"Cậu từ đâu đến đây?
Hình như đây là lần đầu tui thấy cậu xuất hiện ở cái làng này đấy."
Bà cụ hàng nước móm mém nhai trầu, tóc bà bạc trắng nhưng nom có vẻ vẫn còn linh hoạt lắm, một tay bà nhét củi vào lò, tay còn lại thoăn thoắt thả lá trà vào chiếc bình sứ đã cũ, nó cũ đến mức tưởng chừng chạm vào là sứt mẻ.
Dưới tán đa rộng lớn, cái hàng nước đơn sơ ấy cứ thế đồng hành cùng gốc đa ngày qua ngày, chẳng biết cái quán có tự thuở nào, nhưng chỉ biết nó đã chứng kiến từng lớp người trong làng chậm rãi lớn lên theo thời gian.
"Tui từ miệt xa xuôi ghe đến đây, neo ghe tới đâu thì xem bệnh giúp người ta kiếm tiền tới nấy, rày đây mai đó mà cả đời cũng chẳng có nổi một mảnh đất cắm dùi."
Người đàn ông trung niên với nước da sạm đem nghe bà hàng nước hỏi chuyện thì cũng thật thà trả lời, hắn mặc một chiếc áo nâu tuy đã cũ nhưng trông vẫn phẳng phiu lắm, vóc dáng vạm vỡ, đầu đội một chiếc nón lá che đi gần nửa khuôn mặt.
Hắn ngồi đó, mùi rượu thi thoảng phất qua trong không khí, xem ra chắc vừa tỉnh rượu, khát nước nên mới tạt vào cái quán nhỏ của bà uống một chén trà.
Bà cụ nghe vậy thì vô cùng ngạc nhiên: "Ôi, cậu là thầy lang hả?"
Bà nhắc cái ấm nước đang sôi ùng ục ra khỏi bếp, thành thục tráng cái chén trà qua một lượt nước nóng, số nước còn lại bà châm vào bình, đợi trà ngấm thì rót ra chén, sau đó mới dùng bàn tay nhăn nheo đẩy chén trà về hướng người đàn ông xa lạ.
"Vâng, bệnh gì tui cũng xem được, ai không có tiền thì mang gạo hay dầu muối gì đó đến tìm thì tui vẫn nhận khám cho."
Giọng nói nhuốm màu sương gió, cái chất giọng khàn khàn vô cùng đặc biệt, ngôn từ thì thân thiện thật đấy, nhưng nghe vào tai thì cứ thấy lành lạnh xa cách kiểu gì.
Người đàn ông nọ bưng chén trà thổi vài hơi cho nguội bớt, hắn nhấp một ngụm cho đỡ khát, bên dưới vành nón lá là đôi mắt khinh bỉ đầy chán ghét, thứ trà nhạt nhẽo đến phát chán.
"Vợ con gì chưa cậu?"
Bà hàng nước lôi cái quạt nan ra quạt cho đỡ nóng, ngồi lâu gần bếp lò đang khơi lửa thì thật tình nóng chịu không nổi, chưa kể ngoài kia nắng còn gắt như vậy, đành rằng tán đa rậm rạp phía trên đã che bớt một phần nhiệt lượng.
"Tui có vợ rồi, vợ tui đang mang bầu.
Hôm nay ghe theo dòng nước xuôi tới đây nên tui neo lại rồi lên bờ mua ít đồ cho vợ tẩm bổ."
Hắn mân mê chén trà trên tay, hồi lâu vẫn không thấy uống thêm một ngụm nào nữa.
Bà cụ thấy vậy thì tưởng rằng do trà vẫn còn nóng, nhiệt tình mở miệng hỏi han: "Trà nóng hả cậu, có muốn pha thêm nước lạnh cho mau nguội không?"
"Không cần đâu."
"À trông cụ lớn tuổi lắm rồi, bà cụ cho tui hỏi, làng mình xưa giờ có hổ không nhỉ?"
Hắn đặt chén trà xuống cái bàn gỗ đã cũ rích, bâng quơ hỏi một câu hoàn toàn không ăn khớp với câu chuyện từ nãy đến giờ.
Hổ?
"Có đấy, nhưng cách đây lâu lắm rồi, thời mà ta còn trẻ lận."
Ánh mắt hắn loé lên ánh sáng quỷ dị, khóe môi nhếch lên một độ cong âm hiểm không ai nhìn thấy được.
"Trưa đi đường mệt lắm, bà kể tui nghe giết thời gian đi."
Bà cụ nghe vậy thì lấy que cời đống củi đang cháy trong lò cho nó tắt hẳn, áng chừng giờ này chẳng có mấy khách ghé qua, vì vậy bà kéo ghế mây ra xa bếp lò, thong thả ngồi xuống rồi mới chậm chạp kể lại.
"Hồi tui còn bé, nơi đây có hết phân nửa là rừng rồi, thời đó giặc đi lùng bộ đội ghê lắm, phân nửa bộ đội rút vào sâu trong rừng rồi xây lán hoạt động trong đó.
Thú hoang nhiều lắm cậu ạ, rắn độc, muỗi rừng, ma cỏ ôi thôi ta nói nhiều không sao kể xiết, rừng thiêng nước độc mà, nghe đâu dưới miệt cà mau còn có cả cá sấu."
Nói rồi, bà lại phe phẩy cái quạt trong tay: "Năm nọ chẳng biết có phải do bộ đội vào rừng xây dựng căn cứ hay không mà hổ mò ra tận bìa rừng kiếm ăn, cái giống ấy nhanh mà dữ tợn lắm, vồ được người là nó không giết liền đâu, nó dằn vặt cho chết dần chết mòn mới thôi.
Nghe ông bà kể lại, lưỡi nó liếm một cái thì có khi đi cả tảng da chứ chẳng đùa, nó ăn được thịt người thì thành tinh, từ đó không ăn thịt con gì khác mà cứ chăm chăm rình để bắt người, càng ngày càng khôn và ranh ma lắm."
"Tui nhớ năm đó tui độ chừng mười mấy tuổi thôi, gần nhà tui có chị Tư hiền lành và nết na, tuy nhan sắc không đẹp nhưng chị cũng thuộc dạng ưa nhìn, chị lớn tuổi mà chưa lấy chồng, ở vậy nuôi mẹ già.
Chiều hôm đó chị ra bìa rừng gom củi, chắc trong nhà không đủ củi dùng nên sáng chị đi làm đồng, tối muộn mới về đi vơ củi, và lần đó cũng là lần cuối cùng mà tui nhìn thấy chị."
Bà thở dài thườn thượt như tiếc thay cho số kiếp của một người con gái hiền lành hiếu thảo, đoạn bà buồn rầu kể tiếp: "Quá nửa đêm mà chẳng thấy bóng dáng chị đâu, mẹ của chị thấy trễ quá mà chị chưa về, sợ con gái đi lạc nên bà vội vã chong đèn đi cầu cứu mấy nhà xung quanh, cha tui khi đó cũng tham gia vào nhóm người đi tìm, một đám người đốt đuốc rồi tiến về bìa rừng, đến gần rạng sáng thì mới kéo nhau về."
Người đàn ông xa lạ nghiêng đầu chăm chú lắng nghe, từ nãy đến giờ không hề nói chen một câu, kiên nhẫn đến kỳ lạ.
"Hai ngày đầu tìm hoài chẳng thấy, ai cũng cho rằng chị lành ít dữ nhiều, ai cũng nghĩ chị đi lạc vào rừng rồi bị ma nó giấu, tuyệt chẳng ai nghĩ rằng chị bị hổ vồ, bởi lẽ xưa nay làng này không thấy hổ về.
Đến rạng sáng ngày thứ ba thì dân làng tìm thấy chị, lúc về họ khiêng theo một cái cán được ghép từ cây rừng và được buộc tạm bằng dây mây, trên ấy đặt thi thể bị cắn nham nhở và đang trong quá trình phân hủy nặng.
