Lịch Sử Chuyện Cũ Afghanistan 1986

Xin chào bạn!

Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm diễn đàn, vui lòng bạn đăng ký tài khoản để có thể sử dụng đầy đủ chức năng diễn đàn và tham gia thảo luận, trò chuyện cùng với cac thành viên khác.

Đăng ký!
Chuyện Cũ Afghanistan 1986
Chương 40: 40: Chương 39


Một ngày trước khi về nước, Abramovich đến Baghlan.
Đầu Oleg quấn đầy gạc, chào ông trên giường bệnh.
“Bác sĩ nói sao?”
Euler gọt một đữa táo cho tổng thư ký, “Chưa đến mức tệ nhất.

Anh ấy sẽ tiếp nhận trị liệu.”
Abramovich cảm thấy nhẹ nhõm, “Kabul giống như một mớ hỗn độn, tôi không có thời gian để đến thăm, và tôi hơi buồn về điều đó.

Họ nói rằng ngày mai hai người sẽ về nước, nếu tôi không đến gặp sẽ bị măng là kẻ vô ơn mất.”
Euler cười, “Sao có thể chứ? Nếu không nhờ ngài, Oleg cũng không được hưởng đãi ngộ tốt như vậy.”
“Đó chỉ là một mặt, không thể nói như vậy.” Abramovich nói, “Nói thật, mấy năm nay tôi quen ở Puli Khmuri rồi, đến Kabul chưa thích ứng kịp.

Xem ra đúng là già rồi, bọ họ nói không còn sắc bén như xưa nữa.”
“Đầu gối của ngài ổn không?”
“Cũng may.

Cả ngày có bác sĩ theo tôi, buổi tối còn phải xoa bóp.”
“Mấy ngày trước Oleg nhắc tới chuyện đầu gối của ngài, nhìn bộ dáng đi đứng của ngài chắc hẳn không có chuyện gì lớn.


Abramovich trêu chọc, “Nếu không sao làm quan được? Đâu chỉ mấy lợi ích này không.”
Cả ba đều cười.
“Trở về có kế hoạch gì không?”
Oleg rõ ràng là chưa tính đến vấn đề này.

Euler cũng hơi khó xử, “Bộ dáng này của Oleg chỉ có thể xuất ngũ, còn chưa tính toán xem tương lai sẽ ra sao.

Hiện tại tôi chỉ muốn làm sao để tay anh ấy hồi phục.

Tôi không muốn tạo nhiều áp lực quá cho anh ấy.

Bên tòa báo vẫn chưa có tin tức trở lại làm việc, trước tiên cứ ngồi chờ đã.”
“Đôi khi phải chủ động, đừng chỉ ngồi yên một chỗ.

Cậu ngồi yên thì tương đương cho người khác cơ hội chủ động.” Tổng bí thư nhíu mày dạy cậu, “Liên hệ với lãnh đạo và đồng nghiệp trước đó nhiều vào, nếu không được thì tìm cách khác, cứ mặt dày vào.

Hai người làm sao sống nổi nếu không có việc làm! Phati quyết tâm! Sinh tồn là một cuộc chiến! Đó là chuyện anh chết tôi sống, hiểu không?”

“Vâng, tôi sẽ làm theo lời ngài nói.”
Abramovich nói: “Đất nước hiện đang ở trong một giai đoạn rất khó khăn và đặc biệt.

Vào thời điểm này, số phận và danh dự của các cá nhân gắn liền với hoàn cảnh.

Cuộc sống sau khi trở về nước có thể không quá lý tưởng, nhất là đối với Oleg.

Tôi đã từng chứng kiến nhiều người lính trở về sau chiến tranh và chích m* t**, uống rượu thậm chí tự tử vì không thể thích nghi với cuộc sống bình thường.

Tôi hy vọng các cậu vững vàng lên.”
“Nếu có khó khăn thì tôi có thể giúp, tôi rất sẵn lòng.

Nhưng cuộc sống luôn phải đối mặt với chinh mình.

Đừng mù quáng chạy theo xu hướng xã hội, người ta làm gì cậu cũng làm theo, bị lừa dối rồi ru vào những giấc mơ như những người khác.

Dù cậu không thể làm nó một mình, thì hãy tỉnh táo lên, chuẩn bị cho cuộc khủng hoảng mọi lúc mọi nơi, đó là lời khuyên của tôi.”
Euler và Oleg liếc nhìn nhau, cảm nhận được thiện chí đáng quý của người lớn tuổi.
Abramovich nói, ” Sẽ còn một thời gian nữa trước khi chiến tranh kết thúc hoàn toàn, tôi không chắc thời gian này sẽ kéo dài bao lâu.

Tuy nhiên, hậu quả của chiến tranh đã hiện rõ ở đất nước.

Đất nước không chỉ nghèo, mà cả cơ chế quản lý và vận hành của nó hiện đang bị tê liệt hoàn toàn.

Nhân dân rất tức giận vì đấu tranh ở cấp cao càng bạo lực thì dân ở dưới càng chịu nhiều thiệt thòi.

Tôi có thể khẳng định chắc chắn rằng các bạn có lẽ phải đối mặt với cuộc khủng hoảng lớn nhất kể từ khi thành lập Liên bang Xô Viết đến nay, không chỉ liên quan đến cuộc đấu tranh chính trị ở cấp quản lý cao nhất của đất nước, mà còn là những thay đổi cơ bản trong sự phát triển tương lai của đất nước.

Vì vậy, các cậu phải chuẩn bị sẵn sàng! Những khó khăn kinh tế và áp lực tinh thần không hề nhỏ, đây sẽ là một cuộc chiến chưa từng có khác.”
Oleg híp mắt, “Tôi không hiểu hết ý của ngài.

Vậy là đất nước sẽ có những thay đổi lớn sao?”
Abramovich thở dài, “Chính quyền của chúng ta thành lập cách đây hơn 60 năm, chỉ có thể coi là sự tồn tại ngắn ngủi so với thời kỳ đế quốc.

Từ lịch sử của toàn bộ dân tộc chúng ta, nó thậm chí như giọt nước trong biển rộng.

Vận mệnh quốc gia sẽ thay đổi cũng là chuyện bình thường.”
Phản ứng của Euler nhạy bén hơn Oleg rất nhiều, “Xem ra tổng bí thư ở trong nước chịu rất nhiều áp lực”

“Cậu đang nhìn dưới góc độ nhà báo rồi.” Abramovich cười cười, “Tôi chỉ nhắc nhở các cậu với cương vị là người đi trước thôi.”
“Cám ơn ngài.” Euler gật đầu, “Sau khi chiến tranh kết thúc, ngài sẽ trở lại Moscow chứ? Không biết khi nào chúng ta sẽ gặp lại nhau?”
Abramovich nói đùa, “Tôi sẽ cố gắng sống đến cùng.

Theo ước tính của tôi, năm tới bắt đầu rút quân, kế hoạch này đã được đề xuất, nên không cần phải xem xét quá lâu là có thể thông qua.

Chậm nhất là cuối năm.”
“Nó sẽ là một dự án lớn.”
“Đúng.” Abramovich thở dài, “Để cho những đứa trẻ này có thể trở về nhà an toàn không phải là một nhiệm vụ dễ dàng.”
Euler tiễn Abramovich ra ngoài.
Trở lại lều, Oleg đã ngủ thiếp đi.

