Cập nhật mới

Khác Cấm Thành quan trường ký - Thi Kỳ kỳ án

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
65273049-256-k311080.jpg

Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Tác giả: Annatoire
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Cấm Thành, đây kinh đô Hoa Nữ quốc, vốn chốn phồn hoa đô hội nhân tài không thiếu nhân sắc luôn dư, vậy mà thời nay khó giữ nổi chân kẻ hiền sĩ.

Tiên đế Hoa Nữ quốc băng hà, Thái tử nhỏ tuổi chưa thể trị vì, Trưởng công chúa trên ngai cao rủ rèm nhiếp chính, bá quan khấu dưới lăm le tiếm ngôi.

Giữa chốn quan trường bão tố đó, mấy ai dám thề giữ tiết thanh cao?

"Cấm Thành tứ phượng hoàng" từ ngày đó đã tan tác, "Hưng Thánh ngũ tinh tú" cũng chỉ là dĩ vãng, bây giờ trong kinh đô rộng lớn này còn lại ai có thể cho Thái tử nhờ tay tẩy thanh chốn quan trường?

An Tịnh công Thi Kỳ, học trò cuối cùng của Thái phó đời trước, bước khỏi bốn bức tường thư phòng với hy vọng và ước muốn chấn hưng vương quốc, nhưng số phận lại đưa đẩy người dính vào cuộc tranh đua quyền lực, vào những vòng xoáy tham vọng, vào những cuộc nổi loạn và chiến tranh khốc liệt.

Chỉ còn một mình giữa muôn trùng nguy khốn, làm sao Thi Kỳ có thể sống sót để mang bí ẩn, những âm mưu sâu thẳm trong Nội thành, ra ngoài ánh sáng?

Trong lúc đó, ở miền biên giới vạn dặm cách xa Cấm Thành phồn hoa yên bình, giông tố đang dần kéo đến.

Và để cứu lấy sự thái bình cho thiên hạ, những anh tài mà tên tuổi họ đã thành nên bao huyền thoại bước ra khỏi bóng tối lịch sử, trở về chứng kiến bình minh của một thời loạn lạc mới.

*"Võ hiệp là chính, kỳ án để phụ thôi!"

- Tác giả



áđông​
 
Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Lời đầu


Những lời này trước hết tôi cảm tạ đến những bằng hữu cho tôi cảm hứng viết nên truyện này.

Cảm tạ những nguyên mẫu đã cho tôi cảm hứng viết nên những huyền thoại, dù bất tử hay bị lãng quên.

Lời thứ hai gửi đến những bằng hữu của tôi là lời tạ từ.

Tôi đi xa lắm người ơi

Chơi vơi nơi tận chân trời xa xăm

Biển ngăn cách những tháng năm

Làm sao biết được ngày nao tôi về?

Tôi đi không dám hẹn ngày trở lại, chân bước đi chẳng nỡ quay đầu.

Nếu sau này tôi hoặc một trong số những bằng hữu có thành danh, hẹn trở về một ngày chung vui.

___________________________

Cuối cùng, cảm ơn Sherline Holmes, đã theo cùng tác giả suốt từng ấy năm trên những trang giấy; cảm ơn Hortense de Beaudelaire, đã giữ tâm hồn của tác giả thanh khiết và thanh cao; cảm ơn Anaivere Plantagenet, đã trở thành một "huyền thoại lãng quên", và đưa tác giả thoát khỏi bóng tối của sự vô danh.

Lastly, a deep thank to Sherline Holmes, having been following the Author for these years; a honest thank to Hortense de Beaudelaire, having been keeping the Author's soul pure and noble; a respectful thank to Anaivere Plantagenet, having been becoming a forgotten legend, and bringing the Author out of the darkness of anonymity.
 
Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Hồi thứ nhất: An Tịnh công


Cấm Thành, kinh đô Hoa Nữ quốc, chốn phồn hoa đô hội thu hút thương gia từ tứ phương và sĩ tử bát hướng đổ về hòng thay đổi cuộc đời.

Và sâu trong bản thân Cấm Thành cũng đang có những thay đổi đen tối.

Triều chính đã loạn từ khi Hoàng đế băng hà, và thái tử còn quá nhỏ tuổi.

Trưởng công chúa Tử Hương thay quyền nhiếp chính, tuy nhiên chỉ có thể tạm yên.

Quan trường bất ổn, đến cả Tể tướng cũng chẳng thể giúp được gì hơn.

Cuộc chiến tranh quyền đoạt vị xảy ra liên miên, đến nỗi mỗi buổi thiết triều đều nặng nề khi Lục bộ đàn hặc lẫn nhau, và lộng quyền át cả thái tử; đến nỗi trong Nội thành đâu đâu cũng có thể cảm thấy âu lo và có gì đó đáng sợ.

Có một nơi trong Nội thành được biết đến như là chốn bình yên duy nhất, gọi là điện Hưng Thánh, nằm ở phía tây Nội thành.

Vườn hoa bao quanh vọng nguyệt đài giữa hồ nước xanh trong vắt và thường nghe tiếng tam thập lục đâu đó dịu mát thay lòng người.

Điện Hưng Thánh đây thường gọi là "thái phó phủ", và nơi này cũng là chỗ ở của vị thái phó đương triều, An Tịnh công Thi Kỳ.

Do hiếm khi rời phủ và dành hầu hết thời gian cho văn chương nhạc họa, có lẽ An Tịnh công là người duy nhất trong Nội điện không hề quan tâm gì tới chốn quan trường.

Tuy nhiên, lần này thì khác.

Mưu đồ tranh quyền đoạt vị của các quan đầu triều đã khuấy đảo từ trong nội bộ Nội thành.

Nếu như thường lệ, An Tịnh công sẽ chỉ ngồi yên trong thư phòng uống trà làm thơ rồi đọc sách; tuy nhiên, lần này lại khác.

Lần đầu tiên trong nhiều năm, chư quan thấy bóng dáng An Tịnh công Thi Kỳ, người thậm chí được đồn là đã chết từ lâu vì sự vắng mặt trường kỳ trong Nội thành và những buổi thiết triều.

Chư quan thường đồn rằng nếu Thi Kỳ ra mặt, ắt phải có sóng gió.

Quả thật, hẳn phải có điều gì đại trọng lắm mới kéo được An Tịnh công khỏi điện Hưng Thánh.

Buổi thiết triều hôm đó, Thái tử trên long ngai, Trưởng công chúa nhiếp chính sau tấm rèm thấy bóng dáng Thi Kỳ cũng phải ngạc nhiên.

- Điều gì đã khiến ái khanh dự thiết triều hôm nay vậy?

- Trưởng công chúa tò mò hỏi.

Các quan bắt đầu kháo nhau về những lý do có sự xuất hiện của An Tịnh công, hầu hết là e sợ.

Bởi, một khi An Tịnh công đã can dự triều chính, ắt chẳng phải chuyện đùa.

Người như Thi Kỳ, mua chuộc cũng khó, trừ khử cũng chẳng xong.

- Bẩm công chúa, hạ thần xin phép được về quê.

- An Tịnh công khoanh tay tấu.

- Tại sao ái khanh lại đột ngột xin về quê?

Đến khi nào mới trở lại?

- Thưa, chẳng là có chút chuyện ở quê nhà, chỉ dám xin công chúa ba tuần trăng về thu xếp rồi lại về kinh.

Trưởng công chúa nghe vậy cũng thiết nghĩ chẳng có gì to tát, chuẩn tấu ngay.

Nhưng chư quan lại trông có điều lo sợ.

Trừ Trưởng công chúa, thái tử và một số vị quan đầu triều, An Tịnh công không nể một ai.

Nếu để An Tịnh công về quê dễ dàng vậy, thể nào cũng có sóng gió trên đường.

Tuy nhiên sóng gió đó không đổ vào An Tịnh công, mà đổ vào các quan.

Ai biết An Tịnh công sẽ tìm thấy điều đen tối gì, quan trường phức tạp và rộng lớn lắm.

Chớm sáng ngày sau, thượng thư Lục bộ, trừ bộ Lễ, bắt gặp An Tịnh công Thi Kỳ trước chính điện, xách tay nải và tất nhiên không thiếu cây quạt giấy trên tay.

- Cáo từ các vị.

- An Tịnh công chỉ cúi đầu chào một tiếng rồi quay đi.

Làm sao các vị thượng thư để cho An Tịnh công rời Cấm Thành dễ dàng như để An Tịnh công bình yên trong điện Hưng Thánh?

Âm mưu bí mật từ xa rất có thể sẽ vỡ lỡ, trừ phi khử ngay An Tịnh công lúc này.

Nhưng mà, đến giờ chưa có vụ trừ khử nào thành công cả, và cũng chẳng kẻ nào dám lánh gần đến quân sư phủ; giả như có thành công đi nữa, vụ ám sát An Tịnh công cũng chẳng thể giấu diếm được lâu.

Họ sao đành thấy An Tịnh công thong thả bước ra khỏi Nội thành như vậy?

Tuy nhiên, các vị chỉ có thể dõi theo giọng ngâm thơ của vị thái phó xa dần, và cầu mong vạn sự suôn sẻ.

Không chỉ Lục bộ thượng thư, mà cả những vị quan khác cũng có thể cảm thấy được rằng quan trường đang biến động.

Sắp có sóng gió to rồi.

An Tịnh công Thi Kỳ vốn là người ưa đơn giản và không mấy khi để ý tới chuyện triều chính, bao năm chỉ giam mình trong sự tĩnh lặng cua điện Hưng Thánh, ngày thưởng hoa tấu đàn, đêm ngắm trăng làm thơ mặc cho triều chính có chuyện gì; chẳng khác chi Lã Vọng tiên sinh câu cá giữa dòng năm xưa khi các đại quốc tranh hùng, binh đao khắp chốn.

Tuy nhiên, lần này chẳng biết điều gì đã kéo được Thi Kỳ ra khỏi điện Hưng Thánh.

Điều đó phải rất hệ trọng, hoặc rất nghiêm trọng.

Tại sao An Tịnh công lại đột ngột tâu Trưởng công chúa được cho về quê?

Hẳn là Thi Kỳ muốn tự tay giải quyết chuyện gì đó, và chuyện đó hẳn cũng rất là ghê gớm...

Như đã nói, nội bộ triều chính trong Nội thành đang biến động.

Một số cận thần bắt đầu lăm le ngôi báu, chẳng đợi khi thái tử trưởng thành.

Khử thái tử thì dễ, nhưng còn Trưởng công chúa nhiếp chính?

Ai biết trong cung có "Cấm Thành tứ phượng hoàng", bốn trung thần luôn bên cạnh Thái tử và Trưởng công chúa, sẽ không để yên cho âm mưu tranh ngai vàng được xuôi chèo mát mái.

Năm xưa khi Cấm Thành tứ phượng hoàng còn đông đủ, mấy ai dám ra mặt chống đối hoàng tộc, nhưng khi một người từ quan rời thành phiêu bạt để lại Thi Kỳ kế thừa tước vị, bá quan được thời bày kế loại bỏ vị thái phó ngây thơ mà mở đường lật đổ luôn vị thái tử trẻ tuổi.

Xem ra, bão tố sắp nổi lên rồi.
 
Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Hồi thứ hai: Biến động thí trường


Quân sư của Trưởng công chúa, An Tịnh công Thi Kỳ tạm thời đã không còn là chướng ngại vật ở Nội thành; tuy nhiên không phải là không còn đáng lo.

Thậm chí, sự vắng mặt của An Tịnh công đã gây nên một sự biến động ở Cấm Thành; nói cho đúng hơn là tại thí trường, ở mạn đông Cấm Thành.

Khoa thi năm đó có một sĩ tử từ Mạc Hà, nói ra là đồng hương của An Tịnh công, lên kinh ứng thí mong ra được làm quan để đổi cuộc đời không chỉ của anh mà còn của bách tính Mạc Hà.

Chẳng là, trấn Mạc Hà thất mùa đã khá lâu, đói kém càng ngày càng hoành hành; lại thêm tổng trấn quan liêu, xem dân chẳng khác gì ngọn cỏ khô cháy ngoài đồng.

Trấn Mạc Hà kêu oán lầm than.

Người sĩ tử ấy chẳng mong gì hơn là đỗ trạng, để một lần được gặp Trưởng công chúa xin cứu giúp.

Anh học giỏi lắm, tứ thư ngũ kinh đều thạo, sách Thánh hiền đâu cũng nằm lòng.

Nhưng, để đội được mão cánh chuồn có dễ thế không?

Lều chõng đã sẵn, ống quyển trên tay, Vương Hạ bước qua cánh cổng thí trường mà tim đập như trống dồn.

Mẹ và em gái anh đang ngóng đợi ở nhà, mong anh ngày trở về cứu trấn Mạc Hà khỏi đói kém.

Định mệnh được quyết định ở đây.

Nếu trượt, ba năm nữa anh vẫn có thể chờ, nhưng còn mẹ già và em gái anh có đợi được từng ấy năm nữa không?

Vương Hạ không muốn trở về tay trắng, ít nhất cũng phải áo mão nhà quan và trong tay chút bổng lộc triều đình.

Anh tự hứa khi đã làm quan sẽ thật thanh liêm như lời cha dặn trước lúc lâm chung, không nhận bất cứ gì trừ bổng lộc được ban cho.

Nhưng, nếu dấn thân vào quan trường rồi, Vương Hạ có trong sạch được giữa đầm lầy đen tối của lòng tham và có sống sót được giữa cuộc chiến tranh quyền đoạt vị?

Làm sao anh biết được trước tương lai đâu.

Vương Hạ tự nhủ khi sắp chõng thi: "Định mệnh sẽ đến, và mình sẽ thay đổi định mệnh".

Hồi trống báo giờ thi vang lên, và Vương Hạ cố trấn tĩnh mình.

Anh sẽ thay đổi định mệnh cơ mà.

Sách Thánh hiền anh đã đọc, Tứ thư, Ngũ kinh, Trung Dung, Đại học đã đều lĩnh ngộ; một nhân tài vậy sao không thể ra làm quan được chứ?

Văn chương thi phú, bao tài đều phô ra theo nét bút, Vương Hạ mong sẽ có vị Chánh chủ khảo công tâm để ý đến quyển của anh; bởi trước đây anh thường nghe, trong Ty khảo thí thường có hối lộ và lạm quyền, dù là giữa kinh đô.

Nhưng, đời là vô thường mà, lấy gì chắc chắn không có quan thanh liêm?

Xem như là, số phận chàng Vương Hạ định đoạt từ đây.

Bút anh đưa như gảy tam thập lục, nét chữ cùng ý văn tuôn như song phượng đang múa.

Mạc Hà đang chờ, mẹ anh đang chờ, em gái anh đang chờ, và bách tính đang mong; anh không dám trở về tay trắng.

Nhưng rồi nỗi lo tạm vơi khi anh nhấc bút kết thúc bài thi và thu xếp trở về văn quán.

Bảo rằng anh sẽ thay đổi định mệnh, nhưng anh cũng hiểu, định mệnh như ý trời, sao tránh được.

Anh không đành bắt mọi người phải chờ thêm ba năm.

Rót chén trà, trà trong chén sóng sánh như tâm trạng của anh bây giờ vậy.

"Này, bách tính Mạc Hà đâu phải chỉ nằm trong tay cậu?"

Có ai đó gọi anh.

Ngoảnh qua thì thấy một vị thư sinh dáng cũng phong lưu, tay nải trên vai và quạt giấy trên tay đang đứng đối diện, có vẻ như cũng là một sĩ tử lên kinh ứng thí.

- Nghe sao văn chương của cậu như khổng tước tung cánh hả?

Vị thư sinh kia mỉm cười và ngồi xuống ghế đối diện cùng bàn trà với Vương Hạ.

"Tôi ở chõng kế bên cậu, nhác thấy cậu cũng có tài lắm.

Cậu tên gì?"

- Tôi là Vương Hạ, quê Mạc Hà.

Tôi thấy mình cũng không đáng để được khen như vậy đâu...

- Khiêm tốn nhỉ?

Người Mạc Hà có khác.

Cứ gọi tôi là Trà Khiết, đồng hương của cậu.

Nhưng tôi nói cậu nghe, nếu lên Cấm Thành chỉ với chữ nghĩa, cậu sẽ không bao giờ đỗ nổi Phó bảng, chứ đừng nói đến Trạng nguyên.

Vương Hạ bần thần một lúc.

Nếu anh bị đánh rớt, thì cũng có thể coi như là chấm hết.

Mọi người tiễn anh xách lều chõng lên kinh ứng thí, và giờ đang mong ngóng anh quay trở về; sao anh dám trở về lại tay trắng...

Chỉ còn mình anh là niềm hy vọng cuối cùng của trấn Mạc Hà, nếu niềm hy vọng đó cũng tắt mất, thì còn gì nữa đâu...!

Còn người thư sinh kia, có vẻ thạo đời, chắc cũng phải đã trải qua mấy khoa thi; nhưng nếu đã biết vậy, sao lại trông vô tư thế?

Vương Hạ ruột gan nóng như lửa, chắc mẩm khoa này chẳng xong, lại chẳng thể đợi thêm ba năm; anh đợi vẫn được, nhưng bách tính Mạc Hà làm sao đợi?

Người thư sinh gọi là Trà Khiết mỉm cười.

- Cậu trai trẻ, nhân tài như vậy mà bị đánh rớt quả là uổng phí cả đời.

Nhân bây giờ rảnh rỗi, có muốn làm chao đảo trường thi cùng tôi không?

Cho đám ô quan trong Ty khảo thí kia một bài học.

Trưởng công chúa không trách đâu.

Trà Khiết thư sinh nhắc đến Trưởng công chúa, Vương Hạ lấy làm lạ.

Lại đòi làm chao đảo thí trường và cho đám quan trong Ty khảo thí một bài học ư, người này như thể không sợ trời đất vậy.

- Đi không?

Có thể cậu sẽ đỗ Trạng nguyên đấy.

- Đỗ Trạng nguyên?

Đùa tôi chắc!

Tôi còn mẹ già và em gái, chưa muốn mất đ...

Vương Hạ chưa nói hết câu đã bị Trà Khiết chặn lại.

- Cậu to mồm quá đấy.

Không phải đổi cái mạng cậu để lấy áo mão Trạng nguyên, tôi cũng chẳng thèm đỗ đạt, tôi dự khoa này chẳng để làm gì hơn là "dọn dẹp" cái Ty khảo thí đó.

Dân đen sao dám động cửa nhà quan, nhưng Trà Khiết lại dám.

Vương Hạ không ngờ cũng có người thư sinh không sợ đến trời đất như này.

- Không phải tôi chán đời hay gan dạ gì, tôi có lý do.

Vì cậu là người đồng hương với tôi, tôi thật tình muốn giúp cậu, và trấn Mạc Hà.

Nếu cậu bị đánh rớt chỉ vì đám ô quan kia không kiếm thêm được chút tiền dằn túi, làm sao tôi dám về nữa?

Trong đầu Vương Hạ giờ chỉ còn một câu hỏi cứ lẩn quẩn mãi: "Trà Khiết, thật sự là ai?".

Một người dám động đến Ty khảo thí, dám khẳng định sẽ "cho đám ô quan kia một bài học", thì hẳn chẳng phải hạng thư sinh bình thường.

- Nếu cậu đã không tin, thì đành vậy, tôi đi một mình.

Đừng lo, cậu còn gặp tôi nữa mà, đây không phải lần cuối đâu.

Nói rồi Trà Khiết đứng lên khỏi bàn và quay người bước đi.

Vương Hạ lấy làm lạ cũng rình theo, và quả thật, người thư sinh ấy đến Ty khảo thí, đòi lính gác cho gặp Chánh chủ khảo.

- Các quan đang chấm bài, đi đi!

- Muốn về quê làm ruộng tiếp không hả?

Không thì quay về văn quán!

Từ xa, Vương Hạ không nghe được mấy nhưng có thể thấy Trà Khiết giơ lên thứ gì như là thẻ bài, và hai lính gác kia vội mở cửa niêm phong chạy vào.

Không dám theo dõi tiếp, Vương Hạ quay về văn quán với tâm trạng đầy bối rối; có thật Trà Khiết sẽ chấm dứt chuỗi lời đồn đen tối về thí trường kinh đô?

Và có thật là anh sẽ có cơ hội đỗ trạng?

Ai biết được.

Ở văn quán đã có những tiếng đồn tấu xôn xao về một sĩ tử liều lĩnh dám xông vào Ty khảo thí đòi Chánh chủ khảo ra gặp mặt.

Lính gác bỗng đến vây quanh văn quán, không cho ai ra ngoài đến khi Lễ bộ Thượng thư đến.

Vương Hạ trở lại ngồi bàn trà cũ, bỗng nhác thấy chiếc quạt giấy Trà Khiết để quên.

Một chiếc quạt bên thân khắc chữ "An Tịnh công", và đuôi có buộc hồng tơ.

Vương Hạ bèn bỏ vào tay nải, định nếu sau này gặp sẽ trả người kia.

Một lúc lâu sau, lính gác vãn dần, và một vị thượng thư đi cùng hai vị thị lang bước vào văn quán hỏi chuyện gì xảy ra.

Tới đây thì Vương Hạ biết chuyện đã động tới triều đình.

- Ta là Lễ bộ thượng thư Đoàn Châu, vâng mệnh Trưởng công chúa đến.

Vừa hay có tin một thí sinh làm náo động thí trường, hỏi có ai biết người đó không?

Vương Hạ chần chừ rồi bước lên trước đám đông, khoanh tay cúi đầu trước vị Lễ bộ thượng thư.

- Học trò tên Vương Hạ, vừa nãy đã ngồi uống trà cùng người kia.

Người đó tự gọi mình là Trà Khiết...

Thượng thư bộ Lễ bỗng ngắt lời.

- Đúng là cái tên Vương Hạ, giờ đến Ty khảo thí cùng ta.

Chàng sĩ tử theo chân vị thượng thư cùng hai thị lang, phía sau là những tiếng bàn tán đồn tấu như thể anh là tội phạm.

Anh đâu phải tội phạm, anh thừa biết.

Nhưng nếu thật, thì anh thấy không xong rồi; đích thân Lễ bộ thượng thư đến, hẳn phải là tội lớn.

Vương Hạ nghĩ vậy đó, nhưng rồi tất cả cũng vơi đi hết khi anh lại thấy Trà Khiết đứng trước cửa Ty khảo thí mỉm cười như lúc nãy.

Không biết mỉm cười vì gặp lại Vương Hạ, hay vì Lễ bộ thượng thư đến, mà Trà Khiết có vẻ trông vui hơn.

- Tôi tưởng cậu ra khỏi Cấm Thành rồi chứ, hoá ra còn ở đây à?

Sao bỗng dưng vào đây ứng thí thế, muốn đỗ Trạng nguyên sao?

- Dọn dẹp kinh đô rồi hẵng đi.

Ba tuần trăng cơ mà, chưa muộn đâu.

Còn mão Trạng nguyên thì nhường cậu trai trẻ này, tôi chẳng thèm mấy cái tước vị đó đâu.

- À phải, mang tước công rồi thì thèm mão Trạng chi nữa!

- Đừng nói vậy chứ.

Khi đã có danh vọng thì người ta thường chẳng màng những thứ xa hoa nữa mà.

- Với cậu thôi.

Chuyện gì đã xảy ra ở đây vậy?

Trà Khiết tay chỉ vào trong Ty khảo thí.

- Tôi lấy danh quan thanh tra vào xem xét, thấy có bạc hối lộ trong tủ.

- Tất cả hả?

- Một số thôi.

Mấy chủ khảo này tốt, Lễ bộ thượng thư nhìn người quả chẳng sai.

- Nếu chỉ có thế, có cần phải gây chấn động đến tận Nội thành không vậy?

- Tôi chỉ định là động tới tai Khâm sai đã đủ, nhưng cả Thượng thư cũng xuống thì tốt quá còn gì!

- Phiền!

Để tôi giải quyết!

Nhị vị thị lang, vào thôi!

Sau đó chỉ còn mỗi Trà Khiết và Vương Hạ đứng ngoài, chàng sĩ tử thì bối rối tột cùng, chẳng hiểu chuyện gì vừa xảy ra nữa.

- Cậu có nhặt được cây quạt của tôi không?

Trà Khiết hỏi.

Vương Hạ giật mình thò tay vào tay nải rút ra chiếc quạt giấy, và không quên tò mò:

- Tiên sinh không phải Trà Khiết, phải không?

- Một phần thôi...

- Trà Khiết nhận cây quạt và phất tay mở ra - Như Đoàn thượng thư vừa cho cậu biết đấy, tôi đâu phải thư sinh bình thường.

Cậu thấy tôi có kim bài mà, đúng không, lúc cậu theo dõi tôi đấy?

Vương Hạ giật mình.

Đúng là thế.

Và cây quạt trên tay Trà Khiết kia, anh có thể thấy chữ khắc trên thân quạt, "An Tịnh công".

- Giờ thì không giấu được nữa rồi...

- Trà Khiết gấp quạt lại - Tôi là An Tịnh công Thi Kỳ, hiệu Trà Khiết, thư đồng của Trưởng công chúa.

Như đã nói trước, tôi dự khoa này chỉ để "dọn dẹp" đám ô quan trong Ty khảo thí kia.

Giờ thì xong rồi, tôi về giải quyết chuyện ở trấn Mạc Hà.

Nói rồi, không để Vương Hạ có thời gian kịp hiểu chuyện gì vừa xảy ra, Thi Kỳ quay đi và toan bước khỏi trường thi, nhưng trong một chốc đã đứng lại.

- Cùng là đồng hương, nếu hữu duyên, hẹn cậu trở về Mạc Hà mang áo mão Trạng nguyên...

Cáo từ.

Nói xong, Thi Kỳ rảo bước đi khỏi.

Chàng sĩ tử Vương Hạ nghe tiếng ngâm thơ xa dần, rồi lại nhủ:

- Tôi sẽ làm rạng danh Mạc Hà, và tôi sẽ nhớ cái tên đó, Thi Kỳ tiên sinh...
 
Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Hồi thứ ba: Thảo khấu Tam Châu


Việc kinh đô đã tạm xong, An Tịnh công Thi Kỳ lên đường về Mạc Hà.

Trấn Mạc Hà cách kinh đô ngót một ngày đường, trên chính lộ lại thường có thảo khấu, nên vãng khách chẳng dám đi đường ấy, nhất là độc khách viễn du, mà chọn đường vòng rất xa.

Trên chính lộ đến trấn Mạc Hà, phải băng qua vùng Tam Châu, nơi nổi tiếng về đói kém, thảo khấu, cướp cạn có thể gọi là bất cứ lúc nào và bất cứ khi nào cũng thấy được.

Tam Châu là tập hợp của ba trấn: Lâm Châu, Hồ Châu, Hải Châu; quan ở đây thu thuế rất cao, lại mất mùa triền miên, dám hỏi không người hiền lương nào để sống mà không trở thành sơn tặc, thảo khấu?

Cướp ở đây nhiều đến nỗi, thương buôn chẳng dám quay ngựa vào, và cả mệnh quan triều đình cũng chưa ai đủ can đảm đi đường chính lộ.

Ít nhất là cho đến lúc này.

An Tịnh công Thi Kỳ đã vốn nghe những lời đồn và cảnh báo về sự nguy hiểm của xứ Tam Châu, nhưng cũng cho qua và thắng ngựa theo đường chính lộ mà đi.

Dù sao thì ngoài con ngựa vừa tìm mua được ở một trang trại ngoại thành kinh đô và chiếc quạt giấy cùng kim bài, An Tịnh công chẳng có thứ gì đáng giá để cướp cả.

Nói vậy thôi, chứ bị cướp thì đằng nào cũng chẳng thể nói là điều lành được.

Trời lại đang dần xế chiều, gặp cướp là không thể tránh khỏi.

