Cập nhật mới

Khác BÌNH MINH ĐẠI VIỆT

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
396811210-256-k204619.jpg

Bình Minh Đại Việt
Tác giả: HngngNgc900
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Tiểu thuyết lịch sử



dangngochung​
 
Bình Minh Đại Việt
Chương 1: Người lái trâu


Một ngày đầu thu năm 936, ánh nắng cuối chiều như trải một lớp mật vàng óng xuống khắp cõi nhân gian.

Những cơn gió thoảng liên tục khiến mặt sông gợn sóng, lớp lớp xô bờ phát ra những tiếng ì oạp.

Ở bến Chợ Gạo, thuyền bè của các đám lái buôn đang ra vào tấp nập, giọng người cười nói xôn xao.

Từ phía thượng nguồn, một dãy các mảng bè lớn đang nối nhau xuôi dòng Lô Giang về phía ngã ba Bạch Hạc.

Dẫn đầu dãy bè là một chiếc thuyền khá lớn, có sáu người chèo.

Các bè phía sau, chở đầy theo những trâu, nghé.

Bầy trâu, nghé được cột thành hai dãy, châu đầu vào lối đi ở chính giữa.

Lúc này, trên khoang thuyền lớn có hai người đàn ông, mình trần trùng trục, đang đứng nói chuyện với nhau.

Người trung niên ngước mắt nhìn đoạn bờ trước mặt nói:

- Sắp đến bến Chợ Gạo rồi đấy!

Cho bè cập bờ đi…

Gia nhân khẽ dạ rồi quay sang giục mấy tay phu chèo:

- Chúng bay cho bè cập bờ đi.

Gia nhân quay lại nhìn chủ nhân hỏi:

- Ông chủ đi có lâu không ạ?

- Chắc cũng phải vài ba hôm...

Chúng mày cứ đợi ở bến, hễ khi nào tao quay lại thì sẽ xuôi ngay.

- Vậy ông chủ có cần người theo hầu không?

- Không cần…

Gia nhân tỏ vẻ lo lắng:

- Ông chủ không sợ…

- Bay không phải lo đâu!

- Ông chủ trấn an gia nhân rồi hỏi lại - Thế đã nhớ hết lời tao dặn chưa?

- Chúng tôi nhớ hết rồi thưa ông chủ!

- Nhớ phải mua đồ ăn cho đủ một tuần đấy nhé!

- Vâng!

Chúng tôi biết rồi!

- Cẩn thận vì nước hơi xiết đấy…!

- Ông chủ đưa mắt nhìn xuống dòng nước chảy cạnh mép thuyền - Để ta vào mặc áo.

Thuyền vừa chạm bờ, đám phu chèo nhanh chóng chia nhau mỗi người một việc vẻ rất thành thạo.

Trong chốc lát, chiếc thuyền cũng cả dãy bè đã lần lượt áp sát bờ sông.

Các phu bè, tay cầm dây chão, nhảy phốc lên bờ, nhanh tay buộc dây vào các cọc hãm.

Ông chủ lúc này đã thay đổi y phục, ra dáng là một khách buôn giàu có, khom người chui từ trong khoang thuyền ra.

Trước khi bước chân xuống cầu ván, ông chủ như chợt nhớ ra một điều gì đó bèn quay lại nhắc tên gia nhân thân tín:

- Ngươi nhớ phải cắt cử người trông coi đàn trâu, nghé cho cẩn thận đấy!

- Ông chủ cứ yên tâm!

- Tên gia nhân nói - Chúng tôi không dám sao nhãng!

- Thì ta cứ nhắc thế không thừa…

Lần này ta mua được ít quá, đừng để chết hoặc mất mát con nào đấy!

- Vâng!

Tôi biết rồi!

- Thôi ta đi đây!

- Vâng!

Chào ông chủ!

---

Kiều Công Toản là một người đàn ông trạc ngoài bốn mươi, dáng người thấp lùn nhưng to béo ục ịch.

Công Toản chính là em trai của quan Thứ sử Phong Châu là Kiều Công Tiễn.

Kiều Công Tiễn vừa là bạn, vừa là anh em kết nghĩa và cũng vừa là thông gia với Tiết độ sứ(1) Tĩnh Hải quân,(2) Dương Đình Nghệ.

Vì có mối thân tình như vậy nên ngay sau khi Đình Nghệ đánh đuổi được Thứ sử Giao Châu là Lý Tiến về Bắc quốc, ông đã tin tưởng giao cho Kiều Công Tiễn giữ chức Thứ sử Phong Châu.

Mấy năm qua, Công Toản nhờ uy danh người anh trai nên cũng nhanh chóng gây dựng được thế lực, uy danh khắp vùng.

Tối hôm đó, Công Toản vừa ăn cơm tối xong, đang ngồi uống nước bên bếp lửa thì có gia nhân chạy chạy vào bẩm báo:

- Thưa ông chủ!

Có người muốn xin vào gặp.

Công Toản hơi bất ngờ khi nghe nói có khách xin gặp vào lúc tối muộn như vậy bèn hỏi:

- Ai vậy?

- Là người lái trâu.

- Lái trâu à! – Công Toản tỏ vẻ mừng rỡ - Mau mời ông ta vào!

Gia nhân khẽ dạ rồi cúi người quay ra.

Công Toản cũng đứng dậy sắp sửa đón khách.

Một lát sau, gia nhân đã quay lại, dẫn theo người khách.

Người lái trâu vừa thấy Công Toản, vội chắp hai tay, cất giọng chào:

- Xin chào ông Công Toản!

Ông dạo này có khỏe không?

- Chào ông Lý Huê!

- Công Toản vừa đưa tay ra hiệu mời khách ngồi vừa hỏi vẻ trách móc - Dạo này ông Lý Huê tự lo được mối làm ăn rồi nên không cần nhờ vả đến tôi nữa có phải không?

- Xin ông chớ có trách lầm tôi như vậy!

- Người khách vừa ngồi vừa phân trần - Quả thực dạo này việc tìm mua trâu với nghé ở đất Phong Châu của ông khó quá!

Chúng tôi phải tìm đến những nơi khác xa xôi hơn…

Công Toản nghe gã lái trâu nói vậy thì hỏi:

- Vậy bữa nay ông Lý Huê còn quay lại đây làm gì nữa?

- Chúng tôi dẫu không mua trâu qua mối của ông nữa song vẫn không bao giờ quên công ơn mà ông đã giúp đỡ trước đây.

Bữa nay, nhân đánh bè nghé mới gom được ở miền thượng xuôi qua đây, tôi vội tìm đến ông để có lời chào… và nhân tiện cũng muốn nhờ ông giúp cho một việc…

Chiếc mũi thính của Công Toản có vẻ đã đánh hơi thấy mùi tiền bạc khiến ông ta nhổm hẳn người dậy hỏi:

- Là việc gì vậy?

- Xin ông hãy nói giúp cho tôi được gặp mặt quan Thứ sử Phong Châu một buổi…

Công Toản nghe nói vậy thì nửa giận dỗi nửa tò mò:

- Có việc quan trọng gì mà ta không thể giải quyết được, phải đến gặp anh ta như vậy?

- Chả là thế này…!

- Gã lái trâu nhìn thẳng vào mắt gia chủ nói - Ông biết đấy!

Tôi vốn là người gốc Phong Châu đây, do thời thế loạn lạc nên phải tha hương cầu thực, nhưng lòng lúc nào cũng luôn hướng về cố hương.

Mấy năm qua, nhờ có ông giúp đỡ nên tôi cũng kiếm được một món lời kha khá.

Nay tôi muốn hằng tâm hằng sản, bớt ra một chút lộc lá để tu sửa lại một số ngôi đền thờ các vị thành hoàng ở trên đất Phong Châu ta.

Song trước khi tu sửa các ngôi đền thờ ở các nơi khác, tôi muốn phải tu sửa ngôi đền thờ tổ Hùng vương trước đã.

Lí do vì Hùng vương chính là ông tổ của tất cả các thành hoàng làng khác trên mảnh đất Phong Châu ta...

Nhưng mà ngôi đền thờ tổ Hùng vương lại là ngôi đền rất đặc biệt nên tôi trộm nghĩ, dẫu ông Công Toản đây có sẵn lòng giúp đỡ thì cũng không nên tự tiện quyết đoán mà phải xin phép quan Thứ sử trước đã.

Vậy xin nhờ ông hãy nói giúp cho tôi được gặp quan Thứ sử để trình bày rõ ra việc này!

- Ông nói đúng!

- Công Toản gật gù đồng tình - Việc này đúng là ta không thể tự tiện quyết định cho được...

Nhưng ta cũng không chắc anh ta có đồng ý hay không nữa…

- Chính vì vậy nên tôi muốn nhờ ông…

Xin ông hãy nói giúp cho mấy lời!

- Người khách nói đến đây thì đưa tay lấy trong người ra một bọc nhỏ rồi dúi vào tay Công Toản - Tôi có chút quà mọn, xin ông Công Toản vui lòng nhận giúp cho…!

Công Toản tay đón nhận bọc quà, mắt vẫn nhìn vào gã lái trâu hỏi:

- Cái gì đây?

- Dạ… có hai chục lạng vàng…

Đây là tôi gửi biếu riêng ông…

- Thôi được rồi!

- Công Toản cất nhanh gói vàng vào trong người rồi nói - Để ta nói trước với anh ta xem sao…

Gã lái trâu vội ngắt lời:

- Xin ông nói ngay giúp cho…

- Ờ…!

Vậy để ta đi ngay!

Ông Lý Huê cứ đợi đây chờ tin…

- Vâng!

Thế thì tốt quá!

Công Toản sai gia nhân lo cơm nước cho người khách rồi vội khoác áo tìm đến gia phủ của quan Thứ sử Phong Châu.

---

Thứ sử Phong Châu Kiều Công Tiễn cùng phu nhân đang ngồi uống nước bên bếp lửa đặt giữa nhà thì nghe có tiếng chó sủa ran từ ngoài ngõ.

Một lúc sau thì có tiếng chân người bước lên bậc cầu thang.

Nghe tiếng bước chân nặng chịch, Công Tiễn đã nhận biết ngay đó là ai nên cất giọng hỏi với ra:

- Chú Công Toản đấy hả…?

Công Toản chưa vào hẳn trong nhà đã cất giọng oang oang:

- Anh chị ăn cơm tối chưa?

- Anh chị vừa ăn xong…

- Phu nhân quan Thứ sử đứng dậy vồn vã - Chú vào uống nước với anh đi!

Công Toản bước vào nhà, đến ngồi xuống bên cạnh người anh trai.

Công Tiễn vừa rót nước ra bát vừa nói:

- Nước vối mới hãm đấy!

Chú uống đi!

Công Toản đưa tay nâng bát nước lên uống một hơi rồi mới buông bát xuống hỏi:

- Vợ chồng thằng Công Chuẩn có tin tức gì không anh?

