Đam Mỹ Cây Nấm Nhỏ

Cây Nấm Nhỏ
Quyển 3 - Chương 60: “Lục Phong bèn nhấc bổng cậu lên.”


<b>
– Tháng trước, một người… một người chú của em bị quái vật bên ngoài cắn chết, ăn mất xác. Rồi mới mấy hôm trước thôi, một người chú khác phải ra ngoài tìm thêm tài nguyên, dạo đó nhiệt độ đột nhiên tăng mạnh, còn có bão cát, chẳng ai trong số họ trở về nữa. Kế tiếp chính là hai người chú em vừa mới nhắc tới – Ngón tay của Siebe ghì riết vảy sơn tróc ra trên mặt bàn, từ tốn kể – Còn lại mỗi em và nội, nhưng bệnh của ông mỗi lúc một trở nặng, trước kia ông còn nói chuyện với em được, chứ mấy ngày nay đã chìm vào cơn mê lú rồi.

– Có khi ông kêu đau, có khi bật thốt những lời mà em chẳng hiểu, – Ánh mắt Siebe tha thiết, nhìn Lục Phong – các anh chữa dứt nó được không ạ?

Lục Phong trả lời:

– Quay về căn cứ thì hẳn là có thể tra ra nguyên nhân bệnh.

Anh cũng không hứa hẹn rằng “Bảo đảm sẽ trị dứt”, An Chiết rủ mắt nhìn con chữ in trên Nguyệt San Căn Cứ, trang này đăng một mục báo tang – thông báo rằng có cây bút nào đó luôn gửi bản thảo cho Nguyệt San Căn Cứ đã mắc bệnh qua đời, tiểu thuyết <i>Sứ Mệnh</i> đăng nhiều kì đành đứt đoạn tại đây.

Trong căn cứ, chí ít là ở ngoại thành, thì hiếm ai có thể sống đến năm mươi sáu mươi tuổi. Kẻ may mắn bước vào tuổi già sẽ đối mặt với muôn kiểu bệnh tật triền miên. Cường độ của từ trường nhân tạo yếu hơn từ trường gốc nhiều, cơ thể con người vẫn phải hứng chịu một ít tác động từ bức xạ, vì lẽ ấy tỉ lệ mắc bệnh di truyền – mà chủ yếu là ung thư hãy còn rất cao, nó cướp đi sinh mạng của hơn phân nửa số người cao tuổi, vả chăng cuộc sống đầy nỗi gian truân hiểm hóc ở vùng ngoài nhiều năm lại khiến những người may mắn thoát chết phải sống trong cơn chấn thương tâm lí và hậu chấn tâm lí[1] bất tận, đây cũng là bệnh mãn tính chẳng tài nào diệt tận gốc nổi.

[1] Hậu chấn tâm lí (tiếng Anh: Posttraumatic Stress Disorder- PTSD) từng được gọi với cái tên là “Sốc vỏ đạn” (shell shock) hoặc “Hội chứng mệt mỏi sau chiến tranh” (Battle fatigue syndrome). Tên gọi này là do PTSD thường gặp ở rất nhiều trong cựu quân nhân sau thế chiến tranh. Đây là một tình trạng nghiêm trọng có thể phát triển sau khi một người đã từng trải qua hoặc chứng kiến một sự kiện sang chấn nghiêm trọng hoặc kinh hoàng, trong đó tổn thương thể chất nghiêm trọng xảy ra hoặc bị đe dọa tính mạng. PTSD là hậu quả lâu dài của các sự kiện đau thương gây ra nỗi sợ hãi, bất lực hoặc kinh hoàng, như tấn công t*nh d*c hoặc thể xác, cái chết bất ngờ của người thân, tai nạn, chiến tranh hoặc thảm họa tự nhiên. Gia đình của các nạn nhân cũng có thể phát triển PTSD, cũng như nhân viên cấp cứu và nhân viên cứu hộ.

– Cảm ơn… cảm ơn các anh, – Siebe nói – nội em nuôi em khôn lớn, ông còn dạy em đọc chữ, máy phát điện của chúng em cũng là do nội sửa bấy lâu. Mọi người đều bảo rằng trên đời chẳng còn ai khác, là nội dặn em hãy chờ đợi, nội nói bầu trời hãy còn cực quang, chứng tỏ trên thế giới vẫn có tổ chức loài người.

Lục Phong hỏi:

– Ông ấy là kĩ sư ở đây à?

– Đúng vậy ạ – Siebe trả lời.

Lục Phong hơi nheo mắt lại, anh hỏi:

– Vì sao lại biết cực quang tượng trưng cho tổ chức loài người?

Siebe ngẫm nghĩ phút chốc, đoạn giải thích:

– Nơi đây là quặng fe-rít, nội là kĩ sư ngành này, ông kể… kể ngày xưa thầy của mình từng làm việc ở viện nghiên cứu nào đó, viện nghiên cứu ấy vẫn luôn nghiên cứu về cực từ. Thầy ông mách cho ông hay rằng, nguyên nhân dẫn tới vụ tai nạn năm xưa là do cực từ gặp vấn đề, nhưng viện nghiên cứu đang cố gắng tìm biện pháp khắc phục.

– Viện Nghiên cứu Non Cao, – Lục Phong bâng quơ đáp – căn cứ nghiên cứu cực từ nhân tạo.

Siebe khẽ gật đầu:

– Hình như tên thế đó ạ.

– Tạm thời chúng tôi bị mất liên lạc với căn cứ, – Lục Phong chẳng tiếp tục đề tài này nữa, anh chỉ bảo – sau khi tín hiệu khôi phục, tôi sẽ mang hai người về căn cứ.

Siebe gật đầu lia lịa:

– Cảm ơn mấy anh nhiều.

Kế đó, họ bèn nán lại chốn này. Không rõ bao giờ tín hiệu mới khôi phục, Siebe dẫn họ đi ngắm cấu trúc quặng mỏ.

Vị trí mà họ ở hiện nay là vùng trung tâm, thời điểm cơn thảm hỏa kinh hoàng vẫn chưa ập xuống thì đây là khu nghỉ ngơi tạm thời của kĩ sư lẫn thợ mỏ, có buồng cho người ở, có các tiện nghi sinh hoạt cơ bản, cũng có dăm ba bộ máy khai thác mỏ sót lại hồi trước bao gồm máy phát điện và rất nhiều công cụ. Nhờ nằm sâu dưới lòng đất cộng thêm bốn bề là khoáng thạch rắn chắc tột cùng, nên chỉ cần gìn giữ cửa hang cẩn thận, nó sẽ là một xứ sở an toàn kín đáo.

Ngoài vùng trung tâm là dăm quặng mỏ sâu hun hút, chúng đều là sản phẩm khai quật của kẻ đi trước, kéo dài dọc theo mạch khoáng.

– Dù tối như mực, nhưng ở trong không có quái vật đâu ạ, – Siebe bảo – các anh cứ yên tâm.

Trưa đứng bóng, Siebe đi nấu cơm, An Chiết thấy khá hứng thú với căn bếp nơi đây, song cậu vẫn chưa thân với Siebe nên là chẳng dám tự tiện xông vào lãnh địa của nó, cậu bèn tìm chuyện khác để làm.

Nấm thích nước, loài người cũng cần uống nước, nước là thứ cực kì quan trọng – nhiều lúc còn quan trọng hơn cả thực phẩm, chính vì vậy người trong quặng mỏ cũng trút rất nhiều công sức cho việc trữ lượng nước.

Thời gian hứng nước là khi ngoài trời mưa tầm tã, mỗi lần có thể hứng nước mưa với số lượng lớn, họ lọc sạch bằng bột phèn và trút vào xô xi-măng to tướng. Song dẫu sao thì thời tiết luôn thay đổi thất thường, không một ai hay biết liệu đợt mưa kế tiếp là lúc nào, vì thế suốt nhiều năm qua, người dân nơi đây đã chế ra một hệ thống dẫn nước – họ tạc vô vàn đường vân loằng ngoằng trên khắp bề mặt vách đá, trẩy dài dọc theo quặng mỏ sâu nhất lớn nhất nọ, trong quặng mỏ ẩm thấp khôn tả, sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm khiến vách đá hay úng nước, những giọt nước ấy sẽ chảy xuôi xuống khi đạt đến một sức nặng nhất định, kế đó dần dà tụ lại theo đường vân nhân tạo và nhỏ từng giọt xuống bình hứng nước đặt phía dưới cùng, chờ đổ đầy hàng trăm bình nhựa thì có thể lên gần một trăm lít nước.

Dựa theo lời Siebe nói, thì những bình nhựa mới kê dạo vừa qua sắp đầy, mang về dùng được rồi.

…Bởi vậy An Chiết và Lục Phong bèn xách theo hai cái xô nhựa cùng một chiếc đèn măng-sông để soi đường, họ tiến vào đường chính của quặng mỏ hòng lấy nước về giúp Siebe.

Đầu tiên An Chiết nhấc bình nhựa đặt ngay lối vào lên, đoạn đổ nước vào trong xô, kế đó đặt nó xuống, tiếp tục nhích về phía trước lần tìm bình tiếp theo.

Bấy giờ cậu chợt phát hiện Lục Phong chẳng hề di chuyển, thế là cậu ngoái đầu nhìn anh.

…Cái tên này đang nghiêng mình tựa lên vách đá, quan sát cậu bằng vẻ khoan thai, thấy cậu nhìn mình mới chịu tiến lên vài bước đổ nước chung với cậu. An Chiết từ chối hiểu cái thái độ ban nãy của anh, nhưng loạt động tác sau đấy của thượng tá rất nghiêm túc, nên cậu thôi không hỏi.

Quặng mỏ chạy dài vào tuốt sâu trong lòng đất, chính giữa là đường sắt, cậu và Lục Phong mỗi người một bên, họ tập trung đổ đầy xô nước của mình.

Đây là một quặng fe-rít, xung quanh gồ ghề tràn ngập dấu vết khai quật, đại đa số chốn thường toát ra sắc xám đen ướt rượt, tia sáng từ đèn măng-sông cứ nhập nhoạng trong môi trường ẩm thấp, tứ bề mù sương.

Hẳn con người sẽ ghét bỏ môi trường kiểu này, song hơi nước nơi đây khiến An Chiết thấy dễ chịu lắm, thậm chí cậu còn cảm giác bào tử đang mê tít lăn một vòng trong người cậu, An Chiết bị chọc cười khúc khích, khóe mắt hơi cong cong, cậu xoa nhẹ bụng mình nhằm đáp lại bào tử – đặt bào tử ở chỗ này khiến cậu thấy hết sức an toàn.

Xô nước của cậu mỗi lúc một đầy lên suốt quá trình đi dọc theo đường sắt khai thác, giây phút đi đến cuối hệ thống dẫn nước thì cái xô sóng sánh này đã biến thành thứ nặng nhất thế giới.

Đổ bình nước cuối cùng vào, An Chiết khệ nệ nhấc xô nước lên toan xoay lưng đi về.

Trước mặt cậu là quặng mỏ dài dằng dặc sâu hun hút, lối ra nay đã biến thành chấm sáng lấp lóe tựa đốm lửa nhỏ.

Cậu vẫn phải đi về dẫu xô nước trong tay cậu nặng nhường này, còn đường thì lại xa như thế, nhưng hiện tại cậu sắp sửa nhấc hết nổi rồi, xách xô nước trở về quả thực là việc bất khả thi.

An Chiết đứng ngớ ra.

Quặng mỏ vẳng tiếng bước chân, Lục Phong đi đến bên cậu.

Thượng tá hỏi:

– Không đi nữa à?

Giọng điệu anh tự dưng cao vút, như thể chứa đựng sự chế giễu.

An Chiết chẳng hé lời nào, cậu nhìn bến bờ quặng mỏ, cảm thấy chỉ số thông minh của mình đang tắt lịm từng chút từng chút một.

Lục Phong liếc nhìn cậu, bâng quơ nói:

– Nếu em chạy xuống dưới này trước, sau đấy bắt đầu hứng nước…

An Chiết:

–.

Cậu thấy tức cái lồng ngực rồi đấy.

Giả sử ta xách một cái xô rỗng xuống đây trước xong hẵng đi lên lại, vừa đi vừa hứng nước, vậy thì ta chỉ cần xách xô đi một chuyến thôi. Mà bây giờ… cậu chẳng những phải xách xô nước càng ngày càng nặng đi hết chặng đường, mà giờ còn phải xách nó quành lại bận nữa.

Rốt cuộc cậu cũng hiểu vì sao Lục Phong chẳng màng nhúc nhích khi thấy động tác của cậu rồi.

Cái tên này, cái tên này…

Rõ ràng cái tên này đã lường trước được hậu quả từ đầu, ấy thế mà vẫn tỏ vẻ bàng quan đứng nhìn cậu làm vậy.

An Chiết quyết định dỗi. Cậu là một cây nấm có lòng tự tôn, thế là bèn ứ hự xách cái xô nặng trình trịch trở về, cũng gắng đi thiệt là nhanh.

Ngặt nỗi Lục Phong chân dài, chẳng mấy đã đi sánh vai cùng cậu mà không hề tốn sức, thậm chí, đi chừng vài chục bước, cái tên này còn vươn tay đè bả vai cậu xuống.

– Nhìn sang bên kia kìa – Lục Phong cất tiếng.

An Chiết bèn ngó sang bên cạnh.

Có một chiếc xe đẩy khoảng hai mét vuông dừng trên đường ray kim loại, bên trong chứa vài cục khoáng thạch, rõ ràng là xe dùng để vận chuyển đá.

Tay bỗng dưng nhẹ bẫng – Lục Phong giật xô nước của cậu rồi đặt nó vào trong xe, sau đấy cũng thả xô nước của mình vào.

Đương lúc An Chiết ngỡ rằng thượng tá chỉ đơn thuần muốn tiết kiệm thể lực nhờ phương tiện giao thông này thôi, lại nghe anh thản nhiên nói:

– Em cũng lên đi.

An Chiết quan sát chiếc xe vận chuyển, thoáng chút ngần ngừ, cậu cứ cảm giác ánh mắt Lục Phong toát vẻ hứng thú, dường như định chơi một trò chơi kì quái nào đó.

LIb1WLz.jpg


Minh họa

Cuối cùng, do thấy cậu chẳng nghe theo nhưng cũng chẳng cự tuyệt, Lục Phong bèn bế thốc cậu lên.

Không gian trong xe vận chuyển nhỏ rộng lắm cơ, cậu xoay lưng về phía Lục Phong, ôm đầu gối ngồi thụp xuống. Lục Phong treo đèn măng-sông ở đằng trước, xe vận chuyển nhỏ chầm chậm bị đẩy dọc theo tuyến đường sắt, tiếng động cút kít khẽ dội lên nơi quặng mỏ.

Chung quanh toàn là vách núi, nơi đây tách biệt với thế giới và không có bất kì mối hiểm họa ẩn náu nào, ánh đèn vàng vọt của đèn măng-sông bảng lảng rọi sáng một vùng bé mọn phía trước, có đôi khi, trong khoáng thạch cũng lấm tấm ánh huỳnh quang, nom thật giống vùng đất thường xuất hiện trong câu chuyện cổ tích loài người.

An Chiết nhìn khung cảnh trước mắt, lưng tựa vào thành xe, cậu thả lỏng hoàn toàn. Bản tính của nấm vốn yêu sự ổn định và chẳng thích nhúc nhích mà, nên cậu cũng không phản cảm khi được đẩy đi. Mà, mặc dù cậu chẳng trông thấy Lục Phong, nhưng cậu biết rằng hiện tại đồ tồi này đang rất vui vẻ – thật khó hiểu làm sao, nền tảng cho niềm vui của nấm hiển nhiên là chây lười, còn nền tảng cho niềm vui của thượng tá là gì, cậu ứ thèm hiểu đâu.

Cậu nhìn thẳng về phía trước, thầm “hừ” trong lòng một tiếng.

<i>Hết chương 60</i>. Tranh minh họa.<b>Artist: 新手司機阿雪雪 @weibo</b>

4iIvFSb.jpg

Bầu trời màu đỏ

Trái Đất màu xanh

Chiết còn dỗi anh

Sao tận thế được.

Phang quả thơ con cóc cho hợp phong thủy nè=)))) Dỗi kiểu tự tôn, kiểu nấm the savage nó như dị ó ( ͡° ͜ʖ ͡°) Dễ ghét.

Huhu bận tối mắt tối mũi nên mai không có chương mới nhé, thứ 3 thứ 4 thì tớ nói từ tuần trước rồi. Tớ sẽ ráng ngoi lên vào thứ 5.
 
Cây Nấm Nhỏ
Quyển 3 - Chương 61: “Tất thảy đều bị quên lãng, tất thảy đều được chấp nhận.”


Bữa trưa tất nhiên là xúp nấm.

Siebe nói rằng nấm này là do mình tự trồng trong quặng mỏ, sạch lắm. Nấm sò mọc nhanh, số lượng còn dư vẫn đủ ăn nhiều ngày.

An Chiết nghe vậy bèn lặng lẽ xo ro vào góc tường, trông Siebe lành tính tốt bụng là thế, ai dè cũng là một hung thủ sát hại nấm.

Nhưng cậu bắt buộc phải trở thành đồng loã xơi nấm.

Lúc sắp bắt đầu dùng bữa, cậu phát hiện Lục Phong thoáng liếc nhìn mình, An Chiết tin chắc rằng thượng tá đang nhớ tới bát xúp nấm mà anh vẫn chưa kịp ăn trước khi rời khỏi căn cứ, điều đó như một niềm tiếc nuối, mà con người thì chẳng thích tiếc nuối. Hôm nay được ăn, cũng coi như bù đắp phần nào.

Dùng bữa xong xuôi, Siebe bèn dẫn họ đi xem lương thực dự trữ – không nhiều nhặn gì cho cam, dăm cụm nấm, dăm lát thịt sấy khô, và một bịch muối.

– Thịt để dành lúc trước ạ, – Siebe giải thích – ta có thể dùng bẫy để bắt vài quái vật cỡ nhỏ, người lớn bảo nếu vẻ ngoài trông quá dị hợm thì khi ăn vào sẽ bị lây nhiễm, còn nếu chả dị hợm thì có thể ăn giống động vật hồi xưa đó.

Lục Phong nói:

– Quái vật đột biến cấp thấp chết hơn 24 tiếng là ăn được rồi.

– Thế là mấy chú ấy kết luận chuẩn rồi! – Siebe reo lên.

Lục Phong hỏi nó:

– Chỗ này có quái vật nào?

– Có chim, khối thằn lằn, cả chuột mập ú nữa, – Siebe trả lời – thi thoảng cũng có côn trùng và nhện, thường thì chúng em ăn chuột. Song kể từ lúc bão cát càn quét, họa hoằn lắm em mới gặp chúng, thay vào đó em thấy hai con vật xấu tệ, – Siebe nói tới đây, sắc mặt thoắt trắng bệch – khổng lồ kinh khủng, em sợ chúng phát hiện ra em nên chỉ dám quan sát bằng kính viễn vọng thôi, em chưa bao giờ thấy cái giống này, anh biết nó là con gì không?

– Nơi đây hẳn là ngọn đồi phía đông, mức ô nhiễm đáng lí không cao – Lục Phong nói – tuy nhiên năm hôm trước từ trường gặp trục trặc, dẫn đến tình trạng đột biến lần hai, xuất hiện quái vật kiểu lai.

Siebe:

– …Hả?

Giọng Lục Phong thoáng chùng xuống:

– Những quái vật vốn thuộc cỡ nhỏ sẽ trở thành quái vật lai cỡ lớn nhờ vào việc tập trung chuỗi thức ăn.

Siebe tái mét hơn ban nãy.

An Chiết nghe Lục Phong nói là mường tượng ra ngay, quái vật tự giết hại lẫn nhau, tuy số lượng giảm bớt song cấp đột biến lại tăng vọt lên. Có lẽ chuyện đáng sợ hơn tất thảy chính là, trạng huống tương tự như vậy hiện đang diễn ra ở khắp mọi nơi trên Trái Đất, ngày hôm sau luôn kinh hãi hơn ngày hôm trước.

Lục Phong nhìn về phía Siebe. Hình dáng lẫn màu sắc kết hợp nơi đôi mắt anh toát lên nét sắc sảo và giá lạnh, hiển nhiên Siebe vẫn chưa quen nổi việc đối mặt với thượng tá, nó lại giật tróc một lớp sơn trên mặt bàn.

Lục Phong hỏi:

– Có ai từng đột biến trong hang động chưa?

– Có, có một chú bị quái vật cắn, sau đấy đi cắn những người khác ạ.

– Xử lí thế nào?

– Đuổi ra ngoài thôi.

Chiều sang, Lục Phong mượn giấy bút từ Siebe ghi chép sơ về sự thể nơi này. Dẫu chưa kết nối được tín hiệu, thượng tá vẫn làm tròn chức trách của mình.

Buổi tối là thời gian nghỉ ngơi, chỉ có độc một cỗ máy phát điện là còn hoạt động – dây điện nom ẩm ướt tả tơi, trong khắp quặng mỏ chỉ còn đúng một căn buồng trống có điện, hai người họ bèn ở nơi đấy.

An Chiết tắm rửa xong, cậu lau ráo tóc và tựa lên đầu giường nghịch nam châm, ta dễ dàng bắt gặp nam châm muôn nơi trong cái quặng mỏ này.

Mỗi tay cậu cầm mỗi cục, để hai cực cùng dấu hướng vào nhau, cậu muốn dính chặt chúng vào. Rõ ràng giữa hai cục nam châm chỉ có không khí, song bất kể cậu dốc bao nhiêu sức cũng chẳng khiến chúng tới gần được, tựa hồ ở giữa có một luồng sức mạnh vô hình đẩy chúng ra xa.

Cậu chau mày, chẳng hiểu cớ sao lại vậy, có rất nhiều kiến thức của loài người cậu chả tài nào hiểu thấu, cũng như có rất nhiều kiến thức về thế giới này con người chả tài nào hiểu thấu vậy. Nhưng cậu vẫn ngoan cố muốn ghép chúng lại với nhau, cậu nghĩ rằng chỉ cần mình gắng tí sức nữa thì không gì không ghép lại được.

Tiếng bước chân vọng đến, Lục Phong bước vào buồng, An Chiết đã giặt áo khoác của anh, hiện đang phơi nó ở chốn gió lùa rồi. An Chiết ngẩng đầu, thấy bấy giờ thượng tá chỉ mặc mỗi áo ba lỗ đen do quân đội phát, phơi bày những đường nét cơ bắp uyển chuyển đẹp đẽ của cánh tay và bả vai, ống quần đồng phục chiến đấu nhét trong ủng đen tôn thêm vẻ cao ráo điển trai cho ngoại hình anh. Anh lau sơ mái tóc, nó hơi rối bời, những sợi tóc lòa xòa trên trán nhỏ giọt long lanh.

An Chiết nhìn anh, khi cởi bộ quân phục cùng chiếc phù hiệu đại diện cho thẩm phán giả xuống, thì dường như Lục Phong chỉ là một sĩ quan trẻ đầy triển vọng nắm chắc quyền hành thôi. Mặc dù khuôn mặt anh vẫn lạnh nhạt như xưa, đôi mắt xanh sẫm cũng chẳng thực sự ấm áp, song An Chiết nhận thấy anh đã thả lỏng hơn rất nhiều. Thốt nhiên An Chiết sực nhớ, rằng theo cách tính tuổi của loài người, Lục Phong đương độ đôi mươi – rõ ràng là độ tuổi mà mọi thứ chỉ vừa mới bắt đầu.

Ai đấy đương độ đôi mươi đang cúi đầu bấm máy liên lạc, nhưng máy liên lạc vẫn tiếp tục cất thông báo: “Xin lỗi bạn, tín hiệu căn cứ đang bị gián đoạn do chịu tác động từ tầng điện li hoặc gió Mặt Trời…”

Lục Phong gập máy liên lạc đặt nó lên bàn, ngồi xuống bên cạnh An Chiết. An Chiết dù cố kiểu gì cũng không ghép hai đầu nam châm cùng dấu vào nhau được, cậu bèn ngó sang Lục Phong.

– Chỏi nhau – Lục Phong bâng quơ đáp.

An Chiết chau mày.

Anh lấy hai cục nam châm ra khỏi tay cậu, khác dấu ắt sẽ hút, vừa đổi hướng thì hai cục nam châm tức thì dính chặt vào nhau ngay, kế đó Lục Phong quẳng chúng sang một bên.

An Chiết lại cầm chúng hí hoáy lần nữa, nhưng kết quả luôn như cũ dẫu có thử bao nhiêu lần. Giữa hai đầu cùng dấu tồn tại một lực cản cực mạnh – ta chẳng bao giờ áp chúng vào nhau nổi, mà hai đầu khác dấu lại có sức hút thật khó mường tượng, chỉ cần đặt chúng hơi gần thôi, chúng tự khắc bứt khỏi ngón tay cậu hòng lao về phía cực còn lại.

An Chiết hỏi:

– Giữa chúng là thứ gì thế?

Cậu là cây nấm, còn An Trạch thì chưa từng học Vật lí, cộng gộp sự hiểu biết của cả hai cũng không tài nào giải thích rõ hiện tượng này.

Lục Phong trả lời:

– Từ trường.

An Chiết hỏi:

– Giống từ trường nhân tạo ư?

– Ừm – Anh đáp.

An Chiết hỏi:

– Không thể thấy chúng à?

– Không thể.

– Vì sao không thể?

Lục Phong nhét cậu vào tấm chăn:

– Có rất nhiều thứ vô hình.

An Chiết ò đáp lời anh, trong chăn hơi nóng, cậu bèn thò cánh tay và bả vai ra.

Lục Phong nhìn cổ áo phông trắng phau mềm mại của cậu, một mảng máu bầm xanh gắt lấp ló đằng sau, anh duỗi tay kéo nó xuống. Làn da vốn trắng nõn mịn màng chẳng một tì vết giờ đây lấm tấm dấu vết xanh tím, rất đều – đều tới độ không lần ra nổi đâu mới là vết khởi nguồn.

An Chiết giữ im lặng, đẩy tay anh ra rồi tự kéo cổ áo lên lại.

Ánh mắt của Lục Phong vẫn nán lại ở vị trí ấy, anh thừa hiểu những dấu vết này là gì, căn cứ thường áp dụng hình thức tra tấn bằng điện với cường độ cao lúc muốn lấy lời khai của kẻ trọng phạm, ai rồi cũng sẽ hết chịu nổi tự thú tội. Di chứng sót lại từ tra tấn bằng điện nhiều vô số kể, trải dài từ thể xác đến tâm hồn. Thương tật ngoài da chỉ là một trong số những điều đó thôi, thậm chí có hàng khối người chẳng thể thoát khỏi cơn ác mộng đau đớn đó suốt cả cuộc đời.

Nhưng sau khi ruổi mình vào chăn, An Chiết chỉ rủ hàng mi, nhẹ nhàng nói:

– Giờ hết đau rồi mà.

Lục Phong nhìn vẻ mặt bình thản của cậu, đôi lúc anh rất khoái bắt nạt cậu, đôi lúc lại muốn đối xử tốt với cậu.

An Chiết bỗng nhích vào trong góc giường chút đỉnh, nhường chỗ cho anh nằm xuống. Giường khá hẹp, đâm ra khi Lục Phong nghiêng mình nằm xuống thì họ chỉ cách nhau trong gang tấc. An Chiết phát hiện một vết sẹo trên cánh tay anh – như bị vũ khí cùn chém trúng, song đấy vẫn chưa phải toàn bộ, khắp bả vai anh c*̃ng lấp loáng những vết xước cùng các thương tổn.

Cậu vươn tay toan chạm vào vết sẹo dài nhất, nhưng vươn đặng non nửa lại sợ làm đau thượng tá, vậy là bèn rụt lại, ngoan ngoãn nằm rúc trong chăn.

Ánh mắt Lục Phong ấm áp đôi phần:

– Ngủ đi.

An Chiết ừm thật khẽ, đoạn nhắm mắt lại.

Dưới ngọn đèn tỏ, bóng râm nhạt nhòa hắt xuống bởi hàng mi tôn thêm vẻ yên tĩnh mềm mại cho nét mặt cậu. Cậu thả lỏng, Lục Phong nhận ra điều đấy một cách dễ dàng, dường như nhóc dị chủng này tin rằng anh sẽ không làm hại mình – dẫu sau khi người cậu đã chằng chịt vết bầm do tra tấn bằng điện.

Đây chẳng còn là lần đầu tiên anh thấy khó hiểu trước cử chỉ của cậu. Thuở họ vừa quen biết nhau, vào cái đêm loạn lạc anh rời khỏi cổng thành và không chốn nương thân, An Chiết cũng nói cho anh với vẻ không hề đề phòng, rằng anh có thể ở lại chỗ của tôi. Khoảnh khắc ấy anh thiết tưởng cậu trai này ấp ủ ý đồ khác, hoặc là, cậu đơn thuần cùng cực giống hệt vẻ bề ngoài của cậu, hoàn toàn chẳng hay biết rằng bình thường con người ta sẽ chả mời kẻ lạ ngủ lại.

Anh nghĩ thế nào thì hỏi thế đấy.

– …Không sợ tôi à?

An Chiết nghe anh hỏi vậy bèn chầm chậm hé mắt, dưới ánh sáng mơ màng của đèn măng-sông, đôi mắt cậu như được dát một màn sương đẹp đẽ êm đềm. Ngặt nỗi trong thời gian ngắn ngủi quá đỗi, cậu đã sắp sửa thiếp đi rồi, An Chiết rủ rỉ:

– Sợ về điều gì cơ?

Lục Phong chẳng trả lời, anh nhổm nửa người dậy rồi nhìn xuống An Chiết, ánh mắt đầy vẻ thâm trầm, kế đó với một tay cầm khẩu súng đặt bên gối, nòng súng lạnh buốt khẽ huých vào má An Chiết.

An Chiết ngước nhìn anh bằng đôi mắt sánh nước, cậu thoáng chau mày, tựa hồ lại bực bội, vươn tay hẩy nòng súng ra rồi trở mình sang hướng khác – động tác ấy cũng tiện thể lôi hết chăn đi luôn.

Lục Phong nhìn chiếc cổ gầy gò và bờ vai hơi nhấp nhô theo nhịp thở của cậu. Một người thế này thật giống rất dễ chịu tổn thương, cũng rất dễ nhận được sự chở che. Mãi sau, anh tắt đèn, đoạn nằm xuống lần nữa.

Lục Phong nhận thấy thân mình hơi nặng trĩu, An Chiết đắp phần chăn bị mình cuốn đi ban nãy lên người anh.

Tựa chuồn chuồn chạm đuôi lên mặt hồ yên ả vào đêm trường mùa hạ. Và thứ rung động bởi gợn sóng không chỉ là mặt hồ vốn dĩ êm đềm.

Trong chuỗi lặng thinh im bặt, Lục Phong bỗng ôm siết lấy An Chiết từ phía sau, chẳng thấu nổi là do bị cảm xúc thúc đẩy hay chỉ là động tác theo bản năng nữa. Cánh tay anh đè nặng cánh tay An Chiết, An Chiết bỗng nhúc nhích chút đỉnh, ban nãy cậu định dời cánh tay xuống, kế đấy không rõ phải đặt ở đâu nên bèn dời lên lại, cuối cùng đặt ngón tay lên cánh tay Lục Phong, giống hệt trước kia cậu hay vắt sợi nấm trên tảng đá hoặc thân cây gần kề vậy.

Lục Phong cảm nhận được động tác của cậu.

An Chiết cất giọng, thều thào:

– Vậy anh không sợ em lây gen cho anh ư?

Lục Phong chẳng hề đáp lời An Chiết, hệt như vừa nãy An Chiết cũng chẳng đáp lời anh.

Thẩm phán giả tin tưởng một con dị chủng, hoặc dị chủng tin tưởng một chàng thẩm phán giả, mặc kệ xuất phát từ lí do gì đi chăng nữa, ta chả nói rõ được rốt cuộc việc nào mới hoang đường hơn. Hoặc có thể cái ngày mà họ gặp nhau, chính là khởi đầu cho câu chuyện hoang đường nhất thế giới này rồi.

Nhưng trong bóng tối, không người nào thấy rõ khuôn mặt nhau. Tại vùng đất ngăn cách với thời cuộc ngoài kia, tại vùng đất chẳng một ai hay biết, dường như dẫu làm điều gì cũng không sao cả. Bởi tất thảy đều bị quên lãng, tất thảy đều được chấp nhận.

Lục Phong nghe tiếng hít thở đều đặn nhẹ bẫng của An Chiết, dần nhắm mắt lại.
 
Cây Nấm Nhỏ
Quyển 3 - Chương 62: “Hai anh thân nhau thật đấy.”


<b>
An Chiết nằm mơ.

Tiếng mưa rơi… Tiếng mưa rơi tí ta tí tách.

Giọt nước nện lộp bộp xuống phiến lá rộng rồi chảy xuôi theo gân lá xen kẽ, nó trượt khỏi mép lá, rơi xào xạc vào bụi cây, rễ gốc cây già đưa nó đến mảnh đất trũng nước, nó thấm vào đấy – đó là một mùa mưa ẩm ướt, dường như cậu từng kinh qua vô vàn cảnh tượng tương tự, kí ức bắt đầu nảy nở từ ấy, cả hành tinh chính là một cơn mưa.

Cậu sà xuống từ một chiếc mũ nấm, trước khi mưa đổ xiêu xiêu cậu đã bị gió thổi rơi xuống đất rồi. Có vẻ cậu luôn say giấc nồng cho tới lúc ngửi được hơi nước ướt át sau cơn mưa.

Mọi thứ đều vượt khỏi tầm kiểm soát của cậu, trong mảnh đất ẩm, sợi nấm vươn ra, phát triển, chia nhánh, trườn ra ngoài rồi chụm lại. Từ một túi bào tử còn bé hơn cả cát sỏi – cậu biến thành sợi nấm nhỏ thó, kế đấy nảy cuống, mọc mũ.

Hết thảy đều hợp lẽ thường, nấm chẳng cần truyền kiến thức từ thế hệ này sang thế hệ khác như loài người, và tuy cậu không có tí ấn tượng nào về cây nấm đã sinh ra mình, song lại thừa biết mình nên hút những chất gì trong đất, cứ như rằng đây chính là kinh nghiệm của bản thân vậy. Cậu cũng hiểu mình phải chào đời vào mùa nào, phải làm việc gì, rồi phải chết vào mùa nào, sứ mệnh cả đời chính là cho ra một túi bào tử.

Tiếp đấy, nó lại lớn lên, chết đi, rồi bào tử của nó tiếp tục lớn lên, vô vàn bào tử lần lượt sà xuống trong cơn mưa từ muôn đời nay.

Tiếng mưa lộp bộp cứ vậy bảng lảng bên tai cậu, xung quanh cậu, thân thể cậu, nó ở khắp mọi nơi trong kí ức và trí óc, như hòng thúc giục về sự việc sắp sửa xảy ra nào đấy. Kéo theo là thứ dao động đến từ miền chân trời xa xăm, hư ảo vô bờ, ớn lạnh vô bờ… Tới tận lúc cậu mở choàng mắt!

Đồng hồ thạch anh treo trên tường điểm chín giờ sáng, bên cạnh cậu không có ai hết, cậu nằm cuộn tròn trong chăn. Nhưng cảm giác được cánh tay Lục Phong ghì riết hãy còn vấn vương, nhiệt độ nán lại trên làn da, thiêu đốt mình mẩy cậu từng cơn. Lục Phong vốn chỉ ôm nửa thân trên của cậu thôi – ở vị trí dưới bả vai, hiềm nỗi do khó chịu khi bị đè nên ngủ đến canh khuya cậu bèn rút tay ra, cánh tay của cái tên này tức thì dời xuống dưới, đặt trên eo cậu, lòng bàn tay vừa hay áp sát bụng cậu.

Giây phút được Lục Phong ôm chầm, dường như có thể tránh khỏi muôn mối hiểm họa ngoài kia, cậu thấy an tâm vô ngần, song chính bản thân cái tên này lại là sự nguy hiểm kinh hoàng nhất, An Chiết chẳng nhớ nổi bản thân đã ấp ủ thứ tâm tình gì mà chìm vào giấc ngủ lần nữa.

An Chiết quan sát toàn cảnh trước mắt, đầu óc mụ mị. Cậu khẽ nhúc nhích ngón tay, xương cốt cũng toát lên vẻ mềm oặt, hệt như ngủ trưa lâu quá đâm ra mình mẩy bị rút kiệt sức lực.

Bầu không khí chung quanh ẩm thấp tột cùng, giống hệt có cơn mưa vừa ghé ngang qua.

Cậu nhớ tới giấc mơ vừa quái gở lạ lùng vừa tựa điềm báo ấy, bèn ngồi dậy, chìa tay. Móc bào tử ra khỏi bụng quá ư tàn nhẫn, duy chỉ có chàng sĩ quan họ Lục nào đó mới dám làm thế thôi. Cậu kiểm soát dòng chảy của bào tử trong người mình, sau ba phút, vô khối sợi nấm trắng phau chĩa ra ngoài rồi chụm lại, bào tử xuất hiện trên lòng bàn tay phải của cậu.

Lúc mới thả vào cơ thể – bào tử vốn bé tày nửa gan bàn tay thôi, giờ đây nó đã to bằng nắm tay của cậu rồi.

Cậu mượn ánh đèn măng-sông ngắm kĩ nó, cuối m*t sợi nấm của bào tử xuất hiện một nhánh nhỏ thó nom giống sừng hươu, trơn bóng trắng loáng như bông tuyết, nó bắt đầu thay đổi hình thái rồi.

Cậu giơ ngón tay trái chọt nó, nó vươn sợi nấm quấn quýt lấy ngón tay cậu nom rất chi là thân thiết. Cậu có thể cảm nhận được sức sống dạt dào từ nó, nó sắp sửa chín muồi rồi.

Cậu chẳng biết chính xác chừng nào bào tử sẽ chín muồi, song hẳn là không lâu nữa đâu.

Sợi nấm của cả hai chẳng còn quấn lấy nhau, bởi nó sẽ trở thành một cây nấm có thể sống độc lập. Giây phút chín muồi nó tự khắc rời xa cậu, như xưa kia cậu đã bị gió cuốn đi.

Gieo bào tử – đây là bản năng của nấm. Nên gieo nó ở đâu nhỉ? Liệu ở tương lai xa xôi, nó có lớn lên không? An Chiết chẳng rõ, một nỗi bâng khuâng thẫn thờ trước khi từ biệt ám mãi trong lòng cậu, có vẻ mọi sự vật hữu hình trên đời này đều phải chia xa.

Bỗng bấy giờ có tiếng động vọng tới từ ngoài hành lang, bào tử của cậu thoạt tiên giương sợi nấm, tựa hồ đang lắng nghe âm thanh, nghe rõ thì bèn rục rịch với vẻ phấn chấn khôn cùng, nó lăn về phía phát ra âm thanh nọ – giống hệt một cực nam châm chạy về phía cực còn lại, An Chiết giơ hai tay đè nó xuống, trước khi Lục Phong bước vào bèn vội nhét cái ngữ ăn cây táo rào cây sung này vào người mình.

Lục Phong đứng trước cửa, thoáng nhướng mày nhìn cậu.

“Dậy.” Anh cất giọng.

An Chiết ngoan ngoãn vọt xuống giường đi ăn cơm, lối sống của họ dạo vừa qua toàn thế này đấy, An Chiết giúp Siebe nấu nướng và dọn quặng mỏ. Lục Phong thường ra ngoài, lần nào An Chiết cũng lo đau đáu anh không về được, song ngờ đâu lần nào thượng tá cũng bình yên vô sự, lắm lúc còn xách thêm một con chim nhỏ về cho họ nướng nữa.

Mà đa số thời gian họ chẳng có việc gì làm trong hang động cả, An Chiết đọc hết tất cả sách báo ở đây rồi, dưới sự yên cầu của thượng tá – cậu lại đọc thêm tiểu thuyết tình yêu và nguyên cả cuốn cẩm nang vũ khí cho anh nghe, vì cái tên này lười lật sách.

Cuối cùng, họ bắt đầu lấy sỏi để chơi cờ, toàn là mấy trò chơi đơn giản thôi, nào là cờ ca rô, cờ cá ngựa chẳng hạn, Lục Phong dạy cậu luật chơi trước, kế đó họ vui đùa cùng nhau, An Chiết thua nhiều thắng ít, cậu thầm ngờ rằng những lần thắng nọ là do thượng tá cố ý nhường tất, vì hễ cậu thắng thì mắt Lục Phong đều hơi thoảng nét cười.

Giờ ăn cơm, Siebe thốt lên:

– Hai anh thân nhau thật đấy.

– Hồi trước cũng có người yêu đương trong động, nội em chứng hôn cho họ nè – Thằng bé thở dài não nề, gác đũa, đoạn nói tiếp – Em cũng muốn yêu đương, nhưng chỗ này chẳng còn ai hết.

Lục Phong giữ im lặng, An Chiết an ủi Siebe:

– Trong căn cứ có người.

…Mặc dù chỉ có tám ngàn người.

Siebe như nhận được sự an ủi, lại bắt đầu hăng hái nhấc đũa lên.

Sau bảy ngày, tín hiệu vẫn chưa khôi phục, Siebe nói cho họ hay một tin xấu, rằng họ phải đến thành phố hoang cách đây mấy ngàn mét để kiếm vật dụng.

Vì lẽ đó họ bèn để lại chút đỉnh lương khô cho cụ ông, đoạn nhét hết số nấm lẫn thịt khô còn dư vào trong ba-lô kèm theo nhiều bình nước, Siebe chạy xuống bếp lấy một chai cồn nhỏ, thuở mà người trong quặng mỏ vẫn chưa chết hết, họ thường hay vào thành phố tìm kiếm vật dụng, chính vì vậy chẳng thiếu trang bị mang theo.

– Hồi xưa chúng em có mở một con đường đất, có thể đạp xe luôn đó – Giọng Siebe buồn thiu – Giờ biến thành đống cát rồi, chả đạp xe đi được nữa.

Thế là trước khi rời đi An Chiết bèn bịn rịn ngó sang mấy chiếc xe đạp dựng hàng loạt trong góc tường, cậu chưa thấy nó lần nào hết.

Lục Phong vắt khuỷu tay lên bờ vai cậu, bâng quơ bảo:

– Bao giờ về đèo em đi.

Khoảnh khắc họ thu xếp xong xuôi mọi thứ, định bụng mở nóc hang động ra, bỗng tiếng bước chân đà đận nặng trình trịch vẳng tới từ chốn sâu hút của quặng mỏ.

An Chiết ngoảnh đầu, dưới ánh đèn tù mù, một cụ ông gầy đét vịn tường gắng nhích đến từ góc rẽ, mái tóc bạc phơ của cụ rối bời, khóe miệng run rẩy không ngớt, tựa ánh lửa bập bùng trên ngọn nến bạc màu đương chấp chới trong gió.

Siebe chạy tới chỗ cụ:

– …Nội ơi?

Cụ nhìn nó đăm đăm bằng con mắt đục ngầu, chẳng đọng bất cứ xúc cảm gì, cũng chẳng giống nhận ra nó, cụ chỉ mở miệng thều thào:

– Ta đi với.

Siebe ôm bờ vai cụ:

– Nội ở đây là được rồi, tụi con đi dăm bữa là về ngay, tụi con đi kiếm thức ăn mà.

Cụ vẫn cất chất giọng khê khản:

– Ta đi với.

Mặc cho Siebe khuyên ngăn thế nào cụ vẫn lẩm bẩm hoài câu ấy. Khuôn mặt đờ đẫn mụ mị của cụ thoáng gợi lên vẻ tỉnh táo nhờ sự kiên trì này.

Siebe cực chẳng đã giương ánh mắt xin giúp đỡ nhìn Lục Phong.

Lục Phong quan sát cụ ông kia hồi lâu, đoạn bảo:

– Dắt theo đi.

Siebe khẽ vâng, đoạn dìu cụ ông ra ngoài. Cụ đi loạng choạng như mém gục, dẫu để ai chứng kiến đi chăng nữa, họ cũng thừa hiểu rằng sự sống tuổi xế chiều này sắp tận rồi.

Lúc đến cửa động, Lục Phong bèn nói:

– Để tôi cõng cụ.

Siebe lắc đầu nguầy nguậy, nó cõng ông nội mình lên, đáp rằng:

– Nội nhẹ lắm ạ.

An Chiết nhìn tấm thân còm cõi của cụ, bệnh tật đã bào mòn cơ thể cụ thành một khung xương lỏng lẻo gầy rộc.

Họ đặt chân lên mặt đất, ánh nắng ập xuống. An Chiết nheo mắt, qua hồi lâu mới thích nghi được.

Cậu trông thấy cụ ông nằm rạp trên lưng Siebe, đôi mắt nhắm nghiền, khuôn mặt cụ lấm tấm những vết đốm mà chỉ khi con người ta già nua mới nổi lên, nhưng trong ánh nắng, nét mặt cụ rất đỗi bình thản.

Môi cụ mấp máy, xổ ra một câu.

– Người sinh trưởng trên mặt đất.

Đây là câu nói duy nhất chả giống nói mớ mà An Chiết nghe được từ miệng cụ suốt những ngày qua. Cậu ngẩng đầu trông lên bầu trời xám xịt, giờ đây, bầu trời lấp loáng gam màu xanh nhạt, dẫu màn đêm chưa buông xuống, ta vẫn nhìn thấy cực quang – khác hẳn với trước kia.

Lục Phong cất tiếng:

– Từ trường đang được điều chỉnh.

An Chiết khẽ gật đầu, cậu chẳng hiểu ý nghĩa của câu ấy, nhưng chỉ cần cực từ vẫn còn nguyên vẹn, vậy thì mọi thứ đều ổn.

Họ bước chân thấp chân cao trên cồn cát, dường như chỉ có mỗi họ là sự sống duy nhất khắp sa mạc mênh mang vắng ngắt thôi. Ngọn gió tấp đến từ xứ xa không một ai hay biết, dẫu mười ngàn năm, hay hàng trăm triệu năm, nó vẫn mải thổi vun vút, sinh vật đi lại trên mặt đất bỏ cũ lấy mới, có chết đi, có chào đời, tuy nhiên gió sẽ chẳng bao giờ đổi thay. Đương lúc gió lùa vào kẽ đá, trên sa mạc chóng rít lên thứ âm vang ù ù dài dặc lạ lẫm tựa tiếng khóc than.

Trong chuỗi gào khóc xa xăm trống trải, An Chiết bèn kéo góc ống tay áo của Lục Phong theo phản xạ, lẽo đẽo theo anh.

Lục Phong thản nhiên ngó sang cậu:

– Cõng em nhé?

An Chiết lắc đầu, người ta tự đi được mà.

Lục Phong không hé lời, tiếp tục rảo bước về phía trước.

Đi đặng thêm một chặng xa, An Chiết túm đuối rồi, cánh tay nay mỏi nhừ. Mấy ngày qua, dường như thể lực của cậu ngày một kém đi trong lúc bào tử dần chín muồi, cậu muốn rũ tay xuống, rồi lại chẳng nỡ buông.

Cổ tay Lục Phong hơi nhúc nhích, An Chiết hiểu ý anh rồi, cậu túm mãi khiến anh thấy phiền đó, thế nên cậu ngoan ngoãn thả ra.