Không cần phải chờ lâu, vừa đến cửa trấn Hồ Châu, một toán cướp xông ra, đao kiếm tuốt trong hùng hổ nhưng nhiều phần bị rỉ cùn.

An Tịnh công không lấy đó làm bất ngờ, vì trông đám thảo khấu này cũng như những đám khác, từng là nông dân thôi.

Ngước mắt lên con đường dẫn qua trấn Hồ Châu, Thi Kỳ thấy so với Cấm Thành sao mà khác lạ.

Thậm chí chốn bình dị nhất Nội thành là điện Hưng Thánh cũng không thể sánh được với cảnh lầm than đất Tam Châu.

Bách tính đói khổ thế này, làm sao mà Trưởng công chúa không hề hay biết được chứ!

Nhưng sao đã mấy năm trời, mà Tam Châu vẫn đói kém?

- Các người muốn gì?

- Tất cả những đồ đáng giá.

- Tôi chỉ là thư sinh thì lấy đâu ra đồ đáng giá.

- Vậy nộp hết lộ phí đây.

- Chỉ có nén bạc, các người không chê chứ?

Thi Kỳ vừa nói rồi xuống ngựa, lấy từ trong tay nải ra một nén bạc mới đặt lên yên.

- Nếu muốn cứ lấy cả con ngựa.

Cáo từ.

Rồi Thi Kỳ để mặc toán cướp và rảo bước vào trấn.

Đám thảo khấu thì nửa ngạc nhiên nửa bối rối; ngạc nhiên vì sao có người thấy cướp không sợ, bối rối vì sao người đó lại đưa tất cả lộ phí và con ngựa mà không để lại điều kiện gì.

Đột nhiên một người khá lớn tuổi trong đám đó đuổi theo Thi Kỳ vừa gọi:

- Tiên sinh khoan đi đã!

Nghe tiếng gọi, Thi Kỳ dừng lại một khắc rồi lại bước tiếp.

- Tiên sinh, gượm lại đã!

- Các người lại muốn gì ở tôi?

Thư sinh như tôi lấy đâu ra đồ quý giá nữa.

- Thi Kỳ nói, không ngoảnh mặt lại nhìn mà cứ đi tiếp.

- Không, chúng tôi không muốn gì nữa hết.

Chỉ lấy làm lạ tại sao tiên sinh để lại hết lộ phí và con ngựa cho chúng tôi như vậy?

Lần này thì Thi Kỳ dừng lại để đáp.

- Chỗ đó đáng là bao.

Về Mạc Hà thôi có cần nhiều như thế không?

Tôi đi bộ đến chiều mai là tới thôi.

Thi Kỳ nói rồi lại đi tiếp.

Phía sau có tiếng hỏi gặng:

- Phía trước là trấn Lâm Châu, cũng đầy thảo khấu, tiên sinh không có ngựa lẫn lộ phí liệu có an toàn không?

Thi Kỳ đáp, chân vẫn bước đi:

- Thảo khấu nào đi cướp một thư sinh không tiền?

Thi Kỳ nói vậy, chứ hiểu rằng "bần cùng sinh đạo tặc".

Đất Tam Châu đói kém triền miên, cướp bóc để sống sót là không thể tránh khỏi.

May mắn lần này cho Thi Kỳ, rằng toán cướp Hồ Châu này là người tốt.

Nếu gặp cướp lần nữa, có chắc họ vốn tốt hay không?

Những thảo khấu kia chỉ lấy nén bạc mua gạo, còn con ngựa trả lại Thi Kỳ.

Trời cũng đã tối, đi đường đêm khuya thế này dễ gặp bất trắc, một người trong toán cướp chặn đường kia ngỏ ý mời Thi Kỳ trọ tạm qua đêm.

Biết có liều đi ngay cũng chẳng lợi lộc gì, Thi Kỳ đồng ý.

Nhà người đó chỉ là một căn chòi nhỏ cạnh con suối gần như đã cạn khô.

Cách đó không xa có một ngôi mộ đắp vội, vài nén hương vừa tàn vẫn còn cắm trên đó.

Hỏi ra, anh ta vừa goá vợ và mất đứa con duy nhất trong nạn đói tháng trước.

Nghe kể thì ở đất Tam Châu này, hễ ra đường là thấy người chết đói.

Người ta giẫm đạp lên nhau để giành những đấu gạo cuối cùng, và những người sống sót cũng vào rừng và trở thành thảo khấu, cướp lữ khách giàu có như vừa để trả thù cuộc đời vừa chia nhau để sống qua ngày.

Lúc đó ở Nội thành, cứ mỗi buổi thiết triều là các quan lại tâu lên Trưởng công chúa những điều tốt đẹp, có vị nào nhắc đến dân đang đói đâu?

Đoàn Châu thượng thư hay Tề Hàn tể tướng mấy khi du hành thế này nên cũng đâu hay; giờ có An Tịnh công trên đường về quê lại gặp cảnh khốn cùng, nếu không ra tay há chăng cũng tiểu nhân như họ, như quan liêu trấn này?

Hoặc giả nếu không thể giải quyết, ít ra khi về kinh cũng phải tâu Trưởng công chúa biết.

- Dân Tam Châu đói đã lâu chưa?

Sao không thấy quan xuống cứu nạn?

- Tiên sinh à, quan lại bây giờ không thể trông vào được, nhưng những vị quan chi phụ mẫu, chúng tôi thấp cổ bé họng sao dám cầu tới được.

- Vậy mai đưa tôi lên gặp quan tổng trấn, tôi sẽ giúp.

Hoặc giả như anh vẫn sợ, khi về kinh tôi sẽ tâu chuyện này lên Trưởng công chúa Tử Hương.

Người thương dân lắm, thể nào cũng phái người về đây giúp các vị thôi.

Nghe Thi Kỳ nhắc đến Trưởng công chúa, anh nông dân bỗng nửa sợ sệt khép nép nửa nhẹ lòng mừng rỡ.

Cũng như chàng thư sinh Vương Hạ kia, hễ nhắc tên Trưởng công chúa, dù Thi Kỳ giọng rất bình thường nhưng đối phương thì luôn trông thật nể sợ.

- Tiên sinh... có phải... quan triều đình?

Thi Kỳ chỉ mỉm cười và khoát tay.

- Nếu tôi mà là quan triều đình, thì tôi đã không đi một mình và mang theo ít lộ phí vậy.

- Vậy, tiên sinh là ai mà dám gọi tên Trưởng công chúa...?

- Chỉ là một thư đồng mà thôi.

- Thi Kỳ cười, phẩy quạt.

- Thư...

đồng?

Thi Kỳ gật đầu.

- Tôi họ Thi tên Kỳ, thư đồng của Trưởng công chúa.

Ban đầu, người kia có một thoáng nhẹ nhõm, nhưng lại rồi tỏ ra thất vọng.

- Nghe tiên sinh đến từ Cấm Thành, lại có vẻ thân cận với Trưởng công chúa, tôi vẫn tưởng tiên sinh là quan lớn du hành, muốn nhờ người cứu giúp Tam Châu, nhưng mà...

- Làm sao tôi tin được?

Thế gian bây giờ không thiếu người dựa quyền với cậy quyền đâu.

- Người nghèo còn mong chi được nữa, cả đời chỉ biết cúi đầu, tiên sinh đừng nghi vậy tội.

Nghe trong giọng người ấy quả có sự thành thật, Thi Kỳ mỉm cười rồi gật đầu.

- Chúng ta gặp nhau chỉ vừa một buổi, lấy gì làm bằng cho lời anh nói?

Vả lại, cũng chẳng có gì làm bằng cho lời tôi nói cả.

Những tưởng anh nông dân kia sẽ lại bỏ cuộc, nhưng không; anh chỉ vào cây quạt giấy trên tay Thi Kỳ.

- Dân đen bọn tôi chưa bao giờ rời xứ Tam Châu, càng không hề biết hình dáng bộ mặt Cấm Thành.

Chưa từng một lần tận mắt được thấy quan triều đình, Trưởng công chúa càng không.

Nhưng, cũng từng có nghe danh An Tịnh công, thư đồng của Trưởng công chúa, vốn nho nhã thanh cao là người quân tử, duy rằng không bao giờ rời điện Hưng Thánh.

Nay gặp tiên sinh nhận vậy, không dám chắc chắn, chỉ biết tin liều.

Xin hiểu cho.

Thi Kỳ lúc này vứt bỏ hết mọi nghi ngờ giả vờ, đến đứng trước anh nông dân, vòng tay cúi đầu tỏ ý đáp lại sự kính trọng của người kia.

- Đó là để làm bằng.

Tôi cũng chẳng dối nữa.

Tôi đúng là An Tịnh công Thi Kỳ; và phàm quân tử đã nói sẽ làm, tôi sẽ giúp bách tính Tam Châu những gì tôi có thể.
 
Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Hồi thứ tư: Nước cờ của Thi Kỳ


- Bẩm Lục bộ thượng thư đại nhân, lính ở cửa trấn Hồ Châu vừa gửi tin báo có một thư sinh đi đường chính lộ qua Tam Châu.

Ở Nội thành đêm đó, tại Lục bộ quán, các quan đang bàn việc.

Lễ bộ thượng thư chỉ ngồi đó nghe theo cho có lệ, chứ thực ra đã biết tỏng các vị thượng thư kia đang mưu đồ gì.

Đang giữa cuộc bàn bạc, một anh lính đột ngột mở cửa chạy vào, tay cầm một cuộn thư.

- Quan triều đình còn không dám đi đường ấy, vậy kẻ nào mà điên đến thế?

- Công bộ thượng thư thắc mắc.

- Dễ đoán thôi.

Còn ai nữa nếu không là Thi tiên sinh?

- Lễ bộ thượng thư đáp - Tước vị không nói đến, cứ nhìn thấy phẩy quạt ngâm thơ thì ai chẳng bảo đó là thư sinh?

Năm vị thượng thư kia nghĩ thầm, nếu An Tịnh công gặp nạn giữa đường khi đi qua Tam Châu thì quả không còn gì tốt hơn, một công đôi việc.

Một mặt vừa trừ khử được cái gai trong mắt, mặt khác vừa vô tội vì rành rành đó chỉ là "tai nạn".

Nhưng xem ra vận may đang đứng về phía An Tịnh công.

Và còn một điều trừ những vị quan đầu triều ra trong Nội thành không một ai biết, đó là An Tịnh công luôn giữ trong tay một con "át chủ bài".

Trưởng công chúa đã hay chuyện biến động ở thí trường, nhưng lại không nói gì về điều đó.

Không có vẻ gì Trưởng công chúa quan tâm, dù người thường xuyên ngóng chuyện dân tình.

Lễ bộ thượng thư đã tâu riêng đến Trưởng công chúa ngay buổi chiều đó để nhận lệnh được phép xét xử những quan lại tham ô trong Ty khảo thí, Thái tử cũng có mặt.

Thật ra, Thái tử đã xuất cung dạo chơi, tổng quản cũng theo cùng, có đi ngang thí trường lúc đó và cũng lấy làm lạ khi trường thi xôn xao khác thường.

Tối đó, Thái tử đến cung Vi Thanh, còn gọi là phủ công chúa, định hỏi chuyện đó, nhưng Trưởng công chúa chỉ im lặng.

- Hoàng tỷ, sao hoàng tỷ không nói gì vậy?

- Còn gì để nói nữa đâu.

- Chuyện ở thí trường sáng này...?

- Đã xong cả rồi.

- Tiểu đệ nghe có sĩ tử làm loạn, Đoàn thượng thư có xử hắn chưa?

Trưởng công chúa chỉ cười.

- Xử làm sao được?

- Đoàn thượng thư có cho hoàng tỷ biết hắn không?

Tại sao hoàng tỷ không xử, thế còn đâu danh dự Hoa Nữ quốc nữa?!

- Thư đồng của ai gia đó.

Hoàng đệ có muốn đuổi theo xử không?

- Ý hoàng tỷ, là Thi Kỳ tiên sinh... làm loạn thí trường?

- Đó chính là nước cờ của tiên sinh, để cứu cái danh dự đang dần mục ruỗng của Hoa Nữ quốc này.

Ai gia được tin tiên sinh đã đến Tam Châu rồi.

- Vậy... việc Thi Kỳ tiên sinh xin hoàng tẩu được về quê chỉ là nói dối?

- Không.

Nhưng ban đầu ai gia cũng nghĩ vậy đó.

Trưởng công chúa cười khi thấy Thái tử vẫn bối rối chưa hiểu.

Trong mắt Trưởng công chúa, Thái tử vẫn còn quá nhỏ để thực sự hiểu cái bóng tối đang xâm chiếm thứ mà Công chúa và "Cấm Thành tứ phượng hoàng" đang ra sức bảo vệ.

Người tài như sao buổi sớm, người hiền như trăng ban ngày; người tốt không thiếu, nhưng đã thành đạo tặc cũng nhiều.

Quan trường đang mục rữa, còn bá tánh đã bần cùng lại càng thiếu thốn; những vị đầu triều làm sao cứu vãn?

Tể tướng không thể đột nhiên bỏ triều chính đi du hành, Lễ bộ thượng thư cũng vậy; đại tướng quân chỉ dẹp được loạn bên ngoài, chứ không thể dẹp loạn từ trong; Trưởng công chúa trăm công ngàn việc, làm sao đi vi hành để hiểu lòng bá tánh?

Chỉ còn An Tịnh công, danh nghĩa quan triều nhưng không phải quan triều, là người còn lại có thể đi viễn du bất cứ lúc nào.

Vì lợi thế đó, các vị đã bàn, đại sự này đặt trong tay An Tịnh công.

Ở phủ tể tướng lúc đó...

- Đi nhanh quá, chuyến này không biết ra sao đây...

- Đại nhân lo à?

- Có mà lo bọn tiểu quan ở đó.

Thi Kỳ của ta đâu phải "chỉ là thư sinh", đủ sức dẹp cả Tam Châu chứ đùa!

- Thư sinh mà có kim bài thì cũng đâu phải thư sinh bình thường.

- Trưởng công chúa đưa kim bài cho ta giữ, nên Thi Kỳ mới hành động nhanh vậy chứ tướng quân.

- Kim bài là trong cái hộp đó hả đại nhân?

- Cái hộp thếp vàng đó.

Thẻ bài của chúng ta trong đó hết.

- Thi tiên sinh lấy kim bài lệnh tiễn đi rồi đúng không?

- Ừ.

Có cái đó kế hoạch mới trơn tru.

- Kim bài lệnh tiễn còn đây mà.

Tướng quân cầm một tấm kim bài lên đưa trước mặt tể tướng.

- Giỡn hả?

Không lẽ Thi Kỳ tiên sinh lấy kim bài miễn tử đi?

Tể tướng nói rồi lao đến cái hộp thếp vàng kiểm kê.

- Hôm đó uống say quá đưa nhầm kim bài tước công cho tiên sinh rồi...

Đến đó, tướng quân rón rén rời khỏi phủ tể tướng và chạy đi.

Không rõ là Thi Kỳ đã biết chưa, nhưng xem tình hình thì có vẻ kế hoạch này không được suôn sẻ cho lắm.

Và ván cờ của Thi Kỳ, dù đã tính toán từ trước, nhưng không chắc gì chiếu tướng được.

Trừ phi...
 
Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Hồi thứ năm: Đối đầu quan tổng trấn


Theo kế hoạch của An Tịnh công là sẽ đến gặp quan tổng trấn "dọn dẹp", nhưng kim bài lệnh tiễn không có trong tay, nếu đường đột thì hoá ra nổi loạn.

Thi Kỳ lại không thể rút lui, vì quân tử không nói hai lời; tuy nhiên, kim bài lệnh tiễn không trong tay thì có còn con "át chủ bài" nữa không?

An Tịnh công không thể nào không nhận ra điều đó, nhưng tại sao lại vẫn đi?

- Xứ Tam Châu cần bậc quan phụ mẫu chi dân, chứ không cần hạng quan liêu chỉ biết ngồi nhìn.

Nói rồi, sáng hôm sau, An Tịnh công từ biệt anh nông dân nọ đã cho ngủ nhờ, hứa sẽ cứu không chỉ Hồ Châu mà cả xứ Tam Châu.

Hứa vậy thôi, chứ tình cảnh bây giờ, đối mặt phủ tổng trấn cũng khó.

Nhưng mà, sao Thi Kỳ trông tâm vẫn tĩnh như nước, cũng như lúc ở thí trường.

Dẫu có là ai thì Thi Kỳ vẫn là con người, sợ hãi đã là bản năng; nhưng tại sao, chẳng mấy khi người ta thấy được Thi Kỳ biểu lộ nỗi sợ.

Nói vậy thôi, dù đằng nào thì Thi Kỳ của chúng ta cũng chẳng phải thần thánh; và lúc này đây, An Tịnh công thanh cao điềm đạm đang sợ đến sốt vó.

Theo như chỉ dẫn của người dân, Thi Kỳ quảy tay nải đến phủ tổng trấn.

Quạt giấy trong tay, kim bài trong tay áo, Thi Kỳ dấn từng bước nhẹ nhàng vừa phẩy quạt vừa tính kế sách trong đầu.

Thi Kỳ đã biết chuyện nhầm thẻ bài chưa?

Ai biết được.

Nhìn dáng thư sinh kia chẳng có gì là bận tâm; nhưng trông bước chân có chút chần chừ, khác với một Thi Kỳ liều lĩnh người ta nghe nói.

Phủ quan tổng trấn kia rồi, khác xa với bao cảnh.

Chung quanh ruộng đồng khô cháy, nhà cửa cũng tàn tạ, đến cả vật nuôi thường có cũng thấy vắng; nhưng mà xem phủ nhà quan kìa, tường bao rợp mắt, bên trong liễu xanh cỏ thanh mướt mắt, giếng nước đầy ắp lại trong veo...

Cảnh thật giống trong vườn ở phủ Lại bộ thượng thư.

Bên trong phủ là vậy, nhưng bên ngoài khác hẳn: tường vôi khô khốc, tróc nẻ; cỏ dại và rêu mọc chen chân tường nhưng cũng khô héo; cổng phủ đóng im lìm, lạnh tanh và trước cổng chỉ có cái trống mục.

Bấy giờ mới sáng sớm, và có kẻ đang lên đường thách thức quan trên để cứu Hồ Châu.

Thi Kỳ đứng trước cổng phủ tổng trấn, tâm đã quyết, sống chết giờ cũng mặc.

Tay nắm chặt cây quạt, Thi Kỳ vụt vào mặt trống ba tiếng.

Viên chủ bộ, trông cũng như một nho sĩ, tuổi tầm trung niên, cùng vài ba lính hầu ra xem có chuyện gì.

Thấy một thư sinh với tay nải bên vai như sĩ tử đang trên đường lên kinh, viên chủ bộ nhìn trông nửa khinh thường vừa cao ngạo.

- Sáng sớm đến đây làm loạn hả?

- Học trò đọc sách Thánh hiền, biết rõ luật lệ, sao dám làm càn.

Chỉ mong được diện kiến tổng trấn đại nhân có việc hệ trọng.

- Việc gì cũng kệ, đại nhân đang nghỉ, không tiếp ai hết.

Và tại sao đại nhân lại phải tiếp một kẻ sĩ như ngươi vì lý do đó?

- Đây là việc hệ trọng, học trò biết đại nhân thương dân như con, ắt phải nghe chứ.

Viên chủ bộ nghe vậy phái hai tên lính gác canh chừng Thi Kỳ và chạy vào trong phủ.

Quan tổng trấn đang ngủ trong phòng bỗng nhiên bị viên chủ bộ đánh thức.

- Sáng sớm ra đã có chuyện gì đó Dương tiên sinh?

- Có kẻ sĩ nào đó cho đòi gặp ngài.

- Đứa nào dám làm phiền buổi sáng của bổn phủ vậy?

- Học trò không biết.

Kẻ đó chỉ một mực đòi diện kiến đại nhân.

Quan tổng trấn không buồn ngồi dậy, phẩy tay bảo viên chủ bộ đi ra và xoay người về phía tấm màn.

- Bảo nếu có đủ hai lượng thì bổn phủ tiếp, còn không thì đi về.

Viên chủ bộ ra cổng nói lại những lời quan tổng trấn nói.

Những tưởng thư sinh kia sẽ bỏ cuộc, nhưng trái với suy nghĩ của viên chủ bộ, Thi Kỳ mỉm cười, vòng tay thò vào tay áo vừa đáp:

- Học trò chỉ là thư sinh, đi đường không có ngân lượng, chỉ có mỗi cái này, đại nhân xem có được.

Nói rồi, Thi Kỳ rút từ trong tay áo ra tấm kim bài của mình đưa ra cho viên chủ bộ xem.

Không cần phải nói nhiều, không phải vì trời sáng sương lạnh hay chuyện gì, chỉ vừa thấy tấm kim bài, viên chủ bộ đã run lên cầm cập.

Một thư sinh mà có kim bài trong tay thì vốn chẳng phải tầm thường.

Dù gì thì cũng đâu còn cách nào, Thi Kỳ đâu phải quan triều đình, đâu có hưởng bổng lộc của Trưởng công chúa, lấy đâu ra nhiều ngân lượng đi đường, chỉ có nén bạc vừa bị "cướp".

Viên chủ bộ lại vội chạy vào báo cho quan tổng trấn, nói dối là đã nhận đủ ngân lượng, xin quan ra tiếp thư sinh kia.

Và ở ngoài cổng bây giờ, sau khi chứng kiến tất cả, đám lính gác cũng run rẩy chẳng kém.

- Tiên sinh... thật ra... là...?

- Một anh dặt dè hỏi.

Vẫn giữ vẻ điềm tĩnh đó, Thi Kỳ mỉm cười và chỉ đáp:

- Tôi à?

Chỉ là một thư sinh.

Thường thì là vậy, chứ bây giờ nhìn Thi Kỳ ai dám tin rằng đó "chỉ là một thư sinh"?

"Có kịp lúc không đây?", Thi Kỳ nghĩ thầm, "Thế này không xong rồi...!"

Thi Kỳ được cho vào gặp quan tổng trấn Hồ Châu, một trong ba quan liêu nhất hạng xứ Tam Châu này, trong sự dè chừng của viên chủ bộ.

Hồi còn trong Nội thành, có lúc An Tịnh công nghe thoáng đâu Lại bộ Hữu thị lang có cháu ruột được xin cho làm tổng trấn ở Tam Châu, nên nghĩ có khi nào đây là hắn.

Thi Kỳ đâu biết.

Bao năm chỉ nhốt mình trong điện Hưng Thánh, có mấy khi An Tịnh công ngóng chuyện quan trường.

Dẫu họ hàng nhà ai cũng được, nhưng quan liêu, hạng tham ô nhũng nhiễu dân chúng thì không chỉ mỗi Trưởng công chúa, mà người tĩnh lặng như An Tịnh công cũng chưa chắc sẽ để yên.

- Sĩ tử kia, ngươi đòi gặp bổn phủ là có chuyện gì?

- Bẩm, kẻ sĩ chỉ là thư sinh qua đường, từ Cấm Thành đến, thấy sao sự vật thật khác xa với những gì được nghe.

Đến đây lại còn gặp cướp, rồi người chết đói.

Chỉ dám hỏi đại nhân ra tay cứu giúp dân tình.

- Dân chúng đang yên, ta giúp gì được nữa?

- Bẩm đại nhân, kẻ sĩ nhác thấy gia cảnh dân tình khác xa với trong phủ; bên ngoài hạn hán triền miên, trong đây lại tốt tươi xanh mát.

Nếu không phải do đại nhân bỏ quên dân chúng thì là gì?

Đến nước này, quan tổng trấn giận dữ vỗ bàn, quát lớn:

- Ngươi chỉ là thư sinh mà dám lên mặt dạy bổn quan?!

Thi Kỳ, vẫn giữ vẻ bình tĩnh đó, vòng tay đáp:

- Kẻ sĩ chỉ là thư sinh đọc sách Thánh hiền, chẳng dám nhận là người quân tử, nhưng thấy bậc phụ mẫu chi dân không chăm lo dân chúng, không lên tiếng sao đành?

- Dân đen chỉ việc cúi đầu như ngọn cỏ, không cần can dự chuyện nhà quan!

Cút khỏi đây hoặc vào nhà lao!

- Kẻ sĩ sẽ không đi trừ phi đại nhân đồng ý một trong hai...

- Dân đen mà dám yêu sách với quan?

Lính đâu!

Thi Kỳ trông vẫn không mảy may sợ hãi, nhưng trong tâm đang vô cùng lo.

"Có đến kịp không đây?

Dù việc này cũng trong kế hoạch nhưng ta đâu tính được trước cái kết...!", Thi Kỳ nghĩ thầm.

Cây quạt giấy run run trong tay họ Thi cùng với nỗi sợ kế hoạch sai hướng, mà kế hoạch sai hướng cũng có thể kết thúc với chính mạng sống của Thi Kỳ.

Nếu mọi việc tiếp theo không như dự tính, đây có lẽ sẽ là thất bại đầu tiên và cũng là cuối cùng của danh tiếng quân sư An Tịnh công Thi Kỳ.

Dù có thể gọi là coi cái chết nhẹ như lông hồng, nhưng Thi Kỳ vẫn chưa muốn đi sớm vậy.

- Đại nhân cứ khoan, đợi một chút đã.

Chẳng có gì phải vội đâu.

Thi Kỳ tự trấn tĩnh và đáp.

Viên chủ bộ toát mồ hôi lạnh và cố xin quan tổng trấn kéo dài thời gian theo lời thư sinh kia mà ông ta không biết để làm gì.

Và khi quan tổng trấn mất bình tĩnh, ông ta lại càng cố nài xin vì thấy kim bài ló trong ống tay áo họ Thi.

Vậy mà cũng kéo dài được nửa canh giờ.

Khi mà quan tổng trấn không thể chờ đợi lâu hơn nữa, có tiếng vó ngựa từ đâu vọng đến.

Một viên quan áo mão chỉnh tề, mang ngọc khánh và một cuộn giấy dát vàng, bên cạnh lại có bốn thị vệ đi theo.

Thi Kỳ nhận thấy thì tỏ rõ vẻ mừng rỡ, trong lúc này thì đó thật là cứu tinh.

- Thánh chỉ của Trưởng công chúa!

Viên quan nọ giơ cao thánh chỉ, và tất thảy mọi người kể cả quan tổng trấn và Thi Kỳ, cùng những người dân tò mò đứng ở bên ngoài từ lúc nào đều quỳ rạp xuống.

Thi Kỳ thay vì sợ sệt như những người kia thì lại mỉm cười.

Ai ngờ được tể tướng đương triều lại đến đây vào lúc này?

- Trưởng công chúa thiên tuế, thiên thiên tuế!

"Tề Hàn tể tướng, ngài xuất hiện đúng lúc thế này thật quả không gì quý hơn", Thi Kỳ cười, "Và Trưởng công chúa cũng giúp một tay, học trò còn đòi gì hơn nữa?"

- An Tịnh công Thi Kỳ.

-Tể tướng gọi.

- Có học trò.

- Thi Kỳ tâu.

Quan viên đều đầu tiên là ngỡ ngàng, rồi ngạc nhiên và e dè.

Hai trong "Cấm Thành tứ trụ" cùng xuất hiện ở đây vào cái lúc thế này, ai mà tin cho được?

- Cái này của tiên sinh.

- Tể tướng đưa ra tấm kim bài lệnh tiễn.

Thi Kỳ đưa tay đón và cúi đầu.

- Mỗi sự xuất hiện của tiên sinh là cũng đủ gây chấn động rồi, nhưng có cái này vẫn hơn.

- Ngài chu đáo quá, Tề tể tướng.

- Có chi đâu, tại hôm đó ta quá chén...

- Tửu lượng ngài thật kém quá...

