Khác CỐ NIÊN HOA

Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 20: NGỰA HÍ VANG TRỜI


Nguyễn Nam, à không, Phạm Cự Chích rời Dưỡng Chân Trang chẳng bao lâu thì vó ngựa Thát quân giẫm lên biên giới Đại Việt.

Đợi mãi không thấy bọn sứ giả quay về, tướng quân Cốt Đãi Ngột Lang quyết định khởi binh từ trại A Mân.

Lão già viết thư về báo, phò mã Hoài Đô và tướng Triệt Triệt Đô dẫn hai đạo quân tiên phong tiến theo tả hữu ngạn sông Thao, trung quân do A Truật dẫn đầu, cuối cùng là hậu quân của Cốt Đãi Ngột Lang trực tiếp chỉ huy.

Tôi thường nghe Hưng Đạo vương nhiều lần khen ngợi viên tướng này trước mặt lão già, bảo đây là con trai của danh tướng Tốc Bất Đài – một trong tứ dũng của Thành Cát Tư Hãn.

Cha hắn đã từng tham gia chinh phạt nước Kim và Hoa Thích Tử Mô, bản thân hắn cũng là nguyên soái tiêu diệt Nam Chiếu trong vỏn vẹn vài tuần.

Thuở ấy nghe chuyện kiêu hùng trên lưng ngựa của cha con hắn, tôi cứ trầm trồ khâm phục mãi, mơ về một ngày được dong ruổi trên thảo nguyên bao la mà giương cung bắn hạ hùng ưng, chẳng ngờ có một ngày phải đứng hai bên chiến tuyến.

- Theo tin báo về từ biên giới, thiết kỵ binh của bọn chúng sang Đại Việt chừng ba vạn, cộng với hai vạn quân Đại Lý của vua Đoàn Hưng Trí đã đầu hàng, tất cả khoảng năm vạn. – Chị Thiên Hương nhìn đăm đăm vào tấm địa đồ, chậm rãi nói. – Xét về quân số thì nước ta không hề thua kém, nhưng bấy lâu nay tiếng vó ngựa của người Thát là nỗi ám ảnh của các nước lân bang nên ta không có cách nào lạc quan được.

- Vương phi, quan gia đã ra lệnh điều động quân đội đích thân xuất trận, cả nước đang vô cùng phấn khích, sĩ khí rất cao, người không cần lo lắng quá! – Anh Thân hồ hởi đáp.

- Thiên Thuộc, Thiên Chương, Thánh Dực, Chương Thánh, Thần Sách, Củng Thần, ngoài sáu quân chủ lực này ra còn có sương quân của các lộ gần bên cùng với quân đội riêng của các vương hầu ở xa chưa kịp về tụ hội, quân đội đang đóng ở phía Nam để trông chừng người Chiêm nếu cần cũng có thể dùng. – Tôi ngồi co một chân trên ghế, cằm tựa lên gối, tay xoay xoay cốc trà đã cạn. – Hưng Đạo vương đã được điều lên trại Quy Hóa để đón đầu giặc, em tin là bọn Thát chẳng thể đắc ý được đâu.

Chúng ta cũng nên sẵn sàng thôi.

Nói rồi, tôi nhìn sang sư ông vẫn đang trầm ngâm từ chiều:

- May là bọn con có sư ông, nếu không kế hoạch thông tin của tiên sinh chẳng thể nào thực hiện rồi.

Để rút ngắn thời gian báo tin giữa tiền tuyến với hậu phương, lão già đã nghĩ ra cách tận dụng số lượng đền chùa dày đặc trong nước.

Mỗi vùng có một chùa lớn phụ trách thông tin chính và nhiều chùa nhỏ thay nhau "chạy trạm".

Sư ông Tiêu Dao – vị thiền sư đức cao vọng trọng nhất nhì cả nước – đã giúp bọn tôi thuyết phục và tổ chức hệ thống này, chính vì thế, buổi sớm có việc gì xảy ra ở Thăng Long thì buổi chiều tôi đã biết được ngay.

Tất nhiên, có tin cần bảo mật, có tin cần lan tỏa.

Sư ông nhìn tôi mỉm cười hiền hậu, khẽ gật đầu như bảo hãy an lòng.

***

Dù tin tức truyền về ở tiền tuyến có dầu sôi lửa bỏng thế nào, ngày nào Thăng Long còn đứng vững, hậu phương như làng Vạn Niên của tôi hãy còn nhàn nhã.

Mấy hôm liền sau đó, chiều nào tôi cũng ngồi ở hiên nhà, miệng nhai mía chưng hoa bưởi thơm lựng, tay lúc thì chuốt dược nỏ, lúc thì cầm que vẽ sơ đồ trận nào Hạc Dực, nào Bát Môn Kim Tỏa cho các đô trưởng hiểu.

Theo quy định của triều đình, cứ năm người lính hợp thành một ngũ, đứng đầu là ngũ trưởng, năm ngũ hợp thành một đô, ba mươi đô lại thành một quân.

Ở Vạn Niên có một quân là thân binh của lão già, do chị Thiên Hương trực tiếp chỉ huy nhưng bọn họ nghe lời tôi lắm.

Mỗi lần hoa tay múa chân ra chiều nghiêm trọng với thuộc cấp, tôi đều hình dung trong đầu cảnh nữ tướng Trần Nhã Phong oai vệ cưỡi trên lưng voi, ung dung lấy đầu quân Thát, khí thế chẳng kém Bà Trưng, Bà Triệu ngày nào, chỉ nghĩ thôi đã sướng run người, dù rằng tôi chưa được học cách cưỡi voi.

Lần này, anh Voi Lớn và anh Cá To hẳn đã theo Hưng Đạo vương xuất trận, hẳn là oai phong lẫm liệt khiến người ta đố kỵ.

Nhất định khi thanh bình gặp lại, tôi sẽ bắt họ dạy tôi cách trò chuyện, điều khiển thú rừng và cá biển!

- Cụ đang làm món gì vậy, có trò hay mới sao không cho cháu cùng chơi? – Tôi đảo khúc mía trong miệng, ú ớ bảo ông Đảm đang săm soi mũi tên bé tẹo bên kia.

- Qua đây. – Ông vẫy vẫy tay.

Tôi nhè xác mía ra bát, lau vội bàn tay đang dính đầy độc dược, chạy đến chỗ ông.

Ông lão lấy một ống trúc nhỏ xíu, bỏ mũi tên gỗ đầu dày đầu nhọn vào, đưa cho tôi bảo:

- Thử xem.

Tôi hồ nghi cầm lấy, nhìn nhìn một lúc mới đưa lên miệng, nhắm vào thân cây đại cách chỗ tôi đứng chừng mươi bước, thổi mạnh một cái.

Mũi tên cắm phập vào thân cây.

Tôi mở to mắt chạy đến nhổ ra, lại lùi xa ba mươi bước, thử lại lần nữa, mũi tên vẫn cắm mạnh vào chỗ cũ.

- Cái này nhỏ tí mà lợi hại ghê, bắn được xa phết ông ạ! – Tôi nói như reo.

Ông Đảm cười cười tự đắc, hồi sau mới bảo:

- Trước ta dùng để săn thú, no bụng là nhờ nó cả đấy!

Tôi nghe ông nói, chợt nảy ra một ý:

- Nếu ta có thể làm mũi tên bé hơn một tí rồi tẩm độc, nhân lúc bọn giặc Thát không để ý mà thổi vào chân ngựa thì có thể khiến ngựa tự dưng ngã lăn quay, nhất định sẽ làm bọn chúng không hiểu chuyện gì, hoảng sợ mà bỏ chạy!

Ông lão một chân nhướn mày ra chiều thích thú, gật gật đầu.

- Vậy ông cháu mình chuốt thêm nhiều cái nữa để dùng dần cụ nhé! – Tôi ngoác mồm cười.

Lần sau gặp lại, tôi nhất định sẽ bày một bàn tiệc linh đình cảm ơn Trần Cụ đã giới thiệu cụ Lý Đảm cho tôi.

Ông ấy biết rất nhiều loại binh khí khác nhau, từ cách chế tạo sử dụng đến việc dùng món nào vào trận nào là hợp lý.

Ông thấy tôi càng nghe càng hỏi, lại sáng dạ học một hiểu mười nên rất tích cực dạy dỗ, tôi giác ngộ được bao nhiêu điều mới lạ.

- Các người có vẻ rất tín nhiệm thằng nhãi Cảnh. – Một hôm, ông bỗng bắt đầu câu chuyện với tôi như thế.

Thằng-nhãi-Cảnh là cách ông vẫn hay gọi quan gia, ban đầu tôi có chút lo sợ sửa lời ông nhưng nói mãi không xong, nhìn quanh quất cũng chẳng có ai xa lạ, tôi đành xem như không có gì đáng bận tâm:

- Điều đó là tất nhiên ạ!

Quan gia tại ngôi chẳng bao lâu, đất nước từ sắp suy vong đã no ấm vững mạnh như hôm nay, bây giờ còn không xem quân Thát là đáng sợ.

Mấy năm trước, ngài mới đánh Chiêm Thành xong đã mang chiến thuyền đi thị uy trên đất Tống, nhổ neo sắt của người Tống mang về.

Oai dũng là thế nhưng vẫn rất thấu hiểu nhân tình, tinh thông Phật pháp.

Tiên sinh nhà cháu kính phục quan gia lắm, hay kể sự tích anh hùng của ngài ấy nên ai nấy ở đây cũng như vậy cả cụ ạ!

- Thế à. – Cụ nhếch mép cười.

Tôi biết, phải thừa nhận tình địch của mình là một điều vô cùng khó khăn nên tôi cũng không chấp gì ông cụ.

Đàn ông nhiều khi cũng chỉ là một đứa trẻ to xác mà thôi!

***

Bình bình an an chuốt ống thổi tiêu được vài hôm nữa, tôi nhận được mật báo rằng quân Thát đã chiếm được Quy Hóa, chủ trại Hà Khuất phải lẩn vào rừng.

Tôi đập bàn hỏi lớn:

- Hưng Đạo vương đâu?

Ngài ấy không phải đến Quy Hóa rồi sao?

Chú sa di đến truyền tin bị tôi dọa sợ tái mặt:

- Bẩm, không nghe nói gì về đức ông!

Tôi nhận ra mình thất lễ, mời chú lui xuống hậu viện nghỉ ngơi.

Bọn Thát tiến quân nhanh hơn chúng tôi nghĩ rất nhiều.

Quân đội viễn chinh thường phải đem theo lượng lương thực, vũ khí và quân hậu cần lớn nên sẽ làm chậm tốc độ di chuyển, nhưng bọn này không những chỉ mang mọi thứ trên lưng ngựa mà vai trò của người nấu ăn và thợ rèn chúng cũng thay phiên nhau đảm trách.

Giờ tôi đã lờ mờ hiểu vì sao chúng kiêu ngạo nói rằng "vó ngựa quân Thát đi đến đâu, cỏ nơi ấy không mọc nổi".

Tôi trấn an mọi người nhưng lòng đã như lửa đốt:

- Chắc là Hưng Đạo vương chủ động rút lui vì có một kế hoạch sâu xa hơn, chúng ta phải tin tưởng, ngài ấy đã từng thất bại bao giờ?

Gần suốt một đêm, tôi chong đèn nhìn tấm địa đồ suy nghĩ rất lung.

Họ Trần xuất thân nghề chài lưới nên thủy quân vốn là thế mạnh.

Tôi đoán quan gia sẽ cho binh thuyền đi từ Thăng Long ngược dòng Phú Lương, rẽ vào sông Cà Lồ để tiến lên Bình Lệ Nguyên.

Sông Cà Lồ vốn là nơi đỗ chiến thuyền do lòng sông rộng lớn, có thể tận dụng làm chiến hào, còn Bình Lệ Nguyên là một cánh đồng cao có nhiều chỗ uốn lượn, có thể trở thành một chiến trường tương đối bằng phẳng cho tượng binh của quân ta.

Chiến trường do ta chọn, lực lượng ta áp đảo, lẽ ra tôi không cần cảm thấy bất an thế này mới đúng.

Nhưng đêm ấy, tôi mơ thấy mình lạc giữa đám loạn binh, chạy mãi chạy mãi mà không thấy lối ra, khắp nơi toàn là máu và tiếng rên la, vó ngựa của bọn chúng đuổi theo cận kề, rầm rập, rầm rập.

***

Ngày mười hai tháng Chạp năm Nguyên Phong thứ bảy, tôi đang ngồi gảy đàn cho mọi người nghe sau bữa ăn tối thì bỗng dung dây đàn đứt khiến ngón tay tôi bật máu.

Vừa lúc đó khoái mã về trình: quân ta thua trận ở Bình Lệ Nguyên, quan gia vốn định tử chiến với quân Thát nhưng được tướng Lê Phụ Trần can gián và liều thân cứu nguy, đã rút lui.

Về đến sách Cụ Bản, quân triều đình được viện binh ứng cứu nhưng người thủ lĩnh đã hy sinh, tên là Phạm Cự Chích.

Từng giọt máu trên tay nhỏ xuống đàn, trước mắt tôi chỉ thấy toàn màu đỏ.

Mọi người chẳng ai nói thêm gì cả.

Một lúc lâu sau, sư ông chỉ niệm một tiếng "A di đà Phật" rồi lặng lẽ bước đến Phật điện, chị tôi, anh Thân và ông cụ Đảm lần lượt rời đi.

Tôi trở về phòng mình nhưng không vào mà ngồi như trời trồng trước bậu cửa.

Ngồi mãi đến khi trời sáng.

Từng việc, từng việc một từ lúc gặp anh ta ở quán trọ đến lúc chia tay cứ lần lượt kéo nhau về.

"Em buôn thần bán thánh như thế không sợ Hưng Ninh vương trách phạt sao?"

"Nhã Phong, rốt cuộc đâu mới là bộ mặt thật của cô?"

"Tôi quay lại, nhưng vẫn là con chim sợ cành cong, bất an nhiều thứ lắm."

"Tôi vì ai mà say thế này, phải có bù đắp chứ!"

"Tôi đã luôn nghĩ em là đàn bà của Hưng Ninh vương kia đấy!"

"Tôi biết bây giờ tôi không thể so được với Hưng Ninh vương, nhưng sẽ có ngày..."

- Ngươi đúng là đồ ngốc!

Đến bao giờ ngươi mới so được với tiên sinh của ta?

Tại sao phải mang mạng mình ra mà cược?

Ngươi chết rồi, ai sẽ giúp Vũ Thành vương xin tội?

Ai sẽ giúp ngài ta mỗi lần lên cơn háo suyễn? – Tôi rít qua kẽ răng, giá có tên thầy thuốc ấy ở đây, tôi sẽ cho hắn một trận ra trò.

"Nhã Phong, tôi đi rồi em có buồn không?"

Không.

Ai lại buồn vì kẻ ngốc như ngươi?

Ai đã hẹn có ngày gặp lại?

Tôi đặt bát hương dành cho hắn lên bàn thờ, thắp một nén nhang, tay hãy còn run run không rõ vì bất ngờ hay tức giận.

Sư ông khẽ vỗ đầu tôi như thấu hiểu, tôi nói khẽ với người:

- Con biết đối với sư ông hay với tiên sinh nhà con, có sinh ắt sẽ có diệt, có hợp ắt sẽ có tan, sống chết là việc thường tình không cần thương tiếc quá.

Nhưng con không phải là một vị thiền sư đắc đạo, con còn nhiều món ngon vật lạ chưa được thưởng qua, chết là hết, là không được làm gì nữa...

- A di đà Phật! – Sư ông ôn tồn đáp. – Cậu Nam ra đi vì đất nước, tuy quá sớm, nhưng chắc trong lòng cũng không hối tiếc gì.

Huệ Tâm, con có thể xót thương nhưng đừng đau lòng quá mức.

Tôi cúi mặt, gật gật đầu thay cho lời đáp.

Tôi biết Nguyễn Nam cũng như tôi, rất tầm thường và thực dụng, làm sao lại không luyến tiếc cuộc sống này?

Tôi ngồi ở Phật điện đến khi mặt trời đã lên cao.

Trước lúc rời đi, tôi nói khẽ với vong linh tên lang băm nọ:

- Khi nào bọn Thát rút lui, ta sẽ thay ngươi xin tội cho Trần Doãn, thay ngươi kê thuốc trị bệnh giúp ông ta, ngươi cứ yên tâm mà siêu thoát.

Cả ngày hôm đó tôi cẩn thận sắp xếp mọi việc, dặn dò lại những việc thường ngày vẫn nói thêm một lượt, đi xem lại hết kho lương đến kho vũ khí, tới chiều thì đã thấm mệt, tôi bảo mọi người dọn cơm tối sớm.

Ăn xong, tôi đứng ngoài vườn hồi lâu, nhìn thật kỹ từng cành cây, viên ngói của nơi tôi đã gắn bó suốt mười năm.

Hành lý thu dọn hôm nay cũng giản đơn như ngày đầu năm trốn nhà đi tìm lão, khác chăng, có thêm quyển sách ghi chép y lý mà Nguyễn Nam đã để lại cho tôi.

***

Vừa dắt Cụ Nhỏ ra đến đầu làng, tôi bị chặn lại bởi ông cụ Đảm.

Dưới ánh trăng sắp tròn, gương mặt ông hiền lành hơn ban ngày rất nhiều lần.

- Độc túc tráng sĩ, cụ để cháu đi đi! – Tôi nửa đùa nửa thật.

- Cháu đã hứa với tên nhóc đó sẽ ở lại trông nom quân đội của hắn, sao giờ lại bỏ chạy sớm thế? – Cụ tỏ vẻ trêu chọc.

- Một mình chị cháu cũng đủ rồi!

Thật ra, cháu chỉ là thích thị uy thôi chứ chẳng giúp được gì nhiều.

- Sao hôm nay tự ti như vậy?

Cháu nhớ hắn đến mức đó sao?

Tôi nhìn ông không đáp.

Ông cũng nhìn tôi, kiên quyết không tránh đường.

Một lúc sau, cả hai đều mỏi mắt, tôi bèn cụp mắt, thở dài thú thật:

- Cháu sợ, ông à!

Cụ Đảm chẳng nói gì, đợi tôi tiếp tục.

- Ban đầu chính cháu kiên quyết trở về Dưỡng Chân Trang, cũng chính cháu hứa rằng sẽ thay tiên sinh dẫn dắt quân đội của người đến khi chiến thắng.

Lúc đó cháu không ngờ rằng quân Thát tiến công nhanh đến vậy, không ngờ rằng Hưng Đạo vương sẽ lui binh, càng không ngờ, lần đó gặp Nguyễn Nam lại là lần cuối...

Cụ ông khẽ thở dài thấu hiểu.

Tôi nghiến rang, cố ngăn mình không khóc:

- Tiên sinh là người quan trọng nhất trên đời của cháu, cháu không thể tưởng tượng rằng sau này nếu không gặp được người nữa...

Ông Đảm, từ bé đến giờ cháu cứ nghĩ chiến tranh là cơ hội để anh tài có đất dụng võ, không hề biết hóa ra mạng sống có thể mong manh đến vậy, hóa ra sinh ly tử biệt lại đáng sợ thế này.

- Một mình đi tìm hắn rất nguy hiểm, lỡ như cháu bị tên bay đạn lạc không đến được chỗ tên nhóc đó thì sao?

- Cháu mặc kệ! – Tôi mở to mắt nhìn ông, hình ảnh cợt nhã như mới hôm qua của tên thầy thuốc cứ lởn vởn mãi trong đầu. – Cháu biết cháu rất nông nỗi, rất hồ đồ, nhưng nếu thế giặc mạnh, nếu trận chiến kéo dài, nếu tiên sinh có mệnh hệ nào, cháu tỉnh táo hay lý trí hơn nữa thì cũng có ý nghĩa gì đâu?

Không phải cháu không tin tiên sinh tài giỏi, chỉ là cái chết của Nguyễn Nam làm cháu nhận ra chiến tranh thực sự rất tàn nhẫn.

Ông Đảm nhìn tôi thêm chốc nữa rồi cũng phì cười, hất hàm bảo:

- Vậy lên đường ngay cho kịp.

Đến lúc này tôi mới nhận ra ông đang ngồi trên lưng một con ngựa chiến, túi hành lý được treo gọn gàng ở một bên, trên lưng còn đeo thanh gươm lớn.

Tôi hết bất ngờ rồi lại xúc động, hồi lâu mới nói được mấy chữ:

- Ông ở lại đây giúp mọi người đi, cháu tự lo cho mình được.

- Vũ khí đã rèn xong hết, như cháu đã nói, phu nhân có thể chỉ huy Dưỡng Chân Trang, cậu Thân phải bảo vệ cô ấy, chỉ có ta chẳng có việc gì làm, không trông nom cháu thì cũng thừa thãi lắm.

Hay là cháu cũng chê ta tàn tật sẽ làm chậm hành trình?

- Xem ra cháu không mang ông theo thì không thể rời làng được. – Tôi cười khổ bỏ cuộc.

Hai người hai ngựa cứ thế lên đường.

Tôi đi một chốc lại ngoái nhìn, cổng làng dần mất hút trong đêm, không biết có lúc nào còn được nhìn thấy lần nữa.

- Sao ông biết cháu sẽ trốn đi? – Tôi hỏi ông cho đỡ buồn ngủ.

- Ý định của nhóc hiện rõ trên mặt ấy.

Không chỉ ta mà mọi người đều biết cả rồi.

- Hóa ra công sức cháu viết lá thư để lại cho chị là vô ích! – Tôi thở hắt ra.

Vì đêm tối nên không thể phóng nhanh, tôi và ông Đảm vừa đi vừa cười nói.

Tình cảnh này thật làm tôi nhớ đến hôm cùng Nguyễn Nam chuốc ông uống say để tìm hiểu chuyện tình của ông và công chúa Thuận Thiên.

- Khoan đã, ông đi theo cháu chắc không chỉ là muốn hộ tống chứ? – Tôi chợt dừng ngựa, tỏ vẻ nghi ngờ.

- Nhóc đang nói nhảm gì vậy?

- Tình hình này rất có khả năng tiên sinh không còn ở Hồng Lộ mà sẽ đến hội binh với quan gia.

Ông đi cùng cháu, đừng nói là muốn tìm thời cơ ám sát quan gia?

Cháu đã nói với ông, tiên sinh rất kính trọng quan gia nên cháu nhất định sẽ chống đối đến cùng.

Ông đừng quên lần trước so tài ông đã bại dưới tay của cháu!

Ông cụ nhìn tôi trân trối, cuối cùng bật cười sảng khoái:

- Thằng nhãi Cảnh có làm gì thì cũng là nạn nhân của thời cuộc.

Thời thế này nếu ta giết nó, chẳng phải khiến quân Thát thừa cơ tấn công, khiến dân chúng rơi vào cảnh khổ?

Nhóc con coi ta là kẻ vì ghen tuông cá nhân mà quên đi nghĩa lớn sao?

- Không!

Không giống! – Tôi vội xua tay.

Ông Đảm cười cười rồi đánh ngựa đi, chầm chậm để tôi kịp đuổi theo.

Được một đoạn, ông bỗng lên tiếng, khẽ khàng như gió lạnh trong đêm:

- Kẻ ta muốn giết là Trần Thủ Độ.

Hoa Thích Tử Mô (Khwarezm): bao gồm Iran, Iraq ngày nay và một số vùng lãnh thổ khác.

Dược nỏ: mũi tên tẩm thuốc độc, dùng nỏ bắn chứ không dùng cung.
 
Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 21: CHÍ LÀM TRAI DẶM NGHÌN DA NGỰA [1]


Trời vừa hửng sáng đã đổ trận mưa to lại thêm gió đông khiến tôi rét run cầm cập.

Bọn tôi bèn trú vào một mái hiên, chắc mẩm nơi này trước đã từng là một hàng chè đông đúc.

Co ro trong tấm áo tơi, tôi đưa mắt nhìn mưa rơi rào rào trên mái lá rồi nói bâng quơ:

- Mươi ngày nữa là đến Tết ông Công ông Táo rồi, phải chi ta đuổi được bọn Thát đi trước lúc năm mới về ông nhỉ?

Góc bên kia, ông Đảm cũng tựa cột nhìn ra màn mưa mù mịt, giọng buồn buồn đáp:

- Ừm.

Nhóc không nhắc thì ta cũng quên mất Tết thế nào rồi.

Lời ông nói làm tim tôi hẫng đi một nhịp.

Tôi chợt nhớ ra, mấy chục năm qua ông cô độc sống ở ngôi chùa trên núi Thiên Thai, ngày đầu năm, giữa năm hay cuối năm cũng đều như nhau cả, làm gì có người thân để quây quần.

Tôi bèn đến gần ông thỏ thẻ:

- Chừng thanh bình rồi ông đến ở hẳn với bọn cháu đi.

Tết ở làng Vạn Niên vui lắm!

Cháu sẽ đưa ông đi khắp nơi cho lũ trẻ đến chúc Tết, chỉ sợ lúc đó ông phải phát tiền mừng mỏi cả tay, rỗng cả túi!

Gương mặt nhiều nét khắc khổ giãn ra đôi chút, ông Đảm khẽ mỉm cười khiến tôi cũng vui lây.

Tôi lại tựa cằm lên gối nhìn mưa, nghĩ về bao nhiêu chuyện cũ.

Bốn năm trước, lão già có việc công ngay mồng một nên cho phép tôi đi chúc Tết một mình.

Tôi ăn mặc thật đẹp, nhờ chị tết tóc thật xinh rồi la cà mãi đến chiều, khi về nhà thì lão đang mài mực viết mấy câu đối trong thư phòng.

Tôi hớn hở khoe:

- Hôm nay em đến đâu cũng nhận được tiền mừng tuổi.

Tiên sinh thấy không, người ta nói đầu năm ra ngõ gặp gái là xui xẻo, nhưng em đáng yêu đến mức mọi người đã quên cả việc kiêng cữ đấy!

Lão không ngẩng đầu lên, nhẹ giọng trách:

- Ta đã dặn phải tìm chỗ bóng râm mà chơi, em muốn chép phạt mấy quyển kinh?

Tôi há hốc mồm không hiểu cớ sự gì.

Mãi một lúc, lão không nghe đáp mới dừng bút nhìn tôi, lại mất một lúc nữa, lão tỏ ra rất lo âu, nói tiếp:

- Rõ ràng mặt mũi vẫn tươi tỉnh, hay lại va đầu vào đâu đó mà quên mất mình là nam tử hán rồi?

Nghĩ đến đây, tôi chợt muốn đánh người, bèn vơ hòn sỏi dẹt dưới chân ném trên vũng nước mưa ngập như sông trước quán.

Viên đá nảy hơn chục lần mới rơi tõm xuống.

Nỗi bực dọc trong lòng cũng tan, tôi liếc sang ông Đảm xem ông có chứng kiến màn ném thia lia điệu nghệ của mình không để được dịp lên mặt.

Không ngờ ông nhướn mày, xòe tay về phía tôi.

Tôi ngơ ngác một lúc mới hiểu ý, chọn một viên đá khác đặt vào tay ông.

Ông lão cúi người, hất nhẹ cổ tay, viên đá lướt lướt trên mặt nước tạo nên từng đợt sóng nhỏ rồi mất hút ở phía xa.

Tôi không giấu được vẻ thán phục, nhìn ông trân trối:

- Quả nhiên là cao thủ!

Độc túc tráng sĩ không cười, ánh nhìn của ông tan vào trong mưa, mênh mang, buồn rười rượi.

Tôi đánh bạo đoán mò :

- Công chúa giỏi món này lắm hở ông ?

Ông lão không đáp, tôi nói tiếp:

- Cháu cứ nghĩ công chúa là một người rất dịu dàng hiền thục, xem ra không đúng lắm.

Ông nhếch mép cười :

- Bên ngoài rất mực thước đoan trang, tâm hồn lại là đứa trẻ lém lỉnh tinh quái. – Dừng một chút ông chợt nhìn tôi. – Thật không ngờ tên nhóc nàng ấy nhận nuôi và đứa bé mà tên nhóc ấy nhận nuôi lại giống y như đúc dù chẳng ruột thịt gì...

Suýt chút nữa hàm dưới của tôi cũng rơi xuống nước.

Hẳn là vẻ mặt của tôi rất khó coi nên ông cụ liền nhận ra mình đã lỡ lời:

- Nhóc con không biết việc này sao?

Một vài sự kiện bắt đầu tự sắp xếp rồi gắn kết nhau trong đầu tôi.

Hồi lâu, tôi nhìn ông lão một cách cực kỳ nghiêm túc:

- Chưa.

Bây giờ thì ông nói cho cháu biết đi.

Cụ Đảm lại nhìn ra biển nước loang loáng bên ngoài, mấy lần định mở mồm nói lại thôi.

Tôi biết ông đang cân nhắc vì tiết lộ việc của người khác là không đúng lắm, bèn chân thành nói:

- Việc nào tiên sinh kể thì cháu mới biết, còn lại cháu không dám hỏi thêm, cháu sợ người buồn...

Nếu ông thấy không tiện thì thôi ạ, cháu chỉ tiếc vì không hiểu để chia sẻ được với tiên sinh.

Ông lão thở dài đánh thượt, đoạn nhìn tôi cười khẽ:

- Cho cháu biết cũng chẳng hại gì, ta nghĩ trên đời này chẳng ai muốn bảo vệ tên nhóc đó hơn cháu được.

Rồi ông bắt đầu kể những chuyện đã rất xưa, câu chuyện hòa vào tiếng sấm vang chớp giật, họa lại bức tranh loạn lạc những tháng năm triều đình đổi họ, chạy đến đâu cũng là gió tanh mưa máu.

***

Câu chuyện của ông Đảm vừa kể xong thì trời cũng dứt mưa, tôi vẫn yên lặng từ nãy đến giờ, đoạn khẽ khàng dắt ngựa ra ngoài, bình tĩnh nói với ông:

- Chúng ta đi nhanh hơn một chút được không ông, cháu không muốn để tiên sinh một mình thêm khắc nào nữa cả.

Tôi phóng ngựa như bay, nước mưa trên đường bị giẫm, bắn lên tung tóe.

Trong đầu tôi chỉ nghĩ đến cảnh một đứa bé vừa ra đời đã lạc mẹ, suýt thì chết giữa loạn binh.

Công chúa Thuận Thiên khi ấy vừa được gả cho Yên Sinh vương để đảm bảo quyền lực của họ Lý phải được chuyển giao trọn vẹn cho họ Trần, đã ôm đứa trẻ chỉ kém mình mười mấy tuổi ấy vào lòng, đã tránh mặt cả mẹ ruột mình một thời gian rất dài để khi gặp lại, chẳng ai biết đứa trẻ ấy không phải do công chúa dứt ruột sinh ra.

Sinh mẫu của lão già vốn là một cô gái dân chài ở Cửu Liên, cùng quê với Trần Cụ, suýt nữa đã trở thành vợ của Trần Liễu – ngày chưa xảy ra biến loạn vẫn còn là một thường dân.

Ông Đảm vốn luôn âm thầm theo dõi để bảo vệ cho công chúa đã phải đau lòng mà ra mặt hỏi bà rằng:

- Chấp nhận lấy Trần Liễu xem như vì vâng lệnh mẹ, nhưng bảo vệ đứa con hoang của hắn lại là ý nghĩa thế nào?

Công chúa mắt rơm rớm nói từng lời:

- Nếu ta không lấy một kẻ họ Trần, thì người ta lấy, dẫu là ai rồi cũng mang họa sát thân.

Ta muốn chàng phải sống! – Đoạn bà kéo tay ông đặt lên cái má bầu bĩnh của đứa con vừa mới nhận nuôi. – Chàng nhìn xem, nhìn xem, đứa bé này kháu khỉnh đáng yêu biết mấy.

Chàng họ Lý, ông Liễu họ Trần, các người vốn chẳng có ai hiểu được ta.

Chỉ có đứa trẻ lạc lõng này, giờ ta nhận nó làm con nghĩa là trên đời có thêm một người hai họ, giống như chị em ta, thật giống chị em ta...

- Công chúa cười dài như người mất trí.

- Nàng muốn bảo vệ nó đến vậy sao?

Hai họ nghĩa là dù bên nào chiến thắng, mạng của nó vẫn được bảo toàn?

Hoặc là, nàng mong khi nó lớn lên, dẫu họ Trần đã chiếm trọn giang sơn, nó cũng sẽ nương tay với người họ Lý?

- Có thể.

Hoặc bên nào cũng nghi hoặc, bên nào cũng chẳng nhận làm thân, còn phải xem số mệnh của nó thế nào...

- Công chúa lại ôm chặt đứa trẻ trong lòng, âu yếm vuốt ve. – Chỉ biết rằng từ giờ ta và nó sẽ chẳng ai cô độc nữa.

Khi ấy công chúa còn nhỏ hơn tôi của bây giờ, một người chưa kíp lớn lại dốc sức chăm lo cho một sinh mệnh nhỏ nhoi khác, thảo nào mà tình thương của lão già dành cho mẹ sâu sắc đến vậy.

Tôi không rõ lão già có biết sự thật này không, chỉ thấy xót thương vô hạn.

Con do công chúa sinh ra còn có Tĩnh Quốc vương và Quang Khải, nhưng hai người họ đều được biết là con trai của quan gia, là huyết mạch cao quý của họ Trần, là hoàng tử vốn chẳng có ai dám khinh nhờn.

Còn lão già của tôi một mình lớn lên trong vương phủ, nhìn Trần Doãn và Hưng Đạo vương có mẹ ruột thương yêu, sau đó người mẹ nuôi cũng không thể giữ được...

"Lúc ta còn nhỏ hơn em bây giờ, mỗi năm đến giao thừa đều rất vui.

Sau đó, mẹ của ta bị người ta cướp mất."

Có lẽ vì gió tạt, mắt tôi cứ cay xè suốt dọc đường đi.

Từ lúc ấy mãi tận khi tôi xuất hiện trong đời, người đã trải qua sự cô độc khủng khiếp ấy thế nào?

***

Bằng phép nhiệm màu nào đó, tôi đã vượt quãng đường dài từ Yên Bang đến Thăng Long chỉ trong vài ngày.

Khi bọn tôi dừng lại, hai con ngựa lăn đùng ra ngủ say như chết, chẳng thiết tha gì ăn uống.

Bọn tôi trú tạm trong một ngôi nhà nhỏ bỏ hoang, mà nói cho đúng hơn, giờ nơi nào ở Thăng Long cũng đều không một bóng người.

Xem ra, quân triều đình không về cố thủ ở kinh sư, lánh sang nơi khác mà tôi không hề biết.

Nghĩ cũng đúng, chiến lược cơ mật như thế vốn không thể để nhiều người hay, hoặc khi lệnh bỏ thành truyền đến Dưỡng Chân Trang, tôi đã sớm rời đi.

Cũng may bọn tôi có mang theo lương khô nên không lo chết đói, vì trong nhà cả một hạt thóc cũng chẳng còn.

Tôi đoán đây cũng là lệnh của quan gia không để lại chút lương thực nào cho bọn Thát.

Tôi ăn qua loa một chút rồi lười nhác nằm rũ ra bàn.

- Ông mệt lắm không?

Ước chi bây giờ có một chậu nước kinh giới, vỏ bưởi, gừng và hương nhu, cháu sẽ lao vào ngâm mình cả một ngày. – Tôi kéo đuôi tóc lên mũi ngửi. – Đi đường gió bụi, đầu tóc cứ bết cả vào, chẳng còn thoang thoảng mùi bồ kết, mùi hoa thơm như mọi ngày.

Bọn giặc Thát quả là đáng chết!

Ông lão nhìn tôi cười cười cho có lệ rồi lại nhìn ra cửa sổ, tôi đoan chắc ông nhớ hương thơm trên tóc người xưa.

Món tắm gội cầu kỳ ấy là lão già đã dạy cho tôi, lúc bé lão thường tự tay đun nước thơm cho tôi tắm, có lúc còn lôi tôi ra giếng sau gội đầu, bảo rằng con gái thì tóc phải thật dày, thật mượt.

Tôi đồ rằng cái tiếng thích tắm thơm của Hưng Đạo vương mà người ở Vạn Kiếp hay đồn đãi cũng từ đấy mà ra.

Vương vốn là võ tướng, tính tình khảng khái uy vũ, hành sự quyết liệt như chém đinh chặt sắt, cớ gì lại có cái thú phong nhã nhường ấy nếu không phải thuở bé được công chúa bày cho?

Nghĩ thêm một lúc chuyện tắm rửa, tôi lại nhớ đến bài đồng dao kể xấu Quang Khải cách đây chỉ mới nửa năm, lại thầm phục tài thơ trác tuyệt của mình, cứ thế phá lên cười một mình.

Ông Đảm nhìn sang đầy lo lắng, tôi bèn tìm cách trấn an:

- Vài hôm nữa trở về nhà, cháu sẽ pha nước gội tóc cho ông để đỡ nhớ hương xưa, ông yên tâm nhé.

Ông lão ngượng ngùng lảng đi nơi khác, tôi lại len lén bật cười rồi nói tiếp:

- Người xưa có câu: "Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ".

Ông với cháu một già một trẻ nghĩa là ở nhà hay ra đường gì cũng không sợ thằng nào hết!

Ông thích mặc đồ màu đen, cháu thích mặc áo trắng, ông cháu mình giống như Hắc Bạch Vô Thường, là nỗi ám ảnh cho bọn Thát đấy!

Chúng ta nhất định sẽ thắng trận rất nhanh!

Nói hươu nói vượn như thế mà cũng có thể khiến ông lão cười vui, tôi thật thán phục bản thân mình, lại nằm dài ra bàn nghĩ ngợi lung tung.

Khi về nhà, tôi nhất định sẽ bắt lão già để tôi gội đầu cho, để tôi hong khô tóc cho.

Tôi muốn chăm sóc lão bằng tất cả những gì dịu dàng nhất mà lão đã sớm mất đi.

Chỉ vài ngày nữa thôi, khi chúng tôi đã về nhà...

***

Chợp mắt một lúc cho hai con ngựa ngủ đẫy giấc, bọn tôi lại khăn gói lên đường.

Nghĩ rằng quân Thát ít nhiều đã đến đây, chúng tôi chỉ dám đi trong ngõ hẹp, men theo lối tắt.

Cũng may, những lần đến kinh sư tôi đều được lão già và Hưng Đạo vương dẫn đi khắp các đường ngang ngõ dọc nên cũng ít nhiều thông thạo.

Mọi nơi đều chẳng một bóng người, tôi càng trông càng thấy đau lòng, càng thấy lo sợ.

Thế giặc phải hùng mạnh nhường nào thì đội quân kiêu hãnh của họ Trần ta mới cam chịu bỏ Thăng Long?

Thăng Long tráng lệ tụ hồn thiêng núi sông, Thăng Long kiên cố đứng vững qua bao lần thay triều đổi đại!

Từ xa nhìn lại, nào cung điện nào lầu gác đền đài vẫn rực rỡ uy nghi nhưng Thăng Long hôm nay sao có vẻ gì hoang phế, điêu tàn.

Là trời đứng gió hay vì một lẽ nào khác mà lá cờ trên đỉnh tường thành chẳng còn phần phật tung bay ngạo nghễ như mọi ngày nữa?

Đương cảm khái thì một tiếng khóc ré vang lên ở bên kia tường thành làm tôi giật bắn người.

Tôi và ông Đảm nhìn nhau ra hiệu rồi mỗi người một hướng chạy vòng sang.

Đúng như chúng tôi dự đoán, hai đứa trẻ con đang bị một tên giặc Thát dồn vào chân tường, vẻ mặt hắn vô cùng hung tợn, dáng người sừng sững ngồi trên một con ngựa chiến rất to, to hơn ngựa của ta nhiều, chỉ riêng bóng hắn đổ dài trên tường đã đủ nuốt chửng hai đứa trẻ.

Gươm của hắn vừa vung lên, hai mũi tên của tôi và ông Đảm đã bắn tới từ hai phía, một vào bụng, một ngay cổ, hắn kêu lên một tiếng kinh hãi rồi trợn trừng mắt, ngã vật xuống.

Tôi khoái chí nhảy sang ghìm cương con ngựa dữ, mất một lúc mới thuần phục được nó.

Vứt sợi dây cương của Cụ Nhỏ sang cho ông Đảm, tôi nháy mắt bảo ông đổi ngựa.

Với hai con ngựa chiến này, chúng tôi có thể đi nhanh hơn cả hôm qua.

Chợt nhớ ra còn hai đứa trẻ, tôi xuống ngựa hỏi thăm:

- Người nhà các em ở đâu, chị sẽ đưa về?

Bọn trẻ giương đôi mắt ướt nhìn tôi nom rất tội nghiệp, khẽ lắc đầu.

Đứa lớn hơn lễ phép thưa:

- Bọn em là trẻ lang thang, thường ngày ai thuê gì thì làm nấy.

Giờ mọi người đều đã đi lánh nạn, bọn em chạy theo không kịp nên chẳng biết phải đến đâu.

Tôi nhìn ông Đảm đầy khó xử, để chúng ở lại chẳng khác nào thấy chết không cứu, mà dắt theo thì chỉ thêm bận bịu, lại chưa biết đích đến là đâu, chẳng biết nơi ấy còn bao nhiêu nguy hiểm.

Dường như hiểu được ý tôi, ông cụ trầm ngâm một lúc rồi đưa tay cho bọn trẻ đỡ chúng leo lên con ngựa của ông.

Đoạn, ông quay sang bảo tôi:

- Làng Cổ Sở ở rất gần đây, ta sẽ mang bọn trẻ gửi cho người ở đó rồi đuổi theo cháu.

Cháu từng bảo Cụ Nhỏ biết theo dấu bằng cách đánh hơi mà, nên cứ yên tâm đi trước.

Ta nghĩ bọn thằng nhãi Cảnh giờ chẳng hội quân ở nơi nào khác Thiên Trường được.

Thiên Trường ở hướng đông, làng Cổ Sở hướng tây.

Tôi không yên tâm để một cụ già tàn tật đi cùng hai đứa nhỏ nên cứ ngần ngừ, cụ lại nghiêm giọng:

- Lúc này đi đông người rất dễ bị phát hiện.

Cháu chẳng đã nói không muốn tên nhóc ấy một mình thêm chút nào nữa sao?

Hay cháu xem lão già này đã là phế nhân không có đất dụng võ rồi?

Tôi sợ ông cụ buồn lòng nên vội xua tay, chỉ chỉ vào cái xác tên lính giặc đang nằm trơ trọi giữa đường:

- Ông mới một mũi tên mà hạ đo ván tên khổng lồ này, ai dám bảo ông vô dụng?

Nói rồi thấy cũng chẳng còn cách tốt hơn, tôi bèn phân công:

- Để hắn nằm đây e là cũng không ổn, cháu đoán hắn là lính tiên phong đến dọ thám, bọn kia chắc sẽ sớm đến đây thôi, để cháu mang vứt đi đâu đó, kẻo chúng lại nổi điên lên chém giết lung tung.

Xong rồi cháu sẽ đi về hướng Thiên Trường, ông gắng đưa hai đứa trẻ về làng nhanh rồi đuổi theo cho kịp nhé. – Ngập ngừng một lát, tôi tiếp. – Ông đừng quên đã hứa sẽ để cháu gội đầu cho, còn phải nghe cháu chúc Tết để đưa phong bao mừng tuổi đấy.

Ông Đảm nắm chặt dây cương của cả hai con ngựa, miệng nở một nụ cười rất tự tin, hất hàm bảo tôi:

- Nhóc con lo lắng quá rồi.

Giặc đến một tên thì ta giết một tên, để chúng biết, lãnh thổ Đại Việt ta chỉ có đến được mà không về được.

- Đến được không về được!

Đến được không về được! – Lũ trẻ hùa theo.

Tôi phì cười, vẫy vẫy tay chào rồi nhìn bóng ba người khuất dần xa.

Còn lại một mình, tôi cũng phải rất vất vả mới lôi được gã rợ Thát lên ngựa, lấy rơm phủ lên trên, tìm đường tắt mà đi đến bờ sông.

Dọc đường, tôi chợt nhận ra mình ngu dại, ngựa của bọn chúng tuy khỏe nhưng vừa nhìn đã nhận ra ngay, nhỡ chạm mặt giữa đường lại chẳng biết phải ăn nói thế nào cho thoát.

Nghĩ mãi không xong, tôi đành tặc lưỡi cho qua, cũng như ông Đảm nói, gặp một tên thì giết một tên, còn nghĩ gì đến chuyện lời qua tiếng lại.

Tôi đứng nhìn dòng sông Lô đỏ như màu máu, thấy không đành lòng để cái xác thối của tên giặc làm bẩn dòng phù sa của người dân, nhưng chẳng còn cách nào khác, tôi không có nhiều thời gian để lựa chọn, bèn đạp mạnh một cái rồi nhìn hắn bị nhấn chìm trong dòng chảy.

Cũng là quân nhân, cũng vì quốc gia dân tộc mà chiến đấu, lẽ ra tôi đã có thể chôn cất hắn một cách tử tế hơn.

Nhưng thôi, dẫu gì hắn cũng là kẻ xâm lăng, tôi thương tiếc chỉ tổ mất thì giờ, bọn xâm lăng thì chỉ đáng chết mất xác thế này thôi.

Buổi loạn lạc này, tôi tin hắn chỉ là kẻ đầu tiên chứ chẳng phải kẻ sau cùng.

Khi kết thúc trận chiến, hẳn là những vụ lúa đầu tiên mùi sẽ rất tanh nồng.

Quay ngựa trở lại, tôi tìm đường rời khỏi thành, nhắm hướng Thiên Trường mà đi.

Chưa gì đã nghe tiếng vó ngựa đuổi theo rầm rập phía sau, tôi chép miệng than thầm, quả nhiên là hồng nhan họa thủy, ở cùng cốc thâm sơn cũng sẽ có nam nhi lũ lượt rủ nhau kéo đến chiêm ngưỡng dung nhan.

Ghìm ngựa nép vào một góc, tôi nhìn qua góc hẹp, hóa ra là Cụ Nhỏ, chỉ tại tôi có tật giật mình.

Tôi huýt sáo một tiếng, nó liền chạy đến, vội vã đến mức suýt làm tôi ngã nhào.

Tôi vuốt vuốt bờm nó định chọc ghẹo bỗng nhớ ra:

- Mày chạy đến đây, vậy ông Đảm đâu rồi?

Cụ Nhỏ giẫm mạnh móng xuống nền đất như muốn nói gì đó.

Tôi liền nhảy lên lưng con ngựa của quân Thát rồi bảo nó:

- Dẫn đường!

Cụ Nhỏ chạy nhanh về phía tây Thăng Long, hướng ông Đảm đã đi cùng hai đứa trẻ.

Lòng tôi cuồn cuộn một dự cảm không may, theo từng bước chân ngựa càng trở nên rõ rệt.

Khi đến cổng một ngôi chùa nằm sâu trong nhỏ, tôi nghe bên trong vang tiếng khóc la, nhìn xung quanh thấy máu bắn tung tóe hai bên tường, tôi bèn vòng ra sau, tìm đường để lẻn vào.

Cảnh tượng bên trong khiến tôi suýt thét lên vì đau đớn và kinh hãi.

[1] Trích Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn, bản dịch của Đoàn Thị Điểm.
 
Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 22: GIEO THÁI SƠN NHẸ TỰA HỒNG MAO [1]


Đi vòng sang mặt sau chùa, tôi hé mở cánh cửa gỗ len vào, lần theo dãy hành lang mà ra được đến sau thượng điện, nơi tiếng kêu khóc đang nhỏ dần.

Tôi nhìn qua song cửa nhỏ hẹp, hai đứa trẻ lúc nãy đang ôm chặt lấy nhau run bần bật, ở giữa còn có một đứa trẻ khác trông như một chú sa di, chúng rúc sâu vào dưới ban thờ Phật, tay chắp lại như đang cầu xin đấng Thế tôn hãy chở che.

Mắt chúng đẫm nước, mồm không ngừng kêu thét, hướng về cổng chính.

Tôi tiến thêm vài bước nữa đến góc tường để nhìn ra phía ngoài, suýt chút nữa đã kêu to:

- Ông Đảm!

Độc túc tráng sĩ của tôi đang chặn ở cổng chùa tả xung hữu đột cùng một đám quân Thát mặt mày hung tợn.

Ngõ hẹp trước chùa ngăn chúng ồ ạt tiến vào, có vài tên đã bị hạ, nằm la liệt dưới chân ông.

Nhưng độc túc tráng sĩ cũng là người, lại là một người già tàn tật, toàn thân ông đều đã bị thương, xem chừng không trụ được bao lâu nữa.

Tôi toan xông lên nhưng cố gắng trấn tĩnh lại để quan sát, đoạn chạy đến cổng phụ đang bị lèn chặt phía trong, nhìn qua song phía trên cửa, có khoảng mười tên giặc đang lăm lăm lưỡi đao sáng loáng.

Tôi rút nỏ, bắn liền một lúc năm mũi, nhân lúc chúng không chú ý mà hạ được ba tên.

Ông Đảm nhận ra sự có mặt của tôi, một tay vẫn bám vào cổng chùa để giữ thăng bằng, tay kia không ngừng vung đao, thét to:

- Nhóc, dẫn bọn trẻ chạy mau!

- Có chạy thì cùng chạy! – Tôi còn thét to hơn, buông dây nỏ diệt thêm được một tên nữa bên ngoài.

Bên kia, một tên râu ria hung tợn vung đao định chém xuống cánh tay ông Đảm đang bám vào tường, ông buông tay để tránh, bị hắn vung thêm một nhát, mất đà ngã xuống.

Tôi liền vớ thanh kiếm đeo trên lưng, không kịp rút khỏi vỏ, lao đến chắn ngang nhát chém của hắn.

Một tay tôi nắm chuôi kiếm, tay còn lại nắm chặt vỏ, càng lúc càng không chống nổi sức mạnh của tên rợ Thát đang ép mạnh đao từ trên xuống.

Sức vóc tôi chẳng là gì so với bọn chúng.

Nếu để tên này qua khỏi cổng, những tên còn lại cũng tiến vào trong, cả tôi, cả ông Đảm và bọn trẻ đều chết chắc.

Sau lưng tôi, ông cụ đang cố gượng dậy, không ngừng kêu:

- Mặc kệ ta!

Chạy mau!

Mặc kệ ta!

- Cháu đã hứa khi thanh bình sẽ cùng mọi người uống rượu, sẽ gội đầu cho ông, cháu không đi đâu hết! – Tôi nghiến răng, mồ hôi tuôn thành dòng.

- Cháu vẫn còn Trần Tung! – Ông cụ thét trong tuyệt vọng.

Đúng vậy, tôi còn phải gặp lại lão già, làm thế nào bỏ mạng nơi này được!

Dùng hết sức bình sinh, tôi trụ vững trên chân trái, chân phải thúc mạnh gối vào hạ bộ tên giặc.

Hắn rú lên đau đớn rồi ngã ra sau, tôi thừa cơ rút kiếm chém ngang cổ, hắn rơi xuống đất như bao gạo, mắt vẫn mở trừng trừng, hẳn là tức vì phải làm ma bán nam bán nữ.

Tôi còn chưa kịp cười đắc thắng, một tên khác đã xông tới từ trên lưng ngựa.

Hắn đạp vào ngực tôi một cú đau như trời giáng, tôi ngã sấp xuống đất, tưởng đã ngừng thở.

Liền đó bên tai tôi vang lên tiếng thét buộc tôi bừng tỉnh.

- Ông ơi! – Tôi ước gì đây chỉ là một cơn ác mộng.

Độc túc tráng sĩ vừa đỡ cho tôi một nhát chém ngang lưng, ngã huỵch xuống.

Thằng giặc lại vung đao chém tới, đúng lúc tôi tưởng mình sắp chết thì một bát hương bằng đồng bay thẳng vào mặt hắn, tro bụi vương vãi khắp nơi.

Bọn trẻ, nhất là chú sa di nọ, đang không ngừng ném hết đồ đạc trên bàn thờ Phật vào người tên giặc, hết chân nến đến bình hoa, ném luôn cả mấy bức tượng nhỏ đặt chung quanh, vừa ném vừa không ngừng khóc rống:

- Phật đang ở đâu sao không cứu khổ cứu nạn cho chúng con!

Con không tin Phật nữa!

Không tin Phật nữa!

Tôi nghe chú mà thương đến nghẹn lòng, thật rất muốn ôm chú một cái, nhưng hơi thở của tôi vẫn chưa trở lại bình thường, đứng dậy còn khó khăn.

Cạnh bên, ông cụ tàn mà không phế của tôi vẫn chưa bỏ cuộc, một lần ngã lại một lần tìm cách gượng lên, thân thể cứ như làm bằng sắt bằng đồng mà chẳng biết đớn đau.

Bọn giặc cũng lì lợm không kém, tên này vừa gục, lại một tên khác quất ngựa xông vào.

Hắn phóng như bay qua người tôi và ông Đảm, lao đến phía bọn trẻ.

Tôi hốt hoảng:

- Chạy mau!

Nỗi sợ tiếp thêm cho tôi sức mạnh, tôi bật dậy chộp lấy cây nỏ, rút một mũi tên bắn thật nhanh vào cổ hắn.

Tên đó ngã xuống, con ngựa của hắn liền quay lại phóng đến chỗ tôi, chồm lên lồng lộn.

Tức thì, một cái bóng lớn chắn trước mắt tôi.

- Cụ Nhỏ!

Con ngựa của Trần Cụ đang chiến đấu với đối thủ to gấp đôi nó để bảo vệ cho tôi, khí thế chẳng hề nao núng.

Tôi cắn chặt răng để ngăn cơn xúc động, lại nhìn ra cổng, ông Đảm quỳ trên đất, mặc thương tích, mặc cái chân tật nguyền, vẫn vung từng đường đao dũng mãnh.

Trong thoáng chốc đó, tôi tưởng mình đã thấy một chiến thần.

Nhặt thanh kiếm lên, giữ chặt bằng cả hai tay, tôi lao đến quyết tâm liều sinh tử với người đồng đội vong niên của mình.

Võ thuật của bọn Thát chẳng tinh nhuệ bằng chúng tôi nhưng chúng rất to con, ngựa lại khỏe, tôi càng đánh càng đuối sức.

Tôi liên tục nghĩ kế để thoát thân, nhưng ở đây không có binh lực, lại không có cả thời gian để sắp xếp, chúng tôi phải thoát thế nào?

Đó là chưa kể, không biết đằng sau chúng còn quân tiếp viện hay không.

Trong vô thức, tôi đưa mắt nhìn về thượng điện, tượng Phật trên ban thờ vẫn hiền từ, vẫn tĩnh tại như đời này chẳng có gì là đau khổ, không mảy may hay biết dưới chân người, năm sinh mệnh sắp mất đi.

Lẽ nào vì sống chết là lẽ thường tình mà cuộc sống không đáng giữ?

Bên tai tôi, chú sa di vẫn văng vẳng khóc:

- Con không tin Phật nữa!

Phật chẳng từ bi!

Con không tin nữa!

Mắt tôi cũng cay xè.

Tiên sinh!

Tiên sinh!

Trong đầu thầm gọi không biết bao nhiêu lần.

Phen này người không đến kịp để cứu Tuệ An rồi!

Có tiếng vun vút như mũi tên lao đi trong gió.

Tim tôi như sững lại vì sợ hãi.

Phập một tiếng, mũi tên cắm phập vào ngực vị dũng tướng đang liều mạng chiến đấu của tôi, mũi đao của ông chống mạnh trên nền đá, mồm hộc máu tươi.

Ông hét như ra lệnh:

- Đi!

- Ông ơi!

- Chẳng lẽ đến chết ta vẫn làm một phế nhân, cả mấy đứa trẻ cũng không cứu được? – Mắt ông đỏ ngầu, mặt đã tái dần đi.

Trong một lúc, tôi như hiểu ra một điều gì, dù điều đó khó chấp nhận vô cùng.

Ông Đảm một tay ôm vết thương trên ngực, tay còn lại vẫn không rời thanh đao, sống lưng vẫn thẳng tắp như cột đá chống trời.

Cái chân cụt của ông chống đỡ từ nãy đến giờ đã nhoe nhoét máu.

Giọng ông quả quyết như vị chủ soái đang điều binh khiển tướng:

- Đi!

Tôi nhìn bóng lưng kiêu hãnh của ông cho thật kỹ, cố khắc ghi từng đường nét.

Phía ngoài, bọn Thát dường như sợ hãi trước người chiến binh bất tử, do dự không dám tiến lên ngay.

Tôi như thấy ông nở một nụ cười ngạo nghễ.

Tay siết chặt thành nắm, răng cắn vào môi đến bật máu, tôi nói lớn:

- Tuân lệnh!

Huýt một tiếng gọi Cụ Nhỏ, tôi nhảy lên lưng nó rồi phóng đến ba đứa trẻ, lôi bọn chúng lên, hướng cửa sau mà chạy.

Tiếng vó ngựa, tiếng binh khí choảng nhau ầm ĩ phía sau.

Nước mắt ướt đẫm mặt tôi, ngực đau nghẹn như có ai siết chặt, tôi đều mặc.

Lúc ngang qua tượng Phật, dường như tôi thấy có vệt máu của tên giặc lúc nãy bắn lên mặt đấng từ bi, tròn như giọt lệ.

Bên tai tôi chợt văng vẳng tiếng lão già ngâm nga trong tiếng chuông chiều của một mùa đông nào đã xa xôi lắm, mọi ngày tôi vẫn khen là tứ thơ tự tại an nhiên, mãi đến hôm nay mới biết não nề:

"Nhân chi hữu thịnh hề hữu suy

Hoa chi hữu diễm hề hữu uỷ

Quốc chi hữu hưng hề hữu vong..." [2]

***

Cụ Nhỏ chạy mải miết về phía tây, phần vì vóc nhỏ hơn, phần vì chở nặng nên rất nhanh nó đã bị bọn ngựa thảo nguyên đuổi kịp.

Tôi rẽ đến mấy lần vào các ngõ ngách nhưng vẫn không cách nào thoát khỏi.

Đến một khúc quanh để đến cổng làng, đứa trẻ ngồi sau cùng ngã xuống đất.

Tôi vội ghìm cương nhảy xuống để đón nó, nghe tiếng vó ngựa càng lúc càng gần.

Vô tình, tôi thấy một cái hốc rất to dưới gốc cây đa đầu làng, liền lôi bọn trẻ vào đó, lấy mấy manh áo tơi vương vãi phủ lên trên, toan nhảy lên lưng ngựa một lần nữa để đánh lạc hướng bọn chúng thì Cụ Nhỏ đã hất mạnh khiến tôi ngã dúi dụi.

Một mình nó tung vó phóng về phía làng làm bụi cuốn mù trời.

Bọn trẻ lôi tôi vào nơi trú ẩn, cả bọn ôm chặt nhau, nép thật sát thật sát vào gốc đa, đứa nào cũng đưa tay bịt mồm để ngăn tiếng khóc.

Rầm rập, rầm rập.

Ngựa của bọn Thát lướt qua chỗ chúng tôi rồi xa dần, về phía con ngựa trung thành của tôi đã chạy.

Tao xin mày!

Mày không được chết, xin mày đấy!

Tôi thầm rên rỉ trong đầu, không dám hồi tưởng những gì vừa mới xảy ra.

Được một lúc lâu, tiếng ngựa lại rầm rập chạy về phía chúng tôi.

Tôi vừa ức, vừa sợ điếng người.

Lẽ nào bọn chúng đã phát hiện ra?

Lẽ nào thực sự bọn tôi không còn đường sống?

Đã đến được đây rồi, tôi không thể để sự hy sinh của ông Đảm trở nên vô nghĩa được!

Ôm bọn trẻ chặt hơn, tôi thều thào vào tai chúng:

- Đừng sợ!

Chỉ cần chúng ta im lặng, bọn chúng không thể biết đâu!

Tôi nín thở lắng nghe, gần hơn một chút, rồi một chút, tiếng vó ngựa như bản án tử vang lên càng lúc càng to.

Hít một hơi thật sâu, tôi thầm thì dặn mấy đứa trẻ:

- Dù có bất cứ việc gì xảy ra cũng không được ra ngoài, có biết không.

Bọn nhỏ gật gật đầu, mắt đứa nào cũng sưng húp cả rồi.

Vạch lớp lá đang phủ phía trên, tôi ghé mắt nhìn xung quanh xem nên chạy hướng nào để bọn chúng đuổi theo mà lũ trẻ vẫn an toàn.

Tay lại nắm chặt thanh kiếm, tôi tìm thời cơ để xông ra.,

Ánh sáng bên ngoài hắt lên chữ "Tuệ" trên thân kiếm.

Tôi nở nụ cười chua chát.

Nếu thực sự có luân hồi, người nhất định phải tìm em!

Không ngờ rằng bọn Thát lướt qua chỗ bọn tôi đang đứng rồi ruổi về hướng Đông.

Rầm rập, rầm rập, tiếng vó ngựa như sát bên rồi lại nhỏ dần.

Trán tôi giãn ra từng chút, hơi thở cũng chậm lại từng chút.

Lẽ nào là bọn chúng đuổi theo Cụ Nhỏ rồi nghĩ rằng bọn tôi giở trò dương đông kích tây, bèn đuổi theo hướng ngược lại.

Nếu như thế, tôi thật không biết con ngựa của Trần Cụ có linh tính hay không nên mới khôn ngoan nhường vậy, hay là nó chỉ ăn may...?

Đợi một lúc lâu, tôi len lén bước ra khỏi hốc cây, khẽ khàng áp tai xuống đất để nghe ngóng.

Hoàn toàn không nghe thấy gì, tôi thở phào, nước mắt chực trào, tôi vội lau đi để khỏi làm bọn trẻ lo sợ.

Tôi lôi chúng ra ngoài, lau mặt cho từng đứa trấn an:

- Thoát rồi, chúng ta thoát rồi!

Vì sợ bọn giặc quay lại, chúng tôi ba chân bốn cẳng dắt nhau chạy một mạch đến làng Cổ Sở.

Vừa thấp thoáng một bờ lũy dựng bằng tre, tôi lại nghe tiếng lộc cộc như vó ngựa.

Quỷ tha ma bắt!

Bọn trẻ chực òa khóc không dám nhìn lại phía sau.

Chân đã muốn nhũn ra, tôi vẫn cố giữ vẻ bình tĩnh trên mặt:

- Tiếng chân không đông như lúc nãy, xem chừng chỉ có một tên thôi.

Quệt mồ hôi trên trán, tôi lại sẵn sàng thanh kiếm trong tay, không ngờ bóng dáng từ xa đến lại rất quen, tôi kêu lên mừng rỡ:

- Cụ Nhỏ!

Con ngựa vừa cứu mạng tôi lao như bay đến, dụi vào lòng tôi.

Tôi ôm chặt lấy đầu nó, tay không ngừng xoa lên cái bờm rối tung vì gió bụi của nó.

Trên người nó loang lổ mấy vết thương, máu bết cả lại, chắc lúc nãy bị bọn rợ bắn trúng.

- Mày giỏi lắm!

Can đảm lắm! – Tôi cứ siết chặt người bạn duy nhất còn lại của mình.

Từ trong làng, người dân nào cuốc nào xẻng nào tầm vông giáo mác vội vã chạy ra.

Bọn trẻ vội la lên:

- Đừng đánh!