Kế đấy, thượng tá nắm chặt lấy tay cậu.

<i>Hết chương 62</i>. Tranh minh họa.<b>Artist: kusariling @lofter</b>

50544689482_785566128d_c.jpg


Click vào ảnh để lấy fullsize.Không chắc lắm có phải dụng ý của 14 không, nhưng Lục trong Lục Phong có nghĩa là mặt đất, lục địa, Phong (feng) đồng âm vs từ gió. Nếu là vậy thật thì tên lãnh đạo ý nghĩa lắm.

—–~
 
Cây Nấm Nhỏ
Quyển 3 - Chương 63: “Nó mỗi lúc một gần.”


Dọc đường, họ bắt gặp một cái xác máy bay, nó có hình dáng giống hệt chiếc máy bay của Lục Phong lúc trước. An Chiết ước chừng hướng đi – hẳn nó đã rơi trước cả chiếc mà Lục Phong ngồi, bởi cậu tận mắt trông thấy nó vục xuống mà.

Sau khi ba bốn chiếc máy bay lần lượt rơi tan tác, cậu không thấy máy bay căn cứ xuất hiện trên bầu trời nữa, có lẽ căn cứ cũng nhận ra sự thay đổi lạ lùng ấy nên bèn ngừng cho máy bay tiêm kích xông ra ngoài rồi. Song trạng huống của chiếc máy bay này nom ổn hơn của Lục Phong chút đỉnh, chưa bộc phá, trừ việc hư hao ở ngoài thì những bộ phận khác đều nguyên vẹn.

Lục Phong sải bước sang đằng đó, đoạn dỡ hộp đen của chiếc máy bay này xuống, do dự phút chốc, anh bèn chui vào cửa buồng lái – mép cửa có vết gặm nhấm.

Quái vật đã xơi sạch xác phi công, quần áo dính máu sớm khô quánh lại, xương cốt bị róc sạch thịt vương vãi khắp buồng lái, hộp sọ lăn kềnh dưới bàn điều khiển – nó chỉ còn quá nửa thôi, mép đứt có dấu răng sắc lẹm. An Chiết cũng chui vào cùng anh, Lục Phong vốn định xua cậu ra để cậu khỏi hãi trước cảnh man rợ này, nhưng kế đó anh nom thấy ánh mắt phẳng lặng của An Chiết, và anh sực vỡ lẽ cậu sẽ chẳng chợn lòng bởi thây người.

Có cuốn sổ tay hướng dẫn bay nằm úp sấp dưới bàn điều khiển, sổ tay hướng dẫn bay là sách tham khảo của phi công, ở trong tổng hợp các bước thao tác cơ bản, cách dùng lẫn công dụng của thiết bị cùng tất tần tật phương pháp xử lí những sự cố ngoài ý muốn.

Lục Phong vươn tay nhặt sổ tay hướng dẫn bay lên xem, một sự thay đổi khó lường đang diễn ra trên bề mặt nó, nét chữ đen ngấm sâu vào trang giấy, màu sắc ấy dần loang lổ, xúc tu nhỏ thó đen sì trải rộng ra khiến toàn bộ dòng chữ in trên mặt giấy đều méo mó ngoằn ngoèo theo một lối rõ lạ, thật giống loại bùa chú hung hiểm nào đó.

An Chiết quan sát trang giấy, cậu gắng phân biệt hình dạng con chữ, nội dung trang nọ là các sự cố về động cơ thường gặp.

Vậy là cậu biết, vụ rơi là do động cơ xuất hiện sự cố, mà tới tận lúc máy bay tan xác, phi công hãy còn đọc sổ tay nhằm tìm kiếm hướng giải quyết khả thi.

Kế đó… trong gang tấc ấy, máy bay rơi vỡ, sổ tay trượt xuống đất, tất thảy bỏ mình.

Sau khi được Lục Phong bế xuống từ cầu thang máy bay, An Chiết nghe thấy Lục Phong cất giọng:

– Chiếc máy bay tôi ngồi cũng gặp tai nạn bởi sự cố động cơ.

An Chiết chau mày.

Lục Phong nói tiếp:

– Tuy nhiên những phụ tùng khác cũng có vấn đề, là do trục trặc bên khâu sản xuất ư? Nhưng đội bay tiêm kích PJ đã thực hiện nhiệm vụ bay nhiều lần rồi, trước lúc cất cánh cũng tu sửa đàng hoàng.

Họ rảo bước đi thẳng, Siebe và ông nội chờ đằng trước. An Chiết chẳng tỏ rõ nguyên nhân máy bay gặp sự cố, cậu hỏi:

– Thế thì vì sao?

– Tôi không biết – Chẳng mấy khi thượng tá lại thốt ba từ này.

Như sực nhớ điều gì, anh bình tĩnh trả lời:

– Lúc PL1109 hạ cánh c*̃ng bị trục trặc động cơ, tuy nhiên nó vẫn hạ cánh an toàn.

PL1109 là máy b** ch**n đ** cao cấp nhất của căn cứ, nghe Lục Phong nói thế, thì tức là hiện tại tất cả máy bay đều dễ gặp tai nạn. Mới đây thôi, khi cậu rời khỏi căn cứ loài người rồi ngoảnh nhìn chủ thành, cậu vẫn trông thấy bóng hình PL1109 ung dung hạ cánh, hóa ra vào giây phút ấy, Lục Phong đã lướt qua bờ vực sinh tử một chuyến.

– Vậy… – An Chiết thì thầm – vậy sau này anh đừng đi máy bay nữa nhé?

Lục Phong chẳng trả lời, chỉ xoa đầu cậu.

Đuổi kịp Siebe, họ kể sơ lược về tình trạng chỗ ấy, rồi đi tiếp.

Sa mạc ngập ngụa trong tầm mắt họ.

Siebe quan sát xung quanh:

– Quái vật ít đi thật, trước kia còn nhiều lắm.

An Chiết hiểu câu đấy nói lên điều gì. Dẫu lớn, dẫu bé, vô vàn sinh vật đã chết đi và trở thành một phần của quái vật kiểu lai. Do tổng số quái vật giảm thiểu, nên nơi đây có vẻ an toàn tột cùng, dù thực chất mỗi con quái vật đều nguy hiểm hơn xưa.

Song mọi sự thay đổi này hoàn tất chỉ trong mười mấy ngày, quái vật nhỏ yếu bị càn quét sạch loáng, quá trình nọ xảy đến nhanh choáng váng. An Chiết nhớ về con quái vật ăn lấy ăn để gen bất chấp nọ, động tác của nó nom hơi hấp tấp quá đà.

Thực chất cũng có một cảnh tương tự tồn tại trong kí ức cậu… Là cuối thu nơi Vực Thẳm.

Vực thẳm sang đông thường trở nên rét mướt, lúc trận tuyết ghé qua, khắp mặt đất và cỏ cây đều chìm trong buốt giá. Lũ quái vật chẳng ra ngoài hoạt động nữa, chúng thường tìm sơn động ấm áp để nương náu. Nhằm sống sót qua cả mùa đông, chúng sẽ xồ vào thịt lẫn nhau một cách rất hăng – chúng liều mạng ngốn thật nhiều thịt hòng tích trữ chất dinh dưỡng xuyên suốt mùa đông hoặc tha xác kẻ thù vào hang núi, làm lương thực dự trữ. Thời khắc máu chảy thành sông nguy hiểm nhất ở Vực Thẳm, là một tháng trước khi mùa đông ghé tới.

Hiện nay cảnh giết chóc tương tự cũng diễn ra ở chốn khác.

Chặng đường này không dài, họ luôn chú ý chọn những lối phủ khuất mà đi, hoặc có thể là nhờ vào sự may mắn, họ chưa đụng độ bất cứ quái vật kiểu lai kh*ng b* nào. Xuất phát lúc tám giờ, đến chín giờ rưỡi sáng, non nửa thành phố bị gió bụi vùi lấp xuất hiện trước mặt họ.

Nó rộng ngút ngàn, dẫu đến gần vẫn phóng mắt trông không đặng điểm dừng. Ta có thể thấy láng máng con đường cũ kĩ nằm giữa muôn tòa nhà liên miên kéo dài bất tận. Các công trình cao tầng khác hẳn với kiểu nhà đều chằn chặn ở căn cứ phương Bắc, nó xây lộn xộn, chẳng có quy luật nào cả. Nhà cao tầng cao vút và thấp bé nằm cạnh nhau, nhà hình cầu và hình chữ nhật đứng xen kẽ, nẻo đường khuất khúc, có một tòa tháp đỏ sậm cao chọc trời sừng sững giữa thành phố, cầu vượt sập hơn phân nửa, cây mây lằng nhằng vắt ngang ở con đường phía trước. Muốn nhà màu nào có nhà màu nấy, song chính bởi vì chúng muôn hồng nghìn tía, nên lại dần gộp thành một trong mắt An Chiết, mông lung một màn bụi mờ ảo.

An Chiết đứng ngắm cõi xa khoảng khoát vô bờ ấy, nếu chẳng nhờ tận mắt chứng kiến – hẳn cậu sẽ không mường tượng nổi rằng trên đời vẫn còn kiểu thành phố vằn vèo phức tạp này, giả sử cậu là người dân ở đây, thì lạc đường âu cũng là lẽ thường tình.

Những rặng mây đen che khuất vầng thái dương khiến khoảng trời tối sầm xuống, và làn sương mờ ảo bắt đầu phủ vây.

– Hai anh đi theo em – Siebe nói – Người lớn trong quặng mỏ hay ghé nơi này tìm đồ dùng lắm, trong thành phố có một đồn bốt. Thực ra sống ở nội thành cũng được thôi, ngặt nỗi tụi em sợ gặp quái vật. Chả hiểu sao mà nội cứ bảo chỉ có hang động mới an toàn nhất. Trước kia có ba ông chú thấy cuộc sống nơi hang động khốn quẫn quá nên bèn cuốn gói vào nội thành, rồi bặt tin từ bấy đến giờ luôn.

Họ theo chân Siebe lướt qua dãy nhà san sát rồi đi đến khu cư trú đông đúc, ken dày những cư xá lớn ám màu xám xịt, quảng trường nằm tuốt đằng xa, một vật hình cầu trắng toát thấp thoáng giữa quảng trường. Trong thành phố im phăng phắc, trừ tiếng gió lùa qua nhà cao tầng thì chỉ còn mỗi tiếng bước chân của họ.

Lục Phong phụ trách quan sát xung quanh, Siebe phải cúi gằm suốt do cõng ông nội, nó bảo:

– Qua khỏi quảng trường kia là tới, sắp rồi.

Bấy giờ, cụ ông chợt hé môi.

Dây thanh đới của cụ rung lên và bật liên tục một âm tiết cố định, cổ họng cụ nghẹn ứ đờm khiến giọng cứ the thé, cố lắm chỉ nghe được rằng:

– Ch…

– Ch… ch…

Lục Phong bỗng chốc ngừng bước.

An Chiết trông sang, cậu thấy anh đanh người nhìn về phía quảng trường đằng trước.

Giây tiếp theo, anh hô một tiếng:

– Chạy!

Chẳng có thời gian để suy nghĩ nữa, cánh tay An Chiết thình lình bị kéo đi, cậu xoay người nối gót Lục Phong lao xồng xộc vào một khu cư xá theo phản xạ. Siebe chưa hiểu mô tê gì sất, song vẫn cõng ông nội cố bắt kịp họ.

An Chiết khá quen với kiểu cấu trúc ở khu cư xá, vừa bước vào hành lang thôi, một bộ xương khô trắng hếu bận quần áo đã đập ngay vào mắt, nó tựa nghiêng lên góc tường, như thể hòa làm một với bức tường xám ngoét vậy. Nhưng cậu không săm soi kĩ nổi, bởi cơ thể cậu vốn đã rệu rã rồi, cậu bị tụt lại lúc lên cầu thang, Lục Phong bèn dứt khoát bế thốc cậu rồi chạy lên cầu thang thật nhanh. Cầu thang rất rộng, tầng một có ba căn hộ, giây phút chạy đến tầng tám có cảnh cửa đang rộng mở, Lục Phong ôm An Chiết xông thẳng vào đó, Siebe bám theo sau, nó vừa đi vào Lục Phong bèn đóng rầm cửa lại. Mọi đồ dùng trong phòng bám đầy bụi, có một bộ xương khô nằm chỏng gọng trên ghế xô-pha nơi phòng khách.

Đây là căn hộ có ba phòng ngủ hai phòng khách, nam bắc thông nhau, thứ gồ ra từ phòng khách và kéo dài men theo diện tích căn hộ – là một ô cửa kính sát sàn to tướng.

Lục Phong thả An Chiết xuống, anh thở hực lên nặng nề do ban nãy phải chạy thục mạng, An Chiết chưa từng thấy dáng vẻ này của anh.

Tuy nhiên giây kế tiếp…

Cậu phát hiện Siebe vọng ra ngoài cửa sổ sát sàn, mặt mày tái sạm, ánh mắt dại đi.

Cậu bèn trông theo.

Trắng ớn.

Một con quái vật trắng ớn, tròn lẳn, cao chừng nửa cư xá đang di chuyển với cái lối thực lạ – nó gần như bay lơ lửng, tựa âm hồn chầm chậm xáp tới đây. Chính là thứ mà An Chiết lẫn với vật trang trí màu trắng trên quảng Tr**ng X* xa, song, nó thực chất là một con quái vật khổng lồ.

Nó đi thẳng sang bên này, An Chiết thấy rõ hình dạng của nó khi chỉ còn cách hai con đường – một nắm vật thể chẳng hình dung nổi, hàng tá cái chi lúc nhúc như ốc sên hay bạch tuộc gì đó mọc dưới thân nó, nửa phần trước thì phụ trách việc di chuyển, nửa phần sau thì bùng nhùng kéo lê phía sau. Mình mẩy nó – mình mẩy gần như tròn lẳn phủ trùm một lớp màng hơi trong pha giữa sắc xám nhạt và trắng bợt. Sau lớp màng, trong thân nó chứa ti tỉ vật thể đen sì hoặc da cam – có hình dáng khó tả tột cùng, đấy có lẽ là cơ quan, xúc tu hoặc tứ chi lít nha lít nhít, hay là một thứ gì đương ngọ nguậy không ngớt.

Nó càng đến gần khu cư xá này, họ càng dễ chứng kiến những chi tiết trên người nó, đó là hình thái lai vượt khỏi tầm hiểu biết của loài người, ta chẳng tài nào lần ra nổi mắt nó ở nơi đâu. Mà Siebe cứ nhìn đăm đăm vào nó, như thể giây tiếp theo sẽ bỏ mạng bởi cơn điếng người vậy.

Nó mỗi lúc một gần.

Tất thảy đứng trong phòng ngừng thở.
 
Cây Nấm Nhỏ
Quyển 3 - Chương 64: “Dòng thác lũ này chỉ mới bắt đầu lao nhanh thôi.”


Nó băng qua con đường phủ lấp cát vàng rồi tới gần khu cư xá, còn cách vài trăm mét nữa thôi, chi mềm cạ lên mặt đường phát ra tiếng “Sạt sạt…” “Sạt sạt…”. Ta chẳng lần thấy nổi con mắt, đôi tai, râu hay lỗ thở nào trên màng bọc xám ngoét bóng loáng kia cả, nó cảm nhận thế giới này bằng cách gì thế? Thính giác, thị giác, hay là sóng âm? Bởi điều đó quyết định họ nên trốn theo kiểu gì.

Siebe bật thốt:

– Tính… tính sao đây?

Lục Phong lặng thinh, anh sải bước đến bên cửa sổ đoạn vươn tay đẩy nó ra. Cửa sổ chả buồn nhúc nhích vào lần đẩy đầu tiên, nó cứ như bị đóng băng hoặc gỉ sắt vậy. Cánh tay anh banh chặt và dốc thêm sức, bấy giờ ô cửa mới rít lên thứ thanh âm ren rét do mài kim loại gãy lìa – váng tai tột độ, cố lắm chỉ đẩy ra đặng một kẽ hở nhỏ chênh chếch hình tam giác thôi.

Nòng súng đen ngòm chĩa khỏi kẽ hở, nhưng thượng tá không nhắm vào quái vật, mà là đường cái phía đối diện.

Một phát “Phằng” thật khẽ dội lên – là tiếng súng gắn nòng giảm thanh, chẳng nghe thấy nổi nếu đứng xa hơn mười mét.

Dáng đạn vụt qua hằn in nơi võng mạc anh, ngay sau đấy nó bắn vỡ cửa sổ trên tòa nhà nằm kế đường cái. Khác hẳn với loại đạn thường anh sử dụng khi phán xét loài người, hễ ra vùng ngoài anh sẽ đổi sang đầu đạn hợp kim urani nghèo, mạnh đến mức xuyên thủng và nghiền nát mọi lớp giáp.

Tiếng vang inh tai dội lên, nguyên mặt kính tức khắc vỡ choang rồi rơi xuống mặt đất.

Động tác của con quái vật rõ ràng thoáng chững lại.

Lục Phong lại cầm súng bồi tới tấp dăm phát nữa, ở đằng đó miểng kính đổ loảng xoảng không ngớt. Quả nhiên nó có nghe thấy, phần chi bùng nhùng nọ chuyển hướng, khựng giây lát như thứ dao động dập dờn. Tiếp đến chầm chậm nhích sang hướng bắt nguồn thanh âm. Ba phút sau, nó lại khựng người, mặc kệ lối đi ban đầu mà tiến tiếp về khu cư xá họ ở.

Siebe lùi về sau vài bước theo phản xạ, mặt mày tái mét:

– Nó… nó… liệu có diệt nó nổi không?

Lục Phong khẽ mím môi, anh nhìn thẳng nơi ấy, ánh mắt lẫm liệt, vẻ mặt bình tĩnh đến hãi.

Ngay sau đấy, chỉ thấy anh nhấc tay tháo nòng giảm thanh xuống, nhấn cò súng liên tục!

“Đoàng! Đoàng! Đoàng!”

Tiếng bộc phá rúc lên từng tràng giật dội tại quảng trường chung quanh con quái vật! Thanh âm ấy chẳng khác gì sấm rền điếc tai ở thành phố câm bặt tột độ này cả.

Quái vật lại dùng dằng tại chỗ thêm đợt nữa, nhưng cũng chính lúc bấy giờ, một tiếng rít sắc lẻm bất chợt bật ra từ đầu khác của thành phố. Tức thì, có cái bóng đen to tướng bay vụt lên ở đằng ấy – một loài chim khổng lồ giống hệt đại bàng lao thẳng tới, tốc độ chao liệng của cánh chim dài mười mét còn chóng hơn cả đạn, nó đang đâm bổ về phía con quái vật trắng bóc to ngang ngửa nó!

Quái vật rú lên một tiếng cao ngất ngưỡng, màng bọc trắng vỡ toác, vô vàn cái xúc tu như bụi gai thân mềm vươn ra nườm nượp quấn chặt mỏ đại bàng.

Thanh âm nặng trình trịch vọng khắp, đôi cánh tựa giáp thép của đại bàng đâm thủng cơ thể nó, quái vật đau đớn nên bèn vội rút xúc tu về. Đại bàng thừa dịp giằng ra, nó tức thì vỗ cánh bay vọt lên trời lúc vừa tung một đòn xong. Sau khi tránh thoát phạm vi tấn công của xúc tu màu xám đen loằng ngoằng nọ, nó bèn liệng quanh bầu trời, rồi tiếp đến lại thoắt bổ nhào xuống dưới – cuốn theo tiếng gió rít mạnh, mỏ chim sắc bén thọc thẳng vào mình mẩy con quái vật trắng bóc.

Chất lỏng màu trắng và hồng tựa thịt tức tốc văng tóe muôn nơi, răng nanh trong chiếc mỏ nhọn đang cắn riết thứ gì đó khiến con quái vật trắng oằn mình giãy giụa điên cuồng, cơ thể quá khổ của nó đánh sập những tòa nhà xung quanh, mặt đất rung nảy dữ dội. Hai quái vật khổng lồ khó mà mường tượng nổi cứ thế cấu xé nhau ngay tại thành phố loài người xám xịt.

Mặt đất trong bán kính hàng trăm mét đều nhoe nhoét chất nhầy sẫm màu, trận chiến này chấm dứt với một con quái vật trắng toát bị dập cho long lở, nội tạng chảy bừa phứa. Đại bàng quắp lấy một xâu cơ quan nội tạng ướt nhèm rỉ nước đầm đìa, đoạn xoay người bay về xứ xa chẳng chút luyến lưu.

An Chiết thở phào nhẹ nhõm, tới tận bây giờ cậu mới hiểu ý đồ nổ súng ồ ạt ban nãy của Lục Phong, chưa chắc ở thành phố này chỉ có độc một con quái vật, anh bóc trần vị trí của nó bằng tiếng súng hòng dẫn quái vật khác đến.

Chợt nghe Siebe hỏi:

– Sao… sao anh biết có con chim kia?

Lục Phong thu súng, lắp nòng giảm thanh vào đoạn xoay lưng, loạt động tác vừa lưu loát vừa gọn gàng.

– Không biết, – Anh trả lời – đoán bừa.

An Chiết dõi theo hướng đại bàng bay mất, dưới trạng huống như hiện tại, quái vật có cánh cho ta thấy ưu thế chẳng gì sánh bằng.

Vừa trở về từ cõi chết, họ không hé lời tiếp nữa, bỗng một thanh âm già nua vọng lên trong câm lặng.

– Sắp đến lúc rồi – Giọng cụ ông khản đặc – Ta sống sáu mươi tuổi, vậy là đủ rồi.

Lục Phong trông sang cụ ông, anh hỏi:

– “Lúc” là có ý gì?

Cụ hơi hé môi, cụ ngóng nhìn chân trời nơi xa, nét mặt thoáng gợi lên vẻ điên rồ quẫn trí:

– Lúc… lúc ập tới.

– Thứ gì ập tới?

– Không nói được, không mường tượng nổi… – Giọng cụ tràn ấp sự khê khản khi con người ta hấp hối – Lớn hơn tất thảy mọi thứ, chẳng thể nhìn thấy, sắp ập tới… thế giới này rồi.

Lục Phong chùng giọng:

– Sao ông biết điều đó?

– Ta sắp chết rồi… ta cảm nhận được nó – Giọng cụ chầm chậm như cái thói mê sảng từng kéo dài bao ngày.

– Nghe được những gì?

– Nghe được… – Cụ ông ngắc ngứ – hỗn loạn…

Thời khắc thốt ra câu này, cụ khẽ ngẩng đầu ngắm khoảng không u tối ngự trên thành phố, An Chiết lần theo ánh mắt cụ. Bầu trời trũng khôn tả, trũng tới rợn người, nó nằm nặng trịch ngay trên tầm mắt. Cực quang sáng khôn tả, vầng sáng xanh lục nọ cũng đã trũng xuống và hòa lẫn chung với bóng mây bụi đen. Lục Phong bảo nguyên nhân cực quang sáng như thế, là do căn cứ tăng tần số từ trường nhân tạo lên nhằm ngăn tình trạng biến dạng.

– Người sinh trưởng trên mặt đất, chết đi trên mặt đất. Bầu trời… – Vẻ mặt cụ ông thanh thản, giọng ngày một nhỏ dần – bầu trời chỉ biết lún sâu thêm.

…Sau khi bật thốt chữ cuối cùng khỏi miệng, cụ chậm chạp chắp hai tay vào nhau.

Đôi mắt từ từ, từ từ nhắm nghiền.

Đầu gối Siebe mềm oặt quỳ thụp xuống trước mặt cụ ông, đặt tay lên đầu gối còm cõi của cụ:

– Nội ơi? Nội ơi?

Không một lời hồi đáp.

b* ng*c cụ ông ngừng phập phồng, cụ đã ra đi.

Cái chết ghé đến chỉ trong phút chốc.

Hai hàng lệ tuôn chảy từ đôi mắt bàng hoàng của Siebe, nó gục mặt xuống đầu gối cụ ông.

Chờ nó ngẩng đầu lên lần nữa, An Chiết bèn hỏi:

– Em ổn chứ?

– Em… em ổn ạ – Siebe thẫn thờ ngắm khuôn mặt ông nội mình, thều thào rằng – Trước kia nội có bảo, nội chả sợ chết đâu. Nội nói rằng, người sống đều có sứ mệnh của riêng mình, và sứ mệnh của nội chính là bảo vệ tất thảy những ai ở quặng mỏ. Có thể chứng kiến quặng mỏ tồn tại đến ngày hôm nay, nội đã… đã mãn nguyện rồi.

Nó ngẩng đầu ngó khuôn mặt cụ – khuôn mặt tiều tụy, rợp bụi. Mái tóc bạc rối tung, dăm ba lọn xoăn tít vướng vào nhau, chẳng một ai sống sung sướng nổi dưới lòng đất tối tăm cả.

Nó nói:

– Để… để em đi tìm lược.

Nó đứng dậy với vẻ trật trà trật trưỡng, đoạn mò sang các căn phòng khác.

Một sinh mạng tuổi xế chiều đã rời đi.

Vẫn còn một sinh mạng khác bỏ mình từ lâu trong căn phòng này. An Chiết ngoảnh đầu ngó về phía ghế xô-pha nơi phòng khách, có bộ xương khô nằm trên đó. Máu thịt nó âu đã rữa nát, bởi nguyên cả chiếc ghế xô-pha lấm tấm vô vàn vết loang xanh lá, vàng ệch hay nâu sẫm – chúng là dấu vết của nấm mốc phát triển.

– Thoạt tiên là nấm, siêu vi trùng và siêu vi khuẩn, chúng sinh sôi ngay trong thành phố loài người rồi lây nhiễm cho gần hết số dân, xác chết chất đầy thành phố, những ai từng ghé qua phế tích vùng ngoài đều biết chuyện này – Lời thi sĩ từng nói văng vẳng bên tai An Chiết.

Cậu ngẩng đầu vọng ra ngoài ô cửa sổ, nơi đây là một tòa cư xá chết, một thành phố chết, trong cư xá lổng chổng xương khô, bộ xương nào cũng là các sinh mạng đã từ giã cõi đời.

Lục Phong nom thấy ánh mắt An Chiết, nó vẫn phẳng lặng như chẳng màng đoái hoài tới điều gì. Nhưng dưới sự chiếu rọi từ nền trời u tối, khi tất thảy chuyển động tinh tế trên khuôn mặt an tĩnh xinh xắn của cậu hòa vào nhau, trông lại gợi lên vẻ sầu thảm khó tả hệt tà khói.

Anh dời mắt, nhìn thành phố này, đoạn cất tiếng:

– Lúc căn cứ loài người vừa xây xong và đang tìm kiếm cứu trợ mọi mặt, căn cứ không đủ sức nên có khối thành phố nhỏ chưa nhận được sự giúp đỡ kịp thời.

An Chiết nhìn những tòa nhà ngút ngàn trẩy dài bất tận như sóng nước cuộn trào, cần ít nhất vài tiếng để đi từ đầu bên này thành phố đến đầu bên kia thành phố. Cậu khẽ hỏi:

– Đây là thành phố nhỏ ư?

Lục Phong đáp:

– Đúng thế.

An Chiết thoáng mở to mắt.

Một thành phố bạt ngàn tột độ trong mắt cậu, không ngờ chỉ là diện đô thị cỏn con bị bỏ quên trong mắt loài người từng huy hoàng thịnh vượng mà thôi. Vậy thì trước khi thời kì Thảm họa ập tới, liệu xã hội loài người phải hùng vĩ đến nhường nào?

Cậu chẳng biết.

Và, quanh thành phố này đã từng có những con người sống ngắc ngoải trong thời cuộc thảm họa, vậy ở những vùng đất khác, phải chăng cũng có bao mảnh đời đang vùng vẫy, tuyệt vọng, chết đi? Xương xẩu chất chồng muôn nẻo thành phố, căn cứ không hề an toàn yên ổn, khắp thế giới ngập tràn muôn tiếng khóc than.

Quá trình mà một tập thể hùng tráng khôn tả dần suy bại… Mường tượng ra cảnh ấy, cậu như thấy được ánh tà thênh thang của buổi chiều hôm đang chầm chậm đắm mình vào đường chân trời đen đặc, một cái chết kéo dài đằng đẵng.

“Bộp.”

Đương lúc lặng phắc, phòng ngủ kế bên chợt dội ra âm vang bởi vật gì đấy rơi xuống đất. Lục Phong bèn hỏi:

– Sao vậy?

Chả nghe câu trả lời, chỉ có hơi thở run lập cập của Siebe vọng tới.

Lục Phong chau mày, anh cầm súng xoay người cất bước sang đó, An Chiết bám theo.

Căn buồng tuềnh toành, chẳng có quái vật hay kẻ địch, nhưng Siebe đưa lưng về phía họ – tấm lưng nó run dữ dội. Thoạt tiên An Chiết nghĩ rằng nó đang khóc, kế tiếp, lúc đã đến gần nó, An Chiết phát hiện nó đang nhìn đăm đăm chiếc lược nằm trong tay.

An Chiết khó mà hình dung ngay nó là một chiếc lược gỗ trông như nào, bởi lẽ nó không hẳn là một chiếc, mà là do hai chiếc dính lại. Đấy là kiểu lược gỗ màu nâu bình thường nhất, có cán dài chừng mười xăng-ti-mét và răng lược nhỏ, cán của hai chiếc lược gỗ nom giống mọc khít vào nhau, cứ y hệt được gọt giũa từ cùng một miếng gỗ vậy. Răng lược nghiêng 45 độ, phần ở bên trái, phần ở bên phải, giống một con rắn hai đầu thè lưỡi.

Song nếu chúng vốn chỉ là hai chiếc lược bình thường, thế thì sao lại dính chặt cơ chứ?

Gỗ – sản phẩm từ một miếng gỗ, món đồ an toàn nhất và tầm thường nhất, lại mang đến sự ghê rợn không gì sánh bằng nhờ vẻ ngoài cổ quái vượt ngoài thường thức này.

Lục Phong bước đến chỗ bàn trang điểm mà Siebe lấy chiếc lược kia. Rõ ràng trước thời kì Thảm Họa đây là một căn phòng dành cho nữ, ti tỉ chai lọ, ti tỉ dụng cụ lớn nhỏ đặt trên bàn trang điểm trắng ngà. Lục Phong duỗi tay lau lớp bụi bám trên tấm gương, lau vơi một lớp, phía dưới hãy còn lớp nữa, bụi bặm như tuôn ra từ trong gương vậy, mặt gương luôn giăng mù khiến hình bóng họ cũng oặt thành một nắm đen sì.

An Chiết chứng kiến toàn bộ, bỗng cậu nhớ về cảnh khi mình leo lên tường thành ở ngoại thành, cát rơi mất một lớp, rồi phía trong vẫn cứ ken đặc cát, tường thành chừng như chất pha trộn giữa sắt thép và cát.

Lục Phong chẳng săm soi gương nữa, anh thoáng chau mày, lướt mắt qua khối dụng cụ trang điểm đủ kích cỡ ấy, sau cùng vươn tay rút một cái nhíp dài bị hoen gỉ – cũng không hẳn là cái nhíp, bởi cái nhíp kim loại này đã dính chùm với dao tỉa mày nhựa, bộ phận kết hợp đan chéo hình chữ “X” giữa chúng hợp làm một, chẳng phân biệt nổi, chẳng tỏ tường là sắt thép hay nhựa, hoặc có thể nói rằng đấy là một chất liệu mới cóng mà loài người chưa hề hay biết.

Ngón tay Siebe run bần bật, nó đánh rơi lược xuống nền nhà đầy bụi.

– Có thứ gì kì quái… – Nó hé môi – hiện hữu ở thành phố này ư? Chúng ta… chúng ta chạy nhanh đi.

– Không phải thành phố này – Lục Phong trả lời.

Anh nhìn dao tỉa mày dính liền với cái nhíp đó, chỉ thốt đúng ba từ.

– Động cơ.

Ba từ bình thường quá đỗi ấy lại giáng xuống tựa sấm chớp.

Phía trong động cơ có cấu trúc máy móc phức tạp, hễ những cấu trúc tinh vi ấy gặp trục trặc…

Nếu phía trong động cơ cũng xuất hiện sự kết hợp và thay đổi dị hợm giống chiếc lược kia, vậy thì bao vụ tai nạn máy bay chính là một việc đã được định sẵn.

An Chiết khom lưng nhặt chiếc lược kia lên, chả lần ra bất kì dấu vết ghép nào cả, nhưng đóa hoa khắc trên cán nom lằng nhằng, hỗn loạn và cuồng dại, ta không tài nào mường tượng nổi chúng quyện lẫn vào nhau bằng cách gì – giống như các nét chữ đen sì vươn xúc tu trườn rộng khắp chốn trên cuốn sổ tay hướng dẫn bay vậy.

An Chiết mở to hai mắt, thốt nhiên, câu nói trước khi phu nhân Lục biến thành ong chúa vụt lên bầu trời cao vời vợi thì thầm bên tai câu.

Bà nói rằng: “Gen người quá yếu ớt để cảm nhận những thay đổi đang diễn ra trên thế giới này.”

“Ai rồi cũng phải chết. Toàn bộ cố gắng đều là hoài công, nó chỉ tổ chứng minh sự bé mọn và bất lực của con người.”

Một ý nghĩ xẹt ngang trí óc cậu, hệt tia chớp rạch phá bầu trời.

Nếu, nếu bảo… Giây phút người và quái vật, quái vật và quái vật xuất hiện mối liên hệ hoặc trùng lặp về mặt không gian, ô nhiễm gen sẽ diễn ra thì… Không! nhầm rồi, nhầm hết rồi.

– Gen… – Cậu thều thào – không phải do gen…

Vấn đề hoàn toàn chẳng xuất phát từ gen. Loài người cho rằng sự thay đổi gen là nguyên nhân cội nguồn của việc ô nhiễm. Tuy nhiên ô nhiễm là sự hòa trộn và kết hợp x*c th*t giữa hai sinh vật với nhau, thuộc tính của riêng họ bị biến hóa, chỉ là cái biến hóa đó cần nhờ sự thay đổi gen để hoàn thiện mà thôi.

Giả sử, giả sử trường hợp ô nhiễm lẫn nhau xuất hiện, giả sử thuộc tính của một vật sống bất thình lình biến đổi, thế thì vì sao những thứ khác lại không làm được điều đó? Cơ thể sinh vật, vòng xoắn DNA, và vô vàn vật chất vô tri trên hành tinh này có điều gì khác biệt ư?

Vì lẽ đó trang giấy và gỗ c*̃ng biết ô nhiễm lẫn nhau, vì lẽ đó sắt thép và nhựa cũng biết ô nhiễm lẫn nhau.

…Vậy thì mọi sự vật hữu hình trên thế giới ắt đều biết.

Chẳng qua quá trình này đang diễn ra từng bước, dòng thác lũ này chỉ mới bắt đầu lao nhanh mà thôi, ô nhiễm gen sinh vật chính là điểm báo vừa phô bày trước mặt loài người.

Suốt dạo qua khi từ trường biến mất, những quái vật kiểu lai ăn một cách rõ hăng, chúng vồ lấy các hình thái sinh vật khác để phát triển bản thân – nom giống loài người dự trữ lương thực nhằm chống chọi với mùa đông rét buốt vậy, phải chăng chúng đã cảm nhận được điều gì?

Giọng Siebe run rẩy:

– Rốt cuộc…

Nó không thốt nổi bất cứ lời nào.

Rốt cuộc đây là thời đại gì? Rốt cuộc họ đang đối diện với cơn thảm họa gì? Rốt cuộc sự việc đang xảy tới là gì? Là gì? Là gì thế?

Tia chớp vụt qua chân trời. Cửa sổ ầm ầm rung rít, ngọn gió chứa đựng tiếng khóc than đến từ thuở xưa bất diệt vẳng lên khúc ngân vang dài dặc, lách qua khe cửa rồi lùa vào phòng, vạt áo của họ bị thổi bay phần phật. An Chiết ngẩng đầu, cậu bỗng chạm trúng ánh nhìn từ Lục Phong, vẻ tăm tối nặng nề thẳm sâu nơi đôi mắt anh nom như bầu trời ngoài kia vậy.

Giây phút họ vừa nhìn thẳng vào nhau, có tiếng sấm thoắt vang rền phía chân trời. Khoảng không mỗi lúc một âm u, mưa rào tầm tã trút ồ ạt xuống đất trời mênh mang.

Trong màn mưa, ta chẳng nghe đặng tất thảy mọi thứ ngoài kia, chẳng nghe đặng tất thảy… Miền u ám kéo dài bất tận, nỗi hư vô kéo dài bất tận, cơn kh*ng b* kéo dài bất tận.

Chất giọng bùi tai ôn hòa của phu nhân Lục và khê khản úa tàn của cụ ông, chúng đè trùng điệp lên nhau, thì thầm bên tai An Chiết.

“Sắp đến lúc rồi.”
 
Cây Nấm Nhỏ
Quyển 3 - Chương 65: “Nhưng An Chiết cũng chẳng phải là một cây nấm hư như vậy đâu.”


Kế đấy họ phát hiện thêm chứng cứ trong căn phòng này.

Cửa sổ khó đẩy ra, là do bệ cửa sổ sắt đã dính chặt với đế.

Còn bộ xương ấy, nom kĩ hơn sẽ phát hiện xương đùi nó mất tăm ngay trên ghế xô-pha. Sự tồn tại xấu xí nhất chính là ngọn đèn chùm hình hoa linh lan treo lủng liểng trên trần nhà phòng ngủ thứ hai, chao đèn cùng giá đỡ kim loại của nó lẫn vào nhau, chúng tan chảy và sã mình xuống một cách mềm mại – tựa ngọn nến cháy tận. Bụi bặm đen sì phủ lấp chao đèn trắng xóa, hạt bụi nào cũng là một nốt đen bé chừng đầu kim, chúng ken dày chất đống, tưởng chừng sắp sửa tạt thẳng vào mặt vậy.

Những điều kì lạ vốn chẳng nên diễn ra kết hợp cùng mọi hiện tượng vượt khỏi nhận thức và giới hạn khoa học của loài người, gợi cho An Chiết một thứ ảo giác, rằng thế giới này như ngọn nến lụi tàn đang dần dà, dần dà tan thành bãi sáp nhão nhoét.

Siebe trở về phòng khách, nó ngồi chết lặng trên sàn, mãi sau bèn ôm ông nội lên rồi đưa cụ rời khỏi ghế dựa, toan tránh xa nơi đó, cứ như thể chiếc ghế kia là con quái vật khủng khiếp nhất, cứ như thể ngay sau đấy xác cụ ông sẽ lẫn quyện với chiếc ghế vậy. Cách ghế thật xa, nó đặt ông nội xuống sàn, song cơ mặt nó lại tức thì run bần bật với vẻ điên rồ…

Bởi biết đâu sàn nhà cũng là quái vật.

Kế đến tấm thân nó run lập cập rồi bất chợt giật lùi về sau dăm bước, sự tồn tại của chính bản thân nó cũng là nguồn cơn ô nhiễm.

An Chiết thấy nó hoang mang tột cùng thì bèn nhấc chân đi đến phía trước, hiềm nỗi vừa tiến đặng một bước thôi, Siebe đã lia ánh mắt kinh hoàng sang chỗ cậu, thụt lùi liên tục.

Nếu như hết thảy trên thế giới đều ô nhiễm lẫn nhau, vậy chỉ khi né xa mọi vật chất mới bảo toàn tính mạng nổi. An Chiết cảm thông cho nỗi lo sợ của nó, cậu lại tiếp tục chủ động kéo dài khoảng cách với nó.

– Xin lỗi, em… – Răng Siebe va lập cập, bảo – em cần… yên tĩnh một lát.

Lục Phong dẫn An Chiết vào phòng ngủ.

Giây phút đặt chân vào phòng ngủ và lại nom thấy cái đèn chùm rủ xuống ấy, An Chiết bỗng chốc ngừng bước. Cậu ngoảnh sang thượng tá, thấy đôi mắt xanh lục của anh như đang kết băng. Sau đấy Lục Phong bèn lôi máy liên lạc ra khỏi túi áo, anh siết nó thật chặt, đốt ngón tay trắng bệch.

An Chiết chỉ đứng bên cạnh quan sát, Siebe đã mất kiểm soát rồi, cậu hiểu tình trạng của Lục Phong cũng chẳng khá khẩm hơn Siebe bao nhiêu, bởi anh vẫn là con người. Thậm chí, thượng tá còn cảm nhận được nhiều thứ hơn Siebe nữa. Đi đôi với việc cần vượt qua nỗi sợ hãi mà thế giới điên rồ này mang lại, anh phải nghĩ về căn cứ loài người ở chốn xa. Anh nhất định phải tỉnh táo vì căn cứ loài người.

Nếu động cơ gặp trục trặc bởi sự ô nhiễm lẫn nhau của vật chất, vậy thì máy liên lạc sao tránh thoát nổi. Có chiếc tua vít nằm trong ngăn kéo tủ đầu giường phòng ngủ, Lục Phong cầm nó lên, vặn mở đinh ốc vỏ ngoài máy liên lạc.

Vỏ ngoài, con chip có kết cấu phức tạp, đường dây xen kẽ, vô vàn phụ tùng tí hon bị tháo ra ngay trên giường. Lục Phong cầm từng cái một lên xem, anh mượn ánh sáng le lói kiểm tra cấu trúc nhỏ bé của chúng.

Phụ tùng máy liên lạc nhiều vô kể, An Chiết ngắm nghía giây lát, cũng lấy ra dăm ba linh kiện có cấu trúc đơn giản từ đống lỉnh kỉnh ấy, định bụng coi xem liệu chúng có đáp ứng đủ tiêu chuẩn cái nào ra cái đó của máy móc loài người không.

Khép kín cửa phòng lại, trên thế giới dường như chỉ còn lại hai người họ. Chẳng ai chịu hé lời, trong tiếng mưa rơi, chẳng nghe đặng bất cứ âm thanh nào ngoại trừ lục xem phụ tùng, Lục Phong làm việc cực chóng – những linh kiện này có vẻ hãy còn bình thường.

Tuy nhiên An Chiết chợt thấy bất ngờ.

Cậu săm soi con chip be bé trong tay, trên bề mặt có hai sợi đồng đỏ thẫm xếp ngang hàng, sợi nào cũng do hàng tá sợi đồng tí hon bện nên, chúng vốn phải song hành với nhau, chính giữa cách nhau chừng vài mi-li-mét. Bấy giờ tất cả lại tơi hết ra, hai bên đều oặt vào thành một độ cong kì quặc, hai sợi đồng áp sát nhau, nom khá khó tách rời, điều này chắc chắn là điềm gở.

Vào khoảnh khắc này, chí ít là trong gang tấc ngắn ngủi, An Chiết chợt nảy lên ý nghĩ, rằng nếu ngay cả máy liên lạc cũng bị hư hẳn do biến dạng từ vật chất, nếu Lục Phong không bao giờ quay về căn cứ được nữa, thì bọn họ sẽ như nào đây?

Nhưng An Chiết cũng chẳng phải là một cây nấm hư như vậy đâu.

…Cậu nhìn con chip trong lòng bàn tay, cắn môi, cậu kéo tay áo Lục Phong mặc cho nỗi đớn đau nhè nhẹ ùa đến.

Trong giày bốt của Lục Phong có một chiếc khuy ngầm giắt theo dao găm sắc lẹm, bấy giờ cái dao găm ấy bị rút ra, An Chiết bật đèn pin thó được từ quặng mỏ – đoạn rọi sáng con chip, kế đó nhìn Lục Phong dùng mũi dao cẩn thận hắt những sợi đồng đương quấn bện nọ ra, giữa sợi đồng đã xuất hiện dấu hiệu dính liền, song may mà phát hiện kịp thời, vẫn còn tách ra được.

Lúc dọn dẹp xong xuôi, An Chiết lại bắt đầu căng thẳng. Nhưng cậu thấy đầu óc hơi bải hoải, hình như cậu bị ốm rồi, kể từ khi bào tử có dấu hiệu chín muồi thì cơ thể cậu cứ mỗi lúc một yếu đi.

Lục Phong kiểm tra số phụ tùng còn dư lại lần nữa, kế tiếp lần lượt lắp chúng đâu vào đấy, ấn thử phím, khởi động.

Sau đấy thứ vẳng lên lại chẳng phải thông báo “Xin lỗi bạn, tín hiệu căn cứ đang bị gián đoạn do chịu tác động từ tầng điện li hoặc gió Mặt Trời…” mà thay vào đó là:

“Bíp…”

“Bíp…”

“Bíp…”

Tiếng mưa tuôn ồ ạt to dần lên, hàng ngàn hàng vạn giọt mưa nện xuống cửa sổ như làn đạn và dội ra thứ âm vang lộp độp chẳng ngớt, đây là một cơn mưa xối xả chỉ xuất hiện vào mùa hạ oi bức, cảnh ngoài ô cửa nay đã là thác nước xám ngắt.

Giọt mưa dường như nện vào linh hồn An Chiết.

Trong cơn mụ mẫm, cậu thoáng nghe thấy giọng nữ ôn hòa vọng ra từ máy liên lạc, nhưng cơn mụ mẫm cứ ngày một trĩu nặng, thế giới trước mắt cậu nhòe thành khung cảnh muôn hồng nghìn tía… Vài giây sau, cậu ngã nhoài xuống đất.

Trước khi mất đi ý thức, cậu chỉ nghĩ đúng một điều: <i>Bào tử ơi, làm ơn đừng rơi ra nhanh vậy mà.</i>

<i>Hết chương 65</i>Huhu Chiếtttt, Chiết ơiiiii, té xỉu rồi ai đỡ em nó dứi=((((
 
Cây Nấm Nhỏ
Quyển 3 - Chương 66: “Nhưng em đã gặp được anh rồi.”


Thứ sau cùng lọt vào mắt cậu là khuôn mặt của Lục Phong, cậu chưa từng trông thấy Lục Phong hoảng hốt đến nhường này, cậu muốn thốt lên điều gì đấy, rồi lại không hé lời nổi…

Tầm nhìn tối sầm lại, cơ thể cậu là một lỗ hổng. Có sợi dây nào đó đang đứt phựt trong cậu – một cách khẽ khàng.

…Đau lắm.

Kế đấy là sợi thứ hai.

Cậu gắng lần tìm xem chuyện gì đang diễn ra, rốt cuộc, ý thức của cậu như biến thành một điểm sáng nơi miền hư ảo, rồi cậu thấy được sự thể đang phát sinh.

Sợi nấm trắng phau và nhỏ thó dần dà kéo dài tới độ mém trong suốt, nó đã mỏng manh đến bàng hoàng rồi.

Phựt.

Đi kèm với cơn đau như kim đâm, nó đứt rồi.

Bào tử của cậu.

Hiện nay các sợi nấm vốn nối với mọi sợi nấm của bào tử trong cơ thể cậu đang đứt lìa từng sợi một, chẳng phải do cậu ruồng bỏ nó, mà là bào tử chủ động rời đi… À không, cũng không hẳn.

Là thời khắc chín muồi đã đến, sức mạnh tới từ bản năng sinh mạng chia cắt họ.