Euler sắp xếp hành lý của hai người, sau đó làm bữa tối cho hắn, Say bữa ăn, Euler mở lều ra cho thoáng khí, cùng Oleg chơi trò chơi kẹp giấy cho đến khi đi ngủ lúc 10 giờ.
Đến 8 giờ sáng hôm sau, bác sĩ chăm sóc vào và đưa Oleg ra khỏi giường.

Euler dìu hắn ra khỏi lều.
Đại đội của Oleg xếp hàng chỉnh tề ở bên ngoài tiễn hắn, phó đại đội trưởng nhìn thấy ánh mắt hắn hơi đỏ, chạy tới chào theo nghi thức quân đội, “Đoàn trưởng! Chúc anh mau chóng bình phục!” Oleg chỉ có thể bắt tay hắn bằng tay trái, “Cảm ơn anh.”
Hắn kiên trì đi tới trước đại đội, hô to, “Đứng nghiêm!”
Tất cả đứng nghiêm.

Hắn hài lòng nói, “Hôm nay tôi về nước, mọi người tự chăm sóc bản thân.

Việc chúng ta có gặp lại trong tương lai không phụ thuộc vào sự cố gắng của cách anh.

Tôi hy vọng tất cả mọi người có thể sống cho đến cuối cùng.” Đó là tất cả nhừng lời hắn muốn nói, sau đó im lặng.

“Được rồi, nghỉ, phó đại đội trưởng dẫn đội, toàn bộ quay phải, chạy về doanh trại!” Đại đội rời đi dưới ánh nhìn chăm chú của hắn.
Bác sĩ tiến lên nói, “Xe đã sẵn sàng, đi thôi.”
Oleg ngẩng đầu lên nhin toàn bộ Afghanistan lần cuối.

Xa xa, thân hình cao ngất nguy nga của Hindu Kush sừng sững trên đừng chân trời, từ vùng hoang dã truyền đến khẩu hiệu của quân đội —— “Một, hai, ba, bốn! “Thanh âm cực lớn và uy lực, xuyên qua bình nguyên, Oleg thở phào nhẹ nhõm, cảm thấy sự ngột ngạt trong ngực như được trút ra bởi khẩu hiệu này.
Euler áy náy, “Nếu như không phải vì em, có lẽ anh sẽ tiếp tục thực hiện lý tưởng của mình.”
Oleg khoát tay, ôm cậu lên xe, “Ít nhất bây giờ anh có thể sống sót trở về.”
Hai người lên xe và băng qua vùng đất vàng ươm của Afghanistan.

Cách đó không xa, ở vùng ngoại ô, bóng dáng máy bay màu trắng trở nên rõ ràng.
Bên hồ nước nhỏ xinh đẹp và yên tĩnh của Qazi, Akaj trồng cây nhung xanh.
Đất ấm và mỏng manh của miền Nam không thích hợp với loại cây này.

Akaj cũng không héo rũ như những bông hoa nhung xanh kia, ở không cả ngày.

Không phải ngày nào cũng có tin tức từ Kabul, trong một tuần khi Khwaja bị bắt đi, Ạkaj không biết tung tích của gã, thậm chí không biết gã còn sống không.
Sự chờ đợi cực khổ và vô tận này dường như khiến Akaj phát điên.

Vào đêm Giáng sinh, Akaj đến thị trấn nhỏ và trở về sau một đêm điên cuồng với hai vũ nữ xinh đẹp, hôm sau cậu gần như không thể dậy nổi.

Sắc mặt quản gia không tốt, uyển chuyển nói ra cậu không nên đối xử với thân thể mình như vậy, Akaj bĩu môi không nói lời nào.
Năm ngày nữa là đến năm mới.

Qazi bắt đầu tràn ngập bầu không khí năm mới.
Một buổi chiều một chiếc xe đậu bên hồ, hai người đàn ông mặc âu phục bấm chuông cửa.

Quản gia dẫn bọn họ đến phòng khách, Akaj mặc áo ngủ, đi chân trần, ngồi phịch xuống sô pha, thờ ơ hỏi, “Chuyện gì?”
Quản gia đứng ở một bên giới thiệu, “Hai vị này là trợ lý riêng của cục trưởng.”
Người đàn ông lấy ra một túi tài liệu từ bên trong bộ đồ, “KHAD đã kết thúc phiên tòa nội bộ với Cục trường.

Vì có liên quan đến phién quân trong Liên Xô, Vanechka đã cản trở việc thực hiện kế hoạch hòa giải quốc gia, bị định hai tội danh – tội cản trở hòa bình quốc gia và tội gián điệp.

Dưới đây là công văn có chữ ký của Tổng Bí thư.

Cục trưởng bị kết án lưu đày, e là sẽ đến vùng biên giới, chi tiết chỉ có ngài ấy mới biết.

Đây là kết quả của sự đấu tranh trong gia tộc gia tộc Murzen cố gắng đổi lấy.”
Akaj nhìn sơ tài liệu, ném lên bàn, “Cho nên gia tộc của hắn định từ bỏ hắn.”
“Hiện nay, ngôi nhà Murzen ở Kabul sẽ được tiếp quản bởi anh họ của Cục trưởng, Thayer Murzen, và quyền xử lý các vấn đề gia đình đã được chuyển giao cho người này.

Chúng tôi không liên lạc được với bất kỳ thành viên nào trong gia đình họ, mẹ của Cục trưởng qua đời sớm, không còn trong gia đình nữa.

Tin tức này là tin tức công khai của gia tộc Murzen.”
Akaj châm chọc nói, “Hắn cũng có ngày này, đáng đời.”
Hai vị trợ lý lần lượt trầm mặc, Akaj châm một điếu thuốc trước mặt bọn họ hút xong, hỏi, “Nói đi, còn có chuyện gì nữa?”
“Tất cả tài sản riêng của cục trưởng ở Afghanistan sẽ bị tịch thu, bao gồm bất động sản và các tài sản có giá trị.

Sang năm sẽ có người tới đây để thu hồi quyền sở hữu tài sản.

Tôi e là anh không thể lấy đi bất cứ thứ gì trong nhà theo ý muốn.”
“Nói cách khác, sau này tôi không thể sống ở đây? Sau tết tôi chỉ có thể ngủ ngoài đường?”
Luật sư lấy một chiếc phong bì có in logo của hãng hàng không từ trong túi tài liệu, nhẹ nhàng đặt lên mặt bàn, “Trước khi cục trưởng xảy ra chuyện, từng dặn dò chúng tôi làm thủ tục liên quan, hơn nữa đã liên hệ người sắp xếp đường thoát cho anh.

Anh yên tâm, đây là chuyện Cục trưởng xem trọng nhất.”
Akaj liếc mắt nhìn phong bì kia, không đụng vào, “Đây là cái gì?”
Luật sư nói, “Đây là vé máy bay đến Boston vào đêm mai” Năm đó Cục trường đi du học đã quen rất nhiều bạn bè, ngài ấy đã liên lạc với một luật sư người Mỹ giải quyết cho anh.

