Khác Các Vị Vua Nhà Thanh Trung Quốc

[BOT] Wattpad

Administrator
25/9/25
59,383
0
0
113732468-256-k257409.jpg

Các Vị Vua Nhà Thanh Trung Quốc
Tác giả: KhangHyHoangDe0405
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Kể về các vị vua nhà Thanh thôi.



vuachua​
 
Có thể bạn cũng thích
  • Sự Thật Về Các Ngày Lễ
  • Cược Wala trong đá gà - kèo cược thu hút các sư kê...
  • Cốt cách Phượng Hoàng
  • Trở về Cách Mạng
  • CÁC TRIỀU ĐẠI VIỆT NAM
  • Thính Tuyết Các
  • Các Vị Vua Nhà Thanh Trung Quốc
    Nỗ Nhĩ Cáp Xích


    Nỗ Nhĩ Cáp Xích

    Nỗ Nhĩ Cáp Xích (chữ Hán: 努爾哈赤; chữ Mãn: Nurhaci1.png, âm Mãn: Nurhaci), (1559 – 1626), Hãn hiệu Thiên Mệnh Hãn (天命汗), là một vị thủ lĩnh của bộ tộc Nữ Chân vào cuối đời Minh.

    Ông là người đã xây dựng nền móng mà sau đó con trai ông, Hoàng Thái Cực đã bành trướng uy thế và trở thành vị hoàng đế đầu tiên của triều đại Mãn Thanh.

    Về sau, các hậu duệ suy tôn miếu hiệu cho ông là Thanh Thái Tổ, dù ông không giữ ngôi vị hoàng đế nhà Thanh một ngày nào[1].

    Ông được nhà Thanh truy tôn thụy hiệu là Cao Hoàng đế (高皇帝).

    Thiên Mệnh Hãn

    天命汗

    Thủ lĩnh người Nữ Chân (chi tiết...)

    清 佚名 《清太祖天命皇帝朝服像》.jpg

    Chân dung của Nỗ Nhĩ Cáp Xích.

    Flag of the Qing dynasty (1889-1912).svg Hoàng đế Đại Thanh

    Tiền nhiệm Không

    Truy phong

    Kế nhiệm Thanh Thái Tông

    Đại Hãn nhà Hậu Kim

    Tại vị 17 tháng 1 năm 1616 - 30 tháng 9 năm 1626

    (10 năm, 256 ngày)

    Tiền nhiệm Sáng lập triều đại

    Kế nhiệm Hoàng Thái Cực

    Thông tin chung

    Thê thiếp Hiếu Từ Cao hoàng hậu

    Hiếu Liệt Vũ hoàng hậu

    Tên đầy đủ Ái Tân Giác La Nỗ Nhĩ Cáp Xích (愛新覺羅•努爾哈赤)

    Niên hiệu Thiên Mệnh (天命)

    Thụy hiệu Thừa Thiên Quảng Vận Thánh Đức Thần Công Triệu Kỷ Lập Cực Nhân Hiếu Duệ Vũ Đoan Nghị Khâm An Hoằng Văn Định Nghiệp Cao Hoàng đế

    (承天廣運聖德神功肇紀立極仁孝睿武端毅欽安弘文定業高皇帝)

    Miếu hiệu Thái Tổ (太祖)

    Triều đại Nhà Hậu Kim

    Sinh 21 tháng 2, 1559

    Mất 30 tháng 9, 1626 (67 tuổi)

    Ninh Viễn, Mãn Châu, Trung Quốc

    An táng Phúc Lăng (福陵), Thịnh Kinh, Trung Quốc

    Tiểu sử Sửa đổi

    Tên ông viết theo văn tự Mãn Châu là Nurhaci1.png.

    Có nhiều cách phiên âm Latinh tên gọi này như Nurgaci, Nurhachi (phổ biến nhất), hoặc Nu-er-ha-chi.

    Trong các tài liệu của nhà Minh, tên ông được chép là Đồng Noa Nhi Cáp Xích (童奴兒哈赤 hay 佟奴兒哈赤), tài liệu Hán văn của nhà Lý Triều Tiên chép tên ông là Lão Ất Khả Xích (老乙可赤) hoặc Noa Nhi Cáp Xích (奴兒哈赤).

    Tài liệu Hán văn của nhà Thanh còn chép thêm các dị bản tên ông là Nỗ Nhĩ Hạp Xích[2] (努爾合赤), Nỗ Nhĩ Cáp Tề[3] (努爾哈齊) hoặc Nỗ Nhĩ Cáp Cơ (努爾哈奇).

    Nỗ Nhĩ Cáp Xích sinh năm 1559 tại Hetu Ala (âm

    Hán Việt: Hách Đồ A Lạp), một vùng ven sông Tô Khắc Tố Hộ (Suksuhu, nay thuộc thôn Lão Thành, trấn Vĩnh Lăng, huyện tự trị dân tộc Mãn Tân Tân, Phủ Thuận, Liêu Ninh, Trung Quốc).

    Cha ông là Tháp Khắc Thế (Taksi, 塔克世, phiên âm

    Hán Việt: Tháp Khắc Thế hoặc Tác Tha Thất), bộ lạc Giác La (Gioro).

    Mẹ ông không rõ tên, người bộ lạc Gure, là con gái của Vương Cảo (王杲.

    Wangao), là Hữu vệ chỉ huy sứ Kiến Châu Nữ Chân.

    Vốn là hậu duệ của Tả vệ chỉ huy sứ Kiến Châu Nữ Chân Möngke Temür (Mang Ca Thiếp Mộc Nhi)[4], ông nội ông là Giác Xương An (Giocangga, 覺昌安, cũng Tác Khiếu Trường) được kế thừa chức vụ Tả vệ chỉ huy sứ Kiến Châu Nữ Chân, cùng với con trai Tháp Khắc Thế, tham gia đội quân địa phương của tổng binh Lý Thành Lương của nhà Minh.

    Vì thế, gia đình ông rất có uy tín trong bộ tộc.

    Mẹ ruột của ông mất sớm khi ông mới 10 tuổi, sau đó cha ông lấy vợ kế, là người bộ tộc Hỉ Tháp Lạp (喜塔腊, Hitara).

    Do mẹ kế khắc nghiệt nên ông và em ruột Thư Nhĩ Cáp Tề (舒爾哈齊/舒尔哈齐, Surhaci) sớm sống tự lập, đến tuổi trưởng thành thì theo cha và ông nội đầu quân cho Lý Thành Lương.

    Chính thời gian đầu quân cho Lý Thành Lương mà Nỗ Nhĩ Cáp Xích bắt đầu tiếp cận với văn hóa Hán.

    Ông học và đọc nhiều sách Hán, biết về sự hưng vong của các triều đại, đọc nhiều về binh pháp.

    Đặc biệt, tương truyền ông rất hâm mộ bộ Tam Quốc diễn nghĩa và nghệ thuật quân sự của ông đều học từ bộ tiểu thuyết này.

    Thống nhất Nữ Chân Sửa đổi

    Việc hôn nhân của cha mẹ ông là nhằm mục đích liên kết giữa 2 bộ lạc lớn thuộc bộ tộc Tô Khắc Tố Hộ (蘇克素護, Suksuhu).

    Một người con trai của Vương Cảo là A Đài (阿台 Atai) cưới cháu gái của Giác Xương An[5].

    Điều này làm ảnh hưởng chính sách chia để trị của nhà Minh.

    Vì vậy, năm 1574, nhân một cớ nhỏ, Lý Thành Lương đã bắt giết Vương Cảo.

    A Đài phải đem gia đình bỏ trốn về Gure (Cổ Lặc trại).

    Do có sự can thiệp của Giác Xương An, Lý Thành Lương đành phải "tha tội" và chiêu an A Đài.

    Tuy nhiên, Lý quyết định phải truy diệt A Đài và nhổ luôn "cái gai" Giác Xương An.

    Năm 1582, Lý kích động một tù trưởng khác là Ni Kham Ngoại Lan (尼堪外蘭, Nikan Wailan)[6] nhân cơ hội tấn công A Đài.

    Mặt khác, Lý vờ sai Giác Xương An dẫn con trai và các cháu dẫn đội tiên phong đến tiếp viện cho A Đài, còn mình thì dẫn quân tiếp ứng.

    Trước khi Giác Xương An kịp đến tiếp viện, một thuộc hạ của A Đài bị Ni Kham Ngoại Lang mua chuộc đã làm phản và giết chết A Đài.

    Khi Giác Xương An đến và bao vây Ni Kham Ngoại Lan thì quân Lý cũng đến tấn công để "tiêu diệt Ni Kham Ngoại Lang".

    Cả Giác Xương An và Tháp Khắc Thế đều bị quân Lý giết chết vì "tưởng nhầm" là người của Ni Kham Ngoại Lang[7].

    Nỗ Nhĩ Cáp Xích và em trai Thư Nhĩ Cáp Tề may mắn trốn thoát được[8].

    Nỗ Nhĩ Cáp Xích trở về bộ lạc nắm quyền thủ lĩnh, phái người đến Kiến Châu phủ chất vấn Minh triều lý do giết hại ông và cha.

    Nhằm xoa dịu sự bất mãn của bộ tộc Tô Khắc Tố Hộ, Minh triều trả lại thi thể của ông và cha của Nỗ Nhĩ Cáp Xích, đồng thời "sắc thư tam thập đạo, mã tam thập thất, phong Long Hổ Tướng quân, hàm cấp Đô đốc thiêm sự"[7].

    Tuy nhiên, Nỗ Nhĩ Cáp Xích bắt đầu nhận ra chân tướng sự việc kẻ thù chính của mình chính là nhà Minh, nhưng đành nén lòng nhận sắc phong chờ cơ hội phục thù.[9]

    Với danh nghĩa Long Hổ Tướng quân, Đô đốc Thiêm sự của nhà Minh, ông thu thập bộ hạ, lấy 13 bộ giáp sắt của cha để lại trang bị, lấy danh nghĩa đánh diệt Ni Kham Ngoại Lang để khởi binh ở quê tổ Hách Đồ A Lạp.

    Năm 1584, ông tấn công Ni Kham Ngoại Lang ở thành Đồ Luân (Tulun), bắt được hơn 100 tù binh và thu được 30 bộ giáp sắt, tuy nhiên Ni Kham Ngoại Lang trốn thoát được sang Nga Nhĩ Hồn (Erhun).

    Năm 1587, Nỗ Nhĩ Cáp Xích tiếp tục tấn công Nga Nhĩ Hồn, buộc Ni Kham Ngoại Lan phải trốn chạy vào lãnh địa của Lý Thành Lương.

    Nỗ Nhĩ Cáp Xích cho người chất vấn, buộc Lý phải giao trả Ni Kham Ngoại Lan, rồi đem xử tử để tế ông nội và cha.

    Sau trận chiến tiêu diệt Ni Kham Ngoại Lan, danh tiếng của Nỗ Nhĩ Cáp Xích trong các bộ lạc Nữ Chân Kiến Châu trở nên vang dội.

    Với tư cách kế thừa chức vị Tả hữu vệ Chỉ huy sứ Nữ Chân Kiến Châu, Long Hổ tướng quân, Đô đốc Thiêm sự, ông thực hiện nhiều cuộc chinh phạt để thu phục các bộ lạc Kiến Châu.

    Một số bộ lạc khác chấp nhận quy phục.

    Năm 1588, các bộ lạc Kiến Châu Nữ Chân hầu hết đều dưới quyền lãnh đạo của ông.

    Năm 1593, liên minh 9 bộ tộc Hải Tây Nữ Chân tấn công Kiến Châu Nữ Chân[10].

    Tuy nhiên, với tài năng quân sự của mình, Nỗ Nhĩ Cáp Xích đã đánh tan lực lượng liên minh Hải Tây tại trận Gure, tiếp tục củng cố Kiến Châu.

    Sau đó, trong vòng 10 năm, Nỗ Nhĩ Cáp Xích lần lượt chinh phục các bộ tộc lớn của Hải Tây Nữ Chân.

    Năm 1599, bộ tộc Cáp Đạt bị tấn công và bị chinh phục năm 1603.

    Năm 1607, bộ tộc Huy Phát bị chinh phục, và bộ tộc Ô Lạp vào năm 1613.

    Các bộ tộc nhỏ khác của Hải Tây Nữ Chân và Dã Chân Nữ Chân cũng lần lược quy phục.

    Chỉ còn bộ tộc Diệp Hách mãi đến năm 1619 mới hoàn toàn bị khuất phục sau trận Sa Nhĩ Hử (Sarhu).

    Xây dựng lại văn tự Nữ Chân Sửa đổi

    Từ thế kỷ thứ 12, người Nữ Chân đã xây dựng cho mình một dạng văn tự riêng, phỏng theo chữ Khải của người Hán nhưng theo các quy tắc chữ của người Khiết Đan.

    Tuy nhiên, khi người Mông Cổ tiêu diệt chính quyền Kim quốc, đã buộc người Nữ Chân phải tiến hành đồng hóa với người Mông Cổ, bao gồm cả việc sử dụng văn tự của người Mông Cổ.

    Cộng với việc trở lại với đời sống du mục, văn tự Nữ Chân dần bị thất truyền trong 300 năm.

    Vốn là một người có kiến thức và biết chữ Hán, Nỗ Nhĩ Cáp Xích đã quan tâm đến việc phục hồi lại văn tự cho người Nữ Chân.

    Năm 1599, ông ra lệnh cho văn thần của mình là Ba Khắc Thập Ngạch Nhĩ Đức Ni (Erdeni Bagshi) và Trác Nhĩ Cố Tề Cát Cái (Dahai Jarguchi), phỏng theo chữ Mông Cổ và áp dụng quy tắc văn tự Nữ Chân cổ để xây dựng lại văn tự Nữ Chân mới.[11]

    Việc thống nhất văn tự một lần nữa đã tạo nên sự thống nhất một lần nữa cho các bộ tộc Nữ Chân, giúp Nỗ Nhĩ Cáp Xích có thể huy động sức mạnh của dân tộc Nữ Chân trở nên hùng mạnh, chinh phục các quốc gia khác và xây dựng vương triều Thanh thống trị Trung Quốc 300 năm[12].

    Tuy nhiên, đến đời con cháu của ông, trước sức mạnh đồng hóa của văn hóa Hán, văn tự Mãn Châu cũng dần bị mai một và ngày nay gần như thất truyền.

    Chế độ Bát Kỳ Sửa đổi

    Bài chi tiết: Bát Kỳ

    Một trong những cải cách quan trọng khác của Nỗ Nhĩ Cáp Xích là chế độ Bát kỳ (âm Mãn: Jakūn Gūsa), theo đó mọi người dân trong các bộ lạc Nữ Chân đều quy thuộc vào một trong 8 nhóm bộ lạc, được gọi là các "Kỳ" (gūsa).

    Mỗi kỳ là tập hợp tổ chức các bộ lạc, vừa là các đơn vị dân sự vừa mang tính chất quân sự.

    Nguyên thủy, nhà Minh đã áp dụng mô hình quản lý các đơn vị hành chính ngoại biên (các bộ lạc) để dễ kiểm soát.

    Mô hình đó như sau:

    Trên cơ sở mười người thì được xem là một đơn vị cơ sở, gọi là "Tập".

    Mười "Tập" hợp lại thành một đơn vị gọi là "Trại" (gồm 100 người).

    Lúc đầu khi số lượng người của bộ lạc còn ít thì chính quyền Minh chỉ quản lý các bộ lạc Nữ Chân theo hình thức là "Tập" và "Trại".

    Đến thời của Nỗ Nhĩ Cáp Xích, các bộ lạc nhanh chóng phát triển thông qua các cuộc chiến tranh chinh phục hoặc hôn nhân chính trị.

    Hình thức "Tập Trại" không còn phù hợp nữa, vì thế, các cứ và cách thức tổ chức của nhà Minh và bản địa hóa, Nỗ Nhĩ Cáp Xích đã xây dựng hình thức tổ chức xã hội bộ lạc mới là Gūsa.

    Về căn bản, ông vẫn giữ nguyên hình thức bộ lạc, vẫn duy trì chế độ tù trưởng (mà người Nữ Chân gọi là Beile), nhưng căn cứ theo số lượng người Nữ Chân có trong các bộ (bộ lạc), phân chia trên cơ sở như sau:[13][14][15]

    Cứ 300 nam giới[16] được tổ chức thành một Niru (âm

    Hán Việt: Ngưu Lộc).

    Người đầu mục của niru được gọi là Niru-i Ejen (tức Ngưu Lộc Ngạch Chân, hay Tiển Chủ, danh xưng Hán Việt là Tá Lãnh).

    Năm Niru hợp lại thành một Jalan (âm

    Hán Việt: Giáp Lạt) do một Jalan-i Ejen (Giáp Lạt Ngạch Chân, danh xưng Hán Việt là Tham Lĩnh) chỉ huy.

    Năm Jalan sẽ hợp lại thành một đơn vị gọi là Gūsa (âm

    Hán Việt: Cố Sơn, danh xưng

    Hán Việt: Kỳ).

    Chỉ huy một Gūsa là một Gūsa Ejen (phiên âm

    Hán Việt: Cố Sơn Ngạch Chân, danh xưng

    Hán Việt: Đô Thống).

    Ở các Gūsa quan trọng còn có thêm 2 đơn vị là Meiren (phiên âm

    Hán Việt: Mai Lặc), gồm 10 Niru hợp thành, do một Meiren-i Ejen (phiên âm

    Hán Việt: Mai Lặc Ngạch Chân) chỉ huy.

    Các Meiren-i Ejen sẽ giữ vai trò phụ tá cho Gūsa Ejen.

    Thông thường, các Gūsa còn được đặt dưới quyền quản lý của các bối lặc (tù trưởng) thân tín của Nỗ Nhĩ Cáp Xích.

    Các Bối lặc này được xem là có địa vị cao hơn các bối lặc khác, nên còn được gọi là các Hòa thạc Bối lặc.

    Ban đầu, khi chưa hoàn toàn thống nhất các bộ tộc Nữ Chân, Nỗ Nhĩ Cáp Xích tổ chức các bộ tộc thuộc quyền thành 4 Kỳ phân biệt theo màu cờ hiệu là Hoàng (Suwayan), Bạch (Sanggiyan), Hồng (Fulgiyan), Lam (Lamun).

    Hoàng kỳ đặt dưới quyền khống chế và điều động của ông.

    Lam kỳ giao cho người em Thư Nhĩ Cáp Tề.

    Bạch kỳ được giao cho con trai trưởng là Chử Anh và Hồng kỳ do người con trai thứ là Đại Thiện quản lý.

    Về sau, khi thống nhất hoàn toàn các bộ lạc Nữ Chân, Nỗ Nhĩ Cáp Xích tổ chức tăng lên bốn kỳ nữa.

    Các kỳ cũ được thêm danh xưng Gulu (Chính), còn các kỳ mới có thêm màu viền trên cờ hiệu là có thêm danh xưng Kubuhe (Tương), gọi là Tương Hoàng, Tương Lam, Tương Bạch, Tương Hồng[15].

    Năm 1607, vì có xảy ra bất hòa, Nỗ Nhĩ Cáp Xích thu binh quyền của Thư Nhĩ Cáp Tề, về sau giao lại Tương Lam kỳ lại cho con thứ của Thư Nhĩ Cáp Tề là A Mẫn.

    Năm 1615, Chử Anh, con trai trưởng và là người thừa kế của ông bị dèm pha nên đã bị ông bắt giam và bức tử.

    Nỗ Nhĩ Cáp Xích giao lại Tương Bạch kỳ cho con trai thứ 5 là Mãng Cổ Nhĩ Thái và Chính Bạch kỳ giao lại cho người con trai thứ 8 là Hoàng Thái Cực.

    Để ngăn ngừa hành vi tương tự, Nỗ Nhĩ Cáp Xích cũng phân 2 bộ Hồng kỳ ra giao cho Đại Thiện và con trai ông ta quản lý.

    Như vậy, chế độ Jakūn Gūsa về mặt quân sự là 8 cánh quân, về mặt dân sự 8 nhóm bộ tộc, phân biệt bởi hiệu cờ chỉ huy, vì vậy còn được gọi theo âm Hán Việt là Bát Kỳ, mỗi Kỳ có một màu chủ đạo riêng biệt.

    Đây là một hình thức quân đội dân tộc, là sự hợp nhất giữa binh và nông[17].

    Đại Hãn là người thống trị tối cao của toàn Bát Kỳ cả về quân sự lẫn dân sự.[18].

    Ban đầu, mỗi Kỳ kỳ có 7.500 quân, tổng cộng 8 kỳ có 6 vạn quân[19].

    Về sau, thông qua việc chinh phục các bộ lạc, số lượng binh sĩ trong các Kỳ tăng dần lên.

    Khi Nỗ Nhĩ Cáp Xích đánh thành Ninh Viễn, tổng binh lực quân Bát Kỳ huy động đã lên đến 13 vạn.

