xứ này.

Đằng nào thì họ cũng không dại dột đến mức tự đi nộp mạng mà gửi lương khô tẩm độc cho chúng tôi lộ liễu thế.

Là tự chúng tôi đã đa nghi!

Hai chữ "tín nhiệm" buổi non nước gặp nạn xâm lăng sao mà xa xỉ quá...

"Vạn Niên là Vạn Niên nào

Thành xây xương lính, hào đào máu dân"

Ca dao chỉ nỗi cơ cực của người dân khi xây lăng Vạn Niên Cơ cho vua Tự Đức.

Ở đây Vạn Niên là tên ngôi làng nơi có Dưỡng Chân Trang.

Ca dao
 
Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 17: KHI CHÉN RƯỢU, KHI CUỘC CỜ


Tôi còn nhớ những ngày sống ở Phúc Đường, tôi là một cô bé e dè và nhút nhát.

Sư ông Tiêu Dao rất nhân hậu, nhưng vì lạ chỗ lạ người lại thêm không khí trang nghiêm, tôi luôn rụt rè, sợ nói sai, sợ làm bậy, sợ những vị tăng lữ trong tịnh xá không cho tôi ở nữa.

Thuở bé ngây ngô nghe mọi người gọi nào Tuệ An, nào Nhã Phong, nào Huệ Tâm, nhiều lúc tôi không biết mình tên gì, không biết có phải họ đang nói đến mình không.

Có mấy lần đi loanh quanh lạc đến góc vườn có bức tượng mấy vị Kim Cang gương mặt dữ dằn, tôi sợ đến cuồng chân bỏ chạy, ám ảnh đến trong mơ cũng thấy rồi giật mình tỉnh giấc.

Sư ông bảo tôi những vị ấy là Bồ tát, vả lại Phật rất từ bi, chỉ cần tôi nghĩ điều hay, làm việc tốt, Phật sẽ luôn phù hộ cho tôi.

Tôi vâng dạ nhưng nửa tin nửa ngờ, đâu biết trên đời có ma có Phật chi không.

Chỉ biết vì một điều gì đó mà ngày ngày tôi đều ngóng ra cửa, đợi một người sẽ đến đón tôi như đã hẹn.

Đêm đầu tiên về đến Dưỡng Chân Trang, tôi trằn trọc mãi, hồi lâu bèn mở cửa bước ra sân dạo.

Trước phòng tôi là khoảng sân rợp bóng trúc xanh, giữa sân có một mái đình nho nhỏ.

Khi ấy, trong đình có một người đang ngồi nhàn nhã tự đánh cờ, mái tóc hơi dài gợn sóng rủ trên gương mặt thuần hậu, thâm trầm, ánh trăng chiếu sáng vạt áo màu lam, chiếu lên sống mũi cao thẳng tắp, sáng lấp lánh trong đôi mắt tĩnh tại như mặt hồ thu.

Tôi đã nghĩ, Bồ tát nên có dáng vẻ thế này mới phải.

- Em mơ thấy ác mộng sao? – Quân cờ vẫn cầm trên tay, người ấy hỏi tôi.

Tôi hơi giật mình, lắc lắc đầu.

- Hay là đói bụng?

Vẫn lắc lắc đầu.

Người đặt quân cờ xuống bàn, bước đến bế bổng tôi lên:

- Có chuyện gì, nói ta nghe!

Một cơn gió lạnh vù qua, tôi ôm chặt cổ người, nói khẽ:

- Nhà tiên sinh có nhiều kinh Phật lắm phải không?

- Có. – Người thoáng ngạc nhiên.

- Vậy có mấy ông Kim Cang hùng hùng hổ hổ không? – Tôi rúc sâu hơn vào vòng tay vững chãi ấy.

- Vẫn chưa...

- Người bỏ lửng câu nói. – Em sợ mấy bức tượng đó à?

Tôi gật đầu lia lịa.

Có tiếng bật cười, người bế tôi trở vào phòng, đặt lên giường, cẩn thận dém chăn rồi xoa đầu tôi nói khẽ:

- Vậy không có nữa.

Ngủ.

Ngoan nào!

Tôi nhanh tay nắm lấy vạt áo xanh lam níu lại, tròn xoe mắt nhìn lên.

Người đang định rời đi chợt phì cười, đoạn ngồi xuống cạnh bên, lưng tựa vào tường, mắt khép hờ.

Tôi sung sướng kéo chăn tận cổ rồi chìm vào giấc ngủ.

Tôi biết đây chính là Thần, là Phật của riêng tôi.

Đêm ấy là đêm tân hôn của lão già và chị.

***

Lão già nhà tôi có một loại uy lực rất đặc biệt, không cần lớn tiếng nặng lời, chỉ cần nét mặt vốn luôn thư thái hơi nghiêm lại, người đối diện đã cảm thấy bất an.

Lão có nhiều nguyên tắc, bù lại, luôn sẵn lòng dạy bảo và giúp đỡ mọi người.

Vì thế gia nhân trong phủ tuyệt đối kính trọng và vâng lời, xem thư phòng của lão như thánh địa.

Lần đầu tôi đặt chân đến là lúc tôi được bác Dương làm cho một mẻ kẹo lạc thơm lừng, mang đi tìm lão.

Tay tôi vừa chạm chốt cửa, hai chị bếp và bốn anh lính đang đứng gần đó đã đồng loạt kêu lên:

- Cô ơi, không được!

Bên trong vọng ra tiếng nói nhẹ nhàng:

- Phong hả?

Vào đây.

Cả khoảng sân như hóa đá, khi tôi đã vào trong và đóng cửa lại rồi, mồm của sáu người kia vẫn chưa khép lại.

Đến giờ nghĩ lại chuyện hôm ấy tôi vẫn thấy buồn cười.

Từ đó, tôi không chỉ là cô bé mấy tuổi đầu mà là một người rất có tiếng nói ở Dưỡng Chân Trang, tôi nghĩ chính là bởi sự đặc cách ấy chứ không phải vì tôi là em của chị.

- Nhã Phong, em ra đây đi! – Tiếng Nguyễn Nam từ bên ngoài vọng đến.

- Dừng! – Tôi trỏ bậu cửa thư phòng, không cho hắn đặt chân xuống. – Có chuyện gì mà mới sáng đã inh ỏi thế?

Bàn chân vẫn lơ lửng trên không, tên lang băm bảo:

- Cụ ông Thiên Thai của em đã xuống núi rồi, mau ra đón!

Tôi mừng rỡ đặt chiếc khăn lau trên tay lên bàn, đóng cửa phòng rồi theo hắn ra ngoài.

Tôi ra đến nơi, anh Thân đang đỡ ông cụ Lý Đảm xuống từ xe ngựa.

Đợi ông chống nạng đứng thẳng rồi, tôi lễ phép chào:

- Ông đi đường có mệt không ạ, mọi người ai cũng mong ông quá!

Trông ông Đảm hôm nay hồng hào hơn trước, gương mặt vốn khắc khổ cũng giãn ra, giao lĩnh đai lưng tươm tất, có dáng vẻ của một người đàn ông từng thanh gươm yên ngựa, mái tóc bới gọn gàng làm ông trẻ hơn gần mươi tuổi so với lần đầu tôi gặp.

Ông vui vẻ nhìn tôi, định nói gì đó chợt bàng hoàng, nụ cười nửa miệng bỗng vụt tắt.

Tôi hơi bối rối, sợ mình dọn dẹp từ sáng quần áo lôi thôi liền nhìn xuống, rõ ràng là bộ áo lam trắng có thêu đóa mộc lan rất nhã nhặn.

Nhìn sang bên cạnh, Nguyễn Nam cũng rất bình thường, có phần tuấn tú.

Anh Thân giao xe ngựa lại cho lính canh rồi bước đến thưa:

- Chắc đường xa, cụ mệt.

Tôi xin phép đưa cụ về phòng nghỉ nhé!

Ông gật đầu rồi chống nạng đi từng bước.

Nguyễn Nam nhanh nhảu định chạy đến dìu, tôi liền ngăn lại, lắc đầu ra hiệu.

Đối với những người như ông, tự tôn là điều quan trọng hơn sinh mạng.

Bọn tôi lặng lẽ theo sau, đến khoảng sân trước phòng tôi, ông bỗng dừng chân, đôi mắt xa xăm lại càng mênh mông.

Tôi nhìn theo hướng mắt ông, chỉ thấy đôi bướm trắng chập chờn ẩn hiện trong khóm trúc xanh, nhìn kỹ hóa ra là hai đóa mộc lan phơn phớt hồng ở đầu cành đang rung rung trong gió.

Ngẫm nghĩ một hồi, tôi chợt hiểu ra, không phải do tôi mà bởi đóa hoa trên trang phục tôi đang mặc.

Đóa hoa này lại thêu theo mẫu trên chiếc khăn tay thêu dở mà hoàng hậu Thuận Thiên – u của lão già – để lại.

Tôi nhớ trong câu chuyện hôm trước, ông cũng từng nhắc đến bà ấy, có lẽ nào...?

