Cập nhật mới

Khác Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài

Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
75. Cầu và cống


Năm 1995, một hãng vô tuyến truyền hình Nhật làm một phóng sự tài liệu về "Nạn đóichết trên 3 triệu người ở Bắc Việt Nam năm 1945".

Tôi đã giúp đoàn làm phim những mắt thấytai nghe của tôi về nạn đói khủng khiếp những năm ấy, qua quyển Tự truyện của tôi mà đạodiễn của phim đã đọc trước bằng kịch bản dịch tiếng Nhật ở Tokyo.

Ý nghĩa và nội dung nhữngtài liệu thu thập đưa lên phim, các bạn Nhật muốn tới được một câu trả lời: Nạn đói ở miềnBắc Việt Nam do đâu gây nên - tất nhiên, không phải vì mất mùa, bấy giờ lúa chín ngoài đồngmà người chết đói trong làng, vậy tội ác đấy do chính quyền Pháp hay Nhật?

Những mắt thấytai nghe của ông đã thấy thế nào?

Thời kỳ này, từ 1940 trở đi, sự thống trị có sách lược của Nhật đã dần dần đè nặng xuốngĐông Dương rồi sau cùng, ngày 9.3.1945 lật đổ hẳn chính quyền Pháp.

Vấn đề phức tạp và tếnhị.

Đoàn quay phim Nhật đã cùng nhà nhiếp ảnh Võ An Ninh về Nam Định, Thái Bình quay tạichỗ mà những năm 1944,1945, Võ An Ninh đã chụp những bức ảnh người đói, người chết đói ởđấy.

Các bạn cũng nhờ tôi dẫn đến những nơi xảy ra nạn đói đã được kể trong tác phẩm của tôi.Đấy là vùng chợ Bưởi và phường Nghĩa Đô bây giờ.

Những chỗ cần quay, đã xong.

Nhưng ngườiđạo diễn phim lại hỏi tôi, anh Nguyễn Quý Quý dịch:

- Trong hồi ký của ông có kể một cái cầu có nhiều người chết đói, xin ông chỉ cho chúngtôi quay chỗ sông có cái cầu ấy.

Nhớ lại, trong sách tôi viết không đoạn nào có cái cầu qua sông có người chết đói.

Cái cầutôi viết có nhiều người chết đói là cầu chợ Bưởi.

Người dịch sách tôi đã nhầm cái cầu chợ ra cáicầu sông.

Cũng không chỉ là cái nhầm của người dịch, mà ở vùng tôi - huyện Từ Liêm, người tadùng lẫn lộn chữ cầu và chữ cống và hai nghĩa chỉ cả hai thứ đều được.

Hầu hết các cầu quasông Tô Lịch quãng ấy đều được gọi là cống, như cái cầu chỗ cuối xóm Đông Lân làng Hồ Khẩugọi là cống Đõ, cầu qua sông Tô Lịch sang làng Hạ Yên Quyết gọi là cống Cót, cầu sang làng Mọcgọi là cống Mọc.

Ở những chợ xép, cái mái tranh cắm cọc làm chỗ bán hàng gọi là lều chợ, nhưng ở chợ to,nhiều hàng quán ngồi dưới mái lợp ngói, mái bằng xi măng hay tôn, thì gọi là cầu chợ (cầu chợBưởi, cầu chợ Cửa Nam).

Ở đầu làng có ngôi nhà nhỏ, lợp ngói, trong để chiếc võng vong vànhững cái đòn khiêng khi làng có đám ma, cạnh đó là gian cho nhà người làm mõ trú ngụ, chỗấy không gọi là nhà, mà cũng gọi là cầu, cái cầu, cầu Ngói.

Trong cánh đồng giữa làng Nghĩa Đôvào làng Cổ Nhuế có cái quán chỉ có cột và mái ngói, cho người làm đồng lên nghỉ trưa, ngườiqua đường ngồi tránh nắng, làng nước gọi là cầu Điều.

Gọi là cầu chứ không là nhà cầu.

Nhà cầu(nhà đi vệ sinh) có nghĩa khác hẳn.

Lại như cầu Giấy cũng có thể hai nghĩa, hai sự khác nhau.

Theo sách Việt sử lược, nămVĩnh Trị thứ tư (1679) trùng tu lại cầu Tây Dương, có ghi lời (dịch nghĩa) văn bia: "Xã ThượngYên Quyết có cầu qua sông Tô... cận kinh văn vật... hội tuyền sum vầy... nơi ngoại ô thông bốnphương năm ngả trên đường thiên lý".

Và trong văn bia tả cầu "thượng gia hạ trì, cầu dài nămgian mái lợp ngói".

Và "nghề làm giấy ở cạnh cầu Tây Dương có từ đời Trần".

Cầu Giấy không phải là tên nôm của cầu Tây Dương.

Nhưng trong vùng dùng chữ chỉ cáicầu có hai nghĩa, nên gọi là cầu qua sông, cầu Giấy cũng được.

Tuy nhiên, truy cho đến ngọnnguồn thì lại thấy ra những chi tiết xác thực hơn.

Trong cách gọi đường đi lối lại cũ, người ta gọi là lên Bưởi, xuống Giấy, xuống Cót, xuốngMọc.

Như vậy, Giấy cũng là tên một làng mà cầu Giấy có thể là tên cái chợ bán giấy.

Ở cạnh chợBưởi, đầu làng Yên Thái, có cái cầu Dài (một gian nhà cầu chợ trống hai phía dài tới trên trămthước) và cầu Vuông hai phía dài tới trên trăm thước) và cầu Vuông là những quán chợ ngàyphiên chợ giấy chuyên bán giấy của các làng Yên Thái, Yên Thọ, Đông Xã, Hồ Khẩu.

Vậy thì cầuGiấy có thể là tên của cái chợ bán giấy bên cạnh cầu qua sông.

Làng Yên Hòa làm giấy thì phảicó chợ bán giấy, cầu bán giấy mà cầu "thượng gia hạ trì dài mười lăm gian lợp ngói" không thểđủ chỗ cho cái chợ bán giấy của cả làng.

Chợ cầu Giấy hiện nay cũng ở cạnh cầu qua sông.

Cầu thượng gia hạ trì (trên là nhà, dưới là nước, sông hồ) ở cầu Giấy xưa cũng như ởnhiều nơi vẫn còn đến bây giờ, những chiếc cầu độc đáo thế ở Sài Sơn (Hà Tây), ở Quần Anh(Nam Định), ở Huế - trên huyện Hà Quảng tỉnh Cao Bằng cũng có nhiều cầu lợp mái qua suốiPác Bó, vừa cầu qua sông, vừa chỗ hóng mát.

Ngày xưa, với các bậc tài danh, cầu thượng gia trìcòn là nơi nâng chén tiễn biệt "đoản đình", "trường đình" ngày nay còn thấy để lại trong thơvăn.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
76. Nón xưa


Cái mũ đã thay hầu hết bằng những cái nón - chớ lẫn miền Nam gọi cái mũ là cái nón.

Người đẹp hoa hậu, á hậu đầu tóc rũ rượi.

Các cụ bĩu môi bảo: chỉ con điên mới xõa tóc thế.

Nhưng mái tóc xoã trước xõa sau bây giờ lại là mốt thế giới.

Mỗi thời một khác, người ta chỉ yêu thương thời của mình chẳng còn biết nói thế nào.

Xưa kia, đàn ông, đàn bà và cả trẻ con khi ra đường thì chít khăn, đội mũ, đội nón mới là đứng đắn, là người lớn.

Bây giờ những cái nón đã hết thời, chỉ còn có thấp thoáng chiếc nón bài thơ, nón Huế.

Còn thì cái nón tam giang, nón quả bứa bằng chiếc lá gồi già họa hoằn mới gặp ở chợ quê các vùng bán sơn địa Ba Vì, Thạch Thất trên Sơn.

Và ngắm thấy nàng diễn viên cầm chơi cái nón có khua ở đám hát quan họ và các thứ nón trên sân khấu.

Các nón tương truyền ra đời đã thành tên từ đời Lý.

Các danh sĩ Lê Quý Đôn, Phạm Đình Hổ, thời các cụ chưa có các môn xã hội học, phong tục học, nhưng các cụ đã ý thức ghi chép, cẩn thận về mũ áo và cái nón, bởi cái nón cũng tỏ rõ phân biệt địa vị con người.

Bút ký "Vũ trung tùy bút " của Phạm Đình Hổ cắt nghĩa:

"Ngoan xác: nón của người già.

Phương đấu đại: nón nhà giàu và nho sĩ.

Cổ châu: nón người phường phố.

Xuân lôi điểu hạp: nón của người trong làng.

Tiêu quang tiểu nhược: nón của người ở ngoài phiên trấn".

Có lẽ những tên nón như thế cũng chỉ là chữ trên sách.

Trong dân gian, nôm na hơn, cho nên Phạm Đình Hổ còn chép tên nón theo chất liệu, theo kiểu dáng, theo chức năng sử dụng và cả nơi sản xuất nón.

"Nón lông, nón dứa, nón chóp (của quan lại, học trò, nón đàn ông) Nón nhị thôn, nón lồng lệch.

Nón cạp: cho người có tang.

Nón dấu của lính tráng.

Những nơi làm nón: Chuông, Lựa, Thanh, Nghệ, Ba Đồn, Phú Xuân..."

Các bô lão và các nhà sư đội nón cả tàu lá gồi uốn khum hình qủa bứa, gọi là nón tam giang hay nón tu lờ.

Phụ nữ đội nón thúng, hàng ngày thì nón thúng quai sợi mây, ngày hội thì nón thúng ba tầm quai thao, lòng nón sâu, thành nón cao, quai lụa.

Xưa nón thúng rộng vành bằng cái mẹt đại, đến khi nón Huế lan ra - mà gọi thơ mộng là nón bài thơ, thì các bà các cô ăn diện không đội nón thúng nữa.

Thời sau cùng của nón, nón bài thơ ra đời cùng lúc với nón cu li, hai kiểu nón khuôn khổ hơi giống nhau nhưng sang hèn khác nhau, nón bài thơ của các tiểu thư khuê các, nón cu li của người làm phu, làm ruộng.

Có lẽ từ miền Trung, nón Ba Đồn ra bắc trước nón Huế.

Nhưng cũng đại để như nhau, lá mỏng, nón Huế soi lên, thấp thoáng bóng cành trúc, lá lan và chữ Hán, sau này là quốc ngữ - vì thế, có tên là nón bài thơ, quai nón bằng lụa màu hoa đào, hoa cau, đôi khi giắt kín đáo mặt gương tròn lấp lánh trong lòng nón.

Nón cu li cũng giống khuôn nón bài thơ, nhưng vành cứng, khâu dây móc diều, lá dầy, lá già, lòng nông choèn, vàng sậm, quai bằng mảnh giang, sợi mây.

Nón cu li của người làm ăn dầu dãi mưa nắng.

Trời nóng nực, ngồi nghỉ chân, nón thành cái quạt phe phẩy.

Vục nón xuống sông, ra vòi máy hứng lấy nước uống, nước rửa mặt.

Làm nón có ba nguyên liệu chủ chốt:

Lá gồi.

Cây gồi trong đồi, lá để lợp nhà.

Lá gồi làm nón là giống gồi cây thấp lùn chỉ cao ngang người, lá đanh mặt.

Người ta lựa lá làm nón thúng, nón bài thơ, nón cu li.

Cái điều giống nhau ở các làng nghề, làm giấy, dệt lụa, làm nón, những nguyên liệu chính đều từ nơi xa đến.

Cây gồi không phải cây trồng đằng sau vườn nhà làm nón mà cây gồi, rừng gồi mọc ở những vùng đồi đất ven rừng, người làm nón phải đi xa mua.

Các làng ở ven sông có bè mảng đưa lá gồi từ trên ngược về.

Tre để uốn vành.

Tre cật ngâm nước cho dẻo ra, khoanh tròn không gãy.

Mảnh to buộc ngoài, những vành trong nhỏ dần lại, như sóng nước.

Khâu nón bằng sợi móc diều.

Cây móc diều, trong bẹ chùm qủa và ở thân trổ thành nạm dây đen nhánh, dây móc phơi nắng rồi vuốt ra cuốn thành ống như ống tơ.

Không phải chỉ vải, chỉ tơ mà dây móc khâu nón mới chịu được mưa nắng, cũng như tre cật làm vành, lá gồi lợp nón.

Ca dao xưa có câu:

Hỡi cô đội nón ba tầm

Có về Yên Phụ phiên rằm lại sang Phiên rằm chợ chính Yên Quang

Yêu hoa anh đợi hoa nàng mới mua

Bấy giờ các cô yểu điệu "đội nón ba tầm", những khuôn mặt chữ điền hẳn là làm cho đẹp người đẹp nết thật phúc hậu lại nõn nà.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
77. Cưới


Cưới là phong tục, nếp sống, nét văn hóa lâu đời của dân tộc và xã hội từ quê ra tỉnh.

Từng thời gian, có những chi tiết khác nhau, nhưng ý nghĩa và tinh thần việc cưới xin thì đã nghìn xưa, thời nào cũng như một.

Lễ cưới, đám cưới là cái mốc quan trọng, quyết định trong đời người, chẳng những đối với trai gái thanh tân mà cả những tay đôi đi bước nữa, rổ rá cạp lại ở lứa tuổi nào cũng đều được coi là trân trọng, thành kính như vậy.

Phong tục lâu năm đã thành hèm, thành luật như cùng huyết thống đến như thế nào thì không được lấy nhau (luật hôn nhân gia đình) và cưới phải có giá thú (giấy đăng ký kết hôn).

Ở trong làng, ngày trước, các việc sinh, tử, giá thú thì người hộ lại giữ sổ.

Ở thành phố, đôi vợ chồng mới lên tòa đốc lý làm giấy giá thú.

Bây giờ vẫn tương tự như vậy.

Riêng lệ cheo làng - trai lấy vợ làng khác thì phải có lễ cheo nộp làng nhà vợ, tục này nay không còn.

Những nhiêu khê, phiền hà đều nên thay đổi.

Nhưng đừng hôm trước hôm sau đã khác và làm rồi lại bỏ, vì bao giờ cũng thế, mọi việc phải làm có nền nếp rồi mới thành phong tục.

Một dạo ở Hà Nội, cấp quận tổ chức đăng ký kết hôn.

Lễ làm trên hội trường, phó chủ tịch quận long trọng trao đăng ký và dặn dò cô dâu chú rể, có hai họ chứng kiến.

Được ít lâu rồi bỏ, lại về phường về xã, chú rể ra xin cái giấy chứng nhận, cầm về như cầm cái biên lai đóng thuế!

Mỗi thời có lệ, có thói quen khác nhau, nhưng phong tục cưới thì vẫn nguyên, nhiều năm đã qua, kể cả hai thời kỳ kháng chiến, trong đơn vị hay ở cơ quan, cả ở những vùng gian khổ chiến đấu, nếu một đám lấy nhau, thế nào cũng có một hình thức thích hợp được tổ chức, như vậy cũng là đám cưới, cũng để lại những kỷ niệm sâu xa nhớ đời.

Ngày trước, nhiều lễ lạt dềnh dàng lôi thôi nhưng thú vị và ý nghĩa, người ta sẵn sàng lo.

Đầu tiên, đã mối manh xuôi chèo mát mái rồi thì nhà trai đi chạm mặt (chạm ngõ, vấn danh) rồi ăn hỏi, xin cưới.

Trong ngày cưới có tế tơ hồng, lễ gia tiên - đôi nơi, lễ sống cha mẹ, ông bà.

Khi đã có đi lại, nhưng chưa cưới, nhà trai phải sêu tết, mùa nào thức ấy, nhất là tháng tám, nhà trai đem lễ siêu hồng, cốm, dưa hấu, đôi ngỗng.

Và những dịp nhà gái có việc từ cúng cất nóc, giỗ chạp, người con trai đều đến nhà gái làm giúp và ăn cỗ như đã là người trong nhà.

Những lễ tết sêu tết trên nhiều nơi đã bỏ, nếu không thì cũng giản dị hơn.

Chỉ là đánh tiếng, được hai nhà thỏa thuận hoặc đôi bên đã yêu nhau rồi về thưa với gia đình.

Luật hôn nhân đã quy định: trai gái đến tuổi thành niên được tự quyết định việc hôn nhân.

Cũng như việc thách cưới, chẳng còn chuyện mặc cả, nài ép, không đâu có trường hợp đòn thù truyền kiếp hay gả chồng như mua bán con, bỏ mất ý nghĩa chính của việc thách cưới là cho "đẹp mặt".

Nhiều đám, thách to đấy, nhưng rồi bên nhà gái cho cô dâu của hồi môn còn nhiều hơn, nào ruộng, nào tiền.

Ngày xưa đã vậy.

Các tục lệ nhỏ, như chăng dây, đóng cửa nhà gái để nhà trai phải cho trẻ con tiền mới mở cho đám đón dâu vào, hoặc cô dâu phải bước qua hỏa lò, mẹ ném nắm muối theo chân con gái vừa bước ra, hay là ông cụ cầm hương trịnh trọng đi đầu.

Rước dâu về rồi, đôi cụ ông cụ bà song toàn, con cái đề huề vào trải chiếu giường cô dâu chú rể.

Những cái ấy phần nhiều không còn giữ.

Nhưng vẫn lệ nhà trai gái phải có người vai vế biết ăn nói đối đáp vui và chững chạc trong lễ đón dâu và các bạn trai gái phù dâu phù rể thì ăn diện bảnh bao và nhất là tục mẹ đẻ không đi đám cưới đưa con gái về nhà chồng bây giờ vẫn thế.

Ngày vui của con gái, nhưng với mẹ có con gái về nhà chồng vừa là vui lại vừa là thương, mẹ không đi đưa dâu và con gái thì sa nước mắt.

Quần áo của cô dâu chú rể, trước nay đều được quan tâm trong đám cưới, nhất là cô dâu.

Ngày trước, giàu nghèo thế nào chẳng kể, nhưng xống áo cô dâu khác ngày thường.

Bộ cánh mặc hôm cưới, nhiều cặp vợ chồng còn giữ mãi để đến khi già làm kỷ niệm.

Bây giờ thường đi thuê váy năm tầng trắng toát, mặt chùm chàng mạng, lại mượn người cửa hàng thẩm mỹ đến trang điểm cho cô dâu, đánh phấn, bôi son, kẻ lông mày.

Kiểu cách và váy áo như thế là bắt chước phim ảnh nước ngoài, đầu tiên còn xì xào là lố lăng, thế mà rồi quen mắt dần và hiện nay mọi cung cách quần áo tân thời ở thành thị đáng chê cười này đương lan dần đến các làng xóm xa.

Về cỗ bàn, tùy nhà có hoặc nhà nghèo, nhưng thế nào ngày vui cũng tốn kém vài ba mâm.

Bây giờ, có nhà tính lỗ lãi trong mâm cỗ cưới.

Trước kia, chia vui với gia đình có hai vế: người sơ hoặc ở xa thì nhận thiếp báo hỉ; bè bạn thân và họ hàng ruột thịt thì báo hỉ kèm giấy mời ăn cỗ.

Người tiệc trà ăn kẹo bánh và trà nước dự tiệc "vỗ tay" và người đi tiệc mặn, khác nhau.

Bây giờ giấy mời vừa báo hỉ vừa mời chén luôn.

Vâng, người đi ăn cỗ nhiều lắm, có đám cỗ cưới cả bạn bè cô dâu chú rể, họ hàng và người thân của bố mẹ, đông đến hàng trăm, mấy trăm khách.

Nhưng phải biết tính khéo chứ không thì chỉ có lo.

Bởi làm cỗ, nhưng chẳng phải làm, vì tiệc thì đặt ở nhà hàng, nhà khách cơ quan, đặt hàng trăm mâm là thường.

Khách đến dự, có phong bì tiền, cô dâu chú rể đi từng bàn chào khách, với bố mẹ hoặc người thân đi cùng để thu phong bì khách mừng đã đưa ngay ở bàn như trả tiền ăn.

Sắm sửa và cỗ bàn đám cưới như thế thật lai căng và đấy lại là hủ tục mới.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
78. Hội hè đình đám


Cụm bốn chữ "hội hè đình đám" biểu tượng tưng bừng vui vẻ, náo nhiệt hội hè đình đám nhiều hơn mang ý nghĩa riêng từng chữ.

Mà cắt ra từng chữ thì là hai việc: làng vào hội và làng vào đám.

Hội và đám lại tách bạch thêm: vào hội, có tế, có rước, có trò chơi vui, vào đám có chè chén việc làng, việc làng giáp đóng góp, mổ trâu bò.

Cộng hai việc hội và việc đám lại thì bao trùm quang cảnh ý nghĩa vật chất và tinh thần sinh hoạt trong ngày trọng đại linh đình của làng.

Nhiều nơi đương phục hồi các hội hè đám thứ.

Nhớ lại hội hè trước kia và so với bây giờ, tôi có lời bàn:

Hội làng chẳng làng nào giống làng nào bao giờ.

Vì đấy là ngày tưởng nhớ, ngày kỵ thần hoàng mỗi làng hoặc vị thần thờ ở đình, đền, miếu quán làng ấy.

Do sự tích thánh thần mà có hội, có tế lễ, với những hèm, những tục lệ riêng.

Có vào đám và hội có hội còn do tình hình kinh tế, nhà giàu nhà nghèo và có hoa lợi gì đóng góp vào không.

Bởi vậy, mỗi làng khác nhau về nghi lễ, về tục lệ, về cách kiêng kỵ, nhiều khi đến cả một chữ.

Làng tôi có đền thờ hai bà chúa tên Hồng, tên Quế, người ta kiêng, nói chệch hồng thành hường, quế thành quý.

Và cũng do sức dân làng lo (có đóng góp của mỗi đinh, có ruộng đình, ruộng đền, ruộng chùa, có người hảo tâm cúng tiến).