- Cũng lâu lâu không thấy chúng nó cho con về… chắc cũng bận nhiều việc…

- Công Tiễn đáp lời rồi hỏi lại - Thế chú qua tôi chơi hay có việc gì vậy?

Công Toản lúc này mới thủ thỉ:

- Có một người lái trâu giàu có, vốn người gốc gác ở Phong Châu ta đây.

Nay anh ta muốn bỏ tiền ra để tu sửa ngôi đền thờ tổ Hùng vương trên đỉnh Lĩnh Sơn.

Việc này tối quan trọng nên tôi muốn đến hỏi ý kiến anh xem có nên nhận lời anh ta hay không…

- Người lái trâu… – Công Tiễn chau mày - Là ai vậy?

- Anh ta là… là một người quen biết với tôi từ mấy năm nay, tên là…

Lý Huê…

Thấy Công Toản có vẻ ấp úng Công Tiễn hỏi tiếp:

- Quen biết như thế nào?

- Thì quen biết qua làm ăn buôn bán thôi mà!

Anh ta là một khách buôn lớn, buôn bán đủ loại hàng hóa giữa miền xuôi và miền ngược.

Món hàng mà anh ta buôn nhiều nhất chính là trâu và nghé.

Công Tiễn nghe em trai nói vậy thì gật gù:

- Việc tu sửa ngôi đền thờ tổ Hùng vương tôi cũng đã có nghĩ đến, song vẫn còn đang phân vân do chưa biết lấy kinh phí ở đâu.

Nay có người hằng tâm hằng sản tự nguyện phát tâm mở lòng như vậy thì đúng là quá tốt.

Thế ý chú thế nào?

Công Toản không cần suy nghĩ, nói luôn:

- Ngôi đền thờ tổ Hùng vương đúng là đang bị cũ nát, hư hỏng nghiêm trọng, rất cần kíp phải tu sửa song không có kinh phí.

Bây giờ lại có mạnh thường quân tình nguyện phát tâm tu sửa thì tốt quá!

Xin anh hãy quyết cho ông ta được toại tâm mà làm việc đó.

Ông ta hứa là sẽ chu cấp đầy đủ kinh phí tất tần tật từ tre, gỗ, mây, lạt… và cả công thợ nữa...

- Ta cũng nghĩ vậy…

- Công Tiễn gật gù - Song trước khi trả lời đồng ý hay không ta vẫn cần phải biết anh ta làm việc đó vì mục đích gì đã.

Chú cứ bảo anh ta đến đây cho tôi gặp để hỏi rõ nguyên do rồi quyết định sau cũng chưa muộn.

- Anh nói vậy cũng phải!

- Vậy hiện giờ anh ta đang ở đâu?

- Dạ…!

Hiện đang nghỉ ở nhà tôi!

Để tôi về gọi anh ta đến đây cho anh gặp và hỏi chuyện luôn thể...

---

Công Toản lại lật đật quay về nhà để gọi người khách cùng mình đi đến nhà quan Thứ sử Phong Châu.

Một lúc sau, hai người đã có mặt ở nhà ông Công Tiễn.

Sau khi hai bên chào hỏi nhau, Công Tiễn mời hai người ngồi xuống rồi nhìn người khách lạ hỏi:

- Ông là Lý Huê à?

Người khách lễ phép đáp:

- Vâng!

Công Tiễn hỏi tiếp:

- Ta nghe em trai ta đây nói là ông muốn bỏ tiền ra để công đức, tu sửa ngôi đền thờ tổ Hùng vương trên đỉnh Lĩnh Sơn có đúng không?

- Dạ đúng vậy thưa quan Thứ sử!

- Ông có lòng tốt quá…!

Thế ông có biết để làm được việc đó thì phải cần đến rất nhiều vàng bạc không?

- Thưa quan Thứ sử!

- Người khách không cần suy nghĩ nói ngay - Tôi biết là rất tốn kém song vẫn hứa sẽ công đức đầy đủ để tu sửa cả ba ngôi đền Thượng, Trung, Hạ luôn một thể ạ…

- Vậy tôi có thể được biết lý do tại sao ông lại chịu bỏ ra một số lượng vàng bạc lớn như vậy để làm việc này không?

- Thưa quan Thứ sử!

- Người khách cất giọng từ tốn nhưng nghiêm nghị - Tôi xin mạo phạm nói ra tâm sự của mình, mong quan Thứ sử không trách cứ…

- Ông cứ nói đi, ta nghe!

Người khách dường như đã có chuẩn bị sẵn nên nói luôn ra một tràng:

- Tôi làm nghề lái trâu nên có dịp đi qua rất nhiều châu, huyện trên đất Giao Châu ta.

Quả thực là có đi nhiều nên tôi mới biết là không có châu huyện nào mà đất đai lại phì nhiêu, ruộng đồng tươi tốt, thóc lúa luôn đầy bồ, bốn mùa no đủ, lễ hội quanh năm suốt tháng như đất Phong Châu ta đây...

Vậy mà tôi vẫn không hiểu tại sao đã qua bao đời, kể từ khi nhà Hùng đứt mạch đế vương đến nay, đất Phong Châu ta vẫn không có ai có thể nối nghiệp nhà Hùng để làm thủ lĩnh của đất Giao Châu.

Chỉ thấy toàn là những người có gốc gác ở các vùng biên viễn xa xôi như Hoan Châu, Ái Châu, Đường Lâm châu về làm chủ thành Đại La, cai quản đất Giao Châu thôi…

Ông Công Toản ngồi nghe cũng gật đầu liên tục, đến khi khách vừa nói đến đây thì chợt buột miệng nói ra:

- Đúng là như vậy!

Tôi cũng tự thấy người Phong Châu ta đâu có tài hèn sức kém hơn ai?

Vậy tại sao chúng ta là người sống trên đất tổ, nơi phát tích của nhà Hùng khi xưa mà lại không thể nối chí, khôi phục được nghiệp lớn của tổ tiên?

Công Tiễn nghe vậy vội trừng mắt gạt đi:

- Chú vừa nói cái gì vậy…?

Để yên nghe Lý Huê nói tiếp đã nào!

- Thưa quan Thứ sử!

- Người khách nhìn Công Tiễn nói tiếp - Vừa rồi tôi mới có dịp ghé qua ngôi đình thờ các tổ Hùng vương trên đỉnh Lĩnh Sơn thì thấy cảnh vật hoang tàn đổ nát, bài vị bụi mờ không đọc được chữ, cảnh quan buồn tẻ dường như không có bàn tay người chăm sóc...

Nhìn đến cảnh đó, tôi trộm nghĩ, có thể đó chính là nguyên nhân mà bao năm qua người Phong Châu ta không thể ngóc đầu lên được…

Công Tiễn lúc này mới nói:

- Ngôi đền này bị giặc Nam Chiếu đốt phá khi chúng sang chiếm đất Giao Châu ta.

Khi nhà Đường sang đô hộ thì quan trấn trị khi đó là Cao Biền cũng đã cho tu sửa lại một lần.

Sau đó thì nhà Đường lâm vào cảnh suy vi, không còn có kinh phí để duy tu nên đền mới bị hư hỏng nhanh đến như vậy.

Thực ra thì ta cũng đã biết đến tình cảnh điêu tàn của ngôi đền thờ tổ Hùng vương, song nếu chỉ sửa qua loa cho có thì chẳng đáng làm, mà sửa cho đàng hoàng thì lại không lấy đâu ra kinh phí.

Ta cũng đã xin Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ cấp phát cho ít bạc nhưng ông ấy trả lời là hiện nay không có kinh phí cho những việc đó...

Công Toản nghe anh trai nói vậy thì xen vào, giọng lộ rõ sự bức xúc:

- Nếu có thì ông ấy cũng chẳng cấp cho chúng ta đâu!

Vậy nên anh đừng có mà trông cậy gì vào ông ấy!

Công Tiễn quay sang nhìn em hỏi:

- Sao chú lại nói vậy?

- Tôi nói không đúng à?

- Công Toản cự lại - Nếu có tích trữ được chút vàng bạc nào thì ông ấy cũng cho chuyển về cất giấu ở Ái Châu hết rồi, còn đâu mà cấp phát cho chúng ta nữa…

Công Tiễn gạt đi:

- Làm gì có chuyện đó!

- Anh ngây thơ quá!

- Công Toản có vẻ giữ bức xúc trong người lâu ngày đến hôm nay mới có cơ hội để được nói ra - Vậy anh thử nghĩ xem!

Ông ta ngồi ở Đại La nhưng có giúp gì được cho chúng ta không?

Ngày trước, người Phong Châu chúng ta đã phải đổ biết bao xương máu để đưa ông ta từ Ái Châu xa xôi về làm chủ thành Đại La.

Vậy mà bây giờ, ông ta thì ngồi chễm trệ ở Đại La, còn chúng ta thì sao…?

Hoàn cảnh chúng ta bây giờ cũng chẳng khác gì thời nhà Hán, nhà Lương cắt người sang làm Đô hộ phủ cả.

Đến như nhà Tùy, nhà Đường trước kia, mỗi năm còn giúp cho ít kinh phí để tu sửa đền thờ Hùng vương.

Dương Đình Nghệ kia thì sao?

Chẳng thấy giúp cho ta được gì cả.

Đã thế lại còn yêu cầu các đồ cống tiến mỗi năm một nhiều thêm...

Năm nay anh có biết Phong Châu ta phải cống tiến về Đại La bao nhiêu con cá Anh Vũ không…?

Một trăm con đấy…!

Để có được số cá Anh Vũ đó thì hàng chục trai đinh đã phải bỏ mạng dưới các hang ngầm, vực sâu đấy anh có biết không?

Công Tiễn cất giọng buồn bã:

- Tôi cũng có biết việc đó, song chắc đó chỉ là do đám bộ hạ bên dưới, cáo mượn oai hùm mà làm càn thôi chứ không phải chủ ý của ông ấy…

Công Toản ngắt lời:

- Anh đừng có vì nể tình thông gia mà cố tình bao biện cho ông ta...

Thượng có bất chính thì hạ mới tắc loạn!

Ông ta mà không ngó lơ cho đám bộ sậu hỗn hào kia thì bố bảo có thằng nào dám làm láo như thế chứ…

- Thôi không cần phải tranh cãi việc đó nữa!

- Công Tiễn thấy tranh luận trước mặt khách lạ là không hay nên vội chuyển đề tài - Thế chú có định bàn việc tu sửa ngôi đền thờ tổ Hùng vương nữa không đấy?

- Thưa quan Thứ sử!

- Người khách nghe vậy thì lại vội nói - Đúng ra việc quan hệ giữa Đại La với Phong Châu ta là việc đại sự và tôi không được phép lạm bàn.

Song vì nãy giờ trót nghe hai ông tranh luận nên cũng mạo muội xin phép có đôi điều được giãi bày… nếu ông cho phép ạ…?

Công Tiễn suy nghĩ một lát thì tỏ vẻ đồng tình:

- Được!