Suốt cả ngày, ông Đảm cáo lỗi không được khỏe, ở mãi trong phòng chẳng gặp ai.

Đến chập choạng tối, tôi thấy ông ngồi ở mái đình giữa sân uống rượu một mình, mặt buồn rười rượi, bóng lưng hơi gù dưới hoàng hôn mang một vẻ cô độc đến thê lương.

Tôi rất muốn đến uống với ông, tiện thể hỏi những điều muốn hỏi nhưng nghĩ đến trận ốm hôm uống cùng Quang Khải lại không dám liều nữa, bèn nghĩ ra một cách.

Tôi xuống bếp làm một đĩa lòng gà xào chua ngọt to đùng, bưng đến gõ cửa phòng Nguyễn Nam.

Đúng như lão già từng nhận xét, tôi chưa bao giờ thất bại trong những vấn đề liên quan đến ẩm thực.

Một canh giờ chén tạc chén thù nói chuyện trên trời dưới biển, ông Đảm đã say bí tỉ còn Nguyễn Nam cũng ngà ngà.

Tôi ngồi cạnh bên xơi chè, thỉnh thoảng gắp một miếng lòng bỏ vào mồm, tự thán phục bản thân.

Đêm nay trăng sáng, trời lành lạnh, gió hiu hiu, bóng lá trúc in lên vách đung đưa rờn rợn.

Ngày xưa tôi cũng hay cùng lão già ngồi ở nơi này, có khi đánh cờ, có khi đàn hát.

Nhớ đến đây, tôi bèn rút cây sáo trúc vừa nhờ anh Thân làm mấy hôm trước đưa lên miệng thổi bài Cẩm sắt của ông Nghĩa Sơn thời Đường:

"Cẩm sắt vô đoan ngũ thập huyền

Nhất huyền nhất trụ tứ hoa niên.

Trang sinh hiểu mộng mê hồ điệp,

Vọng đế xuân tâm thác đỗ quyên.

Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ,

Lam Điền nhật noãn ngọc sinh yên.

Thử tình khả đãi thành truy ức,

Chỉ thị đương thời dĩ võng nhiên."

(Năm chục dây đàn gấm tuyệt vời

Mỗi dây mỗi trục nhớ xuân thời

Trang Chu tỉnh mộng còn ngờ bướm

Thục Đế lòng xuân cuốc gọi trời

Trăng sáng biển xanh châu rướm lệ

Lam Điền nắng ấm ngọc thành hơi

Tình này ý ấy hoài ghi nhớ

Sao lúc bấy giờ lại để lơi?)

Tiếng sáo tôi vừa dứt, tâm trạng mới hồ hởi được đôi chút của ông cụ đã biến mất hoàn toàn.

Ông đưa chén rượu lên uống cạn, tự nói một mình:

- Nàng ấy thích bài này lắm.

- Nàng ấy...? – Tên thầy thuốc chưa kịp hỏi trọn câu đã bị tôi đưa tay bịt miệng.

Tôi lôi hắn đứng dậy, kéo ra khỏi đình:

- Nguyễn Nam say rồi, cháu đưa hắn về phòng rồi quay lại ngay, ông chờ tí ạ!

Khỉ gió cái tên thầy thuốc có vẻ thư sinh mà nặng ra trò, hắn cứ ì ra đó, không chịu bước đi một bước báo hại tôi đỡ đến mệt bở hơi tai.

Khi chúng tôi đã rẽ qua góc khuất, tôi định buông tay để hắn ngã xuống đất cho bõ ghét, không ngờ hắn đột nhiên tỉnh táo vô cùng, quay người lại dồn tôi lùi đến chân tường.

Nguyễn Nam ghé sát mặt tôi, hơi rượu phả ra nồng nặc:

- Qua cầu rút ván.

- Mặt hắn câng câng, đôi mắt sâu thăm thẳm cứ nhìn xoáy vào tôi, nhìn đến mức tôi thấy nóng ran hai bên má.

- Chuyện nhà của bọn ta, ngươi ở đó làm gì? – Tôi muốn đẩy hắn ra nhưng không đủ sức.

- Tôi vì ai mà say thế này, phải có bù đắp chứ! – Hắn lè nhè.

- Ngươi muốn bù...

- Ba chữ "đắp thế nào" nghẹn lại vì có vật gì đó đã chặn ở bờ môi.

Ấm ấm.

Mềm mềm.

Ướt ướt.

Cái đồ...

đồ...

đồ...

đồ...

đồ lang băm khốn kiếp!

Tôi ngượng chín người, vung tay tát mạnh thì hắn đã nhanh nhẹn lùi lại phía sau, còn to gan đưa lưỡi liếm nhẹ môi dưới, nhếch mép cười cợt nhã.

- Lần này lấy rẻ vậy thôi, lần sau giá cao hơn nhé, Nhã Phong!

Nói rồi, nháy mắt một cái, chạy về phòng mất hút.

Rẻ?

Rẻ cái tiên sư nhà hắn ấy!

Cướp đoạt nụ hôn đầu của thiếu nữ nhà lành, chiếu theo luật đáng đem đi hoạn, cạo đầu bôi vôi, lột da rút gân, băm vằm tùng xẻo!

Tôi đưa tay áo lau đến khi môi bỏng rát.

Rõ ràng là mùa đông mà người tôi nóng bừng bừng, đứng chôn chân một chỗ mãi một lúc lâu.

Tới chừng chợt nhớ ra việc phải làm, tôi ba chân bốn cẳng chạy đi tìm ông Đảm.

Nguyễn Nam chỉ uống cầm chừng, còn ông bị bọn tôi chuốc thật, rất say.

Khi tôi quay lại, ông đang khập khiễng tựa tay vịn của mái đình mà đến gần một nhánh mộc lan.

Trời trở gió to hơn, tiếng ông đẫm hơi men, bảng lảng trong sương lạnh:

"Động Đình ba lãnh hiểu xâm vân,

Nhật nhật chinh phàm tống viễn nhân.

Kỷ độ mộc lan chu thượng vọng,

Bất tri nguyên thị thử hoa thân."

(Có nghĩa là:

"Động Đình buổi sớm sóng lạnh muốn trùm lên cả mây mù

Ngày ngày những cánh buồm đưa tiễn khách đi xa

Mấy độ lên thuyền mộc lan trông ngóng khách

Có biết đâu rằng mình cũng làm thân đưa khách như thuyền")

Tôi đưa tay định đỡ ông, ông quay lại, đưa mắt nhìn tôi một lượt:

- Nàng vẫn nhớ sao? – Đôi mắt già nua mờ mịt, nheo nheo. – Ta không biết...

Ông gục xuống bên cột đình, tôi cố đỡ ông ngồi lên ghế.

Ông run run nắm chặt tay tôi.

- Cháu là Phong ông ạ.

Ông nhớ công chúa Thuận Thiên lắm phải không? – Tôi không biết nên gọi là phu nhân hay hoàng hậu cho phải phép, chợt nhớ ra với họ Lý, bà ấy mãi mãi là thiên chi kiêu nữ.

- Phong? – Ông lại nhìn tôi rồi nhìn đóa hoa thêu trên áo, đoạn trầm tư. – Cháu giống nàng ấy lắm...

Hóa ra, ông Đảm quý lão già và chịu xuống núi giúp tôi đều không phải do bọn tôi tài giỏi hay có nhân phẩm hơn người.

Bây giờ nghĩ lại, sự hiểu chuyện của tôi do lão già truyền cho, còn lão lại được công chúa Thuận Thiên nuôi dưỡng.

Ông Đảm gặp bọn tôi, bảo bọn tôi giống nhau, chẳng qua vì ông luôn nghĩ đến một người.

Rốt cuộc nỗi ám ảnh này đã dày vò ông đến mực nào để sau từng đó năm, ông nhìn một con bé chẳng có chút nữ tính nào như tôi lại có thể nghĩ đến vị công chúa lá ngọc cành vàng nổi tiếng hiền thục đoan trang ngày đó?

- Ta cứ nghĩ đợi nàng ấy lớn hơn một chút rồi mang cau trầu dạm hỏi, không ngờ...

Họ Lý mất giang sơn, còn ta mất nàng, đều vì cái bọn họ Trần... họ Trần khốn kiếp!

"Ông ơi, họ Trần cũng có người này người khác", tôi nghĩ nhưng không dám nói lý lẽ với người say, chỉ im lặng ngồi bên cạnh, giúp ông kéo lại áo choàng.

- Trần Liễu...

Trần Cảnh...

Nàng ấy có hạnh phúc không?

Có bao giờ hạnh phúc không? – Ông siết tay thành nắm, đấm mạnh lên mặt bàn đá, đôi mắt đỏ ngầu.

Sống đến bây giờ, tôi chưa từng thấy một người đàn ông từng trải như thế rơi lệ nên bối rối không biết phải làm gì, chỉ đành vuốt nhẹ lưng ông để ông bình tĩnh lại:

- Cháu tin là công chúa đã từng hạnh phúc ông ạ.

Thân phụ của tiên sinh nhà cháu và quan gia đều là người tốt...