Khi đó tui còn nhỏ nên người lớn không cho nhìn, chỉ nhớ được cái mùi thịt người phân hủy hôi thối đến mức đáng sợ, tui nói cậu nghe, cái mùi ấy kinh dị lắm, nó thối hơn tất cả những mùi thối trên đời này, mùi chuột chết vẫn còn kém xa, đến giờ mà tui vẫn không quên được, nó tởm lợm đến phát nhợn."
Kể đến đây thì bà ngừng hẳn, sắc mặt tái nhợt như thật sự ngửi được mùi xác chết đâu đây.
"Tui nghe loáng thoáng họ nói xác chị nằm dưới một gốc cây, họ dựa theo vết máu mà tìm, tìm được đến nơi thì xác chị đã bị cắn xé đến mức không còn rõ hình dạng, chỉ có chiếc vòng tay chị hay đeo là còn khá nguyên vẹn, vật ấy treo lủng lẳng trên cánh tay bị cắn sắp sửa đứt lìa, nó là thứ duy nhất để chứng minh thân phận, bởi lẻ khuôn mặt bị cắn trơ cả xương sọ."
"Kể từ đó, lâu lâu hổ về rình bắt người mãi, dân làng sợ lắm nên mới chiều là cửa đóng then cài, không ai dám ra đường vào ban đêm.
Số người bị hổ giết ngày càng nhiều nên họ còn lập cả miếu thờ những vong linh người chết do bị hổ bắt, mãi đến khi không bắt được người trong làng, đói quá nên nó mò đến lán của bộ đội trong rừng để bắt người ăn thịt, bị bộ đội bắn giết thì từ đó nơi này mới vắng bóng hổ."
"Sau khi đất nước hoà bình, dân làng khai khẩn rừng để lấy đất trồng trọt, rừng ở nơi đây dần dần bị thu hẹp một cách đáng kể, bây giờ thì vẫn còn, chỉ là không to như thời xưa mà thôi."
Có được thông tin mình cần, hắn móc túi rồi thả lên bàn một đồng bạc: "Cảm ơn bà cụ đã kể chuyện cho tui nghe, thôi tui về cho kịp kẻo vợ tui trông."
Trà trong chén chẳng vơi là bao.
Hắn kéo nón lá cho nó sụp xuống thêm chút nữa, không quên cúi người cầm cái bị đệm dưới chân, còn chưa kịp bước chân ra khỏi quán nước thì bất chợt hắn đứng sững người lại, bởi vì phía trước con đường đất đỏ có một nhóm thanh niên vác theo một đứa bé rũ rượi nằm trên vai, đứa bé ấy ăn mặt theo lối con nhà giàu, thế nhưng lại ướt sũng từ đầu đến chân.
Ngang qua quán nước, một thanh niên trong nhóm tách đoàn rồi rẽ vào quán nước nơi gốc đa đầu làng.
"Bây đi đâu mà hối hả vậy?"
Bà cụ bật dậy khỏi cái ghế mây, ánh mắt chăm chú nhìn theo đám đông nhốn nháo dần dần khuất xa.
"Bà Hai bán con một chén nước với, nắng quá."
Chàng trai kéo ghế ngồi xuống, nâng tay lau đi mấy giọt mồ hôi lăn dài trên má.
"Ừ, để tao lấy cho, mà bây đi đâu giờ này?"
Bà cụ nhanh chóng lấy cái chén khác rồi tính tráng nước sôi, chàng trai trẻ thấy vậy thì khoát tay kêu lên:
"Trời ơi khỏi tráng đi bà Hai, lấy nước trà lạnh á chứ nóng cỡ này ai mà uống trà nóng cho nổi.
Với lại giờ con gấp lắm, thằng Duy con ông Tư vừa té sông chết ngắt rồi."
"Bây nói sao?
Con ai?"
Bà Hai nghe vậy thì lấy nước lạnh đổ ra chén rồi pha thêm nước trà, vừa làm bà vừa cất giọng hỏi thăm.
"Con ông Tư Thanh, nhà giàu nhất làng mình chứ ai."
"Nhà đó có một thằng con trai độc đinh à, mà sao trưa nắng nó không ở nhà, đi ra đó làm cái chi?"
"Bà hỏi con thì con biết hỏi ai, nãy có người đi ngang sông thấy có cánh tay chấp chới dưới nước nên người ta nhảy xuống cứu.
Kéo được lên bờ thì hô hoán lên cho mọi người xung quanh, mấy thằng chăn trâu gần đó xúm lại coi thì mới biết té ra là thằng Duy con ông Tư gặp nạn, cả bọn kéo nhau đưa nó về nhà lớn rồi."
Chàng trai đón lấy chén trà mà bà Hai đưa tới, nói xong thì ngửa đầu uống lấy uống để một hơi cạn sạch.
"Rồi nó chết chưa mà bây nói nó chết rồi?"
Bà Hai nhận lại cái chén không, thuận tiện rót thêm chén nữa rồi đưa sang.
"Lúc kéo lên bờ thì cả người nó nhớt nhợt như nha đam vậy đó, người ngợm cứng đơ có lay cỡ nào cũng không tỉnh, con độ nó chết rồi, chuyến này trời cứu."
Nói xong hắn uống luôn chén trà bà cụ vừa đưa sang, hắn đặt chén rỗng xuống bàn, đưa tay quẹt ngang miệng rồi xô ghế đứng lên: "Cho con thiếu đi bà Hai, mai con ghé trả cho, nãy đi gấp nên không có mang tiền, vậy nghen, giờ con chạy qua đó coi sao."
"Ừ bây đi đi, có gì thì về ghé kể tao nghe, tao sợ nó bị ma da bắt rồi."
Bà cụ nghe nó đòi uống thiếu thì dễ chịu gật đầu, tiện tay gom hai cái chén định bụng đi rửa.
"Cậu gì ơi, tui là thầy lang, cậu dẫn tui theo với."
Hoá ra người đàn ông xa lạ nãy giờ vẫn chưa rời đi, hắn im lặng đứng đó lắng nghe toàn bộ câu chuyện, mắt thấy chàng trai trẻ tuổi sắp sửa chạy đi, lúc này hắn mới mở miệng gọi giật người lại.
"Ừ nhém tí thì quên, bây dẫn cậu này đi chung đi, người ta là thầy lang từ xa tới đây, dẫn theo tới đó biết đâu cứu được thằng nhỏ cũng nên."
Bà Hai nhớ ra khi nãy người này tự nhận mình là thầy lang, nay sẵn dịp, cứu được người thì quả thật là may mắn quá.
"À, vậy chú đi theo tui."
Cứ thế, hai người một trước một sau đi đến ngôi nhà vừa có người gặp nạn, ánh mặt trời trên đầu chiếu xuống chang chang, vì đi quá gấp, mồ hôi túa ra như mưa.
Đến nơi, ngoài sân đã chật kín người đến hóng chuyện, đám đông bàn tán ghê lắm, giữa nhà thấp thoáng bóng người đi tới đi lui, thỉnh thoảng bên trong còn truyền đến tiếng khóc xé ruột xé gan.
Thoạt nhìn ngôi nhà được xây bằng gỗ tốt, bề thế và vô cùng khang trang, bố cục phong thủy tốt đến nỗi không còn gì để chê, nhà này ba đời không phú cũng quý, quả nhiên giống hệt với lời người thanh niên đã nói khi nãy.
Chàng trai phăm phăm vạch lối đi ở giữa đám đông, vừa đi vừa lớn giọng hô hoán: "Tránh ra cho thầy lang người ta vào xem bệnh, cái gì mà chen chúc nhau dữ vậy, bộ trời nắng không thấy nóng hả?"