Ông có gì muốn nói thì mau nói đi!

- Thưa ông!

Những điều mà ông Công Toản vừa nói ra tuy có hơi chướng tai thật nhưng cũng có phần rất đúng…!

Tổ Hùng vương được coi là ông tổ của người Giao Châu nên lẽ ra ngôi đền thờ Hùng vương phải được tu sửa từ lâu rồi mới phải.

Đến ngay như Cao vương(3) xưa kia, vốn là người từ Phương Bắc sang, còn biết nghĩ đến việc xuất bạc vàng ra để tu sửa cả ba ngôi đền Thượng, Trung, Hạ.

Ông Dương Đình Nghệ kia, đường đường là người Giao Châu ta, vậy hà cớ tại sao lại không cho làm một việc hợp lý hợp tình đó?

Tính từ khi ông ấy về làm chủ Đại La đến nay cũng đã được gần sáu năm rồi chứ có ít ỏi gì…

Công Tiễn nghe vậy thì vội nói:

- Có lẽ ông ấy là người vô thần, vô thánh nên không quan tâm đến việc tâm linh chứ không phải là thiên vị chỗ nọ chỗ kia…

Lý Huê tỏ vẻ không đồng tình:

- Không phải như vậy!

Tôi đi qua rất nhiều nơi nên biết chắc một điều, ông ta không phải là người vô thần vô thánh.

Sở dĩ tôi dám khẳng định chắc chắn như vậy là vì tôi biết ông ấy vẫn cho xuất vàng bạc ra để tu sửa các ngôi đền thờ cũ, xây dựng nhiều ngôi đền thờ mới...

Chỉ có điều là các ngôi đền thờ đó đều ở trong mạn Ái Châu, là quê gốc của ông ấy thôi...

Xin quan Thứ sử chớ nghi ngờ những lời tôi vừa nói!

Nếu quan Thứ sử không tin thì cứ cho người đi vào trong đó một lần để mà dò xét.

Nếu tôi có nói sai nửa lời thì xin bị trời tru đất diệt…!

Trong lúc Công Tiễn còn chưa biết nói gì thì Công Toản lại nói xen vào:

- Lý Huê nói đúng đấy!

Tôi còn nghe dân buôn đồn ầm lên rằng, ông ấy không muốn tu sửa ngôi đền thờ tổ Hùng vương ở đây chỉ vì lo sợ người Phong Châu ta được các tổ phù hộ độ trì rồi sẽ được hùng mạnh hơn người họ Dương.

- Thưa quan Thứ sử!

- Lý Huê lại nói tiếp - Việc tu sửa ngôi đền thờ tổ Hùng vương là việc lớn song nếu chúng ta đã có tâm nguyện thì nó lại trở thành việc nhỏ.

Việc này chúng ta không nhất thiết phải trông chờ vào ngài Tiết độ sứ ở Đại La đứng ra giải quyết mà vẫn có thể tự đứng ra làm được.

Vừa nãy tôi cũng đã nói hết tâm nguyện của mình, xin quan Thứ sử cho tôi được toại nguyện phát tâm đứng ra để làm việc này…?

Công Tiễn không đáp mà vẫn ngồi trầm ngâm, đăm chiêu nhìn những ngọn lửa đang nhảy múa trước mắt.

Công Toản thấy vậy thì nghĩ anh trai mình vẫn còn đang e sợ một điều gì đó bèn nói thêm:

- Anh à…!

Dân chúng Phong Châu bao lâu nay vẫn mong mỏi có ngày được nhìn thấy ngôi đền thờ tổ được sửa chữa khang trang và to đẹp hơn.

Vậy hôm nay, dẫu bụng anh không muốn thì cũng hãy nghĩ đến tâm nguyện của người dân Phong Châu ta một lần đi…!

Việc này có ảnh hưởng gì đâu chứ…?

- Thôi được…!

Tôi đồng ý…!

- Công Tiễn đột nhiên gật đầu rồi quay sang nhìn Lý Huê nói - Việc này ta giao cho chú Công Toản, là em ta đây sẽ thay mặt ta lo liệu toàn bộ mọi việc.

Có gì ông Lý Huê cứ bàn bạc chi tiết với Công Toản nhé!

Vị khách nghe vậy thì tỏ vẻ mừng rỡ:

- Xin đa tạ quan Thứ sử!
 
Bình Minh Đại Việt
Chương 2: Cao Biền trấn phù bia


Nghe tin có người hằng tâm hằng sản, bỏ tiền ra sửa ngôi đền thờ tổ Hùng vương trên đỉnh Lĩnh Sơn, tất thảy mọi người dân Phong Châu đều lấy làm mừng rỡ.

Dẫu không ai sai khiến, họ tự động rủ nhau kéo đến rồi lại tự chia nhau đi giúp việc cho các cánh thợ.

Đám bà già, con nít không làm được việc nặng nhọc thì phục vụ việc nước nôi, cơm canh.

Hôm đó, đúng khi đang chính buổi làm thì có một biến cố xảy ra khiến mọi người vô cùng hoang mang.

Ấy là khi đám thợ mộc vừa tháo dỡ ban thờ chính trong ngôi đền Thượng ra để tôn nền cao thêm thì phát hiện một vết lún sụt lớn.

Ban đầu đám thợ không ai để ý đến hố sụt đó, song khi một người thợ vô tình xéo lên thì cả lớp đất mỏng bên trên bị sụp hẳn xuống, để lộ ra một hố sâu bên dưới.

Ánh nắng mặt trời chiếu thẳng khiến người thợ có thể nhìn rõ bên trong hố có một hòn đá ngũ sắc nhô lên lấp ló.

Người thợ tò mò ngồi xuống, đưa tay gạt lớp đất bám xung quanh cho miệng hố sụt rộng thêm ra thì thấy hòn đá ngũ sắc kia giống như hình một tấm bia đá, anh ta vội cất giọng vẻ hốt hoảng:

- Mọi người ơi...!

Mau đến mà nom này!

- Cái gì vậy?

- Không rõ... hình như bia đá...

Đám đông xung quanh nhanh chóng tụ lại.

Mấy người vội bảo nhau đào lên để xem vật lạ kia là gì.

Khi hố đào rộng hẳn ra, một tấm bia đá đã phát lộ ngay trước mắt mọi người.

Ngay khi đó, mấy con chó đang nằm ngáp ruồi chợt ngẩng đầu lên, hít mũi đánh hơi rồi chạy xồ đến, châu đầu về phía tấm bia đá kia rồi thi nhau sủa.

Cả đàn chó gần chục con cùng thi nhau sủa làm váng động cả đất trời.

Nhưng có một điều lạ là tuy sủa như vậy song tuyệt nhiên không có một con chó nào dám mon men đến gần tấm bia đá kia.

Thấy đàn chó nhà có hành động lạ như vậy, đám đông ai nấy đều lộ rõ vẻ sợ hãi, không dám lại gần.

Mọi người cứ đứng sau lưng đàn chó, đưa mắt nhìn nhau bàn tán:

- Hãi quá cơ...

- Cái gì thế nhỉ...

- Bia gì mà chó cũng sợ thế không biết...?

- ...

Sự việc nhanh chóng được cấp báo lên người phụ trách việc tu sửa ngôi đền là ông Công Toản.

Ông Công Toản hay tin, vội vàng chạy đến để xem xét thực hư.

Sau khi ngó nghiêng một lúc, chẳng biết đó là bia gì mà chỉ thấy lấm lem bẩn thỉu, ông Công Toản bèn tự tay thắp mấy nén hương, miệng lầm rầm khấn vái để xin phép các thần linh được thỉnh rời tấm bia đá kia đi cọ rửa cho sạch sẽ.

Tấm bia đá cũng không to lắm nên ngay khi được lệnh, đám thợ vội xúm tay vào khênh ra ngoài rồi lại xách nước đến để cọ rửa.

Sau khi cọ rửa xong, đám thợ lui ra để mời ông Công Toản đến xem xét.

Lúc này, có thể nhìn thấy ở mặt trước tấm bia có năm chữ lớn.

Công Toản không biết chữ nên không biết đó là những chữ gì bèn quay qua hỏi mọi người đang đứng vây xung quanh:

- Có ai biết đọc chữ của người phương Bắc không?

Một người trẻ, đứng trong đám thợ mộc, ngập ngừng thưa:

- Tôi có biết mấy chữ...

- Mày biết...?

- Công Toản nhìn người thợ mộc trẻ măng tỏ vẻ nghi ngờ song vẫn giục - Thế thì thử đọc lên xem bia chữ viết gì?

Người trẻ kia tiến đến gần, đưa mắt chăm chú nhìn thật kỹ mấy chữ khắc trên mặt tấm bia, chỉ thấy miệng anh ta mấp máy, nét mặt chợt tái đi vẻ hoảng hốt rồi chỉ đưa mắt nhìn ông Công Toản mà không dám nói ra.

Công Toản phải giục hỏi:

- Chữ gì vậy?

Người trẻ ấp úng mãi mới phát ra thành lời:

- Tôi... tôi...

đọc... thấy mấy chữ này viết là... là...

TRIỆT ĐỨT MẠCH HÙNG VƯƠNG...

- Cái gì...?

- Công Toản hốt hoảng rồi tỏ vẻ nghi ngờ hỏi lại - Mày có đọc sai không đấy?

Người thợ trẻ kia sau khi đã phát được ra thành tiếng thì cũng đã có vẻ bình tâm trở lại, anh ta nhìn Công Toản nói:

- Tôi làm thợ mộc nên có biết ít chữ của người phương Bắc.

Mấy chữ này lại khá sắc nét nên chắc chắn không thể nào mà nhầm lẫn được!

- Ối chao ôi...!

- Công Toản mặt tái mét giọng hớt hải - Dừng hết mọi việc lại cho tao!

Nghe người thợ mộc khẳng định chắc nịch như vậy khiến Công Toản thất kinh, vội cho tất cả đám thợ nghỉ hết rồi vừa cắt cử người canh giữ tấm bia cẩn thận vừa cho người đi gọi quan Thứ sử Phong Châu đến gấp.

Công Tiễn ngay khi nghe tin cũng lo sợ không kém, vội vàng cùng đám gia nhân lên đỉnh Lĩnh Sơn.

Đến nơi, Công Tiễn chạy ngay đến chỗ tấm bia đá kia để xem xét.

Do cũng biết đọc được ít chữ Hán, Công Tiễn đưa mắt nhìn chăm chú vào mặt bia đá, miệng lẩm nhẩm:

- TRIỆT ĐỨT MẠCH HÙNG VƯƠNG.

Công Tiễn đọc xong cũng không hiểu gì bèn quay sang hỏi em trai:

- Thế có nghĩa là gì?

- Tôi cũng không biết!

- Công Toản lắc đầu - Tôi cũng vừa cho gọi một người này tới để xem anh ta có biết mấy chữ này có nghĩa là gì không...

