Cập nhật mới

Khác Cấm Thành quan trường ký - Thi Kỳ kỳ án

Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Hồi mười chín: Thi sĩ cũng có giang hồ hay chăng


Sau một đêm trú lại tiệm thuốc của Lục đại phu và dùng bữa cơm đạm bạc, Khuê Tước tiên sinh và Sa Liên lại tiếp tục con đường tới Kinh Xuân.

Đi đường dài không có ngựa thật khổ, nhưng chuyện gấp rút làm gì có thời gian chuẩn bị.

Đằng sau tiệm thuốc của Lục đại phu có một chuồng ngựa nhỏ, nhưng không còn con nào đỡ giúp hai kẻ viễn khách chặng đường còn lại.

- Cố lên con...

- Khuê Tước tiên sinh thi thoảng quay đầu lại động viên đệ tử khốn khổ của mình.

- Không sao...!

An Viên... ngoài sa trường... còn khổ hơn con...!

- Nhưng mà nó đi ngựa.

Và nó đã quen hành quân đường trường.

- Là võ tướng... ngày nào cũng gặp hiểm nguy... không phải khổ hơn học trò sao...?

Khuê Tước tiên sinh chỉ cười.

Có thể ngày đó Sa Liên cũng đã thành võ tướng, nhưng ai sẽ để mắt tới Thi Kỳ bé nhỏ nếu cả ba đều bận chuyện cấm vệ hay ngoài sa trường?

Sử quán khá gần Hưng Thánh điện, làm sử quan Sa Liên có thể trông chừng tình hình của Thi Kỳ được ít nhiều, và biết có Đoàn thượng thư thay đại tiên sinh dạy dỗ cũng yên tâm phần nào.

Tuy nhiên, với kiến thức binh pháp đó, Sa Liên không ra chiến trường thì thật quá uổng.

- Đại tiên sinh này... con muốn hỏi... chủ nhân của Lục Miên Anh... có phải tên...

Thái Anh không?

Thái Anh, vương xứ Tân Gia vùng duyên hải phía nam?

Khuê Tước tiên sinh lạ thay không đáp lại, chỉ bước đi tiếp.

Nhìn thái độ của đại tiên sinh, Sa Liên cũng biết mình đoán đúng.

Mọi người có thể chỉ mơ hồ nghe nói đến Tân Gia vương, nhưng ai chứ tiên sinh thì không.

Tiên sinh biết rõ thân thế Lục Miên Anh thì cũng biết rõ chủ nhân người, hơn cả sứ thần sang đó nữa là khác.

Nhưng tại sao... tiên sinh lại ra vẻ như chối rằng mình biết?

- Tại sao... là vương một xứ... mà ngài lại ở trong một tiệm thuốc cũ ở ngôi thành nhỏ bé này...?

Nói... con nghe đi, đại tiên sinh...

- Xin lỗi Sa Liên, chuyện này... ta không muốn các con phải liều thêm nữa...

- Chuyến này...

đi là đi cho trót...

Có gì... người cứ nói con nghe...

Chuyện gì đã xảy ra...

ở Tân Gia?

Nếu người biết... xin hãy cứ nói.

- Đương nhiên ta biết.

Nhưng ta không chắc nói ra lúc này là hay.

Hay là...

đến Kinh Xuân gặp đúng người rồi ta hẵng kể?

- Vâng.

Tới nơi rồi... xin người đừng quên...

Biên cương gió biển mặn môi người

Sóng gió trùng dương vẫn đổi dời

Tiền tuyến gặp đây người chiến hữu

Chén rượu chia phôi thay tạ lời...

Thành Kinh Xuân nằm giữa thung lũng bốn bề núi bao bọc, lại có sông rộng chảy quanh, vốn là vị trí chiến lược phòng thủ phía đông nam, nay lại bị quân phiến loạn chiếm làm cứ địa.

Tề tể tướng thay mặt Thái tử giao cho Khuê Tước tiên sinh nhiệm vụ trinh sát Kinh Xuân, nắm rõ quân số và quân lực cùng với chỉ huy phiến loạn rồi báo cho Ngọc Phụng nguyên soái, người đang giữ đại quân đóng cách đó không xa lắm.

Sa Liên sẽ cứ theo thông tin tìm được và soạn sách lược tấn công.

Chỉ cần được nhận lệnh, đại quân sẽ tới san bằng ngôi thành trong chốc lát.

Tuy nhiên, ưu tiên của Khuê Tước tiên sinh bây giờ không phải dẹp loạn.

Ở thành Kinh Xuân bây giờ không chỉ có đầu não phiến loạn mà còn có người bằng hữu phương xa.

Người bằng hữu mà Khuê Tước tiên sinh từ lâu lắm rồi đã tưởng kiếp này không còn duyên tái ngộ nữa.

Bình minh ba ngày sau khi rời Côn Luân thành, Kinh Xuân thành dần hiện lên trước mắt.

Khó ai tả nổi Sa Liên vui thế nào khi biết đã xong xuôi, còn qua ngọn đồi này thôi là tới cổng thành rồi.

- Một chút nữa thôi con ơi...

Kinh Xuân thành dù cũng đông người qua lại, nhưng cảm giác thật khác hẳn Côn Luân thành.

Phủ trùm lên dân chúng là một bầu không khí nặng nề, như thể ai đi qua cũng bị ngàn cặp mắt dõi theo.

Hảo hán giang hồ, thổ phỉ thảo khấu mọi phương đều tụ tập tại đây; có lẽ họ nghe tin gia nhập cuộc nổi loạn sẽ được lợi chi đó.

Là học trò, hai người sẽ khó ở đây mà an toàn được lâu.

- Để ta xách cho tay nải, con lo ngóng chừng đi.

Giữa biển người hỗn tạp, kiếm cho được ba người thật khó, tuy nhiên lại cũng thật dễ dàng.

Có chuyện chi người thường không biết, giới giang hồ ắt sẽ biết, nhưng để cẩn thận cần phải kín đáo...

- Có tửu lầu đằng kia, con với người tới đó xem.

Có lẽ người chúng ta đang tìm cũng đang ở đó.

- Sa Liên chỉ vào nóc nhà cao cao phía đầu kia đại lộ.

- Sao con biết họ sẽ tới đó?

- Chút kinh nghiệm thôi mà.

- Vị sử quan cười - Tìm người hay phá án, cứ để con!

Gậy đi đường nắm chặt trong tay, Sa Liên dẫn bước đi trước.

Khuê Tước tiên sinh nhìn theo đầy lo lắng, từ khi thành đệ tử người Sa Liên chỉ biết vùi đầu trong đống sử sách văn thơ và binh pháp, làm sao tự bảo vệ nổi mình, nói chi phải bảo vệ cả tiên sinh...

Không hữu danh vô thực chút nào, chốn tửu lầu quả là hỗn loạn.

Hỗn loạn và kỳ quặc nữa.

Vừa bước qua khỏi cửa, một vị nào đó đội mũ khăn che kín mặt, tay thủ đoản đao, xông tới tấn công hai người.

Có lẽ người này nhầm Sa Liên và Khuê Tước tiên sinh với ai đó, nhưng hai kẻ viễn khách ăn mặc khác lạ, không thể nào nhầm với những hảo hán giang hồ đâu đó được.

- Xin người lui lại!

Sa Liên giơ gậy lên đỡ trong tiếng reo hò của khách xung quanh, những kẻ vốn ưa thích hỗn loạn.

Khi phát hiện vị hiệp khách chỉ đánh bằng sống kiếm, tức muốn thử tài đùa chơi chứ không tử chiến, Sa Liên thần sắc bỗng đổi.

Bao nhiêu mệt mỏi đường dài như tan biến và một thứ cảm giác thân quen ùa về trong chốc lát.

Kẻ học trò đó chợt khẽ cười, nhìn thẳng mặt đối thủ, trong mắt ánh lên sự vui sướng lạ thường, như thể đã thấy hết từng đường đi nước bước của đối thủ vậy.

Tưởng sẽ được mục kiến một cuộc đấu đáng đời, ai cũng ngạc nhiên khi vị hiệp khách bí ẩn tra thanh đoản đao vào vỏ và quay lên lầu.

Lên tới đầu cầu thang, người đó vẫy tay ra hiệu bảo Khuê Tước tiên sinh và Sa Liên đi theo.

Khi đã khuất khỏi tai mắt giới hảo hán dưới lầu và tới trước cửa một căn phòng trên lầu cao nhất, vị hiệp khách nọ mới bỏ mũ trùm ra cho hai người thấy mặt.

- Vương gia đã đợi hai vị lâu lắm rồi, mời vào.

Khuê Tước tiên sinh đẩy cửa vào trước, và đón tiếp người là vị bằng hữu cùng vào sinh ra tử năm xưa ở Tân Gia.

Tân Gia vương một thời lẫy lừng, trong tay vạn dân ngàn tướng, giờ đây một mình nơi đất lạ với ba trung thần của ngài.

Thấy Khuê Tước tiên sinh bước vào, ngài chắp tay chào đủ lễ nghĩa, và tiên sinh cũng đáp lại, quỳ xuống thi lễ cho đúng phép với một bậc quân vương.

- Kìa, tiên sinh!

- Học trò không dám thất lễ với ngài.

Thân là bậc quân vương, dẫu có đi đâu nữa vẫn là bậc quân vương.

Năm xưa khi trên đường cố thoát khỏi khói lửa Tân Gia kinh thành Khuê Tước tiên sinh cũng nói câu này với điện hạ.

Dù là vương tọa trên ngai vàng hay kẻ giang hồ bốn phương phiêu bạt, nghĩa trung đó với ngài vẫn chưa hề thay đổi.

- Không cần lễ nghĩa với kẻ bại tướng lưu vong này đâu tiên sinh.

Khi nào giang sơn lại về tay quân chủ, người hẵng thi lễ mới đúng phép.

Tân Gia vương nói rồi đích thân tới đỡ Khuê Tước tiên sinh đứng dậy, miệng nở một nụ cười.

Không ai dám ngờ từng đó năm đã trôi qua mà Khuê Tước tiên sinh vẫn không quên Thái vương gia và ân tình bao nhiêu năm qua; ngài có được người bằng hữu trung nghĩa như vậy thật hiếm có.

Ai có thể vì thời cuộc mà thay lòng nhưng Khuê Tước tiên sinh thì không.

- Được tái ngộ hôm nay giữa thời loạn thế, ta chắc tiên sinh có nhiều chuyện muốn nói với ta lắm đây.

- Vâng, để học trò phụng mệnh triều đình trước, cá nhân để xong việc sẽ đàm đạo với ngài.

- Khuê Tước tiên sinh chắp tay tạ.

Bên ngoài cửa, Sa Liên đứng chờ với vị hiệp khách lạ, lòng vừa bồn chồn chuyện sắp tới vừa lo lắng chuyện Thi Kỳ.

Nghe Khuê Tước tiên sinh bảo nó đã được đệ tử Chu Tước đại nhân cứu về, tạm thời cứ cho là yên ổn vậy.

Gió thu hiu hiu thổi vào từ ban công nhắc nhở Sa Liên sự mỏi mệt suốt ba ngày qua đi liền không nghỉ; chưa bao giờ vị sử quan thấy cơ thể bất lực tới vậy.

Ngồi xuống chân tường định nghỉ lấy sức một chút để còn theo hầu đại tiên sinh tiếp, nhưng giấc ngủ lại vội vàng ùa về không báo trước chút nào.

Hai tay nải ôm trong lòng, Sa Liên tựa vào cây gậy đi đường mà thiếp đi.
 
Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Hồi hai mươi: Kẻ sĩ phong sương mãi phiêu bạt


- Cả bốn sư đồ Thái phó cùng dấn thân sa trường phen này chỉ để cứu một đứa học trò, mấy người thật đáng nể đó!

Thái Anh vương gia khi hay được vì sao Khuê Tước tiên sinh lại có mặt ở Kinh Xuân thì rót cho chén rượu, vỗ bàn mà khen.

Bốn người đánh cược với vận mệnh, tất cả vì sự bình an của Thi Kỳ.

Tuy nhiên, nhìn vào thế cuộc bây giờ, ván bài này vẫn còn gì đó thâm sâu hơn chỉ là cứu một đứa học trò của Thái phó.

- Nếu chỉ là cứu đệ tử khỏi sóng gió, quân triều đình ắt đã không đóng lại gần Kinh Xuân này và tiên sinh cũng không có lý do chi để "phụng mệnh triều đình", nhất là với tình cảnh hiện thời của tiên sinh, có phải... nội bộ quốc gia đang lâm nguy chăng?

- Vương gia quả tinh anh hơn người, và học trò cũng không giấu gì ngài chuyện này nữa.

Ở Cấm Thành, Trưởng công chúa vẫn đang buông rèm nhiếp chính và Tể tướng vẫn là người nắm mọi thực quyền trong tay; bá quan triều đình, những kẻ đang lăm le ngai vàng thiên tử, muốn nhờ cuộc nổi dậy này lấy cớ đảo chính cướp ngôi.

Nhiệm vụ của sư đồ học trò là tìm ra cội rễ của cuộc nổi loạn và dẹp nó trước khi nội chiến nổ ra...

Vị Tân Gia vương nghe kể lại thì đã ngồi bần thần một lúc lâu, ánh mắt như chứa đầy nỗi ám ảnh từ đâu hiện về.

- Lịch sử lặp lại lần nữa sao...?

Thiên hạ này... vĩnh viễn không được thái bình chăng...?

Hết loạn Tân Gia kinh đô giờ tới Kinh Xuân thành Hoa Nữ quốc...?

- Học trò... e là vậy.

Vả lại là không chỉ có mỗi Kinh Xuân biến động thôi—

- Từng đó năm trôi qua ta vẫn không hiểu nổi bản tánh liều mạng của các người...

- Thái Anh vương gia cười, nhớ lại chuyện ngày xưa - Nhưng mà nhờ vậy mới thành đại sự, có phải không?

Chuyện năm xưa đó không biết có ai còn nhớ, nhưng về phần Thái vương gia, người không bao giờ quên được cái ngày định mệnh.

Kinh đô ngày đó ngập tràn màu khói lửa và loạn lạc, những tên quan quân tham lam danh vọng địa vị, những kẻ thừa cơ xuôi theo dòng đảo chánh để được lợi...

Vương một xứ lẫy lừng là vậy, nhưng trong một chốc, ngài mất cả giang san, cả ngai vàng và bao nhiêu quần thần phò trợ.

Giữa biển lửa Tân Gia chỉ còn bốn người vẫn giữ lòng trung với ngài, bốn người đã không màng hiểm nguy xông vào cung cứu giá: Lục Miên Anh, nghĩa muội của Vĩnh Viên Cảnh, dưỡng nữ ngài và Lân phò mã; người còn lại là vị bằng hữu vừa chung nhau chén rượu ngày trước, Khuê Văn Khổng Tước, khi đó đang là sứ thần triều đình phụng mệnh mang lễ vật sang cầu hảo.

- Đất nước này là nơi bổn vương đã lớn lên, Kinh Xuân này năm xưa bổn vương với tiên sinh đã từng một lần chinh chiến, có phải định mệnh đã dẫn đường chúng ta về lại chốn này chăng?

- Thái vương gia nói, bước ra ban công nhìn xuống dưới dòng người xuôi ngược, thất thần đưa chén rượu lên môi.

- Có lẽ vậy...

- Khuê tiên sinh khẽ cười - Nhắc tới định mệnh... vương gia có tình cờ nhớ vị bằng hữu Côn Luân giám năm đó không?

- Tên họ Vân đó đó hả?

Lâu lắm rồi, ta nhớ người mà người không nhớ ta thì ích gì đâu.

Bằng hữu ta hai kẻ hỏng sĩ tử, một kẻ đang ngồi đây với ta chén rượu còn một kẻ... giờ này hắn đang ở đâu, sống thác ra sao ta còn không biết.

Có lẽ đang phiêu bạt phương nào, có lẽ đã tìm được chốn bình yên mà cũng có lẽ đã về cửu tuyền rồi.

Chà, ngày xưa ba chúng ta sĩ tử tâm giao, và ta bằng hữu nhiều không kể xiết, nhưng mà...

Thái vương gia trở vào và tự rót thêm cho mình một chén rượu.

Cổ nhân nói, đời người lên thác xuống ghềnh quả không sai, tuy nhiên có vẻ Thái Anh vương này sanh ra số đã phải mệnh lênh đênh rồi.

Xưa là vương một xứ, quần thần vạn người bằng hữu trăm mối, nay ngoài dăm cận thần cùng lưu vong theo ngài ở Hoa Nữ quốc chỉ còn ba người thân thích kề bên.

- Nếu tiên sinh không phiền, cứ nghỉ lại tửu lầu này cho tiện.

Có khách phòng lầu dưới, hai sư đồ cứ ở tạm.

Đợi Viên Cảnh xong việc mang tin về, ta lại ngồi với nhau bàn chuyện.

Xứ này cũng là nơi nuôi lớn ta, giờ lâm nguy mà không ra tay tương trợ có phải là kẻ bội nghĩa chăng!

Khuê Tước tiên sinh nghe vậy chỉ cười, đáp:

- Chỉ sợ phiền đến vương gia và chủ nhà, chứ hai kẻ sĩ giang hồ đã lâu, trời sao làm màn đất cỏ làm chiếu cũng có chi đâu.

Nói rồi, vị thư sinh đứng lên chắp tay tạ rồi lại khoác tay nải lên vai rời khỏi phòng.

Vừa bước ra thì thấy Sa Liên ngồi cạnh cửa, đầu tựa gậy đi đường thiếp đi từ bao giờ.

Bên kia khung cửa là vị đại hiệp đã dẫn đường hai người lên, giờ nhìn kỹ lại thì sao không cảm thấy lạ lẫm như lúc mới gặp.

Vị đại hiệp đó cúi đầu, chắp tay chào Khuê Tước tiên sinh, trong ánh mắt vẻ vui mừng như tái ngộ người thân quen.

- Thái tử thái phó đại nhân có tình cờ nhớ lấy tiểu sinh chăng?

Khuê Tước tiên sinh hẳn đã biết người này ở đâu đó, nhưng có lẽ chuyện đã lâu lắm, dù có nhớ là ai thì cái tên cũng theo thời gian mà phai đi ít nhiều trong trí nhớ của vị thư sinh rồi.

- Tôi chỉ biết đây là lần đầu tiên gặp cậu trên đất Hoa Nữ quốc, nhưng tôi chắc chắn mình đã từng là chỗ quen nhau...

- Thưa, tuy xưa nay không có mấy lần tiểu sinh đích danh diện kiến Thái tử thái phó đại nhân đây nhưng mà tiểu sinh cũng chắc chắn mình không phải chỗ xa lạ với ngài.

- Phải rồi, giờ nhớ lại thì khi đi sứ Tân Gia tôi có đôi lần thấy cậu trong mấy buổi thiết triều... cậu mặc áo mão khác với bá quan và lúc cứu giá vương gia cậu cũng có mặt.

Khoan đã, cậu đây là—!

- Chính hắn.

- Vị đại hiệp cười.

- Từ lúc tiễn vương gia về Côn Luân thành lâu lắm rồi mới gặp lại phò mã gia!

Không ngờ phò mã gia thư sinh ngày đó giờ cũng là kẻ hảo hán.

- Khuê Tước tiên sinh mừng rỡ reo.

- Cũng vì trận chiến sắp tới thôi đại nhân.

Kinh Xuân biến loạn, là rể Tân Gia vương thiết nghĩ nên cống hiến chi đó cho thành đại sự; tiểu thần vốn không giỏi võ công nhưng cũng học chút đường đoản kiếm vệ thân, không ngáng đường mọi người.

Tiếng trò chuyện của hai người vô tình đánh thức Sa Liên, nhưng vị sử quan không mở mắt vội mà ngồi yên nghe thêm chút nữa.

Ở Nội thành lâu nay hai học sĩ họ Khuê Văn nổi tiếng là ít khi bước chân ra ngoài Thái phó phủ và Nội điện thư phòng, nhưng ít ai biết rằng trước khi chôn chân lại đất Cấm Thành, Khuê Văn Khổng Tước quả thực là một kẻ giang hồ; là đại đệ tử người, Sa Liên biết rõ quá khứ tiên sinh hơn ai hết, vậy mà những chuyện thuở xưa khi người còn là sĩ tử Côn Luân giám thậm chí với Sa Liên vẫn còn phủ màn bí mật.

Vị sử quan tới đây thì vươn người đứng dậy, cúi đầu chào vị đại hiệp mà giờ đây được biết là một người thân quen của đại tiên sinh.

- Đây chắc hẳn là kẻ học trò bằng hữu mà Miên Anh hay kể rồi, hân hạnh được gặp.

- Vị đại hiệp cũng cười và chắp tay chào lại - Tại hạ danh là Lân Mộc Tinh, trưởng tế của Thái Anh vương gia.

- Vậy ngài đây hẳn là tỷ trượng của Lục Miên Anh!

Không ngỡ là người quen, thứ lỗi học trò thất lễ.

- Có chi đâu mà.

Chỉ là một chút tiêu khiển cho khách vãng thôi, vả lại cũng nhờ hỗn độn này mà hai vị tránh được chút nghi ngờ.

Tại hạ chỉ dám đánh một đường sống kiếm mà suýt nữa là bị dập cho một trận (cảm nhận được sát khí quả là một trò hữu dụng).

Cũng xin lỗi hai người đã tấn công bất ngờ nữa...

Khuê Tước tiên sinh lúc này, khi Lân phò mã nhắc tới sát khí trong mắt Sa Liên vừa nãy, bắt gặp trong Sa Liên có thoáng chút cảm giác gì đó rất lạ, giống như là... một nỗi sợ không tên vậy.

Dù Sa Liên có cố che giấu điều đó nhưng thấy hai tay kẻ sĩ nắm chặt cây gậy đi đường, tiên sinh cũng hiểu.

Người lùi nhẹ về phía Sa Liên và đưa tay khẽ vuốt lưng áo học trò mình cho bình tâm lại.

- Nói mới nhớ, phu nhân của phò mã gia, ý ta là Viên Cảnh công chúa, đâu rồi?

Ta không thấy trong phòng hầu điện hạ cũng chẳng thấy quanh quẩn ở tửu lầu này...

- Khuê Tước tiên sinh tới đây nhìn quanh quất tìm người và hỏi.

Lân phò mã chỉ gật đầu, vẫy tay ra hiệu cho hai người theo sau.

Họ xuống lầu bằng một cầu thang giấu sau một hành lang kín, dẫn tới một con ngõ vắng đằng sau tửu lầu.

Trên đường luồn lách qua ngõ hẹp, vị phò mã chi tiết cho hai người biết những gì cần biết:

- Vừa hoàng hôn hôm qua chủ tướng quân phiến loạn ở Kinh Xuân— Đế Mục là danh của y— xưng vương, tuyên bố ly khai vùng này khỏi Hoa Nữ quốc để lập quốc gia riêng.

Quanh đây kẻ giang hồ có võ công không thiếu, nhưng cái y thiếu, thứ cần để thực hiện mưu đồ bá quyền đó là những cao thủ để dẫn dắt quân đội ô hợp ở Kinh Xuân này.

Ở quảng trường trung tâm bình minh hôm nay người ta đã dựng đài tỉ võ để chiêu mộ kẻ nào có thực tài mà ban chức tướng quân thống lãnh vạn binh giang hồ Đế Mục vừa chiêu dụ được.

Viên Cảnh thấy có cơ hội thâm nhập vào nội bộ phiến loạn thì xin phép nhạc mẫu vương cho mang song kiếm thượng đài (cứ tưởng ngài sẽ làm khó, nhưng vừa nhắc tới chuyện này thì ngài cho phép ngay).

Trước khi chúng ta tới chắc nàng đã thắng cuộc rồi.

- Phò mã gia có vẻ tự tin về khả năng của công chúa...

- Khuê Tước tiên sinh cười.

- Nhạc mẫu vương còn tự hào về nàng, nói chi tiểu sinh!

Thưa, ngày ngài đi sứ Tân Gia hẳn có hay trong triều có cao thủ song kiếm cả kinh đô vô song?

- Phải, ta có hay.

Vương gia xưa nay thường có cao thủ vây quanh, nhưng bá quan võ không có vẻ gì là thạo song kiếm nên ta đoán là ai đó trong hoàng tộc.

Có phải thật là công chúa không?

Đã lâu quá rồi, ta cũng không nhớ rõ công chúa nhân dạng ra sao...

- Tới quảng trường ngài sẽ gặp thôi.
 
Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Hồi hai mươi mốt: Thạch trung ẩn ngọc


Khi ba người ra khỏi con ngõ chằng chịt, ngoài quảng trường lúc này đã nhộn nhịp lắm rồi.

Dân chúng vây quanh chật kín bốn bên võ đài để chiêm ngưỡng tài của kẻ đang ngự ngai bất bại, phải khó khăn lắm ba người mới lọt vào trong để có một góc nhìn tốt được.

Thượng trên võ đài, cặp ngân kiếm trong tay là một vị nữ hiệp; không chỉ tài năng nàng hơn người mà nhan sắc cũng khó ai bì được, như thể nàng vừa từ một bức danh họa hoá ra vậy.

- Còn ai muốn thách đấu tranh chức tướng quân Kinh Xuân thành?

Còn ai không?

- Người trọng tài giơ tay hỏi lớn.

Trong đám đông khán giả cũng có nhiều giang hồ hảo hán, có lẽ họ tìm tới đây là để kiếm chút lộc này.

Nghe tiếng trọng tài, một người to cao mang đại đao bước lên võ đài, trên nét mặt đầy sự kiêu ngạo khi biết đối thủ chỉ là đàn bà.

Tuy nhiên thay vì khiếp sợ do khác biệt sức mạnh, vị nữ hiệp chỉ điềm nhiên hỏi:

- Chỉ có một mình ông thôi à?

- Loại đàn bà chân yếu tay mềm cũng đòi ra tỉ võ tranh phẩm hàm!

Một mình Lương mỗ cũng đủ dạy cho nha đầu này một bài học!

Tới đây thì nàng cười.

- Sao tất cả các vị bằng hữu giang hồ dưới kia không lên cùng hạ nha đầu này cho nhanh?

Không lẽ các vị sợ một đàn bà tới nỗi phải để một vị hảo hán lên trước để làm vật hy sinh sao?

Bị kích động vì lời xúc phạm đó, mấy người giang hồ khán giả rút vũ khí ra và rầm rầm lao lên võ đài lấy lại danh dự.

Đứng trên đó chỉ có vị nữ hiệp nhỏ nhắn và đôi ngân kiếm thôi, vậy mà trong một chớp mắt, bao tay võ hiệp lẫy lừng phải ôm nhục rời khỏi võ đài.

Đường kiếm nàng nhẹ nhàng như lá rơi, động tác lại thanh thoát như điệu múa, người xem cứ ngỡ nàng đang biểu diễn tuyệt kỹ trước vị quân vương nào chứ không phải đang đối mặt với một đám toàn cao thủ võ lâm.

Lân phò mã đứng dưới nhìn lên, không reo hò cổ vũ theo bao khán giả mà chỉ nở một nụ cười tự hào.

- Nếu vương gia có thấy công chúa ở đây, chắc người muốn lo lắng cũng khó, nhỉ?

- Khuê Tước tiên sinh ghé sang Lân phò mã nói nhỏ.

- Vâng, cũng khó đó.

- Vị phò mã thêm lời phụ họa.

Sa Liên từ lúc tới nơi vẫn im lặng quan sát trận đấu với một sự kiên nhẫn thật khác thường.

Nhìn những cao thủ kia phô diễn tài nghệ thật tuyệt sắc trên đài, vị sử quan cũng cảm thấy được cảm giác thân quen năm nào tràn về trên lòng mắt, trên những vết chai tay bút và dâng đầy tâm trí từ lâu đã không còn nhớ đến những tháng ngày sóng gió khi xưa.

Những ngày tháng sóng gió mà Sa Liên đã bỏ lại nơi cổ thành Liêm Sơn đó, những ngày tháng sóng gió mấy ai hay biết dẫu là học giả trong Sử quán, dẫu là bằng hữu lâu năm như Lục Miên Anh hay đồng môn như Hồng Tước, An Viên và Thi Kỳ.

Những sóng gió ngày xưa đã tước đi quá khứ của người, nhưng cũng những sóng gió đó đã dẫn lối người đến với vị thư sinh trong Hưng Thánh điện.

Vị nữ hiệp kia tuy dáng người mảnh mai nhưng thân thủ lại không yếu ớt tí nào.

Mặc cho bao cao thủ thượng đài khiêu chiến, nàng vẫn đứng đó giữ vững ngai vàng bất bại.

Khi thấy không còn ai dám bước lên tranh ngai với vị nữ hiệp, Sa Liên khẽ ghé tai Khuê Tước tiên sinh hỏi thầm một câu: "Người có cho phép con?"

Khuê Tước tiên sinh bị bất ngờ một khắc, nhưng rồi người cũng chỉ cười và nhắc: "Cẩn thận con nhé!"

- Nếu không còn ai muốn thách đấu tranh chức tướng quân Kinh Xuân thành, thì nhân danh Đế Mục đại nhân, ta tuyên bố...

- Khoan!

Còn tôi!

Nắm chặt gậy đi đường trong tay, Sa Liên giơ tay thẳng bước lên võ đài.

Bao khán giả nhìn nhau bối rối khi thấy một kẻ học trò tự tin đối đầu với đương kim vô địch tranh chức tướng quân thành này.

Dù biết cán cân nghiêng hẳn bên phía đối phương nhưng trong ánh mắt và nét mặt vị sử quan thét lên sự tự tin khó tưởng.

Vị trọng tài thấy vậy thì lớn tiếng xua tay định đuổi kẻ học trò ngang ngược kia xuống, nhưng người nữ hiệp nọ đứng ra ngăn, xin cho đối thủ mình một cơ hội.

Sa Liên khẽ cúi đầu cảm ơn.

Vị nữ hiệp chỉ cười, có lẽ nàng đang nghĩ về một bài học nàng sẽ dạy thêm trên võ đài hôm nay.

- Mấy kẻ thư sinh suốt năm tháng chỉ ngồi bàn giấy quả đã quên trời cao đất dày.

Có cần bổn cung chỉ lại cho ngươi biết chỗ đứng của mình chăng?

Sa Liên không đáp lại nhưng vẫn đưa mắt soi xét cẩn thận vị nữ hiệp trong khi mình bước sang góc đài xin đổi mượn một cây thiết côn vì gậy gỗ đi đường khó mà địch lại đôi ngân kiếm sắc của người kia.

Sau một thoáng khó khăn làm quen sức nặng mới từ thanh côn thép, kẻ học trò đó trở lại đối mặt với đương kim vô địch, dậm thiết côn xuống sàn một cái mạnh lấy tinh thần rồi đứng thẳng người trong thế chào.

- Xin cao nhân chỉ giáo cho.

- Vị sử quan cúi chào theo đúng lễ nghĩa rồi đứng yên thế thủ, nhường đối thủ cơ hội tấn công trước.

Vị nữ hiệp không vội tấn công ngay, im lặng đứng đó quan sát thêm một lúc nữa.

Trước mắt nàng không còn là kẻ thư sinh liều lĩnh khó lượng sức mình mà nàng tưởng tượng lúc đầu; không, dẫu y phục và dáng người vẫn thế, thần thái này là thuộc về ai đó đã trải nhiều sóng gió chốn giang hồ.

Trong đôi mắt kẻ học trò nàng có thể thấy sát khí, sát khí thật mãnh liệt nhưng sao nàng lại cảm nhận được rằng mục đích kẻ này khác hẳn những hảo hán nàng vừa đánh bại.

Người thách đấu không hề có ý muốn hạ nàng, dẫu sát khí nàng cảm thấy trong người này mạnh mẽ hơn nhiều những kẻ kia, có vẻ như muốn áp đảo cả ý chiến của nàng.

Sau vương gia, có lẽ đây là kẻ đầu tiên làm cho nàng thận trọng đến vậy.

Không khí căng thẳng càng lúc càng dâng cao cả trên tỉ thí đài và dưới đám đông khán giả.

Sau một hồi lâu suy xét đối thủ, vị nữ hiệp lao đến vung nhát kiếm đầu tiên.

Nhát kiếm thẳng đứng bổ xuống thật dứt khoát.

Và kẻ thư sinh nàng lúc đầu nhíu mắt coi thường đưa chân đá côn lên tay đỡ đòn kịp lúc khi mắt vẫn chăm chăm quan sát trên nét mặt nàng.

Dù thanh thiết côn trên tay khá nặng, động tác kẻ đó nhanh nhẹn và thành thục đến lạ thường; và hiển nhiên, điều này không lọt khỏi con mắt bén nhạy của nàng.

- Kẻ sĩ tử kia... bổn cung không tin ngươi là học trò.

- Vị nữ hiệp nhếch mép cười, hướng bản kiếm đang chắn trên thiết côn thẳng cổ Sa Liên.

- Khi đệ tử Tú Minh người võ tướng còn làu thông thi pháp, thì kẻ văn quan biết múa vài đường côn đâu có chuyện chi lạ hỡi cao nhân?

Sa Liên cười nhẹ đáp lại rồi vung tay hất bản kiếm vị nữ hiệp ra xa, và ngay lập tức chống mạnh thanh côn xuống sàn làm điểm tựa, lấy đà tung một cước dứt khoát hướng vào tay phải cầm kiếm của nàng.

Sau khi lấy lại thế cân bằng, vị đương kim vô địch chỉ có một tích tắc để chắn đòn, vừa kịp lúc.

Hai bàn tay nàng nâng bản kiếm đỡ lấy cước, tư thế giống hệt thế phòng thủ của Sa Liên vừa rồi.

Sự thành thục và tốc độ của kẻ học trò này khác hẳn với những tên giang hồ đối thủ nàng vừa nãy, hơn nữa còn khác xa.

Động tác nối với nhau thật liền mạch, như thể cuộc đấu ngày hôm nay đã được Sa Liên bày trước từng đường đi nước bước đã lâu lắm rồi.

Ở dưới rừng khán giả, giữa những tiếng cổ vũ và hò reo thán phục có một người chỉ im lặng mỉm cười.

Khuê Văn Khổng Tước.

Lân phò mã từ lúc khai cuộc đấu chỉ biết trân trân dõi theo kẻ học trò có gan thách đấu với người mang danh ngân kiếm vô song chốn kinh đô Tân Gia xưa kia, kẻ học trò bằng hữu chí giao của Lục Miên Anh.

Côn pháp của một văn quan tầm thường có thể sánh nổi với kiếm pháp của Tân Gia công chúa, người đã đánh bại bao hảo hán võ lâm trên tỉ thí đài hôm nay; có thật đó chỉ là một học trò bình thường thôi không, Lân phò mã tự hỏi mình.

Giữa khắc cao trào trận đấu, khi hai bên tạm dừng tay và đều có vẻ đã thấm mệt, vị nữ hiệp để ý cử chỉ đối thủ mình bỗng khác lạ.

Sa Liên nhìn xuống hàng khán giả, nhìn lên ghế trọng tài, nhìn quanh tỉ thí đài rồi nhìn thẳng trong mắt nàng như muốn nói với nàng điều chi đó, tuy nhiên nàng chỉ nhận được sự im lặng và một nụ cười nhẹ đầy ẩn ý.

Vị sử quan dồn sức đánh văng thanh ngân kiếm trên tay trái nàng, và— trong một khoảnh khắc— cố tình buông tay đánh rơi thiết côn.

Nhanh chóng và dứt khoát, vị nữ hiệp giơ tay trái vừa rơi kiếm nắm lấy tay áo Sa Liên kéo về phía mình, cùng lúc đó đưa lưỡi ngân kiếm bên tay phải kề cổ vị sử quan, kết thúc trận đấu và giữ vững thế vô địch của nàng trong cuộc tỉ võ hôm nay.

- Kết quả đã rõ ràng và nếu không còn ai bước lên thách đấu, nhân danh Đế Mục đại nhân ta tuyên bố Mạc Viên từ mai sẽ là nguyên soái đại quân Kinh Xuân phò trợ ngài!

Mùa trăng xanh tới chúng ta hành quân tới Cấm Thành!

Dù biển người reo hò cổ vũ cho nàng, nhưng vị nữ hiệp sao cảm thấy không vui.

Nàng chỉ gật đầu nhận chiến thắng vừa được tuyên bố, buông tay áo đối thủ mình và bước ra góc đài lấy cây gậy gỗ đi đường trả lại cho vị sử quan rồi xua tay đẩy xuống khỏi tỉ thí đài.

Dõi theo Sa Liên chìm dần vào đám đông khán giả hò reo, vị nữ hiệp nhác thấy bóng phu quân mình và một cố nhân rất quen; nàng vội đi nhặt lấy thanh ngân kiếm vừa bị đánh văng tra vào bao và rẽ biển người đi tìm phu quân.

Sau một lúc lâu nhìn quanh thì kia rồi, khuất trong con ngõ nhỏ phía sau tửu lầu, có ba người đang đứng chờ nàng.
 
Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Hồi hai mươi hai: Giữa thời chiến loạn


Ba người vừa thấy vị nữ hiệp dáo dác ngang qua thì nhanh chóng kéo vào con ngõ về lại tửu lầu.

Sau một thoáng để nàng hội ngộ với vị Thái tử thái phó nổi tiếng giang hồ năm xưa từng đi sứ sang, Lân phò mã dẫn mọi người về yết kiến Thái vương gia và báo cho ngài biết về thành công đầu tiên của kế hoạch.

- Một người bên ta đã có thể ung dung đi trong lòng bên địch, vương gia hay tin này hẳn vui lắm.

Phu quân nàng cười, có vẻ còn tự hào hơn mẫu vương khi tận mắt thấy nàng chiến thắng trên tỉ thí đài.

Sa Liên sau trận đấu trông khác hẳn lúc đứng trên võ đài, không còn chiến khí ngút trời và vẻ liều lĩnh trong mắt khi nãy nữa; thật khó tin khi kẻ vừa múa thiết côn giao đấu với nàng khắc trước khắc sau muốn đứng vững cũng khó.

Về được khách phòng Sa Liên buông gậy đi đường một góc và lên thả người xuống giường ngay, còn Khuê Tước tiên sinh thì thong thả dọn hành lý ra, miệng vẫn nở một nụ cười.

- Con thua rồi... sao... trông người vẫn vui vậy?

- Sa Liên thấy lạ thì hỏi.

- Sa Liên ta biết trong đời chỉ chiến bại một lần, và lần đó một ngày nó sẽ trả đủ cả vốn cả lãi.

- Khuê tiên sinh đáp.

- Lúc đó... trong đầu con nói có kéo dài trận đấu như này thì không hay gì và giục mình nhận phần thua.

Nghĩ kỹ thì để Vĩnh phu nhân giữ chức tướng quân Kinh Xuân... vẫn lợi hơn con nhiều, vả lại... con từ đầu tài cán cũng không có mấy cơ hội so với Vĩnh phu nhân, thêm nữa là... con muốn để dành đủ sức mà lết về...

- Kết quả trên tỉ thí đài không quan trọng với ta, miễn là con được vui.

Thôi, con cứ ngủ, ta lên rót chung rượu chén trà tái ngộ với vương gia và mọi người một lát.

Nói rồi Khuê tiên sinh rời phòng, để yên cho Sa Liên nghỉ ngơi còn mình thì bước lên lầu trên tiếp chuyện người bằng hữu viễn du đã lâu.

Lân phò mã tay cầm khay rượu trà đang đợi trước cửa phòng vương gia, và Vĩnh công chúa thay xong y phục cũng vừa mới tới nơi.

Khuê Tước tiên sinh đẩy nhẹ cửa để hai người bước vào trước còn mình thì theo sau.

Thái vương gia vẫn yên lặng đứng ngoài ban công dõi về phía tỉ thí đài ở quảng trường trung tâm như ngóng đợi điều gì hoặc chỉ là suy nghĩ chi đó mông lung.

- Vương gia, không vào trong chung chén rượu ăn mừng?

Khuê Tước tiên sinh lên tiếng gọi.

Thái vương gia giật mình quay lại thì thấy bàn trà đã bày sẵn, và những người thân quen ngài đã đứng đợi bên ghế của mình cả rồi.

- Nhìn các người vui như vậy, có phải ái nhi ta đã đột nhập được vào hàng ngũ quân phiến loạn rồi?

Thái vương gia đưa tay bảo mọi người ngồi trước rồi mình cũng theo sau.

Sau khi Lân phò mã đã rót xong trà và chia xong bánh ngọt ra đĩa, Vĩnh công chúa đưa hai tay dâng ngài chén trà còn nóng, trong mắt tuy ánh lên niềm vui chiến thắng nhưng cũng thoáng một sự bối rối không dám đặt thành lời.

Và lạ thay, trên môi người bằng hữu ngài hôm nay mang một nụ cười đã lâu lắm rồi ngài mới được thấy lại.

Một nụ cười nhẹ nhưng chứa đầy niềm tự hào.

- Kể ta nghe nào, ái nhi, đối thủ của con có những ai, tài nghệ ra sao?

- Thái vương gia hỏi khi đưa tay đón lấy chén trà.

- Thưa mẫu vương, lúc khai trận tới gần cuối chỉ là hảo hán giang hồ, võ nghệ đáng nể nhưng không có mấy sự tao nhã và chiến thuật khi đấu.

Còn đối thủ cuối cùng của con... khác hẳn những kẻ kia.

Từ ngày bỏ cố hương lưu vong, đây là kẻ đầu tiên có thể gọi là...

đọc thấu đường kiếm của con.

- Đệ nhất ngân kiếm Tân Gia ta mà một tên giang hồ có thể đọc thấu được sao?

- Không phải một tên giang hồ, thưa mẫu vương, đối thủ của con là học trò!

Học trò của Thái phó đại nhân!

Rồi Vĩnh công chúa nhìn sang Khuê Tước tiên sinh, người đang nhấp chén trà nóng và trên nét mặt trông điềm nhiên lạ thường.

- Công chúa quá lời, chút tài nghệ của đệ tử học trò làm gì sánh được với kiếm pháp vô song của công chúa.

- Thái phó đại nhân bao năm bàn sách có thể không nhìn theo kịp, nhưng tiểu nữ thấy rõ ràng: hắn thua không phải do tuột tay đánh rơi côn, hắn cố tình buông côn đầu hàng.

Tài nghệ hắn có thể không bằng tiểu nữ, thưa Thái phó đại nhân, nhưng tiểu nữ chắc chắn hắn không hề yếu kém như đám hảo hán giang hồ ban đầu!

Lân phò mã gật gật đầu, nhớ lại lúc mình giả thích khách ban sáng.

Nhìn trong ánh mắt đó, kẻ nghiệp dư như phò mã cũng biết được Sa Liên không đơn thuần chỉ là một học trò bình thường như Khuê Tước tiên sinh vẫn khăng khăng cho rằng.

- Khi đệ tử Tú Minh này kẻ võ tướng còn làu thông thi pháp, thì người văn quan biết chút đường côn đâu có gì là lạ?

Tiểu Liên của học trò đã chọn kiếp sĩ tử, thì dù có gì đi nữa vẫn là kẻ sĩ tử thôi.

Thái vương gia nhìn sang người bằng hữu, kẻ nhìn ngoài tuy chỉ là học trò phiêu bạt nhưng tâm cốt thuộc về một hào kiệt hảo hán.

Sông núi Hoa Nữ, thảo nguyên bờ biển Tân Gia, dám hỏi nơi nào còn chưa in dấu chân Khuê Văn Khổng Tước?

Thí trường đã từng trải, quan trường đã từng biết, chiến trường cũng đã qua; và dù Cấm Thành không ai rõ thân thế Sa Liên, Kinh Xuân không mấy người biết tên, nhưng Thái vương gia chắc chắn một điều: thân thế thật sự của Sa Liên, những ngày tháng trước khi lên kinh khoác áo sĩ tử, trong thiên hạ này chỉ có một mình Khuê Văn Khổng Tước biết.

Trong ánh mắt người bằng hữu ngài ẩn chứa "sự thật", nhưng là sự thật ra sao, vương gia không thể nào đọc thấu.

Tuy nhiên, vì lý đó chi đó vương gia lại có cảm nhận là "sự thật" này có thể giúp đưa ngài và gia quyến trở về cố hương, phục hưng triều đại.

Chập tối đó, sau chén trà chung rượu tái ngộ với vương gia và mọi người, Khuê Tước tiên sinh đi một mình xem xét toàn thành Kinh Xuân, rảo hết từng con phố nẻo đường để chuẩn bị cho ngày khai chiến.

Bản đồ Kinh Xuân thành cố vấn đại quân ngoài kia hẳn trong tay đã có, nhưng tiên sinh thiết nghĩ có người biết rõ đường xá vẫn tốt hơn khi nơi đây đầy dẫy quân phiến loạn hiểu đường đi nước bước trong thành như hiểu lòng bàn tay chính mình.

Ở ngoài phố đã vãng người gần như vắng tanh, nhưng những hàng ăn giờ này mới bắt đầu thắp đèn buôn bán.

Rảo ngang qua ánh đèn một tiệm mì đêm có vẻ đông khách, Khuê Tước tiên sinh ghé mắt nhìn vào một thoáng như thói quen thường của kẻ lữ khách, thức ăn chỗ nghỉ giữa đường luôn cám dỗ hơn đích đến mà.

- Này!

Đi đâu đó!

Đột nhiên có tiếng Tân Gia vương trong tiệm vọng ra giục Khuê Tước tiên sinh quay đầu lại, đi sau đó là tiếng chân ai bước vội ra ngoài và tiếng la hét của chủ tiệm.

Trước cửa tiệm, Lân phò mã hớt hải chạy ra gọi người, trên tay vẫn bê một tô mì đang ăn dở.

- Phò mã gia mà cũng ra đây ăn tối sao?

Còn nữa, vừa nãy... có phải vương gia...?

- Khuê Tước tiên sinh chỉ tay về phía tiệm mì, hỏi.

- Thứ lỗi tiểu sinh thất lễ, vương gia và nương tử nghe nói tiệm mì đêm này là nơi hảo hán giang hồ qua Kinh Xuân thường dừng chân nên họ tới kiếm chút thông tin, tiện thử xem mì ở đây có gì ngon mà ai cũng ghé.

Nếu đại nhân không chê mời ngài vào ngồi chung bàn với mọi người.

- Lân phò mã vừa giải thích vừa đôi lúc húp chút nước mì.

- Nếu phò mã gia trước mặt ta vừa ăn vừa nói, chắc mì ở đây muốn chê cũng khó.

Khuê Tước tiên sinh chỉ cười và theo Lân phò mã vào.

Ở sâu trong tiệm có một góc khá đông người ăn uống chuyện trò, ai nấy ăn vận như lữ hiệp khách; cạnh nhóm người đó có một bàn nhỏ bốn ghế hai người đang im lặng ăn mì.

Dù hai người y phục không khác thương buôn, Khuê Tước tiên sinh có thể nhận ra rõ ràng là Thái vương gia và Vĩnh công chúa.

Vương gia thấy tiên sinh bước vào thì vỗ tay xuống ghế cạnh mình bảo ngồi xuống nhanh, còn Vĩnh công chúa nhìn tướng công chạy ra ngoài khi vẫn bê tô mì trên tay thì không nhịn được cười nữa.

Bữa tối đó trôi qua khá bình yên, đám người lữ hiệp khách nọ có vẻ không liên quan mấy tới cuộc nổi loạn sắp diễn ra ở Kinh Xuân này, nhưng nghi lầm còn hơn bỏ lỡ mà.

Xong bữa, Tân Gia vương đứng phắt dậy, rút một túi tiền xu ra, đưa mắt nhìn bảng giá rồi cất lại túi xu vào trong áo, có lẽ ngài không mang theo đủ xu đồng để trả cho bốn tô mì.

Thấy có vẻ như vương gia đang băn khoăn chuyện tiền bạc, Khuê Tước tiên sinh thò vào ống tay áo mình tìm túi bạc định trả giúp, nhưng Tân Gia vương ngăn lại.

- Để ta.

Vương một xứ sao không có tiền trả mấy tô mì bình dân này.

- Ngài nói một cách dứt khoát.

Nói rồi, Tân Gia vương rút từ trong thắt lưng ra một xấp ngân phiếu đặt lên bàn và điềm nhiên buông một câu:

- Tiểu nhị, tính tiền.

Anh tiểu nhị chạy tới và thất thần một lúc khi thấy số tiền quá lớn, mất một hồi lâu anh hớt hải đi gom tất cả tiền mặt trong tiệm mới đủ thối lại.

Trên đường trở về tửu lầu, Khuê Tước tiên sinh hỏi tại sao vương gia rút nhiều tiền ra trả cho một bữa ăn đạm bạc như vậy, thì ngài thản nhiên đáp lại:

- Bổn vương không có tiền lẻ.

Khi mở cửa phòng mình ở tửu lầu, Khuê Tước tiên sinh bắt gặp Sa Liên ngồi trên khung cửa sổ nhìn về phía rặng núi phía tây xa xôi, tay mân mê thanh gậy gỗ đi đường.

Ánh mắt vị sử quan như chìm vào bóng tối của màn đêm và tâm trí trôi về một thời nào đó dĩ vãng lắm.

- Thuở đầu khi con mới về Cấm Thành với ta, con cũng hay nhìn ra cửa sổ hướng về phía tây mỗi đêm như này.

Nói ta nghe, bông hồng đen Á Lan ải của ta, có phải con vẫn mong có ngày trở về nơi đó?

Nghe tiếng Khuê Tước tiên sinh vọng tới từ ngoài cửa, Sa Liên giật mình quay đầu lại nhìn.

- Đại tiên sinh?

Người...

đang nói gì vậy?

- Hôm nay thấy con trên tỉ thí đài, ta đã chắc chắn mình không sai.

Năm xưa con lên Cấm Thành học chữ với ta, ta cứ tưởng con đã quyết bỏ lại mọi thứ mà tái sinh làm một kẻ sĩ tử bình thường...

Nhưng mà, mặc kệ con nói gì lúc này, hôm nay trên tỉ thí đài, ta chỉ thấy con người trong con tỏ bày khát vọng được hồi hương.

Nghe tới đây, Sa Liên nhảy phắt xuống khỏi khung cửa sổ, thất thần buông thanh gậy gỗ rơi dưới sàn một tiếng đinh tai; trong ánh mắt vị sử quan không còn những hồi tưởng xa xôi mà bây giờ tràn về những nỗi sợ khó nói thành lời.

- Không, không phải vậy.

Con muôn đời chỉ là đệ tử người, một kẻ sĩ học trò không hơn không kém!

Con sinh ra là học trò, và tới cuối đời này con sẽ vẫn là học trò thôi.

Con... xin người đừng nhắc... con không muốn...

Đừng đưa con về nơi đó...!

Khuê Tước tiên sinh thản nhiên bước tới gần Sa Liên, cúi xuống nhặt thanh côn gỗ dưới sàn đặt lại trên tay Sa Liên, miệng nở một nụ cười an lành.

- Có lẽ ta nên giữ lời hứa phải không?

Nói rồi tiên sinh hướng mắt vào màn đêm u tịch, nhìn về hải quốc phía nam xa xôi; ở phương đó có một vương quốc bé nhỏ mang tên Tân Gia.

Người ngồi lên bệ cửa sổ, khẽ hát một khúc nhạc thời chiến và đưa tay gối đầu tựa vào khuông cửa gió lùa.

- Lục đại phu bằng hữu con từng mang danh công chúa như Vĩnh phu nhân, khi chủ nhân— năm xưa gọi là mẫu vương— cả hai còn ngồi trên ngai cao hải quốc phía nam, muôn người xưng tụng là Tân Gia quốc vương.

Thái vương gia với ta ngày xưa ở Côn Luân giám bằng hữu chi giao, hồi còn là Thái tử thái phó ta cũng có đi sứ sang một lần.

Rồi thì... trong chuyến đi sứ đầu tiên và cũng là cuối cùng đó, quân đảo chánh kéo đến húc đổ đại môn kinh đô, giáo gươm tuốt bén vừa diễu qua đại lộ vừa hô đòi lấy mạng Thái Anh vương và gia quyến ngài.

Đám quân hỗn tạp đó chém giết không biết bao người trong cung điện, phóng hỏa không biết bao nhà trong kinh thành, cướp không biết bao nhiêu của cải của thường dân; ta không ước lượng được, Tân Gia kinh đô ngày đó như chìm hẳn vào biển lửa đỏ mịt mù.

May mắn thay, Thái Anh vương và cả vương tộc ngài đều sống sót cuộc đảo chánh và lưu vong tới Côn Luân thành, nơi mà thuở trẻ ngài từng theo học, nung nấu trong tâm ước vọng trở về cố hương phục quốc dẫu biết rằng ván cờ nghiêng hẳn về bên kẻ thù.

Thái vương gia sẽ không từ bất cứ thứ gì, kể cả thanh xuân và mạng sống ngài, nếu ngài có thể đánh đổi lại bình yên sung túc ngày nào cho xứ Tân Gia, bởi vì đó là quê nhà của ngài...

- Thái vương gia mong trở về bởi vì ngài vẫn còn gia quyến, Tân Gia vẫn còn là đất tổ giang sơn ngài, còn bao thần dân quý mến ngài.

Và con?

Con không có gì hết!

Không thân bằng quyến thuộc, không xóm giềng.

Con chỉ là một kẻ giang hồ, lấy ai mong đợi con ở nơi đó?

- Vậy còn dân chúng ở thị trấn dưới chân núi?

Những người dân đang bị gông cùm trong tay hắn?

Họ không mong con trở về sao?

Bá tánh Tân Gia mong Thái Anh vương trở về, tại sao bá tánh Á Lan ải không mong con?

Sự im lặng của màn đêm tỏa lan khắp căn phòng.

Sa Liên chỉ đến ngồi bên tường dưới khuông cửa sổ, hai chân khép chặt vào người, đầu gục xuống đầu gối không đáp.

Và khi Khuê Tước tiên sinh ghé mắt một thoáng nhìn vào dáng người nhỏ bé lạ thường của học trò mình bên dưới khung cửa, người khẽ mỉm cười và lại tiếp:

- Sông núi dễ đổi, bản tính khó dời; kể từ ngày đó không biết bao lâu đã trôi qua nhưng ta vẫn chưa một lần coi con là Sa Liên sĩ tử.

Bởi vì trong tâm con cũng như trong tâm ta, con chưa bao giờ là Sa Liên.

Con cũng thấy vậy, phải không?

Từ bấy đến nay con vùi đầu trong phủ thái phó, rồi trong sử quán, vết chai vì bút mực trên tay con đã thay thế vết chai vì thiết côn, nhưng thẳm sâu trong hồn con, những ngày tháng sóng gió vẫn còn đó.

Đại tiên sinh con vẫn kiếp học trò phiêu bạt, bằng hữu ta vẫn mệnh quân vương lưu vong, và nếu đệ tử Khuê Văn Chu Tước vẫn mang thanh bảo kiếm, thì ta nghĩ thế gian không còn gì cản trở bước chân con hồi hương.

Hãy nhớ, con sẽ không trở lại Á Lan ải một mình, cũng như ta lần này không trở lại Kinh Xuân chiến trường một mình.

Khi con đã quyết tâm lấy lại những gì đã mất tại cổ thành đó, ta sẽ đi cùng con, và sau lưng con có thể sẽ có thêm trường kiếm Hồng Tước và cánh cung An Viên tương trợ nếu định mệnh cho phép.

Giữa thời chiến loạn này không còn có gì tốt hơn để đánh thức những kẻ giang hồ tên tuổi đã thành những huyền thoại ra khỏi màn sương lịch sử.

Mùa trăng xanh tới đây, Kinh Xuân này sẽ chấn động hơn cả loạn Liêm Sơn cổ thành khi xưa.
 
Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Hồi hai mươi ba: Hỷ sự trước thềm chiến cuộc


Còn không quá năm sáu tuần nữa là tới mùa trăng xanh, không chỉ Kinh Xuân và biên giới đông nam náo động mà ở cổ trang viên ngoại biên Mạc Hà trấn cũng vậy.

Nhận được mật thư từ Khổng Tước thái phó, Chu Tước đại nhân cũng như Nguyệt Sinh Liên khẩn trương cho ngày ra trận.

Mọi chuyện đã gần xong xuôi, có thể hai người sẽ khởi hành trước hẹn, tuy nhiên bây giờ tình hình lại hiện lên một vướng mắc: còn Thi Kỳ?

Với chiến sự ở Kinh Xuân làm bận tay, Chu Tước đại nhân không thể mang theo Thi Kỳ; ai sẽ bảo vệ họ Thi giữa cuộc giao tranh khi cả Khuê gia song tước đều bước chân ra chiến trường?

Một ngày nọ, trang viên bị bỏ hoang của tộc Khuê Văn đón vị khách viếng đầu tiên sau mấy trăm năm chưa nghe bước chân ai.

Vài ngày trước đó, Nguyệt Sinh Liên để ý có nhiều người vận hắc y lảng vảng ở đồng cỏ ngoài trang viên như muốn điều tra điều chi đó; và hôm nay, một đoàn quân ngoại quốc đến gõ cánh cổng đổ nát của gia trang tìm người.

Lúc này Nguyệt Sinh Liên đang đứng gác ngay ngoài cổng gia trang, và tiếp đón được một đoàn người ngựa có vẻ long trọng nhưng cũng khá đáng ngờ.

Trông y phục này thì có lẽ là người ngoại quốc, nếu không phải người xứ Tịnh Hà phía tây, Tân Gia phía nam thì cũng là một trong tam đại quốc phía đông.

Nguyệt Sinh Liên đứng yên thế thủ, tay đẩy khẽ chuôi bảo kiếm khỏi bao, mắt trân trân dõi theo nhất cử nhất động của những vị khách lạ này.

Đoàn kỵ sĩ đồng loạt dừng ngựa theo lệnh của người dẫn đầu, và người này cũng sau đó đích thân xuống ngựa đến trước mặt ra mắt vị hiệp sĩ gác cổng gia trang.

Vị khách lạ chắp tay chào, và Nguyệt Sinh Liên theo lệ đáp lễ rồi lại về thế thủ, tay đặt trên chuôi bảo kiếm.

