Cập nhật mới

Khác [BHTT/ Duyên Gái] Huyết Ước Trầm Linh

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
153,876
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
403469303-256-k755977.jpg

[Bhtt/ Duyên Gái] Huyết Ước Trầm Linh
Tác giả: lucastapham
Thể loại: Bí ẩn
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Tác phẩm: Huyết Ước Trầm Linh.

Nhân vật chính: Cô Trà, Hải Bình.

Thể Loại: Duyên gái, linh dị, truy thê, sống lại.

Văn án:
Cô Trà vốn không phải người làng Kỳ Hạ, mang trong mình dòng máu nửa người nửa quỷ, chết bất đắc kỳ tử.

Thế nhưng, sau khi chết ba tháng, cô mở mắt trong một thân xác khác, sống lại giữa một ngôi làng toàn người xa lạ, bản thân thì không có ai nương tựa, tứ cố vô thân.

Vậy nhưng ngày nối ngày, cuộc sống trôi đi êm đềm như chưa từng có máu và oán hận trong đời cô.

Cho đến khi Hải Bình, người đàn bà từng phản bội, từng yêu và từng hận cô xuất hiện.

Cô Trà ngỡ rằng mợ chỉ ghé chơi, dăm ba câu xã giao, dăm ba ánh nhìn cũ kỹ.

Nào ngờ, trong từng lời nói, từng cái chạm, đã ẩn sẵn sợi dây vô hình trói chặt lấy cô.

Và đến một đêm mưa đen, khi tỉnh dậy trong tầng hầm lạnh toát, cổ tay bị siết chặt, cô mới hiểu mọi thứ, từ cuộc gặp gỡ, thân xác này, đến hơi thở mình đang mang, đều nằm trong sự toan tính của Hải Bình từ rất lâu rồi.



wlw​
 
[Bhtt/ Duyên Gái] Huyết Ước Trầm Linh
Lời tác giả


Huyết Ước Trầm Linh là phần 2 của Nước Chảy Hoa Trôi.

Xin lỗi vì đã đóng Nước Chảy Hoa Trôi, đóng lại để sửa chữa thôi.

Đứa nào đọc phần 1 rồi thì biết hai nhỏ nữ chính này đau khổ vl trong phần 1 rồi, phần 2 sẽ là một sự bù đắp nào đó thôi. vài lời t muốn gửi đến trước khi cả lò nhà mình đọc truyện, để đỡ mắc công chửi t.

Hai đứa này nhận ra nhau từ đầu rồi nhé, dù cho thân phận nào, nhân dạng nào thì cũng nhận ra nhau, tại sao biết thì sau này t sẽ viết. nên tất cả hành vi thân mật đều là biết đối phương là người mình yêu nên mới làm nha, chứ không phải là dễ dãi các thứ nhé, nhảy vô chửi là t chửi lại à.

chủ yếu viết để tự đọc.

có tình tiết giam cầm, play các thứ, suy nghĩ trước khi đọc.

cái gì cũng dám thoại, cà lơ phất phơ, cái mõm không ngán ai bao giờ, hiền dịu, có hình xăm sau lưng, thâm tình, xinh đẹp full phép công x yandere, chiếm hữu, tâm cơ, suy nghĩ khùng điên, dăm 24/7, đẹp vl, giàu có, quyền lực, full vật lý thụ.

cmt đi, t thích đọc.
 
[Bhtt/ Duyên Gái] Huyết Ước Trầm Linh
Văn án.


Cô Trà vốn không phải người làng Kỳ Hạ, mang trong mình dòng máu nửa người nửa quỷ, chết bất đắc kỳ từ.

Thế nhưng, sau khi chết ba tháng, cô mở mắt trong một thân xác khác, sống lại giữa một ngôi làng toàn người xa lạ, bản thân thì không có ai nương tựa, tứ cố vô thân.

Vậy nhưng ngày nối ngày, cuộc sống trôi đi êm đềm như chưa từng có máu và oán hận trong đời cô.

Cho đến khi Hải Bình, người đàn bà từng phản bội, từng yêu và từng hận cô xuất hiện.

Cô Trà ngỡ rằng mợ chỉ ghé chơi, dăm ba câu xã giao, dăm ba ánh nhìn cũ kỹ.

Nào ngờ, trong từng lời nói, từng cái chạm, đã ẩn sẵn sợi dây vô hình trói chặt lấy cô.Và đến một đêm mưa đen, khi tỉnh dậy trong tầng hầm lạnh toát, cổ tay bị siết chặt, cô mới hiểu mọi thứ, từ cuộc gặp gỡ, thân xác này, đến hơi thở mình đang mang, đều nằm trong sự toan tính của Hải Bình từ rất lâu rồi.
 
[Bhtt/ Duyên Gái] Huyết Ước Trầm Linh
Tiền Truyện.


Nằm lọt thỏm giữa bốn bề lau lách và rừng tràm hoang phế, làng Kỳ Hạ như một mảnh đất bị thời gian lãng quên.

Từ xa nhìn lại, mái ngói âm dương phủ rêu xanh lặng lẽ ẩn dưới làn sương bạc, những hàng cau cao vút gầy guộc như những bóng người đứng chết trân, không động đậy qua bao mùa giông nắng.

Người dân trong làng ai nấy đều ăn vận y như những pho tượng bước ra từ tranh xưa: áo ngũ thân tay dài, khăn đóng, guốc mộc cồm cộp trên nền đất đỏ khô quắt.

Trẻ con sinh ra đã được học cách nghe tiếng gió đổi chiều, người lớn thì xem trăng sao để đoán ngày cúng vái.

Họ không nói nhiều.

Mắt ai cũng đượm vẻ u uẩn, như đang nghe ngóng điều gì đó từ bên kia cõi mộng.

Mùi tử khí là điều kỳ lạ nhất nơi đây.

Nó không nồng đến mức ai cũng ngửi thấy, nhưng nó luẩn quẩn trong không khí, vương vít trên từng cánh áo, từng miếng trầu têm cánh phượng.

Có người từ ngoài làng ghé ngang, chưa kịp nghỉ chân đã bật ói, than rằng "nơi đây có mùi của huyệt mộ chưa lấp đất".