Ở đó đã có chỗ ở, Cục trưởng cũng có một quỹ thanh khoản ở ngân hàng nước ngoài, đã được chuyển giao an toàn, tất cả các tài liệu liên quan về tài khoản sẽ được đưa cho anh sau ngay sau khi anh đến Hoa Kỳ.”
Akaj cười nhạo, “Bây giờ hắn định đưa tôi đến Mỹ? Anh ta không biết tôi là người Liên Xô sao? Người Liên Xô ghét Mỹ nhất, anh ta muốn tôi đến đó à?”
“Đây là sự sắp xếp mà Cục trưởng có thể làm được.

Tất nhiên nếu anh không đi, thì không ai có thể ép anh được.

Bây giờ không ai có tư cách ép anh phải làm bất cứ điều gì?” Luật sư nói, “Đây là sự lựa chọn của anh.

Nếu anh ở lại Afghanistan, chúng tôi không thể đảm bảo an ninh và đời sống kinh tế của anh, Cục trưởng không còn khả năng đó nữa.”
“Bây giờ hắn biết mình không còn khả năng này! Sáng hôm đó còn lừa tôi đưa tôi di xem phim, tôi vừa thay quần áo xong thì đã gọi người tiêm morphine rồi kéo tôi đến nơi khỉ ho cò gáy này.

Khi đó sao hắn không tự nói với tôi đi! Tôi muốn gặp hắn! Tôi không tin mấy người!” Akaj bật dậy chửi ầm lên, “Năm đó ông đây sống sót trong khu ổ chuột vào lúc tồi tệ nhật, các người tưởng tôi sợ ngủ trên đường à? Muốn tôi ngoan ngoãn ở lại Mỹ cả đời, đệt con mẹ nó đ*o thèm! Có giỏi thì tự mình nói với tôi!”
Trợ lý sửng sốt, “Đừng kích động, hiện tại cục trường không cách nào gặp anh được.

Ngài ấy không có cách gặp được ai cả.

Hai ngày tới, ngài ấy sẽ bị lưu đày, chúng tôi không biết ngài ấy sẽ đi đâu.”
“Điện thoại đâu? Fax đâu? Hai tháng rồi! Tôi không nhận được gì hết! Và sau đó hai người người mà tôi chưng từng gặp ném bay trước mặt tôi, giả vờ nói tôi chỉ có thể đi Mỹ, bảo tự nghĩ đi, có muốn đi hay không, anh làm được không? A! Tôi hỏi anh nghĩ mình có thể làm được không?” Akaj chỉ vào mũi liền mắng, “Lúc hắn và vợ cũ ly hôn ít nhất còn mặt đối mặt ngồi cùng nhau ký tên nói chuyện vài câu!”
Quản gia nhịn không được chen vào một câu, khuyên, “Thưa cậu, hãy chú ý thân thể cậu.”
Akaj suy sụp ngồi phịch trên sô pha, thở dài, hay tay chống trán, vùi mặt vào lòng bàn tay.

Kỳ thật cậu không muốn ăn bám Khwaja cả đời, nếu không phải vì chờ không được tin tức của Khwaja, cậu đã sớm chuồn khỏi đây rồi.

Nhưng thái độ của Khwaja khiến cậu chạnh lòng.
Luật sư vẫn đưa vé máy bay cho cậu, “Anh Akaj, tôi rất xin lỗi, tôi hiểu tâm trạng của ngài, nhưng tình hình trước mắt không tốt lắm, xin cậu suy nghĩ thật kỹ, đừng phụ lòng tốt của cục trưởng.”
Akaj xua tay, buồn bực nói, “Được rồi được rồi, mau đi đi, ra ngoài cả đi, để tôi nghĩ đã.”
Quản gia tiễn hai luật sư ra khỏi cửa, khi trở về thấy Akaj hút thuốc.
Người thanh niên có vẻ chán nản và ảo não, cậu rít một hơi thuốc, mở phong bì ra, bên trong có một vé máy bay và tờ giấy ghi chú.

Ánh mắt Akaj khẽ động, cậu mở tờ ghi chú kia ra, bên trong có một dòng chữ ——
“Ta xin hẹn gặp nhau
Nơi Đúng-Sai vắng bóng
Ta xin hẹn gặp nhau
Nơi trái tim mở rộng”
Quản gia nhận ra đó là chữ viết tay của Khwaja, nhưng không hiểu ý nghĩa, “Thưa cậu, nó có nghĩa là gì?”
Akaj nắm tờ giấy kia cong khóe miệng, “Đây là thơ của Rumi[1].

Tôi biết hắn đang ở đâu.”[1] Rumi: là nhà thơ, luật gia, học giả, thần học người Ba tư vào thế kỷ 13..
 
Chuyện Cũ Afghanistan 1986
Chương 41: 41: Chương 40


“Lăng mộ thiêng liêng” của Mazar-e-Sharif dẫn về phía bắc đến cuối biên giới phía bắc Afghanistan.

Sông Amu Darya chảy êm đềm về phía đông giữa những ngọn núi màu trắng nhạt, được đặt theo tên của những kẻ xâm lược Hy Lạp cổ đại, những người tôn vinh thần sông và có nghĩa là biển.

Màu xanh của nó gợi cảm, trong mờ và tinh khiết, cát trắng mỏng manh của vịnh có độ chuyển màu phong phú và kết cấu tuyệt vời.

Hai bên bờ biển đều có lau sậy.

Gió bắc thổi qua thổi bay lau sậy như tuyết, bay khắp bờ sông.

Bên kia sông đã là một đất nước khác.
Sau khi đi qua khu rừng bạch dương, có rất ít người.

Chỉ có một ngôi nhà bằng bùn giữa cánh đồng hoang ven đường, với một lỗ hổng lớn ở giữa mái, qua đó ánh sáng mặt trời chiếu vào tấm vải bên dưới.

Điều duy nhất còn lại là âm thanh của gió.
Đây là ngôi nhà cũ của nhà thơ Ba Tư nổi tiếng Rumi, “một trong những người không tên tuổi với những người vô thích, nhưng lại nổi tiếng nhất trong giới tri thức trong khoảng thười gian dài.” “Cũng là mảnh đất sạch sẽ cuối cùng trong lòng người Afghanistan, không bị ai khống chế quấy nhiễu, là mảnh đất duy nhất trên đất nước này không nghe về chiến tranh, chính trị, trò chơi, tiền bạc…
Vào buổi tối, một người đàn ông dưới cánh đồng mặc áo khoác truyền thống của nông dân Afghanistan, đầu đeo khăn vải thô và ngồi xổm ở đầu kênh vạt cỏ bằng một con dao phay nhỏ.

Một người hầu đến, đứng sau lưng gã, nhẹ nhàng nói, “Thưa ông, cậu Akaj đã bay từ Kandahar rời khỏi đất nước và hiện đang đến Boston an toàn.” Ông Weinberg đã gửi fax nói rằng ông đã gặp được cậu ấy.”
Khwaja ngẩng đầu lên dùng khăn vải thô thấm mồ hôi, gật đầu, “Tôi biết rồi.” Gã đứng dậy, tháo găng tay ra và đưa nó cho người hầu, thở hổn hển, “Được rồi, êm ấy đã đi rồi, tôi cũng yên tâm.”
“Gần đến giờ ăn tối rồi, anh đi ăn cơm trước đi.


“Vâng.

