Cập nhật mới

Khác [Cảm hứng lịch sử] LÚC BIẾT XUYÊN KHÔNG THÌ ĐÃ MUỘN!

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
273808995-256-k812708.jpg

[Cảm Hứng Lịch Sử] Lúc Biết Xuyên Không Thì Đã Muộn!
Tác giả: mattienratngon
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

[ĐÃ XUẤT BẢN]
🌟

Thể loại: Cảm hứng lịch sử Việt Nam, Hài hước, Yếu tố Y học...
🌟 Giới thiệu truyện:
Trăm tính vạn tính nàng cũng không tính được vì say rượu mà xuyên không, rơi vào Đại Cồ Việt 1000 năm về trước.

Trong cái rủi có cái xui, giữa thời kỳ loạn lạc binh biến, nơi nàng mở mắt tỉnh dậy lại chính là doanh trại quân đội.

Con đường sống duy nhất là phải giả trai chịu kiếp nô bộc, làm đủ mọi việc chỉ mong yên thân.

Một lần uống say, cả đời lầm lỡ, đã xuyên không thì chớ còn đắc tội với hôn quân tàn bạo nhất lịch sử.

Oan gia ngõ hẹp, có duyên ắt phải trùng phùng.

(Truyện đăng tải online là bản thô, chưa qua chỉnh sửa)

🌟 Lưu ý:

1.

Truyện lấy cảm hứng từ lịch sử và các nhân vật, sự kiện có thật tuy nhiên các tình tiết trong truyện đều là hư cấu, vui lòng không đánh đồng với chính sử, truyện không có giá trị tham khảo về mặt lịch sử.

2.

Truyện có các yếu tố về Y học cổ truyền đã được tham vấn bởi bác sĩ và tài liệu có liên quan song KHÔNG tự áp dụng khi chưa có chỉ dẫn chuyên môn, truyện KHÔNG có giá trị tham khảo về mặt y học.

▪️ Trong quá trình viết dù đã cố gắng tìm hiểu và tham khảo tài liệu nhưng thu thập tài liệu chưa đủ, đối chiếu chưa rành, khó tránh sai sót.

Nếu có bất kỳ chi tiết nào khiến bạn cảm thấy chưa hài lòng, hãy liên hệ trực tiếp với tác giả để thảo luận nhé.

Trân trọng!

🌟 Đặc biệt cảm ơn:
- Bác sĩ Phạm Nhật Cường, Bác sĩ Hoàn Lê, Bác sĩ Doãn Trung Kiên cố vấn y học.

- Bạn Lê Quý Hiển tư vấn các chi tiết chính trị, lịch sử.

- Em Lê Thành Chung hỗ tr



camhunglichsu​
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Lúc Biết Xuyên Không Thì Đã Muộn!
Chương 1: Lần sau đừng say rượu!


Mẹ tôi dạy rằng: "Con gái không nên rượu chè, không nên lên bar pub(1)".

Mẹ tôi cũng dạy rằng: "Con gái chớ nên về khuya, chớ nên đi một mình".

Vậy mà trong một đêm tôi phạm tất cả các điều mẹ dạy.

Cá không ăn muối cá ươn, con mà cãi mẹ trăm đường có điều bất thường xảy ra không lường được!

Gần nửa đêm, tôi lảo đảo bước ra khỏi một quán quen sau khi không còn phân biệt nổi đâu là đường đâu là giường.

Những kẻ không còn đủ tỉnh táo thường thì hiếm khi biết được mình về nhà bằng cách nào nhưng lần này tôi biết!

Ban nãy cậu em bartender(2) khả ái đã giúp tôi gọi Grab và hộ tống đến tận cửa nhưng đương nhiên, cuộc đời nào có dễ dàng đến vậy.

Tôi thích thử thách: thử thách bartender bằng việc trốn đi ngay khi cậu ta nhặt giùm túi xách còn thử thách chính bản thân mình bằng việc lạc trong lối ra rối như mớ bòng bong này.

Dường như sợ hidden bar(3) chưa đủ "hidden"(4), ông chủ quán khéo chọn một con ngõ bé tẻo teo, tối om đã thế đèn đường khi còn lúc tắt.

Tôi ngẩng đầu lên nhìn ánh sáng leo lét chớp nháy liên tục, miệng lẩm nhẩm ông chủ keo kiệt không chịu thay đi.

Làm dịch vụ như vậy là kém, như vậy là thất bại.

Khách từ quán rượu ra mấy ai còn nhìn rõ đường đâu mà chơi khó nhau thế này?

Đến đây điện tắt hẳn, tôi hít vào một hơi, dằn xuống cảm giác buồn nôn như sóng chiều đang dâng lên đến tận họng, tiếp tục dò dẫm trong bóng tối.

Mình không say!

Say chỉ là thứ cảm giác đánh lừa não bộ!

Vừa xong thì bao nhiêu cocktail cuộn từ dạ dày rồi quay ngược trở ra đằng miệng, phun xuống đất như vòi rồng.

Tửu lượng của tôi là sáu ly cocktail, không hơn.

Vậy mà hôm nay tôi chỉ uống vừa vặn số đó và thêm... xem nào, tôi xoè tay ra đếm.

Kỳ lạ, chỉ thêm có năm shot nữa mà sao bàn tay mình lại có mọc ra tận hai ngón cái?

Tôi quệt ngang miệng, đứng dậy ngật ngưỡng lần mò ra đường lớn đợi xe.

Hay là kệ mình cứ nằm đây ăn vạ, biết đâu chỉ một lúc nữa cậu bé bartender kia sẽ tìm thấy tôi nhỉ?

Nghĩ là làm, tôi đi đại tới một tảng đá lớn ven đường, thẳng cẳng ngả lưng, ngửa mặt lên trời, hai mắt nhắm nghiền.

Trong khoảng không gian tối mịt lặng như tờ, tôi nghe rõ những tiếng còi xe vọng lại từ phía xa, tản dần rồi ngưng hẳn.

Trời về thu, càng về khuya đêm càng lạnh, sương càng dày.

Màn đêm đen đặc bao trùm lấy cả Hà Nội, hoạ hoằn lắm mới có ánh sáng từ cửa sổ nhà ai chiếu lại, rực lên rồi chớp tắt.

Bên ngoài vẫn tiếng còi xe ồn ã, bên trong tôi chỉ thấy thinh lặng.

Rượu dù đổ vào bao nhiêu cũng không khoả lấp được những trống rỗng trong lòng.

Tôi xắn tay, lần mò vào bên trong mấy lớp áo tìm chiếc điện thoại.

Ánh sáng mờ mờ hắt lại, pin báo đỏ rực, tôi chửi thề thành tiếng:

"Mẹ nó, sắp hết pin."

Thường thì tôi sẽ cố gắng không uống say vì biết sẽ chẳng ai đón mình.

Tôi cần đủ tỉnh táo để đứng dậy, gọi xe về nhà.

Chỉ có điều là hôm nay khác, rất khác.

Tôi nằm im bất động, hai mắt lim dim, dỏng tai lắng nghe cánh cửa sổ nhà ai chưa đóng phát ra tiếng cót két như rên rỉ, nghe âm thanh xào xạc của những chiếc lá thu khô cong, ồn ào rơi xuống mặt đường trơn nhẵn, và ở một ngóc ngách nào đó không rõ vọng lại tiếng rên rì rầm của gió lạnh đầu mùa.

Tôi thở dài, đặt hai tay lên ngực, tất cả buồn bã tới mức cứ như thể thời gian trên khắp tinh cầu này đang chảy trôi chậm lại còn tôi là kẻ cô đơn cuối cùng lạc lối ở thế gian này.

"Grab lâu thế?"

- Tôi thều thào, rưng rức như sắp khóc.

Nước mắt còn chưa kịp rơi xuống thì đã bị một tiếng động tựa như trời long đất lở làm cho sợ đến mức ngưng hẳn.

"Ầm!

Ầm!

Ầm!"

- Những tiếng động lớn cực đại liên tiếp dội xuống khiến ngay cả tảng đá tôi đang nằm cũng rung lắc dữ dội.

Tay tôi bấu chặt, gắng để mình không bị hất tung xuống.

Bầu trời như tách ra hai nửa, từ khoảng trống ấy một tia sáng trắng rạch trời giáng xuống, ban đầu chỉ lờ mờ như nắng mai nhưng dần giãn nở liên tục cho đến khi trở thành một luồng sáng khổng lồ nuốt chửng mọi thứ xung quanh.

Ánh sáng trắng chói loà tựa như tất thảy đèn cao áp tựu chung về một điểm rồi nhằm thẳng đồng tử của tôi mà chiếu vào.

Tôi dùng cả hai tay che mắt lại, đôi con ngươi nhưng nhức giần giật, nếu cứ tiếp tục thế này chỉ chẳng mấy chốc sẽ mù mất.

Giữa lúc này xung quanh tôi vọng lại tiếng "vi vi" quỷ dị, tựa như đang đứng sát ngay gần những trụ điện cao thế.

Chẳng rõ tiếng động đó bắt đầu từ đâu, tôi bỉ biết thêm chừng khoảng mười giây nữa thì tiếng "vi vi" đó tản dần, thay thế bằng tiếng "lộc cộc" nện trên nền đất rất rõ.

Tiếng động này thì tôi biết, hẳn là động vật móng guốc.

Là xe bò hay xe trâu gì đó ư?

Ánh sáng kia nhạt dần rồi trở nên dễ chịu, tôi nheo mắt gắng gượng mở ra.

Ban đầu còn gặp ảo ảnh, bóng người mờ nhoè tách làm đôi rồi dần dần, dần dần chập làm một.

Trước mặt tôi là đàn ông tóc búi cao, cưỡi con ngựa lớn đen tuyền, tay cầm một cây thương dài lăm lăm tiến tới.

Tôi khẽ rùng mình, sao lại có một kẻ cưỡi ngựa đi lại giữa thành phố thế này?

Luật an toàn giao thông đã cấm từ đời nào.

Tên này nửa đêm nửa hôm định dở trò gì không biết?

Người kia gần như áp sát, tôi hơi chột dạ ngồi lùi về phía sau.

Tôi lùi một phân người đàn ông lại tiến gần thêm dăm bảy bước.

Càng kỳ lạ hơn người đó tới gần bao nhiêu thì những tiếng "vi vi" quỷ dị kia càng rõ.

Khó để nhận biết được âm thanh đó là gì và từ đâu đến, chỉ biết rằng chúng như xuyên qua màng nhĩ, đi thẳng lên não khiến quang cảnh xung quanh trở nên hỗn loạn.

Lẽ nào những thứ này đều là ảo ảnh do tôi tưởng tượng ra?

Hoặc là thật sự có một kẻ điên khùng như thế này?

Hắn ta định làm gì tôi?

Hay tôi nên làm gì hắn ta trước?

Nếu cứ chờ mãi thì không biết chừng có gì bất trắc xảy ra.

Tôi mà phải sợ à?

Nghĩ tới đây tôi đứng bật dậy, nhanh nhẹn cúi xuống nhặt chiếc giày cao gót của mình, lấy đà rồi lao đến với 99% hơi men là 1% sức lực, ném thẳng vào bóng người kia.

Có thể trúng, có thể không nhưng tiếng "hự" của hắn tôi nghe thấy hẳn là thật.

Trước cả khi tôi kịp bỏ chạy khỏi "hiện trường gây án" luồng sáng trắng lần nữa xuất hiện nhấn chìm tôi vào bên trong cùng những tiếng "vi vi".

Cơn buồn nôn cuồn cuộn lên như sóng triều, tôi lảo đảo, hai chân vô lực, cả người ngã sóng soài trên nền đất.

Trước giây phút hoàn toàn mất ý thức, tôi nhìn thấy bóng người đen kia đã đứng trước mặt mình, ghì dây cương ngựa.

Luồng sáng và âm thanh kỳ lạ biến mất, tôi nhắm mắt, tất cả chìm về với màn đêm cùng sự tĩnh lặng tuyệt đối.

***

"Lạnh quá."

Tôi khẽ cựa người, chóp mũi lạnh đến mức tê dại mất cảm giác.

Cố gắng nằm nép sâu vào lớp chăn lông dày nhưng chỉ cần tôi cựa quậy một chút thôi cũng khiến từng đường gân thớ thịt như bị đóng băng.

Tôi thử thở nhẹ, nhân trung ngay lập tức cảm nhận hơi lạnh phà vào.

Chà, điều hoà ở đây bật nhỏ nhỉ!

Họ cất điều khiển ở đâu vậy nhỉ?

Tôi quơ tay tìm nhưng rõ ràng là không thể tìm thấy thứ muốn tìm đâu, chỉ nắm vào một vật vô cùng chắc, lạnh như kim loại.

Tôi buông ra, rùng mình một cái toan trở người.

Kết quả của việc say rượu là dù nằm im mà tôi vẫn cảm giác mình như đang bị vắt ngang qua một vật gì đó, cao, ấm, lắc lư.

Đầu óc ngày càng quay mòng mòng, bỗng chốc "chiếc giường" đó đột ngột khựng lại, tâm trí mơ hồ của tôi tạm thời được trả về chế độ bình thường.

Tôi ngóc đầu dậy rồi dụi mắt mấy bận, nhìn về phía trước.

Để xem nào, một đám lông đen bờm xờm, một cái đầu cao cao, hai cái tai hình tam giác đang dỏng lên nghe ngóng.

Tôi ho khan, trong lòng rộn lên một cảm giác kinh hãi khó tả.

Ngựa?

Tôi đang nằm trên một con ngựa?

Tệ hơn cả việc thức dậy trên lưng ngựa là gì?

Là con ngựa đấy đang bị vây bởi một đàn sói hoang dễ đến mười mấy con.

Con nào con nấy lông bờm xờm xám ngoét, răng nanh nhọn nhe ra đầy hung dữ.

Chúng chắn ngang đường, gầm gừ thị uy, thủ thế sẵn sàng như chuẩn bị đồng loạt nhảy bổ vào xé tôi ra làm trăm mảnh.

Tay nhanh hơn não, tôi nắm lấy cổ con ngựa mà rú lên một tiếng kinh hãi.

Con ngựa giật mình liền ngay tức khắc lồng lên.

Đầu óc tôi lần nữa đảo điên, chỉ nghe bên tai tiếng giày thúc vào hông ngựa.

Con ngựa lấy đà, nhún một cái rồi phi thẳng về phía trước.

Tôi thất kinh bấu chặt lấy chân ai.

Người đó cầm một cây thương sáng quắc, chẳng nói chẳng rằng nhằm con sói to nhất đang lao đến cắt mà cổ.

Đúng một giây im lặng, đàn sói dần giãn ra, gầm gừ.

Bất chợt thêm một con nữa liều mình lao đến, chết trân chịu trận nhưng người đàn ông kia điềm nhiên vung tay, cây thương xiên thẳng vào họng nó.

Máu phun ra thành dòng tưới ướt mặt đất, vấy cả một mảng lên mặt tôi.

Thêm dăm bảy con nữa tiến lên, người đàn ông tuốt gươm rồi thúc ngựa xông vào giữa bầy sói.

Chỉ trong chớp mắt cả mặt đất đã phủ kín những khối lông màu xám bất động, đẫm máu.

Cuối cùng đàn sói tru lên thảm thiết rồi thi nhau chạy sâu vào rừng.

Tôi đã nhận ra được điều bất ổn tiếp theo: Tại sao tôi ở trong rừng thế này?

Khung cảnh chuyển liên tục tựa như trong một giấc mơ.

Chỉ vừa mới đây tôi còn ở trong thành phố uống cocktail sao bây giờ lại thành ra ở giữa nơi rừng thiêng nước độc thế này?

Đáng sợ hơn nữa là kẻ phía sau dường như chẳng xa lạ mấy với việc chém giết.

Giữa nơi thanh vắng chỉ có mình tôi và hắn, có khi chết mất xác lúc nào không hay.

Nhân lúc hắn ta lơ là tôi nhanh chóng tuột xuống khỏi lưng ngựa rồi chạy trối chết.

Mà thực ra tôi có nên chạy không?

Hắn ta đáng sợ hơn hay lũ sói trực chờ ăn thịt đáng sợ hơn?

Như đoán được tôi sẽ trốn nên hắn ta chỉ thong dong cưỡi ngựa lại gần, tay cầm cây thương còn ướt đẫm máu tươi.

Tôi giật lùi, giật lùi.

Nắng mai khuất sau đôi vai rộng của hắn, không thấy mặt mũi chỉ thấy bóng người cao lớn đổ dài trên mặt đất, trùm lên thân hình bé nhỏ của tôi.

Dù cố cách mấy tôi cũng chẳng thể nhìn rõ được khuôn mặt của hắn, chỉ cơ hồ đôi mắt vừa sắc lạnh vừa đen thẫm.

Cả trảng rừng phút chốc rơi vào trong tịch mịch.

Chim thôi hót và ong bướm thôi vo ve.

Một lần nữa người đàn ông vung cây thương sáng loà, thẳng tay chém xuống.

Lũ quạ đập cánh tán loạn, nối nhau bay vút lên trời cao.

Trước giây phút định mệnh đó, dạ dày tôi co bóp liên tục khiến toàn thân đau tới không thể nào chịu đựng nổi.

Tôi gục xuống đất, lần thứ hai liên tiếp ngất đi không hay biết gì nữa.

***

"Giấc mơ sống động" có lẽ là một trong những trải nghiệm vừa khó khăn vừa thú vị.

Chúng có khả năng biến những giấc mơ đẹp trở nên vừa chân thực vừa chi tiết nhưng cũng có khả năng biến những cơn ác mộng trở nên kinh khủng gấp nhiều lần.

Đừng nói là mơ thấy bị chó sói tấn công, cho dù mơ thấy cá sấu hay rồng phun lửa tôi cũng đã từng gặp qua, mà còn chân thực đến độ có thể nhìn rõ cả từng cái vẩy, cái móng chân và cảm nhận được độ sợ hãi, mệt mỏi khi chạy trốn gấp cả ngàn lần thực tại.

Chí ít thì lần này tôi cũng được người khác "cứu", miễn cưỡng một chút có khi hắn ta cầm thương để đâm tôi không biết chừng.

Tôi cựa người, yên tâm biết mấy vì lần này không còn vắt vẻo trên thân ngựa nữa.

Giường của tôi lúc nào cũng êm ái với đệm dày và hoa thơm nức.

Đệm dày và hoa thơm nức?

Đến đây bỗng phát giác có điều lạ thường, tôi trở người thêm đôi ba bận nữa, giường này cực kỳ cứng, khẽ cử động cũng nghe tiếng nan giường cọt kẹt.

Hơn nữa cũng thiếu đi mùi hoa thơm trưng phòng như thường lệ, chỉ ngửi ra mùi đất đặc quánh.

Xác nhận không phải giường của mình tôi hoảng loạn mở choàng mắt, ngồi bật dậy.

Khung cảnh hoàn toàn xa lạ: tôi nằm trong một túp lều vải, gió thổi phần phật làm bốn góc lều trực chờ hất tung bất cứ lúc nào.

Tôi cúi xuống nhìn rồi trộm thở phào, quần áo trên người vẫn nguyên si chỉ có điều đôi dép cao gót đã biến mất.

Tình hình không có tệ nhất mà chỉ có tệ hơn, đầu đau như búa bổ.

Dù tôi tự hỏi bản thân trăm nghìn lần cũng đành chịu chết chẳng biết nơi này là nơi nào.

Tôi thở dài, bước xuống nền đất vừa trơn vừa lạnh.

Mười đầu ngón chân hồng hào bấu chặt vào đất vì sợ ngã.

Thôi thì đâu còn có đó, còn an toàn xem như đã là may mắn.

Muốn biết mình đang ở đâu chỉ cần ra ngoài là rõ ngay.

Tôi uể oải đi về phía cửa, vén tấm rèm màu nâu bạc phếch lên.

Một khung cảnh kỳ lạ nằm ngoài sức tưởng tượng sà vào tầm mắt.

Tôi thất kinh buông rèm, quay lưng đi thẳng vào trong.

"Điên rồi!

Mình điên rồi" - Rõ ràng là tôi bị ảo giác, hoặc say quá vẫn chưa tỉnh nổi.

"Này thì cocktail!"

"Này thì shooter!"

"Này thì chưa say!"

Cứ mỗi cái "này thì" tôi lại véo thật đau vào đùi của mình.

Hoặc biết đâu đây là "mơ trong mơ" - những cơn ác mộng nối tiếp nhau còn tôi thì vẫn chưa tỉnh?

Mãi cho tới khi bị chính mình véo đau đến mức đứng không vững tôi mới hít sâu vào một hơi, mon men lại gần vén lều ra lần nữa.

Khung cảnh hùng tráng làm tôi ngây ngốc: núi tiếp núi trải ra tận chân trời.

Nổi bật lên trên đó là những hàng rào phân định ranh giới, những túp lều san sát tiếp giáp nhau cho đến khi chỉ còn là một chấm đen nhỏ mờ không rõ hình hài.

Từng đàn từng đàn ngựa trắng đen đủ loại, bộ lông bóng mượt thảnh thơi đi lại.

Ở giữa sân một nhóm đàn ông cả trăm người chỉ mặc một chiếc áo mỏng, đi chân đất múa may cất lên những tiếng "hây" "ha" kỳ quái.

Tôi bước về phía trước hai bước để nhìn rõ hơn, vô tình va phải hơn chục người đang xếp hàng dọc, mặc giáp sáng choang, tay lăm lăm cây giáo.

Người đứng đầu nhìn tôi một cái, tôi ngây ngô gật đầu ra chiều xin lỗi.

Đám người kia không để ý nhiều liền khẩn trương bước đi.

Họ đội những cái mũ kỳ lạ bằng da, đầu bằng.

Nơi này giống như một nơi bị bỏ bùa, thuộc về một nền văn minh nào đó xa xôi hoặc một thế giới mà tôi chưa từng biết đến.

Mùi hương của cỏ cây khắp nơi hòa trộn với mùi ngựa, mùi mồ hôi của đàn ông, mùi dầu cháy, mùi gỗ, mùi lành lạnh của những bông tuyết chưa tan... tất cả khiến tôi choáng váng.

Tôi cứ đứng im như thế rất lâu, rất lâu cho đến khi tưởng như hai chân mình đã chôn chặt vào nền đất.

Phải chăng đây là một trò đùa?

Một đoàn phim cổ trang hay là tôi đã bị bắt cóc?

Bị bán qua biên giới mổ nội tạng?

Tôi thoáng rùng mình rồi vội vã đặt tay lên bụng.

May quá chiếc bụng bé xinh của tôi vẫn nguyên vẹn, vậy là hai quả thận hẳn là vẫn ở trong.

Không giấu nổi nụ cười mãn nguyện, tôi vuốt nhè nhẹ vào bụng mình.

"Hắn đây rồi, giải hắn tới gặp Đô chỉ huy sứ!(6)"

Thấy có người chủ động bắt chuyện tôi vui ra mặt.

May quá vẫn là tiếng Việt thân thương, vậy ra tôi còn ở trong địa phận nước nhà, bớt phải lo đi một phần.

Tôi nhìn hai người đàn ông một béo một gầy, ăn mặc có vẻ giống lính tráng trước mặt mình, tỏ ra vô cùng nhã nhặn:

"Chào anh, cho tôi hỏi một chút đây đâu vậy?

Hiện tại tôi đang vội quá phải đi ngay, hai anh có thể chỉ cho tôi lối ra không?"

Dường như lời tôi nói có chỗ nào chưa ổn.

Hai người kia nhìn nhau như thể tôi nói bằng thứ ngôn ngữ gì kỳ lạ lắm, cuối cùng một trong hai nhếch mép:

"Ô hô, lại còn giả điên!"

Tôi nghiêng đầu, dù rất cố gắng nhưng những chuyện đang xảy ra càng lúc càng kỳ lạ.

Dù cho hai người họ tỏ rõ vẻ đối địch tôi vẫn kiên nhẫn:

"Xin lỗi, cảm phiền hai anh nhưng..."

Không để nói hết câu, tên béo dùng tay đập mạnh một cái vào vai tôi, kế đó chĩa mũi giáo vào mặt rồi quát lớn:

"Lắm lời!

Đi!"

Cơn đau truyền từ lưng đến làm toàn thân tôi cứng đờ.

Trong ánh nắng mũi giáo của chúng sáng quắc lên, vừa sắc vừa nhọn như thể chỉ cần tôi sơ sẩy chút thôi thì sẽ phải trả một cái giá rất đắt.

Tôi giơ tay lên trời chứng minh mình vô hại.

Có thể chúng đang đùa nhưng cũng có thể đây là sự thật song sinh mạng chỉ có một, tôi không muốn liều lĩnh đánh cược.

Hai tên lính điệu tôi đi một quãng khá xa.

Nơi này giống như doanh trại, dễ có tới mấy trăm lều to nhỏ san sát nối tiếp nhau.

Binh lính nhiều vô kể, nhóm tập luyện binh đao, nhóm thi nhau vật lộn, lại có mấy người bắn cung day dùng gậy gộc.

Đi thêm một quãng nữa tới một trong hai lều lớn thì chúng dừng lại, quỳ phục xuống nói lớn vào trong:

"Bẩm Đô chỉ huy sứ, đã áp giải phạm nhân tới!"

Phạm nhân?

Tôi quay qua nhìn phía sau, chẳng có ai cả.

Vậy ra rõ ràng chúng nói về mình.

Bên trong lều có tiếng đàn ông rất trầm:

"Cho vào."

Tôi ưỡn ngực thẳng lưng đi theo chúng vào trong lều.

Bên trên có người đàn ông chừng hai lăm, ba mươi tuổi đang ngồi đọc sách.

Tôi đi vào song y còn chẳng buồn ngẩng đầu lên, chỉ buông một câu lạnh lùng:

"Ngươi từ đâu đến?"

"Hà Nội."

- Tôi trả lời cụt lủn.

Rất rõ ràng, nếu anh ta thiện chí và tôn trọng thì tôi cũng sẽ lễ độ mà trả lời, còn như bây giờ tại sao tôi cần phải dài dòng với kẻ bất lịch sự kia chứ?

Câu nói của tôi còn chưa kiến tên Đô Đô gì kia bực mình nhưng đã thành công chọc giận tên lính béo múp.

Hắn thét vào mặt tôi hai từ "Hỗn xược" rồi đạp tôi ngã dúi dụi trên nền đất.

Người bên trên buông quyển sách ra, phẩy tay, ngay lập tức hai tên lính cúi chào, đi giật lùi rồi lỉnh ra bên ngoài.

Lúc này trong lều chỉ còn lại tôi và hắn.

Tôi đứng dậy, chỉnh trang lại quần áo rồi chắp tay sau lưng, nhìn quanh lều một lượt.

Lều này khá rộng, khắp nơi được trưng bằng đồ đồng sáng rực.

Ở góc phòng treo một bộ giáp tương đối đồ sộ, còn có cả kiếm và một tấm bản đồ trông như được thuộc bằng da.

Tôi trỏ bộ giáp sắt, gật gù:

"Các anh đầu tư thế?

Chương trình này chiếu trên kênh nào vậy?"

Người kia không trả lời tôi mà chỉ chăm chăm đọc sách.

Tôi đi đến gần, tay gõ gõ lên mặt bàn của y:

"Hình như các anh đùa hơi quá rồi, tôi rất bận và cũng không có nhu cầu quay phim gì cả.

Bây giờ thì tôi phải về, không có thời gian đùa cợt nữa.

Tất cả những đoạn phim đã quay nãy giờ anh giữ lấy cũng được."

Đến lúc này người đàn ông mới thôi đọc sách, anh ta ngẩng lên nhìn tôi tỏ vẻ vừa nghi ngại vừa dò xét.

Trên khuôn mặt vuông chữ điền, một vết sẹo dài chạy thẳng từ trán xuống má trái tựa như vết chém.

Ánh mắt heo hút lạnh lùng đến đáng sợ.

Mặt anh ta vuông chữ điền, cằm hơi bạnh ra.

Anh ta gằn từng tiếng:

"Nguyên quán?"

"Tôi có nói rồi, tôi đến từ Hà Nội."

- Tỏ ra bình tĩnh vậy thôi nhưng tim tôi đang đánh lô tô trong lồng ngực.

Dáng người anh ta cao lớn, vạm vỡ hơn hẳn đám lính, cũng coi như hạc trong bầy gà.

Từ phong thái đến cử chỉ, điệu bộ đều toát ra ba chữ "con nhà võ".

Nếu tình hình cứ căng thẳng thế này mà anh ta chỉ cần phật ý, kẹp cổ tôi một cái thì kiếp này cũng xin chấm dứt tại đây.

Thôi thì lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói biết đâu được về.

Lúc này người kia đẩy tách trà sang một bên, hai tay đặt trên bàn bỗng cuộn chặt:

"Hà Nội là nơi nào?"

Đúng rồi, kịch bản là phải thế.

Hay là đây là chương trình kiểm tra kiến thức lịch sử nhỉ?

Tôi hắng giọng:

"Hà Nội là thủ đô của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam."

Tên Chỉ huy sứ kia lạnh lùng rút từ hông ra một con dao nhỏ, lẳng lặng đặt lên bàn.

"Thấy con dao này chứ?"

- Tôi gật đầu, y tiếp lời - "Nếu còn nói nhảm nữa ta sẽ cắt lưỡi.

Nói!

Ngươi là người của ai?"

"Người của ai cái gì?

Đã bảo tôi là người Việt Nam, chả là người của ai cả."

- Sợ quá hoá giận, đã nói bao nhiêu lần rồi, có phải lúc để đùa đâu mà cứ lằng nhằng mãi thế chứ!

"Việt Nam?"

- Anh ta hỏi lại.

Tôi gật đầu, bĩu môi, khoanh tay trước ngực:

"Trả lời anh nốt lần này thôi nhé!

Việt Nam là nước nằm trên bán đảo Đông Dương, khai sinh năm 1945 khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình lịch sử.

Nước tôi đã có hơn 1000 năm chống đô hộ phương Bắc, đánh bại đế quốc Pháp và Mỹ."

"Hơn 1000 năm?"

Người đàn ông kia tỏ vẻ nghi ngại.

Qua ngữ khí tôi cũng không chắc anh ta hiểu những gì mình nói nhưng mà hình như có cái gì đó bất thường ở đây.

Cuối cùng thì "con ma men" đã rời đi để trả lại độc lập - tự do suy nghĩ cho bộ não nhỏ bé của tôi.

Mất hai mươi giây đầu óc trống rỗng, những nơron thần kinh của một sinh viên tốt nghiệp loại ưu trường Ngoại Thương của tôi mới bắt đầu chậm chạp làm việc.

Hàng loạt dữ kiện thoát khỏi men say, đổ về cùng một lúc ồ ạt như thác chảy:

"Cho trường hợp đặc biệt.

Giả sử kẻ đứng đầu là kẻ thông minh nhất.

Biết rằng hắn cũng nói tiếng Việt nhưng không biết Việt Nam.

Xung quanh có lều trại, ngựa, binh lính, trang phục kỳ lạ, giáo...

Điều kiện bổ sung: Không khí trong lành không bụi mịn.

Lời tôi nói lúc hắn hiểu lúc không.

Hỏi: Đây là đâu?"

Tôi sợ hãi với ý tưởng vừa nảy ra trong đầu, giật lùi liên tục mấy bước rồi ngồi thụp xuống đất còn nhanh và mạnh hơn lúc bị đạp.

Hai mắt tôi mờ đi, xung quanh chỉ thấy hoạ tiết chim hạc viền quanh trại.

Người ngồi phía trên như biết như không, cười khẽ để lộ hàm răng nhuộm đen nhánh, từ từ vươn tay ra lấy một miếng trầu têm cánh phượng.

Tôi chết trân, không kìm được lắp bắp hỏi lại:

"Xin hỏi đây là năm nào?"

Người kia cười nhạt:

"Ứng Thiên năm thứ mười hai."

Tim tôi như vừa chạm mạnh vào lồng ngực.

Chuyện quái quỷ gì đây?

Ứng Thiên là cái gì?

Cách gọi này... chẳng phải là từ thời cổ đại hay sao?

Giây phút này tôi không thể bình tĩnh được nữa, oà ra nức nở:

"Trời ơi răng đen...en...

Trời...ơi... huhu.

Ai trả tôi về nhà.

Tại sao tôi lại xuyên không thế này?"

______

Chú thích:

(1) pub: viết tắt của cụm từ public house là một nơi kinh doanh chuyên các thức uống chứa cồn như bia, rượu,...và cả thức uống không chứa cồn, phục vụ kèm thức ăn nhẹ để mọi người gặp gỡ, ăn uống và trò chuyện trong không gian âm nhạc nhẹ nhàng.

(2) bartender: thuật ngữ dành cho người làm nghề pha chế đồ uống, thức uống chứa cồn.

(3) hidden bar (hay speakeasy bar): một dạng quán bar bí mật, nơi mà khách hàng biết đến quán bằng những lời giới thiệu truyền miệng, và mặc nhiên sẽ không thể vào được nếu không có người hướng dẫn.

(4) hidden: ẩn giấu, giấu kín

(5) shot: một shot có nghĩa là một lượng nhỏ của rượu mạnh được rót thẳng vào ly shot.

(6)Đô chỉ suy sứ: Trưởng quan (võ quan) giữ việc chinh phạt.

Lời tác giả:

- Chỉ huy: Đơn vị quân đội.

Mỗi chỉ huy định binh ngạch 500 người.

Thống binh quan là Chỉ huy sứ và Phó chỉ huy sứ.

Thời Tống Chỉ huy là đơn vị phổ biến nhất và quan trọng nhất.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Lúc Biết Xuyên Không Thì Đã Muộn!
Chương 2: Trọn kiếp nô tài


Đợi tôi hoảng loạn khóc xong mặt trời cũng đã xế bóng, tên Đô chỉ huy sứ kia vẫn ngồi phía trên chăm chú đọc sách, xem tôi như cái bóng tự khóc tự lăn lộn một mình trên đất suốt nửa ngày.

Thấy tôi từ thút thít chuyển sang im bặt, hắn hỏi:

"Ngươi là người của Ngự Bắc Vương hay Trung Quốc Vương?

Đã nhận bao nhiêu tiền?"

Tôi ngơ ngác nhất thời không hiểu ra, chỉ biết giương đôi mắt đẫm nước nhìn y rồi hỏi lại:

"Tiền nào cơ?"

Chỉ huy sứ như đoán trước được câu trả lời, hắn đặt quyển sách xuống, đứng dậy đi thẳng đến trước mặt tôi, rút dao, kề vào cổ.

Tất cả hành động nhuần nhuyễn tự nhiên như đã làm cả trăm ngàn lần.

Tôi thất kinh, hai môi mím chặt đến thở cũng không dám.

"Nói hay chết?"

"Đại nhân soi xét, tôi là dân lành bị lạc.

Trung Quốc Vương hay Lào Vương, Thái Lan Vương tôi không quen ai cả!"

- Tôi rưng rưng lén lấy gấu áo lên lau nước mắt.

Thật sự trong trường hợp này có trăm cái miệng cũng không thể nào minh oan được.

Đô chỉ huy sứ không đáp, kiếm của hắn vẫn đặt trên cổ tôi.

Tôi làm sao mà hiểu được chuyện gì đang xảy ra?

Cú sốc tâm lý quá mạnh khiến tất cả hiểu biết của tôi về loài người, về vũ trụ, về thời gian đều sụp đổ.

Chỉ mới tối qua thôi tôi vẫn còn là một cô gái ngồi uống cocktail nhàn nhã, hôm nay đã bị lạc đến thời cổ đại này đây.

Tạm khoan nói có phải xuyên không hay không, chỉ tính riêng việc bị vây bởi chó sói, bị kề kiếm vào cổ đã đủ trở thành dấu ấn đặc sắc nhất trong đời.

Tôi ngước nhìn Đô chỉ huy sứ bằng đôi mắt ầng ậng nước:

"Có trăm cái miệng tôi cũng không giải thích được nhưng chỉ xin anh tin một lần, tôi bị lạc.

Các anh vừa đông vừa khoẻ như vậy người ta phái tôi tay không tấc sắt đến làm gì?"

Y nhìn dò xét, hồi lâu thu dao về, lạnh giọng:

"Người đâu!"

"Có, thưa Đô chỉ huy sứ!"

Hắn phẩy tay:

"Sáng mai bịt mắt rồi dẫn hắn thả ở bìa rừng, trông chừng cho đến khi tự bơi qua sông Mã Phù về trại Phù Lan."

"Rõ!"

Hai tên lính một béo một gầy ngay lập tức thi hành mệnh lệnh, kéo mạnh tôi về phía cửa.

Tôi cun cút đi theo nhưng chỉ thấy tương lai mịt mờ, càng lúc mọi chuyện càng rối như mớ bòng bong.

Tên béo huých vao tên gầy, cợt nhả:

"Số hắn cũng khá, ít nhất còn gặp Đô chỉ huy sứ, nếu là chúa thượng giờ này đã thành mồi cho cá dưới sông rồi."

Tôi nghe hắn nói nói nhưng điểm đi điểm lại vẫn chưa thấy mình may mắn chỗ nào, thút thít:

"Sáng mai ta lại bị ném ở bìa rừng, lại bị sói đuổi rồi còn bị các ngươi bắt bơi qua sông, chết ở đây còn sướng."

"Đúng là biết một mà không biết hai."

- Tên lính tròn vo tiếp lời - "Nếu thực sự muốn lấy cái mạng quèn của ngươi thì Đô chỉ huy sứ chỉ cần xuống một đao là xong chuyện.

Đúng là đồ đàn ông nhát cáy."

Đàn ông?

Đàn ông nào?

Đàn ông gì?

Tôi lao đến bên một vật tựa như cái chum nước, vội vàng soi bóng mình.

Hình ảnh phản chiếu bê tha đến mức chính tôi còn cảm thấy sững sờ.

Mái tóc được cột cao, búi gọn nay đã bù xù như tổ quạ.

Son đỏ lem một vệt dài từ miệng lên tận má.

Hai mắt đen thùi lùi những mascara.

Tôi điều chỉnh lại một chút nhưng lúc này mới phát giác giọng khản đặc như đàn ông không rõ do khóc nhiều hay do trúng gió sau khi uống rượu.

Trên mình vẫn mặc một chiếc áo khoác đen dài đến gần gót chân.

Nhìn sang bên thì hai tên này cũng để tóc búi cao, nhận nhầm cũng là điều dễ hiểu.

Tôi không có ý định cho chúng biết giới tính thật của mình.

Nơi này thiện ác chưa rõ huống hồ còn toàn đàn ông, ngộ nhỡ có điều gì xảy ra thân gái như tôi lúc đấy có hối cũng không kịp.

Tỏ vẻ xu nịnh hết mức, tôi quay sang ngọt nhạt:

"Ôi hai tráng sĩ, hai anh cho tôi hỏi đây là thời vua nào vậy?"

"Hỗn xược!"

- Tên béo nói mà như thét vào mặt tôi - "Tên của chúa thượng mà ngươi cũng dám hỏi.

Có tin ta cắt lưỡi ngươi không?"

Chúa thượng?

Hoá ra thời này gọi vua là chúa thượng.

Ai mà biết được không được hỏi tên vua cơ chứ?

Tôi ngậm ngùi cúi đầu, tính đến thời điểm hiện tại những gì tôi biết về nơi này quả thật quá ít mà xem chừng cặp đôi béo - gầy này cũng đừng hòng mà khai thác được thông tin.

Tôi mím môi, ngoan ngoãn đi theo chúng.

Vòng vèo một hồi đến chuồng ngựa, tên béo dừng lại:

"Vào kia!"

Tôi trỏ mặt mình rồi chỉ vào trong:

"Tôi ở trong chuồng ngựa á?"

"Còn muốn cái gì nữa?"

- Tên gầy miệng nói tay cột chặt tôi vào thân cây trong một khoang trống, rào ngăn với đàn ngựa bởi một hàng cọc tre.

"Nội gián còn dám đòi hỏi à?"

- Tên béo cười khẩy, bồi thêm cho tôi một cú trời giáng rồi nhặt một hòn đá bên cạnh, hắn ném vào đầu con ngựa gần nhất khiến cả đàn lồng lên, tiếng hí đinh tai nhức óc.

Bấy giờ hắn ta gật đầu ra chiều hài lòng, chắp tay sau lưng thủng thẳng rời đi.

Hoàng hôn rơi xuống trên những mái lều.

Cái lạnh vỡ ra rồi chảy xuống khoảng đất chuyển sang màu xám ngoét.

Khắp cả doanh trại đầy những tiếng vọng, tiếng người và nhìn ra xa xa, xuyên qua những phên tre dính đầy mạng nhện, nơi những bụi lau vượt qua giá lạnh đã nhô cao gần che khuất tầm ngắm, những binh lính xếp từng hàng dài thật dài, người lấm lem đất bụi rời khỏi thao trường quay về lều.

Doanh trại bắt đầu sáng lên bởi vô số ánh nến, ánh đuốc lập lờ.

Cánh cửa chuồng ngựa không khép chặt, phát ra tiếng cót két tựa tiếng thở dài.

Gió dội về từ trên ngọn núi phía xa, những chiếc lều phần phật như rên rỉ, và ở khắp nơi trong doanh trại thấm đẫm màu đỏ của ánh tịch dương buồn bã, mặc cho lớp lớp binh lính vẫn nườm nượp lại qua.

Tôi khẽ chớp mắt, trong lòng trống rỗng vô định.

Tôi tưởng như mọi bi thương của cuộc đời đều dừng chân tại khoảnh khắc này, vòng qua mọi ngóc ngách trong doanh trại, cứ như thể định mệnh đã sắp đặt sẵn rằng những khổ đau từng được cảm nhận ở đây, những giọt máu đã rơi trên mảnh đất này, đều lẩn lút như những linh hồn bị lãng quên trong những nơi sâu kín nhất và bây giờ thức tỉnh, ngồi bên cạnh thì thầm cùng tôi những lời than vãn mệt nhọc.

Tôi ngồi im lắng nghe tất cả tựa như thấy quá khứ từ trăm năm, ngàn năm, những điều chỉ còn trong sách vở, thấy những con người mà đến sau này, thời kỳ của tôi có lẽ chỉ còn là những nấm mồ chìm sâu dưới vài tấc đất, hoặc cũng có thể là tro bùn chẳng còn ai hay biết.

Giá như đây chỉ là một cơn ác mộng, tỉnh dậy tôi có thể về nhà, lại đi làm mỗi sáng, đổ xăng ở đầu ngõ, ăn một chiếc bánh mì nóng hổi, xem một chương trình yêu thích và cắm hoa ly thơm nức đầu giường.

Tôi tựa đầu vào cột, ngửa mặt lên nhìn buổi chiều tàn.

Chỉ trong một chớp mắt những điều vô lý đến mức bất công xảy ra mà tôi chẳng thể hỏi "Tại sao?" , chỉ có thể cố gắng hết sức để biết "Bằng cách nào?" mình mới có thể vượt qua được.

Trong chuồng chật chội, ngựa tiếp ngựa san sát bên nhau.

Phân ngựa hôi thối, muỗi chích không ngừng.

Tôi im lặng trong tiếng vo ve, không ngờ một ngày lại dài đến như vậy.

***

Quá nửa đêm, tôi bị đánh thức bởi tiếng động phía sau chuồng ngựa.

Chuồng ngựa xây sát vách núi, cửa hướng ra sông, phía bắc chỉ có một kho trữ cỏ, phía nam phải đi xa lắm lắm mới tới được vọng gác gần nhất.

Vậy tiếng động kia từ đâu ra?

Tôi vờ như nhắm mắt, tiếng chân người chạy rầm rập càng lúc càng rõ.

Với số lượng này dễ có đến cả trăm người.

Tôi hé mắt trông ra thì là một đám người không mặc quần áo lính, từ đầu đến chân ăn vận đen một màu.

Chúng che mặt, hông mang kiếm, từ sườn núi phía sau chuồng ngựa lẻn vào.

Đám người kia mau chóng vượt qua hàng rào, nhảy vào phía bên trong.

Thấy tình hình có vẻ bất thường nhưng tôi vẫn kiên trì giả ngủ.

Dò la trước đã, đằng nào tôi cũng đang bị nhốt ở đây, biết đâu được đám người này sẽ là phao cứu sinh của tôi?

Chúng áp sát một trại nhỏ, có đám bốn binh lính vừa từ trong trại bước ra đã bị chúng kéo lại, một đao cắt cổ.

Tôi hoảng hồn ngồi thu mình lại, gắng để tiếng hét đang nghẹn ứ ở họng không bật ra bên ngoài.

Khoảnh khắc này tôi biết rất rõ chỉ cần sơ sẩy một chút thôi thì người tiếp theo gặp nạn sẽ là mình.

Cũng coi như trong cái rủi có cái may, chẳng ai ngờ đến ở nơi chuồng ngựa hôi thối này còn có sự tồn tại của tôi nữa.

Đợi chúng tiến về phía trại chính tôi liền mau chóng ngồi xuống, ra sức dùng chân khều kìm cắt móng ngựa lại gần.

Tên lính gầy trói tôi là một nhẽ, tôi đã tính toán cách cởi được từ chiều nhưng biết dù có cởi trói cũng chẳng có nơi để đi nên đành mặc kệ.

Nếu giờ này tôi còn ngồi im phó mặc cho trời thì chỉ e điểm đến tiếp theo sẽ là âm tào địa phủ.

Tôi vươn mình, ra sức dùng chân kéo kìm cắt móng ngựa lại gần, khéo léo chuyền lên để có thể cắt được dây.

Kim cắt móng ngựa vừa to vừa nặng, hơn nữa lưỡi cũng rất cùn.

Tôi loay hoay tới lui không thể cắt được nên đành ra sức chà mạnh liên tiếp, hết lượt này tới lượt khác.

Cổ tay chịu ma sát liên tục ban đầu chỉ nóng lên, bỏng rát nhưng dần dần trầy trụa rớm máu.

Tới khi dây thừng ướt đẫm máu tươi tôi mới thành công giải thoát cho chính mình.

Vừa lúc này đám người mặc đồ đen đã lỉnh vào trong một đoạn khá xa.

Học theo tên béo ban chiều, tôi quay lại nhặt một viên đá, nhằm con ngựa gần nhất mà ném thật mạnh, thẳng chân đạp thêm hàng rào tre một cái.

Con ngựa đang ngủ bị động liền lập tức hí vang, lồng lên.

Con này nối tiếp con kia, cả chuồng ngựa hỗn loạn không kể xiết.

Tôi chạy tới bên cây đuốc cắm trước lối ra, ném xuống cái ổ bằng cỏ mình vừa nằm.

Cỏ khô bắt vào lửa dữ, phừng phừng cháy lên.

Làm ầm ĩ tới mức này tôi không tin lính tráng trên vọng gác không nhìn thấy.

Về phần mình tôi lùi phía sau, trốn vào góc khuất.

Nếu đám người mặc đồ đen kia có phát giác cùng lắm cũng chỉ nghĩ là do ngựa làm hoặc tai nạn do ai đó bất cẩn bằng không tôi sẽ sớm quy tiên.

Quả đúng như kỳ vọng, lính gác phía Nam đã phát giác bất thường trong chuồng ngựa, nhanh chóng đánh thanh la ầm ĩ.

Một đám người kẻ cầm chậu, kẻ cầm xô lao ra ngoài, vừa vặn giáp mặt với lũ mặc áo đen kia.

Hai bên ngỡ ngàng trong giây lát rồi tiếng gươm đao va vào nhau xủng xoảng, tiếng người chạy rầm rập, tiếng thanh la truyền từ vọng Nam sang vọng Bắc, nối tiếp vọng phía Tây rồi phía Đông.

Cả doanh trại phút chốc sáng bừng ánh đuốc.

"Tên Đô đô gì kia nữa, phải báo cho hắn!"

- Tôi lẩm nhẩm, chạy vụt đi.

Trong tưởng tượng của tôi hắn ta là người cực kỳ lợi hại.

Người đứng đầu ắt có cách riêng trị đám mai phục này.

Nửa đêm nửa hôm không biết có còn kịp hay không, binh lính xem ra đã ngủ hết.

Hắn ta chắc là người tốt, ít nhất còn tha cho tôi.

Để mạng sống của mình rơi vào tay đám áo đen kia chưa biết chừng tôi sẽ bị cắt cổ như bốn binh lính vừa nãy.

Tôi chạy mà hai đầu gối như va vào nhau lộp cộp.

Đường từ trại này tới trại kia mất một quãng xa, sức kiệt, bụng đói, phía đằng xa tiếng người ngã xuống mặt đất bịch bịch liên hồi.

Mùi máu tanh nồng nặc trong không khí, càng lúc càng đậm, quyện chặt với mùi dầu bốc ra từ những bó đuốc làm cảm giác buồn nôn lại càng dữ dội hơn bao giờ hết.

Lều lớn đã ở rất gần, phía trước có một đám người giáp sắt sáng loà.

Người cao vượt trội nhất dù có đứng nghiêng tôi vẫn có thể nhận ra được nhờ vết sẹo dài trên má trái.

"Chỉ huy sứ, có kẻ..."

- Còn chưa kịp nói hết câu, đột nhiên tôi cảm thấy có một dòng chất lỏng ấm nóng bắn lên mặt mình.

Tôi đưa tay quệt ngang, cả bàn tay nhuốm máu đỏ thẫm.

Phía bên dưới có một vật lăn lông lốc rồi dừng lại.

Tôi cúi xuống nhìn, mười đầu ngón chân vừa hay chạm vào một cái đầu người với hai mắt còn mở trừng trừng, vết cắt ngọt đến mức nhìn thấy cả cuống họng.

Tôi lùi lại ba bước, máu nóng loang ra chạm vào ngón chân tê dại vì lạnh.

Tới lúc này phòng tuyến tâm lý cuối cùng của tôi bị đạp đổ.

Hai đầu gối không ai đánh mà trở nên vô lực.

Tôi ngồi sụp xuống đất, lắp bắp - "Có... kẻ đột nhập..."

Lúc này xuất hiện một người mặc giáp, đầu bạc quá nửa đi tới bên chỉ huy, cung kính:

"Bẩm Đô chỉ huy sứ, chúng định đốt kho lương."

Liền ngay sau đó một tên lính dáng người tròn vo bị giải đến, quỳ phủ phục trước mặt.

Tôi nhận ra hắn ta, hắn chính là tên đã áp giải tôi hồi chiều.

Tới đây người đầu bạc kia tiếp lời:

"Hắn ta chính là nội gián đã chỉ đường."

Đô chỉ huy sứ tỏ vẻ hài lòng, y phẩy tay, trầm giọng:

"Giải hắn xuống, dọn dẹp đi."

- Đám người nhận mệnh ngay lập tức thi hành.

Y quay sang nhìn tôi, bảo - "Còn ngươi, theo ta vào trại."

Phải tới lần thứ ba đứng dậy tôi mới có thể vững vàng bước vào trong.

Nghĩ lại những hình ảnh bát nháo sáng nay của tôi với y rồi mường tượng cảnh giết người ban nãy, dọc sống lưng tôi như có một luồng khí lạnh lan toả khiến tứ chi cứng nhắc, toàn thân vô lực.

Kiếp này coi như bỏ ở đây.

Xin hãy đâm tôi một nhát, chí ít cũng không bộ phận nào bị tách rời.

"Là ngươi đã đốt chuồng ngựa?"

- Giọng y lạnh tanh.

Tôi sợ hãi quỳ phủ phục xuống, bắt trước một câu trong phim kiếm hiệp:

"Đại nhân minh xét, chỉ vì bất đắc dĩ thôi."

Đô chỉ huy sứ kia ngồi phía trên, tay cầm chiếc khăn lau gạt qua lưỡi kiếm.

Vết máu bị lau đi, thanh kiếm sáng đến nhức mắt.

Tôi lắp bắp giải trình:

"Tôi chỉ đốt cái ổ cỏ mình nằm hơn nữa đã nhìn trước ngó sau, không có thiệt hại gì hết.

Đại nhân tha tội, tôi trốn khỏi đó cũng chỉ vì bất đắc dĩ.

Tôi không phải nội gián!"

"Ta biết."

- Y gật đầu.

Tôi ngạc nhiên ngẩng lên.

Y biết cái gì cơ?

Biết tôi không phải nội gián á?

Đô chỉ huy sứ trỏ cái ghế bên dưới, tiếp lời - "Ngồi đi!"

Nhìn điệu bộ điềm nhiên của y tôi đoán rằng việc này sớm đã nằm trong dự liệu hoặc rất có thể, ngay từ giây phút đầu tôi xuất hiện tên Đô chỉ huy sứ này đã tỏ tường tất cả.

Hắn ta giam tôi phải chăng chỉ thuận nước đẩy thuyền hòng bắt được nội gián thật?

Tôi ngồi trên ghế hai tay bấu chặt với nhau.

Trong phim những kẻ thông minh quá thường sẽ chết sớm.

Mồm miệng nhanh nhảu cũng chả có lợi gì trong mấy trường hợp này.

Tốt hơn hết phải giả vờ ngu.

Chết thì cũng không đáng sợ lắm nhưng chết dưới đao kiếm, bị chặt đầu cắt cổ như vừa nãy quả là vượt quá sức chịu đựng của tôi.

"Bây giờ đã có thể nói cho ta ngươi từ đâu đến chưa?"

Tôi gãi đầu, trả lời thế nào cho hắn đẹp lòng đây?

Sáng nay câu trả lời của tôi đã bị cảnh cáo tận mấy lần.

Nghĩ đi nghĩ lại tôi hít vào một hơi, lí nhí:

"Bẩm..m...m, rất xa.

Nơi xa đến mức người không thể đặt chân tới được."

"Thế giờ nếu ta thả ngươi đi, ngươi sẽ về nhà bằng cách nào?"

Tôi ngồi bần thần trên ghế, nhìn ra ngoài cửa, mất một lúc lâu mới có thể đáp nhát gừng từng tiếng:

"Tôi không biết."

Y đặt kiếm lên bàn, nhìn tôi:

"Vậy bây giờ ngươi ở đâu?"

"Không có nơi nào."

- Tôi thành thật.

Đến đây hai mắt ngân ngấn nước chỉ trực khóc.

Đô chỉ huy sứ có vẻ đăm chiêu.

Y nâng chén trà lên rồi đặt trở lại bàn, vẫy tay ý gọi tôi tới gần:

"Phàm giết cốt giết người có tội lớn, thưởng cốt thưởng ở người có công nhỏ(1).

Ngươi cũng là kẻ thông minh nhanh nhẹn, xem như có công tố giác phản tặc.

Bên cạnh ta vừa hay thiếu một thư đồng, xem như bù đắp cho việc ta đã mượn ngươi làm mồi dụ nội gián."

Tôi không biết mình đã giúp được gì cho y nhưng quả thật lời đề nghị kia khiến tôi phải nghiêm túc suy nghĩ.

Nếu bây giờ thả tôi ra khỏi trại, tôi lại lạc giữa rừng, lại bị chó sói đuổi hoặc hổ báo cáo chồn đe doạ, thêm nữa sống giữa thời cổ đại này cũng không biết làm cách nào kiếm cơm ăn.

Thà rằng cứ ở đây, trên đầu có một chủ nhân cũng không phải sợ đói sợ rét, cùng lắm xui rủi thì bị chặt đầu thôi.

Tôi đã toan hồ hởi chấp nhận ngay "thương vụ bạc tỷ" này thì chợt khựng lại.

Ồ không, là một sinh viên ưu tú sao tôi lại có thể dễ dàng để "nhà tuyển dụng" được hời ngay từ lần ra giá đầu tiên?

Thử nghĩ xem, ngay từ đầu y đã biết tôi chỉ là một người dân thiện lương sa cơ lỡ vận vậy mà nỡ lòng đày ải tôi phải chịu khổ chịu sở.

Nếu bây giờ tôi đồng ý ngay thì lại dễ dàng cho hắn quá.

Nghĩ đến đây tôi xoay người, chớp mắt đã đổi sang bộ dạng thảm thương, miệng rên rỉ:

"Ôi...

Đau quá!"

- Tôi lặng lẽ chấm hai giọt nước mắt trong tưởng tượng - "Được trở thành thư đồng cho người dù đôi tay này đang bị thương cũng không hề hấn gì."

Tôi cố tình giơ giơ bàn tay chằng chịt vết hằn dây thừng, vết cứa đến bật máu tươi lên trước mặt Đô chỉ huy sứ.

Y chau mày, tôi lại cúi xuống bóp bóp thêm đôi chân trần trầy xước:

"Dù bị kiếm chém dao đâm cũng nguyện dùng tấm thân tàn tạ này che chắn."

Y có vẻ nhẫn nhịn lắm khi nghe mấy lời ỉ ôi của tôi, cuối cùng xua tay:

"Được rồi, ban cho ngươi một đôi hài mới, hai bộ y phục, ngày mai có thể tới kho lĩnh thưởng.

Ngoài ra việc thường ngày trong trại nếu không hiểu hãy đi hỏi Bạch Vỹ ở lều lớn."

Tôi gật gật đầu, mặt vẫn ủ ê.

Rõ ràng rằng bản thân tên Đô chỉ huy sứ này cũng có cảm giác tội lỗi với tôi, chèo kéo thêm được gì tôi sẽ tận dụng nốt.