- Ai vậy?

- Đó là Hoa Lâm tiên sinh!

- Tiên sinh tới chưa?

- Chắc cũng sắp tới...

Một lát sau, Hoa Lâm tiên sinh cũng đến nơi.

Thấy Công Tiễn, Hoa Lâm vội lên tiếng chào trước:

- Kính chào quan Thứ sử!

- Chào tiên sinh!

- Công Tiễn chào Hoa Lâm tiên sinh rồi vội chỉ vào tấm bia đá hỏi - Tiên sinh nom xem mấy chữ này có nghĩa là gì?

- Vâng!

Để tôi nom qua cái đã...

Hoa Lâm tiên sinh bước đến gần rồi đưa mắt đọc dòng chữ khắc trên mặt tấm bia đá.

- TRIỆT ĐỨT MẠCH HÙNG VƯƠNG.

Hoa Lâm vừa đọc xong, khuôn mặt bỗng biến sắc, lộ vẻ sợ hãi, miệng kêu lên:

- Ối chao ơi!

Ai... ai mà dám làm việc tày trời như thế này chứ...?

Mọi người nghe vậy thì ai nấy càng thêm phần lo lắng, hoảng sợ.

Công Tiễn vội bước đến cạnh Hoa Lâm tiên sinh hỏi nhỏ:

- Tiên sinh... là sao vậy?

Hoa Lâm tiên sinh có vẻ đã bình tĩnh trở lại:

- Để tôi nom kỹ đã...

đây rồi...

Các ông nom này!

- Hoa Lâm tiên sinh đưa tay chỉ vào mấy chữ nhỏ, khắc ở dưới đế bia - Ở đây có khắc thêm mấy chữ là...

CAO BIỀN TRẤN PHÙ BIA...

Chẳng lẽ đây là bia trấn yểm của Cao Biền...?

Công Tiễn không tin vào tai mình nên hỏi lại:

- Tiên sinh nói bùa trấn yểm là sao?

Công Toản cũng lộ vẻ sợ hãi:

- Hãi quá!

Thế hóa ra đây là bia... là bùa trấn yểm à?

- Cũng có lẽ thế thật!

- Hoa Lâm nói - Cao Biền khi trước, miệng hay nói là giúp đỡ dân Nam ta tu sửa đình đền các nơi nhưng chẳng qua cũng chỉ là lợi dụng lòng tin của dân chúng để đặt các thứ bùa trấn yểm mà thôi...!

Công Toản tỏ vẻ lo sợ, quay ra nhìn anh mình hỏi:

- Bây giờ ta phải làm sao hả anh?

Nghe người em hỏi như vậy, Công Tiễn càng tỏ ra bối rối vì không biết trả lời làm sao.

Sau một lúc suy nghĩ , Công Tiễn quay qua nhìn Hoa Lâm tiên sinh hỏi:

- Tiên sinh học cao hiểu rộng, vậy liệu có cách gì hóa giải được đạo bùa độc này không?

Hoa Lâm tiên sinh vẻ thành thật:

- Tôi chỉ biết đọc chữ thôi chứ hóa giải bùa chú thì tôi chịu...!

Nhưng mà tôi biết có một người có thể làm được việc này...!

Công Tiễn sốt sắng hỏi ngay:

- Người đó là ai vậy?

- Đó là pháp sư Lục Đà.

Ông ấy từ nhỏ đã theo làm đệ tử và học pháp thuật của đạo sĩ danh tiếng Hoàng Chiêm.

Chỉ có ông ấy mới có khả năng hóa giải được những đạo bùa chú của Cao Biền để lại.

- Thế thì hay quá!

- Công Tiễn nghe vậy thì tỏ vẻ vui mừng rồi cất giọng hỏi - Nhưng liệu ông ấy có chịu đến mà giúp cho ta không?

- Chắc chắn ông ấy sẽ giúp vì tôi biết, mấy chục năm nay, ông ấy vẫn thường dẫn đệ tử đi khắp các vùng để tìm và triệt phá các bùa chú của Cao Biền để lại.

Ông ấy rất nhiệt tình trong việc đó nên mọi người thường nói, phá bùa chú của Cao Biền chính là thiên phận của pháp sư Lục Đà vậy!

Công Tiễn nghe Hoa Lâm nói vậy thì cả mừng:

- Tiên sinh có biết hiện giờ ông ấy ở đâu không?

- Lâu nay tôi vẫn nghe nói ông ấy sống ẩn dật trên núi Tản Viên.

Nếu quan Thứ sử tin tưởng, tôi có thể đi mời ông ấy đến đây được!

- Thế thì tốt quá!

- Công Tiễn nhìn Hoa Lâm nói - Vậy nhờ tiên sinh giúp cho, có cần gì chúng tôi xin đáp ứng đủ!

- Không cần gì nhiều, chỉ cần quan Thứ sử cấp cho tôi một con ngựa tốt và một chút lộ phí...

đủ cho hai người trong vòng mươi hôm là được!

- Cái đó không vấn đề gì!

Nếu tiên sinh chịu giúp cho xong việc, tôi xin thưởng thêm tiên sinh một chục lạng bạc nữa!

Vậy bao giờ tiên sinh có thể lên đường?

- Việc cần gấp gáp, ngay sáng mai tôi sẽ đi ngay!

- Cảm ơn tiên sinh trước!

---

Đúng hẹn, chừng mười hôm sau thì Hoa Lâm đã quay lại, dẫn theo một người ăn mặc kỳ dị, đó chính là pháp sư Lục Đà.

Công Tiễn ngay khi nghe nói Hoa Lâm đã quay về thì chạy vội ra tận cửa đón.

Hai bên chào hỏi xong thì lập tức cùng nhau lên ngựa, đi thẳng lên đỉnh Lĩnh Sơn.

Tấm bia đá vẫn được để nguyên ở chỗ hôm trước song đã được rào giậu xung quanh một cách cẩn thận.

Mọi người dẫn pháp sư Lục Đà đến chỗ tấm bia rồi đứng trật tự để pháp sư tập trung quan sát.

Pháp sư Lục Đà xem xét rất kỹ tấm bia một hồi lâu rồi mới quay ra nhìn mọi người nói:

- Đây đúng là một đạo bùa trấn yểm của Cao Biền rồi!

Công Tiễn đã biết đó là đạo bùa trấn yểm nhưng khi nghe chính miệng pháp sư Lục Đà nói ra như vậy thì vẫn ra vẻ lo lắng, ông bèn hỏi lại câu đã từng hỏi Hoa Lâm hôm trước:

- Thưa pháp sư!

Liệu có cách gì hóa giải được đạo bùa này không ạ?

Pháp sư Lục Đà vừa chăm chú đưa mắt xem xét thêm các chi tiết trên tấm bia đá vừa nói:

- Bùa trấn yểm cũng có nhiều loại, muốn hóa giải được thì phải biết nó thuộc dạng đạo bùa gì đã...

Công Tiễn không chờ được hỏi ngay:

- Vậy làm thế nào để biết được nó là đạo bùa gì?

- Để tôi nom kỹ thêm chút đã...!

Pháp sư Lục Đà trả lời xong, lập tức quay lại chăm chú nhìn ngắm tấm bia.

Ông sờ tay vào chiếc lỗ nhỏ đục thông từ mặt trước ra mặt sau tấm bia rồi ra vẻ đăm chiêu suy nghĩ.

Một lát sau ông chỉ tay vào lỗ nhỏ ở trên bia đá nói:

- Chân bia có một lỗ nhỏ như thế này thì dưới đế bia chắc chắn phải có cái gì đó...

- Lục Đà nói đến đây thì đưa mắt nhìn mấy trai trẻ đang đứng gần nói - Mấy anh thanh niên trẻ khỏe kia mau lại giúp tôi một tay, lật nghiêng tấm bia lên nom xem bên dưới đế nó có gì không nào...

Mọi người vội xúm tay vào làm theo lời pháp sư Lục Đà yêu cầu.

Tấm bia nhanh chóng được vật nghiêng sang một bên.

Pháp sư Lục Đà chăm chú xem xét một lúc rồi lại đưa tay chỉ vào một vết khắc sâu dưới đế bia nói:

- Mọi người nom này!

Đây có khắc một chữ lớn là chữ VƯƠNG...!

- Đâu...?

- Đâu...?

Mọi người nhao nhao lên hỏi.

Pháp sư Lục Đà nghiêng người ra tránh để mọi người có thể nhìn thấy rõ chữ Vương, được khắc đậm nét ở dưới đáy tấm bia.

Ông Công Toản lo lắng hỏi:

- Pháp sư nom kỹ xem còn gì nữa không?

- Hết rồi...

Chẳng còn gì nữa...

- Pháp sư Lục Đà lắc đầu rồi quay nhìn mấy thanh niên lúc nãy - Thôi, giúp tôi dựng lại tấm bia lên nào!

Mọi người lại túm tay vào dựng tấm bia đứng lên như cũ.

Vị pháp sư lúc này mới ngồi hẳn xuống, vừa đưa tay lần sờ từng góc cạnh, mắt chăm chú xem xét kỹ càng từng nét hoa văn trên cả hai mặt tấm bia.

Mọi người xung quanh chỉ đứng nhìn và chờ đợi trong im lặng.

Không gian im lặng, có thể nghe rõ từng tiếng thở nhẹ của người đứng bên cạnh.

Một lúc lâu sau, pháp sư Lục Đà mới ngẩng mặt lên nói:

- Rõ rồi...!

Ông Công Tiễn sốt sắng hỏi:

- Rõ rồi là sao ạ?

- Quan Thứ sử nhìn đây...!

- Pháp sư Lục Đà chỉ tay vào mặt tấm bia giảng giải - Mặt trước bia có năm chữ TRIỆT ĐỨT MẠCH HÙNG VƯƠNG có nghĩa là triệt đứt mạch họ Hùng xưa.

Song ở dưới đế tấm bia lại có chữ VƯƠNG khắc đậm nữa.

Theo tôi thì đây mới thực sự là mục đích trấn yểm của đạo bùa này...

Đạo bùa chú này không những chỉ trấn yểm sự trấn hưng của mỗi họ Hùng thôi đâu mà còn có tác dụng trấn yểm để mảnh đất Phong Châu này đời đời kiếp kiếp về sau sẽ không ai có thể phát nghiệp mà xưng vương cho được...!

Ông Công Toản nghe đến đây thì buột miệng thốt lên:

- Ối chao ơi!

Thật thế sao...?

Thảo nào mà người Phong Châu ta bao năm qua chỉ làm tôi tớ cho người thiên hạ...

- Chưa hết đâu!

- Pháp sư Lục Đà vấn nói tiếp - Đây còn là một đạo bùa phải nói là vô cùng độc hại...

Các vị nhìn kỹ vào đây mà xem này...!

Pháp sư Lục Đà đưa tay chỉ vào các hoa văn ngũ sắc loằng ngoằng trên mặt tấm bia rồi hỏi:

- Các vị có nom thấy gì không?