    Trong Bát kỳ này lại có sự phân chia thứ bậc nhất định:

    Đại hãn trực tiếp nắm giữ Chính Hoàng kỳ và Tương Hoàng Kỳ, Chính Lam kỳ, hợp xưng là "Thượng Tam Kỳ" (上三旗), còn được gọi là Nội phủ Tam kỳ (内府三旗)[20].

    Chỉ những người Nữ Chân thuộc Thượng Tam Kỳ mới được đích thân Đại Hãn lựa chọn vào đội bảo vệ riêng của mình.

    Những kỳ còn lại được gọi là "Hạ Ngũ Kỳ" (下五旗) và được giao cho các Bối lặc thân tín của Nỗ Nhĩ Cáp Xích, thay mặt Đại hãn nắm quyền quản lý, và thường được gọi theo nghi thức là "Hòa thạc" (Hošoi, trong tiếng Mãn có nghĩa là "người được đặc biệt tôn kính).

    Họ cùng nhau tạo thành một hội đồng quản lý quốc gia Mãn Châu cũng như bộ tư lệnh quân đội, phụ tá cho Nỗ Nhĩ Cáp Xích, được gọi là "Hòa thạc Bối lặc" (Hošoi Beile).

    Tuy nhiên, quy chế này mãi đến đời con ông là Hoàng Thái Cực mới chế định rõ ràng.

    Danh sách các Kỳ như sau:

    Danh xưng Cờ hiệu Chữ Mãn Âm Mãn Chữ Mông Cổ

    (chữ cái Kirin) Phân loại

    Chính Hoàng kỳ ManZhow 8Flag Yellow.jpg Gusa1.png Gulu Suwayan-i Gūsa Шүлүүн Шар Хошуу Thượng Tam kỳ

    Tương Hoàng kỳ ManZhow 8Flag YellowInBorder.jpg Gusa2.png Kubuhe Suwayan-i Gūsa Хөвөөт Шар Хошуу Thượng Tam kỳ

    Chính Bạch kỳ ManZhow 8Flag White.jpg Gusa3.png Gulu Sanggiyan-i Gūsa Шүлүүн Цагаан Хошуу Ban đầu thuộc Hạ Ngũ kỳ, về sau chuyển thuộc Thượng Tam kỳ

    Chính Lam kỳ ManZhow 8Flag Blue.jpg Gusa7.png Gulu Lamun-i Gūsa Шүлүүн Хөх Хошуу Ban đầu thuộc Thượng Tam kỳ, về sau chuyển thuộc Hạ Ngũ kỳ.

    Tương Bạch kỳ ManZhow 8Flag WhiteInBorder.jpg Gusa4.png Kubuhe Sanggiyan-i Gūsa Хөвөөт Цагаан Хошуу Hạ Ngũ kỳ

    Chính Hồng kỳ ManZhow 8Flag Red.jpg Gusa5.png Gulu Fulgiyan-i Gūsa Шүлүүн Улаан Хошуу Hạ Ngũ kỳ

    Tương Hồng kỳ ManZhow 8Flag RedInBorder.jpg Gusa6.png Fubuhe Fulgiyan Gūsa Хөвөөт Улаан Хошуу Hạ Ngũ kỳ

    Tương Lam kỳ ManZhow 8Flag BlueInBorder.jpg Gusa8.png Kubuhe Lamun-i Gūsa Хөвөөт Хөх Хошуу Hạ Ngũ kỳ

    Nỗ Nhĩ Cáp Xích là thống soái tối cao của Bát Kỳ.

    Con cháu của ông ta là thủ lĩnh của mỗi một Kỳ.

    Mỗi Kỳ Chủ phải trực tiếp nghe theo mệnh lệnh của Đại Hãn, quyền lực và địa vị chỉ thấp hơn Đại Hãn mà cao hơn tất cả mọi người.

    Điều đặc biệt là những vị tướng lãnh đạo dưới trướng của ông không phải theo kiểu cha truyền con nối một cách đương nhiên (mặc dù tất cả đều là con cháu của ông) mà do chính ông bổ nhiệm trên cơ sở tài năng và chiến công.

    Các bộ lạc thành viên trong tất cả các Kỳ không nắm giữ tất cả một vùng, hay không chiến đấu thành đơn vị hợp nhất.

    Khi yêu cầu một cuộc hành quân, thì được thiết lập dưới các kỳ khác nhau.

    Những sự phân chia này chủ yếu hạn chế nguy cơ các bộ lạc ly khai hay không tuân lệnh.[15]

    Lên ngôi Đại hãn Sửa đổi

    Thẩm Dương

    Năm 1601, sau khi thống nhất Kiến Châu, Nỗ Nhĩ Cáp Xích đã cử người đến Bắc Kinh triều cống nhà Minh.

    Tuy nhiên, thông qua việc triều cống này, ông cũng nhận ra được tình hình rối ren của triều đình nhà Minh, càng đẩy nhanh việc thống nhất Nữ Chân để chuẩn bị phục thù.

    Năm 1603, ông cho xây dựng Hách Đồ A Lạp để trở thành kinh đô sau này.

    Bên cạnh việc chinh phục các bộ tộc Nữ Chân, Nỗ Nhĩ Cáp Xích còn mở rộng việc quy phục các bộ tộc Mông Cổ.

    Bấy giờ, Mông Cổ hoàn toàn tan rã thành các bộ lạc, và thường xuyên bị nhà Minh đánh phá, dù họ vẫn duy trì danh nghĩa hoàng đế Nguyên.

    Với tư cách là hậu duệ của Möngke Temür, mang dòng máu Mông - Mãn, cộng với chiến tích chinh phục, Nỗ Nhĩ Cáp Xích dễ dàng được nhiều bộ tộc Mông Cổ quy phục.

    Năm 1606, ông được người Mông Cổ tôn xưng danh hiệu Kundulun Khan (âm

    Hán Việt: Côn Đô Luân Hãn).

    Năm 1615, Lý Thành Lương chết.

    Cả một vùng Liêu Đông, một phần Mông Cổ lọt vào tầm khống chế của ông.

    Năm 1616, khi 57 tuổi, Nỗ Nhĩ Cáp Xích lên ngôi Đại Hãn với hiệu là Geren gurun-be ujire genggiyen Han (chữ Mãn: Nurhaci title1.png, Phúc Dục Biệt Quốc Anh Minh Hoàng đế, nghĩa là "Vị Hãn anh minh mang hạnh phúc cho cả quốc gia")[21], ở thành Hách Đồ A Lạp (nay là Tân Tân, Liêu Ninh), tuyên bố dựng nước, lấy quốc hiệu Đại Kim, mà sử Trung Quốc gọi là Hậu Kim.

    Ông cũng tự đặt họ cho mình là Aisin-Gioro (Ái Tân Giác La), trong tiếng Nữ Chân cổ có nghĩa là Kim (Aisin Gurun), hàm ý ông kế thừa chính thống đế chế Kim quốc.

    Từ đây, con cháu trực hệ của ông đều lấy họ là Aisin-Gioro.

    Ông theo phép nhà Minh, đặt niên hiệu là Thiên Mệnh (chữ Hán: 天命, chữ Mông Cổ: Тэнгэрийн Сүлдэт, chữ Mãn: ᠠᠪᡴᠠᡳ ᡶᡠᠯᡳᠩᡤᠠ, âm Mãn: Abkai Fulingga)

    Khởi binh chống nhà Minh và chiến thắng Tát Nhĩ Hử Sửa đổi

    Trận bến Tát Nhĩ Hử

    Nhận thấy thế lực của mình đã đủ mạnh, Nỗ Nhĩ Cáp Xích cho rằng điều kiện phục thù đã chín mùi.

    Năm 1618, Nỗ Nhĩ Cáp Xích ban bố "Thất đại hận" (Bảy mối hận lớn, âm Mãn: Nadan Amba Koro) làm lý do khởi binh phản Minh.

    Điều đầu tiên khẳng định thủ phạm giết cha và ông nội chính là triều đình nhà Minh.

    Những điều còn lại xoáy vào sự bất bình đẳng, thiên vị của nhà Minh với bộ tộc Diệp Hách mà chế áp các bộ tộc Kiến Châu.[22]

    Sau khi khởi binh, trong vòng 3 tháng, từ tháng 4 đến tháng 7, thế binh Nỗ Nhĩ Cáp Xích mạnh như chẻ tre, liên tục chiếm một số thành ở Đông Bắc như Phủ Thuận, Thanh Hà, Đông Châu..., quân Minh trên dưới đều khiếp sợ, Tổng binh Phủ Thuận là Lý Vĩnh Phương đầu hàng, Phó tướng Vương Mãng Ân tử trận, Tổng binh Quảng Ninh Trương Thừa Âm, Phó tướng Phó Đình Tương bị giết chết.

    đến cuối năm 1618, quân Nữ Chân đã áp sát Sơn Hải quan.

    Đầu năm 1619, vua Minh Thần Tông vội sai Binh bộ Thị lang Dương Cảo làm Liêu Đông Kinh lược sứ, chỉ huy đại quân, cộng với binh lực của các bộ tộc Nữ Chân và Mông Cổ chống Nỗ Nhĩ Cáp Xích, đứng đầu là bộ tộc Diệp Hách, binh lực của quân Triều Tiên, xưng là 47 vạn (thực tế là 14 vạn), chia bốn đường đánh dẹp Hậu Kim.

    Tháng 2 năm 1619, cả bốn cánh quân cùng xuất quân.

    Binh lực các cánh quân như sau:

    Tây lộ quân do Tổng binh Sơn Hải quan Đỗ Tùng chỉ huy, khoảng 3 vạn quân Minh

    Bắc lộ quân do Tổng binh Khai Nguyên Mã Lâm chỉ huy, khoảng 2,5 vạn quân Minh và 1 vạn quân bộ tộc Diệp Hách do Kim Đài Cát chỉ huy.

    Đông lộ quân do Tổng binh Liêu Dương Lưu Đĩnh chỉ huy, khoảng 2,7 vạn quân Minh và 1,3 vạn quân Triều Tiên do Khương Hoằng Lập chỉ huy.

    Nam lộ quân do Tổng binh Liêu Đông Lý Như Bách chỉ huy, khoảng 2 vạn quân Minh

    Ngoài ra, riêng cánh Trung quân do đích thân Dương Cảo chỉ huy, gồm khoảng 1,5 vạn quân Minh, lại đồn trú ở Thẩm Dương để chỉ huy.[23].

    Nỗ Nhĩ Cáp Xích bình tĩnh phân tích cục diện của quân Minh, từ đó xác định phương châm tập trung binh lực "Bất kể chúng đi bằng bao nhiêu đường, ta chỉ dùng một đường"[24].

    Từ đó, ông xác định dùng toàn lực quân Bát kỳ (khoảng 6 vạn quân), với ưu thế kỵ binh thiện chiến, tập trung nhanh chóng tiêu diệt từng cánh quân Minh.

    Đúng như Nỗ Nhĩ Cáp Xích dự đoán, một trong những sai lầm chết người là giữa các tướng Minh có sự bất đồng về phương thức tác chiến, dẫn đến các cánh quân Minh không có sự liên lạc phối hợp, tốc độ hành quân không đều, chủ soái ở xa, không theo kịp tình hình biến đổi của chiến trường; vì thế nếu tác chiến nhanh gọn, sẽ đủ thời gian điều động tập trung binh lực áp đảo tiêu diệt từng cánh quân một, trước khi quân địch kịp nhận ra.

    Chính vì vậy, tận dụng ưu thế cơ động, Nỗ Nhĩ Cáp Xích cho quân Bát kỳ nhanh chóng tiến đến chiếm lĩnh thế trận trước tại bờ sông Tát Nhĩ Hử (薩爾滸)[25], chờ cánh quân Tây lộ, chủ lực của Minh triều tiến đến.

    Tuy được Dương Cảo giao nhiệm vụ chủ lực, nhưng Đỗ Tùng là một tướng chủ quan khinh địch, tiến quân không chờ các cánh quân khác.

    Ngày 1 tháng 4[23], cánh quân Đỗ Tùng đã đến Tát Nhĩ Hử.

    Không biết quân Bát kỳ đã chờ sẵn ở Sarhu, thay vì đóng trại chờ các cánh quân khác, Đỗ Tùng lại ra lệnh cho quân vượt sông, với dự định nhanh chóng phá tan quân Nữ Chân.

    Thấy quân Đỗ Tùng vượt sông, Nỗ Nhĩ Cáp Xích ra lệnh phá đập nước đã chuẩn bị trước.

    Một phần cánh quân và hầu hết lương thảo của Tây lộ quân bị nhấn chìm.

    Tuy nhiên, Đỗ Tùng vẫn liều lĩnh tiến quân.

    Một bộ phận tiền quân do chính Đỗ Tùng chỉ huy tiến vào đóng trại ở đồn Giới Phàm, trấn giữ hẻm núi Cát Lâm Nhai, đề phòng quân Bát kỳ kéo đến, một bộ phận lớn khác đóng trại cạnh bờ sông chờ tiếp ứng.

    Nỗ Nhĩ Cáp Xích tận dụng ngay cơ hội, chỉ để 1,5 vạn quân cầm chân Đỗ Tùng ở quân trại Giới Phàm, tập trung binh lực tiêu diệt quân trại ở Tát Nhĩ Hử, sau đó hợp lại đánh tan quân trại của Đỗ Tùng.

    Đỗ Tùng cùng 2 phó tướng Vương Tuyên và Triệu Mộng Lân đều tử trận.

    Sau khi cánh quân Đỗ Tùng bị tiêu diệt thì Bắc lộ quân do Mã Lâm chỉ huy cũng vừa kéo đến hẻm núi Thượng Giám Nhai, cách bến Tát Nhĩ Hử khoảng 30 dặm về phía Đông Bắc.

    Nhận được tin cấp báo từ tàn quân Đỗ Tùng, Mã Lâm không dám khinh suất, bèn thu thập tàn quân Đỗ Tùng và tổ chức phòng thủ thành một tuyến dài với 3 quân trại.

    Nỗ Nhĩ Cáp Xích tập trung toàn bộ binh lực tấn công thẳng vào trại do Mã Lâm đóng giữ.

    Dù quân Minh sử dụng hỏa pháo nhưng do tốc độ chậm, không kịp với đà thần tốc của kỵ binh Nữ Chân nên trại binh tan vỡ, Mã Lâm bỏ quân lính một mình trốn chạy.

    Hai trại còn lại thấy quân trại chính bị tiêu diệt nên cũng nhanh chóng tan vỡ khi quân Nữ Chân tấn công.

    Sau khi tiêu diệt cả hai cánh quân, quân Nữ Chân nhan chóng chuyển quân về phía Nam để nghỉ ngơi và chờ cánh quân của Lưu Đĩnh kéo đến.

    Lưu Đĩnh tuy là một tướng tài thiện chiến, nhưng do bất hòa với Dương Cảo nên bị đẩy xuống cánh quân thứ yếu vì thế có nhiều bất mãn.

    Nắm được điều này, Nỗ Nhĩ Cáp Xích quyết định tiêu diệt cách quân này trước khi Lý Như Bách kéo đến.

    Ông cho một số quân binh mặc giả quân phục của quân Đỗ Tùng, đến yêu cầu Lưu Đĩnh tăng tốc độ hành quân.

    Vì nóng lòng lập công nên Lưu Đĩnh mắc bẫy.

    Ông ta cho quân tiến theo đường núi hiểm trở với mong muốn vượt lên trước cách quân Đỗ Tùng, vì thế rơi vào trận địa phục kích của quân Nữ Chân.

    Quân Minh nhanh chóng bị chia cắt và bị tiêu diệt.

    Bản thân Lưu Đĩnh cũng chết trong loạn quân.

    Chỉ có cánh quân Triều Tiên kịp tổ chức chống trả.

    Tuy nhiên, họ không thể chống cự nổi với kỵ binh Nữ Chân đông đảo và tinh nhuệ.

    Hai phần ba số quân Triều Tiên nhanh chóng bị tiêu diệt.

    Vì vậy, Khương Hoằng Lập và những binh sĩ Triều Tiên còn lại phải đầu hàng.[26]

    Mãi 4 ngày sau, Dương Cảo mới nhận được tin dữ liên tiếp báo về là 3 cánh quân đã bị tiêu diệt hoàn toàn.

    Ông ta bèn ra lệnh cho Lý Như Bách đưa Nam lộ quân trở về.

    Lúc này, cánh quân Lý Như Bách đã tiến sâu vào con đường núi hiểm trở chật hẹp, vì phía trước đã bị chặn nên đành đi về bằng đường cũ.

    Nỗ Nhĩ Cáp Xích đã đoán trước được việc này và đã bố trí một toán nghi binh ở đây.

    Khi thấy cánh quân Lý Như Bách đổi đội hình rút lui, họ bèn giương cờ và kèn hiệu nghi binh, giả cách như phục binh Nữ Chân tấn công.

    Quân Minh hốt hoảng, dẫm đạp lên nhau để thoát thân.

    Hàng ngàn binh sĩ bị giày xéo mà chết.

    Không chịu nổi thất bại này, Lý Như Bách đành tự vẫn để không bị triều đình kết tội.

    Chỉ trong 6 ngày tác chiến, 6 vạn quân Nữ Chân đã đánh tan 14 vạn liên quân Minh - Triều Tiên - Diệp Hách, làm rung động Minh triều.

    Danh tiếng Nỗ Nhĩ Cáp Xích vang dội toàn mạn Bắc Trung Quốc.

    Toàn bộ các bộ tộc Nữ Chân giờ đây hoàn toàn quy phục ông.

    Trận đánh còn được xem như một trong những trận đánh kinh điển trong nghệ thuật quân sự thế giới khi vận dụng nguyên tắc tập trung binh lực và sức cơ động chiến thuật, thể hiện tài năng quân sự của Nỗ Nhĩ Cáp Xích.[27]

    Tung hoành Đông Bắc và mối hận Ninh Viễn Sửa đổi

    Nỗ Nhĩ Cáp Xích chỉ huy quân Kim công đánh Ninh Viễn lần thứ nhất

    Thừa thế chiến thắng, quân Bát kỳ nhanh chóng tiến xuống phía Nam, chiếm luôn Khai Nguyên, Thiết Lăng.

    Năm 1621, quân Bát kỳ tiếp tục đánh chiếm Liêu Dương, Trung Trấn, Thẩm Dương, khống chế toàn bộ vùng đất phía đông Liên Hà.

    Cũng trong năm này, Nỗ Nhĩ Cáp Xích thiên đô về Liêu Dương, với mục đích khống chế vùng Liêu Đông.

    Năm 1622, Nỗ Nhĩ Cáp Xích đánh bại đội quân của Kinh lược Liêu Đông Phùng Đình Bản và Tuần phủ Liêu Đông Vương Hóa Trinh, chiếm giữ trọng trấn Liêu Tây là Quảng Ninh[28].

    Triều đình nhà Minh kết tội Phùng Đình Bản thua trận bị xử chém, Vương Hóa Trinh bị hạ ngục.

    Sau trận Quảng Ninh, Nỗ Nhĩ Cáp Xích tạm ngưng chinh phạt nhà Minh, chuyển trọng tâm vào việc chỉnh đốn quân đội, tăng cường binh lực, đồng thời tổ chức quản lý vùng đất mới.

    Lúc này, hầu hết vùng lãnh thổ phía Bắc Trung Quốc, như Mông Cổ, Nữ Chân, Triều Tiên đều thuộc phạm vi thế lực của ông.

    Năm 1625, Nỗ Nhĩ Cáp Xích cho đổi tên Thẩm Dương thành Thạnh Kinh và thiên đô sang đây.

    Tận dụng thời gian hưu chiến, tướng nhà Minh trấn thủ thành Ninh Viễn[29] là Binh lược Phó sứ, Hữu Tham chính Viên Sùng Hoán dốc toàn lực để củng cố thành Ninh Viễn thành một cứ điểm vững chắc phía ngoài Sơn Hải quan.

    Sau 1 năm nghỉ ngơi chỉnh đốn, tháng 1 năm 1626, Nỗ Nhĩ Cáp Xích dẫn 13 vạn kỵ binh tiến công Sơn Hải quan.

    Tuy nhiên, dù đơn độc phòng thủ Ninh Viễn ngoài Sơn Hải quan, quân tướng Ninh Viễn cùng chủ tướng Viên Sùng Hoán hăng hái chống cự nên Nỗ Nhĩ Cáp Xích không thể tiến lên được, lại bị đại bác bắn trúng làm bị thương do đó việc công thành phải dừng lại.

    Viên Sùng Hoán tận dụng thời cơ đốc quân ra thành truy kích.

    Quân Nữ Chân thua to phải rút về Thạnh Kinh.

    Nhận định chưa thể phục thù trận Ninh Viễn, tháng 4 năm đó, Nỗ Nhĩ Cáp Xích tạm đốc quân chuyển hướng sang chinh phục các bộ lạc Mông Cổ chưa chịu quy phục.