"Còn muốn gì nữa nói mau đi."

Tôi ôm bụng:

"Từ sáng đến giờ tôi chưa được ăn gì cả."

Y chỉ tay lên đĩa bánh để trước mặt, tôi hớn hở chạy đến bưng ngay cả đĩa ăn ngấu nghiến không nề hà phép tắc gì cả.

Đã một ngày rồi tôi chưa có gì vào bụng, dù có bị xử tội ngay bây giờ thì tôi có chết cũng phải làm một con ma no.

Miệng nhai nhồm nhoàm, tay bốc bánh, tôi hỏi:

"Dạ bẩm Đô chỉ huy sứ, người tên gì vậy ạ?"

Y quắc mắt nhìn, tôi sợ hãi phát run, suýt chút nữa nghẹn:

"Chiều nay tôi chỉ hỏi tên vua thôi mà đã bị tẩn cho một trận.

Tôi chỉ nghĩ thành thư đồng thì nên biết tên đại nhân, đại nhân không nói cũng không sao ạ."

"Lịch Vũ."

- Y không ngẩng đầu lên, trả lời hai từ gọn lỏn.

Tôi gật đầu liên hồi, giả vờ rất vô ý hỏi thêm:

"Đô chỉ huy sứ, trong trại này có phụ nữ không?"

"Không có!"

"Tại sao lại không?"

- Dứt lời tôi mới biết mình vừa hỏi ngu liền nín thinh.

Lịch Vũ dường như cũng đồng ý với điều đấy, không thèm đáp lời.

Tôi lí nhí hỏi thêm - "Nếu có phụ nữ vào thì sao ạ"

"Lập tức giết không tha."

- Lịch Vũ dùng giọng đều đều trả lời.

Y gấp quyển sách vửa dở ra lại, ngước lên nhìn tôi - "Mà sao ngươi lại hỏi chuyện này?"

Tôi cười ha ha vờ lơ đi, trong lòng thầm cảm ơn trời đất vì khuôn mặt lem nhem, tóc tai bù xù, quần áo thùng thình mà tạm thời chưa ai nhận ra tôi là con gái.

Vậy thì con đường sống duy nhất hiện tại là tôi phải giả trai, sống với thân phận thư đồng của tên Lịch Vũ này rồi.

Thôi thì giấu được ngày nào hay ngày nấy, thuyền đến đầu cầu ắt sẽ thẳng!

Thấy tôi bỗng dưng im lặng Lịch Vũ hỏi:

"Ngươi tên gì, bao nhiêu tuổi?"

Tôi nheo mắt, cố gắng nghĩ cho mình một cái tên thật đàn ông nhưng vô ích.

Không biết ở thời cổ đại này người ta đặt tên như thế nào nhỉ?

Nếu tôi nói linh tinh liệu có giấu đầu hở đuôi không?

Tôi lắc đầu, giả bộ bày ra vẻ mặt buồn bã nhất có thể:

"Tên tôi rất xấu, người gọi tôi là gì cũng được.

Tôi 18 tuổi."

Lịch Vũ suy tư một hồi, rót một chén trà để lên bàn, đẩy về phía tôi đang gần như mắc nghẹn vì nhai quá nhiều bánh.

"Ngươi ngang bướng như vậy, gọi ngươi là Đam (2) đi."

_______

Chú thích:

(1) Phỏng theo sách "Võ kinh" - Trích "Binh thư yếu lược" (Phụ: Hổ Trướng Khu Cơ).

(2) Đam: (Phương ngữ) cua đồng.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Lúc Biết Xuyên Không Thì Đã Muộn!
Chương 3: À, thì ra ngươi chọn cái chết


Lấy sông Mã Phù làm ranh giới, Phù Lan được chia ra hai nửa: nửa hữu ngạn là nơi binh lính triều đình đóng quân, nửa tả ngạn là căn cứ điểm của quân phản tặc.

Ngự Bắc Vương giữ trại Phù Lan cấu kết cùng Trung Quốc Vương giữ trại Càn Đà, dấy binh tạo phản.

Cả hai đóng chặt cổng thành cố thủ, Lịch Vũ kia nhận mệnh chúa thượng đã vây bắt nơi này nhiều tháng ròng.

Nếu như chỉ là trận chiến bình thường thì có lẽ đã sớm kết thúc xong xuôi.

Nghe đâu trong trại Phù Lan còn có dân lành sinh sống, chỉ e nếu tấn công sẽ lạm sát người vô tội, dân chúng ly tán lầm than nên quân triều đình vẫn cứ ám binh bất động thế này.

Thành bị vây chặt nội bất xuất, ngoại bất nhập.

Lương thực có hạn, người dân cũng không thể đi ra ngoài đổi chác, mua bán.

Thoáng chốc mùa đông đã ập tới, tôi nghe phong thanh từ đám binh lính cách đây vài ngày tuyết còn phủ trắng xoá núi Mã Phù.

Dù giờ đây tuyết đã tan nhưng tình hình thiếu lương thực trong thành vẫn chưa được giải quyết.

Quân phản tặc đột nhập doanh trại triều đình vừa cướp vừa đốt kho lương.

Song để tìm được chính xác vị trí mà đốt đâu phải chuyện dễ dàng?

Chúng đã dám làm ắt hẳn có nội gián chỉ điểm.

Duyên trời run rủi, tôi lại xuyên không về vừa vặn buổi sáng hôm đấy, nghiễm nhiên trở thành đối tượng đứng mũi chịu sào nhằm đánh lạc hướng nội gián thực sự.

Phù Lan vào độ giữa đông.

Sáng sớm mây mù từ đỉnh núi tràn xuống, che khuất đường khuất lối, áng chừng người cách người chưa đến ba bước chân đã không thể nhìn rõ mặt.

Các lều san sát nối tiếp nhau đã vắng bóng người, binh lính đổ ra thao trường luyện tập từ lúc mặt trời còn chưa lên.

Trên các vọng gác đuốc vẫn cháy phừng phừng, dễ thường ánh đuốc còn sáng hơn cả nắng mai.

Tin tôi trở thành thư đồng của Đô chỉ huy sứ đã được thông báo với toàn doanh trại vào tối qua, do đó việc đi lại hôm nay cũng thuận lợi hơn nhiều.

Nếu bị lính đi tuần chặn hỏi tôi chỉ cần báo danh là sẽ được cho qua.

Tôi cũng cẩn thận quan sát cách binh lính ăn vận, nói chuyện với nhau.

Đa phần mọi người đều cắt tóc ngắn, cá biệt có vài trường hợp để đầu trọc.

Những người trông có chức sắc thường để tóc dài hơn, hoặc búi hoặc cột cao đơn giản.

Tôi đánh vật cả buổi sáng với mớ tóc dài của mình nhưng dù có làm thế nào thì trông vẫn quá nữ tính.

May thay lúc thử búi củ hành thì lại vừa vặn, cột thêm đoạn vải đỏ để cố định nữa là hoàn hảo.

Y phục được ban gồm áo khoác trần bông tương đối dày, áo mặc lót màu trắng, áo gì nữa không biết, lại thêm áo cổ tròn và quần, mỗi thứ hai cái; giày được một đôi.

Có thể do đương độ giá rét hoặc cũng có thể do văn hoá mà thời kỳ này trang phục tương đối rườm rà.

So với những bộ phim cổ trang tôi thường thấy trên tivi cũng không quá khác biệt.

Đánh vật cả buổi sáng cuối cùng việc ăn mặc cũng coi như tươm tất.

Giờ tôi phải đi tìm người có tên Bạch Vỹ.

Vỹ biết việc hầu hạ, Lịch Vũ nói nếu tôi cần gì có thể hỏi anh ta.

Đương nhiên từ nhỏ tới lớn tôi nào biết hầu hạ ai bao giờ?

Đằng nào cũng phải làm chẳng thà làm sớm, ít nhất còn quen việc, may ra không bị Đô chỉ huy sứ kia ghét bỏ mà đá ra khỏi doanh trại.

Bạch Vỹ ở trong lều lớn hướng chính Đông, rộng ít nhất gấp ba lần lều của Lịch Vũ.

Trước cửa có mấy mươi người cao to như hộ pháp, võ bị đầy đủ, cầm giáo cầm kiếm đứng gác rất uy phong, trên trán họ đều khắc ba chữ gì đấy đọc không hiểu.

Tôi mon men đi lại gần, nhìn trước nhìn sau.

Thấy điệu bộ lấc láo như cáo vào chuồng gà của tôi, lại pha chút hèn mọn, ngay lập tức hai binh lính rút gươm, quát lớn:

"Ngươi là ai?

Tới đây có chuyện gì?"

Tôi giơ hai tay lên tỏ vẻ vô hại, cười thảo mai:

"Các anh bình tĩnh.

Tôi là thư đồng của Đô chỉ huy sứ, tới đây để tìm Bạch Vỹ."

Một trong hai hạ kiếm xuống, trán nhăn tít lại:

"Đô chỉ huy sứ có thư đồng từ lúc nào?"

"Vừa tối hôm qua thôi."

- Tôi hi hi ha ha, bình tĩnh rút tấm thẻ bài bằng gỗ trong ngực áo đưa ra.

May mà Lịch Vũ còn chuẩn bị trước thứ này, sơ sẩy một cái với đám binh lính mất mạng như chơi.

Tên lính kia liếc qua thẻ bài, hất hàm:

"Lần sau tìm Bạch Vỹ thì báo danh rồi đứng chờ ở phía bên kia."

Tôi gật đầu lia lịa ra chiều đã hiểu, vừa lúc này từ phía đằng xa có một cậu trai trẻ chừng mười tám đôi mươi đi tới.

Cậu ta tới gần một bước sương mù lại giãn ra vài phần, nắng bừng lên trên gương mặt thanh tú.

Đôi môi anh đào chúm chím, làn da trắng mịn, nụ cười tươi rói khiến cảm giác lạnh buốt giữa những ngày tuyết tan cũng vơi đi quá nửa.

Tên lính gác cửa ngay lập tức đổi giọng, ngọt nhạt:

"Bạch Vỹ ngươi xem, có thư đồng của Đô chỉ huy sứ tới tìm này."

Tôi nhe răng cười sượng trân thay lời chào, Bạch Vỹ nhìn tôi một lượt, ánh mắt vừa thăm dò vừa phán xét.

Cuối cùng Bạch Vỹ chủ động bước tới, đưa cái thau đồng mình đang cầm cho tôi, điệu bộ mềm mỏng mà giọng điệu cứng rắn:

"Đi theo ta."

***

Bạch Vỹ nói qua loa, đại để việc của thư đồng thường là lo giấy mực, sắp xếp thư trai(1) hay những việc vặt vãnh trong ngày, đấy là đối với môn sinh(2) hay những người đọc sách.

Ở đây là doanh trại, trong trại không có người hầu.

Tôi là thư đồng đương nhiên sẽ kiêm luôn ti tỉ thứ việc mà gia nhân thường làm.

Lúc đấy tôi không hề ý thức được rằng bản thân Bạch Vỹ cũng là người hầu, vậy hà cớ gì y xuất hiện ở đây?

Chúng tôi đi một quãng khá xa, Bạch Vỹ dẫn đường chỉ những khu được phép ra vào, những nơi cơ mật mà kẻ dưới tuyệt nhiên đừng hòng bén mảng đến nếu không có lệnh.

Tới một đoạn đường chằng chịt ổ gà, đất nhão ra như bùn, Vỹ nhìn đôi hài của tôi, ngạc nhiên:

"Đô chỉ huy sứ cho ngươi cả hài cơ à?"

Tôi nhìn xuống chân mình, bước tới bước lui vài vòng:

"Sao?

Có vấn đề gì à?"

Bạch Vỹ bĩu môi:

"Không biết vừa đến đã dùng chiêu trò gì, Đô chỉ huy sứ đúng là quá hào phóng mà!"

"Ngươi cũng đi mà?

Sao lại nói ta?"

- Tôi tròn mắt.

"Ngươi còn dám so bì?

Ta theo hầu chúa thượng từ khi mới lên năm."

Tôi gật đầu lấy lệ, làm sao so được cơ chứ?

Nhưng kể ra đúng là hơi kỳ lạ, dù mùa đông rét mướt đi chăng nữa thì đa số người trong doanh đều đi chân trần.

Tôi tính hỏi nhưng hình như hơi khiếm nhã.

Mà ai quan tâm làm gì chứ?

Tên Lịch Vũ kia đã cho thì tôi cứ nhận.

Hỏi vớ vẩn linh tinh y lại cắt phần luôn không biết chừng.

"Vậy ngươi bao nhiêu tuổi?"

"18."

- Bạch Vỹ trả lời đầy kiêu ngạo, y lắc lắc cái đầu bé xinh.

Tôi cười thành tiếng, tí nữa thì bò cả ra trên mặt đất.

Chuyện là hôm qua tôi cũng lừa Lịch Vũ rằng mình mới 18 tuổi mà thực ra đã là 23, Lịch Vũ có vẻ rất tin tưởng.

Trả lời đúng tuổi thật có khi lại bị hỏi chuyện vợ con, lơ ngơ sẽ bại lộ việc tôi là con gái.

Nói gì thì nói Bạch Vỹ cũng là chàng trai xinh đẹp nhất mà tôi từng gặp.

Phải dùng từ "xinh đẹp" cho một người đàn ông bởi lẽ y da đỏ môi hồng, hai mắt lúng liếng.

Đi cạnh Bạch Vỹ tôi cũng yên hẳn.

Vỹ hầu cận chúa thượng mà mi thanh mục tú(3) nhường ấy thì trong trại xuất hiện thêm thư đồng ẻo lả như tôi cũng bớt đi vài phần điều tiếng.

Vỹ là người quảng giao, trò chuyện khéo léo tôi cũng tạm thời biết thêm được chút thông tin có giá trị.

Lần này tôi không ngu ngốc phạm huý vua nữa, hỏi sang tên của phản tặc cho đơn giản.

Ngự Bắc Vương tên thật là Lê Long Cân, Trung Quốc Vương là Lê Long Kính, khả năng cao vua mang họ Lê.

Kế đó hiện tại tên nước là Đại Cồ Việt.

Quốc hiệu này chỉ tồn tại vào thời Đinh hoặc Tiền Lê.

Kết hợp cả hai dữ liệu và dùng phép loại trừ, kết quả cuối cùng chắc chắn là thời Tiền Lê rồi!

Băn khoăn này vừa được gỡ bỏ thì băn khoăn khác lại ập tới.

Đây là triều đại như thế nào?

Bao nhiêu vua?

Vua hiện tại là ai?

Chiến tranh hay thái bình?

Tôi nhớ loáng thoáng có chuyện gì đó lớn lắm liên quan đến cái tên Đại Cồ Việt mà nhất thời không nhớ ra được.

Vốn hiểu biết eo hẹp thì đã đành đằng này số vua trong lịch sử nước nhà tôi biết chắc đếm không quá hai bàn tay.

Nếu biết trước sẽ xuyên không, chắc chắn tôi sẽ dành nửa đời trước của mình để học hành lịch sử thật tử tế!

***

Giữa trưa trời quang mây tạnh.

Sương mù tan bớt và mặt đất cũng khô ráo hơn.

Tôi lần theo tiếng kẻng đi xuống bếp nhận phần ăn về cho Đô chỉ huy sứ.

Người cai quản việc bếp núc là Phùng, cỡ hơn ba mươi tuổi, dáng người mập mạp cục mịch.

Phùng mặc áo xám, quần đen, ống tay áo rộng thùng thình xắn lên đến gần vai, buộc túm lại.

"Tôi là Đam, thư đồng của Chỉ huy sứ.

Tôi đến đây lấy đồ ăn cho người."

Phùng nhìn tôi không đáp, chỉ về khay đồng để sẵn.

Cơm canh đầy đủ còn ấm nóng, khói bay nghi ngút.

Tôi khịt mũi, quay sang hỏi:

"Anh Phùng, phần ăn của tôi lấy ở đâu?"

Phùng chỉ ra trại bên ngoài, nơi quân lính đang xếp hàng dài:

"Ăn cùng binh lính."

Tôi gật đầu, lưỡng lự nhìn về hướng cả trăm cả ngàn tên đàn ông rồi lại nhìn mình, tự thấy nghèn nghẹn ở cổ.

Xem ra những bữa ăn sau này khá khó nuốt.

Tôi phải mau nghĩ cách bằng không nếu cứ chạm mặt chan chát với họ ngày một thì cây kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra.

Tôi liếc nhìn, ngay cạnh khay đồng của Lịch Vũ còn có một khay khác bằng bạc, có vẻ nhiều hơn đôi ba món nhưng nhìn chung cũng đơn giản.

Khác với những bữa ăn xa hoa của tướng lĩnh vẫn thường thấy trên phim ảnh, Lịch Vũ chỉ có một đĩa cá kho, một bát canh lớn, một bát cơm trắng với một quả lê.

Không rõ là do tình hình tiền tuyến khó khăn hay do phim ảnh lừa dối mà ngay cả Chỉ huy sứ cũng ăn uống "đạm bạc" khác xa với tưởng tượng.

Nhân lúc bê khay đồng về lều lớn, tôi ngó nghiêng qua nơi đang phát cơm cho lính tráng.

Á à, phải xem họ sẽ cho mình ăn cái gì đã chứ.

Bắt đầu từ cơm trắng thì ít mà độn với đủ thứ ngũ cốc thì nhiều.

Những miếng thịt luộc thái mỏng dính tưởng chừng như một ngọn gió nhẹ nhàng thổi qua cũng đủ cuốn hết đi cùng với niềm tin mong manh của tôi.

Được cái đang ở nơi rừng núi, dù giữa mùa đông rau xanh xem chừng cũng chẳng thiếu.

Nhìn lại mâm cơm của Đô chỉ huy sứ kia tự dưng tôi thấy đúng là đối đãi đặc biệt dành cho VVIP(4).

Trong phút chốc tay tôi trở nên vô lực, hỡi cao xanh ơi nếu chỉ ăn như kia mà còn bắt phải lao động vất vả cực nhọc như người hầu, thân yếu liễu đào tơ như tôi lấy đâu ra năng lượng chứ?

Tôi lảo đảo bước đi, còn chưa được ăn đã thấy đói, lòng buồn thương trống rỗng.

Sống mà không được ăn ngon thì cuộc sống đã mất đi bảy phần ý nghĩa.

Ước chừng khoảng dăm kiếp người, nghìn trùng sương gió, cuối cùng tôi cũng lết được tấm thân tàn tạ cùng cái khay đồng nặng trịch về đến lều lớn.

Phàm những kẻ ác ắt gặp quả báo.

Bấy giờ tôi mới thấy ăn năn hối hận vì những lần đi cafe gọi cappuccino vẽ hình con mèo mà ngồi tận tầng bốn.

Có lẽ những lúc đấy các bạn nhân viên oán hận tôi ra sao thì tôi đang oán hận tên Lịch Vũ y như vậy.

Đầu tiên là chỉ tính riêng cái khay đã phải đến cả mấy cân, kế đó còn mang đi xa, mang đi nhanh, mang thật khéo để không đổ canh.

Vừa tới cửa lều thì tôi đã kiệt quệ.

Đúng lúc hai lính canh chặn lại, buông một câu lạnh lùng làm đóng băng trái tim tôi.

"Chờ ở ngoài!"

"Chờ...

ở ngoài?"

- Tôi lắp bắp hỏi lại.

Nhìn xung quanh không có chỗ nào có thể đặt tạm cái khay để nghỉ tay một chốc, nếu cứ tiếp tục thế này thì sẽ bị chuột rút mất.

- "Có chuyện gì vậy?"

"Chúa thượng đang nghị sự với Đô chỉ huy sứ."

Chúa thượng?

Chúa thượng chẳng phải là vua đấy sao?

Tôi hít vào một hơi sâu, trống ngực đánh thùm thụp, trong đầu như vừa có một công tắc bật lên, lần lượt trình chiếu đủ các kịch bản phim cung đấu, những màn khóc lóc, đấu trí cực căng thẳng của các hậu phi.

Lần xuyên không này coi như tôi gặp may lớn, ít nhất cũng có thể thấy được thứ đáng nhìn nhất Đại Cồ Việt này.

Thử nói xem chúa thượng là ai cơ chứ?

Người đứng đầu cả một quốc gia nhất định sẽ cực kỳ bệ vệ, uy phong!

Tôi gật đầu, tự tán thành với chính mình.

Phải tỏ ra thật ngoan ngoãn, tốt nhất đừng gây chú ý gì.

Vừa lúc này có bóng người từ trong lều đi ra.

Hai tên lính đột ngột cúi mặt quỳ phục xuống đất.

Thấy tôi vẫn đứng trân trân một trong hai kéo tôi xuống, ấn đầu thỏ thẻ:

"Cúi mặt!"

Kế hoạch nhìn trộm chúa thượng đổ bể.

Chúa thượng bước môt bước tôi lại cúi đầu thấp hơn vài phần.

Y mặc áo đỏ, gấu áo viền đen, thắt lưng nạm bạch ngọc.

Tôi cúi càng sát đất, người đó đi hài màu đen, chỉ vàng óng ánh, toàn thân toát ra mùi trầm nhàn nhạt.

Tôi lo lắng đến quên thở, sợ nhỡ bị phát hiện điều gì bất thường thì chỉ e tôi sẽ chết bất đắc kỳ tử.

Quả thực may mắn, chúa thượng đi thẳng về lều lớn phía Đông mà chẳng hề phát giác.

Tôi thở phào, nhìn theo bóng lưng, có vẻ như người này này còn rất trẻ.

Dáng người y cao lớn, vai rộng vả lại còn có vẻ rất... quen mắt?

"Sao còn chưa mang đồ ăn vào?"

- Tên lính đứng dậy trước đá vào chân tôi.

Tôi ậm ừ, khệ nệ mang khay đồ ăn vào.

Lịch Vũ đang ngồi trầm ngâm, trên bàn trải một tấm bản đồ lớn bằng da thuộc.

Thấy tôi y gập bản đồ lại, đẩy sang một bên.

Tôi toe toét:

"Đô chỉ huy sứ, đến giờ ăn cơm rồi."

Lịch Vũ nhíu mày, tôi biết ngay mình nói lỡ lời.

Ở thời kỳ cổ đại cách dùng từ hay nói chuyện có nhiều thứ khác biệt, nếu tôi cứ quen miệng như vậy thì sớm thôi sẽ bị phát giác điều bất thường.

"Đô chỉ huy sứ, mời dùng bữa."

- Tôi sửa lại, cẩn thận đặt khay đồ ăn vào giữa rồi lui xuống bên dưới đứng chờ.

"Đã nhận quần áo mới rồi?"

"Dạ vâng!"

- Tôi gật đầu lia lịa.

"Ngày mai có một buổi cung khảo của binh lính, ta cần chuẩn bị sớm hơn thường lệ.

Canh năm ngươi hãy qua đây hầu."

Canh năm là mấy giờ tôi còn chưa biết thì làm sao giúp Lịch Vũ chuẩn bị được nhỉ?

Lòng băn khoăn là vậy nhưng chẳng dại gì mà hỏi lại y.

Chỉ cần nghe qua ngữ điệu của Lịch Vũ thì có vẻ buổi cung khảo kia rất quan trọng, vậy thì cứ dậy thật sớm là xong.

Nhân lúc trông Lịch Vũ có vẻ dễ chịu, tôi nhỏ nhẹ:

"Chỉ huy sứ, người có thể cho Đam hỏi một câu không ạ?"

Lịch Vũ im lặng, không phản đối tức là đồng ý, tôi liền mau miệng hỏi:

"Là ai sáng hôm đó đã đưa Đam về trại ạ?"

Lịch Vũ chẳng buồn ngẩng đầu lên, chỉ đáp lại ba từ cụt lủn:

"Ta không biết."

Tôi đăm chiêu.

Thế này thì chết dở.

Ngày hôm đó tôi say quá nên nào có nhìn rõ, càng không nhớ chuyện gì đã xảy ra.

Xuyên không thì thôi đi nhưng lúc đấy trên tay tôi vẫn cầm điện thoại.

Nếu rơi ở thời hiện đại thì không nói làm gì nhưng lỡ mà tôi có tuột mất trong lúc lưu lạc ở đây thì phiền lắm.

Chẳng may sau này các nhà khảo cổ tìm thấy hiện vật này thì sẽ trở thành tin chấn động địa cầu, huyên náo năm châu.

Cách tốt nhất bây giờ vẫn là phải tìm ra người đã mang tôi về, hỏi cho ra nhẽ chuyện đầu đuôi hôm đó.

Tôi liếc Lịch Vũ, y nhìn đĩa cá trên bàn mà sắc mặt sa sầm lại.

Thôi chết, hỏng bét!

Hẳn là lỗi của tôi.

Mới nãy vẫn còn đang vui vui vẻ vẻ cơ mà.

Vừa đi làm ngày đầu tiên mà để sếp đuổi việc thì coi như cuộc sống ở Đại Cồ Việt này của tôi cũng chấm dứt.

Tôi nhanh nhảu chạy lại, lao tới bên vồ lấy đĩa cá trắm trên bàn.

"Đô chỉ huy sứ bình tĩnh, để Đam nhặt xương cho người!"

***

Chiều dần buông xuống.

Những đám mây nhỏ nhoi vô định vội vã trôi trên bầu trời nhuộm một màu đỏ sẫm tuyệt đẹp của hoàng hôn.

Một ngày đông nắng ấm hiếm hoi.

Ráng chiều bao trùm lên bóng lều cô tịch.

Sâu trong rừng già, cạnh những thân cây khẳng khiu trơ lá, điểm xuyết cạnh vòm cây lá nhuộm vàng ủ ê là những hàng hoàng đàn xanh sẫm rậm dày vẫn mạnh mẽ vươn lên.

Khói bếp chờn vờn quyện vào làn mây bàng bạc từ đỉnh núi lan xuống.

Đó đây bập bùng những ánh đuốc hồng, và rộn ràng tiếng ngựa dong từ bãi cỏ trở về, phủ phê sau một ngày nhẩn nha gặm cỏ.

Một buổi chiều đẹp nhưng buồn đến lạ kỳ, buồn rầu đến rơi nước mắt vì đã hai ngày trôi qua mà tôi chưa được tắm.

Đói cho sạch rách cho thơm nức, chứ chịu cảnh toàn thân hôi hám thế này áng chừng chưa tới bình minh ngày mai tôi chắc chắn sẽ phát điên.

Bí mật quan sát, hôm nay trời hửng nắng ấm áp hơn thường lệ, binh lính trong trại từ thao trường về đổ ra sông Mã Phù đi tắm, tụ tập thành từ nhóm nhỏ từ dăm bảy đến cả chục người.

Đương nhiên thân gái e thẹn như tôi nếu cứ thế tồng ngồng chạy ra hoà cùng đám người kia thì không ổn!

Vậy là bộ não tội nghiệp lại phải ra sức làm việc, bày mưu tính kế.

Tắm trong lều?

Không ổn!

Làm gì có nước?

Tắm đêm?

Tôi sợ đột quỵ.

Hơn nữa còn bị lính canh phòng gô cổ như chơi.

Nơi nguy hiểm nhất là nơi an toàn nhất!

Nhân lúc nhập nhoạng tối ai ai cũng bận bịu tôi phải ra tay ngay.

Buổi chiều tôi đã lén xuống bếp xin được một ít sả, một ít hương nhu bọc vào trong miếng vải nhỏ để thay cho sữa tắm.

Mùi rượu trên người nồng thế này mà chỉ "tắm chay" với nước lã thì chẳng thấm vào đâu.

Chẳng ngờ ngay khi vừa từ bếp đi ra tôi đã thấy Bạch Vỹ điệu bộ lén lút đi về phía núi sau trại lớn, trèo qua mấy mỏm đá, lòng vòng lên gần phía rừng nên đã lẳng lặng đi theo.

Hoá ra ở đó có một con suối nhỏ trong vắt, vắng bóng người.

Chẳng biết Vỹ làm gì ở đấy còn tôi vô cùng đắc chí.

Hiếm có khi nào kể từ lúc tới Đại Cồ Việt mà lại có chuyện thuận lợi đến nhường này.

Con suối chảy quanh co, nằm khuất hẳn sau một rặng chuối rừng cao lừng lững.

Độ này đang giữa đông, chuối rừng nở hoa đỏ thẫm, hình dáng như búp sen, tựa lửa thắp lên giữa đại ngàn.

Tôi trút bỏ quần áo, thử nhúng chân vào nước kiểm tra nhiệt độ.

Nước trong nhưng lạnh, mất một lúc để cơ thể làm quen.

Nếu tôi ước nước ấm hơn chút có phải là quá tham lam rồi không?

Dù sao tìm được nơi vừa kín đáo vừa thoải mái như thế này thì nằm ngoài tầm mong đợi.

Tôi vui vẻ sà xuống nước, thoải mái vừa vùng vẫy vừa ngửa cổ lên ngắm nhìn một mảnh trăng non tuyệt đẹp.

"Ai đấy?"

- Tiếng đàn ông từ phía bên kia suối vọng lại làm tôi thất kinh, tưởng chừng tim đã rớt ra khỏi lồng ngực.

Cố gắng giảm sự tồn tại của mình đến mức nhỏ nhất, tôi đứng im nghe ngóng tình hình.

Bây giờ nên đứng im hay tôi phải làm gì khác?

Trong tình trạng trần như nhộng thế này tôi sẽ chết vì xấu hổ trước khi bị chặt đầu.

Tôi hít sâu một hơi, cố gắng động não, cuối cùng như bao tình tiết trên phim truyền hình, tôi "Meo" một tiếng giả mèo.

Lại thêm chừng mười giây im lặng, người bên kia gằn giọng:

"Mèo rừng sao chỉ kêu một tiếng?"

"Meo meo."

- Tôi lập tức sửa sai.

Giá như tôi đủ tỉnh táo để biết rằng dù mèo rừng hay mèo nhà, nó kêu mấy tiếng là việc của nó.

Đến khi biết mình dính bẫy tôi một mạch hụp sâu xuống nước rồi bơi vào bờ ôm lấy quần áo, ra sức mặc vào.

"Ai?"

- Phía bên kia lặp lại câu hỏi, xem chừng đã mất hết kiên nhẫn.

"Ngươi là ai mà hỏi ta là ai?"

- Tôi cứng giọng, không nhìn thấy người hỏi mình mà chỉ biết có tiếng nói vọng lại từ phía đầu nguồn.

Hai bên ngăn cách với nhau bởi một đám lau trắng rậm dày.

Tôi nấp càng lúc càng sâu, lẩn vào khúc quanh của con suối.

Trời ơi sao vận xui cứ đổ vào đầu tôi thế này?

Tôi chỉ muốn an bình tắm một cái cho sạch sẽ cũng không được hay sao?

"Suối này mà ngươi cũng dám tắm?"

- Hắn hỏi bằng giọng mỉa mai.

Tôi vừa hối hả mặc đồ vừa gào to lên:

"Ta sợ gì mà không tắm?

Ngươi tắm được thì ta cũng tắm được.

Suối là của chung làm như của mình nhà ngươi không bằng?"

"Ngươi mau sang đây cho ta!"

- Người kia lạnh giọng.

Đầu tôi bắt đầu nảy số, khẽ nhếch miệng cười, giọng điệu vờ vịt:

"Ta chưa mặc quần áo, hay cứ để như vậy sang gặp ngươi?"

"Lưu manh!"

- Bên kia chửi một tiếng rồi im bặt.

Thật dễ bị lừa, tôi cười khẩy.

Mặc xong quần áo nghiêm chỉnh, tôi chầm chậm tiến gần vén mấy cây cỏ voi cao ngồng, thong thả đi về phía suối bên đó.

Ái chà chà, tôi thảnh thơi tiến lại gần, một tay làm bộ đang vuốt râu, một tay giấu phía sau lưng.

Còn tưởng ai đáng sợ lắm nhưng hoá ra chỉ là một chàng trai trẻ cỡ mười tám đôi mươi, dáng người to lớn, vai cuồn cuộn, tóc búi cao.

Trên ngực và lưng y chằng chịt những hình xăm mà tôi nhìn chẳng rõ, chỉ cơ hồ thấy thân thể rất đẹp, rất cường tráng.

Tôi tiến lại gần người kia trừng trừng nhìn lại.

Lông mày rậm, đôi mắt đen sáng, ngũ quan hài hoà, rất hợp ý tôi.

"Cũng không tệ nhỉ?"

- Tôi vừa cười nói vừa giả lả lại gần.

Nếu có một chiếc gương soi bây giờ, chắc chắn trông tôi sẽ có điệu bộ của một tên sở khanh đang trêu ghẹo gái nhà lành.

Nói gì thì gì, đàn ông trong doanh trại so với những anh gymer tôi thường gặp cơ bắp có thể ít hơn một chút nhưng khí chất đều bất phàm không thể trộn lẫn.

Người kia nhìn vẻ bỉ ổi của tôi, giọng lạnh tanh:

"Còn không mau quỳ xuống?"

"Quỳ à?"

- Tôi cười ha hả.

Trông tôi hiền lành nhưng không phải loại người dễ bị bắt nạt.

Vẫn với điệu bộ tiểu nhân đắc ý tôi áp sát y mà không hề có ý định dừng lại.

"Hỗn xược!

Ngươi có biết ta là ai không?"

- Tên trai trẻ kia vẻ mặt căng thẳng nhìn tôi.

Tôi lắc lắc đầu tỏ vẻ vô hại:

"Thế ngươi biết ta là ai không?"

Người kia im lặng không đáp.

Hê hê, bí rồi chứ gì?

Dù sao hắn cũng không biết tôi là ai, tôi nhanh như chớp ném hòn đá lớn giấu sau lưng xuống suối.

"TỦM" một tiếng lớn, nước bắn tung toé khắp nơi.

Tôi cười phá lên rồi lủi đi thật nhanh như cơn gió.

Người kia nhất thời không phản ứng kịp, đến khi tôi chạy đến giữa con dốc mới nghe tiếng hắn gầm lớn:

"Đừng để ta gặp lại ngươi!"

Gì chứ tôi cũng không có ý định gặp lại hắn.

Tiểu nhân đắc ý, ném đá giấu tay tôi là số một!

***

Mặt trời lặn thì quân lính trên thành đánh một hồi ba tiếng trống thu không(5), mọi công việc trong ngày sẽ tạm dừng.

Áng chừng khoảng bảy giờ tối trong trại sẽ đánh thêm hồi trống nữa, lúc này được xem là canh một.

Thời kỳ cổ đại thì mỗi ngày có mười hai canh giờ, tính trung bình thì một canh bằng hai tiếng.

Nếu lấy bảy giờ làm mốc thì canh năm mà Lịch Vũ nói sẽ vào khoảng ba đến năm giờ sáng.

Gà chưa gáy tôi đã dậy, tất tả dọn dẹp bưng nước, chuẩn bị giáp, cung, kiếm mang đến tận bàn, hầu Lịch Vũ mặc.

Hẳn là chỉ khi nào quan trọng lắm mấy bộ giáp này mới được sử dụng.

Khoan nói đến tính an toàn, tôi vừa khiêng vừa ôm, loay hoay mãi mới có thể giúp y mặc bộ áo giáp nặng trịch kia lên người.

Bình thường Lịch Vũ vốn đã rất cao, phong độ, nay khoác thêm chiến bào, hông đeo kiếm, ánh mắt vừa chính trực vừa kiên định, khí thế bức người khiến tôi không nhịn được mà thầm tán thưởng trong lòng.

Mặt trời vừa mọc tôi lẽo đẽo theo Lịch Vũ ra thao trường.

Bấy giờ binh lính đã đứng chật như nêm, hàng lối thẳng tắp.

Quân nhân cho dù là thời kỳ nào đi chăng nữa thì tác phong cũng luôn chuẩn chỉ.

Lịch Vũ đi trước, tôi đi sau năm bước, hai tay chắp trước ngực đúng chuẩn người hầu ngoan ngoãn lễ độ trong phim ảnh.

Thao trường là một khoảng đất rộng mênh mông, thường thì chỗ này là nơi tập trận của binh lính nay được sắp xếp gọn gàng, chuẩn bị cho kỳ cung khảo.

Đóng quân vây thành lâu, tránh để việc võ bị bị mai một, thi thoảng những kỳ tổng tập trận hoặc đấu kiếm, đấu võ vẫn được tổ chức.

Kỳ này thi bắn cung, ấy là cung khảo.

Lịch Vũ ngồi chưa ấm chỗ thì một người tay cầm chiêng, hông giắt cái cờ đỏ bước lên phía trước, gõ boong boong liền ba tiếng, lập tức toàn quân quỳ xuống thi lễ.

Tôi dáo dác nhìn trước ngó sau.

Đô chỉ huy sứ đã ở đây, lẽ nào còn có người khác đến?

Liền đó từ xa xuất hiện một đoàn người che lọng tía vô cùng khoa trương.

Cậu trai cầm chiếc lọng cao nhất kia chẳng phải chính là Bạch Vỹ hay sao?

Chà chà, để xem nào, nếu Bạch Vỹ ở đây thì chẳng lẽ người dẫn đầu kia... là chúa thượng?

Trong nắng đông nhàn nhạt, người đứng đầu Đại Cồ Việt mặc một chiếc áo đỏ, kế sau là quân tuỳ tùng xếp hàng dài.

Dáng người y cao lớn, tuổi chắc chỉ vừa đôi mươi, nước da nâu bánh mật, nổi bật lên trên tất cả là đôi mắt đen sắc lạnh, kiêu ngạo.

Chúa thượng tiến tới gần, tôi nuốt nước bọt, không phải vì y quá điển trai mà hình như trông rất quen mắt.

Đến khi chúa thượng chỉ còn cách chưa đến mười bước chân, yên vị trên chiếc ghế rồng tôi mới len lén nhìn trộm.

Ngay khoảnh khắc đôi mắt ngây thơ của tôi bắt gặp cái nhìn lạnh lùng, kiêu ngạo kia thì bầu trời trước mặt như sụp đổ.

Tôi xây xẩm mặt mày, lảo đảo mấy bước.

Tôi nhìn chúa thượng, chúa thượng nhìn tôi, bốn mắt nhìn nhau vừa vặn lại chính là đôi mắt của người đàn ông bên bờ suối bị tôi trêu ghẹo.

"Cũng không tệ nhỉ?"

- Y nhắc lại tròn trĩnh đúng bốn từ hôm qua kèm theo một nụ cười độc địa.

Tôi không nghe gì hết, chỉ thấy "Đoàng!

Đoàng!

Đoàng!" bên tai.

Ngực đột ngột đau nhói như vừa bị ai thụi vào, chỉ hận không phun ra được một ngụm máu tươi.

Đời là bể khổ, qua được bể khổ thì tôi cũng qua đời.

______

Chú thích:

(1) thư trai: Buồng học.

Phòng đọc sách.

(2) môn sinh: Người học trò.

(3) mi thanh mục tú: Lông mày dài nhỏ, mắt đẹp, chỉ diện mạo đẹp đẽ.

(4) VVIP - (very very important person): nhân vật/ người cực kỳ quan trọng, quan trọng hơn cả VIP.

(5) thu không: Hiệu chuông hoặc trống báo hiệu soát xét không có kẻ gian hoặc việc lạ trong thành khi trời gần tối.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Lúc Biết Xuyên Không Thì Đã Muộn!
Chương 4: Tiểu nhị, dâng trà


Trên thao trường có một trụ gỗ cao vút, đỉnh gắn lá cờ đỏ sậm, dễ thường đứng dưới mặt đất vào một ngày nắng oi chẳng thể nhìn ra được.

Người cầm chiêng bước lên trước gõ "boong boong" ba tiếng, rút cây cờ hiệu giắt bên hông ra rồi phất mạnh.

Liền đó một binh lính cúi đầu thấp, dâng lên cây cung hai đầu bọc vàng, thân gỗ vân đều như sóng nước, màu hung hung đỏ, bóng loáng.

Chỉ cần nhìn liếc qua cũng biết đây chắc chắn là thượng phẩm.

Vị chúa thượng với đôi mắt sắc lạnh kia nhẹ nhàng đứng dậy, lướt tay qua những mũi tên nhọn hoắt, sáng bóng.

Thoắt cái tên đã được giương lên, dây cung căng đến cực độ, mũi tên chĩa thẳng về phía tôi.

Nếu biết trước người tối qua là vua tôi sẽ vừa dập đầu vừa bò lùi chứ không dám cả gan trêu người.

Tôi lấm lét nhìn mũi tên đang nhằm giữa mặt mình mà sợ đến mức hai đầu gối nhũn ra, cả người mềm oặt, run rẩy.

Tôi bám chặt vào ghế của Lịch Vũ, vừa đứng vững đã tuột xuống vì bàn tay ướt rịn mồ hôi.

Lịch Vũ phát giác ra điều bất thường, nghiêng người về phía sau hỏi nhỏ:

"Đam, có chuyện gì?"

"Dạ bẩm..m..."

- Tôi hít sâu vào một hơi những mong bình tĩnh hơn nhưng vô ích.

Hai hàm răng va vào nhau nghe rõ những tiếng lộp cộp - "Hôm qua...

Đam có lỡ dại trêu một người mà không biết đó là... chúa thượng."

- Lời cuối bật ra khỏi môi cùng tiếng nấc nghẹn ngào.

Tôi biết rất rõ ràng, cuộc đời này có lẽ cũng chỉ đến đây là chấm dứt.

Lịch Vũ hơi sững lại, thở dài:

"Giữa ba quân(1) chúa thượng sẽ không vội giết ngươi.

Chí ít còn sống thêm được một lúc nữa."

Câu nói kia chẳng những chẳng có giá trị an ủi gì mà còn khiến trái tim non nớt của tôi thấp thỏm lo sợ hơn vạn phần.

Tên Đô chỉ huy sứ này đích thị là chẳng tốt đẹp gì cho cam nhưng ít nhất y nói đúng.

Vị chúa thượng kia vốn đang chĩa thẳng cung về phía tôi, bấy giờ mũi tên dần nhích lên, hướng về phía bầu trời cao vời vợi.

Tôi chưa kịp định thần thì nghe "vút" một tiếng, tất cả mọi thứ như ảo ảnh vụt qua.

Mũi tên lao đi, găm thẳng vào giữa ngọn cờ đang phần phật bay trong gió.

Cả ngàn quân lính trầm trồ, thao trường ngập tiếng ngợi khen.

Chúa thượng chỉ tay về phía trụ, nói lớn:

"Người hạ được tên đó xuống được ban Thiết Mao Cung."

Vừa dứt lời binh sĩ như được tiếp thêm hào khí, tiếng hô vang lại càng to, rõ hơn bao giờ hết.

Người cầm chiêng tiến lên phía trước, gõ liên tiếp ba tiếng "boong, boong, boong" báo hiệu kỳ cung khảo chính thức bắt đầu.

***

Lần cung khảo này gồm tất thảy bốn vòng, ngoài việc để kiểm tra đốc thúc binh lính còn là dịp để khích lệ lòng quân.

Có nhiều loại hồng tâm được chuẩn bị sẵn, tương ứng với mỗi vòng.

Hai vòng đầu là hồng tâm tĩnh, vòng thứ ba là hồng tâm động.

Hồng tâm động được treo thành một hàng hai mươi lăm cái, tổng cộng hai hàng, đầu dây có người kéo di chuyển liên tục.

Mỗi binh lính được ban hai ống, mỗi ống có hai bó, mỗi bó có mười tên.

Vòng thi đầu tiên là yêu cầu căn bản nhất của binh lính, bắt buộc phải trúng được tối thiểu mười lăm trên hai mươi hồng tâm, những người đạt yêu cầu coi như đủ tư cách để chính thức dự thi cung khảo.

Cả doanh trại từ trên xuống dưới phải tới mấy ngàn người song đây có vẻ như là kỳ thi dành riêng cho đội quân tinh nhuệ.

Vòng một chỉ chưa tới trăm người, cũng ít ai bị điểm liệt.

Hai vòng thi đầu diễn ra tương đối nhanh.

Một phần là vì vòng sơ khảo nên không quá khó khăn, một phần vì tác phong của nhà binh ai nấy đều nhanh nhẹn.

Sang đầu giờ Thìn đã chỉ còn mười người xuất sắc nhất ở lại.

Bấy giờ mũi tên bắn hỏng rơi xuống kín đen khắp mặt đất.

Người nào người nấy nhễ nhại mồ hôi, dù cho tiết trời Phù Lan lúc này vẫn lạnh căm căm đến cắt da cắt thịt.

Chỉ cần tinh mắt một chút đều có thể nhận ra mấy người kia dù có tỏ vẻ oai phong đến mấy thì bàn tay vẫn đang run lên bần bật.

Đương nhiên không phải do lo sợ, tôi cho là vậy.

Chí ít thì đám binh lính đấy đâu có phạm phải tội lỗi tày trời như tôi?

Nhưng chung quy lại phải bắn tên liên tục suốt mấy canh giờ trong tiết trời khắc nghiệt, việc kéo căng dây cung cộng với thao tác bắn tên chắc chắn đã khiến không ít người khốn đốn.

Chỉ tính riêng vòng hai đã có tới tận ba binh lính tứa máu tươi ướt cả bàn tay trong lúc thi đấu.

Với tình hình như vậy thì việc bắn trúng hồng tâm động ở vòng thi thứ ba khó càng thêm khó.

Xem ra vị chúa thượng kia không đơn giản.

Khả năng để tôi đối phó với một người vừa có quyền thế lại vừa có thực lực như y chắc chắn là con số âm.

Tôi hít vào một hơi sâu, đứng lùi mấy bước nấp sau Lịch Vũ, cố gắng để giảm sự tồn tại của mình đến mức thấp nhất.

Trước mặt tôi Lịch Vũ nghiêm túc nghị sự cùng chúa thượng, toàn là những ngôn từ khó hiểu mà dù có dỏng hai tai lên tôi cũng hoàn toàn mù đặc.

Chỉ biết rằng chốc chốc họ nhìn về hướng mấy thí sinh đang lũ lượt thể hiện, biểu cảm vô cùng khó đoán.

Ở vòng thi thứ ba, hồng tâm được cố định vào dây thừng, móc nối với hệ thống tương tự như ròng rọc.

Đầu dây có lính kéo hồng tâm di chuyển liên tục từ trái qua phải rồi đảo chiều liên tục, không theo quy tắc hay chu kỳ nào cụ thể.

Để chiến thắng thì những người dự thi kia không chỉ cần có thị lực tốt mà khả năng chính xác cũng phải cực cao.

Đám chục người đàn ông cao lớn lực lưỡng ra sức thể hiện.

Dáng đứng bắn cung ai nấy đều uy vũ(2) hiên ngang.

Những mũi tên xé toạc gió sương, vun vút bay trong tầng không mờ mịt.

Tên trượt khỏi hồng tâm, lao xa một đoạn nữa rồi rơi xuống đất.

Lính đứng bên phất cờ báo lần bắn hỏng, một lần rồi một lần, tim tôi như vừa bị bóp nghẹt.

Qua thêm lúc lâu nữa, thao trường im phăng phắc, chẳng ai dám ho he thảo luận hay dô hò gì thêm nữa.

Mãi cho đến khi nhóm ba người cuối cùng tiến lên, ngay lần bắn đầu tiên đã lần lượt trúng hồng tâm động, tiếng reo vỡ ra như tiếng mưa mùa hạ, rào rào xối xả tưới ướt đẫm những nỗi mong chờ cạn khô.

Quả thực ba người đấy là người tài, không chỉ trúng hồng tâm động mà còn đều xếp đầu bảng trong vòng thi thứ ba.

Cũng vì lẽ đó họ đương nhiên trở thành tốp thí sinh cuối cùng tiến vào vòng thi cuối.

Bấy nhiêu vòng cung khảo nhẽ ra là xong rồi, vòng này chẳng qua là tìm ra người xuất chúng nhất, tôi cho là vậy.

Hạ được lá cờ trên đỉnh cột kia xuống mới coi như là trạng nguyên của kỳ cung khảo.

Tôi ngẩng đầu lên cao, cao mãi, nhìn lá cờ bé tẻo teo trên đỉnh cột, không nhịn được nữa mà lắc đầu ngán ngẩm.

Trúng được mục tiêu bé như con kiến kia thì mới là lạ.

Nghĩ đến đây tôi quay sang, trộm nhìn vị chúa thượng kia một cái.

Chỉ với mũi tên đầu tiên và duy nhất y đã có thể bắt trúng, đòi hỏi cao với kẻ dưới không phải không có tư cách.

Tôi nhớ lại hành động mình bị cung tên chĩa vào đột nhiên cảm giác bất an trỗi dậy, quay sang thỏ thẻ hỏi Lịch Vũ:

"Bẩm Đô chỉ huy sứ, nếu không có ai bắn trúng thì sao?"

"Thì chúa thượng hôm nay rất không vui, ngươi nên lo cho cái đầu của mình đi!"

Tôi nín thít, mồ hôi vã ra như tắm.

Chợt thấy cảm giác rờn rợn phía sau gáy, tôi run run quay đầu nhìn.

Ánh mắt ngây thơ hồn nhiên của tôi vô tình va phải cái nhìn sắc lạnh tựa diều hâu săn mồi của vị ngồi phía trên, ngay lập tức tứ chi của tôi căng cứng, đầu rụt vào như một con rùa.

Tôi cúi gằm mặt, cả người xây xẩm rồi từ từ mềm oặt ra như cọng bún.

Tôi cố tỏ ra can trường, đứng thẳng nhìn về phía trước.

Lạy tất cả các đấng tối cao dù tôi không theo đạo, chỉ mong lần này, lần này thôi sẽ có người bắn trúng.

Nếu được vậy tôi nguyện đánh đổi măn mắn cả đời của mình, không dám mưu cầu gì hơn nữa.

Nhưng có vẻ lời khẩn cầu của kẻ hèn mọn này chẳng thể thấu trời xanh.

Trước lúc vòng thi cuối cùng bắt đầu thì các ống tên được dâng lên.

Mỗi ống vỏn vẹn ba mũi tên, thân màu đen lông vũ nhuộm đỏ, đựng trong một ống tre già to bằng bắp chân.

Thôi thì dù khó song tôi biết tiễn pháp của mấy người đứng bên dưới cũng không hề tầm thường.

Nổi bật nhất là người có mái đầu bạc trắng kia, anh ta họ La tên Đạc, đứng đầu vòng thi hồng tâm động.

Kế đến là một ông chú già khằn(3) cỡ bốn mươi tên Lê Sương và người đàn ông đen như cột nhà cháy, tên là Trần Chất đều suýt soát điểm nhau ở vòng thi vừa rồi.

La Đạc tiến lên phía trước ba bước, đi liền phía sau là người cầm khay đựng ống tên.

Ngay khi La Đạc vươn tay, lấy mũi tên với lông đuôi đỏ au như máu, một con rắn bất ngờ từ trong ống tre lao ra, chớp mắt đã lao tới ngoạm chặt lấy tay y.

Cả thao trường sững sờ.

Liền đấy người đứng bên cạnh tuốt kiếm, một đường chặt con rắn làm đôi, máu bắn thành vệt dài trên nền đất.

Xung quanh nhốn nháo, binh lính chen dần lên phía trước để nhìn rõ sự vụ xảy ra.

Người tên La Đạc kia ban đầu trông có vẻ không hề hấn gì nhưng rất nhanh, y lảo đảo rồi ngã vật ra đất, khuôn mặt hiện rõ sự đau đớn khôn tả.

"Gọi quân y tới!

Mau!

Mau lên!"

- Tiếng người bên dưới khẩn thiết.

Nơi đây rừng thiêng nước độc, rắn rết chẳng phải là chuyện hiếm hoi gì song nếu khiến cho những chiến binh trở nên gấp gáp như vậy hẳn có nguyên do.

Ý niệm duy nhất trong đầu tôi lúc này là người đàn ông kia phải sống.

Tôi nhìn quanh, nhanh tay giật lấy ly trà trên tay Lịch Vũ.

Hành động thất thố khiến không chỉ y mà cả những người xung quanh sửng sốt.

Giờ phút này làm gì có chỗ cho lễ nghi quy tắc?

Còn chần chờ chỉ e họ La kia không toàn mạng.

Tôi chạy vụt đi trước khi bị ai khác cản lại, trong chớp mắt đã xuống tới thao trường.

"Tất cả tránh ra!"

- Tôi thét lớn, đám người thấy thư đồng của Đô chỉ huy sứ liền tự động rẽ sang hai bên.

Tôi đặt tách trà bên cạnh, quỳ hẳn xuống, đưa tay lên ngực giữ La Đạc nằm im, nhỏ giọng trấn an - "Đừng sợ, anh có đau không?"

Đạc gật đầu, tôi tiếp lời:

"Nếu cử động mạnh độc sẽ lan nhanh hơn."

Nghe lời tôi Đạc thôi vật vã nhưng cắn môi thật chặt.

Trên trán hằn rõ những đường gân xanh.

Mái tóc bạc trắng của anh ta ướt rịn mồ hôi.

Tôi cúi xuống thấp, cẩn trọng quan sát vết thương.

Chỉ nhìn hình dáng để phân biệt các loại rắn, con nào độc con nào không với tôi mà nói quả thực rất khó khăn, dẫu vậy quan sát vết thương rắn để lại nhằm biết đường xử trí thì tôi biết.

Với vết thương có hình chữ V mổ từ trên xuống, hai dấu răng còn rất rõ như thế này tôi khẳng định chắc chắn con rắn kia có độc!

"Rắn độc.

Rắn độc" -Tôi lẩm nhẩm chỉ đủ để bản thân nghe thấy, bàn tay đặt trên ngực La Đạc cũng run theo.

Giữa tình thế ngàn cân treo sợi tóc, tôi với tay tháo dải khăn đỏ cột trên tóc thay garo(1), cố định ở phía trên vết cắn ngăn độc chảy vào tim.

Nếu vẫn còn sống ở thời hiện đại thì chưa chắc tôi đã dám dùng cách này bởi lẽ khi được chuyển tới viện, bác sĩ tháo garô hay chính dây vải cột tóc kia sẽ khiến độc tố sẽ ùa ra, nhanh chóng lan đến tim gây nguy hiểm khôn lường.

Đặt garo là biện pháp rủi ro cực lớn.

Sơ sẩy chút ít thôi thì rất có thể tôi phải dùng mạng đổi mạng.

La Đạc khò khè khó thở, cả tay và chân đều dần dần duỗi thẳng ra.

Vết thương hơi sưng nề và bầm tím.

"Mùi lạ quá...

Lạ quá."

- Đạc cố gắng ra dấu chỉ vào miệng mình.

Giọng nói ngắt quãng càng về sau càng không tròn vành rõ chữ.

Miệng anh ta có vị lạ sao?

Tôi hốt hoảng chẩn mạch, hỏi thêm:

"Anh có ngứa không?"

La Đạc dường như chẳng thể gắng gượng hơn được nữa, chỉ chớp mắt thay câu trả lời.

Tôi lo lắng.

Y có dấu hiệu khó nói, yếu chân tay.

Hai mắt thì thấy y đã bắt đầu sụp mi, mờ mắt, miệng há không được.

Hẳn con rắn kia thuộc họ rắn hổ, rắn hổ cắn sẽ gây ra các triệu chứng về thần kinh mà ở đây Đạc lại có đầy đủ cả.

Lúc này bầu trời phía trên như vừa tối sầm lại, bóng người cao lớn phủ lên phía trước tôi.

Tôi ngước mắt, hoá ra là chúa thượng cùng Lịch Vũ vừa vặn đi tới.

"Đam!

Ngươi làm gì đấy?"

"Cứu người."

- Tôi đáp gọn lỏn, nhanh tay với xuống dưới tháo bỏ thắt lưng và nới lỏng cổ áo của Đạc ra.

"Chờ quân y đến đi."

Dù vừa đến doanh trại song tôi biết rất rõ quân y ở lều ngay gần lều chúa thượng, nơi đó vốn cách xa thao trường.

Dù có nhanh cách mấy chăng nữa thì bằng ấy thời gian chỉ e rằng cái mạng của La Đạc sẽ khó mà bảo toàn.

"Không kịp mất."

- Tôi chẳng thèm đoái hoài lời Lịch Vũ nói, cẩn trọng dùng hai phần ba ly trà đổ vào vết thương.

"Trà?

Sao đổ trà vào?

Ngươi biết mình đang làm gì không?"

- Tên lính cầm chiêng hốt hoảng hỏi tôi.

Tôi không trả lời mà đúng hơn cũng không có nghĩa vụ phải trả lời.

Lúc này ưu tiên trước nhất là người bệnh.

Tôi đảo mắt tìm xung quanh.

Tôi cần một vận đủ nhọn, đủ sắc.

Kiếm?

Quá to.

Phải vừa vặn để tôi có thể thực hiện hành động có tính chính xác cao, sạch sẽ, gọn gàng.

"A!

Chính là nó!"

- Tôi reo lên khi thấy con dao chuôi bạc sáng loá giắt trên hông của người mặc áo đỏ.

Tôi vươn tay giật lấy.

Người đó ngỡ ngàng mất mấy giây rồi theo phản xạ giật lùi lại.

Thật may là tôi đã nhanh tay hơn giành được con dao, mau mau chóng chóng rạch rộng vết cắn hình chữ thập (+) trên tay La Đạc.

"Phải thật cẩn thận, cẩn thận..."