Có làng hội tế lễ, rước xách rộn rã, lại cỗ bàn mấy hôm; có làng thì không.

Làng tôi nghèo, đến thời tôi biết và nghe kể thì làng không có kiệu, long đình, chỉ có cái võng vong mộc dùng khi làng có đám ma, việc tế lễ cũng năm có năm không.

Những năm đói, quãng 1940 trở đi thì bỏ hẳn.

Vào đám tháng hai, mỗi nhà đóng tiền theo xuất đinh, nhà đăng cai đi chợ Đơ tậu con bò đem mổ thịt chia cả làng rồi đón phường Bắc về hát chèo hai ba đêm.

Làng vui còm thế thôi, còn thì trai trẻ chúng tôi nô nức đi hội các làng thiên hạ.

Đu tiên, thi cây cảnh, chèo hát trên hội làng Hồ.

Kiệu bò đền Thủ Lệ.

Hội làng Mọc đánh cờ người, quân bên nam, bên nữ quần áo lộng lẫy.

Nhiều làng, rất nhiều làng không có hội hè đình đám, hoặc có thì cũng qua loa, như làng tôi.

Chẳng hề ganh ghét và có ý ngượng ngùng phải đi xem hội làng người ta.

Bây giờ nhiều làng đua nhau mở hội mà ý nghĩa sâu xa chưa chắc đã là phục hồi di sản truyền thống, có khi chỉ vì con gà tức nhau tiếng gáy.

Rõ nhẽ ra thì bây giờ chẳng còn mấy ai biết tổ chức hội hè đình đám.

Lớp tuổi thanh niên năm mươi năm trước, bây giờ còn sống cũng đã trong ngoài bảy mươi tuổi mà thời ấy còn trẻ quá, thì đâu đã được làm chủ tế, bồi tế, được chân đăng cai hàng giáp, may mắn thì làng cắt cho chân cầm cờ tứ linh.

Mấy chục năm kháng chiến, sự lễ bái các nơi bỏ hết, vì điều kiện chiến tranh, vì "chống phong kiến", lại thêm người biết chữ Hán chẳng còn ai, không mấy người đọc được thần phả, sắc phong, hương ước, văn bia, cho nên bây giờ phải đi thuê dịch.

Chẳng biết đâu mà rờ, thế mà cứ thao thao giảng giải, cứ phục hồi bừa phứa, làng không ai biết tế thì thuê người về tế, - người hành nghề tế thuê biết họp tổ sắm áo thụng xanh, mũ phốc trang kim, đôi hia nhung viền kim tuyến, làng không có đủ chân đi rước vì may mặc tốn kém thì mướn cả người các nơi về đi rước - ngày trước, làng chỉ gọi phường bát âm và hai cô nhà trò hát cửa đình.

Trong làng, không phân chia mà đã thành lệ, đình và quán, miếu, văn chỉ là nơi thờ cúng mà nam giới có trách nhiệm, đền và chùa là chỗ lui tới của thiện nam tín nữ, nhưng các vãi bà là chính.

Cũng có trường hợp ngoại lệ cánh nữ giới đảm đương như hội đền Hai Bà Trưng ở Đồng Nhân, đền Phủ Giầy thờ bà Liễu Hạnh.

Trong đám rước, thông thường nam giới khiêng kiệu, long đình, thổi tù và, múa trống đánh trống, cầm gươm vàng bát bửu, làm trò vui "phường chèo đóng đường" hay "con đĩ đánh bồng".

Nhưng cũng do sự tích, hoặc hèm, hoặc kiêng có đám rước kiệu, long đình đều do nữ đảm nhiệm - phải là những cô nữ chưa chồng, và những sự tích với mọi kiêng kỵ như trên đều có lý do vì thần phả như thế.

Người ta chỉ biết thành kính tuân theo.

Các vai quân cờ bên nam bên nữ là trai chưa vợ gái chưa chồng.

Làng cắt quân cờ, các cô gái vừa vinh dự, vừa sợ.

Làm quân tốt mã, sĩ, tượng, không sao, làm tướng, tất nhiên phải vào loại đẹp nhất làng, thì người ta sợ rồi bị sái, bị hạn có khi rồi đau ốm, rồi khó lấy chồng.

Khác bây giờ đua nhau nhào vào thi hoa hậu mong được tôn lên ngôi đẹp nhất.

Cũng bây giờ nhiều nơi soát lại tục cũ không kỹ, đám rước nào cũng hệt đám rước nào.

Có đội các bà nạ dòng ở phường phố đến rước thuê, khăn áo, phấn son môi mỏ, các mụ khiêng kiệu, cầm gươm, cầm quạt, đội mâm ngũ quả.

Có đội vừa tan đám rước này, vội vã sang "phục vụ" ngay đám làng bên cạnh, như ca sĩ hát sô ở các nhà hàng mỗi đêm.

Bởi vì có thù lao trả công hậu hĩ, đã mặc cả trước lại chén cỗ no lòi rốn rồi còn lấy phần lộc về.

Mà làng phải nhờ người lên phố mới chuốc được cái đội các bà đồng bóng này.

Đám rước thường có phường đóng đường, nghĩa là giữa ban ngày đeo mũ mãng phường tuồng, đi với đám cầm cờ đằng trước đám.

Thời ấy kiệu rước thánh, trên kiệu đặt bài vị phủ lụa vàng, lụa điều, không khi nào đám dám có người thật đóng thánh ngồi trên kiệu.

Vừa là tục lệ, vừa là chuyện thiêng liêng.

Các cụ chủ tế, các cụ thủ chỏm trong đám tế, đám hội cũng kén các lão ông, lão bà song toàn, các cô các cậu trong nhà thuận hòa, nhà không có xúi (có tang).

Phải ăn chay và chay tịnh cả tháng mới được ra dự rước thánh.

Không đâu dám đóng vai đức thánh tên tuổi rõ ràng đi trong đám rước rong ngoài đường, không kể các bác phường chèo đi diễu cho vui đám.

Phong tục ấy, mà tinh thần thành kính lan cả đến những cuộc vui.

Xem hát tuồng, khi vai Quan Công ra, nhất là diễn đến đoạn (Quan Công hiển thánh), người xem đứng dậy vái lên sân khấu và đốt vàng lá khói um cả rạp Quảng Lạc.

Không khí tôn nghiêm này còn phảng phất dường như cả tới ngày nay.

Đêm ấy, ở nhà hát lớn thành phố, trong một vở kịch nghệ sĩ nhân dân Mạnh Linh đóng vai Lê Nin.

Tôi vào hậu trường chơi thấy ông Lê Nin - Mạnh Linh ngồi nghỉ, đợi ra đoạn tiếp, ông ngồi nghiêm như đương diễn ngoài sân khấu, không trò chuyện, không uống bia, không hút thuốc lào.

Các trò vè đều ở ngoài sân đình, đền, miếu, quán, nam nữ tha hồ chen vai thích cánh, không phải giữ tôn nghiêm như khi vào trong đình, trong đền.

Bơi chải, đánh đu, pháo hoa, thả diều, bồ câu thi, chèo hát...

Còn nhớ ngày ấy đi hội Lim, đêm hôm ở ngoài đồi dưới ruộng chỉ rập rình người xem người như ếch ra mưa, chẳng biết đền, chùa, hội hè ở đâu.

Ngày hội cũng là ngày đám, cho nên có việc giáp, việc làng, mổ bò, giết lợn.

Lấy phần về hoặc ngả ra chén ngay tại đình, tại nhà đăng cai hàng giáp.

Nhưng không phải chỉ có miếng thịt việc làng, việc giáp.

Mà trong ngày ấy nhà nhà đều thịt gà, thổi xôi cúng gia tiên.

Rồi miếng thịt phần làng, phần giáp đem về được thái ra đặt đĩa vào tráp đem biếu bà con trong họ, nhưng ở làng bên cạnh, không có hội vào dịp ấy.

Đôi khi không đủ chia, còn lên chợ mua bù vào cho được đầy đặn miếng phần.

Các bà cô, bà dì, ông chú ở làng bên cũng được chia vui "một miếng giữa làng" - như câu tục ngữ.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
79. Mùa hạ tiếng chim


Lắng nghe tiếng chim hót, chim kêu.

Mùa hạ, tiếng chim rộn rã nhất bốn mùa.

Đời sống con người và con chim đan nhau tự nhiên.

Câu đồng dao ru trẻ.

Đất bụt mà ném chim trời.

Chim bay đi mất, đất rơi vào chùa...

Người hay nhởn nhơ, người chạy vạy ngấp nghé cái lợi danh, được cho câu ví "mày cứ bay nhảy như chim".

Nhà chim sẻ trú ngụ trong hốc cột, con chim sẻ như có đồng hồ báo thức, sớm tinh mơ, đúng giờ ấy, lúc ấy, chim sẻ cãi nhau hay trò chuyện, chẳng biết, cứ ra rả tẹc tẹc từng hồi rồi mới bay đi kiếm ăn.

Dưới vườn, con chích bông kêu chiêm chiếp chuyền luống rau diếp sang luống hành hoa.

Đàn vành khuyên hót ríu ran lướt qua ngạc cây xoan xuống đám chuối ngự.

Vành khuyên bạc má đã ngửi thấy mùi chuối chín.

Buồng chuối ngự vàng hây, con chào mào, con vàng anh láo lếu đã bay đến khoét vỏ chuối từ lúc nào, ăn chưa hết, bỏ lại:

Mặt trời lên đầu ngọn tre, ấy là lúc chim ra đông vui nhất trong ngày.

Giữa vòm lá cây đa đầu làng, lũ vàng anh và con vẹt xanh thẫm với lá, lại cả đàn chào mào "chào mào đỏ đít đỏ trôn", dưới đuôi phất phơ mấy sợi lông hây hây đỏ.

Chúng nó chen nhau tranh mổ quả đa chín vàng.

Những con giẻ cùi to xác cũng lách vào ăn quả đa chín.

Giẻ cùi bảnh bao như con bồ các, vậy mà bị câu giễu rất ác "Giẻ cùi tốt mã dài đuôi.

Hay ăn cứt chó ai nuôi giẻ cùi".

Chẳng biết người ta nói bóng gió con chim hay mỉa mai con người tốt mã mà xấu bụng.

Kìa kìa, đàn chim bay vào cây gạo mới đầu hạ mà hoa đã nở đỏ ối bãi Cơm Thi bên sông Tô Lịch.

Những con sáo đá, sáo sậu, sáo mỏ ngà lúc đậu trên cây, lúc xuống bãi cỏ gà - lại cả bọn bồ các nữa.

Chim nhặt sâu trong dệ cỏ, chim dũi những chiếc hoa gạo đã rụng rữa.

Đàn cò về chiều trong bờ tre.

Cò bợ mỏ xám, cò bạch mỏ ngà nhấp nhô trên nhánh tre.

Con cò là chim báo bão.

Sắp mưa to gió lớn, cò bay đi tìm chỗ ẩn.

Con cò báo bão, con cóc, con chẫu "nghiến răng" trời sắp mưa, nghiệm lắm.

Con trâu to xác mà chậm hơn cả.

Bão đến nơi, gió thổi bay cả người, ngọn tre lả xuống quết mặt ao, bấy giờ trâu mới chồm lên dựng đứng như múa hai chân trước.

Bão đấy!

Bão đấy!

Giữa trưa nắng, trời cao trong xanh, những con diều hâu liệng vòng tròn, khi xa khi gần.

Bất chợt, một con chim cắt như mũi tên vụt ra đuổi đánh.

Diều hâu lẩn đi, chốc mới hiện ra, lại bay vòng.

Chẳng phải diều hâu nhởn nhơ, nó có việc cả đấy.

Dưới kia, con gà nhép mải đùa, diều hâu chỉ rình hễ nó quá chân đi ăn xa mẹ, diều hâu sà xuống quắp ngay.

Đã có câu hát chọc tức: Diều hâu xây giếng cho tròn.

Mai kia tao gả gà con cho mày.

Trưa nắng, những con quạ đen, quạ khoang chui vào trong cây muỗm rậm lá.

Cũng để tránh đòn con cắt, con chèo bẻo.

Ngứa mắt thì bị cắt đánh ngay.

Con quạ cũng phải nháo nhác.

Anh chàng mê gái, thấy gái cứ "nháo nhác như quạ vào chuồng lợn".

Tôi không thấy quạ nháo nhác bao giờ, người thì có.

Đàn chim liếu điếu râm ran cãi nhau cả ngày không dứt.

Khi chim tu hú gióng giả xa xa, biết tu hú đã về thì quả vải chín đỏ rộ và nắng gắt.

Bỗng đâu, trên cái sào phơi ngoài sân, móng chân chim gãi sột soạt, vang lên những tiếng lảnh lót khách, khách, khách...

Con chim khách báo tin nhà sắp có khách.

Con chim nào kiếm mồi cũng đều có thung có thổ, không mấy khi chúng nó bay tình cờ.

Bên mép nước, con chim trả xanh mướt trên cành trúc, gật gù như đậu chơi mà là rình cá.

Con bói cá mình đen cánh lốm đốm trắng cũng ngó nghiêng nhòm xuống.

Chàng này lượn cao cao, thình lình buông mình rơi tõm xuống mặt nước, lôi lên được con cá thiểu trắng lấp lánh.

Con le, con cốc lặn lội cả ngày dưới đìa Cáo, chỉ xốc được cá bé, những con thờn bơn, con mài mại.

Ngày xưa, có chuyện rằng ông lão chài về già lại nghiện nặng, đã nghĩ ra cách cho con le, con cốc ngửi hơi thuốc, rồi le và cốc đâm nghiện khói thuốc phiện.

Ngày ngày le, cốc lặn mò quắp về cho ông lão những con cá thiểu, ông lão lại cho le và cốc đến bên cạnh bàn đèn đợi hơi thuốc ông lão thở ra.

Thành thử hai con chim chăm chỉ đi bắt cá rồi lại về quanh quẩn đợi hơi thuốc.

Bây giờ ở đâu còn ông lão chài luyện cho chim nghiện để nuôi mình?

Hàng đàn choi choi thoăn thoắt nhấp nhểnh cái đuôi dài, chân chim lướt trên lớp bùn loãng ở thửa ruộng nước vừa bừa lại.

Chim choi choi nhởn nhơ ngoài đồng, chẳng khi nào vào làng.

Cũng như con ri đá, ri sừng nhác trông tưởng chim sẻ, nhưng khác tính nết sẻ.

Sẻ quanh năm ở mái nhà, chim ri thì chơi nhởi đâu đâu, mùa hạ mới về làm tổ trên cây vòng, đến khi chớm gió giải đồng thì bố mẹ con cái lại cuốn nhau bay lên mường, tận sang năm mới về.

Chập tối, tiếng chim chích chòe dài giọng líu lo dưới bờ ao.

Chích chòe quen ấp trứng trên tổ trong ống tre chết róc vừa xuống uống nước.

Lúc ấy đã nhạt nắng, xa xa con cuốc kêu khắc khoải từng tiếng.

Ai xui con cuốc gọi hè.

Cái nóng nung người nóng nóng ghê...

Cuốc kêu chào hoàng hôn, gọi bóng tối về.

Rồi đêm đến, con cú rúc từng hồi trong cây duối cạnh miếu thần đất.

Mắt cú thao láo "thao láo mắt cú, mắt cú vọ".

Thoạt trông thế thôi, con cú chỉ có hai quầng mắt lớn như cái bát úp, còn mắt nhỏ bằng mắt gà, nhưng không quáng gà mà cú tinh nhanh về đêm.

Ban ngày, cú ngủ đứng lẩn xó nào không ai biết.

Chẳng hiểu sao lại thành câu ca dao ngẩn ngơ đến não nùng: Bao giờ cho hết tháng giêng.

Con cú, con cáo nằm nghiêng thở dài...

Nửa đêm, tiếng chim lợn hay chim éc lợn, tiếng éc éc như ai chọc tiết lợn kêu trên trời.



lẽ chim lợn biết người ta ghét nó hôi hám ăn xác chuột chết, đêm tối mới bay ra.

Chim lợn lướt qua đê sông Hồng xuống bãi, xải đôi cánh dài rộng như con diều hâu.

Sang canh, tiếng vạc thưa thớt trên bầu trời thành phố mờ sương, vạc đi ăn đêm đã về, thế là sắp rạng sáng.

Vạc chỉ thui thủi ăn đêm mà cũng có sự tích kiện tụng nơi cửa quan.

Ngày xưa, cò và vạc cùng kiếm ăn ban ngày, nhưng họ tranh nhau một cánh đồng rồi đem nhau đi kiện.

Quan xử cho cò ăn ban ngày, vạc ăn đêm, cò được giữ văn tự, cò được kiện.

Nách cánh cò có đám lông nâu, đấy là cái văn tự đi ăn ban ngày cả đời cò ôm khư khư trong nách.

Không phải tiếng chim bao giờ cũng vui tai.

Như chim khách báo nhà có khách là việc mừng.

Nhưng ghét nhất là tiếng chim lợn báo điềm nhà có người ốm, có người sắp chết.

Người chết rồi cú rúc từng hồi gọi ma về.

Tiếng vạc trên bầu trời lúc gà gáy cũng không ai ưa.

Chẳng có điềm xấu vạc kêu, nhưng mà buồn.

Có những con chim không biết mùa hạ trú ngụ ở đâu, đến tháng chín mới kéo nhau về.

Tháng chín, tháng mười cơm mới, đàn chim ngói bay đỏ rợp đồng chao xuống nhặt thóc ở thửa ruộng quang.

Con dẽ giun lủi thủi xuống mò cánh đồng sâu còn xâm xấp nước.

Khi có gió heo may, những con chim hét đen tuyền như quạ, nhưng thon mình như sáo, đậu xuống cánh bãi, đậu cả trên lưng trâu bắt ruồi bọ cho trâu.

Tiếp đến nửa đêm kia, gió may thổi dài đem cái lạnh về, nghe trên thinh không rào rào tiếng thảng thốt lạ tai.

Ra nhìn trời, không trông thấy, nhưng biết thế là những đàn con giang, con sếu từ phương bắc đã bay xuống phía nam trú đông.

Buổi sáng, thử ra xem.

Quả nhiên mặt hồ Tây đã đen trũi, đã trắng bông những đàn vịt trời, những con sâm cầm, con mòng két.

Dưới đồng sâu, những bồ nông, con giang, con sếu đứng rình mồi ăn nổi, lặng im như cái cọc.

Hôm nào rất ngọt thì vỡ tổ từng đàn nhạn nước bay lẫn với sương mù.

Có hôm sương đọng và gió rét, nhạn nước lượn như mắc cửi trên hồ Gươm, luồn quanh các lưng cây ven hồ.

Nhiều người đem lưới ra mắc quanh gốc cây bắt nhạn nước về nướng ăn, như ăn châu chấu, chim sẻ, chuột bán ở các chợ.

Nhiều năm rồi, không thấy nhạn nước về hồ Gươm, tuy trời mùa đông vẫn xám mờ những đợt rét đậm thế.

Có lẽ con nhạn nước bé bỏng cũng biết sợ chết mắc lưới.

Thành phố này đã bắt ăn hết cả chim trời.

Có người đi xa về kể chuyện ở các nước, chim bồ câu đi chơi đàn, cả trăm con ở công viên, người ta đem ruột bánh mì rắc cho bồ câu ăn.

Ta nên bắt chước nuôi chim bồ câu như thế cho đẹp đường phố.

Ấy chết, thành phố ta mà thả cho bồ câu đi dạo, chắc chỉ mươi hôm đã bị đạn, bị bẫy, bị sa lưới hết.

Tôi kể chuyện ấy với một người đã học ở Nga.

Chàng thanh niên nói: "Chim bồ câu ở công viên, chim già thịt tanh và dai lắm.

Ở bên kia chúng cháu trèo lên nóc nhà, bắt chim vừa ra ràng chén mới ngon".

Rồi cười.

Đấy, người ta hiểm thế, nhưng chơi chim nuôi chim thì nhiều người vẫn thích.

Những con chim hiếm có trong vùng, mua ở chợ về, treo chim trong lồng nghe hót.

Con họa mi, con khướu mun, khướu bạc má, con chim yến trắng, yến vàng...những con chim ấy quê xa, không phải chim trời ở đây.

Cũng như những chim "bắt cô trói cột", con gà rừng, con thầm thì cất tiếng than vãn lúc chạng vạng tối.

Chỉ được nghe nói, không trông thấy bao giờ, những con chim ấy ở tận rừng núi miền ngược.

Những tiếng chim ngoài ngõ, đầu đồng, trên nóc nhà.

Nhưng mà đấy là tiếng chim ngày trước.

Tiếng ríu rít chỉ còn mờ mờ trong trí nhớ.

Nửa đêm sáng về không nghe tiếng con vạc.

Có lẽ vạc cũng như cò, người ta đã chén thịt hết.

Các thung, các đìa ruộng sâu có cò ăn ngày, vạc ăn đêm đã bị đặt bẫy cả.

Thịt vạc nấu hay xáo măng cũng thơm như thịt cò.

Chỉ còn con chim lợn - cái điềm xấu nhất thì đêm đêm vẫn nghe lảng vảng eng éc rùng rợn qua trên nóc nhà phía bờ sông bay vào.

Buổi sáng chỉ còn đôi ba con chim sẻ lác đác đậu ngoài mép nhà mái bằng.

Không biết đêm chim sẻ ngủ ở đâu, chẳng chỗ nào còn hóc cột, còn ống nứa ống tre thế mà cứ đúng giờ sáng sớm chim sẻ lại ra.

Trời mùa hạ xanh trong, chợt nhớ con diều hâu.

Phải công phu khi nào lên núi Tam Đảo mới trông thấy con diều hâu đương "xây giếng cho tròn" trên khoảng trời rừng xanh lơ.

Tôi đếm trong các phố chỉ còn chim sẻ, đôi ba con chích bông, con vành khuyên trốn chỗ nào thỉnh thoảng bay qua ra và ban đêm chỉ còn con éc lợn.