Mọi người nhìn chăm chăm vào tấm bia.

Mặt tấm bia hôm nay đã sạch và khô ráo nên hiện ra rất rõ những nét hoa văn loằng ngoằng và những chấm màu kỳ lạ.

Song chẳng ai hiểu những hoa văn đó là cái gì nên cứ trơ mắt ra, hết nhìn nhau rồi lại nhìn vị pháp sư.

Công Tiễn cũng không hiểu những hoa văn đó là gì, bèn nhìn vị pháp sư nói:

- Thưa pháp sư!

Chúng tôi toàn là người trần mắt thịt, không thể hiểu hết được thuật phép của bùa chú.

Xin pháp sư chỉ giáo?

- Đây là các hoa văn mô tả một thế cơ bản của trận đồ bát quái...

- Pháp sư Lục Đà đưa tay chỉ lên các vân đá giảng giải - Chính vì vậy nên đạo bùa này còn có khả năng thu nạp năng lượng để thiên biến vạn hóa... nên phải nói là cực kỳ lợi hại!

- Cực kỳ lợi hại...?

- Công Toản càng tỏ vẻ lo sợ hỏi - Vậy lợi hại như thế nào?

- Nói ra cho các vị hiểu được ngay thì rất khó... nhưng đại khái như thế này!

Các đạo bùa bình thường thì sẽ bị mất năng lượng và bị vô hiệu sau một thời gian nào đó.

Nhưng những đạo bùa như thế này lại có thể thu nạp mọi nguồn năng lượng từ trên trời, từ dưới đất và thậm chí cả từ mỗi con người chúng ta đây nữa...

Với nguồn năng lượng vô biên như vậy, nó sẽ không những không cạn hết năng lượng mà còn mỗi ngày một tăng lên.

Và như vậy, khả năng trấn yểm của nó cũng mỗi ngày một mạnh thêm...

Ông Công Tiễn vội hỏi:

- Vậy hóa giải nó bằng cách nào...?

- Khó đấy...!

- Vậy đem tấm bia này ra sông mà vất đi thì có được không?

Pháp sư lắc đầu:

- Làm vậy không được!

Như tôi vừa nói rồi!

Đạo bùa này tự biết biến hóa nên dẫu có vứt xuống nước thì nó vẫn lại thu nạp được năng lượng của dòng nước để mà phát huy sức mạnh.

Nếu Ngài cứ làm như vậy thì càng tổ bị hại thêm mà thôi...!

- Chẳng lẽ không có cách nào hóa giải nổi sao?

- Đương nhiên là có nhưng phải tìm được đầu mối hóa giải cái đã...!

Để tôi nom kỹ hơn chút nữa!

Mọi người nghe nói vậy thì im lặng để pháp sư Lục Đà quay lại với tấm bia.

Một lúc sau, ông ta quay lại, cất giọng nói lớn vẻ mừng rỡ:

- Tôi đã có cách rồi!

- Pháp sư!

- Công Toản mừng rỡ - Ngài đã tìm ra cách hóa giải rồi sao?

- Có rồi!

Này nhé...!

Sau lưng tấm bia không phẳng mà bị gồ ghề... nhưng không gồ ghề vô tình mà lại có chủ đích.

Tôi đã xem rất kỹ, thì ra những vết gồ ghề này chính là những nét thảo của hai chữ TRỰC PHÙ.

Như vậy thì mặt sau tấm bia quay về hướng nào thì chỉ có một hướng đó được lợi mà thôi.

Giờ hãy thử kiểm tra lại xem những lời tôi vừa nói có đúng không đã...

- Pháp sư nói đến đây thì quay qua nhìn mọi người hỏi - Có ai trong số các vị ở đây biết rõ nhất vị trí và hướng đặt của tấm bia đá trước khi được đào lên nằm như thế nào thì chỉ cho tôi biết với?

Mấy người thợ hôm trước nghe nói có pháp sư đến tìm cách hóa giải đạo bùa chú thì đã bảo nhau kéo đến đứng xem từ bao giờ rồi.

Khi nghe pháp sư hỏi như vậy, họ nhanh nhảu dẫn vị pháp sư và mọi người đi vào bên trong gian điện thờ rồi chỉ trỏ vị trí phát hiện ra tấm bia.

Pháp sư lúc này lại hỏi:

- Thế lúc đó mặt chính của tấm bia quay ra hướng nào?

Mọi người lại đồng loạt đưa tay chỉ về một hướng rồi tranh nhau trả lời:

- Hướng này...!

- Đúng là hướng này...!

Pháp sư Lục Đà ngước mắt nhìn mặt trời để thầm xác định lại phương hướng rồi quay qua nhìn mọi người nói:

- Các vị nghe rồi đấy...!

Mặt tấm bia quay về hướng bắc và lưng bia quay về hướng nam.

Như vậy phía bắc sẽ gặp họa còn phía nam sẽ được lợi.

Các vị ngẫm thử xem có đúng không...?

Nên nhớ là đạo bùa này đặt từ thời Cao Biền, tức là từ đời vua Đường Ý Tông trở lại đây thôi nhé!

Mọi người còn đang mải suy nghĩ thì tiên sinh Hoa Lâm đã mau miệng nói:

- Đúng là nhà Đường ở phương Bắc, từ thời Đường Ý Tông thì bắt đầu rơi vào cảnh mạt vận không giữ nổi được cương thổ.

Đến Đường Ai Đế thì bị Chu Toàn Trung phế truất để tự lập nên nhà Lương.

Trung Hoa bây giờ loạn lạc và bị chia năm xẻ bảy không biết đến bao giờ mới nhất thống được nữa...

Còn phía nam thì các thổ hào địa phương liên tục nổi lên làm chủ Giao Châu như ông vua đen họ Mai, sau đó là Bố Cái đại vương và gần đây là người họ Khúc và hiện bây giờ là người họ Dương...

Có tiếng lao xao đồng tình:

- Đúng vậy...

- Đúng quá rồi còn gì nữa...

Ông Công Toản lúc này cũng vội gật đầu đồng tình còn ông Công Tiễn thì nêu thắc mắc:

- Nhưng Cao Biền vốn là người Bắc quốc, vậy tại sao ông ta lại trấn yểm đạo bùa này để hại chính cố quốc và có lợi cho người Nam ta?

- Quan Thứ sử không biết rồi!

- Pháp sư Lục Đà lên tiếng giảng giải - Vì Cao Biền đã sẵn có bụng làm phản nhà Đường từ đầu rồi nên mới có ý làm như vậy.

Tiếc cho ông ấy là đã bị vua nhà Đường biết được âm mưu nên đã cho gọi về cố quốc rồi tìm cách sát hại.

Nếu âm mưu đó mà không bị bại lộ sớm thì cũng chưa biết thế nào đâu...

Ông Công Toản thì chẳng quan tâm đến Cao Biền mà chỉ quan tâm đến một việc khác, ông chăm chú nhìn, đợi pháp sư Lục Đà ngừng lời thì hỏi ngay:

- Việc thịnh suy của Bắc quốc chúng tôi không quan tâm mà chỉ quan tâm là đạo bùa trấn yểm này có ảnh hưởng gì đến sự hưng thịnh của người Phong Châu không thôi?

Pháp sư Lục Đà nhìn hai người rồi ngập ngừng nói:

- Tôi nói ra điều này mong các ông đừng cho là tôi lộng ngôn dọa dẫm...

- Ấy chết!

Chúng tôi sao dám nói càn...!

- Ông Công Toản vội lên tiếng - Xin pháp sư cứ chỉ bày cho tỏ tận!

- Vâng!

- Ông Công Tiễn cũng nói - Có gì xin pháp sư chỉ giáo!

Bấy giờ pháp sư Lục Đà mới nói:

- Nếu còn đạo bùa chú này thì người Phong Châu không bao giờ có thể ngóc đầu lên được với thiên hạ!

Cả hai người nghe pháp sư nói ra như vậy thì mặt lại biến sắc tỏ vẻ lo sợ.

Lần này thì chính Công Tiễn lên tiếng hỏi trước:

- Sao lại như vậy ạ?

Pháp sư Lục Đà không đáp ngay mà hỏi lại:

- Các ngài có nom thấy chữ VƯƠNG ở dưới đáy của đạo bùa không?

Đạo bùa này có tác dụng trấn Bắc, phù Nam nhưng lại đặt tại đất Phong Châu và lại đè lên chữ VƯƠNG thì có nghĩa là những người, dẫu có mang mệnh đế vương, mà ở đất Phong Châu đây thì cũng chỉ có thể làm phù trợ cho người phương Nam mà thôi.

Nếu cứ để đạo bùa như thế này thì muôn đời người Phong Châu chỉ đi làm tay chân cho người thiên hạ...

Công Tiễn và Công Toản cùng chăm chú lắng nghe song cả hai đều tỏ vẻ chưa hiểu.

Một lúc sau ông Công Toản phải lên tiếng hỏi:

- Pháp sư có thể giảng giải rõ cho chúng tôi dễ hiểu hơn được không ạ...?

- Thế này nhé...!

- Pháp sư Lục Đà nghĩ một lúc để tìm cách nói cho thật dễ hiểu rồi mới chậm rãi nói tiếp - Đạo bùa này thu nạp mọi nguồn năng lượng và hút hết vượng khí từ hướng bắc để chuyển về phù trợ cho hướng nam.

Chính vì vậy đạo bùa này mới có tác dụng trấn Bắc, phù Nam.

Nhưng tất cả các dòng năng lượng và vượng khí kia trước khi đi về phía nam phải tập trung lại và đi vòng xuống dưới qua một lỗ nhỏ ở đế bia gọi là điểm tụ khí.

Toàn bộ số năng lượng khổng lồ này khi đi vòng xuống đương nghiên phải đè ép lên chữ VƯƠNG nằm ở dưới đáy.

Như vậy là đất và người Phong Châu dẫu không bị suy tàn nhưng suốt đời cũng chỉ làm giường cột, nâng đỡ cho người thiên hạ lên cao mà thôi...

Nói như vậy các ngài đã hiểu chưa?

Ông Công Tiễn có vẻ đã hiểu nên gật đầu đáp:

- Chúng tôi nghe vậy cũng đã tạm hiểu đôi chút...

Ông Công Toản thì lo lắng hỏi:

- Vậy thì... pháp sư có cách nào hóa giải đạo bùa này không?

- Tôi đã có cách!

- Pháp sư nói đến đây thì hạ giọng - Nhưng việc này không thể tùy tiện nói ra ở chỗ đông người được...

Công Toản hiểu ý nói:

- Vậy để tôi cho mọi người ra ngoài đã...

Sau khi sai bảo mọi người lánh ra xa hết, Công Toản quay lại nhìn pháp sư Lục Đà hỏi:

- Pháp sư vừa nói là đã có cách hóa giải đạo bùa chú này, vậy cách hóa giải nó như thế nào ạ?