Đêm xuống, sương mù như có chân, lững thững kéo đến từ phía bìa rừng.

Không ai biết nó đến từ đâu.

Nó che phủ cả làng, len qua từng bậc thềm, từng khung cửa sổ.

Dưới làn sương ấy, tiếng chuông gió ai treo bên hiên nhà ai bỗng réo vang không theo quy luật gió.

Thỉnh thoảng, lại có người già thắp nhang thì thào: "Kìa, tụi nó đi ngang đấy... im đi, đừng thở mạnh."

Thuở xưa, nghe kể đất đai nơi đây trù phú kỳ lạ, cây trái quanh năm không tàn, người trong làng sống thuận hòa, lễ nghĩa, gắn bó với núi rừng như con với mẹ, dân cư đông đúc, tằm tơ phát đạt, có đình làng lớn, có người thi đỗ cử nhân, thậm chí có người từng được triệu vào kinh thành để chấm thi.

Làng nổi tiếng không chỉ bởi cảnh sắc đẹp như tranh mà còn bởi một vật trấn làng linh thiêng:

Một chuỗi hạt Bồ đề màu đỏ sẫm, món pháp bảo được cho là kết từ 220 hạt xương khô của những người đắc đạo và tử vì nghĩa.

Chuỗi hạt ấy không chỉ linh thiêng, mà còn biết chọn chủ.

Người giữ nó có thể nhìn thấy hồn ma, sai khiến vong linh, điều binh âm phủ như Thập Điện Diêm Vương.

Nhưng làng lại bị xóa tên khỏi bản đồ từ cuối triều Tự Đức.

Chuyện bắt đầu từ thời xa hơn cả triều Nguyễn, khi đất còn loạn, vua chưa lập.

Một đạo sĩ lang thang đến vùng này, người gầy như cành củi, mắt sâu hoắm, đeo một chuỗi hạt bằng xương dài hơn sải tay, cổ thòng xuống tận bụng.

Ông ta đến làng xin ở nhờ một đêm, đổi lại, nói sẽ giúp trấn yểm long mạch.

Nhưng chỉ sau một đêm, hai mươi người trong làng chết bất ngờ, miệng rỉ máu, tay chân co quắp như bị kéo vào cõi khác.

Người ta phát hiện vị đạo sĩ ngồi chết trong tư thế thiền ngay miệng hang, chuỗi hạt cuốn quanh cổ như một sợi xích, mắt ông vẫn mở trừng.

Người làng hoảng sợ, cho là ông đã dùng máu người để gọi quỷ, luyện yêu.

Một ông lão trong làng, vốn là hậu duệ pháp sư trấn trạch, đã gom cả làng, khấn trời, chôn xác ông đạo sĩ sâu trong hang, bịt đá, khắc bùa.

Trước khi bịt, ông lão lấy chính chuỗi hạt đó, thả vào hầm, rồi nhỏ máu mình lên từng hạt.

Từ đó, chuỗi hạt trở thành vật bị phong ấn.

Nhưng năm đó, khi người làng khai thông hang tìm mạch nước, đá bị dỡ, bùa bị vỡ.

Và chuỗi hạt một lần nữa tỉnh dậy.

Thế rồi, như mọi huyền thoại có ánh vàng của lòng tham, bóng tối tìm đến.

Một ngày kia, một đoàn người lạ đặt chân tới làng.

Mắt họ dài, da trắng bệch, không thấy bóng dưới nắng.

Họ nói năng nhỏ nhẹ, lễ phép, tự xưng là người đi tìm đất an cư.

Dân làng hiền hậu, cho ở lại, cắt đất dựng nhà.

Nhưng không ai ngờ...

Họ không phải người thường.

Có lời đồn, dòng máu của họ là nửa người, nửa quỷ, sống lâu, nhưng luôn thiếu phần hồn.

Chỉ có pháp bảo ấy mới giúp họ hoàn toàn hóa kiếp thành người, hoặc thành thần.

Và để sở hữu nó, họ sẵn sàng làm mọi thứ.

Từng đêm trôi qua, người làng chết dần.

Khi thì cả nhà biến mất không dấu vết.

Khi thì sáng ra thấy mười mấy xác người treo trên cành si, máu rút khô như bị hút cạn.

Dù vậy, lũ nửa người nửa quỷ vẫn sống, sống rất lâu, rất khỏe, như không hề bị ảnh hưởng gì.

Rồi một đêm mưa to gió lớn, cuộc thảm sát diễn ra.

Đám nửa người nửa quỷ, giờ đã đông gấp đôi người, đồng loạt ra tay giết sạch những người còn lại trong làng.

Máu đổ như suối, ngập cả giếng.

Tiếng kêu khóc vang khắp núi rừng.

Nhưng thứ chúng tìm, chuỗi hạt Bồ đề vẫn bặt vô âm tín.

Chúng lục tung hang đá, đào bới khắp núi, đào cả mồ mả tổ tiên.

Nhưng không thấy.

Vật ấy đã biến mất, như chưa từng tồn tại.

Từ đó, ngôi làng trở nên hoang vắng.

Chỉ còn những kẻ sống sót mang trong mình dòng máu lai, những sinh thể chẳng phải người cũng chẳng phải quỷ tiếp tục sống trong đêm, tránh ánh mặt trời, nghe ngóng lời nguyền, chờ một ngày... chuỗi hạt ấy tự tìm đến người xứng đáng.

Nhưng cơn ác mộng một lần nữa bắt đầu vào mùa hạn năm Mậu Dần.

Năm đó, ruộng khô nứt nẻ, trẻ con khát sữa khóc đến lịm hơi.

Cúng bái, tế lễ đều vô dụng.

Đến khi Phùng Bá Trạch, trưởng tộc họ Phùng dòng họ giàu nhất và có thế lực nhất trong làng đứng ra triệu tập bô lão và đưa ra một lời đề nghị:

"Đây là cách cuối cùng để cứu lấy cái làng này, mấy người phải thề đem chuyện này sống để bụng chết mang theo."

Đêm hôm đó, người ta thấy ông Trạch đem theo bảy người con gái còn trinh, trói bằng dây vải điều, dắt xuống rừng Trầm.

Không ai biết họ đi đâu.

