Cập nhật mới

Đam Mỹ Chứng Bệnh Khiến Vạn Người Say Đắm Giữa Chốn Quyền Uy

Chứng Bệnh Khiến Vạn Người Say Đắm Giữa Chốn Quyền Uy
Chương 140


Ngài Saito đã nói đó là ban ân, vậy thì, tất nhiên, chính là ban ân.

Người lính canh vừa nãy còn buột miệng nói lời xua đuổi, giờ trong lòng thấp thỏm bất an, mồ hôi lạnh túa ra ướt đẫm lưng, cái dáng vẻ kiêu căng, ngạo mạn khi đối mặt nô lệ lúc trước hoàn toàn biến mất.

“Sa–Saito đại nhân! C–Con mèo này… không phải loại mèo bình thường đâu ạ!”

Hắn quỳ sụp xuống đất, hai tay chống trên cát nóng, trán dán chặt vào mặt đất. Giọng nói vì sợ hãi mà run rẩy, song hắn cố cất cao thanh âm, mong sao sự nịnh bợ của mình nghe ra thật thành khẩn:

“Nó nhất định là sứ giả của thần linh! Chỉ có ngài, người được Minh giới che chở, mới xứng đáng nhận được sự ban ân thiêng liêng như vậy! Vuốt của nó chạm vào máu thịt ngài, ấy là đang truyền xuống thánh ý và lời chúc phúc của thần!”

Ánh mắt băng lạnh của Anubis lướt qua người lính canh. Dường như hắn rất hưởng thụ việc người kia tin rằng chỉ có hắn mới xứng nhận được sự ban ân ấy.

Bằng giọng điệu phẳng lặng, Anubis hiếm khi mở miệng:
“Ngươi nói cũng không tệ.”

Người lính canh đột nhiên ngẩng đầu, liếc thoáng qua con mèo trắng, rồi lập tức cúi gập xuống, yết hầu giật khẽ, cố tiếp lời:
“Vừa rồi tôi ngu dại suýt nữa xúc phạm đến sự ban ân thần thánh này. Xin cho phép tôi được chuẩn bị một chút cống phẩm… Không, không phải dâng cho con mèo, mà là dâng lên ngài, thưa đại nhân! Để cảm tạ việc ngài đã dẫn dắt thần tích giáng lâm!”

“…… Ừm.”

Anubis lướt nhìn qua hắn.

“Được rồi, đi đi. Gọi quan giám sát tới gặp ta.”

Vị vương gia trẻ tuổi, cao lớn nói dứt khoát.

Là một trong những người con trai rạng rỡ nhất giữa muôn huynh đệ của Pharaoh Lahotep Thượng Ai Cập, Saito tuy chưa hoàn toàn bước chân vào chính giới, nhưng được Bạch Vương đích thân ban tặng danh hiệu “Bàn tay Vương quyền”. Nhờ đó, hắn có thể thay mặt Bạch Vương xử lý mọi việc liên quan đến tôn giáo, quân vụ và chính trị, đi lại tự do giữa hai lĩnh vực này.

Hôm nay, hắn đích thân đến mỏ đá Aswan, điều ấy đồng nghĩa hắn mang theo ý chỉ của Pharaoh.

Người lính canh không rõ rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì, chẳng lẽ đá họ khai thác vận chuyển theo sông Nin không đạt yêu cầu của Pharaoh sao?

Nhưng những câu hỏi như vậy, hắn tuyệt nhiên không dám mở miệng.

“Tuân lệnh, Saito đại nhân.” — Hắn cung kính cúi đầu.

Anubis cúi đầu. Chiếc mặt nạ chó rừng đen tuyền hiển nhiên được chế tác riêng cho hắn, che nửa khuôn mặt, ôm khít thái dương và gò má. Đôi tai chó dựng đứng như hai lưỡi dao sắc, những hoa văn mạ vàng khắc ngay trên đôi mắt.

Hắn cúi xuống nhìn con mèo trắng, rồi cẩn trọng, nhẹ nhàng đưa tay đỡ lấy, ôm trọn trong lòng.

Tuy tuổi của Anubis, nếu quy đổi sang người hiện đại, cũng chỉ vừa tròn độ tuổi thanh niên, nhưng những năm tháng rèn giũa trong huấn luyện khắc nghiệt, cùng bao lần phi thân nơi sa mạc đấu cùng thú dữ, đã tạo nên cho quý tộc trẻ này một cơ thể rắn chắc, vững chãi mà không phô trương, những cơ bắp uốn lượn tự nhiên như những nhánh sông Nin.

Hơi ấm từ thân thể ấy truyền qua lớp da thịt, lan sang nơi Tân Hòa Tuyết đang nằm.

Loài mèo lông dài vốn chẳng thích hợp sống trong cái nóng khô cháy của Ai Cập, may thay Tân Hòa Tuyết chẳng phải một con mèo thật sự, y là sinh vật được nữ thần Bast ban phước mà thành.

Dù oi bức, nhưng y vẫn chịu đựng được.

Tân Hòa Tuyết cựa mình trong vòng tay Anubis, đổi tư thế, bàn chân mềm đạp nhẹ, để lại vệt dấu chân trên làn da người hắn.

Khi Anubis xoay người rời đi, giữa đám nô lệ đang quỳ rạp, có kẻ khẽ cất tiếng:
“Saito đại nhân, con mèo đó vốn là do tôi cưu mang…”

Gió nóng mang đi câu nói, chỉ để lại tiếng cười nhạt, lạnh lùng đáp lại.

Từ cánh tay Anubis, mèo trắng hé đầu ra, liếc nhìn kẻ nô lệ bất hạnh một cái.

Nubu đáng thương, chỉ biết trơ mắt nhìn vị thần mà mình tôn thờ bị quý tộc đoạt mất.

Nhưng y vốn chỉ là một con mèo nhỏ, làm sao hiểu được nỗi lòng đau khổ của kẻ nô lệ?

Tân Hòa Tuyết lười biếng ngáp một cái, để lộ hàm răng nhỏ trắng muốt, bén nhọn và chiếc lưỡi hồng nhạt, đôi đồng tử đỏ ánh lên dưới nắng hơi co lại, phản chiếu thứ ánh sáng nhạt màu như thể mọi thứ trần gian này chẳng có gì đáng bận tâm.

.........

Để đón tiếp Saito đại nhân từ xa xôi đến, một chiếc lều lớn bằng vải lanh trắng được dựng lên bên rìa mỏ đá, nơi tránh gió và nắng gắt giữa sa mạc.

Bốn phía lều được chống bằng những cột gỗ khảm vàng và hồng ngọc. Trên đỉnh vải thêu hình tượng Anubis uy nghiêm. Mặt đất trải thảm da thú mềm mịn, trong không khí lan tỏa hương trầm thoang thoảng. Ở trung tâm là chiếc ghế dài mạ vàng, phủ đệm vải lanh êm ái, bên cạnh là bàn gỗ bày sẵn những cuộn giấy cói, bình gốm tinh xảo và ấm nước được trau chuốt tỉ mỉ.

Anubis ngả người trên ghế, một tay vắt lên lưng ghế, tay kia lười nhác đặt lên đầu gối. Toàn thân hắn như một con báo đen đang nghỉ ngơi sau khi săn mồi.

Người hầu cúi đầu cung kính, dâng lên bàn một mâm đầy ắp trái cây.

Những quả sung chín căng mọng, vỏ xanh đậm, thịt hồng phơn phớt, nứt nhẹ để lộ phần ruột đỏ au, nho đỏ tím xếp thành từng chùm như núi nhỏ, vỏ quả còn đọng lớp sương trong suốt, bên cạnh là thạch lựu bổ đôi, hạt đỏ lấp lánh như đá quý tươi máu.

Một hạt được đưa đến bên miệng con mèo trắng.

Anubis gần như với vẻ cung kính, trầm giọng nói:
“…… Xin ngài nếm thử.”

Con mèo nhỏ ngạo nghễ nâng cằm, để người hầu chó rừng đút trái cây tận miệng.

Tân Hòa Tuyết nhấm nháp, cảm nhận vị ngọt thanh, hương vị không khác mấy so với thạch lựu của thời sau.

Loại trái cây biểu trưng cho sự sung túc này vốn là thứ hiếm hoi trong Ai Cập cổ đại, chỉ tầng lớp quý tộc hoặc hoàng gia mới được thưởng thức, thường dùng dâng lên các vị thần trong lễ cúng tế.

Đột nhiên, đôi tai trắng muốt của y khẽ động. Tân Hòa Tuyết nghe thấy, bên ngoài lều, có tiếng bước chân tiến lại gần.

Vị đặc sứ(*) được mệnh danh là “Bàn tay Vương quyền” dường như rất tự tin vào địa vị và quyền lực của mình, cũng không thích rườm rà, nên chỉ dẫn theo hai hộ vệ thân tín. Họ dừng lại bên ngoài lều, đứng gác nghiêm cẩn.

(*) Đặc sứ là một đại diện cấp cao của một quốc gia

Khi người đến bị hai mũi giáo chặn lại, hắn nơm nớp lo sơ nhìn đầu mũi giáo lạnh lẽo lóe sáng, mới vội vàng thể hiển nhiên thân phận quan giám sát của mình. Hai tên hộ vệ nhìn nhau, vô cảm thu vũ khí lại:
“Mời vào, quan giám sát đại nhân.”

Quan giám sát không dám tỏ chút bất mãn nào với hai vị hộ vệ đi theo Anubis, thậm chí còn cố gượng cười:
“Hai vị đại nhân, vất vả rồi.”

Bước vào trong, hắn lập tức cúi đầu thật sâu, hướng về phía Anubis hành lễ:
“Ngài Saito vĩ đại, hóa thân của Minh giới, người hộ vệ trung thành nhất của Pharaoh, thần xin kính cẩn bẩm báo công việc.”

Người Ai Cập, khi xưng hô với bậc trên, luôn thích thêm vào vô số danh hiệu tôn vinh.

Tân Hòa Tuyết ngồi ngay ngắn trên ghế dài, lặng lẽ quan sát.

Saito vẫn bất động, không có phản ứng gì với quan giám sát, dường như chẳng buồn để ý đến sự có mặt của người mới đến.

Quan giám sát ngược lại, thở phào nhẹ nhõm, hắn cúi người, trải cuộn giấy cói ôm trong lòng ngực.
“Hiện mỏ đá có tổng cộng 120 nô lệ, trong đó 40 người là thợ đá lành nghề, còn lại 80 người phụ trách khuân vác và các việc phụ. Hôm nay, mỏ đã khai thác được 25 khối đá lớn, trong đó 15 khối đã được tạo hình, chuẩn bị vận chuyển đến Thebes, dùng xây dựng đền thờ của Pharaoh. 10 khối còn lại đang được chỉnh sửa, khuân vác, dự kiến trong ba ngày tới có thể khởi hành. Xin ngài yên tâm, nô lệ ngày đêm lao động, không ai dám lười biếng hay chậm trễ.”

Thebes hiện giờ kinh đô mới của Thượng Ai Cập.

Tân Hòa Tuyết chợt nhớ lại đoạn cốt truyện trong kịch bản y từng biết:

Người Ai Cập cổ rất coi trọng huyết mạch thuần khiết, nên hôn nhân giữa anh chị em hoàng tộc không hề hiếm. Thậm chí trong thần thoại, chín vị thần cũng là anh chị em kết đôi với nhau.

Thần Mặt Trời tạo ra hai người con: Thần khí Shu và nữ thần sương Tefnut. Họ sinh ra Thần Đất Geb và Nữ thần Trời Nut. Nut lại sinh bốn người con cho Thần Đất Geb: Thần Minh giới Osiris và nữ thần phép thuật *S*S là một đôi, thần sức mạnh Seth kết duyên cùng nữ thần tang lễ Nephthys.

Dựa theo kịch bản tóm tắt, Pharaoh đời trước và Vương hậu là anh em ruột, cùng nắm quyền, sinh đôi một cặp song sinh, chính là Hồng Vương và Bạch Vương sau này. Nhưng vì tranh quyền và mâu thuẫn vợ chồng, Vương hậu rời bỏ triều đình, mang theo tín ngưỡng thờ Osiris ở thủ đô Abydos, dùng thế lực địa phương và các quan tư tế lập nên Hạ Ai Cập với thủ đô Butto, khiến đất nước chia đôi.

Cho đến ngày nay, dù quyền lực đã truyền sang hai vị Pharaoh mới, Thượng và Hạ Ai Cập vẫn tranh đấu không dứt, bên nào mới là dòng máu chính thống được thần linh thừa nhận.

Sau khi kế vị, vị Pharaoh Thượng Ai Cập đầu tiên đã bắt đầu cải cách: dời đô đến Thebes và khởi công xây dựng những ngôi đền mới.

Mèo trắng nghe báo cáo, chẳng mấy hứng thú, chỉ lười biếng nằm dài trên ghế dài.

Quan giám sát dè dặt ngẩng đầu, cố nhìn nét mặt của Saito.

Nhưng đằng sau chiếc mặt nạ chó rừng đen nhánh ấy, hắn chỉ thấy đôi đồng tử sắc như kim loại, màu nâu đồng không chứa lấy một tia cảm xúc.

Quan giám sát vội vàng cúi đầu.

Hai năm trước, hắn từng được triệu đến thủ đô Abydos khi vị Pharaoh tiền nhiệm lâm bệnh nặng. Khi ấy, hắn có dịp chứng kiến Saito – vị vương tử trẻ tuổi, tay không vật lộn cùng sư tử, trên môi nở một nụ cười kiêu hãnh khiến tất cả những kẻ chứng kiến đều phải rợn người.

Thế nhưng trong lòng hắn, có người đồn đãi vị vương tử này lúc sinh ra, dưới ánh trăng dâng cao khiến mẫu thân vì khó sinh mà chết, thế nên nỗi sợ hãi dành cho người này chưa từng có tiền lệ.

Saito đại nhân...

Trong đôi mắt của vị vương tử ấy, không tồn tại chút cảm xúc nào thuộc về con người. Hắn như một con chó rừng của sa mạc, là loài dã thú chân chính ăn thịt đồng loại. Khi đối mặt với sư tử, hắn chẳng khác gì một loài thú săn thật sự.

Nhưng cũng vì không có nhân tính, hắn không có tham vọng cá nhân, không hiểu mưu mô của loài người. Một kẻ như vậy, trung lập giữa thần và thú, lại là thanh gươm hoàn hảo nhất trong tay Pharaoh.

Quan giám sát sau khi cung kính báo cáo xong, lau vội mồ hôi trên trán, thấy Anubis không có biểu hiện gì khác thường mới cẩn trọng lui ra.

Anubis ngẩng đầu, giọng nói vô cảm vang lên:
“Pharaoh sẽ đáp thuyền Mặt Trời, đến đây vào lúc hoàng hôn.”

Đôi chân quan giám sát như mềm nhũn, suýt ngã quỵ xuống đất:
“Thần… thần sẽ lập tức sắp xếp mọi thứ để nghênh đón. Cam đoan không sơ suất một điểm nào. Tất cả nô lệ, lính canh và quan viên sẽ tập hợp đầy đủ, chờ đón thánh giá của Pharaoh.”

………

Khi hoàng hôn gần buông, tin tức được truyền xuống mỏ đá, toàn bộ nô lệ được cho phép nghỉ sớm.

“Lũ sâu bọ các ngươi! Mau đi tắm rửa sạch sẽ cho ta, gột bỏ cái mùi thối nát trên người đi!”

Nubu đứng giữa đám đông, nghe thấy tin tức ấy.

Lính canh ở mỏ đá không nhiều lắm. Cho nên sự xuất hiện của Pharaoh có nghĩa là tối nay toàn bộ lính gác sẽ tập trung quanh khu vực yến tiệc nghênh đón, khiến cho việc tuần tra ở các khu khác trở nên lỏng lẻo, một cơ hội hiếm có đối với hắn.

Một người thợ trong nhóm lặng lẽ liếc nhìn Nubu, rồi nhanh chóng lướt qua, hai bàn tay họ khẽ chạm vào nhau trong khoảnh khắc.

Nubu nhận được một túi bột lưu huỳnh mịn, còn người kia được hắn trao lại một mảnh vàng nhỏ, đó là góc vỡ từ món tín vật mẹ hắn để lại.

Trong lòng bàn tay Nubu là một tấm bùa hộ mệnh chạm khắc tinh xảo: một mặt là hình sư tử, mặt còn lại khắc lời chúc phúc bằng chữ tượng hình Nubia. Bùa có bốn góc, nhưng một góc đã sứt mẻ.

Hắn khẽ vuốt ngón tay lên chỗ gãy, không nói một lời.

………

Trên mặt sông Nin, từng đợt sóng lăn tăn phản chiếu ánh hoàng hôn cuối cùng, rọi lên con thuyền dát vàng đang lững lờ trôi đến như một mặt trời rơi xuống giữa dòng nước.

Khi đêm buông xuống, tiếng nhạc vang lên từ lều lớn trung tâm mỏ đá.

Trên bàn dài, các món ăn được bày biện phong phú: chân dê nướng thơm phức, cá bọc trong lá sen vàng ươm, chim bồ câu nhồi hỗn hợp mật ong, hạt khô và quả chà là, hương rượu hòa cùng mùi thịt béo lan tỏa khắp không gian.

Pharaoh của Thượng Ai Cập ngồi giữa bàn tiệc. Dưới ánh sáng chập chờn của đèn dầu, khuôn mặt hắn vừa hiền hòa điềm tĩnh, vừa toát ra vẻ uy nghi tự nhiên của một đấng vương giả.

Lahotep nâng chén rượu ngọt, khẽ nhấp một ngụm.
“Vị mát lạnh, hương thơm tinh tế. Không tệ.”

Quan giám sát và quan ghi chép đồng loạt tán tụng, lời nịnh hót vang lên nối tiếp nhau.

Vị vương trẻ quay đầu về phía nhà chiêm tinh đang ngồi bên cạnh.

Quan chiêm tinh cúi mình, giọng nghiêm nghị:
“Nửa tháng trước, thần quan sát thấy sao Thiên Lang giao nhau với chòm Orion. Lại có một vì sao lạ tỏa ánh đỏ sẫm cắt ngang bầu trời đêm. Quỹ đạo của nó, thật kỳ diệu, trùng khớp hoàn toàn với hướng của mỏ đá này. Điều đó có thể là điềm báo: sâu trong lòng đất nơi đây, ẩn giấu mệnh lệnh của thần linh, hoặc là tiếng vọng của Minh giới.”

“Quan giam sát, ngươi có phát hiện điều gì bất thường trong mỏ đá không?”

Giám sát quan chưa kịp mở miệng, thì Anubis đột ngột đứng bật dậy:
“Không thấy.”

Cả bàn tiệc lặng đi. Tầm mắt Lahotep chuyển sang nhìn người anh em bỗng nhiên trở nên kỳ lạ:
“Saito, em nói gì?”

“Nephthys.” Saito trực tiếp hô tên vị thần lên, tìm kiếm bóng dáng màu trắng ấy khắp nơi:
“........Không thấy.”

Gần như ngay khi lời nói vừa dứt, tiếng nổ rung chuyển vang lên từ xa.

Một khối đá lớn vỡ tung, ngọn lửa bốc lên ngùn ngụt, soi rực cả góc mỏ đá tây bắc.

……

Vách đá đã bị nung đỏ, tỏa ra sức nóng rát bỏng. Đám nô lệ leo lên đến chỗ cao, chuẩn bị đổ một thùng lớn nước lạnh từ hồ chứa xuống để hạ nhiệt lớp đá.

Nubu cầm trong tay một mảnh vải đang cháy, ném vào khe đá chất đầy bột lưu huỳnh, rồi nhanh chóng lùi lại, tránh để ngọn lửa bén vào người.

Vài giây sau...
“Ầm!!!”

Một tiếng nổ dữ dội vang lên, khiến cả mỏ đá rung chuyển như có động đất. Dưới ánh lửa cuồn cuộn, khói đen bốc cao, Nubu nghe thấy tiếng la hét kinh hoàng của đám lính canh.

Đáng lẽ hắn phải lập tức bỏ trốn, nhưng giữa đống đá vỡ vụn, ánh sáng phản chiếu lên bức bích họa ẩn sâu trong vách đá khiến hắn sững người, không thể rời mắt.

Phía sau truyền đến tiếng rên đau đớn, đồng bọn của hắn bị đá sập đè nặng. Nubu lao tới, cố hết sức dọn những tảng đá nóng bỏng, nhưng người kia đã bị thương nặng, máu tươi trào ra từ miệng, sắc mặt tái nhợt đến mức gần như xám xịt. Thoại nhìn như sinh mệnh sắp tắt.

Khi hắn cúi xuống, nơi khóe mắt thoáng thấy trong bụi cát có một đôi chân trần trắng muốt, gần như trong suốt. Những đường mạch máu xanh lam mờ ảo chạy dưới làn da, còn vạt áo dài chạm nhẹ xuống nền đất.

Giọng nói dịu nhẹ của Tân Hòa Tuyết vang lên:
“Để đó cho tôi.”

Nubu ngẩng đầu.

Bóng người kia khoác áo choàng đen, nửa khuôn mặt ẩn trong bóng tối, chỉ lộ ra chiếc cằm trắng như ngọc.

Không hiểu vì sao, Nubu lại không dám nhìn thẳng vào đôi mắt đó, như bị một thứ lực vô hình buộc phải né tránh.

Tân Hòa Tuyết cau mày. Y đỡ lấy gáy của người nô lệ bị thương, tháo ra từ cổ mình một chiếc bình hồ lô nhỏ.

Đó là nước thánh, thứ y vừa dùng 100 điểm trong cửa hàng hệ thống để đổi lấy. Lượng không nhiều, chỉ còn vài giọt.

Một giọt nước thánh trong suốt rơi xuống đôi môi khô nứt của người nô lệ, chảy dọc xuống cổ họng. Chẳng mấy chốc, sắc mặt người kia dần hồng hào trở lại, máu cũng ngừng tràn ra ngoài.

Nhưng tiếng bước chân lính gác đã đến gần. Ánh đuốc nhấp nháy soi sáng quanh khu vực. Trước mắt họ, một bức bích họa khổng lồ vừa lộ ra từ đá núi. Hai sắc đỏ và trắng va chạm, hòa quyện đến cực độ, cùng nội dung trên đó khiến người xem không khỏi thì thầm bàn tán.

Điều khiến người ta chú ý hơn cả, chính là bóng dáng người mặc áo choàng trắng đứng giữa Hồng Vương và Bạch Vương.

Có một tên lính lấy lại tinh thần hét lớn:
“Là ai phóng hỏa?!”

Mũi giáo lóe sáng trong bóng đêm giữa ánh lửa lập lòe. Một kẻ trong nhóm nhận ra, gào lên:
“Nubu! Đồ nô lệ đáng chết!”

Bên cạnh hắn, bóng người áo choàng trắng khẽ xoay đầu lại.

Gió từ hướng sông Nin thổi tới, mang theo hơi ẩm lạnh lẽo, phất qua mặt mọi người. Mũ choàng của kẻ đó bị gió lật tung, để lộ mái tóc dài trắng ánh bạc tuôn chảy như thác nước, cùng mũ áo choàng rơi xuống.

Mái tóc ấy của thanh niên mang theo màu của ánh trăng, sáng lấp lánh như ngân hà đang chảy.

Đôi mắt hồng nhạt, thờ ơ quét qua đám lính gác đang khựng lại trong nỗi sợ hãi.

Chưa kịp để họ phản ứng, một cơn gió mạnh bất ngờ ập tới, khiến ánh lửa lay động dữ dội.

Tân Hòa Tuyết bất ngờ bị một sức mạnh khổng lồ đè ngã xuống đất. Một thân thể tráng kiện phủ bóng đen, mặt nạ chó rừng lạnh băng, ghé sát vào cổ y, giọng khàn khàn trầm thấp:
“Đã tìm thấy ngài rồi, Nephthys.”

“Cái gì?” — Tân Hòa Tuyết không hiểu ý hắn nói, khẽ cau mày đáp lại:
“Anh có thể… đứng dậy được không? Anh đang đè tôi.”

Saito run lên. Yết hầu hắn căng chặt, toàn thân như dồn nén vô vàn cảm xúc. Hoảng loạn nói:
“Đây là sai lầm của tôi.”

Cuối cùng, hắn quỳ xuống trước Tân Hòa Tuyết, run rẩy nắm lấy bàn tay tái nhợt kia, đặt l*n đ*nh đầu mình.
“Xin người trừng phạt tôi, thưa Mẫu thần.”

__________________

Chú giải:
Về Anubis, có hai phiên bản, một nói ngài là con của Nephthys và Seth, một nói là kết quả của mối tình vụng trộm giữa Nephthys và Osiris. Ở phiên bản này, tác giả chọn theo truyền thuyết thứ hai.

Bối cảnh thế giới nhỏ này là một “Ai Cập phàm thế” — nơi các vị thần không thực sự tồn tại, chỉ có những “hóa thân thần thánh”. Tín ngưỡng ở đây đóng vai trò củng cố quyền lực thống trị, chứ không phải thần thoại thực thụ.

P/s : >Tuy đây là cổ đại, nhưng mình sẽ dịch theo văn phong trong truyện Dấu Ấn Hoàng Gia nha.
 
Chứng Bệnh Khiến Vạn Người Say Đắm Giữa Chốn Quyền Uy
Chương 141


Đó là một đêm mà không ai trong số họ có thể quên được.

Bầu trời đêm trong suốt không vương một gợn mây, ánh tím thẳm bao phủ lấy vòm trời, khiến từng vì sao đều hiện lên rõ ràng và ở góc Đông Nam, ngôi sao Thiên Lang sáng rực, treo cao nơi bầu trời.

Gió từ phía sông Nin thổi tới, mang theo hương cỏ cây ẩm ướt. Những tán cọ và lau sậy khẽ đung đưa, phát ra tiếng xào xạc.

Ánh lửa phản chiếu trên gương mặt Tân Hòa Tuyết, làn da trắng đến chói mắt trong đêm. Người dân sông Nin cả đời chưa từng thấy làn da nào như thế, chỉ có những ai từng leo l*n đ*nh núi Thánh Catherine trên bán đảo Sinai, vào ngày hiếm hoi có tuyết rơi, mới biết màu trắng ấy trông ra sao.

Ngọn lửa cháy rực, phản chiếu lên vách đá đỏ hừng hực. Nhiệt tỏa ra bỏng rát, nhưng ánh sáng ấy đủ để mọi người trông rõ bức bích họa vừa lộ ra trên mặt đá.

Trên nền đá đen thẫm, lớp than chì phản chiếu ánh bạc mờ mờ, khắc họa hình ảnh một sứ giả thần thánh mảnh khảnh bí ẩn, khoác lên mình tấm áo choàng trắng mảnh. Cả hai tay y nâng cao một cây trượng biểu trưng cho quyền lực, vương quyền, đứng giữa hai người đội vương miện đỏ và trắng, hai biểu tượng của Thượng và Hạ Ai Cập.

Từ mũi chân của người ấy, dòng sông Nin uốn lượn chảy về phương Bắc, giữa sóng nước hiện lên những khóm cỏ xanh mướt và hoa sen lam nhạt, biểu tượng cho phồn thịnh và tái sinh.

Sau lưng vị thần sứ là một vòng tròn vàng rực rỡ, biểu tượng của mặt trời. Bên trong khắc đầy văn tự tượng hình xanh biếc, toát ra khí tức thần linh cổ xưa.

Quan chiêm tinh nghiêm trang tiến lên, đọc lớn dòng chữ khắc trên đá. Giọng ông vang vọng trong đêm, âm điệu độc đáo của tiếng Ai Cập cổ mang theo nhịp điệu huyền bí, mỗi âm tiết như một nghi thức tế lễ, vọng lại trong không trung với sự trang nghiêm thiêng liêng.

“Khi ấy, sứ giả của thần giáng trần, trắng như ánh trăng, đỏ như bình minh.”

“Ngài đến để dập tắt chiến tranh, khiến dòng sông Nin tràn đầy nước, mang phì nhiêu và no ấm đến khắp nhân gian.”

“Ngài sẽ chọn ra ‘vị vương chân chính duy nhất’, ban cho người ấy hòa bình và thịnh vượng.”

Giọng quan chiêm tinh càng đọc, ánh mắt càng tràn đầy kính ngưỡng. Cuối cùng, quan chiêm tinh cúi đầu thật sâu nhìn Tân Hòa Tuyết, rồi quay sang vị vua đang đứng giữa vòng người, vội vàng xin chỉ thị:
“Pharaoh…”

Những ngọn đuốc được nhóm lính canh giơ cao thành vòng tròn, soi sáng khắp nơi từ những mảng đá vụn đến sự việc hỗn loạn kia. Giữa ánh sáng chập chờn, Pharaoh Lahotep bước ra chậm rãi.

Vị quốc vương trẻ tuổi có gương mặt sáng sủa giống hệt phụ thân mình, nhưng trong ánh mắt lại ẩn chứa nét ôn hòa dịu dàng thừa hưởng từ mẫu hậu, sự kết hợp ấy khiến người ta vừa muốn kính trọng, vừa dễ sinh lòng tin.

Khác với Anubis, người có mái tóc đen ngắn gọn gàng phủ đến cổ, Lahotep búi tóc cầu kỳ theo nghi lễ vương triều. Phía đuôi tóc được cố định bằng vòng vàng, những lọn tóc xoăn nhẹ buông xuống sau vai.

Phần trên thân thể hắn cường tráng, làn da nâu khỏe mạnh được tô điểm bởi vòng cổ vàng và lam ngọc. Từ eo trở xuống, hắn mặc khố truyền thống của hoàng tộc, viền chỉ vàng khắc hoa văn uốn lượn, xếp thành từng tầng nếp gấp rủ đến gối, tôn lên dáng đứng vững chãi và phong thái vương giả.

Ánh mắt Lahotep lướt qua bức bích họa rực rỡ, cuối cùng dừng lại ở chàng thanh niên tóc bạc trắng đang đứng yên giữa ánh lửa.

Pharaoh giơ tay, thực hiện một động tác vừa tôn kính, vừa giữ nguyên dáng vẻ uy nghiêm của bậc đế vương. Đối diện với Tân Hòa Tuyết, hắn ôn hòa nói:

“Thần sứ đại nhân, sự xuất hiện của ngài hẳn là lời đáp cho lời triệu hoán của Thượng Ai Cập.”

Lahotep chìa tay ra, cung kính nói:
“Mời ngài cùng ta trở về Thebes. Dân chúng nơi đó đang chờ đợi sự chỉ dẫn của ngài, họ khẩn cầu sự chỉ dẫn của thần linh.”

Hắn mời vị sứ giả của thần, đi đến đế đô của Thượng Ai Cập.

Tân Hòa Tuyết hơi hơi nheo mắt, khóe mi cong lên như loài mèo cảnh giác, rồi lại dần thả lỏng. Sự đề phòng tan biến, chỉ còn lại vẻ điềm tĩnh như mặt hồ dưới trăng.

Bàn tay trắng nõn khẽ đặt vào lòng bàn tay ấm áp của Lahotep.

.......

Cánh tay ấy lại bị Saito Anubis giành lấy.

Động tác của Lahotep khựng lại trong thoáng chốc, sắc mặt khó dò:
“Em như vậy thật quá vô lễ, Saito.”

Vị vương tử mang mặt nạ chó rừng hoàn toàn không bận tâm đến lời khiển trách của anh cả. Saito nắm chặt lấy tay phải của Tân Hòa Tuyết, cố chấp như một đứa trẻ lạc đường vừa tìm lại được vòng tay của mẫu thân.

“Nephthys.”

Saito khẽ cúi đầu, đứng canh bên cạnh chàng thanh niên, không rời nửa bước.

Lahotep hiểu rất rõ em trai mình, tư duy của đối phương không thể dùng lý lẽ thông thường mà giảng giải.

Hắn đành buông bỏ việc tranh giành bàn tay của thần sứ, xoay người hướng về đám người đang quỳ quanh, giọng trầm ổn vang vọng giữa những vách đá trong mỏ:

“Điềm báo đã giáng xuống, Thần Mặt Trời đã tỏa ánh sáng rực rỡ soi khắp đất Thượng Ai Cập. Kẻ nào chứng kiến điềm lành này, từ nay phải dâng trọn lòng trung thành và tín ngưỡng cho thần sứ.”

Tiếng vũ khí va chạm lách cách, hàng thủ vệ cùng quan lại đồng loạt quỳ rạp xuống, mang theo sự sùng kính trước thánh ý.

“Thần sứ đại nhân, chúng thần xin nguyện dâng trọn lòng trung thành và mạng sống để bảo hộ từng bước chân của ngài.”

“Trên mảnh đất được ánh hào quang của ngài chiếu rọi, chúng thần sẽ vĩnh viễn tuân theo lời hiệu triệu(*), tiếp nhận sự chỉ dẫn của ngài.”

(*) kêu gọi quần chúng đông đảo làm một việc gì có ý nghĩa chính trị cấp bách.

Dẫu biết trong nền văn minh cổ đại này, niềm tin dành cho thần linh mãnh liệt đến nhường nào, Tân Hòa Tuyết — một người sinh ra trong thời đại vô thần — vẫn không khỏi có phần lúng túng.

Khóe môi y khẽ nhếch lên, nụ cười gượng gạo mà bất đắc dĩ.

Y khép lại áo choàng dài, đuôi áo trắng xóa như tuyết nhẹ rũ sau lưng. Chiếc đuôi nhỏ mềm mại, giống như tai mèo, vẫn chưa kịp thu hồi, khẽ động đậy không tiếng động.

Giọng nói máy móc, buồn bã của K vang lên:

【Meow meow meow meow meow meow meow meow meow meow meow meow meow.】

Tân Hòa Tuyết: 【?】

Hệ thống nghiêm túc tự phiên dịch:
【Ánh lửa của thần thánh sáng ngời, hào quanh thần thánh rực rỡ. Mọi tín đồ của ta, meow meow meow meow.】

Tân Hòa Tuyết: 【……】

Tân Hòa Tuyết: 【Không được bắt chước tiếng mèo.】

Dáng vẻ của y nửa tức giận nửa bất lực, như một con mèo nhỏ đang chịu đựng việc con người phát âm sai ngữ pháp loài mình.

………

Trong khi đó, tại mỏ đá, những tàn dư sau vụ nổ được dọn dẹp. Bọn thủ vệ bắt giữ Nubu cùng tên nô lệ bị đá đè không thể chạy thoát, hai kẻ bị xem là tội nhân gây nguy hiểm cho pharaoh. Theo lẽ thường, một sự cố như vậy trong ngày đức vua xuất hiện, chắc chắn sẽ bị xem là âm mưu ám sát.

Tân Hòa Tuyết liền cầu xin Lahotep tha tội cho họ.

“Nếu không có bọn họ, thánh ý cũng sẽ không được tuyên cáo kịp thời trong đêm nay.”

Vị pharaoh trẻ tuổi, khuôn mặt rạng rỡ khí khái anh hùng, mỉm cười.
Ngài tuyên bố với giọng điệu đầy bao dung:

“Ta đặc xá cho hai tên nô lệ này. Sẽ thả hai tên nô lệ đến từ Nubia đến Aswan, nơi biên giới phía Nam.”

Nói rồi, Lahotep quay lại nhìn về phía Tân Hòa Tuyết.
“Iah, cách xử lý như vậy, ngài cảm thấy thế nào?”

Tân Hòa Tuyết khẽ rũ mi, hàng mi dài run lên. Hơi sương đêm thấm lạnh khiến y cảm thấy đôi chút buồn ngủ.

Tên của y vốn khó phát âm đối với người Ai Cập, nên khi Lahotep hỏi, y đã ngập ngừng trong chốc lát. Khoảng dừng ngắn ngủi ấy khiến pharaoh hiểu lầm, tưởng rằng tên thật của thần sứ không thể tùy tiện tiết lộ, bởi nếu làm vậy, sức mạnh thần thánh sẽ bị tước mất, như lời truyền trong truyền thuyết về Thần Mặt Trời.

Trong tín ngưỡng tôn giáo của Ai Cập cổ, “tên” không chỉ là dấu hiệu nhận biết mà là sợi dây liên kết trực tiếp với linh hồn, quyền năng và vận mệnh của một người.

Vì thế, để tiện xưng hô mà không mạo phạm thần linh, Lahotep đã chọn gọi y là Nefer Iah - “Ánh trăng mỹ lệ”.

Đôi mắt trong trẻo của Tân Hòa Tuyết như ánh trăng phản chiếu trên mặt hồ, y bắt đầu chú ý đến Lahotep.

“Ngài là một vị quân vương nhân từ.”

Ánh lửa hắt lên gương mặt pharaoh, khiến khóe mắt hắn ánh lên những xúc cảm sâu thẳm không thể gọi tên.

“Iah hẳn cũng đã mệt rồi. Vậy xin ngài hãy nghỉ ngơi trước.”

“Ngày mai, khi mặt trời lên đến đỉnh trời, thuyền tuần du(*) sẽ xuất phát từ mỏ đá Aswan, xuôi theo dòng Nin, tiến về Thebes.”

(*) nghĩa là đi khắp nơi để xem xét, kiểm tra tình hình thực tế ở các địa phương, đặc biệt là vua hoặc người cầm quyền đi thăm các vùng xa kinh đô để nắm bắt cuộc sống nhân dân và trật tự xã hội

………

Khu mỏ đá xung quanh chỉ toàn là cát và sa mạc, cách xa vùng trũng xanh tươi của sông Nin cùng đô thành Thebes phồn hoa. Ở nơi khắc nghiệt này, vì nghênh đón sự ghé thăm của Pharaoh, quan giám sát cùng đám người hầu và thợ thủ công đã phải gấp rút tu sửa lại dinh thự và vài tòa kiến trúc lớn, để làm chỗ ở cho nhà vua, thần sứ cùng các quý tộc tùy tùng.

Khu nhà nơi Tân Hòa Tuyết được an bài nghỉ lại, thậm chí còn có cả một bể tắm nhỏ nằm trong vườn hoa phía sau.

Bể tắm được bao quanh bởi hàng rào lá cọ và tường đá, kín đáo như một ốc đảo nhỏ giữa sa mạc. Hương đàn hương và nhũ hương thoang thoảng lan ra từ mặt nước ấm, hòa quyện trong không khí.

Trên mặt đất trải tấm thảm dệt bằng lông dê mềm mịn, kéo dài đến tận mép bể tắm.

Đám người hầu cúi mình cung kính hành lễ khi thần sứ bước vào. Họ đổ thêm nước nóng từ những bình gốm nung vào bể, trên vách tường treo đầy bó hương thảo, bên cạnh là một chiếc ghế gỗ đặt tấm đệm mềm. Trên khay đá, những lọ tinh dầu và nhũ hương thơm ngát được sắp đặt gọn gàng.

Một thị nữ bước lên, cụp mắt, hàng mi rũ xuống, cẩn thận tháo bỏ áo choàng nặng nề và những lớp y phục còn lại trên người thần sứ.

Nước trong bể ấm vừa phải, không quá nóng, cũng không lạnh.

Khi Tân Hòa Tuyết ngâm mình xuống, làn nước êm dịu vỗ nhẹ quanh thân, y có thể ngửi được hương bách mộc, quế và bạc hà thoang thoảng. Người Ai Cập dùng thảo mộc và tinh dầu ấy để chế ra dung dịch tắm, vừa thanh tẩy cơ thể, vừa thư giãn tâm trí.

Thị nữ cầm chiếc lược gỗ tinh xảo, khẽ chải những sợi tóc bạc trắng ướt át của thần sứ. Nước và tóc trôi qua lòng bàn tay nàng.

Tân Hòa Tuyết, đã từng đi qua ba thế giới nhỏ, gần như quên mất cảm giác được hầu hạ tỉ mỉ đến vậy.
Y khẽ lên tiếng từ chối:
“Không cần.”

Sắc mặt thị nữ lập tức trắng bệch, nàng quỳ sụp xuống, giọng run run đầy hoảng hốt và đau khổ:
“Thần sứ đại nhân… là do nô tỳ làm không tốt sao? Có phải người muốn giao sứ mệnh thiêng liêng này cho kẻ khác?”

Mí mắt Tân Hòa Tuyết giật giật, suýt nữa quên mất.

Ở nơi này, việc tắm rửa vốn được xem là một nghi thức quan trọng nhất của việc được thần linh che chở, gắn liền sự thanh khiết và tái sinh, là hành động mang tính thánh lễ thuần khiết khi được thân cận với thần. Được hầu hạ trong nghi thức ấy là niềm vinh dự lớn nhất mà một người hầu có thể đạt được.

Người hầu đang rót nước ấm vào bể liếc nhìn thị nữ, ánh mắt chứa đầy sự khinh bỉ khó giấu.

“...Không sao,” Tân Hòa Tuyết khẽ day trán, giọng nhẹ đi. “Cô làm rất tốt. Tiếp tục đi.”

Bể tắm được tạc từ đá nhẵn, vân đá tinh tế phản chiếu ánh trăng hòa cùng ánh đèn dầu, lấp lánh ánh sáng mờ ảo. Nước gợn sóng, ánh sáng hắt lên làn da trắng mịn của thanh niên.

Sợi tóc màu trắng bạc chảy tràn qua chiếc lược gỗ, nhẹ nhàng tỏa ra trên mặt nước.

Ai mà nghi ngờ được thân phận của một thần sứ khi nhìn thấy cảnh ấy?

Chỉ có thần linh mới có thể mang vẻ đẹp thanh tịnh đến vậy, làn da trắng như tuyết, mái tóc bạc như trăng.

Thị nữ cúi đầu, ánh mắt thành kính mà dịu dàng:
“Thần sứ đại nhân, ngài có làn da trắng như ánh trăng, màu mắt như ánh bình minh đầu tiên.”

Nàng khẽ nói, giọng gần như thì thầm:
“Chắc hẳn ngài là sứ giả mà Thoth và Thần Mặt Trời đã gửi xuống để truyền đạt thánh ý.”

Tân Hòa Tuyết khép nửa mi mắt, ánh nhìn xa xăm.

Bỗng nhiên thính giác nhạy bén của loài mèo khiến y nhận ra một tiếng động khác thường len lỏi trong tiếng nói chuyện.

Y khẽ giơ tay ra hiệu. Thị nữ lập tức dừng tay.

Tiếng nước vang lên ào ào, Tân Hòa Tuyết đứng dậy, đám người hầu vội dâng y phục mới cùng khăn sạch, cẩn thận chà lau và giúp y thay quần áo.

Áo choàng phủ xuống tấm thảm lông dê, nước còn đọng lại chảy dọc theo đôi chân trắng nõn, qua mắt cá tinh xảo, lấp lánh ánh sáng.

Giọng y lạnh lùng vang lên:
“Ra đi.”

Vị vương tử trẻ mang mặt nạ chó rừng bước ra từ hành lang. Hắn quỳ một gối xuống nền đá, động tác chuẩn mực đến mức giống như một lời cầu khấn.

Trên mặt nạ Anubis, những hoa văn ma mị như lan ra dưới ánh lửa. Đôi mắt màu nâu vàng kim nhìn thẳng vào Tân Hòa Tuyết.
“Nephthys.”

Thần sứ khoác lên người tấm áo choàng dài mỏng trong suốt bằng Karalisis, bên trong chỉ là lớp váy quấn nhẹ quanh eo. Vải mỏng đến mức như làn nước lay động, lướt theo từng bước y đi, ẩn hiện làn da trắng nõn.

Cuối cùng, thần sứ dừng lại trước mặt Saito.

Tay đặt l*n đ*nh đầu mái tóc đen tuyền của hắn.

Mái tóc của Saito được cắt ngắn gọn gàng, từ tai ôm lấy đường cổ, gọn như lưỡi dao sắc, phía sau còn để lại đuôi tóc tỉa bằng phẳng.

Chỉ với một lực nhẹ, Tân Hòa Tuyết đã khiến Saito phải ngẩng đầu lên, ánh mắt giao nhau.
“Vì sao anh lại nhìn trộm?”

Bộ áo khoác mỏng Karalisis trên người thần sứ mơ hồ như sương, căn bản không chẹ đậy được thứ gì. Không còn lớp áo choàng nặng nề của ban ngày chỉ còn trang phục Ai Cập cổ nhẹ và mát, váy quấn quanh eo xếp nếp tinh tế đến đầu gối y.

Ánh nhìn của Saito dừng lại nơi hai điểm hồng nhạt ấy, đồng tử co rút, yết hầu khô rát như cát nóng trong sa mạc Gobi.
“Mẫu thần... đại nhân.”

Tân Hòa Tuyết khẽ rũ mi, thờ ơ nói:
“Đứa trẻ hư.”
 
Chứng Bệnh Khiến Vạn Người Say Đắm Giữa Chốn Quyền Uy
Chương 142


“Không… không phải vậy.”

Giọng Saito dồn dập, mang theo vẻ kinh hoàng như thể không thể chấp nhận nổi sự thật rằng mình vừa bị Mẫu Thần xem như một đứa con hư. Phần nửa khuôn mặt dưới chiếc mặt nạ của hắn căng cứng, đường nét cằm siết chặt, lộ rõ sự căng thẳng. Hắn vươn tay khẽ nắm lấy vạt áo ngoài của Tân Hòa Tuyết, ngón tay run nhẹ, nhưng sức lại quá mạnh, mảnh vải mỏng như cánh ve gần như sắp bị xé toạc trong tay hắn.

Tân Hòa Tuyết nhẹ nhàng rút lại góc áo khỏi tay hắn.

Người thanh niên được tôn xưng là sứ giả của thần minh, khi không biểu lộ cảm xúc nào, lại mang một vẻ thờ ơ, lạnh lùng, xuất thần như lớp tuyết tinh khiết phủ trên đỉnh Sinai, đó điểm gần mặt trời nhất.

Mà trung tâm của thành khuyển tộc Anubis lại tọa lạc ở phía nam bán đảo Sinai, cho nên, Saito đương nhiên cho rằng người gần nhất với Mẫu Thần, chính là hắn.

Saito cúi đầu, tự nhiên đưa ra kết luận ấy.

Bàn tay Tân Hòa Tuyết, vì vừa tắm xong mà vẫn còn phảng phất hơi ấm, khẽ chạm lên cằm hắn.

Nơi đó vẫn còn lưu lại vài vết cào mảnh bạc của móng mèo ban ngày. Vì không được xử lý cẩn thận, lại chịu phơi trong nắng gió sa mạc suốt cả ngày, nên giờ miệng vết thương đã sưng đỏ, có dấu hiệu nhiễm trùng.

“Đau không?”
Tân Hòa Tuyết cụp mắt, hỏi.

“Không đau.”

Saito thoáng nghi hoặc, không hiểu vì sao đối phương lại hỏi vậy, nhưng vẫn thành thật trả lời.

Hắn nghiêng đầu, để cằm cùng chiếc mặt nạ chó rừng lạnh lẽo tì vào lòng bàn tay của Tân Hòa Tuyết, trông chẳng khác nào một chú chó đen nhỏ đang ngoan ngoãn rúc bên chủ nhân, không nỡ rời xa.

Tân Hòa Tuyết dẫn hắn ra khỏi phòng tắm, trở lại gian nhà chính rồi sai người mang đến thuốc cao thảo dược cùng một chậu nước muối.

Saito nghe lời cúi đầu, rửa sạch vết thương bằng nước muối.

Tân Hòa Tuyết đưa tay cố định góc độ đầu hắn:
“Được rồi, đừng nhúc nhích.”

Đầu ngón tay khẽ khuấy mở một ít thuốc cao trong chiếc bình gốm nhỏ. Thứ chất sệt ấy nhanh chóng tan chảy giữa lòng bàn tay, tỏa ra hương thảo mộc nhè nhẹ.

Tân Hòa Tuyết hít khẽ, mùi cây cỏ thoang thoảng. Loại cao này được điều chế từ cỏ gấu, có lẽ còn pha thêm chút nhựa cây thiên nhiên, loại dược liệu thường được người Ai Cập cổ dùng để thanh nhiệt, giảm viêm và làm dịu da.

“Nếu có thêm rễ sắn và hoàng liên thì càng tốt.”

Tân Hòa Tuyết khẽ lẩm bẩm. Đáng tiếc, những vị thuốc ấy vốn là thảo dược phương Đông, dù có được mang vào qua đường buôn bán thì cũng khó sinh trưởng nơi đất cát khô nóng này.

Sau khi rửa sạch tay, y dùng một con dao gỗ nhỏ khẽ múc thuốc, đều đặn bôi lên vết thương của Saito.

May thay, Tân Hòa Tuyết biết rõ bản thân không phải là một con mèo bình thường, móng vuốt của y không mang vi khuẩn Baal, nên sẽ không khiến người bị thương do mèo cào mắc bệnh.

Trong ánh sáng dịu dàng của chiếc đèn dầu bằng thạch cao trắng, gương mặt Tân Hòa Tuyết hiện lên mờ ảo. Ánh lửa mềm mại như rót thêm nét ấm áp vào vẻ lạnh nhạt vốn có của y, khiến người ta bất giác cảm thấy gần gũi.

Cửa chớp hướng bắc mở rộng, làn gió mát lành từ Địa Trung Hải thổi vào, khẽ lay động mái tóc trắng bạc mềm mại trên vai y.

“Nephthys…” Saito cảm nhận được hơi lạnh của thuốc thấm vào làn da dưới cằm, như thể không hiểu được, hắn nghiêng đầu, đôi tai đen như hai lưỡi đao ngắn khẽ chúc xuống, “Tại sao…?”

Từ nhỏ đến lớn, hắn từng chịu qua vô số vết thương, tuy không thể nói là nghiêm trọng nhưng chưa lần nào cảm thấy bối rối như lúc này.

Thời còn nhỏ, vì thiếu kinh nghiệm chiến đấu, hắn từng bị một con sư tử trưởng thành cắn xuyên bụng. Nhưng khi ấy, hắn vẫn có thể dùng chủy thủ tự tay moi ra trái tim con con sư tử đó ra.

Mấy thùng nước muối lớn từ trên cao dội xuống đầu hắn, thấm vào những vết rách trên da thịt khiến máu thịt mờ mịt. Cơn đau rát ấy lại khiến hắn càng tỉnh táo hơn, rồi sau đó, hắn bị nhốt trở lại trong lồng. Được bảo rằng đó là một thử thách, là sự “Thử thách hóa thân của Anubis nơi trần thế.”

Phụ thân hắn đã nói như vậy.

Tân Hòa Tuyết liếc qua vết thương, bình thản đáp:
“Không có lý do gì cả.”

Vết thương này vốn chẳng nghiêm trọng, chỉ cần bôi thuốc là sẽ lành. Ychẳng qua là tiện tay và lợi dụng cơ hội ấy, khẽ xoát thêm vài điểm giá trị tình yêu mà thôi.

Thế nhưng, vẫn còn hai điều khiến y chưa thể hiểu rõ.

“Vì sao anh lại gọi tôi là Nephthys?”

Tân Hòa Tuyết thực lòng không nghĩ hình tượng của mình lại có chỗ nào giống Nữ thần Nephthys cả. Chỉ cần đầu óc Saito còn hoạt động bình thường, hẳn hắn cũng phải nhận ra người trước mặt là một người con trai, không thể nào là mẫu thân hắn được, càng không thể sinh ra đứa con cao lớn hơn mình cả cái đầu.

“... Nephthys, chính là Nephthys.”
Saito cúi thấp đầu, giọng trầm đục bị ngăn cách bởi chiếc mặt nạ. “Người… là Mẫu Thần.”

“...”

Tân Hòa Tuyết khẽ nhíu mày.

Giữa lúc y còn đang im lặng, Saito lại chợt nhớ ra điều gì đó, khẽ ngẩng đầu, giọng mang theo chút lo lắng:
“Sau khi vết thương này lành lại… sẽ không để lại sẹo chứ? Tôi muốn giữ nó lại như một ấn ký mà Nephthys ban cho.”

Tân Hòa Tuyết hơi khựng lại:
“Anh làm sao biết tôi là con mèo trắng kia…”

Y chưa kịp nói hết câu, Saito đã đáp trước, như đoán được suy nghĩ của đối phương:
“Là mùi hương.”

Saito nói:
“Trên người Nephthys có một loại hương rất đặc biệt.”

Đó là mùi hương nhè nhẹ, thoang thoảng mùi cỏ và vị chua thanh của nhựa cây, lại pha lẫn chút hương trầm ấm áp. Dù không thể diễn tả chính xác, Saito vẫn có thể nhận ra nó trong vô vàn mùi khác. Bằng trực giác của loài thú và khứu giác nhạy bén thiên phú. Chỉ cần gió nổi lên, mang theo mùi hương ấy, hắn sẽ lập tức tìm được Nephthys giữa ngàn người.

Tân Hòa Tuyết không ngờ lý do lại đơn giản đến thế, chỉ vì cái mũi của giống chó quá linh.

Saito vẫn cúi đầu, giọng khàn khàn lặp lại:
“Tôi muốn giữ lại… ấn ký mà Nephthys ban cho.”

Tân Hòa Tuyết lo hắn sẽ dại dột cào đi lớp thuốc cao và vảy máu trên miệng vết thương, nên lập tức đưa tay ngăn lại:
“Đừng động.”

Thấy hắn vẫn chưa từ bỏ ý định, Tân Hòa Tuyết nhẹ nhàng, bâng quơ nói một câu:
“Không nghe lời thì sẽ không có phần thưởng.”

Phần thưởng.

Saito vô thức siết chặt bàn tay mình, đến mức móng tay đâm sâu vào da thịt, máu rịn ra ướt đẫm lòng bàn tay.

Hắn muốn....phần thưởng.

Nephthys…

Liệu Nephthys có thể quất hắn không?

Một ý niệm mơ hồ nảy lên, khiến hắn muốn cắn vào ngón tay chính mình. Cơn nôn nóng như lửa dần lan khắp người, giống như một con chó đang chìm trong nỗi lo âu bẩm sinh, hắn muốn co người lại, muốn quay về chiếc lồng đồng cũ kỹ, cùng những xác sư tử đã chết cuộn lại trong bóng tối.

Nhưng không thể.

Huynh trưởng cùng những người hầu từng dạy hắn rằng:
Chỉ khi hắn cư xử như một con người hoàn chỉnh, hắn mới có thể được ra khỏi chiếc lồng ấy. Nếu bị nhốt trở lại, hắn sẽ không bao giờ được gặp Nephthys nữa.

Saito quyết định buông bỏ những ảo tưởng quái dị của tuổi thiếu niên, những hình ảnh sư tử, máu và chủy thủ dần tan biến trong trí nhớ hắn như một trái tim đã ngừng đập.

Hắn mở bàn tay, để lộ vết hằn sâu trên cổ tay, rồi đứng dậy.

Bước chậm về phía phòng ngủ của Tân Hòa Tuyết.

Khi Tân Hòa Tuyết đi theo đến khung cửa, Saito đã ngồi xuống, quỳ gối trên tấm thảm đay dưới đất. Ánh lửa chiếu lên cơ thể rắn chắc, những thớ cơ nơi bắp chân và hông hiện rõ trong tư thế khom người.

Hắn quay đầu hỏi:
“Đêm nay, tôi có thể ngủ ở đây không?”

Bên cạnh hắn chính là giường của Tân Hòa Tuyết.

Saito nhìn quanh, đo đạc một chút, rồi nói rất tự nhiên, như thể nơi này vốn là lãnh địa của mình:
“Tôi có thể cuộn lại ở đây ngủ.”

Tấm thảm đay ấy tuy lớn, nhưng đối với một người đàn ông cao lớn như hắn, vẫn có vẻ hơi chật. Nếu muốn ngủ, hắn sẽ phải cong người lại, trông chẳng khác nào một con chó, suốt đêm cuộn tròn dưới giường của chủ nhân.