    Tuy nhiên, tháng 5 năm đó, tướng Minh là Mao Văn Long xuất quân ra khỏi quan ải, tấn công An Sơn.

    Giữa tháng 7, Nỗ Nhĩ Cáp Xích đành phải chấm dứt chinh phục, rút quân về lại Thạnh Kinh.

    Trên đường rút về, do phát bệnh nặng, ông phải theo thuyền từ sông Thái vào sông Hồn để trở về Thạnh Kinh.

    Ngày 10 tháng 8[30], khi đi qua một thị trấn nhỏ có tên là De-A Man[31], bệnh tình trở nên trầm trọng nên ông đã lặng lẽ qua đời vào năm 68 tuổi.

    Một số tài liệu lịch sử cho rằng cái chết của Nỗ Nhĩ Cáp Xích là do bị thương bởi đại bác Bồ Đào Nha mà Viên Sùng Hoán đã trang bị cho thành Ninh Viễn[32].

    Tuy nhiên, căn cứ theo hành trạng của Nỗ Nhĩ Cáp Xích chuyển hướng chinh phục Mông Cổ 3 tháng sau trận Ninh Viễn, các học giả đồng ý nguyên nhân cái chết là do sự lao lực quá độ, cộng với nỗi uất ức đại bại trước một tướng lĩnh vô danh, cộng với tuổi già và thương thế[33].

    Thi hài ông được đem về Thịnh Kinh mai táng, gọi là Phúc lăng[34].

    Con cháu ông truy tôn miếu hiệu "Thái Tổ".

    Tung hoành Đông Bắc và mối hận Ninh Viễn Sửa đổi

    Nỗ Nhĩ Cáp Xích chỉ huy quân Kim công đánh Ninh Viễn lần thứ nhất

    Thừa thế chiến thắng, quân Bát kỳ nhanh chóng tiến xuống phía Nam, chiếm luôn Khai Nguyên, Thiết Lăng.

    Năm 1621, quân Bát kỳ tiếp tục đánh chiếm Liêu Dương, Trung Trấn, Thẩm Dương, khống chế toàn bộ vùng đất phía đông Liên Hà.

    Cũng trong năm này, Nỗ Nhĩ Cáp Xích thiên đô về Liêu Dương, với mục đích khống chế vùng Liêu Đông.

    Năm 1622, Nỗ Nhĩ Cáp Xích đánh bại đội quân của Kinh lược Liêu Đông Phùng Đình Bản và Tuần phủ Liêu Đông Vương Hóa Trinh, chiếm giữ trọng trấn Liêu Tây là Quảng Ninh[28].

    Triều đình nhà Minh kết tội Phùng Đình Bản thua trận bị xử chém, Vương Hóa Trinh bị hạ ngục.

    Sau trận Quảng Ninh, Nỗ Nhĩ Cáp Xích tạm ngưng chinh phạt nhà Minh, chuyển trọng tâm vào việc chỉnh đốn quân đội, tăng cường binh lực, đồng thời tổ chức quản lý vùng đất mới.

    Lúc này, hầu hết vùng lãnh thổ phía Bắc Trung Quốc, như Mông Cổ, Nữ Chân, Triều Tiên đều thuộc phạm vi thế lực của ông.

    Năm 1625, Nỗ Nhĩ Cáp Xích cho đổi tên Thẩm Dương thành Thạnh Kinh và thiên đô sang đây.

    Tận dụng thời gian hưu chiến, tướng nhà Minh trấn thủ thành Ninh Viễn[29] là Binh lược Phó sứ, Hữu Tham chính Viên Sùng Hoán dốc toàn lực để củng cố thành Ninh Viễn thành một cứ điểm vững chắc phía ngoài Sơn Hải quan.

    Sau 1 năm nghỉ ngơi chỉnh đốn, tháng 1 năm 1626, Nỗ Nhĩ Cáp Xích dẫn 13 vạn kỵ binh tiến công Sơn Hải quan.

    Tuy nhiên, dù đơn độc phòng thủ Ninh Viễn ngoài Sơn Hải quan, quân tướng Ninh Viễn cùng chủ tướng Viên Sùng Hoán hăng hái chống cự nên Nỗ Nhĩ Cáp Xích không thể tiến lên được, lại bị đại bác bắn trúng làm bị thương do đó việc công thành phải dừng lại.

    Viên Sùng Hoán tận dụng thời cơ đốc quân ra thành truy kích.

    Quân Nữ Chân thua to phải rút về Thạnh Kinh.

    Nhận định chưa thể phục thù trận Ninh Viễn, tháng 4 năm đó, Nỗ Nhĩ Cáp Xích tạm đốc quân chuyển hướng sang chinh phục các bộ lạc Mông Cổ chưa chịu quy phục.

    Tuy nhiên, tháng 5 năm đó, tướng Minh là Mao Văn Long xuất quân ra khỏi quan ải, tấn công An Sơn.

    Giữa tháng 7, Nỗ Nhĩ Cáp Xích đành phải chấm dứt chinh phục, rút quân về lại Thạnh Kinh.

    Trên đường rút về, do phát bệnh nặng, ông phải theo thuyền từ sông Thái vào sông Hồn để trở về Thạnh Kinh.

    Ngày 10 tháng 8[30], khi đi qua một thị trấn nhỏ có tên là De-A Man[31], bệnh tình trở nên trầm trọng nên ông đã lặng lẽ qua đời vào năm 68 tuổi.

    Một số tài liệu lịch sử cho rằng cái chết của Nỗ Nhĩ Cáp Xích là do bị thương bởi đại bác Bồ Đào Nha mà Viên Sùng Hoán đã trang bị cho thành Ninh Viễn[32].

    Tuy nhiên, căn cứ theo hành trạng của Nỗ Nhĩ Cáp Xích chuyển hướng chinh phục Mông Cổ 3 tháng sau trận Ninh Viễn, các học giả đồng ý nguyên nhân cái chết là do sự lao lực quá độ, cộng với nỗi uất ức đại bại trước một tướng lĩnh vô danh, cộng với tuổi già và thương thế[33].

    Thi hài ông được đem về Thịnh Kinh mai táng, gọi là Phúc lăng[34].

    Con cháu ông truy tôn miếu hiệu "Thái Tổ".

    Gia đình Sửa đổi

    Phúc tấn Sửa đổi

    Tương truyền, lúc sinh thời, Nỗ Nhĩ Cáp Xích từng có 16 vị phúc tấn (âm Mãn: fujin, nghĩa Hán Việt là "Phu nhân").

    "Thanh sử cảo" chỉ chép tên 14 bà.

    Dưới đây là tên một số bà:

    Cáp Cáp Nạp Trát Thanh (Hahana Jacing), bộ lạc Đông Giai thị (Tunggiya), sinh hạ hai người con trai lớn: Con cả là Trử Anh, con trai thứ hai là Đại Thiện.

    Cổn Đại (Gundai), bộ tộc Phú Sát (Fuca), sinh hạ hai người con trai: thứ năm là Mãng Cổ Nhĩ Thái và thứ 10 là Đức Cách Loại.

    Diệp Hách Na Lạp Mạnh-Cổ-Triết-Triết‎ (Monggo), bộ lạc Diệp Hách Ná Lạp thị (Yehe Nara), sinh hạ người con trai thứ 8 là Hoàng Thái Cực.

    Ô Lạt Na Lạp A-Ba-Hợi (Abahai), bộ tộc Ô Lạp Ná Lạp (Ula Nara), sinh hạ 3 người con trai: thứ 12 là A Tế Cách, thứ 14 là Đa Nhĩ Cổn và thứ 15 là Đa Đạc.

    Hậu duệ Sửa đổi

    Nỗ Nhĩ Cáp Xích có cả thảy 16 người con trai và 8 người con gái.

    Ở đây chỉ chép lại tên 16 người con trai theo thứ tự:

    Cuyen (âm

    Hán Việt:Chử Anh, hoặc Trử Anh[17])

    Daišan (âm

    Hán Việt:Đại Thiện)

    Abai (âm

    Hán Việt:A Bái)

    Tangguldai (âm

    Hán Việt:Thang Cổ Đại)

    Manggūltai (âm

    Hán Việt:Mãng Cổ Nhĩ Thái)

    Tabai (âm

    Hán Việt:Tháp Bái)

    Abatai (âm

    Hán Việt:A Ba Thái)

    Hung Taiji (âm

    Hán Việt:Hoàng Thái Cực)

    Babutai (âm

    Hán Việt:Ba Bố Thái)

    Degelei (âm

    Hán Việt:Đức Cách Loại)

    Babuhai (âm

    Hán Việt:Ba Bố Hải)

    Ajige (âm

    Hán Việt:A Tế Cách)

    Laimbu (âm

    Hán Việt:Lại Mộ Bố)

    Dorgon (âm

    Hán Việt:Đa Nhĩ Cổn)

    Dodo (âm

    Hán Việt:Đa Đạc)

    Fiyanggu (âm

    Hán Việt😛hí Dương Cổ)
     
    Các Vị Vua Nhà Thanh Trung Quốc
    Hoàng Thái Cực


    Hoàng Thái Cực

    Hoàng Thái Cực (chữ Hán: 皇太極; Mãn Châu: Hung Taiji name.png, Romaji: Hong Taiji, 28 tháng 11, 1592 - 21 tháng 9, 1643), là vị Đại hãn thứ hai của nhà Hậu Kim, và là hoàng đế sáng lập triều đại nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc.[1] Ông cai trị từ năm 1626 đến năm 1643, được 16 năm[2].

    Một số ý kiến cho rằng ông mất vào năm 1644, cai trị được 17 năm[3][4].

    Các hậu duệ suy tôn miếu hiệu cho ông là Thanh Thái Tông (清太宗).

    Do ông bắt đầu thành lập Đại Thanh và dùng suốt niên hiệu Sùng Đức (崇德), nên còn có thể gọi ông là Sùng Đức Đế (崇德帝).

    Sùng Đức Đế

    崇德帝

    Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)

    清 佚名 《清太宗崇德皇帝朝服像》.jpg

    Flag of the Qing dynasty (1889-1912).svg Hoàng đế Đại Thanh

    Trị vì 15 tháng 5 năm 1636 - 21 tháng 9 năm 1643

    (7 năm, 129 ngày)

    Tiền nhiệm Thanh Thái Tổ

    Kế nhiệm Thanh Thế Tổ

    Đại Hãn nhà Hậu Kim

    Tại vị 1626 - 1636

    Tiền nhiệm Nỗ Nhĩ Cáp Xích

    Kế nhiệm Không có

    Thay đổi tước hiệu

    Thông tin chung

    Hoàng hậu Hiếu Đoan Văn hoàng hậu

    Hiếu Trang Văn hoàng hậu

    Hậu duệ

    Hậu duệ

    Túc Thân vương Hào Cách

    Lạc Cách

    Lạc Bác Hội

    Diệp Bố Thư

    Thạc Tái

    Cao Tái

    Thường Thư

    Thanh Thế Tổ Phúc Lâm

    Thao Tái

    Bác Mục Quả Nhĩ

    Cùng nhiều con gái khác.

    Tên thật Ái Tân Giác La Hoàng Thái Cực

    (愛新覺羅皇太極)

    Niên hiệu

    Thiên Thông (天聪; 1627 - 1636)

    Sùng Đức (崇德; 1636 - 1643)

    Thụy hiệu Ứng Thiên Hưng Quốc Hoằng Đức Chương Vũ Khoan Ôn Nhân Thánh Duệ Hiếu Kính Mẫn Chiêu Định Long Đạo Hiển Công Văn Hoàng đế

    (應天興國弘德彰武寬溫仁聖睿孝敬敏昭定隆道顯功文皇帝)

    Miếu hiệu Thái Tông (太宗)

    Thân phụ Nỗ Nhĩ Cáp Xích

    Thân mẫu Hiếu Từ Cao hoàng hậu

    Sinh 28 tháng 11, 1592

    Mất 21 tháng 9, 1643 (50 tuổi)

    An táng Chiêu lăng (昭陵), Thẩm Dương, Trung Quốc.

    Năm 1626, Hoàng Thái Cực kế vị ngôi Khả hãn của cha với Hãn hiệu Thiên Thông Hãn (chữ Hán: 天聰汗 - tiếng Mãn: Богд сэцэн хаан),[3][5] mà với sự thông minh, cơ trí của mình, ông đã vượt qua những người anh em của mình và cũng là những ứng viên cho ngôi Đại Hãn để lên ngôi tối cao.

    Bằng sự quyết đoán, khôn khéo, ông đã từng bước tăng cường và củng cố vị trí quyền lực độc tôn trong bối cảnh phức tạp lúc bấy giờ.

    Khi ở ngôi Hãn, Hoàng Thái Cực đã củng cố đế quốc do Nỗ Nhĩ Cáp Xích thành lập.

    Ông đặt nền tảng cho cuộc chinh phạt nhà Minh ở Trung nguyên, dù ông chết trước khi điều đó hoàn tất.

    Ông băng hà vào năm 1643 nhưng không chứng tỏ sự suy yếu tham vọng của người Mãn Châu.[6]

    Sau khi lên nối ngôi, Hoàng Thái Cực đã thay đổi nhiều chính sách quan trọng, góp phần hóa giải được mối mâu thuẫn giữa hai dân tộc Mãn và Hán, khiến thần dân của Hán tộc trong khu vực cai trị của họ dần dần thay đổi thái độ thù địch để phục tùng triều đình một cách tự nguyện.

    Cũng qua những chính sách cởi mở đó đã giúp cho ông nhận được sự góp sức của nhiều nhân tài có xuất thân khác nhau.

    Chính Hoàng Thái Cực đã đổi tên của tộc người của mình từ Nữ Chân thành Mãn Châu năm 1635, đồng thời đổi tên quốc hiệu từ nhà Hậu Kim thành nhà Thanh vào năm 1636, sau khi xưng Hoàng đế.[3][5][7][8][9]

    Ông không ngừng mở rộng lãnh thổ vào lục địa Đông Á và các vùng xung quanh, lập nên Đại Thanh quốc (大清國).

    Dưới sự thống lĩnh của ông, nhà Hậu Kim và là Nhà Thanh sau đó đã chinh phục Triều Tiên, tiếp đến, trong một loạt những chiến dịch quân sự, ông đã khuất phục được vùng Nội Mông trước khi tiếp tục chiếm quyền kiểm soát vùng Hắc Long Giang (sông Amur) miền Đông Bắc của nhà Minh.

    Hoàng Thái Cực đã hợp nhất lãnh thổ Mãn Châu dưới quyền cai trị của ông[6] và đến năm 1644, triều đại nhà Minh kết thúc và chuyển sang nhà Thanh sau khi người Mãn Châu chiếm được Bắc Kinh và chinh phục phần còn lại của Trung Quốc trong vòng 40 năm và thống trị nước này đến năm 1911.[10]

    Hoàng Thái Cực tiếp tục tiến hành công cuộc trị vì dựa trên các nền móng của chế độ được người cha để lại, tiếp tục phát triển và hoàn thiện chế độ Bát Kỳ bằng cách mở rộng các kỳ cho người Mông Cổ tham gia, sáp nhập các kỳ của người Hán đầu tiên vào quân đội của mình.

    Hoàng Thái Cực cũng chấp nhận việc áp dụng nhiều cơ cấu chính trị kiểu nhà Minh vào đất nước mình, trọng dụng nhiều nhân tài xuất thân là người Hán hay quan lại cũ của Nhà Minh nhưng luôn giữ ưu thế của người Mãn Châu trong các cơ cấu đó (thông qua một hệ thống định mức phân bổ hợp lý).

    Đây là cuộc cải cách mạnh mẽ, tạo tiền đề cho sự lớn mạnh của Nhà Thanh sau này.

    Triều Mãn Thanh cai trị Trung Quốc hơn hai thế kỷ rưỡi nhưng về cơ bản là triều đại ngoại tộc của một đế quốc mà xét về cơ cấu chủ yếu vẫn là nhà nước Trung Quốc truyền thống.

    Tên gọi Sửa đổi

    Cũng như những người anh em khác của mình, ông bắt đầu mang họ Ái Tân Giác La[12] sau năm 1616, như một hình thức xác nhận huyết thống trực hệ của Nỗ Nhĩ Cáp Xích.

    Hầu hết trong các sách sử Trung Quốc đều thống nhất chép tên ông là Hoàng Thái Cực.

    Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng tên gọi Hoàng Thái Cực chỉ được đặt ra về sau này, khi con cháu nhà Thanh muốn nêu bật vai trò chính danh của ông trong việc kế thừa ngôi vị Hoàng đế.

    Củng cố giả thuyết này, các tài liệu điển tịch Hán ngữ thời Thanh Sơ thường chép tên Hoàng Thái Cực là Hoàng Thai Kê (黄台鸡)[13] hoặc Hoàng Thai Cát (黄台吉).

    Mãi đến thời Thanh Cao Tông, tài liệu chính thống mới chép là Hoàng Thái Cực[14]

    Theo W.

    Scott Morton và C.M.

    Lewis, phiên âm tên Mãn của ông là Abahai[6] hoặc "Abahay".[3] Rất nhiều tài liệu phương Tây ghi lại điều sai lầm này.[15] Các tài liệu Trung Quốc, thường phiên âm ngược tên gọi này thành A Ba Hải (阿巴海), hoặc A Bột Hải (阿渤海).

    Tuy nhiên, các nhà sử học Trung Quốc hiện đại đã xác nhận đây là một sự nhầm lẫn giữa Hoàng Thái Cực với một mẹ kế của ông ta, tên là Abahai, được sử Trung Quốc ghi lại tên là A Ba Hợi (阿巴亥).

    Một thuyết khác của các nhà nghiên cứu Trung Quốc cho rằng tên thật của ông là Hắc Hoàn Bột Liệt (黑还勃烈).

    Thuyết này được xem là có nhiều khả năng nhất, dựa trên sự biến âm rút gọn từ tiếng Mông Cổ sang Hán ngữ.

    Theo đó, đầu tiên, âm Hắc Hoàn (黑还) chuyển âm Hán là Hoàng (黄), tên ông trở thành Hoàng Bột Liệt (黄勃烈).

    Củng cố cho thuyết này là thuyết cho rằng phiên âm của từ Bột liệt thực chất xuất phát của từ Beile theo cách phát âm Mông Cổ, mà về sau được phiên âm là Bối lặc (贝勒) theo cách phát âm Mãn.

    Tương tự, phiên âm của từ Thai cát từ Hošoi theo cách phát âm Mông Cổ, về sau phiên âm là Hòa thạc (和碩) theo cách phát âm Mãn.

    Nói cách khác, thuyết này cho rằng Hoàng Thái Cực tên thật là Hắc Hoàn (黑还, có lẽ phiên từ âm Heihai), sau được rút gọn phiên âm Hán Việt thành lại là Hoàng.

    Lúc nhỏ, danh hiệu của ông là Hoàng Bối lặc, đến lúc thanh niên thì gọi là Hoàng Thai cát.

    Về sau con cháu ông mới chép thành danh xưng Hoàng Thái Cực.

    Thời niên thiếu Sửa đổi

    Hoàng Thái Cực là con trai của Nỗ Nhĩ Cáp Xích và người vợ thứ tên là Diệp Hách Na Lạp Mạnh Cổ Triết Triết.

    Bà là con gái út của bối lặc Dương Cát Nỗ của bộ tộc Diệp Hách Na Lạp, được gả cho Nỗ Nhĩ Cáp Xích tháng 10 năm 1588 khi mới 13 tuổi và sinh ra Hoàng Thái Cực 4 năm sau đó.

    Lúc bà nhập cung, chế độ hậu phi của Hậu Kim chưa được áp dụng, nên chỉ dùng chung danh xưng Phúc tấn[16]

    Bấy giờ, chính thất của Nỗ Nhĩ Cáp Xích là Cổn Đại (âm Mãn: Gundai), bộ tộc Phú Sát Thị (âm Mãn: Fuca) được gọi là Đại phúc tấn, còn bà chỉ có danh hiệu Trắc phúc tấn.[17] Sau khi Cổn Đại chết, Mạnh Cổ khi này không còn được Nỗ Nhĩ Cáp Xích sủng ái nên A-ba-hợi, thuộc bộ tộc Ô Lạt Na Lap thị, được phong ngôi Đại phúc tấn.

    Năm 1603, Nỗ Nhĩ Cáp Xích tấn công bộ tộc Yehe Nara, Mạnh Cổ đau buồn mà chết khi mới 28 tuổi.

    Mãi khi Hoàng Thái Cực lên ngôi, mới truy tôn hiệu của bà là "Hiếu Từ Chiêu Hiến Kính Thuận Nhân Huy Ý Đức Hiển Khánh Thừa Thiên Phụ Thánh Cao Hoàng hậu", hay gọi ngắn là "Hiếu Từ Cao Hoàng hậu".