- Tôi nín thở, niệm thần chú trong lòng.

Vết rạch có độ sâu qua da đến cơ chảy máu là được, nếu không lỡ tay mạnh quá sẽ làm đứt dây thần kinh thì coi như người này không tàn cũng phế.

Lúc này đám người vây xung quanh cũng thôi xì xào bàn tán, dường như nín thở dõi theo.

Cứ mỗi một lúc mũi dao di xuống, da thịt tách làm đôi, máu tứa ra tôi lại nghe tiếng người hít sâu liên tục.

Bạch Vỹ đứng bên dường như nhịn không nổi liền tiến lên phía trước, quát:

"Y thuật cổ quái gì, mau đợi quân y đến!

Ta chưa thấy ai dùng trà trị rắn cắn cả."

Máu đen rỉ ra, tôi lau mồ hôi trên trán mình, nhẹ giọng:

"Trong trà chứa tanin giúp rửa sạch vết thương và tiêu giải một phần độc tính.

Trong trường hợp dùng miệng hút chất độc thì trà sẽ làm sạch khoang miệng."

Dứt lời tôi cúi xuống hút máu độc trên tay La Đạc, nhanh đến mức không ai ở thao trường kịp cản.

Máu tươi lọt vào khoang miệng, mùi tanh nồng xộc lên như muốn làm ngạt tất cả các giác quan.

Tôi dằn lòng nhịn xuống cảm giác buồn nôn đang ngày một mãnh liệt, ngẩng đầu, nhổ ra một ngụm máu đen.

"Đam, dừng lại, đợi quân y đến!"

- Lịch Vũ can ngăn.

Tôi bỏ ngoài tai mấy lời của "chủ nhân" mình, tiếp tục công việc dang dở.

Tiễn Phật tiễn đến Tây Thiên.

Dù sao cũng đã "nhúng chàm", việc hút độc một lần với mười lần thì có gì khác nhau chứ?

Biết vậy tôi chuyên tâm làm việc của mình.

Mãi cho tới lần thứ bảy, thứ tám thì máu đen mới ngưng bớt, thay vào đó là máu đỏ tươi được nhổ ra.

Thêm mấy bận nữa tôi mới yên tâm dừng lại, quay tìm tách trà nhưng không thấy.

Lúc này từ phía sau có người đưa lên một tách trà đầy.

Tôi không nghĩ ngợi gì nhanh nhảu nhận lấy, mau mau chóng chóng súc tráng miệng rồi nhổ ra, đưa tay trả cái tách rỗng về rồi lại xem xét một hồi, cúi sát xuống thì thầm:

"Anh tên gì?

Có thể nói cho tôi không?"

Người kia đã tỉnh táo hơn chút ít, dùng giọng rất nhỏ đáp lại tôi:

"La...

Đạc."

Tôi gật đầu, xác nhận câu trả lời chính xác.

Y đã có khả năng nhận thức, tay bắt mạch miệng hỏi thêm:

"Đã đỡ hơn chưa?"

La Đạc môi tím bầm, hai mắt sụp mi từ từ mở ra, gật đầu nhẹ không nói.

Vừa vặn một binh lính đưa theo vị quân y già tay xách hộp thuốc rẽ đám đông tiến vào.

Tôi nhanh nhảu tóm tắt lại sự việc:

"La Đạc, nam, bị rắn độc cắn, nghi ngờ là rắn hổ.

Tạm thời tôi đã rửa qua vết thương và hút chất độc ra, tình hình trước mắt tạm ổn.

Nếu trong doanh trại không có sẵn thuốc trị bệnh người có thể sai người tìm cây sắn dây tươi, giã lấy nước uống.

Phần bã đem bỏ chung cùng bốn, năm lá sắn dây nữa, giã nát ra rồi lấy đắp vào vết cắn kia."

Vị quân y nhìn tôi nửa hồ nghi nửa sửng sốt.

Tôi toan đứng dậy để ông thế chỗ thì đột nhiên thấy toàn thân nôn nao khó thở, hai mí nặng trĩu không mở ra được.

Lúc này chân trái đột ngột khuỵ xuống, cả người như vừa bị bỏ lên đu quay xoay liên tiếp mười ngàn năm trăm vòng, cứ thế đổ rạp.

Tôi ngã lăn ra đất, trước lúc lịm đi chỉ mơ hồ thấy người phía sau lưng vẫn đang cầm tách trà ban nãy.

Lúc này bộ não nhỏ bé của tôi bỗng dưng xuất hiện một câu thoại kinh điển trong phim Tàu.

Tôi mấp máy môi:

"Tiểu nhị, dâng trà".

Liền ngay sau đó tôi lịm hẳn đi.

Bóng hình "tiểu nhị" kia sừng sững trước mắt duy chỉ có điều y phục sức vô cùng tráng lệ, hơn nữa còn là màu đỏ viền đen.

Chú thích:

(1) ba quân: ba đạo quân hoặc ba cánh quân lớn (tiền quân, trung quân và hậu quân, hoặc tả quân, trung quân và hữu quân); chỉ tất cả binh sĩ dưới quyền chỉ huy của một viên tướng, nói chung.

(2) uy vũ: (威武) vẻ mạnh mẽ đáng nể sợ.

(3) già khằn: (Phương ngữ) già đến mức người như khô tóp đi (hàm ý chê).

(4) garo: là biện pháp cầm máu tạm thời bằng dây cao su hoặc dây vải xoắn chặt vào đoạn chi nhằm làm ngừng lưu thông máu từ phía trên xuống phía dưới của chi.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Lúc Biết Xuyên Không Thì Đã Muộn!
Chương 5: Làm trâu làm ngựa


Nhà tôi ba đời theo nghề bốc thuốc, đến đời bố tôi lấy mẹ thì là bác sĩ khoa ngoại.

Một người là Phó giáo sư giảng dạy tại học viện y học, một người là bác sĩ ngày đêm túc trực bệnh viện trong những ca phẫu thuật không hồi kết.

Có thể xem như tôi sinh ra trong một gia đình gia giáo có điều kiện song không rõ do xung đột về y học cổ truyền - y học hiện đại hay công việc bận rộn, tính cách không phù hợp mà năm tôi bảy tuổi, bố mẹ ly hôn.

Mẹ tôi - người phụ nữ dành cả đời cho khoa học, với bà gần như nghiên cứu y học mới là điều quan trọng nhất.

Ít lâu sau khi ly hôn, bà rời Việt Nam qua Nga sinh sống, giảng dạy và làm việc.

Bà không đi thêm bước nữa nhưng cũng hiếm khi về thăm tôi.

Đều đặn mỗi năm một lần, trước sinh nhật một tuần mẹ tôi sẽ bay về Việt Nam và ở lại trong sáu ngày.

Đó cũng là dịp duy nhất trong năm tôi và mẹ trò chuyện với nhau.

Những ngày còn lại nếu tôi nhớ mẹ ư?

Đơn giản thôi, số nghiên cứu khoa học hay sách đề tên bà đủ cho tôi đọc đến mức có thể quên đi chính mình nữa là nỗi buồn tầm phào trẻ con kia.

Cũng từ năm bảy tuổi những ngày không có ai trông nom chăm sóc, bố đưa theo tôi lên giảng đường.

Thường thì tôi có một bài toán rất khó bố giao mà giải cả ngày chẳng xong, hoặc một thế trận cờ vua đi kiểu gì cũng bại.

Những thứ đó dần già chẳng đủ sức giữ chân tôi.

Tôi theo lên những lớp bố dạy, yên tĩnh ngồi một góc cuối phòng học.

Gần như tất cả các trang giáo án, các bài thuốc, các nội dung giảng dạy của bố tôi đều thuộc không sót một chữ.

Nếu chán quá tôi sẽ bỏ qua lớp khác, lại bắt đầu vòng lặp "lắng nghe" - "thuộc làu" - "tìm lớp khác".

Các giảng viên trong trường không ai không biết mặt tôi nhưng cũng chẳng ai buồn đuổi.

Một phần vì quen biết bố, một phần vì tôi khá yên tĩnh mà so ra, so với một con ong con muỗi trong lớp có lẽ cũng chẳng chênh lệch nhiều.

Bà nội mở một tiệm thuốc đông y lớn trong thành phố, đã truyền tới thời thứ ba.

Tiệm thuốc theo gia đình từ suốt những ngày chống Pháp, chống Mỹ rồi đến lúc hoà bình lập lại, nức tiếng xa gần.

Bà tôi là một người hồn hậu, người xa tới bốc thuốc thì khen ngợi, người ở gần bệnh liệt giường thì bà tới tận nơi, ai nấy nể trọng giữ lễ.

Ngày bé tôi không có búp bê quần áo sặc sỡ, bố mẹ chỉ mua sách đủ loại.

Những ngày nhàm chán tôi lẻn xuống tiệm thuốc của bà, len lén trộm kỷ tử, đại táo hay cam thảo ăn một mình.

Cũng có khi giả vờ gõ cộc cộc vào từng ô thuốc, thử đoán xem là gì phía bên trong.

Tôi đương nhiên biết thừa, chỉ có điều tưởng tượng ra có thêm một người không biết để chơi cùng thì sẽ vui hơn.

Lớn thêm chút nữa tôi học được chút kỹ thuật bắt mạch.

Khi chân bà yếu tôi cũng được phép đi theo, cùng bà tới thăm những bệnh nhân ốm nặng.

Trong mắt mọi người tôi là đứa trẻ thông minh hiểu chuyện, tương lai nhất định kế nghiệp gia đình, chữa bệnh cứu người, hành y tích đức.

Vốn dĩ tôi cũng nghĩ vậy.

Năm tôi mười bảy tuổi, bố tôi gặp scandal(1) tình ái với sinh viên của mình.

Điều quan trọng là cô gái kia chỉ hơn tôi đúng một tuổi.

Khoảnh khắc nhận được tin ấy bầu trời trong mắt đứa trẻ mười bảy tuổi là tôi vỡ vụn.

Tượng đài người cha vĩ đại trong bấy lâu nay nứt toác ra rồi đổ sụp xuống, phủ lên vạn vật xung quanh tôi một màu xám mịt mờ.

Tôi xé giấy đăng ký dự thi vào Y học cổ truyền, lựa chọn một trường bất kỳ khối ngành Kinh tế.

Cũng năm đấy tôi trở thành á khoa đầu vào Ngoại thương.

Tôi hoàn thành chương trình học trong ba năm thay vì bốn năm tiêu chuẩn.

Tôi dành hết thời gian trên trường, không về nhà, không gặp bố.

Tất cả những tín chỉ có thể đăng ký tôi đều đăng ký hết, kể cả mùa hè, kể cả học vượt.

Tôi trốn tránh mọi thứ mà thực lòng kể cả không trốn tránh, bố hay mẹ cũng chẳng bao giờ tìm đến tôi.

Tôi hoàn toàn tự lập.

Năm hai mươi ba tuổi, tôi đã chiến đấu với trầm cảm được năm năm.

Một trong những lý do tôi thường xuyên ngất xỉu có thể tới từ tác dụng phụ của việc sử dụng thuốc an thần trong thời gian dài.

Không một ai trong gia đình hay biết chuyện tôi đã đăng ký hiến toàn bộ tạng, kể cả tóc, chẳng mảy may buồn giữ lại bất kể thứ gì cho riêng mình.

Điều duy nhất giữ tôi lại với cuộc sống là mỗi giây mỗi phút đều cố gắng để mình có thể sống hạnh phúc bên bà nội.

Nhìn bà nội hiền từ mỉm cười, nhìn bà mỗi tối đều chờ tôi ở cửa về ăn cơm.

Rồi cuối cùng bà cũng đi mất.

Cái đêm tôi bị rơi vào khoảng thời gian vô định này, đêm mà tôi bước từ trong quán bar ra, vốn dĩ tôi đã chọn một bộ quần áo thật đẹp, cẩn thận ra salon làm tóc, tôi muốn mình ra đi với tư thế xinh đẹp nhất, rạng rỡ nhất, vậy mà mọi chuyện cuối cùng lại thành ra dở khóc dở cười như bây giờ.

Người ta mong chờ gì ở một kẻ trầm cảm chứ?

Phải chăng là kẻ ủ dột, lầm lũi, khóc than và nấp nơi góc phòng suốt cả một ngày?

Tôi không nghĩ như vậy.

Mỗi ngày đối với tôi đều là một thử thách.

Tôi không có mục đích to lớn gì cho cuộc đời.

Tôi cảm thấy rằng mình sống trên cuộc đời này, đến và dạo chơi quanh một vòng, tận hưởng tất cả những gì xinh đẹp nhất.

Nếu một ngày chẳng còn điều gì tuyệt vời níu tôi ở lại nữa thì tôi sẽ rời đi, vậy thôi.

Tôi bốc đồng và không e sợ, cũng chẳng mấy thiết tha cuộc sống của mình.

Nếu phải chết, ừ thì cách ra đi bằng cách cứu sống một người khác thế này cũng được tính là ngầu đét so với dự tính ban đầu.

Nhưng đời không bao giờ như tưởng tượng...

***

"Đam!

Đam!"

Tôi nghe tiếng gọi liền he hé một mắt ra nhìn.

Ánh dịu nhẹ chen vào giữa hai hàng mi, làm rõ dần gương mặt anh tuấn trước mắt.

Một người đàn ông điển trai với vết sẹo chém dài trên má trái, là Đô chỉ huy sứ Lịch Vũ.

Tôi khẽ cử động, toàn thân lần nữa lại dấy lên cảm giác quay cuồng, khó thở.

Trong người như xuất hiện dòng điện chạy dọc sống lưng, kéo theo cơn đau từ gan bàn chân lên đến tận não.

Tôi không nhịn được liền "a" lên một tiếng.

Lịch Vũ cẩn trọng quan sát, phát hiện tôi có ý muốn ngồi dậy liền đỡ tôi, dùng giọng trầm trầm, bảo:

"Không cần vội, từ từ, từ từ."

Tôi tựa lưng vào thành giường, thở hắt ra.

Cả miệng khô khốc đến mức chẳng thể nói lời nào.

Vừa lúc Bạch Vỹ đi từ ngoài tới, thấy Lịch Vũ đang đỡ tôi y chạy lại gần, mau miệng:

"Đô chỉ huy sứ, để tôi."

Bạch Vỹ là người hầu cận bên cạnh chúa thượng, còn chưa đợi tôi nói lời nào đã biết lấy một bát nước cẩn thận bón từng muỗng.

Bảo sao Vỹ được trọng dụng, thân tín suốt bao nhiêu năm trời.

Thấy mọi người lo lắng cho mình tôi chỉ biết gắng gượng ngôig thẳng dậy, cười trừ:

"Tôi khoẻ mà.

La Đạc thế nào rồi?"

"Còn dám hỏi cho La Đạc.

Anh ta bây giờ ít nhất còn khoẻ hơn ngươi!"

Xác định được nỗi băn khoăn duy nhất của mình được giải toả, tôi thở phào thành tiếng.

Đến lúc này tôi mới phát giác điều bất thường!

Lều này là lều của tôi, ở hướng chính đông, dựa theo góc độ nắng hắt vào thì rất có thể...

đã qua ngày mới rồi?

Tôi thất kinh nhìn xuống bên dưới, may thay y phục trên người vẫn còn nguyên.

Nhưng cho dù là vậy đi chăng nữa thì ai dám đảm bảo việc tôi là nữ chưa bị lật tẩy chứ?

Tôi tự trấn an mình, giả vờ rất tự nhiên hỏi Bạch Vỹ:

"Sau khi tôi ngất đi mọi chuyện là thế nào vậy?"

"Ngươi hút độc xong thì ngã vật ra, chân tay dạng như hình chữ "Đại" (2).

Sau đó quân y đã cho thuốc uống, ngươi ngủ liền hai ngày rưỡi rồi."

Bạch Vỹ xếp xếp chăn phía sau thành một nơi êm ả cho tôi dựa vào.

Nếu tôi còn an toàn nằm ở đây vả lại chẳng ai đả động gì thì hẳn là thiên cơ chưa lộ.

Thấy tình trạng tôi khá khẩm hơn, Lịch Vũ đứng dậy ra hiệu cho Vỹ chăm sóc tôi rồi toan rời đi.

Thấy tôi len lén nhìn về phía lều lớn với vẻ mặt sợ sệt, y an ủi:

"Vẫn lo lắng việc đắc tội với chúa thượng sao?"

Thà đừng nhắc đến chứ một khi nói ra tôi lại càng sợ hãi, chỉ biết mím môi gật đầu.

"Chúa thượng không nói rõ ngươi phạm tội gì, chỉ bảo tính tình cần rèn giũa lại.

Dù gì cũng lấy công chuộc tội, tha cho ngươi một mạng."

Năm từ "tha cho ngươi một mạng" khiến hai khoé miệng đang trề xuống của tôi dần dần kéo lên rồi đổi thành một nụ cười tươi rạng rỡ.

Dù trăm hoa đua nở lúc này cũng chẳng sánh bằng niềm hạnh phúc lớn lao kia.

Tôi đã bảo rồi, người tốt như tôi làm gì có chuyện kết cục không có hậu chứ?

Tôi còn chưa kịp đắc ý được mấy hồi, dường như không thể chịu đựng nổi bộ dạng toe toe toét toét kia nữa, Lịch Vũ tiếp lời:

"Duy chỉ có điều chúa thượng thấy ngươi rảnh rỗi quá nên sinh chuyện, bảo sau khi khỏi bệnh thì phạt giữ ngựa hai tháng!"

Tôi không tin vào tai mình, "Hả" một tiếng rõ to, cằm tưởng như rớt xuống tận đầu gối.

"Đô chỉ huy sứ, khoan đã, tại sao Đam phải đi chăn ngựa?"

- Dù biết rõ câu trả lời nhưng tôi vẫn ỉ ôi van vỉ.

Chăn ngựa ư?

Đời thuở nhà ai đã làm thư đồng cực khổ lắm rồi nay bỗng dưng bị giáng xuống thành chăn ngựa?

"Đắc tội với chúa thượng mà ngươi vẫn còn cái mạng đi chăn ngựa, còn chưa cảm tạ trời đất hay sao?"

- Bạch Vỹ xéo sắc đắp lời, ấn cả tô nước vào miệng tôi.

Tôi nào dám trái thánh ý, chỉ là lần đầu tiên bị phạt ở thời phong kiến nên khó tránh cảm thấy bất công.

Nếu lúc này còn cứ mặc cho nước chảy bèo trôi thì chỉ e sẽ ngày một bị đàn áp.

Dùng vẻ ngoài lương thiện nhất có thể cùng đôi mắt ầng ậng nước, tôi hỏi Lịch Vũ:

"Chuyện làm sai Đam tình nguyện chịu phạt, chỉ là không biết có thể vẫn hầu hạ người như thư đồng được không?"

Lịch Vũ dừng một lúc nghĩ ngợi rồi gật đầu:

"Vất vả cho ngươi."

Nhìn như thế nào thì cũng là một người hầu tận trung với chủ, chăm chỉ tháo vát, không quản nặng nhọc sẵn sàng một lúc gánh hai việc.

Còn lâu nhé!

Tôi thừa biết rằng nếu trở thành kẻ chăn ngựa thì cả đời này đừng mong có ngày ngóc đầu lên.

Thà rằng trước mắt cứ chịu phạt, vất vả một chút biết đâu sau này có ngày trở mình?

Làm thư đồng của Lịch Vũ đồ ăn ngon hơn, mặc đẹp hơn.

Chưa kể y trong doanh trại này cũng coi như đức cao vọng trọng, nương nhờ y chỉ có lợi chứ không có hại.

Kẻ thức thời mới là trang tuấn kiệt, khổ trước sướng sau thế mới giàu!

***

Ba ngày sau tôi khỏi hẳn, chuyển xuống đi chăn ngựa.

Công việc chân tay cũng giúp bộ não vốn nhỏ bé của tôi được thảnh thơi phần nào.

Trăm hay không bằng tay quen, qua mươi mười lăm ngày tôi đã sắp thành một tay chăn ngựa thứ thiệt.

Ở chuồng ngựa người cai quản chính là chú Túc và đôi ba người nữa phụ việc vặt linh tinh, đôi khi thêm cả lính tráng phạm tội thì đều ở đây phục dịch.

Dù ở nơi tiền tuyến song chưa động binh đao, trên dưới toàn trại chỉ hăng say luyện tập chờ thời cơ tác chiến nên công việc của tôi cũng chẳng có gì đáng kể.

Cho ngựa ăn, tắm cho ngựa, dọn chuồng, cắt móng...

Đại để là thấy gì làm nấy nhưng được cái tôi dáng nhỏ con lại vừa ốm dậy, cũng coi như có công cứu người, bên trên là "ô dù" cự phách mang tên Lịch Vũ nên cũng chỉ được giao mấy việc đơn giản ít tốn sức.

Những lúc rảnh rỗi thì tôi mê nhất là cắt bờm ngựa.

Theo tiêu chuẩn thì phía trước cắt trên mắt, phía sau cắt ngắn còn độ ba phân là vừa đẹp nhưng như thế chẳng phải nhàm chán lắm sao?

Làm gì có người "thợ cắt tóc" nào lại tự bó buộc khuôn khổ của cái đẹp chứ?

Thế là tôi bắt đầu vận dụng khiếu thẩm mỹ của mình lên mấy con ngựa.

Con nào lông dài tôi sẽ mạnh dạn để hai mái, con nào lông lệch thì triển khai theo tỉ lệ 7:3 hoặc mái chéo, nếu chẳng may hụt tay thì tôi sẽ nhanh trí sửa thành đầu cắt moi vô cùng phóng khoáng.

Nếu có ai khác nhìn vào chắc cũng không hề biết việc xấu tôi làm, cùng lắm chắc chỉ nghĩ là một kẻ vụng về nhưng nhiệt huyết mà thôi.

Ngoài việc cắt bờm tôi còn kiêm cắt cỏ.

Ban ngày ngựa được thả ngoài bãi nhưng đang là lúc mùa đông, tuyết lại vừa tan hơn nữa đây còn là ngựa chiến, bất kể lúc nào tấn công trại Phù Lan thì ngựa chiến cũng phải ở trong thể trạng tốt nhất.

Vì vậy vừa chăn ngựa tôi vừa phải dành thêm thời gian đi tìm cắt cỏ mang về.

Lựa chọn số một là cỏ tương, bằng không thì có gì cắt nấy.

Vốn chỉ biết học hành sách vở lại không phải con nhà nông, qua gần chục ngày tôi mới thành thục cách dùng cuốc và liềm.

Dù trầy xước chút ít nhưng còn đủ mười ngón tay xem ra đã là thành công mỹ mãn.

Ban ngày phụ việc ở trại, ban đêm tôi lại tới hầu Lịch Vũ đọc sách, dọn dẹp giặt giũ, mài mực giúp y.

Mực viết thời đại này là mực Tàu, được đông đặc thành những thỏi mực, khi cần mực để viết thì bôi một chút nước lên đầu thỏi rồi chà đều tay trên nghiên mài.

Thường thì Lịch Vũ đọc sách hay luyện chữ trong khoảng một canh giờ còn tôi có hai lựa chọn: hoặc là vừa mài mực vừa ngáp, hoặc ôm chân bàn ngủ luôn chừng nào Lịch Vũ cần gì sẽ gọi tôi sai bảo.

Được cái dù vất vả nhưng tôi ít phải gặp gỡ giao lưu với ai, bình an mà sống, đúng là cuộc đời trong mơ.

Chớp mắt đã mấy tháng trôi qua, Phù Lan bước sang mùa xuân, thời tiết ấm áp hơn hẳn.

Như thường lệ tôi đứng cạnh Lịch Vũ mài mực, thi thoảng cắt bớt bấc nến cho đỡ cháy khét.

Dưới ánh sáng vàng ươm như mật ngọt, Lịch Vũ chăm chú viết, nét mặt ôn hoà.

Từ góc này không nhìn thấy vết sẹo lớn trên má trái mà chỉ có sống mũi cao thẳng tắp, Lịch Vũ trở nên đặc biệt hiền lành trầm tĩnh.

Tôi nhìn ra xa xăm, bắt đầu hồi tưởng lại đêm đầu tiên tới trại, nhìn Lịch Vũ bây giờ rồi lại ghép với hình ảnh y một đao cắt đầu người không hề chớp mắt, bất giác toàn thân nổi da gà.

"Đam, về lều đi.

Hôm nay muộn rồi."

- Lịch Vũ thổi nhẹ tờ giấy cho mau khô, không ngẩng lên mà chỉ nhẹ nhàng bảo tôi.

"Dạ..."

- Tôi ngơ ngác đặt thỏi mực xuống.

"Bẩm Đô chỉ huy sứ, hôm nay mới được nửa canh giờ."

Lịch Vũ đặt tờ giấy lên bàn, phẩy tay:

"Mang vào đây cho ta một chậu nước ấm."

Tôi lui ra, lấy thau đồng rồi đổ nước sôi vào, cẩn thận pha thêm nước lạnh, nhúng thử tay kiểm tra, nhiệt độ ấm hoàn hảo mới đặt thêm một khăn khô bên cạnh rồi mang vào lều.

Lịch Vũ đi xuống, tôi nhanh nhảu:

"Để Đam giặt khăn cho người."

Lịch Vũ đi thẳng về phía này, ấn cả hai tay tôi vào chậu nước.

Tôi hơi bất ngờ đến nỗi suýt bổ ngửa ra sau nhưng biết Lịch Vũ không có ác ý nên răm rắp nghe theo, ngồi xuống bên cạnh.

Y bảo tôi ngâm tay hồi lâu trong nước ấm, cuối cùng đưa cái khăn khô cho tôi thấm tay vào, hỏi:

"Công việc ở chuồng ngựa vất vả lắm sao?"

Lúc này tôi mới hiểu ý.

Hoá ra trong lúc mài mực Lịch Vũ đã thấy tay tôi chỗ nào cũng trầy xước rớm máu nên mới bảo đi lấy nước ấm ngâm tay.

Tôi cười toe toét đáp lại:

"Dạ bẩm không vất vả.

Đam đã quen việc rồi ạ."

Lịch Vũ làm ngơ, đi vòng lên phía bàn lấy một chai thuốc bột màu trắng đục rồi đi lại phía tôi, giọng trầm trầm:

"Chắc gia cảnh nhà ngươi cũng không tệ?"

Tôi gật đầu:

"Cũng xem như là có của ăn của để."

"Có bao nhiêu anh chị em?"

"Chỉ có mình Đam ạ."

Lịch Vũ vừa đổ một ít thuốc, chấm chấm lên bàn tay cho tôi vừa ân cần hỏi:

"Ngươi đến từ nơi nào của Đại Cồ Việt?

Giọng nói của ngươi rất khác."

Tôi chần chừ hồi lâu, không biết trả lời sao cho phải.

Nghĩ ngợi một lúc tôi nhỏ giọng đáp:

"Đam là người của Đại Cồ Việt, đã, sẽ và luôn là con dân Đại Cồ Việt.

Giọng nói lạ có lẽ là phương ngữ, nơi Đam sống cách rất xa nơi này mà thôi."

"Rất xa là bao xa?"

- Lịch Vũ bôi thuốc lên những vết thương hở và cả những vết thương vừa lành của tôi, dùng giọng đều đều hỏi.

Tôi phì cười:

"Xa đến độ người sẽ chẳng bao giờ tưởng tượng ra."

Nét mặt Lịch Vũ giãn ra, y đùa:

"Đại Cồ Việt này làm gì có nơi nào mà ta chưa từng đặt chân đến?"

Hiếm khi thấy Lịch Vũ vui vẻ như vậy, tôi buột miệng:

"Xa chứ.

Đam đến từ Đại Cồ Việt của một nghìn năm sau."

Lịch Vũ bị bất ngờ, ban đầu chỉ tròn mắt nhìn tôi rồi cuối cùng phá lên cười thành tiếng.

Thấy phản ứng của y cộng thêm cũng biết mình vừa trả lời rất ngớ ngẩn, tôi cũng ha hả cười theo một cách mất kiểm soát.

Tự mình nói ra còn chẳng dám tin huống hồ người khác.

Nhưng bát nước hắt đi rồi cũng không lấy lại được, tôi nhanh trí mượn nước đẩy thuyền, hỏi:

"Haha...ha..

Vậy thì bây giờ thế này, người nói Đam nghe tên của chúa thượng, Đam sẽ kể cho người chuyện của tương lai."

"Muộn rồi, về ngủ đi."

- Lịch Vũ đậy nắp lọ thuốc, đứng lên toan quay đi.

Tôi biết rõ nếu vụt mất cơ hội này thì chỉ e khó có ngày biết được mình đang sống ở thời vua nào bèn quả quyết:

"Không!

Xin người hãy tin Đam.

Chuyện này sẽ là bí mật Đam mang xuống dưới mồ.

Chỉ người và Đam biết, người thử nghe một lần xem sao?"

Lịch Vũ cười mỉm:

"Nói tên chúa thượng là phạm huý, vậy nếu ngươi chẳng có tin gì cho ta thì sao?"

"Chỉ e rằng sau khi biết tên chúa thượng còn có nhiều chuyện hơn để người đe doạ Đam."

Vẻ mặt Lịch Vũ đầy hoài nghi nhưng cuối cùng y vẫn ngồi xuống, tiến gần sát với tôi, gằn từng tiếng bằng giọng rất nhỏ:

"Vậy thì ta nói cho ngươi biết, chúa thượng(3) họ Lê, tên Long Đĩnh!"

Vốn dĩ tôi còn đang vui mừng vì cuối cùng cũng biết mình đang sống ở thời kỳ nào nhưng ba từ "Lê Long Đĩnh" đã khiến cho nụ cười trở nên méo xệch rồi tắt hẳn.

Lê Long Đĩnh...

Lê Long Đĩnh chẳng phải là vị vua tàn ác nổi tiếng bậc nhất trong lịch sử với tích róc mía trên đầu sư, là người sẽ chấm dứt triều đại Tiền Lê đấy sao?

Triều đại Tiền Lê là hơn một nghìn năm trước.

Tin nổi không?

Trời ơi, là một nghìn năm!

"Vậy hoá ra..."

- tôi quay người sững sờ nhìn Lịch Vũ, môi run lắp bắp - "Lý Công Uẩn đang ở đâu?"

Lịch Vũ chau mày, mặt biến sắc:

"Ngươi biết Điện tiền quân?"

Đại Việt Sử ký Toàn Thư chép:

"Ngoạ Triều Hoàng Đế: Tên huý là Long Đĩnh, lại có tên là Chí Trung, con thứ năm của Đại Hành, ở ngôi 4 năm, thọ 24 tuổi (986-1009) băng ở tẩm điện.

Vua làm việc càn dỡ giết vua cướp ngôi, thích dâm đãng tàn bạo, muốn không mất nước sao được?"

...

"Vua tính hiếu sát, phàm người bị hành hình, hoặc sai lấy cỏ gianh quấn vào người mà đốt, để cho lửa cháy gần chết, hoặc sai kép hát người Tống là Liêu Thủ Tâm lấy dao ngắn dao cùn xẻo từng mảnh, để cho không được chết chóng.

Người ấy đau đớn kêu gào thì Thủ Tâm nói đùa rằng: "Nó không quen chịu chết".

Vua cả cười.

Phàm đánh trận, bắt được quân địch vua cho áp giải đến bờ sông.

Lúc nước thủy triều rút xuống thì sai làm cái chuồng dưới nước, rồi đuổi tù binh vào trong chuồng.

Khi nước thủy triều dâng lên, tù binh ngộp hơi thì hả miệng ra rồi uống nước mà chết.

Lại bắt [tù nhân] treo lên cây cao rồi sai người ở dưới chặt cây.

Có khi vua đi chơi ở sông Chi Ninh, sông có nhiều thuồng luồng, bèn trói người ở một bên ghe, rồi cho ghe qua lại ở giữa dòng nước, khiến cho thuồng luồng nó sát hại đi.

Còn phàm những con vật (nuôi để cúng tế) đem cung cấp cho nhà bếp, trước tiên phải sai người khiên vào để tự tay vua đâm chết đã, rồi sau mới giao cho người nấu bếp.

Lại khi, nhà vua đặt mía trên đầu bậc tu hành là đức Tăng thống Quách Mão mà róc, rồi giả vờ sút tay dao phập vào đầu Quách Mão chảy máu ra, vua cười rầm lên.

Hoặc đêm đến vua sai làm thịt mèo để cho các tước vương xơi.

Ăn xong vua đem đầu mèo bày ra, các tước vương đều mửa thốc mửa tháo.

Mỗi khi đến buổi chầu thì sai những tên hề ra nói leo lẻo luôn mồm để làm khỏa lấp lời những ai bẩm bạch về việc gì.

Lại thấy kẻ giữ cung làm món chả thì đến cùng người tranh nhau mà ăn..."

Chú thích:

(1) scandal: vụ bê bối.

(2) Đại: (大) to, lớn.

(3) chúa thượng: (主上) vua, thiên tử.

Chú thích từ tác giả: Đây là cách gọi thời Đinh - Tiền Lê dựa trên sử liệu Toàn thư ghi chép lại.

Có thể thấy rõ ở thời kỳ này vua được gọi là "chúa thượng".

Đại Việt sử ký toàn thư chép:

Canh Thìn, [Thái Bình] năm thứ 11 [980],

"Bấy giờ, Lạng Châu nghe tin quân Tống sắp kéo sang, liền làm tờ tâu báo về.

Thái hậu sai Lê Hoàn chọn dũng sĩ đi đánh giặc, lấy người ở Nam Sách Giang là Phạm Cư Lạng làm đại tướng quân.

Khi [triều đình] đang bàn kế hoạch xuất quân, Cự Lạng cùng các tướng quân khác đều mặc áo trận đi thẳng vào Nội phủ, [10a] nói với mọi người rằng: " Thưởng người có công, giết kẻ trái lệnh là phép sáng để thi hành việc quân.

Nay chúa thượng còn trẻ thơ, chúng ta dẫu hết sức liều chết để chặn giặc ngoài, may có chút công lao, thì có ai biết cho?

Chi bằng trước hãy tôn lập ông Thập đạo làm Thiên tử, sau đó sẽ xuất quân thì hơn".

Quân sĩ nghe vậy đều hô "vạn tuế".
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Lúc Biết Xuyên Không Thì Đã Muộn!
Chương 6: SỨ GIẢ hay sứ GIẢ


Hoá ra là Lê Long Đĩnh.

Hoá ra là Lý Công Uẩn...

Cho dù Lịch sử không phải là thế mạnh song mấy ai ở tầm tuổi tôi có thể quên được năm ấy sự kiện kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long Hà Nội đã diễn ra hoành tráng tới mức nào?

Bây giờ Lý Công Uẩn vẫn đang là Tứ sương quân phó chỉ huy sứ, nghĩa là chỉ ít lâu nữa thôi ông ta sẽ lên nắm quyền, chấm dứt nhà Tiền Lê lập ra nhà Lý huy hoàng thịnh trị kéo dài hơn hai trăm năm.

Nhưng chắc gì tôi đã có thể chờ đến ngày Lý Công Uẩn lên ngôi?

Chỉ tính riêng việc Lê Long Đĩnh được ghi chép trong lịch sử tàn bạo đến mức nào đã khiến cho tôi hoảng loạn, tự hận chính bản thân mình đã ngông nghênh ngu ngốc dây vào ổ kiến lửa.

Ừ thì tôi cũng không muốn sống lắm, nhưng thế không có nghĩa là tôi muốn bị người khác tra tấn tàn bạo.

Ừ thì đúng là tôi đã từng muốn tự tử, nhưng nếu Lê Long Đĩnh kia lại muốn dóc mía trên đầu tôi thì sao?

Phải làm thế nào bây giờ?

Có khi nào y cũng nhốt tôi vào chuống gỗ rồi thả xuống nước để giao long cắn hại?

Nhưng giao long là con gì mới được?

"Đam!

Đam!"

- Lịch Vũ cất tiếng hỏi cắt ngang luồng suy nghĩ của tôi.

Tôi cố gắng bình tĩnh lại dù hai tay và cả hai chân nữa đang thi nhau run lẩy bẩy.

Tôi sượng sùng cười với Lịch Vũ:

"Không!

Đam chỉ vô tình nghe tiếng tăm của ngài ấy thôi.

Ha...ha...ha.... người... sẽ không xem đó là thật chứ?"

Lịch Vũ còn chưa trả lời thì bên ngoài vọng lên tiếng đàn ông vô cùng gấp gáp:

"Cấp báo!"

"Cho vào!"

Một người đàn ông bạc nửa đầu rầm rập chạy vào.

Tôi nhận ra ngay, y là La Đạc, người bị rắn cắn dạo trước.

Giọng nói rõ ràng vả lại tác phong nhanh nhẹn như vậy hẳn Đạc đã khoẻ hẳn rồi.

"Có chuyện gì?"

- Lịch Vũ hỏi, nét vui vẻ đã biến mất hẳn, thay vào đó là sự nghiêm nghị lạnh lùng đến đáng sợ.

"Bẩm Đô chỉ huy sứ, giặc Cử Long(1) cướp phá, nay đã đến cửa biển Thần Đầu(2)."

Lịch Vũ đăm chiêu, tay gõ nhịp nhịp xuống mặt bàn.

La Đạc tiếp lời:

"Còn một tin nữa."

Lịch Vũ phẩy tay ra hiệu cho Đạc nói tiếp.

"Tin từ nội ứng trại Phù Lan gửi về, trong thành xuất hiện bệnh dịch, tình hình vô cùng nguy cấp!"

"Bệnh gì?"

La Đạc lắp bắp, thở không ra hơi:

"Dạ..a thưa, là ma chẩn!"

Tôi lẩm nhẩm lại cái tên "ma chẩn" trong miệng, nghe quen quá nhỉ?

Đã lâu không đụng đến thuốc thang bệnh tật nên nhất thời không nhớ ra được đây là bệnh gì.

Vừa vặn Bạch Vỹ tới, truyền chỉ chúa thượng cho vời Lịch Vũ đến nghị sự.

Tôi biết chắc tin báo kia cũng đã tới tai Long Đĩnh nên dù không được truyền vẫn muốn đi theo thử vận may xem sao.

Trong hoàn cảnh ngàn cân treo sợi miến như vậy để làm sao để hoá nguy thành an, vừa dẹp được giặc ở Thần Đầu vừa đối phó với người ở trại Phù Lan thì rốt cục bạo chúa Lê Long Đĩnh sẽ làm như thế nào?

Y đánh đàn!

Lúc tôi theo chân Lịch Vũ bước vào thì đại khái cảnh trước mặt là như thế này: Long Đĩnh ngồi chơi cổ cầm, trước mặt để một lư trầm, sau lưng Bạch Vỹ đang dùng quạt lông ngỗng trắng muốt phe phẩy điệu bộ vô cùng thư thái.

Nhìn cảnh nhàn nhã này tôi không nhịn được mà gật gù: Giữa chiến sự căng thẳng thế này còn đàn được, bảo sao không mất nước.

Lịch Vũ thi lễ, tôi bắt trước quỳ rạp xuống theo.

Lúc này Long Đĩnh ngừng tay ra hiệu cho chủ tớ chúng tôi đứng lên, ban ngồi cho Đô chỉ huy sứ.

"Trẫm vừa nhận được mật hàm, trại Càn Đà(3) đã bị hạ, nội trong hai ngày nữa Trung Quốc Vương sẽ chạy đến trại Phù Lan(4)."

"Bẩm chúa thượng, trại Phù Lan báo tin trong thành số người nhiễm ma chẩn đã quá nửa, hơn nữa Giặc Cử Long đã kéo đến cửa biển Thần Đầu."

Long Đĩnh chẳng có lấy nửa phần mảy may xao động.

Khoé miệng y vẫn nhếch lên vừa như thách thức lại như hài lòng.

Những ngón tay thon dài khẽ lướt trên dây đàn, gieo xuống những âm sắc vui vẻ.

Long Đĩnh tiếp lời:

"Giặc Cử Long không đáng ngại.

Long Kính(5) là kẻ sĩ nay vạn bất đắc dĩ phải nương nhờ Long Cân(6).

Tình hình trại Phù Lan cũng chẳng phải tốt đẹp gì để đèo bồng thêm kẻ khác.

Chọn người tin tưởng làm sứ giả, sáng sớm mai khởi hành đưa tận tay mật chỉ này của trẫm cho Long Cân."

Long Đĩnh đưa một phong thư đã viết sẵn cho Lịch Vũ.

Tôi thương thay cho kẻ đen đủi nào sẽ bị bắt đi làm sứ giả.

Đã đến nơi hang hùm miệng gấu thì chớ, ở đấy bệnh dịch còn hoành hành.

Một đi chưa chắc đã có đường về.

"Cho vời La Đạc" - Lịch Vũ nói.

Nghe Lịch Vũ gọi tên La Đạc tôi càng trở nên sầu não.

Tuổi còn trẻ mà đã bạc trắng đầu, vừa bị rắn cắn khỏi nay lại làm sứ giả tới trại Phù Lan.

Không biết ở trong doanh trại này y đã đắc tội với ai mà để ra nông nỗi này?

La Đạc tiến vào, quỳ phục xuống đợi lệnh.

"Ngày mai lúc mặt trời mọc, hãy chuẩn bị hai con ngựa tốt, ngươi hộ tống sứ giả đến trại Phù Lan."

"Tuân lệnh!"

- La Đạc hô vang rõ ràng rành mạch từng chữ.

Tôi vừa chấm dứt bài ca buồn não tiếc thương cho La Đạc thì bỗng thấy có điều gì đó không đúng lắm?

Khoan đã, hình như người làm sứ giả không phải là La Đạc?

Y chỉ "hộ tống" thôi ư?

Não tôi tua thật chậm lại đoạn hội thoại ban nãy, bất thình lình Lịch Vũ quay lại, đoạn ấn phong thư vào tay tôi, vỗ vỗ đầy an ủi:

"Đam, ngày mai ngươi vào thành trao tận tay Ngự Bắc Vương thư này."

Hai đầu gối tôi không ai đánh bỗng dưng khuỵ xuống, khoé miệng giật giật liên hồi.

"Ai?

Ai là sứ giả cơ?"

***

Thế gian kẻ may mắn nhiều vô số kể, đen đủi như tôi được mấy người?

Đáng kiếp cho tôi, yên lành không muốn lại bỗng dưng chạy đi hóng hớt làm gì?

Tôi không hiểu và cũng không có cách nào hiểu được tại sao Lịch Vũ lại đẩy tôi ra đứng mũi chịu sào?

Lịch Vũ đã như vậy thì thôi đi, đằng này Long Đĩnh cũng rất vui vẻ hợp tác?

Tôi chỉ là một tên chăn ngựa quèn sao bỗng dưng lại nhận "trọng trách" làm sứ giả cơ chứ?

" Đô chỉ huy sứ!"

- Tôi chắn ngang đường Lịch Vũ đang trở về lều, hùng hùng hổ hổ chỉ hận không đấm y được một cái thật đau - "Tại sao người bắt Đam đi làm sứ giả?"

Lịch Vũ nhìn tôi, nhướn mày:

"Ngươi không hài lòng ư?"

"Làm gì có chuyện?

Ai chẳng biết Phù Lan nguy hiểm đến thế nào chứ?"

- Tôi tức đến phát khóc.

Lịch Vũ nhún vai:

"Cũng hết cách.

Quân lệnh như sơn, vả lại chúa thượng đã đồng ý, ngươi muốn cáo trạng hãy tìm người."

Cái gì mà tìm Lê Long Đĩnh?

Tôi mà có lá gan đấy thì nói làm gì nữa?

Trong trại này ai chẳng biết tôi là cái gai trong mắt chúa thượng.

Phạm tội tày trời chưa chết chẳng qua đánh chó xấu mặt chủ, nể Lịch Vũ suốt bấy lâu mới tìm được cơ hội ra tay.

Tôi giận quá hai chân giẫm thùm thụp trên mặt đất:

"Đô chỉ huy sứ, không phải người từng nghi ngờ Đam là nội gián sao?

Đừng dễ dàng tin người như thế chứ?"

- Tôi ra sức thuyết phục.

Lịch Vũ quay lại, ném cho tôi đúng 4 chữ:

"Thanh giả tự thanh(7)."

Tôi gào lên:

"Không, không hề.

Đam là kẻ lưu manh bỉ ổi nhất.

Người đừng tin."

Lịch Vũ đang bước đi bỗng dừng lại, đoạn dùng giọng thật trầm mà bảo:

"Nếu muốn sau này được sống yên ổn, ngươi nhất định phải tới trại Phù Lan!"

Tôi khóc không thành tiếng, đành chỉ biết ngoan ngoãn gật đầu.

Không đi thì bị chặt đầu.

Bỏ trốn vào rừng thì bị thú dữ lăm le ăn thịt.

Tới trại Phù Lan ít ra vẫn còn cơ may quay về.

Thật sự là hoạ vô đơn chí, phúc bất trùng lai(8).

***

Trời vừa tảng sáng, tôi thấp thỏm không yên ló đầu ra ngoài cửa lều.

Mây hồng tựa một lớp chăn bông khổng lồ, vây chặt đỉnh núi, sà xuống là là mặt đất hoá thành lớp sương mù dày đặc bao quanh doanh trại.

Khắp cánh rừng Phù Lan như vừa bừng tỉnh sau một đêm dài mộng mị, rợn ngợp những cành cây xám ngoét bắt đầu nhú chồi xanh mơn mởn.

Từ mạn rừng, đâu đâu cũng mọc ra loài hoa dại tím biếc, ngát hương.

Những cánh hoa rung rinh trong gió, vươn mình đầy kiêu hãnh đón nhận sương sớm tinh khôi đầu ngày.

Cả khu rừng chuếnh choáng trước vẻ e lệ của chúng, trước những bông hoa thoảng hương và cả trước tiếng chim oanh lảnh lót.

Cảnh thì đẹp nhưng trong lòng tôi vẫn không nén nổi bi thương.

Bạch Vỹ mang đến cho tôi một bộ quần áo mới, một đôi hài và một cái mũ.

Cái mũ có hai cánh như chuồn chuồn, trông thì vui mắt nhưng đi qua đi lại thì vướng hết bên nọ tới bên kia.

Tay áo rộng thùng thình như thể nhét hai lần Đam vào vẫn thừa một khoảng rộng.

Tôi thở dài thườn thượt, sửa soạn xong bèn đi bộ ra giưa thao trường.

Bấy giờ La Đạc đã chờ sẵn ở đấy, y dúi vào tay tôi dây cương của con ngựa nâu.

Tôi tròn mắt lắc đầu:

"Cái gì đây?"

"Thì ngựa của anh đó!"

- La Đạc tỉnh bơ.

"Trông tôi giống biết cưỡi ngựa à?"

- Tôi dở khóc dở cười.

Điệu bộ vừa ngu ngốc vừa đáng thương khiến cho Đạc nhảy dựng lên:

"Cái gì, anh chăn ngựa mà không biết cưỡi ngựa?"

- Dứt lời thì biết mình vừa thất thố, dù gì tôi cũng từng là ân nhân cứu mạng, Đạc thu lại vẻ bỡn cợt ban đầu, tỏ ra vô cùng cung kính với tôi.

Tôi bĩu môi:

"Thế anh mặc quần áo nhưng biết cách dệt vải phỏng?"

Đạc im thin thít.

Tôi mạnh miệng thế thôi nhưng cũng biết xấu hổ.

Đường đường là thư đồng của Đô chỉ huy sứ mà mù chữ thì cũng thôi đi, nay chăn ngựa mấy tháng trời mà không biết cưỡi thì đúng là trò cười cho thiên hạ.

Mà cười ai cơ chứ?

Tôi chỉ là một tên hầu khố rách áo ôm, có cười người ta cũng cười vị Đô chỉ huy sứ chinh phạt tứ phương, lẫy lừng Đại Cồ Việt kia thôi.

Tôi khịt mũi, đưa tay quệt ngang giả bộ bất cần.

Ai bảo tôi xuyên không đến một nghìn năm trước làm gì?

Nếu đổi lại tới thế kỷ hai mốt tôi chắc chắn sẽ thi triển kỹ năng đạp xe một bánh, bốc đầu, drift... cực cháy còn hơn ở rạp xiếc cho mà xem.

Tôi và La Đạc khoanh tay bần thần nhìn hai con ngựa.

Bài toán khó rồi đây.

Nếu tôi cưỡi chung một ngựa với La Đạc thì mất hết uy nghiêm của sứ giả, vả lại nếu xui rủi bị y phát hiện ra mình là con gái thì coi như xong.

Còn nếu không?

Chẳng nhẽ Đạc cưỡi ngựa còn tôi đi bộ?

Như thế thì tôi lại trở thành người hầu của La Đạc mất.

Ừ thì đúng ở đây tôi là người hầu thật nhưng đã sang trại Phù Lan làm "sứ giả" cũng không nên để người ta khinh thường.

"Còn chưa xuất phát à?"

Lịch Vũ mặc viên lĩnh màu nâu, tay cầm bảo kiếm đi đến.

Sáng sớm nào y cũng dậy rất sớm để luyện võ cho đến khi ướt đẫm mồ hôi.

Lớp áo mỏng dán chặt vào những cơ bắp rắn chắc, trong lòng tôi như vừa đổ hai hàng lệ cảm thán.

Đến lúc lâm nguy vẫn còn được nhìn thấy cảnh tượng đáng giá như vậy thì đúng là ông trời vẫn còn ưu ái tôi lắm.

Bất chợt tôi cảm thấy thấy mũi mình có chất lỏng ấm ấm, Lịch Vũ tiến lại chạm vào nhân trung(9) tôi:

"Ngươi chảy máu rồi."

Tôi hớt hải như kẻ trộm bị bắt quả tang, mau mau chóng chóng rút từ trong túi áo ra cái khăn tay bịt lại mũi.

La Đạc đứng bên cạnh nhao nhao:

"Chảy máu rồi, mau ngửa cổ lên."

Tôi phẩy tay:

"Không nên ngửa cổ, máu chảy một chút rồi sẽ tự ngưng.

Nếu ngửa cổ máu sẽ chảy ngược xuống cuống họng, từ đó chạy qua lỗ thông khí và có thể gây sặc máu."

La Đạc nghe tôi huyên thuyên một hồi có vẻ chẳng hiểu gì nhưng rút ra kết luận:

"Nói được nhiều thế chắc chắn vẫn khoẻ."

Nhân lúc máu mũi vẫn đang ròng ròng tôi liền tranh thủ cơ hội, tỏ vẻ đáng thương trước mặt Lịch Vũ:

"Đô chỉ huy sứ, người xem này Đam vừa không biết cưỡi ngựa, thân thể yếu ớt như thế làm sao mà có thể hoàn thành trọng trách được?"

Lịch Vũ không thèm trả lời câu hỏi của tôi, quay đi bảo người gọi chú Túc mang đến một con lừa to nhất đàn.

"Đây, không cưỡi ngựa được thì cưỡi lừa."

Tôi coi như hết hy vọng, rõ ràng cũng chẳng chèo kéo gì thêm từ tên Lịch Vũ mặt sắt này đành thử trèo lên lưng lừa, tự mình đi lại vài vòng quanh thao trường.

Đúng là lừa tính thuần, dễ điều khiển hơn chiến mã rất nhiều.

Xác nhận mọi việc ổn thoả, từ trên lưng lừa tôi lễ độ cúi chào Lịch Vũ rồi quay đi, trong lòng bỗng thấy có chút thê lương.

***

La Đạc là một kẻ hướng ngoại, hiếm có khi nào trên đường mà y ngưng nói.

Được cái tính tình La Đạc hoà đồng cởi mở, người đi đường cùng có tinh thần như thế tôi cũng được khích lệ ít nhiều.

Tôi hỏi thăm qua gia cảnh, y kể qua, đại khái là nhiều đời theo nghiệp binh đao, bảy tuổi đã bắt đầu luyện võ bắn cung.

Người tài lại có chí như vậy được trọng dụng dưới trướng Lịch Vũ cũng không lấy gì làm lạ.

La Đạc dù vui vẻ nhưng vẫn rất trọng lễ tiết.

Y coi tôi là ân nhân cứu mạng, đối xử rất kính trọng.

Tôi không quen lắm, chẳng qua chỉ là người qua đường tiện tay cứu giúp, chẳng ngờ La Đạc lại là con trai duy nhất ba đời độc đinh.

Coi như tôi không chỉ cứu La Đạc mà còn cứu cả dòng họ La khỏi cảnh tuyệt tự.

"Ông trời có mắt, người tốt luôn gặp may mắn mà."

"Là sao cơ?"

- Tôi quay sang hỏi La Đạc.

"Anh tuy có thiếu sót nhưng được Đô chỉ huy sứ rất coi trọng.

Trở thành thư đồng cho ngài ấy là mơ ước của biết bao người."

"Ờ..."

- Tôi hờ hững đáp.

Ai mơ ước thì mau đến làm hộ đi chứ tôi sắp chết ở trại Phù Lan rồi đây này.

Bỗng dưng nhớ ra chuyện quan trọng tôi quay ngoắt sang hỏi Đạc - "Chức quan Đô chỉ huy sứ có to không?"

"To!

Ngài ấy thuộc hàng tam phẩm."

"Tam phẩm?"

- Tôi há hốc miệng - "Còn trẻ như vậy mà đã làm đến chức tam phẩm ư?"

La Đạc thủng thẳng đáp:

"Ngài ấy có công lớn khi phò trợ chúa thượng lên ngôi.

Mà anh biết trong doanh trại đồn gì không?"

"Đồn gì?"

- Tôi vừa ngẫm nghĩ lời La Đạc vừa cúi xuống lấy bình nước mang theo tu một ngụm.

"Ha ha, mọi người đều bảo anh trông rất giống con gái."

Bị nói trúng tim đen tôi họ sặc sụa, nước chưa kịp nuốt vào đã phun ra thành dòng, ướt hết cả quần áo.

Tôi cởi mũ trên đầu xuống, kẹp vào nách nói đoạn quay sang hỏi lại:

"Anh... nói cái gì cơ?"

"Thì bộ dạng của anh chẳng phải giống con gái lắm ư?

Nếu hôm đó anh Đam không cứu tôi thì chắc mọi người vẫn còn đồn anh là nàng hầu của Đô chỉ huy sứ!"

Mặt mũi tôi nóng phừng phừng.

Phim ảnh toàn là thứ lừa người, nữ giả nam đều giấu được đến tập cuối mà sao tôi chỉ vừa tập đầu đã lộ tẩy thế này?

Lấy lại bình tĩnh, tỏ ra thản thiên nhất có thể, tôi hỏi:

"Tôi cứu anh với việc là trai hay gái thì liên quan gì?"

"Đàn ông nông nổi giếng khơi, đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu.

Bản lĩnh đấy của anh chúng tôi còn thua xa, nói gì đàn bà con gái."

"Cũng chỉ là chuyện thường" - Tôi thở dài.

Ở thời đại này tốt nhất chẳng nên tranh luận về vấn đề trọng nam khinh nữ làm gì.

"Hôm nay anh Đam còn làm sứ giả.

Nếu không phải vấn đề tuổi tác, tôi đã nhận anh làm thầy."

"Ấy chết, đừng!"

- Tôi ra sức xua tay.

Chẳng nhẽ tôi phải nói toẹt ra là mình bị ép, tự nguyện anh dũng gì đâu!

Tính ra việc làm "sứ giả" này cũng chỉ là hữu danh vô thực.

Long Đĩnh chỉ cần một người đưa thư truyền tin đến trại Phù Lan.

Tìm một người giỏi quá là không cần thiết, vừa là việc không khó khăn đến mức đấy, vừa là nếu tôi có bỏ mạng tại Phù Lan cũng chẳng thiệt hại gì.

Suy cho cùng thì thư này chắc chắn không nhằm mục đích gì ngoài chia rẽ Ngự Bắc Vương Lê Long Cân cùng Trung Quốc Vương Lê Long Kính.

Thử đặt giả thiết một chút, ngay từ ngày đầu tiên tôi xuất hiện đã bị nghi ngờ là nội gián.

Mang tiếng trở thành thư đồng của Lịch Vũ nhưng tôi đồ rằng đấy chưa hẳn là ý đồ tốt đẹp, rất có thể chỉ là nước thử lòng, đấu trí giữa các bên.

Giả sử rằng tôi là nội gián, sẽ có những trường hợp sau khiến cả Long Đĩnh lẫn Lịch Vũ đồng ý nước đi này:

Một, tôi là nội gián của Ngự Bắc Vương.

Vậy giờ nếu tìm một người đưa thư cho y còn ai phù hợp hơn ngoài tôi nữa?

Vừa thực hiện nhiệm vụ của chúa thượng, vừa đường đường chính chính quay về báo tin với người chủ đích thực của mình.

Hai, tôi là nội gián của Trung Quốc Vương.

Trường hợp này thì càng không có gì phải lưu tâm.

Trại Phù Lan đang một cổ hai tròng, vừa bị bao vây thiếu lương thực vừa xảy ra đại dịch, hơi đâu mà đèo bòng kẻ khác nữa?

Giờ đây Trung Quốc Vương cầu cứu, thư kia nếu rơi vào tay y cũng chỉ có một mục đích duy nhất là chia rẽ hai vương đấy.

Ếch nào chẳng là thịt, trong sự vụ này mèo nào cắn mỉu nào không quan trọng, quan trọng là kết quả cuối cùng.