Saito khẽ vuốt lên mặt thảm, loại đay mới mềm mịn, được dệt riêng cho giới quý tộc, trên bề mặt thêu hình sư tử và dế núi tinh xảo.

“Như vậy, nếu ngài muốn dậy đi tiểu giữa đêm, sẽ không phải giẫm lên tấm thảm lạnh băng.”

Hắn ngẩng đầu, qua khe hẹp của mặt nạ, đôi mắt nâu vàng lóe sáng dưới ánh đèn, ánh nhìn đối diện với Tân Hòa Tuyết:

“Cơ thể tôi rất ấm.”

Tân Hòa Tuyết chưa từng gặp qua người như vậy.

Tân Hòa Tuyết: 【Anh xác định hắn thật sự không có vấn đề gì chứ?】

K: 【……】

K: 【Ra ngoài nhớ cẩn thận. Ký chủ, xin hãy bảo vệ bản thân cho tốt.】

Tân Hòa Tuyết: 【^^】

Saito ngẩng đầu nhìn y, trong ánh mắt tràn đầy mong đợi được cho phép.

Tân Hòa Tuyết chỉ lặng lẽ đứng dựa bên khung cửa, nhường ra một lối đi:
“Đi ra ngoài.”

Vị hoàng tộc trẻ tuổi vẫn đứng nguyên trong phòng, đôi môi mỏng khẽ mím lại, vẽ thành một đường thẳng ngoan cố.

Ánh lửa hắt lên gương mặt lạnh nhạt của vị thần sứ.
“Anubis, đừng khiến tôi nổi giận.”

【Giá trị tình yêu của Saito Anubis +5】

………

Đêm hôm trước, Tân Hòa Tuyết đã nói với Lahotep, nhờ hắn ta dặn đám lính gác mỏ đá thả hai nô lệ bị bắt vì tội phóng hỏa.

Trong số đó có Nubu và người nô lệ từng được y ban cho nước thánh, nhờ vậy mới sống sót sau trận lửa dữ.

Vì lời của thần sứ, pharaoh Thượng Ai Cập đặc biệt ra lệnh ân xá cho hai tên nô lệ ở mỏ đá, tha tội phóng hỏa của họ. Lính gác được phân phó đưa hai người đến Aswan, rồi thả họ về Nubia, bên kia biên giới phía Nam.

Thế nhưng sáng hôm sau, khi Tân Hòa Tuyết đang dùng bữa, một người hầu từ sân ngoài bước vào, cúi đầu xin chỉ thị:
“Thưa thần sứ đại nhân, vị nô lệ kia đang chờ ngoài viện. Hắn mong được gặp ngài một lần.”

Tân Hòa Tuyết:
“Cho hắn vào.”

Bát cháo ngũ cốc của y đã ăn được một nửa. Y đặt muỗng gỗ xuống, dùng khăn lau nhẹ nơi khóe môi.

Nubu bước vào từ ngoài viện. Hắn có lẽ đã chờ rất lâu, hoặc đã nhiều lần khẩn cầu người hầu chuyển lời giúp. Ánh nắng nóng bỏng của sông Nin khiến tóc mai hắn ướt đẫm dù chỉ mới là buổi sáng.

Hắn quỳ xuống nền đá, hướng về Tân Hòa Tuyết mà hành lễ.

“Đại nhân…” — giọng nói của Nubu khàn đặc, như bị cát đá trong mỏ mài mòn.
“Xin cho phép tôi được đi theo ngài đến Thebes. Tôi muốn ở lại bên ngài, làm tùy tùng và nô bộc.”

Tân Hòa Tuyết ra hiệu cho hắn đứng lên, ánh mắt bình thản nhìn người nô lệ đang cứng ngắc vì cung kính ấy:
“Cậu chẳng phải muốn trở về Nubia sao? Tôi đã vì cậu cầu xin với Lahotep, cậu cùng người bạn của mình đều đã được ân xá, có thể quay lại cố quốc.”

Nubu lắc đầu, ngoan cố nói:
“Tôi muốn theo ngài.”

“Còn Ankh,” — hắn tiếp tục nói — “hắn nhờ tôi chuyển lời cảm tạ. Hắn đã lên đường về Nubia, nói rằng sau này sẽ luôn cầu nguyện cho ngài. Cầu cho thần minh ban phước, để sông Nin mãi bồi đắp và che chở cho ngài, mang đến phì nhiêu cùng ánh sáng vô tận.”

Nubu giản lược lại lời chúc tụng dài dòng của Ankh, chỉ giữ lại những câu chân thành nhất.

Ánh mắt Tân Hòa Tuyết dừng lại trên người hắn.

Nubu liền dựng thẳng lưng, vẻ căng thẳng khiến toàn thân hắn như có một sức mạnh tiềm ẩn, những thớ cơ dưới làn da ngăm khỏe khẽ co rút, “Ngài có thể thử tôi, để xem tôi có đủ tư cách ở lại bên ngài, bảo vệ ngài hay không.”

“Không cần.” — Tân Hòa Tuyết nói, rồi chỉ ghế bên bàn ăn — “Ngồi xuống đi. Cậu còn chưa ăn sáng đúng không? Tôi ăn một mình không hết, giúp tôi một chút.”

Khóe môi y khẽ cong lên, nụ cười nhàn nhạt như ánh sương tan, khiến gương mặt mỹ lệ ấy mang một vẻ đẹp an tĩnh, khác hẳn nét đẹp mạnh mẽ thường thấy ở dân sông Nin.

Nubu vén sợi tóc sau tai, lắp bắp đáp:
“Dạ….vâng ạ.”

Hắn thấp thỏm ngồi xuống đối diện Tân Hòa Tuyết.

Aswan là vùng khắc nghiệt, nhưng quan giám sát đã cố hết sức để chuẩn bị cho thần sứ bữa ăn tốt nhất.

Trên bàn gỗ là một rổ bánh mì tiểu mạch được nghiền mịn và nướng kỹ, bên cạnh là hũ mật ong, một đĩa quả sung, bình sữa nhỏ bằng gốm, cháo ngũ cốc, thịt bồ câu hầm trong nước sốt hành tây cùng hương liệu, chùm nho xanh tươi ướt át, và ấm trà hồi hương bốc khói nghi ngút.

Tân Hòa Tuyết nói:
“Ăn đi.”

Nubu khẽ cúi đầu, gật mạnh một cái.

………

Vào chính ngọ(*), đoàn thuyền tuần du của pharaoh khởi hành từ Aswan, xuôi theo dòng sông Nin trở về kinh đô Thebes.

(*) Chính ngọ là khoảng giữa giờ Ngọ, thường được hiểu là khoảng 11h40 đến 12h20 trưa, khi mặt trời ở vị trí cao nhất và bóng râm ngắn nhất trong ngày.

Nếu chỉ dừng lại ven bờ các thành thị dọc đường để bổ sung vật tư, thì trong vòng bảy ngày là có thể quay lại kinh đô.

Sau khi dùng xong bữa sáng, Tân Hòa Tuyết để đám thị nữ chuẩn bị y phục cho mình.

Mái tóc dài màu trắng bạc của y được một thị nữ khéo tay tỉ mỉ tết lại, dùng dải tơ vàng mảnh quấn quanh, xuyên qua từng lớp, cuối cùng thả xuống phía sau lưng, chỗ đuôi tóc được cố định bằng một vòng hổ phách mảnh khảm kim tuyến.

Làn da trắng mịn phần ngực gần như phát sáng dưới ánh sớm, mỏng manh đến độ phập phồng theo hơi thở, phần thân trên, ngoài khoảng trắng nõn ấy, chỉ có hai điểm phấn hồng nhạt làm điểm nhấn.

Phía dưới là chiếc đai lưng khảm ngọc lam, dải vải mịn quấn quanh eo chồng lên từng lớp nếp gấp tinh tế, dài đến trên đầu gối. Mép váy được thêu chỉ vàng tinh xảo, vẽ hình hoa sen nở rộ giữa dòng sông Nin.

Song, những trang phục và trang sức đẹp đẽ như vậy y chưa từng mặc ra ngoài.

Dưới hành lang có mái che, Tân Hòa Tuyết thu lại cánh tay vừa vươn ra đón ánh sáng. Chỉ một khoảnh khắc bị mặt trời chiếu đến, làn da tinh tế ấy đã ửng lên một tầng hồng nhạt, mang theo cảm giác bỏng rát và ngứa ran âm ỉ.

Thị nữ bên cạnh thất thanh kêu lên, nhưng y khẽ khoát tay ngăn nàng gọi người lấy thuốc cao.
“Không sao, lát nữa sẽ hết thôi. Giúp tôi lấy áo choàng tối qua tôi thay ra mang lại đây.”

Y lại khoác lên người chiếc áo choàng trắng dày nặng kia. Tấm vải phủ kín từ đầu đến chân, không để lộ một sợi tóc dưới ánh mặt trời, chỉ có như vậy, y mới có thể tránh khỏi sự thiêu đốt khắc nghiệt của ánh nắng nơi này.

Tuy thân thể y vốn có nhiệt độ thấp hơn người thường đôi chút, nhưng trong khí hậu vùng này, khoác áo choàng dài quả thật nóng bức khó chịu. May mắn thay, chất liệu vải được dệt từ sợi đay mịn, nhẹ và thoáng khí, chỉ cần y không vận động quá mạnh, thì cũng không đến mức chịu đựng không nổi.

Khi Tân Hòa Tuyết vừa bước ra khỏi cửa, Nubu đột nhiên cất tiếng:
“Xin chờ một chút.”

Y dừng lại, quay đầu nhìn hắn.
“Sao vậy?”

Nubu khom người xuống. Trong tay hắn là một đôi dép cỏ đan tinh xảo, hắn cẩn thận nâng lên, quỳ gối để mang vào cho Tân Hòa Tuyết.

Ở vùng đất này, người dân sông Nin vốn quen đi chân trần trên cát nóng bỏng của sa mạc.

Nhưng Nubu lại nhớ đến hình ảnh đêm qua...

Đôi chân trắng muốt dừng ngay cạnh hắn, làn da trong suốt đến mức có thể thấy mờ mạch máu xanh nhạt như những nhánh sông Nin nhỏ, móng chân hồng như cánh hoa trúc đào mảnh mai.

“Chân của ngài không nên chạm trực tiếp vào cát nóng.”

Nubu khẽ nói.

………

“Ngài muốn giữ hắn lại bên cạnh?”

Giọng Lahotep mang theo chút kinh ngạc. Đôi mắt màu tím lam của hắn liếc qua Tân Hòa Tuyết, rồi dừng lại nơi người nô lệ Nubia đang đứng phía sau.

Ngũ quan của kẻ ấy mơ hồ khiến Lahotep cảm thấy quen thuộc, ánh mắt hắn chậm rãi nheo lại, trầm tư.

“Vậy thì… để hắn đấu một trận với Saito đi.”

___________

Phải rồi,... hơn nữa, Hồng Vương à, thế giới nhỏ bé này vốn chỉ là một đại yến tiệc của huynh đệ.

Một bữa tiệc xa hoa đầy những huynh đệ, cùng những con mèo nhỏ quấn quýt bên chân.
 
Chứng Bệnh Khiến Vạn Người Say Đắm Giữa Chốn Quyền Uy
Chương 143


Thấy Tân Hòa Tuyết im lặng, gương mặt trắng nõn của y ẩn khuất trong chiếc áo choàng rộng, dưới bóng râm của vành nón rộng che khuất nửa ánh nhìn.

Lahotep mỉm cười, ôn hòa nói:
“Iah, đừng lo lắng. Nếu đó là ý nguyện của ngài, tôi đương nhiên sẽ để hắn ở lại. Chỉ là muốn trở thành người có tư cách ở bên cạnh thần sứ, bảo vệ ngài, thì năng lực hắn phải trải qua sự kiểm tra của Thần Mặt Trời.”

Vị vương trẻ tuổi của Thượng Ai Cập ấy mang trong đôi mắt sắc tím xanh cùng một màu với mẫu thân mình. Khi hắn mỉm cười, những đường nét tuấn tú càng trở nên ôn hòa, nhân hậu. Ánh nắng vàng kim xuyên qua những kẽ cột của của tòa nhà, chiếu lên thân hình rắn rỏi của hắn, như tạo nên những hoa văn thanh thoát trên cơ bắp của hắn như thể phủ lên người một tầng hào quang mạ vàng, khiến khí phách của hắn càng thêm uy nghi, rực rỡ.

Khí chất và dung mạo của hắn hoàn toàn phù hợp với hình tượng vị quân vương mà dân sông Nin tôn sùng: văn võ song toàn, nhân từ độ lượng. Bảo sao khi hai miền Thượng – Hạ Ai Cập thống nhất, lòng người lại nghiêng hẳn về phía Thượng Ai Cập.

Lahotep tiếp lời:
“Saito là chiến binh quả cảm và thiện chiến nhất trong giới quý tộc Thượng Ai Cập. Ngay cả đội trưởng đội cận vệ hoàng cung cũng không phải đối thủ của hắn.”

“Nếu người nô lệ đến từ Nubia này thật sự muốn ở lại, tôi sẽ xóa bỏ thân phận nô lệ của hắn, và sắp xếp cho hắn một vị trí thích hợp trong cung. Nhưng hắn có thể chỉ là một tùy tùng trầm lặng, hay trở thành binh sĩ bảo vệ an toàn cho thần sứ, điều đó còn phải xem thực lực của hắn.”

Thấy Tân Hòa Tuyết vẫn không phản đối, Lahotep đưa mắt nhìn người nô lệ đến từ biên giới phía nam kia, giọng trầm xuống:
“Hãy dâng lên Thần Mặt Trời toàn bộ sức mạnh của ngươi, để xem liệu ngươi có xứng đáng được ở lại bảo hộ thần sứ hay không.”

Nubu cúi đầu, đáp khẽ:
“Vâng.”

Lahotep gọi lớn:
“Saito.”

Người đàn ông mang chiếc mặt nạ đen, trầm mặc bước ra từ phía sau. Ở thắt lưng hắn đeo một thanh đoản kiếm sắc bén, lưỡi cong uốn lượn, mép ngoài ánh lên như trăng non lạnh lẽo.

Người hầu dâng đến cho cả hai bộ giáp nhẹ, đồng thời đưa cho Nubu một thanh đoản kiếm tương tự.

Căn phòng mà quan giám sát chuẩn bị cho pharaoh dùng tạm ở Aswan rộng lớn chẳng kém một cung điện nhỏ. Trong sân có đủ không gian để hai chiến binh dũng mãnh quyết đấu.

Nubu khom gối, nghiêng người, bàn chân cọ xát lớp cát mịn dưới nền, phát ra tiếng sột soạt khô khan. Trọng tâm cơ thể hắn dồn vào chân phải, sẵn sàng ứng chiến.

Khi mây trắng trôi qua che khuất đĩa mặt trời trong chốc lát, Saito cúi thấp người, là người đầu tiên tung ra đòn tấn công.

Thanh đoản kiếm trong tay hắn quét ngang vai Nubu, động tác sắc bén, nhanh nhẹn. Lưỡi kiếm chém qua không khí, vẽ thành một đường cong sáng loáng. Nubu không hề nao núng, chân trái đạp mạnh, thân hình nghiêng lướt sang bên, chỉ trong khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc đã né được nhát kiếm sắc bén kia.

Trong cùng lúc tránh đòn, hắn nhanh chóng cúi người phản công, đoản kiếm quét ngang eo đối thủ. Saito nhanh chóng thu bụng, hạ thấp lưỡi kiếm đỡ lấy cú chém. Hai thanh kiếm va chạm nhau, tiếng kim loại sắc lạnh vang lên lanh lảnh, chấn động cả khoảng không nóng bỏng.

Mặt trời từ sau mây ló rạng, ánh nắng thiêu đốt tràn xuống, khiến cả sân phủ một lớp hơi nóng lấp loáng. Cát vàng như tan chảy, cảnh vật mờ đi giữa những bóng trắng chập chờn. Hai người quần nhau nhanh đến mức gần như khiến mọi thứ xung quanh mờ nhòe, chẳng phân biệt đâu là bóng đâu là người.

Saito chiến đấu với kỹ xảo tinh diệu tuyệt luân(*), nhưng điểm đáng sợ hơn cả là bản năng dã thú của hắn, thứ bản năng đã được rèn giũa qua vô số trận sinh tử trong tự nhiên. Hắn hành động không cần suy nghĩ, chỉ theo trực giác sắc bén hướng tới đối thủ.

(*) "Tinh diệu tuyệt luân" (精妙絕倫) là một cụm từ Hán Việt dùng để miêu tả một điều gì đó vô cùng tinh tế, khéo léo, đẹp đẽ, và không có gì sánh bằng, không gì hơn được.

Bản năng ấy là điều mà con người không thể luyện được bằng huấn luyện thông thường. Những quân sĩ trong doanh trại kinh đô, dù được huấn luyện qua bao nhiêu bài bản, cũng chỉ biết lặp đi lặp lại những chiêu thức tấn công và khống chế cơ bản, chứ không thể nào có được khí tức hoang dã đầy sát ý như Saito. Bởi vậy mà ngay cả đội trưởng đội cận vệ hoàng cung cũng từng bại dưới tay hắn.

Nhưng Nubu cũng không hề yếu kém. Dù đã giằng co hàng chục hiệp, hắn mới dần lộ ra dấu hiệu xuống sức.

Mồ hôi như hạt đậu lăn xuống từ thái dương, thấm ướt tóc mai.

Trong một lần đối đỡ, hai thanh kiếm lại va chạm, Nubu nghiến răng, dồn hết sức ép mũi kiếm của Saito xuống đất, định dùng lực áp chế đối phương. Thế nhưng Saito xoay cổ tay khéo léo, mượn thế phản công, chuôi kiếm bất ngờ đánh mạnh vào cổ tay Nubu, khiến thanh kiếm trong tay hắn chao đảo.

Saito chớp lấy cơ hội, xoay người một vòng nhanh như chớp, lưỡi kiếm lạnh lẽo đâm thẳng vào sườn Nubu. Nubu kịp thời hạ thấp người, lưỡi kiếm sượt qua đỉnh vai hắn, đồng thời hắn chộp lấy chân đối phương, kéo mạnh.

Cả hai cùng ngã xuống nền cát, bụi mù bốc lên. Lưỡi kiếm sượt qua cánh tay Saito, để lại một vệt máu mảnh. Nhưng chỉ trong tích tắc, hắn đã lăn người, quỳ gối ghì chặt Nubu dưới thân, đầu gối ép lên xương sườn, lưỡi đao cong lóe sáng lạnh kề sát yết hầu đối thủ.

Dưới lớp mặt nạ đen nhánh, đôi môi mỏng của Saito khẽ mím lại, lạnh lùng và cứng rắn, ánh mắt hắn hướng về phía đối thủ, sâu thẳm như vực tối.

Trong khoảnh khắc ấy, Nubu thoáng có cảm giác trong cuộc thử thách này, vị hoàng tộc trước mặt hắn dường như thực sự có ý định g**t ch*t mình.

Người Ai Cập hoàng tộc vốn nổi tiếng tàn nhẫn, điều này Nubu hiểu rõ từ lâu. Nếu không, năm đó, người mẹ Nubia của hắn đã chẳng phải hi sinh bản thân để đổi lấy cuộc hôn nhân hoà thân, rồi bị hãm hại trong chốn cung đình, chết trong nỗi uất ức và thương tâm. Trước khi qua đời, bà chỉ kịp giao đứa con trai sáu tuổi cho thị nữ thân cận, người đã cùng lớn lên bên bà, giúp ngụy trang đứa con của bà thành hoàng tử nhỏ chết yểu để giúp Nubu thoát khỏi hoàng cung.

Lý do Nubu nguyện đi theo vị thần sứ trở lại hoàng cung, một phần là vì không muốn nhìn thấy bi kịch từng xảy ra với mẹ mình lặp lại trên người vị thần sử yếu mềm ấy. Không muốn thần sứ lâm vào vũng bùn của hoàng tộc Ai Cập, phần khác là để điều tra chân tướng về cái chết của mẫu thân năm xưa.

Khi ấy hắn còn quá nhỏ, nhưng vẫn nhớ rõ mẹ hắn là người phụ nữ khoan dung và lạc quan, luôn làm cho hắn món bánh mì mật ong và mứt táo ngọt dịu, vừa hát khe khẽ những khúc ca Nubia cũ. Mỗi lần nhớ lại, Nubu càng thêm khẳng định: cái chết của mẹ hắn năm đó tuyệt đối không bình thường.

Saito im lặng đứng lên.

Hắn liếc nhìn Lahotep, rồi ánh mắt dừng lại trên người Tân Hòa Tuyết. “Tôi đã thắng,” hắn nói, giọng đều và lạnh, không hề dao động.

Tân Hòa Tuyết nhìn hắn, trong đôi mắt màu nâu ánh vàng như thấy một điều gì mơ hồ khó tả.

Lahotep mỉm cười, vỗ tay nhè nhẹ:
“Một trận đấu thật xuất sắc. Ngươi tên là gì?”

Cùng lúc đứng dậy, Nubu cúi người hành lễ, mồ hôi chảy dọc theo những đường cơ bắp rắn chắc trên lưng, ánh lên dưới nắng.
“Thần là Nubu.”

Lahotep:
“Ngươi cũng không tồi. Có thể chống đỡ được mười hiệp trước Saito đã là thành tích hiếm có. Đến lúc đó, ta sẽ lệnh cho đội trưởng hộ vệ sắp xếp ngươi vào hàng ngũ chịu trách nhiệm bảo vệ an toàn cho thần sứ trong cung.”

Một trận quyết đấu và Nubu đã danh chính ngôn thuận bước chân vào hoàng cung Thebes.

Lahotep không vì cái tên ấy mà động lòng hay nhớ lại điều gì. Phụ vương hắn để lại mấy chục người con, một vị vương tử dòng dõi Nubia chết yểu chẳng đủ khiến hắn bận tâm, càng không thể chiếm lấy một góc trong ký ức hắn.

Tuy nhiên, có một chi tiết khiến Lahotep thoáng chú ý.

Khi cả hai ngã xuống đất cùng lúc, với thực lực của Saito, lẽ ra hắn có thể dễ dàng né được đòn của Nubu, đánh bại đối thủ mà không bị thương.

Thế nhưng, trên cánh tay hắn lại xuất hiện một vết thương đỏ rực, chứng tỏ vị hoàng tộc này đã sơ suất trong trận đấu.

Là do khinh địch chăng?

Lahotep liếc nhìn về phía Saito.

Saito cúi đầu, đưa cánh tay có vết thương đỏ thắm ra trước Tân Hòa Tuyết:
“Nephthys, tôi bị thương rồi.”

………

Lahotep lập tức sai Saito cùng hai thị vệ khác đi trước, dùng thuyền nhỏ trở về kinh đô.

Nếu đi theo thuyền tuần du của Pharaoh, phải mất đến bảy ngày đêm mới có thể từ Aswan trở về Thebes. Mà Pharaoh cần có người đại diện ý chỉ của mình, sớm quay về để loan tin thắng lợi và nghênh đón thần sứ từ Thượng Ai Cập.

Cánh tay Saito đã được xử lý bằng thảo dược, băng vải quấn chặt quanh làn da màu đồng cổ.

Hắn tỏ ra nôn nóng, ánh mắt thấp thoáng lo âu khi nhìn về phía Tân Hòa Tuyết.
“Nephthys…”

Lahotep bật cười khẽ, nửa như châm chọc:
“Em nên học cách cai sữa rồi, Saito.”

Nghe kỹ, trong giọng hắn ẩn ý trêu đùa, song trên gương mặt vẫn giữ vẻ ôn hòa quen thuộc, như thể câu nói vừa rồi chỉ là lời bông đùa vô tâm.

Saito quay đầu, thoáng nhìn Lahotep trong chớp mắt.

Hắn cần phải tỏ ra như một con người hoàn chỉnh, chỉ khi ấy mới có thể bước ra khỏi chiếc lồng đồng giam cầm.

Đó là điều kiện mà hắn đã hứa với Lahotep. Bởi vậy, sau khi phụ thân chết, hắn mới từ nhà giam bước ra thế giới bên ngoài.

Bởi Saito không muốn, như những con báo hay sư tử trong chuồng ở vườn thú, chết mòn trong song sắt.

Khi đặt chân lên con thuyền nhỏ giữa dòng Nin, hắn quay lại, hướng về phía bờ nơi vị thần sứ vẫn đứng trên thuyền Pharaoh mà nói:
“Tôi bắt đầu nhớ người rồi, Nephthys.”

Nỗi nhớ dù chỉ là khi không thể nhìn thấy người ấy, vẫn luôn hiện hữu từng khắc từng giây.

Nhưng cũng may, chẳng bao lâu nữa, họ sẽ lại gặp nhau ở hoàng cung Thebes.

Dưới ánh nắng rực, vị thanh niên nơi bờ khẽ nâng vành nón rộng, ánh sáng chiếu lên mu bàn tay trắng mịn, hồng lên trong nắng. Đón ánh sáng, y ngẩng đầu, đôi môi mỏng khẽ mấp máy, nói:
“Hãy cẩn thận nhé, coi chừng cá sấu sông Nin.”

Một lời dặn dò như người mẹ ân cần nói với đứa con chuẩn bị lên đường xa.

【 Giá trị tình yêu của Saito Anubis +5 】

........

“Saito là một trong số hai mươi người anh em của tôi.”
Lahotep bình thản nói, như thể đang kể lại một câu chuyện cũ.

Vị Pharaoh đời trước, hiển nhiên là người có sức lực vượt xa người thường. Trong thời kỳ hưng thịnh, khi bận rộn chinh chiến khắp nam bắc và cho xây dựng những ngôi đền vĩ đại, ông vẫn không quên nạp thêm hàng chục phi tần, có công chúa hòa thân từ các quốc gia lân cận, có tiểu thư quý tộc trong nước. Cuối cùng, ông để lại cho ngai vàng một hàng hậu duệ đông đảo: hai mươi người con trai và mười sáu người con gái.

“Saito là trường hợp khá đặc biệt,” Lahotep tiếp lời. “Mẹ hắn vốn chỉ là một nữ nô trong cung của mẫu thân ta.”

Khi ấy Lahotep mới chỉ sáu, bảy tuổi, nhưng ký ức vẫn còn rõ ràng.
“Hắn sinh ra vào đêm trăng đỏ. Ánh trăng đỏ phủ kín cả hoàng cung. Trên bờ đông Abydos ở sông Nin, dòng nước đột nhiên chảy ngược trong giây lát. Ở tận đền thần Anubis trên bán đảo Sinai, pho tượng thần giữa điện thờ lại tách ra làm đôi.”

“Các tư tế kinh hãi vô cùng, cho rằng đó là điềm báo Anubis đã gửi linh hồn mình xuống thế gian, và linh hồn ấy chính là đứa trẻ vừa chào đời - Saito.”

Lahotep dừng một lát.
“Mẹ hắn sau khi sinh nở thì qua đời, linh hồn đã yên nghỉ nơi cánh đồng lau sậy. Vì thế, từ khi ra đời, Saito đã được đưa đến bên phụ vương, chưa từng có tình thương mẫu tử nuôi nấng.”

Lông mi Tân Hòa Tuyết rũ xuống, vành nón rộng hắt bóng mờ lên khuôn mặt trắng nhạt của y.

Lahotep không nhìn thấy rõ biểu cảm, chỉ nhẹ giọng nói:
“Vì vậy, đôi khi hắn có thể làm ra những việc khác thường. Nếu hắn có mạo phạm ngài…”

Thực ra, từ sau khi Saito được đưa ra khỏi chiếc lồng giam bằng đồng, hắn đã trải qua một quá trình giáo dục quý tộc khắt khe, chưa từng để mất kiểm soát lần nào.
Dẫu thế, Lahotep vẫn nghiêm giọng dặn dò:
“Nếu hắn thất lễ với ngài, hãy quát lớn gọi thị vệ, họ sẽ lập tức khống chế hắn.”

Người thần sứ khoác áo choàng trắng đứng trên boong thuyền Pharaoh, dáng vẻ điềm tĩnh, không hề tỏ ra bối rối vì lời cảnh báo ấy.

Thấy vậy, Lahotep thôi không nhắc đến Saito nữa, đổi giọng hỏi:
“Ngài có nhắc đến hai thứ gọi là… rễ sắn và hoàng liên. Đó là gì?”

Tân Hòa Tuyết rốt cuộc ngẩng đầu nhìn hắn.

Quả nhiên, ngay từ đầu, vị vương trẻ tuổi, ôn hòa này đã cử người giám sát từng hành động của y.

Hai loại dược thảo đó, y chỉ vô tình nhắc tới trong lúc chữa vết thương do móng vuốt bạc cào trên cằm Saito. Khi ấy, Saito mải mê trong ý nghĩ muốn lưu lại dấu ấn của Nephthys, xung quanh lại có mấy người hầu, nếu không phải là người của quan giám sát mỏ an bài, mà là người của Lahotep, thì chuyện bị truyền tới tai Lahotep cũng chẳng có gì lạ.

Tân Hòa Tuyết không vạch trần, chỉ nhẹ nhàng đáp:
“Cả hai đều là dược liệu quý hiếm, đến từ một vùng đất rất xa ở phương Đông.”

Lahotep nhạy bén hỏi:
“Phương Đông… Đó là nơi ngài đến, phải không?”

Rõ ràng, vị Pharaoh Thượng Ai Cập này không giống các tín đồ và quan lại mê muội trong những lời tiên tri của tảng đá.

Lahotep không tin vào thần linh hoặc đúng hơn, hắn không hoàn toàn tin tưởng. Hắn cho rằng, các vị thần chẳng hề toàn năng như người đời tưởng tượng.

Ngay cả phụ vương hắn, người từng tự xưng là hóa thân của thần Osiris trên nhân gian, cũng yêu thích giết chóc. Khi nghe nói có một thần minh tái sinh khác xuất hiện, ông ta liền giam người đó trong ngục. Đền thờ Anubis ở thành Khuyển cũng bị ông ra lệnh thanh trừng, chỉ vì các tư tế không bảo vệ được tượng thần.

Lahotep hiểu rất rõ ý đồ của phụ vương mình.

Vương quyền của Pharaoh là tối thượng, làm sao có thể dung chứa thêm một “thần” khác trên thế gian này, để rồi lung lay địa vị của mình?

Hắn cụp mắt, khi nói chuyện cùng vị thần sứ đến từ vùng đất xa lạ kia về dược thảo phương Đông.

Như sực nhớ ra điều gì, Lahotep khẽ nói:
“Năm ngoái, có một sứ giả từ phương nam cống nạp vài loại thực vật quý hiếm cho Ai Cập, nghe nói cũng có được từ phương Đông, số lượng rất ít. Nhưng khi trồng trong vườn thượng uyển, chẳng bao lâu chúng đã khô héo.”

Lúc ấy, người hầu phụ trách trồng trọt hoảng hốt báo tin cho hắn.

Tân Hòa Tuyết chậm rãi đáp:
“Có lẽ là vì khí hậu và độ ẩm nơi đây không thích hợp cho những loài cây ấy sinh trưởng. Cần dựng một nơi đặc biệt để nuôi dưỡng chúng, gọi là nhà kính.”

“Nhà…kính?”

Lahotep lặp lại, dường như đây là lần đầu tiên hắn nghe thấy từ ấy.

………

Ở Ai Cập cổ đại, người ta chưa từng biết đến khái niệm nhà kính. Vì vậy, Tân Hòa Tuyết chỉ có thể cố gắng giải thích cho Lahotep hiểu rằng đó là một loại kiến trúc đặc biệt, dùng để bảo vệ cây cối khỏi cái nắng gắt cùng gió cát khốc liệt của sa mạc. Nhà kính được xây bằng gạch đất hoặc tường đá, có khả năng cách nhiệt, giúp duy trì nhiệt độ ổn định bên trong. Dựa vào điều kiện tự nhiên của vùng đất này, người ta còn có thể xây trong đó một hồ nước nhỏ, để hơi nước bốc lên làm tăng độ ẩm không khí. Ngoài ra, hệ thống tưới bằng bình gốm có thể từ từ thấm hơi nước, giúp giữ cho đất luôn ẩm ướt.

Dĩ nhiên, xét đến đặc tính khác nhau của từng loại thực vật, khi thực hiện thực tế chắc chắn vẫn sẽ nảy sinh nhiều vấn đề.

Tân Hòa Tuyết chỉ là đang cung cấp cho Lahotep một hướng suy nghĩ, một cách tiếp cận khả thi, bao gồm cả việc cải tiến hệ thống kênh đào và đê điều ở Thượng Ai Cập. Đó là những công trình phức tạp, không thể giải thích rõ ràng chỉ trong một chốc một lát. Vì vậy, y bày tỏ rằng cần phải khảo sát thực địa tình hình Thượng Ai Cập, rồi mới có thể đưa ra biện pháp cải tiến cụ thể.

Dù chỉ là đôi câu đơn giản, nhưng những từ ngữ y nhắc đến như bê tông, phao van, đê nhiều tầng đã khiến Lahotep thán phục không thôi.

Tuy nhiên, hắn không có thời gian để bàn sâu với Tân Hòa Tuyết về những nội dung đó, ngay cả khi đang ở trên bàn ăn.

Cho đến chiều ngày thứ bảy, khi hoàng hôn buông xuống, con thuyền tuần du mới chậm rãi cập vào bờ tây Thebes. Những tòa cung điện sừng sững nơi xa, dưới ánh tà dương, phác họa nên một khung cảnh tráng lệ, uy nghiêm.

Khi thuyền dừng hẳn, Lahotep vừa giới thiệu về kinh đô huy hoàng này cho Tân Hòa Tuyết, vừa nói chuyện đến khô cả cổ.

Một người hầu tiến lên, cung kính dâng rượu nho:
“Pharaoh vĩ đại, thần sứ tôn kính, đây là rượu nho mới ủ.”

Kỹ thuật ủ rượu nho ở Ai Cập cổ đã đạt đến trình độ nhất định, nhưng loại rượu này thường không được lọc hay làm trong, nên rượu đục, còn cặn men, thịt quả và tạp chất. Hương vị khá thô, thiếu đi sự thanh nhẹ dễ chịu. Hơn nữa, thời gian lên men ngắn khiến đường chưa chuyển hóa hết thành cồn, dẫn tới rượu có vị ngọt gắt và độ cồn thấp.

Tân Hòa Tuyết, trong khoảng thời gian ở đây, đã hiểu rõ điều đó, nên chỉ nhấp môi hai ngụm rồi thôi.

Lahotep hỏi:
“Không hợp khẩu vị sao?”

Tân Hòa Tuyết ngẫm nghĩ một chút. Tuy y chưa đủ điểm để tạo ra một con đê hoàn chỉnh, nhưng để đối phương nếm thử hương vị rượu nho đời sau thì cũng không phải việc khó.

Y khẽ vận dụng điểm tích lũy, rút từ trong áo choàng ra một bình thủy tinh màu lam sẫm, rót thứ chất lỏng óng ánh ấy vào ly của Lahotep.

Từ trong ly, mùi hương phức hợp lan tỏa, không chỉ có hương nho, mà còn thoang thoảng mùi bạc hà và đinh hương.

Tân Hòa Tuyết mỉm cười nói:
“Mời ngài nếm thử.”

………

Khi thuyền cập bờ tây, bước xuống bến, Lahotep cho các thị vệ lùi lại phía sau, giữ khoảng cách chừng ba mét với mọi người, chỉ cùng Tân Hòa Tuyết sóng vai tiến bước.

“Lên men là gì vậy?”

Lahotep hỏi, ánh mắt thoáng ngờ vực, lặp lại từ ngữ vừa nghe từ thần sứ.

Tân Hòa Tuyết đang định giải thích thì bỗng nhiên cảm thấy sau lưng có một luồng ánh nhìn mạnh mẽ như muốn xuyên thấu qua mình. Y lập tức quay đầu tìm kiếm.

Không thấy ai cả.

Nhưng ngay khi y vừa quay đầu lại, trong đám cỏ papyrus ven sông bỗng lóe lên ánh vàng rực rỡ và một con rắn trườn vụt ra!

Ánh sáng ấy đến từ lớp vảy của nó. Con rắn dựng thẳng người, cổ bè ra thành chiếc “mào” đặc trưng, hàng vảy vàng óng tỏa sáng như một cây quạt mở rộng. Nó uốn mình tiến về phía trước, phát ra tiếng rít trầm thấp, đáng sợ.

Sắc mặt Tân Hòa Tuyết lập tức tái nhợt, đồng tử mắt mèo co rút lại như một đường dọc mảnh.

Một con rắn hổ mang đang lao thẳng về phía họ!

Ngay tức khắc, các thị vệ ồ ạt xông tới, chen chúc giữa tầm nhìn. Từ phía bên kia sông chỉ còn thấy con rắn hổ mang vươn người phóng tới, còn bóng áo choàng trắng khẽ lắc lư, rồi đổ xuống.

Giọng Lahotep vang dội, lo lắng gọi:
“Iah!”

“Thần sứ đại nhân!”

“Thần sứ đại nhân!”

Mọi người hốt hoảng chạy đến vây quanh.
 
Chứng Bệnh Khiến Vạn Người Say Đắm Giữa Chốn Quyền Uy
Chương 144


Khi con rắn xuất hiện trong tầm mắt, Tân Hòa Tuyết lập tức nhận ra nó.

Đó là loài rắn hổ mang bản địa ở Ai Cập cực độc, thân phủ lớp vảy vàng óng. Khi bị đe dọa, nửa thân trước của nó dựng thẳng lên, chiếc cổ phồng ra thành hình quạt, đặc trưng khiến bất cứ sinh vật nào đối diện cũng phải rùng mình vì cảm giác bị uy h**p.

Nếu đối thủ của nó không phải là một người mang đặc tính loài mèo.

Đôi đồng tử hình dọc của Tân Hòa Tuyết khẽ co lại, phản chiếu hình ảnh ngược của con rắn. Con rắn cũng dừng lại trong khoảnh khắc ngắn ngủi, bởi hơi thở tỏa ra từ hai kẻ trước mặt khiến nó cảnh giác.

Chính vì sự do dự chỉ kéo dài chưa đến hai giây ấy mà Lahotep đã kịp phản ứng.

Hắn nhanh như chớp bước lên, rút thanh kiếm bên hông. Tiếng lưỡi kiếm xé gió vang lên, một tia sáng lạnh lóe qua, phần cổ con rắn bị chặt đứt đôi, máu đỏ phun ra, thấm đẫm lớp cát vàng dưới chân.

Ánh thép phản chiếu sắc đỏ như đồng nung, ánh lên trong đôi mắt sâu thẳm của Lahotep, tối tăm khó đoán.

Hắn còn chưa kịp thu kiếm, thì thấy thần sứ phía sau khẽ lảo đảo. Thân ảnh áo choàng trắng nghiêng ngả, rồi đổ gục xuống đất.

Lahotep buông rơi trường kiếm, lao tới đỡ lấy thanh niên đã ngất lịm, giọng nói vang lên đầy hốt hoảng:

“Iah!”

………

Đêm buông xuống.

Trên sông Nin, những âm thanh ồn ào náo nhiệt của ban ngày dần lắng lại, thay vào đó là tiếng gọi con của các bà mẹ, tiếng củi cháy lách tách, và tiếng mục đồng khua roi lùa đàn dê bò vào chuồng.

Cái nóng khô rát của ban ngày tan biến, nhường chỗ cho hơi gió đêm mát lành. Trên bầu trời, sắc cam pha lẫn màu xanh biển hòa quyện ở rìa chân trời, rồi ánh hoàng hôn dần tan đi, để lại muôn ngàn vì tinh tú chớp sáng trên cao.

Cung điện của Pharaoh tại Thebes vô cùng tráng lệ, chiếm một vùng đất rộng lớn. Bên trong được chia thành nhiều khu, nơi tế lễ, hành chính và khu vực sinh hoạt riêng biệt. Những bức tường cao bao quanh cung điện, vừa để bảo vệ, vừa tách biệt hẳn với khu dân cư bên ngoài. Trước cổng, các vệ binh uy nghi đứng gác, còn dân chúng mỗi khi nhắc đến nơi này đều tôn xưng là “Cung điện vĩ đại”.

Trung tâm cung điện là đại viện dùng cho các buổi yến tiệc, rộng rãi và uy nghiêm.

Ba ngày trước, vị “cánh tay của nhà vua” — người phụ tá quyền lực nhất của Pharaoh đã nhận được lời tiên đoán bằng đá thiêng, đồng thời biết tin thần sứ sắp ghé Thượng Ai Cập.

Đây được coi là dấu hiệu của Thần Mặt Trời ban phước, Thượng Ai Cập sẽ là nơi đầu tiên được nghe ý chỉ của thần linh, trước cả Hạ Ai Cập. Vì thế, buổi yến tiệc chào đón thần sứ trở thành một sự kiện trọng đại, quy tụ toàn bộ quý tộc, đại thần trong vùng.

Trong sân viện rộng lớn, bóng cây cọ đung đưa theo gió, suối phun bọt nước, rải ra như những tia sáng lung linh. Tiếng đàn hạc ngân nga vọng khắp cung điện, các quý tộc khoan thai bước bên hồ sen, không phân biệt nam hay nữ, trên mắt họ đều là lớp phấn kẻ đen dày, vẽ dài ra tận đuôi mắt, được chế từ khoáng thạch malachite xanh lục hoặc than đen, tượng trưng cho quyền quý và có khả năng trừ tà.

Những kẻ giàu sang không chỉ khoác lên người y phục lộng lẫy, mà còn tắm mình trong mùi hương xa hoa của nhũ hương, gỗ thơm, quế và hoa diên vĩ. Khi họ bước đi, những chiếc vòng vàng khảm ngọc lam trên cổ tay khẽ chạm vào nhau, tạo nên âm thanh thanh nhã hòa cùng hương thơm lan tỏa trong ánh trăng.

Giữa đám đông, Anath ngồi trên ghế cao, tận hưởng ánh nhìn ngưỡng mộ và lời tán dương của mọi người.

Dù sau khi vị Pharaoh đời trước băng hà, hắn không còn là đứa con được sủng ái nhất, cũng chẳng được vị Pharaoh mới xem trọng, thậm chí vị Pharaoh ấy còn coi trọng người anh em vô danh hơn cả hắn.

Nhưng nhờ có Đại Tư tế của thần màu mỡ Osiris chống đỡ, cộng thêm vị Pharaoh đời trước đã lập Osiris làm chủ thần để toàn dân sùng bái, nên địa vị của Anath cũng theo đó mà được nâng cao, thậm chí địa vị cao hơn cả Anubis, chỉ xếp dưới Pharaoh mà thôi.

Lúc này, một tùy tùng khẽ nghiêng người, nghe được tin truyền từ bên ngoài.

Hắn gật đầu với người lính truyền tin, rồi nhanh chóng tiến lại gần Anath.

“Chuyện gì vậy?” — Anath nhìn về phía thân tín của mình.

Tùy tùng cúi đầu, thì thầm vài câu.

Đôi mắt của Anath sau khi nghe xong chợt mở lớn. Đường kẻ mắt xanh biếc bằng bột malachite càng khiến ánh nhìn của hắn thêm sắc như đuôi rắn.

Lời tiên đoán của cậu hắn — Đại Tư tế thần màu mỡ Osiris quả nhiên không sai!

Anath nhướng mày, khóe môi cong lên, ánh nhìn ánh lên vẻ thích thú. Hắn cầm chén rượu vàng, uống cạn trong một hơi, rồi bật cười:

“Cái gì mà sứ giả của thần linh chứ, rõ ràng chỉ là kẻ bị nguyền rủa! Nghe nói ngay khi y bước xuống từ thuyền tuần du của Pharaoh, vừa đặt chân đến Thebes, liền bị rắn Uraeus tấn công!”

Nói rồi hắn ném mạnh chiếc chén vàng xuống đất, tiếng va chạm vang giòn giã.

“Thề trước thần Osiris màu mỡ vĩ đại, nếu y không mang điềm dữ, thì sao lại bị chính rắn thiêng của vương quyền cắn trúng?!”

Trên mảnh đất này, người ta tôn xưng loài rắn hổ mang là “Uraeus” — biểu tượng thiêng liêng của vương quyền. Với cư dân sống ở sông Nin, Uraeus là vị thần hộ vệ của các Pharaoh, mang trong mình sức mạnh thần thánh có thể phun lửa hoặc nọc độc để xua đuổi kẻ thù. Hình ảnh nó thường được khắc trên vương miện và trang sức của Pharaoh, tượng trưng cho sự bảo hộ và quyền uy tối thượng của thần linh.

Tại yến hội hôm đó, đám quý tộc vẫn còn bán tín bán nghi về lời tiên đoán liên quan đến vị thần sứ. Họ chưa từng tận mắt chứng kiến bức bích họa bằng đá khổng lồ mà Saito đã nhắc tới, nên thái độ đều chần chừ, lưỡng lự.

Những tiếng xì xào nhỏ dần nổi lên giữa không gian im ắng.

Anath đột nhiên đứng dậy, giọng nói đanh thép vang vọng:

“Vương huynh của tôi chắc chắn đã bị kẻ bị nguyền rủa mê hoặc! Y dùng lời ngon tiếng ngọt để che mắt cả đôi mắt của thần Horus!”

Hắn tất nhiên không thể công khai phỉ báng Pharaoh, nên liền khéo léo đổ hết tội lỗi lên đầu người đã diện kiến sứ giả kia.

Trong lòng Anath dâng lên một nỗi ghen tức dữ dội. Hắn căm hận người anh của mình — vị Pharaoh đương nhiệm. Bởi lẽ người được phụ vương sủng ái nhất, đáng lẽ phải là hắn mới đúng!

Dù ngai vàng luôn truyền cho nam giới, song để đảm bảo huyết thống thuần khiết, quyền kế vị lại được truyền theo dòng máu mẫu hệ, chỉ con do Pharaoh và Vương hậu sinh ra mới có thể đường hoàng bước lên ngôi vị thừa kế.

Mà mẫu thân của Lahotep chính là em của vị Pharaoh đời trước, đồng thời cũng là đương kim Vương hậu. Vì thế, việc hắn trở thành người kế vị là điều đương nhiên, hắn chính là “Đứa con của thần linh”, sinh ra bởi Pharaoh và Vương hậu.

Anath nghiến răng, quai hàm căng cứng:
“Tôi nhất định sẽ khiến vương huynh nhìn rõ bộ mặt thật của tên sứ giả đó!”

Hắn nâng chén vàng, dốc cạn thứ rượu còn sót lại, để mặc những giọt cuối cùng rơi xuống mặt đá cẩm thạch lạnh buốt.

Một tiếng “xoẹt” khô khốc vang lên, lưỡi kiếm sắc lạnh tuốt khỏi vỏ.

Mũi kiếm lóe sáng, chĩa thẳng về phía hắn, như thể sắp xuyên qua lớp đá quý hồng mã não trên vòng cổ mà đâm thẳng vào tim.

Anath nhíu mày:
“Saito! Cậu muốn làm cái gì ? Dám mang kiếm vào giữa trung ương viện, lại còn chĩa vào anh của cậu, đó là lễ nghi của hoàng tộc sao?!”

Sau chiếc mặt nạ đen hình đầu chó rừng, đôi mắt vàng nâu của Saito lạnh lẽo nhìn chằm chằm hắn.

“Cấm miệt thị Mẫu Thần.”

Dù đã quá quen với tính khí thất thường của người em cùng cha khác mẹ, Anath vẫn không khỏi khiếp sợ:
“Cậu điên rồi sao?! Thế mà dám gọi kẻ bị nọc độc Uraeus nguyền rủa là ‘Mẫu Thần’ ư?”

Chưa dứt lời, tiếng quyền trượng gõ mạnh xuống nền đá vang lên giòn giã, chấn động khắp hành lang.

Từ sau những cột trụ khắc hoa sen và cỏ gấu, Pharaoh Lahotep cầm quyền trượng bước ra giữa viện.

Đầu quyền trượng hình đĩa mặt trời phản chiếu ánh lửa, rực sáng chói lòa.

Giọng nói của Lahotep vang lên:
“Thần sứ chỉ vì say sóng mà ngất lịm, Anath. Vậy mà cậu lại dựng chuyện nói y bị rắn độc cắn, tại sao phải bịa đặt như thế? Huống chi, cậu đang ở trong cung, làm sao biết được tin này?”

Ánh mắt hắn hạ xuống, uy lực lạnh buốt khiến kẻ khác rợn người, một ánh nhìn sắc bén chẳng khác nào phụ vương thuở sinh thời.

Anath nhìn thấy sau lưng Pharaoh là một thân ảnh khoác áo choàng trắng, dáng người thanh nhã đứng yên lặng. Trông đối phương khỏe mạnh, thần sắc ung dung, hoàn toàn không giống kẻ từng bị rắn cắn.

Hắn ấp úng, nói chẳng nên lời:
“Vương… vương huynh…”

Bốn phía, các quan thần và quý tộc đồng loạt cúi người hành lễ:
“Pharaoh vĩ đại, nguyện Người trường thọ, phồn vinh và khỏe mạnh.”

Lahotep giơ tay ra hiệu cho họ đứng lên, đôi mắt xanh tím sâu thẳm khóa chặt lấy Anath:

“Thần sứ đến Thượng Ai Cập để mang lại phì nhiêu và hòa bình, đó là đáp lại niềm mong mỏi của dân chúng Thebes. Chính vì vậy, y mới lựa chọn hạ cố tới nơi này.”

“Còn cậu, Anath, lại dám công khai vu khống, gieo lời gièm pha về thần sứ.”

Giọng nói của Pharaoh lạnh dần:
“Phải chăng tôi đã quá dung túng cậu? Anath, bộ dạng hiện tại của cậu sẽ khiến phụ vương thất vọng biết bao.”

“Là anh cả, tôi có trách nhiệm thay Người dạy dỗ cậu.”

“Bắt đầu từ hôm nay, ta cách chức ngự giả của cậu, tước khỏi đội cận vệ xa giá(*) hoàng kim, và điều cậu đến trông coi công trình xây dựng bia tháp trước thần miếu.”

(*) "Hộ vệ xa giá" nghĩa là việc bảo vệ vua hoặc một người quan trọng trong đoàn xe đang di chuyển

Sắc mặt Anath lúc trắng bệch, lúc đỏ gay gắt. Hắn cắn môi, ánh mắt đầy phẫn nộ xuyên qua đám người, bắt gặp ánh nhìn của người cậu Đại Tư Tế của hắn.

Đại Tư Tế hiển nhiên cũng không ngờ rằng mọi chuyện lại trượt khỏi quỹ đạo của kế hoạch ban đầu đến mức ấy. Gương mặt ông ta thoáng biến sắc, rồi nhanh chóng cúi thấp mi, ra hiệu cho Anath tạm thời kiềm chế cơn nóng giận.

Anath, dù phẫn uất đến nghẹn, vẫn phải cố nén cảm xúc, quỳ xuống hành lễ:
“Anath xin tuân theo lệnh của Pharaoh.”

Lahotep khẽ mỉm cười, khóe môi nhếch lên đầy ẩn ý:
“Trùng hợp thật, khi tôi vừa vào cung, lại bắt được một con chuột già lén lút truyền tin…”

Ánh mắt hắn chậm rãi quét qua đám người, dừng lại ở phía Đại Tư Tế.

Mồ hôi lạnh bắt đầu lấm tấm trên trán vị tư tế già nua. Mãi đến khi Pharaoh cất giọng tiếp theo, giọng nói hắn vẫn thong thả:
“Đã là chuột, thì đương nhiên phải tiêu diệt ngay tại chỗ, để tránh mang dịch bệnh đến cho hoàng cung.”

Câu nói nghe tưởng chừng nhẹ nhàng, nhưng lại hàm chứa lời cảnh cáo nặng tựa đá. Hắn không truy cứu tận gốc, không chỉ đích danh ai, nhưng ai có tai đều hiểu rõ con chuột già mà Pharaoh nhắc đến là ai.

Dưới ánh nhìn uy nghiêm đó, Đại Tư Tế không dám chạm mắt Anath, chỉ đành cúi đầu, rồi trong sự kinh ngạc không tin nổi của Anath, ông ta lại cung kính lên tiếng:
“Pharaoh vĩ đại, lòng nhân từ và công chính của ngài sâu như nước sông Nin, rực rỡ như hào quang Thần Mặt Trời. Xin tôn kính thần sứ, người mang ý chỉ của chư thần xuống trần, xua tan bóng tối, bảo hộ muôn dân.”

Đám quý tộc và quan viên đồng loạt quỳ xuống, nối tiếp lời tán tụng vang dội khắp điện.

.......

Dưới lớp áo choàng dài, khuôn mặt Tân Hòa Tuyết bị bóng nón che khuất. Bóng tối phủ lấy đôi mắt y, giúp y vừa không để lộ vẻ mặt thật, vừa có thể bình thản quan sát hết thảy những người có mặt nơi đó.

Thực ra, y vốn chẳng có thiện cảm gì với loài rắn, thậm chí còn có chút ghê sợ. Nhưng sau khi đã trải qua thế giới thứ hai, y đã học được cách kiềm chế, tâm lý dần trở nên vững vàng.

Còn lần ngất xỉu kia, dĩ nhiên chỉ là một màn kịch có chủ ý.

Ngay khi cảm nhận được ánh mắt đầy sát ý chiếu thẳng lên mình, Tân Hòa Tuyết đã nhận ra có gì đó bất thường. Một con rắn hổ mang sống nơi sa mạc, lại đúng lúc mặt trời lặn mà từ bãi cỏ bên sông bò ra, há có thể chỉ là ngẫu nhiên?

Điều trùng hợp là trước khi rời thuyền, y và Lahotep có cùng uống loại rượu nho pha bạc hà mà y mang đến. Mùi bạc hà mạnh hòa cùng hơi cồn nồng độ cao, với khứu giác cực kỳ nhạy cảm của loài rắn, chẳng khác nào một sự k*ch th*ch khó chịu. Nó vươn đầu lưỡi chẻ đôi ra dò khí, cảm nhận mùi trong không khí, nên tất yếu sẽ bị xua đuổi.

Chính vì thế, Tân Hòa Tuyết vẫn giữ được bình tĩnh, không chút sợ hãi trước cảnh tượng ấy.

Y không cần tốn công truy tìm ai là kẻ thả rắn. Chỉ cần giả vờ bị rắn cắn theo ý đối phương, ngất đi tại chỗ, để bọn chúng tin rằng kế hoạch đã thành công.

Đám thị vệ khi ấy chen chúc vây quanh, tình hình hỗn loạn đến mức chẳng ai kịp xác nhận con rắn có thực sự cắn trúng y hay không. Mà những kẻ giật dây phía sau, tự nhiên cũng vì vậy mà tự chui đầu vào bẫy, lộ rõ sơ hở như những tên hề nhảy nhót lung tung.

Mấy ngày qua, thông qua quan sát tỉ mỉ,
Tân Hòa Tuyết đều chú ý đến việc giá trị tình yêu của hắn vẫn luôn bất động. Y có lẽ đã hiểu đôi chút vê vị Pharaoh Thượng Ai Cập này.

Lahotep không hề giống vẻ ngoài sùng bái thần linh như người ta tưởng. Vị Pharaoh trẻ tuổi này thực ra chẳng hề tin tưởng tuyệt đối vào “ý chỉ của các vị thần”. Là người kế vị mới lên ngôi, hắn cần một “người phát ngôn của thần minh” để củng cố địa vị của mình và kiềm chế quyền lực của giới tư tế địa phương, vốn ngày càng lấn át ngai vàng.