- Tốt? – Ông chợt bật cười. – Chúng tốt như thế, sao nàng ấy vẫn không quên quách cái thân khốn nạn của ta đi...

Ai cũng biết ta đã bị chôn sống từ lâu rồi cơ mà, nàng ấy còn vương vấn làm gì?

Những điều vừa nghe làm tai tôi cứ ong ong.

Tôi không biết nhiều lắm về chuyện trưởng bối của lão già, vì sợ lão buồn nên không dám hỏi.

Tôi chỉ nghe loáng thoáng rằng năm đó, tôn thất còn sót lại của triều Lý đã lập mưu mời quan gia đến buổi lễ tế tổ tiên, ngờ đâu chính họ sa vào cái bẫy do mình đào sẵn, hàng chục người đã bị chôn vùi trong đó.

Lẽ nào...

- Chân của ông... là do lần đó ạ? – Tôi đánh bạo hỏi.

- Lần đó.

Lần đó! – Ông Lý Đảm gằn từng tiếng một. – Có kẻ nào ngu ngốc tự đặt bẫy rồi lại giẫm lên không?

Bọn chúng tất thảy đều dối trá!

- May là ông thoát được...

- Tôi cố tìm cách an ủi, không còn phân biệt được đúng sai.

- Khi sức khỏe phục hồi, ta cứ nghĩ nàng ấy đã an phận nên đành im lặng sống chui sống nhủi bấy lâu nay.

Sao ta lại không biết nàng vẫn nhớ ta? – Ông lớn tiếng hơn, tôi hoảng hốt nhìn xung quanh xem có ai đang ở gần không. – Mộc lan!

Mộc lan!

Là ta hèn nhát, bất tài, nhụt chí...

Ta phải sớm đưa nàng bỏ trốn đi mới phải!

Tiếng ông ai oán như thể một con thú rừng bị trọng thương.

Không biết vì sương hay vì hơi rượu, tôi thấy mắt cay xè.

Bấy lâu nay tôi cứ ngỡ lão già thích mộc lan vì đó là chứng nhân cho tình cảm giữa Yên Sinh vương và công chúa Thuận Thiên, đến khi công chúa bị bắt gả cho quan gia, chỉ còn lại cảnh này, vật này để nhớ nhung.

Có lẽ lão cũng như tôi, không ngờ được rằng loài hoa tao nhã kia ghi dấu một mối tình câm, không ngờ rằng hai lần sang sông, vị công chúa mệnh bạc của Lý triều chưa một lần hạnh phúc.

- Là ta hèn nhát...

Trần Thừa muốn con trai hắn lấy nàng để đảm bảo quyền lực không rơi vào gia tộc khác.

Mà thằng Liễu... thằng Liễu có viên ngọc quý trong tay không biết giữ.

Ông với tay lấy bình rượu, tôi liền cầm lên toan để ra phía xa hơn.

- Yên Sinh vương hẳn cũng lực bất tòng tâm, không chống lại được lệnh của Thái sư...

- Đợi gì đến trò hoán vợ đổi chồng của Trần Thủ Độ! – Ông chua chát bật cười. – Thằng Liễu đang làm Hiển hoàng mà bị giáng chức, chẳng phải vì nó nổi máu tà dâm đi cưỡng hiếp cung nữ tên Lý Cát sao?

Bình rượu trên tay tôi rơi xuống đất vỡ giòn.

Lý Cát, là tên của dì tôi.

"Khi chén rượu, khi cuộc cờ

Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên"

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã mượn ý thơ này tả tiếng đàn của Thúy Kiều lúc gặp lại Kim Trọng sau 15 năm lưu lạc:

"Phím đàn dìu dặt tay tiên

Khói trầm cao thấp tiếng huyền gần xa

Khúc đâu đầm ấm dương hoà

Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh

Khúc đâu êm ái xuân tình

Ấy hồn Thục đế hay mình đỗ quyên

Trong sao châu nhỏ duềnh quyên

Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông

Lọt tai nghe suốt năm cung

Tiếng nào là chẳng não nùng xôn xao"

Nghĩa Sơn: Tự của Lý Thương Ẩn (813 – 858), một trong những nhà thơ lớn nhất của Trung Quốc thời Vãn Đường, cùng Đỗ Mục được gọi là Tiểu Lý Đỗ, so sánh với cặp Lý Bạch - Đỗ Phủ trước đó.

(Nguồn: )

Mộc lan hoa, thơ Lý Thương Ẩn.
 
Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 18: TIỂU NHÂN


Thuở nhỏ tôi thường nghe mọi người đọc một bài vè:

"Trời mưa cho ướt lá khoai

Đố ai lấy được con trai Thổ Hà

Trời mưa cho ướt lá cà

Đố ai lấy được đàn bà Vạn Vân."

Gốm Thổ Hà mang sắc đỏ thẫm, lão già lại chuộng sự thanh nhã của gốm trắng Bát Tràng hơn nên trước giờ tôi chưa có dịp thấy qua.

Còn rượu làng Vân, bấy lâu tôi chỉ biết đó là thứ lão thích uống nên trong nhà lúc nào cũng trữ rất nhiều, đến hôm nay mới tỏ loại mỹ tửu danh bất hư truyền, khiến người tưởng như mới ngà ngà lăn ra ngủ như chết.

Ông Đảm tối qua say bí tỉ chẳng nói làm gì, tên Nguyễn Nam bị tôi đuổi về phòng từ sớm mà đến lúc mặt trời lên bảy tám sào vẫn chưa tỉnh giấc.

Tôi ngồi đợi mãi, đợi mãi, đến khi hết kiên nhẫn bèn ghé tai hắn hô to:

- Cháy!

Cháy rồi!

Tên thầy thuốc nọ quả nhiên tỉnh rất mau.

Hắn chớp mắt mấy cái cho hoàn hồn, đoạn nhìn tôi ngơ ngác:

- Nhã Phong... em làm gì ở đây?

Thấy hắn đã nhận ra mình, tôi lập tức đem nỗi thắc mắc to lớn gây trằn trọc cả đêm ra hỏi hắn:

- Ngươi có biết thế nào gọi là "cưỡng hiếp" không?

Lang băm kia đột nhiên mặt mũi tái xanh, lùi sâu vào góc giường, kéo chăn lên che kín ngực, đôi mắt mở to kinh hãi.

Tôi nhìn hắn vừa buồn cười, vừa hậm hực:

- Rút cuộc đó là chuyện thế nào, tại sao cả anh Thân, chị Hạnh, mấy tên gia đinh rồi giờ đến ngươi cũng làm ra vẻ kinh tởm vậy?

Bốn mắt nhìn nhau.

Chớp chớp.

- Em... sao tự dưng lại hỏi như thế? – Mãi một hồi hắn mới lắp bắp được mấy từ.

- Ngươi không cần biết, chỉ cần giải thích thôi!

- Chuyện này... tôi không nói được. – Hắn nhún vai đầy miễn cưỡng.

- Ta đi hỏi sư ông. – Tôi đứng phắt dậy đi về phía cửa. – Các người thật là vô dụng!

- Đợi đã! – Nguyễn Nam vội kêu lên.

Tôi quay đầu lại, thấy gương mặt hắn đang rất khổ sở, vẫy vẫy tay.

Tôi lập tức đến ngồi lên mép giường, chăm chú nhìn hắn khó nhọc nói từng lời:

- Việc đó là...

à...

ừm... là người nam ép người nữ cho gần gũi.

- Có phải giống như tên công tử trêu ghẹo Nguyệt Nhi ở quán rượu bị ta và Quang Khải đánh nhừ tử không?

- Không, việc đó chưa đáng là gì.

- Vậy... thế nào mới đáng?

Lúc này tôi cảm thấy rất bực bội, phải chi lúc xưa Quang Khải kể tôi nghe chuyện Yên Sinh vương cưỡng gian cung nữ họ Lý, tôi không say đến chẳng biết gì thì đã không mất một buổi sáng đi hỏi hết người này đến người nọ như vậy.

Hai người đàn ông nói chuyện với nhau bao giờ cũng dễ dàng hơn.

Căn phòng bỗng trở nên im lặng.

Đôi mắt đang mở to của Nguyễn Nam dần dần hẹp lại, khóe môi cũng từ từ cong lên.

Hắn không lùi nữa mà chuyển sang tiến về phía tôi, đưa tay nắm lấy khuỷu tay tôi kéo lại gần hắn.

Tôi vẫn tròn mắt nhìn xem hắn định làm gì.

Đến lúc gương mặt hắn đã sát kề, hơi thở nóng rẫy, tôi vẫn chưa hiểu ra sự việc.

Bàn tay hắn di chuyển lên vai tôi, siết nhẹ một hồi.

Đột nhiên hắn đẩy mạnh tôi ra, gục đầu về phía bên kia rồi bật cười khùng khục.

- Đau!

Ngươi điên hả? – Tôi nổi cáu.

Tên thầy thuốc kia vẫn chưa dứt cơn cười.