- Thi Kỳ cười.

Và rồi, tể tướng đọc thánh chỉ.

Cứ tưởng sẽ rất khó khăn, nhưng có Trưởng công chúa nhúng tay vào thì mọi chuyện lại hoá dễ dàng không ngờ.

Đến nỗi Thi Kỳ cũng chẳng có gì để làm ngoài giữ chân quan tổng trấn tới khi tể tướng tới.

Lần này là vậy, nhưng nếu có lần sau, chắc sẽ không nhanh gọn vậy.

Theo thánh chỉ, Trưởng công chúa huyền chức và điều cả ba tổng trấn quan liêu xứ Tam Châu ra biên ải, thay vào ba vị đầu bảng khoa vừa rồi: Trạng nguyên Vương Hạ ở Hồ Châu, nơi nghèo khó nhất; Bảng nhãn Lục Vân ở Lâm Châu và Thám hoa Đỗ Thanh ở Hải Châu.

Lại nói về chàng sĩ tử Vương Hạ đồng hương với Thi Kỳ, ai biết rằng định mệnh lại đưa họ chạm mặt nhau?
 
Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Hồi thứ sáu: Trở về Mạc Hà


Chuyện ở Tam Châu đã suôn sẻ (nhờ nhiều phần vào sự xuất hiện đúng lúc của tể tướng và sự can thiệp không trong kế hoạch của Trưởng công chúa), và Thi Kỳ lại lên đường.

Chỉ có một con ngựa, không lộ phí trong tay, không thể đi thong thả.

Biết băng qua Tam Châu là đường ngắn nhất nhưng sẽ dễ gặp cướp, tể tướng phái hai thị vệ theo từ phía xa để hộ vệ An Tịnh công mà không để người biết.

Rồi thì Thi Kỳ cũng an toàn rời khỏi Hải Châu, trấn cuối cùng và cũng là trấn có nhiều thảo khấu nhất.

Chỉ còn ngót canh giờ là gặp cây cầu gỗ liễu bắc ngang con sông cạn, biểu tượng của trấn Mạc Hà.

Khi đã thấy con sông trong tầm mắt, hai thị vệ tể tướng lẳng lặng trở về Cấm Thành, hoàn thành nhiệm vụ hộ tống.

Bên bờ kia của sông cạn, có ngôi nhà gỗ nhỏ với mảnh vườn trồng thanh cúc bên gốc một cây dương liễu già.

Trời chớm chiều làm bóng dương liễu như to lớn hơn, những cành rủ xuống như thể ôm trọn ngôi nhà và mảnh vườn thanh cúc.

Thi Kỳ rảo ngựa qua cây cầu như nhiều năm trước đã từng qua theo chân phụ thân lần đầu trở về quê hương.

Trấn Mạc Hà trong trí nhớ của Thi Kỳ vẫn yên bình như vậy, có điều xơ xác và vắng vẻ hơn.

Màu xanh vườn thanh cúc có vẻ thưa thớt hơn vườn thanh cúc Thi Kỳ còn nhớ.

Còn cố nhân ven sông thì sao?

Có còn đó hay chăng?

Thi Kỳ buộc ngựa bên gốc dương liễu và như theo một thói quen cũ, đi vòng ra sau ngôi nhà, nơi có bàn trà và một thi nhân vẫn ngồi đó tìm vui trong thơ.

- Thư sinh, lữ khách khác mấy gì

Người mang áo vải, chân mãi đi

Phiêu bạt phong sương đời kẻ sĩ

Vinh hoa phú quý có màng chi

Nhiều năm rảo bước giày mòn đế

Mà kẻ viễn khách vẫn còn mê

Lữ hành vạn dặm quên ngày tháng

Chẳng biết đường về có lê thê.

Thi Kỳ mỉm cười, vòng tay lại cúi đầu trước vị thi sĩ tỏ sự kính trọng.

Được thái phó đương triều thành kính chào, hẳn chẳng phải tầm thường.

Đúng, nếu như đó không phải...

- Văn thơ thi phú vẫn lấy làm thú vui sao, đại tiên sinh.

- Một thi sĩ vô danh thì còn mong gì được nữa?

Chẳng uống rượu, chẳng nghe đàn, chỉ có ngắm hoa tức cảnh làm vui.

Thi sĩ kia đáp, giọng trầm mà thanh, như những tiếng tơ trùng theo tay đàn tam thập lục mà Thi Kỳ vẫn thường tấu.

Ánh mắt đó vẫn hướng ra sông như vậy, chẳng buồn quay lại khi nghe tiếng Thi Kỳ.

- Vậy hôm nay con về hầu thơ với đại tiên sinh.

Thi Kỳ bước đến gần bàn trà và mở quạt phe phẩy theo thói quen.

Đến lúc này thi sĩ kia mới ngoảnh đầu lại nhìn vị khách mới đến.

- An Tịnh công cao quý mà cũng về thăm cái chốn này nữa à?

- Người cũng vậy mà, Khuê Tước đại tiên sinh.

Từ chối Cấm Thành phồn hoa để về ngắm thanh cúc Mạc Hà...

Thi Kỳ cười và tiến đến rót chén trà.

Thi sĩ kia cũng đáp lại với một nụ cười nhẹ như bông thanh cúc.

- Cũng khá lâu rồi đó, đã nhiều mùa thanh cúc và chưa ai gọi lại cái tên Khuê Tước...

Theo ta thấy thì con về đây không phải để lánh chốn quan trường mục rữa như ta, phải chứ Thi Kỳ?

- Con về báo tin vui cho người.

- Vậy sao?

- Khuê Tước thi sĩ mỉm cười như muốn vui chung niềm vui của đệ tử - Con mang tin vui gì về đây?

- Thái tử gửi mật sứ đến phủ gặp con, con gửi mật thư về cho người.

Thi Kỳ mở tay nải, đưa quyển thư đã gói kỹ trong tấm lụa cho vị thi sĩ.

Quyển thư thếp vàng in long phụng có con dấu của Thái tử.

- Cái này...?

- Mọi người luôn mong người trở về, thưa đại tiên sinh.

Và chúng con luôn mong một ngày Thái phó phủ lại được như ngày xưa...

Khuê Tước tiên sinh rót thêm chén trà và cười trừ.

- Không con ơi...

Bị "lưu đày" xứ này từng đó năm, ta đã hiểu sự bình yên là như thế nào.

Không xa hoa lụa là, không chức tước vinh hoa, chỉ một mảnh vườn thanh cúc làm vui qua ngày...

- Nhưng mà... xứ Mạc Hà này... cũng đâu còn bình yên nữa...?

Đến giờ Thi Kỳ mới biết, đại tiên sinh tìm về Mạc Hà chẳng phải vì đó là cố hương, mà đó là vì Mạc Hà là chốn bình yên mà đại tiên sinh có thể tìm.

Người thi sĩ mà Thi Kỳ vẫn luôn kính trọng đó, tuy sinh ra và lớn lên trong Nội thành xa hoa, nhưng lại yêu mến xứ thanh cúc vắng vẻ và nhiều thiếu thốn này.

- Tổng trấn Mạc Hà là người tốt, nhưng cách đây nhiều tháng bỗng mất tích bí ẩn; Mạc Hà từ đó không người chăm lo, lại gặp mất mùa, nên mới ra vậy đấy.

- Đại tiên sinh?

- Con bảo là con về đây để thay đổi Mạc Hà, phải chứ?

Đệ tử Khuê Tước đâu bao giờ chịu kẻ quan liêu, nhưng tổng trấn đại nhân nơi này thật là người tốt.

Không ai biết tại sao tổng trấn đại nhân lại mất tích như vậy, nên dạo đây mới đồn ngài bỏ bê dân.

Lại thêm mất mùa, nên người ta càng tin lời đồn đại.

Thi Kỳ gật gù, đến ghế bên cạnh và ngồi xuống cạnh Khuê Tước.

- Sĩ tử họ Vương con gặp ở thí trường hình như cũng nói rằng tổng trấn Mạc Hà bỗng hoá quan liêu.

- Vương Hạ phải không?

Mọi người đều tin cậu Vương sẽ là tương lai của Mạc Hà đó.

Vậy con gặp cậu ta rồi hả?

- Anh tài như lá mùa thu, và đó là chiếc lá đẹp nhất.

- Thi Kỳ cười, hướng mắt nhìn ra phía sông - Con vừa gặp hôm kia, mà giờ đã hay họ Vương đỗ Trạng.

- Phải thế.

Dẫu không phải chính thức nhưng cũng xứng để gọi là sư đệ các con!

- Sư đệ... chúng con?

- Ngày trước ta có dạy chữ cho cậu nhóc đó mà.

Cậu nhóc thường tới đây chơi, câu cá, lại thích văn chương, nên ta dạy cho chút chữ, thế mà đậu Hương cống.

Coi vậy cũng chẳng phải hạng vừa, tất nhiên chữ nghĩa sao sánh với Thi Kỳ nhà ta.

- Khuê Tước tiên sinh cười, vẻ như tự hào lắm.

- Rõ là định mệnh, ai ngờ Trạng nguyên Vương Hạ, một anh thư sinh quê mùa, lại là sư đệ con.

- Thi Kỳ cũng cười theo.

- Nếu như con nói vừa nãy, thì Hồ Châu đã có cậu Vương, vậy Mạc Hà giờ đặt vào tay con.

- Khuê Tước nhìn qua Thi Kỳ, đẩy chén trà nóng sang.

- Mạc Hà...

đặt vào tay con?

Tại sao?

Còn đại tiên sinh?

- Thi Kỳ khẽ cúi đầu.

- Khuê Văn Khổng Tước là một thời đã xa rồi, ta giờ chỉ được biết là một thi sĩ bên bờ mạc hà.

- Khuê Tước mỉm cười an ủi - Từ ngày ta đi con chưa hề bước chân khỏi phủ, có lẽ bây giờ đã tới lúc con tìm sự thật cho vụ án này, chấn hưng triều đình và khắc tên chính mình lên một thời đại mới rồi, cánh nhạn bé nhỏ của ta.

- Còn đại tiên sinh con làm gì?

Chẳng lẽ người cứ ngồi đây mãi mà ngắm vườn thanh cúc?

- Ta có việc của ta, con chớ lo quá.

Có vẻ như ngày mai ta sẽ về Cấm Thành một chuyến, xem sợi dây định mệnh này dẫn tới đâu...
 
Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Hồi thứ bảy: Huyền thoại Khổng Tước


Trấn Mạc Hà giờ lâm nguy, Thi Kỳ theo lời đại tiên sinh đi cứu quan tổng trấn.

Nhưng họ Thi nào biết chuyện gì đã xảy ra, chỉ mơ hồ rằng tổng trấn đại nhân bỗng mất tích.

Trước hết Thi Kỳ sẽ đi gặp phu nhân quan tổng trấn trước khi hành động được gì.

Nếu phu nhân chịu kể cho Thi Kỳ biết những điều cần biết.

Tuy nhiên, trước khi lại theo chân An Tịnh công đi phiêu lưu chuyến này, chúng ta sẽ theo chân đại tiên sinh của An Tịnh công, huyền thoại một thời Khuê Văn Khổng Tước, về Cấm Thành một chuyến.

Lúc trở về cũng như lúc ra đi, quạt trên tay, tay nải trên vai, ít bạc trong túi, không ngựa, không xe, hôm sau ngày gặp lại Thi Kỳ, Khuê Tước tiên sinh thong dong rảo bước trên đường chính lộ ngược dòng bước chân của chính mình rất lâu về trước.

Khuê Tước tiên sinh chưa từng nghĩ đến ngày về Cấm Thành, nhưng hôm nay, vì một lý do gì đó, bóng dáng đã lâu chưa ai được thấy lại xuất hiện khuất mắt ở phía xa.

Đường chính lộ chẳng thay đổi nhiều, bên đường vẫn bụi hồng dại, khóm cúc dại và mấy bờ cỏ dại lưa thưa.

Trên đường chân bước vắng tanh, nhưng sao vẫn cứ tưởng hồ như có ai đó đang từ phía trước mặt đến; một thư sinh phong nhã, áo màu huệ đỏ, cầm quạt màu thanh cúc vừa phe phẩy vừa thả bộ ngâm thơ.

Vốn dĩ chẳng có ai trên đường lúc đó cả, chỉ có mỗi Khuê Tước tiên sinh; và bóng thư sinh kia có ai khác hơn chính tiên sinh ngày xưa trong mắt mình bây giờ.

Vẫn cảnh xưa, vẫn người cũ, vẫn những dòng hồi ức trôi qua chậm rãi như níu chân người...

- Tôi về...

Đúng như lời Thi Kỳ kể, xứ Tam Châu nhác đã tốt hơn, "sạch sẽ" hơn.

Khuê Tước tiên sinh chẳng buồn lo thảo khấu, bởi thể nào thảo khấu cũng lại chẳng thèm cướp một độc khách là một thi sĩ.

Khi băng qua trấn Hồ Châu, trời đã chập tối, và cũng như hồi xưa, Khuê Tước tiên sinh tìm một nhà để gõ cửa ngủ nhờ, nhưng, nhà ai cũng đã cửa đóng then cài, tiên sinh thấy cũng không nên làm phiền họ chi.

Và, tiên sinh đành đến cổng nhà quan tổng trấn, như hồi xưa, để chợp mắt một lúc rồi lại lặng lẽ đi.

Tổng trấn ngày xưa thì đúng chẳng buồn quan tâm kẻ lạ tá túc trước cổng, nhưng còn bây giờ...

Tiên sinh có ngủ yên được không?

Lại vẫn như thế, bên góc tường phải cạnh cánh cổng, lại có một thư sinh ngồi tựa đầu bên tay nải mà ngủ.

Chợt đến canh ba, có ai đó bên cạnh tiên sinh mà lay người dậy.

- Sao tiên sinh không gọi con ra tiếp mà lại ngủ ngoài cổng vậy?

- Ta quen rồi...

- Khuê Tước tiên sinh chỉ nói vậy - Ngày xưa cũng thế, bây giờ cũng vậy, tổng trấn đại nhân à.

Vương Hạ đích thân ra khi nghe lính hầu bảo có vị thư sinh đang ngủ trước cổng.

Khuê Tước tiên sinh vốn không định làm phiền ai, nên cũng chẳng gọi tổng trấn Vương để xin nghỉ nhờ qua đêm.

- Người ta gọi con là tổng trấn, nhưng con sau cùng cũng chỉ là cậu nhóc cuối trấn thích đi câu cá mà.

- Vương Hạ mỉm cười.

Khuê Tước tiên sinh vẫn không mở mắt nhìn ai đang bên cạnh mình.

- Một quan tổng trấn thật hiếm có...

- Khuê Tước tiên sinh khẽ cười.

Trăng vẫn còn vằng vặc trên cao, giữa xuân không gió nhưng lại có mưa rào đêm lành lạnh.

Khuê Tước tiên sinh đưa mắt nhìn vào màn đêm, khoanh tay vào ống tay áo và khẽ co mình lại.

Năm đó gió đông lạnh hơn nhiều.

- Con vào lấy khăn cho tiên sinh.

Vương Hạ đứng lên và định quay người đi vào trong, nhưng Khuê Tước tiên sinh đã cản.

- Không cần phiền ngài, ta đi ngay.

- Trời mưa lạnh lắm.

- Không sao.

Ta quen rồi.

- Khuê Tước tiên sinh nói rồi đứng dậy - À, ngài gặp Thi Kỳ rồi, phải chứ?

- Thi Kỳ ạ?

- An Tịnh công Thi Kỳ, đệ nhất thi gia ở Cấm Thành.

Những chuyện ở thí trường hôm đó lại trở về trong trí nhớ Vương Hạ.

Quả thật, gặp được thư đồng của Trưởng công chúa là một định mệnh cho chàng Vương.

An Tịnh công Thi Kỳ trong mắt Vương Hạ là một tiền bối đáng kính, nhưng anh chưa bao giờ nghĩ hai người là đồng môn.

Chắc Thi Kỳ cũng nghĩ như thế.

Nói tiếng là đồng môn, nhưng trong mắt Thi Kỳ, Vương Hạ cũng chỉ là một cậu sĩ tử có chút chữ nghĩa, dù chút chữ nghĩa đó là từ Khuê Tước đại tiên sinh.

Và đối với chính Khuê Tước tiên sinh, dù nói rằng vậy, Thi Kỳ mới thực là đệ tử.

Khuê Tước tiên sinh rời đi khi vừa để lại lời tạm biệt.

Cấm Thành đang ở trước mắt.

Một huyền thoại đang trở về.

Huyền thoại một thời đã lui về nhường đường cho hậu bối ghi tên vào lịch sử.

Có thể nói rằng, nếu Thi Kỳ bây giờ là Khuê tú, thì Khuê Tước tiên sinh bây giờ ví như Bắc Đẩu tinh, dẫn đường nhưng không tỏa sáng.

Bình minh hé lộ trên đường chân trời cùng với bóng dáng hoa lệ của kinh thành dần hiện lên trước mắt Khuê Tước tiên sinh.

Ngày đi cũng như ngày về, Khuê Tước tiên sinh đi lặng lẽ.

Cánh cổng cao chơ vơ xám màu đá cũ với đôi chữ bằng cẩm thạch "Kinh Thành" khảm trên đầu như muốn phô vẻ diễm lệ trước mắt của chốn kinh đô.

Vừa chớm sáng mà kinh thành nhộn nhịp; tuy nhiên vẫn vậy, giữa chốn phồn hoa hội chợ lại có một thư sinh đi một mình trên đại lộ dẫn thẳng từ cổng lớn tới tam môn Cấm thành.

- Đây là Cấm thành, không được vào!

Lính gác chặn Khuê Tước tiên sinh lại ở cổng, không cho vào.

Cũng phải.

Tiên sinh đâu còn quyền tự do ra vào như ngày xưa đâu.

- À, xin lỗi...!

Khuê Tước tiên sinh gật đầu, toan quay lại và rời đi, nhưng đột ngột, cổng bên hữu đại môn mở.

- Thi Kỳ à?

Giọng nói thân quen đó, và cái nhìn đó, sắc sảo như bông hồng đen xứ Á Lan xa xôi, từ lâu lắm rồi Khuê Tước tiên sinh mới được nghe lại.

Một đệ tử của Khuê Văn Khổng Tước, đã chọn ở lại Nội thành, lặng lẽ bao năm qua trong Sử quán tìm chốn bình yên.

Cách đây nhiều năm, khi Thi Kỳ vẫn còn trong điện Hưng Thánh, khi nói đến "Hưng Thánh ngũ tinh tú", trong Nội thành có câu: "Đệ nhất Khổng Tước, đệ nhị Sa Liên, đệ tam Hồng Tước, đệ tứ An Viên, đệ ngũ Thi Kỳ".

Và người đó, cùng với các đồng môn, đã bị lãng quên theo thời gian như Khuê Tước tiên sinh; chỉ còn một tinh tú toả sáng.

- Sử quan đại nhân?

- Một lính gác ngạc nhiên.

Khuê Tước tiên sinh quay đầu lại nhìn.

Cánh trâm bạch khổng tước rủ trên tóc cũng đung đưa.

- Trâm cài khổng tước...?

- Còn ai nếu không phải đại tiên sinh của con?

- Khuê Tước tiên sinh cười - Sa Liên à.

- Đại tiên sinh...!

Sao người lại đứng ở Cấm thành đại môn?

- Ta đâu còn giữ kim bài đó nữa.

Nếu Thi Kỳ không về thăm ta, ta nghĩ là sẽ không bao giờ được thấy lại đại môn này, và cũng không bao giờ biết... các con vẫn bình yên...

- Người lại nói vậy, tất nhiên đệ tử người vẫn bình yên...

- Sa Liên mỉm cười - Đại tiên sinh về Sử quán với con.

- Cũng được à?

Vậy...

- Khuê Tước tiên sinh nghe vậy thì khẽ cười, nhìn sang mấy người lính gác - Các vị đây có cho phép chăng?

Mấy người lính gác đâu dám từ chối khi có sử quan Sa Liên đứng ở đó.

Chẳng biết họ có nhận ra hay chưa, nhưng nhác thấy cách sử quan Sa Liên đối xử, thì ắt đó không phải người thường.

Vậy là họ cứ để yên cho "vị thư sinh lạ mặt" kia vào Nội thành mà cũng không khỏi hoài nghi đó có phải thích khách hay không.

Sa Liên, giữ chức sử quan, đứng đầu Sử quán, vốn đệ tử đầu tiên của Khuê Văn Khổng Tước, từng ở trong điện Hưng Thánh và từng được mệnh danh "Hưng Thánh ngũ tinh tú" - năm thi gia danh tiếng nhất Cấm Thành - cái thời Khuê Tước tiên sinh còn là gia sư cho Trưởng công chúa.

Nhưng giờ chẳng ai gọi Sa Liên như vậy cả, thậm chí cũng trở nên lạ lẫm với mọi người như Thi Kỳ vậy.

- Những người khác vẫn còn đó không?

Khuê Tước tiên sinh thầm hỏi khi cùng Sa Liên đi ngang qua điện Hưng Thánh vắng lặng, nơi tiên sinh cùng các đệ tử ngoài việc triều chính thì lấy thơ văn thi phú làm vui.

Đến giờ tiên sinh vẫn giữ thói quen đó.

Là thi gia nhưng không yêu men rượu, không quyến luyến đào hát, chỉ mến hương nồng của trà thơm và sự yên bình của đêm thanh trăng tròn.

- Con vẫn ra khỏi Nội thành vào sáng sớm đó hả?

- Dạo loanh quanh như một thói quen thôi, đại tiên sinh.

Cũng như người thích trồng thanh cúc...

Ngang qua Chính điện, các quan người hối hả, người thong dong triều phục vận sẵn cân đai mũ giày người theo sau người đi vào.

Sa Liên đã cầm theo giấy bút, chuẩn bị làm nhiệm vụ thường ngày của một sử quan.

- Đại tiên sinh có muốn dự thiết triều?

- Có được không?

- Nếu không thích, người có thể đứng ngoài chờ con.

Sau khi chư quan đã vào hết, Sa Liên cùng Khuê Tước tiên sinh mới vào.

Sa Liên đứng ở vị trí quen thuộc của mình, bên góc hữu của Trưởng công chúa; còn Khuê Tước tiên sinh đứng cạnh cổng bên tả, như ngày xưa.

Một lúc sau, kiệu Thái tử và Trưởng công chúa vào, chư quan xôn xao nhưng không ai nhận ra Khuê Tước tiên sinh.

- Thái tử vạn tuế!

Công chúa thiên tuế!

Các quan quỳ xuống tung hô, duy mỗi Khuê Tước tiên sinh và sử quan Sa Liên chỉ vòng tay thi lễ.

Thái tử trẻ ngự trên ngai vàng, Hồng Tước hộ vệ đứng sau; Trưởng công chúa Tử Hương ngồi trên ngai phượng sau tấm rèm buông, duyên dáng mà uy nghiêm.

Trưởng công chúa ban lệnh bình thân, và theo thói quen, người đưa mắt nhìn bên tay hữu, nơi sử quan Sa Liên đứng.

Chếch về phía sau, bên cổng tả Chính điện, có Khuê Tước tiên sinh đang mỉm cười và cúi đầu cung kính.

- Khuê Tước tiên sinh?

- Trưởng công chúa thốt lên ngạc nhiên.

"Đệ nhất Hưng Thánh tinh tú", Khuê Văn Khổng Tước lừng danh một thời, đang ở đây.

Cái tên Khuê Tước đã hướng những con mắt tò mò của cả triều về phía cổng tả Chính điện.

Tể tướng Tề Hàn trông không có mấy gì làm ngạc nhiên, như thể ngài đã biết trước điều này sẽ đến.

- Khuê Văn Khổng Tước thật à?

- Chắc chỉ là người giống người...

- Kẻ giả mạo thôi...

- Nghe đồn Khuê Văn Khổng Tước đã chết rồi mà...?

Những lời đồn đại xôn xao từ mọi phía khiến Trưởng công chúa cảm thấy hoang mang.

Không nói gì, và vẫn điềm tĩnh như vậy, Khuê Tước tiên sinh rút từ ống tay áo ra chiếc quạt thêu và phẩy tay mở ra.

Trên quạt là hoa văn màu xanh thanh cúc xen với màu đỏ anh túc, thêu chim khổng tước đuôi xanh nguyệt quế điểm chỉ vàng, nan quạt bằng gỗ dương liễu, chốt bằng ngọc đỏ; quạt buộc sợi gấm thắt hoa, ở đuôi lại có ngọc bội mang dấu của Thiên tử.

Thái tử nhận ra món quà đó, bật dậy khỏi ngai, vui mừng như muốn chạy xuống và ôm lấy người bất chấp mọi phép tắc, nhưng hộ vệ ngài đã vội ngăn lại.

- Như vậy đã đủ để khẳng định chưa?

- Khuê Tước tiên sinh cười phiếm chư quan.

Tề Hàn tể tướng gật gù.

Còn ai trên thế giới này sở hữu cây quạt quý như thế ngoài huyền thoại Khuê Văn Khổng Tước?

Chiếc quạt đó chính Thái tử đã tự cho làm và tận tay ban cho vị thái phó dạy dỗ người, không thể nào là đồ giả.

- Nếu thật là Khuê Văn Khổng Tước tiên sinh, hẳn người phải giỏi văn chương thi phú lắm.

Tiếng đó là của hộ vệ thái tử Hồng Tước, được ủng hộ bởi cái gật đầu của Tiền tướng quân An Viên và ánh mắt đồng thuận của Thái tử.

Khuê Tước tiên sinh trong đôi mắt có chút ngạc nhiên, nhưng rồi cũng mỉm cười chấp thuận.

- Được thôi, nếu như các con vẫn chưa tin Khổng Tước về Cấm Thành...

Khuê Tước tiên sinh gấp quạt lại và ngay lập tức ngâm một đoản thơ.

"Huệ đỏ tàn rồi đã mấy năm

Thanh cúc một vườn có ai chăm

Viễn xứ bao mùa xuân tan tác

Cố tri môn đệ chẳng ai thăm

Từng xưa huyền thoại là Khổng Tước

Một thuở lừng danh tiếng thơ văn

Ra đi không chân người tiễn bước

Trở về chỉ nhận tiếng lặng câm..."

Sa Liên sử quan nở một nụ cười tự hào rồi gật đầu.

"Không phải thiên hạ gọi Khuê Văn Khổng Tước là huyền thoại mà không có lý do", Sa Liên từng khẳng định vậy, và bây giờ vẫn khẳng định như thế.

- Chư vị thấy tận mắt, nghe tận tai rồi đó.

Khuê Văn Khổng Tước đây, ngay trước mặt các vị, không sai!

Hồng Tước cận vệ và An Viên tướng quân mừng đến không nói thêm được điều gì.

Huyền thoại đang ở đây thật.

Khuê Văn Khổng Tước đại tiên sinh, tinh tú thơ văn sáng nhất từng được biết đến, đang ở đây thật.

- Chào người trở về, Khổng Tước thái phó.

Trưởng công chúa và Thái tử mừng rỡ nói như reo.

Tể tướng vẫn không phản ứng gì.

Đoàn thượng thư chắp tay chào người bằng hữu đã ra đi từ lâu lắm.

Khuê Tước tiên sinh cất quạt lại vào ống tay áo và cúi đầu đáp lễ.

Chỉ tiếc là, Ngọc Phụng đại tướng quân, người còn lại trong "Cấm Thành tứ phượng hoàng", hiện đang viễn chinh ngoài biên ải, không hề hay biết Khuê Tước tiên sinh đã về.

Tuy nhiên không phải ai cũng nghênh đón tiên sinh.

Bên cạnh những lời hỏi thăm, khen tặng sau buổi thiết triều hôm đó là những lời xàm tiếu, và cả những lời đe doạ sau lưng.