Mấy khu rừng mà hôm qua ngài xem thì sao?”
“Tìm mấy nông dân ở đây đến trông coi, nói mảnh đất kia lớn nhất, rất tốt.


Hai người đi bộ lên thềm ruộng, cách đó chừng hai trăm mét là một ngôi nhà gỗ mộc mạc.

Khwaja trở về phòng, rót chút rượu thổ, “Trước kia tôi ở Qazi từng có khoảng thười gian như vậy, không khí ở nông thôn rất tốt, rất thích hợp dưỡng già.”
Người hầu đợi gã c** q**n áo, chuẩn bị khăn nóng lau thân thể cho gã, “Buổi tối nơi này không an toàn, ngài không nên cố gắng đi ra ngoài.

Vết thương trên người cũng chưa khỏi hẳn.”
Trong gương dài lộ ra vết roi đan xen trên lưng người đàn ông.

Khwaja chỉ liếc mắt qua, thay áo ngủ sạch sẽ.

Vết thương trên người thật ra không đáng sợ lắm, nhưng lại làm người ta nhớ tới những trò chơi tra tấn tinh thần nho nhỏ.

Nghĩ đến đây, Khwaja thở dài thườn thượt, đột nhiên hết hứng thú ăn cơm tối, gã đuổi người hầu đi xuống, một mình ngồi trên ghế mây trong phòng đọc sách.
Bên ngoài dần tối sầm lại, xa xa có lửa trại bập bùng cùng tiếng hát vui vẻ.
Khwaja mở cửa phòng ra ngoài, nheo mắt nhìn, “Bên kia đang làm gì vậy?”
Người hầu nói, “Ngày mai là năm mới, thưa ngài.

Những người nông dân đang ăn mừng năm mới.”
Khwaja ngẩn ra, “Vậy mà đã đến năm mới rồi.”
“Đúng vậy.”
Vào ban đêm, Khwaja có một giấc mơ.

Gã mơ về đám tang của mẹ mình.

Trên dòng sông yên tĩnh, bà ra đi trên một chiếc thuyền, trên đầu được đính đầy trang sức đá quý đầy màu sắc rực rỡ, khuôn mặt được quấn bằng lụac màu cam sáng và trong suốt, bến dưới là chiếc váy dài màu xanh lông công, với những đá đính và hoa văn phực tạp tượng trưng cho tình yêu của bà, trang phục cưới truyền thống của phụ nữ Afghanistan khi kết hôn.

Những bông hoa chất đầy thuyền, bà nằm giữa, khuôn mặt bình thản và trôi theo dòng sông.
Khwaja tỉnh dậy, bên ngoài trời đã rạng sáng.
Gã nhớ đó là ngày đầu tiên của năm mới.
Sau bữa sáng, gã thay một chiếc áo ngắn và đôi giày vải, rồi một mình mang con dao phay đi làm cỏ.

Không khí bên ngoài lạnh lẽo khô ráo, gã cảm thấy hơi choáng váng, tầm mắt lảo đảo.

Cỏ cắt vào chân gã chảy máu.

Gã dừng lại, ngồi xổm xuống xem miệng vết thương.

Lúc đứng lên thở hổn hển, suýt nữa té nhào trên mặt đất, tầm mắt dần tràn ngập bông tuyết.

Một bàn tay đưa ra đỡ gã dậy, gã cố gắng nâng mắt lên, khuôn mặt xinh đẹp của thanh niên lọt vào tầm mắt.
“Thân thể yếu vậy còn làm nông dân, anh ổn không đó Khwaja?” Giọng nói nhẹ nhàng của cậu như dòng suối phá băng vào mùa xuân.
Khwaja khẽ cười, tầm mắt còn chưa khôi phục, “Tôi tưởng em sẽ chọn đi Boston.”
Tờ giấy đó và vé máy bay là câu hỏi lựa chọn.

Là ở lại hay rời đi, lần này gã để Akaj lựa chọn.
Akaj khoác tay gã nhảy lên, “Đi rồi, lại trở về, cầm ít tiền trở về, sợ anh không có cơm ăn.”
Những bông tuyết dày đước rơi trước mắt Khwaja cuối cùng cũng biến mất, gã vuố gò má Akaj đầy lưu luyến, “Xin lỗi, tôi còn nợ em một bộ phim.

Lần sau có cơ hội nhất định sẽ đưa em đi xem.”
Akaj thu lại biểu tình, “Anh lừa em hai lần rồi, Khwaja.

Còn lần nữa, em sẽ rời đi thật đấy.”
Lần đầu tiên là khi gã dùng tình yêu dụ dỗ cậu phản quốc, lần thứ hai là biết rõ sẽ xảy ra chuyện mà còn lừa cậu đi xem phim.
Khwaja thành kính hôn lên trán cậu, “Tôi hứa, sau này sẽ không thế nữa.”
Akaj hài lòng, cậu buông tay gã nhảy lên cánh đồng, “Mẹ nó màu nghĩ cách để tôi ra khỏi đây đi, tôi sẽ không làm nông dân với anh đâu, có nghe không đấy! Nếu không tôi sẽ quay lại Kabul tìm Buri!”
Khwaja không trả lời cậu.

Gã chỉ nhìn thấy những bông lau sậy rơi lác đác giữa cánh đồng xanh mướt ngày xuân, thanh niên mặc áo len màu xanh xinh đẹp, tóc tung bay, cậu cười thật tươi, như một cô dâu.
Băng qua cánh đồng, phía bên kia của núi tuyết, một nhóm du kích chống chính phủ đang tiến về Mazar-e-Sharif.
Vào ngày 15 tháng 1 năm 1987, các cuộc đàm phán về một kế hoạch hòa giải dân tộc đã sụp đổ thành một cuộc đụng độ bạo loạn lớn giữa quân du kích Hồi giáo và quân chính phủ, chấm dứt một lệnh ngừng bắn chỉ kéo dài chưa đầy ba tháng và đẩy Afghanistan trở lại chiến tranh.
Đó là một năm bốn tháng trước khi Hiệp định Genève 1988 được ký kết và quân đội Liên Xô rút đi.
Trái đất đang đến gần chúng ta,
đưa chúng ta đến đoạn đường cuối cùng,
Chúng ta phải bỏ lại tay chân mình…
Rời khỏi lãnh thổ cuối cùng, chúng ta sẽ đi về đâu?
— Mahmoud Darwish [1] “Trái đất đang đến gần chúng ta”[1] Mahmoud Darwish (1941-2008) nhà thơ nổi tiếng Palestine, được coi là nhà thơ quốc gia của Palestine..
 
Chuyện Cũ Afghanistan 1986
Chương 42: 42: Ngoại Truyện 1 Hồi Ức Sau Chiến Tranh


Vào mùa đông năm 1986, Oleg và tôi trở lại Moscow.
Chúng tôi đã cố gắng hết sức để tồn tại cho đến đầu mùa xuân.
Oleg giống như con báo săn nhanh nhất trong rừng rậm bị bắt trong vườn thú.

Rõ ràng là hắn rất nhớ cuộc sống trong rừng, nhớ một thế giới đơn giản hơn.

Môi trường trong nước dường như quá phức tạp và rối loạn với hắn, quá yên bình và tĩnh lặng.
Một ngày nọ, chúng tôi đi mua sắm trên đường phố, hắn gây gổ với bà già bán tạp hóa, bà tay mắng hắn là tên mọi rợ, ní với hắn rằng hcunsg ta đang sống trong thế giới văn minh chứ không phải bộc tộc hoang dã.