Là người mình, người mình cả!

Đừng đánh!

Đến nơi chỉ thấy mấy đứa trẻ lớn nhỏ và một con ngựa bị thương, họ liền bỏ "vũ khí" trên tay xuống.

Mãi đến giờ mới thấy đã hết hiểm nguy, tôi thở phào một tiếng rồi gục trên nền đất.

***

Hóa ra tôi đã bị thương không ít nhưng lúc ấy chẳng biết đau.

Hóa ra túi hành lý của ông Đảm vẫn trên lưng Cụ Nhỏ, người trong làng đã mang vào đặt bên cạnh gối cho tôi.

Sau khi ngủ một giấc dài, tôi mới cảm nhận cơn đau rõ ràng từng chút, từng chút trên người, trong lồng ngực.

Tôi mệt mỏi chống tay ngồi dậy, lần giở túi vải loang lổ máu.

Bên trong chỉ có một bộ y phục cũ, hai quyển kinh Phật đã sờn gáy và một chuỗi tràng hạt.

Tôi lấy chéo áo lau từng món, rồi đặt lại vào túi vải, chỉ có tràng hạt vẫn cầm mãi trên tay, cố tìm lấy chút hơi ấm của người chủ cũ.

Nếu như hôm ấy tôi không bướng bỉnh rời đi, hẳn là giờ này chúng tôi vẫn ở Dưỡng Chân Trang chờ tin quân ta chiến thắng.

Nếu như trước đó tôi ăn nói lễ độ với Nguyễn Nam hơn một chút, biết đâu cả ba chúng tôi vẫn còn nhiều dịp cùng nhau uống rượu bình thơ ở lương đình.

Tiên sinh, em biết dùng thuốc gì để cứu mọi người sống lại như trước kia đây?

Lòng tôi cứ như bị ai đó cầm dao khoét một mảng lớn, càng lúc càng trống rỗng.

Bất giác, tôi không dám nghĩ nữa, tôi sợ tôi hận bản thân đến mức thấy mình không đáng sống.

Tôi còn phải thay Nguyễn Nam xin tội cho Trần Doãn, còn phải thay cụ ông Lý Đảm... giết chết Trần Thủ Độ.

Phải, thứ ông muốn làm nhất, hẳn là giết chết Trần Thủ Độ!

Ông chẳng đã nói như thế với tôi lúc rời làng Vạn Niên sao?

Tâm trí có nỗi hận để tựa vào, tôi liền thấy dễ chịu hơn hẳn.

Ngồi thêm một lúc cho tỉnh táo, tôi bèn cầm tràng hạt của ông Đảm bước ra ngoài.

Nơi tôi đang ở chỉ là một ngôi nhà nhỏ đơn sơ, vách đất, mái tranh, bên trong không có nhiều đồ đạc.

Tôi bị trúng một nhát trên vai, cánh tay cũng xây xước, ngực có vết bầm vì cú đá của tên nọ, người trong làng chỉ biết bang bó qua loa.

Mỗi bước đi đều khiến tôi đau đến trào nước mắt nhưng giờ nào phải lúc để nghỉ ngơi.

Dù tôi có nằm một chỗ, tâm trí cũng không có cách nào bình yên để ngủ thêm lần nữa.

Ba đứa trẻ đang ngồi buồn bã trên bậu cửa nhìn trời đất bâng quơ, vẻ như đang đợi tôi tỉnh dậy.

Tôi bước đến ngồi giữa chúng, giọng ráo hoảnh hỏi lấy lệ:

- Các em đã ăn cơm chưa?

Một đứa bé buồn bã nói:

- Rồi ạ.

- Sao mọi người lại đến ngôi chùa đó? – Tôi bỗng nhiên thắc mắc.

- Bọn em cùng cụ ông đi được một lúc thì gặp chú tiểu này, chú bảo lúc vội vàng di tản đã bỏ quên một quyển kinh rất quý nên trốn mọi người quay lại lấy, thế là bọn em đi với chú đến chùa.

Không ngờ chưa kịp vào chùa thì gặp bọn kia...

- Đứa bé lớn hơn nghẹn giọng.

Tôi thở dài, giá như lúc đó mọi người đều đi nhanh hơn một chút.

Nhưng nếu đã có chuyện "giá như", tôi thà ước rằng bọn giặc chưa từng đặt chân vào Đại Việt.

Chú sa di ngồi xa tôi nhất, vẻ mặt vô cùng ảm đạm:

- Đều là lỗi tại tôi. – Rồi giọng chú bỗng trở nên sắt đá.

- Tôi sẽ hoàn tục.

Tôi phải tự tay giết chết bọn khốn đó!

Đứa bé nhất hoảng hốt:

- Cậu là người xuất gia, Phật dạy không được sát sinh đâu!

Chú cười khẩy, giọng nói mỉa mai:

- Phật dạy phải từ bi, nhưng lúc chúng sinh sắp chết thì Phật ở đâu sao không đến cứu?

Đều là dối trá, gạt người cả!

Nói rồi, chú tháo chuỗi hạt vẫn đeo trên cổ ném xuống đất, gương mặt tràn đầy phẫn nộ.

Tôi bước liền mấy bước đến trước mặt chú ta, vung tay tát thật mạnh làm chú ngã nhào.

Chú nhỏ ôm má, thảng thốt quay lại nhìn tôi:

- Chị...?

- Ai bảo với cậu Phật chẳng từ bi?

Ai cho phép cậu buông lời xúc phạm? – Tôi thét lớn. – Chẳng phải Phật đã cứu cậu mà liều cả thân mình sao?

Chỉ có điều... có điều...

- Tôi xúc động đến nghẹn ngào, run run nhặt chuỗi hạt đặt lại vào tay chú sa di. – Vị Phật này không ngự tòa sen, lại chỉ có một chân...

Nói đến đây, tôi phải bám chặt vai chú.

Chú nhào đến ôm chặt lấy cổ tôi, rồi cả bọn òa lên khóc.

Tôi cũng nước mắt nhạt nhòa, cố gắng nhìn xung quanh cố tìm xem hồn ông có lẩn khuất đâu đây.

Sau hàng cau xanh, mặt trời xuống núi đỏ quạch như màu máu.

Tôi như nhìn thấy bóng lưng vững vàng như bức tượng đồng đang chặn đường quân xâm lược, như nghe tiếng ông cười, đắc chí vì đã bảo vệ được mấy đứa trẻ của ông.

Ông hất hàm bảo tôi, nhóc con thấy rõ chưa, ông đây vẫn còn hữu dụng, ông đây là một đại anh hùng!

Tôi gật đầu liền mấy cái rồi nhận ra trước mặt chẳng có ai, ruột cứ thắt lại từng cơn.

Khi nào thanh bình, khi nào thanh bình...

Đại anh hùng của cháu cả đời tự hào tài cung nỏ, cuối cùng đã ra đi vì một mũi tên.

Thật nực cười!

Thật mỉa mai!

Ngày xưa tôi háo hức tham chiến để lập công thế nào thì bây giờ sợ hãi chiến tranh thế ấy.

Hóa ra loạn thế không chỉ tạo ra người trung can nghĩa đảm, loạn thế còn tạo ra những kẻ hèn nhát chỉ biết bỏ chạy và báo hại người khác như tôi.

Không đâu!

Không đâu!

Ngày nào trận chiến này còn chưa kết thúc, sẽ còn rất nhiều người ngã xuống, như ông Đảm, như Nguyễn Nam.

Độc túc tráng sĩ còn chiến đấu ngoan cường như thế, lẽ nào một người trẻ tuổi như tôi chỉ biết bận tâm việc của cá nhân mình?

Nghĩ ngợi một hồi lâu, tôi rời khỏi vòng ôm của chú sa di, nắm chặt bàn tay bé bỏng của chú vuốt ve như bảo vật, ân cần nói:

- Cậu phải giữ cho tay mình thật sạch, không được để nhuộm máu tanh để phụng sự dưới chân Phật cả đời.

Thù của ông Đảm cứ để cho tôi trả!

Rồi tôi quấn tràng hạt của ông quanh cổ tay mình mấy vòng.

Mân mê hồi lâu, tôi cắn môi, lau nước mắt đứng lên, ra lệnh cho bọn trẻ:

- Đi thôi, chúng ta tìm dân làng hỏi chuyện!

[1] Trích Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn, bản dịch của Đoàn Thị Điểm.

[2] Trích bài thơ Trừu thần ngâm (Bài ngâm bĩu môi) của Tuệ Trung Thượng sĩ, nghĩa là:

"Người đời có thịnh thì có suy

Hoa kia có tươi thì có héo

Quốc gia có hưng thì có vong."
 
Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 23: BINH VÔ THƯỜNG THẾ [1]


Sau khi dùng cơm tối với một nhà dân trong làng, tôi đến chăm sóc cho Cụ Nhỏ rồi trở về phòng, bò ra vẽ lại địa đồ bên trong thành Thăng Long và các vùng phụ cận.

Địa đồ này do lão già vẽ ngày còn ở Dưỡng Chân Trang.

Lúc sắp đi Hồng Lộ nhậm chức lão đã bảo tôi học thuộc, vẽ lại mấy lần để kiểm tra rồi đốt đi để tránh người khác nhìn thấy mà hại đến quân cơ.

Những nét đầu tiên mãi mới thành hình vì tôi không kìm được nỗi xót xa, vẽ một nét lại tức ngực không thở nổi.

Xưa nay, mất kinh đô nghĩa là mất nước!

Vết thương trên người tôi càng lúc càng trầm trọng, trán lúc nào cũng hâm hấp sốt, đầu óc mơ mơ hồ hồ như trong mộng.

Túi thuốc tôi mang theo đã bị rơi mất trong lúc chạy trốn.

May là quyển y thư của Nguyễn Nam vẫn giữ được.

Dân làng để tôi ở nhà của một ông đồ hiện đang có việc ở bên ngoài ít hôm.

Ở đây chỉ có cỏ mực để cầm máu và mấy loại cây thông thường dùng trị thương, muốn có tác dụng cũng phải đợi mươi ngày nửa tháng.

Tôi chỉ hứng thú với độc dược, ngày thường hay ỷ lại lão già nên không tinh tường y lý đến mức biết kết hợp mấy loại cây xoàng xĩnh này thành thuốc tốt, giờ lại chẳng thể nhờ ai vì tôi mà liều mạng đi xa, đành dặn mình cố gắng ngồi yên một chỗ, cố gắng không nghĩ nhiều đến những chuyện đau lòng để tránh tinh thần sa sút hơn.

- Chị Nhã Phong, Minh Tịnh vào có được không? – Chú sa di đứng ngoài cửa nói vọng vào.

- Cậu vào đi. – Tôi giấu tấm địa đồ xuống gối rồi đáp, nén đau ngồi thẳng người hơn một chút.

Chú bước vào, tay bưng khay đựng hai bát tô, gương mặt non nớt sáng như trăng rằm nhìn tôi rất đỗi quan tâm:

- Ban chiều chị chỉ xơi có một ít cơm, bao giờ mới khỏi được.

Minh Tịnh mang thêm cháo và thuốc đến.

Tôi mỉm cười, khẽ gật đầu tỏ ý cảm ơn.

Chú sa di đặt cháo lên bàn, đưa thìa cho tôi rồi ngồi xuống nhìn tôi cố gắng nuốt từng chút một.

- Đau lắm phải không?

Chị gắng lên một chút! – Giọng chú ôn tồn.

Miệng đắng lưỡi khô nhưng tôi vẫn cố ăn cho chú vui lòng.

Đoạn, thấy không gian im ắng quá, tôi tìm chuyện hỏi bâng quơ:

- Cậu xuất gia bao lâu rồi?

- Thưa, được nửa năm.

Sinh mẫu của Minh Tịnh biết mình khó qua khỏi nên gửi Minh Tịnh cho sư phụ...

- Đã thuộc bài kinh nào chưa? – Tôi hỏi tránh đi.

- Thưa, một vài rồi.

- Bỗng dưng đêm nay tôi thèm nghe quá... – Tôi cười nhạt, mắt nhìn mông lung ra màn đêm tĩnh mịch. – Cậu thuộc nhất bài nào thì tụng bài đó cho tôi vậy.

- Nghe nói Thần chú Dược sư quán đỉnh chân ngôn có thể giúp tiêu trừ bệnh tật.

Đạo hạnh của Minh Tịnh chẳng có, nhưng cũng xin thử hầu mong giúp chị chóng lành.

Nói rồi, chú sải bước ra ngoài, liền sau quay lại với một nén hương và một bộ mõ.

Rồi chú cung kính đốt hương, thành tâm đỉnh lễ, bắt đầu tụng nguyện:

"Nam-mô bạt dà phạt đế

Bệ sát xả

Lụ rô thích lưu ly

Bát lặt bà

Hắt ra xà dã

Đát tha yết đa da

A ra hắt đế

Tam miệu tam bột đà da..."

Minh Tịnh ung dung tụng hết một trăm linh tám biến.

Tôi ăn cháo, uống thuốc xong thì lên giường nằm, thiếp dần đi trong âm thanh bình an ấy.

Sáng hôm sau thức dậy, tôi thấy cơ thể khỏe khoắn hơn rất nhiều.

Trong giấc mơ tối qua, dường như tôi đã đi một chuyến rất dài về những ngày thơ ấu, tôi hay ngồi cạnh khi lão già giảng pháp cho chư tăng đến lúc ngủ thiếp đi.

Xưa giờ chỉ có cư sĩ đến thỉnh giáo tăng lữ, nay người xuất gia lại vì nể giác ngộ của kẻ ở phàm trần mà đến cầu chân lý, tôi lấy làm hãnh diện lắm, miệng cười cả trong mơ.

Tôi không hiểu được Phạn ngữ như lão, nhưng điều nhiệm màu của Phật giáo là kẻ nghe kinh, chú chẳng cần phải hiểu cũng được chữa lành.

Có lẽ vì lão già của tôi đã mang hết tấm lòng quảng đại đặt vào mỗi một chữ thốt ra, cũng như chú Minh Tịnh đêm qua đã dùng hết lòng thành nguyện cầu cho tôi mau bình phục.

Hai tấm địa đồ cuối cùng cũng hoàn thành, một của Thăng Long, một của làng Cổ Sở.

Nhưng vẽ xong rồi thì đã làm sao?

Tôi lại thấy mình thừa thãi.

Tôi chỉ hỏi được dân làng chuyện mấy ngày trước, có toán lính triều đình đến truyền lệnh bảo họ chuẩn bị vũ khí đề phòng giặc đến cướp, nếu không chống nổi thì lánh vào rừng, tuyệt không được hàng.

Biết thế cũng bằng không!

Trong tay tôi chẳng có lấy một binh một tốt.

Giữa lúc này, dù là mãnh tướng thì một thân một mình cũng chẳng làm nên trò trống gì nữa là đứa nhãi nhép như tôi.

Nơi này, đừng nói là những người đàn ông cứng cổ, ở làng còn có hương chức hội tề, hội đồng kỳ mục, đâu phải là Dưỡng Chân Trang hay quân doanh Thánh Dực của lão già, đâu ai biết tôi cũng thông thạo binh thư, cũng lắm mưu nhiều kế mà chịu nghe cho nửa chữ.

Mà, dù họ có tin, giờ tôi cũng thấy không tự tin với mưu kế bé mọn của mình.

Tôi sợ... lại có người vì trò ngu dại của tôi mà hy sinh oan uổng!

Thậm chí, cả việc của địa đồ Thăng Long có chính xác hay không tôi cũng không dám chắc.

Cơ thể suy nhược lại nghĩ toàn chuyện thương tâm, đầu óc chẳng thể nào minh mẫn được.

Ai cũng bảo tôi là truyền nhân mà lão già tâm đắc nhất, nhưng lần này tôi khiến lão thất vọng rồi!

Chẳng có lão già ở bên, có lẽ việc tốt nhất tôi làm được là ngồi yên một chỗ đừng gây họa nữa.

Dũng mãnh không xong, an phận không đành, lòng tôi cứ như lửa đốt.

- Chị là người ở làng khác đến phỏng? – Một người đàn ông tuổi trạc tứ tuần vừa đến bờ rào, hỏi.

Tôi nhìn vóc dáng thư sinh của ông ta, mạnh dạn đoán:

- Thưa phải, mấy ngày qua tôi mạo muội ở nhà thầy, mong thầy không phiền trách!

Ông đồ nọ khẽ gật đầu rồi đi vào nhà, đặt túi vải lên bàn.

Tôi đến gần nhìn rồi buộc miệng reo lên:

- Cây đẳng sâm rừng!

- Chị cũng biết nhìn đấy nhỉ. – Ông đồ cười đáp. – Thầy nghe bác Diệp kể chị bị thương trong lúc chạy nạn, vừa hay lần này hái được sâm quý.

Chốc nữa thầy sắc cho mà dùng.

Bấy giờ tôi mới nhìn kỹ gương mặt thầy đồ.

Đoạn cố tỏ ra bình thản, tôi vờ như vô tình hỏi:

- Tôi người ở Gia Lâm lưu lạc đến đây.

Nghe nói phía tây Thăng Long có làng Giá rất nhiều con gái đẹp, làng đó có gần đây không ạ?

Thầy đồ ngẩn người một lúc rồi cười to:

- Cổ Sở là làng Giá, làng Giá là Cổ Sở!

Mấy ngày qua chị đã thấy được mấy cô có nhan sắc rồi?

Suýt chút nữa tôi đã ngã nhào vì kinh ngạc.

Tôi rời làng khi còn quá bé, vốn không biết đến cái tên "Cổ Sở" mà người ngoài làng vẫn gọi.

Thảo nào lúc ngang qua cổng làng, chạy trên con đê dẫn vào đây, tôi thấy mọi thứ quen thuộc lắm mà cứ nghĩ vì làng nào chẳng giống nhau...

- Thưa, thầy cho tôi hỏi quý danh?

- Mọi người đều gọi thầy là đồ Vĩ.

Ông đồ mang mấy củ sâm xuống bếp, tôi ngồi thừ suy nghĩ hồi lâu.

Bỗng tôi nhớ ra một việc, liền mang giấu thanh bảo kiếm Trần Cụ đã tặng xuống dưới chăn.

Nửa ngày sau, ông mang siêu thuốc vào bảo tôi uống cho mau lại sức.

Tôi nhận bằng hai tay, thong thả uống rồi cất giọng ngâm nga:

"Quốc phá sơn hà tại,

Thành xuân thảo mộc thâm.

Cảm thì hoa tiễn lệ,

Hận biệt điểu kinh tâm.

Phong hoả liên tam nguyệt,

Gia thư để vạn kim.

Bạch đầu tao cánh đoản,

Hồn dục bất thăng trâm." [2]

Ông sững người, nhìn tôi trân trối.

Tôi mỉm cười, vô tư đáp:

- Thuở bé thơ tôi mang ơn một người con gái đẹp đến từ làng Giá.

Nàng cứu tôi, còn dạy cho bài thơ này.

Tôi ít chữ chẳng hiểu được, nhờ thầy giảng giúp cho!

Ông đồ bỗng sững sờ rồi sắc mặt càng lúc càng tệ, ông ngồi bất động hồi lâu, đưa ánh nhìn mênh mông về phía dãy núi mờ xa.

Nhiều năm trôi qua như thế, ký ức của tôi đã phai nhạt ít nhiều mà hình dáng người cũng đổi khác.

Tôi chỉ nhớ được ánh nhìn buồn rười rượi và giọng nói ôn tồn đó.

Người này họ Phạm, tên Vĩ, là thanh mai trúc mã của dì Lý Cát, đã mấy lần qua lại nhà của mẹ con tôi để thăm dì.

Từng yêu thương dì tôi sâu đậm, chắn chắn ông ta ít nhiều ghi hận họ Trần.

Mấy ngày qua, giữa lúc mọi người cố lánh giặc thì ông ta lại rời làng, tôi đồ rằng không đi bán tin cho quân Thát thì cũng đi tìm mấy vị nữ quyến họ Lý trước đây bị gả cho các tộc trưởng người Man ở vùng núi phía tây, lợi dụng lúc họ Trần rời khỏi kinh sư mà bàn chuyện đông phong tái khởi.

Người được dì tôi lựa chọn, người có ánh mắt lay động tâm can đó chắc không đến nỗi cõng rắn cắn gà nhà nên tôi thiên về nghi vấn thứ hai, nhất là khi ở vùng núi ấy đầy cây đẳng sâm mọc dại.

Cũng có thể tôi đã nghĩ quá nhiều nhưng nhìn dáng vẻ đau khổ nọ, tôi biết tôi đoán chẳng sai.

Ông Đảm từng kể với tôi, những người một lòng theo họ Lý đến giờ vẫn chưa bỏ cuộc, họ vẫn âm thầm hội binh đợi thời cơ.

Tình thế bây giờ, kẻ có đầu óc đều biết không phải thời cơ, nhưng nếu một mặt phải chống giặc ngoài, mặt khác phải đối phó thù trong, họ Trần chưa tận cũng suy.

Tôi hy vọng cái cơ đồ hai trăm năm kia hãy còn để lại những người biết suy nghĩ cho đại cuộc.

- Thầy làm sao thế, tôi đã nói điều gì không phải phép chăng? – Tôi bước đến trước mặt ông đồ Vĩ, ngây thơ hỏi.

- Chị họ gì? – Ông chợt nắm chặt cổ tay tôi, giọng siết bao tha thiết.

- Nguyễn...

Thầy tôi họ Nguyễn! – Tôi tròn mắt, môi run run.

Ông nhìn tôi một lúc rồi lại buông tay, thở dài một tiếng.

Tôi cũng thở phào, thầm cảm ơn mẹ đã cho tôi gương mặt rất hiền lành, chỉ cần tỏ ra ngơ ngác thì chẳng ai nghi ngờ gì nữa.

Năm xưa, khi họ Trần có được giang sơn đã ra lệnh cho toàn dân ai họ Lý phải đổi sang họ Nguyễn, lấy cớ là phạm húy Nguyên Tổ [3] nhưng ai mà chẳng rõ nguyên nhân thực sự.

Tôi bảo thầy tôi họ Nguyễn, nửa không liên quan, nửa lại rất gần gũi, mặc ông đồ muốn đoán sao thì đoán.

Tôi muốn thuyết phục ông ta nhưng dù thế nào, tôi cũng không thể để ai biết việc trong phủ Hưng Ninh vương có một kẻ giả họ Trần nên chẳng thể tiết lộ gì hơn.

- Lúc thầy ra ngoài có nghe ngóng được gì chăng?

Động tĩnh quân giặc thế nào rồi ạ? – Tôi lảng sang chuyện khác.

- Vẻ như bọn chúng đã tràn vào kinh sư. – Ông đáp rồi buồn bã đến lấy cần câu dựng ở chái nhà, đi một mạch ra đồng.

Đến chiều mà ông đồ Vĩ vẫn chưa về, tôi bèn nấu một bữa cơm chay rồi đi tìm Minh Tịnh.

- Cậu ra bờ sông mời thầy đồ Vĩ về giúp tôi, bảo thầy rằng tôi muốn cúng một bữa cơm cho cụ ông Lý Đảm.

Tôi biết Minh Tịnh sẽ kể cho ông Vĩ chuyện ông Đảm đã anh dũng chiến đấu thế nào.

Tôi muốn ông ta biết, một người họ Lý muốn họ Trần tận diệt đã vì người dân mà liều mạng ra sao.

Người đời ai cũng nói "quốc phá gia vong", chỉ có dì tôi và lão già hay dạy rằng "quốc phá, sơn hà tại" [4].

Tôi không dám chắc mối nguy này có thật không, chỉ biết phải dốc hết sức để đề phòng.

Đây là việc duy nhất tôi làm được lúc này.

Nén hương kính vong linh cụ Đảm vừa tàn, anh mõ đã đến gọi mọi người ra đình làng gấp.

Tin cấp báo về: quân Thát đang kéo quân đến cướp bóc ở mấy làng bên cạnh, dân làng chống trả rất quyết liệt, giặc thương vong mất một nửa mà chỉ cướp được một bao thóc nhỏ.

Có làng còn đốt cả kho gạo rồi đưa nhau trốn vào rừng, giữa đường chết không ít người.

Tôi thấy sởn tóc gáy, mũi như lại ngửi thấy mùi tanh của máu.

Giữa đám đông, một thiếu phụ ôm chặt đứa con nhỏ vào lòng, thảng thốt kêu:

- Sớm muộn gì bọn chúng cũng cướp đến làng ta, biết làm thế nào đây?

Tôi nhìn quanh, vài bác gái khác cũng nhíu mày lo lắng.

Nếu là trước đây, có lẽ tôi đã nhảy lên giữa đình mà nói mấy lời ái quốc trung quân khiến ai cũng rơi nước mắt rồi hăng hái cầm đao giết giặc.

Nhưng hôm nay, tôi có chút hoài nghi...

Ông đồ Vĩ dường như ông ta đã mất vẻ ủ ê ban sáng, gương mặt đầy quyết tâm bước lên thềm cao dõng dạc nói với mọi người:

- Tôi nghe chú tiểu kia kể lại mấy ngày trước ở Thăng Long, một vị anh hùng chỉ có một chân cũng tả xung hữu đột giết được hơn mười tên giặc, bị tên cắm vào người vẫn đứng hiên ngang.

Lẽ nào làng ta toàn những người lành lặn thế này lại chỉ biết trốn tránh, chỉ biết bỏ chạy sao?

Cả đình bỗng lặng đi, chốc sau trong đám trai làng có người đáp lớn:

- Thường ngày chúng ta theo lệnh vua, vào vụ mùa thì cấy gặt, lúc nông nhàn thì luyện tập kiếm cung.

Mỗi người chúng ta cũng là một quân nhân.

Giặc đến thì ta đánh, bọn tôi không sợ!

- Không sợ!

Không sợ! – Một, hai người rồi cả làng đồng thanh hưởng ứng.

- Nếu mọi người tin tưởng đồ Vĩ tôi có đọc chút binh thư, xin theo sự sắp xếp của tôi mà chống giặc!

- Được!

Được! – Muôn người lại một lòng.

Tôi đứng ở góc đình, nhìn khí thế ấy mà mừng suýt khóc, mọi băn khoăn từ bấy đến giờ bỗng tiêu tan.

Tuy không biết tình hình quân đội ta thế nào, nhưng dù chỉ diệt được vài tên lính, trận này vẫn đáng đánh hơn cảnh ngồi yên chờ chết!

Một làng như thế, rồi cả nước đều như thế!

Tôi nghe mọi người lao xao bàn tính, bèn nghĩ ngợi một lúc rồi cao giọng:

- Phải chi làng ta có khu đầm lầy nào đó dụ bọn Thát vào cho ngựa sa lầy thì hay quá! – Mọi người đều nhìn cả về phía tôi ngồi.

- Ồ, có chứ! – Ông trưởng làng hồ hởi đáp. – Từ cổng làng đi về phía bắc hai dặm có một khu đất trũng, chỉ có người quen thuộc địa hình mới băng qua được.

- Để cho tôi. – Một anh nông dân thấp người vỗ ngực tự hào. – Cứ cách ngày tôi lại vào đó bắt cá, biết từng viên đá ngọn cỏ, nhắm mắt cũng có thể vượt qua.

Rồi mọi người lại nói tranh, nào đặt bẫy, nào cắm chông, ồn ào như ong vỡ tổ.

Ông đồ Vĩ bước đến chỗ tôi nói nhỏ:

- Chị còn quỷ kế gì cứ đưa ra, không cần tỏ vẻ ngờ nghệch nữa.

Tôi bị vạch mặt bèn cười giả lả, đoạn lấy từ ống tay áo ra tấm địa đồ tôi vẽ khu vực quanh làng, môi chẳng còn khô, miệng chẳng còn đắng, tôi nói liền một mạch:

- Thay vì ngồi đợi giặc đến cướp, chi bằng chúng ta chủ động dụ địch sa vào bẫy.

Tôi đoán ở cổng thành phía Tây sẽ có chốt chặn, chúng ta chỉ cần giả vờ lén tải lương thực ngang qua.

Đến cổng làng, ta chia thành hai hướng, một về phía đầm lầy, một chạy về làng.

Bọn chúng nhất định sẽ chia quân đuổi theo.

Đầm lầy sẽ giúp ta diệt một nửa toán quân, nửa còn lại, ta chỉ cần giả vờ chống trả...

- Chị muốn tẩm độc vào gạo đó rồi để chúng cướp đi sao? – Ông đồ Vĩ lập tức đoán được ý tôi.

- Ồ, đó cũng là một ý hay, thầy quả là một cao thủ dùng binh! – Tôi không ngớt lời ca tụng.

Cây đẳng sâm quả nhiên là thuốc bổ, tối ấy tôi bày dân làng cách làm bẫy, chế độc đến tận khuya mà vẫn còn tỉnh táo.

Đồ Vĩ sang ở cùng trưởng làng, nhường hẳn nhà cho tôi và ba đứa trẻ.

Khi mọi người đều đã về nghỉ, tôi lại đóng cửa thảo một bức thư trên một dải lụa dài.

Đây là cách viết thư mà lão già đã dạy cho tôi để tránh lộ thông tin cơ mật: lấy một dải lụa quấn quanh cây trúc rồi viết từng dòng theo thân cây, khi tháo ra, dải băng chỉ là những từ rời rạc vô nghĩa.

Tôi chọn một cây trúc có kích thước bằng với cây sáo ngọc của tôi, tin rằng lão sẽ đoán ra ngay.

Viết xong, tôi lại bỏ thư vào một túi vải, rút dây thật chặt rồi mang qua đưa cho Minh Tịnh.

- Sau khi giặc tan, nếu quá nửa tháng mà tôi không trở lại làng, phiền cậu mang thư này đến Dưỡng Chân Trang giao cho thầy Tuệ Trung rồi nhận ngài ấy làm sư phụ.

- Chị định sẽ làm gì? – Chú lo lắng hỏi tôi.

- Chỉ đề phòng bất trắc thôi.

Thời tao loạn thế này, ai mà lường trước được ngày mai! – Tôi cười hiền. – Cậu đừng để ai biết việc này!

Chú sa di nhìn tôi rất lâu, tôi bèn ngồi xuống bên cạnh chú.

- Cậu có giận tôi dùng độc để sát sinh không?

Chú khẽ lắc đầu.

Tôi xòe bàn tay trái ra trước mặt mình, mân mê cổ tay còn quấn tràng hạt của ông Đảm, rồi nắm chặt thành đấm, nhếch mép cười:

- Cậu giận cũng đành...

Chỉ cần có thể cứu được thêm một mạng người dân Đại Việt, tôi tình nguyện vào địa ngục!

***

Trời vừa rạng sáng, ba anh trai làng đã rời đi theo kế hoạch.

Vết thương tuy đã hồi phục ít nhiều nhưng vẫn không thể phản ứng nhanh, tôi đành giành việc quan sát trên điếm canh đê cùng với hai cậu Nhất, Nhị, một bên để thanh kiếm, tay kia sẵn cái tù và.

Đợi từ lúc mặt trời chưa mọc đến khi nắng lên, phía cổng làng vang lên tiếng vó ngựai.

Hai anh trai làng đánh ngựa chạy thục mạng, kéo theo một xe gạo, phía sau có khoảng hai mươi tên lính chạy dọc đường đê.

Như vậy bọn chúng có khoảng ba đến bốn mươi tên, một nửa sẽ bỏ mạng ở khu đất trũng.

Bọn ngựa giẫm phải bẫy đặt dưới các hố đất, hất bọn giặc ngã nhào.

Tôi đưa tù và lên thổi một hồi dài.

Dân làng từ dưới ruộng lúa bắn tên tới tấp, dân trong làng ùa ra đánh.

Tầm vông, cuốc, xẻng đều trở thành vũ khí lợi hại.

Bọn chúng rất hung hãn toan chém giết nhưng mọi người theo như kế hoạch chỉ đánh cầm chừng rồi nhanh chóng rút lui, bỏ lại một xe gạo đầy, bên trên còn phủ mấy bó cỏ lớn cho ngựa ăn.

Quân Thát còn lại khoảng mười tên sợ phía trước có mai phục không dám đuổi theo, nhìn thấy chiến lợi phẩm bị bỏ lại liền kéo về thành.

Chúng vừa đi khuất, hai đứa trẻ đứng cạnh tôi liền reo hò phấn khích.

Chưa kịp vui mừng, sau lưng tôi lại nghe tiếng rầm rập, chắc một đám lính khác nghe tiếng tù và nên kéo đến.

Tôi chộp lấy thanh kiếm, bảo hai đứa trẻ ở yên trong điếm rồi nhảy ra ngoài, chặn giữa đường bọn chúng.

Không ngờ người dẫn đầu lại rất quen mặt.

Tôi mừng rỡ kêu:

- Anh Dã Tượng!

Người đàn ông vạm vỡ ngồi trên ngựa cũng ngỡ ngàng:

- Cô Nhã Phong?

Sao cô lại ở đây?

Chợt thấy quân lính phía sau anh ta toan đuổi theo chặn đường bọn giặc để cướp lại quân lương, tôi liền ngăn cản:

- Cứ để bọn chúng đi, đó là kế của em!

Tôi hay lén gọi Dã Tượng là anh Voi Lớn.

Anh to lớn nhưng hiền như voi, chất phác thật thà, trong một lúc không kịp hiểu chuyện gì bèn nhảy xuống ngựa đến trước mặt tôi, tôi lại hỏi dồn:

- Anh ở đây nghĩa là Hưng Đạo vương đến rồi?

Quân ta sắp phản công sao?

Gia tướng của Hưng Đạo vương vỗ vỗ vai tôi, chỉ chỉ lên lá cờ hiệu, là cờ của quân Thánh Dực!

Mấy anh lính giờ mới nhận ra tôi, liền xuống ngựa ôm quyền chào.

Voi Lớn ôn tồn bảo:

- Lần này tôi theo Hưng Ninh vương có nhiệm vụ khác.

Vương gia đang ở rất gần đây!

[1] Tôn Tử binh pháp viết: "Binh vô thường thế, thủy vô thường hình, năng nhân địch biến hóa nhi thủ thắng giả, vị chi thần".

Ý nghĩa là: người dụng binh cũng giống như thế nước chảy, luôn vô định, vô hình tuỳ cơ ứng biến, không có quy mô làm mẫu.

Nếu như có thể tùy theo tình hình biến hóa của địch mà biến đổi theo đó giành thắng lợi.

Đó chính là cái được gọi "dụng binh như Thần".

[2] Dịch nghĩa:

"Nước mất núi sông còn đó,

Vào xuân hoa cỏ xanh rì.

Đau xót hoa còn rướm lệ,

Kinh hoàng chim sợ phân ly.

Khói lửa mịt mờ ba tháng,

Thư nhà khoắc khoải người đi.

Tóc bạc bơ phờ năm tháng,

Trâm cài chẳng được còn chi!"

(Xuân vọng – Đỗ Phủ)

[3] Trần Nguyên Tổ (1151 – 1210): tên thật là Trần Lý, cha của Thượng hoàng Trần Tự Khánh, ông của Trần Thái Tông, được xem là ông tổ của nhà Trần.

[4] "Quốc phá gia vong": Nước mất nhà tan.

"Quốc phá, sơn hà tại": Nước mất, sông núi vẫn còn.
 
Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 24: TÚY NGỌA SA TRƯỜNG QUÂN MẠC TIẾU [1]


- Tiên sinh ở gần đây? – Tôi vội vàng hỏi lại. – Ý anh là tiên sinh đang dẫn quân phía sau, sắp đến đây phải không?

- Không... không! – Voi Lớn lúng túng. – Vương đóng quân nơi khác.

Để tôi đưa cô đến đó, còn giờ...

- Anh nhìn sang lũ trẻ đang đứng ở điếm canh trông ra. – Tôi không nói được.

Tôi liền hiểu ra sự việc, mỉm cười với anh ta:

- Ngựa và hành lý của em vẫn ở trong làng.

Em vào chào mọi người một tiếng rồi sẽ đi cùng anh ngay!

- Bọn tôi đợi cô bên ngoài vậy. – Anh cười hiền.

Tôi gật đầu với Voi Lớn, đưa tay vẫy hai đứa trẻ rồi nhanh chóng chạy về nhà ông đồ Vĩ.

Chẳng ngờ vừa đến đầu ngõ đã nghe tiếng người nhốn nháo, chú Minh Tịnh vừa trông thấy tôi đã kêu lên:

- Chị Nhã Phong, nhanh lên, bác Thôi bị thương nặng lắm!

Tim tôi liền hẫng đi một nhịp.

Bác Thôi là người đàn ông hăng hái vỗ ngực bảo mình hiểu rất rõ địa thế khu đất lầy, cứ cách ngày lại vào bắt cá, tình nguyện tiên phong dụ địch.

Tôi theo chú sa di chạy đến nhà bác, cố chen qua đám đông ken chặt ngoài sân, ai nấy cũng lo lắng, luôn miệng hỏi han, khung cảnh cực kỳ hỗn loạn.

- Thầy Vĩ, bác Thôi sao rồi? – Tôi hỏi ngay khi nhác thấy bóng lưng đồ Vĩ.

Ông đồ quay lại nhìn tôi, mặt tối sầm chẳng đáp được câu nào.

Cạnh giường, một người đàn bà bụng mang dạ chửa đang giặt tấm khăn trong chậu nước đỏ ối, chị ta cố không khóc nên gương mặt càng méo mó.

Tôi tiến thêm một bước, thấy bác Thôi đang nằm sấp, khó nhọc thở, cả người toàn vết chém ngang dọc, trên lưng còn cắm một mũi tên rất gần tim.

Hình ảnh của ông Đảm hôm nọ tràn về trong đầu, nước mắt cứ thế tuôn ướt đẫm mặt mà tôi không hề hay biết.

- Tại sao lại như vậy? – Tôi nghe giọng mình lạ lẫm. – Không phải còn rất nhiều người tiếp ứng cho bác ấy sao?

Sao lại ra nông nỗi thế này?

Không phải chúng ta đã thắng sao? – Gần như tôi đã thét lên với đồ Vĩ.

- Quân Thát đuổi theo bác ấy đông hơn ta dự tính.

Bác Thôi muốn diệt tất cả địch nên dụ chúng đi sâu hơn, qua khỏi địa phận ta mai phục, mọi người không đến kịp. – Ông đồ né tránh ánh mắt của tôi.

- Ba... gần ba mươi tên...

- Người bị trọng thương cố giơ ba ngón tay lên. – Chết sạch!

Chết sạch! – Bác Thôi cười gằn vài tiếng rồi đổ ra ho, máu tuôn ra từ miệng, từ mũi.

- Bác giỏi lắm!

Giỏi lắm! – Tôi vội vã vuốt lưng bác trấn an, quệt nước mắt trên mặt mình – Bác chịu đau một chút, tôi nhổ mũi tên ra.

Đồ Vĩ liền nắm chặt cổ tay tôi, cau mày, khẽ lắc đầu.

Tôi biết y thuật của mình có hạn, chưa chắc so được với ông ta chứ đừng nói đến việc cải tử hoàn sinh.

Thế nhưng cứ nhìn người đã vì kế hoạch của mình vào sinh ra tử bị thương thế này mà không làm gì, tôi sẽ phát điên lên mất!

Vết thương của bác Thôi hệt như ông Đảm, tôi không thể lần nữa để ông Đảm ra đi trước mắt mình!

Tôi giằng mạnh tay, lạnh lùng nói với Minh Tịnh đang đứng phía sau:

- Cậu lấy con dao nhỏ nung nóng lên cho tôi.

Đoạn, tôi cố trấn tĩnh, quay sang hỏi chuyện người vợ đang ngồi cạnh bác:

- Con đầu của hai người ạ?

- Vâng! – Chị ta sụt sùi. – Sống hơn bốn mươi năm trên đời mới có được một mụn con...

- Những gì tốt đẹp thường đến muộn mà! – Tôi cố chọc cho chị ta vui. – Đứa bé này lớn lên nhất định sẽ là một đại anh hùng!

Nụ cười yếu ớt hiện lên trên môi người đàn ông thô kệch.

Chú Minh Tịnh mang con dao để trên vải sạch đến trước mặt tôi.

Vừa lúc đó, Dã Tượng bước vào:

- Cô Nhã Phong định...

Tôi cắt lời anh bằng ánh mắt đầy trông cậy, anh lập tức hiểu ra, nói với bác Thôi gái:

- Phu nhân, xin lui ra một chút!

Khi Dã Tượng đã chắn trước tầm nhìn của vợ người bệnh, tôi đưa cuộn vải vào miệng bác ta, khẽ nói:

- Chúng ta cùng cố nhé!

Bác Thôi cắn chặt cuộn vải, tôi cũng hít sâu một hơi, đưa mũi dao đến cạnh mũi tên đang cắm sâu vào da thịt bác, bắt đầu rạch xuống.

Chiếc giường tre như run lên bởi cơn đau của người bị thương.

Đâu đó ngoài kia vang lên tiếng khóc, tiếng kêu la hoảng sợ.

Tôi thấy ông Đảm như đang nhìn mình, tôi mấp máy môi khẽ nói với ông:

- Cháu sẽ không để ông chết!

Không để ai chết nữa!

Vì cố nén cơn xúc động, rạch được miệng vết thương thì tay tôi đã gần cạn sức.

Tôi run run nắm lấy mũi tên toan nhổ ra thì đồ Vĩ đã nhanh tay hơn, ông ta khảng khái bảo tôi:

- Để cho thầy. – Ông ta nhếch mép cười. – Y thuật của chị chẳng biết thế nào nhưng tinh thần không bỏ cuộc quả là đáng để thầy học tập.

Tôi không đáp chỉ dịch người sang một bên nhường chỗ cho ông ta, mắt chăm chú nhìn vào mũi tên.

Đồ Vĩ rút mạnh một cái, bác Thôi thét lớn.

Máu bắn lên thành tia, tôi sợ điếng người, lập tức lấy tay giữ chặt miệng vết thương để ông đồ bịt vào bao nhiêu là thuốc cầm máu.

Vải sạch, băng gạc, lá thuốc, từng chậu nước đầy máu liên tục được đưa ra đưa vào.

Không biết là bao lâu đã trôi qua, máu vẫn không ngừng tuôn dưới tay tôi, sinh mạng của bác Thôi cứ thế tuột đi, tôi giữ thế nào cũng không được!

- Bác cố lên!

Cố lên! – Tôi thét lớn, không còn giữ được bình tĩnh nữa.

- Cô Nhã Phong!

- Chị Phong!

Tên cắm quá sâu, chúng ta đã làm hết sức rồi!

Đồ Vĩ và Dã Tượng kéo tôi ra, cố trấn an.

Tay tôi vẫn giữ chặt vết thương, mắt chỉ còn thấy màu đỏ, mũi chỉ còn ngửi được mùi tanh, tai chỉ còn nghe được tiếng gươm giáo chạm nhau loảng xoảng, tiếng thét la, tiếng khóc.

Bóng lưng của ông Đảm cứ sừng sững trong đầu.

Mọi người vì tin tưởng tôi mà lao đi chiến đấu nhưng tôi đã không cứu được ai, không giữ được ai!

- Tiên sinh đang ở gần đây phải không?

Em đi tìm người!

Chắc chắn người sẽ cứu được bác ấy! – Tôi vén áo toan chạy ra ngoài.

Dã Tượng giữ chặt lấy tôi, tha thiết can ngăn:

- Cô Nhã Phong!

Cô Nhã Phong!

Bình tĩnh lại!

- Anh muốn nói cả tiên sinh cũng không cứu được bác Thôi sao?

Em không làm gì được cho bác ấy nữa sao?

- Cô Nhã Phong! – Dã Tượng nhìn tôi như van xin.

Chúng ta không được để lộ nơi đóng quân!

Dù có chạy như bay thì cũng mất nửa ngày tiên sinh mới có thể đến đây, bác Thôi không đợi được!

Những việc này tôi đều hiểu cả.

"Phong, thầy thuốc không phải là thần tiên.

Có rất nhiều việc chúng ta không cách nào thay đổi.

Sinh tử vốn lẽ thường, không nên vì cố thỏa mãn chấp niệm của mình mà khiến người bệnh đau đớn thêm."

Lão già từng dạy như thế, tôi đều hiểu cả.

Tôi đều hiểu cả!

- Mình ơi! – Tiếng khóc nỉ non của bác Thôi gái làm tôi chết lặng.

Trên giường bệnh, người đàn ông toàn thân đầy máu đang an tĩnh tựa vào vai vợ mình, tay bác đặt lên chiếc bụng tròn trĩnh của chị, gương mặt chỉ có thanh thản và hạnh phúc, như chưa hề có trận chiến đổ máu vừa qua, như chưa hề có tiếng thét đau xé lòng khi nãy.

- Nếu là con gái, hãy đặt tên nó là An.

Nếu là con trai, nó sẽ tên là Bình. – Bác thều thào. – Mình có giận tôi không?

Bác Thôi gái lắc đầu nguầy nguậy, dịu dàng nắm lấy bàn tay gân guốc của chồng:

- Tôi hãnh diện về mình!

Nụ cười nở trên đôi môi đã xám ngoét.

Bác Thôi nhìn về phía tôi, tôi vội chạy đến ngồi sụp bên bác, khóc nấc lên:

- Tôi xin lỗi!

Xin lỗi bác... !

Người đàn ông nọ chỉ khoát nhẹ tay như bảo tôi chẳng có chuyện gì to tát.

Lại khó nhọc hít một hơi dài, bác nói:

- Tôi là nhà nông nghèo ít học, đời này chỉ có hai việc đáng tự hào.

Một là, để lại người nối dõi cho dòng họ.

Hai là, hôm nay giết được những ba mươi tên giặc...

Tôi gật đầu liên tục, cố nở một nụ cười.

- Lẽ ra tôi muốn đặt tên con trai là Thắng.

Nhưng khi nó lớn lên, Đại Việt hẳn đã thanh bình.

Nói với nó, cảnh ấy do thầy nó dùng máu vẽ nên, nó phải cố gắng giữ gìn.

Cố gắng giữ gìn...

Bàn tay đang vẽ cảnh thanh bình dừng giữa không trung rồi rơi phịch xuống.

Bác Thôi gái ghì chặt chồng vào ngực, khóc không thành tiếng.

Dã Tượng đưa tay lên ngực, cúi gập người tiễn bác một cách trang trọng.

Bên ngoài, dân làng ôm chặt lấy nhau.

Tôi cứ ngồi mãi, ngồi mãi bên giường, khi bác Thôi gái đã để mọi người đưa thi thể bác ra ngoài, khi dân làng đều đã rời đi hết, mãi đến lúc Dã Tượng đến quỳ một chân trước mặt, bảo tôi:

- Cô Nhã Phong, chúng ta phải đi rồi, vương gia đang đợi.

***

- Chị Nhã Phong đi thật sao? – Hai cậu Nhất, Nhị níu tay tôi.

- Hai em ngoan ngoãn ở lại cùng dân làng, khi nào giặc tan, hãy sống lương thiện. – Tôi khẽ khàng vuốt tóc chúng dặn dò.

- Chị là người nhà quan? – Đồ Vĩ hỏi.

-

Sau này tôi sẽ giải thích với thầy.

Khi mọi người đều đã rời đi, tôi xếp lại cái đẫy, lấy thanh kiếm toan theo Dã Tượng rời làng.

Anh tay dắt Cụ Nhỏ, ân cần hỏi:

- Cô không định thay y phục sao?

Tôi nhìn xuống áo mình, hóa ra cả người đã dính đầy máu mà không hay biết.

- Vương gia trông thấy cô như vậy sẽ lo lắng lắm.

Tôi chậm chạp gật đầu với anh rồi trở vào thay một bộ áo sạch sẽ.

Khi bước trở ra, tôi hướng về phía ngôi nhà của bác Thôi, vái chào.

Tôi nhất định sẽ trở lại đây, đưa tiên sinh trở lại đây, sẽ chăm sóc vợ con của bác, sẽ dùng cả đời bảo vệ sự thanh bình cho con bác.

Tôi khẽ thầm thì với chính mình như thế rồi dứt khoát nhảy lên lưng ngựa, rời khỏi làng Cổ Sở.

***

Dã Tượng dẫn tôi đi rất lâu, băng qua mấy đoạn đèo, vượt mấy khe suối mới đến rừng mơ.

Anh bảo vùng này gọi là Cổ Mai, ở ngay phía nam Thăng Long nhưng rất ít người biết đến vì địa thế hiểm trở.

Tiết đang vào cuối đông, hoa mơ nở trắng trời, từng cành kiêu hãnh trong giá rét, phơn phớt một màu hồng dịu dàng, hương thơm thoang thoảng.

Ngoài lão già, trên đời chắc chẳng có ai chọn một nơi thơ mộng như thế này để đóng quân.

Trên đường đi, Dã Tượng không ngớt lời kể cho tôi kế hoạch của quân ta.

Khi quân triều đình vừa khởi hành đến Bình Lệ Nguyên, người dân trong thành đã nhận được lệnh đi sơ tán.

Đích thân quốc mẫu ra sắc lệnh này, quân đội của thái sư tỏa ra sắp xếp việc thi hành.

Nhanh như cắt, toàn bộ lương thực, thuốc men và hành lý của mọi người đã được chuyển lên thuyền, xuôi về các làng ở phía tây và phía nam.

Hai ngày sau, khi bệ hạ rút quân về từ Phù Lỗ, ngài cùng người trong cung và tôn thất cũng lên mấy con thuyền lớn để đến một nơi an toàn khác.

Tâm trạng vẫn còn nặng nề nên từ đầu đến cuối tôi chỉ im lặng lắng nghe.

"Anh Cả, nếu như ta để lại cho giặc một tòa thành trống rỗng, chúng có dám tiến vào không?

Có trụ lại được lâu không?"

Nhiều năm trước, có lần Hưng Đạo vương đã hỏi lão già câu này, đến giờ tôi mới nhớ.

"Tôn Vũ dạy Bách chiến bách thắng, phi thiện chi thiện giả dã, bất chiến nhi khuất nhân chi binh, thiện chi thiện giả dã." [2] Lão già đáp, vẻ như rất tán đồng.

Chẳng trách hôm trước tôi nghe Hưng Đạo vương định đón đầu giặc ở Quy Hóa rồi sau không nghe tung tích nữa.

Vương say mê binh thư từ thuở bé, mỗi khi nghĩ được trận pháp nào hay đều nhân lúc rỗi việc chạy từ Vạn Kiếp đến Yên Bang bàn luận với lão già.

Tính vương vốn quật cường, quyết đoán, ý tưởng táo bạo như việc bỏ thành dụ địch cũng không phải lạ.

Đó là chưa kể phò trợ cho bệ hạ còn có thái sư.

Trần Thủ Độ là thái sư.

Tôi vì ông Đảm mà muốn giết Trần Thủ Độ, người dân thương tiếc họ Lý mà hận Trần Thủ Độ, nhưng ai cũng biết Trần Thủ Độ là một kẻ bản lĩnh khó ai bì.

Hơn nữa, mỗi một người lính đều giống như Nguyễn Nam, như ông Đảm, như bác Thôi, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng vẫn không bỏ cuộc, lúc ra đi chẳng mảy may ân hận.

Hậu phương của họ còn có lão già mà tôi xem như trời như đất!

***

Khi tôi đến được quân doanh đóng ở lưng chừng núi, trời đất của tôi đang ngồi tựa gốc cây tự đánh cờ vô cùng nhàn hạ.

Bàn cờ vẽ bằng kiếm gạch trên nền đá, sỏi thay cho quân đen, hoa mơ thay cho quân trắng.

Hôm nay lão không mặc bộ áo màu lam quen thuộc mà toàn thân gọn gàng y phục đen, tóc búi cao rất ra dáng chủ tướng quân Thánh Dực nhưng cử chỉ vẫn ung dung như thể khói lửa ngoài kia chẳng là gì.

Bên cạnh, Trần Cụ đang ngồi săm soi mấy mũi tên.

- Vương gia, Dã Tượng về rồi! – Người anh lớn của tôi đứng từ xa ôm quyền cúi chào.

Quân lính ở gần đó trông thấy tôi, nhất tề đứng lên hành lễ, tôi cũng khẽ gật đầu chào họ.

Quân Thánh Dực bao gồm quân của hai lộ Hồng và Khoái, đặt dưới sự chỉ huy của lão già.

Nửa năm ở Hồng Lộ tôi hay theo lão già đến quân doanh nên đa số bọn họ đều biết mặt tôi.

- Cô Nhã Phong! – Trần Cụ mừng rỡ chạy đến. – Không phải cô về Yên Bang sao?

Sao giờ lại ở đây?

Tôi gật đầu chào hắn thay cho lời đáp, mắt chỉ hướng về phía lão già.

Từ hôm tạm biệt lão ở Hồng Lộ đến giờ chỉ hơn hai tháng, nhưng nhiều việc xảy ra quá khiến tôi ngỡ như cả một đời đã trôi qua, trong chốc lát, tôi không biết phải đối diện với lão thế nào.

Giữa khung cảnh thần tiên thế này, giữa ba quân khí thế choáng ngợp này, người ở trên cao, tôi dưới thấp.

Đó là lần đầu trong đời tôi cảm thấy lão cách xa mình đến vậy.

Lão già đặt "quân cờ" trên tay xuống bàn, đoạn cầm chiếc áo choàng đứng dậy, thong thả bước đến, gương mặt không thể hiện cảm xúc gì.

Khi lão đến cách tôi một sải tay, tôi khẽ cúi chào:

- Tiên sinh!

Đôi hài của lão dừng lại, tôi chậm chạp nhìn lên.

Thoắt một cái, chiếc áo choàng của lão đã trùm lên vai tôi, rồi lão từ tốn nắm lấy cổ tay tôi dắt đến chỗ bàn cờ, thong thả ngồi xuống vị trí ban nãy.

Tôi không biết phản ứng thế nào chỉ có thể ngoan ngoãn xuôi theo, ngồi xuống bên gối lão.

Lão vẫy Dã Tượng đến ngồi đối diện, hỏi:

- Tình hình bên ngoài thế nào rồi?

- Bẩm vương gia, đúng như chúng ta dự đoán, quân Thát không tìm thấy gì ở Thăng Long đã chia quân ra các làng cướp bóc.

Nông dân của ta ngày thường chăm chỉ tập luyện võ nghệ, bọn chúng tổn thất rất nhiều.

Cô Nhã Phong cũng đã dẫn dắt dân làng Cổ Sở diệt được không ít giặc.

Tôi không rõ lão có nhìn mình cười một cái hay khen cho một câu dễ nghe không.

Đầu óc vẫn lơ lửng tận đâu đâu, tôi ngồi cạnh nghe lão và Dã Tượng bàn chuyện công mà chẳng vào được câu nào.

Vết thương trên người vì đường xa mà bắt đầu đau nhức, gió lạnh thổi từng cơn, chỉ có hơi ấm từ tấm áo của lão giữ cho tôi biết mình còn sống.

- Mấy cái vại kia dùng để làm gì ạ? – Hồi lâu, tôi chợt nhìn thấy rất nhiều vại lớn nhỏ dựng trong góc, bèn lên tiếng hỏi.

Mặt mũi của Trần Cụ và Dã Tượng bỗng nhiên trở nên rất khó coi, ú ớ không nói được tiếng nào.

Bỗng nhiên lão bật cười sảng khoái:

- Hỏi hay lắm!

Quên mất việc này phải giao cho em mới phải!

Nói rồi lão kéo tôi đến chỗ để vại, ấn một cái vào tay tôi, bảo:

- Ta muốn ủ rượu mơ để vài hôm làm tiệc mừng công.

Bình này dành riêng cho Quốc Tuấn, em phải làm cho thật thơm thật ngon vào đấy!

- Giờ là lúc nào mà thầy vẫn muốn ủ rượu? – Trần Cụ há hốc mồm.

- Vương gia, Hưng Đạo vương đâu có thích rượu mơ? – Dã Tượng thật thà, hỏi rồi chợt đưa tay bịt mồm như nhận ra mình đã lỡ lời.

Lão nhìn khắp lượt, cười cười bảo:

- Bọn Thát đang chết đói trong thành.

Chúng ta thong dong đợi thời cơ ở nơi non nước hữu tình thế này mà không tận hưởng, quả là lãng phí!

Rồi mặc kệ mọi người ngơ ngác, lão quay lại chỗ bàn cờ, vừa đi vừa ngâm nga mấy câu thơ Lý Bạch:

"Sầm phu tử

Đan Khâu sinh.

Thương tiến tửu,

Bôi mạc đình!

Dữ quân ca nhất khúc,

Thỉnh quân vị ngã khuynh nhĩ thính:

Chung cổ soạn ngọc bất túc quý,

Đãn nguyện trường tuý bất nguyện tỉnh!

Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch,

Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh..." [3]

Đến khi hiểu ra mọi việc, tôi thấy mình đang ngồi một góc tuyển chọn những quả ngon nhất trong số mơ mà binh sĩ đã hái về.

Phía xa kia, lão già vẫn đang bàn việc quân cùng tướng sĩ đến tận hoàng hôn.

Tôi nhìn Dã Tượng chợt thấy thương cảm cho anh.

Trước giờ quen tác phong quy củ của Hưng Đạo vương, mấy hôm nay theo lão già nhà tôi hẳn là đi từ ngạc nhiên này đến bất ngờ khác, người như anh khó mà thích ứng được.

Tôi chọn mơ xong thì mang ra suối rửa, rửa sạch lại vẩy cho ráo nước rồi xếp vào bình, rót thêm ít rượu rồi lèn chặt, nhờ anh lính đào hố chôn sâu xuống gốc mơ to nhất, cắm thêm một nhánh cây làm dấu.

Tôi cứ mơ hồ thấy có gì đó không đúng lắm, nhìn dáng vẻ của Dã Tượng và Trần Cụ lúc nãy có thể đoán được lão đang cố giấu chuyện gì, nhưng đầu óc vẫn không tỉnh táo nên tôi chẳng buồn nghĩ thêm gì nữa.

Xưa giờ chỉ cần có lão ở cạnh, tôi liền sinh ra ỷ lại.

Hết việc rồi tôi lại nằm dài trên một cành cây thấp, nhìn trời nhìn đất rồi nghĩ mông lung.

Nếu không phải ngoài kia chiến chinh loạn lạc, khung cảnh này thật khiến người ta muốn quên hết sự đời giống như lời lão hát.

Trời về chiều, binh lính thay nhau nhảy xuống suối tắm rồi chia lương khô ăn cho qua bữa.

Nhìn mấy người đàn ông mình trần tóc ướt đi đi lại lại nói cười vui vẻ, tôi ngán ngẩm thở dài.

Tuy chẳng câu nệ mấy việc này nhưng thân thể tôi không như họ, không thể cứ vậy mà ùm xuống nước.

Ở đây ít ngày, không chừng Quang Khải có thể mang bài vè năm xưa trêu ngược lại tôi.

Cũng may, trời rất lạnh nên đi cả ngày cũng chưa đổ mồ hôi.

- Đói chưa? – Lão già từ xa đi đến, hỏi.

Lão cũng vừa tắm xong, tóc vẫn còn sũng nước, áo chỉ khoác hờ để lộ văn thân trên vai và ngực.

Nam nhân họ Trần ai cũng xăm mình, nghe nói vì năm xưa tổ tiên sống bằng nghề chài lưới nên họ hay xăm hình thủy quái lên người để dọa cá dữ, lâu dần thành tục lệ.

Tôi cũng vài lần trông thấy hình xăm trên người lão, nhưng vì ngày thường lão mặc y phục rất kín đáo, rất thư sinh, rất có dáng vẻ thanh cao thoát tục nên mỗi lần thấy mấy hình vẽ ngoằn ngoèo đáng sợ tôi lại buồn cười.

Lần này cũng không ngoại lệ.

Lão nhìn nhìn tôi một lúc rồi đưa gói lương khô, ngồi xuống bên cạnh:

- Quân doanh đông người, nổi lửa nấu ăn sẽ tạo khói làm lộ tung tích.

Về nhà ta bảo bác Dương nấu món ngon cho mà ăn!

Tôi cầm lấy, bốc một miếng cho vào mồm, ký ức lại chợt nhớ về hôm người phương Bắc đưa túi lương khô đến Dưỡng Chân Trang.

Lắc lắc đầu để không chìm vào những suy nghĩ chán chường, tôi quay sang nhìn lão, chợt thấy dải băng trắng quấn trên cổ tay mà từ trưa đến giờ tôi vô tâm chẳng nhận ra.

Lòng lại như bị ai đó cứa vào, tôi cứ lật tới lật lui săm soi mãi.

- Có cần tháo ra để xem nên dùng thuốc gì thì tác dụng nhanh mà tiết kiệm nhất không? – Lão cười cười có ý châm chọc.

Nhưng tôi không buồn đáp, nhắc đến y thuật tôi lại giận mình không giúp được bác Thôi mà chỉ làm bác ấy khổ sở thêm, ủ rũ lắc đầu.

- Chắc tình cảnh khi ấy nguy khốn lắm! – Tôi đau lòng nhìn vết máu nhờ nhờ bên dưới lớp băng vừa mới.

- Ở trận Phù Lỗ, ta muốn giúp Phú Lương hầu một tay nhưng không kịp...

- Giọng lão nhẹ như gió.

Tôi nghe Dã Tượng kể Phú Lương hầu đã hy sinh ở Phù Lỗ.

Quân triều đình rút về Thăng Long, ngài đã chặt cầu rồi ở lại bên này sông Cà Lồ chặn giặc, sau cùng tuẫn tiết để giặc khỏi bắt làm con tin.

Tiền tuyến hay hậu phương, đâu cũng có người ngã xuống, đâu cũng có cảnh tang thương.

Lão già của tôi tài giỏi như thế nhưng cũng là người, cũng có máu có thịt, mạng sống cũng có hạn kỳ...

Tôi nén tiếng thở dài, chân thành nói với lão:

- Thời gian qua em đã hiểu ra được nhiều thứ lắm, tiên sinh không cần lo em chịu khổ không quen!

Lão cười hiền, đoạn tự kéo áo vò tóc cho ráo nước rồi đưa bình rượu lên miệng hớp một ngụm lớn cho ấm người.

Tôi nhẩn nha ăn hết phần lương khô lão đưa, nhìn màn đêm dần phủ lên tán hoa trắng như mây trời.

Tôi có nhiều điều chưa nói với lão, nhiều ấm ức chưa được giãi bày, nhưng giờ chẳng phải lúc thích hợp, nơi này càng không phải nơi thích hợp.

Đã không giúp được gì thì cũng đừng làm tảng đá vướng chân!

Lão còn phải nghĩ cách đối phó giặc, tâm trí nào để chăm lo những muộn phiền nhỏ nhặt của tôi?

- Vại rượu chôn ở dưới này sao? – Lão lười nhác gõ gõ mũi kiếm xuống chỗ đất tôi đánh dấu ban nãy.

- Vâng ạ. – Tôi đáp. – Vài hôm nữa quân ta thắng trận hẳn cũng vừa kịp uống.

- Đúng là những lúc thế này không thể thiếu em. – Giọng lão bỗng nghiêm túc. – Hôm qua ta nhờ Trần Cụ...

- Hắn không biết ủ rượu ư? – Tôi ngạc nhiên hỏi, nhớ lại bình rượu nếp cái hoa vàng mà hắn mang ra thết đãi ở hồ Cấm Sơn hôm nọ, vẫn có thể tưởng ra được mùi thơm ấy.