Năm xưa khi ra đi, tiễn chân tiên sinh cũng chỉ những lời cay nghiệt đổi trắng thay đen đó; nay trở về, cạnh những câu thân tình của bằng hữu và môn đệ, lại là sự đe dọa âm thầm không rõ từ ai.

Tất nhiên, Khuê Tước tiên sinh biết đằng sau mình luôn có lưỡi dao kề cổ, nên cũng chẳng dám manh động.

Sau buổi thiết triều Khuê Tước tiên sinh được các đệ tử mời về điện Hưng Thánh xưa uống chén trà hội ngộ.

Giữa hương trà mơ hồ, trông đôi mắt Khổng Tước như sâu thăm thẳm.

Và khi chén trà trên tay tiên sinh đặt xuống bàn, thật khác với những buổi chiều ấm lòng các đệ tử vẫn thường được thưởng những đoản thi không tên vương đầy những giọt đọng trong tâm hồn người thi sĩ xưa kia, buổi chiều này sao lạnh quá; đây là lần đầu tiên họ thấy người im lặng.

- Đại tiên sinh...?

- Sa Liên cúi đầu khẽ hỏi.

- ....

Câu đáp tuy chỉ là im lặng nhưng cũng làm cả Sa Liên, Hồng Tước và An Viên giật mình.

Họ không còn nhận ra Khuê Tước tiên sinh ngày xưa nữa: Không còn những câu thơ ngâm đậm hương trà, không còn tiếng hát trong và thanh theo ngón đàn Thi Kỳ gảy, chỉ còn tiếng thở dài sầu muộn làm chạnh lòng các môn đệ.

Chỉ vừa phút trước tiên sinh vẫn còn cười vui vẻ...

Điều gì đã làm Khổng Tước nên nỗi này?

- Có chuyện gì phiền lòng người chăng?

Khuê Tước tiên sinh khẽ lắc đầu.

- Không, chỉ là... ta thấy lo cho Thi Kỳ...

Nó thay ta chuyến này... không biết có bình an không...?

Ta cũng muốn theo giúp nó lắm, nhưng mà...

Khuê Tước tiên sinh vừa đưa mắt nhìn lên bức họa treo bên bàn trà.

Một Khuê Văn Khổng Tước thuở trăng tròn, một Khuê Văn Khổng Tước thuở vừa trót mến nàng thơ, một bông thanh cúc còn vương sương sớm; một Khuê Văn Khổng Tước của ngày xưa...

...Một Khuê Văn Khổng Tước của ngày xưa...

"Tái sinh từ nắm tro tàn

Khổng Tước đâu phải Phượng Hoàng, con ơi!

Cửu tuyền là về nơi vĩnh cửu

Để lại bằng hữu với kiếp trần..."

Đời, vốn bạc thì thôi, lại tàn nhẫn; người ta vẫn nói người hiền gặp lành đó thôi, nhưng sao thường thiện nhân chỉ gặp đau thương?

Chữ tai liền vần chữ tài, trời xanh quen thói má hồng đánh ghen, cán cân công bình chẳng bao giờ bằng nhau được.

Đó là những gì Khuê Tước tiên sinh và các môn đệ nhận được.

Giữa Cấm Thành với những mưu toan đen tối, những mưu đồ loạn lạc bây giờ, chỉ xin cố giữ lại chút thanh tao.

Tuy nhiên lúc này có Thi Kỳ đã nguyện bước chân vào lửa đỏ, chấp nhận đổi cả tâm hồn và thể xác để cứu Mạc Hà, cứu danh dự triều đình và cũng có thể là tương lai của Hoa Nữ quốc.

Thi Kỳ đã như thế, những người còn lại sao đành ngồi yên?

- Biên cương biến loạn, triều chính không yên, nỗi lo này Thi Kỳ sao gánh hết.

Còn các con...?

- Đại tiên sinh còn lo gì nữa.

Con đi!

- Vì vương quốc, xuống địa ngục con cũng đi!

- Môn đệ một nhà, đương nhiên con đỡ giùm một tay!

Cả ba môn đệ đều chấp nhận không ngồi một chỗ đợi lửa tới nhà, họ đều cười và gật đầu.

Điều này khiến Khuê Tước tiên sinh an tâm mấy phần.

Ơn Thượng đế, Hoa Nữ quốc đã có những vị thần bảo hộ.

Như đã bàn bạc với nhau và như được Trưởng công chúa cho phép; An Viên ra biên cương tiếp viện cho Ngọc Phụng đại tướng quân, Hồng Tước ở lại Nội thành bảo vệ hoàng thất, Sa Liên theo đại tiên sinh đi Kinh Xuân, nơi được đồn là gốc của những cuộc nổi loạn.

Còn lúc này tại Mạc Hà, Thi Kỳ đang đỏ mắt tìm tổng trấn đại nhân và khiến yên lòng bá tánh...
 
Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Hồi thứ tám: Cành dương liễu gãy


Rời Cấm Thành với huyền thoại Khuê Văn Khổng Tước, hãy trở về trấn Mạc Hà và dõi theo cuộc phiêu lưu của đệ tử Khổng Tước - An Tịnh công Thi Kỳ.

Không một manh mối trong tay, Thi Kỳ sẽ đi tìm quan tổng trấn như thế nào?

"Đi tìm quan tổng trấn không theo một dấu vết nào như này khác gì mò kim đáy biển?", Thi Kỳ nghĩ, nhưng vẫn không thể lui.

Thôi thì đành lấy cớ ghé thăm nhà tổng trấn đại nhân, hỏi được điều nào hay điều đó.

Dinh tổng trấn Mạc Hà to lớn mà đơn giản, chỉ rào chứ không tường, rào bao quanh hình chữ điền, cao quá đầu người.

Cổng bằng gạch, có mái che, trên đề mấy chữ "Tổng trấn phủ", ở cổng chỉ có một lính canh.

Bên trong gia nô vẫn ra vào bình thản, chẳng có gì cho thấy nhà đang có chuyện bất thường.

- Xin lỗi, tôi có thể nào gặp tổng trấn đại nhân?

- Thi Kỳ xách tay nải tới cổng, hỏi.

- Tiên sinh đây là...?

- Anh lính nhìn Thi Kỳ từ đầu tới chân.

- Tôi là thân quen của tổng trấn đại nhân.

- Thi Kỳ vội đáp.

- ...

ái nữ của Thi án sát đại nhân, Thi Kỳ?

Thi Kỳ giật mình.

- Phụ thân tôi đúng là quan án sát và tên tôi đúng là Thi Kỳ.

Nhưng tôi biết anh bao giờ?

- Mạc Hà này ai không biết danh tiếng họ Thi, hồi Thi án sát về thăm trấn này, tôi đang câu cá bên sông thì may mắn được thấy đoàn người hộ tống.

Tôi nhớ tôi có thấy thư sinh cầm cây quạt đuôi buộc hồng tơ này được gọi là Thi Kỳ...

Cây quạt trên tay Thi Kỳ đó, được gọi là một trong những "bảo vật" của điện Hưng Thánh, khi Thi Kỳ theo làm đệ tử Khuê Văn Khổng Tước đã được tặng.

Có khi nào nó sẽ giúp Thi Kỳ sống sót khi chấp nhận dấn thân vào loạn lạc không?

Anh lính gác mời Thi Kỳ vào trong, chỉ dặn thêm "tổng trấn đại nhân đi vắng, ở nhà chỉ có phu nhân" mà không đòi hỏi hay thắc mắc gì thêm, còn chỉ đường đến vườn giữa, nơi phu nhân quan tổng trấn thường ngồi thêu và uống trà.

Theo đường anh lính gác chỉ, Thi Kỳ đến vườn giữa; vừa tới cổng đã thoảng thấy hương trà thơm, tán dương liễu rủ xanh và tiếng cười của một bé gái.

Thi Kỳ nhòm vào, đúng là có một bé gái đang chơi đuổi bắt với cô nhũ mẫu và tổng trấn phu nhân ngồi bên hiên thêu tranh hạc.

Nhìn tổng trấn phu nhân, Thi Kỳ thấy có gì đó quen lắm...

- Thưa phu nhân, lệnh bà có khách!

Cô nhũ mẫu lên tiếng khi thấy bóng Thi Kỳ thấp thoáng bên cổng.

Tổng trấn phu nhân ngước mắt lên nhìn.

Có vẻ như Thi Kỳ đã từng thấy người này...

- Thư sinh nào lại đến tổng trấn phủ?

- Phu nhân hỏi.

- Học trò tên Thi Kỳ, từ Cấm Thành đến.

- Thi Kỳ đáp.

- Đi đi.

- Học trò chỉ...

- Đi đi!

Ta không muốn thấy bất cứ gì từ Cấm Thành nữa!

Đúng rồi!

Cuối cùng Thi Kỳ cũng nhớ ra.

Phu nhân quan tổng trấn không ai khác hơn là em gái Khuê Tước tiên sinh, Thi Kỳ đã từng thấy mặt một lần.

- Là...

Hoàng Oanh tiểu thư?

Tiểu muội của Khuê Văn Khổng Tước đại tiên sinh?

Phu nhân vội gạt phắt, quát:

- Ta không muốn nhắc tới kẻ đó!

Khổng Tước, Khổng Tước là cái gì chứ!

Một kẻ cậy có chữ luôn cho mình là nhất thiên hạ mà cứ tỏ ra vẻ thanh cao!

Một bông huệ đỏ tàn mà vẫn cho là cành ngọc lá vàng!

Thi Kỳ cố ghìm mình lại, không nên làm cho phu nhân cả giận.

Là tổng trấn phu nhân, ắt Hoàng Oanh phu nhân phải biết gì đó quan trọng về sự mất tích của tổng trấn đại nhân.

Bình tĩnh là thiết yếu bây giờ.

- Xin phu nhân thứ lỗi, học trò không rõ về quá khứ của đại tiên sinh cũng như những gì phu nhân đã trải qua nên có đôi lời thất lễ.

- Thi Kỳ cúi đầu xin lỗi.

Tổng trấn phu nhân như đã nguôi bớt cơn giận, lại ngồi xuống ghế và trầm giọng hỏi:

- Nói ta nghe, ngươi là ai, tới đây làm gì?

Thi Kỳ trong lòng như mở cờ, khẽ cười và vòng tay xưng danh và trình tất cả:

- Học trò An Tịnh công, chính danh Thi Kỳ, hiệu Trà Khiết, là đệ ngũ đệ tử của Khuê Văn Khổng Tước, thư đồng của Tử Hương Trưởng công chúa.

Học trò phụng lệnh Tể tướng đại nhân du hành về Mạc Hà để điều tra và xác thực có đúng tổng trấn đại nhân ở đây có quan liêu như lời đồn, nếu điều dân chúng đồn là đúng ngài sẽ cho người xuống xét tội...

- Nếu chỉ có vậy thì hà cớ gì ngươi phải tìm cách vào tận đây chỉ để gặp ta?

- ...

Trước khi đến tổng trấn phủ học trò có ghé thăm đại tiên sinh.

Và người đã tiết lộ tổng trấn đại nhân không phải quan liêu bỏ bê dân chúng, mà do ngài đột ngột mất tích, Mạc Hà không ai chăm nom nên mới ra nỗi.

Nghe tới đó, tổng trấn phu nhân đảo mắt đi chỗ khác, và Thi Kỳ thoáng đọc được trên môi phu nhân: "...

Tai mắt của đại tỷ...".

Hàng chân mày Thi Kỳ khẽ nhíu lại.

Có gì đó tổng trấn phu nhân đang cố giấu.

- Xin phu nhân hãy kể cho học trò những gì phu nhân biết về sự mất tích của tổng trấn đại nhân.

- Đi đi.

- Phu nhân, vì trấn Mạc Hà...

- Đi đi!

Bổn cung bảo ngươi đi!

Tổng trấn phu nhân khoát tay giận dữ xua đuổi.

Thi Kỳ không còn cách nào nữa là cáo từ.

Thật là chẳng biết được thêm gì, và chuyện này vẫn còn mơ hồ quá.

Tuy nhiên, trong mắt Thi Kỳ đã có điều nghi ngờ.

Thứ nhất là thái độ kỳ lạ của tổng trấn phu nhân, hai là cành dương liễu rủ bên hiên bị gãy.

Thi Kỳ tự hỏi nếu đại tiên sinh biết có ai đó đạp gãy cành dương liễu bên nhà thì người sẽ giận tới đâu.

Trên đường về, qua hành lang chính của gian trước, Thi Kỳ theo thói quen nhìn vào căn phòng nhiều sách - thư phòng.

Thật lạ.

Bên bàn đọc có kê lọ sứ khảm men rất đẹp, và cắm trong đó là cành dương liễu.

Trong một khắc đôi chân Thi Kỳ quên mất đường phải đi, đưa Thi Kỳ rẽ vào thư phòng.

Trong lọ sứ là cành dương liễu gãy.

Gãy vội vàng.

Dưới đáy lọ còn vương dăm vỏ dương liễu và một cuộn thơ.

Khúc đoản thơ mừng cưới với nét chữ quen thuộc:

"Tóc phủ hồng voan che mắt ngọc

Quận chúa thiên kim về nhà chồng

Cấm Thành hoa lệ tiễn chân bước

Kiệu vàng xe bạc tới chốn xa

Tướng công tài đức vừa đỗ Trạng

Nương tử danh giá dòng hoàng tôn

Mạc Hà xanh tươi màu thanh cúc

Chúc phúc phu thê trọn trăm năm"

Bỗng nhiên Thi Kỳ nhếch mép cười.

Đại tiên sinh hỡi, ngài viết than đời hay viết mừng ngày vui đây?

Không cần biết.

Nhưng cùng lúc đó Thi Kỳ cũng cảm thấy sống lưng lạnh ngắt.

Có lẽ, sắp có điều rất không hay.
 
Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Hồi thứ chín: Phím tơ trùng


Làm sao đây?

Thi Kỳ không còn biết phải làm gì tiếp theo.

Phu nhân tổng trấn không cho Thi Kỳ biết điều gì, và thật sự vụ mất tích của quan tổng trấn trong đầu Thi Kỳ bây giờ chỉ là màn sương mù dày đặc.

Thi Kỳ có phải thần thám đâu, cũng chẳng là Khổng Minh.

Chút chữ chút tài thế thôi, Thi Kỳ giờ nhận thấy mình bé nhỏ quá.

Những danh xưng người ta gọi Thi Kỳ sao mà nghe vĩ đại quá, nhưng người vĩ đại kia là người đã xa xôi...

"Đệ nhất thi gia" ư, "quân sư"...

ư?

Những danh xưng đó Thi Kỳ chưa bao giờ dám nhận.

Khuê Văn Khổng Tước ra đi để lại những áng thơ, Sa Liên lánh vào sử quán và đến giờ vẫn còn đó quyển binh pháp vô giá trên bàn trà, Hồng Tước đã xa rời trà thơm quạt giấy, còn An Viên từ lâu đã chẳng còn mặn mà với văn chương.

Chỉ còn Thi Kỳ ở lại...

Thi Kỳ rời phủ tổng trấn và lang thang khắp Mạc Hà khi trời đã tối hẳn.

Ánh trăng thượng tuần vàng như màu giấy cũ, sáng leo lét chỉ vừa đủ cho Thi Kỳ thấy bước chân mình tìm đường về ngôi nhà bên gốc dương liễu.

Đêm hè bỗng lất phất mưa.

Thi Kỳ bỗng nhớ một ngày mưa nhiều mùa thanh cúc trước, cái ngày cuối đông đó...

Nhà của Khuê Tước tiên sinh không khác mấy so với điện Hưng Thánh xưa, đơn giản và đầy sách, chỉ là nội thất tuyền gỗ dương liễu: bàn trà, ghế, khung cửa sổ, giường,... và cả cây đàn tam thập lục khắc viền lông khổng tước.

Thi Kỳ chưa nghe đại tiên sinh tấu tam thập lục bao giờ, đúng hơn là chưa bao giờ thấy đại tiên sinh chạm tay vào tam thập lục.

Nếu đại tiên sinh có chơi đàn thật chăng nữa, thì cũng chỉ có trời biết, đất biết, con sông cạn biết.

Bối rối tột cùng, Thi Kỳ ngồi xuống định gảy vài khúc đàn cho khuây, nhưng vừa khảy ngón, một sợi cứa ngang đau nhói.

Trên dây đàn vương giọt máu đỏ ngọt.

Bên ngoài chỉ có tiếng nước chảy, tiếng mưa trên nóc và tiếng ve kêu đều đều.

Thật là...

Thi Kỳ nghĩ thầm, so với điện Hưng Thánh, chốn này thật khác xa.

Ngày xưa điện Hưng Thánh có khúc đàn tam thập lục Thi Kỳ, giọng hát cao như tiếng phong linh của Sa Liên, hương trà thơm mùi thanh cúc và những đoản thơ không tên trong giọng ngâm trầm mà thanh ngát của Khuê Tước đại tiên sinh; bây giờ có còn gì hơn, không còn tiếng hát phong linh, không còn đoản thơ Khổng Tước, cũng xa rồi tiếng thụ cầm dây bạc hiếm hoi nơi vọng nguyệt đài của Hồng Tước hay tiếng gõ bút của An Viên đang chép những kế đánh trận kỳ lạ Sa Liên vừa nghĩ ra hay những khúc thơ tức hứng của đại tiên sinh...

Thi Kỳ lắc đầu chán chường, ngậm ngón tay cho đỡ đau rồi tấu một khúc tuỳ hứng.

Tiếng tam thập lục nghe không còn trong trẻo, mà trầm lắng như giọng thơ Khổng Tước.

Trầm lắng như tiếng mưa ngoài kia.

"Đêm lạnh sương giá gió đông

Chân ai rời chốn thư phòng thân thương

Ngoài kia tăm tối đêm trường

Người đi bỏ lại sương buồn trông trăng

Ra đi biền biệt tháng năm

Trà thơm cũng nhạt, thơ trăm vẫn sầu..."

Thi Kỳ khẽ hát.

Giọng không được ngân nga và trong vắt như Sa Liên, cũng không đậm tình được như giọng thơ Khổng Tước.

Những chuỗi những dòng suy nghĩ không tên ùa đến và vây quanh trong đầu Thi Kỳ...

Sao lại ra nỗi này?

Thi Kỳ bỗng cảm thấy mình lạc lõng giữa cõi trần nửa thực nửa hư.

"Nếu một ngày, tôi trở về cát bụi

Xin gửi lại những gì tôi thân thương

Cho người ở lại, cho đời sau kế tục

Kiếp này còn gì tôi vấn vương?

Những bằng hữu một đời tôi nợ

Lời thứ tha và sự im lặng thiên thu

Một khoảng trời trong xanh bỏ dở

Chấp nhận kiếp này đành phận phù du.

Thiên hạ gọi tôi là tinh tú

Xin nhường lại về đúng chủ nhân

Tôi chỉ là công anh nương gió

Theo chân người chậm bước phiêu du.

Thông thái Sa Liên và những hồi binh pháp,

Tay kiếm lẫy lừng tên Hồng Tước đệ tam,

Tinh anh An Viên vang danh là thiện xạ,

Thi Kỳ tôi chẳng dám sánh cạnh người.

Và cánh Khổng Tước bay hoài không than mỏi

Huyền thoại một thời đệ nhất thi gia

Chức cao tài trọng vẫn yêu thơ bình dị

Môn đệ chở che không điều kiện nửa lời..."

Thi Kỳ nhìn mặt sông in bóng dương liễu mà tức cảnh.

Ngón tay nhẹ khảy những phím tơ trùng.

Tiếng tơ trùng như tiếng lòng ai đó.

Ai đó vẫn hỏi Sa Liên những trời sáng sớm "Cấm Thành có gì lạ không con?"...

Khổng Tước mượn thơ giấu cõi sầu, Sa Liên chén rượu nồng làm khuây, Hồng Tước trăng khuya làm bằng hữu, An Viên chọn trà thơm quên buồn và Thi Kỳ lấy tiếng đàn làm vui.

Bây giờ mới dám nói, chức cao vọng trọng có là gì?

Chỉ là cái danh.

Cái danh của huyền thoại được tôn thờ bởi thiên hạ - những người không bao giờ hiểu được đằng sau cái danh đó là gì.

Tại sao ngũ thi gia điện Hưng Thánh lại luôn lánh khỏi thế giới bên ngoài?

Lánh xa khỏi miệng lưỡi và những cặp mắt soi mói của thiên hạ.

Người ta biết đến Khổng Tước và các môn đệ là gì?

Tài cao đức trọng, chính trực thanh cao?

Phải.

Và ai cũng biết ở đời, lương thiện khó sống.

Vì thanh cao đó, Khổng Tước quay lưng ra đi biệt xứ.

Vì thiện tâm đó, Sa Liên dìm nỗi sầu trong tửu trà.

Vì danh dự đó, vì chính trực đó, Hồng Tước và An Viên chọn đao kiếm thay thơ văn.

Ngày xưa mãi là ngày xưa.

Còn bây giờ, vận mệnh của Thi Kỳ, vận mệnh của Khổng Tước đại tiên sinh, vận mệnh của các môn đệ bằng hữu, vận mệnh của vương quốc...

đang như chỉ mành treo chuông.

Bách tính đói khổ, quan lại tranh quyền, biên cương loạn lạc...

Thi Kỳ không biết mình còn có ngày tao ngộ...

Tại Tân Ô Lương lúc này...

"Nếu một ngày, tôi trở về cát bụi

Sự nghiệp này, tôi để lại cho ai?

Ai sẽ chấp bút thay tôi viết tiếp

Những huyền thoại bị lịch sử bỏ quên...

Nữ thần công lý với tiếng tăm bất tử

Bông hồng cảnh vệ vươn cao giữa đất trời

Nữ vương thiện xạ vang danh là đệ Nhất

Và những huyền thoại chưa kịp sử lưu danh...

Những bằng hữu một đời tôi nợ

Giờ này đang ở phương trời nào

Giọt đắng đầy thêm niềm trắc trở

Một người đi, một người bơ vơ...

Ngày đi chiều màu thanh cúc tím

Bước chân nhẹ tênh, gió lặng im

Người ra đi đầu không ngoảnh lại

Để lại chiều xuân tím hoa sim..."
 
Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Hồi thứ mười: Dấu chân bên sông cạn


Đêm đó, Thi Kỳ mãi trăn trở.

Thái độ kỳ lạ của phu nhân tổng trấn, và sự thản nhiên đáng ngờ của gia nô.

Vậy là sao?

Tổng trấn đại nhân đột nhiên mất tích, và chấm hết?

Làm sao nó lại đơn giản tới vậy được?

Câu hỏi nối tiếp câu hỏi cứ vần vũ trong đầu Thi Kỳ.

An Tịnh công Thi Kỳ lẫy lừng Nội thành bây giờ đang bối rối và cảm thấy bé nhỏ vô cùng.

Đêm đó Mạc Hà mưa rơi nhiều.

Thanh cúc tím buồn dưới trăng.

Trăng sáng là người tình chung của thi nhân.

Trăng là nàng thơ lạnh lùng kiêu kỳ mà chung thuỷ, hay người tình xinh đẹp như cánh bướm lả lơi.

Tình nhân của nàng Hằng Nga nhiều tựa sao trời: Hàn Mặc Tử phương Nam, Lý Bạch phương Bắc, Khuê Văn Khổng Tước phương Tây...; và chính Thi Kỳ cũng là một kẻ bị ánh trăng quyến rũ.

Ai biết dưới ánh trăng lung linh kia ẩn chứa những gì...

Thi Kỳ tấu thập lục cầm hoà theo tiếng mưa và đọc sách trên tủ của Khuê Tước tiên sinh, đến gần rạng sáng mới thoáng thiếp đi một chút.

Phủ tổng trấn đêm đó...

- Kẻ đến gặp nàng ban sáng có phải Thi Kỳ?

- Chính nó.

Thi Kỳ thái phó ở Hưng Thánh điện.

- Nó có phát hiện ra điều gì chăng?

- Có lẽ chưa.

- Chưa thì tốt.

Còn... người đó?

- Người đó cứ ở ven sông, nhìn thì không quan tâm, nhưng có lẽ đã nghi ngờ phần nào.

- Ai chứ người đó thì không nên coi thường.

Nàng có đồng ý nếu ta khử cả hai?

- Người đó dù sao cũng từng là thái phó, lại dòng tôn thất, xin chàng đừng nên liều.

- Nàng nói gì cũng được.

Ta sẽ không để kẻ nào chia cách chúng ta lần nữa.

Ở cổng ra vào khu vườn bên ngoài phòng tổng trấn phu nhân, vô tình có một gia nô đi ngang, đột nhiên vừa bỏ chạy vừa la hét kêu cứu như gặp phải quỷ hiện về.

Sáng hôm sau anh ta biến mất.

Thật lạ rằng, khi tổng trấn đại nhân mất tích, mọi người lại xem như đó là chuyện thường, nhưng bây giờ một gia nô mất tích, cả trấn đều xôn xao.

Điều này quả không bình thường.

- Nếu Sa Liên có ở đây sẽ nói gì?

"Rành rành Hoàng Oanh phu nhân đứng sau vụ này"?

Thi Kỳ cũng thấy rõ là Hoàng Oanh quận chúa chẳng mấy ưa Khổng Tước đại tiên sinh, và môn đệ Khổng Tước ai cũng biết là quan quân trong triều đa phần dành cho vị thái phó một cái nhìn không mấy thiện cảm.

Khuê Văn Khổng Tước thật thà thì đó, nhưng thật thà quá tới mức làm người ta mích lòng.

Còn quan quân ghét Thi Kỳ và các môn đệ cũng vì lẽ đó, nhưng lý do thường là "tại vì các người là đệ tử của Khuê Văn Khổng Tước".

Vụ mất tích của quan tổng trấn có liên quan gì tới Khuê Tước tiên sinh chăng?

Cơn mưa hôm qua đã làm con sông cạn dâng nước, lá liễu lá phong trôi đầy từ thượng nguồn về.

Mạc Hà dạo gần đây hạn hán lại gặp chuyện không hay, nay có cơn mưa coi như được phúc.

Dân trong trấn vui mừng vì có nước tát ruộng, nhưng Thi Kỳ không vui.

Không vui vì thanh cúc héo nửa vườn, và không vui vì chuyện của tổng trấn đại nhân nhiều khả năng cũng sẽ trôi theo nước sông Mạc Hà.

Đêm qua mưa, đất ướt thành bùn, nhưng thanh cúc héo.

Thanh cúc héo không phải vì nắng hạn, mà bị gót giày tàn nhẫn nào xéo lên.

Một đường rãnh dài lê ngang qua vườn thanh cúc, trong và bên cạnh đường rãnh có đôi dấu giày vải giẫm lên mấy bông thanh cúc chưa kịp nở hết dẫn tới bờ sông cạn rồi biến mất, và ở bờ bên kia có dấu vó ngựa đã phai vì mưa.

Thi Kỳ có thể đoán ngay là người gia nô nọ đã gặp chuyện và bị kéo lê tới đây, sống hay chết không rõ.

Nhưng kẻ nào đã kéo anh ta tới đây, lại ngang nhà Khuê Văn Khổng Tước?

Đột nhiên một toán lính lác kéo tới trước cửa nhà, giáo mác hùng hổ, cùng với một vị bổ đầu trên phủ vừa xuống, tay cầm lệnh quan đã đóng dấu, đọc lớn:

- Khuê Tước ở trấn Mạc Hà, bị tình nghi có liên quan tới vụ mất tích của quan tổng trấn Mạc Hà và một người gia nô, nay lệnh giải về phủ điều tra xét xử!

Thi Kỳ nghe vậy thì lo như ngồi trên đống lửa, nhưng cũng cố lấy hết can đảm, giắt cây quạt vào thắt lưng và bước ra cúi đầu tiếp chào cung kính.