Oleg rất tức giận đến mức suýt đập phá cửa hàng, bà cụ gọi cảnh sát và bắt Oleg vào trại giam.

Tôi đã chi gần một phần ba số tiền tiết kiệm của mình để bão lãnh hắn và hối lộ cảnh sát.
Không một ai nhắc đến cuộc chiến khét tiếng và những ngường lính từng đến Afghanistan.
Chúng tôi dường như đã tham gia vào một trận chiến im lặng khác.

Oleg đang vật lộn với chứng loạn thần kinh của minh mỗi ngày.

Một ngày nọ, hắn đã đập vỡ tất cả ly tách trong nhà bếp, khi tôi hỏi hắn tại sao làm thế thì hắn nói mình tấy rất nhiều bóng đen trong ly, như thế đnag cố giết hắn vậy.

Tôi không có gì để nói, chúng tôi sống như lũ chuột ngoài đường, không dám tiết lộ với hàng xóm rằng mình đã từng đến Afghanistan.Tuy nhiên, Oleg vẫn không thể thoát khỏi cảm xúc, hắn cảm thấy moiuj người đang phân biệt đối xử hắn, thương hại hắn và cười hắn như một tên hề.
Hắn mất sáu tháng đến một năm để phục hồi bàn tay của mình, các bác sĩ khuyên hắn nên ở lại bệnh viện.

Tuy nhiên, chúng tôi không có nhiều tiên, vật giá trong nước tăng quá nhanh, chúng tôi không có việc làm, không có thu nhập suốt cả mùa đông, và số tiền tiết kiệm của hai người cũng chẳng còn lại là bao.

Tôi đã tim được một công việc gia sư, cố gắng làm tạm.

Thế nên tôi không thể đi bệnh viện cùng hắn mỗi ngày, hắn phải chuyển ba lượt xe buýt qua Moscow mất một tiếng rưỡi để đến bệnh viện, sau khi trị liệu xong thì trở về.
Tôi luôn phải lo lắng về việc liệu hắn có đánh nhau với người khác trên đường không, hay ném đồ vật trong bệnh việc hoặc tức giận, có ăn đúng giờ hay không… Tôi rất nhạy cảm với âm thanh của điện thoại, thậm chí còn hồi hộp nữa, khi tôi nghe thấy nó đổ chuông, tôi sợ hãi, và lúc đầu tôi thường nhận được cuộc gọi nói rằng hắn lại gây chuyện.
Một đêm nọ, Oleg nói với tôi rằng hắn cảm thấy mình không thích hợp tồn tại trong thế giới văn minh.

Linh hồn hắn đang đụng vào các bức tường xung quanh.
Hắn nói xe buýt của đi ngang qua một cửa hàng đồ chơi, bên trong bán súng đồ chơi, hắn rất muốn một khẩu súng, ngay cả khi nó không phải là hàng thật, hắn muốn giết tất cả mọi người ở đây.

Hắn nói mình muốn trở về Afghanistan, ngay cả khi hắn sẽ chết ở một nơi hẻo lánh nào đó.
Tôi đưa hắn đến gặp bác sĩ tâm lý, hắn rất kháng cự.

Bác sĩ nói hắn bị trầm cảm, ông kê rất nhiều thuốc.

Khi về nhà Oleg ném hết thuốc đi, măng tôi thương hại hắn, không hiểu hắn, nghĩ hắn bị tâm thần.

Chúng tôi cãi nhau một trận.

Tôi rời khỏi nhà đến nhà học sinh, đến tối trở về thì không thấy hắn đâu, vội vàng ra ngoài tìm, băng qua hai con phố mới nghe thấy hắn buồn bã gọi tên tôi.

Hắn co ro dưới vòi nước chữa cháy khóc như một đứa trẻ, mặt bẩn gần chết.

Tôi dẫn hắn về tắm rửa, làm đồ ăn ấm cho hắn rồi ôm hắn ngủ.
Tôi rất lo lắng trong khoảng thời gian đó, đến nỗi mỗi khi không nhìn thấy hắn tôi tưởng hắn sẽ tự sát.

Chúng tôi bỏ căn hộ trung tâm thành phố và thuê một căn phòng nhỏ hơn, rẻ hơn gần bệnh viện của hắn.

Không có nước nóng hay phòng tắm, chỉ có bếp và phòng tắm chung, nhưng giá cả rất phải chăng.
Tôi chuyển sang công việc giao báo và đi giao báo mỗi sáng lúc 5 giờ, về nhà lúc 7 giờ 30 ngay khi Oleg thức dậy, sau đó tôi đi cùng hắn đến bệnh viện.

Khi hắn đang tập luyện thì tôi chợp mắt, hoặc viết một số bài, chúng tôi cùng nhau về nhà vào buổi chiều.

Sau bữa tối, tôi làm việc ở một nhà in gần đó để kiếm thêm tiền.

Tôi về nhà và đi ngủ, thức dậy lúc 4 giờ 30 vào ngày hôm sau.

Mọi thứ có chút chuyển biến tốt hơn vào mùa hè.
Một người tên là Shishkin đã tìm thấy chúng tôi.

Hắn ngồi xe lăn đến bệnh viện gặp Oleg.

Họ nói chuyện rất lâu, hôm đó tâm trạng của Oleg tốt hơn rất nhiều.

Shishkin nói rằng hắn có thể tập phục hồi chức năng với Oleg mỗi ngày, tôi thấy rằng hắn là người không phải lo toan cuộc sống nên tôi đồng ý.

Hắn đến đón Oleg vào mỗi buổi sáng và đưa Oleg trở lại vào buổi tối.
Điều này làm nhẹ gánh nặng của tôi một chút.

Tôi nhớ đến lời khuyên của Abramovich rằng tôi cần suy nghĩ về tương lai của mình.

Đã gần một năm kể từ báo văn học dừng làm việc, làm việc bán thời gian không phải là giải pháp lâu dài.

Tôi đã gửi một số bản thảo được viết tại Afghanistan cho một số tờ báo khác, và sau khi được tổng biên tập cũ giới thiệu, tôi đã xin được việc làm biên tập viên của Báo Thanh Niên.
Chúng tôi đã ăn mừng vào ngày tôi nhận được thông báo tuyển dụng.

Oleg có thể ném bóng, cổ tay của hắn bắt đầu lấy lại lực, đôi khi hắn sẽ tự dọn phòng.

Tôi đã mua rượu, chúng tôi uống say và l*m t*nh.

Oleg ôm tôi ngủ, tôi cảm thấy cái lạnh của mùa đông cuối cùng đã kết thúc.
Sau khi trở lại làm việc, tôi cắn răng và thuê một người chăm sóc.

Thành thật mà nói, tôi ghen tị với người đàn ông tên là Shishkin.

Có một lần tôi thấy hắn và Oleg cùng nhau bắt nạt những quân nhân đang phục hồi chức năng khác trong bệnh viện, tôi bước tới nói hai câu, nhưng bọn họ không nghĩ vậy, cứ như thể họ là đồng đội trên mặt trận thống nhất.