- Dám hỏi danh tính các hạ là gì, từ đâu đến, tìm gặp ai, có việc gì?

Vị khách nọ tự giới thiệu mình là Bích Liên tướng quân Nhan Cơ của Ly quốc, một trong tam chiến quốc phía đông Hoa Nữ quốc.

Nội bộ vương quốc gặp chuyện Kinh Xuân đã phải ráo riết ra quân dẹp loạn, Nguyệt Sinh Liên thấy mình không có thời giờ để dây dưa với bất cứ ai trong tam chiến quốc, tuy nhiên sắc mặt đổi khác khi Nhan Cơ tướng quân trình ra một lá thư phong vàng in mẫu đơn và hỏi tìm Thi Kỳ.

Những người này là người ngoại quốc, không phải quân triều đình, làm sao có chuyện muốn gặp Thi Kỳ, kẻ đang bị truy nã vì tình nghi có liên quan tới vụ án mất tích của Mạc Hà tổng trấn?

Khuê Văn Chu Tước, Nội điện đại học sĩ, là người có quyền nhất ở gia trang bây giờ, có lẽ nên để người cho lời phán quyết.

Nguyệt Sinh Liên dẫn Nhan Cơ tướng quân tới khoảng sân trước cửa chính khách phòng bảo đợi, còn mình thì đích thân vào trong đưa phong thư tận tay Chu Tước đại nhân.

Ngài mở phong thư đọc qua, nét mặt bỗng trở nên đăm chiêu và sự điềm tĩnh thường ngày mất hẳn; sau khi suy nghĩ một hồi, chau mày nghiến răng bên án thư, miệng lẩm bẩm "Kiếp thư sinh thân nhi nữ học trò ngài sắp phải làm phi vương tử xứ xa, tôi biết làm chi bây giờ hỡi Tú Minh tiên sinh?", ngài cho gọi Thi Kỳ ra.

Không để Thi Kỳ mở lời trước, ngài giở lá thư ra giơ lên nói một câu dứt khoát và ngắn gọn:

- Ly quốc phương đông ngỏ lời cầu thân con cho Thái Tuệ tam hoàng tử bên ấy.

Nghe tin khó ngờ, Thi Kỳ đứng đó chết lặng một hồi.

Chỉ vừa vài tháng trước Thi Kỳ về Mạc Hà thì hay tin tổng trấn đại nhân mất tích, rồi lại bị tình nghi khi gia nô ngài cũng biến mất theo; bị ra toà, bị giam trong ngục rồi bị truy nã khắp nơi, may mắn mới gặp Nguyệt tiên sinh đệ tử Chu Tước cứu đưa đến đây; khi chưa kịp thấy thanh danh mình trong sạch thì lại tới chuyện cầu thân này.

Với một kẻ sĩ bé nhỏ như Thi Kỳ, thì những ngày vừa qua thật quá sức chịu đựng, nói chi đến chuyện đi làm vương phi một xứ xa xôi như Ly quốc.

- Cầu thân... con... cho Ly quốc tam hoàng tử...?

Nhưng mà, con... chỉ là học trò, làm sao...

Chu Tước đại nhân trong một thoáng trở lại với vẻ điềm tĩnh thường thấy và nét kiên định của một vị đại học sĩ, giải thích:

- Hoa Nữ quốc ta vốn trung lập trong chiến cuộc tam quốc, giữ thế cân bằng cho thế lực cả ba.

Vài ba hôm trước ta có hay tin Long quốc và Phượng quốc trao đổi mối liên hôn, liên minh với nhau đấu lại Ly quốc; có lẽ Ly quốc muốn mượn sức ảnh hưởng của con để trả lại cân bằng cho cuộc chiến...

- Nhưng mà, con chỉ là học trò, thế lực không có, ảnh hưởng chính trị lại càng thiếu, tại sao họ lại muốn con?

- Họ không muốn con, họ muốn cái danh thái phó đương triều của con.

- Chu Tước đại nhân chỉ tay về phía tấm kim bài Thi Kỳ đeo trên thắt lưng.

- Đây là kim bài của đại tiên sinh, không phải con!

Con chỉ là thư đồng của thái tử điện hạ, chưa bao giờ dám mơ tự gọi mình hai tiếng thái phó, tại sao họ lại...?

Khuê Văn Chu Tước im lặng một lúc, đưa mắt nhìn lên tấm bình phong cũ kỹ trên tường, lòng chùn xuống nhớ lại cái ngày định mệnh.

Cái ngày đã chuyển hướng lịch sử sang một con đường tồi tệ hơn.

- Đó là...

ý của tứ phượng hoàng bọn ta tâu lên Thái tử điện hạ.

Thái phó là một trong tam công, dưới thiên tử nhưng trên cả thiên hạ, nếu con được mang tước vị này, chúng ta có thể ngăn được đám ô quan đó cấu kết nhau âm mưu loại bỏ con— học trò cuối cùng của Khuê Văn Khổng Tước— dù chỉ là một lúc.

Nếu ngày đó ta tìm đủ chứng cứ minh oan cho người, không để cho bọn họ gây sức ép khiến Trưởng công chúa đặt bút viết chiếu huyền chức và Tú Minh tiên sinh để lại kim bài thái phó trở về với kiếp phiêu bạt, thì có lẽ... con sẽ không phải mang gánh nặng này...

Thôi con ra ngoài tiếp Ly quốc tướng quân Bích Liên, xem họ có gì muốn nói với con.

Thi Kỳ gật đầu, chắp tay thi lễ rồi biến mất sau bức màn, khẽ hé cửa bước ra.

Khuê Văn Chu Tước nhìn theo, ánh mắt ảm đạm cực cùng.

Trước khi nhận lệnh làm khâm sai lên phía bắc điều tra một thảm họa để rồi không may tử nạn giữa đường, Thi Quân án sát sứ đã gửi lại Thi Kỳ cho Khuê Văn Khổng Tước khi đó còn mang kim bài thái phó; khi Khuê Văn Khổng Tước phải bỏ thành đi giang hồ, người đã nhờ Tứ phượng hoàng trông chừng đứa bé; và bây giờ Tứ phượng hoàng cũng đang lao đao cả chuyện triều chính lẫn những cuộc phiến loạn nổi lên như nấm sau mưa này, làm sao có thể vẹn toàn được lời hứa?

Thi Kỳ ra cửa đón khách, cố giấu sự lo lắng và những suy nghĩ vẩn vơ sau nét điềm tĩnh thanh cao thường mang trong triều.

Đằng cổng có đoàn kỵ sĩ vận sắc phục khác lạ dường như đang chờ ai đó và Nguyệt Sinh Liên mang bảo kiếm ở ngưỡng cổng canh chừng, không còn vẻ gì là vị tiên sinh học trò ngày trước dẫu trên người vẫn bộ áo vải sĩ tử.

Và trước cửa chính khách phòng có vị võ tướng ngoại quốc, có lẽ là chỉ huy đoàn kỵ sĩ kia, chắp tay cúi người hành lễ với họ Thi.

- Các vị là...

Bích Liên tướng quân của Ly quốc?

- Thưa đúng, chắc hẳn tiểu thư là Thi Kỳ cô nương.

Vị tướng quân ngoại quốc ngước lên đáp.

Có một chút bối rối thoáng qua trên nét mặt vị thư sinh và hiện thực lại tràn về trong tâm trí.

Mình sinh ra đầu tiên và sau rốt không phải kiếp sĩ tử, mà là phận nữ nhi.

Phận nữ nhi sắp phải dứt áo học trò mà đi làm vương tử phi xứ người.

Ở hoàng cung Ly quốc đường xa vạn dặm với vị vương tử Thi Kỳ chưa hề quen mặt... có tốt hơn chốn phủ thái phó với hình bóng Khổng Tước đã phai nơi vọng nguyệt đài, với hơi ấm Sa Liên đã lạnh bên bàn bút án thư, với tiếng đàn Hồng Tước đã lặng câm cạnh khung cửa sổ và tiếng bước chân An Viên sốt sắng trở về từ biên cương xa rời trên phiến đá vườn hoa không?

Tam hoàng tử Ly quốc này, vị tam hoàng tử mà Thi Kỳ sắp phải thành thân, là con người ra sao?

Ly quốc có giống với Hoa Nữ quốc chăng?

Thi Kỳ không biết.

- Đúng...

đúng vậy, khi nãy thư của tướng quân mang tới Chu Tước đại nhân đã đọc, và ngài cũng đã nói với học trò.

- Vậy chuyện này...

Thi Kỳ có thể thấy rõ vị tướng quân ngoại quốc đang rất mong đợi câu trả lời, và có lẽ trong tình thế này, hai lựa chọn là điều không thể.

Lấy tuổi trẻ một người đổi lại sự trung lập cho cả vương quốc, đây quả là một cái giá hời; tuy nhiên, Thi Kỳ không quyết định được, dù là nội tâm đã chấp nhận số mệnh này.

Đường đến Ly quốc xa xôi vạn dặm, nhận lời cầu thân cũng đồng nghĩa với cược một ván đỏ đen; hoàng tộc Ly quốc có thể sẽ đối đãi Thi Kỳ chu đáo và tử tế xứng với một vị vương phi, an toàn lánh xa khỏi tiền tuyến, nhưng còn... mọi người?

Tề tể tướng và Đoàn thượng thư trăm công ngàn việc, chuyện loạn quân đã đau đầu lại phải lo chuyện triều chính với bao nhiêu quan tham nhòm ngó ngai vàng; Thái tử điện hạ nhờ Hồng Tước bảo vệ, nhưng với dao bén gai nhọn trên từng bước đi trong cung điện, không chỉ Thái tử gặp nguy hiểm mà Hồng Tước xem ra cũng khó được mạng toàn; Khổng Tước tiên sinh cùng với Sa Liên và An Viên hiện đang dàn kế chuẩn bị đối đầu với quân phiến loạn, và rồi khi đoàn kỵ sĩ Ly quốc hộ tống Thi Kỳ về kinh thành bên ấy, Chu Tước đại nhân cùng Nguyệt Sinh Liên cũng sẽ lên đường ra chiến trường đầy khói lửa.

Có lẽ vì đại cuộc, Thi Kỳ không còn cách nào khác ngoài đánh cược ván bài này.

Tuy nhiên, họ Thi muốn nghe phán quyết của thiên tử tương lai.

Thái tử điện hạ sẽ nói gì khi một vương quốc xa xôi nay đến hỏi cầu thân thư đồng của người cho hoàng tử bên ấy?

- Thứ lỗi cho học trò không thể trả lời tướng quân ngay bây giờ, đây là chuyện liên quan đến vận mệnh của nước nhà, phải có lời nói của Thái tử mới có thể định đoạt.

Học trò thiết nghĩ tướng quân hãy hồi kinh thưa chuyện với điện hạ trước.

Nét mặt vị tướng quân ngoại quốc bừng sáng lên dù câu trả lời không hẳn là thứ người đang chờ đợi.

- Về chuyện này cô nương không cần lo lắng bởi đoàn sứ thần hiện giờ chắc đã có mặt ở kinh thành diện kiến Thái tử, nếu cô nương muốn hồi kinh thì xin để ta được hộ tống đoạn đường này.

Nghe tới đây, có vẻ bất ngờ lộ rõ trên nét mặt Thi Kỳ.

Về kinh... sao?

Buổi thiết triều hôm đó Thi Kỳ xin Thái tử và Trưởng công chúa về Mạc Hà tầm ba tuần trăng, tưởng sẽ xong việc sớm nhưng mà... lại bị định mệnh kéo vào nghi án này.

Vắng mặt ở kinh thành đã bao lâu rồi, Thi Kỳ không biết; hôm nay là ngày mấy họ Thi cũng chẳng buồn hay, lý gì để biết nữa khi còn ai mong chờ mình đâu.

Bá quan có lẽ đã thuyết phục được Thái tử rằng thư đồng ngài đã chết trên đường hồi kinh, hoặc chính tay Thái tử đã đóng dấu tử tội lên tên Thi Kỳ.

Khả năng thứ hai, Thi Kỳ mong là nó sai, mong Thái tử sẽ hiểu cho tình cảnh kẻ học trò gian truân một khi điện hạ thấy được cánh nhạn bé nhỏ của ngài đặt chân về được Nội thành bình an.

Lấy hết chút can đảm còn sót lại sau tất cả những tin khó ngờ hôm nay, Thi Kỳ lên tiếng:

- Xin tướng quân đợi cho chốc lát, học trò thu dọn một chút rồi quay lại.

Khi được sự chấp thuận, Thi Kỳ vội trở lại khách phòng nơi Chu Tước đại nhân vẫn ngồi ghi chép chi đó, khẽ vén rèm và bước vào quỳ xuống cạnh án thư.

Khuê Văn Chu Tước đã chuẩn bị sẵn hành lý và thư từ cho chuyến đi Kinh Xuân để ở một góc thư phòng, và bên cạnh ngài có một hộp gỗ nhỏ khuất dưới vạt áo khoác dài.

- Chu Tước đại nhân, con... muốn cầu kiến ngài.

- Có phải là chuyện Ly quốc muốn cầu thân con?

Nét mặt vị đại học sĩ khi nói vẫn điềm tĩnh như thường ngày, nhưng sao trong ánh mắt người lúc này chứa đầy nỗi đau khổ.

Thi Kỳ với Chu Tước đại nhân vốn chẳng phải thân sơ, tại sao người lại lo lắng cho đứa đệ tử nhỏ của Khổng Tước đến vậy?

- Thưa... vâng.

Việc này, Chu Tước đại nhân thấy thế nào ạ?

Khuê Văn Chu Tước dừng tay bút, ghé nhìn qua phong thư để mở trên bàn rồi đưa mắt về tấm kim bài thái phó Thi Kỳ đang mang.

Dù đã bao nhiêu năm qua rồi nhưng đằng sau sắc vàng ánh kim của tấm thẻ bài người ta vẫn thấy dáng hình kẻ sĩ áo vải đó rảo bước dần xa, để những người còn ở lại vọng trông không biết tới ngày nào.

Tiễn chân kẻ sĩ ấy về miền lang bạt là trời sao trên đầu, gió đông dẫn lối và một lời hứa từ vị học sĩ sau tấm rèm thư phòng— một lời hứa có lẽ vị học sĩ bây giờ không thể tự tay hoàn thành.

Khuê Văn Chu Tước tới đây không nói gì, chỉ đưa ra chiếc hộp nhỏ che dưới vạt áo ngài.

Thi Kỳ nhận lấy mở ra thì thấy một kim bài khá giống với tấm đeo trên thắt lưng mình.

Tấm kim bài trong hộp cũng buộc dải gấm thắt hoa tuy nhiên đính ở đầu dải gấm này là một sợi lông vũ rực đỏ.

Lông vũ chim chu tước.

- Đi đi con.

Ai biết nếu nội chiến dâng cao và khi nào nơi này thành biển khói lửa, ai biết khi nào ta không còn có thể bảo vệ con thay Khổng Tước thái phó.

Dẫu là hôn nhân chính trị, thấy con được chỗ an lành gửi thân ta cũng yên lòng.

Còn hai kim bài này nhờ tay con giữ, hãy xem như Khuê Văn song tước bọn ta luôn ở bên con.

Mong có ngày tái ngộ.

Khuê Văn Chu Tước nở một nụ cười bình yên cuối cùng khi Thi Kỳ được Bích Liên tướng quân hộ tống về Cấm Thành với Nguyệt Sinh Liên đi đầu dẫn đường.

Nụ cười ấy vội tắt ngấm khi bóng đoàn người phai hẳn trước cửa gia trang và vị học sĩ ngồi lại một mình giữa bốn bề im lặng.

Ngài gục đầu xuống án thư như muốn ngủ thiếp đi, rũ bỏ mọi ưu phiền những ngày vừa qua; tuy nhiên, mắt ngài vẫn chăm chăm dõi theo ánh đèn vàng leo lắt hắt bóng trên tường và miệng lẩm bẩm như đang trò chuyện với một vị khách vô hình.

- Đã lâu lắm mới thấy một hỷ sự, nhưng sao tôi chẳng thể vui.

Để đứa bé đi làm vương phi Ly quốc đường xa vạn dặm đầy gian truân khổ ải, ngài có trách tôi vì đã không chu toàn lời hứa không?

Và Thi đại nhân, ngài có trách Tú Minh tiên sinh đã bỏ thành ra đi ngày đó, bỏ đứa con ngài gửi vào Thái phó phủ với tất cả hy vọng và mạng sống còn lại, chăng?
 
Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Hồi hai mươi tư: Giang hồ ngũ anh tài


Khuê Văn Chu Tước giật mình bật dậy vì tiếng gõ cửa nhịp nhịp quen thuộc.

Ánh đèn bên án thư đã tắt ngấm và nắng trưa cũng vừa le lói vào khách phòng qua khe cửa sổ đổ nát.

Lại một ngày trôi qua, một ngày gần hơn tới điểm hẹn khai chiến.

Chu Tước đại nhân có nghe đâu hiện diện ở Kinh Xuân bây giờ không chỉ là Khuê Văn Khổng Tước và đại đệ tử người, chánh sử quan sử quán, mà còn có Tân Gia vương nữa; nếu thật là vậy, thì hẳn đây sẽ là lần đầu tiên kể từ mùa xuân-thu biến loạn năm đó những con người huyền thoại ấy lại đứng trên cùng một chiến trường.

- Đại nhân, con về rồi!

- Có tiếng Nguyệt Sinh Liên vọng vào từ ngoài cửa.

- Tiểu Liên?

- Chu Tước đại nhân hỏi vọng ra như thường lệ.

- Vâng, con đây.

Ngựa đã chuẩn bị sẵn sàng, khi nào lên đường ngài cứ gọi.

Khuê Văn Chu Tước thẫn thờ đứng dậy bước đến góc phòng nơi để hành lý.

Dẫu biết Thi Kỳ giờ đang nhờ chỗ tốt lành lánh xa khỏi vụ án, khỏi chốn quan trường hiểm độc và khỏi vùng chiến sự đầy hiểm nguy, nhưng sao Chu Tước đại nhân lại thấy lòng nặng trĩu.

Tam quốc sắp xảy ra đại chiến tranh bá quyền, có gì làm bằng là Thi Kỳ sẽ được bình an không?

Khuê Văn Khổng Tước nay thêm một lần dấn thân vào loạn lạc, Sa Liên, Hồng Tước và An Viên thì chẳng màng chính sự, chỉ còn Thi Kỳ bảo vệ kim bài thái phó không rơi vào tay ô quan; nếu ở phương đó Thi Kỳ chẳng may gặp hoạ, tương lai đại quốc sẽ ra sao?

Triều đình không thái phó như nhà góc không cột trụ, có thể gãy đổ bất cứ lúc nào.

Dù chỉ là cái danh thái phó Thi Kỳ giữ thay Khuê Văn Khổng Tước, nhưng bấy nhiêu cũng quá đủ cho thời sóng gió này rồi.

Gạt qua những ý nghĩ vẩn vơ đó, Khuê Văn Chu Tước xách gói hành lý của cả hai người lên rồi mở cửa khách phòng bước ra.

Vốn học sĩ ru rú thư phòng ngày đêm, nắng trưa nóng bức rọi vào mặt có nhiều phần khó chịu, tuy nhiên bây giờ Chu Tước đại nhân lại thấy thanh thản lạ thường.

Thay vì ngồi một chỗ đợi chờ định mệnh mang tin dữ về, đứng lên kéo vòng xoay định mệnh về phía mình có phải là thượng sách hơn?

Bên cửa khách phòng có Nguyệt Sinh Liên vẫn ngồi, bảo kiếm trên tay như thường ngày vẫn canh gác.

Khi Chu Tước đại nhân mở cửa, vị hiệp sĩ đứng dậy ngay và tháo dây cương ngựa ra khỏi cột, sẵn sàng để lên đường.

- Từ đây tới Cấm Thành mất cả ngày đường, sao con về sớm vậy?

- Chu Tước đại nhân đưa Nguyệt Sinh Liên một tay nải, hỏi.

- Ngựa đoàn người đó mang theo là ngựa chiến Ly quốc, sức bền và tốc độ hơn hẳn ngựa lữ khách chúng ta; thêm nữa, Tam Châu từ lúc có tổng trấn mới bình yên hơn hẳn, đi thẳng một mạch qua chính lộ mà con vẫn không thấy bóng đạo tặc nào lảng vảng, nhờ vậy mà được đi đường êm xuôi.

- Nguyệt Sinh Liên đón lấy tay nải của mình rồi đáp.

- Tam Châu tổng trấn mới đó vốn thằng bé câu cá ở Mạc Hà, xuất thân miền đói khổ hẳn hiểu dân tình hơn những kẻ trên kinh kia rồi.

Với lại, đỗ được trạng nguyên với chút chữ nghĩa của Khuê Văn Khổng Tước dạy cho, ai dám nói không phải tài nhân đâu.

- Chuyện này đại nhân con cũng biết à?

Hẳn trên bia đá Ngũ anh tài ở Anh Phương Sơn có khắc tên ngài chẳng phải chuyện ngẫu nhiên rồi.

- Chẳng phải chuyện ngẫu nhiên mà cả năm người đều có tên trên bia đá đó.

- Chu Tước đại nhân cười, buộc gói hành lý mình lên yên rồi quất ngựa lên đường.

Lúc bình minh miền biên giới đông nam xa xôi vài ngày sau, nhà vô địch trong cuộc tỉ võ hôm kia vừa khăn gói lên Đế cung— vốn phủ thành Kinh Xuân bị quân phiến loạn đánh chiếm ngày trước— nhậm chức chủ soái đại quân, chuẩn bị tiến về Cấm Thành lật đổ triều đình.

Tiễn chân Kinh Xuân tướng quân đi chỉ có mẫu thân nàng - Tân Gia quốc vương, đôi ngân kiếm và bản kế hoạch phản công giả làm thư hỏi thăm từ quê nhà.

Sa Liên ngồi ở bệ cửa sổ khách phòng trên lầu nhìn xuống dõi theo bước chân Tân Gia công chúa, ánh mắt đầy ưu tư và vấn vương chút hoài niệm.

Đèn dầu trong phòng đã tắt từ khuya và Khuê Tước tiên sinh cũng đã thiếp đi bên án thư sau mấy ngày đêm thảo kế hoạch với đại quân triều đình bên ngoài và vẽ bản đồ đường lối thành cho ngày khai chiến.

Trên màu trời tím ngắt và trong sự u tịch buổi sáng sớm, có con chim ưng không biết từ đâu lướt gió bay đến tửu lầu, sải cánh giơ móng vuốt sắc lẹm hướng thẳng phía Sa Liên; động tác nó dứt khoát, như thể nó coi vị sử quan là một con thỏ sắp bị quắp đi chứ không phải một con người.

Phản ứng theo bản năng, Sa Liên chớp lấy cây gậy đi đường đặt cạnh cửa sổ, hai chân tì vào hai bên khung cửa giữ thăng bằng và đưa gậy lên phòng thủ.

Khi vuốt nó sắp chạm và quắp vào gậy gỗ đi đường, nơi mái hiên ngay trên đầu vị sử quan có tiếng ai huýt sáo, và theo hiệu ấy con chim ưng vỗ cánh bay thẳng lên chỗ chủ nhân nó đang đợi.

- Lâu lắm không gặp, sử quan đại nhân.

Từng đó năm vùi đầu trong Sử quán nhưng xem ra... sông núi dễ đổi, nhân tính khó dời... nhỉ?

Phản xạ vẫn bén như ngày nào.

Sa Liên đưa mắt cảnh giác về hướng giọng nói đó, tay vẫn nắm chặt gậy đi đường.

Đột nhiên vị khách lạ ấy nhảy xuống và đáp nhẹ nhàng trên ban công cửa sổ trước mặt kẻ học trò; người này cũng khoác áo vải sĩ tử, cũng tay nải hành lý trên vai, tuy nhiên trong ánh mắt lại mang nét bén nhạy đặc trưng của trang hào kiệt chốn giang hồ phiêu bạt, bên hông đeo bảo kiếm và trên cánh tay có con chim ưng ngoan ngoãn đậu lên chờ.

Dẫu có vạn năm vùi đầu trong đống giấy mực sử quán, kiếp này Sa Liên cũng khó mà quên thanh bảo kiếm đó.

Và tất nhiên, chủ nhân nó nữa.

Trước mặt vị sử quan đây là con người mà năm xưa đến cả võ lâm cao thủ bao kẻ nghe tên cũng đều khiếp sợ, trong thiên hạ rộng lớn điệp trùng vẫn đứng một mình với chiến tích bất bại.

Một trong những con người đã được lịch sử lưu danh trên tấm bia lam thạch ở Anh Phương Sơn thành.

- Tr— Trường San?

Tử thần vô ảnh kiếm sĩ Trường San?

Vị khách nở một nụ cười hiền lành, đưa tay đẩy đầu côn kề cổ mình sang bên và thả con chim ưng cho đậu trên xà nhà rồi thong dong ngồi xuống bệ cửa cạnh vị sử quan.

- Cái tên ấy đã biến mất trên cõi đời từ khi Liêm Sơn đại vương trận vong nơi cổ thành đó rồi, thời này cũng mấy ai nhắc tên hắn nữa.

Ở đây chỉ có Nguyệt Sinh Liên, đệ tử Chu Tước đại nhân... và Sa Liên, chánh sử quan Sử quán... mà thôi.

- Nội điện đại học sĩ, Khuê Văn Chu Tước, cũng có mặt ở Kinh Xuân thành này sao?

Cả hai người giật mình quay đầu lại nhìn.

Khuê Tước tiên sinh đã thức dậy từ lúc nào, người vẫn ngồi bên án thư, nhưng giờ lại hướng về cửa sổ, ánh mắt và vẻ mặt trông nghiêm túc khác thường.

Nguyệt Sinh Liên nhanh chóng thi lễ cho đủ phép tắc rồi một bước phi đến cửa phòng, gõ vài cái rồi mở ra.

Chắp tay cúi chào hai kẻ sĩ lữ khách ấy là con người mà cả danh tính và nhân dạng đều bí ẩn nhất trong Nội thành, Nội điện học viện đại học sĩ Khuê Văn Chu Tước; hay, vị học sĩ sau tấm rèm thư phòng trong trí nhớ mù sương của Khuê Tước tiên sinh.

- Lâu lắm mới lại được diện kiến Thái tử thái phó đại nhân và học trò ngài, cả hai người vẫn khỏe chứ?

Chu Tước đại nhân mỉm cười hỏi thăm.

Trên bệ cửa sổ, Sa Liên không giấu nổi sự ngạc nhiên trên vẻ mặt mình, có ai ngờ vị Nội điện đại học sĩ lừng danh đó lại nhân dáng nhỏ nhắn như vậy đâu; và bên án thư, Khuê Tước tiên sinh lại trở về vẻ điềm nhiên thường ngày.

Tuy nhiên, trong đôi mắt vị thi sĩ ấy người ta có thể thấy một nỗi lo khó mà tả ra bằng lời.

- Cố nhân chớ để tâm tới hai kẻ sĩ lang bạt này, và cũng chớ để tâm tới cái tước vị xưa cũ thiên hạ đã quên đó của học trò.

Hôm nay ngài có mặt ở chốn này, vậy...

Thi Kỳ ra sao rồi?

- À, đứa đệ tử bé nhỏ của ngài, đương triều thái phó Thi Kỳ...

- Từ trong ống tay áo, Chu Tước đại nhân rút ra một phong thư vàng họa tiết mẫu đơn - Vừa mấy ngày trước, tướng quân của Ly quốc phương đông mang theo một đoàn người tìm đến gia trang đưa cho học trò lá thư này.

Phong thư màu vàng in mẫu đơn, học trò nghĩ chắc ngài không đọc cũng hiểu trong này ghi gì.

- Thư cầu thân.

Chu Tước đại nhân gật đầu.

Và bên án thư, đột nhiên Khuê Tước tiên sinh quay vào tường, hai tay vỗ xuống mặt bàn một tiếng rầm và bật cười như điên dại.

- Thư cầu thân!

Thi đại nhân trên cao, ngài có ngờ đến ngày này chăng!

Đứa bé con ngài... sau rốt thì số mệnh vẫn chỉ là phận nhi nữ bình thường như bao tiểu thư khuê các xứ này, chẳng phải kiếp học trò lang bạt như tôi.

Tuy quãng đời này tôi khó mà vẹn toàn lời hứa với ngài, nhưng nếu ngày mai có nằm lại giữa tiền tuyến tôi cũng an tâm buông tay khi biết con ngài được về chốn yên ấm...

Khuê Tước tiên sinh im lặng một lúc rồi ngước về phía vị học sĩ nơi ngưỡng cửa, hai bàn tay vẫn nắm chặt trên án thư.

- Nói tôi nghe nào cố nhân, Thi Kỳ lúc ấy dưới tay bảo hộ của ngài, và ngài có thể lựa chọn mang theo đứa bé đến Kinh Xuân hoặc để nó lại cho Trần chủ bộ phủ Định Gia và tiếp tục cuộc điều tra vụ mất tích của Phan tổng trấn, tuy nhiên ngài lại quyết định chấp thuận lời cầu thân và gửi nó đến Ly quốc xa xôi; có phải thiên nhãn của ngài đã thấy rằng, Thi Kỳ sang làm phi vương tử xứ chiến quốc ấy là nhất thượng sách?

- Không, không phải nhất thượng sách...

- Chu Tước đại nhân cười, hai ngón tay khẽ đặt lên trán - Chỉ là... học trò vừa biết được Phan tổng trấn tuy mất tích nhưng vẫn còn sống, và với quan quân hiện giờ ra sức truy lùng Thi Kỳ để thế thân ngài, phương án tốt nhất học trò có thể nghĩ tới là mượn danh hoàng tử phi Ly quốc bảo vệ nó tới ngày chúng ta phục hưng được triều đình và chốn quan trường mục nát trong đó.

- Nếu hung thủ có liên quan đến mấy tên ô quan trong triều, lấy gì làm bằng Phan tổng trấn còn sống tới lúc chúng ta tìm được ngài?

- Học trò chắc chín phần, hoặc tám, tuỳ tình cảnh diễn ra như nào.

Có nhiều lý do khiến họ chưa thể thủ tiêu ngài, nhưng có hai thứ mấu chốt này giữ cho ngài sống sót: Phan tổng trấn biết được điều gì đó quan trọng mà những tên ô quan trong triều muốn giấu kín, và mối quan hệ giữa ngài với Tú Minh tiên sinh cũng như thế lực của Khuê Văn gia tộc.

- Quả không hổ danh Thiên nhãn Chu Tước năm nào!

- Khuê Tước tiên sinh lúc này nét mặt trông nhẹ nhõm đi hẳn, vỗ án thư mà cười - Tuy kẻ sĩ này đã sẵn sàng thí mạng sa trường từ lâu nhưng có vẻ như bây giờ không còn lựa chọn nào ngoài sống sót trở về rồi.

Chiến trận Kinh Xuân sắp tới... cố nhân đây có bước chân ra tiền tuyến hay lại đứng trên tường thành mà dõi xuống nhìn thiên hạ loạn lạc?

- Thời loạn lạc nay khác thời loạn lạc xưa, hẳn là định mệnh sắp đặt cả năm người trên bia đá Ngũ anh tài ấy đều hội tụ ở Kinh Xuân thành này, học trò có thể nào không ra mặt?

- Vị học sĩ cũng nở một nụ cười đáp lại - Thêm nữa, học trò đây rất tò mò muốn biết phản ứng của Đế Mục khi thấy đệ tử Khuê Văn song tước rảo qua hàng quân điệp trùng của hắn và bước vào phủ thành như chốn không người.
 
Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Hồi hai mươi lăm: Huyền khôi trên đất chiến trường


Anh Phương Sơn, vùng núi biên giới phía bắc Hoa Nữ quốc hoang sơ hiểm độc quanh năm tuyết phủ dày, từ ngàn xưa đã là thánh địa của những kẻ lữ khách giang hồ phiêu bạt.

Trên đỉnh rặng núi có ngôi cổ thành đã trấn giữ miền biên cương này không biết đã bao lâu, và giữa đại quảng trường trong ngôi thành này, ngay phía sau chính môn đổ nát, là một tấm bia lam thạch khắc tên năm người mà danh tiếng đã trở thành huyền thoại.

Ngũ tuyệt trên bia đá ấy được ghi lại như sau:

Thái Anh vương gia, thần quyền đệ nhất;

Khuê Văn Khổng Tước, thao lược vô bì;

Khuê Văn Chu Tước, thiên nhãn bất sánh;

Trường San kiếm sĩ, vô ảnh tử thần;

Sa Huyền Khôi chúa, lẫy lừng thiết côn.

Bình minh trước đêm hẹn khai chiến, ở phòng mình trong Đế cung, Vĩnh công chúa giở bản kế hoạch ra xem lại kỹ càng và khi xuất quân sẽ chiếu theo kế hoạch này mà đánh.

Tuy nhiên, nghĩ đến ngày mai đối mặt trên chiến trường Thái vương gia và Lân phò mã sẽ không còn là mẫu thân và phu quân mình, nàng lại cảm thấy nỗi sợ không tên ấy trào dâng trong lòng.

Tại sao hôm ấy kẻ học trò đệ tử Khổng Tước đại nhân lại buông côn nhường nàng thắng?

Và tại sao, tại sao hắn lại giơ tay khiêu chiến nếu mục đích hắn là chỉ để bại dưới tay nàng?

Vĩnh công chúa không hiểu nổi lúc ấy đối thủ nàng suy nghĩ gì trong đầu, tuy nhiên nàng cũng phải thừa nhận: so với tất cả những cao thủ nàng đấu hôm đó, côn pháp kẻ học trò đệ tử Khổng Tước đại nhân rõ ràng thượng đẳng hơn và cũng... tàn nhẫn hơn nhiều, dù động tác có phần yếu ớt như người đã lâu không luyện.

Nếu có phải đối mặt người quen trên chiến trường, thà rằng kẻ thù của nàng là mẫu vương hoặc tướng công còn hơn là kẻ sĩ tử áo vải Sa Liên.

Chiếu theo kế hoạch của Đế Mục và quần thần y, đêm nay khi trăng xanh ló dạng, từ cổng thành tứ phía quân phiến loạn Kinh Xuân sẽ tràn ra, bốn mũi thẳng tiến về Cấm Thành; tuy nhiên, kế hoạch của Thái phó đại nhân được mã hoá trong lá thư diễn ra như sau: Nàng sẽ ra vẻ như biết trước đường đi nước bước của quân triều đình và ra lệnh dụng kế "mãn thiên quá hải - dương đông kích tây", giữ bí mật với Đế Mục và tung tin về binh kế giả cho trinh sát rằng khi phe triều đình tập trung ở chính môn, quân Kinh Xuân sẽ theo ba cổng phụ còn lại của thành tràn ra theo thế gọng kìm bao vây; tỏ ra mình nhìn thấu kế phản công của quân triều đình, nàng sẽ cho ba nhóm nhỏ ra ba cổng kia đánh dụ hàng trong khi nàng dẫn đại quân ra đường đại môn không người canh gác vì phe triều đình mắc mưu chia quân ra như binh kế giả của nàng.

Tất nhiên, ở chính môn không hề vắng người: mẫu vương sẽ đón đầu nơi đó, và... nàng và đại quân Kinh Xuân sẽ phải đấu với ngài.

Đệ nhất ngân kiếm triều đình Tân Gia đấu với thần quyền huyền thoại đã được khắc tên trên bia đá Ngũ anh tài.

Giữa lúc hỗn loạn ấy, Thái phó đại nhân cùng với Sa Liên sẽ nhanh chóng đột nhập vào Đế cung bắt sống Đế Mục và quần thần hắn, kết thúc cuộc nổi loạn được chuẩn bị kỹ càng từ nhiều tháng trước chỉ trong một đêm trăng xanh.

Lúc này, ở doanh trại quân triều đình nơi ngoại thành Kinh Xuân, Ngọc Phụng nguyên soái vui mừng khi gặp lại cố hữu Khuê Văn Khổng Tước, nhưng cũng bất ngờ khi lần đầu tiên được nhìn thấy nhân dạng con người bí ẩn nhất trong Tứ phượng hoàng, vị học sĩ sau tấm rèm thư phòng Khuê Văn Chu Tước.

Bản kế hoạch được Khuê Văn song tước vạch ra rõ ràng và thảo luận những khả năng quân phiến loạn có thể đáp trả trước mặt các chỉ huy và tướng lãnh quân triều đình.

Sau buổi họp bàn, Khuê Văn Chu Tước về ngay căn lều mới được dựng vội lên cho mình, nét mặt đăm chiêu như vừa lượng được một khả năng chi ghê gớm lắm.

Nguyệt Sinh Liên ngồi ở một góc lều kiểm tra thanh bảo kiếm mình thấy vậy nhưng vẫn không nói gì, chỉ im lặng đợi lệnh; và lệnh này... lại khác hẳn lệnh thường ngày.

- Tiểu Liên?

- Chu Tước đại nhân gọi.

- Vâng, con đây.

- Nguyệt Sinh Liên tra bảo kiếm vào bao nhanh gọn rồi lấy thế đứng lên - Ngài cứ đưa ra một cái tên.

- Không, kẻ này... ta muốn tự tay giải quyết, ta chỉ cần con mở cửa cầu thang lên tường thành cho ta là đủ.

- Nói rồi, từ trong đống hành lý Chu Tước đại nhân rút ra một thanh đoản kiếm vỏ gỗ đào và giắt vào dải thắt lưng - Vả lại, nếu chính mắt ta không thể thấy huyết tên vô lại ấy đổ xuống đền tội, có lẽ kiếp này ta nhắm mắt chẳng cam.

- Hắn có phải ai đó con hay ngài biết chăng?

- Nguyệt Sinh Liên tò mò hỏi.

Chu Tước đại nhân lắc đầu.

- Hắn có thể từng nghe danh con, nhưng ta thì hoàn toàn là kẻ xa lạ.

- Vậy tại sao ngài lại muốn báo thù nếu hai bên chưa từng biết mặt nhau?

- Thù này... không phải chỉ riêng tư đâu con.

Vì tên vô lại đó mà tất cả những biến cố chúng ta chứng kiến bao năm qua diễn ra như vậy.

Tất cả...

Chưa bao giờ Nguyệt Sinh Liên thấy hận thù chứa trong ánh mắt vị học sĩ vốn điềm đạm và vị tha ấy bùng lên mãnh liệt vậy.

Kiếp nhân sinh khó tránh khỏi thù hằn, nhưng... mối thù nung nấu trong tâm Khuê Văn Chu Tước lúc này như thể sâu đậm hơn hết thảy mọi vách thẳm trên đời.

Nguyệt Sinh Liên một kẻ phàm nhân chẳng hiểu được thiên nhãn ấy phải chăng thánh phẩm hay quỷ nguyền, tuy nhiên nói rằng nó là con dao hai lưỡi không thể nào là nói quá.

Trên đời có những thứ tốt hơn hãy để trôi vào dĩ vãng, và có những thứ tốt nhất hãy để chôn chặt trong quá khứ, nhưng cũng có những thứ cần phải được đào lên cho lịch sử chứng kiến.

Đột nhiên, một mảnh ký ức vội vụt qua trước mắt Nguyệt Sinh Liên.

Một buổi chiều tối đó, quan quân canh gác Đông cung tìm thấy Thái tử— khi đó vẫn còn nhỏ tuổi— bị đâm trong thư phòng khoá kín.

Hung khí, nằm ngay ngắn cạnh Thái tử, là đoản kiếm chuôi ngọc chính điện hạ tặng cho đương triều thái phó làm vật hộ thân.

Vị thái phó ấy thì được tìm thấy ngồi bên bàn trà trong Đông cung, mắt nhắm như đang ngủ, trên áo vải thấm đầy máu đỏ tươi.

Và những chuyện sau đó...

đều đã là lịch sử.

- Ý đại nhân con là... vụ án năm đó...

- Nguyệt Sinh Liên thất thần đưa mắt chăm chăm nhìn thanh đoản kiếm trên thắt lưng vị học sĩ - Kẻ gán án oan lên Khuê tiên sinh năm đó hiện có mặt ở đây?

Chu Tước đại nhân chẳng nói gì, chỉ gật đầu.

- Hắn, một kẻ nguy hiểm như vậy... ngài không thể nào đi một mình được!

Xin hãy để con theo!

- Nhưng mà, vượt qua trường thành vạn quân Đế Mục dựng lên chỉ có con... và Sa Liên... làm được.

Có thể nói là thành bại trận này mười phần nhờ bảy vào Tử thần vô ảnh kiếm, ta không muốn con vì ta mà bỏ lơi đại cuộc!

- Đại nhân con đã thấy kẻ giang hồ nào đem tài hiến triều đình đâu?

- Nguyệt Sinh Liên cười, lục trong đống hành lý ông lính già họ Trương vừa mang đến sau ra một bọc vải mỏng và dài - Ngài có thù phải trả, con có ân phải đền.

Nghe lời đại nhân, con sẽ tìm đến chỗ ngài sau khi đã giải quyết xong xuôi đám lính gác Đế cung.

Tới lúc ấy, xin hãy cố giữ mạng.

Ở một góc doanh trại là khu lều của đội cung thủ kỵ binh lừng danh dẫn bởi Tiền tướng quân An Linh Thanh.

Vị tướng quân đang ngồi ưu tư một mình trong lều, thẫn thờ tay khẩy dây cung như dây đàn trong khi những người khác bận rộn đi lại chuẩn bị bữa sáng, và đột nhiên lại buông trường cung đứng phắt dậy reo như một đứa trẻ khi thấy bóng Khuê Văn Khổng Tước vén tấm màn cửa bước vào.

- Con thứ lỗi, ta đến Kinh Xuân lâu rồi nhưng tới giờ mới có dịp gặp con.

- Khuê Tước tiên sinh cười cười rồi ngồi xuống ghế bên bàn khách trà - Ta mong rằng tối nay con có thể cho ta mục kiến tài của đội cung kỵ thần thánh đất Hoa Nữ quốc này.

- Thấy người bình an là chúng con vui rồi...

- An Viên mỉm cười đáp lại, nhặt trường cung lên để ngay ngắn bên cạnh giáp phục của mình - Đại tiên sinh con trên đường tới đây có hay tin gì về Tiểu Kỳ chăng?

- Ta cũng chỉ vừa mới hay thôi.

Chu Tước đại nhân bảo vài tuần trước có đoàn người từ Ly quốc phía đông sang mang thư cầu thân Thi Kỳ cho tam hoàng tử bên ấy.

Giờ này có lẽ nó đã xuất giá rồi...

Thành hoàng tử phi, xuất giá về chốn yên ấm, lánh xa khỏi miền loạn lạc này...

Khuê Tước tiên sinh khi kể chuyện này ánh mắt lại vô thức hướng về chân trời phía đông.

Lâu lắm mới nghe một hỷ sự, nhưng sao tiên sinh trông chẳng vui, có lẽ người lại đang lo lắng.

Trong bốn đệ tử, Thi Kỳ không chỉ nhỏ tuổi nhất mà cũng là kẻ thiên sinh bình thường nhất: không có trí óc thông tuệ như Sa Liên, không có võ tài như Hồng Tước, lại không có thân thủ nhanh nhẹn như An Viên; một mình giữa bể nguy khó, Thi Kỳ khó mà chống chọi lại nổi.

Làm phi vương tử Ly quốc tuy gian truân nhưng nghĩ cho cùng đó vẫn là vận may quý nhất cho Thi Kỳ, đổi một thuở thanh xuân và vạt áo vải học trò lấy tấm nhung lụa gấm hoa xứng danh hoàng tử phi và số mệnh bình an từ nay quả là một cái giá hời khó chê, một phước lành khó kiếm.

Có lẽ tiên sinh nên đặt niềm tin vào quyết định của Chu Tước đại nhân, rằng cánh nhạn bé nhỏ của người đã tìm được chốn bình yên, người không cần phải lo lắng chi nữa.

Buổi hoàng hôn đó, cả quân phiến loạn và quân triều đình đều cùng lúc dàn hàng xông trận.

Ba cánh quân bộ và thương thiết giáp do Ngọc Phụng nguyên soái thống lãnh đã sẵn sàng bẫy đón đầu loạn quân, và trong thành, Vĩnh công chúa— chiếu theo chiến kế— đặt ba nhóm nhỏ ở ba cổng phụ "đánh lạc hướng" và dồn đại quân xuất hành từ chính môn.

Trong lúc đợi trăng xanh ló dạng, nàng đứng một mình trên trường thành đại môn, giáp phục trang hoàng, cầm cờ thống soái, hướng mắt nhìn về một khoảng thảo nguyên xa xa.

Trong ánh nắng vằng vặc đỏ nơi đó thoáng mờ một bóng hình thật thân quen: một dáng người vĩ đại như có thể che chở cả giang sơn cố quốc, mái tóc đen dài buộc cao như thác đổ, đôi tay to lớn nhưng mềm mại tựa lời ru và ánh mắt kiên trung vạn năm bất đổi.

Thật khó tin là trong cuộc đời ngắn ngủi này nàng lại có ngày phải đứng trước mặt người ấy, không phải với danh gia quyến nhi tử, mà mang phận kẻ thù.

- Dẫu rằng con ở đây bây giờ là vì người đã cho phép, nhưng mà... mẫu vương... con không muốn chĩa mũi kiếm này về phía người...!

Trên khoảng thảo nguyên kia, Tân Gia vương cũng chắp tay đứng đợi một mình, mắt chăm chăm hướng về đại môn trường thành Kinh Xuân, về dáng nhi nữ mang chiến kỳ thống soái trên ấy.

Lân phò mã, lúc này đoản đao bên hông và giáp phục sẵn sàng, khẽ khàng bước đến cạnh vương gia, cùng nhìn theo ánh mắt người dõi bóng thê tử mình đằng xa.

- Nhạc mẫu vương à, như thế này có phải quá tàn nhẫn với nàng không?

Hội ngộ người nhà trên chiến trường là một chuyện, đối đầu với người nhà trên chiến trường lại là chuyện khác.

Nương tử... nàng sẽ không nỡ ra tay đâu.

- Mặc kệ ai đang đứng ở đây— bổn vương, tế tử hay nhi muội— Viên Cảnh cũng sẽ phải rút kiếm ra tay.

Trăm vạn cặp mắt đang dõi theo thành bại trận này, nhi tử không còn lựa chọn nào khác đâu.

- Tân Gia vương đáp, tâm trí ngài vội một khắc trở về cái ngày kinh đô thất thủ.

Cái cảm giác khó xử tột cùng khi phải lựa chọn giữa hai con đường không thể chọn lựa đó... ngài không muốn đặt nhi tử mình trong tình cảnh ấy, tuy nhiên lúc này đây số mệnh không cho ngài con đường thứ hai.

Nhiều hôm trước vương gia định bảo Khuê Tước tiên sinh chuyển kế hoạch, cho trưởng tế mình rút đoản đao đón đầu phiến loạn, nhưng nghĩ lại thì nước ấy tàn nhẫn quá; vương gia mắt đã quen đọc tình thế chiến trận mà hành động, nhưng phò mã thì muôn phần thiếu kinh nghiệm, khó suy đoán đường đi nước bước chi ly được.

Lúc ấy, ở phía đồi Thảo Đăng, một trong những ngọn đồi chiến lược vây quanh Kinh Xuân, có Khuê Văn song tước và đội cung thủ An Viên kiên nhẫn đứng chờ.

Không ai nói gì với nhau, chỉ im lặng dõi theo màu đỏ vầng dương dần tắt và ánh nguyệt xanh xanh hé dạng phía chân trời.

Tiếng kèn đồng trống da vang lên phía sau đại môn Kinh Xuân thành báo hiệu khai chiến.

Bốn cánh cổng thép nặng nề hé mở, và vạn quân ồ ạt trào ra như sóng đổ.

Chỉ trong vài khắc, Kinh Xuân đã thành bãi chiến trường hỗn loạn, không biết ai là ai, tứ bề chỉ còn tiếng giáo gươm xoang xoảng và tiếng gào thét đau đớn của những kẻ tử sĩ vô danh.

Những người đứng gần trường thành nhìn cảnh địa ngục áp đảo như vậy thì hốt hoảng vội trở vào định đóng cổng, nhưng chưa kịp quay đầu lại thì ai nấy đều ngã gục xuống, trên gương mặt in hằn nét sợ hãi tột cùng.

Hai bên cổng thành bóng hai kẻ sĩ tử xuất hiện, lặng thinh và nghiêm trang canh gác; dẫu ngáng đường đại quân với bao hảo hán giang hồ không sợ trời đất tiến tới chỉ là hai thư sinh nhân dáng mảnh mai, nhưng chẳng ai dám bước thêm hoặc lùi lại bước nào.

Trên tay người đứng mặt ngoài thành là thanh trường kiếm lừng danh đã đoạt mạng bao cao thủ chốn giang hồ và hạ bệ bao võ phái lẫy lừng tứ phương; còn người đứng mặt trong thành— một học trò áo vải ngón tay còn vương dấu mực— mang thanh thiết trụ kình thiên đã bảo vệ Á Lan ải qua nhiều buổi loạn.

Không thể nhầm lẫn được, đó đúng là hai bảo khí mất tích cùng với chủ nhân chúng từ khi Liêm Sơn cổ thành thất thủ; đã kiếm được chút tiếng tăm trong chốn giang hồ, chỉ có kẻ mù mới không nhận ra sắc bén ngọt của thanh trường kiếm tử thần và nước thép sáng ngời dưới ánh trăng của thiết trụ kình thiên kia.

- Hồ—Hồn ma!

Hiếm khi thấy những kẻ hảo hán coi thiên hạ bằng vung lại thốt lên đầy khiếp sợ như vậy.

Người bên kia nghe cả hai bị gọi là hồn ma thì một tay che miệng cố nhịn cười, một chân gõ gót giày ra hiệu đổi chỗ với kẻ đồng hành mình.

Vị kiếm sĩ thong dong quay bước vào trong thành, giơ mũi kiếm về phía kẻ mặc giáp chỉ huy sau hàng quân tiên phong lực lưỡng và nở một nụ cười thật hiền lành:

- Hai kẻ sĩ có chút chuyện muốn gặp Đế công, các hạ hảo huynh đệ đây có vui vẻ nhường đường chăng?

Bây giờ thì tới lượt vị côn thủ bên kia cố nhịn cười, dù chung quanh là tứ bề chiến trường hỗn loạn.

- À, đâu có kẻ tỉnh táo nào lại nghe lời một hồn ma.

Thôi thì, anh linh người chiến hữu, hay là cứ thẳng tiến phủ thành luôn đi?

- Kiên nhẫn chút nào, sắp đến lúc rồi.

- Người bên kia đáp, giơ côn về phía trước trong tư thế thủ.

Một tràng vó ngựa từ trên đồi cứ áp sát dần, dù đoàn kỵ binh ấy hình bóng chìm hẳn giữa biển binh đao.

Vị kiếm sĩ một chốc thoáng nhìn về phía sau, xem đoàn kỵ binh đã tới đâu.

Rồi chỉ trong chớp mắt, vị kiếm sĩ ấy xoay người chém đôi cánh cửa gỗ dẫn lên tường thành và một bước phi thân lên trên đầu hàng quân, chân đạp mũ giáp mà tiến tới thẳng về phủ thành, nhẹ nhàng như bay vào hư không.

Một loạt mưa tên theo đó hạ gục hàng tiên phong mặt ngoài cổng thành, mở đường cho đội cung thủ kỵ binh.

Quân mặt trong nháo nhác hô hào nhau xông lên đóng cổng chặn bước đoàn kỵ binh tấn công, nhưng đứng giữa hai bên lại là vị côn thủ mang thiết trụ kình thiên với ánh mắt dâng tràn sát khí và những mũi tên xé gió của thiện xạ tướng quân đã căng dây cung chực chờ.

Vài người lấy dũng cảm tuốt đại đao lao tới, nhưng bao lần cũng vẫn thất bại; phòng thủ của kẻ học trò trông yếu ớt kia thể như một trường thành bất khả xâm phạm vậy.

Đội kỵ binh đến vừa đúng lúc để mục kích côn pháp lẫy lừng tưởng chừng đã theo Liêm Sơn thành chúa về miền cực lạc.

An Viên tướng quân dẫu đã thấy nhiều cao thủ, nhưng lại không thể rời mắt nhìn người này, thiết trụ kình thiên trong tay, đứng một mình phòng thủ chính môn đối đầu trăm vạn quân phiến loạn.

Càng không thể rời mắt khỏi côn thủ đó khi vị tướng quân nhận ra người ấy chẳng ai khác hơn là chánh sử quan Sử quán liễu yếu thư sinh mọi người vẫn biết.

- Trấn thủ cổng thành cứ để đội cung kỵ An Viên và ta, con theo đệ tử Chu Tước đại nhân vào trong tìm Đế Mục mau!

- Khuê Tước tiên sinh thắng ngựa lại ngay bên cạnh vị sử quan rồi khoát tay về phía phủ thành mà ra lệnh.

Vị sử quan trông có do dự một thoáng, nhưng cũng chắp tay cúi đầu tuân mệnh và quay đi, chạy lấy đà một đoạn rồi chống đầu côn xuống tung mình lên các nóc nhà phóng như bay về phủ thành, vạt áo vải phất phới trong gió đêm hồ như cánh thiên thần.

Hai người ấy, quả thật là dẫu năm tháng đã phai mòn thân thể nhưng tài thiên sinh vẫn mãi sáng trong linh hồn.

- Chỉ có hai kẻ thư sinh tiến vào phủ thành mà bao vạn quân binh chẳng làm gì được hơn là đứng nhìn, đúng là Ngũ anh tài chẳng có ai hữu danh vô thực...

Khuê Văn Chu Tước giữa lúc hỗn loạn thì nhanh chóng xuống ngựa và khẽ khàng lách vào cầu thang dẫn lên tường thành, tất nhiên không quên nán lại một lúc để mục kiến những huyền thoại năm xưa bắt đầu hồi sinh trong màn khói lửa cảnh chiến trường.

Hàng phòng thủ của đội kỵ binh An Viên trông có vẻ yếu ớt nhưng lại vô cùng kín kẽ và bất khả xâm phạm; cung và tên là vũ khí chính nhất, nhưng nếu có ai may mắn vượt qua được rừng tên ấy mà áp sát thì họ cũng không ngần ngại rút kiếm ra cận chiến.

Đội hình thì chia thành hai lớp: vòng ngoài với trường cung do An Viên chỉ huy, vòng trong với đoản cung và kiếm nghe lệnh Khuê Văn Khổng Tước.

Hai hồn ma hiệp thánh kia đã bỏ đi, trong mắt đại quân phiến loạn chẳng còn chi ngáng đường họ chiếm lại đại môn ngăn bước tiến công của quân triều đình.

Sĩ khí quân Kinh Xuân hào hùng trở lại thật nhanh chóng, nhất là khi thấy đội kỵ binh đếm bao lần cũng chỉ vài tá, so với họ chả khác châu chấu đá xe.

Ai bảo hảo hán giang hồ không cần học chữ của Tôn Tử xưa?

Giữa khoảng thảo nguyên kia, quân phiến loạn dẫn đầu bởi chủ soái Thái Viên đã hoàn toàn bao vây Tân Gia vương và tế tử ngài.

Dẫu vạn quân vây kín bốn phương tứ phía con kiến cũng khó lọt qua, vương gia vẫn điềm tĩnh đứng chờ, trên tay ngài không một tấc sắt trong khi kẻ thù lăm lăm giáo mác gươm đao.

Chủ soái đại quân rẽ hàng bước vào trong vòng vây, trang nghiêm rút đôi ngân kiếm đã đưa nàng đến vị trí nàng có hôm nay mà miễn cưỡng chĩa về phía hai người thân thương của nàng trước ngàn vạn cặp mắt dõi theo.

- Bổn soái sẽ tự tay giải quyết trọng tướng quân địch, không ai được phép can thiệp vào!

- Cố kiềm chế đôi tay run rẩy, nàng dõng dạc lên tiếng ra lệnh.

Dù gương mặt phu quân nàng đã được che giấu bởi lớp mũ khăn đen tuyền, nàng có thể phần nào cảm thấy rằng chàng thà buông kiếm đầu hàng hơn là phải đấu với nàng; và Tân Gia vương, sau nét mặt điềm nhiên tự tại ấy có lẽ là một cơn bão lòng đang gào thét.

Vương gia đêm nay không chỉ phải sống lại nỗi khó xử đau đớn của ngày Tân Gia kinh đô thất thủ, thấy người thân ngài gặp nguy khốn, mà còn phải chứng kiến nỗi đau ấy nhân đôi, vì chính tay ngài sắp mang nguy khốn đến cho người thân mình.

- Tế tử, con đứng qua một bên, đừng cho ai can dự vào chuyện này.

- Vương gia bước đến giữa vòng vây, vén tay áo lên thủ thế - Tiểu tử kia tấn công trước đi, và chớ có nương tay với bổn vương!

Vĩnh công chúa cố ngăn vội giọt lệ đắng trên khoé mắt, nói thầm câu tạ lỗi rồi lao đến tung nhát kiếm khai cuộc bằng tất cả sức lực mình.

Vương gia liền xoay người tránh nhát kiếm bổ xuống, nhẹ nhàng bắt lấy cánh tay nàng, tước lấy thanh kiếm và một cước đẩy nàng ra xa, tất cả chỉ trong chớp mắt.

Ngay lúc ấy, Vĩnh công chúa lập tức thấu rằng đây chẳng phải những buổi tập kiếm trẻ con trong cung điện ngày xưa với mẫu vương nữa, mà đây là cuộc đấu sinh tử giữa chiến trường, và kẻ địch của nàng là Thái Anh vương— thần quyền thiên hạ đệ nhất đã được khắc tên trên tấm bia lam thạch Anh Phương Sơn thành.

Vương gia thoáng đưa mắt ghé nhìn bóng hình mình phản chiếu trên bản ngân kiếm rồi thẳng thừng ném xuống đất, bên cạnh nhi tử đang chống tay cố đứng dậy.