Ánh mắt Tân Hòa Tuyết liếc qua Anath cùng Đại Tư Tế, và cả những tư tế khác đang đứng phía sau họ.

Bọn họ đều là tín đồ trung thành của thần Osiris, được Pharaoh đời trước thành lập. Khi quyền lợi bị lung lay, họ lập tức nhân danh “ý chí của thần linh” để chống đối vị vua mới, biến niềm tin thành vũ khí, thành thanh gươm giơ thẳng vào quyền lực tối cao.

Lahotep......

Hồi tưởng lại cảnh vừa rồi, khi Lahotep ôm lấy y, giả vờ hỏi về “lên men” để che giấu khoảng cách giữa họ và đám thị vệ, Tân Hòa Tuyết chợt nhận ra một điều: có lẽ Pharaoh cũng đang lợi dụng kẻ địch để thử thách người sứ giả của thần linh này.

Còn việc hắn ta vung kiếm chém rắn, là phản ứng xuất phát từ bản năng trước hiểm nguy… hay là một nước cờ có toan tính khác?

Đôi mắt của Tân Hòa Tuyết khẽ nheo lại.

Khoảnh khắc ấy, khi Lahotep ôm y, thanh âm nhắc nhở khẽ vang lên bên tai.

【Giá trị tình yêu của Lahotep +5】

.......

Trong đại sảnh dát vàng lộng lẫy, bốn bức tường được trang trí bằng những bức họa rực rỡ, vẽ từ khoáng thạch quý, mà trên trần lại dát vàng, điểm xuyết những hoa văn mô phỏng bầu trời sao lấp lánh.

Giữa yến tiệc xa hoa, Lahotep nâng ly, lấy ra bình rượu nho mà Tân Hòa Tuyết tặng hắn, mỉm cười nói:
“Đây là rượu quý do thần sứ đại nhân mang đến từ phương xa, xin chư vị cùng nhau nếm thử.”

Một vị tể tướng ngồi bên trái ngai vàng của Pharaoh lên tiếng hỏi:
“Pharaoh, thứ đựng rượu này là vật gì vậy?”

Lahotep bật cười, ôn tồn đáp:
“Đến cả Thượng Ai Cập Đại pháp quan mà cũng chưa từng thấy qua ư? Đây là bình rượu được chế tác bằng pha lê.”

Người tể tướng kia, nghe vậy liền thoáng ngượng ngùng, đáp:
“Thần quả thật chưa từng nghe qua.”
Hắn lặp lại chậm rãi từ mới mẻ ấy, như đang nếm thử từng âm tiết: “Pha… lê…”

Người hầu từ tay Pharaoh cẩn thận nhận lấy bình rượu pha lê. Rượu không nhiều, nên theo thứ tự chỗ ngồi, chỉ những quý tộc và quan viên ngồi gần Pharaoh mới được chia mỗi người một chén nhỏ.

Vị quan tể tướng vốn không mấy hứng thú với rượu, nhưng lại bị thu hút bởi chiếc bình trong suốt:
“Không biết có thể cho thần ngắm kỹ vật này được chăng?”

Lahotep liếc về hướng thần sứ. Dưới lớp áo choàng trắng, Tân Hòa Tuyết khẽ cúi đầu, ra hiệu đồng ý. Thấy vậy, Lahotep phất tay bảo người hầu mang bình rượu trao cho tể tướng.

Người này nâng niu chiếc bình trong suốt trong tay, đặt dưới ánh lửa. Ánh sáng khúc xạ qua thân bình, lung linh rực rỡ.
“Thật là vật do thần minh tạo ra… Nếu có thể biết cách chế tác, nhất định sẽ hữu dụng vô cùng.”

Giọng nói của thần sứ vang lên, lạnh nhạt mà êm như gió đêm lướt qua mặt sông Nin:
“Tôi cũng có ý nghĩ đó. Nếu vậy, xin quan tể tướng ngày mai hãy dẫn vài thợ thủ công ưu tú của Thượng Ai Cập đến gặp tôi.”

Vị tể tướng vui mừng đáp:
“Thần tuân mệnh! Không biết ngày mai thần sứ đại nhân có rảnh chăng?”

Hai người trò chuyện hết sức hòa thuận, khiến Lahotep khẽ nheo mắt, nhưng vẻ ngoài vẫn giữ dáng ôn hòa:
“Tể tướng, thần sứ đại nhân vượt đường xa đến đây, cần được nghỉ ngơi. Hãy tạm buông bình pha lê xuống, cùng mọi người thưởng rượu đi.”

Tể tướng cúi đầu:
“Là thần sơ suất.”

Trong lòng Anath buồn bực không thôi. Hắn vốn dĩ ngự giả ở đội cận vệ xa giá hoàng kim, là một vị tướng tầm trung ở quốc gia. Giờ bị giáng chức làm quan xây dưng, đi giám sát công trình bia đá.

Ngực hắn phập phồng, hít thở nặng nề. Hắn ngẩng đầu, như một con trâu giận dữ, dốc cạn chén rượu vàng trong tay.

Khi hương rượu nho nồng ấm lan khắp khoang miệng, Anath mới dần nhận ra vị ngon tinh tế của nó, vị nho chín ngọt thanh hòa cùng chút the mát của bạc hà, không đặc sánh, không gắt nồng như những loại rượu nho khác, chỉ còn lại dư vị cồn mềm mại, thanh khiết mà say đắm.

Hắn chưa từng nếm qua loại rượu nào như thế. Hoặc là nói, trong toàn bộ giới quý tộc sông Nin, ngoài Pharaoh Lahotep là người đã được uống trước, tất cả đều ngạc nhiên và tán thưởng.

“Thật là kỳ diệu!” – một quý tộc yêu rượu không kìm được tán thưởng – “Tựa như thần Tefnut ban xuống cam lộ, ngọt ngào mà không ngấy, lại thanh thoát như đầu nguồn của sông Nin. Dù có được thần Jet che chở, cũng chẳng bằng được một ngụm rượu thấm vào ruột gan này!”

Vành tai Anath đã nhiễm một chút màu đỏ, hơi men khiến hắn quên mất mọi bực dọc, lại nảy sinh gan dạ và một chút liều lĩnh.

Hắn liếc nhìn sang phía phải của ngai vàng, nơi thần sứ ngồi. Vị khách từ phương xa, mới đến Thượng Ai Cập chưa lâu, nhưng đã được trọng vọng đến mức thay thế cả chức Đại Tư Tế của cậu hắn.

Anath giơ cao chiếc chén trống không, giọng lẫn men say:
“Thần sứ đại nhân, sao ngài không uống? Hay là trong rượu có điều gì bất ổn?”

Miệng nói “đại nhân”, nhưng trong giọng hắn lại chẳng có chút kính trọng nào.

Thế mà vị thần sứ khoác áo choàng trắng vẫn bình thản, không chút phẫn nộ. Y chỉ nhẹ nhàng nâng ly rượu lên, hướng về phía Anath, khẽ gật đầu xem như đáp lại.

Sau đó, ly rượu vàng chạm nhẹ lên đôi môi mỏng hồng nhạt, uống hai ngụm. Vì động tác của y, dưới vành mũ rộng, lộ ra chiếc cằm trắng nõn và đôi môi hồng nhạt cùng đường nét thanh tú, đẹp đến mức khiến người khác phải lặng đi.

Khi ly rượu rời khỏi môi, một lớp ánh nước trong suốt còn đọng lại nơi khóe miệng.

Ánh mắt Anath bỗng dừng lại. Không hiểu vì sao, hắn chỉ thấy đôi môi ấy…

Quá......

Quá......

Hắn không nói nên lời, chỉ cảm thấy mặt đỏ bừng, tai cũng đỏ, hơi thở gấp gáp, rồi im lặng ngồi xuống, chờ bữa tiệc kết thúc.

.......

Ngoài rượu nho do thần sứ mang đến, trong yến tiệc dĩ nhiên còn có vô số loại rượu quý từ khắp nơi dâng lên.

Anath uống hết ly này đến ly khác, men rượu khiến khuôn mặt vốn oai phong bừng bừng của hắn càng thêm đỏ rực, nét kiêu ngạo thường ngày cũng hòa vào hơi men mà trở nên phóng túng, cẩu thả.

Khi yến tiệc tan, hắn loạng choạng rời đại điện, men theo hành lang dài trở về cung điện của mình.

Anath chưa lập gia đình, không giống những người anh em đã có vợ con, nên vẫn sống trong khu hoàng cung. Nhưng vì chẳng được vị vương mới tín nhiệm, cung của hắn nằm ở vị trí chẳng tốt mà cũng chẳng xấu, nói đúng hơn là có chút hẻo lánh, tịch mịch.

Hắn bước đi với dáng vẻ vững vàng, phía sau có mấy tên tùy tùng thân tín đi theo. Trong lúc ánh đuốc lay động, hắn vô tình liếc thấy ở cuối hành lang có một bóng áo trắng.
Người đó đi không nhanh, bên cạnh chỉ có một hai kẻ hầu, hoàn toàn khác với cảnh chen chúc vây quanh trong yến hội khi nãy.

Bóng dáng ấy, dưới ánh trăng, mảnh mai đến mức gần như tan vào sắc bạc của đêm.

Men rượu trong đầu Anath bỗng dâng lên, hắn cũng chẳng hiểu vì sao, chỉ biết hình ảnh kia và đặc biệt là đôi môi nhợt hồng ấy cứ như khắc sâu trong tâm trí, không thể nào xóa đi được.

“Hừ, cái gọi là thần sứ kia… e rằng chỉ là giống như cục đá, thân thể gầy gò như cành khô thôi!”

Nếu không thì cớ gì y lại suốt ngày khoác kín trong tấm áo choàng, chẳng để ai nhìn rõ dung mạo thật?

Anath cảm thấy như vừa tìm được cơ hội để xóa đi nỗi nhục mà mình phải chịu trong bữa tiệc, để lấy lại chút thể diện trước mặt người kia.

Hơi thở hắn gấp gáp, lửa trong ngực bốc lên, lan ra toàn thân, càng lúc càng nóng rực cho đến khi không thể kiềm nén được nữa.

“Thần sứ đại nhân, xin dừng bước!”

Bóng áo trắng phía trước quả nhiên khựng lại, chậm rãi xoay người.

Giọng nói của người ấy vang lên, trong trẻo mà êm ái như ánh trăng.

“Quan xây dựng, có chuyện gì sao?”

Cách xưng hô “quan xây dựng” như một mũi tên đánh thức lòng kiêu hãnh bị tổn thương của Anath.

Hắn bước tới, vung tay định kéo mũ choàng của đối phương xuống:

“Ngươi nhất định là.....”

Nhưng câu nói chưa kịp thành lời đã nghẹn lại nơi cổ họng. Ánh mắt hắn bỗng mở to, như bị một cảnh tượng trước mắt đánh mạnh vào thần trí.

Trong quan niệm của người dân bên sông Nile, trái tim được xem là cơ quan của tư duy. Trái tim hắn vẫn đang đập mạnh mẽ, chứng tỏ đầu óc hắn lúc này cũng đang hoạt động dữ dội như một cơn lốc.

Dưới ánh trăng và ánh lửa đuốc chập chờn, mái tóc bạc trắng như tuyết nhẹ nhàng rơi xuống vai, mịn màng như tơ.

Hàng mi dài cong khẽ rung, đôi mắt màu hồng nhạt trong suốt ngước nhìn lên, ánh lên sắc chiều của mặt trời lặn trên sông Nin.

“Ngài có việc gì sao?”

Anath lắp bắp, không biết nên nói gì, chỉ đành vụng về đổi câu giữa chừng, nặn ra vài tiếng lí nhí:
“Nhất… nhất định là sắc đẹp của ngài đã mê hoặc quân vương…”

P/s : >Từ khi bắt đầu edit chương đầu tiên của thế giới này đến chương bây giờ, chương nào cũng dài mà chẳng có mấy mống người đọc 🥲
 
Chứng Bệnh Khiến Vạn Người Say Đắm Giữa Chốn Quyền Uy
Chương 145


Nubu bước lên một bước, chắn ngang giữa Anath và Tân Hòa Tuyết. Hắn vốn vẫn đứng canh ở ngoài đình viện trung tâm trong suốt buổi yến tiệc, với thân phận thị vệ, không có tư cách bước vào đại điện. Vì thế, hắn hoàn toàn không biết bên trong đã xảy ra chuyện gì giữa hai người kia.

Nhưng điều đó không ngăn được hắn cảm nhận được sự l* m*ng, khinh thường rõ rệt từ hành động vô lễ, hấp tấp của Anath khi đối diện với Tân Hòa Tuyết.

Nubu đặt tay lên chuôi kiếm bên hông, sẵn sàng nếu người trước mặt có bất kỳ cử động mạo phạm nào, hắn sẽ lập tức rút kiếm.

Bàn tay ấy bỗng bị bao phủ bởi một luồng hơi ấm mềm mại.
“Đừng lo, Nubu.”

Giọng nói dịu dàng kia khiến toàn thân Nubu lập tức cứng đờ, như hóa thành tượng đá, không dám nhúc nhích.
Thấy hắn vẫn đứng yên không phản ứng, Tân Hòa Tuyết khẽ ấn nhẹ lên mu bàn tay hắn, lực ấn vừa đủ để hắn cảm nhận được ý tứ: “Được rồi.”

Nubu lập tức thả lỏng, thu tay khỏi chuôi kiếm, lùi lại một bước, lặng lẽ đứng sang bên, nhường ra khoảng trống giữa hai người.

“Đại nhân Anath, ngài có chuyện gì muốn nói sao?”

Cảm xúc trên khuôn mặt Tân Hòa Tuyết vẫn không vẫn không thay đổi, giống như không muốn tiến hành truy cứu hành động mạo muội của vị hoàng tộc kia, giọng nói y tuy rét lạnh nhưng không lạnh đến mức thấu xương.
“Nếu không có gì, thì đêm đã khuya, tôi phải trở về nghỉ ngơi rồi.”

Trong khoảnh khắc đôi môi hồng nhạt ấy khẽ mở trên khuôn mặt quá mức mỹ lệ ấy, Anath lại vô thức nhớ đến lớp rượu sót lại lấp lánh trên môi đối phương trong yến hội khi nãy, thứ ánh sáng ẩm ướt ấy, so với vẻ lạnh nhạt hiện giờ, dường như càng thêm diễm lệ.

Chỉ là môi người kia… lúc này trông lại càng đỏ hơn.

Trong đầu Anath “bùm” một tiếng, cả khuôn mặt đỏ bừng, hai tai nóng rát.

Tân Hòa Tuyết vẫn chưa nhận được câu trả lời từ đối phương, chỉ thấy người kia bỗng nhiên nhìn mình như y… quái vật. Giống như gặp được sinh vật lạ trong thần thoại, sau đó xoay người bỏ chạy như thể chỉ cần nhìn thêm một cái thôi là sẽ bị hóa đá.

Tân Hòa Tuyết: “?...”

Xem ra hoàng tộc Ai Cập này… có vẻ chẳng ai bình thường cả.

Giọng nói thầm kín của K vang lên trong đầu y, như lời của chương trình giới thiệu game:
【Thần mèo nhỏ tỏa ra uy nghiêm khiến kẻ địch kinh sợ. Niềm tin dân chúng +1, uy tín +10.】

Dưới ánh đèn dầu hai bên hành lang, hoa văn hoa sen lam trên những cột đá lấp lánh phản chiếu ánh sáng dịu vàng.

Tân Hòa Tuyết khẽ phất tay áo: “Đi thôi, Nubu. Trở về.”

…………

Cái gọi là uy tín mà K nói, quả thật không phải lời nói đùa.

Từ K, Tân Hòa Tuyết biết được hiện giờ mình đã tích lũy được 321 điểm, trong đó một phần đến từ tín ngưỡng của cư dân bản địa trong thế giới này nhỏ. Tình cảm sùng kính đó được chuyển hóa thành giá trị uy tín, từ đó biến thành điểm tích lũy, chỉ là hiệu suất chuyển đổi vẫn chưa cao.

“Ý anh là cái ngôi miếu đổ nát kia đã bị biến thành đền cầu phúc, tượng tôi… vẫn đang được người dân thắp hương quỳ lạy, cúng bái sao?”

Sắc mặt của Tân Hòa Tuyết có chút khác thường, tưởng tượng hình ảnh ấy mà trong lòng có chút vi diệu khó nói.

Chẳng lẽ y thật sự trở thành Bồ Tát cá chép chuyên phù hộ sĩ tử đi thi trong truyền thuyết dân gian rồi sao?

Tân Hòa Tuyết lắc đầu, không dám nghĩ sâu hơn về dáng vẻ của mình trong truyền thuyết nơi này.

Thêm nữa trước kia khi y làm dẫn đường trong thế giới nhỏ, y đã tự sát thông tinh thần lực để tiêu diệt cây treo cổ trong gấp khu. Nhờ đó mà thanh lọc cho nhân loại mở rộng phạm vi an toàn, không đến mười năm sau, họ đủ khả năng có thể hoàn toàn quét sạch các khu vực gấp khu đó. Tên của y, có lẽ cũng được lưu lại trong nhiều tài liệu ghi chép về thời kỳ đó.

K tiếp lời nhắc nhở:
“Bởi vì nền tôn giáo của thế giới nhỏ này có tín ngưỡng mạnh, nên hiệu suất chuyển hóa uy tín sẽ cao hơn trước.”

“Kiến nghị ký chủ chủ động gia tăng uy tín.”

Dù sao thì chẳng ai lại chê điểm tích lũy quá nhiều cả. Mà dù Tân Hòa Tuyết phần lớn thời gian không cần dùng đến, y cũng không định từ chối.

Quả nhiên, chỉ hai ngày sau khi y nghỉ ngơi điều dưỡng, tể tướng Vizier đã không thể chờ được nữa, tự mình dẫn theo mấy thợ thủ công bậc cao đến bái kiến, mong học phương pháp chế tác pha lê.

Vị quan lớn này tuy không hứng thú với việc cải tiến rượu nho, nhưng lại đặc biệt say mê chất liệu trong suốt, không phải kim loại ấy.

Hắn ta còn đích thân chọn lựa vài người thợ khéo tay nhất, đều là những bậc thầy từng phục vụ cho hoàng thất.

Ở Ai Cập cổ đại, hầu hết nghề nghiệp và kỹ nghệ đều được cha truyền con nối, bí quyết chế tác quý giá được lưu giữ qua từng thế hệ trong cùng một dòng tộc.

Tân Hòa Tuyết ghi lại toàn bộ phương pháp chế tác pha lê lên giấy cói, rồi truyền lại cho bọn họ. Bản công thức đổi từ cửa hàng hệ thống chỉ có một, y phải tự tay sao chép và dịch lại bằng chữ tượng hình Ai Cập cổ thì người nơi đây mới có thể hiểu được. Ngoài ra, có không ít khái niệm hóa học vốn không nên tồn tại trong thời đại này, y cũng phải khéo léo dùng cách diễn đạt khác để thay thế.

Tể tướng Vizier cẩn thận tiếp nhận tờ giấy, ánh sáng mặt trời xuyên qua khung cửa cung điện, rọi xuống mặt giấy cói. Nét bút của vị thanh niên thần sứ uyển chuyển như dòng Nin, từng vệt mực phảng phất ánh lên sắc nước.

Một nhóm thợ thủ công ghé đầu bàn bạc sôi nổi. Sau khi nghe họ trình bày nghi vấn, Vizier lại quay sang hỏi Tân Hòa Tuyết:
“Tôi nghĩ họ đã hiểu đại khái phương pháp đúc mà ngài nói, đem cát thạch, tro kiềm và vôi theo tỷ lệ ghi lại mà hòa trộn... Sau đó cho hỗn hợp ấy vào nồi nung, đặt trong lò lửa cực nóng để nấu chảy thành pha lê lỏng, rồi đổ vào khuôn, để nguội cho đông đặc, cuối cùng là đánh bóng và điêu khắc.”

Người Ai Cập vốn đã có phương pháp khai thác và sử dụng vôi hiệu quả, nên không cần thêm lời chỉ dẫn của y.

Riêng cát thạch, chỉ cần lấy từ dọc bờ sông Nin là đủ.

Nhưng rồi Vizier lại hỏi:
“Vậy cái ngài gọi là kiềm tự nhiên là thứ gì?”

Tân Hòa Tuyết nghiêng đầu hỏi lại:
“Gần Thebes có hồ nước mặn nào không?”

Vizier sững sờ, chưa kịp trả lời.

........

Mặt trời vàng rực nướng cháy vạn vật. Đôi khi, vài tán lá cọ rũ xuống, rải chút bóng mát hiếm hoi. Nước sông Nin dâng cao, lan tràn qua những cánh đồng hai bờ, lớp cát vàng óng ánh dưới làn nước màu xanh biếc trải dài vô tận.

Dưới chân, từng hạt cát mềm mịn cuốn lấy bước đi, còn tiếng gió thổi qua đám cói sậy cũng đủ che lấp tiếng người. Cát dưới nắng phản chiếu lấp lánh như rắc bạc.

Vì quãng đường không xa, Vizier và Tân Hòa Tuyết không chọn xe ngựa, chỉ dẫn theo vài hộ vệ và tùy tùng.

Rời khỏi hoàng cung Thebes, họ đi về hướng đông, nơi có thể nhìn thấy hình dáng hùng vĩ của một ngôi đền khổng lồ đang dần hiện ra.

Tân Hòa Tuyết giơ tay, Nubu liền bước tới che dù, tua vàng nơi mép dù khẽ đung đưa, để lộ rõ cổng đền uy nghi và hai tòa tháp cao đối xứng bên ngoài.

Dù công trình này vẫn đang trong quá trình xây dựng kể từ khi pharaoh mới đăng cơ, nhưng quy mô đã đủ khiến người ta tưởng tượng đến vẻ huy hoàng mà cát vàng nghìn năm sau cũng chẳng thể che lấp.

Bức tường thành cao bao quanh, ngăn cách không gian thần thánh với trần thế. Hai bên cổng chính dựng những tượng nhân sư thân người mặt thú, cơ thể đầy hoành tráng, dáng nằm phủ phục, tứ chi như sẵn sàng bật dậy, toát lên vẻ uy nghiêm khiến kẻ phàm không dám nhìn lâu.

Dọc đường đi, không ít người nhận ra Vizier cùng vị thần sứ khoác áo trắng bên cạnh, đồng loạt cúi đầu, khom lưng chào kính cẩn:

“Thần sứ đại nhân, ngài có lẽ đang tìm hồ nước mặn…” Vizier vừa nói, vừa dẫn Tân Hòa Tuyết đi vào phía sau ngôi đền, nơi được tường cao che nắng, tạo thành một khoảng bóng râm mát dịu.
“Nơi này chính là đền thờ Thần Sông.”

Tân Hòa Tuyết ngẩng đầu nhìn đền thờ Thần Sông theo lời tể tướng Vizier.

Trước mắt là mặt hồ phẳng lặng như gương, soi rõ sắc xanh của bầu trời trong lành và những cột đá khắc hoa văn hai bên. Ánh nắng len qua kẽ cột chiếu xuống mặt nước, tạo nên từng gợn sóng lấp lánh.

Ánh sáng phản xạ chói mắt khiến y hơi nheo hai mắt lại.

Giữa hồ nổi lững lờ vài con thuyền nhỏ, trang trí bằng vải màu và hoa văn tinh xảo, nạm vàng khảm ngọc, rõ ràng được dùng cho các nghi lễ tế thần và các ngày hội, ngày lễ.

Nếu coi một hồ nước mang tính linh thiêng như vậy là hồ muối để khai thác kiềm tự nhiên, e rằng thật không thích hợp.

Tân Hòa Tuyết còn đang suy tính nên mở lời thế nào, thì từ xa vang lên tiếng hô đồng thanh mạnh mẽ, dội vọng giữa không trung.

Vizier chú ý đến ánh mắt y, liền nói:
“Là đội cận vệ chiến xa hoàng kim, họ đang luyện tập.”

Tiếng kim loại va chạm và vó ngựa dồn dập hòa thành âm thanh trầm hùng, vọng khắp bãi huấn luyện rực nắng.

Quan chỉ huy liên tục hô vang hiệu lệnh, đội quân nhanh chóng điều chỉnh đội hình, thực hiện những pha xung phong và phản kích trong buổi huấn luyện mô phỏng chiến trường. Ngựa phi vun vút, bánh xe xoay tròn như lốc, toàn bộ đội chiến xa tựa một dòng sáng màu vàng kim lướt đi trên nền cát bỏng rát của sa mạc.

Đội cận vệ chiến xa hoàng kim là lực lượng tinh nhuệ nhất trong kinh đô, gần như quy tụ toàn bộ những chiến binh xuất sắc nhất của Thượng Ai Cập.

Bỗng nhiên, từ bên rìa sân huấn luyện, một thân ảnh cao lớn bước ra giữa đám bụi mù do chiến xa để lại. Người đó đeo mặt nạ đen che nửa khuôn mặt, đôi mắt màu nâu vàng kim lạnh lẽo nhìn thẳng vào vị chiến xa đang dẫn đầu:

“Anath, pharaoh đã ra chỉ dụ cách chức anh khỏi vị trí Thủ tịch Ngự giả. Từ nay, anh phụ trách việc xây dựng tháp bia bên ngoài đền thần.”

Anath siết chặt dây cương, bánh xe chiến xa rít mạnh rồi dừng hẳn.

Hắn đứng trên xe, ngược sáng khiến khuôn mặt khó thấy rõ, giọng nói trầm và lạnh:
“Chỉ cần chiếu chỉ của Pharaoh chưa được ban xuống, tôi vẫn là Thủ tịch Ngự giả.”

Thực ra, hắn hoàn toàn không có năng lực trong lĩnh vực xây dựng. Việc pharaoh điều hắn đi làm quan xây dựng chẳng qua là giam hắn vào một chức vụ hữu danh vô thực, chỉ còn biết nghe lệnh đám quan lại dưới quyền mà thôi.

Lahotep vừa trở về Thebes từ chuyến tuần du trên sông Nin, còn đang bận xử lý đống công vụ chất cao như núi trong cung điện. Làm sao có thể nhanh chóng hạ lệnh chính thức được?

Saito lạnh lùng nhìn hắn.

Anath biết rõ, Saito chính là cánh tay phải đắc lực của Lahotep, địa vị chẳng khác nào nửa vị tể tướng Vizier, thậm chí quyền hạn còn vượt qua cả Vizier. Những gì hắn nói hôm nay, chắc chắn sẽ được Saito mang về thuật lại bên tai Lahotep.

“Cậu chỉ biết chạy về méc pharaoh sao, Saito?” – Anath nheo đôi mắt màu nâu lại, giọng khinh khỉnh. – “Hay là, cậu không dám cùng tôi phân thắng bại ngay tại đây?”

Lahotep là con trai trưởng của vương hậu, mang dòng máu vương thất thuần khiết, việc kế vị vốn là điều hiển nhiên. Nhưng tại sao một kẻ như Saito — con của một nữ nô, kẻ từng ăn thịt sống uống máu thú, nhưng chức quyền của Sato sao lại có thể cao hơn hắn?

Saito không hứng thú với trò khiêu khích vô nghĩa ấy.

Anath nhếch môi cười lạnh:
“Ra là sợ rồi sao?”

Nhưng đột nhiên, ánh mắt Saito khựng lại. Hắn liếc qua hàng binh lính đang đứng ngay ngắn, rồi nhìn thấy một bóng áo trắng đang tiến về phía này.

Hắn xoay người, bắt gặp Anath đang nhìn mình, chỉ nói một câu:
“... Được thôi.”

........

Bên cạnh sân huấn luyện, bia ngắm làm bằng bó cỏ khô, giữa có vẽ một vòng tròn đỏ làm hồng tâm. Gió nhẹ lay động từng cọng cỏ, hai chiếc chiến xa ánh vàng lấp lánh lao vun vút trên cánh đồng cát, vó ngựa dồn dập, bụi bay mù trời.

Ánh nắng phản chiếu trên bánh xe và giáp sắt chói lòa.

Saito đứng vững trên chiến xa đang nảy xóc, nâng tay kéo cung. Dây cung căng như sắp đứt, mũi tên dừng lại cách mặt nạ đen trên gương mặt hắn chỉ hai tấc. Những hoa văn mạ vàng trên mặt nạ phản chiếu ánh sáng rực rỡ, rồi tiếng dây cung bật ra một tiếng “vút” sắc lạnh!

Mũi tên như một tia sao băng, xé gió lao đi.

Không thèm nhìn xem mũi tên có trúng hồng tâm hay không, Saito chỉ đưa mắt về phía Tân Hòa Tuyết.

Anath vốn đang định kéo cung, nhưng ánh nhìn khác lạ của Saito khiến hắn bất giác liếc theo. Trong tầm mắt, tấm áo choàng trắng nổi bật giữa nắng vàng. Cánh tay kéo cung của hắn chợt run lên, cơ bắp căng lại như co giật.

Ngựa hí vang, trục bánh chiến xa phát ra tiếng rền.

Anath nhắm mắt, trấn định lại, rồi trong tiếng xóc nảy dữ dội, hắn giương cung lần nữa. Ánh sáng mặt trời lóe lên nơi đầu mũi tên.

“Vút—!”

Mũi tên rít gió lao đi, cắm thẳng vào bia ngắm nơi xa!

Bánh xe lăn một vòng rồi dừng lại, giống như có thể cắt ngang cả không khí. Cả hai cùng lúc nhảy khỏi chiến xa, không biết vì điều gì mà tiến lại gần dường như đều muốn phân rõ cao thấp trước mặt vị thần sứ áo trắng.

Anath ngẩng cằm, có chút ghét bỏ mà mở miệng:
“Thần sứ đại nhân không thể nhìn thẳng vào ánh sáng của Thần Mặt Trời sao?”

Mồ hôi trong suốt lăn dọc cổ Saito, hắn nhìn về phía Tân Hòa Tuyết chỉ khẽ gọi một tiếng:
“Nephthys…”

Tân Hòa Tuyết không đáp, ánh mắt vẫn dõi về phía bia ngắm nơi xa.

Anath tưởng y đang đánh giá kết quả, bèn kiêu ngạo hừ lạnh:
“Không cần nhìn tôi chắc chắn trúng hồng tâm.”

Ánh mặt trời nóng chói chang gay gắt, giống như có ngọn lửa từ cát và nắng khiến đống cỏ khô ở xa như đang bốc cháy.

“Tro tàn,” Tân Hòa Tuyết quay sang Vizier mà nói.
“Tôi nghĩ ra thứ có thể thay thế kiềm tự nhiên rồi.”

_________________

Không ai buồn để ý đến hai con chó kia nữa.
 
Chứng Bệnh Khiến Vạn Người Say Đắm Giữa Chốn Quyền Uy
Chương 146


Tân Hòa Tuyết đã lâu rồi không còn gặp phải tình huống nào cần vận dụng đến kiến thức khoa học tự nhiên. Tuy rằng khi còn ở tiểu hành tinh, hay trong quãng thời gian mang thân phận thái tử, mỗi ngày y đều phải học hành nặng nề, nhưng nếu so sánh, những chuyện khi ấy thậm chí đã cách bốn thế giới về trước.

Hiển nhiên, nội dung nhiệm vụ lần này của y không có nhiều chỗ để phát huy tri thức khoa học, vốn dĩ cũng chẳng phải sở trường của y.

Bởi vậy, khi nhìn thấy sân huấn luyện phía xa, nơi cỏ khô dưới ánh mặt trời vàng rực như sắp bị bén lửa, Tân Hòa Tuyết mới chợt nhớ ra, còn có thể dùng vật liệu thay thế để tạo ra chất kiềm nhân tạo.

Trong thời đại mà người ta vẫn còn đốt rẫy để gieo hạt, thì tro thực vật chính là món quà tốt nhất mà thiên nhiên ban tặng.

Dĩ nhiên, đối với những cư dân sống dựa vào con sông Nin, nơi mỗi năm nước lũ lại có chu kỳ dâng tràn, mang theo phù sa màu mỡ, họ vẫn chưa hình thành ý thức “khai hoang để cải thiện độ phì nhiêu của đất”. Kỹ thuật nông nghiệp đốt rẫy gieo hạt đối với họ mà nói, vẫn là một khái niệm xa lạ.

Tân Hòa Tuyết quay sang giải thích sơ qua với Vizier, hoàn toàn không để tâm đến hai người còn lại.

Từ góc nhìn của Saito và Anath, chỉ thấy dưới lớp áo choàng dài trắng muốt, bên dưới chiếc mũ trùm chỉ lộ ra phần cằm mảnh nhỏ, đường nét mềm mại, không mang vẻ cứng rắn thường thấy ở nam giới. Nếu nói theo cách của Anath, thì quả thật là mềm mại như phụ nữ.

Anath từng nghe Saito nhiều lần gọi người kia là “Mẫu thần”, có lẽ vị thần sứ xuất thân bí ẩn này, dưới lớp áo choàng kia, thực sự sở hữu thân thể mềm mại chẳng khác gì nữ nhân. Có lẽ đó cũng là lý do vì sao đối phương luôn che kín mình từ đầu đến chân.

Kẻ dám dùng lời lẽ bất kính để nói về một thần sứ như thế, lại là một kẻ mang dòng máu hoàng tộc kiêu ngạo, ắt hẳn cũng đang để mặc cho sự kiêu căng và khinh miệt của mình dẫn dắt.

Anath nhớ lại gương mặt thật của đối phương mà hắn đã thấy đêm qua, chiếc cằm nhỏ và chiếc cổ mảnh khảnh, làn da trắng đến mức thiếu cả sức sống. Trong mắt hắn, chỉ cần bất kỳ nữ vũ công Ai Cập nào với cánh tay rám nắng rắn chắc, cũng có thể dễ dàng khống chế được vị thần sứ này.

Một thần sứ như thế, không đáng để hắn sợ hãi.

Trong lúc Anath còn đang suy nghĩ, Vizier sau khi nghe Tân Hòa Tuyết giải thích lại tỏ ra quá mức phấn khích. Hắn ta phấn khích đến mức gần như muốn nắm lấy tay vị thần sứ kia để bày tỏ lòng cảm kích.

Nhưng Vizier rõ ràng đã quên rằng đối phương toàn thân đều được che kín dưới lớp áo choàng trắng.

Anath thấy Tân Hòa Tuyết theo phản xạ lùi lại một bước, chiếc mũ trùm khẽ rung theo động tác, và từ bóng tối bên trong, hắn thoáng thấy được đôi môi nhạt màu ẩn dưới tán nón.

Khoảnh khắc ấy, trong đầu Anath chợt hiện lên hình ảnh của đêm hôm trước, thứ rượu trong suốt ánh lên trên đôi môi ấy, như phủ một lớp sáng mờ khiến màu môi trở nên đỏ thắm hơn.

Thời tiết khô nóng khiến lòng hắn bỗng trở nên bức bối, khó chịu.

Vizier, khi bị Saito kịp thời chen vào giữa để ngăn lại, mới lúng túng nhận ra sự thất lễ của mình, vội rụt tay về.

Đôi mắt màu nâu vàng ẩn sau chiếc mặt nạ hình đầu chó của vị hoàng tộc kia chiếu thẳng vào hắn, như thể đang đối diện với một kẻ địch có thể gây nguy hiểm.

Vizier bất giác nhớ đến những lời đồn rùng rợn xoay quanh vị thần sứ này, mồ hôi trên thái dương lập tức rịn ra. May thay, đúng lúc ấy, Tân Hòa Tuyết cất tiếng, làm Saito tạm thời chuyển hướng chú ý.

Tân Hòa Tuyết hỏi:

“Vizier đại nhân, xưởng chế tác của thành Thebes ở đâu?”

………

Sau khi tân Pharaoh kế vị, kinh đô mới Thebes vẫn chưa hoàn toàn được xây dựng xong. Khắp nơi là công trình dang dở, từ kim tự tháp lăng mộ của Pharaoh, đền thờ Thần Mặt Trời đang thi công, cho đến hệ thống kênh dẫn nước phục vụ tưới tiêu và sinh hoạt cho toàn thành phố…

Dù là các xưởng thủ công hay những nghệ nhân hoàng gia được chuyển từ cố đô đến, tất cả đều được sắp xếp ở một ngôi làng nằm ngoài vùng mạch nước lớn của Thebes. Ngôi làng này được thành lập chuyên biệt cho những thợ thủ công phụ trách chế tác đồ vật cho lăng mộ hoàng gia và đền thờ.

Đường phố trong làng sạch sẽ, hai bên là những căn nhà thấp nhỏ san sát nhau. Tùy theo từng ngành nghề thủ công khác nhau, các xưởng cũng được phân khu rõ ràng.

“Leng keng keng”, “bốp bốp bốp bốp” — tiếng búa đập, tiếng đẽo gọt vang vọng không dứt trong không gian. Các học trò học nghề vác vật liệu đi lại trên con đường hai bên, vừa lúc gặp một đoàn người đang tiến đến.

“Ngài Anath cũng quan tâm đến kỹ thuật đúc pha lê sao?”

Nghe vậy, Anath khẽ nheo mắt nhìn người vừa lên tiếng, chính là kẻ hộ vệ đi theo thần sứ tối qua. Theo những tin tình báo mà hắn dò được, người này vốn là nô lệ được đưa từ mỏ đá đến, có đôi mắt vàng kim khác thường.

Một tù binh Nubia chăng?

Khóe môi Anath nhếch lên thành nụ cười lạnh, ánh nhìn khinh miệt không hề che giấu. Song, tầm mắt hắn lại vô thức lướt qua bóng áo choàng trắng đi phía trước.

“Hừm… Tôi chỉ muốn xem thử, vị thần sứ này có thật sự, như lời tiên đoán, sở hữu năng lực vượt ngoài con người hay không.”

Nubu vốn chẳng có chút thiện cảm nào với hoàng tộc Ai Cập, đặc biệt là vị quý tộc kiêu căng trước mắt, kẻ luôn mang theo ánh nhìn khinh miệt và tính khí ngạo mạn. Vì luôn cảnh giác, hắn cũng không tỏ ra bất thường trước những lời đầy mỉa mai kia.

Ánh mắt Nubu tối lại, bàn tay nắm chuôi kiếm khẽ siết chặt.

Xưởng pha lê tạm thời được cải tạo lại cho nhiệm vụ lần này. Ngay khi bước vào cửa, một luồng hơi nóng hừng hực phả thẳng vào mặt, như thể miệng lò đang há rộng, muốn nuốt trọn tất cả.

Tân Hòa Tuyết giơ tay che mặt tránh luồng nhiệt, được Nubu nhẹ nhàng đỡ lùi lại phía sau.

Chẳng mấy chốc, một thợ thủ công đã nhận ra họ, vội vàng lau mồ hôi trên trán rồi bước ra nghênh đón. Người này chính là thợ thủ công mà buổi sáng Vizier đã dẫn đến để học kỹ thuật đúc pha lê do Tân Hòa Tuyết truyền dạy.

Tân Hòa Tuyết đã cẩn thận ghi chép tỉ mỉ lại phương pháp luyện pha lê trên giấy cói và giao cho họ.

“Các vị đại nhân, không biết lần này đến có điều gì chỉ dạy thêm chăng?” – thợ thủ công vừa lau mồ hôi trên trán mình, giọng có phần ái ngại. “Bên trong rất nóng, khó mà đứng lâu. Nếu có chỉ thị gì, xin cứ nói trực tiếp, chúng tôi sẽ lập tức làm theo.”

Để làm tan chảy nguyên liệu pha lê cho đến khi trở thành dung dịch trong suốt, lò luyện phải đạt tới hơn tám trăm độ. Dù họ chỉ đứng ở cửa xưởng, hơi nóng hầm hập vẫn truyền qua không khí, khiến buổi trưa vốn đã oi ả lại càng ngột ngạt.

Vizier liền giải thích cho thợ thủ công rằng có thể dùng tro từ thực vật thay thế “chất kiềm tự nhiên” mà họ đấy thấy trên giấy cói. Người thợ liên tục gật đầu, cẩn trọng ghi chép lại từng chữ.

Đa phần thợ thủ công vốn chỉ hiểu mơ hồ về những thuật ngữ được chép trong bản giấy cói như “silic oxit” hay “oxy hóa kim loại”. Nhưng thần sứ đã kiên nhẫn giải thích rằng: silic oxit chính là thành phần có trong hạt cát, nếu thêm vào đó các loại kim loại khác nhau, sẽ có thể kiểm soát được màu sắc của pha lê, thêm đồng sẽ ra màu lam hoặc xanh lục, thêm sắt sẽ cho màu vàng hoặc xám…

Những khái niệm xa lạ ấy họ ghi nhớ cẩn thận, càng thêm tin tưởng rằng vị thần sứ này chính là hiện thân của ý chí thần linh. Chỉ có thần minh mới có thể hiểu thấu cách tạo vật sâu xa đến thế.

“Tro thực vật là nguyên liệu dễ kiếm, chỉ cần ba ngày là chúng ta có thể chế tạo được mẻ pha lê mẫu đầu tiên.”

Người thợ như chợt nhớ ra điều gì, bèn sai học trò trông coi lò luyện, rồi tự mình dẫn thần sứ cùng Vizier đến xưởng đất sét phía đối diện.

Vừa đi, hắn vừa nói:
“Thưa thần sứ, chúng tôi đang thử dùng đất sét để làm khuôn đúc, sau đó đổ dung dịch pha lê vào, chờ nó tự nguội mà tạo thành bình thủy tinh. Nhưng về hình dáng khuôn, chúng tôi vẫn còn vài điều băn khoăn.”

Tại xưởng, vài người thợ khác bưng ra những khuôn đất sét còn chưa kịp hong khô hay nung cứng, tất cả đều là bán thành phẩm, được tạo ra theo đúng bản vẽ mà Tân Hòa Tuyết đã phác thảo trên giấy cói.

Người thợ thành khẩn nói:
“Thần sứ đại nhân, chúng tôi hy vọng những khuôn đúc này có thể mang dấu ấn tượng trưng cho ý chí của thần minh, để khi hoàn thành, chúng trở thành vật phẩm thể hiện sự ban ân từ các ngài.”

Nghe vậy, Vizier tỏ vẻ tán thành:
“Quả là một ý tưởng tuyệt vời. Như thế, khi người đời nâng chén rượu trong chiếc bình thủy tinh này, họ cũng sẽ cảm nhận được sự chúc phúc đến từ thần linh.”

Mọi ánh mắt đồng loạt hướng về phía Tân Hòa Tuyết, sáng rực như thể chờ đợi điều gì sắp xảy ra.

Dưới chiếc mặt nạ hình đầu chó, Saito khẽ nhíu mày, đôi môi mỏng mím lại thành một đường thẳng tắp.

Vị thần sứ khoác áo choàng trắng gật đầu.

Từ phương bắc xa xôi, gió biển mang theo hương muối và cát vàng thổi tới, khiến hàng lá cọ đung đưa phát ra tiếng xào xạc. Trong ánh nắng vàng rực phản chiếu lên những bức tường xưởng, Tân Hòa Tuyết đứng ở trung tâm, khẽ nâng tay áo trắng rộng. Mọi người chỉ thấy ống tay áo ấy nhẹ nhàng phất qua bề mặt khuôn đất sét trước mặt.

Giây phút ấy, ở chính giữa khuôn đúc, hiện lên một dấu ấn kỳ lạ, họa tiết độc nhất vô nhị, chưa từng thấy trên đời.

Các thợ thủ công tròn mắt kinh ngạc, đồng loạt thốt lên:
“Thật là… một phép thần tích không thể tin nổi!”

Tiếng ca tụng vang lên khắp xưởng. Vizier cũng không giấu nổi vẻ thán phục. Còn vị “
thần sứ đại nhân vốn chỉ nổi hứng đùa vui một chút, giờ lại có phần bối rối. Dưới lớp áo choàng trắng, đôi tai mềm mại khẽ rung lên.

Nếu như ở Ai Cập cổ có tuyết rơi, chắc hẳn người ta sẽ dễ dàng liên tưởng đến họa tiết ấy, ví như trên con phố phủ đầy sương tuyết buổi sớm, dấu chân mèo in hằn nơi mặt đất, tựa đóa hoa mai nở giữa băng trắng.

Chỉ tiếc thay, trong điều kiện tự nhiên ở xứ sở này, điều đó là không thể. Mảnh đất này không bao giờ được tuyết trắng phủ đầy. Khi mèo nhẹ nhàng, uyển chuyển bước trên bờ cát. Những dấu chân mèo để lại trên cát vàng luôn bị gió sa mạc cuốn đi nhanh chóng, xóa sạch mọi dấu vết chỉ trong khoảnh khắc.

Thế nhưng, nhiều ngàn năm sau, khi các nhà khảo cổ khai quật dọc bờ sông Nin, họ sẽ phải kinh ngạc nhận ra: từ hơn một nghìn năm trước Công nguyên, nơi đây đã nắm giữ kỹ thuật đúc pha lê tinh xảo. Và kỳ lạ thay trên mỗi món đồ pha lê đều khắc cùng một ký hiệu.

Đương nhiên, chẳng ai biết rằng dấu ấn ấy vốn chỉ là dấu chân của một con mèo nhỏ.
Ngày nay, khi những bình pha lê ấy được trưng bày trong các viện bảo tàng, không ai có thể tưởng tượng đó từng là “trò đùa” nhất thời của một thần sứ.

Với hậu thế, đó là một biểu tượng thiêng liêng, một mật mã của nền văn minh thần bí, khởi nguồn từ vị Thần Mèo đã khai sáng nhân loại.

K ca ngợi điều ấy từ tận đáy lòng.

Còn Tân Hòa Tuyết, dĩ nhiên chẳng hề biết K đang nghĩ đến những điều cao xa đó. Y chỉ đang cố gắng thu lại chút đặc tính mèo của mình. Từ khi nhận được sự chúc phúc của Thần Mèo Bast khi tiến vào thế giới lần đầu tiên, Tân Hòa Tuyết đã cảm nhận rõ ràng cơ thể mình có sự thay đổi....

Ví như ban đêm, đầu óc y trở nên nhanh nhạy khác thường. Khi đi lại trên đất bằng, y thường có xu hướng nhún người bước nhẹ, như đang di chuyển trên móng mềm. Sáng nay, ngay trong bữa sáng cùng Vizier, y còn vô tình làm vỡ một chiếc chén gốm.

Tất nhiên… chuyện đó không hoàn toàn là lỗi của y.

Chiếc chén ấy vốn đặt trên bàn bên cạnh, y chỉ đi ngang qua mà thôi. Nhưng quả thật, đôi khi Tân Hòa Tuyết không thể khống chế nổi bản năng hóa mèo ấy.

Vừa rồi, suýt chút nữa y đã biến ra móng vuốt, thậm chí đôi tai cũng đã bắt đầu nhú lên.

May mắn thay, y vẫn còn đủ tỉnh táo để ép chúng ẩn đi. Nếu đôi tai ấy mà đột nhiên dựng thẳng dưới lớp mũ choàng trắng, e rằng cảnh tượng sẽ vô cùng kỳ dị.

Mải suy nghĩ, Tân Hòa Tuyết không nhận ra sự thay đổi phía sau lưng mình.

Saito đang nhìn chằm chằm vào khuôn đúc, nơi dấu tay của y in lại. Trong đôi mắt nâu vàng kim, ánh sáng lạnh lẽo như mắt sói hiện lên sắc bén.

Dấu ấn…

Ở Ai Cập, tù binh hay nô lệ đều bị đóng dấu lên da thịt. Họ nung chảy đồng đến đỏ rực rồi ép vào làn da trần, để lại vết sẹo vĩnh viễn vừa là biểu tượng thân phận, vừa là sự tuyên bố rằng họ thuộc về ai.

Với những nô lệ hay tù binh phản nghịch, hoặc kẻ dám vượt quá bổn phận, dấu vết ấy lại là một hình phạt khắc nghiệt, thay cho xiềng xích.

Saito siết chặt hàm, hơi thở trở nên gấp gáp. Lực quá mạnh, hắn khiến vị máu mằn mặn dâng lên trong miệng. Tay hắn vô thức xoa mãi vào cổ tay, nơi thường mang chiếc vòng vàng.

Xoa đến mức làn da rám nắng cũng hằn đỏ.

Nephthys…

Nephthys…

Cái tên ấy vang lên trong đầu hắn, từng hồi từng nhịp.

Nephthys…

Người đã ban cho hắn sinh mệnh mới.

Cũng là người khiến hắn vĩnh viễn không thể thoát khỏi trừng phạt.

Nephthys…

Hắn…

Saito lặng lẽ bước theo sau, ánh mắt không rời bóng áo choàng trắng phía trước như một cái bóng dai dẳng.

………

Tân Hòa Tuyết và đoàn tùy tùng đã rời khỏi hoàng cung từ lâu. Sau khi căn dặn nhóm thợ thủ công ở ngôi làng bên đại mạch nước ngầm, họ cũng không còn việc gì khác phải làm.

Trên đường trở về, Tân Hòa Tuyết trông thấy rất nhiều người đang lùa dê, dắt bò, hướng về phía ngôi thần miếu.

Anath hờ hững cất tiếng, tựa như chỉ tiện miệng mà nói:
“Lễ tế Thần Ngưu sắp đến rồi.”

Ánh mắt hắn nhìn thẳng vào Tân Hòa Tuyết, trong đó như ẩn chứa chờ mong, dường như hy vọng người kia sẽ nói điều gì đó.

Nhưng Tân Hòa Tuyết có thể nói gì đây?

Dưới tấm áo choàng trắng, y khẽ nhướng mày. Y vẫn chưa hiểu rõ tập tục nơi này, cũng không biết rằng do sự xuất hiện của mình, tân vương Pharaoh đã quyết định để y đảm nhận vai trò Đại Tư Tế, chủ trì nghi thức hiến tế linh thiêng, thay thế cho chức vị vốn do các tế tư của thần Osiris đảm nhiệm.

Nói cách khác, y sẽ thay Anath, đứng trước muôn dân, chủ trì đại lễ thần ngưu long trọng.

Vizier đứng bên giải thích:
“Thần Ngưu Tiết là một trong những ngày hội tôn giáo trọng đại nhất của chúng ta, được tổ chức mỗi năm vào mùa nước dâng của sông Nin. Sau lễ tế năm trước, các tư tế sẽ chọn ra một con bò khỏe mạnh nhất để làm Thần Ngưu Apis, và đưa nó vào thần miếu nuôi dưỡng.”

“Thần Ngưu ấy sẽ được chăm sóc suốt một năm, đến năm sau sẽ được dâng lễ vật, rồi cử hành nghi thức tế và tang lễ đặc biệt. Thần Ngưu Apis là biểu tượng của mặt trời, của sự phồn thực và dòng chảy sinh mệnh bất tận. Người ta tin rằng, Ngài sẽ phù hộ cho mùa màng, dòng sông và đàn gia súc trong năm mới.”

Vì thế, Thần Ngưu Tiết thường được tổ chức vào thời kỳ nước sông Nin dâng cao, khi đất ruộng ven sông bị ngập, không thể gieo trồng.

Con thần ngưu mới đã được nuôi trong miếu gần một năm nay.

“Thế còn những con vật kia…” — Tân Hòa Tuyết khẽ nói, mắt nhìn về phía đoàn người đang dắt dê bò đi trên con đường cát vàng phía xa.

“Thần ngưu chỉ có một, nhưng vẫn cần nhiều vật tế khác nữa.” — Anath lạnh lùng đáp, giọng mang theo chút cay nghiệt, tựa như vừa nắm được cơ hội nào đó.

Những con vật kia đều là súc vật hiến tế, do nông dân dâng lên, khác hẳn với trâu cày của họ.

Một con trâu trong số đó còn chưa kịp tháo chiếc cày trên vai. Chiếc cày ấy rất nguyên thủy, chỉ là một thanh đồng thô dẹt để xẻ đất, phía sau nối với một cán gỗ dài cho người điều khiển.

Tân Hòa Tuyết:
“Thoạt nhìn, chỉ có thể cày thẳng hàng, độ sâu đất cày cũng nông, chỉ vừa đủ xới lớp đất trên mặt.”

Anath nhìn y chằm chằm như thể đang chứng kiến một điều kỳ lạ khó tin:
“Ngài… có đang nghe tôi nói không?”

Chẳng lẽ mình nói không ra tiếng ư?

Vì sao, mỗi lần hắn lên tiếng, đối phương đều coi như không tồn tại?

Từ trước đến nay, Anath chưa bao giờ bị đối xử lạnh nhạt đến thế.

Cuối cùng, Tân Hòa Tuyết cũng liếc nhìn hắn, giọng mang theo chút nghi hoặc:
“Ngài vừa nói… điều gì cơ?”

Anath hít sâu một hơi, cảm giác như cú đấm của mình rơi vào lớp bông mềm, nghẹn lại trong ngực mà chẳng thể trút ra.

Vizier, tuy nhiên, lại nhạy bén mà bắt được ý trong lời Tân Hòa Tuyết, vội hỏi:
“Thần sứ đại nhân, có phải ngài đang nghĩ đến việc cải tiến cày bừa sao?”

Ruộng ven sông Nin vốn được phù sa bồi đắp nên rất màu mỡ, thường không cần cày sâu. Tuy nhiên, chỉ từ tháng Mười Một đến tháng Sáu năm sau mới có thể trồng trọt, bởi phải thuận theo chu kỳ dâng rút của sông Nin.

Còn những thửa ruộng ở vùng cao, quanh năm có thể canh tác, nhưng lại thiếu nước tưới, khiến cày chỉ có thể xới nông lớp đất ngoài. Do đó, đất bạc màu, mùa màng kém thu, đời sống nông dân bấp bênh.

Toàn bộ hy vọng của dân chúng về một mùa bội thu đều gửi gắm vào sông Nin. Nhưng chỉ cần một trận lũ lụt hay hạn hán sẽ khiến cho thu hoạch không tốt, tất cả sẽ tan biến, thậm chí kéo theo nạn đói và bất ổn.

Tân Hòa Tuyết bất giác nhớ lại loại cày mà y từng sử dụng khi chủ trì nghi thức khai vụ mùa xuân ở Trung Nguyên cổ đại.

“Tôi muốn đi xem tình hình canh tác ở vùng ruộng cao.” — Y quay sang nói với Vizier.

……

Bọn họ rời khỏi ngôi làng của thợ thủ công, rồi men theo con đường ngược lên vùng cao, nơi có những thửa ruộng cạn trải dài theo triền núi.

Độ dốc ở đây không lớn, địa hình thoai thoải, nhưng dưới ánh mặt trời chói chang rực vàng treo giữa bầu trời, Tân Hòa Tuyết bắt đầu cảm thấy rõ ràng sức chịu đựng của cơ thể mình đang bị thử thách.

Trước mắt y dần mờ đi, ánh sáng vàng kim phản chiếu lên tầm nhìn khiến mọi vật như lay động, méo mó. Y lảo đảo, ngực nghẹn lại, hơi thở trở nên nặng nề.

Chính Nubu là người đầu tiên nhận ra sự khác thường ấy.

Trong khi không khí nóng hầm hập, Tân Hòa Tuyết lại toát ra một thân mồ hôi lạnh.

Nubu vội chạy tới, đỡ lấy y, dìu đến nghỉ dưới bóng râm của mấy cây cọ.

Sự xuất hiện của đoàn người khiến con chim ưng đang đậu trên cành bị kinh động. Nó tung đôi cánh đen ánh vàng kim, bay lên trời cao, lượn vài vòng giữa không trung. Ánh mắt sắc bén của nó quét qua đám người dưới đất, rồi bất chợt nghiêng cánh, bay thẳng về phía sâu trong vùng Thebes.