Pháp sư Lục Đà nói nhỏ để chỉ đủ cho hai người cần nghe:

- Ta không thể phá hủy đạo bùa này mà chỉ có thể thay đổi tác dụng của nó bằng cách đặt lại tấm bia...

Ông Công Toản vội đoán:

- Có nghĩa là cho quay mặt bia từ hướng bắc về hướng nam?

Pháp sư Lục Đà cười nói:

- Làm vậy thì không có tác dụng gì với người Phong Châu cả.

Ông Công Toản lại hỏi:

- Vậy phải đặt thế nào ạ?

Pháp sư Lục Đà lúc này mới nói:

- Cao Biền cố tình đặt chữ VƯƠNG nằm dưới đế bia để chèn ép mệnh đế vương ở đây xuống thì ta phải làm cách để nâng nó lên...

Công Toản có vẻ đã hiểu ý của pháp sư bèn cất lời phỏng đoán:

- Nghĩa là đặt đế bia quay lên đúng không ạ?

- Chính xác!

- Pháp sư Lục Đà gật đầu - Như vậy mệnh đế vương sẽ không những được giải thoát mà còn được nâng lên nhờ năng lượng thu nạp và hút vượng khí của đạo bùa khi đi qua lỗ tụ khí...

Ông Công Tiễn tỏ ý nghi ngờ:

- Đơn giản thế thôi sao?

- Đơn giản nhưng rất hiệu nghiệm!

Hãy tin tôi đi!

- Pháp sư Lục Đà trấn an - Đạo bùa này cần có thời gian ổn định để tích tụ năng lượng và phát huy sức mạnh.

Chỉ cần quan Thứ sử giữ được bí mật việc này trong vòng sáu tháng thì có thể thấy rõ tác dụng của nó.

Ông Công Toản tỏ vẻ mừng lắm, nói:

- Nếu được như vậy thì anh em tôi không dám quên công ơn của ngài...

Pháp sư Lục Đà có vẻ không quan tâm đến lời hứa hẹn của Công Toản, ông nhìn hai người, ra vẻ bí hiểm:

- Trước khi đặt lại tấm bia này, tôi muốn biết ý quan Thứ sử là cho quay mặt chính của bia về hướng nào...?

- Hướng nào à...?

- Công Tiễn bị hỏi đột ngột nên không biết trả lời thế nào, đành nhìn pháp sư hỏi - Thế trước đây mặt trước của tấm bia là trấn, còn mặt sau là phù vậy nếu ta đã cho đặt ngược lại bia như vậy thì các mặt đó còn có tác dụng gì không?

- Hướng phía trước tấm bia vẫn là trấn còn hướng sau sẽ thay đổi, không phải là được phù nữa mà mọi thứ, từ con người đến tài sản của mặt phía sau sẽ hội tụ để phù giúp cho chữ vương ở giữa và tăng thêm sức mạnh trấn trị của mặt trước...

- Vậy thì mặt trước bia quay về hướng bắc...!

- Công Tiễn reo lên rồi giảng giải - Ta dẫu sao cũng là người Giao Châu nên chỉ lo đề phòng người phương Bắc thôi.

- Tôi hiểu ý ngài.

Vậy bây giờ ngài cứ cho xây bệ đặt bia rồi chọn ngày lành tháng tốt thì thỉnh bia đặt vào là xong...
 
Bình Minh Đại Việt
Chương 3: Kiều Công Tiễn


Từ lúc được pháp sư Lục Đà bày cách khắc chế đạo bùa trấn yểm trên đỉnh Lĩnh Sơn, Kiều Công Tiễn lúc nào cũng ra vẻ trầm ngâm suy nghĩ.

Khi trở về gia phủ, từng lời nói của vị pháp sư vẫn cứ văng vẳng bên tai khiến Công Tiễn bận tâm ray rứt.

Muốn có người thổ lộ, ông cho người gọi người em trai của mình đến để bàn chuyện.

Trong lúc chờ đợi, Công Tiễn ngồi trầm ngâm suy nghĩ.

Điều ông nghĩ nhiều nhất là về thế lực họ Kiều của ông rồi thầm so sánh với thế lực của họ Dương.

Khi vua Nam Hán cho quân sang đánh chiếm đất Giao Châu, họ Dương kia lúc đó vẫn chỉ là một họ vô danh trong thiên hạ, đâu đã có tiếng tăm như họ Kiều của ông, vốn đã nối đời làm châu mục đất Phong Châu này.

Những người có thế lực ở Giao Châu tuy cũng nhiều song số người thực sự khiến cho quan Thứ sử nhà Nam Hán là Lý Tiến phải e sợ thì chỉ có một vài người, trong đó có ông.

Vậy mà, chỉ vì tên Lý Tiến kia buông lỏng, không kiểm soát được các châu quận biên viễn xa xôi khiến vua Nam Hán phải phong cho Dương Đình Nghệ lãnh chức Thứ sử Ái Châu.

Ái Châu nhỏ bé kia có là gì đâu nếu đem so với Phong Châu rộng lớn của ông chứ?

Ái Châu chỉ là một châu biên viễn, cách xa trị sở Đại La, dân cư thì thưa thớt, số hộ giàu có đếm không quá đầu ngón tay.

Ấy vậy mà chỉ có mấy năm sau, Dương Đình Nghệ đã đường đường trở thành ông chủ của Đại La.

Mà đã là chủ của Đại La thì cũng chính là vua của cả đất Giao Châu rộng lớn này rồi còn gì nữa.

Nhưng suy nghĩ kỹ thì Công Tiễn lại thấy, Dương Đình Nghệ đã có chí làm chủ Đại La từ rất lâu rồi.

Ngay từ khi Lý Khắc Chính đưa quân Nam Hán sang đánh Giao Châu, bắt Tiết độ sứ khi đó là Khúc Thừa Mỹ mang về Bắc quốc thì Đình Nghệ đã có ý định làm phản.

Ông ta một mặt chịu nhận sắc phong của Nam Hán nhưng vẫn nuôi giấu trong nhà đến mấy ngàn gia binh, gia tướng.

Sau lưng ông ta lại được Đinh Công Trứ, Ngô Mân cùng con trai là Ngô Quyền hết lòng ủng hộ.

Song lúc đó, Dương Đình Nghệ vẫn còn lo đại sự bất thành nên đã phải cho người tìm đến Phong Châu để liên hệ với ông, trước là kết tình hòa hiếu, sau có nhã ý gả con gái lớn là Dương Thị Thuần Mỹ cho ông.

Sau khi hỏi tuổi, biết con gái của Đình Nghệ còn nhỏ tuổi hơn cả con trai mình là Kiều Công Chuẩn thì ông đã thẳng thắn chối từ.

Dương Đình Nghệ thấy ông không chịu làm con rể thì lại chuyển sang xin cho kết tình thông gia, bằng cách gả cô con gái kia cho con trai ông và ông đã gật đầu đồng ý.

Thì ra Dương Đình Nghệ đã tính toán một cách có chủ đích, một khi đã kết thông gia với ông ta thì dẫu không ủng hộ thì ông cũng không nỡ chống lại khi ông ta đưa quân bắc tiến.

Mà đâu chỉ có vậy!

Nhiều hào trưởng thân thiết với ông, ngay khi biết Dương Đình Nghệ động binh bắc tiến thì lại cứ nghĩ chắc chắn có ông đứng sau ngầm ủng hộ.

Họ đâu có cần biết thực hư, họ chỉ nghĩ đơn giản rằng đã là thông gia thì không thể không có sự bàn bạc với nhau từ trước.

Vậy là chẳng ai trong số họ phản đối khi Dương Đình Nghệ về làm chủ thành Đại La.

Thực ra trong bụng Công Tiễn chưa bao giờ có ý đố kị hoặc ghen ghét Đình Nghệ nên khi nghe Đình Nghệ động binh bắc tiến, ông cũng hết lòng ủng hộ.

Ông và đứa con trai cả là Công Chuẩn, đã đem hết gia binh hợp quân với Đình Nghệ để đánh đuổi bọn Lý Tiến.

Đúng là sau khi Dương Đình Nghệ làm chủ Đại La cũng có mời ông ở lại để giúp sức an dân trị quốc.

Nghĩ Đình Nghệ lúc đó đang cần người tài ở gần bên để nghĩ mưu hiến kế giúp việc chuẩn bị lập ra tân triều nên ông và hào trưởng các địa phương khác đã bảo nhau ở lại và hết lòng phụng sự.

Vậy mà đợi mãi cũng không thấy Đình Nghệ đả động gì đến việc công bố định ngày xưng vương, khai quốc khiến ông và mọi người dần dần tỏ ra chán nản.

Ông và nhiều người có chí lớn khác cũng đã nhiều lần khuyên nhủ Đình Nghệ, hãy học theo chí lớn của các bậc tiên vương như Lý Nam Đế và Triệu Việt Vương khi xưa mà đứng ra định đô, xưng vương, lập quốc...

Song Đình Nghệ chỉ nghe rồi lại bỏ ngoài tai.

Cũng có một lần trước mặt mọi người, Đình Nghệ hỏi ông về cách thức hoạt động của một triều đình độc lập.

Ông đã thành thực nói rằng, người Phong Châu quê ông vốn gốc gác vua Hùng nên trong nhân gian còn nhiều người biết việc lễ nghĩa triều đình, nếu cần để ông về tìm hiểu rồi xin báo lại.

Nhân hôm đó, ông cũng nói với Đình Nghệ và mọi người, là từ thời Hùng vương, người Giao Châu ta đã có một thứ chữ viết riêng gọi là chữ Khoa Đẩu.

Khi tướng Mã Viện nhà Hán sang Giao Châu đã cho đốt hết sách vở có chữ Khoa Đẩu và bắt dân ta phải học sang chữ Hán.

Nhưng người Phong Châu vẫn âm thầm gìn giữ, hiện nay ở Phong Châu vẫn có nhiều người có thể đọc thông viết thạo thứ chữ đó.

Ông còn đề xuất, nếu tân triều thành lập thì có thể bỏ chữ Hán, khôi phục truyền dạy chữ Khoa Đẩu cho toàn cõi Giao Châu.

Làm như vậy thì sẽ không những có thể phục quốc mà còn thoát li hoàn toàn ảnh hưởng của người phương Bắc.

Đình Nghệ và mọi người hôm đó lắng nghe ông nói với vẻ rất chăm chú khiến ông tưởng rằng ông ta sẽ cho áp dụng đến nơi.

Không ngờ là các đề xuất của ông chẳng những được áp dụng mà mọi người sau hôm đó còn nhìn ông với ánh mắt lộ rõ vẻ ghen tức và cảnh giác.

Ở Đại La một thời gian, thấy Dương Đình Nghệ mãi không nói gì đến việc lập ra tân triều mà lại có ý chịu nhận sắc phong chức Tiết độ sứ của nhà Nam Hán, cộng thêm với một số bất đồng cá nhân khác giữa hai người nên ông đã xin phép được trở về đất Phong Châu.