    Mẹ mất sớm khi mới 10 tuổi, từ lúc niên thiếu, Hoàng Thái Cực đã được theo cha và các anh tham dự nhiều cuộc chinh phục các bộ tộc khu vực đông bắc Trung Quốc và được đánh giá là một chiến binh hăng hái, can đảm.

    Không những thế, ông còn tỏ ra là người có kiến thức, giải quyết mọi việc được giao rất nhanh chóng và đúng đắn.

    Vì vậy, tuy chỉ là người con trai thứ tám[1][2] của Nỗ Nhĩ Cáp Xích, nhưng ông được vua cha tin cậy giao cho vị trí Tứ Bối lặc, chỉ huy Chính bạch kỳ trong Bát kỳ Nữ Chân.[8]

    Những cuộc hôn nhân chính trị Sửa đổi

    Khi đến tuổi trưởng thành, Nỗ Nhĩ Cáp Xích đã sắp đặt cho con trai mình một cuộc hôn nhân chính trị với con gái của một thủ lĩnh của bộ tộc Mông Cổ Borjigin.

    Với cuộc hôn nhân này, bộ tộc Aisin Gioro của ông sẽ liên kết với bộ tộc hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn, có quyền kế thừa danh nghĩa và uy tín của vị Đại Hãn vĩ đại này.

    Điều này quả thật chứng minh tầm nhìn xa của Nỗ Nhĩ Cáp Xích, khi Lingdan Khan, vị đại hãn cuối cùng của người Mông Cổ, chết vào năm 1634, con trai ông Ejei đã đầu hàng người Mãn Châu và trao lại ấn ngọc truyền quốc của Hoàng đế Đại Nguyên cho Hoàng Thái Cực.[18]

    Ngoài người vợ chính thất, có tên là Jerjer (phiên âm Hán Việt là Triết Triết), về sau ông còn cưới thêm 4 người vợ nữa cũng thuộc bộ tộc Mông Cổ Borjigin, trong đó nổi tiếng nhất là Bumbutai (phiên âm Hán Việt là Bố Mộc Bố Thái), Hán danh là Đại Ngọc Nhi (大玉儿), người về sau sinh hạ được hoàng tử Phúc Lâm, sau này trở thành Thuận Trị đế, và có vai trò quan trọng trong việc giữ lại ngôi vị cho Phúc Lâm trong cuộc tranh chấp ngôi vị Đại hãn sau khi Hoàng Thái Cực chết.

    Giành quyền kế vị Sửa đổi

    Khi thành lập chế độ Gūsa (sử Trung Quốc gọi là Kỳ), Nỗ Nhĩ Cáp Xích cũng thành lập bổ nhiệm các phụ tá thân tín vào các vị trí đứng đầu Gūsa, gọi là các Hòa thạc Bối lặc (Hošoi Beile) để hợp cùng mình quản lý nhà nước Hậu Kim non trẻ.

    Sau cái chết của Thái tử Chử Anh (hoặc Trử Anh[19]), người con trai thứ hai của Nỗ Nhĩ Cáp Xích là Đại Thiện thay anh trai giữ ngôi vị Đại bối lặc, nhưng vẫn không được Nỗ Nhĩ Cáp Xích lập làm người thừa kế mà chỉ được xem là một Hòa thạc Bối lặc như các vị Hòa thạc khác.[20] Không lâu sau, đến lượt Đại Thiện và Tam bối lặc Mãng Cổ Nhĩ Thái dính vào một vụ bê bối cung đình.

    Chính vì vậy cho đến trước khi chết, Nỗ Nhĩ Cáp Xích vẫn chưa kịp chỉ định người kế vị.

    Ông ta chỉ mới kịp trao quyền quản lý 3 Kỳ của ông ta cho Abahai để sau này giao lại cho ba con trai của bà là Ajige (A Tế Cách), Dorgun (Đa Nhĩ Cổn) và Dodo (Đa Đồ) khi họ trưởng thành.

    Cuộc tranh chấp ngôi vị Đại Hãn nổ ra quyết liệt giữa các vị Hòa thạc Bối lặc.

    Tuy nhiên, Đại Thiện vốn đã mất nhiều ảnh hưởng, Mãng Cổ Nhĩ Thái vì chuyện giết mẹ đẻ nên cũng mất uy tín, A Mẫn không có quyền kế vị.[8] Hai vị Hòa thạc Bối lặc khác là Đa Nhĩ Cổn và Đa Đồ thì còn quá nhỏ tuổi.

    Ngôi vị Hãn chỉ còn là sự tranh chấp giữa A Tế Cách và Hoàng Thái Cực.

    Cuối cùng, bằng các thủ pháp thỏa hiệp, Hoàng Thái Cực tranh thủ sự ủng hộ của Đại Thiện và con trai của ông ta là Nhạc Thác, các vị Hòa thạc Bối lặc lớn tuổi A Mẫn, Mãng Cổ Nhĩ Thái; đồng thời công kích sự thiếu kinh nghiệm của các vị Hòa thạc Bối lặc trẻ tuổi và sự lũng đoạn của người mẹ kế Abahai đối với các con trai mình.

    Theo đó, sau khi được ủng hộ lên ngôi, ông sẽ "kính trọng các anh, yêu mến con cháu mình và làm lễ kết nghĩa với ba Đại bối lặc đồng thời đề nghị mời cả ba vị Đại bối lặc cùng dự bàn việc quốc chính".[21]

    Kế hoạch của Hoàng Thái Cực cuối cùng cũng thành công.

    Vào tháng 9 âm lịch năm 1626, Bối lặc Đại Thiện tuyên bố trước đại điện: Bối lặc Hoàng Thái Cực là người tài đức đứng đầu, rất được lòng nhân tâm, mọi người đều đồng lòng cùng nhau tôn Người lên ngôi Đại Hãn.

    Lời tuyên bố kết thúc, các quý tộc khác cũng đồng lòng ủng hộ Hoàng Thái Cực lên kế vị ngôi Hãn,[3][5][21] với danh hiệu "Gosin Onco Hūwaliyasun Enduringge Han",[22] Hán văn là "Khoan Ôn Nhân Thánh Hoàng đế" (寬溫仁聖皇帝),[23] trở thành vị Đại Hãn thế hệ thứ hai của nước Hậu Kim.

    Khi lên ngôi, Hoàng Thái Cực tuyên bố sẽ kế vị sự nghiệp chinh phục nhà Minh, thề sẽ trả thù cho Nỗ Nhĩ Cáp Xích,[19] đặt niên hiệu mới là Thiên Thông (天聰, âm Mãn: Abkai Sure[24]).

    Củng cố ngôi vị độc tôn Sửa đổi

    Sau khi lên ngôi Hãn, Hoàng Thái Cực thực hiện thỏa hiệp với Đại Thiện.

    Trước tiên ông thề ước với tất cả các vị Bối lặc, sau đó ba vị Đại Bối lặc dẫn đầu là Đại Thiện cùng tuyên thệ với các vị Bối lặc.

    Mỗi khi lên triều, khánh lễ hay tiếp kiến quần thần, ông cùng ba vị Đại Bối lặc cùng ngồi vị trí ngang hàng, cùng hướng mặt phía Nam, nhận lễ của các bồi thần, nghiễm nhiên như là tứ Hãn, đồng thời ông cũng miễn lễ quân thần cho họ, coi như anh em tương kiến.

    Tuy nhiên, dù ở ngôi Đại hãn nhưng thực tế, Hoàng Thái Cực chỉ nắm quyền lực trong Kỳ mà ông ta quản lý, có địa vị không hơn một Kỳ chủ như những Kỳ chủ khác.

    Không những thế, cả ba vị Đại Bối lặc và các vị Kỳ chủ khác (anh em nhà Đa Nhĩ Cỗn) còn có quyền cùng nghị bàn quốc chính (chế độ bát nghị), khiến Hoàng Thái Cực bị chế ngự, không thể tự chuyên quyền được.

    Để thực sự nắm quyền tối cao, ông ta lần lượt thực hiện các biện pháp để loại trừ những nguy cơ đe dọa ngôi vị.

    Bức tử A Ba Hợi Sửa đổi

    Mũi nhọn đầu tiên chính là người vợ được sủng ái của cha mình: A Ba Hợi (Abahai).

    Với danh nghĩa là người giám hộ của các con, bà khống chế 3 Kỳ, thế lực mạnh hơn cả các vị Kỳ chủ khác.

    Vì vậy, Hoàng Thái Cực chủ trương lợi dụng sự bất mãn của các vị kỳ chủ khác, bất ngờ tấn công và triệt hạ thế lực của bà.

    Tương truyền, ngay sau khi lên ngôi, ông đã hợp cùng với các vị Đại bối lặc lớn tuổi, bức Abahai phải tự sát với lý do theo di chúc của vua cha muốn tuẫn táng cùng bà.

    Sau đó, ông phân chia các kỳ cho các con trai của bà như sau: A Tế Cách nắm Chính Lam kỳ, Đa Nhĩ Cổn nắm Chính Hoàng kỳ, Đa Đồ được giao Tương Hoàng Kỳ[25]

    Đối thủ chính trị mạnh nhất của ông bị loại trừ chớp nhoáng.

    Với các đối thủ còn lại, Hoàng Thái Cực một mặt vẫn tỏ lòng tôn kính, cảm kích đối với các huynh trưởng, thực hiện các chính sách vỗ về họ.

    Mặt khác, vì ba Đại Bối lặc lớn tuổi vẫn đang nắm trong tay thực lực hùng hậu, khống chế một nửa thế lực trong Bát kỳ.

    Chính vì thế, Hoàng Thái Cực tiếp tục tìm cách phát huy thế lực của mình.

    Đoạt binh A Tế Cách Sửa đổi

    A Tế Cách là con trai lớn của Abahai, là anh ruột của Đa Nhĩ Cổn và Đa Đồ, tuy tuổi còn trẻ, chỉ mới 20 tuổi, nhưng cũng đã từng theo cha chinh chiến, lập được công lao.

    Vì vậy, nhân một lỗi nhỏ của A Tế Cách, Hoàng Thái Cực đã buộc tội tự ý hành sự, không hề bàn bạc và xin ý kiến chỉ đạo của Đại Hãn và các vị Đại Bối lặc và gán tội vượt quyền, phạt giáng cấp.

    Quyền kiểm soát Chính Lam kỳ của A Tế Cách bị Hoàng Thái Cực thu lại.

    Bên cạnh đó, để xoa dịu sự bất mãn của anh em A Tế Cách, ông mở đường cho A Tế Cách làm phó tướng cho Nhị Bối lặc A Mẫn, hẹn khi lập công sẽ phục hồi chức vị.

    Đồng thời, Hoàng Thái Cực tìm mọi cách để lôi kéo, ban tặng và phong nhiều danh hiệu cao quý cho hai anh em Đa Nhĩ Cổn và Đa Đồ, tạm thời hòa hoãn để họ không công kích gây nên rối loạn.

    Từ đây, thế lực của Hoàng Thái Cực được mở rộng, chỉ sau thế lực của Đại Thiện.

    Đối thủ thứ hai của ông đã bị loại trừ.[21]

    Giam cầm A Mẫn Sửa đổi

    Bước tiếp theo, Hoàng Thái Cực xác định, Hậu Kim nếu muốn phát triển và tiến lên, cần phải tước bỏ quyền lực của ba vị Đại Bối lặc, chấm dứt chế độ Bát kỳ nghị sự mà thực hiện chế độ mệnh lệnh, phục tùng tuyệt đối.

    Năm 1629, Hoàng Thái Cực mở cuộc công kích vào Minh triều.

    Đại Thiện và Mãng Cổ Nhĩ Thái tỏ ý không tán thành.

    Tuy cuối cùng, Hoàng Thái Cực cũng thuyết phục họ tán thành thực hiện chiến dịch.

    Tuy không vượt qua Sơn Hải quan, nhưng quân Bát kỳ cũng chiếm được một số cứ điểm quan trọng.

    Tuy nhiên, thái độ của 2 vị Đại bối lặc làm cho Hoàng Thái Cực không cảm thấy an tâm chút nào.[21]

    Tuy vậy, Hoàng Thái Cực nhận thấy chưa thể động chạm đến hai người này.

    Do đó, ông chuyển hướng mục tiêu, tìm cách tước quyền A Mẫn.

    Thời điểm rất thuận lợi, bởi sau khi lập được công lớn trong cuộc chinh phạt Triều Tiên lần thứ nhất, Nhị bối lặc A Mẫn trở nên kiêu ngạo, cậy công, xem thường các vị Đại Bối lặc khác.

    Ông ta không ngờ những hành động của ông ta đều nằm trong dự tính của Hoàng Thái Cực.

    Chưa kể, còn vô tình làm Hoàng Thái Cực có được sự ủng hộ của 2 Đại Bối lặc trong việc đoạt quyền.

    Năm 1630, Hoàng Thái Cực cử A Mẫn mang quân đi phòng giữ bốn thành mới chiếm được là Thủy Bình, Loan Châu, Thiên An, Tôn Hóa.

    Quân Minh bất ngờ tổ chức phản công lớn, bao vây và tấn công công Loan Châu.

    A Mẫn kinh hoàng, hoảng hốt, không tổ chức bất cứ cuộc chống cự nào, chỉ ra lệnh rút quân.

    Trước khi tháo chạy, ông ta lại ra lệnh cho binh sĩ tàn sát, cướp bóp tài sản quân dân nhà Minh.

    Ba thành còn lại cũng nhanh chóng rơi lại vào tay quân Minh.

    Hành động của A Mẫn khiến cho Hoàng Thái Cực tức giận vô cùng vì bao nhiêu công sức, tiền của bỏ ra để chiếm được 4 ngôi thành đều bị mất toàn bộ, tổn thất binh lực hết sức nặng nề.

    Nghiêm trọng hơn, với hành động tàn sát cưới bóc thất nhân tâm của A Mẫn, quân dân nhà Minh đề phòng và quyết tâm không đầu hàng, càng tăng thêm khó khăn cho quân đội Hậu Kim trong việc công thành.

    Để lấy lại thanh danh, Hoàng Thái Cực lập tức triệu tập Chư vương, Bối lặc cùng các đại thần tuyên bố "16 tội lớn" của A Mẫn trong đó tội thứ 11, khép ông ta có mưu đồ áp đảo tranh giành ngôi Hãn.

    Tuy không bị khép tội chết, nhưng A Mẫn bị xóa bỏ vị trí Đại Bối lặc, tước ngôi vị Kỳ chủ, xử tù chung thân, vĩnh viễn không được sử dụng.

    Toàn bộ tài sản, dân nô của ông ta và ngôi kỳ chủ đều do người em trai thứ sáu của A Mẫn là Tế Nhĩ Cáp Lãng (âm Mãn: Jirgalang) kế thừa.

    Một người không có quyền thế và kinh nghiệm chính trị như Tế Nhĩ Cáp Lãng thì lực lượng Tương Lam kỳ do ông ta chỉ huy nhanh chóng trở thành lực lượng trung thành với Đại Hãn.

    Đối thủ chính trị trực tiếp thứ ba của Hoàng Thái Cực bị loại trừ.

    Cách chức Mãng Cổ Nhĩ Thái Sửa đổi

    Lúc này, thế lực Hoàng Thái Cực đã bắt đầu vững mạnh.

    Ông trực tiếp nắm Chính Lam Kỳ và Chính Bạch Kỳ, ngoài ra tạm thời khống chế 3 Kỳ khác.

    Ngoài ra, thông qua nhiều hành động phân quyền, ảnh hưởng của các vị Bối lặc dần bị Hoàng Thái Cực giảm bớt.

    Điều kiện để tước quyền các vị Bối lạc còn lại đã chín muồi.

    Năm 1631, trước khi diễn ra chiến dịch Đại Lãng Hà, Mãng Cổ Nhĩ Thái nhân cơ hội đã yêu cầu Hoàng Thái Cực bổ sung thêm tướng sĩ cho kỳ của mình nhưng đã bị Hoàng Thái Cực từ chối.

    Mãng Cổ Nhĩ Thái bất mãn không kiềm chế được mình đã cãi vã với Đại Hãn và ẩu đả với người em ruột của mình là Đức Cách Loại, người đã lên tiếng chỉ trích thái độ phạm thượng của ông ta.

    Tuy đây chỉ là một hành động bộc trực đặc trưng của các dân tộc du mục, nhưng Hoàng Thái Cực nhân cớ đó để thực hiện việc đoạt quyền.

    Sau khi chiến dịch Đại Lãng Hà kết thúc, Hoàng Thái Cực đã triệu tập hội nghị các Bối lặc kể tội Mãng Cổ Nhĩ Thái.

    Hoàng Thái Cực nhanh chóng quyết định tước binh quyền của Mãng Cổ Nhĩ Thái, tống giam ông ta, thu quyền quản lý Tương Bạch kỳ giao lại cho Đức Cách Loại.

    Năm 1632, Mãng Cổ Nhĩ Thái chết trong ngục.

    Đối thủ chính trị trực tiếp thứ tư của Hoàng Thái Cực đã bị ông loại trừ.

    Tước quyền Đại Thiện

    Thế cục ba vị Đại bối lặc ngồi ngang hàng với Đại Hãn đã bị phá vỡ, chỉ còn một mình Đại Thiện (Daišan).

    Vấn đề chỉ còn là thời gian.

    Cuối năm 1631, Hoàng Thái Cực tổ chức hội nghị các Bối lặc họp bàn để định việc sắp xếp thứ tự khi chầu triều, nhân đó, Hán thần của Hoàng Thái Cực là Tham chính Lý Bá Long nêu vấn đề có nên có việc Đại Bối lặc ngồi ngang hàng với Đại Hãn hay không.

    Hiểu được là Đại Hãn muốn thăm dò phản ứng của mình, Đại Thiện ý thức được tình thế bấy giờ khi Hoàng Thái Cực đã hoàn toàn khống chế được 6 Kỳ.

    Ông ta buộc phải chấp nhận từ bỏ chế độ Ba vị Đại bối lặc cùng ngồi ngang hàng nghị bàn việc triều chính với Đại Hãn.

    Từ đây, ngôi vị tối cao của Hoàng Thái Cực đã được xác lập.

    Tuy nhiên, về thực lực, Đại Thiện vẫn còn nhiều ảnh hưởng trong Bát Kỳ, vẫn nắm quyền khống chế 2 Kỳ Hồng, uy tín vẫn phần nào lấn át Đại hãn.

    Tháng 9 năm 1635, nhân một lỗi nhỏ của Đại Thiện, Hoàng Thái Cực đã họp các Kỳ chủ Bát kỳ và quan lại sáu bộ để định tội Đại Thiện.

    Ông ta bị tước bỏ ngôi vị Đại bối lặc, bị thu lại quyền kiểm soát 2 Kỳ Hồng.

    Tuy không mất mạng, nhưng qua sự kiện này, thế lực của Đại Thiện không còn cách nào phục hồi được nữa.

    Đối thủ lớn cuối cùng của Hoàng Thái Cực đã bị triệt tiêu.

    Phân bố lại Bát kỳ Sửa đổi

    Đến lúc này không còn vị Kỳ chủ nào có thể đe dọa vị trí độc tôn của Hoàng Thái Cực được nữa.

    Tuy nhiên, ông vẫn áp dụng tiếp những biện pháp đề phòng.

    Cuối năm 1635, Đức Cách Loại bị ốm.

    Nhân lúc có người tố cáo ông ta mưu phản, Hoàng Thái Cực bèn đem cả gia thuộc của ông ta ra trị trọng tội, bãi bỏ tôn thất và thu lại Tương Bạch kỳ về tay mình.

    Đức Cách Loại vì thế uất ức mà chết.

    Tiến thêm bước nữa, nhằm ngăn ngừa quyền lực của 2 vị Bối lặc trẻ tuổi Đa Nhĩ Cổn và Đa Đồ, Hoàng Thái Cực lấy lý do các Kỳ vàng thuộc quyền Đại Hãn, nên thu lại 2 kỳ này và đổi cho Đa Nhĩ Cổn giữ Chính Bạch kỳ và Đa Đồ giữ Tương Bạch kỳ.

    Động thái này một lần nữa nhằm ngăn cản hai người xây dựng thế lực riêng ở 2 kỳ vốn trung thành với vua cha.

    Cục diện Bát Đại Bối lặc cùng nghị bàn việc quốc chính đã kết thúc, cục diện Tam đại Bối Lặc cùng ngồi ngang hàng với Đại Hãn cũng đã bị xóa bỏ.

    Đến lúc này, Hoàng Thái Cực đã nắm trực tiếp trong tay 3 Thượng Tam kỳ, gián tiếp khống chế 3 Kỳ khác.

    Giờ đây, mọi mệnh lệnh đều được ban ra từ một người là Đại Hãn.

    Hoàng Thái Cực đã trở thành vị quân chủ chuyên chế duy nhất, quyết định vận mệnh nước Hậu Kim.

    Mở rộng bờ cõi Sửa đổi

    Việc mở rộng bờ cõi là một bước nằm trong sự tính toán của Hoàng Thái Cực.