Còn nếu tôi không phải nội gián?

Tôi chỉ là một người dân bình thường?

Cả Lịch Vũ lẫn Long Đĩnh đều là kẻ cẩn trọng, tôi đồ rằng đây là phép thử lòng trung thành.

Nghĩ cho kỹ thì đâu phải dễ dàng cứ như thế mà bước lên vị trí thư đồng thân tín của Đô chỉ huy sứ đâu?

Nhưng nếu tôi bỏ mạng ở trại Phù lan, một đi không trở lại thì sao?

Tôi thở dài, chỉ biết trách mình gây chuyện với ai không gây, lại đi tìm Lê Long Đĩnh, cũng đáng kiếp cho tôi phải làm tốt thí mạng lắm.

Tôi ngồi vắt vẻo trên lưng lừa, trong lòng vừa buồn thương vừa ai oán.

Xuyên không đến đây chưa biết đường về, ừ thì tôi cũng chẳng muốn sống hay tha thiết gì chuyện đấy nhưng có phải chết thế này thì nhạt nhẽo lắm không?

"Này La Đạc, Lịch Vũ không biết chuyện mấy anh đồn về tôi trong doanh trại đấy chứ?"

- Tôi đột nhiên nhớ ra, quay sang hỏi.

Nét mặt La Đạc bỗng dưng rất khó coi như vừa nuốt phải một con ếch, y gãi đầu gãi tai:

"Lần trước có một đám lính lỡ lời bị Đô Chỉ Huy Sứ tình cờ đi ngang qua nghe được."

- La Đạc hồi tưởng lại, vẻ mặt không mấy vui tươi.

Nhìn qua có thể đoán ngay được đó là ký ức đau buồn.

"Kết quả thế nào?"

- Tôi sốt sắng.

"Ngài bắt cả đám mười ngày liền sáng chạy năm vòng quanh núi, tối gánh nước cho cả trại."

Trong lòng tôi "Ôi" lên một tiếng.

Tên Lịch Vũ mặt sắt, thế này không phải càng sửa càng đen sao?

Chú thích:

(1) Cử Long: tên một dân tộc Mán (Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục).

(2) Thần Đầu: tên cửa biển xưa (nay đã bị lấp) ở xã Thần Đầu, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá; đầu thời Lê đổi gọi là Thần Phù, thời Nguyễn (1838) xã Thần Đầu nhập vào huyện Yên Mỗ, tỉnh Ninh Bình. (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư)

(3) Toàn thư chép:

"Trung Quốc Vương, đóng ở Càn Đà huyện Mạt Liên."

Cương mục chú là huyện Tiên Lữ (CMCB1, 27b).

Nay thuộc đất huyện Phù Tiên, tỉnh Hải Hưng.

Ghi chú tác giả: Nay là địa bạn thuộc huyện Phù Cừ và Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên.

(4) Toàn thư chép:

"Phù Lan": Cương mục chú là tên trại, sau là xã Phù Vệ, huyện Đường Hào (CMCB1, 27a) nay thuộc tỉnh Hải Hưng.

Ghi chú tác giả: Nay là địa bạn thuộc thị xã Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên.

(5) Long Kính: Trung Quốc Vương - hoàng tử thứ chín con vua Lê Đại Hành.

(6) Long Cân: Ngự Bắc Vương - hoàng tử thứ sáu con vua Lê Đại Hành.

(7) thanh giả tự thanh: Người ngay thẳng, thật tâm mình thì không cần phải nghĩ bàn, không cần khuếch trương, không cần giải thích.

(8) hoạ vô đơn chí, phúc bất trùng lai: vận đen đủi thường dội xuống cùng lúc, điều may mắn không dễ dàng đến hai lần.

(9) nhân trung: phần lõm từ dưới mũi xuống đến giữa môi trên.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Lúc Biết Xuyên Không Thì Đã Muộn!
Phần 7: Ma chẩn


Bình minh dần rõ nét trên khắp đất trời Phù Lan.

Bóng tối êm ái, dày đặc đã lui bớt, thay vào đó là mặt trời đã ló rạng, dần hiện rõ rệt lên từ những mảng rừng còn nguyên màu xanh xám.

Tôi ngưng thúc gót hài vào hông lừa, cố gắng để nó đi chầm chậm lại trước La Đạc trên con đường chạy dọc theo bờ suối.

Từng ngóc ngách của Phù Lan thấm đẫm mùi thơm ngào ngạt của những bông bạch đàn cuối mùa, mùi ngai ngái của những ngọn dương xỉ tươi xanh.

Tôi và La Đạc rong ngựa qua thảm cỏ ngút ngàn, nở bung xoè trắng xoá những cánh hoa cỏ dại li ti trắng xinh.

Đi tầm nửa canh giờ thì tới sông Mã Phù, trên sông có sẵn một con thuyền, lính canh đứng chờ đưa cả người và ngựa của chúng tôi băng qua sông.

Mùa mưa đã qua, dòng chảy không còn quá dữ dội.

Sông Mã Phù nước trong vắt êm ả, ngồi trên thuyền có thể nhìn thấy tận đáy sông.

Trại Phù Lan nằm ở hữu ngạn con sông, chẳng mấy chốc chúng tôi đã tới được trước cổng thành.

Tên "Trại Phù Lan" nhưng hoàn toàn không phải "trại" như trong tưởng tượng của tôi, cũng khác xa so với doanh trại quân đội.

Hoá ra "trại" là từ để chỉ một đơn vị hành chính.

Tôi đứng ngoài ngước nhìn lên trên, toà thành rộng lớn dễ cao đến cả mấy chục thước được xây bằng những phiến đá kiên cố, vuông vức.

Thấy có người lại gần, một lính canh trong vọng gác nhanh nhảu đánh thanh la.

Ngay gần như lập tức từ phía sau thành lớp lớp binh lính nhô lên, chĩa thẳng cung tên về phía tôi.

Trong kế hoạch tự sát của mình tôi đã từng tưởng tượng ra trăm nghìn cách chết khác nhau duy chỉ có việc trở thành "hồng tâm động" của đám binh lính thì chưa từng nghĩ đến.

Tôi sợ đến mức cứng đờ chân tay, cả người lẫn lừa đều như hoá đá.

Trái ngược với vẻ ngốc nghếch hèn hạ kia, La Đạc dong ngựa lên chắn phía trước cho tôi, ngẩng đầu nói lớn:

"Ta phụng mệnh chúa thượng hộ tống sứ giả đến trại Phù Lan.

Còn không mau bẩm báo đến Ngự Bắc Vương!"

Một tên lính mình mặc giáp sáng loá thò đầu ra, xem chừng y là người có chức sắc nhất trong cả đám.

Thấy tôi và La Đạc chỉ có hai người hoàn toàn vô hại, y lùi dần về phía sau rồi chạy biến đi báo tin.

Cả hai chúng tôi đứng phía dưới chờ, cứ thi thoảng La Đạc rời ngựa đi chỗ khác tôi lại rú lên như điên:

"Đừng!

Cứu tôi!"

La Đạc nhìn tôi ngán ngẩm:

"Không chết được, anh đừng lo!"

"Không!

Tuột tay là chết đấy."

- Tôi liếc nhìn đám binh lính vẫn đang giương cung ngắm về phía mình - "Sao tôi tin được kỹ nghệ bắn cung của họ chứ?"

La Đạc lắc đầu, lại răm rắp đứng lên trên giúp tôi che chắn một chút.

Đành rằng tôi hèn hạ nhưng cũng không thể cứ thế mà vạn tiễn xuyên tim, bị tiễn về nơi chín suối được.

Người không vì mình trời tru đất diệt, huống hồ tôi còn có trọng trách trên vai, giúp Long Đĩnh truyền tin dẹp tan phản loạn?

Tôi bốc phét đấy, tôi sợ chết trong đau đớn thôi.

Thấy tôi lắng đến vã hết cả mồ hôi mẹ mồ hôi con, La Đac quay lại an ủi:

"Anh Đam yên tâm, luật bất thành văn dù bất cứ chuyện gì xảy ra cũng không được giết sứ giả.

Sứ giả là chỉ là người đưa tin, không có giá trị về mặt quân sự.

Nếu có người phải chết, khả năng tôi bị giết còn lớn hơn anh."

Tôi chẳng biết thừa, mấy lời đường mật này nói cho ai nghe chứ?

"Thế từng có ai làm sứ giả mà bị giết chưa?"

La Đạc nghiêm túc ngẫm nghĩ, nói đoạn bảo tôi:

"Chưa có ai bị giết.

Năm xưa tiên đế sai Từ Mục và Ngô Tử Canh sang Chiêm Thành cũng chỉ bị bắt nhốt lại thôi."

"Nhốt... lại?"

- Tôi lau mồ hôi đầm đìa trên trán - "Thế chẳng phải làm tù binh hay sao?"

Một lần nữa La Đạc lại "trấn an" tôi bằng một câu hết sức thừa thãi:

"Anh yên tâm.

Tiên đế lúc đấy giận lắm, sau đó đem quân sang chém Bê Mi Thuê tại trận.

Chúa thượng là con của tiên đế, tính tình người cũng chẳng khác là bao."

Khoé miệng tôi khẽ co rút, nghe mấy lời đầy hào khí vui vẻ từ miệng tên La Đạc kia chẳng khác nào bảo tôi cứ yên tâm chết, cùng lắm thì Long Đĩnh sẽ báo thù rửa hận.

Có cái con khỉ khô!

Bà đây sống còn chẳng thấy đâu nữa là chết!

Đợi đến lúc cổng thành được mở ra, một tốp mấy mươi binh lính rầm rập tiến lại tôi chẳng còn thiết tha gì cuộc đời này nữa.

Thôi thì thuyền đến đầu cầu ắt sẽ thẳng, tôi hít một hơi sâu, rút từ trong tay nải của mình ra hai chiếc "khẩu trang" hơi xấu do may vội may vàng tối qua, đưa cho La Đạc một chiếc.

"Cái gì đây?"

- Đạc nhìn vật không rõ hình thù trong tay, quay lại mặt đầy nghi hoặc hỏi tôi.

Tôi hất hàm:

"Cẩn tắc vô áy náy, trong thành có dịch.

Phải giữ khoảng cách với người khác ít nhất bốn thước, anh hiểu không?"

La Đạc răm rắp nghe theo, vừa chuẩn bị xong thì quân của trại Phù Lan cũng áp sát, dẫn chúng tôi vào thành.

Cổng thành mở ra, một quang cảnh huy hoàng tráng lệ trái ngược hẳn với trong tưởng tượng sà vào tầm mắt.

Phù Lan không đói nghèo như tôi vẫn tưởng tượng, dọc đường đi đâu đâu cũng thấy những ngôi nhà nguy nga, tường dựng cao ngất màu đỏ tươi, trang trí bằng hình ô trám lồng vô cùng đẹp mắt.

Những mái ngói đủ thứ hình dạng, có cái trông như mũi hài, có cái trông như mũi lá, có cái màu đỏ, có cái ánh vàng lại có cái màu xám. (0)

"La Đạc, ở đây đẹp quá đi."

- Tôi không nhịn được mà cảm thán, y chang như một kẻ quê mùa lần đầu tiên bước chân ra thành thị.

"So với Hoa Lư thì chưa là gì đâu."

- Dường như đã quá quen nên Đạc chẳng có lấy nửa phần chú ý.

Tôi mặc kệ, nhất thời vì quang cảnh này mà quên mất chỉ vừa ban nãy mình đã lo lắng đến thế nào.

Ở thời kỳ này nhà ai khá giả có thể nhận biết được ngay, mái ngói sẽ màu xám chứ không phải đỏ tươi như những nhà khác, lại được trang trí thêm uyên ương hay linh thú.

Tôi phải ngoái đầu lại mấy bận để nhìn những cây trụ trước cổng nhà ai bóng lưỡng, to bằng mấy người ôm, đặt trên bệ hoa sen điêu khắc vô cùng tinh xảo.

Khắp con đường đều rợp bóng cây, dù trời vừa sang xuân chưa được bấy lâu nhưng những tán bồ kết hay hoàng lan đã kịp trổ lá xanh mướt, vài cây quýt lủng lẳng quả tròn mập, bé xinh như những chiếc đèn lồng nhỏ.

Khung cảnh vừa lạ vừa quen, đẹp đến ngỡ ngàng.

Dù đã xuyên không mấy tháng nhưng tôi chỉ sống nơi rừng thiêng nước độc, ngày ngày giáp mặt với lều trại, binh lính, ngựa, chưa từng được tới nơi phố xá như vậy.

Tôi ngồi trên lưng lừa, trong lòng nửa phần tán thưởng nửa phần bi thương.

Những kiến trúc đặc sắc như thế này cho đến ngàn năm sau đã gần như mất dạng chẳng còn lại chút dấu tích gì nữa.

Chiến tranh, bom đạn, sự tàn phá của con người... tất cả đã khiến Đại Cồ Việt huy hoàng như bị đánh cắp khỏi lịch sử.

Tôi thở dài thành tiếng, còn chưa kịp tiếp tục tiếc thương cho lịch sử thì đã bị tiếng người ồn ã phía xa làm cho không cách nào tập trung được.

Tiếng người khóc ai oán, tiếng la thất thanh.

Mãi cho tới lúc này tôi mới chợt nhận ra từ nãy đến giờ dù phố xá nhà cửa hoa lệ là vậy nhưng tuyệt nhiên không thấy bóng người.

Tôi quay sang hỏi binh lính đi ngay sát mình:

"Có chuyện gì vậy?"

"Dạ bẩm, không có gì."

Tên lính càng tỏ vẻ vô sự tôi càng nghi hoặc nhưng biết dù có hỏi thêm cũng chỉ phí lời nên đành chỉ giả bộ tảng lờ rồi tiếp tục tiến về phía trước.

Đi qua hai con phố nữa thì tên lính chỉ đường đi chậm lại, dừng trước phủ đệ treo một bức hoành phi rất to.

Tôi không biết đọc nhưng cũng mơ hồ đoán ra đây là nơi Ngự Bắc Vương sống.

Dù gì cũng đã tới nơi, sợ cách mấy cũng chỉ có thể chịu trận.

Thôi thì chết sớm siêu sinh sớm, đến đâu hay đến đó.

Phủ Ngự Bắc Vương mở lớn cả ba cửa, tôi thẳng lưng đường hoàng tiến vào bằng cửa chính giữa.

Trước đây mỗi lần đi chùa bà tôi đều dạy rằng chỉ được phép đi cửa nhỏ hai bên hông, cửa lớn chỉ dành cho yếu nhân(2) qua lại.

Có lẽ cả bà và tôi đều không bao giờ tưởng tượng rằng có một ngày tôi - chính đứa cháu gái nhỏ của bà lại trở thành sứ giả, đường đường chính chính đi vào từ cửa lớn như thế này.

Tôi và La Đạc được quân lính dẫn đi qua một khu vườn lớn rợp bóng cây xanh với đủ loại chim vàng anh hoàng yến líu lo không ngừng, thoang thoảng hương hoa dành dành.

Dù đương mùa xuân nhưng trong vườn cơ man là hoa nở trái mùa, thi nhau khoe sắc toả hương cũng đủ biết Ngự Bắc Vương này biết hưởng thụ cỡ nào.

Đi hết khu vườn chúng tôi được dẫn vào một căn phòng khách rộng dễ gấp bảy, tám lần trại của Lịch Vũ.

Khắp phòng không nơi nào thiếu đồ gốm sứ tráng men hoa lệ, những chiếc lư đồng sáng loá đẫm hương trầm.

Phía bên trên một cậu trai trẻ chỉ chừng mười sáu, mười bảy tuổi đang ngồi, bộ dạng khó gần.

Nhìn qua thái độ cung kính của quân lính tôi đoán ngay đây chắc chắn là Ngự Bắc Vương Lê Long Cân - em trai của Lê Long Đĩnh.

Long Cân còn trẻ măng, nếu đi ngoài đường có va phải thì dù đánh chết tôi cũng không tin đây là phản tặc chống lại Lê Long Đĩnh.

Gương mặt trẻ măng của Long Cân khiến sự lo lắng ban đầu của tôi cũng vơi đi bớt một nửa, nhẹ nhõm thở phào.

Không đợi Long Cân cho phép, tôi ung dung tự tại ngồi xuống, La Đạc đi theo tôi vòng ra đứng phía sau ghế.

Thấy tôi có vẻ là một kẻ vô hại, Long Cân ra lệnh cho quân lính lui đi bớt.

Tôi rút từ trong tay lá thư hôm qua, nói:

"Tôi là sứ giả lĩnh chỉ chúa thượng giao tận tay thư này đến Ngự Bắc Vương."

Bên cạnh Long Cân có một tên hầu trông có vẻ nhanh nhẹn được việc.

Y chạy lại chỗ tôi, gấp rút nhận lấy lá thư rồi cung kính dâng lên cho chủ nhân.

Tôi tỏ ra bình tĩnh, ngả người vào lưng ghế, thảnh thơi thưởng thức một ngụm trà.

Long Cân nhận thư từ người hầu, điệu bộ trầm tĩnh đặc biệt không ăn khớp với khuôn mặt búng ra sữa.

Cân đọc thư, càng đọc hai lông mày càng nhíu chặt, nét mặt càng xấu đi.

Gương mặt này có đến ba, bốn phần giống Long Đĩnh, đặc biệt là khi tức giận.

Thấy tình hình có vẻ không khả quan lắm tôi ngồi im re, cố giảm sự tồn tại của mình xuống mức thấp nhất có thể.

Ấy vậy mà ngay khi vừa đọc xong thư tay Long Cân đã cuộn chặt thành nắm đấm, ngay lập tức vò nát rồi hằm hằm nhìn tôi.

Nhìn tôi?

Nhìn tôi làm gì?

Tôi đâu có viết ra bức thư đấy?

Tiếng lòng của tôi y nào nghe hiểu, ngay khi tôi còn đang tự phân bua một mình với vẻ mặt ngây thơ vô tội, Long Cân đã hô một tiếng:

"Bay đâu, giam bọn chúng vào thôn Nam Ninh.

Hai ngày sau chặt đầu thị chúng!"

Tôi chết điếng người, "nụ cười thương mại" trên môi ngay lập tức vụt tắt.

"Ngự Bắc Vương, binh lính giao tranh không giết sứ giả, người làm gì vậy?"

- Tôi không tin vào tai mình, lắp bắp hỏi lại.

"Không giết sứ giả?"

- Long Cân cười nhếch môi, nụ cười tàn bạo khiến bao nhiêu ý niệm tốt đẹp của tôi dành cho y từ nãy tới giờ tan thành mây khói.

- "Đi mà hỏi Long Đĩnh đi!"

Trời đất ơi!

Tôi đã làm gì sai?

Ai nói cho tôi tại sao tôi lại rơi vào tình huống này?

Tôi đã làm gì đáng để bị chặt đầu thị chúng?

Trời ơi là trời!

Tôi thầm khóc trong lòng một vạn lần, nước mắt đủ để tạo ra thêm bảy con sông Mã Phù nữa.

Biết ngay mà, chuyện tốt làm gì Long Đĩnh để đến tay tôi?

Lịch Vũ ơi là Lịch Vũ, người hại chết thư đồng của người rồi!

Lời của Long Cân vừa dứt ngay lập tức quân lính rầm rập tiến vào.

La Đạc bước lên một bước toan bảo vệ, tôi chặn y lại, buồn bã lắc đầu.

Bảo vệ cái gì chứ?

Chỉ có hai người thì mọc cánh cũng không thoát khỏi cái trại Phù Lan này.

Biết người biết ta trăm trận trăm thắng, dù không thắng được cũng chẳng bị thương.

Nếu cố quá chỉ e sẽ thành quá cố.

Liền ngay sau đấy chúng tôi bị giải đi, chấm dứt cuộc thương thuyết ngắn nhất trong lịch sử.

***

Mãi cho tới khi bị điệu tới thôn Nam Ninh cả tôi và La Đạc mới vỡ lẽ tại sao trên đường phố lại vắng vẻ như vậy.

Dọc tuyến phố chính chẳng qua chỉ là nơi đánh lừa kẻ khác bởi sự xa hoa, giàu có không hề tồn tại.

Ở đây, thôn Nam Ninh này bao đói khổ, bao lầm than của dân chúng trại Phù Lan bị lột trần sạch sẽ, phơi bày tất thảy.

Nam Ninh không có nhà ngói trắng, không có cột trụ gỗ, không có lá đề hay hoa sen trang trí.

Thôn Nam Ninh lụp xụp trong những túp lều tranh rách như tổ đỉa.

Khắp nơi từ mặt đất đến trên những chiếc chõng tre, trên bậc thềm hay ngay cả lối qua lại đều không thiếu người nằm la liệt.

Những người hom hem gầy gò, quần áo rách bươm.

Vài người trong số họ nổi mẩn đỏ, thi thoảng gãi gãi như lên cơn nghiện.

Tôi và La Đạc biết một khi tới đây thì đã chẳng có cửa quay về.

Nam Ninh hẳn là nơi Ngự Bắc Vương cho nhốt những người bệnh hòng hạn chế dịch lây lan.

Tôi đeo "khẩu trang" lên, ra dấu cho La Đạc đừng lại gần rồi chầm chậm tiến đến một đứa bé đang nằm mê mệt trên tay mẹ.

Thấy có người lạ, bà mẹ ngẩng đầu, giương đôi mắt thâm quầng, kiệt quệ vì đói, vì mệt mỏi nhìn tôi.

Tôi gật đầu nhẹ:

"Phiền chị, tôi có thể chẩn mạch cho cháu không?"

Bà mẹ có vẻ như đã tuyệt vọng nên chẳng đoái hoài gì mà buông lỏng tay đang ôm đứa trẻ ra.

Tôi ngồi xuống kiểm tra qua thân nhiệt.

Đứa bé sốt khá cao, nước mũi chảy không ngừng, thi thoảng người cuộn lên bởi những cơn ho như muốn xé toạc cả lá phổi.

Tôi nhíu mày, tay bóp nhẹ tách miệng quan sát, rêu lưỡi trắng, niêm mạc miệng có ban chẩn đối diện với răng cối trên một và hai.

Khoan đã, tôi tỉ mẩn quan sát thật kỹ.

Đây chẳng phải là... hạt Koplik(2) hay sao?

Tôi quay lại nhìn La Đạc, hai tay vô thức run rẩy:

"La Đạc, anh cách xa một chút, người này mắc bệnh sởi!"

"Sởi?"

- La Đạc tròn mắt.

Tôi gật đầu:

"Phải, sởi chính là dịch ma chẩn!"

Ở thế kỷ 21, dịch sởi không còn quá đáng sợ do y học phát triển cùng tiêm chủng được mở rộng, hầu hết trẻ em đều được tiêm phòng trong những năm đầu đời, trong đó có cả tôi.

Tuy nhiên sởi cũng từng là một trong những đại dịch đáng sợ nhất trong lịch sử loài người.

Bệnh sởi là bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây qua đường hô hấp, tỷ lệ tử vong cao.

Ở Đại Cồ Việt bây giờ mà nói, bất kể ai trong trại Phù Lan này đều có nguy cơ đã dính bệnh.

Bất kể ai đều có nguy cơ sẽ chết vì dịch, kể cả tôi!

Chú thích:

(0) Do thiếu sót về tư liệu, quang cảnh trại Phù Lan được dựa trên các tư liệu về thành Hoa Lư cùng thời và tưởng tượng của tác giả.

Miêu tả trong phân đoạn được phỏng theo các kết quả tìm được trong hai bài nghiên cứu:

- Khai quật di tích cố đô Hoa Lư năm 2009 - 2010: Kết quả và vấn đề (Nguyễn Văn Đoàn)

- Kết quả thám sát và khai quật di tích cố đô Hoa Lư (Ninh Bình) năm 1998 (Tống Trung Tín - Trần Anh Dũng - Lê Thị Liên - Bùi Xuân Quang)

(1) yếu nhân: (要人) Người giữ chức vụ quan trọng của quốc gia.

(2) Koplik là những nốt nhỏ xuất hiện bên trong miệng, là dấu hiệu sớm của bệnh sởi rất đặc trưng trong giai đoạn đầu
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Lúc Biết Xuyên Không Thì Đã Muộn!
Chương 8: Chữ người tử tù


Phù Lan đã trở thành ổ dịch khổng lồ!

Tôi và La Đạc bị "giam lỏng" trong một túp lều đến cửa còn không có, xung quanh là bốn tấm phên bạc phếch gió bấc thổi nhẹ cũng đủ làm chao đảo, trên đầu là lớp gianh thủng lỗ chỗ nhìn thấy cả nền trời xám xịt.

Theo lẽ đương nhiên, quân trại Phù Lan chẳng buồn canh cửa làm gì.

Thôn Nam Ninh được bao bởi lớp tường đất nhỉnh hơn đầu người một chút nhưng đấy không phải nguyên nhân mà người dân "ngoan ngoãn" ở trong.

Cao vượt lên trên màu nâu vàng của đất là những thanh gươm sáng quắc, nhọn hoắt của lớp lớp binh lính canh phòng.

Tôi biết chắc đừng nói đến sứ giả, dù bất cứ ai trong "trại nhốt người" này có ý định xông ra ngoài thì sẽ chết không toàn thây.

Tôi và La Đạc có thể đi lại tự do phía bên trong, dù gì binh lính cũng sợ ma chẩn khiếp vía chẳng có ai dám ở lại.

La Đạc kia là một kẻ vô tư lự.

Y nằm thẳng cẳng trên sàn, đầu gối lên tay, chân bắt chữ ngũ, mắt nhắm lim dim.

Tôi biết nếu bây giờ mình có lo lắng hay sợ hãi cũng chẳng giải quyết được vấn đề gì.

Kết cục đã định sẵn.

Tôi chết ở Việt Nam một nghìn năm sau hay ở Đại Cồ Việt một nghìn năm trước có gì khác nhau chứ?

Ừ thì tôi đây cảm thấy cực kỳ ấm ức.

"La Đạc, anh có ngửi thấy mùi gì không?"

- Tôi khịt mũi, cảm giác buồn nôn tựa như cơn thuỷ triều dần dâng lên phía bên trong mình.

La Đạc không mở mắt mà chỉ ra sân, theo hướng có cột khói đen ngòm phía xa.

"Ngửi thấy, là mùi thịt người cháy."

"Thịt... người cháy?"

- Tôi nuốt nước bọt, dằn xuống thứ chất lỏng đang trực chờ phun ra bất cứ lúc nào.

La Đạc gật đầu.

Lúc này tôi mới dám xác nhận mùi cháy khét, ngai ngái, tanh tưởi kia rốt cục là gì.

Chính xác là thịt người, tương tự như mùi tôi từng ngửi thấy ở các đài hoá thân hoàn vũ.

"Ban nãy lúc anh chẩn mạch cho đứa bé thì tôi thấy ở bên mé cổng thôn người ta đẩy một xe chất đầy thây người."

- La Đạc nói thêm.

Tôi ngồi yên, hai ngón tay bấm chặt vào với nhau, lúc sau mới hỏi La Đạc:

"Vậy những người ở thôn này sẽ ra sao?"

"Chờ chết thôi.

Chết rồi thì sẽ hoả thiêu.

Mục đích của thôn Nam Ninh là vậy, tránh lây bệnh dịch cho thân vương và quan lại."

Tôi trừng mắt:

"Cái gì mà thân vương quan lại?

Mạng dân không phải là mạng là?"

La Đạc cười nhếch môi chua xót:

"Phù Lan bị phong toả, Ngự Bắc Vương không dám mở cổng thành.

Nếu mạng ai cũng là mạng thì làm gì nên nỗi?"

Tôi hiểu rất rõ những lời La Đạc nói có nghĩa là gì.

Tất thảy người ở đây chỉ có một con đường duy nhất: ĐƯỜNG CHẾT!

Bấy giờ là phong kiến, mạng người như cây cỏ.

Dù cho tôi không quen cũng phải chấp nhận sự thật.

Người dân ở đây bị vây lại cho chết dần chết mòn, đến một lúc nào đó chỉ e Ngự Bắc Vương kia sẽ hạ lệnh cho một mồi lửa, cứ thế tiễn tất thảy con dân cùng bệnh dịch ma chẩn lên đường.

Tôi hít vào một hơi sâu, nhớ đến hơi ấm trên tay đứa bé mình vừa chẩn mạch, nhớ đến người mẹ thất thần bồng con, nhớ đến những người dân chất phác vì đau bệnh mà nằm ngổn ngang khắp chốn.

Không phải máu thịt song nỗi đau của đồng bào, của người với người, làm sao tôi có thể cứ đứng đó giương mắt nhìn người ta chịu chết?

Nhưng tôi có thể làm gì đây?

Trí mọn tài hèn, chút y thuật ít ỏi của tôi sao có thể làm gì cho đời?

Nhưng nếu tôi không làm, giả như mọi chuyện vẫn vậy thì những người ngoài kia phải làm sao?

Tôi quay sang lay người La Đạc, nói nhỏ:

"La Đạc, anh có thể tìm giúp tôi một cái bàn, giấy và mực không?"

Đạc đang nằm yên bỗng mở choàng mắt ra, ngạc nhiên nhìn tôi:

"Anh Đam muốn làm gì?"

Tôi tự nhủ bản thân thật hiên ngang vào, vỗ ngực độp một cái, nói to:

"Chữa bệnh cứu người!"

Y thuật của tôi chỉ là dạng võ mèo cào, học hành lớt phớt nhưng cũng biết được căn bản việc bắt mạch, bốc thuốc, kê đơn.

Thôi thì méo mó có hơn không, coi như tôi có gì góp nấy, cố gắng làm chút việc ý nghĩa trước khi lìa đời.

La Đạc đặt niềm tin ở tôi một cách vô tội vạ.

Vừa nghe tôi muốn cứu người y đã ngay lập tức hớn hở đi tìm rồi mang về một cái bàn đặt giữa sân.

Cái bàn cụt mất một chân, y phải kiếm thêm mấy viên gạch mới kê lên vừa.

Cũng chẳng biết Đạc đào đâu ra một cái thanh la, gõ leng keng miệng liến thoắng liên hồi:

"Thầy lang chẩn mạch, thầy lang chẩn mạch miễn phí đây!

Bệnh gì cũng chữa, ma chẩn thì càng nên ra!"

Tôi kéo tay:

"Tôi không tài giỏi đến thế đâu.

Mà sao anh không mau đi đi, mình tôi ở đây là được nếu không sẽ sớm nhiễm bệnh mất!"

La Đạc phủi tay:

"Ở trong cảnh này thì có gì mà phải sợ?

E là ma chẩn chưa kịp phát thì đã mất đầu rồi."

Cả hai chúng tôi cười khổ nhìn nhau.

Trong lòng tôi không thôi cảm kích La Đạc.

Kiếp nay e là không còn được dài nữa, vậy nếu có kiếp sau tôi nguyện mãi là anh em với y!

***

Tôi dặn La Đạc nói rõ với từng người một trong thôn, tôi không phải là thầy thuốc mà chỉ là người biết chút ít y thuật, có thể giúp ích có thể không, hoặc nếu xui rủi hơn lỡ có bề gì chuyển xấu cũng không thể chắc chắn.

Vốn tưởng sẽ không ai đến nào ngờ trước cửa túp lều tranh tồi tàn dân chúng thôn Nam Ninh đã vây kín bưng.

Nghĩ cũng phải, bây giờ họ làm gì còn sự lựa chọn khác nữa đâu?

Họ đã hoàn toàn bị bỏ rơi bởi chủ thành Ngự Bắc Vương hay ngay cả những "lương y như từ mẫu".

Đối diện với ma chẩn, đây đã là đường cùng.

Dù cho có một tia hy vọng le lói người ta cũng ra sức mà bám vào.

Tôi dặn La Đạc yêu cầu tất cả mọi người đến đều phải lấy vải che miệng và mũi, khoảng cách giữa mỗi người ít nhất một sải tay, xếp hàng tuần tự.

Ai đến trước sẽ được ưu tiên chẩn mạch trước.

Tôi còn sợ khung cảnh sẽ trở nên hỗn loạn nhưng xem ra La Đạc là người rất biết cách làm việc, chỉ chốc lát sau đã ổn định được tình hình.

Đứng đầu hàng chính là người mẹ bồng con tôi gặp khi vừa mới đến.

Tôi kéo đứa bé ra khỏi lòng mẹ, vạch áo lên xem kỹ lưng, cổ, tai, gáy.

Quả là có một vài nốt ban đỏ đã xuất hiện.

Tôi đưa tay bắt mạch đồng thời xem xét lại một lượt triệu chứng, là bệnh sởi, hơn nữa còn là giai đoạn đầu, sởi chưa mọc nhưng không vì thế mà xem thường được.

Chữa càng sớm người bệnh càng có khả năng phục hồi nhanh.

Suy nghĩ một hồi, cách tốt nhất bây giờ cho đứa trẻ này là tuyên thấu giải độc (giải cơ thấu biểu, tân lương giải biểu) để đưa tà ra ngoài da làm mọc nhanh các nốt sởi.

Tôi lấy giấy bút toan thảo một thang thuốc thì nhận ra vấn đề mới xuất hiện:

TÔI KHÔNG BIẾT CHỮ!

Còn chưa kịp nghĩ đối sách thì La Đạc đã nhanh nhẹn tiến lên một bước, giành lấy tờ giấy trên tay tôi.

Hiểu được y muốn giúp đỡ tôi chỉ biết gật đầu đầy cảm kích, Đạc tảng lờ không nói gì.

Tôi hỏi người mẹ:

"Trong thôn này có thể mua được thuốc chứ?"

Người đàn bà cỡ ngoại tứ tuần, nước da sạm đen, đưa tay lên lau những giọt nước kẹt lại nơi nếp nhăn khoé mắt:

"Dạ bẩm, khó lắm thưa thầy."

Chị ta chưa nói hết câu phía sau có người đàn ông phân bua:

"Từ lúc chiến sự xảy ra thuốc bị thương nhân gom về, bán với giá cắt cổ.

Nay thành bị phong toả, bệnh dịch nên càng muôn phần khó khăn."

Tôi trầm ngâm.

Chữa sởi có nhiều bài thuốc nhưng nếu dược tính không đủ thì sẽ mất rất nhiều thời gian, thậm chí không khỏi được.

Trong "Y âm án" Hải Thượng Lãn Ông từng viết: "Thấy bệnh nhân cần dùng thứ thuốc nào đó mới cứu chữa được, song thầy lại lo người bệnh không đủ sức trang trải mà cho vị rẻ tiền hơn, ảnh hưởng đến hiệu quả chữa bệnh.

Đó là Keo kiệt".

Keo kiệt là một trong tám tội thầy thuốc cần tránh.

Lẽ nào vừa mới hành y ngày đầu tiên tôi đã mắc phải đại tội ư?

Tôi vò đầu bứt tóc nhìn đứa bé đang mệt lả đi trên tay mẹ, lần lượt điểm lại từng bài thuốc có thể dùng.

Nói đoạn tôi hỏi:

"Vậy chị thể tìm được lá diếp cá, cam thảo đất và rau dệu không?"

Người mẹ vội vã:

"Có thể, có thể thưa thầy."

Tôi gật đầu, mừng ra mặt, mau mau chóng chóng đọc liều lượng thuốc cho La Đạc chép vào, cuối cùng cẩn thận dặn đi dặn lại:

"Cả ba thứ này sắc lên uống chung, một ngày ba lần.

Nếu hai ngày nữa tôi chưa bị giải đi chị nhớ tới tái khám?"

"Tái... khám?"

- Người đàn bà băn khoăn hỏi.

Tôi cười:

"Ý tôi là nếu tôi chưa chết, chị mang con tới đây để chẩn mạch lần nữa."

Người mẹ hiểu ra quỳ rạp xuống đất dập đầu thay lời cảm ơn.

Cả đời tôi chưa từng nhận "đại lễ" lớn đến vậy của bất cứ ai nên nhào tới đỡ cả hai mẹ con dậy, phủi sạch lớp bụi đất dính trên người, dặn dò thêm phải thường xuyên rửa tay, thay quần áo, giữ gìn phòng thông thoáng sạch sẽ.

Người mẹ quỳ lạy tôi thêm lần nữa rồi nhận đơn thuốc từ tay La Đạc, vội vã bế con rời đi.

Kế đến là một người đàn ông hom hem, trên người chỉ độc mỗi một bộ giao lĩnh phong phanh, nhìn thôi đã thấy rét.

Thông thường trẻ dưới năm tuổi dễ mắc sởi nhất nhưng cũng không có nghĩa là người lớn có thể tránh được, đặc biệt giữa lúc đói kém, sức đề kháng suy giảm.

Người đàn ông này sốt giảm còn triều nhiệt, ho, miệng khô, lưỡi rêu đỏ ít, đoán chừng đã sắp khỏi bệnh.

Tôi đọc một thang thuốc dưỡng âm thanh nhiệt, dặn anh ta dù khỏi vẫn phải hạn chế hết sức việc tiếp xúc với người thân.

Một người rồi thêm một người, "bệnh xá dã chiến" của tôi và Đạc càng lúc càng đông, người bệnh nhiều không kể xiết, bất kể ngày đêm đều hiếm khi được ngơi nghỉ.

Bởi tôi chẩn mạch không lấy tiền, thôn Nam Ninh cũng toàn người dân lương thiện chất phác, để đền đáp người ta rủ nhau góp rau góp rau góp cơm mang đến bệnh xá.

Dù có chút vất vả cực nhọc nhưng xem ra những ngày cuối cùng của tôi khi còn tại thế vẫn còn có ích lắm.

Niềm vui ngắn chẳng tày gang.

Chớp mắt một cái đã đến đêm trước ngày tôi bị hành quyết.

Hôm nay người bệnh về sớm hơn thường lệ, trước cửa lều quang đãng chẳng còn ai nữa.

Tôi vặn người qua trái rồi lại vặn người qua phải, uể oải vỗ vỗ mấy cái vào bả vai mình.

La Đạc mệt quá nên nằm ngủ ngay trên cái chõng tre trước hiên nhà, chả buồn động đậy.

Đêm lạnh sương dày, tôi khẽ lay gọi Đạc dậy, bảo y vào trong nhà nghỉ ngơi.

Nếu tính kỹ thì đây mới là một kẻ kỳ lạ.

Tôi chán sống từ đầu nên mặc kệ chuyện sống chết thì chẳng nói làm gì, đằng này Đạc cũng dửng dưng như thể lệnh kia là chém lợn chém gà chứ chẳng hề liên quan đến y.

Tôi cầm cái thau đi về hướng góc vườn, vận dụng tất thảy sức lực "trai tráng" mình có kéo lên một gàu nước.

Phải rửa mặt mũi chân tay thật sạch, chỉ tiếc là không có cơ hội tắm một cái.

Sáng hôm nay nghe linh đình người ngựa, binh lính kháo nhau Trung Quốc Vương Long Kính đã đến hội họp cùng Ngự Bắc Vương Long Cân.

Tôi biết ngay ngày tàn của mình đã tới.

Cái tên Long Đĩnh kia chẳng biết viết gì trong mật chỉ mà vừa không chia rẽ được hai vương đấy vừa khiến tôi phải chịu cảnh đầu rơi máu chảy thế này?

Tôi thầm chửi thề trong lòng.

Nếu có một ngày, à không, một kiếp nào đó tôi gặp lại, Lê Long Đĩnh, y nhất định phải nếm khổ đau từ tôi!

Ngoa ngoắt vậy cho lòng nhẹ bớt chứ kỳ thực tâm trạng của tôi cũng chẳng hề tốt hơn chút nào.

Tôi không có ý niệm nào cụ thể về cái chết cả.

Chỉ thấy rất mơ hồ, rất trống rỗng.

Hay bởi tôi đang là "tử tù" nên khác biệt chút ít chăng?

Không biết có ai trước khi bị xử tử sẽ thật sự ăn năn hối hận về những điều mình làm không nhỉ?

Tôi thì chẳng có lấy nửa phần ân hận.

Nếu hận chỉ hận đã đầu quân nhầm người, bị đày ải đến đây còn mất mạng.

Tôi thì chả hứng thú gì với cái mạng quèn này nhưng để kẻ khác lợi dụng làm "sứ giả" thì thật là cay cú!

"Sứ giả, sứ giả!"

- Có tiếng gọi be bé từ phía hàng rào.

Ban đầu tôi còn tưởng mình bị ảo giác nhưng rõ ràng là thật.

Tôi nhìn ở cạnh giếng có cái cuốc liền nhanh thay cầm lấy phòng bị, tiến lên phía trước dè chừng.

Người bên kia tiếp lời: "Là con đây."

Tôi nghiêng người, dưới ánh trăng nhàn nhạt của một ngày xuân quang đãng, soi rất rõ bóng hình một cậu trai trông khá quen.

"Sứ giả không nhận ra con sao?"

Tôi "À" lên một tiếng, trong đầu lần lượt điểm quan mặt từng người kể từ lúc tới trại Phù Lan.

Hoá ra là người hầu bên cạnh Ngự Bắc Vương, nếu đã là như vậy thì ngươi tới số rồi!

Tôi giơ cuốc lên định bụng tẩn cho hắn một trận nhưng hắn kêu lên khe khẽ:

"Ấy đừng, con là người của Đô chỉ huy sứ!"

Tôi khựng lại, mơ hồ nhớ ra Lịch Vũ và Long Đĩnh từng nói về việc có một "nội ứng" ở trại Phù Lan, hoá ra là hắn sao?

Thật không?

Hay định lừa tôi cái gì?

Tôi thu cuốc lại, mắt gườm gườm:

"Ngươi tìm ta có việc gì?"

"Con chỉ muốn chắc là người vẫn ổn."

"Ổn cái con khỉ khô!"

- Tôi quạu, thừa biết hắn chẳng hiểu câu chửi thề kia nhưng cũng phải giải toả ra cho đỡ bực dọc.

- "Thấy ai sắp bị chặt đầu thị chúng mà ổn không?"

Tên hầu im re có vẻ hối lỗi, tôi giả vờ ngọt nhạt:

"Ta nghe nói ngươi thường xuyên đưa tin về trại, ta có thể gửi nhờ một bức thư không?"

"Dạ thưa, thư chỉ gửi về định kỳ ngày mười lăm hàng tháng, trừ khi chuyện quân cấp bách."

Tôi lườm một cái cháy mặt tên nội ứng, gầm gừ:

"Sứ giả bị chém chết không phải cấp bách thì là gì?

Long Kính vào thành rồi bây giờ không gửi thì bao giờ mới gửi?"

Tên người hầu gật gù cho là phải.

Tôi nhanh nhảu chạy vào phòng toan nhờ La Đạc viết thư, nghĩ thế nào lại thôi.

Tôi tự tay nguệch ngoạc vài đường cho là dễ hiểu nhất, dúi mẩu giấy vào tay tên nội ứng, nước mắt chứa chan:

"Trông cậy hết cả vào ngươi."

Y nhận lấy mẩu giấy, tay nắm chặt, gật đầu rồi lủi mất trong màn đêm.

Đêm đấy tôi thức trắng.

Ai có thể ngủ được khi biết rằng ngày mai mình sẽ bị chặt đầu?

À thì ngoại trừ cái tên La Đạc này.

Tôi quay sang lườm kẻ đang nằm ở góc phòng, vô cùng bực dọc hung hăng tiến lại đá vào chân hắn một cái.

Nhẽ ra đây là giờ phút chia ngọt sẻ bùi, tâm sự trải lòng trước lúc chết chứ?

Thế mà tên La Đạc ngủ say như chết.

Tôi nằm thẳng cẳng, tay đặt lên ngực, hai mắt không sao nhắm được.

Thành thật mà nói thì không phải do tôi lo lắng quá, chẳng qua hôm nay uống trà xanh liên tục nên đến giờ hai mắt tôi vẫn mở thao láo mà thôi.

***

Tiếng gà văng vẳng đằng xa.

Mặt trời đã mọc.

Tôi trở người thức dậy, sửa soạn gọn gàng quần áo tóc tai, sẵn sàng cho một ngày thật bùng nổ.

Hôm nay tôi bị chặt đầu.

Sang giờ Tỵ binh lính đến áp giải tôi cùng La Đạc ra pháp trường.

Người dân thôn Nam Ninh sắp hàng dài thật dài tiễn biệt.

Tôi điểm lại từng người từng người, vỗ nhẹ vào hai bàn tay nắm chặt của người mẹ và cháu bé tôi gặp khi vừa đến Nam Ninh.

Chớp mắt một cái mà đã kết thúc hai ngày cuối cùng của cuộc đời.

Thấy đứa bé sắc mặt tốt hơn, đã có thể mè nheo ôm mẹ, tôi nhoẻn miệng cười, rảo bước theo quân lính.

Ít nhất lần này từ biệt trần thế tôi cũng đã từng giúp ích cho đời.

Khác biệt lớn nhất chính là tâm thế.

***

Pháp trường là khu đất rộng thênh thang không có lấy một bóng cây.

Dù đương độ mùa xuân song thời tiết oi bức đến lạ kỳ.

Cũng phải thôi, bao giờ tử tù chẳng bị chém đầu vào giờ Ngọ ba khắc, lúc dương khí cực thịnh.

Tôi xem nhiều phim nên biết rất rõ.

Nhưng cứ để đấy mà xem.

Dương khí thịnh đến mấy bà đây mà hoá kiếp thành ma cũng về kiếm từng người một tính sổ.

Tôi bực dọc nhìn lên.

Phía bên trên Long Cân ngồi chính giữa, bên phải còn có thêm một người nữa phục sức xa hoa không thua gì y.

Dựa vào vị trí và cách ăn mặc, tôi phỏng đoán người kia chính là Trung Quốc Vương Long Kính.

Xung quanh tôi và khắp cả pháp trường, quân lính đứng kín đen như thể đang chứng kiến một sự kiện gì hệ trọng lắm.

Lúc sống không ai hay, lúc sắp chết được nhiều người tiễn biệt như vậy quả thực không quen.

Tôi cười khổ, đây có được xem là "hạnh phúc của một tang gia" không?

Tôi quay sang nhìn La Đạc đang cùng quỳ với mình trên mặt đất, nhỏ giọng:

"Đã để anh chịu khổ cùng tôi, coi như kiếp này tôi nợ anh."

La Đạc lắc đầu:

"Là anh cứu tôi, cái mạng này là của anh."

Tôi gật đầu:

"Hẹn kiếp sau nếu có gặp lại hi vọng anh không bị con gì cắn nữa."

Lần cuối cùng trong đời, cả hai chúng tôi phì cười.

Giờ Ngọ, mặt trời lên thiên đỉnh.

Tôi ngẩng đầu nhìn bầu trời cuối cùng trong cuộc đời mình, hít hà căng đầy lồng ngực tất cả mùi hương của sự sống.

Một ngày nắng đẹp như hôm nay mà tôi lại phải kết thúc sự sống của mình, tiếc thật.

Tên đao phủ chậm rãi tiến tới gần, vỗ thùm thụp vào ngực rồi tu rượu liên hồi.

Hắn ta ngậm một ngụm lớn, hít vào một hơi sâu rồi phun lên thanh đao sáng loá.

Dưới nắng ban trưa thanh đao ánh lên, lưỡi dao sắc lẹm, tôi thấy nơi cổ mình như đang nhói lên.

Cái chết đã rất gần!

Vừa vặn có thêm ba người đàn ông đi tới, đánh trống theo nhịp.

Tiếng trống dồn từng hồi từng hồi, lồng ngực tôi cũng căng lên, đập loạn đến mức không thở được.

Phía bên kia tên đao phủ nhảy nhót theo điệu nhạc, múa đao quay cuồng.

Cuối cùng hắn giậm mạnh chân trên mặt đất, thét lên một tiếng vừa lúc tiếng nhạc ngưng hẳn.

Tôi biết thời khắc giã từ cuộc đời đã đến liền cúi đầu, nhắm mắt.

Bỗng từ đâu vang lên tiếng động rầm rầm, tiếng vó ngựa dồn dập phía xa.

Tôi choàng mở mắt, bụi bay tứ phía.

Chưa đợi tôi phản ứng kịp Long Kính sửng sốt đứng dậy thét lớn:

"Mau!

Có mai phục!"

"Không phải mai phục" - Long Cân vẫn ngồi ung dung trên ghế thưởng trà.

Long Kính vẫn chưa hiểu ra, sắc mặt tái xanh.

Long Cân bình tĩnh đặt chiếc ly xuống, chậm rãi - "Là ta ra lệnh mở cổng thành".

Quân lính ồ ạt ùa vào, ai nấy đội mũ đâu mâu(1), trên trán khắc hàng ngang ba chữ, võ bị đầy đủ.

Khung cảnh bỗng chốc trở nên vô cùng hỗn loạn.

Đám đao phủ và mấy người đánh trống lũ lượt bỏ chạy.

Bấy giờ Long Kính suy sụp, ngồi thụp xuống ghế:

"Ngươi...

đã phản bội ta?

Người đâu!"

Cả trăm quân lính của Long Kính đang túc trực gần bên giương kiếm chuẩn bị ứng chiến, Long Cân lắc đầu, nói đoạn bảo:

"Không phải ta phản bội ngươi, mà là trung thành với con dân trại Phù Lan."

Lúc này tôi phát giác La Đạc bên mình đã đứng dậy từ bao giờ.

Y giơ tay ra hiệu gì đó.

Tôi quay người nhìn ra phía sau, cả trăm binh lính người cầm tên, người cầm nỏ đang chĩa thẳng về phía Long Kính.

Long Kính như hoá điên, rút kiếm băng băng lao tới chém Long Cân.

Có lẽ có nằm mơ Lê Long Kính cũng không bao giờ ngờ rằng có một ngày người anh em cùng mình dấy binh tranh quyền đoạt vị, chống lại Long Đĩnh cuối cùng quay lưng, bắt tay với kẻ thù, vây mình ngay tại thành phù Lan.

Long Kính lao tới, nhằm thẳng Long Cân mà chém.

Rất nhanh tên người hầu bên cạnh Long Cân tiến lên, một đao đã khiến Long Kính đầu lìa khỏi cổ.

Cả pháp trường im lặng, một tiếng thở cũng không nghe thấy, âm thanh duy nhất là tiếng đầu của Long Kính lăn lông lốc trên nền đất.

Máu bắn lên, vương vãi tứ bề.

Mắt Long Kính vẫn còn mở, trừng trừng nhìn lại.

Giữa lúc này một ngọn gió thổi tới, cuộn đám bụi đất bay mịt mù tứ tung.

Tôi vẫn quỳ phục như thế trên nền đất, tất cả diễn ra quá nhanh, nhanh đến mức tôi vẫn không dám chắc mình có thể sống tiếp hay không.

Tiếng vó ngựa mỗi lúc một gần.

Bóng người uy nghi rẽ màn đất bụi dày đặc mà tiến lại.

Tôi dụi mắt mấy bận, nhìn rõ người phía bên trên có đôi vai rộng như che khuất cả ánh mặt trời.

Anh ta cưỡi trên con ngựa đen tuyền, tóc búi cao, mặc giáp sắt.

Khung cảnh này, con ngựa này, dáng người này... sao quen đến vậy?

Ngự Bắc Vương Lê Long Cân quỳ xuống, hô:

"Bẩm chúa thượng, phản tặc đã chết.

Trại Phù Lan xin hàng!"

Toàn bộ binh lính trại Phù Lan đang có mặt tại đó cũng nhất loạt nghe chủ nhân, buông binh khí quỳ phục theo.

Người của Long Kính như rắn mất đầu, ngơ ngác nhìn nhau, hồi lâu sau cũng run rẩy quy hàng.

Long Đĩnh thong dong cưỡi ngựa đến trước mặt tôi, nheo nheo đôi mắt đen u ám.

Y vứt xuống đất một mẩu giấy, tôi nhìn kỹ lại thì chính là bức mật hàm tối qua.

Dù giữa trưa nhưng tôi vẫn có thể dễ dàng cảm nhận được sự lạnh lẽo u ám cùng khí chất át người của y, không biết phải thanh minh gì.

Long Đĩnh trầm giọng:

"Nếu không biết chữ lần sau đừng viết mật hàm."

Tôi cun cút tiến lại gần quỳ dưới chân Long Đĩnh, nhìn lại bức "mật hàm kia" bỗng chốc cảm thấy thực ra bị chặt đầu vẫn tốt hơn.

Mật hàm:

*Giải mã "mật hàm":

Cua đồng: Đam đang gặp nguy hiểm.

Dao: Sẽ bị chặt đầu.

Mặt trời: Vào sáng sớm mai.

Hình người cuối cùng: Quá rõ ràng rồi, đấy chính là cầu xin người tới giúp.

Trăm ngàn vạn lần tôi không dám tưởng tượng người nhận được bức thư này lại là Lê Long Đĩnh!

Chú thích:

(1) mũ đâu mâu: loại mũ trụ đi cùng với giáp phục.

Đại Việt sử ký toàn thư chép:

"Nhâm Dần, /Ứng Thiên/ năm thứ 9 /1002/, (Tống Hàm Bình năm thứ 5).

Mùa xuân, tháng 3...

Xuống chiếu làm mấy nghìn mũ đâu mâu, ban cho sáu quân.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Lúc Biết Xuyên Không Thì Đã Muộn!
Chương 9: Máu đổ!


Đại Việt Sử ký toàn thư chép:

"Ngự Bắc Vương cùng với Trung Quốc Vương chiếm trại Phù Lan làm phản.

Vua thân đi đánh...Đến trại Phù Lan, người trại đóng cửa trại cố thủ.

Đánh không hạ được, bèn vây chặt vài tháng, người trong trại hết lương ăn.

Ngự Bắc Vương tự biết kế cùng thế khuất, bèn bắt Trung Bắc Vương đem nộp.

Chém Trung Quốc Vương, tha tội cho Ngự Bắc Vương, rồi đem quân đánh Ngự Man Vương ở Phong Châu."

Trại Phù Lan bị hạ, Long Đĩnh ở lại năm ngày thu xếp việc quân, ổn định tình hình, lệnh cho binh lính tiếp tế lương thực, viện trợ thuốc thang.

Lê Long Cân dù là phản tặc song biết bỏ tối tìm sáng, quay đầu đúng lúc nên vẫn được Long Đĩnh tha mạng, giữ nguyên tước vị Ngự Bắc Vương.

Tuy nhiên theo khả năng quan sát kém cỏi của tôi mà nói, trông y chẳng có vẻ gì là vui vẻ cả.

Đương nhiên không vui nổi.

Ai mà vui khi vừa thua thảm bại lại phải tự tay giết người anh em đứng cùng chiến tuyến?

Nhưng xét cho cùng thì kết cục như vậy đã là quá tốt đẹp.

Ngay từ đầu Long Đĩnh đã có ý nhượng bộ, không công thành mà chỉ vây chặt mấy tháng ròng.

Mãi đến khi trong thành cạn lương, dịch bệnh hoành hành, dân chúng lầm than Long Đĩnh mới ra đòn chốt hạ.

Bằng không với một kẻ máu lạnh như Long Đĩnh thì đừng nói đến chuyện máu mủ ruột rà, phản tặc Long Cân nhẽ ra đã sớm bị y tiễn về trời.

Ôm cây đợi thỏ suốt mấy tháng.

Khi đã ra đòn thì chỉ ra một lần duy nhất, quét sạch tất thảy.

Không thể phủ nhận Lê Long Đĩnh kia là một kẻ thâm trầm khó đoán.

Điều duy nhất tôi căm ghét chính là y dùng tôi làm tốt thí, đày ải đến Phù Lan nhằm đánh lạc hướng Long Kính.

Tôi phải chịu tù đày khổ sai hơn nữa còn suýt chút nữa bị chém đầu.

Thù này không trả tôi dứt khoát không thèm nghĩ cách xuyên không về hiện đại!

***

Trước mắt Phù Lan vẫn tạm thời phong toả do bệnh dịch tuy nhiên nhờ có sự can thiệp kịp thời và hợp lý, đời sống của nhân dân đã đỡ cơ cực hơn rất nhiều.

Trong năm ngày tiếp theo lưu lại trại Phù Lan tôi tích cực hợp tác cùng các thầy thuốc địa phương nhằm tìm ra phương pháp hiệu quả nhất chữa trị ma chẩn.

Uy phong của chúa thượng khiến đám thương nhân trong thành không ai bảo ai tự động hạ giá thuốc.

Chẳng những thế mà giá lương thực và hàng loạt nhu yếu phẩm khác cũng mau chóng bình ổn.

À nói thế chứ cứ thử không có động thái gì mà xem, ai chứ Lê Long Đĩnh sẽ lôi cổ đám người đó ra thả cho giao long cắn một thảy!

Tình hình chiến sự cấp bách, Phù Lan vừa yên ổn Long Đĩnh đã tiếp tục mang quân tiến về Phong Châu(1).

Ngự Man Vương chiếm Phong Châu làm phản, trước mắt Lịch Vũ đã mang theo quân binh tới ứng chiến, đó cũng là lý do vì sao bức mật hàm của tôi gửi về lại rơi vào tay chúa thượng.

Vì là thư đồng của Đô chỉ huy sứ nên theo lẽ thường tôi được lệnh theo xa giá đi ra tiền tuyến.