Thấy chủ soái đang yếu thế hơn, đại quân vung giáo mác hô hào nhau xông vào tiếp ứng, mặc cho Lân phò mã hay Vĩnh công chúa gắng ngăn lại.

Thấy trước mắt có ngàn sóng giáo gươm đổ dồn về phía mình vậy mà vẻ mặt vương gia cũng chẳng hề đổi sắc; ngài chỉ giơ tay thủ thế, và nhanh chóng chìm trong đám đông hỗn loạn.

Khi Vĩnh công chúa có thể đứng dậy nhặt thanh ngân kiếm rơi dưới đất, đại quân nhào đến tiếp ứng quá nửa đã nằm rạp dưới chân Tân Gia vương với giáp trụ binh khí (và có lẽ cũng có vài ba khúc xương trong người nữa) gãy nát, số còn lại quên cả chủ soái mà bỏ chạy lấy mạng.

Từ ngày Vĩnh Viên Cảnh mới học những đường kiếm pháp vỡ lòng đến ngày kinh đô thất thủ, từ ngày đặt chân đến Côn Luân thành lưu vong đến đêm trăng xanh hôm nay, chưa bao giờ nàng— hay bất cứ ai trong triều đình Tân Gia— được chứng kiến mẫu vương phô diễn thực lực thiên sinh của người.

Chẳng biết vừa nãy vương gia có tung hết sức hay không, nhưng khi nhìn xuống bách quân bại tướng dưới chân mình, ngài lại thoáng nở một nụ cười giễu.

Đế Mục đã tốn thời gian chiêu mộ bao cao thủ giang hồ hảo hán, tuy nhiên sức mạnh đại quân mà y luôn tự hào ấy hôm nay đối đầu Tân Gia vương mới thấy rằng hảo hán giang hồ thời này cũng chỉ như trò chơi con trẻ với Ngũ anh tài đã thành huyền thoại.

Chỉ còn lại ba người đứng trụ trên khoảng thảo nguyên ấy.

- Hổ thẹn cho bổn vương tay không đánh bại vạn quân, ra chiến trường bách chiến bách thắng vậy mà năm xưa chẳng thể bảo vệ nổi gia quyến và bá tánh kinh đô.

Nay lại càng thảm thương khi mang danh thần quyền vương mà không dám ra tay với chủ soái quân địch!

Tân Gia vương cúi xuống nhìn đôi tay mình thấm đẫm ánh trăng, máu và nước mắt chiến trường, miệng bật cười như người điên dại nhưng khoé mắt thì vương giọt lệ nhoà.

Cay đắng trong lòng ngài giữ bao nhiêu năm qua nay chực trào ra, và dù có cố đến đâu ngài cũng không ngăn lại được.

Thiên hạ xưng tụng thần quyền vương nhưng tất cả những gì ngài thấy ở mình là sự yếu đuối vô dụng và một giấc mộng phục quốc xa vời.

- Ha, bổn vương đang lừa dối ai vậy?

Xin lỗi, người bằng hữu...

Xin lỗi, nhi tử, tế tử...

Dù là tập song kiếm hay thí mạng trên chiến trường, bổn vương chỉ đơn giản không thể ra tay với con!

Một nửa số quân mặt trong thành quay hàng lại cố đuổi theo bóng hai hiệp thánh đang tiến về Đế cung, nhưng chẳng ích gì mấy.

Đế Mục và quần thần đã cẩn thận đặt những quân binh tinh nhuệ nhất canh gác chính môn cũng như khoảng đại lộ phía trước phủ thành, vậy mà cũng khó ngăn được hai hồn ma hiệp thánh ấy thong dong rảo bước vào đòi diện kiến Đế vương.

- Cá— Các ngươi là quỷ thần nơi nào!

Quan binh gác cổng run run tay giáo tay gươm chĩa vào hai kẻ học trò, cố gom uy thế mong dừng được họ.

Lần này vị kiếm sĩ chẳng nở nụ cười hiền lành khi nãy nữa, mà đáp, với lưỡi kiếm sắc lẹm hé nửa trong bao, bằng một ánh mắt lạnh đến gai người.

- Vào bẩm với đại vương các người, y có hai lựa chọn: đầu hàng ngay lúc này, hoặc cố mà tránh khỏi bị bắt trước bình minh.

Nhớ nhắn rằng tốt nhất y và quần thần nên đầu hàng lập tức, vì y sẽ không muốn biết con mèo trong trò mèo vờn chuột này là ai đâu.

Ngay lập tức, có giọng nói trên lầu cao thét vọng xuống đáp.

- Không, bổn vương thà chết không đầu hàng!

Và thứ cao thủ nửa mùa các người chỉ biết to mồm, còn lâu mới bắt được bổn vương!

Vị kiếm sĩ nhíu mày ngước lên, lẩm bẩm câu gì đại loại như "Tên vô lại hạng này mà chiêu dụ được từng đó quân trong giang hồ ư?" và tra lại bảo kiếm vào bao rồi đặt tay lên chuôi kiếm thủ thế.

Đế Mục gây dựng binh mã làm sao, chiếm được thành Kinh Xuân mà xưng vương nổi loạn thế nào vẫn còn là một bí ẩn khó ai giải thích được.

- Vâng, ai mà ngờ chứ.

- Vị sử quan đưa tay vỗ trán lắc đầu, không muốn tin rằng chủ tướng phiến loạn trong dự đoán của mình lại xa khỏi sự thật chừng ấy.

- Xưa nay có bao giờ xúc phạm người sắp tiễn mình đi gặp tổ tiên là ý hay chưa người chiến hữu?

- Chà, tuỳ tình cảnh.

Nhưng hẳn là trong trường hợp này thì có kẻ vừa mới nói câu ngu ngốc nhất cuộc đời hắn rồi.

Không nương tay nhé, Sinh Liên kiếm sĩ, nhưng lệnh là phải bắt sống.

- Bắt sống chủ tướng trong khi cho hắn dừng ở một gang tay cách hoàng tuyền thì hơi khó đó sử quan đại nhân.

Nhưng không sao, lệnh là lệnh.
 
Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Hồi hai mươi sáu: Tóc phủ hồng voan che mắt ngọc


Trở lại vài tuần trước khi chiến trận Kinh Xuân nổ ra, trong Đông cung thư phòng, trên án thư của Thái tử sau buổi thiết triều sáng có tấm thiệp mang ngọc ấn của Ly quốc sứ giả vừa gửi sang.

Thiệp ấy là thiệp mời dự hôn lễ của Thái Tuệ tam hoàng tử Đan Chế Quân, và nhi nữ may mắn sắp thành quý tức của Ly đế không ai khác hơn là An Tịnh công nương Thi Kỳ, đương triều thái phó Hoa Nữ quốc; hay, thư đồng của Thái tử.

Dù ngài rất muốn nhận lời mời, nhưng chuyện triều chính lúc này khó mà buông tay được: bao nhiêu kẻ đang lăm le ngai vàng, chưa tính những cuộc nổi loạn đợi thời trỗi dậy đẩy lệch cán cân quyền lực trong vương quốc, thêm nữa vì chiến trận Kinh Xuân mà Khuê Văn song tước đều ra sa trường; sự hiện diện của Thái tử ở Nội thành bây giờ là yếu tố quan trọng nhất giữ cho bá quan không dụng thời đứng lên tranh ngai thiên tử, vắng mặt lúc này hẳn không phải cao sách.

Dẫu biết vậy, nhưng mà...

- Anh Tử, ngươi có ở đó không?

Thái tử lên tiếng gọi, và bóng hình quen thuộc của hộ vệ ngài trở về bên cửa sổ cạnh án thư.

- Vâng, Thái tử điện hạ có cần chi?

- Hồng Tước quay mặt vào trong đáp lại.

- Không, ta chỉ...

Ngươi có thể vào đây một chút?

Ta có chuyện này muốn bàn.

Tuân lệnh, một chốc sau Hồng Tước đã có mặt trong thư phòng, quỳ một chân xuống thi lễ trước án thư.

Dù không có hẹn trước, nhưng theo sau vị hộ vệ quan là hai người còn lại trong Tứ phượng hoàng— người tay cầm bảo kiếm Thượng Phương, người tay cầm Song Long ngọc ấn— đến khấu đầu thi lễ.

- Tề tể tướng, Đoàn thượng thư, hai khanh tới có việc gì?

- Thái tử ngạc nhiên vì cuộc diện kiến bất ngờ, hỏi, nhanh chóng giấu tấm thiệp mời vào trong tay áo.

- Hai kẻ hạ thần đáng tội, tự ý lấy quốc bảo vào khấu kiến Thái tử điện hạ mà không báo trước, tuy nhiên, chuyện này quan trọng, mong Thái tử bỏ qua cho.

- Miễn lễ, miễn lễ, hai khanh đừng bận tâm về điều đó.

Nhưng mà...

đến Đông cung thư phòng diện kiến ta đột ngột như vậy, có phải là chuyện này hệ trọng lắm?

Tề tể tướng tay cầm hoàng kim bảo kiếm ngước mặt lên đáp, trong ánh mắt ngài hiển hiện một sự quyết đoán khó ai lung lay được.

- Vâng, thứ lỗi cho kẻ hạ thần nói lời đường đột vô lễ: Thượng Phương bảo kiếm của tiên đế và quyền lực đi với nó, khởi bẩm Thái tử điện hạ cho phép hạ thần được nắm giữ trong tay kể từ lúc này.

- Và với Song Long ngọc ấn này, kẻ hạ quan thượng thư họ Đoàn khởi bẩm Thái tử điện hạ cũng cho phép mượn quyền như vậy.

- Đoàn thượng thư sau khi Tề tể tướng dứt lời mới ngẩng lên tâu.

Thái tử chau mày chằm chằm nhìn hai quốc bảo trên tay hai vị quan đầu triều, cằm gối trên mười ngón tay đan chặt.

Hồng Tước vẫn quỳ trước án thư, nhưng khẽ ghé mắt sang theo dõi biểu hiện nét mặt của hai đại thần.

Lo âu, có một chút sợ hãi nhưng đầy vẻ quyết đoán, chẳng có gì là những con người tham quyền đoạt vị như bá quan vẫn đồn.

Trước triều và trước mặt Thái tử, họ mang hai nét mặt hoàn toàn khác nhau; một bên là đại quan bá quyền, một bên là trung thần thiên tử.

- Các vị trông coi Cấm Thành và giang sơn mẫu quốc đã lâu, thực quyền trong tay trên bao người trong thiên hạ, bổn thái tử tới nay vẫn chưa đăng ngôi vì phụ hoàng trong lúc lâm chung truyền rằng ngai vàng chỉ có chủ nhân khi nào Tứ phượng hoàng đã thanh tẩy chốn quan trường.

Với vị trí hai vị đang đứng, hà cớ chi phải cậy quyền quốc bảo?

- Thái tử điềm tĩnh hỏi, giọng như đang dò xét.

- Bởi vì... chúng ta sắp bước vào thời nguy khốn nhất kể từ loạn ải tam phương năm đó, kẻ hạ thần mang danh tể tướng trên bao vạn người nhưng cũng khó mà một mình gánh vác nổi triều đình qua khỏi con sóng này.

Chúng ta phải làm sao nếu ngày mai tin dữ về rằng Khuê Văn song tước cả hai đều trận vong tại Kinh Xuân, nhất là khi Nội thành không còn bóng Thi Kỳ thái phó, một trong những người cuối cùng còn mang tâm thanh liêm trên đất Cấm Thành?

- Tề tể tướng giơ tay nâng cao bảo kiếm, khẽ tách kim bao để lộ ánh thép sắc ngọt - Tứ phượng hoàng đã thề với tiên đế sẽ bảo vệ vương triều tới tàn hơi cuối cùng, nếu chỉ vì sợ mất đi hai thánh tước mà buông xuôi há chăng mở cửa ô quan làm càn?

Trên nét mặt Thái tử có một thoáng bất ngờ, nhưng rồi không khí căng thẳng trong thư phòng ấy cũng chóng tan đi và trông như trong lòng ngài vừa nhẹ thêm vài quả cân.

Trọn niềm tin này Thái tử đặt vào Tứ phượng hoàng, vào những con người với mộng vĩ đại và tâm thanh trong đủ để phục hưng ước vọng mà phụ hoàng ngài năm xưa không có cơ hội thấy được.

Sau khi bóng Tề tể tướng và Đoàn thượng thư đã khuất khỏi Đông cung, Hồng Tước phủi gối đứng thẳng dậy, hai tay đặt sau lưng, khẽ cúi đầu trong tư thế thường ngày đợi lệnh ban.

Thái tử gật đầu, rút tấm thiệp mời từ tay áo ra đặt lại lên án thư, môi mỉm cười nhưng lòng nặng trĩu.

Thi Kỳ sang Ly quốc làm phi vương tử là đại hỷ sự, nhưng sao chẳng có mấy ai vui.

- Anh Tử này, từ đây... chủ nhân của ngươi sẽ không còn là bổn thái tử nữa.

Hồng Tước giật mình ngước dậy, ánh mắt mở to vì bất ngờ, môi hé mở như muốn nói gì đó nhưng chẳng có chữ nào thoát ra được.

- Xem nào, làm hộ vệ tân Thái Tuệ hoàng tử phi Ly quốc cũng không tồi chứ?

Nét mặt Hồng Tước sau khi nghe câu đáp này lại giãn ra nhẹ nhõm, mắt bừng sáng lên vì vui mừng.

Đây chẳng phải dịp may hiếm có đó sao?

Mọi người sẽ có thể an tâm lo đại sự, nếu họ biết rằng đã có Anh Tử luôn bên cạnh Thi Kỳ bé nhỏ nơi xứ người xa xôi kia.

Vị hộ vệ quan vội đến cúi đầu quỳ xuống dưới chân Thái tử, hai tay chắp lại giơ cao cảm tạ.

Mấy ngày trước hôn lễ, Ly quốc tướng quân Nhan Cơ cho quân phong tỏa hải cảng trọng điểm và đích thân đứng tiếp đón để đảm bảo an toàn cho đoàn khách quý từ cố hương quý tức mà bệ hạ đã đích thân cho mời trong bí mật.

Có ai ngờ Hoa Nữ quốc Thái tử chấp nhận lời mời dự tiệc giữa buổi rối ren này đâu, nhưng thực sự là ngài đã đáp lại với Ly đế rằng nhất định sẽ sang dự bằng mọi giá.

Bỏ tất cả chuyện triều chính trong thời loạn lạc mà vượt ngàn trùng đến làm nhân chứng cho hôn lễ của Thái Tuệ tam hoàng tử, ở đây người ta mới thấy Thái tử xứ ấy thương thư đồng bé nhỏ của ngài, quý tức tương lai của Ly đế, như thế nào.

Trong đoàn tuỳ tùng của Thái tử theo sang có Chấn Phiên Hồng Tước và đội cấm vệ quân, dăm tỳ nữ và gia nô cùng rương hòm lễ vật làm quà cưới.

Đứng chờ đằng kia trên bến cảng cùng với một toán quân lính hầu là người vừa vài ba tuần trước đã đến đón Thi Kỳ đi, Ly quốc tướng quân Nhan Cơ.

Hồng Tước hộ vệ với Nhan Cơ tướng quân biết mặt nhau chỉ có một thoáng, khi nàng cùng đoàn sứ thần sang Hoa Nữ quốc với lá thư cầu thân, nhưng trên đường họ trò chuyện như hai bằng hữu lâu ngày mới gặp.

Nhan Cơ giảng giải qua những nghi thức lễ độ trong hoàng cung, những thứ một cận vệ cần rõ, và Hồng Tước hỏi thăm về Thi Kỳ, trên gương mặt trông vẫn điềm nhiên nhưng trong giọng nói có vẻ lo lắng nhiều.

Theo lời Nhan Cơ tướng quân, Thi Kỳ đã phần nào thích nghi được với cuộc sống nơi hoàng cung xứ người và nàng cũng bảo rằng Hồng Tước chớ có quá lo vì bảo vệ và phục vụ Thái Tuệ hoàng tử phi là bổn phận của nàng, với trách nhiệm là Ly quốc tướng quân.

Nghe những lời ấy, trong tâm Hồng Tước dấy lên một sự bối rối thật khó tả.

Trên đất Ly quốc xa xôi này, Thi Kỳ không còn là đứa bé những buổi thiết triều xưa từng nấp sau lưng hoặc níu tay áo Hồng Tước không chịu rời; không còn là kẻ học trò một mình ru rú Thái phó phủ hát hoài những khúc thi ca Khổng Tước tiên sinh ra đi để lại; cũng chẳng còn là thư đồng của Thái tử, người được tin tưởng giữ hộ hai tấm kim bài song tước.

Thi Kỳ bây giờ gọi là Thái Tuệ hoàng tử phi, là quý tức Ly đế, là tài nữ cung đình trên mình khoác những nhung gấm lụa là, ngọc ngà châu báu.

Thi Kỳ bây giờ chẳng còn là đứa em bé nhỏ mọi người vẫn yêu thương nữa, hoàn toàn xa rời với quá khứ thường dân ấy rồi.

Đón tiếp Thái tử ở kinh đô Cẩm Ngân không có cờ hoa trống kèn, nhưng chẳng hề kém phần chu đáo.

Buổi tiếp đón này vắng mặt hoàng tử phi tương lai, hẳn là Thi Kỳ vẫn chưa biết Thái tử đã đến dự hôn lễ mình.

Thái tử chỉ cười và bảo nếu vậy cũng chẳng sao, món quà ngài mang sang lại càng thêm phần bất ngờ.

Khi đoàn người Hoa Nữ quốc dự hôn lễ đã được dẫn về khách phủ xong xuôi, Hồng Tước vội mở rương hòm hành lý mình lấy ra cây nguyệt cầm kỷ niệm khoác lên vai rồi xin khiếu Thái tử cho dạo quanh kinh thành một lát.

Đường lối lạ lẫm có chút khó khăn, nhưng cuối cùng Hồng Tước cũng tìm đến được biệt phủ của Thi Kỳ và nép sau vòm cửa vườn hoa.

Vị hoàng tử phi tương lai đang ngồi một mình bên bàn trà, mắt ngước cao nhìn trời, nhìn mây trôi, nhìn đàn chim di trú bay về từ phía tây xa xôi và ngân nga hát một khúc thơ có vẻ lạ nhưng nghe lại thật quen:

- Hồng voan phủ tóc che mắt ngọc

Thi gia nhi nữ về nhà chồng

Vạn dặm vẫn áo kẻ trò học

Vạt tà vương nhánh lá diêu bông

Sính lễ chẳng phải nắm trầu không

Châu báu lụa là đầy rương cả

Từ nay danh phận phi xứ lạ

Một mình viễn khách đất phương xa...

Nếu không phải vì khúc thơ giọng hát ấy, Hồng Tước đã có lẽ không thể nhận ra đó là Thi Kỳ.

Kẻ thư sinh áo vải với nếp quạt giấy trên tay đâu rồi, đây chỉ thấy một nữ nhân khuê các khoác tấm lụa thêu, tóc dài cài hoa buông thả kiêu sa trên gương mặt vẫn còn vương chút ngây thơ một thuở xuân xanh.

Phía bên kia vòm cửa Hồng Tước thẫn thờ ngồi xuống dưới hiên, đưa tay khẽ che mặt mà khóc thầm.

Thi Kỳ vẫn chưa hay biết gì về sự hiện diện của đoàn sứ Hoa Nữ quốc ở Cẩm Ngân kinh đô, và có lẽ cũng không hay biết rằng có ai đó đang ở phía sau vòm cửa vườn hoa.

Ngọn đèn leo lắt bên vọng nguyệt đài ấy vậy là vụt tắt, để Hưng Thánh điện lại chìm vào hoang lạnh rêu phong.

Chim nhạn bé nhỏ, hơi ấm cuối cùng còn sót lại trong Thái phó phủ, nay đã tung cánh về miền viễn phương ngàn trùng.

Từ đây Thi Kỳ và mọi người sẽ chẳng còn đồng môn chi giao, chẳng còn những tiếng gọi thân thương ngày nào; hoặc là vương tử phi và quan hầu, hoặc là người hoàng tộc của hai nước thật xa nhau.

Hai tay Hồng Tước run run níu chặt cây nguyệt cầm kỷ niệm vào lòng, khẽ khàng đứng lên tìm đường về khách phủ.

Vài ngày sau đó, kinh đô và hoàng cung Ly quốc được trang hoàng thật tráng lệ đón mừng hôn lễ của Thái Tuệ hoàng tử, ái nhi của Ly đế, và tài nữ họ Thi, đương triều thái phó của Hoa Nữ quốc phía tây.

Tiếng hò reo chúc phúc vang dội trên mọi nẻo đường góc phố trong kinh thành, và thiên hạ đổ cả ra đại lộ để được xem kiệu hoa vàng ngọc rước tân hoàng tử phi về hoàng cung cử hành hôn lễ.

Những lời chúc tụng reo mừng ấy vang vọng cả vào khách phủ của Thái tử Hoa Nữ quốc, người đang chuẩn bị đến lễ đường cùng với những quan khách hoàng tộc khác làm nhân chứng cho cuộc liên hôn này.

- Ly quốc đây không khí nhộn nhịp và phồn vinh hơn nhiều so với mẫu quốc chúng ta, ngươi có thấy vậy không?

- Thái tử cười, quay về phía Hồng Tước và hỏi - Ly đế cho cả kiệu vàng ngọc xa hoa khảm long phượng để rước phi tử của tam hoàng nhi, và vạn người đổ ra đường chào đón nàng...

- Vâng, giá như mà mọi người có thể đến đây đủ mặt để chung vui cùng hỷ sự này.

- Hồng Tước cúi đầu đáp, cây nguyệt cầm kỷ niệm lặng lẽ trên vai.

- Hỷ sự à, Anh Tử?

Bổn thái tử chẳng thấy có hỷ sự gì ở đây, chỉ là một cuộc liên hôn chính trị.

Tại sao gọi nó là hỷ sự khi hai bên kết chỉ hồng vì lợi ích vương quốc thay vì cho hạnh phúc phu thê?

Ta nghĩ rằng Ly tộc cũng cảm thấy như vậy.

- Thái tử bỗng một thoáng chùn giọng, mắt hướng lên trời cao xanh thẳm - Vả lại, nhìn thần dân Ly quốc vui mừng đón Thái Tuệ hoàng tử phi tương lai như vậy, ta lại nhớ...

Khổng Tước thái phó.

Vừa nhắc đến tên Khuê Văn Khổng Tước, Thái tử trên môi lại nở một nụ cười buồn, tay khẽ đặt lên vết thương đã lành từ vụ án xưa.

- Tại sao bao đại công thần trong triều xưa nay có thể, khi thời hoàng kim đã phai mờ, hưởng chút gì đó xứng đáng để đền đáp những cống hiến của họ cho triều đình, mà Khổng Tước thái phó thì không?

Con người ấy vì bổn thái tử, vì mọi người mà mất gần như tất cả, nhưng hãy xem triều đình đã đền công ngài những gì!

Chẳng có lấy một lời tiễn chân hay một tấm vải áo đi đường...

Và tại sao khi thần dân Ly quốc hân hoan chào đón một nhi nữ ngoại quốc xa lạ vào vị trí mẫu nghi thiên hạ tương lai, nhưng lính gác Nội thành Hoa Nữ quốc ta lại đóng chặt cổng trước mặt người đã dâng cả cuộc đời để thành thực ước vọng an bình non nước của cố thượng hoàng?

Ta không hiểu nổi, Anh Tử à...

Vừa dứt lời, Thái tử điện hạ tự tay khoác lễ bào vào và bước lên kiệu ngồi, lệnh cho đoàn tuỳ tùng khởi hành đến lễ đường cho kịp hẹn.

Vài gia nô khiêng rương hòm quà cưới theo sau, và đi cạnh kiệu thái tử có Hồng Tước, hôm nay vận quan phục cùng bảo kiếm trông trang trọng khác hẳn thường ngày vẫn thấy.

Điện hạ bảo rằng hộ vệ thái tử một đại quốc trước mắt quan khách các xứ và nhất là hoàng tộc Ly quốc mà mang áo vải giày thô thì không hay.

Nữa là trong yến tiệc đêm nay, Thái tử định sẽ đưa ra món quà bất ngờ cho tân hoàng tử phi, lại thêm lý do để vị hộ vệ quan ăn vận đẹp đẽ hơn ngày thường.

Ở bậc tam cấp trước cửa lễ đường, quân vương các nước lân bang cùng với Ly tộc đã đợi sẵn sàng, nhưng đám rước tân nương vẫn chưa đến nơi; tranh thủ lúc này, Thái tử mang theo hộ vệ mình tới thi lễ ra mắt Ly đế và hoàng hậu, hỏi rằng món quà cưới ngài đem sang cho tân hoàng tử phi có hợp ý thiên tử.

Ly đế có vẻ ngỡ ngàng một thoáng, nhưng sau khi biết rõ "món quà" thì gật đầu đồng ý ngay; quý tức yêu dấu của ngài hẳn cần chút gì từ quê nhà làm khuây những tháng ngày xa xôi sắp tới.

Và đáp lại hồng ân đó, hộ vệ Hoa Nữ quốc thái tử lập tức khấu đầu dưới chân Ly tộc, tay nâng cao bảo kiếm mình lên tạ lễ.

Kiệu phượng rước tân nương cũng vừa tới nơi, trống kèn cờ hoa cũng vừa dứt.

Tỳ nữ vội đến vén màn, rồi Thái Tuệ hoàng tử phi long trọng bước xuống, khoanh tay cúi đầu chào ra mắt.

Nàng vận thượng phục chỉ vàng, tóc vấn trâm hoa phủ hồng voan thật kiêu sa dù nhân dáng có hơi bé nhỏ và mảnh mai.

Cận vệ hộ tống nàng đưa tay khẽ hé tấm voan hồng lên để nhận diện tân nương rồi trong sự chứng kiến của Ly tộc và hoàng thân quốc thích các nước, Tam hoàng tử miễn cưỡng cầm tay người sắp thành thê tử mình bước lên bậc tam cấp, dẫn đường quan khách lên đại điện cử hành hôn lễ.

Thái tử theo Ly tộc vào trong làm nhân chứng cho buổi liên hôn, còn Hồng Tước cùng với những đoàn tuỳ tùng và lính hầu đứng ngoài chờ đợi.

Giữa tiếng chuyện trò của gia nô những vị quan khách, có khúc nguyệt cầm thanh trong khe khẽ reo.

Trên phiến hoa cương lát bậc tam cấp lễ đường ấy, chẳng ai đến ý đến Hoa Nữ quốc thái tử hộ vệ quan đang ngồi nhìn trời xanh, ngón tay thẫn thờ khảy lên dây đàn vài câu hát vu vơ mơ hồ.

Lời thơ buồn nghe sao mênh mang

Sau tấm voan hồng khiến lòng xốn xang

Ngày lấy chồng em đi lên kiệu son

Giã từ đôi áo kẻ sĩ mòn

Tấm lễ y đính trăm hòn cẩm thạch

Trang sức long lanh sắc vàng hổ phách

Sương lạnh lách tách trên nhánh diêu bông

Tại sao em nỡ vội lấy chồng?

(*)

Giữa buổi dạ yến mừng cuộc đại liên hôn này, khi quan khách đang say sưa trong mỹ tửu cao lương, Thái Tuệ hoàng tử phi ra ngồi một mình ở vọng nguyệt đài giữa hồ bên cạnh nơi mọi người dự tiệc mà ngân vài câu ca vẩn vơ cho qua thời gian.

Bỗng có tiếng bước chân ai rảo đến gần.

Thi Kỳ quay đầu lại nhìn, bất ngờ không nói nên lời, bóng người quen trong hàng quan khách làm nhân chứng cuộc liên hôn ấy đúng thực là Thái tử điện hạ, ly rượu mừng nâng cao trên tay.

Chẳng ai báo cho Thi Kỳ rằng Ly đế có mời Hoa Nữ quốc Thái tử, và cũng chẳng người nào— kể cả cận vệ Tuý Khanh Vân— cho Thi Kỳ biết rằng Thái tử đã đến dự hôn lễ.

Như thói quen, Thi Kỳ vội đứng dậy định chắp tay thi lễ, nhưng Thái tử mỉm cười và giơ tay ngăn lại.

- Thái Tuệ hoàng tử phi Ly quốc không cần đa lễ với thái tử lân bang.

Trong một thoáng lòng Thi Kỳ như chùn xuống; phải rồi, với Thái tử mình đâu còn là thư đồng ngài, là đứa em bé nhỏ của mọi người nữa, chỉ là vị vương tử phi xứ người xa lạ thôi.

Thi Kỳ lấy cớ đáp lại rằng mình dẫu thành gì thì vẫn là con dân Hoa Nữ quốc nên thi lễ với Thái tử là điều hiển nhiên.

- Thôi được rồi, nhân hỷ nhật hôm nay, bổn thái tử lặn lội đường xa đến mang cho tân hoàng tử phi Ly quốc món quà đây.

Tuân theo hiệu, Hồng Tước vận quan phục trang trọng của trưởng đội cảnh vệ quân Nội thành từ trong màn đêm bước ra, bảo kiếm ngay ngắn bên hông, thành kính quỳ xuống chắp tay thi lễ trước mặt Thi Kỳ.

- Thuộc hạ Chấn Phiên Hồng Tước hiệu danh Anh Tử, theo lệnh Thái tử điện hạ và sự chấp thuận của Ly đế bệ hạ, từ nay sẽ là hộ vệ Thái Tuệ hoàng tử phi.

Thái tử gật đầu tỏ ý hài lòng rồi xin khiếu về dự yến tiệc, để hộ vệ mình— bây giờ là hộ vệ Thái Tuệ hoàng tử phi— lại cho một cuộc hạnh ngộ mà ngài biết không nên xen vào.

Giờ đã khuất mặt mọi người, Hồng Tước phủi gối đứng lên, thắt lại dây đai bảo kiếm và tựa người vào ban công vọng nguyệt đài, buông một tiếng thở dài.

Thật khó tin rằng một người như Hồng Tước— người mà tam phẩm nhị phẩm đại thần cũng vài phần kính trọng— nay lại hạ mình làm một quan hầu không hơn không kém cho nhi nữ vì may mắn mà thoát sang xứ người thành hoàng tử phi.

- Nhị— Anh Tử hộ vệ này, ở Kinh Xuân... mọi người ra sao rồi?

- Thi Kỳ ngước mắt về phía Hồng Tước đang đứng, mở lời khẽ hỏi.

- Nói cho cùng thì ta cũng chẳng biết.

Tin ở Kinh Xuân đâu có tới được tai một kẻ không phẩm vị như hộ vệ thái tử.

Có lẽ lúc này họ đang đánh ván bài chiến tranh với quân phiến loạn...

Hồng Tước tới đây bỗng đổi giọng thân thuộc, nói đoạn lại ngẩng đầu về hướng chân trời phía tây, trong ánh mắt đong đầy hoài niệm cũng như nỗi lo lắng về ngày mai.

- Những ngày qua một mình trên đất khách quê người, từ nay lại phải khoác áo phi tử, có phải là... khó khăn lắm không?

- So với những gì mọi người đang phải đối mặt ngoài sa trường, chút khổ nạn này với bổn cung sá chi đâu.

Nghe được lời đáp này, Hồng Tước rời khỏi chỗ mình đang đứng, nét mặt bỗng nghiêm túc lạ thường, đột nhiên tiến đến gần và đưa tay khẽ véo má Thái Tuệ hoàng tử phi.

- Thật là, Tiểu Kỳ, xưa nay vẫn vậy.

Năm ấy mỗi người đều chọn đi con đường riêng rời xa Thái phó phủ, nhưng điều đó không có nghĩa là tai ương khổ nạn người ở lại phải gánh lấy một mình!

Những tháng ngày vừa qua có lẽ không bình lặng lắm, nhưng bây giờ đã có ta ở đây rồi, chớ lo chuyện chi nữa ngoài việc hoàn thành sứ mạng của cuộc liên hôn này và cùng nhau sống sót tới ngày tái ngộ với mọi người.

Hồng Tước buông tay ra và quay người đi, định rằng sẽ về nơi dự yến xem Thái tử ra sao hoặc tìm vị cận vệ của tân lang quân Thi Kỳ, Thái Tuệ hoàng tử, để mà chào hỏi ra mắt, bởi thiết nghĩ sau này kiểu gì cũng phải gặp nhau thường xuyên chi bằng nên làm quen nhau trước; tuy nhiên, vị hộ vệ quan đột nhiên dừng chân lại.

Đằng sau, Thi Kỳ nắm chặt lấy tay áo Hồng Tước níu nhẹ, khoé miệng nở một nụ cười nhưng khoé mắt thì ngấn lệ, khẽ thì thầm.

- Anh Tử hộ vệ— không, nhị sư tỷ... xin đừng đi...

Hồng Tước tuy có chút bất ngờ vì nhận ra Thi Kỳ ngày xưa thật vẫn còn đó, nhưng rồi cũng chỉ cười nhẹ và gỡ đôi bàn tay bé nhỏ của vị hoàng tử phi khỏi tay áo mình.

- Ngốc...

Quân tử có bao giờ quên lời hứa không?

______

(*) Cảm hứng từ bài hát "Sao em nỡ vội lấy chồng" ("Lá diêu bông") của nhạc sĩ Trần Tiến.
 
Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Hồi hai mươi bảy: Kiếp oan khiên khi nào mới dứt


Ngày vui nào rồi cũng đến lúc tàn, và khi hiệp ước giữ trung lập cho Hoa Nữ quốc đã được ký kết xong xuôi với Ly quốc hoàng đế, Thái tử cùng đoàn tuỳ tùng thu dọn hành lý trở về Cấm Thành vài hôm sau yến tiệc mừng hôn lễ.

Quen thói thường, Thái tử lên tiếng gọi tên Hồng Tước tới kiểm tra những thứ cần thiết để chuẩn bị lên đường ra hải cảng, nhưng đợi một hồi lâu chẳng thấy bóng ai.

Chỉ có bước chân gia nô tỳ nữ xôn xao khắp khách phủ gói ghém hành trang chất lên đoàn xe ngựa ngoài cổng phủ.

- Bẩm điện hạ, mọi thứ đã xong xuôi.

Đoàn xe sẽ khởi hành khi nào ngài sẵn sàng.

Viên tổng quản đến trước cửa phòng Thái tử chắp tay hành lễ rồi thông báo.

Vậy là mọi chuyện ở xứ người này đã chu toàn.

Thi thái phó, người mà Thái tử luôn coi như đứa em bé nhỏ của mình, nay đã được gửi lại chốn bình yên, ngài chẳng còn việc gì để nán lại thêm chút nữa; và, với triều đình Hoa Nữ quốc vắng bóng Thái tử, ai biết quân phản đồ lăm le long ngai đang mưu gì sau lưng ngài.

Về Nội thành càng chậm trễ, nước cờ càng khó lường; dẫu Tề tể tướng và Đoàn thượng thư đã được ban quyền lực quốc bảo nhưng biết phải đối phó với từng đó kẻ gian thần thì chuyện nói ra dễ hơn làm.

Khi Thái tử chuẩn bị lên ngự xa khởi hành ra hải cảng, viên tổng quản cùng tất cả tuỳ tùng ngài đã xếp hàng ngay ngắn trước cửa khách phòng, chắp tay cúi đầu làm lễ thật đồng bộ.

Ở cuối hàng gia nô tỳ nữ, ngay bên cổng khách phủ mở rộng có hai người mang áo choàng chắc chắn không trong đoàn tuỳ tòng, ai có lẽ cũng nhận ra điều đó, nhưng sao viên tổng quản lại xem như chẳng thấy gì.

Thái tử trong tâm gắng giữ bình tĩnh, hai tay sau lưng phong thái bình thường, nhịp bước rảo đều ra phía cổng rồi cố tình dừng chân trước khi ngài có thể chạm mặt họ.

Tuy rằng cả hai đều trùm áo choàng khó mà nhận diện, nhưng Thái tử có thể thấy rõ một người tư thế uy phong như cảnh vệ, người còn lại— nhân dáng bé nhỏ hơn— thì nép sau lưng và níu chặt ống tay áo kẻ đồng hành.

Nhận ra được cố nhân, Thái tử buông một tiếng thở dài, nét mặt giãn ra với một nụ cười nhẹ nhõm.

- Chẳng ngờ một bù nhìn ngoại bang như bổn thái tử lại vinh dự được quý tức của Ly quốc hoàng đế đích thân đến tiễn chân.

Người khách đằng sau ấy nghe vậy thì giật mình, đưa tay kéo mũ choàng xuống nhận mặt rồi vội cúi mình chắp tay hành lễ.

- Học trò Thi Kỳ khấu kiến Thái tử điện hạ.

Tuy người trước mắt Thái tử bây giờ gọi là Ly quốc hoàng tử phi, nhưng sao nhân dạng này lại khác xa với danh xưng ấy như vậy.

Tóc vấn dải lanh, áo vải sĩ tử hé sau lớp áo choàng thùng thình, nếu nói đây chẳng phải Thi Trà Khiết ngày xưa ngài từng biết thì chỉ có kẻ mù mới không tin.

- Khấu kiến Thái tử.

- Hồng Tước cũng kéo mũ choàng xuống và thi lễ theo Thi Kỳ, đầu cúi gằm.

- Xưa là thư đồng của bổn thái tử có thể ra vào gặp nhau tự do, nhưng nay là thê thất của hoàng tử đại quốc, để thiên hạ nhìn thấy không hay đâu.

Thái tử đáp rồi vội nhanh bước lên ngự xa, mắt láo liên dõi xem có thường dân nào vô tình mục kiến.

Dẫu trong tâm ngài những con người xưa kia ngày từng biết chưa hề thay đổi, vị thế mọi người nay đứng thật khác xa; nếu bảo nhau rằng họ là người dưng có lẽ còn tốt đẹp hơn nhận mặt quen thân bây giờ.

Lúc đến có Bích Liên tướng quân dẫn đoàn hộ tống, lúc về vướng phải chiến sự tam quốc biến động nên chẳng có ai từ Ly triều ra tiễn.

Tất nhiên, ấy là nếu như không tính hai vị khách không mời này, quý tức ngoại quốc của Ly đế và hộ vệ nàng.

Khi ngự xa vừa lăn bánh khỏi đại môn kinh đô, đằng sau Thái tử nghe có tiếng vó ngựa dồn dập tới và bóng Hồng Tước quất cương nước kiệu vượt mặt quân lính ra trước đầu đoàn tuỳ tùng như để dẫn đường.

Một chốc sau, Thi Kỳ cũng rảo ngựa đến ngang cửa sổ ngự xa, không quên đội lại mũ choàng để lính gác đại môn khó nhận mặt.

Khi đoàn tuỳ tùng Thái tử Hoa Nữ quốc đã khuất giữa rừng cây núi đá hai bờ chính lộ ra hải cảng họ mới thoải mái rảo ngựa chậm lại và bỏ mũ choàng xuống, nói cười với những lính gác ngự xa như thể bao kẻ bằng hữu quen thân.

Vị tổng quản trực ngay màn cửa ngự xa lễ phép nhưng đôi phần miễn cưỡng chắp tay chào hai người, nay thuộc về ngoại quốc xa lạ, và tất nhiên không quên kèm theo một biểu cảm đầy tò mò.

- Thái tử điện hạ, học trò có thành mẫu nghi Ly quốc cũng không quên mình là thư đồng ngài, là đệ tử Khuê Văn Khổng Tước thái phó.

Nếu làm dâu Ly tộc có nghĩa rằng bị cuốn vào chiến sự tam quốc, có nghĩa rằng từ đây không bao giờ còn được tái ngộ mọi người, vậy thì xin Thái tử điện hạ cho phép học trò được theo tiễn chân lần chót.

Có lẽ hôm nay sẽ là ngày cuối Chấn Phiên Hồng Tước hộ vệ và An Tịnh công Thi Kỳ tồn tại trong mắt thiên hạ...

- Thi Kỳ quay mặt về phía Thái tử mà tâu, trong giọng nói nghe thiết tha tột cùng.

- Không có đâu!

- Hồng Tước bật cười, theo thói quen chậm ngựa xuống cửa sổ ngự xa như bao lần vẫn theo hộ vệ Thái tử - Dù Thái tử điện hạ, Chu Tước đại nhân chấp thuận cuộc hôn nhân này và đây cũng vì tốt lành cho Tiểu Kỳ, nhưng kẻ hạ thần trước mặt điện hạ nên nói thật: Thi Kỳ của chúng ta chẳng hợp tấm áo thê nương.

Khuê Văn Khổng Tước tiên sinh nuôi dạy Tiểu Kỳ thành một sĩ tử, chứ không phải một thư tử để gả đi!

- Nhị sư tỷ à, nghĩ cho cùng thì áo lụa thê nương khoác lâu ngày thành quen, nhưng kẻ sĩ tử ngây thơ thì các vị không thể trông chừng mãi, gửi đi âu cũng tốt cả đôi bên...

- Trong thời này thì tốt cả đôi bên, nhưng khi mẫu quốc đã an bình, tiên sinh chúng ta về thành bằng chính môn, vụ án sáng tỏ và Thái tử điện hạ chính thức ngồi ngai thiên tử mà xứ này vẫn còn chinh chiến, thì dẫu có phải lội núi vượt sông, dẫu có phải chèo xuồng qua Đại Hải mênh mông Chấn Phiên Anh Tử này cũng sẽ đưa được Tiểu Kỳ về cho mọi người!

Nhớ đấy!- Nửa đùa nửa thật, Hồng Tước họa vào.

Tới nước này Thái tử chỉ có thể đưa tay vỗ trán khẽ cười.

- Nếu ngày xưa bổn thái tử can đảm được như hai người, không màng dị nghị bá quan, không màng nghi án sơ trọng, không màng chứng cứ giả dối mà cứ tin tưởng một dạ đứng về phía Khổng Tước thái phó, có lẽ lúc này... người sẽ không phải mang kiếp kẻ tội đồ oan khiên...

Trở lại Kinh Xuân khi ấy, dưới ánh trăng xanh vằng vặc sáng có bóng vị học sĩ với đôi chân bé nhỏ lướt như bay trên đỉnh trường thành, đoản kiếm vỏ gỗ đào giắt dải thắt lưng.

Bá tánh thường dân đã di tản vài hôm trước chiến nhật nên cả hai phe phía dưới thả sức chém giết nhau, giữa hỗn chiến loạn trường chẳng ai để ý đến người.

Thoáng ghé mắt xuống khoảng sân trong phủ thành, vị học sĩ thấy đệ tử mình Nguyệt Sinh Liên dừng chân giữa đường, kéo vạt áo lau kiếm sau khi vừa hạ xong đám quan quân lính gác ngoài cổng.

Kẻ học trò đệ tử Khổng Tước thì tay ôm thiết côn ngồi bệt dưới một thạch trụ gần đó, ngước đầu nhìn lên trời đêm với ánh mắt lim dim đầy mệt mỏi nhưng miệng thì nở một nụ cười thoả mãn.

Đưa tay nắm chặt chuôi đoản kiếm rút ra khỏi bao, vị học sĩ ấy thì thầm một lời thề báo thù và để bước chân cùng dáng hình bé nhỏ mình bị bóng tối tầng cao phủ thành và đêm đen mịt mù nuốt trọn.

- Tới khi quân triều đình ngoài kia tiến công được vào trong thành chúng ta có thể nghỉ ngơi một chút...

- Nguyệt Sinh Liên ghé mắt nhìn ra tình hình chiến sự bên ngoài phủ thành, rồi cũng khẽ khàng tra kiếm lại vào bao và đến ngồi xuống bên cạnh người chiến hữu mình.

Bên ngoài cổng phủ thành chiến trường hỗn loạn, nhưng sao trong khoảng sân này lại thinh lặng im ắng đến lạ thường.

Chung quanh chỉ có vài cơn gió đêm hiu hiu thổi và trên trời cao chỉ có ánh trăng xanh và màn sao tĩnh mịch.

Nhân phút bình yên hiếm hoi này, Nguyệt Sinh Liên lấy ra một trúc tiêu từ trong ngực áo và thổi một khúc ca ngày xưa con người mang tên Trường San kiếm sĩ từng hay thổi mỗi khi dừng chân giữa những cuộc giao tranh hoặc khi thi thoảng ghé thăm người chiến hữu tâm giao nơi núi rừng Liêm Sơn u tịch.

Một khúc ca mà dẫu bao nhiêu năm giông tố đã qua cả hai đều không thể nào quên được.

Hạnh phúc là gì, hỡi người ơi?

Hãy cho tôi cùng đi theo với

Dẫu có bão tố có chông gai

Dẫu có sương buốt có đêm dài

Giang hồ lữ khách kẻ hàn tâm

Nhưng chẳng bao giờ đi đường lầm

Qua bao mùa hạ tới mùa đông

Người, tôi vẫn chung một giấc mộng

Tình thân chiến hữu ngọn lửa hồng

Vẫn cháy dù kể gió cả đông

Và giữa dày đặc màn sương mù

Sẽ ấm sáng mãi tới ngàn thu... (*)

- Hoả báu ca à, đã lâu lắm rồi... mới được nghe lại đó...

- Vị sử quan khẽ ngước đầu sang bên mà mỉm cười - Các hạ bảo rằng Tử thần vô ảnh kiếm sĩ ấy đã biến mất trên cõi đời từ khi Liêm Sơn thành chúa trận vong, nhưng đó không phải sự thật, phải không?

Hoả báu ca chẳng phải thứ người thường hay chơi trong những lúc thế này.

Nguyệt Sinh Liên chỉ cười trừ đáp lại và nhanh chóng cất ống trúc tiêu vào áo để tiếp tục cuộc săn đuổi, không quên chìa một tay ra giúp người chiến hữu đứng dậy.

- Tấm cà sa không làm nên vị hoà thượng, và hẳn là vạt áo vải cũng chẳng làm một kẻ giang hồ nên người thư sinh.

Trường San kiếm sĩ, cái tên ấy có thể đã biến mất trên cõi đời cùng với Huyền Khôi đại vương năm đó, nhưng, người chiến hữu à, anh linh họ vẫn chưa bao giờ rời đi.

Sau một thoáng chần chờ do dự, Sa Liên nở nụ cười an lành đầu tiên trong bao năm qua và sốt sắng chấp nhận sự giúp đỡ ấy.

Một mảnh quá khứ xa xưa tưởng đã chìm giữa biển huyết khổ khi nào nay lại thấy trở về trên bàn tay chìa ra của Nguyệt Sinh Liên.

Hai người chiến hữu ngỡ đã bị cách chia bởi hoàng tuyền nay lại ngồi cùng nhau giữa phút bình lặng của đêm chiến trường, tuy rằng thân phận họ mang bây giờ chỉ là hai kẻ sĩ xa lạ.

Vị sử quan hít dài một hơi cái không khí hôn dạ vắng sao quen thuộc rồi gượng người đứng dậy tiếp tục cuộc săn, vô tình để trâm hoa vướng vào thiết côn rơi xuống đất.

Người vội cúi xuống nhặt ngay, nhưng không cài lại lên tóc mà cất kỹ vào trong ngực áo rồi buộc tạm mái tóc dài bằng dải thắt lưng dự phòng.

Nguyệt Sinh Liên có chút ngỡ ngàng, tuy nhiên cũng lắc đầu cho qua nhanh và nở một nụ cười nhẹ.

Trên đường đi tìm Đế Mục, vị kiếm sĩ đột nhiên thoáng hỏi:

- Cái trâm hoa gỗ cũ mèm đó... quan trọng lắm sao?

Và vị sử quan chỉ điềm nhiên đáp lại:

- Trâm gỗ cũ mèm, nhưng hẳn quan trọng hơn cái mạng còm kẻ thư sinh này.

Sâu trong lầu thượng phủ thành, Đế Mục cùng hai cận vệ và một trung thần tin cậy đang cố tìm đường tẩu thoát khỏi vòng vây quân triều đình đang bao quanh Kinh Xuân.

Khi y vừa nhón mình ra ban công một tầng nào xem tình hình chiến sự phía dưới ra sao, một bóng hình bé nhỏ khoác áo thư sinh ngoài ánh trăng đứng đó im lặng khoanh tay nhìn vào như thể đã chờ đợi y từ lâu lắm rồi.

Giắt trên thắt lưng kẻ học trò là một thanh đoản kiếm vỏ gỗ đào, và trên gương mặt người mang một vẻ thanh thoát điềm tĩnh đến lạ.

Thấy được Đế Mục cùng tuỳ tòng, vị thư sinh bước tới ba bước, cúi người chào đúng lễ rồi rút đoản kiếm ra khỏi vỏ.

Lưỡi thép bén ngọt lại càng sáng thêm dưới ánh trăng xanh khiến Đế Mục lùi dăm thước về sau trong khiếp sợ.

- Đế thị, hai người kia đã sắp đuổi kịp tới nơi, chạy mau nếu ngài còn muốn sống.

Học trò đây tìm thù để báo, không phải tìm nhân để sát.

Tuy nhiên...

- Vị học sĩ giương mắt nhìn thẳng bóng trung thần nép đằng sau Đế Mục - ...các hạ không phiền nán lại một chút với học trò chứ?

Hai cận vệ hớt hải hộ tống Đế Mục rời đi, để lại trung thần đứng đó với vị học sĩ bé nhỏ.

Sau một hồi nhìn nhau im lặng, người kia mở lời hỏi:

- Chúng ta chưa từng gặp mặt nhau, tiểu thần không rõ vì sao ngài muốn tiểu thần đứng lại.

Ngài có thể nào giải thích cho tiểu thần chăng?

Vị học sĩ chỉ lạnh lùng giơ mũi đoản kiếm chỉ thẳng tâm hắc nhân đối diện.

- Gặp mặt nhau hay chưa chẳng quan trọng gì, nhưng bổn sĩ biết chắc chắn tên vô lại nhà ngươi có một tay trong Đông cung đại án năm đó.

Vụ đại án mà trong không quá một đêm trăng đã khuynh đảo cả vương quốc này...

Hắc nhân kia khẽ đặt một tay ra sau lưng lần tìm thứ gì như ám khí, tuy nhiên Khuê Văn Chu Tước cũng chẳng chậm chạp hơn gì, nhanh chóng vụt tới trước để lưỡi kiếm sắc kề cổ đối phương.

Tiếng chân dồn dập quen thuộc của đệ tử bắt đầu vọng đến nơi, nếu vị học sĩ có thể cầm chân thêm vài phút nữa...

Trong một khắc bất ngờ, hắc nhân vung tay kia giấu dưới vạt áo tung một nắm bụi mù vào vị học sĩ.

Khuê Văn Chu Tước tuy phát hiện kịp lúc nhưng vẫn choáng váng tức thời vì hơi bụi vào mắt.

Hắc nhân thừa cơ đó tự giải vây, rút con dao găm giấu trong áo ra nhằm thẳng tâm đối phương.

Nhờ thiên nhãn mà vị học sĩ có thể tránh kịp lúc, không hề hấn gì.

Kẻ kia bắt đầu lộ mặt, chẳng còn cái vỏ tiểu thần theo chân Đế Mục nữa, mà giờ là bóng đen năm đó giấu mình trên mái đợi thời cơ hành thích thái tử— kẻ mà bàn tay mang dấu chàm đại án Đông cung, gá họa oan khiên cho Khuê Văn thái phó đến bây giờ vẫn chưa được giải.

- Ra là quan triều đình.

Thanh quan à, chỉ là chướng ngại cho chủ công ta.

Đại nhân không phiền ta tiễn người một đoạn chứ?

- Kẻ thích khách mở một nụ cười giễu.

- Nếu bổn sĩ kẻ từng qua cuộc chiến loạn, từng sống sót giữa giang lâm hiểm độc, giữa quan trường hiểm ác mà hôm nay lại bại dưới tay kẻ như ngươi, thì còn gì danh của Khuê Văn gia tộc.

Ta tới đây tìm ngươi, và chỉ một mình ngươi, là để báo thù.

- Khuê Văn Chu Tước ngừng một khắc để lấy lại nhịp thở, đáp.

- Khuê Văn gia, nghe quen quen...

À đúng rồi, thị gia của vị thái phó cố chấp chạy đến bảo vệ tên thái tử.

Nhớ không lầm thì là...

Khuê Văn Khổng Tước.

Chà, có phải đại nhân đây là Khuê Văn Khổng Tước, thật vinh hạnh cho kẻ tiểu nhân đây.

Quân tử đừng nên nhớ dai quá, sống không lâu đâu.

Và y lại lao tới như một con báo, dao găm sắc giơ cao như móng vuốt.

Phản ứng đã chậm hẳn đi vì sức lực cận kiệt, Khuê Văn Chu Tước nhắm mắt chấp nhận không thể né đòn, khẽ thì thầm một câu xin lỗi.

Tuy nhiên ngay lúc ấy, một người không ngờ lại đến kịp lúc cứu mạng.

- Với thiên nhãn thấu vạn vật, với một người luôn cẩn trọng cân nhắc từng nước đi đường bước ngài có vẻ liều hơn tôi tưởng đó cố nhân.

Giọng nói ấy làm vị học sĩ giật mình, đưa mắt nhìn kẻ mới đến.

Mộc côn giơ cao chặn tay đường dao, Khuê Văn Khổng Tước giục người chiến hữu đứng dậy mau, rồi đưa chân đá hắc nhân kia lùi lại dăm bước, giữ khoảng cách an toàn.

- Tên vô lại này là kẻ nào?

- Khuê Văn Khổng Tước hỏi về phía sau.

- Tên thích khách năm đó gây nên Đông cung đại án.

Y đang theo hầu Đế Mục, có vẻ như thân tín.

- Biết vậy là đủ rồi.

Song Liên chúng ta đã sắp tới nơi, chỉ cần sống sót thêm dăm khắc nữa...

Hắc nhân kia lại vung dao muốn hạ kẻ sĩ tử mới đến trước, rồi sau đó lấy mạng người mà y nghĩ là Khuê Văn Khổng Tước, nhân chứng duy nhất trong Đông cung đại án để bịt đầu mối, tuy nhiên một lần nữa lại bị mộc côn chặn lấy.

- Này, Khuê Văn song tước tuy cùng sĩ tử nhưng mạng cũng không phải dễ lấy.

Học trò nửa đời phiêu bạt giang hồ, đến cả Liêm Sơn cổ thành cũng ghi dấu chân, lang thang nguy sơn hiểm hải mà không học được lấy dăm món tự vệ có phải ngu ngốc chăng?

Khuê Văn Khổng Tước tay ghì mộc côn thủ thế, và dù người tỏ ra chẳng có gì khó khăn đối mặt với thích khách chuyên nghiệp ấy, sức lực cũng nhanh chóng kiệt dần.

Cả đời là sĩ tử, võ luyện đâu phải ưu tiên, Khuê Văn song tước đứng vững được tới lúc này cũng kỳ tích rồi.

Huống chi đối thủ lại là kẻ năm xưa suýt thành công ám sát thái tử, tận diệt dòng dõi hoàng gia để mở đường nội bộ xâu xé xưng vương.

Người đưa tay hất lưỡi dao qua một bên rồi nối tiếp một đòn công, đầu côn hướng thẳng hàm tên thích khách.

Hắc nhân xoay người tránh và bước dăm bước về sau giữ khoảng cách.

Y nhận ra rằng dù là sĩ tử không mấy kinh nghiệm trên trường võ lâm, một thanh côn trong tay kẻ biết dùng nó cũng nguy hiểm vô cùng.

Và trong từng đó năm viễn du chốn thâm sơn hiểm hà, Khuê Văn Khổng Tước đến hiểu mộc côn như hiểu đường đi miền tây sơn hoang dại.

Nghiệp dư so với cơ số hiệp khách, nhưng cũng không phải thứ đáng coi thường.

Thêm nữa, Khuê Văn Chu Tước kia, thiên nhãn thần thông, nguy hiểm không kém.

Tuy nhiên, sau rốt cả hai vẫn chỉ là học trò, sức lực hạn chế cực cùng.

Hắc nhân kia chỉ cần làm sao để là người cuối cùng đứng trụ lại, chiến thắng khi này là vấn đề thời gian thôi.

- Bao lâu nữa hai đứa nó lên được tới đây?

Chu Tước đại nhân im lặng không đáp.

- Thôi được.

Lùi lại đi.

Ngài không cần thay tôi rửa thù.

Tôi cũng chẳng còn thù để mà báo nữa.

Ngài biết tôi mà, xung quanh kẻ thù đếm còn không hết, ai màng lo chuyện thù với hận nữa.

Nhưng mà... cứ nghĩ nếu ngày ấy y thành công... có lẽ tôi cũng chẳng còn đứng đây với ngài kề vai chiến hữu...

- Khuê Tước tiên sinh bước đến trước, một tay dang ra chắn - Tôi có nói với ngài sẽ sống sót trận này, trở về vì Thi Kỳ, tuy nhiên nếu tôi phải phơi thây đất này, phiền ngài và đệ tử trông chừng nó cho.

Lợi dụng sự im lặng chết người, hắc nhân đưa tay về sau lưng áo, với lấy ám khí giấu ở dải thắt lưng, tìm thời cơ hai kẻ sĩ tử đã kiệt sức buông lỏng phòng vệ mà một phát giết sạch.

Nhưng trước khi y chạm tay được tới ám khí đã thấy mình ngã gục dưới đất.

Trong tích tắc, có ai đó từ trong bóng tối phía sau phi thẳng ra, ghim y xuống nền đá.

Y muốn ngẩng về để xem kẻ nào vừa tấn công, nhưng khó mà cử động được: gót giày kẻ ấy đang chẹn cổ sau gáy y và bàn tay với lấy ám khí cũng bị bế dưới sức nặng của một thanh côn.

Thoáng đầu y tưởng Khuê Văn nhị sĩ kia giở mưu hèn kế bẩn ám thích từ lúc nào, nhưng không, trộm ngước mắt thấy hai người cũng hoang mang như y vậy.

- Loạn tướng Đế Mục đã bị bắt sống, cũng đến lúc ngươi đầu hàng cùng với vạn quân rồi.

À không, ngươi ra tay mưu sát mệnh quan triều đình, hay là xử quyết tại đây luôn?

Chu Tước đại nhân nghe trực giác ngước lên thượng lầu, hiệu kỳ quân phiến loạn Kinh Xuân đã bị chém rách tả tơi từ lúc nào.