Chỉ biết rằng sau ba ngày ba đêm không thấy về, thì mưa đổ xuống ào ạt, nước tràn đồng, mạch ngầm mở trở lại, lúa mọc mầm chỉ sau hai tuần.

Người làng sung sướng, tạ ơn thần linh.

Nhưng một cụ già người chép gia phả của làng lặng lẽ khắc vào cột đình bốn chữ "Huyết ước Trầm Linh" bằng mực tàu trộn huyết chó mực.

Những năm sau đó, làng trở nên khác lạ.

Mỗi mùa gặt, lúa nở như vàng, nhưng đầu làng luôn có người chết bất minh không bệnh, không đao thương.

Chết trong giấc ngủ, mắt mở trừng, tay nắm chặt như ôm điều gì lạnh lẽo.

Đến đời thứ ba sau Phùng Bá Trạch, một người con gái trong họ Phùng Thị Cẩm Thoa phát hiện ra bản khế ước máu được viết trên da người, giấu trong hộc bàn thờ tổ.

Trong đó ghi rõ:

"Mỗi mười năm, phải có trinh nữ dâng về rừng Trầm.

Nếu phá lời ước, cả cái làng này sẽ phải chết."

Cẩm Thoa vì thương người, lén đốt khế ước.

Đêm đó, cô bị mất tích, chỉ để lại chiếc áo ngũ thân vương máu, treo giữa đình làng.

Kể từ đó, sương mù xuất hiện mỗi đêm không trăng, mùi tử khí tỏa ra từ lòng đất như thể cả trăm mạng người năm xưa chưa bao giờ được siêu thoát.

Kỳ Hạ giờ chỉ còn là cái tên trong sổ địa bạ cũ.

Người đời bảo nơi đó quanh năm có sương, mùi tử khí như mùi trầm cháy dở.

Vẫn có tiếng người thì thầm trong đêm, nhưng tuyệt không ai thấy được mặt.

Và thi thoảng...

Có người lạc vào rừng, thấy một cô gái mặc áo ngũ thân, tay đeo chuỗi hạt đỏ máu, đứng dưới gốc si, mỉm cười mà không có bóng.
 
[Bhtt/ Duyên Gái] Huyết Ước Trầm Linh
1.


Chiều buông màu hoàng hôn trên làng Kỳ Hạ.

Ánh nắng xiên xẹo trườn qua những tán cau thưa, vắt ngang hiên nhà còn mùi vôi vữa mới.

Mặt đất loang lổ bóng nắng, loang luôn cả vào lòng người.

Mùa nước nổi, ráng đỏ trải như máu loãng, nhuộm mặt sông thành một tấm gương phản màu.

Có người nói, trong những buổi chiều như vậy, nếu chèo ghe qua Phủ Thờ Cô Trà có thể thấy bóng một người đờn bà mặc áo dài trắng, tóc xõa tới eo, ngồi quay lưng về phía mặt trời lặn mà niệm chú bằng thứ tiếng không ai hiểu.

Không ai biết cha mẹ cô là ai, chỉ biết bốn năm trước, cổ xuất hiện ở làng Hội sau một trận mưa dông dữ dội.

Lúc ấy, xác một cô gái trôi dạt vào bờ, sình lên, tím tái.

Nhưng lại tỉnh dậy ngay khi người ta chuẩn bị đem chôn, mở mắt ra nhìn thẳng vào người làng.

Người trong làng kháo nhau, hồn ma nhập xác sống dậy.

Có người thì thề, thấy con rắn hổ đất bò ra từ miệng cổ khi cổ ho lần đầu tiên.

Cô gái đó chính là Cô Trà.

Sau đó, Cô Trà ở lại, dựng một căn nhà nhỏ bên rìa làng, sống bằng nghề coi bói, giải hạn, trục vong.

Ai gặp chuyện lạ, chuyện quỷ đều tới tìm cổ.

Người nào được cổ cứu, đều để lại vàng.

Người nào xúc phạm, chẳng bao lâu cũng phải về đây... trong cái hũ tro bằng đất nung.

Người trong làng nói Cô Trà có căn.

Họ không biết "căn" ấy là do chết một lần mà sống lại.

Là yêu một người mà không thể gặp lại nữa.

Căn nhà lớn vừa dựng xong giữa một khoảng sân rộng, mái ngói đỏ au như máu đông, vách tường gỗ quý trăm năm, nằm chễm chệ như một chứng tích lạ lùng giữa ngôi làng nhỏ chỉ toàn mái tranh vách lá.

Người ta bảo, bà mới về làng là một người đàn bà giàu có, quyền quý gọi là mợ Cả Hải Bình, người làng Kỳ không ai rõ ngọn ngành chuyện chồng sau của mợ, chỉ biết một điều, từ bữa mợ về đây cất nhà lớn ở đầu xóm, người ta thôi gọi mợ là "mợ Hai", mà kính cẩn gọi mợ là mợ Cả.

Mợ ưa cái danh xưng đó, nghe sang, nghe lớn lối, cũng có kẻ thì cười cợt sau lưng, bảo mợ muốn tẩy sạch quá khứ, làm lại từ đầu.

Chồng đầu của mợ, con trai thứ của nhà ông Hội đồng Hiệu , chết trẻ.

Khi đó mợ còn trẻ, chưa có con, tóc còn xanh, má còn hồng, người còn đẹp như tranh.

Người ta tiếc cho mợ, mà cũng thương.

Đứa con gái hiện tại của mợ không phải con chồng cũ, mà là máu thịt với người đàn ông thứ hai, một người chưa ai thấy mặt, chỉ biết là giàu có, chu cấp đầy đủ, nhưng không sánh vai cùng mợ trong bất kỳ lễ nghi hay tiệc tùng nào.

Mợ sống kín đáo, ít khi ra ngoài, nhưng danh tiếng thì vang xa.

Người thì nể, người thì sợ.

Căn nhà lớn ấy, mợ cất không phải để phô trương mà để giữ lấy một cõi riêng, dưỡng già.

Đứa nhỏ con mợ, con gái, tóc dài tới thắt lưng, mắt bồ câu buồn rười rượi, lớn lên giống mợ như in, chỉ khác là đôi lúc hay ngồi một mình giữa hiên.