- Hai cân mơ ta sai người hái về, nó lựa được mười quả.

Quả thì chê vàng không đều, quả thì bảo hai bên lá không đối xứng.

Tôi bật cười, nhìn lên cao, cơn gió mạnh lướt qua thổi hoa mơ bay như tuyết trắng.

[1] Câu trong bài Lương châu từ của Vương Hàn:

"Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi,

Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi.

Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu,

Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi."

(Nghĩa là:

"Rượu bồ đào cùng với chén lưu ly

Muốn uống nhưng đàn tỳ bà đã giục lên ngựa

Say khướt nằm ở sa trường, anh chớ cười

Xưa nay chinh chiến mấy ai trở về đâu.")

[2] Người lãnh đạo bách chiến bách thắng cũng không hẳn đã phải là người lãnh đạo giỏi thiện chiến.

Không đánh mà có thể khuất phục được quân địch mới là người giỏi thiện chiến, mới là người lãnh đạo có cảnh giới cao nhất.

[3] Trích bài Tương tiến tửu của Lý Bạch, dịch nghĩa:

"Này ông bạn họ Sầm

Này ông bạn Đan Khâu

Xin mời uống rượu

Chớ có ngừng chén

Tôi xin ca một khúc cho các anh

Xin các anh vì tôi lắng tai nghe

Chuông trống cỗ bàn không đáng quý trọng

Chỉ xin được say hoài không muốn tỉnh

Xưa nay các bậc thánh hiền đều không còn tiếng tăm

Chỉ có kẻ uống rượu mới để lại tên tuổi..."
 
Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 25: TÂM VIÊN Ý MÃ [1]


- Cô Nhã Phong, sư phụ đâu? – Trần Cụ đến ngồi trước mặt tôi.

- Lúc nãy Địa Lô đến mời đi rồi. – Tôi trỏ phía vách đá đằng xa, mắt vẫn dán vào bàn cờ lão đang chơi dở từ trưa, tìm cách phá.

Nguyễn Địa Lô chỉ mới mười hai tuổi, là người trẻ nhất trong quân Thánh Dực.

Nghe nói lúc triều đình có lệnh triệu tập, cậu ta đến đập cửa An phủ sứ ở Hồng lộ xin đầu quân, Trần Cụ chân thành bảo cậu ngoan ngoãn về nhà ở cho yên, cha mẹ đi đâu thì phải bám sát kẻo lạc.

Không ngờ cậu ta nổi cơn tự ái, nửa đêm trèo tường bắn liên tiếp năm mũi tên xuyên qua ô cao nhất cửa thư phòng của lão già, cắm thành một đường thẳng tắp, trong đó có một mũi tên mang theo một bức thư trần tình, tha thiết xin được sung quân.

Trần Cụ điên tiết vì thái độ láo xược, đòi đem cậu ta ra đánh, nhưng lão già chỉ phạt cậu ta ở lại phủ khắc mộc bản kinh Pháp hoa.

Địa Lô thức trắng mấy đêm liền, không thiết ăn uống, chỉ trong nửa tháng đã hoàn thành, mang đến quỳ trước cửa thư phòng suốt mấy canh giờ xin lão già thu nhận.

- Ta nghe bảo Địa Lô bắn cung còn chính xác hơn ngươi, chắc ngươi không thích lắm? – Tôi hỏi tên Thích Đối Xứng.

- Cụ dùng nỏ, hắn dùng cung, so sánh rất khập khiễng.

Hơn nữa, sư phụ dạy người tu thiền không được động tâm phân biệt hơn thua.

- Rất tốt! – Tôi gật gù khen. – Thật ra ngươi không làm xạ thủ thì cũng là một tay rèn vũ khí rất cừ.

Thanh kiếm của ngươi tặng đúng là bảo vật, ta rất thích đấy!

- Thật không? – Trần Cụ thật thà cười. – Để sau này Cụ làm thêm cho cô vài món nữa!

Trần Cụ cười như trẻ con làm tôi cũng thấy vui lây.

Lướt mắt xuống bàn cờ, tôi nảy ra cách giải, liền đánh xuống một quân.

- Đáng nể thật. – Tên sư đệ của tôi trầm trồ.

- Ngươi chăm chỉ học đánh cờ với tiên sinh vài năm nữa cũng sẽ được như vậy! – Tôi nhớ lại lúc mới đến, lão già ngồi chơi một mình dù hắn ngồi ngay cạnh.

- Cụ có học, cụ còn tự mình nghiên cứu rất nhiều kỳ phổ, nhưng học thế nào cũng mới đi được mấy nước đã bại, cứ khiến thầy cụt hứng...

- Hắn gãi gãi đầu.

Tôi ngẩng lên nhìn hắn, ngẫm nghĩ một lúc rồi bật cười:

- Ai bảo ngươi nguyên tắc quá, xuất chiêu cứ phải theo thứ tự lớp lang, bị lão đoán được là phải rồi!

Đánh cờ cũng như đánh trận, như làm người, phải tùy cơ ứng biến, linh hoạt thay đổi không ngừng!

Hiểu không? – Tôi bắt chước dáng điệu của lão già lúc gõ gõ cây quạt lên trán tôi dạy dỗ.

- Hiểu! – Trần Cụ quả quyết. – Nhưng bảo bỏ đi thứ tự, nguyên tắc thì Cụ không làm được. – Vẫn rất quả quyết.

Cái tên này đúng là đầu đất!

Thế này thì ngày hắn được dẫn binh vẫn còn xa lắm.

Tôi thở dài, đoạn nhớ ra một việc, lòng chùng xuống, hồi lâu tôi mới ngập ngừng:

- Ta có chuyện này phải nói với ngươi.

Cụ Đảm mất rồi.

Cụ Đảm là người đã dạy Trần Cụ làm binh khí, cũng xem như là thầy của hắn, tôi nghĩ hắn đau lòng chẳng kém gì tôi.

Thế nhưng, phản ứng của hắn lại chẳng có gì kinh ngạc hay xúc động:

- À, Cụ cũng biết... cũng biết thời thế này, sinh tử rất vô thường.

Thật đáng tiếc!

- Ngươi biết chuyện này rồi? – Tôi lập tức hỏi lại. – Cả tiên sinh ta cũng chưa có dịp kể, làm sao ngươi biết?

- Không...

Cô nói Cụ mới biết thôi.

Cụ quên mất còn một việc sư phụ đã giao!

- Hắn đứng dậy, toan chuồn đi, tôi lập tức níu lấy vạt áo giữ lại hỏi cho ra lẽ.

Ông Đảm gặp nạn khi Thăng Long chẳng còn ai, nếu quân báo có nhắc đến việc này, sao lão già chưa từng nói gì với tôi?

Cho là lão quá bận bịu nên quên, chuyện này cũng chẳng có gì đáng giấu, sao Trần Cụ lại lúng ta lúng túng như gà mắc tóc?

- Các người có gì giấu ta? – Tôi nhìn hắn đầy đe dọa. – Từ lúc ta đến đây, tiên sinh cứ tìm việc cho ta làm để không nghe lão bàn việc quân, hết ủ rượu đến phá cờ thế!

Những dịp thế này, lão càng muốn ta theo lão học hỏi mới đúng!

- Cụ không biết!

Không biết gì hết! – Tên sư đệ cao hơn tôi nửa cái đầu lắp bắp.

- Phong, qua đây! – Lão già gọi từ xa.

Trần Cụ như bắt được vàng, lập tức chạy bay biến.

- Sư phụ gọi kìa, cô đi nhanh đi, Cụ cũng phải đi làm mấy việc kẻo thầy trách phạt!

Quả nhiên họ có việc không muốn cho tôi biết!

Hít sâu mấy hơi để dẹp nỗi hậm hực trong lòng, tôi tự nhắc mình phải ngoan ngoãn để lão già không phải bận tâm, có việc gì thì để sau trận chiến ép lão nói cũng không muộn.

Tuy vậy, tôi vẫn không ngừng lo lắng, liệu có gì đó nguy hiểm mà lão không muốn tôi vướng vào hay không?

- Đói bụng sao mà đi chậm vậy? – Lão hỏi tôi.

- Chẳng hay tiểu nhân giúp được gì cho tướng quân? – Tôi ôm quyền trịnh trọng thưa, cố lấy lại dáng vẻ hoạt bát thường ngày. – Xong việc rồi sẽ được thưởng mấy bát cơm trắng, mấy lượng vàng, mấy đêm với mỹ nhân?

Nguyễn Địa Lô đứng cạnh cố nhịn cười.

Lão búng vào trán tôi đau điếng, đoạn đưa ra bốn thẻ tre:

- Giải đi, giải không xong thì từ giờ về sau chỉ được ăn lương khô uống nước lã thôi.

- Cái này là...? – Tôi ôm trán nhăn nhó hỏi.

- Thưa, là mật thư của quân Thát cho người đưa ra khỏi thành, đi về hướng bắc, có lẽ là gửi cho khả hãn của bọn chúng xin chi viện. – Cậu bé cung thủ kính cẩn trình.

- Mật thư?

Làm sao mà cậu lấy được? – Tôi ngạc nhiên.

- Nhân lúc chúng vẫn chưa tản ra, tôi bắn chúng chết rồi lấy thôi ạ. – Cậu hồn nhiên đáp. – Tôi có mang cả xác chúng về nữa, cô xem.

Tôi nhìn theo hướng tay của cậu, thấy bốn tên giặc đang nằm chồng lên nhau, chết không nhắm mắt.

Nét mặt của bọn chúng giống người Hán, có lẽ xuất thân từ quân của Đoàn Hưng Trí.

Nhìn dáng vẻ nhỏ thó của cậu ta, ngẫm lại mình hôm trước ì ạch mãi mới phi tang được xác tên giặc nọ, tôi không khỏi thán phục.

Bốn thẻ tre lấy được chỉ ghi những từ rời rạc, tôi xếp xuôi xếp ngược thế nào cũng không thành câu.

Cách đây rất nhiều năm, có một nhóm tăng ni người Nguyên đến Dưỡng Chân Trang, lão già đã nhờ họ dạy cho ít chữ nên bọn tôi cũng có thể đọc được một số văn tự cơ bản, nhưng chữ trong bức thư này thì tôi chẳng rõ chúng còn nghĩa gì khác hay không.

Tôi chán nản tựa lưng vào gốc cây, lơ đãng nhìn trời.

Một đóa hoa bay là đà rồi đậu ngay lên mũi, tôi chun miệng thổi thổi.

Trăng dần lên cao, vừa mới qua rằm nên hãy còn tròn và sáng lắm.

Tôi chợt nhớ đến những ngày ngồi tựa gác chuông ngắm trăng ở làng Vạn Niên, bèn dáo dác đưa mắt tìm lão già, vừa hay lão đang đến.

- Sao rồi?

Nghĩ ra chưa?

Tôi dẫu môi, lắc lắc đầu.

Lão đặt nghiên mực xuống bàn đá, thong thả mài, lại lấy ra bốn thẻ tre, ghi mỗi thẻ mấy chữ rồi úp xuống mặt bàn.

Rõ ràng lão đã hiểu bức thư này từ sớm nhưng cứ thích thử thách tôi, thế thì tôi cứ từ từ mà giải vậy.

Tôi co người, chống cằm lên gối:

- Đợi sau khi ngủ một giấc tỉnh táo, em nhất định sẽ hiểu được!

Lão định nói gì đó thì anh Voi Lớn đã sải bước đến, bẩm:

- Vương gia, người đến rồi.

Tôi nhìn bốn người đi phía sau anh, hai cao, hai thấp, mặc y phục của bọn lính Thát vừa như in, bỗng dưng nghĩ ra một ý.

Di ngón tay kéo hai thẻ tre ở giữa xuống thấp hơn một dòng, lại xoay ngang cả ba thẻ, bỏ đi những chữ thừa so với thẻ thấp hơn kia, nội dung bức thư hiện ra rõ ràng trước mắt: "Nước Nam dùng kế thanh dã, xin chi viện quân lương, tìm đường vòng sang Lão Qua tạo thế gọng kìm".

Tôi thở hắt ra một tiếng, bọn chúng đã chia nhỏ bức thư để tránh bị người bắt được, lại còn dùng ám hiệu tương ứng chiều cao của kẻ đưa thư, quả là thận trọng!

Chẳng trách ai nấy đều ca ngợi người Thát là bậc thầy truyền tin tức.

Nhưng mưu kế càng kín kẽ càng có thể lừa người thì càng dễ bị gậy ông đập lưng ông.

Lão già của tôi hẳn đã viết một bức thư giả với cách thức tương tự, nội dung ắt là báo tin vui, bảo kha hãn của chúng cứ yên tâm đợi ngày thắng trận.

Phấn khởi vì đã giải được nỗi thắc mắc lớn, tôi hồ hởi chạy đến chỗ lão già đang hỏi chuyện mấy anh lính:

- Các anh vào quân Dũng Nghĩa bao lâu rồi?

Tôi suýt há hốc mồm.

Quân Thánh Dực Dũng Nghĩa là tập hợp những người bần cùng, cô nhi, đạo tặc, không ai quan tâm đến, được đào tạo để sẵn sàng hy sinh báo quốc bất cứ lúc nào.

Phải rồi!

Lão già muốn họ giả làm quân đưa thư, đi sang đất địch, bị phát hiện chắc chắn bỏ mạng, nếu may mắn qua được cũng khó có ngày về.

Chân tôi bất giác run run, tôi cố giữ nụ cười, nhìn thật kỹ từng gương mặt mới gặp lần đầu mà đã có thể là lần cuối.

- Bẩm vương, được bốn năm rồi! – Người lớn tuổi nhất thưa, vẻ mặt tràn ngập tự hào.

- Thưa, khi trong quân họ đã được dạy một ít tiếng Hán, chỉ cần không bị tra hỏi gắt gao thì có thể qua mặt được. – Dã Tượng trình.

- Tên anh là gì? – Lão chân thành hỏi anh lính nọ.

- Thưa, toàn quân Dũng Nghĩa chỉ có một cái tên, là dân-Đại-Việt.

Lão già nhìn anh ta hồi lâu, đoạn gật gật đầu, nắm tay đấm nhẹ vào ngực anh ta đầy tin cậy:

- Hành sự cẩn trọng.

Ngày về, đến Yên Bang tìm ta. – Lão mỉm cười thật hiền với cả bốn người.

Những người đàn ông đã dày dạn gió sương bỗng rưng rưng xúc động.

Họ cúi đầu đưa tay nhận mỗi người một thẻ tre rồi nhất loạt cúi chào, đoạn dứt khoát quay đi.

Tôi ngơ ngác nhìn rồi vội vàng đưa tay lên miệng làm loa:

- Các anh đi sớm về sớm, tôi sẽ ủ thêm rượu mơ đợi mọi người!

Bước chân của họ sững lại một khắc rồi tiếp tục tiến lên, không hề quay đầu lại.

Tôi trông theo bóng lưng thẳng tắp của bốn vị anh hùng cảm tử, nhìn những tấm áo choàng bay phần phật đầy kiêu hãnh tiến vào rừng mơ trắng xóa, họ cứ ung dung như đang trên đường đến cõi niết bàn.

Mãi đến khi núi rừng đã che khuất họ, tôi nghe tiếng sụt sịt phía sau.

Địa Lô đứng đấy từ bao giờ, miệng đang cắn chặt cổ tay để ngăn tiếng nấc:

- Tại tôi phải không?

Vì tôi đã giết mấy tên Thát đó nên giờ họ phải ra đi? – Cậu bé lì lợm ngày nào bỗng như đứa trẻ. – Tôi chỉ muốn làm gì đó để báo ơn vương gia, không ngờ... không ngờ...

Tôi đặt tay lên vai cậu ta, nghĩ mãi cũng không biết nên an ủi thế nào.

Cơn bão trong lòng vừa lặng một chút lại nổi lên, vai tôi cũng run run, tôi cúi thấp đầu để tóc che đi đôi mắt đã đỏ hoe.

Tôi cũng không rõ đâu là đúng là sai nữa, chỉ biết Địa Lô chặn đường cướp thư là việc phải làm, lão già gửi một bức thư khác thay vào để phía kha hãn khỏi sinh nghi mà đưa thêm quân đến cũng là việc phải làm.

Thời cuộc này, còn bao nhiêu việc "phải làm" dẫu ta không hề mong muốn.

Lão già đặt một tay lên vai tôi, siết nhẹ.

Tôi nhớ lại lúc xưa, có lần Hưng Đạo vương hỏi lão:

- Phật dạy sinh tử là lẽ tự nhiên, thân này không thật.

Vậy mỗi khi dẫn binh chinh phạt, một lệnh công thành là đầu rơi máu chảy, anh thấy thế nào?

Lão nhàn nhã đáp:

- Kẻ xem trọng sinh tử há đáng bước vào cửa Không?

Kẻ coi khinh sống chết của sĩ tốt và nhân dân há xứng cầm quân lệnh?

- Thế thì phải làm sao cho vẹn đôi đường?

- Đóng vai nào thì diễn tròn vai ấy, đôi đường chẳng vẹn.

Giờ khắc này, tôi hiểu, lão ra quyết định đó cũng chẳng dễ dàng gì.

***

Đêm đông lạnh, không khí trên núi lạnh, cả trại quân chỉ thưa thớt vài đống lửa nhỏ nên càng se sắt lạnh.

Tôi ngồi tựa cửa lán của lão già, bó gối nhìn lửa reo.

Hương trầm thoang thoảng trong nơi ở của lão khiến tâm tư tôi dần lắng lại.

Bấy lâu tôi không hề nhận ra mình đã nhớ mùi hương quen thuộc này đến thế, lúc nào cũng chỉ ngửi thấy mùi máu lạnh tanh.

Không có việc gì làm, tôi bèn giở tấm địa đồ Thăng Long ra xem lần nữa, nhớ mãi cũng không nhận ra mình có vẽ sai điểm nào không.

- Sao em chưa ngủ đi, mệt cả ngày rồi? – Lão về đến từ lúc nào, đưa tay lấy tấm địa đồ của tôi giấu vào ngực áo rồi ngồi xuống cạnh bên.

Ở các lán xung quanh, binh sĩ đều ngủ cả, chỉ để lại một vài người canh gác, không gian yên lặng như tờ.

Lúc chiều, Trần Cụ hỏi có thể dựng lán của tôi cạnh của lão hay không, lão vẫn đang dán mắt vào quyển binh thư, bâng quơ đáp:

- Chỗ của ta rất rộng, cứ bảo nó vào đó đi.

- Nhưng cô Nhã Phong là nữ, như vậy có vẻ không tiện lắm! – Trần Cụ cả kinh.

- Ta chưa từng nghĩ thế.

"Chưa từng nghĩ thế" nghĩa là chưa từng coi tôi là nữ hay chưa từng nghĩ việc tôi ở cùng lão là không tiện, khi ấy tôi không buồn hỏi, giờ mới thấy bất bình.

Còn chưa kịp trả lời câu hỏi của lão thì một âm thanh đáng xấu hổ vang lên: bụng tôi sôi réo vì đói.

Lão bật cười, tôi thẹn quá đưa cả hai tay che mặt, đi vào trong lán:

- Giờ em ngủ!

Người cũng đừng thức khuya quá đó!

- Người thì bẩn, bụng thì đói, ngủ được không? – Lão vẫn giữ nụ cười trêu chọc.

Nhanh như cắt, lão với tay lấy cái áo khoác lông cừu treo trên cột rồi kéo tôi ra chỗ con ngựa của lão.

Lão nhảy lên lưng nó, chìa tay xuống cho tôi:

- Ta vốn nghĩ sau này mới đưa em đến, không ngờ em nhanh chân như vậy.

Đi thôi!

Thoắt một cái, tôi đã ngồi trước mặt lão.

Lão thúc ngựa chạy như bay, xuống đường mòn, tiến thẳng vào rừng.

Mặt trăng rải ánh sáng xuống tàn mơ trắng, tôi như lạc vào trong mộng, tiếng vó ngựa gần đây ám ảnh trong mơ bỗng dưng trở nên thật hiền lành.

Băng qua mấy lượt ghềnh thác, bọn tôi dừng lại trước một ôn tuyền.

Suối này khá nhỏ lại nằm khuất sau một mỏm đá to, ba phía còn lại là rừng cây bao bọc.

Nước lăn tăn gợn trên nền sỏi phản chiếu ánh trăng, lấp lánh như dát bạc.

Lão đỡ tôi xuống ngựa, ôn tồn bảo:

- Trời rất lạnh, đừng ngâm lâu quá đấy.

Ta đợi ngoài kia. – Lão trỏ về phía sau mỏm đá.

Tôi vẫn đang ngẩn ngơ, chỉ biết gật gật đầu.

Lão đặt tấm áo lông cừu và một chiếc khăn to lên mỏm đá, lại dặn dò:

- Tắm xong thì khoác cái này, ta xem vết thương của em đã.

- Sao tiên sinh biết em bị thương? – Tôi kinh ngạc.

- Sao ta lại không biết? – Lão nhướn mày hỏi lại.

Tôi nhớ ra lúc vừa gặp mặt lão đã nắm lấy cổ tay tôi, hóa ra không đơn giản là dắt tay trẻ con, lão đã bắt mạch ngay khi ấy.

Lão già dắt ngựa rời khỏi rồi, tôi trút y phục, từ từ bước chân xuống nước.

Nước ấm dâng đến đâu tôi tỉnh đến đấy, cả người duỗi ra khoan khoái.

Dưới thứ ánh sáng huyền ảo này, làn da thô ráp vì nắng gió của tôi cũng trở nên trắng trẻo mềm mại như nhung lụa.

Trong một thoáng, tôi không còn nhớ gì đến những chuyện buồn, chỉ thấy cơ thể và đầu óc đều nhẹ nhõm, khoan khoái ngâm nga:

"Bạc vụ nùng vân sầu vĩnh trú,

Thuỵ não tiêu kim thú.

Giai tiết hựu trùng dương,

Ngọc chẩm sa trù,

Bán dạ lương sơ thấu.

Đông ly bả tửu hoàng hôn hậu,

Hữu ám hương doanh tụ.

Mạc đạo bất tiêu hồn,

Liêm quyển tây phong,

Nhân tỷ hoàng hoa sấu."[2]

Vừa hết bài thơ, làn gió lạnh đưa lại một mùi thơm cực kỳ quyến rũ.

Tôi vội vã lên bờ, lấy khăn quấn tóc, cuộn người trong tấm áo lông cừu rồi chạy ra chỗ lão già.

Lão đang ung dung nướng mấy con cá, tôi đứng ngẩn ra nhìn, lát sau mới khe khẽ reo lên:

- Thơm quá!

Lão vỗ nhẹ lên bàn tay hấp tấp của tôi, kéo tôi ngồi xuống bên cạnh:

- Bỏng bây giờ!

Chỉ háu ăn là giỏi.

Mắt tôi vẫn chăm chú nhìn lớp da cá vàng ruộm và làn khói nghi ngút, mồm nịnh nọt không ngừng:

- Tiên sinh nếu sinh trong nhà thường dân cũng có thể dựa vào tài nấu ăn mà trở thành đại phú đấy!

Thơm chết mất!

Lão cười khẩy không giấu vẻ khinh bỉ, thong thả thổi cá cho nguội rồi bốc một miếng đưa đến trước mồm tôi.

Tôi không ngần ngại ngoạm lấy, vị ngọt và hương thơm của cá nướng tràn đầy trong miệng.

Tôi cười tít mắt, cảm thấy bao nhiêu sơn hào hải vị trên đời cũng không bì được với món này.

Trong chớp mắt, ba con cá đã vào bụng, tôi chợt nhớ ra:

- Tiên sinh... không ăn sao?

Lão nhìn mấy bộ xương cá nằm chỏng chơ trên nền đất, thờ ơ đáp:

- Không.

Ta không đói!

Nỗi áy náy hình thức của tôi kéo dài chẳng bao lâu vì trước nay vẫn thế.

Tôi có tật xấu là khi đói hoặc thèm món gì ngon mà không được ăn thì không cách nào ngủ được.

Lúc còn ở Dưỡng Chân Trang, mỗi lần như thế tôi lại gõ cửa phòng lão để mè nheo.

Bao giờ lão cũng chê trách mấy câu, bao giờ cũng vào bếp làm một món rất đơn giản nhưng thật ngon, bao giờ cũng nhường tôi ăn hết.

Song hôm nay giữa lúc việc quân bận rộn mà lão vẫn còn quan tâm những điều nhỏ nhặt này, tôi cảm động vô cùng!

Người này là vương gia cao quý của Đại Việt, là tướng quân oai dũng của doanh Thánh Dực, là thiền sư đức cao vọng trọng của Dưỡng Chân Trang, đồng thời cũng là lão già xiết bao dịu dàng và thân thiết của riêng tôi.

Khoảng cách trong lòng biến mất như chưa từng tồn tại, tôi nhìn lão đầy trìu mến.

- Sao vậy?

Mặt ta lấm bụi than sao? – Lão hỏi.

Tôi lắc lắc đầu, đoạn nhớ ra điều thắc mắc bấy lâu:

- Em không ngoan ngoãn ở Yên Bang mà chạy đến quân doanh thế này, có phải tiên sinh thấy giận, thấy phiền không?

- Tôi bỗng trở nên dè dặt, nhìn xuống chân mình.

- Mặt nào đó, thì phải.

- Giọng lão lạnh lùng.

- Đúng là trẻ con!

- Vậy, còn mặt khác thì sao?

- Thì... cũng vui.

Tim tôi đập rõ to, tôi ngước lên nhìn lão chỉ thấy lọn tóc dài đã che nửa mặt.

Có cơn gió khẽ lướt qua giữa bọn tôi.

Lão nói tiếp:

- Đâu có đứa trẻ nào gan lì như vậy.

Tôi phì cười, tựa đầu vào cánh tay lão, sung sướng tận hưởng cảm giác yên bình hiếm có này.

Lát sau, lão đưa tay kéo chiếc khăn tôi đang quấn tóc, điềm nhiên dùng nó lau sạch bàn tay vừa gỡ cá.

Đoạn, lão đến chỗ con ngựa lấy túi thuốc rồi quay lại bảo tôi:

- Bị thương thế nào, để ta xem.

- Vâng ạ.

Tôi ngoan ngoãn vén tóc sang một bên, tụt áo choàng xuống để lộ ra vết chém trên vai và lưng, tôi đoán giờ chúng đã đóng vảy.

Gió lạnh khiến tôi hơi run rẩy.

Mãi không thấy động tĩnh gì, tôi quay lại nhìn, gương mặt lão không có vẻ gì vui, đáy mắt còn thoáng nét đau lòng.

Tôi chân thành nói:

- Giờ em vẫn sống, vẫn được ăn cá mà tiên sinh nướng, em thấy đủ lắm rồi. – Xoa xoa chỗ trán hơi nhíu lại giữa hai chân mày lão, tôi nói tiếp. – Tiên sinh đừng giận, đừng giận nữa!

Tôi biết những áp lực mà lão phải chịu lớn hơn tôi rất nhiều, những tâm sự trong lòng lại không có ai chia sẻ nên chỉ biết dùng cách này để xoa dịu phần nào.

Lão thở nhẹ, đưa tay mở hộp thuốc, rất chậm rãi xoa lên từng vết thương trên người tôi.

Thuốc làm chúng rát buốt nhưng tôi cố giữ vẻ bình thản, sợ lão buồn thêm.

Thoa thuốc xong rồi, lão thận trọng kéo áo lên tận cằm tôi, đoạn lại gỡ mớ tóc ướt tôi vừa gội, hong trước ánh lửa, tỉ mỉ như nâng niu thứ tơ tằm thượng hạng.

Tôi cứ nhìn mãi bàn tay thon dài của lão, lớp thành trì kiên cố tôi dựng trong lòng bấy lâu nay theo mỗi động tác dịu dàng ấy mà vỡ vụn từng chút một.

Khóe mắt tôi nóng dần lên rồi nước mắt cứ thế tuôn ra, tôi khóc nấc từng tiếng rồi cuối cùng gục lên gối lão òa lên nức nở, tôi khóc như gió như mưa, như trẻ con vừa lạc mẹ.

Lão vỗ vỗ lưng tôi một lúc lại nắm chặt bờ vai đang run lên nức nở của tôi, hỏi khẽ:

- Sợ lắm phải không?

Ký ức mới mấy ngày trước ùa về, tiếng la hét, tiếng chém giết rền rĩ bên tai, màu đỏ tràn đầy trong mắt, mùi máu tươi ngập trong mũi, trong lồng ngực.

Tôi gật đầu liên tục, vai tôi bị siết chặt hơn một chút.

Một khắc sau, tôi dần nhận ra lúc này tôi không thấy lạnh, không thấy đau, không thấy hoang mang chẳng biết đây có phải là đêm trăng cuối cùng mình được nhìn thấy hay không.

Mùi thuốc trên tay lão và hương trầm trên người lão già như có như không chầm chậm kéo tôi về thực tại, tôi lại lắc lắc đầu.

Với tay nắm lấy tay lão đang đặt trên vai mình, lần mò mấy vết chai vì cầm kiếm và mấy vết cắt ghi dấu chuyện ngày xưa lão đẽo ngọc làm sáo cho tôi, tôi mỉm cười mặc kệ mắt vẫn ngân ngấn nước:

- Giờ em không sợ chi nữa!

Tôi nghe tiếng lão thở ra khe khẽ, bàn tay ấy vẫn kiên nhẫn vỗ về trên tóc.

Tôi cứ nằm như thế trên gối lão, kể hết chuyện này sang chuyện khác: chuyện Nguyễn Nam, chuyện ông Đảm, chuyện bác Thôi, chuyện tôi trốn quân Thát ra sao, lại hoảng hốt khi thấy Thăng Long hoang vắng thế nào.

Khóc mệt, tôi chìm vào giấc ngủ lúc nào chẳng rõ, xung quanh chỉ còn tiếng lửa reo và tiếng vượn trầm từ hang sâu vẳng lại.[3] Trong cơn mơ chập chờn, tôi vẫn cảm nhận được hơi ấm của lão, vẫn nghe giọng lão lẫn trong tiếng vó ngựa, tiếng gió reo, êm dịu như lời ru của mẹ năm xưa:

- Ngủ đi.

Ta ở đây rồi!

[1] Trần Thái Tông viết trong Khóa hư lục: "Nếu khi ngồi thiền chẳng tắt mọi niệm thời tâm vượn nổi dậy, ý ngựa lông bông".

Trong bài Trữ từ tự cảnh văn (Bài văn trữ tình tự răn mình), Tuệ Trung thượng sĩ viết:

"Miết nhĩ tuỳ tâm viên ý mã,

Nan miễn luỵ lợi toả danh cương."

Nghĩa là:

"Lắm lét theo lòng hươu ý vượn,

Tránh khỏi sao lợi buộc danh ràng?"

[2] Bài thơ Túy hoa âm của Lý Thanh Chiếu thời nhà Tống.

Dịch nghĩa:

"Khói nhạt mây dày, ngày dài tẻ ngắt,

Hương trầm đã nguội, lò vàng đã tắt.

Tiết trời tươi đẹp đúng dịp trùng dương,

Gối ngọc màn the,

Nửa đêm hơi lạnh len vào.

Bên bờ giậu phía đông, nâng ly sau buổi hoàng hôn,

Hương thầm đầy tay áo.

Chớ nói cảnh chẳng tiêu hồn,

Rèm cuốn gió tây,

Người so với hoa vàng còn mảnh mai hơn."

[3] Trong bài Phỏng Tăng Điền đại sư, Tuệ Trung Thượng sĩ viết:

"Nhân gian tận kiến thiên sơn hiểu

Thuỳ thính cô viên đề xứ thâm."

Dịch nghĩa:

"Người đời chỉ nhìn thấy nghìn núi vào buổi sáng

Ai nghe tiếng vượn cô đơn kêu nơi rừng sâu thẳm."

Hoặc sau này trong bài Tụng Thánh Tông đạo học, ngài viết:

"Nhân gian chỉ kiến thiên sơn tú,

Thuỳ thính viên đề thâm xứ thâm."

Dịch nghĩa:

"Người đời chỉ thấy núi non xanh tốt,

Nào ai nghe thấy tiếng vượn kêu sâu thẳm trong nơi sâu thẳm."

Nghe tiếng vượn kêu nghĩa là nghe âm thanh từ nguồn gốc, cảm được cái bản chất của rừng núi, tức là nhìn thấy tự tánh.
 
Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 26: TRĂNG RỤNG LÒNG SÔNG, ĐÊM MẤY CANH? [1]


Trời đã sáng từ lâu, ánh nắng chiếu xiên khoai qua mành che lán khiến tôi chói mắt nhưng tôi vẫn kéo áo choàng lên kín đầu, luyến tiếc cảm giác ấm áp thêm chốc nữa.

Lão già đã dậy từ sớm để duyệt quân, nằm trong này có thể nghe thấy tiếng chân người đi đi lại lại, nói cười rôm rả.

Tôi đoán cả doanh trại chắc chỉ còn mỗi mình tôi còn nằm ườn biếng nhác đến bây giờ.

Nằm mãi cũng chán, tôi lăn mấy vòng rồi bước ra khỏi tấm thảm da hổ trải trên đống cỏ khô, thấy quần áo trên người đã chỉnh tề, uể oải vươn vai.

Hôm nay trời có vẻ ấm hơn, chắc vì xuân sắp đến.

Tôi đưa mắt nhìn quanh lán, trên cái bàn nhỏ được kê bằng mảnh gỗ và hai viên đá lớn, ngoài ngọn đèn dầu lạc đã cạn thì chỉ có một quyển binh thư và cây sáo ngọc của tôi được bọc kỹ trong một lớp vải.

Tôi vui vẻ giở quyển binh thư ra đọc mấy trang rồi úp xuống bàn, đoạn giở cây sáo ra nhìn, không thấy thêm vết xước nào, bèn cầm theo nó bước ra ngoài.

Đã lâu rồi tâm trạng mới thư thái như sáng nay, tôi hăm hở đi một vòng chào hỏi mọi người trong doanh.

Vừa bước đến con dốc dẫn xuống bờ suối, tôi gặp ngay một anh lính thấp người, để râu quai nón, đang vác một bó tre to, tôi liền lớn tiếng gọi:

- Chào anh!

Sáng ra đã chăm chỉ quá!

Anh ta nhanh nhẹn đặt bó tre xuống, gập người đáp lại:

- Chúc vương phi buổi sáng tốt lành!

Tôi ngơ ngác trỏ mặt mình, hỏi lại:

- Vương phi?

- Thưa phải!

Tôi nghe tiếng Hưng Ninh vương phi sắc nước hương trời, nhưng nghĩ thế nào cũng không tưởng được, người đã gả cho vương gia gần chục năm rồi mà dung nhan vẫn như thiếu nữ thế này.

Vương quả là khéo chọn!

Nụ cười trên môi tôi cứng lại, bèn hỏi:

- Anh tên gì?

- Bẩm, ai cũng gọi tôi là Trương Phi!

- Trương Phi!

- Tôi dịu dàng đáp.

- Nghe anh khen tôi rất vui, nhưng anh đã lầm rồi!

- Anh ta lập tức chữa cháy:

- Phu nhân không phải vương phi, vậy chắc chắn là tiểu thiếp mà vương sủng ái đến mức đi đánh trận cũng phải mang theo!

Chắc chắn không sai được!

- Hàm dưới của tôi vừa chạm đất, anh Voi Lớn đã nhanh nhẹn đến cặp cổ anh ta lôi ngược về sau, vừa đi vừa không quên phân trần:

- Gã này trước làm nông, vừa gia nhập quân Thánh Dực được mấy tháng, cái gì cũng không biết nên cô đừng chấp nhất!

Tôi nhìn hai người đàn ông to lớn lôi kéo nhau, thấy vừa thương vừa tức cười.

Hai người đã xuống cuối con dốc, tôi hãy còn nghe anh lính mới kia léo nhéo:

- Không phải vương phi, không phải ái thiếp, vậy cô ấy là ai, tại sao... tại sao...?

Quay người trở về đường cũ, tôi thấy lão già đang đứng trên đỉnh dốc dặn dò Trần Cụ gì đó, có vẻ như không hề nghe thấy cuộc trò chuyện của tôi với Trương Phi.

Tôi sải bước đến chỗ họ, Trần Cụ thấy tôi liền lễ phép gật đầu chào.

Lão già hơi nhếch mép cười:

- Giữa lúc giặc giã, nằm trong lán dã chiến mà có thể ngủ say như chết đến giữa trưa, đúng là bản lĩnh hơn người!

- Ồ, phải đấy! – Tôi gõ gõ cây sáo trong tay. – Bản lĩnh lớn nhất của em là có thể tìm được một vị tướng rất oai phong dũng mãnh canh giấc ngủ cho em, dù trời sập cũng không cần chớp mắt!

Chưa kịp cười đắc thắng, tôi đã bị lão già ấn đầu xuống rồi xoa đến tóc rối bù như tổ chim.

Trần Cụ đứng ngơ ngác nhìn chúng tôi đoạn cúi chào lão rồi quay lưng đi mất.

Tôi nhìn theo bóng lưng hắn đến khi đã tít đằng xa mới chợt nhớ hôm qua mình vẫn chưa điều tra được thứ họ đang giấu giếm.

- Năm trước ta có dạy em làm pháo đá, còn nhớ không? – Lão già hỏi.

- Nhớ ạ. – Tôi gật đầu, đoạn híp mắt nhìn lão đầy thấu hiểu. – Trước khi đến đây em còn làm mấy cỗ cho quân ta ở Yên Bang.

Chẳng hay tướng quân cần bao nhiêu cỗ, bắn xa bao nhiêu bộ?

- Một thôi, loại gọn nhẹ nhất có thể đặt trên thuyền chiến.

- Được ạ, em sẽ bảo binh sĩ làm ngay. – Tôi vụt chạy về phía bờ suối.

- Trước khi mặt trời lặn phải hoàn thành. – Giọng lão nghiêm túc lạ thường.

Tôi vừa đi vừa nghĩ, ở đây thêm mấy ngày nữa không biết lão sẽ còn bày ra những việc gì để giữ tôi bận rộn.

Sáng nay mọi người đã chặt về rất nhiều cây to nên việc làm máy bắn pháo diễn ra rất nhanh.

Mấy anh binh sĩ đều còn khá trẻ nên ai nấy cũng tinh nghịch, vừa làm vừa ca hát rất đỗi yêu đời.

Người không biết nhìn vào còn tưởng đây là phường mộc ở một thái ấp nào đó thuở khói lửa chiến tranh chưa tràn đến.

- Nếu ở nhà tôi có một mỹ nhân như cô Nhã Phong, tôi nhất định sẽ giấu thật kỹ, không để ai nhìn thấy! – Anh lính đang mướt mồ hôi buộc lại mối dây vẫn dẻo miệng trêu đùa.

- Nhìn thấy thì đã làm sao? – Một anh lính khác chen vào. – Chúng ta đều là bọn phàm phu thô kệch, bác nghĩ vương gia cần lo lắng chắc?

- Tôi có một cô em vợ. – Anh lính hơi đứng tuổi nói với sang. – Năm trước nó đến Dưỡng Chân Trang thắp hương một lần, vô tình được diện kiến vương rồi thưa chuyện vài câu, từ đó về sau đám nào đến hỏi cũng bị khước từ. – Đoạn, anh cười lớn. – Sau trận này tôi sẽ nói với cô ấy, phải tỉnh mộng, tỉnh mộng thôi!

Tôi ngồi trên gốc cây, chống cằm theo dõi câu chuyện của họ mà bật cười rũ rượi.

Anh lính có cô em vợ nọ nói tiếp:

- Người xứng đáng để đứng cạnh vương phải như cô đây, chẳng những đẹp người lại còn thông tuệ.

Đến máy bắn pháo đá rắc rối thế này mà chúng ta làm theo cách của cô ấy chỉ một loáng là xong.

Các anh thấy có đúng phỏng?

- Đúng thế!

Đúng thế! – Mọi người tán đồng. – Quả là rồng phụng trong thiên hạ!

- Các bác quá lời rồi! – Tôi xua xua tay. – Tôi may mắn được vương gia của mọi người dạy bảo, gần đây còn được học hỏi từ một cao nhân...

- Nhắc đến ông Đảm, lòng tôi lại không khỏi buồn phiền. – Tuy ông ấy tàn tật nhưng tài làm vũ khí thì không ai bì được!

- Tàn tật?

Làm vũ khí rất tài?

Cô đang nói đến cụ Lý Đảm phải không? – Người tên Trương Phi tôi gặp lúc sáng cũng vừa đi đến.

- Phải. – Tôi sững người, nhảy khỏi gốc cây. – Mọi người cũng biết ông ấy sao?

- Thưa. – Trương Phi thật thà đáp. – Mấy hôm trước bọn Thát vào thành thấy xác của bọn sứ giả trong ngục của ta, tức giận đập phá lung tung, còn treo cả xác một người trên bến sông để thị uy.

Bọn tôi đi nghe ngóng nên thấy được, vội về bẩm lại.

Cái xác cụt chân nhưng gương mặt rất có uy, mắt vẫn mở trừng trừng, cậu Trần Cụ nói bọn tôi mới biết tên ông ấy.

Tôi nghe như đất sụp dưới chân mình, cố giữ giọng nói khỏi run, tôi hỏi lại:

- Việc ấy xảy ra bao lâu rồi?

Giờ xác ông ấy ở đâu?

- Thưa...

- Trương Phi lắp bắp trước thái độ của tôi. – Cũng ba, bốn hôm rồi.

Bọn tôi thấy anh hùng phải phơi thây như thế thì đau xót lắm, nhưng vương đã lệnh không được manh động mà hỏng việc, nên không ai dám cãi.

Cái xác... chắc vẫn còn ở đó.

- Trương Phi! – Dã Tượng từ xa quát lại. – Ta đã bảo anh không được nói lung tung, sao mãi vẫn chứng nào tật nấy?

Anh lính nghĩ gì nói đó kia lầm bầm đáp những gì tôi nghe chẳng rõ, vì Dã Tượng đã đến chắn trước mặt, lo lắng bảo tôi:

- Cô Nhã Phong, tôi đã chuẩn bị cơm trưa cho cô, về ăn nhé!

Cô Nhã Phong!

Tôi đứng như trời trồng, Dã Tượng gọi mấy lần mới sực tỉnh:

- Không phải vương gia không cho phép nổi lửa nấu cơm sao? – Tôi cười nhạt. – Cứ theo quân lệnh mà làm.

Tôi lững thững bước về lán như người mộng du, trong đầu không ngừng nhớ lại cảnh tượng ngày hôm ấy.

Tôi đã đớn hèn bỏ ông Đảm mà chạy giữa lúc sinh tử, đã không thể để ông mồ yên mả đẹp, lại nhắm mắt làm ngơ thi thể ông bị bọn xâm lăng mang ra chà đạp.

Người ra sắc lệnh ấy, mỉa mai thay, lại là lão già mà tôi yêu quý nhất, là người đã khiến tôi bất chấp tất cả rời khỏi Yên Bang buộc ông Đảm phải đồng hành rồi không bao giờ trở về được nữa.

- Cô Nhã Phong, vương gia có nỗi khổ của ngài ấy! – Dã Tượng bám tôi không rời nửa bước.

- Anh không biết đó thôi. – Tôi cười chua chát, chợt nhớ lại một đoạn đối thoại năm xưa giữa lão già và chúng tăng mà tôi vô tình nghe được. – Đối với Tuệ Trung Thiền sư mà nói, thân thể chỉ là máu thịt hôi tanh, dù có nhan sắc đẹp đẽ thế nào, khi hồn lìa khỏi xác thì tất cả đều trở về với cát bụi...

- Xin cô đừng nghĩ vương tuyệt tình đến thế! – Anh kéo tôi đến sau lán để không ai trông thấy.

- Anh Dã Tượng! – Tôi nhìn anh rất chân thành. – Ngày thường em nghe tiên sinh giảng Phật lý, tuy không hiểu thấu đáo nhưng những lời người nói em đều xem như khuôn vàng thước ngọc.

Mãi đến cuộc chiến này, khi phải đối diện với sống chết, em mới biết em không thể nào buông bỏ nhẹ nhàng như người được.

Ông Đảm vì em mà rơi vào nguy hiểm, vì cứu em mà chết, bảo em mặc kệ ông ấy bị treo nơi bến sông lạnh lẽo kia đến khi mục rữa thối nát, em không làm được! – Tôi đưa tay quệt nước mắt, cố ngăn tiếng nấc. – Em không làm được!

Dã Tượng nhìn tôi bối rối, không biết phải an ủi thế nào.

Hồi lâu, anh khổ sở thưa:

- Tôi biết cô Nhã Phong trân trọng mạng sống của từng người, dẫu là sĩ tốt thấp hèn.

Nhưng cô đã nghĩ được như thế, sao lại không hiểu cho vương gia? – Người anh cao lớn của tôi cũng xúc động mạnh. – Hưng Ninh vương là người thế nào?

Thà vương bị trọng thương còn hơn thấy thuộc hạ phải đổ máu!

Tôi theo vương chẳng bao lâu còn rõ việc này, sao cô là người thân thiết nhất với vương lại nỡ trách cứ?

Tôi giương mắt nhìn, đợi anh nói tiếp.

- Vết thương trên tay vương lẽ nào cô không nhìn thấy?

Hôm đó trận Phù Lỗ ác liệt thế nào, vương vì không đành nhìn Phú Lương hầu tử nạn mà suýt nữa cũng đã không về được.

Nếu không như thế, sao chúng tôi có thể liều chết chiến đấu với ngài? – Nói đến đây, mắt anh cũng hoe hoe đỏ. – Giá chỉ có một mình, tôi tin vương cũng sẽ không ngần ngại xông vào trại địch mang ông Đảm về an táng, nhưng lần này vương là chủ tướng, một quyết định của vương sẽ khiến bao nhiêu người đổ máu, bao nhiêu người vợ mất chồng, bao nhiêu đứa trẻ không cha...

So với thảm cảnh đó, nỗi nhục nhìn ông Đảm bị bêu xác đã là gì?

Tôi đưa tay cắt ngang lời anh, tay còn lại ôm lấy ngực, tưởng như mình không thở được.

Những điều này sao tôi có thể không hiểu?

Quyết định này sao tôi có thể chẳng tán đồng?

Chỉ là, khi người ra lệnh là một lão già luôn dịu dàng bao bọc tôi bằng thứ tình thương và lòng bao dung vô hạn, tôi lại không có cách nào chấp nhận.

Tôi thừa biết trong mắt người ngoài, lão vốn là một người khôn ngoan và tỉnh táo, nhưng khi phải đối mặt với con người khôn ngoan tỉnh táo ấy, tôi lại thấy xa lạ và sợ hãi.

Có tiếng giày giẫm lên cỏ sột soạt, tôi và Dã Tượng cùng quay đầu lại, lão già đã đến.

Dã Tượng buồn bã nhìn lão một lúc rồi ôm quyền hành lễ:

- Vương gia, cô Nhã Phong đã biết chuyện.

Dã Tượng không hoàn thành trách nhiệm, xin nhận phạt!

Lão khoát khoát tay ra hiệu anh rời đi.

Đoạn, tôi và lão cứ đứng nhìn nhau mà chẳng nói gì.

Trong đầu tôi hoàn toàn trống rỗng, hồi lâu, lão trầm giọng bảo:

- Ta không có gì để giải thích.

Tôi nhắm mắt, hít một hơi thật sâu rồi khẽ thở ra, đầu cúi thấp.

Bàn tay lão đưa tới trước định vỗ vai tôi, bất giác tôi bước lùi thật nhanh.

Bàn tay kia ngưng giữa khoảng không, khẽ nắm hờ rồi buông xuống.

Lão đứng thêm một chốc rồi vào lán, lát sau cầm áo choàng và kiếm bước ra, lại đến trước mặt tôi, nói khẽ:

- Có thể sau đêm nay, căn cứ Cổ Mai này sẽ bị lộ.

Em thu dọn sẵn hành lý, khi cần ta sẽ cho người đưa em đến chỗ hoàng thất đang lánh nạn. – Dừng một đỗi, lão tiếp. – Ở đó xa tiền tuyến, không cần phải chứng kiến cảnh máu chảy đầu rơi.

Tôi vẫn không dám ngẩng đầu lên, lão nói xong rồi đi mất.

Hóa ra đêm nay quân Thánh Dực sẽ có hành động.

Chẳng trách lão lại bảo tôi phải làm xong cỗ pháo đá trước hoàng hôn.

Giờ chỉ mới đầu giờ Thân, trời hãy còn sáng, hẳn phải hơn một canh giờ nữa họ mới lên đường.

Tôi ngồi thừ trước lán, cảm thấy mọi việc xảy đến rất nực cười.

Mới tối qua, chúng tôi còn thân thiết đến thế, tôi còn rúc trong lòng lão kể lể chuyện này sang chuyện nọ.

Vậy mà bây giờ, mỗi người lại có một ý nghĩ riêng, cả việc nói với lão một câu "Tiên sinh cẩn trọng", tôi cũng không cách nào mở miệng.

Đêm nay, lão phải đối mặt với bọn Thát mà tôi còn ở đây phiền trách lão vì một người đã không cách nào sống lại.

Tôi đã mang nỗi ray rứt giương mắt nhìn ông Đảm mất trút lên người lão, vô lý và bất công như vậy...!

Nghĩ lại mấy lời anh lính nói lúc nãy, cái gì mà rồng phụng xứng đôi, thật nực cười!

Chỉ riêng việc ở cạnh lão thế này đã rất khó khăn rồi!

Tôi vào lán, bắt đầu thu dọn hành lý.

Ngoan ngoãn đến một nơi an toàn, rời khỏi tầm mắt của lão để lão yên tâm đánh trận có lẽ là việc duy nhất tôi làm được bây giờ.

Dọn gần hết đồ đạc của mình vào đẫy, tôi bước đến lấy quyển binh thư đang đọc dở thì thấy một vật tròn tròn nho nhỏ nằm khuất phía dưới.

Tôi tò mò cầm lên xem thử, hóa ra là hộp thuốc trị thương, trông hơi khác hộp hôm qua lão dùng để bôi vết thương cho tôi.

Tôi đưa lên mũi, một mùi hăng rất đặc trưng xộc đến, chuyện xưa lập tức hiện về.

Có lần lão đưa tôi lên núi hái thuốc thì tìm thấy một loại cây mọc nơi vách đá cheo leo.

Lão bảo tôi ở yên một chỗ rồi tìm cách trèo ra hái, suýt chút nữa đã trượt chân.

Tôi sợ phát khóc, lão quát lớn:

- Ở yên đấy!

Ta không sao!

Loay hoay một hồi, lão cũng trở vào an toàn.

Tôi đưa cây thuốc lên mũi ngửi thử, đoạn nhăn nhó vứt xuống đất.

Lão cười hiền xoa đầu tôi, tôi ấm ức bảo:

- Sao tiên sinh lại vì thứ hôi thối này mà mạo hiểm như thế?

- Đây là thuốc quý, trị được vết thương rất sâu đấy!

Binh sĩ ra trận nếu có loại thuốc này sẽ có thêm vài cơ hội sống.

Phải rồi, lão già của tôi vốn là một người nhân hậu nhường ấy nên tôi mới không dễ dàng chấp nhận việc hôm nay...

Nhưng, phải dùng đến loại thuốc này, lẽ nào vết thương trên tay lão nghiêm trọng hơn tôi nghĩ?

Tim chợt hẫng đi một nhịp, nỗi bất an từ đó thi nhau kéo đến, mọi nghi ngại bỗng tan biến, tôi tỉnh táo lạ lùng.

Đêm nay, lão định đánh thế nào?

Quân số của doanh Thánh Dực ở Cổ Mai tuyệt đối không bì được với quân Thát đang đóng trong thành.

Lão lại đang bị thương, giao chiến trực diện rất bất lợi.

Cho là tập kích cũng không thể tránh khỏi hiểm nguy.

Là vương gia, là tướng quân hay thiền sư đắc đạo, coi trọng sinh tử hay xem mọi thứ tựa phù vân, lão vẫn chỉ là người.

Hôm trước lão đã có thể bị thương, hôm nay lỡ như, lỡ như lão không về nữa...?

***

Lần thứ hai tôi ngắm hoàng hôn giữa rừng mơ, cảnh vật còn tráng lệ hơn hôm trước, có lẽ vì tôi nghĩ rất có thể đây là lần cuối cùng tôi được nhìn thấy cảnh đẹp này.

Tôi đã vượt bao hiểm nguy đến đây tìm lão thì dù thế nào cũng sẽ không bỏ đi.

Huống hồ, ngày rời khỏi Yên Bang, tôi đã thề sẽ không để lão phải một mình thêm lần nào nữa.

"Đời này chắc chẳng có ai muốn bảo vệ tên nhóc ấy hơn cháu."

Ông Đảm từng nói với tôi như thế.

Lòng tôi vẫn chưa hết băn khoăn, chưa hết xa lạ và sợ hãi, nhưng tôi biết nếu không cùng lão chiến đấu, lỡ như lão có bất trắc gì tôi sẽ ân hận cả đời.

Gió bắt đầu thổi mạnh, tôi đưa tay kéo lại tấm áo choàng lão đã khoác cho mình ngay lúc tôi vừa đến đây, hương trầm hãy còn thoang thoảng.

Thôi thì, ông ơi, cho là cõi niết bàn hay địa ngục, cháu cũng tình nguyện theo người là được!

Tôi ngồi trên lưng Cụ Nhỏ, đợi rất lâu ở cuối con dốc phía bắc Cổ Mai – đường độc dạo dẫn xuống Thăng Long – đến khi mặt trời xuống giữa tàn cây thì quân kỳ Thánh Dực hiện ra rực rỡ dưới bóng ác tà, nổi bần bật giữa màu hoa trắng.

Lão già cưỡi ngựa dẫn đầu một đội quân đi đến.

Nhìn thấy tôi, lão thoáng sững sờ.

Trần Cụ đi ngay phía sau, thảng thốt hỏi:

- Cô Nhã Phong!

Tôi tưởng cô vẫn còn ở doanh trại?

Tôi mỉm cười, khẽ lắc đầu, hướng mắt về phía lão.

Lão nhìn tôi như ngẫm nghĩ, đoạn nở một nụ cười ngạo nghễ rồi quay lại nhìn binh sĩ phía sau, tay giương cao kiếm, giọng nói vang vang:

- Vừa xuất phát đã gặp gió đông, trận này quân ta tất thắng!

- Tất thắng!

Tất thắng!

Mọi người đồng thanh hô rất khẽ, rừng mơ nhè nhẹ rung lên như thầm thì hẹn khúc khải hoàn.

[1] Câu cuối trong Tứ sơn kệ của (Sinh – Lão – Bệnh – Tử) của Trần Thái Tông, viết về cái chết:

"Bãi đãng cuồng phong quát địa sinh

Ngư ông túy lí điếu chu hoành

Tứ thùy vân hiệp âm mai sắc

Nhất phái ba phiên cổ động thanh

Vũ cước trận thôi phiêu lịch lịch

Lôi xa luân chuyển nộ oanh oanh

Tạm thời trần liễm thiên biên tịnh

Nguyệt lạc trường giang dạ kỉ canh?"

Dịch thơ:

"Cào đất đùng đùng trận gió hanh,

Lão ngư say tít, chiếc thuyền chành.

Bốn bề mù mịt mây sầm bóng,

Một dãy lô xô sóng cuộn ghềnh.

Theo lớp hạt mưa bay phấp phới,

Dồn nhau tiếng sét nổ đì đoành.

Giây lâu tan bụi, bên trời tạnh,

Trăng lặn lòng sông, đêm mấy canh?"
 
Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 27: THIÊN THƯ ĐỊNH PHẬN [1]


Đoàn quân xuất phát từ rừng mơ chưa đến năm trăm người nên di chuyển rất nhanh, chẳng mấy chốc đã đến đồng bằng, đi thêm một đoạn ngắn nữa thì gặp bờ kênh.

Đón chúng tôi là hai mươi chiếc thuyền chiến Mông Đồng loại nhỏ, toàn thân đen tuyền, mái cong phía trên được thay bằng sàn gỗ, đuôi cao vút, mỗi thuyền sẵn hai mươi lăm trạo phu.

Lão già phất tay ra hiệu, cả đoàn người phía sau nhanh chóng xuống ngựa, lần lượt theo các đô trưởng lên thuyền.

Lúc này tôi mới thấy trên tay họ đều mang theo một cái vại, nỗi thắc mắc càng lớn nhưng không tiện hỏi.

Tôi nhìn xuống lòng kênh đen thăm thẳm, nuốt nước bọt đánh ực một cái.

Mãi suy nghĩ rồi kiên quyết chạy đến đây, tôi đã quên mất thế mạnh của họ Trần là thủy chiến, càng quên mất điểm yếu chí mạng của mình: Tôi không biết bơi!

Thuở xưa, lão già đã từng mang tôi quẳng xuống nước rất nhiều lần, lần nào tôi cũng bấu víu loạn xạ khiến lão uống không ít nước, sau đó tôi ôm lão gào như lợn bị chọc tiết, vừa oán trách vừa van xin.

Lần cuối cùng, nhân dịp Yết Kiêu theo Hưng Đạo vương đến Yên Bang, lão liền bảo anh dạy tôi, chẳng cần phải thành kình ngư giống anh, chỉ cần tôi rơi xuống nước có thể cầm cự đến lúc có người cứu là được.

Anh Cá To mướt mồ hôi hết một ngày bèn quay về quỳ trước thư phòng lão dập đầu nhận tội.

Chẳng trách, nửa năm trước tôi đi tìm lão già mất gần một tháng, khi đi cùng ông Đảm lại chỉ có mấy ngày.

Ông lão đi thuyền còn tôi hèn nhát chỉ dám đi đường bộ.

Thường ngày, nếu có người đáng tin cậy ở cạnh thì tôi sẽ không lo lắng, nhưng hôm nay đi đánh trận, nhỡ đang giao tranh với địch lại rơi xuống nước báo hại mọi người, biết đâu tôi sẽ thành tội nhân thiên cổ?

Lão già đã lên thuyền, ngoái lại trông thấy tôi vẫn tần ngần đứng trên bờ, ái ngại nhìn tấm ván bắc giữa bờ và thuyền nhấp nhô theo nhịp sóng, lão nén cười thở nhẹ một tiếng toan trở lại đón tôi.

Vừa lúc đó Trần Cụ đi sau đã bước lên giữa ván, chìa tay ra vui vẻ cười:

- Để Cụ đỡ cô.

Thường ngày vẫn tự hào làm việc gì cũng giỏi hơn tên sư đệ này nên giờ tôi cảm thấy hơi mất mặt, song không muốn làm chậm trễ hành trình của mọi người, bèn vội nắm lấy tay hắn làm điểm tựa, đi như chạy qua tấm ván.

Đến đầu bên kia, tôi chưa kịp tìm chỗ đặt chân, lão già đã nhấc tôi xuống một cách nhẹ nhàng.

Tôi theo lão đến mũi thuyền, ngoan ngoãn ngồi trên sập quan sát.

Đêm nay trời nhiều mây, trăng mờ, thật thích hợp để làm những việc không quang minh chính đại.

Tuy lão già không nói gì, tôi cũng hiểu với nhóm người ít ỏi này, lão sẽ không chọn cách tập kích doanh trại địch để gây tử thương vô nghĩa.

Suốt dọc đường đi tôi không thấy Dã Tượng và Địa Lô nên càng chắc mẩm lão có một kế hoạch khác thường.

Đoàn quân hôm nay không mặc giáp mà y phục đen tuyền để lẫn vào đêm tối.

Lão già ngồi ở mũi thuyền trông ra, dáng người lão rất cao lại thêm tư thế trầm tĩnh vững vàng, thành thử lúc này trông như một vị chiến thần, ai nấy đều tin tưởng.

Nhớ đến mệnh lệnh lạnh lùng nọ của lão, lòng chợt đau nhói, tôi liền buộc mình không được nghĩ lung tung lúc này.

Thuyền đi xuôi gió, lướt như bay, từ kênh nhỏ đã ra giữa dòng Lô giang, đi vòng sang phía đông Thăng Long.

Tiếng mái chèo khua nước êm như ru, trước mắt là gương mặt điềm nhiên tĩnh tại của lão già, tôi bỗng nhớ đến những lúc thong thả dạo chơi ngày trước, thả thuyền dọc các thôn làng, lão đánh đàn, tôi thổi sáo, mệt thì dừng lại ăn món ngon, uống chè mát, mua sản vật chất đầy thuyền, vui vẻ bao nhiêu!

Tôi hít một hơi để gió mát lạnh căng đầy lồng ngực, mắt nhắm hờ, lẩm nhẩm trong đầu bài thơ lão đã làm trong một lần rong chơi như thế:

"Hồ hải sơ tâm vị thuỷ ma,

Quang âm như tiễn hựu như thoa.

Thanh phong minh nguyệt sinh nhai túc,

Lục thuỷ thanh sơn hoạt kế đa.

Hiểu quải cô phàm lăng hãn mạn,

Vãn hoành đoản địch lộng yên ba..." [2]

Tôi vừa nhớ đến đây, thật trùng hợp, giữa dòng đêm thanh vắng bỗng vút cao tiếng sáo.

Tôi hoảng hốt mở choàng mắt, lão đã đứng lên từ bao giờ, tay đang cầm cây sáo ngọc của tôi, thổi từng hơi dài dứt khoát.

Bốn bề vang lên tiếng rít và tiếng đập cánh mạnh mẽ.

Từ những tán cây lớn hai bên bờ, những bóng hùng ưng vun vút lao ra, sải cánh rợp trời, tiến thẳng về phía kinh thành, khí thế như đang xông trận.

Vừa hay đến ngã tư sông, đoàn thuyền cũng nhanh chóng tản ra theo các nhánh.

Thuyền chúng tôi tiếp tục đi thẳng, lướt nhanh về hướng bộ đầu Triều Đông.

Lão già vẫn đứng ở mũi thuyền, thổi sáo điều khiển đội quân đang thống trị bầu trời, đôi mắt không còn nhu hòa như vừa nãy mà ánh lên những tia sáng sắc lạnh.

Càng đi, tôi càng nghe rõ một âm thanh khác, là tiếng voi rống, vọng đến từ những khu rừng bao quanh Thăng Long.

Gió thổi mỗi lúc một mạnh, đưa âm thanh đi rất xa, tôi nghĩ cả người ở nơi sâu nhất trong cung cấm cũng phải nghe thấy mà hoảng sợ.

Bộ đầu Triều Đông là bãi bồi rất rộng nằm bên trái điện Kính Thiên, xưa nay vẫn là nơi đỗ chiến thuyền của triều đình.

Tôi nghe nói rất nhiều năm trước đây, nhà vua đã cho xây điện Phong Thủy để trú chân trước khi về kinh sư.

Mỗi khi vua đến hoặc đi, bá quan đều đến nghênh đón hoặc tiễn đưa đều dân trầu cau, mời trà, nên còn có một tên gọi rất tao nhã là "Trà điện".

Trần Cụ nói, Trà điện ấy bây giờ đang là nơi bọn Thát đang đóng doanh.

Bọn chúng e ngại không dám vào Tử Cấm thành vì sợ có mai phục, liền hạ trại ngay bến sông cho tiện việc tiến lùi.