Nghiêm túc mà nói nếu từ trại Phù Lan này tôi trốn đi, thoát khỏi cảnh nơm nớp lo sợ bị phát giác là con gái có lẽ sẽ đơn giản hơn rất nhiều.

Thế nhưng cân nhắc kỹ thiệt hơn, đang giữa lúc loạn lạc thế này một mình bôn ba thì chưa chắc đã toàn mạng sống tiếp.

Thôi thì tích cực ôm chân Lịch Vũ, dù gì chừng nào y còn sống tôi cũng tạm không phải lo đến chuyện cơm áo gạo tiền.

Vốn dĩ tôi còn tưởng Long Đĩnh sẽ dẫn theo một đoàn người ngựa tiến thẳng về Phong Châu nhưng hoá ra tôi đã nhầm.

Bên bờ sông Mã Phù chiến thuyền đậu kín đen, xem chừng sẽ di chuyển bằng đường thuỷ.

Binh lính sắp hàng ngay ngắn, Long Đĩnh đi thẳng lên thuyền, Bạch Vỹ nối gót theo sau.

Thấy vậy tôi lẽo đẽo chạy xen vào.

Vị chúa thượng kia đi một mạch không đoái hoài nên đám tuỳ tùng cũng mắt nhắm mắt mở cho qua.

Tôi trộm thở phào yên tâm.

Thiếu Lịch Vũ tôi như gà con lạc mẹ không biết phải làm sao, theo hầu ai, đứng ở vị trí nào mới phải.

Cả doanh trại rộng lớn chừng ấy suy cho cùng số người tôi quen biết chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay.

May thay Long ĐĨnh không đuổi cổ tôi khỏi thuyền, coi như cũng còn chút ân đức với một kẻ hèn mọn vừa từ cõi chết trở về.

Tới Đại Cồ Việt đã suốt mấy tháng ròng nhưng vì là kẻ chăn ngựa nên tôi ít có cơ hội mở mang đầu óc, biết những chuyện liên quan đến triều đình vua chúa.

Việc duy nhất tôi quan tâm là gần như lúc nào quanh Long Đĩnh cũng có một đoàn người cao to như hộ pháp, mặt mày dữ tợn, nhìn một cái là biết nếu tôi có ý đồ xấu xa gì thì dễ bị xẻ thịt làm chả.

Lần này lên thuyền cũng vậy.

Hỏi ra tôi mới biết đấy là quân tuỳ long làm nhiệm vụ canh gác, bảo vệ vua.

Ba chữ trên trán viết bằng chữ Hán là "Thiên Tử Quân"(2), nghĩa là quân lính của vua, cũng có thể gọi là thân quân.

Tôi là người đơn giản lại mù chữ, với tôi đấy phải là "Đồ khó ở", "Tránh xa ra" hoặc "Muốn chết không?" mới đúng!

Cảm ơn đã nhắc nhở, tôi cũng không có ý định tiếp cận Lê Long Đĩnh!

***

Bấy giờ đường sá của Đại Cồ Việt còn chưa phát triển.

Quãng đường bộ từ Phù Lan đến Phong Châu nghe đâu phải đi mất bốn, năm ngày mới tới nơi.

Hồi Đại Hành hoàng đế vẫn còn chưa băng thệ đã liên tục cho đào sông, sửa sang đường thuỷ nối liền từ Hoa Lư đi đến tất cả các châu lân cận, kể cả cực Nam của đất nước tức Hoan Châu(4).

Cũng nhờ đó mà cuộc chiến tranh Việt - Tống lần thứ nhất lẫn việc gìn giữ bờ cõi biên cương trở nên thuận lợi hơn rất nhiều bởi quân đội có thể cơ động khá nhanh trong những tình huống khẩn cấp.

Không chỉ vậy việc xây dựng những tuyến đường thuỷ huyết mạch nối liền các châu Đại Cồ Việt cũng được xem như mô hình xây dựng kinh tế kết hợp củng cố quốc phòng đầu tiên trong lịch sử dân tộc.

Đừng hỏi tại sao tôi biết.

Đam tôi cho dù ngu ngốc nhưng cũng tốt nghiệp đại học kinh tế mà ra.

Không có cơ sở hạ tầng thì đào đâu giao thương phát triển chứ!

Tảng sáng chúng tôi đã tới Phong Châu.

Người cai trị cả châu này là Ngự Man Vương Lê Long Đinh, anh trai của Long Đĩnh.

Đúng là sinh ra trong gia đình đế vương mấy khi được yên bình.

Anh em là thế nhưng vì hoàng vị cũng lũ lượt tranh giành nhau đến đầu rơi máu chảy.

Xa giá về đến doanh trại thì có vẻ như vừa có một cuộc hỗn chiến xảy ra.

Khắp nơi mịt mù khói lửa.

Tiếng kêu gào, tiếng rên rỉ, những tiếng hối nhau mau mau chạy chữa của đám quân y.

Nhìn đâu cũng chỉ thấy người bị thương nằm la liệt.

Người này bị tên găm vào, người kia bị đao chém, lại có những kẻ đứt rời chân tay, lộ ra những đoạn xương trăng trắng.

Thêm một đám người nằm thoi thóp, đầu ngoẹo về một bên chẳng rõ còn sống hay đã chết.

Hai mắt tôi mờ nhoè, lồng ngực quặn thắt như thể bị bóp nghẹt.

Cả cuộc đời trước tôi sống trong hòa bình độc lập, làm sao tôi biết được sự tàn khốc của chiến tranh?

Tôi thất thểu đi trong trại, mắt nhìn Đông ngó Tây mà trong lòng không khỏi lo lắng.

Lỡ có ai đó tôi quen trong số binh lính này thì sao?

Lỡ có chuyện gì chẳng lành đã xảy ra?

Lỡ Lịch Vũ cũng đã bị thương?

Nghĩ đến đây tôi bất giác run lên, hai tay nắm chặt lại.

Lúc này chợt có binh lính nọ hớt hải chạy qua, tôi giữ y:

"Có chuyện gì vậy?"

"Quân ta bị mai phục."

"Được rồi, Đô chỉ huy sứ, đô chỉ huy sứ ở đâu?"

- Tôi cố tỏ vẻ bình tĩnh nhất có thể.

Người kia nuốt nước bọt, tất tả:

"Trong trại lớn phía Đông."

Còn chẳng đợi tôi hỏi thêm anh ta đã vội vã rời đi.

Xốc lại tinh thần cho thật tỉnh táo, tôi mau mau chạy đi tìm Lịch Vũ.

Lều lớn phía Đông đã ở ngay trước mặt, cửa lều chỉ khép hờ.

Trực giác của tôi mách bảo có điều gì chẳng lành.

Hai chân như bị chôn chặt xuống đất, cố gắng lắm mới có thể lết vào lều.

Lịch Vũ, lỡ Lịch Vũ có bề gì...

Đập vào mắt tôi là một vị quân y đang quay lưng lại, lúi húi bắt mạch.

Quân y?

Sao quân y lại ở đây?

Tôi vồn vã chạy tới.

Quả nhiên Lịch Vũ đang nằm, mắt nhắm hờ.

"Đô chỉ huy sứ, người sao vậy?"

Thấy tôi về Lịch Vũ có vẻ bất ngờ, tay vừa chẩn mạch xong vô thức giấu xuống phía dưới bàn, quay sang nhẹ nhàng hỏi:

"Đã về rồi đấy à?"

Lịch Vũ muốn đánh lạc hướng tôi đây mà.

Không dễ thế đâu!

"Đô chỉ huy sứ bị thương ở đâu ạ?"

- Còn chẳng buồn đợi y trả lời tôi đã đi tới bên cạnh, đảo một vòng nhìn từ dưới lên trên rồi từ trên xuống dưới.

Thân là thư đồng mà có mỗi một chủ nhân còn lo không tốt tôi còn làm ăn gì nữa?

Xác nhận Lịch Vũ không có vết thương nào tôi liền thở phào.

Nhưng không bị thương sao lại giấu tôi làm gì?

Vậy thì càng đáng nghi!

Tôi quay sang hỏi vị quân y:

"Dạ bẩm, Đô chỉ huy sứ nhà tôi có sao không ạ?"

Vị quân y kia vừa cất đồ vừa bảo:

"Đô chỉ huy sứ gần đây thường xuyên ăn nghẹn, ngươi là thư đồng mà tắc trách thế ư?"

Bị nói trúng tim đen tôi chỉ biết nín thít.

Đúng là gần đây tôi một lúc hai việc thành ra có chút lơ là, chăm sóc chủ nhân không được chu đáo.

Vị quân y kia tiếp lời:

"Đô chỉ huy sứ thường xuyên ăn nghẹn là do hao tâm tổn tứ dẫn đến suy nhược.

Lần trước tiểu chức đã dùng chỉ thực, hậu phác, binh lang để làm khoan khoái trung tiêu và các mạch nhưng chưa có tiến triển nhiều.

Lần này tiểu chức sẽ kê đinh hương quế, phụ tử và bài tử quân, lục quân để bổ vị.

Nhất định không để chút bệnh nhỏ ảnh hưởng đến trận chiến này.

Duy chỉ có một điều..."

"Nói đi!"

- Thấy vị quân y ngập ngừng, Lịch Vũ nói như ra lệnh.

Ông ta lấm lét hết nhìn Lịch Vũ lại nhìn tôi, cuối cùng nhỏ giọng hỏi:

"Người có thường xuyên có đờm không?"

"Không!

Chẩn bệnh có đờm hay không là chuyện thường, sao ngươi phải ngập ngừng?"

"Ông quá đáng lắm rồi!"

- Tôi xắn tay áo, đứng chống nạnh chỉ hận không lao vào phân rõ trắng đen với tên quân y kia - "Ông ta hỏi thế vì nếu căn nguyên của bệnh do tửu sắc mà thành thì ắt sinh nhiều đờm."

- Tôi hùng hùng hổ hổ - "Ông nghĩ Đô chỉ huy sứ nhà tôi là ai mà dám hỏi câu đấy?"

Đương nhiên tôi rất bất bình!

Ai thì không rõ chứ mấy tháng hầu hạ Lịch Vũ đừng có nói đến "sắc", cho dù là một giọt rượu y cũng chưa từng đụng vào.

Trọng trách chinh chiến nơi tiền tuyến, bảo vệ chúa thượng dù một khắc Lịch Vũ cũng chưa từng lơ là.

Hơn nữa tên quân y già kia sao lại nói chuyện đầy ẩn ý như thế?

Hà cớ gì nhìn tôi rồi hỏi về vấn đề tửu sắc?

Á à cái lão già này, không biết đã nghe được lời ong tiếng ve ở nơi nào.

Nói xấu tôi thì thôi đi, cả gan nói xấu Lịch Vũ thì chắc chắn là chán cơm thèm đất rồi!

"Đô chỉ huy sứ, xin cho Đam chẩn mạch."

Tin người chi bằng tin mình.

Tạm bỏ qua những vấn đề liên quan đến đạo đức của Lịch Vũ, duy chỉ xem xét phương thuốc vị quân y kia kê tôi đã thấy rất có vấn đề.

"Một tên nô bộc chăn ngựa lại đòi chữa bệnh cho Đô chỉ huy sứ?

Nực cười!"

- Ông ta nhếch môi, giọng nói bỉ bai châm biếm.

Tôi khăng khăng đứng bên cạnh, vẫn cúi đầu vô cùng lễ độ chờ đợi câu trả lời từ Lịch Vũ.

Có thể do tôi quá ngang bướng nhưng cũng có thể không muốn để cho thư đồng của mình mất mặt, Lịch Vũ gật đầu ra chiều đồng ý.

Tôi cẩn trọng chẩn mạch hồi lâu, cố gắng dùng chút kiến thức ít ỏi của mình, nói đoạn bẩm với Chỉ huy sứ:

"Dạ thưa, chứng ăn nghẹn của người là do hư tổn lâu ngày thành."

"Chẳng phải ta cũng nói thế sao?"

- Ông già quân y cười cợt - "Miệng thì như chim bách thanh mà hoá ra chỉ là con chuột nhắt."

Tôi ngẩng cao đầu, kiên định:

"Nếu không bổ thuỷ sinh tân, bổ huyết hoá đờm từ khi mới bị bệnh mà chỉ chăm chăm dùng những vị thuốc kia Đam e rằng huyết dịch ngày càng khô, cuống dạ dày ngày càng tóp lại, thận thuỷ không lên được, dương hoả càng mạnh mà sinh chứng quan cách không uống được thứ gì vào.

Nay Đam chẩn mạch thấy bệnh của người chỉ mới chớm, trước mắt không có gì đáng ngại.

Tuy nhiên nếu bệnh để lâu, không giữ gìn kiêng khem thì khi trở nặng không cách nào chữa được nữa."

"Đừng có mà hồ ngôn loạn ngữ!"

- Vị quân y kia tím mặt quát lớn.

"Vậy cho hỏi đại nhân đã chữa cho Đô chỉ huy sứ nhà tôi bao lâu rồi?"

- Tôi hỏi vặn.

"Gần một tháng."

"Vậy đã có tiến triển gì chưa hay bệnh ngày càng nặng thêm?"

Nói đến đây người kia im bặt cúi đầu.

Tôi biết tình thế này có phần khó xử.

Đường đường là quân y của triều đình lại để cho một tên chăn ngựa bắt bẻ thì khó lòng chấp nhận được.

Biết là vậy nhưng nếu cứ để ông ta chữa theo cách đấy tôi chỉ sợ chỉ ít lâu nữa người cường tráng như Lịch Vũ cũng trở nên suy kiệt mà mất mạng.

Tôi hạ giọng:

"Đam may mắn nhờ ơn đức cha mẹ truyền dạy nên biết một bài thuốc hay.

Nếu ngài không chê xin xem qua."

Lão quân y kia có vẻ vẫn còn giạn dỗi.

Hai hàng ria mép nhếch lên, nhìn tôi một cái rồi "hừ" mạnh, quay đi.

Dù là vậy nhưng tôi đã hạ quyết tâm giúp Lịch Vũ trị bệnh nên đành lần nữa xuống nước:

"Tôi không biết chữ.

Bài thuốc này là thuốc gia truyền.

Người hãy ghi lại và gia giảm số lượng phù hợp với thể trạng Đô chỉ huy sứ giúp tôi."

Vị quân y kia biết nếu lúc này trước mặt Đô chỉ huy sứ mà còn so đo với tôi thì cũng chẳng hay hớm gì nên mở hộp lấy giấy bút ra, giúp tôi ghi chép.

***

Việc quân cấp bách, Lịch Vũ không lúc nào được ngơi nghỉ.

Kể từ khi vị quân y kia rời khỏi trại Lịch Vũ cho vời thêm mấy người nữa vào bàn việc, tới khoảng giờ Tỵ thì Long Đĩnh lại truyền sang trại nghị chính.

Tôi ở trong lều loay hoay dọn dẹp từ trên xuống dưới một lượt rồi tự mình xuống bếp nấu cháo.

Việc ăn uống ngủ nghỉ đối với người bệnh mà nói cũng quan trọng chẳng kém gì thuốc thang.

Lịch Vũ hao tâm tổn sức lâu ngày nơi sa trường, cơ thể khó tránh hư nhược mệt mỏi.

Thân là thư đồng những việc có thể làm tốt tôi nhất định phải tận tâm dốc sức.

Hai tay bưng bát cháo gà nóng, tôi nhón chân đi thật nhẹ nhàng đến bên cạnh.

Lúc này Lịch Vũ vẫn đăm đang chiêu nghiên cứu, trên bàn là một tấm bản đồ và cả mấy lá cờ đủ màu.

Tôi biết y đang nghiền ngẫm trận đồ(5) liền nhỏ giọng:

"Đô chỉ huy sứ, tới giờ dùng bữa rồi."

Lịch Vũ không ngẩng lên, chỉ gật đầu.

"Đam nấu loãng một chút cho người dễ nuốt.

Nếu chốc nữa đói người cứ dọi Đam."

Lịch Vũ đặt lá cờ nhỏ đang cầm trên tay xuống, quay sang hỏi tôi:

"Trại Phù Lan không làm khó ngươi chứ?"

Tôi ngây người.

Câu nói kia khiến người nghe cảm thấy vừa oan ức vừa buồn cười.

Phù Lan không làm khó, họ chỉ định chặt đầu tôi thôi!

"Không hề!

Đam là sứ giả mà, sao có thể làm khó Đam được?"

- Tôi nói dối không chớp mắt, bày ra một bộ dạng tươi vui phơi phới.

Tình hình đang cấp bách đến mức này tôi còn khóc lóc thảm thương cho ai xem?

Lịch Vũ đón lấy bát cháo từ tay tôi, tiếp lời:

"Ngươi biết y thuật nhưng lại là một kẻ mù chữ, quả thực khó tin."

Đúng là tôi không mù chữ, nhưng là không mù chữ Latin.

Dạng chữ Hán vuông chằn chặn như thế này tôi chưa từng học qua.

Nếu biết có ngày lưu lạc tới đây thì năm đấy chuyên ngành đăng ký ở Ngoại Thương của tôi nhất định sẽ là "Tiếng Trung thương mại".

Lịch Vũ nghiêm túc suy nghĩ, nói đoạn bảo:

"Chiến sự căng thẳng, người bị thương vô số, hiện tại doanh trại lại đang thiếu quân y.

Dù ý chỉ phạt ngươi vẫn còn nhưng công lao từ trại Phù Lan vừa rồi không nhỏ, chốc nữa ta sẽ xin chúa thượng cho ngươi trở thành học trò tại Thái y ty(6).

Một ca khó rồi đây - tôi nghĩ bụng.

Lịch Vũ có ý tốt xin cho tôi được vào làm Thái y tư thì cũng coi như bước một chân ra khỏi kiếp người hầu.

Nhưng tính ra làm một kẻ chăn ngựa phiêu diêu tự tại, không màng thế sự vui vui vẻ vẻ cũng có cái hay của nó.

"Trông cậy hết vào người!"

- Tôi dứt khoát hô to, rõ ràng, quỳ rạp xuống lạy tạ.

Có vai có vế, ít ra làm một người hầu cũng là người hầu cao cấp thì có ai mà không muốn chứ?

Lịch Vũ gật đầu ra chiều hài lòng.

Lúc tôi đứng lên lui đi bỗng thấy mặt y biến sắc.

"Đam... ngươi... bị thương à?"

Tôi tròn mắt.

Cái gì cơ?

Bị dễ thương thì tôi có chứ bị thương thì hoàn toàn không!

Tôi hoàn toàn khoẻ mạnh nhanh nhẹn thế này cơ mà?

Tôi nhìn trên ngó dưới, nhìn trước ngó sau.

Thôi xong rồi, ở đâu ra một mảng máu đỏ thẫm thế này?

Một loạt số liệu nhanh chóng tự cộng, trừ, nhân, chia, luỹ thừa, bình phương, đạo hàm, logarit trong não rồi kết quả trả về làm tôi mất ý thức lâm sàng.

Hai từ hiện đi hiện lại, liên tục phóng to dần lên đến cực đại rồi nhấp nháy trong não:

"Đến tháng!"

"Đến tháng!"

"Đến tháng!"

"Tôi đến tháng trước mặt một người đàn ông khi đang giả trai!"

Giờ tôi phải làm thế nào?

Phải làm thế nào đây?

Tôi đứng như trời trồng, hai chân tựa hoá đá cắm sâu xuống nền đất.

Thấy tôi không trả lời mà chỉ run cầm cập, Lịch Vũ nhỏ giọng hỏi lại:

"Đam, ngươi bị thương à?"

Thực lòng tôi thấy mình đã chết rồi.

Tiếng gọi kia hẳn là tiếng nơi âm tào địa phủ, luỹ quỷ tay sai đang hiện lên bắt bẻ những việc xấu tôi từng làm.

Tôi nuốt nước bọt "ực" một tiếng rõ to đến mức cả hai tai nghe rõ, hít vào một hơi sâu rồi quỳ xuống, bắt đầu lăn ra đất mà khóc:

"Bẩm Đô chỉ huy sứ, Đam không bị thương, Đam... bị trĩ ạ."

Kết thúc câu nói mà bản thân tôi cũng không ngờ đến, nét bàng hoàng lộ rõ trên vẻ mặt điển trai của Lịch Vũ.

Bỗng nhiên trong trại chỉ còn lại sự im lặng, hai đôi mắt nhìn nhau chằm chằm, không ai biết nên nói gì.

Hồi lâu sau vị Chỉ huy sứ kia mới ngượng ngùng, quyết định phá tan bầu không khí bằng một tiếng ho khan:

"Ngươi... vất vả rồi."

Tôi xin lui, rời khỏi lều trong trạng thái tạm thời mất ý thức.

Một là không nói dối, hai là phải nói dối rất nhiều lần.

Tôi đi thật khép nép, cố không để ai phát hiện ra vết máu ở vị trí "nhạy cảm"của mình.

Xem ra giấy không gói được lửa, đợi rời được khỏi chốn loạn lạc này tôi sẽ nhanh chóng tìm cách quay về hoặc chí ít là thoát khỏi doanh trại, kiếm một công việc khác nuôi thân.

Cứ cái đà sống ở đây chẳng mấy chốc cái đầu của tôi sẽ chẳng còn trên cổ mất.

***

Một ngàn năm về trước rốt cục phụ nữ đã sống thế nào?

Sống thế nào cho qua những ngày "dâu rụng" ẩm ương này?

Có thể do tôi đang ở nơi sa trường nên thiếu thốn, nhưng đoán chừng thời bình cũng chẳng khá khẩm gì hơn.

So với một người từ hiện đại đến như tôi mà nói thì bất cập muôn phần.

Giả việc đánh răng, đa số mọi người đều súc miệng và nhai trầu.

"Hạt cau và lá trầu là chất sát trùng, lại thêm vôi, khiến nên miếng trầu nhai làm cho răng sạch thêm và cũng đồng thời tẩy uế cả miệng."(7) Thế thôi xem như đã là tiên tiến lắm so với các nước bạn láng giềng về khoản vệ sinh sạch sẽ.

Còn vấn đề nguyệt tín(8) thì để xem, tôi lại phải đi chôm một ít đồ từ chỗ quân y mới được!

Chú thích:

(1) Phong Châu: khu vực từ thành phố Việt Trì ngày nay cho tới khu vực Đền Hùng thuộc huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.

(2) Thiên Tử Quân: Lê Đại Hành, năm Thiên Phúc thứ 7 (968), đặt túc vệ, gọi là Thân quân, trên trán đều thích ba chữ "Thiên Tử Quân". (Theo Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí - Binh Chế Chí)

(3) băng thệ: (崩逝) vua chết.

(4) Hoan Châu: Nghệ An ngày nay.

(5) Trận đồ: Bức vẽ sẵn cách sắp xếp quân lính để đánh giặc.

(6) Thái y ty: Thời Tống trong Thái thường Tự có Thái y ty giữ việc giáo dục học sinh. (Theo Từ Điển Chức Quan Việt Nam)

(7) Trích Đất Quê Lề Thói - Phong Tục Việt Nam (Nhất Thanh).

(8) nguyệt tín: kinh nguyệt.

Kinh nguyệt đến không sai hẹn nên gọi là "nguyệt tín" hoặc "tín thuỷ".
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Lúc Biết Xuyên Không Thì Đã Muộn!
Chương 10: Khóc một dòng sông


Đại Cồ Việt vừa lập quốc chưa được bao lâu, các viện, chức quan chủ yếu được chiếu theo phương Bắc.

Thái Y Viện thuộc Thái Thường Tự(3) đã là thể chế từ thời nhà Hán.

Sang đến nhà Tống như hiện tại thì mới phân cấp thêm Thái Y Ty.

Thái Y Ty giữ việc dạy dỗ đám y sinh, cũng coi như là nơi bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.

Nếu nói như vậy thì dù Trung Hoa là một quốc gia phong kiến có thể chế chặt chẽ, suốt hơn một ngàn năm Thái Y Viện cũng chỉ là một cơ quan trực thuộc.

Đâu chừng sang tới thời nhà Nguyên ở bên đấy, và thời Hậu Lê ở nước ta thì Thái Y Viện mới tách ra làm một cơ quan độc lập.

Hiện tại đương lúc chiến sự, Lê Long Đĩnh lại đích thân cầm quân chinh chiến liên miên, về căn bản đám người Thái Y Viện nếu cứ ở Hoa Lư thì cũng chẳng có tác dụng gì.

Chính vì lẽ đó số Thái y đi theo tới Phù Lan không ít, trong đó có cả các y sinh.

Học trò của Thái y ty có hai loại: một là con nhà quyền quý, học ở đây coi như bước đệm để bước chân vào Thái y viện sau này; hai là học trò nghèo có năng lực, vừa muốn chữa bệnh cứu người lại mong đổi kiếp cơ hàn.

Có một điều ai ai cũng rõ, y sinh tới chiến trường hung hiểm mà bán mạng chỉ có một loại duy nhất: học trò nghèo!

Kẻ thức thời mới là trang tuấn kiệt.

Nếu còn không nhân lúc lửa binh mà lập công thì đợi thái bình thịnh trị chẳng biết đến bao giờ mới công thành danh toại.

Còn tôi, tôi thuộc loại thứ ba.

"Sếp" tôi lo tất!

Nhờ ơn mưa móc của vị Đô chỉ huy sứ kia mà tôi - một kẻ khố rách áo ôm nghiễm nhiên trở thành học trò Thái Y Ty.

Chẳng những vậy Giáo thụ(4) của tôi là Trần Uy.

Trần Uy ban đầu giữ chức Thừa đứng đầu Thái Y Ty, là người rèn giũa toàn bộ y sinh cho cả Thái Thường Tự.

Trải hai đời vua, vốn đã lui về ở ẩn nay lại ra cứu người giúp đời.

Trong doanh trại không ai không kính nể.

Kẻ thân thiết thì gọi "Giáo thụ", người xa lạ gặp vẫn phải cúi đầu chào một tiếng "Thừa".

Lịch Vũ đã đánh tiếng từ trước, hôm sau y biên một lá thư sai tôi cầm sang chào Giáo thụ.

Trần Uy là người hiền lành ít nói, cũng chỉ hỏi qua loa vài câu, dặn dò đôi việc rồi cho tôi về.

Nửa đêm canh hai tôi đang ngủ say vắt lưỡi thì nghe tiếng chân người rầm rập bên ngoài.

Vốn còn định mặc kệ cứ thế ngủ tiếp, nghĩ thế nào lại nhớ tới đêm ở chuồng ngựa Phù Lan nên tôi hốt hoảng mở choàng mắt, chạy nhanh ra phía bên ngoài.

Trên thao trường ngàn quân lính mặc áo giáp mây(5), đầu đội mũ đâu mâu, người cầm nỏ kẻ cầm câu liêm, mũi trường, đinh ba đứng chật hàng kín lối.

Tôi hít sâu vào một hơi, nép sau góc lều mà trông lại.

Phía bên trên Long Đĩnh một thân giáp sắt, tay cầm thương, hông giắt thêm một cây kiếm.

Ánh sáng từ đuốc hắt lại phản chiếu lên bộ giáp y mặc một màu bàng bạc, tựa như hào quang trùm lên tất thảy.

Tôi dụi đôi mắt kèm nhèm của mình mấy bận, gắng tìm kiếm chủ nhân.

Lịch Vũ đứng phía sau Long Đĩnh, mắt y chạm ánh mắt tôi, Lịch Vũ chỉ gật đầu nhẹ.

Tôi hiểu ý, hoá ra tối nay họ sẽ công thành Phong Châu.

Mục tiêu đã xác định, Long Đĩnh vừa đến Phong Châu đã lập tức công thành, thậm chí không dành thời gian để nghỉ ngơi hay sắp xếp.

Hành động gấp gáp như vậy chỉ e ngay từ đầu đã lên sách lược cùng với Lịch Vũ.

Kẻ khác dù muốn trở tay e là cũng không kịp.

Long Đĩnh thúc hài vào hông ngựa, chầm chậm đi lên phía trước.

Y nhìn toàn quân, đôi mắt đen sáng nhưng ánh lên sự lạnh lẽo và vô tình đến gai người.

Long Đĩnh hô to lời hiệu triệu binh sĩ rồi cuối cùng giương cao cây thương trong tay, thét một tiếng "Giết!".

Liền đó cả trại như vỡ ra trong hào khí rừng rực.

Một kỳ binh(6) hô vang trời, cầm cờ xông lên.

Cả ngàn quân cứ thế rầm rập tiến về thành Phong Châu.

***

Tôi quay trở về lều của mình sửa soạn thật gọn gàng rồi đi tới chỗ quân y sẵn sàng phụ giúp.

Tôi hiểu rất rõ mỗi lần xuất quân có thể là lần cuối cùng tôi nhìn thấy những binh lính, tướng sĩ hoặc ngay cả Lịch Vũ.

Là một người con đất Việt thì đương nhiên, tôi phải có trách nhiệm với tổ quốc của mình!

Giữa giờ Dần,

Tôi vén rèm ra trông.

Những ánh đuốc lập lờ vượt rừng mà đi mang theo binh lính bị thương trở về từ nơi tiền tuyến.

Sự im ắng trong doanh trại bị phá vỡ bởi những tiếng rên rỉ, tiếng la thất thanh.

Cáng nọ nối tiếp cáng kia, máu thấm đặc quánh trên nền đất.

Bên trong lều Trần Uy dùng rượu trắng rửa sạch tay.

Tôi đứng bên cạnh chăm chú quan sát rồi làm theo, một giây cũng không dám lơ là.

Lều lớn của quân doanh được trưng dụng làm nơi trị thương, dễ phải gấp mười, hai mươi lần các lều thường.

Xung quanh lại thêm mấy chục y sinh, quân y tất bật chạy đôn chạy đáo.

Tôi là y sinh mới đến, chân tay lóng ngóng vụng về.

Chưa kể trước nay tôi chủ yếu chỉ gặp người ốm chứ không phải người bị thương nên khó tránh sợ hãi.

Nhưng tôi hiểu đây không phải lúc.

Ngày mai, ngày kia, cuối tháng này... chọn một ngày khác có thời gian lúc ấy tôi hãy sợ cũng chưa muộn!

Người đầu tiên bị thương được chuyển vào.

Trần Uy chỉ định đặt anh ta lên vị trí trong cùng.

Binh lính có một vết thương sâu ở cẳng tay, máu đỏ tươi phun ra thành tia.

Chỉ nhìn thôi cũng biết vết thương này có tổn thương động mạch.

Nếu không sơ cứu kịp thời và đúng phương pháp chỉ e sẽ đe doạ đến tính mạng.

Trần Uy kiểm tra vết thương cẩn thận, nói đoạn bảo tôi:

"Gấp chi tối đa.

Gấp cẳng tay vào cánh tay.

Gãy xương thì không được dùng cách này."

Tôi vô cùng nghiêm túc nghe theo, gật đầu liên tục như con lật đật ra chiều đã nắm được.

Trang sách đầu tiên của "giáo trình tưởng tượng" tự động ghi chú và bổ sung thêm: "Gấp cẳng tay vào cánh tay với tổn thương động mạch ở cẳng tay, bàn tay.

Khi gấp chi mạnh, động mạch cũng bị gấp và đè ép bởi các khối cơ bao quanh làm ngưng chảy máu."

Ở thời điểm hiện tại vẫn chưa xuất hiện giải phẫu học.

Dù vậy kiến thức lẫn kinh nghiệm của người dạn dày như Trần Uy quả là không thể đùa được.

Trong lúc tôi vẫn đang cố ghi nhớ, Trần Uy lấy một dây vải xoắn chặt vào đầu trên cánh tay sát nếp gấp khuỷu, cắt đứt hoàn toàn sự lưu thông máu từ trên xuống và ngược lại.

Tới đây Trần Uy quay sang bảo tôi:

"Không được để quá hai khắc, chi thể sẽ bị hoại tử."

Liền đó Trần Uy luôn tay ấn động mạch phía trên vết thương rồi lót vải cách vị trí phía trên ba đến năm phân, đặt dây vải và xoắn dần.

Ánh mắt của người không hề dao động, môi hơi mím lại rồi mở ra:

"Quan sát mạch máu phía dưới vết thương.

Mạch ngừng đập, máu ngừng chảy là được."

Đến khâu cuối cùng băng ép vết thương, Giáo thụ lùi lại để nhường chỗ cho tôi.

Việc này không có gì quá khó khăn, chỉ cần khéo léo và cẩn thận một chút là được.

Trần Uy quan sát tôi làm rồi gật đầu tỏ ý hài lòng.

Việc băng ép vừa xong thì người bị thương tiếp theo cũng vừa vặn được chuyển đến.

Người này bị gãy xương đùi, bàn chân đổ hẳn ra phía bên ngoài.

Từ vết thương lòi ra đầu xương gãy lẫn váng mỡ bê bết trong đống máu tươi.

Tôi tiến lại gần, nhìn rõ một chút thì nhận ra chính là kỳ binh cầm cờ chạy đầu tiên.

Không rõ vì quá đau đớn hay vì mất máu, mặt kỳ binh kia tái nhợt.

Anh ta cắn chặt răng, thái dương hằn lên mạch máu giần giật.

Dù vậy nhưng cũng không thể ngăn được tiếng rên rỉ bật ra từ kẽ răng.

Không có thuốc tê, không có thuốc gây mê, đau đớn như vậy còn khó chịu hơn cả cái chết.

Trần Uy bên cạnh thấy tôi đứng như trời trồng, xẵng giọng:

"Nếu kinh sợ hãy mau rời khỏi đây!"

Tôi lấy lại tinh thần, ra sức lắc đầu:

"Học trò không sợ!"

Tôi sợ chứ, rất sợ là đằng khác nhưng điều làm tôi sợ hơn chính là vì bản thân mình mà để mọi chuyện lỡ dở, vì tôi mà có người chậm trễ việc chữa chạy trong khoảnh khắc sinh tử.

Lúc này bên cạnh Trần Uy xuất hiện thêm một người mặc đồ của y sinh.

Anh ta dặn tôi phải giữ thật chặt người bị thương, trong lúc đó Trần Uy sẽ bắt đầu cố định xương đùi bị gãy kia bằng nẹp.

Nẹp đầu tiên phía trong từ nếp bẹn đến quá gót.

Binh lính bị thương gào lên một tiếng, giãy giụa không ngừng.

Sức lực của tôi không đủ nên lính chuyển thương giường bên cạnh chạy sang phụ giúp.

Nẹp thứ hai phía ngoài, từ hố nách đến quá gót chân.

Binh lính vì quá đau mà dần dần lịm đi.

Nẹp cuối cùng từ góc dưới xương bả vai đến quá gót chân rồi cố định bằng năm nút băng: bàn chân, gối, giữa đùi, hông, ngực.

Kỳ binh kia đã ngất hẳn.

Vết thương đã được sơ cứu xong song hơi thở của kỳ binh chỉ còn thoi thóp.

Tôi biết rằng nếu vượt qua mức độ đau đớn của con người có thể chịu đựng thì người bị thương có thể hôn mê, thập chí tử vong.

Dù hơi thở rất yếu nhưng xem ra cũng còn may mắn lắm.

Quân y chỉ có thể tận tâm chữa trị, những việc còn lại đành phó mặc cho trời.

Cứ thế cáng nọ nối tiếp cáng kia, binh lính chuyển thương vào ra không nghỉ.

Có những lúc đầu tôi như bị vỡ ra bởi tiếng kêu la thảm thiết, tiếng gọi trợ giúp, tiếng sai bảo của Trần Uy.

Đôi mắt vốn dĩ tinh tường nhìn lâu vào máu khiến xung quanh tôi đất trời đảo điên, nhìn đâu cũng chỉ thấy những mảng xanh lá đến nhưng nhức con ngươi(7).

Sang đầu giờ Thìn lính bị thương chuyển về đã vãn.

Bấy giờ tôi mới lảo đảo đi ra phía bên ngoài, ngồi phịch xuống tựa vào gốc cây lấy sức.

Cả một đêm thức trắng, bộ đồ đen trên người loang lổ những vệt máu khô cong, bết chặt vào trên ống tay và cả vùng trước ngực.

Một binh lính đi ngang qua tiện tay ném cho tôi ống tre đựng nước, tôi chẳng buồn hỏi mà chỉ ngửa cổ tu ừng ực.

Vừa lúc này đằng xa có tiếng trống truyền tới, kế đó khắp trại vang dồn tiếng thanh la, tiếng chiêng, tiếng trống đáp lại.

Tôi hoảng hốt nghển cổ trông ra, trong lòng chỉ có một nỗi sợ duy nhất là nơi đây bị tập kích.

Trái hẳn với tôi, binh lính bên cạnh hồ hởi nhảy cẫng lên, reo hò:

"Tốt quá!

Quân ta thắng rồi!

Thành Phong Châu bị hạ rồi!"

***

Hạ được thành Phong Châu là một sự kiện đáng để ăn mừng, không chỉ với riêng Long Đĩnh mà còn với cả con dân Đại Cồ Việt nói chung.

Sau khi vua Lê Đại Hành băng thệ, các hoàng tử tranh ngôi, loạn thân vương suốt tám tháng ròng.

Tình hình yên ổn, Long Đĩnh vừa nắm được hoàng vị thì lập tức Ngự Bắc Vương, Trung Quốc Vương, Ngự Man Vương thi nhau làm phản, Đại Cồ Việt lại chìm trong khói lửa binh đao.

Nay phản tặc đại bại, trước mắt xem như nội chiến đã bị dẹp yên(8).

Ngay trong ngày hôm đó toàn bộ binh lính di chuyển vào thành.

Ròng rã chinh chiến suốt mấy tháng lại phải đánh liền hai trận, Long Đĩnh lệnh cho binh lính thả trại, ở lại Phong Châu mười ngày vừa là để ổn định tình hình mà cũng là để cho mọi người có thời gian nghỉ ngơi sau đó mới quay trở về kinh thành.

Việc của quân y cùng đám y sinh chúng tôi cũng chỉ bận rộn cỡ dăm bảy ngày nữa là đâu vào đấy.

Đối với binh lính bị thương trong trận chiến sẽ được cấp cho tín phiếu, ở lại Phong Châu để điều trị.

Nếu có người thân quen trong doanh trại cũng được lưu lại một, hai người để tiện bề chăm sóc, giúp đỡ cho đến khi người bệnh khỏi hẳn sẽ đưa về dinh.

Phàm binh lính hi sinh trong trận chiến đều được Lịch Vũ hạ lệnh mai táng cẩn thận, lại phát đồ ăn theo quy chế để làm lễ tế.

Hễ ai trái lệnh lập tức bị xử theo tội cố khí(9)(10).

Từ trên xuống dưới toàn doanh trại răm rắp nghe theo.

Đợi đến khi chừng đấy việc quan trọng xong xuôi thì vị chúa thượng ở trên cuối cùng cũng tỏ một chút thành ý.

Y cho mở tiệc khao quân, ấn định tổ chức tiệc vào hai ngày nữa.

Chỉ vừa nghe tin tức được hội họp chè chén tôi bỗng thấy yêu đời hẳn, cả ngày trưng ra điệu bộ tiểu nhân đắc chí.

Không vui sao được, vất vả từ lúc xuyên không đến giờ vẫn còn sống mà thưởng thức đồ ăn ngon cũng coi như khổ tận cam lai rồi!

Tiệc khao quân sẽ mổ mười trâu, trăm con gà, đồ trăm đấu gạo, thưởng hai trăm vò rượu nếp, một trăm vò rượu nếp cẩm, mười vò rượu hoa cau.

Tôi lờ mờ nhận ra có điều gì đó kỳ lạ ở đây.

Từ trên xuống dưới doanh trại số người phải tính bằng đơn vị nghìn nhưng sao lại chỉ có mười vò rượu hoa cau thế kia?

Khỏi phải nói cũng biết rượu hoa cau kia nhất định là hàng hiếm, mà hiếm thì khả năng ngon sẽ rất cao.

Mỗi người uống một giọt thì cũng đến hơn nửa binh lính chỉ được liếm mỗi cái vò.

Sao lại có thể keo kiệt đến mức này nhỉ?

Tôi thầm sỉ vả Long Đĩnh trong lòng, nhân tiện xác định được mục tiêu của mình.

Điều 1: Nhất định phải thử rượu hoa cau!

***

Ánh tịch dương đằng Tây vừa tắt, bóng tối trùm xuống thành Phong Châu cũng là lúc lửa trại được đốt lên.

Mùi thơm của lá bạch đàn khô cong lách tách cháy trong những bếp lửa quyện cùng mùi thịt nướng thơm lừng, mùi của những chõ xôi nếp và cả mùi rượu ngào ngạt làm cho binh lính ai nấy đều trông vui vẻ, có sức sống hẳn lên.

Ngay cả đám Thân quân dữ tợn thường ngày cũng bớt đi bảy phần hung hãn, hông dắt kiếm bệ vệ đi khắp nơi hỏi han trò chuyện.

Có mấy kẻ cả người quấn băng trắng xoá cũng cố lết ra tiệc khao quân chung vui.

Cả doanh trại nô nức chẳng khác nào đi hội.

Lịch Vũ bỏ xuống lớp giáp sắt oai vệ thường ngày, khoác lên mình một chiếc áo viên lĩnh màu lam nhạt thêu chỉ bạc, thắt lưng cũng bằng bạc lại nạm thêm mấy viên đá xanh ngọc vô cùng bắt mắt.

Khác với đa số binh lính trong trại y không búi hay cắt ngắn, tóc Lịch Vũ chỉ cột cao lên trông có vẻ rất tuỳ hứng nhưng cũng đặc biệt khí chất, gọn gàng.

Nếu chỉ xét riêng về góc độ thẩm mỹ thì tôi có lời khen cho y.

Một người đàn ông thanh nhã như vậy nếu gặp ngoài đường thì khó lòng mà tưởng tượng y lại là tướng lĩnh giết người không ghê tay.

Tôi theo hầu phía sau Lịch Vũ, y ngồi ngay sát gần ghế rồng của Long Đĩnh.

Phía bên dưới vẫn còn mấy mươi ghế được sắp thẳng hàng, chia làm hai dãy, dựa theo phẩm trật(11) từ chức to đến chức bé nối nhau ngồi đến xa tít tắp không rõ mặt.

Nhân lúc Long Đĩnh còn chưa đến tôi ngọt nhạt hỏi Lịch Vũ:

"Bẩm Đô chỉ huy sứ, rượu hoa cau có phải quý lắm không?"

"Rất quý!"

- Lịch Vũ gật đầu, nói đoạn ôn tồn giảng giải - "Thường nhất là rượu tẻ.

Rượu nấu từ gạo nếp thì ngon hơn.

Rượu nếp cẩm màu đỏ sẫm, vị ngọt hơn rượu trắng.

Rượu hoa cau là quý nhất.

Trồng cau để lấy quả ăn trầu, không dễ để bỏ quả lấy hoa ngâm rượu."

Tôi cho là phải.

Ở thời kỳ này già trẻ lớn bé, ai ai cũng ăn trầu.

Cau và trầu lại càng được giá.

Lấy hoa cau xuống cũng đồng nghĩa bỏ đi quả vụ đấy, vậy ra loại rượu này quý hiếm là phải.

Ở thời đại của tôi dường như thứ rượu này đã thất truyền.

Lần gần nhất tôi nghe về "rượu" và "cau" là có ai đó đã nhập viện nguy kịch vì rượu ngâm hạt cau khô.

Chẳng biết vị "bartender"(12) nào có thể nghĩ ra thức uống tai hại đến vậy!

Mọi người yên vị ai vào chỗ nấy thì Long Đĩnh mới xuất hiện.

Y mặc áo lụa đỏ, hông đeo bạch ngọc vô cùng xa hoa.

Chúa thượng vừa xuất hiện thì toàn quân đồng loạt hô vang "Vạn tuế" rầm trời.

Khoé môi Long Đĩnh chỉ hơi cong lên rồi lấy lại vẻ trầm tĩnh như thường ngày.

Liền đó Bạch Vỹ theo hầu phía sau cẩn thận rót một chén rượu dâng lên cho chúa thượng.

Theo sau là một đám người mang mười vò rượu đi lên, bắt đầu châm tửu từ chỗ Lịch Vũ.

Tôi cố tình rướn người lên phía trước quan sát cho rõ, miệng lẩm bẩm: "Rượu hoa cau!

Nhất định là rượu hoa cau!".

Vò rượu vừa mở ra thì tất thảy ai nấy đều phải trầm trồ.

Hương cay nồng của rượu nếp ủ lâu ngày hoà cùng mùi hương rất ngọt, rất thanh của hoa cau khiến cho mưa gió rét mướt nơi chiến trường trong giây lát chỉ như gió thu thoảng trong vườn nhà, mưa xuân đọng trên mái hiên.

Một bầu rượu ngon làm tiêu tan nỗi lo trần tục(13).

Được thưởng thức rượu hoa cau một lần thì dù cho bị nhịn đói dăm bảy ngày tôi cũng chẳng còn luyến tiếc gì nữa.

Khai tiệc.

Tôi còn đang tính toán đủ loại mưu hèn kế bẩn xem làm thế nào để mình có thể thử được rượu hoa cau, xung quanh mọi người chè chén ăn uống vui vẻ thì bỗng dưng vang lên tiếng hát.

Tôi tròn mắt.

Ai?

Kẻ nào?

Sao đang yên đang lành lại hát trong tiệc khao quân của Lê Long Đĩnh cơ chứ?

Kẻ này đúng là chọn cái chết rồi!

Ngươi không bị giao long cắn thì ai bị?

Tôi quay lại nơi phát ra âm thanh đấy thì bất ngờ đến mức ngã ngửa ra đằng sau.

Hình ảnh mà cả đời này, à không cả đời sau hay có xuyên không bao nhiêu lần tôi cũng không dám tưởng tượng.

Là Lê Long Đĩnh, chính là vị bạo chúa trong truyền thuyết đang cất tiếng hát giữa tiệc khao quân?

Đúng vậy!

Trời đất quỷ thần ơi, chuyện gì vậy trời?

Tôi dụi mắt hai lần, rõ ràng tôi không hề say nhưng sao lại thấy Lê Long Đĩnh vừa mặc áo lụa đỏ vừa đứng hát mời rượu binh lính thế kia?

Chắc chắn là do những ngày tháng qua vất vả làm việc đến độ thần kinh suy nhược sinh hoang tưởng.

Quả thật hình tượng này so với Long Đĩnh ngang ngược trong tâm tưởng của tôi cách xa một vạn tám nghìn dặm.

Sai trái!

Vô cùng sai trái!

Nhưng dù tôi có phủ nhận thế nào đi chăng nữa thì rõ ràng vẫn là vị chúa thượng ngang tàng đó đang đứng trước mặt.

Giọng hát thì có vẻ cũng hay nhưng tôi không tài nào hiểu được lời lẽ trong đó có ý gì.

Thấy tôi nhấp nhổm như đứng trên ổ kiến lửa, Lịch Vũ tựa hẳn người vào ghế, hơi nghiêng đầu như thể đã sẵn sàng nghe mười vạn câu hỏi vì sao.

Đợi Long Đĩnh hát xong tôi mới dám nuốt nước bọt, thì thào với Lịch Vũ:

"Đô chỉ huy sứ, sao chúa thượng lại hát ạ?"

Lịch Vũ không quay lại mà chỉ bảo:

"Đại Hành tiên đế vốn xuất thân là Thập Đạo Tướng Quân.

Lệ cũ người thường mặc áo lụa, tự hát mời rượu mỗi khi khao quân hay yến tiệc quan trọng.

Chúa thượng lấy đó làm gương không có gì là lạ cả."(14)

Hoá ra là vậy.

Môi tôi vô thức trề xuống.

Dù câu trả lời của Lịch Vũ nghe có vẻ hợp lý nhưng ghép lên hình tượng Long Đĩnh trong đầu tôi thì cực kỳ sai lệch.

Thôi thì Lê Long Đĩnh bạo ngược hà khắc, ba tháng hạ hết ba anh em của mình vẫn dễ chấp nhận hơn là người đang hát trước mặt tôi đây.

Lịch Vũ tự mình rót rượu, phẩy tay:

- Đam, hôm nay là tiệc khao quân không cần theo hầu.

Đi tìm La Đạc chơi đi.

Nghe mấy lời kia của Lịch Vũ tôi tròn mắt, mừng mừng rỡ rỡ hỏi lại:

"Thật chứ ạ?"

Lịch Vũ gật đầu, tôi vui đến mức chỉ thiếu điều nhảy cẫng lên.

Lúc này mới nhớ ra nguyện ước uống rượu hoa cau của mình khó lòng mà thực hiện được nên chỉ biết nhìn về vò rượu, chép miệng tiếc rẻ rồi chạy biến đi mất.

Nhanh chân lên trước khi tiệc tàn.

Ăn cỗ đi trước lội nước theo sau.

Giờ thì chả còn sớm sủa gì nữa nhưng cũng không thể để muộn được!

Chức tước của La Đạc chẳng phải dạng cao gì nhưng ở trong doanh trại này tìm Đạc thì lại đơn giản.

Giữa mấy ngàn quân chỉ cần tìm mái đầu nào trắng nhất, to miệng nhất chắc chắn là y.

La Đạc đang ngồi với một hội gần chục người, thấy tôi đến cả đám mừng như bắt được vàng.

Có hai tên trong số đó tận tay tôi mới băng bó tối qua.

Thêm La Đạc, Lê Sương và Trần Chất là ba người được vào vòng thi cuối cùng của buổi cung khảo.

Tôi thì đâu có quen hết cả đám người kia nhưng rượu vào thì tất cả mãi mãi là anh em.

La Đạc lôi ra vò rượu nếp cẩm, kéo tôi lại thì thầm:

- Uống nhanh đi, mãi mới thó được từ bọn du binh(15).

Không nói nhiều, nghe đồ phải đi trộm chắc chắn là của ngon rồi.

Tôi đổ một chút ra gáo dừa, một hơi tu hết sạch.

Ái chà chà!!!

Tôi "khà" lên một tiếng rõ to.

Quả là rượu ngon, rượu ngon.

Uống một hơi thấy ngọt lịm, càng uống lại càng ngọt hơn.

Cả đám bù khú với nhau, kẻ cắt thịt người châm tửu, mãi cho đến nửa đêm vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại.

Rượu này uống một hơi thấy ngọt lịm, càng uống lại càng ngọt hơn, bảo sao phải đi trộm là phải.

Cả đám thấy tôi khen liền vui vẻ ra mặt, kéo tôi ngồi xuống bù khú với nhau, kẻ cắt thịt người châm tửu, mãi cho đến nửa đêm vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại.

Nhưng rõ ràng rằng tôi nên dừng vào lúc đấy, hoặc thậm chí là không nên uống một ngụm rượu nào trong tình cảnh giả trai này.

Khoảnh khắc mà tôi bắt đầu lải nhải về lược sử loài người, về Homo sapiens(16) và Neanderthals(17) với những người sinh sống ngàn năm về trước có nghĩa là tôi đã say đến mức không làm chủ được cái lưỡi của mình.

Hoạ bao giờ cũng từ miệng mà ra!

Tiệc tan hẳn La Đạc và Trần Chất mới bá vai bá cổ dìu tôi về lều.

Cả 3 đi xiêu vẹo, chân nam đá chân chiêu va hết chỗ nọ đến chỗ kia.

Rượu vào lời ra, tôi không ngừng lè nhè lải nhải:

- Các anh biết gì không?

Sapiens ngày càng phát triển theo chiều hướng không tuân thủ quy luật tạo hóa.

Haha...Ha...Tiến hoá theo tạo hoá rồi lại không tuân thủ.

Haha

Trần Chất đưa tay lên bịt miệng tôi không cho nói nữa, thẳng tay ném tôi vào lều rồi y cùng La Đạc lại khoác vai nhau tiếp tục vừa đi vừa ngã.

"Say à?"

Tôi đang nằm trên đất như một con nhái, nghe tiếng người liền ngẩng lên nhìn thì thấy Lịch Vũ.

Ồ, sao thế nhỉ?

Sao lại ở lều của Lịch Vũ nhỉ?

Tôi cười cười, ngây ngốc gật gật đầu.

Y vẫy tôi lại gần:

"Đặc biệt xin thêm một ly thưởng cho ngươi."

Tôi đi về phía Đô chỉ huy sứ theo điệu vắt sổ, nói đoạn hít hít ly rượu Lịch Vũ đang cầm trên tay.

"Là rượu hoa cau ạ?

Thơm quá!"

- Tôi ngồi phịch xuống bên cạnh, đón lấy ly rượu kia rồi một hơi tu cạn, quẳng cái ly xuống sàn, đưa hai tay lên ôm má Lịch Vũ:

"Người là sapiens đẹp trai nhất mà tôi từng gặp."

Sau đấy tôi hôn chụt một cái vào má rồi ngất đi!

Chú giải:

(3) Thái Thường Tự: giữ việc lăng miếu, lễ nhạc nghi chế, thiên văn thuật số, áo mũ.

Nhà Tống coi trọng Thái thường tự nên coi chủ quan liệt dưới Thượng thư 6 bộ nhưng danh vọng ngang bộ Lại. (Theo Từ điển Chức quan Việt Nam)

(4) Giáo thụ: chức danh học quan bắt đầu đặt từ thời Tống. (Theo Từ Điển Chức Quan Việt Nam)

(5) giáp mây: áo giáp làm bằng cây mây.

(6) kỳ binh: (Cờ binh) có nhiệm vụ chính là cầm cờ và là người đầu tiên đứng trên chiến trận.

Cờ binh đứng đầu tiền tuyến, phất cao ngọn cờ tung bay trong gió và đẩy nhuệ khí của binh sĩ lên cao nhất.

(7) Khi tập trung vào một màu trong khoảng thời gian dài mắt sẽ sinh ra hiện tượng dư ảnh, nhìn thấy màu bù của màu đó.

Màu bù của màu đỏ là xanh lá.

Đây cũng là lý do các bác sĩ phẫu thuật thường mặc màu xanh lá.

(8)

"Nhà vua sai chém Long Kính, tha tội cho Long Ngận*.

Nhân tiện, đem quân đi đánh Ngự Man Vương Long Đinh ở Phong Châu; Long Đinh phải đầu hàng.

Từ đó các vương đều chịu phục cả." (Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục) *Long Ngận hay Long Cân.

(9) cố khí: Bỏ người bạn cũ.

(10) Phỏng theo sách "Võ bị chế thắng chí" (Binh Thư Yếu Lược).

(11) phẩm trật: Thứ bậc trên dưới của quan lại.

(12) Bartender: người làm nghề pha chế đồ uống, thức uống chứa cồn, pha chế cocktail, mocktail...

(13) Một bầu rượu trắng tiêu tan nỗi lo trần tục: dịch nghĩa từ câu thơ "Nhất hồ bạch tửu tiêu trần lự" (Hạ nhật mạn thành - Nguyễn Trãi).

(14) "Hoàn thường mặc áo dệt hoa màu đỏ, đội khăn gắn ngọc trang sức, có khi tự ca hát mời rượu, không hiểu được lời lẽ." (Tống sử)

(15) du binh: binh lính thăm dò tình hình.

(16) Homo sapiens: người tinh khôn.

(17) Neanderthals: một loài trong chi Người đã tuyệt chủng.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Lúc Biết Xuyên Không Thì Đã Muộn!
Chương 11: Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa


Thề có quỷ thần hai vai chứng tỏ, tất cả chỉ là tai nạn!

Nếu nói sai thì hai chân tôi đi dép.

Nếu tôi nói dối thì hai đầu gối bằng nhau.

Thực ra là nếu có cố ý thì quân tử cũng không ai đi chấp nhặt một kẻ say phải không?

"Dậy rồi thì mở mắt ra đi."

- Giọng nói quen thuộc của Lịch Vũ khiến tôi bỗng chốc hồn tan phách lạc.

Tại sao Lịch Vũ biết tôi dậy rồi nhỉ?

Tại sao?

Tôi lồm cồm bò dậy, toàn thân nồng nặc mùi rượu, từ trên cái đầu bù xù như tổ quạ còn rớt xuống một bông hoa dại chẳng biết cài lên từ lúc nào.

Tôi không dám nhìn thẳng vào vị Đô chỉ huy sứ kia, mắt đảo quanh hòng kiếm một xó nào trốn vào cho đỡ nhục.

La Đạc và Trần Chất, nếu tôi thoát khỏi đây hai người nhất định sẽ phải biết tay tôi!

Sau gần năm phút im lặng không ai nói với ai câu nào, hồn tôi đã kịp nhập trở lại vào xác.

Tôi bày ra một vẻ mặt xu nịnh hết cỡ, cười nham nhở giả vờ mất trí nhớ:

"Ha ha!

Đô chỉ huy sứ đấy ạ?

Tại sao Đam lại ở đây?"

Lịch Vũ không thèm nhìn tôi lấy một cái, trỏ ngọn nến đã cháy gần hết, bảo:

"Nến đã cháy hết rồi, mau đi thay đi."

Được lời như cởi tấm lòng, tôi phi đến vồ lấy cây nến cháy hết rồi cúi chào Lịch Vũ, chạy biến ra bên ngoài.

Vừa ra đến cửa đã đâm sầm vào một đám người đang dán tai vào lều nghe lỏm.

Tôi nhận ra ngay cái đầu bạc của tên Lạc Đạc liền lập tức hung hăng xông đến sút một cái thật mạnh vào giữa hai chân y, gầm lớn.