Tân Hòa Tuyết tựa lưng vào thân cây, sắc mặt tái nhợt, thở phì phò. Đầu y quay cuồng nặng trĩu, trong ngực cuộn lên một trận buồn nôn khó chịu, e rằng y đã bị say nắng.

Nubu tháo túi nước mang bên mình, định đỡ cho y uống.

Ngay lúc ấy, Tân Hòa Tuyết cúi đầu, đưa tay lên thắt lưng áo bào trắng. Ngón tay y khẽ run, song động tác vẫn thuần thục.

Tấm áo bào phức tạp rơi xuống, trải dài trên mặt cát. Gió nóng lập tức tràn tới, mang theo một luồng mát nhẹ len qua da thịt, khiến y thấy dễ chịu hơn hẳn.

Mái tóc bạc trắng bạc trên trán y ướt đẫm mồ hôi. Khi ngẩng đầu lên, y mới ngạc nhiên phát hiện những người xung quanh không hẹn mà cùng quay lưng lại, nhất trí hướng mặt về phía khác.

Trên cát còn hằn rõ dấu chân của họ, đều đều, ngay ngắn như thể cả nhóm cùng xoay người trong cùng một khoảnh khắc.

Tân Hòa Tuyết: ?

Tân Hòa Tuyết hơi hơi kinh ngạc:
“... Có thể đừng đứng che gió như thế được không? Tôi đang hóng mát.”

Nubu cụp mắt, khẽ đưa nước cho y.

Saito cúi xuống, nhặt tấm áo choàng trắng trên đất, bàn tay siết chặt không nói một lời.

Anath ấp úng như muốn nói gì đó nhưng không thể thốt ra, cuối cùng chỉ hổn hển quay bước, song vẫn không dám quay lại, đôi tai đỏ đến mức gần như sắp rỉ máu.

Trước mắt hắn, hình ảnh khi nãy vẫn chưa thể xóa đi:

Làn da trắng tinh, lại ánh lên sắc hồng phấn diễm lệ, giọt mồ hôi lạnh lăn dọc theo cổ, ánh lên màu vàng kim như cát sông Nin dưới nắng, cả người tựa hồ như một thủy yêu tóc trắng bạc mỹ lệ bước ra từ dòng sông.

Giống như yêu quái trong truyền thuyết, sẽ kéo kẻ lỡ nhìn mình xuống tận đáy nước, vùi trong những lọn rong xoáy mênh mông.

Anath thấy đầu óc mình quay cuồng, chưa từng có khoảnh khắc nào say mê đến thế.

Saito bước tới, quỳ xuống cạnh Tân Hòa Tuyết, nhẹ nắm lấy bàn tay y đặt lên lòng bàn tay mình.

Cơ thể Tân Hòa Tuyết lạnh đến bất thường, lòng bàn tay lại hơi ẩm, dính dính, là mồ hôi do nóng quá mà toát r hệt như cách một con mèo nhỏ tản nhiệt qua lớp đệm hồng nhạt nơi bàn chân.

Bất chợt, Saito bế bổng y lên. Chiếc áo choàng trắng phủ kín người Tân Hòa Tuyết, hai cánh tay rắn chắc siết chặt quanh thân y. Saito như một con sói, nhanh nhẹn và mạnh mẽ, lao vút đi.

“Saito?!” Tân Hòa Tuyết kinh ngạc trách mắng, “Anh đang làm gì thế?!”

Gió lạnh từ phía dưới thốc lên, cuộn tròn quanh hai người.

Giọng Saito khàn khàn, truyền đến trong cơn chạy gấp:
“Về cung điện. Ngay lập tức.”

____________
Mèo nhỏ, xem ra em có thể có được ngai vàng cho chính mình rồi.
 
Chứng Bệnh Khiến Vạn Người Say Đắm Giữa Chốn Quyền Uy
Chương 147


So với loài sói, tập tính chạy của Saito còn nhanh nhẹn và mãnh liệt hơn, nên hắn sớm đã trở lại hoàng cung Thebes, nơi con chim ưng săn mồi từng bay khỏi cây cọ khi trước.

Khi nó dang rộng đôi cánh lao vút lên, từng chiếc lông đen óng ánh quanh thân phản chiếu ánh nắng chói chang, lấp lánh giữa bầu trời và cát vàng sa mạc, như thể chính nó là chủ nhân không thể khuất phục của vùng đất này.

Cuối cùng, con chim ưng bay lượn hai ba vòng trên nóc tòa hành chính cung điện nằm giữa trung tâm hoàng cung, rồi sà xuống khoảng sân rộng giữa đình viện. Bóng cánh sắc bén của nó quét qua mặt đất, kèm theo tiếng hót cao vút, khiến đám người hầu phía dưới lập tức nhận ra sự hiện diện của nó.

Một người hầu nheo mắt nhìn lên giữa ánh mặt trời gay gắt, thấy con chim ưng kia vẫn lượn vòng không rời, liền vội hô lớn:
“Là đại nhân Jet!”

Nói xong, hắn hấp tấp chạy vào trong cung điện để bẩm báo.

Chẳng bao lâu sau, chủ nhân của hoàng cung cũng bước ra khỏi đại điện rộng lớn. Từng bước chân vững vàng dội nhẹ lên nền đá khi ông tiến vào đình viện. Dưới lớp khố bằng vải lanh quấn quanh hông, cơ bắp nơi đôi chân hiện rõ từng đường nét rắn chắc.

Ánh sáng vàng kim xuyên qua vòng mái vòm của cung điện, chiếu xuống thân hình rắn rỏi của Lahotep, phản chiếu trên làn da ngăm được ánh sáng bao phủ, khiến những hoa văn chạm khắc bằng vàng quanh cổ tay, cùng chiếc vương miện đính hồng ngọc, thạch thanh và ngọc lam trên trán hắn sáng rực như sóng nước lấp lánh.

Chim ưng Jet lúc này mới thu cánh, lao vút từ không trung xuống như một mũi tên đen. Đôi mắt sắc bén co hẹp lại, tràn ngập vẻ hoang dã và nguy hiểm.

Một người hầu ở hành lang hoảng hốt thét lên, đánh nghiêng chiếc khay vàng trên tay. Những chùm nho chín mọng trên khay rơi tung tóe, lăn lóc khắp nền đá như những viên ngọc tím.

“Jet.”
Lahotep cất giọng trầm.

Con chim ưng lập tức hạ xuống ổn định trên cánh tay mà Pharaoh đưa lên.

Gương mặt Lahotep vẫn không hề đổi sắc. Hắn trầm giọng nói:
“Ngươi lại kiêu ngạo quá rồi, mãi không nhớ quy củ.”

Con chim ưng khẽ rụt đầu. Khi người hầu mang đến chiếc trạm đài bằng vàng được tạo hình như nhánh cây, Jet liền ngoan ngoãn tự bay sang đứng yên, quả thật hiếm thấy.

Người hầu làm rơi khay trái cây sợ hãi quỳ xuống xin tội, nhưng Lahotep chỉ phất tay cho qua.

Ngay sau đó, người hầu chuyên chăm sóc Jet chạy tới, dâng nước cho nó uống, rồi khẽ vuốt lớp lông đen óng ánh trên thân, khiến ánh kim của nó càng thêm rực rỡ.

Lahotep kế thừa một phần truyền thống từ phụ thân, hắn có cùng sở thích với Pharaoh tiền nhiệm, cũng từng có một vườn nuôi thú trong cung nhưng khác với cha mình, hắn không hứng thú với cảnh dã thú hay con người bị ép đấu đá, cắn xé lẫn nhau. Vì thế, trong vườn của hắn, chẳng có con sư tử nào bị nhốt cùng nhau hay người và sư tử nhốt chung để làm thú vui đẫm máu.

Ngay cả con chim ưng này, lớn lên cùng hắn từ nhỏ, Lahotep cũng chưa từng trói nó bằng xích vàng. Mỗi ngày, Jet đều được phép bay ra ngoài hoàng cung, đi xa đến tận nơi nó muốn, thăm lại bầu trời và vùng đất quen thuộc bên ngoài tường thành.

Khác với con người xảo trá, Lahotep tin tưởng tuyệt đối vào sự trung thành của Jet.

Thế nhưng hôm nay, Jet dường như khác thường.

Nó cắm móng vuốt vào trạm đài vàng, quắp chặt rồi lắc mạnh đến nỗi cả trụ vàng khẽ rung theo từng nhịp cánh.

“Hôm nay ngươi gặp chuyện gì thú vị thế hả?”

Lahotep khẽ xoa chiếc mỏ sắc của nó, ấn nhẹ để giữ lại chút bản năng hoang dã, thứ khiến nó có thể dễ dàng xé toạc da thịt con mồi chỉ trong nháy mắt.

Jet lại chuyển trụ, xoay người bằng cặp vuốt cứng rắn.

Lahotep không rõ trong đầu nó nghĩ gì, nhưng từ hành động mô phỏng động tác vồ mồi kia, hắn đoán được phần nào:
“Có lẽ… ngươi đang nhớ người bạn cũ của mình chăng?”

Jet từng lớn lên cùng một con rắn hổ mang Ai Cập.

Câu chuyện ấy bắt đầu từ lễ sinh nhật ba tuổi của Lahotep, khi hắn đòi cha mình tặng một con chim ưng, còn người anh sinh đôi lại chọn một con rắn hổ mang cực độc.

Chỉ từ hai món quà ấy, người ta đã có thể thấy rõ sự khác biệt trong tính cách của hai anh em và cả mối quan hệ giữa họ.

Dù là chim ưng hay rắn hổ mang, cả hai đều là kẻ săn mồi trong sa mạc khô cằn này. Chúng tranh nhau thức ăn, giằng co đến kẻ chết người còn. Nếu chim ưng muốn tấn công rắn, nó phải tránh thứ nọc độc có thể khiến cơ bắp tê liệt và cướp đi mạng sống trong chớp mắt.

“Nhưng mà…”

“Chẳng bao lâu nữa thôi.”

Lahotep thấp giọng nói, ánh mắt nhìn xa về phía bắc của hoàng cung.

Ai Cập này không thể tồn tại hai người thống trị. Sớm muộn, binh lính và chiến xa của Thượng Ai Cập cũng sẽ nghiền nát hoàng cung của Hạ Ai Cập. Khi ấy, hắn mới thật sự trở thành người thống trị duy nhất của nhiều thế hệ.

Song, như vùng đất màu mỡ mà thần linh ban cho, nơi có cả lúa và gươm, Lahotep hiểu rằng trước chiến tranh, hắn phải chuẩn bị mọi thứ thật chu đáo.

Đang suy nghĩ, hắn nghe tiếng bước chân dồn dập từ hành lang vọng lại. Quay đầu nhìn, hắn trầm giọng hỏi:

“Thần sứ hôm nay đi đâu rồi? Làm gì mà chưa thấy trở về?”

Lahotep có trong tay một mạng lưới giám sát bao trùm toàn bộ hoàng cung, thậm chí vươn ra đến cả giới quý tộc và quan viên có thế lực. Những kẻ đó còn chưa hay biết rằng, vị Pharaoh mới này hoàn toàn khác với ông vua già lú lẫn trước kia. Dưới ánh mắt quan sát của hắn, họ vẫn vô tri vô giác mà toan tính mưu mô, chẳng hề biết rằng lưỡi gươm của định mệnh đã kề ngay bên cổ mình.

Tất nhiên, vị sứ giả thần bí kia cũng nằm trong phạm vi bị giám sát. Lahotep chưa bao giờ hoàn toàn tin tưởng y hoặc đúng hơn, bản tính đa nghi và khát vọng kiểm soát của hắn khiến điều đó trở nên bất khả thi. Ngay cả khi đã bộc lộ tình cảm, Lahotep vẫn có thể để mặc ánh mắt giám sát tiếp tục dõi theo người ấy, không bao giờ thật sự buông tay.

Khi ấy, đám người hầu xung quanh đã lặng lẽ lui xuống.

Một thị vệ ăn mặc giản dị, ngụy trang giống hệt dân thường, bước lên bẩm báo kết quả công việc.

“Anath?” – Lahotep khẽ ngạc nhiên khi nghe đến tên người em tự phụ và ngu xuẩn của mình. “Hắn đi cùng thần sứ sao?”

Thị vệ nhớ lại chuyện đêm qua, liền kể lại tường tận việc Anath chủ động tìm đến thần sứ sau khi yến tiệc tan.

“Dùng sắc đẹp để mê hoặc sao?”

Lahotep đối với cách nói này, cười nhạo một tiếng.

“Trong đầu hắn toàn là bùn sông Nin chắc?”

Lahotep:
“Nhắc mới nhớ công văn điều lệnh của hắn ta còn chưa được ban xuống.”

Lúc này hắn mới khiến kẻ đang làm loạn ăn vạ trước người ngự giả của đội hộ vệ chiến xa hoàng kim đứng bất động tại chỗ.
“Ngày mai, bảo hắn đến ngoài đền thần xây tháp tưởng niệm.”

...........

Khi Anath vẫn còn chưa trở lại hoàng cung, công văn điều lệnh đã được truyền đến tận tay hắn.

Dĩ nhiên, hắn không thể chạy đến chất vấn Pharaoh, bởi lệnh ấy vốn được ban hành ngay trong ngày thần sứ đến thăm, lấy cớ rằng hắn đã truyền tin thần sứ bị rắn hổ mang cắn trúng, chịu lời nguyền độc và trừng phạt.

Anath chỉ còn biết nổi giận đùng đùng quay về cung điện riêng.

Khi vị Đại Tư tế của thần màu mỡ Osiris đồng thời là cậu ruột của hắn bước vào, ông thấy khung cảnh tan hoang, Anath đang hất đổ mọi thứ trên bàn, tiếng kim loại va chạm chát chúa, gốm sứ vỡ tan, mảnh vụn văng khắp nơi.

Lão tư tế khẽ lắc đầu. Ông hiểu rõ, đứa cháu này tuy có thân hình cường tráng, nhưng cái đầu lại chẳng sáng suốt bao nhiêu. Dẫu vậy, trong người nó vẫn chảy cùng dòng máu với em gái ông, và lúc này khi vị Pharaoh trẻ tuổi đang ra sức thay đổi hàng ngũ tư tế, muốn hợp nhất vương quyền và thần quyền để độc chiếm quyền giải thích ý chí thần linh, không chỉ đẩy thần sứ lên làm Đại Tư Tế mới, đối với giáo đoàn Osiris của ông đang bị đẩy đến đường cùng, ra sức chèn ép những tư tế cũ.

Vì thế, để xoay chuyển tình thế, Đại Tư tế Osiris sẽ không dễ dàng từ bỏ kế hoạch đưa cháu mình bước lên ngai vàng.

“Không cần phải tức giận đến vậy,” ông nhẹ giọng khuyên. “Bình tĩnh lại, Anath.”

Anath hít sâu một hơi.
“Vương huynh ấy biết rõ tôi chẳng hiểu gì về kiến trúc hay xây dựng cả!”

Giờ hắn bị ép đi giám sát việc dựng tháp tưởng niệm, chẳng khác nào một con rối gỗ, chỉ biết lắng nghe đám thư lại(*) sai bảo.

(*) viên chức nhỏ, chuyên trông nom việc văn thư ở công đường (thường là ở phủ, huyện) thời phong kiến, thực dân.

Đại Tư tế cau mày, rõ ràng trong lòng ông ta cũng mang theo bất mãn trước việc Pharaoh ra lệnh cho chức quyền của Anath.
“Hắn làm thế để trừng phạt ngài, để ngài nếm mùi nhục nhã, và dạy cho ngài biết thế nào là bất kính với vương quyền và với thần sứ.”

Nghe nhắc đến thần sứ, Anath bỗng lặng đi, một lát sau mới bật ra tiếng nói đầy căm phẫn:
“Đúng vậy! Tại sao lại là hắn được kế vị? Rõ ràng phụ vương khi còn sống yêu thương tôi nhất!”

Đại Tư tế không để ý tới sự im lặng, kỳ quái của Anath khi nhắc đến chuyện hắn bất kính với thần sứ.

“Chúng ta cần phải phản công.” - Đại Tư Tế nói.

Khuôn mặt già nua vì tuổi già của ông nhăn lại, không hề còn vẻ hiền lành như ngày xưa, giờ thoáng qua một nụ cười lạnh lẽo, thứ nụ cười chứa đựng dã tâm được giấu kín bao năm:
“Nếu hắn muốn tôn thần sứ lên làm Đại Tư Tế, vậy tôi sẽ khiến thần sứ ấy phải ngã sấp mặt trước bàn dân thiên hạ.”

Anath nhạy bén hỏi:
“Ý ông là sao?”

Khóe miệng lão tư tế khẽ nhếch lên, những nếp nhăn quanh miệng kéo giãn, khiến khuôn mặt từng tuấn tú của ông thoáng hiện vẻ quái dị như một xác ướp chưa kịp quấn băng.

“Nếu trong buổi tế lễ trọng đại đầu tiên do y chủ trì, thần sứ ấy đánh mất sự trong sạch về thể xác và tinh thần, làm trò hề trước thiên hạ… thì còn xứng đáng với danh xưng sứ giả của thần linh, hay chức vị Đại Tư tế nữa sao?”

Anath mím môi, gương mặt trầm xuống. Hắn dường như muốn nói điều gì đó, nhưng cuối cùng lại nuốt lời vào trong, chỉ khẽ hỏi:
“Ông định làm gì?”

Đại Tư tế khẽ ra hiệu, cánh cửa sau mở ra.

Một nữ nô bước vào, nàng có mái tóc đen dài, đôi mắt được tô viền phấn nghiền từ ngọc lục bảo, phác họa ra đường cong kéo dài trên mắt.Làn da màu đồng mượt mà được thoa dầu mè ánh lên như trộn giữa mật ong và bụi vàng, trên người khoác chiếc váy dài chạm đất.

Không thể phủ nhận đó là một người phụ nữ tuyệt đẹp.

Anath cau mày, gần như theo phản xạ mà phản bác ngay:
“Thần sứ không phải hạng người sẽ sa vào sắc đẹp nữ nhân.”

Hắn thật sự không biết nên nói thế nào cho đúng, chỉ cảm thấy Tân Hòa Tuyết khác hẳn mọi người mà hắn từng gặp trước đây.

Trong đầu hắn bỗng hiện lên khung cảnh dưới tán cây cọ. Tân Hòa Tuyết khẽ kéo lỏng dải buộc áo choàng trắng, để lộ phần da thịt bên trong, đó là lần đầu tiên Anath nhìn thấy trên người đối phương, ngoài khuôn mặt và cần cổ ra, còn có làn da trắng mịn như ngọc. Dù bên hông y được vải thô buộc chặt, thế nhưng những nơi mà lớp vải không che khuất vẫn lộ ra thứ trắng ngần thuần khiết đến chói mắt, khiến người ta không thể nào nảy sinh những ý nghĩ lẫn d*c v*ng dơ bẩn. Chỉ cần vừa tưởng tượng ra thôi, đã thấy như mình đang xúc phạm thần linh.

Anath càng nghĩ càng thấy bực bội vì toan tính của cậu hắn. Hắn cố phản bác, mong tìm ra kẽ hở để buộc vị Đại tư tế phải từ bỏ ý định đó, đến mức gần như quên mất rằng chính hắn và ông vốn đang cùng một chiến tuyến.

“Trước đây ông nói, dùng mánh nọc độc nguyền rủa để bôi nhọ danh dự của thần sứ thì vạn phần thất sách. Nhưng con rắn hổ mang chúng ta thả ra khi ấy căn bản chưa từng cắn trúng y. Người truyền tin của tôi lại còn báo sai, tự cho là thông minh, kết quả lại bị người ta bẫy ngược.”

Anath vò tóc, bực dọc nói tiếp:
“Nếu không phải vì chuyện đó, tôi cũng chẳng bị điều đi xây cái tháp tưởng niệm chết tiệt ấy!”

Đại tư tế vẫn bình thản, giọng không nhanh không chậm:
“Đó chỉ là một tai nạn nhỏ ngoài ý muốn thôi. Thua một trận không có nghĩa là thất bại cả cuộc chiến.”

“Anath, nếu ngài cho rằng đây chỉ là mưu kế dụ dỗ bằng nhan sắc, thì ngài thật sự đã quá coi thường chính huyết mạch của mình. Ngài nên hỏi tôi…”

Ông ta dừng lại một chút, giọng khẽ trầm xuống.
“…rằng nữ nô kia có gì đặc biệt mà khiến con người phát điên vì nàng.”

Anath ngẩng đầu nhìn cậu hắn.

Đại tư tế mỉm cười:
“Nàng đến từ Assyria.”

Anath từng nghe qua cái tên này. Cái tên đó xa xôi đến mức phải đi dọc theo sông Nin, băng qua Hạ Ai Cập, vượt Sinai bán đảo, rồi mới tới được vùng đất giáp biển Địa Trung Hải.

Assyria nằm cạnh Babylon, nhưng vì hai bên từng thông gia nên người Ai Cập hiểu rõ về Babylon hơn là về Assyria.
Đối với họ, Assyria vẫn là một quốc gia thần bí, nơi con người được đồn rằng ai cũng biết luyện chế những loại ma dược kỳ lạ.

Người nữ nô đến từ vùng đất Assyria ấy nói tiếng Ai Cập bằng giọng hơi lạ, song Anath vẫn hiểu được ý nàng. Nàng nói với cậu hắn gọi một nô lệ khác vào để biểu diễn cho hắn xem.

Nữ nô kia lấy ra một lọ chất lỏng màu lạ, đổ vào rượu, khuấy đều. Rượu trông không hề khác thường, vẫn vẩn đục như trước, mùi vị cũng không dễ phát hiện điều gì khả nghi.

Thế nhưng, sau khi nô lệ kia uống vào, hắn ta lại bắt đầu hành xử như một con thú đ*ng d*c.

Anath cau mày, ánh mắt tràn đầy chán ghét.

Giọng Đại tư tế thấp thoáng trong không khí:
“Thứ nước thuốc đó… sẽ khiến người uống bộc lộ bản năng nguyên thủy nhất của sinh vật.”

Bản năng nguyên thủy nhất của sinh vật…?
Ngay cả người kia… cũng sẽ có d*c v*ng dơ bẩn sao?

Anath đứng lặng, tâm trí như lạc vào hư không.

...........

Đến khi Lahotep và Vizier bàn xong chính sự, mặt trời đã khuất dần sau những cồn cát vàng.

Pharaoh giữ vị thần cánh tay đắc lực ấy lại dùng bữa tối, vừa ăn vừa tiếp tục nói chuyện quốc sự.

Vizier nhắc đến ý tưởng mới của thần sứ về việc cày ruộng, nhưng rồi hắn ta bỗng tỏ vẻ áy náy:
“Chỉ là thần đã quá nóng vội. Vì nôn nóng muốn dẫn thần sứ đi quan sát ruộng cạn trên triền núi, nên chẳng may thần sứ đại nhân kiệt sức, suýt ngã quỵ giữa đường.”

“Vậy sao?” Lahotep nửa khép mi mắt.
“Rồi sau đó thế nào?”

Vizier đáp:
“Điện hạ Saito vô cùng lo lắng, bèn bế thần sứ rời đi, bỏ mặc chúng thần ở lại rồi chạy thẳng về hoàng cung. Có lẽ giờ thần sứ đang nghỉ ngơi trong cung.”

Vizier lại nhấn mạnh vài lời, giọng chứa đựng sự lo lắng thật lòng, chứ không phải giả bộ, dường như chỉ trong hai ngày ngắn ngủi, hắn ta đã hoàn toàn bị vị thần sứ ấy thuyết phục.

“Lúc ấy sắc mặt thần sứ nhợt nhạt lắm, chắc là vì phơi nắng quá lâu mà sinh mệt. Thần không biết hiện giờ người ra sao…”

Trong giọng hắn như ẩn giấu một chút mong mỏi, mong được Pharaoh cho phép ra vào cung để thăm hỏi thần sứ.

Thế nhưng Lahotep không hề đáp lại.
Đợi Vizier dùng xong bữa, hắn chỉ lệnh cho người đưa khách rời cung.

Điều ấy khiến Vizier vốn tin tưởng tuyệt đối vào thần sứ và được Pharaoh sủng tín không khỏi bối rối.

Pharaoh rốt cuộc…...đang nhìn nhận vị thần sứ được tiên đoán rằng sẽ dẫn dắt Thượng và Hạ Ai Cập thống nhất ấy như thế nào đây?

Khi đám người hầu thu dọn bữa tối rời đi, Lahotep bước ra ngoài cung điện.

Trung tâm hoàng cung Thebes là một quần thể kiến trúc đồ sộ. Hành lang cung điện uốn lượn quanh co, những hàng cột chạm khắc hình hoa sen, hoa giấy và cỏ gấu sừng sững đứng giữa sân điện, phản chiếu ánh đuốc đêm lung linh.

Cung điện của thần sứ thực ra nằm không xa nơi Pharaoh ở hằng ngày, cũng chẳng cách bao nhiêu so với điện hành chính, gần như là hàng xóm của trung tâm quyền lực Ai Cập.

Lahotep phải thừa nhận, sự hiện diện của Tân Hòa Tuyết thực sự nằm ngoài dự đoán của hắn. Đối phương rõ ràng sở hữu một kiến thức uyên bác hiếm thấy…

Những tri thức ấy khiến hắn có cảm giác người này dường như không thuộc về thế giới phàm tục này.

Trong những lần đối thoại giữa hai người, đã có lúc Lahotep suýt tin vào lời tiên tri khắc trên tảng đá, rằng Tân Hòa Tuyết thật sự là sứ giả của thần linh, hoặc thậm chí chính là một vị thần chân chính.

Nhưng rồi, hắn nhanh chóng gạt bỏ ý nghĩ ấy.

Dẫu sinh ra trong thế giới của các vị thần, Lahotep lại là kẻ theo chủ nghĩa vô thần hoặc ít nhất, gần như vậy.

Hắn tin rằng, nếu trên thế giới này quả thực có thần linh, thì họ cũng sẽ chẳng mảy may bận tâm đến nhân loại. Họ không ban chỉ thị, cũng chẳng giáng trừng phạt.

Tất cả những cuộc phân tranh nơi trần thế, xét đến cùng, đều là kết quả của quyền lực và mưu mô.

Các tư tế tranh giành quyền giải thích “ý chỉ thần linh” để củng cố địa vị, còn các Pharaoh nhân danh “hóa thân của thần” chỉ là đang dùng niềm tin của dân chúng để duy trì vương quyền và kéo dài triều đại.

Với Lahotep, Tân Hòa Tuyết chẳng qua chỉ là một con người thông minh…

Một người thông minh đến mức khiến hắn phải dè chừng.

Nefer Iah....

Hắn chưa bao giờ biết được danh tính thật sự của thần sứ, chỉ có thể lấy cái tên mình bịa ra để xưng hô với đối phương.

Sự kiện con rắn hổ mang ngày ấy, kỳ thực là kết quả mà Lahotep đã âm thầm dung túng. Trên đường trở về từ mỏ đá Aswan, vừa cập bến Thebes, hắn nhận được tin báo rằng Đại tư tế dường như đang âm mưu hành động khác thường.

Vì thế, Lahotep mới cố tình lùi lại phía sau, để Tân Hòa Tuyết đi cùng mình ở hàng đầu, đồng thời kéo giãn khoảng cách với đám thị vệ phía sau, tạo cơ hội cho phía Đại tư tế ra tay.

Hắn muốn nhân cơ hội ấy thử thăm dò T
thần sứ. Dĩ nhiên, dù có chuyện gì xảy ra, Lahotep vẫn nắm chắc khả năng bảo vệ cả hai.

Thế nhưng, Iah còn thông minh hơn cả những gì hắn tưởng.

Khi rút kiếm chém chết con rắn hổ mang, rồi hốt hoảng ôm lấy thần sứ đang ngã xuống, Lahotep tin rằng con rắn chưa kịp cắn trúng, và đối phương chỉ là bị dọa đến ngất.

Nhưng đó hóa ra chỉ là màn kịch, hắn cũng bị lừa như bao người khác.

Tân Hòa Tuyết cố tình ngã xuống để kẻ chủ mưu phía sau tin rằng kế hoạch đã thành công, và trong lúc đắc ý, tất sẽ sơ hở mà lộ ra manh mối.

Lahotep không khỏi khâm phục sự ứng biến linh hoạt của y.

Hắn bước vào tẩm điện của thần sứ, khẽ ra hiệu cho người hầu giữ im lặng.

Tân Hòa Tuyết đang ngủ say trên chiếc giường phủ đệm dày. Hai bên đầu giường và cuối giường được treo những tấm màn tơ dát vàng tinh xảo, dưới nền là tấm thảm lông dê mềm mại thêu hoa sen tinh tế.

Gió đêm len vào, khẽ lay động rèm tơ, ánh sáng mờ ảo như những gợn sóng êm đềm trên mặt sông Nin, phủ lên khuôn mặt yên tĩnh của thanh niên đang ngủ.

Lahotep đứng yên lặng, nhìn chăm chú không nói một lời.

Một cảm xúc mâu thuẫn dâng lên trong lòng.

Một người thông minh đến mức khiến hắn phải dè chừng.

Vậy mà lúc này, dưới ánh mặt trời, lại trông yếu đuối đến lạ.

Hắn lặng lẽ nhìn Tân Hòa Tuyết hồi lâu.

Làn da trắng mịn, trong suốt như ngọc trai, khiến hắn nghĩ đến những chuỗi trang sức tinh xảo, màu sắc rực rỡ như vàng ròng, hồng ngọc, mã não, ngọc lục bảo được đan thành vòng cổ ôm lấy chiếc cổ mảnh mai kia, rồi buông xuống ngực. Những chuỗi ngọc nơi eo thon gầy, nếu siết lại, hẳn sẽ in thành dấu đỏ.

Vẻ đẹp ấy cực kỳ mỹ lệ nhưng cũng cực kỳ mong manh dễ vỡ.

Hắn chợt nhớ đến lời Anath từng nói “lấy sắc đẹp mà mê hoặc quân vương”, ý niệm đó vừa lóe lên, Lahotep lập tức nhận ra mình cũng đang rơi vào chỗ dung tục của phàm nhân.

Thế nhưng, trong tâm trí hắn còn một điều khác khiến hắn bận lòng hơn.

Hôm ấy, khi chém chết rắn hổ mang và bế Tân Hòa Tuyết đang ngất đi, Lahotep đã cảm nhận được một điều lạ thường, dưới lớp áo choàng trắng kia, dường như ẩn chứa thứ gì đó mềm mại, phủ lông mảnh, kéo dài xuống tận đầu gối.

Đó là gì vậy?

Một bộ phận… không giống với bất kỳ cơ thể con người nào.

Ánh mắt hắn dừng lại nơi dải vải quấn ngang eo của Tân Hòa Tuyết. Lúc ngủ, y chỉ mặc đơn giản, không khoác thêm lớp áo choàng nặng nề nào khác, bởi vậy, gần như không còn gì có thể che giấu được điều đó.

Thứ đó mọc ra từ đâu?

Lahotep chăm chú nhìn dải vải quấn quanh eo y.
 
Chứng Bệnh Khiến Vạn Người Say Đắm Giữa Chốn Quyền Uy
Chương 148


Lahotep hơi sững người trong giây lát khi đang suy nghĩ câu trả lời. Sự khựng lại thoáng qua ấy khiến động tác của hắn chậm đi một chút và chính vì vậy, khi hắn còn chưa kịp như ý chạm vào tấm chăn đơn mỏng nơi đầu gối người nọ, một bóng đen mạnh mẽ đã lao thẳng về phía hắn.

Hoặc nói chính xác hơn là nhào tới.

Tựa như một con sói hoặc sư tử rời hang chỉ chốc lát, khi quay trở lại lại phát hiện có kẻ xâm nhập đang toan chạm vào báu vật duy nhất của mình. Bản năng của loài thú dữ bị xâm phạm lãnh địa khiến nó lập tức vồ thẳng tới đối phương, chuẩn bị sẵn sàng để cắn xé kẻ địch không chút nương tay.

Thế nhưng nơi này không phải là sào huyệt của sói hay sư tử mà là hoàng cung.

Và người đang nằm nghỉ giữa ánh vàng lấp lánh trên giường kia, dĩ nhiên không phải là vật sở hữu của hắn.

Ngay khi ánh mắt Lahotep thoáng thấy bóng đen kia, hắn lập tức bừng tỉnh khỏi trạng thái xuất thần, khó khăn lắm mới kịp nghiêng người tránh né.

Hắn rút thanh đoản kiếm bên hông ra, những đường gân xanh nổi rõ trên mu bàn tay như mạng lưới, giọng nói ôn hòa, hiền hậu thường ngày nay lại lạnh như băng:
“Saito!”

Lưỡi kiếm sáng lạnh phản chiếu ánh đèn, mũi kiếm thẳng tắp chỉ về phía đối phương.

Người được Lahotep gọi tên — một vị hoàng tộc Ai Cập, giờ đây chẳng còn chút phong thái của loài người văn minh. Hắn giống như con dã thú vừa thoát khỏi lồng đồng, ánh mắt màu nâu vàng kim ánh lên tia khát máu, tứ chi căng tràn sức mạnh khi bật lấy đà trên nền đất. Hắn nhe răng, gầm khẽ trong cổ họng, tiếng gầm mang theo bản năng uy h**p, như thể chỉ cần chớp mắt là có thể xông tới, cắn nát mạch máu kẻ địch.

Nhìn vào cảnh ấy, ai cũng sẽ tưởng rằn đó chẳng phải con người, mà là một con dã thú khoác da người.

Tân Hòa Tuyết bị đánh thức bởi những tiếng động đó, mở mắt ra liền thấy một cảnh tượng như trong ác mộng.

Người hầu vì sợ làm kinh động thần sứ nên vẫn đứng ngoài chờ, nghe tiếng động liền hối hả chạy vào. Hắn còn đang bưng khay thức ăn, vừa nhìn thấy cảnh trong điện thì....

Choang!

Chén đĩa rơi xuống, vỡ tan, cháo cùng ngũ cốc đổ nhoe nhoét khắp nền.

Trong cung, những tình huống như vậy không phải hiếm và vì thế mà số chén đĩa bị vứt bỏ vô ích ngày càng nhiều thêm.

“Pharaoh… Đại nhân Anubis…” — người hầu nơm nớp lo sợ gọi, cuối cùng dồn ánh mắt cầu cứu về phía thần sứ đang ngồi trên giường.

Saito hiển nhiên cũng nhận ra Tân Hòa Tuyết đã tỉnh, hắn theo bản năng nhìn về phía người nọ, song vẫn chưa thu hồi dáng vẻ uy h**p của mình.

Luồng sát khí thuộc về dã thú phả thẳng vào mặt.

Đồng tử Tân Hòa Tuyết co rút lại, sắc bén dựng đứng, căn cứ theo nguyên nhân cơ thể bị mèo hóa, y cho rằng hành vị của đối phương đang khiêu khích.

Y khẽ kéo tấm thảm bên cạnh, phủ lên nửa thân mình.

Nhưng Saito lại hiểu sai ý nghĩa của hành động ấy và cả tình trạng đồng tử dựng đứng kia.

Mẫu thần…..

Hắn làm mẫu thần cảm thấy sợ hãi sao.....?

Khiến mẫu thần thấy được.....
Dáng vẻ dơ bẩn, đáng ghê tởm sao…?

Dưới ánh kiếm lạnh lẽo, vị hoàng tộc vốn hoang dã như sói, dần dần thu lại dáng vẻ nhe răng sẵn sàng tấn công, rồi như thể chịu một đòn trí mạng, hắn từ từ cuộn mình lại, yếu ớt như một con thú con chưa kịp chào đời, muốn bò trở về trong vòng tay ấm áp của mẫu thần để nương náu.

Nhưng mẫu thần chỉ ngồi lặng yên trên giường, không đưa tay an ủi.

Cuối cùng, Saito khẽ nấc lên một tiếng nghẹn ngào đầy thống khổ.

Bàn tay Tân Hòa Tuyết siết chặt tấm thảm, nhưng vẫn không buông.

Ánh mắt Lahotep lướt qua hai người, thần sắc khẽ biến đổi, rồi thu kiếm lại, giọng điềm đạm:
“Nghe Vizier nói thân thể Iah không được khỏe, ngài có gọi ngự y tới xem qua chưa?”

Tân Hòa Tuyết không ngẩng mắt, Lahotep chú ý đến hàng mi của Tân Hòa Tuyết cũng cùng màu với màu tóc của y, thật dài, mảnh và trắng nhạt như ánh trăng, mềm tựa lớp lông tơ của chim non vừa nở, khẽ run mà chẳng tạo nên nổi một gợn sóng nào trên mặt nước.

Giọng y khi nói chuyện cũng rất nhẹ:
“Đã cho ngự y xem qua, không có gì đáng ngại.”

Trái tim rong lòng Lahotep bỗng có chút mềm nhũn, loáng thoáng một cảm giác tê dại, như có chiếc lông chim mảnh khẽ quét qua tim.

Hắn liếc nhìn tấm thảm đang phủ ngang nửa thân Tân Hòa Tuyết, trong mắt ánh lên một tia tiếc nuối, rồi lại làm ra vẻ như chưa từng có chuyện mình thừa dịp đối phương ngủ say mà tìm kiếm bộ phận bí ẩn ấy, khẽ nói:

“Vậy thì… dùng bữa xong, hãy nghỉ ngơi cho tốt đi, Iah.”

“Đem món ăn mới dâng lên cho thần sứ đại nhân.” — Lahotep cau mày ra lệnh.
Hắn xoay người, đồ cài tóc bằng vàng khẽ chuyển động, ánh vàng uốn thành một đường cong mềm mại quanh thái dương. Bóng dáng cao lớn của hắn phủ xuống nơi người em trai đang cuộn tròn dưới đất, giọng nói uy nghi:

“Còn em, Saito.”

“Có vẻ em đã quên hết những điều lễ nghi mà các thư lại từng tận tâm dạy bảo. Đi lãnh phạt đi. Nếu còn lần sau…”

“Em sẽ không muốn biết hậu quả.”

Saito cụp mắt xuống. Mỗi lời Lahotep nói tựa như muỗng băng xuyên thẳng qua tai hắn, lạnh buốt đến tận xương. Nhưng hắn không dám ngẩng đầu tìm kiếm ánh mắt của mẫu thần. Đầu hắn cúi thấp, móng tay cắm sâu vào da thịt.

Tí tách.

Một giọt máu rơi xuống thảm.

......

Mãi đến khi Lahotep rời đi, Saito bị thị vệ cung đình áp giải xuống, Tân Hòa Tuyết mới khẽ vén tấm thảm đang phủ lên nửa thân.

Lớp lông xù mềm mượt ma sát qua mặt trong đùi, vắt quanh eo, đó là chiếc đuôi, mọc ra từ đốt xương cuối cùng, vốn là bộ phận mà loài người đã thoái hóa từ lâu, song với động vật họ mèo, nó lại giúp giữ thăng bằng hoàn hảo.

Giờ thì nó mới chịu thu lại.

Vừa rồi y cố che giấu sự tồn tại của chiếc đuôi ấy nên suốt quá trình đều thất thần, chẳng mấy chú ý đến Saito hay Lahotep.

Bộ phận này không dễ điều khiển, nó mang tính tự chủ quá mạnh, rất nhiều thời điểm, nó chẳng khác nào có linh hồn riêng.

Tân Hòa Tuyết khẽ nhíu mày, rời khỏi giường.

Đống đồ ăn vỡ nát đã được thu dọn sạch sẽ. Người hầu thay một tấm thảm mới cứng chắc, hoa văn thêu tinh xảo tựa như dòng sông Nin xanh lam đang mở rộng.
Y ngồi xuống chiếc ghế khảm ngọc trai và đá quý trước bàn gỗ chạm trổ tỉ mỉ.

Buổi chiều khi Saito ôm y trở lại hoàng cung, Tân Hòa Tuyết đã nôn khan một trận, nhưng vì trong bụng chẳng có gì, chỉ phun ra ít dịch chua.

Y không uống thuốc của ngự y. Ở nơi này, ngự y vừa chữa bệnh vừa kiêm chức tế lễ, phương thuốc họ kê ra giống như bùa chú của vu y, khiến y không dám dễ dàng thử. Hơn nữa dạ dày y vốn yếu, những gì đưa vào miệng đều phải cẩn trọng, nói gì đến thuốc lạ.

Cơn bệnh đến bất ngờ, không chỉ do cảm nắng, mà còn vì khí hậu không hợp, tích tụ lâu ngày bộc phát.

Y lại nôn thêm hai lần. Saito lo lắng đến mức đi đi lại lại, nhưng Tân Hòa Tuyết chẳng còn tâm trí để ý tới. Sau khi súc miệng, y nằm xuống, đầu đau nhức mơ hồ rồi thiếp đi, mãi đến tận bây giờ mới tỉnh.

Giấc ngủ này khiến y cảm thấy sảng khoái lạ thường, như thể bệnh khí quanh thân đã tan biến hết.

Trong mơ, y mơ hồ cảm thấy có ai đó cho mình uống thuốc, loại thuốc được bao con nhộng, tinh luyện theo kỹ thuật của thời hậu thế, tuyệt đối không thể xuất hiện ở thế giới này.

Vừa ăn cháo loãng mềm, y vừa mở miệng hỏi:

【 Anh cho tôi uống thuốc sao? 】

K: 【 Ừ. 】

Khi đó Tân Hòa Tuyết quá mệt mỏi, lại quen chịu đựng đau đớn do bệnh tật mang tới mà không kêu than, nên không nhớ rằng K hoàn toàn có thể mua thuốc trong cửa hàng hệ thống.

Y kiểm tra bảng điểm trong hệ thống, không hề thiếu một điểm nào, điều đó nghĩa là K không dùng điểm của y để mua thuốc. Vậy thì thuốc kia, K lấy từ đâu?

K dường như đoán được nghi hoặc của y.

【 Đại thế giới cũng có cửa hàng dành riêng cho hệ thống. 】

Hóa ra hệ thống có thể kết nối với hai cửa hàng, một hướng về ký chủ, một hướng dành cho chính hệ thống.

Dù hệ thống được con người “mô phỏng” để vận hành, nhưng dẫu sao, thế giới lớn cũng phải trả công cho họ.

【Anh chưa từng nói với tôi điều đó. Tôi tưởng giữa chúng ta không có bí mật. 】 — Tân Hòa Tuyết chậm rãi nói bằng giọng mềm nhẹ.

【 Anh trai…anh giấu tiền riêng sao? 】

Thật chẳng công bằng, K luôn biết rõ từng điểm của y, còn y lại chẳng hề hay rằng K cũng có một cửa hàng riêng.

Nghe như thế, chuyện giấu tiền riêng có vẻ chẳng hợp gì với dáng vẻ người chồng vô dụng của K.

Giọng máy móc của K khựng lại trong giây lát.

Ngay sau đó, một âm thanh nhắc nhở vang lên:

【 Hệ thống “K” đã chuyển 1507 điểm. Theo tỷ lệ 10:1, tương đương 150.7 điểm đã được nạp vào tài khoản của viên chức ‘Tân Hòa Tuyết’. 】

Tân Hòa Tuyết hơi sửng sốt:
【 Ừm? Tôi đâu có ý bảo anh nộp lên đâu. 】

K vẫn giữ giọng điệu máy móc vô cảm như mọi khi, chẳng thể phân biệt cảm xúc:
【 Tôi tự nguyện. 】

【 Trước đây… không có tác dụng. 】 — K giải thích tiếp.
【 Cho nên tôi đã quên. 】

Hắn nói đến số điểm hệ thống từng tích góp ở các thế giới nhỏ trước đó, vốn chẳng có nơi nào để dùng đến.

Tân Hòa Tuyết thật ra cũng không mấy để tâm, nhưng nếu K đã chuyển khoản, y vẫn hỏi:
【Đây là toàn bộ à?】

K thành thật đáp:
【Ừ.】

Tân Hòa Tuyết đột nhiên cười cười:
【Anh có 1507 à? Không lẽ không nên chuyển cho tôi 1314 sao?】

K khó hiểu:
【?】

【Còn lại 185 là chiều cao của anh, còn 8 điểm kia là cơ bụng tám múi của anh chăng?】

Câu nói ấy chỉ là do Tân Hòa Tuyết bất chợt nhớ lại một chuyện cười từng đọc trên mạng.

Không hẳn thấy buồn cười, nhưng y nhớ rõ.

K im lặng rất lâu. Khi Tân Hòa Tuyết tưởng chủ đề đã trôi qua, đang tập trung ăn tối, thì K lại chợt nói:
【189.】

Tân Hòa Tuyết: 【?】

K: 【…… Chiều cao của tôi.】

Tân Hòa Tuyết: 【…… Được rồi.】

K không có từ số 4 mà lên số, con số đó nghe qua hẳn là thật.

Hai người lại rơi vào yên lặng. Nhờ tác dụng của thuốc đặc chế từ cửa hàng hệ thống, Tân Hòa Tuyết hiếm khi có cảm giác ngon miệng, lần này lại ăn được cả bát cháo, còn ăn thêm ít trái cây tráng miệng sau bữa tối.

Nhưng thể lực đã tiêu hao vẫn chưa kịp hồi phục, chẳng mấy chốc y lại thấy mệt. Sau khi rửa ráy qua loa, Tân Hòa Tuyết quay về giường nghỉ.

Ngay trước khi ngủ, y chợt nhớ ra một chuyện.

Việc cho người hôn mê uống thuốc, kỳ thật, không hề dễ dàng.

Tân Hòa Tuyết hỏi khẽ, giọng như gió thoảng:
【Anh có nhân lúc tôi hôn mê mà… làm gì tôi không?】

K lập tức cảm thấy trong đầu có luồng điện hỗn loạn chạy loạn khắp nơi, các mạch suy tính chập chờn như bị xung đột. Hệ thống tư duy mô phỏng não của hắn hơi trục trặc, mà vì điểm tích lũy đã bị quét sạch, trước khi thế giới này kết toán, hắn không còn quyền mua dịch vụ bảo trì cao cấp từ xa.

K đang cố suy nghĩ cách đổi chủ đề.
Nhưng trước khi hắn kịp nói gì, Tân Hòa Tuyết đã ngủ mất, dường như chẳng còn để tâm đến câu hỏi ban nãy.

………

Phía sau lưng Saito, mỗi khi hắn bước vào trạng thái chiến đấu, các khối cơ căng lên, phập phồng theo nhịp hô hấp, tạo nên những đường cong lồi lõm có trật tự. Ánh nắng rọi lên làn da màu đồng khiến bề mặt như phủ một lớp mật ong lấp lánh.

Giờ đây, hơn nửa thân thể ấy bị quấn chằng chịt băng gạc thô bằng sợi đay, bên dưới lớp vải trắng thấp thoáng loang ra những vệt đỏ của máu tươi.

Hắn bước đi nặng nề, từ pháp trường chậm rãi hướng về cung điện dưới ánh trăng.

Trên đường, hắn bất ngờ gặp Anath.
Nhưng nơi này vốn cách cung điện của Anath rất xa, nói cách khác, vào thời điểm này, Anath không nên có mặt ở đây, trừ khi hắn cố tình đến thăm bệnh thần sứ.

Ánh mắt sắc bén của Saito nhanh chóng khóa chặt đối phương.

Lúc đầu, hắn tưởng Anath sẽ như mọi khi, thấy hắn trọng thương mà vẫn vênh váo đến khiêu khích, mỉa mai hắn là con dã thú chưa từng được thuần hóa. Nhưng khác với mọi lần, lần này Anath không làm vậy.

Khi bị bắt gặp xuất hiện ở đây, vẻ mặt Anath trông cực kỳ mất tự nhiên, trông như thể bị Saito nắm được thóp, chỉ cần một câu trêu chọc, hắn đã đủ mất mặt. Và Saito biết rõ, Anath cực kỳ ghét cảm giác đó.

Hai người chỉ lặng lẽ giằng co trong chốc lát, rồi Anath giận dữ hừ một tiếng, trừng Saito một cái, sau đó quay người bỏ đi.

………

Sau khi chịu thêm phần “hình phạt tăng cường”, Saito cuối cùng cũng được như ý nguyện trở về cung điện dưới ánh trăng, thay vì bị quăng vào ngục nước suốt ba ngày như lần trước. Cái giá phải trả là, trên nền một trăm roi gốc, hắn bị đánh thêm năm mươi roi bằng cành mận gai.

Quan xử tội nơm nớp lo sợ khi thi hành mệnh lệnh, nhưng bởi đây là ý chỉ trực tiếp của pharaoh, hắn không dám lơi tay. Đến khi hình phạt kết thúc, cánh tay của hắn run rẩy, cơ bắp co giật không ngừng.

Bởi vậy, khi Saito lê bước vào phòng, Tân Hòa Tuyết lập tức ngửi thấy mùi máu nồng nặc trong không khí.

Mùi ấy khiến y tỉnh khỏi cơn mộng.

“Saito?”

Y mượn ánh lửa chập chờn và vầng trăng ngoài cửa sổ để nhận ra dáng người kia.

Saito quỳ gối, bước chậm trên tấm thảm cho đến khi tới bên giường, không dám chạm vào Tân Hòa Tuyết, chỉ khẽ cúi đầu, tựa trán lên mép giường, im lặng.

Tân Hòa Tuyết bỗng nhớ lại dáng vẻ đối phương khi co người lại ở cung điện hôm nay như một con thú sắp chết. Y buông tay xuống, khẽ vuốt dọc phần tóc ngắn phía sau gáy Saito, rồi men theo đường viền chiếc mặt nạ chó, lòng bàn tay trượt đến cằm hắn, chậm rãi, nhẹ nhàng cọ nhẹ vài lần.

Yết hầu của Saito khẽ động, phát ra tiếng khàn khàn mơ hồ, khác hẳn với âm thanh gầm gừ đầy uy h**p của ban ngày.

Tân Hòa Tuyết hỏi hắn:
“Ban ngày anh làm sao vậy?”

“Vương huynh…”
Saito thuận theo mà ngẩng đầu lên, để bàn tay ấy có thể trượt xuống, lướt qua cổ mình. Mỗi lần bị v**t v*, hắn lại run nhẹ, thong thả phun từng chữ giải thích,
“Chỉ là… muốn tới gần ngài.”

Tân Hòa Tuyết rốt cuộc cũng hiểu ra mọi chuyện, cảnh tượng lúc y vừa tỉnh dậy đã giải thích tất cả.

Nếu khi đó không phải Saito đột ngột ra tay cản trở Lahotep, thì có lẽ vị Pharaoh kia đã phát hiện ra bí mật y vẫn luôn giấu dưới lớp áo.

Trong cơn mộng mị khi ngủ, y chưa kịp thu hồi chiếc đuôi.

Có lẽ hành động ấy của Saito chỉ là bản năng bảo vệ và chiếm hữu, nên mới xảy ra hành động tập kích như vậy. Nhưng kết quả lại vô tình cứu y như “vô tâm trồng liễu, liễu lại xanh.”

Saito không biết Tân Hòa Tuyết đang nghĩ gì. Hắn chỉ lặng lẽ tận hưởng từng cái chạm của đối phương. Mỗi lần lòng bàn tay kia lướt qua đều khiến hắn run rẩy, từng tấc da thịt như bốc cháy, mà trong ngọn lửa ấy chỉ còn lại linh hồn đang cúi mình thuần phục.

“Nephthys…”
Giọng hắn khàn đặc, đôi mắt dâng lên lớp sương nóng, như thể hạnh phúc đang dâng tràn đến mức muốn bật khóc.

“Ngài… không sợ tôi sao?”

Tân Hòa Tuyết hơi buồn ngủ, giọng nói trở nên nhẹ hẫng,
“Không đâu. Anh làm rất tốt.”

Lòng bàn tay y vô tình lướt qua cổ Saito, dừng lại nơi yết hầu, khóe mắt khẽ cong:
“Đứa trẻ ngoan.”

Có thứ gì đó ấm nóng rơi xuống, lăn dọc theo khe mặt nạ chó của Saito, rồi rơi vào lòng bàn tay Tân Hòa Tuyết. Đó là nước mắt.

Lần đầu tiên trong đời, Saito được nghe một lời khen thật lòng, không có ác ý, không có giễu cợt, cũng chẳng phải sự thương hại phát ra từ sợ hãi.

“Tôi… thật sự là đứa trẻ ngoan của ngài sao?”

Saito cúi đầu, áp mặt vào bàn tay kia như sợ độ ấm ấy tan biến, phảng phất như độ ấm kia có thể xuyên qua mặt nạ truyền đến da thịt hắn, rồi thõa mãn mà nhắm mắt lại.

Nhưng…

Vẫn chưa đủ.

Vẫn chưa thể nào đủ.

“Toiu… muốn phần thưởng,” hắn nói nhỏ, giọng nhỏ đến mức Tân Hòa Tuyết không nghe rõ, chỉ thuận miệng ừ nhẹ, “Ừm.”

Ánh lửa trong mắt Saito thoáng lóe lên, cặp đồng tử màu nâu vàng kim co lại trong bóng đêm, ánh lên sự phấn khích âm thầm.

“Tôi mệt rồi,” Tân Hòa Tuyết khẽ nói, nằm trở lại giường, “Ngày mai, lại đi cùng tôi dạo một vòng nhé, Saito.”

.........

Màn đêm buông xuống, gió lạnh trên cồn cát thổi qua không chút trở ngại, cuộn lên từng hạt bụi mịn lơ lửng trong không trung.

Sa mạc về đêm nhiệt độ hạ xuống nhanh chóng, so với cái nóng gay gắt ban ngày thì giờ đây lại mát mẻ dễ chịu vô cùng.

Cả ngày rong ruổi khiến Tân Hòa Tuyết vừa chạm lên gối đã chìm vào giấc ngủ. Y chỉ đắp hờ nửa tấm thảm mỏng, hai chân để trần, buông lơi giữa không khí.

Saito như một con rắn sa mạc lặng lẽ trườn đi, không phát ra dù chỉ một tiếng động, khẽ khàng bò lên mép giường.

“Nephthys…”

Xin người... hãy cho phép tôi được nhận phần thưởng này.

Đôi bàn tay với những khớp xương rõ ràng, mang màu đồng, chậm rãi giữ chặt lấy cổ chân trắng nõn. Màu da sáng tựa ánh trăng tương phản rực rỡ với làn da ngăm khỏe mạnh của hắn.

Đôi chân của Tân Hòa Tuyết quả thật đẹp đến kinh diễm, thẳng tắp, thon dài, trắng nõn.

Dưới ánh trăng tĩnh lặng trong cung điện, chỉ còn tiếng hô hấp dần trở nên nặng nề.

Trong mộng, cơn nóng bỏng quấn lấy không dứt. Tân Hòa Tuyết cau mày, khó chịu trở mình, khẽ đá chân ra như muốn xua đi hơi nóng vây quanh.

Nhưng vẫn không thoát được. Dường như có gì đó cứng rắn, nóng rát chạm phải chân y. Tân Hòa Tuyết hơi nhíu mày, song vẫn ngủ say, không hề tỉnh giấc.

Hắn không thể làm kinh động đến mẫu thần của mình.

Saito cắn chặt răng.

Cuối cùng, giữa tiếng thở gấp gáp nặng nề, hắn thành kính quỳ xuống. Trên lưng hắn, những băng vải trắng bó chặt phập phồng theo từng hơi thở như những dãy núi non, cả thân thể cong lên như một cây cung đang căng hết cỡ. Hắn cuộn tròn người quỳ rạp xuống.

Giọt nước mắt nóng hổi cùng một nụ hôn run rẩy, đồng thời rơi xuống nơi cổ chân của Tân Hòa Tuyết.