Khi bến thuyền đã hiện ra trong tầm mắt, tôi nghe ra trong tiếng voi rống đinh tai còn có tiếng ngựa hí hoảng loạn và tiếng người láo nháo.

Đội hùng ưng của chúng tôi chọc giận những người anh em khác họ của bọn chúng, tạo thành một cuộc hỗn chiến khác trên không.

Bọn Thát rất giỏi huấn luyện chim ưng, giống của chúng lại vừa to vừa khỏe hơn đáng kể, nhưng những anh hùng do Dã Tượng một tay nuôi dưỡng không hề nao núng, chiến đấu rất quật cường, bị thương vẫn kiên quyết tiến lên.

Thuyền của chúng tôi tiến càng lúc càng gần.

"Phập" một tiếng, những mũi tên bắt đầu được bắn lên, có vài con ưng rơi xuống, bọn Thát bắt đầu hành động.

Tôi thấy rất xót xa, liền bước đến chỗ lão già thì tay lão đã nhanh chóng đưa tay ra phía sau, che mắt tôi lại.

Toan hỏi lão đang làm gì, bỗng tôi lập tức nghĩ ra một việc, nghe tim đánh "thịch" một cái.

Tôi run run cầm lấy bàn tay lão đang bịt mắt mình, khẽ khàng gỡ xuống, chầm chậm nhìn về phía bờ sông.

- Ông Lý Đảm...! – Ở phía sau tôi, Trần Cụ không ngăn được nỗi xúc động.

Tôi như thấy lại bóng dáng của ông sừng sững giữa trời chiều hôm ấy, gương mặt phong sương đượm ý vui vẻ, hất hàm bảo tôi: "Nhóc con thấy rõ chưa, ông đây vẫn còn hữu dụng, ông đây là một đại anh hùng!".

Đại anh hùng của tôi đang bị bọn chúng treo lên một cây cột cao vươn ra mép sông, chơi vơi, rã rượi.

Trên gương mặt khô quắt đã lúc nhúc giòi bọ, đôi mắt vẫn mở trừng trừng, vô hồn nhưng sáng quắc.

Hai mũi tên vẫn cắm sâu vào ngực ông, quần áo ngang dọc vết chém, cái chân cụt lơ lửng, chỉ có sống lưng vẫn thẳng như tre.

Tôi đưa tay che miệng, nửa giận run người, nửa đau chết lặng.

Phía sau tôi, quân sĩ và trạo phu nghiến răng ken két.

Giờ này khắc này, tôi thật chỉ muốn nhảy lên bờ, đâm từng nhát từng nhát vào tim bọn xâm lăng để lót đường ông xuống suối vàng.

Nghĩ thế, tôi đã nắm chặt thanh kiếm từ lúc nào, đưa tay quệt nước mắt, vô thức bước từng bước đến gần mũi thuyền hơn một chút.

Bỗng vai tôi bị một bàn tay to lớn chộp lấy, lão già kéo tôi ném trở vào trong thuyền.

Cơn đau làm tôi chợt tỉnh, lại nhìn sang lão.

Mặt lão vẫn hướng về phía cái xác nên tôi không nhìn được, không rõ lão đang nghĩ gì.

Đoạn, lão chậm rãi ra lệnh:

- Chèo về hướng tây, mang rượu và cung!

Ngay lập tức, mũi thuyền rẽ sang hướng khác.

Trần Cụ nhanh chóng dâng đến một cây cung rất to, to hơn hẳn thứ của đội cung binh vẫn dùng, một mũi tên dài tương ứng và một vại rượu hoàng hoa.

Tôi chỉ biết ngồi ngây ra nhìn.

Bỗng nhiên lão đến trước mặt tôi, nhẹ giọng bảo:

- Đưa chuỗi hạt cho ta.

Tôi ngẩn người một lúc mới nhớ đến tràng hạt của ông Đảm vẫn đeo bên người, vội giơ tay lên, chưa kịp gỡ ra thì động tác của lão đã nhanh hơn, đoạn lão quấn nó vào tay mình.

Ngay sau đó, lão cởi một bên tay áo để tiện hoạt động, văn thân lại hiện rõ ràng trên bờ vai và cánh tay rắn chắc.

Một tay lão cầm mũi tên, tay còn lại lấy từ trong ngực áo ra một vật khiến tôi sững sờ: là chiếc khăn mộc lan thêu dang dở mà công chúa Thuận Thiên để lại, lâu nay lão vẫn cất giữ như báu vật.

Lão nhìn nó một lần rồi nhanh chóng quấn chặt vào đầu mũi tên.

Đoạn, lão cầm cả bình rượu và cung, tên, chống tay nhảy lên sàn gỗ trên mái thuyền, tôi không hiểu gì nhưng cũng vội vã trèo theo.

Trên này lồng lộng gió, tôi chật vật lắm mới đứng vững được nhưng giờ lại chẳng thấy sợ hãi chút nào.

Lão gỡ nút bình rượu, giơ nó về phía ông Đảm như đang nói một tiếng "Mời!", rồi đổ lên chiếc khăn đến khi ướt đẫm, rượu rơi tí tách trên sàn, buồn như nước mắt cố nhân.

Lão trầm ngâm một lúc như chờ đợi điều gì, rồi, lão chầm chậm đặt mũi tên lên cánh cung cong vút, dùng hết sức kéo dây cung, gân nổi rõ trên cánh tay, mắt sáng quắc nhắm thẳng mục tiêu, hàm nghiến chặt.

Cả đời tôi chưa từng thấy dáng vẻ dũng mãnh này của lão nên cứ đứng ngẩn ra.

Tôi ngỡ lão định bắn đứt sợi dây đang cột xác ông Đảm để sau đó quân ta tìm cách vớt lên, nhưng khi nhìn lại phía bờ sông, thấy chậu lửa đặt gần đó, thẳng hàng từ vị trí của chúng tôi đến nơi treo xác, tôi chợt hiểu ra mệnh lệnh đổi hướng thuyền ban nãy.

"Vút!"

Mũi tên xé gió lao đi, vụt qua chậu lửa, mảnh khăn thấm rượu bén lửa bùng cháy rồi cắm phập vào cái xác, cháy lan qua quần áo.

Độc túc tráng sĩ của tôi trong phút chốc biến thành ngọn lửa cháy rừng rực giữa trời đêm.

Tôi đứng sau lão, xúc động nghẹn ngào.

Bất thình lình, lão cầm bình rượu hãy còn đầy một nửa ném thẳng lên cao, vung cây cung to đập thật mạnh, bình rượu vỡ giòn giữa không trung, hơi men bay ngào ngạt làm mắt tôi cay xè.

Ngọn lửa ấy là hiệu lệnh, ngay lập tức, từ bốn phía, những mũi tên lửa bắn đến, cắm vào những ụ cỏ khô tẩm dầu bọc trong vải đen ai đặt sẵn dọc bờ sông, lửa bốc lên ngùn ngụt khiến quân Thát không cách nào tiến ra để đánh trả.

Lửa soi sáng mái lều của bọn chúng, nhìn rõ cảnh tượng người đuổi, ngựa chạy khắp nơi, hỗn loạn bát nháo.

Lão già đã cầm tràng hạt trên tay từ lúc nào, ánh mắt không chút cảm xúc, chắp tay bắt đầu trì chú Lăng Nghiêm.

Giọng lão vang như tiếng chuông đồng, đầy uy lực, vọng khắp dòng sông Lô.

Chỉ sau câu đầu tiên, từ bốn phía Thăng Long, tiếng trì chú đồng thanh rộ lên, âm vang khác thường, nghe như như tiếng sấm từ trời cao giáng xuống.

Tôi chợt hiểu ra tác dụng của mấy chiếc vại nọ, lại sững sờ nhìn người đang đứng trước mặt mình, gai ốc nổi khắp người.

Tôi đã quen nhìn dáng vẻ thư sinh nho nhã của lão mà quên mất việc vì sao lão chỉ là một nửa thiền sư lại có thể làm chư tăng nể phục.

Chú Lăng Nghiêm là thần chú uy lực nhất của nhà Phật, tụng lên có thể khiến quỷ thần hồn xiêu phách tán, người nào có tâm ma, đạo hạnh không vững cũng tự thấy khiếp đảm rã rời.

Đằng xa, trong tiếng voi rống, tiếng chim ưng quang quác, tiếng ngựa hí và lời chú rền rĩ, xác ông Đảm vẫn cháy rừng rực như ngọn lửa Niết bàn, thiêu đốt mọi thứ ô trọc, nhơ bẩn.

Nước mắt tôi cứ thế lăn dài.

Ông ơi, cháu đưa lão già đến tiễn ông, lão trả kỷ vật của công chúa cho ông, bọn cháu cho quân Thát biết giang sơn Đại Việt ta một khi xâm phạm nhất định phải bị trừng phạt, ông hãy an tâm mà nhắm mắt!

Khi lão già đọc đến những câu chú cuối cùng, từ trên cao, một quả cầu lửa rơi xuống giữa doanh trại giặc.

Chiếc máy bắn đá của tôi đã có đất dụng võ!

Lúc quả cầu rơi xuống thấp tôi mới nhìn rõ, đó là xác của một con sói lớn đang bốc cháy.

Truyền thuyết kể lại, sói là tổ tiên của người Nguyên.

Xác con vật linh thiêng vừa chạm đất thì bài chú cũng vừa hết, tiếng voi liền ngưng bặt, bốn bề lại rơi vào im lặng, lũ chim ưng đồng loạt rút đi, nhanh như thể mọi việc vừa xảy ra chỉ là một cơn ác mộng.

Tiếng kêu la hoảng loạn của bọn giặc bấy giờ mới vang lên rõ ràng khắp bến sông.

Thuyền của chúng tôi nhân lúc đám lửa dọc bờ vẫn chưa tắt nhanh chóng chèo lui.

Sợi dây treo ông Đảm bị lửa làm đứt, đại anh hùng của tôi cuối cùng rơi xuống lòng sông, trở về với cát bụi, kết thúc cuộc đời dài như giấc mộng, nhẹ nhàng như chiếc lông ngỗng nghiêng chao.

Thuyền đã lùi xa, lão già vẫn đứng yên, đầu khẽ cúi, mắt nhắm hờ.

Hồi lâu, lão chầm chậm mở mắt, quấn lại tràng hạt vào cổ tay mình.

Đoạn, lão quay người về phía tôi đang đứng, đôi mắt trở về vẻ trầm tĩnh trước nay.

Tôi nhìn lão rất lâu mới tiến lên một bước, đưa tay chỉnh lại áo lão cho chỉnh tề như mọi ngày.

Rồi, tôi cứ thế kiễng chân choàng tay lên cổ ôm chầm lấy lão, tay vuốt nhẹ tóc trên gáy lão, lòng khe khẽ run rẩy chẳng hiểu vì sao.

Lão lặng đi trong chốc lát rồi cũng vòng một tay đỡ lưng tôi, kéo tôi sát vào lòng, gió sông vẫn lồng lộng thổi, chúng tôi cứ đứng như vậy trên nóc thuyền, nhìn Thăng Long dần khuất phía chân trời.

***

Khi chúng tôi xuống khoang dưới gặp lại mọi người, tôi trông thấy một gương mặt quen thuộc đã lâu không gặp:

- Anh Yết Kiêu! – Tôi chạy đến chỗ người đang ngồi lau khô tóc.

Thấy lão già, anh vội đứng lên hành lễ, lão nâng tay anh dậy, dúi cho một bình rượu uống cho ấm người rồi ân cần dặn dò binh sĩ:

- Trời đông nước lạnh, lấy thêm áo khoác cho cậu ta kẻo ốm.

- Hóa ra ngọn lửa thiêng cháy dọc bờ sông ban nãy là kiệt tác của anh. – Trần Cụ vội đưa đến một tấm áo choàng, giọng không giấu vẻ thán phục. – Có thể tiếp cận mà bọn Thát không hay biết gì, thật tài hoa, thật quả cảm!

Cá To đón lấy áo choàng, cúi đầu cảm tạ lão già, đoạn nhìn tôi cười cười đáp:

- Cậu quá lời rồi!

So với năm xưa dạy cô Nhã Phong tập bơi, việc lẻn vào doanh trại địch vẫn an toàn chán ạ!

Tôi há hốc mồm nhìn anh ta, quay sang định mách lão già đã nghe tiếng lão cười sảng khoái, giận không để đâu cho hết, hậm hực giậm chân bước ra mũi thuyền ngồi một mình.

Trần Cụ hồn nhiên kêu lớn:

- Cô Nhã Phong cẩn thận khéo rơi xuống nước!

Bấy giờ, cả binh sĩ và trạo phu đều không nể mặt, tiếng cười vang vọng cả khoang thuyền.

Cười chán, mọi người lại lao xao nói về hành động vừa qua:

- Kế của vương gia hay thật, tôi cược là bọn Thát sợ đến vãi ra quần! – Một anh đô trưởng hồ hởi lên tiếng.

- Đừng nói là bọn giặc làm nhiều việc ác, cả tôi nghe tiếng vương trì chú cũng sởn gai ốc, cứ tưởng thần linh trách phạt! – Anh lính khác phụ họa theo.

- Vương gia của chúng ta quả chẳng phải người phàm, chỉ một bài chú cũng có thể gọi về hồn thiêng sông núi!

- Mấy hôm nay chúng đã thiếu lương thực, bị trúng độc của cô Nhã Phong, lúc nãy còn bị dọa thế này, hẳn là không đánh cũng tự rã rồi! – Mọi người nhao nhao bàn tán.

- Cho bọn chúng biết sông núi nước Nam là của vua Nam, biên giới đất ta chỉ có đến được mà không về được!

"Đến được không về được!

Đến được không về được!"

Tôi như nhìn thấy cảnh hôm nọ, ông Đảm cưỡi ngựa đi trước, hai cậu Nhất, Nhị lững thững theo sau, vừa đi vừa nghêu ngao, bất giác mỉm cười, trong lòng thanh thản lạ thường.

Trời bắt đầu hửng sáng, chúng tôi về lại ngã tư sông hội ngộ với mọi người.

Hai mươi chiến thuyền đều về đủ, chuyến này không tổn một binh một tốt đã dọa được quân giặc sợ mất hồn, thật đáng để uống một trận thật say!

Một chiếc thuyền cập sát thuyền của bọn tôi, Dã Tượng và Địa Lô nhanh nhẹn nhảy sang, đến trước mặt lão già phục mệnh.

Lão đấm đấm lên ngực từng người thay cho lời động viên.

Tôi nhìn họ, chợt hiểu ra:

- Tiếng voi rống lúc nãy là do quân của anh giả, đúng không?

Không lý nào một đàn voi đông đúc như thế có thể bao vây Thăng Long mà không gây chú ý!

Anh Voi Lớn cười có vẻ thẹn vì bị bắt quả tang, đoạn anh nhìn Cá To rồi quay sang lão, lễ phép thưa:

- Bẩm vương, không biết kế hoạch tiếp theo sẽ thế nào?

Lão cười hiền, nói nhỏ vừa đủ cho mấy người nghe thấy:

- Số quân Thánh Dực còn lại ở Cổ Mai đã chia nhau đến các núi gần Thăng Long, hai ngày sắp tới cứ đúng nửa đêm giờ Tý sẽ hành quân tập trận, dùng thêm bù nhìn để chúng không biết quân số thực của ta.

Hai cậu có thể đến chỗ Quốc Tuấn, bảo chú ấy bàn bạc với bệ hạ, tìm thời cơ mà phản công cho kịp lúc.

Tôi đứng cạnh nghe chuyện, bỗng thấy âm mưu tôi đã dùng ở Cổ Sở vừa thô thiển vừa tự hại mình, thầm than một tiếng.

Lão già quay sang nhìn tôi, bảo:

- Chúng ta rút thôi, hết việc rồi.

Tôi ngơ ngác:

- Sao ạ?

Lão cười cười nửa đùa nửa thật:

- Ta là quan văn, những việc quan văn làm được chỉ có bấy nhiêu.

Còn lại để chú em võ tướng giỏi giang của ta làm tiếp vậy!

Khi nói những lời này, ánh mắt lão vẫn đau đáu nhìn về hướng Thăng Long.

[1] Mượn chữ trong câu đối khắc ở Đền Hùng:

"Thiên thư định phận, chính thống triệu minh đô, Bách Việt sơn hà tri hữu tổ

Quang nhạc hiệp linh, cố cung thành tụy miếu, tam giang khâm đái thượng triều tôn."

Nghĩa là:

"Sách trời đã định, chính thống dựng kinh đô, non sông Bách Việt đã có tổ

Núi sáng linh thiêng, cố cung lập thành miếu, ba sông một dải hướng về nguồn."

[2] Trích bài Giang hồ tự thích II của Tuệ Trung Thượng sĩ.

Dịch nghĩa:

"Tấm lòng hồ hải trước đây chưa từng tiêu mòn,

Bóng quang âm vun vút như tên lại như thoi.

Gió mát trăng thanh, sinh nhai đủ,

Non xanh nước biếc, kế sống dồi dào.

Buổi sớm, kéo cánh buồm cô đơn băng mặt nước mênh mông,

Chiều hôm, cầm ngang chiếc sáo ngắn, đùa với khói sóng."
 
Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 28: TRONG CÂY CÓ LỬA [1]


Từ biệt chúng tôi, Dã Tượng và Yết Kiêu mang theo âm phù tìm đến bản doanh Hưng Đạo vương đang đóng.

Địa Lô đứng mãi ở mạn thuyền, nhìn theo bóng hai người đến khi khuất hẳn.

Lão già thấy thế, gọi cậu ta lại, hỏi:

- Cậu có muốn theo Dã Tượng không?

Địa Lô hốt hoảng:

- Thưa, Địa Lô đã thề cả đời phụng sự cho vương gia.

Tôi chỉ thấy anh ấy dẫn đầu toán quân giả tiếng thú rừng dọa địch rất oai phong nên ngưỡng mộ, không có ý gì khác!

Lão thấy vẻ nghiêm túc trên mặt cậu nhóc, cười hiền:

- Ta vốn không hứng thú với binh nghiệp, lần này tham chiến chỉ là bất đắc dĩ.

Cậu theo ta sẽ mai một tài năng.

Đợi giặc tan, ta sẽ gửi cậu cho Hưng Đạo. – Ánh mắt Địa Lô vẫn chưa hết vẻ hoang mang, lão nói tiếp. – Lời thề của cậu với ta vẫn giữ theo một cách khác.

Địa Lô nhìn sang phía tôi như cầu cứu, tôi bèn vỗ vỗ vai cậu bé:

- Tiên sinh chỉ muốn tốt cho cậu, không phải chê cậu phiền tìm cách đuổi đi đâu!

Hưng Đạo vương rất hay đến thăm tiên sinh, cậu nhớ chúng tôi thì cứ đi theo vương là được ấy mà!

Địa Lô ngớ người, nghĩ một lúc mới hiểu ra, sụp xuống lạy.

Tôi nhìn sang lão già, nụ cười thuần hậu vẫn nguyên, ánh mắt xa xăm vẫn đó, lòng tôi bỗng khó chịu như có trăm con kiến đang bò.

Chợt nhớ ra một việc, tôi kéo lão ra mũi thuyền, ngồi cuối gió, cầm tay lão lên xem.

Lớp băng trắng giờ đã loang lổ máu.

- Em biết ngay mà, cây cung lúc nãy vừa to vừa nặng. – Tôi nhăn nhó. – Vết thương nứt toác cả rồi này!

Lão cười cười, đẩy đẩy trán tôi.

Tôi nghiêng người tránh né, đoạn giở lớp băng, cố nhẹ nhàng kẻo làm lão đau thêm.

Ngay khi thấy vết thương, suýt nữa tôi đã kêu lên vì nó trầm trọng hơn tôi nghĩ.

Chỗ da thịt bị chém rất sâu, rất nham nhở, không biết bọn Thát chết tiệt đó đã dùng loại binh khí quái quỷ gì.

Tôi lấy băng và thuốc trị thương mang theo người, lau máu sạch sẽ rồi bôi lại cho lão, thấy xót, thấy đau y như mình bị chém.

- Bấy lâu nghe câu "lương y như từ mẫu", ta cứ cho là thậm xưng, giờ nhìn vẻ mặt cau có của em mới tin là thật. – Lão bình thản như thể vết thương nọ ở trên người ai khác.

Tôi hậm hực lườm lão một cái sắc như dao, song vẫn chun môi thổi thổi chỗ vừa bôi cao cho đỡ buốt, vừa thổi vừa lẩm bẩm:

- Tiên sinh cũng là thầy thuốc mà chẳng biết tự chăm sóc mình gì cả!

- ...

- Thế này còn vung kiếm giương cung, bao giờ mới khỏi?

- ...

- Người còn nhớ mặt tên Thát đó không?

Lần sau gặp lại em sẽ băm nó thành trăm mảnh cho hả giận!

- Kẻ bị thương nào vào tay em cũng bị dằn vặt thế này sao?

Xem chừng cơ thể vừa lành lại đã mắc tâm bệnh. – Lão tựa lưng vào cột, gió từ sông thổi đến bay bay mấy sợi tóc trên trán lão, tạo nên một vẻ thong dong cực kỳ đáng ghét.

Tôi dừng tay, chợt nhận ra từ nãy đến giờ mình cứ làu bàu như một oán phụ lôi thôi, thật mất mặt, bèn thở hắt ra, đoạn nheo nheo mắt nhìn lão, lấy lại tinh thần nở một nụ cười diễm lệ:

- Em vốn chỉ biết dùng độc, kẻ được em chữa trị tự cổ chí kim độc có một anh lính đã yểu mệnh và đại tướng quân doanh Thánh Dực người thôi.

Lão bật cười, vò vò tóc tôi rồi ánh mắt lại hướng về phía Thăng Long.

Tôi không nói thêm gì, lẳng lặng hoàn thành việc băng bó rồi đến ngồi sát mép nước trông ra.

Mặt trời dần lên, sóng đùa mặt nước phản chiếu ban mai lấp lánh.

Cả đêm qua chúng tôi không ngủ nhưng chẳng ai thấy mệt mỏi chút nào vì thắng lợi tinh thần nọ.

- Nghe nói khúc sông này có cá trắm đen, nướng riềng sả vừa thơm ngon vừa bổ dưỡng, rất tốt cho vết thương của em đấy.

Muốn ăn không? – Lão hỏi vu vơ.

Tôi lắc lắc đầu, nhặt bừa một viên sỏi nhỏ dưới lòng thuyền, ném cho nó lướt lướt trên mặt sông.

- Lại không vừa ý chuyện gì rồi? – Lão bước đến ngồi cạnh tôi, giọng nói có vẻ rất cao hứng.

- Người thấy cam tâm sao? – Tôi hỏi ngược lại.

- Hửm?

Tôi quay lại nhìn lão thật dịu dàng:

- Mấy năm qua chỉ chuyên tâm đọc Phật lý mà có thể dùng kế lung lạc lòng quân như thế.

Giả như tiên sinh không phải là con trai của Khâm Minh đại vương, không biết binh nghiệp sẽ rực rỡ đến mực nào... – Nói đến đây, giọng tôi bỗng dưng nghẹn lại, tôi sợ lão buồn.

Lão nhìn theo một con cá đang bơi về phía xa, cười nhạt:

- Đi chỉ mấy ngày mà miệng lưỡi dẻo hơn nhiều đấy!

Tôi không buồn đáp trả, ngẫm nghĩ một chốc rồi chân thành nói tiếp:

- Nếu em đến Hoàng giang làm con tin, ngay khi Hưng Đạo vương phản công ở bộ đầu Triều Đông, người có thể dẫn quân vòng ra phía sau quân Thát để chiếm lại Thăng Long mà hoàng đế và thái sư vẫn yên tâm chứ?

Mắt lão thoáng mở to, chính tôi cũng kinh ngạc trước những gì mình vừa nói.

Lão nhìn tôi hồi lâu, đoạn nhếch mép cợt nhả:

- Em là ai?

Là vương phi hay ái thiếp của Hưng Ninh vương?

Trong lòng ông ta em nặng nhẹ mấy cân?

Họ Trần ở Hoàng giang giữ em lại ngoài việc tốn mỗi ngày thêm vài đấu gạo thì được lợi ích gì?

Tôi không ngờ lão đã nghe thấy cuộc nói chuyện của tôi và Trương Phi hôm trước, ngượng chín người song vẫn cố tỏ ra bình thản.

Mãi không tìm được lý lẽ nào để thuyết phục, tôi chỉ biết nhìn lão chăm chăm.

Đôi mắt lão trở lại vẻ điềm nhiên muôn thuở:

- Phải, ta đã hiểu quy luật tạo khói và cờ hiệu của chúng, cũng đã tìm được cách đột kích vào quân doanh, tất cả là nhờ tấm địa đồ của em.

- Thật ạ? – Tôi sửng sốt.

- Em vẽ dư một mật đạo dẫn từ cổng thành phía tây sang bộ đầu Triều Đông. – Lão nheo nheo mắt. – Buồn cười nhất là mật đạo ấy có thật nhưng người họ Trần vốn không hay biết.

Ta nghe kể lúc còn rất nhỏ, nhiều năm qua chỉ nhìn địa đồ hiện tại mà quên mất chuyện này.

Thật không ngờ tôi nhớ mãi không biết mình vẽ sai điểm nào mà hóa ra lại ăn may!

Họ Trần vốn không biết, như thế chỉ có thể do công chúa Thuận Thiên nói cho lão già.

Cảnh này quả thật tình ngay lý gian.

Người cha từng âm mưu làm phản, giờ con trai thứ thống lĩnh đại quân ở tiền tuyến, con trai trưởng theo một mật đạo cả hoàng đế cũng không hay biết mà chiếm lại kinh thành, chỉ sợ chưa diệt được giặc, quân ta đã tự loạn.

Hơn cả hoàng đế, Trần Thủ Độ vốn luôn giữ mối nghi ngờ với chi Vạn Kiếp.

Chẳng trách, quân đội đóng ở Cổ Mai chỉ bằng một nửa so với toàn quân Thánh Dực hôm xưa tôi gặp.

Ban nãy, chính vì đoán ý lão già e ngại điều này mà rút quân nên tôi mới xin tự mình đến chỗ những người trong cung đang lánh nạn để làm con tin, quên mất mình vốn chẳng có danh phận gì chính đáng.

Ngồi một chỗ thì tôi lại không yên!

Nếu không nhìn thấy dáng vẻ uy dũng và ánh mắt rực lửa cùng nụ cười ngạo nghễ của lão trong cuộc đột kích tối qua, sợ rằng chẳng bao lâu nữa tôi cũng như mọi người, tin rằng lão chỉ là một vị vương gia tuổi đã cao, nhàn nhã vô hại, ra làm quan theo phận sự rồi vui thú tu hành.

Thân là chủ tướng đội quân mang tên đôi cánh thần thánh mà không được toại ý tung bay như mình muốn, tôi thấy uất ức thay cho lão.

- Hay em đến đó cứ tự xưng là tiểu thiếp người sủng ái nhất, đằng nào mà sĩ tốt đã chẳng đồn ầm lên như thế.

Cái gì danh tiết hay hậu quả, đợi giặc tan rồi mới tính có được không? – Nghĩ mãi không ra cách, tôi buộc miệng nói bừa một hơi.

Ánh mắt đông cứng như bị người xúc phạm nặng nề của lão khiến tôi biết mình vừa phát ngôn ngu dại.

- Tiên sinh, em nói sai rồi...

Lão im lặng không đáp, tôi cụp mắt, chẳng dám nhìn lên.

Hồi lâu, lão nói chậm rãi từng tiếng:

- Tiểu thiếp, dẫu sắc đẹp nghiêng thành hay cầm kỹ xuất chúng, đối với một thân vương mà nói, muốn mấy người sẽ có mấy người. – Dừng một thoáng, giọng lão lại lạnh như gió sớm. – Những chuyện như thế, sau này đừng nhắc nữa.

Tôi vẫn cúi gằm mặt, thuyền đã về đến bến sông tối qua, chuẩn bị cập bờ.

Tôi len lén nhìn sang, lão thấy dáng vẻ lấm lét của tôi thì phì cười.

Không muốn cả hai mang tâm trạng nặng nề mãi, tôi cố nghĩ chuyện chọc lão vui, đoạn ghé tai lão thỏ thẻ:

- Em nghĩ ra rồi, em sẽ xưng là nam sủng, đang mang thai con đầu lòng của vương gia.

Lão hơi nghệch mặt ra, khóe môi giật giật rồi lấy lại ngay vẻ bình thản đứng dậy, mặc kệ tôi vẫn ngồi đấy, toan bước lên bờ.

Tôi không bỏ cuộc, bám theo sau lão léo nhéo:

- Hay em bảo em là đứa con rơi vương gia giấu diếm bấy lâu...

Tôi chưa nói hết câu, lão đã ném cái áo choàng to đùng phủ lên đầu tôi.

Không kịp phản ứng, tôi thấy mình bị cắp ngang hông rồi nhấc bổng lên cao, trời đất bỗng chao đảo.

Khi bình tĩnh lại và kéo được áo choàng ra, tôi đã an toàn đứng trên đất liền.

Binh sĩ nhìn tôi, mặt mũi ai nấy rất khó coi như đang cố nén cười.

Trần Cụ cũng nhìn tôi, vẻ thất thểu như không thể hiểu tại sao vị sư phụ tài trí của mình lại giữ một đứa dở người bên cạnh, vừa phiền nhiễu vừa mất mặt.

Lão già đã ở tít đằng xa, đang ngồi trên phiến đá xem xét vật gì đó.

Tôi nhanh chân bước lại, một vị tướng trẻ cúi đầu hành lễ:

- Mạc tướng Đỗ Ngạc bái kiến tiểu thư!

Tôi cố nhớ ra cái tên này, đoạn kêu lên:

- Anh là phó tướng quân Thánh Dực phải không?

Sao hôm nay tôi mới gặp?

- Thưa, trước tôi đóng ở lộ Khoái, mấy hôm nay theo lệnh vương gia ở lại Thăng Long để theo dõi động tĩnh quân Thát.

Nghe danh tiểu thư Nhã Phong đã lâu, giờ mới được diện kiến!

Tôi quan sát người trước mặt, Đỗ Ngạc kém lão già vài tuổi, gương mặt và tác phong đều hiện rõ phong thái đĩnh đạc của người quen quân ngũ.

Nghĩ đến chị gái tôi, nghĩ đến anh Thân, nghĩ đến Trần Cụ, tôi chợt nhận ra lão rất thích thuộc hạ nghiêm túc, hành xử theo phép tắc.

Đã thế, tôi càng phải chăm chỉ ở cạnh lão bày trò vui để cuộc sống của lão bớt nhàm chán phần nào, nếu không vài năm nữa biết đâu lão sẽ lên Yên Tử xuất gia thực sự.

- Việc ấn nội mật bị mất, ngoài cậu ra còn ai biết nữa không? – Lão hỏi Đỗ Ngạc.

- Bẩm vương gia, chỉ có mạc tướng và thuộc hạ thân tín biết. – Anh ta nhỏ giọng trình.

Tôi nhìn vật lão đang cầm trên tay, hóa ra đây chính là con ấn của vua!

Chắc nó bị lạc mất trên đường di tản, may mắn được quân ta tìm lại, nếu rơi vào tay giặc không biết hậu quả sẽ ra sao.

Nhưng như thế, bấy lâu nay, thư lệnh trong quân đang dùng ấn gì, làm thế nào để hiệu lệnh cho tướng sĩ ở xa?

Ngẫm nghĩ một hồi bỗng thấy ánh sáng trong đêm tối, đoan chắc lão cũng nghĩ như mình, tôi liền quỳ xuống, tay đặt lên gối lão rất thành khẩn:

- Tiên sinh, đây chẳng phải thời cơ ta đang đợi sao?

Xin người để em đi!

Nếu tôi thay lão già mang ấn báu trả lại cho hoàng đế, lão có thể phối hợp với Hưng Đạo vương đánh vào Thăng Long mà không khiến triều đình nghi kỵ.

Trận chiến này có thể kết thúc sớm hơn một chút, số người ngã xuống cũng ít đi một chút.

Hùng tâm tráng chí của lão cũng được an ủi phần nào.

Bàn tay to lớn của lão nắm hờ rồi đặt lên tay tôi, mắt lão thoáng nét đăm chiêu đoạn chậm rãi khép lại như đang suy nghĩ rất lung.

Hồi lâu, đôi mắt ấy mở to, trở về vẻ tinh anh và quyết liệt của đêm hôm trước, lão khẽ khàng ban từng lệnh:

- Đỗ Ngạc, cậu dẫn người dọ thám mật đạo ở cổng tây thành.

Hơn hai mươi năm không ai dùng đến, phải kiểm tra cẩn thận phòng bất trắc.

- Tuân lệnh! – Đỗ Ngạc lập tức rời đi.

- Trần Nhã Phong, em mang ấn nội mật đến Hoàng giang giao cho Chiêu Minh.

Những việc cần nói cứ để cậu ấy truyền đạt đến hoàng đế và thái sư.

- Tuân lệnh! – Tôi hồ hởi đáp.

- Trần Cụ! – Lão gọi to, hắn sải bước đến ngay.

- Sư phụ gọi con?

- Mang theo một ngũ binh bảo vệ ấn báu, nhất định phải đến nơi bình an vô sự.

- Thưa vâng!

Nói rồi, lão bước về phía ba quân đang đợi lệnh, dõng dạc nói to:

- Toàn quân nghe lệnh, trở về rừng mơ chỉnh đốn lực lượng, chuẩn bị tiến đánh Thăng Long!

- Rõ! – Muôn người đồng thanh rồi nhanh nhanh chóng chóng vào hàng ngũ lên đường.

Gió từ triền sông lồng lộng thổi vào, quân kỳ Thánh Dực bay phần phật, rực rỡ trong nắng sớm.

***

Tôi gói ấn nội mật vào mấy lần vải rồi để vào cái đẫy buộc chặt bên vai.

Lão già đưa tay toan đỡ tôi bước xuống thuyền, song tôi chỉ siết tay lão thật chặt rồi buông ra ngay, đoạn nhanh như cắt lấy đà búng người lộn một vòng, gọn gàng đáp lên mũi thuyền.

Thuyền chòng chành khiến tôi hơi choáng váng nhưng vẫn nở được một nụ cười rạng rỡ, chắc mẩm cả Trần Cụ và tướng sĩ xung quanh đều đang trầm trồ thán phục.

Ông đây khi muốn ỷ lại lão già sẽ vô dụng hơn cả kẻ vô dụng nhất, khi cần được việc thì tuyệt nhiên không thua kém một ai, các người đã hiểu chưa?

Lão già đứng trên bờ mỉm cười có vẻ hài lòng.

Vẫn giữ vẻ giương giương tự đắc, tôi ngẩng đầu nhìn quân kỳ đầy kiêu hãnh rồi đọc to hai câu thơ trong sử ký của ông Tư Mã:

"Phong tiêu tiêu hề, Dịch thuỷ hàn,

Tráng sĩ nhất khứ hề, bất phục hoàn." [2]

Nhìn lại chỉ thấy lão già chuyển sang cười nhạt, còn lại binh sĩ ai nấy mặt mày xám ngoét.

Trần Cụ đứng sau tôi khẽ nhắc:

- Cô Nhã Phong, chuyến này chúng ta không hề có ý định ám sát hoàng đế như Kinh Kha tráng sĩ!

Quả nhiên sau một đêm thiếu ngủ, dù là người sáng suốt tỉnh táo đến đâu cũng dễ phạm sai lầm.

Vốn thông minh tuyệt đỉnh, tôi gỡ gạc được ngay, nét cười say đắm lòng người vẫn không lay chuyển:

- Đó là khẩu khí bi tráng của người xưa, còn Nhã Phong em đây vốn quý trọng cuộc sống vô cùng.

Hôm nay từ biệt mọi người chỉ nói đơn giản một câu: Tiên sinh, hẹn thanh bình gặp lại! – Nói rồi, tôi ôm quyền chào lão, biết rõ trong lòng lão đang nhạo báng nhưng tôi không chấp, ngoài mặt vẫn giữ nguyên tư thế của một đại trung thần.

- Vương gia, thanh bình gặp lại! – Binh sĩ đã lên thuyền cũng nhất loạt cúi đầu chào.

Lão gật đầu, nụ cười sáng rực đầy tin tưởng, dáng người cao cao thẳng tắp, một tay chống hông, một tay đặt lên chuôi kiếm.

Tôi nhìn thật lâu dáng hình thân thương ấy rồi hít một hơi sâu, nhắm mắt ngửa mặt lên trời mơ về một ngày cờ Thánh Dực quân lộng gió Thăng Long.

Sau một tiếng hô của anh trạo phu trưởng, thuyền tách bến, xuôi về phương nam.

Tôi biết lão sẽ thắng, tôi biết mình sẽ bình an trở về gặp lão.

Nỗi buồn tiễn biệt hôm nay là để cánh chim bằng của tôi vút cao trên bầu trời rộng lớn.

Đây có lẽ là chuyến đi ý nghĩa và hữu dụng nhất của tôi suốt mấy năm qua.

***

- Cô Nhã Phong uống chút cho ấm người! – Trần Cụ đưa cho tôi một bình rượu nhỏ.

- Ta không uống được rượu, cảm ơn ngươi! – Tôi mỉm cười với hắn, kéo lại tấm áo choàng của lão già.

Thật lòng tôi muốn tìm góc mà đánh một giấc nhưng vẫn cố chống chọi, tự nhủ mình không được lộ vẻ mệt mỏi khiến binh sĩ mất tinh thần.

- Lúc ở hồ Cấm Sơn thấy cô khen rượu do Cụ ủ, Cụ cứ tưởng tửu lượng cô rất cao.

Hóa ra Cụ không hiểu gì về cô cả! – Tên sư đệ của tôi bỗng buồn buồn.

- Chúng ta mới gặp nhau có vài lần, không rõ tính nhau cũng bình thường thôi mà! – Tôi bắt chước dáng vẻ của lão già, đấm đấm vào ngực hắn trêu.

Trần Cụ đưa tay sờ lên chỗ tôi vừa đấm, nét mặt rất lạ kỳ.

Tôi nghĩ mình đã quá tay, liền nói:

- Xin lỗi!

Ta làm ngươi đau có phải không?

- Không ạ. – Tên Thích Đối Xứng khẽ lắc đầu. – Do Cụ bất tài, cố gắng thế nào cũng không chạm đến một phần của sư phụ.

Tôi bật cười, xoa xoa đầu hắn:

- Ngươi kém lão hơn mười tuổi, sao mà so bì được.

Ngươi sáng dạ lại chăm chỉ, vài năm sau thành tựu chắc chắn khiến người người ngưỡng mộ, đừng vội!

- Vội thế nào cũng không lấy lại được mười mấy năm qua cô Nhã Phong kề cận bên thầy. – Hắn tránh khỏi bàn tay của tôi, ánh mắt bỗng xa xăm.

- Nói cũng phải. – Tôi thở dài nhìn theo một đám lục bình trôi trên sông. – Xem ta là đối thủ để so bì thì dễ thất vọng lắm, xem là mục tiêu để noi theo thì rất được!

Một ngày nào đó, ngươi nhất định sẽ tài trí như ta của bây giờ! – Tôi vỗ vỗ vai tên sư đệ động viên nhiệt tình.

Trần Cụ đúng là đầu đất, mãi không hiểu ý tốt của tôi nên thở dài đánh thượt rồi bỏ đi về phía đuôi thuyền, thả cần câu.

Thuyền đi rất nhanh nên dĩ nhiên hắn không bắt được con cá nào.

Dưới hàm hắn lún phún râu, dáng vẻ thì ủ rũ, trông cứ như ông Lã Vọng đang câu cá chờ thời.

Tôi lại tựa cột nghĩ bâng quơ, chuyến này tuy có thể tiếp cận Trần Thủ Độ nhưng tôi đang thay mặt lão già đến đó, không thể gây rắc rối cho lão, lời thề trả hận thay ông Đảm chỉ đành gác lại chờ dịp khác.

Khi gặp lại hẳn là Quang Khải rất ngưỡng mộ tôi, tôi có thể chỉ huy dân làng, một mình tả xung hữu đột với giặc, theo lão già gây náo loạn ở Triều Đông, mang ấn báu trả về khổ chủ.

Còn hắn, thân là hoàng tử cao quý, là thiếu niên ngạo khí ngút trời, chuyến này chỉ vì còn trẻ tuổi mà phải ngoan ngoãn ở lại hành cung cùng với đám nữ quyến họ Trần, chịu sự quản thúc của quốc mẫu.

Thành tựu lớn nhất trận này của hắn có khi lại là thêm vài tiểu thiếp.

Nghĩ đến đây tôi bỗng thấy mình thật oai phong, che miệng cười không thành tiếng.

Thuyền đi đến lúc trời sập tối thì gần tới hành cung, tôi định lệnh cho mọi người dừng lại nghỉ ngơi kẻo tiếp cận trong đêm lại gây hiểu lầm không đáng có.

Không ngờ trạo phu vừa dừng chèo đậu thuyền sát bờ lau lách, tiếng vó ngựa từ đâu vẳng đến ngày một gần hơn, tim tôi cũng theo đó mà lạc nhịp.

Tôi biết đây không phải quân Đại Việt đang đi tuần, bởi âm thanh này đã ám ảnh tôi trong rất nhiều đêm trước.

Ra hiệu cho mọi người im lặng cúi thấp đầu, tôi than thầm với Trần Cụ:

- Ngươi biết không, cái khổ của đại mỹ nhân như ta là đi đến đâu cũng được đón tiếp nồng nhiệt quá!

[1] Câu này dẫn bài kệ thị tịch "Nguyên hỏa" của thiền sư Khuông Việt thời tiền Lê:

"Mộc trung nguyên hữu hoả,

Nguyên hoả phục hoàn sinh.

Nhược vị mộc vô hoả,

Toàn toại hà do manh?"

Dịch nghĩa:

"Trong cây vốn có lửa,

Sẵn lửa, lửa mới sinh ra.

Nếu cây không có lửa,

Cọ xát sao lại thành?"

[2] Dịch thủy ca, nghĩa là:

"Gió se sắt chừ, sông Dịch lạnh tê

Tráng sĩ một đi chừ, chẳng trở về."

Hai câu này chép trong Sử ký của Tư Mã Thiên.

Tương truyền, Kinh Kha khi lên đường làm thích khách để ám sát Tần Thuỷ Hoàng, được thái tử Đan và quần thần đưa tiễn đến bờ sông Dịch, tại đây, Kinh Kha khảng khái hát hai câu này.
 
Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 29: NHỮNG NGƯỜI CHINH CHIẾN BẤY LÂU [1]


Tôi áp tai sát bờ đất để nghe ngóng, tiếng vó ngựa càng lúc càng gần nhưng không quá dồn dập.

Tôi đoán đây chỉ là toán quân bọn chúng cử đi do thám các vùng lân cận rồi tình cờ phát hiện ra thuyền của chúng tôi.

Đỗ Ngạc nhận lệnh phong tỏa Thăng Long, không hiểu sao hắn lại để lọt số quân này.

Chúng tôi có thể thoát đến hành cung với tốc độ hiện tại, nhưng như thế, nếu bọn giặc không tiếp tục đuổi theo mà quay về báo tin rồi kéo đại quân tấn công trong lúc ta chưa chuẩn bị chu toàn, hậu quả sẽ khó lường.

Một vài mũi tên bắt đầu bay đến.

Tôi nhìn quân số ít ỏi trên thuyền, cắn môi suy nghĩ hồi lâu, đoạn tháo cái đẫy giữ ấn báu trên vai trao cho Trần Cụ, thản nhiên căn dặn hắn:

- Nghe nói ngươi bơi cũng khá, nếu chẳng may thuyền không trụ được thì cố mà bơi đến hành cung tìm Chiêu Minh vương Trần Quang Khải, bảo hắn đến chi viện cho ta.

Tên sư đệ chợt cả gan giữ chặt tay tôi, vẻ mặt hiền lành mọi ngày giờ chỉ còn lại nét cố chấp không gì lay chuyển.

Hắn mỉm cười:

- Cô Nhã Phong không tin Cụ cũng phải tin thầy chứ!

Dẫu gì Cụ cũng là đệ tử được thầy truyền dạy, sao có thể không hiểu tình hình hay để cô mạo hiểm!

Nói rồi, hắn ấn cái đẫy lại vào tay tôi, đoạn cầm lấy cái nỏ lớn, khoát tay ra hiệu cho cả toán quân phía sau cùng lên bờ.

Vốn tôi định ở lại tìm cách giết sạch bọn giặc, phần để ấn báu an toàn đến được hành cung, phần để tung tích quân ta không bị lộ, chẳng ngờ rằng Trần Cụ đã đoán được ý này.

Trong phút chốc, tôi như thấy ông Đảm, thấy bác Thôi, thấy bốn anh lính quân Thánh Dực Dũng Nghĩa đồng hành với hắn.

Tôi vội gọi với theo:

- Trần Cụ!

Dáng người cao cao của gã con trai mới lớn thoáng sững lại, hắn quay đầu nhìn tôi, cười hiền, trong đôi mắt sáng lấp lánh một tia luyến tiếc khó hiểu.

Hắn nói liền một mạch:

- Sư phụ nói cô Nhã Phong nấu ăn rất ngon.

Cô đến hành cung trước, nếu Cụ có thể gặp lại cô ở đó thì phiền cô nấu cho một bát cháo cá.

Nhìn dáng vẻ này của hắn, cổ họng tôi bỗng dưng nghẹn lại, cố gắng lắm mới nói được mấy từ:

- Ngươi bị lão lừa rồi, cháo là món duy nhất ta không biết nấu.

Trần Cụ thở hắt ra, cười khổ, đoạn hắn đưa chân đạp mạnh, thuyền chúng tôi bị đẩy ra xa bờ.

Đám trạo phu lập tức hiểu ý, chèo đi rất nhanh, ngũ binh trên bờ cũng lao nhanh như cắt về phía có tiếng vó ngựa, những mũi tên xé gió bắt đầu lao về phía xa.

Vun vút.

Vun vút.

- Các anh chèo nhanh lên, nhanh nữa lên! – Tôi quệt đi những giọt nước mắt đã dâng đầy tự lúc nào, thúc giục người trên thuyền.

Không hiểu sao thuyền càng đi xa, tai tôi càng nghe rõ tiếng binh khí và tiếng người la hét.

Quai hàm cắn chặt, tôi tự nói thầm hàng trăm lần: "Trần Cụ, ngươi phải đợi ta, không được chết!

Cả ngũ binh đó không ai được chết!".

Chúng tôi đã đến được tận đây, chúng tôi chỉ vừa mới hẹn với lão già sẽ gặp lại lúc thanh bình, cả tên của bọn họ cùng tôi còn chưa nhớ hết cơ mà...

"Tháng trước vợ bác mới sinh phỏng?

Là trai hay gái đấy?"

"Thằng cu kháu lắm!

Đợi nó lớn tôi sẽ xin vương gia cho nó gia nhập quân Thánh Dực!"

"Tôi cũng vừa lấy vợ, xem ra vài năm nữa, quân doanh sẽ đông đúc lắm!"

Tiếng cười nói vui vẻ của mọi người cứ vang lên bên tai khiến lòng tôi thắt lại từng cơn.

Con sông thơ mộng hôm nào trên đường đến hội thề Đồng Cổ tôi còn thích thú dừng chân ngắm nhìn giờ bỗng dài ra thăm thẳm như trêu chọc, hết cong về mạn phải lại ngoặt về mạn trái, mãi mà bóng hành cung vẫn chẳng thấy đâu.

Âm phù của lão già bị tôi nắm trong tay đến nóng sực, tôi không ngừng cầu khẩn để mình được gặp Quang Khải ngay khi đến Thiên Trường, nếu không, Trần Cụ và mọi người làm sao đợi được.

Đến khi thuyền qua một khúc quanh, từ triền đồi gần đó bỗng hiện lên ánh lửa lập lòe.

Thấy những đốm lửa di chuyển rất thong dong như người đang đi tuần tra, tôi vội ra lệnh cho trạo phu chèo đến gần.

Dưới ánh trăng hạ tuần, gương mặt của kẻ dẫn đầu hiện ra khiến tôi mừng suýt khóc.

Tôi chộp lấy một mũi tên, xé vạt áo bịt phần đầu nhọn rồi bắn về phía hắn.

Mũi tên bay vút qua mặt tên dẫn đầu, quân lính lập tức lao về phía chúng tôi.

Thuyền nhanh chóng cập bến, tôi giương cao quân kỳ Thánh Dực vẫy liên hồi, miệng thét to:

- Khải!

Khải!

Trần Quang Khải !

Là ta đây!

- Phong! – Quang Khải lập tức nhận ra tôi, quả nhiên là huynh đệ tốt!

Nhanh như sóc, tôi vứt cây cờ sang bên, nhảy lên bờ rồi chạy về phía hắn.

Quang Khải cũng thúc ngựa phóng đến chỗ tôi.

Hắn vừa xuống ngựa, chúng tôi đã ôm chầm lấy nhau, xúc động khôn cùng:

- Phong, sao ngươi lại đến đây?

Ngươi có bị thương ở đâu không? – Hắn luôn miệng hỏi. – Tiên sinh của ngươi đâu?

Tôi lắc đầu nguầy nguậy, đoạn gấp gáp bảo hắn:

- Ta cùng sư đệ đến tìm ngươi thì gặp quân Thát ở ngã ba sông, ngươi mau đến tiếp viện!

Chúng chưa đến một trăm người!

Mau lên không thì muộn mất!

Quang Khải mở to mắt kinh ngạc rồi phản ứng rất nhanh:

- Được, ta sẽ đi ngay!

Hắn đẩy tôi cho một anh lính đứng gần đó rồi lập tức lên ngựa, dẫn quân chạy về hướng tôi vừa chỉ.

Anh lính lúng túng giây lâu rồi nhảy xuống, nhường ngựa cho tôi.

Tôi gật đầu cảm ơn anh ta:

- Nhờ anh đưa mọi người trên thuyền về hành cung trước!

Nói đoạn, tôi thúc ngựa đuổi theo, cố gắng bắt kịp Quang Khải.

Dẫn đầu đoàn quân, tên bằng hữu của tôi hôm nay bỗng cao lớn, oai phong lạ thường, khiến tôi phần nào thấy an tâm.

Trong chớp mắt, ngã ba sông đã hiện ra phía trước, từ xa đã có thể ngửi được mùi máu tanh nồng.

Tim tôi như thắt lại, tôi vụt chạy lên.

- Phong!

Cẩn thận! – Khải kêu lên, vội đuổi theo tôi.

Đón tôi không phải cảnh giao tranh đang hồi sinh tử mà là chiến địa lặng lẽ đến đáng sợ.

Những tàn cây lớn in lên nền trời đêm một màu đen thăm thẳm, bốn bề chỉ có gió xạc xào, rờn rợn.

Tay run run, tôi cầm lấy cây đuốc của một người đứng gần đó, đưa về trước.

Ánh lửa soi rõ những xác người.

Quân Đại Việt và quân Thát nằm lẫn vào nhau, chồng lên nhau.

Số lượng người Thát gần như gấp hai lần.

- Trần Cụ! – Tôi khe khẽ gọi. – Trần Cụ, ngươi ở đâu?

Không có tiếng đáp lại.

Quang Khải đứng phía sau tôi, ra lệnh cho binh lính:

- Lục soát xung quanh xem có tên giặc nào chạy thoát không.

Đưa những người còn sống về chữa trị.

Sĩ tốt lập tức tản ra, tôi cũng theo họ đến gần.

Quang Khải nắm khuỷu tay tôi giữ lại song tôi gạt hắn ra để tiến lên.

- Trần Cụ! – Tôi lớn tiếng hơn, vẫn không có ai đáp lại.

Chân tôi vấp phải thứ gì đó, suýt nữa thì té sấp, có tiếng rên khe khẽ vang lên.

Tôi vội cúi xuống thật sát để xem, dưới một cái xác lật úp, trên lưng có cắm một mũi tên, một bàn tay đẫm máu yếu ớt cố giơ cao.

Tôi đẩy cái xác phía trên ra, gương mặt hồ hởi của anh lính sáng nay khoe mình vừa vui duyên mới giờ đã trắng bệt, lạnh ngắt.

Bên dưới, anh lính lớn tuổi hơn vừa có con trai tháng trước gọi tên tôi trong khó nhọc:

- Cô Nhã Phong... vương gia...

Tôi vội vã đỡ đầu anh ta dậy, vui buồn lẫn lộn:

- May quá!

Anh còn sống!

Cố lên một chút, tôi đưa anh đi trị thương ngay!

- Chúng tôi giết sạch... giết sạch rồi... không cần đuổi...

- Tay anh huơ huơ hệt như bác Thôi hôm trước tự hào khoe mình giết được những ba mươi tên giặc.

- Cậu ấy... cậu ấy...

- Đoạn, anh chỉ vào người vừa có vợ kia. – Đỡ tên cho tôi... cậu ấy nói tôi còn phải nuôi con... trên còn có mẹ già...

Tôi gật đầu liên tục, nước mắt tuôn ướt mặt, thận trọng đưa anh ta cho binh sĩ của Quang Khải.

Tôi nhìn sang anh lính trẻ nọ giờ đã thành cái xác không hồn, gương mặt anh thanh thản lạ lùng, tay vẫn nắm chặt thanh đao đẫm máu giặc.

Tay kia, dường như anh ta đang cố lấy ra vật gì từ ngực áo.

Tôi liền kéo ra xem thử, đoạn đưa tay che miệng để ngăn mình khỏi nấc lên.

- Phong, sao vậy? – Quang Khải lo lắng hỏi tôi.

Tôi đưa cho Khải xem chiếc yếm màu đào có đóa hoa nhỏ rất duyên, kỷ vật của đôi vợ chồng son trẻ.

Tôi có thể tưởng ra, người lính này đã nhìn thấy bóng dáng yêu kiều kia trong hình sông thế núi mà chiến đấu đến giây phút sau cùng.

Lúc tiễn chồng đi, người vợ ấy có nghĩ đến sinh ly tử biệt không?

Tình nước nặng, hay tình nhà nặng?

Tôi lắc mạnh đầu để xua đi muôn vàn câu hỏi không hồi kết.

Nhìn sang bên, Quang Khải cũng như tôi, nắm chặt cái yếm trong tay đến khi nhàu nát, mắt vằn lên những tia máu đỏ ngầu.

- Trần Cụ!

Trần Cụ! – Tôi tiếp tục kiếm tìm, giọng lạc hẳn đi.

Lại cầm đuốc soi thật kỹ từng gương mặt, tôi không ngừng hồi tưởng bao nhiêu lần gặp nhau, Trần Cụ luôn là người đầu tiên lên tiếng chào tôi, chạy đến mừng tôi.

Vậy còn lần này, ngươi đang ở đâu sao không ra đây?

Có phải đã đuổi theo giặc Thát nên chưa kịp quay lại không?

Có phải ngươi vẫn còn sống không?

Lão già đã lệnh cho ngươi phải bảo vệ ấn nội mật an toàn đến hành cung, ấn vẫn chưa được trao lại cho hoàng đế, ngươi không được trốn tránh nhiệm vụ!

Tôi đi mãi, tìm mãi, Trần Cụ vẫn chẳng thấy tăm hơi.

Nếu lúc đó không phải là Trần Cụ tranh đường vào cửa tử với tôi thì có lẽ bây giờ, Quang Khải mới là kẻ đang đốt đuốc đi tìm tôi giữa những xác người kia.

Chỉ còn lại một thi thể cuối cùng đang tựa gốc cây xa nhất, vai cắm một mũi tên, đầu ngoẻo sang một bên làm tóc che kín mặt.

Tôi chậm chạp ngồi xuống bên cạnh, không rõ mình có muốn tìm thấy tên sư đệ hay không.

Nếu như không có mặt trong số này, biết đâu hắn hãy còn sống, biết đâu hắn đã quay về báo tin lại cho lão già...

Hít sâu đến mấy lần, ngón tay tôi run run vén những lọn tóc bết máu đang rũ trên mặt người nọ, đoạn thét toáng lên:

- Quang Khải!

Quang Khải!

Quang Khải nhanh chóng chạy đến.

Một tay đặt lên vai tôi như trấn an, hắn ngồi xuống, ngón tay đặt lên mũi, lên cổ Trần Cụ để xem xét.

- Người đâu! – Hắn gọi binh lính đến. – Cậu ta vẫn còn thở, mau!

Binh sĩ thận trọng đỡ Trần Cụ mang về chữa trị.

Tôi mất một lúc mới ngấm được sự thật này, thở hắt ra nhẹ nhõm, song vẫn ngồi bất động.

Quang Khải ôm chặt vai tôi kéo dậy:

- Ngươi đừng lo, Phong, mạch vẫn còn rõ lắm, chúng ta sẽ cứu được hắn thôi!

Ánh mắt tôi lướt qua những người đang nằm dưới đất.

Tôi rít qua kẽ răng:

- Khải, ta muốn về Cổ Mai.

Lẽ ra ta không nên đến đây!

Ta...

- Phong!

Bình tĩnh lại, có ta đây! – Khải siết vai tôi đến đau nhói. – Tiên sinh của ngươi muốn ngươi đến đây ắt cũng hy vọng ngươi được bình an.

Trần Cụ chưa chết, anh lính lúc nãy chưa chết, ngươi còn có ta đây...

Bất giác, tôi vòng tay ôm chặt tên bằng hữu đầu tiên của mình:

- Quang Khải, ngươi không được chết.

Ta không bảo vệ được chiến hữu của mình, giờ chỉ còn mỗi ngươi thôi!

Ngươi không được chết!

Hứa với ta đi!

- Phong...

- Hứa với ta đi! – Tôi nằng nặc.

- Ta hứa!

Ta hứa với ngươi, ta sẽ không chết! – Quang Khải vỗ vỗ vai tôi như dỗ trẻ con.

"Ta hứa, ta sẽ không chết."

Cách đây rất lâu, cũng có một người nói với tôi hệt như thế.

Người cũng không được chết!

Nhất là người, không được chết!

***

Quang Khải là con trai cưng của hoàng đế, thế mà hắn đích thân đưa chúng tôi về lại hành cung vẫn không tránh khỏi một hồi thẩm vấn gắt gao theo lệnh của quốc mẫu, từ tra xét thân phận của tôi, lý do tôi không cùng di tản với hoàng thất mà đợi tận bây giờ, đến việc nửa đêm Quang Khải tự ý dẫn thân binh đi tuần quanh hành cung vì vốn đây không phải là việc một hoàng tử nên làm.

Quang Khải ra mặt giải quyết hết những việc này.

Đứng sau lưng hắn, tôi chua chát cười thầm, cũng may toán binh của Chiêu Minh vương phủ không phải tham chiến, nếu không chẳng biết hậu quả sẽ thế nào.

Lằng nhằng như thế nên đến khi tôi được xếp cho một căn phòng để nghỉ ngơi, đêm đã qua một nửa, tâm trạng kích động của tôi cũng dần lắng xuống.

Thay xong một bộ y phục sạch sẽ, tôi nghe tiếng gọi dịu dàng ở bên ngoài.

- Chị Nhã Phong đã ngủ chưa?

Phụng Dương vào có được không?

- Công chúa Phụng Dương! – Tôi reo lên rồi vội vàng mở cửa.

Khi nhìn thấy gương mặt non nớt mà đoan trang cao quý kia, động tác của tôi liền sững lại, tự thẹn mình quá quê mùa, thô lỗ.

- Bây giờ phải gọi công chúa là Chiêu Minh vương phi mới phải. – Tôi cười cười, tránh sang một bên để Phụng Dương vào phòng.

Cô nữ tì đi theo nàng nhanh nhẹn mang đặt lên bàn một bát cháo rồi lễ phép lui ra.

Phụng Dương bảo tôi, giọng ngọt như mật ong rừng:

- Chị ăn ngay cho nóng.

Hương gạo mới, mùi thịt cá quả thơm lựng quyện với mùi tiêu cay nồng khiến bụng tôi sôi réo.

Toan đưa một thìa vào miệng, một giọng nói lại vang lên bên tai tôi: "Nếu Cụ có thể gặp lại cô ở đó thì phiền cô nấu cho một bát cháo cá".

Tôi luyến tiếc đặt lại cái thìa vào bát, ngần ngừ hỏi Phụng Dương:

- Thật ngại quá, khuya rồi mà vương phi còn cất công chuẩn bị cho tôi.

Nhưng tên sư đệ của tôi đang bị thương nặng, hắn lại rất thèm món này, không biết tôi có thể mang sang cho hắn không?

Công chúa bật cười, khóe mắt cong cong dịu dàng khôn tả:

- Phụng Dương đã đưa một bát sang đấy rồi, nghe ngự y nói vết thương của người tên Trần Cụ cũng không nghiêm trọng lắm, chỉ bị mất máu nhiều, nghỉ ngơi tẩm bổ là khỏi.

Chị Nhã Phong cứ yên tâm dùng đi.

Được lời như cởi tấm lòng, tôi xì xụp xơi hết bát cháo vừa thơm vừa ngon.

Trong thoáng chốc, tôi cảm thấy đố kỵ với Quang Khải vô cùng.

Tôi thật rất muốn, rất muốn lấy một người vợ giống Phụng Dương.

Nghĩ đến đây, chuyện cũ ùa về, tôi lại áy náy nhìn công chúa:

- Tôi xin lỗi, hôn lễ của hai người tôi không đến dự được, lỡ mất rượu mừng của vương phi...

Nụ cười ngọt ngào của công chúa vẫn không lay chuyển, nàng từ tốn bảo tôi:

- Phụng Dương đã được Hưng Ninh vương chúc mừng rồi.

Chị Nhã Phong là hồng nhan tri kỷ của Chiêu Minh vương, đã làm chủ hôn cho vương gia và Nguyệt Nhi, sao có thể uống rượu tân hôn của vương gia và Phụng Dương được nữa.

Đây là chuyện thiên kinh địa nghĩa, lẽ nào Phụng Dương lại không hiểu chuyện mà hờn trách chị!

Tôi cúi mặt nhìn bát cháo, tay khua khua cái thìa một cách vô nghĩa:

- Vương phi hiểu lầm rồi.

Tôi đúng là tri kỷ của Chiêu Minh vương nhưng hắn không xem tôi là hồng nhan đâu. – Dừng một thoáng, tôi bỗng dưng muốn hỏi rất thật lòng. – Lâu nay, vương đối xử với nàng có tốt không?

Công chúa lại nhoẻn cười, tôi cúi đầu, đưa tay xoa trán, tự bảo mình: "Phong ơi Phong, huynh đệ như thủ túc, phu thê như y phục.

Dẫu gì Phụng Dương cũng là chính thất cưới gả đường hoàng của Quang Khải, mày không được nghĩ lung tung".

- Vương gia rất chu đáo, cuộc sống của ta rất tốt.

Hay là kết thúc trận chiến này, mời Hưng Ninh vương và chị Nhã Phong đến Độc Lập làm khách để Phụng Dương có dịp đón tiếp hai người? – Công chúa vui vẻ nói.

- Được!

Tôi nhất định sẽ mời tiên sinh cùng đến! – Tôi không do dự nhận lời ngay.

Chuyện trò thêm đôi câu, Phụng Dương rời đi để tôi ngủ một chút trước khi trời sáng.