Mọi người xung quanh nghe đến hai chữ thầy lang thì tự động nép sang hai bên nhường đường, tiếng xì xào thoáng chốc im bặt.
Một người phụ nữ to béo xụ mặt nhăn nhó, không quên móc mỉa đôi câu: "Chết rồi thì khám làm chi cho mệt, mày kêu thầy liệm coi bộ có lý hơn à."
Mặc kệ người xung quanh nói gì, chàng trai vẫn cứng đầu cứng cổ rẽ đám đông đưa người đàn ông vào trong.
Đến bậc thềm dẫn vào nhà chính, bất chợt bên trong vọng ra tiếng quát như sấm.
"Mày sang sông rước thầy Chín về đây, đứa nào trông chừng cậu chủ thì bước ra đây cho tao, bữa nay con tao chết thì tụi bây cũng phải chôn theo."
"Con Thu mày vào trong coi bà tỉnh chưa, nếu bà tỉnh rồi thì chăm sóc cho kỹ."
Người đàn ông lớn tuổi đứng giữa nhà chỉ tay quát tháo, vẻ mặt hầm hầm, nhìn lối ăn mặc chắc hẳn đây là chủ nhà.
Đám gia nhân trong nhà mặt mày xanh lét, bọn họ run rẩy đứng nép vào một góc, tuyệt nhiên không một ai dám bước ra nhận tội.
Bên góc phải gian nhà chính có kê một tấm phản gỗ lim, cậu con trai không may té sông đã được người làm trong nhà thay một bộ quần áo khác, đứa bé an tĩnh nhắm mắt nằm đó, mặc kệ tình cảnh xung quanh đã vô cùng rối ren.
Chàng thanh niên đưa người đàn ông đến đây rồi dừng lại, hắn không dám vào sâu hơn nữa.
Người đàn ông nghiêm nghị chỉnh lại cái nón lá trên đầu, sau đó thong thả bước thẳng vào trong.
"Mày là ai?"
Chủ nhà đang hùng hổ chửi bới đám người làm trong nhà, nghe sau lưng có tiếng bước chân thì bực bội quay người lại.
"Tui đến cứu con ông."
Hắn không thích nói nhiều, chỉ nói bấy nhiêu đó rồi cất bước tiến thẳng đến chiếc ván gỗ.
"Nó chết rồi thì làm sao mà cứu?"
Ông Tư Thanh khó chịu ra mặt, bất quá vẫn đi theo phía sau người đàn ông lạ mặt, thật tình ông vẫn ôm hy vọng có người cứu được con của mình, khổ nỗi lúc người ta đưa con ông về thì người ngợm nó đã cứng đờ, mạch không nhảy tim không đập.
"Ma da bắt hồn rồi, tui có cách cứu con ông, tin hay không thì tùy."
Nghe đối phương nói vậy, hắn hối hả thiếu điều quỳ xuống ôm chân người ta mà van xin lạy lục.
"Mong thầy cứu lấy con tui, nếu cứu được nó, sau này thầy muốn gì tui cũng sẽ cho."
"Đuổi người ngoài kia về hết đi, càng ít người càng tốt, bây giờ sắm sửa đầy đủ những thứ mà tôi căn dặn, giấy viết đâu?"
Vừa nói hắn vừa lôi trong túi ra một vật gì đó đen thui, bóp miệng cậu bé nằm chết cứng trên giường rồi thẳng tay nhét gọn vào trong.
"Tụi bây đem giấy viết ra cho thầy nhanh lên, ra ngoài kia đuổi người về hết đi, rặt một lũ ăn hại, nuôi tụi bây chỉ được nước tốn cơm."
Ông Tư Thanh giậm chân bình bịch, phải chi có cái gậy trong tay là ông phang thẳng vào đầu cái đám hạ tiện này.
Đám người hầu trong nhà nhanh chóng tan rã, bọn họ cuống quýt chia nhau nhiệm vụ, không dám chậm trễ một giây phút nào, bởi lẽ họ sợ rằng nếu làm phật ý ông chủ, lát nữa dám chừng ổng lôi bọn họ chôn cùng con mình cũng nên.
Người đàn ông ngồi xuống bộ ngựa giữa nhà, đợi giấy viết được đem lên thì hạ bút viết một lèo chật kín cả trang giấy.
"Kêu người đi mua đi, nhớ phải mua cho đủ, một món cũng không được thiếu."
Độ chừng hai tiếng sau, những vật dụng hắn cần đều đã được chuẩn bị đầy đủ, giấy tiền vàng bạc, hương nến nhang đèn không thiếu thứ gì.
"Mọi thứ đã chuẩn bị xong rồi thầy, khi nào thì chúng ta bắt đầu?"
Ông Tư Thanh lòng như lửa đốt, hết liếc mắt nhìn về đứa con trai nằm im lìm trên phản rồi lại nhìn về người đàn ông đang ngồi giữa nhà, dù nôn nóng là thế nhưng ông không dám làm phiền, bởi lẽ người đàn ông xa lạ kia đang cầm bút lông viết những kí tự kỳ lạ lên một tờ giấy vàng, dáng vẻ nghiêm túc như treo trên mặt mấy chữ người sống chớ gần.
Cái nón lá hắn đội lúc đến đã được tháo xuống tự lúc nào, khuôn mặt khắc khổ sạm đen vì nắng và gió, giữa mặt là một vết sẹo to đùng như muốn cắt ngang cả khuôn mặt, đôi mắt ti hí hằn lên cái sự gia trưởng và độc ác.
"Ông chọn một căn phòng kín, dọn sạch đồ vật trong phòng ra ngoài, quét tước sạch sẽ rồi cấm bất cứ ai đến đó, sẵn tiện đem số đèn ta đã yêu cầu vào căn phòng đó trước đi."
"Ông lấy đúng bảy hạt gạo to tròn nhất, vạch miệng cậu nhà rồi thả vào trong miệng để cho cậu ngậm."
"Dạ thầy, tui đi làm ngay."
Ông tất bật chạy vào nhà sau căn dặn đám người làm, sau đó đích thân đi đến thạp gạo, tỉ mỉ lựa ra bảy hạt mà ông cho rằng to và tròn nhất.
Đem gạo thả vào đĩa, ông lại cầm đĩa chạy ngược lên gian nhà trên, cẩn thận vạch miệng cậu con trai yêu quý, bất kể khớp hàm nó đã cứng ngắc, làn da trắng bệch và lạnh lẽo như người đã chết được vài giờ, ông run rẩy đem từng hạt gạo thả vào trong.
Người làm trong nhà thì khệ nệ bê hết đèn vào trong phòng, có lớn có nhỏ, nhìn chung số lượng khá nhiều.
Lát sau người đàn ông một mình bước vào trong phòng, hắn vẽ một vòng tròn giữa phòng bằng nước mực chu sa, đem bảy chiếc đèn lớn xếp vào vòng tròn ấy theo nguyên lý "Nam Đẩu chủ sinh, Bắc Đẩu chủ tử, ở giữa bảy chiếc đèn hắn đặt vào đấy chiếc đèn lớn nhất.
Lấy vòng tròn làm trung tâm, từ đó xếp thêm bốn mươi chín ngọn đèn nhỏ, chia ra làm bảy vòng xếp xen kẽ nhau.
Làm xong hết thảy, hắn mới cất giọng gọi chủ nhà vào phòng.
Ông Tư Thanh cẩn thận bước tránh khỏi những chiếc đèn, chậm rãi tiến đến bên cạnh người đàn ông.
Thấy người hung tợn quát tháo ban nãy bây giờ khép nép nhưng chim sợ cành cong, hắn nhếch miệng cười khinh, đưa tay chỉ vào chiếc đèn lớn nhất giữa phòng: "Thắp cái đèn ở giữa đó lên, nó không cháy thì con ông chết."