Ngài biết ngay đó là tay nghề của đệ tử mình.

Đế Mục và cận thần có lẽ đang đợi đại quân triều đình vào áp giải trên ấy.

- Đừng, ta muốn hắn sống.

Tên này có biết vài thứ ta có thể dùng.

- Chu Tước đại nhân bước về trước, đưa tay ra ngăn.

Tuy nhiên khi ngài vừa dứt lời hắc nhân kia vung đầu mạnh về sau, dụng gót giày của kẻ đang giữ mình ghim trên đất làm điểm tựa tự bẻ gãy cổ bịt đầu mối.

Khuê Văn Chu Tước thấy thế sững sờ, dẫu là người mang danh thiên nhãn thấu mọi vật nhưng điều này sao ngài không thể thấy trước được.

Người đồng liêu may mắn đến đỡ kịp khi ngài bỗng nhiên khuỵu xuống như mất hết sức lực.

Và lúc ấy, giọng của An Linh Thanh tướng quân cùng rập rềnh bước chân vang dưới khoảng sân.

Quân triều đình đã phá được vòng vây và đang tiến vào chiếm lấy phủ thành.

_______

(*) Phổ lại từ lời bài hát Honoo no Takaramono (Fire Treasure - "Hoả báu ca") của Oono Yuji
 
Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Xuân Viễn Xứ Ca


Một sớm mùa xuân sau ngày Thi gia nhi nữ giã biệt Cấm Thành sang làm phi vương tử Ly quốc, giữa những cánh xuân hoa theo gió lất phất xuống tấm gạch đá hoa viên trong phủ, và giữa không khí nhộn nhịp của thần dân bá tánh kinh đô nô nức mừng xuân mới đến, Thái Tuệ hoàng tử phi chẳng biết vì sao lại ra đứng một mình trên ban công thượng lầu nhìn về phía tây nơi ánh dương ấm áp vẫn chưa kịp xua đi màn đêm đen lạnh.

Với một người gần như cả cuộc đời vừa qua chỉ quanh quẩn nơi vọng nguyệt đài, nơi thư phòng Thái phó phủ, đây sẽ là lần đầu tiên Thi Kỳ nếm vị mùa xuân viễn xứ.

Khuê Văn Khổng Tước tiên sinh, vị thi sĩ nổi tiếng giang hồ, ắt chẳng xa lạ chi những ngày xuân xa xứ, nhưng hai học trò ngài— Ly quốc hoàng tử phi Thi Kỳ và hộ vệ Hồng Tước— thì khác.

Phương này giờ đây là mái nhà thân thương, và phương kia nay thành cố hương xa lạ.

Khác với không khí vui tươi ngoài hoàng cung, trong phủ Thái Tuệ hoàng tử phi cảnh vật lại ảm đạm lạ thường.

Trên trời chỉ văng vẳng tiếng gió lao xao, vài tiếng chim ngân cao ríu rít, và phía dưới chỉ có tiếng cổng phủ khẽ hé mở làm gián đoạn cái sự im lặng sáng sớm bên trong.

Hồng Tước có vẻ vừa trở về sau một chuyến đi dạo canh gác quanh khuôn viên phủ Thái Tuệ hoàng tử phi như thói quen ngày xưa ở Đông cung Nội thành, bảo kiếm ngay ngắn bên hông.

Trên gương mặt vị hộ vệ quan vốn khắc kỷ bao năm qua— kể cả những tháng ngày vắng bóng Khuê Văn Khổng Tước— nay lại mang một nỗi sầu không tên.

Chẳng nói một lời, Hồng Tước yên lặng bước lên lầu, trong ánh mắt vẫn có gì đó thật nặng trĩu, khẽ khàng tháo bảo kiếm khỏi dây đai đặt lại bên giường mình và xách nguyệt cầm ra ban công nơi Thi Kỳ đang đứng.

- Nhị sư tỷ này...

- Thi Kỳ lên tiếng gọi.

Hồng Tước chẳng đáp lại, chỉ đưa tay khẩy dây đàn vài nốt ngẫu hứng.

- Ngoài kia mọi người nô nức mừng xuân, nhưng sao cả hai chúng ta chẳng ai vui được...?

Và cảm giác lạ lùng này, một niềm mong muốn được trở về Cấm Thành, nhưng lại cảm thấy Cấm Thành sao xa lạ quá, cảm giác này là gì vậy?

- Ta chẳng biết nữa.

Nó gần như không có tên gọi.

Tuy nhiên, đại tiên sinh chúng ta, một kẻ viễn khách phiêu bạt, hẳn là hiểu cảm giác này nhất.

- Những ngón tay Hồng Tước lại nhảy múa trên những phím nguyệt cầm réo rắt - Ở bên kia bờ Đại Hải, chẳng có ai trải nhiều mùa xuân viễn xứ hơn Khuê Văn Khổng Tước đại tiên sinh của chúng ta.

Đột nhiên Hồng Tước ngừng tay phím, lặng yên nghe tiếng chim ríu rít trên cao.

Có lẽ chúng vừa từ phương tây bay đến, nhưng tiếc thay chẳng mang tin chi từ quê nhà.

- Tiểu Kỳ à.

Hát cho ta nghe một khúc nhé?

Một khúc Lữ hành ca ngày xưa Khuê Tước tiên sinh có đôi lần tấu ấy.

Nói rồi, những ngón tay ấy lại khiêu vũ đoạn dạo đầu bài ca vừa nhắc.

Thi Kỳ trông có một thoáng ngỡ ngàng khi đột ngột nhận lời đề nghị ấy, nhưng sau cũng nở một nụ cười rồi gật đầu.

Bài ca của những kẻ mãi hoài xa xứ.

Con biết bây giờ người chờ mong con

Khi thấy anh đào rực hồng trên non

Thu trước con nhắn đầu xuân sẽ về

Nhưng phượng lại xanh lá rồi

Mà tin con vẫn xa ngàn khơi... (*)

Giọng Thi Kỳ đến đây nghe như khẽ run run.

Những khúc ca này, cả Hồng Tước lẫn Thi Kỳ chưa bao giờ nghĩ tới ngày sẽ nghe lại từ khi Khuê Văn Khổng Tước rời Cấm Thành, tuy nhiên bây giờ, chính tay vị hộ vệ quan đang tấu trên phím đàn những giai điệu não lòng ấy.

Bài ca của những kẻ viễn khách trùng phương.

Có những xuân nào đất trời yên vui

Tôi về ngang ngõ dừng trước trang gia

Bên vườn lê vàng giờ đã chín mùi

Nhưng chẳng ai buồn tay hái

Và hoa viên cũng vắng tiếng cười... (*)

Trong những nốt nhạc thanh vang kia, đâu đây lại vẳng về tiếng bước chân ai rảo đều trên những phiến đá đại lộ, trên đất mòn con đường cái quan dẫn về nơi nào xa lắm.

Ở phương tây vạn dặm kia bây giờ có lẽ vẫn còn bóng người thư sinh áo vải với tay nải trên vai, khổng tước ngân trâm cài tóc, lại tiếp bước chân chính mình kiếp lữ hành đơn độc, ngước nhìn trời mà ca những khúc hát lãng du.

Tôi biết không về người chờ kẻ trông

Nhưng nếu tôi về vận nước long đong

Bao kẻ lữ hành như chim sổ lồng

Tung cánh tìm miền đất hứa

Người ơi con xuân lại vắng nhà... (*)

Trong lúc ấy, giữa dòng thương buôn ngược xuôi ra vào đại môn biên giới Tân Gia quốc, trên sơn lộ năm xưa đoàn sứ thần Hoa Nữ quốc từng đi, có một xe ngựa sáu người rảo chậm về phía kinh đô.

Màn trời xuân đang sáng tươi bỗng xám xịt mây mù, như thể báo hiệu một điều chi đó rất chẳng lành.

Người đánh xe với tấm áo vải thanh cúc bạc màu ấy, khi trường thành biên giới đã nằm trong tầm mắt, trang nghiêm đưa tay kéo vành mũ rơm xuống, nhưng trên môi lại nở một nụ cười.

Màu trời Tân Gia mây vần vũ

Hệt như năm ấy mịt mưa mù

Viễn xứ biệt phương cùng nhi tế

Thái vương nay trở lại báo thù...

_______

(*) Phổ lại thơ từ bài hát "Xuân này con không về" của Trịnh-Lâm-Ngân
 
Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Hồi hai mươi tám: Khải hoàn


- Thắng rồi.

Nhanh quá...

- Khuê Văn Khổng Tước ngước lên hiệu kỳ rách tả tơi mà bình luận.

- Khốn...

Tại sao... tại sao ta không thấy trước được... là y sẽ tự sát để tránh khỏi khai ra...!

- Chu Tước đại nhân giận run người, vung tay đấm xuống sàn đá - Đấy đâu phải chuyện chi đáng bất ngờ!

- Ngài có giận như thế này khi tôi năm đó bị y gá án mưu sát không?

- Khổng Tước tiên sinh bước đến gần tên tử sĩ, đưa côn lật y ngửa mặt lên để xem xét - Khuê Văn Chu Tước, Nội điện đại học sĩ, ngài lúc nào cũng giữ trí hàn và tâm tĩnh, nhưng từng đó năm ngài cố điều tra vụ án khốn kiếp này, và tức giận đến mức đó khi tên hung thủ tự sát để không khai ra, là vì sao?

- Đồ ngốc, là vì ngài chứ vì sao còn không thấy!

Năm xưa cả ngài cũng suýt bỏ mạng để bảo vệ Thái tử điện hạ khỏi tên khốn, để rồi mang tội oan, phán tự lưu đày.

Và trước đó, tận nhị thập nhất niên thất kỳ, hai mốt năm bảy khoa khảo thí ngài liên tục dự rồi lại bỏ đi lang bạt, chẳng thèm quan tâm có phải giám khảo thiên vị.

Đến được tiến cử cũng chẳng màng hồi đáp về triều, cứ mãi lên kinh dự thí rồi lại hỏng.

Tìm được quyển của ngài trong số hỏng sinh đọc lên, cố hoàng tức lắm.

- Chu Tước đại nhân cố nén nước mắt đắng, ngước nhìn ánh trăng xanh - Cố hoàng lúc lâm chung đã bắt kẻ sĩ này hứa dù có dùng bất cứ giá nào phải mang được Khuê Văn Khổng Tước về triều đem tài nuôi dưỡng thừa tử người.

Hai lăm năm rồi, thân danh quân tử, ít nhất cũng cố vẹn toàn một lời hứa đó.

- Nhiều khi tôi cũng chẳng biết ai là đồ ngốc, tôi với ngài.

- Tiên sinh đưa mắt nhìn người đồng liêu mà nở nụ cười buồn - Chúng ta lớn lên cùng nhau phải không?

Cố hoàng bệ hạ cũng tầm tuổi ấy, nhỉnh hơn vài năm, ngày xưa ba chúng ta thân như huynh đệ, ngài với cố hoàng bệ hạ rõ Khuê Văn Khổng Tước này hơn ai hết.

Và Khuê Văn Khổng Tước này cũng biết rõ chỗ đứng của mình hơn ai hết.

- Ý ngài... ba mươi năm qua là uổng phí?

- Tuỳ ngài đoán thôi.

Khuê Văn gia tộc năm đó sinh được hai nhi tử, Khổng Tước từ quý tôn, Chu Tước từ đích tôn thế tử.

Từ lúc sinh ra tôi đã chẳng mong sánh với ngài.

Ngài vốn thần đồng, cả tộc mong ngóng, cả triều kính trọng, công danh thênh thang.

Nếu sau này ngài không được tiến cử vào triều thì chí ít với tài ấy cũng tam nguyên, làm đến Tể tướng.

Ngài có được tiến cử thành Thái phó cũng chẳng ai bất ngờ.

Nhưng ngài lại yên phận ở Nội điện đông các đại học, lại tiến cử một kẻ giang hồ vào chức Thái phó.

Tôi với ngài, ai mới là đồ ngốc đây!

Chu Tước đại nhân chẳng buồn đáp lại, chỉ nhặt lấy đoản đao tra lại vào bao, rầu rĩ bước đi tìm học trò mình.

Thi thể kẻ tử sĩ được đưa đến cùng với những người tử trận khác.

Đế Mục và cận vệ thì xuống sân cùng với hàng binh của y, đợi ngày áp giải về kinh đô.

Hai vị sĩ tử theo chân mọi người kiếm chỗ nghỉ ngơi cho qua đêm dài.

Khuê Tước tiên sinh giữa đoạn tách ra cùng Sa Liên đi tìm kẻ kiếm khách đệ tử Chu Tước ngồi lau kiếm ở một gian phòng tĩnh lặng trong phủ thành.

- Có vẻ đây là lần đầu tại hạ chính thức được diện kiến ngài nhỉ?

- Nguyệt Sinh Liên ngước lên nhìn, tay chắp trên chuôi kiếm, miệng nở nụ cười - Kẻ này vốn họ Trường tên San, nhưng khi được nhận về Nội điện đông các Chu Tước đại nhân ban cho tên là Nguyệt Sinh Liên, theo học chữ cùng phụ tá cho ngài.

- Chẳng ngờ Tử thần vô ảnh kiếm sĩ huyền thoại nay lại khoác áo học trò như ai.

- Khuê Tước tiên sinh đưa mắt chăm chăm trên nước thép sắc lạnh của thanh bảo kiếm.

- Ấy là để trả cho món nợ muôn kiếp từ mười hai năm trước.

Trong chốn giang hồ Trường San kiếm sĩ cũng coi như đã chết, Tử thần vô ảnh kiếm táng cùng.

Người bây giờ chỉ là kẻ học trò biết chút đường kiếm thôi, chẳng quan trọng mấy với ngài đâu.

- Món nợ muôn kiếp đó, là nợ Chu Tước đại nhân chăng?

- Thưa, có phần nợ Chu Tước đại nhân, một phần nợ Khổng Tước đại nhân, một phần nợ người chiến hữu.

- Trông cái cách ngươi đối xử Sa Liên kể từ khi tái ngộ, với cả "món quà" hôm nay thì có vẻ như là... chuyện năm đó ngươi đã biết rồi.

- Khuê Tước tiên sinh tay ghì chặt thanh mộc côn, cố giữ giọng bình tĩnh.

- Chỉ là tình cờ thôi.

Ngài đừng lo, chỉ có tại hạ và đại nhân nhà biết, và thề sẽ giữ kín tới cuối đời.

Mà không, sử quan đại nhân đây cũng hẳn biết.

- Tất nhiên... có muốn cũng đâu quên được...

- Sa Liên đáp, mệt mỏi tựa người vào thiết côn - Ác mộng với những cơn đau đớn suốt mười hai năm cứ nhắc mãi.

- Mười hai năm có là bao?

Đã kết nghĩa đào tửu, chốn giang hồ sống chết tựa lưng nhau.

Để lỗi hẹn một buổi thì tiếc hận cả đời.

May mà... khi đó... có ngài.

Thiên mệnh xem ra vẫn còn thương người, nhỉ?

Cứ tưởng đã mồ từ nay xanh cỏ, nhưng rồi lại gặp nhị vị đại nhân, chúng nó được tái sinh làm học trò các ngài, sống bình yên.

- Thôi quên đi, định mệnh cũng đều có sắp đặt cả.

- Khuê Tước tiên sinh phủi tay - Kiếp oan khiên gần một thập kỷ qua cũng bàn tay định mệnh trêu ngươi.

Tên hung thủ năm đó vừa tự sát để bịt đầu mối, dù đã được giải lưu đày nhưng ta cũng chẳng thể rửa sạch tên mình được.

- Nhưng mà... người rõ là không có làm chuyện đó!

- Sa Liên nhất quyết khăng khăng - Ân sư con, mưu hành thích Thái tử?

Nghe như đùa!

- Đùa hay không toàn triều cũng cho ta là hung thủ.

Đến cả Khuê Văn Chu Tước đó, thiên nhãn lẫy lừng thấu được vạn vật còn không thể nhìn ra kẻ nào là hung thủ thật suốt gần mười năm, ta thì có cơ hội minh oan chăng?

Vả lại...

- Người nhắm mắt ngước lên trời, nhớ lại đau đớn từ vụ án xưa - Thái tử điện hạ có lẽ cũng nghĩ ta mưu hành thích ngài.

Ừ thì...

Đông cung thư phòng cửa khoá, lính gác chỉ thấy một mình ta đến đêm đó, và họ tìm thấy ta ở bên tẩm cung, áo thì đẫm máu.

Còn gì buộc tội rõ hơn nó nữa?

- Đầu mối ở Kinh Xuân thành ngõ cụt, bây giờ hai người sẽ đi đâu?

- Nguyệt Sinh Liên hỏi.

- Kế hoạch thì hỏng cả rồi, đầu mối ở đây không đi tiếp được.

Khuê Văn Chu Tước đã tạm cáo quan quyết tìm cho được đầu rắn của âm mưu này, việc triều đã có hai người kia giúp Trưởng công chúa điện hạ lo liệu.

Có lẽ ta với Chu Tước đại nhân sẽ lánh ở cổ gia trang nhà một thời gian, điều tra những gì có thể về vụ mất tích của muội phu.

Phan gia đã biết được gì đó quan trọng, vì vậy mà ngài bị mất tích.

Nếu tìm được ngài có lẽ chúng ta sẽ thấy một mối dẫn khác đến kẻ nào đó...

- Khuê Tước tiên sinh gật đầu suy tư - Sa Liên con về Cấm Thành với Hồng Tước, cứ làm việc bình thường ở sử quán.

Ngóng được chuyện gì đem nội sứ của Thái tử điện hạ đến báo ta.

- À... chuyện đó, đại nhân nhà bảo tại hạ đến cho ngài hay càng sớm càng tốt nhưng mải mê đánh trận nên cũng quên: Thái tử cùng với nhị đệ tử ngài xuất hành đi Ly quốc dự hôn lễ rồi.

Ở Cấm Thành tể tướng và Lễ bộ thượng thư đã nhận Thượng Phương bảo kiếm và Song Long ngọc ấn thay Trưởng công chúa nhiếp chính.

Khuê Văn Khổng Tước nghe thế thì bất ngờ, dù được tiên đế nhờ theo phò trợ hoàng gia gánh vác giang sơn nhưng Tề tể tướng và Đoàn thượng thư chưa bao giờ nói tới chuyện nhiếp chính thay Trưởng công chúa hay Thái hậu.

Như vậy là sao?

Hai người ấy đang mưu tính gì ở chốn quan trường?

Trung thần bao nhiêu năm qua chưa bao giờ vượt quá phận, nay trong tay giữ quốc bảo lại còn nắm cả việc triều chính...

- Để con về triều xem chuyện gì đang xảy ra.

- Sa Liên lên tiếng - Sử quán ghi chép mọi thứ trong triều, thể nào cũng có manh mối tìm cho ngài.

Nhưng mà...

- Đừng lo cho ta, có bất bại kiếm sĩ nhà Chu Tước đại nhân đây rồi.

Vả lại trận này cũng đã tốn con nhiều sức, con cứ về Cấm Thành nghỉ ngơi cho khoẻ.

Vụ án ở Mạc Hà cùng với mạng nhện chằng chịt này ta với Chu Tước đại nhân sẽ điều tra.

- Hai người không xuống dưới quân doanh với An tướng quân sao?

- Nguyệt Sinh Liên tra kiếm vào bao, đứng dậy phủi gối - Người ta đang ăn mừng khải hoàn mà chúng ta lại ở trên này trò chuyện có vẻ khá kỳ.

- Đi, đi tìm những người còn lại.

Khuê Tước tiên sinh khoát tay gọi cả hai theo cùng, nhưng đột ngột người quay lại nhìn Nguyệt Sinh Liên.

- Có chuyện gì sao ạ?

- Vị kiếm sĩ dừng chân hỏi.

Người quay sang Sa Liên.

- An Viên đã thấy con ở ngoài cổng thành với thiết trụ kình thiên, ắt là có sinh nghi.

Con đưa thiết côn cho tiểu gia đây giữ tạm, lấy mộc côn của ta mà đi.

Sa Liên gật đầu thấy phải, đổi lấy cây gậy đi đường cũ và đưa thiết trụ kình thiên cho vị kiếm sĩ cầm.

Nguyệt Sinh Liên tìm ngõ khác đến gặp Chu Tước đại nhân rồi theo về lều nghỉ.

An Viên lúc này đứng một mình trước cổng phủ thành, ngước nhìn trăng xanh hạ dần xuống chân trời phía tây và vừng đông ánh lên sắc đỏ.

Quân triều đình cùng với tù binh phiến loạn sửa soạn bữa sáng, có người tranh thủ chợp mắt trong khi đợi bình minh đến, có người quân y cùng tình nguyện hậu cần vội vàng chạy đi lại băng bó cho thương binh cả hai phe và một số thì đi gom thi thể tử sĩ để an táng.

Chẳng ngờ một trận đánh vốn tưởng sẽ kéo dài lại kết thúc nhanh đến vậy.

Có lẽ nhờ kế sách và sự chuẩn bị kỹ càng đã nhiều tháng từ Khuê Tước tiên sinh và đồng minh chủ chốt của người.

Công lao không nhỏ thuộc về hai người nào đến thủ cổng thành câu lấy thời gian cho đội thần binh An Viên tiến đến mở đường.

Vị tướng quân dù lúc hỗn loạn cũng không tin là mình nhìn nhầm: một trong hai hiệp thánh đó... là Sa Liên.

Sa Liên sử quan, kẻ thư sinh từ lâu đã yếu ớt lại bệnh tật, đứng thủ cổng thành với thanh thiết côn.

Vừa vặn thấy Sa Liên cùng Khuê Tước tiên sinh bước ra, An Viên liền hỏi:

- Đại sư tỷ, lúc đội cung thủ kỵ binh đến mở đường vào thành, đứng trấn thủ cổng thành khi đó...?

- Có phải ta đúng không?

- Sa Liên đưa mắt thăm dò - Ừ, ta có ở đó.

- An mỗ khá chắc mình lúc đó nhìn không lầm.

Chúng ta đồng môn đã lâu, An mỗ biết đại sư tỷ cũng khá rõ.

Nếu như là Sa Liên đại sư tỷ mà An mỗ quen từng đó năm qua, đi lại đã khó khăn nói chi tới một mình trấn thủ cổng thành.

Nhưng mà... nếu đại sư tỷ ở cổng thành đó... là Huyền Khôi thành Liêm Sơn...

Nghe đến tên ấy, Sa Liên lòng như thắt lại, nhưng vẫn cố giữ bình tĩnh không để lộ ra ý nghĩ ấy.

- An Viên ta cũng biết chuyện ở giang hồ nữa à.

- Đi đây đi đó, cũng học hỏi được dăm thứ.

Côn pháp thâm hậu tới nhường đó, giang hồ truyền chỉ có Huyền Khôi đại vương ở Liêm Sơn cổ thành.

Sa Liên gật đầu, tay xiết chặt trên gậy gỗ.

- Ừ thì, ta cũng có nghe đại tiên sinh kể đôi lần.

Giang hồ đệ nhất thiết côn, sau khi Lão Chiến Ma qua đời thì thừa tôn lão là Huyền Khôi xưng bá miền tây sơn, Á Lan ải.

An Viên muội đang nghi ngờ ta là Huyền Khôi?

Thiết côn ta còn chẳng có, chỉ có cây gậy đi đường cũ này.

An Viên giữ im lặng, tỉ mỉ quan sát.

Một thoáng lại đưa mắt tìm Khuê Tước tiên sinh, nhưng ngài đã đi chỗ khác từ lúc nào, có lẽ đi giúp quân y xử lý thương binh hay hội ngộ cùng người bằng hữu Tân Gia.

- E là thần hồn nát thần tính thôi, Huyền Khôi đó...

đã chết lâu rồi.

Tử trận trong cuộc biến loạn ở Liêm Sơn chừng một con giáp trước.

Lúc đó đại tiên sinh chúng ta còn chưa nhận chức thái phó.

- Sa Liên cười cười đáp lại.

An Viên đưa tay đặt trên trán, lắc đầu khó tin.

- Võ tướng sa trường đã lâu, An mỗ không nghĩ mình nhìn lầm.

Côn pháp ấy nhuần nhuyễn vô cùng, dù luyện nhiều năm cũng khó mà thuần thục.

Sa sư tỷ mọi người biết là thư sinh, không phải con nhà võ, lại hay đau yếu, nếu có học côn pháp thì cũng ít khả năng đạt được trình ấy.

Mà... rõ ràng đại sư tỷ một mình đứng đó trấn thủ cổng thành, đại tiên sinh chúng ta cũng thấy, điều này chẳng hợp lý chút nào.

- An Viên này...

- Sa Liên ngước sang nhìn - Trong mắt muội ta vẫn còn là phế nhân sao?

- Không... không có ý đó.

- Ta không có trấn thủ cổng thành một mình.

Có Nguyệt trưởng bối ở đó làm trọng điểm, ta chỉ theo chỉ đường giúp thôi.

Nguyệt Sinh Liên đệ tử nhà Chu Tước đại nhân ấy, trông vậy thôi chứ kiếm pháp không kém đâu.

- Nhưng mà...

- An Viên ngập ngừng, nhìn thẳng trong mắt tiền bối mình.

Có một thoáng im lặng ngượng nghịu, Sa Liên cứ tránh né ánh mắt đó - Ngót một thập kỷ từ khi chúng ta thành môn đệ Khổng Tước, sống cùng trong Thái phó phủ, quen biết nhau cũng có ít nhiều.

Đại sư tỷ An mỗ vẫn nhớ chỉ hay quanh quẩn ở viện các mình, thường hay ốm đau luôn, chỉ tìm thư pháp với sách vở làm vui, chỉ như một thư sinh học trò bình thường.

Nhưng đại sư tỷ trước mắt đây, vừa dăm canh giờ trước một trường côn giữ cổng thành, anh dũng ngút trời, chiến khí đến cả quân địch cũng sợ.

Thật chẳng nhận ra.

Thật khó mà tin được đấy là cùng một người...

Sa Liên vẫn im lặng, cố giữ hơi thở đều đặn, những ngón tay ghì chặt trên mộc côn.

- Ở miền biên cương phía tây có nhiều người đồn Huyền Khôi đại vương, thiên hạ đệ nhất côn thủ trong giang hồ, vẫn còn sống.

Bảo là tử trận hồi loạn Liêm Sơn cổ thành, nhưng mộ phần chẳng có hài cốt, và từng đó năm dân trấn Á Lan ải chưa ai tìm được xác để an táng.

Dựa vào côn pháp được mục kiến ở cổng thành, nếu nói rằng Sa Liên đại sư tỷ trước mắt đây... là Huyền Khôi của Liêm Sơn tưởng rằng đã chết, nghe cũng không quá bất khả thi.

- Nghe như truyện liêu trai hơn.

Nói xem, từ khi ân sư về thành dăm tháng trước, ta với ngài luôn ở cùng nhau đến Tân Ô Lương và các thành để thu thập tin tức.

Đại tiên sinh không rời mắt khỏi ta, tráo người như thế nào?

Nếu như ta đứng đây là Huyền Khôi đó, thì Sa Liên của muội đang ở đâu?

Thêm nữa...

- Sa Liên cười nhẹ, đưa lên bàn tay với những vết chai cứng trên đầu ngón - Những thứ này không giả được.

An Viên đưa tay sờ lấy vết chai trên ngón tay Sa Liên và so với vết chai trên lòng bàn tay do cầm cung của mình.

Có một thoáng bối rối vụt qua trên nét mặt vị tướng quân nhưng nhanh chóng nó giãn ra nhẹ nhõm.

Chỉ có thư sinh cầm bút lâu ngày mới thành ra những vết chai này.

- Thần hồn nát thần tính rồi...

- An Viên cười trừ.

- Ừ thì, những năm đại tiên sinh bị lưu đày, ta có tự học chút côn pháp để tự vệ với cải thiện sức khỏe.

Dẫu sao thì cũng không thể dựa vào muội và Hồng Tước mãi.

Nhưng thứ côn pháp mèo cào này mà gọi là sánh với Huyền Khôi đó thì còn khuya.

Liêm Sơn thành chúa Huyền Khôi đại vương là huyền thoại một cõi giang hồ đó, không dám đùa!

- Xin lỗi...

- An Viên cúi đầu, vẫn giữ lấy tay Sa Liên - Sa sư tỷ vẫn là Sa sư tỷ thôi.

Còn khoẻ mạnh hơn xưa nữa, đã tự bảo vệ mình được rồi.

- Ngốc, ở cùng nhau học chữ cùng nhau từng đó năm trong Thái phó phủ mà cũng không phân biệt được người sống sờ sờ đây với kẻ đã chết từ lâu lắm.

- Sa Liên cười cười, gỡ lấy tay mình về.

- Xin lỗi nhé...

Nếu tỷ có gặp Nguyệt trưởng bối thì xin gửi giúp lời tạ ơn vì đã anh dũng trấn thủ cổng thành mở đường cho chiến thắng nhanh chóng này.

Sa Liên gật đầu rồi rời đi, tìm đường tới căn lều của mình và Khuê Tước tiên sinh được dời về trong quảng trường nghỉ ngơi sau trận đánh.

Khuê Tước tiên sinh vẫn chưa về, nhưng Sa Liên có khách.

Là Chu Tước đại nhân và học trò ngài.

Thấy hai hình bóng quen thuộc, Sa Liên bước vào lều, buông màn cửa để có một chút riêng tư và thở dài cho lòng nhẹ đi.

- An tướng quân nhạy bén thật đấy.

Suýt nữa thì cái bí mật chúng ta giữ từng đó năm tang hoang rồi.

Chu Tước đại nhân ngồi bên bàn trà tạm, đầu gối trên tay, mệt mỏi pha chút trà.

Nguyệt Sinh Liên thì ở chỗ quen thuộc, góc lều bên cạnh cửa, bảo kiếm luôn sẵn sàng trong tay.

- Không cần gợi ý chắc ngài cũng biết rồi...

Thiên nhãn Chu Tước vang danh giang hồ mà.

- Ta thì không nghĩ ngày đó con biết tiếng ta, nhưng Ngũ anh tài nhắc đến ai cũng hay.

Tất nhiên ta biết trước đây con là ai, cái tên con bảo muốn quên nhưng không bao giờ ngừng nhớ đó.

Ngài nói, tay chỉ về thanh thiết côn đã được lau rửa sạch sẽ và gói lại trong bọc vải bên góc giường.

- Đừng, đại nhân.

- Sa Liên lắc đầu, đến ngồi bên giường - Một phế nhân thì chẳng xứng với cái tên đó.

Cái gì mà độc tôn của Lão Chiến Ma, cái gì mà đệ nhất thiết côn giang hồ, cái gì mà lãnh chúa Á Lan ải, cái gì mà...

Huyền Khôi đại vương...

Nguyệt Sinh Liên khẽ cười.

- Đùa chắc.

Nếu thực là phế nhân thì một thanh thiết côn tầm thường cầm cũng chả nổi đâu, nói gì tới tỉ thí ngang hàng với Tân Gia thái nữ.

Mãnh thú oai hùng của Liêm Sơn thời ấy, thương tàn đến mức nào thì vẫn là một trang hào kiệt.

- Huyền Khôi năm xưa có mà cười vào cái bộ dáng này.

- Sa Liên ngả người xuống giường, nhắm mắt lại mệt mỏi, cảm thấy tay chân đều đau rã rời - Năm xưa thiết trụ kình thiên là bảo khí, là đồng hành, bây giờ cũng chỉ làm gậy chống chân là nhiều.

- Nhưng con vẫn giúp quân ta nhanh chóng được khải hoàn trận này.

Và con cũng đã cứu mạng ta cùng ân sư con vừa nãy.

Lão Chiến Ma từ hoàng tuyền có nhìn thấy chắc cũng tự hào lắm.

- Chu Tước đại nhân cười nhẹ, rót lấy ba chén trà rồi khẽ nhìn sang bên giường.

Nhìn nhịp thở đều đều và hai tay buông xuôi trên tấm đệm, ngài đoán là Sa Liên lại vội thiếp đi rồi.

Vừa lúc ấy, Khuê Văn Khổng Tước đưa tay vén màn bước vào.

- Ô, Sa Liên về rồi à?

- Tiên sinh ngước sang hỏi.

Chu Tước đại nhân khẽ đưa một ngón lên môi ra hiệu nhỏ tiếng - Vừa mới thấy nó với An Viên ở kia.

Nghe thoáng nó nhắc tới cái lúc thấy Sa Liên ở cổng thành, chắc cũng nghi ngờ thật, nên tôi đi tìm quân y giúp chút việc rồi để chúng nó tự phân giải.

Không phải là An Viên đã suy ra cái bí mật rồi chứ?

- Suýt nữa thì là vậy.

- Chu Tước đại nhân chìa tay đưa người đồng liêu chén trà còn nóng - Nhưng An tướng quân không còn nghi nữa rồi.

- Tốt...

Vậy thì tốt.

Thà rằng chúng nó cứ tin...

Tiên sinh thở dài, khẽ đến bên giường giũ tấm chăn kéo lên đắp cho Sa Liên, thấy trong tâm trí lại hiện về cái ngày ấy ở Liêm Sơn.

- Thà rằng chúng nó cứ tin Sa Liên xuất thân bần hàn được tôi nhặt về, chỉ là một thư sinh tàn tật, chỉ là...

Sa Liên chúng nó biết.

Thà rằng tôi cũng tin thế, nhưng mà...

- Ngài đã ở đó.

Vách Tử Nhân.

Vách Tử Nhân ở Liêm Sơn, xưa nay bao anh hào đã chôn thây ở dưới hồ bên vách đó.

Thiên hạ bảo đã gieo mình xuống vách thì không còn đường trở về.

Mười hai năm trước đáng ra Vách Tử Nhân đã lấy đi thêm một mạng anh tài, nhưng vì thiên mệnh đưa ngài tới đó lúc ấy mà nó sống sót.

- Chu Tước đại nhân nhoẻn miệng cười - Sa Liên đệ tử ngài lâu nay chỉ là một thư sinh bình thường, nhưng ngài biết nó chưa bao giờ chỉ là một thư sinh bình thường.

Trong mắt ngài nó chưa từng là Sa Liên sĩ tử.

- Biết thứ không nên biết nó thế.

- Khuê Tước tiên sinh đưa chén trà lên nhấp môi - Nó bảo không muốn nhắc lại cái quá khứ bão tố đó, không muốn trở lại cái chốn đó, nhưng mà... mười hai năm mài mực viết sớ, đôi bàn tay nó chưa bao giờ quên thanh trường côn.

- Vì tình cờ nhìn thấy Sa sử quan trộm luyện trường côn sau vườn mà tại hạ mới nhận ra... người chiến hữu tưởng đã chết ở Liêm Sơn vẫn còn sống.

Rồi đại nhân nhà cũng đã xác nhận.

Hôm nay mục kiến lại côn pháp bí truyền đó thực là... khó tin.

Nhưng cũng được nhẹ lòng.

- Nguyệt Sinh Liên thêm vào - Lời thề đào tửu năm xưa đó, hai đứa thề rằng sống chết tựa lưng nhau qua chốn giang hồ giông tố, và nếu có kiếp sau sẽ lại được tái ngộ.

Định mệnh đùa giỡn trêu ngươi, nhìn theo một cách nào đó thì đúng là hai đứa tái ngộ kiếp sau thật.

Khuê Tước tiên sinh gật đầu, đến đặt chén trà cạn xuống bàn.

Người đưa mắt nhìn người đồng liêu, đồng tộc, rồi lại nghĩ về vận kiếp giữa mình và đệ tử sao thật giống nhau; Chu Tước đại nhân và đệ tử ngài cũng cảm thấy như vậy.

Tiên sinh chống tay lên bàn, đầu gối trên bàn tay, lại buông một tiếng thở dài.

- Này, cố nhân, ngài có thấy đùa giỡn lại với định mệnh bây giờ là một ý hay hay không?

- Ngài nói vậy, kẻ sĩ này thấy ngài đang có ý định gì mạo hiểm lắm.

- Chu Tước đại nhân đáp lại, rót thêm nước nóng vào lá trà trong chén.

- Không muốn cản lại sao?

- Không, nếu muốn đã cản từ lâu rồi.

Mạo hiểm thì mạo hiểm, nhưng xưa nay Khuê Văn Khổng Tước chưa bao giờ bán mạng vô cớ vào kế mạo hiểm.

- Thôi không giấu nữa.

- Tiên sinh đưa tay chỉ vào thiết trụ kình thiên bên cạnh giường - Chúng ta đi đánh chiếm Liêm Sơn cổ thành.
 
Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Hồi hai mươi chín: Sắp đặt bàn cờ


Nguyệt Sinh Liên dướn mắt nhìn Khuê Tước tiên sinh đầy nghi vấn khi nghe kế hoạch đó, nhưng sao Chu Tước đại nhân vẫn bình chân như vậy.

Hai tiếng Liêm Sơn dù nhỏ nhưng cũng đủ đánh thức Sa Liên, người bật dậy, mắt mở to kinh hoàng.

- Xin lỗi, lại đánh thức con rồi.

- Khuê Tước tiên sinh chỉ cười trừ.

- Đại tiên sinh, người vừa nói là...

- Sa Liên chớp mắt, ngón bấu lấy lòng bàn tay để biết mình không nằm mơ.

- Ừ, chúng ta dẫn quân đánh chiếm Liêm Sơn cổ thành cho trọn cuộc khải hoàn.

Ít nhất thì ta định vậy.

- Người... chuyện hôm sau trở về từ tỉ thí đài...

- Sa Liên đưa tay lên trán, nhớ về lời nói của tiên sinh lúc đó - Người bảo con trông như thèm được hồi hương, con đáp lại rằng không muốn.

Nhưng mà... hôm nay...

- Nếu con thực lòng không muốn, con đã không giơ tay bước lên tỉ thí đài.

Con đã không theo kế hoạch của ta, đến thủ cổng thành.

- Khuê Tước tiên sinh đặt lại chén trà cạn lên bàn - Mười hai năm rồi con à, tái sinh thành sĩ tử, con bảo con sinh ra là sĩ tử, mãi mãi vẫn sĩ tử... nhưng... ta không nghĩ mình nhìn lầm con người trên tỉ thí đài hôm đó, đó không phải Sa Liên sĩ tử.

Sa Liên nhắm nghiền mắt, cố xua đi những ký ức đau đớn lại ùa về.

- Người đùa con sao?

Một phế nhân như con bây giờ, dấn thân về chiến trường đó... không phải một mạng dâng kẻ thù hai lần sao?

- Những vết thương tưởng đã lành từ lâu bỗng vọt lên đau nhói - Dẫu có Hồng Tước, An Viên, dẫu có Tử thần vô ảnh kiếm sĩ ở đó... cũng chưa chắc dăm phần thắng trong tay.

Y có lợi thế về cả địa hình lẫn quân số, ngài biết rõ hơn ai hết mà.

Con... con không muốn đưa mọi người vào chốn hiểm nguy vì một người đáng ra đã chết mười mấy năm trước!

Khuê Tước tiên sinh chỉ im lặng một hồi lâu, nhìn Sa Liên cả người run run dưới chăn, mắt nhắm nghiền cố kìm lại đau đớn.

Người thở dài, gối mặt lên tay.

- Ta đã nghĩ về chuyện này lâu lắm rồi, từng đó năm lưu vong cũng không phải chỉ lang thang với quanh quẩn điền viên đâu.

Chín năm bỏ ra sắp đặt một bàn cờ cho mộng phục hưng triều đại, và nước cờ này quan trọng nhiều.

Trong kế hoạch này ta chỉ mong bắt được ba thành: Kinh Xuân thành, Thanh Trạch thành — kinh đô Tân Gia, và Liêm Sơn cổ thành.

Có được ba điểm ấy coi như được ba chân trụ vững cho Thái tử điện hạ, đối đầu với quan quân thèm khát ngai vàng Hoa Nữ quốc.

- Kinh Xuân phía đông, Liêm Sơn phía tây, Thanh Trạch phía nam, chà... bàn cờ của ngài xem chắc chắn nhưng liều thật đấy.

- Chu Tước đại nhân bình luận - Chẳng có thành nào dễ chiếm, và với phe cánh quan tranh vị thì ba nơi ấy là ba trọng điểm trữ quân và thâu tóm quyền lực, đồng minh mạnh nhất của họ ở đây.

Kinh Xuân thì quân triều đình đã giữ rồi.

- Quân đảo chính liên minh quân đảo chính, thời thế lúc này thì Thái tử điện hạ không có nhiều cơ hội kháng lại.

Nghĩ xem: Tân Gia quốc hàng phục triều đình chúng ta, nhưng triều đình thì đang dưới sự chi phối của những phe cánh tranh vị, Tân Gia vương tại ngôi là người của họ; Á Lan ải là vùng tự trị, cai trị bởi Bạch hầu gia, cái tên tướng cướp và các bang ô hợp y gom lại, y có tước Hầu khi chiếm được Á Lan ải mười hai năm trước, dâng trung thành cho triều đình đổi lấy danh vọng.

Nếu như chúng ta xiết lấy hai yếu huyệt đó cho Thái tử điện hạ, thì sao?

Chín năm lưu vong, lang thang khắp thượng giang hạ hồ, rồi lại quanh quẩn bên vườn thanh cúc và túp lều tranh, mấy ai hay Khuê Văn Khổng Tước vẫn nung nấu kế hoạch dẹp yên thời loạn.

Tuy nhiên bao nhiêu kế sách cũng chỉ là viển vông trên giấy nếu không có người theo cùng.

- Ngài mới là đồ ngốc, Tú Minh à.

Ngốc nhất trần gian này, ngài biết không.

Chu Tước đại nhân bỗng bật cười, tay vỗ xuống bàn.

Ngài nghĩ về những quyển thi năm xưa của người đồng liêu tìm được trong xấp hỏng, nhớ về lời nói lúc lâm chung của cố hoàng, miệng cười nhưng mắt ứa lệ.

- Miệng bảo rằng tự biết chỗ đứng của mình, nhưng chỗ đứng của ngài... không phải ở đây.

- Chu Tước đại nhân đưa tay lau mắt - Học trò không tin cố hoàng bệ hạ nhầm đâu.

Bao nhiêu năm qua ngài vẫn vì tồn vong của đất nước này, vì bình yên cho bá tính, vì Thái tử điện hạ mà hy sinh bao thứ, ai dám nói...

Khuê Văn Khổng Tước không xứng đứng bên tay hữu Thiên tử?

- Ngài cứ đùa.

Năm ấy không mất đầu, chỉ được ban lệnh tự lưu đày là phước đã lớn lắm rồi.

- Tiên sinh đáp, chỉ vào cổ mình.

- Thôi, nói nghe xem, bàn cờ của ngài sắp đặt ra sao?

Dù gì cũng đã cáo quan một thời gian để đi điều tra, nay theo làm quân Xe cho ngài tuỳ ý điều khiển.

- Chu Tước đại nhân ngước đầu về phía người đồng liêu.

- Quân Xe à...

- Khuê Tước tiên sinh đặt tay lên cằm, suy tư - Kế hoạch thì... tôi có hai hướng.

Cả hai người học trò đều dõi mắt về tiên sinh, cúi đầu im lặng lắng nghe.

- Sa Liên về triều nghe ngóng có gì bất thường.

Tôi với ngài về Mạc Hà điều tra Phan tổng trấn đã mất tích đi đâu, họ vẫn chưa thủ tiêu y có nghĩa là y đang giữ một thông tin, hay đầu mối gì đó khá quan trọng.

Đệ tử ngài đi theo hai ta để phòng bất trắc, dù gì thì tôi với ngài sau rốt chỉ là thư sinh gió thổi mạnh cũng bay.

Tôi cũng sẽ đợi tin tức từ Tân Gia mà phe trung vương bên ấy gửi về, và khi đã nắm được sự tình ở Thanh Trạch thành, tôi sẽ theo người bằng hữu đánh chiếm lại vương đô.

- Quân có bao người?

- Chu Tước đại nhân hỏi.

- Năm.

- Tiên sinh xoè ra một bàn tay - Có thể là sáu tuỳ tình hình.

- Không liều thì không nên đại nghiệp phải chứ?

Xem nào, đánh chiếm Thanh Trạch thành nhưng chỉ mang theo năm người...

- Vương gia, Vĩnh công chúa và phò mã, Lục công chúa, còn tôi thì làm mồi nhử.

Nếu A Liên có thể theo cùng thì tốt nhưng tôi không nghĩ mình nên làm phiền nó thêm nữa.

Không cần mang nhiều quân, đổ máu vô ích, chúng ta chỉ cần bắt sống tên tiếm vương là đủ.

- Chỉ bắt sống thôi à?

- Thì...

đó là chuyện của nước người ta, sinh tử của y để vương gia quyết.

Chu Tước đại nhân gật đầu, đẩy sang thêm một chén trà nóng, cười nhẹ.

Nụ cười đó ngài vội giấu đi, bởi vì ngài có bàn cờ của riêng mình đã sắp sẵn.

Không chỉ có Khuê Văn Khổng Tước lâu nay âm thầm lược chiến kế, Khuê Văn Chu Tước sau tấm rèm thư phòng cũng lắm mưu nhiều đồ.

Trên bàn cờ chiến tranh Khuê Văn Khổng Tước một tay chi phối, mưu lược khôn cùng; nhưng trên bàn cờ chính trị, Khuê Văn Chu Tước mới là người điều khiển ván cờ.

Tuy nhiên, ngài cũng cảm thấy khó xử khi phải dùng người đồng liêu và các học trò người cho ván cờ ngài đang đánh; họ không hề hay biết mình đã là những con cờ trên bàn từ lâu lắm.

Một lúc nào đó khi mục tiêu đã hoàn thành, ngài định sẽ giải thích cho mọi người tất cả mọi chuyện, nhưng lúc này vẫn chưa phải.

Khuê Văn Chu Tước là một quân cờ trên tay Khuê Văn Khổng Tước, và ngược lại, người cũng là một quân cờ trên tay người đồng liêu.

- Quyết định vậy đi.

- Chu Tước đại nhân gật đầu - Còn về phần học trò...

Dù có tìm được tổng trấn đại nhân hay không, đầu xuân sau học trò và đệ tử sẽ về kinh.

Có thể cáo quan rời thành theo ngài đi điều tra, đi dẹp loạn vì mẫu quốc, nhưng nhiệm vụ vẫn không bỏ bê được.

- Những ba năm nữa mới tới kỳ khảo thí tiếp mà?

- Khuê Tước tiên sinh chau mày - Khoa này tôi không đến nữa đâu.

Mệt rồi.

- Vẫn phải xem xét sớ tiến cử và công văn, lại gánh thêm chuyện cố vấn khi Thái tử trở về.

Trong triều bảo Thi thái phó thông tuệ hơn người, luôn là quân sư hiến kế đắc lực cho Thái tử điện hạ, nhưng ngài nghĩ ai mới thực là đằng sau những kế đó?

Không có ngài thì học trò phải dạy dỗ nó thôi.

- Xin lỗi đã phải từ quan tự đi lưu đày suốt chín năm qua nhé, thật tình tôi không cố ý để tên thích khách đâm suýt chết rồi lại bị cả triều kết tội mưu hành thích Thái tử đâu.

Khuê Tước tiên sinh chau mày, đón lấy chén trà.

Khi trà đã cạn, Chu Tước đại nhân đứng lên, chắp tay xin khiếu về lều mình, để cho tiên sinh và học trò người thời gian nghỉ ngơi sau một đêm quá dài này.

- Đại nhân à... vừa nãy... có vô tình quá không?

Khuê tiên sinh trông không vui chút nào.

- Nguyệt Sinh Liên chầm chậm bước theo sau, hỏi.

- Lúc ấy ta đùa thôi, phải làm cả phận sự Thái phó cùng với giúp Thi Kỳ giữ chức ấy để bảo vệ nó, ta thấy giận hơn là phiền.

Giận triều đình này không hiểu nổi hai từ biết ơn.

Giận mình không thể nói gì mà chỉ im lặng tiễn ngài viễn xứ.

Giận mình không thể thanh minh cho ngài.

Giận định mệnh trêu đùa ác ý với ngài cả cuộc đời qua...

- Chu Tước đại nhân cười nhẹ nhưng ánh mắt lại trĩu nặng ưu sầu - Ta nghĩ ngài ấy cũng hiểu, chỉ là... có lẽ ngài vẫn cảm thấy có lỗi khi phải để lại học trò mình như vậy, rời thành trong đêm không một lời từ biệt, như là ngài chưa bao giờ ở đó.

Chuyện xảy ra chẳng phải lỗi của ngài, nhưng nghĩ đến vẫn đau đớn lắm.

- Cũng chẳng phải lỗi của đại nhân con.

Từng đó năm qua ngài vẫn cố điều tra, nhưng vẫn không có kết quả, đến tận hôm nay Thiên nhãn mới bảo ngài rằng y ở đây.

Ngài chỉ làm những gì ngài phải làm thôi.

Cả hai không trở về lều, Nguyệt Sinh Liên chỉ lẳng lặng theo sau Chu Tước đại nhân rảo bước trên những con phố vắng lạnh.

Mới vừa dạo kia nơi này còn sầm uất nhộn nhịp, hôm nay đã thành chiến trường im tiếng.

Ngài cứ bước, chẳng còn biết đường đi lối về, cứ rảo mãi những đại lộ tiểu lộ không người giăng chằng chịt khắp Kinh Xuân, thi thoảng chạm mặt lính tuần, cúi đầu chào hỏi.

Ngài cũng chẳng biết mình đi đâu, nhưng buổi sáng này ngài chỉ muốn một mình giữa những phố hoang, để bình lại tâm trí sau một đêm dài thật loạn.

- Kinh Xuân...

Thanh Trạch...

Liêm Sơn...

- Chu Tước đại nhân nhìn trời mà lẩm bẩm - Năm xưa cũng chính ba thành này thắp lên thời loạn thế.

Có lẽ chúng ta chỉ là những con cờ trên bàn cờ số mệnh thật.

Vầng dương càng lúc càng nhô lên cao, đỏ ửng cả một vùng trời.

Người ta bảo, bình minh là khởi đầu của một trang mới tốt đẹp hơn, nhưng với Chu Tước đại nhân, bình minh chỉ mang về cho ngài những ký ức đau thương.

Lúc cố hoàng băng hà khi ấy là sớm bình minh, và khi ngài được hay tin Khuê Văn Khổng Tước đã mang tội hành thích Thái tử, tự lưu đày về miền giang hồ cũng vào một sớm bình minh như thế này.

Với thiên hạ, bình minh là ánh sáng ấm xua đi đêm tối lạnh, nhưng với ngài bình minh trông như máu đỏ nhuộm trời xanh.

Bao năm qua ngài vẫn nhốt mình trong thư phòng, rèm buông che kín, ấy là để tránh đi vạt nắng đỏ này, vạt nắng đỏ luôn nhắc ngài những bi kịch mà dẫu Thiên nhãn cũng không thể thấu trước được.

- Đại nhân... con muốn xin phép ngài một chuyện.

Khi họ khởi quân đi Liêm Sơn, con có thể theo cùng không?

- Nguyệt Sinh Liên lên tiếng hỏi - Cái hôm hay tin mười chín băng thảo khấu hợp nhau tấn công Liêm Sơn cổ thành, lúc đó con đang ở gần Tây Đô nhận kế ước, con tức tốc đến để trợ giúp, nhưng vẫn không kịp.

Đêm hôm trước Huyền Khôi thất trận, sáng hôm nay đã đem ra hành hình...

Đã mười hai năm nhưng những gì xảy ra cái ngày định mệnh vẫn hiện lên rõ như tạc trong đá.

Thời gian và được hay người chiến hữu sống sót có lẽ đã vơi đi phần nào nỗi đau, nhưng mảnh ký ức vẫn không phai được.

- Đại nhân à, con muốn chuộc lỗi cho cái ngày đó.

Hãy để con theo Khuê tiên sinh, hãy để bảo kiếm này lấy máu Bạch gia rửa thù!

Chu Tước đại nhân dừng bước, cúi đầu một khắc suy tư.

- Ta hiểu cảm giác đó, nhưng cũng như Sa Liên nhà ấy, trong thiên hạ con không còn là Trường San ngày đó, là người của giang hồ nữa.

Con là người của ta, Nguyệt Sinh Liên ở Đông các đại học viện, như Sa Liên là người của Sử quán.

Con không thể nhúng tay vào chuyện của giang hồ được.

- Đại nhân!

- Chẳng phải, từ khi con thành học trò ta, con vẫn luôn nói rằng Trường San kiếm sĩ đã theo Liêm Sơn thành chúa về miền cực lạc rồi?

Huyết hận ở Liêm Sơn không dính líu gì tới con hay Sa Liên nữa.

Rồi ngài ngừng lấy một lúc, cho Nguyệt Sinh Liên được bình tĩnh lại.

- Đánh chiếm Liêm Sơn không phải để rửa hận cho Huyền Khôi, mà để xiết lấy yết hầu kẻ địch, bảo vệ hoàng ngai Hoa Nữ quốc không rơi vào loại ô quan tham quân.

Bạch gia đang là người của phe tranh vị, còn con và Sa Liên thì là văn quan trung lập, lại là người đáng ra đã chết, thông điệp gì sẽ được gửi về triều đình hay các phường phái giang hồ khi có người nhận ra con?

Không chỉ con sẽ gặp nguy hiểm mà cả chúng ta và cả đồng minh chúng ta nữa.

Nguyệt Sinh Liên lòng thấy chùn xuống, tay nắm chặt lấy bảo kiếm để cố không cho nước mắt rơi.

- Tuy nhiên...

- Chu Tước đại nhân hạ giọng nhấn mạnh - Huyết hận ở Liêm Sơn, Khuê Văn Khổng Tước vẫn mang nó.

Nếu không ngài đã không đặc biệt soạn ra kế sách này, chúng ta có thể kiểm soát những thành trọng điểm khác ở phía nam, phía tây bắc, phía đông bắc, nơi trữ quân ưa thích của phe quý tộc quan quân; tại sao phải là Liêm Sơn cổ thành, cái nơi heo hút hiểm trở đã mấy trăm năm triều đình không màng tới?

Chín năm qua ngài nung nấu kế hoạch này không chỉ vì Thái tử điện hạ, mà còn vì Sa Liên.

Cho nên là... ta nghĩ mình nên tin rằng ngài ấy sẽ báo được thù.

- Khuê tiên sinh bảo sẽ mang Sa Liên hồi hương.

Về Liêm Sơn.

Chẳng phải đó là thứ ngài không muốn xảy ra?

Sa Liên và con chẳng dính líu gì chuyện giang hồ kia mà?

- Chỉ có một thứ...

ở đó, Sa Liên mà người ta có thể nhận ra là một đứa trẻ đôi sáu, hoặc một con mãnh thú hoang dại, không phải là một thư sinh yếu ớt.

Và mọi người ở Liêm Sơn đã tận mắt chứng kiến cuộc hành hình, họ cũng sẽ như con lúc ấy, không tin rằng cả hai người trông hoàn toàn khác nhau này là một.

Ta nghĩ... ngài muốn nó thấy thứ mà lâu nay sâu trong tâm can nó vẫn mong.

- Chu Tước đại nhân nói, lại ngước nhìn mây hồng trong nắng bình minh, giơ tay làm điệu bộ gì đó - Được lại một lần đứng thẳng trên lầu cao nhìn xuống toàn Á Lan ải ngút ngàn...

Nguyệt Sinh Liên thầm nghĩ, có lẽ những ác mộng xưa nay Sa Liên đêm nào cũng mơ thấy là đây; hoặc là đoạn hồi ức của cái ngày định mệnh, từng lớp từng lớp kẻ địch tràn tới không ngừng dù hơi thở đã kiệt và máu đã cạn, tràn khắp phiến đá lát quảng trường hoà với xương máu của những tử sĩ khác, hoặc quan cảnh thân quen từ những tán cây khe suối, từ lầu thượng cố cung, những thứ mà người không còn mong được thấy lại nữa.

- Còn có chuyện này, đừng hé môi cho Tú Minh tiên sinh nhé...

- Vâng, đại nhân?

- Phan Huy tổng trấn Mạc Hà, ta có thấy được...

Thật ra, ta biết y đang ở đâu.
 
Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Hồi ba mươi: Ngược đường theo kỳ án


Như đã hẹn, dăm ngày sau cuộc chiến, mọi người đến nói câu giã từ.

Thái Anh vương và các con trở về Côn Luân thành; An Viên theo nguyên soái đến biên giới tây bắc trấn thủ, ngăn chiến cuộc ở nước chư hầu lan sang và giúp dân lưu vong có chốn tỵ nạn; Sa Liên ruổi ngựa một mình về kinh chờ tin; còn Khuê Văn song tước thì vượt rặng Đông Sơn về náu tại cổ gia trang, với Nguyệt Sinh Liên thi thoảng đến Côn Luân mang lương thực về tiếp tế.

Côn Luân cách Mạc Hà chỉ nửa ngày về phía nam, nhưng ở giữa là rừng rậm trập trùng hiểm trở, ít kẻ dám liều mà đi, trừ ba kẻ viễn khách này.

Đã sáu tuần trăng kể từ trận Kinh Xuân.

Khuê Văn song tước hay được rằng Thái tử vừa trở về từ Ly quốc, nhưng không có Hồng Tước theo cùng.

Đúng thật, Hồng Tước đã ở lại phủ Thái Tuệ hoàng tử, và Thái tử thế là không có cận vệ.

Tin về rằng, khi ngự thuyền cập bến, có đoàn cảnh vệ được gửi đến đón ngài, tuy nhiên, có gì đó rất lạ ở họ.

Họ không phải đội cảnh vệ của Thái tử chọn ra.

Cố giữ bình tĩnh để không làm động đến triều sự, Thái tử điện hạ và tuỳ tùng được hộ tống về kinh, nhưng thay vì được đón tiếp như thường thì đội cảnh vệ quân đó đưa ngài thẳng về Đông cung, mang lính đến gác chừng.