- Tôi là đệ tử của Khuê Tước tiên sinh.

Tiên sinh tôi đi vắng đã mấy ngày, không biết khi nào về, xin các vị thứ lỗi.

Tôi trông nhà cho Khuê Tước tiên sinh mấy ngày nay, nên có thể coi như tôi có liên quan cũng được.

Tôi theo các vị về phủ, không cần áp giải.

Bàn tay Thi Kỳ ướt lạnh mồ hôi và khẽ run rẩy trong ống tay áo.

Tình hình đang trở nên tồi tệ rồi, Thi Kỳ thấy rõ điều đó.

May mắn là Khuê Tước tiên sinh đã đi Cấm Thành ngày trước, nếu không thì bây giờ đã lành ít dữ nhiều.

Tuy nhiên, Thi Kỳ cũng không biết chuyến này có còn về được là Thi Kỳ để các đồng môn còn nhận ra, hay là một con ma ai oán không đầu.

- Cám ơn Thượng đế, đại tiên sinh không có ở đây, để con chịu tội.

Thi Kỳ nói thầm với chính mình.

Không phải một lời oán trách, vì Thi Kỳ coi như đây là để trả lễ và ơn nghĩa bao nhiêu năm được che chở dưới đôi cánh Khổng Tước bay hoài không than mỏi.

Bao nhiêu năm với những hoài nghi, với những lời xàm tiếu, với những khốn khổ và nhục nhã, Khổng Tước đó vẫn không bỏ rơi đệ tử mình; dù định mệnh buộc người phải bỏ đi.

Thi Kỳ coi như đây là trả nợ ân tình mình nợ với điện Hưng Thánh, với các môn đệ và đại tiên sinh.

Hoặc trở về còn sống và vô tội để mỉm cười và làm thơ, để chung chén rượu với Sa Liên, để nghe khúc thụ cầm Hồng Tước; hoặc trở về là hòm gỗ cài hoa an nghỉ muôn đời tên tuổi một vết nhơ là kẻ sát nhân.

Vậy thôi.

Ở Tân Ô Lương lúc này...

- Đại tiên sinh?

Đang giữa trưa mà Khổng Tước cảm thấy lạnh người, run lên.

Hẳn là chẳng lành.

Chuyện gì đã xảy ra ở Nội thành, hay điều không hay đã tìm đến một trong các đệ tử mình chăng?

Sa Liên kề bên thì không lo rồi, nhưng còn Hồng Tước, còn An Viên, còn Thi Kỳ?

Tai ương hay tìm tới người tài, nên chuyện không may có đổ xuống điện Hưng Thánh, cũng chẳng lạ.

Khổng Tước một mình đau khổ đã đủ rồi, nghĩ tới chuyện đệ tử mình không may... chẳng đành.

- Ta để Thi Kỳ lo chuyện ở Mạc Hà, không biết có ổn không...

- Con tin là ổn hết, người quá lo.

Thi Kỳ chẳng là gì, chỉ là đệ tử của Khuê Văn Khổng Tước.

Mà đệ tử Khuê Văn Khổng Tước, ắt chẳng ai loại vừa.

Sa Liên cười để trấn an.

Nói vậy thôi chứ cũng lo lắm.

Bốn người, cùng một thầy, cùng một học điện Hưng Thánh, chẳng phải bào tỷ muội chi, nhưng coi nhau vẫn là chị em kết nghĩa, đồng môn.

Thi Kỳ mà gặp nạn, danh dự đâu Sa Liên nhìn mặt Khuê Tước tiên sinh và các môn đệ nữa.

Còn Hồng Tước và An Viên, chốn quan trường và xứ biên cương đầy dẫy hiểm nguy, nhưng dù sao cũng bao năm cung kiếm, Sa Liên chẳng lo nhiều.

Thi Kỳ kia, vốn chỉ biết văn chương và tam thập lục, chưa bao giờ dấn thân vào bí ẩn, ai biết có toàn mạng về chăng?

- Nếu có chuyện không may, làm sao tôi còn dám tự nhận là đại sư tỷ của cận vệ Thái tử, của Tiền tướng quân, của An Tịnh công đây...?

Sa Liên giận mình vì đã không đi Mạc Hà thay Thi Kỳ, tại sao đại tiên sinh lại để một thi sĩ lo chuyện phá án chứ không phải người từng mệnh danh "thần thám" - Sa Liên đây?

Sa Liên cũng không dám hỏi.

Tuy nhiên, việc thâm nhập vào căn cứ phiến loạn ở Kinh Xuân không chỉ một mình Khuê Văn Khổng Tước làm nổi, và người đi theo cần thiết nhất không phải An Viên hay Hồng Tước, mà là đại sư tỷ Sa Liên.

Chuyện bây giờ thật quá rối ren, thôi thì cứ tin vào định mệnh.

Ở Mạc Hà, Thi Kỳ đang thầm cầu cứu Sa Liên...
 
Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Hồi mười một: Biên cương nổi sóng


Tại miền biên giới phía Tây của Hoa Nữ quốc, đang có biến động.

Chiến trận từ nước láng giềng Tịnh Hà đang dần lan sang, thôn xóm nơi biên giới ngày ngày chịu cảnh khói lửa đao binh.

Trai tráng ra đi vào địa phương quân, phần lớn không trở về, còn quan phủ nơi này đã tản đi từ lâu.

Biết tình hình nguy cấp, quân triều đình được phái ra trấn giữ, dẫn đầu là Ngọc Phụng đại tướng quân.

Đi theo là Tiền tướng quân An Viên, một trong những đệ tử của Khuê Văn Khổng Tước, một người cung kiếm đều thạo mà văn chương cũng tài.

Tuân mệnh triều đình và lời Khuê Văn Khổng Tước dặn, An Viên khoác chiến y ra biên cương, hòng mang chút tài cống hiến cho vương quốc.

Hồng Tước ở lại Nội thành bảo vệ hoàng tộc, sau cùng nếu cuộc chiến láng giềng trở thanh cuộc chiến của vương quốc, Hồng Tước sẽ là người đầu tiên truất ngựa ra trận cùng đệ tam An Viên.

Miền biên cương mùa này lạnh.

Sương xuống nhiều, mưa cũng nhiều.

Bên kia biên giới khói lửa ngập trời, bên này biên giới cũng vang tiếng kiếm cung, và đâu đó có tiếng thở dài của vị tướng tiền quân.

- Sao vậy An tướng quân?

Lo lắng điều chi ở nhà hả?

- Thưa nguyên soái không.

Ở quê nhà có còn gì để lo, chỉ lo có chuyện không may cho...

- Lo cho đồng môn hả An tướng quân?

Ngọc Phụng đại tướng quân cười, ân cần bước tới chỗ An Viên và chìa ra chung rượu hồng mời vị Tiền tướng quân.

- Thưa nguyên soái, bốn người ai cũng theo Khuê Tước đại tiên sinh lâu lắm rồi, nên nói là người nhà cũng chẳng khác gì.

Nên...

- Nếu lo vậy là, An tướng quân có coi thường họ chăng?

- Ngọc Phụng đại tướng quân bật cười.

- Thưa nguyên soái tôi nào dám coi thường họ!

- An Viên kính cẩn đón chung rượu và đáp.

- Nếu vậy An tướng quân phải tin vào họ.

An Viên khẽ quay mặt đi.

Tin vào họ?

Từ khi nào An Viên đã không còn niềm tin tưởng?

Từ cái ngày Khuê Tước tiên sinh ra đi.

Đêm trước đó, người dặn Sa Liên để nói lại với mọi người: "Tình hình quan trường Nội thành không ổn, ta xin lỗi nhưng có lẽ trong bốn hay sáu tuần trăng tới các con sẽ không thấy ta nữa.

Sa Liên trông coi điện Hưng Thánh và các môn đệ con; khi nào sóng gió tạm yên, ta về".

Ừ thì Khuê Tước tiên sinh nói vậy, nhưng người không bao giờ về nữa.

Đã bao nhiêu năm rồi?

Không đếm được đã bao nhiêu năm, chỉ nhớ là, Thi Kỳ ngày đó còn là một đứa bé, còn bây giờ...

- Đồng môn thì phải tin nhau chứ hả, An tướng quân!

- Ngọc Phụng đại tướng quân cười.

- Nguyên soái có ngây thơ quá rồi...

- An Viên chỉ cười trừ.

- Này, ngày xưa chúng ta là đồng môn, ta, Tề Hàn tể tướng với cả Khuê Văn Khổng Tước.

À, cả Đoàn thượng thư.

Ta nhớ thì Trưởng công chúa có cùng học với chúng ta một lúc...

Giữa ta với Tề Hàn không được bình yên cho lắm, nhưng lại tin tưởng nhau vô cùng.

Khuê Văn Khổng Tước học cùng chúng ta chẳng có bao lâu thì khăn gói đi học xứ cờ hoa, mười mấy năm đó; khi trở về bọn ta ngạc nhiên vì bằng hữu danh bỗng lẫy lừng.

Quả không tưởng nổi...

An Viên mắt nhìn màu rượu hồng, bỗng đổi giọng nửa tò mò nửa phấn khích:

- Vậy... nguyên soái thấy đại tiên sinh thế nào?

Ngày còn là đồng môn của nguyên soái?

- Khuê Văn Khổng Tước... ngày xưa đó hả?

Ta phải nói sao đây?

- Ngọc Phụng đại tướng quân kể, lại vừa cười - Thông thái tựa Khổng Minh, hồn nhiên như Tất Nhiên, ngây thơ như Mặc Tử, mà thi cử lận đận như Tú Xương...

An Viên cũng cùng cười.

Tới bây giờ vị tướng quân mới biết một chút của cái "ngày xưa" Khuê Tước tiên sinh vẫn thường hay lảng tránh khi các môn đệ hỏi.

Ừ, nhất là phần "thi cử lận đận".

Lần đầu tiên An Viên thấy một Khuê Tước tiên sinh thật khác, một chút đáng ngưỡng mộ và một chút đáng thương.

- Chúng ta bị tấn công!

Có tiếng lính lác gọi nhau, báo động.

Có vài cái bóng mang theo giáo gươm len vào trại làm cho sự tình càng thêm hỗn loạn.

Phe ta với phe địch chẳng nhận được ra nhau.

Bỗng, có kẻ xông tới chỗ hai vị tướng quân trên đồi từ phía sau.

Nhận thấy điều nguy hiểm, An Viên buông chung rượu và kéo căng cánh cung, sẵn sàng ứng chiến.

- Gặp nhầm người rồi, kẻ giấu mặt thân mến.

Tiền tướng quân An Viên này chưa ngắm trật ai bao giờ đâu.

Nghe tên An Viên, kẻ kia bỗng đứng khựng lại, dần lùi đi và cuối cùng bỏ chạy.

- Này tướng quân, cũng có người vừa nghe danh tướng quân đã chọn tẩu vi thượng sách rồi hả?

- Đối phương chạy khi chưa kịp nhấc tay không làm tôi vui đâu thưa nguyên soái.

- An Viên đáp, trên môi nở một nụ cười nhạt.

- Nghe danh An Viên tướng quân, phe kia khiếp sợ; nghe danh Ngọc Phụng nguyên soái, ai cũng nhào tới mà đánh.

Ta mới là người không vui về điều đó, tướng quân à.

- Ngọc Phụng đại tướng quân đùa.

An Viên chùng dây cung lại và đưa mắt nhìn xuống quanh sự hỗn độn trong trại.

Có vài ba lều cháy, người người hối hả tìm ra suối lấy nước, quân lính phe mình và phe địch bị thương nằm rải rác khắp nơi.

Lúc này đang là canh hai, trời tối mịt.

Ánh sáng rõ nhất bây là những ánh đuốc và những ngọn lửa từ từ lớn dần từ những căn lều phía xa.

- Nguyên soái có thấy lạ không?

Theo như ngài đoán thì cuộc tấn công này... là của thảo khấu hay từ Tịnh Hà quốc?

- Bên nào cũng chẳng có gì khác nhau.

- Ngọc Phụng đại tướng quân đáp - Nhưng điều này cho thấy, tình hình phải nguy lắm rồi!

An Viên lao xuống đồi và đến cạnh một người thuộc phe kia, đang cố rút mũi tên ra khỏi chân để băng lại, nhưng càng cố, máu càng chảy nhiều.

- Đừng cố rút nó ra nếu còn quý cái mạng.

An Viên bước tới gần người nọ.

Mặt anh ta bỗng tái lại, và miệng cứ mấp máy không nói nên lời.

- Ngồi yên, chốc nữa quân y tới cứu.

Nhưng trước đó, cho phép ta được hỏi chứ?

Người kia gật đầu, người run cầm cập, nhung vẫn cố tỏ ra bình tĩnh.

An Viên hỏi:

- Các người từ đâu tới?

Là người Hoa Nữ hay Tịnh Hà?

Thảo khấu hay địa phương quân?

- Tôi... chúng tôi... chỉ là dân thường.

Đói quá... nên đi cướp.

- Hoang đường!

Nếu chỉ là cướp, đã không ngu ngốc mà xông vào trại quân triều đình!

Vị tướng quân gằn giọng, có sự nghi ngờ đáng sợ hiện lên trong mắt.

- Tôi... nói thật.

Chúng tôi dân trấn Phong Hành Sa, ngay cạnh biên giới Tịnh Hà, dạo mấy năm gần hay bị tấn công.

Thảo khấu hay quân lính chúng tôi không biết, mỗi lần tới là lấy đi gần hết lương thực.

Tổng trấn đại nhân có gửi sớ cầu cứu lên kinh mấy lần, nhưng Trưởng công chúa chẳng nghe, rồi mới hôm kia ngài qua đời, chẳng biết vì lý do gì.

Dân trấn tan tác vì đói, nên đi cướp, khi thấy có người, chẳng cần biết quân hay dân, chỉ cướp thôi.

Chúng tôi chỉ muốn lương thực, không còn gì nữa.

Người kia nói một mạch rồi ngừng lại thở dốc, mắt sợ sệt nhìn lên An Viên.

Ánh mắt vị Tiền tướng quân hướng đi xa xăm, không biết có nghe hết câu chuyện hay không, nhưng người nọ thoáng nghe được mấy chữ thốt ra:

- Chẳng trách...

Đại tiên sinh bỏ Cấm Thành, bỏ cái danh Thái phó mà đi...

Người nọ ngước nhìn lên An Viên.

- Thái phó...

Tôi nhớ cách đây mấy năm có một vị, xưng "từng là Thái phó", tới thăm trấn.

Gọi là Thái phó mà ăn mặc đơn giản lắm, giống một thư sinh vậy.

Vị đó từng trọ nhờ nhà tôi, một đêm, sáng hôm sau để lại hai nén bạc.

Bạc đó tôi đem chia hết cho hàng xóm...

Trong mắt An Viên tan biến hết nỗi nghi ngờ, mà ánh lên sự ngạc nhiên.

- Vị thái phó đó... là...?

- Tôi nhớ rõ.

- Người nọ dừng một chút và rên lên vì đau - Áo màu thanh cúc, trâm bạch khổng tước, luôn cầm một cây quạt thêu rất đẹp.

Mắt An Viên mở to.

Trong những năm viễn xứ, đại tiên sinh đã làm gì?

Ngài đã đi những đâu hay chỉ ngồi đó bên con sông cạn mà làm thơ với tạo nên những áng văn chương không tên; những con đường có lá me bay, những gốc cổ thụ cạnh vọng nguyệt đài ở điện Hưng Thánh?

Đời tàn nhẫn, nhưng An Viên chưa bao giờ nghĩ lại tàn nhẫn như này.

Hoa Nữ quốc huy hoàng ngày nào đâu?

Đâu rồi những vị thanh liêm một thời thịnh vượng?

Hạn hán rồi mất mùa, rồi chiến tranh, rồi người ta đói, đói quá phải đi cướp; người bị cướp cũng đói và phải cướp để sống.

Sự tàn nhẫn như vòng lặp lẩn quẩn vậy.

Nhìn một vòng quanh trại lính, An Viên thấy đúng là họ chỉ là dân thường, chẳng phải loại thảo khấu nhắm vào châu báu ngọc vàng, nhưng sự tình đã thành như vậy, tức thực là Hoa Nữ quốc đã không còn yên bình nữa rồi.

Tân Ô Lương một chiều vắng lặng...

Khuê Văn Khổng Tước nhìn ra cửa sổ một căn quán trọ, cốc trà thơm ngát trên tay.

Sa Liên ngồi một góc, viết gì đó lên tập giấy, viết rồi lại lắc đầu xé bỏ.

Khuê Tước tiên sinh vẫn ngồi đó, tới khi trà đã lạnh, đèn đã tắt và Sa Liên gục ngủ bên bàn bút, một tờ giấy vò nắm trong tay.

Khuê Tước tiên sinh ghé nhìn sang Sa Liên gối đầu lên tay áo mà ngủ, miệng khẽ mỉm cười.

- Nếu như các con không phải học trò ta, thì đời các con có được đẹp đẽ hơn chăng?

Bấy nhiêu năm các con theo ta, ta đã cho các con được gì đâu ngoài đau thương hả các con?

Cũng từng đó năm ta lại viễn xứ.

Nhưng mà... nếu không có Sa Liên, Hồng Tước, An Viên, Thi Kỳ... thì chắc gì ta đã tự hào về cái tên Khuê Văn Khổng Tước...

Tôi đây viễn khách trọ xứ người

Quê nhà giã biệt ngót mười năm

Bấy giờ mới về một lần thăm

Hoa cỏ bên đường nhìn xơ xác.

Bằng hữu môn đệ ai còn, mất;

Chiến hữu hai người ở nơi đâu?

Mấy mùa thanh cúc, mấy mùa dâu

Vắng bóng tin nhau lòng xa cách;

Chung một nỗi niềm người viễn khách,

Lấy chốn quê người làm quê hương.

Tân Ô Lương chiều thu gió lạnh

Giống đêm xưa tôi rảo bước rời thành

Người ra đi đầu không ngoảnh lại

Lòng trĩu lệ buồn sương trắng vai.
 
Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Hồi mười hai: Bạch Hạc


Tình nghi là thủ phạm trong vụ mất tích của tổng trấn đại nhân và người gia nô, Thi Kỳ bị bắt về phủ để điều tra.

Thấy quan quân đi lại khắp nơi, dân chúng biết có chuyện gì vừa xảy ra, kéo nhau tới công đường nghe ngóng.

Tội phạm mà họ thấy chỉ là một thư sinh, trông hiền lành và vô tội.

Ừ thì thấy là vậy, nhưng họ cũng nghĩ, những thiên thần thường mang ác quỷ trong tâm, nên những gì Thi Kỳ nhận được là vài ba ánh nhìn thương hại và còn lại làm ngơ.

Quan phủ vừa thấy Thi Kỳ đã dành cho học trò của Khuê Văn Khổng Tước cái lườm sắc lạnh.

Và thay vì khúm núm cúi đầu, Thi Kỳ đáp lại với một nụ cười nhạt.

Điều này làm quan phủ nổi giận, đập án thư và quát:

- Tội phạm kia còn không mau quỳ xuống!

Nụ cười của Thi Kỳ tắt ngấm.

Hai bên là quân lính giáo mác sáng choang, trước mặt là quan phủ, sau lưng là người dân, tứ phía đều có mắt.

Thi Kỳ trước tể tướng vẫn ngẩng cao đầu, lý chi hạ mình trước một quan phủ?

Tất nhiên là quan phủ đâu biết điều đó.

Nhưng, nhường bước vẫn hơn, Thi Kỳ cúi đầu tuy nhiên vẫn không chịu quỳ.

- Ta hỏi lại, tại sao ngươi không quỳ xuống?

- Tôi chẳng có tội, lý nào lại quỳ trước ngài để ngài buộc tội?

Thi Kỳ lên tiếng tỏ sự can đảm và trong sạch của mình, nhưng dưới chân lại run rẩy như đứng trên băng, tưởng chừng như có thể ngã xuống bất cứ lúc nào.

Quan phủ lườm mắt xuống người đang đứng dưới kia, như một con sói muốn ăn tươi nuốt sống con mồi, tuyên:

- Tội phạm Khuê Tước, có liên quan tới sự mất tích của quan tổng trấn Mạc Hà và một người gia nô, giam trong ngục chờ điều tra!

- Bẩm, tôi không phải Khuê Tước.

Tiên sinh tôi vắng nhà đã mấy ngày, khi người gia nô đó mất tích, chỉ có tôi ở nhà!

Quan phủ quay sang nhìn viên chủ bộ, cầu cứu điều gì chỉ có họ biết, rồi lại đập án thư, hỏi:

- Vậy ngươi là ai?

- Bẩm, học trò họ Thi tên Kỳ, quê Mạc Hà, từng theo học Khuê Tước tiên sinh.

Viên chủ bộ bên tay hữu thận trọng ghé mắt sang nhìn Thi Kỳ, trên môi khẽ mỉm cười, thì thầm với chính mình: "Chà, chẳng phải con chim nhạn bé nhỏ nương theo cánh khổng tước đây sao?".

Quan phủ không muốn dây dưa thêm, kết thúc phiên xử ngay và khoát tay lệnh cho lính giải Thi Kỳ xuống ngục.

Thi Kỳ cũng chẳng dám kháng, mà đi theo.

Trong ngục chẳng đi tìm được tổng trấn đại nhân, nhưng nếu vụ điều tra kéo dài, ít nhiều cũng đảm bảo được toàn mạng tới khi có người cứu; có thể là Sa Liên, hay ai đó, ai cũng được.

Căn ngục giam Thi Kỳ ở cuối hành lang, tường hai vách đá, liên kết với ngục khác bằng song sắt, có ô cửa sổ nhỏ cao quá tầm với ở mỗi bức tường.

Lúc này Thi Kỳ là người duy nhất bị giam ở đây.

Lẻ loi, thậm chí lính gác cũng chỉ một người canh.

Hàng ngày tới bữa có cháo trắng với dưa muối, lính gác cũng ăn vậy, chỉ khác là có chút thịt kho hay thi thoảng là cá.

Chẳng ai tới thăm, chẳng có gì hết.

Bên ngoài cửa sổ, đôi lúc Thi Kỳ nghe tiếng họp chợ xôn xao, tiếng chân xe ngựa, và thường thấy nhất là tiếng lính gác đi lại nói chuyện phiếm với nhau.

Buồn chán, Thi Kỳ cũng không có hứng làm thơ; và nhiều ngày đã trôi qua mà chẳng có tin tức gì về vụ án.

Rốt cuộc, vụ mất tích của quan tổng trấn đã thật trôi theo nước sông Mạc Hà hay chưa?

Nhiều ngày qua đi, Thi Kỳ không biết mấy ngày, sắp hết hạn ba tuần trăng Trưởng công chúa cho phép mà bây giờ vẫn còn trong ngục; Thi Kỳ tự hỏi, nếu một ngày được cứu, trở về Cấm Thành, có phải lãnh án chăng?

Bị truất phẩm, giam hết đời trong ngục tối, hay tệ hơn là bất cứ hình tử nào bá quan có thể nghĩ ra để gán cho Thi Kỳ về tội "phản bội triều đình, khi quân phạm thượng, bỏ bê công vụ, và nhiều nữa những tội không biết mình có thật phạm phải hay không"?

Thi Kỳ đếm ngày trôi qua, im lặng không nói một lời và giết thời gian bằng cách suy nghĩ.

Hết nghĩ về những gì đang chờ đón ở Nội thành, lại đến nghĩ về tại sao tổng trấn đại nhân mất tích.

Nhưng ôi, đâu được con mắt tinh tường và cái đầu sắc bén như Sa Liên, Thi Kỳ không biết phải bắt đầu từ đâu.

Làm sao một vị tổng trấn mất tích khi gia đình ngài vẫn sinh hoạt như thể ngài chưa từng mất tích?

Lý do gì mà một người gia nô cũng biệt tăm, lại đúng khi Thi Kỳ định nhúng tay vào vụ này?

Kẻ nào đã báo quan phủ về sự mất tích của người gia nô, và tại sao là quan phủ chứ không phải quan huyện; vì ngục ở phủ khó thoát hơn chăng?

Hơn nữa, mục tiêu của kẻ đó ắt là Khuê Văn Khổng Tước, ít nhất thì đó cũng là điều duy nhất Thi Kỳ dám chắc.

Một đêm nọ, đang canh tư, bỗng có người xuống ngục.

Thật lạ, ai thèm đi thăm Thi Kỳ?

Người duy nhất ngoài Thi Kỳ ra ở đây là anh lính gác, nay lại có một người.

Anh lính gác nọ đang ngủ say, có lẽ anh không màng canh giữ vì biết người tù chẳng thèm tìm cách vượt ngục.

Thi Kỳ đang cuộn mình trong tấm đệm rơm, mắt thiếp đi trong giấc ngủ chập chờn, bỗng choàng dậy vì tiếng lách cách của ai đó đang mở cửa song sắt.

Tiếng khá nhẹ, chỉ có mình Thi Kỳ nghe.

Người đó mang theo một cái gói và trên tay là ánh nến, qua ánh nến giữa màn tối trong ngục, Thi Kỳ nhận ra đó là viên chủ bộ.

- Thật đường đột khi tới thăm giờ này, nhưng mà... chỉ có giờ này chúng ta mới có thể nói chuyện mà không bị để ý.

Cái gói rơi xuống lòng Thi Kỳ, nóng ấm và ngon lành.

Chà, bánh nướng.

Chắc vừa thó từ trong bếp, Thi Kỳ cũng chả quan tâm.

- Thi Kỳ, phải chứ?

Thi Kỳ gật đầu, vẫn không nói gì.

- Thi Kỳ này với An Tịnh công đệ tử Khổng Tước thái phó là một phải không?

Thi Kỳ mở to mắt ngạc nhiên, nhưng vẫn chỉ gật đầu.

- Tiền bối hay nhắc về đám đệ tử, giờ mới gặp được một ở đây.

Chủ bộ tiên sinh cười.

- Ngài... quen với tiên sinh tôi?

Mấy từ đó Thi Kỳ bỗng thốt lên sau nhiều ngày im lặng.

Chủ bộ tiên sinh chỉ đặt một ngón tay lên môi và mỉm cười.

- Khổng Tước phương tây, Bạch Hạc đông

Kết nghĩa trường thi bức tường hồng

Đi cùng một đường nhưng hai ngả

Trời hai phương, đường cách hai sông...

Mắt Thi Kỳ vẫn mở to, trơ như tượng, gói bánh nướng trong tay chưa mở ra.

Chủ bộ tiên sinh vẫn cười hiền lành, ngồi xuống cạnh Thi Kỳ, Thi Kỳ cảm thấy người này có gì đó khá giống Khuê Tước tiên sinh, thông thái nho nhã mà có đôi chút ngây ngô; có khác là người này lòng không sâu thẳm và muôn màu như đại tiên sinh.

- Nghe nói Khổng Tước tiền bối yêu thương đứa học trò bé nhỏ này hơn Sa Liên hả?

- Chủ bộ tiên sinh đùa.

- À, thưa, - Lý trí Thi Kỳ trong một khắc trở về hiện tại - đứa đệ tử bé nhỏ này đâu có gì bằng Sa Liên để được đại tiên sinh để ý hơn...!

Bạch Hạc tiên sinh, phải không?

Tại sao đêm khuya này tiên sinh lại xuống ngục tìm tôi?

Bạch Hạc tiên sinh khẽ gật đầu.

- Vì ta không tin người ta lại tin cái bẫy vớ vẩn về vụ mất tích của người gia nô nhà tổng trấn Mạc Hà.

- Tiên sinh biết...

Bạch Hạc tiên sinh buông một tiếng thở dài nghe đầy tuyệt vọng.

- Ta biết, con ơi.