"Tên khốn nạn nhà ngươi!"

La Đạc thoắt cái lùi về phía sau, lôi Trần Chất ra đỡ đòn.

Á à, Trần Chất cũng đáng chịu tội.

Tôi lại lao đến, Trần Chất nhanh trí lại kéo Lê Sương đứng lên phía trước.

Sương là một tên mặt già khằn, cao lêu nghêu.

Y túm cổ áo tôi, nhấc bổng lên, thành ra tay chân tôi đấm đá túi bụi vào không khí.

Đợi cho đến khi tôi đã mệt nhoài, những câu chửi từ dài dòng chuyển sang ngắt quãng và cuối cùng chỉ còn thi thoảng gào lên một tiếng thì Sương mới thả tôi xuống đất.

La Đạc cười như một con lười, tiến tới thỏ thẻ:

"Anh Đam, tối qua không có chuyện gì chứ?"

Tôi khoanh tay trước ngực, gầm gừ:

"Chuyện gì là chuyện gì?"

- Cả đêm qua lều của Đô Chỉ Huy Sứ sáng đèn.

Đến lúc tôi và Chất tỉnh rượu chợt nhớ ra, quay lại đây định mang anh đi thì ngài bảo kệ anh.

Nếu là trong một quyển truyện manga, nhất định ngay bây giờ trên trán tôi sẽ xuất hiện ba gạch sọc đen.

Thật sự không sợ kẻ địch giỏi, chỉ sợ đồng đội dốt.

Nhẽ ra lúc đấy dù có phải xông vào đánh chém thì cũng nhất định cướp người mang đi chứ?

Chắc hẳn sợ cuộc đời tôi chưa đủ điều tiếng, mấy tên này muốn thêm mắm dặm muối chút cho đậm đà.

"Đô chỉ huy sứ không đánh mắng anh chứ?"

- Lê Sương huých vai tôi.

"Nghĩ sao vậy?"

- Tôi nhướn mày - "Người không nói gì, chỉ bảo nến cạn rồi, mau đi thay."

Ba tên kia đồng loạt rú lên một tiếng.

La Đạc nhanh nhảu:

"Anh Đam không hiểu ý câu nói đấy à?"

Tôi tròn mắt:

"Thì nến thắp cả đêm hết sạch rồi, đem đi thay chứ còn gì nữa?"

Lê Sương lắc đầu chầm chậm, buồn bã bảo:

- Ý Đô Chỉ Huy Sứ đại nhân là tình nghĩa của người đã cạn như cây nến kia.

Giờ là lúc thay thư đồng mới.

Tôi hoang mang tột độ, vốn không tin mấy lời nhảm nhí của ba tên này nhưng có vẻ người ngày xưa cũng ưa nói ẩn dụ bóng gió.

Tôi mới đến đây làm sao có thể hiểu ý tứ sâu xa của mấy lời nói đấy?

Dường như sợ tôi chưa đủ lo lắng, Trần Chất bồi thêm một câu:

"Đô chỉ huy sứ cả đêm qua bị anh chiếm chỗ nằm, người thức trắng ngồi ở ghế.

Anh nghĩ xem vì sao người không đạp anh xuống đất?

Không phải vì chút ân huệ cuối cùng của chủ tớ ư?"

Mồ hôi tuôn như mưa, nếu tôi là Lịch Vũ nửa đêm đang yên đang lành bị một tên hầu vào cưỡng hôn rồi còn say rượu chiếm chỗ ngủ thì khó nói tôi sẽ tha mạng cho hắn ta chứ đừng bàn đến chuyện tình nghĩa.

Vậy là coi như xong, kiếp này coi như bỏ.

Tôi lại quay trở về làm một kẻ tứ cố vô thân không nơi nương tựa.

Tôi thất thểu cầm cái đế nến đến kho mới nhận ra đầu óc mình thật chậm chạp, chỉ cần mang cái nến mới đến lều là xong, mất công mang cả cái đế nặng trịch làm gì?

Hầu hạ vừa không chu toàn vừa chậm chạp lại còn điên rồ dở thói lưu manh, bảo sao không bị tống khứ đi nơi khác?

Đến đây có vẻ như hơi men còn chưa tan hết, tôi lảo đảo ngồi tựa vào một góc khuất, tự vấn bản thân một hồi rồi oà ra khóc hu hu.

"Khóc nhanh lên để ta còn vào lấy đồ" - Giọng nói trong trẻo thánh thót từ phía sau lưng vọng lại.

Tôi biết rõ âm vực này chỉ có thể là Bạch Vỹ liền vội lau nước mắt, miệng vẫn nấc "hức" "hức" lên từng hồi.

"Ta đã phải quay lại đây hai lần rồi mà ngươi vẫn còn đang khóc.

Lại có chuyện gì?"

"Đô chỉ huy sứ... hức... sắp đuổi tôi đi."

- Tôi vừa nín xong nói hết câu lại hoà ra khóc.

Giờ biết phải làm sao đây?

Nếu thả tôi ra sống giữa thời loạn lạc lại không một xu dính túi chắc chắn không sớm thì muộn, tôi sẽ chết nơi đầu đường xó chợ, hơn nữa còn là cái chết cực kỳ thê thảm.

Bạch Vỹ đi đến hít hà quanh tôi.

Chắc đến bảy, tám phần là y ngửi thấy mùi rượu nồng nặc, cũng đại khái đoán ra được tình trạng kích động của tôi hiện tại từ đâu mà ra.

Bạch Vỹ thủng thẳng:

- Cho dù ta thấy ngươi đáng bị đuổi từ lâu rồi nhưng phận người hầu kẻ hạ, đừng vì chủ nhân đánh mắng một chút mà nghĩ quẩn.

Những việc nên làm tốt nếu còn cơ hội thì hãy làm cho tươm tất vào.

Lời của Bạch Vỹ nghe có vẻ vô tình nhưng trong phút chốc tựa như vầng hào quang soi rõ đầu óc mịt mờ của tôi.

Tôi đứng phắt dậy, lòng đầy quyết tâm, tay nắm chặt, hai mắt lấp lánh, ghi một dòng thật đậm vào danh sách việc cần làm trong ngày hôm nay của mình:

KIẾM MỘT CÂY NẾN THẬT TỐT KHIẾN LỊCH VŨ PHẢI THAY ĐỔI CÁCH NHÌN VỀ TÔI!

Nghĩ là làm, tôi bắt tay ngay vào việc làm một cây nến thơm.

Ở thời kỳ này nến chủ yếu được làm từ mỡ động vật, mùi vừa khó chịu vừa cay mắt.

Vậy muốn làm một cây nến tốt khiến Lịch Vũ hài lòng thì phải tìm được sáp đậu nành hoặc sáp ong.

Sáp đậu nành thì xem chừng khó kiếm nhưng sáp ong thì tôi biết rất rõ mình phải kiếm ở đâu.

Đêm qua trong lúc say rượu bọn La Đạc có rủ tôi đi phá tổ ong, khổ nỗi một đám say rượu với nhau nào có ném trúng được tổ ong lần nào.

Tôi sờ lên đầu mình thấy một cục u rõ to, ký ức mơ hồ chiếu lại rất chậm cảnh bị Lê Sương hụt tay mà ném trúng một đoạn xương lợn vào.

Dựa người chi bằng nhờ mình, hơn nữa cái hội đông đúc đó không phá đám tôi đã cảm tạ đất trời lắm rồi.

Nghĩ là làm tôi trùm kín mít từ đầu đến chân, mượn thêm "vũ khí" trông từa tựa như cây ná chỗ La Đạc, lần mò đến chỗ tổ ong.

Ong làm tổ trên một cây nhãn cách lều của Thái y ty chẳng bao xa.

Tôi đã tính toán rất cẩn thận, dù trong trường hợp bị ong đuổi hay xui rủi hơn là bị đốt đi chăng nữa thì lều của Thái y ty cũng vừa vặn ở ngay cạnh, không dễ để xảy ra biến cố được.

Đương nhiên mọi chuyện không dễ dàng như tôi tưởng tượng.

Cũng phải tới lần thứ bảy, thứ tám thử sức tôi mới có thể khiến tổ ong kia khẽ rung nhẹ.

Tôi hít một hơi sâu, cắn chặt hai hàm răng, cố nhắm thật kỹ.

Tới lần thứ chín thì hòn đá bay một đường thẳng tắp, vượt qua khoảng cách mấy chục bước chân giữa tôi và cây nhãn nọ, đập "Phụp" một tiếng rất to, rõ ràng.

Tổ ong rơi thẳng xuống đất, đàn ong ùa ra bay kín đen trên bầu trời.

Tôi còn chưa kịp ăn mừng chiến thắng của mình thì đã nghe một tiếng thét lớn khiến tất cả tóc gáy cùng lúc dựng lên:

"Bay đâu, hộ giá!

Chúa thượng!

Chúa thượng!"

Tôi giật lùi mấy bước, không hiểu sao trong đầu bỗng dưng tự động bật lên lời hát "Xuân này con không về" theo nhịp vô cùng thê lương ảo não.

Lời bài hát còn chưa kịp hết thì chợt thấy tiếng chân quân lính rầm rập.

Tôi biết, tôi biết đây chính là đám thân quân.

Tôi khiếp đảm lao bổ vào lều của Thái y ty, rút đại một cuốn sách để lên bàn tỏ vẻ đang ngâm cứu y thuật kỹ lưỡng.

Đến lúc này tôi mới phát giác trong lều còn một người nữa là An Tường - một học trò khác của Trần Uy.

Tường còn chưa kịp phản tôi kéo cổ áo y ra, thẳng tay ném cây ná vào phía bên trong, không quên bồi thêm:

"Tôi và anh giờ cùng hội cùng thuyền!"

Trong giây lát biểu cảm của Tường ánh lên vài tia kinh ngạc.

Kinh ngạc?

Còn thời gian cho việc đấy sao?

Tôi đe doạ thế thôi nhưng vẫn dùng điệu bộ khẩn thiết để nói chuyện với y.

Bị bắt được lần này thì mất đầu là cái chắc.

Nhẽ ra tôi không nên kéo An Tường vào nhưng biết sao được, người không vì mình trời tru đất diệt!

Một toán Thân quân người cầm thương người cầm gươm xồng xộc xông tới.

Cả người tôi lạnh toát, tim nhảy Tango trong lồng ngực.

Dù cố gắng đến mấy cũng không ngăn được hai tay và cả hai chân run lên bần bật.

"Có thấy ai đi ngang qua đây không?"

- Người cầm đầu đám Thân quân hỏi.

"Dạ... không ạ.

Có chuyện gì vậy các anh?"

- Tôi giả vờ ngây thơ nhưng không quên liếc mắt nhìn về phía Tường.

Cảm tạ ơn trên, Tường chỉ say sưa đọc sách chẳng buồn đoái hoài gì đến cả tôi lẫn Thân quân.

"Có một bầy ong vừa tấn công chúa thượng, ta nghi ngờ có kẻ tiểu nhân giở trò."

Tôi làm bộ chống tay lên cằm chăm chú lắng nghe, suy suy tư tư một hồi:

"Dạ thưa phải chăng là tổ ong trên cây nhãn đằng Tây lều này?"

Cả đám Thân quân cùng lúc gật đầu.

- Buổi sáng sớm Đam đi qua thấy có mấy con khỉ đang ném tổ ong, chắc chúng học của lũ say rượu đêm qua.

Mấy người đó nhìn nhau có vẻ xuôi xuôi mà chính tôi bịa ra câu chuyện này cũng thấy hợp tình hợp lý.

Đến đây vốn dĩ đám Thân quân toan kéo nhau rời đi thì bỗng dưng một tên quay lại, trỏ quyển sách tôi cầm trên tay:

"Ngươi cầm ngược sách rồi."

Tôi nhe răng cười, lập tức quay ngược quyển sách lại.

"Ngươi nói ngươi tên là gì?"

Tôi biết mình xong đời rồi, lí nhí:

"Tôi là Đam."

"Đam thư đồng của Đô chỉ huy sứ?"

Tôi nín thinh, biết mình vừa phạm phải một sai lầm không thể nào vãn hồi.

Cả cái doanh trại này mấy nghìn quân không phải ai cũng biết đọc nhưng cái danh "thư đồng" của Đô Chỉ Huy Sứ lại mù chữ thì không ai không biết.

Sai lầm ngu ngốc đến vậy cũng chỉ có Đam tôi có thể mắc phải.

"Người kia nữa là ai, mau trình diện!"

"Là tôi."

- Tường quay lại, dáng vẻ vô cùng nho nhã.

Y gật đầu chào với mấy Thân quân.

Thái độ bình tĩnh như vậy... không phải mấy người này quen biết với nhau đấy chứ?

Vậy thì tôi tới số rồi!

"Tứ sương quân phó chỉ huy sứ vẫn khoẻ chứ?"

"Cha ta vẫn khoẻ."

- An Tường lễ độ đáp.

Hai bên chào hỏi với nhau thêm mấy câu.

Hoá ra là vậy, tôi gật gù, thì ra Tường là con quan, có ô dù che chắn bảo sao Thân quân chẳng buồn động đến.

Xem như tôi nợ Tường lần này, có dịp sẽ báo đáp.

Mà Tứ sương quân phó chỉ huy sứ là chức nào mà mấy tên Thân quân kia lại tỏ vẻ quen biết thế được?

Bình thường trông đám đấy có khi nào tử tế với người khác vậy đâu?

Phát giác có điều bất thường tôi liền mau chóng điểm lại trí nhớ của mình.

Tôi nhớ mang máng Lịch Vũ từng nói Tứ sương quân phó chỉ huy sứ bây giờ đang là Lý Công Uẩn.

Vậy nếu Tường gọi Lý Công Uẩn là cha thì...

"Lý...

An Tường?"

- Tôi lắp bắp thở không ra hơi

Tường quay lại gật đầu:

- Ngươi gọi ta có chuyện gì?

Tường quay lại gật đầu:

"Anh gọi tôi có chuyện gì?"

Mọi người không tin là thiên đàng có thật, tôi cũng vậy.

Nhưng trong giây phút biết mình vừa trắng trợn đổ oan cho hoàng tử trong tương lai, lại còn là chủ mưu hại vị vua hiện tại bị đàn ong vây đốt, tôi đã thấp thoáng thấy một khoảng trắng toả hào quang trước mặt.

Mà không, kẻ làm nhiều chuyện xấu kinh thiên động địa như tôi thì rất có thể tôi nhầm.

Tôi phải xuống địa ngục, là địa ngục mới đúng!

Tôi mải cảm thán trong lòng mà không biết người của Thân quân đã rời đi từ lúc nào.

"Như thế này là được rồi chứ?"

- Lý An Tường hỏi.

Tôi mím môi gật đầu, cố giương đôi mắt long lanh to tròn vô tội nhìn Tường.

"Sao anh giúp tôi giấu chuyện này?"

Tường cười mỉm, lắc đầu:

"Tôi không giúp anh giấu gì cả, chỉ là người khác không hỏi đến mà đây cũng không phải chuyện của tôi."

Nói đoạn Lý An Tường thong thả thò tay vào trong áo, rút cái ná ra trả lại cho tôi rồi đứng dậy, đi ra phía bên ngoài.

Tôi lẽo đẽo chạy phía sau Tường, y đi tới gần chỗ tổ ong nằm chỏng chơ trên đất, dùng tay không xua xua đi đôi ba con ong còn quanh tổ, cuối cùng nhặt lên đưa cho tôi:

"Dù như thế nào cũng đừng vì bản thân mà làm tổn hại đến sinh mạng kẻ khác.

Con người cũng thế mà con vật cũng vậy."

Trong khoảnh khắc ngắn ngủi tôi như vừa thấy một vầng hào quang chói loá sau lưng Tường, ánh sáng lấp lánh tựa một vị thần tiên giáng thế, phổ độ chúng sinh.

Sinh linh vừa mắc cảnh lầm than là tôi đang vểnh tai nghe thuyết pháp, cuối cùng tôi dụi mắt hai lần lấy lại bình tĩnh, hỏi Tường:

"Nếu có người hỏi tôi có thể nói anh cho tôi cái tổ ong này không?

Tôi... sợ bị bắt lắm."

"Có thể."

Tôi chạy biến đi, thực lòng còn không biết là do y quá hiền lành hay là do quá ngốc nghếch nữa.

***

Có được sáp ong chỉ là bước đầu, kế đến còn cần phải tìm thêm những nguyên liệu khác.

Tôi ưa nến có mùi thơm, như vậy lúc đốt lên vừa sáng rõ lại giúp người suốt ngày căng thẳng chiến sự như Lịch Vũ thư giãn hơn rất nhiều.

Trời đương vào độ giữa xuân, chỉ cần đi bộ quanh doanh trại cũng có thể dễ dàng tìm được những khóm cúc dại nở hoa trắng muốt, thơm nức.

Đợi đầy đủ nguyên liệu có thể bắt đầu đun chảy sáp, làm tim nến, đổ vào khuôn...

đại để là bảy bảy bốn chín bước nữa.

Cuối cùng sau bao gian truân thử thách thì cây nến handmade đã chính thức ra lò, dù có hơi chút méo mó xấu xí.

Quan trọng gì, tốt gỗ hơn tốt nước sơn.

Tôi đã đốt thử rồi, rất là thơm, bản thiết kế vĩ đại, tinh hoa hội tụ, ai ngửi cũng mê!

"Đô chỉ huy sứ, Đam về rồi đây."

- Tôi khệ nệ mang cái chân nến bằng đồng nặng trịch, bên trên cắm mấy ngọn nến hoa cúc vào.

Lịch Vũ đang chống cằm thiu thiu ngủ nghe động y hé mắt ra nhìn tôi, bảo:

"Chỉ đi đổi một cây nến thôi ngươi đã ở đâu cả ngày vậy?"

Tôi tưởng Lịch Vũ đang tức giận, hai mắt ầng ậng nước:

"Người đuổi Đam cũng được nhưng xin hãy nhận lấy cây nến Đam tự làm này coi như quà tiễn biệt."

Hai hàng lông mày của Lịch Vũ nhíu chặt lại.

Y hỏi tôi:

"Tại sao ta phải đuổi ngươi?"

Tôi ngồi xuống vừa khóc vừa kể đầu đuôi tường tận câu chuyện của đám La Đạc cho Lịch Vũ nghe.

Lịch Vũ trỏ cây nến:

"Tối rồi, ta muốn đọc sách."

Tôi biết như thế chắc chắn là Lịch Vũ đã tha tội liền hí hửng vừa lao đến thắp nến vừa xun xoe nhận tội:

"Chuyện tối qua..."

"

Sau này không cho phép ngươi uống rượu, cũng không được nhắc đến nữa."

Tôi gật đầu răm rắp, vẻ mặt ngoài bình thản nhưng trong lòng rối hơn tơ vò.

Có phải tên Đô chỉ huy sứ này thực sự có "gì đó" không?

Ở thời phong kiến bị một tên "đàn ông" khác hôn trộm mà lại xem như gió thoảng mây bay, còn để tiếp tục làm người hầu kẻ hạ thì không lẽ...

Lịch Vũ là gay?

"Nến làm không tồi.

Ngươi làm như thế nào vậy?"

Đấy!

Có thế chứ!

Vất cả cả một ngày cuối cùng cũng được công nhận, vừa nghe Lịch Vũ hỏi tôi hớn hở:

"Dạ bẩm, Đam hái hoa cúc cùng dùng sáp ong nấu chảy làm nến."

"Sáp ong à?"

- Một giọng nói đầy cay nghiệt vọng đến.

Long Đĩnh bước vào, trên mặt ba bốn vết đốt sưng vù.

"Hoá ra trong nhà Đô Chỉ Huy Sứ lại nuôi khỉ biết ném tổ ong!"
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Lúc Biết Xuyên Không Thì Đã Muộn!
Chương 12: Sai một li đi một dặm


Long Đĩnh bước vào, Lịch Vũ chắp tay thi lễ:

"Chúa thượng!"

Hai chân tôi không ai đánh nhưng tự động nhũn ra rồi đột ngột sụp xuống, vừa vặn thành tư thế quỳ:

"Chúa thượng tha mạng.

Tổ ong này là Đam nhặt được."

Long Đĩnh chẳng buồn đoái hoài đến mấy câu thanh minh vô nghĩa của tôi, một mạch đi thẳng đến ghế chính giữa lều rồi ngồi xuống.

Tôi khép nép quỳ sau Lịch Vũ, ra sức nghĩ cách chối tội.

Với "thương tích" kia dù cho Long Đĩnh có khép tôi vào tội mưu sát vua thì dù cho có trăm ngàn cái miệng tôi cũng không tài nào minh oan được.

Nếu tình hình phát triển theo chiều hướng như vậy thì người bị thả cho giao long cắn trong sử sách có tới tám, chính phần chính là tôi đây.

"Ngươi thử nói xem đã nhặt được tổ ong như thế nào?"

- Long Đĩnh tựa hẳn người vào ghế, tay nhịp nhịp lên bàn, điệu bộ có vẻ phóng khoáng nhưng đôi mắt đen thâm trầm như muốn moi sạch tim gan tôi ra phơi dưới nắng, nhìn thấu tường tận.

Phản ứng tự nhiên nhất của một kẻ nói dối không chuyên nghiệp: Tránh ánh mắt.

"Dạ bẩm..."

- Tôi run run - "Sáng nay Đam đi sang lều Thái y ty học chữ, lúc ngang qua cây nhãn thấy có một bầy khỉ đang ném tổ ong.

Quá giờ Tỵ thì người của Thân quân vào hỏi chuyện, sau đó Đam hỏi Lý An Tường liệu rằng có thể mang tổ ong này về không thì y bảo được."

Long Đĩnh nhếch môi, không rõ đấy là cười hay là khinh bỉ:

"Vậy ra Thân quân làm việc không chu toàn, lại sơ suất đến mức để quên vật chứng.

Trên đất của trẫm ngươi lại phải hỏi ý Lý An Tường có được mang tổ ong đi hay không há chẳng phải vô lý hay sao?"

Tôi bặm môi không dám trả lời.

Từng câu từng chữ của Long Đĩnh câu nào cũng đúng.

Tôi đồng ý câu thứ nhất liền thành đổ tội cho Thân quân, đồng ý câu thứ hai thì gây hoạ cho An Tường.

Dù nói gì đi chăng nữa cũng là há miệng mắc quai.

Thường ngày tôi phá làng phá xóm, đôi lúc hơi vô liêm sỉ nhưng những việc đổ tội cho người khác như vậy thì Đam tôi không làm được.

Tôi quỳ trên mặt đất như phỗng, chẳng biết phải làm như nào mới phải.

"Thượng bất chính, hạ tắc loạn(1), là thần dạy dỗ không nghiêm nên để xảy ra cơ sự này.

Xin chúa thượng trách phạt."

- Lịch Vũ đứng lên đi về phía trước chắn trước mặt tôi, cúi đầu nhận lỗi.

Long Đĩnh phẩy tay:

"Chỗ Tuyên uỷ sứ(2) La Lân thế nào?"

"Bẩm chúa thượng, Tuyên uỷ sứ bị thương khi xuất binh, đến nay vẫn đang điều trị.

Trước mắt giặc Man Cử Long vẫn đang bị ngài ấy chế ngự."

- Lịch Vũ đáp gọn.

Long Đĩnh trầm ngâm một hồi, nói đoạn bảo:

"Không ép uổng người bất năng, thương xót người đau ốm, đó là để bày tỏ điều nhân(3).

Nay La Lân trọng thương khó để tận lực.

Việc quân ở Thần Đầu đừng lơ là, nhược bằng có biến chuyển lập tức dẫn binh đến tương trợ Tuyên uỷ sứ."

"Tuân mệnh."

Tôi vẫn duy trì tư thế quỳ trên mặt đất, đầu óc mơ màng vì từ chuyện mình và tổ ong lại nhảy sang quân Man Cử Long và vị Tuyên uỷ sứ nào đó.

Nhưng như thế càng tốt, chí ít tôi còn được sống thêm ít lâu nữa.

"Còn Đô chỉ huy sứ thì sao?

Bệnh tình đã thuyên giảm rồi chứ?"

- Một lần nữa Long Đĩnh lại đổi chủ đề, tôi bị quay như chong chóng.

Chẳng thà y cứ một đao xử tử tôi cho xong, chơi trò mèo vờn chuột thế này quả thực không phù hợp với những người có thần kinh yếu như tôi.

"Nhờ ơn đức chúa thượng, chút bệnh vặt của thần không còn gì đáng lo."

- Lịch Vũ trả lời, vờ vô ý đứng lên phía trước để che cho tôi.

Tôi biết ý nhích xuống một chút, cố gắng giảm sự tồn tại của mình xuống tối đa.

"Thuyên giảm thì tốt rồi.

Sửa soạn ngày mai theo trẫm hồi kinh."

Long Đĩnh chỉ hỏi vu vơ vài câu như vậy rồi rời đi, cũng chẳng buồn đả động gì đến tôi.

Đợi bóng y vừa khuất cửa lều tôi liền thở phào thành tiếng, đứng phắt dậy chạy về phía Lịch Vũ:

"Bẩm Đô chỉ huy sứ, Đam như vậy là đã thoát tội rồi phải không?"

Lịch Vũ nhướn mày:

"Ngươi đã phạm tội ư?"

Tôi dùng cả hai tay bịt miệng mình, biết vừa lỡ lờ liền ra sức lắc đầu, chối đây đẩy:

"Không có, không có!

Đam sợ chúa thượng trách phạt xuống."

Lịch Vũ lắc đầu:

"Bậc minh quân sao phải bức ép một nô bộc?"

Lịch Vũ nói cái gì cơ?

Long Đĩnh... là "minh quân" ư?

Tôi rùng mình, cả người tự dưng nổi hết da gà.

Trông như vậy mà mắt nhìn người của Đô chỉ huy sứ này quá kém.

Hôn quân bạo chúa vang danh thiên cổ, tàn ác hơn cả Trụ, Kiệt(4) suốt hơn bốn ngàn năm sử Việt làm gì có ai qua được Lê Long Đĩnh?

Nói là vậy nhưng tôi tự hiểu vì sao mình vẫn còn giữ được cái mạng quèn.

Xử tội thư đồng Đô chỉ huy sứ thì khác gì trách phạt Lịch Vũ đâu?

Nội chiến chỉ vừa chấm dứt, Long Đĩnh lên ngôi danh không chính ngôn không thuận.

Đô chỉ huy sứ xem như cũng có công đánh Đông dẹp Bắc, phò trợ tân quân.

Đương lúc cần người tài mà chỉ vì chuyện mập mờ đầu đuôi, xử chết tôi thì dễ nhưng sẽ khó coi với Lịch Vũ.

Đánh chó xấu mặt chủ.

Nhưng dù vậy tha mạng cho tôi cùng lắm cũng chỉ như một kẻ biết tính toán chu toàn, không thể xem Long Đĩnh là một "minh quân" được.

***

Tinh mơ hôm sau chúng tôi xuất phát, theo long chu(5) từ Phong Châu về Hoa Lư, chấm dứt mấy tháng bôn ba nơi chiến trường.

Nếu thời tiết mát mẻ thuận lợi thì chỉ mấy ngày nữa tôi đã có thể đặt chân tới kinh thành.

Theo lời của La Đạc thì Hoa Lư là nơi phồn hoa tươi đẹp, khác hẳn với những vùng Phù Lan, Phong Châu thôn dã.

Thật khó để một kẻ như tôi có thể tưởng tượng ra khung cảnh chốn kinh kỳ.

Trước khi về Hoa Lư xa giá sẽ nghỉ lại Đằng Châu hai ngày, cũng là nơi Long Đĩnh trấn giữ trước khi đăng cơ.

Nhân ngày xuân sáng láng, tiết trời dễ chịu, thuyền êm xuôi mái, yến oanh đầy trời, Long Đĩnh sai bày một bữa tiệc rượu nhỏ trên thuyền.

Vì mới từ chiến trận trở về người theo hầu rất ít, chủ yếu là binh lính chân tay thô kệch chỉ biết binh đao nên mấy việc bày biện tỉ mẩn đều một tay Bạch Vỹ lo.

Mà Bạch Vỹ dù cho có ba đầu sáu tay cũng không xuể được nên gọi tôi qua phụ giúp.

Tôi là kẻ bỉ lậu(6) từ ngày đến đây chỉ quanh quẩn bên chuồng ngựa hay cùng lắm là cỏ cây thảo dược.

Lần trước may mắn được đi theo chiến thuyền của Long Đĩnh nhưng so ra chẳng là gì với thuyền rồng lần này.

Toàn bộ thuyền đều độc mộc bằng loại gỗ có vân dạng thon dài, nếu ghé sát mũi ngửi còn thấy một mùi thơm rất nhẹ.

Mạn thuyền trổ hình sóng nước xen lẫn hoạ tiết hoa sen tám cánh.

Ở hai đầu mũi thuyền là hai con rồng cực lớn nét mặt hung tợn, miệng ngậm một khối đá hình tròn trong suốt từa tựa như ngọc.

Phía đuôi thuyền có một chèo, mũi thuyền rộng thênh thang là nơi Long Đĩnh cùng bầy tôi thưởng ngoạn.

Trên thuyền thường có thêm một số cọc phụ to đến độ một vòng tay người ôm không xuể, bằng gỗ gì chẳng rõ mà chỉ biết có màu cánh gián hung hung, hiện lên những đường vân mảnh màu hồ đào tuyệt đẹp.

Ngay chỗ Long Đĩnh ngồi thì Bạch Vỹ luôn chực chờ sẵn, tay cầm một cái lọng lớn màu tía.

Nắng xuân chiếu lên lọng tía thêu bằng chỉ bạc, ánh sáng hắt lại trên tầng không có những lúc còn nhìn ra hào quang bảy sắc.

Bàn ngự thiện bày đủ thứ đồ, từ ly rượu chén, đĩa, bát, đũa... tất thảy đều làm từ vàng bạc, có những cái khảm đá quý đủ màu, cực kỳ xa hoa.

Lần hồi kinh này hoàn toàn không đơn giản.

Đại Cồ Việt vừa trải qua nội chiến không ngừng, tứ bề là kẻ địch ngoại bang.

Long Đĩnh phô trương sự giàu có ổn định của hoàng tộc âu cũng là một phần làm dân yên lòng.

Thuyền xuôi dòng nước trong xanh êm đềm.

Hai bên bờ hoa đỗ quyên nở hồng rực, cỏ lau ngút ngàn.

Trên thuyền thịt thơm, rượu ngon, người người thưởng lãm.

Giữa lúc này đột nhiên có đợt cuồng phong dội đến, thuyền lắc lư không ngừng.

Chỉ vừa chớm sang mùa xuân nhưng lại xuất hiện mưa giông.

Chớp rạch ngang trời, sấm gầm gừ sau những tầng mây cuộn dày, xám ngoét.

Trời đang sáng rõ bỗng dưng mây mù giăng kín.

Long Đĩnh lệnh tìm chỗ đậu tránh.

Thuyền dò dẫm đi thêm một đoạn nữa liền đến chỗ có dân chúng quỳ phục trên bờ lạy thuyền rồng của vua đi qua.

Long Đĩnh cho thuyền đi chầm chậm, nhìn lên trên bờ cao có đền thờ, đoạn hỏi:

"Đền này thờ ai vậy?"

Dân chúng cúi đầu, len lén nhìn nhau.

Chừng nào chúa thượng chưa chỉ đích danh hẳn chẳng ai dám hó hé câu nào.

Long Đĩnh trỏ ông cụ già nhất trong đám người đang quỳ, lệnh:

"Lão, trả lời cho trẫm."

Ông cụ người gầy đét, chao đảo mấy bận vì gió cuốn khúm núm thưa:

"Bẩm chúa thượng, là đền thờ thần Thổ địa của Đằng Châu ạ."

Tôi đảo tròn mắt, chẳng hiểu Lê Long Đĩnh đang nghĩ gì.

Giữa lúc mưa to gió lớn thế này nhẽ ra mau mau tìm chỗ trú đi, ở lại đây hỏi này hỏi kia những chuyện không liên quan làm gì cơ chứ?

Nghe được câu trả lời Long Đĩnh tỏ vẻ rất vừa ý, cười nhạt rồi bảo:

"Thần Thổ địa?

Vậy nếu thần có linh làm thế nào cho lui được gió mưa khiến bên này tạnh, bên kia mưa ta mới tin linh nghiệm."

Vẫn biết Long Đĩnh ngang ngược nhưng thách thức cả thần linh thế này khiến tôi cũng chỉ biết chép miệng, hơi quá đáng rồi.

Nhưng vừa lúc đấy, không chỉ tôi mà tất thảy người trên thuyền, dưới đê đều tận mắt chứng kiến cảnh tượng mà có lẽ cả đời này cũng không thể quên được.

Bầu trời tối sầm nhưng dần dần chia ra hai nửa, ánh nắng yếu ớt tràn xuống.

Bụi thôi cuốn mù mịt và mây đen dần giãn ra.

Nửa bên này sông chỉ có gió thổi hiu hiu, nửa sông bên kia mưa ào ào như trút nước, thậm chí còn nhìn rõ cả một tia sét đánh xuống làm mặt đất nứt toác ra.

Tôi thảng thốt giật lùi lại mấy bước, nhìn sang viên lĩnh Long Đĩnh mặc không bị ướt dù chỉ một góc.

Người dân ban đầu còn kinh sợ chỉ biết bối rối nhìn nhau nhưng đến khi tận mắt chứng kiến điều kỳ lạ kia thì mọi người trầm trồ rồi liên tục quỳ lạy, hô vang "Vạn tuế".

Nội tâm một kẻ không tin thần không tin quỷ như tôi rất hỗn loạn, đành phải dụi mắt thêm mấy lần.

Quả nhiên nhìn đi nhìn lại vẫn cứ là phía bên này sông chúng tôi đang đứng chỉ có gió lớn mà không có mưa, từ nửa sông bên kia trời đen kịt, mưa xối ào ào.

Bản thân Long Đĩnh cũng sững sờ mất một chút rồi cả cười:

"Đằng Châu là đất địa linh, nay xa giá trẫm về chốn cũ được che chở bình an, ban tên Thái Bình.

Lệnh cho tu sửa lại đền thờ Thổ Địa."(7) (8)

Tới lúc này cuối cùng tôi cũng nhận ra một cái tên quen thuộc với thời hiện đại của mình, là Thái Bình.

Nếu vị trí địa lý giáp Hoa Lư - Ninh Bình, lại đổi từ Đằng Châu thành Thái Bình thì không thể nhầm được!

Đây chắc chắn là tỉnh Thái Bình mà tôi biết ở hơn một ngàn năm sau.

Sau mấy tháng bôn ba nơi xa lạ cuối cùng tôi cũng nghe được một địa danh thân quen.

Nói không cảm động tới phát khóc chắc chắn là nói dối.

Tôi sụt sịt ngước nhìn lên trời, một là để không cho mình khóc, hai là để gắng nghĩ xem chuyện gì đang xảy ra.

Trong một khoảnh khắc tôi đã nghĩ có thần linh, quả thực xấu hổ với chính mình.

Có vẻ như tôi đã ở Đại Cồ Việt này lâu quá rồi thì phải!

Thường thì những đám mây u ám, sẫm màu là vùng mà hơi nước từ dưới mặt đất, sông, hồ, đại dương bốc lên.

Do nhiệt độ trên cao rất thấp nên hơi nước sẽ ngưng tụ thành những hạt nước li ti.

Tính chất của nước các hạt nước li ti trên cao này bồi kết lẫn nhau thành những hạt nước lớn hơn, nặng hơn rồi không thể lơ lửng trong không trung được nữa, khi ấy trọng lực sẽ kéo chúng xuống trở lại mặt đất gây ra hiện tượng nước từ trên trời rơi xuống mà thiên hạ gọi là "Mưa".

Đây chính là bài học căn bản môn Khoa học Tự nhiên và Xã hội từ hồi tiểu học.

Diện tích đang mưa dễ có thể thấy nặng hạt từ bên trong giảm dần ra ngoài, do mây đậm đặc từ trong ra ngoài.

Phần rìa của mây nhẹ hơn nên khi bắt đầu đi vào vùng mưa sẽ thấy từ mưa nhỏ rồi lớn dần, tiếp tục đi ta sẽ thấy mưa giảm dần cho đến hết mưa.

Tính ra thì xem như đám mây kia vừa hay đến chỗ chúng tôi là khu vực rìa nên không mưa, bên kia lại là tâm của đám mây nên mưa xối xả lại hoàn toàn hợp lý.

Chẳng qua chỉ là tình cờ, làm gì có thế lực nào siêu nhiên ở đây?

Tôi tự thấy mình thông minh đột xuất, trong đầu như xuất hiện một vầng hào quang chói loà.

Chỉ đáng tiếc là kiến thức này không thể phổ cập đại chúng cho những người đang sống cách tôi một ngàn năm có lẻ.

Từ đền thờ Thổ địa đi chẳng bao lâu nữa đã tới phủ Khai Minh Vương.

Nơi này là đất phong của Long Đĩnh khi chưa đăng cơ, phủ đệ vô cùng bề thế.

Về cơ bản phủ Ngự Bắc Vương hay Ngự Man Vương chẳng thể so bì.

Chỉ dựa trên mức độ xa hoa của nơi này thì những lời đồn không phải không có căn cứ.

Nghe đâu sau khi thái tử Long Thâu mất, tiên đế vốn có ý lập Long Đĩnh làm thái tử song bá quan văn võ ngăn cản.

Bỏ con trưởng lập con thứ làm thái tử thì không phải lễ(9).

Nếu từ lúc đó Long Đĩnh đường đường chính chính trở thành thái thì Đại Cồ Việt có khi đã tránh được một trận mưa máu gió tanh, nội chiến hơn nửa năm trời.

Đã lâu mới có dịp quay trở lại Đằng Châu, Long Đĩnh sai mở một buổi tiệc rượu nhỏ khoản đãi.

Chập tối mọi người đã đến đông đủ, tôi háo hức đợi xem hôm nay có rượu hoa cau hay không thì chợt thấy Trần Uy từ đằng xa đi lại.

Thường thì trong các dịp hội họp tiệc tùng đừng nói là Giáo thụ, ngay cả các quân y tôi cũng chưa từng thấy tham dự.

Nay chỉ là một buổi tiệc nhỏ mà Trần Uy ở đây chẳng phải hơi kỳ lạ hay sao?

Tôi nhìn thầy mình, Trần Uy đi một mạch tới chỗ Lịch Vũ, nói gì đó rất nhỏ.

Ngay lập tức Lịch Vũ đứng dậy, rời khỏi bàn tiệc đi theo Trần Uy.

Thân là thư đồng của y hơn nữa còn là Hội trưởng Hội người tò mò Đại Cồ Việt, tôi nhanh nhảu bám theo.

Qua mấy lần cửa cuối cùng cũng đuổi kịp, tôi chắp hai tay phía trước tỏ vẻ ngoan ngoãn, hỏi Lịch Vũ:

"Bẩm Đô chỉ huy sứ, có việc gì mà gấp gáp vậy ạ?"

Lịch Vũ lúc này đã vừa tới phòng phía Đông của Long Đĩnh, y dừng lại nhìn vào cánh cửa, ánh mắt cương nghị nhưng có đến mấy phần lo lắng:

"Chúa thượng nhiễm ma chẩn rồi!"

Lý nào lại vậy?

Tôi đi theo Trần Uy và Lịch Vũ tiến vào trong nhưng lòng như có lửa đốt.

Ma chẩn?

Phải chăng là nguồn bệnh từ trại Phù Lan?

Tôi nhẩm tính: cả thôn Nam Ninh khi ấy đều bị phong toả thì lấy đâu ra việc người bệnh tiếp xúc gần được.

Đồ vật?

Đồ vật thì sao?

Có khi nào đồ vật trong khu nhiễm bệnh đã bị truyền ra bên ngoài, rơi vào tay Long Đĩnh và đồng thời truyền virus gây bệnh không?

Trong phút chốc tôi thấy chân tay mình bủn rủn, tim như chệch đi vài nhịp.

Không phải là... do bức "mật hàm" của tôi đấy chứ?

*Chú thích:

(1) Thượng bất chính, hạ tắc loạn: Người trên mà không chính trực, nghiêm chỉnh, tử tế thì người dưới tất sẽ làm loạn, cướp bóc, càn quấy.

(2) Tuyên uỷ sứ: Thời Đường là tướng lâm thời phái đi làm việc (Từ điển chức quan Việt Nam). (3) Sách Võ kinh (Binh thư yếu lược).

(4) "Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Vua Kiệt nhà Hạ thích giết người, đến nỗi có hình phạt leo cột đồng nung nóng, vua Trụ nhà Thương thích giết người đến nỗi có việc chặt đùi người lội nước buổi sáng, tuy có Long Bàng, Tỷ Can là người hiền hết lòng trung có sức can ngăn mà đều bị giết, vì thế mất nước một cách đột nhiên.

Đời sau những vua thích giết người như Tôn Hạo nước Ngô cũng nhiều, cuối cùng đều diệt vong cả.

Ngọa Triều không những chỉ thích giết người, lại còn oán vua cha không lập mình làm thái tử, đánh đau người Man, cho họ kêu gào, nhiều lần phạm húy cha mà lấy làm thích, thật quá tệ.

Mất nước mau chóng, há phải không do đâu mà ra?" (Đại Việt sử ký toàn thư)

(5) long chu: Thuyền làm theo hình con rồng.

Thuyền rồng.

Thuyền vua đi.

(6) bỉ lậu: thô tục quê mùa.

(7) "Quân về đến Đằng Châu, đổi tên châu ấy làm phủ Thái Bình." (Đại Việt sử ký toàn thư)

(8) Các chi tiết về sự tích khai sinh là tên gọi Thái Bình được dựa trên thần tích đền Mây, Hưng Yên (Nơi thờ sứ quân Phạm Bạch Hổ - Thổ địa của Đằng Châu)

(9) Trước đó Long Đĩnh xin làm thái tử, vua có ý muốn cho.

Đình thần nghị bàn cho rằng không lập con trưởng mà lập con thứ là không phải lễ.

Vua bèn thôi.

Đến đây lập Long Việt làm hoàng thái tử mà gia phong Long Đĩnh và Long Tích làm Đại Vương." (Đại Việt sử ký toàn thư)
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Lúc Biết Xuyên Không Thì Đã Muộn!
Chương 13: "Động phòng"


Trước cửa phòng của chúa thượng đám người ngự y đứng vây kín đen kín đỏ.

Vừa lúc có hai vị ngự y già vừa chạy từ trong phòng ra vừa lắp bắp:

"Ma...chẩn.

Thực sự là Ma chẩn."

Tôi nhìn quanh, trán ai nấy ướt rịn mồ hôi dù đương là mùa xuân tiết trời mát mẻ.

Ma chẩn vẫn luôn là căn bệnh gieo rắc nỗi kinh hoàng cả về độ nghiêm trọng lẫn việc lây lan chóng mặt của chúng.

Lúc này ngự y béo nhất trong đám tiến lên phía trước, chắp tay hô lớn:

"Chúa thượng nguy kịch, từ lúc tới phủ người đã sốt cao li bì không tỉnh, chỉ vận nước đổi dời.

Khẩn xin lập tức báo tin này về cung để liệu bề chuẩn bị."

"Không được!"

- Lịch Vũ gằn giọng.

"Đô chỉ huy sứ, tại sao không được?

Nay bệnh tình nguy cấp, nước không thể một ngày không có vua.

Chúa thượng đã hôn mê, nếu còn chậm trễ tin tức chỉ e sẽ xảy ra chuyện chẳng lành."

"Chuyện chẳng lành?"

- Giọng nói của Lịch Vũ bỗng dưng lạnh tanh.

Y vung kiếm, lưỡi kiếm chỉ vừa ánh lên dưới ngọn nến mập mờ đã nghe tiếng thét thất thanh, máu tươi bắn ra khắp nơi trên mặt đất.

Tất thảy mọi người sững sờ, tên Thái y béo mập kia đã bị Lịch Vũ một đao cắt tai.

Ai nấy thất kinh giật lùi ra xa, mặt cắt không ra hột máu.

Bản thân tôi dù từng chứng kiến tình cảnh tương tự cũng không tránh được việc bị doạ cho mất mật, sợ đến nỗi hai chân như chôn chặt xuống nền đất.

"Đô chỉ huy sứ, người..."

- Đám ngự y lao xao nhưng không dám nói to, đứng co cụm lại với nhau như thể làm vậy có thể an toàn hơn đôi chút.

"Chúa thượng lâm trọng bệnh, các ngươi không lo hết lòng cứu chữa mà đi suy tưởng đại sự, còn tự ý truyền ra những lời mình nghe được nơi cửu trùng ấy là tội bất trung.

Ta cắt tai hắn làm gương, lần sau sẽ lấy đầu kẻ nào dám tiết lộ đại sự."

Lời nói của Lịch Vũ rõ ràng đến độ tôi cảm nhận được rõ da đầu mình run lên sau từng câu từng chữ.

Khuôn hàm y bạnh ra, vết máu tươi hằn lên gương mặt sẹo khiến không chỉ tôi mà cả đám thái y run như cầy sấy.

Dẫu vậy một thái y già nhất vẫn tiến lên cãi lý:

"Ngươi chỉ là Đô chỉ huy sứ, sao dám cả gan làm xằng làm bậy?"

Lịch Vũ cả cười:

"Ta nhận quyền ngoại khổn(2), kính giữ phương lược(3), chẳng may có làm chuyện càn rỡ sẽ tự mình chịu tội.

Ở nơi này ngoài chúa thượng ra ai là người có quyền quyết định?"

Tất thảy mọi người lấm lét nhìn nhau.

Trần Uy tiến lên phía trước, chắp tay:

"Là Đô chỉ huy sứ."

Lịch Vũ gật đầu hài lòng:

"Ta cần người ngay lập tức vào trong túc trực bên thánh giá.

Ai hiến sức mình cho chúa thượng thì giữ lại.

Những kẻ bất trung bắt nhốt hoặc giết ngay."

Cùng lúc này Thân quân rầm rập tiến lên, vòng trong vòng ngoài vây chặt đám quân y.

Mấy người họ nhìn nhau lần nữa, người này đùn đẩy người kia.

Ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau.

Trong tình hình căng thẳng mà ma chẩn lại vốn là dịch bệnh chín cửa tử một cửa sinh, chẳng ai muốn giơ đầu chịu báng.

Cho dù là chúa thượng nhưng với tình hình căng thẳng như hiện tại chắc gì đã qua khỏi để trị đám thái y này tội thất trách?

"Để ta đi."

- Giáo thụ Trần Uy bước lên trên.

Đúng là thầy của tôi, không hổ danh lương y dạy dỗ cả trăm học trò.

Y đức của người là thứ tôi kính trọng hơn cả.

Có thầy đương nhiên phải có trò, tôi cũng bước theo Trần Uy:

"Bẩm Đô chỉ huy sứ, để Đam hầu bệnh chúa thượng."

Đám Thái y xì xào bàn tán, hái độ khinh thường thấy rõ.

Dù họ không dám tự mình đi nhưng cũng không tin tưởng để một tên nô bộc làm thầy thuốc trị bệnh cho chúa thượng.

Tôi cũng chẳng để tâm nhiều mà chỉ kiên định:

"Đam từng trị ma chẩn ở thôn Nam Ninh, trại Phù Lan, cũng coi như có chút ít kinh nghiệm."

"Đây là học trò của ta hãy cho cùng vào.

Nếu có bề gì ta sẽ chịu hết."

- Trần Uy đỡ lời cho tôi.

Chỉ chờ câu đó của Giáo thụ ngay lập tức cả đám Thái y như sắp chết đuối vớ được củi khô, thi nhau gật đầu lia lịa.

Tôi bẩm với Lịch Vũ:

"Đô chỉ huy sứ hãy cho khoanh vùng tất thảy những người từng hầu hạ chúa thượng.

Nội trong mười lăm ngày những người ấy không phát bệnh mới có thể thả ra, bằng không e rằng bệnh dịch sẽ sớm lan ra khắp nơi.

Người rõ cách làm nhất là La Đạc, xin người hãy cho truyền y để ngăn chặn ma chẩn."

Lịch Vũ gật đầu, triệu một toán Thân quân đến nhanh chóng vậy chặt toàn bộ nơi này.

Tôi cúi chào rồi nối gót Trần Uy đi vào trong.

***

Tôi không phải bác sĩ được đào tạo chính quy, đừng nói đến Lời thề Hippocrates(4), với tôi thì kể cả y đức thì có cũng được không có cũng chả sao.

Dù vậy tôi liều mình đi vào cửa tử, dùng một mạng của mình đổi một mạng của Long Đĩnh là có lý do riêng.

Một là phản loạn chỉ vừa dẹp yên, chiến trận với giặc Man phía Nam vẫn còn đang tiếp tục.

Nếu tin tân quân đổ bệnh bị truyền ra thì đoán chừng chẳng bao lâu nữa sẽ thấy khắp nơi binh mã nổi dậy, mưa máu gió tanh phủ kín trời, bách gia trăm họ lầm than không kể xiết.

Đó cũng là lý do mà Lịch Vũ bỗng chốc trở nên cực kỳ đáng sợ.

Hẳn y cũng biết rất rõ hậu quả sẽ như thế nào nếu tin tức này bị lộ ra.

Hai là vạn nhất Long Đĩnh băng hà thì rất có thể người đăng cơ tiếp theo sẽ không phải là Lý Công Uẩn.

Hiện tại Lý Công Uẩn chỉ mới là một Tứ sương quân phó chỉ huy sứ nhỏ nhoi, hoàng vị so với ngài ấy mà nói cách biệt một vạn tám nghìn dặm.

Những kẻ có khả năng dấy binh đoạt ngôi nhất chính là anh em của Long Đĩnh.

Ngự Bắc Vương ở Phù Lan, Ngự Man Vương ở Phong Châu hay một vị thân vương nào đó bất kỳ mà tôi còn chưa hay biết.

Vậy thì lịch sử Đại Cồ Việt sẽ viết lại.

Lý do cuối cùng, dù không chắc chắn nhưng khả năng Long Đĩnh nhiễm bệnh do bức mật hàm tôi gửi về từ thôn Nam Ninh là rất cao.

Tôi cần phải chịu trách nhiệm cho hành động của mình.

Nếu cứ tiếp tục thì một khi hiệu ứng cánh bướm đã xảy ra sẽ không cách nào ngăn chặn nổi.

***

Thấy tôi theo Trần Uy bước vào, Bạch Vỹ thoáng chút ngạc nhiên nhưng vẫn quỳ bên hầu cận chúa thượng.

Long Đĩnh nằm im, hai mắt nhắm nghiền.

Trần Uy nghiêm túc chẩn mạch một hồi rồi bảo tôi cũng tới xem.

Thầy trò chúng tôi dùng ánh mắt trao đổi với nhau, nói đoạn Trần Uy lệnh cho tôi hãy cởi áo chúa thượng ra.

Nói gì thì tôi cũng là con gái nhà lành, việc này có chút bất tiện nhưng cũng đành chịu.

Tôi dồn sức lật nghiêng cơ thể vạm vỡ của Long Đĩnh, kéo áo y ra.

Ngay nơi có hình xăm rồng rất lớn vùng bụng và ngực, ban sởi mọc dày chi chít.

Ngay cả mặt mũi chân tay cũng không chỗ nào không lấm tấm nốt sởi đỏ.

Đợi Trần Uy xem xét xong tôi kéo áo lại cho Long Đĩnh.

Toàn thân y nóng ran, xem chừng đã sốt cao mê man không tỉnh.

Với tình trạng bệnh như thế này đoán chừng cách đây vài ba ngày hẳn đã có triệu chứng, chỉ là lúc đấy ban sởi chưa phát ra mà việc nước việc quân nơi chiến trường ngày đêm bộn bề, Long Đĩnh hẳn cứ thế cho qua.

Trong phút chốc lòng tôi cảm thấy chua xót.

Dù là chúa thượng uy phong lẫm liệt song đến lúc đổ bệnh lâm nguy bầy tôi lại sợ chết mà đùn đẩy, ai nấy chỉ lo cho thân mình mà chẳng thèm đoái trông đến.

Đế vương bao đời, cuộc sống có bao giờ dễ dàng chứ?

Tôi theo Trần Uy đi ra gian phía bên ngoài.

Bệnh tình của Long Đĩnh quả là không khả quan lắm.

Xem qua chất lưỡi thì rêu lưỡi vàng, chất lưỡi đỏ.

Chẳng những vậy vị chúa thượng kia còn ho liên tục, dù ngủ thiếp đi nhưng nước mắt vẫn ướt đẫm gối.

Trần Uy ngồi xuống ghế đăm chiêu một hồi, vốn định thảo một thang thuốc nhưng còn chần chờ chưa quyết định.

Tôi hiểu tâm trạng của thầy mình.

Giả như tôi, ở thôn Nam Ninh tôi có thể tuỳ ý góp chút tài hèn nhưng nơi cửu trùng(1) này chỉ cần một sơ sẩy sẽ ảnh hưởng đến vận mệnh trăm vạn người.

Áp lực mỗi lần bốc thuốc kê đơn là không nhỏ.

Tôi đứng bên im thin thít, Trần Uy vẫy tôi, nói đoạn ra hiệu cho tôi ngồi xuống ghế đối diện.

"Trò nói ta nghe, trò định làm như thế nào?"

Tôi bối rối.

Ở nơi khác thì chẳng có gì phải ngại nhưng trước mặt Trần Uy tôi có chút lo lắng.

Đại khái cảm giác cũng tương tự như lúc bị giáo viên gọi lên bảng trả bài.

Cẩn trọng suy nghĩ một hồi, tôi lí nhí:

"Bẩm Giáo thụ, chúa thượng hiện đang trong thời kỳ ma chẩn mọc lại sốt rất cao, cần thanh độc giải nhiệt cho người."

- Tôi vừa nói vừa quan sát phản ứng của Trần Uy, thấy thầy vuốt râu đăm chiêu suy nghĩ tôi mới dám nói thêm - "Đam dâng phương thuốc Hoá thanh biểu thang gồm: Tiền hồ, chi tử, phòng phong, bạc hà, hoàng liên."

Trần Uy tiếp lời:

"Cát cánh, mộc thông, hoàng cầm, cam thảo.

Lại thêm tri mẫu, ngưu bàng tử, huyền sâm, địa cốt bì, thiên hoa phấn, tang diệp và cát căn, liên kiều, đăng tâm nữa phải không?"

Tôi gật đầu liên tục, lúc này mới lấy lại tự tin:

"Dạ phải, dạ phải!"

Trần Uy có vẻ như còn đắn đo nhiều nhưng cuối cùng cũng gật đầu.

"Cũng không còn cách nào khác, thầy trò ta phải liều một phen thôi."

***

Trần Uy bốc thuốc xong sai tôi đi sắc.

Tôi cẩn trọng tự tay mình làm từ đầu chí cuối, lúc bát thuốc nóng hổi nghi ngút khói bốc lên còn ngồi vừa quạt vừa thổi, từ từ đút từng thìa cho vị chúa thượng kia.

Tôi nhờ Bạch Vỹ đổi sang chăn mỏng hơn cho Long Đĩnh rồi mở hé cửa sổ cho thông thoáng.

Người đang sốt càng đắp chăn dày, thân nhiệt càng lên cao và người bệnh sẽ càng cảm thấy lạnh hơn.

Nếu sốt cao không hạ thân nhiệt kịp thời thì hệ thần kinh trung ương có thể bị ảnh hưởng.

Long Đĩnh dùng thuốc xong thì đâu chừng hơn một canh giờ sau bắt đầu hạ sốt nhưng vẫn không có dấu hiệu tỉnh lại.

Trần Uy ở gian ngoài nghiên cứu y thư, tôi cùng Bạch Vỹ ở trong này túc trực bên giường chúa thượng.

Khoảng chừng giữa đêm tôi đang thiu thiu ngủ thì chợt nghe giọng đàn ông khản đặc gọi lớn:

"Mau!

Mau chạy đi!"

Tôi choàng mở mắt thấy Long Đĩnh đang nắm chặt tay mình, mê sảng.

Thấy tình hình không khả quan lắm tôi khẽ lay Long Đĩnh, gọi:

"Chúa thượng!

Chúa thượng!"

Long Đĩnh không có phản hồi, chỉ mấp máy môi, khuôn mặt lộ rõ vẻ bi thương đến đau lòng.

"Đừng ở lại.

Đi đi, đi đi!"

Long Đĩnh giữ chặt tay tôi, áp tay lên má mình.

Đến lúc này tôi mới nhận ra thân nhiệt y rất cao, nóng ran như lửa đốt.

Thôi chết, sao còn sốt cao hơn vừa nãy thế này?

Chẳng nhẽ thuốc có vấn đề sao?

Tôi lập tức gọi Bạch Vỹ tới, Vỹ hớt hải:

"Có chuyện gì?"

"Chúa thượng không ổn rồi.

Mau gọi Giáo thụ tới đây!"

Bạch Vỹ còn chưa kịp rời đi thì Trần Uy ở gian bên ngoài nghe động liền chạy tới.

Nhìn sơ qua tình hình người như đã đoán được, lập tức đi tới chẩn mạch.

Đôi hàng lông mày đã bạc của Giáo càng thêm nhíu chặt lại, nói đoạn Trần Uy trầm giọng:

"Chuẩn bị châm cứu cho chúa thượng."