    Bằng việc chinh phạt, ông có điều kiện đẩy ra xa một số Bối lặc đối thủ, tranh thủ củng cố thế lực.

    Nếu chinh phạt thành công, ông có thể tăng thêm uy tín với các thần dân.

    Nếu thất bại, ông có lý do để tước binh quyền và loại trừ đối thủ.

    Bấy giờ, nước Hậu Kim nằm giữa ba nước lớn đó là phía Đông giáp Tiều Tiên, phía Tây giáp Mông Cổ và phía Nam giáp với Đại Minh.

    Trong ba nước trên thì Mông Cổ tuy qua thời kỳ hoàng kim và hiện đang suy yếu, nghèo nàn, lạc hậu nhưng thực lực quân sự là rất đáng gờm.

    Kỵ binh Mông Cổ dũng mãnh, thiện chiến, người dân thì vạm vỡ, ngoan cường, nếu chọn Mông Cổ là đối tượng cho cuộc viễn chinh đầu tiên thì hoàn toàn không có lợi cho Hậu Kim.

    Nếu có dốc sức "đánh lấy được" thì có thể Hậu Kim phải trả một giá khá đắt.

    Trong khi đó Đại Minh tuy đang trong giai đoạn suy yếu, nội loạn nhưng vẫn là một quốc gia có cương vực rộng lớn, dân số đông, nhiều nhân tài.

    Với thực lực hiện tại thì Hậu Kim chưa đủ khả năng để xâm chiếm ngay được.

    Chưa kể đó là sự hiện diện của vị tướng Viên Sùng Hoán tài trí song toàn.

    Ngoài ra, thì quân Kim cũng vừa thất bại trong trận chiến Ninh Viễn, gián tiếp dẫn đến cái chết của Nỗ Nhĩ Cáp Xích, tinh thần chiến đấu của quân Kim vẫn chưa hồi phục.

    Trước tình thế trên thì Triều Tiên nhanh chóng được Hoàng Thái Cực xác định là mục tiêu hàng đầu cho kế hoạch bành trướng lãnh thổ.

    Triều Tiên là một nước được Hoàng Thái Cực đánh giá là có binh lực yếu nhược, nhưng sản vật thiên nhiên phong phú, sẽ là nguồn hậu cần về kinh tế dồi dào cho quân Kim trong các đợt viễn chinh sau này.

    Mặt khác Triều Tiên cũng là đồng minh quan trọng của nhà Minh, từng gửi binh tham chiến trong Trận Tát Nhĩ Hử (so với Mông Cổ vốn là kẻ thù của Minh triều), chính vì vậy sẽ rất nguy hiểm cho hậu phương của quân Kim nếu Triều Tiên lớn mạnh.

    Chinh phục Triều Tiên lần thứ nhất Sửa đổi

    Xem bài chi tiết Triều Tiên Nhân Tổ, phần chiến tranh với Mãn Châu.

    Việc chọn Triều Tiên là điểm mở màn cho kế hoạch bành trướng mở rộng bờ cõi hoàn toàn nằm trong sự tính toán của Hoàng Thái Cực.

    Trong nửa sau của triều đại nhà Lý (hay còn gọi là nhà Triều Tiên), chủ nghĩa bè phái phát triển, đất nước suy yếu.[26] Sau trận chiến tại Sarhu, để tránh sự uy hiếp của chính quyền Hậu Kim đang trở nên hùng mạnh, vua Triều Tiên bấy giờ là Quang Hải Quân đã đàm phán với Hậu Kim để tránh khỏi rơi vào một cuộc chiến khác.

    Tuy nhiên, 4 năm sau, năm 1623, Quang Hải Quân bị phái Tây Nhân phế truất và bị lưu đày.

    Lăng Dương quân (Neungyanggun) được lập lên làm vua, thực hiện đường lối thân Minh chống Mãn.[27] Phái ủng hộ Quang Hải Quân lập tức sang cầu cứu Hoàng Thái Cực.

    Với cớ đó, Hoàng Thái Cực ngay lập tức phát động các cuộc chiến tranh với Triều Tiên để mở rộng ảnh hưởng.

    Năm 1627, một cuộc xâm lược Triều Tiên trong một cuộc chiến tranh chớp nhoáng được phát động do Nhị Bối lặc A Mẫn chỉ huy, các Bối lặc A Tế Cách, Tế Nhĩ Cáp Lãng, Nhạc Thác, Thạc Thác làm phó tướng, đốc suất 3 vạn quân Nữ Chân, với sự dẫn đường của các tướng Gang Hong-rip và Yoto.[28] Dù có sự hỗ trợ của tướng Minh là Mao Vạn Long, quân đội nhà Lý vẫn kháng cự bạc nhược, không thể đẩy lùi sự đánh phá của quân Hậu Kim.

    Vua Nhân Tổ phải bỏ Hán Thành chạy trốn ra đảo Ganghwa.

    Tuy nhiên, lo ngại việc Minh Triều và Mông Cổ sẽ tập kích, Hoàng Thái Cực chủ động đề xuất hòa nghị.

    Vua Nhân Tổ nhanh chóng chấp nhận những điều kiện "nhẹ nhàng" của Hậu Kim để họ lui quân.[29]

    Các điều kiện đó là:

    Kim - Triều lập minh ước làm huynh đệ.

    Kim là huynh, Triều Tiên là đệ.

    Triều Tiên không được sử dụng niên hiệu Thiên Khải của nhà Minh nữa.

    Vương tử Yi Gak (âm

    Hán Việt: Lý Giác) của Triều Tiên sang Kim "tỏ tình hòa hiếu".[30]

    Kim - Triều không xâm phạm lãnh thổ của nhau.

    Những điều kiện trên đã gây bất mãn cho một số Bối lặc, đứng đầu là Nhị bối lặc A Mẫn, vì cho rằng không tương xứng với uy danh của Hậu Kim.

    Họ đã gây nhiều cản trở cho công cuộc hòa nghị.

    Chính điều này đã buộc Hoàng Thái Cực phải quyết định xử lý A Mẫn một năm sau đó.

    Khuất phục Mông Cổ Sửa đổi

    Sau khi mất quyền kiểm soát vùng Trung Nguyên cuối thế kỷ 14, người Mông Cổ nhiều lần tỏ rõ ý định khôi phục lại đế chế Đại Nguyên.

    Tuy nhiên, chiến tranh liên miên đã làm người Mông Cổ rơi vào tình thế nghiêm trọng.

    Họ luôn là đối tượng "tiễu trừ" của nhà Minh cũng như đối tượng chinh phạt của người Nữ Chân đang vào thời kỳ cường thịnh trở lại.

    Ngay từ thời Nỗ Nhĩ Cáp Xích, thông qua các cuộc liên hôn chính trị và chinh phạt, nhiều bộ lạc Mông - Mãn đã quy thuận và liên kết đồng minh với Nữ Chân hơn là với nhà Minh, kẻ thù truyền kiếp của họ.

    Mặc dù vậy, vẫn còn một số bộ tộc lớn của Mông Cổ tự cho là hậu duệ kế thừa của hoàng đế Đại Nguyên, không chịu khuất phục dưới quyền lực Hậu Kim.

    Sau khi lên ngôi Hãn, Hoàng Thái Cực đặt chú ý đến việc loại trừ hoàn toàn những bộ tộc Mông Cổ láng giềng không thân thiện ở sát sườn Hậu Kim, luôn nuôi ý định quật cường trở lại đế chế Đại Mông Cổ.

    Mặt khác, người Mông Cổ vốn anh dũng, thiện chiến, có sở trường về kỵ binh, sẽ là nguồn quan trọng để bổ sung vào đội ngũ bát kỳ những chiến binh tài giỏi, đó sẽ là những đơn vị tiên phong của quân đội và là lực lượng xung phong trong các chiến dịch đánh nhà Minh sau này.

    Sau chiến dịch Triều Tiên lần thứ nhất, Hoàng Thái Cực có điều kiện để khởi binh tấn công Đại Minh.

    Tuy nhiên, ông vẫn không quên chinh phạt Mông Cổ.

    Hàng loạt các cuộc chinh phạt diễn ra trong 5 năm buộc Lâm Đan Hãn (Lingdan Khan), vị Đại Hãn cuối cùng của người Mông Cổ, phải đào tẩu và chết trên đường tới Tây Tạng.

    Năm 1634, con trai ông là Ngạch Triết Hãn (Ejei Khan) đã phải đầu hàng người Mãn Châu và trao lại ấn ngọc truyền quốc của Hoàng đế triều Nguyên cho Hoàng Thái Cực.[31] Năm 1635, Hoàng Thái Cực được các quý tộc Mông Cổ suy tôn làm Đại Hãn của Mông Cổ với danh hiệu Aghuda Öröshiyegči Nayiramdaghu Boghda Khagan.

    Từ đây, Mông Cổ trở thành một phần của đế chế Mãn Thanh.

    Xâm lược Triều Tiên lần thứ hai Sửa đổi

    Xem thêm: Cuộc xâm lược Triều Tiên lần thứ hai của Mãn Châu

    Sau thất bại trước quân Hậu Kim năm 1627, Triều Tiên phải nhún mình triều cống.

    Tuy nhiên, họ vẫn duy trì thái độ dè chừng.

    Nhất là sau 2 thất bại của Hoàng Thái Cực trong trận Ninh Viễn lần thứ hai và trận tập kích Bắc Kinh, Triều Tiên bắt đầu trở mặt.

    Vì tình thế lúc đó phải tập trung củng cố nội bộ, Hoàng Thái Cực đành "tạm tha" cho Triều Tiên.

    Sau khi chinh phục Mông Cổ, ông chuẩn bị xưng Đại Hãn Mông Cổ, sai sứ giả thông báo cho Triều Tiên.

    Phía Triều Tiên liền bắt giam sứ giả của Hậu Kim, đồng thời tuyên bố không thừa nhận minh ước Kim - Triều năm 1627.

    Tháng 4 năm 1636, Hoàng Thái Cực xưng đế, cải quốc hiệu Đại Thanh.

    Tháng 12 năm đó, lấy lý do Triều Tiên phản bội minh ước, ông đích thân xuất chinh, dẫn 12 vạn quân của Bát kỳ Mãn Châu, Mông Cổ và Hán quân, một lần nữa xuất quân đánh chiếm Triều Tiên.[32] Các thân vương Đa Nhĩ Cổn, Hào Cách thống lĩnh cánh trái quân Mãn châu, Mông Cổ, đột kích ải Trường Sơn; Hộ bộ Thừa chính Mã Phúc Tháp (âm Mãn: Mafuta) dẫn một cánh quân đột kích vương đô Hán Dương (âm Triều Tiên: Hanseong) của Triều Tiên nhằm chặn đường rút của Triều Tiên Nhân Tổ, Đa Đồ, Nhạc Thác dẫn binh mã tiếp ứng.

    Bên cạnh đó, để phòng ngừa sự tập kích của nhà Minh, các Thân vương Tế Nhĩ Cáp Lãng được giao phòng thủ Thẩm Dương; A Tế Cách, A Ba Thái cửa biển Liêu Hà.

    Đích thân Hoàng Thái Cực cùng các Thân vương Đại Thiện, Nhạc Thác đốc suất các lộ quân còn lại tấn công thẳng vào Triều Tiên.[28]

    Quân Triều Tiên nhanh chóng vỡ trận.

    Một lần nữa Triều Tiên Nhân Tổ xuống nước cầu hòa.[29] Nhưng lần này, thế lực của quân Thanh đã hùng mạnh hơn rất nhiều, nhà Minh cũng bất lực trong việc tiếp cứu cho đồng minh trung thành.

    Hoàng Thái Cực ra yêu cầu buộc Nhân Tổ phải đầu hàng và phải chấp nhận những điều kiện nặng nề hơn:

    Triều Tiên trở thành phiên thuộc của Thanh triều.

    Triều Tiên đoạn tuyệt quan hệ với nhà Minh.

    Trưởng tử của Nhân Tổ là Chiêu Hiển Thế tử Lý Vương (chữ Hán: 李溰, chữ Triều Tiên: 이왕), thứ tử Phượng Lâm Đại quân Lý Hạo (chữ Hán: 李溰, chữ Triều Tiên: 이왕)[33] đến Thanh triều "tỏ tình hòa hiếu".

    Triều Tiên phải triều cống Thanh triều.

    Thanh triều đánh nhà Minh, Triều Tiên phải xuất binh mã, chiến thuyền hỗ trợ.

    Thanh triều cấm Triều Tiên đại tu thành trì công sự mà không được phép của Thanh triều.

    Không còn cách nào khác, Nhân Tổ buộc phải chấp nhận tất cả.

    Sau khi minh ước được ký kết, Hoàng Thái Cực cho xây dựng bia kỷ niệm "Công đức Hoàng đế Đại Thanh" rồi rút quân về.[34]

    Với hòa ước này, đồng minh truyền thống của nhà Minh đã hoàn toàn bị đánh bại và Triều Tiên dưới triều đại nhà Lý Triều Tiên buộc phải chấm dứt công nhận nhà Minh mà phải công nhận Đế chế Thanh là bảo hộ.

    Trên thực tế, Triều Tiên đã là chư hầu của nhà Thanh[26] và đây là nguồn hậu cần quan trọng trong các chiến dịch tiếp theo của Hoàng Thái Cực và những người kế vị sau này.

    Thậm chí, cho đến mãi năm 1894, Triều Tiên vẫn là một chư hầu của nhà Thanh.

    Chỉ khi sau Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất, Nhật Bản đã buộc nhà Thanh phải công nhận Triều Tiên là chư hầu của Nhật, xác nhận sự kết thúc của mối quan hệ triều cống Thanh - Triều Tiên.

    Các cuộc cải cách Sửa đổi

    Khi lên nối ngôi Đại Hãn của cha mình, Hoàng Thái Cực không chỉ kế thừa sự nghiệp mà còn mở mang hùng mạnh hơn.

    Về điểm này, hùng tâm tráng khi của ông hơn hẳn cha mình.

    Nếu như Nỗ Nhĩ Cáp Xích là một võ tướng tài ba thì Hoàng Thái Cực còn là một nhà chính trị kiệt xuất.

    Từ những nền móng quốc gia chiếm hữu nô lệ của cha mình, ông đã tiến hành hàng loạt cải cách để phát triển thành một quốc gia phong kiến hùng mạnh, dù không kịp nhìn thấy cơ nghiệp của mình hoàn thành.

    Bãi bỏ chế độ Nghị chính vương Sửa đổi

    Như đã nêu trên, với chế độ Nghị chính vương đại thần, các Đại Bối lặc đều có quyền cùng bàn việc quốc chính.

    Dù đã lên ngôi Đại Hãn, nhưng thế lực của Hoàng Thái Cực vẫn không hơn vị trí một kỳ chủ, vì vậy gặp cản trở không ít bởi những thế lực quý tộc Mãn Châu bảo thủ.

    Vì vậy, song song với việc loại trừ dần thế lực của các vị Đại Bối lặc, ông còn thực hiện việc cải cách về chế độ quan chức, qua đó phân tán quyền lực của các Bối lặc Bát kỳ.

    Ông cho mở rộng quyền lực của đại thần Tổng quản các Kỳ, quy định khi nghị bàn chính sự quốc gia hay việc cơ mật, đại thần Tổng quản sẽ cùng tham dự nghị bàn với các Chư vương, Bối lặc.

    Từ đó, quyền lực trong tay các Chư vương, Bối lặc bị phân chia một phần vào tay đại thần Tổng quản kỳ vụ, phá vỡ cục diện các Chư vương, Bối lặc lũng đoạn quyền lực, thao túng chi phối tình thế (vì mở rộng chủ thể được nghị sự sẽ làm cho ý kiến của các Bối lặc từ đa số sẽ trở thành thiểu số, mặt khác, những vị đại thần tổng quản này theo luật định là dưới quyền của Đại Hãn chứ không phải các vị Bối lặc).

    Như vậy, đã làm suy yếu một bước nữa quyền lực của các vị chư vương Bối lặc, khiến họ ở trong thế cùng giám sát, khống chế lẫn nhau.

    Tiếp theo đó, ông tiếp tục làm giảm ảnh hưởng của các Đại bối lặc.

    Tháng 2 năm 1629, lấy lý do quan tâm đến tình hình công việc "vất vả quá mức" của Đại bối lặc, Hoàng Thái Cực thay đổi chế độ Đại bối lặc luân lưu chấp chính, đưa các Tiểu bối lặc vào cùng tham gia chấp chính.

    Bằng lời lẽ văn hoa mỹ miều để trấn an: "Trước đây do phải trực chấp chính hàng tháng, tất cả mọi việc đều phải phiền lụy đến các vị huynh trưởng xử lý, thật vất vả và không tiện.

    Kể từ nay về sau có thể ra lệnh cho các tiểu bối lặc con cháu thay thế", thực chất là việc hạ thấp vị trí các Đại bối lặc xuống ngang hàng với các Tiểu bối lặc trẻ tuổi, vốn là con cháu của Hoàng Thái Cực, đương nhiên phải phục tùng lệnh vua ban.[21]

    Đổi quốc hiệu Sửa đổi

    Thẩm Dương

    Năm 1635, Hoàng Thái Cực bất ngờ tuyên bố đổi tên tộc người của mình từ Nữ Chân thành Mãn Châu, các vùng mà bộ tộc này trú ngụ cũng được gọi là Mãn Châu.

    Tháng 5 năm 1636, Hoàng Thái Cực lại đổi tên nước từ "Đại Kim" thành "Đại Thanh", chính thức thành lập triều đình nhà Thanh[35] và lên ngôi Hoàng đế.[3][5][7][8][9] Việc đổi tên dân tộc và quốc hiệu đã thể hiện tầm nhìn rộng và sâu sắc của Hoàng Thái Cực vượt hơn các đối thủ chính trị đương thời, điều mà mãi đến đời cháu nội ông là Khang Hy, mới có thể so sánh được.

    Theo nhiều tài liệu, sở dĩ quốc hiệu Thanh được lựa chọn, bởi vì tên của nhà "Minh" (明) được cấu thành từ chữ "Nhật" (日, mặt trời) và chữ "Nguyệt" (月, Mặt Trăng), đều liên quan tới Hỏa mệnh, tức là lửa.

    Trong khi đó, chữ "Thanh" (清) được cấu thành từ bộ "Thủy" (水, nước) và chữ "Thanh" (青, màu xanh lam), đều liên quan đến Thủy mệnh.

    Theo quan niệm Ngũ hành của người Trung Hoa, Thủy - Hỏa bất dung, Thủy khắc Hỏa, mang nghĩa là nhà Thanh sẽ tiêu diệt và thay thế nhà Minh.[36] "Thanh" (清) còn có nghĩa là "Sự trong sạch",[37] đối lập với triều đình nhà Minh thối nát và tham nhũng.

    Hiện tại, người ta chưa rõ vì sao Hoàng Thái Cực chọn cái tên Mãn Châu (Manju.svg, Manju) thay cho tên Nữ Chân (Jurchen) để đặt cho dân tộc mình.

    Có thuyết cho rằng đây là từ đồng âm trong tiếng Nữ Chân cổ có nghĩa là "dũng cảm".

    Có thuyết cho rằng, tên tộc Mãn Châu hàm ý chỉ họ là hậu duệ của Văn Thù Sư Lợi (âm Phạn là Mañjughoṣa), vị Bồ tát của trí huệ, mà Nỗ Nhĩ Cáp Xích là một hóa thân.

    Tuy nhiên, trong tiếng Hán, từ "Mãn Châu" đồng âm với nghĩa "vùng đất đầy đủ, giàu có".

    Cả hai chữ Mãn Châu (满洲) cũng đều có bộ Thủy.

    Bằng việc này, Hoàng Thái Cực đã làm giảm đi rất nhiều thành kiến của người Hán với những hành động cai trị tàn bạo của nhà Kim của người Nữ Chân do Hoàn Nhan A Cốt Đả lập nên, đã cai trị miền bắc Trung Quốc trong thế kỷ 12 và 13.

    Trong giai đoạn đó, nhà Kim và người Nữ Chân đã để lại những ấn tượng không tốt trong tâm thức của các thế hệ người Hán về sự tàn ác, tham lam, và miệt thị dân tộc.

    Chỉ bằng một thủ pháp chính trị đơn giản, Hoàng Thái Cực thể hiện ý đồ tranh thủ sự ủng hộ của cả tầng lớp sĩ tộc lẫn binh dân Trung Quốc, xóa đi những thành kiến về dân tộc mình, nâng cao uy thế chính trị để kiến lập đế quốc, thay thế và bao gồm cả lãnh thổ Trung Nguyên.