Còn thì các thứ chim được kể trên kia đều biến đâu mất cả.

Người ở đông lên nhiều chim thì vắng đi.

Chỉ thương những lá sung.

Lá sung non ăn chát mà bùi, hái lá sung ăn gỏi, ăn mắm, bọc nem chạo.

Sao mà thương, ấy bởi người ăn được thì sâu bọ gặm tốt, lá sung lá mồi ngon cho sâu róm, bây giờ mới đầu mùa hạ mà những cây sung đã bị sâu ăn trụi hết lá.

Quanh hồ Gươm, hồ Thiền Cuông có cây sung cổ thụ.

Chẳng còn con chim nào về bắt sâu cho cây, mùa hè nắng chói chang, sâu bọ đã chén hết lá, cây sung ghẻ bị tróc đầu, trơ trụi, tiều tụy.

Ai còn nhớ đã có lắm câu hát, câu ví chim với người, người với chim.

Láu táu như liếu điếu; nói như vẹt; bắt chước như yểng; hôi như cú; hót như khướu; gật gù như cò bợ; lủi như cuốc; nhảy như choi choi...Cái mẩu của thằng cu tũn hai ba tuổi cũng được mẹ qúi gọi là con chim!

Mai kia, rồi trong làng ngoài phố tiệt cả chim, các cô các cậu đi học còn biết con chim ấy cái lông, cái cánh, cái mỏ, cái mắt thế nào mà hiểu câu ví von, mà làm được bài văn tả con chim.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
80. Ăn cơm, ăn cỗ


Trong cách thức ăn uống, mọi nhà chú trọng quy củ, bày biện thức ăn và cả chỗ ngồi ăn.

Một mâm cơm, dẫu xuyềnh xoàng ở gia đình, dùng mâm chõng, mâm gỗ, nhà có thì mâm đồng, mâm nhôm, nhưng mỗi thứ bày ra đều trật tự có chỗ nhất định.

Bát nước chấm đặt giữa.

Không để bát cà, bát dưa, những thức ăn kém giá trị trước mặt người cao tuổi, người trên.

Hai bát canh không đặt liền nhau.

Con trẻ ngồi mâm với người lớn thì lễ phép lấy đũa so cho mọi người, để ý đặt đầu đũa to ra ngoài, để tiện tay người cầm.

Đừng tưởng chỉ người châu Âu mới chú ý nhai kín miệng, nhai không thành tiếng.

Người Việt Nam nhã nhặn không nhai nhồm nhoàm, nhai tóp tép và không vừa miệng lúng búng nhai vừa nói chuyện.

Còn thêm vài cái kiêng kỵ mà các cụ thường uốn nắn.

Không gõ đũa cả, đũa con canh cách, không cắm đũa vào giữa bát cơm mới xới - như những bát cơm cúng đám ma, không vét nồi cơm cồn cột - điềm trời ra tai mất mùa.

Không cầm thìa húp canh xùm xụp - điềm trời làm đói nghèo.

Trong nhà, không ai bảo ai, nhưng dường như đã chia chỗ, mỗi người đều biết.

Ông bà, cha mẹ ngồi trên, anh em chị em ngồi giữa, lẫn với trẻ con - có khi ông bà hay cha mẹ chiều chuộng, cho con bé cho cháu ngồi cạnh, vợ chồng ý tứ không ngồi bên nhau, cũng như nàng dâu và con gái thì giữ chân đầu nồi xới cơm cho cả nhà.

Đưa bát cơm vừa xới cho người vai trên, đưa hai tay, gắp thức ăn thì tránh gắp chen đũa, đũa trên luồn dưới đũa người khác.

Không chăm chắm chỉ gắp liền một món - nhất là đấy lại là đĩa thịt gà nhất mâm.

Cháu ngồi bên ông uống rượu, cháu gắp luôn tay, thế gọi là cháu ăn dỗ mồi, ông cho phép thì mới được thế.

Gắp thức ăn chấm nước mắm không đưa thẳng lên miệng, mà đặt thức ăn vào bát đã, rồi mới và.

Đưa ngay vào miệng bị diễu là gắp giật cần câu.

Vào mâm thì ai cũng mời ăn.

Ông bà bề trên nhất thường nói một câu vui: "Cả nhà ăn cơm nào".

Mọi người lần lượt mời bậc cao tuổi trước - không phải mời người dưới thứ bậc mình.

Chỉ có trẻ con và người vai vế dưới thì mời cả mọi người.

Ăn xong, đặt bát đã vét sạch, để ngang đôi đũa, nói: "Cháu (con) xin phép ạ" rồi mới đứng dậy.

Ra rửa miệng (hoặc lau miệng) và lấy tăm uống nước không hếch môi xỉa tăm quèn quẹt như chải răng.

Ở một nhà cách thức ăn uống đã cẩn thận, tỉ mỉ như thế, ra chỗ đình trung cái tiếng to hơn cái miếng, thì chỗ ngồi và cách thức ăn uống càng cẩn trọng hơn.

Không kể đến hủ tục , các cụ tranh mâm trên mâm dưới, đến nỗi sinh sự cãi nhau, đánh nhau kiện tụng lên cửa quan.

Có chuyện như vậy, mà cũng ít khi, thường chỉ cái tiếng để lại và nghe chuyện kể lại, nhưng bình thường, những cuộc ăn uống ở phe giáp, ở đình có phân biệt - cũng như ở nhà.

Như làng có khách trên về, khách ngồi với các ông có chức việc cao (chánh phó tổng, tiên, thứ chỉ, lý trưởng đương rồi các ông hội đồng kỳ mục, hội đồng tộc biểu ngồi mâm này, cùng các ông lý cựu, phó cựu, các ông cựu hội đồng).

Sau đến mâm tuần phiên, trai tráng.

Người mõ có phần, có chỗ ăn một mình, không thì cứ việc chút cỗ mang về.

Bấy giờ sự phân biệt đối xử rất ngặt, người già mà cả đời không có chức vụ cũng coi như bạch đinh.

Nhiều làng có mâm riêng cho các cụ lão được trọng tuổi, nhưng có cụ bạch đinh khái tính không đi việc làng.

Phụ nữ thì chẳng bao giờ được dự lễ bái và ăn cỗ uống rượu trong đình.

Việc cỗ bàn bây giờ nhiều cái đã giảm cho thích ứng với lịch sự hơn nhưng có nhà lại làm phiền toái và hình thức hơn, thành hủ tục khoe của.

Và cũng nực cười, vênh vang ta giàu có, nhưng lại để khách ăn cỗ ghép mâm.

Ở đám cưới hay đám ma (cúng trăm ngày, năm mươi ngày) khách đến, đủ sáu người, gia chủ mời vào mâm, vào bàn.

Cả trăm khách khứa, họ hàng, bạn bè tuổi tác khác nhau, cũng bị mời ngồi lẫn lộn, nhiều khi một mâm một bàn chẳng ai biết ai.

Ăn xong cứ việc đứng lên ra về, không cần chào hỏi người vừa ngồi bên.

Một chuyện trong ăn uống, kể làm vui và cũng làm nghĩ.

Một bạn đã đi nhiều nước vùng Nam Á.

Thấy người địa phương có thói quen ăn bốc.

Bốc tay phải.

Trước sau khi ăn, rửa tay nước sạch, có nơi xát chanh.

Đồng bào dân tộc Thái trên Lai Châu cũng ăn bốc xôi như vậy.

Ăn bốc có thể thức riêng, nhưng cũng vẫn là ăn bốc.

Anh bạn thân tình, thật thà nhận xét với người bạn nước ấy.

- Ăn bốc không vệ sinh.

Anh nọ cũng thân tình, thật thà, anh đã tới Việt Nam và anh nói lại:

- Các bạn thì cả chục người một bàn chung nhau một bát nước chấm.

Ở Hà Nội, tôi đã được ngồi ăn với các bạn như thế.

Cũng không vệ sinh chút nào.

Mới nhớ ra, ở nước ta, có lẽ chỉ có bữa ăn ở khách sạn mới được mỗi người một bát nước chấm.

Chứ mọi nhà ngày ngày vẫn mỗi mâm chỉ có một bát đựng nước mắm, mắm tôm, xì dầu... rồi mỗi người chấm vào một bát ấy.

Rau muống luộc quên để vỉ cho ráo nước, đặt vào đĩa ngay.

Chấm rau, thấy bát nước chấm đã nhạt loãng mà mãi vẫn chưa cạn.

Thì ra ở ngọn rau muống luộc, nước rau rỉ ra cứ đẫm thêm vào bát nước mắm.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
81. Lời chào cao hơn mâm cỗ


Chào hỏi là nền nếp chứng minh truyền thống lịch sử trong giao tiếp từ gia đình ra xã hội, đến nay vẫn tồn tại.

Chúng ta nên bàn bạc để đưa chào hỏi, ngày một thích ứng và giữ gìn văn hoá văn minh hơn.

Câu tục ngữ "tay bắt mặt mừng" ý rằng lâu không gặp nhau, vẫn nhớ nhau nên mừng rỡ nhìn mặt nhau nắm tay nhau.

Tay bắt mặt mừng không giống "bắt tay" theo phép chào hỏi của người châu Âu mà ta đã bắt chước từ thời Pháp, nhất là ở các thành phố.

Tuy nhiên, việc bắt tay là một thói quen ngoại nhập đã được Việt Nam hóa và phổ biến hợp với "tay bắt mặt mừng" của ta.

Tôi không thích những cái bắt tay ngoảnh mặt ra để chụp ảnh đăng báo như bây giờ.

Nó chẳng có nghĩa gì cả.

Có điều cũng vì gốc không phải của ta cho nên bắt chước nhiều khi không đến nơi đến chốn.

Câu "tay bắt mặt mừng" cổ truyền có thể áp dụng vào tinh thần bắt tay kiểu mới.

Có nghĩa là tay bắt tay, mặt nhìn mặt, biểu lộ chan hòa tình cảm, chứ không giơ tay ra bắt tay người này, mặt và mắt lại quay sang người khác, chẳng tay bắt mặt mừng với nhau chút nào.

Đừng tưởng người châu Âu ít chào hỏi, không, người ta chào hỏi tế nhị lắm.

Đi nhà hàng, vào bàn ăn, đến sau bàn bên cạnh, thế nào người đến sau cũng nghiêng đầu, mỉm miệng, chào thân thiện, giơ tay xin lối vào, mặc dầu không quen biết nhau.

Còn việc hôn mu bàn tay, hôn má, hôn môi (phong tục Nga: người trong gia đình không phân biệt nam nữ có thể hôn môi nhẹ nhàng), nhưng để ý sẽ thấy, trừ phi ruột thịt và thân tình, còn là khách thì ai cũng đều vui vẻ nhã nhặn xin phép được hôn hay không.

Tôi đã thấy có cơ quan ở Hà Nội tiếp khách nước ngoài, chủ nhân ta ăn vận trịnh trọng, cà vạt múi thắt sẵn gài kim vàng chóe, đoàn khách có các bà đầm, chủ nhân ra bắt tay rồi cứ tự nhiên ôm hôn khách túi bụi.

Người hiểu biết thì ngượng chín mặt.

Ông chủ kia hý hửng vì cho là có tác phong chan hòa lịch thiệp, còn khách thì chắc chắn là vừa lạ, vừa ngại, vừa ghê.

Phong tục chắp tay chào hỏi của ta đã có từ lâu.

Trông người Nhật chào cúi gập đôi người, ta qúy họ trọng phong tục, nhưng không quen mắt.

Người Nhật giữ lối chào cổ kính ấy ở ngoài đường, khi tiếp khách, ở công sở, nhà máy, ở nơi khác và của mọi lứa tuổi.

Biết giữ nền nếp rộng rãi và phổ biến vậy cũng là tuyệt vời.

Cách chào hỏi của ta có vẻ thanh nhã, nhưng xem ra còn hiếm, chưa đồng đều.

Đón khách hay tiễn khách, chủ nhà bước ra, hai bàn tay úp chắp nhẹ nhàng vào nhau, hơi cúi đầu - không gập đôi người kiểu Nhật cũng không nghiêng đầu kiểu Tây.

Dùng hai chữ chào và hỏi thì nghĩa nội dung hai chữ chào hỏi là: chào người trên, người ngang vai và hỏi người dưới.

Không chào người dưới, nhưng thường ngỏ lời khéo và thân: Thế nào, hồi này con, (chú, cháu) có khoẻ không, vẫn đi học chứ?

Chào hỏi là bước giao tiếp đầu tiên và quan trọng vì người gặp sẽ nhớ mãi cử chỉ ấy, cho nên, đã có câu "lời chào cao hơn mâm cỗ".

Ở trong nhà thì "đi hỏi về thưa" với các bậc trên, ông bà, bố mẹ, các anh chị.

Về nhà hay ra khỏi nhà, đều chào hỏi thưa gửi.

Nhà nền nếp, việc chào hỏi được dạy từ khi trẻ mới biết nói.

Và lớn hơn, thấy sơ xuất thì nhắc nhở.

Không được lừ lừ đi về, và khi về đến nhà, phải chào, dù là người ruột thịt gặp hàng ngày.

Tất nhiên, khách thăm nhà nhất thiết người trong nhà phải chào hỏi rồi.

Ngoài đường, trong làng hay trong phố cũng thế, nhất là ở trong làng, họ hàng, láng giềng và quen biết rộng, khi gặp đều chào hỏi nhau.

Với các cụ ông cụ bà, các vị cao tuổi thì không kể họ hàng láng giềng, miễn là biết mặt, biết tiếng, đều lễ phép chào hỏi.

Đương đi nhanh, bước chậm lại, dừng lại, chắp tay (trẻ con, học sinh thì khoanh tay) cất tiếng chào.

Như vậy, là đứng đắn, là ngoan mà mau mồm mau miệng.

Biết bao tục ngữ, thành ngữ xung quanh nền nếp văn hoá này: Kính lão đắc thọ...

Kính già, già để tuổi cho...

Khi nói, khi chào, không nói cộc lốc, trống không.

Nói như thế, chào như thế, thà không chào, vì thế là ăn nói vô lễ.

Ngày nay thường dùng chữ "xin lỗi" một cách rộng rãi.

Trước kia, hay nói "bỏ lỗi" - ông bỏ lỗi cho, bà bỏ qúa cho.

Coi chữ "xin" là nặng nề.

Cũng như nói "cám ơn" thì vừa phải hơn là dùng chữ "đa tạ" khách sáo.

Những chuyện về chào hỏi trên kia xem ra ngày trước giữ gìn được, nếu người trong nhà chểnh mảng thì nhắc nhở.

Bây giờ chểnh mảng nhiều.

Tôi đi vào trong ngõ nhà tôi, các cháu gặp, chẳng mấy cháu nhớ chào tôi.

Có cháu đi không tránh, cứ đâm thẳng vào chân, vào vai tôi rồi nó tỉnh bơ, cười trừ.

Những thói ấy xa lạ với nếp nhà.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
82. Bèo Nhật


Bèo còn có nghĩa bóng một cái gì xoàng xĩnh, trôi nổi, lênh đênh.

Những câu nói thông dụng: rẻ như bèo, bèo dạt mây trôi, đồ bèo bọt.

Tầm thường thế, nhưng bèo có công dụng và ích lợi cho mọi nhà.

Biết thân phận cò con thì việc đỡ đần cũng nhỏ chẳng đáng mấy nả, nhưng cái cây cỏ mọc hoang cũng có ích.

Ở đồng bằng sông Hồng có các thứ bèo:

- Bèo cái.

Ao bèo, mặt nước lấy những cây nứa khoanh bèo lại.

Ấy thế mà khi mưa rào, nước ao dềnh lên cống, bèo cũng trôi từng mảng đi.

Ngày ngày, vớt bèo cái cho vào cối giã, nấu với cám làm thức ăn của lợn.

Thời ấy, nuôi lợn không thả lã, lợn nhốt chuồng và bán thịt lợn đen.

Lợn lang, lợn trắng - gọi là lợn Móng Cái, bị chê là nhạt thịt.

Bây giờ lại hiếm lợn đen, chợ bán toàn lợn trắng, lợn lang.

Lợn này được thịt mà phàm ăn, ăn bèo cái, cả bèo tây, nhai sống, không phải đun nấu.

Cần nhiều thịt đã, cũng như biết gà quê thì chắc và ngon thịt, nhưng vẫn mua gà công nghiệp vì gà này lắm thịt múi, thịt từng mảng.

- Bèo tấm.

Cũng thả ao, thức ăn của ngan, ngỗng, vịt.

- Bèo hoa dâu nuôi làm phân bón ruộng.

- Bèo ong.

Như cái tổ ong xanh xanh.

Bèo ong cứng cái không phải thức ăn gia súc.

Đám bèo ong thả lơ thơ mặt nước những giếng đất, bên một cành tre cắm.

Bèo ong ít rễ, làm sạch che nắng và mát nước.

Giếng đất cũng hệt cái ao, phải cắm cành tre và thả bèo ong để người lạ phân biệt được cái ao, cái giếng.

Nhưng long đong và cũng phiêu lưu ly kỳ nhất, có lẽ là số phận cái bèo tây.

Lần lượt, bèo tây có mấy tên.

Mới đầu, là sen Nhật Bản, rồi bèo Nhật Bản, bèo Nhật, sau cũng là bèo tây.

Ở Miền Nam gọi là lục bình.

Trên sông Sài Gòn những đám lục bình vỡ bè hoa tim tím trôi.

Gọi là bèo tây vì thói quen của người ta: cái gì xấu thì thêm chữ ma, con châu chấu ma xám xịt, con bướm ma nâu sẫm, quả ổi lộn kiếp ngoài tha ma gọi là ổi ma; cái gì nơi khác mang đến là của nước khác: vịt xiêm, mãng cầu xiêm, dứa tây, hành tây, bèo tây...

Thời tôi biết, bèo này hãy còn gọi là bèo Nhật Bản, bèo Nhật.

Các cụ già thì vẫn gọi là sen Nhật Bản.

Các cụ kể giống sen này quê ở nước Nhật, được đem về nước ta làm hoa cảnh, cho nên mới gọi là sen, cây sen Nhật.

Thử tưởng tượng nhà có một bát cốc thủy tinh - như bát cốc để chơi hoa thủy tiên, trong đặt một cụm sen Nhật Bản rậm rễ, bầu trắng, lá xanh, hoa phơn phớt tím, căn phòng của bạn trang nhã hơn lên chứ.

Nhưng đó là vẻ đẹp ngót thế kỷ trước.

Rồi cái tội của sen Nhật là sinh nở nhanh quá, chưa kịp vớt đã nở, không còn hiếm quý nữa.

Bây giờ nó là giống bèo xó xỉnh nào cũng có, chẳng ai ngó ngàng đến.

Ở các đầm hồ, hồ Tây, hồ Trúc Bạch dọc bờ sông Tô Lịch đầy bùn giống bèo Nhật càng mọc dữ, mới mươi hôm đã bề bộn loang ra, không vớt nhanh thì cá chết ngạt.

Vài cụm lơ thơ góc ao, dăm hôm đã loang kín mặt nước, mà rễ dày rễ chùm, các giống cá trắng trong ao hồ có bèo Nhật không còn chỗ ngóc lên thở được.

Thế là hoa thành bèo, lại là cái bèo vô tích sự.

Con lợn, con trâu, con bò chỉ ngửi bèo Nhật rồi lảng.

Để làm phân xanh thì bèo không ngấu.

Tắm ở ao có bèo Nhật, rễ nó vướng ra, ngứa mẩn cả người.

Bèo Nhật thành một cái nạn làm hại ao hồ.

Nhưng tôi thấy ở Trạm Trôi người ta đã dạy được lợn biết ăn bèo tây.

Chỉ vì bèo cái bây giờ còi quá, ao bèo vàng úa.

Có người ghét bèo Nhật đến độ kỳ quái.

Thời ấy có quan tổng đốc tỉnh Hà Đông họ Vi đặc biệt ghét bèo Nhật.

Ông Vi kinh lý đến làng nào, thấy ở ao, ở đầm có bèo Nhật thì ông nọc cả lý trưởng, phó lý ra quất roi mây.

Không hiểu tại sao lão này ghét bèo Nhật thế, người ta đặt chuyện tiếu lâm chua chát: ông ấy có đứa con cầu tự, thằng bé chết ngạt ở ao bèo Nhật, từ đấy ông thù bèo Nhật.

Chẳng biết thực hư thế nào, nhưng có điều, trước kia, ở đầm hồ có bèo Nhật, chỉ thấp thoáng thôi, người ta vớt bỏ ngay.

Không đâu để bèo Nhật nở từng mảng thành rừng như mặt nước hồ Tây, hồ Bảy Mẫu như bây giờ.

Tôi cũng bị cái ám ảnh không ưa bèo Nhật từ thủa trẻ, bây giờ mỗi lần ngắm hồ Tây, hồ Trúc Bạch phía nào cũng chi chít bèo Nhật, cảm thấy khó chịu, coi là hồ hoang, đầm hoang.

Trên sông Mê Kông, chốc chốc lại gặp một đám lục bình vỡ bè trôi lênh đênh, những chùm rễ bám quanh còn về vệt bùn đỏ.

Tôi ngỡ ở một cống cửa vườn nào đó, người ta vừa đẩy một đám lục bình ăn mày ra sông.

Không đâu chứa chấp, bèo Nhật đành trôi mãi.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
83. Ông đồ Huỵch


Việc của đàn ông trong nghề tơ lụa thì dệt cửi, nghề giấy thì đạp lề, giã dó, kéo tàu.

Trẻ con, đánh suốt, chọn lề, nhặt dó, đôi khi bóc uốn.

Nhà có thì cố cho con đi học.

Trước tiên, học quanh quẩn ở làng, có ông đồ bảo chữ nho.

Phải khi thời thế nhố nhăng, bút lông bút sắt lẫn lộn, nhiều thầy đồ dạy cả chữ nho và chữ quốc ngữ.