Trà đứng từ xa, sau lùm dâm bụt chưa trổ bông.

Tóc cô xõa dài, gió lùa nhẹ, thổi tấm áo dính sát vào người.

Cô không nhúc nhích.

Chỉ có ánh mắt là đăm đăm về phía cổng sắt mới sơn, nơi một chiếc xe hơi màu đen đang chậm rãi dừng bánh.

Cô Trà đang châm trầm trong khay bỗng khựng lại, que diêm cháy đến tận đầu ngón tay mà không hay không biết.

Hải Bình bước xuống xe.Tóc mợ búi gọn sau gáy, áo dài nhung đỏ, gót guốc gỗ chạm đất phát ra âm thanh nhỏ nhưng sắc như dao.

Mợ đứng giữa sân, nhìn ngôi nhà lớn đang thi công sắp xong, rồi quay mặt nhìn quanh.

Một tia nhìn thoáng lướt về phía hàng rào nhà Cô Trà .

Trong bóng lá chao nghiêng, ánh mắt hai người gặp nhau.

Trà đứng đó, im lặng, tay còn vương một mảnh bùa chưa kịp cất.

Tay không nhúc nhích.

Chỉ có đôi mắt là run.

Dù ở kiếp sống nào, con người nào, dù có chạy xa đến đâu đi nữa, tôi cũng không thể thoát khỏi bàn tay mợ, phải vậy thôi...Đó là duyên phận của chúng ta rồi.

Hải Bình đứng dưới mái hiên căn nhà lợp lá, trời mưa lất phất, đất sét đỏ bám vào gót guốc như cố níu giữ bước chân người từ nơi khác tới.

Một bà già lưng còng gọi là Hai Lẫm, răng nhuộm đen, ngồi nhai trầu, môi đỏ quạch như máu, mắt đục mà sắc sảo.

"Mợ hỏi bà cô hả?"

Bà chép miệng, nhổ miếng trầu xuống đất, nơi đã đỏ giờ lại sậm thêm như vệt máu sắp khô.

"Bà cô đó coi vậy mà giàu có hơn cả bá hộ.

Căn nhà cổ dựng ở bìa làng giờ là mái ngói đỏ, vách gỗ quý.

Trong có kẻ hầu, người hạ, nghe đâu cái giường bả nằm cũng đem từ Sài Thành xuống, bằng gỗ giáng hương đen thui, chạm rồng khắc phụng.

Người tới tìm cổ không khi nào dứt.

Có người trả bằng vàng, có người trả bằng mạng.

Người làng kể, có hai người chu cấp cho cổ đó nghen.

Một người...

đàn bà đẹp lắm.

Mỗi lần tới là đem theo hộp gấm, toàn vàng, toàn đá quý.

Nhưng chưa ai nhớ rõ mặt, vì cổ luôn đi ban đêm, che mặt nữa.

Còn người thứ hai là cậu Đạo."

Hải Bình khựng lại.

"Cậu Đạo... là ai?"

Bà già dừng một chút, liếm môi, giọng hạ xuống:

"Là con trai út của quan huyện Đoàn.

Hồi đó ba năm trước bị rắn cạp nong cắn, dân làng còn đi đưa đám.

Vậy mà không hiểu sao sống lại.

Người ta đồn chính bà cô bốc bùa cứu mạng, từ đó cậu mê như điếu đổ, không vợ, không con, tháng nào cũng vô cúng bà cô ba nén nhang, bỏ bao tiền bạc vô hộp gỗ.

Quan huyện chết chưa được một năm, cậu Đạo lên thay, ai nói gì cũng gật, ai hỏi chi về cô Trà cũng cười trừ.

Dân tình còn đồn...thằng đó thương cô Trà."

Hải Bình gật đầu, tưởng chuyện chỉ dừng lại ở đó, nhưng bà già nheo mắt, nói như thì thầm "Có người nói," bà Hai Lẫm ghé sát hơn "Mặt cô Trà... giống cô tiểu thư bạc mệnh nhà ông Trác, cô con gái lớn, tên... tên là Phạm Thị Dung .

Cái con nhỏ chết cách đây bốn năm, lúc đó còn trẻ lắm.

Người thì không ai nhớ rõ, nhưng tấm hình trên bàn thờ còn đó, gương mặt đẹp dữ lắm, đôi mắt như cất cả trăm ngàn chuyện buồn...

Giống lắm mợ ơi.

Mà lạ..."

"Cô Dung, đang độ mười bảy, mười tám thì chết bất đắc kỳ tử.

Người làng đồn bị vong theo, người nói thất tình uống thuốc độc.

Nhưng có người thấy hồn nó còn quanh quẩn ở đình làng lâu lắm.

Cúng cơm ba năm còn bị chim cú kêu giữ trưa mà."

Hải Bình cảm thấy sống lưng mình lạnh ngắt.

Những gì mợ biết về cô Dung đâu có giống bà Hai Lẫm vừa kể, lời phong thanh mợ biết là Dung từng là mối mai cho con trai nhà quan huyện, rồi bỗng một hôm uống nhầm rượu ngâm lá ngón, chết không để lại lời từ biệt.

Người làng đồn cô bị ma nhập, có người nói yêu nhầm người không nên yêu.

"Vậy sao lại nói giống cô Trà?"

Hải Bình hỏi, giọng mợ chùng xuống, như sợ chính miệng mình thốt ra điều không nên.

"Thì giống gương mặt chớ.

Nhất là cặp mắt, bà cô đó, mắt cũng đen như mực tàu, cười cũng buồn như người không có chốn về.

Nhưng tính khí khác nhau dữ lắm.

Con ông Trác ngày xưa hay cười, hay nói, dễ cưng ai cũng quý, còn bà thầy thì... lúc nào cũng lặng lẽ, như thể nhìn thấy nhiều thứ người khác không thấy."

Bà già nói xong, nhổ tiếp miếng trầu xuống đất.

Trời bỗng nổi cơn gió lạ, rùng mình như có cái gì vừa đi ngang qua lưng Hải Bình.

[...]

Hôm sau, tiếng trống múa lân rền vang từ đầu làng vọng về từng hồi dồn dập.