    Hoàng Thái Cực cũng đổi niên hiệu từ Thiên Thông thành Sùng Đức (chữ Hán: 崇德, âm Mãn: Wesihun Erdemungge, âm Mông Cổ: Degede Erdemtü), truy tôn Nỗ Nhĩ Cáp Xích là Thái Tổ Võ Hoàng Đế, sử sách gọi là Thanh Thái Tổ.[38] Ông định kinh đô của nhà Thanh tại Thịnh Kinh,[39] đổi tên Thịnh Kinh thành Thẩm Dương (chữ Hán: 沈阳, âm Mãn: Mukden) và cho xây dựng một cung điện quy mô tại đây.

    Đây trở thành đô thành của triều Thanh cho đến khi quân Thanh nhập quan, mới dời về Bắc Kinh để nắm cục diện khống chế toàn quốc.

    Bãi bỏ phân biệt sắc tộc Sửa đổi

    Khác với định kiến sắc tộc hẹp hòi của cha mình,[40] cũng như xuất phát từ quan điểm thu phục nhân tâm của người Hán, đồng thời, chuẩn bị cho việc tấn công xuống phía Nam, sau khi lên ngôi được 8 ngày, Hoàng Thái Cực lập tức ra lệnh cho phép những người dân Hán này vốn là cư dân ở các vùng biên giới hoặc tù binh chiến tranh bị người Kim bắt giữ như chiến lợi phẩm, và sử dụng họ như những nô lệ,[41] được phép lập khu để ở riêng, biên chế thành hộ dân thông thường, chọn quan viên người Hán thanh liêm đến để cai quản.

    Nhờ đó, rất đông dân Hán đang là thân phận nô lệ ở các trang viên (một hình thức nông nô), được khôi phục lại địa vị của một người dân bình thường.

    Nhờ đó, ông có thêm được sự cộng tác của các sĩ tộc người Hán, tăng cường thế lực, hạn chế quyền lực, đi đến phá vỡ cục diện bị khống chế bởi các quý tộc Mãn bảo thủ.

    Ông mạnh dạn bổ nhiệm và trọng dụng nhiều quan viên người Hán và người Mông Cổ có tài năng, cũng như chú trọng việc chiêu dụ các đối thủ về phục vụ cho mình trong cuộc chiến tranh với nhà Minh mà điển hình là Hồng Thừa Trù, Khổng Hữu Đức và Cảnh Trọng Minh sau này, không quá bận tâm hay quá hoài nghi về nguồn gốc xuất thân, hay các vấn đề về lịch sử bản thân họ.

    Đây có thể coi là một tư tưởng cấp tiến và đã làm rất nhiều sĩ tộc người Hán và Mông Cổ dốc hết sức mình để báo đáp ân sủng, trong đó điển hình là mưu sĩ Phạm Văn Trình.[42]

    Đây chính là bước cải cách đầu tiên của Hoàng Thái Cực, mà trọng tâm là mở rộng sự tham gia của người ngoại tộc vào những thiết chế quan trọng của Hậu Kim,[32][43] là cơ sở xã hội để ông thực hiện các cuộc cải cách về chính trị và quân sự về sau này.

    Cải cách nội chính Sửa đổi

    Bằng việc mở rộng việc tham chính của người ngoại tộc, Hoàng Thái Cực đã nhận được sự giúp đỡ của các mưu sĩ người Hán, từ đó bắt tay vào việc cải cách nội chính, tập trung vào hai nội dung cơ bản.

    Thứ nhất, củng cố chế độ tập quyền của Đại Hãn, thâu tóm quyền lực, bãi bỏ hoặc vô hiệu hóa các thế lực quý tộc Mãn bảo thủ, để thiết chế quân chủ chuyên chế phong kiến tập quyền tuyệt đối.

    Thứ hai, xây dựng một chế độ quan lại quy củ, tham khảo quan chế nhà Minh, xác lập cơ chế tuyển chọn quan lại theo tài năng cho tầng lớp sĩ tộc, không phân biệt sắc tộc, bồi dưỡng, chuẩn bị cho một đội ngũ quan lại sẽ giúp ông và con cháu ông cai trị người Hán sau này.

    Đầu tiên, với lý do số lượng nhân sự trong các Kỳ tăng lên, ông thành lập và bổ nhiệm các chức vụ đại thần tổng quản (âm Mãn: Amban Janggin, âm

    Hán Việt: Lãnh Ban Chương Kinh), với chức năng phụ tá cho các Kỳ chủ.

    Tuy ngôi vị Kỳ chủ vẫn có địa vị cao nhất, có tính thế tập, nhưng đã có thêm các đại thần tổng quản phụ tá, thực chất mới là người điều hành, do Đại Hãn trực tiếp bổ nhiệm.

    Sau đó, ông tiếp tục mở rộng quyền hạn của họ, cho phép tham gia nghị bàn chính sự cùng với các Chư vương, Bối lặc, từ đó, phân tán quyền lực của các Bối lặc Bát kỳ.

    Chính từ đó, Hoàng Thái Cực đã có điều kiện để phá vỡ cục diện các chư vương Bối lặc lũng đoạn quyền lực, thao túng chi phối tình thế, chuyển từ chế độ nghị sự sang chế độ mệnh lệnh tối cao.[8]

    Hoàng Thái Cực nhận thức được rằng, với cơ cấu quản lý của hình thức bộ lạc du mục sẽ không còn thích hợp với một quốc gia rộng lớn, đông dân, có nhiều khác biệt văn hóa - xã hội.

    Với sự giúp đỡ của các mưu thần người Hán, ông đã cho thiết lập cơ chế Lục bộ ở Thẩm Dương phỏng theo mô hình triều đình nhà Minh[2] để thực hiện việc quản lý tốt hơn một quốc gia đang trên đà phát triển.

    Năm 1629, ông cho thành lập Văn Quán, với mục đích xây dựng một bộ tham mưu chính trị gồm những văn thần trí thức, không phân biệt Mãn, Hán, Mông, sang hèn.

    Tháng 9 năm đó, ông đã cho tổ chức cuộc thi tuyển quan lại đầu tiên với hơn 300 người tham gia, và có gần 200 vượt qua kỳ thi tuyển này.

    Rất nhiều sĩ tộc người Hán nhờ cuộc thi này thoát khỏi thân phận nô lệ trở thành người tự do, cùng tham gia vào việc xây dựng những phương châm và chính sách quan trọng đối nội cũng như đối ngoại của triều đình.

    Sau khi xưng đế, Hoàng Thái Cực mở rộng Văn Quán thành Nội Tam Viện, gồm Quốc Sử Viện, Bí thư Viện, Hoằng Văn Viện.

    Mỗi Viện đặt một Đại học sĩ chủ trì, trong đó Bí thư Viện có vai trò thực tế rất quan trọng.

    Những sắc thư dự thảo cho hoàng đế, các tấu sớ gởi lên, đều phải qua Bí thư Viện.

    Nhất là các thư tín quan trọng của nhà nước đều phải do đích thân Đại học sĩ của Bí thư Viện thảo ra.

    Chức vụ này, Hoàng Thái Cực bổ nhiệm một sủng thần người Hán là Phạm Văn Trình nắm giữ.

    Đây là một điển hình cho người có nguồn gốc phía bắc Trung Quốc phục vụ cho người Mãn Châu.[6]

    Cải cách quân đội Sửa đổi

    Bài chi tiết: Bát Kỳ

    Với sự lớn mạnh không ngừng của Hậu Kim, thể chế Bát kỳ đã trở nên chật hẹp, không thể đáp ứng cho việc mở rộng quân đội.

    Vì thế, cùng với việc mở rộng lãnh thổ, Hoàng Thái Cực phỏng theo cơ cấu Bát kỳ Mãn Châu, tổ chức phát triển thêm các kỳ Mông Cổ ("Mông Cổ Bát Kỳ")[44] và sau đó là các kỳ Hán ("Hán quân Bát Kỳ").[32] Việc mở rộng về cơ cấu Bát kỳ khiến cho biên chế quân chủ lực của nhà Thanh tăng lên đáng kể, lên đến 170.000 binh sĩ trong thời gian người Mãn Châu xâm chiếm Trung Quốc.[2] Bên cạnh quân Bát kỳ Mãn Châu tinh nhuệ là các chiến binh Mông Cổ với sở trường cơ động thiện chiến và các đội quân người Hán mạnh mẽ về bộ binh và công thành.

    Bên cạnh đó, Hoàng Thái Cực còn tổ chức tại các vùng mới chiếm được của người Hán một đội quân có tên là Lục doanh quân (綠營兵, lục doanh binh).

    Ban đầu đây là những đội quân binh của nhà Minh đầu phục quân Thanh, được Hoàng Thái Cực giữ lại để tăng thêm lực lượng.

    Các chức vụ chỉ huy vẫn giữ nguyên như binh chế nhà Minh như: Tổng binh, Phó tướng, Tham lãnh, Tham tướng, Tá lãnh, Du kích.

    Về sau, quân số Lục doanh binh phát triển, lớn gấp ba lần tổng quân số Kỳ binh, trở thành lực lượng chiến đấu tại chỗ ở những vùng mới chiếm được và là lực lượng dự bị động viên bên cạnh các đoàn quân Bát kỳ chính quy, thường trực.

    Về sau, để thống nhất và tiện cho việc chỉ huy, năm 1634, Hoàng Thái Cực quy định các chức vụ quân đội đều phải dùng tên Mãn, như: "Tổng binh" thành "Lãnh Ban Chương Kinh" (âm Mãn: Amban Janggin), "Phó tướng" vi thành "Mai Lặc Chương Kinh" (âm Mãn: Meiren-i Janggin), "Tham tướng" thành "Giáp Lạt Chương Kinh" (âm Mãn: Jalan-i Janggin), "Du kích" thành "Ngưu Lộc Chương Kinh (âm Mãn: Niru-i Janggin)...

    Tuy vậy, dù chỉ huy Kỳ binh hay Doanh binh, đều phải là các Bối lặc hoặc các tướng tá xuất thân từ dòng dõi quý tộc hoặc ít nhất phải là người Mãn Châu.

    Ngay cả các tướng lĩnh phụ tá cũng chủ yếu lựa chọn trong nhóm Bắc Trung Quốc hoặc Nam Mãn Châu.[2]

    Bằng đợt cải cách này, quân đội nhà Thanh đã phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng.

    Quân Thanh từ việc chỉ có sở trường cơ động của các Kỳ binh, giờ đã trở nên đa dạng cơ cấu, bổ sung lẫn nhau về kỹ thuật, sở trường tác chiến.

    Ngoài những chiến binh Mãn Châu dũng mãnh, Bát Kỳ còn được bổ sung thêm lực lượng kỵ binh thiện chiến của người Mông Cổ và được bổ sung thêm nguồn binh lực phong phú của người Hán vốn đông đảo, lại có sở trường về các kỹ thuật đánh bộ, công thành, chiếm đất, giữ dân và chiêu hàng đồng tộc.

    Quân đội Thanh triều từ 6 vạn quân Bát kỳ đã trở thành một đội quân hùng mạnh, tinh nhuệ và đông đảo, là tiền đề cho Hoàng Thái Cực có thể chủ động mở những chiến dịch quy mô để xâm lược Đại Minh sau đó.

    Chiến tranh với Minh Quốc Sửa đổi

    Ngay vừa khi lên ngôi, Hoàng Thái Cực đã tuyên bố sẽ chinh phạt nhà Minh để báo thù cho cha.

    Tuy nhiên, tham vọng của ông ta rõ ràng lớn hơn thế nhiều.

    Sự kiên trì mục tiêu, triệt để cải cách cả về chính trị lẫn quân sự, Hoàng Thái Cực hướng đến mục tiêu không chỉ chinh phục mà còn là cai trị cả vùng lãnh thổ trong tương lai.

    Tạm thời hòa hoãn Sửa đổi

    Viên Sùng Hoán

    Với thất bại trận Ninh Viễn thứ nhất, Hoàng Thái Cực nhận thấy tình hình chưa chín muồi để khởi động chiến tranh.

    Ông cần tranh thủ thời gian để củng cố nội bộ nên chủ động đưa ra yêu cầu hòa hoãn.

    Viên Sùng Hoán nhận thấy cũng cần tranh thủ thời gian xây dựng, tu sửa các công sự phòng ngự nên ông ta đã đặc phái sứ giả tới viếng tang, nhằm thám thính động tĩnh của quân Hậu Kim, thăm dò thái độ của vị Đại hãn mới.[45] Ngoài mặt hai bên đều tỏ ra hòa hoãn, nhưng thực tế lại đều khẩn trương chuẩn bị cho trận chiến tiếp theo.[46] Hoàng Thái Cực xua quân đánh Triều Tiên để giải quyết vấn đề hậu cần, chuẩn bị lực lượng cho cuộc chiến dài hơi, lấy chiến tranh để nuôi chiến tranh.

    Trong khi đó Viên Sùng Hoán cũng có những bước chuẩn bị tích cực cho cuộc chiến, bằng việc ra sức tu sửa thành trì, mua sắm vũ khí, chỉnh đốn binh mã, vỗ về dân chúng.

    Chiến dịch Ninh Viễn lần hai Sửa đổi

    Sau khi chinh phục Triều Tiên lần thứ nhất, Hoàng Thái Cực tiếp tục cuộc Nam chinh đánh nhà Minh đang gián đoạn của cha mình.[32][43][45] Đích thân Hoàng Thái Cực thống lĩnh đại quân, trong chiến dịch này còn có sự tham gia của hai Đại bối lặc là Đại Thiện và Mãng Cỗ Nhĩ Thái, trong hàng ngũ tướng tá có Nhạc Thác, Sa Ha Liên, Cao Hồng Trung, Bao Thừa Tiên…, ngoài ra, còn có mưu sĩ Phạm Văn Trình.

    Tháng 5 năm 1627 (thực tế thì phải trễ hơn tháng 5), Hoàng Thái Cực chia quân làm ba hướng, trước tiên bao vây thành Cẩm Châu, sau đó mới tiến đánh Ninh Viễn, cánh quân thứ 3 bí mật mai phục, đón lõng quân tiếp viện từ thành Ninh Viễn lên tiếp cứu cho Cẩm Châu.[43]

    Do chuẩn bị kỹ nên quân Minh đã phòng thủ một cách có hiệu quả, các thành trì vẫn vững vàng trước các đợt tấn công ào ạt của quân Kim.

    Thêm vào đó, hỏa lực của đại pháo Hồng Di như thường lệ vẫn phát huy được uy lực, gây tổn thất rất lớn cho quân Kim.

    Ngoài ra, sự phối hợp chiến đấu tốt của hai cụm cứ điểm là thành Ninh Viễn và thành Cẩm Châu càng gây khó khăn hơn cho quân Kim, Thậm chí có thời điểm các chỉ huy quân Minh còn dẫn quân trong thành đánh trả quyết liệt, gây thiệt hại cho quân Kim.

    Chiến dịch này kéo dài gần 5 tháng (từ tháng 5 năm 1627 đến tháng 10 năm 1627), trước sức cố thủ ngoan cường của quân Minh, tinh thần quân Kim sa sút trước sức mạnh hỏa lực đại pháo, thời tiết không thuận lợi, Hoàng Thái Cực buộc phải hạ lệnh tạm lui quân để củng cố.

    Một lần nữa, quân Minh dưới sự chỉ huy của Viên Sùng Hoán tận dụng thời cơ truy kích, đánh cho quân Hậu Kim đại bại, giành chiến thắng ở Ninh Viễn, Cẩm Châu.

    Tài liệu Trung Quốc gọi đây là trận chiến Ninh Viễn lần hai hay chiến dịch Ninh – Cẩm.

    Sau đại thắng Ninh - Cẩm, tình thế ngoài quan ải đã tốt dần lên đối với quân Minh.[32]

    Tuy Viên Sùng Hoán một lần nữa đại thắng quân Hậu Kim, nhưng tại triều, thái giám Ngụy Trung Hiền cùng bè đảng lo ngại uy thế đang lên của ông, đã gièm pha ông với Minh đế với tội danh cố ý khiêu khích dẫn đến chiến tranh và lúc chiến sự nguy cấp lại bỏ mặc, không đích thân dẫn quân tiếp ứng Cẩm Châu.

    Vì việc này, Viên Sùng Hoán bị cách chức.

    Trận tập kích Bắc Kinh Sửa đổi

    Hoàng đế Sùng Trinh nhà Minh

    Sau khi bị cách chức, Viên Sùng Hoán bỏ về quê.

    Mãi khi Sùng Trinh lên ngôi, trừ bỏ Ngụy Trung Hiền, triều hồi Viên Sùng Hoán và bổ nhiệm ông làm Tổng đốc Liêu Đông,[47] trấn thủ Sơn Hải quan để phòng giữ quân Hậu Kim.

    Việc Viên Sùng Hoán được phục chức và tiếp tục chỉnh đốn phòng ngự ở Liêu Đông làm cho Hoàng Thái Cực không thể thực hiện được kế hoạch nam chinh của mình một cách thuận lợi.

    Ông biết rằng không dễ dàng vượt Sơn Hải Quan vì Ninh Viễn và Cẩm Châu phòng thủ cẩn mật, khó lòng công phá.

    Vì vậy ông quyết định đổi hướng tấn công, đi vòng qua Liêu Đông để tấn công vào Bắc Kinh.

    Lợi dụng cơ hội hầu hết quân chủ lực của nhà Minh đang tập trung ở phía Nam, bao vây quân Lý Tự Thành tại Xa Sương Hạp,[32] ngày 27 tháng 10 năm 1629, Hoàng Thái Cực xuất quân, trực tiếp chỉ huy 10 vạn tinh binh, vòng qua phòng tuyến Liêu Đông, chia quân làm ba đường, đột phá Vạn lý Trường thành ở phía Tây Bắc, vào ba cửa Đại An (Đại An khẩu), Long Cảnh (Long Tỉnh Quan) và Hồng Sơn, vòng đến Hà Bắc, tiến vào đột kích thành Bắc Kinh.[19][32][48]

    Quân Minh kháng cự yếu ớt vì bị bất ngờ trước sức cơ động quá nhanh của quân Kim.

    Vua Sùng Trinh vội vàng tăng cường phòng thủ, vừa hạ lệnh cho quân từ các nơi hỏa tốc về kinh thành hỗ trợ.[49] Tổng binh nhà Minh là Mãn Quế cố gắng chỉ huy chống lại bên ngoài cửa Đức Thắng Môn và An Định Môn.

    Pháo binh trên thành của nhà Minh liền bắn yểm trợ, nhưng họ lại bắn nhầm vào cả quân đội của mình, khiến quân Minh bị tổn thất không ít, bản thân Mãn Quế cũng bị thương, đành phải dẫn tàn quân lui trở vào thành cố thủ chờ viện binh.

    Việc quân Hậu Kim bất ngờ tập kích Bắc Kinh nằm ngoài dự liệu của Viên Sùng Hoán, vì vậy, khi biết tin quân Kim vòng qua Liêu Đông, Viên Sùng Hoán vội vàng xuất binh chặn đường tiến quân của Hậu Kim.

    Tuy nhiên, quân Hậu Kim tiến quá nhanh, liên tục hạ các thành trì trên đường và tiến đến sát ngoại thành Bắc Kinh.[48] Ông vội vàng hạ lệnh cho 5 vạn binh mã từ thành Ninh Viễn, Cẩm Châu cấp tốc kéo về kinh sư để cứu viện.

    Đích thân Viên Sùng Hoán dẫn 9.000 quân thiết kỵ, hành quân suốt đêm để vượt lên trước quân Kim và vào thành Bắc Kinh trước.

    Vua Sùng Trinh liền hạ lệnh cho ông chỉ huy toàn bộ lực lượng của thành Bắc Kinh, hợp với quân các lộ kéo về, nhanh chóng giải tỏa áp lực của quân Kim.

    Tháng 11 năm 1629, hai bên kịch chiến trước thành Bắc Kinh ở bên ngoài cửa Quảng Cừ Môn.

    Đích thân Viên Sùng Hoán khoác áo giáp sắt chỉ huy đôn đốc tướng sĩ các lộ tích cực chống trả quân Kim.

    Sau nửa ngày kịch chiến, quân Minh đã đẩy lui sự tấn công của quân Hậu Kim, bảo vệ được kinh thành Bắc Kinh.

    Hoàng Thái Cực một lần nữa đành bỏ dở chiến dịch, rút quân ra phía ngoài quan ải.

    Lần này, tuy thắng trận nhưng Viên Sùng Hoán không đuổi theo mà đóng quân ở lại để bảo vệ thành Bắc Kinh và lăng miếu của Hoàng triều.[19]

    Ly gián vua tôi nhà Minh Sửa đổi

    Sau chiến thắng Ninh Viễn lần thứ nhất, Viên Sùng Hoán bị nhiều đồng liêu gièm pha vì việc đã có quan hệ tốt với nhà Kim.

    Viên Sùng Hoán phải dâng sớ thuật lại mục đích của mình.

    Tờ sớ giải trình: "Ngoài quan ải đất hẹp người đông nên phải xây dựng sửa sang lại ba thành Cẩm Châu, Trung Tả và Đại Lãng để phòng tuyến kéo dài ngoài quan ải đến 400 dặm.