Saito bật ra một tiếng nức nở nghẹn ngào.

Với mẫu thần của mình… hắn đã làm một việc tội lỗi đến mức không thể tha thứ.

Nếu Tân Hòa Tuyết tỉnh lại, chắc chắn sẽ trừng phạt hắn.

Nhưng dù có phải chịu cực hình cho đến chết, hắn cũng cam tâm miễn là người ra lệnh ấy chính là mẫu thần.

Sau khi chết đi, trái tim hắn sẽ bị đặt lên cán cân phán xét của thần linh. Bởi tội lỗi quá nặng, cán cân nghiêng hẳn về phía tội ác, khiến hắn rơi xuống vực sâu của Minh giới, nơi linh hồn sẽ vĩnh viễn bị hủy diệt.

Saito, trong cơn hỗn loạn mờ mịt ấy, chỉ cảm thấy mình không ngừng rơi xuống, rơi mãi không dừng…

_________

Hắn làm một việc xấu với mèo Tiểu Tuyết.
 
Chứng Bệnh Khiến Vạn Người Say Đắm Giữa Chốn Quyền Uy
Chương 149


Phía cuối chân trời vừa nhuốm lên ánh hồng nhàn nhạt. Nước sông Nin mang theo phù sa đen đặc từ thượng nguồn lặng lẽ chảy qua, bao trùm những cánh đồng ven bờ trong sắc đỏ ửng của bình minh. Mặt nước phản chiếu ánh sáng rực rỡ, xen lẫn bóng những tán cây quả hải táng tím thẫm. Thần linh lại một lần nữa điều khiển thuyền mặt trời lên, bắt đầu chuyến hành trình của một ngày mới.

Tân Hòa Tuyết tỉnh dậy trong trạng thái mơ màng. Tình huống như vậy thường cho thấy chất lượng giấc ngủ đêm qua của y không được tốt.

Nhưng tối qua trước khi đi ngủ, y còn uống hai viên thuốc con nhộng. Loại thuốc ấy là phần thưởng K dùng số điểm ít ỏi đổi lấy từ cửa hàng, trong bản hướng dẫn có ghi rõ tác dụng phụ là khiến người dùng cảm thấy mệt mỏi, buồn ngủ. Theo lẽ thường, y phải ngủ rất say và thức dậy trong trạng thái sảng khoái.

Tân Hòa Tuyết nhíu mày, trong đầu y lại thoáng hiện lên vài hình ảnh mờ ảo.

Dưới ánh trăng lờ mờ phủ lên cung điện, một thân hình cường tráng như sói vương dựa nơi đầu giường y, dáng vẻ có phần ỷ lại. Giống như một chú chó ngoan ngoãn, người ấy để mặc y gãi cằm, khẽ vuốt mái tóc ngắn. Vì nửa khuôn mặt bị che bằng chiếc mặt nạ đen, Tân Hòa Tuyết không thể nhìn rõ vẻ mặt của đối phương, nhưng mà từ trong trí nhớ, dáng vẻ và giọng nói khàn khàn kia hẳn là Sato, y có thể cảm nhận được sự thoải mái cùng kh*** c*m thoáng qua.

Sau đó...

Khi y nằm xuống lần nữa, giữa tiếng sột soạt của vải vóc và tiếng xê dịch khẽ trên tấm thảm dệt, giường ở phía chân giường khẽ trũng xuống, báo hiệu có thêm trọng lượng. Ý niệm cuối cùng trước khi chìm vào giấc ngủ của Tân Hòa Tuyết là: Saito đã nằm ngủ ở cuối giường của y.

Y từng nghĩ, có lẽ chú “chó nhỏ” ấy vẫn như khi mới quen, luôn thấp thỏm, vừa bất an vừa mong đợi, sẽ hỏi y có thể ngủ trên tấm thảm kế bên giường hay không. Nhưng chắc là do tối qua được y khen ngợi, nên mới đắc ý mà leo thẳng lên giường ngủ cùng chăng.

Tân Hòa Tuyết bình thản nghĩ, Sato đối với y có thiện cảm nên y không để tâm nhiều đến hành vi ấy của Saito.

Ánh mắt y lướt về phía chân giường. Cái giường tuy rộng đủ cho hai người đàn ông trưởng thành cùng nằm, nhưng lại không dài cho lắm. May thay, y vốn có thói quen ngủ hơi co người. Nhìn những nếp gấp trên tấm thảm trải ở chân giường, có thể đoán rằng Saito quả thật đã ngủ ở đó.

Y ngáp dài, vẫn còn ngái ngủ, chậm rãi suy nghĩ nguyên nhân khiến mình ngủ không ngon. Có lẽ là do chưa quen có người khác ngủ cùng, nên chất lượng giấc ngủ mới giảm sút.

Bên ngoài hành lang, đã vang lên tiếng bước chân của gia nhân và thị vệ. Ánh nắng sớm màu vàng kim chiếu qua khung cửa, phản sáng trên tấm thảm đỏ, khiến mặt sàn lấp lánh như rải đầy lá vàng.

Đúng lúc ấy, Tân Hòa Tuyết đặt chân xuống đất.

“Ah....”

Một luồng đau nhói khiến y hít ngược hơi lạnh. Cảm giác đau bén nhạy hơn người thường khiến khóe mắt y khẽ run lên.

“Sao lại thế này?”

Chẳng lẽ ai đó khi dọn dẹp đã để sót một mảnh kim loại nhọn trên thảm sao? Nhưng cảm giác này khác lạ, không chỉ đau, mà còn kèm theo cơn tê dạ, râm ran nóng rát.

Cơn đau từ gan bàn chân lan dần lên, men theo những mạch máu xanh nhạt, dọc tới tận bắp chân.

Lúc này, người hầu mang chậu nước bạc bước vào, nước trong chậu khẽ lay động vì bước chân vội vàng của nàng.
“Iah đại nhân, ngài sao vậy?”

Tân Hòa Tuyết ngồi ở mép giường, hai đầu gối hơi tách ra. Y không để tâm đến việc động tác ấy khiến tấm vải quấn eo kéo căng, để lộ làn da trắng mịn bên trong.

“Iah... đại nhân...”

Tai người hầu lập tức nóng lên. Dù ở vùng đất này, đàn ông thường chỉ quấn một mảnh vải đay ngắn quanh hông, đôi khi còn ngắn hơn cả trang phục của thần sứ, chiều dài thậm chí còn trên đầu gối, đó vốn là cách ăn mặc thông thường để dễ dàng làm việc trong khí hậu nóng bức, giúp cơ thể thông thoáng, dễ chịu hơn. Nếu không phải vì yêu cầu giữ gìn vẻ văn minh và lễ độ nơi cung đình, e rằng nhiều nông dân cùng tầng lớp nô lệ dưới đáy xã hội còn chẳng buồn che đậy thứ gì trên người.

Nhưng thân thể của vị thần sử trước mắt lại hoàn toàn khác biệt.

Làn da trắng mịn, trơn bóng, nõn nà như sữa dê, khi lộ ra bên ngoài khiến người ta liên tưởng đến việc một người lữ hành đi giữa sa mạc, bất chợt nhặt được viên ngọc trai lấp lánh giữa sa mạc khô cằn.

Người hầu vội dời ánh nhìn, không dám ngó thêm, song vừa liếc thấy lòng bàn chân của y, liền hô lên một tiếng:
“Đại nhân! Chân ngài... sao lại như thế kia?”

Lúc này, nàng mới hiểu rằng tư thế mà Tân Hòa Tuyết mở rộng hai đầu gối là để nghiêng bàn chân xem xét. Nhờ vậy, nàng mới thấy rõ vết thương lạ ở gót chân y.

Tân Hòa Tuyết trời sinh làn da mỏng manh, vì vậy chỉ cần một nụ hôn hay chút cọ sát thân mật cũng đủ để trên da y lưu lại dấu đỏ nhạt, chuyện ấy đối với y vốn là điều quá dễ xảy ra.

Nhưng tình cảnh trước mắt hiển nhiên không đơn giản như vậy.

Gan bàn chân y trông như vừa trải qua một trận tra tấn quá mức, lấm tấm vệt đỏ tươi, da tuy chưa rách nhưng mạch máu nhỏ dưới da hẳn đã vỡ ra và chảy máu bên trong. Có lẽ chỉ sau một ngày, những vệt đỏ ấy sẽ dần chuyển sang màu xanh tím của vết bầm.

Vừa rồi khi y đặt chân xuống thảm, cơn đau nhói như kim châm lập tức dội lên, khiến cả người khẽ run.

Bất đắc dĩ rơi vào bước đường cùng, Tân Hòa Tuyết đành ngồi lại mép giường, miễn cưỡng rửa mặt, đánh răng và thay y phục.

Người hầu mang giày đến, y liếc nhìn rồi khẽ lắc đầu. Tình trạng này, làm sao mà đi giày cho nổi?

Tân Hòa Tuyết nhíu mày, y định cố chịu đựng để bước đến bàn ăn, tay vừa chống mép giường chuẩn bị mượn lực đứng dậy thì bất chợt cả người bị nhấc bổng lên khỏi mặt đất. Một cánh tay rắn chắc màu đồng cổ vòng qua đầu gối y, tay còn lại ôm lấy eo, dễ dàng bế y lên.

Saito cúi đầu, dưới góc nhìn của Tân Hòa Tuyết, y thấy cằm của Saito căng cứng, lộ rõ sự khẩn trương.

Saito cẩn thận đặt y xuống ghế cạnh bàn.
Tân Hòa Tuyết đã biết sáng sớm nay Saito biến mất là để làm gì, từ người Saito phảng phất hơi ẩm của nước, như vừa tắm gội xong. Hắn còn mang về một bình thuốc mỡ nhỏ, ngay sau đó, hắn lặng lẽ quỳ gối trước đầu gối y.

Cúi đầu thật thấp như làm việc gì đó sai trái, cho nên áy náy không dám ngẩng đầu,
giọng nói mang theo chút khẩn trương, run rẩy như đang nhận lỗi:
“Nephthys… bị thương rồi.”

Tân Hòa Tuyết không để bụng mà nói:
“Trước hết ăn sáng đi.”

Những tình huống như thế này, với y, không phải chưa từng xảy ra. Thân thể y vốn yếu, chẳng thích hợp đi xa mà không có phương tiện di chuyển hỗ trợ.

“Ngày hôm qua tôi đi quá nhiều, hôm nay thân thể không được khỏe. Anh hãy nhắn lại với Vizier rằng, hai ngày tới tôi e không thể cùng hắn ra đồng quan sát việc canh tác.”

Y quay sang dặn một người hầu khác.

“Vâng.”

Người hầu cúi đầu, nhanh chóng lui ra ngoài.

……

Trên bàn, bánh mì nướng vàng ươm, mềm xốp, rưới một lớp mật ong trong suốt. Mùi thơm ngọt ngào mà không gắt. Đó là loại bánh làm từ bột mì tinh luyện, khác hẳn với bánh thô pha cám và cát mà dân thường ăn.

Trên chiếc đĩa vàng bày bơ đặc, kem sữa và canh đậu nấu cùng sữa đặc, sánh mịn. Trái cây chín mọng xếp đầy bàn như ngọn núi nhỏ, những quả hải táng chín mọng, quả sung đỏ tươi tỏa ra hương thơm thanh ngọt.

Tân Hòa Tuyết dùng muỗng bạc khẽ khuấy bát canh trắng sánh, từng lát cá mỏng nổi lềnh bềnh trên mặt.

Người Ai Cập cổ rất tinh tế trong việc sử dụng hương liệu: thì là, tiêu, cùng các loại thảo mộc khiến món ăn dậy mùi thơm dễ chịu. Dù hương vị không tệ, nhưng đôi khi y vẫn đôi khi nhớ những món cơm nóng và vị chua ngọt của cà chua nơi quê hương xa xôi.

Thực ra, y hoàn toàn có cách thu hoạch hạt giống, ví như đổi lấy hạt giống từ cửa hàng hệ thống. Nhưng khí hậu nơi đây khắc nghiệt, chẳng dễ khiến những loài cây ngoại quốc ấy bén rễ, nảy mầm.

Nghĩ đến đó, y từ từ thở dài một hơi.

Còn với Saito - người sinh ra và lớn lên ở vùng đất này, hẳn sẽ chẳng bao giờ thấy phiền với món ăn nơi đây, phải không?

Tân Hòa Tuyết ngẩng đầu nhìn sang bàn ăn đối diện… rồi hơi sững lại.

Trước mặt Saito, thức ăn bày biện hoàn toàn khác những món ăn tinh xảo tỏa hương thơm của Tân Hòa Tuyết.

Những thứ đó mới là thực phẩm hoàn toàn nguyên sơ, chưa qua bất kỳ khâu chế biến nào. Nói cách khác, mâm đồ ăn thịnh soạn trước mặt Saito chất đầy nội tạng còn rỉ máu và những tảng thịt tươi đỏ au. Nhìn màu máu tươi đến mức có thể đoán rằng, chúng vừa được moi ra từ cơ thể động vật cách đây chưa đầy một giờ.

Saito được lưu lại cùng dùng bữa, rõ ràng ngồi ngay ngắn trên ghế nhưng dáng vẻ lại cứng nhắc như ngồi trên đống kim châm, không tài nào yên nổi.

Hắn cầm bộ dao nĩa với vẻ lúng túng, dường như việc sử dụng những dụng cụ ăn tinh xảo này còn khó hơn cả việc điều khiển thanh kiếm quen thuộc bên hông. Nhiều lần, Tân Hòa Tuyết thấy hắn suýt nữa đã buông xuôi, muốn trực tiếp đưa tay không ra mà chộp lấy đồ ăn.

Ngay cả tư thế ngồi của Saito cũng khiến người khác phải khó xử. Không khó để khiến người ta đoán ra nếu không phải người ngồi đối diện là Tân Hòa Tuyết, Saito có khả năng sẽ lựa chọn cách ăn thuận theo bản năng giống như một con sói chân chính, nằm sấp mà dùng bữa sáng của hắn.

Tân Hòa Tuyết khẽ chau mày.

Người hầu bên cạnh y thấp giọng giải thích:
“Iah đại nhân, đó là thói quen ăn uống từ trước đến nay của điện hạ Anubis.”

Điều kỳ lạ là giọng điệu của người hầu này, từ “thói quen” mà người hầu nói, thậm chí còn chứa đầy sự sùng kính.

“Thói quen từ trước đến nay?”

“Vẫn luôn ăn thịt tươi?”

Tân Hòa Tuyết:
“Thật không, ý cậu là, hắn dùng cơm với Pharaoh cũng như vậy?”

Người hầu trả lời:
“Vâng. Trên thực tế, điện hạ Anubis rất hiếm khi cùng Pharaoh hay các vị đại nhân khác dùng bữa.”

Tân Hòa Tuyết lưu ý khi họ nhắc đến Saito, người hầu gần như chỉ gọi hắn là “Anubis”, rõ ràng trong mắt họ, cái tên đó mang nhiều ý nghĩa tôn giáo thiêng liêng hơn là một thân phận con người.

“Để khơi dậy bản năng của ngài ấy,” người hầu cung kính nói tiếp, “Pharaoh đời trước từng nuôi ngài cùng một con sư tử đực trong chiếc lồng đồng từ khi còn nhỏ.”

Khơi dậy bản năng?

Hay là một hình thức ngược đãi trá hình?

Không khó hiểu vì sao Lahotep từng nhắc nhở y rằng Saito đôi khi sẽ có những hành vi khác biệt với người thường.

Tân Hòa Tuyết khẽ liếc qua Saito, rồi ra lệnh người hầu dọn dụng cụ ăn của Saito đi. Không còn những thứ cồng kềnh ấy, Saito cuối cùng cũng có thể ăn một cách thoải mái và khi ấy, vị hoàng tộc này thực sự bắt đầu ăn thoải mái.

Giữa chừng, hắn đột nhiên dừng lại. Dưới lớp mặt nạ đầu chó che khuất nửa khuôn mặt, đôi môi mỏng dính máu đỏ sẫm. Qua khe hở tối, đôi mắt màu nâu sẫm khẽ ngẩng lên nhìn Tân Hòa Tuyết, ánh nhìn ẩn chứa sự bối rối và thấp thỏm.

Có vẻ Lahotep từng dạy hắn phép tắc trên bàn ăn, song mọi nỗ lực đều thất bại.

Dẫu vậy, nhiều lần dạy dỗ vẫn không uổng phí, ít nhất Saito đã học được một điều, trong thế giới loài người, ăn ngấu nghiến thịt tươi là hành vi không được chấp nhận.

“Không sao đâu.”
Mắt Tân Hòa Tuyết cong cong lại, ánh mắt dịu dàng.
“Ăn đi.”

Saito dường như thở phào một hơi. Hắn lại tiếp tục ăn, động tác dữ tợn và tàn ác, song trong tư thế và ánh nhìn vẫn thấp thoáng sự ngoan ngoãn thuần phục.

Con thú hoang tàn bạo ấy, khi ở gần Tân Hòa Tuyết, lại cam lòng cúi rạp, phục tùng từng mệnh lệnh.

Cũng giống như khi bữa sáng kết thúc, Saito mang thuốc đến, quỳ xuống trước y.

Hắn nhẹ nhàng nâng đôi chân của Tân Hòa Tuyết, đặt lên đùi mình, so với thảm thì dễ chịu hơn một chút, sau đó lại cúi đầu nghiêm túc mà bôi thuốc.

Khi hắn đang bôi thuốc, vòng tay vàng trên cổ tay hắn khẽ chạm nhau, phát ra tiếng lanh canh nhỏ. Cơ bắp dưới lớp vải thô khẽ chuyển động, từ eo kéo dài đến phía dưới.

Tân Hòa Tuyết ý thức được Saito đúng là từ nhỏ được rèn giũa qua những năm tháng ẩu đả cùng sư tử trong lồng sắt, luyện ra một thân cơ bắp rắn chắc, hữu dụng.

Vấn đề là....

Quá mức rắn chắc.

Khiến y cảm thấy thấy đặt chân lên đùi hắn thôi, cũng cảm thấy hơi đau.

.......

.......

?

Trong khoảnh khắc tia sét lóe sáng, một ý niệm vụt lướt qua đầu Tân Hòa Tuyết.

Y giơ tay, ra hiệu cho đám nô bộc trong điện lui ra ngoài. Hàng mi trắng muốt khẽ cụp xuống, nơi đáy mắt dấy lên tầng hàn ý lạnh lẽo.

“Saito… đêm qua anh đã làm gì?”

Sống lưng Saito lập tức căng cứng, cúi rạp đầu xuống, không dám nhìn thẳng.
“Nephthys…!”

Còn chưa kịp nói hết câu, đôi chân trắng nõn kia đã bất ngờ giẫm mạnh xuống g*** h** ch*n hắn, thậm chí còn hung hăng nghiền nghiền đằng trước.

Saito theo phản xạ uốn cong lưng, từ cổ họng bật ra một âm thanh khàn đục, như tiếng cát đá ma sát.

Cơn ngứa rát cùng đau nhức khiến Tân Hòa Tuyết khẽ rít lên một hơi, chứng kiến cảnh này khiến y cười nhẹ, bộ dáng nói chuyện giống như mỹ nhân rắn thè lưỡi uy h**p.

“Đứa trẻ ngoan…”

“Anh dùng đôi chân của tôi… đã làm chuyện xấu gì?”

Trong đáy mắt Saito dấy lên một màu đỏ sậm, mồ hôi ướt đẫm chảy từ thái dương xuống theo đường nét gương mặt, khiến bầu không khí càng thêm nóng bỏng, căng thẳng.

“Tôi… thật xin lỗi… Tôi không hề có ý xúc phạm đến mẫu thần…”

Hắn khẩn thiết ngẩng đầu, đôi mắt nhìn thẳng vào Tân Hòa Tuyết.

Đến lúc này rồi, Tân Hòa Tuyết há lại còn không hiểu chuyện gì đã xảy ra?

Nụ cười trên môi y dần tắt như thủy triều rút, gương mặt vốn xinh đẹp giờ phủ lên một tầng sương lạnh.

Trong cơn tức giận, chiếc đuôi mèo trắng toát xù lông từ bên hông khẽ hiện ra, rũ xuống g*** h** ch*n, vẫy nhẹ qua lại như biểu lộ sự bất mãn.

Ánh mắt Saito không kìm được mà bị cuốn theo chuyển động ấy, hoàn toàn bị mê hoặc.
“Cái… đuôi đó…” — hắn lẩm bẩm.

Nhưng chẳng mấy chốc, hắn đã không thể nào dời nổi tầm mắt khỏi cái đuôi.

Lực nghiền dữ dội cùng kh*** c*m lẫn đau đớn cực độ ập đến như cơn đại hồng thủy dâng tới quét qua các giác quan của hắn, khiến Saito bật ra một tiếng rên nghẹn thảm thiết.

Tân Hòa Tuyết bỗng khựng lại, không thể tin nổi mà cúi xuống nhìn.

Thứ t*nh d*ch dính nhớp… đã bám lên đầu nhọn của chiếc đuôi trắng muốt.

Hành động ấy khiến Tân Hòa Tuyết tức giận đến cực điểm, song trên môi y lại nở ra một nụ cười lạnh lẽo đến đáng sợ.

Dựa vào kinh nghiệm dài lâu của K khi nghiên cứu loài sinh vật đặc biệt mang tên “Tân Hòa Tuyết”, nụ cười ấy chính là dấu hiệu cho thấy ký nhân của hắn đã thật sự nổi giận.

Tân Hòa Tuyết nhấc đầu gối, bất ngờ hất mạnh, đầu gối va thẳng vào cằm Saito, buộc đối phương phải ngẩng đầu lên, bị kìm chặt mà chỉ có thể nhìn y từ dưới lên.

“Saito,”

“Anh vừa làm cái gì?”

Đôi đồng tử màu nâu vàng kim của Saito co rút lại.

........

........

Anath trở về từ bên ngoài đền thần, hắn chính thức bị điều đi xây dựng tháp tưởng niệm phía trước đền thần. Cả ngày bận rộn chỉ đạo việc dựng tháp tưởng niệm trước đền thần khiến tâm tình hắn vô cùng bực bội. Nghe người thân tín báo lại rằng Tân Hòa Tuyết vẫn chưa rời cung điện, hắn lại càng nhíu mày.

Chỉ là mắc một cơn bệnh thôi, làm gì đến mức nghiêm trọng thế?

Đúng là vị thần sứ ngạo mạn.

Anath thề, hắn chỉ muốn đến xem tình hình, để chắc chắn rằng vị thần sứ này có thể làm Đại Tư Têd tham dự lễ hiến tế Thần Ngưu sắp tới. Dù sao, việc đó là nghi thức trọng đại, không thể vì một người mà gián đoạn. Chỉ là như thế thôi, hắn tuyệt đối không phải vì lo lắng cho thân thể của đối phương.

Thân thể vị thần sứ có thế nào, thì liên quan gì đến hắn chứ?

Ấy vậy mà, khi Anath bước vào cung điện hắn thấy thanh niên khó khăn bước ra khỏi hồ tắm, nước còn chưa kịp khô. Y quay lưng về phía Anath, mái tóc dài màu trắng bạc ướt sũng dính chặt vào sống lưng, từng giọt nước lăn dọc theo đường cong cơ thể, men qua bờ vai, theo sống lưng trượt xuống, rồi tụ lại nơi thắt lưng mảnh khảnh.

Vòng eo của Tân Hòa Tuyết nhỏ đến mức gần như có thể ôm gọn trong một vòng tay, mềm mại nhưng lại ẩn chứa sức mạnh kiềm chế tinh tế. Dưới đó, đường cong hông khẽ nở ra, bị che phủ bởi lớp vải đay trắng đang được một người hầu cẩn thận quấn quanh người y. Đôi tay người hầu nhanh nhẹn, động tác thành thục mà cung kính.

Anath chỉ cảm thấy một luồng khí nóng tràn lên cổ, huyết mạch như sôi sục. Thoại nhìn hắn vì đi đường xa đến đây mà khát khô cổ. Hắn bước đến, nhận lấy chén rượu nho từ tay người hầu dâng lên.

Rồi uống cạn một hơi.

Đôi mày Anath chau chặt lại, gần như không còn kẽ hở, sự khô nóng dâng lên khiến hắn như sắp bị đốt cháy từ trong ra ngoài.

Hắn có chút nghi ngờ, chẳng lẽ… Tân Hòa Tuyết đã sớm biết bọn họ có âm mưu gì?

Nếu không, sao vừa uống xong rượu, hắn lại cảm thấy thêm khát, thậm chí cả vành tai cũng nóng lên.

Liệu có phải Tân Hòa Tuyết đã bỏ thứ gì vào trong rượu nho hay không?

P/s: >Nhà edit bộ này trên truyenhd drop rùi nha mn.
 
Chứng Bệnh Khiến Vạn Người Say Đắm Giữa Chốn Quyền Uy
Chương 150


Khác với tầng lớp nô lệ hay dân lao động chỉ quấn quanh hông những tấm vải đay thô cứng được gọi là Carter, y phục của giới quý tộc mang đậm tính thiết kế, chất liệu cũng tinh tế hơn một trời một vực. Loại vải họ dùng là sợi đay được xử lý kỹ càng, tẩy trắng cẩn thận, mềm nhẹ và thoáng mát, tựa như những nếp váy ngắn được xếp tinh xảo, viền mép thêu chỉ vàng, khảm thêm đá quý. Mỗi khi bước đi, lớp vải khẽ lay động, ánh sáng phản chiếu lấp lánh như sóng vàng nhấp nhô trên mặt sông Nile.

Người hầu cẩn thận nâng chiếc vòng cổ ô tắc khắc phức tạp, đính đầy hạt châu nhiều màu rực rỡ. Mỗi khi những viên đá chạm nhẹ vào nhau lại vang lên tiếng leng keng trong trẻo. Hắn vừa định đeo vòng lên cổ thần sứ thì bị một cử chỉ khoát tay khẽ khàng ngăn lại.

Giờ đã là chạng vạng, hơn nữa lấy lý do thân thể không khoẻ, Tân Hòa Tuyết xin phép được nghỉ trong cung điện, không ra ngoài nữa. Cũng vì thế, y không muốn mang thêm những món trang sức cầu kỳ, rườm rà.

Người hầu đành thôi không điểm thêm trang sức khác cho thần sứ, thay vào đó khoác lên vai thần sứ một chiếc áo choàng mỏng nhẹ như cánh ve, rồi cúi đầu chỉnh lại cho ngay ngắn.

“Có thể dọn cơm rồi.”
Tân Hòa Tuyết ra lệnh.

Y cố nén cơn khó chịu còn sót lại trong người, chậm rãi bước về phía cửa cung điện. Lúc ấy, người hầu đang thu dọn mớ hỗn độn trên tấm thảm.

“Chuyện gì xảy ra ở đây vậy?”

Tân Hòa Tuyết nghe thấy tiếng ly vỡ vang lên, lúc đến nơi thì thấy ly rượu vàng đã lăn khỏi thảm. Nhưng vì khi ấy y đang thay y phục, nên cũng chẳng để ý kỹ nơi phát ra tiếng động.

“Điện hạ Anath vừa mới đến. Tôi dâng rượu mời trong điện,” người hầu cung kính đáp, rồi khẽ hạ giọng, thoáng chút lo lắng, “Ngài ấy trông như một con sư tử nổi giận… nhưng rồi cũng nhanh chóng rời đi.”

Người hầu thầm bất an, chẳng lẽ là vì rượu không hợp khẩu vị, nên khiến điện hạ Anath tức giận? Nếu quả thật như vậy, chẳng phải hắn đã vô tình phá hỏng mối quan hệ giữa Anath điện hạ và thần sứ sao?

Tân Hòa Tuyết lại chẳng bận tâm đến tâm tình thất thường của vị hoàng tộc kia, rốt cuộc, hắn không phải là nhân vật mục tiêu để cần phải lấy lòng.

“Không sao. Lần sau nếu hắn đến, báo cho tôi biết trước là được.”

………

Thực ra, sau chuyện đó Tân Hòa Tuyết cũng không trừng phạt Saito, càng không cấm hắn bước chân vào cung điện này.

Khi ấy, toàn bộ sự chú ý của Tân Hòa Tuyết đều bị thu hút bởi chiếc đuôi trắng tinh của y, vì vậy những việc khác đều bị y quẳng ra sau đầu.

Thế nhưng kể từ lúc trở về, Saito lại như bị sợi xích vô hình trói chặt trước cửa, đứng canh gác y hệt một con chó giữ cổng, hắn như muốn thay thế hộ vệ canh giữ ở bên ngoài cung điện.

Tân Hòa Tuyết chỉ liếc nhìn thoáng qua, rồi khẽ phất tay.

Dù thân hình của vị hoàng tộc này vẫn cao lớn hiên ngang, nhưng không hiểu sao lại toát ra một vẻ buồn bã, chán nản phảng phất như một con sói xám với bộ lông ảm đạm.

Tân Hòa Tuyết hơi nhướng mày, có chút ngạc nhiên.

Trông dáng vẻ ấy, chẳng lẽ Saito thật sự sợ y nổi giận sao?

“Chậc.”

Y nhất thời không muốn bắt bẻ, khẽ phun ra miếng thịt cá vướng phải xương.

Saito ngẩng đầu lên, vừa kịp thấy nơi khóe môi thần sứ ánh lên một sắc trắng tựa vỏ sò, trong khe hở ấy lấp ló đ** l*** **t *t đỏ tươi…

Người hầu đang cúi đầu xin lỗi vì sơ suất, rồi càng thêm cẩn trọng, dùng con dao nhỏ và chiếc kẹp đồng loại bỏ xương ra khỏi miếng cá.

Nhưng chỉ qua vài lần như vậy, vị trí của hắn đã bị vị hoàng tộc kia thay thế.

Saito đứng vào chỗ người hầu vừa rời đi, cúi đầu, vụng về bắt chước động tác ban nãy, cẩn thận tách từng thớ thịt trắng ngà, nhặt ra những chiếc xương nhỏ.

Đến khi hoàn thành, lấy được hết xương cá ra ngoài đĩa, hắn mới như vừa vượt qua một công việc nhọc nhằn, tuy mặt không biểu cảm, nhưng ai cũng cảm nhận được một hơi thở nhẹ nhõm thoát ra. Sau đó, hắn gắp miếng thịt cá mềm mịn, đặt nhẹ vào bát của Tân Hòa Tuyết.

“Làm không tệ.”

Tân Hòa Tuyết hơi nâng cằm, liếc nhìn Saito với ánh mắt như một con mèo kiêu ngạo, trong ánh nhìn ấy ẩn chứa sự tán thưởng không hề che giấu.

Chính vào lúc đó, Lahotep bước vào cung điện và bắt gặp cảnh tượng ấy.

Hắn hơi nheo mắt lại, ánh nhìn chậm rãi dừng nơi người đang cẩn thận dùng bữa bên cạnh thần sứ. Sau khi xác nhận đó đúng là người em cùng cha khác mẹ của mình, Lahotep liền hiểu: Saito đã hoàn toàn bị vị thần sứ này mê hoặc, sắp sửa bị thuần phục đến mức trở nên ngoan như một phôi sáp.

Lahotep giả vờ như không thấy, thản nhiên tiến vào trong điện.
“Vizier vừa rồi khi báo cáo công việc có nhắc đến chuyện chế tác pha lê. Hắn bảo tôi truyền đạt lại ba ngày nữa, không biết thần sứ có thời gian cùng hắn đến xem qua thành quả của thợ thủ công hay không?”

“Dĩ nhiên, tôi cũng rất muốn tận mắt chứng kiến.”

Khi nói, ánh mắt Lahotep dừng lại trên gương mặt điềm tĩnh của Tân Hòa Tuyết, đôi mắt tĩnh lặng như ánh trăng rọi xuống mặt hồ.

………

Thành phẩm quả thật khiến người ta vô cùng hài lòng. Pha lê trong suốt như gương nước, sáng rỡ đến mức phản chiếu ánh sáng lung linh trên ly rượu trong tay. Trông qua, nó giống hệt như trái nho vừa được hái từ giàn xuống, lớp vỏ còn đọng lại sắc nước óng ánh tươi mới.

Lahotep khẽ vuốt ngón tay dọc theo phần đế ly, nơi vẫn còn in rõ dấu dấu ấn lồi lõm. Hắn nâng chiếc ly lên, chỉ vào chỗ sai biệt nhỏ nơi thân ly, đó là một vết hằn kỳ lạ, như tay mèo để lại.

Ánh mặt trời vàng kim xuyên qua dấu vết ấy, khúc xạ thành những tia sáng lấp lánh trong đôi mắt Lahotep.

Hắn không biểu lộ cảm xúc gì, chỉ lạnh nhạt hỏi người thợ thủ công đang cúi đầu cung kính:
“Thứ này có thể sản xuất hàng loạt không?”

Người dẫn đầu thợ thủ công vội đáp:
“Dạ được, thưa bệ hạ. Chúng thần đã có khuôn đúc tinh vi nhất, và ngọn lửa trong xưởng rèn sẽ không bao giờ tắt.”

Lahotep gật đầu hài lòng.
“Tốt. Tôi muốn trong lễ hiến tế Thần Ngưu sắp tới, mỗi người đều có thể nâng ly rượu này trong tay. Ai ai cũng xứng đáng nhận được ân huệ của thần linh, chẳng phải sao?”

Nói đoạn, hắn quay người nhìn về phía thần sứ đang khoác áo choàng dài. Từ khe hở nhỏ nơi mũ trùm, có thể thấy thấp thoáng đôi mắt hồng phấn của đối phương.

Mặc dù hắn biết đôi môi thần sử có đường cong hoàn mỹ, đầy đặn mà tinh xảo. Khi Tân Hòa Tuyết khẽ cong môi cười, nụ cười ấy mờ nhạt dưới bóng mũ choàng nhưng lại khiến người ta liên tưởng đến vầng trăng non soi qua sương sớm, thấp thoáng giữa ốc đảo yên tĩnh nơi sa mạc.

Lahotep rất hiếm khi thấy trên gương mặt thần sứ xuất hiện cảm xúc rõ ràng như vậy.

Khi nhận ra bản thân đã nhìn y quá lâu, Lahotep thoáng khựng lại, Tân Hòa Tuyết lập tức tránh đi ánh nhìn ấy, mũ choàng rũ xuống, che khuất ánh trăng dịu nơi đáy mắt.

“Đi cùng tôi dạo một vòng đi, Iah.”

Giọng Lahotep vang lên.

………

Rất nhanh, Lahotep nhận ra rằng Iah mang đến cho hắn những điều ngạc nhiên vượt ngoài mong đợi.

Vì biết thần sứ sức khỏe yếu hơn người thường, lần này khi ra ngoài, Lahotep đặc biệt chọn loại kiệu xa hoa nhất, và đích thân mời Iah cùng ngồi.

Chiếc kiệu ngồi được chế tác từ gỗ keo (Acacia) cứng cáp, được thợ thủ công mài giũa đến nhẵn bóng, phủ bên ngoài một lớp vàng mỏng khiến nó tỏa sáng rực rỡ dưới ánh mặt trời như thể được đúc từ kim loại quý. Bốn góc kiệu treo rèm lụa đan bằng sợi đay mảnh, dệt xen kẽ ba màu hồng, vàng và lam, viền quanh là những hoa văn tinh xảo khắc họa cỏ cây và mặt trời đang tỏa sáng.

Chỉ có những sắc thái rực rỡ như thế mới xứng với uy nghi của một vị Pharaoh.

Bên trong, lớp đệm nhung mềm mại được nhồi thêm lông chim và bông trắng, khiến việc di chuyển trở nên êm ái, gần như không còn cảm giác chao nghiêng.

Khi Pharaoh xuất hành, đoàn tùy tùng đi cùng quả là vô cùng đồ sộ, khổng lồ ngoài những người khiêng kiệu, còn có thị vệ, quý tộc, quan viên và những tùy tùng trọng yếu hộ tống ở hai bên.

Tân Hòa Tuyết liếc nhìn ra ngoài: Vizier, Saito và Nubu đều đi ở hàng trong gần nhất.

“Hàng rèm này đã che bớt phần lớn ánh nắng rồi. Ngài thấy có dễ chịu hơn chút nào không?”
Lahotep nhỏ giọng, hỏi người ngồi bên cạnh.

Nghe câu hỏi ấy, thanh niên khẽ phất tay, bỏ chiếc mũ choàng trắng ra. Mái tóc trắng bạc dài như dải ngân hà đổ xuống, ánh nắng xuyên qua lớp rèm ngũ sắc, phản chiếu những vệt sáng rực rỡ trên từng sợi tóc.

Mái tóc buông dài đến thắt lưng, vài sợi mảnh bay lượn theo gió, khẽ chạm vào bàn tay Lahotep.

Cảm giác ấy... mượt mà, mát lạnh.

Khoảng cách giữa họ gần đến mức, Lahotep có thể cảm nhận được hương gỗ đàn hương nhè nhẹ lan tỏa từ người thần sứ.

Thần sứ không nói nhiều, khí chất yên tĩnh và thanh nhã. Y khẽ vén góc rèm, để ánh sáng tràn vào, tầm mắt hướng ra ngoài, thành Thebes hiện lên rõ ràng trong tầm nhìn.

Bên ngoài, dân chúng từ thường dân đến người hầu trong các phủ quý tộc đang múc nước từ những con kênh chằng chịt chảy quanh thành, dùng những thùng gỗ gác trên vai.

“Người dân ở Thebes đều dựa vào mạng lưới kênh rạch chằng chịt này để lấy nước sinh hoạt sao?”
Tân Hòa Tuyết quay đầu hỏi.

Lahotep gật đầu.

So với những kinh đô cũ, thành Thebes mới này vẫn còn nhiều nơi chưa hoàn thiện, vẫn cần tiếp tục tu chỉnh.

“Có giấy làm từ cói và bút làm bằng cỏ lau không?”
Tân Hòa Tuyết hỏi tiếp.

Lahotep lập tức ra lệnh cho viên thư lại mang đến những thứ y cần. Ở nơi này, người dân thường dùng khoáng vật thiên nhiên để làm thuốc màu viết và vẽ: mực đen chế từ than nghiền, mực màu lam đến từ khoáng chất cobalt.

Tân Hòa Tuyết trải tấm giấy cói ra, tước ngòi bút lau, chấm nhẹ vào mực, rồi bắt đầu phác thảo. Trên mặt giấy, từng nét bút vẽ ra hình ảnh thành phố phía sau hoàng cung, những con đường, những dòng kênh đan xen như mạng lưới.

Lahotep lặng lẽ nhìn. Hắn biết, kể từ khi thần sứ đến đây, ngoại trừ lần đi cùng Vizier đến xưởng thủ công, ngày thường Tân Hòa Tuyết hầu như chưa từng rời khỏi cung điện. Ấy vậy mà chỉ dựa vào trí nhớ, y lại có thể vẽ lại thành phố gần như chính xác từng chi tiết, thật khiến người ta kinh ngạc.

Từng nửa phía đông của Thebes, những con đường và dòng kênh chằng chịt dần hiện lên từ nét mực đen và lam.

Tân Hòa Tuyết cúi đầu, dùng lòng bàn tay nhẹ chạm vào tấm bản đồ.
“Mấy khu vực này,” y chỉ, “có thể xây những hồ chứa nhỏ....ừm dạng như hồ lắng trầm tích. Khi mùa nước lũ đến, có thể giữ lại phần nước dư, để dành cho mùa khô tưới tiêu. Tuy nhiên, cần kết hợp hệ thống đập nước và lưới lọc ở cửa kênh để ngăn bùn cát chảy vào dòng chính.”

Y lại vòng thêm vài nét nữa, nói tiếp:
“Nếu mở thêm các kênh nhánh ở khu vực này, có thể đưa hơi nước lan xa hơn khỏi sông Nin, kết hợp với những con đường phụ để xe chở nước đi lại, mang nước lên các vùng đất cao khô hạn phục vụ tưới tiêu.”

Vì suy xét đến nguồn nước quý giá, việc phân vùng tưới tiêu cũng cần được tính toán kỹ, căn cứ vào độ cao địa hình và loại cây trồng, để quy hoạch thời điểm và lượng nước phù hợp…

Tân Hòa Tuyết chìm trong suy nghĩ. Y đã từng xem qua các hệ thống nông nghiệp và chủng loại cây trồng ở cửa hàng, nên bắt đầu tự hỏi: liệu các giống năng suất cao kia có thể thích ứng với khí hậu nơi đây hay không.

Khi nhận ra mình đã im lặng khá lâu, y ngẩng đầu thì thấy Lahotep đã thêm nét bút lên bản đồ, nối liền phần còn lại của bức họa, phác ra nửa phía tây thành phố cùng những con kênh đan chằng chịt.

Lahotep quá quen thuộc với vùng đất này, chính tay hắn đã chọn nơi đây làm kinh đô mới. Dù trí nhớ không thể sánh với thần sứ, nhưng hắn từng nhiều lần tự mình đi khắp vùng đất ven sông Nin này để đo đạc từng bước một.

Hắn nhìn Tân Hòa Tuyết, ánh mắt kiên nhẫn, chờ đợi lắng nghe.

Bỗng nhiên, phía trước vang lên tiếng huyên náo hỗn loạn, tiếng người hô hoán, tiếng vó ngựa dồn dập. Kiệu phải dừng lại.

Lahotep lập tức đứng dậy, ra hiệu cho Tân Hòa Tuyết phủ lại áo choàng trắng, rồi vén rèm lên. Thấy rõ cảnh tượng bên ngoài, sắc mặt hắn lạnh xuống.

“Anath! Giữa phố xá đông đúc mà dám phi ngựa đó là cách cậu thể hiện lễ nghi hoàng tộc sao?”

Vó ngựa giơ cao, giẫm mạnh xuống đất, tung bụi cát mịt mù.

Anath từ trên lưng ngựa nhảy xuống nhẹ nhàng, động tác dứt khoát. Trong tay hắn còn nắm cổ áo một người đàn ông đang quỳ rạp trên đường, ngay trước kiệu. Người nọ run rẩy ngẩng đầu, giọng run run:
“Pharaoh tôn quý, chủ nhân vùng đất ven sông Nin…”

Đôi mắt sắc bén của Lahotep khẽ nheo lại hắn nhận ra người này. Năm trước, trong lễ tế Thần Ngưu, kẻ này từng là sứ giả đến yết kiến, thay mặt một lãnh chúa quý tộc.

“Vương huynh.”
Anath bước lên, định giải thích, nhưng ánh mắt hắn chợt dừng lại nơi bóng áo choàng trắng trong kiệu.

Ánh nhìn hắn lướt qua giữa Pharaoh và thần sứ, trong lòng khẽ dấy lên một hạt giống nghi ngờ.

Vẻ mặt sứ giả phẫn uất, bẩm rằng: từ ba tháng trước, lãnh địa của hắn liên tục bị quân phản loạn tập kích cướp bóc. Giờ đây, phản quân đã chiếm giữ đập nước phía bắc, khống chế toàn bộ nguồn nước.

Lực lượng binh sĩ trong lãnh địa quá yếu, không đủ để chống trả đám quân phản loạn to gan lớn mật. Bất đắc dĩ, hắn mới đến cầu xin triều đình cử quân giải cứu.

Trong khi đó, khóe mắt Tân Hòa Tuyết thoáng liếc ra ngoài nơi góc đường, có một bóng người đang vụng trộm quan sát. Khi ánh nhìn của y quét qua, kẻ đó liền né tránh, chỉ để lại vạt váy vương bụi bay lên trong gió.

Tân Hòa Tuyết khẽ cúi người, nghiêng đầu thì thầm điều gì đó với Nubu ngồi bên cạnh.

……

Kẻ theo dõi đã bị Nubu âm thầm bắt giữ và áp giải vào trong cung điện của thần sứ vào đêm sau.

Do chính Tân Hòa Tuyết hạ lệnh, Nubu dù là khi bắt hay khi đưa người đi, cũng phải tuyệt đối kín đáo, không để lọt tai mắt của bất kỳ ai.

Đêm khuya yên tĩnh.

Kẻ bị bắt là một nữ nô đến từ Assyria. Nàng yêu cầu được diện kiến riêng với Tân Hòa Tuyết.

“Tôi chỉ nói chuyện với thần sứ.”
Nàng đứng thẳng, giọng nàng mang âm điệu Ai Cập khác biệt hẳn so với người Thebes.

Trước cái nhìn không tán đồng của Nubu, Tân Hòa Tuyết khẽ phất tay, ra hiệu cho tất cả lui xuống, trong đó dĩ nhiên cũng có Nubu.

Dưới ánh đèn lay động, nữ nô Assyria rút ra một chiếc bình nhỏ, thứ nước thuốc từng được nàng dâng cho Đại Tư tế của thần màu mỡ Osiris.

Chất lỏng trong bình khẽ lắc lư, ánh lên dưới trăng, như mang theo sắc thái yêu dị của quỷ mị.

Bằng thứ tiếng Ai Cập không quá lưu loát, nàng kể lại cho Tân Hòa Tuyết nghe về âm mưu đen tối của vị lão tư tế ấy.

“Vì sao cô lại nói với tôi điều này?”
Tân Hòa Tuyết đứng dậy khỏi ghế, bước đến gần trước mặt nữ nô.

Nữ nô khẽ nhoẻn miệng cười, rồi nàng chậm rãi cất tiếng, ngâm nga một chuỗi âm thanh thần bí.

Đó không phải là ngôn ngữ Ai Cập.
Tân Hòa Tuyết nghe mà không hiểu.

Nàng nhìn y, nụ cười càng thêm ngọt ngào.

………

Sau đó, trong bóng đêm nơi vách đá gần cung điện, nữ nô ngồi nép mình. Nàng cắn đầu bút làm bằng cỏ lau, viết vài dòng cuối lên tờ giấy cói, rồi dùng sợi dây mảnh buộc chặt cuộn giấy vào chân con đại bàng vàng kim.

Nàng vỗ nhẹ lên lưng chim.

Đại bàng tung cánh, những sợi lông mạnh mẽ đập lên gió, mang theo bức thư, bay vút vào đêm, ngược dòng gió từ Địa Trung Hải, hướng về phương Bắc xa xăm.

....Vị khách đến từ bầu trời, thật mỹ lệ.

Đó là câu trả lời của nàng, bằng tiếng Assyria, dành cho Tân Hòa Tuyết.

Sau này, mỗi khi nghĩ lại, nàng chỉ tự hỏi: làm thế nào để có thể mời được vị khách mỹ lệ ấy xuống miền Hạ Ai Cập đây?

Khóe môi nàng khẽ cong, nụ cười ngọt ngào như mật ong rừng. Nhưng khi nghĩ đến việc còn phải quay lại đối phó với đám tín đồ trung thành của lão tư tế, nụ cười ấy dần tan biến.

………

Khi Nubu trở lại cung điện.
“Thần sứ đại nhân, ngài thật sự cứ để nàng rời đi như vậy sao? Nếu ngài đổi ý, chỉ cần một mệnh lệnh, tôi sẽ bắt nàng trở lại ngay.”

Tân Hòa Tuyết lắc đầu:
“Không cần đâu, Nubu. Chuyện này chỉ là một hiểu lầm thôi. Nàng ta… là một người đáng thương.”

Nubu vẫn cảm thấy nữ nô kia hành tung đáng ngờ, nhưng hắn tuyệt đối không dám nghi ngờ quyết định của Thần Sử.

Chỉ là về lọ ma dược ấy...

Tân Hòa Tuyết nhớ lại thứ chất lỏng mang sắc thái quỷ dị kia.

Y đã biết rõ công dụng của nó từ lời nữ nô.

Y không tịch thu, cũng chẳng trừng phạt. Y để nàng đi, không hề đòi hỏi bất cứ cái giá nào.

Và nếu mọi chuyện vẫn diễn ra đúng như âm mưu của lão tư tế…

Thì có lẽ, trước khi điều đó xảy ra, y đã bắt đầu suy nghĩ nếu loại thuốc kia quả thật có tác dụng thần kỳ đến thế, vậy ai sẽ là người xứng đáng để dùng nó phục vụ cho y đây?

Ngón tay y lật nhẹ viên xúc xắc bằng ngọc mà thợ thủ công dâng tặng, rồi bất ngờ ném mạnh ra ngoài.

“Kịch kịch.... tõm!”

Âm thanh nhỏ bé vang lên, viên xúc xắc rơi tõm xuống mặt hồ tắm.
 
Chứng Bệnh Khiến Vạn Người Say Đắm Giữa Chốn Quyền Uy
Chương 151


Do vùng Amra bị quân phản loạn cướp bóc, Saito được giao nhiệm vụ dẫn quân trấn áp bọn bạo dân dám x*m ph*m l*nh th* Thượng Ai Cập. Theo lệnh của Lahotep, hắn rời khỏi kinh thành, chỉ huy một đội chiến xa tinh nhuệ, cùng sứ giả kia men theo dòng sông Nin xuôi về phía hạ lưu để đến Amra.

Trước khi lên đường, Saito đến cung điện của Tân Hòa Tuyết, thỉnh cầu y đeo cho hắn chiếc vòng cổ Usekh.

Con dân ở vùng đất này có truyền thống say mê trang sức, người dân, từ quý tộc đến thường dân, đều thích đeo những món đồ tinh xảo với màu sắc rực rỡ.

Màu vàng kim tượng trưng cho Thần Mặt Trời Ra, nguồn sống bất diệt, linh hồn vĩnh hằng và quyền năng tối thượng. Màu bạc là ánh sáng của bình minh, của trăng sao soi rọi. Ngọc lam và khổng tước thạch mang sắc xanh của nước sông Nin, dòng nước ban tặng sự sống. Lưu ly thạch là bầu trời đêm che chở thế nhân. Còn đá sa mạc hay bồ tát thạch tượng trưng cho sự kiên định giữa khô cằn và hiểm nguy.

Các nghệ nhân khéo léo nung men gốm trên nền thạch anh hoặc đá, tạo ra những món trang sức sáng lấp lánh. Dân thường thì xâu chuỗi những hạt men gốm thành vòng cổ, còn ngay cả đứa trẻ nô lệ nghèo nhất cũng sẽ có một chiếc nhẫn đất nung hay một bùa hộ mệnh bằng xương, đó là lời cầu chúc của cha mẹ, mong thần linh che chở cho con mình.

Nhưng Saito chưa từng có thứ gì như thế.

Suốt thời thơ ấu và thiếu niên, hắn sống như một con dã thú.

Từ khi sinh ra, dưới hiện tượng trăng máu, hắn đã bị người đời gán cho danh hiệu thiêng liêng: “Anubis.” Từ đó trở đi, thế giới của hắn luôn phủ trong màn sương đỏ như máu. Hắn bị nuôi lớn trong chiếc lồng đồng, ăn nội tạng sư tử bị đánh bại, l**m vệt máu nơi khóe môi và chỉ nhận ra thứ ánh sáng trước mắt mình chẳng qua là huyết quang.

Những kẻ phụng dưỡng hắn đều vừa tôn kính vừa sợ hãi. Trước khi phụ thân hắn xuất hiện, chẳng ai dám đến gần. Thỉnh thoảng, khi không bận chiến đấu với đám thú, hắn ngồi im lặng nghe trộm lời thì thầm của đám nô bộc. Họ nói rằng hắn là hóa thân của Anubis, vị thần dẫn linh hồn xuống âm phủ.

Tất cả chỉ là những lời nhàm chán... Cho đến một ngày, khi Saito nằm phục như sư tử nghỉ ngơi, hắn nghe thấy một từ "mẹ"

Họ nói, mẹ sẽ yêu bọn họ vô điều kiện.

Yêu là gì?

Saito nhìn họ, thấy trên mặt họ nở ra một biểu cảm kỳ lạ, thứ cảm xúc mà người ta gọi là “vui vẻ”. Và hắn nghĩ, có lẽ “yêu” là một điều khiến người ta cảm thấy hạnh phúc.

Tiếng leng keng trong trẻo của ngọc và vàng va chạm khiến Saito hoàn hồn.

Trước mắt hắn là dáng người đang cúi xuống để đeo vòng cho mình, động tác nhẹ nhàng, chậm rãi, như một cái ôm khẽ.
Hương trầm dìu dịu thoảng qua sống mũi, chiếc vòng cổ rộng choàng lên vai hắn, ánh kim phản chiếu lấp lánh.

“Xong rồi.”
Tân Hòa Tuyết khẽ chỉnh lại vòng cổ.

Hàng mi trắng như tuyết của y cụp xuống, mảnh và dài, khi hàng mi hướng về phía trước, căng ra thành nếp uốn giống như cánh chim bồ câu, hay một vầng trăng cong mảnh nơi khóe mắt.

Lần đầu tiên Saito nhìn thấy y, là đêm ở mỏ đá. Sau lưng y, trăng sáng vằng vặc, trắng tinh khiết như ký ức tuổi thơ của Saito khi ngẩng đầu nhìn bầu trời Ai Cập.

Khi ấy, hắn đã chắc chắn người trước mặt chính là mẫu thần của hắn, là Nephthys, người khơi dậy trong hắn khát vọng được yêu, được thuộc về.

Nếu giữa họ cùng chung một dòng máu, thì không gì có thể chia cắt.

“Cẩn thận trên đường,” Tân Hòa Tuyết nghĩ ngợi rồi nói ra câu dặn dò dư thừa.
“Nhớ uống đủ nước, đừng để bị cảm nắng.”

Dẫu biết với thể chất của Saito, điều ấy gần như không thể xảy ra, y vẫn nói ra.

“Tôi sẽ.”

Saito nắm lấy bàn tay của Tân Hòa Tuyết, đặt lên cằm mình. Hắn cúi đầu, khẽ cọ vào lòng bàn tay tinh tế ấy.

“Tôi rất nghe lời.”

.......

Lễ hội Thần Ngưu bắt đầu được chuẩn bị từ rất sớm, khi sắc xuân mới vừa tràn về. Không chỉ dê bò tại vương thành Thebes, mà khắp các lãnh địa chư hầu cũng lần lượt gửi về vô số lễ vật hiến tế cho đại lễ.

Từng đàn dê, đàn bò được lùa từ những đỉnh cồn cát xuống, đoàn sứ giả và thương nhân bảo hộ theo sau, dắt theo lạc đà chở đầy hàng hóa, tiến về vùng kinh đô phồn hoa.

Nhờ có vị thần sứ – người mà dường như không việc gì là không thể, cùng sự tín nhiệm tuyệt đối mà Pharaoh dành cho y trong việc thi hành “ý chỉ của thần linh”, diện mạo Thebes đã thay đổi rất nhiều trước thềm lễ Thần Ngưu. Dù chưa thể gọi là cực kỳ rực rỡ, nhưng các con kênh dẫn nước dần được hoàn thiện như mạng Internet, xe chở nước đã bắt đầu dẫn dòng sông Nin tưới lên những thửa ruộng cao khô cạn. Người dân cải tiến cày trâu, mài lại lưỡi cày, rồi gieo xuống những hạt giống mới một cách gọn gàng, trật tự…

Những khối pha lê đầu tiên xuất hiện trong vương cung, và chẳng bao lâu đã trở thành trào lưu lan rộng khắp dân gian.

Người người tò mò ngắm nghía loại vật liệu trong suốt thanh khiết ấy, giơ lên đón ánh mặt trời xuyên qua ly pha lê, để lại dấu ấn ánh sáng lấp lánh nơi lòng bàn tay.

“Ùng ục…” —

Rượu nho sau khi được cải tiến bằng phương pháp lọc mới trở nên ngọt ngào và thanh khiết hơn, hầu như không còn cặn lắng. Chất lỏng trong suốt óng ánh, nổi bọt li ti trong ly, dưới ánh hoàng hôn rực rỡ như được nhuộm sắc vàng.