Cũng là hóng cái nọ khỏi lo mất cái kia.

Chữ nho còn hôi hổi đấy mà quốc ngữ thì chưa hẳn tin.

Ông nội tôi ngồi bảo học chữ nho ở làng.

Đến bác tôi - con trưởng ông bà nội - cũng làm thầy đồ thì khăn gói lên tận Kê vùng Mường ở Lương Sơn trên Hòa Bình, bảo học chữ nho, chữ quốc ngữ.

Mẹ tôi với tôi ở bên ngoại.

Nhà ngoại nghèo, chỉ có một khung cửi.

Nhưng các dì tôi và mẹ tôi cũng chưa ai đi làm mướn kiếm cơm thiên hạ.

Lại vốn người ta hay ra vẻ cho đẹp mặt, huống chi, ở đất Kẻ Chợ bề ngoài thường mầu mỡ riêu cua, tôi cũng được ngấp nghé đi học.

Ông ngoại tôi thậm ghét cái chữ quốc ngữ loằng ngoằng cua bò.

Ông tôi dạy tôi mấy chữ Tam tự kinh, bấy giờ ông bảo: Ông nội trong nhà ngồi bảo học cả lớp, có đàn có lũ, thế mới chóng sáng dạ.

Cháu học ông cả năm cũng chưa hết chữ, vì ở ngoài này không có bạn, một mình cháu chữ tác đánh chữ tộ, vừa học đã quên.

Thế là một dạo tôi được về quê nội học chữ nho.

Ông tôi mua một quyển Tam tự kinh mới của bác quẩy bồ "bán sách đổi sách" vẫn vào rao trong xóm.

Lại đóng quyển giấy bản để viết phóng, có hai tờ bìa phiết cậy đỏ nhoáng, thêm một trăm giấy bản đem về biếu ông nội.

Ông ngoại đưa tôi về quê.

Lớp học ở gian đầu hè, con gà mái dẫn cả đàn con lên bới xó luồn chạy qua cứt gà cuốn rác bụi bê bết, thế mà đến lúc có học trò sao mà sạch sẽ, trật tự.

Tinh mơ, trưởng tràng đến cùng mấy đứa nữa, cơ chừng các anh đã cắt lượt nhau.

Mỗi đứa một việc, người lấy chổi sể moi móc từ gầm phản ra sân gạch; người cầm chổi tre quét sân đất.

Cái phản chõng thầy ngồi thì một đứa cầm cái phất trần đuôi gà phảy bụi.

Rồi đem chiếc chiếu trơn trải ra chõng - cái chiếu lâu ngày bị hổng một lỗ to tướng ở giữa.

Tuy vậy, lúc trải vẫn phải ý tứ, mặc dầu mép chiếu đã rách lươm nhươm cũng xem mặt trái mặt phải, không được trải chiếu ngược.

Xong đâu đấy, bày lên chiếu cái tráp đựng sách, mặt tráp sơn đen đã loang lổ trơ gỗ, tráp đặt cạnh cái điếu bát, cái gối mây.

Thầy không nằm lúc bảo học nhưng cứ phải để cái gối ra đấy, đôi khi thầy kê đầu gối, việc đã sắp đặt, lệ bộ đủ thế.

Sau cùng, chiếc roi mây và cái xe điếu đặt sóng nhau để tiện tay, thầy cầm cái xe điếu hay cái roi vụt đứa có lỗi.

Trưởng tràng cắt đặt mọi công việc.

Những nghiên mực, nghiên son đã được bưng ra cạnh bể nước.

Tiếng mài son đều đều như tiếng cối xay lúa rì rầm dưới nhà ngang.

Thầy ở trong nhà ra, cái nồi đất đun nước ngoài hỏa lò sôi đã đổ ra ủ chè.

Nắm lá chè tươi ngoài vườn được hái vào từ lúc mới nhóm lò.

Thầy ăn vận tề chỉnh: giày mõm nhái da trâu sống vàng ệch xởn lên; vuông khăn nhiễu tam giang chít đỡ cái búi tóc củ hành; tấm áo the thâm dài đã bợt cả hai khuỷu mới được thay hai ống tay vải nâu.

Thầy ngồi xếp bằng tròn trên mặt chõng.

Thầy nhắp miếng nước chè tươi đặc.

Vừa lúc từ ngoài cổng từng đám học trò lóc nhóc tới.

Chẳng mấy lâu cả bọn đã đứng ngồi lổn nhổn khắp trong hiên.

Anh trưởng tràng ra đếm, thấy cái thằng nhà ở xa nhất dưới xóm bãi cũng đã tới, thế là trưởng tràng vào khoanh tay: "Thưa thầy, chúng con về đủ rồi ạ".

Lớp học bắt đầu.

Hôm nào mưa thì vào trong nhà, trời râm có khi nhấp nhô ngồi học bài, nằm bò ra viết phóng tập tận ngoài sân.

Từ bờ ao lên thềm hiên, dần dần vang động như ong vỡ tổ.

Lần lượt, mỗi đứa đến trước chõng thầy ngồi, tay cắp quyển sách bên nách, mắt ngước lên xà nhà, đứng học thuộc lòng bài hôm qua.

Có thuộc bài thầy mới bảo bài mới.

Không dễ đâu, lúc này hay bị ăn đòn nhất.

Đứa nào thuộc bài rồi thì cung cúc về ngồi ngoài, ra rả đọc to những câu trong bài mới thầy vừa bảo.

Thầy trông ra, đứa nào y a ngửa cổ như nghẹn chữ, thầy đập roi mây một cái xuống chõng rồi chỉ vào mặt.

Biết hiệu, anh học trò ngồi lại ngay ngắn, đọc khe khẽ.

Có hôm thầy quất vun vút vào lưng, vào vai.

Ở quanh chõng, những đứa không thuộc bài phải nằm sấp xuống mặt đất, thầy sai trưởng tràng đét mỗi thằng năm roi quắn đít.

Rồi từng đứa lồm cồm bò dậy lại ra ngồi học lại bài, nước mắt lã chã như nước giọt gianh, mà miệng vẫn ra rả y a...y a... y a...

Một chốc, vào đọc trước mặt thầy.

Đến kỳ không ê a nhai chữ nữa mới được tha đòn.

Đã học sang bài mới cả lớp rồi thầy cho viết tập.

Người đã đọc đến sách Minh tâm thì được chép nắn nót từng tờ.

Thầy chấm, khuyên tròn một nét son vào góc trang, thế là ngay ngắn viết khá.

Tôi mới học Tam tự kinh, chỉ mới cầm bút tô chữ viết phóng đặt dưới tờ giấy bản hằn bóng mờ mờ.

Chốc chốc, anh trưởng tràng lại đến liếc qua xem có viết thẳng dòng, đủ nét hay bị mất nét, trái cựa...

Vô phúc nhất đứa nào viết trái cựa, trưởng tràng nắm ngay chỏm tóc hoa roi lôi đứng lên.

Thầy nói nhẹ nhàng nhưng cũng đủ cho thằng ấy xanh mắt: trái cựa à, cho ba roi... năm roi... bận sau nhớ...

Đến khi lớp tan, ai viết tập xong được về trước, hai tay chắp lạy thầy rồi mới được quay ra.

Trưởng tràng cắt đứa ở lại quét dọn, rửa nghiên xong mới về.

Khổ nỗi, có những đứa về muộn nữa, ấy những đứa phạm lỗi chửi nhau đấm nhau và những đứa vẫn chưa thuộc bài.

Phải ngồi nhai bài cũ rồi lại cố nhập tâm bài mới.

Xong rồi, nào đã được ra cổng, thế là mày phải phạt, mày còn bị xuống nhà ngang giã hầu nhà thầy cối gạo.

Có hôm ra vườn dỡ khoai lang, đánh gộc tre, đào củ rong giềng làm thức ăn cho lợn.

Đến lúc được về, đói thót hai bên mạng sườn cứ há hốc mồm vừa đi vừa chạy.

Mỗi hôm đều đều như thế ở gian lớp học.

Từng lúc, không nghe tiếng trò chuyện, tiếng cười, thì chốc chốc lại nổi lên tiếng roi mây, xe điếu vi vút vào lưng, vào đít, thế mà chẳng ai có vẻ kinh hãi.

Đi học mà phải đòn là cái sự tự nhiên đứa nào cũng nếm mùi.

Có hôm thuộc bài, có hôm không.

Tính tương cận y a... tập tương viễn y a...

Có thế mà nhai mấy hôm chưa thuộc.

Nhưng ông tôi không đánh tôi.

Anh trưởng tràng cũng chẳng đụng đến tôi.

Ông tôi thương tôi.

Bố tôi biền biệt đi tận Sài Gòn đã nhiều năm chưa về.

Kể cũng lạ, có lẽ không ăn đòn thì chẳng có cái gì để nhớ, tôi chỉ mang máng về lớp học của ông tôi như thế.

Chẳng bao lâu, tôi mới vọc vạch được vài chữ trong sách Tam tự kinh và viết mấy tờ phóng thì ông tôi ốm, rồi ông mất.

Đám ma ông tôi đông người đi đưa lắm.

Các thứ đồ nhà tang làng đã sẵn, cái nhà táng khung gỗ căng vải trắng, cái kiệu võng vong gỗ mộc, những lá cờ ngũ hành đuôi nheo kẻ trắng.

Học trò đi đưa thầy, cả những lớp trước, nhiều ông trưởng tràng năm xưa tóc bạc phơ chít khăn trắng.

Anh trưởng tràng lớp tôi cũng được chít khăn trắng để tang thầy như con cháu trong nhà.

Tết nhất, ngày giỗ chạp, các ông trưởng tràng thăm hỏi, biếu xén, mang lễ đến nhà thầy như khi thầy còn sống.

Mùa gặt mùa cấy, học trò và các trưởng tràng đến làm việc đồng áng, việc nhà thầy.

Tôi về ăn giỗ đầu ông nội.

Chị Cóc bảo:

- Ông trưởng kia kìa sắp gả con gái cho anh mày.

Đã đi trầu cau chạm ngõ rồi.

Tôi với thằng anh con bác cả năm ấy mới lên bảy lên tám.

Nhưng tôi cũng hiểu thế là nó sắp được lấy vợ là con gái ông trưởng tràng đầu bạc nọ.

Ông trưởng tràng có con gái lấy cháu đích tôn của thầy, thật môn đăng hộ đối.

Chồng lên mười, vợ mười lăm.

Nhưng đàn bà chóng già, sau này thì vừa, thế cũng là đẹp đôi.

Tôi nghe những xì xào như vậy ở các mâm cỗ.

Tôi chắc nó cũng chưa biết mặt vợ.

Nhà ông trưởng ấy ở xa dưới xóm bãi.

Tôi lại trở về nhà ngoại tôi.

Ông ngoại bảo: "Ăn Tết xong, sang năm cho cháu lên học ông đồ Huỵch.

Ở nhà lêu lổng chỉ tổ sinh hư".

Ông đồ Huỵch ngồi bảo học ở làng trên.

Xóm tôi cũng có mấy đứa đương học ông đồ Huỵch.

Cái tên ông đồ nghe lạ, song thường nghe thì rồi cũng quen tai.

Tôi biết vậy.

Đi học ngay cũng được, tôi chẳng sợ.

Tôi đã học ông ngoại, lại cả ông nội ở trong quê, tôi đã thuộc mấy tờ Tam tự kinh.

Tôi không sợ vì tôi chưa phải đòn lần nào.

Chắc là tôi học giỏi, thế nào rồi tôi cũng thuộc trước chúng nó.

Ở nhà, có hôm ông ngoại tôi buổi chiều ngồi uống rượu còn dọa cho tôi ăn lươn.

Tôi đã về quê học hẳn hoi mà không phải ăn đòn lươn lần nào, tôi không hãi đi học.

Hôm áp Tết, ông tôi lại bảo:

- Thôi, không học ông đồ Huỵch được.

- Sao thế ạ?

- Tây ngoài Kẻ Chợ bắt ông đồ rồi.

- Sao Tây bắt ông đồ?

- Ông đồ làm hội kín.

Tôi chưa biết mặt ông đồ Huỵch.

Cũng không biết hội kín thế nào.

Chỉ biết thế là thôi không được đi học.

Cả vùng chẳng còn làng nào có ông đồ ngồi bảo học.

Ở trong quê nội mấy năm nay cũng thưa vắng học trò đồng môn đến ăn giỗ và làm giúp nhà thầy.

Bác cả tôi cho sêu tết nhà gái, ông trưởng tràng tóc bạc kia không nhận nữa.

Lại đem tiền lên xin đền mấy cái sêu.

Làng nước đồn là nhà ấy đã cho con gái ra tỉnh đi làm con sen, lấy chồng ngoài phố rồi.

Từ khi ông nội tôi mất, nhà như hết lộc, sa sút nhiều.

Chỉ có bác cả tôi dạy học trên Kệ, cứ vào cuối năm có mấy người học trò đưa chân thầy, đã quảy gà, gạo nương và măng, mật, khoai môn về Tết thầy.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
84. Tiền thời trước


Thời trước đây là thời thuộc Pháp, mà khi còn nhỏ tôi biết.

Tôi không rõ ngày xưa, bạc nén, tiền quan, tiền kẽm thế nào.

Thời này, những đồng xu thì đi khắp Đông Dương, tiền chinh hai đồng được một xu đồng chỉ tiêu ở ba xứ Bắc, Trung, Nam.

Ngoài ra, các loại tiền khác thì ba nước Việt Nam, Ai Lao, Cao Miên cùng dùng, nhà Ngân hàng Đông Dương mọi người gọi là nhà Kho Bạc phát hành.

Đơn vị nhỏ bằng đồng, có đồng xu đỏ thẫm hình bà đầm xòe.

1 đồng xu ăn 2 đồng chinh Khải Định, 1 đồng chinh Khải Định ăn 4 đồng chinh Bảo Đại, chinh Bảo Đại bé nhất, bé giá trị cũng bé cả hình thể, bằng cái vỏ ốc.

Có câu ca thâm thúy xỏ rằng: "Bốn con ăn được một cha".

Đồng Khải Định bằng đồng màu vàng nhạt.

Cùng loại này có đồng tiền năm xu bằng kền xám trắng (đồng "săng căng", nói theo tiếng Pháp: cinq cents), những đồng xu, chinh bằng đồng, bằng kền đều có lỗ ở giữa.

Người ta xâu hai cọc thành đồng bạc.

- Một đồng bạc có 100 xu đã là to.

Một chinh mua được mớ rau.

Các mụ làm nghề đổi tiền ở cửa chợ Đồng Xuân lấy lạt giang xâu lại từng chinh thành hai cọc tiền một đồng.

Quãng 1935-1939, 2 xu một bát phở chín, một xu thì phở nước không về ăn trộn với cơm nguội, 5 xu vào hiệu gọi được đĩa phở bò xào mềm, xào giòn.

Đơn vị bạc có đồng bạc 1 đồng (giá trị 100 xu), đồng ván (giá trị 20 xu, gọi theo tiếng Pháp: "ván" vingt là 20) và đồng hào (10 xu).

Đồng bạc 1 đồng tròn to đường kính ba phân, đồng ván nhỏ hơn, đồng hào nhỏ nhất.

Những đồng bạc, đồng hào bằng bạc không có lỗ để xâu tiền lại thành hào, thành đồng.

Vì đi chợ tiêu đến một đồng bạc đã nhiều không phải là tiêu lẻ.

Đồng bạc bằng bạc thật, đồng bạc thật trong dân gian còn có những việc dùng khác tiền tiêu.

Trẻ con, người lớn bị cảm cúm thì chữa bệnh bằng đánh gió.

Hơ miếng gừng thật nóng, quấn với tóc rối, nhét đồng bạc trắng vào giữa, lấy mảnh giẻ bọc lại, xoa lên khắp mình mẩy.

Khi miếng gừng nguội mở bọc ra, thấy hai mặt đồng bạc xạm lại, thế là biết người ốm nhiễm gió độc, gió độc đã bị hút sang đồng bạc, xoa vài lần thì khỏi - người ta tin thế.

Nhà nào cũng trữ đồng bạc một đồng hay đồng ván để đánh gió, nhà không có thì phải đi mượn.

Ở miền núi, cho đến bây giờ, các dân tộc Dao, Mông vẫn giữ bạc hoa xòe và những đồng bạc cũ.

Để làm của (nhà có nhiều bạc trắng là nhà giàu), thách cưới, đánh vòng cổ, vòng tay, trai gái ăn mặc và diện vòng bạc trong các ngày Tết, ngày hội.

Đồng bạc bằng mảnh giấy mà lại giá trị nhiều nhất.

Có hình cây dừa và người đàn bà đội nón Chuông, quảy gánh là giấy bạc một đồng (một đồng giấy ăn 100 xu).

Giấy bạc 5 đồng vẽ hình con công, thường gọi là tờ con công.

Lại có giấy bạc 20 đồng.

To nhất giấy bạc 100 đồng, in hình cái đỉnh đồng, cũng gọi là tờ cái đỉnh.

Giấy bạc loại nào cũng có chữ ký của hai ông Tây, người ta bảo là ông Tây Kho Bạc và ông Tây Nhà Băng.

Chi tiêu của một nhà bình thường cũng ít có tiền trăm, "tiền trăm bạc chục" là hiếm.

Thày ký đi làm nhà nước, lương tập sự tháng 30 đồng đã phong lưu nuôi được vợ con.

Ở trong làng, tậu một sào ruộng, vào thời kỳ bát phở hai xu, chỉ hơn hai mươi đồng.

Ít người có, có người cả đời chưa lần nào trông thấy tờ bạc 20 đồng, tờ 100 đồng.

Hồi ấy, tôi cũng không được cầm tờ giấy bạc một trăm bao giờ.

Tiền tiêu thường ngày mua bán, chợ búa, rau cỏ tính từng chinh, từng xu và vài hào, vài ba đồng, đã thành món.

Trong thành phố có nghề đổi tiền.

Người Pháp đặt tên phố Hàng Bạc thời ấy là Phố những người đổi tiền (Rue des changeurs).

Người đổi tiền đều là đàn bà đã có tuổi, các bà cắp một cái thúng đan nong đôi xinh xắn - gọi là thúng nhòi, trong đựng các loại tiền.

Bà ngồi đổi tiền ở cửa chợ, đông nhất cửa chợ Đồng Xuân.

Người bán hàng, người đi chợ đổi tiền to sang tiền nhỏ, tiền nhỏ sang tiền to nhưng phần nhiều đổi tiền đồng tiền hào lấy tiền xu, tiền chinh để dễ tiêu.

Từ 1939, nổ ra chiến tranh thế giới lần thứ hai, tiền Đông Dương dần dần mất giá.

Rồi xuống quá, Ngân hàng Đông Dương cho ra giấy bạc năm trăm.

Nhưng đảo chính 9.3.1945, chính quyền Pháp bị Nhật lật đổ.

Đồng tiền năm trăm bạc chưa chính thức lưu hành, chẳng ai

trông thấy.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
85. Mưa mới


Đọc truyện Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi thấy vào mùa nước nổi, đêm nghe ngoài đồng như có bao nhiêu cơn mưa, mưa trận xa xa gần gần.

Không phải mưa, đấy là khi mùa lũ có nước lớn về trong đồng, những đàn cá lóc, cơ man triệu triệu con cá lóc đi thành một giải đen sì vừa bơi vừa nhảy ra sông lớn lướt trên cọng lá súng, lá trang, bèo lục bình.

Đến rạng sáng lại lặng tờ, rồi đêm sau cá lại đi rào rào.

Còn mưa, nước càng lớn, cá ăn đàn càng đi nhiều.

Ở huyện Mường Khổn bên Lào, sông Mê Kông về, chảy quanh ôm đến trăm hòn đảo vào lòng rồi cả dòng nước đâm vào núi mọc giữa sông, trong khi hai bên bờ sông là bãi bồi bằng phẳng, những luống ngô được trồng xuống gần mép nước.

Dòng sông hung dữ thúc vào các khe đá, réo ầm ầm đêm ngày, xa mấy quãng rừng hàng chục cây số vẫn nghe tiếng thác, nhưng sang bên kia núi vào tỉnh Stung Treng đất Camphuchia, mặt nước con sông mẹ ở dưới xa lại phẳng lặng như tờ.

Đấy là thác Mường Khổn, thác Ly Phi mà ngày trước trong sách Quốc văn Giáo khoa thư bậc tiểu học có bài văn miêu tả cái thác hùng vĩ này, trong sách gọi là Thác Khôn, như Nguyên Hồng đã kể tên trong bài thơ Cửu Long giang ta ơi!

Đấy cũng là nơi du lịch kỳ thú, người Pháp đã dựng từ xưa mấy cái nhà "boong ga lô" hai bên bờ sông, cho khách đến chơi ngắm sóng, nghe nước réo.

Vào mùa nước nổi, những đàn cá bơi ngược dưới Stung Treng lên đến đấy vấp núi, nhao nhao nhảy như mưa lên thác.

Cá vướng núi nằm trắng xóa mặt đá.

Các làng hai bên sông xưa nay làm nghề cá mà đặc biệt không thuyền không lưới.

Đến mùa nước, chỉ ra công đi nhặt cá vượt thác mắc vào đá tảng mà có cá ăn cá bán quanh năm.

Đấy là những quang cảnh về cá ngược nước.

Quê tôi, cũng có cá ngược nước khi mưa tới, nhưng chỉ cỏn con bé nhỏ thôi.

Dẫu vậy, cũng là ước mong của con cá cả mùa cạn quanh quẩn ao tù bây giờ được dịp bay nhảy.

Những con cá rô rạch.

Cá rô rạch là những con rô cụ mình đen nhoáng to bằng bàn tay, vây và ngạnh cứng như thép.

Bọn nhãi nhép rô con chỉ kiếm ăn bên cầu ao rửa bát không thể đủ lực rạch được.