Trưởng công chúa cùng Thái hậu cũng bị cấm túc như thế, và họ không thể làm gì được vì hai quốc bảo— mang quyền lực đế vương Hoa Nữ quốc— đang ở trong tay Tể tướng và Lễ bộ thượng thư.

Hai người đó bây giờ là hai người đứng cao nhất nước này, và với Thái tử vẫn chưa đăng ngôi vì di chiếu của cố hoàng, không có ai trên họ, không có ai ngăn họ.

Tề thị và Đoàn thị bây giờ quyền lực trong tay coi như hoàng đế.

- Tứ phượng hoàng gánh vác giang sơn theo lệnh thiên tử, làm phản sao?

Không thể nào!

- Khuê Văn Khổng Tước nghe được tin không khỏi nghi ngờ.

Nguyệt Sinh Liên đưa tay tháo lấy ống thư trên người con chim ưng rồi thả nó bay lại lên nóc nhà, đáp:

- Thưa ngài, tin chính tay Chánh sử quan viết, khó mà sai được.

- Đây đúng là tự dạng của Sa Liên, nhưng mà... ta vẫn không dám tin cái tin này.

- Khuê Tước tiên sinh mở lại cuộn thư ra đọc, mày chau trên đôi mắt - Tề Hàn và Đoàn Châu là đồng môn ta, đồng liêu ta, cũng một thuở dấn thân thí trường cùng nhau, cũng một thuở là quan ngang phẩm, cố hoàng bệ hạ tin tưởng chọn họ làm cột trụ triều đình...

- Thưa, nếu như họ mà ngài biết đó chỉ là vở diễn thì sao?

Tham vọng gần tay hơn nếu được tin tưởng mà?

- Nguyệt Sinh Liên ngồi xuống chỗ quen thuộc của mình bên cửa.

- Lâu nay họ vẫn giúp Chu Nguyệt dạy học cho đám trẻ, ta không tin ngài không thể thấy trước được.

- Không, học trò không thể thấy trước được.

- Chu Tước đại nhân nhắm mắt, đáp - Chuyện này... hết sức bất ngờ.

- Ngài đùa tôi chắc?

Thâm sơn cùng cốc nào tôi đến ngài cũng tìm ra được, ngài bỏ ba thập niên đời mình cố mang một kẻ hỏng sĩ tử về triều vì ngài thấy được tôi có thể làm gì, mà không thể thấy trước âm mưu của mấy người đồng liêu đã làm việc cùng ngài từng đó năm?

Ngài không phải đồ ngốc, Khuê Văn Chu Tước, từ nhỏ đã thông thạo sử lược, chính trị, triết lý các thứ, nhân tình thế thái, điều chi cũng làu, chưa kể còn Thiên nhãn.

Ngài không ngốc đến nỗi không thấy được chí ít sợi dây rối trên đầu mình!

Chu Tước đại nhân im lặng một hồi rồi cúi đầu.

- Thiên nhãn Chu Tước dù gì cũng chỉ người phàm.

Ngài thấy rồi đó, Thiên nhãn thông tuệ là vậy nhưng có những thứ học trò không thể thấy trước được.

Khuê Tước tiên sinh lắc đầu, thở gắt một hơi rồi ngả người tựa vào tường.

- Vậy là... chỉ còn một mình ngài gánh vác cả giang sơn này, Chu Nguyệt à.

Nhưng ngài thì đang ở đây với tôi chơi trò thám tử, triều đình để đó, tứ cột trụ từ lâu còn có tam, Tể tướng với Lễ bộ thượng thư thì làm phản, hoàng tộc thì đang bị giam lỏng.

Chỉ còn ngài vẫn trung với giang sơn này thôi, mà bây giờ... coi như giang sơn cũng chẳng còn.

- Không phải ngài nói quá chứ?

Hai chúng ta vẫn còn đây mà?

- Chu Tước đại nhân cười trấn an.

- Ngài xem, ngài đường đường là Nội điện Đông các viện đại học sĩ, từng giữ quyền nhiếp chính, một trong những cột trụ triều đình, nay lại rúc trong gia trang đổ nát với kẻ giang hồ như tôi.

Người ta có lẽ cũng muốn cái đầu ngài lắm, nếu không thì ngài đã không trốn ở chốn này suốt quãng thời gian qua, phí thời gian đi tìm một người không biết có còn sống hay không.

Từ khi Thi Kỳ về Mạc Hà gặp tôi tới nay đã bốn tháng, Phan gia mất tích trước đó hai tuần, khả năng họ giữ cho y sống sót được bao nhiêu?

Chu Tước đại nhân nhắm mắt lại, ngước đầu lên suy tư.

- Khá cao.

Thiên nhãn bảo rằng Phan gia vẫn còn sống vì những kẻ bắt cóc ngài ấy nghĩ ngài có giá trị nhiều.

Đến hôm trước học trò vẫn thoáng thấy được ngài đang bị giam giữ ở đâu đó.

Nếu chúng ta nhanh chân có thể sẽ kịp, chỉ có điều là dấu vết đã quá cũ, khó mà lần theo.

- Thi Kỳ có lẽ đã phát hiện được gì đó, khi tôi về Cấm Thành thì nó ở lại điều tra xem chuyện gì xảy ra.

Chắc nó có ghi lại đầu mối ở đâu đó, nhưng tình thế này thì tôi khó mà về nhà, dù gì thì nó cũng bị bắt thay tôi để mà bị đổ tội cho vụ mất tích này.

Có khi khi chúng ta đi Kinh Xuân thì cái nhà cũng bị lục lọi rồi.

Nguyệt Sinh Liên đột ngột lên tiếng xen vào:

- Thưa, tại hạ có thể về đó xem sao?

- Thôi, phiền ngươi cũng đủ rồi.

Nếu vì ta mà học trò Khuê Văn Chu Tước có chuyện gì thì nợ kiếp này ta không trả nổi đâu.

- Tiên sinh khoát tay.

- Tạ ơn ngài đã quan tâm, nhưng ngài quên tại hạ trước kia là gì chăng?

- Nguyệt Sinh Liên cười đáp, tay giơ thanh bảo kiếm - "Tử thần vô ảnh kiếm sĩ" không phải tự dưng thiên hạ gọi cho vui.

- Ngài cứ tin tưởng Tiểu Liên một chút đi.

- Chu Tước đại nhân họa vào.

Và Nguyệt Sinh Liên thận trọng về căn nhà nhỏ bên vườn thanh cúc nơi vị thái phó lưu đày đã gọi làm nhà suốt gần một thập kỷ qua, lần tìm những phát hiện Thi Kỳ có lẽ đã thấy.

Khuê Văn song tước ở lại gia trang sắp xếp các thông tin biết được.

Vụ án xảy ra đã khá lâu, manh mối ít ỏi, nhưng với mạng một người treo trên thành bại này, dù ra sao họ cũng phải cố gắng truy được đến đầu mối tiếp theo.

Đêm khuya Phan Huy tổng trấn mất tích, có mưa rào nhẹ.

Ấy là đầu xuân, dăm tuần trước kỳ khảo thí.

Khuê Văn Khổng Tước thường hay thức đêm nên có lẽ cũng vô tình nghe hoặc thấy gì đó, nhưng người không nhớ được.

Nhưng người nhớ sáng hôm sau ra xem vườn thanh cúc thì phát hiện có dấu chân giày lên hoa, dẫn về phía sông cạn; cạnh dấu chân có vết kéo lê.

Sông cạn không thường có nước, nhưng vào mùa này có thể dâng thành dòng nhỏ.

Người định lần theo điều tra, nhưng nghĩ rằng rủi ro quá lớn khi chỉ có một mình nên đã thôi, và chiều hôm đó hay tin muội phu mất tích.

Người đến bảo gia nô trong nhà rằng cứ sinh hoạt bình thường, đừng ra vẻ hốt hoảng, sẽ có quan quân triều đình đến giúp tìm tổng trấn đại nhân.

Chuyện hệ trọng như vậy, thể nào Khuê Văn Chu Tước cũng được Thiên nhãn mách bảo có biến.

Trong thời gian ấy, người đảm đương hộ việc hành chính của trấn.

Và đợi mãi, người của Khuê Văn Chu Tước thì không thấy, nhưng dăm tuần sau đó, Thi Kỳ về thăm và điều tra thay vụ mất tích này.

Có Thi Kỳ ở Mạc Hà và được giải lệnh lưu đày, tiên sinh về kinh, rồi phụng mệnh đi Kinh Xuân dẹp cuộc phản loạn.

- Con sông cạn chảy từ Đông Sơn xuống, vòng phía tây nam trấn này, tức là về phía Côn Luân thành, rồi rẽ nhánh nhập vào một con sông lớn khác đổ ra nam hải.

Cả trấn cùng nhà tôi ở bờ bắc, nhưng gia trang này ở bờ nam, nếu thủ phạm đưa Phan gia lên phía bắc hay đông tây, tôi đã có thể men theo con sông mà lần dấu vết, nhưng nếu y vượt con sông về phía nam, dấu vết sẽ ngắt đoạn hoặc bị xoá sạch ngay.

Cổ gia trang này bỏ hoang giữa rừng, về phía nam là rừng rậm hiểm trở, là địa phận giang hồ, tôi không nghĩ chúng ta có thể bới đống rơm này mà tìm cây kim...

- Phá vỡ sự im lặng chết người, Khuê Tước tiên sinh lên tiếng điểm lại những gì người biết.

Chu Tước đại nhân mài thêm mực, lần tìm địa đồ dưới bàn và ghi chú vào.

- Ngài có biết, sau hôm ngài về kinh, một người gia nô trong phủ đã mất tích?

- Gì cơ?

Đây là Mạc Hà chứ có phải cái vùng vô luật Bắc Nguyên đâu mà người thì cứ mất tích như vậy.

Khuê Tước tiên sinh bình luận, rồi đến cái bếp nhỏ bên góc tường mà pha chút trà.

Đã quá chiều, nắng đã nhạt hẳn và căn phòng cũng tối dần.

- Phiền ngài tiện tay thắp giúp đèn lên.

- Chu Tước đại nhân quay sang gọi.

- Chúng ta có thể đoán là cả hai vụ này có liên quan.

Nhiều khả năng là cùng một thủ phạm.

- Khuê Tước tiên sinh nói, với lấy ngọn rơm gần đó làm diêm thắp đèn - Tôi muốn mượn đệ tử ngài đi dò manh mối ở nam lâm, tối nay, trong rừng cây kín kẽ như vậy nếu có dấu vết thì với tán cây che, mưa khó mà dội sạch được.

- Đợi Tiểu Liên về rồi chúng ta xem xét đầu mối đã, vội gì nào?

Vị đại học sĩ ngước sang nhìn người đồng liêu, cười nhẹ.

- Một mạng người đang treo chuông, lại còn là muội phu tôi, ngài nghĩ tôi nên ngồi đợi họ gửi hài cốt trôi sông về đây à?

Đi điều tra trong đêm, ít khả năng bị phát hiện.

- Trời này vào mùa mưa rồi, lại còn mưa nhiều nữa, có thể có con nước lớn.

Học trò không muốn ngài lại mạo hiểm mạng mình trên đường.

- Làm như ngài có tư cách nói câu đó, Khuê Văn Chu Tước.

Đồ thư sinh ngốc nào lệnh cho đệ tử mình đi bắt Đế Mục rồi một mình đến đối mặt với tên thích khách ở Kinh Xuân?

- Khuê Tước tiên sinh thoáng đổi giọng giễu.

Chu Tước đại nhân chỉ cười trừ như vậy, lắc đầu cho qua.

- Không có ai khác ở đây, thôi thì tôi chỉ muốn một mình ngài nghe...

- Tiên sinh lại đến ngồi cạnh bếp nhìn ánh than hồng cứ bập bùng, đợi ấm nước sôi - Chúng ta lớn lên cùng nhau, nhưng tôi không nghĩ mình từng thấy con người thật của ngài.

- Ý ngài là sao?

Học trò xưa nay vẫn vậy mà.

- Khuê Văn Chu Tước tôi biết năm xưa chẳng khác tiên nhân.

Luôn giấu mình trong thư phòng chẳng khi ra ngoài, cả triều không mấy ai biết mặt, luôn lãnh đạm với mọi thứ, như thể không có gì đáng cho ngài quan tâm.

Ừ thì, trừ việc dạy dỗ Thái tử điện hạ.

Ngài chưa bao giờ tỏ cảm xúc thật tình, chỉ như xã giao thôi, nhưng mà... trận Kinh Xuân đó, tôi lại thấy một Khuê Văn Chu Tước khác, một người mà ký ức tôi không quen.

Chu Tước đại nhân không dám quay lại nhìn, chỉ cắn răng ngước mắt lên bức bình phong treo tường.

- Chu Nguyệt tôi biết từ hồi còn ở triều sẽ không liều đến mức một mình đến đối mặt nguy hiểm, sẽ không để lộ bất cứ cảm xúc nào dù chuyện gì có xảy ra, sẽ vẫn cứ mặc kệ thiên hạ miễn là thành toại được kế.

Ngàn quân vạn bá tính chỉ là con cờ trên bàn cờ của ngài, chẳng cần phiền đến ngài ra tiền tuyến, như năm xưa khi loạn nổ ra ở kinh đô vì cuộc khủng hoảng kế vị, ngài chỉ đứng đó trên tường cao Nội thành chứng kiến loạn lạc diễn ra.

Vậy mà trận Kinh Xuân, ngài có thể lại đứng trên đồi quan sát thôi, nhưng ngài đi theo tôi vào tận trong phủ thành.

Nhìn học trò chúng ta tiến công thú vị như vậy sao?

Rồi, ngài còn một mình đi tìm tên thích khách mà quyết sinh tử.

Thật là... tôi không hiểu nổi mấy thiên tài như ngài...

Vị học sĩ lại cười trừ cho qua.

Ngài không dám quay đầu nhìn người đồng liêu, chỉ ngước lên tường rêu cũ nát mà giấu vội giọt nước mắt.

Thiên nhãn thông tuệ đã cho ngài thấu nhiều thứ, nhưng không phải tất cả.

Vẫn còn bao nhiêu bí ẩn bên ngoài tầm mắt: vụ đại án này cùng những âm mưu đằng sau nó.

Ở giữa biển hiểm nguy trập trùng, ngài tự bảo vệ mình bằng tấm rèm che, bằng khiêm nhường và khoảng cách, nhưng ngài đã không ngờ chính thứ đã bảo hộ ngài khỏi những mưu đồ ám hại mình lại đẩy những người ngài muốn giữ gần bên cạnh ra xa.

Dù vậy, Chu Tước đại nhân chấp nhận điều đó, như người đồng liêu đã chấp nhận mang danh tội nhân đổi lấy bình yên cho học trò mình.

- Chuyện đó cũng chẳng quan trọng nữa.

- Tiên sinh đưa tay chạm nhẹ ấm nước đo độ nóng - Nói tôi nghe, ngài nghĩ trong vụ án này có bàn tay của giang hồ nhúng vào không?

- Để học trò nghe suy đoán của ngài trước.

- Tôi chỉ đoán vậy.

Nếu là gia nhân của ai đó trong triều, nhiều khả năng sẽ đi về phía bắc hoặc ngược dòng sông cạn, các quan trong triều đa phần có ấp ở miền bắc hoặc miền đông, không lý gì tay chân của họ lại chạy trốn ngược hướng nhà vì miền tây và nam là miền giang hồ; tôi không nghĩ họ dám liều với chốn giang hồ.

Ừ thì trừ hai tên ngốc tôi với ngài ra.

Nhưng nếu là người của giang hồ thì về phía nam hoặc phía tây có lý hơn: với họ, chốn nguy hiểm nhất là chốn an toàn nhất.

Chu Tước đại nhân lần ngón tay theo đường trên địa đồ.

- Người giang hồ sẽ không tự tiện bắt cóc quan triều đình làm gì, nên tôi nghĩ có ai đó thuê họ...

Đột nhiên từ bên ngoài vọng lại tiếng gõ nhịp nhịp như dấu hiệu.

- Nó về rồi.

- Chu Tước đại nhân nhìn ra cửa - Vào đi con.

Nguyệt Sinh Liên mệt mỏi đẩy cửa bước vào và lại ngồi bên góc tường, lắc đầu ngao ngán.

- Tìm thấy được gì không?

- Chu Tước đại nhân hỏi.

- Thưa, không.

Căn nhà vẫn y nguyên lúc con đến đón đứa bé khi nó trốn về từ Định Gia, nhưng con không tìm được gì mới.

Vườn thanh cúc có dấu vết giẫm đạp kéo lê nhưng đã quá cũ, khó tìm được phương hướng.

Khuê Tước tiên sinh chau mày, lòng đầy lo lắng.

- Vụ án xảy ra lâu rồi, ngược đường theo dấu vết cũng khó.

Xin lỗi đã làm phiền, nhưng ngươi có thể theo ta đi dò xét cánh rừng phía nam một chút—

- Khoan đã thưa ngài!

Tại hạ vừa nhớ ra đứa bé có xin xấp giấy ghi chép gì đó để nhắn lại cho ngài.

Đại nhân con có thể lục tìm ở dưới bàn...

Chu Tước đại nhân lần mò các quyển thư xếp chồng bên cạnh, nhặt lấy một quyển buộc vội rồi đưa cho người đồng liêu.

- Thi Kỳ gửi ngài.

Có thể có manh mối.

- Ngài chưa hề giở ra đọc sao?

- Khuê Tước tiên sinh đón lấy quyển thư.

- Đứa bé viết lại là để cho ngài, học trò không dám tự tiện.

- Nếu ngài bỏ chút thời gian thì chuyện này đã xong rồi.

- Tiên sinh thở dài, mở quyển thư ra giơ dưới ánh đèn đọc vội - "...Trong vườn thấy có vết kéo lê.

Bên sông cạn có dấu chân.

Bờ bên kia sông trông có dấu vó ngựa."

- Y hệt như lúc Phan gia mất tích.

- Chu Tước đại nhân bình luận.

- Bờ bên kia có dấu vó ngựa!

Có lẽ vụ trước kia cũng như thế, dù là tôi không nhớ rõ chi tiết.

Đúng như tôi đoán!

Bọn chúng bỏ chạy về địa phận giang hồ!

- Vậy thì dễ rồi thưa ngài.

- Nguyệt Sinh Liên cười - Tại hạ lớn lên ở Diệp Lâm.

Cánh rừng lớn giáp với Tân Gia ấy.

Tại hạ vẫn còn người thân ở đó, có thể họ sẽ có thông tin cho chúng ta.

- Không có rủi ro gì chứ?

Dù gì thì trong giang hồ ngươi cũng là người đã chết...

- Tại hạ sẽ xoay sở, ngài đừng lo.

- Vậy bình minh hôm sau ta đi ngay nhé?

- Khuê Tước tiên sinh nói, tay buộc lại quyển thư Thi Kỳ viết.
 
Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Hồi ba mươi mốt: Diệp Lâm cửu lão


Từ Khuê Văn gia trang đến Diệp Lâm mất tầm sáu ngày đường trên ngựa, và để tránh thu hút chú ý của quan quân triều đình, ba người lần theo thương lộ hướng về Tân Gia, đi nhờ xe thương nhân rồi lặng lẽ rời đoàn khi đã vào địa phận Diệp Lâm.

Diệp Lâm là miền rừng núi, không khác Liêm Sơn là bao, nhưng vẫn là nơi khó ai dám vào.

Hỏi đường lữ khách và thương nhân từng băng qua vùng này đều chỉ có một câu trả lời: "Men theo đường cái, chớ rẽ vào rừng".

Ở đây không hiểm trở bằng Liêm Sơn nhưng rừng rậm trập trùng cũng giấu khá nhiều hiểm nguy, và với người sinh ra trong chốn giang hồ như Trường San kiếm sĩ, nơi nguy hiểm nhất là nơi an toàn nhất.

Giữa những vạt rừng rậm rạp san sát của Diệp Lâm ẩn một hội quán giang hồ có thể gọi là chi phối cả vùng phía nam này.

Đến cả Nam Hải long vương— một chúa giang hồ thống lĩnh phần biển bao bọc miền nam biên giới Tân Gia và Hoa Nữ quốc— cũng dăm phần dè chừng họ.

Hội quán Diệp Lâm nhỏ bé nhưng quyền lực trong chốn giang hồ, vì dù người của họ không mấy giỏi võ công như mọi nơi khác, họ chuyên về tìm kiếm và mua bán một thứ quý giá: tin tức.

Nếu trên thế gian có ai có thể có tin gì về Phan tổng trấn bây giờ, có lẽ là Diệp Lâm hội.

Nguyệt Sinh Liên dẫn hai vị thư sinh luồn lách sau những gốc cây tán lá, thi thoảng dừng để định vị rồi lại tiếp tục.

Hai canh giờ qua rồi nhưng họ vẫn ở giữa cánh rừng, đi tới lui như thể vô định, nhưng Nguyệt Sinh Liên trông không lo lắng gì.

- Toàn cây cối, chẳng thấy đường đi.

- Khuê Tước tiên sinh nhìn quanh, bình luận - Ngươi chắc là biết đường đó chứ?

- Có một hệ thống định vị chỉ có người của Diệp Lâm hội quán biết.

Tại hạ được sinh ra và lớn lên ở đây, đường thì đã nằm lòng.

Chỉ có điều...

để tránh trường hợp ngoại nhân tìm được cách thâm nhập, họ không trú cố định một nơi.

Kể từ hồi trở thành đệ tử Chu Tước đại nhân, mười hai năm rồi, tại hạ chưa hề về đây, ai biết được thân nhân giờ đang ở đâu.

- Nguyệt Sinh Liên đáp, ngước lên tìm con chim ưng mình thả đi dò đường - Tại hạ đang tìm đường về phường quán mình quen để xem có ai không.

Chu Tước đại nhân bỗng đứng bất động giữa đường, đưa tay lần trong không trung.

Cả hai người kia tò mò và lo lắng dừng lại, quay về xem có chuyện gì.

- Thiên nhãn đại nhân nhà ngươi có bao giờ như vậy không?

- Tiên sinh thì thầm hỏi.

- Thưa, không.

Đây là lần đầu mới thấy.

Bình thường thì ngài chỉ... biết... chứ không dò dẫm như vậy.

Rồi Chu Tước đại nhân chỉ sang một vạt rừng bên trái, chớp mắt vài lần.

- Đằng kia... trông như có một khách lâu.

- À, một trong những phường của Diệp Lâm hội quán, nhưng mà con nói rồi, họ luôn đổi địa điểm, phường quán đó có lẽ đang bỏ hoang...

- Nguyệt Sinh Liên nói.

- Có người đấy.

Ta thoáng thấy có đứa bé chạy loanh quanh.

- Vậy chúng ta gặp may rồi.

- Phải như thiên nhãn ngài lúc nào cũng hữu dụng thế này thì hay biết mấy...

- Khuê Tước tiên sinh bình luận.

Vị học sĩ chỉ cười trừ rồi lắc đầu.

- Ăn may thôi.

Họ mất nửa canh giờ để đến được phường quán đó.

Cửa đóng lạnh tanh, không có tiếng động nào.

Đứa bé mà Chu Tước đại nhân thấy có lẽ đã lánh vào trốn vì lầu gác có vẻ như đã báo cho mọi người có ngoại nhân đến.

Thường thì khi khách đến phường quán muốn mua tin tức thì sẽ có người của Diệp Lâm hội từ trà quán trên đường cái dẫn vào, nhưng ba người này không có Diệp Lâm hội nhân dẫn đường.

Nguyệt Sinh Liên thản nhiên đẩy cửa bước vào.

Cửa không khoá.

Hai vị thư sinh vào theo, đưa mắt nhìn quanh dè chừng.

Đi qua khỏi gian trước, họ đến được một khoảng sân nhỏ bao bọc giữa bốn dãy phòng với tầng cao, nơi có bộ hài cốt kẻ nào bị tên ghìm chặt xuống sàn lát gỗ; mũi tên trên xương y đã gần như mục nát, có lẽ đã lâu lắm rồi.

Y vẫn còn nằm ở đó như thể làm gương cho những kẻ ngu ngốc cố tình xâm nhập vào địa phận Diệp Lâm hội bất kể lý do gì.

Họ chuyên mua bán tin tức trong giang hồ, nhưng lý do đến cả lãnh chúa nam hải cũng kiêng dè họ là đây: họ là bậc thầy mai phục.

Cả Diệp Lâm này là một mê cung, và các phường quán rải rác khắp rừng là bẫy.

Nguyệt Sinh Liên chỉ đứng lại ở giữa sân, tháo bảo kiếm đặt xuống đất, ngước đầu lên tầng.

Một nữ nhân trẻ, trông không ngoài nhị tuần, tóc ngăn ngắn, đầu vấn khăn bước ra, đưa mắt nhìn một lượt ba người khách lạ.

- Người dẫn đường của các hạ đâu?

- Cô ta hỏi.

- Tại hạ tự dẫn đường vào đây.

- Nguyệt Sinh Liên cười đáp.

- Diệp Lâm không phải chốn ai muốn vào thì vào, ai muốn ra thì ra.

- Tại hạ biết chứ.

Trông người hảo hữu nằm dưới này cũng rõ rồi.

Nên là tại hạ buông kiếm để tỏ rằng mình đến không có ý gây chiến hay làm hại hội quán đây.

Nữ nhân nheo mắt nhìn thanh bảo kiếm dưới chân Nguyệt Sinh Liên đầy khó hiểu.

- Mấy người đang phục kích trong phòng kia, không bắn ngay sao?

- Nguyệt Sinh Liên đưa tay chỉ lên tầng.

- Nói lý do các hạ đến đây đã.

- Nữ nhân đáp.

- Đến gặp một trong cửu trưởng lão.

Ai cũng được.

Phường quán này gần nhất nên đến thôi.

Trưởng lão ở đây là ai thế?

- Tại sao không xưng danh trước?

- Tên nào?

Kiếp trước hay kiếp này?

Bây giờ thì gọi là Nguyệt Sinh Liên, còn trước kia...

- Trước kia?

Nguyệt Sinh Liên quay lại nhìn Chu Tước đại nhân, ngài gật đầu chấp thuận.

- Trường San.

Tổ phụ là Trường Độ, nhị đệ của Trường Đán trưởng lão Thất phường.

Trên chốn giang hồ mang danh Tử thần vô ảnh kiếm sĩ.

Nữ nhân kia nghe thấy tên thì tái mặt, lắc đầu chối.

- Nói dối!

Nguyệt Sinh Liên chỉ tay xuống thanh bảo kiếm nằm trên đất.

- Tử thần vô ảnh kiếm ngay đây, ngay dưới chân tại hạ đây, không đùa đâu.

Vừa tới đó, một loạt cửa đồng loạt mở, và người người đổ ra các hành lang tò mò xem những kẻ mới đến.

Khuê Văn Khổng Tước nắm chặt lấy mộc côn trên tay, chuẩn bị đưa người đồng liêu chạy thoát nếu có chuyện gì xảy ra, nhưng Chu Tước đại nhân đưa tay đặt lên vai người trấn an.

Đột nhiên, khoảng sân lại im lìm, và từ một góc tối của các hành lang có người đàn ông trông ngoài thất tuần, râu tóc dài đã bạc như tuyết, tay khoanh sau lưng, nhân dáng đạo mạo đến gần ba người khách.

Vừa thấy ông, Nguyệt Sinh Liên chắp tay cúi người thi lễ.

- Trưởng lão gia...

- Nữ nhân trẻ trên lầu gọi.

- Mọi người vào trong đi, ở đây để ta.

Ông ra lệnh, và như thế, khoảng sân lại trở nên vắng lặng, chỉ có bốn người và cô gái trẻ tò mò nhìn xuống theo dõi sự tình.

- Lão nghe nói, ngươi tự xưng là Trường San?

Tử thần vô ảnh kiếm sĩ Trường San?

- Vâng.

- Nguyệt Sinh Liên đáp, đầu vẫn cúi.

- Ngươi trông như người của giang hồ, ắt đã biết là mười hai năm trước Trường San kiếm sĩ tuẫn tiết theo Huyền Khôi đại vương sau loạn Liêm Sơn cổ thành.

Một thanh kiếm thì khó làm tin lắm.

Ông cúi người nhặt lấy thanh bảo kiếm dưới đất, tuốt khỏi bao.

Lưỡi kiếm sắc lẹm như sáng lên dưới tia nắng.

Nhìn đường vân kiếm và hàng chữ khắc gần chuôi, ông xác nhận đó thực là Tử thần vô ảnh kiếm, thanh kiếm huyền thoại Diệp Lâm hội quán đã truyền qua biết bao đời anh tài mà ông đã tự tay trao cho đồ nhi mình làm bảo khí đồng hành trên bước đường giang hồ.

- Ngươi nói, Tử thần vô ảnh kiếm sao?

Cũng không loại trừ khả năng ngươi tình cờ tìm được nơi Trường San thật yên nghỉ mà lấy bảo kiếm này làm của riêng.

- Thưa, thật may là được tái ngộ lão sư hôm nay.

Chính tay lão sư đã dạy con những đường kiếm vỡ lòng thuở nhỏ, hay là con xin mời lão sư tự kiểm chứng?

Nguyệt Sinh Liên ngước lên nhìn ông lão, mỉm cười.

Ông không thay đổi sắc mặt, chỉ đưa lại kiếm cho kẻ tiểu bối kia rồi rút ra thanh ông giấu sau lưng.

Khuê Văn song tước lùi lại dăm bước để cho hai người kia có không gian tỉ thí.

Nguyệt Sinh Liên đón lấy thanh bảo kiếm bằng hai tay, giơ cao cung kính như thể bái sư, rồi cũng tuốt kiếm khỏi bao.

Trên tầng kia, những cặp mắt hiếu kỳ lại ló ra.

- Tuổi trẻ đã ở xa quá rồi, xương cốt này không còn như xưa nữa.

Nương tay với lão già này nhé.

- Ông nói rồi vào thế thủ.

Nguyệt Sinh Liên trong chớp mắt đã áp sát ông lão, lưỡi kiếm trong tay sáng loáng hướng thẳng cổ ông.

Ông bước một bước lùi sang vừa đúng lúc rồi vung một đường phản đòn.

Cả hai chỉ công, phản rồi chặn nhau một hồi, không ai hơn ai.

Chu Tước đại nhân trông bất ngờ ra mặt.

Danh là Thiên nhãn thông tuệ nhưng đây là lần đầu tiên ngài được thấy có người ngang hàng với Tử thần vô ảnh kiếm bất bại, thậm chí có phần nhỉnh hơn, hơn nữa lại là một ông già thất tuần.

Bỗng nhiên cả hai thanh kiếm lọt vào thế khoá, và lão nhân gia vung tay đẩy Nguyệt Sinh Liên đi, kết thúc cuộc tỉ thí chóng vánh chỉ với một câu: "Thôi, đủ rồi."

Từ trên các tầng nhìn xuống là hàng chục cặp mắt mở to, nửa kinh ngạc nửa khó tin.

Cô gái trẻ nọ dướn mình ra ban công, mày chau đầy nghi hoặc.

- Trưởng lão gia... người này...

Ông lão tra kiếm mình vào vỏ rồi quay người đi.

- Trường San đó.

- Nhưng trưởng lão gia...

Trường San thiếu chủ chết lâu rồi mà!

- Đó là tin mà lão Trường Đán bán cho giang hồ thôi.

Mười hai năm nay không ai nghe đến Trường San kiếm sĩ, không hẳn là y đã chết, nó có thể nghĩa là y không còn ở chốn giang hồ nữa.

Trường San ta biết vẫn luôn trượng nghĩa trung thành, nhưng ta không nghĩ nó đến nỗi nguyện chết cùng ngày cùng tháng cùng năm với người chiến hữu.

- Ông lão khoát tay - Đến cả lão sư nó, người đã dạy nó thứ kiếm pháp làm nên tên tuổi nó, nó vừa nãy còn tấn công không chần chừ kia.

Nguyệt Sinh Liên cũng tra kiếm vào bao, chỉ cười trừ, nhưng nét mặt như tối lại khi nhớ về cái ngày đó.

- Thưa lão gia, học trò có thể biết danh tính ngài để tiện đường giao tiếp chăng?

- Chu Tước đại nhân chắp tay hỏi.

- Lão phu danh là Nguyễn Phương, trưởng lão của Lục phường.

Còn hai vị, lão phu đoán hai vị muốn đến mua tin.

Vào đi, rồi chúng ta bàn chuyện.

Nguyễn trưởng lão ngước về phía Khuê Văn nhị sĩ, ra hiệu họ đi theo vào sâu bên trong phường quán.

Đằng sau khoảng sân nhỏ là khoảng sân chính, nơi mọi người sống và sinh hoạt.

Họ vào một căn phòng khá khuất sau màn thường xuân đổ xuống từ ban công các tầng trên.

Đây là thư phòng nơi trưởng lão tiếp khách và trao đổi giao dịch tin tức.

Kín bốn bức tường là kệ cao đầy những quyển, những cuộn, ghi chép mọi thứ có thể trong chốn giang hồ.

Ông mời những người khách ngồi xuống bàn rồi đến cạnh bếp nhỏ đun ấm nước.

Nguyệt Sinh Liên thì như thường lệ, đến góc tường cạnh cửa đứng gác chừng.

- Diệp Lâm xa xôi, khó có trà ngon, xin nhị vị tiên sinh bỏ qua.

- Ông nói, chia lá trà khô trong hũ ra từng chén.

- Không sao, có chút gì để nhấp môi sau quãng đường dài là đã tốt lắm rồi.

- Chu Tước đại nhân đáp.

- Đừng khách sáo quá, cũng người quen cả mà.

- Thưa, nhưng đây là lần đầu học trò đến đây?

- Đã là người trong giới buôn tin bán tức thì không ai không biết Thiên nhãn Chu Tước của Ngũ anh tài.

- Học trò chỉ ở trong giang hồ được ba năm thôi mà.

- Chu Tước đại nhân cười trừ - Chừng một năm sau khi cố hoàng bệ hạ băng hà.

- Vậy đã đủ để được lưu danh trên một trong những phiến đá anh tài ở Bắc thành rồi.

- Đến tận bây giờ học trò mới biết Tiểu Liên lớn lên ở Diệp Lâm này.

Trung tâm của giới tin tức trong giang hồ, thật không ngờ mà.

- "Tiểu Liên" à?

- Vâng, Nguyệt Sinh Liên.

Học trò đặt cho nó tên ấy khi nhận nó về làm môn sinh trong học viện.

- Đó có lẽ là cái tên mẫu thân nó sẽ đặt cho nếu con bé không qua đời ngay sau sinh nở.

Hiên nhi thích hoa sen lắm, nhưng ở Diệp Lâm không có.

Phụ thân nó thì đi theo dịch đậu mùa trước khi nó sinh ra, cái tên San là do ngoại tổ phụ đặt.

Lão cũng qua đời lâu rồi.

Ngoại tổ bá nó Trường Đán thì vẫn đang là trưởng lão Thất phường.

Nguyệt Sinh Liên bỗng ngước đầu lên, hỏi:

- Con có được đến thăm tổ bá không?

- Tuỳ tình hình, nếu lão phu không có thông tin hai người này muốn thì chúng ta sẽ phải nhờ những người khác trong cửu lão.

Đừng lo, chuyện con vẫn còn sống không thoát ra ngoài được đâu.

Đến lượt Khuê Tước tiên sinh lên tiếng.

- Tôi và người đồng liêu đây xin được phép thỉnh cầu thẳng: Trưởng lão gia có tin tức gì về Mạc Hà tổng trấn Phan Huy hay không?

- Đừng vội, trà vẫn chưa pha mà.

- Nguyễn trưởng lão cười, nhấc ấm nước nóng rót vào các chén - Vị tiên sinh này, chỉ là tò mò thôi, lão phu muốn hỏi tiên sinh một chuyện nhỏ.

- Tôi thì biết được gì để trưởng lão Diệp Lâm hỏi chứ?

- Trường y màu thanh cúc, áo khoác màu huệ đỏ, người ta biết trên giang hồ chỉ có một người ăn mặc thế này thôi.

Du lược sư Khuê Văn Khổng Tước, một trong Ngũ anh tài.

Tin về là mười hai năm trước ngài đã ở Liêm Sơn, chứng kiến toàn bộ cuộc loạn.

Khuê Tước tiên sinh chỉ ngồi đó, im lặng đợi xem chuyện gì sắp tới.

- Lão phu tò mò muốn hỏi tiên sinh, tiên sinh là một trong những người chứng kiến giờ phút chót của vị thiếu hiệp đó: Có phải Huyền Khôi đại vương thực sự tử trận ở Liêm Sơn?

Tin về từ Kinh Xuân là người ta đã thấy hồn ma vị thiếu hiệp với thiết trụ kình thiên ở trước cổng thành mở đường cho quân triều đình.

Nhưng hồn ma lãnh chúa giang hồ nào lại tham chiến cho triều đình?

Tiên sinh nhắm mắt, tay nắm chặt mộc côn.

- Tận mắt tôi nhìn thấy.

Còn người ở cổng thành Kinh Xuân là học trò tôi, nó tự học được chút côn pháp nhưng bảo là sánh với Huyền Khôi đại vương thì tới mãn kiếp cũng chưa.

- Lão phu cũng nghĩ như thế, thôi thì vậy.

Loạn Liêm Sơn qua đã mười hai năm, trong trường hợp hy hữu Huyền Khôi đại vương sống sót Vách Tử Nhân, điều trước giờ chưa từng xảy ra, thì vị thiếu hiệp đó có lẽ cũng không muốn nhắc lại cái ngày ấy.

- Nguyễn trưởng lão cười, đưa tay vuốt râu - Được rồi, về thỉnh cầu của các vị... có vẻ như ta cần phải đi gặp các huynh đệ tỷ muội các phường khác.

Lục phường không có tin gì từ Mạc Hà, địa phận của phường quán lão phu là tây nam, vùng Duy Tử thành bên hồ Hiểu Yên.

Thất phường thì vùng Mạc Hà và Côn Luân.

- Khi nào chúng tôi mới được gặp Thất phường trưởng lão?

- Lão phu sẽ cho người mang tin đi ngay, nhanh thì chiều mai, chậm thì chiều mốt.

Trong khoảng thời gian đợi lão Trường Đán tới, các vị có thể nghỉ lại ở khách phòng cạnh thư phòng này.

Thiên nhãn Chu Tước đại nhân là ân sư của tiểu tử này, như phụ mẫu nó suốt từng đó năm qua, rồi còn Du lược sư Khổng Tước đại nhân chỉ bằng trí đã bảo vệ được bao nhiêu dân tình, được gặp hai người ở đây hôm nay, lão phu cung kính còn không hết.

Xin thứ lỗi cho lũ trẻ có mắt không thấy Thái Sơn.

- Nguyễn trưởng lão nói, đoạn giơ tay chắp làm lễ.

- Thái Sơn có bao giờ ra khỏi thư phòng đâu mà thấy.

- Khuê Tước tiên sinh nhìn sang người đồng liêu mà đùa - À, còn nữa.

Một câu hỏi cuối trước khi chúng tôi lui xuống.

Giá của thông tin này là bao nhiêu?

Nguyễn trưởng lão chỉ khoát tay.

- Thông tin về một vị quan mất tích, thường thì chỉ mười tám lượng vàng.

- ...Ngài nghĩ lọn tóc của Sa Liên tôi giữ trong tủ đem đấu giá ở Tây Đô hội quán sẽ được bao nhiêu tiền?

- Khuê Tước tiên sinh ghé đầu sang người đồng liêu nói nhỏ.

- Đừng có bán tóc thề của học trò ngài chứ.

- Chu Tước đại nhân cười cười.

- Đừng lo, lão phu đùa thôi, cùng lắm thì lão phu xin ngài kể chút chuyện phiêu lưu ngày xưa làm thù lao vậy.

- Nguyễn trưởng lão vuốt râu, cười - Dù gì thì Diệp Lâm hội quán cũng nợ các ngài rồi.

- Thôi thì quyết định vậy đi, dù sao thì tôi cũng chẳng có gì đáng giá trên người.

Khuê Tước tiên sinh đón lấy trà nóng uống vội, đặt chén cạn xuống bàn, chắp tay cúi đầu thi lễ rồi đứng lên rời khỏi phòng.

Người đồng liêu ngài cũng theo sang khách phòng kế bên sắp xếp chỗ nghỉ, để lại Nguyệt Sinh Liên với vị trưởng lão được phút tái ngộ.

Vị kiếm sĩ đến ngồi bên bàn, đặt thanh bảo kiếm xuống cạnh mình rồi cầm chén trà của Chu Tước đại nhân lên uống hộ.

Nguyễn trưởng lão thấy vậy thì cười, bảo rằng Trường San ông biết không thích trà, có khi nào ông đã nhận nhầm kẻ giả danh.

- Trường San ngày xưa lão sư biết đã tái sinh thành sĩ tử rồi.

- Nguyệt Sinh Liên đáp - Theo Chu Tước đại nhân, tửu trà dư hậu với người sĩ phu từng đó năm con cũng phải lấy làm quen.

Hơn nữa trà trong cung ngon hơn thứ lá cây ở đây nhiều.

- Tiểu tử nhà ngươi chiến đấu cho quân triều đình ở Kinh Xuân phải không?

- Lão sư đừng có hiểu nhầm con.

Con không còn ở chốn giang hồ thật nhưng sau rốt vẫn là người giang hồ.

Con không ra chiến trường cho triều đình, con ra chiến trường vì đại nhân con.

- Người học trò mà Khổng Tước đại nhân nhắc tới, "hồn ma" mà thiên hạ bảo thấy trên chiến trường, có thật là người đó chăng?

Trên đời không có nhiều người thuần thục với thiết trụ kình thiên, đúng hơn là chỉ có một.

Nguyệt Sinh Liên cúi đầu, khẽ gật.

- Con không nghĩ con được nói ra, nhị vị Khuê Văn với con đã thề sẽ mang sự thực xuống mồ cùng để cho y được sống kiếp này chỉ một thư sinh bình thường thôi.

Dù là chỉ trên danh nghĩa.

Nguyễn trưởng lão mỉm cười, nhấc chén trà lên nhấp môi.

- Xin Diệp Lâm hội giữ kín chuyện này cho... và cả chuyện của con nữa.

- Ta biết, ta biết.

- Nguyễn trưởng lão gật gù vuốt râu - Trang lịch sử cũng đã ghi rồi, người còn sống hay đã chết không còn quan trọng nữa.

Tuy nhiên ta cũng thừa nhận tin này rất bất ngờ, ai mà nghĩ có người sống sót được Vách Tử Nhân, lại còn có thể trở lại chiến trường mà phô diễn tài nghệ?

Vị thiếu hiệp đó, may mắn đếm thật không hết.

- Con mới là người may mắn, lão sư à.

Còn y sống sót nhưng cũng chẳng lành lặn gì, mười hai năm qua không ngày nào là không trải qua đau đớn.

Huyền Khôi đó vẫn một trang anh tài hào kiệt như thiên hạ từng nhớ, nhưng có thể lại cầm được thiết côn trên tay thôi đã là kỳ tích rồi.

Nguyễn trưởng lão gật đầu, đặt chén trà cạn xuống bàn rồi ngả lưng về sau ghế.

- Mười mấy năm qua để kiếm gác bàn thư, tiểu tử ngươi sống tốt chứ?

Thân là sĩ tử nhưng cũng không để bọn quan văn võ tướng quý tộc bắt nạt đó chứ?

- Vâng.

Chu Tước đại nhân và người trong Đông các đại học viện đối xử với con rất tốt.

Còn đám công tử thế gia thì, à...

- Nguyệt Sinh Liên cười, đặt tay lên thanh kiếm - Tuốt kiếm ra dọa một lần bọn chúng đã chạy cong đuôi đi mách cảnh vệ Cấm Thành.

Cảnh vệ thì cũng không dám làm gì vì chúng khiêu khích trước, và con thì là người của Chu Tước đại nhân, họ sợ vị thế của ngài trong triều lắm.

- Trường San ta biết ngày xưa chê cười văn sĩ yếu ớt, cớ nào nay lại đến bái trước một thư sinh làm ân sư?

Có phải Khuê Văn Chu Tước đó có gì đặc biệt lắm không?

- Chu Tước đại nhân nhà con hiền như cây trúc, chẳng có gì đặc biệt.

Ngài không biết gì về võ công, chỉ là nhờ Thiên nhãn mà biết đường vung đoản kiếm tự vệ thôi.

- Nguyệt Sinh Liên cười - Nhưng mà... năm đó... cái ngày Huyền Khôi bị hành hình... con đã định tuẫn tiết bên mộ y, lấy mạng đền cho lời thất hứa.

Lão sư biết con mà, con không phải loại người sẽ nguyện sống chết cùng năm cùng tháng với ai, nhưng con trọng lời hứa câu thề của mình.

Con không thể đến bên người chiến hữu kịp lúc, con sẽ lấy mạng mình tạ lỗi.

Và... khi con vừa rút kiếm...

Chu Tước đại nhân không biết từ đâu xuất hiện mà ngăn tay con lại.

Vị kiếm sĩ ngừng lấy một lát, cầm lên chén trà uống cạn cho trôi cảm xúc.

- Ngài bảo, "Tử thần vô ảnh kiếm không muốn vấy máu chủ nhân mình đâu.

Nếu không còn gì để sống tiếp ở kiếp này, chi bằng tái sinh mà làm lại từ đầu kiếp sau?

Chịu thì theo ta về Cấm Thành, chúng ta bắt đầu cuộc đời bình yên mới."

- Rồi Nguyệt Sinh Liên lại tiếp.

- Lão phu nghĩ mình biết những chi tiết còn lại rồi.

Tiểu tử ngươi biến mất không dấu vết khỏi chốn giang hồ, lão Trường Đán đưa tin cháu lão tuẫn tiết theo người chiến hữu, rồi suốt mười hai năm qua nó đã là lịch sử.

- Chốn giang hồ luôn coi thường thư sinh, bảo họ yếu ớt vụng về vô dụng, nhưng mà... lão sư à... nhị vị Khuê Văn có thể gọi là yếu ớt không?

Ngày xưa con chê cười văn sĩ, nhưng con có thể còn ở đây là nhờ người văn sĩ đó...

- Và tiểu tử ngươi bây giờ cũng là văn sĩ rồi.

Nguyễn trưởng lão bật cười, và người đồ nhi cũ của ông cũng gật đầu tủm tỉm.

Nguyệt Sinh Liên cầm kiếm đứng lên, cúi chào lão sư rồi quay về phía cửa, định về khách phòng cùng với nhị vị tiên sinh, nhưng bỗng nhiên nghe phía trước cửa có tiếng động.

Ngỡ là thích khách nên theo thói quen đặt tay lên kiếm thủ thế.

Ông lão chỉ thở dài rồi thong dong đến đẩy cửa ra, trông không có lo ngại gì.

- Bọn trẻ con thôi.

Đừng lo, thư phòng vách dày, không ai nghe trộm được đâu trừ ta và khách.

Chắc chúng tò mò lắm, tự nhiên nghe được có Trường San kiếm sĩ chúng được kể trong truyện đến đây.

- Truyện ạ?

- Nguyệt Sinh Liên cười trừ, nhìn quanh đám trẻ vội chạy đi trốn sau những cột trụ.

- Các trưởng bối lớn lên cùng con đó, họ kể những chiến tích của con cho bọn trẻ con.

Ở các phường khác thì các trưởng lão cũng kể cho con cháu họ.

Trường San kiếm sĩ là niềm tự hào của Diệp Lâm hội quán, không để lưu danh cho đời sau thì uổng quá.

Bỗng Nguyệt Sinh Liên thấy lòng hơi chùn xuống.

Ở Liêm Sơn người ta có còn nhớ đến Huyền Khôi như ở Diệp Lâm người ta vẫn nhớ Trường San chăng?

Huyền Khôi một tay bảo vệ Á Lan ải trong thời loạn, chỉ cần nhắc đến tên cũng đủ cho sơn tặc lùi bước, nhưng từ ngày y thất trận, mộ gió để mặc sương giăng, có còn bao người nhớ được hình bóng ấy?

Thấy đám trẻ trông có vẻ sợ mình, Nguyệt Sinh Liên mang nụ cười hiền lành đến ngồi bên ghế đá cạnh hành lang, đưa tay vẫy bọn trẻ lại gần.

Nguyễn trưởng lão đứng đó bần thần một lúc khi lũ trẻ con từ từ rời khỏi chỗ nấp.

Trẻ con Diệp Lâm sinh ra trong giang hồ, luôn thận trọng với người lạ vậy mà chúng lại đến gần vị khách vừa mới đến.

Hơn nữa, Tử thần vô ảnh kiếm sĩ, cái danh xưng đó của đồ nhi ông không phải chỉ tôn cho có— Trường San ngày xưa từ nhỏ đã vô tình, chẳng có mấy niềm vui ngoài thanh kiếm và sự hưng phấn giữa cuộc chiến đấu, đến cả ông và các môn đệ cũng hiếm khi được thấy y hồn nhiên như thiếu niên cùng lứa.

Cứ như là, Trường San sinh ra để cầm kiếm đoạt mạng người vậy, một tử thần đích thực.

Nhưng mười hai năm mất tích rồi trở về, nếu không phải vì đường kiếm chân truyền và thanh bảo kiếm thì ông khó lòng tin được người sĩ tử này từng là học trò tâm đắc nhất của mình.

Thấy Nguyệt Sinh Liên hiền lành điềm đạm khác hẳn Trường San ông nhớ, thậm chí đến lũ trẻ con cũng không dè chừng, ông tự hỏi mình Khuê Văn Chu Tước đã làm gì để một tử thần vô cảm ngày xưa nên được một thư sinh hoà nhã như hôm nay.

- Học trò chẳng làm gì cả, chỉ dạy chữ và những luân lý thường tình của nhân sinh thôi.

Giọng nói của Chu Tước đại nhân vọng sang từ bên cạnh làm ông giật mình.

Vị học sĩ đưa mắt nhìn học trò mình cười vui với đám trẻ mà không giấu được niềm tự hào.

- Lão phu chỉ nghĩ trong lòng mà Chu Tước đại nhân cũng thấu nhỉ?

- Nguyễn trưởng lão đưa tay vuốt râu.

- Học trò chỉ đoán trưởng lão gia sẽ thấy khó tin mà tự hỏi vậy thôi.

- Hà, Chu Tước đại nhân bảo không làm gì nhưng vẫn dạy dỗ tiểu tử này tốt hơn lão phu nhiều.

Xưa nay chưa bao giờ lão phu dám nghĩ đứa trẻ sắc lạnh như thanh kiếm nó cầm trên tay lại có thể trở nên hoà nhã như vậy.

- Học trò lại nghĩ đây mới là con người thật của nó.

Những năm tháng trong học viện cùng học trò, không phải lo đằng sau luôn có bao kẻ lăm le lấy mạng mình, có lẽ nó thấy không cần phải giữ chiếc mặt nạ tử thần đó nữa thôi.

- Đi đường xa đã mệt mỏi, sao đại nhân không ở trong khách phòng nghỉ ngơi?

- Học trò chỉ tò mò muốn xem Tiểu Liên ở chốn quen thuộc như thế nào.

Cả hai nhìn ra sân, Nguyệt Sinh Liên đang chơi đùa cùng lũ trẻ và những đứa bé trông không hề sợ hãi gì người khách lạ.

Rồi chúng đòi được xem diễn kiếm, tò mò vì khi nãy chúng nghe vị kiếm khách này có thể tỉ thí ngang hàng với Nguyễn trưởng lão, một trong số hiếm võ sư ở Diệp Lâm— cũng là một kiếm sĩ khá lẫy lừng khi ông còn trẻ.

Nguyệt Sinh Liên nhìn về phía lão sư mình như xin phép, và được ông cho một cái gật chấp thuận.

Không muốn phô trương nhiều, Nguyệt Sinh Liên chọn lấy những đường quyền kiếm Diệp Lâm để múa cho bọn trẻ xem, một mặt là diễn tài nghệ, một mặt để vinh danh vị lão sư đang đứng đằng kia dõi theo.

- Tạ ơn ngài rất nhiều, Chu Tước đại nhân.

- Được nhìn Nguyệt Sinh Liên thuần thục múa lại những đường kiếm ngày xưa, Nguyễn trưởng lão cúi đầu hoài niệm.

- Lão gia quá lời, học trò đâu có làm gì.

- Vị học sĩ đáp.

- Ngài đã cho nó được sống lại lần thứ hai.

Cho nó một cuộc đời mới.

Cho nó cơ hội được ngày hôm nay.

- Không, thật đấy.

Học trò chẳng làm gì hết.

Học trò chỉ là không muốn thấy một anh tài bỏ mạng vô ích như vậy, đau thương tiếc hận đến cuối đời đã đủ đền cho lời thất hứa rồi.

Với lại... học trò muốn cho nó cơ hội được tái ngộ với người chiến hữu cũ.

Nguyễn trưởng lão gật gù đồng ý.

- Nếu có cơ hội, lão phu mong được gặp vị thiếu hiệp đã nâng chén thề tửu với tiểu tử này.

Khuê Văn Khổng Tước đại nhân phủ nhận, nhưng lão phu biết người ấy vẫn còn sống.

San nhi làm kiếm sĩ đánh thuê, từng mất biết bao đồng đội trong nghề nhưng nó còn chẳng buồn rót rượu tiễn đưa, vậy mà chỉ một lời thất hứa với người ấy đã đáng cả mạng sống nó để đền.

Lão phu chỉ muốn biết Huyền Khôi đại vương là người thế nào mà San nhi lại coi trọng đến vậy.

- Mong rằng trưởng lão gia đừng bán tin này ra khỏi phường quán.

- Hà hà, đại nhân quá lo, lão phu đã hứa với tiểu tử sẽ mang theo xuống mồ rồi.

Ngài nên đi nghỉ ngơi sớm để hôm sau còn gặp Thất phường trưởng lão.

- Đa tạ, hôm nay được may mắn diện kiến lệnh lão sư của Tiểu Liên, học trò đã quá vui rồi.

Chu Tước đại nhân chắp tay thi lễ rồi quay đi, giấu vội những ý nghĩ và những kế hoạch trong đầu.

Tên thích khách năm xưa đã thành tử sĩ tuy nhiên đầu dây mối nhợ của những âm mưu vẫn chưa đứt.

Ván cờ này vẫn còn dài, và để chiếu được tướng, ngài nghĩ mình đành phải dụng đến cả Cửu lão Diệp Lâm cho những con cờ.

- Trường lão gia, Nguyễn lão gia, học trò xin thất kính, dùng phường quán của các ngài như Pháo kỳ vậy.
 
Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Hồi ba mươi hai: Xa tận chân trời, gần ngay trước mắt


Sớm ngày hôm kia, có ba người đến trước cửa Lục phường: một ông cụ phương phi đạo mạo, trông dáng như y sư, cùng hai tiểu đồng theo sau.

Họ vừa đến đã thấy Nguyễn Phương trưởng lão và các cháu đứng chờ.

Nguyễn trưởng lão chắp tay cúi đầu đón người huynh đệ và dẫn ba vị khách vào trong thư phòng bàn chuyện.

Hai tiểu đồng theo lệ đứng ngoài, và hai vị trưởng lão cùng vào, đứa cháu nhỏ của Nguyễn trưởng lão thì cũng đợi trước cửa xem có việc gì.

- Nguyễn huynh, huynh gửi ưng thư rằng có khách muốn mua tin về vụ mất tích của Mạc Hà tổng trấn.

Ừ thì là vậy đi, nhưng dòng cuối cùng là sao?

"Đã tìm thấy một vật muốn trả lại cho đệ"?

- Ông cụ kia vội hỏi.

Nguyễn trưởng lão đưa một ngón lên môi, mỉm cười rồi mời người huynh đệ ngồi xuống trường kỷ.

- Trường đệ có nhớ vật này không?

Ông cầm thanh bảo kiếm đặt lên bàn trước mặt Trường trưởng lão.

Mùi đàn hương quen thuộc thoang thoảng trên bao kiếm gỗ khắc.

Ông cụ kia tay run run đón lấy thanh kiếm, tuốt ra nhìn hàng chữ "Tử thần vô ảnh" trên đường vân thép lạnh.

- Diệp Lâm truyền kiếm, kiếm... của San nhi.

Huynh tìm thấy ở đâu?

Nó... còn nó?

Còn nó thì sao?

Nó ở đâu?

Nguyễn trưởng lão giơ tay chặn lấy những câu hỏi dồn dập, chỉ sang khách phòng bên cạnh.

- Có vị khách gia mang đến.

Đệ muốn biết thì hãy hỏi y.

- Rồi ông quay sang cháu mình đang đợi việc trước cửa - A Bảo, sang bên phòng gọi Chu Tước đại nhân sang cho ông bàn chuyện cùng.

Đứa trẻ gật đầu rồi chạy đi.

Một khắc sau, vị học sĩ bé nhỏ trịnh trọng bước vào, chắp tay cúi người chào nhị vị trưởng lão, đằng sau ngài là đệ tử theo hầu.

- Khuê Văn Chu Tước, hân hạnh được gặp Thất phường Trường lão gia.

Trưởng lão gia có thể quen gọi học trò là Thiên nhãn Chu Tước hơn.

- Một trong Ngũ anh tài đến thăm Diệp Lâm hội, thật là vinh dự không kể xiết.

- Trường trưởng lão cũng khoanh tay đáp lễ.

- Học trò chỉ đi cùng người đồng liêu đến mua tin tức thôi.

Phải tạ ơn đệ tử của học trò đã dẫn đường đến đây.

- Đệ tử của đại nhân là người của Hội quán?

- À, nói vậy chắc cũng đúng nhỉ?

Thưa, Tiểu Liên nhà học trò sinh ra và lớn lên ở Diệp Lâm, nhưng không phải Diệp Lâm hội nhân.

Học trò muốn đệ tử mình làm chứng cho cuộc giao dịch có được chăng?

- Ngài gọi sang đệ tử mình nép đằng sau khung cửa khi được các trưởng lão chấp thuận - Chúng ta vào thôi con.

Nguyệt Sinh Liên theo lệnh cùng vào và đóng cửa lại để buổi trao đổi được riêng tư.