Cờ phướn bay phần phật giữa khoảng trời xám tro.

Người dân xúm lại hai bên đường, quỳ gối, chắp tay, thì thào niệm nguyện.

Còn Hải Bình đứng lặng dưới tàn cây me già, giữa đám đông, nhìn về chiếc kiệu sơn son đang từ từ tiến đến.

Người ta bảo hôm nay là lễ cúng miễu, Cô Trà sẽ ra kiệu phù hộ cho xóm làng.

Mợ không định ở lại, chỉ là... tiếng trống, tiếng chiêng, và cái mùi trầm gỗ quện trong gió ấy, quen đến lạ, kéo chân mợ dừng lại.

Kiệu đến gần.

Bảy cô gái đồng trinh, mặc áo dài trắng, đầu cài trâm hoa lài, lặng lẽ bước đều như người mộng du, khênh chiếc kiệu nặng trĩu âm khí.

Hai bên là hai cô hầu, theo mợ biết, một tên Lai, dáng vẻ nhẹ nhàng như nước, một tên Dạng, gương mặt giấu sau chiếc mặt nạ bạc chỉ lộ ra đôi mắt lạnh tanh.

Trên kiệu là một người đàn bà.

Mặc bộ lễ phục đỏ thẫm, cổ áo thêu hình uyên ương kết cánh, đầu đội khăn trùm đỏ phủ xuống qua cổ.

Chỉ thấy được lờ mờ đường nét gương mặt phía sau lớp khăn: một bờ môi cong, sống mũi cao, và ánh mắt, ánh mắt ấy xuyên qua làn vải, nhìn thẳng vào mợ.

Cả người Hải Bình như bị đông cứng.

Mợ không lý giải được vì sao tim lại đập mạnh vài nhịp như có ai bóp nghẹn.

Trong một khắc, mợ thấy mình như người đứng giữa đêm giông, nghe lại giọng nói cũ vọng về từ nơi rất xa, rất sâu trong lòng.

Gương mặt kia... lạ mà không lạ.

Mợ nheo mắt, bước hẳn ra khỏi bóng cây, dõi theo chiếc kiệu khi nó lướt ngang.

Người trên kiệu khẽ nghiêng đầu.

Mắt không rời khỏi mợ.

Lúc ấy, trời bỗng nổi gió.

Tấm khăn đỏ mỏng tung nhẹ.

Một phần gương mặt lộ ra.

Chỉ một thoáng.

Hải Bình siết chặt quai xách chiếc túi da, móng tay in hằn vào lòng bàn tay.

Mợ không thở nổi.

Không phải vì người kia giống người mợ yêu.

Mà là cái cách người đó nhìn mợ như đã từng chạm vào nhau giữa một đêm tháng Chạp, trong một căn buồng nhỏ, với hơi thở dồn dập và tiếng nức nở không ai nghe thấy.

Mợ quay đi.

Không dám nhìn nữa.

Nhưng lòng thì gợn lên như mặt nước bị khuấy bởi một cơn gió lạ.

Càng cố quên, càng như bị dẫn dụ.

Mợ không tin vào chuyện hồn nhập xác.

Nhưng ánh mắt đó, không ai khác trên đời này có thể nhìn mợ như thế, ngoài em ấy cả.

Hải Bình không biết vì sao mình đứng ở đó, giữa đám người rạp mình trên nền đất ẩm, giữa khói nhang ngột ngạt và mùi bùn non tanh nồng.

Từ lúc nghe dân làng xì xầm: "Cô Trà sắp đi lễ rước vía," lòng mợ đã thấy bất an lạ kỳ.

Tiếng trống lễ chậm chạp vang lên.

Đám rước tiến tới, lấp lánh những dải lụa đỏ và sắc vàng ròng thêu trên áo.

Chiếc kiệu đen phủ màn voan đỏ nhè nhẹ rung theo từng bước chân bảy cô gái đồng trinh, lặng lẽ như đang cõng số phận của cả ngôi làng.

Rồi, khi kiệu vừa đến trước mợ.

Bỗng, tiếng chuông nhỏ treo dưới kiệu khẽ rung, dù không ai chạm vào.

Đám rước dừng lại.

Bảy cô gái khênh kiệu quỳ xuống đồng loạt, như đã được báo trước.

Hai cô hầu –Lai và Dạng tiến lên vài bước.

Lai mở chiếc hộp gấm, lấy ra một bó nhang chưa đốt, đưa lên cao.

Từ trong kiệu, giọng Cô Trà vang ra, rất khẽ nhưng rõ đến rợn người:

"Nữ đang đứng đó là ai?"

Giọng nói là tiếng đàn bà, trầm thấp như tiếng âm ty, tạo cái cảm giác như nói chuyện với bề trên, uy quyền không sao tả được.

Hải Bình sững người.

Một người dân bên cạnh lắp bắp:

"Dạ, người mới...

ở trên tỉnh xuống, nghe nói là em ruột ông Thống đốc Lễ..."

Từ sau lớp màn đỏ, Cô Trà không nói nữa.

Không ai dám ngẩng lên, chỉ có Hải Bình vẫn đứng yên như bị rễ bần siết chặt hai chân.

Rồi, giọng nói kia lại cất lên không hỏi, mà cảnh báo:

"Nữ không thuộc về nơi này."

"Dòng sông thiêng sẽ đổ máu, đất sẽ mở lòng."

"Nếu nữ còn nấn ná, thứ trong bùn sẽ gọi tên cô... trước khi trăng tròn."

Một tiếng chuông nữa rung lên.

Lai cúi đầu lùi lại, đóng nắp hộp.

Dạng liếc ngang Hải Bình, nửa mặt trên lạnh băng, nửa dưới bị che bởi mặt nạ bạc.

Không hé một lời, không nghe tiếng thở.

Kiệu lại tiếp tục.

Trống lễ lại vang.

Nhưng trong đầu Hải Bình, mọi thứ như đứng im duy chỉ còn ánh mắt phía sau màn voan và ba câu nói ấy dính chặt vào trí nhớ như cái ngày em đi mất.

[...]

Cô Trà trong miệng người đời ít cười ít nói, nhưng cái ánh mắt như biết hết chuyện thiên hạ.