Oleg vẫn nghĩ tôi không thể hiểu được triết lý và cuộc sống của một người lính.

Tôi chỉ hơi ghen tị thôi, có Shishkin ở cạnh, tôi mới cảm thấy mình mới là người bị xa lánh và thừa thãi.
Vì lý do này, tôi đã làm một chuyện nhàm chán.

Tôi thuê hộ lý và sau đó tìm Shishkin nói rằng tôi không cần hắn đến bệnh viện với Oleg nữa.

Hắn dường như không hiểu tại sao tôi làm vậy, tôi chỉ viện cớ là đã làm phiền hắn quá lâu.

Sau khi biết chuyện, Oleg cãi nhau với tôi, tôi nói mình đang ghen.

Mặc dù tôi cảm thấy rất mất mặc nhưng còn tốt hơn là để tôi nhìn thấy hai người họ dính với nhau mỗi ngày.

Oleg thỏa hiệp, và Shishkin chỉ đến thăm hắn vào cuối tuần.
Vào đêm trước ngày Tưởng niệm Lenin năm 87, báo văn học cuối cùng đã làm việc lại.

Tổng biên tập hy vọng tôi có thể trở lại tờ báo, ông muốn thuê tôi làm cây bút chính.

Tôi bỏ báo Thanh Niên để trở lại làm báo Văn học.
Sau Giáng sinh, Oleg cuối cùng đã hoàn thành việc phục hồi chức năng của mình và không cần phải bệnh viện mỗi ngày.

Hắn muốn tìm một công việc, nhưung quá trình này đầy khó khăn.

Nếu không phải hắn nhìn người khác chướng mắt thì người khác chương mắt hắn.

Lúc đầu, hắn đi làm nhân viên bảo vệ nhà máy, nhưng hắn quá bạo lực nên nhanh chóng bị đuổi việc.

Hắn vẫn phải thích nghi với xã hội bình thường này.
Tôi mặt dày viết thư cho Abramovich với hy vọng rằng ông sẽ giới thiệu một công việc thích hợp cho Oleg.

Chúng tôi không cần phải giàu có, chỉ muốn một phẩm giá xứng đáng.

Ông nhanh chóng trả lời thư và giới thiệu Oleg đến Học viện Quân sự thanh niên Moscow làm cố vấn.

Nơi đó đều là những đứa trẻ nhỏ hơn hắn rất nhiều, bọn chúng sùng bái hắn, tôn kính hắn, là một nơi rất thích hợp.

Vào mùa xuân năm 88, Oleg chính thức trở thành cố vấn tại trường quân đội thông qua thời gian thử việc.
Chúng tôi chuyển về căn hộ nhỏ ở trung tâm Moscow.

Oleg mua cho tôi một đôi bốt da bằng tháng lương đầu tiên của mình.

Tôi đã không đỏi giày trong hai mùa đông qua, đôi bốt này tôi đã đi trước khi đi đến Afghanistan, bởi vì lông lót bên trong đã mất, bàn chân bị tê cóng.

Tôi rất cảm động, mặc dù hắn trông có vẻ thô bại, nhưng vẫn thể hiện sự quan tâm đến tôi.
Vào tháng 4, trường cũ đã gửi cho chúng tôi một lời mời đến gặp mặt cựu sinh viên, chúng tôi trở lại trường trung học để gặp mặt
Sáng hôm đó tôi thức dậy chuẩn bị bữa sáng, Oleg bật TV và mang quần áo đã giặt ở tầng dưới lên phơi.

Tôi nghe TV nói về Hiệp định Genève, tôi mang bánh mì ra và nhờ hắn lấy bơ đậu phộng.

Trên TV, Hiệp định Genève đã đạt được.

Gorbachev nói những người lính đầu tiên sẽ trở về từ Afghanistan vào tháng 5.

Bức hình được ghép với hình ảnh chiêsn thắng của người anh hùng khải hoàn trở về được dân chúng hai bên đường chào đón.

Oleg từ phòng bếp đi ra, có vẻ hơi buồn bực.
Chúng tôi đã thua, đó là sự thực không thể chối cãi.
Tôi nắm lấy tay hắn và nói, đó không phải là lỗi của anh, lịch sử sẽ trả lại công lý cho anh.
Oleg lắc đầu và tắt TV.
Chúng tôi đến nơi gặp mặt và bắt xe buýt về nhà sau khi tan tiệc.

Moscow đã từng là một thành phố lớn, nhưng giờ đây chỉ cần đi dạo là đủ.
Chúng tôi nhớ những sa mạc rộng lớn và bãi biển của Afghanistan, nhớ bóng dáng thiêng liêng và trang trọng của Hindu Kush, sự ngây thơ và lòng tốt còn sót lại trong mưa bom bão đạn, và giọt nước quý giá trong sa mạc nhân loại.

Sự quyến rũ của chiến tranh là nghệ thuật bạo lực của cái ác cực độ và cái thiện toàn vẹn, Oleg từng nói “Chiến tranh vừa là vết sẹo mà cả một thế hệ không bao giờ muốn bộc lộ, vừa là ký ức không thể nói thành lời”.
Tôi nghĩ hắn nói đúng..
 
Chuyện Cũ Afghanistan 1986
Chương 43: 43: Ngoại Truyện 2 26 Giờ


Gorbachev gọi tôi đến văn phòng, chỉ có hai chúng tôi.

Ông nói, “Tôi cho anh một ngày để giải quyết mớ hỗn độn này, anh phải làm nó cho bằng được.”
Ông ngồi trước mặt tôi với đôi tay run rẩy.

Bác sĩ riêng của ông nói rằng huyết áp gần đây của ông không được tốt lắm, ông có vấn đề về gan, ông không thể ăn quá nhiều chất béo … KGB biết tất cả mọi thứ về ông, biết nhiều hơn ông ấy.

Kryuchkov thậm chí còn muốn biết ông đã rụng bao nhiêu sợi tóc mỗi ngày, và thành thật mà nói trong thời gian này tôi nghĩ tiêu chuẩn của KGB đang giảm, nó nên là một cơ quan an ninh để bảo vệ sự ổn định và hòa bình của đất nước, nhưng Kryuchkov coi nó là một tổ chức bảo mẫu tư nhân của Gorbachev.
Kryuchkov là người cố vấn trong sự nghiệp của tôi, tôi gặp ông ấy lần đầu là ở bộ ngoại giao, ông đã nghe báo cáo của tôi và nói, “Tôi thích anh chàng này.” Tôi bước vào KGB vào năm 62, và đã đề bạt tôi trong suốt gần ba thập kỷ.
Người của KGB nói rằng chúng tôi giống như anh em, mặc dù tính cách khác nhau và phong cách làm việc khác nhau, nhưng rất ăn ý.

Tôi biết đó là lý do ông ấy thích tôi, ông ấy cảm thấy mình đã tìm được một người bạn tâm giao, giống như đang nuôi dưỡng bản thân mình vậy.

Tôi đã lợi dụng tâm lý như hắn, và luôn cảm thấy yên tâm thoải mái.
Mãi sau mười hai giờ tôi mới kết thúc cuộc trò chuyện với Gorbachev.

Nội bộ KGB rất lộn xộn, mọi người đều tìm tôi, nhưng tôi không biết phải làm gì.