An Chiết chẳng ngăn được bất cứ điều gì cả, thật khó để giải thích liệu giữa một cây nấm và bào tử của nó thì có thứ tình cảm sâu sắc gì, mối quan hệ giữa họ cũng chả giống cha mẹ và con cái ở xã hội loài người, nhưng cậu vẫn mong rằng bào tử đừng rời xa mình nhanh đến thế. Ngoài kia còn hiểm nguy như vậy, chỉ cần rời xa cậu, nó sẽ chết non dù có gặp trúng bất cứ thứ gì đi chăng nữa… nhất là gặp Lục Phong.

Song cậu đã vụt mất toàn bộ giác quan, chẳng thốt nổi điều gì nữa mà chỉ biết dốc sức khuyên nhủ bào tử trong lòng thôi.

<i>Đừng ra mà.</i>

<i>Đừng ra mà.</i>

<i>Nguy hiểm lắm đó.</i>

Đương lúc sợi nấm chỉ còn sót lại đúng ba sợi, nỗi sợ cái chết đạt tới đỉnh điểm.

<i>Đừng ra mà… làm ơn.</i>

Mồ hôi lạnh túa giàn giụa, cậu thoắt bừng tỉnh.

Trước mắt là trần nhà, cậu rề rà chớp mắt, kế đến bất chợt giật mình vào giây tiếp theo.

…Nó vẫn còn.

Cậu vẫn cảm nhận được bào tử trong người, ba sợi nấm chao đảo treo nó vắt vẻo, cũng may nó ra chiều ngoan ngoãn ngừng chống đối rồi, dường như nó rốt cuộc quyết định nghe lời cậu. Tiếp đấy, giọng của tiến sĩ ấy vậy mà truyền vào tai cậu, thoạt tiên cậu ngỡ rằng mình đã quay về căn cứ, chốc sau mới vỡ lẽ rằng đây là âm thanh từ máy liên lạc.

Quả nhiên Lục Phong sẽ liên lạc với căn cứ ngay khi vừa sửa xong sợi đồng bị biến dạng. Dẫu biết là sai, nhưng lúc này đây An Chiết thấy mất mát khôn nguôi.

– …Tôi xin thông báo cho cậu hay loài người sắp bay màu rồi – Giọng điệu bi quan của tiến sĩ vọng ra từ máy liên lạc, An Chiết khẽ nhúc nhích, đoạn phát hiện mình đang nằm trong lồng ngực Lục Phong, còn đắp áo khoác của anh, Lục Phong phát hiện cậu tỉnh.

Trông anh như định nói điều gì đấy, An Chiết đảo mắt tỏ ý anh hãy tập trung nghe máy liên lạc tiếp đi rồi tiếp đấy lại suy yếu tì vầng trán lên trước ngực anh.

– Việc này hoàn toàn không phải là cơ thảm họa mà ta dự đoán nổi, nó chính là một một cuộc diệt vong hàng loạt, điều tôi có thể mách bảo với cậu là toàn bộ sinh vật, toàn bộ phi sinh vật, toàn bộ định lý trên thế giới đã thành dấu chấm hết rồi.

Lục Phong cất lời:

– Tôi có gặp trường hợp lai giữa vật chất.

– Đếch có lai gì hết, định nghĩa mới nhất của chúng tôi gọi nó là biến dạng – biến dạng tổng thể ở mức vi mô, nghe này, có một nguyên tử silic trở thành… trở thành cái gì đó mà chúng tôi cũng không hay ngay dưới kính hiển vi, đây vốn chẳng phải ô nhiễm gen mà là sự thay đổi về cấp lượng tử – thứ mà con người sẽ chả bao giờ quan trắc[1] nổi, dựa theo nguyên lý bất định[2], chúng ta không vượt qua được nó, không đời nào vượt qua được, dẫu khoa học kĩ thuật có phát triển thêm mười ngàn năm nữa thì cũng chỉ biết chấp nhận cái chết thôi – Tiến sĩ thốt lên – Tôi… tôi… trước mắt chúng tôi chỉ hay rằng, từ trường có thể giúp Trái Đất tránh chịu tác động bởi sự thay đổi này, biến dạng đang tạm ngừng sau khi cả hai căn cứ tăng cường độ từ trường lên. Ngặt nỗi cậu biết đấy, tình huống luôn trở tệ dần.

[1] Quan sát, đo đạc các hiện tượng tự nhiên như thiên văn, địa lí, khí tượng, v.v…

[2] Nguyên lý bất định là một nguyên lý quan trọng của cơ học lượng tử do nhà Vật lý lý thuyết người Đức Werner Heisenberg phát triển. Nguyên lý này phát biểu rằng: “Không thể xác định được cả vị trí và động lượng (hoặc xung lượng) của một hạt electron vào cùng một lúc. Nếu biết được một đại lượng thì không thể xác định được đại lượng kia.”

Dường như sự căng thẳng quá độ đã thôi thúc chàng ta nói bai bải:

– Hồi xưa phải gặp thương tích nặng thật nặng mới bị lây nhiễm, về sau sây sát tí cũng bị nhiễm, và về sau nữa chỉ cần chạm trúng ắt nhiễm ngay, cuối cùng không tiếp xúc cũng bị nhiễm, tôi cho rằng đây đã là tình trạng tồi tệ lắm rồi, kết quả thì sao? Cấu tạo nền tảng của thế giới này đang xáo động, hơn nữa đấy rõ ràng là một quá trình tăng mạnh từng bước, thế giới mỗi lúc một hỗn loạn, hiện nay từ trường của chúng ta có thể ngăn cản tạm thời, tuy nhiên sau đấy thì sao hả? Thời khắc mà dù tăng cường độ từ trường nhân tạo lên tối đa cũng chẳng ngăn nổi, rồi sẽ đi về đâu? Cường độ cao nhất của từ trường nhân tạo là cấp 9, hiện tại nó đang ở cấp 7, sắp hết cỡ rồi. Ngày mai, ngày mốt, hoặc chậm nhất là nửa năm, cực từ nhân tạo của chúng ta sẽ bị hỏng bởi biến dạng.

– Căn cứ hi vọng cậu có thể trở về, nhưng thực tình thì, tôi thề sẽ không ngăn cản nếu cậu muốn tìm miền đất nào đó tận hưởng nốt quãng đời còn lại – Chàng ta bảo – Sắp chấm dứt cả rồi.

Lục Phong trả lời:

– Tôi hiểu rồi.

– Nếu cậu chưa tìm được An Chiết, vậy đừng tìm nữa. Hãy bỏ qua cho nó, bỏ qua cho chính mình, sống vui phần mình đi, đằng nào cũng sắp chết mà – Tiến sĩ nói – Tiêu bản do cậu mang về, chúng tôi không nghiên cứu ra kết quả cụ thể, đấy chả phải là điều mà khoa học làm được. Dù rằng… căn cứ vẫn muốn đấu tranh giành lấy một tia hi vọng cuối cùng.

Tiến sĩ thoáng chững lại, đoạn bảo:

– Thôi tôi lên cơn điên đấy, xin lỗi nhé, tôi bị ảnh hưởng bởi bầu không khí bi quan ở căn cứ hiện tại. Cậu đừng để bụng mấy lời tôi vừa nói, hãy mang tiêu bản trở về, tiêu bản đó đã phô bày tính trơ với trường hợp lây nhiễm, hay có lẽ là phô bày tính trơ với sự biến dạng. Nó là bước đột phá cuối cùng, niềm hi vọng cuối cùng, cậu – hoặc là bỏ mạng ở vùng ngoài, hoặc đem nó về đây. Nhưng xét trên cái lối cư xử trước khi biến mất đột ngột của An Chiết, tôi đoán nó có thể là một loại dị chủng mang hình thái quái đản tột độ, cậu nhớ cẩn thận nhé.

An Chiết khẽ nhoẻn cười bởi giọng điệu thiếu nghị lực và phán đoán sai lầm về khả năng của cậu từ tiến sĩ, song đồng thời cậu hiểu rằng căn cứ hãy còn thèm khát bào tử của cậu.

– Nghỉ ngơi cho tốt – Lục Phong nói cùng tiến sĩ – Tôi đã gửi tọa độ cho Trung tâm Mặt trận thống nhất rồi.

Kết thúc cuộc gọi.

Lục Phong nhìn xuống An Chiết.

– Vẫn ổn chứ? – Anh hỏi.

– Vẫn ổn – An Chiết trả lời.

Lục Phong nói:

– Ban nãy em sao vậy?

An Chiết lắc đầu nguầy nguậy.

– Em cũng không biết à?

An Chiết thều thào:

– Không phải, – Cậu bảo – không nói cho anh biết được đâu.

Cậu bỗng phát hiện ánh mắt của Lục Phong lạnh tới hãi.

– Ừ, – Ngón tay Lục Phong v**t v* mái tóc cậu, nói với vẻ thong dong – chính vì vậy em cũng chẳng cho tôi biết tiêu bản ở đâu.

An Chiết cúi gằm mặt, cậu chả có điều gì đáng nói về bào tử cả. Trước kia là như vậy, bây giờ cũng là như vậy.

Chuỗi ngày yên bình trên cõi đời này là bọt nước. Nó tựa dấu chấm hết cho một giấc mộng, cậu và Lục Phong chung quy vẫn phải quay về dăm hôm trước.

Thẩm phán giả cùng dị chủng, kẻ truy bắt cùng kẻ đào tẩu. Cậu sẽ không giao bào tử, mà Lục Phong cũng sẽ không buông tha cậu.

Cậu chẳng muốn nhìn vào mắt Lục Phong nữa, vậy là bèn chuyển chủ đề:

– Hiện giờ căn cứ đang lâm nguy à?

– Ừ.

– Thế anh còn định về không?

– Về – Lục Phong trả lời.

– Nhưng tiến sĩ nói là… hết hi vọng rồi mà – Cậu lầm bầm.

Bỗng cậu ngộ ra điểm ngu xuẩn trong câu mình vừa nói, dẫu căn cứ có sắp bị diệt vong đi chăng nữa, Lục Phong cũng sẽ quay về cho kì được. Nín lặng thật lâu, Lục Phong mới đáp:

– Tôi là người của căn cứ.

An Chiết mím môi, Lục Phong thuộc về căn cứ, giống như cậu thuộc về Vực Thẳm vậy. Họ chẳng đời nào chung sống hòa bình nổi. Lục Phong đã gửi tọa độ cho Trung tâm Mặt trận thống nhất rồi, mà cậu thì từ chối tiết lộ tung tích của bào tử, thật khó để mường tượng kế tiếp cậu sẽ phải hứng chịu điều gì.

Cậu ngước nhìn Lục Phong, tia sáng nhá nhem lập lòa trong màn mưa ngoài kia, cậu không nhìn rõ Lục Phong, cũng không tỏ tường nổi anh.

Lúc sự thay đổi trên thế giới này ngày một trở nên điên rồ và ngay cả tiến sĩ cũng thốt ra câu “Loài người sắp tận rồi”, thời khắc cuối cùng trước sự diệt vong của nhân loại, Lục Phong sẽ nghĩ gì nhỉ? Cậu chẳng hay biết, cậu chỉ lặng lẽ dõi theo Lục Phong.

– Đôi khi tôi nghĩ rằng, nếu như căn cứ nhất định phải sụp đổ vào lúc tôi sinh thời, – Giọng Lục Phong khẽ khàng – thì tất cả mọi chuyện tôi từng làm trước kia…

Anh ngừng bặt, chả nói tiếp nữa, làn dao động xúc cảm này như gợn sóng lăn tăn trên mặt nước, chẳng mấy nó đã đóng băng.

– Biết đâu sẽ có kì tích – An Chiết bật thốt, đây là điều duy nhất có thể an ủi Lục Phong mà cậu nghĩ ra được.

Lục Phong cúi đầu nhìn cậu:

– Em cảm thấy có khả năng à?

– Có chứ. Cũng giống… cũng giống việc thế giới này rộng lớn vô bờ, nhưng máy bay của anh lại vừa hay rơi gần chỗ em khi gặp tai nạn vậy – An Chiết nói – nếu sự việc trở khác thì anh đã chết rồi.

Nếu như Lục Phong chết, cũng chẳng có một An Chiết tiếp tục nương náu tại thành phố loài người ngay bấy giờ, hết thảy đều sẽ thay đổi.

Cậu đang nằm rúc vào lòng anh, Lục Phong rủ mắt nhìn cậu, trong đôi mắt xanh lục lạnh căm ấy chỉ có mênh mang buốt giá:

– Em có biết thế giới rộng tới nhường nào không?

An Chiết ngẫm nghĩ, trong miền kí ức hạn hẹp của cậu, có muôn vàn con đường cậu chưa từng đi, cũng có muôn vàn sự vật cậu chưa từng thấy, cậu chỉ là một cây nấm rù rì thôi. Song thế giới này hẳn thênh thang tột cùng, vì lẽ đó lúc máy bay Lục Phong bổ nhào xuống từ không trung và rơi ngay trước mắt cậu, nó mới được gọi là một kì tích.

Vậy là cậu chầm chậm gật đầu.

Cậu muốn giúp Lục Phong vui vẻ chút đỉnh, nhưng mà Lục Phong hiện tại trông thật đáng sợ… An Chiết nhìn sườn mặt vô cảm của anh rồi bất giác rúm ró lại.

– Em không hề biết, – Lục Phong cất giọng lạnh tanh – chả đời nào tôi trùng hợp rơi xuống trước mặt em. Lí do sự việc thành ra như thế, là vì tôi vốn đến bắt em.

– Không phải vậy, – An Chiết nào chịu nổi ánh mắt anh, cậu muốn giằng ra, tuy nhiên lại bị Lục Phong kìm chặt cứng vào ngực, An Chiết nói ngắc ngứ – hôm đó có nhiều máy bay phóng qua lắm, các anh đi… đi giết ong mật mà. Anh tình… tình cờ gặp em thôi, xong rồi mới định bắt em.

– Giết từ lâu rồi – Lục Phong trả lời với vẻ bình tĩnh.

An Chiết mở to hai mắt.

Cậu run rẩy:

– …Ai cơ?

Lục Phong đáp:

– Bà ấy.

An Chiết chỉ nghe được một âm tiết, cậu không rõ liệu từ kia là “ông ấy”, “bà ấy” hay là “nó”. Nhưng khi lời ấy được thốt ra từ miệng Lục Phong, thì chỉ có một khả năng duy nhất.

*He, she, it đồng âm trong tiếng trung, đều đọc là “tā”.

Phu nhân Lục.

Chính tay anh đã g**t ch*t phu nhân Lục.

Cậu khó mà hít thở nổi, ngực co rút dữ dội dăm lượt.

Lục Phong nhìn cậu, ngón tay dời khỏi chếch cổ An Chiết, ngón trỏ và ngón giữa chập lại đoạn đè xuống động mạch cảnh ấm nhuần yếu ớt của cậu. Giọng anh chẳng hàm chứa bất cứ thăng trầm cảm xúc nào, anh bảo:

– Em không nghe thấy chỉ thị từ máy liên lạc à? Nhiệm vụ cuối cùng là đi giết em.

An Chiết nghe chứ.

Cổ cậu bị đè đau quá, cậu vươn tay toan đẩy cổ tay Lục Phong, đẩy hoài chẳng ra nên thanh quản dần chua xót, cậu nói:

– Nhưng thế giới… thế giới rộng lắm, anh vốn đâu biết em ở đấy.

Lục Phong nhìn cậu.

An Chiết bị anh ghì riết vào lòng, nhỏ nhắn quá đỗi. Tiến sĩ bảo cậu hẳn là loại dị chủng cực kì hùng mạnh bởi cậu có thể chuồn khỏi căn cứ trong chớp mắt. Tuy nhiên Lục Phong hiểu, dường như ai cũng dễ dàng thương tổn được một sinh linh yếu ớt và bé bỏng ngần này, dẫu là về mặt thể xác hay tinh thần chăng nữa.

Lục Phong không nghe rõ những gì cậu đang lầm bầm, chỉ thấy vành mắt cậu hoe đỏ, tựa hồ đang muốn liều mạng chứng minh rằng đây là một sự cực chẳng đã, là một sự trùng hợp mà thôi, có vẻ cậu đang cố để mình tin tưởng vào một điều gì đó rồi vin vào nó mà giải thoát cho chính bản thân.

Anh lấy một vật ra khỏi túi áo quân phục.

Một ống thủy tinh nhỏ dài chừng ngón cái sóng sánh chất lỏng màu xanh biếc, giữa ống dán nhãn mác in mã vạch và một chuỗi những con số.

An Chiết nhìn nó, đoạn hỏi:

– Nó là gì vậy?

Lục Phong hờ hững đáp:

– Thuốc theo dõi.

An Chiết từng nghe cái tên này rồi. Cậu nhớ Lily đã từng kể rằng em bị tiêm thuốc theo dõi, con người luôn đặt tên theo một lối dễ hiểu, nghe tên xong sẽ biết công dụng của liều thuốc ấy ngay.

– Hải đăng nói, dung dịch gốc của thuốc theo dõi sẽ nhận được một tần số riêng khi ta soi chúng bằng sóng xung có tần số đặc biệt. Khi soi xong, thuốc theo dõi bấy giờ chia làm hai phần, phần thì dùng để tiêm vào người, phần thì dùng để lưu trữ. Bơm phần thuốc theo dõi được bảo quản vào máy phân tích, nó sẽ chỉ ra phương hướng của thuốc theo dõi đồng tần số – Lục Phong nói – Dù có xa tới mức nào đi chăng nữa.

Ngón tay An Chiết áp sát cái ống nhỏ lạnh căm ấy, rịt chặt nó trong lòng bàn tay.

– Anh tiêm thuốc theo dõi cho em ư? – Cậu bật lên với vẻ run rẩy – Tiêm từ bao giờ? Sao… sao em không biết?

Nói đoạn, có ý nghĩ bất giác xẹt qua trí óc cậu. Giọng c** nh* dần, yết hầu đau rát chừng như chẳng thốt nên lời:

– Anh nghi ngờ em là dị chủng từ lâu rồi hả?

– Tôi không giết em, vì em đã thông qua toàn bộ tiêu chí phán đoán, – Giọng Lục Phong thêm lạnh lùng, anh gỡ ngón tay An Chiết ra, đoạn lấy lại thuốc theo dõi rồi cất vào túi áo mình – nhưng tôi nhất định phải chịu trách nhiệm về sự an nguy của căn cứ.

An Chiết ngơ ngác nhìn anh, một giọt lệ chảy xuống khỏi khóe mắt cậu, cậu những tưởng Lục Phong sẽ lau vơi nó, song anh chẳng hề làm vậy. Dấu vết của giọt lệ nọ dần lạnh đi trên đôi má cậu. Lời Lục Phong vừa nói rất ngắn ngủi, hiềm nỗi cũng đủ để chứng minh rõ tính cách của anh. Thậm chí anh còn dám nhẫn tâm giết tận phu nhân Lục – tức con ong chúa.

Từ ngày đầu tiên cậu đã hiểu thượng tá là hạng người thế nào rồi. Có lẽ Lục Phong dạo vừa qua, một Lục Phong đối xử tốt với cậu chính là cơn ảo giác thoáng qua.

Chờ Lục Phong kết nối tín hiệu cùng căn cứ thành công, cậu biết đào đâu ra sự tự tin rằng anh sẽ mãi đối xử đặc biệt với cậu, rằng anh sẽ buông tha cho cậu cơ chứ?

Lục Phong cứ vậy mà quan sát An Chiết đương nằm trong lòng rủ dần hàng mi, cuối cùng tựa trước ngực mình nhắm mắt lại. Vì thế giọt lệ lóe sáng mềm mại nơi đôi mắt nhóc dị chủng bị giấu nhẹm đi, có vẻ trái tim cậu đã bị tổn thương sau khi anh bộc bạch hết mọi chuyện mình từng làm, Lục Phong thầm nhủ.

Giống hệt tất thảy những người bị anh sát hại.

An Chiết lại mở mắt lần nữa, cậu ngẩng đầu nhìn anh, cất giọng thều thào, Lục Phong phải cúi gần hơn mới nghe rõ được.

– Phu nhân Lục đã hoàn toàn mất trí lúc biến thành ong chúa rồi, – Cậu bảo – bà ấy nói với em… bà ấy không hận căn cứ, bà ấy chỉ muốn trải nghiệm lối sống mới, bà ấy không hận anh đâu.

Lặng thinh tựa cái chết, Lục Phong chẳng trả lời. Thời gian trôi qua từng giây từng phút, đương lúc An Chiết vươn tay chực chạm vào má Lục Phong kiểm tra xem anh còn sống chăng, bỗng cậu thấy Lục Phong khẽ nhếch khóe môi mình.

Anh nói thật khẽ, nhưng đầy chắc nịch.

– Bà ấy hận tôi.

An Chiết trông sang ánh mắt anh.

Phu nhân Lục nói Lục Phong sẽ chẳng bao giờ chiếm được điều anh hằng mong, anh chẳng chết tử tế nổi, và rồi sẽ đến lúc anh phát điên thôi.

Cậu hỏi:

– Vì sao vậy?

– Sau khi tôi chào đời, mối quan hệ giữa cha mẹ tôi bị căn cứ phát hiện, bà ấy không thể gặp gỡ cha tôi tự do được nữa. Tôi đã g**t ch*t chính cha ruột mình, đã giết biết bao đứa con của bà ấy, lúc bà ấy giúp đứa con gái bé bỏng của mình trốn khỏi Vườn Địa Đàng thì lại đụng trúng tôi. Thực chất, vào cái hôm tôi và em gặp Lily, người bạn bà ấy nhờ tới tiếp ứng đang đứng ở phía đối diện đường cái.

Hãn hữu lắm Lục Phong mới nói một câu dài nhường này, mà bấy lâu nay An Chiết đã quen với việc tập trung nghe từng chữ anh nói rồi. Giây phút Lục Phong dứt lời, cậu cơ hồ ngạt thở.

Chuỗi nín lặng kéo dài ba giây.

– Niềm vui trong cuộc đời bà vốn rất ít ỏi, nhưng lại bị tôi hủy diệt sạch – Lục Phong nói – Bà ấy hận tôi giống tất cả mọi người ở căn cứ.

An Chiết quan sát anh, khẽ hé môi. Sau cùng, rốt cuộc cậu biết bản thân muốn thốt lên điều gì.

– Em không hận anh – Cậu nói.

Họ nín bặt hồi lâu.

– Vì sao? – Chất giọng bị lạc đi của Lục Phong chợt vang bên tai cậu.

– “Vì sao”… gì cơ? – Cậu hỏi.

– Vì sao em… – Lục Phong nhìn cậu – luôn sẵn sàng tha thứ cho tôi?

An Chiết ngẩng đầu nhìn anh, thứ cậu trông thấy bấy giờ chẳng phải là một Lục Phong vô cảm như trước nữa. Giọng thượng tá chứa đựng sự run rẩy khó phát hiện, anh gặng hỏi:

– Vì sao hả?

An Chiết muốn đáp, nhưng cậu không thốt nên lời nổi, cậu chẳng có chỉ số thông minh cao giống loài người, cũng chẳng tinh tường nhiều từ ngữ giống họ, cậu ngẫm nghĩ cả buổi trời.

– Em hiểu anh – Cậu nói.

– Em thậm chí còn chả phải con người, – Ngón tay Lục Phong ghìm mạnh bả vai cậu, ánh mắt anh vẫn buốt giá tột độ, song có thứ gì đấy chừng như đang sụp đổ tan tành, anh hỏi với ngữ khí gần như run rẩy – em thì hiểu cái quái gì về tôi?

Cái tên này còn gắng hỏi ư?

Tuy nhiên An Chiết không nói được gì nữa, cậu liều mạng lắc đầu.

Cậu chực khóc do bị Lục Phong dồn vào ngõ cụt từng bước một. Cậu chả hiểu sao cái tên này lại xấu tính như vậy, hôm nay anh chẳng ngần ngại vạch trần mọi thứ nơi cậu. Chính cậu hệt quan toà định xử trắng án cho tội phạm, còn gã tội phạm chịu xét xử phía dưới lại không ngừng nêu thêm tội ác của bản thân, đối phương nằng nặc đòi hình phạt, nằng nặc đòi tuyên án tử hình… Anh muốn khiến An Chiết căm ghét mình đến mức ấy.

An Chiết hoàn toàn chẳng rõ vì cớ gì sự việc lại thành ra nông nỗi này, rõ ràng thoạt đầu họ chỉ đang nói liệu căn cứ có vượt qua nổi không, và thế giới này bao la ngần ấy, rốt cuộc việc Lục Phong rơi xuống trước mặt cậu có phải là kì tích hay chăng.

Lục Phong bảo, nhầm rồi, hết thảy đều là âm mưu, đều là chắc chắn.

Không đâu, không phải vậy thật mà.

– Nhưng… – Cậu giơ cánh tay mình lên cho Lục Phong xem, từng ngón tay rõ ràng vốn thuộc về con người đang chầm chậm thay đổi. Sợi nấm trắng xóa bám lên quân phục đen của Lục Phong, chúng trườn qua đinh bạc và quân hàm thẩm phán giả.

Đôi mắt cậu tuôn lệ lã chã, cậu chẳng trông rõ nét mặt Lục Phong, chỉ biết bàn tay ghì riết lấy cậu đang run rẩy, ôm cậu thêm chặt hơn. Cậu hiểu chắc chắn Lục Phong có thể nhận ra cậu chính là cây nấm từng lăn lóc dưới Vực Thẳm, cậu cất giọng nghẹn ngào:

– Nhưng em đã gặp được anh rồi…

Thế giới bao la ngần ấy, Lục Phong nhất định phải tới Vực Thẳm. Vực Thẳm bao la ngần ấy, cậu nhất định phải tới cánh đồng hoang nọ rong chơi.

Đáng lẽ họ không nên gặp nhau.

Cậu chưa từng làm hại ai cả, cũng chưa từng làm hại loài vật nào, cậu chỉ muốn yên ổn nuôi dưỡng bào tử của mình thôi, cậu vốn đâu cần phải giận dỗi và đau đớn nhường ấy.

Nhưng cớ sao trên đời lại có một kẻ như Lục Phong chứ?

Con người này ôm siết cậu bằng thứ sức lực kinh hoàng – như định g**t ch*t cậu, An Chiết áp lưng trên cột giường, cậu giãy giụa một cách liều mạng, tuy giãy giụa hoàn toàn chẳng có hiệu quả, song cậu không muốn tẩu thoát bằng hình thù sợi nấm, cậu không cam lòng khi tỏ ra yếu thế.

An Chiết chẳng thèm đếm xỉa mà cắn mạnh hết cỡ lên cổ Lục Phong.

Trong tích tắc mùi máu tươi xộc vào khoang miệng, An Chiết chợt sửng sốt.

<i>Mình đang làm gì vậy?</i> Cậu nghĩ bụng.

Nhưng cậu không còn cơ hội nữa, bởi khoảnh khắc do dự ấy đã đủ khiến Lục Phong giành lại thế thượng phong. Bả vai An Chiết bị ép chặt, tấm lưng va trúng cột giường, cằm cậu bị buộc nâng lên bởi một bàn tay.

Lục Phong tức thì hôn lên bờ môi cậu.
 
Cây Nấm Nhỏ
Quyển 3 - Chương 67: “Thôi em đi.”


<b>
Nụ hôn anh trao tàn nhẫn tột cùng, thấm đượm mùi máu tanh và chẳng dung bất kì sự chống cự nào. An Chiết hoàn toàn không thở nổi, cậu nghiêng đầu sang chỗ khác rồi lại bị kéo về.

Mới đây thôi cậu hãy còn chạnh lòng thay Lục Phong, hiện nay lại bị chọc tức run lập cập, hàng tá sợi nấm tuôn ra ồ ạt, sự phản kháng từ bản năng thôi thúc cậu ghìm chặt mình mẩy Lục Phong. Song những gì cậu đang thấy lại thoắt mông lung – một cảnh tượng vụt lên trước mắt cậu.

Cậu thấy có bóng người ngã xuống, trái tim cậu bất thình lình thót lại và tức thì đỡ lấy đối phương, cậu ôm chặt đối phương vào lòng:

– Này An Chiết?

Ngẩn ngơ, An Chiết nhận ra đây là mảnh vỡ kí ức của Lục Phong, cậu uống máu Lục Phong nên hấp thụ được đôi ba thứ – mà thứ tái hiện bấy giờ chính là cảnh cậu bất tỉnh ban nãy.

– An Chiết à? – Lục Phong gọi tên cậu không ngớt, song người trong lòng anh chẳng mảy may đáp lại mà chỉ khẽ chau mày, thân thể cứ run bần bật – tựa hồ đang chịu đựng nỗi đau kinh hoàng.

Tại sao cậu bỗng thành ra như vậy, Lục Phong chẳng rõ, anh chỉ biết ôm cậu thật chặt.

Cậu chừng như sắp từ giã cõi đời một cách đột ngột, giống hệt cái thế giới biến hóa khó lường này vậy.

An Chiết ngơ ngác lĩnh hội cảm giác trong phút giây ấy, khoảnh khắc này đây cảm giác của cậu và Lục Phong trùng khớp.

Lục Phong đang sợ hãi.

Anh ấy vậy mà sợ hãi.

Anh ấy đang sợ điều gì thế?

Sợ đánh mất người trong lòng, cứ y như rằng… cứ y như rằng nếu đánh mất cậu, thì sẽ mất tất cả mọi thứ.

Mình mẩy An Chiết bắt đầu run lập cập.

Cái tên này…

Cớ sao anh có thể vừa đối xử tốt với cậu, lại vừa bắt nạt cậu như vậy.

Sức mạnh trĩu nặng trên vai khiến cậu nhãng khỏi cảnh tượng ấy, ý thức cậu bị chia thành hai nửa, một nửa bị Lục Phong hôn ngấu nghiến tựa hình phạt, một nửa chìm trong miền kí ức cũ, cậu thấy anh ôm mình vào ngực, gọi tên cậu hết lượt này tới lượt khác.

Nhưng cậu chẳng chịu tỉnh, trông cậu đau quá, ngoan xiết bao, mong manh xiết bao, thế mà phải gánh chịu nỗi đau kinh hoàng tột cùng. Lục Phong lau mồ hôi lạnh túa trên vầng thái dương cậu, cậu bất giác nắm chặt cổ tay anh như nắm lấy phao cứu sinh. Khoảnh khắc đó Lục Phong đang nghĩ suy điều gì?

Anh đang nghĩ, tôi sẵn sàng đau thay em ấy, tôi sẵn sàng làm tất cả mọi việc, chỉ cần em ấy có thể tỉnh lại.

An Chiết nhắm chặt mắt, cậu hãy còn phản kháng, song không còn giãy mạnh nữa. Cậu như bỗng chốc thoái chí, sau cùng chỉ đành cam chịu từ bỏ mọi sự phản kháng và mặc Lục Phong cướp đoạt môi lưỡi mình, đồng thời cũng cướp đoạt linh hồn cậu, tất thảy nơi cậu.

Tựa một cuộc chiến đằng đẵng.

Nỗi niềm thống thiết dần dà lịm tắt trong cơn giằng xé dài dặc này. Thời khắc cuối cùng được buông ra, cậu tựa trước ngực Lục Phong, chẳng muốn thốt thêm bất cứ lời nào nữa.

Mà Lục Phong cũng trầm ngâm ôm cậu.

Khoảng thời gian hoang hoải kéo dài vô tận, thẩm phán giả và dị chủng vốn dĩ cũng chẳng có điều gì đáng nói với nhau.

Lục Phong chợt cất tiếng sau khi lặng phắc hồi lâu.

Anh hỏi:

– Em biến thành người bằng cách nào?

– Nhờ An Trạch – An Chiết đáp.

Cậu ngả vào lòng Lục Phong, họ đã thú nhận với nhau cả rồi, cõi lòng họ rộng mở trong môi hôn được thôi thúc bởi sự kích động giữa hai bên. Vậy nên cậu cũng chẳng cần giấu giếm nữa.

Thật ra cậu không phải là một dị chủng.

Cậu thật vô dụng, cậu chả truyền nhiễm cho ai nổi, cậu thực chất là một cây nấm bị con người truyền nhiễm.

Lục Phong hiện đang quan sát sợi nấm của cậu. Máu hãy còn vương trên sợi nấm trắng phau – là do An Chiết cắn anh ban nãy. Hóa ra khi cáu lên cây nấm nhỏ này cũng cộc đáo để.

Vết máu đang phôi pha dần, nó bị sợi nấm hấp thụ.

An Chiết cũng nhìn nơi đó, cậu bỗng nói rằng:

– Anh sắp chết rồi.

Lục Phong nắm chặt ngón tay cậu, hỏi:

– Vì sao?

– Em mọc trên người anh, – An Chiết trưng bản mặt vô cảm – hút sạch máu, nội tạng và thịt của anh, kế đến bén rễ trong xương cốt anh.

Một bàn tay khác của Lục Phong siết cổ tay cậu, đầu ngón tay sượt qua làn da trắng nõn rồi hằn in lằn ranh đỏ nhạt, như nghiền nát một cây nấm trắng vừa mọc sau cơn mưa, và chất lỏng của nó đang ứa ra. Anh chùng giọng hỏi:

– Em biết mình đang nói gì không?

An Chiết lắc đầu, cổ họng nghẹn ngào khôn cùng, mắt cậu ầng ậc nước, An Chiết ngẩng đầu trông sang vách tường lấm tấm vết mốc xanh sẫm, trông sang đèn chùm rủ xuống với vẻ méo mó. Cửa sổ bị gió quật nứt một lỗ to tướng, khiến nước mưa kéo theo tiếng thì thào vi vu của gió xối vào trong.

Cậu nghĩ, mình cũng chẳng biết phải định nghĩa nỗi lòng bản thân kiểu gì nữa, nhưng sẽ thực là mộng hão nếu cậu muốn chung sống bình yên cùng Lục Phong.

Cứ thế cậu bèn trông ra bầu trời xa vời vợi.

Lục Phong cất lời:

– Em lại khóc.

An Chiết ngoảnh đầu nhìn Lục Phong, cậu buộc phải ngẩng đầu lên ở cái góc độ này. Do đó họ chạm mắt nhau.

Chẳng hiểu vì sao, An Chiết chợt nở nụ cười khi nhìn Lục Phong.

Khóe môi cậu hơi ửng đỏ, khóe mắt xinh xắn còn rướm lệ.

Ngay sau đó Lục Phong cũng phì cười, anh nâng mặt An Chiết lên:

– …Đần.

An Chiết chỉ ngắm nghía anh thật lâu, mãi sau cậu hỏi:

– Căn cứ hiện đang đến đón anh à?

Lục Phong trả lời:

– Ừm.

An Chiết trầm ngâm, Lục Phong hỏi:

– Em thích căn cứ không?

Giây phút hai từ “căn cứ” vừa dứt, cơn buốt bởi tra tấn bằng điện tức thì bủa vây mình mẩy An Chiết lần nữa, cậu bất giác run lẩy bẩy và cố rúc vào lòng Lục Phong. Lục Phong ôm chặt cậu, đoạn v**t v* tấm lưng cậu thật khẽ, anh nói rằng:

– Xin lỗi em.

An Chiết lắc đầu, mãi tới ba phút sau An Chiết mới bình tĩnh trở lại. Cậu ngẩng đầu nghía Lục Phong, nắm chặt bàn tay anh.

Cậu chừng như đang chờ đợi điều gì, Lục Phong băn khoăn.

Anh nghĩ thế nào thì làm thế ấy, ma rủi quỷ xui, anh cúi đầu xuống và tiếp tục hôn An Chiết.

Không có chuyển động tợn tạo, không có sự phản kháng, chỉ là một nụ hôn sâu đầy lặng lẽ.

Môi lưỡi mềm mại của An Chiết chả cự lại anh nữa. Lục Phong quan sát vẻ mặt cậu đương lúc trao nhau hơi thở – cậu khẽ th* d*c dồn dập, rèm mi rủ xuống, sợi mi long lanh ánh nước, hai tay nhẹ nhàng bấu víu bả vai anh, ấy là một kiểu chiều ý e ấp và ngây ngô theo cái lối rõ dịu dàng, sự thuần khiết nơi cậu sánh ngang lòng thương xót, trong lòng thương xót gợi lên nét thần thánh – hệt một sự cứu rỗi về mặt tâm hồn, giờ phút này anh có thể đòi lấy thỏa thích.

Nhưng An Chiết vẫn khóc rấm rứt.

Lục Phong hôn vơi giọt lệ của cậu, tựa như làm vậy sẽ xóa nhòa được mọi nỗi bi ai thống thiết giữa họ.

Thời khắc kết thúc, mưa bên ngoài đang dần ngớt, thứ ánh sáng vẩn đục tẻ ngắt lấp ló nơi chân trời vào buổi chạng vạng. An Chiết quỳ trên giường, ngón tay cậu run rẩy ôm Lục Phong, kế đến chầm chậm, chầm chậm đặt anh nằm thẳng xuống giường.

Đôi mắt Lục Phong nhắm nghiền – anh đã say giấc và thở thật đều, hiện tại không một điều gì có thể đánh thức anh. Rất dễ để thực hiện hành vi này, chỉ cần biến một phần đầu lưỡi thành sợi nấm mềm mại khi hôn thôi, ngay cả thượng tá cũng chẳng phát hiện ra.

Lục Phong thiếp đi chẳng tài nào bắt cậu nổi, anh chẳng hãm cậu lại được nữa. An Chiết nhoẻn môi cười, thật ra thì, bấy lâu nay Lục Phong chưa từng bắt được cậu, cậu bỗng vỡ lẽ điều này.

Rời khỏi, hay ở lại, đều do cậu quyết định.

Đột nhiên.

Bóng tối ập xuống trước mắt An Chiết, cơn đau khủng khiếp bỗng sập tới. Sợi nấm cuối cùng cũng đứt lìa rồi. Có cái gì đấy đang xa rời cậu – giống con người bị mất một cánh tay hay một con mắt vậy… Nhưng không phải vậy, không phải những thứ tầm thường đó, sự tồn tại của bào tử vượt xa tứ chi, vượt xa bộ phận cơ thể.

Tấm thân cậu bất chợt trở nên rỗng tuếch – ấy là một khoảng trống còn sâu hoắm và hư vô hơn cả lúc đánh mất bào tử chưa chín muồi, như một nốt lặng, mối liên kết giữa cậu với thế giới này thình lình bị chặt đứt. Thứ quan trọng nhất nay đã tróc ra, cậu chỉ còn sót lại cái xác tàn tạ suy yếu.

Một cái xác.

An Chiết thốt nhiên ngẩn người.

Khoảnh khắc đó, cậu dám cá rằng mình đã nghe thấy vận mệnh ghé tai cậu thầm thì, hệt con ác quỷ. Cậu mê mẩn trông về đằng trước, run rẩy giơ tay lên.

Trước khi khoảnh khắc đó sập đến, cậu những tưởng mình vẫn còn sự lựa chọn.

Cậu thực sự những tưởng mình được phép lựa chọn.

Nhưng lúc nó diễn ra, cậu phát hiện mình chưa bao giờ có sự lựa chọn.

Cậu hoàn toàn dại đi.

Bào tử tách ra khỏi cơ thể cậu, cậu nâng niu nó trên tay. An Chiết ngơ ngác nhìn cục bông trắng bé bỏng nọ, cuối cùng nở nụ cười gượng gạo với nó.

– …Xin lỗi nhé – Cậu thốt.

– Tao… – Cậu nói – Tao nên làm sao đây? Mày muốn đi theo tao chứ? Có lẽ tao không thể… nuôi mày tử tế được.

Bào tử chỉ vươn sợi nấm dụi dụi ngón tay cậu, An Chiết biết nó nghe không hiểu. Ngặt nỗi ngay khắc kế tiếp, sợi nấm của bào tử bỗng rề rà nhích sang hướng khác, chúng rời khỏi ngón tay An Chiết rồi sã mình rơi xuống quân phục đen của Lục Phong, đoạn trườn tiếp lên trên.

An Chiết chứng kiến cảnh này, đây chẳng phải là lần đầu bào tử có hành động kiểu này, cậu cười hỏi:

– Sao mày thích anh ấy dữ vậy?

Bào tử nán lại bên An Chiết, tiếp tục dụi ngón tay cậu, nó chả biết nói chuyện.

An Chiết buông một tiếng thở dài thật khẽ, đặt nó lên người Lục Phong.

Sau khi đặt xuống, nó cứ thế mà vươn sợi nấm nho nhỏ mới mọc của mình leo đến trước ngực Lục Phong và tự giác chui tọt vào túi áo anh, trông nó phởn chí lắm – nom như đã muốn làm vậy từ lâu rồi. An Chiết quan sát toàn bộ, tương tự như việc cậu không rõ cớ sao bào tử lại thân thiết với Lục Phong, cậu cũng chẳng rõ cớ sao sự việc đột nhiên đi đến bước đường này.

Cậu lôi giấy ra khỏi ba-lô, kế đấy nằm nhoài trước bàn trà viết nguệch ngoạc vài dòng lên trang giấy.

<i>Nó chín muồi nên khác với hồi xưa lắm. Anh thả nó ở mấy chỗ âm ẩm là tự lớn được nhé.</i>

<i>Nó cần nhiều nước, sợ quái vật bộ gặm nhấm, sợ côn trùng ạ.</i>

<i>Nếu muốn làm thí nghiệm thì xin đừng để nó đau quá, đừng để nó chết.</i>

<i>Cảm ơn anh luôn quan tâm em bấy lâu.</i>

<i>Thôi em đi.</i>

An Chiết đặt giấy kề anh, đoạn mò tay vào túi áo Lục Phong lấy ống thuốc theo dõi ra, mở nắp.

Róc rách.

Chất lỏng màu xanh nhạt bị đổ sạch ráo, nó chảy men theo khe nứt trên sàn nhà, cuối cùng cậu buông tay – Choang! Ngay cả cái ống cũng vỡ tan tành.

Như vừa đưa ra một quyết định cực kì quan trọng trong đời mình, cậu chìa tay gỡ phù hiệu trước ngực xuống, đoạn cất vào túi áo mình. Sau cùng cậu đặt ba-lô sang một bên, đứng ngắm Lục Phong giây lát rồi rời khỏi căn phòng này. Siebe thấy cậu bèn hỏi:

– Anh tính đi đâu làm gì thế?

An Chiết trả lời:

– Ra ngoài xem tình hình thôi.

– Vâng, – Siebe nom đã bình tĩnh lại đôi chút, nó nói – anh nhớ cẩn thận đó.

An Chiết gật đầu:

– Ừa.

Cậu đẩy cánh cửa chống trộm bị gỉ sắt rồi bước ra ngoài, chính giây phút ấy cậu chợt ngoảnh đầu nhìn vào trong, lướt mắt qua bộ xương nằm trên ghế xô-pha và dừng trước cửa căn phòng nơi Lục Phong đang ngủ, cánh cửa trắng xám nọ giống hệt có sức hút không lời. Giá mà có thể, giá mà chẳng tồn tại bất cứ nỗi vướng bận nào, cậu cũng muốn ở bên Lục Phong như bào tử, song đấy là điều không tưởng.

Cậu đóng cửa lại và đi lên cầu thang. Cầu thang cao lênh khênh, cơ thể cậu cơ hồ mất hết sức lực nên phải đi thật lâu mới lết đến được tầng cao nhất. An Chiết lần theo cửa sổ trên cùng đi lên sân thượng.

Vào cái lúc còn ở Hải đăng – những hôm mà từ trường nhân tạo biến mất và bầu khí quyển loãng dần, cậu đã nghe các nhà khoa học loài người dự đoán rằng khí hậu năm nay bất thường tột cùng, mùa đông sẽ tới sớm hơn mọi năm ít nhất ba tháng.

Mùa đông trong kiếp sống của cậu cũng sắp đến rồi.

Thời khắc bào tử chín muồi, lời chỉ thị của bản năng sinh mạng thoáng vụt lên trong tích tắc, cậu hoàn toàn nhận được mệnh lệnh đến từ thăm thẳm vận mệnh. Giống như bản thân cậu chưa từng gặp lại cây nấm nuôi dưỡng mình kể từ giây phút đáp xuống mặt đất, cậu cũng đã được định sẵn sẽ chẳng tài nào bảo vệ bào tử lớn lên an toàn nổi.

Ngoài kia muôn nơi ráo hoảnh, luôn có bão tố càn quét và quái vật vây hãm, dẫu bào tử có ở Vực Thẳm – chốn không tồn tại quái vật bộ gặm nhấm lẫn quái vật chân đốt đi chăng nữa, thì nó cũng dễ bị quái vật to kềnh sơ ý giẫm đạp hoặc bị cuốn vào những trận xâu xé thôi, vào phút chót, cậu chỉ còn cách lựa chọn tin tưởng Lục Phong.

Bởi cậu sắp chết rồi.

Tuổi thọ của nấm vốn dĩ cũng chẳng dài dặc gì cho cam, cậu đã được xem như là phần trội trong số đó. Ai nấy đều có sứ mệnh của riêng mình, cậu đã hoàn thành ý nghĩa sống rồi. Với nấm mà nói, thì dưỡng dục bào tử lớn khôn chính là sứ mệnh duy nhất.

Cơn gió rét mơn man khiến An Chiết run lập cập, cậu ôm ghì cánh tay mình. Cậu không cảm giác đặng điều gì nữa, cơ thể cậu loạng choạng chao đảo. Cậu từng gặp một cây nấm chết đi… giây phút bào tử bay xuống, mũ nấm của nó liền dần dà bong tróc và xoăn lên, kế đến khô quắt héo rụng, sau cùng tất thảy bộ phận: cuống nấm, sợi nấm, rễ ăn sâu dưới đất, chúng tan chảy hết thành một vũng chất lỏng đen ngòm rồi bị những sinh vật ẩn sau dưới mặt đất chia nhau xơi sạch bong.

Hiện nay, cậu cũng sắp bắt đầu trải nghiệm cái quá trình mà mình từng thấy vô số lần ấy. Cậu chẳng rõ quá trình này kéo dài bao lâu, nhưng hẳn là nhanh thôi – nó sẽ chấm dứt trước khi loài người triệt để diệt vong. Giây phút rời đi, cậu thật sự ước rằng được quay về căn cứ cùng Lục Phong, mặc kệ sau đấy có phải đương đầu với điều gì.

Tuy nhiên, hãy để Lục Phong nghĩ rằng cậu mãi sống ở vùng ngoài đi, thẩm phán giả đã tận mắt chứng kiến quá nhiều cái chết rồi.

Trên sân thượng là một vườn hoa xập xệ, cậu ôm đầu gối ngồi thụp sau bồn hoa, ngoảnh về đằng đông, ngắm màn đêm buông xuống, lại ngắm mặt trời ló dạng. Nơi đây khá gần căn cứ, vẻn vẹn lộ trình bay một ngày của ong mật mà thôi.

Sự thật quả đúng như cậu dự đoán, vào thời khắc tia nắng len lỏi qua màn sương sớm và rọi tỏ thành phố, những chiếc xe bọc thép dừng ở quảng trường nằm trước khu cư xá, chắc hẳn Lục Phong đã báo cho họ hay về cảnh huống nơi đây, bởi họ mang theo đầy đủ vũ khí hạng nặng, ở một mức độ nhất định – họ sẽ chẳng sợ sự tấn công bất ngờ từ quái vật, đảm bảo an toàn. Ví như con đại bàng to tướng nọ đang vờn quanh nền trời mắt lom lom tia họ, song lại không dám tiến xa hơn.