Hắn lắc lắc đầu, đưa tay lên lau nước mắt rồi chống tay ngửa người về sau, mặt ngẩng lên trời mà than trách một mình:

- Đúng!

Tôi điên rồi!

Tôi đã luôn nghĩ em là đàn bà của Hưng Ninh vương kia đấy!

Quên mất em vẫn còn là đứa trẻ...

- Này!

Ngươi nhìn ta oai phong lẫm liệt thế này, chỗ nào giống bọn đàn bà kia hả? – Tôi cắt ngang lời hắn. – Vả lại, người xưa có câu "nữ thập tam, nam thập lục", năm nay ông đây mười sáu, vừa đủ tuổi trưởng thành rồi.

Nguyễn Nam đã dứt cơn cười, đôi mắt hướng về tôi bỗng xa xăm.

Hắn nhìn tôi rất lâu, rất lâu, hoàn toàn khác ánh nhìn lúc say rượu đêm hôm trước.

Bàn tay hắn bỗng đưa tới, chạm vào cằm, rồi ngón cái đặt nhẹ lên môi tôi.

Cái chạm khẽ khàng kia làm tôi chợt nhận ra một điều gì đó.

Tôi nhìn sâu vào mắt hắn, đoạn khẽ hé bờ môi...

Rồi cắn phập vào ngón tay làm hắn phải thét lên một tiếng.

Tôi tức giận trỏ vào mặt hắn:

- Ta hiểu rồi, thì ra tối qua là ngươi đã cưỡng hiếp ta!

Tên lang băm kia vội vã lao đến đưa tay bịt miệng tôi:

- Em bớt dở người đi!

Muốn cả trang viện đến đây chắc?

Tôi ú ớ không thành tiếng, lắc lắc đầu.

Hắn nhìn tôi chốc nữa mới buông ra, thở dài đầy vẻ bất lực:

- Cái điều em hỏi, nghĩa là dùng vũ lực ép buộc người kia ân ái với mình, làm những chuyện chồng vợ nên làm, để sinh con đẻ cái. – Hắn nhắm mắt, đỏ mặt, nói liền một mạch.

***

Tôi nghe nói mùa đông ở phương Bắc xa xôi kia có tuyết rơi, những viên bông trắng trắng, tròn tròn, xốp xốp như mây bay đầy trời vô cùng đẹp mắt.

Mùa đông của Đại Việt chỉ có giá rét thấu xương và nỗi nhớ nhà không gì khỏa lấp được.

Tôi đang ở Dưỡng Chân Trang, ở làng Vạn Niên, ở Yên Bang, ở nơi tôi đã sống gần mười năm qua mà vẫn thấy chông chênh.

Tôi ngồi trước bậu cửa thư phòng, nhìn ra khoảng sân rợp bóng trúc xanh, mặc những cơn gió lùa qua làm tấm áo khoác trên vai hơi trượt xuống.

Tôi không thấy lạnh, chẳng thấy nóng, không rõ buồn vui, trong đầu trở nên trống rỗng, mọi thứ cứ vụt qua.

Thầy qua đời từ khi tôi còn trong bụng mẹ, tôi lớn lên chỉ có một người thân nữa là dì.

Dì làm cung nữ ở kinh thành, gửi tiền về cho mẹ nuôi tôi, vài năm lại ghé thăm nhà, dạy tôi tết tóc, nấu cơm, quét tước, cứ sợ mẹ chiều tôi mãi đâm hư.

Trong ký ức của tôi, dì là một người phụ nữ dịu dàng hơn cả mẹ, cử chỉ khoan thai, từ tốn, giống người quyền quý hơn là một nữ tì.

Tôi ngưỡng mộ dì đến mức sau này tôi yêu quý chị Thiên Hương và có thiện cảm với công chúa Phụng Dương phần lớn là vì họ mang vẻ đoan trang nhã nhặn giống dì Lý Cát của tôi.

Tôi nhớ thuở bé mình rất thích ôm một con rối vải vào lòng ngủ, đó là món quà dì tặng năm tôi lên bốn.

Sau này khi mẹ mất rồi, tôi mải miết đi tìm tung tích của dì, đến giờ mới có chút thông tin.

Những năm tháng ấu thơ ở làng Giá, ba người chúng tôi nương tựa vào nhau mà sống.

Đến giờ tôi vẫn chưa quên mùi món canh cá nấu chua của mẹ, chưa quên mùi thơm dìu dịu mỗi khi tôi nũng nịu trong lòng dì.

Nhưng, "nhà" mà tôi nhớ lại không phải là khung cảnh đầm ấm ấy.

Thoáng trong đầu hiện ra bản mặt nham nhở của tên công tử ve vãn Nguyệt Nhi, tôi tự vẽ vào chút râu, chút nếp nhăn, thấy hắn lao đến dồn dì tôi vào một góc nhà, mặc cho dì giãy giụa khóc la.

Tôi nhớ bức thư cuối cùng gửi cho tôi, dì bảo chỉ cần đợi ít lâu dì có thể trở về quê, có thể nên duyên với anh đồ trẻ làng bên – người bạn thanh mai trúc mã từ thuở bé của dì.

Tôi thấy trong lòng bừng bừng lửa giận, cây sáo ngọc trong tay bỗng hóa thanh kiếm sắc lẻm của Trần Cụ tặng cho, toan lao đến chém kẻ nọ để cứu dì.

Tên khốn ấy quay lại nhìn tôi, gương mặt bỗng dưng biến đổi, vẫn có râu, tóc vẫn hoa râm nhưng khóe mắt làn môi lại trở nên vô cùng quen thuộc.

Tôi vỗ vỗ trán, lắc mạnh đầu, những ý nghĩ ấy vẫn không tan, chợt nhìn thấy cái giếng phía bên kia sân, tôi lao đến múc một gàu dội thẳng lên đỉnh đầu.

Lạnh buốt!

- Nhã Phong!

Em có biết bây giờ là giữa đông không?

Nhỡ đổ ra ốm thì biết thế nào? – Nguyễn Nam từ đâu vừa đến, vội vã kéo áo choàng lên che kín cổ tôi, gỡ áo hắn trùm lên tóc tôi vò loạn đến khi ráo nước.

- Ngươi đến đây làm gì. – Tôi đẩy nhẹ tay hắn ra, hỏi bâng quơ.

- Tôi đi hái thuốc về, nghe mọi người nói em cứ ngồi ở đây từ sáng, chẳng chịu ăn uống, thiền sư Tiêu Dao và phu nhân đều có việc ra ngoài cả, không ai bảo được em.

Tôi nhếch mép cười nhẹ, lại đến ngồi bên bậu cửa, mặc kệ hắn ngồi xuống cạnh bên.

- Rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì?

Nhã Phong, hôm nay em lạ lắm...

Tôi vẫn không đáp, tên thầy thuốc nhìn tôi hồi lâu rồi lại đưa mắt về phía mái đình, giọng nhẹ như gió thoảng:

- Tôi xin lỗi.

Tôi không biết bị tôi hôn khiến em khó chịu đến mức này...

Tôi phì cười, chẳng buồn giải thích, đột nhiên lại nghĩ ra:

- Ta chỉ bị hôn mà đã khó chịu, người đó bị người kia... có phải rất khổ sở không?

- Ai? – Nguyễn Nam sửng sốt.

- Thiên hạ. – Tôi nhận ra mình lỡ lời nên vội gạt đi.

Gã thầy thuốc lại thở dài đánh thượt, mãi lâu sau, hắn cố pha trò:

- Hưng Ninh vương mà biết tôi giành mất nụ hôn đầu đáng ra là của ông ta, chắc sẽ cho người truy sát.

- Tiên sinh là trưởng bối của ta, ngươi đừng nghĩ chuyện không đâu nữa.

Tôi nói thế rồi đứng lên, đi về phía Phật đường.

***

Nếu tôi bảo với ai đó rằng lão già của tôi chưa bao giờ tin có Thần Phật trên đời, hẳn họ sẽ cho rằng tôi bất kính hoặc rất điên rồ.

Kỳ thực, thiền sư Tuệ Trung chính là người luôn cho rằng vị thái tử tên Tất Đạt Đa kia cho đến ngày thành Phật vẫn luôn là một người phàm.

Những điều Phật dạy chúng sinh được đúc kết từ mắt thấy, tai nghe và một trí tuệ mẫn tiệp hơn người, ghi lại thành kinh kệ để truyền bá điều hay lẽ phải.

Vì thế, dù lão bắt tôi chép bao nhiêu quyển kinh, thuộc bao nhiêu bài tụng niệm, cũng chưa bao giờ buộc tôi vào Phật điện quỳ một ngày nào.

Lão nói tâm tịnh thì trí ắt sẽ thông, Phật là bản tâm của mình, Chân – Thiện – Mỹ phải tự tìm ở nơi mình để thấu triệt chứ không đốt bao nhiêu nén hương, tụng bao nhiêu thời kinh mà ngộ được.

- Vậy vì sao người vẫn cho xây dựng Dưỡng Chân Trang, còn thu nhận vô số Phật tử ngày ngày đến cúng dường? – Có lần tôi hỏi.