Bóng dáng mảnh mai vừa khuất cuối dãy nhà, tôi liền lớn tiếng hỏi bâng quơ:

- Có mang rượu phần ta không đấy?

Quang Khải từ xó xỉnh nào đó lập tức xuất hiện, tay đong đưa bình rượu quý.

Hắn khoác vai tôi kéo về phía bờ sông, vừa đi vừa không quên nhắc chuyện xưa:

- Không cho ngươi uống nữa kẻo lão già nhà ngươi đến tận đây hỏi tội.

Thân binh của Chiêu Minh vương phủ chống không lại Thánh Dực quân đâu!

- Vương phi của ngươi vừa bảo ta ngủ sớm cho lại sức thì ngươi lại kéo đi, đúng là đồ vô lương tâm! – Tôi nhăn nhó bảo hắn.

- Nếu không sợ ngươi chất chứa tâm sự trong lòng mà khó ngủ, giờ này bản vương đã chăn êm nệm ấm với hai người vợ xinh đẹp rồi. – Quang Khải không nể nang gì.

- Bảo người mang cho ta một ấm chè Mạn Hảo[2] ngay, trời lạnh cắt da thế này ai mà chịu được! – Tôi nói như ra lệnh.

- Đợi vài năm nữa ta được thống lĩnh một đội quân tương đương Thánh Dực, ta nhất định bắt ngươi uống với ta, không say không cho về!

Quang Khải nghêu ngao chỉ trời chỉ đất, không quan tâm gì đến thân phận hay quy củ.

Tôi biết hắn rất uất ức vì không được ra trận tự tay giết giặc, liền nhiệt tình an ủi:

- Được!

Ngươi vừa lĩnh quân phù là ta sẽ lập tức mua hết rượu ngon ở Thăng Long đến chúc mừng ngay.

Trăng lên giữa cây cầu bắt qua sông, mặt nước êm đềm soi rõ bóng.

Tôi chợt nói bâng quơ:

- Ngươi nói xem trận chiến này có kịp kết thúc trước năm mới không để ta còn ăn tết?

Năm trước, lão già ở Hồng Lộ không về, giao thừa của ta đã chán ngắt rồi.

- Này! – Quang Khải không đáp mà gọi tôi. – Nếu có một ngày chẳng may ngươi trở thành thê thiếp của Hưng Ninh vương thật, lẽ nào mỗi lần gặp, ta phải kính ngươi là chị dâu?

- Ha ha ha. – Tôi cười thành tiếng. – Ngươi say rồi, bắt đầu nói nhảm rồi.

- Không thể được, khi ấy ta bắt lão già nhà ngươi phải làm bằng hữu ngang hàng với ta mới đúng. – Hắn vẫn lè nhè.

- Phụng Dương nhà ngươi mới mời ta và lão đến thái ấp của ngươi làm khách đấy.

Chừng đó tha hồ mà kết giao, ta xem hai người cũng hợp tính. – Tôi mặc kệ hắn, chẳng thèm cải chính nữa. – Ta mà có phúc được cô vợ như công chúa, ta nhất định nâng niu nàng ấy như trứng mỏng.

- Trứng mỏng? – Quang Khải cười dài. – Ta đã bao giờ dám làm quả trứng của ngươi phật ý đâu?

- Ngươi lúc nào cũng dính lấy cô đào hát, chưa cần làm gì cũng đủ để nàng ấy chạnh lòng rồi.

- Đào hát?

Ờ, phải!

Đằng nào con của Nguyệt Nhi cũng không thể có địa vị như con của Phụng Dương nên ta muốn nàng ấy sinh trước, để ta dành nhiều thời gian cho nó một chút xem như bù đắp.

- Mới tí tuổi đầu vắt mũi chưa sạch mà đã tính chuyện sinh con! – Tôi trêu hắn. – Khi nào tự giác tắm thơm thì mới làm thầy người ta được!

Gió từ sông Hoàng thổi lên lồng lộng, chúng tôi ngồi tựa lưng nhau trên cầu bến, nói hết chuyện này sang chuyện nọ.

Chỉ mới đầu năm nay, bọn tôi còn là những đứa trẻ hồn nhiên đánh nhau ở quán rượu rồi cùng uống say túy lúy, giờ trong mắt ai cũng đượm vẻ muộn phiền vì vận nước lẫn chuyện nhà.

Không biết khi cơn binh lửa này chấm dứt, bọn tôi còn dịp nào ngồi cạnh nhau không?

[1] Mượn câu trong Chinh phụ ngâm khúc (Đặng Trần Côn), bản dịch của Đoàn Thị Điểm:

"Những người chinh chiến bấy lâu

Nhẹ xem tính mệnh như màu cỏ cây."

("Cổ lai chinh chiến nhân

Tính mệnh khinh như thảo.")

[2] Trà Mạn Hảo: Danh trà quý, đắt tiền, chế biến từ giống trà shan tuyết cổ thụ, xưa chủ yếu dành cho tầng lớp quý tộc mà ngày nay đã thất truyền.

Mạn Hảo là một địa danh trước thuộc Đại Việt.

Từ thời vua Tự Đức, sau hiệp ước Pháp – Thanh ký năm 1885 mới thuộc Vân Nam Trung Quốc.

Ca dao thế kỷ 19 có câu:

"Làm trai biết đánh tổ tôm

Uống trà Mạn Hảo ngâm nôm Thuý Kiều."
 
Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 30: TRẺ CHĂN TRÂU ĐẤT [1]


- Chiêu Minh vương, xin hỏi vương định nằm lì ở phòng của kẻ hèn đến lúc nào? – Tôi rời mắt khỏi khung thêu, nói vọng về phía Quang Khải đang nửa nằm nửa ngồi vắt vẻo trên bậu cửa sổ đọc sách.

Sau cái hôm tôi đến Hoàng giang, Quang Khải đã nhanh chóng gửi tôi đến ở cùng với em gái của lão già, rồi ngày nào hắn cũng vác mặt sang ngồi lì từ sáng đến chiều.

Tôi cứ mặc kệ hắn ở đấy vì còn bận thêu một chiếc khăn tay có hình mộc lan hệt như cái mà công chúa Thuận Thiên để lại cho lão già.

Chiếc khăn thật đã được tự tay lão trả về cho ông Đảm vào cái đêm tập kích bộ đầu Triều Đông, song tôi vẫn muốn thêu lại một chiếc để lão giữ làm kỷ niệm.

Tôi đã từng ngắm nghía đóa mộc lan thêu dở ấy rất nhiều lần nên nhớ rõ như in nhưng tôi vốn không quen việc thêu thùa nên làm mãi vẫn chưa ưng ý.

Quang Khải cũng không làm phiền tôi, chỉ ngồi một góc hết đọc binh thư lại luyện chữ, tuy nhiên chốc chốc lại có kẻ hầu đến tìm hắn xin chỉ thị về việc tuần tra ở hành cung.

Thành thử, tôi tìm cách đuổi tên bằng hữu này đi để được yên tĩnh.

- Dẫu gì ở Hoàng giang ngươi cũng đâu quen biết ai.

Bản vương ở lại đây bầu bạn, ngày ngày có người đến hầu hạ, dâng sản vật, ngươi còn không biết tạ ơn? – Tên hoàng tử đáp, giọng nói ngang phè.

- Bẩm vương, hiện kẻ hèn đang tá túc trong khuôn viên dành cho công chúa Thiều, tin rằng không có ai cả gan khinh nhờn, dám đâu nhọc lòng vương.

Mời vương về cho, hai vị phu nhân đang trông ngóng mỏi mòn. – Tôi giả đò ôm quyền, cung kính đáp.

Quang Khải cười khẩy một tiếng rồi tiếp tục đọc sách.

Tôi đặt khung thêu xuống giường, đi ra chiếc bàn giữa phòng, nhón một quả quýt, tiện tay vứt một quả cho hắn.

- Ta biết ngươi cố ý đến đây trông chừng, sợ ta chạy lung tung. – Tôi thấp giọng. – Nhưng trải qua từng ấy chuyện, ta cũng lớn khôn được một chút rồi.

- Lớn khôn thế nào? – Quang Khải hất hàm hỏi tôi.

Trong phút chốc, tôi đã ngỡ mình trông thấy nụ cười của lão già.

- Này, ta và ngươi bằng tuổi nhau đấy, đừng có mà ra vẻ. – Tôi bĩu môi.

- Quang Khải cười thành tiếng, cắm cúi bóc vỏ quýt.

- Ta rời khỏi Yên Bang để đi tìm lão già đã báo hại ông Đảm mất mạng.

Từ Cổ Mai đến Hoàng giang, ta lại khiến Trần Cụ bị trọng thương. – Tôi bước đến bên cửa, nhìn về phía chân trời. – Ngươi biết không, Quang Khải, ngay khi gặp công chúa Thiều, ta liền hiểu ra mình rất nực cười.

Công chúa là em ruột của Hưng Đạo vương, em khác mẹ với lão già nhà tôi.

Nàng ra đời lúc Khâm Minh đại vương, phụ thân của lão già, đã thất thế sau cuộc binh biến ở sông Cái.

Lúc ấy, Hưng Đạo vương đã được đưa đến chỗ công chúa Thụy Bà từ lâu, một mặt để làm con tin, mặt khác, những người của chi Tức Mặc không muốn hai anh em lão già ở cùng một chỗ, cùng được Khâm Minh đại vương nuôi dưỡng.

Khi công chúa được vài tuổi thì mẹ nàng vắn số, nàng cũng được đưa đến ở cùng với Hưng Đạo vương, thi thoảng mới về Yên Bang thăm lão già nhà tôi.

Thế nên từ trước đến giờ tôi và nàng chỉ gặp nhau được đôi lần.

- Nếu ngay cả người con gái yêu quý nhất của chi Vạn Kiếp đang ở Hoàng giang cũng không thể khiến những kẻ đang nắm quyền của Tức Mặc yên lòng, thì có thêm mười đứa nhãi nhép như ta đến cũng có ý nghĩa gì đâu. – Tôi cười nhạt. – Giao trả ấn nội mật chẳng qua cũng chỉ là cái cớ để lão già lừa ta đến đây, không phải đối đầu với những hiểm nguy nơi tiền tuyến mà thôi.

- Không đâu. – Quang Khải nhìn tôi, cười hiền. – Hôm trước lúc ta giao lại ấn cho quan gia, cả triều đình ai nấy cũng vui mừng.

Ngươi thực sự đã lập được công to đấy.

Hắn đưa tay định xoa đầu tôi, tôi thở hắt ra, gạt đi.

Rồi chúng tôi ngồi im lặng thật lâu, mỗi người đều theo đuổi ý nghĩ riêng.

Tôi không biết mình phải làm gì ngoài việc ngoan ngoãn ở lại đây, đợi thanh bình rồi sẽ gặp lại lão già.

Bao nhiêu lần muốn lẻn trốn về Thăng Long, bao nhiêu lần muốn xin thái tử cho gia nhập quân đội của ngài để nhanh chóng tiến gần lão già hơn, là bấy nhiêu lần tôi buộc mình đến thăm Trần Cụ, mở to mắt nhìn những cơn đau đang hành hạ hắn, tự nhắc mình không được liên lụy thêm một người nào nữa.

Mãi sau, tôi dứt khoát kéo Quang Khải đứng lên, đẩy ra cửa:

- Kẻ hèn đã biết tấm lòng bao la quảng đại của vương.

Giờ thỉnh vương yên tâm về cho!

Kẻ hèn phước lớn mạng lớn, không vì chút muộn phiền này mà chết được đâu!

Quang Khải đẩy tôi ra, lại bước vào phòng, ngồi xuống tiếp tục đọc sách.

- Khải! – Tôi bắt đầu nổi cáu. – Ngươi thực sự xem nơi ở của ta là Chiêu Minh vương phủ chắc.

Ông đây không dịu dàng kiên nhẫn như hai người vợ của ngươi đâu!

- Chính vì hai người vợ ấy. – Quang Khải đặt quyển sách xuống, nhìn tôi, vẻ ngạo mạn ban nãy hoàn toàn biến mất. – Thái ấp Độc Lập của ta rất rộng lớn, trước đây mỗi người ở một nơi, từ sáng đến tối không cần chạm mặt nhau.

Giờ đến cái hành cung nhỏ bé này, ba người ở cùng một khoảng sân, ta ở cùng ai cũng khó tránh khỏi cảm thấy bất công cho người còn lại.

- Phụng Dương của ta thèm vào đi đố kỵ với cô đào hát của ngươi. – Tôi cười cười.

- Đúng là nàng ấy không hề để mắt. – Quang Khải cũng bước đến ngồi đối diện tôi, trầm giọng. – Chính vì thế, ta càng thấy khó chịu hơn.

- Ha!

Ha! – Tôi cười vài tiếng, định châm chọc thêm mấy câu nhưng ánh mắt hơi bối rối của ông hoàng trẻ con khiến tôi bỗng thấy thương hại, bèn giữ nguyên dáng vẻ nghiêm trang, nói tiếp. – Ngươi áy náy thế nào mà lại ở đây cả ngày, không chừng báo hại hai nàng ấy đến đây gây rắc rối cho ta.

- Không đâu. – Hắn đáp tỉnh rụi. – Họ thừa biết ta không có hứng thú với đàn ông.

Tôi chộp nhanh lấy thanh kiếm để trên giường, chĩa về phía hắn:

- Được, vậy hãy quyết đấu với ông như những trang hảo hán nào!

Quang Khải cười nhạt một tiếng rồi cũng cầm lấy thanh kiếm của hắn, sẵn sàng cho một trận thư hùng.

Bên ngoài vang lên tiếng ho sù sụ, công chúa Thiều và cô thị nữ đi sau vờ như không thấy hành vi khiếm nhã của tôi, tôi cũng lập tức đặt kiếm lên bàn, giũ váy, cúi chào rất đoan trang.

Quang Khải nghiêm mặt nhưng không giấu được tiếng cười trong cổ họng, tôi lờ đi như không nghe không biết.

Trong ký ức của tôi, công chúa Thiều là một cô gái có cốt cách dịu dàng và có phần nhút nhát.

Nàng sợ hổ, sợ sâu, thích nép sau lưng hai người anh lớn.

Nhiều năm không gặp, vẻ nhút nhát ấy được khéo léo giấu sau nụ cười ngọt như rót mật.

- Nhã Phong, em ở đây có quen không? – Nàng nhỏ nhẹ hỏi tôi sau khi khẽ gật đầu chào Quang Khải.

- Thưa, tốt lắm ạ. – Tôi đáp. – Ngày nào cũng có người mang thức ăn ngon đến, em chỉ ăn rồi ngủ, sắp béo ú rồi đây.

- Chứ không phải mất ăn mất ngủ vì thêu mãi không ra hình mộc lan phỏng? – Quang Khải bước đến phía sau nói khẽ vào tai tôi.

Tôi nguýt hắn một phát rõ dài, đoạn nảy ra một ý, kéo công chúa đến xem chiếc khung thêu:

- Công chúa khéo tay, xem giúp em chỗ này phải thêu thế nào ạ?

Công chúa ngắm nghía một lúc rồi cầm lấy kim, tôi vội ngăn:

- Cô dạy em là được, không dám phiền cô!

- Cái này...

- Nàng nhìn tôi một lúc, hàng mi dài khẽ chớp. – Em tặng tình lang nên muốn tự mình làm lấy từ đầu đến cuối phải không?

- Thưa không, em thêu cho tiên sinh đấy ạ. – Tôi đáp.

Đôi mắt long lanh của công chúa mở to hơn, đoạn nàng bật cười, đưa tay che miệng:

- Hóa ra cũng không hẳn là lời đồn.

- Sao ạ?

- Không có gì, để ta bày cho em. – Nàng ôn tồn đáp.

Được mỹ nhân tận tay chỉ việc, tôi hoàn thành mũi thêu rất nhanh.

Quang Khải thấy bọn tôi trò chuyện tương đắc thì định rời đi, không ngờ vừa đến cửa đã đâm sầm vào cậu hoàng nhỏ tuổi.

- Nhật Duật, em chạy đâu mà vội thế? – Quang Khải bế cậu lên.

- Thái tử bảo em dẫn anh ấy đi tìm anh. – Nhật Duật đáp, bàn tay bé xíu chỉ về phía sân.

- Tìm anh? – Quang Khải ngạc nhiên. – Cả hành cung đều biết mấy ngày nay anh đi cùng Nhã Phong, mà chính thái tử lệnh cho anh gửi Phong đến chỗ công chúa...

Nói đến đây, bọn tôi đều nhận ra gò má công chúa hơi ửng hồng.

Tôi liền nói ngay:

- Khải, không phải ngươi bảo ta nên đến hậu viên giúp đỡ chữa trị cho thương binh sao?

Mau dẫn đường!

Quang Khải lập tức hiểu ý:

- Chỉ tại ngươi cà kê mãi, bổn vương đã đợi từ sớm đến giờ.

Thái tử vừa vào đến, chúng tôi nhanh nhẹn cúi chào rồi tiếp tục sải bước.

- Hai người đi nhanh quá, Duật đuổi theo không kịp!

Hóa ra cậu hoàng nhỏ tuổi đang đuổi theo bọn tôi, thở hổn hển, mồ hôi lấm tấm trên gương mặt phúng phính đỏ bừng.

- Em chạy theo làm gì? – Quang Khải bước đến hỏi cậu ta.

- Thế hai người chuồn nhanh như vậy làm gì? – Nhật Duật quệt mồ hôi trên trán, giọng như ông cụ non. – Còn không phải muốn để hai anh chị đấy có thời gian bên nhau phỏng?

***

Hậu viên là mỏm đất nhỏ nhô ra sông, trước có mấy mái đình dùng để câu cá và hóng mát, giờ đang được dùng làm y quán chữa trị cho những thương binh còn sống sót sau trận Bình Lệ Nguyên và trận chiến bất ngờ của Trần Cụ với quân Thát vừa rồi.

Cũng may trận chiến chưa kéo dài, thuốc men và lương thực vẫn còn đầy đủ, song không vì thế mà nỗi đau của những người lính kia giảm đi được chút nào.

Vũ khí mà bọn rợ Thát dùng có thể gây ra những vết thương mãi không khép miệng.

Tôi chợt nghĩ đến cánh tay của lão già, không biết lúc này lão đang ở đâu rồi, đã vào hoàng thành chưa, có biết tự chăm sóc cho mình không hay cứ để vết thương vừa kéo da non lại nứt ra rồi rỉ máu mãi.

- Cô Nhã Phong... cô là cô Nhã Phong có phải không? – Tiếng thì thào sau lưng cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi.

Tôi giao việc băng bó cánh tay của một người lính cho Nhật Duật, đỡ anh lính đang chống gậy nọ ngồi xuống cạnh bên:

- Anh biết tôi sao?

Vết thương của anh thế nào rồi? – Tôi ôn tồn hỏi.

- Bẩm, tôi là lính Thánh Dực, trước đây từng được thấy cô Nhã Phong ở Hồng Lộ. – Anh ta đáp.

- Cô Nhã Phong!

Cô thật là cô Nhã Phong ư? – Lại có tiếng reo khe khẽ.

- Thật không ngờ chị nổi tiếng trong quân đội như thế! – Nhật Duật trầm trồ.

- Có phải thấy chị cậu rất lợi hại không? – Tôi nheo mắt nói nhỏ với cậu.

- Ngưỡng mộ!

Ngưỡng mộ! – Hoàng tử nhỏ ôm quyền cười toe toét.

- Anh đợi một chút, tôi sẽ quay lại ngay. – Tôi nói với người chống gậy, đoạn đứng lên nhìn quanh. – Ai vừa gọi Nhã Phong thế ạ?

- Cô Nhã Phong... – Từ góc đình bên kia, một bàn tay run rẩy đưa lên.

Tôi nhanh chóng bước đến xem.

Người này bị thương khá nặng, lớp băng trên ngực và vai ướt sũng máu.

Ông ta cố gắng lắm cũng chỉ ngẩng đầu lên được một chút.

- Bác đừng vội! – Tôi thận trọng bước qua những người đang nằm phía bên ngoài, đoạn ngồi xuống, kê cao chiếc gối sau đầu để ông ấy dễ chịu hơn một chút. – Tôi là Nhã Phong đây ạ, bác biết tôi chăng?

Bàn tay gầy guộc của bác ta nắm chặt cổ tay tôi, yếu ớt nói:

- Tôi là gia nhân của nhà họ Phạm.

Cậu chủ... cậu chủ kể cho chúng tôi nghe rất nhiều về cô.

Nhà họ Phạm...

Tôi nhớ ra ngay.

Phạm Cự Chích!

Nguyễn Nam!

Đây chính là người trong quân của Nguyễn Nam.

Gai ốc đột nhiên nổi khắp người, khóe mắt cay xè, tôi gấp gáp hỏi bác ta:

- Anh ấy nói gì về tôi?

- Cậu Chích nói, chính cô là người chỉ cho cậu ấy biết sứ mệnh thực sự của mình...

- Cơn ho dữ dội cắt ngang lời nói của người thương binh khốn khổ nọ.

- Cậu ấy còn dặn... nếu chẳng may cậu bạc phần, bọn tôi nhất định phải nghe theo mệnh lệnh của cô...

- Bọn tôi? – Tôi sững sờ nhìn những người nằm bên cạnh, kẻ băng đầu, người chỉ còn lại một chân, tất cả đều đang gượng đau ngồi dậy.

- Xin đợi lệnh của cô! – Gần ba mươi con người còn sống sót đồng thanh đáp.

Môi tôi run run không nói được lời nào.

Nước mắt không kiềm được, cứ thế rơi ướt đẫm mặt.

Những lời lão già kể vọng về bên tai, vẽ ra bức tranh thảm khốc của trận chiến hôm ấy.

Toàn quân Đại Việt sau khi bị vỡ trận ở Bình Lệ Nguyên đã lui về bến Lãnh Mỹ, nơi chiến thuyền neo sẵn phòng bất trắc.

Giặc Thát vẫn đuổi theo ráo riết phía sau, tình thế rất ngặt nghèo.

Đến sách Cụ Bản, một đội quân trang bị khác lạ xông ra.

Người dẫn đầu đội quân ấy đã thúc ngựa vào giữa đoàn binh bọc hậu và quân giặc, miệng không ngừng gọi lớn:

- Hưng Ninh vương!

Hưng Ninh vương!

Ông ở đâu?

Chủ tướng quân Thánh Dực vừa giết giặc vừa dõng dạc trả lời:

- Ta đây!

Cậu thanh niên chỉ ngoài hai mươi nhanh chóng chạy đến tiếp ứng cho vương.

Hai người chung lưng đấu cật diệt được mấy toán quân, đoạn trông thấy phía sau quân giặc bụi cuốn mù trời, vị thủ lĩnh trẻ ấy bỗng nhoẻn miệng cười, hất hàm bảo vương:

- Các người còn việc phải làm thì đi nhanh!

Chỗ này để tôi lo là đủ!

- Cậu tên gì? – Hưng Ninh vương sững người.

- Phạm Cự Chích. – Cậu nói, đoạn đạp mạnh vào ngựa của vương làm nó lồng lên, phóng rất xa về phía trước. – Nhã Phong đang đợi.

Về nói với cô ấy là tôi đã cứu ông!

Đội quân cứu viện không rõ từ đâu đến ấy nhanh chóng tạo thành một lớp hàng rào chặn sau quân triều đình, không lui nữa.

"Là cậu ấy đã cứu mạng ta."

Lão già nhắc lại với tôi như thế.

Khi ấy, tôi rúc trong lòng lão, cảm thấy mọi đau thương đều là việc đã qua rồi.

Không ngờ lúc này đối mặt với những người lính của Nguyễn Nam, nỗi bi ai lại ngập tràn.

Tôi vừa thương vừa giận, không biết thương ai mà cũng không biết giận ai.

Tôi gọi thêm vài người đến giúp thay băng và lau mặt, vệ sinh chỗ ở của những người lính bị thương.

Mãi đến khi trời tối hẳn công việc mới hoàn thành, tôi ghé qua thăm Trần Cụ rồi uể oải trở về phòng mình.

Dù đã tắm thật lâu, mùi máu tanh hãy còn phảng phất.

Lúc này, tôi bỗng nhớ đến mềm lòng hương trầm luôn thoang thoảng trên người lão già.

Hóa ra cuộc sống vẫn cứ tiếp diễn, những thứ đã mất đi là thực sự đã mất đi, khói lửa vẫn còn cháy mãi ngoài kia...

Nghĩ thêm một chốc nữa, tôi quyết định mang quyển y thư mà Nguyễn Nam để lại cho tôi đến nơi ở của thái tử xin yết kiến.

Tôi biết bây giờ không phải lúc thích hợp, song vẫn là việc phải làm.

- Xá tội cho Vũ Thành vương? – Thái tử kinh ngạc nhắc lại lời tôi.

- Thưa, phải! – Tôi quỳ trước mặt ngài, đầu cúi thấp. – Tôi biết lúc này cầu xin cho Vũ Thành vương là không thích hợp.

Tôi cũng biết mang việc Phạm Cự Chích xả thân tiếp ứng để đổi lấy tự do cho một kẻ phản quốc là sỉ nhục tấm lòng tận trung của họ Phạm.

Tuy nhiên...

- Tôi mạnh dạn ngẩng lên tha thiết nhìn thái tử. – Tuy nhiên báo ơn cho Vũ Thành vương lại là tâm nguyện lớn nhất của Phạm Cự Chích lúc sinh thời, dù thái tử trách phạt, Nhã Phong cũng phải thay hắn hoàn thành.

Hơn nữa...

- Hơn nữa thế nào? – Thái tử hỏi.

- Hơn nữa, ở hậu viên vẫn còn tàn quân của họ Phạm.

Một lệnh ân xá của triều đình lúc này chính là lời an ủi tốt nhất giúp họ mau hồi phục.

- Ta nghe nói những người lính họ Phạm kia đã thề chết nghe lệnh cô Nhã Phong.

Ta cũng nghe nói, Nhã Phong chính là người được sủng ái nhất phủ Hưng Ninh vương? – Thái tử không giấu vẻ thăm dò.

- Bẩm, phải. – Tôi không do dự đáp. – Hưng Ninh vương lại tận trung với họ Trần.

Suy cho cùng, những người họ Phạm ấy đều là người của quan gia và thái tử.

Thái tử nhìn tôi, tôi cũng nhìn ông ta.

Bỗng thái tử bật cười sảng khoái:

- Ta nghe danh truyền nhân của Hưng Ninh vương đã lâu, nay đã hiểu rồi.

Chẳng trách tướng quân họ Phạm kia lại vì cô mà chiến đấu không màng sống chết.

- Phạm Cự Chích tướng quân là vì Đại Việt mà chiến đấu không màng sống chết. – Tôi chậm rãi đáp, đoạn lại cúi đầu sát đất. – Xin thái tử vì tấm lòng trung thành này mà thay tướng quân xin tội cho Vũ Thành vương trước mặt quan gia.

- Được.

Ta hứa với cô. – Thái tử cũng đáp từng lời như đinh đóng cột.

---

P.S: Trong lúc chờ chương mới, mọi người có thể ghé qua đọc Quan san nguyệt - Ngoại truyện của Cố niên hoa, viết về thời niên thiếu của Trần Tung hén. 😀

---

[1] Lấy ý từ bài Thủ nghê nưu (Chăn con trâu đất) của Tuệ Trung Thượng sĩ:

Thủ nê ngưu

Nhất thân độc thủ nhất nê ngưu,

Đằng tỵ khiên lai vị khẳng hưu.

Tương đáo Tào Khê đô phóng hạ,

Mang mang thuỷ cấp đả viên cầu.

Dịch nghĩa

Một mình riêng giữ con trâu đất,

Xỏ mũi dắt về chưa từng chịu nghỉ.

Đem đến Tào Khê thì thả ra,

Mênh mông nước chảy cuốn quả cầu tròn.

Trong Ngữ Lục Triệu Châu ghi:

"Có vị tăng hỏi: Đứa trẻ mới sinh đầy đủ sáu thức hay không?

Thiền sư Triệu Châu trả lời: Giống như trên dòng nước chảy xiết đánh cầu."

Chú thích: Trên dòng nước chảy xiết đánh cầu, ý nói đứa trẻ mới sinh tuy tâm niệm của nó như dòng nước chảy không dừng, nhưng sáu thức không phát khởi công dụng, do đó không có phân biệt sai quấy.
 
Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 31: ĐÊM CHỜ XUÂN


Sau khi tiếp kiến tôi, thái tử liền ra lệnh ban thưởng rất hậu cho những người nhà họ Phạm.

Việc xá tội cho Vũ Thành vương còn phải đợi ý quan gia, nhưng tôi cũng đã nói với mọi người rằng thái tử đã biết nguyện vọng này của tên thầy thuốc.

Sau khi họ đã bình phục hẳn, tôi sẽ giao họ lại cho Quang Khải để tránh những hiềm nghi không đáng có.

Như thế xem như phần nào tôi đã hoàn thành lời hứa với Nguyễn Nam, chỉ còn lại một lời hứa với độc túc tráng sĩ của tôi, không biết phải đợi đến bao giờ.

Ngày ở hành cung của bọn hoàng thân và gia quyến trôi chậm như rùa bò, trái ngược hẳn với không khí rộn ràng nào luyện tập, nào chuẩn bị chiến đấu của phe triều đình và quân đội.

Tôi ăn hết quà vặt ở chỗ công chúa Thiều lại chạy sang chỗ Phụng Dương chuyện trò đôi câu, giúp nàng xem lại lượng dự trữ lương thực, thuốc men.

Quang Khải không ngồi lì ở phòng tôi thì cũng ra hậu viện trò chuyện với thương binh hoặc mang lính đi tuần.

Nơi này có nhiều người, cả tôi và tên Chiêu Minh vương đó đều không thể tự do cười nói, đánh nhau, rong chơi như ngày trước.

Cũng còn may là Quang Khải đã giới thiệu tôi với Nhật Duật.

Tôi và cậu hoàng nhỏ tuổi này vừa gặp đã thân.

Tôi dạy cậu bé ít Phạn ngữ mà tôi biết, cậu bày cho tôi tiếng của các phiên mà cậu nghe lỏm rồi nhớ được.

Nhờ có cậu bé, tôi cũng phần nào quên đi nỗi lo lắng cho an nguy của lão già.

Thỉnh thoảng bọn tôi có bày trò nghịch dại, rất may là Quang Khải luôn kịp thời có mặt giải quyết nên chưa gây hậu quả gì đáng hổ thẹn.

Đổi lại, tôi giao Trần Cụ cho Quang Khải.

Hai người bọn họ cũng khá tương đắc, có thể học hỏi lẫn nhau.

Tôi mòn mỏi vừa chơi vừa đợi, cuối cùng cũng sắp đến đêm trừ tịch, song thời cơ xuất binh vẫn chưa thật rõ ràng.

Lại thêm một cái Tết tôi không có lão già ở bên.

Hóa ra đến khi bất trắc, những thứ chúng ta cứ xem là hiển nhiên, chỉ cần với tay là chạm được cũng hóa thành xa xỉ.

Bù lại, chính trong những lúc trống trải thế này, ta mới cảm nhận được rõ ràng nhất giá trị của những điều xa xỉ đã mất đi kia.

Không có trụ cột, gạch đá và mái ngói thì không thành ngôi nhà, nhưng nếu bên trong nhà chất đầy gạch đá thì ta lại không ở được.

Phải chăng đây chính là cái lẽ có – không mà lão già hay nói?

- Chị Nhã Phong, qua đây giúp Duật cái này!

- Hoàng tử bé đứng trong ngõ cụt vẫy vẫy tay gọi, cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi.

- Cậu lại định bày trò chọc phá ai đấy?

- Tôi học theo giọng điệu của lão già.

- Duật mới thó được quyển này, bấy lâu anh Quang Khải cứ giấu giấu diếm diếm, Duật đụng tới là bị mắng ngay!

- Giọng cậu bé càng lúc càng nhỏ, tay vẫy liên hồi.

- Chắc là binh thư, Quang Khải sợ cậu đọc không hiểu chứ gì?

- Tôi lười biếng đứng yên một chỗ, đáp.

- Không!

Lúc anh lính đưa quyển này cho anh Khải, Duật nghe rõ ràng anh ta bảo đây là sách hướng dẫn tạo ra trẻ con.

- Gương mặt Nhật Duật tràn đầy chính nghĩa. – Chính như thế nên Duật mới tò mò.

Duật từng hỏi nhưng phụ hoàng và mọi người chẳng ai nói cho Duật hết!

Vừa nghe đến đấy, mối đồng cảm dấy lên sâu sắc, tôi kéo cậu ta vào sâu trong ngõ nhanh như tên bắn, đoạn chau mày, nghiêm túc nói:

- Tôi không thích đọc trộm sách của người khác đâu, nhưng thuở bé tôi cũng từng hỏi lão già nhà tôi mà bị lão gạt đi, giờ không giải thích cho cậu được.

Nay có sẵn tư liệu, tôi đành phải đọc trộm để mở mang đầu óc, sau này có nhận đệ tử thì không mất mặt vì ngu dốt.

- Duật cũng không thích ép người khác làm việc trái lương tâm đâu, nhưng ngặt nỗi Duật chưa đọc được nhiều chữ. – Cậu bé nắm tay tôi đầy tin cẩn. – Chị Nhã Phong không đọc trộm sách của anh Quang Khải, chị chỉ giúp Duật hiểu chữ trong này thôi có được không?

- Hoàng tử chỉ mấy tuổi đầu đã hiếu học như thế, sao tôi có thể khước từ?

- Tôi gật mạnh đầu, quả quyết.

- Gặp được người bạn nghĩa khí như chị đây quả là phúc của Duật!

Nhật Duật cũng gật mạnh đầu, đôi mắt long lanh nhìn tôi chờ đợi.

Tôi giở sách, lật từ trước ra sau, từ sau ra trước một hồi lâu.

Cuối cùng đành thở dài bảo cậu bé:

- Xin lỗi, Nhật Duật, sách này không có chữ, chỉ có hình vẽ thôi.

***

Lúc nhận lại sách từ tay tôi, mặt Quang Khải xanh như tàu lá.

Tôi bảo hắn, sách này Nhật Duật vô tình lấy được để tránh cho anh lính khốn khổ kia khỏi đòn đau.

Tôi rất coi trọng tình bạn này mới đem trả lại hắn mà thần không hay quỷ không biết.

- Bỏ cái vẻ mặt tự đắc ấy đi. – Quang Khải gõ sách lên đầu tôi.

Chúng tôi đang đứng ở một góc khuất trên lầu cao nên không ngại ai trông thấy.

- Này!

Ông đây trọng tình trọng nghĩa như thế, Chiêu Minh nhà ngươi không cảm tạ được một câu cho lọt tai phỏng? – Tôi gắt.

- Có cái gì đáng cảm tạ? – Quang Khải nhếch mép. – Mấy chuyện này ai có chồng có vợ rồi còn lạ lẫm gì?

Sau này lúc ngươi thực sự trở thành ái thiếp của Hưng Ninh vương thì cũng sẽ biết thôi.

Hắn nói đến đây, những hình vẽ trong sách bỗng hiện lên trong đầu tôi.

Tôi thấy hai má mình bắt đầu nóng dần lên, tai cũng nóng dần lên.

Đột nhiên, tôi không kiềm chế được, thụi vào bụng Quang Khải liền mấy cú rõ mạnh:

- Ngươi đừng có ăn nói quàng xiên!

Ta chưa xem!

Chưa xem!

- Dóc tổ!

Ngươi chưa xem thì làm sao biết quyển sách này lọt ra ngoài sẽ ảnh hưởng đến danh tiếng của ta? – Quang Khải chống chế, nhưng hắn càng nói, tôi càng mạnh tay hơn, giật lấy quyển sách đập lên người hắn liên hồi.

Quang Khải có vẻ đau thật vì cú đấm của tôi.

Hắn cứ xoa xoa bụng, ngồi tiu nghỉu.

Tôi chợt thấy áy náy song vẫn lờ đi.

Hồi lâu hắn hỏi tôi:

- Thế đã bao giờ ngươi nhìn Hưng Ninh vương như một người đàn ông chưa?

Tôi lắc đầu nguầy nguậy không chút do dự:

- Lão già rồi.

Ánh mắt Quang Khải như đông cứng:

- Một người đàn ông già?

- Không.

- Tôi gọn lỏn.

- Một thư sinh già, một thiền sư già, một người nhàn nhã già.

Khoé môi tên bằng hữu của tôi giật giật, hắn hỏi tiếp:

- Gã Trần Cụ đang nằm một chỗ kia thì sao?

- Cụ vẫn còn là tên nhóc.

Hắn hất hàm về phía bên kia sân, nơi có hai người nam nữ đang chuyện trò.

Tôi nhìn theo, đoạn thở dài:

- Ngài ấy là thái tử.

Quang Khải có vẻ rất bất mãn, vung tay trỏ thẳng vào mặt chính mình.

- Khải, ngươi loạn trí rồi!

- Tôi bắt đầu cáu.

- Ta quý ngươi đâu có kể ngươi là nam hay nữ!

Kẻ tôi quý bất kể nam nữ kia vỗ đánh "bộp" vào trán mình, thất thểu nhìn quanh quất.

Rất lâu, rất lâu, rất lâu sau đó, với vẻ mặt hết sức kiên nhẫn, hắn từ tốn hỏi tôi:

- Chả nhẽ trong mắt ngươi, thế gian này không có ai là trượng phu, là mày râu, là giống đực hết sao?

- Ồ có chứ!

- Tôi hồ hởi đáp.

- Bao giờ soi gương ta cũng thấy một người!

***

Tuy rất mạnh miệng đáp lời Quang Khải, song khi đêm về, những điều hắn nói cũng khiến tôi suy nghĩ ít nhiều.

Từ bé đến giờ, tôi luôn cho rằng những người nam sống ở Dưỡng Chân trang đều không uy dũng như tôi.

Anh Thân là người giỏi đao pháp nhất trong số họ, khi cần cũng can đảm, hiên ngang nhưng ngày thường anh rất lành, rất hay bị tôi trêu.

Hưng Đạo vương thỉnh thoảng có đến chơi, nhưng Hưng Đạo vương là...

Hưng Đạo vương, là một tướng quân, đâu phải một người đàn ông bình thường.

Nói về lão già, cũng như đối với Quang Khải, tôi chưa từng nghĩ xem lão là nam hay nữ.

Lão là Thần của tôi, là Phật của tôi, là kẻ thân thiết nhất đời này của tôi.

Tôi có thể ngủ say trong lòng lão, có thể ôm lấy lão mè nheo, có thể đổi mạng mình cho lão.

Chỉ là, tôi chưa bao giờ xem lão như một con người bình thường sống ở cõi trần này, sẽ luôn là như thế nếu như tôi không trông thấy vết thương trên tay lão mãi không khép miệng.

Những hình vẽ trong quyển sách quái quỷ kia lại hiện ra, một gương mặt khác cũng hiện lên rất gần.

Tôi bỗng nhớ đến... nhớ đến nụ hôn nồng nặc mùi rượu của Nguyễn Nam hôm chúng tôi bày trò chuốc say cụ Đảm.

Cảm giác nóng bừng cả mặt lúc đó giống hệt như khi tôi nghe những điều Quang Khải nói hôm nay.

Và một lần khác.

Ấy là cái hôm tôi theo lão già tập kích bọn rợ Thát ở bộ đầu Triều Đông.

Lão vẫn luôn là một người nhàn hạ, một thiền sư, một thư sinh.

Song, vào cái đêm lửa cháy ngút trời đó, lão đứng trên nóc thuyền, để trần một bên vai, đôi tay rắn chắc giương cung lớn bắn đi mũi tên xé gió, giọng nói trầm trầm vang cả dòng sông.

Lòng tôi đã run rẩy không rõ nguyên do, tôi bước đến, kiễng chân ôm chặt lão.

Lần đầu tiên trong suốt mười mấy năm sống bên nhau, tôi không có cảm giác của một đứa trẻ khi ở trong vòng tay vững chãi kia, cùng lão nhìn ngắm một mảnh giang sơn.

Nghĩ đến đây, bỗng dưng tôi mơ hồ hiểu được ánh mắt đầy tổn thương của lão già lúc nghe tôi đòi tự xưng là ái thiếp của lão để đến Hoàng giang:

"Tiểu thiếp, dẫu sắc đẹp nghiêng thành hay cầm kỹ xuất chúng, đối với một thân vương mà nói, muốn mấy người sẽ có mấy người.

Những chuyện như thế, sau này đừng nhắc nữa."

***

Quân Thát bị cầm chân ở Thăng Long sắp được nửa tháng.

Bọn chúng không mang theo nhiều lương thực, xung quanh không có gì để cướp bóc, lại thêm những đòn tâm lý của quân Thánh Dực, ắt là lúc này cả thân thể và tinh thần đều rã rời.

Dù Quang Khải không tiện tiết lộ quân cơ nhưng nhìn không khí ngày một khẩn trương, tôi đoán ngay sau ngày đầu năm mới sẽ là lệnh xuất binh.

Cuối cùng, chúng tôi cũng sắp đợi được ngày đánh đuổi bọn xâm lược ra khỏi mảnh đất này!

Tuy thời gian chẳng đáng là bao nếu nhìn lại những lần binh biến của cha ông, song những mất mát đối với tôi là đã đủ nhiều, đã đủ đau thương.

Quan gia ra lệnh mở tiệc xem như giao thừa sớm để động viên tinh thần binh lính.

Kể cả những người đang lười nhác nhất cũng trở nên hăng hái, cả hành cung đổ ra quét tước, trang hoàng, hệt như đang ở quê nhà lúc thanh bình.

Tôi kéo thêm vài người đến hậu viện, dọn dẹp sạch sẽ, tiện tay hái thêm ít hoa dại cắm khắp nơi.

Thái tử cho người mang rượu và thịt đến để các thương binh có thể chung vui.

Quang Khải và Nhật Duật kéo người đến bày trò múa hát, rộn rã không kém mấy trại lính trẻ khỏe mạnh bên ngoài.

Vết thương của Trần Cụ đã ổn hơn nên cũng đến góp vui.

Tôi hết thổi sáo lại đánh đàn, trổ hết tài nghệ khiến mọi người mắt tròn mắt dẹt.

Chừng thấm mệt, tôi ngồi sang một góc, nhường cuộc vui lại cho bọn trẻ.

Quang Khải mang một ấm chè nóng đến cho tôi và một bình rượu cho chính mình.

Mọi người không ai uống say, hơi men thoang thoảng hòa trong làn gió se se của tiết giao thời chỉ làm không khí thêm ấm cúng, lòng người cũng lâng lâng.

- Ta nghe lão già kể, ngày Tết ở hoàng cung có rất nhiều lễ nghi, hoàng tử như ngươi chắc là bận bịu lắm?

- Tôi hỏi Quang Khải, mắt vẫn dõi theo cánh chim nhỏ đang chao về phía trời xa.

- Có vài lễ từ đêm trừ tịch đến hết tháng hai, nhưng phần lớn vẫn là mọi người quây quần xem hát, thi đấu vật, bày trò tiêu khiển với nhau thôi.

- Hắn đáp.

- Không biết nếu Tết năm nay không có giặc thì lão già nhà ta có bị gọi vào chầu nữa không.

- Vào chầu?

Có năm nào Hưng Ninh vương vào cung dịp Tết đâu?

- Quang Khải ngạc nhiên.

Tôi há hốc mồm.

Hắn tiếp:

- Ta nghe nói từ lúc thành đinh, ông ta đều viện cớ đã có Hưng Đạo vương đại diện cho chi Vạn Kiếp, ông ta phải ở lại thái ấp lo việc hương khói tổ tiên, chỉ gửi lễ vật mừng năm mới đến.

Quan gia và những trưởng lão trong họ cũng không làm khó.

Ngay đến lễ triều tăng, mấy lần triều đình mời ông ta vào làm pháp sự, ông ta bảo mình là cư sĩ tại gia nên không có tư cách đứng ngang hàng.

Tôi chưa từng biết những việc này nhưng cũng lờ mờ hiểu được vì sao lão già hành xử như thế.

Quan gia xem ra cũng rất rộng lượng với người cháu này rồi.

- Nhưng rõ ràng Tết năm trước lão không về Dưỡng Chân Trang, bảo rằng phải vào triều. – Ngẫm nghĩ giây lâu, tôi vẫn còn thắc mắc.

- Tết năm trước... – Quang Khải nhìn tôi ra chiều ngẫm nghĩ. – Ta nhớ mấy tháng cuối năm có loạn ở mạn bắc, Hưng Ninh vương dẫn binh dẹp loạn nên bị thương.

Ngươi không biết chuyện này sao?

- Lão bị thương? – Tôi thảng thốt. – Ta chưa từng nghe lão nói!

- Năm ấy triều đình rộn cả lên.

Ta nghe nói ông ta bị một nhát chém trên bả vai khá nặng, phụ hoàng ta rất lo lắng, không ngừng thăm hỏi. – Dừng một chốc, Quang Khải như chợt nghĩ ra. – Chắc ông ta sợ ngươi lo lắng rồi làm ầm lên nên không cho ngươi biết.

Tôi bỗng dưng nhớ lại một hình xăm lạ trên vai lão, nhớ phong bao tiền mừng tuổi đến tay tôi ngay giao thừa mà không có một lời nào, nhớ lá thư gửi về mười ngày sau đó, nét chữ không cứng cáp như mọi khi, tôi còn nghĩ lão viết lúc đang say.

Tôi đẩy chén rượu của Quang Khải ra xa, cau có nói:

- Ngươi đừng uống nữa, men làm ta cay mắt!

Hắn cười cười, xoa đầu tôi ra chiều rất bao dung.

Bỗng có anh lính từ xa tiến lại:

- Cô Nhã Phong, tôi mời cô một chén rượu, chúc cho quân ta sớm khải hoàn!

- Cảm ơn anh! – Tôi cười, nhận ra dấu hiệu của quân Thánh Dực trên y phục anh ta đang mặc. – Tôi không uống được rượu nên dùng chè thay vậy.

- Đợi đã!

Đợi đã!

Bọn tôi cũng muốn cạn chén với cô Nhã Phong!

Một đám lính đua nhau chạy đến chỗ tôi.

Ngày thường trông ai nấy cũng đều rất nghiêm trang, lúc này lại có vẻ phóng khoáng khôi hài.

Tôi đứng lên, nâng chén chè tỏ ý mời tất cả bọn họ.

Chúng tôi cùng uống cạn một lúc rồi bật cười, cảm thấy vô cùng sảng khoái, vô cùng phấn khởi.

- Cô Nhã Phong muốn nhan sắc có nhan sắc, muốn tài hoa có tài hoa, muốn tấm lòng có tấm lòng thế này, chẳng trách chủ tướng của bọn tôi không để lọt mắt những mỹ nhân sơn cước đó. – Một anh lính trông giống hệt người tên Trương Phi tôi gặp ở Cổ Mai cao giọng nói.

- Mỹ nhân sơn cước? – Tôi ngơ ngác.

- Xem ra tiên sinh của ngươi trên đường hành quân đã gieo không ít tương tư rồi. – Quang Khải đứng bên chòng ghẹo.

- Ngươi giữ mồm giữ miệng, khéo vương gia lại mắng cho! – Trần Cụ từ xa lên tiếng nhắc nhở anh lính nọ.

Đến đây, Quang Khải nói phải đưa Nhật Duật đến chỗ quan gia và hai người vợ.

Tôi biết hắn có ý tránh mặt để bọn tôi trò chuyện thoải mái hơn nên cũng không ngăn cản.

- Tôi sẽ không nói lại với vương gia đâu.

Các anh cứ yên tâm mà kể. – Quang Khải đi rồi, tôi không giấu vẻ tò mò.

- Là lúc bọn tôi đóng trong rừng mơ. – Anh lính được lời như cởi tấm lòng. – Có một thiếu nữ ăn vận rất lộng lẫy, gương mặt đẹp như hoa, nói tiếng kinh lộ không sõi nhưng vẫn khăng khăng đòi gặp người trong mộng.

Nàng ấy bảo là mang bánh chưng của người trong bản gói đến cho chàng ăn Tết.

- Lúc ấy bọn tôi không biết tình lang của nàng ấy là ai. – Một anh lính khác nói chen vào. – Bỗng nhiên vương gia đến, bọn tôi chưa kịp hành lễ đã bị vương gạt đi.

Hóa ra trước đó vương có đưa một đứa trẻ đi lạc trong rừng về nhà, vô tình gặp nàng này.

Nàng cứ khăng khăng rằng ơn của vương sâu nặng lắm, đòi lấy thân báo đáp.

Tôi bật cười:

- Sau đó thế nào?

- Nàng nằng nặc đòi vương hứa hẹn.

Nàng biết vương là lính, giờ phải phục vụ non sông, nhưng khi nào giặc tan nhất định phải nhờ ông mối đến hỏi nàng.

Bao lâu nàng cũng đợi được.

- Vương lại đáp thế nào? – Tôi ôm bụng cố nhịn cười, hỏi tiếp.

- Bọn tôi sợ mất hồn.

Vẫn biết người sống nơi núi rừng vốn phóng khoáng, song không ngờ là phóng khoáng đến mực ấy.

Đoạn, một anh lính bước lên phía trước, ưỡn ngực, ngẩng cao đầu, mô phỏng dáng điệu của lão già, từ tốn nói:

- Đây là bánh nhân thịt phải không? – Anh ta nở nụ cười thật hiền lành. – Thật tiếc quá, ta không ăn được, phụ tấm lòng của người nhà cô rồi!

Cả bọn phá lên cười, mặt anh lính vẫn không biến sắc, điềm nhiên nói tiếp như một lẽ hiển nhiên:

- Ta vốn là một thầy tu, chỉ vì đất nước có nạn nên mới tòng quân.

Nếu cô không giận, ta xin giữ lại bánh này để mời các anh em binh sĩ.

Chỉ sợ thần linh hiểu sai ý tốt của cô, trách cô học theo Ma Đăng Già muốn phá đường tu của A Nan tôn giả rồi giáng tội xuống làng thì...

Tôi đoán sơn nữ ấy chưa từng nghe kinh Phật, chẳng biết cả A Nan lẫn Ma Đăng Già nhưng việc sợ thần linh nổi giận thì ắt nàng rõ lắm.

- Lúc ấy mặt bọn tôi ai nấy cũng như cô Nhã Phong bây giờ. – Anh lính vỗ đùi đen đét. – Nhất là phó tướng Đỗ Ngạc, rất khó coi.

- Tội cho cô gái kia, lắp bắp mãi mới chúc được một câu chiến thắng rồi chạy mất.

Bọn tôi nhìn vẻ tỉnh rụi của vương, không ai dám nói gì.

Chỉ có phó tướng chép miệng cảm thán một câu.

- Vương gia, cô ấy chẳng qua là đem lòng ngưỡng mộ ngài chứ có lỗi gì đâu! – Một anh binh sĩ khác lập tức vào vai Đỗ Ngạc.

Tôi đoán hẳn vị vương gia được gọi là Tuệ Trung thiền sư kia sẽ kiên nhẫn giảng giải chút đạo lý cho viên tướng thân cận, nào là đừng cứng nhắc như thế, nào là đạo và đời vốn không tách rời nhau, phải tuỳ cơ mà vận dụng, nào là có khi muốn tử tế phải thực tàn nhẫn.

Song cả đám lính đồng thanh đáp:

- Cậu đã thương hoa tiếc ngọc như thế thì đến nhà người ta ở rể đi!

Cả bọn lại rộ lên cười, tôi cũng cười đến chảy cả nước mắt.

Cố lấy lại dáng vẻ đoan trang, tôi rót thêm một ít chè vào chén, nâng lên mời họ:

- Mừng năm mới!

Mừng chiến thắng!

- Mừng năm mới!

Mừng chiến thắng! – Mọi người đồng thanh.

Tiếng cười tiếng nói lại rộn ràng, chỉ còn thiếu việc bày chiếu bạc là không khác gì một ngày Tết bình thường.

Tôi hồ hởi nói:

- Các anh đều ở cả đây sao?

Còn ai bị đau không đi được không, chúng ta mang rượu qua mời họ!

- Thưa, gần như đủ cả rồi.

- Còn cậu Chiến! – Có ai đó reo lên.

- Là người bị thương ở bụng phải không?

Tôi nhớ hôm trước thấy anh ta chảy máu nhiều lắm, chả trách...

- Tôi trầm giọng.

- Thưa đúng ạ, vết thương của cậu ấy cũng khá lên nhiều rồi.

Chỉ là...

- Thế nào? – Tôi nhìn anh lính đang ngập ngừng.

- Chỉ là lúc cậu ấy ghi danh tòng quân thì mẹ già đang đau nặng, sợ không qua khỏi.

Cậu ấy xin ở lại thuốc thang đến khi mẹ khỏi bệnh, bà cụ tức đến hộc máu tươi. – Giọng kể của anh lính ngày một chậm dần, nhỏ dần. – Cụ bà bảo sinh tử của mẹ là cái hiếu nhỏ, lòng trung với đất nước là cái hiếu lớn.

Cậu Chiến không giữ được cái lớn thì còn nghĩ đến cái nhỏ làm gì.

Chúng tôi đều hiểu tấm lòng của bà, nhưng chỉ e khi giặc tan, cậu ấy trở về thì đã...

Mọi người không ai nói thêm lời nào, lặng lẽ ngồi yên hớp từng ngụm rượu.

Không lâu nữa thôi là năm mới, song ngày nào giặc chưa rời khỏi biên cương, mùa xuân vẫn chưa thật về.

Tôi xót xa đưa mắt nhìn những người lính sống chết trung thành với lão già của tôi, muốn nói câu gì đó để động viên họ phấn chấn lên, nhưng mở miệng mấy lần vẫn không thốt nên lời.

Mãi lâu sau, có tiếng trống rộn rã vang lên từ phía doanh trại đóng ngoài hành cung, Quang Khải từ đâu chạy đến kéo tôi đứng dậy, lớn tiếng bảo mọi người:

- Cùng ra đó xem đi!
 
Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 32: NHƯ NƯỚC CHẢY VỀ ĐÔNG


Hoá ra Quang Khải kéo bọn tôi đến xem màn múa giáo để khích lệ lòng quân của hoàng đế.

Đây là dịp cả đời mới được thấy một lần nên ai nấy đều hào hứng, reo hò inh ỏi.

Trên đài cao, người mặc long bào đã bước sang tuổi trung niên song tráng kiện và nhanh nhẹn chẳng khác chi mấy anh lính trẻ.

Ngài uy nghi bước lên giương thẳng ngọn giáo dài, trổ từng động tác mạnh mẽ, ánh mắt hừng hực lửa khiến cho những kẻ thường ngày lơ là luyện tập phải cúi gằm mặt mà hổ thẹn.

Tiếng trống phối hợp rất nhịp nhàng, khi khoan thai, khi dồn dập, người múa giáo và kẻ đánh trống chỉ cần một ánh mắt đã hiểu nhau, ăn ý như thể đã luyện tập cả nghìn lần.

- Vị đang đánh trống kia là một vương gia nào phỏng? – Tôi huých nhẹ vai Quang Khải.

- Không, người đó là ngự sử trung tướng Lê Tần, thư đồng đã đi theo phụ hoàng từ thuở bé nên hai người còn thân hơn cả anh em ruột thịt.

- Có phải là người đã khuyên hoàng đế rút quân, đừng đánh một ván dốc túi mà phải tính kế dài lâu ở trận Bình Lệ Nguyên không?

- Ừ, chính là ngài ấy. – Quang Khải đáp lời tôi, mắt vẫn dán chặt vào người cha đế vương kiêu dũng, không hề giấu vẻ tự hào.

Tôi hết nhìn hoàng đế lại nhìn sang người tên Lê Tần, không tránh khỏi việc nghĩ đến Khâm Minh đại vương – thân phụ của lão già nhà tôi.

Nghe nói lúc công chúa Thuận Thiên vẫn chưa bị ép trở thành hoàng hậu, đại vương và hoàng đế vô cùng thân thiết.

Đại vương được phong tước Hiển hoàng, quyền lực chỉ dưới một người, vốn là danh xưng xưa nay chẳng ai có.

Lúc đại vương vì hôn sự trớ trêu kia mà phẫn uất dẫn quân đến sông Cái tạo phản, hoàng đế còn lấy thân mình che chở cho đại vương trước mũi kiếm của thái sư.

Song, đó cũng là lần cuối cùng người ta còn biết đến mối thâm tình ấy.

Nghĩ đến đây, tôi vô thức nhếch mép cười, không rõ thái sư có bao giờ bị giao tình của hoàng đế và ngự sử trung tướng gây nghi kỵ, có bao giờ ông ta toan bày trò chia rẽ nữa không.

Ngẫm lâu thêm một chút, ruột thịt tình thâm là thứ ta không được lựa chọn khi sinh ra đời nên dẫu gắn bó cũng rất dễ rạn nứt vì một hiểu lầm nhỏ bé.

Bằng hữu, là người ta quyết định gắn bó sau khi đã hiểu lòng nhau, đã cùng trải bao lần đồng sinh cộng tử, nên mối giao tình ấy đã bền chặt thì rất khó tách rời.

Quang Khải nói, suốt dọc đường rút quân, ngự sử trung tướng đã đích thân cầm ván che chở cho hoàng đế khỏi trận mưa tên của Thát quân, bản thân mình bị thương cũng không hé răng than vãn nửa lời.

Ấy cũng là người đã cùng tiến cùng lùi với vua, mặc cho khí thế của giặc khiến viên tướng dũng mãnh nhất cũng phải chùn chân.

Tiếng trống đang dồn dập bỗng ngưng bặt khiến tôi giật mình trở về thực tại.

Hoàng đế toàn thân lấm tấm mồ hôi, giương cao ngọn giáo mỉm cười ngạo nghễ.

Gió lớn nổi lên khiến những ngọn cờ dựng khắp quân doanh tung bay phần phật.

Bên dưới, binh sĩ ai nấy bừng bừng nhuệ khí, giáo gươm khua rộn ràng, mồm hô vang:

- Sát Thát!

Sát Thát!

Những người lính ấy, vài ngày trước đây đã tiến về Bình Lệ Nguyên, mang theo ngạo khí ngút trời của tuổi tráng niên với lòng tin về quân số áp đảo.

Những người lính ấy đã đối mặt với đội kỵ binh đã làm cỏ không mọc được dưới chân, đã hoảng loạn vì vỡ trận, đã thầm gửi lời vĩnh biệt vào trong gió bụi mịt mù.

Những người lính ấy đã đau nát lòng khi tự tay đẩy những thi thể đồng đội còn chưa kịp lạnh xuống lòng sông Lô để tránh làm chậm tốc độ rút quân.

Cũng những người lính ấy đã tận mắt chứng kiến từng người trong bọn họ lần lượt ngã xuống, lót con đường máu từ Thiên Mạc về Thăng Long, rồi từ Thăng Long về lại hương Tức Mặc.

Tất cả những biến động trong mấy ngày vỏn vẹn đã nhiều hơn sóng gió suốt cả một đời của những kẻ may mắn còn sống sót.

Nhưng nhìn khí thế bừng bừng như rồng hổ hiện giờ, ai có thể tin được họ đã đi qua từng đó đau thương?

Mảnh đất tôi đang đứng đây là khởi nguồn của họ Trần, nó đã luôn che chở cho họ Trần, hồi sinh những tâm hồn tả tơi vì trận chiến bại kia.

Trong một khắc, tôi chợt thấy mắt mình nhoè nước, trong lòng tràn ngập nỗi tự hào khôn tả.

Tôi nắm lấy tay Quang Khải giơ lên cao, cố hét thật to:

- Sát Thát!

Sát Thát!

Hò reo một hồi lâu, tôi không nhận ra đã có người tiến đến phía sau mình.

Người ấy đợi đến khi tôi đã qua cơn kích động mới nhã nhặn mở lời:

- Cô là Nhã Phong phải không?

Tôi ngơ ngác nhìn người thanh niên chỉ hơn mình vài tuổi, gương mặt có nét rất quen thuộc, vô thức cúi chào cho đúng lễ nghi.

Quang Khải chậm rãi giới thiệu:

- Phong, vị này là Tĩnh Quốc vương, anh trai ta.

Tĩnh Quốc vương Trần Quốc Khang chính là đứa trẻ mà công chúa Thuận Thiên đang mang trong bụng khi trở thành hoàng hậu.

Dòng máu đang chảy trong người vương là của chi Vạn Kiếp, song thân phận lại là hoàng tử đầu tiên của hoàng đế.

Tôi nhìn những đường nét trên gương mặt vương, quả thật có rất nhiều điểm giống lão già nhà tôi.

Anh em họ chắc ít có dịp gặp nhau.

Hưng Đạo vương được công chúa Thuỵ Bà nuôi dưỡng nên ở trong cung, còn lão già nhà tôi lại rất ít khi vào cung.

Để tránh lời ra tiếng vào, tôi đoán chỉ có dịp hội quân này, mấy anh em mới lần đầu ngồi trò chuyện với nhau lâu.

Vương nghe đến tên tôi ắt là qua lời kể của Hưng Đạo vương rồi nổi ý tò mò, muốn từ tôi mà hiểu thêm về người anh ruột thịt của mình.

Tôi đến hành cung ở Hoàng giang cũng được mấy hôm, vương có thể thông qua Quang Khải mà đến gặp tôi nhưng vẫn đợi dịp tụ tập đông đúc này mới ra mặt.

Rốt cục những năm qua, con người có thân phận đặc biệt kia đã phải sống khó khăn thế nào, e dè thế nào, ngó sau nhìn trước thế nào?

- Tĩnh Quốc vương, năm mới an khang! – Trong một lúc tôi không biết phải nói gì với vương, chỉ đành nói mấy lời hoa mỹ khuôn sáo.

- Cô sống ở đây có quen không? – Vương cười hiền. – Hành cung chắc là khác nhiều với Dưỡng Chân trang?

- Bẩm, nơi này thanh tịnh, nước biếc non xanh, không khác Yên Bang là mấy. – Tôi muốn kể nhiều một chút cho ngài nghe, đoạn lại thấy không nên. – Nghe nói thái ấp Độc Lập của Chiêu Minh vương đây mới thật là trù phú, đẹp đẽ.

Tôi nhìn sang Quang Khải đầy ý nghĩa, hắn lập tức hiểu ra, đáp không cần nghĩ:

- Phụng Dương từng ngỏ ý mời Phong và Hưng Ninh vương đến Độc Lập nghỉ ngơi một thời gian sau khi hết giặc.

Nếu anh Tĩnh Quốc không chê thái ấp của em phàm tục, hay là anh cũng cùng đến, em sẽ mở tiệc thết đãi mọi người.

Ánh mắt Tĩnh Quốc vương chợt sáng rồi lấp lánh niềm vui:

- Thế thì hay lắm!

Tôi còn định đưa chuyện đôi câu thì một anh lính từ đâu hớt hải đến, nói thật khẽ như sợ ai nghe thấy:

- Cô Nhã Phong, phiền cô đi một chuyến, có chuyện lớn rồi!

Tôi nhìn sắc mặt xanh lét của anh ta thì thấy ngay sự chẳng lành, toan rời đi ngay.

Tĩnh Quốc vương có ý cùng đi song Quang Khải đã ngăn lại.

Tôi cúi chào vương rồi lập tức đi theo anh lính.