Ta không phải thần thám như Sa Liên, nhưng nhìn hiện trường ta cũng biết điều gì đã xảy ra.

Ba ngày trước ta đã làm một chuyến về Mạc Hà, hiện trường tuy có xáo trộn nhưng vẫn còn rõ ràng, và câu hỏi duy nhất đáng để ta nghi ngờ là: Thi Kỳ có thể kéo lê một người đàn ông từ phủ tổng trấn ra đến sông cạn?

- Không.

- Đương nhiên không.

Nếu thật là Thi Kỳ, thì thủ phạm sẽ không chỉ một người.

Ai có thể là đồng phạm ngoài Khổng Tước tiền bối?

Tuy nhiên, con nói ngài rời Mạc Hà đã mấy ngày, tức chuyện Thi Kỳ là thủ phạm trong hai vụ mất tích là chuyện khó mà tin được.

- Nhưng không ai nghĩ, hoặc không ai biết điều đó.

- Phải.

Trừ phi là người trong cuộc.

Quan phủ đời nào tin chúng ta, mọi chứng cứ đều chỉ về con và con là người duy nhất hiện tại không có gì để chứng minh vô tội, nên ta e là... ta xin lỗi.

Ta có lỗi vì không giúp được gì nhiều cho con.

Thi Kỳ cúi đầu, mắt ướt chỉ chực trào lệ.

Ai đây mà lại thương cho Thi Kỳ?

Không phải Khuê Văn Khổng Tước đại tiên sinh, chẳng phải mẫu thân, chẳng phải An Viên hay Sa Liên hay Hồng Tước; chỉ là một người xa lạ.

Một mình Thi Kỳ trong điện Hưng Thánh lớn lên, chỉ nghe khổ đau bên ngoài rồi lấy làm đồng cảm, tâm hồn trong sạch mà nặng đầy đau khổ tự gieo trong lòng; đau khổ vì bị bỏ rơi, vì những lời xàm tiếu của những kẻ ghen ghét, đau khổ vì lẻ loi giữa biển người, cả khi đồng môn kia cách nhau chỉ vài cung điện.

Giờ đây có một người thương cho Thi Kỳ, không vui làm sao được?

Không cần biết người thật lòng hay người giả dối, lòng nay cũng nhẹ bớt vài phần.

- Sao tiên sinh... xin lỗi con?

Con có quen biết tiên sinh bao giờ?

Bạch Hạc tiên sinh chỉ cười, nụ cười hiền lành như bóng dương liễu và Thi Kỳ cảm thấy như sao được an ủi.

- Một ngày nếu không còn cánh khổng tước che chở con, rồi các con cũng tìm đến ta mà nương tựa.

"...

Nếu không còn cánh khổng tước che chở...", Thi Kỳ chưa từng, nếu không nói là chưa bao giờ dám nghĩ tới cái ngày đó.

- Khổng Tước đại tiên sinh sẽ không bỏ rơi con... cũng như ngài sẽ không bỏ rơi Sa Liên, hay Hồng Tước, hay An Viên, hay bất cứ ai...

Bạch Hạc tiên sinh đứng lên và rời buồng giam, trước khi có ai đó phát hiện.

Trời sắp rạng rồi, và anh lính gác kia cũng không ngủ hoài được đâu.

Trước khi quay đi, Bạch Hạc tiên sinh dặn:

-

Sau này rồi sẽ có một ngày, cánh khổng tước sẽ không còn che chở được con nữa.

Khổng Tước nào phải Phượng Hoàng, con ơi; và khi ngày đó tới, các con sẽ phải tự tung cánh bay, hoặc nương nhờ bạch hạc phương này...

Ta có thể giúp con thoát khỏi đây, nhưng bí ẩn này con phải là người vén màn.

Con có thể sẽ là tội phạm bị truy nã, nhưng ta không màng điều đó.

Nếu có ngày con gặp trắc trở và không còn cánh khổng tước để nương theo, hãy nhớ, bạch hạc này luôn sẵn sàng dang rộng cánh chở che các con thay người tiền bối...

Nói xong, ánh nến của Bạch Hạc tiên sinh đi khuất trong bóng tối của ngục giam.

Thi Kỳ vẫn ngồi đó, nước mắt trào đẫm tay áo.

Ở Tân Ô Lương lúc này...

- Hai tuần trăng rồi con ơi, ta thấy có điều không ổn...

- Vì phải chăng gió quá lặng nên đại tiên sinh bất an?

Sa Liên và Khuê Tước tiên sinh lúc này đang trọ lại Tân Ô Lương trước khi tìm được con đường nào băng tới Kinh Xuân mà không bị phát hiện bởi thảo khấu hay quân phiến loạn.

Căn trọ của hai người nhỏ thôi, nhưng cũng đủ để làm chốn bí mật vì chẳng mấy người lui tới nơi này.

Một tấm bản đồ treo bên bàn bút, Sa Liên hay ngồi đó, hoặc chép những câu thơ vẩn vơ của đại tiên sinh hoặc soạn kế sách đột nhập, viết rồi lại lắc đầu và vò xé bỏ đi.

Khuê Tước tiên sinh thì chỉ hoặc là đứng bên cửa sổ tức cảnh hoặc là lang thang ngóng chuyện dân tình, nhưng những tin đồn chốn chợ trời đó lại có ích cho Sa Liên.

Chỉ tội mỗi ngày mỗi thị trấn mỗi khác nhau, vì vậy mà có được tin xác thực chuyện trong trấn không dễ chút nào.

Chuyện phức tạp thêm lên khi thiên hạ thoáng biết sự có mặt của Khuê Tước tiên sinh và Sa Liên, hai người trước đây có từng "làm mưa gió" vì tiếng tăm bất hủ của mình, nếu tin đồn tới tai quân phiến loạn, thì coi như xong.

Vì lý do đó, mấy hôm nay hai người chỉ quanh quẩn trong căn trọ.

- Ừ, gió lặng quá.

Gió lặng thì có thể tốt, nhưng gió lặng vào lúc này, ắt có chuyện không ổn.

- Chắc đại tiên sinh quá lo rồi.

- Sa Liên tự trấn an.

- Có thể là tại ta thật...

Bỗng ở dưới chợ kia có tin rao:

- Quan phủ Định Gia đã bắt được kẻ đứng sau vụ mất tích của tổng trấn Mạc Hà, nhưng tới nay vẫn chưa biết tung tích của ngài!

Khuê Tước tiên sinh và Sa Liên bốn mắt nhìn nhau nửa nhẹ nhõm nửa lo lắng.

- Tin từ Định Gia phủ thì nghe đâu hắn có quen biết với tổng trấn phu nhân, tên là Khuê...

Tước... gì đó!

Trên lầu căn trọ, nghe hết những chuyện ở dưới, Khuê Tước tiên sinh buông một tiếng thở dài, miệng cười nhưng mắt buồn thăm thẳm.

- Thôi rồi con ơi...!

Có kẻ nhắm mũi tên vào ta, nhưng người nhận nó lại là Thi Kỳ...!

- Đó là lý do gió lặng mấy ngày nay chăng?

- Hẳn rồi con ơi.

Thôi chuyện Kinh Xuân gác lại, ta về Định Gia một chuyến, trước khi quan phủ dụng quyền xét xử oan Thi Kỳ.

Đáng lẽ ra ta phải để con đi theo nó...

Sa Liên cũng đã nghĩ nhiều về điều đó rồi, nhưng lại thấy, để Thi Kỳ một mình tự đứng lên thì tốt hơn.

Tuy nhiên, nếu như về, chuyện nơi này ai lo?

Vả lại, Sa Liên cũng biết tại sao đại tiên sinh lo.

Nếu Thi Kỳ danh chính ngôn thuận xưng quan triều đình, ắt sẽ ít nhiều có loạn.

Vả lại, cái tước vị là cái không phải ở đâu cũng có thể đem ra để đạt thứ mình muốn; thêm nữa là, là đồng môn nên hiểu hơn ai hết, tổng trấn nhỏ nên đối đầu chả vấn đề chi, Lục bộ trong triều thân quen chả ngại, còn một vị như quan phủ, còn lâu Thi Kỳ mới dám.

Cộng thêm một sự thật là năm thầy trò điện Hưng Thánh, thiên hạ chỉ nghe tên chứ chưa bao giờ biết mặt, nên còn lâu người ta mới tin.

Sa Liên không dám cãi lại, vì thật lòng cũng muốn cứu Thi Kỳ, nhưng cũng vì đại cuộc...

- Thi Kỳ không còn bé nhỏ nữa rồi, giờ là lúc ngài để nó tự tung cánh bay.

Việc của chúng ta chỉ là hy vọng nó bình an vô sự...

Tuy nhiên, Khuê Tước tiên sinh đáp lại nghe thật buồn thảm:

- Ai rồi cũng phải đi...

Các con ta không gì phải lo rồi, các con đã có thể tự sống sót giữa đời tàn nhẫn, nhưng còn Thi Kỳ?

Nó chỉ tồn tại được ở Nội thành nơi điện Hưng Thánh, tường cao cổng kín chở che.

Giờ không còn ai bảo vệ, nó có tự vượt qua kiếp nạn này được chăng?

- Không ai trong chúng ta còn trẻ, đại tiên sinh của con ơi.

Cả ngài, cả con, cả Hồng Tước và An Viên, cả Thi Kỳ.

Chúng ta đã tàn mấy mùa xuân xanh, Thi Kỳ cũng không còn là đứa trẻ con cần ngài chăm chút, như ngài đã thấy nó lúc nó về Mạc Hà thăm ngài rồi đó.

Khuê Tước tiên sinh nghe vậy nở một nụ cười nhẹ và mắt vẫn hướng đi đâu đó xa xôi.

- Từng đó năm, suýt nữa ta cũng không nhận ra được nó.

Đúng con ơi, Thi Kỳ không còn bé nhỏ, nhưng nó vẫn chưa thật trưởng thành.

Lỗi ở ta là đã chưa dạy dỗ nó được tử tế trước khi ra đi, nó làm sao đứng trước đám ô quan ngoại thành mà không tránh khỏi kẻ dụng quyền triều đình hãm hại?

Sa Liên hiểu tấm lòng đại tiên sinh, người chỉ muốn đệ tử được bình an, tuy nhiên vẫn lấy giọng điềm tĩnh như mọi khi, Sa Liên đáp:

- Chúng ta không cần làm gì cả.

Cũng như ngài và con, kiếp nạn sẽ giúp nó trưởng thành.

Vả lại, tấm kim bài lệnh tiễn Thái tử ban là bùa hộ mệnh cho Thi Kỳ, ngày tử của nó còn xa lắm...

Khuê Tước tiên sinh vẫn cười, trông có vẻ đã an tâm nhưng lòng còn nặng trĩu.

Bạch Hạc phương đông, Khổng Tước tây

Bao năm cách biệt tít chân mây

Không ngày hẹn lại chung chén rượu

Viễn mấy phương trời hội ngộ đâu?
 
Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Hồi mười ba: Lời tiền bối dạy


Như đã thỏa thuận và như lời đại tiên sinh dặn, Hồng Tước với danh nghĩa hộ vệ thái tử ở lại Nội thành bảo vệ hoàng tộc, tuy nhiên thực chất là để ngầm theo dõi cuộc đảo chính có thể xảy ra bất cứ lúc nào và ngăn chặn.

Nói đơn giản vậy, nhiệm vụ chẳng dễ dàng gì.

Chấn Phiên Hồng Tước, thường không gọi họ, theo chân Khổng Tước thái phó hai năm sau Sa Liên, một năm trước An Viên và bốn năm trước Thi Kỳ.

Vốn xuất thân dòng dõi ngự lâm quân, Hồng Tước có thể nói là tường văn thạo võ.

An Viên thuở trước hay đùa: "Thanh kiếm cánh cung làu thông ắt người tài, lại có văn chương thì thiên hạ vô nhị; nên Sa Liên có lẽ...

ít tiếng hơn".

Văn võ song toàn vậy đó mà cái tên Hồng Tước chưa bao giờ được nhắc nhiều bằng vị tướng tiền quân tới sau hay vị sử quan kín tiếng kia.

Là hộ vệ cho thái tử, nên có những điều rất ư khó nói.

Đại tiên sinh đã đi, ai sẽ dạy học cho thái tử?

Thi Kỳ, tất nhiên.

Và bây giờ Thi Kỳ mất biệt tăm, Sa Liên đi theo đại tiên sinh cho cuộc đại sự, ai sẽ dạy học cho thái tử?

Hồng Tước, tất nhiên, nếu Đoàn thượng thư không ra chút chữ nghĩa của mình giúp đỡ.

Giả như sắp tới các quan ám sát thái tử giành ngôi vua, thì ai sẽ là người chết trước?

Hộ vệ thái tử Hồng Tước, tất nhiên, nhưng chuyện này không quan trọng mấy.

Điều quan trọng đó là một mình Hồng Tước có bảo vệ nổi thái tử giữa biển lửa khi chuyện xấu nhất xảy ra?

Một sáng khi Thái tử đang ở cùng Trưởng công chúa, Hồng Tước được phép rời Thái tử trong một khoảng thời gian.

"Người có thể làm bất cứ điều gì người muốn, cứ để ta ở đây với đại tỷ là được rồi", Thái tử nói vậy.

Nhân điều này Hồng Tước đi khắp Nội thành, xem có hoa cỏ gì hay ho.

Bao nhiêu năm lưu chốn Nội thành nhưng Hồng Tước chưa bao giờ đi hết.

Chỉ ru rú chốn Đông cung hay Chính điện, khi thì vườn Thượng uyển, còn những nơi khác chỉ có nghe qua.

Nếu không đi dịp này thì còn đi dịp nào nữa?

Ngang qua các phủ các điện, mới thấy chỉ riêng Nội thành đã thật rộng lớn.

Nếu đã như vậy, toàn Cấm Thành còn lớn tới nhường nào?

Hồng Tước không biết, Sa Liên cũng không hay kể chuyện bên ngoài Nội thành, và đại tiên sinh cũng chỉ hay hỏi "Cấm Thành có gì lạ không con?"...

Bước chân bước, Hồng Tước đưa mắt nhìn quanh và nhìn theo bức tường bao các điện.

Mỗi điện mỗi phủ như một trang viên riêng, mỗi nơi một vẻ, tiếc là không ai mở cổng cho vào.

Đi qua một điện phía tây Nội thành, có gì đó làm Hồng Tước bỗng dừng chân.

Cành dương liễu mọc chồi ra ngoài tường bao, lá tơi tả rơi đầy con đường lát đá.

Đâu đó có tiếng thụ cầm dây bạc, tiếng thụ cầm dây bạc từ ngày xưa vọng về...

Hồng Tước chợt đưa mắt lên tấm bình phong.

"Hưng Thánh điện - Phủ thái phó"...

"...Ta cứ nghĩ mình không có số dạy chữ, nhưng từ khi đi sứ về giờ trong phủ ta lại có tới hai đứa học trò.

Tên con là Hồng Tước à?

Ta cứ tưởng con nhà tướng không thích học binh pháp chữ nghĩa chứ!...Vậy từ giờ chúng ta là người nhà rồi, và Thái phó phủ này cũng từ đây sẽ là nhà của con..."

Có một ngày đã xưa lắm, khi Hồng Tước được phụ thân đưa vào cung lần đầu tiên, đã gặp người đó...

Vị thái phó mặc áo màu huệ đỏ và cài trâm khổng tước...

Họ đã gặp nhau như vậy, đã thành "người nhà" như vậy.

Hồng Tước vẫn nhớ có vị thi sĩ trẻ, mặc áo hoa lan hồng ngồi bên vọng nguyệt đài tấu thập lục cầm.

Thi sĩ tấu thập lục cầm năm đó, người mà bây giờ là chánh quan sử quán Sa Liên.

Một năm sau khi Hồng Tước thành đệ tử Khuê Văn Khổng Tước, có vị hoàng thân gửi đứa cháu vào sự chăm sóc của đại tiên sinh, người bây giờ đang là vị Tiền tướng quân cả triều hay tiếng.

Tuổi thơ Hồng Tước là đây, nơi thư phòng phía sau cánh cổng đã nhuốm rêu phong.

Từ ngày đại tiên sinh viễn xứ, môn đệ ai cũng ra đi, chỉ để lại Thi Kỳ vẫn còn là đứa trẻ nhờ Đoàn thượng thư dạy dỗ...

- Cũng lâu lắm rồi phải không, con?

Hồng Tước vẫn nghe giọng nói này những khi thiết triều, giọng nói của vị quan trung quân hiếm hoi còn lại của triều đình.

Hồng Tước chợt quay mặt lại nhìn, thì ngài đáp lại với một nụ cười hiền lành.

Ngài là thượng thư bộ Lễ Đoàn Châu, từng một thời đồng môn của Tề Hàn tể tướng và Khổng Tước đại tiên sinh.

- Đứa đệ tử Khổng Tước này có vẻ hiếm khi nói chuyện với chúng ta nhỉ?

Đi cạnh Đoàn thượng thư đó là vị quan đầu triều, chỉ dưới mỗi Thái tử và Trưởng công chúa.

Ngài khá thân thiết với Trưởng công chúa, Đoàn thượng thư và Khổng Tước đại tiên sinh, nổi tiếng là người khó lường; trừ ngài ra có trời mới biết ngài theo phe nào.

- Khấu kiến tể tướng đại nhân và thượng thư đại nhân.

Hồng Tước chắp tay cúi đầu chào.

- Người thân quen, thi lễ chi con.

Mời chúng ta vào trong pha chén trà không thì chung rượu là đủ rồi.

- Đoàn thượng thư khoát tay, cười - Thi Kỳ chẳng mấy khi gặp chúng ta mà còn chẳng lễ nghĩa như con, buổi thiết triều nào cũng gặp.

- Phải chi Khổng Tước về đây ở lại mấy ngày, ta đem rượu quý ra, chúng ta ăn mừng tái ngộ.

- Tể tướng nói với Đoàn thượng thư.

- Thôi khoan về, mất công người ta lại phải hạ mình hoài... trước ngài.

Ngài có nhớ hồi chúng ta còn học chung chứ hả?

Tề Hàn tể tướng chỉ cười trừ, đẩy mở cánh cổng phủ rêu của điện Hưng Thánh.

Chốn thư phòng này hẳn đã không còn như xưa: hồ nước xanh rong cỏ, vọng nguyệt đài dây leo phủ rợp, căn bếp nhỏ lạnh vắng mùi trà thơm và gốc dương liễu xanh đã gần tàn úa...

Thi Kỳ đã lớn lên nơi này đó sao?

Trông chẳng còn gì của một điện Hưng Thánh thanh tịnh ngày xưa...

- Vào đi con, coi chừng và cẩn thận.

Pha ấm trà, nếu còn trà, được rồi, chúng ta có chuyện muốn nói với con.

Tể tướng bảo "coi chừng và cẩn thận", ý ngài là coi chừng tai mắt của các quan hay cẩn thận đường rêu trơn trượt?

Kẻ nào thèm theo dõi ở một chốn không người lại chẳng ai dòm ngó như điện Hưng Thánh?

Có lẽ ngài đã quá lo.

Để hai vị khách đó, Hồng Tước vào bếp pha ấm trà.

Thật hay là từng ấy năm rồi Thi Kỳ vẫn còn giữ sở thích trà thơ, nên Hồng Tước cũng không phải hoảng loạn.

Nhưng mà, cảnh căn bếp nhỏ lạnh lẽo làm Hồng Tước thấy buồn, nửa buồn nửa sợ.

Không còn hương thanh cúc nhẹ nhàng, hương hoa sứ thơm ngát, hương lài thơm đậm hay bánh ngọt trong tủ nữa.

Khổng Tước đại tiên sinh hồi đó thích bánh ngọt với trà thanh cúc, ngài đi rồi những thứ đó cũng vắng theo.

Và từ lâu đã vắng luôn tiếng đàn Thi Kỳ và tiếng hát Sa Liên, cảnh Hưng Thánh điện trở nên ảm đạm đáng sợ.

- Ngài tính mặc kệ cái triều như vậy đó hả Hương đại nhân?

- Chuyện đâu còn có đó, đừng có vội.

- Đến khi ngai vàng nằm trong tay kẻ ngoại tộc bội phản ngài mới lo.

- Đừng có nghĩ xấu bạn bè vậy chứ Châu thượng thư.

- Dù là ngày xưa thì ngài cũng khó mà đáng tin.

Trong bếp, Hồng Tước nghe thấy Tề Hàn tể tướng và Đoàn thượng thư cãi nhau.

Thường trước triều họ rất ôn hoà với nhau, nhưng bây giờ...

Không biết ngày xưa còn học chung đó, Khổng Tước tiên sinh với Ngọc Phụng tướng quân làm gì mới chịu được hai người này...

Ấm trà nóng hổi được bưng ra trên bàn, thơm quen thuộc mùi hương thanh cúc.

Khổng Tước đại tiên sinh hôm kia vừa về đã vội đi, chưa kịp pha chén trà ưa thích.

Khi Hồng Tước bưng trà ra, tiếng cãi nhau im bặt.

Tề Hàn tể tướng im lặng nhìn Châu thượng thư, và người kia thì cúi đầu, lẩm bẩm gì đó.

Hồng Tước khẽ đặt khay trà xuống bàn, hỏi:

- Các ngài muốn dạy con điều gì?

- Điều mà chúng ta đã giữ mấy mươi năm qua, từ khi ta và Khổng Tước vẫn còn gọi nhau đồng môn...

Ngồi xuống đây con, và hãy nghe, chuyện mà từ ngày Khổng Tước ra đi hồi xưa chúng ta không có ai để nghe chuyện này...

Là chuyện gì, Hồng Tước không dám hỏi, vì các ngài ra vẻ rằng chuyện này quan trọng lắm.

Mãi sau một lúc im lặng, Đoàn thượng thư thở dài, nói:

- Rời Cấm Thành đi con.

Rời Cấm Thành?

Có tệ hơn lúc đại tiên sinh rời Cấm Thành không, Hồng Tước tự hỏi.

Rời Cấm Thành, Hồng Tước biết về nơi đâu?

Về miền quê nhà xa xôi, hay đến Mạc Hà với chén trà câu thơ cùng các chị em Hưng Thánh thi gia và đại tiên sinh suốt những ngày còn lại của cuộc đời?

Hồng Tước không biết.

- Nhìn trong mắt con ta biết con còn quyến luyến chốn này, nhưng, nghe lời ta đi.

Chốn này không còn là Cấm Thành con từng một thời nhàn nhã đâu.

- Nhưng...

- Đi đi con, trước khi con không còn đường thoát nữa.

- Nhưng...

- Hồng Tước lặp lai nỗi băn khoăn - Thưa đại nhân, con thân là hộ vệ thái tử, là cấm vệ quân, làm sao dám bỏ hoàng tộc, bỏ mọi người ở lại chốn hiểm nguy?

- Chúng ta chỉ muốn con an toàn.

- Đoàn thượng thư khoát tay - Đại tiên sinh con đã từng rời triều hai lần.

Hai lần.

Một lần đã xa xưa lắm và lần thứ hai, con đã biết phải không?

- Đại tiên sinh con... rời triều hai lần?

- Khuê Văn gia là danh môn trong triều, gia quyến chúng ta cũng vậy, cho nên chốn quốc giám chúng ta từng đồng môn.

Cũng ra khảo thí gần như cùng nhau nhưng hắn có lẽ quên rồi.

Lần hỏng thí thứ ba hay chi đó hắn rời kinh theo phụ mẫu đi Tân Ô Lương rồi được gửi đến Côn Luân giám.

Còn lần thứ hai là khi đang giữ chức Thái phó.

Đại tiên sinh con, thực ra không phải bỏ các con ra đi cho chính mình, mà là... lệnh lưu đày của Trưởng công chúa.

Nghe tới đó, Hồng Tước không muốn tin nữa.

Trưởng công chúa nào lại lệnh lưu đày một vị Thái phó, hơn nữa lại là đồng môn của mình?

Trước khi Hồng Tước có thể chối từ lời của mình, Đoàn thượng thư giải thích:

- Chuyện không phải như con nghĩ đâu.

Nói là lệnh lưu đày, nhưng trước khi lệnh kịp ban, Khổng Tước đã xin cáo quan đi.

Vì sức ép từ các quan lên Thái tử buộc phải lưu đày cả năm thầy trò Thái phó vì những lỗi nhỏ nhặt mà không ai biết các con có phạm không, mà Thi Kỳ khi đó còn nhỏ quá.

Đại tiên sinh các con bỏ Cấm Thành đi vì các con đó.

Và bây giờ cái danh lẫy lừng Khuê Văn Khổng Tước không thể cứu con lần nữa, con cũng phải ra đi thôi.

Ra đi là lựa chọn duy nhất chăng?

Đoàn thượng thư đã dạy như vậy, tức là không còn đường nào để lui nữa, phải không?

Hồng Tước nghĩ vậy, nhưng vẫn chưa dám tin.

Trưởng công chúa cho đày một bằng hữu chí thân, và vì các môn đệ, Khuê Văn Khổng Tước gửi thân xứ người hai lần...

Tân Ô Lương lúc này...

Trời mưa...

Bên cửa sổ căn trọ bé nhỏ, Khuê Tước tiên sinh đưa tay ra ngoài đón mưa dông mùa hạ.

Sa Liên gục đầu bên bàn bút khẽ than sao mưa lạnh.

Không ai dám tỏ bày nỗi lo của mình.

Khuê Tước tiên sinh chợt nhớ những ngày tha phương, nhớ những đệ tử bé nhỏ người bỏ lại...

- Sa Liên con...

Khuê Tước tiên sinh gọi, nhưng Sa Liên không đáp, vẫn gục đầu xuống bàn im lặng.

- Sa Liên con...

Ta... có phải là một kẻ tồi tệ không?

Ta đã bỏ các con lại mà đi, ta bỏ người nhà mình lại mà đi...

Con có trách ta không?

Các con có trách ta không?

Sa Liên không dám lên tiếng.

Sa Liên từng giận ngài đã bỏ đi không nói một lời, và đã không giữ được lời hứa sẽ về.

Thi Kỳ và mọi người chờ từng đó năm ròng rã, chỉ nghe tin ngài đúng một lần: "Ta sẽ ở lại Mạc Hà trấn".

Ngài chưa một lần về thăm Sa Liên hay mọi người, và vừa hôm đó, cái hôm đại tiên sinh xuất hiện đột ngột trước cửa thành, là lần đầu tiên.

Thấy bóng trâm cài khổng tước, Sa Liên đã cố lắm mới không thốt lên bằng nước mắt vì bất ngờ.

Ngài không quên các môn đệ ngài những ngày viễn xứ, có không?

Tân Ô Lương ngoài hiên mưa lách tách

Xa ngoài kia rơi rơi trắng sương mù

Trời xám buồn chơi vơi lòng viễn khách

Phố vắng người chạnh lòng khách viễn du...
 
Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Hồi mười bốn: Thoát ngục


Chắc giờ này ở Cấm Thành, người ta đang mong lắm.

Mong tin Thi Kỳ chết đi để không còn kẻ ngáng đường.

"Người ta" đây là chư quan trong triều trừ Đoàn thượng thư và Tề tể tướng, những kẻ luôn mong Thi Kỳ biến mất theo Khuê Văn Khổng Tước đi.

Khổng Tước thái phó ra đi vẫn chưa đủ với họ, cả năm thầy trò đều phải biến khỏi Cấm Thành.

Họ đã có thể khiến Thái tử hay Trưởng công chúa làm vậy từ lâu, nếu Khuê Văn Khổng Tước không từ quan trước đó và Sa Liên và các tiểu muội không được Đoàn thượng thư và Tề tể tướng bảo hộ.

Người lo hơn cả là Đoàn thượng thư.

Đã ba tuần trăng hơn mà Thi Kỳ vẫn chưa về, Sa Liên cũng mất biệt, ai mà không lo?