Đầu tôi rối bời và tôi không có bất kỳ ý tưởng nào.
Tôi nói với thư ký rằng tôi có thể gặp bất cứ ai, nhưng tôi không đọc tài liệu và không ký bất kỳ tài liệu nào hết.
Bakatin và tôi cãi nhau, tôi đánh giá cao người đàn ông này, tôi thích sự chính trực của hắn.

Hắn tin rằng nội bộ nên được kiểm soát, hạn chế hành động và tiếp cận.

Tôi nói với hắn không có lợi gì trong việc kiểm soát nội bộ hết.

Đó không phải là vấn đề của KGB.

Những người lính ở Quảng trường Đỏ không giải tán, và các phóng viên sẽ tiếp tục tranh luận.

Đào tạo các người mấy năm còn đối phó với đám phóng viên không xong thì còn làm được gì nữa?
Tôi biết mình phải đến “Sailor’s Silince”[1] trước.
Lính canh đưa tôi đến cửa phòng giam và mở cửa cho tôi.

Kryuchkov ngồi lặng lẽ trên giường thấp và nhìn tôi bằng đôi mắt sâu hoắm.

Mái tóc hoa râm, hai mắt lấp lánh, những đốm đồi mồi nâu in hằn trên hai gò má, tàn tạ hơn tôi tưởng.

Kỳ thực, hắn còn lâu mới lung lay trước gió, thậm chí có đến bảy mươi tuổi cũng không suy, nếu không tham cuộc đào chính này.

Tôi nghĩ Gorbachev không sống nổi.

Ông đã từng là một người đàn ông vui tính tỏa sáng, rất biết cách giáo dục mọi người, biết cách thu phục lòng người.
Tôi nắm chặt tay, đáp lại ánh nhìn của ông, kiềm chế sự run rẩy trong tim, “Đó là sự lựa chọn của lịch sử.”
“Hừ.” Ông cười nhẹ và đứng dậy đi về phía tôi.

Tôi không thể không lùi lại, điều này gần như trở thành một bản năng, mặc dù tôi rất giỏi giở mánh khóe nhưng không có nghĩa là hắn dễ bị lừa.

Lúc này ông chắc chắn biết tôi đã lợi dụng ông.
Tôi cảm thấy bàn tay ông đang vuốt má tôi, nhìn tôi chằm chằm như cha nhìn con.

Ông luôn biết cách khiến tôi mất kiểm soát, đây là chuyện khiến tôi sợ nhất, cũng là điều tôi không muốn thừa nhận.

Dù gì hắn cũng lớn tuổi hơn tôi, gừng càng già càng cay.
Ông nhẹ nhàng nói, “Tôi biết cậu sẽ đến.”
Tôi tức giận chống chế, “Chẳng lẽ anh không suy nghĩ chút nào cho tình cảnh của mình sao? Anh nghĩ mình còn sống được bao lâu hả?”
Ông cười lạnh, “Còn cậu thì sao? Cậu nghĩ Gorbachev sẽ để cậu làm tốt hơn à?”
Mặt tôi vô cảm, “Ít nhất tôi còn sống sót.”
Bên ngoài nhà tù này, người ta đổ máu cho đến chết mỗi ngày.

Sống sót là chiến thắng.

Đó là những gì ông ta đã dạy tôi.
Ông hừ lạnh, “Làm sao cậu biết tôi sẽ không sống sót?”
Tôi nói, “Nếu anh sống thì chuyện gì sẽ xảy ra? Anh đã bao nhiêu tuổi rồi, trên người còn mang tội danh phản quốc, bao nhiêu người vào trong này còn sống sót mà thoát ra ngoài?”
Ông tựa vào vai tôi và hút một hơi thật sâu, nhẹ giọng nói, “Cậu sẽ không biết tại sao tôi lại tham gia vào việc này.”
“Tôi không muốn biết.”
“Vậy tại sao cậu lại đến vào lúc này?”
Tôi không thể mở miệng trả lời, tôi không biết phải làm gì, tôi không muốn thừa nhận việc mất ông khiến tôi bơ vơ như học sinh không có giáo viên dẫn đường.

Thực tếm hắn luôn là thấy của tôi, còn tôi luôn là học trò giỏi và xuất sắc nhất của hắn.
“Để tôi đoán xem” Hắn ngồi trở lại giường, “Gorbachev cho phép cậu tiếp quản KGB, và cậu không biết phải làm gì?”
Tôi cắn răng, biểu hiện xấu hổ đã phơi bày bí mật của tôi.
Ông cười cười, không làm khó tôi, vỗ vỗ vị trí trống bên cạnh, “Nào, ngồi xuống.”

Tôi ngồi xuống.

Hắn hỏi tôi, “KGB được thành lập bao nhiêu năm rồi?”
“Ba mươi bảy năm.”
“Đúng.

Đối với một cơ quan nhà nước cũng không phải là quá lâu.

Cũng không nhất định sẽ kéo dài lâu, Chernenko đã từng nói với tôi như vậy, tuy ông chỉ ở điện Kremlin một thời gian ngắn, nhưung đôi khi người bệnh còn nói hay hơn người tỉnh.”
Anh ấy chưa bao giờ nói với tôi điều đó.

Trong thực tế, ông không bao giờ nói điều này trước mặt bất cứ ai, ông luôn dạy tôi rằng KGB là biểu hiện của lòng yêu nước, bởi vì đây là bộ phận cốt lõi nhất với có quan hệ mật thiết tới an ninh quốc gia, bảo vệ an ninh quốc gia là tình yêu cao cả dành cho đất nước.

Logic này hoàn toàn không có tí sơ hở nào.
Ông cười, “Những gì tôi nói với cậu bây giờ là sự thật, và những gì tôi nói khi trước cũng là thật.

Cậu sẽ hiểu thôi.” Ông thở dài, “Cậu đã từng ở Bộ Ngoại giao, cậu biết việc duy trì phẩm giá của một quốc gia không thể chỉ dựa vào ngoại giao là đủ.

Ngoại giao có thể giải quyết vấn đề vì bên kia là người có thiện chí.

Đối phó mấy tay chơi bẩn, phải cần đến chúng ta.

Trên thế giới này có cả người hùng và kẻ hèn.

Nhiều người không thích chúng ta, nghĩ chúng ta hung ác và tàn bạn, đó là bởi vì họ chỉ nghĩ rằng tình báo là đi nghe lén người khác.

Họ không biết đa phần chúng ta vẫn sử dụng rất nhiều phương tiện chính đáng để đấu tranh cho lợi ích quốc gia.”
Tôi gật đầu, “Đúng”
“Nhưng vấn đề của KGB là chức năng của tổ chức này hơi quá tập trung và các hệ thống nội bộ của nó bắt đầu trở nên cứng nhắc để có thể thực hiện đầy đủ vai trò của một cơ quan an ninh quốc gia.

Nhưng hiện nay nhà nước đang trong giai đoạn chuyển đổi nên cũng cần phải đổi mới, nó không thể chỉ là KGB, Cheka hay NKVD mà chúng ta phải có một cơ quan an ninh quốc gia hoàn chỉnh, có hệ thống hoàn hảo, đặc biệt là vào thời điểm đất nước cần sự ổn định nhất.”
Tôi lắc đầu, “Đó không phải là KGB.”
Ông vỗ nhẹ vào đầu tôi, “Ned, ” ông gọi biệt danh của tôi, “Tôi biết ngày xưa chúng ta đã từng tự hào về KGB ra sao.