Nghe vậy, chân ông Tư Thanh như nhũn cả ra, nhưng sợ con mình chết thật, ông vẫn cố gắng đi đến chiếc đèn lớn nhất giữa phòng, tay run rẩy quẹt diêm, quẹt ba bốn mẩu mà nó không cháy, trái lại lòng bàn tay còn đổ mồ hôi.
Ông mím môi lau tay phải vào quần cho ráo, cắn răng rút thêm một que diêm rồi quẹt mạnh lên thân hộp, may sao, đến quê diêm thứ năm thì que này mới bén lửa.
Ánh sáng loe loét trên đầu ngọn diêm bừng lên giữa căn phòng, ông Thư Thanh vội vàng châm xuống đúng ngọn đèn mà thầy đã chỉ ban nãy.
Lửa bén vào bấc đèn, ngay lần đầu tiên đã cháy, kỳ lạ thay, màu ngọn lửa trong đèn lại là màu xanh loét chứ không phải cam đỏ như ánh lửa thông thường.
"Con ông cứu được, đó là đèn bản mệnh của nó, giờ thì ông thắp hết mấy ngọn đèn còn lại đi, thắp từ giữa thắp ra, không được xê dịch đèn, thắp đến hết thì thôi."
Ông Tư Thanh nghe vậy thì mừng lắm, con ông được cứu rồi, đứa con duy nhất mà gần đến tuổi xế chiều thì ông và bà nhà mới vất vả có được.
Mồ hôi chảy ròng ròng hai bên thái dương, ông cẩn thận lê cái thân già cõi đi thắp hết từng ngọn đèn, dù rằng đôi khi những đầu ngón tay bị lửa xém vào nóng đến bỏng rát nhưng ông không kêu ca lấy một lời, nghiêm túc làm theo lời thầy dặn.
Đợi đèn trong phòng được thắp lên hết cũng là chuyện của nửa tiếng sau, căn phòng bấy giờ sáng bừng, những ngọn đèn xung quanh cháy đỏ rực, chỉ duy nhất ngọn đèn lớn ở giữa là mang màu xanh nhạt, trông quỷ dị vô cùng.
Hai người một trước một sau bước ra khỏi phòng: "Khoá lại đi, không cho ai tới gần."
Nói xong hắn đi thẳng ra gian nhà giữa, bỏ lại một mình ông Tư Thanh loay hoay khoá cửa phòng.
Khi ông ra đến nơi thì người đàn ông đã ngồi lại bộ ngựa, bên cạnh là chai rượu đã vơi quá nửa, ông tự nghĩ chai rượu rách này chắc hẳn thầy tự đem theo tới đây, chứ nhà ông xưa nay làm gì có cái chai này.
"Ông cho tui biết sinh thần bát tự của cậu nhà, nhớ phải chính xác để tui còn ghi lên sớ."
Ông Tư Thanh tự giác ngồi sang phía đối diện, kính cẩn dạ thưa: "Thưa thầy, con tui sinh ngày 26 tháng 7 năm Nhâm Thân, nó sinh rạng sáng khi gà vừa gáy, đúng ba giờ sáng."
"Ồ thuộc mệnh Kiếm Phong Kim cơ đấy, mệnh tốt."
Vừa nói hắn vừa cầm bút viết lên tờ giấy vàng ban nãy.
"Vâng ạ, ai cũng nói vậy."
Ông chăm chú nhìn vào những văn tự trên giấy, thoạt nhìn nó giống chữ tàu, nhưng nhìn kỹ thì lại không phải."
"Ông mang theo bộ đồ mà ban nãy cậu nhà mặc lúc gặp nạn và cầm tờ giấy này đi ra bờ sông, nhớ chỉ được đi một mình.
Ra đến đó thì ném bộ đồ xuống sông, thấy nó chìm thì mới đốt tờ giấy này, vừa đốt vừa nhẩm họ tên và sinh thần bát tự của cậu nhà, chờ sớ cháy hết rồi lấy tro thả xuống nước, đợi khi áo nổi lên thì mang áo về đây cho tui, nhớ trên đường về ai gọi cũng không đáp, đi thẳng về nhà tuyệt đối không quay đầu lại, nếu không thì đợi hốt xác nó đi."
"Dạ dạ, tui đi ngay đây."
Nói xong ông cầm tờ giấy trên bàn, hối hả đi xuống nhà sau tìm áo của con.
Rất nhanh, tiếng quát của ông từ gian nhà sau vọng lồng lộng lên gian nhà trước: "Nãy tụi bây thay áo của cậu rồi để ở đâu, đưa đây cho tao.
Giờ tao đi công chuyện, tụi bây ở nhà coi thầy có dặn gì thì làm cho đàng hoàng, làm thầy phật lòng là bây chết với tao."
Nói đoạn ông giật cái áo ướt sũng và nhớt nhợt trên tay một thằng hầu, hối hả lao thẳng ra khỏi nhà mà không kịp đội nón cho đỡ nắng.
Đường làng vắng ngắt, thỉnh thoảng có vài con trâu thấy ông chạy qua thì ngẩng đầu thôi ăn cỏ, tò mò dõi mắt nhìn theo, đôi tai không quên phe phẩy đuổi ruồi.
Ông Tư Thanh chạy thẳng một mạch ra ngoài bờ sông, đến nơi, ông lựa một góc sông hơi khuất rồi cuốn cái áo ném thẳng xuống nước, cái áo rất nhanh ngấm nước rồi chìm ngỉm mất hút.
Đợi thêm một lát cho chắc ăn, bấy giờ ông mới rút ra hộp diêm trong túi rồi quẹt lửa đốt luôn tờ giấy mà thầy đã đưa, vừa đốt vừa lẩm nhẩm đọc tên con trai và sinh thần bát tự.
Tờ giấy bén lửa, chỉ chốc lát sau đã hoá thành một đốm tro tàn, ông Tư Thanh hốt luôn vừa đất vừa tro rải thẳng xuống sông, sợ tro còn sót, ông cẩn thận hốt thêm ba bốn lần nữa, lúc này mới thấy yên tâm.
Và rồi điều kỳ kạ cũng đã xuất hiện, cái áo ấy từ từ nổi lên mặt nước như có con gì từ dưới sông đẩy nó trồi lên, cứ thế chậm rãi trôi đến gần chỗ ông Tư Thanh đang đứng.
Sống lưng ông lạnh toát, da gà da vịt thi nhau nổi lên rần rần, thú thật cả đời ông, đây là lần đầu tiên ông nhìn thấy được sự lạ cỡ này.
Đợi nó trôi đến gần, ông khom lưng dứt khoát vớt cái áo ấy lên, mím môi xoay người chạy thẳng về nhà.
Trên đường về, con đường càng trở nên vắng lặng đến lạ, giống như cả làng này chỉ còn một mình ông, tuy nhiên lâu lâu bên tai vẫn thấp thoáng nghe được tiếng ai đó gọi mình: "Thanh ơi, con quay lại bờ sông đi."
Dù giọng nói giống hệt giọng mẹ ông lúc sinh thời, nhưng nhớ lời thầy dặn, ông cắn răng ôm theo cái áo chạy một mạch về nhà.
Tiếng bước chân bình bịch bất chợt vang lên từ phía sau, dường như có một đám người rất đông đang đuổi theo truy sát.
Chân mềm nhũn, ông theo bản năng tính quay đầu nhìn lại phía sau để xem thứ đuổi theo mình là cái gì, tuy nhiên trong đầu kịp thời vang lên câu nói của thầy đã nói trước khi ông ra khỏi nhà.
"Đi thẳng về nhà tuyệt đối không quay đầu lại, nếu không thì đợi hốt xác nó đi."
Ông gian nan nhắm mắt lại, cố gắng xem nhẹ những loạt âm thanh khủng bố đang không ngừng vang lên từ phía sau.