Suốt bốn năm cư ngụ tại cái làng này, người quỳ thắp lễ dưới chân cô vô số kể, nhưng e là suốt cuộc đời Cô Trà chỉ quỳ gối giữa hai chân một người đàn bà duy nhất mà thôi.

Lúc quỳ xuống xin bùa, dân làng phải kiêng không được nhìn thẳng vô mặt.

Không phải sợ cô hù, cũng chẳng phải lo phạm giới mà sợ thấy cái vẻ đẹp lạ kỳ .

Đẹp một cách sai quấy rồi từ đó mà trầm mình theo bà cô, chết mục dưới sông.

Mỗi đêm, bà cô thắp một nén nhang, mở cuốn sổ cũ mềm, giấy úa vàng như tro.

Trong sổ, chữ nghĩa lấm lem, chẳng đọc ra nổi cái gì, chỉ còn lại hai cái tên in đậm như vết than:

Cậu Đạo.

Cô Liễu.

Cậu Đạo giờ là quan huyện , thằng con tưởng chết của ông Đoàn, mồ y lấp mã ba năm trước mà không có xác.

Nghe đồn, chính Cô Trà là người lôi hắn ra khỏi âm ti.

Từ đó, tháng nào cũng gửi lễ lộc vàng bạc tới Miễu Cô để "trả ơn cứu mạng".

Còn cô Liễu không ai dám nhắc tên ban ngày.

Chỉ biết đêm rằm nào trăng gắt, là có tiếng hát vọng ra từ đình làng:

"Má ơi, má biểu con về

Về sao được nữa, chân chèo gãy đôi..."

Tiếng ai oán, như nhức vô từng giọt máu đào.

Có người nói, trước khi chết, Thị Dung chính mắt thấy Liễu nhảy sông.

Có người lại bảo, hai người từng tranh giành một người đàn ông mà chính là cậu Đạo.

Không ai dám chắc, chỉ biết cái xác Thị Dung giờ đây không chịu tan, không chịu đi, như còn đợi một câu trả lời chưa kịp hỏi.

Cái tên "Liễu" không nằm trong dân số làng Hội.

Không ai biết ả từ đâu trôi dạt về, chỉ biết một thời đình làng đông nghịt người vì tiếng hát của ả.

Gió đưa mùi tóc, trăng rớt lên môi.

Một câu ả ngân là mấy trai tơ bỏ nhà đi theo.

Nhưng người ả thương nghe nói chỉ có một, mà người đó... không chọn ả.

Tiếng hát cuối cùng của Liễu, có người già còn nhớ, vang lên giữa đêm mưa tháng bảy, như ai nức nở dưới mái đình rệu rã:

"Thương anh tới chỗ đoạn trường,

Gặp nhau nửa bữa cũng thương suốt đời..."

Sau đêm đó, không ai còn thấy ả nữa.

Có người nói ả trầm mình.

Có người bảo bị bùa phản, máu trào ra miệng mà chết.

Cũng có người tin, Liễu không chết, chỉ hoá thành thứ gì đó không mang hình người nữa.

Trà lần mò trong nhật ký rách nát của Thị Dung.

Mỗi lần chạm tay vào cuốn nhật ký, một cơn buốt lạnh chạy dọc sống lưng.

Cô thấy hình ảnh ba người: một thiếu nữ tay cầm quạt giấy, một ả đào ánh mắt nửa cười nửa khóc, một cậu trai đội khăn đóng, gương mặt vương bụi đất mồ.

Cái đau của Dung không phải chết, mà là chết trong im lặng.

Không ai biết cô oan uổng gì, không ai hay vì đâu mà xác cô trôi về gốc đa đầu làng, mắt trợn không nhắm.

Không oán thư, không lời trăn trối.

Chỉ còn cái xác cho Trà mượn, và rất nhiều câu hỏi treo lửng.

Trà ngủ, nhưng không thể nào yên giấc được.

Hơi thở của cô ngắt quãng, xác Thị Dung co giật như bị ai kéo xuống lòng đất, còn tâm trí cô thì rơi vào một vực khác, vực của những ký ức không thuộc về mình.

Mưa.

Gió rít qua mái ngói hỏng.

Ánh đèn dầu chập chờn như sắp tắt.

Thị Dung ngồi một mình, trước mặt là cuốn sổ, tay cầm cây bút lông, mực nhòe từ ống tẩu ngã đổ.

Ngón tay cô rớm máu, móng đã gãy, da bầm tím.

Có tiếng bước chân bên ngoài.

Có ai đó gõ cửa.

Một, hai, ba rồi dừng.

"Dung... mở cửa đi." là giọng đàn ông.

"Anh biết em ở trong đó."

Thị Dung run rẩy.

Cô không trả lời.

Tay cô vẫn viết.

Mực nhòe.

Mắt nhòe.

Máu rơi xuống trang giấy, loang quanh chữ "Đạo".

Cô viết tiếp: "Ba má ơi, con bị Liễu hại rồi, Liễu giết con rồi ba má ơi....."

Chưa kịp viết hết câu, ngòi bút trượt khỏi tay.

Tiếng cửa bật mạnh.

Có người bước vào.

Mặt không rõ, chỉ thấy bóng đổ dài trên nền nhà.

Mùi rượu.

Mùi khói.

"Mày nghĩ mày trốn được sao?

Chuyện của mày với thằng Đạo, cả làng này đều biết hết rồi.

Mày tưởng tao tha cho mày?"

Một bàn tay bóp lấy cổ Thị Dung.

Cô giãy, đầu đập vào góc bàn.

Máu từ trán trào ra, nhỏ từng giọt lên trang giấy."

Làm ơn... tha... cho... tôi..."

Cô không hét lên được.

Tiếng khóc bị nuốt lại trong họng.

Bóng tối trùm lên.

[...]

Trà giật mình tỉnh dậy.

Mồ hôi lạnh ướt gáy, thân thể Thị Dung đang co lại, xương khớp phát ra tiếng kêu răng rắc như sắp vỡ.

Từ cửa buồng Cô Trà, Dạng cúi người nhỏ giọng.

"Thưa Cô, cậu Đạo tìm gặp cô ạ."