Người vừa bước qua cửa đã quay lưng lại, đứng ở cửa canh chừng, tuy không thấy mặt và trông dáng chỉ là sĩ tử bình thường nhưng cảm giác thân quen này khiến Trường trưởng lão sững sờ một khắc.

- Thiên nhãn đại nhân, có phải đại nhân đã mang thanh kiếm này đến cho Nguyễn huynh?

- Nói sao nhỉ?

Đúng hơn là Tiểu Liên mang đến.

- Chu Tước đại nhân ngước sang học trò mình.

- Các vị tìm thấy thanh kiếm này ở đâu?

Có chủ nhân nó ở đó chăng?

- Trường trưởng lão cố bình tĩnh hỏi, nhưng trong giọng nói ông có thể nghe được cảm xúc dâng trào.

- Học trò tìm thấy cả hai ở Liêm Sơn, bên mộ Huyền Khôi ở Vách Tử Nhân.

- Chu Tước đại nhân đáp.

- Vậy là... vậy...

- Trường đệ, vị đại nhân này tìm được thanh kiếm nhưng chưa chắc là San nhi đã chết đâu mà.

Không phải đệ từng bảo là thôi, bán tin ra giang hồ như vậy nhưng đệ không bao giờ tin nó tuẫn tiết theo Huyền Khôi đại vương.

- Nguyễn trưởng lão xen vào.

- Đây là báu vật của Diệp Lâm, lại là thanh kiếm làm nên tên tuổi nó, huynh nghĩ nó sẽ để người lạ lấy đi như vậy sao?

Vả lại, cũng đã mười hai năm rồi...

đệ cũng muốn để lại đau thương phía sau mà tiếp tục thôi.

Nay bảo kiếm đã về lại đây rồi, chi bằng chúng ta triệu Cửu lão làm lễ nhận Hương nhi của Nhị phường làm Tử thần vô ảnh kiếm chủ đời tiếp.

Nguyệt Sinh Liên đột nhiên ngước đầu quay lại, lên tiếng:

- Tổ bá à, Tử thần vô ảnh kiếm hẳn còn vấn vương chủ cũ, sẽ không chịu rời đi phò chủ mới đâu.

Nghe giọng nói quen thuộc gọi ông bằng tổ bá, Trường trưởng lão đứng bật dậy, lắc đầu không muốn tin.

Nguyễn trưởng lão đến đặt tay lên vai người huynh đệ, chỉ cười như thể cam đoan đây không phải là mơ.

- Nguyễn mỗ đã dạy dỗ được bốn đời Tử thần vô ảnh kiếm sĩ vậy mà chưa thấy đứa nào tài nghệ sánh bằng tiểu tử nhà đệ đây.

- Rồi ông vẫy Nguyệt Sinh Liên lại - Còn đợi gì nữa, nào, đến chào tổ bá con đi.

Mười hai năm mất tích giờ cũng được tái ngộ tương phùng, tuy rằng người đã không còn là người trong chốn giang hồ, không còn là người của Diệp Lâm hội quán, tên thay họ đổi, tái sinh thành sĩ tử nhưng anh linh này vẫn là vị kiếm sĩ ngày đó.

Vẫn là đứa cháu yêu quý, vẫn đồ nhi tâm đắc của hai vị trưởng lão đứng đây.

Chu Tước đại nhân đưa mắt nhìn nơi khác mà ngậm ngùi thay cho học trò người đồng liêu.

Khác với Trường San chỉ là đột nhiên mất tích, nhiều người đã chứng kiến tận mắt buổi Huyền Khôi bị hành hình.

Dẫu có muốn, Huyền Khôi— bây giờ là Sa Liên sĩ tử— cũng không thể tái ngộ với những người xưa ở trấn dưới chân núi đó.

Mộ gió bên Vách Tử Nhân đã xanh cỏ, người người ai cũng để thương tiếc lại phía sau mà bước tiếp cả rồi.

Mảnh tình nối kiếp trước với kiếp này chẳng còn nữa, không như Trường San kiếm sĩ vẫn còn người thân nhớ đến mình.

- Nếu huynh biết nó còn sống, tại sao không nói cho đệ biết sớm hơn?

- Trường trưởng lão ngả xuống trường kỷ, đưa tay xoa đầu.

- Cũng mới biết đây thôi, hôm kia nó đến, A Như dàn phục kích vì mấy người này đến mà không có hội nhân chúng ta đặt ngoài trà quán dẫn vào.

Rồi nó xưng là cháu của đệ, là Trường San.

Ta ra mặt thử tài xem có phải kẻ giả danh không thì đúng thật, nó là San nhi bằng xương bằng thịt.

Thêm nữa vì Chu Tước đại nhân đây muốn biết tin tức ở vùng Mạc Hà nên ta gọi đệ đến trao đổi.

- Nguyễn trưởng lão về chỗ của mình ngồi.

- Mạc Hà?

Lão phu nghĩ là đại nhân đây muốn biết về vụ mất tích của tổng trấn Mạc Hà.

- Trường trưởng lão quay sang vị học sĩ.

- Vâng, Tú Minh tiên sinh— Khuê Văn Khổng Tước ấy, nhị vị lão gia có thể quen gọi ngài là Du lược sư hơn— ngài đến đây định là vậy.

- Vậy ngài ấy đâu?

- Mấy hôm nay trái gió trở trời, Tú Minh tiên sinh không được khoẻ nên học trò đến trao đổi với Trường lão gia thay.

Ngài ấy đang nghỉ ở khách phòng bên cạnh.

- Chu Tước đại nhân đáp, mắt nhắm như thể triệu lấy Thiên nhãn - Còn về tin tức của Phan gia, thực ra học trò đã biết y ở đâu.

Hai vị trưởng lão chau mày.

- Đại nhân đã biết?

Vậy... sao còn tốn công đến đây?

- Thưa, học trò thất kính, đến đây để hỏi có thể mượn Diệp Lâm hội quán cho ván cờ chính trị này không.

- Ván cờ chính trị ngài đang đánh vì lợi ích triều đình, lão mỗ là sĩ phu giang hồ, không thể chấp nhận cho đại nhân mượn quân làm cờ.

- Khi kẻ địch dụng hảo hán trong giang hồ làm Tốt quân, học trò đành phải hỏi mượn Pháo, Tượng trong giang hồ mà đánh trả.

- Chu Tước đại nhân giơ tay phụ họa - Thời này, giang hồ nhân và triều đình quân chẳng rạch ròi nữa, hai bên đều có những kẻ đầy tham vọng muốn chi phối lẫn nhau.

Ngũ anh tài mà người trong giang hồ lâu nay kính trọng, hết tứ bây giờ đều là quan triều đình, người còn lại là quân vương.

Học trò xưa nay vốn văn sĩ, Tử thần vô ảnh kiếm sĩ lâu nay cũng là học sinh, chẳng phải người chốn giang hồ nhưng tâm này chẳng mù quáng trung thành với triều đình nếu không xứng đáng, như các lão gia thôi.

- Chu Tước đại nhân nói với lão mỗ chuyện này là sao?

- Bởi vì học trò biết Trường lão gia không có tin tức sau khi Phan tổng trấn mất tích đã đi đâu.

Bởi vì những kẻ đang giam giữ y không giữ y trong địa phận giang hồ.

Để lật thế cờ cần người trong đình thành hợp trí sức với người trong giang hồ.

- Khoan!

- Nguyệt Sinh Liên lên tiếng ngắt lời - Đại nhân, nhưng mà... dấu vết dẫn về phía nam kia mà?

Trừ Côn Luân thành ra thì đa phần phía nam là địa phận giang hồ, tuy nhiên Côn Luân thành cũng có thám tử của Diệp Lâm thu thập tin tức, tổ bá cũng hay được gì bất thường chứ?

- Chẳng có gì bất thường ở Côn Luân cả năm nay.

- Trường trưởng lão đáp.

- Cái cách giấu giếm này không phải cách hảo hán đánh thuê trong giang hồ thường làm, nên hẳn là có ai đó— hoặc một hội nào đó— từ các thành, có lẽ người của quý tộc quan quân nhúng tay vào.

Triều đình bây giờ rối ren, ai cũng không từ bất cứ mưu đồ gì để loại bỏ Thái tử cướp lấy ngai vàng, kể cả lợi dụng mưu sĩ và võ sĩ giang hồ.

Khi địch đã mặc kệ đạo quân tử, chúng ta có phải là tự đặt mình vào thế hạ phong chăng?

Nguyễn trưởng lão gật gù, nghe thấy có lý nhưng vốn người trong giang hồ, ông lưỡng lự không muốn đồng ý.

- Thiên nhãn đại nhân à, Diệp Lâm hội nhân chỉ toàn sĩ phu, vài người biết cung pháp để bảo vệ phường quán nhưng chỉ thế thôi, sao có thể đem đối đầu với bao hảo hán?

Ở đây chỉ có Nguyễn huynh và các đệ tử đệ tôn huynh ấy có thể dụng võ nghệ.

- Trường trưởng lão cau mày.

- Vậy là đủ rồi.

Năm xưa dân quân không biết chút gì về binh pháp cũng phòng thủ được bao làng mạc khi Du lược sư đứng đó điều binh mà.

- Rốt cuộc thì...

đại nhân à, Phan tổng trấn đang bị giữ ở đâu?

- Nguyệt Sinh Liên cúi người sang hỏi.

- Đi tìm xa tận chân trời nhưng người lại gần ngay trước mắt.

- Chu Tước đại nhân nhắm mắt suy tư - Lão Phan đang ở ngoại thành Cấm Thành.

Nghe đến đó, Nguyệt Sinh Liên bật cười lớn, tay vỗ xuống trường kỷ.

- Sao đại nhân con không nói sớm?

Địa bàn của chúng con rõ rành.

Đúng là gần ngay trước mắt!

- Không được manh động, kẻo hỏng hết việc của người ta.

Thêm nữa, đừng nói cho Tú Minh tiên sinh biết kế hoạch của chúng ta, ngài ấy đã phải lo nhiều chuyện rồi.

- Chu Tước đại nhân ngước sang bảo.

- Khoan, nếu như chỉ cần tìm vị quan tổng trấn, mà vị quan đó lại đang ở địa bàn ngài quen, vậy sao cần đến Diệp Lâm hội quán?

- Nguyễn trưởng lão ngắt lời.

- Thưa, học trò muốn nhờ Diệp Lâm hội lập một hệ thống thám tử với trung tâm là Cấm Thành.

Một mặt để theo dõi động tĩnh của những kẻ đang mưu khuấy đảo quốc gia với những cuộc loạn như Kinh Xuân gần đây, tìm chứng cứ họ cấu kết với người trong giang hồ để khởi loạn.

Trong giang hồ không thiếu mâu thuẫn, tranh đấu, thù hằn, nhưng trong chốn giang hồ cũng có những thường dân gọi làm nhà vì không còn nơi nào để đi, nếu cứ để loạn lạc được thời tàn phá, không chỉ người dân trung với triều đình mà cả người dân trong giang hồ dưới sự bảo hộ của các vị cũng bị liên luỵ, như những đứa bé sinh ra trong Diệp Lâm hội quán đây.

Học trò không nghĩ các vị lão gia muốn điều đó xảy ra.

Hai vị trưởng lão nhìn nhau như thể muốn xem người còn lại nghĩ thế nào, nhưng họ đều lắc đầu, không quyết định được.

- Một mình lão phu không thể đại diện cho cả hội quán mà quyết định chuyện lớn lao này.

Lão phu sẽ cho họp Cửu lão để họ cùng nhau xem xét hợp tác với đại nhân.

- Nguyễn trưởng lão trả lời.

- Trước mắt học trò muốn giải cứu Phan tổng trấn, Thiên nhãn cho học trò biết y ở đâu nhưng không biết vị trí chính xác.

Cấm Thành, cả nội và ngoại thành, rất rộng lớn, dân số cả trăm vạn người.

Tiểu Liên tuy thành thạo đường lối trong và ngoài thành nhưng một mình cũng không thể tìm nổi cái kim trong đống rơm nên cần thám tử của Diệp Lâm hội quán giúp cho.

- Nói về đường lối trong thành thì người ấy chắc quen thuộc hơn con.

Người ấy mỗi tuần thường hay rời cung đi dạo mà.

- Nguyệt Sinh Liên họa vào.

- Người ấy?

- Trường trưởng lão đặt tay lên cằm - Còn đồng minh nào nữa sao?

- Là... văn quan cố hữu quen biết trong cung thưa tổ bá.

Cũng là học trò Khuê Văn Khổng Tước đại nhân.

Hai vị trưởng lão vuốt râu gật gù.

Dù là văn quan nhưng nếu là học trò Khuê Văn Khổng Tước thì vẫn có thể tin tưởng được, họ nghĩ vậy.

- Vậy lão phu sẽ sắp xếp cho đại nhân được gặp Cửu lão nay mai để bàn việc.

Kế hoạch này lớn lao vô cùng, nếu không có sự chấp thuận từ những phường quán khác lão phu e là không được đâu.

- Nguyễn trưởng lão nói.

- Tạ ơn Nguyễn lão gia.

- Chu Tước đại nhân chắp tay cúi đầu - Còn phần thù lao, học trò biết mình đã đòi hỏi quá với Hội quán và dù học sĩ lương bổng không nhiều nhưng học trò sẽ cố tìm cách đền bù xứng đáng cho mọi người.

- Đừng có đem bán tóc thề của học trò ngài ở Tây Đô nhé.

- Nguyễn trưởng lão đùa, nhớ lại cuộc trò chuyện với vị Khuê Văn kia.

- So với những gì Chu Tước đại nhân đã làm thì chút tóc này chẳng đáng gì.

Nếu cần cả mái tóc này đổi lấy kim lượng con cũng sẵn sàng, đằng nào thì tóc cũng mọc lại sớm thôi.

- Nguyệt Sinh Liên khoanh tay đứng sau đáp.

- Không, không cắt tóc con.

Cùng lắm thì ta trở lại nghiệp xưa một thời gian, bán tin tức cho Hội quán.

Thiên nhãn thấu tất, dù là không phải lúc nào cũng theo ý nhưng thể nào cũng có tin đáng giá.

- Quyết định vậy đi.

Nguyễn trưởng lão vỗ tay lên bàn rồi đứng lên định rời phòng.

Chu Tước đại nhân nhặt lấy thanh bảo kiếm trên bàn và cũng tính về phòng nghỉ, nhưng khi ngài vừa quay đi, có Trường trưởng lão ngăn lại.

- Chu Tước đại nhân xin gượm một lát.

Vị học sĩ quay người lại xem có chuyện gì.

- Cái tin từ Liêm Sơn rằng Tử thần vô ảnh kiếm sĩ Trường San tuẫn tiết theo Huyền Khôi có phải do ngài tung ra cho thám tử của Hội quán?

Người dân trấn ấy khi được hỏi thì bảo Tử thần vô ảnh kiếm sĩ chỉ mang bình rượu thề đến táng dưới mộ rồi lại rời đi.

- Trường trưởng lão vẻ như dò hỏi.

- Vâng, chính học trò.

- Chu Tước đại nhân đáp.

- Tại sao vậy?

- Ý muốn của lệnh điệt đây.

- Chu Tước đại nhân chỉ sang Nguyệt Sinh Liên.

Rồi Trường trưởng lão nhìn sang đứa cháu mình đang cúi đầu với một ánh mắt khó tả.

- Tại... tại sao cháu lại làm vậy?

- Tổ bá à, lúc đó con chỉ nghĩ... một lời hứa thôi mà cũng lỡ, thôi thì để Trường San coi như đã chết theo người chiến hữu, con thì gác kiếm, cắt tóc thề, nâng chén bái sư tái sinh thành sĩ tử, không còn liên hệ gì với Trường San nữa.

Nhưng mà... dù đã cố gắng, có vẻ như con không thể chối bỏ cái quá khứ này được.

- Ta và con, Tú Minh tiên sinh và học trò ngài, chúng ta đều biết những thứ chúng ta không nên biết mà.

Tái sinh thành sĩ tử, nhưng anh linh này vẫn một hiệp khách giang hồ.

- Chu Tước đại nhân nhếch mép cười, đưa thanh bảo kiếm cho học trò mình, họa lại câu nói của người đồng liêu - Mười hai năm mài mực chép sách, đôi bàn tay con chưa bao giờ quên thanh trường kiếm mà.

Chẳng nói chẳng rằng, Trường trưởng lão bước đến, với sang kéo đứa cháu mình vào vòng tay ôm chặt.

Ông cứ giữ như vậy, xiết tay mình quanh Nguyệt Sinh Liên như thể sợ rằng cháu mình sẽ biến mất nếu ông buông tay.

Đứa cháu mà mười hai năm qua ông ngỡ đã xa tận chân trời nhưng nay đang ở ngay trước mắt ông.

Vị kiếm sĩ cũng đứng đó bần thần không biết nói gì, chỉ ghì chặt lấy bao kiếm.

- Suốt mười hai năm tin rằng cháu tuẫn tiết theo Huyền Khôi đại vương, không tìm được hài cốt cũng chẳng biết bảo kiếm nơi đâu, cháu có biết... mọi người đã đau khổ lắm không?

Các huynh đệ trưởng lão chỉ muốn bước tiếp, đây chẳng phải lần đầu Diệp Lâm có Tử thần vô ảnh kiếm sĩ yểu mệnh, nhưng mà... mười hai năm qua Nguyễn huynh không nói năng gì chuyện nên cho người tìm bảo kiếm để còn truyền lại cho đời tiếp theo.

Huynh ấy luôn nói, "Không tìm được thi hài hay di vật, hễ lão phu còn sống lão phu sẽ không tin Trường San đã chết".

Còn ta...

- Tổ bá... con xin lỗi.

- Nguyệt Sinh Liên thì thầm.

- Không đâu, không cần đâu.

Cháu đã về nhà, vậy đã đủ rồi.

Trường trưởng lão nói, cảm thấy khoé mắt mình cay cay.

Ông buông tay, thả người lại xuống trường kỷ ngồi để cố kìm những cảm xúc tích tụ những năm qua.

Rồi ông hướng về Chu Tước đại nhân, tay chắp cao, đầu cúi gằm.

- Kiếp này Trường mỗ mang nợ đại nhân.

- Đừng vậy mà, học trò có làm gì đâu.

- Chu Tước đại nhân cười cười đáp, đến đỡ tay ông cụ.

- Nhờ có đại nhân mà lão mỗ lại được thấy đứa cháu yêu quý, ơn này lão đến cuối đời không bao giờ quên.

- Trường trưởng lão đáp - Lão biết tiểu tử này từ lâu đã rời chốn giang hồ bái ngài làm ân sư, tái sinh thành sĩ tử, nhưng lão thất kính muốn xin phép ngài được gọi nó là San nhi như ngày xưa.

Chu Tước đại nhân ngước sang học trò mình, mỉm cười.

- Con thấy sao hả, ừm, San nhi?

- Tấm cà sa không làm nên vị hoà thượng, chẳng phải xưa nay trong mắt ngài, dù khoác áo học trò, dù mang danh Sinh Liên sĩ tử, con cũng chỉ là Trường San thôi sao?

Đến cả cắt tóc thề tái sinh còn không vứt bỏ được cái tên này, con còn làm gì được nữa?

- Nguyệt Sinh Liên cười đáp - Kiếm sĩ hay thư sinh thì con vẫn chỉ là cháu của tổ bá, vẫn con cháu họ Trường thôi.

- Hôm trước ở Kinh Xuân nó ra mắt tự xưng với tôi là họ Trường tên San nên là tôi nghĩ nó còn vấn vương cái tên cũ nhiều hơn cả học trò mình.

Ba cặp mắt đột nhiên dồn về phía cửa.

Khuê Văn Khổng Tước đứng tựa khung cửa, đã khoanh tay đợi đó không biết từ lúc nào.

Đôi mắt người lim dim mệt mỏi nhìn về phía Trường trưởng lão trông như đang mất dần kiên nhẫn.

- Trường lão gia, đây là Tú Minh tiên sinh, chính danh Khuê Văn Khổng Tước, đồng liêu của học trò.

- Chu Tước đại nhân lên tiếng giới thiệu.

- Đồng liêu, đồng tộc cũng đồng niên, tôi với ngài mà đồng khoa nữa thì hay nhưng mà, thôi.

- Khuê Tước tiên sinh bình luận.

- Lão danh là Trường Đán, trưởng lão Thất phường.

- Trường lão gia chắp tay cúi người chào.

- Lão gia họ Trường tức là người nhà của đứa học trò Chu Tước đại nhân đây.

- Tiểu đệ của lão là ngoại tổ phụ nó, nó gọi lão là tổ bá.

- Rất hân hạnh được gặp Trường lão gia.

- Khuê Tước tiên sinh cúi người đáp lễ - Chu Tước đại nhân hẳn là đã hỏi thăm thay về chuyện của Lão Phan nhà này rồi.

- Vâng, lão mỗ được biết là... những kẻ bắt cóc Phan tổng trấn đã đưa ngài đến giam giữ đâu đó ở ngoại thành Cấm Thành.

- Trường trưởng lão đáp, lặp lại những lời Chu Tước đại nhân vừa nói trong buổi trao đổi vừa nãy.

Nghe được đến đó, tiên sinh chỉ lắc đầu cười, vỗ tay lên trán.

- Ngoại thành Cấm Thành!

Vậy mà tôi định kéo ngài đi lòng vòng ở nam lâm như đồ ngốc.

Đường đường là lược sư, là chủ tướng trên bàn cờ lại để hạng đánh thuê lừa như trẻ nít vậy đấy...

- Là người thì đâu tránh khỏi sơ xuất.

Vả lại ngài cũng đã lo nghĩ nhiều rồi, càng mệt mỏi càng dễ thiếu sót mà.

- Chu Tước đại nhân cười trừ - Thôi, ngài cứ về phòng nghỉ ngơi, kể từ trận Kinh Xuân ngài cứ vất vả miết với những kế sách rồi những chuyện này nữa.

Khuê Tước tiên sinh đưa tay day trán, vẫn lắc đầu nguầy nguậy.

- Tôi lo cho ngài hơn đó.

Đồng minh ta hoá ra là địch, họ lại đang giữ trong tay quốc bảo chi phối triều đình, cả kinh đô đầy tai mắt địch, ngài trở về bằng cách nào?

Ừ thì công việc, quốc sự, nhưng trở về thành lúc này chẳng phải dâng thỏ cho sói đói?

- Đệ tử ngài vẫn đang ở Cấm Thành chép sớ trong Sử quán giữa nguy hiểm trùng trùng, lại còn thăm dò gửi thư cho chúng ta.

Học trò lại để nó chống chọi một mình vậy sao?

- Chu Tước đại nhân đặt tay lên tay người đồng liêu mà an ủi - Đừng lo, Khuê Văn Chu Tước này là cột trụ triều đình, giá trị vô cùng, họ không làm càn đâu.

Suy theo những gì họ đã mưu tính để giữ được trong tay quyền uy thiên tử, họ thà để Đông các đại học viện và Sử quán văn khố bên cạnh để lợi dụng hơn là trừ khử đi.

Thêm nữa...

Chu Tước đại nhân lại mỉm cười, cố đùa một câu để làm dịu đi bầu không khí căng thẳng.

- Học trò đã có Tiểu Liên luôn bên cạnh.

Bảo kiếm này lâu nay gác bàn thư nhưng vẫn là Tử thần vô ảnh kiếm.

Cùng lắm thì học trò với nó mang đệ tử ngài cùng chạy trốn lên Bắc Nguyên thôi.

Khuê Văn Khổng Tước không đáp lại câu đùa, chỉ đưa tay vịn lấy khung cửa và tựa cả người vào.

Khó mà có thể đọc được những gì người đang nghĩ trên nét mặt.

Có bao nhiêu suy tư trên thế gian đều vần vũ sau ánh mắt mệt nhoài đó.

- Không sao chứ?

- Chu Tước đại nhân lo lắng hỏi.

- Khốn thật...

- Tiên sinh lẩm bẩm, tay vịn cửa như run lên - Thật là khốn mà...

Cái ngai vàng này có gì mà hai mươi lăm năm loạn thế vì nó vẫn chưa dứt được...

Tôi không hiểu, tôi không hiểu nổi.

Hoàng đế chẳng qua cũng như một người để bá tính trút hết ưu phiền đời sống, một người để họ gọi tên khi cần giúp đỡ, trong thiên hạ cũng chỉ là con người như ai.

Phải không?

Chu Tước đại nhân đưa tay định ôm lấy thân hình run rẩy đó để mà an ủi nhưng lại ngập ngừng.

Xưa nay ngài đã thấy nhiều những phút yếu ớt của người đồng liêu, ngài biết Khuê Văn Khổng Tước vốn không phải anh hào, không phải hiền nhân như thiên hạ vẫn đồn rằng; tuy nhiên mặc dù vậy, người vẫn cố đứng dậy giữa cơn bão, đem tài hèn chống chọi bất kể giông tố có lớn bao nhiêu.

Đó là vì sao bốn chữ khắc trên tấm lam thạch Ngũ anh tài của thời đại này là "Khuê Văn Khổng Tước".

Một buổi loạn dâng tràn những bi ai, một người thư sinh chỉ có manh áo vải và chuỗi binh pháp binh thư trong đầu thu được từ những ngày phiêu bạt, hai ngàn làng trấn với những dân quân cả đời chỉ biết đếm thời gian đến mùa gặt.

Bất kể xa xôi, bất kể ngày đêm, cứ rung chiêng, đánh trống báo hiệu quân nổi loạn càn quét là người ấy sẽ tới giúp dàn quân đánh trận thắng.

Khi Khuê Văn Khổng Tước lang thang khắp vùng loạn cố bảo vệ dân tình bằng mưu lược, Khuê Văn Chu Tước này ở lại trong cung, ngồi yên trong thư phòng đó đợi tin về từ trận mạc.

Ngài biết đôi lúc người đồng liêu cần một cánh tay quàng vai an ủi, nhưng ngài không dám chìa tay mình ra, cảm thấy mình không xứng đáng để người tựa vào mà nghỉ ngơi một khắc.

Thêm nữa, tiên sinh có lẽ cũng không dám đến gần một người xưa nay nổi danh là lãnh đạm như vậy.

- Ngài có còn nhớ Uy ca chăng?

- Khuê Tước tiên sinh ngước lên hỏi.

- Có chứ.

Cố hoàng đế Nhân Hoà Khanh Uy, chúng ta lớn lên cùng nhau, ngày xưa thân như anh em vậy.

- Chu Tước đại nhân đáp - Đã lâu lắm rồi học trò chưa nghe ai gọi lại tên của cố hoàng.

Kể từ khi học trò được triệu đến chép di chiếu khi ngài lâm chung...

- Nếu như...

Uy ca không yểu mệnh, ngài có nghĩ huynh ấy sẽ để triều đình ra thế này không?

- Ngài biết rồi mà.

Nếu cố hoàng mà còn sống thì ngài ấy sẽ không để hai mươi lăm năm qua xảy ra đâu.

- Mộng phục hưng triều đại trông gần như trước mắt nhưng xa tận chân trời nhỉ?

Những người đáng ra phải ở đây thì từ lâu đã mất, còn tôi thì... tôi không hiểu tại sao mình sống sót.

- Tiên sinh giấu đi ánh mắt không nhìn người đồng liêu, và trên môi người nở nụ cười buồn - Nếu như Uy ca vẫn còn đây, huynh ấy sẽ nói gì?

Chu Tước đại nhân cố nhớ lại những gì Nhân Hoà cố đế đã tâm sự với mình những tháng ngày cuối đời.

Lúc băng hà cố hoàng trẻ tuổi chỉ mới hai mươi hai, vẫn còn nhiều mộng ước và nhiều thứ muốn làm cho đời.

Nhưng vì long thể từ nhỏ đã yếu ớt, nhưng chuyện ngài nghĩ rất gần tầm tay khi lên ngôi hoàng đế đã vội bay xa tận chân trời.

Những ngày tháng ngài không thể nhìn thấy, ngài đã nhờ Khuê Văn Chu Tước— người mà ngài luôn coi như đứa em mình— chứng kiến hộ.

Tuy rằng nay Thái tử ngồi long ngai và Trưởng công chúa bên cạnh nhiếp chính, Thái hậu nương nương trong tay nắm thực quyền, hai mươi lăm năm qua Chu Tước đại nhân vẫn mang di ý của cố hoàng mà sắp xếp mọi thứ trong triều đình, cố giữ cho Khanh triều không sụp đổ vào tay ô quan loạn quân.

Và lời nói cuối cùng cố hoàng dặn dò Chu Tước đại nhân:

- "Hai thần tước Khuê Văn thị bảo hộ triều đình, là cột trụ của tương lai Khanh triều.

Dù bất cứ giá nào cũng phải đưa người ấy về mà dạy dỗ con trẫm cho tử tế, còn khanh thì chăm cho ngự viên của trẫm không thiếu lá xanh anh tài."

Năm năm từ khi lên ngôi đến lúc băng hà cố hoàng bệ hạ đã không ngừng nhắc như vậy.

- Huynh là đồ ngốc huynh có biết không...

- Khuê Tước tiên sinh nói như thể trò chuyện với ai đó từ bên kia hoàng tuyền, cả người run run - Triều đình có bao nhiêu trung thần, bao nhiêu trí sĩ mà huynh lại đi tin tưởng cái người mà... suýt nữa hại chết trữ tự của huynh đấy.

Đã chín năm, tưởng rằng cơn ác mộng buổi chiều tối đó đã xa tận chân trời nhưng Chu Tước đại nhân cũng không ngờ nó luôn lập lờ trước mắt người đồng liêu.

Đã chín năm tiên sinh vẫn tin rằng vì mình mà thái tử bị mưu sát, dù người chẳng nhớ mấy những gì xảy ra.

Người biết mình không phải kẻ thích khách, nhưng người tin là kẻ thích khách đó được ai phái đến để làm nhơ danh hoặc ám sát người, và thái tử bị liên lụy, làm mồi cho người sập bẫy.

Đến đây, Chu Tước đại nhân bước tới, dang tay quàng lấy cái bóng run rẩy của người đồng liêu, mặc kệ trong lòng ngài bảo gì.

Tuy rằng nhân dáng ngài bé nhỏ, nhưng lúc này người đồng liêu ngài trông còn bé nhỏ đáng thương hơn.

Trường trưởng lão hắng giọng để gợi sự chú ý, rồi ông chắp tay thi lễ với nhị vị thư sinh:

- Nguyễn huynh đã cho mời Cửu lão đến bàn kế hoạch tìm kiếm Phan tổng trấn, khi đến hẹn chúng ta sẽ tới Trung quán gặp họ.

Về phần thù lao, lão mỗ sẽ thương lượng với các huynh đệ tỷ muội sau.

Diệp Lâm hội nợ các ngài đã chăm sóc San nhi mười mấy năm qua, sẽ đền đáp xứng đáng.

Khuê Tước tiên sinh đã bình tĩnh lại, cũng chắp tay cúi đầu đáp lễ.

- Đáng ra tôi phải là người đến gặp các vị mà trao đổi, chuyện này liên quan đến người nhà tôi, chẳng ngờ người đồng liêu đây lại lẳng lặng đi trước.

- Người nhà của ngài cũng là người nhà của học trò, chúng ta chẳng phải cùng một họ?

Muội phu của ngài tức rể của Khuê Văn gia tộc, với học trò cũng coi như thân thích mà.

- Chu Tước đại nhân lại cười - Thêm nữa, đêm qua hiếm lắm ngài mới được ngủ yên một buổi, học trò không dám đánh thức ngài sớm.

- Cuộc họp với Cửu lão... tôi biết Chu Tước đại nhân là người sắp xếp để gặp họ nhưng tôi có thể dự cùng không?

Tiên sinh nhìn Trường trưởng lão mà hỏi.

Ông nhớ đến lời Chu Tước đại nhân dặn vừa nãy, định từ chối, nhưng người lại tiếp:

- Thám tử của Diệp Lâm hội rất giỏi lại nhiều thâm niên, đâu đâu họ cũng biết, nhưng đây là ngoại thành Cấm Thành, không phải địa bàn giang hồ họ quen.

Tôi nghĩ, các vị sẽ cần ai đó thông thuộc đường lối ở Cấm Thành, học trò ngài và học trò tôi.

Ít nhất thì tôi nên ở đó để xem các vị định dùng học trò tôi cho việc gì chứ?

- Định sẽ để ngài nghỉ ngơi ở đây, không cho ngài biết để ngài đừng lo nghĩ thêm nhưng mà ngài vẫn nhất quyết tham chiến nhỉ?

- Chu Tước đại nhân lắc đầu cười nhẹ.

- Chuyện của muội phu tôi ngài còn không để tôi thương lượng thì tôi đành tham dự vào kế hoạch truy dò gì đó ở Đông Bắc của ngài.

- Ngài biết rồi?

- Chu Tước đại nhân không giấu nổi bất ngờ.

- Chín năm trước, sau buổi thiết triều trước ngày Thái tử điện hạ bị hành thích, ngài có đến cung Trung Chính gặp Thái hậu nương nương.

Tôi cũng ở đó.

- Tiên sinh đáp, nhắc lại chuyện xưa - Ngài nói với nương nương có nhiều kẻ trong triều đang nuôi quân trong bóng tối đợi thời cơ mưu phản, nhưng ngài không biết chính xác những kẻ nào.

Nhà mẹ của Thái hậu là phủ doãn một thành Đông Bắc, ngài bảo muốn mượn gia nhân và sĩ phu của Quận công nương làm tai mắt cho mình ở vùng đấy.

Thái hậu bảo không được, quá nhiều rủi ro.

Nay ngài ở Diệp Lâm, hội quán thám tử danh tiếng nhất giang hồ, lại nhân lúc tôi ngủ đi gặp các vị trưởng lão riêng.

Nếu không phải ngài muốn tìm cách dụng Diệp Lâm hội cho kế hoạch đó tôi cũng chẳng biết ngài muốn gì.

Chu Tước đại nhân vẫn chỉ cười, mắt nhìn xa xăm.

- Không giấu ngài được nữa.

Thời đã gấp rút lắm rồi, có cơ hội này đã gần ngay trước mắt mà không với lấy thì nó bay xa tận chân trời không đuổi kịp.

Giống như cố hoàng bệ hạ...

- Người đã chết không can dự được chuyện gì, chi bằng ta lo cho những người còn sống kia.

Thôi, xong chuyện của Lão Phan tôi sẽ xem tình hình đi hướng nào tiếp.

Nếu người bằng hữu gửi tin tôi sẽ dẫn Sa Liên đi Thanh Trạch, không thì tôi đến gặp nguyên soái xin mượn An Viên đi chiếm lại Liêm Sơn.

Ngọc Phụng nguyên soái có thể tin tưởng chứ hay cùng phe với hai người kia?

- Nguyên soái cả năm nay trên sa trường không về kinh lại không trao đổi với hai người họ, e là không dính dáng gì.

- Chu Tước đại nhân đáp.

- Ừm, kế hoạch cứ theo vậy đi.

Ngài đến gặp Cửu lão, tôi cũng xin một ghế dự.

- Khuê Tước tiên sinh gật đầu - Trong thời này chẳng thể tin tưởng ai, đến cả lý trí lẫn trực giác mình tôi còn không dám tin, nhưng mà...

Tiên sinh quay người đi, rảo chậm về phía phòng nghỉ, giấu đi nụ cười yên lành hiếm hoi.

- Tôi tin ngài.

Chu Tước đại nhân thoáng nghe được ba chữ ấy thì không khỏi bất ngờ, nhưng chưa kịp nói gì thì người đã khuất sau cửa.

Ngài nhớ lại những kỳ khảo thí xưa, mình đứng trước cổng trường thi điểm danh sĩ tử, mỗi khoa lại trông bóng người quen thuộc khoác trường y thanh cúc xếp hàng vào.

Màu thanh cúc trên áo bạc dần qua mỗi khoa thi, và ánh mắt người ấy nhìn thấy ngài trở nên càng mặn đắng với những hờn ghen.

Ngài vẫn nghĩ, Khuê Văn Khổng Tước luôn cho rằng ngài lãnh đạm hờ hững, xem người trong thiên hạ chán chường, chẳng lý do gì mà tin tưởng nhau.

Nhưng từ đầu đến giờ Khuê Tước tiên sinh chưa hề hoài nghi những gì ngài nói.

- Phải chi ngài tin cả chiếu tiến cử học trò gửi thì mọi chuyện đã dễ dàng hơn cho chúng ta rồi.

Việc của Nội điện Đông các đại học sĩ là gì nếu không phải tiến cử hiền sĩ đến cho minh quân?
 
Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Hồi ba mươi ba: Thênh thang tầm mắt


Một tuần lại qua, Cửu lão được triệu tới Trung quán, nơi hội họp tối cao của Diệp Lâm.

Đã lâu rồi họ chưa đến đây, lần cuối họ lui tới Trung quán là để cho buổi lễ truyền kiếm hai mươi năm trước.

Nghe người huynh đệ bảo có vị Thiên nhãn đại nhân muốn gặp tất cả trưởng lão, họ lấy làm bất ngờ.

Một trong Ngũ anh tài đến đây không phải chỉ để trò chuyện uống trà.

Giữa trưa ngày hẹn, chín vị trưởng lão cùng con cháu họ— những trưởng lão đời tiếp theo— hội ngộ tại Trung quán cho buổi họp.

Trước cửa Trung quán có người thư sinh đã đứng chờ sẵn.

Người này áo vải giản đơn, tóc dài quấn gọn thành búi, hai lọn thả hai bên tai buộc dải gấm đen trông rất quen, bên tay mang bảo kiếm.

Thấy Cửu lão đến, người thư sinh chắp tay cúi người cung kính thi lễ.

- Đại nhân nhà đã đến từ sớm đợi các vị.

Thường thì khách sẽ không đến trước, nhưng đây là Thiên nhãn Chu Tước cho triệu cuộc họp, có lẽ ngài muốn đến sớm để có thời gian dư dả chuẩn bị.

Nhị phường Đàm trưởng lão cùng cháu bước tới thay mặt Cửu lão chào đáp lễ.

Đứa trẻ nhận thức sắc bén ngửi thấy mùi đàn hương thoảng từ bảo kiếm trên tay vị thư sinh kia thì bật dậy, lùi về sau dăm bước, tay ghì lấy thanh kiếm bên hông mình.

- Hương nhi, có chuyện gì?

- Đàm trưởng lão chau mày quay lại hỏi.

- A bà ơi, khách nhân này... y mang Tử thần vô ảnh kiếm!

- Đứa trẻ nói, chỉ tay về phía Nguyệt Sinh Liên.

- Đừng có đùa, Tử thần vô ảnh kiếm mất tích đã mười mấy năm rồi chưa ai tìm được.

- Nguyễn lão sư bảo đàn hương là hương liệu, không ai dùng làm bao kiếm, chỉ có Tử thần vô ảnh kiếm của Diệp Lâm mới có vỏ đàn hương.

Con không nhầm đâu, kiếm của khách nhân này là Tử thần vô ảnh kiếm!

- Tiểu nương đây đoán không sai.

- Nguyệt Sinh Liên cười, đưa tay tuốt kiếm khỏi vỏ, phô ra nước thép đặc trưng cùng bốn chữ khắc trên nó - Tử thần vô ảnh, thiên hạ bất sánh.

Đằng sau có tiếng mọi người lao xao.

Từ lúc Tử thần vô ảnh kiếm được trao cho cháu của Trường trưởng lão hai mươi năm trước, hiếm ai được thấy nó.

Từ khi mọi người hay tin Tử thần vô ảnh kiếm sĩ tuẫn tiết theo Liêm Sơn thành chúa, thanh bảo kiếm đã không biết an nghỉ phương nào.

Nay có người khách nào lại mang truyền kiếm Diệp Lâm tới, ắt không khỏi gợi sự tò mò.

Lục phường Nguyễn trưởng lão thong dong bước lên trước, vẫy tay ra hiệu cho người khách cất kiếm vào rồi mọi người cùng theo vào trong dự buổi họp.

Nguyệt Sinh Liên vâng lời, dẫn các vị trưởng lão vào trong như thể chỗ quen thuộc.

Thấy ông bình chân như vại, thản nhiên như chẳng có gì lạ, thiếu niên tên Hương đó vội đuổi đến mà hỏi:

- Lão sư, ngoại nhân này đang giữ bảo kiếm của Diệp Lâm, tại sao lão sư không nói gì cả?

- Ta đã biết từ lâu rồi.

- Nguyễn trưởng lão điềm nhiên đáp.

Nguyệt Sinh Liên bỗng đứng lại, quay về sau nhìn đứa đệ tử nhỏ của Nguyễn trưởng lão, mỉm cười thích thú như thể tìm được đối thủ xứng đáng.

- Khi nãy Đàm trưởng lão gọi tên Hương nhi, đây chẳng phải Hương nhi mà mọi người muốn truyền lại bảo kiếm cho?

- Không phải chuyện của ngoại nhân các người!

- Hương nói gắt lại.

- Ừ thì không phải chuyện của ngoại nhân, tại hạ không phải Diệp Lâm hội nhân, không nên có ý kiến về Cửu lão muốn chọn ai làm Tử thần vô ảnh kiếm chủ đời tiếp.

Nhưng mà... kiếm vẫn trong tay tại hạ đây, cũng nên cho phép tại hạ được ý kiến chứ?

Đàm Hương là một trong số rất nhiều học trò của Nguyễn lão, một trong số đệ tử chân truyền của ông.

Tuy rằng tuổi còn trẻ, chỉ mới đôi tám, nhưng thiếu niên tên Hương này đã bộc lộ tài thiên phú trong kiếm pháp, là người giỏi nhất trong thế hệ Diệp Lâm kiếm sĩ bây giờ.

Khi Trường San mất tích và được tin là đã qua đời sau loạn Liêm Sơn, Cửu lão đã có kế hoạch cho người đi tìm thanh bảo kiếm để truyền lại cho đời sau, nhưng Nguyễn trưởng lão một mực can ngăn.

Nếu có thể tìm lại Diệp Lâm truyền kiếm, họ định sẽ tôn cháu của Đàm trưởng lão Nhị phường là Đàm Hương làm tân kiếm chủ, là Tử thần vô ảnh kiếm sĩ kế tục.

Vậy mà hôm nay, bảo vật chân truyền của Diệp Lâm lại nằm trong tay một sĩ tử vô danh như vậy, Hương nhìn không khỏi giấu được tức giận.

- Cửu lão vào trong họp với Thiên nhãn đại nhân gì đó, ở ngoài này bổn cô nương muốn tỉ thí với ngươi.

- Hương thiếu hiệp nói, tay đặt lên chuôi kiếm - Không cần biết từ đâu ngươi có thanh kiếm này.

Nếu bổn cô nương thắng, ngươi phải trả lại Tử thần vô ảnh kiếm cho Diệp Lâm.

- Được thôi.

Còn nếu tại hạ thắng?

- Du Điểu kiếm sẽ là của ngươi.

- Hương thiếu hiệp giơ kiếm mình lên.

- Sĩ tử thì cần gì sưu tập nhiều kiếm vậy?

Tiểu nương cho tại hạ chút quan tiền mua một vò Nhu Sa tửu làm quà cho cố hữu là đủ rồi.

- Được thôi.

Những đứa cháu của các vị trưởng lão tò mò háo hức kéo nhau đến xem người ngoại nhân đây có tài cán gì mà chấp nhận lời thách đấu của kiếm sĩ được cho là giỏi nhất Diệp Lâm lúc này (trừ Nguyễn lão sư ra).

Trường trưởng lão ngẩn ngơ trước cửa thư phòng nơi bàn họp khi thấy Hương nhi đòi tỉ thí với cháu mình.

Nguyễn trưởng lão đặt tay lên vai người huynh đệ bảo rằng không sao đâu, coi như Hương nhi có dịp học hỏi từ tiền bối, rồi kéo nhau vào trong thư phòng cùng các vị kia.

Trong thư phòng, chín ghế đã sắp sẵn quanh bàn, và ở một đầu, Khuê Văn Chu Tước đã ở đó đợi không biết từ khi nào.

Người đồng liêu ngài có một ghế đặt ở góc phòng để người có thể nghe ngóng toàn cuộc trao đổi.

Cả hai đứng dậy chắp tay chào khi Cửu lão bước vào.

- Thật vinh dự cho học trò được diện kiến Diệp Lâm Cửu lão hôm nay.

- Chu Tước đại nhân cúi người cung kính nói - Cuộc họp bàn này quan trọng không chỉ với triều đình, mà còn với giới giang hồ các vị nữa.

Khói lửa thời loạn thế không chừa một ai, tìm được nguồn đốt càng sớm càng tốt.

- Khuê Văn Chu Tước, ngài mang Thiên nhãn thấu vạn vật, cần gì đến Diệp Lâm hội chúng tôi?

- Nhất phường trưởng lão hỏi.

- Thưa, tài thiên sinh là vậy, nhưng đôi mắt học trò đây vẫn chỉ là mắt trần tục, học trò chỉ là phàm nhân.

Tầm mắt tuy rộng thênh thang, tuy xa thăm thẳm, nhưng thế gian mênh mông không thể nào thấy tất cả.

Cho nên học trò đến đây hạ mình trước các vị lão gia mong được mượn thêm tai mắt cho đại cuộc.

Đại cuộc của triều đình.

Các vị trưởng lão ai ai cũng nheo mắt ngập ngừng không muốn cho phường quán của mình tham dự vào chuyện của triều đình.

Họ đến tìm ghế ngồi xuống, nhìn vị học sĩ bé nhỏ với cặp mắt đầy phòng bị, xem chuyện gì sẽ diễn ra tiếp.

Khuê Văn Khổng Tước ngồi im lặng bên góc phòng dõi theo người đồng liêu một mình cố thuyết phục Diệp Lâm Cửu lão, trong trí lơ mơ nhớ về một ký ức như đã bị lãng quên từ lâu lắm.

Khuê Văn Chu Tước, thư đồng của Khanh Uy thái tử, thuở nhỏ có một lần bạo gan bước vào chính điện giữa buổi thiết triều xin góp ý kiến về chuyện đi sứ sang chư hầu phương tây.

Các quan ra sức đuổi đi, nhưng y cố chấp không chịu.

Hoàng thượng chỉ cười, nghĩ rằng trẻ con tưởng tượng nói bừa vậy thôi.

Khi sứ thần được gửi sang để tiếp tục cầu hoà với chư hầu đã gặp nạn giữa đường, ngay đúng nơi mà Tiểu Chu Tước đã cố báo trước đừng nên qua.

Lúc đầu mọi người chỉ nghĩ đó là tình cờ thôi, nhưng thêm dăm chuyến hành trình khác gặp nạn thì có vẻ chẳng còn là tình cờ nữa.

Sau vụ ấy, hoàng thượng luôn đến hỏi ý kiến của y mỗi lần đến dịp gửi sứ giả cầu hoà để không phải gặp những tai nạn có thể tránh khỏi.

Là con nhà thế gia lâu đời nhất nhì Hoa Nữ quốc, Khuê Văn Chu Tước sinh ra ở Nội thành và lớn lên chưa rời Nội thành, nhưng lạ thay lại có thể biết được những thứ ở xa xôi, những nơi y chưa từng đi đến.

Triều đình vẫn nghĩ vì y là thần đồng, sớm đã đọc nhiều sách, học hỏi nhiều người bôn ba nên dù cả đời ở Nội thành, biết được những thứ ấy cũng dễ hiểu.

Thái bảo đại nhân là giám hộ của Thái tử điện hạ bảo tài ấy trong dân gian truyền là Thiên nhãn trời ban, vạn vật đều thấu, và khuyên Thái tử đừng bạc đãi Chu Tước thư đồng ngài, vì tài thiên sinh này mai sau có thể cứu nguy đất nước trong cơn nguy khốn.

Và đúng thật.

Ba mươi năm từ khi đỗ giải nguyên, được bổ làm đại học sĩ trong triều, Thiên nhãn Khuê Văn Chu Tước vẫn là cột trụ quý giá giữ cho Khanh triều đứng vững dù mất mát hai vị hiền đế liên tiếp và đất nước rơi vào thời loạn.

- Chốn giang hồ không thiếu tranh đấu, và ở triều đình cũng không hiếm mưu mô.

Đây có quân tử, kia có tiểu nhân, đấy là chuyện không tránh khỏi.

Nhưng mà... các vị có cam tâm khoanh tay rồi để sóng gió từ xa lớn dần và một ngày con cháu các vị bị cuốn đi?

Học trò đã nói, khói lửa loạn lạc chẳng chừa một ai, hai mươi lăm năm trước gặp cơn nguy khốn, biến loạn lan tràn, thiên hạ lầm than, và những người chịu thiệt nhất là đám trẻ con.

Các vị có thể đành lòng không khi bọn quan quân quyền quý với tham vọng không đáy kia đến cửa Diệp Lâm, đe doạ thế hệ sau của các ngài để phục vụ cho chúng?

Chu Tước đại nhân nói, tay vỗ nhẹ lên bàn nhấn mạnh.

- Thiên nhãn đại nhân, ngài không con không cháu, lấy gì thấu được tâm can của bọn trẻ thời bình thời loạn?

Bao nhiêu năm qua bao thế hệ trẻ con được sinh ra trong giang hồ loạn lạc mà có chuyện gì đâu?

- Tứ phường trưởng lão lên tiếng.

Khuê Tước tiên sinh đứng dậy khỏi ghế, bước đến gần người đồng liêu như muốn tham dự cùng.

- Chúng tôi thật không con cháu, không thể hiểu nhiều thứ mà các vị đã trải qua, nhưng tôi một kẻ viễn du đã đi khắp đất nước này, đã chứng kiến khắp nơi sự tàn phá của chiến tranh, thấy những đứa trẻ lang thang vô định vì loạn lạc, tương lai trước mắt chỉ toàn máu đỏ lửa hồng, thấy đến nỗi nhờn mắt.

Diệp Lâm đã bảo vệ con cháu các vị từng đó năm qua, nhưng thành trì sơn lâm này có thể trụ vững được tới khi nào?

Mọi người trở nên im lặng khi vị thư sinh áo màu thanh cúc lên tiếng.

Nguyễn trưởng lão khoanh tay gật gù thấy đúng nhưng trông các huynh đệ ông không nghĩ như vậy.

- Cả đời tôi chỉ bằng nửa đời các vị, các cháu các vị sống cũng nửa đời tôi, và nếu khói lửa thời loạn càng mặc sức tàn phá, tóc xanh trên đầu con cháu các vị nhiều phần sẽ phải nằm dưới cỏ xanh chứ không được cơ hội ngả bạc như chúng tôi và các vị đâu.

Khuê Tước tiên sinh tiếp tục, hai tay đặt lên bàn.

Một sự im lặng ngượng nghịu lại bao trùm căn phòng.

- Ngũ anh tài có Huyền Khôi thành Liêm Sơn.

Sinh ra trong những ngày đầu của thời loạn thế, giữa lúc chạy giặc đã bị bỏ rơi ở bụi hồng đen ấy mà thành tên.

Cuộc đời ngắn ngủi vậy thôi mà đã đương đầu với bao thăng trầm vì loạn lạc, để rồi bị một tay tướng cướp mà ô quan triều đình mua chuộc xử quyết ở Vách Tử Nhân.

Tôi chỉ biết tự hỏi, còn bao nhiêu đứa trẻ cũng chịu số phận như vậy, chỉ là không mấy người nhớ đến tên?

- Nhị vị đại nhân à, chúng tôi chỉ là sĩ phu, kế hoạch của các ngài quá nhiều rủi ro, Diệp Lâm hội không kham nổi.

- Ngũ phường trưởng lão đáp.

- Học trò chỉ muốn mượn Diệp Lâm hội làm tai mắt ngoài tầm để nghe ngóng đường đi nước bước phe địch, không định để mọi người bị thương vong.

Đối mặt với quân địch, chuyện đó ta để cho kẻ thư sinh đã đón các vị ở cổng.

- Chu Tước đại nhân chỉ tay ra khoảng sân trước thư phòng.

- Tên sĩ tử mà Hương nhi đòi thách đấu?

- Nhị phường trưởng lão ngước đầu sang ngờ vực - Sau Nguyễn đệ, cả Diệp Lâm chẳng ai kiếm pháp sánh nổi Hương nhi, một thư sinh thì có thể nào—

Chu Tước đại nhân chỉ cười đầy ẩn ý, một ngón đặt lên môi.

Đột nhiên, có người đẩy cửa thư phòng mở ra, ngắt đoạn cuộc trao đổi.

Là Đàm Hương thiếu hiệp, mang bộ mặt bực dọc bước vào.

Thấy cháu mình như vậy cùng với Nguyễn trưởng lão và Trường trưởng lão ngả người về lưng ghế, tay vuốt râu mỉm cười đầy tự hào, trong đầu Đàm trưởng lão càng nhiều câu hỏi hơn.

- Con xin lỗi a bà, xin lỗi lão sư...

- Hương thiếu hiệp bĩu môi nhìn cao tổ mẫu.

- Chỉ có học trò Chu Tước đại nhân, kẻ thư sinh yếu ớt vậy mà còn để thua, lão phu dạy con thật tệ quá.

- Nguyễn trưởng lão đùa, lắc đầu giả vờ thất vọng.

- Y còn chẳng thèm tung hết sức, cứ vờn vờn con thôi.

Con xin lỗi, con không lấy lại được Tử thần vô ảnh kiếm cho Diệp Lâm hội...

- Không việc gì phải vội, đằng nào thì tiểu cô nương cũng còn kém chừng mười mấy hai mươi năm mài dũa.

Kiếm pháp tuyệt hảo, xứng danh đệ tử chân truyền của Nguyễn lão sư, nhưng Du Điểu kiếm trên tay trông vẫn còn nặng nề lắm.

Nguyệt Sinh Liên cũng theo vào, cười tươi trong chiến thắng, đến đằng sau ghế Chu Tước đại nhân đứng hầu.

Thanh bảo kiếm được ngay ngắn đặt lên bàn.

Hương thiếu hiệp nheo mắt ngước sang, miệng ngậm bồ hòn đắng.

- A bà có thể cho con mượn năm lạng bạc không?

Con thua cược rồi.

- Hương thiếu hiệp nhỏ giọng.

- Gì mà nhiều thế?

- Đàm trưởng lão giật mình.

- Cho vò Nhu Sa tửu làm quà cho cố nhân thôi mà.

Tại hạ cũng chẳng ngờ nó lại đắt như vậy.

Mười mấy năm trước giá chỉ dăm quan tiền là nhiều.

- Nguyệt Sinh Liên nhún vai đáp.

- Ở Tây Đô hội quán, khi mà người ta biết được Nhu Sa tửu là rượu kết giao của Tử thần vô ảnh kiếm sĩ đời trước với Liêm Sơn thành chúa thì nó đắt vậy đấy.

- Hương thiếu hiệp nói.

Nguyệt Sinh Liên ngẩn người nhớ lại cái ngày xưa, mua tạm một bình rượu loại rẻ tiền mình ưa đem đến Liêm Sơn mà rót lời thề kết giao với người chiến hữu, vậy mà thứ rượu tưởng là chẳng ai thèm bây giờ có giá đến vậy.

Đứng giữa núi cao, nâng chén tạ trời xanh, nhìn xa thăm thẳm xuống miền hoang ngút ngàn, ấy là cái ngày bình yên nhất trong hai cuộc đời loạn lạc.

- Rượu hoa đào Nhu Sa chẳng ai thèm uống, gọi nó tầm thường vô vị, nhưng đáng giá bạc nén vì nó gắn liền với một huyền thoại, giống như tại hạ thôi.

Một kẻ thư sinh tầm thường vô vị, nhưng có giá trị của một kiếm sĩ vì gắn liền với một huyền thoại.

- Nguyệt Sinh Liên khẽ cười một nụ cười nặng trĩu, tay nhẹ nhàng đặt lên bảo kiếm trên bàn - Cửu trưởng lão à, xin các ngài hãy tin tưởng Chu Tước đại nhân con một lần.

Đại nhân con là quan triều đình, nhưng cũng là người từng trải chốn giang hồ, Ngũ anh tài lam thạch đã công nhận ngài.

Con dẫn ngài ấy đến đây để nhờ Cửu trưởng lão cho đại sự liên quan không chỉ ở triều đình mà còn chốn giang hồ này, xin các trưởng lão hãy cho ngài mượn sức.

- Tiểu tử kia, đây là cuộc trao đổi của Cửu lão, tại sao lại xen vào?

- Tứ phường trưởng lão hắng giọng.

- Dẫu các trưởng lão không nể Thiên nhãn Chu Tước đại nhân, ít nhất cũng nên nghe Tử thần vô ảnh kiếm sĩ có gì để nói phải không?

- Chớ có mạo nhận mình là Tử thần vô ảnh kiếm sĩ chỉ vì ngươi đang cầm Tử thần vô ảnh kiếm trên tay!

- Hương thiếu hiệp gắt.

- Tiểu nương đã tận mắt chứng kiến tài mọn của tại hạ, còn không nhận ra?

Kiếm pháp này có phải từ đâu xa, chính Nguyễn lão sư đây tận tình dạy dỗ cho mà.

- Nguyệt Sinh Liên nhếch mép cười - Đến bảo kiếm này cũng chính tay Nguyễn lão sư truyền cho.

- Đừng có mà đùa trước mặt Cửu lão, kẻ ngoại nhân.

Trong thiên hạ cũng biết Tử thần vô ảnh kiếm sĩ đời trước, Trường San thiếu chủ, đã chết được mười mấy năm rồi.

Nguyễn trưởng lão ngả về trước, cằm đặt trên hai tay đan xen, trầm giọng phân giải:

- Tuần trước những vị khách này đã đến Lục phường.

A Như ra tiếp đón y, hỏi danh tính.

Y tự xưng là Trường San, lão phu lúc đầu cũng không tin.

Nhưng mà... kiếm pháp không nói dối được, tay cầm kiếm của một người không nói dối được.

Hương nhi biết rõ điều này mà.

Thêm nữa y lại tìm được đường đến Lục phường, nếu không phải người lớn lên ở Diệp Lâm, ắt hẳn đã lạc mất xác từ lâu.

- Nhưng... lão sư...!

- Hương thiếu hiệp ra sức phản đối.