Vất vả lắm mới về được đến nhà, đoạn đường quen thuộc thường ngày sao hôm nay tưởng chừng lại như qua cả một kiếp người.
Ông ôm gương mặt xanh lét, thất tha thất thiểu đi vào nhà.
Ra ngoài chưa đến một tiếng, khi về như già đi cả chục tuổi.
"Hình như tui đánh giá thấp sự can đảm của ông rồi, đưa áo cho người này cầm, còn ông đến gần bàn lễ đi."
Người đàn ông đứng trước ngưỡng cửa của gian nhà chính, bên cạnh là thằng Cò gầy tong teo, hai tay hắn chấp sau lưng, vừa nói vừa hất cằm nhìn về phía chiếc bàn lễ đầy ắp đã được bày biện giữa nhà tự lúc nào.
Ông Tư Thanh vừa thở hồng hộc vừa ôm cái áo giao lại cho thằng Cò, xong xuôi ông mới bước vào trong nhà, loay hoay tìm một góc trống rồi nghiêm chỉnh đứng cạnh chiếc bàn lễ.
"Cầm cái áo này leo lên nóc nhà chính, căng áo ra, quay mặt về phương bắc gọi tên cậu nhà, gọi đến khi nào ta kêu dừng thì mới được dừng."
"Dạ."
Thằng Cò gật đầu, nhanh chóng chạy đi lấy cái thang rồi leo lên nóc nhà chính, nó chọn đúng hướng bắc rồi dùng hai tay căng chiếc áo ra, cất giọng gọi tên cậu chủ nhỏ.
"Bà ra đứng đợi dưới sân đi, lát nữa phía trên ném áo xuống thì bà đón cho chuẩn, đem vào nhà phủ lên người con bà."
Bà Tư từ nãy đến giờ vẫn đứng sau góc cột, nghe tiếng thầy căn dặn, bà mím môi chăm chú lắng nghe, sau đó bước ra ngoài sân dưới ánh nhìn của ông Tư Thanh.
Thằng Cò đứng trên nóc nhà, nó gắng gượng chịu đựng cái nắng nóng, kiên trì lập đi lập lại tên cậu chủ nhà mình.
Kêu đến lạc cả giọng, đúng lúc nó đang than thở trong lòng sao mà lâu đến thế thì chính lúc này cái áo trên tay nó rung rinh như gặp phải gió.
Nó dám lấy tính mạng của mình ra để thề rằng khi ấy xung quanh hoàn toàn không có gió, ngọn cây không lay, da không thấy mát thì gió ở đâu ra.
Dẫu vậy, cái áo nó cầm trên tay vẫn phất phơ theo từng nhịp đều đặn.
"Cuốn cái áo lại, ném xuống cho bà chủ."
Thằng Cò như được đại xá, nó hối hả cuốn cái áo lại thành một cục, sau đó xoay người nhắm hướng bà chủ đã giang tay đứng đợi sẵn, canh chuẩn rồi ném xuống.
Đón chiếc áo vào lòng, bà tư nhanh chân chạy vào nhà, giũ áo ra rồi đắp ngang người của đứa con trai mệnh khổ.
Ông Tư Thanh bên này liếc mắt ngó qua chiếc phản gỗ, cậu con trai của ông vẫn nằm im ở đó, chỉ khác một chỗ, chiếc chăn ban nãy đắp trên người nó giờ đây đã được thay bằng một tấm vải vàng viết đầy phù chú, phủ kín từ chân lên đến đỉnh đầu.
Giờ đây còn được đắp thêm một lớp áo.
"Đứng sang một bên đi, tui cần phải làm lễ để cậu nhà nhập hồn."
"Dạ vâng, trăm sự nhờ thầy."
Ông Tư Thanh thành thật đứng nép sang một bên, an tĩnh đứng đó xem người đàn ông cử hành buổi lễ.
Người đàn ông lấy đủ bảy cây nhanh rồi đốt chúng lên, đầu nhang bén lửa hiện ra màu đỏ chót, hắn phất tay để dập lửa, sau đó cắn sáu cây nhang vào lư hương, chỉ giữ lại duy nhất một cây trên tay.
"Đem một chén gạo và một chén muối rãi trước cửa nhà, làm xong thì vào đây lấy thêm một chén gạo và một chén muối nữa đem rãi ở cửa sau, đi đi."
Trên bàn lễ có đặt ba chén gạo và ba chén muối, nghe thầy sai bảo, ông Tư nhanh nhẹn bưng hai cái chén trên bàn chạy ào ra cửa trước, cố gắng rải sao cho thật đều.
Làm xong ở cửa trước, ông lại tiếp tục lập lại hành động y hệt như vậy đối với cửa sau.
Đến khi ông làm xong, vừa dợm bước trở lại gian nhà chính, tiếng người đàn ông lại lần nữa vang lên.
"Đem hai chén cuối cùng rãi lên người con trai ông đi."
"Vâng thầy."
Đáp lại một câu, ông tiến đến bàn lễ lấy hai chén gạo muối, sau đó đi xung quanh vẩy thẳng lên người cậu con trai.
Lúc bấy giờ, hắn cầm cây nhang leo lên tấm phản gỗ, vừa lẩm nhẩm niệm một bài chú kỳ lạ, vừa động tay dùng que nhang về lên không trung những ký tự kỳ lạ, khói nhang quẩn quanh hư hư thực thực.
Sau một hồi lâu, hắn thu tay và cũng thôi niệm nữa, lớn giọng hô lên một tiếng: "Nhập."
Dứt câu, cậu con trai tưởng chừng đã chết bỗng dưng thở hắt ra một hơi, nó há miệng ho lên sặc sụa, lát sau nghiêng đầu ói ra phản gỗ thứ chất dịch đen ngòm, mùi hôi tanh tởm lợm vô cùng.
"Trời ơi ông ơi, con mình nó tỉnh lại rồi."
Bà Tư nghẹn ngào thốt lên, bà mặc kệ thứ dịch vị gớm ghiếc ấy, trực tiếp lay lay vỗ vỗ lên mặt đứa con quý tử.
"Nấu nước lá bưởi và sả lau mình cho nó, bảy ngày tới không ăn thịt cá, chỉ cho ăn cháo trắng và uống nước muối nhạt.
Còn ông, mỗi ngày cách sáu tiếng thì phải vào phòng chăm dầu cho đèn, tuyệt đối không được để bất kỳ ngọn đèn nào tắt."
"Vâng nhớ rồi ạ, cả nhà tui nhớ ơn thầy suốt cả đời này."
"Dọn dẹp trên này đi, lát nữa ông ra ngoài nói chuyện với tui."
Nói xong câu đó, hắn xoay người bước ra cái đình hóng gió được xây riêng ngoài góc sân vườn.
"Ông đi với thầy coi thầy nói gì, nhớ đáp lễ cho hậu hĩnh, trong này cứ để tui lo."
Nhìn cậu con trai sau khi nôn xong thì lại ngất đi, ông Tư lo lắng vô cùng, bất quá vợ đã nói như vậy, ông gật đầu rồi cũng quay lưng cất bước ra ngoài.
Ra đến đình hóng gió, người đàn ông với nét mặt dữ tợn đang ngồi im ở đó uống rượu.
"Chẳng hay tui chưa được biết quý danh của thầy."
Ông kéo ghế ngồi xuống phía đối diện, rụt rè hỏi ra.
"Tui tên Bửu, chuyện hôm nay tui cứu con ông, tốt nhất ông hãy giấu càng kín càng tốt, tuyệt đối không được kể với người bên ngoài."
"Hoá ra là thầy Bửu, tui có nói nếu thầy cứu được con tui thì thầy muốn gì tui cũng cố gắng đáp ứng, thầy muốn vàng bạc hay là thứ gì khác."