Đình Nghệ hôm đó cũng không có ý giữ lại khiến Công Tiễn nghĩ "Chắc ông ta muốn mình đi sớm cho khuất mắt".

Đến giờ này, ngồi ngẫm nghĩ mãi, Công Tiễn vẫn không hiểu lý do tại sao Đình Nghệ lại không chịu xưng vương, lập quốc.

Ông ấy có được bao nhiêu thuận lợi như thế, tại sao không biết nắm lấy mà lại chịu nhận sắc phong của Nam Hán?

Chức Tiết độ sứ kia có là gì đâu chứ?

Nó vẫn chỉ là một chức quan của người phương Bắc đặt ra để cai trị người Giao Châu ta.

Mà đã là chức quan của triều đình Nam Hán thì vẫn phải nghe chỉ dụ của vua Nam Hán, vẫn phải bóc lột người Giao Châu để cống nộp sang cho Nam Hán và nếu làm có trái ý, sẽ phải thay thế bằng một người khác.

Và quan trọng là đất Giao Châu như vậy vẫn mãi mãi chỉ là một châu quận biên viễn của Bắc triều.

Đó chính là điều ông và rất nhiều người có chí muốn khôi phục quốc thống không bao giờ mong muốn.

Thực sự là từ khi Dương Đình Nghệ về làm chủ Đại La đến nay thì cuộc sống của ông cũng như những người dân Phong Châu đây cũng chẳng có thay đổi gì đáng kể.

Có khác chăng thì chỉ có việc con trai ông là Kiều Công Chuẩn cùng vợ con nó phải về ở hẳn Đại La để giúp cha vợ cai quản Giao Châu.

Dương Đình Nghệ vẫn công khai thu thuế má các châu quận, giống như cách các quan Thái thú trước đây vẫn thường làm.

Vậy mà khi ông hỏi xin ít bạc để tu sửa ngôi đền thờ tổ Hùng vương, Đình Nghệ tìm mọi lý do để từ chối.

Nay nghe pháp sư Lục Đà nói thì Công Tiễn mới hiểu được nguyên do.

Đúng là ông ta sợ cụ tổ Hùng vương sẽ phù hộ cho thế lực của họ Kiều lớn mạnh hơn họ Dương.

Nghĩ đến đây Công Tiễn buột miệng lẩm bẩm:

- Hy vọng sau khi tu sửa ngôi đền thì người họ Kiều ta sẽ hiển đạt và lớn mạnh hơn...!

Công Tiễn vừa dứt lời thì bỗng có tiếng nói cất lên:

- Tôi nghĩ chắc chắn sẽ là như vậy đấy!

Công Tiễn giật mình song kịp trấn tĩnh lại khi nhận ra đó là giọng nói của người em trai.

- Chú Toản đấy à...!

Ngồi xuống đây đi...!

Đợi Công Toản ngồi hẳn xuống, Công Tiễn quay sang nhìn em hỏi:

- Chú lo chỗ ăn nghỉ cho pháp sư thế nào rồi?

- Anh yên tâm!

Việc đó tôi đã lo chu đáo...

- Vậy thì tốt!

- Công Tiễn như chỉ chờ đến lúc này để trút bầu tâm sự - Theo chú thì chúng ta có nên tin vào lời nói của vị pháp sư kia không?

Công Toản ngước mắt nhìn anh nói:

- Nếu không tin thì chắc anh đã không cho mời ông ta đến đây như thế?

Công Tiễn lại hỏi tiếp:

- Thế chú đã được nghe chuyện về bọn đạo sĩ, pháp sư phương Bắc dưới thời Tần Thủy Hoàng chưa?

Công Toản lắc đầu:

- Tôi chưa được nghe!

Anh kể đi!

- Vào thời Tần Thủy Hoàng, bọn đạo sĩ, pháp sư rất được trọng dụng.

Chúng luôn bịp bợm rằng có thể làm phép để chế ra thuốc tiên, thỏa mãn được nhu cầu, khát vọng trường sinh bất tử của Tần Thủy Hoàng.

Tần Thủy Hoàng khi còn sống thì vẫn luôn rất tin tưởng vào đám đạo sĩ, pháp sư kia.

Nhưng cuối cùng thì Tần Thủy Hoàng cũng vẫn phải chết, thậm chí chết khi chưa đến năm chục tuổi.

Kết cục cuối cùng là không những bản thân bọn đạo sĩ, pháp sư kia phải chịu tội chết mà tất cả cha mẹ, vợ con của chúng cũng đều phải chết theo Tần Thủy Hoàng.

- Có thể họ cũng chết theo để được tiếp tục phụng sự Tần Thủy Hoàng ở dưới suối vàng thì sao?

- Chú mà lại tin vào chuyện đấy à?

- Không biết thế nào mà nói được đâu...!

Còn với vị pháp sư Lục Đà đây thì tuy chưa biết ông ta có tài thực hay không nhưng tôi vẫn tin tưởng vào những lời nói của ông ta vì tôi thấy ông ta không hề có một chút lợi lộc gì khi nói ra những điều đó!

Càng nghĩ tôi càng thấy ông ta nói đúng!

Bao năm qua, người Phong Châu chúng ta không thể đứng đầu thiên hạ, không thể khôi phục được một quốc gia riêng cho người Nam ta có lẽ là do ngôi đền thờ tổ Hùng Vương đã bị trấn yểm thật!

Anh em mình phải nhờ pháp sư hóa giải đạo bùa chú để người Phong Châu ta có thể mở mày mở mặt trước người thiên hạ!

Công Tiễn hỏi vậy thôi chứ thực ra từ trong thâm tâm của mình, ông thấy những lời pháp sư Lục Đà nói ra đều toàn là đúng cả chứ không có sai đi đâu một lời nào.

Người Phong Châu đã bao đời nay không có ai là anh hùng xuất chúng.

Ngay như họ Kiều của ông, cố lắm cũng chỉ làm đến chức Thứ sử của một châu quận là cùng.

Mà chức Thứ sử thì có đáng gì đâu, nó đương nhiên vẫn thuộc về người Phong Châu chứ làm gì có ai ở nơi khác có thể đến đây mà làm.

Công Toản thì thấy anh mình có vẻ nghi ngờ tài năng của pháp sư Lục Đà bèn hỏi lại:

- Thế đến giờ này anh vẫn không tin vào những gì mà pháp sư Lục Đà nói à?

Công Tiễn thú thực:

- Tôi cũng có phần tin rồi!

Công Toản bỗng đổi tư thế, xoay người ngồi để nhìn thẳng vào mắt Công Tiễn rồi hỏi:

- Thế anh có muốn về làm chủ thành Đại La không?

- Chú hỏi gì lạ vậy?

- Công Tiễn vừa có phần hoảng sợ vừa có phần ngạc nhiên - Tôi với Đình Nghệ đang là thông gia với nhau...

Chú quên mất điều đó rồi sao?

Công Toản trả lời:

- Tôi biết!

Nhưng thông gia thì không có quyền được làm vậy sao?

Mà anh không làm thì có kẻ khác sẽ làm...

Công Tiễn càng ngạc nhiên hơn:

- Chú nói ai làm?

- Theo như lời pháp sư Lục Đà đã nói thì nội trong sáu tháng nữa thành Đại La sẽ đổi chủ...

Như vậy thì nếu anh không làm thì cũng có người khác sẽ làm cái việc thoán đoạt đó...

Công Tiễn nghe vậy thì buông ra một tiếng thở dài rồi lẩm bẩm nói:

- Ai thoán đoạt thì thoán đoạt chứ tôi sao lại có thể phản ông ấy được chứ?

Công Toản vẫn ra sức thuyết phục anh trai:

- Anh xem!

Ngày trước Thục Phán lật tổ Hùng vương song dân tình Phong Châu ta có ai oán trách Thục Phán đâu...?

Thời nhà Hùng đến lúc mạt vận thì phải có họ khác lên thay...

đó cũng là hợp lẽ trời...

- Nhưng họ Dương đã đến lúc mạt vận đâu?

Công Toản im lặng trong giây lát rồi lại nói:

- Dương Đình Nghệ hiện nay tuy chưa đến lúc mạt vận nhưng kể từ ngày ông ta cúi đầu chịu nhận sắc phong của nhà Nam Hán thì đã đánh mất đi lòng tin của người Giao Châu ta rồi.

Nhiều người trước đó ủng hộ ông ấy, giờ tuy chưa có ý làm phản song đã ngoảnh mặt làm ngơ, kệ cho ông ta muốn làm gì thì làm.

Tôi nghe nói có rất nhiều người đang âm thầm bỏ tiền ra để chiêu mộ binh thuyền và ráo riết luyện tập để đợi thời cơ ra tay, chiếm đoạt Đại La đấy.

Anh...

- Công Toản nói đến đây thì đột nhiên quay sang nhìn anh trai mình nói vẻ năn nỉ - Anh là người Phong Châu...

Người Phong Châu ta vốn là dòng dõi Hùng vương...

Anh phải lên làm chủ Giao Châu thì mới hợp lẽ trời...

Công Tiễn nghe em trai nói vậy thì trong bụng có vẻ đã xuôi xuôi song còn lưỡng lự:

- Nhưng... nhưng...

Công Toản vội hỏi dồn:

- Anh còn e sợ điều gì nữa?

- Tôi lo là...

- Công Tiễn nhìn em trai nói - Đất Phong Châu ta bao năm qua sống trong cảnh thái bình nên người Phong Châu ta không quen với cảnh binh đao...

Binh thuyền ta cũng không có được bao nhiêu...

Tôi lo không đủ lực...

Công Toản vội trấn an:

- Những cái đó anh lo gì chứ!

Binh thuyền ta sẽ bỏ vàng bạc ra mua sắm thêm.

Quan trọng nhất là phải thu phục được lòng người.

Được lòng người thì sẽ có tất cả...

- Chú nói phải!

- Công Tiễn gật gù - Việc thu phục lòng người mới là việc khó...!

Vậy để thu phục lòng người thì cũng phải có lý do gì đó chứ?

- Tôi có một lý do này, anh nghe xem có được không?

- Chú mau nói ra xem nào!

- Tôi nghe nói trước đây vua Nam Hán là Lưu Nghiễm đã có ý định cho Khúc Hậu chủ(1) quay về nối nghiệp Khúc Trung chủ(2) để làm Tiết độ sứ Tỉnh Hải quân.

Dương Đình Nghệ do đã có ý muốn làm chủ Đại La nên không thể để Khúc Hậu chủ có đường hồi quốc, ngay khi hay tin, ông ta vội dấy binh nổi dậy, đánh đuổi Lý Tiến.

Lưu Nghiễm bực tức quá mới sai giết Khúc Hậu chủ để rửa hận...

Vậy thì chúng ta sẽ vịn vào cái lý này để mà dựng cờ "Diệt Dương Phục Khúc"...