Tiếng lục lạc và chuông linh ngân lên trong khoảnh khắc ấy!

Hoàng hôn đã buông xuống!

Dòng sông Nin cuồn cuộn chảy qua những rặng cọ, hơi sương hồng nhạt bao phủ cổng đá đền thần.

Bỗng vang lên tiếng hát cao vút và hùng tráng:

“Ôi Thần Ngưu Apis!

Ngài là hóa thân của mặt trời, là vì sao hộ mệnh trên trời!

Ngài bước qua đền thần, bước chân Ngài làm rung động cả đất trời!”

Đing!

Nam nữ vũ công phấn khích tiến vào giữa sân khi khúc nhạc dâng cao. Tiếng đàn du dương, sáo ngân vút lên, tiếng trống dồn dập khích lệ lòng người. Họ uyển chuyển trong những đôi dép cỏ đan, váy đay xòe rộng, tràn đầy sức sống. Hạt ngọc gốm và chuỗi đào châu khẽ rung bên hông.

Họ xoay tròn, nhảy múa, chạy vội, chúc tụng sự sống dưới chân mình, dẫm lên nhịp nước sông Nin, tung bay khúc ca cầu mùa và phồn vinh cho mảnh đất này.

Đền thần sừng sững bên bờ đông sông Nile, và mọi người dân Thebes, cũng như khách phương xa, miễn là cùng uống chung dòng nước Nin, đều được tham dự buổi lễ trọng đại này.

Vì một vụ mùa bội thu cho năm tới!

“Thần Ngưu Apis, xin chúc phúc cho đất nước chúng ta.

Từ nguồn sông Nin đến tận cùng cõi đất, chúng con nâng chén mừng và ca ngợi vinh quang của Ngài!”

Binh sĩ, nhạc công, quý tộc, tư tế, người tiên phong…..

Tất cả cùng hân hoan dâng lễ vật, kề vai sát cánh, vui vẻ nói cười.

Trong khi đám đông rộn rã, Anath lại như bị tách biệt khỏi bầu không khí hân hoan ấy.

Hắn thất thần nâng ly rượu, dù có vài vị quý tộc thân quen đến bắt chuyện, cũng chỉ đáp qua loa vài câu.

Nghi thức hiến tế sắp bắt đầu.

Một tảng đá treo lơ lửng trong lòng hắn, sắp rơi mà chưa rơi. Anath chưa nghe tin báo thành công từ thuộc hạ, nhưng lại khẽ thở phào nhẹ nhõm.

Tầm mắt hắn dán vào ly rượu, song ánh nhìn lại vô thức lướt qua một bóng áo choàng trắng.

Anath khẽ siết chặt hơi thở.

Ngay khi nữ nô người Assyria vô tình khẽ va vào người kia, Anath lập tức bước tới theo bản năng nhưng đã muộn. Chén rượu có pha ma dược đã hắt trúng áo choàng trắng. Lớp vải mỏng thấm đẫm rượu, dán chặt lên làn da.

Hắn hiểu rõ, loại thuốc ấy có thể thẩm thấu qua da, hiệu lực phát tác nhanh, chỉ cần một chén nhỏ cũng đủ khiến dòng máu trong đêm khuấy động.

Anath gần như muốn không màng tất cả mà lao tới ngăn lại.

Nhưng người bạn quý tộc bên cạnh nghi hoặc hỏi:
“Anath, anh sao vậy?”

Anath ngẩng đầu, bắt gặp ánh nhìn sắc bén của vị lão tư tế giữa đám đông.

Hắn nặng nề lùi bước, nhìn về phía bạn tốt, ép giọng đáp:
“Không… không có gì.”

Người bạn tò mò nhìn ra xa, khẽ nói:
“Đó chẳng phải là vị thần sứ đại nhân sao?”

Ánh hoàng hôn cuối cùng sắp tắt, giai điệu nhạc hội bay cao lên nền trời xanh nhạt.

Anath dõi theo bóng người đang được đám đông chào đón. Thần sứ không dừng bước dù nhạc đệm đột nhiên ngừng lại. Y nhẹ nhàng tha thứ cho lỗi lầm của nữ nô vụng về, nhưng vì áo choàng thấm ướt nên không thể tiếp tục di chuyển.

Ánh nến phản chiếu dưới bầu trời đêm xanh lam, nhuộm ấm ngón tay y khi cởi bỏ chiếc áo choàng trắng. Dòng sáng ngân hà dường như nghiêng xuống nhân gian, hòa vào suối tóc dài óng ánh như tơ rơi xuống vai.

Trái tim Anath khẽ chấn động. Hắn ngẩn ngơ nhìn mái tóc ấy rơi xuống bờ ngực trắng ngần, nơi những giọt rượu lấp lánh đọng lại, phản chiếu sắc ngọc trong chiếc vòng cổ rực rỡ.

Mọi âm thanh đều vụt tắt.

Toàn bộ ánh mắt, từng bước chân, đều dõi theo thân ảnh vị thần sứ đang rời đi.

Cho đến khi chàng trai ấy băng qua cổng tháp của đền thần, đi qua khu vườn tĩnh mịch, bước lên những bậc thang dẫn đến điện thờ linh thiêng nơi cúng tế Thần Ngưu Apis.

Ngay lúc ấy, tiếng nhạc lại bùng nổ, như sóng dâng trào trên mặt đất!

“Từ nguồn sông Nile đến tận cùng cõi đất,
Chúng ta nâng chén mừng, ca ngợi vinh quang của Ngài!”

………

Anath gần như thô bạo cướp lấy từ tay tên hộ vệ Nubu chiếc áo choàng trắng mà thần sứ đã bỏ lại giữa đường. Hắn còn phải tự xưng danh hiệu hoàng tộc, lấy quyền thế ép buộc, thì kẻ kia mới chịu buông tay.

Hắn vội vã chạy đi, gần như chẳng để tâm đến tiếng gọi của vị lão tư tế vang lên phía sau.

Thần sứ đâu rồi?

Ngài ở đâu?

Điều khiến Anath tạm thở phào là thứ ma dược ấy vẫn chưa phát tác trong nghi lễ tế lễ. Nhưng hắn biết rõ chỉ cần nước thuốc chạm vào da thịt, sớm muộn cũng sẽ có hiệu lực.

Nếu lễ mừng kết thúc trước khi điều đó xảy ra, và thần sứ vô tình vướng vào một kẻ xa lạ… kết quả, dù sao, cũng đạt được mục đích.

Song trong lòng Anath, một ý niệm dơ bẩn, bất kính dấy lên. Hắn hy vọng, nếu tìm được thần sứ, người ấy chỉ có một mình.

Một khoảnh khắc sau, hắn thay đổi ý định. Hắn không muốn để danh tiết(*) của thần sứ bị tổn hại.

(*) "Danh tiết" là sự kết hợp của "danh dự" và "tiết tháo", dùng để chỉ phẩm giá, uy tín và lòng tự trọng của một người

Hắn chỉ muốn giấu người đi, chờ đêm hoang đường này qua đi, rồi tất cả sẽ xem như chưa từng xảy ra…

Nhưng, hắn chẳng những không tìm thấy thần sứ, mà ngay cả nữ nô Assyria kia cũng biến mất không tung tích.

Anath tức đến hộc máu, phản ứng khác thường của hắn khiến Nubu cảnh giác. Trong tiếng bước chân hỗn loạn dồn dập, hắn lại theo bản năng hướng về nơi có thể tìm thấy thần sứ mà chạy.

………

Trong khi nghi thức tế lễ diễn ra, Lahotep đứng ở không xa trung tâm, dõi theo vị tư tế mới của mình.

Tấm áo choàng trong suốt bằng karalisis khẽ phủ lên người Tân Hòa Tuyết. Lớp vải mềm mảnh được cố định khéo léo quanh eo, từng tầng nếp gấp ôm lấy thân thể mảnh dẻ mà trang nghiêm. Y rất hợp với loại trang phục như này. Trên làn da trắng ngần, sắc màu rực rỡ của trang phục trở nên hài hòa, như thể chỉ dành riêng cho người ấy.

Lahotep vẫn đứng yên từ đầu đến cuối, lặng lẽ quan sát cho đến khi nghi lễ gần kết thúc.

Và chính vì thế, hắn rất nhanh nhận ra sự khác thường.

Một vệt đỏ nhàn nhạt ửng lên nơi gò má, lan xuống tận xương quai xanh tựa như men rượu thấm trong máu, tinh khiết mà quyến rũ. Ánh mắt người nhìn chỉ cần dừng lại giây lát, liền không dám nhìn thêm lần thứ hai.

Lahotep đã nhận ra.

Ở thắt lưng thần sứ, trong dải bố quấn quanh eo, dường như có thứ gì đó…

Một thứ gì làm nhiễu, phá vỡ sự thanh tịnh ấy.

Trong khoảnh khắc, hắn thoáng thấy một cái đuôi trắng mềm rủ xuống.

Nhưng thứ ấy không giống đuôi trang trí bằng lông thú cao quý mà Pharaoh hay mang. Không, đó là…

Chưa kịp nhìn rõ, Thần sứ đã rời khỏi thánh điện ngay khi nghi lễ kết thúc, nhanh nhẹn, nhẹ như bước của loài mèo.

………

………

Khi ra khỏi thánh điện, ở cuối hành lang bên phải là căn phòng chứa rượu quý.

Lahotep đẩy cửa bước vào.

Một tầng rượu đỏ ánh lên trên sàn, lan tới tận ngưỡng cửa.

Hương rượu nho nồng nàn ập thẳng vào mũi.

“Iah?”

Ánh sáng chói lói phản chiếu từ châu báu rực rỡ và rượu loang đầy trên làn da trắng mịn nơi ngực khiến đôi mắt Lahotep chợt khựng lại.

Tất nhiên, chủ nhân của khung cảnh ấy có lẽ vốn chẳng định uống rượu, chỉ là trong lúc vô tình làm rơi hàng loạt vật phẩm dễ vỡ xuống đất, khiến rượu đổ tung tóe, ướt đẫm cả người.

Vì vụng về khiến rượu xối ướt da thịt y.

Tân Hòa Tuyết uể oải dựa vào giá rượu, ngẩng đầu, đôi mắt hờ hững nhìn người khách không mời mà đến.

Mái tóc dài óng ánh của y khẽ rũ, khiến y phải đưa tay vén những sợi tóc trắng bạc trơn mượt ra sau tai. Khi ấy, chiếc khuyên tai bằng vàng nơi vành tai lấp lánh, hạt châu nhỏ khẽ lay, phát ra âm thanh tinh tế.

(Bản mèo đã đến.)

P/s : >Bộ này tác giả hoàn thành rồi nha mn, tổng 258 chương ạ, tiến độ bản edit 140/258 (cách 118 chương), chắc tầm 4 tháng nữa sẽ xong nếu up 1 ngày 1 chương.

Wattpad lại bị lỗi nên mình ko sửa được phần giới thiệu bên ngoài truyện là bản gốc truyện đã hoàn thành.
 
Chứng Bệnh Khiến Vạn Người Say Đắm Giữa Chốn Quyền Uy
Chương 152


Hắn gần như chìm đắm vào đôi mắt ướt át kia.

Điều này làm hắn nhớ lại thời niên thiếu, khi vì săn linh dương mà bị lạc sâu trong ốc đảo Dakhla. Nơi đó, vầng trăng non cong cong trên mặt hồ bảng lảng sương mờ, được ánh hoàng hôn nhuộm thành một màu hồng phớt.

Nhưng chỉ trong thoáng chốc, sự chú ý của Lahotep đã dồn vào vẻ khác thường mà Tân Hòa Tuyết đang thể hiện.

Khắp phòng nồng nặc mùi rượu. Vành tai Tân Hòa Tuyết ửng lên một màu đỏ khác thường, và khi hắn đột ngột bước vào hầm rượu, người kia liền nhìn hắn với ánh mắt đầy cảnh giác.

Trông như một con mèo bị giẫm phải đuôi.

Tim Lahotep khẽ hẫng một nhịp, một cảm giác tê dại khó tả lan ra khắp người.

Nhưng dùng từ “giống” cũng không hoàn toàn chính xác.

Bởi vì vị Đệ nhất Tư tế mới nhậm chức của hắn đây, thật sự có một cái đuôi.

Cái đuôi dài xù như hoa bồ công anh kia đang khẽ lay động, và đó không phải là một tư thế thân thiện.

Nhất là khi chủ nhân của nó khẽ nheo mắt, đôi con ngươi dần thu lại thành một đường dọc sắc lẹm.

Lahotep tháo thanh kiếm bên hông xuống. Thanh kiếm này đã theo hắn rất nhiều năm, và hắn đã quen đeo nó bên hông mỗi khi ra ngoài.

Giờ đây, nó bị vứt xuống đất, chẳng khác gì những mảnh sành vỡ vô dụng kia, rượu loang đến cả viên hồng ngọc tủy trang trí trên vỏ kiếm.

Hắn cố gắng tiến lại gần đối phương với tốc độ nhẹ nhàng nhất có thể để chứng tỏ mình không hề có địch ý.

“Iah, đừng lo lắng.” Hắn hạ giọng, tỏ ra thái độ ôn hòa chưa từng có. Dù hành động của hắn là để tiến lại gần và thể hiện sự quan tâm đối với thần sứ, hắn lại cảm thấy mình lúc này giống như một kẻ bẫy chim gian xảo, đang dùng chiếc lồng son tơ vàng để dụ dỗ một con chim dạ oanh.

“Tôi sẽ không làm hại ngài đâu.”

Đế giày của hắn giẫm lên những mảnh sành vỡ, phát ra tiếng lạo xạo giòn tan. Âm thanh vốn chói tai đối với con người này dường như lại đang lấy lòng người thanh niên đối diện.

Đuôi mắt Tân Hòa Tuyết khẽ cong lên, nhưng ánh mắt nhìn Lahotep vẫn cứ xa xăm, tựa như bị ngăn cách bởi một lớp sương mù.

Cuối cùng, Lahotep cũng đã đến gần được con chim dạ oanh trước chiếc lồng son đang rộng mở.

Hắn thấp giọng hỏi: “Nói cho tôi biết, điều gì khiến ngài khó chịu trong người?”

Giọng nói vừa cất lên, chính Lahotep cũng có chút không thể tin nổi. Giọng hắn khàn đi, trong vô thức trở nên trầm hơn, chậm rãi và đầy từ tính, hệt như hành vi của một con công trống đang xòe đuôi để cầu tình.

Tân Hòa Tuyết dường như chỉ khi hắn đến gần như vậy mới nhận ra vị khách không mời này.

“Lahotep…?”

Tên của Pharaoh được thốt ra từ miệng y.

Cái tên đó gắn liền với sự sống và cái chết của con dân sông Nin, với kiếp này và kiếp sau. Linh hồn của hắn, sức mạnh của hắn, vận mệnh cả đời này của hắn, tất cả đều ẩn chứa trong cái tên ấy.

Kể từ khi hắn kế vị, không một ai dám gọi thẳng tên hắn nữa. Bất kể là quý tộc hay thường dân, họ đều quỳ rạp phục tùng dưới chân hắn, run rẩy không ngừng trước quyền uy của Pharaoh và thần minh đứng sau hắn.

Thế mà giờ đây, trong tiếng gọi này, Lahotep lại cảm nhận được linh hồn mình rung động. Vì thế, hắn chỉ có thể gọi lại tên của đối phương: “Iah, ngài vẫn còn tỉnh táo chứ?”

Có lẽ hắn nằm trong số những người mà thần sứ tin tưởng.

Lahotep không biết có nên cảm thấy may mắn hay không, bởi sau khi Tân Hòa Tuyết nhận ra hắn, vẻ đề phòng liền tan đi như mây khói. Thậm chí, y còn kéo tay hắn áp lên má mình.

“Nóng…”

Iah, vầng trăng của hắn, đang áp vào lòng bàn tay hắn.

“Tại sao… tôi lại khó chịu thế này…?”

Người thanh niên vô thức nỉ non, hơi thở ấm nóng từ môi và răng y tràn ra, quyện vào hương rượu ngọt ngào đang lan tỏa như vàng lỏng.

Hơi thở của Lahotep chợt cứng lại. Dù cho có nín thở, hắn vẫn cảm thấy hương thơm ngào ngạt ấy như len lỏi vào từng tấc da thớ thịt, thấm sâu vào tận xương tủy.

Đầu lưỡi hồng nhạt ướt át khẽ lướt qua tầm mắt hắn, để lại một vệt nước bóng loáng, lặng lẽ lấp lánh trên hổ khẩu(*) của hắn.

(*) kẽ ở giữa ngón tay cái và ngón tay trỏ.

Hắn lại nhớ đến con linh dương non mà hắn cố tình thả đi sau cuộc đi săn. Nó cũng khuất phục một cách yếu ớt như thế, rồi dùng chiếc mũi ươn ướt dụi vào người hắn.

Tân Hòa Tuyết ngước hàng mi lên, đôi mắt mơ màng nhìn hắn: “Giúp tôi, Lahotep.”

Vẻ mặt ngây thơ trong sáng, như thể người vừa vươn chiếc lưỡi mèo ra l**m hắn chẳng hề liên quan.

Vị Thần sứ dường như không gì không làm được, không gì không biết, vậy mà ở phương diện này lại là một trang giấy trắng đáng kinh ngạc, hoàn toàn không biết phải làm sao trước phản ứng sinh lý xa lạ của cơ thể.

Giống hệt như vầng trăng non trong vắt, tĩnh lặng mà hắn từng thấy nơi sâu trong ốc đảo Dakhla.

Còn Lahotep, từ phản ứng khác thường của thần sứ, đã đoán ra được một phần chân tướng sự việc.

Bóng của hai người đổ dài trên vách tường. Hương rượu nồng nàn quyện với những bức bích họa tinh xảo sặc sỡ khiến đất trời như đảo lộn. Những vì sao màu xanh cobalt vẽ trên trần nhà phảng phất trôi nổi giữa hai người. Lahotep lắc đầu cho tỉnh táo, hắn nâng cằm Tân Hòa Tuyết lên, lý trí tựa như mạng nhện, đang đứt ra từng sợi.

Bóng hình cao lớn cúi xuống, bao trùm lấy đối phương.

Lahotep nghiêng đầu, day nghiến đôi môi, ép đến khi bờ môi nhạt màu của đối phương dần ửng đỏ, trở nên căng mọng hơn, tựa như một trái lựu chín mọng nước.

Hơi thở ẩm ướt quấn quýt lấy nhau. Hương thơm tỏa ra từ da thịt Tân Hòa Tuyết bao trùm mọi giác quan của Lahotep. Hắn gần như sụp đổ lý trí, say mê hôn đến mức quên cả trời đất, dâng lên cả sự uy nghiêm của một pharaoh cho người kia chà đạp.

Hắn đương nhiên sẽ giúp thần sứ giải quyết tình cảnh khó xử trước mắt.

Tay Lahotep trượt từ vòng eo thon gầy của Tân Hòa Tuyết xuống, chạm đến nơi đang rạo rực vì d*c v*ng, nơi khiến thần sứ phiền não vì không cách nào giải tỏa.

Cơn k*ch th*ch tột độ chạy dọc sống lưng, khiến Tân Hòa Tuyết gần như mềm nhũn cả eo lưng mà ngã vào lòng Lahotep ngay khoảnh khắc tiếp theo.

“Ưm…”

Lý trí của Lahotep kéo về được một chút, hắn liếc nhìn căn phòng chứa đồ hỗn loạn, ít nhất cũng nhớ ra một nơi như thế này không thích hợp để xảy ra bất cứ chuyện lãng mạn nào.

………

Áo choàng mới nhanh chóng được đưa tới cho pharaoh.

Thị vệ và tôi tớ đứng ngoài cánh cửa phòng chứa đồ đang khép hờ, cúi đầu, không dám liếc mắt nhìn vào trong dù chỉ một cái.

Bên trong vang lên những tiếng động rất nhỏ.

Không bao lâu sau, cửa phòng chứa đồ mở ra.

Pharaoh bế một người bước ra, người nọ được khoác một chiếc áo choàng.

Vì đó là chiếc áo choàng được may đo theo kích cỡ cũ, nên không hề để lộ ra chút da thịt nào.

Thị vệ đã đi theo hộ vệ pharaoh nhiều năm, hoàn toàn không nghĩ ra bất kỳ ai thân cận với ngài.

Là vũ công tình cờ gặp trong lễ mừng hôm nay? Hay là nô lệ do quý tộc nào đó dâng lên?

Trong đầu hắn nảy ra rất nhiều suy đoán, nhưng vẫn không tài nào tưởng tượng ra được.

Không giống các pharaoh đời trước thê thiếp vây quanh, tình nhân vô số, tân vương từ trước đến nay chưa từng qua lại thân mật với bất kỳ nam nữ nào, nhất thời khiến thị vệ dù muốn đoán cũng không biết bắt đầu từ đâu.

“Trở về.”

Hắn chỉ nghe thấy pharaoh lạnh lùng ra lệnh.

“Vâng.”

Thị vệ cúi đầu, nhưng không nhịn được mà liếc mắt vào trong gian phòng chứa đồ.

Những vò gốm vỡ nát, một khung cảnh hỗn độn có thể nói là kịch liệt, khiến thái dương hắn giật giật.

“Pharaoh?”

Hắn ngập ngừng lên tiếng, làm Lahotep đang đi phía trước khựng lại trong giây lát.

“Thanh bội kiếm của ngài…”

Còn cần nữa không?

Nó đang nằm trên mặt đất, giống như những mảnh ngói vỡ kia, trông như một món đồ bỏ đi tầm thường.

“... Mang về.”

Lahotep không quay đầu lại, ra lệnh.

………

Chiếc kiệu xa hoa lặng lẽ rời khỏi đền thần náo nhiệt, quay trở lại cung điện rộng lớn sáng rực ánh nến trong màn đêm.

Thị vệ quỳ một gối trên mặt đất, “Pharaoh, đã đến nơi.”

Tấm rèm thêu tinh xảo không hề động đậy, che khuất tầm mắt của người ngoài muốn nhìn trộm vào trong kiệu.

Thị vệ dường như lại nghe thấy tiếng động ái muội nào đó, mồ hôi trên trán hắn to như hạt đậu rơi xuống đất.

Mãi cho đến khi pharaoh bế người kia bước ra khỏi kiệu.

Hắn mới thở phào nhẹ nhõm.

Nhưng khi ngẩng đầu lên, hắn thoáng thấy một đoạn mu bàn chân lộ ra dưới lớp áo choàng không được che kín.

Làn da trắng đến lóa mắt, phảng phất như được những nghệ nhân tài hoa nhất Thượng Ai Cập điêu khắc từ thạch cao tuyết hoa.

Thế nhưng, trên khắp đất Ai Cập rộng lớn này, thị vệ biết rõ, chỉ có một người sở hữu màu da như vậy.

Hắn sững sờ tại chỗ, thậm chí quên cả sự tôn kính và sợ hãi đối với pharaoh, cứ thế nhìn thẳng về phía ngài.

Trên cằm pharaoh có một dấu răng rõ mồn một.

Đó là…

Đó là… Thần sứ đại nhân…

Thị vệ cảm thấy thật hoang đường, đầu óc quay cuồng.

Hắn ngẩng đầu, trở nên vô cùng lạc lõng giữa những thị vệ và tôi tớ khác đang cúi đầu cung kính.

Lahotep liếc nhìn hắn một cách dửng dưng, “Cái gì nên nhìn, cái gì nên nghe, tự ngươi trong lòng phải rõ.”

Thần Mặt Trời ở trên…

Thị vệ nơm nớp lo sợ, cung kính cúi rạp người.

Xin ngài tha thứ.

………

Tân Hòa Tuyết đã đập vỡ không ít vò rượu ngon trong phòng chứa đồ, chuyện này không phải là không có ảnh hưởng.

Ít nhất cũng có một mảnh vỡ đã cứa vào cẳng chân y.

Lúc ấy y không kịp để tâm, máu thấm ướt một góc áo choàng, trên da thịt nơi cẳng chân lưu lại một vệt xước mờ.

Lahotep dùng thảo dược làm dịu vết thương bôi thuốc cho y.

Người hầu dâng lên, ngoài thảo dược này ra còn có một vại thuốc mỡ khác.

Khi bôi thuốc lên vết thương, tầm mắt hắn không thể không dán chặt vào người Tân Hòa Tuyết. Càng như vậy, ánh mắt lại càng không thể kiểm soát mà lưu luyến vệt mồ hôi mỏng bên gáy y, đọng lại trên làn da trắng nõn mịn màng, tựa như những giọt sương mai hiếm có.

Lahotep chưa bao giờ cho rằng mình là một kẻ th* t*c, nhưng giờ hắn mới biết, hóa ra mình cũng có lúc nhìn người khác đến ngây ngẩn.

Đó là ái tình hay là d*c v*ng?

Ánh mắt hắn tối lại, liếc qua vại thuốc mỡ bên cạnh nhưng không vươn tay lấy.

Lý trí mách bảo Lahotep, một nụ hôn còn có thể nhân lúc lễ hội ồn ào náo nhiệt mà che giấu đi, cho dù là dùng tay giúp đỡ thì cũng có thể miễn cưỡng giải thích được.

Một khi đã vượt qua giới hạn…

Chiếc đuôi dài trắng như tuyết và mềm mại quấn lấy cổ tay Lahotep, chậm rãi siết lại.

“Lahotep?”

Thanh niên nằm ngửa trên tấm thảm lụa, hàng mi run run nhướng lên, trong mắt không giấu được vẻ bất lực.

Yết hầu Lahotep trượt lên xuống, hương thơm mê ly như sương mù lan tỏa, một lần nữa bao phủ lấy mọi giác quan của hắn.

Những đốt ngón tay rõ ràng co lại, lòng bàn tay có vết chai mỏng dễ dàng múc lấy thuốc mỡ.

Chiếc đuôi dài ấy, quả thật mọc ra từ đốt xương cùng cuối cùng.

Chỉ mới bằng một ngón tay cũng đủ để vị thần sứ ngây thơ cảm thấy như sắp bị ai bẻ gãy đuôi, phải nằm rạp trên tấm thảm lụa đan xen sắc vàng và đỏ, ai oán kêu lên đầy đáng thương.

Bàn tay to rộng bao phủ lấy sau lưng, hổ khẩu v**t v* bên hông, ngón cái đeo nhẫn vừa vặn ấn vào hõm lưng.

Hắn cắn vào gáy, khiến cho ánh trăng Iah không thể nào trốn thoát.

Lahotep quả thật đã chìm vào giấc mộng ẩm ướt nơi ốc đảo ấy.

Những cú va chạm không ngừng khiến cho rèm giường lay động dữ dội như gặp bão cát. Hắn giữ chặt eo Tân Hòa Tuyết, xoay người y lại đối diện với mình, để có thể nhìn thấy đôi mắt đỏ hoe đẫm lệ mờ sương kia.

Hoa mắt mê ly.

Hai cơ thể đẫm mồ hôi quấn lấy nhau, hai tay Tân Hòa Tuyết choàng qua vai và cổ Lahotep, y gần như treo cả người lên đối phương, tựa như một dây leo xinh đẹp ký sinh trên đại thụ.

“Ngài sẽ làm tôi hài lòng chứ?”

Lahotep không biết lời thì thầm ấy có phải phát ra từ miệng Tân Hòa Tuyết hay không.

………

………

Hạ Ai Cập xa xôi.

Trái ngược với Thượng Ai Cập, nơi bốn bề là vách đá sa mạc và chỉ có thể sinh sôi nảy nở dựa vào vùng lòng chảo, Hạ Ai Cập nằm ở vùng châu thổ, ốc đảo dày đặc, cỏ cây tươi tốt.

Ngọn gió từ Địa Trung Hải, mang theo hơi ẩm của biển cả, thổi từ phương bắc lùa vào trong cửa sổ.

Cung điện của Hồng Vương vô cùng xa hoa lãng phí. Những món đồ sưu tầm được điêu khắc từ ngà voi, chế tác bằng vàng rực rỡ muôn màu được trưng bày khắp nơi. Nền đất trải thảm thêu chỉ vàng và khảm đá quý, trông như một dòng sông vàng đang chảy. Những tấm da báo, những tiêu bản đà điểu mà sứ giả mua từ thương lái, vung tiền như nước mang về được đặt trong điện, trang trí thành dáng vẻ như khi chúng còn sống, nhưng cũng chỉ là thứ có thể tùy tay vứt bỏ.

Sương khói từ lư hương lượn lờ bay ra.

Bên ngoài có tiếng đại bàng kêu to, khiến người hầu trong điện giật mình kinh hãi, tiếc là đã không kịp xua đuổi nó đi.

Bạo quân đang say ngủ đã tỉnh giấc.

Người hầu trong cung điện đều quỳ rạp xuống đất, mồ hôi lạnh túa ra: “Pharaoh…”

Người đàn ông ngồi trên giường có ngũ quan tương đồng với vị pharaoh của Thượng Ai Cập, nhưng bất cứ ai cũng sẽ không nhận lầm họ.

Đôi mắt hắn sắc lẹm, con ngươi mang màu tím u ám, lệ khí ngập tràn, tựa như mặt biển đang ấp ủ bão tố. Hắn để trần lồng ngực màu đồng mật, một chân co lên, vừa thoát ra khỏi giấc mộng, hơi thở vẫn còn nóng rực.

“Để nó vào.”

Hồng Vương bước xuống giường.

Cùng tiến vào cung điện với con đại bàng còn có một con rắn độc đang lè lưỡi.

Nó thong thả trườn đến bên cạnh chủ nhân. Khi đối mặt với tấm gương đồng đủ để soi rõ toàn thân, nó bỗng nhiên bạnh mang ra như một chiếc quạt, con ngươi dựng thẳng đầy vẻ uy h**p.

Chẳng khác gì chủ nhân của nó.

Người hầu gỡ cuộn giấy cói buộc dưới chân đại bàng rồi dâng lên.

Hồng Vương không lập tức nhận lấy, mà nghiêng người đi, mồ hôi men theo những khối cơ bắp cuồn cuộn màu đồng sậm trên sống lưng mà uốn lượn chảy xuống.

Rõ ràng là, trên đó chẳng có gì cả.

Nhưng hắn nhớ rõ, trong mơ, gã thanh niên không thấy rõ mặt kia đã cào ra từng vết thương trên lưng hắn, hai đùi lại kẹp chặt đến thế.

Còn có…

Eo rất nhỏ.

Sau lưng còn có một đôi hõm eo.

Hồng Vương nhếch mép cười lạnh.

Đâu chỉ mình hắn không biết, e rằng vương huynh của hắn cũng chẳng hay biết gì....

Rằng ngoài nỗi đau tột cùng, đến cả cơn khoái lạc, bọn họ cũng cùng nhau nếm trải.
 
Chứng Bệnh Khiến Vạn Người Say Đắm Giữa Chốn Quyền Uy
Chương 153


Nửa đêm, các người hầu được Bạch Vương sai mang thuốc mỡ và nước ấm đến. Khi bước vào cung điện, họ nín thở không dám suy nghĩ, suốt cả hành trình chỉ dám nhìn thẳng, ngay cả can đảm liếc nhìn chiếc giường cũng không có.

Họ chỉ kịp thoáng thấy trên tấm thảm lụa dưới đất có rơi vãi trang sức châu báu, cùng với chiếc vòng cổ quấn quýt vào nhau trông vô cùng quen mắt kia...

Người hầu lập tức tái mặt, vội vàng dời tầm mắt đi.

Kia chính là... Thần sứ đại nhân.

Chẳng lẽ Pharaoh đang làm nhục thần minh sao?

Không, không, không, sao hắn lại có thể nghĩ như vậy chứ? Thân là chủ nhân của mảnh đất này, là hóa thân của thần linh đang hành tẩu nơi phàm thế, hắn đương nhiên phải có được tất cả mọi thứ thuộc về sông Nin, kể cả việc hoàn toàn chiếm hữu một sứ giả của thần linh.

Tấm rèm giường bằng tơ vàng buông xuống kín mít, không hề để lộ ra một khe hở nào. Thế nhưng, hương thơm trong điện lại không ngừng vấn vít lấy người.

Pharaoh vốn không thích dùng huân hương nồng đậm. Mùi hương này, chỉ có thể tỏa ra từ vị Đại Tư Tế có làn da trắng nõn kia.

Đó là một loại hương lạnh tinh tế, kéo dài, nhưng lại khiến đầu tim người ta tê dại, cảm giác như thể người kia ngay cả khe hở xương cốt cũng đang rỉ ra thứ mật ngọt ngào.

“Nóng.”

Giọng Bạch Vương khàn đặc, không còn sự ôn hòa thường ngày, thay vào đó là thứ âm thanh như lẫn cát sỏi, chỉ còn lại sự uy nghiêm khiến người ta nhìn mà sợ hãi.

Người hầu cẩn thận pha trộn nước tắm. Pharaoh đã cố ý dặn dò phải thêm vào các loại thảo dược có công hiệu chữa trị. Còn về việc vì sao lại phải thêm dược liệu khác biệt so với mọi khi, đó không phải là phạm trù mà bọn họ dám suy nghĩ tới.

Vỏ quế, bạc hà, và gỗ bách hương nổi lềnh bềnh trong nước tắm màu trắng ngà, hơi nước bốc lên làm mờ đi tầm nhìn của người hầu.

Người hầu cẩn thận ngước mắt nhìn lên, thì thấy rèm che đã được vén cao. Bạch Vương cao lớn mặt không biểu cảm, ôm ngang một người. Dáng vẻ thon gầy kia được bao phủ dưới tấm chăn mỏng, khiến người ta không thể nhìn rõ.

Người hầu đang do dự không biết có nên tiến lên hầu hạ hay không, thì Lahotep đã lạnh nhạt nói: “Lui ra đi.”

........

Đối với Lahotep mà nói, đây là một đêm quá mức khác thường. Hắn đã chìm đắm ngay từ cái nhìn đầu tiên khi bước vào căn phòng chứa đồ và thấy vị thần sứ, rồi lại một lần nữa lạc lối trong màn sương đêm tươi đẹp, hồng nhạt này.

Mặc dù như vậy, hắn sẽ không hối hận vì quyết định mình đã làm, cho dù hiện tại xem ra quyết định này là sai lầm.

Trong tình cảnh như vậy, chẳng lẽ hắn gọi một người khác đến để giải tỏa d*c v*ng cho vị thần sứ đang lâm vào tình trạng không tỉnh táo kia thì là chính xác sao?

Hắn đương nhiên có thể sai người đi tìm người ca hát, vũ công trong lễ hội, hoặc đi tìm những nô lệ xinh đẹp mà các quý tộc ưa thích... Chỉ là, đã có kẻ dám mạo hiểm hạ thuốc tân nhiệm Đại Tư Tế, thì khó mà bảo đảm người được tìm đến để giải tỏa kia không có vấn đề gì.

Mục đích và ác ý của kẻ chủ mưu đứng sau trò khôi hài xảy ra tối qua đã rõ như ban ngày.

Tất cả quan viên trong hàng ngũ thờ phụng các vị thần đều mang trên mình trách nhiệm thiêng liêng khác nhau. Từ các chức sắc cao cấp như “Đại Tư Tế”, “Tư Tế Chủ Lễ”, “Tư Tế Thánh Khiết”, cho đến các Tư Tế phụ tá cấp thấp, dù là địa vị nào đi nữa, bọn họ đều có một danh xưng thống nhất: “người hầu của thần”.

Nghĩa vụ nghiêm ngặt nhất mà tư tế phải thực hiện chính là giữ gìn thân thể trong sạch. Họ phải tắm rửa hai lần, phân biệt vào ban ngày và ban đêm, không được để râu, phải cạo sạch lông tóc, và phải tiếp nhận lễ cắt q** đ**. Thân thể của họ phải đạt đến sự thuần khiết tuyệt đối.

Tân Hòa Tuyết là một trường hợp đặc biệt. Y là thần sứ được tiên đoán trước. Cũng chính vì sự tồn tại của lời tiên đoán này, Lahotep mới không cần phải phá lệ tạo hoàn cảnh nào đó mà vẫn có thể đưa y lên vị trí Đại Tư Tế lớn nhất, đồng thời nhân cơ hội tiến hành thay máu trong hàng ngũ Tư Tế.

Nếu muốn tấn công vị thần sứ mới này, phương pháp tương đối đơn giản: chỉ cần phát hiện đối phương có quan hệ x*c th*t với người khác...

Một thần sứ có thân thể không thể giữ được sự thuần khiết, dù thế nào đi nữa, cũng không có lý do gì để trở thành người hầu của thần ngồi ở vị trí Đại Tư Tế. Nếu chuyện này xảy ra, hàng ngũ Tư Tế do các lão Tư Tế cầm đầu nhất định sẽ ép buộc Lahotep phải đưa ra thêm nhiều nhượng bộ. Những cải cách đền thần mà hắn đã thực hiện trước đây cũng sẽ đổ sông đổ bể.

Bởi vậy, Lahotep cần phải che giấu chuyện của Tân Hòa Tuyết tối qua. Đây là lựa chọn bắt buộc dưới tình thế hiện tại.

Hắn cúi đầu, ngón tay chạm vào mái tóc ướt át của Tân Hòa Tuyết. Thanh niên ngủ trong tư thế rất ngoan ngoãn, mệt mỏi chìm vào giấc ngủ sâu, nhưng khi hắn đến gần, đối phương lại nghiêng mặt áp vào lòng bàn tay ấm áp của hắn.

Lahotep lại như bị lửa nóng thiêu đốt, vội vàng rụt tay lại.

Giả sử hết thảy về mặt logic đều hợp lý, vì sao hắn vẫn có cảm giác tê dại dâng lên từ tận đáy lòng sau va chạm đêm qua?

Hắn đã thức trắng đêm, ngồi lặng cho đến khi ánh nắng ban mai chiếu rọi bên bờ sông Nin.

………

Rạng sáng, thị vệ đến trước cửa cung điện xin vào bẩm báo.

Lahotep kín đáo liếc mắt vào trong rèm che, Tân Hòa Tuyết vẫn đang yên giấc.

Hắn bảo thị vệ đến cung điện hành chính chờ, rồi xoay người khoác áo ngoài, chỉnh tề y phục và sải bước đi tới đó.

Ngoài đội hộ vệ chiến xa hoàng kim ở bề ngoài, Lahotep còn có một thế lực khác dưới trướng, một thế lực mà ngay cả anh em của hắn là Saito cũng không hề hay biết.

“Mắt của Horus”.

Đó là một tổ chức được Lahotep lập ra để làm tai mắt, giám sát mọi động tĩnh trên dưới kinh thành Thebes. Tất cả những chuyện dơ bẩn không thể đưa ra ánh sáng đều do thế lực này giải quyết.

“Nữ nô tóc đen mắt đen kia tìm được chưa?”

Sắc mặt Lahotep vẫn vững vàng.

Từ nửa đêm đã có người truyền tin cho hắn, khoanh vùng được kẻ tình nghi hạ thuốc tối qua. Dù cho Lahotep có thể đoán chắc kẻ đứng sau giật dây chính là lão tư tế, nhưng hắn vẫn cần có chứng cứ để định tội cho danh chính ngôn thuận.

Thị vệ quỳ một gối xuống đất: “Vẫn đang trong quá trình tìm kiếm, nhưng chúng thần đã tìm được một kẻ có hành vi cử chỉ quỷ dị, lảng vảng bên ngoài cung điện đêm qua…”

Gã người hầu có hành vi quỷ dị mà hắn nhắc tới bị áp giải lên. Nhìn bề ngoài, gã chẳng có gì đáng chú ý.

Nhưng Lahotep đã từng gặp mặt kẻ này.

“Ta nhớ ngươi phụng sự bên cạnh Saito.” Lahotep nheo đôi mắt sắc bén lại, hắn chậm rãi bước đến trước mặt gã người hầu, bóng đen kịt bao trùm lấy gã. “Chẳng lẽ vương đệ của ta đã ngang ngược đến mức này, bắt đầu nhòm ngó vương vị của vương huynh hắn rồi sao?”

Hắn gán cho gã một tội danh không thể tha thứ, gã người hầu kia lập tức run như cầy sấy mà khai ra.

“Là Anubis điện hạ! Điện hạ dặn thần phải để mắt thật kỹ, và bảo vệ thần sứ đại nhân… Nhưng đêm qua thần lại tự ý rời vị trí, uống quá chén rượu nho…”

Để tránh Lahotep không tin, gã người hầu thề thốt: “Có ánh sáng của Thần Mặt Trời chứng giám, mỗi lời thần nói đều là sự thật!”

Thị vệ lên tiếng: “Vì sao Saito điện hạ lại dặn ngươi giám sát thần sứ?”

Gã người hầu ngập ngừng: “Chuyện này…”

Dường như có ẩn tình khó nói nào đó.

Lahotep lạnh lùng ra lệnh: “Giam lại.”

Rất nhanh đã có người tiến vào, lôi gã người hầu của Saito xuống.

Thị vệ quay đầu lại, trong lòng không khỏi cảm thấy kỳ lạ.

Hắn cảm thấy Pharaoh hôm nay cực kỳ thiếu kiên nhẫn, vẻ khoan dung độ lượng ngày thường đã không còn tìm thấy trên nét mặt ngài nữa, thay vào đó là sự bực bội khó tả.

Tên thị vệ này đã đi theo dưới trướng Pharaoh nhiều năm, có thể xem là thân tín.

Bởi vậy, hắn bèn lớn gan đoán: “Thưa ngài, có phải ngài để tâm đến mối quan hệ giữa Saito điện hạ và thần sứ đại nhân…”

Đôi mắt như chim ưng của Lahotep nhìn thẳng vào thị vệ. Trong mắt đối phương, hắn gần như là một người đàn ông đang ghen tuông dữ dội.

… Ghen tuông?

Thứ cảm xúc nảy sinh từ tình yêu như vậy lại có thể xuất hiện trên người hắn ư?

Sẽ không có ai hiểu rõ sự hư vô mờ mịt của chữ ‘yêu’ hơn Lahotep.

Bởi vì tình yêu, mẫu thân hắn đã mù quáng bao dung người phụ thân tham lam và đa tình. Rõ ràng họ vừa là huynh muội trong vương thất, vừa là vợ chồng, địa vị ngang hàng, cùng nhau cai quản vương quyền, kế thừa và gìn giữ mảnh đất này. Thế nhưng, bà lại sa vào lời nói dối mang tên ‘tình yêu’, hết lần này đến lần khác nhượng bộ quyền lợi của chính mình. Kho lúa đầy ắp nàng chẳng màng, cung tên săn linh dương đã phủ đầy bụi, chỉ có những sủng phi mới được trượng phu yêu chiều là khiến lòng đố kỵ của nàng bùng cháy…

Cho dù cuối cùng bà phải dựa vào thế lực còn lại mà tiến vào vùng Hạ Ai Cập, câu chuyện của mẫu thân vẫn để lại cho hắn một lời cảnh tỉnh.

Tình yêu là trái ngọt được bọc bằng lời nói dối, chẳng mấy năm sẽ thối rữa, thu hút ruồi nhặng, còn quyền lực là kim tự tháp vĩnh hằng, có thể trường tồn đến muôn đời sau.

Cho nên…

Ghen tuông?

Thật nực cười.

Gán thứ cảm xúc điên cuồng, canh cánh trong lòng vì một lời nói dối như vậy lên người hắn, quả thực là sự sỉ nhục đối với lý trí, là phủ nhận sự tự chủ mà hắn vốn có từ khi sinh ra.

Trước ánh mắt thâm trầm của Lahotep, gã thị vệ dần dần ngậm miệng lại.

………

Gã người hầu của Saito tuy bị tống vào ngục, nhưng trước đó, hắn vẫn kịp thời truyền tin tức quan trọng ra ngoài.

Người hầu đã được sắp xếp lại phía sau làm phương án dự phòng, nếu hắn có gặp chuyện gì bất trắc, Nubu, người có quan hệ mật thiết với thần sứ, cũng có thể thay hắn hoàn thành nhiệm vụ.

Vì vậy, khi Tân Hòa Tuyết trở về cung điện của mình thì thấy bức thư trên giấy cói mà Nubu đưa cho y.

Con mèo lông dài dựng đứng đuôi, xù lên như một đóa bồ công anh trắng muốt, nghênh ngang tiến vào cung điện.

Hình thái này chỉ là để che mắt thiên hạ, giúp y lặng yên không một tiếng động trở về từ tẩm điện của Bạch Vương.

Nubu đương nhiên sẽ không nhận nhầm, lần đầu tiên nhìn thấy hình dạng mèo trắng của Tân Hòa Tuyết, hắn còn tưởng đối phương là một trong những chiến thần sư tử mà người Nubia sùng bái.

“Thần sứ đại nhân.”

Nubu thu lại mọi cảm xúc, cũng không hỏi đến sự thật về việc thần sứ đi đâu cả đêm qua không về.

Đêm qua, trong lúc vội vã tìm kiếm, hắn đã nấp ở một nơi kín đáo và thấy được kiệu ngồi bên ngoài đền thần, trực giác mách bảo hắn rằng, người được bao bọc trong lớp áo choàng mà Bạch Vương đang ôm…

Nubu lặng lẽ siết chặt nắm đấm, cúi đầu, ánh mắt trầm xuống.

Con mèo lanh lẹ nhảy từ mặt đất lên bàn sách, uể oải vươn vai một cái rồi đẩy tờ giấy cói đang trải sẵn ra, là chữ viết của Saito.

Thư chẳng có nội dung gì, nét chữ lại còn rất non nớt…

Thôi được, nói thẳng ra là chữ viết rất xấu, xấu đến mức Tân Hòa Tuyết không tài nào dùng lời hay ý đẹp để bao dung nổi.

Đương nhiên cũng không thể yêu cầu một con dã thú mà cả thời niên thiếu và ấu thơ đều bị nhốt trong lồng có thể nhanh chóng hòa nhập vào thế giới văn minh được. Chắc hẳn việc dạy dỗ lễ nghi cho Saito đương thời đã tốn không ít công sức, dù cho chữ của hắn vẫn viết như gà bới.

Từ ngữ trong thư cũng rất đơn giản, những từ phức tạp đều nằm ngoài trình độ của Saito.

Nội dung chỉ đơn giản là bày tỏ nỗi nhớ nhung với mẫu thần, báo rằng mình vẫn khỏe và hy vọng mẫu thần cũng được khỏe mạnh.

Tân Hòa Tuyết đã xem xong thư.

Nubu đúng lúc dâng công cụ viết lên.

Đuôi mèo trắng phe phẩy, móng mèo vô cùng lơ đãng mà hất đổ lọ mực. Trong lúc Nubu đang luống cuống dọn dẹp, nó khoan thai giẫm lên bức thư.

Cứ như vậy, trên bức thư chữ như gà bới kia liền có thêm rất nhiều dấu chân hoa mai.

“Meo.”

Đã duyệt.

Con mèo trắng nhảy xuống đất, đợi Nubu lau sạch sẽ đệm chân dính đầy mực cho mình.

Sau đó, vì thời gian hóa hình đã hết, con mèo trắng lười biếng bò lên giường nệm.

Y kéo tấm thảm lụa qua chỉ vừa đủ che đi phần eo và hông, đường cong cơ thể lộ ra không sót một nét nào, thêm vào đó là cả mảng lưng trắng như tuyết vẫn còn phơi bày trong không khí.

Tân Hòa Tuyết hai tay đan vào nhau gối đầu, ngáp một cái rồi quay lại, ánh mắt mơ màng ra lệnh cho Nubu đang đứng như tượng tại chỗ.

“Nubu, anh có thể giúp tôi xoa bóp eo một chút không?”

………

………

Lahotep trở lại cung điện, đã không thấy thần sứ trên giường nệm đâu nữa.

Khi đám người hầu đều nói rằng không thấy ai ra vào cung điện, hắn cau mày nhưng cũng không kịp tìm hiểu kỹ. Sắp đến giờ xử lý chính vụ hằng ngày, hắn cần phải ngồi ở điện hành chính, nghe Vizier và các đại thần khác báo cáo công vụ.

Tay Lahotep cầm quyền trượng hoàng kim đầu cong, ngồi trên vương tọa.

Vizier đứng đầu vài vị đại thần quan trọng, tâu: “Gần đây các bộ lạc Nubia ở biên giới Aswan đều yên tĩnh, không phát hiện động tĩnh khác thường. Đá từ mỏ đá Aswan đang được vận chuyển đến Thebes theo sông Nin…”

Tự dưng thấy lòng không yên, Lahotep vô thức v**t v* chiếc nhẫn bằng ngọc tủy trên tay trái.

Đúng lúc này, bỗng có người bất chấp khuyên can, xông thẳng từ ngoài điện vào.

“Anath.” Lahotep lạnh lùng nhìn chằm chằm hắn, “Cậu định tạo phản sao?”

Xem ra việc đột phá vòng vây của thị vệ ngoài điện cũng tốn không ít công sức, Anath đứng tại chỗ, thở hổn hển.

Cuối cùng, hắn đột nhiên khuỵu gối quỳ một chân xuống đất: “Vương huynh, tôi có một việc muốn cầu xin ngài.”

Lahotep nhíu mày: “Có chuyện gì thì đợi sau khi xong chính vụ hãy nói, bây giờ không phải lúc. Cậu đến chút kiên nhẫn ấy cũng không có sao?”

Anath hít sâu hai hơi, dường như không thể nhịn được nữa, giọng nói lớn hơn, vội vàng mà trịnh trọng: “Pharaoh vĩ đại, tôi khẩn cầu ân tình của ngài. Dưới sự trị vì anh minh của ngài, trong ngoài cung đình đều là quý tộc và hiền sĩ(*). Tôi đối với một nam nhân tôn quý có tình cảm sâu đậm, người ấy là đệ nhất tư tế mới của vương quốc. Tôi khẩn cầu Pharaoh cho phép tôi cùng người ấy ký kết nhân duyên.”

(*) người trí thức có đức hạnh, tài giỏi

Hắn nói một lèo trôi chảy, phảng phất như đã chuẩn bị kỹ lưỡng và ngẫm ngợi từ trước.

Một tiếng “cạch” rất nhỏ vang lên.

Lahotep dừng động tác v**t v* nhẫn, “Cậu lặp lại lần nữa?”

P/s : >Do bộ này mỗi chương tác giả viết khá dài á nên tui không bão chương được, với cả do tui bận bịu quá, tui còn dở dang 4 bộ lận, tui đang định dành thời gian để edit hoàn bộ Trùng Vương để chỉ còn 3 bộ để làm cho lẹ nè. Tui sẽ chăm chỉ upload bộ này mỗi ngày, mn cứ vô đọc đi không cần tích chương đâu.
 
Chứng Bệnh Khiến Vạn Người Say Đắm Giữa Chốn Quyền Uy
Chương 154


Cho dù trong lòng đã sớm có dự cảm mơ hồ, Nubu vẫn không thể tin nổi cảnh tượng trước mắt mình.

Những dấu vết chằng chịt, đậm nhạt xen kẽ, vì in hằn trên làn da trắng ngần mà hiện ra rõ rệt, hồng nhạt, đỏ sậm, từng vệt như bừng sáng trên nền lụa, khiến người ta không thể rời mắt.

Nubu choáng váng, đầu óc ù đặc, đầu gối bỗng mềm nhũn, khuỵu xuống đất một cách nặng nề.

Đêm qua, hắn đã thấy pharaoh rời khỏi đền thần trong chiếc kiệu xa hoa, trong lòng mơ hồ đoán được rằng thần sứ có lẽ bị đưa đi cùng. Thế nhưng sự việc lại diễn biến phức tạp hơn hắn tưởng, và kết cục trước mắt… tàn khốc đến mức không thể nào tưởng tượng nổi.

Ký ức không thể ngăn nổi ùa về. Khi hắn còn nhỏ, vị vua của Ai Cập khi ấy cũng giống như vậy, thường xuyên nổi cơn thịnh nộ, xông vào hậu cung, cưỡng ép mẹ hắn dưới màn rèm, rồi lạnh lùng rời đi như chưa từng có chuyện gì xảy ra.

Dòng máu hoàng tộc trên mảnh đất này, từ đời này sang đời khác, đều kế thừa sự tàn nhẫn ấy.

Nubu cúi đầu chạm trán xuống tấm thảm. Họa tiết hoa sen xanh được thêu trên nền thảm như in sâu vào đôi mắt nhắm nghiền của hắn.

Giọng hắn vang lên:
“Xin thần sứ đại nhân trừng phạt tôi vì đã thất trách(*).”

(*) "Thất trách" là hành vi hoặc thái độ làm việc cẩu thả, thiếu tinh thần trách nhiệm, chỉ làm cho xong mà không quan tâm đến kết quả

Bởi hắn biết, bản thân chẳng thể ngăn cản, chẳng thể trông thấy, cũng chẳng thể cứu vãn điều gì.

Trong đầu, ký ức trong chỗ sâu nhất lại hiện về, hình ảnh người mẹ từng lạc quan, rộng rãi đã dạy hắn những khúc ca Nubia, khi lâm chung chỉ còn lại thân hình khô héo, gầy gò như dòng sông Nin mùa cạn, nơi chỉ còn đọng lại một vệt ẩm ướt cuối cùng. Mùi hôi thối của cái chết lan ra từ thân thể bà, nặng nề, không thể xua đi.

Một khoảng lặng thật dài trôi qua, dường như chỉ đong đếm được bằng vài hơi thở của Nubu.

Rồi hắn nghe thấy một tiếng cười khẽ ở phía trước.

“Cậu nghĩ tôi sẽ trách cứ cậu vì chuyện này sao?”

Nubu ngẩng đầu.

Tân Hòa Tuyết đang nằm tựa đầu trên gối, nghiêng người nhìn hắn, ánh mắt lười biếng, tư thế như một con mèo nhỏ đang phơi nắng. Y khẽ ra lệnh:
“Rót cho tôi một chén nước.”

Tân Hòa Tuyết chống cằm, nhìn người hộ vệ sắp sụp đổ vì áy náy, thấy hắn rốt cuộc cũng đứng dậy đi tìm nước.

Nhờ đề nghị của thần sứ, từ một thời gian đến nay, người ở Thượng Ai Cập đã hình thành thói quen đun sôi nước rồi để nguội mới uống hàng ngày, so với trước kia, trừ khi dùng dược liệu để chữa bệnh mới uống nước nóng.

Dẫu nguồn nước của thời đại này chưa đến mức ô nhiễm như hậu thế, nhưng nước sôi để nguội vẫn có thể tránh được nhiều chứng bệnh do vi khuẩn gây ra, một mối đe dọa chí mạng trong thời đại y học còn sơ khai.

Khi dòng nước ấm trôi xuống cổ họng, Tân Hòa Tuyết mới cảm thấy dễ chịu hơn đôi chút.

Giọng y khàn đặc, vì đêm qua đã khóc đến kiệt sức.

Thật ra, Tân Hòa Tuyết đã quá quen với những chuyện thế này. Y chấp nhận một cách bình thản, thậm chí chẳng còn bối rối khi phát hiện mình bị đẩy xuống sàn, không còn sợ sệt những sợi dây leo loằng ngoằng, hay những người đàn ông với d*c v*ng điên cuồng, cùng những khuyên lưỡi và hạt châu…

So với những điều ấy, Lahotep — người đàn ông truyền thống quả thực đã đối xử với y không tệ.

Nubu cẩn thận đặt tay lên eo Tân Hòa Tuyết, nhẹ nhàng xoa bóp cơ bắp cho y thư giãn.

Mỗi khi lực tay hơi mạnh, thần sứ sẽ khẽ bật ra một tiếng rên rất nhỏ.