Tiền bạc thì nhà ông không thiếu, thứ ông sợ nhất là nợ người ta ân tình, bởi lẽ nợ ân tình thì khó trả lắm.
"Tui không cần bạc hay vàng, nghe nói nhà ông đất đai bạc ngàn, ta chỉ xin một mảnh đất để dừng chân mà thôi."
"Không giấu gì thầy, từ thời ông nội thì nhà tui đã là địa chủ, sau cách mạng tuy đất đai không còn nhiều như xưa, nhưng thầy muốn thì lúc nào cũng có.
Tư Thanh ăn ngay nói thật, một mảnh đất mà thôi, chuyện đơn giản như ăn cơm bữa.
"Có mảnh đất nào gần rừng hay không?"
Nghe hỏi đến đây, ông Tư Thanh vô cùng ngạc nhiên.
"Dạ có thưa thầy, nhưng chỗ ấy tách biệt với làng, lại hẻo lánh lắm, thầy lấy mảnh đất khác tui thấy ổn hơn."
"Ta chỉ cần vậy thôi, phiền ông lát nữa cho người đưa tui đến đó, mọi chuyện còn lại tui tự lo được."
Hắn hớp thêm một ngụm rượu, ánh mắt không nhìn về phía chủ nhà mà chăm chú nhìn về một nơi xa xăm nào đó.
"Vâng ạ, lát nữa đích thân tui đưa thầy đi."
Ông Tư thấy người ta uống rượu một mình, ông với tay lấy cái bình ra khỏi trái dừa giữ nhiệt, ngại ngùng tự rót cho mình một chén trà.
Chiều tà, sau khi dùng xong buổi cơm chiều, ông Tư Thanh đưa thầy Bửu đi đến mảnh đất xa nhất trong số những mảnh đất mà ông sở hữu.
"Thầy xuôi ghe tới đây, vậy bây giờ quyết định ở lại nơi này luôn rồi hả thầy?'' Vừa đi, ông vừa hỏi thăm tình cảnh của vị ân nhân bên cạnh.
"Không biết nữa, có duyên thì tui ở lại."
Hắn lạnh nhạt trả lời, hình như không muốn nói nhiều đến vấn đề này.
Gia chủ thì tò mò dữ lắm, ông muốn hỏi xem vết sẹo trên mặt người này từ đâu mà ra, khổ nỗi nhìn người ta lạnh lùng quá, thành ra ông không dám hỏi.
"Ông giấu nhẹm cái chuyện tui làm thầy pháp đi, có những chuyện thân bất do kỷ, tui với ông gặp nhau là duyên, có duyên nên tui mới giúp."
Đi thêm một quãng, người đàn ông tên Bửu đột ngột nói ra một câu như vậy.
"Tui nhớ rồi thầy, phía trước chính là mảnh đất mà thầy muốn."
Nơi đây hoang tàn, vắng vẻ đến độ chẳng ma nào thèm đến khai hoang, bốn mặt thì có hết ba mặt giáp rừng, cách đó không xa còn có một lạch nước nhỏ.
Lối vào chỉ có một con đường duy nhất, câu nói khỉ ho cò gáy, chim không thèm ỉa hoàn toàn ứng với hoàn cảnh nơi này.
"Tui ưng chỗ này, sau khi tui dọn vào đây, từ nay về sau ông hãy hạn chế tìm tui, coi như không quen biết là được, tui không cần ông báo đáp gì đâu."
Nghe hắn nói vậy, ông Tư ngây ngẩn cả người.
"Tui ở đây xem địa thế một chút, ông về đi, nhớ cách sáu tiếng thì phải châm dầu cho đèn, cẩn thận đừng làm nó tắt."
Và rồi họ chia tay nhau từ đó, vùng đất hoang tàn cằn cỗi này kể từ bây giờ sẽ thuộc về người đàn ông xa lạ.
Dạo ấy là đầu những năm hai ngàn.
Bắt đầu kể từ hôm đó, bầu không khí làng quê yên bình bị phá nát bởi sự xuất hiện đột ngột của một gia đình bí ẩn!
Chẳng ai biết bọn họ di cư từ nơi nào đến đây, cũng chẳng bao giờ bà con xung quanh nhìn thấy gia đình bọn họ êm ấm được ngày nào.
Mỗi ngày những tiếng la mắng, miệt thị, chửi bới và tiếng đập phá đồ đạc chưa bao giờ ngơi ngớt trong căn nhà lá tồi tàn ấy.
Cùng năm, gian nhà tranh biệt lập chào đón sự chào đời của một cô gái nhỏ.
Người đàn ông tên Bửu đặt cho đứa con gái của mình một cái tên nghe vô cùng êm tai: Ngô Phương Thùy.
Khởi đầu cho những chuỗi ngày bi kịch.
Chẳng biết thời gian đã trôi qua bao lâu, tình hình trong ngôi nhà ấy càng ngày chỉ càng trở nên tồi tệ hơn.
Một ông chồng thô bạo nghiện rượu, một bà vợ hiền lành chịu đựng và một đứa con gái lạnh lùng ít nói chính là mảnh ghép chấp vá của một mái ấm nhỏ lẻ loi nằm giữa trảng rừng âm u cuối xóm.
Bọn họ xây một căn nhà lá nhỏ ngay kế khu rừng tràm bỏ hoang của làng.
Mảnh đất ấy xưa nay gắn liền với những câu chuyện tâm linh kì bí cộng thêm khu rừng âm u ít người lai vãng càng tăng thêm bầu không khí khủng bố của nó.
Chẳng ai hiểu tại sao họ lại chọn cất nhà ở đấy mà không phải ở những mảnh đất có vị thế tốt hơn.
Nói ra cho bạn dễ mường tượng thì ngôi nhà ấy xung quanh được bao bọc bởi rừng hoang và những đầm nước bẩn thỉu.
Trong vòng bán kính 400 mét chẳng có lấy một ngôi nhà nào khác.
Trải dài trên con đường mòn dẫn đến đấy là những cánh đồng lúa mênh mông vô tận của người dân, hai bên đường là những bụi cỏ xanh mướt, nhưng càng đến gần căn nhà đấy thì chúng lại èo ọt kém phát triển như trúng phải một loại độc dược nào đó.
Một ngôi nhà biệt lập lại bí ẩn, một ngôi nhà chứa đựng những bí mật mà chẳng một ai có thể biết được đang dần ăn mòn bản tính lương thiện của những thành viên đang trú ngụ nơi chốn địa ngục ấy.
Bọn họ có một cô con gái vô cùng xinh đẹp, nếu cần thứ gì cô gái ấy sẽ là người đi ra ngoài mua về.
Luôn luôn đội mũ che kín đầu và né tránh mọi người hết mức có thể, điều đó khiến cho cô gái càng thêm dị hợm.
Giữa tập thể những con người bình thường thì cô gái được bọn trẻ trong làng ưu ái đặt cho một cái biệt danh nghe chẳng thú vị chút nào, đó chính là :
"CON GÁI CỦA MA QUỶ ". !
Còn nhớ tháng mười hai năm ấy, vào một buổi chiều tà Khánh Vân khó nhọc lê cơ thể lấm lem bùn đất vừa khóc vừa đi về nhà.
Chuyện là chiều nay cô theo mấy đứa trẻ trong xóm đi thả diều ngoài cánh đồng lúa đầu làng.
Từ xưa đến nay nơi này là sân chơi quen thuộc bất khả xâm phạm, con nít thôn khác muốn sang bên này chơi cũng phải được phép của mấy anh lớn trong làng.
Ấy vậy mà chiều nay một đám con nít thôn bên cạnh cả gan lùa trâu sang bên đây cho ăn cỏ, còn mạnh dạn gây sự với lũ trẻ bên này.
Khỏi nói cũng biết được những việc diễn ra ngay sau đó, trải qua khoảng thời gian lời qua tiếng lại không có hồi kết thì đám trẻ quyết định dùng nấm đấm để giải quyết vấn đề.