Là "con nhà nòi" đích thực thì việc châm cứu với tôi chẳng còn xa lạ gì.

Dù vậy nhưng việc châm cứu trên người một vị quân vương thì khác hoàn toàn.

Tôi biết rất rõ không phải cứ cầm cây châm lên rồi muốn châm vào đâu cũng được.

Cần căn cứ vào vị trí nông sâu của bệnh, tình trạng của người bệnh và tác nhân gây bệnh, loại hình và xu thế chung của bệnh để chọn phương pháp châm cứu và các thủ thuật châm cứu cho chính xác nhất.

Đấy còn chưa kể đến cơ thể có tới mười hai kinh mạch chính, tám kinh mạch phụ, kinh biệt, kinh cân, biệt lạc, tôn lạc, phủ lạc, ba trăm mười chín huyệt ở đường kinh chính, năm mươi hai huyệt ở đường kinh phụ.

Chỉ tính riêng trên đường kinh cũng đã là sáu trăm chín mươi huyệt nằm trên mười bốn đường kinh cả hai bên, thêm hai trăm huyệt ngoài đường kinh, một kim châm cứu nhầm cũng có thể khiến tình hình Long Đĩnh thêm nặng, hôn mê hoặc bại liệt cũng không phải không thể xảy ra.

Mồ hôi mẹ mồ hôi con thi nhau chảy ra.

Trần Uy giục:

"Nhanh lên, không kịp mất!"

Tôi tự vấn bản thân tại sao phương thuốc kia với người ở Trại Phù Lan có thể làm thuyên giảm bệnh tình nhưng với Long Đĩnh thì không?

Thậm chí là bệnh tình còn có phần nặng hơn?

Cơ địa mỗi người mỗi khác và tình trạng bệnh cũng không giống nhau, hiện tại Long Đĩnh đã mê man suốt mấy canh giờ, sốt cao mê sảng, có dấu hiệu của nhiễm độc thần kinh, nếu còn chần chờ chỉ e là lành ít dữ nhiều.

Bạch Vỹ đã nhanh nhẹn đỡ Long Đĩnh ngồi dậy, bảo tôi lột đồ của Long Đĩnh theo chỉ thị của Trần Uy.

Lần thứ hai trong ngày, dù rất không muốn nhưng tôi vẫn phải làm theo.

Trần Uy để Long Đĩnh ngồi tựa vào Bạch Vỹ, hơi cúi đầu, quay cổ qua lại phải trái để xác định vị trí huyệt đại chuỳ rồi sau đó giữ tay đánh dấu vị trí, bảo Vỹ để Long Đĩnh nằm sấp.

Kim đầu tiên được châm xuống, Long Đĩnh vẫn không hề có phản ứng gì.

Trần Uy tìm huyệt thứ hai - hợp cốc.

Hợp cốc nằm ở kẽ xương đốt bàn tay hai và ba huyệt ở trên cơ liên cốt mu bàn tay một, phía dưới đốt bàn tay hai.

Châm 8/10 thốn, cứu điếu ngải chừng ba đến bảy phút.

Sau đó tiếp tục cho cách huyệt túc tam lý, phế du, xích trạch, nội đình.

"Chúa thượng có đau họng không?"

- Tôi quay sang hỏi Bạch Vỹ.

"Có" - Bạch Vỹ gật đầu.

Vốn dĩ việc châm cứu đã kết thúc nhưng nghe câu hỏi của tôi Trần Uy rút kim châm thêm tại huyệt thiếu thương.

Châm cứu trước nay luôn là việc khó khăn căng thẳng, châm cứu cho chúa thượng càng áp lực hơn bội phần.

Việc vừa xong cả ba chúng tôi người ướt sũng như tắm, Trần Uy cất gọn đồ nghề của mình vào hộp gỗ.

Tôi lẽo đẽo theo thầy mình đi ra cửa.

Tới gian ngoài Trần Uy hỏi:

"Với tình trạng hiện tại của chúa thượng, trò định xử trí ra sao?"

Tôi sợ mình lại phạm sai lầm bèn chỉ đứng im vân vê gấu áo.

Trần Uy vỗ vai tôi:

"Vừa nãy có phải trò đã dâng phương thuốc tốt nhất mà trò có thể nghĩ ra không?"

Tôi gật đầu quả quyết:

"Đam đã tận tâm tận lực, chỉ là..."

Trần Uy lắc đầu:

"Thế là đủ."

Tôi hiểu ý của Giáo thụ.

Miễn là trên không thẹn với trời, dưới không thẹn với lòng, toàn tâm toàn sức cứu chữa bệnh nhân thì có điều gì để mà e sợ?

Tôi ngẫm nghĩ một hồi, cuối cùng hỏi Trần Uy:

"Dạ bẩm Giáo thụ, tới đây trò tính dùng bài Hoá ban thang gồm sừng trâu, tri mẫu, huyền sâm, gạo tẻ và cam thảo, người thấy sao ạ?"

Trần Uy đi đi lại lại trong phòng, cân nhắc thật kỹ về liều lượng mỗi loại với tôi.

Nói đoạn Trần Uy gật đầu, cười khổ:

"Chúa thượng đang lâm nguy, ta đành liều cái mạng già này cùng gia quyến.

Nguyện một lòng dốc sức, những chuyện khác chỉ có thể phó mặc cho trời."

Đêm hôm đấy tôi thức trắng, tự mình sắc thuốc rồi tìm cách cho Long Đĩnh uống.

Bạch Vỹ mệt quá đã ngủ gục trên bàn trà từ bao giờ.

Tôi mon men ngồi dưới đất, đặt tay lên trán chúa thượng.

Tình trạng của Long Đĩnh có vẻ khả quan hơn nhưng cũng khó để nói trước.

Tôi không dám ngủ dù hai mắt chỉ muốn díu lại.

Ngộ nhỡ Long Đĩnh xảy ra chuyện gì mà tôi ham ngủ không hay biết thì sẽ ân hận suốt đời.

Chi bằng túc trực bên cạnh, nếu Long Đĩnh nửa đêm tỉnh dậy mà cần gì cũng có tôi ngay đây.

Long Đĩnh đã cắt sốt, trên trán lúc lúc lại ướt rịn mồ hôi.

Tôi dùng chiếc khăn lụa mỏng thấm nhẹ cho y.

Tuổi chỉ vừa đôi mươi nhưng chinh chiến nơi chiến trường không nghỉ, so với những vị thân vương khác tôi từng gặp thì Long Đĩnh trưởng thành hơn rất nhiều.

Duy chỉ có vẻ phong nhã hào hoa của dòng dõi đế vương là không hề suy chuyển.

Cũng phải thừa nhận trong tất cả anh em của "Khai Minh Vương" thì y là người phong trần nhất, cũng là người có đôi mắt thâm trầm nhất, đẹp nhất mà tôi từng thấy.

Tôi tự vả cho mình một cái thật đau!

Giữa đêm giữa hôm ngồi ngắm bạo chúa Lê Long Đĩnh thì chắc chắn tôi đã chán cái mạng quèn này.

Nếu yêu quý mạng sống của mình, hãy tránh xa Lê Long Đĩnh!

______

Chú thích:

(1) cửu trùng: Chín lần, chín bậc.

Chỗ vua ngồi.

Cũng chỉ nhà vua. (Từ điển Nguyễn Quốc Hùng)

(2) ngoại khổn: tức "khổn ngoại" (ngoài cửa khuyết).

Thời cổ vua sai đại tướng ra trận thường cử hành lễ đưa tiễn, nhà vua đích thân đẩy vào bánh xe của đại tướng nói: "Từ cửa khổn vào trong thì ta làm chủ, từ cửa khổn trở ra thì tướng quân chế ngự", ý nói giao toàn quyền, về sau cũng được dùng chỉ chung việc coi quân trị dân ở các địa phương. (Tống Sử)

(3) phương lược: Đường lối để làm việc lớn.

(4) Lời thề Hippocrates: Ở nhiều quốc gia và cả Việt Nam, các thầy thuốc phải đọc Lời thề Hippocrates khi chuẩn bị ra trường để hành nghề.

Lời thề này được các sinh viên Y khoa đọc và nguyện làm theo trong lễ tốt nghiệp.

(5)huyệt đại chuỳ: huyệt đạo lớn thứ 14 của mạch Đốc, tên gọi huyệt đại chùy có nghĩa là phần xương lớn nhô lên.

Huyệt này chính là phần nằm trên chỗ lồi lớn của ụ xương đốt sống cổ thứ 7.

(6) huyệt hợp cốc: huyệt hợp cốc: thuộc đường kinh đại trường (đại tràng), huyệt thứ tư.

Hợp cốc nằm trên mu bàn tay, tại vị trí giao nhau (hợp) của miệng hang (cốc)do đó mà huyệt vị có tên là hợp cốc.

(7) huyệt túc tam lý: hay còn gọi là hạ lăng, hạ tam lý, tam lý, quỷ tà, là huyệt vị thứ 36 trên đường kinh Vị.

(8) huyệt phế du: nằm ở vị trí gần sát với phổi, là huyệt đạo thứ 13 của cơ thể tại vùng bàng quang kinh, nơi kinh khí của phế thấm trực tiếp vào bên trong cơ thể.

(9) huyệt xích trạch: Huyệt ở chỗ trũng (giống cái ao - trạch) cách lằn chỉ cổ tay một xích (đơn vị đo ngày xưa), vì vậy gọi là xích trạch (Trung Y Cương Mục).

(10) Đoài theo Kinh Dịch có nghĩa là cửa (môn), miệng (khẩu), ví như cái đình.

Huyệt ở phía trong (nội) so với huyệt lệ đoài, vì vậy gọi là nội đình (Thường Dụng Du Huyệt Lâm Sàng Phát Huy).

(11) thiếu thương: hay huyệt quỷ tín thuộc kinh Phế.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Lúc Biết Xuyên Không Thì Đã Muộn!
Chương 14: Cháy nhà ra mặt chuột


Sáng hôm sau Long Đĩnh gần như đã cắt được hẳn các cơn sốt cao, người chỉ còn hâm hấp nóng nhưng vẫn còn mê man chưa tỉnh.

Lúc Giáo thụ vén bức rèm châu bước vào tôi đang ngồi bệt dưới đất, mắt mũi lờ đờ.

Dù gì tôi cũng đã thức cả đêm canh giấc cho vị chúa thượng kia.

Trần Uy chẩn mạch, hồi lâu sau ông mới rời đi, ra hiệu cho tôi ra phía gian ngoài.

Tôi chỉnh trang lại tóc tai quần áo, đứng bên nghe Giáo thụ hỏi han về tình hình sáng nay của Long Đĩnh.

Việc xong Trần Uy bảo tôi ngồi xuống bên cạnh, nói đoạn hỏi:

"Trò có biết tại sao tối qua tình hình chúa thượng lại đột nhiên đổi khác, nghiêm trọng hơn không?"

Tôi thành thật lắc đầu.

Trần Uy kéo tay trái tôi, đặt lên bàn:

"Bình thường trò xem mạch thế nào?"

"Dạ bẩm Giáo thụ, thanh niên trai tráng mạch đi có lực người già mạch đập yếu, phụ nữ thì mạch yếu hơn nam giới.

Người cao lớn thì mạch dài hơn, người thấp mạch ngắn.

Người gầy mạch hơi phù, người béo mạch hơi trầm.(1)"

"Còn gì nữa không?"

- Trần Uy vuốt bộ râu dài trắng bạc, nhìn tôi chờ đợi.

Tôi chỉ biết mím môi lắc đầu.

Quả thật kiến thức hạn hẹp của tôi không biết nhiều đến thế.

Những điều học mót được từ thời hiện đại không đủ dùng ở nơi một mét vuông ba người ốm như thế này.

"Khi trò xem mạch hãy nhớ rằng, mạch không chỉ có quan hệ mật thiết với tuổi tác, giới tính, thể chất và tình trạng mà còn cả thời tiết, khí hậu.

Mùa xuân mạch hơi huyền, mùa hạ mạch hơi hồng, mùa thu mạch hơi phù, mùa đông mạch hơi trầm.

Lúc trò đến trại Phù Lan là cuối đông, nay trời đã ấm áp hơn, thêm vào thể trạng mỗi người lại khác nhau.

Trò phải để ý những thay đổi nhỏ khi chẩn mạch để điều chỉnh phương thuốc từng người sao cho phù hợp."

Tôi đứng yên, chắp tay trước ngực lĩnh hội kiến thức vừa được chỉ dạy.

Cũng may tôi có một người thầy thông tuệ như Trần Uy, chẳng những tinh thông y thuật mà còn là người dám nghĩ dám làm, bằng không tối qua Long Đĩnh chỉ e đã không qua khỏi.

***

Tôi lúi húi dưới bếp cả một buổi cuối cùng cũng nấu xong nồi cháo, còn cố tình nghiền thật nhỏ hạt gạo, ninh nhừ và hơi loãng để Long Đĩnh dù vừa ốm dậy cũng không bị khó nuốt.

Chừng nào dâng cháo lên sẽ đập thêm vào một lòng đỏ trứng gà.

Vitamin A đặc biệt tốt cho người mắc sởi, phòng biến chứng mù loà xảy ra.

Dù vậy ở thời xa xôi này tôi chỉ tìm được nguồn sẵn có duy nhất là trứng gà, những thứ khác có lẽ mất đôi chút thời gian.

Nhân lúc đi qua phía Tây phủ tôi còn hái thêm mấy quả quýt trong vườn, đã cuối vụ song vẫn sum suê vàng óng.

Quýt này vắt lấy nước, dù không có vitamin A nhưng được cái ngon, cho Long Đĩnh uống tạm cũng được.

Lệnh ban xuống từ đêm qua, mọi tin tức đều bị phong toả.

Đầu tiên là đám Thái y bị giam lỏng rồi kế đến là tất thảy người hầu kẻ hạ, đại để là không một ai được phép bước chân ra khỏi phủ Khai Minh Vương.

Bên ngoài quân lính vẫn vây chặt bất kể ngày đêm, mà tôi đồ rằng chuyện Long Đĩnh đổ bệnh không được truyền ra tới đấy.

Trong này hầu cận Long Đĩnh ngoài tôi và Trần Uy cũng chỉ có thêm Bạch Vỹ.

Một là hạn chế tối đa việc để lộ tin tức ra ngoài, hai là không để lây lan bệnh dịch.

Lúc tôi trở vào Bạch Vỹ đang cởi áo lau người cho Long Đĩnh.

Tôi quay lưng toan bỏ đi ngay nhưng Bạch Vỹ đã gọi lại phụ giúp y một tay.

Thôi được rồi, giúp thì giúp, tôi thì sợ gì mấy cái chuyện này chứ?

Dù nói vậy nhưng tim tôi vẫn đập liên hồi, tay chân lóng ngóng.

Bạch Vỹ cởi lớp áo ngoài, vòm ngực rắn chắc cùng những hình xăm rồng rất lớn trên người Long Đĩnh hiện ra.

Bạch Vỹ giữ cho vị chúa thượng kia nằm ngay còn tôi thì nhúng khăn vào nước ấm rồi cẩn thận lau từng chút một.

Dưới ánh nắng xuân nhàn nhạt tôi nhìn rõ những vết sẹo lớn nhỏ khắp người Long Đĩnh.

"Chúa thượng... sao nhiều sẹo thế này?"

- Tôi thảng thốt.

Bạch Vỹ chua xót:

"Người vì mong chứng tỏ mình với tiên đế mà tuổi vừa mới lớn đã bôn ba nơi sa trường.

Ngươi xem vết sẹo này đi."

- Bạch Vỹ trỏ một đường dài ngang hông Long Đĩnh - "Chúa thượng bị quân Man tập kích.

Khi ấy ở doanh trại còn không kịp mặc giáp.

May mà vẫn có thể hoá nguy thành an, xoay chuyển càn khôn(2)."

Tôi nhúng khăn vào nước ấm, lau hai cánh tay Long Đĩnh.

"Thế còn cái này?"

"Chó sói cắn ở doanh trại Ma Hoàng năm mười lăm tuổi."

"Còn cái này?"

"Do luyện đao năm mười tuổi."

Tôi quệt ngang mũi:

"Ngươi đúng là thân tín của chúa thượng nhỉ?

Vết thương nào của người cũng hay."

"Không hẳn."

- Bạch Vỹ nhún vai, trỏ lên đuôi chân mày của Long Đĩnh có một vết thâm rất mờ, gần như không nhìn ra nổi.

- "Cái này ta không biết.

Đêm nọ chúa thượng về bỗng dưng bị sưng."

Tôi gật đầu cho có lệ nhưng con quỷ tò mò trong lòng lại trỗi dậy thôi thúc tôi phải hỏi.

Tôi sấn sổ lại chỗ Bạch Vỹ, hỏi:

"Đêm nọ là đêm nào?"

"Thì người bảo đi dạo bên ngoài, khi về đã như vậy rồi.

Để ta xem nào..."

- Bạch Vỹ ngần ngừ giây lát - "Nếu tính ra là đêm trước ngày ngươi tới doanh trại đấy!"

Khuôn mặt háo hức hóng chuyện của tôi trở nên cứng đờ kèm theo hai khoé miệng từ từ rủ xuống.

Những phân cảnh về đêm xuyên không hiện về, rõ nét và sống động như thể chỉ vừa mới hôm qua.

Tôi nhớ rõ hương thơm của những ly cocktail mình uống, nhớ luôn cả cảm giác quay cuồng khi say rượu và đương nhiên, tôi nhớ ra cả giây phút mình tháo giày cao gót và ném vào người đàn ông cưỡi ngựa nọ.

Cái khăn đang cầm dở trên tay rơi bịch xuống theo một cách rất điện ảnh.

Hai hàng mi của tôi run rẩy nhưng không dám khóc, quay thật chậm sang nhìn Long Đĩnh.

Ngay giây phút đó một điều kinh hoàng nhất đã xảy ra: Long Đĩnh đã tỉnh từ khi nào, trên khuôn mặt điển trai lấm tấm những nốt ban đỏ.

Y nhìn tôi, khoé môi cong lên như đang chế giễu.

Tôi hoảng hồn lùi lại, nói đoạn quỳ rạp xuống bằng cả hai chân:

"Chúa thượng vạn tuế!

Chúa thượng đã tỉnh."

Khỏi phải nói Bạch Vỹ mừng đến thế nào, Vỹ chạy tới bàn toan rót trà dâng lên.

Đương nhiên cơ hội tốt để chạy trốn khỏi hiện trường tôi nào bỏ lỡ.

Tôi vồ lấy ấm trà, khúm núm đi đến:

"Môi chúa thượng hơi khô hẳn người phải khát nước lắm."

Long Đĩnh cầm chén trà uống cạn nhưng mắt vẫn nhìn tôi trừng trừng.

Nếu tôi quả thật là người đêm ấy ném giày trúng chúa thượng thì đừng hỏi vì sao từ ngày đến đây gặp đủ loại tai ương.

Vẫn còn cái mạng mà quỳ hầu trước mặt Lê Long Đĩnh đã là tốt lắm rồi.

Tin Long Đĩnh tỉnh được Bạch Vỹ chạy đi báo ngay ra bên ngoài cho Lịch Vũ.

Gần như chỉ trong giây lát sau đã nghe tiếng người đàn ông quen thuộc ngoài cửa.

Bạch Vỹ nói lớn vào trong:

"Bẩm chúa thượng, Đô Chỉ Huy Sứ xin yết kiến."

"Cho vào!"

Lịch Vũ tiến tới nét mặt vô cùng căng thẳng.

Tôi hầu cận bên Lịch Vũ dù chỉ có mấy tháng trời nhưng đủ hiểu không dưng mà chúa thượng chỉ vừa tỉnh y đã nhất nhất muốn vào gặp.

Lịch Vũ chắp tay thi lễ:

"Bẩm chúa thượng, Tướng quân La Lân gửi mật thư sắp không giữ được cửa biển Thần Đầu, khẩn xin chi viện, bằng không giặc Cử Long sẽ sớm tràn qua nơi ấy."

Long Đĩnh chau mày, nét mặt vô cùng khó coi.

Nếu tôi là y vừa ốm một trận thập tử nhất sinh mà tỉnh dậy lại nghe tin thua trận thì chắc ức tới ói ba chậu máu rồi ngất đi.

Dĩ nhiên Long Đĩnh không như tôi, với phong thái của một vị đế vương, rất nhanh Long Đĩnh đã lấy lại được bình tĩnh, đoạn bảo:

"Nhà binh xưa nay kiêng việc ra trận mà đổi tướng song trước mắt tình hình nguy cấp.

Lệnh Đô chỉ huy sứ mang hai lữ quân hành quân cấp tốc bất kể ngày đêm, đi tắt qua sông Tham(3) tới Ái Châu(4) chi viện cho Tuyên Uỷ Sứ La Lân."

Lịch Vũ cúi đầu tiếp chỉ.

Tôi có hơi lấn cấn trong lòng.

Chủ ở đâu tớ ở đấy nhưng hiện tại việc điều trị cho Long Đĩnh còn đang dang dở.

Vậy là tôi phải xử trí như thế nào?

Đi hay ở?

Nhưng số phận không để tôi phải suy nghĩ quá lâu, lúc này một tiếng "Choang" rất lớn ở bên ngoài vọng đến như có thứ gì vừa rơi vỡ.

Tôi chạy vội ra xem thì thấy Bạch Vỹ đã nằm sõng soài trên mặt đất, tựa như không còn biết gì nữa.

Tôi chạm vào tay Vỹ liền thấy người nóng ran, thân nhiệt rất cao.

Còn chưa chẩn mạch tôi đã mơ hồ cảm nhận được điều bất ổn ở đây là gì.

Chỉ kéo tay áo Bạch Vỹ lên đã thấy lấm tấm nốt đỏ, nếu nhìn thật kỹ trên khuôn mặt trắng trẻo xinh đẹp những nốt ban li ti cũng dần hiện lên.

Ma chẩn, thêm một người nữa mắc ma chẩn!

Gần như ngay lập tức Lịch Vũ triệu vào một đám binh lính bịt mặt kín mít do La Đạc dẫn đầu điệu Bạch Vỹ đi.

Tôi hít sâu vào một hơi, không dám lại gần Lịch Vũ mà chỉ đứng xa thỏ thẻ:

"Đô chỉ huy sứ, xin người hãy bảo trọng."

Vũ gật đầu không đáp, tôi nhìn theo cho đến khi y khuất bóng sau tán tùng xanh rậm dày.

***

Lịch Vũ nhận được lệnh liền tức tốc dẫn quân tiến về Thần Đầu bất kể ngày đêm.

Bạch Vỹ ngã bệnh, người ở lại chăm sóc Long Đĩnh chỉ có thể là tôi hoặc Trần Uy.

Đương nhiên vị chúa thượng này hoàn toàn có thể hạ chỉ triệu thêm người vào chăm sóc chắc chắn không kẻ nào dám bất tuân nhưng có vẻ Long Đĩnh còn mệt, cần tĩnh dưỡng thêm nên cũng không thấy y đả động gì.

Nếu được thế thì cũng tốt, Giáo thụ tình nguyện tận trung với chúa thượng, bất chấp tuổi già sức yếu lại thêm nguy cơ lây bệnh chẳng hề nề hà.

Tôi thì đã được tiêm phòng khi còn ở hiện đại, dù không chắc chắn nhưng cũng an tâm được mấy phần.

Nếu thêm người thì việc chẳng ít đi là bao nhưng khả năng lây lan, bùng thành dịch lớn là điều chắc chắn.

Thôi thì lỡ rồi, tôi chỉ cần cố gắng mấy ngày đến khi Bạch Vỹ khỏi bệnh là sẽ ổn cả thôi.

Nhưng lúc đó tôi không hề hay biết hầu hạ bậc đế vương khó hơn hầu hạ một Đô chỉ huy sứ trăm ngàn lần!

Sẩm tối ngày tiếp theo tôi chuẩn bị nước tắm cho Long Đĩnh.

Tiết trời mùa xuân dù đã ấm áp hơn rất nhiều nhưng vẫn cần cẩn thận.

Tôi đóng hết cửa sổ, đặt chậu tắm nơi kín gió, chuẩn bị tám phần nước ấm pha với hai phần nước lạnh.

Trong quan niệm cũ bị sởi phải kiêng nước song khi sốt cao, mồ hôi nhễ nhại thì việc tắm táp, giữ vệ sinh cho lớp da mẩn đỏ là vô cùng cần thiết.

Kiểm tra nhiệt độ nước phù hợp, đốt hương trầm, lấy khăn khô, quần áo sạch tôi mới an tâm dìu Long Đĩnh tới tắm.

Mải mê chuẩn bị kỹ càng nên đến khi nhận ra khắp căn phòng này chỉ có tôi và người đàn ông họ Lê kia tôi mới tá hoả.

Trời ơi!

Không!

Trăm ngàn lần không!

Tôi đang làm cái gì thế này?

Trong đầu tôi trăm vạn luồng suy nghĩ xẹt qua xẹt lại tựa như một ngàn con tuấn mã đang giẫm lên bộ não nhỏ bé.

Ấy vậy mà tôi biểu hiện ra bên ngoài vô cùng ngu ngốc: chỉ há miệng nhìn Long Đĩnh lại nhìn bồn nước, rồi hết nhìn bồn nước lại nhìn sang Long Đĩnh.

Thấy tôi lúng túng, Long Đĩnh bảo:

"Ngươi làm sao?

Không mau hầu trẫm tắm?"

Tôi có mười cái mạng cũng không dám hầu Long Đĩnh tắm!

"Thôi bỏ mẹ rồi" - Tôi thầm nghĩ.

Tôi chỉ được cái mạnh miệng thôi chứ riêng về chuyện này thì tôi không dám thật.

Mặt tôi đỏ dần, đỏ dần đến mức cảm thấy hai tai nóng ran.

Chỉ nghĩ đến cảnh một phòng trống, hai người, một người cởi đồ thôi đã đủ khiến tôi đào mười tám tấc đất tự chôn mình xuống vì xấu hổ.

Sống ở Đại Cồ Việt binh đao máu chảy thì liêm sỉ của tôi sớm đã bị diều tha quạ mổ, tuy vậy nhưng nói đến chuyện ở trong phòng kín, tắm cho một người đàn ông là điều nằm ngoài sức tưởng tượng.

Hầu cận Lịch Vũ bấy lâu tôi chưa từng phải làm loại công việc như này!

Nghĩ đến đây từ mặt mũi đến hai tai tôi nóng phừng phừng, ho khan không ngừng.

Long Đĩnh nhìn tôi, trước khi y định nói thêm một câu khó nghe nào, tôi nhanh trí bảo:

"Chúa thượng!

Đam quên mất còn thiếu một vị thuốc, người vào tắm trước Đam sẽ quay lại ngay!"

Không đợi Long Đĩnh đồng ý, tôi lao ra ngoài như một cơn gió, vờ vịt tìm thêm thuốc trong hộp gỗ của Trần Uy.

Mãi đến khi nhìn qua bức trướng thấy Long Đĩnh đã an vị trong bồn nước tôi mới thong dong cầm mấy ngọn hương nhu khô và tía tô đi vào.

Chợt bên ngoài có động, tiếng tri hô rất to.

Long Đĩnh quay về phía tôi, quắc mắt:

"Có chuyện gì?"

"Dạ, để Đam đi nghe ngóng!"

Tôi vừa thò đầu ra bên ngoài thì thấy Thân quân cùng quân lính chạy rầm rập, nhà phía Nam đang có cháy lớn, khói bay mù mịt, lửa đỏ rực cả một góc trời.

Tôi lẹ làng rụt đầu vào, đóng cửa rồi đi thật nhanh về phía Long Đĩnh, bô bô:

"Chúa thượng chúa thượng!

Nhà phía Nam đang cháy lớn lắm ạ."

Nhưng điều kinh hãi hơn cả vụ hoả hoạn tôi vừa thấy đó chính là từ đâu có bốn người mặc áo đen lao tới, nhằm thẳng Long Đĩnh mà chém.

"Chúa thượng, cẩn thận!"

- Tôi thét thất thanh.

Long Đĩnh kịp cúi xuống tránh một kiếm đang chém tới.

Tiếng động từ phía tôi đã thành công thu hút sự chú ý của một tên khác.

Biết chuyện chẳng lành tôi co giò chạy trối chết.

Những tưởng mở cửa có thể gọi người tới giúp song khắp sân đâu đâu cũng thấy Thân quân giao tranh cực lực cùng đám người mặc đồ đen.

Một Thân quân trúng tên ngã ngay trước mặt tôi, máu trào ra từ ngực rồi tắt thở.

Tôi chẳng kịp suy nghĩ nhiều liền nhanh tay giành ngay cây kiếm từ người đã chết, đóng sầm cửa lại rồi trở vào trong, hét lớn:

"Hộ giá!"

Cả bốn kẻ cầm kiếm cùng lúc lao về phía Long Đĩnh.

Bằng một động tác thành thục, y đã kéo tên cao to nhất lại, bẻ ngoặt tay hắn về phía sau.

Tôi nghe rõ tiếng "rắc" "rắc" tựa xương khớp vừa vỡ ra.

Tên áo đen gầm một tiếng lớn nhưng đã mau chóng bị thụi thêm một cú vào bụng, cuối cùng Long Đĩnh thẳng chân đá vào mạn đùi trái.

Thích khách lảo đảo rồi bổ nhào vào bồn nước tắm.

Nhưng chỉ trong một giây lơ là ba tên kia đã cùng lúc xông lên.

Ngay lập tức Long Đĩnh bị dồn vào thế yếu.

Dù kinh nghiệm thao trường dày dặn đến mấy nhưng Long Đĩnh chỉ mới tỉnh dậy từ hôn mê, thân thể còn yếu, huống hồ ba đánh một không chột cũng què.

Chúng vây quanh rất chặt, tiếng gươm đao va vào nhau chát chúa.

Tôi đứng im phía xa tay cầm kiếm mà run cầm cập.

Tôi không có khả năng chống cự nhưng cũng rất rõ ràng đám người đấy chẳng buồn đoái hoài đến tôi.

Mục tiêu duy nhất của chúng là vị chúa thượng kia.

Long Đĩnh tránh không kịp bị một đao chém ngay giữa lưng, máu tứa ra loang đỏ thẫm.

Tôi biết lúc này mình cũng không còn lựa chọn nào khác nữa, chỉ giơ kiếm lên phòng thủ rồi gắng chạy thật nhanh về phía chúa thượng.

Rất rõ ràng, nơi đó là cửa tử.

Nhưng cũng rất rõ ràng, nếu có thể cứu Long Đĩnh ít nhất Đại Cồ Việt sẽ có một cửa sinh.

Trước cả khi mơ ước hão huyền kia của tôi trở thành sự thật thì cả ba tên đấy đã dồn được Long Đĩnh vào góc tường, giơ đao lên chuẩn bị kết thúc mọi chuyện.

Lưỡi đao sáng quắc ánh lên nhưng rồi tắt lịm, từ phía xa nghe những tiếng tên bay vun vút, những tiếng tên găm vào da thịt "phụp" "phụp" liên hồi.

Không rõ từ hướng nào mũi tên bay vào liên tục.

Cả ba tên thích khách người cắm đấy tên như nhím, lảo đảo rồi ngã xuống thây chất chồng lên nhau.

Nhóm cung nỗ quân(5) La Đạc, Lê Sương, Trần Chất chạy vào, quỳ rạp xuống:

"Bầy tôi chậm trễ, chúa thượng tha mạng."

Tôi nhanh chân chạy lại đỡ Long Đĩnh đang bị thương lên.

Long Đĩnh đứng thẳng, dùng mũi kiếm trên tay tôi vạch khăn che mặt cùng y phục của một tên gần nhất.

"Quân Man?"

- Ngữ khí của Long ĐĨnh hơi cao hơn đôi chút.

Man?

Tôi nhìn thây người vừa bị vạch mặt, rõ ràng trông y không giống những người Đại Cồ Việt mà tôi gặp lắm.

Cả khuôn mặt lẫn cách ăn vận đều hơi kỳ lạ.

Trong lúc chúng tôi đang bận quan sát bên này thì tên ban nãy bị bẻ tay ném vào bồn nước tắm đã tỉnh dậy từ bao giờ.

Hắn đứng dậy, dốc sức cầm kiếm rồi lao đến chỗ Long Đĩnh.

Phản xạ tự nhiên nhất của tôi là lao tới chắn phía trước, xô Long Đĩnh nằm ngã nhào xuống đất.

Nếu là trong phim, nhất định tôi sẽ chịu thay Long Đĩnh một nhát kiếm, vì thế mà y đem lòng cảm kích, rơi nước mắt vì tôi.

Tôi sẽ uỷ mị trong vòng tay quân tử, thì thầm: "Xin đừng quên ta", nhắm mắt rồi khi tỉnh dậy đã quay trở về hiện tại.

Không!

Một trăm lần không!

Tên thích khách ngu ngốc cầm kiếm lao đến nhưng lảo đảo, tự vướng vào chân mình rồi ngã xuống.

Long Đĩnh đang yên đang lành bị tôi xô nằm sóng soài trên đất cũng quay lại gầm gừ, mặt chỉ như muốn cắt cổ tôi ngay tại chỗ.

Cuộc đời này âu cũng là bể khổ...

Chú thích:

(1) Dựa theo "Mạch học tổng hợp" - Hoàng Duy Tân.

(2) càn khôn: chỉ thế cục, đại cục

(3) Tham: tên sông, chưa rõ ở đâu (Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục)

(4) Ái Châu: tức Thanh Hoá ngày nay.

(5) cung nỗ quân: binh lính chuyên sử dụng cung hoặc nỏ.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Lúc Biết Xuyên Không Thì Đã Muộn!
Chương 15: Man Cử Long


Giặc Man Cử Long đã quấy rầy bờ cõi suốt cả mấy trăm năm.

Man là tên dân tộc sinh sống tại vùng đất Cử Long - Ái Châu từ lâu đời.

Họ không cùng ngôn ngữ với người dân Đại Cồ Việt, dáng người cũng lực lưỡng hơn, nước da ngăm đen hơn và đặc biệt có thể thấy rõ trang phục của người Man hoàn toàn là của một tộc người thiểu số.

Vùng núi Cử Long hiểm trở, không thuận lợi cho canh tác hay sản xuất, người Man liên tục di dân trên những mảng rừng lớn tìm nơi trú ngụ.

Một bộ phận người Man không cam chịu cái đói cái nghèo, tìm vào cướp bóc, quấy phá dân làng sinh sống quanh khu vực Cử Long.

Dần già Man trở thành bộ tộc chuyên cướp bóc, phóng hoả, giết người.

Lính địa phương không chống lại được thế giặc hung hãn tàn bạo.

Thời tiên đế Lê Đại Hành còn tại vị đã từng đem quân đi dẹp loạn.

Trong trận chiến của tiên đế Lê Đại Hành năm đấy, Vương Vệ Toàn hay phế đế Đinh Toàn của nhà Đinh cũng vì trúng tên của giặc Man mà chết ngay tại chiến trường.

Thế nhưng Man Cử Long chưa bao giờ "được" xem như kẻ định đáng gờm ảnh hưởng đến an nguy Đại Cồ Việt, cùng lắm chỉ là đám "giặc cỏ" quấy nhiễu biên cương, chuyên cướp bóc.

Không biết tự bao giờ chúng đã nổi lên lòng tham thôn tính cả Đại Cồ Việt, tiến đánh thẳng cửa biển Thần Đầu, lập kế hoạch giết vua cướp ngôi.

Tôi nhẩm tính trong lòng: Long Đĩnh vừa hay trở bệnh nặng, Lịch Vũ lại rời đi chưa được bao lâu thì có kẻ đột nhập muốn lấy mạng chúa thượng.

Gian nhà phía Nam cháy đúng lúc, thành công "điệu hổ ly sơn".

Tất cả những điều này xảy ra thật quá tình cờ, tình cờ đến mức khiến người khác nghi ngờ.

***

Long Đĩnh vừa ngủ thiếp đi.

Tôi mang mấy mảnh vải xô trắng đẫm máu ra phía gian bên ngoài.

Vết thương trên vai Long Đĩnh không đáng ngại, thứ đáng ngại hơn cả là y sốt trở lại.

Ma chẩn chưa có dấu hiệu thuyên giảm lại còn chịu thêm một nhát chém trên vai, thật sự là chó cắn áo rách.

Giáo thụ Trần Uy suốt mấy ngày không ngủ, ở bên chúa thượng một chốc rồi lại chạy qua chỗ đám thiên tử quân mắc ma chẩn và Bạch Vỹ.

Ngoài ra những việc của nô bộc lẽ dĩ nhiên không phải Trần Uy mà là tôi làm.

Từ nấu ăn đến giặt giũ túc trực, canh giờ kiểm tra tình hình bệnh, gi gỉ gì gi việc gì cũng phải làm tất.

Tôi vừa đi vừa uể oải ngáp, tay đấm đấm khắp lưng.

Mới 23 tuổi mà khắp người nhức mỏi, cột sống của GenZ kể cả thời hiện đại hay xuyên không cũng chưa bao giờ là ổn.

- Ngươi mệt thì về nghỉ đi, ta thay cho.

Tôi nhìn ra ngoài thấy Lý An Tường bước vào.

Tạ ơn trời đất, tôi cũng quá mệt mỏi với việc thức ngày thức đêm canh cho Long Đĩnh rồi.

Tất cả những gì tôi cần bây giờ chỉ là một giấc ngủ.

An Tường đi tới, đứng từ xa xác nhận Long Đĩnh đang ngủ, quay lại nhìn tôi nhẹ nhàng:

- Giáo thụ bảo ta đến thay.

Đến lúc này thì tôi lại vô cùng băn khoăn.

Lý An Tường với tôi đành rằng là chung một thầy nhưng nói đi cũng phải nói lại, An Tường lại là con trai Lý Công Uẩn, tương lai sẽ là Hoàng tử.

Tiếp xúc vài lần thì thấy An Tường là người thật thà tốt bụng nếu không muốn nói là tốt phát ngốc.

Nhưng dù gì cũng chỉ là "tiếp xúc vài lần".

Họa hổ họa bì nan họa cốt, Tri nhân tri diện bất tri tâm (1).

Vậy nên nếu bây giờ tôi để Long Đĩnh ở lại với Tường thật sự không có vấn đề chứ?

Thật sự là sẽ không có chuyện gì xảy ra?

Thấy vẻ thấp thỏm không yên của tôi, Tường chỉ ra trường kỷ gian ngoài:

- Nếu không đi thì ra trường kỷ nghỉ một chốc.

Chúa thượng đang ngủ say, nơi này cũng không ai lui tới, ngươi có thể an tâm.

Được lời như cởi tấm lòng, tôi nhanh chân nhảy tót lên trường kỷ ngả lưng.

Vốn chỉ định nằm cho đỡ mỏi, tôi mệt quá ngủ quên lúc nào không hay.

Đầu canh 5 Tường lay người gọi tôi dậy, bảo chuẩn bị rời phủ Khai Minh Vương.

Tôi ù ù cạc cạc còn tưởng theo thuyền rồng của Long Đĩnh mau chóng về kinh trị bệnh nhưng hoá ra không phải.

Trong lúc tôi ngủ say Long Đĩnh đã dậy từ khi nào, lệnh ngay lập tức chuẩn bị rời phủ, thẳng tiến vào Ái Châu quét sạch giặc Cử Long.

Rốt cục là y "tham công tiếc việc" đang bệnh cũng lo cho nước cho dân hay là kẻ "có thù tất báo", ngươi chém ta một nhát thì ta diệt sạch tộc của ngươi?

Rõ ràng với Long Đĩnh tôi xin mạnh dạn chọn phương án hai.

Nhưng gì thì gì, biết rằng trên thuyền vẫn có thể dưỡng thương chữa bệnh nhưng đó chưa bao giờ là ý hay.

Tảng sáng, một trăm chiến thuyền hộ tống thuyền rồng của Long Đĩnh đi tắt sông Tham sang Ái Châu để hội họp với quân của Lịch Vũ.

Trên thuyền ngoài những gương mặt quen thuộc như tôi, Trần Uy hầu cận còn có thêm An Tường.

Vòng ngoài có hai ngũ Thiên tử quân phòng vệ.

Thuyền đi suốt một ngày không nghỉ.

Thấy Long Đĩnh sắc mặt có vẻ kém đi, tôi đến bên cạnh hỏi nhỏ:

- Chúa thượng, người không sao chứ?

Long Đĩnh không đáp, chỉ phẩy tay ra hiệu cho tôi lui đi.

Tôi đi ra bên ngoài, bảo người mang đến hai chiếc chăn bông rồi quay trở lại.

- Trẫm không lạnh.

- Đam đâu nói là người lạnh?

- Tin là trẫm cắt lưỡi ngươi không?

Hỗn xược!

- Vậy thì chúa thượng cứ ngồi dậy được rồi cắt lưỡi Đam được rồi tính.

Tôi lại gần, lật nghiêng người Long Đĩnh sang một bên, trải hai lớp chăn bông xuống dưới rồi nhanh nhẹn phủ hết lên giường, vậy là đã có một chiếc đệm êm ái.

Vừa nãy thấy cử động của Long Đĩnh khó khăn, nằm suốt một thời gian dài trên giường gỗ cứng ngắc, chưa kể sóng liên tục khiến thuyền nhấp nhô đập vào vết thương ở lưng làm y nằm không được ngồi dậy cũng không xong.

Thực ra Long Đĩnh hoàn toàn có thể bảo tôi: "Ê Đam cái thuyền này làm vết thương ta đau quá" nhưng cuộc đời nam nhân ở thời phong kiến đâu có dễ cúi đầu như vậy, huống hồ còn là đế vương.

Bị dăm ba cái thuyền làm thống khổ thì thật là mất mặt.

Tôi không phải là "lương y" nên không cần thiết phải "như từ mẫu" nhưng thành thật để Long Đĩnh chịu đau đớn thì tôi cũng không đành lòng.

- Chúa thượng có thấy đỡ hơn không?

- Không đến nỗi tệ.

Tôi nhoẻn miệng cười.

Muốn khen tôi thì khen đại đi.

Ban thưởng vàng bạc gì cũng được lại bày đặt "Không đến nỗi tệ".

Tôi ngồi xuống bên cạnh, giữ cho Long Đĩnh nằm nghiêng:

- Chúa thượng ngủ đi một chốc, Đam sẽ giữ người như thế này, nằm nghiêng sẽ đỡ đau hơn.

Từ lúc lên thuyền đến giờ không thấy chúa thượng ngủ yên giấc được lần nào.

Long Đĩnh nghiến răng:

- Trẫm thấy ngươi có vẻ chán sống?

Dám lên cả giường của trẫm?

- Tuỳ người thôi, Đam đâu có làm việc xấu.

Chúa thượng giết Đam rồi thì đêm nay cũng không được ngủ ngon.

Tôi vỗ vỗ vai Long Đĩnh:

- Người đang bệnh, nếu muốn giết Đam thì khoẻ lại rồi giết cũng được.

Long Đĩnh không thèm đáp lời tôi, có vẻ nằm nghiêng lại có điểm tựa khiến y dễ chịu hơn nhiều.

Long Đĩnh ngủ thiếp đi lúc nào không hay.

Tôi ngồi một bên nhịp nhẹ nhẹ vào tay Long Đĩnh như đang ru ngủ, tựa đầu vào thuyền rồi cũng ngủ quên mất.

Ngoài cửa, gió lạnh đã về.

Một mảnh trăng khuyết bàng bạc treo trên đỉnh trời.

Cả trăm chiếc thuyền lặng lẽ trôi giữa hai bên bờ lau trắng ngắt, vừa hoang dại lại bi tráng đến vô cùng.

Đông đã về.

***

"Thanh Đình, Thanh Đình!"

Tôi nghe tiếng gọi, ban đầu còn nhỏ, rồi tiếng gọi lớn dần.

"Thanh Đình!"

Tôi mở choàng mắt, thảng thốt nhìn Long Đĩnh.

Y vẫn gọi không ngớt, nét mặt lộ rõ vẻ bi thương, hai tay nắm chặt.

Tôi sững người nhất thời không biết làm gì, xoa nhẹ trên vai Long Đĩnh, liên tục an ủi:

- Chúa thượng, không sao, không sao rồi.

Long Đĩnh mấy máy môi, nói gì đó không rõ.

Tôi lại gần, cúi xuống cũng không nghe thấy.

Tôi giữ Long Đĩnh, xoa nhẹ bàn tay an ủi y:

- Chỉ là mơ, chỉ là mơ thôi.

Long Đĩnh không tỉnh, đột nhiên giữ chặt tay tôi.

Khoé mắt ươn ướt, miệng không ngừng gọi "Thanh Đình".

Rốt cục đã có chuyện gì diễn ra?

Tại sao Long Đĩnh liên tục nói những điều kỳ lạ trong giấc mơ?

Lần trước khi y sốt cao tại phủ Khai Minh Vương đã gọi "Việt", "Tích", lần này lại là "Thanh Đình"?

Lần nào cũng vậy, cũng chỉ thấy để lại sự đau đớn khôn nguôi.

Vậy tôi đã bỏ lỡ điều gì?

Điều gì mà khiến hôn quân bạo chúa bậc nhất lịch sử phải rơi nước mắt trong mơ?

Tôi thở dài, toan gỡ bàn tay Long Đĩnh đang nắm chặt tay mình ra nhưng nghĩ thế nào lại thôi.

Tôi ngồi yên một chốc, kéo chăn lên cao hơn cho Long Đĩnh rồi bần thần, cứ như vậy đến tận rạng sáng.

***

Sáng sớm ngày thứ hai, thuyền đã tới doanh trại.

Tại đây Lịch Vũ và toàn bộ quân lính đã hạ trại, tiếp ứng cho La Uy.

Chiến trường nào cũng như nhau, không phải người chết thì cũng là người bị thương.

Nếu không hầu cận cho Long Đĩnh nhiễm ma chẩn, chắc chắn tôi sẽ được điều động đến hỗ trợ Thái y sứ sơ cứu cho quân lính trọng thương.

Vừa xuống thuyền Long Đĩnh đi thẳng về trại, cho vời Lịch Vũ ngay tức khắc.

Lẽ đương nhiên theo lệ cũ, ai muốn gặp người bệnh ra vào đều phải trang bị phòng bệnh đầy đủ, đứng xa không tiếp xúc.

Người bệnh là vua cũng không ngoại lệ.

Lịch Vũ vái chào rồi bẩm báo nhanh tình hình.

Đại khái là quân ta đang thất thế.

Giặc Man Cử Long ngày một hung hãn, Tướng Quân La Uy bị trọng thương, trước mắt đã thắng một trận, giặc rút khỏi cửa biển Thần Đầu nhưng quân địch có thể phản công bất cứ lúc nào.

Giặc Man Cử Long vốn quen thuộc địa hình ở đây, hơn nữa quân lính vừa hành quân ngàn dặm xa xôi, đấu lại sức của người Man vốn to khoẻ không phải là chuyện dễ.

Long Đĩnh tựa người vào ghế, hai tay hơ qua lư trầm vừa bảo tôi mang lên, chỉ mỉm cười:

- Đã sang đông rồi nhỉ?

"Bẩm chúa thượng, vừa qua lập đông" - Lịch Vũ đáp.

Tôi chỉ biết đảo tròn mắt, thở dài ngao ngán.

Giặc đã đến dưới chân rồi còn nhàn nhã đông với xuân cái nỗi gì?

Tên này đúng là chết không đổi tính!

"Vậy là còn mấy ngày nữa là đến ngày giỗ của Lang Vạn nhỉ?"

- Long Đĩnh nhếch môi, sự toan tính và chết chóc trong đôi mắt y bỗng chốc khiến tôi lạnh tóc gáy.

- Vạn cả đời chỉ là một tên cướp.

Điều duy nhất hắn làm được là đẻ con trai kế thừa tộc người Man.

Nhân lúc trẫm dẹp loạn thân vương mà trở nên hùng mạnh.

Trẫm đến rồi cũng không thể dự đám giỗ tay không.

Biết có chuyện chẳng lành, tôi vô thức lùi về sau một bước.

Lịch Vũ cúi đầu, đợi nghe chỉ.

Long Đĩnh di di tay trên miệng ly trà rồi đẩy cả chiếc ly đổ xuống, trà lênh láng tràn ra mặt bàn.

- Chết dưới tay thiên tử là phần quà lớn nhất ta ban cho gia tộc Lang!

*Chú thích:

(1) Họa hổ họa bì nan họa cốt, Tri nhân tri diện bất tri tâm: Vẽ hổ chỉ vẽ được da khó vẽ được xương, Biết người biết mặt nhưng không biết lòng.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Lúc Biết Xuyên Không Thì Đã Muộn!
Chương 16: Làm ơn mắc oán


Cũng như khi hầu hạ bên Lịch Vũ ở trại Phù Lan, khi tới Cử Long này tôi được dựng cho một lều nhỏ ở ngay sát cạnh lều của Long Đĩnh.

Vốn dĩ mấy ngày vừa qua tôi vừa nằm vừa bò, nhiều lúc ngủ lê lết trên mặt đất cốt canh bệnh cho vị chúa thượng kia nên đến nay Long Đĩnh thuyên giảm tôi được phép về lều của mình.

Bạch Vỹ vì bệnh nên tách riêng lều khác, cái lều nhỏ này một mình Đam tôi độc chiếm!

Vậy không nhân lúc này còn đợi lúc nào mới hành sự nữa?

"Trời ơi thoải mái quá" - Hai lông mày đang nhíu chặt của tôi dần giãn ra, cảm giác bồng bềnh nhẹ nhõm như thể đang trôi trên chín tầng mây.

Một tay tôi xoa xoa ngực, một tay bắt đầu cởi quần áo.

Cuối cùng tôi cũng có thời gian để tắm thật thoải mái sau bao ngày tháng khốn khổ theo hầu Long Đĩnh.

Phận con ong cái kiến thì chẳng nói làm gì đằng này tôi còn giả trai, nịt ngực bất kể ngày đêm.

Thật tội nghiệp hai "bé đào" của tôi bị chèn ép không được buông tha cũng không được "thở" chút nào.

Cứ đà này thì bé đào của tôi không sớm thì muộn sẽ trở thành bé mận mất.

Rút kinh nghiệm từ hồi giáp mặt với Long Đĩnh ở suối, những ngày sống trong doanh trại tôi phải nhẫn nhịn đợi binh lính về hết mới dám đi tắm.

Sau hồi khao quân tôi có ngồi uống rượu với đám binh lính ở kho quân dụng nên móc nối được chút quan hệ.

Nay đến trại Cử Long họ có cho một cái thùng gỗ lớn.

Thùng này bị thủng một lỗ nên lính bên đó tính bỏ đi, tôi lập tức xin xỏ đem về cọ rửa sạch sẽ, chỉ cần đổ nước tắm không tới chỗ cái lỗ thủng thì những ngày sau chẳng cần phải suy nghĩ đến chuyện tắm táp nữa.

Bồ kết già đem nướng trên than hồng đến khi có mùi thơm ngào ngạt, bẻ nhỏ rồi thả cùng vào nước sả đun sôi để gội đầu.

Nước tắm thì có thể tận dụng lá hương nhu, gừng, kinh giới, vỏ bưởi.

Tuy độ lưu hương kém xa sữa tắm nhưng ít nhất cũng tẩy bớt được mùi cơ thể.

Tôi sinh ra từ thời hiện đại lại đam mê nước hoa, mỹ phẩm, đặc biệt là mấy thứ có mùi thơm nên dù có cố gắng đến mấy thì cũng không quen nổi với việc chỉ tắm nước lã.

Thôi thả cửa lều xuống còn cẩn thận dùng hai viên đá chặn thêm vào tránh việc gió thổi phất phơ khiến có kẻ nhìn thấy.

Tới lúc này thì có thể thảnh thơi tận hưởng rồi.

Tôi ngả lưng vào thành bồn, mặc cho nước nóng khiến da thịt tê rân rân.

Cả người tôi nhũn ra tựa như miếng marshmallow mềm mịn tan vào trong cốc chocolate nóng.

Chỉ là được tắm thoải mái thôi mà giờ cũng có thể khiến tôi hạnh phúc đến mức này.

Tôi nhắm mắt lim dim, hít hà mùi hương dễ chịu của đủ thứ thảo mộc.

Giờ mà có thêm một ly champagne với nến thơm nữa thì có phải là hơi viển vông rồi không?

"Đam, còn thức chứ?"

- Một giọng nam trầm trầm quen thuộc vang lên.

Gọi gì mà gọi, không biết tôi còn đang bận à?

Tôi nhẩn nha tận hưởng, tay vẫn gõ gõ vào thành bồn đầy thích chí.

Khoan đã!

Giọng đàn ông?

Trong phút chốc hồn tôi hồn tan phách lạc.

Là Lịch Vũ!

Giờ này muộn rồi không biết y còn tìm tôi làm gì cơ chứ?

"Đam!

Không sao chứ?"

"Đô chỉ huy sứ!"

- Tôi nói vọng ra, sợ Lịch Vũ vì sợ tôi gặp chuyện gì mà đi vào trong này thì tôi chắc chắn sẽ lộ tẩy.

"Người đợi một chút Đam ra ngay."

- Tôi hoảng hốt nhảy ngay ra khỏi bồn tắm, mau mau chóng chóng khoác áo vào.

Để Lịch Vũ nhìn thấy tôi bây giờ thì dù có một trăm cái miệng tôi cũng đừng hòng giải thích được.

"Vậy lát nữa ta quay lại."

"Không cần đâu, Đam đây rồi!"

- Tôi lom khom chạy ra ngoài thì thấy Lịch Vũ đang chuẩn bị rời đi, trên tay cầm một bọc lá gì đó không rõ.

- "Người tìm Đam ạ?"

Lịch Vũ gật đầu:

"Muốn đi quanh trại không?"

Tôi gật đầu đại rồi nối gót theo Lịch Vũ.

Sớm không đến muộn không đến, nửa đêm nửa hôm vị Chỉ huy sứ này còn muốn tôi đi tuần cùng sao?

Ai bảo tôi là thư đồng làm gì, đằng nào cũng phải mau chóng nắm rõ tình hình để lỡ chủ nhân có bề gì.

Chà chà, quả là một ý tưởng tồi.

Đi dạo ngay khi vừa tắm xong lại giữa lúc rét thế này khiến hai hàm răng của tôi và vào nhau lập cập.

Lịch Vũ đưa tôi một bọc gì đó còn nóng hôi hổi.

Tôi mở ra, bên trong lớp lá dong xanh sẫm là xôi được đồ từ gạo nếp cùng hạt sen.

Nửa đêm Lịch Vũ sang tận lều tìm tôi chỉ để đưa xôi hạt sen thôi sao?

Tôi nhìn chủ nhân mà rơm rớm nước mắt.

Ở thế kỷ hai mốt thì những thứ này tôi muốn ăn bao nhiêu mà không có nhưng đang lúc chiến loạn ở Đại Cồ Việt ngày thường tôi chỉ toàn ăn cơm độn đủ thứ ngũ cốc, xôi hạt sen quả là xa xỉ.

Lịch Vũ còn không nỡ ăn dành lại cho tôi một miếng thế này...

"Đô chỉ huy sứ..."

"Những ngày qua vất vả cho ngươi rồi."

Tôi quệt ngang mũi, vốn định cắn một miếng nhưng nghĩ thế nào đành hỏi lại Lịch Vũ lần nữa:

"Đam có thể ăn phải không ạ?"

Lịch Vũ phì cười, gật đầu.

Tôi đương nhiên rất sợ há miệng mắc quai, lỡ ăn rồi mà Lịch Vũ lại bảo không phải cho tôi, chỉ nhờ tôi cầm hộ hoặc nhân đó mà sai bảo làm việc khó khăn gian khổ thì đành chịu nên cứ phải chắc chắn cái đã.

Tôi nhồm nhoàm nhai:

"Người tên Thanh Đình có quan hệ như thế nào với chúa thượng vậy ạ?"

Lịch Vũ lắc đầu:

"Ta không rõ.

Có chuyện gì chăng?"

Tôi há miệng cạp một miếng xôi thật to đánh trống lảng.

Mỗi lần mê sảng Long Đĩnh chỉ lặp lại cùng một nội dung, hẳn là liên quan mật thiết tới cuộc sống thực của y.

Nếu không phải hiện tại thì rất có thể trong quá khứ.

Điều gì đã trở thành nỗi canh cánh trong lòng của vị bạo quân này chứ?

Gần vua như gần hổ, biết rõ còn hầu hạ cho chu toàn bằng không cứ có ngày tôi thật sự bị đem làm mồi cho giao long.

Tôi đi sau Lịch Vũ mãi cho tới khi chúng tôi tiến sát lại phía bờ sông, tôi hỏi Lịch Vũ:

"Thứ cho Đam quá phận, Đô chỉ huy sứ có thể chỉ dạy cho Đam chuyện này không?"

"Thử nói ta nghe trước đã."

"Ngày hôm đó đám thích khách xuất hiện ở phủ Khai Phong Vương có đến cả trăm tên, ai nấy gươm đao sáng loà rất đáng sợ, còn có cả mũi tên nữa."

Lịch Vũ gật đầu:

"Thế nào nữa?"