Đã sang mùa hạ, hoa gạo nở đỏ khè bên kia sông Tô Lịch, nắng mới càng chói chang, gay gắt.

Từ sớm trên cây đã ríu rít, líu lo từng đàn chim.

Chẳng kể những con vành khuyên, con chích bông chuyên bắt sâu cắn lá thấp thoáng qua lại cả ngày.

Họ nhà quạ đến đậu cành la, nhưng làm tổ trên những cành bổng.

Đàn sáo sậu náo loạn trong cây, tiếng choang choác như đám cãi nhau to.

Giữa trưa giãi nắng, tiếng chim đàn càng inh ỏi.

Chốc chốc những con sáo bay đổi cành nắng khác, khát quá, há mỏ ra, thế mà cũng vẫn tiếng râm ran khắp cây.

Đến một lúc, bọn trẻ chơi dưới gốc gạo để ý thấy trên cây bỗng im phắc.

Những cái hoa gạo càng đỏ ối giữa nắng lửa.

Lạ chưa, tự dưng vắng bặt thế này là làm sao?

Cái gì thế?

Ngoài cánh đồng, một đám mây đen kín chân trời đương đùn đùn tới.

Mưa, mưa to đến nơi.

Thì ra những con chim cảm được hơi nước, đã bay tránh mưa.

Đám mây đen nặng trĩu là là trên cánh đồng, gió xô vào xốc điên đảo các lũy tre, thế là mưa xuống.

Tiếng mưa sàn sạt như cát bay, chớp mắt đã trắng xóa cả.

Cơn gió ẩm ướt lạnh mát.

Những hạt đầu tiên như mưa đá, bước chân mưa đi dẫm lộp độp trên tàu cau, tàu chuối và những giại nứa đương khô cong.

Nước trút xuống, những con gà trụi ở đâu nhô ra luống cuống chạy mưa.

Cánh gà thưa lông, mưa quật như ngọn roi quất đỏ thắt lưng, cái cổ rụt lại.

Lũ trẻ con trốn vào tránh mưa trong thềm hè đứng rúm ró, ngẩn ngơ nhìn ra.

Trên sân, bụi đất, hơi nắng hơi nước ngùn ngụt bốc lên, âm ấm, ngai ngái lùa vào nhà.

Chẳng mấy chốc cả bốn vách, nước chảy xối trong các rãnh ngầu bọt đỏ.

Ngấn nước đã trắng mờ lưng bụi tre.

Ngoài ngõ, trong mưa nghe tiếng chân người lạch bạch.

Người đội rổ, đội thúng, xách giỏ chạy ra cổng đồng, đi bắt cá rô rạch.

Suốt mùa hanh hao, bây giờ ngửi thấy mùi nước mới.

Những con cá thiểu, con mài mại, con rô con cũng ngo ngoe tung tăng.

Con ếch ngồi ngậm hơi suốt mùa đông đã đạp vỡ cái mà đất rồi nhảy ra.

Chỉ có con trạch, con trê cả đời rúc ráy trong bùn thì chẳng biết mô tê gì.

Các loài trong nước, khi mưa đầu mùa xuống đều ngứa ngáy đi đâu đó, nhưng chỉ những cá rô cụ mới rạch được.

Các loài cá trắng không ngạnh thì đợi đấy, bao giờ đến được thác Mường Khổn bên Lào thì cứ việc nhảy lên chết phơi mình trên đá.

Bức tranh "cá vượt vũ môn" vẽ con cá chép lừ đừ trên ngọn sóng, cổ tích gọi là cá đi thi, cá đi ăn thề chỉ là cái vẽ tưởng tượng.

Trong làng, rải rác các xóm đều có những cái ao.

Ao nhà, ao xóm, ao đình, ao làng.

Mưa rào xuống, những đàn cá náo nức bơi ao này qua ao khác ra đến ao đình cả nước nhất.

Nhưng cá rô không theo đường dễ ra ao đình, như những con cá chép rô ron đã đánh hơi theo rãnh nối đuôi nhau ra ngoài hào chắn lũy tre.

Ở hào có những lạch xẻ, mùa cạn người ta tát nước hào ra ruộng làm màu, làm mạ.

Ra đấy đã tưởng như thấy được ngoài kia, mênh mông đồng sâu tiếp đến trắng nước sông Tô Lịch.

Nhưng chỉ đứng đấy.

Đám cá rô rạch ra ao đình, mưa vẫn ồ ạt trong gió đùng đùng.

Ngọn tre ngả nghiêng lắc một cái, tổ cò rơi bộp xuống hào nước.

Cả nhà cò bợ bơi lội quáng quàng lên nấp trong gốc tre.

Mưa càng ràn rạt, mờ mịt.

Những cá rô đến đầu bờ đã đánh ngạnh bò lên khỏi mặt nước.

Hai đầu ngạnh bạnh ra như người đi nạng, cả mình cá vảy dựng đứng.

Con cá nghiêng ngả bò có lẽ đã không biết đã lên mặt đất, bởi mưa vẫn trắng đất trắng trời, có thể cá ngỡ còn đương trong nước, đương bơi.

Đằng xa, dưới đồng lẫn dòng sông, hơi nước ngọt ngào mát rượi đưa lên.

Ở các đầu cống, lố nhố những người đội mưa đi bắt cá.

Cái rổ, cái thúng, cái giỏ đã mở hom.

Những con cá rô rạch qua, trời vẫn tầm tã, chẳng biết mối nguy hiểm đương ụp xuống.

Đàn cá ăn lên quẫy vào rạch ngược, bị gạt lăn vào rổ, vào thúng, vào giỏ, lổm ngổm như cua bò.

Một lúc, tạnh mưa, trời quang thình lình.

Từng tảng mây trắng như bông nõn giữa trời xanh trong.

Nắng loang loáng nước trên những khoanh tre, những cây móc diều, những hoa gạo đỏ ối, hớn hở.

Đàn sáo sậu, sáo đá lại à ra trên cây gạo, ríu rít vang động.

Lối ra đầu đồng, người bắt cá đã về hết.

Bây giờ tôi mới dò ra.

Ở rãnh, chỉ có lầy lội vết chân trong những đống bùn đất thó.

Thế mà nhòm xuống vẫn còn một con cá rô cụ.

Cụ cá đen ngòm như màu bùn chắc là vừa lạch lên được đến bờ hào thì tạnh mưa.

Rô cụ mải miết lên dốc.

Hai cái ngạnh chống xuống, nhích mình lên, nhấp nhô.

Cá rô đánh ngạch như đâm dáo, chảy máu tay, buốt lắm.

Nhưng thấy rô cụ, tôi quên cả sợ.

Tôi lựa nắm đầu cá, nhấc lên ném vào bãi cỏ.

Được rồi.

Con rô to xụ nướng lên được hẳn nồi canh rau muống tương gừng.

Trong thành phố, có những trận mưa đầu mùa, nước sông hồ tràn vào lòng đường.

Cá rô trong hồ theo nước cống, có khi cả rắn mòng, rắn hổ mang cũng bơi vào phố quanh hồ Thiền Cuông ngập nước.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
86. Ông trưởng Bưởi


Mùa hạ, những rặng cây nhãn xanh thẫm bên bờ sông.

Từ làng Hồ xuống Nghĩa Đô, chỗ thì lác đác, chỗ cây liền thành bãi, hoa nhãn vàng như đơm xôi trên mặt lá.

Từng đàn những cánh quýt, cánh cam, bọ xít không biết vỡ tổ đâu về, suốt ngày vè vè trong lùm cây.

Mùa hoa nhãn, chúng tôi đợi những trận mưa rào xuống, nước hồ Tây dềnh lên, đổ ra sông Tô Lịch.

Thế rồi, một trận mưa rào thâu đêm.

Sấm chớp chìm ngập trong tiếng mưa lẫn lộn cả vào giấc ngủ.

Sáng ra, thấy những cành lá lưng cây nhãn cũng lốm đốm đỏ bùn, nước bắn tới.

Ngoài kia, dòng sông lờ đờ mọi khi, bây giờ nước đã dâng lên nhìn ngang mắt.

Những đám bèo sen Nhật ở cống Đõ cửa hồ vỡ ra lênh đênh từng mảnh xanh ngơ ngác bên những chùm rễ bị lật ngửa trắng nhởn, mặt nước ngầu đỏ.

Đường đầu chợ, nước ngập quá đầu gối, người đi về lội ào ào.

Đêm mai mà còn mưa thì nước sẽ lên nữa, người ra ngoài làng có thể phải đi mảng bè chuối, thuyền thúng - mỗi năm đều thế, bè kéo vó xúm xít ngay quanh cửa cống đường Thành.

Chúng tôi chỉ đợi cái thích có thế.

Mùa hè những trận mưa rào, nước lên, sông tràn bờ, trẻ con tha hồ những trò chơi mới trong làn nước chỉ mai kia lại cạn xuống, không nhởn nhơ trên sóng bây giờ thì lại phải hóng đến mùa mưa sang năm, lâu quá.

Ở chỗ ô cầu Dừa, những gọng vó và bọc lưới của ông trưởng Bưởi đã đem ra sửa soạn đồ lề kéo vó.

Chân vó buộc gốc cây bưởi, chỗ ấy hôm qua còn là bãi cứt sắt của bố con ông phó rèn đổ thành đống.

Bây giờ nước ngập sóng óc ách, cả nhà lò rèn phải chạy nước đã quẳng một đống sắt ngổn ngang bên lũy tre.

Nhưng trận mưa đầu mùa chỉ có một đêm.

Hôm sau, nước đã xuống dưới dệ cỏ như mọi khi.

Không đặt vó được, mọi thứ gọng và cần vó để gốc cây, ông trưởng Bưởi lại vác cất đi lúc nào không biết.

Bố con lão phó rèn lại đem cọc lều xuống cắm bên cầu Dừa, tiếng kéo bễ phì phò, tiếng búa đập đe chí chát, chí chát tóe lửa như mọi ngày.

Cũng chẳng để ý.

Chỉ tiếc nước chưa lên nữa để bơi được ở ngay trước cửa đình.

Nhưng trên sông Tô Lịch mùa hè còn khối chỗ thích, dẫu sao cũng đã có trận mưa to, nước có lắng xuống rồi vẫn trong leo lẻo, lội trông thấy hai bàn chân trắng bạch.

Trên các xóm vạc làng Hồ làng Đông, làng Yên Thái có những quãng bờ sông hõm vào, vôi bám vàng chóe như bờ gạch xây, thường ngày người ta ra đãi bìa và ngâm vỏ dó ở đấy.

Công việc nghề làm giấy đã vào câu hát từ xưa.

Kìa vạc nấu dó, kìa sông đãi bìa.

Kìa giếng Yên Thái như kia...

Ở trong làng mọi sinh hoạt thường được đặt vào trong câu vè đời sau kể chuyện đời trước.

Chú Tước đầu to.

Ba Bò quảy nước...

Chú Tước hay hát tuồng, cái đầu to.

Ba Bò sớm chuyên quảy nước thuê đổ vào tàu seo giấy... giếng Yên Thái như kia.

Giếng sâu chín trượng, nước thì trong xanh...

Chỗ chúng tôi chơi nghịch không phải giếng thơi, giếng đất mà là bên vạc bờ sông, nhũng cái hũm đãi bìa, ngâm dó, bằng cái ao sâu ngập đầu, không biết bơi dễ chết chìm lắm.

Thế mà chặp tối và những đêm sáng trăng vẫn nghe tiếng trẻ í ới đùa rỡn dưới nước.

Rồi cầu được ước thấy, dần dà vào sâu mùa hạ, những trận mưa đêm liên miên sầm sập trong giấc ngủ.

Nhiều hôm, ngày nắng chang chang, đêm lại mưa.

Bây giờ không phải lên ao vạc mà chúng tôi vùng vẫy ngay khúc sông qua trước cửa đình.

Ông trưởng Bưởi lại ra kéo vó.

Ông trưởng Bưởi là ai, người họ nào, người làng hay người thiên hạ đến ngụ cư.

Không biết.

Thỉnh thoảng, gặp ông ngủ ngoài cầu Ngói.

Lúc nào cũng thấy lừ đừ chậm chậm, ông hiện ra như một bóng mây đen.

Mỗi khi nước to, lại thấy ông kéo vó, ông chỉ ngồi cạnh gốc bưởi.

Mặt ông, râu tóc và lông mày bạc phếch, cùng màu với cái áo nâu da bò mồ hôi muối trắng.

Người ông cao cao cẳng chân đều đều như hai ống sậy, vấu đầu gối tròn như hai quả bưởi lồi ra.

Người ta nói ông bị bệnh sa đì nặng.

Cứ trông thấy ông, bọn trẻ lại thì thào với nhau về cái bệnh ghê rợn ấy.

Một đứa tỏ ra hiểu biết, kể: "Ngày trước ông trưởng Bưởi cũng có vợ như các người lớn.

Đến khi ông bị bệnh sưng bìu to lên thì vợ bỏ ông, bà ấy cõng con đi ăn mày, rồi mất tông tích.

Ông trưởng Bưởi châm lửa đốt cái nhà ở chỗ kia cho hết dấu vết con người ăn ở tệ bạc.

Từ đấy ông ở một mình".

Chúng tôi bơi dưới sông rồi lên ngồi xem ông trưởng Bưởi cất vó.

Trong lòng vó lấp lánh vảy nước, chẳng được một con niềng niễng!

Một đứa nói với ông trưởng Bưởi, vẻ thành thạo:

- Nước to thế này, cá ra sông hết rồi.

Phải nhử thính, nhử thính.

Bỏ thính vào vó, cá ngửi mùi thơm mới được.

Ông trưởng cho chúng cháu luyện thính bỏ vó, nhé?

Ông trưởng Bưởi nhìn bọn trẻ rồi "ầu" một cái.

Chúng tôi chạy vào trong xóm.

Đứa đi xúc cơm nguội, đứa rang cám.

Một chốc đã đem ra một gói thính thơm phức.

Chúng tôi làm tự nhiên như cái vó của chúng tôi.

Ông trưởng Bưởi ngồi thẫn thờ, để mặc.

Nắm thính bỏ vào lòng vó rồi đặt xuống nước.

Một lát kéo lên lao xao những con cá săn sắt đuôi cờ lại ngoằn nghèo cả con rắn mòng.

Chúng tôi chộp cả cá,cả rắn xâu vào cọng hoa cỏ xước, xách lên.

Chẳng có giỏ, có thúng đựng, phải ném lên cỏ.

Ông trưởng Bưởi vẫn ngồi tựa vào gốc nhãn lừ đừ nhìn chúng tôi kéo vó cho ông.

Rô ron!

Rô ron!

Mài mại!

Con mài mại!

Cả con cua, con gọng vó, con cua!

Ông trưởng Bưởi ngước nhìn, hàm răng móm mếu máo cười.

Chúng tôi lại nhảy xuống bơi ra giữa sông, đánh sóng dồn cá vào.

Nhưng chẳng được nhách nào to hơn những con cá đuôi cờ lúc nãy.

Hôm ấy, chúng tôi kéo cho ông trưởng Bưởi được mấy vó cá cua lẫn lộn.

Không nhớ rồi từ năm nào nước sông không lên đến cầu Dừa nữa.

Cả mép đá thềm sân đình vào mùa mưa cũng chẳng ngập nước.

Con sông trong xanh mùa hè đi đâu mất, để lại một vệt bùn đen sẫm.

Nhưng trong trí nhớ tôi, sông Tô Lịch vẫn trong xanh, khi có mưa rào đầu hạ thì nước lên, có người ra kéo vó bè ở cửa cống Đõ, cống đường Thành, có cụm bèo sen trôi và trẻ con bơi đùa inh ỏi.

Ông trưởng Bưởi lại đem vó ra thả chỗ cầu Dừa.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
87. Đồng làng ngoại ô


Trẻ con chẳng biết để ý thế nào là bốn mùa xuân hạ thu đông.

Không mở xem ngày tháng trong lịch, thấy bỗng dưng lá mít vàng ối từng chiếc trong chòm cây xanh thẫm và quả gấc chín đỏ trên giàn, cũng không biết thế là đến tháng mấy, mùa nào.

Lắm hôm trời trở lạnh, chặp tối sương mù đã xuống lẫn vào khói bếp xanh mờ uốn éo lên tận lưng búi tre, gió heo thổi hun hút, thế mà đứa nào cũng vẫn phong phanh áo, có đứa cởi trần trùng trục nhảy xuống lặn ngụp ngoài ao làng như trưa nắng mùa hè, mẹ phải hò hét mãi mới chịu lên, mẹ bắt đi guốc, mặc áo cánh ngay, chả có thì phải cảm.

Tôi nhớ bốn mùa ang áng theo các thứ đổi thay quanh mình.

Làng tôi có cánh đồng mà không ai làm ruộng, cánh đồng làng phải người thiên hạ đến cày cấy xâm canh.

Thế mà tôi vẫn nhớ cánh đồng bởi vì, cánh đồng như cái sân chơi thảnh thơi, lại có mùa nào thức ấy.

Tháng mười gặt hái đã đoạn, trên những thửa ruộng cao quanh chân tre, khóm lá bánh khúc đã mọc khắp mặt ruộng.

Từng cây lá bánh khúc như cây ngải cứu, như lá cúc tần xanh nhạt.

Sáng hôm ấy, đứng cổng đồng nhìn ra, hoa khúc nở vàng rợm trên chòm lá khắp mặt ruộng, như hoa cải, như đàn bướm vàng nhởn nhơ.

Thế là cây khúc ra hoa đã ngắt lá được, sắp có bánh khúc ăn rồi.

Những túm lá và hoa đẫm sương được hái về từng thúng.

Trong hiên nhà nào cũng giã lá khúc, tiếng chày va côm cốp như giã cua cối đá.

Miếng bánh khúc nhân đậu mỡ vừa bùi vừa béo ngậy.

Khi tàn mùa lá khúc, các khoảnh ruộng cao được bừa cho đất tơi ra làm màu.

Ấy là những ruộng khoai lang, ruộng cà bát.

Thấp thoáng tháng sau đã được rỡ khoai.

Đi mót về những củ khoai nghẹn, dài ngoẵng.

Bỏ vào nồi đất, đổ xâm xấp nước rồi bắc nồi lên bếp, quấn rơm đốt hầm khoai.

Bà tôi đun khéo làm sao cho đến khi khoai chín rồi vẫn còn hơi sượng thì bắc ra.

Củ khoai sượng cắn sừn sựt ngon hơn khoai nướng, khoai lùi, tưởng như khoai sượng ngon nhất các thứ khoai trên đời, thế nhưng chỉ có cái thứ khoai sắp vứt đi người ta bỏ lại trên ruộng mới luộc nên được.

Cánh đồng rộn ràng gặt ba giăng xong thì vào vụ lúa mùa.

Nhấp nhô người nhổ mạ, người cấy, các tay gầu dai, gầu sòng tát nước một mình và tay đôi, gầu đổ nước ỳ oàm đến khuya, khi trăng xế đầu bờ tre.

Lúc ấy, trẻ con díp mắt đã lâu rồi.

Đùa cả ngày, tối ngủ say tít, thỉnh thoảng trở mình lại nghiến răng ú ớ mê.

Ngày mùa, ngoài đồng đông vui.

Lúa vừa cấy vàng ệch, vài hôm mới cứng cây, cả vạt đồng đã lên xanh eo éo.

Quang cảnh ấy chỉ lạ mắt chứ sao thích được bằng xách giỏ đi vồ châu chấu.

Ở ruộng lúa lên bãi cỏ, châu chấu bay ào ào.

Con châu chấu bị ngắt đầu, bóp bụng, vặt cánh trong cánh ngoài, đem rang khan với muối.

Châu chấu rang ngon hơn thịt gà - bọn trẻ con đố nhau thế, nào đã được ăn thịt gà mấy khi mà so sánh.

Rồi đến những trận mưa rào đầu mùa.

Giữa mưa to, người đội mưa ra các đầu chuôm bắt cá rô rạch.

Ngạnh cá rô rạch đâm thủng tay, chảy máu, tôi chỉ men bờ túm được những con rô non.

Nhưng cái chúng tôi chờ đợi hơn ấy là những ngày nắng to sắp tới.

Đã vào mùa hạ, hôm nào cũng nắng.

Giữa trưa, nắng giãi trên bãi cỏ xác xơ, trâu đầm cạn hết vũng nước mưa ngập cỏ hôm trước đen cháy những cái lưng cởi trần người đi bắt cua.

Ngoài ruộng, nước hun hầm hập như đun.

Cua không chịu được nước nóng ngột ngạt, bò từng bọn lên bờ ruộng, rúc vào đám bùn vừa làm cỏ dưới ruộng mới vứt lên đấy.

Chỉ việc nhấc đám cỏ bùn đã khô, dốc vào giỏ, những con cua nhoi ra.

Một chốc đã được lưng giỏ cua bò rào rạo trong những chiếc nan tre.

Đứa nào cũng nhễ nhại mồ hôi, xách giỏ cua về.

Mẹ mắng: "Chúng mày đi bêu nắng thế, tóc sắp đỏ thành cái đuôi bò".

Nhưng mẹ chỉ mắng yêu.

Chiều hôm ấy, hái lá mảnh bát, lá dền cơm ngoài bờ rào, cả nhà được nồi canh cua nấu láo nháo, húp ngọt lừ.

Chẳng phải cơm chan nước vối như mọi khi.

Thế là lại mùa nhãn rồi.

Dọc bờ sông, lái nhãn đã đến làm lều canh.

Họ đã đặt tiền mua cả cây từ khi vào hè.

Không phải để lái coi chừng kẻ trộm nhãn, bởi cây nhãn nào cũng đã được rào gốc.

Mà đêm đến, chốc lại rung cây lạt xạt đuổi đàn dơi bay vào nhằn nhãn.

Lái nhãn thuê cả trẻ con suốt ngày trèo nhặt bọ xít.