Họ Thi đó, chưa từng rời Nội thành quá lâu, vậy tức đã gặp chuyện không may.

Đoàn thượng thư muốn đi tìm xem đã xảy ra chuyện gì, nhưng ngài không thể đột ngột bỏ Cấm Thành mà đi như vậy; vì lời hứa với những bằng hữu, và vì bổn phận của một vị thượng thư.

Nửa đêm hôm đó, dưới nhà ngục phủ Định Gia, Thi Kỳ lại được tới thăm.

Người vẫn đến với xâu chìa khoá khi anh lính gác đang gục trên ghế ngủ say.

Có chủ bộ tiên sinh hay tới thăm, nỗi buồn chán cũng khuây khỏa phần nào.

Nhưng lạ chưa, tiên sinh lần này không đến với ánh nến, không cắp trong tay áo gói bánh nắm cơm, mà là một tay nải; trên tay kia tiên sinh mang một giỏ trà.

Vẫn cẩn trọng và khẽ khàng, ngài mở cửa buồng giam Thi Kỳ, ném xuống lòng Thi Kỳ cái tay nải.

Không để cho Thi Kỳ thôi ngạc nhiên, ngài dặn:

- Đi về cổng phía tây, men theo con đường đá, con sẽ gặp hai ngả rẽ.

Ngả bên hữu dẫn về Cấm Thành, đi bộ hai canh giờ; ngả bên tả đi Mạc Hà, tầm một ngày đường.

Trong này ta gói cho con ít lộ phí và lương khô.

Đi đi con, trước khi trời sáng.

Về Mạc Hà hay về Cấm Thành, họ Thi không biết.

Có lẽ đã quá hạn ba tuần trăng, nếu bây giờ Thi Kỳ về triều, ai biết tội gì chư quan sẽ ghép cho?

Nếu về Mạc Hà, vắng triều càng lâu, tội chồng thêm tội.

Thi Kỳ đâu dám liều.

Về Mạc Hà với đại tiên sinh, ít ra còn có cơ may minh oan cho mình, thôi thì vậy...

- Người... lo cho con nhiều quá...

- Thi Kỳ cúi đầu.

- Đệ tử Khổng Tước cũng là đệ tử của ta.

Con vô tội, ta đành nào để con ở đây chờ đợi tai ương sắp tới?

- Tới bây giờ người vẫn tin con vô tội?

- Nếu con có tội, ta sẽ thay tiền bối trị; còn vì con vô tội mà bị oan, ta cứu con cũng là lẽ thường.

Đi đi con, nếu có duyên ta còn gặp lại nhau, không, chúng ta sẽ còn gặp lại, ta chắc chắn.

- Không đâu...

- Khổng Tước đại tiên sinh bây giờ còn che chở được các con, nhưng lỡ mai này gặp chuyện không may?

Rồi cũng tới một ngày tái ngộ mà các con sẽ gọi ta Bạch Hạc nhị tiên sinh của các con...

Bất chợt anh lính gác giật mình tỉnh dậy thấy hình như cửa ngục mở và Bạch Hạc tiên sinh đang nói chuyện với người tù.

Anh bật dậy, tay cầm đèn soi về phía trước hỏi lớn:

- Chủ bộ tiên sinh, tiên sinh sao lại ở đây giờ này?

Bạch Hạc tiên sinh quay đầu lại, điềm tĩnh đáp:

- Ta muốn hỏi tội phạm đây một số chuyện để báo lại với đại nhân.

Buổi sáng ta bận, bây giờ mới có thời gian.

Anh lính gác bước mấy bước lại gần buồng giam Thi Kỳ.

- Vâng tôi hiểu, nhưng sao tiên sinh lại mở cửa ngục?

Ngài không sợ phạm nhân bỏ chạy?

- Quân tử không có bỏ chạy đâu.

Ta không muốn đánh thức anh nên vào nói chuyện để không đánh động giấc ngủ của anh.

Thi Kỳ vội giấu tay nải xuống tấm đệm rơm ngồi lên, co người dựa vào tường, cúi đầu trong ống tay áo.

Phải tỏ ra bình thường, không thể để tên lính gác phát hiện kế hoạch của Bạch Hạc tiên sinh, Thi Kỳ nghĩ.

Bạch Hạc tiên sinh lúc này ghé mắt nhìn Thi Kỳ một lúc rồi gật đầu, đi ra khỏi buồng giam và đóng cửa, quấn dây xích sắt lại.

Tiên sinh nói với anh lính:

- Anh vất vả rồi, ta có mang trà cho anh đây.

Bạch Hạc tiên sinh đặt giỏ trà lên bàn ở cửa và rời đi.

Anh lính gác cũng mặc kệ Thi Kỳ và rót trà uống cho tỉnh ngủ.

Nhưng lạ chưa, một lúc sau anh lại gục đầu xuống bàn ngủ say.

Thi Kỳ lợi dụng lúc ấy lấy tay nải giấu dưới đệm rơm và thận trọng xem xét dây xích sắt khoá cửa.

Bạch Hạc tiên sinh chỉ quấn hờ và không khoá lại để Thi Kỳ có thể dễ dàng mở ra.

Nói vậy thôi, chứ mở cửa thật ra không có dễ như vậy, phải làm sao cho ít tiếng nhất để anh lính gác kia không bị động giấc ngủ mà giật mình dậy, thế là không còn đường thoát nữa.

Dù hơi khó khăn và không nhanh chóng gì, Thi Kỳ cũng mở được cửa buồng giam.

Buộc chặt tay nải lên vai, Thi Kỳ nhẹ bước rón rén qua anh lính gác đang ngủ say, lên cầu thang và ra sân trước.

Lúc này Thi Kỳ nhìn quanh chỉ thấy bốn bề vắng lặng, xa xa mới có tiếng rao hàng sớm hay tiếng vó ngựa vãng khách vọng về.

Không nghĩ ngợi gì nữa, Thi Kỳ lấy hết sức chạy vụt tới cổng phía tây; cổng phía tây hướng ra một con phố nhỏ đường lát đá dẫn ra ngoại phủ, giờ đó vắng người qua lại nên Thi Kỳ không lo bị phát hiện.

Thi Kỳ chạy mãi trên con đường đó tới khi nhận thấy một cánh đồng, nơi con đường chia hai ngả rẽ.

Khi lúc này định thần lại thì thấy phía chân trời đã bắt đầu tảng sáng, có lẽ, Thi Kỳ đã thoát rồi.

Ngả tả đi Cấm Thành, ngả hữu về Mạc Hà...

Đi đâu đây?

Thi Kỳ tự hỏi, nhìn phía chân trời một thoáng, rồi quay người về bên hữu bước đi.

Đại tiên sinh, con về với người để minh oan cho người và cho con...

Đi được mấy bước, Thi Kỷ ngoảnh lại, đưa mắt nhìn Định Gia phủ một lúc lâu.

Nắng sớm làm dịu đi làn gió lạnh đêm hè thổi dồn dập như muốn cắt da Thi Kỳ.

Chỉ mới tầm một tháng trước, Thi Kỳ cũng chân bước đi trên con đường này, nhưng cảm giác lúc này không giống lúc đó.

Ngày trước là thư đồng thái tử, ngày nay mang danh tội phạm, Thi Kỳ không dám quay lại Cấm Thành gặp Hồng Tước đệ tam, An Viên đệ tứ, Đoàn thượng thư và nhất là Trưởng công chúa.

- Bạch Hạc tiên sinh, ơn này mai đây con nhất định sẽ trả, khi nào con còn sống... và khi không còn Khổng Tước đại tiên sinh chúng con nương tựa, con sẽ trở lại và lạy tạ người, vì người đã cứu mạng kẻ hèn con...

Lúc này ở Tân Ô Lương...

Khuê Tước tiên sinh lại nhìn ra ngoài cửa sổ, ngắm bình minh mà lòng lo lắng không nguôi.

Sa Liên đã quá hiểu, nhưng biết giúp gì được bây giờ?

Dân trấn này lại có vẻ đang nghi ngờ họ, nên có lẽ họ sẽ không ở lại được lâu nữa.

Sa Liên vừa mở mắt đã thấy mùi trà thanh cúc, lòng tự hỏi tại sao hôm nay đại tiên sinh lại dậy sớm vậy.

- Đại tiên sinh?

- Sa Liên gọi.

- Dậy rồi hả con?

- Khuê Tước tiên sinh đáp, vẫn không ngoảnh lại nhìn.

- Ngài lại lo cho Thi Kỳ nữa ạ?

- Không, ta lo Hồng Tước và An Viên...

Thi Kỳ đã có cánh bạch hạc che chở cho nó rồi, ta không lo đâu.

- Cánh bạch hạc?

Khuê Tước tiên sinh quay đầu lại khi nghe Sa Liên hỏi vậy.

- Ta chưa kể các con nghe hả?

- Chúng con chưa từng nghe ngài kể về ai có tên đó.

- À, đó là...

- Khuê Tước tiên sinh mỉm cười, lại nhìn ra cửa sổ - Hậu bối cùng thầy của ta hồi ta còn ở Cấm Thành, tên Bạch Hạc họ Trần.

- Có phải, vị đó là chủ bộ ở Định Gia phủ, cầm quạt thêu bạch hạc?

Nghe vậy, Khuê Tước tiên sinh quay ngoắt lại như bị bất ngờ.

- Đúng đó, con quen hả?

- Bốn năm trước chúng con, trừ Thi Kỳ, đi Định Gia phủ chơi, tình cờ gặp trong quán trà thí trường một vị khá giống ngài, cũng thanh nhã với lại vui tính.

Ngài xưng họ Trần, là chủ bộ của quan phủ nhưng lại bình dị lắm.

Ngài mời chúng con một bữa trà bánh và hỏi chuyện chúng con khi biết chúng con từ Cấm Thành.

Chúng con không kịp hỏi tên ngài cũng như ngài chưa biết tên chúng con, chỉ biết ngài mang quạt thêu bạch hạc, giống quạt thêu khổng tước của đại tiên sinh.

Khuê Tước tiên sinh bật cười vì cuộc tình cờ đó.

Hẳn là, hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, nhưng đến bây giờ ngài vẫn chưa được tái ngộ với kẻ hậu bối bé nhỏ của mình.

- Còn duyên thì định mệnh còn gặp nhau con à...

Nhưng đó là khi đại tiên sinh con không còn che chở được con nữa...

Và nụ cười đó lặng đi, đến khi ngoài cửa sổ chỉ còn tiếng gió thổi và trong phòng còn tiếng gõ bút đều đều của Sa Liên.

- Bạch Hạc phương đông, Khổng Tước tây

Ngàn trùng cách biệt mấy năm nay

Còn sinh hay vãng ai đâu biết

Cánh quạt đẫm sầu vẫy trên tay...

Lúc ấy ở Định Gia phủ, cũng có người hướng về ánh bình minh mà dõi theo bước chân đứa đệ tử bé nhỏ.

- Khổng Tước phương tây, Bạch Hạc đông

Duyên nợ âu cũng thường phải không?

Còn duyên ắt còn ngày tương ngộ

Cho dù đã cạn mấy dòng sông...
 
Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Hồi mười lăm: Chim anh bé nhỏ


Đại tiên sinh lo lắng Hồng Tước và An Viên, vì ngài quên rằng, nơi biên cương và chốn quan trường vẫn còn đó những bằng hữu, những người từ lâu lắm rồi ngài bỏ lại để ra đi.

An Viên ngoài sa trường đã có bên cạnh Ngọc Phụng đại tướng quân, Hồng Tước dưới danh của Lễ bộ thượng thư Đoàn Châu và tể tướng ít nhất cũng được phần nào che chở qua tai mắt của các quan ghen ghét.

Còn Thi Kỳ...

à, Thi Kỳ, cánh nhạn bé nhỏ đã được an tâm gửi gắm cho người ấy...

Khuê Tước tiên sinh không cần lo lắng nhiều nữa.

Thực ra, người đáng phải được lo lắng là Khuê Văn Khổng Tước, bởi sự tồn tại của cả Sa Liên, Hồng Tước, An Viên lẫn Thi Kỳ đều nhờ tay ngài; nếu Khuê Văn Khổng Tước gặp nạn, đám đệ tử ngài cũng khó mà qua khỏi phen này.

Lại nói chuyện Hồng Tước, người đang phân vân lời dặn của Đoàn thượng thư.

Dẫu biết là ngài muốn bảo vệ đứa học trò của người bằng hữu, cũng là học trò ngài, nhưng Hồng Tước không nỡ.

Từ quan ra đi bỏ lại tất cả, dễ thôi, đại tiên sinh...

đã từng... rồi.

Nhưng nếu ở lại?

Ở lại là một mình đương đầu mọi hiểm nguy, kể cả tính mạng lẫn danh dự.

Khổng Tước thái phó cũng chưa từng dám coi thường quyền lực của các quan.

Chỉ là một hộ vệ bé nhỏ, Hồng Tước trước chư quan, làm sao tự bảo vệ được mình?

Một sớm, Hồng Tước trở lại phủ thái phó năm nào, như muốn tìm lại sự thanh tịnh hiếm hoi giữa sóng gió cuộc chiến quyền lực trong triều.

Là đệ tử Khổng Tước, Hồng Tước và các chị em cũng vô tình bị cuốn vào trong chốn quan trường bão tố.

Đại tiên sinh xưa đã cố bảo vệ các học trò mình, hướng tai mắt và những lời xàm tấu của chư quan vào mình để các học trò không bị kết tội gì, tuy nhiên cũng không được bao lâu; điều đó dù ít nhất đã bảo vệ được Thi Kỳ nhưng lại làm ngài mất danh vị thái phó.

Thi Kỳ, bao nhiêu năm qua dưới sự bảo hộ của Đoàn thượng thư, danh tiếng của thái phó Khuê Văn Khổng Tước và bốn bức tường cao của Hưng Thánh điện lớn lên an toàn và vô tội; bây giờ rời thành, khó mà bình an trở về, nếu không có cánh bạch hạc tình cờ...

Bên vọng nguyệt đài vẫn còn đó cây đàn tam thập lục, bàn đá đã phủ rêu và dây leo quấn quít, lại có màn thường xuân rủ xuống xanh mát mà cũng buồn lạnh lẽo.

Ngày xưa Sa Liên hay tấu tam thập lục, đàn còn đây nhưng Sa Liên không còn.

Hồng Tước ngồi xuống cạnh đàn, khẽ gẩy mấy nốt nhạc.

Tam thập lục không phải sở trường của hộ vệ thái tử, nhưng tiếng tam thập lục là sở thích của người.

Ngày xưa đó, không có gì tuyệt hơn những khi không thiết triều hay phải dạy học thái tử, là ngồi bên vọng nguyệt đài, trên tay là tách trà thơm thanh cúc và bên cạnh có tam thập lục Sa Liên, dưới mái hiên có Khổng Tước đại tiên sinh và Thi Kỳ bé nhỏ ngài dạy làm thơ.

- "Tam thập lục khảy câu thánh thót

Gió ru hồn xao xác bên tai;

Vần thơ nào không buồn da diết

Trà thơm nào không đắng nhớ thương?"

Tam thập lục vắng tay Sa Liên không còn khảy câu thánh thót, phủ thái phó từ lâu đã vắng mùi trà thơm, chỉ còn Thi Kỳ bé nhỏ thi thoảng được Đoàn thượng thư mãn triều tới thăm.

Nay Thi Kỳ cũng đi nốt, điện Hưng Thánh im lặng đến buồn...

- Ta không nghĩ hộ vệ của ta lại có hồn thi ca như vậy, hay lắm!

Hồng Tước giật mình, thấy trước mặt là Thái tử, đứng đó không biết từ bao giờ.

- Thái tử... thần... thất lễ...!

Hồng Tước vội đứng lên thi lễ, nhưng thái tử không trách mà chỉ cười.

- Thôi, ngồi xuống đi.

Thái tử nói, rồi cùng lúc đó ngồi xuống ghế đối diện, nhìn chung quanh tò mò.

- Nào, nói ta nghe, Anh Tử, ngươi từ khi nào biết làm thơ vậy?

Lại còn biết chơi tam thập lục nữa.

Phải đáp làm sao cho Thái tử?

Từ xưa Hồng Tước hiếm khi ngâm thơ, kể cả tấu nhạc.

Hộ vệ quan mấy ai có cái thú đó, thường chỉ luyện võ rồi đọc binh thư làm vui; nhưng Hồng Tước... là...

- Thưa, ngày xưa thần cũng là đệ tử Thái phó...

- À, đúng rồi, nhị sư tỷ Trà Khiết, chúng ta cùng tuổi.

Nói mới nhớ, đã lâu lắm Trà Khiết chưa tới thăm ta, đột nhiên hôm nọ dự thiết triều, xin đại tỷ và ta cho về quê, nay đã quá ba tuần trăng vẫn chưa về.

Ta không biết...

Gì chứ?

Đã hơn ba tuần trăng mà Thi Kỳ vẫn chưa về, có khi nào...?

À, đúng rồi, đại tiên sinh hôm trước về thăm có nói chuyện Thi Kỳ, rằng đã có vụ án kỳ lạ ở quê nhà...

Hồng Tước biết quá rõ, Thi Kỳ không phải Sa Liên thần thám, làm sao tự một mình vén được bức màn?

Ừ thì đành vậy, Hồng Tước chỉ mong đứa em bé nhỏ và mọi người trở về bình an vô sự, không cần gì hơn.

- Mà...

Thái tử điện hạ, sao điện hạ lại rời Đông cung một mình như vậy?

- Ta không thích đọc sớ, nhất là sớ hạch tội.

Dù đúng dù sai ta cũng không phân xử được...

Ta không muốn vô tình mà huyền chức thanh quan, như đại tỷ ta từng... nhiều năm trước.

Chỉ vậy thôi.

Dù Trưởng công chúa là người nhiếp chính, nhưng các quan vẫn tấu sớ cho Thái tử.

Không phải vì phép tắc, mà vì quan cố vấn thể nào cũng khuyên Thái tử vì một sớ nào đó tiến cử hoặc huyền chức một người.

Có thể là tiến cử kẻ ít tài hay huyền chức người thanh liêm, ai biết được.

Chỉ có một lần, Hình bộ thị lang dâng sớ hạch tội Sa Liên sử quan không làm tròn trách nhiệm ngự sử, ghi chép thiên vị; Thái tử thẳng thừng từ chối.

Là sử quan, Sa Liên thiên vị thì có, nhưng chưa bao giờ thiên vị trong cuốn sử.

Biết chuyện đó, Sa Liên giận lắm vì có người vu oan mình, nhưng rồi cũng mặc kệ mà thôi.

Thái tử không muốn vô tình mà phải cách chức một liêm quan như vậy.

- Nếu như Trà Khiết về sớm, ba chúng ta ngồi lại uống trà thì hay.

Và nếu có Tú Minh thái phó...

- Thái tử vội sửa lời - ...Khổng Tước tiên sinh càng tốt.

- Thái tử điện hạ... còn nhớ đại tiên sinh?

- Có chứ.

Ta với các ngươi cũng coi như huynh muội mà.

- Thái tử cười - Và Trà Khiết là đứa em bé nhỏ của chúng ta...

Hồng Tước hiếm khi thấy Thái tử tỏ ra thân thiết với ai, nay lại cười với mình.

Đã bao lâu rồi Thái tử không được vui như vậy?

Thái tử coi mình là đệ tử của đại tiên sinh, tức đồng môn của những người tôi tớ; phận tôi tớ như Hồng Tước dám không bao giờ nghĩ tới điều đó.

- Anh Tử...

Ngươi có biết, tại sao bây giờ Trà Khiết vẫn chưa về?

Điều này, Hồng Tước cũng không dám nói, vì ai biết lúc này Thi Kỳ ra sao?

Đại tiên sinh về thăm dạo nọ chỉ cho biết Thi Kỳ đang dấn thân vào một vụ kỳ án.

Thi Kỳ vốn không phải thần thám, nhưng nếu đã quá ba tuần trăng vẫn chưa về, ắt hẳn đã gặp hiểm nguy gì rồi.

Hồng Tước chỉ khẽ lắc đầu thay lời đáp.

Tân Ô Lương một ngày mưa bão...

- Đại tiên sinh, trời còn mưa gió quá, con e rời trấn bây giờ sẽ khó...

- Vậy thôi, mai ta đi...

Liều lúc này hẳn không phải ý hay.

- Con thấy vui vì đại tiên sinh con cuối cùng cũng biết lo lắng cho chính mình một đôi khi.

- Sa Liên cười.

- Ừ thì...

Dù gì thì nhờ tay bằng hữu ta các con cũng chỉ được che chở một khắc, đời người không dài, nhưng thấy các con được an lành khi còn trên dương gian hơn khi chúng ta ở dưới cửu tuyền...

- Nhưng có phải ngài quá lo rồi?

Ở đây vẫn còn những bằng hữu ngài, ngài có thể nhờ...

Khuê Tước tiên sinh bỗng bật cười.

- Nhờ tay bằng hữu cũng chỉ một lúc thôi con...

Cái ta lo nhất là chuyện Thi Kỳ, ta không chắc nó qua khỏi sóng gió này còn nguyên vẹn con ơi...

Nếu chúng ta đều đoản mệnh sớm, thì lấy ai bảo vệ nó bây giờ?

- Nói tới chuyện Thi Kỳ...

Dù con đã nói vậy, nhưng cũng lo lắm.

Quyền thế của quan quân triều đình bây giờ quá mạnh, Thi Kỳ lại quá bé nhỏ...

- Chuyện Thi Kỳ đã có nhị tiên sinh các con lo...

- Khuê Tước tiên sinh cười.

- Nhị tiên sinh con...

- À, chuyện đó, khi tới lúc ta sẽ nói.

Sen tím dẫu bùn vẫn ngát hương

Chim anh bé nhỏ lượn mấy phương

Đất lành chim xuống nhờ bóng mát

Áng thơ ván cờ lấy làm thương...
 
Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Hồi mười sáu: Chạy trốn


Thoát khỏi nhà ngục Định Gia phủ khi vẫn chưa minh oan được tên mình, Thi Kỳ bây giờ coi như tội phạm.

Nếu lúc này lọt tai mắt quan quân xứ nào, nhiều khả năng là Thi Kỳ sẽ bị truy đuổi và bắt lại.

Nói tóm gọn là nếu không cẩn thận thì công sức của Bạch Hạc tiên sinh như uổng phí.

Đường về Mạc Hà còn xa, vả lại phải đi qua xứ Tam Châu nghe nói nhiều thảo khấu.

Không có gì đáng giá, chỉ có lương khô với chút lộ phí Bạch Hạc tiên sinh cho đi đường là hành trang trong túi, Thi Kỳ không thể để bị bắt gặp để khỏi rắc rối.

Chỉ mới mấy ngày trước, Thi Kỳ còn là một người được trọng vọng, bây giờ là một tội phạm chỉ có thể tìm an toàn trong bóng tối.

Tại sao lại nên cớ này, Thi Kỳ tự hỏi, tại sao người ta lại nghi ngờ đại tiên sinh và Thi Kỳ là thủ phạm trong vụ mất tích của tổng trấn Mạc Hà?

Thi Kỳ còn không biết giữa buổi loạn này ngài còn sống hay đã thác, nói chi tới ngài đang ở đâu.

Lần cuối cùng Thi Kỳ nhìn thấy Khuê Tước tiên sinh là ngày ngài khăn gói trở về kinh đô tái ngộ bằng hữu môn đệ, từ đó không còn hay tin nữa.

Xứ Tam Châu rừng lá xanh xanh cây phủ đường đi, nạn kiếp vây quanh yên bình biết gì.

Đó cũng là một phép màu nếu Thi Kỳ về được Mạc Hà nguyên vẹn.

Bây giờ có hai mạng người trong cơn nguy cấp nhưng không ai biết họ nơi đâu.

Tổng trấn Mạc Hà mất tích từ trước khi Thi Kỳ về thăm tiên sinh, và anh nô gia mất tích khi Thi Kỳ ngủ lại ngày tiên sinh lên đường.

Họ đang ở đâu, còn sống hay không, dấu chân bên sông cạn đó là của ai, bao nhiêu câu hỏi cứ vần vũ trong đầu thúc chân Thi Kỳ bước tiếp, tiếp về Mạc Hà.

Không được dừng chân, không được dừng chân...

Không được dừng chân...

Đêm còn quá dài và đường còn quá xa, Thi Kỳ một chốc thiết nghĩ không thể nào tới nơi nổi.

Phải chi có một con ngựa, chạy trốn ắt đã dễ dàng hơn, nhưng thân đang mang danh tội phạm thì làm gì có lựa chọn.

Nỗi lo dâng đầy và những lời hứa với mọi người giục chân họ Thi bước tiếp con đường mòn; có lẽ ngày đó cũng những cảm giác này đã giục chân Khuê Tước tiên sinh rời chốn kinh đô mà về vùng hoang vu Mạc Hà...

Bóng cây dương liễu kia rồi, và thật may trời cũng vừa chập tối.

Thi Kỳ khó mà tin được sau từng đó chuyện xảy ra bây giờ lại có thể trở về nơi này.

Quả thật đó không phải một giấc mơ như họ Thi thoáng nghĩ; vườn thanh cúc bên nhà đã bị giày xéo tới héo tàn và những dấu chân qua sông cạn tuy gió đã làm phai nhưng vẫn còn đó.

Tại sao trong nhà có đèn sáng kia?

Có phải đại tiên sinh đã về?

Không có tiếng đàn khuya cũng như bóng người bên cửa sổ, chỉ có ánh đèn lẻ loi trong đó.

Thật thận trọng, Thi Kỳ bước xuống lòng sông băng qua vì trên cầu có lẽ có ai đang theo dõi người.

Bây giờ đi đâu biến cũng theo tới đó, Thi Kỳ không dám sơ xuất như xưa nữa.

Tuy nhiên, ở đời, sông núi dễ đổi bản tính khó dời.

Ngó mắt qua khung cửa sổ sau nhà, Thi Kỳ cắn chặt răng để dẫu có chuyện gì xảy ra sau đó cũng không làm người thốt lên mà đánh động kẻ theo dõi.

Cẩn thận thì không thừa được.

Quả vậy, trái với suy tính của Thi Kỳ, bên ánh đèn không phải đại tiên sinh, cũng chẳng là ai đó Thi Kỳ quen biết.

Một thư sinh dựa tường ngủ bên cửa sổ, Thi Kỳ tin là mình chưa thấy bao giờ, nhưng sao lại có gì rất quen...

Vẻ thư thái đó lúc này làm Thi Kỳ nhớ đến...

Sa Liên.

Sa Liên ngày xưa chưa bao giờ có một phút bình yên, luôn bị chốn quan trường xô đẩy, nhưng Thi Kỳ luôn nhớ, mỗi đêm trở về phủ thái phó, nhắm mắt bên bàn thơ, Sa Liên như rũ hết mọi phiền muộn ban ngày.

Phải rồi, lúc còn trong ngục Thi Kỳ nghe đâu Sa Liên đã rời cung đi theo đại tiên sinh...

Hai người đang ở nơi nào?

Nơi nào Thi Kỳ có biết không?

Hoàng hôn mùa này buông xuống màn sương lạnh buốt, nhưng Thi Kỳ không dám vào nhà.

Tựa vào bức vách lá, Thi Kỳ ngồi xuống và định thiếp đi một lúc, hy vọng không có ai phát hiện.

Nhưng mắt vừa chợp một khắc, có tiếng ai gọi làm Thi Kỳ giật mình.

- Có phải Khuê tiên sinh về đó?

Tại sao người đó lại dậy giờ này!

Có khi nào lính canh tới để bắt Thi Kỳ?

Có khi nào...

Mạc Hà không còn là nơi Thi Kỳ dung thân?