- Khi chưa tin được vào bản thân mình, người ta cần một niềm tin vào những thứ nhiệm màu.

Ta cho họ lòng tin rằng họ được che chở, được thứ tha, được sám hối, bị trừng phạt khi nghĩ đến thứ xấu xa, được thiện quả mỗi lần gieo nhân tốt đẹp.

Thế vẫn tốt hơn để mặc họ tin vào quỷ thần, vào những điều vô lý mà những tên sư hổ mang rao giảng ngoài kia.

Từ lúc hiểu ra điều ấy, tôi luôn nhìn những người bước vào Phật đường bằng đôi mắt cảm thông của đấng bề trên thấu hiểu cho chúng sinh mê muội.

Không ngờ cũng có ngày tôi mê muội không kém chúng sinh.

Tôi cung kính thắp hương, mang bồ đoàn ra giữa điện, mang cả mõ cùng tràng hạt, sẵn sàng trì niệm hai mươi mốt biến Chú Đại Bi.

Đến lúc đã ngồi xuống hẳn hoi, toan gõ mõ, thấy thanh gỗ nhỏ trên tay mình nặng trĩu lại thôi.

Những phiền muộn trong đầu tôi chỉ tổ khiến chốn này bớt linh thiêng.

Tôi xuống bếp pha một ấm chè mang đến thư phòng, đóng kín cửa, bày thư án mài mực chép kinh.

"Nhà" trong tâm trí tôi lại là những năm tháng ở chốn này, bên cạnh một người.

Người dạy tôi biết mọi thứ trên đời, luôn nghiêm khắc, rất bao dung, cực kỳ hiểu chuyện nhưng lại không kiêng nể một ai, khiến tôi có cảm giác như mình có trong tay cả giang sơn gấm vóc.

Người đã dẫn tôi lên núi hái thuốc, chỉ cho tôi từng loại kỳ hoa dị thảo, đưa tôi đến những chỗ có thể nhìn được núi non hùng vĩ rồi cõng tôi về khi tôi đã mệt lử thiếp đi.

Người đã cứu tôi khỏi khói lửa mịt mù, khỏi manh vuốt mãnh hổ giữa rừng thiêng, khỏi những lần nghịch ngợm mang họa vào thân, khỏi những cơn ác mộng chập chờn.

Người ôm siết tôi vào lòng ngày tôi thành thiếu nữ, thấy nước quỳ thì hoảng lên sợ mình sắp chết, kiên nhẫn dỗ dành rồi mới nhờ chị đến giúp tôi.

Người chỉ nói được một câu ngọt ngào duy nhất: "Từ nay ta sẽ bảo vệ em", rồi những năm tháng về sau chỉ lặng lẽ thực hiện lời hứa ấy.

Tôi biết lẽ ra những lúc như thế này tôi nên thấy hụt hẫng, thấy suy sụp vì thân phụ của người lại là kẻ đã gây ra đau khổ cho người thân thích máu mủ với tôi.

Đáng ra tôi phải truy vấn đến cùng, tìm cho ra sự thật, tìm cho được tung tích của dì.

Tôi nên hoang mang tự hỏi xem người vì cớ gì lại dùng những tháng năm đẹp nhất của đời mình dắt theo một đứa trẻ đi khắp nơi, chẳng còn gì lạc thú.

Tôi nghĩ tôi phải buồn bã, vì thứ tình cảm tôi thấy khốn nạn nhất trên đời là chữ "nợ".

Vì thấy nợ mà ở cạnh, vì thấy tội lỗi mà ép lòng yêu thương... chẳng phải càng gây thêm ngang trái, éo le sao?

Vậy mà, thời khắc ông Đảm nói ra cái tên Lý Cát, tôi chỉ bảo ông say rồi dìu ông về phòng nghỉ, một câu một chữ cũng không muốn nghe thêm nữa.

Sau khi biết rõ những việc Yên Sinh vương đã làm với dì rồi, cả sự phẫn uất và thương tiếc cho dì tôi cũng vội vã gạt đi.

Cái gì gọi là "máu chảy ruột mềm"?

Một giọt nước mắt cũng không rơi, một lần phẫn nộ cũng không có.

Chính việc không cảm nhận được những thứ cảm xúc "dĩ nhiên" này khiến tôi thấy bất lực hơn tất thảy.

Tôi sợ.

Giống như cách mà bao nhiêu năm qua tôi đã sợ mỗi lần nghĩ về cái chết của mẹ tôi.

Giống như cách tôi đã không bao giờ tìm hiểu xem chị tôi có thân phận gì, hay tôi có thân phận gì mà người phải nhọc công che giấu.

Giống như cách tôi luôn tự nói với mình chỉ cần người vui vẻ ở cạnh tôi, những gì đã qua cứ để nó ngủ yên.

Tôi sống bên mẹ và dì hơn sáu năm, nhưng tôi đã sống cạnh người gần mười năm.

Mười năm, đủ làm một số việc nhạt nhòa và làm một số thứ khác khắc sâu vào xương tủy.

Đến nỗi, lần này có một sự thật rành rành ra đó, hứa hẹn còn bao nhiêu sự thật khác bị vùi chôn, tôi vẫn tìm mọi cách bao biện, rằng Yên Sinh vương là Yên Sinh vương, dù người ta bảo dáng hình họ có nét tương đồng thì cớ gì đời cha ăn mặn lại bắt đời con khát nước, rằng người chẳng hay biết gì đâu, vì nếu biết đã chẳng đợi đến nhiều năm sau mới tìm thấy tôi mà bù đắp, rằng tôi không cần tìm hiểu nữa, sự thật chẳng thể sánh bằng an ổn trong tâm.

Tôi sợ tôi biết rồi lại phải hận người.

Đớn hèn như vậy.

Tôi có tư cách gì tự xưng là truyền nhân được người dạy bảo, có tư cách gì mở miệng bàn về Nhân – Lễ - Nghĩa – Trí – Tín, có tư cách gì khoác lên bộ áo lam đứng trước đấng Thế Tôn, có tư cách gì đối mặt với người?

Trong phút chốc, tôi thấy mình như một kẻ chẳng ra gì, dửng dưng trước tai họa của người thân, bất chấp đúng sai, khư khư bảo vệ thứ hạnh phúc cỏn con của riêng mình.

Tôi từng tự hào mình tuổi trẻ tài cao, giờ xem ra không chỉ tuổi nhỏ mà tâm tính tôi cũng mọn.

Ngoài kia vẳng lại tiếng chuông chiều, phủ trùm lấy không gian rồi tan đi trong hơi lạnh.

Tôi nhớ người từng dạy, muốn vượt qua những suy nghĩ tiêu cực trong đầu mình, trước hết cần thản nhiên thừa nhận chúng.

"Tâm ma" một khi được gọi đúng tên, được chấp nhận sẽ thôi vùng vẫy, thôi phản kháng, nhiều lúc còn ngoan ngoãn lùi đi.

Tôi chợt thấy buồn cười, giờ đến cả việc làm sao giải trừ phiền não liên quan đến một người, tôi cũng dùng cách do người đó dạy.

Thỏi mực bị tôi mài đến nóng cả tay.

Tôi tự cười khổ, lắc nhẹ đầu, đưa bút viết liền một mạch:

"Tiểu nhân bám gót đại nhân

Mặc tình thiên hạ nói gần nói xa

Đôi người khuyết một chữ "gia"

Quạt nồng ấp lạnh chữ "nhà" cũng xuôi."

Tôi dứt khoát đặt bút xuống nghiên, đọc lại những câu thơ mình viết trong vô thức.

Mũi hơi sụt sịt, tôi đoan chắc nếu người có ở đây sẽ mắng tôi lúc nãy nghịch ngu, có khi còn bắt phạt cho chừa.

Bỗng đâu thấy khói hương từ Phật đường tràn cả vào thư phòng làm mắt nhòe đi.

Nhìn lên bức tranh mộc lan treo trên vách, tôi cười nhạt, lẩm bẩm một mình:

- Lão già ạ, xem ra em đã thương người hơn cả ruột thịt mất rồi!

Ca dao ca ngợi hai làng nghề: gốm Thổ Hà và rượu Vạn Vân.

Tương truyền, vào cuối (1009 - 1225) ba ông Đào Trí Tiến, Hứa Vĩnh Cảo và Lưu Phong Tú cùng làm quan trong triều và được cử đi sứ (960 - 1127).

Sau khi hoàn tất sứ mệnh, trên đường trở về nước qua Thiều Châu, tỉnh Quảng Đông gặp bão, phải nghỉ lại.

Ở đây có lò gốm nổi tiếng, ba ông đến thăm và học được kỹ thuật làm gốm.

Về nước Đào Trí Tiến truyền nghề làm hàng gốm sắc đỏ thẫm cho Thổ Hà, Hứa Vĩnh Cảo truyền nghề làm hàng gốm sắc trắng cho Bát Tràng, Lưu Phong Tú truyền nghề làm hàng gốm sắc vàng thẫm cho Phù Lãng.