Những con bọ xít đậu vào, chùm nhãn đương mơn mởn hóa xám ngắt, rồi mốc trắng như bị xát muối, rụng tiệt.

Bọn trẻ mơ ước khi nào được mót một cành nhãn.

Chỉ hy vọng cỏn con thôi.

Dẫu cho cây nhãn có bị các ông lái buôn hái trụi thì đến lúc được trèo lên cây tìm mót thế nào cũng rớ được trong những cành bổng có quả còn lại.

Cái quả nhãn xót lại ấy, chỉ một hai quả thôi, không phải nhãn lồng, nhãn nước mà là nhãn trơ, nhưng sao ngọt nhất trần đời.

Quả nhãn ngọt bởi công phu trèo cả ngày mới bới ra được.

Những xứ đồng ruộng sâu phía tha ma cấy lúa nếp cũng chẳng ai đi mót nhặt tranh với đàn vịt được một hạt thóc, những hôm gặt rộ.

Nhưng mà, ở ruộng sâu, hôm gặt còn xâm xấp nước, trong nước có đám hội những con ếch, con chẫu.

Ếch hay chẫu đều thích vồ hoa.

Ngắt một cái hoa hồng bụt đỏ, buộc đầu sợi dây quăng vào ruộng thấy nặng tay thì kéo từ từ ra.

Đã thấy con ếch mắt lồi, mõm ngoặp cả cái hoa mà vẫn tráo trưng, trợn trừng đuổi theo vồ cái hoa khác.

Thế là úp chiếc rổ xuống, thằng ếch mê hoa vồ hoa có chạy đằng trời.

Cánh đồng trũng đã gặt chiêm rồi, trơ lại những đống rạ.

Rạ chiêm lợp nhà chóng nát mái, đun bếp thì nồi cơm chỉ tổ oi khói.

Chẳng được cái tích sự gì, người ta bỏ lại trong cánh đồng từng đống rạ chiêm cho trẻ chăn trâu, hôm nào trời rét, thì trẻ trâu đốt lửa sưởi.

Có những đứa trẻ chịu khó di nhấc từng chân rạ.

Con chuột đồng hốt hoảng chạy ra.

Thế là đống rạ thành những đám lửa hun chuột, thui chuột.

Bắt được chuột đem thui, chẳng khác người lớn thui trâu việc làng ngày vào đám.

Nhớ cánh đồng này cứ lần lượt quanh năm thế.

Và cái cầu Điều giữa đồng có bóng mát cây đề.

Người cày dưới đồng lên vào cầu ăn cơm tránh nắng nghỉ trưa.

Người đi đường ngả nón ngồi thong thả trong bóng mát.

Bốn phía, làng làng bao bọc lũy tre xa xanh mờ.

Đến mùa mưa nước đầy đôi khi trông qua đìa Cáo thấy mặt nước hồ Tây lấp lánh đằng kia.

Vẫn chỗ cánh đồng làng tôi ngày trước, ấy thế nhưng đã khác lạ hết.

Bây giờ chỉ có nhà, có phố - nếu kể chuyện lại bảo rằng xưa kia đây là cánh đồng, chắc cô cậu nào hẳn cũng ngạc nhiên.

Nhưng chịu khó để ý đôi chút, cũng chẳng lạ mấy đâu.

Bởi vì quanh các dãy phố mới mọc, lại vẫn những cánh đồng.

Phố xá chen với cánh đồng.

Trên đường lên Sơn Tây, có những thửa ruộng sắp đắp nền làm nhà, người ta xây gạch đánh dấu phân chia đâu sẽ là nhà, đâu còn là ruộng.

Vậy mà trong khung gạch con con, mùa đông vừa qua chưa làm nhà thì vẫn là miếng ruộng được gặt mùa.

Cái xe máy tuốt lúa để trên bờ, từng tay lúa đưa vào máy, hạt thóc phun như mưa rào.

Trong ruộng, đàn vịt nhặt thóc à à theo chân người.

Mấy hôm sau tháo nước vào, lại sửa soạn làm mùa mới.

Nước xấp xỉ tận chân tường cái nhà ba tầng vừa xây bên cạnh.

Chỗ ấy, cầy không lựa luống được, góc chéo quá.

Lấy cuốc bướm, xới lên, cũng thành một vũng thả rau muống.

Đâu làm nhà cứ làm, đâu cấy hái cứ cấy hái, một tấc đất để không cũng xót xa.

Xưa nay, làng nước vẫn tần tảo thế.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
88. Cái gối quạ


Vùng Quần Ngựa ngày ấy còn hoang vu.

Thành phố mới mở rộng ra quanh hồ Gươm chưa đến mấy vùng ngoại ô.

Nhà giam và tòa án không còn ở phố Mã Mây, phố Hàng Tre mà chuyển xuống Hỏa Lò - làng Phụ Khánh.

Chẳng qua vì làng Phụ Khánh làm nghề nặn hỏa lò mà chỗ nhà giam thành tên là Hỏa Lò.

Người ta làm thêm cái bãi tha ma Tây gần đền Quan Thánh.

Chỗ chơi ngựa thì ở trước ga Hàng Cỏ được đưa ra chỗ giáp giới trại Đại Ơn, trại Kho Than.

Tuy đất thuộc các trại, nhưng còn bỏ hoang nhiều.

Đốc lý Tây không đến nỗi phải lập mẹo vu cho có bệnh chuột dịch hạch để đốt làng như thôn Thể Giao dưới Vân Hồ hay đuổi cả làng Phụ Khánh đi lấy chỗ làm tòa án, sở mật thám và trại nhốt tù.

Vùng để làm Quần Ngựa ngút ngàn lau sậy từ mả quan ba F.Garnier bên Giảng Võ suốt sang sông Tô Lịch, chỗ ấy gần cống Đõ đền Voi Phục, tới bên kia sông lại xanh ngắt những búi cây rút trên nước bùn xâm xấp ra tận mép hồ Tây.

Các cụ kể vùng này đời trước có thành lũy rồi bỏ đổ nát, làm nơi cho ma và trộm cướp ẩn náu.

Sau dần dần có người tới khẩn hoang, có quãng đã thành vườn tược nhưng vẫn trống trải.

Một trại nhốt hàng trăm con bò của người trong phố ra thuê người chăn, rồi cái tha ma đầu làng Thụy rộng ra, nhà Ích Phong xây xưởng dầu cù là.

Cổng xưởng gắn tượng ba ông Phúc, Lộc, Thọ, người qua lại gọi chỗ ấy là nhà Tam Đa.

Bây giờ thành tên dốc Tam Đa.

Chính cái tượng Tam Đa trên cổng ngày trước ở cuối dốc, bên kia đường.

Bến tàu điện lên Bưởi đỗ tránh nhau ở cổng Rong.

Vườn nhãn của mẹ nuôi ông tri huyện Hải rộng mấy chục mẫu cũng là đất trại Đại Ơn, đã bán cho huyện Hải như cho không.

Cái Quần Ngựa được mọc ra trong những năm vùng này lác đác có nhà ở.

Vòng đua ngựa tròn đến bốn, năm cây số, cọc sơn trắng đóng hai bên làm hiệu đường cho ngựa chạy quanh bãi cỏ thẳng tắp.

Suốt ngày, người làm cái cầm cái máy xén bấm tạch tạch như cầm tông đơ bờm dầu, cắt cỏ phun ra từng đám.

Ngày chủ nhật có ngựa thi, phu làm cỏ mới được nghỉ.

Trong vòng đua, đàn ngựa chạy nhấp nhô xa xa, đến gần, những con ngựa tung vó thở phòm phọp, mũ đỏ mũ xanh người dô kề nhô lên, ngựa nhảy qua cái trổ chổi xể dựng ngược nẹp ván gỗ.

Ngựa đuối chân, vấp chúi xuống, người dô kề bị ngã tung, con ngựa xổng cương như điên, húc qua bờ rào phi ra đường.

Người đứng xem chạy ré.

Thấy bảo có hôm ngựa lồng, giẫm lòi ruột người dô kề.

Đằng xa, tòa nhà một tầng tường vôi trắng có hàng hiên xanh xanh.

Người xem ngựa thi ngồi ngoài hiên nhìn ra khắp vòng bãi.

Những người ấy là chủ ngựa, là tây đầm đi hóng mát, là các nhà giàu ăn chơi kiểu Tây - chơi ngựa thi, xem ngựa thi, mà cái chính là cá cược, đánh cá ngựa to cả trăm bạc một suất, có người Tây chơi cá ngựa một hôm mất cả một cái đồn điền.

Ngựa thi ở Quần Ngựa là đánh bạc, không phải như chơi quần vợt, bơi thuyền thoi thuyền buồm chỗ nhà thuyền đầu đường Cổ Ngư.

Trẻ con các làng quanh đấy nô nức Quần Ngựa.

Đi xem ngựa chạy thi, nhìn đám đông ô tô và người sang trọng đến, chứ biết đâu cá ngựa, cá cược như thế nào.

Chúng tôi chỉ dám thập thò bên ngoài bờ rào những cây găng tây.

Sợ ngựa nhảy ra giẫm chết, chúng nó trèo lên cây me tây trên đường Thành nhòm xuống.

Rồi cũng chóng chán.

Chớp mắt, những con ngựa chạy thi đã chen nhau chồm qua trổ.

Người dô kề đội mũ xì mẩu tái xanh tái đỏ rạp mình trên lưng ngựa, hai con mắt căng lồi, mặt xám ngoét lẫn với màu cỏ.

Nhoáng một cái thế thôi, rồi chú ngựa nào về nhất, nhì hay bét qua chỗ đích vạch vôi có các quan khách đứng trong mái hiên đằng kia.

Câu ví "vui xem hát, nhạt xem bơi" kể ra xem đua ngựa còn chóng chán hơn anh Sáu Mủn gà nòi của tuần phủ Cung Đình Vận bơi thi trên hồ Tây.

Những năm sau này, đến chủ nhật càng đông người thành phố đổ lên Quần Ngựa.

Không phải lên đứng vòng ngoài xem ngựa chạy như chúng tôi.

Người ta mua vé vào cửa để đánh cá ngựa.

Cá ngựa, cờ bạc thịt nhau tới số, cứ việc tha hồ được của mất của không bị cấm, bị bắt như đám sóc đĩa.

Buổi tối, trong ấy lại mở ra cao lâu ăn uống và nhảy đầm.

Đêm mát trời, chiếu phim, khách ngồi trong hiên nhà nhìn ra bãi cỏ.

Trẻ con chui bờ rào vào đằng sau phía cái phông vải trắng, xem phim ngược.

Chủ nhật, tôi hay lên Quần Ngựa, nhưng cũng ít khi xem thi ngựa.

Bãi Quần Ngựa có từ năm nào không biết, chắc cũng đã lâu.

Chẳng như nhà thờ Cửa Bắc mới xây hồi thập niên ba mươi, nhiều người tưởng cái nhà thờ ấy cổ như nhà thờ Hàng Trống.

Cái khi còn đương xây, mỗi khi đi học qua, thế nào chúng tôi cũng lách vào trèo trộm lên gác chuông trên mái chóp thò cổ ra nhìn xuống xem hồ Tây, hồ Trúc Bạch trông sang được cửa đình Võng trăng trắng.

Quanh rào Quần Ngựa, những mô đất cao như gò, có chỗ dài như bức tường, lau sậy mọc ngập đầu, không rõ đống đất hay tường thành cũ lúc nào cũng nhiều người xúm quanh bới ra.

Người ta nói trong đống đất có cái lưỡi tầm sét.

Ai bắt được lưỡi tầm sét đem ra Kẻ Chợ bán cho nhà Bác Cổ được chục bạc một cái.

Trời ơi, bạc chục bạc trăm bằng cái vốn to mà lại chỉ bới đất lấy được.

Tôi chưa thấy cái lưỡi tầm sét lần nào.

Những người đào bới cũng chỉ nhặt được mảnh sành, mảnh chĩnh cái que đồng rỉ xanh như chiếc đinh đỉa có mũi có ngạnh, những của ấy đem bán nhà Bác Cổ cũng mua, được có vài xu.

Tôi hỏi ông tôi:

- Ông đã trông thấy lưỡi tầm sét chưa?

- Trông thấy cái lưỡi tầm sét để mà chết à!

- Sao lại thế?

- Lưỡi tầm sét là cái búa của ông Thiên Lôi.

Giời sai Thiên Lôi đánh ai thì ông ấy xách búa đi đánh.

"Thiên Lôi chỉ đâu đánh đấy" mà.

Khi có mưa gió sấm sét là ông Thiên Lôi đương đánh người đấy, lưỡi tầm sét đánh chết nhiều người lắm.

- Thế thì người ta tìm cái lưỡi tầm sét sao được?

- Ông Thiên Lôi đánh chết ai rồi vứt cái lưỡi tầm sét lại.

- Nhà Bác Cổ mua lưỡi tầm sét làm gì?

- Để đúc đạn.

Tây cũng giết người như ông Thiên Lôi.

Ngày nào cũng đi bắn người ta, tợn lắm.

Tôi đã biết cái lưỡi tầm sét là cái búa.

Nhưng cũng chẳng nhìn thấy bao giờ.

Tôi tìm cái lưỡi tầm sét tưởng tượng nhưng nghe chuyện mà hồi hộp sờ sợ.

Một hôm, tôi bới được một hòn đá cuội lạ mắt.

Hòn cuội nhẵn thín, đen sẫm, hai đầu vồ lên như cái thành cuộn chỉ.

Có người bảo tôi đưa cho xem rồi nói: "Nhà Bác Cổ cũng mua hòn cuội này, một xu một hòn".

Tôi đem hòn cuội về.

Ông tôi bảo:

- Hòn cuội này là cái gối quạ.

Mỗi tổ quạ có một cái gối.

Vợ chồng con cái nhà quạ đi ngủ cùng gối chung lên cái gối này.

Tôi cố hỏi:

- Cái gối quạ có phải cái lưỡi tầm sét, hả ông?

- Không phải.

- Thế ông đã nhìn thấy lưỡi tầm sét bao giờ chưa?

- Đã bảo rồi mà.

Thằng này dở hơi.

Trông thấy cái lưỡi tầm sét để mà chết à!

Tôi không dám hỏi lẩn thẩn nữa.

Chỉ biết cái gối quạ không phải cái lưỡi tầm sét.

Cái gối quạ được một xu, một xu mua một que kẹo mạ to.

Mà tôi cũng chẳng biết nhà Bác Cổ ở đâu.

Tôi để cái gối quạ vào phản, nằm ngắm và nghĩ không hiểu cả nhà quạ ở trong tổ gối đầu lên một hòn sỏi này, thì gối thế nào.

Ông tôi trông thấy cái gối quạ ở đầu phản.

Ông quát:

- Không biết sợ à?

Cái gối quạ là gối ma, độc lắm, nó làm ốm chết đấy.

Vứt ngay đi!

Tôi ném cái gối quạ xuống ao, không sợ cũng không tiếc.

Sau này mới biết cái hòn cuội gối quạ các nhà khảo cổ bảo đấy là đồ nghề đẽo để kiếm cái ăn, nó là con dao cái búa cái cưa của người thượng cổ.

Chẳng nhớ Quần Ngựa cứ vẩn vơ nhớ cái chuyện gối quạ như thế.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
89. Nem Sà Goòng


Ở Hà Nội gọi là nem Sài Gòn, nem rán.

Người Sài Gòn không hiểu món gì mà Hà Nội lại gọi là nem Sài Gòn, và đến khi hiểu thì bà con phá lên cười.

Bởi vì, ở nơi gốc sinh ra món nem này được gọi tên khác hẳn: cái chả giò.

Thế mà, ngoài Bắc gọi là nem Sài Gòn, là nem rán, không hiểu nguyên do thế nào mà chả lại là nem.

Cái nem rán từ miền Nam ra Hà Nôi, mặt mày cũng khác dần.

Còn nhớ cách đây ngót nửa thế kỷ, xe bia hơi buổi chiều đến đậu ở bãi cỏ Bùng Binh cửa chợ Bến Thành.

Khách uống bia với những chiếc chả giò xinh xắn.

Bánh đa nem được cuốn lại rồi bỏ vào chảo rán thành cái chả giò không có nhân, chỉ nhỉnh hơn điếu thuốc lá một chút.

Tôi uống cốc bia với miếng chả giò chấm "lạp chíu chương" tương ớt với bánh đa cuốn rán nóng và giòn.

Chả giò ra Hà Nội lúc nào, thời kỳ nào, không biết.

Chỉ biết cái chả giò ở Sài Gòn ra Hà Nội đã tân trang.

Cái gì đến Hà Nội mà được Hà Nội nhận là của Hà Nội, thì từ một mốt quần áo, một đôi giầy, đôi guốc, cái kẹp tóc hay là một thức ăn, như món chả giò nem Sài Gòn, nem rán này cũng Hà Nội hóa.

Cái chả giò không còn chỉ là chiếc bánh đa cuốn cho người ta thưởng thức mùi vị bánh đa rán mỡ ròn tan.

Bây giờ nó là thế này.

Hai bánh đa dấn nước, thịt lợn, thịt bò băm, thịt gà xé phay hay cua bể rồi nhân mộc nhĩ, thêm chút miến hay giá cho nhân thoáng.

Nhà hàng Tế Mỹ phố Hàng Quạt chuyên món nem Sài Gòn trước đây nhân thường trộn bì lợn thái thật mỏng.

Làm thế, nhân không bết vón lại càng ngon thêm mặt bánh ròn.

Bánh đa nem có nhân được cuốn lại, nhà hàng cuốn dài, có nhà hàng cuốn vuông, buộc cái lạt nhỏ, rán già rồi xách ra đặt trên đĩa.

Năm trước, ở cửa đình Hàng Vải Thâm đã được tiếng một bà hàng bán nem rán cuốn vuông buộc lạt như thế.

Nem có nhân vị đậm hơn nhiều, nhưng cái ngon vẫn là nem bánh đa ròn.

Không ăn nem nguội, những cái nem từ chảo bắc ra, mỡ rán còn xèo xèo.

Cho nên, đến Hà Nội nem có phong phú hơn mà vẫn không rời cái ngon gốc Sài Gòn: bánh tráng giòn.

Nhưng nem Sài Gòn còn tôn thêm vẻ Hà Nội một đận nữa.

Ấy là rau sống và nước chấm.

Cái nem tế nhị không chịu được cái thứ rau vị gắt như tía tô, canh giới, mùi tầu.

Phải mua từng thứ, xà lách non, lá cuốn.

Nếu không thì rau muống chẻ.

Không phải thứ rau muống già mà ở chợ các bà bán hàng khô rỗi rãi vẫn ngồi chẻ rau muống thuê.

Rau muống Sơn Tây ở Linh Chiểu còn gọi là rau muống tiến - hơi giống rau muống đốt dài trắng ngần mọc dại trong miền Nam, rau muống ấy ăn luộc ăn xào thì nhạt vô vị nhưng chẻ để ăn sống thì ròn, không có xơ bã.

Kèm với xà lách hay rau muống chẻ thêm húng Láng - không phải húng Sơn Tây, húng chó.

Đến mùa đông, điểm xuyết vào bát rau đôi ba lá mùi.

Rau ăn với nem đòi hợp vị, thanh cảnh, nhẹ nhàng.

Lại còn nước chấm.

Nước mắm ngon - tất nhiên, làm sao pha giấm hơi nhạt mà vẫn giữ được vị nước mắm.

Nước mắm giấm nhạt chấm nem được đẫm.

Ớt hay không, ớt quả, tùy người, nhưng ăn nem thì kỵ không dùng tương ớt và gia vị cà cuống, hạt tiêu.

Theo nền nếp của nem, không ai ăn nem như một món trên mâm cỗ.

Mà nem chỉ là một món độc nhất.

Trong mâm hôm ấy không thể thêm đĩa thịt bò xào, thịt gà luộc và cơm canh.

Chỉ có một món nem ăn đến no.

Trước kia có những quán riêng bán nem rán, nem Tế Mỹ Hàng Quạt, nem Cát Tần hàng Cót.

Nem Cát Tần được tiếng thời Hà Nội bị chiếm.

Bấy giờ nhà Tế Mỹ đã không còn.

Ông Cát Tần, tên ông ấy là Tần, ngày trước cũng là nhân viên phụ kế toán nhà giày Ba ta như tôi.

Chỉ vì sánh ăn nem rồi mở quán nem đó thôi.

Nếu ông Tần mở hàng nem rán được thì tôi cũng có thể mở.

Đùa vậy, chứ tội nghiệp ông.

Phải khi kinh tế bao cấp, hàng họ ông tiêu điều, ba đào lắm.

Chạy chợ và hàng quán một mình bà ấy lo, ông ngồi rù rù như con mèo, nhưng con mèo bợm rượu say bí tỉ cả ngày.

Thực đơn một chầu nem Tế Mỹ đại để mỗi người năm chiếc hoặc một chục nem.

Nếu có rượu thì nhắm với nem cuốn trước rồi sau cùng có thể một bát bún thang.

Đã quá đủ.

Món nem giống bánh mì, ăn chóng no, no lâu và khát nước cho nên khi nào không đủ tiền đi cao lâu mới đến hàng nem Tế Mỹ.

Nghe nói khách quốc tế thích ăn nem rán.

Không biết có phải vì lạ miệng hay khách khen lấy lòng chủ nhà.

Bởi tôi thấy người ta dùng nem rán ở khách sạn khác với cách ăn nem thông thường, nghĩa là thưởng thức món nem thì chỉ ăn nem thôi.

Ở khách sạn, khách uống rượu khai vị, nhắm nem như món giò chả mở đầu nhấm nháp trước khi nhà hàng đưa ra món chính, cho nên mỗi người hai ba cái nem nhỏ, thường đã nguội, với vài lá xà lách, chấm với nước mắm không dấm.

Ăn thòm thèm và vô vị như thế không phải lối ăn nem quen thuộc của ta.