Khánh Vân ngây ngô ngồi hóng chuyện cũng vô tình bị lôi vào mớ hỗn độn ấy.
Sau cuộc chiến quần áo của Khánh Vân rách bươm, một vài chỗ trên cơ thể bị va quẹt đến chảy cả máu, vừa bị đánh vừa bị chửi bảo con nhỏ không khóc làm sao được?
Đến cuối ngã rẽ giữa cánh đồng lúa thơm ngào ngạt, Khánh Vân chợt nhìn thấy một bóng hình gầy yếu đang ngồi co ro một xó, đôi vai bé nhỏ ấy run lên theo từng tiếng thút thít nghẹn ngào.
Dáng vẻ cô đơn gầy yếu khiến bé Khánh Vân mủi lòng thương xót, tình yêu thương trong cô trỗi dậy thật mãnh liệt, vì thế bé Vân nén đau bước từng bước liêu xiêu đến cạnh cô gái ấy.
"Này chị gì ơi!
Sao chị lại ngồi ở đây khóc vậy?".
Khánh Vân cất chất giọng khàn khàn hỏi thăm khi đã ngồi ngay ngắn yên vị bên cạnh người con gái lạ mặt này.
"......."
Bầu không khí trở nên im ắng lạ thường, có lòng tốt hỏi thăm nhưng chẳng nhận được câu trả lời khiến cô bé cảm thấy ngượng ngùng, cứ thế hai đứa trẻ im lặng ngồi cạnh nhau nghiêm túc xem mặt trời lặn.
Có đôi lúc Khánh Vân lén lút đưa mắt nhìn trộm cô gái bên cạnh, bắt gặp người ta cũng đang nhìn mình với ánh mắt tò mò thì vội vàng quay mặt sang hướng khác, cô giả vờ nhìn ngắm xung quanh để che giấu sự bối rối và xấu hổ của mình.
Chị gái trước mặt phải nói rằng vô cùng xinh đẹp, dẫu rằng khuôn mặt bị đánh đến mức bầm tím nhưng điều đó vẫn không thể che giấu đi nét đẹp trời phú cùng khí chất cao ngạo trên người của nàng.
Nhưng mà một người con gái đáng yêu thế này tại sao lại bị đánh nhỉ ?
Hay là cô ta thật sự có tham gia trận hỗn chiến ngoài bãi cỏ đầu làng lúc chiều hôm nay???
"Em cho chị cục kẹo này.. tuy nó có hơi bẩn nhưng vẫn ăn được ấy, chị đừng buồn nữa nga..".
Chợt nhớ ra trong túi của mình còn dư lại một cục kẹo, với suy nghĩ trẻ con của mình thì Khánh Vân chắc rằng nếu mình tặng nó đi chắc chắn chị gái này sẽ vui hơn.
Thế là nàng hào hứng đưa tay vào túi lôi ra một viên kẹo nhàu nhĩ đầy bụi bẩn, ngại ngùng đem nó thả vào tay người ngồi bên cạnh.
"......."
Đợi mãi cũng chẳng thấy người ta để ý đến mình, gương mặt bầu bĩnh phúng phính của Khánh Vân phút chốc ỉu xìu đi trông thấy.
Nhìn sắc trời cũng không còn sớm, cô vội vàng đứng dậy lưu luyến nói lời tạm biệt với chị gái xinh đẹp.
Trong nhà từ đó đến giờ chỉ có mỗi mình cô, mẹ chẳng chịu sinh thêm em bé nên Khánh Vân rất muốn có thêm anh chị em để chơi chung.
Nhìn nhà người khác anh em hoà thuận yêu quý lẫn nhau khiến cho cô ghen tị vô cùng, giá như mẹ sinh thêm một đứa nữa thì tốt biết mấy!
"Em phải về kẻo bị mẹ mắng, chị cũng nên trở về đi thôi...giờ này ngồi ở đây cũng không tốt lắm đâu ạ.."
Lúc này cô gái ấy mới ngẩng đầu nhìn Trịnh Hoàng Khánh Vân bằng ánh mắt vô hồn lạnh lẽo, nhưng khi nàng cảm nhận sự tồn tại của một vật bé xíu trên tay thì ánh mắt lại trở nên dịu dàng như nước.
Cảm giác ấm áp ấy lan dần khắp cơ thể chứa đầy vết thương cũ mới chưa lành, xua tan đi đáy lòng lạnh lẽo lại cô độc của nàng.
Và rồi một cái gật đầu bẽn lẽn thay lời muốn nói đã thật sự xuất hiện, dường như đã rất lâu rồi cô ấy mới cùng người lạ giao tiếp với nhau.
Phải nói rằng Khánh Vân đang cực kỳ cực kỳ vui vẻ, chỉ với một cái gật đầu hờ hững nhưng cũng đủ khiến cô cảm thấy đặc biệt.
Vì thế trước khi đi cô còn cố gắng nói thêm một câu cuối cùng: "Cơ mà em vẫn chưa được biết tên của chị đấy ạ".
"...Ngô...
Phương....
Thùy. .."
Nàng cúi mặt xuống đất thở dài khó nhọc nói ra họ tên của mình.
Đây là lần đầu tiên nàng nói chuyện với người ngoài, mặc dù có chút ngại ngùng nhưng ở cô bé này, Thùy cảm nhận được sự ấm áp vốn dĩ đã mất đi từ lâu.
Khánh Vân cười tươi rói để lộ ra hai cái lúm đồng tiền thật sâu, hào hứng nói vài câu khen ngợi từ tận đáy lòng: "Tên của chị đẹp lắm đấy ạ...."
Từ sau buổi chiều hôm ấy ngày nào Khánh Vân cũng đi đến địa điểm cũ để gặp chị gái xinh đẹp của nó.
Mặc kệ mấy lời khuyên ngăn của đám bạn rằng : "Nhà con nhỏ đó chứa ma quỷ đấy mày đừng có chơi với nó....." hay đại loại là những lời miệt thị nặng nề thì cô vẫn chỉ thích đến ngã rẽ giữa cánh đồng lúa trò chuyện với Phương Thùy.
Mấy ngày đầu mặc dù người ta vẫn lạnh lùng xa cách nhưng cô vẫn luôn nhiệt tình gợi chuyện, đôi khi còn pha trò cho bầu không khí bớt phần ảm đạm.
Sáu tháng tiếp theo là quãng thời gian hai người gắn bó như hình với bóng, mỗi buổi chiều nếu không có việc gì bận nhất định Khánh Vân sẽ chạy đi tìm chị đẹp của nó.
Chỉ có một điều cấm kỵ duy nhất giữa hai người đó là thứ gì Khánh Vân cũng có thể biết nhưng tuyệt đối cô không được hỏi đến chuyện nhà của Ngô Phương Thùy, càng không được tự tiện lại gần nơi ấy, vì thế từ lúc bắt đầu làm bạn đến giờ con bé chỉ có thể gặp được Phương Thùy ở cánh đồng lúa này.
Cho đến tháng 4 năm 2006 thì mọi chuyện đã vượt quá tầm hiểu biết của một đứa trẻ, dạo gần đây chị gái đặc biệt của nó trầm mặc đi hẳn, những cái đụng chạm nhẹ hoặc những âm thanh hơi to một chút cũng đủ để khiến Phương Thùy giật mình sợ hãi.
"Mấy tháng nay chị im lặng không nói chuyện với em.
Có phải chị cảm thấy em đang làm phiền chị không ạ".
Khánh Vân u sầu vương tay chạm khẽ vào những bông lúa no sữa, lòng buồn man mác khi nhìn thấy những vết thương chằng chịt trên người Phương Thùy.
Mặc dù chiều nào nàng cũng ra đây để Khánh Vân thoa thuốc cho nhưng dường như những vết thương chỉ tăng thêm chứ không hề thuyên giảm.