Rặng mây xám, đại bàng, phế tích bạt ngàn, đoàn xe bọc thép như quang cảnh chỉ hiện diện trong cõi mơ. Tiếng gió vi vút lại ngân dài.

An Chiết dõi theo bóng dáng Lục Phong và Siebe, họ bước ra khỏi cư xá, đàm phán sơ lược với quân đội giây lát, kế đấy lên xe, An Chiết thoáng thấy cả tiến sĩ nữa. Sau khi cửa xe đóng sầm lại, đoàn xe tức thì khởi động và rời khỏi phế tích tan hoang. Liệu Lục Phong có ngoảnh đầu nhìn thành phố này qua ô cửa vào giây phút đi xa không? Cậu chẳng bao giờ biết, bởi nơi cậu thuộc về là Vực Thẳm. Cậu phải quay lại sơn động xưa kia, lần tìm xương cốt của An Trạch, mọi sự bắt đầu ở đấy, thì cũng nên chấm dứt ở đấy.

Đứng trước việc tất thảy nhất định sẽ tiêu vong, Lục Phong có số phận của Lục Phong, mà cậu cũng có số phận của riêng mình.

Kết thúc cả rồi.

<i>Hết chương 67</i>. Tranh minh họa.

<b>Artist: jinshang230 @lofter</b>

50600529993_d8ea1f7b73_c.jpg

 
Cây Nấm Nhỏ
Quyển 3 - Chương 68: “Hóa ra đấy là chuỗi ngày đáng nhớ nhất trong cuộc đời anh.”


Xe bọc thép.

– Mừng cậu quay trở lại, chúng ta sẽ về đến căn cứ trong vòng 15 tiếng đường xe nữa.

Lục Phong hỏi:

– Căn cứ thế nào rồi?

– Biến dạng đã gây nên sự hỗn loạn và khủng hoảng muôn nơi, một số máy móc tinh vi đã đi tong, nhưng may mà cực từ nhân tạo còn hoạt động bình thường.

– Biến dạng xuất hiện dưới tình huống cực từ mất tác dụng à?

– Ừm.

Lục Phong nói:

– Tôi trú trong mỏ quặng fe-rít cùng những người dân còn sống sót suốt dạo vừa qua, chỗ ấy cũng chưa xuất hiện tình trạng biến dạng lần nào cả.

– Là nhờ từ trường cả đấy, từ trường có thể ngăn chặn sự biến dạng ở một mức độ nhất định – Tiến sĩ trả lời – Lúc đó Hải đăng rùm beng hết cả lên, chúng tôi ôm niềm hi vọng cuối cùng mà trao đổi mọi thành quả nghiên cứu mấy năm nay với căn cứ thành phố ngầm, nhưng rồi không nhận được thứ gì hết, tất cả nghiên cứu của bọn họ toàn xoay quanh gen sinh vật.

– Kế đấy tôi lại lén truy cập bất hợp pháp vào kênh liên lạc với Viện Nghiên cứu.

Lục Phong nhướng mày.

– Sau khi thảo luận và kết hợp một số manh mối, chẳng hạn như biến dạng sẽ xuất hiện vào lúc nào, chúng tôi tin rằng toàn bộ những điều này đều liên quan tới từ trường, vì vậy chúng tôi bèn tạm tăng cường độ cực từ nhân tạo lên – Tiến sĩ nói – Tạm thời có hiệu quả, nên mới tranh thủ được chút thời giờ kéo dài hơi tàn đấy.

Tiến sĩ ngả lưng lên ghế:

– Nhưng theo dự tính thì biến dạng đang dần trở mạnh, kế tiếp nó sẽ chiến thắng chúng ta trong vòng ba tháng.

Thoáng chững lại, chàng ta trông sang chân trời lãng đãng sương xám tuốt cõi xa, đại bàng nâu đang chao liệng quanh đấy, chàng ta bảo:

– Tuy nhiên, có thể được biết mọi nỗ lực mà bấy lâu nay loài người đã trả giá chỉ để sinh tồn đều là hoài công, trở thành nhân chứng của sự kiện con người hoàn toàn diệt vong, thực tế cũng là một niềm vinh hạnh đặc biệt, thật khó tả.

Chàng ta lại nhìn Lục Phong:

– Thú thực trông cậu bình thản hơn tôi nghĩ đấy. Sao nào, gặp cú sốc lớn à? – Chàng ta liến thoắng – Tôi chả biết An Chiết thuộc giống nào, nhưng oắt con ấy quả là nhanh thoăn thoắt, căn cứ phòng thủ chặt chẽ đến thế mà còn chuồn được, thì âu cũng là lẽ thường tình khi không bắt nổi nó. Lắm lúc bắt được cũng chưa chắc giam nổi đâu, cậu chớ bận tâm.

Lục Phong chẳng hé lời, anh chỉ chìa tay ra.

Một cục bông trắng mềm mại nhỏ nhắn lăn ra khỏi ống tay áo của anh.

Anh ngắm nó.

Lạ lắm thay, có một ý nghĩ yếu mềm bỗng dưng trỗi dậy trong anh. Chừng như anh bỗng trở về khoảnh khắc nào đó có An Chiết bình thản kề bên. Hễ tới tối họ sẽ chung chăn gối, thoạt đầu An Chiết thường quay lưng về phía anh, song ngủ được chốc chốc thì luôn xoay người lại ngả vào ngực anh. Vào lúc rạng mai, khi vừa tỉnh giấc, ngay cả bản thân An Chiết cũng chả hiểu lí do tại sao – khoảnh khắc ấy hàng lông mày vuông vắn rất kháu của cậu sẽ khẽ chau, lại trở mình. Kế đến anh bèn ôm siết cậu từ đằng sau.

Hóa ra đấy là chuỗi ngày đáng nhớ nhất trong cuộc đời anh.

Sợi nấm mềm và trắng muốt quấn lên ngón tay anh đầy vẻ thân mật. Tiến sĩ ngạc nhiên hỏi:

– Cậu mang nó về ư? Thế mà cậu mang nó về được ư?

Lục Phong đáp:

– Ừm.

– Vậy An Chiết đâu? – Tiến sĩ nói bai bải – Cậu giết rồi hả?

Bào tử như sợ hãi bởi cái giọng chợt oang oang của chàng trai nọ, nó rúm ró chui tọt vào tay áo Lục Phong. Nhưng qua giây lát, nó lại lấp ló nơi cổ áo anh, dụi cổ anh nom rất chi là thân mật.

Lục Phong bình tĩnh đáp:

– Đi mất rồi.

– Sao cậu thả oắt con ấy dễ dàng thế? Rốt cuộc nó là giống gì? – Tiến sĩ trợn to hai mắt, đoạn hỏi – Liệu… liệu nó có tự bảo vệ mình nổi không?

Lục Phong v**t v* sợi nấm mềm mại của bào tử, anh trầm ngâm, sắc trời mịt mùng tôn rõ dáng sườn mặt u tịch cô quạnh của anh.

Tiến sĩ săm soi anh, bỗng chàng ta chau mày hỏi:

– Súng của cậu đâu?

*

Sân thượng.

An Chiết dõi theo đoàn xe dần khuất nơi chân trời xa xăm, cậu thử nhúc nhích tấm thân cứng đờ và đứng dậy khỏi đằng sau bồn hoa. Cơn mưa lớn hôm qua khiến bồn xăm xắp nước, giờ đây dăm ba sinh vật dạng thân dẹt đang lúc nhúc trong đấy – chúng vừa chào đời hôm qua.

Tuy nhiên chờ trời hửng nắng, vũng nước tù đọng lại chóng bốc hơi ngay thôi, chúng sẽ phải đối diện với cái chết vĩnh hằng sau khi tận hưởng sinh mạng ngắn ngủi.

Vạn vật đều như vậy.

Liệu bào tử của cậu có sống lâu hơn những sinh vật phù du này đôi chút hay không? Cậu mong là có.

An Chiết kiên nhẫn chờ đợi thời cơ, lúc con đại bàng sà xuống đất nghỉ ngơi, cậu bèn bò lên lưng nó. Đại bàng chẳng buồn đoái hoài tới cậu, hẳn là do cậu quá nhẹ và cũng không có chất dinh dưỡng gì. An Chiết tìm vị trí náu thân trên tấm lưng rộng rãi của nó, thứ thật sự che phủ ngoài thân con đại bàng nọ chẳng phải lông vũ mà là vảy, có dăm sợi xúc tu trong suốt lằng nhằng nhú lên giữa vảy và khe vảy. Con đại bàng nọ bôn ba kiếm ăn khắp thành phố, sau khi nuốt chửng một gốc dây leo có cấu tạo giống thịt rồi lại đọ sức với một con quái vật dơi khổng lồ chừng nửa tiếng, nó bại, kế đến rời khỏi vùng đất này.

An Chiết xem sao Bắc Đẩu và bản đồ để xác định hướng bay của nó, lúc phát hiện bị chệch quỹ đạo thì bèn lẳng lặng chuồn đi, An Chiết cắm rễ xuống đất hấp thụ chất dinh dưỡng cả đêm, cậu đắn đo mãi, cuối cùng vẫn lôi khẩu súng đen cùng mười mấy viên đạn ra khỏi ba-lô.

Khẩu súng này là của Lục Phong, nhưng cậu phát hiện nó nằm trong ba-lô mình vào giây phút Lục Phong đi mất; An Chiết đoán hẳn là do mọi hôm thượng tá thường dùng chung mọi món đồ của cậu – bao gồm ba-lô, nên anh mới bỏ quên súng thôi.

An Chiết nổ súng, thành công dụ một con quái vật mọc cánh bướm đến đây làm phương tiện di chuyển cho cậu.

Ba hôm sau, An Chiết lại đáp xuống đất, cậu đụng độ một con quái vật gớm ghiếc nom giống rết lúc mải kiếm tìm mục tiêu cưỡi tiếp theo, con quái vật này sở hữu vô vàn đặc điểm ở quái vật chân đốt kiến và thức ăn chính của nó là nấm. An Chiết muốn chạy trốn, nhưng hiện nay cậu đã yếu lắm rồi, may thay khẩu súng của Lục Phong đã bảo vệ cậu vào thời khắc mém bị xơi sạch – An Chiết vừa hay bắn trúng phần bụng mềm mại của nó, kế đến cậu lăn phốc vào khe suối vẩn đục nhân lúc nó thoáng chững lại, vội tìm lối thoát.

Trời trở lạnh, những loài động vật sợ cái rét bắt đầu đi về xứ nam. Dĩ nhiên chúng sẽ xâu xé nhau xuyên suốt quá trình di chuyển ấy. Có vài dạo, khi dõi mắt trông ra đồng bằng thênh thang ngút ngàn chẳng có một dấu vết của bất kì sinh linh nào, ta chỉ có thể gặp đôi ba kẻ chiến thắng to cồng kềnh; có vài dạo, sinh vật sống bầy đàn di cư về xứ nam tựa dòng thác lũ đen ngòm, An Chiết lẩn mình vào đó và xuôi theo chúng.

Mười hôm sau, cuối cùng cậu cũng leo lên được một con chim bay thẳng tới xứ nam, chừng thêm hai mươi ngày nữa, khoảnh khắc đang ngồi trên tấm lưng mềm của nó, cậu nom thấy một bóng đen khổng lồ đuồn đuỗn xuất hiện nơi chân trời – tựa một vết sẹo của thế giới này vậy.

Loài người từng nói rằng lõi của Vực Thẳm là một vết nứt dài ngoẵng được tạo nên bởi động đất cấp tám từ thời kì Thảm họa, bức xạ dị thường ở đây hình thành vô vàn con quái vật tàn bạo. Vết nứt ở lõi kéo dài ra ngoài, phía bắc Vực Thẳm là những vùng đồng bằng bao la với đủ loại nấm, muôn vàn con quái vật đương ẩn náu và đại ngàn rải rác; phía nam là một vành đai núi và xứ non cao mênh mang – nom liên miên trập trùng.

Chim mỏi cánh bay vào biên giới Vực Thẳm, nó tìm một gốc cây khô quắt khổng lồ rồi sà xuống nhánh cây nghỉ ngơi.

Song, nhánh cây bỗng xốc nảy, lông vũ nổ tung, cánh chim rung bần bật, con chim hực lên một tiếng!

Chẳng rõ tự bao giờ những dây leo đen nhẻm đã trườn lít nhít khắp gốc cây khô và rịt chặt chân con chim. Tiếng vỗ cánh phành phạch dội lên, con chim trắng này bị kéo lê xuống giữa thân cây ken dày chạc, chiếc cổ duyên dáng của nó nghển cao và cái mỏ nhọn dài thì vươn về phía tầng không xám xịt – ấy là một tư thế ra sức giãy giụa, ngặt nỗi dây leo lẳn lấy cổ nó, luống dây leo dai bền nọ bỗng tức thì nứt toác, chĩa phần vòi mọc răng nanh thực bén ra rồi cắn phập cổ nó.

Máu bắn phụt tung tóe, cơ thể con chim cao chừng năm sáu mét bị đứt thành hai nửa, lông vũ và lông tơ lắt nhắt rơi tứ tung trên mặt đất.

An Chiết ôm ba-lô của mình ngã uỵch xuống cùng với lông vũ. Cậu đứng dậy, đi lảo đảo dăm bước trên mặt đất bẩn tưởi nhầy nhụa thứ nước đen ngòm; đoạn ngẩng đầu, nhìn con chim bị muôn sợi dây leo chia năm xẻ bảy ăn sạch bách.

Dây leo no đẫy tản đi.

Cánh rừng, dây leo trong rừng và các loại nấm khổng lồ át mất ánh mặt trời, cũng át mất âm vang xâu xé.

Đây chính là Vực Thẳm – một vùng đất ăn tươi nuốt sống tất thảy. Nơi này chả có bộ gặm nhấm hay loài chân đốt gì cả, bởi bản thân chúng quá đỗi yếu ớt. Mà những sinh vật hùng mạnh hơn chúng gấp trăm lần cũng chưa chắc bách chiến bách thắng. Đất ở Vực Thẳm phì nhiêu dồi dào nhờ hút chất dinh dưỡng từ máu thịt, đấy có lẽ là nguyên nhân khiến nấm mọc từng vạt sum sê.

An Chiết thất thểu tiến vào vùng này. Mặt đất phủ đầy rong rêu, cành khô, lá rụng, nó bùng nhùng không khác gì một đầm lầy, sinh vật đi lại chung quanh chẳng phát ra tiếng động nào.

Cậu có thể cảm nhận rõ rằng bầu không khí ở Vực Thẳm đã thay đổi. Mọi khi, tình trạng xâu xé giết chóc luôn diễn ra hằng ngày, quái vật đáng gờm thường dạo khắp rừng rậm tuần tra lãnh địa, nhưng suốt chặng đường hôm nay cậu chỉ gặp đúng một con trăn lẳng lặng trườn qua trườn lại.

Chừng như chúng đang bắt đầu lẩn đi.

Song An Chiết chẳng buồn đoái hoài tới việc chuyển động của lũ quái vật.

Cậu tần ngần đứng nhìn xứ sở mênh mông bạt ngàn không có lấy một tia nắng này.

Có cây nấm đỏ tía cao mười mét đứng bên trái cậu, nó sừng sững giữa dăm tảng đá to tướng, chất nhầy thoảng mùi máu tanh chảy ồng ộc từ mũ nấm, thân hình quá cỡ nọ như đang hít thở, phồng lên rồi lại xẹp xuống. An Chiết áp ngón tay lên cuống nấm hòng cảm nhận đường vân nhơn nhớt chất nhầy của nó.

Cậu chưa từng trông thấy giống nấm này.

Ánh mắt cậu bỗng chốc phủ lấp vẻ hốt hoảng, cậu nghía xem những vị trí khác. Đồng tử cậu giãn to vào phút giây này, mình mẩy lạnh tái, bắt đầu run lập cập.

Cậu chẳng nhận ra nổi.

…Cậu chẳng nhận ra nổi.

Ngay tức thì, cậu thở hồng hộc và vội chạy trật trưỡng trốn giữa cánh rừng. Đây là Vực Thẳm – nơi mà mảnh đất đẫm máu, đầm lầy đen ngòm, quái vật âm thầm rình rập. Dẫu Vực Thẳm vẫn là Vực Thẳm, nhưng nó không còn là vùng đất trong kí ức của cậu nữa.

Vực Thẳm bao la ngần ấy, rốt cuộc phải làm sao để tìm về chốn ban sơ đây?

Cậu gắng nhớ lại, song chỉ liên tưởng được những vạt nấm có đặc điểm nổi bật mà thôi, vào thuở đó cậu ghi nhớ cung đường dựa vào chúng. Bởi vậy cậu bèn rảo bước tiến thẳng, tìm hoài tìm mãi, dùng cả đôi chân và sợi nấm. Ấy thế nhưng mọi vùng đồng bằng đều trông như nhau, sơn động nào cũng vắng vẻ hết, dẫu đã tìm từ ngày rạng đến ngả tối, từ đêm trường đến hừng đông.

Thấm thoắt, cậu đi chẳng đặng nữa, sợi nấm của cậu đã mất đi vẻ nhanh nhẹn cùng dẻo dai từ lâu rồi, chúng đang dần tan chảy và đứt gãy, cơ thể con người của cậu cũng chực lả đi trước sự kiệt quệ của sinh mạng.

Một sợi dây leo khô quắt nằm bên hồ nước u tịch ngáng chân An Chiết. Tảng đá sắc lẹm sượt rách đầu gối lẫn bàn tay cậu, cậu quỳ thụp xuống đất, vục mặt vào lòng bàn tay, tấm thân bắt đầu run lập cập.

Cậu chả lần ra sơn động kia nữa, cậu chả lần ra.

Tuổi thọ của nấm chỉ vỏn vẹn đúng một mùa thôi, nấm già chết đi và nấm mới nảy mầm, diện mạo của Vực Thẳm cũng thay da đổi thịt từng giây theo từng lứa nấm. Con đường khi xưa, con đường đọng mãi trong tiềm thức cậu nay đã biến mất.

Cậu đứng giữa muôn trùng cây mục và nấm, trông lên bầu trời, cậu không hề hay biết… cậu không hề hay biết rằng sự việc sẽ tàn nhẫn như vậy.

Lục Phong nói đúng đấy, cậu vốn đâu hiểu thế giới này rộng lớn nhường nào.

Cậu chẳng thể tìm được nó – trừ phi sinh mạng cậu sánh ngang với sự vĩnh hằng. Song cậu chỉ là một cây nấm tính phù du.

Cậu tất phải lụi tàn trên con đường tìm kiếm sơn động.

Không một điều gì trên đời này là vĩnh hằng cả, ngay cả lời hẹn ước thuở ban đầu cũng thế.

Giọt lệ đắng chát chảy qua vết xước bị bụi gai rạch trúng trên má cậu, cơn đau ùn ùn kéo tới, nhưng nó chẳng át được nỗi tuyệt vọng trong cậu. Cậu thở hổn hển, bỗng đứng sững nhìn hồ nước phẳng lặng kế bên.

Cậu sa vào cơn mông lung.

Dưới mặt nước chừng như có một thứ thanh âm… một thứ tần suất khó tả thúc giục cậu rời đi, cả hành tinh trở nên hư ảo mê ly.

<i>Nhảy xuống đi nào, nhảy xuống đi nào, mọi sự đã tận rồi.</i>

<i>Không cần chịu đựng những niềm vui và thống thiết nữa.</i>

Cậu cất từng bước đến ven hồ dưới sự mê hoặc mời gọi của thanh âm nọ, mặt hồ trong veo phản chiếu bóng hình An Chiết, nom cậu giống hệt An Trạch, khoảnh khắc mặt hồ gợn sóng làm nhòe hình ảnh của cậu, tưởng như An Trạch đang vẫy gọi cậu ở nơi đó vậy.

Sinh ra mà chẳng hay biết gì, thì cũng nên chết đi mà chẳng hay biết gì.

Ở Vực Thẳm, ở mảnh đất… bi ai này.

Tựa hồ bật trúng công tắc nào đó trong trí nhớ, một giọng nói bỗng ghé tai cậu thầm thì, đấy là giọng của cậu.

“Và thưa cha, người đã đi vào tận cùng nỗi bi ai.” Giọng nói ấy nhẹ nhàng đọc lên: “Xin hãy nguyền rủa, ban ân với dòng lệ tuôn chảy.”

“…Đừng điềm nhiên bước vào màn đêm sâu.”

– Đừng điềm nhiên bước vào màn đêm sâu, – Cậu hỏi – là ý gì ạ?

Lâm Tá, tức người thầy ở Vườn Địa Đàng trả lời rằng:

– Đừng dễ dàng khuất phục trước cái chết.

Tạm dừng giây lát, lại thoắt chuyển cảnh.

“Dẫu đi trong trũng bóng chết, con cũng chẳng sợ tai họa nào. Vì Người ở bên con. Trượng và gậy của Người an ủi con.” Cậu từng khẽ xướng vần thơ cho một chàng trai nghe, hôm ấy, họ đã cùng đi một quãng đường dài đằng đẵng và không hề hay biết liệu thứ gì đang chờ họ phía trước.

Chàng trai từng cõng cậu băng qua ngọn gió ngàn xưa, băng qua màn đêm u tối trên hoang mạc ngày hôm ấy, lúc đó đang suy nghĩ những gì? Đứng trước việc số phận quỷ quyệt tất sẽ lụi tàn, phải chăng trong lòng anh cũng ám mãi nỗi tuyệt vọng giống cậu? Làm thế nào mà anh gượng dậy được nhỉ?

Anh…

An Chiết cúi đầu, cậu nhận thấy mình lại siết chặt chiếc phù hiệu thẩm phán giả trong tay tự bao giờ, góc cạnh của phù hiệu khiến bàn tay vốn đẫm máu của cậu thêm nhói buốt. Cơn mê lú hư ảo chớp mắt vơi sạch, cậu vội giật lùi về sau dăm bước.

Cậu nhủ thầm, vừa nãy mình định làm gì thế?

Mắt cá chân bỗng dưng đau thấu xương, tảng đá vừa cắt đứt bàn tay cậu lại nện trúng cổ chân cậu lần nữa. Cậu xoay người toan đẩy tảng đá xám sắc lẹm lừng lững trên đất bằng này sang một bên – chứ kẻo nó lại ngáng chân những con vật khác đấy, song cậu bất thình lình phát hiện một việc.

Trên đá có dấu than đen sì như được viết bằng nhánh cây cháy xém – nó vẽ một mũi tên khòng khèo xấu xí chỉ về hướng đông nam.

Cậu ngẫm nghĩ giây lát, trong kiến thức hạn hẹp của cậu, Vực Thẳm chả có sinh vật nào biết vẽ mũi tên hết.

Mà có vẻ cậu từng nhác thấy những tảng đá xám kì quặc như này ở đôi chỗ trong Vực Thẳm rồi, ngặt nỗi độ ấy cậu chỉ lo lần tìm sơn động nên chẳng chú ý kĩ. Cậu dòm ngó tứ bề, sau cùng chọn đi theo hướng mũi tên chỉ. Đi đặng hồi lâu, lại có tảng đá xám khác đột nhiên lù lù trên đất bằng, nửa thì bị chôn vùi dưới đất, nửa thì lộ bên ngoài, phần lộ ra có vẽ mũi tên.

An Chiết đi tiếp, không chỉ mỗi các tảng đá xám là được đánh dấu, thi thoảng trên thân cây hoặc hài cốt cũng có nữa – năm ngày trôi qua, cậu sực nhận thấy mình đang đi tới phía nam Vực Thẳm – gần với vùng cao nguyên, môi trường trên cao nguyên ráo hoảnh khắc nghiệt, khá hiếm quái vật chịu mò tới đây.

Nhưng cũng trong hôm ấy, cậu chẳng tìm thấy tảng đá nào nữa.

Cậu đứng sững dưới thân cây, gắng ngó dáo dác xung quanh, cậu ngờ rằng phải chăng mình đã đi nhầm đường. Bỗng, có hòn đá nhỏ nọ nện vào vai cậu.

– Lạc đường hửm? – Một giọng nam đong đầy vẻ phởn chí vẳng lên từ đằng sau.

An Chiết xoay lưng, không ngờ cậu lại nghe thấy giọng con người.

Một anh con trai tóc đen mặt mày tuấn tú, dáng người dong dỏng cao, hiện đang cầm một tảng đá xám tro trên tay phải đá lông nheo với cậu, đoạn bảo:

– Biển chỉ đường ở chỗ này, anh đây chưa có cắm xuống đâu.

An Chiết ngoảnh nhìn y, chầm chậm chau mày lại.

– Đường Lam? – Cậu thốt lên một cái tên.

– Cậu biết anh à? – Nụ cười nơi anh chàng vương nét buông tuồng bất cần đời, quan sát cậu – Anh chưa gặp cậu ở căn cứ bao giờ mà.

– Em cũng chưa gặp anh bao giờ, – Sau khi xác nhận lại bề ngoài của đối phương, An Chiết bèn đáp – nhưng em biết cậu Hubbard.

Giây phút cái tên Hubbard được nhắc đến, nụ cười bất cần đột nhiên tắt lịm trên khuôn mặt đối phương.
 
Cây Nấm Nhỏ
Quyển 3 - Chương 69: “Đã bao giờ nghe tới Phái Hợp Nhất chưa?”


<b>
– Hubbard – Đường Lam thì thào lặp lại cái tên này – Anh ấy…

Y nín bặt, chừng mười mấy giây sau mới hé môi lần nữa, giọng hơi khàn:

– …Anh ấy có khỏe không?

An Chiết nhớ lại những hình ảnh liên quan tới Hubbard.

Thời điểm bão côn trùng tàn phá ngoại thành và khu sáu bị nổ tung, Hubbard đang làm nhiệm vụ ở ngoài thành, đây là một bước đi cực kì khôn ngoan, gã chẳng những tránh thoát tai hoạ thảm khốc ở ngoại thành mà còn tránh được việc bị Lục Phong bắt giữ với tội danh “Đánh cắp thông tin của thẩm phán giả phi pháp” nữa. Sau đấy gã đưa đội trở về vẹn toàn, nhận được sự chào đón nồng nhiệt của chủ thành. Sau đấy nữa, tay đội trưởng lính đánh thuê nức tiếng này còn gặp Lục Phong, gã và Thượng tá Lục cùng ngồi trên chiếc máy bay PL1109 đi đến căn cứ thành phố ngầm cứu viện. Dạo còn ở trong mỏ quặng, thi thoảng cậu có tán gẫu cùng Lục Phong, theo những gì Lục Phong kể, thì Hubbard và anh đã hoàn thành nhiệm vụ cứu viện và cùng trở về an toàn.

Cậu đáp:

– Ngài ấy khỏe lắm ạ.

Đường Lam rủ mắt, y tựa hồ thoáng mỉm cười. Y chẳng hỏi thêm điều gì khác, không một câu nào cả, chỉ nói rằng:

– Vậy thì tốt rồi.

An Chiết nhìn Đường Lam.

Lần đầu tiên biết tới anh chàng này là khi cậu trông thấy một con rối được chế tác tuyệt đẹp, nom y hệt người thật trong tiệm của ông chủ Shaw. Ông chủ Shaw bảo rằng đấy là mặt hàng do Hubbard đốt hơn phân nửa tài sản để đặt làm. Hubbard là kẻ cầm đầu đội lính đánh thuê nức tiếng nhất tại ngoại thành, anh chàng này là đội phó thân thiết của gã, ngặt nỗi kể từ sau một cuộc thám hiểm – y đã đi biền biệt, người ta thậm chí chả tìm nổi tí xác vụn nào của y.

Kế bên con rối đó là nhãn mác đánh dấu mỗi khoản số liệu, mà hàng chữ đầu tiên chính là tên y: <i>Đường Lam.</i>

Giờ đây Đường Lam đang đứng sờ sờ ngay trước mặt An Chiết, bình yên vô sự, chẳng hề giống từng hứng chịu bất cứ thương tổn nào cả. Không ngờ y có thể sống nổi trong chốn Vực Thẳm bốn bề hiểm nguy này, hơn nữa còn khỏe mạnh đến thế.

– Anh còn sống kìa, – An Chiết hỏi – anh không quay về ư?

Ánh mắt Đường Lam vương nét cười bất đắc dĩ.

– Anh chả về được nữa – Y trả lời, nói đoạn bèn vùi tảng đá đánh dấu nọ xuống lòng đất.

– Em có bản đồ này, tìm đường về được đó – An Chiết nói – …Anh cần không?

– Thôi khỏi, – Đường Lam hỏi – chắc cậu chẳng phải người đâu nhỉ.

An Chiết: – …

Đường Lam phì cười, kế đấy rút một lưỡi dao găm sáng loáng ra, khắc mũi tên lên thân cây bên cạnh, y vừa khắc vừa bảo:

– Biết anh đang làm gì không?

An Chiết trả lời:

– Em không biết.

– Sau khi bị lây nhiễm, phần lớn nạn nhân đều không may bị biến thành quái vật thực thụ. Song vẫn có số ít người khá may mắn, đôi khi, họ vẫn giống một con người – Đường Lam nói – Anh đang chỉ đường cho những kẻ may mắn ấy, vì thuở ban đầu anh cũng được chỉ đường như vậy.

An Chiết lặng thinh, cậu phát hiện mình có một khả năng đặc biệt, ấy chính là nhận rõ được những đối tượng thiết kể chuyện quá vãng. Nhưng mà, câu chuyện của Đường Lam rất ngắn ngủi.

– Hôm đó anh và Hubbard nảy sinh một cuộc tranh cãi nhỏ, anh ấy muốn tiếp tục đi sâu vào trong, còn anh thì nghĩ nên trở về, tóm lại là chả vui vẻ gì cho cam. Anh không buồn ngó ngàng gì anh ấy vào tối hôm đó, anh gác đêm trên chiếc xe khác như thường lệ.

– Chốn Vực Thẳm ấy à, nó chẳng thiếu thứ gì hết, chừng mười hai giờ khuya có một con quái vật hung tợn phát hiện chúng anh, anh chưa từng thấy thứ gì dã man tới thế cả – Đường Lam khắc mũi tên xong bèn cất dao găm, giọng y trong trẻo và lưu loát hệt chính con người y – Anh cảnh báo cho đồng đội rồi chạy sang lối khác dụ con quái vật đi theo. Cuối cùng anh chết, hẳn là chết thảm tệ.

– Tuy nhiên chả hiểu sao dường như anh lại thức tỉnh, còn trở nên mạnh mẽ khôn cùng. Anh kết hợp với quái vật, nhưng hãy còn ý thức – Y vuốt dao găm, đoạn hỏi An Chiết – Còn cậu thì sao?

An Chiết suy ngẫm tìm từ.

Chính lúc bấy giờ, Đường Lam xoay phắt đầu! Ánh mắt y tia về phía trung tâm vạt rừng tựa mũi tên sắc lẹm, có tiếng sột soạt vẳng đến từ đằng kia.

Y khẽ giục An Chiết:

– Chạy!

Giây phút vừa thốt dứt câu đó, có bóng đen to kềnh bỗng xồ ra khỏi cánh rừng!

Đường Lam tức thì kéo tay An Chiết và vác cậu lên lưng bằng thứ sức mạnh chẳng thể cự lại nổi. Theo sau đấy là tiếng xé gió inh tai vang rền, một đôi cánh lá mỏng đen mướt khổng lồ bung xòe trên lưng y!

An Chiết bất thình lình bị nhấc khỏi mặt đất, vuốt của con quái vật to tựa ngọn núi nện xuống ngay đằng sau, nhưng tốc độ bay sánh bằng u linh của Đường Lam chóng hơn cả nó, y vụt khỏi cánh rừng này tưởng như trong chớp mắt. An Chiết nhìn xuống, vạn vật dưới mặt đất ngày một xa xăm, ngày một thu nhỏ khi họ lên cao, mà rặng núi đồ sộ ở phía nam thì càng lúc càng gần.

Trong cơn gió thổi thông thốc, cậu hỏi Đường Lam:

– Chúng ta đi đâu thế ạ?

Gió trên tầng không mỗi lúc một mạnh, nó thổi vơi mọi thanh âm, Đường Lam bèn lớn tiếng hỏi cậu:

– Đã bao giờ nghe tới Phái Hợp Nhất chưa?

Vứt dứt câu, y bèn mang An Chiết vụt cao hơn, thời khắc sắp bay đến đỉnh núi lừng lững nhất và ngày càng gần với khoảng trời xanh mướt, bóng chiều chạng vạng nhuốm đỉnh non ngàn nọ thành sắc vàng hươm, chóp của quần thể kiến trúc lôm lốp dần hiển lộ ở ngã ba vòm trời và đỉnh núi.

Thứ đầu tiên ánh vào mắt An Chiết là hai ngọn tháp trắng hình trụ bóng loáng khôn cùng, chúng được chia ra làm hai đầu, ở giữa có tuyến đường liên thông. Giữa hai ngọn tháp trắng là một tòa nhà ba tầng hơi thấp hình bầu dục, hai bên gồm những cao ốc phụ và các công trình nằm rải rác khác – đó là bộ phận chủ chốt của quần thể kiến trúc. Tất tần tật cỗ máy có thiết kế kì quái dựng lổng chổng ngoài bãi đất trống trước tòa nhà chính, phía sau tòa nhà là một khoảnh sân bằng phẳng cùng hàng chục ngọn tháp phát điện bằng sức gió cao chót vót, ba tua-bin gió trắng toát đang xoay xoành xoạch trong làn gió thét gào.

Một gốc dây leo xanh rờn khổng lồ rẽ làm mười mấy nhánh phủ vây cả quần thể kiến trúc này, chạc cây của nó vắt lên ngọn tháp trắng và hàng rào, có nhánh dây leo sà tới lúc Đường Lam đưa An Chiết đáp xuống mặt đất, nó đánh hơi cơ thể họ chốc lát, kế đến tản ra. Đôi cánh đen to tướng trên lưng Đường Lam từ từ thu lại vào người y – khi thu lại, thân thể Đường Lam thoáng run rẩy, bàn tay siết thật chặt, khuôn mặt lộ vẻ đau đớn. An Chiết thao láo nhìn y đến tận lúc y mở mắt ra lần nữa.

Khoảnh khắc họ nhìn nhau, An Chiết phát hiện con mắt Đường Lam bị nhuộm đẫm bởi một màu đen ngòm, trông y chẳng còn là y, nhưng may thay Đường Lam đã khôi phục vào ba giây sau.

– Quá trình chuyển hoán hơi rối rắm, nên đau phết, – Đường Lam giải thích – cơ mà anh đây coi như hên đáo để rồi.

Nói đoạn y bèn nhìn về phía nhánh dây leo nọ:

– Chứ cái thằng này thì không thể biến về dạng người nổi nữa.

An Chiết ngó dây leo:

– Nó có ý thức của con người ư?

– Có chun chút – Đường Lam rảo bước về phía trước, An Chiết lẽo đẽo theo sau y, luồng gió rần rật trên đỉnh non ngàn thổi tốc quần áo họ, dần dà họ đến gần một tòa nhà trắng đượm nét cổ kính sừng sững giữa khuôn viên.

Sáu giờ, tức thời khắc bóng chiều chạng vạng rực rỡ đỉnh điểm.

Vầng thái dương sắc son đang ngụt cháy ngả xuống muôn trùng ráng mây tại vùng trời tây nam, cánh cổng lớn rộng mở trong ánh hào quang đỏ vàng rọi tỏ, và một bóng hình đứng đấy chờ họ.

Thú thật An Chiết chẳng tỏ tường lắm về độ tuổi của loài người, cậu chỉ biết đối phương ngấp nghé ông chủ Shaw – tầm sáu bảy chục tuổi ở người. Nhưng trông lão không có tí vẻ gì là lọm khọm già cỗi vì tuổi đã cao cả. Khi tới gần, An Chiết thấy lão bận âu phục đen mướt nom đến là phẳng phiu nghiêm trang, cổ áo sơmi xám bạc thắt chiếc nơ tỉ mẩn, mái tóc bạc phơ chải gọn ra đằng sau, một cặp mắt lam xám hiền hòa nổi bật trên khuôn mặt điềm tĩnh và nhã nhặn được mài giũa qua bao sương gió tháng năm.

Cặp mắt nọ khiến An Chiết thiết tưởng lão đã nhìn thấu tất thảy biến hóa và phong ba trên cõi đời.

– Thưa ngài, – Đường Lam đứng trước mặt lão, nói với vẻ cung kính – tôi mang thành viên mới về đây.

Lão mỉm cười nhìn An Chiết, cặp mắt lam xám nọ khiến con người ta bất giác thấy gần gũi khôn kể, An Chiết ngẩng đầu nhìn lão, lão thì chìa tay với An Chiết. Thoáng do dự giây lát, An Chiết bèn nắm lấy tay lão theo một lối hãy còn ngại ngần, lòng bàn tay lão ấm áp ráo hoảnh, cách lão nắm siết tay cậu nom mới mạnh mẽ và dịu dàng làm sao.

– Chào mừng cháu gia nhập Viện Nghiên cứu Non Cao, bọn ta mạo muội tự xưng là căn cứ thứ năm của loài người – Lão nói – Ta là Polly Jean.

<i>Hết chương 69</i>. Tranh minh họa.<b>Artist: nayan7 @lofter</b><b>
<b>– Đường Lam –</b><b>

50638009026_f648ceae90_c.jpg


Click vào ảnh để lấy fullsize.<b>Artist: kusariling @lofter</b><b>

50638010366_d26eeb35e7_c.jpg


Click vào ảnh để lấy fullsize.<b>Artist: ershiyimaowu @lofter</b>

50637262528_4012edabb5_o.jpg

 
Cây Nấm Nhỏ
Quyển 3 - Chương 70: “Em sẽ có một mái nhà kể từ bây giờ.”


– Cháu có thể gọi ta là Polly hoặc Jean, sao cũng được nhé – Polly bảo, cách lão nói mới thực là lịch thiệp làm sao, giọng điệu nhã nhặn và cặp mắt lam xám tựa đại dương hiền hòa, hẳn đây là mẫu cha ông lí tưởng nhất trong những thiên truyện của loài người.

An Chiết đọc tên mình.

– Cháu trông non nhỉ, đến từ căn cứ phương bắc à? – Polly hỏi.

An Chiết khẽ gật đầu.

– Làm thế nào mà cháu thành ra như vầy?

Polly dẫn An Chiết vào tòa nhà màu trắng, vừa đi vừa cất giọng hỏi.

Sàn nhà bóng loáng, hẳn là có người lau chùi cẩn thận, Đường Lam bước tới và vươn tay định dìu Polly, nhưng lão chỉ xua tay.

– Cháu… – Có thứ dao động lãng đãng trước mắt, An Chiết nghía thử xung quanh.

Vừa bước vào tòa nhà trắng ắt sẽ thấy ngay một đại sảnh rộng thoáng, nó gồm có ba tầng, song trần nhà nằm giữa ba tầng không bị ngăn cách theo lối thiết kế bình thường mà là thông hết với nhau. Từng nấc thang lượn thành hình xoắn ốc đâm thẳng lên giời, ta có thể thấy rõ mái vòm mờ nếu đứng ngước nhìn từ đại sảnh. Bấy giờ có đôi ba sinh vật xúm lại chỗ lan can tầng hai và tầng ba, chúng lẳng lặng dòm xuống cậu bằng ánh mắt tò mò – ước chừng khoảng bốn mươi sinh vật. Hầu hết đều có đặc điểm của con người hoặc có thể xem là đang ở hình dạng con người – bởi một phần ba trong số chúng có bề ngoài giống hệt con người, một phần khác thì nảy nở thêm vài đặc điểm sinh học khác trên cơ thể, ví như một ông chú đứng trên tầng hai, khuôn mặt chú ta xồm xoàm lông xám đen, thêm mái tóc của một kẻ đứng trên tầng ba nom y xì đúc thứ dây leo nhỏ thó xoắn tít, nó cứ lúc nha lúc nhúc. Số còn dư lại thì giống hệt quái vật hay những thứ quái đản ở ngoài kia, chẳng hạn như bãi thịt nhão đang trườn trên lan can tầng hai kìa.

– Họ không làm hại cháu đâu, – Polly bảo – nếu có ai mất tỉnh táo hay rồ dại một cách mất kiểm soát thì ắt sẽ có người hãm họ lại.

Đúng như lời lão nói, khi An Chiết nhìn những dị nhân ấy, đôi mắt họ chẳng đượm sự lạnh lẽo đặc thù ở thú vật và cậu có thể thấu tỏ hàm ý ẩn giấu trong đó: tò mò hoặc săm soi, không có vẻ gì là ác ý cả.

– Tụi anh đều là người bị lây nhiễm, xem như dị chủng cũng được, nhưng may mà còn sót lại đôi chút ý thức, ngài Polly đã cưu mang tụi anh – Đường Lam vỗ bờ vai cậu bảo – Tụi anh cố dằn mình không xé xác nhau, sau đấy thì cùng đoàn kết chống lại quái vật bên ngoài, ở đây chẳng có Tòa Xử án nên cậu cứ yên tâm mà sống.

Chợt nghe Polly ho húng hắng mấy bận, đoạn bảo:

– Thành viên ở viện nghiên cứu không chia thứ tự trước sau, chúng ta săn sóc lẫn nhau, kẻ mạnh đùm bọc kẻ yếu. Mừng cháu đã tới với ngôi nhà này.

An Chiết dần dời mắt, cậu khẽ đáp:

– Cảm ơn ạ.

Đường Lam hỏi cậu sao lại biến thành dị chủng.

An Chiết ngần ngừ giây lát, bèn bảo:

– Em ra vùng ngoài cùng đội lính đánh thuê của bạn em…

Cậu biết đây là chốn mà dị chủng chung sống với nhau, nhưng dù sao cậu vẫn hơi khang khác với họ, bởi họ là con người bị quái vật truyền nhiễm, mà bản thân cậu lại là một cây nấm, giấu giếm thân phận thật sự vốn đã là sự chẳng đừng rồi. Vậy cho nên cậu chỉ kể lại cuộc đời An Trạch, đi ra vùng ngoài, bị thương, cuối cùng…

– Lúc tỉnh lại thì cháu đã thế này rồi – Cậu học lỏm theo câu chuyện của Đường Lam, bịa ra một lời nói dối như trên.

– Cháu thấy mình mẩy có gì khác với hồi trước không?

– Không ạ.

– Vậy cháu hẳn đã đột biến hoàn toàn theo kiểu đa hình nào đó – Polly nom kĩ cậu một cách dịu dàng, lão hỏi – Cháu biết mình kết hợp cùng thứ gì chứ? Cháu có khả năng ngăn chặn sự biến đổi của mình không?

An Chiết ngẫm nghĩ, tiếp tục lắc đầu nguầy nguậy.

– Ca này hiếm gặp phết, – Polly hỏi – sao cháu sống sót được ở Vực Thẳm thế?

An Chiết trả lời thật thà:

– Chả có gì tấn công cháu hết.

Polly trầm ngâm chốc lát, đương lúc An Chiết ngỡ rằng mình sắp bị lôi đi tra tấn, lão chợt bật thốt:

– Thôi thì cũng hiểu được.

An Chiết hỏi:

– Hiểu gì cơ?

– Hình như mọi sinh vật ở Vực Thẳm và số ít giống loài đáng gờm khác có thêm một thứ giác quan nào đấy. Thi thoảng chúng sẽ không dựa vào vẻ ngoài để phán đoán giống loài gốc của đối thủ, dẫu một con quái vật đa hình hùng mạnh có biến mình thành chuột nhắt đi chăng nữa thì những con quái vật khác vẫn né xa hết cỡ, bởi chúng cảm nhận được nguồn sức mạnh kinh khủng từ nó – Polly thoáng khựng lại, rồi nêu tiếp – Nếu chúng thực sự chẳng hề thèm thuồng cháu, vậy điều này chứng minh cháu đã kết hợp với một loại gen ghê gớm lắm đấy, hoặc cũng có thể là không có tên trong thực đơn của chúng thôi.

Lão nói:

– Cháu rất đặc biệt.

An Chiết chùng giọng:

– Cháu không biết.

Cậu thật sự không biết. Tại Vực Thẳm, nấm nguy hiểm chẳng kém cạnh gì các động vật nơi đây, nếu chúng chẳng chứa độc tố cực mạnh thì lớp sương mờ khiến động vật dễ phát rồ cũng vấn vít quanh thân chúng thôi, việc một cây nấm nhỏ yếu vô hại như cậu nảy mầm giữa rừng nấm độc bạt ngàn quả là điều kì diệu. Thậm chí cậu còn có khả năng tư duy của riêng mình.

Polly bảo:

– Chẳng ai ở viện nghiên cứu có trường hợp đột biến giống nhau cả. Nếu cháu sẵn lòng, ta sẽ thử một số thí nghiệm lên cháu, ta sẽ không áp dụng những lối thí nghiệm gây hại cho cháu.

An Chiết gật đầu cái rụp, chẳng có lí gì lại từ chối cả.

Kế đấy Polly tiếp tục hỏi cậu thêm dăm ba vấn đề, lão cũng chẳng hỏi mấy về quá trình đột biến của cậu, mà thay vào đó lại hỏi cậu đã sống ra sao lúc lang bạt bên ngoài, liệu có điều gì khốn quẫn chăng, có sợ động vật, có xuất hiện tập tính mới sau khi thay đổi gen hay không… lão như chỉ thuần túy quan tâm cậu với tư cách là một người ông mà thôi. Nhưng An Chiết luôn ôm tâm lí sợ sệt nghiên cứu viên loài người kể từ lúc tỏ rõ về thứ thân phận không thuộc về mình, cậu chẳng dám thân thiết cùng Polly quá, chỉ hỏi câu nào thì trả lời câu nấy.

Cậu cũng hiểu sơ lược về lối sống ở viện nghiên cứu, tầng một của viện nghiên cứu là đại sảnh, phòng thí nghiệm và phòng dụng cụ; tầng hai dành cho người bị đột biến theo hướng biến thể động vật, tầng ba là dành cho biến thể thực vật, ai nấy có việc của riêng mình, kẻ thì hỗ trợ lão Polly ghi chép số liệu thí nghiệm, kẻ thì bảo vệ máy móc, kẻ thì trồng khoai tây ở sào đất phía sau, kẻ thì xông xáo đi săn bắn – riêng nhóm người này từng bị truyền nhiễm bởi những loài quái vật hung tợn tột cùng, nên họ rất mạnh, chẳng hạn như Đường Lam. Trong lúc săn thú họ sẽ thả biển chỉ đường ở muôn nẻo, chẳng sinh vật nào có thể hiểu biển chỉ đường ngoại trừ con người cả. Hướng được khắc rõ trên biển là lối về nhà của dị chủng lưu lạc ngoài kia. Phạm vi đặt biển chỉ đường ở khắp nơi chứ không chỉ trong Vực Thẳm.

Đường Lam bảo chốn này có liên quan tới Phái Hợp Nhất, song những người ở đây không phải là sản phẩm của việc cố tình dung hợp, mà là may mắn giành lại được nhận thức loài người sau khi bị sát hại ở vùng ngoài, rồi lần theo biển chỉ đường tiến vào viện nghiên cứu dị chủng… Tiến sĩ từng nói rằng, đấy là trường hợp hi hữu mười ngàn mới có một.