Quỳ thủy: chỉ kinh nguyệt phụ nữ.
 
Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 19: ĐÃ MANG TIẾNG Ở TRONG TRỜI ĐẤT


Lão già từng nói với tôi, những cây thuốc quý thường mọc ở nơi hiểm trở nên có nhiều người tưởng cây nào mọc ở nơi hiểm trở cũng là thuốc quý.

Lúc nhỏ tôi nghe không hiểu, chỉ thấy buồn cười.

Đến hôm nay bản thân rơi vào cảnh ngặt nghèo mới tỏ mình ngu dại.

Sáng nay tôi thức giấc từ sớm tinh mơ, bước ra sân thấy trời ấm hơn mọi ngày nên xuống bếp xơi bát cơm nguội cùng kho quẹt no căng bụng, dặn người làm nói lại với chị tôi rồi quày quả lên núi.

Đây là lần đầu tôi đi hái thuốc một mình nên hăm hở được một lúc thì bắt đầu buồn chán, tôi nghêu ngao hát:

"Con kiến mà leo cành đa

Leo phải cành cụt leo ra leo vào.

Con kiến mà leo cành đào

Leo phải cành cụt leo vào leo ra.

Cái Phong hái thuốc đường xa

Lên nhầm núi cấm lạc ba mươi ngày..."

Bên kia suối có anh tiều đang đốn củi chợt dừng tay đứng nhìn trối chết về phía tôi.

Tôi nghĩ một lúc rồi chợt nhận ra, ở chốn rừng thiêng nước độc mà nhìn thấy một nhan sắc thế này, anh ta hoảng hốt cũng là dễ hiểu.

Tôi đưa tay lên miệng làm loa, kêu lớn:

- Bác đừng sợ!

Tôi là người, là người đấy không phải nữ thần sơn cước hạ phàm đâu!

Bác đốn tiếp đi!

Có vẻ như lời tôi nói không đủ thuyết phục, anh ta chần chừ một lát lại cúi xuống vớ lấy cái rìu, mặt vẫn xanh như tàu lá.

Ngọn núi này tôi đã đến nhiều lần cùng lão già nên không đến nỗi lạc như lời tôi hát, nhưng cũng không hẳn dễ dàng vì đường rất dốc.

Tôi vừa đi vừa hái, khi mặt trời đứng bóng thì tôi cũng đến được mỏm đá rất cao, túi vải mang theo cũng đã đầy.

Tôi ngồi tựa phiến đá nghỉ chân, giở chiếc bánh giò mang theo ra ăn, định chốc nữa sẽ bắt đầu xuống núi.

Hôm nay trời ấm, tôi nghiêng đầu nhìn những giọt nắng lung linh phản chiếu trên phiến lá non xanh.

Lũ chim gõ kiến vẫn cần mẫn mổ vào thân cây.

Tôi bèn lên tiếng gọi:

- Kiến, xuống đây!

Nó quay lại, giương cặp mắt lồi nhìn tôi ngơ ngác.

Tôi giơ mẩu bánh ăn dở về phía nó, trìu mến nói:

- Xuống xơi bánh giò với chị Phong xinh đẹp này!

Con chim chết tiệt đó quay ngoắt đi đầy vẻ khinh thường.

Suýt nữa thì tôi đã cầm viên đá ném cho bõ ghét.

Nhưng công lao chép kinh Phật mấy năm nay không hề uổng phí, sau một hồi tự bảo mình phải từ bi, tôi cũng buông bỏ được cơn giận trong lòng.

Tôi nghĩ, tất cả cũng tại anh Voi Lớn, nếu như năm xưa anh ta chịu dạy mình cách trò chuyện với thú rừng thì hôm nay đã không mất mặt thế này!

Voi Lớn là người làm ở phủ Hưng Đạo vương.

Lúc được vương nhặt về, anh ta chỉ trạc tuổi tôi, nghe nói không cha không mẹ sống vất vưởng trong rừng nên hiểu được tiếng muông thú.

Tôi gặp anh Voi Lớn lần đầu lúc Hưng Đạo vương đến thăm anh cả, anh ta đi theo nhưng chỉ dám ngồi đợi ở hồ sen, tán dóc với lũ cá trong hồ.

Lúc họ về rồi, tôi cứ nằng nặc đòi lão già dạy tôi, lão thì cứ khăng khăng là không biết.

Những lần sau này có dịp gặp lại, anh ta toàn lừa tôi cho voi chở đi chơi, loay hoay thế nào đã đến lúc phải về.

Cuối cùng, tôi tự tin là mình trên thông thiên văn dưới tường địa lý lại không nói chuyện được với con gõ kiến, bị nó khinh nhờn ra mặt.

Cái bánh giò đã trôi vào bụng từ lâu, tôi cứ nhìn mãi, nhìn mãi lên tán cây ấy.

Xuyên qua đám lá, tôi thấy một cây leo bám chặt vào thân cổ thụ, quả màu vàng rực.

Tôi đứng phắt dậy, nói như reo:

- Cây hoàng đằng!

Đây là cây thuốc quý, vừa chữa được rắn cắn, vừa trị được người ngộ độc.

Tôi chỉ nhìn thấy hình do lão già vẽ lại chứ chưa được sờ tận tay bao giờ.

Trong cơn phấn khích, tôi tìm cách trèo lên.

Loáng cái đã chạm được vào mục tiêu, tôi khéo léo tách cây hoàng đằng ra khỏi thân cây cổ thụ, cẩn thận hết mức để không làm hư bộ rễ.

Chỉ còn một đoạn ngắn bám chặt lấy cành, tôi đang loay hoay gỡ thì bắt gặp một đôi mắt đang nhìn tôi tha thiết.

Tôi chỉ kịp nói một câu rồi giật mạnh tay, tay kia giữ chặt miệng túi vải, cả người rơi xuống đất:

- Chào mày, rắn lục!

Quỷ tha ma bắt cái sự già nua!

Mấy năm trước tôi ngã từ trên cây xuống mãi chẳng hề hấn gì, giờ tuổi đã cao nên chỉ sơ sẩy một chút đã bong gân, chân sưng tấy không đi được nữa.

Khốn nạn hơn, cái cây thuốc tôi liều mạng hái chỉ là cây dại trông giống cây hoàng đằng, hoàn toàn không dùng được.

Tôi cuộn vạt áo lại, đưa lên miệng cắn chặt rồi tự nắn lại khớp chân, đau đến trào nước mắt.

Đưa tay lau sạch, tôi tự nói với mình, là một đại trượng phu, tôi không được khóc!

Nhưng không khóc thì dễ, làm sao xuống núi với cái chân thế này mới khó.

Tôi chủ quan chỉ đi về trong ngày nên không mang theo thức ăn hay nước uống.

Chị tôi cũng đang bận bịu việc trong trang, tâm trí đâu mà cho người dõi theo tôi.

Tôi nghĩ ngợi một lúc, chợt nhớ tới cụ ông Lý Đảm.

Chẳng phải ông ấy cũng sống nơi rừng núi với một chân sao?

Tôi trẻ hơn ông, lại là người luyện võ, chưa gì đã đầu hàng biết sau này làm sao ăn nói với lão già?

Nghĩ là làm, tôi xé vạt áo thành một dải dài, cột cổ chân sát vào đùi rồi nhặt cành cây làm gậy, tập tễnh đi xuống từng bước một.

Những bước đầu tiên khá nhẹ nhàng, rồi chỗ chân đau bị tụ máu, đau đến tê dại.

Tôi cứ đi được một quãng ngắn lại ngồi xuống thở, chẳng mấy chốc trời đã về chiều.

Tôi cố gắng bước nhanh hơn một chút, trong lúc vội vã, đầu gậy của tôi chống vào viên đá nhỏ, trượt đi, tôi ngã nhào, lăn lông lốc, không kiềm được mà kêu la thảm thiết.

Khi hoàn hồn lại, tôi nghe tiếng gọi văng vẳng:

- Nhã Phong!

Tôi nhận ra ngay tiếng Nguyễn Nam, liền hét trả:

- Anh Nam, tôi ở đây này!

Ở chỗ có rất nhiều cây ấy!

Cũng nhờ chỉ dẫn chi tiết của tôi, anh ta đến nơi ngay lập tức.

Vẻ thảng thốt hiện rõ trên mặt, anh ta vội đỡ tôi ngồi dậy, tháo sợi dây buộc ở chân, xuýt xoa liên hồi:

- Sao lại ra nông nỗi này?

Em chán sống rồi hả?

Tôi mệt chẳng buồn cãi lại, để mặc anh ta xốc tôi lên lưng.

- Thả tay ra! – Anh ta nghiêm giọng.

Lúc này tôi mới sực tỉnh, để anh ta cầm lấy túi vải chứa đầy thảo dược.

Một lúc lâu sau, tôi hỏi:

- Sao anh lại ở đây?

- Sáng nay phu nhân đến nhờ tôi đi theo em để trông chừng.

Ra là vậy!

Chị tôi vẫn yêu thương tôi lắm!