Nên chỉnh đốn lại cách dùng món nem ở khách sạn cho đúng phong vị thức ăn truyền thống.

Giờ đây, ngoại thương đã làm nem xuất khẩu.

Từng chục chiếc gói sẵn đóng hộp, người mua chỉ việc lấy ra bỏ vào chảo rán.

Nên kèm theo giới thiệu cách thức ăn nem cho được tử tế.

Vào quán Tre Xanh ở Berlin, tôi dùng nem rán rồi vẫn thoảng mùi hộp, như là hàng để lâu.

Bánh đa nem bây giờ pha muối, bánh dẻo, không gãy và để lâu không mốc.

Nhưng cái bánh đa hơi mặn át mất cái độc tôn của nước chấm, đâm ra lạc điệu, kém ngon.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
90. Chả cá


Nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc kể về phố Chả Cá: "Phố Chả Cá dài 180 mét, đi từ phố Hàng Mã đến phố Lãn Ông.

Đây là đất thôn Đồng Thuận, tổng Hậu Túc - sau đổi là tổng Đồng Xuân, huyện Thọ Xương.

"Phố này trước kia, vào thế kỷ XIX, là nơi bán các loại sơn sống (sơn gioi, sơn thịt, sơn hom...) vì vậy có tên là phố Hàng Sơn.

Sang đầu thế kỷ XX có nhà họ Đoàn ở nhà số 14 đã nghĩ ra một món ăn đặc biệt: lấy cá nướng làm chả ăn với bún và một số gia vị, được nhiều người thưởng thức, khen ngợi.

Sau đó, gia đình này mở cửa hiệu bán món ăn ấy, thường được gọi là hiệu chả cá Lã Vọng vì ngoài cửa hàng có bày tượng ông Lã Vọng xách cần câu và một xâu cá.

"Dần dần, món chả cá ấy được người Hà Nội ưa thích và thế là phố này được gọi là phố Chả Cá khiến cho mai một hẳn cái tên cũ phố Hàng Sơn.

"Sau cách mạng, ta đã chính thức hóa tên gọi hiện nay: phố Chả Cá ("Đường phố Hà Nội" của Nguyễn Vinh Phúc và Trần Huy Bá.

Nhà xuất bản Hà Nội, 1979).

Trước kia, tôi chỉ được biết ông Hy Chả Cá, ông Macxen Hàng Bạc - những tay nhà giàu, không viết văn làm báo, nhưng các Mạnh Thường Quân này chơi với các nhà cầm bút vốn thường không mấy dư dật.

Hòa bình lập lại, nhờ Nguyễn Tuân, tôi có uống rượu với ông Hy một lần trong cái hẻm xếp vách gỗ giữa gác, nơi ông ấy đặt bàn tĩnh.

Rồi ông Hy chết bởi tai nạn do ông ấy bày ra.

Thỉnh thoảng chúng tôi có đến, bà Hy thường hỏi một câu thân mật cổ kính: "Hồi này các ông đóng ở đâu mà lâu không thấy lại chơi".

Thuở ấy các cụ còn khỏe.

Khuya đường phố vắng, bà ấy tập xe đạp, có hôm ông Nguyễn cao hứng, xuống giữ cái yên cho con người sênh phách xưa kia tập xe.

Cái gác hai hàng chả cá ấy lúc nào cũng đượm phong vị nền nếp cũ càng - mặc dầu bây giờ khách ngoại quốc đến thưởng thức nhiều, nhưng đến đấy vẫn thấy hàng quán phảng phất cái ngày trước.

Cái gác hai vẫn chật chội thế.

Ông Lã Vọng cầm cần câu đã đứng vài chục năm rồi, khách ngồi ăn liền ra cả bên cạnh ông.

Cái quán cứ luộm thuộm thế dường như mới hợp cảnh cái hỏa lò cá nướng.

Ngày trước, bên kia phố, hàng chả cá Sơn Hải nhà tây hai ba tầng có buồng riêng thoáng mát tân thời cũng con cháu họ Đoàn, nhưng quán Sơn Hải không bền khách như bên Lã Vọng.

Một dạo, thương nghiệp thành phố dẹp quán Lã Vọng.

Cửa hàng ăn uống nhà mậu mở ngay ở phố Thuốc Bắc cạnh đấy, có thịt bò xào, chim quay, ba ba, vịt tần và chả cá.

Chả cá quốc doanh bán một giá theo xuất, không biết chế biến bằng cá chép, cá mè gì nhưng tanh và một lần tôi ăn phải nhằn xương.

Chỉ ít lâu, hiệu chả cá của nhà mậu sập tiệm.

Chả cá Lã Vọng lại được mở.

Từ xưa tới nay, nhà hàng này chuyên một món, chỉ dùng cá lăng làm chả.

Cá lăng sinh sống ở vùng ngã ba Hạc, cá không có xương răm.

Cứ chuyến tàu buổi chiều Việt Trì về, các bà hàng cá đã thành mối bán quanh năm lại quảy đến những thúng cá lăng.

Cá còn tươi, nhà hàng bỏ bể chứa, không bao giờ nhỡ buổi hàng.

Nghe Hoàng Đạo Thúy nói cá anh vũ, cá chiên, cá quất, cũng quãng Việt Trì trên sông Thao làm chả ngon và thơm thịt còn hơn cá lăng.

Tôi không được nếm lần nào.

Đến mùa lạnh, cá lăng hiếm, nhà hàng thay cá bằng cá chuối, cá sộp như bây giờ.

Được cái các thứ cá ấy cũng nạc, ít xương.

Cá được lọc kỹ xắt miếng mỏng con cờ.

Cá ướp mắm muối nhạt, bóp nghệ già thật kỹ.

Miếng chả màu nghệ tươi như hoa hiên, cặp lại từng gắp.

Cẩn thận, cái gắp cũng phải kén tre cật cho hơ vào lửa khi nướng khỏi cháy.

Nhà hàng trước nhất bày lên đĩa lạc rang mặn, chiếc bánh đa gạo, đĩa bún lá, chai rượu.

Khách nhấm nháp rượu lạc, bánh đa và tự sửa soạn các thứ gia vị đợi chả.

Mỗi người, trước mặt để một bát chiết yêu hay bát chậu đựng rau thìa là tỉa kỹ xếp từng nhánh, một bát nhỏ mắm tôm, cũng mắm tôm chợ, nhưng nhà hàng đã thửa thứ mắm ngon ít mặn muối, không sạn.

Mắm tôm được đánh ngầu trắng lên, vắt chanh và mấy giọt rượu vào rồi rỏ giọt cà cuống.

Không lẫn ớt, ăn chả cá với cà cuống hợp vị nhất.

Ai nghiện ớt tươi thì cắn ngoài.

Lấy mấy giọt cà cuống, tùy khách.

Nhà hàng tính cà cuống theo giọt.

Đặc biệt, hàng chả cá tính tiền riêng từng món và gia vị: chả, bún, rau sống, mỡ, lạc, bánh đa, cà cuống, chanh...

Chả và mỡ rưới ở bếp đã bưng lên.

Mỗi người vài gắp, chục gắp, sắp hết lại gọi, không ăn chả để nguội.

Hình như cả người bưng chả và nước mỡ đưa lên đều bước gấp gấp, lại còn rưới ngay tại bàn ăn lớp mỡ nữa.

Bây giờ, trưng mỡ trên hỏa lò ngay đầu bàn cho được thật nóng.

Nước mỡ xèo xèo nổi bọt đã được phả đẫm vào bát rau thì là đặt cạnh gắp chả đương được tuốt ra bốc khói thơm ngậy.

Rồi rau thì là mỡ nóng lót bát trộn lên, với bún - ngày trước, nhà hàng thửa con bún lá riêng vừa miếng, bây giờ chỉ có bún rối, những miếng chả được chấm mắm tôm, thêm vài củ lạc rang.

Rượu đã ngà ngà, miếng bún chả lùa vào đến đâu, tỉnh đến đấy.

Thưởng thức chả cá cũng tốn rượu.

Có người thích chả lòng cá.

Lòng cá được bóp nghệ kỹ hơn thịt cá, miếng chả lòng hơi dai sừn sựt, có một cái ngon riêng.

Nguyễn Tuân nhắm chả cá theo cách của ông, nhưng không phải chỉ một ông Nguyễn Tuân cầu kỳ, mà cũng có khách thích thú ăn cá nướng cả gắp ngay trên bàn.

Nhà hàng đã trữ hỏa lò - loại hỏa lò thấp, rộng lòng, xếp than tàu.

Than củi ở núi đá, cây mọc núi đá than đượm lửa.

Cái "than tàu" này ở Hà Nội gọi là than hoa, tên đích thực của nó.

Than hoa được tải về từ các núi Ba Vì, Tam Đảo, núi đá chùa Hương và trong Chi Nê.

Than hoa để nướng chả, bánh đa, đun thuốc bắc và than sưởi mùa lạnh.

Hỏa lò than choán giữa bàn.

Những gắp chả tươi được đặt lên.

Khách trò chuyện, uống rượu, gắp các thức vào bát và tự tay lật chả nướng lấy, vừa chín thì lấy ra, gỡ vào bát, lần lượt ăn từng gắp.

Cho tới khi than vạc, nếu cuộc ăn chưa tàn, lại gọi nhà bàn lấy một hỏa lò than mới.

Nhà hàng tính tiền hỏa lò riêng.

Bây giờ thực khách hình thức thành "mốt" bàn nào cũng bày hỏa lò - kể cả bàn của Tây.

Nhưng khách không biết nướng.

Cái hỏa lò bày như một thứ trang trí chơi.

Cá đã xào nướng sẵn dưới bếp, đưa lên nhà bàn chỉ làm phép nướng thêm.

Không phải thực khách nào cũng biết cách nướng cá.

Vì đi ăn nướng lấy cá - mà người chơi không phải tay quen bếp núc thì quả là một rầy rà khó nhọc vô lý.

Nguyễn Tuân có cái thú nướng chả.

Ông nướng cho cả bè bạn cùng ăn.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
91. Chuyện bia


Hà Nội không có phong tục lâu đời uống bia.

Bia ở châu Âu ra đời đã mấy trăm năm, đến đầu thế kỷ này người Pháp mới mang bia sang bán bên ta.

Rượu gạo thì xó xỉnh nào cũng có, nhưng ta không biết nghề bia cũ kỹ làm từ thủ công cho lên đến nhà máy.

Tuy vậy, bia đã trở thành thức uống của ta cũng có tuổi ngót nghét một thế kỷ chứ chẳng vừa.

Và về cách dùng, bia cũng biến tướng, khác với ban đầu và bây giờ ta nốc bia khác cả với cách uống châu Âu, nơi quê bia.

Ở chỗ gốc bia, theo định nghĩa và chia loại, bia không phải rượu, không phải rượu bia, mà bia là nước giải khát có độ rượu.

Là nước giải khát nên người gốc bia không nâng cốc bia và cụng cốc bia chúc mừng trong tiệc.

Mình trịnh trọng thế, người ta cũng nể làm theo thôi.

Uống bia một hai cốc, thường uống một hơi - vì là nước giải khát mà, nhấm nháp với cá khô hoặc bánh bột xốp mặn.

Cá khô và bánh xốp để dễ uống nhiều bia hơn chứ không phải thức nhắm của bia.

Ở ta, bia đã thành rượu có tên đàng hoàng: rượu bia.

Người ta khề khà nhắm rượu bia cốc vại hết vài ba lít - có khi còn pha thêm rượu trắng, nhắm với các thứ chả chó, đậu phụ, ốc luộc, đến say đứ đừ.

Ngày trước, không thấy nhiều người uống bia.

Chi nhánh hãng độc quyền bia nước đá Đông Dương (Bgi) không sản xuất bia ở Hà Nội.

Nhà máy bia Ô Mền (Homel) của một người Pháp gốc Tiệp, nhà bia này ở chỗ nhà máy bia Hà Nội bây giờ.

Chủ hãng thì ở nhà riêng dưới phố, chỗ bây giờ là cơ quan trung ương đoàn thanh niên ở phố Trần Hưng Đạo.

Có bia thường và bia đen chai nửa lít và chai to bằng chai bia Vạn Lực của Trung Quốc.

Bia đen đắt hơn, vị ngăm ngăm đắng tương tự bia Các Bớc ngày nay.

Bia hơi của hãng Bia nước đá Đông Dương có bán ở Sài Gòn, quầy bia hơi chỗ Bùng Binh trước chợ Bến Thành.

Chiều chiều, một xe xi téc bia đến đỗ, cái thùng chứa bia to như xe phun nước tưới đường.

Bia được lấy ra từ vòi bắt vào thùng, người uống đứng xung quanh và ngồi trên bãi cỏ.

Câu chuyện bia với Hà Nội cũng biết bao nhiêu duyên nợ ba đào.

Quang cảnh những quán bia một thời không sầm uất đông vui như bây giờ.

Chỉ là một hàng nước, hai bên tràng kỷ chõng tre, dưới gầm bàn để chùm dừa tươi chưa bổ vỏ.

Trên bàn bày những chai nước chanh cổ có hòn bi ve và mấy chai bia - có hàng lại pha sẵn từng cốc nước lựu calađinh (grenadine).

Người vào hàng thưa thớt.

Các tay ăn chơi hay đi cô đầu cô đuôi mới biết các thứ uống ấy.

Quãng 1945 tới 1960, nhà máy bia Hà Nội sản xuất bia cung cấp cho cả miền Bắc, Hà Nội còn nhập các thứ bia hảo hạng, bia Đông Đức chai cổ lùn, bia Tiệp Pin Sen.

Tuy vậy, một vùng Bờ Hồ chỉ có mỗi Thủy Tạ bán hai thứ bia quí ấy và người uống cũng lẻ tẻ.

Đến những năm chống Mỹ, Hà Nội mới cho ra lò nhiều bia hơi, quanh Bờ Hồ có bia hơi ở nhà Thủy Tạ, nhà Bốn Mùa và một cửa hàng chật hẹp ở đầu hàng Khay.

Cũng kỳ lạ và thật vui, để nhử người vào uống bia, ở mỗi quán trên quầy đặt hai chai nước ngọt xirô đỏ rực.

Ai mà quên được cái hồi mới, có nhiều người mon men hớp ngụm bia pha xirô còn nhăn mặt.

Thế rồi người ta thạo uống lúc nào không biết, mà thạo rồi thì bật mạnh ngay.

Máy bay Mỹ "đến gần...

đi xa" suốt ngày, dưới phố trên đường uống cốc vừa rồi cốc vại càng sài bia dữ.

Còi báo động đã nổi, dòng người sắp hàng mua bia ở cửa hàng phố Tông Đản vẫn không nhúc nhích.

Lại cái quầy bia ở góc hồ Thiền Cuông mà người ta đặt cho tên đương thời sự là bãi bia Chuồng Cọp.

Người chen lấn xô đẩy mất trật tự quá.

Quán bia này có sáng kiến dựng chấn song sắt từ ngoài chỗ đong bia.

Bia hơi đổ ra bể xi măng và múc, chứ chẳng cầu kỳ đòi hỏi bia tươi sủi bọt, thơm mát như bây giờ uống bia mới ở bom bia nhôm.

Các sâu bia, bợm bia xếp hàng giữa hai bên chấn song sắt, cứ người một người một nhích lên, không lấn được mà cũng không thể chen ngang.

Hai chữ "Chuồng Cọp" được sinh ra, có thể bởi hình ảnh người đứng đợi sau song sắt như con cọp trong chuồng trên vườn Bách Thú.

Mà cũng dường như mang tính thời sự hơn.

Bấy giờ nhiều nhà báo quốc tế vào miền Nam đương phát hiện ra những tội ác cực kỳ dã man của các nhà giam tù ở Côn Đảo trong những xà lim hắc ám nhất, có biệt danh là Chuồng Cọp.

Hà Nội với bia không còn lạ lẫm.

Thật bình thường, cũng không bình thường.

Bởi vì nhiều người uống bia rồi say như uống rượu.

Một hai cốc không sao, nhưng người ta nốc đến hàng chục vại rồi la cà lai rai nhậu bét nhè cả tối.

Tây cũng phải kinh.

Cũng vẫn có người uống bia kiểu cũ theo lề lối giải khát.

Tôi uống bia lối cổ ấy.

Tạt vào quán gọi vại bia, hai tay bưng cốc từ từ làm một hơi.

Uống đứng, rồi đi ngay.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
92. Bánh cuốn


Bánh cuốn, món quà lâu đời.

Nhưng chuyện về bánh cuốn cũng không phải lúc nào cũng chỉ thẳng đuột.

Con sâu, cái kiến và chiếc bánh cuốn cũng có bước đường đời của nó.

Ở Hà Nội, gốc gác bánh cuốn có hai thứ, cũng đôi nơi gọi là bánh tráng.

Bánh đa ướt, ở các vùng quê ngoại thành, chợ nào cũng có bánh đa ướt.

Tên là bánh đa ướt có lẽ là vì như bánh đa, nhưng bánh đa không phơi khô, không được nướng thành bánh đa vừng, bánh đa đường, mà khi bánh đã đổ khuôn rồi, được để nguyên bánh ướt, rắc vào lòng bánh mấy nhát hành phi mỡ rồi gấp vuông lại.

Bánh được xếp thành từng mớ từng chồng, cách nhau bằng miếng lá chuối tươi rồi quang gánh quảy ra chợ.

Bánh đa ướt chấm nước mắm.

Hàng bánh đa ướt bao giờ cũng kèm theo chảo đậu rán.

Mỡ dầu lạc đổ lưng chảo , thả vào miếng đậu thái bằng nửa bao diêm.

Đậu chín vàng, xốp phồng lên vớt nóng ra, ăn với bánh.

Tôi đi chợ Bưởi với bà và mẹ, khi nào cũng được vào hàng bánh đa ướt, mà tôi vẫn còn như trông thấy cái chảo to, những miếng đậu nổi lên mặt dầu lạc, bọt mỡ lăn tăn xung quanh, đương réo xèo xèo.

Bà hàng bánh đa ướt người dưới cống Cót.

Tan buổi chợ trưa thì hết hàng, lại quang gánh ra về.

Cây đề cổ thụ, bên gốc có hàng bánh đa ướt, bây giờ vẫn còn.

Hôm trước đi qua, trông lên tôi gặp một sự lạ mà cả đời chẳng khi nào để ý.

Đương đầu mùa hè, lá đề non hau hau đỏ rợp một bên mái xi măng cầu chợ.

Mới biết thì ra lá đề non đỏ hau hau, ngày trước tôi chỉ mải ăn không nhìn thấy.

Bánh cuốn Thanh Trì, mặt bánh đa ướt dày và đục thì làm bánh đa, làm bánh cuốn Thanh Trì mỏng như tờ giấy bản trắng trong soi lên được.

Hầu như cả huyện Thanh Trì biết tráng bánh đa này, nhưng công việc hàng ngày chỉ gọn lại ở mấy bà chạy chợ, các hàng sáo bán gạo ngon và bánh cuốn, bánh đúc chấm tương, bánh đúc riêu.

Bánh cuốn Thanh Trì bán ở các chợ nội thành.

Thứ bánh người phong lưu thưởng thức.

Không phải riêng hàng bánh ngồi ở chợ Đồng Xuân, chợ Hôm, mà nhiều người đội thúng bánh bán rong các phố.

Gọi là hàng rong, nhưng cũng không phải người đội thúng đi dài dài miên man phố này phố khác.

Các bà hàng bánh cuốn chỉ quanh mấy phố nhất định, đến đấy thì vừa hết hàng.

Không có tiếng rao bán bánh, mà qua các ngã ba ngã tư, vừa dừng lại đã có người xúm xít.

Có khi vào từng nhà đã hẹn ngày và hẹn phiên từ trước.

Cũng như ở phố, có nhà mua hoa cúng đã định từng ngày.

Sớm sớm, bà hàng hoa đến gài gói hoa cúng bọc mảnh lá chuối tươi lên cái đinh mặt cánh cổng, từ lúc chưa mở cửa.

Cũng như hàng giò, chả, nem, hay chạo đã có ngữ.

Và hàng bánh cuốn cũng ăn hẹn hàng quen thế.

Có khi giờ sáng sớm, có khi xế trưa.

Bà hàng vào trong nhà, hạ thúng xuống.

Từng lá bánh được bóc ra, trắng tinh, xếp lên đĩa.

Đĩa giò lụa cả khoanh đã cắt khía ra từng miếng.

Nước mắm Nam Ổ được thửa đã rót ra cái bát nhỏ của nhà.

Mùi nước mắm phảng phất thơm ngát cà cuống.

Bánh cuốn Thanh Trì ăn với giò lụa nước mắm cà cuống.

Lá bánh mỏng mảnh chấm nước mắm ngon, thời ấy, ai cũng vẫn ăn như thế.

Người ăn bánh cuốn nước mắm dấm hôm nay chớ tưởng là cổ tích.

Không biết từ năm nào, trong các món nước chấm người ta gia giảm thêm món dấm.

Chứ thực trước kia trong bếp nước ta không có dấm.

Nước mắm bánh cuốn không pha dấm mà dấm bỗng, dấm thanh và mẻ thêm vị chua thì không phải để pha nước mắm.

Nước mắm kém, người ta vắt chanh.

Có dấm, nước mắm ngon mấy cũng mất vị nước mắm.

Các cụ ở thành phố hồi đầu thế kỷ bảo các bếp nhà Tây đã đưa dấm lạc loài vào các món Việt Nam.

Nhưng kể cả dùng dấm, người ta cũng đòi dấm Tây chai có nhãn, chứ không dấm chuối, dấm xoài như thời nay.

Dấm đã vào thói quen bữa ăn, nước mắm thường pha dấm.

Cái đó lắm khi không phải vì cần thiết mà cũng bởi nước mắm bây giờ chát như nước muối lẫn bồ kếp, đoảng quá, phải pha dấm cho dịu đi.

Lâu dần thành thói quen mới.