Đêm hôm đó, trời mưa nhẹ, tiếng ếch kêu vọng từ ruộng xa như lời rủa rỉ rả của người chết không yên.

Cậu Đạo bây giờ đã là người đứng đầu nhà quan huyện Đoàn tự mình bước vào nhà Cô Trà, không mang theo gia nhân, không đèn soi đường, chỉ một ngọn nến nhỏ bằng đầu ngón tay, cháy đỏ như máu đông.

Một bước, rồi hai bước, cậu tiến vào.

Cô Trà vẫn ngồi yên trên chiếc ghế bành, ánh mắt không rời khỏi bộ sách cổ đang mở trước mặt.

Dáng người cô vẫn thanh thoát, tóc dài buông thả, gương mặt lạnh lùng nhưng cũng đầy quyền lực.

Đôi mắt cô không hề ngước lên, nhưng cậu Đạo đã cảm nhận được sự hiện diện của cô, như thể đã biết cậu đến từ lâu rồi.

Dưới chân cô, hai cô hầu quỳ gối.

Lai cầm quạt giấy, lặng lẽ.

Dạng thì khoác áo đen, đầu cúi thấp, mặt nạ bạc che nửa gương mặt dưới, chỉ lộ đôi mắt đen kịt, thỉnh thoảng khẽ rung như nước trong chum động nhẹ.

Cậu Đạo cúi đầu hành lễ, giọng khẩn khoản:

"Xin cô cứu tôi thêm một lần nữa... mạng tôi chưa đến số tận, tôi biết bà có cách mà."

Bà thầy không nhìn cậu, chỉ gõ nhẹ ba ngón tay lên thành ghế, ba tiếng như rơi xuống tim người nghe.

"Cậu đã chết một lần ở bến Ngang.

Ta trả cậu về, thiên cơ đã lệch."

"Lần thứ hai, cậu dùng máu gái trinh để đổi dương khí.

Máu đó dính nhân duyên, trời phạt cậu, nhưng ta cản."

"Giờ cậu xin lần thứ ba... thì không thể cầu thọ nữa, mà cầu đoạ."

Giọng cô lạnh, không cao không thấp, nhưng làm cậu Đạo thấy như mình đang quỳ trước một con quỷ trăm năm thành hình.

"Tôi sợ... nhưng tôi không cam lòng.

Tôi còn nhiều thứ chưa giữ được..."

"Nếu cậu còn lần nữa," Cô Trà nói tiếp, mắt nhìn xoáy vào mắt cậu

"Cậu sẽ bị đày vào vòng luân hồi, không có cửa đầu thai.

Kiếp sau không làm người.

Kiếp sau nữa... cũng không."

Im lặng.

Một cái tắt nến.

Một làn khói cong.

Cậu Đạo quỳ xuống, không dám ngẩng đầu.

Khi cậu rút lui, bà không cho Lai hầu nữa, Dạng mới từ từ ngẩng đầu lên.

Bà thầy hỏi khẽ, như hỏi bóng mình:

"Hôm nay xác có bị nứt ra không?"

Dạng không đáp, chỉ khẽ cười, một tiếng cười méo mó, phát ra từ cổ họng chứ không phải môi.

Bà thầy vuốt tóc cô, tháo chiếc mặt nạ bạc xuống, bên trong là gương mặt đẹp như sứ, nhưng hai bên má lại xuất hiện hai đường chỉ đỏ vừa may, như hai con rết đỏ đang đính trên gò má, bà thầy cưng chiều Dạng, đầu ngón tay mơn trớn gương mặt nàng như sờ lên tác phẩm tâm đắc nhất đời mình.

Dạng nhớ lần đầu gặp Trà.

Đêm ấy trời không sao.

Sương mù dày đặc phủ kín bìa rừng phía sau gò mả cũ.

Người sống không dám lại gần, kể cả đám chó cũng né xa, nhưng âm khí thì tụ lại đông như ruồi bọ quanh thịt nát.

Có một con quỷ lạc lối đang rên xiết, lết đi bằng hai tay, thân hình đen đặc, từng mảng thịt hư hại của kiếp trước còn dính lại như tấm dẻ rách.

Và trên lưng nó, một oán linh như khói đen bốc mùi rượu cũ, đang quấn quanh lấy gáy, cắn từng đoạn hồn phách mà nhai không tiếng, không lệ, chỉ một cơn đói không bao giờ dứt.

Oán linh đang cắn xé linh hồn đó chính là Dạng.

Rồi, một tiếng chuông đồng nhỏ vang lên.

Âm thanh ấy làm cả quỷ lạc lối lẫn Dạng đều khựng lại.

Không gian như vừa bị ai đó lật trăng máu chiếu ánh sáng đỏ lên.

Người đàn bà ấy bước ra từ sau hàng tre.

Mặc áo lụa đỏ, tay cầm tràng hạt đen óng, tóc dài xõa ra như thác đổ.

Bà thầy đồng.

Linh hồn Dạng rít lên, định bỏ chạy.

Nhưng một bước của người kia đã chặn ngang đường lui, không chạm đất, không nhấc gót, mà như trượt trên bóng chính mình.

"Ma quỷ ở đây đều là mi ăn à?"

Cô Trà hỏi.

Dạng gào lên, tiếng gào gióc thịt, nhưng cô không động lòng."

Ăn một lần là oán.

Ăn hai lần là ma dại.

Ăn ba lần... là không còn cửa nào mở cho mi cả."

"Nhưng cô mới xin được một cái xác còn tươi, ấm, dùng để mượn xác rất tốt."

Oán linh kia khựng lại, cơn đói dừng giữa chừng.

"Muốn không?

Mi theo ta.

Làm hầu cho ta.

Không có tự do, nhưng có hình hài.

Không thể yên nghỉ, nhưng có chốn để về."

Câu nói đó như lưỡi dao mài chậm trên xương, và oán linh đó lần đầu tiên trong vô số kiếp vất vưởng, khẽ cúi đầu.

"Ta gọi ngươi là Dạng.

Vì ngươi chưa có hình thù.

Nhưng giờ là người của ta."

Một luồng gió đỏ cuộn lại, như tấm khăn voan trùm lên vết thương cũ.