- Giữa đường tôi gặp anh tiều phu nên hỏi anh ta có thấy cô gái nào mặc áo lam trắng, mặt mũi thánh thiện lên núi hái thuốc không.

Anh ta lắp bắp mãi rồi mới chỉ tay về hướng Bắc.

Tôi thở dài đánh thượt:

- Chắc gã tiều đó sợ ngươi gặp nữ thần phải tội nên chỉ sai đường.

Nhưng ngươi làm thầy thuốc kiểu gì vậy, bao giờ hướng Nam chẳng nhiều cây cối um tùm tốt tươi hơn, tất nhiên ta phải đi về phía ấy rồi! – Tôi càng nghĩ càng thấy cáu, quên cả mệt.

- Làm sao tôi dám dùng lý lẽ của người bình thường mà đoán ý nghĩ của em? – Hắn ta cãi chày cãi chối.

- Này!

Đừng nghĩ ngươi đang cõng ta thì muốn nói sao cũng được!

Có giỏi thì bỏ ta xuống tỉ thí một trận! – Tôi bóp cổ hắn bằng cả hai tay.

- Tôi sai!

Tôi sai rồi! – Hắn thều thào yếu ớt.

Sau đó, Nguyễn Nam bỗng dưng trầm lặng.

Mãi một lúc lâu sau hắn bảo:

- Nhã Phong, tôi đi em có buồn không?

- Ngươi muốn đi đâu? – Tôi hỏi bâng quơ.

- Đi làm đại sự. – Hắn ngập ngừng. – Đợi công thành danh toại rồi mang trầu cau đến xin Hưng Ninh vương cho tôi đón em về.

Tôi đang mệt nên nghe chữ được chữ mất, ngáp dài bảo:

- Đời này ta chỉ ở Dưỡng Chân Trang.

Ngươi muốn thì dọn đến sống cùng.

Trong cơn chập chờn, tôi nghe tiếng hắn cười khổ não.

Khi chúng tôi đã về đến nhà, chị tôi ra tận cổng đón, thảng thốt kêu lên:

- Cậu Nam, Phong bị làm sao thế này?

Bàn tay dịu dàng của chị đặt lên trán tôi, giọng nói càng khẩn trương hơn:

- Em sốt rồi!

Mau đưa nó vào phòng!

Tôi mơ mơ màng màng thấy ông Lý Đảm đang bước ra từ phòng của sư ông.

Họ trông thấy tôi, vội đến xem, ông Đảm bước thấp bước cao hệt như tôi lúc nãy.

Tôi mỉm cười, gật đầu chào họ rồi không biết gì nữa.

***

Trong một giấc mơ nào đó, tôi thấy lão già hay tin tôi ốm nặng nên trở về thăm.

Tai tôi nghe rõ tiếng lão răn dạy mọi người phải trông chừng tôi cẩn thận hơn.

Mắt tôi thấy rõ dáng lão ngồi đọc văn thư ở phòng tôi cả ngày, không rời đi đâu cả.

Tôi tỉnh dậy, thừa dịp lão không để ý mà bò đến ôm chân lão tỏ vẻ hối lỗi.

Lão nghiêm mặt, giọng lạnh tanh:

- Em nghỉ ngơi vài hôm nữa đi.

Đợi chân khỏi hẳn rồi ra dọn chuồng ngựa và vớt bèo dưới ao.

Không vội!

Tôi sợ hãi khóc ròng:

- Lần này không phải lỗi của em đâu, tại anh Voi không dạy em cách thương lượng với rắn lục đấy chứ!

Tôi khóc như thật, nước mắt ướt đẫm gối, chị Hạnh hoảng hốt lay tôi dậy:

- Cô Phong!

Cô Phong!

Làm sao thế?

Cô thấy ác mộng sao?

Tôi choàng tỉnh, đảo mắt nhìn quanh phòng mãi một lúc lâu rồi lẩm bẩm:

- Chuồng ngựa đã dọn chưa?

Bèo dưới ao đã vớt sạch chưa?

Chị Hạnh tròn mắt nhìn tôi rồi đưa tay lên trán, đoạn chạy ra cửa gọi lớn:

- Cậu Nam ơi, cô Phong tỉnh rồi, cậu đến xem cho một chút!

Nguyễn Nam nhanh nhẹn đến bắt mạch, xem chân, bắt tôi uống hết một bát thuốc đắng rồi mới từ tốn bảo tình trạng đã khá hơn nhiều.

Nằm mãi một chỗ khiến tôi buồn bực chết đi được.

Tôi chống gậy lò dò đến chỗ ông Đảm đang dạy mọi người rèn vũ khí.

Nào chuốt tên, nào rèn gươm, các anh thợ mình trần mướt mồ hôi làm hăng say như thể đang giết giặc.

Ông Đảm hôm nay hoàn toàn khác người đàn ông đã say bí tỉ vì buồn tình hôm mới đến.

Tôi ngồi chống cằm quan sát ông một hồi lâu, chắc mẩm thời trẻ ông cũng là một thanh niên tuấn tú, rất xứng đôi với mẹ của lão già.

- Hưng Ninh vương không dạy em rằng nhìn chằm chằm vào nam nhân là thiếu đoan trang sao? – Tiếng Nguyễn Nam từ sau vọng đến.

Tôi nhìn bát thuốc hắn vừa đặt trước mặt rồi quay sang nhìn hắn, bĩu môi không thèm đáp.

Hắn đợi mãi không thấy tôi uống, toan cầm tay tôi ấn bát thuốc vào, tôi đánh mạnh lên tay hắn:

- Công tử, xin tự trọng!

Ông Đảm ngồi ngay đó phì cười.

Tôi tập tễnh bước đến sau lưng ông:

- Ông ơi cứu cháu!

Tên kia muốn giở trò...

Nét mặt Nguyễn Nam không rõ là buồn cười hay tức giận, hồi lâu hắn thở dài:

- Em cứ dở người như thế thì bao giờ khỏe lại?

Đợi quân Thát đến thì đánh giặc bằng một chân à?

Chợt nhận ra mình đã lỡ lời, tên thầy thuốc e dè nhìn ông Đảm:

- Xin lỗi cụ, tôi không...

Bàn tay ông đưa lên cắt ngang lời hắn, ông chống tay lên bàn đứng dậy, nhìn tôi với ánh mắt đầy kiêu hãnh:

- Nhóc, ta nghe nói cháu bị thương vẫn cố gắng tự mình xuống núi.

Mang kiếm ra đây, ta dạy cháu làm thế nào một chân giết giặc!

Cả xưởng rèn đều bỏ dở việc chạy đến xem, không biết ai báo mà chị tôi và anh Thân cũng đến, có người còn mang theo cả trống.

Tôi nắm chặt thanh kiếm khắc chữ "Tuệ", quên đi cái chân đau đang được bó vào đùi, cố trụ vững trên chân phải.

Phía bên kia ông Đảm cũng lăm lăm thanh đao lấy bừa trong xưởng, ánh nhìn bỗng trở nên sắc lạnh.

Cánh tay ông và lưỡi đao tạo thành một đường thẳng tắp, khí thế rợn người.

Đó không còn là ông cụ lánh đời chỉ nói được ba câu ở ngôi chùa trên núi, không phải là một người đau khổ vì vết thương lòng, không phải là một vị hoàng thân thất thế.

Đó là một dũng sĩ sẵn sàng tiêu diệt bất cứ kẻ nào dám cản đường!

Ông nhìn chằm chằm về phía tôi, nói như ra lệnh:

- Nhóc, lên!

Tiếng trống vang lên giòn giã.

Tôi buông gậy, lấy đà nhảy lên cao, lộn người trên không một vòng rồi vung kiếm chém mạnh xuống.

Nhanh như cắt, ông Đảm đưa đao lên đỡ, hất tôi ngã về phía sau đồng thời nhào lộn liên tục mấy vòng, thoắt một cái, lưỡi đao đã ở ngay trên đỉnh đầu tôi.

Tôi chỉ có một chân, không chạy được nên chỉ biết lăn trên đất để tránh né.

Ông Đảm vẫn liên tục đánh xuống, một tay nạng một tay đao, tôi thấy khắp người đau buốt.

Mọi người xung quanh nhất loạt kêu:

- Đừng đánh nữa, đừng đánh nữa!

Ông Đảm vẫn đứng vững, lưỡi đao hướng về phía tôi, ánh mắt không hề lộ vẻ từ bi.

Trong khoảnh khắc đó, tôi thực sự muốn khóc.

- Ra chiến trường, giặc không vì ta bị thương mà dừng lại.

Nhóc, nhặt kiếm lên!

Phải rồi, tôi đã quên đi mình từng khổ luyện thế nào những ngày đầu.

Cuộc sống của tôi luôn êm đềm, đi đâu cũng có lão già che chở, tôi chỉ mải mê tập luyện cho kiếm pháp thật đẹp, thật thanh tao giống lão mà quên đi rằng đao kiếm vốn là hung khí để giết người.

Tôi chưa từng nghĩ xem lão già của tôi lúc ra trận sẽ thế nào, ánh mắt có còn phẳng lặng như mặt hồ thu hay cũng đằng đằng sát khí.