Mỗi khi nghe thấy tiếng rên ấy khiến lòng bàn tay Nubu nóng rực, như đang cầm trên tay than hồng.

“Như vậy… được chứ?”

Hắn dè dặt hỏi, thử điều chỉnh lực đạo.

Tân Hòa Tuyết mơ màng sắp ngủ, đáp khẽ một tiếng: “Ừm…”

Nubu liền im lặng, tiếp tục xoa bóp.

Cơ thể trước mắt hắn như chịu đựng sự dày vò, hoặc có lẽ chỉ vì làn da của thần sứ quá mỏng, quá mịn, nên những vết đỏ lại hiện lên rõ rệt đến mức khiến người ta không thể rời mắt, như thể có thể mường tượng ra cảnh tượng của “kẻ ở trên”, khi nắm chặt vòng eo mảnh khảnh ấy, mà chiếm lấy không chút nương tay…

Khi Nubu tưởng rằng thần sứ đã chìm vào giấc ngủ với hơi thở đều đặn, Tân Hòa Tuyết lại khẽ cất tiếng hỏi:

“Nubu?”

“Thần ở đây.” — Nubu đáp nhỏ.

Tân Hòa Tuyết đan hai tay lại, tựa đầu lên đó, nghiêng mặt sang phía hắn:
“Cậu có muốn gia nhập đội tuần tra trong hoàng cung không?”

Nubu khẽ sững người.

Hiện tại, chức vụ của hắn chỉ là một trong những binh sĩ phụ trách an toàn cho cung điện của thần sứ. Điều đó có nghĩa là hắn không có địa vị cao, chỉ được phép hoạt động trong khu vực nhỏ này, hoặc đi theo thần sứ khi ra ngoài.

Còn đội tuần tra trong hoàng cung, những binh lính ấy có cấp bậc cao hơn, được phép di chuyển khắp hoàng cung Thebes rộng lớn, mà vẫn có thể đặt trọng tâm vào việc bảo vệ an toàn cho thần sứ.

Đó quả thực là hướng mà Nubu vẫn luôn nỗ lực hướng tới. Hắn từng dò hỏi vài binh sĩ lâu năm trong cung về cách được điều vào đội ấy, nhưng chưa từng thổ lộ điều đó với Tân Hòa Tuyết.

Vì đằng sau còn có một mục đích khác sâu xa hơn...

Nubu trở lại nơi này không chỉ để phục vụ thần sứ, mà còn vì muốn truy tìm chân tướng cái chết của mẹ mình. Dù đã rời khỏi cố đô, hắn vẫn hy vọng có thể tìm được một vài manh mối còn sót lại.

“Thần…” — Nubu vừa mở miệng, nhưng chưa kịp nói hết câu thì Tân Hòa Tuyết đã khẽ nhắm mắt, dường như lại ngủ mất rồi.

……

Trong buổi họp sáng hôm qua, Pharaoh nổi giận dữ dội.

Khi phiên họp kết thúc, toàn bộ đại thần đều đồng loạt im lặng, chẳng ai dám hé môi, ngay cả các thị vệ ngoài cửa cũng không dám bàn tán nửa lời.

Không ai biết vị đại thần Anath - người đã đột ngột xông vào cung hành chính trong buổi họp ấy, rốt cuộc đã nói những gì khiến Pharaoh và cả thần linh phẫn nộ đến thế. Chỉ biết rằng, sau khi cuộc họp chấm dứt, Anath - kẻ vốn đã bị giáng chức xuống làm quan giám sát xây dựng tháp, bị tước bỏ hoàn toàn chức vụ, giam lỏng trong cung điện của mình, không được bước ra ngoài nửa bước.

……

Khi Tân Hòa Tuyết tỉnh dậy, người hầu trong cung đến hầu hạ, khẽ nói rằng: “Bạch Vương đã đến sau cuộc họp, nhưng ngài ấy chỉ đứng ngoài cửa. Nghe nói thần sứ đang ngủ, nên đức vua đã rời đi.”

Sau bữa tối, y vẫn chờ thêm một lúc, xác nhận rằng Lahotep hôm nay sẽ không quay lại nữa, bèn rửa mặt, súc miệng rồi đi ngủ sớm.

Từ đó trở đi, trong một khoảng thời gian dài, Tân Hòa Tuyết không còn gặp lại Pharaoh. Chỉ có giá trị tình yêu trong không ngừng tăng lên, như thể phản ánh một tấm lòng vẫn không thôi trăn trở của vị quân vương ấy.

……

Sau khi lễ tế Thần Ngưu long trọng kết thúc, mùa Akhet — mùa lũ — cũng dần đi qua. Đến tháng Mười Một, nước lũ sông Nin rút xuống, để lộ lớp đất đen màu mỡ. Mọi người lại tất bật chuẩn bị cho mùa Peret, mùa gieo trồng, mùa bận rộn thứ hai trong năm.

Cuộc sống và sản xuất dần trở lại quỹ đạo.

Sau khi chính thức trở thành Đại Tư Tế, công việc của Tân Hòa Tuyết cũng không còn nhàn nhã như trước. Mỗi sáng, y phải đích thân dâng lễ vật cho các vị thần trong đền, mở cánh cửa phong ấn dẫn vào thánh điện, đọc kinh văn và thánh thi chào bình minh. Đến hoàng hôn, nghi thức lặp lại: tượng thần được đặt lại vào vị trí, cửa thánh điện khóa kín, chờ ngày hôm sau tái diễn.

Dĩ nhiên, trong đền thần còn nhiều chức sắc khác, những người có thể chia sẻ phần việc cùng y. Bởi vậy, Tân Hòa Tuyết cũng không dành toàn bộ thời gian cho các nghi lễ.

Y thường đi dạo trên đường phố. Tấm áo choàng trắng phủ kín thân hình khiến y dù muốn hòa mình vào đám đông cũng khó có thể che giấu thân phận.

Người dân hai bên đường lập tức tránh ra, mở lối thật rộng, sợ rằng nếu vô tình chạm vào thần sứ sẽ phạm thượng.

Dù các người hầu từng truyền đạt rằng thần sứ không quá câu nệ lễ nghi, nhưng ánh mắt của mọi người vẫn tràn đầy cung kính xen lẫn e dè, như đang nhìn một món đồ sứ quý giá dễ vỡ mà họ chẳng dám chạm tay.

Trong đám đông, có người khẽ thì thầm:

“Là ngài Iah… thần sứ Iah đại nhân!”

Tiếng bàn tán rì rầm dấy lên.

Bỗng, một đứa trẻ mặc áo vải thô len ra từ đám đông, chạy thẳng đến trước mặt Tân Hòa Tuyết. Cha mẹ nó hoảng hốt gọi to:

“Barney!”

Thị vệ lập tức chặn đứa bé lại, cha mẹ nó đứng phía sau, mặt tái nhợt vì lo sợ.

Tân Hòa Tuyết khẽ lắc đầu, ra hiệu cho thị vệ lùi lại, rồi cúi xuống nhẹ nhàng hỏi:

“Sao thế, Barney? Em có chuyện gì à?”

Đứa bé thô lỗ chạy vội lại đây, giờ mới có thể nhìn rõ vị thần sứ tóc trắng bạc da trắng trước mặt mình.

Barney ngẩn ngơ nhìn y một lúc lâu, rồi rụt rè đưa tay lên:

“Cái này… Iah đại nhân, ngon lắm.”

Lúc ấy, Tân Hòa Tuyết mới phát hiện trong tay đứa bé là một miếng bánh bã đậu.

Vì Tân Hòa Tuyết không thích ăn bánh mì lúa mì quá thường xuyên dù chính y đã cho người truyền dạy và cải tiến kỹ thuật xay bột, khiến bánh mì ngày nay đã mềm mịn và ngon hơn rất nhiều so với trước nhưng nếu phải ăn đi ăn lại mỗi ngày, y vẫn cảm thấy ngán ngẩm.

Vì thế, vào những lúc rảnh rỗi, y thường bảo đầu bếp trong cung dựa theo lời dặn mà làm ra những món mới: như bánh rán bằng lúa mạch, trộn thêm mật ong và bơ, cùng vài nguyên liệu khác. Nếu món ăn nào chế biến thành công, lại dễ thực hiện, y sẽ ra lệnh phổ biến cho dân chúng học làm theo.

Bã đậu chính là một trong những món như vậy, một món ăn mới do y nghĩ ra.

Ngoài lúa mì và lúa mạch, vùng đất này còn trồng rất nhiều loại đậu. Nhờ kỹ thuật xay bột được cải tiến, người ta có thể nghiền nhuyễn đậu cùng nước, thêm chút gia vị, là đã có thể tạo nên món bã đậu mềm mịn, hương vị nhẹ mà thanh.

Đối với dân thường, đây là một loại thực phẩm rẻ tiền, dễ làm mà lại dồi dào protein.

Tân Hòa Tuyết bẻ một miếng nhỏ, đôi mắt khẽ hạ xuống, nghiêm túc nếm thử.

“Không tệ chút nào. Là cha mẹ em làm ra à?”

Y nhìn thoáng qua, liền đoán được hoàn cảnh của Barney không khá giả. Trên người cậu bé là bộ áo bằng vải đay thô đã ngả vàng, chỉ khá hơn nô lệ và dân lao động một chút, chắc thuộc tầng lớp nông dân hoặc thợ thủ công.

Barney gật đầu: “Cha con trồng đậu, còn mẹ đến trường học để học cách làm.”

Đó chính là ngôi trường mới được xây ở nửa phía đông thành phố.

Theo truyền thống Ai Cập cổ, các trường học thường do quan lại hoặc giáo viên giảng dạy, dạy chữ viết, toán học, đọc, hát thánh ca, bơi lội hay múa. Nhưng trường học do Tân Hòa Tuyết lập ra lại khác hẳn.

Y định vị nó là trường đào tạo thực hành, nơi mọi người có thể học các kỹ năng thiết thực để phục vụ đời sống: như nấu ăn, chế biến bã đậu, hay những công việc sinh hoạt khác.

Gần đây, trường còn mở thêm lớp đào tạo y thuật cơ bản, cho các thầy lang trong thành đến học tập.

Tân Hòa Tuyết vốn không phải là một bác sĩ chuyên nghiệp, nhưng y là người trải qua nhiều năm bệnh tật, nên có rất nhiều kinh nghiệm phong phú, hiểu sâu sắc nỗi khổ của bệnh nhân. Cái gọi là “bệnh lâu thành lương y”.

Y từng được tiếp xúc với y thuật của thời đại tinh tế hơn, của các vương triều Trung Nguyên xa xưa. Dù chỉ học lỏm qua kinh nghiệm mưa dầm thấm lâu, nhưng ở thế kỷ 15 trước Công nguyên, chừng đó hiểu biết đã là vô cùng quý giá.

Chỉ riêng việc phổ biến khái niệm vi khuẩn và lây nhiễm, hướng dẫn cách tiệt trùng cơ bản, cũng đủ để giảm mạnh nguy cơ bệnh tật.

Thêm vào đó, y còn truyền dạy cách kết hợp dược lý học từ thảo mộc từ vương triều Trung Nguyên, cùng phương pháp ghi chép hồ sơ bệnh án thời hiện đại và dùng những dụng cụ chẩn đoán đơn giản như nhiệt kế hay ống nghe. Nhờ vậy, độ chính xác trong chữa trị được nâng lên rõ rệt.

Nghĩ đến đây, Tân Hòa Tuyết khẽ xoa đầu Barney, dịu dàng nói:
“Được rồi, Barney. Cha mẹ em đang lo cho em kìa. Mau về với họ đi.”

Y định lát nữa sẽ đến thăm trường học xem tình hình thế nào và còn một việc khác quan trọng hơn.

Trước đó, y đã đổi được từ cửa hàng hệ thống một loại hạt giống ngô sản lượng cao, được mô tả là “chịu hạn, kháng sâu, lại kháng bệnh tốt”. Y dự định cho người đem gieo thử ở đất ruộng cạn ở vùng cao để xem kết quả.

Barney lưu luyến không rời nhìn y:
“Iah đại nhân, sau này con cũng muốn học làm thầy thuốc, con sẽ đi đến trường để học, để chữa bệnh cho ngài… Như vậy sắc mặt của ngài sẽ không còn nhợt nhạt như thế nữa.”

Tân Hòa Tuyết thoáng sững người, rồi mới hiểu đứa bé ngây thơ này tưởng làn da trắng của y là biểu hiện của bệnh tật.

Y không nhịn được mà bật cười.

Cuối cùng, Barney cũng chạy về bên cha mẹ, cả hai người vội vã cúi người tạ lễ thần sứ.

……

Về sau, món ăn mới mang tên “bã đậu” ấy được dâng lên bàn của Hồng Vương.

Trải qua hành trình dài, món bã đậu khi đến nơi đã mất đi vị mềm mịn ban đầu, trở nên khô quắt, sần sùi trông càng thêm kỳ lạ khi được bày cạnh thịt cá tươi ngon, máu nai đỏ sậm còn đang ứa ra trên đĩa.

“Họ gọi món này là món do vị thần sứ kia sáng tạo ra sao?” — Hồng Vương khẽ hỏi, ánh mắt sắc bén như sói nheo lại đầy hiểm ý.

Tên thám tử quỳ dưới đất đáp: “Họ ví ngài ấy như…trân châu kim sa.”

“Trân châu kim sa…”

Thật khéo, đó cũng là thứ hắn yêu thích nhất.
 
Chứng Bệnh Khiến Vạn Người Say Đắm Giữa Chốn Quyền Uy
Chương 155


Khi rời khỏi trường học, một người thư lại vội vã chạy đến tìm Tân Hòa Tuyết.

Từ phù hiệu hình nữ thần Chân Lý khắc vàng trên ngực hắn, có thể nhận ra người này là thư lại thuộc cấp dưới của tòa án.

Ở Thượng Ai Cập, pharaoh tuyển chọn ba mươi nhân tài xuất chúng hợp thành hội đồng, trong đó mỗi người đều là thẩm phán, thay phiên phụ trách sáu tòa án, xử lý các vụ án quan trọng. Dưới quyền các tòa án còn có những thư lại đảm trách công việc hành chính và điều tra cơ bản.

Người thư lại kia cung kính nói:
“Ngài Iah, pharaoh mời ngài đến nhà lao chỉ điểm và xác nhận phạm nhân.”

Phạm nhân ư?

Tân Hòa Tuyết đi theo hắn suốt dọc đường cho đến tận nhà ngục, mới trông thấy vài nữ nô tóc đen, mắt đen đang bị giam giữ.

Mái tóc đen và đôi mắt đen vốn không hiếm thấy ở Ai Cập cổ, nơi đây phần lớn người đều có nước da ngăm sẫm. Trong dịp lễ thần Ngưu, kẻ đến tham dự vô số, đủ loại người chen chúc hỗn tạp. Nếu muốn truy ra nữ nô đã mang rượu có vấn đề đổ lên người Đại Tư Tế đêm hôm đó, thì cơ hội tốt nhất đã bỏ lỡ từ lâu. Giờ chỉ còn có thể bắt vài kẻ tình nghi để đối chứng mà thôi.

Khi Tân Hòa Tuyết bước vào, Lahotep đã đứng đợi từ trước.

Chỉ trong khoảnh khắc ánh mắt họ giao nhau, Tân Hòa Tuyết liền hiểu rõ mọi chuyện.

Nữ nô đến từ Assyria, hoặc đã bị chủ nhân diệt khẩu sau biến cố, hoặc đã sớm trốn đi biệt tích.

Y nhớ lại cuộc trò chuyện ngắn ngủi khi ấy, dựa vào ấn tượng ban đầu và trực giác, Tân Hòa Tuyết nghiêng về khả năng thứ hai nhiều hơn.

Cho nên, việc Bạch Vương mời y đến xác nhận phạm nhân.....

Chỉ là cái cớ mà thôi.

Ý của Tuý Ông không nằm ở rượu, mà là muốn nhân dịp này quan sát thái độ của thần sứ đối với chuyện đã xảy ra đêm ấy, từ đó quyết định sau này sẽ sắp xếp y ở vị trí nào, và nên đối đãi ra sao.

“Iah, ngài xem có ai trong số này giống với người từng xuất hiện trong lễ thần Ngưu đêm đó không?”

Khi Tân Hòa Tuyết bước ngang qua hàng nữ nô bị bắt giữ, Lahotep đứng trong bóng tối phía đối diện, đôi mắt tím sâu thẳm vẫn dõi theo từng cử động của y.

Nhà lao — nơi giam giữ phạm nhân chờ thẩm vấn, điều kiện tất nhiên vô cùng tồi tệ. Chỉ có một ô cửa sổ nhỏ nơi hành lang cho ánh sáng le lói xuyên vào.

Từng hạt bụi bay lơ lửng trong luồng sáng vàng kim, lay động theo từng bước chân của Tân Hòa Tuyết rồi lại lắng xuống tĩnh lặng.

Cửa sổ hướng nam, trong khi gió sa mạc thường thổi từ phương bắc, vì có gió thổi vào nên không khí trong ngục tù bức bối và oi nóng đến nghẹt thở. Hơn nữa bây giờ vẫn còn đang là ban ngày, nên nhiệt độ trong không khí càng thêm nóng.

Tân Hòa Tuyết đi một vòng, xác nhận không có nữ nô nào mang đặc điểm giống người Assyria kia.

Y quay lại, nói với Lahotep:
“Pharaoh, ở đây không có kẻ mang tâm thuật bất chính. Hãy thả họ đi.”

……

Như thể một lời nói nhẹ nhàng liền xóa sạch hết thảy hỗn loạn đêm hôm đó.

Lahotep bước song song bên y, khóe mắt khẽ liếc nhìn. Thần sứ vẫn giữ vẻ điềm nhiên lạnh nhạt, như thể chẳng có gì từng xảy ra. Dù đêm ấy y đã bị một người đàn ông mạo phạm, xâm nhập vào chỗ sâu nhất trong cơ thể y, triền miên suốt đêm, thì trong lòng y cũng không hề lưu lại dấu vết nào.

Như cánh chim nhạn từ phương bắc bay qua bầu trời Thượng Ai Cập, chẳng hề khiến mây trời biến sắc.

Rõ ràng, đó là kết quả lý trí nhất, ổn thỏa nhất…

Nhưng Lahotep lại cảm thấy một nỗi nghẹn nơi cổ, như có thứ gì vướng víu không sao nuốt trôi. Kết cục này dường như không phải điều hắn mong muốn.

Nếu như người đàn ông đêm đó… không phải hắn.

Chỉ với ý nghĩ ấy, Lahotep bỗng nghẹn thở trong thoáng chốc.

Ánh nắng vàng chiếu lên những hạt ngũ cốc chín tròn căng, khiến tâm thần hắn như bị đóng băng.

Lahotep hỏi khẽ:
“Đây là…?”

Hắn chợt nhớ, Tân Hòa Tuyết từng kể rằng y đang thử nghiệm gieo trồng một loại giống mới.

“Bắp sao?”

Giữa cánh đồng, những người nông dân đang chăm chỉ làm việc. Thấy Tân Hòa Tuyết và pharaoh xuất hiện, một người làm thuê lập tức hiểu được ý đồ của họ. Hắn vội hái xuống vài bắp ngô đã chín sớm, nâng lên bằng hai tay, cung kính dâng tặng:

“Thần Mặt Trời phù hộ trên cao, thần sứ đại nhân đã ban cho trần thế hạt giống thiêng, nay nó đã kết thành trái vàng!”

Hành lễ xong, người nông dân nhanh nhẹn bóc lớp vỏ ngoài, để lộ những hạt ngô vàng óng, căng tròn, phản chiếu ánh nắng rực rỡ.

Vốn dĩ, Tân Hòa Tuyết định sẽ trình bày giống ngô này trong lễ tế thần Ngưu, còn gì thể hiện ý chỉ của thần rõ ràng hơn việc dâng lên một vụ mùa vàng son trĩu quả ngay giữa buổi cúng tế?

Tiếc rằng vào thời điểm đó, bắp vẫn còn xanh non, chưa kịp chín, cho dù có tấm lòng khéo sắp đặt, y cũng không thể làm gì khác.

“Cách chế biến bắp rất phong phú,” Tân Hòa Tuyết vừa đón lấy bắp ngô, vừa giới thiệu với Lahotep, “chỉ cần luộc đơn giản, không thêm gia vị, hương vị đã rất ngọt ngào, thanh dịu, có thể dùng làm món chính hoặc món phụ đều được.”

Đây là lần đầu tiên vùng đất sông Nin chứng kiến một vụ thu hoạch như thế. Thế nhưng, nhìn dáng vẻ của Tân Hòa Tuyết, dường như y đã thưởng thức qua món ăn này nhiều lần, thành thục như một kẻ đã quá quen thuộc với hương vị ấy, biết rõ cách nấu, biết cả độ chín và vị ngọt của từng hạt.

Lahotep từng trò chuyện với vị thần sứ này đôi lần, nhưng ngoài việc biết y đến từ “phương Đông xa xôi”, thì dường như hắn chẳng hiểu gì thêm về người thần sứ ấy cả.

Ngay cả cái tên “Iah” cũng như ngọn cỏ bồng trôi giữa sa mạc, không rễ, không nguồn.

Nếu y rời đi, cũng như làn gió thoảng qua trên lớp cát vàng, lưu lại dấu vết nhạt nhòa, chỉ cần một trận gió bụi nổi lên là tất cả sẽ bị xóa sạch.

Lahotep bỗng cảm thấy trong tim như có một khoảng trống bị rút cạn.

Đến khi nhận ra, hắn mới phát hiện mình đã lại vô thức hỏi đi hỏi lại câu ấy:
“Rốt cuộc ngài là ai?”

Iah nhìn hắn, đôi mắt trong trẻo như mặt hồ dưới trăng, khẽ đáp:
“Thưa bệ hạ, ngài không cần bận tâm tôi đến từ đâu, cũng không cần để ý tôi là ai. Giống như lời tiên tri đã nói, sứ mệnh của tôi là tìm ra vị vương chân chính duy nhất, thúc đẩy việc thống nhất Thượng và Hạ Ai Cập, khiến mảnh đất này phồn thịnh, mùa màng tốt tươi.”

Họ cùng đứng trên điểm cao giữa cánh đồng, gió luồn qua hàng cây xanh biếc, từ đó nhìn xuống có thể thấy toàn bộ kinh thành Thebes, những dòng kênh xanh lam như mạch máu chằng chịt, nối liền bốn phương thành trì.

Dưới kia, dân thường đang gánh nước từ kênh múc lên, người chăn dắt lùa bò dê đi qua cánh đồng, bọn trẻ ríu rít nô đùa bên bờ sông Nin...

Iah nghiêng đầu nhìn về phía Lahotep, gió thổi tung vạt áo choàng, khiến một sợi tóc trắng bạc lay động:
“Bệ hạ, ngài có muốn biết tôi mong Ai Cập tương lai sẽ trông như thế nào không?”

Lahotep nghiêm túc nhìn y:
“Như thế nào?”

Ánh mắt Tân Hòa Tuyết khẽ dừng lại trên thành trì xa xa:
“Không ai phải chịu bất hạnh, không ai còn đói khát, nước sông dồi dào chảy khắp nơi, đất đai phì nhiêu trĩu quả, con dân của ngài sẽ tự hào vì được sinh ra trên mảnh đất này.”

Y quay đầu, nhẹ giọng nói:
“Bệ hạ, ngài có sẵn lòng vì một Ai Cập như thế mà dốc hết toàn bộ tâm huyết không?”

Tâm trí Lahotep đã sớm đem y khóa chặt lại.

Một đất nước như thế chính là điều hắn hằng khao khát dựng xây, là lý tưởng mà hắn theo đuổi.

Và hắn tin rằng, có Iah ở bên trợ giúp, lời nói kia tuyệt đối không phải mộng tưởng viển vông.

Hắn nghĩ, có lẽ chính vì bức tranh xanh tươi mà Iah vẽ ra ấy, tim hắn mới dâng tràn cảm xúc khó tả như thế...

Mọi âm thanh trần thế bỗng nhòa đi, chỉ còn lại nhịp đập dồn dập trong lồng ngực.

【Giá trị tình yêu của Lahotep +5】

【Giá trị tình yêu hiện tại của Lahotep: 80】

Trên đường từ cánh đồng trở về, cùng ngồi chung trong xe ngựa, Lahotep giả vờ hờ hững nhắc lại chuyện đêm hôm ấy.

Tân Hòa Tuyết vẫn giữ vẻ không để bụng, chỉ khẽ nghiêng đầu nói:
“Bệ hạ, đó không phải chuyện gì to tát. Khi ấy, cả hai chúng ta đều không có lựa chọn nào khác.”

“Ở đất nước tôi từng sống, con người coi trọng nhất mối quan hệ gọi là tri kỷ. Có một câu nói rằng: Kẻ sĩ vì người hiểu mình mà chết. Thế nên, việc một bề tôi được gặp vị quân chủ biết trân trọng mình, đã là niềm hạnh phúc lớn nhất đời.”

“Nếu đã là tri kỷ, thì dù có chung giường mỗi đêm, cũng chẳng có gì lạ.”

Lahotep hơi khựng lại:
“Là như vậy sao?”

Hắn không khỏi suy ngẫm về “lý luận tri kỷ” mà vị thần sứ ấy vừa nói...

Vậy nghĩa là, Iah đã từng có tri kỷ của riêng mình ở phương Đông?
Thậm chí là từng ngủ chung giường với y mỗi đêm?

Lahotep quay mặt đi, ánh mắt trở nên trầm lắng, còn nụ cười ôn hòa vẫn thường vương trên môi nay cũng biến mất không dấu vết.

Nếu trong xe có gương, hắn hẳn sẽ thấy được bộ dạng của chính mình lúc này.....

Một kẻ trong truyền thuyết khiến người ta vừa thương hại vừa buồn cười: ghen tuông đến mất lý trí, điên cuồng đến độ tự chôn vùi bản thân.

Bên ngoài, hắn cố giữ vẻ bình thản nhưng trong lòng, cơn ghen cuộn trào dữ dội, giá trị ngược tâm tăng lên như lửa cháy rừng.

Nỗi ghen ấy thiêu đốt đến khi hắn chợt nghĩ một khi Iah hoàn thành sứ mệnh trong lời tiên tri, liệu có phải sẽ rời xa hắn, quay về với phương Đông xa xôi kia không?

Lahotep không cho phép điều đó xảy ra. Nếu có một ngày như thế, hắn nhất định sẽ giam giữ Iah lại, trói buộc người ấy mãi mãi nơi mảnh đất này.

Dòng sông Nin mênh mang kia, cũng không thể cuốn trôi được nỗi nhớ trong tim hắn.

Sắc mặt hắn dần trở nên nặng nề, mà không nhận ra ánh nhìn tinh quái thoáng lóe lên trong mắt Tân Hòa Tuyết.

………

Bạch Vương kỳ thực là một người rất hay ghen.

Bề ngoài, hắn giữ hình tượng ôn hòa, khoan dung nhưng hành động thì lại hoàn toàn trái ngược.

Dù Tân Hòa Tuyết không nói ra, y cũng cảm nhận được ánh mắt giám thị của Lahotep ngày một dày đặc hơn, đến mức ngay cả thư từ gửi đến từ Saito cũng không thể lọt qua.

Ban ngày, Tân Hòa Tuyết bận rộn với việc quy hoạch đập chứa nước, mở rộng kênh dẫn, thương lượng cùng các thợ thủ công về việc cải tiến nông cụ. Đôi khi, vào ban đêm, Bạch Vương lại mượn cớ “tri kỷ” để đến, chỉ để được ngủ chung giường cùng y.

Mà cũng chỉ là ngủ thật, không hơn.

Rốt cuộc thì hai người mỗi ngày đều bận bịu công việc. Dù Lahotep tràn đầy tinh lực, Tân Hòa Tuyết cũng sẽ không cho hắn động chạm hay đáp lại. Y cần giấc ngủ trọn vẹn để tiếp tục công việc.

Cứ thế, ngày qua ngày, công việc nhiều đến mức kéo dài đến tận mùa hạ, đến khi y nhận ra thì đã hơn hai tháng trôi qua mà không nhận được bất kỳ thư từ nào từ Saito.

Khi Tân Hòa Tuyết hỏi, Lahotep chỉ mỉm cười, lấy cớ:
“Trong thư có đề cập đến cơ mật quân sự, e rằng khiến ngài phải bận tâm vô ích.”

Thế là y bị cắt đứt toàn bộ liên lạc.

Thời gian chớp mắt trôi, vụ gieo trồng đã gần qua, mùa thu hoạch đang tới gần. Toàn Thượng Ai Cập đều hân hoan chờ đợi niềm vui được mùa.

Chính vì bặt tin quá lâu, nên sáng hôm ấy, khi Tân Hòa Tuyết tỉnh dậy và nhìn thấy người kia, y mới thực sự kinh ngạc đến thế.

Mặt nạ chó đen trên đầu người nọ nứt ra một vệt răng cưa, lộ ra làn da sẫm màu bên dưới, trên đó vẫn còn hằn một vết sẹo mới lành.

Có lẽ, trong chiến dịch dẹp loạn lạc ở vùng Amra, lưỡi vũ khí bén nhọn của quân địch đã làm rạn chiếc mặt nạ, để lại dấu vết máu chạy dọc dưới mắt.

Vị vương tử trẻ tuổi mang chiến thắng trở về, trên người mang theo hơi thở của gió cát, của chiến trường và mùi máu nóng rực.

Giờ phút này, hắn giống như một con sói dã chiến, cúi xuống bên Tân Hòa Tuyết, nôn nóng mà ngửi lấy mùi hương thân thuộc, như đang xác nhận....

Trong khoảng thời gian hắn rời Thebes này…

Có kẻ khác đã chạm vào người mà hắn tôn thờ.

Từ cơ thể của mẫu thần, hắn ngửi thấy một mùi hương xa lạ.

Chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ khiến đứa con đã hơn hai tháng không nhận được hồi âm phát điên.

Ngay khi tin chiến thắng truyền về, Saito lập tức được lệnh rút quân khỏi Amra. Hắn gần như không chợp mắt lấy một khắc, suốt đêm cưỡi ngựa băng qua sa mạc, chỉ để trở lại Thebes, nơi mà hắn cho là thuộc về mình.

Nhưng rồi, khi đứng trước Tân Hòa Tuyết, hắn lại cảm nhận được trên người mẫu thần ấy... hương vị của một nam nhân khác.

Phải làm sao đây?

Rốt cuộc phải làm sao...?

Phải làm thế nào mới khiến mẫu thần chỉ thuộc về hắn, khiến hắn chỉ có thể thuộc về người ấy?

Saito cúi thấp đầu, hơi thở lạnh buốt lướt dọc theo ngực Tân Hòa Tuyết, dừng lại giữa hai điểm hồng nhạt.

Nếu có thể hòa làm một với mẫu thần, thì tốt biết bao… Nhưng hắn không thể, không thể nuốt trọn người ấy.

Saito nghiêng tai, lắng nghe nhịp tim vang lên dưới lớp da mỏng. Không ai hiểu rõ hơn hắn rằng cơ thể con người yếu đuối đến thế nào.

Mặt nạ đầu chó khẽ lướt qua lồng ngực Tân Hòa Tuyết. Một thoáng lạnh buốt lướt qua, hai điểm nh* h** khẽ run rẩy, dựng đứng lên.

Một luồng tê dại lan khắp lồng ngực Tân Hòa Tuyết. Đuôi mắt y ửng hồng, vùi mặt xuống gối, nhưng vẫn kịp túm lấy tóc Saito, khàn giọng nói:
“Đừng làm loạn.”

Saito dừng lại, rốt cuộc cũng rời xa khu vực kia.

Nhưng sau khi im lặng đánh giá một hồi, hắn lại cúi đầu lần nữa.

Tìm được rồi.....

Hắn đặt một nụ hôn thật khẽ lên giữa lồng ngực ấm áp ấy, nơi tim đập mạnh mẽ mà hắn không nỡ rời xa.

Nếu có thể hòa tan trong thân thể của mẫu thần, thì hắn sẽ bò về nơi ấm áp trong bụng người như một sinh linh bé nhỏ.
 
Chứng Bệnh Khiến Vạn Người Say Đắm Giữa Chốn Quyền Uy
Chương 156


Ý nghĩ ấy dần dần phình to trong lòng hắn, càng lúc càng lớn, cho đến khi bao trùm hết thảy.

Saito chưa bao giờ cho rằng bản thân là kẻ tham lam. Hắn đi lại trên mảnh đất này, chẳng màng đến ánh nhìn của thế gian hướng về danh xưng “Anubis” mà hắn mang, cũng chẳng màng đến quyền thế hay địa vị của hoàng tộc Ai Cập.

Hắn gần như không có thứ gì muốn có, nên trong lòng cũng chẳng dấy lên nổi một ý niệm tham muốn thứ gì đó.

Từ trước đến nay, những người dạy hắn về lễ nghi và chữ nghĩa đều từng nói rằng: lòng tham là d*c v*ng xấu xa nhất của con người. Chính nó sẽ sinh ra muôn vàn tổn thương, giống như một con rắn độc cắn người. Vì vậy, kẻ tham lam cuối cùng bao giờ cũng sẽ tay trắng mà thôi.

Cho đến tận bây giờ, Saito vẫn không hiểu được....Hắn chỉ muốn có mẫu thần của mình, như thế… cũng là một tội lỗi sao?

Có lẽ là vậy.

Saito lặng lẽ nhìn sự khác biệt giữa hình thể của mình và Tân Hòa Tuyết. Mẫu thần của hắn dáng người thon gầy, vòng eo nhỏ nhắn, bụng phẳng lì và làn da trắng mịn. Trong mắt Saito, đó là một cơ thể tuyệt đẹp, gần như mê hoặc, nhưng lại quá yếu ớt, chẳng có chút khỏe mạnh nào hoàn toàn khác với vẻ cường tráng mà người Ai Cập vốn tôn sùng.

Một vài bản năng thuộc về loài sói hoặc loài chó trong của hắn vẫn còn được lưu giữ. Điều đó có nghĩa là, trong khoảnh khắc hoan lạc, hắn sẽ vô thức muốn giữ chặt, giam chặt lấy Tân Hòa Tuyết.

Nhưng với thân thể yếu đuối ấy, việc cùng hắn hòa hợp hẳn sẽ là một cực hình, e rằng không thể chịu đựng nổi trong thời gian dài.

Liệu hắn có làm tổn thương mẫu thần của mình không?

Nghĩ đến đây, cổ họng Saito nghẹn lại, dâng lên một vị chua xót đau đớn. Việc nuốt xuống một ngụm nước bọt cũng trở nên khó nhọc, cứ như thể cát gió trên đường trở về đều đang tràn qua cổ họng, cào rát vào dạ dày.

Có lẽ bởi biểu cảm khổ sở ấy của hắn quá rõ ràng, Tân Hòa Tuyết liền cúi xuống, ôm lấy cái đầu nhỏ của con chó con đang vùi sâu trong bi thương mà y chẳng hay từ bao giờ.

“Được rồi… được rồi…”

Tuy chẳng hiểu Saito đang nghĩ gì, nhưng Tân Hòa Tuyết vẫn ôm lấy cái đầu tóc cứng và không mấy mềm mại ấy. Những ngón tay thon dài luồn vào giữa lớp tóc ngắn của Saito, ch*m r** v**t v*, mái tóc đã trở nên khô ráp sau bao ngày rong ruổi giữa sa mạc.

Mái tóc của Saito đen tuyền và óng ánh, giống hệt như chính hắn, nhưng khi chạm vào lại thô ráp vô cùng.

Tân Hòa Tuyết kiên nhẫn gỡ từng nút rối nhỏ, ngón tay chậm rãi lần xuống đến tận đuôi tóc, cắt bằng ngay ngắn.

“Có phải… quá mệt mỏi rồi không?”

Y khẽ hỏi, cố gắng hiểu nguyên do của nỗi bi thương đột ngột ấy trong Saito.

Sau một giấc ngủ sâu, hơn hai tháng trời không gặp gỡ, cũng chẳng có lấy một dòng thư từ qua lại, Tân Hòa Tuyết vẫn không tránh khỏi cảm thấy chút thương hại dành cho nhân vật mục tiêu này.

Miễn là y chưa biết trong đầu Saito đang nghĩ gì.

Nếu như y biết được những ý nghĩ đang tràn ngập trong tâm trí Saito lúc này, có lẽ y đã ném hắn đi không chút do dự.

Nhưng hiện tại, y vẫn còn đủ kiên nhẫn để bao dung, để cho phép Saito tựa đầu lên vai mình.

Saito khẽ hít một hơi thật sâu, ngửi lấy hương thơm thoang thoảng từ thân thể Tân Hòa Tuyết, như thể đó là thứ duy nhất giúp hắn duy trì sự sống.

Bàn tay y dừng lại bên mép mặt nạ lạnh băng.

“Có thể tháo ra không?” — Tân Hòa Tuyết hỏi.

Đôi khi, lòng hiếu kỳ của con mèo cũng sẽ bị khơi dậy như thế.

Gần như chưa từng có ai được nhìn thấy khuôn mặt thật của Anubis kể cả khi hắn vẫn còn là một đứa trẻ.

Chiếc mặt nạ ấy được chế tác ngay khi Saito ra đời, dưới dị tượng trăng máu. Từ đó, danh xưng Anubis đã gắn liền với hắn. Về sau, dù tuổi tác tăng dần, khuôn mặt trưởng thành khiến chiếc mặt nạ cũ không còn vừa vặn, thì những người thợ thủ công của hoàng tộc vẫn phải mài giũa để làm nên một chiếc mới.

Nó đã ở bên Saito suốt 18 năm, gắn bó với từng hơi thở, từng nhịp đập của sinh mệnh hắn.

Thế nhưng khi Tân Hòa Tuyết tháo mặt nạ của hắn xuống, Saito không hề phản kháng. Hắn chỉ lặng lẽ, chăm chú nhìn mẫu thần của mình.

Giữa hàng mày của hắn toát lên khí chất anh hùng, trẻ trung, ánh mắt lạnh lẽo, sắc bén như một lưỡi kiếm vừa rời khỏi vỏ. Hắn không quá giống Lahotep, Tân Hòa Tuyết nghĩ, có lẽ Saito thừa hưởng nhiều nét của mẹ ruột hơn.

Dưới mắt trái hắn có một vết sẹo rõ ràng, chỉ cách con ngươi một phân. Trên chiến trường, nếu vũ khí của kẻ địch lệch đi thêm chút nữa, có lẽ con mắt ấy đã không còn tồn tại.

Bàn tay Tân Hòa Tuyết khẽ lướt qua vết sẹo, nhẹ nhàng hỏi:
“Đau không?”

Saito nghĩ một chút, rồi đáp khẽ:
“…Đau.”

Tân Hòa Tuyết nghiêng đầu.
“Vậy để tôi gọi ngự y đến xem qua cho anh nhé?”

Giọng nói của y nghe như mang chút buồn, lại dường như ẩn chứa một điều gì khác, một điều mà Saito mơ hồ cảm nhận được.

Cả hai đều hiểu rõ, vết thương ấy đã liền sẹo, còn cơn đau và hơi thở của tử vong đã rời xa từ lâu.

Ánh mắt Saito thoáng lay động, rồi hắn kiên định nói:
“Mẫu thần… hôn vào chỗ đó một chút thôi, là không còn đau nữa.”

Một nụ cười dịu dàng thoáng hiện trong mắt Tân Hòa Tuyết. Y nhìn Saito, người sau khi nói xong đã tự giác nhắm mắt lại.

Làn hơi thở ấm áp, đôi môi nhẹ dừng lại nơi vết sẹo nhạt kia chỉ trong thoáng chốc, rồi rời đi.

【Giá trị tình yêu của Saito +10】

【Giá trị tình yêu hiện tại của Saito: 90】

Tân Hòa Tuyết chậm rãi nói:
【Thật dễ dỗ.】

Nhưng chỉ một lát sau, đồng tử y bỗng mở to vì kinh ngạc.

K có thể đoán được nguyên nhân khiến mèo sợ hãi liền nói:
【Người trẻ tuổi, khí huyết quá vượng.】

Tân Hòa Tuyết im lặng một thoáng. Lúc này, y cảm nhận rõ rệt thứ gì đó đang cứng rắn, nóng bỏng, chống lên đùi mình đến từ con chó nhỏ nào đó. Y chợt nhớ ra điều gì, liền hỏi:
【Vậy ra… anh trai à, anh già lắm rồi à?】

K: 【…?】

Chẳng phải thiết lập nhân vật của mình mình vừa bị biến thành một “người chồng già yếu và vô dụng” đó sao?

K:
【Nếu xét theo thiết kế gốc của mẫu sinh học, tuổi của tôi không vượt quá ba mươi.】
【Hơn nữa, toàn bộ linh kiện của người máy đều có thể bảo trì và thay mới, khác với đàn ông loài người, không cần lo lắng chuyện tuổi tác khiến chức năng suy giảm hay lực bất tòng tâm trong… các hoạt động thân mật phu thê.】

Nói cách khác nếu có một người bạn đời là “người máy”, thì khả năng xảy ra mâu thuẫn gia đình do vấn đề sinh lý gần như bằng không.

Tân Hòa Tuyết khẽ chớp mắt, thong thả đáp:
【Tôi chỉ tò mò tuổi của anh thôi, anh trai à, ai bảo anh nghĩ xa đến thế?】

K: 【…Xin lỗi.】

Một chuỗi “tư tưởng dơ bẩn” đã tự động được kích hoạt.

Tân Hòa Tuyết chưa kịp quyết định có nên “thưởng” cho chú chó nhỏ đã lâu không gặp này không hay giúp hắn “giải tỏa” chút khổ sở thì từ bên Bạch Vương, người hầu đã đến thúc giục.

Ngoài cửa điện, người hầu cúi đầu thông báo:
“Điện hạ Saito, pharaoh có lệnh mời ngài đến báo cáo công vụ.”

Theo quy tắc, Saito lẽ ra phải đến gặp pharaoh trước tiên ngay khi trở về Thebes. Nhưng hắn lại một mạch thẳng đến điện thần sứ, chẳng chút do dự.

Điều này khiến Lahotep vô cùng bất mãn khi được báo tin. Hắn có kinh nghiệm mà tiến đến thúc giục Saito báo cáo công tác. Dọc theo đường đi, thậm chí Saito còn không biết xấu hổ khi vật g*** h** ch*n hắn vẫn đang cương. Dù có vải đay quấn quanh eo nhưng vẫn không thể che giấu được sự bất thường đó.

Hắn vừa từ cung của Iah bước ra…

Sắc mặt Lahotep trầm xuống, sự khó chịu với vị vương đệ này đã đạt đến cực điểm.

......

Dẫu vậy, Lahotep vẫn vô cùng sủng ái và tán thưởng người em trai tài năng của mình. Tiệc khải hoàn mừng chiến thắng kéo dài suốt ba ngày ba đêm tại hoàng cung Thebes.

Vàng bạc châu báu được ban phát cho Saito như thác nước, đủ để chứng minh pharaoh ưu ái và khen thưởng công thần đến mức nào.

Và trong phần thưởng cuối cùng, Lahotep ban cho Saito một đặc quyền chưa từng có.

Một tòa dinh thự xa hoa nằm ngoài cung điện. Từ nay, dù chưa lập gia đình, Saito cũng có quyền dọn ra khỏi hoàng cung và cư trú riêng.

Đương nhiên, đặc quyền ấy không mang ý nghĩa được lựa chọn. Từ nay về sau, Saito sẽ không còn cư trú trong hoàng cung. Hắn buộc phải dọn đến tòa phủ đệ rộng lớn vừa được ban tặng, chỉ khi tham dự triều hội hoặc được pharaoh triệu kiến mới được phép bước chân vào cung.

Đối với phần lớn con cháu hoàng tộc, việc được sống độc lập kỳ thật là một chuyện tốt. Thế nhưng, xét đến năng lực và địa vị của Saito, các đại thần lại thì thầm to nhỏ chẳng lẽ công lao của điện hạ đã lớn đến mức khiến pharaoh phải sinh lòng kiêng dè rồi sao?

Trong quyết định này, rốt cuộc là bao nhiêu phần là thưởng công, bao nhiêu phần là đề phòng, chẳng ai dám nói chắc.

Cùng với đội chiến xa hoàng kim tinh nhuệ trở về, ngoài số chiến lợi phẩm thu được từ quân phản loạn, còn có vô vàn lễ vật cảm tạ được dâng lên từ các lãnh chủ vùng Amra: vàng bạc, khoáng sản, gỗ mun, trầm hương, vải may mặc, nhựa cây, thuốc cao, cùng vô số trái dừa, đều được chuyển về kinh đô Thebes như thác đổ.

Một phần trong số đó được Lahotep sai người chuyển đến điện thần sứ, gỗ mun để chế tạo giường mới, vàng bạc để rèn trang sức mới, còn châu báu thì xếp đầy trong tủ.

Khi Nubu đang dùng dụng cụ để tách vỏ trái dừa, Lahotep bước vào cung điện.

Hắn đã quá quen thuộc với nơi này, quen đến mức có cảm giác như mình là chủ nhân khác của tòa cung này.

Đáy mắt Nubu thoáng trầm xuống, nhưng nhanh chóng nén lại toàn bộ cảm xúc.

“Iah, những lễ vật đưa đến lần này có hợp ý ngài không?”

Lahotep ngựa quen đường cũ mà ung dung ngồi xuống chiếc ghế dài bên cạnh Tân Hòa Tuyết.

Chiếc ghế bọc da thuộc hoa văn tinh tế, gối tựa thêu chỉ vàng bạc cầu kỳ, toàn bộ nội thất trong điện đều mang phong cách xa hoa nhưng trầm lắng.

Mỗi khi ra ngoài, Tân Hòa Tuyết luôn khoác một chiếc áo choàng trắng để tránh ánh nắng, che khuất gương mặt. Bởi vậy, những lúc ở riêng thế này, khi được nhìn rõ diện mạo của đối phương, Lahotep lại thấy mình được hưởng một thứ đặc quyền hiếm có. Trong không gian tĩnh lặng, dẫu chẳng nói lời nào, hắn vẫn cảm thấy một thứ an yên kỳ lạ.

Cảm giác ấy… hắn không thể gọi tên. Có lẽ, đó chỉ là sự thỏa mãn của một kẻ quyền lực, khi được nhìn thấy một vị thần sứ không còn che giấu gì trước mặt mình?

Càng ở gần Tân Hòa Tuyết, càng nhìn thấy y nhiều hơn, Lahotep lại càng cảm thấy mình là người duy nhất thực sự hiểu rõ vị sứ giả thần bí này. Nếu như thế gian có danh hiệu cho điều ấy, hắn sẵn sàng nhận lấy nó với niềm tự hào thầm kín.

Ngoài niềm kiêu hãnh đó ra… còn có thứ gì đang khuấy động trong lồng ngực hắn nữa?

Từ phía đối diện, Lahotep nghe thấy giọng nói của Tân Hòa Tuyết vang lên.
“Đa tạ ngài ban thưởng, nhưng trong cung điện… thật sự không biết nên để ở đâu cho vừa.”

Lahotep khẽ cau mày, vội ngắt lời:
“Vậy cứ để đám người hầu mang những thứ ngài không ưng ra nhà kho là được.”

Không hiểu vì sao, hắn lại thấy khó chịu khi nghe Tân Hòa Tuyết nói hai chữ “ban thưởng”.

Với Saito, hắn có thể dùng từ ấy bởi Saito là bề tôi, còn hắn là pharaoh, là chủ nhân của cả vùng đất này. Dưới chân hắn, dù chỉ là hạt cát trong sa mạc, cũng thuộc về hắn.

Giữa hắn và người em trai kia, từ đầu đã không có sự bình đẳng.

Không bình đẳng.....

Thì ra là vậy.

Đám mây mù vẩn vơ bấy lâu trong lòng Lahotep bỗng tan đi, để lại bầu trời trong trẻo và nắng ấm rạng rỡ.

Thì ra, điều hắn vẫn tìm kiếm, vẫn chờ đợi bấy lâu chính là một người bình đẳng với hắn.

【Giá trị tình yêu của Lahotep +5】

【Giá trị tình yêu của Lahotep hiện tại: 85】

Tân Hòa Tuyết ngước nhìn Bạch Vương, người vừa bất chợt đứng dậy khỏi ghế, thong thả bước đi quanh điện, tựa như đang trầm ngâm điều gì đó.

…Lại phát bệnh rồi sao?

Một thoáng nghi ngờ lặng lẽ lướt qua trong lòng Tân Hòa Tuyết.

Lahotep lại bắt đầu thấy bực bội, cảm xúc dâng trào khiến hắn khó lòng giữ nổi vẻ ngoài ôn hòa, bình tĩnh thường thấy.

Rốt cuộc hắn còn phải làm gì nữa?

Cho dù bản thân vẫn luôn đối xử với Iah như người ngang hàng, nhưng hắn vẫn chưa biết phải làm sao để những kẻ không biết điều kia, kẻ gọi là Anath và Saito hiểu được rằng, họ phải tôn trọng Iah như cách họ tôn trọng chính hắn. Không được ăn nói l* m*ng, càng không được hành động vượt khuôn phép hay sinh ra những ý nghĩ không nên có.

Lahotep vẫn luôn không rõ, rốt cuộc nên đặt Iah ở vị trí nào trong lòng mình.

Hắn muốn cho Iah một địa vị còn cao quý hơn cả đại tư tế của vương quốc.

Cảm xúc trong hắn lại một lần nữa cuộn trào, giống như đêm hội tế thần Ngưu trước đó, xuất hiện rung động, nhưng suy nghĩ hắn giờ đang hỗn loạn. Lahotep vẫn không hiểu rõ điều mình thật sự khao khát là gì.

Tân Hòa Tuyết bị cơn kích động bất ngờ ấy của hắn làm cho choáng váng, nhất thời không biết phải nói gì.

Rốt cuộc cũng tìm được điểm giống nhau giữa Lahotep và Saito rồi, hóa ra huynh đệ hoàng tộc Ai Cập đều mang trong mình bản tính hoang dại như chó vậy sao?

Sau một thoáng im lặng, Tân Hòa Tuyết đành tìm đại một chủ đề để nói:
“Vùng Amra thật là giàu có.”

Nếu không giàu có, thì làm sao có thể dâng lên nhiều lễ vật quý giá đến thế?

Ánh mắt Lahotep lướt qua những báu vật quý giá, hiếm có trước mặt, thần sắc trầm xuống, giọng nói dần lạnh đi:
“Đúng vậy… một vùng đất phồn hoa, đông đúc.”

Ai mà ngờ được, chỉ vài năm trước, lãnh chúa nơi đây còn từng vì mất mùa, không đủ sản vật mà không thể dâng lễ triều bái, khiến sứ thần Ai Cập phải ra về tay trắng.

“Nếu không phải vùng giàu có và trù phú, quân phản loạn đã chẳng dòm ngó đến Amra.”

Khi Saito mang quân truy kích, bọn chúng liên tiếp thua trận, phải rút chạy về phía tây Libya.

Trong số những quân phản loại ấy, có lẽ là những kẻ từng bị đánh thuế nặng nề đến mức khốn cùng, đành nổi dậy cướp bóc. Nhưng nhìn vào tình hình hiện tại, rõ ràng trong đó còn có không ít thế lực Libya nhúng tay.

Đất nước ấy nằm sâu trong sa mạc phía tây, xa rời sông Nin, thiếu nguồn nước, nên thường xuyên tràn sang xâm phạm Thượng Ai Cập.

Lahotep quay người, nhìn sang Tân Hòa Tuyết:
“Nay vụ mùa đã đến, Thượng Ai Cập cũng đã kịp hồi sức…”

“Đã đến lúc phát động chiến tranh với Libya.”

Thượng Ai Cập cần một chiến thắng, một chiến thắng vang dội, để cho toàn bộ các quốc gia và bộ lạc xung quanh thấy rõ:
Cho dù Ai Cập đã chia làm hai, thì mặt trời của Thượng Ai Cập vẫn chói rực trên đầu tất cả.

Đêm xuống, sau khi cùng nhau bàn bạc chính sự suốt nhiều giờ, họ lại cùng ngủ với nhau như “tri kỷ”, lại nằm sóng vai trên cùng một chiếc giường.

Tân Hòa Tuyết quay lưng về phía hắn.

Ánh nến trong cung điện vẫn chưa tắt. Dưới ánh sáng mờ ấm ấy, Lahotep có thể thấy rõ bờ cổ mảnh mai, làn da sáng bóng, và chiếc xương quai xanh khẽ nhô lên vì tư thế nằm cuộn mình.

Bỗng nhiên, hắn nảy ra ý định muốn hôn lên chỗ ấy, không phải vì h*m m**n, mà là một thôi thúc mơ hồ khó tả.

Khi trận chiến này giành được thắng lợi…

Lahotep nghĩ, hắn sẽ đặt Iah vào một vị trí cao hơn nữa, thật cao, cho dù lúc này, hắn vẫn chưa thể gọi tên được địa vị đó là gì.

______________

Chờ đến khi Bạch Vương nghĩ thông suốt… thì mèo, cũng sẽ bị ném đi thôi.
 
Chứng Bệnh Khiến Vạn Người Say Đắm Giữa Chốn Quyền Uy
Chương 157


TrướcSau Mặt trời dần nhô lên từ phương Đông, nơi khởi nguồn của sự sống. Phương Đông là vùng đất của người sống cư ngụ, nơi đền thần Thebes, cung điện hoàng gia và khu dân cư được xây dựng bên bờ Đông sông Nin. Còn bờ Tây, trái lại, là miền đất dành cho người đã khuất, nơi các công trình tưởng niệm và lăng tẩm mọc lên, đối lập hẳn với vẻ phồn hoa của bờ Đông. Trong ánh bình minh vàng nhạt, những ngôi đền mộ kia trông xa xăm và tĩnh mịch, hoang vu như bị thời gian lãng quên.

Khi vầng thái dương rực rỡ chiếu rọi lên dãy núi Thebes hùng vĩ, cả thế gian như lặng đi trong khoảnh khắc, rồi đột nhiên, từ bốn phương tám hướng, tiếng trống trận rền vang lay động mặt đất. Những lá cờ thêu họa tiết thần thánh bằng chỉ vàng và đỏ được giương cao, tung bay phần phật trong gió như những ngọn sóng cuộn trào, rực rỡ đến mức che lấp cả mặt trời.

Xe chiến mạ vàng, bánh xe đồng nghiền qua cát sỏi, vang lên tiếng rền nặng nề. Cuối cùng, một âm thanh chói tai vang lên, xe dừng lại trước hàng ngũ quân đội chỉnh tề.

Tân vương đứng trên vọng đài cao, tháo bỏ vương miện trắng, thay vào đó là chiếc mũ chiến khôi tượng trưng cho thời khắc chinh chiến. Trường kiếm trong tay phản chiếu ánh mặt trời đầu tiên, lấp lánh mà lạnh lẽo.

Phía trước đội hình, một binh sĩ giơ cao thanh loan đao hình lưỡi liềm. Lưỡi đồng được thợ rèn mài dũa kỹ lưỡng đến mức phản chiếu ánh sáng như những gợn sóng răng cưa. Người lính xoay cổ tay, vung đao.

“Vì chủ nhân của mảnh đất Thượng Ai Cập mà chiến đấu!”

Tiếng hô dõng dạc ấy lan truyền, hòa thành hợp âm hùng tráng:

“Vì chủ nhân của Thượng Ai Cập mà chiến đấu! Vì chủ nhân của Thượng Ai Cập mà chiến đấu!”