***

Khi bọn tôi đến rừng trúc phía sau hậu viên, quân lính của quốc mẫu đã bao vây tứ phía.

Nhờ có Quang Khải đi cùng nên tôi dễ dàng len được vào trong.

Hai người dân đang bị trói, quỳ một bên.

Một người lính đang nằm sõng soài dưới đất, thoi thóp.

Người lính còn lại ngồi gục đầu, vai run run, bên cạnh anh ta là một thanh ngươm đỏ máu của người kia.

- Chuyện này... là thế nào? – Tôi hỏi anh lính chạy đến báo tin.

- Thưa, đây là cậu Chiến...

- Anh ra lắp bắp rồi trỏ vào người sắp chết, đoạn lấy hết sức thét to như khóc. – Đây là cậu Chiến!

Người tên Chiến là kẻ có mẹ già bệnh nặng nhưng vẫn cắn răng tòng quân.

Nếu tôi nhớ không lầm, vết thương chữa mãi không khỏi trên bụng anh ta là do đỡ cho đồng đội.

Người đồng đội ấy, trớ trêu thay lại đang ngồi bất động kia.

- Đưa anh ta về đi, tôi sẽ cứu được. – Tôi dợn bước đến chỗ anh Chiến nhưng anh lính ngồi bất động đã ngăn lại rất quyết liệt.

- Cô Nhã Phong, anh ấy phản rồi! – Anh ta ngẩng lên nhìn tôi, tròng mắt ngầu đỏ. – Tôi vốn định mang rượu thịt đến chỗ cậu ấy cùng ăn, không ngờ bắt gặp cậu ta lẻn vào rừng gặp bọn chúng. – Anh ta vung tay chỉ thẳng những người bị trói. – Tôi giận quá, sợ bọn họ bỏ trốn nên đã chém mỗi người một nhát.

Cậu Chiến phản rồi!

Những gì vừa nghe thấy khiến tôi choáng váng, không dám tin là thật.

- Cậu điên rồi! – Anh lính đến báo tin xốc áo người nọ. – Cậu Chiến đã mặc kệ mẹ già đang hấp hối mà xông ra sa trường giết giặc, có lý nào lại phản được?

- Tôi nghe bọn kia nói đã mời thầy thuốc đến chữa bệnh cho mẹ cậu ta. – Người lính không ngừng đưa tay quẹt nước mắt, nấc lên từng tiếng. – Ban đầu cậu ta tin quân Đại Việt người đông thế mạnh, chừng vỡ trận rút về đây, cậu ta thất chí rồi, muốn đưa tin cho quân Thát để đổi mạng cho mẹ mình.

Tiếng nói mỗi lúc một nghẹn ngào, anh ta khó khăn lắm mới có thể tiếp tục câu chuyện:

- Tôi và cậu ta cùng lớn lên bên nhau, cậu ta còn cứu tôi một mạng.

Giờ tôi phải chính tay giết chết cậu ta rồi tự sát!

Nói đoạn, anh ta lại cầm gươm xông đến như mất trí.

Mọi người phải cố hết sức mới can ngăn được.

Anh Chiến vẫn nằm yên như thể không còn sự sống, mãi lâu sau, đôi môi khô nứt mấp máy như muốn nói điều gì.

Quang Khải ra hiệu quân sĩ đến đỡ anh ta dậy, bọn tôi ghé sát tai, lắng nghe từng tiếng thì thào:

- Xin vứt tôi xuống sông...

đừng ghi bia mộ... xin đừng...

Rồi bàn tay yếu ớt hoàn toàn buông lỏng, hơi thở cũng không còn.

Anh ta muốn lặng lẽ ra đi, xem như đã vùi thân nơi sa trường như trăm nghìn người lính khác.

Không nỡ để mẹ già nghe thấy cái danh phản quốc của con.

Quang Khải nắm chặt vai tôi đến phát đau, như thầm bảo tôi cố gắng đừng rơi nước mắt.

Tôi khép hờ đôi mi, đưa tay vuốt mắt anh lính khốn khổ rồi lẩm nhẩm đọc một bài kinh siêu độ.

Đến lúc tôi ngước nhìn lên những người đang có mặt, mắt ai nấy đã đỏ hoe, không rõ là giận, là thương hay là không cam lòng.

- Làm theo ý anh ta, vứt xác xuống sông đi. – Quang Khải ra lệnh cho binh sĩ. – Đưa những người còn lại về giao cho thái tử.

Không ai được nhắc đến chuyện này.

Đợi khi mọi người đều đã rời đi, tôi mới hỏi điều mình đang thắc mắc:

- Binh lính của quốc mẫu ở đây rồi, sao ngươi lại giao họ cho thái tử?

- Quốc mẫu sẽ không xét xử đâu, hai kẻ đến nhận tin của cậu Chiến không phải là quân Thát mà chỉ là gia nô của một người trong họ.

- Họ Trần có người muốn hàng sao? – Tôi đưa tay che miệng.

- Cũng không ít đâu. – Quang Khải nhếch mép cười. – Ngay đến nhạc phụ của ta còn có ý muốn nhập Tống đấy thôi.

Cũng còn may, triều đình vẫn có thái sư.

Mọi người hay kể đi kể lại hôm ấy, lúc lòng người đang chao đảo vì thế giặc mạnh bất ngờ, chỉ có thái sư khảng khái tâu rằng: "Đầu thần chưa rơi xuống đất, bệ hạ đừng lo gì khác".

***

Chúng tôi trở lại chỗ mấy người lính vẫn đang say sưa ăn mừng năm mới, giữ nguyên nụ cười để không làm ảnh hưởng sĩ khí vừa mới lên cao.

Tiếng trống, tiếng nhạc vẫn rộn ràng không khác chi thuở còn chưa binh lửa.

Quan gia và bọn nữ quyến đã lui về hành cung, trên đài cao giờ chỉ còn mấy vị vương tử trẻ tuổi đang chơi đá cầu.

Trần Cụ cũng tập tễnh chống gậy đứng trông.

Tôi rất bất ngờ vì ông cụ như hắn lại biết trò vui của bọn trẻ con này.

Xung quanh, bọn gia nô ra sức hò reo cổ vũ cho chủ.

Bỗng một quả cầu rơi xuống trước mặt Trần Cụ, hắn đưa tay bắt lấy.

Nhưng hắn không ném trả ngay mà cầm quả cầu lên xem, đoạn tháo mối dây, chỉnh sửa gì đấy hồi lâu rồi mới buộc lại.

Có một vị vương tử chạy đến, Trần Cụ trao cầu lại bằng cả hai tay.

Người này ném lên đá thử, quả cầu rất đằm, múi nào ban nãy ở trên đến khi rơi xuống đất vẫn nguyên vị trí.

Cả bọn ồ lên thán phục, chạy đến vây quanh tên sư đệ của tôi.

Hắn chậm rãi giảng giải từng câu, hệt như già làng đang kể chuyện cổ tích cho bọn trẻ.

Tôi nhìn bọn họ lại nhớ đến hai người bạn vừa mới giết nhau.

Ở một năm tháng nào đó, hẳn là họ cũng từng ôm vai bá cổ, từng cùng trêu ghẹo một cô gái, cùng chia nhau đến giọt rượu cuối cùng.

Bỗng dưng thèm chút men cay, tôi cầm lấy chén rượu từ tay Quang Khải, bâng quơ hỏi:

- Tĩnh Quốc vương nói thế nào mà thuyết phục được ngươi đưa ta đến gặp?

Hắn giật lại không cho tôi uống, điềm nhiên đưa chén lên miệng nhấp một ngụm, đáp tỉnh rụi:

- Anh ấy nghe nói Hưng Ninh vương đang sủng ái một kẻ bán nam bán nữ nên lo lắng đến hỏi ta thôi.

Tôi lườm hắn.

Tên hoàng tử trẻ tuổi khẽ cười, xoa xoa đầu tôi rồi từ tốn kể:

- Anh Tĩnh Quốc rất đáng thương, từ nhỏ đã luôn phải nhường nhịn thái tử và ta. – Hắn nhìn vào đống lửa đang reo tí tách, giọng càng ngày càng thấp. – Anh ấy là con ruột của trưởng nam họ Trần và trưởng nữ nọ Lý, hoàn toàn có tư cách thừa kế ngai vị nên lúc nào cũng phải sống thu mình.

Đi học sợ hay chữ hơn, luyện kiếm sợ thành thục hơn, bị ai đó trêu là hoàng tử mà tư chất tầm thường cũng chỉ cười cho qua chuyện.

Kỳ thực, trong số anh em bọn ta, anh Tĩnh Quốc mới là người tinh tế, sâu sắc nhất.

Dừng một chốc, hắn kể tiếp:

- Anh ấy vốn không thân thiết với anh em ta, cũng ít qua lại với Hưng Đạo vương, suốt ngày ở yên trong phủ, gảy đàn, đọc sách, sống lặng lẽ như chiếc bóng.

Phụ vương ta dẫu không câu nệ thân phận, dẫu có muốn quan tâm anh ấy như con ruột cũng chỉ có thể thỉnh thoảng ban thưởng nhiều hơn một chút.

- Nhưng xem ra ngài ấy rất quan tâm đến lão già nhà ta. – Tôi cảm thán.

- Hưng Ninh vương ít khi vào cung nên những lần ngồi với nhau, bọn ta hay nhắc.

Anh Tĩnh Quốc tuy không tỏ ra hào hứng nhưng sách kinh, kệ của vương gửi vào được phụ hoàng ban cho, anh ấy đều xem như bảo vật. – Nói đến đây, Quang Khải bật cười. – Ta nghe nói, ở chỗ hội quân trước ngày đánh trận Bình Lệ Nguyên, chính phụ hoàng đã bảo anh Tĩnh Quốc đến chỗ Hưng Ninh vương và Hưng Đạo vương dùng cơm.

Tôi được biết hoàng đế cũng là một người có lòng hướng Phật nên tâm rất từ bi.

Giờ hay chuyện này, tôi càng hiểu vì sao những năm qua, lão già không mảy may oán giận người đã cướp đi mẹ mình, chỉ có cảm thông và kính trọng.

- Quan gia thật có lòng. – Tôi hình dung bữa cơm mà ba anh em lão già ăn cùng nhau, chắc ít nhiều ngượng nghịu, nhưng ấm áp, trong lòng cũng thấy vui vui.

- Ngươi gặp Hưng Ninh vương rồi, chắc là đã thấy vết thương trên tay ông ta? – Quang Khải bất chợt hỏi.

- Thấy rồi, khá nặng.

- Ta nghe kể lại trên đường rút về Thăng Long, khi vượt sông Cà Lồ, Hưng Ninh vương đã cùng Phú Lương hầu dẫn quân bọc hậu cho phụ hoàng và thái tử.

Phú Lương hầu là chú họ của bọn ta, Hưng Ninh vương đã đỡ cho chú ấy một nhát nên mới bị thương như thế.

Phú Lương hầu lệnh cho Đỗ Ngạc đưa Hưng Ninh vương đi trước nhưng tiên sinh nhà ngươi cũng cứng đầu lắm, Đỗ Ngạc thuyết phục ra sao, nhắc đến việc Phạm Cự Chích đã hy sinh để cứu ông ta thế nào, ông ta cũng không đi.

Chuyện đã qua từ lâu, tôi đã gặp lại lão già bằng xương bằng thịt nhưng nghe đến đây vẫn không thôi lo sợ, hỏi dồn:

- Thế lúc ấy phải làm sao?

- Phần lớn quân đội đều đã vượt cầu Phù Lỗ, chỉ còn một ít quân Thánh Dực và quân của Phú Lương hầu.

Khi ấy, anh Tĩnh Quốc cứ thúc ngựa vòng đi vòng lại bên bờ sông, sau cùng không kiềm được, gọi lớn một câu.

- Là câu gì? – Tôi sốt ruột.

- "Anh cả."

Tôi sững sờ, Quang Khải kể đến đây cũng nghẹn giọng.

Trên danh nghĩa, Tĩnh Quốc vương là con ruột của quan gia, chuyện xấu ngày xưa chẳng ai dám nhắc lại nữa.

Tiếng gọi ấy, có lẽ vương đã phải kiềm nén suốt hơn hai mươi năm sống trên đời.

- Cũng may câu nói đó chỉ có mấy người ở gần nghe được.

Vả lại, giữa lúc sinh tử, chẳng ai nỡ bắt tội làm gì. – Quang Khải lại đưa chén rượu lên môi. – Hưng Ninh vương khi ấy mới cắn răng mà vượt sông.

Quân Thánh Dực vừa đặt chân lên hết bờ bên này, Phú Lương hầu đã vung gươm chặt đứt cầu Phù Lỗ rồi hiên ngang xông về phía quân Thát đang đuổi sát nút phía sau, chưa từng ngoảnh lại.

Tôi vươn thẳng lưng, ngước nhìn lên cao để nước mắt không rơi xuống.

Người ta hay nói "tối như đêm ba mươi", song tôi mơ hồ thấy phía trời xa kia có một vệt sáng đang lấp lánh.

Ngôi sao ấy có thể là Phú Lương hầu, là những người lính đã lần lượt ngã xuống kia.

Nhất định họ ở trên cao dõi mắt nhìn lũ trẻ bọn tôi sống thế nào, chiến đấu thế nào.

Nhất định, họ cũng đang cười.
 
Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 33: NHẤT HỒI PHÓNG HẠ, NHẤT HỒI CAO [1]


Tôi cứ ngỡ mình đã quen với cảnh đầu rơi máu chảy và những cuộc sinh ly tử biệt, hoá ra cái chết của người lính tên Chiến vẫn ám ảnh trong giấc ngủ nhiều đêm sau đó.

Tôi không ngừng mơ thấy cụ Đảm, bác Thôi và những người đã ngã xuống trước mắt tôi.

Bên tai tôi luôn ít nhiều văng vẳng tiếng thét xung trận của Nguyễn Nam, của Phú Lương hầu và trăm nghìn binh sĩ mà tôi chưa từng gặp mặt.

Tôi còn trông thấy chị tôi, thấy anh Thân, thấy sư ông Phúc Đường... mọi người cứ đi mỗi lúc một xa, tôi gọi thế nào cũng không ngoái đầu nhìn.

Mỗi lần như thế, tôi đều không ngủ lại được.

Co ro nằm sát mép giường, tôi rúc sâu trong chăn, cố hình dung hơi ấm của lão già ở cạnh bên để trấn tĩnh.

Thế nhưng, nghĩ đến lão, tôi chỉ nhớ đến những câu chuyện Quang Khải đã kể tôi nghe, về lần lão bị thương nặng đến mức không dám về nhà năm ngoái, về việc lão liều mạng muốn ở lại đồng sinh cộng tử với Phú Lương hầu.

Sau mỗi người lính đều có gia đình, có thầy mẹ, vợ con, đều có thứ khiến họ lưu luyến mà một lòng muốn sống.

Lão già của tôi, phụ mẫu đều thác từ lâu, vợ chỉ là danh nghĩa, không con không cái, lão lại là người coi nhẹ việc sinh – tử, thế nên trước giờ tôi luôn không dám nghĩ xa hơn, chỉ mong lão nghĩ đến thân phận chủ tướng, dưới trướng còn bao nhiêu binh sĩ trông đợi mà thương tiếc sinh mạng mình.

Kể ra, tôi cũng giống như lão, không còn ai là máu mủ trên đời.

Lão còn có Hưng Đạo vương, công chúa Thiều là anh em cùng cha, có họ Trần là thân thích dẫu không quá mặn mà, có địa vị tôn quý, có cả một sự nghiệp Phật học rực rỡ.

Còn tôi, những mối quan hệ xung quanh tôi hiện tại đều nhờ lão mà có: chị gái tôi, những người bạn ở Dưỡng Chân trang, Quang Khải, Trần Cụ, những người lính quân Thánh Dực.

Thế nhưng tôi lại thiết tha quá với cuộc đời này, mà lão không phải là lý do duy nhất.

Càng lớn, càng trải qua nhiều chuyện, tôi càng nhận ra thế giới của tôi và lão không chỉ có mỗi nhau.

Lão hay tôi càng không thể chỉ sống vì đối phương.

Song, trong hoàn cảnh thế này, tôi hy vọng biết bao ít nhất lão có thể nghĩ đến tôi mà dù thế nào cũng phải sống sót, phải bình an.

Tôi biết lão thương tôi, xót tôi, có thể làm mọi thứ để bảo vệ tôi, nhưng tôi cũng biết mình chẳng thể làm gì để giữ chặt dẫu là đôi chân, hay là sinh mạng lão.

Sau đêm khao quân, lính canh báo lại rằng trông thấy khói hiệu từ phía đông Cổ Mai.

Quan gia liền ban chiếu lệnh chuẩn bị tiến về chiếm lại Thăng Long nên không khí chiến đấu càng rộn ràng.

Điều đặc biệt duy nhất gợi cho chúng tôi nhớ về việc năm mới sắp sang có lẽ là hương lá xông phảng phất khắp hành cung và hậu viên mà các cung nhân đã cất công chuẩn bị để xua đi mùi áo giáp, binh khí lạnh lẽo.

Đi đến đâu cũng ngửi thấy mùi trầm, quế, vỏ bưởi mà ấm cả lòng.

Công chúa Thiều còn dặn bọn tôi phải kiêng cữ, chỉ được nói lời hay ý đẹp.

Thành thử trong mấy ngày sau đó, tai của bọn giặc được yên ổn hơn đôi chút vì mọi người chỉ nhắc đến năm mới, đến đoàn viên, đến những hy vọng tràn đầy.

Nhìn mọi người hăng hái, vui tươi như thế, khói hiệu từ quân Thánh Dực cho tôi biết lão già vẫn an toàn, lại thêm Nhật Duật thỉnh thoảng đến chơi cùng, tinh thần của tôi cũng được xốc lại phần nào dù đêm đến vẫn khó ngủ tròn giấc.

Tôi chợt thấm thía cái ý nghĩa của năm mới mà lão già đã dạy, rằng người ta chỉ cần còn sống và còn một cột mốc trong tinh thần là đủ để bắt đầu lại, tin tưởng và mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Độc túc tráng sĩ của tôi cùng rất nhiều người lính đã không thể giữ được cả hai điều này.

Chốc chốc nhớ đến lời hứa nấu nước lá thơm gội tóc cho cụ Đảm, tôi lại cố gạt đi để khỏi buồn não ruột.

Sau đó một hôm, thái tử đến đúng lúc tôi đang hầu chuyện công chúa Thiều.

Ngài hỏi han, dặn dò hồi lâu với em gái của lão già.

Đúng lúc tôi toan tìm cớ tránh đi để khỏi phiền họ thì ngài liền hỏi đến:

- Ta nghe Chiêu Minh khen ngợi cô là truyền nhân ưng ý nhất của Hưng Ninh vương.

Có việc này tin là không ai thích hợp hơn cô. – Ngài nói.

- Xin thái tử cứ dạy việc, Nhã Phong dù chết cũng không từ. – Tôi khảng khái quỳ xuống đáp, trong lòng khấp khởi mừng thầm.

Hôm qua tôi có tâm sự với Quang Khải việc mình khó ngủ vì lo lắng mãi cho an nguy của lão già, van nài hắn giúp tôi chuyển lời đến Tĩnh Quốc vương rằng nếu ngài có theo quan gia xuất trận thì cho tôi một chân trong quân để có thể nhanh chóng đến gần lão.

Tôi đoan chắc hắn sẽ mắng tôi ra trò vì thân lừa ưa nặng, chẳng ngờ hắn trầm ngâm giây lâu rồi nhận lời ngay.

Ngạc nhiên hơn, thay vì ngỏ lời với Tĩnh Quốc vương, hắn đã tiến cử tôi cho người có quyền lực chỉ đứng thứ hai hiện giờ của đất nước này.

Vai tôi khẽ run vì cố nhịn cười, thỉnh thoảng, tên bằng hữu này lại khiến tôi xúc động đến rơi nước mắt.

- Từ hôm nay đến lúc giặc Thát ra khỏi biên cương...

- Thái tử thong thả, tim tôi cũng chậm rãi đập từng tiếng theo tốc độ nói của ngài. – Phiền cô đến ở điện thờ trông coi việc khói hương và tế bái liên tục để cầu cho quân ta chiến thắng.

Trong sự ngỡ ngàng, đầu tôi từ cúi rất thấp đã cắm thẳng xuống sàn đánh cộp một tiếng.

Trần Cụ đến từ lúc nào, vội vã đến đỡ tôi đứng dậy, luôn mồm hỏi:

- Cô Nhã Phong có đau không?

Quang Khải cũng vừa bước vào, mặt nhơn nhơn tự đắc như thể vừa lập được đại công.

Tôi mặc kệ hắn, nhìn quanh quất tìm thái tử để xin ngài giao nhiệm vụ khác.

- Đừng tìm nữa, thấy ngươi ngoan ngoãn dập đầu nhận mệnh nên anh ấy hài lòng lắm, đi rồi. – Tên Chiêu Minh vương đáng hận cười nửa miệng, trỏ trỏ tay ra cửa.

Tôi vùng ra khỏi tay Trần Cụ, lao đến bóp cổ Quang Khải không thương tiếc, mặc kệ xung quanh có bao nhiêu người, mặc kệ thân phận và lễ nghĩa.

Hắn chống trả một cách yếu ớt vì còn mãi cười khùng khục.

- Cô Nhã Phong!

Ngài ấy là hoàng tử đấy! – Trần Cụ và mấy người hầu có mặt thảng thốt kêu lên rồi lao đến kéo tôi ra.

- Không... phải...

ý... của... ta...

- Quang Khải cố chống chế.

- Nhã Phong, bình tĩnh lại! – Công chúa Thiều cũng lo lắng can ngăn.

Đến khi thấm mệt vì giằng co, tôi bước lùi về sau.

Mọi người thận trọng buông tôi ra như thể sợ tôi sẽ lại lao vào giết Chiêu Minh vương của họ.

Tôi hất hàm, ra lệnh cho Quang Khải giải thích nhanh nếu muốn toàn mạng.

Hắn đưa ngón tay lên môi tỏ ý giữ im lặng, đoạn khoát khoát tay ra hiệu cho mọi người lui cả đi.

Công chúa Thiều và bọn Trần Cụ ngần ngại mãi mới bước khỏi phòng, không quên vừa đi vừa lo lắng ngoái lại trông.

- Hung hăng phết. – Đợi mọi người đi hết, hắn mới xoa xoa chiếc cổ đã đỏ ửng. – Ngươi được thả ra có khi sẽ cắn chết giặc trong một sớm một chiều, sao bọn họ phải lao tâm khổ tứ làm gì.

- Bọn họ? – Tôi nhếch mép lạnh lùng. – Đừng nghĩ nói như thế thì có thể thoát cái tội ăn nói hai lời, ném đá giấu tay, tham sang phụ khó, được chim bẻ ná được cá quên nôm, gió chiều nào theo chiều ấy...

Tôi nói một hơi khiến Quang Khải bật cười.

Hắn ung dung bước đến rót hai chén nước chè, đưa một chén đến trước mặt tôi.

Bị tôi liếc trông bằng ánh mắt sắc lẻm, hắn vẫn cười cười, tôi hậm hực cầm lấy chén nước chè nhưng chẳng buồn xơi vì mãi đợi hắn giải thích xem có lọt tai không.

- Đúng là bản vương thấy ngươi kiếm thuật tầm thường, mưu kế tầm phào, không muốn ngươi tự đâm đầu vào chỗ chết.

Song, bản vương thực sự đã đi tìm anh Tĩnh Quốc như lời hứa với ngươi.

- Tìm Tĩnh Quốc vương mà người đến đây là thái tử, lại còn "nghe Chiêu Minh nói"...? – Tôi nghiến răng ken két.

- Ta định bàn với anh ấy cách nào để ngăn cản ngươi, không ngờ anh ấy đã có sẵn kế sách rồi.

Quai hàm của tôi đang nghiến chặt chuyển sang đông cứng.

Hành vi đó không thể nào là của người đàn ông sống thu mình, khiêm cung, nhẫn nhịn hơn hai mươi năm.

Chỉ có thể là...

- Lúc mấy anh em gặp nhau, Hưng Ninh vương đã nhờ ngài ấy trông chừng nếu gặp ta có phải không? – Tôi lạnh lùng.

Quang Khải vỗ tay từng tiếng, trầm trồ:

- Hung hãn thế kia, đầu óc nhanh nhạy thế này, lão già của ngươi không cho ngươi ra trận quả là đáng tiếc!

Tôi nắm chặt chén nước chè trong tay đến phát run, mặc kệ tên bạn chí cốt vẫn lải nhải bên tai:

- Bản vương làm ơn mà mắc oán.

Giờ ngươi đã thấy mình sai chưa, còn không mau quỳ xuống tạ tội với đức ông đây...

Cái chén bị đấm mạnh xuống bàn thành một tiếng "rầm" rất lớn.

Lửa giận trong lòng tôi càng quạt càng cháy lớn, cuối cùng, tôi ngửa mặt lên trời, hét:

- Trần Tung, người giỏi lắm!

***

Phía tây hành cung, vùng đất cao nhất một mặt giáp núi có xây một Phật điện rất trang nghiêm.

Thường ngày, nơi này được coi sóc bởi mấy vị tỳ kheo và những cung nhân mộ đạo.

Tôi dẫn theo Trần Cụ đến bày biện lại đôi chút, soạn lễ cúng dường để cầu phúc cho dân và cho chiến thắng của quân ta theo lệnh thái tử.

Hoàng tộc họ Trần nhiều người hướng Phật, song tôi vẫn được họ tín nhiệm, phần vì uy tín của lão già, phần vì tôi có thể đối đáp Phật lý trơn tru hàng canh giờ với bất kỳ ai trong số họ nhờ nhiều năm liền chép kinh chịu phạt.

- Biết ngay là ngươi lười nhác trốn việc, bỏ lại mọi thứ cho gã thương binh Trần Cụ. – Quang Khải ngồi xổm trước mặt tôi, giễu nhại.

- Chốn này linh thiêng, xin Chiêu Minh vương chớ có lấy dạ tiểu nhân đo lòng quân tử mà đắc tội với Phật Trời. – Tôi đáp, không buồn ngẩng mặt lên.

- Ta vừa đến đã thấy tên sư đệ khốn khổ của ngươi một tay sửa sang hoa đèn, lại đứng một bên hầu, chừng khách đã khấn xong lại cung kính bước đến xin hương rồi tự tay cắm vào đỉnh.

Nơi này đâu có thiếu người để một kẻ vết thương còn chưa kéo da non như hắn đi làm việc ấy? – Quang Khải có vẻ như rất tức giận, rất chính nghĩa. – Dẫu gì thì ngươi cũng do bản vương tiến cử, đừng làm mất mặt ta.

Tôi hậm hực đập tay xuống nền đất, vểnh cổ nhìn Quang Khải:

- Uổng cho ngươi đã bỏ thì giờ đàm đạo với sư đệ của ta bấy lâu nay.

- Nói thế là ý gì? – Quang Khải hỏi.

- Ngươi thấy Trần Cụ chật vật đi lại dâng hương, thế đã bước đến mà nhìn số hương cắm trong đỉnh chưa?

Tên bằng hữu của tôi chậm chạp lắc đầu.

Tôi cười khẩy, vừa nói vừa vung tay phụ hoạ:

- Mỗi cây đều cắm thẳng đứng, cách đều tăm tắp, đến cả phần hương cháy tàn cũng cong đều như nhau không dài không ngắn.

Ông đây tự thẹn không có bản lĩnh ấy, chen vào chỉ tổ khiến lễ cúng mất cả thành tâm.

Ngươi có giỏi thì đi mà giúp một tay.

Trong lúc Quang Khải còn ngơ ngác, tôi nói tiếp:

- Hắn đã có cả pháp danh rồi, chỉ đợi ngày xuất gia thôi?

- Gọi là gì?

- Thích.

Đối.

Xứng.

Quang Khải như chợt tỉnh, phá lên cười.

Tôi vẫn nhếch mép khinh khỉnh, tiếp tục việc đang làm dở.

Một lúc sau, tôi chợt nhớ ra điều mình vẫn đợi hắn đến để báo cho mà biết:

- Trầm và hương dùng cho hoàng tộc là của nơi nào thế?

- Sao hôm nay ngươi quan tâm đến việc này?

- Ta ngờ rằng đó không phải là hàng tốt. – Tôi nhỏ giọng, đưa tay áo đến gần mũi hắn. – Ngươi ngửi thử xem, mùi hương hoàn toàn khác với hương trầm bám trên người lão già nhà ta.

Mùi hương lão dùng dễ chịu và bình yên hơn nhiều.

Lần này đến lượt Quang Khải nhếch mép cười đầy vẻ xem thường.

Tôi không hiểu lý do đằng sau nụ cười của hắn, song lại nghĩ biết đâu truy cùng đuổi tận sẽ vô tình gây hoạ cho những kẻ liên quan, đành tự nhủ mình phải từ bi mà nói sang việc khác.

- Ta nghe nói ngày mai sẽ xuất binh, Chiêu Minh vương rỗi việc lắm sao mà đến đây chọc phá ta?

- Quên mất, ta đến cùng thái tử, anh ấy tìm ngươi có việc. – Quang Khải chỉ chỉ tay về phía chính điện.

Tôi đứng phắt dậy, ba chân bốn cẳng chạy ra ngoài, mồm vẫn không quên trách móc:

- Lần sau ngươi đợi mộ ta xanh cỏ rồi hãy báo.

Khi tôi ra đến sân trước, công chúa nhà tôi đã thay tôi hầu chuyện thái tử tự bao giờ.

Tôi ngoảnh ra sau nhìn, Quang Khải nhún nhún vai rất vô tội như để giải thích cho thái độ cà kê ban nãy.

Nhác thấy tôi, thái tử liền vẫy tay gọi đến.

- Quả nhiên việc này chỉ có thể giao cho cô. – Ngài mỉm cười hiền từ, khen ngợi.

- Bẩm, chẳng qua Nhã Phong đã quen việc lúc còn ở Dưỡng Chân trang, cũng nhờ tiên sinh nhà tôi dạy bảo đến nơi đến chốn. – Tôi cúi mặt, khiêm tốn đáp.

- Ta nghe kể lại lúc ở bộ đầu Triều Đông, Hưng Ninh vương đã dùng sự nhiệm màu của Phật pháp khiến cho bọn giặc thất kinh. – Thái tử nói, mắt hướng về ban thờ được Trần Cụ bày biện rất tươm tất với những đĩa hoa có sắc có hương vô cùng tao nhã. – Ta tin cô cũng hiểu lễ cúng hôm nay và ngày mai không đơn giản chỉ để nhờ thần linh phù hộ...

- Xin thái tử cứ dạy việc. – Tôi lễ phép thưa.

- Trước lúc ra quân, ta cũng muốn học theo cách của tiên sinh nhà cô, mượn sự linh thiêng làm nức lòng tướng sĩ. – Ngài cười. – Tin rằng việc này với cô dễ như trở bàn tay.

- Thái tử chê cười rồi, quá lời rồi! – Tôi vẫn cúi mặt nên không cần giấu nụ cười đắc chí. – Thỉnh ngài dời bước đến sau Phật điện sẽ thấy huyền cơ.

Tôi đi trước dẫn đường, ngang qua Quang Khải, không quên nháy mắt với hắn.

Khi thái tử đến, sân sau đã đầy những đồng tiền có hai mặt giống hệt nhau, phản chiếu ráng chiều lấp lánh.

***

Buổi sáng ngày xuất quân, trời xanh trong biêng biếc, gió lồng lộng và nắng vàng như rót mật.

Bên bến sông ngày thường trầm mặc, đoàn lâu thuyền sừng sững nối đuôi nhau về tận cuối trời, chim hót rộn ràng như nhạc khúc, quân kỳ đủ sắc màu bay phần phật tựa muốn góp lời ca.

Toàn thể hoàng tộc và các tướng lĩnh có chức vụ cao nhất lần lượt tề tựu trước tế đàn đặt ngoài trời, ngay trước điện thờ, xôn xao bàn tán.

Trên vách đá cao, những đường nét mô tả hình dáng đấng Thế Tôn sừng sững hiện ra trước sự ngỡ ngàng của mọi người.

Mới tối hôm qua, vách đá này còn bị che khuất bởi một tàn cây.

Tôi không rõ thái tử đã cho người âm thầm chuẩn bị việc này từ lúc đến hành cung, hay đây là tác phẩm của quan gia từ rất lâu về trước, ngay lúc bắt đầu xây dựng phật điện ở vị trí này.

Chỉ biết, giữa đêm qua, tôi đã giật mình tỉnh giấc vì tiếng động khá lớn khi cả gốc cây bị nhổ bật lên.

- Đây là điềm lành! – Có người lên tiếng.

- Chúng ta chiến đấu vì chính nghĩa!

Phật tổ cũng đứng về phía ta rồi! – Ai đó reo lên, rồi mọi người đồng loạt reo lên.

- Tất thắng!

Tất thắng!

Đứng bên trong nhìn ra, quan gia và thái tử hài lòng nở nụ cười.

Tôi, Quang Khải và Trần Cụ cũng mỉm cười thích thú.

Bỗng có kẻ hầu đến tâu rất khẽ:

- Công chúa nhờ người chuyển đến cho quan gia và ngự sử trung tướng, chúc hai vị sớm khải hoàn ạ.

Ngự sử trung tướng đứng ngay cạnh hoàng đế, hai người lặng lẽ nhìn nhau rồi nhìn xuống hộp gỗ nhỏ đang mở trên tay: hai tua vải buộc chuôi gươm giống hệt nhau màu đỏ rực được kết rất công phu.

Quan gia đưa một cái cho ngự sử trung tướng, ánh mắt thoáng xa xăm rồi ngay lập tức trở lại sáng rực, nhìn về phía ba quân vẫn đang sôi nổi vì điềm lành được thần linh bảo hộ.

- "Công chúa" nào ngươi có biết không? – Tôi khẽ hỏi Quang Khải.

- Công chúa tiền triều. – Hắn thấp giọng đáp. – Ta nghe kể thuở nhỏ, ba người họ từng rất thân thiết, hiểu ý nhau.

Bà ấy cũng đang ở Hoàng giang.

Hắn đang nói đến công chúa Chiêu Thánh triều Lý, em gái của công chúa Thuận Thiên, người đã từng là nữ đế tiền triều rồi bị buộc phải nhường ngôi, mang triều đình đổi họ cho chồng, trở thành hoàng hậu rồi thành phế hậu.

Những năm qua, nghe nói bà ấy đã đi tu ở một ngôi chùa gần kinh thành.

Lẽ nào là Phật pháp nhiệm màu, xoá được những oán hận trong lòng bà ấy để hôm nay bà có thể đường hoàng đưa lễ vật cho người chồng đã vô tình hay cố ý ruồng bỏ mình, cướp lấy vương vị của mình, phá vỡ gia đình của chị mình?

Mãi nghĩ về những việc này, tôi không nhận ra công chúa Thiều nhà tôi đã kéo thái tử sang góc ít người trông thấy, thèn thẹn trao tín vật gì đấy.

Nhìn một vòng quanh sân, ai nấy đều có người thân lưu luyến tiễn đưa hoặc nhiệt tình động viên, chỉ có Tĩnh Quốc vương lặng lẽ đứng một góc, theo sau là hai người tì thiếp cũng nhút nhát cúi đầu.

Tôi thấy chạnh lòng rồi chợt nhớ ra, bảo Quang Khải:

- Ta về phòng lấy một vật, nếu thái tử có hỏi thì ngươi nói giúp là ta sẽ quay lại ngay.

Tôi sải bước về phòng mình, lục tìm chiếc khăn có thêu hình đoá mộc lan.

Đoạn, nghĩ rằng tặng khăn sẽ khiến người khác hiểu lầm, tôi vớ ngay mấy chiếc bánh bày trên đĩa, dùng khăn gói lại, vội vội vàng vàng quay trở lại chỗ tế đàn.

Bước chậm vài nhịp để điều hoà hơi thở, tôi nhân lúc không ai để ý, tiến lại gần Tĩnh Quốc vương:

- Nhã Phong có làm ít bánh quê, ngài mang theo đi đường cho khỏi buồn miệng.

Tĩnh Quốc vương còn đang chưa hiểu chuyện gì, tôi đã nhanh chóng lật phần có hình đoá hoa lên cho vương thấy, nói liền:

- Mong ngài bình an, thắng trận trở về.

Cũng may, ngài ấy hiểu ý tôi muốn thay mẹ ngài động viên con nên chỉ thoáng xúc động rồi mỉm cười thật buồn:

- Cảm ơn cô.

Xung quanh, tướng sĩ bắt đầu khua giáo gươm reo hò inh ỏi, tôi nhanh chóng len vào đám người để đến gần tế đàn, trở lại chỗ đứng cạnh Quang Khải.

- Cứ tưởng ngươi lẻn đi đánh ngất một binh sĩ để cướp áo giáp của người ta rồi.

- Ông đây mà muốn thì cứ đường đường chính chính vào quân. – Tôi cười nhạt. – Nhưng ta nhận ra việc mình có thể làm hay ho hơn nhiều so với múa giáo vung gươm.

Chúng tôi không nói gì thêm vì bốn bề đã lặng yên, chỉ còn tiếng gió và tiếng chim rộn rã.

Trên đài cao, quan gia, thái tử và thái sư đã đứng ở nơi trang trọng nhất.

[1] Trích bài thơ Chiếu thân của Tuệ Trung Thượng sĩ:

"Tiêu đầu lạn ngạch bị kim bào,

Ngũ thất niên gian thị xưởng tào.

Túng dã siêu quần kiêm bạt tuỵ,

Nhất hồi phóng hạ nhất hồi cao."

(Dịch nghĩa:

Cháy đầu bỏng trán, thì được mặc áo bào vàng,

Còn mình năm bảy năm nay vẫn ở nơi xay giã.

Nếu là bậc siêu quần xuất chúng,

Thì cứ mỗi lần hạ xuống lại một lần lên cao.)
 
Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 34: HỒN TỬ SĨ GIÓ Ù Ù THỔI [1]


Đây là lần đầu tiên tôi trông thấy thái sư Trần Thủ Độ ở một khoảng cách gần như thế.

Trước đây, những gì tôi từng nghe về ông ta chỉ là vài lần người ở Dưỡng Chân Trang và phủ an phủ sứ vô tình nhắc đến.

Lão già không muốn nghe đến cái tên này nên mọi người tránh mãi cũng thành quen.

Tôi luôn tin người khiến lão già nhà tôi không muốn nhắc hẳn phải là kẻ chẳng tốt đẹp gì.

Từ khi biết cụ Lý Đảm, tôi càng nghe nhiều hơn về những hành vi tàn nhẫn của ông ta, về việc ông ta đã góp phần khiến nhà Lý suy tàn thế nào, khiến công chúa Thuận Thiên đau khổ và độc túc tráng sĩ của tôi day dứt suốt bao năm ra sao.

Tôi cứ hình dung ông ta là một kẻ nhỏ người, mắt xếch, lưng cong, trong đầu chỉ có mưu ma chước quỷ.

Những ngày ở Hoàng giang, những tôn thất họ Trần lại kể cho tôi nghe về một Trần Thủ Độ hoàn toàn khác.

Họ kể ngày quan gia còn bé, có kẻ vào gặp vua khóc lóc bảo rằng: "Bệ hạ còn thơ ấu mà Thủ Độ quyền át cả vua, xã tắc rồi sẽ ra sao?".

Quan gia đem kẻ ấy đến trước mặt thái sư, ông ta không do dự bảo: "Đúng như những lời hắn nói", rồi lấy tiền lụa ban cho y.

Họ nhắc lần quốc mẫu ngồi kiệu đi qua thềm cấm bị quân hiệu ngăn lại, về khóc than với thái sư vì bị khinh nhờn, thái sư chẳng những không xét tội mà còn khen thưởng cho người quân hiệu ấy.

Họ bảo ngày giặc Thát tràn sang, thế như chẻ tre, cả triều đình chỉ có thái sư kiên định bảo vua đừng lo gì cả.

Giờ, trước mắt tôi là một người đàn ông tuổi quá lục tuần song vẫn tráng kiện, vai rộng, lưng thẳng, gương mặt quắc thước và đôi mắt sáng như sao nhìn thẳng ba quân, bàn tay rắn rỏi nắm thành đấm, dáng vẻ anh hùng chẳng kém những vị tướng lẫy lừng được ngợi ca trong cổ thi và sử sách.

- Nhã Phong, hóa ra khăn tay em thêu là để tặng anh Tĩnh Quốc ư?

- Công chúa Thiều nói nhỏ vào tai làm tôi giật bắn người, trông nàng có vẻ rất lo lắng.

- Cô... thấy rồi ạ?

- Tôi lắp bắp, không biết phải giải thích thế nào, chỉ sợ công chúa hiểu lầm.

- Đó là chiếc thêu hỏng ạ.

- Nhật Duật chen ngang.

- Trong phòng chị Phong có hơn chục cái vì thêu đi thêu lại mãi không thành đấy.

- Suỵt.

- Quang Khải ra hiệu cho chúng tôi tập trung về phía đài cao vì lễ tế sắp bắt đầu.

Quan gia đứng giữa đàn, thái tử và thái sư đứng hai bên tả hữu, nghiêm cẩn thực hiện nghi thức tế trời.

Tướng sĩ và tôn thất bốn bề cũng quỳ sụp để tỏ lòng thành kính.

Khi hương đã được cắm thẳng tắp trên chiếc lư đồng lớn, một người cung nhân khẽ khàng dâng lên chiếc khay dát vàng chứa những đồng tiền mà tôi chuẩn bị sẵn.

Thái tử nâng khay, dõng dạc nói với toàn quân:

- Phật Trời chứng giám, tổ tiên linh hiển, một lần xuất chinh quét sạch xâm lăng.

Nếu trận này toàn thắng, xin cho mặt ngửa của tất cả đồng xu hướng lên trời.

Nói đoạn, ngài hất mạnh khay để tung những đồng xu lên cao.

Dưới ánh nắng sớm, những đồng tiền lấp lánh sáng rực như hy vọng của tất cả chúng tôi lúc này.

Một lần nữa, tứ phía đột nhiên im lặng, tất thảy mọi người nín thở dõi theo.

Leng keng.

Leng keng.

Một đồng, hai đồng đầu tiên chạm đất.

Rồi tất cả những đồng xu rơi xuống đất, nảy lên vài lần, xoay tròn vài lần nữa.

- Ngửa!

Là mặt ngửa!

- Một người reo lên.

- Ở đây cũng ngửa!

- Một góc khác reo lên.

- Tất cả đều là mặt ngửa!

Tất cả đều là mặt ngửa!

Phật Trời phù hộ!

Tổ tiên phù hộ!

- Tất cả mọi người hồ hởi reo lên, tiếng giáo gươm khua rộn rã.

Thái tử nhìn về phía tôi, tôi khẽ cúi đầu, ngài mỉm cười rồi lại hài lòng nhìn khắp lượt.

Trên đài cao, thái sư nắm chặt dùi trống, đánh thật mạnh, từng tiếng vang thẳng vào lòng mỗi người đang có mặt.

- Sát Thát!

- Sát Thát!

- Sát Thát!

Mỗi một tiếng trống vang lên là một tiếng hô.

Tôi không nhận ra mình đã hòa giọng với mọi người tự lúc nào.

Thái sư càng đánh càng say, tiếng trống rất có hồn, vang vào đá, tưởng như hồn thiêng núi sông nghìn năm qua đồng vọng.

Tôi thấy lòng mình run rẩy liên hồi hệt như tấm da bò căng trên mặt trống.

Trong lúc nhìn khắp những gương mặt rừng rực lửa quyết tâm, đứng trước Phật đường đòi chém đòi giết mà vẫn bừng bừng chính khí, mắt tôi chạm đến bức tượng hộ pháp dữ tợn, bất giác mỉm cười.

- Cười cái gì?

- Quang Khải hỏi.

- Đó là Tiêu Diện Đại sĩ.

- Tôi nói, mắt vẫn nhìn vào cái miệng rộng lởm chởm răng nanh và chiếc lưỡi dài của bức tượng.

- Lúc bé nhìn ông Ác thần ấy ta sợ đến khóc thét.

Sau này, lão già dạy ta, ông ấy cũng là một vị Bồ tát.

Không phải lúc nào cái hiền lành, từ bi cũng giáo hóa được người mà lắm khi phải cần đến những hình tướng hung bạo để đàn áp, chế ngự, đưa người về nẻo ngay, chống lại cái tàn ác, bảo vệ cho những sinh linh yếu ớt.

Giờ nhìn ông ấy ta lại thấy bình yên.

Quang Khải nghe xong, cười cười không đáp.

Mắt hắn vẫn dõi theo những gì đang diễn ra trên đàn tế.

Tiếng trống xung trận chưa dứt, tiếng mọi người hô to câu giết giặc cũng lặp đi lặp lại mãi, càng lúc càng hùng hổ.

- Chúng ta cũng đi thôi.

- Tay Quang Khải đột nhiên đặt lên một bên vai tôi, nắm chặt.

- Bản vương không thể đứng nhìn ngươi lập công hết lần này đến lần khác mà ta lại chẳng làm gì được.

Tôi quay sang tên bằng hữu, nhìn mãi cũng không tìm thấy một vẻ bông đùa nào.

Hắn là người luôn ngăn cản, khuyên bảo tôi, song hắn cũng vẫn là một chàng trai mới lớn, nhiệt huyết tràn đầy, kiêu hãnh ngút trời.

Được lời như cởi tấm lòng, tôi ung dung đấm nhẹ vào ngực hắn hệt như động tác lão già thường làm với thuộc hạ:

- Đi thôi!

---

Khi thấy Quang Khải dắt theo tôi lên lâu thuyền, thái tử chỉ nhìn nhìn mà không nói thêm gì khác.

Riêng Tĩnh Quốc vương thì thở dài một tiếng, đoạn ân cần bảo:

- Hai người nhớ tìm chỗ an toàn mà nấp đấy.

- Vâng ạ!

- Chúng tôi đồng thanh đáp rất ngoan ngoãn rồi nhìn nhau cười sảng khoái.

Ngày đó, trước sân đền uy nghi diễn ra hội thề Đồng Cổ, bọn tôi đã cạn chén rượu kết giao.

Ngày đó, không đứa nào thề thốt câu gì nhưng trong lòng mỗi người đều đã đoan chắc một lời, đời này, kiếp này vinh nhục cùng chia, sinh tử không rời.

Tiếng trống trận của thái sư vẫn còn vang rộn rã đến giờ.

Đi theo tôi có cả những người lính của Nguyễn Nam và mấy anh lính quân Thánh Dực, có cả Trần Cụ.

Tôi không nỡ ngăn cản vì biết họ cũng như tôi.

Quang Khải cũng chẳng có thì giờ từ biệt thê thiếp, chỉ kịp ngoái lại nhìn Phụng Dương và nhận được một nụ cười rất đẹp của nàng.

Nhật Duật đuổi sau, nằng nặc đòi đi cùng chúng tôi, may mà Quang Khải nhanh trí trỏ về đám nữ quyến đứng đằng xa:

- Nhật Duật không có ở đây, ai sẽ thay ta bảo vệ cho các cô, các chị?

Cậu bé nhìn theo tay Quang Khải, ngẫm nghĩ giây lâu, đoạn quả quyết tự đấm vào ngực mình:

- Được, hai người cứ yên lòng đánh giặc.

Ở đây đã có Duật lo!

Chúng tôi mỉm cười với hoàng tử bé rồi vội vã lên thuyền.

Lúc ấy, quốc mẫu - phu nhân của thái sư - đã đến trấn an mấy vị công chúa, mệnh phụ nên tuyệt không có một ai dám tỏ ra mềm yếu.

Nước sông hôm nay chảy xiết hơn mọi ngày, cuộn đỏ phù sa.

Người trạo phu trưởng bỗng dưng nhìn xuống dòng nước đục ngầu, nói lớn:

- Chịu khó ồn một chút nhé, hôm nay bọn tôi phải chèo thật lực!

Lời vừa dứt, hàng chục, hàng trăm mái chèo đồng loạt quạt mạnh, nước sông xao động dữ dội như sóng ngoài biển lớn.

Dưới lòng sông này, rất nhiều người lính đang yên nghỉ.

Nước đỏ như màu máu, cuồn cuộn như lời thúc giục của người khuất mặt.

Thuyền ra khơi rất nhanh, buồm và cờ đều no gió.

Thái sư không ra trận cùng chúng tôi, ông ấy dùng tiếng trống thay cho lệnh xuất quân, dõi theo chúng tôi mãi đến khi thuyền đã ra giữa dòng.

Thái sư vẫn đứng trên đàn tế, tựa một cột trụ dù trời có sập xuống cũng chẳng mảy may dời đổi, phía sau mỗi người con họ Trần, nửa như động viên lại nửa như răn dạy, không cho phép chúng tôi ngã xuống hay lùi bước.

Xuôi dòng nước, xuôi chiều gió, đoàn chiến thuyền sừng sững lướt như bay qua những khúc sông mà tôi từng ngỡ dài như vô tận, qua ngọn đồi nhỏ tôi gặp lại Quang Khải, qua cánh rừng Trần Cụ anh dũng chiến đấu với giặc.

Chẳng mấy chốc, trời vừa xế, Thăng Long đã thấp thoáng trong tầm mắt.

Trần Cụ tìm đâu ra một tấm áo giáp đưa cho tôi, vì không quen nên chật vật mãi tôi mới mặc xong.

Bước ra, Quang Khải cũng sẵn sàng khí giới, nhìn tôi đoạn hất hàm cười:

- Tên sư đệ của ngươi cũng nhiễu sự thật, ta nghĩ ngươi không mang giáp nặng còn chạy nhanh hơn, sống lâu hơn được một tí.

Tôi lườm hắn rồi cười mà không buồn đáp.

Quang Khải cũng phì cười.

Vừa hay, thái tử cho người đến gọi tôi.

- Chúng ta sẽ đánh vào từ phía Đông, Hưng Ninh vương đang ở bên trong Thăng Long, nghĩa là phía Tây của giặc, Hưng Đạo vương đang đóng trên mạn Bắc.

- Thái tử nói.

- Thông thường ta sẽ dùng lửa, khói hiệu hoặc trống để truyền tin.

Nhưng đằng nào cô cũng theo tận đây rồi, cô có nghĩ ra cách nào để Hưng Ninh vương biết chúng ta đã đến mà vẫn bất ngờ không?

Cách để lão già biết tôi đã đến...

Tôi khép hờ mắt, trong đầu bỗng dưng nghĩ đến đêm tập kích nọ của lão, tôi lựa lời hỏi thái tử:

- Bẩm, nếu Nhã Phong mượn dùng kế sách năm xưa của người họ Lê và họ Lý, không biết quan gia và thái tử có trách tội không?

- Lý, Lê, Trần đều là con dân đất Việt, mưu kế nào mà chẳng dùng để chống xâm lăng?

- Thái tử đáp, dường như đã lờ mờ đoán được ý tôi.

- Đêm đó, giặc Thát vốn đã được một phen thất kinh vì tiếng trì chú của Hưng Ninh vương.

- Tôi tự hào nói tiếp.

- Giờ cảnh ấy lặp lại một lần nữa, Nhã Phong tin rằng không cần ta động binh, lòng chúng đã tự suy sụp rồi tan rã.

- Tốt!

- Thái tử nói.

- Vậy ta giao cho cô liệu việc này.

Tôi ôm quyền cúi đầu nhận mệnh, đoạn rất nhanh tập trung những người lính Thánh Dực đi theo.

Những người này đã có mặt vào đêm ấy, hiểu rõ cần phải làm gì, tôi chia họ ra mỗi người ở một thuyền, nhanh chóng truyền đạt lại cho binh lính và cả trạo phu.

Lần này, trên những chiếc thuyền lớn còn có cả voi và ngựa thật, không cần đến chúng tôi nhọc công giả tiếng.

Binh sĩ đông như thế, ắt là âm thanh có thể vang đến chỗ lão già, lão nghe được chắc chắn sẽ biết là tôi đã đến, chắc chắn sẽ có cách trả lời tôi.

Trong phút chốc, lòng tôi rộn rã niềm vui và xúc động, cuối cùng tôi cũng có cảm giác có thể kề vai sát cánh cùng lão.

Thuyền giảm tốc độ để chúng tôi hoàn thành việc chuẩn bị.

Tôi nhìn mọi người tới tới lui lui mà trong lòng liên tục tự trấn an.

Dẫu gì, kế sách trước đây là của lão già, còn lần này tôi phải tự mình thực hiện, chỉ được phép thành công.

Khi mặt trời vừa chạm xuống đỉnh núi ở phía xa, tôi rút lá cờ quân Thánh Dực luôn giữ trong người, cột vào một ngọn giáo, rồi nhanh chóng leo đến chỗ cao nhất trên thuyền.

Quang Khải và Trần Cụ đưa tay giữ sợ tôi ngã, họ đã khuyên tôi nên để binh sĩ làm việc này song tôi vẫn nhất quyết tự mình làm.

Lão già từng gọi tôi là "gió đông", là điềm lành cho người xuất trận.

Nhìn xuống dòng nước, tôi chợt nghĩ lỡ như mình ngã xuống, hoặc bị giặc bắn hạ... song ý nghĩ ấy bị gạt đi rất nhanh, tôi kiên quyết leo đến nơi mà cả chiếc thuyền ở cuối đoàn cũng có thể trông thấy, hít thở thật sâu để bình tĩnh lại.

Sức lực dồn cả vào đôi tay, tôi giương ngọn giáo lên cao, nhắm mắt, ngửa mặt lên trời nín thở chờ đợi.

Một cơn gió lớn từ phía sau đoàn thuyền ù ù thổi tới.

Tôi nghe như trong gió có tiếng hô xung trận của Nguyễn Nam, tiếng cười sang sảng của cụ Đảm, tiếng khóc của vợ bác Thôi, lời từ biệt của những người lính quân Thánh Dực Dũng Nghĩa và tiếng ru của bà mẹ già mà anh lính tên Chiến luôn mong nhớ.

Gió cuối đông mang theo hơi nước lạnh cắt da, song cả người tôi lại rừng rực lửa.

Gió rất mạnh nhưng tôi không sợ ngã, vì dường như có rất nhiều, rất nhiều đôi tay đang cùng tôi giữ vững ngọn giáo.

Tôi chầm chậm buông tay khỏi lá cờ mình đang giữ.

Cờ lộng gió, phần phật tung bay dưới trời chiều đỏ quạch.

Tôi dùng hết sức bình sinh đọc thật to bài sấm truyền đã vang lên ở đền Trương tướng quân làm giặc Tống khiếp đảm năm nào:

- "Nam quốc sơn hà, Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư."

Những người lính Thánh Dực đứng trên những mũi thuyền phía sau tôi cũng đồng loạt phất cờ.

Hàng nghìn, rồi hàng vạn binh sĩ trên các chiến thuyền khắp lòng sông đồng thanh hưởng ứng.

Lại tiếng ngựa hí vang, lại tiếng voi rống rền rĩ.

Thuyền chèo như bay về phía bộ đầu Triều Đông, tôi phất cờ mỗi lúc một khí thế, mọi người càng chèo càng nhanh tay, càng đọc càng hứng chí, bài thơ thần vang lên mỗi lúc một lớn dần, lớn dần, rồi đột nhiên vang dậy từ tứ phía.

- "Nam quốc sơn hà, Nam đế cư..."

Tôi sững người.

Nhìn về phía Thăng Long, nước mắt tôi bỗng dưng lăn dài, ướt đẫm mặt tự bao giờ.

Trên đỉnh tường thành, dưới bóng hoàng hôn, một ngọn cờ Thánh Dực khác đang khoan khoái hát khúc tráng ca cùng gió lộng.

Dáng đứng cao cao, tay chống hông, tay tì chuôi kiếm ung dung nhìn xuống đó, dù từ rất xa, rất xa, tôi vẫn có thể thấy quen.

Lão nhận ra tôi!

Chiều hôm nay cũng như đêm hôm ấy, chúng tôi cùng nhau ngắm nhìn bọn giặc tan tác vì cả Thần Phật và con người Đại Việt.

- Tâu, Hưng Ninh vương đã sẵn sàng rồi!

Tôi hướng về phía thái tử và quan gia hét lớn từng tiếng một rồi vội vàng lau nước mắt, mỉm cười với lão dù biết lão không thể nào nhìn thấy được.

Nước mắt vẫn tuôn vì xúc động, tôi mặc kệ, tiếp tục phất cờ.

Tiếng hô từ phía hoàng cung càng lúc càng nghe rõ, Hưng Đạo vương dường như như hiểu được chúng tôi, binh sĩ cũng đồng loạt vừa tiến quân vừa đọc vang câu "Nam quốc sơn hà".

Lời sấm hào hùng nhắc nhở lịch sử hai lần giết giặc của họ Lê và họ Lý như tiếp thêm sức mạnh cho ba quân, ai nấy đều thấy lâng lâng niềm kiêu hãnh.

Quan gia và thái tử vẫn đứng ở mũi thuyền, chiến bào tung bay trong gió.

Ngự sử trung tướng Lê Tần đứng hầu ngay phía sau.

Quan gia chậm rãi giơ cao thanh kiếm ngang trời, hô to:

- Sát Thát!

Một lời ấy là lệnh tấn công.

Những mũi tên và đá bốc cháy đồng loạt bắn về phía bờ.

Sau phút bất ngờ, giặc bắt đầu phản công, có những mũi tên bắn trả chúng tôi.

Anh lính Thánh Dực cầm cờ trên mui thuyền ngay sau tôi bị trúng tên, ngã xuống, một anh lính khác lập tức chộp lấy ngọn cờ, xông lên thế chỗ.

- Sát Thát!

- Tôi nhìn về phía anh ta, hét lớn, tay vẫn nắm chặt ngọn giáo.

Mũi thuyền vừa chạm đất, binh sĩ nhất tề nhảy lên bờ.

Ngựa, voi cũng xông lên.

Quan gia và thái tử ngồi trên bành voi, hiên ngang xông lên đầu.

Ngự sử trung tướng và Tĩnh Quốc vương phò tá hai bên.

Tôi nhìn theo vạt áo choàng của quan gia, thấy thấp thoáng bóng lưng kiêu hãnh ngày nào của độc túc tráng sĩ, bất giác mỉm cười.

Chắc ông cũng không thể nào ngờ, có ngày "thằng nhãi Cảnh" ông hay gọi lại có dáng vẻ lẫm liệt thế này.

Chắc ông càng không ngờ, sẽ có ngày ông và ngài ấy cùng một chiến tuyến, cùng một kẻ thù, cùng nhau xông trận thế này.

Ba quân từ thuyền chiến tràn lên bờ như thác lũ, bước chân người rầm rập rung chuyển đất trời.

Bọn giặc không hiểu lời sấm chúng tôi đang đọc có ý nghĩa gì, song khí thế và niềm tự hào bừng cháy trong từng âm thanh, từng nét mặt, từng đường gươm thì không cần đến ngôn ngữ.

Thát quân gần như vỡ trận.

Tiếng la mắng, thúc giục nhau vang khắp cả rẻo đất.

Thế nhưng bọn chúng vẫn là quân đội đã gieo rắc kinh hoàng cho mọi vùng đất đã đi qua.

Chúng tập trung lại rất nhanh, ai nấy lên ngựa xông vào chiến đấu.

Từ phía tây và phía bắc, hai đoàn quân dũng mãnh xông đến.

Dưới trời nhá nhem, hàng nghìn ánh đuốc tràn đến như lửa ma trơi.

Bị tập kích bất ngờ, ba mặt bao vây, lại thêm khủng hoảng về tinh thần, hàng ngũ của bọn giặc lần nữa rối loạn.

Tôi nhìn về phía tường thành, bóng cờ Thánh Dực vẫn ngạo nghễ nhưng lão già của tôi đã rời đi.

Bỗng dưng tôi có chút lo lắng, nheo mắt cố nhìn lần nữa rồi tìm kiếm chung quanh.

- Tiên sinh của ngươi là chủ tướng một đội quân, sẽ không dễ dàng gặp nguy hiểm gì đâu.

- Quang Khải đã đứng cạnh tôi từ lúc nào.

- Hơn nữa giờ thắng bại đã rõ, chẳng mấy chốc giặc sẽ đầu hàng, ngươi cứ ngoan ngoãn ở lại đây.

- Chiêu Minh vương không định lên bờ giết giặc lập công sao?

- Tôi trêu hắn.

- Bản vương ở yên trên thuyền để không trở thành con tin trong tay giặc đã là giúp ích rồi.

- Quang Khải đột nhiên nhếch mép cười.

- Hơn nữa, thuộc hạ ta đưa đến vừa giúp được cho thái tử một việc lớn, công đầu dĩ nhiên thuộc về ta.

- Này thì thuộc hạ.

- Tôi dí nắm đấm vào đầu hắn, đoạn vẫn chăm chăm nhìn về phía chiến trường.

Quang Khải nói rất đúng, chiến trường phía trước vẫn không phải là nơi dành cho những đứa trẻ miệng còn hôi sữa như chúng tôi.

Dù đã bướng bỉnh theo đến tận đây, dù nôn nóng muốn chạy ngay đến cạnh lão già, tôi vẫn biết mình không nên làm gì ngu dại.

Ở cạnh tôi còn có mấy người thương binh vết thương hãy còn rỉ máu, có anh lính vừa trúng tên kia, chỉ cần tôi lên bờ, họ cũng sẽ theo lên, biết đâu sẽ không thể trở về nữa dù chiến thắng đã gần kề.

Tôi và Quang Khải chia nhau đến mấy chiếc máy bắn đá để phụ giúp mọi người.

Từng tảng đá lớn bọc ngoài là rơm và cỏ bốc cháy ngùn ngụt lao thẳng vào giữa đội hình giặc, soi lên từng gương mặt kinh hoàng, soi sáng một góc kinh đô mà chúng tôi đang thề chết để chiếm lại.

Mỗi lần ánh sáng bừng lên, tôi lại cố kiễng chân nhìn xem có thể trông thấy lão già của tôi đang giết giặc không, nhưng mãi chẳng thấy đâu dù quân Thánh Dực đã từ hoàng cung tràn ra tham chiến.

Mọi người vừa làm luôn tay vừa không ngừng đọc sấm.

Xen giữa tiếng binh khí chạm nhau, tiếng thét la, âm thanh linh thiêng cứ rền rĩ như thể đất mẹ cũng đang phẫn nộ.

- Cô Nhã Phong để cho tôi, cô dùng cái này đi!

- Trần Cụ đưa cung tên của hắn cho tôi, giành lấy tảng đá tôi đang cầm.

- Cẩn thận đấy, ngươi vừa khỏe lại thôi.

- Tôi bảo hắn.

Mang cung đến một góc hơi khuất, tôi nhắm vào mấy tên giặc đã len lỏi đến được gần thuyền.

Vun vút.

Những mũi tên lao đi, một tên rồi hai tên.

Giống hệt cái hôm ở chùa sát vai chiến đấu cùng cụ Đảm.

Bỗng, dây cung đang căng thì đứt, chém vào tay tôi bật máu.

Tôi thẫn thờ nhìn màu đỏ loang rộng trên mu bàn tay mình, chợt nhớ đến lúc chơi đàn ở Dưỡng Chân Trang, dây cũng đứt giữa chừng như thế này.