Tần suất những vết roi xuất hiện càng ngày càng dày đặc, cái sau mạnh hơn cái trước khiến một vài vùng da bị tổn thương nghiêm trọng.
Chẳng hiểu vì sao cô rất thích nói chuyện với chị gái này, có lần nàng cố gặng hỏi về những chuyện xảy ra trong gia đình của chị ấy nhưng chỉ toàn nhận được những cái lắc đầu trông bất lực vô cùng.
Riết rồi cũng dưỡng thành thói quen nên cô cũng chẳng buồn tra hỏi nữa, vì cô biết có hỏi thì người ta cũng chẳng trả lời.
"Kh-ông...
Không phải...
Ừm thật ra thì nhà chị có chút việc nên chị ít nói chuyện chứ không phải như những gì mà em nghĩ...".
Phương Thùy rụt rè trả lời Khánh Vân.
Nàng ngẩng đầu giương ánh mắt nhìn về phía xa xăm.
Khuôn mặt nàng tái nhợt dưới ánh chiều tà, cất giọng yếu ớt giải thích với cô bé bên cạnh.
Dừng lại vài phút, Phương Thùy lại ngại ngùng nói tiếp :
"Thật sự trong tim chị em là người rất đặc biệt !".
Nói xong nàng bẽn lẽn đưa tay vuốt vài sợi tóc loà xoà ra sau tai, khuôn mặt nhỏ đỏ ửng như người say rượu.
Giữa chốn địa ngục, giữa những bí mật khủng khiếp mà mình vô tình phát hiện được và những trận đòn roi như xé đôi thể xác thì sự xuất hiện của Khánh Vân tựa như ánh mặt trời sáng trong xua đi màn đêm tâm tối, sưởi ấm con tim yếu đuối của Phương Thùy.
Dần dần nàng đã xem cô bé trước mặt là người đặc biệt, là động lực sống duy nhất của mình trên thế giới này.
Khánh Vân tròn xoe đôi mắt quay sang nhìn Phương Thùy, nụ cười càng thêm rực rỡ dưới ánh hoàng hôn đầu hạ.
"Thế mà hôm qua em đến trễ có chút xíu mà chị giận em cả một buổi chiều...".
Nói sao đi nữa thì cô vẫn ấm ức chuyện hôm qua, đành rằng Khánh Vân là người có lỗi khi trễ hẹn nhưng khi Phương Thùy tỏ thái độ không thèm quan tâm khiến cô vô cùng khó chịu, báo hại hôm qua nàng phải năn nỉ cả buổi người ta mới chịu mở miệng nói chuyện với mình.
" Tại em kéo tay Nhã Quỳnh đi đâu đó mới đến trễ mà....
Chị không thích em quá thân mật với người khác...
Thật sự chị không thích chút nào".
Trước buổi hẹn hôm qua, thời điểm Ngô Phương Thùy đi mua ít đồ dùng đã vô tình nhìn thấy cô gái của mình vui vẻ nắm tay người khác hớn hở đi đâu đó.
Kể từ giây phút ấy trong lòng của nàng sinh ra cảm giác bức rứt khó chịu, quãng thời gian chờ đợi khi con bé đến trễ đã sản sinh ra một chút ghen tị cùng với một chút khó chịu khiến tâm trạng của nàng tuột dốc không phanh.
"Nhã Quỳnh nhờ em giúp chút chuyện nên em mới đến trễ.
Nhưng mà tại sao chị lại không thích em thân mật với người khác ạ...
Nếu vậy em không được đến gần chị nữa hả???".
Con bé ngây thơ đôi mắt bắt đầu rưng rưng nước, chỉ cần người trước mặt nói nặng lời đảm bảo nó sẽ khóc oà lên cho mà xem.
Phương Thùy luống cuống đưa tay kéo Khánh Vân lại gần, nàng đưa tay vuốt tóc con bé, giọng điệu dỗ dành dịu dàng như nước: "Ý chị không phải như vậy, sau này em chỉ được phép thân mật với mỗi chị thôi có biết chưa hả ?
Chị không cho phép bé Vân tự tiện nắm tay người khác, nếu để chị phát hiện nhất định chị sẽ không bao giờ đến đây gặp em nữa đâu".
Khánh Vân sụt sùi nước mũi gật gật cái đầu nhỏ, ngại ngùng để chị đẹp xoa đầu của nó.
"À xém tí thì quên, chị có thứ này muốn tặng cho em nè ".
Nói rồi Ngô Phương Thùy lôi từ trong túi áo bên hông ra một chiếc vòng được thắt từ những sợi dây màu đỏ, vừa cầu kì vừa vô cùng bắt mắt đeo vào tay Trịnh Hoàng Khánh Vân.
"Chị cũng có nữa này..!
"
Phương Thùy hớn hở đưa tay mình đến trước mặt bé con, trên cổ tay gầy nhẳng đang ngự trị một chiếc vòng tay được thắt thủ công, dưới làn da trắng sáng trông nổi bật vô cùng.
Niềm vui dần dần xua đi mất sự ngạc nhiên ban đầu, nhận được quà từ chị đẹp là bất ngờ lớn nhất mà Khánh Vân từng nhận được.
Đang muốn mở miệng nói tiếng cám ơn nhưng bất chợt cả cô và nàng đều nhìn thấy một cái bóng có dáng đi liêu xiêu từ phía xa đang bước lại đây.
Lời cảm ơn chân thành còn chưa kịp thoát ra khỏi miệng đã phải nuốt trở lại khi cô thấy gương mặt của nàng biến sắc và nỗi sợ hãi đang lan tràn trên khuôn mặt xinh đẹp.
Dường như một điều kinh khủng nào đó đang sắp sửa xảy ra mà chỉ một mình Phương Thùy mới biết được nó là gì.
"Em chạy mau lên, chạy thật nhanh trở về nhà đi.."
Bé Vân cũng hoảng loạn theo Phương Thùy, tay chân nó cứ cứng ngắt không thể dịch chuyển và mọi hoạt động của não bộ tưởng chừng đã dừng hoạt động, cô khó nhọc lên tiếng: "Nhưng mà còn chị......"
"Nhanh lên !
Chạy nhanh lên đừng quay đầu lại!!
"
Phương Thùy đưa tay đẩy nó, được đà Khánh Vân dùng hết sức cắm đầu chạy thật mau, suốt cả quãng đường về nhà con bé không dám dừng cũng chả dám quay đầu lại, tuyệt đối là một đứa bé nghe lời có đúng không nào?
Nhưng con bé không thể ngờ được đó là lần cuối cùng nó được nhìn thấy Ngô Phương Thùy!
Chiều hôm đó căn nhà của chị gái bốc cháy dữ dội, vì sống biệt lập với xã hội nên khi mọi người kéo đến để phụ dập lửa thì nơi đó chỉ còn là một đống tro tàn.
Sau đám cháy tất cả mọi thứ đều trở thành cát bụi.
Và trơ trọi ở giữa ngôi nhà là thi thể của hai người trưởng thành đã bị lửa thiêu đến biến dạng!
.............
Khánh Vân giật mình thức giấc giữa màn đêm tịch mịch, cơ thể đẫm mồ hôi.
Cô sờ soạng đưa tay lần mò khắp đầu giường, khi đã tìm thấy được thứ đó liền nắm lấy thật chặt rồi ôm nó vào lòng.
Nếu để ý thật kĩ bạn sẽ thấy ở giữa những ngón tay là một đoạn dây màu đỏ đẹp đến chói mắt nhưng cũng không kém phần quỷ dị.
"Hoá ra tất cả vẫn chỉ là những kí ức mà mình chẳng thể nào quên.."
Bộ này mình viết lại, viết thêm 80%, có gì cho xin ý kiến nhé 😘