Kết nạp thành viên mới là việc đáng để ăn mừng, bởi thế viện nghiên cứu bèn chuẩn bị một buổi tiệc chào đón dành riêng cho An Chiết. Món chính là xúp khoai tây thịt xông khói, do một người đàn ông thấp bé – cũng là dị chủng cây, đang cầm muôi khuấy.

– Thích xúp khoai tây không? – Người đàn ông múc xúp rồi đưa cho An Chiết, giọng chú ta ồm ồm, tựa như tiếng ma sát từ vỏ cây thô rám.

An Chiết chìa tay bưng bát xúp nóng hầm hập này, cậu thổi phù phù, sương trắng ấm nhuần phả lấp khuôn mặt cậu.

– Dạ thích, – Cậu đáp – cảm ơn ngài.

– Vậy thì ngày mai cũng nấu nó nhé – Người đàn ông nhìn cậu – Cháu mấy tuổi rồi?

An Chiết trả lời:

– Cháu mười chín tuổi.

– Thế phải gọi là chú chứ. Thằng con chú cũng lớn xêm xêm cháu đấy, thằng bé ở khu bảy, cháu ở khu nào?

An Chiết đáp:

– Cháu ở khu sáu.

Người đàn ông nói:

– Năm năm rồi chú chưa được gặp thằng bé, nó tên Diệp Bạch, cháu biết chứ?

An Chiết lắc đầu nhè nhẹ.

– Mong là nó sống khỏe mạnh – Cuộc đối thoại của họ ngừng lại tại đây.

Lúc bày thức ăn, mọi người trong viện nghiên cứu ngồi quây quần bên nhau, họ không phân biệt vị trí gì cả. Polly ngồi giữa bọn họ, ai nấy đều thân thiết với lão đáo để. Họ cũng đối đãi với An Chiết chẳng kém gì thế cả, có ít nhất mười người chủ động hỏi han An Chiết suốt thời gian dùng bữa, trong số họ có khối người là lính đánh thuê ở ngoại thành, khối người là lính tráng ở căn cứ, họ tò mò về quá trình đột biến của cậu, hóng tình hình dạo này của căn cứ, rồi còn hỏi xem liệu cậu có gặp bạn bè hay người thân ngày xưa của họ hay không. An Chiết chẳng cho họ hay rằng sự thật là ngoại thành đã bị phá hủy, toàn đáp răm rắp “em chưa gặp” “em không biết”. Lòng cậu thoáng se lại, bởi dù rằng đều là bặt vô âm tín, nhưng dường như câu trả lời kiểu này lại an ủi nội tâm con người hơn câu trả lời chân thực.

Cơm nước xong xuôi, Đường Lam bèn dắt An Chiết tới một căn phòng trống. Kế đến có một cậu con trai với tấm thân lít nhít lông vũ ôm chăn đệm sang phòng cậu.

– Mới phơi hôm qua đó, – Cậu ta chủ động trải giường chiếu hộ An Chiết, đoạn bảo – buổi tối rét dữ lắm, ông nhớ khép cửa sổ nhá.

– Cảm ơn bạn nhiều – An Chiết nói, sự thiện chí của cậu con trai này khiến cậu cảm kích khôn xiết rồi lại lúng túng chẳng rõ làm sao mới phải, giống hệt ông chú múc xúp hôm nay cho cậu vậy.

Cậu con trai trải giường xong bèn móc một thứ quả đỏ lựng ra khỏi túi áo, cười niềm nở:

– Cho ông nè.

Nói đoạn lại lôi thêm phần thịt sấy được bọc kĩ lưỡng ra:

– Còn đây là quà từ mọi người.

An Chiết nhận nó, thịt sấy nặng trĩu tay, cậu chẳng rõ mức sống ở viện nghiên cứu ra sao, nhưng tại cái thời đại này, ngần ấy thịt khô luôn là thứ quý giá vô ngần dù bạn có ở chốn nào đi chăng nữa.

– Cảm ơn mọi người, – Cậu nói – nhiều quá à, mình ăn không hết đâu.

– Ăn từ từ thôi – Đường Lam đứng sau lưng cậu phì cười, vươn tay sửa cổ áo giúp cậu.

– Bao giờ tụi tôi chả tặng quà cho thành viên mới, năm ngoái tôi tới đây mọi người cũng tốt với tôi lắm luôn – Cậu con trai nói – Làm dị chủng ở ngoài kia mới thực là khốn đốn nhỉ, nào là phải né quái vật, phải tự tìm thức ăn. Nhớ rõ mình là con người, nhớ nhà lắm, mà đâu dám về căn cứ. Đến được viện nghiên cứu là êm ấm rồi.

Cậu ta vừa nói vừa cười toe toét với An Chiết.

An Chiết cũng cười khì đáp lại.

Phòng kín mít không lọt gió, nó ấm áp xiết bao, quầng sáng khoáng đạt tỏa ra từ ngọn đèn trên trần nhà. An Chiết cầm thịt sấy, một tháng phong trần trong đầm lầy và cánh rừng nơi Vực Thẳm giờ đây như giấc chiêm bao.

– Đừng khóc nha, – Cậu con trai bảo – ông sẽ có một mái nhà kể từ bây giờ.

Giọng điệu cậu ta chắc nịch và ấm áp, hẳn là đã dựa dẫm viện nghiên cứu này vô hạn.

Đây là điều mà An Chiết chưa bao giờ bắt gặp ở căn cứ loài người cả.

Cậu hỏi:

– Nơi này luôn như thế xưa giờ ư?

– Hở? – Thoạt tiên cậu con trai hơn ngớ người, sau đấy thì hiểu ngay, cậu ta phì cười – Ông sẽ quen ngay ấy mà.

Song cậu ta thốt nhiên khựng lại vào giây phút vừa dứt lời.

…Có tiếng thét gào váng tai chợt rít lên từ ngoài hành lang.
 
Cây Nấm Nhỏ
Quyển 3 - Chương 71: “Kiệt tác khó lòng mường tượng nổi với con người.”


Tiếng vỡ choang của đồ vật sập tới ngay sau đấy. Đường Lam chau mày rồi lao vụt ra ngoài.

Cứ chốc chốc tiếng gầm giật dội lại vang rền, thanh âm quật nhau dội lên. Cậu con trai bỗng xo ro, cậu ta ghì riết cánh tay An Chiết như kiếm tìm sự bảo vệ, ấy thế mà còn mạnh mồm:

– Có người biến thành quái vật rồi, nhưng ông đừng sợ vì anh Đường đánh nhau giỏi lắm.

Họ thập thò dòm ra khỏi cánh cửa hé mở, có kẻ đang lăn lộn trên bãi đất trống trước tòa nhà chính, hàng tá mụn nhọt và cái vòi gồ lên trên lưng hắn ta, ngũ quan trên mặt hắn ta méo mó thành nắm thịt phù thũng xám ngắt, tứ chi xồ ra tấn công mọi người trông thực rồ dại, có chàng trai biến một phần cơ thể thành dây leo xâu xé với hắn ta – Đường Lam cũng đứng trong số đó, chẳng mấy chốc hắn ta đã bị chế ngự.

– Giam lại – Đường Lam nói.

Hắn ta bị lôi đi, Đường Lam cũng trở về phòng.

– Tuy giờ chúng ta vẫn còn ý thức con người, nhưng ai lường trước nổi chừng nào sẽ đánh mất nó chứ – Cậu con trai thều thào – nên tớ trân trọng khoảnh khắc được làm người lắm.

Tiếng ồn từ ngoài cửa sổ vẳng vào ngay phút giây này, An Chiết ngó xuống dưới, cậu thấy một cỗ máy khổng lồ nằm chình ình trên bãi đất trống trước tòa nhà chính

– Dạo vừa qua ngài Polly luôn cặm cụi với nó – Cậu con trai nói – Trông có vẻ khác hẳn với mấy nghiên cứu cũ.

An Chiết ngoảnh nhìn vị trí đó, có quầng sáng đỏ chóe sáng hừng hực trong khe hở giữa các cỗ máy, cậu bèn hỏi:

– Cái gì thế?

Đường Lam chẳng đáp lời, y trông ra ngoài ô cửa. Tại đỉnh non ngàn, cực quang và muôn vì tinh tú trở nên gần kề xiết bao, nom rõ mười mươi, tưởng chừng vừa đưa tay sẽ chạm tới chúng ngay vậy.

Căn phòng lặng như tờ. Mãi sau Đường Lam chợt cất tiếng.

– Ngài Polly là nhà khoa học thuộc Phái Hợp Nhất, – Đường Lam bảo – Phái Hợp Nhất tin rằng sẽ có một mai họ tìm được cách dung hợp gen người và gen quái vật an toàn, loài người chẳng những không biến thành quái vật chỉ sống dựa vào bản năng, mà còn có vóc hình to lớn và thích nghi được với môi trường khắc nghiệt hiện tại.

– Đại để là vậy, – Y cho An Chiết xem cánh tay mình, trên làn da y loáng thoáng dăm chiếc vảy đen – cơ thể của con người quá yếu đuối.

– Về sau, vật thí nghiệm ở Phái Hợp Nhất chạy thoát trong khi họ vẫn chưa nghiên cứu thành công, con đỉa to sụ nọ vấy bấy nguồn nước ở căn cứ, chính vì điều đó mà cả căn cứ chết hơn phân nữa. Kể từ đấy căn cứ cấm tiến hành hết mọi thí nghiệm tương tự, các nhà khoa học của Phái Hợp Nhất cũng trở thành tội đồ của căn cứ – Y kể từ tốn – Tuy nhiên những nghiên cứu khác cũng lâm vào cảnh bế tắc, duy chỉ có dung hợp là nghe khả quan hơn cả. Bởi vậy các nhà khoa học của Phái Hợp Nhất bèn đào tẩu, họ rời khỏi căn cứ nhằm tìm một chốn dễ bề thí nghiệm tiếp.

– Họ cần nghiên cứu về việc dung hợp, nên nhất định phải làm thí nghiệm trên vật sống, mà hễ làm thí nghiệm thì lại tạo ra những con quái vật sở hữu tư duy loài người mà chẳng phải là trí khôn loài người, căn cứ không bao giờ cho phép sự việc như thế phát sinh, nên họ luôn phái quân đội chặn đường truy sát, và sau tất cả, cuối cùng họ đã tìm được vùng đất này – Đường Lam ngẩng đầu ngắm trời không phủ rợp vì tinh tú – Viện Nghiên cứu Non Cao vốn là phế tích của một nơi dùng để nghiên cứu về cực từ nhân tạo thuở xưa. Chốn này nằm phía sau Vực Thẳm, nhờ địa thế cao nên xe bọc thép chẳng lái lên được, nó còn có sẵn vô vàn trang thiết bị, một số thiết bị có thể gây nhiễu từ trường và khiến máy bay quân sự cũng như radar bị mất tác dụng. Viện nghiên cứu này mới hoạt động trở lại, họ vừa cứu vớt dị chủng vừa nghiên cứu, nó kéo dài cho đến tận ngày nay.

An Chiết hỏi:

– Thế giờ đã tìm ra cách dung hợp chưa ạ?

Đường Lam lắc đầu.

– Chả lần ra quy luật, – Y đáp – thoạt đầu họ tin rằng nó có liên quan đến ý thức, sau này lại tin rằng nó có liên quan tới mẫu gen ngoại lai, cơ mà đều trật lất hết. Những kẻ với sức mạnh ý chí yếu có thể thức tỉnh, thực vật với khả năng truyền nhiễm yếu có thể cắn nuốt nhận thức ở người, chưa chắc ta đã mất hết nhận thức khi bị nhiễm gen bởi một quái vật ghê rợn, ý thức liệu có còn tồn đọng hay chăng đều phụ thuộc vào sự may mắn. Tiếp sau đấy cực từ bị mất hiệu lực dẫn đến phơi nhiễm diện rộng, thì lại chứng minh rõ rằng có lẽ điều này chẳng dính dáng gì tới gen cả. Vàng và sắt cũng biết ô nhiễm lẫn nhau, một nguyên tử sắt bất chợt biến thành vật thể gì đấy mà chúng ta không lí giải nổi dưới ống kính hiển vi. Ngài Polly từng bảo, tất cả mọi nghiên cứu lúc trước chẳng hề chính xác, ta cần tìm lối phân tích mới.

An Chiết từng nghe Tiến sĩ Gheer nói với luận điệu tương tự, cậu thốt:

– Căn cứ cũng nghĩ vậy đó.

Đường Lam nín bặt hồi lâu.

– An Chiết à, – Y bỗng gọi tên cậu và hỏi – cậu có nhận thấy một loại dao động không?

An Chiết gật đầu, cậu luôn cảm nhận được nó suốt bấy lâu nay.

– Nhiều người cảm nhận được nó kể từ khi biến thành dị chủng lắm, – Đường Lam thều thào – vả chăng nó cứ mỗi lúc một mạnh hơn.

Rạng mai, An Chiết sực tỉnh giấc. Đầu cậu nhức tấy, cảnh trong mơ ăm ắp hình ảnh ở vùng ngoài, tiếng tru tréo chấn động màng nhĩ, tiếng lõm bõm lúc chân thú giẫm xuống vũng bùn lắng, tiếng khóc than – chẳng rõ là tiếng khóc của ai. Ánh huỳnh quang tù mù hắt ra từ đôi mắt dã thú bảng lảng trong cánh rừng, cậu hì hục chạy như điên hòng tìm kiếm cái gì đó, ngặt nổi cậu không bao giờ trốn thoát và không bao giờ tìm thấy nó nổi. Thứ dao động hư vô, to lớn ấy vẫn ghì riết lấy cậu tựa hình với bóng, ngỡ như nó ở mọi ngóc ngách trên thế giới này, thậm chí cả giọt xương đọng trên chóp lá cũng là hiện thân của nó.

An Chiết cố chống người lên và nhổm dậy một cách khó khăn, xương cốt của cậu cứ y hệt bị gỉ, chẳng những không cử động linh hoạt nổi mà còn trở nên vừa mỏng vừa giòn, hễ nhúc nhích tí thì cậu cứ ngờ rằng mình sẽ ngưng cử động vĩnh viễn vào giây tiếp theo, điều đó giúp cậu hiểu, rằng mình lại đến gần cái chết chẳng tài nào kháng cự thêm một bước nữa.

An Chiết ôm chăn ngồi tần ngần trên giường cả buổi mới thấy mình lại sức đôi ba phần. Cậu ngơ ngác ngó khắp căn phòng ấm áp này, những gì đã xảy ra hôm qua giống hệt giấc mộng mà mãi tới hôm nay, cậu mới thấy nó chân thực chút đỉnh, cậu đi đến một thế giới loài người theo ý nghĩa khác, những người ở nơi đây rất tốt với cậu. Song ý định ban đầu khiến cậu rời xa Lục Phong, là bởi không muốn để Lục Phong chứng kiến cảnh mình chết đi cơ mà.

Vậy còn những người quý mến cậu ở đây thì sao?

Sống mũi An Chiết cay cay, cậu thấy có lỗi lắm, nhưng cửa chợt bị gõ trước cả khi cậu kịp đưa ra sự lựa chọn khác.

Là cậu con trai ngày hôm qua, cậu ta bưng một mâm thức ăn sáng đẹp đẽ, trên mâm là bát và cốc sứ bốc hơi ngùn ngụt.

– Sáng nay ông chưa dậy nên tụi tôi không kêu ông – Cậu con trai bảo – Chú cây nấu xúp khoai tây nữa nè, ông nhớ ăn đó.

An Chiết khẽ đáp:

– Cảm ơn bạn.

Cậu con trai nói đoạn bèn đặt mâm xuống bàn, An Chiết cúi đầu nhìn bát xúp thơm sực nức này, miếng khoai tây nhỏ lấp ló trong nước xúp, nó và thịt xông khói xắt sợi phả ra một thứ mùi hương khoan dung quá đỗi, mùi hương ấy lẫn trong làn sương trắng, lượn lờ tỏa khắp căn phòng.

…Thực lạ làm sao, cậu chẳng nhen nhóm ý định rời đi nữa.

Lối sống ở viện nghiên cứu chẳng giống lề thói rõ ràng bài bản ở căn cứ, mọi người không có nhiệm vụ và vị trí cố định mà thay vào đấy là tự chia công việc. Viện nghiên cứu chịu cưu mang cậu, cậu hiểu rằng mình phải đền đáp cho họ, ai nấy ở viện nghiên cứu cũng niềm nở hễ cậu muốn gắng làm điều gì đấy.

Ban đầu cậu thử ra ngoài nhặt các loại rau củ ăn được ở vùng an toàn với cậu con trai kia, kế đến cơ thể cậu chẳng chịu nổi luồng gió lạnh thông thốc, nên đành loanh quanh trong căn cứ phụ giúp trồng trọt hoặc nấu cơm. Sau cùng, cậu thậm chí còn không làm nổi công việc như vậy. Mọi người ở viện nghiên cứu cho rằng cậu mắc phải một căn bệnh chẳng xác định nào đó – đây là chuyện thường gặp, ở đời, bệnh gì cũng có thể xảy ra, ngay cả thế giới còn mắc bệnh nguy kịch cơ mà.

Hôm ấy, Polly sang thăm cậu. An Chiết bắt đầu chuyển vào tòa nhà trắng ở khu chính phía tây của Polly kể từ dạo đó. Mặc dù sức khỏe cậu dần sụt giảm – song trí óc vẫn minh mẫn lắm, đủ để làm một tay trợ lí đạt tiêu chuẩn. Có thêm một gã trai Ấn Độ trầm tính hỗ trợ trong phòng thí nghiệm của Polly nữa, gã tên là Rum và gã thạo sửa các trang thiết bị.

Đấy là một phòng thí nghiệm chặt chẽ với hàng loạt máy móc đặt xung quanh, chúng được kết nối cùng màn hình hiển thị. Dây cáp quang của cỗ máy lớn nhất kéo dài từ phòng thí nghiệm xuống dưới mặt đất và thông với một thiết bị tên là “Lồng Simpson” đặt bên ngoài.

Linh kiện chính của Lồng Simpson là bốn ngọn tháp cơ khí cao năm mét, nom như phiên bản thu nhỏ của hai ngọn tháp trắng lừng lững ngoài viện nghiên cứu vậy, mà hình dạng của hai ngọn tháp trắng nọ… An Chiết quan sát thật lâu, cậu xác nhận rằng chúng có rất nhiều điểm tương đồng với cực từ nhân tạo khổng lồ tại căn cứ. Nó gợi nhớ cho cậu Viện Nghiên cứu Non Cao vốn là nơi ban đầu phát triển cực từ nhân tạo.

Bốn ngọn tháp tạo thành một hình chữ nhật rộng hơn hai mươi mét và dài hơn mười mét, lúc Lồng Simpson khởi động, toàn bộ không gian hình khối chữ nhật mà chúng bao phủ sẽ rừng rực thứ quầng sáng đỏ nóng bỏng như tia la-de tần số cao – tựa biển lửa ăm ắp sắc đòng đọc. Ai ở viện nghiên cứu cũng hiểu chớ nên bén mảng lại gần đấy khi Lồng Simpson đang trong quá trình mở ra, nếu không sẽ chết thảm tệ.

Nhờ cuốn sổ tay trong phòng thí nghiệm, An Chiết được biết Lồng Simpson là kiệt tác tuyệt vời nhất trong lĩnh vực vật lí hạt[1] vào thời kì đỉnh cao của nền khoa học nhân loại, nó đã thúc đẩy trực tiếp sự thành công của cực từ nhân tạo.

[1] Vật lí hạt là một ngành của vật lí nghiên cứu về các hạt sơ cấp chứa trong vật chất và bức xạ, cùng với những tương tác giữa chúng. Nó còn được gọi là vật lí năng lượng cao bởi vì rất nhiều hạt trong số đó không xuất hiện ở điều kiện môi trường tự nhiên, mà chỉ được tạo ra hay phát hiện trong các vụ va chạm giữa các hạt, nhờ các máy gia tốc.

– Tới tận bây giờ bọn ta vẫn chưa rõ nguyên lí hình thành từ trường Trái Đất. Có kẻ suy đoán là do sự chuyển động của sắt nóng chảy nằm trong lõi thể lỏng Trái Đất, có kẻ lại đinh ninh rằng là do sự xoay tròn của lớp điện tích dưới lòng đất, tuy nhiên chẳng ai đưa ra đủ bằng chứng thuyết phục cả. Bọn ta chưa rõ nguyên nhân hình thành của nó nên cũng chẳng tài nào được biết nguyên nhân nó biến mất, điều này vượt khỏi giới hạn nhận thức của bọn ta. Và tương tự thì bọn ta cũng không tái tạo điện từ trường nổi – trừ phi có thể tạo ra một cái nam châm lớn bằng phân nửa Trái Đất – Polly giải thích cho cậu – Nhưng trong số những định luật vật lí mà bọn ta đã nắm giữ, có một định luật được nêu như sau: Từ tính được tạo ra bởi điện, và sự chuyển động của các điện tích tạo ra từ trường.

– Một trong những cống hiến to lớn của lồng Simpson là nó giúp cho ta thấy trường dao động giữa các hạt cơ bản, từ đấy phân tích cách chúng tương tác và tái tạo một số hiện tượng. Vì lẽ đó bọn ta nảy lên ý tưởng về cực từ nhân tạo… Cháu thiếu kiến thức về vật lí nên ta chẳng tiện giải thích sâu hơn. Nói theo hướng đơn giản là hai cực từ nhân tạo phóng sóng xung với tần số đặc biệt dẫn đến sự cộng hưởng của các hạt mang điện trong gió Mặt Trời. Giống như chúng ta cầm một cái loa rồi nói cho chúng hay “Mời các vị rẽ sang hướng kia” vậy. Cho nên sự cộng hưởng lẫn chuyển động ở hạt dần sinh ra từ trường, chính vì thế cả hành tinh được từ trường bảo vệ.

An Chiết gật đầu, cậu nghe hiểu, song cũng chỉ dừng ở mức nghe hiểu mà thôi. Công việc của cậu chả yêu cầu cậu nắm vững kiến thức vật lí cao siêu gì hết, lo trông chừng máy móc là được.

Thi thoảng Polly bận ở ngoài chỉnh tần số của Lồng Simpson và tay trợ lí khác cũng đi theo lão, thì chỉ có An Chiết côi cút một thân trong tòa nhà trắng thôi. Cậu ngồi trong đó, ngoài cửa sổ là bầu trời đêm u tối. Tiếng bíp văng vẳng từ muôn cỗ máy mới thực là nhàm xiết bao, quang phổ kế[2] kết nối với Lồng Simpson vẽ ra thứ đồ thị phức tạp, chả biết nó đang ghi lại cái gì nữa đây.

[2] Quang phổ kế (Spectrophotometer) là các thiết bị hoạt động dựa trên phân tích quang phổ của ánh sáng, nhằm thu được các thông tin về thành phần, tính chất hay trạng thái của những khối vật chất liên quan đến chùm ánh sáng đó. Phân tích quang phổ là phương pháp hàng đầu trong hóa phân tích.

Những đồ thị ấy nom lằng nhằng, xoắn bện thành một nùi rối ren chẳng có tí quy luật nào, nó gợi cậu nhớ tới đường nét khòng khèo ghê rợn mà Tư Nam bôi lên trang giấy hồi ở Vườn Địa Đàng. Cậu cũng hãi lắm, khi hễ nhắm mắt lại cảm nhận được luồng dao động hư vô kia mỗi lúc một mạnh, cảm nhận được sự sống cứ trôi đi từng ngày, song có vài dạo cậu bỗng thấy rằng, mình đang dần dà tiến đến sự vĩnh hằng.

Polly đã trở vào, lão bắt đầu phân tích ngồn ngộn đống đồ thị hỗn loạn ấy, An Chiết gắng nhấc phích nước nóng kế bên lên rót cho lão một cốc nước.

– Ngài đang làm gì vậy ạ? – Rốt cuộc cậu chịu mở miệng.

– Ta muốn tìm nó – Polly đáp.

An Chiết nhìn màn hình, đoạn hỏi:

– …Nó là gì?

– Thứ khiến thế giới này thay đổi.

– Nó nhất định ở khắp muôn nơi, nếu như nó có mặt trên thế giới này, vậy thì nhất định cũng sẽ ở trong Lồng Simpson – Lão đáp.

An Chiết thoáng chau mày.

Polly giơ chiếc la bàn trong tay lên:

– Chúng ta sẽ không bao giờ trông thấy từ trường, nhưng hướng chỉ nơi la bàn có thể cho ta hay rằng nó đang tồn tại, điều ấy cũng đúng với những thứ vô hình trên hành tinh này, sự hiểu biết của con người quá nông cạn, chỉ có thể truy đuổi đôi chút bóng hình mà chúng phản chiếu lên thế giới mà thôi.

– Cháu xem đây nhé, – Polly đánh dấu một đồ thị ổn định đang sáng lên – vạn vật trên đời đều đang tương tác với nhau, có hằng hà sa số thông tin nằm trong trong dấu vết tương tác. Chẳng hạn như đường thẳng này, nó giống la bàn, đều đại diện cho từ trường.

– Bọn ta đặt ra giả thuyết rằng thế giới dần thay đổi là bởi có sự vật khổng lồ nào đấy đang buông xuống… Tuy nhiên từ trường có thể chống lại nó ở mức độ nhất định. Mà nếu từ trường có thể chống lại nó, thì chắc chắn nó có chung một lối hiển thị với từ trường – Polly giương đôi mắt lam xám nhìn đăm đăm vào màn hình rối ren bùng nhùng – Nó thật hùng vĩ, vượt ra khỏi tầm nhận thức của con người, thứ nó thay đổi là bản chất của thế giới này, song nó lại đang ở ngay trong đây. Ta tin rằng chắc chắc có tồn tại một tần số thu cụ thể, giúp bọn ta được chiêm ngưỡng cái bóng phản chiếu lên thế giới thật của nó.

An Chiết hỏi:

– Sau đấy thì sao ạ?

Polly lắc đầu:

– Bọn ta phải biết nó là thứ gì thì mới nghĩ cách đối phó với nó được chứ.

Ấy thế nhưng, liệu có thể tìm được thật ư?

An Chiết nhìn màn hình với vẻ mê man.

Polly chừng như hiểu cậu đang suy nghĩ những gì, lão mở miệng.

– Dẫu biết là rất xa vời, nhưng… – Lão chỉ nói đặng phân nửa, đoạn buông một tiếng dài khẽ khàng – Suy cho cùng trước kia bọn ta cũng từng tạo ra rất nhiều kiệt tác khó mường tượng nổi với con người mà.

An Chiết nhận thấy sự dao động trong ngữ khí nọ, cậu lặp lại câu nói sau cùng của lão:

– Kiệt tác khó lòng mường tượng nổi với con người.

Kế đấy cậu phát hiện tia sáng le lói trong ánh mắt Polly dần phôi pha.

Lão trông ra đồng cỏ hoang vu bát ngát ngoài ô cửa, nền trời phủ vây những làn khói mù xám ngắt, tiếng dã thú tru lên bảng lảng xung quanh và có những biến động thực lạ trong thứ âm vang ấy, ta không tài nào lí giải nó bằng thanh phổ loài người nổi.

– Vỏn vẹn với con người mà thôi, – Lão thều thào – trước khi bị dập nát, bọn ta đã từng tin rằng mình hiểu rõ toàn bộ về thế giới này.

Vào phút giây ấy, An Chiết nhìn thấu được nỗi cô độc vượt qua cõi vĩnh hằng trong mắt lão.

<i>Hết chương 71</i>.

Nhân 1 dịp chả vì gì hết, ngồi đọc lại đống bình luận cũ mới thấy mình trả lời ngu tới mức nào @@ Trời đất quỷ thần thiên địa hột vịt lộn ơi nổi hết da gà í, chết vì nhục mất. Ai từng được tớ giải đáp thắc mắc/phân tích sâu đíp các kiểu nhưng khi đọc truyện lại thấy khang khác thì cho tớ xin lỗi nhé, tớ bị trúng tà đấy, đừng có tin vào những gì tớ nói ấn nút delete đi, hự hự, kể cả mấy com tớ rep hôm qua cũng quên đi. Thú thật là hồi đọc Nấm tớ chỉ hiểu tầm 50% thui nên lúc bắt tay vào chuyển ngữ tớ như 1 tấm chiếu mới toanh vậy, nhớ gì chết liền, chán đời nữa là tính tớ bộp chộp lại thích rep cmt kiểu tỏ ra nguy hiểm nên mới ra cớ sự dẫn reader đi lên cung trăng thay vì đi về đích như vậy. Tớ sẽ tự phạt mình bằng cách nghỉ đọc song tính 1 hôm, sám hối.

Truyện sắp end rồi, để tránh tình trạng bị tổ xạo ke quật và tự bôi tro trát trấu vào mặt mình thì tớ xin phép không trả lời những thắc mắc về truyện nữa nhé. Thắc mắc gì thì cứ chờ đến chương sau sẽ có lời giải, hoặc là chờ bạn đọc khác vào khai sáng, hoặc là đọc bài phân tích (end truyện mới đăng), tớ cũng sẽ kèm link dẫn đến trường bình Tấn Giang cho các cậu đọc thêm nếu vẫn có chỗ nào chưa hiểu. Xin hãy thông cảm cho người con gái óc bã đậu này, tớ dồn hết nơ-ron vào việc chuyển ngữ rồi.

À mà chưa beta đâu cứ đăng tầm này là chưa beta ó, tớ ngồi tra từ tây sang tàu sang ta rồi đọc nguyên lí mấy thứ này muốn đứt dây thần kinh, gãy lưng luôn @@ Cụ Polly ơi sao cụ ác với cháu thế huhu? @@ Chi tiết tầng điện li ở trên tớ chưa chắc lắm orz tớ mù chữ rồi, để sáng mai tớ đi dò lại rồi beta luôn 1 thể.
 
Cây Nấm Nhỏ
Quyển 3 - Chương 72: “Cậu quả là… quả là có năng khiếu trời ban.”


– Đường đường là thượng tá thẩm phán giả mà giờ phải trốn chui trốn nhủi trong phòng thí nghiệm của tôi – Tiến sĩ Gheer đặt chồng tài liệu xuống mặt bàn, nhạo báng nói – Cần tôi mang cơm cho cậu không?

Kẻ đang ngồi trên ghế dựa mềm vốn thuộc về Tiến sĩ Gheer cũng chẳng phải tiến sĩ, mà là một chàng thẩm phán giả bận quân phục đen, anh ngồi khoanh tay và vắt chéo cặp chân dài với vẻ buông tuồng, trước ngực thiếu mất một chiếc phù hiệu bạc, nhưng dải tua bạc lòng thòng của chính bộ quân phục đã lấp đi khoảng trống sắc màu ấy, giúp ngoại hình cùng áo của anh vẫn hoàn hảo không một tì vết.

Đồng tử giá lạnh đảo khắp phòng thí nghiệm bàng bạc:

– Cậu tưởng tôi muốn ở đây lắm à?

– Tôi khuyên cậu nên quý trọng tôi tí thì hơn, tôi đếch đòi hỏi cao siêu gì đâu, chỉ cần khôi phục trăm phần trăm tình bạn thuở bé của chúng ta là được rồi – Tiến sĩ Gheer bảo – Cậu hãy nhìn nhận rõ tình thế đi, Tòa Xử án còn chưa chắc trụ lại nổi, mà nếu như tới cả tôi – người bạn duy nhất của cậu tại căn cứ này cũng chả chịu chứa chấp cậu, cậu sẽ bị người dân ngoài kia xé xác ngay và luôn. Tôi nghe bảo Trung tâm Mặt trận thống nhất đã mở liền tù tì ba cuộc họp, nhằm cân nhắc về việc liệu có nên xoá bỏ quyền đặc cách giết người của thẩm phán giả trong “Dự luật Thẩm phán giả” không đấy.

Chàn ta bèn chớp mắt lia lịa lúc nói đến đó:

– Cậu có hối hận khi lựa chọn rời khỏi vùng ngoài không?

Chàng ta toan khơi gợi làn sóng rung cảm trong anh, oái oăm thay lại chẳng thành, nét mặt của Lục Phong không hề khác gì so với trước khi nghe chàng ta nói.

Căn cứ bị lâm vào bầu không khí hoảng loạn ngay ngáy kể từ lúc nhận ra sự trao đổi thành phần giữa ô nhiễm gen không tiếp xúc và các sự vật vô tri; có lẽ chuỗi ngày kế tiếp cực từ sẽ chào thua bởi biến dạng, họ sẽ biến thành quái vật hoặc món đồ nào đấy, hay kết hợp với căn cứ kiên cường này cũng nên. Tám ngàn người sống sót hiện nay là những tinh anh cùng lãnh tụ thuộc Hải đăng lẫn quân đội – tức quần thể ưu việt nhất trong xã hội loài người, ngặt nỗi chính vì vượt trội về mặt trí tuệ, nên họ càng dễ cảm nhận được nỗi kinh hoàng của ngày tận thế sắp ập đến. Sự hòa bình căng thẳng ở căn cứ đang trên đà hấp hối tựa mặt hồ được phủ lấp bởi lớp băng mỏng, nom thì ngỡ rằng kiên cố phải biết, song thực chất chỉ cần thả một hòn đá xuống là quá đủ để khiến tất thảy sụp đổ tan tành.

Nguồn cơn sự việc xuất phát từ một cuộc giết chóc vào mười ngày trước.

– Nếu là người khác thì cũng đành thôi, đằng này… – Tiến sĩ nhìn chàng thẩm phán giả chẳng buồn đoái hoài gì tới lời mình, chàng ta nghiến răng nghiến lợi.

Người bị bắn chết là một nhà khoa học đức cao vọng trọng ở Hải đăng, ông đã có những đóng góp xuất sắc trong mảng tính toán đường đạn và cải tiến đạn pháo, do đó ông trở thành nhân vật có sức ảnh hưởng ở lĩnh vực công trình quân sự. Theo lẽ dĩ nhiên, các nhà nghiên cứu thuộc mọi lĩnh vực đều yêu quý ông và quân đội cũng kính trọng ông vô cùng.

Mười hôm trước, Lục Phong cùng Serran tình cờ gặp nhà bác học nọ khi đi trên hành lang Trung tâm Mặt trận thống nhất, họ thậm chí còn gật đầu tỏ ý chào hỏi.

Nhưng đúng ngay giây phút vừa lướt qua nhau, Lục Phong bỗng rút khẩu súng dắt bên hông Serran ra, kĩ thuật bắn của anh luôn luôn chuẩn xác, động tác bóp cò vừa quả quyết vừa nhanh chóng, viên đạn nhoáng cái xuyên thẳng vào gáy nhà bác học khiến máu tung xối tựa chùm pháo hoa, xác ông ngã phịch xuống mặt sàn.

Cả căn cứ gần như rúng động trước sự việc này.

Học trò và bạn bè của nạn nhân trải dài khắp căn cứ, họ cho hay rằng khi còn sống trông ông vẫn tỉnh táo, hành động lịch sự tính tình hòa nhã, hoàn toàn không có bất cứ dấu hiệu nhiễm bệnh nào cả, họ yêu cầu Tòa Xử án hãy đưa ra lời giải thích chính đáng.

Tuy nhiên người thì đã đi rồi, máy xét nghiệm gen cũng bị hỏng hết linh kiện chủ chốt trong làn sóng dung hợp vật chất độ hai tháng trước, nó “chết” hẳn, đâm ra ta chẳng tìm được bất cứ cơ sở nào để chứng minh phán đoán của thẩm phán giả cả. Về vấn đề này, thẩm phán giả chỉ tuyên bố đúng một câu, rằng anh ta hoàn toàn làm việc tuân theo quy tắc phán xét.

Vô vàn chuyện cũ năm xưa bị đào lại, tiếng kêu gọi Tòa Xử án hãy công bố quy tắc phán xét gióng giả tột cùng trong khoảng thời gian ấy. Tuy nhiên, họ không cách nào đưa Lục Phong ra toà án quân sự nổi – bởi mọi quyền hạn nằm trong “Dự luật Thẩm phán giả” đều được trao cho Tòa Xử án, chính vì thế các cuộc tranh luận xoay quanh “Dự luật” cũng đạt đến đỉnh điểm. Có một cậu thanh niên tên Colin tự xưng là người dẫn đầu phong trào Chống Thẩm Phán ở ngoại thành, trong cơn thảm họa khiến chủ thành chỉ còn sót lại tám ngàn người, cậu ta thoát chết nhờ vào mình vốn làm giáo viên tại Vườn Địa Đàng. Và đúng lúc bấy giờ, cậu thanh niên nhiệt huyết sục sôi này lại tiếp tục cất lên những khẩu hiệu từng vang vọng khắp ngoại thành, đồng thời lên án quyết liệt hành động giẫm đạp tình người vô nhân đạo của chế độ còn lại thuộc quân đội căn cứ, chẳng mấy chốc cậu ta đã có số lượng người ủng hộ trung thành đông đảo.

Đứng trước việc này, Trung tâm Mặt trận thống nhất bèn chọn cách trấn áp sau khi im lặng một thời gian dài. Nhưng phần đa những người hiện sống ở căn cứ đều là thành viên ở Vườn Địa Đàng và Hải đăng, nguồn binh lực bị hạn chế, đặc biệt họ chẳng thể ra tay tàn nhẫn bởi hiện tại chỉ cần một người chết đi, thì số lượng loài người sẽ sụt giảm trên tỉ lệ 1/8000 ngay. Dường như bạo động bùng phát tại một xã hội loạn lạc với tám ngàn con người là nan đề thật khó để giải quyết.

Đương lúc nước sôi lửa bỏng, một bản số liệu cũ hiếm ai hay biết bị rò rỉ khỏi nội bộ Hải đăng rồi lan truyền khắp muôn nẻo.

Đấy là hồ sơ tuyệt mật của “Phái Hợp Nhất” từ nhiều năm trước, ai cũng ngầm giữ kín về sự tồn tại của đảng phái này, song quả thực thì họ sở hữu khả năng nghiên cứu khoa học cực kì tuyệt vời. Qua hơn một thập kỉ thử nghiệm và quan sát, họ ước tính rằng xác suất để một người sống bị nhiễm gen duy trì khả năng nhận thức ở một mức nhất định lúc đã hấp thụ hết đặc điểm của quái vật: là 1 trên 10.000 người; 1 trên 6.500 khác thì sẽ khôi phục đôi chút ý thức trong vòng ba năm kể từ khi hóa thân thành quái vật hẳn.

Mà điều khiến cho vấn đề tồi tệ hơn chính là số liệu này có đi kèm một lưu ý mang tính khách quan, rằng 1 trong số 10.000 lẫn 6.500 đó mới chỉ là ước tính trên lí thuyết, xác suất đúng trên thực tế hẳn sẽ cao hơn chút đỉnh.

Ngay cái hôm mà bản số liệu bị rò rỉ, cả căn cứ xáo động tột cùng. Colin đã viết ngay một áng văn chương thật dài về sự việc với tựa đề “Một trăm năm ở Tòa Xử án: tội ác bị chôn vùi.”

Chưa hết, thời điểm đó có một tay lính điên rồ núp ngoài Tòa Xử án toan ám sát thẩm phán giả. Nghe đâu rằng tướng lĩnh lẫn chiến hữu kính yêu của gã ta đều chết dưới nòng súng của thẩm phán giả, đáng tiếc thẩm phán giả sẽ luôn là một quân nhân ưu tú hơn gã ta gấp trăm lần về mọi mặt, nên viên đạn kia không thể trúng đích. Nhưng hành động ấy lại kích động đến những người khác, và vậy là nhoáng cái, Tòa Xử án đã trở thành mục tiêu công kích đủ điều.

Tới tận lúc tiến sĩ Gheerbrant nộp đơn đề xuất lên Hải đăng mới thôi.

Tiến sĩ Gheer cho hay, tiêu bản bào tử đến từ Vực Thẳm phô bày tính trơ đáng kinh ngạc với biến dạng cùng bị biến dạng, nhiễm gen cùng bị nhiễm gen, nếu cơ chế này có thể nghiên cứu và áp dụng lên cơ thể người thì biết đâu con người cũng nhận được đặc tính quý giá ấy. Ấy thế nhưng, bào tử kì lạ có hoạt tính riêng lại rất khoái Thượng tá Lục ở Tòa Xử án, hễ tiếp xúc với thượng tá thì tốc độ sinh trưởng lẫn hoạt tính tế bào đều tăng lên trông thấy.

Vì lẽ ấy Thượng tá Lục cần hỗ trợ việc thực hiện dự án nghiên cứu này, căn cứ cũng tất phải đảm bảo sự an toàn cho thượng tá, có lẽ đây chính là niềm hi vọng cuối cùng của nhân loại.

Bởi vậy chàng thượng tá họ Lục nào đó mới xuất hiện tại phòng thí nghiệm của Tiến sĩ Gheer.

– Dù chưa có bằng chứng xác thực, tuy nhiên trong ba tháng dự kiến sắp tới, số phận con người đang dần đếm ngược – Tiến sĩ Gheer ngồi xuống cạnh Lục Phong, chàng ta nói – Ban đầu chủ thành chả quan tâm đến chế độ thẩm phán giả mấy, nhưng hiện nay họ cũng sắp sửa đương đầu với sự phán xét như ngoại thành một thời rồi. Cậu hãy hiểu rằng chỉ cần biến dạng đánh bại cực từ, ai ai cũng có nguy cơ bị truyền nhiễm, tất cả mọi người ắt bị phán xét, và biết đâu được sẽ chết dưới nòng súng của cậu. Mặc dù bây giờ Tòa Xử án không hề làm gì cả, song nó đã trở thành kẻ thù tinh thần của họ rồi. Biến dạng diện rộng chẳng chóng thì chầy cũng tới, bọn họ hi vọng mình sẽ thuộc một trong số 10.000 hoặc 6.500 nọ, đả đảo cậu có thể giúp họ sống lâu hơn chút đỉnh, điều này chẳng can hệ gì đến cái thói tự tung tự tác của cậu cả, sợ chết là bản năng sinh vật thôi.

Bỗng chàng ta thoáng chau mày khi nói dứt, chàng ta lầm bầm:

– Dù Tòa Xử án có bị dồn tới đường cùng cỡ nào, thì suốt ngần ấy năm qua cũng chưa hé một chữ về quy tắc phán xét, tôi tin các cậu có lí do cực chẳng đã. Nhưng thực tế tôi vẫn muốn hỏi cậu một điều, bản số liệu ấy của Phái Hợp Nhất, rốt cuộc trước kia cậu… liệu cậu có biết về nó chăng?

Tầm mắt Lục Phong lảng qua chàng ta và hướng về phía bào tử lơ lửng trong dịch nuôi cấy.

Sợi nấm của bào tử giãn ra một cách thoải mái vì có anh trong phòng, nó to hơn tí xíu, áng chừng bằng lòng bàn tay ở người.

– Có tiến triển gì chưa? – Anh khẽ hỏi.

– Xin chia buồn là không. Nó và oắt con An Chiết đúng là đồ bịp bợm, điều duy nhất nó làm được hiện tại là làm bia đỡ đạn cho cậu, mà chẳng rõ có thể đỡ đến chừng nào nữa – Tiến sĩ Gheer lần theo hướng nhìn của Lục Phong.

Đôi mắt ấy, đôi mắt đẫm một sắc xanh. Căn cứ phương Bắc là nơi mà các chủng tộc khác cùng nhau chung sống và người châu Á chiếm phần lớn tại đây, bởi vậy đồng tử đen nhánh là lẽ thường tình, các màu khác như xanh lam hay nâu cũng khá phổ biến, song màu xanh lục lạnh giá này thực tình quá đỗi đặc biệt, thi thoảng lại có thứ ảo giác dấy lên trong tâm trí chàng ta, rằng đấy là một chất vô cơ chẳng tồn đọng cảm xúc, thật giống ánh mắt bấy lâu nay của anh vậy.

Dường như dẫu có giết bao nhiêu người, dẫu có bị kẻ khác đối xử thế nào, anh vẫn không hề lay chuyển. Anh chẳng cần sự cảm thông, càng chẳng cần sự tha thứ, anh luôn luôn bàng quan đầy kiêu hãnh.

Nỗi phiền muộn bất lực trỗi dậy trong lòng tiến sĩ.

– Đáng lí tôi chớ nên quan tâm cậu, cũng chớ nên thử an ủi cậu, bởi dù sao cậu vốn không màng quan tâm – Chàng ta hít thở thật sâu, dang tay ra nói – Cậu luôn dùng hành động để khiến tôi tự vả mỗi lần tôi gắng thuyết phục mình cậu là người tốt, trong cái vấn đề máu lạnh vô tình này, cậu quả là… quả là có năng khiếu trời ban.

Chàng ta đăm đăm vào khuôn mặt Lục Phong. Ngũ quan của anh góc cạnh sắc sảo hệt một con rối đã được gọt giũa, tiếc thay chất liệu lại là tảng băng trường tồn muôn thuở. Sự thể ngoài kia căng thẳng tới độ tiến sĩ sợ rằng tức thì sẽ có người phá cửa phòng thí nghiệm bằng những hòn đá nhắm vào thẩm phán giả, nhưng chính bản thân anh lại chả có vẻ gì là giày xéo oan khốc cả, trái lại dáng dấp rủ mi nơi anh còn toát lên nét bình thản đầy nghiêm túc, như cánh bướm đen ma quái đậu trên song cửa trang trọng của một ngôi đền.

Chừng nào “Dự luật Thẩm phán giả” chưa tuyên bố bãi bỏ hoàn toàn, thì quyền hạn của Lục Phong trong hệ thống điện tử vẫn đáng ao ước chừng ấy, màn hình máy tính kế bên anh hãy còn chiếu đoạn thu hình theo thời gian thực ở chỗ mà dòng người căn cứ đang tụ tập.

Tiến sĩ bó tay, chàng ta không tiếc hé miệng đá đểu thêm bận nữa:

– Tôi thật tò mò, chả biết cậu sẽ trưng bản mặt gì khi đến cái ngày bị mọi người trong căn cứ đưa lên giá treo cổ nhỉ?

Chàng ta nói đoạn bèn nhìn trân trân đôi mắt Lục Phong, hòng chộp lấy sự rung cảm nơi anh, tiếc thay Lục Phong chẳng mảy may sao nhãng bởi ánh nhìn tàn nhẫn nọ, anh chỉ đăm chiêu ngắm bào tử hoặc máy nuôi cấy, hoặc là một thứ gì đấy trong hư không.

– Cảm ơn cậu, – Chất giọng lạnh nhạt ấy nói – tôi xứng đáng với điều đó.

Nắm đấm ghì lên bàn của Tiến sĩ Gheer buông lơi rồi lại siết chặt, sau cùng chàng ta thoái chí thụp lưng xuống ghế:

– Tôi nên tống cậu ra ngoài mới phải, cậu bị điên rồi.

– Tôi rất tỉnh táo, – Rốt cuộc Lục Phong chịu ngoảnh sang chàng ta – tôi có thể giúp gì ở phòng thí nghiệm không?

– Bảo cục nấm nhỏ si mê cậu lớn nhanh tí đi, – Tiến sĩ nói – nếu được thì để ý kênh liên lạc của viện nghiên cứu giúp tôi nữa.
 
Cây Nấm Nhỏ
Quyển 3 - Chương 73: “Vậy thì cậu còn khiến tôi thất vọng hơn cả An Chiết nữa.”