Hôm ấy, không lâu sau chúng tôi nhận tin Nguyễn Nam tử trận.

- Tiên sinh...

- Tôi mấp máy không thành tiếng.

- Phong!

Cẩn thận!

Tôi chỉ kịp nghe Quang Khải kêu lên một tiếng, cả thân người đã bị hắn kéo mạnh, ngã xuống sàn.

Bắp tay tôi bị mũi tên sượt qua, rách cả áo, máu chảy thành dòng.

Quang Khải lặp tức đứng lên, rút mũi giáo phóng về phía bụi cây, tên giặc kêu lên một tiếng rồi nằm vật ra đất.

Hắn vội vã tìm khắp khoang thuyền lấy vải và thuốc cầm máu cho tôi.

- Sao bỗng dưng ngươi như người mất hồn thế?

- Ta...

Tôi vẫn nhìn lên vệt máu trên tay, không dám nói ra điều mình đang lo sợ.

Ngoài kia, quân ta vẫn đang chiếm thế thượng phong, giặc chết hằng hà sa số.

Chỉ một chốc nữa thôi, chúng tôi có thể gặp lại nhau, cùng về Dưỡng Chân Trang.

Chỉ một chốc nữa thôi, sao có thể...?

Bỗng dưng, tôi nghe bên ngoài có tiếng lao xao.

[1] Trích Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn, bản dịch của Đoàn Thị Điểm.
 
Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 35: MẶT CHINH PHU TRĂNG DÕI DÕI SOI [1]


- Vương phi bé!

Vương phi bé!

Tôi không nghe nhầm, rõ ràng có người đang gọi "vương phi bé".

Không biết gia nô nhà ai lại đến giữa chỗ chiến trường tìm chủ thế này?

Mà trên thuyền làm gì có vị nữ quyến nào...

- Anh Trương Phi!

Anh Trương Phi!

- Vài anh lính Thánh Dực reo lên.

Trương Phi?

Là anh lính có râu quai nón tôi đã gặp ở Cổ Mai, tưởng nhầm tôi là vợ hoặc ái thiếp của lão già!

Như vậy người anh ta đang tìm, "vương phi bé" ấy, chính là... tôi?

- Anh Trương Phi!

- Tôi vội vã bước ra ngoài, quả nhiên trông thấy anh lính đậm người thân quen nọ.

- Vương phi bé!

- Anh ấy reo lên.

- Quả nhiên là cô!

Tôi đến đây bảo vệ cô trước, vương gia còn bận việc ngoài kia!

Chúng ta thắng rồi!

Trương Phi vừa nói liên hồi, cười sang sảng, vừa sải từng bước dài nhảy lên thuyền.

Binh lính Thánh Dực trên các thuyền cũng chạy đến chỗ tôi để mừng anh, ai nấy đều phấn khởi, cười lớn theo từng lời anh nói.

- Phải chi cô được thấy khí thế của vương gia và bọn tôi lúc mở cổng thành tiến ra đánh.

Phía Đông thì quan gia và thái tử oai vệ cưỡi voi xông trận.

Phía Bắc thì quân của Hưng Đạo vương cầm đuốc tràn xuống như dòng thác lửa.

Bọn giặc sợ vãi ra quần, khóc lóc gọi thầy u, gọi cả tổ tông mấy đời!

- Anh liến thoắng.

- Đáng tội!

Để từ nay đừng kẻ nào mơ tưởng bước chân vào nước ta nữa!

- Phong, anh ấy...

- Quang Khải nói khẽ vào tai tôi khiến nụ cười trên môi tôi đông cứng.

- Anh Trương Phi!

- Tôi nghẹn ngào, ngón tay run run trỏ vào mũi tên cắm sau lưng anh ấy.

- Anh bị thương rồi.

Để tôi...

Trương Phi ngơ ngác đưa tay ra sau theo hướng tôi chỉ.

Đoạn, cả thân hình to lớn của người lính đổ sập xuống sàn.

Lúc này tôi mới nhìn thấy rõ mũi tên cắm rất sâu ngay dưới vai anh, xuyên qua lớp giáp, máu ướt đẫm cả lưng áo.

Phần vì đang hăng say chiến đấu, phần vì nỗi vui mừng trong tinh thần quá lớn mà anh chẳng thấy đau.

Tôi nâng đầu và vai anh dậy, máu ướt đẫm tay.

- Phong, ta vào lấy hộp thuốc cho ngươi, mọi người đứng tránh ra một chút kẻo anh ấy ngộp.

- Quang Khải bình tĩnh nói với những người lính xung quanh.

- Vương phi bé...

- Trương Phi cố mở mắt, giọng đã run run.

- Cô đừng cười, tôi không sợ gì đâu.

Nhưng tôi nhớ u tôi quá...

- Tên thật của anh là gì ?

- Tôi gượng cười, hỏi.

- Bẩm, Túc.

- Anh nói rồi khạc ra một ngụm máu, khóe mắt ươn ướt.

Ánh lửa từ trại giặc đang cháy bừng bừng làm sáng cả một góc trời, soi rõ gương mặt thường ngày luôn hồng hào giờ đã trắng bệch của anh.

- Anh Túc gắng lên, chúng ta sắp thắng rồi!

- Tôi giữ chặt vai anh, luôn mồm động viên.

Ngay lúc ấy, giữa tiếng giáo gươm loảng xoảng, tiếng ù ù của gió và lửa, bỗng có tiếng tù và rúc lên vang vọng, một tiếng, hai tiếng, rồi tiếng người réo gọi nhau.

Chúng tôi trông cả về phía chiến trường, nín thở đợi tin.

Hồi lâu, toàn thể binh lính nhất loạt reo lên:

- Giặc rút rồi!

- Rợ Thát chạy rồi!

- Chúng ta thắng rồi!

Những người lính đứng xung quanh tôi cũng vứt cung tên, giáo nhọn đang cầm trên tay xuống, nhảy cẫng lên ôm chầm lấy nhau làm thuyền chao đảo.

Tôi nhìn theo họ, vừa cười vừa khóc, đoạn nhìn sang người bị thương.

Đôi mắt mệt mỏi của anh cũng lấp lánh niềm vui:

- Chết tiệt!

Thắng thật rồi!

Nói rồi, anh cười sang sảng, hệt như ngày nào chúng tôi cùng nhau làm máy bắn đá rồi cùng đùa giỡn ở rừng mơ.

Sau tràng cười ấy, một ngụm máu lớn phun ra, ướt đẫm y phục của tôi.

Trương Phi ngoẹo đầu sang một bên, hơi thở yếu dần đi.

- Anh Túc!

- Tôi gọi lớn, cố nghĩ ra cách để động viên anh.

- Anh gắng lên!

U của anh ra đồng sắp về rồi!

- U?

- Mắt anh mở to, dáo dác nhìn tứ phía rồi mờ dần, mờ dần.

- Con thèm cá nấu chua...

- Anh thều thào, cố rúc sâu vào lòng tôi.

- U có câu được cá to không...

- Anh Trương Phi!

Trần Cụ gọi khẽ.

Những tiếng sụt sịt, nức nở cố nén râm ran đâu đó, lọt thỏm giữa tiếng chửi bới và reo hò dọa giặc lui quân.

- À ơi...

- Tôi nghẹn giọng.

"Ru con, con ngủ cho lành

Để mẹ gánh nước rửa bành con voi.

Muốn coi, lên núi mà coi

Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng..."[2]

***

Khi đã đặt Trương Phi nằm chỉnh tề trong khoang thuyền kín đáo, tôi cùng Quang Khải và Trần Cụ ruổi ngựa vào chiến địa đã gần tàn.

Hôm nay là rạng sáng ngày hai mươi lăm tháng Chạp, ánh trăng hạ huyền chênh chếch soi những cột dựng lán cháy nham nhở, những xác chết có lành có khuyết, những vết thương lở loét, những mảnh binh khí nằm la liệt khắp nơi.

Cảm giác của tôi chẳng khác gì cái hôm đi tìm Trần Cụ giữa một rừng đầy thi thể, rõ ràng giặc đang bỏ của chạy lấy người, rõ ràng hôm nay chúng tôi đã thắng, song cái mùi tanh tưởi của máu và oán khí chẳng khác gì nhau.

Tôi không thấy phấn khởi hay hạnh phúc đến muốn thét lên như đã bao nhiêu lần nghĩ về ngày hôm nay.

Cái chết của Trương Phi và vết thương bị dây cung chém trên tay khiến sự lo lắng trong lòng tôi càng lúc càng lớn.

Quân lính mải miết đuổi giặc chạy dài, những người truyền tin không ngừng nhắc đi nhắc lại lệnh của quan gia: "Chỉ được đuổi, không được giết nếu giặc không chống cự".

Nhìn theo dáng vẻ hớt hải phóng ngựa như bay của bọn chúng, tôi chợt thấy buồn cười.

Có ai ngờ đội kỵ binh thần tốc giờ lại tận dụng ưu thế tốc độ chỉ để tháo chạy tìm đường sống.

Giữa đoàn quân đang đuổi theo giặc là Hưng Đạo vương.

Dáng người vương cao lớn, từ xa có thể dễ dàng trông thấy.

Tôi cố rướn người tìm kiếm trong đám đông hỗn loạn, mãi mà chẳng thấy lão già đâu.

Chẳng có ai biết từ chập tối đến giờ đã xảy ra những việc gì, ai còn ai mất.

Bỗng, đúng lúc Hưng Đạo vương xoay người lại để chỉnh đốn quân binh, một mũi tên từ đâu xé gió lao thẳng đến.

Một bóng người phóng ngựa lao đến chắn trước mặt vương, tim tôi suýt nữa thì hẫng đi một nhịp.

- Anh Tĩnh Quốc!

- Quang Khải thảng thốt.

Khi bọn tôi ngỡ như Tĩnh Quốc vương sắp ngã xuống thì một mũi tên khác bay vút đến nhắm thẳng vào giữa thân mũi tên của giặc làm nó bay chệch hướng, cắm xuống đất.

Tài thiện xạ này tôi đã được chứng kiến một lần.

Tôi vội nhìn về phía mũi tên thứ hai được bắn ra.

Chủ tướng quân Thánh Dực hiện ra giữa khói bụi mịt mù, chậm rãi hạ cung, đoạn thúc ngựa chạy về phía hai người em trai, chiến bào lộng gió trông xa như đôi cánh.

Cũng hệt như cái đêm lửa cháy ngút trời ấy, tôi càng tin vào ý nghĩ từ bé đến lớn, rằng cái người luôn ở cạnh mình kia chẳng phải người trần mắt thịt như mình.

Thế nhưng, là thần cũng được, là người cũng tốt, có là quỷ cũng chẳng sao, chỉ cần lão bình an là đủ.

Lòng tôi như trút được tảng đá nghìn cân, cứ đứng ngây ra như phỗng nhìn ba anh em của lão nói với nhau điều gì đó, cười với nhau, đấm vào ngực nhau rồi Hưng Đạo vương tiếp tục xua quân đuổi giặc, còn lão nhìn nhìn về phía bờ sông, chỗ đoàn thuyền đang neo đậu.

- Đến gặp tiên sinh của ngươi đi.

- Quang Khải nhắc.

Tôi chợt tỉnh, quan sát xung quanh tìm đường đến chỗ lão, cẩn thận từng bước để ngựa không giẫm lên xác một ai.

Bỗng, từ chỗ trại giặc ở phía xa, tôi thấy một tên Thát bị thương ở chân đang cố trèo lên lưng ngựa.

Chẳng cần suy nghĩ gì, tôi nhặt ngay mấy ngọn giáo gãy trong tầm tay rồi thúc ngựa chạy như bay đến đó, vì băng ngang dòng người nên tôi loạng choạng mấy lần suýt bị xô ngã.

- Cô Nhã Phong, dừng lại!

- Phong!

Đứng lại!

- Phong!

Có tiếng nhiều người gọi với theo, song tôi mặc kệ tất cả, chỉ biết lửa hận trong lòng như có cơn gió thổi bùng lên không cách nào dập tắt được.

Khi tên giặc đã ở trước mặt, tôi phóng mũi giáo vào đùi con ngựa hắn đang cưỡi.

Con ngựa lồng lên, hất tên giặc ngã xuống, tôi cũng nhảy xuống ngựa, cầm mũi giáo lăm lăm tiến về phía hắn.

Gương mặt ấy dù trong mơ tôi cũng không quên, hắn chính là một trong những kẻ đã tấn công bọn tôi ở chùa, là kẻ đã bắn mũi tên vào ngực cụ Lý Đảm của tôi.

Hắn trông thấy tôi, đôi mắt long lên sợ hãi.

Tôi biết hắn nhận ra kẻ muốn giết hắn để báo thù.

Hắn ngồi bẹp trên đất, cố lùi về sau song đã đụng vào một chân cột gãy, không còn đường chạy nữa.

- Cô ơi, xin dừng tay!

- Có người lên tiếng can ngăn.

- Quan gia đã ra lệnh không được giết nếu giặc không chống cự!

- Cô Nhã Phong, xin đừng!

- Trần Cụ cũng kêu lên.

- Phong!

Dừng lại!

- Quang Khải kéo tôi lùi về sau.

- Ngươi đang mặc quân trang Thánh Dực, kháng lệnh như thế khác nào mang tội về cho Hưng Ninh vương!

Hưng Ninh vương...

Tôi nhếch mép cười, vùng ra khỏi tay Quang Khải.

Anh Trương Phi đã cố sống đến hôm nay lại bỏ mạng ngay lúc thắng trận, còn xác cụ Đảm đã vùi sâu dưới lòng sông lạnh lẽo kia, tất cả là bởi lũ này.

Một tay tôi tháo áo giáp, vứt xoạch xuống đất, tay còn lại vẫn lăm lăm mũi giáo chỉa thẳng vào ngực kẻ thù, càng lúc càng gần.

- Phong!

- Quang Khải cố khuyên ngăn.

- Kẻ thù của chúng ta là toàn quân Thát, không phải một mình hắn!

Giết kẻ ngã ngựa thì còn gì là hảo hán đầu đội trời chân đạp đất!

- Ta không phải là lính Thánh Dực, càng không phải là thê thiếp của Hưng Ninh vương!

- Tôi nói rõ ràng từng tiếng.

- Lúc bọn chúng cùng nhau hiếp đáp một cụ già và mấy đứa trẻ có nghĩ gì là anh hùng, hảo hán đâu!

Quan gia có giáng tội thì một mình ta chịu, ta nhất định phải trả thù cho cụ Đảm!

Không có ai nói thêm gì nữa.

Tôi nắm chặt mũi giáo hơn, nhắm thẳng lồng ngực kẻ đáng chết kia.

Đột nhiên có một tên giặc khác phóng ngựa quay lại, tôi cứ ngỡ hắn định quyết chiến nên xoay ngọn giáo sẵn sàng đánh trả.

Không ngờ hắn lao xuống ngựa, chạy đến cạnh kẻ tôi muốn giết, quỳ sụp xuống lạy.

Mặt mũi cả hai tên đều đầm đìa nước mắt, lấm tấm máu, chúng nói gì đó mà tôi không hiểu, song cũng thừa biết là van xin tha mạng.

Kẻ vừa đến chắc là chiến hữu hoặc người nhà của tên kia.

Bọn khốn chúng bây mà biết cái gì là tình nghĩa, là đồng đội ư?

"Tôi và cậu ta cùng lớn lên bên nhau, cậu ta còn cứu tôi một mạng.

Giờ tôi phải chính tay giết chết cậu ta rồi tự sát!"

"Con thèm cá nấu chua..."

"Nếu là con gái, hãy đặt tên nó là An.

Nếu là con trai, nó sẽ tên là Bình..."

"Phật dạy phải từ bi, nhưng lúc chúng sinh sắp chết thì Phật ở đâu...?"

Tiếng khóc của mọi người lần lượt nhói buốt bên tai tôi, khiến mũi giáo của tôi bắt đầu run rẩy.

Hàng nghìn ý nghĩ khiến đầu tôi muốn vỡ tung.

Tôi cố tự khuyên răn mình không được mềm lòng, không được nhân từ bừa bãi, không được để cụ Đảm chết oan ức như thế.

Tôi muốn đòi công lý cho cụ!

Chợt, tôi nghe giọng cụ trầm trầm giữa tiếng quân reo.

"Đó không phải là dã tâm, sát ý.

Đó là niềm kiêu hãnh của giống tiên rồng, vung kiếm để bảo vệ nghìn năm lịch sử!"

Trong phút chốc, lòng tôi bỗng dưng bình lặng, tôi siết lại ngọn giáo đang cầm, giương lên thật cao, dùng hết sức bình sinh đâm xuống.

Phập!

Ngọn giáo lướt qua má tên giặc đã giết chết độc túc tráng sĩ của tôi thành một đường dài, bật máu, cắm xuống nền đất ngay bên cạnh hắn.

Hắn trân trối nhìn tôi.

Tôi thét lớn, vung tay trỏ về hướng đồng bọn hắn đang tháo chạy:

- Cút!

Tên lính mới đến vội vã sụp lạy rồi kéo hắn lên ngựa, chạy trối chết không quay đầu lại.

Tôi thở hắt ra, nhìn theo đám bụi mù tung lên theo vó ngựa, lòng rỗng tuếch như căn phòng vừa có cơn bão quét ngang qua.

Giặc vẫn chạy, ta vẫn đuổi, mãi đến chân trời.

Khi tôi quay lại tìm bọn Quang Khải và Trần Cụ, một dáng người rất quen đã đứng đó, chắc là đã lâu, từ lúc Quang Khải không cản ngăn tôi nữa.

Người chậm rãi xuống ngựa, bước đến chỗ tôi.

Khắp thân người lem luốc bụi khói, máu và mồ hôi, song nét mặt vẫn bình thản và nụ cười nhẹ vẫn nhàn nhã lạ kỳ.

Tôi chẳng kịp nghĩ gì, bước nhanh đến, kiễng chân ôm chầm lấy thân người cao lớn ấy.

Người cũng vòng tay ôm chặt tôi.

Bỗng tôi thấy bàn tay mình đặt sau lưng người ươn ướt, tim tôi nghẹn lại, tôi run rẩy nhìn tay mình qua vai người, toàn là máu.

Người không phải là thần hay Phật, người vẫn là một thân máu thịt, sinh mạng có thể mất đi bất cứ lúc nào, sao tôi lại quên điều này được?

Gương mặt của Trương Phi và sợi dây cung bị đứt lại ám ảnh trong đầu, tôi vội vã lùi ra sau, tìm nút thắt trên áo giáp của người nhưng ngón tay cứ run bần bật chẳng làm được gì, cổ họng cũng nghẹn ứ không thành tiếng.

- Tiên sinh bị thương rồi!

Mau...

để em xem...

để em xem...

Tôi sụp xuống đất tìm một thanh gươm hoặc bất kỳ mảnh vụn sắc bén nào đó giữa những cái xác để cắt áo giáp ra thật nhanh, trị thương cho người nhưng đột nhiên giáo gươm biến đâu mất cả.

Người kéo tôi đứng dậy, tôi muốn giật phăng áo giáp ra song sợ làm người đau thêm, lại tìm chỗ thắt dây, nhưng gỡ mãi mà nút thắt chết tiệt kia vẫn siết chặt, ngón tay tôi cứ xoắn cả vào nhau.

- Phong!

- Người đau lắm phải không...

- Tôi bắt đầu loạn trí.

- Em bị sao thế này?

Sao mà em không cứu được ai thế này...

Bàn tay người bỗng nắm chặt lấy tay tôi, tay kia ôm trọn gáy tôi, kéo tôi sát vào người.

Và, môi người chạm lên trán tôi, giữa đêm đông, nóng rẫy như một hòn than nhỏ.

Hai tai tôi đã tê cứng vì rét giờ chợt nóng bừng lên, rồi hơi ấm ấy chậm chạp len lỏi vào lòng, khe khẽ cựa quậy.

- Ta đây!

- Người nói.

- Đừng sợ.

Ta không sao.

Đối với tôi, giọng nói trầm trầm đó vẫn luôn có uy lực hơn bất cứ âm thanh gì trên cõi đời này.

Tôi cụp mắt, cố giữ mình không òa lên khóc, đăm đắm nhìn xuống bàn tay to lớn đang nắm trọn tay tôi hệt như thuở còn thơ.

Khăn quấn trên cổ tay bị thương của người đã loang lổ máu.

Vết thương ấy mãi mà chẳng khép miệng vì bệnh nhân không ngoan ngoãn tĩnh dưỡng.

Tôi chợt thấy đóa mộc lan thêu dở trên khăn, thận trọng cầm lên xem.

- Tĩnh Quốc vương băng bó cho tiên sinh sao?

- Tôi hỏi.

- Ừ.

- Lão già của tôi xác nhận.

Chầm chậm ngước lên, tôi nhìn thật gần, thật rõ gương mặt mà tôi từng ước ao được nhìn thấy suốt bao ngày, gương mặt đã luôn hiện lên trong đầu tôi, động viên tôi, an ủi tôi, bảo vệ cho tôi.

Đôi mắt lão vẫn mang vẻ tĩnh lặng muôn thuở, song dường như hơi hoe đỏ, chắc vì khói bụi và nhiều đêm khó ngủ, nhìn thẳng tôi.

Trong phút chốc, tôi chẳng biết phải nói gì, lại cúi đầu mân mê cánh tay bị thương của lão.

- Chắc người đau lắm phải không?

- Giây lâu, tôi hỏi lại.

Lão gật đầu, rất khẽ.

Lòng tôi như tan ra thành nước vì thương, vì xót.

Tôi vòng tay qua cổ lão, ghì chặt lão, cả gan đưa tay vuốt lên phần tóc sau gáy lão, nói thật khẽ qua làn nước mắt:

- Chúng ta về nhà, nhé, tiên sinh?

- Ừ.

- Lão đáp, tay nhè nhẹ vỗ lưng tôi.

Tôi biết nơi này vẫn là chiến trường, tôi biết xung quanh bọn tôi còn hàng nghìn binh sĩ, có cả quan gia, thái tử và tôn thất, song tôi mặc kệ.

Trời thì vẫn còn tối, mọi người thì đang say trong chiến thắng.

Càng lúc hơi ấm của lão càng gần, cho tôi biết lão vẫn sống, mình vẫn sống và quân ta đã thắng.

Có tiếng gà gáy từ đâu vẳng lại.

- Trời sáng rồi!

- Giặc chạy mất hút rồi!

- Ai đó kêu lên.

- Chúng ta thắng rồi!

Thắng rồi!

- Mọi người đồng thanh hưởng ứng.

Tôi vùi mặt trong lòng lão, nhoẻn cười mà nước mắt cứ chảy mãi, chảy mãi.

Tôi bắt đầu cảm nhận được niềm vui chiến thắng dù bao nhiêu mất mát đã xảy ra.

Giặc mạnh như thế, chúng ta tưởng như đã thua như thế mà vẫn có được bình minh của hôm nay.

Bao nhiêu người đã đổi mạng lấy giờ khắc này nên chúng tôi càng phải vui cả phần của họ mới phải.

Nhìn lên bầu trời đang sáng dần lên, tôi thấy phía xa xa một vì sao chợt lóe, như vị đại anh hùng nào đó đang khen ngợi, "nhóc con, khá lắm".

- Quan gia vạn tuế!

Quan gia vạn tuế!

- Đại Việt muôn năm!

- Về nhà thôi!

Ăn Tết thôi!

- Phải nhanh tay nhanh chân lên!

Còn mấy ngày nữa là giao thừa rồi!

Giáo gươm giờ lại va loảng xoảng vào nhau thay cho nhạc cụ hát mừng.

Người bắt đầu kể chuyện vợ con ở quê nhà, người bàn nhau xem Tết phải nấu bao nhiêu mâm cỗ mới xứng với thắng lợi vẻ vang này.

Có ai đó cất giọng rồi mọi người cùng đồng thanh hưởng ứng, một lần nữa hô vang bài sấm đã bao lần đuổi giặc ra khỏi biên thùy.

- "Nam quốc sơn hà, Nam đế cư..."

[1] Trích Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn, bản dịch thơ của Đoàn Thị Điểm.

[2] Ca dao.
 
Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 36: AI PHÀM, AI THÁNH?[1]


Sau một thời gian sống trong căng thẳng thường nhật và một đêm chiến đấu khốc liệt, tướng sĩ đều đã thấm mệt nên mọi người dựng tạm lán để che sương và thay nhau nghỉ ngơi, những người không ngủ vừa canh gác, vừa dọn dẹp chiến trường.

Quan gia, thái tử và mấy thân vương đều vào nghỉ trong Trà điện, riêng lão già tự dựng lán ở cùng với binh sĩ bên ngoài.

Tôi băng bó vết thương cho lão già xong liền thiếp đi.

Đêm nay không bị làm phiền bởi những nỗi sợ hãi, lo lắng vô cớ nữa nên tôi ngủ rất sâu.

Lúc tôi tỉnh dậy thì mặt trời đã lên cao, chim chuyền cành rộn rã, nắng nhảy nhót trên những lộc non mới đâm chồi đón mùa sang.

Lính canh báo với tôi rằng lão già đã vào điện hầu chuyện quan gia và thái tử, thế nên tôi đi tìm mấy anh lính quân Thánh Dực xem có thể giúp được gì cho họ không.

Tôi gặp lại rất nhiều gương mặt thân quen, cũng thấy vắng mất vài người.

Chúng tôi nhắc tên họ, kể chuyện về họ, ngậm ngùi song không bi lụy, vì chúng tôi sắp đưa họ về nhà, trên mảnh đất mà thanh bình vừa mới trở lại này.

Giữa câu chuyện đang rôm rả, Đỗ Ngạc, phó tướng của lão già đến xin gặp riêng tôi.

- Mấy ngày qua chắc mọi người vất vả rồi.

Anh không bị thương ở đâu chứ?

- Tôi ân cần hỏi.

- Thưa, nhờ phúc của vương gia, tôi vẫn bình an.

Kế sách dùng bài sấm dọa giặc của cô Nhã Phong khiến Đỗ Ngạc muôn phần kính phục.

Nói đến đây, anh khẽ cúi đầu, tôi vội xua xua tay.

- Nhã Phong đều học lỏm của tiền nhân và tiên sinh cả, mọi người đừng chê cười nữa.

- Cô Nhã Phong quả là đồ đệ xuất chúng của vương gia.

- Đoạn, anh trở nên chân thành, nghiêm túc lạ thường, ôm quyền kính cẩn.

- Có một việc cũng chỉ có cô mới giúp được, Đỗ Ngạc cả gan làm phiền.

- Việc của quân Thánh Dực cũng là việc của Nhã Phong.

- Tôi nói.

- Anh cần gì phải rào trước đón sau?

- Thưa...

- Viên phó tướng đột nhiên nhỏ giọng, ngập ngừng.

- Dẫu biết việc đang làm có thể khiến vương gia trách tội, thân làm thần tử, tôi vẫn phải liều một phen.

Chốc nữa, nếu vương gia có ý muốn dẫn quân đến Hoàng giang đón tôn thất trở về, xin cô lựa lời khuyên giải.

- Tiên sinh muốn đến Hoàng giang sao?

- Tôi hỏi.

- Thưa, phải ạ.

Lúc chúng tôi còn đóng quân trong thành, vương gia từng dặn riêng tôi, ngay khi quân Thát rút đi, tôi phải tập trung binh lính để chuẩn bị đến hành cung đón mọi người trở về.

- Đỗ Ngạc nói liền một mạch, không dám ngẩng lên nhìn tôi.

- Vây, vì sao lại phải ngăn cản tiên sinh?

Tôi hỏi dò, trong lòng lờ mờ đoán ra nỗi khổ tâm của anh ta.

Ở Hoàng giang lúc này chỉ có bọn nữ quyến, trẻ nhỏ cùng với thái sư và quốc mẫu.

Sau thắng lợi, thanh thế của quân Thánh Dực đang lên rất cao, Hưng Đạo vương còn đang dẫn binh đuổi theo giặc ở mãi nơi xa.

Nếu như lão già của tôi dẫn theo quân đội đến hành cung, với từng đó ân oán của hai chi Tức Mặc và Vạn Kiếp gây ra bởi một tay thái sư, ai biết được thái sư có thể trở về Thăng Long để gặp lại hoàng đế hay không.

- Thưa...

Đỗ Ngạc và toàn thể binh sĩ một lòng yêu kính vương gia, cũng tin vào tấm lòng tận trung xả thân báo quốc của vương, nhất là sau trận thảm chiến ở Bình Lệ Nguyên.

- Anh lính chiến hiên ngang trên lưng ngựa giờ đây lúng túng như gà mắc tóc, thận trọng nói từng lời một.

- Thế nhưng việc đến Hoàng giang lại là việc nhà.

Đỗ Ngạc vì vương gia có thể bỏ mạng quèn này.

Nhưng Đỗ Ngạc không cam lòng nhìn cả đời sáng suốt tận tụy của vương gia bị vết nhơ vì chuyện không cách nào thay đổi được của người đời trước.

Hơn nữa, vương gia có nhà của vương gia, hàng nghìn quân Thánh Dực cũng có nhà của họ.

Khó khăn lắm họ mới sống sót đến giờ này, chỉ vừa kịp vui mừng mà năm mới lại sắp sang...

Tôi nhìn Đỗ Ngạc, trong lòng cũng rối bời vì bản thân tôi không đoán được ý định thực sự của lão già, nhất là những việc liên quan đến thân phụ của lão, không dám tùy tiện phán xét việc anh nói có khả năng xảy ra không.

Tôi nên trách anh vì đã đem những toan tính cơ mật của lão đi kể với người khác, nên cảm ơn anh vì đã suy nghĩ thấu đáo cho an nguy của tất cả mọi người, hay nên phủ nhận mọi thứ, rằng đó chỉ là do anh suy diễn lung tung?

- Tại sao anh lại nói những điều này với ta?

- Tôi hỏi luôn điều bất chợt nảy ra trong đầu.

- Ra lệnh được cho vương gia của mọi người nên là quan gia hay thái tử mới đúng.

Đỗ Ngạc vừa nghe tôi hỏi, lập tức quỳ một chân xuống, quả quyết thưa:

- Trời đất chứng giám, tôi kính trọng vương như cha như anh, tuyệt không có ý phản nghịch hay mưu hại.

Sở dĩ tôi thưa chuyện với cô Nhã Phong vì...

- Ngập ngừng một quãng, anh nói tiếp.

- Năm trước, khi còn ở Hồng Lộ, vương bị thương nặng, mất máu rất nhiều, thế mà trước khi thiếp đi, vương vẫn dặn đi dặn lại thuộc hạ không được báo tin về Yên Bang, nhất là không được để cô biết, sợ cô lo lắng.

Chỉ có người nhà mới có thể quản chuyện nhà, Đỗ Ngạc biết việc này chỉ lời cô Nhã Phong mới có thể khiến vương hồi tâm chuyển ý.

Tôi lặng người, suy nghĩ rất lung.

Lão già của tôi tuy tùy hứng nhưng lại rất tỉnh táo, thận trọng.

Lão không cần nghĩ cũng thừa biết dù có thể giết Trần Thủ Độ, nhưng hậu quả về sau sẽ rất nặng nề, không chỉ hại bản thân mà còn liên lụy cả Hưng Đạo vương, Vũ Thành vương và công chúa Thiều.

Tôi hiểu vì tôi đã nhiều lần suy xét thiệt hơn khi muốn thực hiện tâm nguyện cuối cùng của cụ Đảm.

Thế nhưng, tôi càng biết ngọn lửa âm ỉ trong lòng lão suốt bấy nhiêu năm đang bùng lên dữ dội, nhất là sau trận chiến này, khi lão và Tĩnh Quốc vương có thể ngồi cùng một mâm cơm, chia nhau sinh tử giữa chiến trường, mà lại không thể gọi nhau một tiếng anh - em.

Nếu là tôi của một năm trước, chỉ cần đó là điều lão muốn làm, ắt tôi sẽ không mảy may suy nghĩ mà cùng tiến cùng lùi với lão.

Nhưng tôi của bây giờ đã nhìn qua nhiều cảnh máu chảy đầu rơi, đã biết hai tiếng "thanh bình" đắt giá đến mực nào, tôi không biết nếu thanh bình ấy bị khuấy động bởi chính lão già mà tôi xem trọng hơn cả sinh mạng mình, tôi sẽ làm gì.

Tôi càng không biết nếu trông thấy lão già của tôi phẫn uất đến mức bất chấp hậu quả mà làm ra việc tày đình, tôi có còn giữ được chút nào lý trí để nghĩ đến người khác hay không.

Thoạt nhiên tôi thấy mình hoàn toàn hiểu được nỗi khổ tâm của viên phó tướng lúc này.

- Cảm ơn anh, Đỗ Ngạc.

- Hồi lâu, tôi nâng anh dậy, dịu dàng nói.

- Vương gia thật may mắn vì có viên cận tướng trung thành, thấu đáo như anh.

Nhưng lần này, anh đã nghĩ nhiều rồi.

- Cô Nhã Phong...?

- Đỗ Ngạc ngơ ngác nhìn tôi.

- Trước trận chiến, Nhã Phong vẫn còn ở Hoàng giang, nên vương gia muốn đến đón ta đấy thôi.

Giờ Nhã Phong đến Thăng Long rồi, ta nghĩ người cũng không cần đi nữa.

Còn... nếu như như đó là lệnh của quan gia, thì chúng ta đâu có cách nào thoái thác, anh nói có đúng không?

Đỗ Ngạc im lặng không đáp, tôi thiết tha nói tiếp:

- Trong lòng Hưng Ninh vương không chỉ có Đại Việt, không chỉ có Nhã Phong, mà còn có các anh, nghĩ cho gia quyến của các anh, thương tiếc sinh mạng của các anh.

Điều này, ta tin anh hiểu rõ hơn ta.

- Tôi mỉm cười với anh.

- Vương gia sẽ không làm gì khiến mọi người thất vọng đâu.

- Đỗ Ngạc hiểu rồi.

- Viên phó tướng ôm quyền, cúi đầu đáp.

- Là thuộc hạ đã đa đoan.

Tôi nói thế để trấn an Đỗ Ngạc cũng như trấn an chính mình.

Người ẩn nhẫn như Khâm Minh đại vương từng dấy binh nổi loạn ở sông Cái, người mực thước quy củ như Hưng Đạo vương từng nửa đêm trèo tường cướp dâu.

Thế thì người ngẫu hứng, quái gở như Hưng Ninh vương - con trai của Khâm Minh đại vương, anh trai của Hưng Đạo vương - có thể gây ra họa gì?

Tôi đoán không chỉ Đỗ Ngạc lo âu mà những người biết chuyện năm xưa đều ít nhiều nghi kỵ.

Nghĩ lại thái độ trước giờ của lão già đối với quan gia, với thái sư, nhớ đến ánh mắt xa xăm của lão khi nhìn về Thăng Long khiến tôi nhất quyết động viên lão xuất binh, tôi càng thấy những gì Đỗ Ngạc nói không hẳn là vô căn cứ.

Tôi ra ngồi trên mỏm đá cạnh bờ sông hóng mát để đợi lão già về.

Nước sông hôm nay không đục phù sa, song vẫn nhờ nhờ màu đỏ của máu.

Tôi ngửa mặt nhìn trời, bỗng dưng, trời tối sầm lại.

Tôi kéo tấm áo choàng phủ lên mặt mình xuống, toan càu nhàu lão mấy câu, hóa ra người vừa đến là Quang Khải.

Tôi vứt áo lại cho hắn, bảo:

- Thế nào?

Ngươi đi gặp quan gia đã bẩm đủ công trạng của ông đây rồi chứ?

- Công lao của ngươi thì để tiên sinh nhà ngươi lo, bản vương lo làm gì?

- Tên Chiêu Minh vương đáp.

- Giờ ta phải đi đón hai người vợ đẹp của ta đây, không rỗi hơi đôi co với nhóc con nữa.

Tôi giật mình, đứng phắt dậy, hỏi dồn:

- Ngươi đi Hoàng giang á?

Là lệnh của quan gia phỏng?

- Là nhờ ơn Hưng Ninh vương của ngươi.

- Quang Khải trỏ tay về phía sau, lão già nhà tôi đang vừa đi vừa trò chuyện với mấy vị tướng quân khác.

- Phụ hoàng bảo ông ta đi, nhưng ông ta đổ cho vết thương trên lưng, lại đoan chắc ta nóng lòng gặp lại thê thiếp nên đẩy ta vào nhận mệnh.

- Quan gia, và thái tử...

- Tôi dè dặt.

- ... có nói gì không?

- Đâu chỉ có hai người họ, mà tất thảy những người có mặt đều hiểu rất nhanh.

- Quang Khải bật cười, dí ngón tay vào trán tôi.

- Bọn họ nghĩ gì mà có thể xem ngươi là mỹ nhân cản bước anh hùng nhỉ?

Tôi ngơ ngác nhìn về phía lão già, đột nhiên chợt hiểu ra thái độ là lạ của lão từ lúc gặp lại nhau.

Quan gia ra lệnh cho lão đi Hoàng giang chắc ít nhiều muốn dò xét tâm tư của lão.

Tỏ ra quyến luyến với giai nhân lại là cách nhanh nhất để dập tắt sự đề phòng của mọi người về tài thao lược vừa hiển lộ.

Trong lòng tôi nửa mừng vui, nửa hụt hẫng vô cớ.

- Từ tối qua đến giờ ngươi nhìn ông ta chưa đủ sao?

- Quang Khải cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi.

- Giờ bản vương lên đường, lúc quay lại Thăng Long chắc các người đã về Yên Bang rồi, ngươi còn không mau khóc lóc tiễn đưa?

Tôi bật cười trước dáng vẻ trách móc của tên bằng hữu.

Lại nghĩ, chục ngày qua, tôi đã quen đôi co với hắn từ sáng đến tối, thế mà giờ chắc còn rất lâu mới gặp lại nhau, cả hắn và Nhật Duật, bỗng dưng lại thấy buồn.

Hóa ra việc hợp - tan ở đời vốn liên tục hoán đổi cho nhau như thế, khi đoàn tụ với người này cũng là lúc từ biệt với người kia.

Tôi hít sâu, mỉm cười thật tươi rồi bước đến ôm chặt Quang Khải.

- Lên đường bình an.

- Tôi nói.

- Ngươi đừng quên đã mời ta đến thái ấp Độc Lập làm khách, ăn Tết xong là phải đưa thiệp mời đến ngay, mời Tĩnh Quốc vương, mời cả Nhật Duật đến chơi với ta.

Nếu không ta sẽ mách Phụng Dương rằng ngươi lén xem sách làm sao để sinh con...

Tôi chưa nói dứt câu, cái vỗ vai trìu mến của hắn đã trở thành những cú đấm mạnh ra trò vào lưng tôi.

Tôi thích chí cười ngặt nghẽo, Quang Khải thở dài, nói nhỏ:

- Hưng Ninh vương quả là bậc chân tu đáng kính, có thể giữ ngươi bên cạnh bấy lâu, hy sinh thân mình trừ hại cho dân.

- Đoạn, hắn buông tôi ra, chân thành nói.

- Giặc tan rồi, giờ không ai cần ngươi liều mạng nữa, làm gì cũng phải suy nghĩ trước sau, rõ chưa?

- Nói nhiều phết.

- Tôi cười cười.

- Ngươi càng lúc càng giống bác Dương của ta rồi.

Tên hoàng tử trẻ tuổi lườm tôi cháy da rồi sải bước một mạch lên thuyền.

Trạo phu nhổ neo, từ từ tách bến.

Tôi vội vàng leo lên mỏm đá, gọi với theo:

- Chiêu Minh vương, ngươi vẫn còn nợ ta hai xe quýt lúc ở Tiên Lễ, đừng có quên đấy!

Khi thuyền của Quang Khải đã xa khuất tầm mắt, tôi lững thững trở về lán, thấy lão già đang ngồi phía trước lau cây cung vấy máu, khóe miệng vẫn chưa tắt nụ cười.

Tôi thừa biết lão đã nghe thấy cuộc chuyện trò lúc nãy của bọn tôi, cũng thừa biết lão đang thầm chế giễu mấy chữ "hồng nhan họa thủy" mà mọi người hiểu lầm.

Mặc kệ, dù gì việc có thể khiến người ta nghĩ sai cũng chứng minh rằng tôi đúng là một đại mỹ nhân.

Tôi ngồi xuống cạnh lão, tì cằm lên gối, nghiêng đầu nhìn cánh cung trên tay lão.

- Đói bụng chưa?

- Lão hỏi.

- Lúc nãy em có ăn tạm ít lương khô, không đói ạ.

- Tôi đáp.

- Tiên sinh đi gặp quan gia sớm thế, đã ăn gì chưa?

- Ăn một ít rồi.

- Lão thở hắt ra, đưa cây cung lên soi dưới ánh nắng.

- Đợi nay mai chuẩn bị xong xuôi, quan gia sẽ chính thức hồi cung.

Ngay sau lễ chầu, chúng ta xuất phát về lại Yên Bang, chắc sẽ kịp đón giao thừa.

- Tiên sinh, sư ông đang ở Dưỡng Chân trang, năm nay chúng ta giữ sư ông ở lại cho vui nhé!

- Sư phụ không ưa chỗ náo nhiệt đâu.

- Lão nhướn mày.

- Nhưng em cứ hỏi thử xem, biết đâu lại được thêm một phong bao mừng tuổi.

Tôi bĩu môi rồi lại bật cười.

Giờ này chắc là chị tôi, anh Thân và mọi người đang tất bật quét dọn, nấu nướng, đợi bọn tôi về.

Có thể cùng nhau đón Tết ở nhà thật là tốt!

Nhìn quanh quất chẳng thấy anh lính nào đang lai vãng, tôi bèn hỏi lão:

- Sao tiên sinh không muốn đi Hoàng giang?

Lão dừng tay, nhìn tôi một lúc lâu.

Đoạn, lão nhếch mép cười, tự nói với chính mình:

- Thật không ngờ cuối cùng cậu ấy lại tìm em.

- Như thế anh ấy mới có thể vẹn toàn cả "trung" và "nghĩa", tiên sinh đừng trách...

Tôi định đỡ lời cho Đỗ Ngạc, song lại tự thấy dư thừa vì tình cảm chủ - tớ giữa họ qua bấy nhiêu năm chẳng cần tôi phải bình phẩm.

Tôi muốn dò hỏi tiếp lại thôi, vừa sợ mình không biết gì cả lại sợ mình biết quá nhiều.

- Ta định đi đón em.

Nhưng em vừa tài giỏi vừa ngu ngốc hơn ta nghĩ, tự mình gióng trống thổi kèn tiến thẳng đến Thăng Long rồi.

Ta còn đi làm gì?

- Lão nói hệt như những gì tôi đã giải thích với viên phó tướng.

- Tiên sinh nói vậy em sẽ tin là thật, sẽ vui lắm đấy.

- Tôi dẩu môi.

- Ít nhiều cũng thật chứ!

Bỏ mặc em bơi từ hành cung về Yên Bang thì đánh giá em quá cao rồi.

- Lão ấn cây cung vào tay tôi rồi đứng dậy, bước vào trong lán.

- Vậy, phần không thật là thế nào?

- Tôi lẽo đẽo theo sau lão.

Lão già ung dung ngồi xuống, tự rót cho mình một chén trà.

Tôi đi lấy hộp thuốc rồi bước đến sau lưng lão, kéo áo để lộ lớp băng đã ướt vì máu vẫn còn rỉ mãi.

Tôi xuýt xoa, thấy buốt như thể chính mình bị thương, thận trọng từng chút sợ làm lão đau thêm.

Mọi người kể lại khi giao tranh, thái tử có lúc bị ngã và suýt bị giặc chém, may nhờ lão kéo sang một bên nên tránh kịp, nhưng lão lại bị mũi nhọn của thanh đao chém trúng lưng.

Cùng sinh ra từ gốc rễ họ Trần, nhưng chỉ vì một sự lựa chọn ban đầu của thái sư mà một nhánh đời đời làm vua, hưởng mọi vinh hoa xưng tụng của vạn dân, nhánh còn lại đời đời chỉ có thể làm thần, đổi nhà, đổi mạng lấy nước cho vua.

Cả một kiếp làm quan văn, quan võ của lão già nhà tôi, trung thành đến vậy mà cũng bi ai đến vậy.

Tôi nhìn mãi tấm lưng của lão, không chỉ có vết thương mới đây mà còn những vết sẹo dài trên bả vai, được khéo léo che giấu bằng những hình xăm thủy quái.

- Nếu như quân đội của ta bao vây tứ phía, hệt như cảnh ngày xưa ông ta vây chặt một thiếu phụ và mấy đứa trẻ trong tinh xá...

- Đột nhiên, lão nói rất khẽ.

Tôi ngồi phía sau nên không nhìn thấy gương mặt lão lúc này.

- Ta chỉ định hỏi thử xem suốt từng ấy năm, đã có lần nào ông ta thấy ác mộng chưa?

Tôi biết, "ông ta" mà lão già đang nói đến chính là thái sư Trần Thủ Độ.

Tôi cũng từng bị giặc vây khốn trong chùa, cũng vừa mới muốn phanh thây kẻ ác thành trăm mảnh cho hả giận...

Trong phút chốc, tôi bỗng thấy người đàn ông cao lớn đang ngồi trước mặt mình bơ vơ và lạc lõng như một đứa trẻ.

Tôi không dám tin một thiền sư đắc đạo nổi danh khắp bốn phương có thể ngây thơ và cố chấp đến mức chỉ muốn nghe một kẻ chuyện gì cũng dám làm như thái sư nói một câu hối lỗi.

Nhưng ngoài việc ép ông ta tạ lỗi với vong linh của Khâm Minh đại vương và công chúa Thuận Thiên ra, lão còn có thể làm gì khác nữa, để quá khứ ngủ yên?

Ấy thế mà cả một việc ấu trĩ giản đơn nhường vậy, cuối cùng lão già của tôi vẫn chọn không làm.

Bóng lưng của lão trước nay luôn cô độc nhưng vững chãi, khiến tôi cảm thấy yên tâm và tin tưởng mà trú ẩn phía sau.

Giờ khắc này, tôi lại đột nhiên muốn ôm chặt tấm lưng ấy, nói với lão rằng dù lão có chấp nhặt, vô lý đến mực nào, lão vẫn luôn có tôi ở cạnh, muốn làm gì cho thỏa ý thì cứ làm đi, chỉ cần lão đừng đau lòng nữa...

Lão chỉ nói bấy nhiêu rồi lại trầm ngâm tự thưởng trà.

Tôi len lén đưa tay chùi khóe mắt, đoạn tiếp tục lau vết thương, bôi thuốc rồi quấn băng lại cho lão, vừa làm vừa thổi nhẹ cho lão đỡ xót.

Trong phòng chỉ còn lại mùi thuốc và hương trầm thoang thoảng.

Mãi đến khi đã băng bó xong, tôi khoác áo lại cho lão rồi lại ngồi yên lặng phía sau, mân mê hộp thuốc.

- Em nghe Quang Khải nói, hôm nay là lệnh của quan gia nhưng tiên sinh vẫn từ chối.

- Giây lâu, tôi ngẩng mặt lên, cố nói bằng giọng bình thản nhất như đang kể chuyện của ai.

- Vì...

- Lão ngập ngừng.

- Hôm qua em nói, "chúng ta về nhà, nhé".

Tôi ngớ người, nhìn chăm chăm vào gáy lão, thật lâu sau lão vẫn không quay đầu lại.

Trong lòng tôi như vỡ ra điều gì đó, lại càng mông lung một điều gì đó.

Tôi tự trách mình dạo này sao mà mau nước mắt, chỉ một câu nói cũng có thể khiến tôi khóc.

Nhưng như thế cũng tốt!

Lần đầu tiên trong đời tôi thấy may mắn vì mình không phải là một đại trượng phu như tôi vẫn tự xưng.

- Phong!

- Lão càu nhàu.

- Em học ở đâu trò trị thương bằng cách dụi đầu vào vết thương đang rỉ máu của bệnh nhân thế?

- Em là lang băm.

Mấy trò này đâu cần ai dạy!

- Lão không thấy tôi tít mắt cười.

[1] Tuệ Trung thượng sĩ có bài thơ Phàm thánh bất dị (Phàm và thánh chẳng khác nhau).
 
Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 37: QUY NHƯ [1]


Thuyền chở lão già và tôi xuất phát sau cùng, khi đoàn người của quan gia và thái tử đã hướng về phía Thăng Long, phó tướng Đỗ Ngạc và Trần Cụ cũng đã dẫn đầu đoàn thuyền đưa Thánh Dực quân về Hồng lộ.

Lão già muốn đích thân về phủ an phủ sứ chỉnh đốn quân doanh trước, song nhiều người đã biết việc lão bị thương trong trận chiến nên tất thảy tướng sĩ đồng lòng xin lão sớm về Yên Bang.

Tôi cũng mong lão sớm được nghỉ ngơi, bèn về một phe với họ mà nói giúp mấy câu:

- Thuyền có vương gia cần tịnh dưỡng, dù nói gì đi nữa trạo phu cũng không dám chèo nhanh hoặc làm ồn.

Xem như người cho phép họ nhanh chóng về đến nhà kịp đón giao thừa vậy!

Quân đội ở Hoàng giang đã có một đêm trừ tịch sớm, nhưng những người lính Thánh Dực theo chân lão đóng ở Cổ Mai thì đã lâu chưa có một hôm thực sự no say, thành thử, cái cớ xoàng xĩnh của tôi bỗng hóa hợp lý vô cùng.

Lão thở dài một tiếng, khẽ dặn Đỗ Ngạc:

- Thay ta mang lễ vật đến từng nhà các binh sĩ đã nằm lại chiến trường, sắp xếp chu đáo cho gia đình họ.

- Thưa vâng! – Viên phó tướng cúi đầu.

Trước giờ toàn quân nhổ trại, lão già nhà tôi được lệnh chủ trì lễ tế vong linh tướng sĩ đã hy sinh.

Tôi biết trước giờ lão vốn không tình nguyện tham gia các lễ tế của hoàng thất, song đây lại là một việc hoàn toàn khác.

Đứng giữa tế đàn, lão dùng giọng nói trầm trầm đầy uy lực tụng liên tiếp mấy hồi chú vãng sinh, cho tất cả những người đã nằm xuống trong trận chiến này không kể địch ta.

Những oan hồn được vỗ về, chiến địa mới hôm qua còn nồng tanh mùi máu và nặng nề sát khí đã dần dần trở lại vẻ thanh bình.

Trên tay lão chính là chuỗi hạt của cụ Đảm ngày trước.

Tôi đứng cùng các binh sĩ quân Thánh Dực, mắt không rời khỏi bóng lưng người chủ tế.

Bên dưới lớp áo choàng ấy, hẳn là vết thương vẫn không ngừng rỉ máu, và vết xước trong lòng lão vẫn âm ỉ nhói đau.

Lão từng dạy tôi, chú vãng sinh kỳ thực dùng để an ủi những người còn sống, để họ tin rằng người thân của họ khi thác rồi vẫn được Thần Phật chở che, đưa về chốn niết bàn.

Lão đã cho người đốt cháy cây cột từng treo xác cụ Đảm, lấy tro và một ít đất ở nơi đó mang về Dưỡng Chân trang để chúng tôi còn được lo hương khói cho cụ sau này.

Tôi biết lão làm như thế chỉ để giúp tôi vơi nỗi ăn năn.

Giá như tôi cũng có thể làm được gì đó để lão già của tôi thực sự thanh thản, thực sự yên lòng, thực sự buông bỏ chuyện của người đời trước.

Nhưng tôi cũng chỉ là một hậu bối, chuyện xưa chẳng biết được mấy phần...

Khi thuyền rời bến Triều Đông, mặt trời đang khuất dần sau dãy núi.

Tôi ngồi ở mũi thuyền, trông mãi về nơi cuối cùng mà tôi nhìn thấy độc túc tráng sĩ, thấy anh Túc, thấy rất nhiều người lính mà tôi chưa kịp biết tên.

Chỉ một thời gian ngắn mà những chuyện tôi mắt thấy tai nghe đã nhiều hơn cả đời cộng lại.

Giờ khắc toàn quân xuất phát trưa nay hay tận lúc này, mọi người đều rất hồ hởi vì chiến thắng, vì năm mới sắp đến, vì họ biết niềm vui này đắt giá đến mực nào.

Thế nên tôi cũng không cho phép mình suy nghĩ nhiều thêm về những chuyện đã không có cách nào cứu vãn.

Nhìn trời nước mãi cũng đâm chán, tôi bèn đưa cây sáo ngọc lên môi, thổi một khúc nhạc vui tươi.

Từ bụi cây phía xa, một cánh chim bay vụt lên trời rồi chao liệng trong ánh ráng chiều.

Có anh lính buột miệng:

- Cô Nhã Phong cũng có tài thổi sáo điều kiển chim thú giống vương gia ư?

Tôi ngơ ngác chưa kịp hiểu ra chuyện gì thì mọi người đã xôn xao:

- Tôi nghe mọi người nói đêm ấy thần sầu quỷ khốc mà chưa được chứng kiến.

Bác có mặt ở đó không, thế nào?

- Bác mà thấy cảnh ấy còn tưởng vương gia của chúng ta là sứ giả nhà Trời đấy!

Tôi bật cười, hóa ra họ nhắc đến đêm tập kích nọ.

Cũng vừa hay, vị sứ giả nhà Trời họ đang ca tụng vừa bước ra chỗ tôi đang đứng, hất hàm cười:

- Năm mới sang rồi, ta cũng nên phổ vài khúc nhạc mới nhỉ?

Nói đoạn, lão ra hiệu cho tôi tiếp tục thổi sáo, còn mình bước ra ngồi ở mũi thuyền, vừa hát vừa vỗ lên mạn thuyền, mắt trìu mến nhìn từng binh sĩ.

Trên thuyền có những người trẻ tuổi mới sung quân vì trận chiến này, mấy ngày qua quen đứng từ xa nhìn chủ tướng đĩnh đạc, cao quý, nên giờ họ chỉ biết há hốc mồm vì kinh ngạc.

Những binh sĩ khác theo lão già lâu hơn ít nhiều biết tính cách của lão nên có thể bắt nhịp rất nhanh, cười to sảng khoái rồi cũng vỗ tay, gõ nhịp, hòa giọng hát vang.

Chẳng mấy chốc, cả khúc sông đã rộn ràng.

Hát hết mấy bài, có người lính vì quá vui mà cả gan đề nghị:

- Bẩm, tôi nghe nói vương gia tinh thông kim cổ, không biết người có thể xem giúp tôi một quẻ xem vận mệnh thế nào không ạ?

Bốn bề bỗng im lặng như tờ, có người sợ hãi cúi đầu không dám nhìn lên.

Tuy trước giờ thầy Tuệ Trung nổi danh bác ái, từ bi, thường giúp mọi người hiểu thấu lẽ thiệt hơn, nhưng đó là khi ở Dưỡng Chân trang, và người đó là thiền sư Tuệ Trung, không phải Hưng Ninh vương, không phải trong lúc người đang ngồi trên chiến thuyền như lúc này, càng không phải để tiên đoán quá khứ vị lai như anh lính nọ vừa thỉnh cầu.

Có người vờ trách anh ta:

- Chúng ta thắng giặc mà vẫn sống sót trở về nghĩa là mạng lớn rồi, bác còn đòi gieo quẻ làm gì!

- Phải, phải đấy, để vương gia nghỉ ngơi chứ!

Anh lính nhận ra mình vừa quá phận, gượng gạo cười định lẩn vào đám đông, nhưng lão đã đưa tay vẫy anh lại gần.

Người lính chậm chạp bước lên, lấm lét cúi thấp đầu chờ một lời quở phạt.

Lão già chăm chú nhìn anh lính, khẽ bảo:

- Nam tả, nữ hữu, anh chìa tay trái ta xem.

Bàn tay người lính run run đưa lên trước mặt, lão lại xem xét giây lâu rồi từ tốn nói:

- Số anh chẳng giàu thì nghèo,

Ngày ba mươi Tết thịt treo trong nhà.

Số anh có mẹ, có cha,

Mẹ anh đàn bà, cha anh đàn ông.

Số anh có vợ có chồng,

Sinh con đầu lòng chẳng gái thì trai. [2]

Đâu đó có tiếng cười khẽ bị nén lại, không khí vẫn rất lạ kỳ.

Tôi vờ nghiêm mặt hỏi lão:

- Vương gia phán thế nhỡ đâu anh ấy mãi lo chinh chiến, nhà chưa kịp nuôi lợn thì Tết này lấy đâu ra thịt để treo?

- Ừ nhỉ...

- Lão ngập ngừng rồi lại nói liền một mạch. – Về đến Dưỡng Chân trang, em bảo cậu Thân mang hai con lợn béo qua nhà cậu ta ngay, không thể để quẻ bói của ta sai được.

Lúc này mọi người mới vỡ lẽ là vương gia của họ đang đùa, cười rộ cả lên.

- Nhất bác rồi nhé, tôi qua thăm nhà nhớ mang rượu thịt thết đãi đấy!

- Tôi sẽ làm cỗ to.

Các bác phải qua cả, không được thiếu một ai nhé! – Người lính vừa được một phen thất kinh giờ lại cười đến chảy cả nước mắt.

Tôi sai người mang ít rượu ra để mọi người uống cho ấm bụng, riêng lão già và tôi cũng lấy trà thay rượu.

Mọi người hết cười nói lại hát ca.

Sóng vỗ rì rào dưới mạn thuyền, như thể những anh linh đã vì quốc vong thân mà nằm lại dưới lòng sông cũng hòa giọng mừng chiến thắng.

---

Chúng tôi về đến làng Vạn Niên mà không báo trước, tuy cũng có người biết chuyện len lén ra nhìn, song ai nấy đều đoán tính Hưng Ninh vương ưa yên tĩnh nên không dám ồn ào.

Tôi đưa mắt nhìn mấy bóng người nấp sau rào giậu, bỗng nhiên thấy cao hứng, chộp lấy một lá cờ quân Thánh Dực vẫy thật cao, thúc Cụ Nhỏ chạy nhanh về phía trước, miệng không ngừng hô vang:

- Quân ta chiến thắng trở về rồi!

Hưng Ninh vương trở về rồi!

Dường như chỉ chờ có thế, người trong làng từ bốn phía ùa ra tiếp đón, reo hò inh ỏi, có người còn mang cả mâm, cả nồi đồng ra gõ điếc cả tai.

Bọn trẻ con trong làng nhận ra tôi, bắt tay lên miệng làm loa, thét lớn:

- Chị Nhã Phong đánh giặc về kìa!

Oai quá!

Tôi ngoái nhìn lão già, cười tít mắt.

Quân kỳ rực rỡ dưới hoàng hôn, hệt như mới hôm nào trong rừng Cổ Mai chúng tôi cùng xuất trận.

Lão già của tôi vẫn thong thả cưỡi ngựa đi chầm chậm, không quên mỉm cười đáp lại lời thăm hỏi và chúc tụng của mọi người.

Tiếng reo hò dẫn chúng tôi về tận cổng Dưỡng Chân trang:

- Hưng Ninh vương về rồi!

- Tuệ Trung thiền sư về rồi!

Chị tôi đang đứng cạnh anh Thân, bác Dương đã từ Hồng lộ trở về, còn có sư ông Phúc Đường và tất thảy gia nhân đều có mặt, chẳng thiếu một ai.

Lão già chậm rãi xuống ngựa, vái chào:

- Sư phụ!

- Sư ông! – Tôi cũng cúi thấp đầu.

Sư ông đến nâng chúng tôi dậy, mỉm cười hiền hậu, khẽ siết tay thay cho muôn vạn lời nói.

Lão già nhìn sang chị tôi, chị liền đoan trang hành lễ:

- Mừng vương gia thắng trận trở về!

- Nàng vẫn khỏe chứ. – Lão ân cần hỏi.

- Bẩm, mọi người ở Dưỡng Chân trang vẫn bình an. – Chị đáp.

- Bấy lâu cũng nhờ có nàng, đã vất vả rồi. – Lão mỉm cười.

Đợi phu thê hai người lễ nghĩa đủ đầy, tôi bước đến ôm chặt chị.

Từ trước đến giờ tôi và chị không hay gần gũi, song, sau khi chứng chiến từng người từng người một bên cạnh mình ngã xuống, tôi đã nhớ người chị trên danh nghĩa của mình rất nhiều lần trong suốt những ngày ở Hoàng giang.

Cũng may, khói lửa chưa kịp chạm đến vùng đất bình yên mà tôi muốn bảo vệ bằng cả tính mạng này.

Chị tôi thoáng bất ngờ rồi cũng dịu dàng vuốt lưng tôi, khẽ hỏi:

- Em không bị thương ở đâu đấy chứ?

- Không ạ. – Tôi đáp. – Nhưng em nhớ những khi nghịch dại bị chị mắng, nhớ những lời kể lể của anh Thân, nhớ mấy món mà bác Dương hay nấu...

Mọi người cười rộ trước vẻ háu đói của tôi, anh Thân hồ hởi nói:

- Vương phi biết cô Nhã Phong bấy lâu không được ăn ngon nên đã chuẩn bị rất nhiều thức ăn đấy!

Cô mau vào thôi!

Mọi người vui vẻ bước vào trong, riêng tôi quay lại chỗ Cụ Nhỏ đang được một anh lính giữ giúp, tháo chiếc đẫy đeo trên lưng nó, thận trọng ôm trong lòng.

Đưa mắt nhìn lên chiếc cổng lớn của Dưỡng Chân trang, nhìn làn khói ấm áp bay lên từ khu nhà bếp, lại nhìn xuống thấy lão già đang đợi, tôi mỉm cười, khẽ nói với hũ tro nhỏ và quyển y thư trên tay:

- Chúng ta về đến nhà rồi!

---

Chị tôi biết mọi người đi đường xa mệt mỏi, binh sĩ lại nóng lòng đoàn tụ với gia đình nên không vội tổ chức tiệc mừng công, chỉ chuẩn bị rất nhiều phần quà Tết để họ mang về và một mâm cơm nhỏ để mấy người chúng tôi dùng bữa ấm cúng cùng nhau.

Lão già vừa ăn vừa hỏi chị tôi những việc ở Dưỡng Chân trang suốt hơn một năm qua, dặn dò thêm vài việc khác, mãi đến khi trời tối mịt mới trở về phòng.

Lão bảo anh Thân giúp lão chăm sóc vết thương, không để tôi thấy rồi lắm mồm nữa.

Thế nên suốt cả ngày hôm nay, tôi cứ len lén nhìn xem sắc mặt lão có xanh xao không, hơi thở có khó nhọc không.

Bị thương nặng như thế lại không được nghỉ ngơi, hết đi thuyền rồi lại cưỡi ngựa, luôn phải tỏ ra tươi tỉnh để kẻ dưới được yên lòng mà vui chiến thắng, trong lòng lại có vô vàn việc nhỏ việc to cần lo nghĩ, tôi không biết lão có thể cầm cự được bao lâu.

Cứ ngỡ khi về đến nhà thì có thể ngủ thật say, song bụng đã no mà đầu óc tôi vẫn tỉnh táo lạ thường.

Tôi bước ra sân, ngồi ngắm trời ngắm đất.

Phòng tôi ở cạnh phòng của lão già như từ bé đến giờ.