- Lão phu đã tra hỏi, đối chứng, tiểu tử này đích thực là Trường San, là người mà chúng ta đã chọn để kế thừa Tử thần vô ảnh kiếm tại đây hai mươi năm trước.

Nguyệt Sinh Liên chắp tay trước Cửu lão, lại mở lời cố thuyết phục:

- Thiên nhãn tầm mắt trải thênh thang, con không thể được đứng đây trước mặt mọi người hôm nay nếu Chu Tước đại nhân không xuất hiện hôm đó.

Nếu như các trưởng lão không muốn tin tưởng ngài, thì chí ít cũng xin giúp ngài và Khuê Văn Khổng Tước tiên sinh tìm ra những kẻ giật dây cho cuộc loạn Liêm Sơn năm xưa, báo thù cho người chiến hữu con!

Cửu lão nhìn nhau khó xử, không nói nên lời.

Người thư sinh này thật là Tử thần vô ảnh kiếm sĩ Trường San, niềm tự hào của Diệp Lâm hội quán?

Phải chăng Thiên nhãn Chu Tước mang đến một kẻ giả mạo để tiện đường thuyết phục Diệp Lâm hội về dưới trướng ngài?

Gương mặt đúng thật là có nét giống, và Trường San năm xưa cũng có thói quen buộc tóc như thế này, nhưng đã lâu quá rồi, không ai có thể chắc chắn.

Một hồi sau, Nhất phường trưởng lão mới lên tiếng:

- Hai mươi năm trước, trong buổi lễ truyền kiếm, Trường San kiếm sĩ đã dùng bảo kiếm cắt ngón tay lấy máu thề rằng sẽ không phản bội Hội quán cũng như sẽ mang Tử thần vô ảnh kiếm như một phần cơ thể mình hễ mình còn sống.

Vậy, hãy nhắc lại cho lão nương xem, ngón tay mà Tử thần vô ảnh kiếm đã lấy máu thề là ngón nào?

Nguyệt Sinh Liên chẳng chần chừ, vén ống tay áo trái giơ lên, đưa ra một vết sẹo mảnh đã phai ngang cẳng tay trong.

- Không có ngón nào hết, và kiếm dùng để cắt máu thề là đoản kiếm của tổ bá, không phải Tử thần vô ảnh kiếm, vì lão sư dạy rằng kiếm mới nhận chủ mà để máu chủ nhân dấy lên thép kiếm là điềm rất xấu.

- Đúng vậy.

- Nhất phường trưởng lão cũng như Nguyễn trưởng lão và Trường trưởng lão gật đầu.

- Học trò chẳng phải người mê tín nhưng có vẻ như điềm ấy đúng thật.

- Chu Tước đại nhân đùa - Hai mươi năm kể từ khi trở thành Tử thần vô ảnh kiếm sĩ, chưa hề thua ai.

- Đâu có, ngày xưa đấu giao hữu với người ấy con cứ thua hoài.

- Nguyệt Sinh Liên ngước nhìn đại nhân mình, nhỏ giọng.

- Thôi không tính, không tính đấu với người đó.

Chu Tước đại nhân cười trừ rồi quay lại bàn họp.

Ngài hít lấy một hơi thở dài để cân bằng tâm trí, rồi lấy giọng trầm tĩnh thường ngày mà tiếp:

- Vì kế hoạch này vô cùng lớn lao quan trọng, học trò không muốn để các vị thiệt thòi.

Ba mươi năm nay làm học sĩ đại phu, trong triều thâm niên có thể xem như nguyên lão nhưng xét về lương bổng cũng chẳng bao nhiêu, học trò e là không thể có đủ kim lượng ngân lượng để trả xứng đáng khoản thù lao cho Diệp Lâm hội.

Cho nên là... nếu như các vị trưởng lão đồng ý hợp tác, học trò xin dâng mình phục vụ cho Diệp Lâm hội quán, lấy Thiên nhãn thu thập tin tức lớn nhỏ trong giang hồ cho các vị.

Bất cứ tin nào các vị cần, nếu học trò có thể nhìn thấy, học trò sẽ cho các vị biết.

Nhất phường trưởng lão đến đây vỗ bàn đứng dậy, chắp tay tạ lễ với hai vị thư sinh.

- Có ân phải trả, có nợ phải đền, người trong giang hồ trọng sự sòng phẳng.

Thiên nhãn đại nhân đã cứu San nhi một mạng lại còn định giúp Hội quán thu thập tin tức, công ơn này lớn lắm.

Lão nương xin chấp nhận lời cầu của đại nhân.

Mong đại nhân chăm sóc người của Nhất phường thật tử tế.

- Đa tạ.

- Chu Tước đại nhân đáp lễ.

Thấy Nhất phường nhượng bộ, Lục phường tán thành, Thất phường chấp thuận, sáu vị trưởng lão còn lại cũng đành chắp tay theo chiều gió.

Dù sao, có được Thiên nhãn Chu Tước làm việc cho Hội quán đổi lại cả chín phường giúp ngài thu thập tin tức ngài cần, suy nghĩ kỹ thì đó cũng là một cái giá quá hời.

Tài thiên sinh cộng với khả năng suy đoán của ngài cũng đáng sánh với những thám tử giỏi nhất Diệp Lâm có được rồi.

- Ngài đúng là điên rồ.

Việc triều đình trăm công ngàn thứ nặng trên vai ngài, hôm nay lại còn đòi dâng mình phục vụ cho Diệp Lâm hội.

Tôi không biết Thiên nhãn tốn ngài bao nhiêu sức, nhưng mà nghe kiểu gì cũng không phải ý hay.

- Khuê Tước tiên sinh ngước sang người đồng liêu.

- Thiên nhãn thấu vạn vật, nếu không thể thấy được con đường dẫn tới hoà bình cho muôn dân thì chẳng thà học trò sinh ra đã mù loà.

Nếu bỏ chút sức này mà cứu được thêm nhiều người, cái giá này cũng đáng.

- Chu Tước đại nhân chỉ cười đáp - Năm xưa ngài đi khắp đất nước, quên cả ăn uống nghỉ ngơi, đến được càng nhiều làng trấn để sắp xếp hàng ngũ dân quân phòng thủ càng tốt, trong khi học trò chỉ biết ngồi đợi trong thư phòng mình an toàn đợi tin từ chiến trường về.

Cũng đến lúc học trò đáp lễ rồi.

- Đúng là điên rồ.

Cành vàng lá ngọc từ bé như ngài đâu thể so với một kẻ lang thang như tôi được.

- Thôi mà, ngài đã tin tưởng học trò rồi mà.

Dù gì thì cả hai ta đều một thời sống sót chốn giang hồ, ngài đừng quá lo.

- Chu Tước đại nhân cười trừ.

Nguyệt Sinh Liên đến mài ngay một nghiên mực và ngồi xuống bên bàn, nhanh chóng thảo một tấm khế ước để hợp pháp hoá cuộc trao đổi, thành thục đến nỗi Cửu lão chỉ biết to mắt lắc đầu không dám tin.

Và Chu Tước đại nhân nhẹ nhàng rút đoản kiếm gỗ đào thường mang theo tự vệ, cắt lấy máu điểm chỉ lên khế ước đầu tiên rồi mời mọi người cùng theo.

Chín dấu tay và tên lại được điểm thêm lên tờ khế ước, kết thúc buổi trao đổi.

- Đùa à?

San nhi lão phu biết, chữ nghĩa đủ viết tên mình với đọc điều khoản các khế ước, tự dạng làm gì đẹp thế này lại còn từ ngữ trau chuốt nữa?

- Nguyễn trưởng lão nhìn qua tấm khế ước vừa ký, đùa.

Như việc thường hay làm, Nguyệt Sinh Liên đến nhúng ngón tay mình vào nghiên mực, vẽ con dấu triện Đông các đại học sĩ thay cho ấn mộc để làm chứng rồi cuộn lại, buộc dây niêm phong.

- Theo Chu Tước đại nhân được mười hai năm, học chữ giúp ngài viết chiếu chương cũng từng đó thời gian, lấy gì con không thuần thục?

Và nói về chuyện thư pháp chữ nghĩa, người ấy hẳn giỏi hơn con.

Chánh sử quan của Sử quán kia mà!

Chu Tước đại nhân nắm chặt ngón tay vừa cắt để cầm máu, giấu lại vào ống tay áo.

Ngài đứng lên, tay khoanh theo lễ, cúi đầu tạ Cửu lão.

- Một việc đại công, một việc tiểu tư, cả hai đều nhờ các vị.

Mang người giang hồ đến điều tra quan quân quý tộc triều đình, xưa nay cấm kỵ, nhưng thiết nghĩ vì tương lai đất nước này và thế hệ sau của giang hồ tộc, điều này là cần thiết.

Khuê Văn Chu Tước sẽ cố gắng hỗ trợ Diệp Lâm hội và đền đáp mọi người xứng đáng.

- Đại nhân quá khách sáo rồi.

Diệp Lâm hội quán cảm kích ngài còn không hết, đâu dám đòi hỏi quá phận.

- Nhất phường trưởng lão cũng đáp lễ - Tử thần vô ảnh kiếm sĩ yểu mệnh không phải chuyện lạ, nhưng Trường San rất quan trọng với Diệp Lâm hội, có lẽ ngài cũng đã hay.

Ơn ngài đã cho San nhi cơ hội được trở về, Diệp Lâm hội sẽ không quên.

- Không dám ạ.

Tú Minh tiên sinh đây cũng có công mà.

Khuê Tước tiên sinh lúc đầu không hiểu mình có công cán gì với Diệp Lâm hội, chỉ lắc đầu rồi về lại chiếc ghế bên tường ngồi xuống nghỉ.

Buổi trao đổi này khá ngắn ngủi nhưng cũng thật hao tâm tổn trí.

Diệp Lâm hội quán tự hào với thành trì sơn lâm bất khả xâm phạm của họ và tai mắt khắp chốn giang hồ, đưa họ ra khỏi đây để mang tài giúp triều đình là một yêu cầu bất khả thi.

Suốt buổi người không thể ngừng nhớ lại hình ảnh đứa bé trên tay mình buổi sớm đó bên Vách Tử Nhân.

Có lẽ mọi chuyện sẽ không thành ra thế này nếu như những ai đáng ra nên sống vẫn còn sống.

Người không thể quay ngược thời gian, nhưng chí ít, người đang giữ tương lai trong tay.

Và trước mắt nhị vị Khuê Văn vừa nãy, tương lai đang đặt cược trên bàn.

Trông rất gần tay nhưng một khắc để lỡ sẽ bay xa tận chân trời, đến cả tầm mắt Thiên nhãn cũng không thấy được.

Cửu lão đều đứng dậy ra về, để khế ước lại cho Nguyệt Sinh Liên cất giữ.

Khế ước này, khi về kinh thành định sẽ đem vào văn khố cho an toàn.

Chỉ còn ba người ngồi lại trong thư phòng, mệt mỏi những ngày qua cũng đã bắt kịp họ, nhưng bây giờ lòng họ nhẹ nhõm đi nhiều phần.

- Thắng rồi, nhỉ?

- Khuê Tước tiên sinh thở dài trên ghế, nghĩ về những kết cục có thể diễn ra tiếp - Ít nhất thì... trong lúc này.

- Diệp Lâm hội quán về phe chúng ta, có phần nhiều cũng nhờ công ngài.

- Chu Tước đại nhân quay đầu lại cười.

- Kẻ sĩ tử lang thang như tôi thì công cán gì.

Ngài bớt đùa.

- Mọi thứ trên đời đều theo nhân quả.

Và thành quả ngày hôm nay, nguyên nhân cũng nhờ ngài có hứng đến Liêm Sơn trong chuyến du hành cuối cùng trước khi nhậm chức đó.

Nếu ngài không đến đó, không gặp đứa bé đó, rồi cứ để mặc nó chết trong cuộc loạn, học trò e con bài chúng ta có để thuyết phục họ cũng không tồn tại.

- Chỉ là thương hại nhất thời thôi.

Với lại tôi cũng muốn đem về cho Thái tử điện hạ một thư đồng để học chữ cùng, điện hạ hồi nhỏ học trong Quốc giám với lũ trẻ con quan nhưng chẳng có bạn bè gì, cũng tội.

- Thư đồng thì tìm đâu chẳng được, nhưng ngài mang chính nó về.

Ngài không phải thương hại một đứa bé hạ lưu ở miền quê, mà là Huyền Khôi, chiến hữu thề tửu với Tử thần vô ảnh kiếm sĩ đây.

Gieo nhân đó, mười hai năm sau chúng ta gặt được quả này.

- Chu Tước đại nhân nhắm mắt suy tư - Đến được ngày bình yên sẽ khó khăn đây, dù là vậy, học trò có thể thấy nó trong tầm mắt rồi.

Một phút thương hại của ngài đã đẩy thành công của chúng ta lại gần nhiều đấy.

- Vậy là chúng ta lại về Cấm Thành, chẳng đợi xuân sau.

- Tiên sinh tay chống cằm tựa bên ghế, buông một tiếng thở dài.
 
Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Hồi ba mươi bốn: Cấm Thành có gì lạ không con?


Một buổi chiều tối, Sa Liên theo thói quen rời cung đi dạo.

Từ khi nhị vị thượng quan mang quốc bảo nắm quyền, phần lớn sử quan và thư lại trong Sử quán bị cách chức với lý do thiếu trung thành với triều đình và thiếu trung thực trong việc soạn sử ký mà cố hoàng đế đã lệnh đặt.

Sa Liên trong cương vị Chánh sử quan, là người có trách nhiệm tu soạn các ghi chép lịch sử để viết nên bộ Khanh triều sử ký, định lên tiếng bênh vực cho các sử quan, nhưng gặp Tề tể tướng đến tận dinh khuyên rằng nên im lặng và để cho ngài và Đoàn thượng thư lo liệu.

Hình bộ thượng thư cáo lão về hưu dưới áp lực của họ, và bây giờ Đoàn thượng thư nắm giữ Hình bộ, tiến cử vị thị lang trẻ tuổi cho chức vụ cũ của mình.

Dù là biết nhiều thông tin xảy ra trong triều qua nhật sử, những ghi chép hằng ngày, nhưng Sa Liên vẫn không hiểu nổi chuyện gì đang xảy ra, lại thêm những mệt mỏi từ những cuộc nổi loạn, người chẳng màng quan tâm nữa.

Cứ đến Sử quán, thu xếp việc biên soạn sử ký, địa phương chí cùng những ghi chép khác, xong việc thì về, rồi mỗi tuần lại đi dạo trong thành làm vui.

Hồng Tước đã đi Ly quốc, An Viên đang đi tuần biên cương ngăn loạn lạc từ các nước chư hầu tràn sang, Thi Kỳ thì đã gả cho hoàng tử nước người, Nội thành cảm thấy trống vắng hẳn.

Dù là thư đồng, là bạn học của Thái tử, dù được Thái tử quý trọng như người nhà, nhưng Sa Liên cũng không thể đến thăm điện hạ.

Đông cung nơi Thái tử sống, Bắc cung nơi Thái hậu sống và Tây cung nơi Trưởng công chúa và các thái phi sống trong hoàng thành đều bị phong toả.

Các phủ, sở và dinh trong Nội thành, phía ngoài hoàng thành, nơi các quan sống và làm việc vẫn sinh hoạt bình thường, nhưng Sa Liên luôn cảm thấy có gì rất lạ, như có người ngày đêm theo dõi mình.

Đêm hôm kia, trước lúc đi ngủ, Sa Liên bắt được một kẻ lẳng lặng đứng ngoài cửa sổ phòng ngủ nghe ngóng.

Đó là một trong những lính gác dinh Chánh sử quan, được lệnh từ Tề tể tướng phải để mắt đến Sa Liên lúc ngủ, lý do là đề phòng có thích khách đến hãm hại người.

Tình hình trong triều bây giờ căng như dây đàn, từ khi Tể tướng đại nhân hay tin rằng một trong những tử sĩ ở Kinh Xuân là thích khách từng được phái đến mưu sát Thái tử thì ban lệnh phong toả hoàng thành và cài thuộc hạ trông chừng Sa Liên— một trong những người quan trọng với hoàng tộc— vì lý do an toàn.

Nói thì là vậy, nhưng vị sử quan vẫn thấy khó tin, tất cả những gì diễn ra từ khi Thái tử trở về nước trông mờ ám vô cùng.

Dù khi ngủ có người theo dõi, nhưng ở Sử quán và những lúc đi dạo ở ngoài thì Sa Liên được tự do.

Có lẽ là vẫn bị theo dõi đấy, nhưng giữa bách tính sinh hoạt vui vẻ trong thành không hay biết gì về ngọn lửa loạn lạc đang nhen nhóm trở lại, thôi thì mặc kệ ám vệ làm việc của họ.

Trời đã vào thu, tiết trời dịu hẳn.

Dân chúng trong kinh thành nô nức chuẩn bị cho tiết Trung thu, đường phố nhộn nhịp khó tả.

Thường ngày thì Sa Liên rời cung đi dạo lúc đầu giờ chiều, nhưng hôm nay lại đợi đêm xuống, vì lễ hội đêm nay bắt đầu.

Ở xứ này hội Trung thu kéo dài cả tuần, và kết thúc ngày rằm tiết Trung thu, ngày lễ lớn nhất của tuần hội.

Hoàng cung vẫn đang bị phong toả, Thái tử và mọi người vẫn đang bị cấm túc, Sa Liên không thể rủ điện hạ đi chơi hội cùng, nên lẳng lặng một mình đi.

Lúc này người ta đã dựng chợ đèn hoa trải dài trên đại lộ chính, sáng rực cả kinh thành.

Giữa những hàng lồng đèn, hoa tươi là những hàng bánh trái, đủ thức đủ loại từ đủ mọi miền.

Nhìn Cấm Thành thật vui tươi nhộn nhịp, ai mà nghĩ đây đang thời binh biến?

- A, Liên nhi!

- Một bà cụ bên quầy bánh quế hoa vẫy gọi - Cả nửa năm nay không thấy cháu.

Không khỏe chỗ nào sao?

- Chào Dương lão bà, con ổn, chỉ là đi công du xa thôi.

- Sa Liên đến quầy bánh, cười tươi chào hỏi.

- Chắc là công vụ quan trọng lắm.

- Vâng, đích thân Thái tử điện hạ nhờ ạ.

Bà cụ vội gói mười mấy cái bánh mới nóng vào bọc giấy, buộc lại kỹ rồi đưa cho Sa Liên.

Sa Liên lúng túng bảo rằng lần này quên mang tiền, lần khác sẽ mua hộ bà dăm cái bánh, nhưng bà vẫn cố dúi gói bánh vào tay không cho rời.

- Lấy đi, quà Trung thu cho cháu, không cần trả tiền đâu.

- Bà cụ đẩy gói bánh vào tay Sa Liên, nói.

- Nhưng vậy sao được ạ?

- Vị sử quan ngượng nghịu nhận lấy.

- Lần đầu tiên thấy cháu ra chơi hội Trung thu, thôi cứ coi như là quà.

Nếu ta mà có cháu nội ngoại, cũng sẽ cho chúng chút bánh.

- Con nghe nói bà có nữ nhi cùng rể mà, họ không sinh con sao?

- Có thì có, một đứa cháu, nhưng vừa sinh ra chưa bao lâu thì gặp buổi loạn, hồi hai mươi mấy năm trước khi cố hoàng đế băng hà ấy.

Con bé cùng chồng ôm con chạy loạn, lạc mất hết cả.

Đứa cháu đó nếu còn sống chắc cũng trạc tuổi Liên nhi đây.

Người đã không còn trở lại nữa rồi, thôi thì có cháu hay đến thăm cho ta vui.

Dương lão bà cười, tay kiểm tra bánh đang hấp bên cạnh.

- Trong cung đầy cao lương, của ngọt bình dân này chắc không sánh được, nhưng nhân tiết Trung thu, cháu đem chút bánh về cho Thái tử điện hạ ăn cùng cho xôm tụ.

- Vâng, khi về con sẽ ghé Đông cung.

Thái tử điện hạ dạo này bận nhiều việc, không thường ra ngoài.

Sa Liên đáp, thử nghĩ cách làm sao có thể vào Đông cung để thăm Thái tử trong tình cảnh này.

Sau khi nói lời từ biệt lão bà, gói bánh cầm tay, vị sử quan lại bước tiếp trên đại lộ phồn hoa nổi danh khắp nước, đi mãi tận ngoại thành.

Kinh thành đông đúc, phố phường trải rộng ra cả ngoài tường thành.

Trăng đã lên cao, tuy vầng nguyệt chưa đầy nhưng ánh vàng sáng rực một khoảng trời.

Ở ngoại thành không nô nức bằng trong thành, nhưng hội hoa đèn cũng không kém nhộn nhịp.

Bên bờ hồ Thuận Hoá ở ngoại thành, Sa Liên tìm một trà quán ngồi nghỉ chân, và bất ngờ bắt gặp một giọng nói quen thuộc:

- Cấm Thành dạo này có gì lạ không con?

Ở bàn bên cạnh, nhị vị Khuê Văn cùng Nguyệt Sinh Liên nhìn sang, vẫy chào.

- Đại tiên sinh!

- Sa Liên mừng rỡ lên tiếng gọi.

- Dạo này sức khỏe con tốt chứ?

- Tiên sinh hỏi, đưa mắt nhìn gậy chống quấn vải đặt cạnh bàn.

- Vâng, vẫn tốt.

- Sa Liên đưa tay khẽ kéo lớp vải quấn để lộ ra hai chữ "thiết trụ" khắc trên gậy - Chỉ là không dám để cái này lại ở dinh nên ra đường con cứ mang theo, coi như thay cho gậy chống thường ngày.

- Để ta gọi người quen ở phường mộc khắc cho một cái vỏ gỗ bọc vào, ai ra đường mà mang thiết trường côn thế này, có phải sơn tây mãi võ đâu!

- Nguyệt Sinh Liên vỗ bàn mà cười - À mà... cũng đâu có ai ra đường với mộc côn nhỉ?

Sa Liên chỉ tay qua sư gia mình.

- Lúc gặp con thì đang đi đường núi mà, mộc côn cần thiết lắm.

Với lại ta thường hay ra vào địa phận giang hồ, cũng cần có thứ gì trên tay mà tự vệ.

- Khuê Tước tiên sinh cười cười.

- Vậy xưa nay đếm được có bao nhiêu lâm tặc bị ngài hạ rồi?

- Chu Tước đại nhân đùa.

- Chắc cũng khá nhiều đó.

Gặp cướp thì tôi cầm mộc côn lên rồi cứ chiếu theo kế thứ ba mươi sáu trong Tôn gia binh pháp mà đánh.

- Kế thứ ba mươi sáu trong cổ binh pháp Tôn gia là...

- Nguyệt Sinh Liên nhẩm đếm theo.

- Thấy cướp thì chạy chứ, tôi đâu phải đồ ngu.

Đến cả Sa Liên thường ngày nghiêm túc cũng không ngăn nổi tức cười.

Và rồi sau dăm chén trà và bánh ngọt tái ngộ, cả ba người lữ khách theo chân vị sử quan về Nội thành.

Để tránh lính gác bắt gặp, đề phòng phe địch biết họ đang có mặt ở kinh thành, Sa Liên trở về đường đại môn như thường, còn ba người kia vòng sang tây môn canh gác lỏng lẻo hơn vì phía tây Nội thành là nơi quý tộc tiền triều sống nhưng hầu hết đã dọn đến miền đông bắc lập gia trang, phủ đệ dinh thự bỏ không khá nhiều.

Vì dinh sử quan cài nhiều tai mắt, Chu Tước đại nhân bảo nên về Thái phó phủ bỏ hoang.

Gọi là bỏ hoang cũng không phải nói quá.

Từ khi Thi Kỳ xuất giá, cung nhân cũng không còn ra vào dọn dẹp, những viện các hoa viên trong phủ trông hoang tàn hơn cả lãnh cung.

Vì điện Hưng Thánh bây giờ vô chủ vô nhân, không còn nơi nào thích hợp hơn để bàn chuyện bí mật hơn đây.

Đẩy cửa bước chân vào, Khuê Tước tiên sinh bỗng thấy như có gì nặng nề kéo lòng chùn xuống.

Dăm tháng trước trở về vẫn còn đến đây pha ấm trà tái ngộ cùng các học trò mình, Thái phó phủ tuy đã lạnh đi nhiều vì vắng người đi lại nhưng mà vẫn còn cảm thấy như là nhà.

Bây giờ thì cái tĩnh lặng gai người như chốn chết chóc bao trùm cả khuôn viên.

Đến cả tiên sinh cũng không dám nghĩ sẽ có ngày trở về và thấy phủ đệ mình từng sống trở nên như vậy.

Sa Liên làm Chánh sử quan được ban cho tư dinh, Hồng Tước sống ở một viện trong Đông cung hầu Thái tử, An Viên thì bấy lâu nay chẳng mấy khi về kinh, Thi Kỳ thì chỉ quanh quẩn ở viện các cũ của mình, còn lại để hoang cũng không phải chuyện lạ.

- Mới có bao lâu mà đã tiêu điều còn hơn Cao Tổ lăng ở ngoại thành.

- Tiên sinh đưa mắt nhìn quanh những kiến trúc quen thuộc.

- Cố thượng hoàng có lần kể phủ này đã như vậy từ khi ngài còn nhỏ rồi.

- Chu Tước đại nhân đáp - Thái phó đại nhân dạy dỗ cố thượng hoàng mất sớm, rồi thì nơi này bỏ hoang đến khi ngài tới nhậm chức.

- À, tôi có biết, tiền triều thái phó Trần thị, chủ nhân trước của phủ này.

Nghe đâu thì bị ám sát trên đường về từ Đông cung vì dăm hoàng tử dòng thứ muốn gán tội cho thượng hoàng để giành ngôi thái tử hay gì đó.

Xem ra Thái phó phủ này phong thuỷ hơi xấu thì phải, may mà Thi Kỳ không có chuyện gì.

Câu nói ấy nửa đùa nhưng cũng gợi mảnh ký ức buổi chiều tối định mệnh và câu nói của Phú thái y hôm đó vụt qua trong đầu Chu Tước đại nhân khi ngài nghe chuyện của tiền triều thái phó.

Ngài chỉ lắc đầu, buông tiếng thở dài, dù gì thì chuyện qua cũng đã lâu, bây giờ là lúc xoay chuyển thế cuộc.

Hai vị tiên sinh ngồi đợi ở sân trước khi học trò họ đi tìm dầu thắp đèn trong viện chính và quét dọn chút ít.

Viện chính là tư phòng của thái phó, nhưng Thi Kỳ chẳng bao giờ dùng nên bụi đóng dày cả.

Khuê Văn Khổng Tước năm ấy rời thành trong đêm, lặng lẽ, hành trang chỉ có tay nải áo quần, vài ba vật dụng cá nhân và dăm quan tiền đi đường, còn lại đều để lại Thái phó phủ, và Thi Kỳ đến giờ vẫn cố giữ mọi thứ nguyên trạng chờ người về.

Rồi giữa cái thanh tịnh đêm trung thu, có ai đó lên tiếng gọi từ ngoài cổng hé mở.

- Ai ở trong đó?

Giọng nói đó khá quen, Khuê Tước tiên sinh nghĩ.

Rồi người bật dậy, tay vỗ bàn khi chợt nhớ đó là ai.

- Là học trò đây, Phú đại nhân.

- Chu Tước đại nhân lên tiếng đáp.

- Thì ra là ngài, về kinh mà lấm la lấm lét như—

Vị thái y đẩy cửa vào, và đột nhiên thốt lên mừng rỡ, chạy ngay đến chỗ hai vị thư sinh ngồi.

- Khuê Văn Khổng Tước!

- Vị thái y không ngăn được tiếng reo của mình khi được thấy lại người cố hữu - Ngài vẫn bình an, thật tốt quá!

Cứ tưởng sẽ không còn được thấy ngài nữa chứ!

- Dăm tháng trước tôi có về đấy.

Thi Kỳ đến đưa tận tay chiếu của Thái tử điện hạ giải lưu đày, nên tôi về thăm.

- Khuê Tước tiên sinh cười trừ - Nhưng mà tôi không có thấy ngài.

- Thì thái y có lên triều bao giờ đâu!

- Phú thái y cười, vỗ vai cố hữu - Ngài làm học sinh lo lắm biết không đồ ngốc!

Ngài mà có mệnh hệ gì là Thái hậu nương nương ban thưởng học sinh một chuyến đi hoàng tuyền chơi với ngài cho vui đấy.

- Không đến nỗi đó đâu, Thái y viện chính đây đâu phải loại người để dùng một lần rồi vứt đi thay thế như vậy.

Ngài cũng có công cứu Thái tử điện hạ còn gì.

- Điện hạ chỉ bị thương nhẹ thôi, hai ba tuần đã khỏe rồi.

À mà...

- Phú thái y bỗng chùn giọng - Buổi chiều tối đó, có phải ngài—

- Đừng hỏi tốn công, tôi chẳng nhớ gì cái buổi chiều tối đó.

Tôi chỉ nhớ mình đang trên đường đến Đông cung, rồi khi mở mắt thì đã thấy mình ở Thái y viện, bao nhiêu ngày trôi qua còn không biết.

- Khuê Tước tiên sinh cúi đầu đáp - Đứng dậy còn chưa nổi thì Hình bộ thượng thư đến đọc sớ cáo tội tôi hành thích Thái tử, Hình bộ đã điều tra, đoản kiếm Thái tử ban tặng là hung khí, và có vẻ như trong lúc bị đe dọa, Thái tử tước lấy đoản kiếm đâm tôi tự vệ nhưng rồi lại bị đâm.

Thực hư ra sao tôi còn chẳng nhớ để mà biện minh, và Thái tử thì không được phép gặp tôi để giữ an toàn cho ngài.

Đến tận bây giờ, dù được giải lưu đày, điện hạ còn chẳng nói với tôi được ba câu hỏi thăm...

Chu Tước đại nhân lúc này không xen vào chữa lời.

Tất cả những gì ngài vừa nghe là nói dối.

Người đồng liêu ngài biết mình không phải hung thủ hành thích Thái tử hôm đó, nhưng chẳng có chứng cứ gì xác minh có kẻ đột nhập vào Đông cung mưu đồ ám toán.

Tất cả những gì nhân chứng thấy và biết được là buổi chiều đó chỉ có Khuê Văn thái phó đến gặp Thái tử ở thư phòng Đông cung và không hề trở ra.

Tên thích khách năm đó giờ là một trong những tử sĩ trong trận Kinh Xuân, có muốn đem y về tra khảo cũng không được.

Vì để bảo vệ mọi người, tiên sinh vẫn luôn khăng khăng mình không biết gì, kể lại nước đôi, đủ rõ ràng để người ta tin người có thể đã ra tay, cũng đủ mơ hồ để không tự buộc tội mình.

Chu Tước đại nhân thì chắc chắn người đồng liêu vô tội, dù ngài không thể nói ra.

Khuê Tước tiên sinh đứng dậy đi vào trong tư phòng từng là của mình để xem xét và giúp dọn dẹp, để lại hai người cố hữu lại bên ngoài.

Khi thấy tiên sinh đã khuất sau bóng cửa, Phú thái y quay sang Chu Tước đại nhân, hỏi thầm:

- Chín năm rồi, học sinh có muốn cũng không thể nói những gì mình tìm được, nhưng mà, có lẽ Đại học sĩ đại nhân cũng đã đoán được là ngài ấy vô tội nhỉ?

- Căn cứ đâu mà ngài nói vậy?

- Chu Tước đại nhân nhỏ giọng thăm dò.

- Ngài đừng lo, học sinh xưa nay vẫn tâm phúc của Thái hậu nương nương, dù gì thì Phú Đức Xuân này cũng từng là cung nhân trong nhà nương nương trước khi được tiến cử vào Thái y viện.

Nương nương đã xem nhị vị đại nhân như người nhà, học sinh cũng nguyện trung thành với hai vị.

- Phú thái y nở một nụ cười nhẹ để làm an tâm.

- Thời này chẳng tin tưởng được bao nhiêu người, ngài biết mà.

- Để tỏ trung thành, hay là học sinh đưa hai vị đến Đông cung thăm Thái tử điện hạ?

- Chẳng phải nhị vị thượng quan từ khi nắm quyền đã ban lệnh phong tỏa Hoàng thành bất xuất bất nhập sao?

- Người của Thái y viện được phép ra vào thường xuyên để đảm bảo sức khoẻ cho hoàng tộc.

Vừa hôm kia học sinh được triệu đến cung Trung Chính, nghe rằng Thái hậu nương nương không khoẻ, nhưng thực ra nương nương chỉ muốn gặp ai đó quen ở ngoài để hỏi thăm.

Nếu học sinh lấy lý do kiểm tra định kỳ sức khoẻ cho Thái tử điện hạ, không lý gì lính gác không cho vào.

- Hạ phẩm thái y có được theo cùng không?

- Có chứ, Hà và Quý thường đi theo giúp việc.

Học sinh có thể sắp xếp để hai vị thế chỗ họ.

- Cảm ơn hảo ý của ngài, học trò tin lòng trung của ngài rồi.

Bây giờ, tạm đừng để Tú Minh tiên sinh gặp mặt Thái tử.

Học trò sẽ về Nội điện học viện để họ bớt nghi ngờ, dinh sử quan cũng bị theo dõi rồi, không thể để ngài ấy ở đó.

Thôi thì, Phú đại nhân có thể nào tìm giúp một phòng kín đáo ở Thái y viện để ngài ấy trú tạm trong lúc điều tra chuyện nhà?

- Cái đó ngài không cần hỏi, nhưng mà... dạo này Hình bộ thượng thư đại nhân lệnh tăng cường lính gác ở Thái y viện rồi, còn đông hơn lính gác Đông cung nữa.

Đại nhân bảo tình hình nội bộ đang rất nguy hiểm, có nhiều kẻ đang lăm le hãm hại quan quân và hoàng tộc nên đành phải giới nghiêm và canh gác chặt chẽ vậy.

Khổng Tước đại nhân mang tội mưu sát thái tử, e họ sẽ không dễ dãi nếu họ thấy ngài ấy ở Nội thành, dù là ngài ấy đã được giải lưu đày nhưng tội vẫn chưa thanh minh được.

- Hai người tính toán cái gì, Khuê Văn gia có tư dinh ở kinh thành mà.

Thì tôi về đó không được sao?

Cả hai giật mình, dù đã quen người đồng liêu hay đi về như cái bóng, họ vẫn không quen được cái thói quen mà người xuất hiện bất ngờ giữa cuộc chuyện trò này.

- Đúng hơn thì là tư dinh của đại di, nhưng mà Khuê Văn gia nhiều người làm quan trong triều được ban dinh phủ Nội thành nên chắc cũng chẳng ai ở đó, chi bằng để tôi giữ nhà cho.

- Tiên sinh đến ngồi lại trên ghế của mình.

- Chắc ngài không biết, mấy năm trước mẫu thân bàn với các huynh muội, từ bỏ phần thừa kế để xuất gia rồi.

Cho nên là...

- Chu Tước đại nhân cười trừ - Tư dinh Khuê Văn gia giờ là của học trò.

- Kế hoạch vẫn không thay đổi, tôi đến đó giữ nhà cho ngài.

Đằng nào thì ngài cũng có rời Đại học viện đâu.

- Vậy ít nhất cũng để học trò bảo gia nhân đến dọn dẹp với giúp việc...

- Đừng làm phiền họ tốn công, cứ gửi tôi vài cái chổi với khăn là đủ rồi.

Tôi chỉ tới trông nhà đợi tin, không phải thượng quan quý tộc gì quan trọng để ngài đem gia nhân trong viện đến.

- Tiên sinh đáp, ngả đầu lên tay chống bên bàn trà.

- Vậy ít nhất cũng để học trò gửi ít ngân lượng đến cho ngài trang trải...

- Tóc thề của đám nhỏ vẫn còn trong tủ kia, ra ngoại thành đấu giá chắc cũng khá tiền.

- À... học sinh có nghe đệ tử ngài khá là được hâm mộ ở Cấm Thành này, nhưng mà...

- Phú thái y cười cười - Hay là đừng, nhé.

- Ngày trước Sa Liên đi dạo ngoại thành, thường hay kể với tôi là nghe được rằng có nhiều tiểu thư công tử sẽ chấp nhận bỏ cả trăm lượng vàng nếu họ có thể có một lọn tóc của An Viên hay Hồng Tước làm kỷ niệm.

Ừm, nghe được thứ đó thì tôi không tin Cấm Thành có gì lạ hơn.

- Đừng, đừng nhé.

Lạy ngài, cứ để tóc thề của học trò ngài ở nguyên đó.

Nhé.

Tiên sinh khoanh tay đưa mắt chăm chăm nhìn hai người đồng liêu, cả khoảng sân im lặng bất thường.

Rồi người lại nghiêng người sang tựa lên bàn trà.

- Tôi đùa thôi, chưa có tuyệt vọng tới mức đó đâu.

Tôi có cách tự trang trải.

Chỉ cần Sa Liên thi thoảng ghé thăm kể tôi nghe có những gì đáng chú ý đang xảy ra gần đây là đủ rồi.

- Tóm gọn thì... một mớ bòng bong.

- Phú thái y lắc đầu ngao ngán - Nhìn cuộc chiến tranh quyền đoạt vị của các quan chuyển biến thế này, học sinh nghĩ... nhiều khả năng là sẽ lại thêm một cuộc khủng hoảng kế vị.

Làm Thái y viện chính tưởng là được tha, nhưng mà, các ngài biết không, dạo này học sinh cứ được các đại quan viếng.

- Để làm cái gì?

Thái y viện đâu liên quan gì hay đâu tham gì quyền lực mà họ đến câu kéo?

- Họ đến tìm chứng cứ xác nhận Thái tử điện hạ không phải đích tử của cố hoàng bệ hạ, không có quyền kế vị.

- Làm như họ có quyền khẳng định mình lên ngôi hợp lệ hơn Thái tử điện hạ.

- Tiên sinh nhếch mép cười giễu - Cứ cho Thái tử không phải đích tử của cố hoàng bệ hạ đi, nhưng theo di chiếu thì vẫn là thái tử thừa tự để kế vị ngai vàng.

Vả lại, nếu Thái tử có chuyện gì thì nương nương cũng sẽ tiến cử Chu Tước đây lên ngôi.

Khanh triều có thể chấm dứt ở đây nhưng quốc gia vẫn tiếp tục đi tới.

- Sẽ không có gì xảy ra với Thái tử điện hạ đâu, các ngài đừng lo.

- Chu Tước đại nhân nở nụ cười trấn an quen thuộc - Khuê Văn gia tộc chúng ta bao đời thân thiết với hoàng tộc nhưng cũng mang phận thần tử, bảo học trò có cơ hội lên ngôi thay Thái tử Khanh triều thì...

- Còn hơn để đám quan triều đình xâu xé nhau, xâu xé đất nước này cho tham vọng của họ.

Dù gì thì, hai đời tiên đế cũng coi ngài như con cháu trong hoàng tộc, ngài lại là thần đồng thiên sinh, nếu có người ngoại tộc nào Khanh triều tin tưởng nhất để kế thừa ngai Thiên tử thì nhiều khả năng đó là ngài.

Bên trong tư phòng thái phó, Sa Liên lén nhìn ra ngoài sân.

Có vẻ như đại tiên sinh cố ý để mình ở đây với học trò Chu Tước đại nhân.

Nhân lúc mọi người đang bận, Sa Liên quay vào, đến trường kỷ ngồi đối mặt người chiến hữu từ kiếp trước bên bàn trà đã lau sạch bụi.

Người ấy trông vẫn như Sa Liên từng nhớ, nhưng bây giờ nhiều phần điềm đạm hơn.

Tấm áo vải học trò thanh nhu màu chàm mà hạ phẩm sĩ phu nào trong triều cũng mặc không giấu đi được cái khí khái phong trần của một kiếm sĩ sinh ra và lớn lên trong giang hồ.

Nữ nhân Diệp Lâm thường để tóc ngăn ngắn, quấn khăn cho gọn gàng, sẵn sàng nhập cuộc, dù là bảo vệ hội quán khỏi kẻ xâm nhập, lên đường thu thập tin hay kiếm thu nhập giữa giới đánh thuê; nhưng từ khi trở thành sĩ tử trong Đại học viện, Nguyệt Sinh Liên lại nuôi tóc dài, buộc búi cài trâm như ai.

Chỉ có hai lọn tóc bên tai đặc trưng là vẫn vậy.

Mười hai năm rời chốn giang hồ, tử thần kiếm sĩ rút kiếm không chần chừ, đoạt mạng không chớp mắt, người mà thiên hạ nghe danh không dám nhìn thẳng mặt nay lại chỉ như... một học sĩ bình thường.

Cấm Thành có nhiều chuyện lạ, nhưng nếu hỏi Cấm Thành có gì lạ nhất, thì Sa Liên có lẽ sẽ đáp: "Học trò Chu Tước đại nhân".

Điều thú vị là Nguyệt Sinh Liên cũng nghĩ như thế.

Trên đời ai ngờ đâu người chiến hữu bị hành quyết ở Liêm Sơn năm đó— một lãnh chúa giang hồ tiếng tăm cũng lẫy lừng không kém— bây giờ là sĩ tử, lại ở gần mình như vậy.

Từ Đông các đại học viện đi ra Sử quán chỉ hai khắc rảo bộ, một khắc đi ngựa; đến Thái phó phủ cũng từng đó thời gian.

Nguyệt Sinh Liên vẫn tự hỏi, tại sao mình không hay biết sớm hơn.

- Nhìn ta với ánh mắt đó là sao?

- Nguyệt Sinh Liên để ý thấy Sa Liên cứ chằm chằm nhìn mình thì gối đầu lên tay chống trên bàn trà, mỉm cười mà đùa - Cũng sĩ tử thôi mà, có gì lạ đâu?

- Chuyện đó... người từ khi nào đã biết?

- Sa Liên trầm giọng hỏi.

- Ừm, cũng khá lâu rồi.

Tầm ba năm trước, hồi các hạ mới nhậm chức Chánh sử quan, chỉ là tình cờ thôi.

- Nguyệt Sinh Liên đáp, rời mắt đi một khắc để nhớ lại - Nói là bất ngờ thì cũng còn khiêm tốn đó.

Giọng vị kiếm sĩ ngập ngừng một thoáng.

- Nhìn biểu hiện của các hạ lúc tái ngộ ở Kinh Xuân thì có vẻ như cả hai ta đều không ngờ sẽ có ngày đó nhỉ?

- Tin từ giang hồ không đến được Cấm Thành, nên cũng chẳng biết người ra sao sau cuộc loạn Liêm Sơn...

Dù gì thì cũng đã cắt tóc thề tái sinh thành sĩ tử, chuyện gì ở giang hồ cũng chẳng còn quan trọng nữa.

- Sa Liên đáp.

Nguyệt Sinh Liên lắc đầu, cười.

- Định mệnh... thật quái gở mà.

Người chiến hữu thề tửu ngỡ đã xa tận chân trời thật ra lại gần ngay trước mắt.

- Vị kiếm sĩ vẫn giữ nụ cười đó, nhớ đến nét mặt an lành của vị sử quan khi được nghe lại tiếng trúc tiêu hót lên Hoả báu ca.

- Người thì đã thành phế nhân, thiết trụ kình thiên thì thành gậy chống đi đường.

Huyền Khôi có thể đang ở ngay trước mắt người, nhưng con người ở trước mắt không còn là Huyền Khôi nữa.

- Sa Liên quay mặt đi, đáp, giọng như nghẹn trong cổ - Hai cái tên... một kiếp người... rồi thì... rốt cuộc... kẻ vô dụng này... là ai?

Nguyệt Sinh Liên không nghĩ mình nhầm.

Người đứng kề vai mình ở chiến trường Kinh Xuân hôm ấy không ai khác là Huyền Khôi đại vương— tuy khoác áo thư sinh, tuy thương tật tàn phế, nhưng với thiết côn trong tay, vẫn anh dũng đối đầu kẻ địch như người thiếu hiệp ngày nào.

Nguyệt Sinh Liên không nghĩ mình nhầm khi nhận lại người chiến hữu từ kiếp trước.

Sa Liên có vẻ như biết rõ điều đó, biết rõ Huyền Khôi vẫn còn đây, nhưng vì những gì xảy ra trong cái ngày định mệnh, vì chén trà bái sư năm xưa mà người không thể ngoài mặt thừa nhận cái tên ấy của mình.

- Thôi thì... hai chúng ta cũng đều cắt tóc lập lời thề tái sinh, bây giờ đều là sĩ tử cả.

Đổi một kiếp phong trần lấy áo thư sinh sống quãng đời còn lại trong bình yên với sư gia và tỷ muội đồng môn, cái giá này cũng khá hời.

Ừ thì, không phải thực sự bình yên nhưng so với những gì chúng ta từng trải qua thì đây vẫn còn yên bình chán.

- Nguyệt Sinh Liên khẽ nghiêng đầu, cười - Lúc nãy đi hội mua được bánh gì thế?

Cho ta một miếng.

- Bánh quế hoa.

Có lão bà người quen tặng, bảo về cung gửi Thái tử điện hạ một chút làm quà Trung thu.

Đông cung thì cấm cửa, vào thế nào giờ?

- Sa Liên đặt tay lên gói bánh.

- Tìm góc nào ít lính gác, khinh công leo tường vào thôi.

- Nguyệt Sinh Liên nói, thò tay sang định vớ lấy bánh.

- Đi đứng còn không xong đây, tường cao như vậy leo thế nào?

- Để ta giúp.

- Nguyệt Sinh Liên chìa tay - Nhưng mà cho ta một cái bánh trước.

Đang tiết Trung thu, chia sẻ là vui vẻ mà.

Sa Liên lườm mắt nhìn nhưng cũng lắc đầu cười, đưa sang một cái bánh.

Dành ra một phần cho tam vị tiên sinh, dành ra một phần trong gói cho Thái tử.

Sa Liên để phần bánh trên gói giấy lên bàn trà ngoài sân, rồi sau đó chạy ra cửa với người chiến hữu, không quên một lời thông báo:

- Chúng con ghé Đông cung một lát.

Khuê Tước tiên sinh bất ngờ vì quyết định đột ngột đó, nhưng cũng cho qua.

Sa Liên đã lâu không có thời gian hỏi thăm người huynh đệ, nay lại gặp lúc nguy khốn sự tình khôn lường, người không đành lòng cản lại.

Nếu Uy ca lâm vào tình cảnh như vậy, người cũng sẽ liều tìm cách đột nhập Đông cung mà hỏi thăm thôi.

Trái với không khí nhộn nhịp, muôn dân nô nức ngược xuôi trẩy hội bên ngoài Cấm Thành, ở trong đây lại vắng lạnh gai người.

Thi thoảng hai người bắt gặp dăm gia nhân gia nô chạy việc loanh quanh, nhưng trong những phủ đệ viện lâu này sao đến đèn cũng không thắp sáng.

Trừ dinh Chánh sử quan dạo này thường được canh gác nghiêm ngặt ra, ban đêm cả Nội thành trở nên như tòa thành chết.

- Không phải có nhiều quý tộc quan lại sinh sống ở Nội thành sao?

- Nguyệt Sinh Liên tự hỏi - Không lẽ họ dọn đi cả rồi?

- Từ khi nắm quyền Hình bộ, Đoàn thượng thư ban lệnh giới nghiêm và nhiều lệnh bảo an nữa.

Dạo này quân nổi loạn lộng hành, có thể đột nhập vào Nội thành du kích nên ngài muốn bảo vệ mọi người hay gì đấy.

Họ không thích bị kiềm kẹp nên dọn về tư dinh ngoại thành cả.

- Nhưng mà Sa sử quan đại nhân thì vẫn ở lại nhỉ?

- Nguyệt Sinh Liên cười.

- Thì, biết đi đâu được.

Ở dinh sử quan đến Sử quán dễ dàng, đến Thái y viện cũng tiện.

Vả lại...

Hồng Tước và Thi Kỳ đều đi cả rồi, để lại Thái tử một mình ở đây thì không đành.

Rồi còn nghe ngóng cho đại tiên sinh.

- Xưa nay anh linh này vẫn giang hồ nhân mà, sao lại lo lắng cho người hoàng thất thế?

- Nguyệt Sinh Liên đùa.

- Thái tử tuy người hoàng thất nhưng sau cùng vẫn là huynh đệ đồng môn.

Nếu không lo lắng cho hoàng thất, ít nhất cũng lo cho người huynh đệ chung đèn sách mười mấy năm qua.

Vả lại, hắn... chuyện năm đó...

- Giọng vị sử quan như trầm xuống, ánh mắt ngước nhìn hoàng cung cũng tĩnh lạnh.

- Ta hiểu rồi.

- Người kiếm sĩ gật đầu - Đi thôi.

Đi thăm hắn một lát.
 
Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Hồi ba mươi lăm: Người huynh đệ


Đường đến Đông cung không một bóng người, trừ dăm mặt cảnh vệ đi tuần.

Vì ít người đi lại, Sa Liên và Nguyệt Sinh Liên dễ dàng tới bên tường Đông cung mà không gây chú ý.

Các cổng canh gác nghiêm ngặt, và các bờ tường cũng được cảnh vệ thường xuyên tuần qua để phòng thích khách lẻn vào từ góc khuất.

Nhưng người đang lẻn vào từ góc khuất không phải thích khách.

Có người chiến hữu giúp, Sa Liên lọt vào bên trong thành công, chỉ gặp chút khó khăn vì thể lực có hạn và tường thì khá cao.

Vô tình có cung nhân bắt gặp hai người ở trước thư phòng, định kêu lên báo động, nhưng Nguyệt Sinh Liên kịp thời ngăn lại.

- Đừng có la lên, không phải thích khách đâu.

Người quen mà.

- K-không phải thích khách?

Nguyệt Sinh Liên thả cậu cung nhân trẻ ra, ra dấu về phía Sa Liên đang đứng đằng sau mình.

- Ta đến thăm điện hạ.

- Sa Liên lên tiếng, tay giơ gói bánh.

Nhận ra giọng quen, cậu cung nhân thở phào nhẹ nhõm.

Cậu nhìn ra phía sau Nguyệt Sinh Liên để xác nhận đó đúng là vị sử quan mà chúa công cậu thường gọi huynh đệ đồng môn.

- Sử quan đại nhân, tại sao ngài vào đây được?

Cung nhân trong Đông cung muốn ra chạy việc còn khó kia.

- Cậu cung nhân hỏi.

- Thì... ta leo tường vào.

- Sa Liên cười trừ - Điện hạ chưa đi nghỉ chứ?

- Thưa, vẫn chưa.

Điện hạ đang đọc văn thư ở trong ấy.

Nô tài được sai mang thêm ít dầu thắp đến.

- Nhưng mà...

- Sa Liên quay lưng lại nhìn thư phòng đằng sau cửa đóng im ỉm lại tối tăm - Trong kia đâu có thắp đèn?

- Có đấy ạ.

Điện hạ chỉ thắp một đèn trên bàn đủ sáng thôi.

Đúng như vậy, bên cửa sổ có ánh sáng lờ mờ.

- Ta vào trong có được không?

Không làm phiền điện hạ chứ?

- Sa Liên chỉ về phía cửa thư phòng, hỏi.

- Thưa, nô tài không biết.

Để...

để nô tài hỏi điện hạ, xin hai vị đợi ngoài này.

- Cậu cung nhân cúi đầu rối rít rồi chạy vào.

Một lúc sau, cậu lại chạy ra, tay chắp kính cẩn cúi đầu trước Sa Liên rồi đáp:

- Thái tử điện hạ rất mong gặp ngài, xin ngài hãy vào trong.

- Còn ta thì sao?

- Nguyệt Sinh Liên đứng bên cạnh khoanh tay hỏi.

- Thưa, nô tài không biết...

Thái tử điện hạ chỉ triệu Sa sử quan đại nhân.

- Thôi, cũng đâu phải người lạ gì, cứ vào chào hỏi một tiếng.

- Sa Liên vẫy tay gọi người chiến hữu.

Thái tử ngồi bên bàn thư đèn mờ, tay ôm đầu, nét mặt đầy lo lắng, nhưng một khi Sa Liên bước vào thì lại mừng rỡ reo như con nít.

Sa Liên và Thái tử có thể gọi là tam đồng chi giao— đồng niên, đồng môn, đồng chí hướng— nên khá là thân nhau.

Từ khi trở về từ Ly quốc đã bị cấm cung, không được hay biết những người còn ở lại ra sao nên Thái tử cũng lo lắng nhiều.

Nguyệt Sinh Liên không vào hẳn, chỉ đứng bên góc như thường lệ, khoanh tay tựa cửa mà đợi cũng như giữ giúp người chiến hữu thanh thiết côn.

Xưa nay người hoàng tộc và người giang hồ vẫn đứng ở hai thế giới hoàn toàn đối nghịch nhau: triều đình và hoàng thất nghĩ người trong giang hồ là loại dơ bẩn, tặc khấu chỉ biết cái lợi trước mắt; người trong giang hồ cho rằng triều đình và hoàng tộc không thể nào vô dụng hơn, vì tham vọng mà dụng cả giang sơn vào canh bạc.

Nhưng, trớ trêu cho thời đại này, cả năm người trong Ngũ anh tài, những tinh anh bậc nhất trong giang hồ, đều là người làm quan trong triều, là quân chủ, vì bách tính, vì mong muốn kiến hưng triều đại và quốc gia mà như quên cả mình.

Nguyệt Sinh Liên chau mày nhìn Thái tử.

Hắn trông chỉ như một tên công tử vô dụng nhưng ba người của Ngũ anh tài đã đánh đổi thanh xuân và gần như cả mạng sống vì hắn.

Chu Tước đại nhân nói đúng, thời này ranh giới giữa triều đình quan và giang hồ nhân không còn rạch ròi nữa, tên gọi không quan trọng, tất cả chỉ vì sống còn mà thôi.

Và người đưa mắt nhìn Sa Liên, thấy lòng mình thoáng nặng nề.

Tây sơn đại vương kiêu hùng một thuở được tái sinh giữa chiến trường, rồi lại biến mất, nhường chỗ cho vị sử quan yếu ớt này.

Nguyệt Sinh Liên mười mấy năm qua vẫn cố bảo mình rằng người chiến hữu thề tửu năm xưa đã không còn nữa, cũng như kiếp trước của mình, Tử thần vô ảnh kiếm sĩ Trường San.

Tuy nhiên, vị kiếm sĩ vẫn không chối bỏ được quá khứ khi biết rằng cả hai vẫn còn đây, bảo khí vẫn còn đây, lời thề đào tửu vẫn còn đây, nhưng thời thế đã đổi thay và chính họ cũng đổi thay vì thời thế.

- Sa Liên đi dạo hội tiết Trung thu, mang về chút bánh quế hoa cho điện hạ.

- Vị sử quan cười, giơ gói bánh lên.

- Cái đó để sau.

Chuyện quan trọng hơn là làm sao... làm sao ngươi vào được đây?

Còn ai kia?

- À, là tòng phạm giúp sử quan đại nhân leo tường vào, Thái tử đừng để tâm quá.

- Nguyệt Sinh Liên đùa.

- A, Nguyệt Sinh Liên!

Chẳng phải Chu Tước học sĩ đang đi công vụ ư?

- Thái tử nhìn sang khi nghe thấy giọng người quen.

- Đại nhân nhà vừa hồi kinh hôm nay.

Họ đang trò chuyện với Thái y viện chính đại nhân ở Hưng Thánh điện.

- Vị kiếm sĩ đáp.

- "Họ"?

- Chu Tước đại nhân, Khổng Tước đại nhân.

Thái tử chợt đứng bật dậy, tay vỗ bàn, suýt nữa làm đổ đèn xuống sàn.

Một sự bất ngờ khó tả có thể được thấy trong ánh mắt Thái tử nhìn Sa Liên.

- Ngài ấy... về thật sao?

- Điện hạ, dăm tháng trước đại tiên sinh có về thăm mọi người mà.

Điện hạ đã giải lưu đày cho người, chẳng lẽ xong việc người không thể về kinh?

- Sa Liên nhẹ nhàng nói.

- Ta biết, nhưng mà... buổi thiết triều đó ta cứ tưởng như chiêm bao.

Dù là ngài ấy được giải lưu đày nhưng ta vẫn không nghĩ ngài ấy sẽ về thật, ngươi biết đấy, là vì...

Thái tử thả mình lại xuống ghế, thở dài, nghiêng đầu đưa mắt về phía cái ghế bên cạnh kệ sách.

Trên ghế có một tấm chăn xếp gọn, lấm tấm những giọt đen.

- Ta không nhớ mấy về cái buổi chiều tối ấy, nhưng mà ta khá chắc chắn kẻ mưu sát ta không phải Khuê Văn thái phó.

Ngược lại, ta nghĩ chính vì Khuê Văn thái phó có mặt ở đó mà ta mới sống sót được.

- Thái tử khẽ cúi đầu, nhìn xấp văn thư trên bàn - Lần trước trở về, ngài ấy trông như không muốn gặp ta, chỉ ra mặt trên triều cho có lễ.

Tiền bối này, có phải ngài ấy vẫn cho là ngài ấy hại ta?

- Sa Liên không biết được.

Và trong tình thế này đại tiên sinh càng không thể gặp điện hạ, dù lưu đày đã được giải nhưng oan tình vẫn còn đó, thực hư ra sao không rõ nhưng trong mắt mọi người, sư gia vẫn là kẻ hành thích Thái tử.

- Sa Liên đáp lại.

- Tiết Trung thu là tiết đoàn viên, vậy mà ta lại không được đoàn viên với những người ta quý mến ư?

- Thái tử cười, nhưng nụ cười ấy lại nặng đau khổ.

Với Thái tử, sư đồ Thái phó từ lâu đã là gia đình.

Hoàng hậu là thân sinh, Trưởng công chúa là ruột thịt, nhưng bên cạnh ngài, nuôi lớn và dạy dỗ ngài là những trung thần Khuê Văn thị.

Có thể nói, ngoài đệ tử Nguyệt Sinh Liên, người được thấy mặt Khuê Văn Chu Tước nhiều nhất là Thái tử.