Thẩm phán giả bị giam lỏng tại Hải đăng, nhưng cuộc bạo động rùm beng ấy không hề kết thúc bằng sự thỏa hiệp giữa hai bên, trái lại nó mỗi lúc một dữ dội hơn. Mọi người đình công nhằm thị uy với căn cứ, cuộc biểu tình tập thể của họ diễn ra ở lối vào nơi đặt cực từ nhân tạo.

Các nhà hoạch định chính sách ở căn cứ giận tím mặt trước những tin đồn úp mở về căn cứ, song họ nào có còn quyền kiểm soát tuyệt đối vào thời buổi loạn lạc này nữa. Cuối cùng họ bèn đưa ra một sự nhượng bộ cực lớn: <i>xóa bỏ tạm thời quyền giết người của Tòa Xử án.</i> Thành viên thuộc Tòa Xử án vẫn tuần tra theo thường lệ, ngặt nỗi nếu phát hiện đối tượng có dấu hiệu bị nhiễm bệnh thì sẽ khoan bắn bỏ, mà thay vào đó là áp giải vào trại huấn luyện quân sự tại một đầu khác của căn cứ rồi quan sát từ từ. Chưa hết, thẩm phán giả bị cấm mang súng và phải ở trong phòng thí nghiệm Hải đăng để phối hợp nghiên cứu, không được phép ra ngoài. Thật khó để biết liệu đây là sự bảo vệ hay phòng ngừa mà căn cứ dành cho thẩm phán giả nữa.

Cuối cùng bầu không khí ở căn cứ cũng dịu đi chút đỉnh, dù sao họ chỉ chĩa mũi dùi vào Lục Phong là chính. Thượng tá Lục làm thẩm phán giả lứa này, khiến ai nấy đều bàng hoàng hãi hùng bởi thói lộng hành và khát máu của anh ta. Nếu một năm Tòa Xử án xử tử năm ngàn người, thì áng chừng có bốn ngàn năm trăm người đã gục dưới súng của anh ta, năm trăm người còn lại bị quan thẩm phán khác xử tử hẳn là do khi đó thẩm phán giả vắng mặt ở Tòa Xử án thôi.

Ngơi nghỉ chưa đặng bao lâu, mọi người bắt đầu khiển trách Hải đăng chẳng có tiến triển gì đáng nói suốt nhiều ngày liền, bên cạnh đó Tiến sĩ Gheerbrant phụ trách dự án này là bạn cũ của Lục Phong. Cho nên, luận điệu “Niềm hi vọng cuối cùng của nhân loại” rõ ràng là một lời ba hoa sáo rỗng, nó là sự bao che từ một phía, họ yêu cầu Hải đăng hoặc là trình hết kết quả đủ sức thuyết phục dân chúng, hoặc là giao Lục Phong ra đây.

– Họ làm loạn cả lên, vì ỷ vào việc xã hội loài người không thể mất thêm bất kì sinh mạng nào – Tiến sĩ rót cho mình cốc nước – Lí do thoái thác của họ có trăm ngàn thiếu sót, nhưng đấy đã là cách duy nhất giúp họ trút bỏ nỗi sợ hãi.

Nói đoạn, chàng ta nâng cốc nước chực uống, tuy nhiên bàn tay cứ run lập cập, tới độ khiến nước văng tóe khỏi thành cốc rồi nhỏ xuống mặt bàn, tiến sĩ gắng hớp một ngum, nhưng rất chóng chàng ta đã chẳng dằn nổi vẻ thống khổ nữa, chàng ta oằn mình nôn khan liên tục.

– Tôi cũng đang sống… sống trong nỗi khiếp đảm kinh hoàng, tôi buồn nôn quá – Chàng ta run rẩy thốt lên – Luồng khí lạnh nay đã tràn vào, mùa đông sắp đến. Thời điểm mà lũ quái vật điên dại nhất và cần chất dinh dưỡng nhất tới rồi.

– Chúng ta đều hiểu trong mắt quái vật, loài người chính là một cục thịt mỡ béo ngậy, ngay cả lúc căn cứ ở thời đại hoàng kim cũng ồ ạt những con quái vật thử sức tấn công rồi, thì cậu đoán xem… – Tiến sĩ phì cười, chùng giọng – Bao giờ chúng sẽ phát hiện căn cứ loài người đã suy đốn đến độ này? Bao giờ chúng sẽ bâu lại hạ gục căn cứ loài người? …Như cái cách mà chúng từng xâm chiếm căn cứ thành phố ngầm vậy.

Lục Phong cất lời:

– Cậu bình tĩnh lại trước đã.

– Cậu tưởng ai ai cũng sống vô cảm như cậu hả?! Bản chất của con người quyết định ở chỗ biết đồng cảm, nỗi hoang mang ắt lan truyền trong cộng đồng theo cấp số nhân, giờ này mà cậu còn giữ bình tĩnh được thì chỉ tổ chứng minh sự vô cảm của cậu đã tới một cột mốc… thật đáng sợ – Tiến sĩ hít sâu dăm lượt, thi thoảng buông lời cay nghiệt sẽ giúp bạn xoa dịu cảm xúc hơn, cuối cùng trông chàng ta đã ổn định đôi chút – Cậu hãy san sẻ cho tôi cái tính này của cậu đi, mỗi khi cậu không thể tiếp tục làm việc nổi, cậu đã nghĩ về điều gì thế?

Lục Phong dửng dưng nhìn chàng ta:

– Lợi ích loài người cao hơn hết thảy.

Tiến sĩ phì cười với vẻ quẫn bách. Cười dứt, chàng ta hít một hơi thật đầy, có vẻ đã bình tĩnh hẳn, đoạn đi đến ống nuôi cấy khổng lồ đang chứa bào tử.

– Không ngờ họ lại cho rằng một cây nấm nhỏ có thể cứu vớt toàn bộ nhân loại, đây quả là câu nói nhộn nhất mà tôi từng nghe. Thực tế, cấu tạo của nó giống y xì đúc với cái thứ chúng ta hay dùng để nấu xúp nấm đấy – Tiến sĩ thuật lại rành rọt lời lẽ từ người dân ngoài kia, chàng ta như thầy giáo nghiêm khắc đang phê bình học trò đội sổ – Nghe thủng chưa hả? Nếu mày cứ vậy mãi, chẳng chóng thì chầy họ cũng biến mày thành bát xúp nấm thôi. Mày phải chủ động phô diễn điểm khác biệt của mình chứ.

Sợi nấm trắng phau run bần bật trong dịch nuôi cấy, bào tử chầm chậm chao nhẹ sang hướng có Lục Phong và áp sát vào mặt kính, chừng như làm thế có thể gần kề Lục Phong hơn vậy.

Lục Phong khẽ nạt:

– Đừng dọa nó.

– Nó hiểu, tôi cá là nó nghe hiểu những gì tôi nói. Chúng tôi đã đút cho nó chất chiết xuất từ vô vàn kiểu quái vật suốt thời gian qua, nó ăn tuốt đấy. An Chiết là một quái vật đột biến kiểu đa hình nên bào tử của oắt con nhất định cũng vậy – Tiến sĩ giải thích – Nếu như nó chả có trí khôn và nhận thức cho riêng mình, thì tuyệt đối sẽ không có chuyện lăm le đào tẩu mỗi tối hòng ngủ chung với cậu đâu.

– Thế rồi cậu đã nghiên cứu được gì chưa? – Lục Phong thoáng chau mày.

– Dù nó đã ăn ngần này gen quái vật, nhưng nó vẫn là bào tử thuở ban đầu thôi, nó luôn luôn ở mức ổn định. Những chất chiết xuất gen chưa hề biến mất, tôi đoán là nó có thể tự kiểm soát việc chuyển đổi hình thái, giống An Chiết biết biến thành người vậy – Tiến sĩ bảo – Nếu con người cũng có thứ đặc tính ấy thì khỏi lo về biến dạng nữa rồi.

– Các cậu định dùng nó tiêm nhiễm cho con người à? – Lục Phong hỏi – Không sợ nấm sẽ nuốt trọn nhận thức những người bị nhiễm ư?

– Tạm thời tôi chưa cân nhắc tới vấn đề đó – Tiến sĩ áp trán lên mặt kính – …Điều quan trọng là cục nợ đáng ghét này vốn chẳng biết tiêm nhiễm kẻ khác, nó làm tôi thất vọng y hệt An Chiết vậy.

Đương lúc chàng ta bật thốt, bào tử lại chủ động trồi lên bề mặt chất dinh dưỡng, nó lẫm chẫm leo, kế đến trượt khỏi khe hở giữa thành ống và nắp ống nuôi cấy, sau cùng rơi tự do xuống dưới và được Lục Phong chìa tay đỡ. Nó nằm lử lả trong lòng bàn tay Lục Phong, như một bé con vô tư lự.

Tất cả cử chỉ đã chứng tỏ rằng nó thực sự là một sinh vật có nhận thức riêng.

– Nó biết di chuyển, biết suy nghĩ, nhưng nó chẳng hề sở hữu hệ thần kinh – Tiến sĩ bảo – Cậu biết điều ấy có nghĩa là gì không? Tôi là nhà sinh vật học, hiện tượng biến dạng khiến hệ thống kiến thức của các nhà vật lí học sụp đổ, còn sự tồn tại của cục bào tử này đã phá hoại hệ thống kiến thức của tôi.

Thẩm phán giả không hề hứng thú, mà cũng chẳng nhất thiết phải quan tâm vì sao một nhà sinh vật học bị hỏng kiến thức, anh nắm mớ bòng bong nấm mềm nhũn, đoạn hỏi:

– Sao An Chiết lại khiến cậu thất vọng?

– Oắt con đó đếch biết tiêm nhiễm gì sất, – Tiến sĩ lại tinh thần, buông tiếng thở dài – hai người đã chơi xếp hình rồi mà cậu vẫn còn là người, chẳng hề có dấu hiệu bị nhiễm gen, cái nết của cậu cũng không bị ảnh hưởng bởi An Chiết mà thiện lành hơn tí nào hết, oắt con và bào tử của nó không truyền nhiễm cho con người ta được.

Lục Phong ra chiều bình tĩnh nhìn chàng ta, chừng như đang có điều suy ngẫm, khi Tiến sĩ Gheer ngỡ rằng anh tính thốt ra những góp ý thật giá trị, thì tên thượng tá lại nói rằng:

– Tôi chưa xếp hình với em ấy.

Tiến sĩ sừng sộ trừng anh:

– Vậy thì cậu còn khiến tôi thất vọng hơn cả An Chiết nữa.

<i>Hết chương 73</i>+ 1 cho tiến sĩ.

Tiến sĩ đã thay lời muốn nói giùm chị em rùi đó=)))
 
Cây Nấm Nhỏ
Quyển 3 - Chương 74: “Bóng hình Lục Phong lại mỗi lúc một lấp đầy trong muôn giấc mộng của cậu.”


An Chiết sực tỉnh khỏi cơn mơ êm đềm.

Trong mơ cậu chẳng có mắt, chẳng có tai, chẳng có tất thảy bộ phận dùng để nhận biết sự vật của loài người, dường như cậu đã quay về những năm tháng xa vời vợi – cái thuở cậu hãy còn cắm rễ dưới lớp đất ẩm mềm. Nhưng rồi đấy cũng nào phải lớp đất, cậu thiết tưởng mình đang ở một chốn không xa Lục Phong, bởi hơi thở của anh gần kề tới nhường này, gần hơn cả khoảng cách với cái chết.

Sau khi mở mắt ra, cậu tần ngần trông lên trần nhà xám ngắt. Bấy lâu nay cậu luôn cố dằn mình đừng nhớ về bao câu chuyện, bao con người ở căn cứ phương Bắc nữa, cậu có thể cảm nhận được kí ức đang dần phai tàn. Thi sĩ, tiến sĩ, Colin… cậu gần như đã quên sạch vẻ ngoài và phong thái ở họ, tất thảy xảy đến ở tòa thành nọ ngày càng phôi pha, thế nhưng bóng hình Lục Phong lại mỗi lúc một lấp đầy trong muôn giấc mộng của cậu.

Có vài dạo cậu choàng tỉnh, giây phút cơn mụ mẫm chưa tan, cậu tưởng chàng trai ấy đang nằm cạnh mình. Phiến lá xanh rờn là đà bên ô cửa bị bao phủ bởi băng giá trước lúc kịp héo rũ, chúng đông thành một màu trong veo lóng lánh, ngỡ như đôi mắt của Lục Phong đang dõi theo cậu vậy.

Song thoáng chốc miền rét ngọt lại lần nữa ôm trọn lấy cậu.

Ngoài cửa sổ là rặng mây bàng bạc chúc xuống đỉnh non ngàn một cách nặng trĩu, băng tuyết trắng xóa tựa hoa cây thông phủ lấp mặt đất rắn rỏi ở xứ sở ấy. Tiết đông nay đã về.

Mọi người ở viện nghiên cứu Non Cao vẫn tận tình chăm sóc cậu. Mười hôm trước cậu bỗng nhận được một đôi bao tay lông thỏ cùng chiếc khăn quàng cổ đan len, ngày nào cậu cũng quấn chặt những thứ ấm áp nọ rồi mới rời khỏi tòa nhà chính, cậu tới phòng thí nghiệm của Polly ở tòa nhà trắng ấy mà.

Lồng Simpson có lượng tiêu thụ điện rất lớn, nhưng công suất của tua bin gió vốn không cao, hằng ngày nó chỉ chạy chừng hai tiếng là cùng. Suốt quãng thời gian còn lại, Polly sẽ làm khối chuyện khác. Đôi khi lão sẽ dạy cho An Chiết vài kiến thức liên quan đến vật lý và sinh vật, chẳng hạn như vạn vật đều được hình thành từ các phân tử với nguyên tử, nguyên tử có thể chia làm electron, proton và nơ-tron, ngặt nỗi nó vẫn cách điểm cuối cùng quá xa, chưa một ai trông thấy rốt cuộc nền tảng vật chất tạo nên thế giới này tròn méo ra sao cả.

– Người mù chỉ biết vươn tay chạm vào sự vật lúc muốn cảm nhận thế giới này, song hiển nhiên những gì mà họ cảm nhận được chẳng phải toàn bộ sự vật. Vốn hiểu biết của con người về thế giới cũng bé mọn như người mù vậy, đã định sẵn chỉ được thấy khái niệm. Bọn ta có vô vàn giả thuyết, nhưng không tài nào nghiệm chứng nổi liệu nó có chính xác hay chăng – Polly cho hay.

Giây phút thốt lên câu ấy, ngọn gió bắc thét gào trên xứ cao nguyên nện thông thốc vào cửa sổ phòng thí nghiệm, gã trai Ấn Độ với nước da nâu nọ đứng dậy đi khép cửa sổ, Polly vươn tay chỉnh khăn quàng cổ của An Chiết lên chút đỉnh.

Khăn quàng cổ che kín cả cổ An Chiết, cậu rúc trong lớp vải ấm mềm hỏi Polly:

– Ông không lạnh hở?

– Già cả rồi, thân thể nó chai lì cháu ạ – Polly nhìn An Chiết bằng cặp mắt lam xám hiền hòa, An Chiết dễ bề nom thấy cái bóng của mình trong mắt lão – quấn thành một cục trăng trắng tròn tròn. Song chưa ngó đặng bao lâu cậu lại gục đầu ho sù sụ, thời tiết lạnh ngần ấy nhưng phổi cậu lại như ngụt cháy hừng hực vậy, nó đớn đau khôn cùng.

Polly vỗ tấm lưng cậu, đưa cốc nước nóng đặt trên bàn cho cậu.

– Còn thuốc kháng sinh không? – Lão hỏi gã trai Ấn Độ tên Rum nọ.

– Còn một ít ạ.

An Chiết ho xong bèn run lập cập uống hết thuốc, cậu thấy lạnh quá, dẫu lò sưởi trong phòng hãy còn bập bùng ánh lửa.

– Ta chẳng tìm được nguyên nhân gây bệnh, – Polly lau sạch mồ hôi lạnh vã lấm tấm trên trán cậu, cặp mắt lam xám không nén nổi vẻ xót xa, khẽ khàng lão nói – nơi đây chả có máy móc tiên tiến nào cả… Xin lỗi cháu.

An Chiết lắc đầu:

– Không sao đâu mà.

Polly nói, sự hiểu biết của con người về thế giới này vĩnh viễn bé mọn, lắm khi cậu cũng nghĩ những gì mình biết về con người chỉ là khái niệm mà thôi. Dạo trước cậu trở lại Vực Thẳm, cậu chẳng hề mong chờ sẽ tiếp tục được con người đối xử như vầy.

Ví như Polly, lão không phải là chuyên gia về lĩnh vực điều trị, nhưng lão lại bắt đầu đọc các văn hiến y học trong kho số liệu kể từ lúc sức khỏe An Chiết ngày càng suy yếu, Rum cũng giúp sức kiểm tra tài liệu. Và có vài dạo An Chiết sẽ cảm thấy áy náy trước lòng tốt của họ, bởi cậu nào phải con người, tưởng chừng bao điều tốt đẹp này là nhờ trộm được khi khoác lớp da người. Cậu bắt đầu canh cánh về việc mình sẽ lộ nguyên hình vào ngày mà mình chết.

Cậu từng khuyên Polly rằng chớ nên lãng phí ngần ấy công sức, thời điểm đó Polly đang áp mu bàn tay lên trán cậu xem nhiệt độ, lão khẽ đáp:

– Cháu như con của ta vậy.

Khi Polly rời đi, cậu bèn hỏi Rum một cách vòng vo, hỏi sao ông Polly lại tốt với em vậy nhỉ?

Rum bảo, ngài ấy yêu tất cả mọi người nơi đây.

– Hồi mới đến viện nghiên cứu, nửa cơ thể của tôi đã mốc meo hoại tử hết rồi, hồi đó tôi cũng chả còn tỉnh táo nữa – Rum cuốn ống quần lên, trên bắp chân cường tráng của gã nhằng nhịt những vết sẹo dữ tợn và phình to tựa con giun, gã trai luôn lầm lì nói cả câu dài – Ngài ấy đã chữa trị cho tôi suốt nửa năm trời mà chẳng màng ngày đêm, tôi vốn chưa bao giờ tin sẽ có một người như thế trên cõi đời này.

Gã nói tiếp:

– Trước kia tôi chả phải kẻ tốt lành gì cho cam, thời làm lính đánh thuê còn hãm hại đồng đội đấy, hiện tại tôi cứu ba đồng bào về đây xem như chuộc tội. Cảm giác làm người tốt vui phết, và làm người thì cũng vui hơn thuở làm quái vật nhiều. Ai ai tại viện nghiên cứu cũng giống tôi thôi, không ai là không kính mến ngài Polly cả.

An Chiết nhớ rõ khoảnh khắc đó cậu bất giác hoài niệm Lục Phong, một sự liên tưởng thật khó hiểu xiết bao. Cậu nghĩ, chẳng rõ giờ Lục Phong ra sao rồi nhỉ. Chốc sau cậu lại lắc đầu lia lịa, cậu phải xua đuổi bóng hình của đồ đáng ghét khác hẳn với Polly ra khỏi tâm trí mình.

Rum là một người yêu âm nhạc nghiệp dư, gã thường nhìn bản nhạc nhàu nát để tập thổi kèn ác-mô-ni-ca, thi thoảng c*̃ng dạy cho An Chiết vài điều nữa, những giai điệu ấy êm tai phải biết. Song Rum bảo con người từng sở hữu nhiều loại nhạc cụ tuyệt vời hơn kèn ác-mô-ni-ca gấp trăm ngàn lần, chúng có thể cho ra một bản giao hưởng hoành tráng với biết bao đắm say khi kết hợp cùng nhau.

Lúc nhắc tới điều đó, Polly bèn đi tới chỗ họ mở miệng trêu:

– Nếu Rum sinh sớm hơn một trăm năm, thể nào nó cũng là nhà soạn nhạc tài ba cho coi.

Rum, gã trai thuộc mẫu người hướng nội, nghe vậy bèn phì cười. Kế đến gã lấy một chiếc đài radio cũ rích ra, lật cuộn băng lại rồi nhấn nút chạy, chiếc máy hoen gỉ nọ sẽ vẳng lên những tiếng nhạc du dương hoặc sôi động, ấy là giai điệu phát ra từ muôn vàn loại nhạc cụ và chúng đều có âm sắc lẫn nhịp điệu của riêng mình, những âm sắc cùng nhịp điệu nọ lẫn quyện vào nhau tạo nên khúc ngân vang tựa ngọn sóng xô bờ. Bản nhạc vọng từng tràng miên man ở phòng thí nghiệm bập bùng lửa than. Dưới tòa nhà trắng, một người với cánh tay trái biến thành chân thú vẫy vẫy sang hướng bên này, Rum bèn treo đài radio ra ngoài lan can, đoạn vặn to âm lượng.

Âm thanh sắc nét dịu êm lách qua cửa kính phủ đầy băng tuyết, lời giới thiệu cất lên trước khi nhạc trong cuộn băng được phát, đây là “Bản xô-nat mùa xuân” của Beethoven. An Chiết chống cằm lắng nghe, mùa xuân nơi Vực Thẳm cũng đẹp đẽ biết mấy, nhưng cậu sẽ không bao giờ có thể nhìn ngắm nó nữa.

…Chính giây phút này, cậu bỗng nghe thấy tin nhắn đến từ căn cứ phương bắc.

Kênh liên lạc luôn im phăng phắc suốt bấy lâu nay chợt lóe sắc đỏ, trên danh sách liên lạc chỉ có độc một đối tượng vô danh.

An Chiết mở giao diện liên lạc lên, tin nhắn đến từ đối tượng vô danh nọ vỏn vẹn hai dòng chữ độ mười mấy kí tự.

“Mùa đông đã cập bến.”

“Quái vật có hành vi khác thường, xin hãy cẩn thận.”

An Chiết phóng to chữ ra, cậu ngoảnh đầu ngó Polly:

– Ông ơi.

– Tin từ Tiến sĩ Gheer ở căn cứ phương Bắc đấy, – Polly bảo – chỉ có nó là ngấm ngầm liên hệ với ta suốt bao năm qua thôi.

Ba chữ “Tiến sĩ Gheer” khiến An Chiết thoáng ngẩn người, cậu hỏi:

– Cần trả lời không ông?

– Trả lời chứ, – Polly dịu dàng nói – cháu trả lời thay ta đi.

*

Căn cứ phương Bắc.

Kênh liên lạc nhấp nháy, hồi âm đến từ Viện Nghiên cứu Non Cao.

“Nhận được rồi ạ.”

“Cảm ơn vì lời nhắc nhở, căn cứ cũng nhớ chú ý an toàn nhé.”

Tiến sĩ đi ngang qua, đoạn nhìn màn hình liên lạc. Chàng ta cất tiếng:

– Ái chà chà, Thượng tá Lục ới – Giọng chàng ta hí ha hí hửng – Ai mà ngờ thẩm phán giả lại dám làm chuyện như này nhở. Trông vậy mà còn sống có lương tâm đáo để.

Ánh mắt Lục Phong bình tĩnh, nhìn đăm đăm dòng chữ trên màn hình.

– Ai đang trả lời ở bên kia thế? – Anh hỏi.

– Là người mà cậu chắc chắn không ngờ tới – Tiến sĩ Gheer thốt lên – Polly Jean đó.
 
Cây Nấm Nhỏ
Quyển 3 - Chương 75: “Đấy là vì ngài quang minh lỗi lạc, đức hạnh cao cả.”


Lời cảnh báo đến từ căn cứ phương Bắc mang nhiều ngụ ý. Polly cất giọng:

– Họ cũng phát hiện rồi.

An Chiết trông ra ngoài kia.

Viện Nghiên cứu Non Cao tọa lạc tại chỏm núi cao nhất, toàn cảnh Vực Thẳm ánh vào mắt rõ mười mươi. Lằn nứt to tướng hệt một vết thương dữ tợn trên làn da xám ngoét của địa cầu, huyết tương lẫn mủ nơi vết thương này sẽ là trùng điệp những cánh rừng cùng đầm lầy. Tuốt ngoài đằng đông xa vời vợi là biển, hoặc hồ nước khổng lồ cũng nên, mà dù thế nào thì ta cũng chẳng thấu triệt nổi bến bờ của nó. Vào phút thinh lặng, chừng như có tiếng rủ rỉ đung đưa trong gió và con sóng vỗ láng máng trong sương mù.

Tựu trung, nó giống một con quái vật tâm ngẩm nằm lì trên mặt đất vậy.

Đây nào phải Vực Thẳm thân thuộc mà An Chiết biết, bởi cậu đã từng trải nghiệm nó rồi. Vực Thẳm dĩ vãng là một vùng bạo lực và thấm đẫm máu tươi, chưa bao giờ có những tháng ngày bình yên nhường này.

Có bóng đen lấp ló nơi chân trời xa xăm, rồi nó mỗi lúc một to một gần, cuối cùng dừng trên thinh không trước tòa nhà trắng. Đường Lam thu cánh vào, nhào thẳng xuống hành lang bên ngoài, đoạn đẩy cửa phòng thí nghiệm ra.

– Thưa ngài Polly, tôi về rồi – Nói đoạn y bèn ngoảnh sang Rum, hỏi – Có cuộc tấn công nào gần đây không?

Rum đáp:

– Không có.

Polly ngẩng đầu quan sát y từ trên xuống một lượt, tuồng như đang kiểm tra xem liệu trạng thái của y có ổn định chăng. Nếu người làm động tác này là Lục Phong, An Chiết sẽ chắc nịch anh đang tiến hành phán xét đối phương hòng quyết định nên bắn chết hay bỏ qua, song cặp mắt lam xám nhìn Đường Lam ấm áp biết bao nhiêu, cậu tin rằng đấy chỉ là một người ông hiền hậu lo Đường Lam bị thương khi lang bạt bên ngoài thôi.

Quả nhiên, Polly hỏi:

– Gặp trục trặc bên ngoài hả cháu?

– Vâng, nhưng tôi không bị thương đâu ạ – Đường Lam trả lời – Tôi khá quen đường quen nẻo ở vùng đó thưa ngài.

Polly quở:

– Bao giờ cháu cũng lòe cho ta yên dạ.

Đường Lam mỉm cười, mặt mày y xinh đẹp sắc sảo, đượm nét sát khí theo một lối lạnh lùng cay nghiệt. An Chiết nhớ Hubbard là thủ lĩnh của đội lính đánh thuê xuất sắc nhất, vậy thì đội phó của gã tất cũng chả phải hạng xoàng xĩnh gì cho cam.

Polly hỏi:

– Tình hình bên ngoài thế nào rồi?

– Không khác với những gì ngài dự đoán mấy, – Đường Lam trả lời – chúng vào trạng thái cân bằng rồi.

Nói đoạn y bèn lấy một sợi cáp dữ liệu ra khỏi ngăn kéo, nhằm kết nối chiếc máy ảnh cỡ nhỏ trong tay với máy tính, hàng trăm bức ảnh được tải lên rồi xuất hiện trên màn hình lớn.

Thoạt nhìn thì những hình ảnh này chỉ có mỗi cảnh quan kì dị đến là khó tả – nét đặc sắc riêng của chốn Vực Thẳm thôi, chứ chẳng có gì lạ lùng sất, nó giống ảnh phong cảnh được chụp bởi du khách hiếu kì vậy. Ấy nhưng khi nom kĩ hơn, con người ta sẽ không khỏi nín thở.

Bức ảnh nổi bật nhất trong số đó là ảnh chụp một mặt hồ thênh thang với góc độ nhìn từ trên cao xuống, nó đóng băng, lớp băng trắng xóa đông cứng tảo nâu, cành cây, cùng lá rụng trôi dưới hồ. Tuy nhiên dưới lớp băng trơ khấc nọ, lại lấp ló bóng đen khổng lồ kì lạ… Đấy là lưng của sinh vật sống dưới nước, nó cứ im ỉm nấp dưới nước, cái bóng như một bức họa trừu tượng.

Và bên bờ hồ, ngồn ngộn dây leo đỏ quạch lẳn lấy những cành cây khô quắp của khu rừng, bức ảnh kế tiếp là chụp cận cảnh luống dây leo, trông nó trơn nhẵn hệt con giun, đường vân hình ngôi sao tỏa tròn hằn dưới lớp da nó, lắm mạch máu đen đặc như đang đập thình thịch. An Chiết sực vỡ lẽ, rằng đấy chả phải là thực vật bình thường, mà toàn bộ dây leo nơi rừng rậm toàn là quái vật xúc tu.

– Chỉ kịp chụp một bức thôi, tại nó phát hiện ra tôi rồi – Đường Lam giải thích.

Polly cầm điều khiển từ xa bấm xem từng bức ảnh.

– Chúng đã kinh qua cuộc thảm sát kéo dài ba tháng, nên những kẻ sống sót giờ đây đều rặt một lũ khổng lồ. Tôi chả thấy tăm hơi lũ sinh vật nhỏ bé đâu cả – Đường Lam cho hay – Tôi đã vật nhau với chúng vài đợt. Thưa ngài Polly, tôi khẳng định rằng ở viện nghiên cứu hiện tại chỉ có mình tôi là đủ sức thoát khỏi tay chúng thôi. Nhưng tôi hoàn toàn không thể đánh trực diện với chúng nổi. Vả chăng, hầu hết quái vật tại Vực Thẳm đều thuộc kiểu đa hình, tôi không dám chắc tầm này chúng đã khủng khiếp đến mức nào.

– Ta hiểu rồi, – Polly gật đầu, con mắt lam xám để lộ nét uy nghiêm – nếu gen là một thứ tài nguyên, thì chúng đã hoàn thành quá trình hòa nhập với Vực Thẳm. Hiện nay, lũ quái vật đã đạt tới sự cân bằng về sức mạnh, và trí thông minh của chúng cũng được tăng lên đáng kể trong quá trình hòa nhập. Chúng hiểu rằng ẩu đả có thể dẫn đến thiệt hại cho cả hai phía. Nếu suy đoán của ta là chính xác, thì số ít cá thể quái vật giờ đã rời khỏi Vực Thẳm nhằm đi săn mồi ở nơi xa hơn. Loài người nhất định cũng nằm trong danh sách mục tiêu của chúng, nhưng tạm thời chúng chưa chú ý mà thôi, chúng ta nên cẩn thận mọi lúc mọi nơi trước sự tấn công tập thể từ lũ quái vật.

– Quả đúng như vậy, – Đường Lam trả lời – ngặt nỗi có một chi tiết khác với suy đoán của ngài ạ.

Polly hỏi:

– Cháu tìm ra điều gì ư?

Đường Lam điều khiển trỏ chuột, chuyển sang một bức ảnh khác. Thật khó để mường tượng bức ảnh nọ xấu tới mức nào. An Chiết chẳng có khiếu thẩm mỹ, song cậu dám cá rằng có thể miêu tả nó với hai từ “xấu xí” – bởi nó đã tác động mạnh vào giác quan con người. Tất thảy bộ phận hình dung được, cùng không hình dung được bằng ngôn ngữ loài người nhô lên trên bề mặt hai loài động vật thân mềm lúc nha lúc nhúc, các xúc tu nhễu đầy dịch nhầy đan nhằng nhịt vào nhau, và ở bức ảnh kế tiếp, xúc tu của chúng tách ra, bức tiếp theo nữa, một con trong số đó đã di chuyển sang hướng khác.

– Tôi đã quan sát được sáu trường hợp tương tự, lũ quái vật chả lao bổ vào cắn xé nhau và chiếm lãnh thổ riêng cho mình như dự đoán ban đầu của ngài. Chúng đi khắp Vực Thẳm thăm dò đối phương, cuối cùng tách ra – Đường Lam dần chùng giọng – Tôi nghi điều tồi tệ nhất đã xảy đến thưa ngài. Trông chúng cứ như đang giao lưu vậy, mà tôi thì không biết được nội dung giao lưu giữa chúng. Hễ chúng tiếp xúc với nhau, thì tôi có thể nhận thấy rằng cái thứ dao động trong chúng càng trỗi dậy mạnh mẽ hơn.

Y nói tiếp:

– Tôi nghĩ chúng đang thử làm quen, dò xét thử liệu đối phương có loại gen mình cần hay chăng.

– Có khả năng là thế thật, – Polly bảo – Dầu sao cháu cũng là thành viên nhạy với “dao động” nhất ở viện nghiên cứu.

– Suốt dạo vừa qua, càng ngày tôi càng nhạy với nó, – Sắc mặt Đường Lam bợt bạt – nó đầy rẫy trong không khí, ám trên thân hình từng con quái vật, thi thoảng tôi còn cảm giác cả hòn sỏi nằm trên mặt đất cũng đang xóc nảy. Mỗi lúc một khó để tiếp tục suy nghĩ, đáng lí tôi không nên về sớm nhường này, nhưng tôi cứ tưởng như luồng dao động của bản thân đang dần dà sát nhập với chúng. Ngài Polly à, tôi… tôi thấy mình hơi kì lạ.

Polly nắm chặt tay y, nói bằng một giọng thanh bình:

– Đừng sợ.

– Ở cái thời đại mà sắp dãy DNA của sinh vật ổn định nhất, tức là vào một trăm năm trước, vốn có số ít giống loài cực nhạy với từ trường. Mà cháu lại vừa hay kết hợp với chúng thôi – Lão giải thích.

– Nhưng đây chẳng phải là từ trường, tôi cảm nhận được nó, từ trường có kiểu dao động khác – Đường Lam nhắm mắt, y quỳ một chân xuống và áp trán lên mu bàn tay Polly, cất giọng khê khản – Thưa ngài Polly, có phải ngài đã nghiệm ra điều gì từ trước rồi không? Trông ngài chả lấy làm lạ khi tôi nói về những điều này.

– Hiềm nỗi ngài sẽ không cho chúng tôi hay, bởi chúng tôi sẽ chẳng chịu đựng nổi chân tướng ấy – Đường Lam thốt lên – Song thú thực tôi…

Giọng y ngày một khản đặc ngắc ngứ, sau cùng cất tiếng chẳng đặng nữa.

– Đừng hãi, đừng hãi… cháu của ta, – Polly nâng tay phải rịt chặt bờ vai Đường Lam, thanh âm của lão êm dịu hệt đại dương mênh mông – ta sẽ bảo vệ các cháu tới ngày ta trút hơi thở cuối cùng.

Đường Lam ngẩng đầu lên và nhìn thẳng vào mắt Polly, y lập lời thề trịnh trọng:

– Chúng tôi cũng sẽ bảo vệ ngài cùng viện nghiên cứu đến hơi thở cuối cùng.

– Ta chưa từng yêu cầu các cháu điều gì, tuy nhiên, nếu đến một ngày viện nghiên cứu không còn tồn tại nữa, – Polly khẽ khàng bảo – ta mong các cháu đừng lao vào dòng thác lũ quái vật và dị chủng, mà hãy đi đến căn cứ phương Bắc để bảo vệ căn cứ loài người.

Đường Lam trả lời:

– Nhưng thẩm phán giả ắt bắn chết tất thảy dị chủng, căn cứ sẽ chẳng bao giờ chấp nhận chúng tôi.

Polly đưa mắt nhìn buổi chiều tàn mênh mông ngoài kia.

– Dù vậy vào giây phút cuối cùng, ta vẫn sẵn sàng tin tưởng hết mực vào lòng vị tha và nhân từ của loài người – Lão đáp.

Đường Lam thoáng nhoẻn môi cười, y ngước nhìn Polly:

– Đấy là vì ngài quang minh lỗi lạc, đức hạnh cao cả.

Polly mỉm cười lắc đầu.

*

Đường Lam đi, mức năng lượng của Lồng Simpson cũng đã đạt điểm tới hạn[1], quầng sáng đỏ khé bừng lên tại khoảnh sân rộng dưới tòa nhà trắng, hơi nóng tấp vào mặt, nếu không nhờ biết trước đây là cỗ máy tạo ra nhằm mục đích ghi lại tần số dao động của các hạt cơ bản[2] và trường năng lượng cao[3] của quỹ đạo tương tác, thì An Chiết suýt ngỡ rằng dưới sân là biển lửa ngụt cháy ngút trời.

[1] Trong nhiệt động lực học, điểm tới hạn (hay trạng thái tới hạn) là điểm cuối cùng trên đường cong cân bằng pha. Ví dụ nổi bật nhất là điểm tới hạn chất lỏng-hơi, điểm cuối cùng của đường cong áp suất-nhiệt độ chỉ ra các điều kiện mà tại đó chất lỏng và hơi của nó có thể cùng tồn tại.

[2] Là các hạt hạ nguyên tử không có các cấu trúc phụ, không được cấu tạo từ những hạt khác. Vì thế hạt sơ cấp được coi là tồn tại như một hạt nguyên vẹn, đồng nhất, không thể tách thành các phần nhỏ hơn. Cho đến thời điểm hiện tại các hạt được cho là sơ cấp bao gồm: Các loại “hạt vật chất” cùng “hạt phản vật chất” thuộc họ fermion (quark, lepton, phản quark và phản lepton), “các hạt lực” làm trung gian tương tác giữa các hạt fermion thuộc họ hạt boson (gauge bosons và Higgs boson). Một hạt chứa hai hoặc nhiều hạt cơ bản là một hạt tổng hợp.

[3] Trường năng lượng chứa đựng sự rung động của năng lượng, có thể chuyển tải thông tin. Trường hoạt động ở cả mặt phẳng vật lý cùng mặt phẳng tâm linh tương tự như các thể và các kênh năng lượng, nhưng trường có sự hiện diện của hiện tượng huyền bí.

Thiết bị đầu cuối[4] cùng bàn điều khiển của Lồng Simpson hiện trên màn hình lớn giữa phòng thí nghiệm, song do thiếu sót trong khâu thiết kế, nhiều khi cần phải xuống lầu để điều chỉnh thủ công các thanh của một số thiết bị tinh vi nữa.

[4] Là thiết bị viễn thông cố định hoặc di động được đấu nối vào điểm kết cuối của mạng viễn thông để gửi, truyền, nhận và xử lý thông tin của người sử dụng.

Trên màn hình lớn, những đường nét hãy cứ lằng nhằng, có điều chúng cũng chả phải thứ nhất thành bất biến, những đường nét xoắn bện nọ sẽ đổi từ kiểu lộn xộn này sang kiểu lộn xộn khác hễ Polly điều chỉnh các thông số, và sau cùng thì chúng hãy cứ rối tung thành một nùi.

Nhưng Polly vẫn phân tích đường nét, tính toán hàm số, điều chỉnh tham số, đổi tần số thu hết lượt này đến lượt khác. Đường nét biến động khó lường luôn nhảy trên màn hình như thế.

Có thanh âm ngắt quãng dòng suy nghĩ của An Chiết, chiếc máy thu băng kiểu cũ đang phát những nốt nhạc du dương từ “Bản giao hưởng Định Mệnh” khắp hành lang. Rum đứng bên cửa sổ và trước mặt gã là một khuông nhạc. Gã thổi kèn ác-mô-ni-ca khi xem tờ lược phổ hòng phỏng theo giai điệu bản giao hưởng. Mãi sau, gã dừng lại.

– Cậu hiểu âm nhạc không? – Gã hỏi.

An Chiết lắc đầu nguầy nguậy.

Rum chỉ máy thu băng:

– Nghe xong bài này, cậu có biết cách thổi nó không?

An Chiết tiếp tục lắc đầu lia lịa. Bản giao hưởng phức tạp ngần ấy, cậu lĩnh hội được một nốt trong số mười ngàn nốt trầm bổng là đã quá lắm rồi, chứ đừng nói chi tới việc tái hiện nó.

– Phải có bản nhạc – Rum lật sang trang mới, khẽ giải thích. Lúc nói đến “bản nhạc”, gã lại nhìn về phía màn hình giữa phòng thí nghiệm.

Tưởng như có sợi dây đàn khẽ rung bật trong hư không, mạch suy tư rối ren phức tạp tức thì rõ ràng. An Chiết thốt nhiên mở to mắt.

– Dao động chính là một bản giao hưởng, – Cậu thốt lên – ông Polly muốn cắt nó ra thành bản nhạc. Sau đấy… sau đấy có thể thực hiện rất nhiều điều.

Rum nhìn cậu chăm chú, bằng con mắt đen láy:

– Cậu thông minh hơn tôi rồi.

An Chiết cũng nghía sang màn hình, ta có thể phân tích ra bí ẩn của thảm họa biến dạng từ những đường nét này ư? Ánh mắt cậu dần trở nên hoang mang.

Hay biết đâu, sự hỗn loạn chẳng có hồi kết nọ chính là chân tướng, theo một ý nghĩa khác.

Chuỗi nín lặng không sao tả xiết phủ lấp phòng thí nghiệm. An Chiết cúi đầu, số phận loài người mịt mù như những đường nét kia vậy, có lẽ tất thảy những điều này chẳng dính dáng gì tới nấm, nhưng đôi khi cậu cũng sẽ thấy ngạt thở.

Thực khó để giải thích nguyên do, An Chiết đứng trước kênh liên lạc với căn cứ phương Bắc, ngón tay cậu đặt lên bàn phím.

Động tác ngón tay nay đã hết linh hoạt, cứ như sợi nấm của cậu chả duỗi ra được nữa, đầu ngón tay lúc gõ phím sẽ khó dằn nổi mà run rẩy.

Chẳng có sợi quang học[5] cùng trạm gốc nên chi phí liên lạc rất cao, nó giống việc liên lạc bằng điện báo đường biển từ hàng chục thế kỉ trước vậy, ta phải sử dụng tiết kiệm.

[5] Sợi quang học là một loại sợi trong suốt, linh hoạt được làm từ thủy tinh (silica) hoặc chất dẻo thấm chất lượng cao, hơi dày hơn sợi tóc người. Nó có chức năng dẫn sóng hoặc truyền ánh sáng, giữa đầu và cuối sợi này. Chúng thường được sắp xếp trong các bó gọi là cáp quang.

Cậu gửi.

“Tình hình ở căn cứ thế nào rồi ạ?”

Quả là một sự trùng hợp hoang đường, bởi cùng lúc đó, kênh liên lạc nhấp nháy và có tin nhắn y hệt được gửi đến từ căn cứ phía Bắc.

“Tình hình ở viện nghiên cứu thế nào rồi?”

Căn cứ phương Bắc có thể đánh đổi mọi thứ vì sự trong sạch của gen người, họ căm thù quái vật, Tòa Xử án tuyệt không bao dung cho dị chủng, duy chỉ có nhà khoa học tốt bụng như Tiến sĩ Gheer mới chấp nhận nổi sự tồn tại của Phái Hợp Nhất, đồng thời quan tâm đến trạng huống ở nơi đây.

An Chiết trả lời: “Mọi chuyện vẫn ổn.”

Dường như lấp l**m sự thật là khả năng đặc biệt của loài người, mà cậu thì đã học được nó.

Vài giây sau đối phương hồi âm: “Căn cứ cũng vậy.”

An Chiết nhìn đăm đăm giao diện gửi tin nhắn, đoạn trầm ngâm hồi lâu, cậu nhập câu kế tiếp: “Thẩm phán giả có ổn không ạ?”

Nghĩ đoạn, cậu lại nhấn phím backspace vài lần. Đương lúc cậu vừa xóa sạch sành sanh thì căn cứ phương Bắc tiếp tục gửi tin.

“Phải chăng gần đây viện nghiên cứu đã phát hiện ra cá thể biến dị mới?”

An Chiết ngẫm nghĩ giây lát, trả lời rằng: “Chưa đâu.”

Hồi âm xong, cậu bèn gửi nốt cụm mình vừa chữa ban nãy.

“Tòa Xử án có ổn không ạ?”

Đối phương đáp: “Tòa Xử án vẫn hoạt động bình thường.”

An Chiết thoải mái chút đỉnh.

“Mong rằng những điều tốt đẹp sẽ tới với mọi người.” Cậu lễ phép kết thúc cuộc trò chuyện: “Ngủ ngon nha.”

Câu trả lời từ đối phương cũng chỉ có hai chữ ngắn gọn.

“Ngủ ngon.”

An Chiết nhìn hai con chữ nọ, cậu dời ngón tay khỏi bàn phím, lấy chiếc phù hiệu bạc kia ra, tốc độ suy nhược của cơ thể cậu tăng chóng mặt và giờ đã đến chặng đường cuối rồi. Khớp ngón tay cứng sượng, cậu siết chặt chiếc phù hiệu kia.

Có âm thanh vẳng vào từ ngoài cầu thang: là Polly, song lão chưa về phòng mà là trầm ngâm đứng trước lan can hành lang, xoay lưng về hướng này.

An Chiết đẩy cửa đi tới chỗ Polly. Tiếng nhạc ngừng bặt, dưới sân là Lồng Simpson đang rực cháy cùng cảnh đêm trải rộng trước mắt, có tiếng hú dài rúc lên từ khoảng trời ngờm ngợp những mịt mùng cõi xa khuất.

Polly hỏi:

– Sao không ở trong đấy đi?

An Chiết lắc đầu, cậu nhớ đến lời Đường Lam từng nói.

– Ông ơi, – Cậu hỏi – có phải ông biết gì rồi không?

Polly nhìn cậu.

– Lâu lâu ta lại nghĩ rằng khả năng tiếp thu của cháu mạnh hơn bất kì ai khác, – Polly bảo – cháu rất đặc biệt. Trông cứ ngỡ là yếu ớt nhất, nhưng dường như lại chẳng sợ bất cứ điều gì.

An Chiết rủ mắt se sẽ, đoạn đáp:

– Vâng ạ.

– Tuy nhiên ta vẫn chưa lần ra được đáp án cuối cùng, – Polly vươn tay cài hàng khuy đầu tiên trên áo khoác An Chiết – cháu có muốn nghe một câu chuyện ngắn không?

An Chiết trả lời:

– Dạ muốn.

– Đây là giả thuyết của một nhà khoa học, cũng lâu lắm rồi – Polly cất giọng ôn hòa trong tấm gió sắt se.

– Giả sử hôm nay, cháu du hành xuyên không gian và thời gian tới một năm sau. Ở nơi ấy, cháu tiếp tục du hành trở lại một năm trước, đến chỗ này – Polly nói – Khi đó trước mặt ta sẽ có hai An Chiết giống y xì đúc.

An Chiết thử mường tượng, rồi đáp vâng.

– Một đơn vị vật chất là nguyên tử, trong nguyên tử có các hạt electron, trên đời không bao giờ có hai chiếc lá giống hệt nhau, nhưng mọi electron đều tương tự nhau. Vậy làm thế nào để chứng minh hai hạt electron là hai cá thể khác nhau nhỉ?

An Chiết suy ngẫm, đoạn thốt lên:

– Chúng nằm ở hai vị trí khác nhau.

– Nhưng không gian lẫn thời gian vốn chả phải là thước đo vị trí, chúng chỉ có ý nghĩa với con người bốn chiều mà thôi. Ở một chiều cao hơn, không gian và thời gian cũng chỉ là tung độ cùng hoành độ trên một trang giấy trắng rộng mở, ví dụ như này nhé – Polly lấy một viên phấn ra khỏi túi áo, kế đến vẽ một chấm tròn trên lan can đằng trước, lão giải thích – Một hạt electron chuyển động tự do trong không gian và thời gian, bên trái là quá khứ, bên phải là tương lai, hiện tại nó xuyên qua thời gian rồi tiến về trước một giây.

Nói đoạn, lão bèn vẽ một dấu gạch chéo ngược bằng nét đứt nằm ở mé dưới bên phải:

– Sau khi xuyên qua thời gian, nó sẽ ở đây.