Nó là vũ khí sắc bén nhất của đát nước, là một trong những cơ quan tình báo vĩ đại nhất trên thế giới, những người có thể làm việc ở đây là những nhân viên tình báo chuyên nghiệp xuất sắc đẳng cấp thế giới.

Ý thức về phẩm giá của nghề này là tối cao.

Nhưng thời gian trôi qua quá lâu, chiến tranh đã kết thúc và KGB không thể chỉ đào tạo gián điệp mãi.

Nó cần thảy đổi nội bộ để thích ứng với nhu cầu mới của đất nước.

Cậu hiểu ý tôi không?”
Tôi cảm thấy hai tay mình lạnh ngắt, “Nhưng… Tôi không thể tưởng tượng mình sẽ ra sao nếu không có nó.”
“Cậu sẽ không mất nó hoàn toàn.

Hơn nữa, trên thế giới này không có gì là không thể.” Ông nhìn tôi chăm chú, “Lúc trước không phải cậu cũng lựa chọn rời khỏi tôi sao?”
Đôi môi tôi run run không dám nhìn ông.
Ông thở dài, “Đó là sự lựa chọn của lịch sử.”
Lúc tôi ra khỏi Sailor’s Silence đã là tám giờ tối.

Tôi trở lại văn phòng và nhờ thư ký soạn thảo một tập tài liệu.

Cô hỏi, “Thưa ông, ông có chắc mình sẽ làm điều đó không?”
Tôi gật đầu, “Đi đi, mau soạn nó càng sớm càng tốt.”
Tôi bước ra khỏi văn phòng, xuống cầu thang và đi dạo vòng quanh từng tầng..

Nhìn ra ngoài cửa sổ, dưới ánh đèn mờ mờ ở đầu đường, có một đôi tình nhân đang hôn nhau.

Tôi nghĩ về tôi và Kchryukov, chúng tôi đã từng có tình cảm thân mật sâu sắc hơn các cặp vợ chồng bình thường.

Sau khi tôi kết hôn với Euni, chúng tôi vẫn giữ mối quan hệ này.

Tôi không cảm thấy chuyện này có gì sai cả, tôi xem ông như anh trai, thầy giáo, như người thân, như tri kỷ, là người tôi có thể sẻ chia bí mật trong cuộc sống của mình.
Trong những năm tháng cô đơn, buồn tẻ “tàng hình” ở vùng đất hoang vu vô danh của Ấn Độ, Iran và Pakistan, tôi biết rằng ngay cả khi tôi phải giữ im lặng trước thế giới, không thể nói với một ai khác.

Tôi và ông đều có sự đồng điệu, miễn là tôi muốn, tôi có thể truyền đạt suy nghĩ của mình bằng mật mã mà chỉ chúng tôi biết.
Đó là điều thú vị về KGB.

Trong thế giới này, có ngôn ngữ chỉ thuộc về hai chúng tôi, chỉ thuộc về tần sống của nhau, một đặc quyền có giá trị, đặc quyển của sự thấu hiểu và tin tưởng.
Thư ký đưa cho tôi tài liệu lúc mười một giờ, tôi sửa lại và in lại một bản rồi fax cho Gorbachev.
Sau đó tôi ép mình ngủ một giấc.

Tôi thức dậy lúc bốn giờ sáng.

Đường phố ngoài màn đêm mù mịt, sương mù dày đặc trôi đi, ánh đèn buổi tối dường như được bao phủ bởi tấm lụa mỏng, tia sáng kia càng thêm mông muội.
Tôi hút một điếu thuốc và su đó đánh thức Bakatin [2]dậy, yêu cầu hắn đến văn phòng gặp tôi.

Tôi cần phải giải thích phần còn lại cho hắn.

Rõ là hắn chưa kịp chuẩn bị, lời nói của tôi gần thư hắn tỉnh dậy khỏi giấc ngủ mơ màng.

Tôi nói rằng đây là việc phải làm, tôi đã gửi các tài liệu cho Gorbachev, và sau khi Điện Kremlin làm việc, tài liệu này sẽ đặt trên bàn ông ấy đầu tiên.

Chúng ta chỉ còn chưa đầy 6 tiếng nữa.
Vào lúc tám giờ ba mươi sáng, Gorbachev gọi điện.

Chúng tôi nói chuyện trong một tiếng đồng hồ và chốt kết quả.
Vào lúc mười giờ, tôi thực hiện những thay đổi cuối cùng, hoàn thiện và in nó một lần nữa.

Nó được đặt nguyên vẹn trên bàn làm việc của tôi, thư ký và Bakatin nhìn tôi ký, đó sẽ là tài liệu duy nhất tôi ký trong ngày.
Vào lúc mười hai giờ, các văn bản được chấp thuận và có đóng dấu từ điện Kremlin.

Tôi yêu cầu thư ký thông báo nó.
Bakatin ở lại, hắn hỏi tôi có muốn dọn dẹp văn phòng của mình không?
Tôi yêu cầu hắn cho tôi chút thời gian.

Tôi không thể mang hết mọi thứ ngay được, kể cả huy hiệu KGB cũng bị bỏ lại.

Tôi chỉ lấy một cuốn tử điển và một cây bút mà Kryuchkov đã tặng tôi.
Tôi ra khỏi văn phòng lúc hai giờ, Bakatin và thư ký tiễn tôi xuống cầu thang.
Bakatin nói, “Anh yên tâm, tôi sẽ giải quyết những chuyện tiếp theo thật ổn thỏa.”
Tôi mỉm cười, “Cảm ơn.”
Hắn thở dài, “Tôi nghĩ đây là sự kết thúc của một kỷ nguyên.

Nó sẽ sống mãi trong trái tim tôi.”
Tôi chào tạm biệt họ và đi qua góc đường nhỏ.

Trước cửa tiệng bánh mì, có hàng dài người đang chờ cứu trợ, mọi người ngửa cổ cầm bình sắt sơn lên cao để thổi bay hơi nóng bên trong.

Một bà già bước về phía tôi, đưa tay ra xin một rúp.

Tôi đã đưa cho bà, và rồi bà nói mọi người cảm ơn anh.
Không ai quan tâm rằng cơ quan tình báo vĩ đại nhất đất nước đã kết thúc trong tay tôi.

Họ cần bánh mì nóng và cuộc sống hòa bình.
Có thể tài liệu tôi đã ký sẽ không giúp họ trực tiếp, nhưng tôi hy vọng bản thân mình đang làm đúng.
Cuộc bạo loạn sẽ chấm dứt, và ánh sáng sẽ đến chiếu rọi vào một ngày nào đó.[1] Sailor’s Silince (Matrosskaya Tishina): Nhà tù Nga, nơi giam giữ các tù nhân chính trị quan trọng, sau sự kiện ngày 19 tháng 8, cựu Chủ tịch KGB Liên Xô Kryuchkov, cựu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô Yazov, cựu Tổng tư lệnh quân đội Liên Xô Valenikov, v.v.
[2] Bakatin: chính trị gia người Nga, được mệnh danh là “kẻ dọn dẹp” làm tan rã KGB.
 
Back
Top Bottom