“Bước chân ta thuộc về Pharaoh! Vinh quang ta thuộc về Ai Cập!”

Tiếng gầm ấy chấn động khắp sa mạc vàng, khiến những khe cát xa xăm vang lên tiếng động nhỏ, bọ cánh cứng hoảng sợ trốn sâu xuống lớp cát mịn.

Lahotep cúi đầu nhìn hàng quân ngay ngắn dưới chân vọng đài. Sau lưng những binh sĩ ấy là kinh thành phồn thịnh, kho lúa chứa đầy ngũ cốc, vàng lấp lánh chảy như vàng lỏng nóng chảy dưới ánh mặt trời.

Lần này, đại quân mang cờ Ai Cập tiến đánh Libya và chính hắn sẽ thân chinh.

Sau khi duyệt binh, Lahotep bước xuống từ vọng đài. Ánh sáng từ những bức tường gạch phía sau khiến bóng dáng hắn hòa vào nắng, không ai có thể nhìn rõ khuôn mặt vị vua trẻ.

“Pharaoh?”

Tân Hòa Tuyết khẽ gọi, ánh mắt nghi hoặc nhìn Lahotep vẫn chưa rời đi.

Đột nhiên, một thân hình ấm áp áp sát lại gần. Khoảng cách quá gần khiến hơi thở nóng rực lướt qua vành tai, khiến Tân Hòa Tuyết theo bản năng muốn né tránh.

Lahotep nâng tay, khẽ giữ lấy cằm y.

Ánh mắt vị vua dừng lại rất lâu nơi đôi môi kia, lâu đến mức Tân Hòa Tuyết mím nhẹ môi, sắc hồng nhạt lộ ra giữa lớp phấn mỏng.

Lahotep cúi đầu, đường cằm nghiêng nghiêng, dường như hắn sắp chạm vào đôi môi ấy.

Nhưng đột nhiên, hắn buông tay. Gương mặt thoáng qua nhiều lần biến sắc.

“……”

Tân Hòa Tuyết cố giữ vẻ bình thản, cong khóe mắt cười khẽ, giọng mềm mại như gió thoảng bên tai:
“Bệ hạ, có chuyện gì sao?”

Lahotep nhìn chằm chằm y thật sâu rồi bỗng cất tiếng hỏi:
“Ở nơi các ngài, khi tri kỷ phải chia ly, có cảm thấy lưu luyến không?”

Tân Hòa Tuyết lập tức hiểu ra.

Hóa ra… ý của hắn là không nỡ rời xa.

Hai người sóng vai bước xuống vọng đài, cùng đi đến tận khi Lahotep đặt chân lên chiến xa.

“Tôi sẽ ở kinh thành chờ tin khải hoàn của bệ hạ.”

Tân Hòa Tuyết đứng dưới chiến xa, phía sau y là bức tường thành Thebes nhuộm hồng bởi ánh mặt trời mới mọc.

Lahotep nghiêng người, hạ giọng chỉ đủ cho hai người nghe rõ:
“Hãy để mắt đến lão tế tư và hoàng đệ của tôi.”

Sắc hồng trong mắt Tân Hòa Tuyết khẽ lay động.

........

Trong chiến dịch lần này, Saito cũng góp mặt và cuối cùng, hắn đã tích lũy được kinh nghiệm thực chiến khi đối đầu với quân phản loạn Libya.

Lahotep quả thật có rất nhiều huynh đệ. Nhưng ngoài những người đã trưởng thành, lập gia thất, được cử đi cai quản các Nome (tỉnh bang) với tư cách quan hành chính, và những kẻ yếu kém không nên thân, lại còn cấu kết với lão tế tư kia thì chỉ còn lại một người duy nhất: Anath, kẻ đã bị giam lỏng từ lâu.

Trong cung điện, hầu như chẳng ai còn nhắc đến tên của vị hoàng tộc này nữa. Lâu ngày bị cấm túc khiến hắn dần phai mờ trong ký ức của mọi người, như một cái bóng mờ trong vương thất.

Mọi chuyện vẫn bình lặng, không hề có dấu hiệu khác thường tựa như việc hành quân đều đang diễn ra trong yên lặng.

Tân Hòa Tuyết không muốn tỏ ra canh chừng quá lộ liễu. Y chỉ âm thầm ra lệnh cho Nubu, trong lúc tuần tra thường ngày quanh hoàng cung, phải chú ý hơn đến người ra vào cung điện của Anath.

Ngoài việc đó ra, sau khi Lahotep và Saito khởi hành, cuộc sống và công việc của Tân Hòa Tuyết lại dần trở về quỹ đạo thường nhật.

Suốt hơn nửa tháng, mỗi sáng sớm, y vẫn đến Thánh điện để dâng hương tế lễ. Buổi sáng, khi Vtổng quản chính vụ Vizier có việc, thỉnh thoảng sẽ đến hỏi ý kiến y. Buổi trưa, Tân Hòa Tuyết thường đến ngôi làng gần vùng mạch nước lớn, cùng các thợ thủ công bàn bạc việc cải tiến công cụ mới. Chỉ đến khi bóng chiều buông xuống, y mới thật sự được thảnh thơi, ngồi dùng bữa tối, rồi thưởng thức trái cây tráng miệng.

Trên bàn, là một chén cơm dừa tươi không qua chế biến cầu kỳ, chỉ phảng phất vị ngọt thanh khiết tự nhiên.

Amra…

Vài năm trước, nơi này còn là một vùng đất nghèo cằn cỗi, thuế khóa ít ỏi, do mất mùa và lễ tế bị gián đoạn. Vậy mà sau khi quân phản loạn bị quét sạch, Amra lại có thể dâng lên Thebes một lễ vật hậu hĩnh đến thế.

Ai Cập cổ là xứ sa mạc khô cằn, chỉ những vùng ốc đảo ven sông Nin mới thích hợp cho cư trú. Cây dừa lại cần khí hậu nóng ẩm, điều kiện mà Ai Cập hiển nhiên không có. Vì thế, dừa chỉ có thể được mang vào thông qua con đường thương mại viễn phương.

Ngay cả giới quý tộc tại Thebes, trung tâm của Thượng Ai Cập cũng chỉ được thưởng thức loại quả nhập khẩu này vào những dịp đặc biệt.

Vậy mà một thành nhỏ như Amra lại có thể dâng lên Thebes không chỉ dừa, mà còn cả các vật phẩm quý hiếm như gỗ thơm, mật ong, sáp, nhựa cây, cao thuốc....một số lượng lớn đến đáng ngờ. Lẽ nào điều đó không kỳ quái sao?

Khoáng sản vàng bạc tạm không nói tới, riêng những món như dừa hay sáp ong đều là sản vật ngoại quốc, vốn chẳng hề thuộc về Thượng Ai Cập.

Hiển nhiên, Amra có con đường riêng để có được những thứ đó. Mà để thu mua những vật phẩm xa xỉ này, chỉ có thể thông qua tuyến thương lộ nối với bán đảo Ả Rập, lấy hàng từ những quốc gia ở tận cùng xa xôi của thế giới.

Ngoại thương Ai Cập vốn bị hoàng quyền kiểm soát chặt chẽ, các món hàng lạ hiếm thấy trong hoàng thành Thebes, thế mà Amra lại có được nhiều đến thế. Hơn nữa, Amra lại nằm gần vùng hạ lưu sông Nin, địa phận giáp ranh với Hạ Ai Cập.

Tân Hòa Tuyết khẽ khuấy chén canh, chiếc thìa bạc chạm nhẹ vào phần thịt cá dưới đáy chén.

Giàu có đến thế, bảo sao Amra không khiến quân Libya và bọn phản loạn thèm khát.

Những lúc y trầm tư, hàng mi rũ xuống theo thói quen mỗi khi suy nghĩ. Trước mắt chỉ còn lại một vệt bóng mờ nhạt, và đúng lúc ấy từ xa, tiếng chân người vội vã đến cung điện y vang lên.

Vizier chạy tới, trán đẫm mồ hôi, giọng hổn hển:
“Thần sứ đại nhân! Ngoài thành vừa phát hiện những người chạy nạn đến từ thị trấn Phothastos!”

………

Thị trấn Phothastos nằm cách Thebes chừng bốn mươi cây số về phía Bắc, đó là con đường duy nhất để quân Hạ Ai Cập tiến về Thebes.

Mà hiện tại, những người chạy nạn đến nơi, thân mình phủ đầy cát bụi và máu khô. Áo vải đay sũng nước, loang đỏ. Trong nước mắt và máu, họ kể lại ngôi làng của họ, không hề có phòng bị, đã bị quân Hạ Ai Cập tập kích trong đêm.

Hỏa công(*) thiêu rụi cả thị trấn vốn đã thiếu nước, biến nơi ấy thành địa ngục. Nhà cửa bằng gạch đất sụp đổ, chỉ còn lại những mảnh vụn cháy đen. Trong một đêm bị đại quân giẫm đạp, tất cả hóa thành tro tàn.

(*) "Hỏa công" là một chiến thuật quân sự cổ điển sử dụng lửa để tấn công, phá hủy hoặc tiêu diệt quân địch, với mục đích hạn chế thương vong cho lực lượng của mình nhưng vẫn đạt uy lực hủy diệt lớn.

Vizier sững sờ, tim như ngừng đập.

Vì dốc sức cho chiến dịch với Libya, Thebes đã điều đi hơn tám phần binh lực. Giờ đây, khi đại quân Hạ Ai Cập kéo xuống phương Nam, lực lượng còn lại trong thành gần như không đủ để chống đỡ, Thebes, lúc này, chẳng khác gì một thành trống.

Ngay vào thời khắc then chốt này… chẳng lẽ, tất cả vốn là âm mưu của Hồng Vương ngay từ đầu?!

Vizier là bậc thầy trong việc quản lý chính vụ, nhưng về thiên phú quân sự thì lại vô cùng yếu kém. Hắn ngước nhìn Tân Hòa Tuyết, giọng lạc đi:
“Iah đại nhân…”

Ánh mắt ấy như đang chờ Tân Hòa Tuyết quyết định.

Tân Hòa Tuyết khẽ liếc nhìn mấy người dân chạy nạn.
“Trước tiên, hãy sắp xếp chỗ nghỉ cho họ.”

Rồi y quay sang Vizier, nói:
“Bây giờ, lập tức viết thư. Để Jet mang tin này truyền đến bệ hạ, phải báo lại thật chi tiết.”

Jet là con chim ưng săn mồi mà Lahotep đích thân nuôi từ nhỏ. Khi dẫn quân rời khỏi Thebes, vị Pharaoh trẻ đã để nó lại cho Tân Hòa Tuyết.

Vizier nghe vậy, hít sâu một hơi, cố trấn định rồi sai người mang đến bút mực, bắt đầu viết.

Nhưng khi viết được nửa chừng, bàn tay hắn lại khựng lại.

Những người dân ấy, những kẻ may mắn chạy nạn từ Phothastos, đã trải qua muôn trùng gian khổ để chạy đến đây. Trên đường, họ không dám nghỉ lấy một khắc, vì quân Hạ Ai Cập vẫn đang truy đuổi phía sau, tàn phá làng mạc họ bỏ lại.

Nhưng khi chiến tranh bùng nổ... họ chỉ là những kẻ thoát nạn chạy bộ bằng hai chân, còn quân đội Hạ Ai Cập thì có chiến xa và ngựa bốn vó.

Đại quân Thebes thì đang tận phía Nam gần Amra. Dù có lập tức quay về, cũng phải mất ít nhất tám giờ hành trình.

Liệu họ có thể cầm cự nổi đến khi nhà vua trở lại không?

Vizier thoáng hoảng loạn, vệt mực lem ra trên tờ giấy cói. Hắn vội vã gọi người thay giấy khác, run tay viết thật nhanh những dòng cuối, rồi cuộn lại, dùng dây buộc chặt dưới chân Jet.

Chim ưng xòe đôi cánh đen ánh vàng, cất tiếng kêu vang vọng giữa không trung, lao đi về hướng Amra, nơi giáp ranh vùng chiến sự Libya.

Những người dân tị nạn được đưa đi an trí, nhưng dù có cố gắng giấu giếm đến đâu, tin quân Hạ Ai Cập đã vượt sông, tiến về phía Nam vẫn lan đi nhanh chóng. Cả kinh thành Thebes chìm trong nỗi hoang mang, bất an dâng tràn khắp nơi.

Và rồi, sự sợ hãi nhanh chóng biến thành hỗn loạn.

Hỗn loạn luôn là lớp mặt nạ tốt nhất cho những kẻ mang dã tâm. Những vị đại thần vốn bất mãn với tân vương đã bắt đầu không giấu nổi tham vọng, toan tính ngấm ngầm.

Đêm xuống, ánh đuốc chập chờn. Họ không ở yên trong phủ đệ của mình mà kéo nhau đến trước cung điện, chen chúc cầu kiến.

“Vizier đại nhân đâu?!”

“Chúng ta muốn gặp Iah đại nhân!”

“Thebes bây giờ không thể chỉ dựa vào địa thế hiểm yếu mà cầm cự được nữa, phải sớm tính kế bảo toàn dân chúng và quý tộc!”

Vizier đứng bên Tân Hòa Tuyết, cả hai nhìn từ dưới mái hiên ra nơi đám đại thần đang bị quân lính chặn lại. Trong số họ, có kẻ trung thành đến để bàn kế đối phó, nhưng cũng có kẻ ngấm ngầm liên hệ với quân Hạ Ai Cập, thậm chí muốn mở cổng thành đầu hàng.

Tân Hòa Tuyết không hiểu rõ thuộc hạ của Lahotep. Y nói với Vizier:
“Ghi lại tên những kẻ có hành động khả nghi. Khi bệ hạ trở về, sẽ tính sổ từng người một.”

Nói rồi, y quay người, định ra lệnh cho Nubu đi giám sát Anath.

Nhưng vừa ngoảnh lại… bên cạnh đã chẳng còn thấy bóng Nubu đâu.

“Nubu?”

Tân Hòa Tuyết theo bản năng đưa mắt quét quanh đám thị vệ, tìm kiếm thân ảnh quen thuộc.

Từ hướng cung điện của Anath, bỗng vang lên tiếng chân gấp gáp. Một người hầu hoảng hốt lao đến, quỳ rạp xuống trước mặt y. Máu tươi từ ngực người ấy thấm ra, loang dần trên nền đá.

“Ngài Nubu… hộ vệ trưởng…! Hắn… hắn đã g**t ch*t điện hạ Anath rồi!”

Tân Hòa Tuyết sững người, sắc mặt biến đổi:
“Cái gì?”

………

Đêm nay, định sẵn là một đêm không ngủ.

Trong cung điện xa hoa, những tấm thảm đỏ thẫm trải khắp nền. Màu sắc ấy lẫn với vết máu loang khiến người ta không phân biệt nổi đâu là thảm, đâu là máu.

Mùi máu tanh hòa cùng khói hương cháy dở tạo thành một thứ hương vị nồng nặc, nghẹt thở.

Vài binh lính bị thương ngã gục trong điện, ôm vết thương r*n r*. Giữa căn phòng, Anath nằm bất động, ngực cắm một con dao găm lạnh buốt. Sống chết không rõ.

Đám người hầu và ngự y vội vây quanh.

Trong ánh đuốc chập chờn, Tân Hòa Tuyết nhận ra bàn tay của vị hoàng tử ấy vẫn nắm chặt vài tờ giấy cói nhàu nát, khiến y lập tức chú ý.

Y che mũi, hoàn cảnh hỗn loạn khiến khứu giác y trở nên nhạy bén khác thường khiến y không thoải mái, y bị sặc ho khan vài tiếng rồi ra hiệu cho người hầu mang tờ giấy nhăn nhúm ấy lại.

Khi mở tờ giấy cói ấy ra xem, Tân Hòa Tuyết khẽ nhướng mày.

Trên những tờ cói kia hoàn toàn trống rỗng.
Không hề có một nét chữ nào.

Lạ thay, thanh kiếm của Anath lại bị hất văng ra xa, nằm lăn trên nền đá. Nếu bị tấn công bất ngờ, phản ứng đầu tiên của hắn đáng lẽ phải là tìm thứ gì đó để phòng thân chứ sao lại đi nắm chặt vài tờ giấy trống rỗng như vậy?

Còn Nubu lại đột ngột ra tay giết hoàng tử bị giam lỏng kia…

Rốt cuộc, Nubu muốn nói với y điều gì?

______________

Đêm nay, cốt truyện đã bắt đầu chuyển mình và sự điên cuồng đang lặng lẽ bò vào nội dung truyện.
 
Chứng Bệnh Khiến Vạn Người Say Đắm Giữa Chốn Quyền Uy
Chương 158


Toàn bộ hoàng cung Thebes lúc này như biến thành một chiếc chảo sôi, người người ra vào tấp nập, bận rộn như đàn kiến. Không chỉ vì tin tức đại quân Hạ Ai Cập đang tiến gần về phía nam, mà còn bởi việc điện hạ Anath bất ngờ bị ám sát, khiến cả cung đình suốt đêm không ai chợp mắt, đèn đuốc sáng rực suốt trong hoàng cung.

Gió bắc thổi đến, mang theo bụi cát cùng mùi máu tanh, len lỏi qua cửa chớp rồi cuộn xoáy vào mấy tờ giấy cói trong tay Tân Hòa Tuyết.

Mấy trang giấy khẽ run lên, mép giấy đập vào nhau phát ra những tiếng xào xạc.

Ánh sáng trong mắt Tân Hòa Tuyết lay động, y buông tay đang che mũi miệng xuống, khẽ phất tay ra hiệu cho người hầu bên cạnh, ra lệnh:
“Đem lửa đến.”

Giữa tiếng huyên náo hỗn loạn trong điện, giọng y lại vang lên trong trẻo rõ ràng, êm dịu như ngọc va vào nhau, nổi bật đến mức dường như tách biệt hẳn với bầu không khí căng thẳng của nơi này.

Người hầu thân cận lập tức nhanh nhẹn bưng đến một ngọn nến.

Gió khẽ lay, ngọn lửa đỏ sậm run rẩy, ánh lửa hắt lên mặt giấy, dần dần soi rõ ra những ký tự ẩn dưới lớp giấy cói.

Người hầu kinh ngạc, không tự chủ được thốt lên:
“Iah đại nhân, đây là…?”

Thực ra, đây chỉ là bức mật thư được viết bằng dung dịch phèn chua, khi gặp nhiệt sẽ đổi màu mà hiện ra chữ. Nhưng chuyện này tạm thời khó mà giải thích rõ ràng cho người khác hiểu, nên Tân Hòa Tuyết chỉ mỉm cười đáp:
“Chút tiểu xảo của pháp sư thôi.”

Y thu lại nụ cười, tập trung quan sát kỹ mấy tờ giấy cói bên cạnh đã dính vệt máu đỏ sẫm. Dựa theo nội dung bức thư mà vị đại tư tế gửi cho Anath, mưu đồ phản loạn của cả hai cùng thế lực đứng sau họ đã hoàn toàn phơi bày dưới ánh sáng.

Vì muốn khôi phục lại quyền lực của phe tư tế Osiris, họ đã bí mật liên kết với Hạ Ai Cập, thật đáng hổ thẹn!

Tiếng r*n r* đứt quãng vang lên đâu đó trong điện, nghe như người bị thương hít vào từng hơi đau đớn. Tân Hòa Tuyết đưa mắt nhìn sang, Anath đang nằm trên đất, máu loang ra dưới thân, ngự y đang gấp rút cầm máu, còn hoàng gia y sư chuyên môn giải phẫu cũng được triệu đến.

Nếu suy xét kỹ, việc trước đây Anath liều lĩnh xông vào chính điện, khiến Lahotep nổi giận ra lệnh cấm túc, có lẽ cũng nằm trong tính toán của hắn, vừa để phối hợp với nội ứng trong cung, vừa để tạm thời làm giảm bớt sự nghi ngờ.

Chỉ là, khi ấy Lahotep ra lệnh giam giữ Anath, có lẽ nên suy nghĩ thấu đáo hơn một chút thì đã khác.

Điều khiến Tân Hòa Tuyết vẫn chưa hiểu nổi chính là: rốt cuộc Anath đã nói điều gì, khiến một người đa nghi như Lahotep lại thực sự nổi giận, đến mức ra lệnh cách chức và cấm túc hắn ngay lập tức.

Trước khi Lahotep quyết định dẫn quân chinh phạt Libya, Tân Hòa Tuyết đã phát hiện sự bất thường trong những lễ vật được dâng lên từ vùng Amra, đằng sau chúng rõ ràng có dấu vết của Hạ Ai Cập. Họ âm thầm lợi dụng tuyến đường mua bán để vận chuyển báu vật đến Amra, khiến nơi đó trở nên giàu có, từ đó khơi dậy lòng tham của cả Libya lẫn quân phản loạn, ép Thượng Ai Cập phải hướng mũi giáo về phía Libya.

Sau đó, y cùng Bạch Vương bàn bạc suốt một đêm, ý kiến hai người trùng khớp đến kinh ngạc. Cuối cùng, họ quyết định cố tình dựng nên một kế “điệu hổ ly sơn”, ngay cả Tể tướng cũng không hề biết chút gì về nội dung thật sự của kế hoạch này. Họ muốn nhân lúc binh lực Thebes tạm thời trống rỗng, đánh cược rằng Hạ Ai Cập sẽ không kiềm chế nổi mà phát binh tiến đến phía nam, để bọn họ có thể nhân cơ hội “dẫn rắn ra khỏi hang”.

Trong cục diện hỗn loạn này, kẻ tự cho mình thông minh nhất lại là kẻ dễ để lộ sơ hở nhất.

Xem ra, Anath chính là kẻ như vậy, kiêu ngạo, tự phụ. Dù ngườ cậu đại tư tế của hắn đã khuyên nên thiêu hủy toàn bộ thư từ, song Anath lại cố chấp giữ lại, không chịu nghe.

Mà giờ đây, những tờ giấy cói ấy lại rơi vào tay Tân Hòa Tuyết, quả thực là không phí công chút nào.

Đôi mắt y ánh lên tia sáng lạnh, khẽ thu lại những bức thư, rồi bước ra ngoài điện. Ngực y nặng nề, như mang theo cả hơi thở của chiến cuộc sắp đến.

Trong hành lang dài và sân điện, không khí nồng đặc mùi hương nhang trộn lẫn với mùi máu tanh, tạo thành một thứ mùi khó tả.

Một đội lính tuần tra ùn ùn kéo đến.

Tân Hòa Tuyết quay người, nhìn người chỉ huy, hỏi:
“Đã tìm thấy Nubu chưa?”

Người lính đáp:
“Bẩm đại nhân, chưa thấy. Người cuối cùng nhìn thấy Nubu nói rằng hắn rời cung rồi nhảy xuống sông Nin.”

Vương đệ của Pharaoh lại bị sát hại ngay trong cung, mà kẻ hành thích lại chính là đội trưởng vệ binh từng cùng hắn hằng ngày tuần tra, kề vai chiến đấu.

Gương mặt người lính phủ một lớp mờ mịt, hoang mang đến tội nghiệp.

Tân Hòa Tuyết ngẩng đầu nhìn lên ánh trăng, đêm nay là ngày trăng tròn.

Phải chăng Nubu đã phát hiện ra bức thư mật trong cung điện, đang định đem đến giao cho hắn thì bị Anath phát giác, nên mới dẫn đến tranh chấp và chém giết?

Nhưng nghĩ lại, Tân Hòa Tuyết cảm thấy Nubu không phải kiểu người liều lĩnh “cá chết lưới rách”. Việc ấy chưa đến mức lâm vào bước đường cùng, sao hắn lại cắm dao găm vào thẳng vào ngực Anath?

Trừ phi… giữa Nubu và Anath còn có ân oán sâu dày nào khác mới khiến hắn ra tay trong cơn phẫn nộ, rồi sau khi để lại bằng chứng có lợi cho Tân Hòa Tuyết, liền bỏ trốn khỏi Thebes.

Giờ tuy sông Nin chưa vào mùa nước lớn, nhưng dù dòng nước không xiết mấy, thì việc một người có thể sống sót giữa đêm đen mênh mông cũng thật mong manh. Mà trong khi đại quân Hạ Ai Cập đang áp sát, tình thế mỗi lúc một căng, cũng chẳng thể phí sức phái người đi lùng tìm nữa.

Huống chi, nếu Nubu thật sự bị bắt, tội danh “hành thích vương tộc Ai Cập” — cho dù vị vương tộc ấy vốn đã có lòng phản loạn vẫn là trọng tội, hắn khó mà có được kết cục tốt đẹp.

Thà cứ mong rằng, nhờ biết bơi giỏi và có thể lực cường tráng, Nubu có thể thoát thân, trở về quê nhà Nubia.

“Đi, mời Tể tướng Vizier đến gặp tôi. Tôi có chuyện quan trọng cần bàn bạc với hắn.”
Tân Hòa Tuyết ra lệnh.

So với tất cả những rối ren khác, việc cấp thiết nhất lúc này là đối phó với đại quân Hạ Ai Cập đang tiến về phía nam.

Chim ưng truyền tin đã xuất phát. Quân đội phản hồi lệnh, đang khẩn tốc trở về Thebes, dự tính cần khoảng tám giờ.

Đây chính là canh bạc trong hiểm cảnh.

Tân Hòa Tuyết liếc nhìn đồng hồ nước, lúc này ước chừng đã ba giờ sáng. Y cần kéo dài thời gian, chỉ cần trì hoãn đến giữa trưa, khi Hạ Ai Cập phát động tấn công…

Đến khi ấy, cung điện trong ngoài sẽ chìm trong biển máu, tất cả việc xấu xa, dơ bẩn đều bị thanh tẩy, và một trật tự thống trị mới sẽ được dựng nên.

……
……

【5:30】

K tiến hành hành thông báo thời gian chuẩn xác.

Bên trong chính điện, tiếng cãi cọ ầm ĩ, hỗn loạn chẳng khác nào nồi cháo sôi.

“Tôi không đồng ý! Dựa vào đâu mà giao quyền chỉ huy chiến tranh cho một tên tư tế? Ngoài việc thờ phụng thần điện ra, y biết gì về hành quân đánh trận?!”

“Tôi xin tự nguyện dẫn quân chống lại Hạ Ai Cập!”

“Đại nhân Vizier, sao ngài không nói gì? Ý ngài thế nào?”

Sau tấm màn mờ, bóng người lay động, tiếng tranh cãi không ngớt. Bỗng, một giọng nói yếu ớt vang lên giữa đám ồn ào:

“Pharaoh và điện hạ Saito đều không có ở đây… Vậy còn điện hạ Anath? Ngài từng là người điều khiển chiến xa hoàng kim của quân đội, lại là em trai của Pharaoh…”

Lời vừa dứt, lập tức có vài giọng khác đồng loạt phụ họa, âm thanh vang dội khắp điện:

“Chúng tôi muốn gặp điện hạ Anath!”

“Chính là điện hạ Anath! Nghe nói tối nay ngài bị đâm trọng thương, giờ sống chết chưa rõ…”

Tân Hòa Tuyết lắng nghe những lời bàn tán đó. Từ chuyện Anath bị ám sát, người ta lại nhắc đến hung thủ Nubu, chính là hộ vệ mà thần sứ đã mang về Thebes.

“Nếu vậy thì càng không thể để thần sứ nắm quyền chỉ huy trong chiến tranh! Ai biết được y có thật lòng hay không…”

“Pharaoh vắng mặt, bổn phận của tôi là bảo vệ ngôi vị Pharaoh bằng mọi giá!”

Một tiếng “soạt” khẽ vang lên, âm thanh sắc lạnh của kim loại vang lên trong không khí, nhỏ thôi nhưng đủ để khiến toàn bộ thần tử trong điện đồng loạt im bặt.

Tất cả mọi người đồng loạt xoay người, tìm về hướng phát ra âm thanh, phía sau tấm màn lớn.

Người hầu vội vàng vén màn lên. Tân Hòa Tuyết bước vào, đi thẳng về phía nơi đặt ngai vàng tối cao.

Dưới ánh sáng lờ mờ, phấn ngọc lam viền một đường mảnh dọc theo đuôi mắt y, vẽ thành một nét cong mềm mại, ẩn giữa những sợi tóc trắng bạc như ánh trăng. Màu tóc ấy trắng sáng tựa tuyết nguyên sơ, lại phảng phất như được thần Mặt Trăng ban phúc, khiến từng sợi tóc như tỏa ra quầng sáng mờ ảo.

Trong tay y là cây quyền trượng uốn cong, làm từ vàng và gỗ mun, ánh sáng lưu chuyển nơi bề mặt, tỏa ra uy nghiêm khó tả.

Phải chăng Pharaoh đã trao cho y cả cây gậy quyền vụt và quyền trượng ư....?

Cho đến khi Tân Hòa Tuyết bước lên bậc thang, đứng tại vị trí cao nhất trong điện, toàn thể quần thần phía dưới, những kẻ ban nãy còn tranh cãi ầm ĩ nay im phăng phắc, không ai dám thốt một lời.

……

【6:30】

Thời gian so với dự tính vẫn còn sớm hơn nhiều.

Theo lẽ thường, quân đội Hạ Ai Cập hẳn phải nghỉ đêm tại Phokast, một thị trấn quân sự dọc đường. Khoảng cách giữa Phokast và Thebes gần gấp đôi so với từ Thebes đến Amra, vì vậy, quân của Bạch Vương từ Amra quay về kinh đô lẽ ra vẫn kịp.

Nhưng lần này, quân Hạ Ai Cập hành quân như thể làm bằng sắt, không hề dừng lại dù chỉ một đêm.

Những bóng người dày đặc xuất hiện ở chân trời phía cồn cát xa xăm, dàn hàng trên dãy núi trước Thebes. Họ như một dòng dung nham vàng kim chảy tràn, lớp lớp nối tiếp nhau, cuộn sóng như thủy triều, nhìn không thấy điểm cuối.

Khiên da cá sấu của họ khắc hoa văn sen xanh, những chiếc đinh đồng ánh lên sắc lạnh lấp loáng.

Đội trinh sát ở hàng đầu phóng đi xem xét tình hình, rồi nhanh chóng quay lại báo cáo.

“Thưa tướng quân! Cổng thành Thebes không rõ vì sao lại mở toang, dường như đã từ bỏ kháng cự. Có nên toàn quân tiến lên không?”

Vị tướng được gọi là Hoven — người chỉ huy lần này có làn da và mái tóc đậm màu như bao người Ai Cập khác.

Hắn bước xuống từ chiến xa, đi lên sườn núi cao nhìn ra xa. Theo bản năng cẩn thận, hắn ra lệnh cho quân tạm dừng trên dải cồn cát.

Gió thổi qua, cuộn từng đám cỏ khô, bụi cát tung mù mịt. Dưới ánh mặt trời đang lên, hơi nóng bắt đầu phả rát mặt.

Trên tường thành Thebes phủ ánh vàng rực rỡ. Quả nhiên, như lời trinh sát nói, cổng thành đang mở rộng. Dưới chân thành chỉ có vài chục người đang quét dọn, hắt nước, tất cả đều ăn mặc đơn sơ như dân thường, song vóc dáng lại cao lớn bất thường.

Từ xa, Hoven thấy có người bước l*n đ*nh tường thành.

Ánh sáng mặt trời khúc xạ trên cây gậy vụt và quyền trượng vàng kim.

Đôi mắt Hoven dần nheo lại, trong lòng dấy lên nghi ngờ.

Là Bạch Vương sao?

Nhưng Bạch Vương chẳng phải đã dẫn quân chinh phạt Libya rồi ư?

Chẳng lẽ tin tức có sai sót?

Người lính thân tín bên cạnh nói khẽ:
“Người kia… có phải là vị ‘sứ giả của thần’ trong lời đồn không?”

Hoven quan sát kỹ hơn, quả nhiên, người đứng trên tường thành khoác áo choàng trắng, đúng hệt như lời đồn mô tả về vị thần sứ ấy.

Hoven khẽ nhíu mày. Liên quan đến chiến sự trọng đại, hắn không dám sơ suất, lập tức ra lệnh:
“Bắt lão đại tư tế kia lại, mang đến đây!”

……

【9:00】

Quân đội Hạ Ai Cập tạm thời dừng lại, do dự chưa hành động. Hoven, khác với những tướng lĩnh hiếu chiến khác, là người thận trọng, dù đang nắm ưu thế tuyệt đối về quân số, hắn vẫn nghi ngờ có điều giả dối.

Hắn không muốn rơi vào bẫy mà phải chịu tổn thất không đáng có, nên lập tức cho bắt vị đại tư tế từng quy phục Hạ Ai Cập để xác minh tin tức.

Lúc này, Tân Hòa Tuyết đang đứng trên tường thành, đón ánh nắng rực lửa. Dù khoác áo choàng trắng, y vẫn cảm thấy nóng bức, định tìm chỗ râm bên hành lang nghỉ tạm.

Nhưng đúng lúc ấy, một cung thủ đứng gần đó, mắt tinh như diều hâu phát hiện điều khác thường, lập tức lên tiếng cảnh báo:
“Iah đại nhân! Bọn họ phái người đến rồi!”

Một trinh sát dẫn vào một lão già, ngay từ đầu dáng điệu của ông ta đã tỏ ra cực kỳ khiêm nhường, khi đứng trước cổng thành ông quỳ sụp xuống đến mức trán chạm đất, tóc bị tóm chặt để lộ khuôn mặt trước mọi người.

Khuôn mặt nhăn nheo, mồ hôi lạnh lăn dài quả là bộ dạng của một người già, nhưng người Thebes không ai lạ lẫm ông ta.

“Chúng ta đã bắt giữ đại tư tế của các người,” vị trinh sát nói lớn. “Muốn chúng ta thả tù binh, thì cho đệ nhất tư tế đương nhiệm một mình đến lều trại nói chuyện. Trong vòng nửa giờ, nếu đệ nhất tư tế không ra, chúng ta sẽ giết tù binh và xông thẳng vào Thebes.”

Tân Hòa Tuyết vốn dựa vào tường, nghe vậy thẳng người, đứng thẳng lưng, nghiêm mặt quan sát tên trưởng trinh sát cùng tù binh trong tay.

Đây rốt cuộc là ý đồ gì?

Quân Hạ Ai Cập muốn trao đổi con tin sao?

Phía bên ngoài, các lều trại được dựng ngay trước cổng thành, cát vàng cuồn cuộn, màn lều căng lên giữa quân đội.

……

【9:25】

Phía sau y là những tiếng khuyên can, lo lắng, áp lực và phản đối hỗn tạp.

Tân Hòa Tuyết khoác áo choàng trắng như một sợi trăng rơi giữa cồn cát, ung dung bước tới lều trại. Trinh sát chặn lại: “Ngài quả là đệ nhất tư tế Thượng Ai Cập sao?”

Một vài sợi tóc trắng bạc lòa xòa từ mũ choàng, một bàn tay rút ra từ tay áo buông xuống, là một bàn tay trắng nõn, khớp xương rõ ràng, thon dài.

“Tướng quân, xin xác nhận.” Tân Hòa Tuyết đáp.

Trinh sát nuốt nước bọt, tai đỏ bừng: “Tướng quân bên trong đã chờ ngài lâu rồi. Vào đi!”

Tân Hòa Tuyết đảo mắt, tay chỉnh lại áo choàng trắng. Trong lòng y vẫn tò mò: quân Hạ Ai Cập định tính toán điều gì? Họ thật sự còn tôn kính vị đại tư tế đã quy phục như thế sao? Vẫn cho rằng địa vị và quyền uy của ông ta vẫn không thể lay động được sao?

Y muốn kéo dài thời gian, nên giả vờ vào lều gặp tướng quân Hạ Ai Cập thương lượng điều kiện.

Vừa bước vào, ánh sáng chập choạng, bỗng tầm nhìn y tối lại, một tấm vải gai rơi phập xuống che kín mặt.

Tân Hòa Tuyết bị trùm kín, ngay sau đó cảm thấy mình bị vài người không chút do dự khiêng bổng lên, cùng tiếng hô vang: “Chạy mau!”

“Tướng quân?!” những trinh sát phía sau quay lại chỉ kịp thấy Hoven đã khiêng người tư tế đối phương, vén mành cửa sau lại và lệnh cho đại quân rút lui ngay.

Động tác gọn ghẽ như đã được luyện đi luyện lại vô số lần. Cờ phấp phới, bóng dáng nhanh chóng rút khỏi mặt cồn cát.

Tân Hòa Tuyết kẹp chặt giữa vai kẻ khiêng, bị xóc nảy, đầu óc quay cuồng đến mức buồn nôn, y bị xiềng xiếng chói chặt hai chân, không cử động được.

Ý đồ của bọn họ là gì?

Hạ Ai Cập lợi dụng Amra khơi mào xung đột Libya và Thượng Ai Cập, rồi gõ trống khua chiêng điều động quân tiếp cận...Mục đích là bắt đi đệ nhất tư tế Thượng Ai Cập sao?

Lấy vậy để làm nhục, để khiến quốc gia mất mặt?

Hoang đường!

Hoang đường!!

Hoang đường!!!

Tân Hòa Tuyết giơ tay cố vùng vẫy, gằn giọng yêu cậu: “Thả tôi ra! Khụ khụ.... buông ra!”
 
Chứng Bệnh Khiến Vạn Người Say Đắm Giữa Chốn Quyền Uy
Chương 159


Từ cổng thành Thebes đi ra, rẽ từng bước rời khỏi hướng mọi người đang đi, mỗi lần nhấc gót chân, hạt cát lại vô tình lọt vào trong giày. Đoạn đường này kỳ thực không dài, nhưng trong suốt hành trình ấy, vô số ý nghĩ nối tiếp nhau hiện lên trong đầu Tân Hòa Tuyết.

Thậm chí, y còn tưởng tượng ra khoảnh khắc khi vén màn trướng lên, cùng lúc màn rơi xuống, từ bên ngoài không thể trông thấy, trong khoảng không nhỏ hẹp ấy, bóng người lóe lên, lưỡi dao sắc lạnh kề sát cổ y trong im lặng.

Đương nhiên, Tân Hòa Tuyết luôn có quân bài giữ mạng. Nếu không, y đâu dám liều lĩnh bước thẳng vào giữa lòng doanh trại địch. Dù có rơi vào thế “cá chết lưới rách”, y vẫn có thể chớp lấy thời cơ khi đối phương chưa kịp đề phòng, hóa thân thành một con mèo linh hoạt, trơn tuột thoát khỏi mọi gọng kìm.

Loài sinh vật uyển chuyển đó có thể dễ dàng tránh né bàn tay con người, thoát khỏi sự khống chế, và với móng vuốt sắc bén, còn đủ khả năng tung đòn phản kích.

Nhưng điều mà Tân Hòa Tuyết tuyệt đối không ngờ tới là, bọn chúng lại ngang nhiên dùng bao tải mà khiêng y đi mất?!

Hoven cảm nhận rõ sức giãy giụa từ lưng truyền tới, song đối với hắn, lực ấy chẳng khác nào mấy cái gãi nhẹ qua lớp áo giáp, chẳng đủ để rách một sợi vải.

Gió Bắc thổi rào rạt. Lá cờ chiến thêu hình hoa sen lam phấp phới phần phật, dưới ánh mặt trời dát vàng, tung bay rợp trời Ai Cập.

“Rút lui!”

Giọng Hoven vang dội, dứt khoát, không mang chút hoảng loạn nào của kẻ bại trận, đó là mệnh lệnh của một tướng quân đã quen với máu lửa chiến trường.

Chưa đầy một cây số cách đó, từ trên tường thành Thebes, các cung thủ đang quan sát. Họ thấy lều trướng khổng lồ ở trung tâm trận địa vẫn bất động, nhưng phía sau, trong sa mạc, lại có mấy kẻ khiêng bao tải chạy ngày một xa!

Trong khoảnh khắc tia chớp lóe lên trong đầu, đội trưởng cung thủ trên thành lập tức hét lớn:

“Đuổi theo! Bất luận thế nào cũng không được để chúng chạy thoát!”

Thần sứ đại nhân vẫn còn trong tay bọn chúng!

Lũ trộm hèn hạ này!!!

Tình thế đảo chiều chỉ trong chớp mắt. Dưới ánh nắng chói chang, hàng ngũ đông đảo như vô tận trên cồn cát, nhìn từ trên cao chẳng khác gì đàn kiến đen đặc đang di chuyển, rối loạn, cuống cuồng rút lui về phía sau.

Ngay trong thành Thebes, cửa thành mở rộng, từng đội quân đã phục kích sẵn đồng loạt xé bỏ lớp ngụy trang, vung vũ khí xông ra, đuổi theo.

Khung cảnh lúc ấy, nhìn qua tưởng như một trò hề bi tráng: chỉ e đến cả những sử quan có văn từ hoa lệ nhất, cũng chẳng thể nào chép lại cảnh tượng này trong sử thi mà không bật cười chua chát.

Tân Hòa Tuyết bị vác ngược trên vai Hoven, toàn thân dập dềnh theo từng cú xóc nảy. Tấm vải bố thô ráp che kín tầm nhìn khiến y không thấy được cảnh bên ngoài, nhưng vẫn nghe rõ giọng Hoven dõng dạc ra lệnh:

“Bắn tên!”

Đội quân từng dẫn đầu tiến công, nay khi rút lui, hàng ngũ cuối cùng là những cung thủ được huấn luyện nghiêm chỉnh. Tất cả đồng loạt kéo cung, nỏ giương sẵn, ngàn vạn mũi tên lửa lập tức rời dây, như một cơn mưa rực đỏ trút xuống trời!

“Thần Horus phù hộ chúng ta!”

Ba nghìn mũi tên lửa tẩm độc lao vun vút, rợp trời như mưa. Hàng ngũ truy binh từ Thebes bị bắn ngã từng lớp, thế truy đuổi bị chặn đứng trong biển lửa và khói độc.

Ngay giây phút ấy, Tân Hòa Tuyết nhận ra, kẻ đang khiêng mình quả thực là nhân vật quyền lực trong quân đội Hạ Ai Cập, một tướng lĩnh nắm quyền chỉ huy tuyệt đối.

Một vị tướng như thế... mà lại hành xử lưu manh đến mức này!

Lưu manh đến cả khi chỉ huy một đạo quân!!!

Hoven, vẫn vác người trên vai, tung mình nhảy lên chiến xa, ngửa mặt lên trời cười lớn vừa hô vang:

“Ha ha ha! May mắn thay, không hổ thẹn với mệnh lệnh giao phó!”

Trước mắt Tân Hòa Tuyết dần tối sầm lại, y ngất đi.

.......

Mặt trời đã nghiêng bóng, ánh sáng đỏ rực đổ dài trên những cồn cát khi quân đội Thượng Ai Cập vội vã quay về nhưng đã trễ mất ba canh giờ.

Vị Bạch Vương, người vốn ôn hòa hiếm khi nổi giận kể từ khi đăng cơ, lần này lại nổi lửa phẫn nộ. Hắn ném mạnh tấm thư do thần sứ và Tể tướng Vizier chuyển giao lên bàn hành chính điện. Mặt bàn gỗ mun cứng rắn cũng không chịu nổi cơn thịnh nộ ấy, dưới sức đập mạnh, nứt ra mấy vết rạn dài.

Vị Đại Tư Tế của thần Osiris, người từng một thời được tôn là “thần cai quản mùa màng”, tuy trong trận chiến vô nghĩa này có cơ may trở lại, nhưng lập tức bị kết tội phản loạn và chém đầu ngay tại chỗ. Những kẻ thân tín còn lại thì bị giáng làm nô lệ, đày đến mỏ đá Aswan, còn hàng loạt quý tộc đại thần có liên hệ với phe cũ của các tư tế cũng đều bị bắt giam, chờ ngày xử lý.

Bên trong cung điện, các đại thần quý tộc phủ phục sát đất, không ai dám ngẩng đầu. Mồ hôi lạnh ướt đẫm y phục lộng lẫy của họ, nhỏ từng giọt trên sàn đá.

Tất cả đều âm thầm cảm thấy may mắn, may là đêm tin dữ từ Pukathas truyền đến, họ không ai dám thách thức quyền uy của thần sứ...

Lúc này, có người mới kịp hiểu ra chân tướng: đây là một ván cờ mà Pharaoh đã cùng thần sứ sắp đặt từ trước, lợi dụng Amra và quân Hạ Ai Cập để dẫn dụ. Chỉ là, hành động của quân Hạ Ai Cập quá bất ngờ, vượt ngoài dự liệu của tất cả, kể cả người anh trai Hồng Vương Lahotep.

Một nhóm trinh sát mặc trang phục nhẹ, sau khi truy đuổi và thám thính, đã quay trở về Thebes, quỳ gối trước Pharaoh, bẩm báo:

“Thưa bệ hạ, tướng lĩnh Hạ Ai Cập đã lên thuyền, rời khỏi bờ phía bên kia.”

Bờ đối diện ấy - vùng Pukathas nằm về hướng tây bắc, tại một khúc sông Nin quanh co, nơi dòng nước chảy xiết. Một khi thuyền đã rời bến, thì gần như không thể nào đuổi kịp.

Chiến thuyền đó nhất định sẽ mang theo Tân Hòa Tuyết xuống phương Nam, tới tận thủ đô của Hạ Ai Cập thành Butto, nằm sâu trong vùng châu thổ sông Nin mênh mông, nơi đất ẩm và đầm lầy chằng chịt.

Vizier bước lên, vẻ mặt căng thẳng, khuyên nhủ:
“Pharaoh, lúc này chưa phải thời điểm thích hợp để chính thức khai chiến với Hạ Ai Cập.”

Dù phía tây, vùng Libya, đã cảm nhận được khí thế vàng rực của quân đội Thượng Ai Cập suốt nửa tháng nay, nhưng ở phương nam, Nubia cùng các bộ lạc man rợ vẫn còn chưa bình định. Nếu cùng lúc phải đối đầu với kỵ binh đông đảo và chiến xa thiện chiến của Hạ Ai Cập, e rằng thế cục sẽ vô cùng bất lợi.

Vùng Hạ Ai Cập đất đai màu mỡ, cỏ nước tươi tốt, lại có thương lộ thuận tiện mở rộng ra phía bắc, nơi ấy là nguồn cung ngựa chiến dồi dào, quân lực mạnh mẽ.

Ngực Lahotep phập phồng dữ dội, hơi thở nặng nề, gân xanh trên trán nổi lên như những mạch nước cuộn trào. Hắn nhắm mắt, kiềm chế cơn đau âm ỉ trong lòng.

Giờ đây, hắn chỉ còn biết trông cậy vào người em trai của mình, người cũng bị lời tiên tri khắc trên khối đá thu hút mà hành động. Hắn tin rằng, vì nể lời tiên tri và lòng dân, Shamul sẽ không dại dột đến mức ra tay sát hại thần sứ.

Thế nhưng… Shamul…

Chỉ cần nghĩ tới người em trai tính khí thất thường ấy, Lahotep lại khẽ nhíu mày.

Không ai biết được gã điên đó sẽ làm ra chuyện gì tiếp theo.

......

Từ bờ bên kia Pukathas đến thành Butto, xuôi theo dòng sông Nin về phía bắc, nếu thuận lợi thì mất mười ngày, có khi kéo dài đến nửa tháng.

Thế nhưng, đội thuyền chiến của Hạ Ai Cập dường như chẳng biết mệt mỏi. Hàng trăm tay chèo thay phiên không ngừng nghỉ, ngày đêm lao đi, rút ngắn hành trình chỉ còn bảy ngày.

Tân Hòa Tuyết sở dĩ biết rõ điều ấy, bởi y mỗi đêm đều được phép lên boong ngắm trăng, y gần như không có việc gì khác để giết thời gian.

Hoven, tướng quân Hạ Ai Cập, canh giữ y như một con rồng trông báu vật. Nếu không phải Tân Hòa Tuyết lấy cớ “say sóng lâu ngày”, e rằng y còn chẳng được rời khỏi khoang thuyền nửa bước.

Đến hoàng hôn ngày thứ bảy.

Trong sắc trời đỏ rực như lửa, thuyền chiến cuối cùng cũng cập bến cảng Butto. Nơi đây đã rất gần biển, chỉ cần đi thêm nửa ngày đường nữa là sẽ ra đến Địa Trung Hải.

Cảnh sắc vùng châu thổ trải rộng trước mắt, đất ẩm phì nhiêu, ao hồ chằng chịt, chim nước bay là là trên mặt nước, khiến đàn cò trắng bên hồ giật mình bay lên, tung cánh tạo nên từng vòng gợn sóng lăn tăn. Từ xa, tiếng hà mã vọng lại trong làn sương chiều, vang vọng như lời ca u uẩn của đất trời.

Bên ngoài thành, cánh đồng lau sậy được ánh tà dương nhuộm vàng óng ánh.

Còn nơi rực rỡ nhất thứ ánh sáng hồng đỏ rực cháy như máu ấy chính là vương cung Butto, nơi trung tâm quyền lực của Hạ Ai Cập.

Từ con đường ngự đạo dài dằng dặc tiến vào cung đình, hai bên lối đi trồng đầy những loại cây hương liệu quý hiếm và kỳ mộc được cống hiến từ khắp các quốc gia. Giữa làn gió nhẹ, vài con hồng hạc ung dung dạo bước đầy tao nhã. Cuối con đường là đại sảnh rộng lớn, những hàng cột đá chạm khắc hoa sen vươn cao chống đỡ mái vòm nguy nga, tường vách phủ kín những bích họa rực rỡ sắc màu, phô bày vẻ huy hoàng của vương quyền.

Thần sứ bị áp giải trở lại nơi này, bị đẩy ngã xuống tấm thảm da sư tử.

Đầu gối chạm thảm, may mà da sư tử mềm mại, không đến mức trầy xước. Tân Hòa Tuyết khẽ nhíu mày, y không hề ưa kiểu thô bạo của võ tướng Hoven.

Màn sa bằng kim tuyến lay động trong làn gió, sóng vàng gợn lăn tăn.

Những người hầu chân trần lặng lẽ đi lại, sợ rằng chỉ một tiếng động nhỏ cũng làm kinh động vị Hồng Vương đang nghỉ ngơi trên ngai vàng phía sau tấm màn.

Từ sau lớp màn truyền ra một giọng nói trầm khàn, mang theo hơi thở lười nhác của chủ nhân vừa tỉnh giấc:
“Đối đãi khách quý như vậy, Hoven, thật quá vô lễ.”

Người hầu lập tức quỳ rạp xuống đất, cúi đầu hành lễ.

Trên ngai vàng, sau tấm màn, một đôi mắt sắc bén tựa thú dữ hé mở, xuyên qua lớp kim tuyến nhìn về phía kẻ bị áp giải.

“Thần không cố ý...”

Hoven, đang đứng sau lưng Tân Hòa Tuyết, gần như muốn giơ hai tay lên thanh minh. Hắn chỉ định đẩy nhẹ vị thần sứ tiến lên, nào ngờ lực tay hơi quá, khiến người kia ngã nhào.

Chưa kịp nói hết lời, tấm màn vàng đã được hai người hầu kéo sang hai bên.

Tiếng bước chân trầm ổn vang lên, từ bậc thềm nơi ngai vàng, một bóng người chậm rãi đi xuống. Đôi giày khảm hồng ngọc và lam thạch phản chiếu ánh sáng rực rỡ. Đế giày kia được khắc đầy những hình ảnh kẻ thù đã bị chinh phục cùng với biểu tượng của đất đai. Từng bước từng bước in trên nền đá, như đang giẫm nát hình tượng những kẻ phản nghịch được khắc trên đế. Dây da quấn quanh mắt cá, siết chặt, làm nổi rõ những đường gân rắn rỏi.

“Nghe nói Bạch Vương mang từ mỏ đá Aswan về một người,” giọng nói kia vang lên:
“Người ấy được tôn xưng là Đại Tư tế.”

Từng bước một, hắn tiến lại gần, vừa đi vừa nói:
“Nhờ có y, đất Thượng Ai Cập bội thu, kho lúa đầy ắp lúa mạch.”

Giọng nói đều đều, nhưng mỗi chữ như đè nặng xuống mặt đất.

“Con dân thượng Ai Cập tôn xưng y là sứ giả của thần linh, thậm chí còn nói rằng…”

Người nọ dừng lại, đứng trước mặt Tân Hòa Tuyết.

Cánh tay đeo đầy vòng ngà và ngọc, hắn đưa tay nâng cằm đối phương, tự nhiên mà lột bỏ lớp choàng trùm của vị thần sứ.

“Trân châu kim sa…”

“quả nhiên danh bất hư truyền.”

Ánh mắt Shamul sâu dần, trong đáy mắt nặng nề là sự chiếm hữu pha lẫn tò mò.

Thần sứ từng được tôn kính ở Thượng Ai Cập, e rằng chưa từng phải trải qua nhục nhã như thế... bị bắt cóc, bị hắn ngả ngớn nâng cằm, mặt y còn bị nhìn chằm chằm.

Chỉ ở đỉnh cao nhất của bán đảo Sinai mới có thể nhìn thấy màu tuyết ấy, thứ ánh trắng tinh khiết ấy lại tụ hội trên cơ thể của y.

Không, đó đã không còn là thân thể của người phàm nữa. Thân thể vị thần sứ này trắng mịn như ngọc trai, tựa như sắc trắng sữa chỉ có thể thấy được khi băng tan trên dòng sông, để lộ ra lớp vỏ trai non nớt bên trong.

Không chỉ là làn da, mà ngay cả mái tóc trắng bạc và hàng mi trắng muốt cũng cùng một sắc ấy.

Tất cả những báu vật, tranh họa, hay châu ngọc trong cung điện này, dù xa hoa đến đâu, cũng đều trở nên tầm thường khi đặt cạnh y.

Đôi mắt tuyệt mỹ kia giờ đang lạnh lùng, cảnh giác nhìn lại, dáng người mảnh dẻ nhưng cứng cỏi.

“Vì sao anh trai ta lúc nào cũng là người đầu tiên tìm thấy bảo vật?”

Hắn quan sát người đã khiến mình hao tổn bao công sức và binh lực để cướp về, rồi cúi thấp giọng, thân hình nghiêng xuống gần đến nỗi hơi thở hòa vào nhau:
“Ta nghe đồn rằng Bạch Vương và thần sứ như hình với bóng, ngay cả đêm cũng chung một giường…”

“Lời đồn này là thật hay giả?” Shamul cúi người hỏi:
“Ngươi đã dùng thủ đoạn gì khiến hắn khuất phục?”

Đôi mắt sắc bén như sói áp sát mặt Tân Hòa Tuyết. Gần đến mức hơi thở như chồng chéo lên nhau. Giọng điệu hắn trịch thượng.

“Giờ thì…”

“Hãy làm như ngươi từng lấy lòng hắn…”

“Lấy lòng ta đi.”

Câu nói vừa rơi, liền vang lên một tiếng “chát” giòn tan.

Cung điện lập tức chìm vào tĩnh lặng.

Hoven cùng toàn thể người hầu đồng loạt quỳ rạp, không dám ngẩng đầu nhìn gương mặt của Hồng Vương, nơi in rõ dấu bàn tay đỏ rực.

Tân Hòa Tuyết lạnh lùng nhìn chằm chằm hắn.

Lồng ngực Shamul chấn động, rồi hắn bỗng bật cười thành tiếng, một tràng cười sảng khoái, sung sướng hiếm thấy.

“Ngươi thành công rồi.”

———————————

Hồng Vương không nói gì thêm, chỉ chậm rãi xoa gò má bị đánh.

Hồng Vương: “Anh trai, anh xem… có phải ta nói đúng không?”

Bạch Vương: “…… : )”

P/s: >Manifest hết tg này dc 140k mắt xem
 
Back
Top Bottom