– Tiếp đấy nó lại xuyên qua thời gian, lùi về sau một giây và dừng ở chỗ này – Phấn vẽ một dấu gạch chéo ở mé dưới bên trái.

* Dấu gạch chéo (/) dấu gạch chéo ngược ()

Lan can bấy giờ có ba điểm cùng hai đường thẳng, chúng tạo thành một góc nhọn hở bên trái, hai điểm ở bên trái nằm trên một đường vuông góc. Polly kéo dài đường vuông góc này:

– Thời gian của chúng ta là trong giây này. Hiện tại chúng ta đang thấy những gì?

An Chiết suy nghĩ cả buổi trời, sau cùng, cậu trả lời.

– Hai hạt electron ạ.

– Đúng thế, chúng ta thấy được hai hạt electron giống hệt nhau. Song về cơ bản thì chúng chỉ là một thôi, chẳng qua chúng xuất hiện ở hai vị trí vào cùng lúc, – Polly tiếp tục chấm thật nhiều hạt electron bên cạnh chúng, nom hệt muôn vàn vì tinh tú vậy – theo ước tính sơ lược, Trái Đất của chúng ta có tổng cộng 1051 hạt electron như nhau, chúng kết hợp thành những vật chất mà ta thấy được bằng mắt thường. Vậy cháu làm sao để chứng minh rằng đây chẳng phải là kết quả từ cùng một electron đang chuyển động qua lại hàng tỷ lần trên trục thời gian hửm?

– Và với quy luật tương tự, cháu làm sao để chứng minh rằng sự tồn tại của cả vũ trụ mà chúng ta đang nhìn thấy, nó không phải là kết quả của một hoặc nhiều hạt cơ bản nhảy múa trong không gian thời gian?

An Chiết chau mày, cậu chả chứng minh nổi. Cậu vật vã tiêu hóa câu nói ấy với tri thức bé mọn của mình.

– Nên cháu và ông đều thuộc một electron hở?

Polly mỉm cười hiền từ, lão vươn tay ôm siết bờ vai An Chiết, tựa một bậc lão làng ôm đứa trẻ hãy còn ngây ngô non dại.

– Đây chỉ là một trong số vô vàn phỏng đoán về bản chất thế giới này mà con người từng đưa ra thôi, không hẳn là sự thật, hoặc có lúc còn trái ngược với sự thật cơ, chỉ là thực khó để kiểm chứng nó – Lão nói – Ta lấy ví dụ này chỉ nhằm chứng tỏ rằng sự tồn tại ngắn ngủi của ý thức, tâm trí, cơ thể con người cũng như toàn bộ hành tinh, nó còn bé hơn cả hạt electron khi đứng trước thước đo khổng lồ.

An Chiết đưa mắt ngó nẻo xa, cậu chỉ là một cây nấm với kết cấu giản đơn, chẳng có não bộ của nhà khoa học, càng chẳng có tri thức dạt dào cùng tầm nhìn xa vượt qua chiều không gian như vậy, cậu chả thấu triệt loại hệ thống này, chỉ biết rằng thế giới thực sự đang ở ngay trước mắt mình, cậu bảo:

– Nhưng chúng ta đều là thật mà.

Khoảnh khắc vừa bật thốt, cậu thốt nhiên chết lặng một giây, lông mày khẽ chau trước cơn nhói buốt của phổi. Cậu rịt chặt lan can, tấm thân run đến là tợn, chợt cậu hộc ra một búng máu tươi và ngã uỵch xuống.

Cánh tay Polly run rẩy khi đỡ lấy thân hình lả đi đầy rệu rã của An Chiết, ôm An Chiết vào lòng.

– Rum! – Lão ngoảnh sang phòng thí nghiệm rống to, giọng nom sốt ruột khôn cùng.

An Chiết biết Polly lại muốn cứu mình, hoặc là tìm nguồn cơn về căn bệnh của mình, lão sẽ dùng nhiệt kế, thuốc kháng sinh, máy khử rung tim… đại khái vậy.

Cậu tiếp tục hộc máu, Polly vội giơ ống tay áo lau sạch cho cậu. Máu nhuộm đỏ loét tay áo sơ-mi trắng bốp. An Chiết gắng mỉm cười nhìn Polly.

– Không cần nữa đâu – Ngón tay cậu chầm chậm cầm cánh tay Polly, thở phì phò và thều thào rằng – …Thôi ông ạ.

Polly ôm ghì cậu:

– Gắng thêm tí nữa đi.

– Cháu… – An Chiết nhìn sâu vào đôi mắt lão, tưởng chừng thấy được cả bầu trời cùng biển khơi dài bất tận.

Cậu ổn thật mà, chưa đến giai đoạn suy nhược nhất đâu, chí ít thì cậu vẫn cử động được và ý nghĩ hãy còn rõ ràng.

Nhưng rồi một mai cậu tất phải chết, nếu chẳng phải hôm nay, thì chính là ngày mai… hẳn cậu sẽ chết như vầy thôi. Polly là người ông tốt nhất trên cõi đời này, lão xem cậu như đứa con thương muốn nẫu ruột, tốt với cậu không sao tả xiết… Vào giây phút cuối đời, cậu có thể chết trong tình yêu dịu dàng ngần ấy, là điều mà những người khác chưa bao giờ dám mơ tới ở cái thời đại này. Song nếu cậu chết như vầy, Polly sẽ nghĩ cậu chết bởi căn bệnh không rõ xuất phát từ đâu, lão chả tìm ra nguyên nhân gây bệnh, bất lực vô ngần. An Chiết hiểu, với một nhà khoa học mà nói thì nan đề chẳng có lời giải và chân tướng không thể thấu triệt là nỗi phiền muộn nặng nề nhất.

Cậu sẵn sàng chết đi với thân phận quái vật. Cậu chẳng sợ Polly ghét cậu nữa, những thứ mà Polly trao cho cậu đã đủ lắm rồi.

– Xin lỗi… xin lỗi, – Cậu ngó Polly, cậu nhẹ nhõm hơn hẳn khi đã hạ quyết tâm, cơn đau trong cơ thể nào có xá chi, cậu tiếp tục thều thào – ông Polly ơi, cho cháu xin lỗi.

Polly nhìn cậu chăm chú.

– Cháu… – An Chiết cười tươi, cậu ho húng hắng và giọt nước mắt bỗng lăn dài, nó ấm ngang ngửa máu. Cậu thở hổn hển đầy gian nan, nói với Polly rằng – cháu… lừa ông đó, cháu không phải con người bị quái vật truyền nhiễm. Cháu vốn là quái vật, cháu không phải người, cháu… cháu ăn gen của một người, cháu chỉ… trông giống người mà thôi.

Polly tựa hồ thoáng sững sốt giây lát, để rồi khoảnh khắc tiếp theo, đôi mắt lam xám nơi lão vương vấn nỗi buồn nhẹ tênh:

– Dẫu cháu có là thứ gì đi chăng nữa, thì cũng hãy kiên trì thêm một chốc được không?

An Chiết lắc đầu.

– Cháu không bị ốm – Cậu đáp – Tuổi thọ của cháu… chỉ dài chừng này thôi, chẳng thay đổi được… đừng cứu cháu nữa.

Cậu vừa dứt lời, Polly bèn ôm cậu thật chặt. Họ nhìn thẳng vào nhau, chìm vào khoảng lặng sầu thảm.

Tuổi thọ cố định của giống loài là điều mà ta chẳng tài nào cự lại nổi, nó vượt xa cả thương tích và bệnh tật. Ngay từ khi sinh ra đã được định sẵn kết cục, không một ai có thể tránh thoát ngưỡng cửa do Chúa dựng nên, nếu như Chúa thật sự có tồn tại.

Trong quãng thinh lặng khiến con người ta chẳng thốt thành lời, An Chiết chợt nghe Polly nói một câu giữa gió rét thét gào.

Giây phút nó vọng bên tai, trái tim cậu bỗng nhiên đập loạn xạ. Câu nói đó quen thuộc quá đỗi, quen thuộc tới nỗi cậu ngỡ như mình vừa quay lại cái đêm đứng đối diện Lục Phong vào ba tháng trước, gió hôm ấy cũng mạnh khôn cùng.

Polly hỏi:

– Đang nắm thứ gì vậy?

An Chiết chả có điều gì phải giấu giếm Polly cả, cậu chầm chậm xòe tay mình ra.

Một chiếc phù hiệu bạc nằm lẳng lặng giữa lòng bàn tay An Chiết, đây, là biểu trưng cho thân phận thẩm phán giả của chàng trai nọ. Polly dời mắt sang chiếc phù hiệu kia và An Chiết thề rằng, cậu có thể nhìn thấu một nỗi sầu xa xăm nào đấy ẩn trong mắt lão.

Sau đấy Polly duỗi tay, lấy một món đồ ra khỏi túi áo mình, cầm nó trong lòng bàn tay.

An Chiết thoáng mở to hai mắt.

Đấy cũng là một chiếc phù hiệu màu bạc, cơ hồ giống hệt chiếc phù hiệu nơi cậu.

– Ông… – An Chiết ngớ người – ông là… thẩm phán giả ư?

– Đã từng thôi, – Polly khẽ đáp – ta là một kẻ phản bội.

<i>Hết chương 75</i>Gửi trưởng ếp xi J bé bỏng và bạn reader có ava luôn cười G, ở vài chương trước tớ có gáy rằng chi tiết về cụ Polly mãi mãi là ẩn số, ờm… Như hai người thấy đó, ẩn số đã được tiết lộ ở chương này… Mặc dù đã giải thích ở chương 71 về lí do tớ hay nhớ sai tình tiết rùi, nhưng mà vẫn bối rối qué…

Xin hứa đấy sẽ là lần phát ngôn ngu ngục cuối cùng, thề luôn… Nhục xỉu mất, mong là cả hai không bị hẫng hoặc có trải nghiệm không vui về sự cố lần (thứ n) này, chin nhỗi rất nhìu…

Btw xót Chiết quá, khóc bằng nhiều thứ tiếng ( ༎ຶ⌑༎ຶ)
 
Cây Nấm Nhỏ
Quyển 3 - Chương 76: “Cực quang thắp sáng muôn lối Vực Thẳm.”


<b>
– Tôi sẵn sàng cầm vũ khí lên vì sự an toàn của nhân loại.

– Tôi sẽ phán xét mọi công dân một cách công bằng.

– Dẫu có sai lầm, thì vẫn chính xác.

Polly đọc từ tốn đoạn văn này.

– Lời tuyên thệ của Tòa Xử án đấy – Lão nói.

An Chiết ngơ ngác, cậu từng nghe câu cuối cùng của đoạn tuyên thệ này rồi.

Không ngờ sau khi hộc xong hai búng máu, cơ thể cậu lại nhẹ bẫng và giác quan dần dà kém đi, gió đông thông thốc vào mặt chẳng mảy may khiến cậu rùng mình vì lạnh mà thay vào đó là một thứ gì đấy khôn lường hư ảo, ngỡ như kế đến cậu sẽ chóng tan biến trong làn gió. Cậu thử chống người dậy, tựa vào lan can, đoạn cúi đầu ngó hai chiếc phù hiệu nọ.

Hoa văn được khắc trên phù hiệu hình lục giác, biểu tượng của Tòa Xử án là hai ngôi sao chữ thập hình thoi giao nhau – nom giống dấu tượng trưng cho phương hướng trên bản đồ vậy. Ngôi sao tượng trưng cho đông tây nam bắc hơi lớn, đỉnh ở hướng nam kéo dài xuống dưới tạo nên một hình dạng tương tự cây thánh giá. Ngôi sao nghiêng về phía đông bắc, đông nam, tây nam, tây bắc bé hơn, nó nằm dưới sao chữ thập lớn.

An Chiết đã ngắm cái hình thù góc cạnh rõ mười mươi này biết bao nhiêu lần, kết cấu bạc sẫm màu lạnh lẽo, những đường nét thẳng tắp, đỉnh sao sắc lẹm nọ toát đầy vẻ chính trực và nghiêm nghị oai phong. Ngón tay Polly vuốt nhẹ bề mặt sao chữ thập, có lẽ lão cũng từng mô tả vẻ ngoài của nó lắm bận rồi, bởi hoa văn trên phù hiệu đã hằn vết mòn rất sâu.

– Một đồng nghiệp của ta đã thiết kế ra nó – Gió lạnh căm căm rít dài, Polly trông ra bầu trời đêm xa nghìn trùng – Bọn ta hi vọng sao chữ thập sẽ chỉ dẫn đúng lối cho con người.

– Không phải ông là… nhà khoa học thuộc Phái Hợp Nhất ư? – Cậu hỏi khẽ.

– Đúng vậy – Polly đáp.

Giọng điệu của lão nhẹ tênh như tiếng thở dài:

– Ta là kẻ đứng đầu Phái Hợp Nhất, cũng là người sáng lập Tòa Xử án. Phái Hợp Nhất chính là tiền thân của Tòa Xử án.

An Chiết chợt nhớ về dãy hành lang dài dặc tại Tòa Xử án, nơi mà ngày sinh ngày mất và chân dung của từng thế hệ thẩm phán giả được treo thành hàng, nhưng khung hình sau cùng lại bị gỡ xuống, họ tên lẫn ngày sinh ngày mất cũng bị cạo sạch. Vị trí đó chỉ còn sót mỗi một chữ “P” nhạt nhòa. Đấy là thông tin về thẩm phán giả đời đầu, tuy nhiên chẳng hiểu sao mà bị người đời sau xóa đi.

Căn cứ phương Bắc là vùng trộn lẫn nhiều chủng tộc, cậu chả rõ từ “Polly” này rốt cuộc được phiên âm từ ngôn ngữ nào, song cậu có thể đánh vần ra từ đơn giống với “Polly” bằng các chữ cái la tinh.

*An Chiết gọi theo phiên âm tiếng Trung là 波利 (bōlì) nên không biết Polly là tiếng nước nào.

Nhưng trong ấn tượng của cậu, thứ mà Tòa Xử án cùng Phái Hợp Nhất hướng đến hoàn toàn khác nhau, một bên ao ước về sự dung hợp an toàn giữa quái vật và con người, một bên lại tàn nhẫn giết sạch mọi dị chủng muốn tiến vào căn cứ. Hai bên chả liên quan gì tới nhau cả, mối nghi ngại trong cậu đã lên đến mức không biết nên hỏi từ đâu mới phải. Polly chợt cất giọng:

– Đấy là một sự kiện bất ngờ.

An Chiết từng nghe rất nhiều người kể về lịch sử căn cứ, những mẩu chuyện êm đềm ấy tựa ngọn đèn le lói, cậu nhấc đèn thắp sáng mọi ngóc ngách trong căn buồng tối u tối để có thể lắp ra toàn bộ.

– Dường như cái việc giữ vững được nhận thức sau khi bị nhiễm gen chỉ phụ thuộc vào xác suất thôi. Tuy nhiên bọn ta vẫn tin rằng vạn vật trong tự nhiên luôn có dấu vết lần theo, chỉ là khả năng của bọn ta còn hạn chế nên chưa nhìn thấu quy luật trong đó. Các nghiên cứu của bọn ta vẫn tiến hành suốt bấy lâu nay, nó mỗi lúc một đi sâu vào lĩnh vực ấy và ngày càng điên dại – Polly khẽ nhắm mắt lúc kể tới đây, khuôn mặt thoáng gợi lên vẻ đau khổ – Cơ thể của một vật thí nghiệm bị tách làm đôi bởi những lí do khó giải thích, nó có khả năng nhận thức hoàn thiện. Nửa trong số đó lẻn ra khỏi phòng thí nghiệm và nửa còn lại thì ở trong phòng theo dõi. Chính vì nó cứ luôn ở đấy nên bọn ta mới không phát hiện ra điều bất thường kịp thời. Thế là nửa trốn thoát nọ đã gây ra một cuộc thảm họa kinh hoàng.

An Chiết có biết về cuộc thảm họa đó – một con đỉa vấy bẩn toàn bộ nguồn nước ở ngoại thành.

– Cả ngoại thành bị phơi nhiễm, căn cứ buộc phải phân biệt giữa người với dị chủng, quét sạch dị chủng kịp lúc. Phái Hợp Nhất là thủ phạm chính của cuộc thảm họa này, nhưng đồng thời thì bọn ta cũng là người nghiên cứu về đột biến cùng truyền nhiễm, hiểu rõ sự khác biệt giữa loài người và dị chủng, quái vật nhất – Polly nói.

An Chiết nhoáng cái hiểu ngay, Tòa Xử án vào thuở ban đầu vốn chẳng nằm trong hệ thống quân đội, nó trực thuộc Hải đăng.

– Mọi dự án thí nghiệm gãy gánh giữa đường, tiêu bản bị phá hủy, vật thí nghiệm bị bắn chết, song căn cứ vẫn cho Phái Hợp Nhất cơ hội chuộc tội. Bọn ta thành lập Tòa Xử án ngay trong đêm, đặt ra quy tắc phán xét cùng tiến hành phán xét cả thành phố. Mười ngày kia, bọn ta đã giết hơn phân nửa dân số ở căn cứ – Polly kể thật chậm – Nạn truyền nhiễm được kiểm soát, sự thanh khiết ở gen người đã an toàn. Kể từ đấy, chế độ phán xét tiếp tục kéo dài. Tai họa khốc liệt mà căn cứ Virginia phải hứng chịu càng chứng minh rõ giá trị của nó.

– Ta làm việc ở Phái Hợp Nhất mười năm, làm thẩm phán giả bốn năm, – Polly từ tốn thốt ra câu này, lão cười nhạt, nụ cười kia nom như đang khóc thầm – nguyện ước ban đầu của ta là giúp mọi người có cuộc sống yên bình, ngặt nỗi cuối cùng ta lại tàn sát đồng bào hằng ngày. Suốt mười bốn năm ròng rã đó, tội lỗi của ta ngày một chất chồng.

An Chiết nói:

– Nhưng ông cũng bảo vệ căn cứ mà.

– Không phải, – Polly vặn lại – ngày nào ta cũng giết hại người vô tội.

An Chiết bênh vực lão:

– Ông đặt ra quy tắc và làm theo nó thôi mà, ông đâu có giết người vô tội.

Câu trả lời từ Polly hệt sét đánh ngang tai.

– Chả có quy tắc phán xét – Lão điềm nhiên đáp.

Vẻ mặt An Chiết chết lặng một giây, cậu khó mà tiếp thu nổi nội dung câu nói đó, bèn hỏi với vẻ khó nhọc:

– Không có… ư?

– Nói đúng hơn thì, chẳng có quy tắc chuẩn 100% để xác định dị chủng – Thanh âm Polly như thở dài thườn thượt – Bọn ta đặt quy tắc phán xét bằng thành quả nghiên cứu cả đời mình. Xét từ từng khía cạnh: ngoại hình, cử chỉ cùng tư duy, đánh giá chủng loại thông qua sự khác biệt về mặt phản xạ trước thông tin bên ngoài, tuy nhiên không tài nào bảo đảm nó chính xác tuyệt đối được, trên thực tế, quy tắc chỉ đoán trúng dị chủng tầm 80% thôi. 20% còn lại đành phải dựa trên kinh nghiệm với trực giác, cùng với việc… mở rộng phạm vi thi hành án, thà giết nhầm còn hơn bỏ sót.

– Điều luật sắt đầu tiên trong quy tắc phán xét thật sự chính là: <i>Không bao giờ được phép công khai nó dù trong bất cứ tình huống gì.</i> Bọn ta cũng chả làm việc theo như quy tắc hẳn hoi, Tòa Xử án luôn chừa lại không gian ngộ sát vì sự an toàn tuyệt đối – Giọng Polly dần chùng xuống – Lúc ta đóng quân ngoài cổng thành, hễ giết bất kì một sinh mạng nào, thì ta tự hiểu rõ nó có 80% là dị chủng chân thật và 20% là con người, nhưng để cho chắc chắn, ta vẫn dứt khoát bắn chết họ. Bên cạnh đó trong tỉ lệ dị chủng 80% nọ, vẫn có cái khả năng là cứ 10.000 người thì ắt có 1 người còn tỉnh táo, và cứ 6.500 người thì ắt có 1 người sẽ khôi phục ý thức vào nhiều năm sau.

Giọng nói của lão dần khê đặc:

– Đến tận bây giờ, ta vẫn chưa dám nhớ lại bốn năm đó.

An Chiết mường tượng tình cảnh ấy, mường tượng rằng mình cũng biến thành một quan thẩm phán.

Cậu hỏi:

– Thế nên ông rời khỏi căn cứ ạ?

– Ta không chống lại nỗi đau từ trái tim mình được. Ta chẳng thể kiên trì tới cùng trong cuộc chiến giữa loài người và dị chủng – Polly ngước nhìn bầu trời đêm, lão nín bặt hồi lâu, đoạn bảo – Thuở ban đầu, ta giằng xé vì sát hại đồng bào, mãi sau này ta cũng khó mà nén nổi khi chứng kiến dị chủng chết đi, ta đã chung sống với chúng quá lâu để biết rằng con quái nào cũng có sinh mạng của riêng mình. Trên tay ta nhuốm đầy máu tươi, ta là kẻ có tội. Sau này ta cùng vài đồng nghiệp phản bội căn cứ, đến Viện Nghiên cứu Non Cao nhằm tiếp nối nghiên cứu ở Phái Hợp Nhất, bọn ta thu nhận dị chủng, ta đang chuộc tội cho bản thân mình suốt quãng đời còn lại. Từ bấy đến giờ, đã qua một trăm năm rồi.

Một trăm năm.

An Chiết ngó Polly, vẻ mặt như có điều nghi ngại.

Polly chừng như hiểu cậu đang thắc mắc điều gì, phì cười đáp:

– Ta sống lâu quá nhỉ.

– Chuyện khó tránh khỏi nhất khi ở vùng ngoài là bị nhiễm gen, – Polly xắn tay áo lên, đường vân đen nhằng nhịt lồ lộ trên cánh tay phải của lão – ta nhiễm gen vì bị một thành viên ở viện nghiên cứu vô tình gây thương tổn, nên ta bèn rời xa họ trước lúc mất hết ý thức.

– Dù vậy, có lẽ là do người truyền nhiễm ta vốn tỉnh táo, hoặc may mắn đã mỉm cười với ta cũng nên, ta tỉnh lại – Nói tới đây, Polly mỉm cười – Ta những tưởng mới vài giây trôi qua thôi, nhưng thực tế đã mấy chục năm rồi, dường như ý thức của ta đã phút chốc du hành xuyên không gian và thời gian, cháu đoán ta đã ở đâu?

An Chiết lắc đầu.

– Ta vẫn còn ở viện nghiên cứu – Polly nói – Họ tìm ra ta, họ chẳng hề từ bỏ dẫu lúc đó ta đã là một con quái vật điên dại. Ta từng bảo vệ họ, cho nên họ cũng bảo vệ ta. Thứ tình cảm giữa người với người chính là thế đấy, cháu ắt sẽ nhận lại những gì mình từng cho đi. Ở cái thời đại này, niềm tin giữa con người là điều còn quý giá hơn cả tính mạng, và ta đã có được nó.

An Chiết nhìn sâu vào vẻ dịu dàng hoà nhã trong đôi mắt Polly, mãi đến lúc này cậu mới hiểu vì sao Polly cùng các thành viên tại viện nghiên cứu lại thương yêu nhau ngần ấy.

– Ta không hối hận vì ngày xưa đã rời khỏi căn cứ, nhưng ta sẽ chẳng bao giờ tha thứ cho sự kém cỏi và trốn tránh của chính mình – Cuối cùng, Polly thốt lên.

An Chiết cất tiếng:

– Vì ông đức hạnh cao cả.

Ngẫm lại, cậu nói tiếp:

– Vì ông quá đỗi nhân từ.

Polly thương mến mỗi người, nên lão mới đau đớn không sao tả xiết. Nếu là vào thời bình, chắc chắn lão sẽ là người thậm chí chẳng nỡ nghiền nát một con kiến, mà người như thế lại phải giơ súng với đồng bào của mình.

– Nhân từ ư, nó là nhược điểm rõ rệt nhất của con người – Polly bảo – Nhân từ với bản thân là khởi nguồn của những ích kỉ cá nhân, nhân từ với kẻ khác là lí do khiến niềm tin bị lung lay, ta không thể hoàn toàn thờ ơ và nhẫn tâm nổi, vì vậy ông trời đã định rằng ta chả phải là một thẩm phán giả đạt tiêu chuẩn.

Dứt tiếng, họ bỗng trầm ngâm suốt thời gian dài.

An Chiết thoáng chau mày khi nghĩ về lời Polly nói, cậu nhớ tới một người.

– Nhưng có một quan thẩm phán đã từng nói với cháu thế này – An Chiết khẽ thốt lên – Nguồn cội về niềm tin của thẩm phán giả chẳng phải sự tàn nhẫn, mà là lòng nhân từ. Điều đấy không có nghĩa là nhân từ với một người, mà là nhân từ với toàn thể số phận loài người. Nếu chúng ta nhất mực tin tưởng rằng lợi ích loài người cao hơn hết thảy, ắt sẽ không sợ dao động.

Polly đăm chiêu nhìn cậu, khẽ hỏi:

– Vậy phải làm sao để nhất mực tin tưởng hả?

Lão gằn từng chữ:

– Làm sao dám đánh đổi cả cuộc đời vì lợi ích của con người nói chung, nếu như không có một trái tim nhân từ với mỗi người chứ?

An Chiết thoáng sửng sốt.

Ngón tay buông lơi của cậu khẽ run bần bật, rốt cuộc cậu cũng hiểu cớ sao hễ nhìn thấy Polly, cậu luôn nhớ tới Lục Phong – chàng trai hoàn toàn khác hẳn Polly rồi. Polly nhắm mắt, nói bằng giọng khản đặc:

– Đấy là nguồn cơn của mọi nỗi đau mà thẩm phán giả phải chịu đựng.

– Vứt bỏ nhân tính mà giết chóc vô độ, cuối cùng bị căn cứ hành hình. Hoặc vẫn tỉnh táo, cuối cùng phát điên vì không chịu đựng nổi cơn giày vò, đây là hai kiểu kết cục dành cho thẩm phán giả – Polly từ tốn giải thích – Kể từ giây phút chế định xong “Quy Tắc”, không ai trong số họ sẽ có kết thúc tốt đẹp cả.

An Chiết chẳng tài nào tả xiết cảm giác của mình vào giây phút đó, cậu như ngạt thở mà nhìn chiếc phù hiệu sao chữ thập trong tay.

– Nếu… nếu có một vị thẩm phán giả, – Cậu nói – suốt bao năm qua, anh ấy luôn tỉnh táo và canh giữ nơi cổng thành, anh ấy chưa bao giờ nhận định sai cả…

Cậu bỗng chốc thấu tỏ điều gì, giọng run run:

– Mọi người căm thù anh ấy, bởi lẽ mỗi năm anh ấy sẽ giết hàng ngàn con người, trong khi quan thẩm phán khác chỉ giết vài chục người thôi. Nhưng thực chất… thực chất không phải vì anh ấy thích nổ súng, mà là vì chỉ khi anh ấy nổ súng, thì tình trạng ngộ sát mới được giảm xuống mức thấp nhất.

Cậu hiểu rồi, rốt cuộc cậu cũng hiểu. Cậu thoáng rùng mình, đoạn hỏi Polly:

– Thế anh ấy sẽ là kiểu người gì ạ?

Câu trả lời của Polly giản đơn hơn những gì cậu nghĩ.

– Cậu ta là kẻ cô độc.

Có thứ gì đấy đổ vật xuống, đá tảng ngã nhào nện mạnh lên con tim An Chiết. Cậu nghẹn ngào thật lâu, mãi cho đến lúc Polly hỏi:

– Cháu đang nhớ về điều gì à?

– Cháu… – Mắt An Chiết dần ngấn lệ – Cháu đang nhớ.. đang nhớ…

Cậu đang nhớ về Lục Phong.

Cậu từng nghĩ rằng Lục Phong máu lạnh vô tình, cũng từng thừa nhận Lục Phong có một niềm tin kiên định. Cậu biết Lục Phong sẵn sàng hi sinh cả đời mình cho số phận loài người huyễn hoặc. Và cũng biết Lục Phong sẽ có những nỗi đau, sẽ có những cô quạnh. Song mãi tới hôm nay cậu mới hay về nỗi ám ảnh khó lòng mường tượng hằn sâu trong anh – điều anh luôn phải đối mặt trông ra sao.

Cậu đã từng nói cậu hiểu Lục Phong, nhưng rồi đến tận giây phút này, khi cậu cùng Lục Phong cách ngàn dặm xa, đồng thời sẽ không bao giờ tương phùng nữa, cậu mới thấu triệt được Lục Phong.

– Ta biết thẩm phán giả mà cháu kể là ai, Đường Lam nhắc tới cậu ta nhiều bận lắm rồi. Giá mà có cơ hội, ta muốn thử gặp cậu ta – Polly bảo.

– Anh ấy… – An Chiết nắm chặt phù hiệu trong tay, nước mắt rốt cuộc tuôn rơi, cậu nói – Anh ấy làm thẩm phán giả suốt bảy năm, đã giết rất nhiều người… Ai cũng oán hận anh ấy hết.

– Cơ mà anh ấy tốt với cháu lắm, – Cậu nhoẻn môi cười, song vành mắt lại nóng rẫy, chóp mũi đỏ bừng – thực tế anh ấy luôn tốt với tất cả mọi người.

– Cháu nói mình là một con quái vật thực thụ – Polly hỏi – Nhưng với tư cách là thẩm phán giả, ta chẳng tìm thấy điểm khác biệt nào giữa cháu và con người, còn cậu thẩm phán giả kia thì sao?

– Anh ấy chưa chắc chắn – Ngón tay An Chiết run nhè nhẹ, cậu ngắm rặng núi miên man tuốt đằng xa – Lần đầu tiên gặp mặt, anh ấy để cháu đi.

– Ông ơi, – Cậu hỏi – nếu thẩm phán giả từng bỏ qua cho dị chủng lần một, thì có phải sẽ bỏ qua lần hai nữa không?

Polly chỉ nhìn sâu vào cậu với vẻ ôn hòa.

– Anh ấy cũng để cháu đi lần hai, anh ấy đã bỏ qua cho cháu rất nhiều lần – An Chiết nói – Sau này, anh ấy biết cháu là dị chủng.

– Thế nhưng… – Cậu muốn thốt lên điều gì đấy, rồi lại chẳng hé lời đặng, có bàn tay đang bóp nghẹt quả tim cậu, cậu chỉ muốn giằng khỏi sự kìm hãm ráo riết này, song cậu không làm được.

– Xin lỗi ông… – Cậu xác nhận mình chẳng thể nói một câu hoàn chỉnh, đành phải ngắc ngứ rằng – Cháu… hễ nghĩ tới anh ấy, cháu lại… muốn khóc ạ…

Polly ôm cậu vào lòng:

– Cậu bé à, đừng khóc.

– Hãy sống sót, và cháu sẽ gặp lại cậu ta.

– Cháu không gặp anh ấy nữa đâu, – An Chiết nắm cánh tay Polly, như đang níu lấy nhánh rơm cứu mạng cuối cùng giữa giông tố của muôn nỗi niềm, cậu chả tài nào khiến mắt mình thôi không rơi lệ, để rồi chỉ run rẩy nhắm mắt lại, đoạn tựa trán lên bờ vai Polly – cháu ước gì… ước gì mình chưa từng gặp anh ấy.

– Vì sao?

An Chiết làm thinh.

– Cháu có thể nói bất cứ điều gì khi ở bên ta, cậu bé à – Polly khẽ khuyên nhủ – Chớ lừa gạt ta, cũng chớ lừa gạt bản thân.

Cổ họng An Chiết nghẹn ứ, kế đến càng khóc xé lòng hơn. Cậu chẳng hiểu các mối quan hệ của con người, tuy nhiên lúc đối mặt với Polly, hẳn cậu đã hiểu được nó. Cậu như đang đứng trước một người cha ôn tồn, một cha xứ thương mến, hoặc chăng là đấng sáng tạo khoan dung, cậu quỳ trong nhà thờ của Đức Giê-hô-va và thú nhận tất thảy giống mọi con người bình thường khác. Song trên thực tế, cậu không hề đứng trước Chúa hay bất kì kẻ nào khác, cậu phải đứng trước chính mình.

– Cháu… – An Chiết hé môi, mình mẩy run lập cập bởi đớn đau khôn cùng, đầu óc mụ mị, rốt cuộc cậu chịu vượt qua rào cản xúc cảm mà thốt lên – Cháu muốn gặp anh ấy…

– Cháu muốn gặp anh ấy – Cậu lặp lại câu nói này bằng vẻ khuất phục – cháu muốn gặp anh ấy thưa ông, cháu muốn gặp anh ấy. Cháu không ân hận vì đã rời xa anh ấy, nhưng mà cháu… cháu ân hận lắm.

– Ta hiểu… ta hiểu – Bàn tay Polly vỗ nhè nhẹ tấm lưng cậu, an ủi cậu.

– Ông không hiểu… – An Chiết chối bỏ, lời cậu nghe thực mâu thuẫn, trái tim cậu bị xé thành mảnh vụn, nỗi thống thiết nhấn chìm linh hồn cậu như đại dương mênh mang, cậu sẽ chẳng lấy làm lạ nếu sự giày vò nhung nhớ giăng đầy tâm trí này nghiền chết cậu.

– Ta đã sống nhiều hơn cháu hàng chục năm rồi cậu bé à, – Polly nói – tuổi cháu non trẻ, vẫn còn rất nhiều điều cháu chưa biết.

– Cháu… – An Chiết ngơ ngác ngẩng đầu, cậu chả phản bác nổi, cũng chả định phản bác, quả tình có thứ gì đấy ứ đọng trong lòng cậu mà cậu không sao nắm bắt và không sao thấu tỏ, song cậu chẳng tài nào hình dung về nó.

Băng qua bờ vai Polly, ánh mắt An Chiết vọng về phía vòm trời đêm bất tận, thì thào:

– Cháu chưa biết… điều gì cơ?

Thình thịch.

An Chiết nghe thấy nhịp tim mình đương lúc nín bặt giây lát, cậu bỗng dự cảm rằng câu nói kế tiếp của Polly, có lẽ sẽ thay đổi cuộc đời cậu.

Tiếng hít thở của Polly bảng lảng bên tai cậu.

– Cháu chưa biết – Polly cất tiếng giữa bầu không khí thinh lặng – Cháu yêu cậu ta.

An Chiết mở to hai mắt

Cực quang chấp chới cùng quầng sáng thăm thẳm xanh tựa cơn thủy triều cuộn trào không thôi nơi chân trời, sấn từ nam tới bắc, tan biến và rồi tái sinh.

An Chiết run lập cập.

Trực giác rõ rệt đả kích tâm trí cậu hệt sao băng dội mạnh xuống mặt đất, hào quang rọi tỏ mọi thứ trên thế giới này. Thú thực cậu nào có hay về ý nghĩa của ba chữ ấy, song cậu biết nó đúng.

Cậu chết lặng hẳn, thậm chí quên cả bao mối ưu thương, chỉ ngẩn ngơ nhìn cực quang xa vời vợi. Tới tận khi Polly buông cậu ra và lấy khăn tay nhẹ nhàng lau khô nước mắt vương trên mặt cậu.

– Cơ mà vì sao cháu lại như thế? – Cậu rì rầm.

Nhưng rồi cậu lại bị cuốn vào mối nghi ngại cấp bách hơn cả trước khi kịp nghe câu trả lời.

– Vậy… vậy anh ấy sẽ yêu cháu chứ? – Cậu gần như vật nài nhìn Polly – Anh ấy cũng sẽ yêu cháu chứ? Nhưng cháu chỉ là… là một dị chủng mà thôi.

– Cậu ta có nói gì với cháu chưa?

An Chiết lắc đầu, quãng thời gian họ ở bên nhau ngắn ngủi đến hãi. Cậu đáp:

– Nhưng anh ấy từng hôn cháu.

Tuy nhiên cậu cũng chẳng mấy tỏ tường về ý nghĩa của nụ hôn nọ, bởi ngày hôm đó sức mạnh ngôn từ quá đỗi yếu ớt, để rồi họ buộc lòng phải làm như thế.

– Cháu còn sống, là cậu ta thả cháu đi ư?

– Cháu tự tách khỏi anh ấy, anh ấy vẫn là một thẩm phán giả mẫu mực, cháu biết anh ấy sẽ không tha thứ cho cháu – An Chiết chầm chậm đáp – Thời điểm đó cháu chỉ muốn rời xa anh ấy và tìm một chốn buông xuôi thôi. Nhưng anh ấy lại bỏ quên súng trong ba-lô cháu, nên nhờ đấy cháu mới quay về Vực Thẳm được.

– Súng của cậu ta nằm trong ba-lô cháu ư? – Polly lặp lại câu nói này.

An Chiết khẽ vâng đáp lại, ánh mắt cậu thoảng nét cười lâng lâng:

– Anh ấy cứ thích vất đồ lung tung ở chỗ cháu mãi thôi.

Polly xoa nhẹ mái tóc cậu.

– Bé con khờ ạ, cháu phải biết rằng – Polly bảo – Súng của thẩm phán giả không bao giờ rời khỏi người họ, đây là luật sắt đã được thiết lập từ một trăm năm trước.

An Chiết lặng thinh nhìn lão, sau cùng, cậu cắn bờ môi mình.

– Cháu không hề biết, – Cậu nói – cháu thật sự không hề biết.

Polly nói cho cậu hiểu:

– Dẫu có xuất phát từ lí do gì, thì chắc chắn cậu ta cũng rất thương cháu.

– Thẩm phán giả chịu thương dị chủng ư?

– Ta chẳng rõ nữa, – Polly đáp – nhưng nếu cháu nghĩ ta vẫn xứng để được gọi là thẩm phán giả, thì cháu xem đấy, ta đã chung sống cùng vô vàn dị chủng suốt một trăm năm qua rồi.

Nhìn sâu vào đôi mắt lam xám như thể thấu triệt tất thảy, An Chiết thầm nhủ, Polly nhất định rõ vì sao Lục Phong thích cậu, song cậu chả dám hỏi, hẳn phải có lí do riêng nào đấy Polly mới không nói ra.

Những hình ảnh chất chồng dần phơi bày trước mắt An Chiết: trong cổng thành, người đàn bà mất chồng khản giọng rủa anh sẽ chết dữ; trên quảng trường Trạm Cung cấp, viên đạn xuyên qua đầu Doussay nhưng nàng lại ngã sấp về phía anh. Muôn hình ảnh nhỏ nhặt hiện ra – là biết bao tiếng hộc rống rát cổ bỏng họng, nỗi sợ hãi canh cánh trong lòng, cùng mối tình si ngấm vào xương tủy. Muôn bóng đen trỗi dậy, chúng cùng bay vụt và vươn tay ra, đẩy anh l*n đ*nh gió rét thét gào được hình thành từ tình yêu, thù hận, sự khiếp đảm cùng căm ghét mà ai nấy đều biết rõ, để anh nhìn xuống bao chúng sinh.

Không một ai tới gần anh, không một ai thấu hiểu anh, người mến mộ anh thà dốc hết gia tài để đặt làm con rối giả còn hơn là chủ động tỉ tê dù chỉ một lời với anh.

Riêng về sự thiên vị cùng quan tâm từ thẩm phán giả, thì quả là điều xa xỉ mà chẳng ai dám mơ đến. Đấy phải là thứ đặc ân khó tả và khiếp đảm dã man tới nhường nào chứ?

Dù vậy, thân là dị chủng hoàn toàn trái ngược với con người, cậu lại ấp ủ ý nghĩ chiếm lấy nó, và hóa ra cậu đã từng chiếm được nó. Ít nhất là vào thời khắc Lục Phong đặt súng vào ba-lô cậu, đã có một giây trong hàng tỷ năm dài đằng đẵng, thẩm phán giả bỏ súng lại cho một dị chủng, anh ta phản bội tín ngưỡng trọn đời mình để yêu nó.

Tiếp theo, như bao câu chuyện cổ tích trong tập sách dành cho trẻ thơ, tiếng chuông mười hai giờ ngân vang, kẻ trở lại Vực Thẳm, kẻ quay về căn cứ.

Giống một trận bão cát đang dần ngơi, bụi bặm lắng đọng trong tiếng chuông gióng giả, nhịp tim An Chiết chầm chậm giảm xuống tần số bình thường, cậu đã nhận được một món quà khó lòng mường tượng, ấy vậy mà nom cậu bình tĩnh khôn tả.

Cậu nhận thấy thế là đủ rồi, mọi thứ thế là đủ rồi.

– Nếu có một ngày loài người an toàn, và ông tình cờ gặp anh ấy – Cậu nài Polly – Mong ông… mong ông đừng cho anh ấy hay cháu từng ở đây.

Polly đáp:

– Không ai gạt được thẩm phán giả cả.

– Vậy thì, vậy thì ông hãy bảo cháu có ghé ngang qua, rồi lại đi biệt nhé – Cậu nói – An Chiết đi xa lắm, có lẽ đang ở một nơi nào đó trên thế giới này.

Polly nhìn cậu bằng ánh mắt dịu dàng cùng chua xót.

– Ta ước gì Chúa có thể ban phước lành cho các cháu.

An Chiết lại chầm chậm lắc đầu.

– Nhưng cháu không nên yêu anh ấy, anh ấy cũng không nên yêu cháu – An Chiết khẽ bật thốt – Trừ phi… trừ phi đó là ngày mà loài người gục ngã. Tuy nhiên cháu hi vọng sẽ không bao giờ có ngày đó.

Vào phút giây này, sự bình lặng bao phủ lấy cậu.

Muôn vàn vụn băng trắng đục rơi vãi từ khoảng trống giữa rặng mây và cực quang, chúng phiêu diêu xuống. Nhờ những đóa tung bay theo làn gió nọ, mà đêm đen cùng núi non u tịch chừng như sống lại.

Tuyết rơi rồi.

An Chiết vươn tay, bông tuyết hình lục giác đáp lên ngón tay cậu, dáng hình xinh đẹp nọ dần dà tan chảy bởi độ ấm làn da, nó biến thành một giọt pha lê óng ánh.

– Dù cháu chỉ quen mọi người ba tháng – Cậu nói – Nhưng mà, đấy là cả quãng đời của cháu.

Gió thêm giật dội, khiến ngàn vạn đóa bông tuyết ùa vào hành lang xám ngắt, nom tựa tơ liễu phất phơ trong gió xuân. An Chiết ngẩng đầu vọng lên, quá khứ tưởng như quên lãng bấy lâu đều trải rộng trước mắt cậu và phấp phới thành những mảnh vỡ lung linh.

Giông bão lắng lại, gợn sóng cùng dòng chảy ngầm ngừng dâng. Cậu chẳng buồn bã cũng chẳng náo nức, cậu chỉ cảm thấy đợt tuyết này đẹp xiết bao.

Niềm vui và nỗi buồn, gặp gỡ và từ giã suốt cuộc đời cậu hệt sự sống chết của vạn vật hữu hình trên hành tinh vậy, chúng đều là bông tuyết thoảng qua.

– Lạnh không cháu?

– Không ạ.

Cậu khắc ghi hình dạng bông tuyết, để rồi nhận được sự vĩnh hằng từ phút giây ấy.

Cực quang thắp sáng muôn lối Vực Thẳm.

Bỗng, có tiếng thủy tinh vỡ vẳng tới từ phòng thí nghiệm!

<i>Hết chương 76</i>. Tranh minh họa.<b>Artist: aisnow432 @lofter</b><b>

50697436421_b41b041326_c.jpg


Click vào ảnh để lấy fullsize.<b>Artist: 扬绵允聿 @weibo</b><b>

giphy.gif

<b>Artist: mi_lkbread @twitter</b><b>

giphy.gif


<b>Artist: sinayasinaya @twitter</b>

giphy.gif

 
Cây Nấm Nhỏ
Quyển 3 - Chương 77: “Đây là điều mà Chúa muốn cho chúng ta thấy ư?”


Cực quang hực lên một thoáng.

Xoảng!

Tiếng thủy tinh vỡ tóe xé toạc màn đêm im bặt, An Chiết ngoảnh đầu ngó về phía phòng thí nghiệm. Polly cũng quan sát cửa sổ đằng kia:

– Rum?

Sương mù bám trên ô cửa kính khiến toàn cảnh bên trong nom đến là mờ ảo, ta chỉ thấy đặng một bóng người sượt qua.

– Ngài Polly! – Giọng Rum hiếm khi nào hào hứng ngần ấy, gã thò một tay đập lên cửa sổ và kéo xoẹt nó ra, giọng gã tuy rõ mười mươi nhưng vẫn nhuốm vẻ run rẩy – Màn hình, màn hình ạ…

Polly tức tốc nhìn vào trong phòng, màn hình lớn vẫn hiển thị những đường nét tạp nhạp y như cũ. Song Rum lại nói:

– Ban nãy…

An Chiết ho dăm bận, đoạn bảo:

– Cháu không sao đâu ông ơi.

Polly xác nhận cậu vẫn đủ tỉnh táo xong bèn lao vụt vào phòng thí nghiệm ngay, An Chiết lặng lẽ nuốt một ngụm máu rồi bám theo. Cơ thể cậu đang ở trong thứ trạng thái quái lắm, dẫu đã suy yếu và đau đớn đến cùng cực, nhưng hễ đạt đến giới hạn đó thì lại chẳng cảm giác nổi điều gì nữa.

Rum sơ ý đánh rơi một lọ thủy tinh đựng các viên thuốc kháng sinh trong phòng thí nghiệm, miểng lóng lánh vỡ tung tóe trên sàn nhà, nơi nao cũng có, song giờ đây không ai còn hơi đâu mà quét dọn.

Polly đi tới trước màn hình lớn, đường nét rập rờn như một bầy giun uốn éo. Lão hỏi:

– Có chuyện gì thế?

Rum mấp máy môi, thưa rằng:

– Hiện rõ… ban nãy hiện rõ rồi.

An Chiết khó mà tả nổi nét mặt của Polly ngay thoáng đó, chừng như vô vàn thứ xúc cảm mãnh liệt khôn cùng kết hợp với nhau rồi bỗng chốc trở nên trống rỗng. Bàn tay Polly nhè nhẹ run, tay phải đặt trên cần điều khiển thiết bị:

– Cháu chắc chứ?

Ánh mắt Rum thoáng vẻ do dự, hoặc gã đang gắng nhớ lại cũng nên. Polly nhìn gã đăm đăm, sau ba giây gã bèn trả lời:

– Chắc chắn thưa ngài.

Polly xem màn hình, An Chiết đứng sau lưng lão. Vào thuở con người đứng trên đỉnh cao của nền khoa học công nghệ, đây là trụ sở thí nghiệm được dùng để nghiên cứu về cực từ nhân tạo, dẫu có lắm thiết bị đã hỏng hóc do chưa tu sửa lâu năm, thì nó vẫn là một phòng thí nghiệm vật lý đạt tiêu chuẩn. Đương lúc yên ắng đến nghẹt thở, Polly chợt kéo cần điều khiển nhằm chỉnh lại đường sóng.

Lão hỏi:

– Khoảng bao giờ thế?

Rum thưa:

– Mới ban nãy thôi ạ.