- Khuê tiên sinh...?

Sao ngài về mà không gọi tôi...?

Hoảng hốt, Thi Kỳ toan chạy trốn vào bìa rừng.

- Gượm đã!

Có phải con của Thi án sát đó?

Nghe ta nói!

Thi Kỳ không dám quay đầu, sợ đó là cái bẫy, tuy nhiên, trong lúc sợ hãi đã không hề hay biết vị thư sinh đã đuổi kịp rồi.

Dù muốn nhưng cũng không thể thét lên được.

Tâm trí Thi Kỳ hoàn toàn hoảng loạn, không còn gì sự bình tĩnh bao năm qua người ta vẫn biết nữa.

- Đúng rồi, con của Thi án sát!

Nghe ta nói và đi theo ta, ở đây không an toàn đâu!

Có một đôi ngựa ở trong rừng sẵn chờ họ, và Thi Kỳ lại đi.

Đi đâu không biết, đi xa khỏi xứ Mạc Hà.

Vị thư sinh đây Thi Kỳ nhớ là chưa từng gặp, nhưng mà sao quen quá!

Giống Sa Liên lắm...

- Khuê tiên sinh nhờ ta bảo vệ cho đệ tử ngài, đứa bé mà Thi án sát đại nhân gửi cho.

Có một trang viên bỏ hoang ở phía tây ngoại biên Mạc Hà trấn, chúng ta tới đó.

Thi Kỳ không rõ có nên tin vị này hay không, nhưng giữ mạng đợi đại tiên sinh trở về bây giờ mới là thượng sách...
 
Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Hồi mười bảy: Khuê gia song tước


Bảo là ngoại biên Mạc Hà trấn, nhưng đã băng rừng khá lâu rồi mà vẫn chưa thấy ngôi thành nào.

Thi Kỳ trở nên sốt ruột, vừa lo chuyện ở Mạc Hà, vừa lo chuyện của đồng môn vừa lo chuyện của Khuê Tước tiên sinh.

Người đang dẫn đường họ Thi chạy trốn là ai?

Tại sao lại giúp đỡ một kẻ không quen biết, lại đang mang tội như Thi Kỳ?

- Sắp tới rồi, chịu khó một chút...

Xung quanh vẫn là rừng lá, sau lưng là xứ Mạc Hà, trên đầu là trăng và trước mắt là cây cỏ, hai người đang đi đâu đâu, Thi Kỳ tự hỏi.

- Tại sao... lại cứu tôi?

Không có tiếng đáp lại, nhưng vó ngựa vẫn rải đều.

Rời kinh đô tới nay đã bao lâu rồi?

Hạn ba tuần trăng xin phép Trưởng công chúa đã hết hay chưa?

A, bây giờ về không được nhưng mà ở hay đi cũng không xong...

Khi trăng đã chếch quá đỉnh đầu, hai người đến được một trang viên rộng lớn nhưng nhìn như bị bỏ hoang từ lâu lắm rồi.

Bức bình phong trên cổng đã mục ruỗng, rêu phong phủ dầy nóc nhà, cột trụ, gạch lát, tường vôi.

Cảnh vật điêu tàn, giống hệt Hưng Thánh điện những ngày sau khi đại tiên sinh bỏ đi...

- Chỗ này an toàn, quân triều đình không biết đâu.

Sau khi nhìn quanh một hồi như thể xác nhận rằng mình không bị bám đuôi, vị thư sinh xuống ngựa và chìa tay giúp Thi Kỳ.

- Tiên sinh... không phải người của triều đình...

- Vào trong đã, rồi muốn gì hỏi sau.

Tuy rằng bên ngoài đổ nát nhưng trong nhà lại có cảm giác như vẫn có người sống ở đây, hơn nữa, đây là một người rất quan trọng.

Thi Kỳ được dẫn qua các hành lang đến một căn phòng, căn phòng duy nhất trong trang viên được thắp đèn.

Có ai đó có lẽ muốn gặp Thi Kỳ lắm.

- Tiểu Liên?

- Có tiếng người bên trong hỏi vọng ra.

Nghe thì có vẻ là một người trẻ tuổi, nhưng nhìn thái độ của vị thư sinh thì người này có lẽ rất quyền uy.

- Vâng.

- Vào đi.

Vị thư sinh thận trọng mở cửa, để Thi Kỳ bước vào trước và tự mình theo sau.

Căn phòng được khoá ngay sau khi Thi Kỳ đã qua ngưỡng cửa.

Sau tấm rèm buông ở một góc phòng là ánh đèn chập choạng và dáng người nào đang ngồi bên bàn bút, bóng người đó rất giống bóng đại tiên sinh, Thi Kỳ vẫn nhớ, những buổi thức dậy giữa đêm thấy hắt trên tường; ban đêm Khuê Tước tiên sinh hay ngồi bàn bút ghi chép đủ thứ trên đời, thơ văn nhạc họa cả sử sách binh thư, còn ban ngày thì dạy chữ cho Thái tử và dạy học cho đám môn đồ ngài.

Rồi trong cái đêm đó, cái bóng quen thuộc rời thành và không bao giờ trở lại.

- Có lính triều đình đuổi theo con không?

- Thưa, không.

- Đứa bé con của Thi án sát gửi cho Khổng Tước thái phó, nó vẫn an toàn chứ?

Vị thư sinh vén tấm rèm, vẫy tay ra hiệu Thi Kỳ bước vào.

Quả thật, người ngồi bên bàn bút đó trông vẫn còn rất trẻ nhưng trong ánh mắt lại có vẻ rất trải đời.

Tuy chỉ mới gặp lần đầu nhưng mà sao cảm thấy như quen thuộc từ lâu rồi.

- A...

An Tịnh công Thi Kỳ, xin được diện kiến...

- Thi Kỳ bối rối cúi đầu chào.

- Không cần thi lễ đâu con.

- Vị đại nhân nọ mỉm cười đáp lại - Vượt ngục xong lại đi một mạch từ phủ quan về đây, cũng đáng nể đó.

- S— Sao ngài biết được?

- Thời này tiếng đồn đi xa lắm con!

Nhưng mà thôi, con có biết mình đang ở đâu không?

- Một trang viên bỏ hoang ngoại biên Mạc Hà trấn ạ?

Tấm biển ngoài cổng mục rồi, con không đọc được...

- Vậy cái này, con đọc được chứ?

Vị đại nhân chỉ tay lên tấm bình phong phía trên bàn bút.

Tuy thời gian đã phủ bụi dày trên lớp vàng thếp nhưng vẫn nhìn ra được mấy chữ...

"Khuê Văn gia tộc"...

- Đây là... trang viên của... gia tộc Khuê Văn...

- Từng thôi.

Ở đây giờ chỉ còn mình ta với Tiểu Liên, hơi buồn đó, nhưng tránh được tai mắt triều đình...

- Vậy ngài đây là...

- Nội điện đại học sĩ, Khuê Văn Chu Tước.

Chỉ cần biết vậy thôi.

Thi Kỳ để ý thấy có tấm kim bài và chiếc kim khánh đặt cạnh mớ bản đồ trên bàn bút.

Kim khánh có lẽ là của Chu Tước đại nhân, nhưng còn tấm kim bài...

- Tiên sinh đây... cũng là đại quan hay hoàng thân quốc thích ạ?

- Thi Kỳ quay sang vị thư sinh đã đưa mình về.

- Không có đâu, chỉ là một học trò bình thường thôi!

- Vị thư sinh nọ bật cười - Danh là Nguyệt Sinh Liên, đệ tử của Chu Tước đại nhân.

Ngày xưa cũng đòi lên trường ứng thí nhưng ngài không cho.

- Vậy... còn tấm kim bài kia?

- Tất nhiên không phải của ta.

Chu Tước đại nhân nghe chuyện, giơ tấm kim bài lên ánh đèn.

Buộc vào tấm kim bài là dải gấm thắt hoa và ở đầu thắt hoa có đính sợi lông đuôi khổng tước.

Như đã nhận ra chủ nhân tấm kim bài, Thi Kỳ đứng đó bàng hoàng mất một lúc, bao nhiêu suy nghĩ chợt nhiên dồn về.

Lo lắng cũng có, sợ hãi cũng có, mà an lòng cũng có.

- Sau cái ngày đó, Thái tử điện hạ tới gặp ta, nói là giữ hộ kim bài này, đợi có ngày chủ nhân nó trở lại.

Nhưng mà...

Thi Kỳ đột nhiên bước tới gần Chu Tước đại nhân, quỳ xuống đưa tay đón tấm kim bài mà mắt rưng đổ lệ.

Một mảnh quá khứ người đã bỏ lại giờ ở đây, trong tay kẻ học trò cuối cùng của người.

Kẻ học trò cuối cùng của người vẫn ôm mảnh quá khứ bỏ quên, luôn đợi chờ một ngày trông như xa vời quá.

- Vậy ra, thứ mà Thái tử điện hạ gửi ngài giữ năm đó... là Thái phó chi kim bài?

- Không chỉ là Thái phó chi kim bài đâu con.

- Chu Tước đại nhân đặt tấm kim bài ngay ngắn trên tay Thi Kỳ, mỉm cười - Khuê Văn gia tộc tuy không thiếu công thần đại thần, nhưng Thái phó thì chỉ có một Khuê Văn Khổng Tước...

Thi Kỳ tới đây bỗng bật khóc.

Bao nhiêu ngày sóng gió vừa qua đã là quá sức với một học trò xưa nay ru rú chốn Nội thành.

Đoàn Châu thượng thư vẫn dạy hãy cố gắng mạnh mẽ hơn để có thể sống sót giữa thời cuộc bão tố lúc này, và Thi Kỳ vẫn nghe theo lời dạy đó.

Trên đường về đã giúp được Vương Hạ đỗ trạng, dẹp quan liêu Tam Châu, vượt ngục phủ, những thứ mà khi nghĩ lại Thi Kỳ sẽ không bao giờ tin được chính mình đã làm; Thi Kỳ cố gắng tỏ ra bình tĩnh đối đầu với phong ba để mong một ngày tất cả sẽ lại bình yên, nhưng sao bây giờ mọi thứ hằng mong mỏi lại xa vời quá.

Sau cái ngày định mệnh, Sa Liên vào sử quán mải vùi đầu vào sách sử và tửu trà, Hồng Tước kế nghiệp cấm vệ của phụ thân và An Viên cũng bỏ thơ văn đi cầm cung kiếm... bỏ lại Thi Kỳ một mình trong Hưng Thánh điện rêu phong ngày càng phủ dày...

Khi Thi án sát đại nhân đưa Thi Kỳ vào Hưng Thánh điện, những tưởng sẽ được học hành tử tế, nhưng không được bao lâu lại gặp biến cố này; để bảo vệ Thi Kỳ khỏi thành con rối trong tay bá quan, Trưởng công chúa đành cấm cung cả thư đồng cuối cùng của mình suốt bấy nhiêu năm.

Thế là Thi Kỳ lớn lên trong bốn bức tường phủ thái phó xanh rêu, nếu không phải vì mật lệnh gửi về Khuê Tước tiên sinh, chắc bây giờ Thi Kỳ vẫn đang ngồi đó, bên bàn bút của mình và đọc lại những cuốn văn thơ không biết tới lần bao nhiêu rồi.

Những giọt nước mắt này chan đầy nỗi đau dồn nén từng đó năm, niềm hạnh phúc khi trong tay là kỷ vật vô giá của người Thi Kỳ vẫn kính trọng và sự lo lắng cho sự an nguy của người và các môn đệ.

Sa Liên, Hồng Tước, An Viên... ba người có bình an giữa phong ba sắp tới chăng?

Nguyệt Sinh Liên ngồi xuống cạnh Thi Kỳ như muốn an ủi nhưng lại không biết nói gì.

Khi lòng đã nhẹ đi một chút, Thi Kỳ đến bên cửa sổ, đầu tựa vào khung gỗ và thiếp đi, tay vẫn giữ chặt tấm kim bài.

Có thể nào ngày mai khi mở mắt thức dậy, mọi thứ sẽ tốt đẹp hơn?

- Từng gặp bao nhiêu thư sinh học trò nhưng con chưa thấy ai hiếu sư như họ Thi này...

Dù không được dạy dỗ tử tế như ba người trước...

- Nguyệt Sinh Liên đưa tay lau nước mắt cho Thi Kỳ vừa nói - Khác hẳn ba người kia, nó không giỏi giấu cảm xúc của mình, nghĩ gì cảm thấy gì cứ phơi bày ra hết.

Thấy mà tội.

Chu Tước đại nhân lại dừng tay bút.

- Thi Kỳ tuy thân xác trưởng thành nhưng tâm vẫn chỉ là đứa trẻ.

Tú Minh tiên sinh đã nhờ ta trông nó, sao từ chối được?

- À phải, Khuê tiên sinh chỉ ghé lại nhắn mấy câu rồi đi, không kịp mời chén trà nữa.

Kinh Xuân đường xa, không biết hai người đã tới nơi chưa...

Trên đường cái quan tới Kinh Xuân chiều nay có hai kẻ thư sinh đang rảo bước.

Họ từ đâu tới không ai biết, nhưng cả hai trông đều rất mệt mỏi, cố gắng lê từng bước chân đi tiếp trên con đường không bóng người qua lại.

Ý chí đó thật đáng nể, tuy nhiên tới Kinh Xuân thì đường vẫn còn xa lắm.

- Đại tiên sinh... con... chịu hết nổi rồi...!

- Người cầm gậy đi sau than thở.

- Ta cũng khác gì con, nhưng cứ bước tiếp đi...

- Nếu trên đường có vài thị trấn để nghỉ chân thì không sao, nhưng mà con với người đã cuốc bộ liền hai ngày đêm rồi...!

Từ lúc rời khỏi Tân Ô Lương chỉ thấy cỏ cây đất trời và một con đường không có điểm dừng!

Vừa dứt lời, bóng một thành nhỏ hiện lên trước mắt.

Vẫn còn khá xa, nhưng điều này cũng động viên họ được ít nhiều.

- Hình như... ta có người bằng hữu ở đây...

- Con không biết cố ý hay tình cờ mà bằng hữu người ai cũng xa xôi hết...

Nhưng không sao, có chỗ ngủ là được...!

- ...

Nhưng có lẽ cũng không phải, cũng lâu lắm rồi mà...

đúng không?

- Con mặc kệ...!

Với hai kẻ viễn khách, không gì khích lệ hơn là được nghỉ ngơi sau một chặng đường dài.

Dù biết sau đó còn một chặng đường dài hơn chờ trước mắt, nhưng có chốn nghỉ chân một lúc vẫn còn hơn không...

- Cố lên chút nữa, con ơi...!

Sắp tới rồi...!
 
Cấm Thành Quan Trường Ký - Thi Kỳ Kỳ Án
Hồi mười tám: Cố nhân biền biệt có nhớ nhau không?


Tới xế chiều, họ cuối cùng cũng tới nơi.

Thành này tuy nhỏ nhưng lại rất nhộn nhịp, thương buôn, người xe qua lại như cá lội đúng mùa.

Và giữa đoàn người tấp nập đó có hai kẻ viễn khách đường xa cố tìm một lữ quán nghỉ chân qua đêm để sáng mai lại rong ruổi tiếp chặng tới Kinh Xuân.

- Xin lỗi Sa Liên, vì ta mà con chịu khổ...

- Vị thư sinh đi trước ngoảnh lại nhìn đệ tử mình.

- Con không sao... chỉ là... trong đời chưa bao giờ cuốc bộ đường dài như vậy...

- Người đi sau gượng cười đáp - Nếu ngày xưa người làm được... và Thi Kỳ làm được... thì con cũng...

- Cố lên con.

Một chút nữa thôi...

Hai kẻ viễn khách tách khỏi dòng người xuôi ngược mà luồn lách vào những con phố ngày càng nhỏ dần và dừng chân trước cửa một tiệm thuốc cũ kỹ.

Trong nhà có vị đại phu kê đầu bên chồng sách thuốc ngủ say và trên bàn vương vãi đủ loại thảo mộc.

Không cần đợi mời, hai người cũng bước vào và ngồi chờ bên bàn thuốc của vị đại phu.

- Xin được thất lễ một chút a...

Vị thư sinh mượn cây gậy của đệ tử mình và gõ mạnh vào chiếc chuông treo trên đầu cửa chính.

- Ha!

Cái gì!

Ai đó!

Tiếng chuông đột ngột làm đại phu giật mình bật dậy, nhìn hai vị khách mới đến bần thần mất một lúc.

- Hai người...

- Định được thần lại sau khi bị đánh thức quá bất ngờ, đại phu mừng rỡ đứng lên chào hai người khách - Hai người không phải...

Thái phó đại nhân và Vĩ Trinh đó sao!

Lâu quá rồi mới gặp!

- Thái phó à...?

Không ngờ vẫn còn người nhớ, nhưng mà, đã lâu lắm rồi ta chỉ là kẻ thư sinh bình thường...

- Còn sống hả, Lục Miên Anh?

- Sa Liên cười, chào đáp lại.

- Tôi thì lo cậu không còn bao lâu đó.

- Lục đại phu chỉ vào cây gậy lấm bụi đường và vẻ mệt mỏi của Sa Liên, đùa - Mà, hai người tới đây không phải chỉ để thăm bằng hữu hay nghỉ chân chứ?

Nói tới đây, Sa Liên buông gậy và tay nải, đổ người xuống chiếc ghế dài kế bên cửa mà thiếp đi.

Khuê Tước tiên sinh chỉ cười, nhặt lấy gậy và tay nải dưới sàn, đặt ngay ngắn lại lên bàn và đợi khi Sa Liên đã ngủ say mới tiếp chuyện với Lục đại phu.

- Ngài tới tìm chủ nhân con, phải không?

- Lục đại phu vừa bưng khay trà ra thì hỏi ngay.

- Chỉ tiện ghé qua thôi, ta và Sa Liên có mật vụ nên chỉ phiền con đêm nay...

À mà, chủ nhân con vẫn khoẻ chứ?

- Vâng, nhưng mà bây giờ ngài không có nhà.

Vương gia đi Kinh Xuân một chuyến rồi.

Cùng đi Kinh Xuân?

Đó không phải là tiện quá hay sao?

- Vậy còn... vợ chồng Vĩnh Viên Cảnh, ý ta là, đại tỷ con?

- Hai người theo vương gia đi Kinh Xuân luôn, vương gia dặn con ở lại trông chừng.

Đang đọc sách thì ngủ quên, và đang ngủ ngon bị ngài đánh thức...

- Vậy à...?

Nói đoạn, Khuê Tước tiên sinh ngước ra phía sau nhìn; trên chiếc ghế dài, Sa Liên vẫn đang say ngủ, và trong vẻ mệt mỏi sau một chặng đường dài đó là một sự bình yên thật lạ thường.

Vị thi sĩ bỗng khẽ cười.

Sa Liên ơi, tại sao con lại theo ta, dẫu biết theo ta là theo trăm ngàn gian khổ?

Ta không phải phụ mẫu con, cũng không phải thân thích gì của con, nhưng tại sao... con lại hiếu với ta như vậy?

Còn Hồng Tước và An Viên nữa, ngày đó... không phải là ta đã bỏ các con mà đi, không phải là ta đã bỏ các con lại một mình giữa chốn quan trường hiểm ác đó?

Nếu là vì Thi Kỳ thì cũng có lý, nhưng các con vì ta mà lên đường giúp Thi Kỳ...?

Ta đã làm được gì cho các con đâu?

Đột nhiên có ai đó gõ chuông thật mạnh, ai cũng giật mình quay lại phía cửa nhưng Sa Liên vẫn ngủ say không hay biết gì.

- Nhà này có ai tên Vĩ Trinh hay Tú Minh không?

Một ông lính già cầm chiếc phong thư lấm bụi đường lên tiếng.

- Có thư từ Mạc Hà gửi tới đây!

Khuê Tước tiên sinh vội ra chạy ra cửa nhận thư khi hay rằng nó từ Mạc Hà đến.

Có phải là thư Thi Kỳ không?

Có phải là Thi Kỳ đã tìm thấy tổng trấn đại nhân rồi?

- Tôi không biết có chuyện gì mà thư từ toàn gửi cấp tốc cho mấy người nữa...

- Chỉ là những người hay bận rộn thôi cụ.

- Khuê Tước tiên sinh cười trừ, đón lấy tấm phong bì - Mà, xin cụ nhỏ tiếng giúp, có người đi đường đã mệt...

Nhận được thư rồi, Khuê Tước tiên sinh vội đóng cửa chính, cửa sổ và vào buồng trong thắp đèn lên đọc.

Lục đại phu cũng theo, nhưng chính là để trông cửa và Sa Liên hơn là biết trong thư có gì.

Thái độ của Khuê Tước tiên sinh như vậy, một là mật thư, hai là khẩn thư của ai đó quan trọng lắm.

Trái với những gì tiên sinh mong đợi, thư này không phải nét chữ Thi Kỳ, nhưng của một người rất quen.

Không phải của Hoàng Oanh phu nhân, cũng không phải của Phan đại nhân tổng trấn đang mất tích; Khuê Tước tiên sinh có quen biết ai nữa ở Mạc Hà chăng?

Ngoại biên nơi Mạc Hà trấn giáp với Phúc Linh trấn là trang viên của Khuê Văn gia tộc, nhưng mà từ lâu lắm rồi cả gia tộc đã theo chân tiên vương lên Cấm Thành, đâu ai còn ở đó?

Ai đây mà biết hiệu danh của Sa Liên và tiên sinh, lại còn quen biết chủ nhân tiệm thuốc này mà gửi thư tới?

Nhớ lại ngày xưa có vị Nội điện đại học sĩ không bao giờ thiết triều, suốt ngày ngồi trong thư phòng đọc sách và nghiên cứu, cả giờ học của Thái tử cũng không trực tiếp dạy mà chỉ ngồi sau tấm rèm nói vọng ra.

Vậy mà chuyện gì vị đó cũng biết, nhưng ít ai biết gì về ngài.

Có phải người đó gửi thư này cho Khuê Tước tiên sinh không?

Phong bì đề rõ tên người nhận, "Vĩ Trinh hoặc Tú Minh", nhưng không có tên người gửi.

Nét chữ quen lắm nhưng Khuê Tước tiên sinh lúc này không nhớ ra được đó là của ai.

Biết được hiệu danh của Sa Liên là một chuyện, nhưng biết cả hiệu danh của Khuê Tước tiên sinh?

Không có mấy người biết được tên này kể cả những người thân cận tiên sinh như Thái tử, Trưởng công chúa, Tề tể tướng, Đoàn thượng thư và Phụng tướng quân; Thi Kỳ có thể biết hiệu danh Sa Liên, nhưng không thể nào biết hiệu danh đại tiên sinh; An Viên đang ở biên thuỳ, khó mà viết được thư, cũng khó mà biết được nơi đâu để gửi; có lẽ là hộ vệ thái tử, nhưng làm sao Hồng Tước ra khỏi Nội thành mà gửi được thư này, nói chi tới tìm được người nhờ gửi...

"Từ Khuê Văn gia trang, ngoại biên Mạc Hà; gửi tới Tú Minh tiên sinh, Thái tử thái phó..."

Ngoài phong bì có đề hiệu danh Sa Liên, nhưng trong thư lại đề rõ chỉ gửi tới "Thái tử thái phó" Khuê Tước tiên sinh?

Khi tiên sinh còn là Thái tử thái phó thì đó là khi nhận học trò đầu tiên, Sa Liên, cũng lâu lắm rồi.

Tại sao người này lại đề tên tiên sinh với tước vị xưa cũ đó thay vì tước vị "Thái phó" bây giờ?

"Thi Kỳ đệ tử ngài, nhờ sự giúp đỡ của Trần chủ bộ phủ quan đã may mắn thoát được ngục và tìm về Mạc Hà.

Hiện giờ quan quân đang lục soát trấn đó để tìm ngài— người được cho là có liên quan tới vụ mất tích của Phan đại nhân— và Thi Kỳ— đứa bé đó cũng bị tình nghi khi ngài vắng nhà, nhưng xin trước khi ngài định vội trở về để xem đứa trẻ đó có an toàn, học trò đã cho đệ tử tới đón nó về gia trang trước khi quan quân phát hiện.

Xin hãy tiếp tục nhiệm vụ của ngài ở Kinh Xuân, Thi Kỳ vẫn đang bằng an với học trò và đệ tử..."

Cuối thư cũng không đề tên người gửi, chỉ đóng dấu con chim tước màu đỏ.

Không phải Hồng Tước gửi thư này, Khuê Tước tiên sinh chắc chắn điều đó; không phải nét chữ Hồng Tước, và giọng thư này hẳn của một người có phẩm vị ngang bằng tiên sinh.

Dấu con chim tước màu đỏ chợt gợi tiên sinh nhớ về một người mà tiên sinh khá chắc chắn đã gửi bức thư này... vị học sĩ sau tấm rèm thư phòng đó.

- Khuê Văn gia tộc không thiếu công thần đại thần, nhưng người tài cao như vậy mà vẫn vô danh... chỉ có thể là ngài, Nội điện học viện đại học sĩ, phải không?

Cố nhân... biền biệt từng đó năm vẫn nhớ tới kẻ sĩ lưu vong này à...

Chập tối hôm sau, trong một trang viên bỏ hoang ngoại biên Mạc Hà...

Nguyệt Sinh Liên ngồi yên ngoài cửa phòng chờ đợi điều gì đó, thi thoảng lại nhìn quanh cảnh giác, ngón cái khẽ đẩy chuôi thanh bảo kiếm nắm chặt trong tay lên khỏi vỏ.

Từ xa bay tới một con chim ưng chân mang quyển thư, nó đáp trên cành trúc khô giữa khoảng sân đổ nát và đưa mắt về phía chủ nhân, vị hiệp sĩ trung thành trong lốt kẻ thư sinh hiền lành.

Sinh Liên giơ tay lên, và nó sà xuống đậu trên tay người, chìa quyển thư trên chân ra cho chủ lấy.

- Trương lão bá đưa được thư tới tay Khuê tiên sinh rồi, thưa ngài.

Hai người nghỉ chân tại một tiệm thuốc cũ ở Côn Luân thành một đêm, giờ chắc đang trên đường tới Kinh Xuân rồi.

Nhận được thư, Sinh Liên cẩn trọng vào phòng cùng với con chim ưng, khoá cửa lại như thường lệ.

Con chim rúc vào ổ của nó trên xà nhà, và quyển thư được đưa đến cho Chu Tước đại nhân.

- Đại tiên sinh con... có bình an không?

- Thi Kỳ khẽ hỏi.

- Con quên đã có Sa Liên đi theo à?

- Chu Tước đại nhân cười, đáp.

Trong mắt Thi Kỳ thì chỉ có Hồng Tước và An Viên là biết chút võ nghệ, còn lại là thư sinh; sử quan chỉ tối ngày bên bàn bút như Sa Liên và thi sĩ chỉ biết văn thơ như đại tiên sinh làm sao tự bảo vệ mình được?

Nhưng mà, cũng phải thú nhận là những chuyện trước đó nữa thì ngoài tầm hiểu biết của Thi Kỳ.

- Sa Liên không chỉ là một sử quan chỉ biết chữ nghĩa và thập lục cầm đâu, ta nói cho biết.

Hồi xưa khi Khuê tiên sinh còn là thái tử thái phó, trong chốn giang h— kinh đô này hắn cũng có tiếng lắm!

Dù bây giờ không được như xưa nhưng ta chắc Sa Liên thừa sức hộ tống Khuê tiên sinh tới Kinh Xuân an toàn.

- Nguyệt Sinh Liên cười, kể chuyện có vẻ hứng thú lắm.

- Có lẽ vậy...

- Thi Kỳ gật đầu, lại im lặng nhìn xuống tấm kim bài trong tay.
 
Back
Top Bottom