Nhưng lúc này, đối diện với cụ ông trước mặt, sau lưng chẳng có đường lùi, tôi biết mình sắp chết.

Tôi không muốn chết!

Tôi không muốn thừa nhận mình vô dụng!

Tôi duỗi ngón tay rồi lại nắm chặt vào chuôi kiếm, dùng hết sức bình sinh bật người dậy, xoay cổ tay đâm thẳng đến.

Ông Đảm đưa thân đao ra đỡ rồi lại lao đến phản công, tôi dồn sức một lần nữa, dùng cả hai tay chém thật mạnh về phía trước.

- Hay!

Hay quá! – Mọi người đồng loạt reo lên.

Tôi thở hồng hộc, gượng ngồi dậy, nhìn về phía đối thủ.

Ông Đảm vẫn cầm thanh đao đã gãy đôi, ôm quyền cúi nhẹ người chào.

Anh Thân đỡ tôi đứng lên, tiến về phía ông.

Ông cụ hất hàm cười:

- Thế mới xứng là truyền nhân của tên nhóc kia chứ!

Tôi nhìn thanh kiếm trong tay mình:

- Cũng nhờ thanh bảo kiếm này...

Ông Đảm đưa tay phủ nhận:

- Vũ khí sắc bén nhất là đây. – Ông đưa tay đấm lên ngực mình. – Chỉ cần trong lòng có quyết tâm muốn sống, dù là kiếm tốt, hay thanh đao gãy, dù đủ đầy tứ chi hay què cụt, ta đều có thể chiến đấu đến cùng.

Dừng một lúc, ông nói tiếp:

- Tên nhóc kia có vẻ rất nhàn nhã, nhưng một khi cần chiến đấu, hắn cũng sẽ không khoan nhượng.

Ta chưa được nhìn thấy dáng vẻ đó của hắn, đành nhìn vẻ mặt hôm nay của cháu.

Ánh mắt rất kiên định, rất sắc sảo.

Đó không phải là dã tâm, sát ý.

Đó là niềm kiêu hãnh của giống tiên rồng, vung kiếm để bảo vệ nghìn năm lịch sử!

Ông mỉm cười, nét mặt trở nên nhu hòa:

- Nhóc con, hiểu rồi chứ?

Tôi nghe những lời ông nói, nhìn gương mặt tràn đầy khí thế kia, không kìm được xúc động mà thấy cay cay nơi khóe mắt:

- Cháu hiểu rồi, cảm ơn ông ạ!

Ông dõng dạc hướng về những người đang tụ tập xem trận đấu, dừng lại một chút chỗ tên thầy thuốc:

- Các người đã hiểu cả chưa?

- Hiểu ạ! – Muôn người đồng lòng như một.

***

Từ sau trận đấu ấy, danh tiếng của ông Đảm ngày một vang xa, rất nhiều chú bác trong làng cũng tìm đến gặp ông, được ông động viên ghi tên nhập ngũ.

Tin từ kinh đô truyền lại, tên chủ tướng quân Thát là Cốt Đãi Ngột Lang cho sứ giả sang dụ hàng bị quan gia bắt giam vào ngục.

Không khí chiến tranh đến bây giờ bỗng trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết.

Cả nước bừng bừng khí thế chuẩn bị chống xâm lăng.

Việc quân mỗi ngày một nhiều thứ phải lo, hôm nào tôi cũng cùng sư ông, chị cả và anh Thân bàn bạc đến khi trời tối.

- Sau khi bổ sung quân lực cho tiền tuyến, chúng ta còn tổng cộng năm nghìn quân.

Anh Thân giúp em chọn ra những người thể lực tốt, trèo cao, nhanh chân, chạy giỏi thành một nhóm quan binh, chia nhau trấn giữ bốn mặt Đông – Tây – Nam – Bắc và những nơi trọng yếu như phủ đệ, đền đài.

Chị giúp em tuyển một toán du quân, gồm những kẻ có tài ẩn mình, đi như rắn, nấp như chuột, vượt thành, khoét vách, dùng để liên hệ giữa các quân, thường ngày thì bí mật theo dõi an ninh đề phòng có người thừa lúc loạn lạc làm càn.

Ai còn nặng lòng với họ Lý và tin theo ông Đảm thì cứ để ông ấy dẫn dắt, phía Phật tử xin nhờ sư ông.

Những kẻ mạnh dạn, liều chết, không sợ gươm giáo sẽ theo em, lập thành một toán quân tiên phong đánh phủ đầu giặc khi cần.

- Chị không đồng ý!

Như vậy quá nguy hiểm cho em! – Chị tôi hơi kích động.

- Chị yên tâm, em không chết được đâu!

- Cô Phong, cậu Cả mà biết sẽ giết bọn tôi mất! – Anh Thân cũng mất bình tĩnh.

- Huệ Tâm! – Sư ông từ tốn cất lời. – Con là truyền nhân tâm đắc nhất của Tuệ Trung, con không ở lại lãnh đạo thì làm sao mọi người yên tâm chiến đấu!

Tôi toan đáp lại thì bên ngoài có tiếng gõ cửa.

Tôi gấp tấm địa đồ bằng da dê lại, cao giọng đáp:

- Vào đi!

Nguyễn Nam bưng khay thuốc bước vào đưa cho tôi rồi quay mặt ra ngoài.

Tôi uống một hơi cạn sạch rồi đưa bát lại cho hắn.

Tên lang băm lặng lẽ rời đi, khép cửa phòng lại, từ đầu đến cuối không nói một lời nào.

Thật ra những hôm đầu tiên hắn có hỏi, nhưng chỉ nhận được vài câu đáp ậm ờ:

- Bọn tôi đang bàn tí việc.

Thế nên giờ hắn cũng biết ý, không hỏi thêm gì nữa.

Chị tôi nhìn cánh cửa đã đóng chặt, khẽ thở dài:

- Không đủ thân thiết để chia sẻ quân cơ, không đủ tầm thường để ghi danh vào quân ngũ.

Cũng không biết phải đối xử với cậu ta thế nào mới phải.

- Nếu tôi là cậu ấy, chắc sớm đã không chịu nổi. – Anh Thân chép miệng đầy cảm thông.

- Lúc đầu tỏ ý giữ hắn lại, em cũng không ngờ không khí ở hậu phương lại nhàm chán thế này, vốn không có chỗ cho hắn lập công. – Tôi lật tấm địa đồ ra nhìn vu vơ vào một điểm.

- A di đà Phật! – Sư ông ôn tồn. – Cậu trai ấy là người thông tuệ, vốn hiểu rõ lòng mình, các con không cần lo lắng thay cậu ấy.

Tuy vô tâm vô phế, tôi cũng đọc được sự chán nản trên vẻ mặt Nguyễn Nam hôm vào rừng tìm tôi, hắn có tài lại có mưu trí, vốn không nên ở chốn này ngày ngày nghe bọn tôi sai vặt.

Tôi nghĩ sư ông nói không sai, ngày hắn nói lời từ biệt chắc chẳng còn xa nữa.

Quả nhiên, ngay sau cái hôm tôi tháo vải băng ở cổ chân, Nguyễn Nam lặng lẽ ra đi, chỉ để lại một phong thư và một quyển sách gửi cho tôi.

"Nhã Phong, tạm biệt.

Nhờ em giúp tôi cảm tạ Hưng Ninh vương đã ngăn tôi phạm sai lầm.

Ông ta nói không sai, nếu tôi muốn bảo vệ những người tôi coi trọng, tôi phải có thực quyền trước đã.

Tiếp tục ở lại Dưỡng Chân Trang, tôi mãi mãi chỉ là một tên thầy thuốc quèn, cố gắng lắm thì cứu chữa được mấy chục người.

Cụ Lý Đảm tuy tuổi đã cao lại tàn nhưng không phế, có lý nào tôi cam phận thấp hèn mãi được?

Y thuật của tôi không thể sánh bằng vị tiên sinh mà em tôn kính, nhưng lúc này không có ông ta ở bên, những ghi chép của tôi chắc cũng giúp em được đôi phần.

Tôi tin em không ngạc nhiên, cũng không thương tiếc.

Bảo trọng.

Hẹn ngày tái ngộ."

Tôi lật nhanh quyển y thư của hắn, bên trong là rất nhiều hình vẽ và ghi chép về những cây thuốc quý tôi chưa thấy bao giờ, còn có những căn bệnh lạ mà hắn gặp trên đường hành y bấy lâu nay.

Tôi mải mê đọc hồi lâu, khi xếp sách lại rồi mới nhìn đến chiếc phong bì, một bên hắn viết rõ tên tôi, bên còn lại, là một cái tên lạ lẫm.

Tôi nghĩ một lúc rồi ngỡ ngàng nhận ra tên Nguyễn Nam tôi vẫn gọi hắn bấy lâu nay là giả.

Trong vô thức, môi tôi bật ra tiếng gọi tên thật của hắn lần đầu:

- Phạm Cự Chích!
 
Back
Top Bottom