Gã trầm ngâm phút chốc, châm chước lối diễn đạt, rồi nói lại:

– Bằng một cái chớp mắt.

Polly hít thở thật sâu, lão lục lịch sử chụp của thiết bị từ ba phút trước, bắt đầu chiếu từng bức một lên màn hình nhỏ.

Những đường nét đen đặc ngoằn ngoèo đang dao động nọ cái thấp cái cao, biết bao đồ thị thành hình và biết bao chấm đen lác đác tựa các vì sao. Chúng cứ thế cuốn lấy nhau như định mệnh vậy. Ở mỗi bức, chúng luôn có sự biến đổi về mặt hình thái, song sự biến đổi này chả có quy luật. Qua non nửa tháng ở trong phòng thí nghiệm, An Chiết biết, rằng thứ mà Lồng Simpson chụp lại chính là tần số tương tác giữa các hạt cơ bản, Polly luôn gọi nó bằng từ “tần số”.

Tuy nhiên sự phức tạp cùng rối rắm trong thứ tần số ấy nằm ngoài phạm vi giải quyết của khoa học loài người hiện nay. Polly gắng tìm một lối khắc phục và tiếp nhận nhằm khiến chúng rõ rệt hơn, hệt một kẻ nỗ lực viết cả bản nhạc hoàn chỉnh cho khúc nhạc ngắn mình từng nghe; hoặc là chỉnh tần số đài radio không thôi hòng nhận được tín hiệu rõ ràng. Nhưng qua bao nhiêu năm công việc này vẫn chẳng hề tiến triển, khi nhìn những đường nét lằng nhằng kia, Polly từng nói lão vừa giống một người trần tục muốn nghe rõ ý Chúa, vừa giống một con kiến đang cố giải mã ngôn ngữ loài người.

An Chiết ngắm màn hình hãy cứ hiển thị các chuyển động miên man, thi thoảng cậu lại nao nao trông sang Polly, cậu phát hiện Rum cũng như mình. Đã có quá nhiều thất bại trong cuộc thí nghiệm dài dặc này, nếu không thể tái hiện một giây “rõ ràng” mà Rum nói, thì cậu thà rằng Polly chưa bao giờ nghe về nó.

Hết bức này sang bức nọ. Lửa trong lò sưởi cháy bập bùng, tiếng nổ “lách tách” từ đống củi chốc chốc lại bật ra, thanh âm đó nom quá ỏi trong phòng thí nghiệm yên ắng này.

Bỗng một bức ảnh thoắt hiển thị trên màn hình tựa bóng ma. Đến cả An Chiết cũng không khỏi nín thở.

Mọi đường nét bỗng chốc mất tiệt trên nền đen, kéo theo đó là vô kể những chấm trắng mờ phai màu trên nền, ngôn ngữ loài người khó mà tả đặng đấy là thứ hình dạng thế nào và dường như chúng chẳng có sự nhất quán, có tập trung ở đôi ba vị trí, có lác đác ở một số nơi. Chấm trắng chả nằm rải rác ở trung tâm hình vẽ mà là xúm lại thành vòng tròn hệt miệng núi lửa, vòng tròn đen lạ lẫm đó nom như con mắt xấu xa nham hiểm. Nó giống một bức ảnh về tinh vân tráng lệ vô ngần được con người chụp lại vào thời đại văn minh, kế đến chuyển hóa thành sắc trắng đen vô hồn.

– Là, là bức này – Rum nói – Do máy hỏng hay sao ạ?

– Không đâu… – Polly chầm chậm lắc đầu, hẳn là do căng thẳng quá nên đồng tử lão hơi giãn ra – Đây là ảnh gốc chưa qua xử lí, đường nét lúc trước vốn được trừu tượng hóa từ ảnh gốc.

An Chiết suy ngẫm về ý nghĩa của lời ấy, còn Rum thì dù sao cũng làm trợ lí cho Polly nhiều năm rồi nên gã nghĩ ngợi giây lát bèn hỏi:

– Thế… vẫn do máy hỏng ư?

– Không hỏng, – Polly lắc đầu, lão đánh dấu một ngôi sao đỏ chót lên mốc thời gian mà bức ảnh này xuất hiện, tốc độ nói của lão nhanh hơn mọi hôm nhiều, nom khó nén kích động, lão thốt lên:

– Máy phân tích không thể rút ra kết quả lúc tần số của hạt đột ngột thay đổi, vì thế nó sẽ hiển thị ảnh gốc trong chốc lát, điều đó chứng minh chúng ta nghĩ đúng rồi. Gọi Đường Lam tới đây!

Khi Đường Lam đẩy cửa phòng thí nghiệm ra, nom y có quầng thâm nhàn nhạt dưới mắt, trông uể oải thấy rõ.

– Thưa ngài Polly, ngài tìm tôi có chuyện gì vậy?

Polly hỏi:

– Cháu đang ngủ đấy hửm? Xin lỗi vì đã đánh thức cháu nhé.

Đường Lam lắc đầu:

– Lúc Rum gọi thì tôi đã tỉnh rồi ạ.

Polly hỏi:

– Ngủ không ngon hả cháu?

– Tôi vừa định ghé qua tìm ngài, – Đường Lam bảo – Dao động bất ngờ khuếch đại. Có một giây tôi bỗng nghe thấy tạp âm rõ mười mươi, sau đó tôi sực tỉnh luôn.

Polly hỏi:

– Giờ thì sao?

– Giờ thì ổn rồi.

Polly trầm tư một lúc lâu, mãi tới khi Đường Lam hỏi:

– Có chuyện gì vậy thưa ngài?

– Hướng làm của chúng ta đúng rồi, khi dao động bị khuếch đại, thời gian thực của nó sẽ xuất hiện sự bất thường này, ta có thể áp dụng cách theo dõi từ trường để bắt trọn thứ dao động ấy bằng Lồng Simpson – Vẻ mặt Polly nghiêm túc.

Đường Lam chau mày:

– Đấy chẳng phải tin tốt ư?

– Không đâu, – Polly bác bỏ – ta nhớ đến một vấn đề.

Phòng thí nghiệm câm bặt, chỉ có giọng Polly là văng vẳng, lão dời mắt khỏi màn hình nhỏ với khung ảnh tĩnh được chụp lại sang màn hình lớn rập rờn những đường nét phức tạp:

– Chúng ta phải nắm bắt tần số dao động, phân tích nguyên nhân hình thành biến dạng, nhưng nếu giờ đây thứ nó cho thấy, là quá trình xung đột giữa dao động vô danh tới từ vũ trụ với từ trường nhân tạo của Trái Đất thì sao?

– Tôi hiểu ý ngài, – Đường Lam bỗng ngẩng đầu – từ trường chống lại được dao động, song Lồng Simpson lại nhận tần số của cả hai cùng lúc, chúng sẽ xáo trộn với nhau.

– Ừm, – Polly đáp – ta cứ nghĩ mãi, nếu như từ trường có thể hoàn toàn chống lại dao động, vậy vì sao truyền nhiễm gen còn bùng nổ chứ? Ngặt nỗi nếu cả hai thứ hãy còn giằng co thì mọi thứ đều rõ ràng, dao động ảnh hưởng đến Trái Đất suốt bấy lâu nay nhưng từ trường cũng đang cố xô bật nó ra, giúp vật chất chưa tới nỗi biến dạng hoàn toàn, hai tần số vẫn luôn quấn lấy nhau.

– Thế… – Đường Lam chau mày – Ngài Polly à, nếu ngài muốn phân tích dao động bằng Lồng Simpson, vậy phải chờ dao động chiến thắng từ trường hoặc cực từ nhân tạo ngừng hoạt động hẳn.

– Đúng thế – Polly từ tốn đáp.

– Nhưng phàm là dao động chiếm thế thượng phong, vật chất ắt biến dạng, và trang thiết bị của Lồng Simpson cũng bị ảnh hưởng mà.

– Không, – Polly nói – ta có cách.

Mọi người bèn ngó sang Polly, ai nấy im phăng phắc, trong phòng thí nghiệm yên ắng chỉ nghe đặng Polly cất giọng giải thích tiếp:

– Viện Nghiên cứu Non Cao có lắm cực từ độc lập biết tự di chuyển mà, chúng có thể tạo ra từ trường nhỏ trong phạm vi ngắn, đây là thành quả nghiên cứu năm xưa. Nên chúng ta mới vượt qua nổi cái đợt cực từ nhân tạo mất hiệu lực vào tháng trước đấy.

– Nếu từ trường nhân tạo bao quanh Trái Đất biến mất… Chúng ta hãy chỉnh vị trí của cực từ độc lập để nó bảo vệ thiết bị chính của Lồng Simpson, bên cạnh đó sẽ để lộ vùng tiếp nhận ở phạm vi rộng nhất – Đôi mắt lam xám của Polly hơi nheo lại, lão nhìn xuống biển lửa hừng hực dưới sân.

Đường Lam hỏi:

– Vậy chúng ta sẽ phân tích ra được tần số thuần túy của các dao động.

– Đúng thế, đúng thế… – Polly hít một hơi đầy, ngọn lửa của niềm hi vọng vừa bùng lên trong mắt lão chợt vụt tắt vào phút giây này – Ấy nhưng…

Lão bèn im bặt trước cả lúc kịp dứt lời, căn phòng bỗng chốc câm lặng và chẳng một ai hé lời cả.

Sau cùng, Đường Lam bèn cất giọng:

– Chỉ khi từ trường nhân tạo bị hỏng… chúng ta mới thấy được dao động thôi à?

Giọng y như lạc đi, y trông ra bầu trời đêm.

Polly chậm rãi ngồi xuống trước máy vi tính, lão đăm chiêu nhìn kênh liên lạc với căn cứ, ngần ngừ không buồn nhúc nhích.

– Phải đến thời khắc đối diện cái chết, mới có thể nghiệm ra sự thật, – Đường Lam thì thào – đây là điều mà Chúa muốn cho chúng ta thấy ư?

An Chiết đứng tuốt trong góc phòng, cậu lẳng lặng chứng kiến mọi sự.

Dự đoán của Polly hoàn toàn có căn cứ, máy móc sẽ hiển thị được toàn cảnh khi hành tinh này chỉ còn mỗi thứ dao động kì lạ nọ. Trên thực tế, nó là một thao tác có khả năng thực hiện được, hiện giờ Polly đang nhìn thẳng vào kênh liên lạc, nếu lão chịu cân nhắc cách diễn đạt và chỉ cần một trong hai căn cứ phương Bắc hoặc căn cứ thành phố ngầm chấp nhận đóng cực từ nhân tạo lại, chân tướng sẽ phơi bày ngay trước mắt họ.

Nhưng rồi, sau đó thì sao? Hai căn cứ mất đi từ trường sẽ thế nào đây? Cơn thảm họa tầm một tháng trước đã khiến dân số ở căn cứ phương Bắc bị giảm mạnh xuống tám ngàn người. An Chiết chẳng mường tượng nổi Polly đang phải đấu tranh tâm lí tới mức nào, bởi điều khiến nhà khoa học nhân từ này rời khỏi căn cứ năm xưa, cũng là vì không chứng kiến nổi số ít hi sinh vì số đông mà.

Song dường như thế giới này chính là vậy đấy, nó khiến kẻ khát vọng được sống bất đắc kì tử, người lương thiện nhuốm máu hai tay, và những ai tìm kiếm sự thật phải rơi vào tuyệt vọng.

Polly nhìn màn hình, lão chầm chậm nhắm mắt.

Đường Lam bỗng nói:

– Hãy để tôi.
 
Cây Nấm Nhỏ
Quyển 3 - Chương 78: “Nó không quan tâm.”


– Không, – Polly vặc lại – chúng ta không thể đưa ra kiểu yêu cầu vô lí thế được.

Đường Lam trả lời:

– Căn cứ có hệ thống khẩn cấp mà, chỉ cần họ có sự chuẩn bị trong thời gian ngắn tất sẽ ổn thôi.

– Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu máy móc bị hỏng bởi biến dạng trong thời gian ngắn đóng cực từ nhân tạo hả? Phàm là mất đi sự bảo vệ của từ trường vào mùa giá lạnh, thì môi trường còn gay go hơn mùa hạ đấy – Polly nói – Ta có thể mô phỏng một trường lực đảo từ trường bằng cực từ độc lập, rồi triệt tiêu từ trường nhân tạo trong phạm vi Lồng Simpson, tạo ra không gian vô từ tính.

– Tôi chả hiểu thấu kiến thức chuyên môn của ngài, – Đường Lam đáp – song chính bản thân từ trường nhân tạo đã là một tần số phức tạp rồi, nhất định sẽ rất khó.

– Dù sao thì cũng đơn giản hơn những công việc trước kia.

Đường Lam bảo:

– Tuy nhiên phương pháp nhanh nhất chính là để căn cứ đóng cực từ lại một chốc.

– Cháu tuyệt đối không được làm thế.

– Tôi… – Đường Lam nhìn Polly – Tôi hiểu nghiên cứu của ngài là đúng. Ngài đã điều tra về vụ thảm họa này ngót nghét hàng chục năm liền. Ngài nhất định sẽ tìm được giải pháp chỉ cần nhìn thấy dao động, ngài quá tốt bụng.

– Hơn nữa chúng ta chỉ đưa ra lời đề nghị, chưa chắc họ đã chịu đồng ý, căn cứ phương Bắc chỉ tôn thờ lợi ích của con người thôi, mà chúng ta là dị chủng. Thậm chí năm nào họ cũng phái quân đội đến thử quét sạch chúng ta – Y đặt tay lên bàn phím, nói khẽ – Đây là quyết định xuất phát từ cá nhân tôi, tất.. tất thảy hậu quả chẳng liên quan gì tới ngài Polly hết.

Polly chỉ đăm đăm nhìn y như nhìn một đứa trẻ ương ngạnh.

Những đầu ngón tay trông có vẻ bợt bạt đặt lên bàn phím.

<i>Một giây, hai giây.</i>

Đầu ngón tay lơ lửng dừng trên phím gõ.

<i>Ba giây, bốn giây.</i>

Bỗng y thở hực một phát.

– Xin lỗi – Đường Lam yếm thế ụp ngón tay run run xuống và để lại một tràng kí tự vô nghĩa trong khung nhập tin nhắn, y như đang đối mặt với thứ gì thực đáng sợ, y lùi vội về sau đôi bước, vành mắt thoáng ửng đỏ – Tôi không làm được.

Có vẻ Polly đã đoán ra kết quả từ trước nên lão chỉ khẽ lắc đầu, đoạn quở:

– Thằng bé khờ.

Mắt Đường Lam đỏ vằn lên.

An Chiết tựa bên lò sưởi quan sát mọi điều. Con người thường khốn đốn khi phải đứng trước sự lựa chọn, nỗi đau nội tâm đôi lúc còn vượt qua nỗi đau thể xác. Ban nãy Polly đã đúng khi nói rằng nhân từ là nhược điểm rõ rệt nhất ở con người. Dưới sức nặng của thế giới tàn khốc, Đường Lam biết đau, mà Polly thì còn đau hơn gấp trăm lần. Do đó cậu bèn nhìn Polly thật lâu để chờ lão đưa ra lựa chọn từ cơn quặn đau, số phận vô thường ngần ấy, khiến lão vẫn phải đối mặt với tình huống tiến thoái lưỡng nan khi đã từ chức thẩm phán giả từ một trăm năm trước.

Trong sự bế tắc thinh lặng, cực quang ngoài kia chợt lóe lên.

Rum bất giác ngó về phía màn hình lớn, An Chiết cũng nhìn theo, hình ảnh ma quá nọ lại xuất hiện trên màn hình, lần này lâu hơn hẳn, tròn ba giây mới biến mất, biểu đồ phân tán kì lạ ánh lên võng mạc của An Chiết. Cùng lúc đó, Đường Lam nâng tay đè huyệt thái dương của mình.

– Tôi nghe thấy nó nữa rồi – Y cất giọng.

Điều đó có nghĩa là gì?

Ngay cả An Chiết còn biết, rằng điều đó có nghĩa là sự dao động chưa rõ tới từ vũ trụ đã đột ngột tăng mạnh. Hoá ra nó chẳng hề diễn ra dần dần như con người dự đoán, mà nó hoàn toàn dư sức tăng nhanh vùn vụt.

Qua năm giây yên tĩnh, cực quang lại bất ngờ vụt sáng – tựa quả tim của một vật thể khổng lồ chợt co thắt, cả thế giới chìm trong tăm tối mịt mùng. Những chấm sáng dày đặc chuyển động trên màn hình phòng thí nghiệm.

– Nó đến rồi, – Đường Lam nhắm chặt mắt, y giơ tay lên và vục mặt vào đấy, giọng khản đặc – nó đến rồi, tôi nghe thấy nó. Chẳng bao lâu sau nó sẽ vượt qua cường độ từ trường mất thôi. Thưa ngài Polly, ngài không phải lo lắng nữa đâu. Biến dạng đã đến, chả ngăn cản nổi.

– Chúng ta… chúng ta… – Y cúi gằm – Chúng ta… đang cố gắng vì điều gì vậy?

Vừa dứt lời, y bèn phì cười với vẻ sầu thảm, tiếng cười ấy nghe tuyệt vọng xiết bao, An Chiết đoán hẳn cổ họng y đang ken đặc máu.

Mới nãy thôi họ hãy còn hứng chịu sự tra khảo của nhân tính, về việc liệu có nên yêu cầu căn cứ đóng cực từ hay chăng; hãy còn căm hận thế giới và số phận nghiệt ngã quyết chống lại họ, mải đắm chìm trong đau khổ nội tâm, bởi họ nghĩ rằng mình vẫn còn lối thoát khác. Nhưng rồi khoảnh khắc kế tiếp, họ sực vỡ lẽ mọi mối căm hận cùng vùng vẫy vừa rồi buồn cười biết nhường nào. Nó vốn dĩ là một cuộc đấu tranh vô nghĩa. Dĩ nhiên, tất thảy mọi sự có nghĩa ở chính bản thân con người cũng là vô nghĩa nốt.

Thế giới này không quan tâm đến điều gì cả. Nó chẳng tàn nhẫn cũng chẳng độc ác, chỉ là không quan tâm, nó không quan tâm về niềm vui của họ, và theo lẽ thường cũng không quan tâm về nỗi đau của họ.

Dường như nó đang diễn ra một cuộc chuyển hoán tự nhiên mà thôi, chẳng qua nó đang từ từ tiến về phía trước. Nó không có ý định để loài người biết được nguyên nhân chân chính, bởi điều này chẳng cần thiết. Kẻ thật sự ám ảnh bởi việc truy tra tận cùng chỉ có mỗi con người thôi.

Loài người tất bị diệt vong, sinh linh ắt chết sạch và Trái Đất rồi sẽ tàn lụi.

Nhưng nó không quan tâm.

An Chiết thẫn thờ trông ra bầu trời ngoài kia.

Ánh chớp đứt quãng qua đi, để rồi bàng bạc tầng không là cực quang bắt đầu rung giật rồ dại, quầng sáng mướt một sắc xanh tứ tán thành những thiên thạch chói lòa với tốc độ kinh hoàng, một cơn mưa sao băng bùng cháy và kế đấy mất biến, muôn tàn tích xẹt qua khoảng trời đêm u tối.

Máy móc trong phòng thí nghiệm rúc lên một tiếng bíp dài. An Chiết thốt nhiên ngẩng đầu, đập vào mắt là ngút ngàn các bông tuyết rơi lả tả trong màn hình lớn.

Polly vịn chặt tay vịn bằng tay phải, chất giọng khê nồng đầy vẻ già nua:

– Mở cực từ độc lập…

Có biết bao tiếng hú dài rúc lên cùng lúc khi lão vừa cất giọng, nghe mà sởn tóc gáy, thực khó để diễn đạt từng tiếng bằng bất kì từ tượng thanh nào trong ngôn ngữ con người, chúng chấn động rồi đâm thủng màng nhĩ. Là tiếng gầm thét vượt qua lẽ thường của lũ quái vật ngoài cửa sổ, dưới non cao và trong Vực Thẳm.

“Phành phạch…”

Tiếng vỗ cánh váng tai vọng đến từ cánh rừng, dường như có hàng ngàn hàng vạn đàn chim đang vụt lên trời không.

Chúng đã ẩn náu tại Vực Thẳm suốt quãng thời gian dài, dò xét nhau, gặp thế bế tắc. Mà vào thời khắc từ trường sắp sửa sụp đổ này đây, lũ quái vật đáng sợ đó lại bắt đầu đồng loạt di chuyển.

…Vì sao vậy?

An Chiết chẳng biết.

Bóng đen đầu tiên lướt qua đỉnh Viện Nghiên cứu Non Cao.

Polly đi tới trước bàn điều khiển Lồng Simpson.

– Ngài Polly à, – Đường Lam chùng giọng hỏi – chưa muộn ư?

Polly trả lời:

– Muộn rồi.

– Vậy vẫn phải tiếp tục à?

Nín bặt giây lát, Polly chợt đờ đẫn nói:

– Sức nhìn của con người như trăng trên nước vậy, những tưởng vươn tay là chạm đến được ngay, song thực tế vừa chạm trúng mặt nước thì sẽ nhòe đi.

– Khi chúng ta nghĩ rằng mặt trăng vụn vỡ cũng có ý nghĩa và toan vớt nó lên, lại phát hiện trong lòng bàn tay chỉ sóng sánh nước. Thêm phần hoang đường chính là trong vòng nửa phút sau, ngay cả vốc nước ấy cũng chảy khỏi kẽ tay.

Lão nhìn về phía muôn chấm sáng rối rắm hệt đang ngắm mộng cảnh xa vời:

– Ấy thế nhưng, nếu cho ta cơ hội thứ hai. Để ta tiếp tục đứng trước bờ hồ, liệu ta có còn sẵn sàng vớt nó không?

Đôi mắt Polly hoe đỏ và run rẩy khôn cùng, giọng lão nghẹn ngào, sau cùng nhắm mắt lại:

– Ta sẵn sàng.

Đường Lam lấy một chiếc bộ đàm đen ngòm ra khỏi túi áo. Y nhìn tất thảy niềm hư vô phía trước, rủ ánh mắt ảm đạm, bình tĩnh cất tiếng:

– Chuẩn bị phòng thủ.
 
Cây Nấm Nhỏ
Quyển 3 - Chương 79: “Thượng tá Lục xác nhận đã chết.”


Nghĩ gì thế? – Tiến sĩ Gheer đi đến đằng sau Lục Phong. Lục Phong đứng trước cửa sổ ở phòng thí nghiệm, xa xa là Tháp Đôi và Vườn Địa Đàng rực rỡ ánh đèn.

Tới gần, chàng ta mới phát hiện thượng tá chẳng phải đứng sững một cách vô bổ. Anh đang vuốt máy liên lạc, màn hình sáng trưng hãy còn hiển thị giao diện người liên lạc, chàng ta nom thấy một cái tên xa lạ.

Tiến sĩ Gheer đứng kế anh, chau mày hỏi:

– Hubbard… là ai thế? Cậu còn thằng bạn nào khác mà tôi không biết à?

Lục Phong chẳng trả lời, Tiến sĩ Gheer cũng chẳng hỏi đến cùng. Đặt câu hỏi rồi không nhận được đáp án là lẽ thường với chàng thượng tá này thôi. Đương lúc chàng ta nói chuyện, cục bào tử nho nhỏ trắng phau ló ra khỏi cổ áo Lục Phong, trông nó như đang dè dặt quan sát tiến sĩ, kế đến vội chui tọt vào ngay.

Tiến sĩ Gheer cười tít mắt:

– Nó nhỏ vãi.

Lục Phong moi nó ra rồi đặt trên tay. Bào tử vốn dĩ to bằng lòng bàn tay giờ đây chỉ tày một hạt táo, nó dốc sức lủi mình vào trong tay Lục Phong, có vẻ rén Tiến sĩ Gheer lắm.

Tiến sĩ Gheer bảo:

– Hôm nay không cắt mày đâu, mày bé quá rồi. Ngoan nào, ráng ăn thêm ít chất dinh dưỡng đi, lớn tí tao lại cắt nữa.

Lục Phong liếc Tiến sĩ Gheer bằng ánh mặt lạnh căm.

Tiến sĩ Gheer khoanh tay, khoan thai nói:

– Mắc mớ gì sưng sỉa dữ thế, tôi có cắt cậu đâu mà lo?

Những ngày qua, căn cứ đã nhận ra công nghệ sinh học hiện có hoàn toàn chẳng phân tích nổi lí do cục bào tử này mang tính trơ, bởi vậy họ bèn để đấy chuyển sang việc khác, hoặc có thể nói là đành cùi không sợ lở dồn hết mọi nghiên cứu viên sang hướng đi mới. Tới hôm nay, họ đã nghiên cứu thành công cách chế tạo chất chiết xuất từ sợi nấm. Sau khi lấy được chất chiết xuất thì đem pha loãng, căn cứ dự định xối nó lên bề mặt các máy móc quan trọng. Họ dùng cách thức thô sơ này với hi vọng rằng chất chiết xuất tính trơ của bào tử sẽ tạo ra lớp màng bảo vệ cho máy móc, hoặc là truyền tính trơ cho chúng luôn cũng được, thế thì khỏi lo bị lây nữa. Suy cho cùng từ lúc biến dạng bùng nổ, đến cả thủy tinh và gỗ còn lây cho nhau được mà, nếu đã thế, chất chiết xuất cũng lây cho vật chất khác được.

Thậm chí họ còn tức tốc gửi 20 lít chiết xuất pha loãng cho căn cứ thành phố ngầm bằng máy bay nữa.

Đáp lại việc này, các cấp cao ở Hải đăng tự giễu không ngờ chúng ta lại định dùng ma thuật khó hiểu khi khoa học mất tác dụng. Nhưng đấy là những gì họ làm được, bởi dường như mọi ngành nghiên cứu đã thất bại, không một ai hay phải gửi gắm hi vọng vào điều gì.

Tiến sĩ Gheer chìa tay:

– Cho mượn chơi tí.

Tất nhiên là chàng ta cóc mượn được cái khỉ khô gì, Lục Phong thậm chí còn chả thèm nhìn chàng ta ấy chứ. Song Tiến sĩ Gheer vẫn chăm chăm vào sợi nấm trắng tin hin bào tử để lộ, chàng ta nói:

– Ngày mai có thể chế thêm một lít chất chiết xuất nữa, nhiều phết. Căn cứ yêu cầu chúng ta phải đặt việc bảo vệ thiết bị chủ chốt của cực từ nhân tạo lên hàng đầu.

Lục Phong khép tay lại, giờ thì chẳng có sợi nấm nào lọt ra ngoài nổi nữa.

Tiến sĩ Gheer khuyên:

– Đừng có thế mà. Dù cả hai có thân phải biết đi chăng nữa thì cũng đừng che chở nó như con trai chứ. Thưa Thượng tá Lục, cậu có phát hiện kể từ lúc trở về từ vùng ngoài, thì trông cậu sinh động hơn hẳn không?

Lục Phong vẫn im lặng và chỉ có mỗi Tiến sĩ Gheer là xổ bai bải trong phòng thôi, chàng ta thường hay nói liến thoắng hễ căng thẳng, số lượng từ của chàng ta đã tăng vọt lên trong một tháng qua.

Tới tận ba phút sau, Lục Phong mới cất giọng:

– Chừng nào bắt đầu dùng chất chiết xuất?

– Hải đăng vẫn còn thảo luận vì chúng tôi chưa thể loại trừ khả năng này: sau khi biến dạng bùng nổ, mọi vật chất bắt đầu hòa làm một mà chẳng có sự phân biệt, vào đận đó, thì trường hợp dễ xảy ra nhất là nó chả có tác dụng gì, trường hợp tuyệt vời nhất là nó truyền tính trơ cho chúng tôi, và trường hợp xấu nhất là nó biến tất cả các thiết bị ở chỗ chúng tôi thành cụm nấm mất sạch sành sanh chức năng.

Giọng nói lạnh tanh của Lục Phong rốt cuộc vọng lên, nom như được phủ bởi một lớp sương vậy:

– Sao lại phải dùng nếu có cả trường hợp đó?

– Tòa Xử án của mấy cậu khoái diệt tận hết thảy khả năng xấu, nhưng tầm này khác lắm. rồi Cậu hãy hiểu rằng dù chúng ta không làm gì đi chăng nữa, thì tình trạng giờ đây cũng bết bát nhất rồi.

– Rốt cuộc tính trơ là thứ gì? – Lục Phong hỏi.

– Không truyền nhiễm.

Bào tử chui ra khỏi tay Lục Phong, nó bò thoăn thoắt dọc theo vải quân phục và náu tiệt dưới quân hàm hòng tránh xa tiến sĩ. Lục Phong hơi nghiêng người, động tác khẽ khàng này lại hé lộ bóng dáng một món đồ trên bệ cửa sổ. Ấy là một lọ chất lỏng có gắn mác, trên mác viết dòng chữ đánh dấu: Lai – III. Kế lọ chất lỏng là ống tiêm rỗng.

Ánh mắt Tiến sĩ Gheer đột nhiên nghiêm trọng.

– Cậu lấy chất chiết xuất dị chủng lai làm gì thế? Đừng táy máy đồ đạc ở phòng thí nghiệm chứ, nguy hiểm lắm.

Lục Phong nhìn sang chàng ta, thốt lên một câu tịnh không liên quan gì đến chủ đề hiện tại của họ:

– Khi còn ở căn cứ thành phố ngầm, thì nơi đó chẳng có từ trường, biến dạng cùng truyền nhiễm không tiếp xúc đang diễn ra.

Tiến sĩ chưa nắm bắt đặng suy nghĩ của anh ngay, nên chàng ta chỉ gật đầu. Lục Phong bảo:

– Hàng tá lính tráng tiến vào thành phố ngầm với tôi đều bị nhiễm, nhưng riêng tôi thì không.

Tiến sĩ chừng như đã thấu suốt anh đang đề cập tới điều gì, chàng ta im lặng, trầm ngâm nhìn anh.

– Nếu bào tử phô bày tính trơ, vậy thì An Chiết cũng sẽ phô bày tính trơ – Lục Phong nói.

Tiến sĩ Gheer gật đầu.

– Tuy nhiên em ấy biết biến hóa hình thái giữa người và nấm, bên cạnh đó còn thông qua xét nghiệm gen khi ở hình thái người – Anh bình tĩnh phân tích – Vì lẽ đó, nếu tôi bị em ấy lây và hấp thụ tính trơ, thì cậu cũng không thể biết được dù phân tích từ khía cạnh nào.

– Ồ vâng, tôi công nhận. Ban đầu chúng tôi có nghĩ tới điều này rồi. Song nó có nghĩa lí gì cơ chứ? Chính bởi vì chúng tôi chẳng lần được sự truyền nhiễm này nên mới đành quyết định phun chất chiết xuất trên diện rộng. Cháy nhà thì lòi mặt chuột thôi, phải chờ đến cái ngày biến dạng toàn diện thì chúng ta mới được phép biết liệu chất chiết xuất có bảo vệ nổi con người hay không.

– Nhưng cũng đương đầu với nguy cơ tất thảy sẽ trở thành nấm.

– Thì sao hả? – Tiến sĩ nhìn anh, như thoáng linh cảm được điều gì đấy mà giọng điệu chàng ta phẫn nộ hẳn lên.

– Hãy truyền nhiễm tôi bằng chất chiết xuất từ quái vật, nếu nửa tiếng sau tôi vẫn là người thì chứng tỏ rằng An Chiết đã truyền tính trơ cho tôi và không có bất cứ phản ứng xấu nào. Đến lúc đó, chất chiết xuất có thể áp dụng.

Tiến sĩ nhìn anh, chàng ta chẳng hề lấy làm bất ngờ, tựa hồ đã đoán trước rằng cái tên này sẽ thốt ra những lời như thế. Chàng ta đăm đăm vào Lục Phong rồi ánh mắt dần nặng nề, lắc đầu, đoạn hỏi:

– Vì sao lại là cậu?

Lục Phong bình tĩnh đáp:

– Tôi ở chung với em ấy khá lâu. Sau sự cố ở căn cứ thành phố ngầm, chúng tôi cũng ở cạnh nhau trong lúc biến dạng hoành hành. Nếu em ấy có thể lây cho kẻ khác, thì kẻ có khả năng bị lây cao nhất chính là tôi.

– Là tôi, – Tiến sĩ Gheer cười khẩy, chàng ta nhìn thẳng vào Lục Phong và sấn lại gần anh, cất cao giọng – sau khi thành phố ngầm gặp sự cố thì cậu chỉ ở với nó một chốc mà thôi, người luôn gần gũi với nó suốt thời gian qua là tôi, chúng tôi còn ngủ chung một buồng đấy. Thằng nhóc ngoan như chú mèo con vậy, chúng tôi gần gũi biết bao nhiêu, chúng tôi có lắm cử chỉ thân mật mà cậu sẽ chả đành lòng nghe đâu. Nên nếu cậu có thể bị nhiễm thì vì sao tôi không thể hả?

Lục Phong chẳng hề nóng nảy bởi lời chàng ta, anh đáp:

– Cậu còn nhiều nhiệm vụ, không được phép mạo hiểm.

– Vậy cậu thừa biết đây là việc mạo hiểm mà?! – Tiến sĩ nổi cáu, chàng ta thở phì phò vài hơi bèn xẵng giọng quát – Tôi không được phép mạo hiểm vậy cậu được phép mạo hiểm chắc? Với cậu thì cái chuyện hi sinh bản thân là điều đáng giá lắm hả?

Lục Phong nín lặng, Tiến sĩ Gheer giật phăng lọ chất lỏng trên bệ cửa sổ xuống, nắp lọ đã mở tự bao giờ, chàng ta chọc kim vào với vẻ chanh chua, pít-tông chạy lên và rất chóng bơm đầy ống kim.

– Nếu cậu muốn làm chuột bạch cho kì được, thế thì hãy để tôi lo – Chàng ta cầm ống tiêm, đồng tử xanh thẳm nom giá lạnh tột cùng, nói liến thoắng – Cậu đã cống hiến nhiều lắm rồi, mẹ kiếp! Cậu phải sống dai vào cho tôi!

Lục Phong chẳng hề ngăn cản bất cứ động tác nào của chàng ta, anh chỉ lặng lẽ quan sát bằng đôi mắt xanh như hồ nước không một gợn sóng. Anh nâng tay, xắn ống tay áo mình lên.

Có vết máu hằn nơi tĩnh mạch cổ tay – chứng tỏ vị trí đó đã bị tiêm thứ gì.

– Nếu nửa tiếng sau tôi vẫn ổn thì các cậu cứ việc dùng chất chiết xuất nhé.

– Cái thằng… cái thằng này… – Vành mắt chàng ta đỏ kè vì tức và giọng thì ồm ồm như miểng thủy tinh cạ vào nhau – Thói tự hại thân của cậu đúng là… hết thuốc chữa.

– Căn cứ vẫn sẽ ổn khi mất đi một nhà khoa học, nhưng nếu mất thẩm phán giả thì sao hả? Chẳng lẽ cậu chưa nghĩ tới việc đó ư?

Lục Phong im lặng.

Tiếng chuông inh ỏi vang lên vào đúng lúc này. Tiến sĩ nghe máy lúc cơn giận còn chưa nguôi ngoai, biểu cảm của chàng ta tức thì thay đổi chừng ba giây sau.

Chàng ta nói với bên kia:

– Tôi sang đó ngay

Chàng ta trưng vẻ nghiêm nghị sau khi gác máy:

– Vừa đo được thêm một sự biến dạng nhẹ, căn cứ đã tăng cường độ từ trường lên mức mạnh nhất. Sắp tới lúc phòng tuyến của từ trường sụp đổ rồi, tôi đi mở cuộc họp khẩn cấp, chắc cũng mất độ nửa tiếng đó. Cậu cứ đợi ở đây đừng có lén phén đi đâu, trừ trường hợp mọi người bắt đầu sơ tán.

Dứt lời chàng ta bèn chạy đến cửa ngay.

– Chờ tí, – Lục Phong gọi chàng ta lại, Tiến sĩ Gheer khựng bước, chàng ta vẫn chưa nguôi giận nên chả thèm ngoảnh đầu lại. Lục Phong đứng phía sau hỏi – An Chiết sẽ không bị ảnh hưởng bởi biến dạng, giống bào tử vậy, đúng chứ?

– Ngay cả khi loài người có chết sạch thì nó vẫn sống tốt thôi.

– Cảm ơn.

Tiến sĩ sập mạnh cửa.

Lục Phong vẫn đứng tại chỗ, anh xoay người nhìn ra ngoài ô cửa. Phố thị đen xám như một cánh rừng trẩy dài dưới màn trời phủ lấp cực quang, cực quang chớp chới và soi chiếc bóng với sắc xanh xám lạ kì xuống muôn tòa nhà. Bỗng! Tiếng động vật tru tréo rõ mười mươi chợt rúc lên – nó xuất phát từ hướng căn cứ quân sự nằm trong thành phố. Nhưng thứ thanh âm vụt ngang bầu trời nọ chỉ là sự khởi đầu, chốc sau, muôn tiếng gầm từ các loài thú khác vang rền ở vị trí nọ.

Đèn khẩn cấp ở căn cứ quân sự bừng sáng, chưa bao lâu sau nó lại tắt ngúm. Còi hú cùng bom nổ rõ mồn một dội lên cùng lúc, kế đến là báo động sơ tán với tần số cao phủ trùm toàn bộ căn cứ. Song ánh mắt Lục Phong chỉ nán lại nơi ấy phút chốc, anh trông ra vùng hoang tàn vô biên ngoài căn cứ.

Tiếng phành phạch văng vẳng, một con quái vật có cánh khổng lồ nom như dơi lao lên không trung từ rặng núi xa, và chốc sau hằng hà bóng đen cũng bay vụt tại nơi đó – là hàng ngàn đồng loại của nó.

Máy liên lạc nhấp nháy.

Lục Phong bấm dăm con chữ trên giao diện trò chuyện, ấy là số của phòng thí nghiệm. Chừng vài giây sau tin nhắn từ phía Hubbard xuất hiện.

– Nhận được rồi, nửa tiếng nữa tới.

Sự sụp đổ hoàn toàn của từ trường sẽ diễn ra trong vòng nửa tiếng này.

Ngoài căn cứ, muôn lối, quái vật bất thình lình hiện thân trên đất liền cùng bầu trời. Dường như chúng đã ẩn nấp lâu lắm rồi và giây phút mà chúng hằng chờ cuối cùng cũng đến, chúng xồ tới căn cứ tựa cơn thủy triều. Đèn khẩn cấp trong hành lang nhấp nháy một cách rồ dại, tiến sĩ lao khỏi phòng họp, đâm bổ về phía phòng thí nghiệm, sau lưng chàng ta là hai tay quân nhân.

– Thưa tiến sĩ, làm ơn sơ tán với chúng tôi càng sớm càng tốt.

– Quân đội chẳng bảo vệ toàn bộ căn cứ nổi đâu ạ, máy bay không người lái trước mắt đã quan sát được cơn bão quái vật đang ùa đến đây, giờ chúng ta chỉ có thể coi cực từ nhân tạo như trận địa phòng thủ duy nhất thôi.

Tiến sĩ Gheer vội đáp:

– Tôi phải mang theo vài thứ, cho tôi năm phút thôi. Thượng tá Lục còn ở trong phòng thí nghiệm.

– Xin hãy rời khỏi đây với chúng tôi ngay lập tức! – Tay quân nhân có cài phù hiệu của Trung tâm Mặt trận thống nhất trước ngực gằn giọng – Chỉ thị đặc biệt, mọi người tập trung lánh nạn tại trung tâm cực từ, sự hiện diện của Thượng tá Lục sẽ khiến đám đông thêm hoảng loạn và dấy lên những tranh chấp không đáng có. Chính vì thế có thể cân nhắc…

– Câm mồm!

Báo động khẩn cấp kêu gióng giả không thôi, tiếng rè váng tai cùng ánh sáng đỏ quạch loạn xạ khắp nơi: đây là báo động thời chiến ở mức cao nhất, nhằm nhắc nhở mọi người hãy nhanh chóng rút về vị trí an toàn. Hành lang như một bãi chiến trường, ta dễ bề nghe rành rọt tiếng gầm rú của lũ quái vật xa xa ngoài kia, các nghiên cứu viên khoác áo bờ-lu trắng và toán lính nhốn nháo hết lên.

Chạy tới cửa phòng thí nghiệm rồi.

Ánh mắt Tiến sĩ Gheer chợt hiện vẻ khó tin.

…Cánh cửa phòng thí nghiệm mở toang hoang, đầu óc chàng ta bị lú lẫn bởi cơn giận nên đi mà quên khóa cửa

Chàng ta xộc thẳng vào trong, lại phát hiện có một gã lính đeo miếng vải đen quanh cánh tay phải nâng súng bắn tỉa, gã nhắm chuẩn vào một bóng người đang đứng trước bệ cửa sổ.

Đồng tử chàng ta thốt nhiên co rút, trên miếng vải đen ở cánh tay phải là biểu tượng của phong trào Chống Thẩm Phán.

Máy liên lạc thoáng nhấp nháy, song chàng ta chẳng còn lòng dạ đâu chú ý mà chỉ lo quát lớn:

– Lục Phong!!!

Tiếng súng nổ vang cùng lúc với tiếng gào đau đớn này.

Bóng người bên cửa sổ chao đảo, và rồi ngã ruỳnh xuống sàn. Tiến sĩ Gheer chẳng tin nổi trợn to mắt, bờ môi run rẩy:

– Ôi không…

– Cấm nhúc nhích! – Hai tay quân nhân nhanh chóng khống chế gã lính cầm súng. Tiến sĩ Gheer thì sải bước lao vào, chàng ta không màng nổi điều gì nữa, trong lúc đi tới đằng đó có hất rơi dăm dụng cụ thí nghiệm, ống nghiệm vỡ tan tành và miểng văng tứ tung trên sàn. Chàng đi vòng qua một cái tủ thao tác PCR, run lẩy bẩy quỳ xuống trước cơ thể ngã gục của Lục Phong:

– Này Lục Phong? Lục Phong à?

Cái xác đó chết chả nhắm mắt, tứ chi cứng đờ, tiến sĩ vươn tay chạm vào vết bỏng cháy trẹm nọ. Máy liên lạc của chàng ta lại lóe sáng. Tiến sĩ liếc thử kẻ gửi tin đến, mới đây thôi tiến sĩ hãy còn run rẩy, giờ thì ánh mắt chàng ta lại lạnh ngắt.

Một tay quân nhân đằng kia còng tay kẻ nổ súng lại, nhấc chân toan đi vào.

– Khỏi cần qua, – Giọng Tiến sĩ Gheer lạnh lùng vọng ra từ phòng thí nghiệm – Thượng tá Lục xác nhận đã chết.

Tiếng giày bốt giẫm bước ngừng bặt.

– Chúng tôi rất tiếc về sự việc này.

Tiến sĩ Gheer thoáng nhoẻn miệng cười dẫu mặt mày tái mét, chàng ta đáp:

– Tôi thì chẳng lạ gì với kiểu chết này của thẩm phán giả.

*

Khoang của PL1109.

Hubbard tựa trên vách khoang, gã với Lục Phong chưa thể xem như bạn chí cốt. Nhưng hẳn cũng tính là từng có ơn cứu mạng.

– Vật vã lắm tôi mới lôi cái con rối kia ra khỏi căn hộ kế bên nhà cậu được đấy, ai ngờ trông cậu vậy mà còn giữ cái thứ đó.

Lục Phong trả lời:

– Làm tốt lắm. Theo lời khai lúc ấy của Shaw Scott thì thông tin cụ thể là do anh cung cấp nhỉ?

Hubbard nhếch mép, chẳng bàn tiếp đề tài này.

– Cảm giác bị giam lỏng thế nào?

– Không tồi.

Nói đoạn, anh liếc nhìn những thành viên khác trong khoang. Một viên sĩ quan kế bên thưa:

– Chúng tôi đều cùng trở về từ căn cứ thành phố ngầm, thưa Thượng tá Lục, chúng tôi thề sẽ không tố cáo ngài với quân đội.

Hubbard lau sạch súng trong tay:

– Khỏi cần cảm ơn họ. Chẳng qua là quái vật bao vây thành phố, chúng tôi lại phải tham gia chiến đấu. Cậu giàu kinh nghiệm chống trả quái vật ở thành phố ngầm và ai cũng rõ ràng chuyện đó, họ chẳng ngại hợp tác thêm với cậu lần nữa, nó có lợi cho cả hai bên thôi.

Viên sĩ quan bảo:

– Với tiền đề là thượng tá vẫn sẵn sàng cống hiến cho căn cứ.

Lục Phong hơi nhoẻn khóe môi, anh nói:

– Bắt đầu kiểm tra trang bị đi.

Hubbard đứng kế bên đang lau vũ khí của mình, ấy là một khẩu súng bán tự động màu bạc, ngón tay gã dừng trên báng súng – vị trí đó hằn những vết khắc, dường như là khắc chữ “Đường”.

Anh quan sát hàng chữ đó. Viên sĩ quan bên cạnh chợt hỏi:

– Ai thế?

Hubbard trả lời:

– Một người bạn thôi, quen ba mươi ba năm rồi.

– Lâu phết.

Hubbard đăm chiêu vào hàng chữ kia, mãi sau gã mới mỉm cười:

– Tiếc thật đấy.

– Sao thế?

– Sinh ra cùng nhau nhưng sau cùng không thể chết cùng nhau.

– Nào có chuyện hời như thế.

– Ừ.

Lục Phong khoanh tay nhìn họ trò chuyện. Hàng mi của anh hơi rủ, trông chẳng có vẻ gì là xúc động, và dĩ nhiên những kẻ khác sẽ chả hi vọng rằng thẩm phán giả có thể thấu hiểu cảm xúc của họ.

Mãi cho tới khi Hubbard phát hiện ra một việc.

– Súng của cậu đâu? – Gã hỏi

Lục Phong trả lời:

– Tặng người khác rồi.

Hubbard nhếch môi, chừng như gã đã tỏ tường tất thảy. Tay thủ lĩnh đội lính đánh thuê này rõ ràng khấm khá hơn những ai chỉ hưởng mức lương cơ bản ở quân đội, gã rút một khẩu súng lục đen ngòm ra rồi thảy cho Lục Phong, giây phút chụp được nó, gã nói khẽ:

– Sẽ sống sót.

– Cảm ơn.

<i>Hết chương 79</i>Đổi cách xưng hô của Tiến sĩ Gheer với lãnh đạo nhé… Tính đổi lâu rồi mà lười nên thây kệ, rốt cuộc kéo dài thêm mấy chục chương, giờ thì sửa hộc máu ( ༎ຶ⌑༎ຶ)

Nhiều cậu hỏi tớ về cp Đường Lam Hubbard ghê, trời ơi hem có spoil tình tiết được đâu đã bảo spoil ngu lắm! Chỉ cần biết là họ sẽ gặp lại nhau và không một điều gì có thể chia cắt họ nữa, vậy là đủ rồi nhé. Couple này đẹp đến nao lòng nên cái kết về họ sẽ không tầm thường đâu.

Với cả tuần sau tớ bận lắm lắm ấy bận tối mắt tối mũi luôn, sợ là chả có thời gian gõ đâu. Nên tớ sẽ ráng hoàn trong tuần sau nữa hic.
 
Back
Top Dưới