"Đam thiết nghĩ Đằng Châu là nơi chúa thượng từng trấn giữ, sao lại có kẻ hồ đồ đến tận nơi làm càn vậy được?"

Lịch Vũ quay lại nhìn về phía doanh trại đang sáng bừng ánh đuốc, hỏi tôi:

"Biết đất Ái Châu này thuộc về ai không?"

Tôi suy nghĩ một hồi cuối cùng quyết định dùng câu nói thảo mai nhất:

"Đương nhiên thuộc về chúa thượng."

Lịch Vũ cười nhẹ:

"Phải, là đất của chúa thượng, cũng là nơi phát tích của triều ta."

Sau đấy Lịch Vũ vừa đi vừa ôn tồn giảng giải tôi mới hiểu rõ mọi chuyện.

Cử Long thuộc Ái Châu, nơi này không những núi non trùng điệp, địa hình hiểm trở mà tình hình chính trị lại muôn phần rối ren.

Trước mắt có quân Man liên tục quấy phá, chém giết, sau lưng là thế lực đấu đá ngầm của các thế gia.

Ngược về quá khứ, Dương Đình Nghệ là người Ái Châu.

Sau này Đại Cồ Việt trải qua ba đời Ngô, Đinh, Tiền Lê ngôi hậu đều do dòng họ Dương nắm giữ, cũng vì vậy thế lực họ Dương tại Ái Châu vô cùng hùng mạnh.

Chưa kể trong thời Đinh hai vị Định quốc công Nguyễn Bặc và ngoại giáp Đinh Điền từng cai trị hai châu Hoan - Ái, vì bảo vệ ấu chúa Đinh Toàn mà năm ấy đã dấy binh tạo phản hòng giết Lê Hoàn(1).

Qua bao năm tháng, máu nhuộm Ái Châu nhiều không kể xiết nhưng cục diện chưa lúc nào yên ổn.

Là cố hương của tiên đế, nhiều năm nhờ ơn mưa móc nên các thế gia họ Lê tại nơi này binh hùng thế mạnh song đương nhiên trong thời điểm nhạy cảm này khó có ai dám đứng ra cùng quân vương cáng đáng.

Tôi trộm nghĩ mấy thế gia đó không mỗi người một đạp, đẩy Long Đĩnh vào thảm cảnh đã là may mắn lắm rồi chứ mong gì giúp đỡ.

Anh em trong nhà còn đang chém giết nhau nữa là những kẻ khác máu tanh lòng.

Lịch Vũ đi chậm lại, nói đoạn trỏ về một lều lớn phía xa:

"Bên đó là lều của quân y.

Khi chúa thượng khỏi bệnh rồi ngươi có thể về đó tiếp tục việc học."

Tôi cười toe toét vì cuối cùng mình cũng có thể tiếp tục lấy trí tuệ làm nền tảng, hết sức cống hiến cho quốc gia thì bỗng nhìn thấy phía xa có hai bóng người đang đứng tay cầm tay, tựa vai nhau ngắm trăng sáng vằng vặc.

Hai từ "cảm ơn" với Lịch Vũ bị nghẹn ứ trong cổ họng.

Tôi biết trong ngàn quân từ trên xuống dưới chỉ toàn đàn ông với nhau bỗng dưng xuất hiện tình cảnh thắm thiết này không phải... chuyện tình nam - nam đấy chứ?

Tôi kinh hãi đến độ giật lùi về sau liền ba bước.

Nắm xôi trên tay thiếu chút nữa cũng rơi xuống đất.

Tình cảnh này nếu để cho Đô chỉ huy sứ nhìn thấy chỉ e họ sẽ chết không toàn thây.

Lịch Vũ dù nhân từ đến mấy thì cũng không thể nhắm mắt làm ngơ.

Quân lệnh như sơn, hơn nữa bây giờ còn là thời kỳ phong kiến.

Bộ não nhỏ bé của tôi chẳng kịp nghĩ gì thì tay chân đã nhanh chóng hành động.

Tôi lao nhanh chạy đến trước mặt cản tầm mắt, Lịch Vũ dường như phát giác tôi muốn che giấu gì đó liền tiến lên quan sát.

Chó cùng rứt giậu, tôi chỉ còn một nước duy nhất là vồ lên đẩy Lịch Vũ nằm rạp xuống đất, không quên hét lớn để đánh động:

"Rắn!

Có rắn thưa Đô chỉ huy sứ!"

Mất mười giây để Lịch Vũ định thần chuyện gì xảy ra nhưng mất tận hai mươi giây để tôi phát hiện ra mình đang nằm đè lên người Đô chỉ huy sứ một cách vô cùng khiếm nhã.

Nếu chỉ như vậy thì không nói làm gì đằng này hai bàn tay tôi còn bấu chặt vào cơ bắp rắn rỏi của Lịch Vũ một cách vô cùng khiếm nhã.

Tôi chầm chậm ngước lên nhìn Lịch Vũ thì phát hiện Lịch Vũ cũng đang nhìn mình.

Hình như có điều gì đó sai sai ở đây.

Một sự im lặng đến đáng sợ khiến tôi thậm chí còn nghe thấy cả tiếng gió heo hút và tiếng thở dồn dập của Lịch Vũ.

Lịch Vũ hít sâu một hơi, xoay người, dễ dàng đổi thành tôi nằm bên dưới, Lịch Vũ bên trên.

Tôi sợ đến mức không dám thở liền mau chóng bịt miệng mình lại.

Lịch Vũ đứng dậy phủi qua quần áo rồi đưa tay kéo tôi.

Tôi ngó nghiêng nhìn thì quả nhiên hai người kia đã biến mất từ lúc nào.

May mắn quá, tôi quả là một người thông minh ứng biến như thần.

Trong hoàn cảnh ngặt nghèo như vậy mà vẫn có thể nghĩ ra kế sách cứu vãn tình hình.

Tôi toe toe toét toét nhưng ngay khi phủi mấy cọng cỏ bám trên áo thì nụ cười kia từ tươi rói đã tắt dần rồi trở nên méo xệch.

Nịt ngực của tôi đâu?

Nịt ngực của tôi ở đâu?

Tôi vừa làm cái quái gì thế này?

Tôi nhìn sang Lịch Vũ, trong đầu tua rất chậm lại cảnh tượng tôi vừa nằm đè lên người y.

Bộ não của tôi như đang nhìn thấy một nghìn con tuấn mã chạy lướt qua, lần lượt giẫm đạp lên chút liêm sỉ và tự trọng cuối cùng.

Chẳng phải vì vừa nãy vội quá mà tôi chẳng thèm nịt ngực, cậy trời tối nên lom khom bên cạnh Lịch Vũ mãi ư?

Vậy ra cảm giác "sai sai" khi ngã chính là cảm giác "đàn hồi" khi tôi ngã vào Lịch Vũ.

Tôi thấy thực ra mình đã chết và đang trên đường đi đến địa ngục rồi.

Tôi bối rối mò xuống đất nhặt lên bọc xôi đang ăn dở, từ bờ sông về trại không dám hé răng nửa lời.

Lịch Vũ đi trước tôi nhưng y cũng im lặng đến đáng sợ.

Không biết liệu rằng Lịch vũ có phát hiện ra "sai sót" đấy không?

Trời ơi là trời!

Như thế này chẳng phải là làm ơn mắc oán sao?

Về đến trước cửa lều của tôi cuối cùng Lịch Vũ cũng dừng lại, quay người buông một câu đánh đổ phòng tuyến tâm lý cuối cùng của tôi:

"Sắp xếp việc ở chỗ chúa thượng giao lại cho Thái y, sớm rời khỏi nơi đó đi."

Vậy là Lịch Vũ đã biết hay là chưa biết?

Hay là vừa biết vừa chưa?

Nếu tôi quỳ xuống van xin liệu có tác dụng không?

Mà thực ra để làm gì cơ chứ?

Giờ phút Lịch Vũ nói câu đây tôi đã biết kiếp giả trai của tôi chẳng thể trụ được thêm được bao lâu nữa rồi.

Chú thích:

(1) "Rồi đó chỉnh đốn quân lữ, đánh nhau với Điền, Bặc ở Tây Đô (Hoàn người Ái Châu, [sau lên ngôi] đóng đô ở Hoa Lư, cho nên sử gọi Ái Châu là Tây Đô)". (Đại Việt sử ký toàn thư)
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Lúc Biết Xuyên Không Thì Đã Muộn!
Chương 17: Quan san hiểm ải


Không ngoài dự đoán, nội trong năm ngày kể từ khi tôi đến đã có tới ba cuộc tấn công nhỏ lẻ khác nhau.

Nhìn chung thương vong hai bên không đáng kể song duy trì ở đây lâu cũng không phải là cách.

Nhuệ khí của binh lính sẽ bị giặc làm cho mai một, chưa kể Long Đĩnh dùng dằng chỉ thủ mà không có công hay thân chinh ra trận đều muôn phần bất lợi.

Y chỉ vừa trở về từ cửa tử nay đã vội vàng cầm quân e rằng khó lòng đảm bảo được tính mạng.

Ái Châu mùa xuân lúc trời nồm ẩm, mặt đất lúc nào cũng ướt nhẹp.

Cử Long càng muôn phần âm u, cây cối san sát phải đến chừng quá Ngọ mới có thể thấy ánh mặt trời le lói.

Dù ngày hay đêm mây mù dày đặc, lính đi tuần về ai nấy bị vắt bám đầy thân, phủi xong cũng toe toét máu tươi.

Ngay cả chỗ Long Đĩnh nằm mỗi ngày tôi cũng phải cẩn thận đề phòng bọ rệp, một ngày lau dọn không dưới bốn lần.

Cũng không rõ kế sách tiếp theo của Long Đĩnh là gì nhưng tôi lờ mờ đoán được đám giặc Man kia hẳn phải có một thế lực rất lớn nào đó đứng phía sau.

Binh lính Đại Cồ Việt bấy giờ theo chính sách "Ngụ binh ư nông", nghĩa là được phép lao động sản xuất, khi nào có việc thì gọi ra.

Ưu điểm rất lớn của chính sách này là không cần phải nuôi quân, giảm gánh nặng kinh tế và có số lượng binh lính nhiều từ khắp các nơi.

Tuy nhiên nhược điểm cũng từ đây mà ra, binh lính sẽ có ít thời gian đào tạo chính quy hơn.

Trong khi đó theo nguồn tin từ La Đạc thì các thế gia ai nấy đều có vô số tư binh được đào tạo tinh nhuệ.

Dựa trên luật pháp số tư binh bị triều đình giới hạn song họ thường khai man thành "gia nô" nhằm lách luật, nuôi đến cả ngàn binh trong nhà.

Đương nhiên nuôi binh lính để bảo vệ cho an nguy của chính mình hoặc phục vụ ý đồ riêng không đời nào thế gia lại cấp vũ khí rởm hay bỏ đói.

Quân Man Cử Long kia tuy không phải tư binh thế gia nào nhưng cũng khó nói có phải là con rối bị giật dây hay không.

Chỉ cần nhìn vào số vũ khí chúng mang theo thì ngay cả một kẻ ngu ngơ như tôi cũng có thể đoán được, đừng nói đến những người dạn dày như Long Đĩnh hay Lịch Vũ.

Đáng quan ngại rằng quân triều đình suốt thời gian qua chủ yếu chinh chiến đồng bằng, liên tục tham gia từ nội chiến giành ngôi đến trại Càn Đà, Phù Lan, Phong Châu nay lại là Cử Long, chỉ e thời gian phục hồi sức khoẻ còn không có thì lấy đâu ra tập luyện với địa hình phức tạp như vậy.

Quân Man thoắt ẩn thoắt hiện, ai nấy khoẻ như vâm, võ bị đầy đủ.

Tình hình trước mắt khó lòng mà đoán được.

Sẩm tối ngày thứ bảy, quân doanh bị đốt.

Lúc này Long Đĩnh vừa dùng thiện xong còn đang nghỉ ngơi, tôi xin phép sang lều Giáo thụ phụ Trần Uy rửa tam thất thì thấy cả vùng bỗng dưng sáng rực, hoả tiễn bay rợp trời.

Dù ngắm bắn từ khoảng cách khá xa song cũng có đến mười mấy lều bén lửa cháy rụi.

Bên ngoài trại vị vây thành vòng tròn lửa, mùi dầu thông nồng đến nỗi tưởng như tất cả mao mạch trong mũi đồng thời giãn ra, bức bối vô cùng.

Khói xám phủ kín quân doanh, hai mắt cay xè đến độ không cách nào mở ra nổi.

Nếu tiếp tục tình hình này chỉ e chẳng mấy chốc toàn doanh trại sẽ bị thiêu rụi.

Trần Uy căng thẳng gọi Lý An Tường cùng các môn đồ khác mau mau chuẩn bị giường bệnh.

Ông nhúng một cái khăn vào chậu nước sạch ngay bên cạnh rồi đưa cho tôi.

Đương lúc nguy cấp nhẽ ra tôi phải ở lại giúp song chợt nhớ đến vị yếu nhân(1) kia còn ở trong lều chẳng biết đã ngủ hay còn thức nên đành tất tả chạy về.

Vừa hay ra đến cửa thì gặp Long Đĩnh cùng Lịch Vũ đang chỉ đạo quân lính đốt ngược từ trong ra.

Sợ đứng gần vướng víu tay chân tôi mau chóng lủi tới lều quân y, hớt hải bẩm với Trần Uy:

"Thưa Giáo thụ, ngoài kia chúa thượng đang tự đốt trại của ta."

Trần Uy gật đầu:

"Lửa từ trong cháy ra, lửa từ ngoài cháy vào, hai lửa gặp nhau ắt sẽ tắt."

- Tới đây ông ngưng lại, đi về phía sau lấy cho chúng tôi mỗi người một cái gậy gỗ - "Hành nghề y cốt để cứu người không được giết người.

Chẳng may quân địch có thể phá vỡ phòng tuyến mà xông vào hãy tự bảo vệ bản thân."

Tôi nhìn cái gậy gỗ rồi nhìn đám thư sinh quanh mình chỉ biết cười khổ.

Không biết Trần Uy thực sự nghi ngờ y đức của tôi hay có ý gì mà nhân lúc tất cả mọi người quay đi ông còn cẩn thận cho tôi thêm một túi bột trắng và một con dao nhỏ.

"Bột trắng ném vào mắt, dao kia dùng cuối cùng."

Tôi quẫn trí lẩm nhẩm:

"Dao kia ném vào mắt, bột trắng dùng cuối cùng.

Dao kia ném vào mắt, bột trắng dùng cuối cùng."

***

Độ chưa cháy hết một nén hương thì lửa hai bên gặp nhau đã tắt ngúm, chỉ còn vài vạt khói nhờ nhờ bốc lên từ phía xa.

Quân triều đình khắc chế được thế vây hãm trước mắt liền đột phá vòng vây lao ra nghênh chiến.

Tiếng gươm đao chan chát, tiếng người thét vang cả vùng.

Chưa bao giờ, chưa bao giờ trong đời tôi lại gần chiến trận, gần cái chết đến như vậy.

Binh lính đầu tiên được đưa về hoàn toàn cụt mất một chi, gần như không còn tỉnh táo.

Tôi chạy lại gần, ra hiệu để thương binh nằm xuống.

Vết thương ở chi bị chảy máu ồ ạt, chi bị cắt cụt tự nhiên, tổn thương động mạch máu chảy thành tia.

Muốn cứu người này phải cầm máu trước rồi mới tính tiếp được.

Một bên ống quần của anh ta bị tôi dùng kéo cắt sạch ra, máu thấm ướt cả hai bàn tay.

Tôi xem qua tình trạng vết thương, một vết cắt vô cùng ngọt, cắt cụt hoàn toàn phần chân từ đầu gối trở xuống.

Tôi ấn động mạch phía trên vết thương rồi lót vải cách vết cắt bốn phân về phía bên trên.

Dây ga rô đặt xong thì vừa xoắn vừa theo dõi mạch máu phía dưới chỗ bị thương.

Mạch dần dần ngừng đập, máu chảy ít hơn rồi chỉ còn nhỏ giọt tôi mới dám thở phào.

Vết thương ngay lập tức được băng ép lại.

Lúc này tôi mới có can đảm để đối diện với thương binh kia.

Dù vết thương kinh khủng là vậy nhưng từ đầu đến cuối một tiếng kêu la cũng không có, thương binh đấy chỉ nghiến chặt răng đến mức không nhìn rõ mặt mũi, chỉ cơ hồ thấy những đường gân hằn lên.

Người anh dũng đến vậy khiến tôi đặc biệt nể phục, đi đến bên cạnh khẽ chạm nhẹ vào vai:

"Anh tên gì vậy?"

"Trần...

Thạch."

- Thương binh thều thào, mãi mới nói đủ tên mình.

"Anh nghỉ ngơi một chút, thuốc sắc xong sẽ mang đến ngay.

Chúng tôi ở ngay đây, nếu anh đau quá hãy gọi nhé!"

- Tôi cười nhẹ trấn an.

Trần Thạch gật đầu, mắt nhắm hờ.

Tôi đọc cho người giữ sổ theo dõi quân y ghi chép:

"Trần Thạch, cụt chi trái, Giờ Tuất 4 khắc ngày Đinh Dậu."

Trong lúc đợi ghi chép tôi cột một mảnh vải màu xanh vào cánh tay y làm dấu.

Ga rô cần nới lỏng nửa canh giờ một lần, không thể để quá lâu sẽ hoại tử.

Mảnh vải xanh để các quân y có thể dễ dàng nhận ra để tránh nhầm lẫn với các thương binh khác.

Tôi đưa mắt nhìn xung quanh thì quân y ai nấy đều tất bật.

Có những người máu bắn lên khắp mặt còn chẳng đủ thời gian lau rửa.

Bên cạnh giường bệnh của tôi Lý An Tường đang vô cùng kiên nhẫn nẹp phần xương gãy cho một thương binh trẻ măng độ chỉ vừa mười tám, mười chín tuổi.

Tôi hít một hơi sâu chuẩn bị tinh thần, sẵn sàng đón thương binh tiếp theo.

Ngoài trời vẫn khói lửa mịt mù, tiếng gươm đao không dứt.

Bầu trời Cử Long u ám nặng nề, tối đen như những ngày Đại Việt chìm trong chiến sự.

*Cử Long ngày thứ tám.

Mặt trời chầm chậm hiện lên từ phía đằng Đông, một ngày quang đãng hiếm hoi để có thể nhìn thấy ánh nắng nơi Cử Long này.

Bên ngoài doanh trại bị thiêu cháy rụi, lửa đã tắt hẳn song vài nơi khói vẫn còn nghi ngút bốc lên.

Mặt đất phủ đầy giáo mác, mũi tên vứt chỏng chơ.

Nếu đi không khéo người ta còn dễ dàng vấp phải một đoạn chi người bị cắt cụt.

Trên những vòm lát hoa xanh sậm, nếu để ý kỹ có thể thấy những con quạ đậu sẵn khấp khởi chực mồi.

Lúc này trận chiến đã tan, thương binh đã vãn, quân y cũng chỉ còn sơ cứu cho vài ba người hoặc trật khớp hoặc bong gân.

Tôi lững thững đi ra phía bên ngoài thì bắt gặp lính triều đình đang áp giải một tốp quân Man bị bắt làm tù binh.

Tôi lùi lại một bước tránh đường.

Những người kia ai nấy cao to như đô vật, râu ria xồm xoàm, nước da ngăm ngăm, dưới chân họ xích sắt to bằng cổ tay, gông cùm rất chặt.

"Đi đâu sáng sớm thế này?"

- Có tiếng người hỏi, tôi ngẩng đầu lên trông thì hoá ra là La Đạc.

"Vừa từ chỗ kia về."

- Tôi cười khổ trỏ về hướng lều quân y.

- "Anh không sao chứ?"

La Đạc giơ lên bàn tay băng bó qua loa:

"Binh lính lấy đau chết làm phận sự huống hồ đây chỉ là vết trầy nhẹ thôi."

Tôi thừa biết làm gì có chuyện vết trầy xước nhẹ lại có máu thấm ra từng đấy, chỉ có điều Đạc không muốn nói tôi cũng không tiện hỏi nên đành vỗ vai y:

"Khi nào có thời gian qua lều nhỏ tìm tôi, giúp anh xử lý.

Đang đi đâu thế này?"

Đạc gật đầu đại:

"Đi thử nước cái đã."

Tôi biết không nên nấn ná lâu liền mau miệng chào rồi chạy biến về lều chúa thượng.

"Chúa thượng!

Đam về rồi."

Long Đĩnh vốn đang cởi áo nghe thấy tiếng gọi của tôi bỗng vội vàng mặc lại.

Tôi nhìn qua lớp áo mỏng thấy máu lẫn dịch vàng chảy ra ướt thẫm.

"Chúa thượng, sao thế này?

Người để Đam."

Đương nhiên Lê Long Đĩnh rất không cam tâm nhưng vết thương ở lưng cũng chẳng thể tự xử trí nên đành phó mặc cho tôi.

Vết thương chỉ vừa khô miệng nay đã nứt toác ra, máu lẫn huyết tương bê bết dính chặt vào áo.

Phải mất một lúc lâu tôi mới có thể giúp Long Đĩnh nhẹ nhàng tách lớp vải ra khỏi rồi rửa vết thương, đắp thuốc mới rồi cẩn thận băng bó lại, đổi một bộ quần áo mới cho y.

Việc vừa đâu vào đó thì có tiếng chân người ngoài cửa rất vội, là Lịch Vũ xin yết kiến.

Hai người bàn bạc gì đó nhưng tôi đứng ngoài lúi húi lau chùi nên câu được câu mất.

Chợt La Đạc hớt hải tìm đến diệu bộ đã chẳng còn thong thả như vừa gặp tôi khi nãy:

"Bẩm chúa thượng, bẩm Đô chỉ huy sứ, tù binh đi thử nước đã chết rồi!"

Doanh trại chủ yếu dựa vào địa hình tự nhiên, sẵn sông suối để làm nguồn nước chính sinh hoạt, số giếng đào thêm không đáng kể.

Vì vậy mỗi ngày hai lần đều có tử tù được dẫn đi "thử nước" dọc con sông.

Chẳng ngờ nay lại có chuyện bất trắc kia, hẳn là quân Man đã nóng lòng lắm rồi.

"Là bị độc chết sao?"

- Long Đĩnh dùng giọng bình bình hỏi lại.

"Dạ bẩm, là bị độc chết.

Quân y đã kiểm tra."

"Nguồn nước trong các giếng thế nào?"

- Lịch Vũ hỏi thêm.

"Trước mắt vẫn có thể dùng được."

Tôi trộm thở phào nhẹ nhõm nhưng lòng vẫn nơm nớp lo sợ.

Tới mức này chẳng biết đám Man Cử Long kia còn muốn bày thêm trò gì nữa.

Trái ngược với tôi Long Đĩnh có vẻ như rất bình thản.

Y miết tay lên miệng ly trà rồi bất ngờ đẩy mạnh, nước trà tràn xuống lênh láng cả mặt bàn.

"Thu quân, theo hướng Cùng Giang(2) đi ngược về Hoa Lư!"

_______

Chú thích:

(1) yếu nhân: Người giữ chức vụ quan trọng của quốc gia. (Từ điển Nguyễn Quốc Hùng)

(2) Cùng Giang: con sông ở vùng mường Cử Long huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hoá.

Cương mục chép là "Duyên Giang" nghĩa là đi dọc theo sông (bản dịch cũ theo ý đó) [Theo Đại Việt Sử ký Toàn Thư, Bản Kỷ, Quyển 1 - Trang 73]
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Lúc Biết Xuyên Không Thì Đã Muộn!
Chương 18: Binh bất yếm trá


Nhận lệnh từ chúa thượng binh lính ngay lập tức bắt tay vào thu xếp hành trang, lương thực cùng các vật dụng tuỳ thân, ba ngày sau thì lên đường.

Quân sĩ của La Lân tiếp tục ở lại trấn giữ Cử Long cùng chủ tướng.

Dù có hơi khó chấp nhận song Lê Long Đĩnh cao ngạo kia đã nhận phải kết cục cay đắng đầu tiên dưới tay giặc Man, rút về Hoa Lư.

Trong những thước phim tôi từng xem lúc còn ở hiện đại thì hành quân nơi quan sơn(1) hiểm ải thường nhẹ nhàng, bí mật để tránh đánh động kẻ thù, càng phải chú trọng đi nhanh chóng, đi nối tiếp nhau.

Ấy vậy mà binh lính triều đình chẳng có vẻ gì là thế cả.

Đã vậy lệnh từ trên đưa xuống tôi còn thấy cờ xí rợp trời, rộn ràng trống chiêng khác hẳn lúc đến.

Nếu ai nhìn qua có khi còn tưởng đang khải hoàn trở về.

Tôi đợi đến lúc binh lính nghỉ chân liền mang mối băn khoăn này đi hỏi Lịch Vũ:

"Bẩm Đô chỉ huy sứ, sao phải gióng trống mở cờ như vậy?"

Lịch Vũ mở túi bên hông lấy bình nước đưa cho tôi, phóng tầm mắt ra xa quan sát bốn bề, nói đoạn mới ôn tồn đáp:

"Quân đi phải trương thế ra, xếp đặt cờ trống, rộng khua trống chiêng, lấy nghìn làm vạn, lấy ít làm nhiều, lấy yếu làm mạnh, lấy thắng giả mà làm ra thắng.

Cương tất thắng nhu, thực tất thắng hư, lớn tất nuốt nhỏ.

Đó là lẽ tất nhiên vậy(2)."

Cái gì mà "lấy thắng giả mà làm ra thắng"?

Hai ngày một trận nhẹ dăm ngày một trận nặng, chẳng phải kiểu đánh du kích của quân Man suốt những ngày qua đã khiến lính triều đình điêu đứng đấy ư?

Tôi khịt mũi toan lỉnh ngay thì thấy hai người trông có vẻ như du binh(3) đi tới thi lễ với Lịch Vũ:

"Bẩm Đô chỉ huy sứ, phía trước phát hiện một đám cỏ mới khô héo."

Lịch Vũ chau mày.

Đoạn đường này là nơi cuối cùng của địa phận rừng núi Cử Long, phía trước đã là sông Cùng Giang có thể đi thuyền.

Nơi trọng yếu như vậy sắc cỏ đổi thay ắt có sự trá nguỵ.

"Kiểm tra thật kỹ vùng đất xung quanh.

Lấy đá lăn qua cầu, đề phòng sụp lở."

Du binh cúi đầu nhận lệnh rồi răm rắp rời đi ngay.

Ráng chiều đỏ rực in hằn lên bầu trời Cùng Giang quạnh quẽ.

Nơi hợp lưu nước như phân tách ra hai màu khác biệt.

Ở nơi ấy bóng tối và ánh sáng giao nhau.

Sông Cùng Giang ì ầm gào thét còn rừng già vẫn lặng yên tịch mịch, hoạ hoằn lắm mới có vài tiếng bồ nông lẻ loi gọi bạn.

Giữa lúc vạt nắng cuối cùng tan hẳn trên sóng nước chòng chành, quân Man ập đến tấn công thêm một lần nữa.

Giặc đông như kiến, lúc nhúc tựa dòi bọ từ khắp các ngả ùa về: từ trên núi và cả cửa sông.

Không còn đánh du kích nữa, trận chiến cuối cùng hai bên dàn trận ngay nơi Cùng Giang này!

Tôi cùng các quân y và toàn bộ những người không phải binh lính đều được lệnh ở yên trong nơi nghỉ chân.

Long Đĩnh cùng Lịch Vũ đã mặc giáp sắt, võ bị đầy đủ dẫn binh nghênh chiến từ bao giờ.

Tất thảy những người ở lại đều biết rất rõ tại sao họ có thể an toàn ở lại, không chỉ bởi họ yếu thế hơn cần được bảo vệ mà bởi để sẵn sàng hậu thuẫn những binh lính xông pha mặc sống chết ngoài kia.

***

"Đam!

Mau lên!"

- Tiếng Lý An Tường gọi lớn.

Tôi buông hộp thuốc đang cầm trên tay ra tất tả chạy lại về phía đấy.

Tường vừa tiếp nhận một binh lính bị bỏng khắp vùng đầu mặt, nhìn không rõ hình hài.

Nơi vốn là cái mũi nay bị khuyết chỉ nhìn ra một cái lỗ máu thịt loang lổ, chỗ đỏ chỗ đen.

Hai tay cháy khét, quần áo bầy nhầy dính chặt lại, đoán chừng đã trúng hoả tiễn của quân địch.

Người lớn bỏng trên 15% diện tích cơ thể đã là bỏng nặng trong khi binh lính này sơ sơ đã lên đến 27%(4).

Anh ta lăn lộn trên giường kêu la vật vã, liên tục nôn, chân tay lạnh ngắt.

Tôi cố gắng cắt bỏ quần áo một cách nhanh nhất, ra sức giúp Trần Uy tìm cách chữa trị cho thương binh kia nhưng vô vọng.

Bỏng vùng đầu mặt tiên lượng sẽ rất nặng do rối loạn vận mạch gây thiếu máu não hoặc thậm chí là phù não.

Hiện tại là thời kỳ Tiền Lê, chúng tôi không có Morphin hoặc bất kể một loại an thần nào để giảm đau.

Với những vết thương nặng và sâu đến vậy càng không thể rửa hay bôi thuốc gì mà chỉ có thể phủ vải sạch.

Tôi chẩn mạch, mạch nhanh nhỏ, thương binh lả đi, độ chưa đầy một khắc sau thì mất.

Tôi chưa kịp lấy lại tinh thần thì hai binh lính chuyển thương mang một người ướt sũng từ đầu tới chân vào.

Tôi nghiêng đầu quan sát thấy anh ta đã bị cụt mất một chi, máu loang vào nước thấm qua áo một màu đỏ nhạt.

Thấy cử chỉ khác lạ của binh lính tôi vừa hướng dẫn đặt bệnh nhân lên giường vừa hỏi thêm:

"Có chuyện gì à?"

Hai người kia vừa vội vã đặt thương binh lên giường vừa lắp bắp:

"Bị... bị giao long cắn!"

Tôi chau mày lật vết thương ra xem, rõ ràng vết tích này không phải do đao kiếm mà thành.

Giao long là con gì mà lại có hàm răng lớn và sắc đến vậy?

Vết thương máu thịt lẫn lộn, một vài mảnh da chưa đứt hẳn còn lê thê trên tay.

Tôi tỉ mẩn quan sát thì phát hiện anh ta còn một mũi tên găm vào trên bả vai.

Hẳn là bị trúng tên rơi xuống nước nên đã dẫn dụ giao long đến tấn công.

Tôi bắt đầu bắt tay vào cầm máu cho người kia, băng bó phần chi cụt cẩn thận, tạm thời xem như có thể an tâm với vết thương đó.

Tuy vậy mũi tên trên bả vai kia có độc khiến máu chạy loạn vào trong, bệnh nhân liên tục phiền khát.

Một quân y phụ giúp tôi đem lá cây dầu sơn giã nát nhừ, hoà với nước, vò vắt lấy một bát nước đầy rồi cho uống.

Nước lá cây dầu sơn có thể chữa khỏi khát, mát lòng.

Hạt cây dầu sơn giã nát theo rồi đem rịt lên vết thương.

Đợi đến khi nước đen nước vàng trong vết thương chảy ra thì không cần quá lo lắng nữa.

Bước đầu sơ cứu có thể coi như tạm ổn.

Chỉ qua chốc lát mà người bị thương được chuyển đến đã gần như kín hết các giường.

Quân y ai nấy luôn chân luôn tay, tôi đến uống một ngụm nước cũng không có thời gian đành bấm bụng nhịn khát.

Giữa lúc đang đi tới định giúp Tường băng bó thì Trần Uy giữ tôi lại:

"Đam!

Theo ta!"

"Dạ bẩm Giáo thụ, ta đi đâu?"

- Giữa lúc nguy khốn cần người thì sao lại rời đi chứ?

"Chúa thượng bị thương rồi!"

Tôi nghe tin Long Đĩnh gặp nạn mà như sét đánh bên tai, mau chóng rửa sạch tay rồi xách hòm gỗ đi theo Giáo thụ.

Tôi và Trần Uy chèo lên một thuyền nhỏ, lính chuyển thương mau chóng chèo về phía Cùng Giang, bên cạnh có hai tốp binh lính khác hảo vệ.

Đã đầu canh 5, tình hình nơi hoả tuyến vẫn vô cùng ác liệt.

Dọc ngã giao giữa những nhánh sông khác và Cùng Giang có đến cả trăm chiến thuyền to nhỏ khác nhau.

Nhóm chúng tôi chọn đi đường vòng từ một nhánh hợp lưu khác, không có nhiều cản trở.

Lúc này tôi mới nhận ra ban đầu chỉ là đánh nhau trên bờ, binh lính ướt sũng được chuyển thương đến bởi có thuỷ chiến.

Nếu chúng tôi phải đi thuyền tới chỗ Long Đĩnh thì hẳn thuỷ binh do y lãnh đạo.

Vậy người đối phó trên bờ chắc chắn là Lịch Vũ.

Tôi hít vào hơi sâu gắng lấy lại bình tĩnh.

Dù tôi chẳng yêu quý sinh mạng mình đi chăng nữa thì xông pha nơi trận mạc thế này cũng là quá nguy hiểm.

Hai tay tôi bấu chặt vào với nhau không dám nói việc mình đang lo lắng với Giáo thụ.

Lúc này ánh đuốc le lói phía xa, tôi nhìn rõ thấy rất nhiều thuyền cắm cờ vàng viết chữ 矯 lớn, kể từ khi tới Đại Cồ Việt đến nay tôi chưa từng thấy qua loại cờ này.

"Bẩm Giáo thụ, kia là..."

Trần Uy nheo mắt nhìn theo hướng tay tôi chỉ, mất một lúc lâu để ông có thể đọc được rõ ràng.

"Họ Kiều!"

Tôi chột dạ, chẳng nhẽ đây chính là thế lực đằng sau muốn thao túng Man Cử Long ám hại Long Đĩnh ư?

"Chúng ta phải nhanh lên thôi."

- Tôi lo lắng nói với hai người chèo thuyền.

"Trò đừng sợ, họ Kiều là chi viện của triều đình!"

- Trần Uy điềm tĩnh.

Tôi không chắc tại sao Trần Uy phân biệt được nhưng hẳn Giáo thụ có lý của mình.

Vì là thuyền nhỏ lại ít người, chúng tôi rất nhanh đã rời sang một hướng khác rồi mất hút sau những rặng lau cao quá đầu người.

Thuyền rẽ nước mà đi cho đến gần cuối sông thì hai lính chuyển thương chèo chậm lại hẳn.

Lúc này chúng tôi đã ở rất gần chiến tuyến, cách thuyền của Long Đĩnh không bao xa.

Nhìn từ đây có thể dễ dàng thấy trận pháp chỉ bày sát mép nước, không quá xa bờ.

Hai bên dùng dằng qua lại, kẻ bắn người chém, hết nỏ lại tới đao gươm.

Thuyền chở thương không cách nào áp sát chiến thuyền.

Chúng tôi dạt hẳn vào một bên, nấp sau đám lau cao ngút ngàn chờ cơ hội.

Những mũi tên vun vút trong gió, lạnh lẽo và khô khốc xé toạc bầu trời xuân ảm đạm.

Lúc này gió rít lên và trên bầu trời lất phất những hạt mưa bụi.

Mưa giăng trắng trời, mặt nước đỏ au màu máu.

Tôi ngồi trên thuyền, sóng dập dềnh mãi không thôi.

Hai bàn tay đan chặt, cố giữ không khỏi run sợ mỗi khi có một thây người trôi dạt qua trước mắt mình.

"Bẩm Giáo thụ, chúng ta phải làm sao?"

"Kiên nhẫn một chút nữa, chờ cơ hội ta và trò sẽ lên thuyền."

Tôi ngồi chờ mà lòng như lửa đốt, bấy giờ mới nhận ra hai bên không còn đánh sát mép nước nữa mà đã dần mở rộng ra giữa sông.

Quân Man được đà liền liên tiếp lao tới tấn công, lính triều đình lại quay lưng ra nước mà bày trận.

"Thưa Giáo thụ!"

- Tôi hốt hoảng không nói nên lời.

Là thư đồng của Đô chỉ huy sứ tôi đã kịp học điều cơ bản: khi bày trận thường bên phải và sau lưng là núi gò, trước mặt và bên trái mới là sông hồ.

Nay tình thế đảo ngược chẳng phải nguy hiểm lắm sao?

Trần Uy nheo mắt nhìn, đoạn quay sang bảo với người chèo thuyền:

"Là lúc này!

Lập tức áp sát thuyền của chúa thượng cho ta!"

Binh lính tạo thế, dùng khiên mây chắn quanh người tôi và Trần Uy rồi ra sức chèo lại gần.

Tôi cảm nhận rõ những tiếng mũi tên vun vút bay qua đầu mình.

Thấy cả hơi lửa bỏng rát của hoả tiễn găm bên ngoài lớp khiên mây.

Thuyền chậm lại, áng chừng một trong hai tay chèo đã gặp chuyện chẳng lành.

Nếu bây giờ quay lại có còn kịp không?

Có lẽ.

Nhưng tôi biết rõ cả Trần Uy và chính bản thân mình không muốn vậy.

Long Đĩnh lâm nguy, việc duy nhất tôi có thể làm để giữ lịch sử đi đúng quỹ đạo chính là tận chút sức lực cuối cùng của mình.

Dường như có ai vừa nhảy lên thuyền, chiếc thuyền chòng chành qua lại rồi trở nên nhanh hơn.

Tôi nhắm mắt, lần đầu tiên trong đời thực sự cầu nguyện.

Xung quanh tiếng gươm đao chát chúa như ghim thẳng vào não, hai tay tôi ướt rịn mồ hôi.

Cả thân hình núp trong mấy lớp khiên mây vẫn run lên bần bật.

May mắn thay các thuyền khác của quân triều đình đã nhận ra, hậu thuẫn chúng tôi áp sát thuyền của chúa thượng.

Bên trên nhận ra quân y liền thả thang dây xuống, hai thầy trò chúng tôi ra sức trèo lên, phải cố gắng lắm mới có thể thoát được những màn mưa tên liên tiếp của Man Cử Long.

Vừa lên đến thuyền hai chân tôi đứng còn chưa vững đã bị đập một cú trời giáng vào gáy, đau đến xây xẩm mặt mày.

Binh lính vừa đánh tôi thét lớn:

"Cúi xuống, ngươi muốn chết à?"

Vừa đau vừa oan ức nhưng tôi không dám khóc, chỉ dám cùng thầy lom khom đi trên thuyền.

Thấy đầu gối Trần Uy run run có lẽ do tuổi tác nên tôi đưa tay ra phía trước:

"Giáo thụ, để Đam dẫn người."

Trần Uy mỉm cười, gật đầu.

Long Đĩnh bị thương ở tay do tên bắn trúng, là tên độc.

Vốn dĩ vết thương tương đối nông và loại độc này tôi cũng đã gặp khi nãy ở doanh trại, cũng không phải loại quá nguy hiểm gì.

Tuy vậy thời điểm bị thương đã lâu, Long Đĩnh liên tục vận động nên độc lan ra nhanh hơn.

Sắc mặt của y rất kém, môi thâm lại.

Trần Uy giúp chúa thượng chẩn mạch rồi cẩn thận lấy ra những viên thuốc đã được hoàn tán sẵn.

Đợi Long Đĩnh uống xong, tôi cũng băng bó đâu vào đấy Giáo thụ cung kính tay chắp ngang bụng, cúi đầu:

"Chúa thượng, người nên nghỉ ngơi một chốc."

Long Đĩnh phẩy tay, vịn vào thuyền rồi đứng dậy.

Tôi nhìn theo bóng lưng y.

Dù áo giáp sáng trưng nhưng vẫn có thể nhận ra một đường máu rất nhỏ rỉ ra nhỏ xuống tí tách.

Là vết thương cũ, hẳn vậy.

Long Đĩnh nên nghỉ ngơi - Phải!

Long Đĩnh không cần tự mình ra trận - Phải!

Long Đĩnh không cần tự tay giết giặc, dùng một cùng tên, dùng một thanh kiếm - Phải!

Nhưng tất cả binh sĩ ở đây đều hiểu rõ chừng nào chúa thượng vẫn còn có thể vẫy gươm chỉ giáo, ra lệnh cho quần hùng(5), chừng đấy vẫn còn chiến đấu, mặc cho lâm nạn, mặc cho thịt nát xương tan!

Mặt trời đã hừng lên từ phía đằng đông, ánh nắng yếu ớt chẳng đủ xuyên qua làn mưa bụi dày đặc.

Giữa khoảng không xám xịt mịt mờ, thấp thoáng những chiếc cờ vàng chói lọi ngày càng áp sát quân Cử Long.

Là quân của họ Kiều!

Những chiến thuyền này đã đến trước tôi sao bây giờ mới xuất hiện?

Quân chi viện cùng quân triều đình bắt đầu phối hợp với nhau tạo thành thế gọng kìm vây chặt quân địch ở giữa sông tôi mới hiểu.

Hoá ra ban nãy chỉ là nghi binh, Long Đĩnh chờ thời cơ dồn tổng lực đánh úp khiến quân địch tiến thoái lưỡng nan.

Đợi đến khi cả binh lẫn tướng của Man Cử Long nhận thức được điều này thì đã quá muộn.

Nếu quay về bờ thì bị quân của Long Đĩnh chặn đứng, nếu xuôi dòng Cùng Giang thì lại bị quân họ Kiều đón đầu.

Còn nước còn tát, nếu có thể đi thẳng sang phía bờ bên kia rồi theo đường bộ chạy thoát thì có lẽ Man Cử Long vẫn còn một tia hi vọng.

Đương nhiên Long Đĩnh nhận thức được điều đó, liên tục hạ lệnh cho chiến thuyền áp sát quân Man, dồn vào thế bí.

Chó cùng rứt giậu, tướng quân bên địch quyết mở con đường máu, một mặt liên tục bắn tên về phía thuyền lớn của Long Đĩnh, một mặt cho các thuyền nhỏ áp sát rồi móc dây, tìm cách đu lên thuyền quân triều đình.

Rầm!

Rầm!

Hai tiếng lớn kinh thiên động địa, cả mặt thuyền rung chuyển.

Vụ va chạm mạnh tới nỗi toàn bộ người trên thuyền chao đảo đứng không vững.

Tôi ngã sấp, hai đầu gối đán xuống sàn kêu "bịch" một tiếng chát chúa đau đến điếng người.

"Cẩn thận lính nhảy thuyền!"

- Tiếng người thất thanh.

Tiếng người khác to hơn, hoảng loạn đến cùng cực:

"Chúa thượng rơi xuống nước rồi!

Mau!

Mau cứu giá!"

Nghe đến đây tôi thất kinh, gắng dùng hết sức bình sinh mà bật dậy chạy về phía đấy.

Năm binh lính bỏ giáp vứt đao, nhảy xuống cứu giá.

Quân Man Cử Long dường như đã đánh hơi được chuyện gì nên thay nhau bắn tên về phía chúa thượng.

Càng kỳ lạ là Long Đĩnh gần như bất động không hề phản kháng, dần dần chìm xuống.

Không phải là... lúc rơi xuống đầu đã đập vào đâu rồi đấy chứ?

Năm binh lính kia vẫn loay hoay tìm Long Đĩnh.

Trong màn tên dày đặc ba trong năm người đã bị bắn trúng, toàn thân chi chít tên như bia tập bắn, máu đỏ loang ra, dập dềnh trên mặt nước.

Quân Man thành công tách Long Đĩnh ra xa khỏi chiến thuyền.

Kể cả có cứu được Long Đĩnh cũng không thể quay về thuyền nữa.

Tôi ôm vào thành, hét lớn về phía hai người vừa hay kéo được Long Đĩnh trồi lên khỏi mặt nước:

"Đưa chúa thượng vào bờ!

Vào bờ!"

Trần Uy có vẻ đoán ra điều gì liền muốn cản tôi rồi lại thôi.

Tôi nhìn Giáo thụ của mình chỉ biết cười trừ, hít một hơi sâu rồi cũng lao mình xuống dòng nước.

_______

Chú thích:

(1) quan sơn: cửa ải và núi non; thường dùng để chỉ đường sá xa xôi, cách trở.

(2) Trích sách "Võ kinh"

(3) du binh: lính thăm dò đường.

(4) "Luật 9" Wallace: Tính diện tích bỏng người lớn: Đầu mặt cổ 9%, Ngực 9%, Bụng 9%, Toàn lưng 18%, Tay 9%, Chân 18%, Bộ phận sinh dục 1%.

(5) quần hùng: Chỉ chung những người tài giỏi hơn đời, đang cùng nhau làm việc gì — Chỉ chung những nước lớn mạnh đang tranh chấp với nhau. (Từ điển Nguyễn Quốc Hùng)
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Lúc Biết Xuyên Không Thì Đã Muộn!
Chương 19: Vuốt mắt


Giáo dục thể chất Trường Đại học Ngoại thương: Bơi ếch!

Học tại: Bể bơi Mỹ Đình - nơi vận động viên bơi Quốc gia tập luyện.

Nam bơi năm mươi mét, nữ bơi ba mươi mét được tính là qua môn.

Cái thời ngây dại chỉ nghĩ đến mình có thể mặc bikini bơi trong hồ sang trọng ở những khu nghỉ dưỡng năm sao, nào biết sẽ có một ngày tôi hùng hục bơi như một kình ngư giữ lúc chiến loạn.

Đã vậy còn vừa bơi vừa cầu nguyện mình không trúng tên!

Tới lúc an toàn lên tới bờ tôi đã thở không ra hơi.

Bơi ở bể vốn không có sóng, Cùng Giang nước lại chảy xiết, sóng ép tới mức lồng ngực đau nhói vì áp lực.

Hai chân tôi đi chẳng vững chỉ trực chờ díu lại với nhau nhưng tôi hiểu phải mau cứu Long Đĩnh trước.

Tôi tới bên nơi binh lính vừa vớt y lên, gọi:

"Chúa thượng!

Chúa thượng!"

- Long Đĩnh không trả lời.

Tôi bạo gan vỗ nhẹ vào mặt y - "Chúa thượng!

Người nghe Đam gọi không?"

- Long Đĩnh vẫn chẳng mảy may hồi đáp.

Tôi bắt đầu phát hoảng, toàn thân Long Đĩnh tím tái, lạnh ngắt không có dấu hiệu của sự sống, mạch đập rất yếu.

Tôi gọi hai binh lính mau mau tới phụ giúp cởi giáp sắt rồi áp tai lên lồng ngực.

Dù lồng ngực vẫn còn di động song tim chỉ đập thoi thóp, đồng tử giãn ra.

Tôi bóp hàm răng đang cắn chặt của Long Đĩnh, cuốn gấu áo rồi đưa tay vào móc toàn bộ đờm dãi trong họng.

Nếu không lấy được hết số đờm dãi này thì Long Đĩnh dù muốn thở cũng không được.

"Chúa... thượng... băng hà rồi!"

- Hai binh lính bên cạnh quỳ phục xuống, khóc nức nở.

Tôi cố gắng tỏ ra thật bình tĩnh, gằn giọng:

"Hàm hồ!

Còn không mau phụ ta cứu người?

Đợi Đô chỉ huy sứ đến sẽ chém sạch cả thảy!"

Nghe tới uy danh Lịch Vũ hai người kia tái mét, lóng ngóng giúp tôi tháo hết giáp sắt trên người Long Đĩnh rồi chà xát liên tục lên người y làm nóng cơ thể.

Với chừng ấy thời gian rơi xuống nước và tình hình hiện tại, Long Đĩnh dễ bề bị thiếu oxy do đường thở bị tràn dịch, tăng tiêu thụ oxy, mô phổi bị tổn thương và giảm diện tích khuếch tán.

Long Đĩnh được đặt nằm ngửa.

Tôi cởi áo ngoài kê dưới gáy để đầu y hơi ngửa ra sau.

Tôi quỳ bên cạnh sát ngang vai, lần tay xuống dưới kiểm tra, xác định xương sườn và xương ức của Long Đĩnh không có tổn thương, tim phổi có dấu hiệu ngưng hoạt động mới dám nhanh nhanh chóng chóng tiến hành CPR(0).

Tay tôi bóp kín hai bên mũi Long Đĩnh, một tay đẩy mạnh cằm xuống cho miệng há ra, đồng thời hít hơi thật sâu, áp miệng sát miệng y rồi thổi hơi vào thật mạnh, sau đấy xác định vị trí xương ức của y, đặt hai bàn tay đè lên nhau vào một phần ba dưới xương ức, ra sức ép mạnh bằng sức nặng của cơ thể xuống làm cho xương ức cùng lồng ngực lún xuống bốn phân.

"Chúa thượng!

Người nghe Đam gọi không?

Chúa thượng!"

Vẫn chỉ có sự im lặng hồi đáp.

Tôi không để tâm, tiếp tục nhịp ép tim thứ hai.

Chỉ cần làm đúng tôi sẽ có khả năng cứu được Long Đĩnh, chỉ cần làm đúng Long Đĩnh sẽ tỉnh lại.

Hai binh lính đứng bên thấy tôi không còn kiểm soát được nữa liền tiến tới vừa khóc thương vừa kéo tôi ra.

Tôi hất tay thật mạnh, kiên quyết tiếp tục sơ cứu.

Sau mỗi lần ép tôi nhấc nhẹ tay lên cho lồng ngực trở lại vị trí ban đầu.

Duy trì nhịp độ 80-100 lần/phút.

Cứ thổi ngại hai, ba lần lại ép tim liên tiếp mười lăm lần.

Dù cho hai tay rã rời, dù cho hôm nay tôi có chết ở đây đi chăng nữa thì Lê Long Đĩnh phải sống sót trở về, nhất định là vậy!

Vô vọng!

Toàn thân Long Đĩnh lạnh ngắt, nhãn cầu mềm, các mảng tím tái trên da xuất hiện, tim gần như ngừng đập, toàn thân cứng đờ.

Tới lúc này nước mắt tôi rơi lã chã không còn kiếm chế được.

Những mảng ký ức tối tăm hiện về, ngày một rõ nét và ám ảnh.

Không thêm một ai cả, không một ai được phép chết vì đuối nước trước mặt tôi.

Quân Man đã chạy được vào bờ, xôn xao chẳng còn cách chỗ Long Đĩnh nằm là bao.

Tôi khóc nức nở nhưng dù một giây cũng không dám dừng lại mà chỉ ra sức cấp cứu.

Hai binh lính bên cạnh hết cách liền lập tức xông ra ngoài, thay tôi đối phó với đám người đang tróc nã chúa thượng kia.

"Lê Long Đĩnh!

Người nghe thấy không?

Lê Long Đĩnh!"

Long Đĩnh từ toàn thân tím tái dần trông hồng hào có sức sống hơn.

Tôi quệt nước mắt mừng mừng tủi tủi CPR không ngừng.

Y ho một tiếng, nước trong bụng trào ra.

Tôi vỡ oà trong vui sướng, vừa ấn tim vừa lớn tiếng gọi:

"Chúa thượng, chúa thượng!

Người nghe thấy Đam chứ?

Mau mở mắt ra nhìn Đam đi!"

Mất thêm một lúc nữa, xác định Long Đĩnh đã có thể tự hô hấp được tôi mới ngừng tay.

Sợ y có di chứng gì tôi liền ghé tai hỏi:

"Chúa thượng, người nhận ra Đam chứ?"

Long Đĩnh từ từ mở mắt, ho mấy tiếng, môi mấp máy gì không rõ.

Tôi ghé sát lại gần, y thều thào:

"Nhận ra, là một kẻ đáng ghét."

Tôi tẽn tò.

Hình như vừa nãy tôi thực hiện sai động tác rồi?

Nhẽ ra tôi không nên ép tim mà phải ép cho cái nết Lê Long Đĩnh tốt lại.

Sao tôi có thể quên mất Lê Long Đĩnh là người có tính khí thế nào chứ?

Lúc này giặc Man đã bị quân triều đình cùng quân họ Kiều ép cho chạy lên bờ.

Dù là vậy đi chăng nữa nếu Long Đĩnh bị bắt ở đây rất có thể cục diện trận chiến sẽ thay đổi hoàn toàn.

May mắn thay ngay từ đầu chúa thượng được vớt lên ngay trong bụi lau rậm rạp, trong giây lát vẫn chưa quá nguy hiểm nhưng về sau thì khó lòng nói trước được.

Đến đây tôi chưa kịp mừng thầm thì nghe một tiếng người thét lên rất to rồi kế đó im bặt.

Tôi nín thở hé mắt qua những cây lau cao quá đầu người, nhìn về phía đấy.

Một trong hai binh lính vừa bị chặt đầu, máu đỏ tưới ướt đẫm phù sa, người còn lại áng chừng cũng chẳng thể trụ được thêm bao lâu nữa.

Tôi dùng cả hai tay lên bịt miệng chính mình, chỉ sợ rằng một tiếng động nhỏ lộ ra cũng khiến cả tôi và Long Đĩnh sẽ bỏ mạng ở đây.

Tiếng ngựa hí vang dồn phía xa tựa như có ngàn vạn người đang ập tới.

Kỵ binh?

Sao lại có kỵ binh nơi này?

Tôi lờ mờ đoán được bởi từ lúc trận chiến bắt đầu đến nay vẫn không thấy bóng dáng Lịch Vũ trên bất kỳ chiến thuyền nào.

Vậy người dẫn đầu toán quân thứ ba chặn đường rút lui của địch chỉ có thể là Đô chỉ huy sứ!

Nhưng có lẽ chúng tôi chẳng thể chờ đợi được cho đến khi Lịch Vũ tới nơi.

Quân Man rẽ từng bụi lau đi truy tìm, tiếng sột soạt gần đến mức tôi cảm nhận rõ được từng đường gân thớ thịt của mình căng cứng mỗi khi âm thanh đấy sát thêm một phần.

Cái chết đã rất gần, rất gần rồi.

Điều cuối cùng tôi muốn làm trong cuộc đời này?

Quân tử báo thù lúc chết vẫn kịp.

Tôi bịt miệng Long Đĩnh lại rồi gõ "boong" một cái lên trán y.

Này thì cái tội bắt nạt tôi bao lần, sống ít có ác đức lắm!

Long Đĩnh có vẻ quá bất ngờ đến mức ngây ngốc cả người nhưng tôi chẳng dại gì mà ngồi thần ra đó, vội vàng khoác đại bộ áo giáp của rồi lao ra ngoài.

Đến bước đường này chỉ có thể học theo Lê Lai(1) cứu chúa!

Quân Man thấy người mặc chiến bào của chúa thượng liền lập tức chạy theo.

Tôi rẽ hướng ngược lại với hướng Long Đĩnh đang nằm, chạy ziczac về phía bờ sông.

Lý do "chạy ziczac" không phải "chạy thẳng" là bởi vì khi bị truy sát, nếu chạy theo một đường thẳng khả năng bị bắn trúng sẽ cao hơn.

Với lợi thế thân hình nhỏ cùng khả năng chạy trốn được nâng lên sau mỗi lần gây chuyện tôi đã bứt tốc đến bờ sông.

Trước khi mũi tên cuối cùng của quân Man găm thẳng vào chân, tôi nhảy lên rồi lao vào dòng nước lần nữa.

Trăm tính vạn tính, duy chỉ có điều tôi không tính ra bộ giáp của Long Đĩnh nặng tới vậy.

Tôi không thể cựa quậy, dần dần chìm vào giữa lòng Cùng Giang.

_____

Chú thích:

(0) CPR: viết tắt của Cardiopulmonary Resuscitation - Sơ cấp cứu ngưng tim phổi.

(1) Lê Lai cứu chúa: Lê Lai cứu chúa: Lê Lai là một viên tướng nổi tiếng của khởi nghĩa Lam Sơn, có công lao rất lớn giúp đỡ Lê Thái Tổ (Lê Lợi) gây dựng sự nghiệp.

Khi bị giặc Minh vây bắt, Lê Lai xin thay mặc áo hoàng bào, đóng giả Lê Lợi dẫn dụ giặc Minh, cứu chúa thoát khỏi vòng vây.

Đại Việt thông sử chép: "Lê Lai... tự nguyện thay đổi mặc áo bào nhà vua, xưng là vua Lê ở Lam Sơn, dẫn quân ra đánh nhau với quân Minh...

Lê Lai chống cực đến kiệt sức thì bị bắt, quân Minh dẫn Lê Lai về thành Đông Quan giết chết." (Đế kỉ, Thái Tổ Thượng).

**

Thông tin từ tác giả:

1.

Thời Lê Thái Tổ Lê Lợi là thời Hậu Lê, diễn ra sau bối cảnh của truyện (thời Tiền Lê) hơn 400 năm.

2.

Thông tin ngoài lề:

Sau này Lê Lợi lên ngôi, trước lúc băng hà ngài vẫn dặn con cháu rằng có được giang sơn một phần công lớn của Lê Lai, do đó phải làm giỗ Lê Lai trước Lê Lợi.

Ngày 22/4/1433, Lê Lợi mất, Lê Lai được con cháu đời sau của Lê Lợi làm giỗ vào ngày 21/8.

Cũng từ điển tích này mà tạo thành câu "Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi."
 
Back
Top Bottom