Tôi cứ nhìn mông lung về căn phòng đang đóng chặt ấy, thật lâu.

Cuối cùng, cửa phòng cũng mở ra.

Lão già chẳng ngạc nhiên khi nhìn thấy tôi.

Mái tóc của lão không búi gọn gàng như ban ngày mà để lòa xòa, vài sợi trước trán khẽ lay.

Trên người khoác hờ tấm áo choàng, lão chậm rãi bước ra.

Tôi chạy đến đỡ tay lão, dìu lão cùng ngồi xuống bậc thềm, cảm nhận rõ sự nặng nhọc trong từng bước chân.

Chúng tôi ngồi lặng im nghe tiếng gió xào xạc trên tán lá, tiếng côn trùng rả rích kêu.

- Học ai mà cũng biết khó ngủ rồi? – Hồi lâu, lão lên tiếng châm chọc.

- Em nghe nói bậc trí giả thường trằn trọc suy tư.

Em ngu dốt khó thành trí giả, nhưng bắt chước họ suy tư giữa đêm thì em làm được ạ. – Tôi uể oải đáp.

Lão già nhếch mép cười.

Đoạn, lão như nhớ ra còn việc vẫn chưa làm xong bèn dặn dò tôi:

- Thân sinh của Đỗ Ngạc ở Vạn Niên.

Cậu ấy thay ta lo việc ở Hồng lộ trở về chắc Tết cũng sắp tàn.

Ngày mai em thay ta sang thăm hỏi họ trước.

- Vâng ạ.

- Không biết Hưng Đạo đã lui binh, về đến Vạn Kiếp chưa.

Ta vẫn chưa nói với chú ấy chuyện của Nguyễn Địa Lô.

- Anh Voi Lớn hiểu tấm lòng của tiên sinh, sẽ thay tiên sinh chuyển lời cho Hưng Đạo vương thôi. – Tôi nói. – Nếu người vẫn chưa yên tâm, sáng mai em sẽ viết một bức thư gửi cùng mấy bình rượu mơ đến phủ cho vương.

- Chú ấy...

- Lão ngập ngừng.

- Không thích rượu mơ? – Tôi cố ý nhắc lại việc lão lừa tôi ủ rượu ở Cổ Mai. – Em thừa biết, em đã nhờ chị chuẩn bị rượu nếp cái hoa vàng để biếu cho vương.

Lão cười cười, lảng sang chuyện khác:

- Đã đưa tro của cụ Đảm vào điện thờ chưa?

- Rồi ạ.

Cạnh Nguyễn Nam. – Nói đến đây, tôi nhớ ra mình vẫn chưa kể cho lão nghe một việc. – Em xin lỗi vì chưa hỏi ý tiên sinh đã vội hành sự.

Thái tử hứa với em sau khi trở về kinh sẽ xá tội cho Vũ Thành vương.

Em đoán ngài ấy còn bận nhiều việc nên chưa thể làm ngay, nhưng khi Vũ Thành vương tự do rồi, em sẽ mang linh vị và quyển y thư của Nguyễn Nam trả về cho họ Phạm.

Lão già thoáng ngạc nhiên, đoạn trầm ngâm một lúc thật lâu mới khẽ đáp:

- Ừ.

Cảm ơn em.

Phía bên kia sân vẫn sáng đèn.

Các gia nhân đang cùng nhau quét dọn, nấu nướng, làm bánh chuẩn bị cho mâm cỗ giao thừa thật đủ đầy.

Tôi ngửa mặt, hít sâu mùi khói bếp và lắng nghe tiếng người í ới gọi nhau.

Bỗng lại nhớ ra một việc khác, tôi vội vã chạy về phòng, bỏ mặc lão ngơ ngác giữa sân.

Tôi lục tung túi hành lý của mình, cuối cùng tìm được chiếc khăn tay mà tôi cố gắng thêu lại đóa mộc lan của công chúa Thuận Thiên.

- Đây là...

- Lão cầm chiếc khăn tôi vừa đưa, đoạn lại so sánh với chiếc khăn đang quấn vết thương trên cổ tay mình. – Em đã thêu bao nhiêu chiếc?

- Hai... mươi mấy ạ.

- Tôi gãi gãi đầu. – Ở Hoàng giang em không có việc gì làm nên muốn làm gì đó cho tiên sinh vui.

Nhưng em không khéo tay...

Lúc Tĩnh Quốc vương xuất quân, em thấy ngài chẳng ai đưa tiễn nên đã tặng bừa một trong số những chiếc thêu hỏng, không ngờ ngài ấy lại tưởng là thật, mang trả cho tiên sinh.

Lão già cười khùng khục trong cổ họng khiến tôi xấu hổ không biết giấu mặt vào đâu.

Lão đưa tay vò vò đầu tôi đầy thích thú:

- Xem ra chỉ một năm vắng nhà mà ta đã bỏ lỡ rất nhiều thứ.

- Có phải bây giờ người thấy em rất ra dáng hảo hán, rất đáng để nương tựa có phải không? – Tôi vênh mặt nói.

- Không phải mới bây giờ. – Giọng lão lại trở nên khẽ khàng, có chút mệt mỏi. – Mấy cây hoa nhài này do em trồng đấy à?

- Vâng. – Tôi ngáp dài, liếc mắt về bụi hoa nhài trước cửa phòng. – Em định trồng để ướp trà, nhưng nhiều sâu quá nên em nhờ anh Thân chăm giúp.

- Ừ. – Lão trầm ngâm. – Phong!

Có một con rơi trên tóc em này.

Tôi hét lên một tiếng thất thanh rồi đưa tay phủi tóc liên tục, mặt cắt không còn giọt máu.

Lũ sâu của cây hoa nhài vừa to vừa xấu xí, tởm chết đi được.

Mái tóc dài mượt xinh đẹp của tôi...

- Hóa ra hảo hán ở Yên Bang cũng biết sợ sâu nhỉ?

Lão nhướn mày tỏ vẻ ngạc nhiên rồi bật cười thành tiếng khi thấy mặt tôi nghệch ra rồi dần chuyển sang vừa thẹn vừa giận.

Tôi đang cố nghĩ cách trả đũa thì tràng cười của lão đã chuyển thành những tiếng ho sù sụ.

Tôi vội vã đến vuốt lưng cho lão đỡ cơn ho, muốn đỡ lão về phòng nghỉ nhưng lão đã đưa tay ngăn lại.

Chúng tôi ngồi im lặng thật lâu, gió đưa hương nhài thoang thoảng khiến sự hậm hực trong lòng tôi cũng dịu bớt đôi phần.

Mãi sau lão mới cất tiếng làm hòa, giọng nói càng lúc càng nhẹ như hơi thở:

- Em còn trải qua những chuyện gì mà ta chưa biết?

Câu hỏi của lão khiến tôi ngẩn người, lặng im thật lâu nhớ lại những chuyện xưa rồi vô thức nói thành lời:

- Khi tiên sinh không còn ở đây, đã có rất nhiều đêm em ngồi ở trước cửa phòng như thế này, nhìn mãi, nhìn mãi, đợi tiên sinh bước ra mắng em khuya rồi sao không ngủ. – Không biết có phải vì đêm lạnh, giọng tôi bỗng run run. – Nhưng mà... không có.

Chỉ có em bị phải gió, ốm liền mấy ngày sau thôi.

Đôi mắt hơi mệt mỏi của lão già thoáng nét đau lòng.

Tôi hít một hơi thật sâu, mỉm cười nhìn sang hướng khác:

- Nhưng tối nay em lại mong tiên sinh cứ ở yên đấy, ngủ thật say.

Tiên sinh hay dạy người ta sinh tử là lẽ thường, đói thì ăn, khát thì uống, thế mà bản thân người lại không biết mệt rồi thì phải nghỉ ngơi.

Em sợ vết thương của người...

Tuy rằng em chẳng bằng ai, đừng nói là so với bọn Quang Khải, mà ngay cả ở Dưỡng Chân trang em cũng cực kỳ vô dụng, nhưng em vẫn có thể cho người tựa vào một chút.

- Vậy à?

Lão hỏi nhỏ đến mức tôi không chắc mình có nghe lầm không, song tôi không ngoái lại nhìn lão mà chỉ đều đều kể tiếp những chuyện mà ngày thường khó nói thành lời:

- Em biết em có thể bình an đến Hồng lộ là vì tiên sinh vẫn luôn cho người âm thầm bảo hộ phía sau.

Cái hôm em vào nhà lao ở Tiên Lễ, chắc vị quan đó cũng chẳng mến mộ cửa Không đến mức chỉ nhìn một mảnh ngọc của sư ông mà đã thả em ra.

Em đã luôn nép sau lưng tiên sinh mà nghĩ rằng mình tài giỏi đấy thôi.

Tôi không nghe lão đáp gì, hồi lâu bỗng thấy vai mình nằng nặng.

Mái tóc thơm hương thảo mộc của lão phủ lên vai tôi.

Tôi vừa thấy ấm áp, vừa thấy sợ hãi vô cớ, bèn ghé sát tai lão khe khẽ nói:

- Tiên sinh mệt rồi, không cần lo nợ nước, không cần nghĩ đến thù nhà, không cần một mình gồng gánh cả chi Vạn Kiếp.

Bên cạnh tiên sinh còn có Hưng Đạo vương, có tướng quân Đỗ Ngạc, có chị Thiên Hương, có cả em.

Em gác cửa cho người ngủ, có được không?

Lão vẫn không trả lời, tôi thử lay nhẹ, cả thân người to lớn đổ sụp vào lòng tôi.

Trán lão nóng bừng vì sốt, còn lưng áo ướt đẫm vì vết thương vẫn rỉ máu không ngừng nhưng gương mặt lại bình yên như đang say ngủ.

Tôi muốn khóc òa lên, song cuối cùng lại chỉ ôm chặt lão, không ngừng lặp đi lặp lại:

- Tiên sinh vào trong nghỉ ngơi đi, em gác cửa cho người.

---

[1] Quy như nghĩa là trở về chân như, trích tựa bài Vạn sự quy như của Tuệ Trung Thượng sĩ

[2] Ca dao.
 
Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 38: PHỤNG MÚA, NGHÊ CHẦU [1]


Sau khi giúp tôi đưa lão già về phòng và băng bó lại vết thương cho lão, anh Thân đưa tay mời tôi ra sân, khẽ khàng đóng cửa phòng lão lại:

- Đêm nay tôi sẽ ở đây trông chừng vương gia, mời cô Nhã Phong đi nghỉ ạ.

Từ lúc về đến giờ cô đã nghỉ được chút nào đâu!

- Em không mệt. – Tôi mỉm cười. – Em đã hứa với tiên sinh sẽ gác cửa đến khi người tỉnh dậy.

Thường ngày, người phu xe kiêm cận vệ thân tín của lão già nhà tôi sẽ luôn càu nhàu thêm vài câu dù biết rồi tôi cũng bỏ ngoài tai, song hôm nay anh lại chỉ giương mắt nhìn tôi giây lâu, đoạn mỉm cười thật buồn rồi vẫy tay gọi người mang một chiếc ghế trúc đặt trước thềm, không quên mang thêm ấm trà nóng và ít bánh mứt cho tôi.

Anh ngồi trên bậc đá, nhìn ra khoảng sân tối mênh mông, ánh mắt xa xăm như thể đang nhớ lại chuyện từ kiếp trước.

Tôi tựa sâu vào lưng ghế, kéo áo choàng kín cổ, ung dung chăm trà rồi đưa một chén mời anh.

- Vết thương của vương chỉ bị động vì đường xa, cô đừng lo lắng quá. – Anh ủ chén trà trong tay, ân cần động viên tôi.

- Anh Thân băng bó thạo nghề như thế, em không lo. – Tôi mỉm cười, cao hứng hỏi chuyện xưa của lão già. – Chắc lúc nhỏ tiên sinh cũng hiếu động, hay bị thương để anh phải trổ tài ạ?

Anh Thân cười hiền, khẽ lắc đầu:

- Từ lúc tôi theo vương gia, vương đã không giống một đứa trẻ rồi, nếu có bị xây xát thì cũng vì tập luyện kiếm cung, không phải do nghịch ngợm đâu.

Tôi hơi ngạc nhiên trước lời anh nói, vì trước đây qua lời kể của cụ Đảm, lão già khi còn trẻ cũng sôi nổi và thích phiêu lưu.

Ngay cả đến bây giờ, khi tuổi đã cao, bên ngoài diện mạo luôn từ tốn, nho nhã kia, lão vẫn hành sự tùy hứng và ưa chọc tôi nổi cáu thì lẽ nào lúc thơ ấu lão lại đĩnh đạc, quy củ được?

Như hiểu được những thắc mắc trong lòng tôi, anh Thân giải thích:

- Mấy năm đầu tiên tôi đến Yên Bang, vương gia rất trầm lặng, chưa hề nổi nóng với ai nhưng cũng rất ít khi đùa.

Về sau, chắc nhờ thiền sư Phúc Đường khai tâm, trông vương càng lúc càng thư thái, ung dung.

Đến khi cô Nhã Phong vào phủ, tôi bắt đầu thấy vương cười nhiều hơn trước.

- Vâng, cả ngày mang em ra làm trò đùa thì lại chẳng cười? – Tôi hậm hực nhớ lại chuyện con sâu vừa nãy.

- Vương nói với tôi, cô Nhã Phong cho vương nhìn rõ sơ tâm. – Anh vẫn từ tốn giải thích.

Lão già từng dạy tôi, "sơ tâm" của một đứa trẻ là thứ gần Phật nhất.

Một đứa trẻ thấy hoa mai thì biết đó là hoa mai, không chấp trước, không nhìn hoa mai nhớ hoa cúc rồi khởi niệm so sánh xấu đẹp, càng không giảng giải sâu xa rằng hoa mai cao quý vì đã kiêu hãnh vượt qua giá rét thế nào.

Con người lớn lên, trải nghiệm nhiều hơn, hiểu biết nhiều hơn nhưng lại vô tình đánh mất cái "biết" thuở ban đầu, lúc nào cũng vấn vương những nuối tiếc từ quá khứ, những lo lắng về tương lai mà quên mất việc tận hưởng niềm vui ở thời khắc hiện tại, quên cách nhìn sự vật như nó vốn là.

- Chắc do đầu óc em đơn giản, lại vô tâm, có muốn lo nghĩ cũng không lo nghĩ được nhiều. – Tôi đáp.

- Cô Nhã Phong vô tâm thì sao có thể vừa về đến đã nhớ việc chân của nhà tôi hay đau mỗi khi trở trời mà ban thêm thuốc quý. – Anh cười hiền.

Tôi phì cười, gật gù đồng ý với lời tán thưởng của anh mà không nói gì thêm.

Không biết lão già sẽ tỉnh lại khi nào, tôi vừa mong lão chóng khỏe lại, vừa hy vọng lão có thể nghỉ ngơi lâu hơn một chút để cơ thể phục hồi.

Đang vừa nhấm trà vừa nghĩ ngợi lung tung thì tôi trông thấy sư ông khoan thai đi đến.

Tôi nhanh nhẹn đến chào, anh Thân sốt sắng mang thêm ghế, thêm một tách trà.

- Tuệ Trung thế nào rồi? – Sư ông ôn tồn hỏi.

- Bạch sư ông, tiên sinh đã hạ sốt, hiện đang ngủ say ạ. – Tôi lễ phép thưa.

- Huệ Tâm cũng bị thương phải không, con nên chóng về phòng tĩnh dưỡng.

- Bẩm thiền sư. – Anh Thân hào hứng đáp thay tôi. – Vương gia nay đã có người gác cửa thay để nghỉ ngơi một chút rồi.

Sư ông nhìn anh Thân rồi lại nhìn tôi, đoạn gật gù như hiểu ra điều gì, mỉm cười hiền từ.

- Có chuyện gì mà Huệ Tâm chưa biết không ạ? – Tôi hiếu kỳ hỏi cả hai người.

- Năm đó, khi không ngăn được Khâm Minh đại vương gây loạn, nữ quyến và trẻ nhỏ trong phủ đều đến lánh nạn ở Phúc Đường. – Anh Thân chậm rãi kể. – Vương gia là trưởng tử nên đã cùng Hưng Đạo vương cầm kiếm trấn giữ ở cổng tinh xá suốt một ngày một đêm giữ an toàn cho mọi người, đợi đến khi lệnh ân xá của quan gia được ban đến.

- Em nghe nói anh Thân theo tiên sinh cũng từ lúc ấy? – Tôi khẽ hỏi, trong đầu lờ mờ hình dung ra tình cảnh khi ấy và dáng đứng oai nghiêm của một Hưng Ninh vương vừa lên bảy.

- Thưa vâng. – Người phu xe đáp.

Kể từ lúc ấy, đã hơn hai mươi năm trôi qua, dù có thấu suốt Phật lý thế nào, hiểu rõ cái lẽ "chim mỏi đậu khóm lau, cá mệt dừng đáy nước"[2] ra sao, thì ngày nào còn sống giữa những người họ Trần, lão già của tôi hẳn còn chưa thể buông xuống những gánh nặng trên vai.

Tôi hiểu tâm tư của anh Thân, bởi tôi đã không ít lần xót xa khi nhìn về phía lão.

- Tiên sinh đã đứng ở đó hai mươi năm rồi.

Khẽ giấu tiếng thở dài, tôi rót thêm trà vào chén cho sư ông, dâng bằng hai tay rồi nhìn người chờ đợi.

Vị thiền sư đắc đạo thong thả thưởng trà, mông lung nhìn lên nền trời đen thẳm, vừa như suy tư lại vừa như đã nhìn thấu mọi sự trên đời.

Giây lâu, người đặt chén trà đã cạn vào tay tôi.

- Chưa từng giữ được trong tay thì làm cách nào để buông bỏ?

Sư ông nói khẽ như thế rồi rời đi, tà áo bay trong gió khuya nhẹ nhàng như một vị tiên ông đang lướt trên mây gió.

Tôi nhìn theo "lão cổ chùy"[3] mà lão già nhà tôi kính trọng hơn bất kỳ ai, suy nghĩ rất lâu vẫn không hiểu được đâu mới thực là thứ lão "chưa từng nắm giữ"?

Rồi tôi lại nhớ lời anh Thân bảo giờ lão đã có người gác cổng thay để nghỉ ngơi, chợt thấy mình chẳng khác gì con sấu đá[4] chạm trên thành bậc trước các điện ở Dưỡng Chân trang, hoặc giống như con sư tử chầu dưới tòa sen của Phật.

Nghĩ đến đây, tôi vô thức ngồi thẳng lưng, ngẩng đầu, ưỡn ngực để thêm phần oai vệ, miệng mỉm cười cho giống vẻ rạng rỡ bông đùa của bọn chúng dù chẳng ai nhìn thấy.

Làm sấu đá mãi cũng mỏi người, tôi rón rén mở cửa bước vào phòng xem lão có trở sốt giữa đêm không.

Lão già của tôi đang say ngủ, rất bình yên.

Vì vết thương trên lưng, chúng tôi chỉ có thể đặt lão nằm nghiêng.

Vừa hay, trông lão nằm lại giống hệt tư thế nhập Niết Bàn của đấng Thế Tôn.

- Thế là lão sẽ triệt để giác ngộ hay mãi mãi không tỉnh lại nữa nhỉ?

Tôi lẩm bẩm như thế rồi lắc đầu nguầy nguậy để xua đi những ý nghĩ không may.

Ngồi xuống cạnh bên giường lão, tôi khẽ khàng sờ trán lão rồi thở ra nhẹ nhõm, thuận tay vuốt mấy sợi tóc lòa xòa phủ xuống đôi mày dài rậm, nhớ đến những lời sư ông và anh Thân nói ban nãy.

- Tiên sinh, có phải em đã đến muộn không?

***

Sáng hôm sau, tôi nhờ chị đến thăm phụ mẫu phó tướng Đỗ Ngạc thay lão già, đồng thời động viên những gia nhân thân cận cứ tiếp tục chuẩn bị đón Tết, dù lão có tỉnh lại kịp hay không.

Chị tôi ngạc nhiên:

- Chị thấy em thức suốt đêm trước cửa phòng vương gia, cứ sợ em quá lo mà sinh bệnh.

Không ngờ em lại bình tĩnh thế này...

- Thường ngày tiên sinh hay tập luyện nên sức khỏe cũng rất tốt.

Người chỉ mệt mỏi rồi ngủ lâu hơn một chút, em không lo lắng ạ.

- Nếu đã vậy thì em về phòng nghỉ đi, đến chiều hãy quay lại.

Đây là Dưỡng Chân trang, đâu phải Thăng Long hay chiến trường. – Chị tôi cười cười trêu.

Khi chị thốt ra những chữ cuối cùng, không biết tôi có nhìn lầm không, trong đôi mắt chị nét buồn bã và tiếc nuối thoáng qua rất nhanh.

Bỗng dưng tôi lại ngập ngừng mãi mới đáp, dù lý do chỉ có một:

- Nhỡ đâu... tiên sinh tỉnh dậy đúng lúc em không có ở đây.

- Em sợ ngài ấy thất vọng sao? – Chị khẽ cười, hỏi lại.

- Em biết tiên sinh sẽ không trách em. – Tôi đáp. – Nhưng sau này người sẽ không thể nghỉ ngơi thực sự nữa...

Chị tôi nhìn tôi như thể vừa nghe thấy chuyện phi lý nhất trên đời.

Tôi cũng không biết nên giải thích tiếp thế nào cho chị hiểu, lại mơ hồ sợ chị buồn dù hoàn toàn không rõ điều gì có thể khiến chị buồn, chỉ đành vỗ ngực:

- Trần Nhã Phong em là nam tử hán đại trượng phu, một lời nói ra như đinh đóng cột, đã hứa trông chừng cho tiên sinh nghỉ thì sẽ trông đến khi người tỉnh lại mới thôi.

Nếu không, em còn mặt mũi nào gặp các tướng sĩ Thánh Dực quân nữa ạ?

Chị tôi phì cười rồi dịu dàng đưa tay chỉnh lại áo choàng đang khoác trên người tôi, sau đó lặng lẽ rời đi.

Bác Dương lúc này mới đưa đến một mâm thức ăn nóng sốt, tôi chén sạch trong nháy mắt.

Bác cười hiền, mắng yêu:

- Cháu sắp gả chồng được rồi mà vẫn háu ăn thế này!

Tôi sững người trong tích tắc rồi lại nhanh nhảu ôm tay bác:

- Của hồi môn cháu chả cần bạc vàng châu báu gì cả, chỉ xin đưa bác Dương theo để tiếp tục ăn món ngon thôi ạ.

Người vú già cũng chịu thua trước miệng lưỡi ngọt như mật của tôi, chỉ biết cười.

Tôi miên man nghĩ đến mâm cỗ thịnh soạn đêm giao thừa, rồi sáng đầu năm, cái bụng vừa no lại muốn đói.

Chợt tôi nhớ ra:

- Bác đã muối dưa chưa ạ?

- Bác biết vương gia và cháu đều thích món này nên đã bắt tay làm từ sớm rồi, chỉ còn một ít nữa thôi.

- Thế... bác cho người mang cả sang đây, cháu cùng làm bác cho vui ạ.

Chẳng mấy chốc, cả khoảng sân trước phòng của lão già đã phơi đầy nào giá đỗ, nào củ cải, nào đu đủ, măng trúc...

Tôi thoăn thoắt gọt vỏ củ cải, tỉa thành hình bông hoa cho xinh đẹp, miệng không ngừng ngâm nga mấy bài đồng dao vui tai.

Thỉnh thoảng, tôi sẽ tìm cách gợi chuyện để bác Dương kể về tuổi thơ của lão già.

Buổi sáng ngày thứ nhất cứ như thế lặng lẽ trôi qua.

Khi tôi vừa dùng bữa trưa xong, anh Thân dẫn người nhà bác trưởng làng Vạn Niên đến xin gặp.

Họ bảo làng muốn dựng một văn bia ở chùa để tưởng nhớ chiến công vừa qua, thỉnh cầu tôi soạn giúp nội dung văn tự để khắc trên bia.

Tôi thoái thác ngay:

- Một việc quan trọng thế này mọi người nên đợi vương gia hồi tỉnh.

- Thưa, ông tôi biết tính vương khiêm nhường, sợ rằng vương sẽ không bàn đến công trạng của mình...

- Người gia nô rụt rè giải thích.

Tôi lờ mờ hiểu ra ý định của họ, song vẫn thấy mình không phù hợp:

- Nhã Phong tuổi đời còn trẻ, lại chẳng có địa vị tôn quý gì, mọi người nên nhờ vương phi hoặc một trưởng lão đức cao vọng trọng trong làng.

- Thưa, chính vương phi bảo tôi đưa cậu ấy đến gặp cô. – Anh Thân khẽ nói.

- Thường ngày em vênh váo tự kiêu đến thế ư? – Tôi vờ như phật ý, đoạn thấy người gia nô mặt tái hẳn đi, tôi trở lại vẻ chân thành. – Anh Thân giúp em đưa cậu ấy đến hậu viên dùng bữa rồi nghỉ ngơi, đầu giờ Dậu em sẽ hoàn thành.

Cả hai cúi đầu lĩnh ý rồi nhanh chóng rời đi.

Bỗng dưng được giao một nhiệm vụ vẻ vang, tôi hào hứng mang giấy bút ra, trong đầu nghĩ sẵn vô số lời hay ý đẹp, ca ngợi tài thao lược của lão già và đức hy sinh của những người như cụ Đảm, như Nguyễn Nam đến tận trời, chỉ sợ kể không đủ, càng sợ nhớ không hết tên những người đã khuất.

Song, trong sát na giọt mực đầu tiêng loang trên giấy, có điều gì đó bảo tôi dừng lại.

Đặt bút trở vào nghiên mực, tôi ngồi xuống ghế, khẽ thở dài.

Truyền nhân của thầy Tuệ Trung sao có thể viết ra những điều mà chính tay thầy Tuệ Trung sẽ không bao giờ viết?

Tôi nhắm mắt hồi tưởng lại hình ảnh của lão già trong suốt cuộc chiến, chợt nhớ ra buổi tế vong linh tướng sĩ của mà lão chủ trì theo lệnh quan gia trước khi trở lại Yên Bang.

Vội vã vào phòng lão, tôi tìm chiếc áo mà lão đã mặc trong ngày hôm ấy, khoác lên người.

Dáng người lão cao to hơn tôi rất nhiều, thế nên chật vật mãi tôi mới mặc được một cách gọn gàng rồi phỏng theo dáng điệu của lão, từ tốn mở cửa bước ra sân.

Cửa vừa mở, một cơn gió mạnh thổi đến khiến tóc tôi rối bù.

Tôi khoan thai đưa tay vuốt lại tóc hệt như cách lão hay làm.

Chợt, tôi đột nhiên hiểu ra mình phải viết những gì.

Thong thả cầm bút, tôi thấy những con chữ tuôn tràn dưới tay mình.

Không có những lời tán tụng, không có những chiến công, càng không có một cái tên cụ thể nào cần phải tạc vào bia đá để ghi dấu ngàn năm.

Cả một trang giấy chỉ viết về trách nhiệm của một người dân buổi đất nước lâm nguy, về những kỳ vọng ký thác vào những người còn sống.

Hẳn là lúc quyết định cầm gươm xông trận, vị thiền sư phạm sát giới của tôi, độc túc tráng sĩ của tôi và vô số những người lính kia chưa hề nghĩ đến một ngày lưu danh sử sách.

Họ chỉ muốn sống lại những ngày thanh bình, có nắng vàng gió nhẹ như ngày hôm nay tôi đang sống.

Họ đi rồi, nhưng dáng hình của họ còn ở lại mãi với những tấc đấc mà họ giữ gìn, trong cái dáng điệu cầm cành trúc giả làm gươm đao của mấy đứa trẻ tôi gặp ở đầu làng, trong cái tinh thần chiến đấu quyết liệt mà thượng võ tôi học được từ cụ Đảm khi quyết định tha chết cho tên giặc Thát hôm nào.

Khi đọc lại những gì tôi đã viết, anh Thân chỉ khẽ gật đầu, mỉm cười rất hiền lành.

Anh ôn tồn bảo với người gia nô của bác trưởng làng:

- Cậu cứ cam đoan với mọi người rằng vương gia chắc chắn sẽ hài lòng.

Tôi nhìn dáng vẻ phân vân của cậu ta khi trông thấy tôi mặc y phục của lão già, cố nhịn cười, thấy vừa thương vừa tội.

Đêm đến, trong phòng lão già lại vang lên tiếng ho khe khẽ.

Lão vẫn hôn mê nhưng người hâm hấp sốt.

Tôi hết lau mồ hôi trên trán lại đến quạt mát, xoa lưng cho lão, đôi mày của lão thỉnh thoảng vẫn chau lại.

Tôi biết ngoài những vết thương trên người, trong cơn mộng chập chờn kia, lão già của tôi đang phải tự chữa lành những vết thương trong lòng mình.

Chợt nhớ đến cái đêm ở làng Giá, tôi cũng trằn trọc mãi không ngủ được, cũng nhờ chú sa di Minh Tịnh giúp tôi bình tâm lại.

Tôi biết việc này không có tác dụng với lão già, bởi hẳn lão đã tự trấn an mình như thế suốt hai mươi năm qua, song vẫn không muốn chỉ ngồi yên nhìn lão khó chịu mà lại chẳng làm gì.

Tôi bèn nắm lấy bàn tay lão, siết nhẹ như truyền hơi ấm rồi nhỏ giọng đọc chú Dược Sư, đọc một biến rồi lại một biến, đoạn thiếp đi lúc nào chẳng rõ.

***

Khi trời hửng sáng và tiếng chân người đi lại rộn rã bên ngoài, tôi từ từ tỉnh giấc, tay lão vẫn ở trong tay tôi, song lão đã không còn sốt.

Tôi khẽ khàng đặt tay lão xuống, thì thầm:

- Chú Dược Sư của em cũng công hiệu phết nhỉ?

Ngủ sai tư thế thật có hại, không những vai và cổ đau nhức, dường như tai tôi cũng ù đi, tôi không thể nghe thấy giọng nói của chính mình, bèn vươn vai rồi trở ra sân.

Người phu xe thân tín của lão già tôi và bác Dương đã ngồi trước cửa phòng từ lúc nào.

Họ nhìn tôi đầy lo lắng:

- Cô Nhã Phong đi nghỉ một lúc đi.

- Em không mệt ạ. – Tôi nhoẻn cười. – Phiền bác Dương mang cho cháu ít thức ăn, cháu lại đói rồi.

- Cô đang nói gì vậy ạ? – Anh Thân hỏi lại.

Tôi bật cười trêu anh:

- Anh cũng phải đi nghỉ thôi, mất ngủ mấy đêm nên anh cũng ù tai giống em rồi!

Anh Thân trố mắt ra nhìn, tôi lại nghe bác Dương thảng thốt:

- Nhã Phong, cháu đang nói gì thế, cháu bị mất giọng rồi ư?

Tôi sững người, nhận ra cổ họng mình đang đau rát, chắc vì ở ngoài gió cả ngày và đọc chú cả đêm qua.

Khổ não thở dài rồi ngồi phịch xuống ghế, anh Thân lấy chăn đắp lên người tôi, đoạn khẩn khoản xin tôi trở về phòng.

Tôi cười cười, xua xua tay trấn an anh ấy, đoạn quay sang bác Dương, cau mày nhăn trán, trỏ tay xuống bụng mình.

- Cô còn bị đau bụng nữa ư? – Người phu xe lo lắng hỏi.

- Không đâu, gương mặt này là muốn xơi bữa sáng rồi. – Bác Dương mắng yêu tôi.

Tôi cười nhăn nhở, người vú già của tôi cười khổ rồi nhanh chóng đi về hướng bếp, anh Thân cũng mang bình trà đã nguội đi thay.

Nhân lúc không ai thấy, tôi uể oải đưa tay đấm lên vai, ngáp dài, nghĩ xem mấy ngày sắp tới phải làm gì nếu cả trò chuyện để giết thời gian cũng không được.

Tôi lim dim nhìn trời, nghe bọn chim ríu rít gọi nhau đi kiếm mồi, thầm nghĩ khi lão khỏe lại, tôi nhất định phải đòi lão trả công chăm bệnh thật hậu hĩnh.

Nhưng trả công thế nào, tôi vẫn phải suy tính thật cẩn thận đã.

- Bác nói gì?

Thật không? – Góc bên kia sân có tiếng lao xao.

Tôi len lén mở mắt nhìn thì thấy mấy người hầu việc trong Dưỡng Chân trang đang xầm xì to nhỏ với nhau.

Tôi ngồi lọt thỏm trong chiếc ghế đặt khuất sau bụi cây, lại phủ chăn kín người nên hẳn là họ không trông thấy.

Tính tò mò nổi lên, tôi dỏng tai nghe:

- Cả kinh thành đang đồn ầm lên rồi, bác còn bảo thật hay không!

- Nghe nói mật đạo ấy là do tiền triều xây dựng, cả quan gia cũng không hay, thế mà Hưng Ninh vương lại biết.

- Bác có nhớ lời đồn năm xưa không, người ta bảo trước lúc lâm chung, Khâm Minh đại vương dặn dò Hưng Đạo vương phải giành được ngôi báu để trả thù.

- Nguy thật, năm đó đại vương gây loạn không thành, ngoại trừ những người họ Trần, cả phủ chẳng còn ai sống sót!

- Nếu trong thời gian chúng ta làm việc ở đây mà Hưng Ninh vương có dã tâm thì chết mất!

- Thường ngày vương đối xử với chúng ta rất tốt, tô thuế thu cũng ít hơn các thái ấp khác...

- Nhưng chúng ta còn có vợ mọn con thơ, cha mẹ già, không thể liều theo vương được!

- Thế thì phải tính sao đây?

- ...

Nói đến đây, cả bọn bỗng dưng im bặt, hóa ra họ nhác thấy bóng anh Thân từ xa, vội vã tản ra ai vào việc nấy.

Đến lúc này tôi mới chậm chạp ngồi thẳng dậy, hết nhìn vào phòng lão rồi lại nhìn ra sân, đoạn thở hắt ra, cơn buồn ngủ tan biến từ bao giờ.

Tôi nhận ly trà nóng từ tay anh, nhấp một ngụm rồi chắp tay thỉnh cầu anh, đoạn lại trỏ về hướng mọi người tụ tập khi nãy, sau đó trỏ ra phía cổng, ý muốn nhờ anh ra ngoài nghe ngóng những điều họ vừa nói, xem tin đồn ở kinh thành lan xa đến đâu rồi, quan gia nghĩ thế nào.

- Cô Nhã Phong đừng lo...

- Anh Thân ngập ngừng. – Tôi nghe nói quan gia chính là người ra lệnh phải dập tắt tin đồn.

Chỉ là mọi người vẫn chỉ tin vào những gì họ muốn tin.

Hóa ra mọi người đều biết cả rồi.

Tôi nhếch mép cười nhạt.

- Cô đừng giận. – Người anh thật thà của tôi ôm quyền hành lễ. – Vương gia và cô Nhã Phong vừa về phủ, sức khỏe của vương lại không tốt nên chúng tôi chưa dám báo.

Tôi đưa tay đỡ anh dậy, ôn tồn trỏ tay về phía nơi ở của chị tôi.

- Thưa, vương phi bảo những lời đồn vô căn cứ chỉ cần vài ngày sẽ biến mất, trái lại chúng ta càng thanh minh càng khiến người khác tin rằng ta có tật giật mình.

Tôi ngẫm nghĩ giây lâu.

Lẽ thường, giặc vừa tan, năm mới lại sắp đến, mọi người phải vui vẻ hồ hởi mừng chiến thắng, phải bận rộn với bao nhiêu việc đang chờ.

Có kẻ nào rỗi việc ác mồm suy diễn hay đồn thổi gì cũng cần đợi một thời gian nữa.

Đằng này, bọn tôi còn chưa về nhà thì tin đồn đã đến trước.

Nếu như Dưỡng Chân trang rối loạn, người ngoài nhìn vào cũng không tránh khỏi nghi ngờ.

Tôi chậm rãi lắc đầu, không đồng tình với những gì anh nói, rồi trỏ vào phòng của lão già, sau đó làm động tác như có mũi gươm vừa đâm vào ngực.

- Cô nói sao?

Có kẻ muốn ám sát vương gia ư? – Anh Thân sửng sốt.

Tôi lắc đầu nguầy nguậy, vội vã xua tay kẻo anh bị kích động mà làm ra chuyện chẳng hay.

Không biết nên giải thích thế nào, tôi bèn bẻ một nhánh cây ngay trong tầm tay, đoạn chạy ra phía sau chỗ anh đang đứng, dùng nhánh cây đâm vào lưng người phu xe.

- Ý cô là có kẻ giở trò sau lưng vương? – Anh chậm chạp đoán ra điều tôi muốn nói.

Tôi mừng rỡ vỗ tay tán thưởng.

Sau trận chiến này, vị trí của quan gia, của họ Trần càng trở nên vững chắc.

Quan gia quý trọng lão già nhà tôi là việc ai cũng biết, người nghi kỵ chỉ còn mỗi thái sư.

Muốn lợi dụng sự hoài nghi của thái sư để gây khó cho lão, nếu không chớp lấy cơ hội này khi thái sư vẫn nắm nhiều quyền lực thì còn đợi đến bao giờ?

- Cô Nhã Phong có đoán được là kẻ nào không ạ? – Anh xoay người lại nhìn tôi.

Tôi ngần ngại lắc đầu, rồi cởi áo choàng vứt lên ghế, đoạn búi lại tóc cho gọn gàng.

Mạnh mẽ đấm vào ngực mình, tôi muốn trấn an anh rằng dù kẻ ấy là ai, tôi cũng không để hắn đạt được mục đích đâu.

Không ngờ cú đấm quá mạnh khiến tôi lăn ra ho sù sụ.

---

[1] "Mỗi người phải có một nghề

Con phụng thì múa, con nghê thì chầu."

(Ca dao)

[2] Trích lời tụng của Tuệ Trung Thượng sĩ khi giảng giải kinh Niết Bàn.

Hai câu này ý nói: "Chim bay mỏi cánh không bay nữa, nên đậu vào khóm lau để nghỉ.

Cá lội mệt không lội nữa, dừng lại tựa vào các hòn đá hoặc là các gốc cây dưới đáy nước.

Hình ảnh này nói lên trạng thái sanh diệt diệt rồi, tịch diệt là vui, vì lúc đó an lạc thoải mái". (Tuệ Trung Thượng sĩ Ngữ lục Giảng giải, Hòa thượng Thích Thanh Từ)

[3] "Lão cổ chùy" là dùi sắt già.

Trong nhà Thiền hay dùng cái đãy có cái dùi sắt ló đầu để tượng trưng cho cái thân tạm bợ hư dối có cái chân thật cứng chắc, cái chân thật cứng chắc đó dùi được tất cả những cái khác cho nên gọi là cái chùy (Trích Tuệ Trung Thượng sĩ Ngữ lục Giảng giải, Hòa thượng Thích Thanh Từ).

Trong bài Thướng Phúc Đường Tiêu Dao thiền sư (2), Tuệ Trung Thượng sĩ viết: "Tạm lai tỉnh vấn cổ chuỳ thiền" (Tạm đến thăm hỏi vị Thiền sư đạo cao đức trọng).

[4] Con sấu là một biến thể của con nghê dưới thời Lý – Trần.
 
Cố Niên Hoa
CHƯƠNG 39: ĐÊM TRỪ TỊCH


Dùng bữa sáng xong, tôi ôm trán nghĩ mãi vẫn chưa tìm ra cách dập tắt tin đồn.

Đừng nói đến việc tôi đang mất giọng không thể mở miệng giải thích với ai, dù tôi có đăng đàn thuyết giảng suốt ngày suốt đêm, người ta vẫn sẽ chỉ tin những gì họ muốn tin.

Thế nhưng tôi lại không nỡ để lão già của tôi vừa tỉnh dậy đã phiền lòng vì những vặt vãnh này.

Nghĩ mãi, đến khi thấy gia nhân đi đi lại lại vác những cành đào đã cắt mang vào đặt ở bình lớn đặt trước điện Phật chính, chuẩn bị để mọi người trong làng đến rước lộc mang về như những năm trước, tôi mới nhận ra ngày mai đã là năm mới.

- Tiên sinh đã khỏe hẳn chưa, năm nay người phải tự tay mừng tuổi cho em đấy.

Tôi nhẹ nhàng lau mồ hôi trên trán lão già, lẩm bẩm tự nói với mình dù không thành tiếng.

Lão đã hạ sốt, vết thương trên lưng không còn rỉ máu, gương mặt cũng hoàn toàn thư thái, chắc chỉ nay mai là tỉnh lại.

Chỉ mong khi ấy tôi đã nói chuyện được bình thường, nếu không sẽ bị lão mắng cho, có thể còn bị lão phạt vì không biết tự chăm sóc bản thân mình.

Lão sẽ phạt tôi thế nào nhỉ?

Bảo tôi chép kinh, cắt hết chi tiêu, hay là không cho đi chơi Tết, hay là...

âm thầm để lại một phong thư rồi lại bỏ đi Hồng lộ như hai năm trước?

Gió thổi mành cửa lên cao để ánh nắng chiếu vào đúng chỗ lão đang nằm.

Bóng lão hắt lên tường, bờ vai rộng càng rộng thêm chút nữa.

Tôi thử đưa tay ra, để chiếc bóng của bàn tay tôi vỗ lên bóng vai của lão, tay còn lại vờ tự vuốt râu mình như những bậc cao niên rồi khẽ gật gù:

- Cậu trai trẻ, đã vất vả nhiều rồi.

Tôi thích thú bật cười trước trò đùa ấu trĩ của bản thân.

Năm xưa những lúc tôi không ngủ được, lão cũng thường bày trò này chọc tôi cười.

Mùa hè nóng bức, lão còn kéo tôi xuống ao, dạy tôi diễn trò rối nước.

Chợt, tôi nhớ đến lời anh Thân kể, lão nói "sơ tâm" của trẻ con là thứ gần Phật nhất.

Nếu tôi đã không thể khiến những người lớn sống ở đây thôi lo lắng, vậy tôi có thể bắt đầu từ những đứa trẻ vô tư lự kia không?

- Tiên sinh, không phải là em thất hứa.

Em chỉ rời đi một tí để làm một việc cho người.

Em sẽ quay lại ngay.

Nghĩ là làm, tôi đi tìm anh Thân và chị, nhờ người tìm giúp một phường rối nước, dựng gấp một buồng trò ở giữa ao sen, đồng thời cho gọi tất cả trẻ con trong làng đêm nay đến cùng đón giao thừa, bảo người chuẩn bị thêm thật nhiều quà bánh.

Tôi cứ ngồi trước cửa phòng lão viết hết yêu cầu ra giấy để mọi người làm theo.

Thế nhưng, trò tôi muốn diễn lại không phải là nội dung mà giáo phường đã quen thuộc, chúng tôi lại không có thời gian để tập luyện, nên tôi đã quyết định tự mình xuống nước điều khiển mấy con rối chính.

- Em đã ốm thế này còn ngâm nước cả đêm, trời thì vẫn rét.

Không muốn sống nữa sao? – Chị tôi rất hiếm khi tức giận thế mà giờ cũng to tiếng với tôi.

- Cô Nhã Phong! – Anh Thân cũng mất kiên nhẫn. – Ngày xuân còn chưa bắt đầu, cô muốn diễn trò thì đợi bản thân khỏe hẳn cũng đâu muộn!

- Nếu em còn làm càn, chị sẽ nhốt em vào phòng, khi nào vương gia tỉnh thì giao lại cho ngài ấy xử lý đấy. – Chị nghiêm giọng.

Tôi biết chị không đùa nên cuống lên, nắm chặt tay chị, đoạn lại vạt áo anh Thân, giương đôi mắt đỏ hoe nhìn anh cầu cứu.

Người phu xe thở dài:

- Cô Nhã Phong muốn diễn thế nào, tôi sẽ xuống nước điều khiển rối thay cô. – Anh nói. – Cô đứng ở bờ ao đánh trống hiệu cho tôi là được.

Bẩm vương phi, như thế có được không ạ?

Cái nháy mắt của anh lúc chị không để ý khiến tôi lập tức hiểu ra ngay, vội vã cúi đầu cảm ơn cả hai người rối rít rồi lao đi chuẩn bị.

Sau lưng tôi, dường như chị đã quở trách anh Thân vài câu vì học theo lão già mà chiều hư tôi, dường như người anh lớn của tôi đã bảo dù lão già có ở đây cũng làm như thế mà thôi.

***

Đêm xuống, người lớn trẻ nhỏ đã ngồi đầy khoảng sân cạnh Phật điện, nhìn ra hồ sen, hướng mắt lên buồng trò dựng ở thủy đình.

Chị tôi phục sức trang trọng ngồi ở vị trí đẹp nhất bên bờ hồ, ngồi cạnh bên là sư ông Phúc Đường.

Tất cả mọi người đều hướng mắt về phía chúng tôi.

Tôi nở nụ cười rạng rỡ chào đón mọi người, đoạn lại nhanh tay nổi một hồi trống rộn ràng khiến người người vỗ tay không ngớt.

Rồi trong nháy mắt, tôi nhanh chân chạy biến ra phía sau, quẳng dùi trống cho anh Thân rồi lao xuống nước, chộp lấy cần điều khiển rối.

Cách một bức rèm, tôi không nhìn thấy vẻ mặt chị lúc này.

Hẳn là chị đang giận lắm, nhưng giữa nơi đông người, tôi biết chị sẽ không buộc tôi dừng lại.

Hậu quả thì cứ để diễn xong mới nghĩ cũng chẳng muộn.

Một hồi trống dài khác lại nổi lên, theo sau là tiếng đàn réo rắt, tôi khéo léo điều khiển chú tễu giáo trò bước ra sân khấu.

Vở tôi muốn diễn dựa trên trò chăn trâu quen thuộc, song có thay đổi từ đứa trẻ chăn trâu chân chất thành một vị tướng tài ba còn nhỏ tuổi, dùng cờ lau thay cho giáo gươm để tập trận với bạn bè, sau khi trưởng thành thì tự mình lên ngựa bình định giang sơn.

- Đây là sự tích Đại Thắng Minh hoàng đế trước đây thầy Tuệ Trung kể đấy! – Có đứa trẻ reo lên.

- Đúng đấy!

Đúng nhỉ!

Bọn trẻ đoán không sai, đây là vở diễn mà lão già đã dạy tôi ngày trước, do chính lão dựng, ngoài mấy người bọn tôi thì chưa từng có ai được xem qua.

Thế nên dù cơ thể càng lúc càng lạnh, có khi run lên bần bật, tôi vẫn có thể thành thạo điều khiển mấy con rối đến khi tiếng trống báo hiệu hạ màn lại vang lên.

Cả khoảng sân như vỡ òa với những tiếng reo hò:

- Hay quá!

- Em cũng muốn tập trận cờ lau để lần sau quân Thát có đến sẽ đánh chúng tan tác!

- Phải đấy!

- Từ ngày mai nhé!

Tôi cười tít mắt nghe bọn trẻ rộn ràng trong khi rất nhiều người lớn ngồi như chết lặng.

Hẳn là họ đang hoài nghi những nghi kỵ của chính mình khi nhớ về những gì mà Hưng Ninh vương, mà Tuệ Trung thiền sư đã răn dạy họ trước đây về mấy chữ "trung quân ái quốc".

Tôi hiểu rất rõ một vở diễn này chẳng thể hoàn toàn dập tắt tin đồn, nhưng tôi không biết nên làm gì khác để giúp lão, càng không cam tâm ngồi yên một chỗ nhìn thanh danh của lão bị người ta vấy bẩn.

Tôi chỉ có thể nuôi dưỡng niềm tin của những đứa trẻ này, để người lớn nhìn vào chúng mà tự soi mình.

Bỗng từ phía xa có tiếng vỗ tay rất khoan thai.

- Đã lâu rồi không được xem một tuồng hay thế này! – Giọng lão già vang vang. – Ta mong mọi người cũng hài lòng.

- Vương gia! – Anh Thân reo lên rồi vội vã bỏ dùi trống chạy đến chỗ lão.

- Vương gia. – Chị tôi cũng đứng dậy hành lễ, mọi người xung quanh lập tức cúi chào.

Tôi len lén hé rèm ra xem, lão già của tôi được một người gia nhân dìu đến.

Nét mặt lão đã hồng hào hơn trước, tóc búi gọn gàng, thân mặc lễ phục song cổ áo hơi mở rộng, để lộ dải băng quấn ngang ngực.

- Vương gia bị thương trong trận chiến vừa rồi ạ?

- Thế mà chúng ta chẳng biết gì cả!

Mọi người lại bàn tán râm ran.

Trước đây lão không muốn mọi người biết mình bị thương, sợ ảnh hưởng sĩ khí, thế mà giờ lại cố tình để lộ, hẳn là lão đã ít nhiều biết những việc đang xảy ra trong trang viện.

Thấy lão tỉnh lại tôi phải vui mừng mới đúng, thế mà đột nhiên tôi lại thấy chân nặng như chì, không dám bước ra khỏi buồng trò mình đang đứng để chạy đến chỗ lão, hệt như đứa trẻ trốn nhà đi chơi bị bắt gặp, chỉ biết nhìn mông lung vào chú tễu trên mặt nước.

Mãi đến khi một bàn tay to lớn chìa ra trước mặt, tôi mới sực tỉnh, ngẩng đầu nhìn.

- Tiên sinh...

- Tôi mấp máy môi, đoạn ngập ngừng nắm lấy tay lão để lão kéo lên.

Nửa người dưới ướt sũng, một cơn gió thổi qua cũng khiến tôi rét run.

Lão già ra hiệu cho gia nhân theo hầu mang áo choàng đến cho tôi, còn tay lão vẫn siết chặt tay tôi đến mức tôi cảm thấy đau.

Lão không nói gì, chỉ chậm rãi kéo tôi đến chỗ chị đang ngồi, đoạn thả tôi ra, hướng về phía sư ông, cúi lạy:

- Bạch sư phụ, đệ tử kính thỉnh sư phụ chủ trì tế lễ.

- Tuệ Trung. – Sư ông ôn tồn nói. – Thầy chỉ đến đây làm khách.

Con cứ tiến hành như những năm qua, đừng để ảnh hưởng đến mọi người.

- Bẩm vâng. – Lão già cung kính cúi đầu.

Nói đoạn, lão từ tốn đi đến ban thờ đặt trước Phật điện, trang trọng và thành tâm làm lễ tiễn năm cũ và rước năm mới về.

Lời khấn vừa dứt, anh Thân đã cho nổ ngay một ống pháo tre, rồi cả trang viện như bừng sáng với hàng loạt pháo đua nhau nổ, âm thanh giòn giã, đì đùng.

Mọi người thi nhau đến thắp hương, bái Phật và xin lộc, tiếng cười nói càng lúc càng rộn ràng hơn cả tiếng pháo.

Đáng lý ra tôi nên trở về phòng thay quần áo rồi mới quay lại chung vui cùng mọi người, song tôi chỉ biết đứng ngây một góc nhìn khung cảnh ấy, nhìn lão già của tôi được vây quanh bởi rất nhiều người đến thăm hỏi.

Mãi lâu sau, khi sư ông của tôi đã trở về phòng nghỉ, anh Thân mới đưa tay làm loa, kêu lớn:

- Vương gia thưởng tiền mừng tuổi!

Mọi người đến cả đây!

Chẳng ai bảo ai, tất cả tập trung thành hàng ngay ngắn trước mặt lão già, đồng thanh:

- Kính chúc vương gia thân thể an khang, phúc lộc dồi dào.

- Kính chúc vương gia, vương phi năm mới sẽ có người nối dõi ạ.

Lời vừa nói ra, kẻ nọ đã bị mọi người xung quanh đưa tay che miệng.

Năm nào cũng có kẻ mới đến không hiểu chuyện mà nói mấy lời này, những năm trước, tôi đều thấy rất buồn cười...

Len lén nhìn sang, tôi thấy gương mặt chị vẫn giữ vẻ đoan trang niềm nở.

Lão già cũng bình thản như thể không có gì cần suy nghĩ.

Lão ngồi trên thềm cao, hiền từ đưa mắt nhìn khắp lượt, đoạn phe phẩy một phong bao đỏ rồi cất tiếng hỏi bâng quơ:

- Ai muốn nhận đầu tiên nhỉ?

Không hẹn mà tất cả mọi ánh mắt dểu đổ dồn về phía chỗ tôi đang đứng.

- Chị Nhã Phong!

- Cô Nhã Phong!

Năm nào cô cũng lên tiếng trước mà!

Từ lúc lão xuất hiện đến giờ vẫn chưa nói lời nào với tôi, vì thế tôi không rõ lão có thất vọng vì khi tỉnh lại chẳng thấy tôi không, hay có giận vì tôi bày trò dại dột mà không đợi hỏi ý lão hay không.

Lão già nhướn mắt nhìn tôi, vẫy tay bảo tôi đến gần.

Tôi ren rén bước lên thềm, cố bày ra gương mặt vui vẻ nhất có thể.

Lão nghiêng nghiêng đầu, giọng nói giễu cợt song cả ánh mắt và khóe môi vẫn không hề có ý cười:

- Em muốn nhận mừng tuổi thì mau chúc Tết.

Cả sân cười ầm lên.

Suýt nữa tôi đã đánh kẻ ngồi trước mặt vì yêu cầu oái oăm.

Song tôi chỉ dám giấu sự phẫn nộ ấy trong lòng, bày ra nụ cười nịnh bợ, lễ phép rót trà dâng lên lão, cố mấp máy môi thì thào mấy chữ:

- Em mừng tuổi tiên sinh ạ.

Phong bao trên tay lão gần chạm tay tôi đột nhiên quay lại nằm trên bàn.

Tôi biết lão chỉ muốn trêu chọc tôi chứ chẳng có ý gì, nhất là khi ở trước mặt nhiều người thế này.

Song ngay lúc này đây, vì mệt mỏi và lo lắng nhiều ngày, tôi chỉ thấy tức giận, rồi bỗng tủi thân đến mức muốn khóc òa.

Tôi len lén cắn môi để ngăn nước mắt chảy ra, chỉ sợ mọi người nhìn thấy.

Lão dường như không hay biết, ung dung đứng lên, bước về phía chiếc bình lớn đặt giữa sân, chăm chú chọn một cành đào.

- Vương gia, hái lộc là phải tự tay mình, trao lộc cho người khác thì bản thân không còn may mắn đâu ạ. – Bên dưới có tiếng người ngăn cản.

Lúc này, khóe môi lão mới khẽ cong lên, lão vin một cành hoa nhỏ, toan cài lên búi tóc trên đầu tôi song dường như nghĩ ra gì đó, tay lão chợt dừng giữa khoảng không, rồi lão lại ấn cành hoa vào tay tôi, không cho phép tôi từ chối.

Tôi như bị hoá đá.

Tay lão vỗ nhẹ lên tóc tôi, tựa như muốn nói điều gì đó lại thôi.

Giây lâu, lão quay về chỗ ngồi, tiếp tục công việc chỉ mới bắt đầu.

Tôi đứng nép vào một góc, tay vẫn mân mê cành đào lão tặng.

Có đứa trẻ đứng cạnh trêu tôi:

- Chị Phong thích nhé, được nhận hết phúc lộc của vương gia.

Trong lòng bàn tay tôi, nụ hoa phớt hồng khẽ khàng lay động dưới gió đông, hệt như lòng tôi đang run rẩy lúc này.

***

Giao thừa mỗi năm, lão già của tôi cũng đều rất bận rộn.

Hết cúng bái lại phải nhận chúc tụng và mời rượu, ban thưởng cho kẻ dưới, ban chữ cho những người đến xin lộc.

Thông thường tôi sẽ loanh quanh giúp lão đón tiếp mọi người, nhưng giờ tôi chỉ biết ngồi một chỗ, nhìn không rời mắt để chắc chắn là lão đang dùng trà thay rượu.

Được một chốc, lão già cáo bệnh, bảo chị tôi thay mặt lão tiếp tục tiếp đãi, đoạn lệnh cho tôi dìu lão về phòng nghỉ.

Dọc đường đi, lão chẳng nói thêm gì, chỉ khe khẽ hát một khúc đồng dao.

Ban nãy, tôi đã rất muốn giải thích với lão rằng tôi không hề thất hứa, rằng mọi việc tôi làm đều chỉ để bảo vệ người mà tôi trân trọng nhất trên đời.

Thế nhưng khoảnh khắc nhận đóa hoa từ tay lão, tôi lại tự trách vì đã không tin tưởng lão, không tin tưởng mình.

Vì sao tôi lại cho rằng mình phải giải thích thì cái người đáng trân trọng và thân thiết nhường vậy mới hiểu được tôi?

Lão dừng chân trước cửa phòng tôi, ấn tôi vào rồi bước ra ngoài, đóng cửa lại.

- Ta đói rồi.

Em mau thay y phục rồi xuống bếp nấu cháo cho ta.

Tôi đồ rằng lão già bệnh lâu nên mất trí rồi, vì tôi nào biết nấu cháo?

Nhưng lúc này tôi có gân cổ cãi thì lão cũng không nghe thấy, chỉ đành nhanh chóng thay một bộ y phục ấm áp rồi trở ra, sợ lão đợi lâu dưới trời gió lạnh.

Khi tôi bước ra, lão đang ngồi trên thành bậc, trầm ngâm như suy nghĩ điều gì.

Tôi đến trước mặt lão, khẽ lay ống tay áo gọi lão cùng đi.

Lão chậm rãi đứng lên, nhếch mép hỏi tôi:

- Em định đi nấu cháo thật đấy à?

Tôi cúi đầu, lắc nhẹ.

Ngoại trừ tô cháo miễn cưỡng nấu cho Nguyễn Nam năm xưa, tôi chưa từng đụng đến món này.

- Không biết chăm sóc người bệnh.

Sợ nước.

Sức khỏe không tốt, hễ trái gió trở trời thì lăn ra ốm mà lại hành sự liều lĩnh, bốc đồng...

Vừa mới khiến tôi vui giờ lại đạp tôi rơi từ trên đài cao xuống.

Tôi đứng như trời trồng nghe lão dùng giọng giễu nhại kể hết những điểm yếu của mình, không biết giấu mặt vào đâu.

- Nhưng mấy ngày qua, ta đã ngủ rất yên.

Giọng lão nhỏ dần, đầy xót xa.

Tôi bất giác òa lên khóc, cổ họng càng nghẹn ứ.

Lão già cười khổ, xoa đầu tôi đến rối bù lên.

Hồi lâu, lão đưa tay lau nước mắt cho tôi, cười cười trêu:

- Bị ốm, không già mồm được nên chỉ biết khóc nhè ư?

Đầu năm mà khóc sẽ không may mắn đấy!

Tôi dẩu môi, quay mặt đi nơi khác.

Lão cười thành tiếng, đoạn ôn tồn nắm chặt vai tôi:

- Đi thôi, ta nấu cho em.

Ăn xong rồi ngủ một giấc sẽ khỏe lại ngay.

***

Tôi chống cằm trên bàn, nhìn bóng lưng của lão già đi đi lại lại trong gian bếp ấm sực mùi khói.

Tôi vốn chẳng muốn ăn gì, chỉ muốn vùi vào chăn ngủ cho đẫy giấc.

Song nghĩ đến việc lão chẳng có gì vào bụng mấy ngày qua, tôi bèn ngoan ngoãn đi ăn để lão cùng ăn.

Ngồi một lúc, tôi ngủ thiếp đi, khi lão lay tôi dậy, cháo đã nấu xong, mùi thơm xộc lên mũi khiến bụng đói cồn cào.

Lão nấu món cháo cá quả.

Gắp hết cá qua đĩa, lão chậm rãi gỡ xương rồi đặt vào bát của tôi.

Tôi đưa tay dụi mắt, đoạn kéo đĩa cá về phía mình, thận trọng gỡ rồi đặt một miếng cá to lên thìa, đưa đến trước mặt lão.

- Ta không ăn, của em tất. – Lão cười hiền.

Tôi vẫn dí thìa cá vào miệng lão, nhăn nhó trỏ vào vết thương sau lưng lão.

Lão thở dài, búng nhẹ lên trán tôi, đoạn ngoan ngoãn ăn hết sạch.

Tôi mừng rỡ, lại bón thêm một thìa.

Lão đanh giọng:

- Giờ em là người bệnh.

Mau ăn cho no, uống thuốc rồi còn đi nghỉ.

Tôi tiu nghỉu đặt lại thìa vào bát mình, phụng phịu.

Lão bèn gắp về bát một miếng cá, khó nhọc gỡ xương rồi tự mình ăn, có vẻ rất khổ sở.

Tôi bật cười, biết tỏng dù tổ tiên họ Trần sống bằng nghề chài lưới, trước nay lão lại không ưa ăn cá vì thuở bé hay bị hóc xương, thế mà lão vẫn luôn rất kiên nhẫn làm món này cho tôi.

Bàn tay to lớn quen cầm kiếm giương cung và hiệu lệnh mọi người đó, những năm qua đã vì một đứa trẻ như tôi mà trở nên rất tỉ mẩn, dịu dàng.

Lão già ăn xong lại đun thuốc giải cảm.

Tôi cũng lấy thang thuốc trị thương dành cho lão ra đun, buộc lão cùng uống hết bát thuốc vừa to vừa đắng nọ một lúc với mình.

Khi lão đưa tôi trở về phòng, người đàn ông cao quý vừa nhận muôn lời chúc tụng kia nói với tôi:

- Ngủ đi.

Ta gác cửa cho em.

Tôi lập tức cau mày, lắc đầu nguầy nguậy.

Lão trêu:

- Hôm nay chỉ được ăn cháo thôi.

Thịt mỡ, dưa hành đợi em khỏe lại đã!

Tôi hậm hực trỏ vào lão, cố vừa nói vừa ra hiệu:

- Tiên sinh, ngủ.

Lão phì cười bảo:

- Ta đã ngủ ba ngày rồi, không ngủ thêm được nữa.

Tôi vẫn lắc đầu nguầy nguậy, cau mày.

Lão già đành nhượng bộ:

- Được rồi, vậy ta cũng về phòng.

Tôi mỉm cười, gật gật đầu ra vẻ hài lòng.

Lão xoay lưng đi được vài bước, ngoảnh đầu vẫn thấy tôi đứng đó.

- Đóng cửa, ngủ đi! – Lão nói.

Tôi lại lắc lắc đầu.

Lão thở dài bất lực, nhanh chân đi về phòng mình, mở cửa bước vào rồi lại ngoái đầu nhìn tôi.

Lúc này, tôi mới ngoan ngoãn khép cửa, thả mình lên chiếc giường êm ái.

Bên kia, cửa phòng lão cũng đóng xịch.

Tôi bất giác mỉm cười.

Mấy ngày qua luôn ở trạng thái cảnh giác và tập trung nên giờ tôi lại đâm khó ngủ dù thân thể rã rời.

Tôi lăn trên giường mấy vòng, nghĩ ngợi mông lung về những gì đã xảy ra.

Chợt từ phía phòng của lão già vẳng lên tiếng sáo du dương.

Tôi khe khẽ hát theo một lúc rồi mơ màng chìm vào giấc ngủ.

Cuối cùng thì mùa xuân đã đến thật rồi.
 
Back
Top Dưới