Anh cứ cho phát hịch kể tội họ Dương thì chắc sẽ có khối người theo về...

- Diệt...

Dương...

Phục...

Khúc...

- Công Tiễn vừa nhắc lại từng từ vừa gật gù ra vẻ tâm đắc.

Một lát sau, dường như nhớ ra điều gì, ông quay sang nhìn người em trai mình hỏi - Mà chú nghe tin này ở đâu vậy?

- Tôi nghe Lý Huê nói...

- Lý Huê sao?

- Công Tiễn nghe nói đến Lý Huê thì tỏ vẻ nghi ngờ - Có đáng tin cậy không?

- Vâng!

Ông ta thường xuyên sang đất Nam Hán buôn bán nên mới biết được tin này...

Mà... mà...

đáng tin hay không thì có quan trọng gì đâu chứ...

- Chú nói vậy là sao?

- Thì chúng ta cũng chỉ cần có một cái cớ thôi mà!

- Chỉ cần một cái cớ...

Công Tiễn vừa lẩm bẩm nhắc lại lời của Công Toản thì lại sực nhớ đến một điều gì đó bèn thốt lên vẻ lo lắng:

- Thế giả sử như ta vừa chiếm Đại La, giết Đình Nghệ xong nhỡ... nhỡ Ngô Quyền cho xuất binh từ Ái Châu ra đánh thì sao?

- Tôi cũng đã nghĩ đến điều này nên dám nói chắc rằng, anh ta sẽ không dám làm việc đó vì sức mạnh của Ái Châu sao có thể so với Phong Châu ta được...

- Nhưng hắn có thể lấy quân của cả Diễn Châu và Hoan Châu nữa?

- Cái đó càng khó vì Thứ sử các câu Hoan, Diễn sẽ không dám mạo hiểm ủng hộ Ngô Quyền bắc tiến mà để trống mặt sau lưng cho quân Chiêm Thành có thể lợi dụng xâm phạm.

Mà khi ta đã dựng cờ "Diệt Dương Phục Khúc" thì Thứ sử các châu Hoan, Diễn kia cũng chẳng có lý gì mà nhúng tay vào nữa.

Vậy để tránh hậu họa, tốt nhất ta phải bắt và giết bằng hết cả bốn cha con Đình Nghệ.

- Nhưng Ngô Quyền dẫu sao vẫn là con rể của Đình Nghệ, hắn cũng vẫn có cái lý lẽ để triệu tập binh mã...

- Con rể ư...?

Cuộc hôn phối giữa họ Ngô với họ Đình cũng giống như giữa họ Kiều với họ Đình mà thôi, đó chỉ là những cuộc hôn phối gượng ép để Đình Nghệ có thêm vây cánh, ủng hộ ông ta.

Thứ sử các châu Hoan, Diễn nào có kém cạch gì so với Ngô Quyền, họ chỉ nể trọng anh ta vì anh ta là con rể của Đình Nghệ mà thôi...

Một khi mà họ Dương đã không còn thì những phép tắc ràng buộc của các cuộc hôn phối đó cũng chẳng còn giá trị gì nữa...

Ngô Quyền khi đó có khi còn phải nể sợ Thứ sử các châu Hoan, Diễn nữa cũng nên...

- Thôi được...!

- Công Tiễn nghe đến đây thì nhìn người em tỏ vẻ quyết tâm - Được làm vua thua làm giặc!

Tôi quyết nghe theo chú một phen!

---

Việc tu sửa ngôi đền thờ tổ Hùng vương chẳng mấy chốc cũng đã đến lúc hoàn thành.

Mọi người dân Phong Châu đều vui mừng ra mặt vì dịp giỗ tổ năm nay, họ đã có một ngôi đền thờ tổ mới, to đẹp, rộng rãi hơn xưa.

Công Tiễn và Công Toản thì càng vui gấp bội, họ đã không những hóa giải được đạo bùa trấn yểm của Cao Biền mà còn thay đổi được thế đặt để đạo bùa quay lại phù trợ, nâng đỡ cho người Phong Châu.

Công Tiễn quyết định cho làm lễ giỗ tổ năm nay thật to và kéo dài liên tục trong ba ngày để mọi người, dù ở xa đến mấy, đều có thể thu xếp thời gian để về tham dự.

Lễ giỗ tổ năm nay to nhất từ trước đến nay.

Đó là lời nhận định của các cụ cao niên nói với con cháu.

Đâu đâu cũng thấy tiếng nói, tiếng cười với những vẻ mặt vui mừng hớn hở rủ nhau hẹn ngày để về xem hội.

Hôm vào chính hội, Công Tiễn cũng vui ra mặt.

Ông hết đi chỗ này đến chỗ khác để chia vui cùng với mọi người.

Thỉnh thoảng ông còn bị kéo vào mấy đám hát hò hoặc nhảy múa.

Khi đến chỗ đám hát xoan, Công Tiễn dừng lại, chăm chú lắng nghe với vẻ say mê rồi lẩm bẩm: "Hát xoan hay thế này mà Đình Nghệ lại không chọn để làm nhã nhạc trong vương phủ của Tiết độ sứ thì quả là đáng tiếc".

Đi sang chỗ hội vật, khi Công Tiễn đang chăm chú xem hai đô vật tranh tài thì có một chàng trai trẻ chạy ào đến trước mặt gọi:

- Ông nội ơi...!

Công Tiễn quay ra nhìn thì thấy một chàng trai trẻ đang vừa bước tới vừa cất giọng nói:

- Ông ở đây mà cháu tìm mãi mới thấy!

Công Hãn đấy à!

- Công Tiễn lộ vẻ mừng rỡ - Cháu lên lúc nào thế?

- Cháu vừa lên sáng nay!

Nghe nói ông đang ở hội nên cháu vội đến đây để tìm ông.

- Thế cháu lên coi hội hay lên có việc gì?

- Cả hai ông ạ!

- Chàng trai tíu tít - Cháu lên vừa coi hội giỗ tổ sau đó thì phải đi lo cho cha cháu một việc...

Công Tiễn tò mò:

- Việc gì vậy?

- Cha cháu đang phụ trách việc đắp sửa thành Đại La nên sai cháu về Phong Châu mua thêm mấy chục bè tre, gỗ rồi mang gấp về để kịp sửa thành trước mùa mưa lũ năm nay.

Hai ông cháu Công Tiễn đang nói chuyện thì có một giọng nói cất lên phía sau:

- Thằng Công Hãn mới lên đấy à?

Công Hãn quay lại để nhìn xem ai vừa hỏi thì nhận ra đó là ông Công Toản, em trai của ông nội mình bèn cất tiếng chào:

- Cháu chào ông trẻ!

Cháu vừa lên sáng nay ông ạ.

- Lâu quá không gặp.

Mày lớn nhanh quá!

Thế cha mẹ với các em mày ở dưới đó có được khỏe không?

- Dạ!

Cha mẹ và các em cháu vẫn khỏe ạ.

Ông Công Toản nghe vậy lại hỏi:

- Đại La có gì mới không hả?

- Cũng không có gì mới đâu ông ạ!

Mấy người nói chuyện thêm một lúc thì Công Hãn chào hai ông già để xin phép được đi chơi hội cùng với mấy người bạn.

Chả là thủa nhỏ Công Hãn sống ở Phong Châu đây nên cũng có rất nhiều bạn bè cùng trang lứa.

Hai ông già ngoái đầu nhìn theo Công Hãn.

Khi chàng trai chạy khuất hẳn trong đám đông, ông Công Toản quay sang nhìn anh mình hỏi nhỏ:

- Anh nhìn thấy cơ hội chưa?

Công Tiễn chưa hiểu Công Toản nói đến cơ hội gì nên nhìn ông em hỏi:

- Chú nói cơ hội gì?

- Thì...

- Công Toản nhìn quanh không thấy ai đứng gần thì mới ghé tai Công Tiễn nói nhỏ - Thì cơ hội về làm chủ thành Đại La đó...!

Công Tiễn không vội trả lời mà thầm ngẫm nghĩ.

Thấy Công Toản chỉ vừa mới có ý tưởng gì đó từ lúc gặp được Công Hãn thì Công Tiễn đã phần nào đoán ra ý định của em trai, ông nhìn Công Toản nghi ngờ hỏi:

- Chú định lợi dụng thằng Công Hãn đấy à...?

Công Toản gật đầu:

- Đúng vậy!

- Nhưng chú định dùng cách gì?

- Bây giờ tôi có một cách này có thể giúp anh lên làm Tiết độ sứ đất Tĩnh Hải quân...

Song không biết anh có chịu nghe theo không thôi?

Công Tiễn thấy em trai mình ngập ngừng như vậy thì vội giục:

- Chú mau nói ra cho tôi nghe xem thế nào đã!

Công Toản không nói ngay mà hỏi lại:

- Có phải thằng Công Hãn được bố nó giao cho lên trên này để chặt tre luồng về đắp sửa thành Đại La không?

- Đúng vậy!

- Vậy thì...

- Công Toản cười - Anh hãy nhân cơ hội này cho một toán quân thiện chiến, cải trang thành dân phu kéo các bè tre về Đại La, giả vờ giúp cha con Công Chuẩn một tay để công việc được nhanh chóng rồi nhân cơ hội sẽ ra tay giết Dương Đình Nghệ, chiếm giữ cổng thành, mở đường cho đại quân Phong Châu ta tiến vào chiếm thành Đại La...

Công Tiễn ngẫm nghĩ một lát rồi nói:

- Để ta cho người nói trước với Công Chuẩn xem sao!

- Không được!

- Công Toản vội gạt đi - Anh không nên cho thằng Công Chuẩn biết...

- Sao lại không được?

- Công Tiễn hỏi lại - Dù sao nó cũng là con trai tôi.

- Đành là như vậy...!

- Công Toản giảng giải - Song anh quên một điều tối quan trọng là vợ nó chính là con gái của Dương Đình Nghệ hay sao?

Công Chuẩn là một đứa rất nặng tình...

Một khi đã biết được kế hoạch của chúng ta, chắc chắn nó sẽ phải nghĩ đến vợ nó.

Tôi nghĩ, nếu để cho Công Chuẩn biết, nó sẽ không thể giữ kín được đâu...

Công Tiễn gật gù tỏ vẻ đã hiểu:

- Chú nói vậy cũng có lý...!

Thế thì thằng Công Hãn cũng không được biết kẻo nó về sẽ nói lại với cha nó.

- Anh nghĩ được như vậy mới là thấu đáo!

- Nhưng làm thế nào để cha con thằng Công Chuẩn không nghi ngờ cho được?

Công Toản ghé sát vào tai anh trai mình nói nhỏ:

- Anh cứ làm như thế này... thế... thể nào cũng sẽ thành công...!

Công Tiễn vừa nghe vừa gật đầu liên tục:

- Được...!

Được...

Hay lắm...!
 
Back
Top Bottom