    Nếu như thành chưa được tu sửa xong mà quân nhà Kim đã đánh thì tất phải thua.

    Ta đã ở vào thế đánh thì thắng thủ thì bại.

    Vì thế nhân nhà Kim đánh nhau với Triều Tiên, chúng ta lấy kế hòa để tiến, hoãn binh củng cố thành trì.

    Khi nhà Kim đến thì chúng ta đã tu sửa tốt thành trì vùng biên để vững chắc thì nhà Kim không thể làm gì được".

    Minh Hy Tông đồng ý với cách lý giải của Viên Sùng Hoán, việc xì xào của triều thần cũng tạm thời lắng xuống, nhưng những nghi ngờ trong lòng họ vẫn chưa dứt hẳn.

    Mấy năm sau, việc nghị hòa của Viên Sùng Hoán bị khoác lên tội danh tư thông với giặc và phải trả giá bằng mạng sống của mình.

    Chiến dịch tấn công Bắc Kinh của Hoàng Thái Cực một lần nữa không thành công.

    Nguyên nhân chính là vì sự tồn tại của Viên Sùng Hoán một viên tướng tài trí và giàu lòng ái quốc.

    Biết là Viên Sùng Hoán và đội quân của ông ta sẽ gây trở ngại rất nhiều cho đế nghiệp của mình, Hoàng Thái Cực đã tập trung đối phó với ông, dùng đòn phản gián để triệt hạ cá nhân viên đại tướng này.

    Qua mạng lưới tình báo, Hoàng Thái Cực đã nhanh chóng biết tin Triều đình nhà Minh mà đặc biệt là Sùng Trinh đang nghi ngờ Viên Sùng Hoán và cho rằng đây là cơ hội tốt nhất để dùng kế ly gián chia rẽ nội bộ.

    Trước hết, ông cho người phao tin có sự gặp gỡ riêng tư giữa ông và Hoàng Thái Cực, về mật ước nghị hòa tại biên giới ba năm về trước, về mật ước việc muốn bán rẻ Bắc Kinh cho nhà Hậu Kim cũng như việc Viên Sùng Hoán biết được những thông tin về cuộc hành quân của Hoàng Thái Cực.

    Quả nhiên, vua tôi nhà Minh đều trúng kế.

    Viên Sùng Hoán bị một số triều thần vu cáo ông là kẻ dẫn Hổ nhập quan, nhằm uy hiếp triều đình, buộc triều đình phải chấp thuận chủ trương nghị hòa với Hậu Kim của ông, và qua đó đôi bên sẽ ký hiệp ước bất bình đẳng trước sự uy hiếp của quân Hậu Kim.

    Một số khác vu cáo việc quân Hậu Kim vây thành Bắc Kinh lần này hoàn toàn là do Viên Sùng Hoán dẫn về.

    Khi quân Kim rút lui, ông lại không truy kích, giữa ông và Hoàng Thái Cực thông đồng âm mưu…

    Bên cạnh đó, Vương Vĩnh Quang cùng đồng đảng lại liên tiếp dâng tấu biểu vu cáo Viên Sùng Hoán cố tình giết Mao Văn Long (là viên tướng trấn giữ vùng biên giới gần với Triều Tiên) để lấy lòng nhà Kim, cấu kết và tư thông với giặc, đề nghị triều đình xử tội.[48][50]

    Hoàng đế Sùng Trinh là một người độc đoán lại đa nghi, sẵn có lòng nghi ngờ Viên Sùng Hoán không thực sự trung thành, cứu binh chậm trễ, vì vậy, lập tức triệu Viên Sùng Hoán vào triều đình vấn tội, trách cứ ông tại sao đưa viện binh về quá trễ, rồi hạ lệnh bắt ông vào ngục.

    Tháng 8 năm 1630, sau hơn nửa năm bị giam trong ngục, Viên Sùng Hoán bị xét xử vào tội "dối vua phản quốc", tội thông đồng với quân địch với lập luận là: quân địch tự ý thoái lui chứ không phải bị Viên Sùng Hóa đánh bại, Viên Sùng Hoán cũng không đuổi theo quân địch mà đóng quân ở lại kinh thành là có ý đồ.

    Tội danh này phải xử cực hình: Ngũ mã phân thây (5 ngựa xé xác) trước cổng kinh thành, vợ con thì bị bắt đi đày cách xa 3.000 dặm.[51]

    Đau đớn nhất cho Viên Sùng Hoán là kể cả những người dân chúng kinh thành mà ông hết lòng bảo vệ, cũng cho rằng Viên Sùng Hoán cấu kết và dẫn đường cho giặc Kim vào xâm lược nên ai cũng hận ông đến tận xương tủy.

    Sau khi ông thọ hình trước cổng thành, nhiều người đã tranh giành thân xác ông như muốn ăn tươi nuốt sống để thỏa nỗi thù hận.[51]

    Quỷ kế của Hoàng Thái Cực thành công vượt mức mong đợi.

    Ông vừa loại bỏ được đối thủ quân sự nguy hiểm nhất trong đời cầm quân của mình, vừa gây nên sự nghi kỵ, tâm lý chán nản và bất mãn trong quân dân nhà Minh.

    Quân Kim từ lúc đó ngày càng chiếm thế chủ động chiến trường.

    Nhà Minh đã không còn một viên tướng nào đủ tài năng và nhiệt huyết để có thể đọ sức được với Hoàng Thái Cực, đẩy lùi quân Kim.

    Cũng chính vì sự kiện này mà các nhà quân sự đời sau bình luận rằng nhà Minh mất nước, không mất vì giặc cướp mà mất ngay từ trong cổng ngõ, không mất ở bờ cõi mà mất ngay từ lời xàm tấu Đài quan[52]

    Tung hoành vùng quan ngoại Sửa đổi

    Tuy diệt trừ được Viên Sùng Hoán, Hoàng Thái Cực vẫn nhận thấy quân Hậu Kim chưa đủ khả năng công phá Đại Minh, cũng như chưa đủ lực lượng để đánh dài ngày với lực lượng đông đảo của Minh triều.

    Ông quyết định trước mắt phải tiếp tục duy trì thế trận đánh tiêu hao binh lực của nhà Minh, đồng thời với việc tiếp tục phát triển lực lượng.

    Vì vậy, trên đường rút quân, ông tranh thủ tập kích Lư Câu Kiều, đánh tan rã một lực lượng 4 vạn quân do Mãn Quế và một số tổng binh khác chỉ huy đang đóng tại bên ngoài cửa thành Vĩnh Định Môn.

    Cuối năm 1630, Hoàng Thái Cực lại chuyển quân đến Thông Châu, rồi tiến về phía đông để chiếm bốn thành Thông Hóa (Tôn Hóa), Vĩnh Bình (Thủy Bình), Thiên An, Loan Châu (đều nằm trong tỉnh Hà Bắc hiện nay), rồi giao cho Đại Bối lặc A Mẫn phòng giữ bốn thành mới chiếm này.[8] Ông dự định sẽ dùng bốn ngôi thành để làm căn cứ dưỡng quân, từ đó sẽ xuất kích luân phiên đánh giáp công Sơn Hải Quan.

    Tuy nhiên, sau khi ông rút quân, Đại học sĩ triều nhà Minh là Tôn Thừa Tông đã tổ chức binh lực chiếm lại bốn ngôi thành này.

    Đại Bối lặc A Mẫn kinh hoảng, không tổ chức cuộc chống cự mà chỉ ra lệnh rút quân.

    Đã thế, trước khi tháo chạy, ông ta còn ra lệnh tàn sát, cướp bóc quân dân trong thành.

    Việc này không chỉ làm đổ vỡ kế hoạch của Hoàng Thái Cực, mà còn gây thất nhân tâm cho công cuộc chinh phục về sau.

    Khi nhận được tin 4 thành đã mất, Hoàng Thái Cực hết sức giận dữ, ra lệnh tước bỏ mọi danh vị quyền lợi của A Mẫn, tống ngục vĩnh viễn.

    Hoàng Thái Cực vì hậu quả hành động của Đại bối lặc A Mẫn nên gặp rất nhiều khó khăn trong việc thu phục các thành trì nhà Minh.

    Điều này, buộc ông phải tăng cường các biện pháp để chiêu hàng để thu phục đối thủ, thu phục nhân tâm ở những vùng đất chiếm được.

    Tháng 8 năm 1631, Hoàng Thái Cực bất ngờ tập kích thành Đại Lãng Hà, thực hiện chiến thuật "vây thành diệt viện".

    Quân dân nhà Minh giữ thành vì "cạn hết lương thực, nên quân và dân phải ăn thịt lẫn nhau", rốt cuộc buộc phải đầu hàng.

    Ông cũng cho một Hán thần có tài ăn nói đến chiêu hàng cứ điểm Tây Sơn, một cứ điểm hiểm yếu mà ông nhiều lần tấn công nhưng vẫn không hạ được.[32] Năm 1633, ông cho mưu sĩ Phạm Văn Trình thuyết phục Khổng Hữu Đức và Cảnh Trọng Minh, vốn là 2 cựu tướng nhà Minh, nhân tình thế chiêu tập thuộc hạ để xây dựng thế lực cát cứ.

    Do lo sợ bị nhà Minh tiễu trừ, 2 tướng liền đồng ý quy thuận Hậu Kim.

    Về sau, Khổng Hữu Đức và Cảnh Trọng Minh đều trở thành những võ tướng có công lớn trong việc giành thiên hạ cho nhà Thanh,[32] được phong đến tước vương.[53]

    Năm 1635, Hoàng Thái Cực kéo quân về Thạnh Kinh (Thẩm Dương) để dưỡng sức binh sĩ, chờ thời cơ đánh chiếm Trung Nguyên.[5] Đây cũng là giai đoạn ông thực hiện việc chỉnh đốn triều chính, lên ngôi, xưng Đế, đổi tộc hiệu, quốc hiệu, xây dựng kinh đô cho Đế chế Thanh.

    Chính vì vậy các hoạt động quân sự trong thời gian này tạm dừng.

    Năm 1639, triều đình nhà Minh đã cử một tướng lĩnh có công trong việc trấn áp quân Lý Tự Thành là Hồng Thừa Trù, lên quan ải giữ chức vụ Tổng đốc Kế Liêu (Kế Châu và Liêu Đông).

    Dù không thiên về phòng ngự chủ động như Viên Sùng Hoán, Hồng Thừa Trù cũng đã thực hiện nhiều phương án để củng cố và tăng cường tuyến phòng thủ Sơn Hải quan.[32] Dù ở thế "án binh bất động", không có hoạt động quân sự nào đáng kể, quân Minh cũng đủ sức ngăn chặn sự phát triển của quân Thanh xuống phía Nam.

    Nhận định nguyên nhân ba lần đột nhập vùng Quan nội thất bại đều do việc không chiếm được Sơn Hải Quan, tháng 7 năm 1641, Hoàng Thái Cực một lần nữa phái quân bao vây Cẩm Châu, quyết tâm công phá cứ điểm quan trọng này.

    Hồng Thừa Trừ dẫn thuộc tướng Ngô Tam Quế và 13 vạn nhân mã kéo đến tiến ra quan ải, tập kết tại Ninh Viễn, rồi từ đó tiến lên chi viện cho Cẩm Châu.

    Hồng Thừa Trù vốn tính cẩn trọng.

    Ông ta chủ trương chiến pháp tiến chậm nhưng chắc chắn để giành thắng lợi.

    Tuy vậy, tân Binh bộ Thượng thư là Trần Tân Giáp đã phái giám trận, giám quân và đốc chiến, thúc Hồng Thừa Trù đẩy nhanh tốc độ hành quân.

    Vì vậy, kế hoạch tiến chậm và chắc của Hồng Thừa Trù bị phá sản.

    Nhận thấy sơ hở chết người của quân Minh, tháng 8 năm 1641, Hoàng Thái Cực dẫn đại quân từ Thẩm Dương tiến chiếm khu vực giữa Tùng Sơn và Hạnh Sơn, cắt đứt sự liên hệ của quân Minh giữa hai khu vực này, đồng thời cũng cắt đứt đường rút lui của Hồng Thừa Trù.

    Tiếp đó, Hoàng Thái Cực lại cho quân đi đoạt hết lương thực tại núi Tháp Sơn.

    Hồng Thừa Trù hoàn toàn bị động, và bị vây khốn tại Tùng Sơn, vì thế nửa năm sau, Hồng Thừa Trù đã bị Hoàng Thái Cực bắt sống.

    Hoàng Thái Cực biết Hồng Thừa Trù sẽ là người có tác dụng hết sức to lớn đối với việc mình tiến vào làm chủ Trung Nguyên, vì vậy, một lần nữa ông sai mưu sĩ Phạm Văn Trình đi chiêu hàng Hồng Thừa Trù.

    Do sự phân tích thiệt hơn, cũng như thái độ ân cần đối đãi của Hoàng Thái Cực, Hồng Thừa Trù cuối cùng cũng chấp nhận đầu hàng.

    Sự nghiệp dang dở Sửa đổi

    Chiêu lăng, khu lăng mộ của Hoàng Thái Cực.

    Ngày nay là Công viên Bắc Lăng, thuộc thành phố Thẩm Dương, tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc.

    Sau khi Hồng Thừa Trù bị bắt, nhà Minh đã phong cho thuộc tướng của Hồng Thừa Trù là Ngô Tam Quế lên làm trấn thủ Sơn Hải quan.

    Tuy nhiên, lúc này ở phía Nam, lực lượng của Sấm vương Lý Tự Thành đã phát triển mạnh mẽ, đánh tan các lực lượng đánh dẹp của nhà Minh, chuẩn bị tiến về Bắc Kinh.

    Hoàng Thái Cực dự tính khi quân Minh bị quân Lý Tự Thành làm cho suy yếu, sẽ lợi dụng thời cơ để công phá Sơn Hải quan, tiến vào tiêu diệt chính quyền nhà Minh.

    Tuy nhiên, trong quá trình chuẩn bị, Hoàng Thái Cực lâm bệnh và bất ngờ qua đời vào ngày 21 tháng 9 năm 1643 (Sùng Đức năm thứ 8)[2], hưởng dương 52 tuổi, tại vị được 17 năm (một số ý kiến cho rằng ông mất vào năm 1644, cai trị được 18 năm[3]).

    Hoàng Thái Cực chết trước khi kịp thấy sự nghiệp chinh phục Trung Quốc hoàn thành.

    Tuy nhiên, cái chết của ông không chứng tỏ sự suy yếu tham vọng của người Mãn Châu.[6] Với những thành quả chuẩn bị của Hoàng Thái Cực, những người kế tục sự nghiệp của ông đã hoàn tất sự nghiệp chinh phục nhà Minh vào năm 1646, mở ra thời đại nhà Thanh cai trị Trung Quốc trong gần 300 năm.

    Trong thời gian tại vị, Hoàng Thái Cực đã đặt 2 niên hiệu Thiên Thông (天聰) từ năm 1627 đến năm 1636, khi ông ở ngôi vị Đại Hãn Kim quốc; và Sùng Đức (崇德) từ năm 1636 đến năm 1643, với tư cách là Hoàng đế Đại Thanh.

    Ông mất ở tuổi 52, thi hài của ông được an táng tại Chiêu Lăng (昭陵).

    Cũng như cha mình, Hoàng Thái Cực chết khi chưa kịp chỉ định người nối ngôi.

    Vì vậy, sau khi ông chết, xảy ra cuộc tranh chấp ngôi vị giữa con trai trưởng của ông là Hào Cách và người em cùng cha khác mẹ Đa Nhĩ Cổn.

    Cuối cùng, hai bên chấp nhận giải pháp dung hòa là tôn lập Bối lặc Phúc Lâm, người con trai thứ 9 của Hoàng Thái Cực, lên nối ngôi, đặt niên hiệu là Thuận Trị, tức Thanh Thế Tổ.

    Sau khi lên ngôi, Hoàng đế Thuận Trị đã phong thụy hiệu cho cha là Ứng Thiên Hưng Quốc Hoằng Đức Chương Vũ Khoan Ôn Nhân Thánh Duệ Hiếu Văn Hoàng đế (應天興國弘德彰武寬溫仁聖睿孝文皇帝).

    Qua các đời Khang Hi, Ung Chính và Càn Long, thụy hiệu của ông đầy đủ là Ứng Thiên Hưng Quốc Hoằng Đức Chương Vũ Khoan Ôn Nhân Thánh Duệ Hiếu Kính Mẫn Chiêu Định Long Đạo Hiển Công Văn Hoàng đế (應天興國弘德彰武寬溫仁聖睿孝敬敏昭定隆道顯功文皇帝).

    Nhận xét Sửa đổi

    Trong cuộc chiến tranh giữa Mãn Châu và Đại Minh trong thời gian trị vì của Hoàng Thái Cực.

    Ban đầu, với ưu thế pháo binh của mình, nhà Minh liên tục đẩy lùi người Mãn Châu, trong các năm 1627 và 1629.

    Tuy nhiên, họ không thể chiếm lại được quyền kiểm soát của mình đối với các vùng đất mà người Mãn Châu chiếm giữ.

    Từ năm 1629 về sau này, nhà Minh dần đến bờ vực của sự sụp đổ với những vụ tranh giành quyền lực bên trong và những vụ tấn công tiên tiếp ở miền bắc từ phía người Mãn Châu; Hoàng Thái Cực đã chủ động chuyển sang chiến thuật đột kích nhằm tránh đối mặt với quân đội Minh trong những trận chiến lớn với ý đồ tiêu diệt dần sinh lực của nhà Minh.

    Không thể tấn công trực tiếp vào đầu não nhà Minh, người Mãn Châu chờ đợi cơ hội của mình, phát triển pháo binh của riêng họ và thành lập các liên minh.

    Hoàng Thái Cực lại có được các quan chức trong triều nhà Minh làm quân sư cho mình và vào năm 1633 họ hoàn thành việc chinh phục Nội Mông, dẫn tới việc tuyển được một số lượng lớn lính Mông Cổ dưới cờ Mãn Châu, cùng với các cuộc cải cách về quân sự, thực lực của quân Thanh đã phát triển và chiếm được một con đường nữa dẫn tới trung tâm đế chế Minh.

    Trong cuộc chiến ác liệt này, tổn thất về nhân mạng là rất lớn, quân và dân của nhà Minh thì thiệt mạng trước các cuộc càn quét của kỵ binh Bát kỳ.

    Nhưng đổi lại, không ít chiến binh Mãn Châu cũng đã thiệt mạng dưới hỏa lực của quân Minh.

    Tổn thất về vật chất cũng đáng kể, trong giai đoạn này, nhiều thành trì, đường sá, cầu cống cũng bị thiệt hại do các hoạt động quân sự của hai bên, đặc biệt là thiệt hại nặng nề cho nhà Minh vì chiến sự chủ yếu diễn ra tại Trung Quốc.

    Nói chung, dù Hoàng Thái Cực có chết một cách đột ngột nhưng những hoạt động quân sự của ông vẫn có ý nghĩa lớn lao.

    Trước hết, qua hàng loạt chiến dịch, quân Thanh đã chiếm được thế chủ động về quân sự tại vùng Đông Bắc đẩy nhà Minh vào thế chống trả bị động, ngày càng lùi sâu vào nội địa.

    Cũng qua các chiến dịch quân sự này mà quân Mãn Châu đã rút kinh nghiệm trong việc đối phó với hỏa lực của quân Minh, họ đã có ý thức phát triển pháo binh để công thành, đồng thời phát triển nhiều chiến thuật và phương tiện để đánh chiếm các công sự (bằng việc sử dụng nhiều binh lính người Hán có kinh nghiệm).

    Cũng qua những chiến dịch của Hoàng Thái Cực, nhiều thành trì, công sự của nhà Minh xây dựng đã bị phá hủy ví dụ như Vạn Lý trường thành, Thành Cẩm Châu, Thành Đại Lãng Hà và nhiều thành khác…

    Tuy nhiên thành trì vững vàng nhất là Viên Sùng Hoán đã bị loại trừ bằng một kế ly gián.

    Hậu thế có nhiều lời đánh giá, khen chê về ông nhưng qua cuộc đời và sự nghiệp của ông, chúng ta có thể đánh giá một cách tổng thể.

    Ở vị trí là một chính trị gia: Với tư cách là một chính trị gia, Hoàng Thái Cực đã thể hiện mình là một người mẫn cán, cơ trí biết đắc nhân tâm, thành thạo các thủ đoạn về quyền biến.

    Chính vì vậy, trong số các hoàng tử của Nỗ Nhĩ Cáp Xích ứng cử cho chức vụ Đại Hãn, ông đã vượt qua tất cả để lên ngôi tối cao.

    Sau khi lên ngôi, Hoàng Thái Cực bắt đầu đảm nhiệm trọng trách trị vì Hậu Kim, ông thống soái quân đội báo thù cho cha, kiên quyết bước trên con đường gian khổ, đầy cam go.