Trong mắt Nguyệt Sinh Liên, hắn luôn là một tiểu tử yếu ớt văn không thạo võ cũng chẳng thành, nhưng Chu Tước đại nhân đánh canh bạc giang hồ vì hắn, Khổng Tước tiên sinh từng vì hắn mà gần như mất mạng, rồi bây giờ Sa Liên cũng lo lắng cho hắn mà liều vào thăm.

Dường như Thái tử có một thứ gì đó đáng để những anh tài ấy đánh đổi phúc lợi của họ cho.

Có lẽ vị kiếm sĩ cũng biết đó là gì, chỉ là không muốn thừa nhận thôi.

- Thái tử điện hạ có thấy những thay đổi này quá đột ngột không?

Ý thần là, nhị vị đại nhân, Tề thị và Đoàn thị.

Họ lâu nay vẫn tận lực với ngài, trước ngài vẫn trung thần tử, vậy sao nay lại lạm quyền thế?

- Nguyệt Sinh Liên hỏi.

- Trước khi bổn thái tử đi Ly quốc dự hôn lễ, họ có đến gặp ta, xin được cậy nhờ quốc bảo để bảo vệ triều đình.

Khi về thì đã biết họ thao túng triều chính, còn giam lỏng ta, mẫu hậu và hoàng tỷ trong cung nữa.

Mấy tháng qua ta không được rời bước khỏi Đông cung, kể cả buổi thiết triều họ cũng tự mình sắp xếp.

Cung nhân thì thi thoảng được ra vào phục vụ, nhưng cũng ít khi.

Những người duy nhất được phép gặp ta bây giờ là dăm ba cung nhân mới nhập cung và nhị vị thượng quan thôi.

Họ bảo, đó là đều vì bảo an cho ta, thời thế bây giờ loạn lạc khó lường, có thể có kẻ đột nhập vào ám sát ta như ngày xưa lần nữa.

- Cấm cung ra vào đã khó rồi, lại còn phong tỏa như này thì ai chịu được.

- Sa Liên họa vào.

- Đoàn thị nói, Đông cung canh gác cẩn mật là vậy nhưng năm xưa vẫn có kẻ đột nhập vào hành thích ta, nên là...

- Nói vậy, hai người họ...

- Thái tử điện hạ, thứ lỗi nếu Nguyệt mỗ có lời mạo phạm, nhưng triều đình này nuôi hơi nhiều ong trong tay áo đó.

- Nguyệt Sinh Liên nói, bước đến gần bàn thư.

- Không mạo phạm đâu, ta cũng biết mà.

Nhưng...

- Thái tử chùn giọng - Ta... ta không biết làm gì bây giờ...

Chu Tước đại nhân có lẽ biết phải làm gì, Nguyệt Sinh Liên nghĩ, động thái của ngài trông như thể ngài đang nắm thế thượng phong trên bàn cờ dù rằng ngoài miệng ngài nói mình bất lực.

Ngài chỉ là người trần mắt thịt, nhưng tài thiên sinh của ngài vẫn không nên coi nhẹ.

Muốn lừa kẻ địch phải lừa được quân ta trước, châm ngôn của ngài là thế.

Dù là học trò cận kề bên ngài mọi lúc nhưng Nguyệt Sinh Liên vẫn không thể nào biết được ngài đang nghĩ gì, ngài đang tính toán gì.

- Tiên sinh về kinh rồi, điện hạ có muốn gửi lời nào đến người không?

- Sa Liên hỏi.

- Ta cũng muốn lắm, nhưng mà... thôi.

Bổn thái tử muốn đợi đến khi mọi chuyện đã chu toàn mà đường đường chính chính đón ngài ấy về đây.

Biết được ngài ấy bình an, ta đã thấy vui rồi.

Thái tử đáp, nhìn sang gói bánh trên bàn rồi vẫy cả hai người đồng môn ra ngoài sân.

"Đợi một lát."

Ngài vớ lấy gói bánh chạy ra ngoài thư phòng, đặt ở bàn đá giữa sân trăng sáng, lục lọi gì đó ở tư viện rồi trở lại, miệng cười toe toét.

- Tiết Trung thu rồi mà ta vẫn bị cấm cung, may mà có hai người đến thăm.

- Thái tử giơ lên một vò rượu được niêm phong kỹ cùng ba chén - Cống tửu từ Tịnh Hà quốc ta lén giấu đi định là ăn mừng lễ trưởng thành với mọi người, nhưng thiết nghĩ trong tình cảnh này thì còn lâu nữa ta mới được làm quan lễ nên thôi.

- Tạ ơn điện hạ đã nhắc Sa Liên cũng chưa được lễ trưởng thành.

- Vị sử quan đùa.

- Không sao, hai ta đợi đến khi ngài ấy danh chính ngôn thuận trở về cũng chưa muộn.

Ta nghĩ ngươi cũng muốn chính tay sư gia cài trâm đội mũ cho nhỉ?

Sa Liên bất chợt đưa tay lần trâm gỗ trong áo.

Thái tử nói đúng, không gì bằng được chính tay ân sư chải tóc trong lễ trưởng thành; tuy nhiên, với sự tình bây giờ thì đó chỉ là mộng tưởng mà thôi.

Thái tử đặt ba chén rượu lên bàn, mở vò rót ra, mùi thơm nồng xộc ngay lên mũi.

Ngài quay đi nhăn mặt một thoáng rồi lại cười, nhấc chén đưa hai người tiền bối.

Song Liên nhìn nhau, cũng nhoẻn cười mà vui vẻ đón lấy mỹ tửu được mời.

- Hoài niệm quá...

- Nguyệt Sinh Liên tự nói với mình.

- Họ Nguyệt đây có người huynh đệ tỷ muội thề tửu nào sao?

- Thái tử tò mò hỏi.

- À... thực tình thì...

đúng là từng có.

Chén rượu thề năm xưa cũng rót dưới trời trăng sáng thế này.

- Vị kiếm sĩ nhẹ nhàng sóng sánh ánh trăng trong chén, mũi thoáng ngỡ mùi Nhu Sa tửu ngày xưa - Chỉ tiếc người ấy yểu mệnh thôi.

Sa Liên không nói gì, chỉ ngước đầu nhìn vầng trăng tròn vằng vặc trên đầu.

Nguyệt quang kia từng minh chứng cho lời thề kết nghĩa ở Liêm Sơn nay cũng chứng minh cho chén rượu tâm giao ở Đông cung.

- Đúng là đáng tiếc, nhưng chuyện buồn đã qua rồi không nên nhắc lại.

Chúng ta vẫn còn ngày mai mà.

- Thái tử đặt một tay lên vai người trưởng bối rồi quay sang tiền bối mình nói nhỏ - Chỉ một chén thôi nhé, có muốn thêm cũng không được đâu.

Và đừng nói cho Thái y viện chính biết ta mời ngươi uống rượu.

- Đường đường là Đông cung thái tử lại đi mời rượu hai kẻ thư sinh thế này, không phải là hơi kỳ sao?

- Nguyệt Sinh Liên đùa.

- Đông cung thái tử thì là sao?

Lâu nay ta được nhị vị Khuê Văn nuôi nấng dạy dỗ, hai người với ta cũng coi như người nhà rồi.

Ít nhất thì... cũng gọi là huynh đệ tỷ muội đồng môn.

Hai người là tiền bối ta, để ta kính hai người một chén.

Thái tử nâng rượu mời, cùng tiền bối chạm chén mừng tiết Trung thu.

Nguyệt Sinh Liên nhắm mắt ghìm giọt lệ, chẳng ngờ định mệnh sắp đặt lại được cùng người chiến hữu từ kiếp trước chung chén rượu thế này.

Tận hưởng niềm vui bình yên đời sĩ tử thay vì một phút bằng an nơi thâm sơn.

Sau khi đổi trao mấy lời thăm hỏi nhau, Nguyệt Sinh Liên lại giúp vị sử quan leo tường trốn về gặp nhị vị lão sư.

Trên đường vắng vẻ dẫn về Thái phó phủ, Nguyệt Sinh Liên bất chợt lên tiếng hỏi, giọng thân thuộc lạ thường:

- Lần tới cậu đi dạo ngoại thành, ta hẹn cậu đến bờ bắc Đại Hà nhé?

Có khoảng đồng trống ở đó cho chúng ta tiện trao đổi.

- H-Hả?

- Sa Liên quay sang, chau mày khó hiểu.

- Không có gì, ta chỉ muốn lại được đấu giao hữu với người ấy—với cậu—một lần.

Có được không?

Sa Liên cắn môi, tay ghì lấy thiết côn.

- Giao hữu thì được thôi, nhưng e rằng người sẽ thất vọng đó.

- Ô?

Đại nhân ta bảo ở Kinh Xuân cậu tỉ thí ngang hàng với song ngân kiếm Tân Gia công chúa.

Có thể cậu không hay, nhưng ta ở miền nam nghe danh y nhiều lắm.

Kiếm thuật Vĩnh gia chẳng xoàng đâu.

- Nguyệt Sinh Liên nhìn trăng nhoẻn cười - Có thể cậu không còn là Huyền Khôi ngày xưa, có thể sóng gió trong lòng cậu không cho cậu chấp nhận chính mình, nhưng cậu biết đấy...

Nếu Liêm Sơn đại vương Huyền Khôi thực sự đã chết, Sử quan Liên đây đã không màng thứ côn pháp giang hồ, nói chi nhận Thiết Trụ Kình Thiên làm đồng hành.

Tiếng thiết côn gõ đều trên đường lát đá, nhịp nhàng theo từng bước chân vị sử quan.

Sa Liên tự hỏi mình vì sao lại cố sức luyện côn pháp bí truyền của Lão Chiến Ma nếu mình không phải du hiệp giang hồ.

Sa Liên tự hỏi mình vì sao lại tự nguyện bước lên tỉ thí đài, mượn thiết côn đấu với Tân Gia đại công chúa.

Tự hỏi mình vì sao lại đón nhận thiết trụ kình thiên từ tay Nguyệt Sinh Liên, vì sao lại bật khóc khi thấy bốn chữ khắc trên nước thép xanh, vì sao lại theo kế hoạch của sư gia mà đến thủ cổng thành dù biết mình thân thể tàn tật.

Tự hỏi mình vì sao lại đối xử với học trò Chu Tước đại nhân—một người đáng ra xa lạ—thân thuộc đến vậy.

- Khi ta bái sư, trở thành học trò Chu Tước đại nhân, ngài đặt cho ta họ Nguyệt theo biểu tự ngài, tên Sinh Liên biểu thị lời thề tái sinh.

Nhưng Khổng Tước đại nhân cho cậu giữ lại họ của Lão Chiến Ma, ngài giữ lại cho cậu họ của gia gia cậu, ấy không phải tiên sinh cậu muốn cậu nhớ lấy mình là cháu nội của lão hiệp huyền thoại ấy sao?

Lão Chiến Ma, một người lẫy lừng danh tiếng như vậy lại vô danh lạ thường: đến cả huynh đệ kết nghĩa, những người từng vào sinh ra tử với ông, còn không biết được tên ông là gì; đến cả cháu nội ông, người kế tục bí pháp của ông, còn không rõ.

Sau khi qua đời đột ngột mười lăm năm trước, ông để lại trên cõi trần ba thứ: thiết trụ kình thiên, vốn bảo vật cổ quốc Liêm Sơn; đứa cháu nội vừa được mười tuổi đầu; và côn thuật vô song ông tự sáng chế và hoàn thiện mà ông truyền thụ cho cháu mình khi còn sinh tiền.

Thiết trụ kình thiên có thể sang tay đổi chủ, côn pháp có thể bị thất truyền, nhưng họ tên ông để lại cho cháu thì vẫn mãi lưu sử sách với những chiến công.

Khuê Văn Khổng Tước đã có thể cho Sa Liên họ mới theo biểu tự mình như người đồng liêu đã làm, nhưng ngài không làm thế.

- Côi nhi thời loạn làm gì có họ tên.

- Sa Liên cúi đầu cười buồn - Sau những gì đã xảy ra, kể ra Sa mỗ vẫn còn may mắn lắm.

Đến trước cửa Thái phó phủ, Sa Liên không vào thẳng trong sân mà nán lại một lúc bên cổng khi thấy Phú thái y vẫn còn đó, cố bắt lại chuyện xưa với sư gia mình.

Nguyệt Sinh Liên nhún vai cười cười, cái sự tò mò này của người chiến hữu bao năm nay vẫn không đổi chút nào.

- Nói tới đây, học sinh lại cảm thấy lạ.

- Phú thái y đưa tay vuốt cằm - Thế quái nào hai người lại đi cùng nhau?

Học sinh nghe bảo hai người ra chiến trường cùng nhau ở Kinh Xuân lại còn đi điều tra cùng nhau cả hai tháng trời, không phải hai người ghét nhau lắm sao?

- Ngài nghĩ tôi nhỏ nhen vậy sao?

- Khuê Tước tiên sinh với tay bẻ lấy mẩu bánh cho mình.

- Cả triều đình ai mà không biết trong ba tuần lúc ngài mê man hấp hối Khuê Văn Chu Tước đại nhân mới dám đến nhìn mặt ngài.

Khi ngài tỉnh dậy rồi thì lại không dám vào thăm.

Khuê Tước tiên sinh nhíu mày nhìn sang người đồng liêu.

- Tôi biết là trong triều này danh tiếng tôi tệ hại lắm nhưng mà có chuyện này thật sao?

Chu Tước đại nhân ngượng nghịu quay đi tránh ánh mắt đó.

- Lâu nay tôi cứ tưởng ngài ru rú trong thư phòng ngài ở Đại học viện là vì ngài không thích dây dưa với quần chúng trong triều, thì ra là để tránh mặt tôi?

Khuê Văn Chu Tước, đường đường là Nhiếp chính đại thần ai ai cũng nể trọng... mà lại...

- Tiên sinh đứng lên khỏi ghế, lên tiếng như thấy khó xử.

Người nhìn sang Phú thái y cũng đang lúng túng, tự hỏi mình có phải vừa nói gì đó sai - Phú Đức Xuân, trả lời tôi thật tình đi.

Chu Nguyệt đây có đến thăm tôi lúc tôi trọng thương nằm ở Thái y viện của ngài mà chờ chết, đúng không?

Phú thái y không trả lời ngay, chỉ nhìn sang vị học sĩ.

Trước khi bà có thể đáp, Chu Tước đại nhân đưa tay bảo đừng nói gì.

Ngài muốn tự mình trả lời.

- Không trách Phú đại nhân được, không chỉ ngài ấy mà đến cả ngài cũng không biết tại sao học trò lại tránh mặt ngài.

- Chu Tước đại nhân ngừng một lát - Học trò quả thực có đến thăm ngài, đúng hơn là học trò đã ở bên cạnh ngài suốt ba tuần ngài mê man, Tiểu Liên có thể làm chứng.

Nếu ngài không qua khỏi, học trò định sẽ viết điếu tang rồi tuẫn tiết tạ tội; nếu ngài qua khỏi, học trò lại trở về sau tấm rèm thư phòng mình.

Chuyện ra sao thì ngài cũng biết rồi.

Từ kỳ khảo thí cuối cùng của ngài đến lúc học trò ra mặt ở Kinh Xuân chúng ta chưa từng đường đường chính chính mặt đối mặt nhau.

Từng lời nói câu chữ ấy đều hết sức thành thật, Phú thái y cũng đành gật đầu chứng thực.

Khuê Văn Khổng Tước nắm chặt hai bàn tay cố kiềm lại mớ cảm xúc hỗn loạn trong lòng, cố giữ kiểm soát chính mình.

Người bật cười, quay lưng đi, ngước mắt nhìn trăng sáng rằm thu.

- Cố thượng hoàng ban cho ngài "Nguyệt" làm biểu tự thật là xứng mà.

Giống như ánh trăng kia, ngài không bao giờ cho người thấy mặt thật của mình.

Trăng muôn hình dạng, có sáng có tối, ngài cũng vậy.

Trăng chỉ xuất hiện khi màn đêm xuống, ngài thì giấu mình sau rèm che.

- Tiên sinh giơ tay lên trời như muốn nắm lấy vầng trăng - Và cũng như trăng kia, nhìn cứ ngỡ gần ngay trước mắt nhưng lại thật ra xa tận chân trời, tôi vẫn nghĩ khi đã vào triều làm quan thì tôi với ngài gọi là đồng liêu, dù phẩm trật khác nhau, ít nhiều cũng ngang hàng... như Tân Gia vương với tôi, dù hai thế giới khác biệt, ít nhiều cũng bằng hữu...

Hai người thấy tôi rõ là đồ ngốc phải chứ?

Chu Tước đại nhân thở dài, lấy dũng cảm đứng lên.

Ánh mắt ngài nhìn theo bóng lưng người đồng liêu có gì đó nửa thương hại nửa ngưỡng mộ.

- Còn phải hỏi, ngài thực là đồ ngốc.

Vị học sĩ tiến đến gần Khuê Tước tiên sinh, với tay nắm chặt hai cánh tay buông thõng của người đồng liêu—người nhà mình.

Giọng ngài vang sự tức giận bức bối đã kiềm nén không biết bao lâu.

- Ba mươi ba năm làm Đại học sĩ phò trợ hoàng đế, phò trợ Khanh triều, học trò đã nghe quá nhàm những lời gièm pha của thiên hạ cho ngài rồi.

Từ những phỏng đoán ngài lợi dụng lòng bao dung của hoàng hậu để được tiến cử, đến những lời cáo buộc ngài ám sát Thái tử để tiếm ngôi, nghe những thứ bịa đặt đó mãi, ai mà không tức?

Nhưng ngài lại chấp nhận cả, ngài biết đó không phải sự thật mà!

Ngài cứ bảo ngài không xứng đáng, ngài cứ mặc kệ người đời nhìn ngài như tội nhân, ngài cứ mặc kệ những cố gắng của học trò cho ngài thấy ngài thực sự xứng đáng với chút thanh danh ngài có được bằng chính tay mình... chẳng lẽ, cả đời ngài chịu cúi đầu nhận lãnh nhơ danh vậy sao?

- Chu Nguyệt, bỏ tay ra khỏi tôi.

- Người đồng liêu ngài không quay lại, chỉ nhẹ nhàng nói.

- Sa Liên của ngài đang ở ngoài cửa, học trò muốn nó nghe những gì học trò muốn nói với ngài cũng như với nó.

- Chu Tước đại nhân nhỏ giọng, gần như thì thầm.

Khuê Tước tiên sinh cười gắt một hơi, hướng mắt ra cửa.

Người nhớ mười hai năm trước từng bảo Huyền Khôi giống Khuê Văn Chu Tước, anh tài thế kiệt của thời đại, nhưng nghĩ ra thì định mệnh lại cho người nhận ra mình mới giống Huyền Khôi—có tài nhưng không được trọng một khi đã không giống như mường tượng của thiên hạ.

- Tôi chưa từng hoài nghi ngài, Chu Nguyệt à.

Bốn mươi ba năm trên cõi đời, dẫu có sóng gió gì xảy ra tôi vẫn tin ngài.

Chỉ là... hai người xem tôi có làm được gì với thế nhân cười nhạo gièm pha tôi khi mà tôi còn không tin tưởng chính mình?

Khuê Văn Khổng Tước các người nhìn thấy không phải Khuê Văn Khổng Tước tôi nhìn thấy.

A Liên cũng thế thôi, chẳng khác gì tôi, Sa Liên trong mắt nó là một con người khác hẳn với Sa Liên trong mắt tôi với các người.

Tôi mặc kệ điều tiếng của thiên hạ bởi tôi có quan tâm thì cũng ích gì đâu?

Tức tối thay cho tôi chỉ uổng công các người thôi.

- Ngài lo cho mọi người còn hơn bản thân, đồ ngốc.

Nếu đã mặc kệ thiên hạ, nếu đã không tin tưởng mình tại sao lại tin tưởng học trò với Phú đại nhân?

- Dù sao tôi cũng nợ các người một mạng, vả lại tôi không đành nghi ngờ hai người mà tôi luôn xem như huynh đệ chi giao.

Chu Tước đại nhân thoáng chau mày, nhưng lại cúi đầu buông tay.

"Huynh đệ chi giao", bốn chữ ấy không phải nhẹ, nhưng ngài vẫn thấy tức trong lòng rằng niềm tin ấy lại mỏng manh hơn những gì người đồng liêu bảo.

Nếu đã tin tưởng huynh đệ chi giao của mình như vậy, sao người lại không tin vào tài năng chính mình?

Ở ngoài cửa, Sa Liên bất giác nắm chặt thiết trụ kình thiên.

"A Liên cũng thế thôi", mấy chữ ấy nghe như đâm thấu vào tim.

Hai sư đồ vì định mệnh mà tìm thấy nhau, tưởng rằng thật khác biệt, nhưng hóa ra lại không; một người chối bỏ quá khứ, một người chối bỏ hiện tại, chối bỏ chính mình, nhưng lại đặt niềm tin vào người khác, người mà họ xem như huynh đệ.

Sa Liên chối bỏ tài năng của mình, nhưng lại tin tưởng vào Nguyệt Sinh Liên đến độ giao cả mạng sống mình trên chiến trường cho; Khuê Văn Khổng Tước cũng chẳng khác gì.

Song Liên gật đầu với nhau rồi bước vào chào mọi người.

Phú thái y hỏi thăm đôi chút về tình hình của Thái tử, Sa Liên đáp rằng vẫn ổn, nhưng không dám kể lại chuyện Thái tử mời chén rượu Trung thu.

Đêm thu se lạnh dần.

Khuê Tước tiên sinh trở lại vào trong nơi từng là tư phòng mình, điểm qua từng món nội thất vẫn còn nguyên đó, không thay đổi một chút nào kể từ ngày người ra đi.

Thi Kỳ không dám xê dịch dù chỉ một thứ trong này.

Vì hoài niệm hay có lẽ vì một niềm mong người sẽ trở về, tiên sinh không biết.

Chăn màn vẫn gấp gọn trên giường, đã chín năm trời chưa từng được trải ra, lạnh lẽo thiếu hơi người.

Người cuối cùng cũng đã về đây, nhưng sao tư phòng lại cảm thấy thật xa lạ, cứ như đây không phải nơi mình từng sống mấy năm trời.

Trên tường vẫn treo bức tranh giấy đã vàng, phác họa một Khuê Văn Khổng Tước của ngày xưa.

Một Khuê Văn Khổng Tước thuở thiếu niên, dưới gốc điệp vàng trong vườn, lặng lẽ chép thơ, mê mẩn đến mức không hay biết có người đang vẽ mình.

- Người ta muốn bỏ đi bức hoạ này từ lâu lắm rồi, nhưng đến giờ vẫn không đành.

Bên góc bức tranh có một dòng thơ ngắn cùng một dấu ấn đỏ in tên họa sư.

Tuy nhiên ấn này là ấn triện của Đông cung thái tử.

- Trong mắt huynh, Tú Minh là người thế nào?

Khuê Tước tiên sinh thầm hỏi họa sư, dẫu trong lòng biết rõ đó chỉ là câu hỏi vu vơ, sẽ không bao giờ được nghe câu trả lời.
 
Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Hồi ba mươi sáu: Thuyền hồi xứ


Sau khi mọi người đã ra về, Nguyệt Sinh Liên theo lệnh sư gia hộ tống Khuê Tước tiên sinh về tư dinh của Khuê Văn gia, không xa Nội thành là bao.

Lễ hội trong và ngoài kinh thành trông vẫn còn náo nhiệt lắm, nhưng tiên sinh lại không thấy vui.

Đã bao mùa đoàn viên qua nhưng người vẫn lẻ loi như vậy.

Nguyệt Sinh Liên đi chậm lại một chút để bắt kịp bước chân lơ đãng của vị thư sinh, lo lắng ghé hỏi:

- Ngài không sao chứ?

Tiên sinh không đáp, nhưng một lúc sau, người nói, giọng khiêm tốn hơn hẳn trước kia:

- Thực tình, tôi không ghét Chu Tước đại nhân cậu đâu, ngược lại là đằng khác.

Ngài ấy không gì kém hơn một tài nhân lỗi lạc của thời đại.

Trong thời loạn này, trời cao lại ưu ái ban cho nhân gian một người thật kiệt xuất.

Tôi cảm phục ngài ấy còn không hết, nói gì đến ghét bỏ.

Nhưng tôi cũng phải thừa nhận mình đố kỵ ngài ấy nhiều.

Vị kiếm sĩ ngập ngừng, không biết vì sao Khuê Tước tiên sinh lại nói với mình điều này.

- Lúc Phú thái y hỏi có phải tôi ghét đại nhân nhà cậu đến độ ngài ấy chỉ dám đến nhìn mặt tôi khi tôi đang hấp hối, lúc đại nhân cậu mắng tôi đồ ngốc, cậu với Sa Liên đứng ngoài cửa nghe thấy cả, đúng chứ?

Nguyệt Sinh Liên cười trừ, đưa tay xoa đầu mình.

Dù sao thì đó cũng chỉ là tình cờ mà nghe được thôi.

- Tại hạ không nghĩ ngài ghét đại nhân nhà tại hạ.

Lúc Chu Tước đại nhân đến gặp ngài ở Kinh Xuân, ngài trông như vui trong lòng nhưng mà cố giấu vậy.

- Vị kiếm sĩ nhoẻn cười.

- Cậu có lẽ biết rồi, kể từ khoa thi cuối cùng tôi dự mười tám năm trước tôi chưa từng thấy mặt đại nhân nhà cậu.

Đúng ra thì tôi đã không đường đường chính chính gặp Chu Nguyệt từ thuở thiếu niên kia, có chút vui cũng dễ hiểu mà.

Đại nhân nhà cậu không ưa tiếp xúc với người ta, có lánh đi thì tôi cũng không lạ, nhưng mà... hôm nay tôi mới biết đó là để tránh mặt tôi.

Ba mươi năm trời, đại nhân nhà cậu—một người cao quý là vậy—chỉ dám nhìn tôi trước cổng thí trường... chỉ dám nhìn tôi trên giường hấp hối...

- Tiên sinh khép hờ đôi mi, giọng chùn xuống - Cậu có thấy tôi nhỏ nhen quá không Trường đại hiệp?

- Người mà ngài nhỏ nhen với nhất là chính ngài đấy.

- Nguyệt Sinh Liên khoanh tay vào tay áo cho ấm - Chuyện Chu Tước đại nhân trực bên cạnh ngài suốt ba tuần ngài mê man là thật, tại hạ ngày nào cũng đi chạy việc cho đại nhân mà.

Chuyện đại nhân nhà định tuẫn tiết tạ tội nếu ngài không qua khỏi cũng là thật.

Tin tại hạ hay không thì tùy ngài, tại hạ biết chắc ngài sẽ không tin, nhưng có lẽ ngài cũng hiểu cho nỗi lòng Chu Tước đại nhân.

- Tâm tư của thiên tài như Chu Nguyệt, kẻ hèn như tôi làm sao thấu được?

Cậu ở bên cạnh đại nhân nhà cậu còn lâu hơn khoảng thời gian tôi lớn lên cùng ngài ấy nhiều.

Nỗi lòng của người đó, nếu cậu không hiểu thì tôi lấy gì hiểu được?

Tư dinh của Khuê Văn gia lọt giữa một con ngõ khiêm tốn trong kinh thành, gần phố sầm uất nhưng được yên tĩnh.

Tổ tiên Khuê Văn gia theo chân tiên đế lên kinh, bỏ lại gia trang ở Mạc Hà rồi được ban cho tư dinh này sinh sống.

Dù lớn lên ở Nội thành vì có gia đình làm đại quan trong triều, Khuê Văn Chu Tước, Khuê Văn Khổng Tước cũng như nhiều thế hệ trước kia đã được sinh ra và nuôi dưỡng thuở ấu thơ tại dinh này.

Nguyệt Sinh Liên đẩy cổng mở, ngó vào nhìn quanh.

Thời gian gần đây do biến loạn cũng như đại án Đông cung, nhiều người trong gia tộc đã tản cư khỏi kinh thành để tránh bị liên lụy trong trường hợp triều đình kết án Khuê Văn thái phó tru di cửu tộc.

Với Khuê Văn gia tộc, Khuê Văn Khổng Tước là niềm hãnh diện cũng như vết nhơ ô nhục không thể xoá; người đầu tiên trong lịch sử gia tộc làm đến chức Thái phó, nhưng cũng là người đầu tiên bị buộc trọng tội—hành thích Thái tử.

Tư dinh này thế là bị bỏ trống, gia chủ thì cắt tóc xuất gia, để lại cơ ngơi cho thừa tôn Chu Tước tùy ý sử dụng.

- Có còn ai sống ở đây nữa sao?

- Khuê Tước tiên sinh dừng chân ở bậc cửa, hỏi.

- Chỉ có vài gia nhân cũ ở lại coi sóc nhà cửa thôi, đại nhân nhà bảo kế ước hết giá trị rồi, họ nên trở về với gia đình thôi, ngài sẽ trả một khoản hậu để họ làm tiền hưu, nhưng họ không chịu đi, còn đưa cả gia đình vào.

Họ nói với Chu Tước đại nhân họ muốn trông coi tư dinh này để nhỡ có chuyện gì xảy ra trong triều thì ngài vẫn còn nhà để về.

- Nguyệt Sinh Liên đáp, bước thẳng vào trong sân - Im ắng quá, chắc mọi người đi chơi hội chưa về.

Khuê Tước tiên sinh theo chân vị kiếm sĩ vào, đưa mắt nhìn quanh những hành lang lạnh tiếng với những mái ngói rêu phong, thấy trong lòng mình có gì đó nghèn nghẹn.

Cũng như Hưng Thánh điện, đây là nơi người từng gọi là nhà, nhưng thời gian và quãng đời phiêu du đã nhấn chìm những cảm giác quen thuộc vào trong dĩ vãng.

- Ngài còn nhớ ngày xưa mình ở căn nào trong dinh này không?

- Căn thứ hai bên phải hành lang phía đông.

- Khuê Tước tiên sinh chỉ tay sang bên trái, chân bước đi trong vô thức.

Người không còn nhận ra chốn quen xưa, nhưng bước chân người vẫn nhớ rõ nơi mình từng đi qua không biết bao lần.

Từ lúc tiên sinh cùng song thân rời kinh đi Tân Ô Lương chừng ba thập niên trước, có lẽ tư dinh gia tộc đã được trùng tu sửa sang nhiều.

Màu sơn xanh xanh trước cửa không còn nữa, cũng như chậu thiên tuế cạnh ngưỡng đã bị dẹp đi.

Người đẩy cửa vào, ngạc nhiên một thoáng khi thấy bên trong có ánh đèn.

- À phải rồi, cậu có nói Chu Nguyệt cho gia nhân cũ trong nhà dọn vào đây sinh sống.

Thôi để hỏi xem họ biết có phòng nào trống cho tôi ngủ nhờ được.

- Có chút thất vọng hiện lên trong giọng tiên sinh nói.

Nguyệt Sinh Liên bảo tiên sinh đứng ngoài chờ một lát rồi tự mình vào trong gian chính xem trong nhà có ai.

Vị kiếm sĩ bước vào phòng khách, đèn thắp sáng nhưng lại không có người, lớn tiếng gọi:

- Có ai ở nhà không?

- Có!

Có!

Đợi một chút, tôi bận!

- Ở gian trong có tiếng ai đó vọng ra cùng tiếng trẻ con khóc.

Một lúc sau, có người đàn ông chừng mới tam tuần cười cười chạy ra, đầu tóc rối bùi trông khá mệt mỏi.

Anh nhận ra Nguyệt Sinh Liên, mừng rỡ chào hỏi vì bấy lâu không gặp mặt.

Chu Tước đại nhân giấu mình trong Đại học viện đã nhiều năm chưa về thăm nhà dù tư dinh Khuê Văn gia cách Nội thành không xa lắm, nhưng Nguyệt Sinh Liên thi thoảng thay ngài về hỏi thăm mọi người.

Anh mời người quen ngồi trà dư tửu hậu một lát, nhưng vị kiếm sĩ từ chối khéo.

- Hiếu tỷ sinh con rồi à?

Chúc mừng cho nhà huynh nhé.

- Nghe thấy tiếng trẻ con khóc ở gian trong vừa nãy cùng với bộ dáng xốc xếch của anh kia, Nguyệt Sinh Liên cười, chắp tay mừng.

- Vui nhưng mà mệt lắm.

Cậu mới thấy đó.

- Anh sửa sang lại áo xống đầu tóc, cũng cười theo - Đại nhân nhà vẫn khỏe chứ?

- Vâng, vẫn khoẻ, chỉ tội ngài bận bịu nhiều thứ.

- Làm Nhiếp chính đại thần đâu có dễ dàng gì, nhưng cả thế gian chỉ có Nguyệt đại nhân mới đủ tài gánh nổi thôi, chắc cậu cũng thấy vậy.

À mà, hôm nay cậu chỉ tới thăm thôi sao?

Những người kia đi chơi hội Trung thu vẫn chưa về đâu.

- Thôi không giấu huynh, Nguyệt mỗ đến hỏi xem huynh có thể cho một vị khách ở nhờ một thời gian không.

- Nguyệt Sinh Liên thoáng nhìn ra cửa.

- Không sao, nhà này không thiếu phòng trống, chỉ mong người ấy không phiền có trẻ con hay khóc đêm.

- Anh cười trừ, chỉ vào gian trong.

Nguyệt Sinh Liên lùi vài bước rồi gọi vọng ra cửa:

- Ngài không phiền có trẻ con khóc đêm chứ?

Rồi có tiếng Khuê Tước tiên sinh bên cửa đáp lại:

- Tôi không phiền.

Dù sao tôi cũng không lạ gì chuyện đó.

Tiên sinh lặng lẽ bước ra ánh sáng nhưng không vào trong nhà, đợi gia chủ hiện tại mở lời mời.

Nguyệt Sinh Liên cười hắt một hơi, với tay kéo vị thư sinh thẳng vào phòng khách gặp anh chủ.

"Ngài cứ làm như người dưng lạ lùng ở nhà mình vậy sao?

Cứ tự nhiên mà vào thôi."

Vị kiếm sĩ đùa.

- Đây có phải là nhà tôi nữa đâu mà cậu bảo tôi tự nhiên vào?

- Khuê Tước tiên sinh chau mày gắt lại.

- Kính chào khách gia.

- Anh chủ chắp tay cúi đầu chào khi Nguyệt Sinh Liên kéo vị thư sinh vào.

Tiên sinh ngập ngừng một thoáng không biết phải làm gì, nhưng rồi cũng chắp tay đáp lại:

- Tôi Khuê Tước, học trò.

Mong mọi người không phiền tôi ở nhờ vài hôm.

- Sao nghe tên ngài cứ thấy... quen quen?

Nguyệt Sinh Liên nửa nghịch ngợm đến nói nhỏ vào tai anh chủ:

- Phòng hờ huynh không nhận ra, "Khuê Tước" ở đây là ngắn gọn của "Khuê Văn Khổng Tước".

Anh chủ đột nhiên mắt sáng bừng, anh reo lên, làm tiên sinh không khỏi bối rối.

Người cứ đứng đó như trời trồng, không hiểu vì sao anh chủ lại mừng đến vậy.

Anh nhìn sang Nguyệt Sinh Liên, hỏi lại cho rõ:

- Có thật không?

Cậu không đùa huynh chứ?

- Không đùa đâu, đảm bảo đó.

- Vị kiếm sĩ gật đầu chắc nịch.

Anh chủ quay sang vị thư sinh áo bạc màu, mắt rưng rưng.

Anh đưa tay lau vội nước mắt rồi chắp tay chào lại cho đúng lệ.

- Tôi tên Tạ Tất Bình, cháu ngoại của Kiều Tất Thiên.

- Kiều Tất Thiên...

- Tiên sinh cố lục lọi trí nhớ ấu thơ của mình xem có cái tên đó không - Bác Thiên gác cửa?

- Vâng.

Cụ ông lúc sinh thời từng làm gác cửa ở dinh, rể của cụ, cha tôi, cũng theo nghề đó.

Khi gia chủ xuất gia để lại dinh thự này cho Nguyệt đại nhân, ngài bảo kế ước hết giá trị rồi, mọi người nên về với gia đình đi, nhưng phụ mẫu tôi cũng như những gia nhân khác quyết định mang cả gia đình vào đây sống để trông coi dinh cho ngài.

- Ừ vừa nãy tôi có nghe kể y hệt vậy.

- Tiên sinh ghé mắt qua vị kiếm sĩ đang cười trừ đáp lại.

- Nguyệt đại nhân cho gia đình tôi sống ở căn này, dặn là cố giữ gìn nó...

đợi công tử về.

Khuê Tước tiên sinh không biết phải trả lời ra sao.

Ba mươi năm phiêu lưu viễn xứ, người cứ ngỡ ở cố gia không còn ai nhớ đến mình nữa.

Sống không ai biết, chết không ai hay, ấy thường là phận những kẻ lãng du như Khuê Văn Khổng Tước.

Người tháo tay nải đặt xuống trường kỷ, chỉ hỏi xin một căn phòng trống ngủ tạm, không cần gì hơn là một góc tường để gối đầu.

Anh chủ rối rít ngăn, bảo làm sao anh làm vậy với khách được, vả lại vợ anh nếu biết được nếu anh tiếp đón công tử sơ sài sẽ không để anh yên.

- Tiểu ca à, tôi không có ở lại đây lâu đâu, một khi tôi hay được tin tức tôi cần là tôi đi ngay.

Đối xử với tôi như khách hay chủ không quan trọng, miễn tôi có chỗ đến đêm chợp mắt là tốt rồi.

Tiên sinh nói, quay lưng giấu đi biểu cảm.

Anh chủ Tất Bình cũng như Nguyệt Sinh Liên không biết được sau những lời ấy là sự lãnh đạm vì nhiều năm gian truân hay sự cay đắng tự hận.

Vị kiếm sĩ đặt tay lên vai anh chủ nhà, nhủ nhỏ vào tai anh:

- Huynh cứ bảo trên lầu có phòng trống ngài ấy có thể ở lại.

- Để công tử ngủ ở trên kia bụi bặm bẩn thỉu vậy sao được!

- Anh chủ khẽ đáp lại.

- Dọn dẹp chút là được thôi, huynh đừng có lo quá.

Tư phòng ngài ấy trong Thái phó phủ cũng không cao sang hơn căn nhà này mấy đâu.

- Nguyệt Sinh Liên vỗ vỗ vai anh chủ.

Tất Bình lắc đầu.

"Được rồi", anh nói với Nguyệt Sinh Liên.

Tay khoanh trong áo, anh đến trước mặt Khuê Tước tiên sinh, lễ độ mời:

- Trên lầu có phòng trống đã lâu ngày không ai ở, để vợ chồng tôi dọn dẹp lại cho công tử, mong công tử không chê.

Tiên sinh không đáp lại ngay, chỉ nhặt lấy tay nải mình lên rồi đi một mạch thẳng hướng cầu thang.

- Anh với Chu Nguyệt cứ khách khí quá, tôi không ưa.

- Người ngừng bước một khắc trên cầu thang, nói bâng quơ.

Khi đã thấy khuất bóng vị thư sinh, Tất Bình kéo tay Nguyệt Sinh Liên, trông bối rối vô cùng.

Vị kiếm sĩ chỉ cười, cứ như thể mọi thứ đã nằm trong tính toán.

- Kế bên nhà chính có khách phòng đàng hoàng, sao cậu lại bảo huynh mời công tử lên trên lầu?

- Tại huynh không biết thôi, căn phòng cũ trên đó là của ngài ấy hồi nhỏ.

Bụi bặm bẩn thỉu gì thì vẫn là căn phòng ngài ấy từng lớn lên, tất nhiên ngài ấy sẽ nhận lời.

- Nguyệt Sinh Liên cười, chỉ tay lên tầng.

Chỉ dăm tuần sau đó, có một đoàn sứ thần xuất hiện ở kinh thành.

Trông y phục và sứ thần kỳ thì có lẽ là từ Tân Gia.

Đoàn đi không long trọng nhưng nhìn đám hộ vệ quanh xe vị chánh sứ cũng đoán được người này quan trọng lắm.

Họ dừng lại trước đại môn Nội thành, thông báo cho lính gác biết có Tân Gia sứ thần đến dâng cống phẩm thường niên.

Tân Lễ bộ thượng thư nhanh chóng hay tin và vội vàng triệu tập quan viên ra tiếp đón.

Lính gác được lệnh hộ tống đoàn sứ vào cung, và vị Lễ bộ thượng thư mới nhậm chức đến trước xe chánh sứ cung kính cúi chào.

- Các vị đến đột ngột quá, triều đình không có thời gian tiếp đón chu đáo đúng lễ, xin chánh sứ đại nhân bỏ qua.

- Không sao.

- Có giọng nữ nhân từ trong xe nói vọng ra.

- Chánh sứ đại nhân, nếu hạ quan không quá thất lễ...

Thường thì Tân Gia mang cống phẩm sang vào tháng Chạp, trước năm mới.

Các vị năm nay đến sớm quá, làm hạ quan không chuẩn bị kịp lễ nghi.

Vị chánh sứ vén màn bước xuống.

Tân Gia sứ thần này là một nữ nhân cốt cách vương giả, có lẽ là vương thân quốc thích bên ấy.

Những năm trước kia, sứ thần được gửi sang chỉ là sĩ phu, nhưng năm nay họ gửi người của vương tộc sang, có lẽ có đại sự.

- Thiên văn quan sợ thời tiết tháng Chạp năm nay xấu, nên đã tấu lên nhiếp chính vương điện hạ nên dâng cống phẩm sang sớm.

Thứ lỗi cho Tân Gia không báo trước.

- Vị chánh sứ nói, đưa mắt nhìn một lượt các quan viên.

Nàng khẽ chau mày, không thấy người mình muốn tìm ở đây.

Quan viên Lễ bộ sắp xếp vội cho đoàn sứ một khách phủ trong Nội thành, và họ được phép đi lại tự do cho đến khi có lệnh triệu kiến vào buổi thiết triều tới.

Chiều tối đó, sau bữa cơm no bụng, vị chánh sứ đột nhiên hỏi cung nhân được phái đến hầu mình rằng phủ của Khuê Văn đại nhân ở đâu.

- Chánh sứ đại nhân... thứ tội cho nô tài, nhưng mà... nô tài không biết.

Cái sự lúng túng đó không qua khỏi con mắt bén nhạy của vị chánh sứ.

- Khuê Văn đại nhân với ta là cố nhân thân quen, ta chỉ muốn đến chào hỏi ngài ấy một tiếng cho đúng lễ.

- Vị chánh sứ nói.

- Thưa ngài... nô tài... không biết có nên...

- Cung nhân tội nghiệp ngập ngừng tâu.

- Ta nói dối làm gì chứ?

Ngài ấy một thời đi học cùng a tỷ ta, song thân ta cũng xem ngài ấy như con cháu trong nhà, ta muốn gặp ngài ấy trà tửu một lát cũng không được sao?

Biết không thoái thác được, cung nhân kia đành đợi sau bữa tối khi Chu Tước đại nhân có chút thời gian rảnh rỗi thì dẫn Tân Gia chánh sứ đến diện kiến ngài.

Vị chánh sứ yêu cầu được đợi một mình trong khách phòng, và cung nhân kia y lệnh, đi báo cho Nguyệt Sinh Liên biết là đại nhân có khách.

- Khuê Văn đại nhân sẽ đến ngay đây ạ.

- Cung nhân hầu Tân Gia chánh sứ tâu rồi vội vã rút lui.

Chu Tước đại nhân vừa bước ra, vị chánh sứ đã chau mày, thốt lên chỉ mấy chữ:

- Không phải người này.

Chu Tước đại nhân chỉ cười, ngồi xuống bên trường kỷ.

Ngài bảo Nguyệt Sinh Liên đi pha chút trà mời khách, còn mình thì khoanh tay cúi đầu chào vị Tân Gia chánh sứ.

- Hạ quan đợi Trưởng công chúa điện hạ đã lâu rồi.

- Ngươi... sao biết...

- Vị Tân Gia chánh sứ không biết phải đáp lại thế nào - Ngươi không phải Khuê Văn đại nhân.

- Công chúa không đến nhầm chỗ đâu, học trò thực là Khuê Văn thị, chỉ là... không phải "Khuê Văn đại nhân" mà công chúa muốn tìm.

Người ấy, Khuê Văn đại nhân mà từng đi sứ Tân Gia mười mấy năm trước, là biểu tỷ muội của học trò.

Thật tiếc là trong những năm qua có nhiều chuyện đã xảy ra khiến ngài ấy không còn ở triều đình, công chúa có hỏi tất cả bá quan cũng không ai đưa công chúa đến gặp ngài ấy được đâu.

- Vậy bổn cung phải làm sao?

A Hà tỷ đang đợi...

- Tân Gia chánh sứ thất thần nhìn vị học sĩ.

Chu Tước đại nhân cười nhẹ nhàng trấn an, đón lấy ấm trà nóng Nguyệt Sinh Liên vừa mang vào.

Ngài rót ra một chén, dâng hai tay cung kính mời.

- Công chúa lặn lội đường xa ngàn dặm đến đây đã mệt, không việc gì phải vội.

Người mà công chúa muốn tìm cũng đang đợi tin từ người đấy.

- Khuê Văn đại nhân... người kia kìa, không phải ngươi, đang ở đâu?

- Vị chánh sứ trông đã thấy sốt ruột lắm rồi.

- Công chúa uống hết chén trà rồi đi vẫn chưa muộn.

Người ấy đang ở trong kinh thành này thôi, ra khỏi Nội thành là gặp được ngay.

Như đúng đã hứa, sau khi vị Tân Gia chánh sứ uống cạn chén trà ngài mời, Chu Tước đại nhân đứng dậy, triệu đệ tử mình đến rồi bảo sắp xếp xe ngựa cho công chúa cũng như mang cho ngài tấm áo khoác ngoài.

"Đại nhân cũng đi theo sao?"

Nguyệt Sinh Liên thấy thế thì ngạc nhiên, biết đại nhân nhà mình thường không thích ra khỏi Nội thành.

"Ta chỉ không muốn ngài ấy lại nghĩ ta cố tránh mặt ngài ấy", Chu Tước đại nhân cười trừ, thoáng nhớ đến chuyện hôm kia.

Đêm thu nay không trăng, những con ngõ trong kinh thành trông tối tăm hơn thường.

Chu Tước đại nhân tháp tùng Tân Gia chánh sứ trên một xe ngựa nhỏ, đi từ cửa tây Nội thành, luồn lách qua phố đông thưa đủ loại rồi ngừng chân trước cổng một biệt phủ.

- Đến rồi ạ.

- Nguyệt Sinh Liên vén màn cửa xe thông báo.

Chu Tước đại nhân xuống trước dẫn đường.

Tư dinh này trông vẫn bề thế, tỏ rõ uy thế và sự danh giá của Khuê Văn gia từ bao đời qua, nhưng bên trong chẳng còn gì là dinh tộc Khuê Văn của ngày xưa.

Tuy nhiên Chu Tước đại nhân lại thấy không gian nay ấm cúng hơn xưa nhiều, bởi sống ở đây là những người luôn thương yêu quý mến ngài; năm xưa họ chỉ là gia nhân, nhưng vì thời thế đẩy đưa, họ đến thành gia đình của ngài.

Dẫu trong triều có rối ren, dẫu loạn lạc có tước đi tất cả những gì ngài có, đây vẫn là nơi ngài luôn có thể trở về.

- Nguyệt đại nhân!

Nguyệt đại nhân kìa!

Vài đứa bé đang chơi trong sân reo lên rồi chạy lại khi thấy Chu Tước đại nhân bước vào.

- Nguyệt đại nhân!

Hôm kia có người lạ vào nhà chú Tất Bình!

- Một đứa nói.

- Người lạ nào?

- Chu Tước đại nhân hỏi.

- Con không biết, người đó nhìn khó chịu lắm.

Cô Hiếu không ưa.

- Người mà hay mặc áo màu xanh cũ cũ?

- Nguyệt Sinh Liên thò vào hỏi.

- Vâng!

- Còn ai vào đây nữa!

- Vị kiếm sĩ bật cười - Ngài ấy trên đời chỉ dễ chịu với mỗi đám học trò ngài.

- Đừng sợ, người đó không xấu đâu.

Ngài ấy là khách của chú Tất Bình.

- Chu Tước đại nhân đưa tay xoa đầu đám trẻ - Vào trong nhà chơi đi nào, ta phải dẫn vị khách đi gặp ngài ấy có chuyện.

Sau khi bọn trẻ chạy hết về nhà, Chu Tước đại nhân mời Tân Gia chánh sứ đi theo qua hành lang phía đông, đến căn nhà quen thuộc mà bây giờ gia đình Tạ Tất Bình sống.

Nguyệt Sinh Liên vào trong trước thông báo có Chu Tước đại nhân và khách đến thăm.

Đứng trước cửa nhìn lên lầu sáng đèn, ngài có thể thoáng thấy người đồng liêu tay tựa bên ban công nhìn xuống xem có chuyện gì.

Dù sáu tuần nương náu ở cổ gia trang cũng như đến Diệp Lâm diện kiến những con mắt tinh tường nhất trong giang hồ cùng nhau, Khuê Văn Chu Tước vẫn hiếm khi mặt đối mặt với người đồng liêu.

Không phải ngài e sợ mà không dám, chỉ là... ngài không muốn thấy ánh mắt người ấy lại nhìn ngài với nỗi tự hận nhục nhã âm ỉ trong lòng.

Cũng ánh mắt quen thuộc in hằn bao mặc cảm đó bây giờ đang nhìn xuống hình dáng bé nhỏ của ngài từ trên lầu kia.

Vừa thấy bóng người đồng liêu, Khuê Tước tiên sinh vụt chạy vào trong phòng, khoác vội tấm áo ngoài rồi dọn dẹp tư trang vào tay nải.

Chu Tước đến, tức là có tin.

Mà có tin, hẳn là cố nhân đang chờ.

Tiên sinh nhanh chóng xuống lầu, và dự đoán đó đã được xác thực: bên hiên nhà có bóng quý muội của người bằng hữu.

Tất Bình đang bế con ru ngủ, lặng lẽ lùi vào gian trong để các vị khách có chút không gian đàm đạo.

Đến lúc công tử phải đi rồi, anh thấy có chút tiếc nuối dù rằng anh biết người chỉ náu tạm mà đợi đến lúc này thôi.

Khuê Tước tiên sinh còn nhiều thứ để làm và nhiều nơi để đi lắm.

- Tân Gia trưởng công chúa đến tìm ngài đấy.

- Chu Tước đại nhân chắp tay, cười chào - Có vẻ như ngài đã sẵn sàng mọi thứ rồi.

Tiên sinh khoác tay nải lên vai, bước thẳng về phía cửa.

Nhưng giữa đường người đột nhiên dừng bước rồi quay lại vào trong nhà.

Người đến gian trong nơi gia đình Tất Bình đang quây quần, sắp xếp giường gối chuẩn bị đi ngủ.

Tiên sinh phủi áo cho gọn gàng, hai tay vòng trong tay áo, đầu hơi cúi về phía hai vợ chồng.

- Tôi làm phiền hai người đã nhiều.

Phòng trên lầu hai người cho tôi ở lại thế nào tôi để nguyên trạng thế ấy, giờ tôi phải đi ngay.

- Công tử...

đi ngay lúc này?

- Tất Bình đưa mắt nhìn tay nải khoác trên vai tiên sinh.

- Đi ngay lúc này.

- Tiên sinh gật đầu - Người ta đang đợi, tôi phải đến đó càng sớm càng tốt.

Rồi tiên sinh vụt quay đi, không để Tất Bình kịp chúc câu "bảo trọng".

Người đi thẳng ra cửa, đầu cúi gập, tay chắp ngang ngực thi lễ với vị Tân Gia chánh sứ.

- Khấu kiến công chúa, đã lâu không gặp.

- Ngài trông gầy đi nhiều quá, Khuê Văn đại nhân.

Triều đình này không phải bắt ngài lao lực mười lăm năm qua đó chứ?

- Tân Gia chánh sứ ngước nhìn vị thư sinh.

Khuê Tước tiên sinh lắc đầu, rồi vội hỏi ngay vương gia đang ở đâu để người còn đến kịp hẹn.

Trước khi vị chánh sứ kịp trả lời, Chu Tước đại nhân đã đáp:

- Vương gia đang đợi ở bến Khảm Thuỷ, và học trò đã sai Tiểu Liên đi báo cho đệ tử ngài hay rồi.

Bây giờ có lẽ nó cũng đang đợi ngài ở đó.

Thấy người đồng liêu vẫn chu đáo như vậy, Khuê Tước tiên sinh không biết phải đáp lại thế nào.

Vị đắng trong cổ từ bao năm qua chưa nguôi được, nhưng người cũng phải thừa nhận nếu không có thiên nhãn của người đồng liêu thì mọi chuyện đã phức tạp hơn rất nhiều.

Thi thoảng người lại cảm kích thượng đế đã ban một anh tài thiên sinh thế này cho Khuê Văn gia, cho Hoa Nữ quốc, nhưng cũng hận chính may mắn đó đã sinh ra mình cùng lúc với y.

Tiên sinh chỉ khẽ cúi đầu, thì thầm lời cảm ơn mà người không muốn Chu Tước đại nhân nghe được: "Phú quý trong đời tôi đều nhờ tay ngài đưa đến, nếu không có Chu Nguyệt thì Tú Minh cũng muôn kiếp không mong có ngày hôm nay."

- Việc ở kinh thành nhờ cả vào ngài.

Khuê Tước tiên sinh chắp tay hướng về người đồng liêu mà nói câu tiễn biệt, rồi lại nhắn thêm:

- Lúc tôi không có ở đây, ngài có thể đưa tin cho nguyên soái ở tây bắc hỏi mượn An Viên và biệt quân của nó không?

Bảo nó đợi ở Tây Đô chờ tôi xong việc ở Thanh Trạch về sẽ bàn tiếp.

Nhanh thì tháng sau tôi về, chậm thì tháng tới.

- Tất nhiên rồi.

- Chu Tước đại nhân vẫn cười dịu dàng, tay lần trong áo rồi lấy ra thứ gì đó ấn vào tay người đồng liêu - Cái này cho ngài đi đường hộ thân.

Khuê Tước tiên sinh ghé mắt xuống thứ mình đang cầm, là đoản kiếm vỏ gỗ đào mà người đồng liêu mang theo trong trận Kinh Xuân.

Giắt kiếm vào thắt lưng, tiên sinh quay đi, lần bước ra bến cảng cửa bắc; đằng sau lưng, Chu Tước đại nhân chắp tay nhìn theo, trong mắt có gì đó vương nhiều hoài niệm.

Rồi ngài cùng với đệ tử mình hộ tống Tân Gia chánh sứ về cung trong khi Khuê Tước tiên sinh theo lời ngài đi tìm bằng hữu.

Bến Khảm Thuỷ không thường bận rộn bằng Hạ Xuyên ở cửa sông, nhưng vẫn đông thuyền bè ra vào.

Bây giờ đã tối, trên bến chỉ có lao phu khuân hàng lên tàu buôn và dăm quản đốc kiểm tra công việc.

Tuy nhiên, trên boong tàu kia có ai đó tựa vào lan can, ngước mắt nhìn tinh tú lấp lánh trời cao, tay nâng chén rượu nhấp môi.

Tiên sinh khẽ bước lên cầu tàu, đoán rằng đây là điểm hẹn.

Và đúng vậy, người khách kia là phế vương nam quốc, người bằng hữu mà năm xưa tiên sinh liều mạng chạy thoát cùng trong cuộc đảo chính.

- Đêm nay sao sáng, ra khơi hẳn tuyệt.

- Vương gia chìa bầu rượu cho người bằng hữu.

- Ngài định tuyến thế nào?

- Khuê Tước tiên sinh đón lấy rượu được mời.

- Dừng ở Hạ Xuyên tiếp thêm lương thực các thứ cùng số thủy thủ còn lại rồi thẳng hướng Nam cảng để tránh bị chú ý.

Sẽ có người đón chúng ta ở đó.

Rồi chúng ta đi gặp đường đệ của ta bàn kế hoạch.

- Trung thần của vương gia chu đáo thật.

- Nói "chu đáo" thì còn khiêm tốn đó.

Mười lăm năm nay nó không ngừng chuẩn bị chỉ để đợi ngày này.

- Vương gia cúi đầu, nghĩ về cái ngày định mệnh - Nhưng nếu không có người, có lẽ mười lăm năm nay ta cũng chẳng có ngày để mà đợi.

Những tiếng la hét thất thanh, những hơi thở hổn hển, mùi khói ám trên áo cùng mùi máu tanh trải khắp vương cung ngày ấy xộc vào tâm trí ngài.

Oán thù mười mấy năm qua ngài mang không chỉ cho chính mình mà còn cho những quan thần, cho những cung nhân, cho những người vô tội bỏ mạng trong đêm biến loạn.

Khuê Tước tiên sinh hiểu rõ huyết hận âm ỉ trong lòng người bằng hữu hơn ai hết, vì nếu còn ai trên đời cũng nung nấu mối hận như thế, thì đó là đứa học trò bé nhỏ của người.

- Lúc nãy đệ tử người có tới.

- Vương gia nói.

- Không định mang nó theo, nhưng Chu Nguyệt dặn nó đến gặp vương gia trước, có lẽ y thấy trước được là chúng ta sẽ cần nó.

- Tiên sinh đáp - Cần vào việc gì thì lúc này ai mà biết được.

- Có lúc không cần còn hơn cần mà không có.

- Vương gia bật cười, nhấc chén rượu trong tay về phía người bằng hữu - Chúc nhau may mắn chuyến hồi hương nào.

Và người bằng hữu ngài cũng nâng bầu rượu sang chạm chén.

Cầu tàu được rút lên, buồm được thả ra đón gió, rồi mỏ neo cũng được kéo lên.

Tàu trôi nhẹ nhàng theo dòng nước thẳng về Hạ Xuyên ở hạ lưu.

Mười lăm năm viễn xứ, cuối cùng Tân Gia vương cũng được cơ hội hồi xứ.
 
Back
Top Bottom