Cái bánh không cuốn trong điểm mấy lát hành phi giờ ta thường ăn là thứ bánh cuốn dở dang, nửa vời giữa bánh đa ướt và bánh cuốn Thanh Trì.

Còn những chiếc bánh cuốn nhân thịt mà khách cứ ngong ngóng ngồi đợi, trong khi bà hàng khoan thai thong thả tráng từng chiếc một rồi đưa ra ba chiếc, năm chiếc.

Ăn dở miệng.

Nhưng khách lại sướng cái chờ đợi kích thích thêm ngon.

Bánh cuốn nhân thịt lại có lai lịch khác.

Mới đầu bánh cuốn ấy được gọi là "bánh cuốn Lạng Sơn".

Người sành ăn nghe hai tiếng Lạng Sơn cũng dễ đoán được cái gốc gác các món quà mới phản ánh cả lai lịch và phong tục.

Kem que, hồi mới gọi là kem Nhật.

Kem cốc và cà phê các kiểu với bánh mì (bánh tây) hẳn là bắt chước Pháp.

Còn bánh cuốn từ Lạng Sơn về thì thế nào cũng có họ hàng với bên kia biên giới phía bắc rồi.

Khi chưa có "bánh cuốn Lạng Sơn" thì trên đường phố, những đêm khuya, nghe khàn khàn tiếng rao "lốc bểu, lốc bểu" như tiếng con chim thầm thì kêu hoàng hôn ven rừng.

Đấy là cái gánh của một ông Tàu già, thùng bên này đựng bát đĩa, xì dầu, xắng xấu nước chấm.

Bên kia cái hỏa lò đương rực than được che mảnh sắt tây ba phía cho kín gió.

Chiếc thạp gỗ đặt trên thẩu nước đun cách thủy.

Có khách, ông Tàu đặt gánh mở nắp thạp, khói thơm béo ngào ngạt.

Bên trong, nằm xếp lượt những chiếc bánh trắng to bè bè.

Không phải bánh bao, đấy là bánh cuốn, những chiếc bánh cuốn nóng tráng mỏng, nhân thịt.

Dần dà, những hàng bánh cuốn nhân thịt như ta thấy bây giờ mọc ra ngày một nhiều: bánh tráng dày một chút, tròn và dài độn thịt lợn băm hành mộc nhĩ.

Hàng bánh cuốn nào bị gieo tiếng ác thường có tin đồn thì thào nhà ấy bánh cuốn nhân thịt chuột.

Một hàng bánh cuốn phố Huế đương đông khách bỗng vắng ngắt.

Phố Trần Hưng Đạo có quán mì vằn thắn của người Tàu.

Người ta rỉ tai: nhà ấy vắn thắn thịt chuột.

Thế là mất khách.

Mà khuất mắt, nửa tin nửa ngờ hoặc chẳng biết thế nào.

Bởi vì vào khuya, vẫn gặp trên phố những người đeo giỏ, tay cầm sào, đi bắt chuột đấy thôi.

Khi đầu, bánh cuốn Lạng Sơn cũng chấm nước mắm cà cuống.

Dần dần nước mắm dấm ớt thay thế.

Nhưng thói quen ăn bánh cuốn, dẫu cho tối mùa đông rét mướt, khách chen chúc quanh cái lò than đợi bà hàng thong thả đổ nước bột tráng từng chiếc, thì đến nay vẫn thế.

Có quán ở ngõ Cấm Chỉ, đắt hàng quá, đã tráng, cuốn sẵn bánh từ đêm rồi đặt vào nồi hấp, như kiểu "lốc bểu" của người Trung Quốc.

Nhưng khách vẫn chịu khó đợi, không thích kiểu bánh hâm lại thế.

Hàng bánh cuốn cũng không "cải tiến" thái thịt bánh để sẵn như phở được.

Vì thế, vẫn có người chuộng bánh cuốn, nhưng mất công cả nhà hàng và khách.

Cho nên quán bánh cuốn nhân thịt không nhan nhản các phố được như hàng phở.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
93. Rau thơm


Rau thơm cần thiết chẳng khác gia vị với món ăn.

Tôi cũng chỉ kể cách ăn rau thơm, rau sống vùng Hà Nội.

Bởi có thể mỗi vùng có những thứ rau mà nơi khác không biết ăn.

Như ở miền Nam, rau diếp cá được khen ngon như húng láng thì Hà Nội lại ghê rau diếp cá mùi tanh.

Tôi cũng không nhận xét cái lộn xộn người ta ăn rau thơm bây giờ.

Chỉ kể thói quen xưa nay người Hà Nội đã dùng rau thơm thế nào.

đáng lẽ có thể kể thành vè thì vui hơn.

Hành hoa, hầu như được chuộng nhất.

Bát canh chua dầm sấu, miếng thịt nướng chả đều cần đến lá hành.

Củ hành chẻ tước ra ăn sống, ngâm dấm.

Hành hoa và rau cần luộc chấm nước mắm vừng ăn cháo cá ám.

Hành hoa mọc quanh năm, nhưng vào thu hoặc đầu xuân, hành đậm vị hơn.

Hành tây, một thứ quả nhập, xào thịt bò thì phải nhất.

Ngày trước, hành tây đem bên Tây sang củ to, mùi hăng gay gắt.

Hành tây trồng ở Nhật Tân, Tây Tựu thái vào phở ngọt phao phảo, thật khác vị, khó ăn.

Húng cũng là rau thơm ăn xam được.

Nhưng kỹ tính, người ta phân biệt húng láng - trồng ở các làng Láng.

Húng láng ăn rộng rãi từ canh cua tới phở xào, phở nước, dồi lợn...

Húng láng thơm khác mùi húng bạc hà, húng Sơn Tây.

Khách ăn ít để ý, vì ba lá húng đều hơi giống nhau.

Húng quế (húng chó, húng dổi) cũng như rau mùi tàu, hương vị mạnh, chỉ hợp với các món dữ dội.

Thịt chó, thịt vịt, tiết canh...

Thế nhưng, người ở Sài Gòn có thể bứt cả túm lá húng chó thả vào bát phở nước.

Ở Cu Ba, rượu cốc tay, cốc nào cũng cắm một cành húng chó.

Còn ở Apganistan, ở Ấn Độ húng chó nở hoa tím ngẩn ngơ thơm hắc được trồng thành bồn trong công viên thành phố.

Mới hay cũng là thói quen của thổ ngơi và số phận khác nhau của cây cỏ mỗi nơi.

Xà lách (salade), rau bên châu Âu mà sang ta chóng quen mặt đến độ bữa rau nào và hầu như ăn cái gì cũng kèm xà lách.

Xà lách cuộn lá vào giữa mùa đông ngọt hơn xà lách mùa hè lá thuỗn ra.

Vườn của ta cũng có một thứ rau xà lách đấy là rau diếp.

Bây giờ ở chợ hiếm rau diếp vì người ít ăn, nhưng vẫn có.

Rau diếp thái nhỏ như sợi tơ, trộn rau mùi, thơm ngăm ngăm mặn một cách thú vị, riêng hợp với canh cua, canh dưa nấu cá.

Ngày Tết, làm món cuốn bún tôm không thể bọc rau xà lách mà phải chuốc cho được mớ rau diếp.

Mùi có mùi thơm nhẹ nhàng.

Mùi thái nhỏ cho vào phở thật nổi vị.

Nhưng có lẽ rau mùi đắt và cũng bởi người ăn dễ tính, chẳng mấy hàng phở có rau mùi.

Cây mùi già đun thành một thứ nước tắm thơm.

Không biết ai người đầu tiên nếm cái giống cỏ lá dầy xanh sẫm cạnh lá gai sắc rồi đặt tên là mùi tàu.

Mùi tàu hắc một cách man dại, mọc hoang trong rừng.

Người ta đem về trồng vườn.

Chẳng bao lâu, mùi tầu đã len vào phở nước, dứa xào, hầu như món nào cũng được.

Mùi tầu mọc rất khỏe, ở chợ bán mớ thật rẻ.

Mùi tàu dễ dãi thành rau để cắt nghĩa hai chữ "rau cỏ", rau đi liền với cỏ của ngôn ngữ ta.

Hẹ hay là kiệu?

Cây hẹ chỉ dùng lá non.

Cây hẹ đã vào tục ngữ: rối như canh hẹ.

Củ hẹ còn lạ một vị thuốc, mà lá hẹ cũng chỉ để bỏ vào bát mì vằn thắn.

Trên vùng núi, có nhà trồng hẹ vào một đốt vầu bửa đôi - đặt ngoài sân ảng.

Để làm cảnh và cũng đôi khi bỏ vào nồi canh măng chua nấu cá.

Cái lá hẹ nhà hàng cho vào bát vằn thắn bây giờ thay bằng lá kiệu.

Bấy lâu khách cũng quên mất mùi hẹ mà trồng hẹ chẳng kinh tế mấy nả.

Nhà hàng nói dối khách, đem lá hẹ thay lá kiệu.

Thật ra lá kiệu bỏ đi chỉ lấy củ.

Củ kiệu muối, thịt quay mà được vài củ kiệu thì hết nhẽ!

Cải cúc được dùng theo cách cũng như lá hẹ với vằn thắn, lá cải cúc tươi lót cháo cá và bát sủi cảo.

Lá sung, lá mơ tam thể, lá ổi, lá lộc vừng, những thứ lá ấy dùng ăn nem chua, mắm tép và gỏi cá.

Lá nõn còn để quấn nem chua.

Rau dăm thật bình thường mà lại khó tính, hợp với các món rất xa lạ nhau.

Người ta nói rau dăm diệt dục, nhà chùa và gái góa hay dùng, không biết thế nào.

Trứng vịt lộn, miến lươn, canh sáo thịt hành dăm, đem đậu xanh với hành dăm trộn thuôn vào làm dồi lợn.

Có một giống cỏ lan mặt nước, gọi là cỏ nhảy, hệt lá dăm, nhưng là cỏ dại.

Cô hàng rau điêu toa vơ cỏ nhảy bán lẫn rau dăm.

Thìa là cũng là một loại rau cổ kính, nhưng không dễ ăn sam như rau muống, rau húng.

Thìa là trộn vào giò trâu, chả trâu, nổi hẳn đình đám.

Thìa là với canh cá, cá om.

Thìa lá rưới nước mỡ, món chả cá.

Xương sông, lá lốt không để ăn sống hẳn, lá hơ tái bọc thịt lợn nướng hay rán, thành món thịt bọc.

Riêng mơ tam thể còn để ăn gỏi cá mè, thịt chó luộc, mắm tép.

Rau muống bỏ lá, chẻ ống thành từng sợi, làm nền cho đĩa rau, như xà lách, rau diếp.

Kén một chút chỉ có rau muống Linh Chiểu Sơn Tây ống trắng bệu và to (còn gọi là rau muống tiến

- tiến vua!) rau muống tiến ròn, không có sơ, ăn sống ngon mà luộc thì cứng.

Lá chanh thái nhỏ, rắc trên đĩa thịt gà luộc, bát phở gà, làm đậm thêm nghĩa câu ca dao trào lộng "con gà cục tác lá chanh".

Đĩa nhộng rang cho lá chanh, càng nổi.

Cải xoong người ta bảo là một thứ rau nhập nội.

Nhưng các vùng hẻo lánh núi đá Bắc Sơn và ở suối Pắc Bó cũng mọc nhiều.

Tương truyền khi Bác Hồ về Pắc Bó khi Người nghỉ ngơi làm vườn đã gây giông cải xoong, bây giờ cải xoong vẫn nở từng bè trôi suốt dọc suối.

Tôi hỏi ra thì được biết là Cao Bằng và Lạng Sơn ngày trước là những tỉnh "đạo quan binh" đóng, lính Pháp ở nhiều.

Các cụ già người Tày ở vùng núi đá Quảng Uyên kể rằng từ nửa thế kỷ trước đã thấy lính đồn ra hái cải xoong ngoài suối.

Cải xoong, tiếng Pháp là cresson.

Cải xoong mọc thành mảng, ưa chỗ nước trong và nước chảy.

Bây giờ dưới xuôi, người ta trồng thành luống ở vườn.

Cải xoong ngăm ngăm đắng.

Ta bảo đấy là chất sắt, chữa bệnh lao.

Trên bàn ăn của người Pháp, đĩa cải xoong trộn dầu dấm để cạnh miếng thịt bít tết bò.

Nhưng ta ăn cải xoong không thành nền nếp, kèm với món gì cũng được, có khi luộc, có khi ăn xuông chấm nước mắm dấm như rau muống.

Rau chuối, thân cây chuối tây - chuối Sài Gòn, thái mỏng, điểm rau húng chan với canh cua, canh cá, cá kho và bánh đúc nộm.

Hoa chuối, cũng hoa chuối tây, thái nhỏ trộn vừng, làm hoa chuối nộm.

Ngổ ba lá, tía tô, canh giới mỗi thứ lại đi với một loại rau khác nhau, hoặc tách riêng.

Ngổ ba lá thì hợp với đám húng quế, mơ tam thể nhắm với thịt chó luộc.

Một mình tía tô với rau muống xào tỏi, vắt chanh.

Có một thứ lá dại hệt tía to, gọi là lá cọc dậu.

Hàng rau hay bán cái tía tô giả này.

Các loại gọi là rau, quả và củ cũng là rau, thật sẵn: dưa chuột, mướp đắng, gừng, riềng, ớt... nhiều nhiều.

Ở chợ nhiều người mua rau hổ lốn láo nháo.

Một gói lèn các thứ rau: xà lách, rau muống chẻ, tía tô, canh giới, ngổ, rau chuối...Âu cũng là bức vẽ một kiểu ăn tạp đương tràn lan.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
94. Cháo


Ở Hà Nội, cháo đã thành một món quà sáng quen thuộc từ xa xưa.

Bởi thế, trong các tên phố cũ có phố Hàng Cháo.

Phố Hàng Cháo lại ngay cạnh Văn Miếu.

Chắc là các thầy đồ Tú Uyên thuở ấy ở Bích Câu sang Văn Miếu nghe bình văn, giảng văn hay tạt vào quán húp bát cháo hoa cho thanh tâm sáng dạ.

Chẳng những thế, cháo đã vào cả phong tục, hội hè.

Ở vùng Bưởi, có thôn Yên Thái, hàng năm cứ vào hè, bắt đầu các nơi làm lễ cầu mát thì xóm Cầu Sau có vào đám.

Tôi không còn nhớ, mà thật cũng không biết đám thứ ấy cúng ông thần gì.

Nhưng nhớ năm nào xóm cũng bắc rạp gọi phường về chèo hát mấy đêm liền ở một quãng trống cạnh bờ ao trước mấy dãy tàu seo giấy cuối xóm giáp làng Sài.

Và trong cầu, không phải đương làm chay cúng cháo, mà những gánh cháo hoa ngồi la liệt.

Cháo hoa nóng ăn với đậu om.

Đậu phụ rán cả bánh, rắc hành rồi rim nước mắm, bày ra chậu, ra đĩa, để nguội.

Xung quanh rạp chèo, hàng quà chỉ rặt cháo đậu om.

Bà con trong xóm vốn không phải người chạy chợ nhưng đến những đêm chèo hát này cũng làm gánh cháo đậu om ra ngồi bán.

Đến độ cái hội Cầu Sau còn có tên là hội Đậu Om.

Cháo đã từng là quà hàng ngày.

Cứ kể tên các thứ cháo cũng đã phong phú, không thể điểm hết.

Cháo có liên quan đến thịt cá thì có cháo bò, cháo phổi, cháo lòng, cháo gà, cháo lươn, cháo cá, cháo vịt, cháo ám, cháo bầu dục, cháo tim gan, cháo tiết, cháo trứng.

Với các loại ngũ cốc, rau đậu thì cháo kê, cháo ngô, cháo hoa, cháo bột lọc, cháo bột se, cháo đậu xanh, cháo đậu đen, cháo đậu om.

Cháo bột lọc đong vào đĩa, bột đông thành bánh lẫn sườn lợn, cũng gọi là cháo sườn.

Người bị sốt ăn bát cháo trắng rắc hành với tía tô, húp nóng rộp môi đến phải xuýt xoa, toát mồ hôi có thể hạ cơn cảm cúm...

Cháo thường bán gánh ở chợ - cháo kê, cháo bột se.

Cháo bán trong các cửa hàng - cháo lươn, cháo cá, cháo bò.

Cháo quảy đi rong phố - cháo lòng, cháo gà, cháo hoa.

Trong mỗi nhà, đến mùa hè nắng nóng, hay có nồi cháo hoa đặt trên bếp.

Đẹp đến tài tình, cháo nấu gạo không lại được mang cái tên rất thơ là cháo hoa, có khi là nồi cháo đậu xanh, đậu đen, húp xuông hoặc ăn nguội với cà.

Ở trên Cao Bằng, Lạng Sơn bây giờ, bữa cơm thường hay bữa cỗ và cơ quan liên hoan vẫn có nồi cháo hoa nóng đặt một góc nhà; không mời khách cháo, nhưng ai ăn cháo cho rã rượu thì đứng dậy ra múc lấy.

Có lẽ theo thói quen của người Quảng Đông, húp cháo hoa loãng thay nước uống cả ngày.

Các hàng cháo đã có lệ quen phân chia giờ giấc cho người ăn.

Sáng bảnh mắt, bà hàng cháo hoa đã vào phố.

Có gánh cháo kèm thúng xôi đậu xanh nóng.

Cái nồi đất đại loe miệng quấn rơm ủ xung quanh.

Hàng cháo hoa bán chỉ thoáng cái đã hết, bát vét nồi múc ra vẫn nóng, ăn phải húp quanh.

Công nợ trả dần, ăn cháo húp quanh...

Cháo hoa gạo tám, lẫn ít nếp cái.

Cháo không đặc, cũng không loãng mà sánh.

Có bà hàng cháo sẵn đậu om.

Hay bát cháo được bưng về, rắc mấy hạt muối với chút đường thoang thoảng.

Nhiều người phu bến tàu bến xe khuân vác cực nhọc mà cũng chỉ ăn sáng nhẹ nhàng thế rồi đi làm.

Nhưng cũng có người cả đời không đụng đến hớp cháo.

Các cụ già ít ăn cháo "Người ốm ngại hạt cơm mới phải húp cháo, chứ mạnh khỏe ai lại dở hơi xì xụp cháo lão.

Để mong chóng về âm phủ à?".

Mẹ tôi ngày trước hay nói thế.

Đến quãng đứng bóng và suốt buổi trưa, tới lượt hàng cháo lòng tiết canh.

Một bên gánh, cả hai mẹt thưa, trên mặt bày đủ thứ từ lòng, phổi đến tim gan và cổ hũ cạnh giỏ hành, húng.

Khách ăn miếng nào, ông hàng ngả thớt ra cắt miếng ấy.

Bên này, thùng cháo bắc trên hỏa lò.

Những bát tiết canh xếp vỉa chồng lên nhau từng loạt dưới thúng.

Cũng vào giữa ngày, các hàng cháo kê, cháo ngô, cháo bột lọc mới từ Sù, Gạ theo đê Yên Phụ gánh vào.

Những đĩa cháo đặt từng vỉ cao ngang đòn gánh.

Từ chiều đến đêm khuya giờ của các gánh cháo gà.

Hai mảnh tre đánh lên "sực tắc, sực tắc", đấy là hàng cháo gà đã tới ngoài đầu phố, mà ông hàng đặt gánh xuống vừa thổi ống lửa đã sai cậu bé con phụ việc vào các ngõ ngách khua khoắng đánh tiếng.

Sực tắc, sực tắc...

Người hàng phố hiểu là ăn được, ăn được... sực đắc, sực đắc...

Rồi nửa đêm, chốc lại nghe tiếng rao, khàn khàn... cay hạp trúc... cay hạp trúc...

Cũng cháo gà, nhưng là gánh hàng của một ông Tàu già chuyên đỗ ở cửa tiệm hút và bên rạp hát.

Bây giờ chẳng còn cái thú quà sáng cháo hoa, cháo trắng.

Không có hàng cháo bán rong đi rao, cháo bán được trong cửa hàng và cái thú ăn cháo cũng khác trước.

Nếu bây giờ người ta lấy phở thay bữa cơm chứ không thưởng thức quà phở như trước, thì cháo cũng thành ra món để nhậu nhẹt (cháo lòng, tiết canh), và ăn cháo để tẩm bổ.

Cháo bầu dục ướp gừng, cháo tim gan, tất cả thái sẵn lại đập bốp bốp thật nhanh vào bát hai, ba quả trứng gà.

Chỗ góc phố Tạ Hiện một dạo có quán cháo cá thật ngon như quán cháo cá ở chợ Cũ trong Sài Gòn.

Cá chuối lóc lấy thịt, bỏ thẳng vào bát cháo nóng sôi đã lót hành củ, cải cúc, rưới xắng xấu trong hơi cháo bốc.

Nhà hàng làm tỉ mỉ, phải đợi lâu la đôi chút, khách sốt ruột.

Người ta đã quen hộc tốc, không thanh cảnh nữa.

Ở chợ nào cũng có cháo tiết, cháo tiết rẻ nhất, rẻ mạt hạng.

Tiết lợn, tiết bò nấu cháo muối xuông.

Người ta bảo tiết ấy là tiết vụn không thành miếng, vét hố ở các lò mổ, xúc lẫn lên cả đất cát.

Nhưng mà... khuất mắt trông coi.

Khi sinh thời, những năm còn ở Hà Nội, họa sĩ Nguyễn Sáng là khách hàng lâu năm của gánh cháo tiết chợ ga mới phố Trần Quý Cáp.

Nguyễn Sáng hàng ngày ăn cháo tiết chẳng phải chỉ bởi những khi cạn túi, mà còn vì một lẽ khác.

Về già, hai hàm răng nhà họa sĩ chỉ còn thấp thoáng đôi ba cái, ăn cháo tiết thì đỡ phải nhai.
 
Back
Top Bottom