    Chính ông đã kiến lập nên Vương triều Đại Thanh, trở thành vị Hoàng Đế khai quốc đầu tiên của triều Thanh.

    Khi ở ngôi cao, ông không ngừng dùng các thủ đoạn của mình để loại bỏ các đối thủ cản trở bá nghiệp, trở thành một vị vua nắm thực quyền.

    Một yếu tố không thể không nhắc đến khi bàn về nhân vật này, đó là Hoàng Thái Cực là một vị lãnh tụ rất giỏi về thủ thuật nắm bắt tâm lý, giỏi thu phục lòng người.

    Ông ta luôn biết "đắc nhân tâm" để thực hiện các ý đồ chính trị của mình trong quá trình củng cố ngôi vị, loại bỏ các thế lực chướng ngại.

    Khi các đối thủ của ông là A Tế Cách, A Mẫn, Mãng Cổ Nhĩ Thái và Đại Thiện có những hành động sơ hở, ông ta đã chớp cơ hội, khai thác triệt để những vấn đề này, đưa vấn đề này vào chương trình nghị sự để nghiêm trọng hóa nó.

    Trong quá trình nghị sự, bàn bạc, ông đã thuyết phục được mọi người và biết tập hợp những tâm lý phụ họa theo để tạo "Thể đầu rồng" nhằm tranh thủ sự ủng hộ đông đảo đối với các quyết định của mình, qua đó đạt được mục đích chính.

    Một trong những minh chứng rõ rệt chính là hành động trưng cầu ý kiến của các quần thần về ngai vị Đại Bối lặc ngồi ngang hàng với Đại hãn, qua đó buộc Đại Thiện phải "tự nguyện" rời ngai vị dù không thực tâm muốn như vậy.

    Khi thừa kế di sản do Nỗ Nhĩ Cáp Xích để lại, ông đã dũng cảm đứng ra nhận trách nhiệm phát dương dân tộc Mãn Châu dù phía trước rất nhiều khó khăn đến từ trong lẫn ngoài.

    Điều này cũng có sự khác biệt nhất định so với các anh em của ông vốn chỉ muốn tranh giành để hưởng thụ quyền lực (điển hình là tập đoàn Đại Thiện, A Mẫn, Mãng Cổ Nhĩ Thái).

    Ở vị trí là một nhà quản lý: Hoàng Thái Cực đã tiếp nối cha củng cố chính quyền Mãn Châu, thành lập nước Đại Thanh.

    Hoàng Thái Cực xưng đế mở ra triều đại nhà Thanh.

    Trên cương vị là một người đứng đầu đất nước, ông đã có những cải cách quan trọng là tiền đề cho sự hưng thịnh của triều Mãn Thanh sau này.

    Ông đã đổi tên dân tộc, đổi quốc hiệu của nước nhà để phần nào xóa đi sự hận thù của người Hán đối với người Nữ Chân.

    Ông xóa bỏ chế độ nông nô, xóa bỏ sự phân biệt Mãn – Hán, trọng dụng những nhân tài xuất thân từ người Hán, cải cách Bát kỳ, qua đó có thể thấy ông là một người có tầm nhìn xa, vượt qua được ranh giới của chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, ích kỷ, luôn lấy đại nghiệp làm trọng.

    Ông còn thực hiện việc cải cách chế độ quan chức, lấy học vấn làm điều kiện để thăng quan, tổ chức bộ máy nhà nước theo mô hình của Trung Quốc qua đó tăng cường hiệu lực quản lý của nhà nước.

    Ông còn tăng cường tính nghiêm minh trong việc thực thi pháp luật, không vị nể quan hệ trong việc thưởng phạt.

    Những chính sách cải cách của ông đều xuất phát từ lợi ích lâu dài của quốc gia, dân tộc.

    Việc tập trung quyền lực vào tay nhà vua tuy giúp cho ông có nhiều uy quyền nhưng đây cũng là một yêu cầu khách quan của lịch sử, là một giai đoạn "quá độ" từ bộ lạc, bộ tộc trở thành một xã hội phong kiến của người Mãn Châu.

    Ở vị trí là một thống soái quân đội: Với tư cách là người chỉ huy quân đội, ông đã tỏ ra mình là một viên tướng tài năng, tinh thông binh pháp, đa mưu túc trí.

    Dưới thời của cha ông, quân Kim vẫn chưa thể vượt qua được Vạn lý Trường thành để xâm nhập quan nội thì với sự thống lĩnh của ông, quân Hậu Kim và sau này là quân Thanh đã nhiều lần xâm nhập Trung Quốc, phá hủy nhiều thành trì, thậm chí còn uy hiếp cả Bắc Kinh.

    Ông cũng đã dùng kế ly gián để loại bỏ Viên Sùng Hoán, người được xem là chướng ngại trên con đường chinh phục Trung Hoa của dân tộc Mãn Châu.

    Ngoài ra, những công lao to lớn phải kể đế đó là việc chinh phục Triều Tiên, Mông Cổ và làm chủ vùng Đông Bắc Trung Quốc, tất cả đã tạo ra thời và thế để cho những người kế tục của ông sau này hoàn thành đại nghiệp.

    Và thực sự ông là một kẻ mạnh là một người chịu được mọi sự thử thách và luôn kiên trì cho đến cùng.

    Trong cuộc chiến với nhà Minh, rất nhiều lần ông đã bị Viên Sùng Hoán đánh bại nhưng ông không đầu hàng mà sau mỗi trận thất bại ông đều chuẩn bị lực lượng cho trận kế tiếp.

    Cuối cùng ông đã dùng kế loại bỏ Viên Sùng Hoán và tiếp theo đó là một loạt chiến dịch xâm nhập Trung Quốc, thực hiện được một phần nào giấc mộng đế vương của mình.

    Qua đó có thể thấy tính kiên trì, bền bỉ trong ý chí của ông.

    Sự kiên nhẫn này đã mang đến cho ông "khả năng duy trì sự bền bỉ để đạt được mục tiêu đã đề ra và theo đuổi ước mơ đến cùng".[54] Với tài trí, sự khôn khéo, lòng quyết tâm, tính kiên trì đã giúp ông hoàn thành nên đại nghiệp dù chưa trọn vẹn, là vị Hoàng Đế khai quốc của triều Thanh.

    Gia Đình

    Tổ tiên của Hoàng Thái Cực

    Hưng Tổ Trực Hoàng đế Phúc Mãn

    Cảnh Tổ Dực Hoàng đế Giác Xương An

    Trực hoàng hậu Hỉ Tháp Lạp thị

    Hiển Tổ Tuyên Hoàng đế Tháp Khắc Thế

    Dực hoàng hậu

    Thái tổ Cao Hoàng đế Nỗ Nhĩ Cáp Xích

    Đô đốc Tham Sát

    Đô đốc A Cổ

    Tuyên hoàng hậu Hỉ Tháp Lạp thị

    Thái tông Văn Hoàng đế Hoàng Thái Cực

    Diệp Hách bộ Bối lặc Trữ Khổng Cách

    Diệp Hách bộ Bối lặc Thái Xử

    Diệp Hách bộ Bối lặc Dương Cát Nỗ

    Hiếu Từ Cao hoàng hậu Mạnh Cổ Triết Triết

    Hậu phi Sửa đổi

    Trong các tài liệu lịch sử ghi lại, ít nhất ông có 15 người vợ:

    Danh hiệu Tên Sinh Chết Cha Ghi chú

    Hiếu Đoan Văn Hoàng hậu Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị

    (孝端文皇后)

    Triết Triết

    (哲哲)

    31 tháng 5 năm 1600 28 tháng 5 năm 1649 Mãng Cổ Tư (莽古思) Thành thân với Hoàng Thái Cực năm 1614;

    Sau khi Hoàng Thái Cực xưng Hoàng đế, được phong Hoàng hậu;

    Trở thành Mẫu hậu Hoàng thái hậu (母后皇太后) khi Thanh Thế Tổ Thuận Trị lên ngôi.

    Sinh hạ 3 vị công chúa: Cố Luân Ôn Trang Trưởng công chúa, Cố Luân Tĩnh Đoan Trưởng công chúa và Cố Luân Vĩnh An Trưởng công chúa.

    Hiếu Trang Văn Hoàng hậu Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị

    (孝莊文皇后)

    Đại Ngọc Nhi

    (大玉儿)

    28 tháng 3 năm 1613 27 tháng 1 năm 1688 Trại Tang (寨桑) Nguyên danh Bố Mộc Bố Thái (布木布泰), cháu gọi Hiếu Đoan Văn Hoàng hậu là cô; kết hôn với Hoàng Thái Cực năm 1625;

    Sau khi Hoàng Thái Cực xưng Hoàng đế, được phong Vĩnh Phúc cung Trang phi (永福宮莊妃);

    Trở thành Thánh mẫu Hoàng thái hậu (聖母皇太后) khi Thanh Thế Tổ Thuận Trị lên ngôi.

    Mẫn Huệ Cung Hòa Nguyên phi Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị

    (敏惠恭和元妃)

    Hải Lan Châu

    (海兰珠)

    11 tháng 11 năm 1609 8 tháng 10 năm 1641 Nguyên danh Cáp Nhật Châu Lạp (哈日珠拉), chị khác mẹ của Hiếu Trang Văn Hoàng hậu;

    Kết hôn Hoàng Thái Cực trong năm 1634;

    Sau khi Hoàng Thái Cực xưng Hoàng đế, được phong Quan Thư cung Thần phi (關睢宮宸妃);

    Sủng phi của Hoàng Thái Cực, sinh hạ Hoàng bát tử nhưng chết yểu.

    Ý Tịnh Đại Quý phi Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị

    (懿靖大贵妃博爾濟吉特氏)

    Na Mộc Chung

    (娜木钟)

    ?

    1674 Thân vương Đa Nhĩ Tế (多爾濟) Chính thất của Lâm Đan Hãn (林丹汗) với danh hiệu Nang Nang Đại phúc tấn (囊囊大福晋).

    Có với Lâm Đan Hãn một con trai tên A Bố Nại (阿布奈);

    Tái giá với Hoàng Thái Cực sau khi quân Mông Cổ đầu hàng;

    Sau khi Hoàng Thái Cực xưng Hoàng đế, được phong Lân Chỉ cung Quý phi (麟趾宫贵妃);

    Sinh hạ Tương thân vương Bác Mục Bác Quả Nhĩ và Cố Luân Đoan Thuận Trưởng công chúa;

    Khang Huệ Thục phi Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị

    (康惠淑妃博爾濟吉特氏)

    Ba Đặc Mã Tảo

    (巴特瑪璪)

    ?

    1667 Tháp bố nang Bác Đệ Tái Sở Hỗ Nhĩ (博第塞楚祜爾) Thiếp của Lâm Đan Hãn (林丹汗); Tái giá với Hoàng Thái Cực sau khi quân Mông Cổ đầu hàng;

    Sau khi Hoàng Thái Cực xưng Hoàng đế, được phong Diễn Khánh cung Thục phi (衍清宮淑妃);

    Nguyên phi Nữu Hỗ Lộc thị

    (元妃钮祜禄氏)

    1593 1612 Ngạch Diệc Đô Trắc thất (側室) đầu tiên của Hoàng Thái Cực

    Kế phi Ô Lạp Nạp Lạt thị

    (继妃乌拉纳喇氏)

    ? ?

    Bối lặc Bác Khách Đa (博客多) Trắc thất thứ hai của Hoàng Thái Cực

    Trắc phi Diệp Hách Nạp Lạt thị

    (側妃葉赫那拉氏)

    ? ? không rõ

    Trắc phi Bác Nhĩ Tế Cáp Đặc thị

    (側妃博爾濟吉特氏)

    ? ?

    Bối lặc Đái Thanh (戴青), nhánh Trát Lỗ Đặc

    Thứ phi Nạt Lạp thị

    (庶妃納喇氏)

    ? ? không rõ

    Thứ phi Cơ Lũy thị

    (庶妃奇壘氏)

    ? ? thuộc Sát Cáp Nhĩ bộ Mông Cổ

    Thứ phi Nhan Trát thị

    (庶妃顏扎氏)

    ? ? không rõ

    Thứ phi Y Nhĩ Căn Giác La thị

    (庶妃伊爾根覺羅氏)

    ? ? không rõ

    Thứ phi (không rõ danh phận) ? ? không rõ

    Thứ phi (không rõ danh phận) ? ? không rõ

    Trong các bà vợ của ông cũng như của những người anh em, có nhiều bà có quan hệ cận huyết với nhau.

    Ngoài yếu tố phong tục của người Mãn Châu, ngoài ra việc hôn nhân này cũng có yếu tố chính trị đối với việc củng cố sự thống trị của Hoàng tộc.

    Người vợ của ông nổi tiếng nhất là Đại Ngọc Nhi, được xưng tụng là "Đệ nhất mỹ nhân" của tộc Mãn-Mông.

    Sau khi lấy ông, Ngọc Nhi được phong làm Trang phi ở tại Vĩnh Phúc cung.

    Bà sinh ra hoàng tử Phúc Lâm sau này là vua Thuận Trị, sau này bà được phong là Hiếu Trang Hoàng thái hậu.

    Tương truyền, bà được cho là có liên quan đối với cái chết của Hoàng Thái Cực vì khi Hoàng Thái Cực chết từng có tin đồn là bà có qua lại với Nhiếp chính vương Đa Nhĩ Cổn.

    Tuy nhiên, đương thời việc chị dâu lấy em chồng đối với tập tục của người Mãn là rất bình thường.[55]

    Hậu duệ Sửa đổi

    Ông có tổng cộng 11 con trai, 14 con gái.

    Trong số 11 hoàng tử của ông chỉ có bảy người sống quá tuổi 16 (trưởng thành), 4 người chết yểu; 13/14 công chúa vượt qua tuổi 16.

    Tính chung tỷ lệ con cái chết yểu là 20%.

    Hoàng nam Sửa đổi

    # Danh hiệu Tên Sinh Mất Mẹ Ghi chú

    1 Túc Vũ Thân vương

    (肃武亲王) Hào Cách

    (豪格) 16 tháng 4 năm 1609 tháng 4 năm 1648 Kế phi Ô Lạp Nạp Lạt thị

    2 không có Lạc Cách

    (洛格) 1611 1621 Kế phi Ô Lạp Nạp Lạt thị Mất sớm

    3 không có Lạc Bác Hội

    (洛博会) 1611 1617 Nguyên phi Nữu Hỗ Lộc thị Mất sớm

    4 Phụ Quốc công

    (辅国公) Diệp Bố Thư

    (叶布舒) 18 tháng 8 năm 1627 22 tháng 9 năm 1690 Thứ phi Nhan Trát thị Có một con trai tên Tô Nhĩ Đăng (苏尔登), được phong Trấn Quốc tướng quân, làm tới chức Tán dật đại thần (散秩大臣)

    5 Thừa Trạch Dụ Thân vương

    (承泽裕亲王) Thạc Tái

    (硕塞) 17 tháng 1 năm 1629 12 tháng 1 năm 1655 Trắc phi Diệp Hách Nạp Lạt thị

    6 Trấn Quốc Khác Hậu công

    (镇国悫厚公) Cao Tái

    (高塞) 16 tháng 2 năm 1637 22 tháng 7 năm 1670 Thứ phi Nạt Lạp thị

    7 Phụ Quốc công

    (辅国公) Thường Thư

    (常舒) 19 tháng 4 năm 1637 25 tháng 12 năm 1699 Thứ phi Y Nhĩ Căn Giác La thị

    8 không có Hoàng bát tử 27 tháng 8 năm 1637 13 tháng 3 năm 1638 Mẫn Huệ Cung Hoà Nguyên phi Rất được Thanh Thái Tông yêu thương nhưng chết yểu

    9 Thanh Thế Tổ Thuận Trị

    (清世祖顺治) Phúc Lâm

    (福临) 15 tháng 3 năm 1638 5 tháng 2 năm 1661 Hiếu Trang Văn Hoàng hậu

    10 Phụ Quốc công

    (辅国公) Thao Tái

    (韬塞) 8 tháng 2 năm 1639 9 tháng 2 năm 1695 Thứ phi (không rõ danh phận)

    11 Tương Chiêu Thân vương

    (襄昭亲王) Bác Mục Bác Quả Nhĩ

    (博穆博果尔) 20 tháng 1 năm 1642 22 tháng 8 năm 1656 Ý Tịnh Đại Quý phi

    Hoàng nữ Sửa đổi

    # Danh hiệu Tên Sinh Mất Mẹ Hôn phu

    1 Cố Luân Ngao Hán Công chúa

    (固倫敖漢公主) 1621 1654 Kế phi Ô Lạp Nạp Lạt thị Năm 1633, thành thân với Quận vương Mông Cổ Ban Đệ (班 第) thuộc tộc Bác Nhĩ Tế Cát Đặc

    2 Cố Luân Ôn Trang Trưởng Công chúa

    (固倫溫莊長公主) Mã Khách Tháp (馬喀塔) 1625 1663 Hiếu Đoan Văn Hoàng hậu Năm 1635, thành thân với Ngạch Triết (額哲), con của Lâm Đan - hãn của Sát Kha Nhĩ bộ, Mông Cổ;

    Năm 1661, Ngạch Triết qua đời, Mã Khách Tháp tái giá với em chồng là A Bố Nại (阿布奈)

    3 Cố Luân Tĩnh Đoan Trưởng Công chúa

    (固倫靖端長公主) 1628 1686 Hiếu Đoan Văn Hoàng hậu Năm 1639, thành thân với Kì Tháp Đặc (奇塔特) thuộc Khoa Nhĩ Thấm bộ

    4 Cố Luân Ung Mục Trưởng Công chúa

    (固倫雍穆長公主) Nhã Đồ (雅圖) 1629 1678 Hiếu Trang Văn Hoàng hậu Năm 1641, thành thân với anh họ là Bật Nhĩ Tháp Cáp Nhĩ (弼爾塔哈爾) thuộc Khoa Nhĩ Thấm bộ

    5 Cố Luân Thục Tuệ Trưởng Công chúa

    (固倫淑慧長公主) A Đồ (阿圖) 1632 1700 Hiếu Trang Văn Hoàng hậu Đầu tiên thành thân với Tác Nhĩ Cáp (索爾哈) thuộc Chính Hoàng Kì của Mãn Châu;

    Năm 1648 tái giá với Sắc Bố Đằng (色布騰) thuộc Ba Lâm bộ

    6 Cố Luân công chúa

    (固倫公主) 1633 1649 Trắc phi Bác Nhĩ Tế Cáp Đặc thị Năm 1644, thành thân với Khoa Trát (夸札) thuộc tộc Mãn Châu

    7 Cố Luân Thục Triết Trưởng Công chúa

    (固倫淑哲長公主) 1633 1648 Hiếu Trang Văn Hoàng hậu Năm 1645, thành thân với Lạt Mã Tư (喇瑪思) thuộc Tương Hoàng Kì của Mãn Châu

    8 Cố Luân Vĩnh An Trưởng Công chúa

    (固倫永安長公主) 1634 1692 Hiếu Đoan Văn Hoàng hậu Năm 1645, thành thân với vương tử Ba Nhã Tư Hộ Lãng (巴雅斯護朗), con của Tạ Đồ - hãn của Khoa Nhĩ Thẩm bộ

    9 không có 1635 1652 Trắc phi Bác Nhĩ Tế Cáp Đặc thị Năm 1648, thành thân với Cáp Thượng (哈尚) thuộc tộc Bác Nhĩ Tế Cát Đặc

    10 Hương quân

    (鄉君) 1635 1661 Thứ phi Nạt Lạp thị Năm 1651, thành thân với Huy Tái (輝塞) thuộc tộc Qua Nhĩ Giai

    11 Cố Luân Đoan Thuận Trưởng công chúa

    (固倫端順長公主) 1636 1650 Ý Tịnh Đại Quý phi Năm 1647, thành thân với Cát Nhĩ Mã Tác Nặc Mộc (噶爾瑪索諾木) thuộc tộc Bác Nhĩ Tế Cát Đặc

    12 Hương quân

    (鄉君) 1637 1678 Thứ phi (không rõ danh phận) Năm 1651, thành thân với Thị lang Lý phiên viện là Ban Đệ (班第) thuộc tộc Bác Nhĩ Tế Cát Đặc

    13 không có 1638 1657 Thứ phi Nạt Lạp thị Năm 1652, thành thân với Cáp Lạp (哈拉) thuộc tộc Qua Nhĩ Giai

    14 Hoà Thạc Khác Thuần Trưởng Công chúa

    (和碩恪純長公主) 1641 1704 Thứ phi Cơ Lũy thị Còn được gọi là Hoà Thạc Kiến Ninh Trưởng Công chúa (和硕建宁长公主);

    Năm 1653, thành thân với Ngô Ứng Hùng, con trai của Bình Tây vương Ngô Tam Quế;

    Là công chúa nhà Thanh duy nhất thành hôn với người Hán
     
    Back
    Top Dưới