Quỷ lạc lối rã thành tro, Dạng ngẩng đầu, rùng mình, và theo bước Cô Trà vào màn đêm đang mở cửa.

Từ đó Cô Trà mỗi đêm đều khâu vá hồn vào xác cho Dạng, từng tấc cơ thể mới đều là một tay bà tạo ra.

Cái xác này trôi từ xóm Cái Gáo về, Mắt cô vẫn chưa kịp nhắm, mái tóc rối quấn vào cổ như ai siết.

Trên cánh tay còn vết dây gai, lằn đỏ chưa nhạt, người ta đồn cô tự vẫn vì bị phụ bạc, cũng có kẻ nói cô là gái điếm bị chém chết rồi quẳng xác xuống sông.
 
[Bhtt/ Duyên Gái] Huyết Ước Trầm Linh
2. (*)


Gió đứng yên khi Hải Bình bước chân ra khỏi cửa nhà, bên ngoài chỉ khoác áo choàng đen phủ xuống gót chân, trên tay mợ là cây đèn dẫn hồn, thứ mà ông thầy xứ Huế làm cho mợ từ bấc vải tang, dầu rái, và tóc người khuất, ánh sáng từ nó hiu hắt như chuồn chuồn lạc giữa xoáy gió đêm, run rẩy trong lòng gió.

Người ta nói, đèn ấy dẫn lối về âm.

Chỉ cần im lặng, đi theo ánh lửa, hồn người chết sẽ tìm về mình, nếu có đủ nợ nần chưa trả.

Vốn dĩ, nó đã tắt ngấm suốt bốn năm nay, nhưng đoàn kiệu đỏ của Cô Trà đi ngang qua, ngọn đèn dầu này bỗng chớp tắt trở lại, con tim mợ theo đó cũng xuôi theo cây đèn.

Còn đêm nay, ánh đèn run rẩy ấy lại dẫn mợ đến Phủ Thờ Cô Trà, nguy nga, tráng lệ, không khác chi bà chúa của cái làng này.

Nhưng lạ ở chỗ, cánh cửa gỗ cao ba thước mở toang ra, như không sợ người ta chẳng biết cấm kị mà bước vào, cái đèn lồng treo trước cửa rọi vào con ngươi đang phủ một lớp sương lạnh của mợ, có đèn là như thế, nhưng mợ không tài nào tỏ bên trong cánh cửa ấy là cái gì, chỉ thấy một lớp màn đen thui chắn ngang trước mắt.

Mợ bước chân qua thềm cửa, ầm một tiếng rất nhẹ, cánh cửa cao ba thước bị đóng lại từ bao giờ, nhốt mợ trong cái lồng khổng lồ bằng gỗ, bao quanh bằng hương trầm.

"Ai cho phép nữ rọi đèn dẫn hồn vào phủ ta?"

Cô Trà ngồi sau cái bàn gỗ thấp, tóc xoã dài, chống cằm lên mu bàn tay, ánh mắt quét qua mợ, như thợ săn đang rình rập con mồi sa vào lãnh thỗ.

Hải Bình ngồi xuống đối diện Cô Trà, đặt cây đèn xuống bàn, nó vẫn sáng, nhưng lung lay.

Mợ chưa kịp lên tiếng thì Cô Trà giơ một ngón tay thon dài lên, gõ xuống mặt bàn đúng một cái.

"Cạch."

Ánh đèn phụt tắt, không phải vì gió, càng không phải vì cạn dầu, Hải Bình hiểu rõ, nó đại diện cho cái gì.

Cô Trà nhếch mép, châm chọc:

"Cái ông thầy làm cây đèn này cho nữ, pháp lực chẳng bằng một móng tay ta.

Chơi mấy trò trẻ con, dẫn ma kiểu đấy chỉ tổ gọi nhầm thứ không nên gọi."

Hải Bình tiếp tục im lặng, nhưng sống lưng như có con rắn đang trườn ngang qua, lạnh nổi da gà.

Đợi Cô Trà nhấp một ngụm trà ấm, mợ mới nói:

"Tôi biết Cô Trà pháp lực cao thâm, xin cô giúp tôi tìm người, núi vàng biển bạc tôi sẽ trả cho cô...."

Chưa nói dứt câu Cô Trà đã cản: "Thôi, núi vàng biển bạc có người trả cho tôi rồi, còn người mợ tìm e rằng chẳng muốn gặp mợ nữa, mợ nên buông bỏ thì hơn."

"Nếu tôi nói tôi không muốn thì sao."

Cô Trà cười khẽ, rót cho mợ chén nước đen như mực tàu, nói với mợ.

"Mợ uống chén thuốc này, tôi sẽ nói mợ nghe, người mợ tìm đang ở đâu."

Hải Bình ngẩn người trong chốc lát.

Mợ ngồi trái bên cô Trà, căn phòng chỉ thắp một ngọn đèn mờ đỏ.

Mùi hương lạ bắt đầu len lỏi từ khe sàn, từ những bức rèm lụa buông dài chạm đất.

Khói hương đặc sệt tràn từ chiếc huân lư đồng đen đặt giữa phòng, phả ra mùi hương ngọt nhưng không phải của hoa, hơi cay nhưng không phải khói nồng.

Mùi ấy thanh như suôi đầu nguồn, mà mê như trầm hương trăm năm có một.

Vừa như da thịt người con gái mới gội đầu bằng bồ kết buổi sớm, vừa như máu me của kẻ chết oan còn vương vấn tiếc nuối không sao nói được.

Trước khi Hải Bình kịp uống chén thuốc cô Trà đưa thì mùi hương ấy lụi dần mọi ý thức của mợ.

Như nước rỉ qua kẽ tay lại như cánh tay cũ mềm buộc chặt lấy cổ mình từ kiếp trước.

Cô Trà mỉm cười nhìn Hải Bình dần chìm vào cơn mụ mị, rót một chung trà, đặt lên bàn, hỏi mợ.

"Nói tôi nghe, Mợ Cả thấy gì trong làn khói ấy?"

Tiếng nói nhẹ như ru, vang lên giữa hơi trầm đục của gỗ trắc cháy âm ỉ.

Hải Bình nhắm mắt lại, rồi mở ra, nhưng thế giới đã đổi khác.

Không còn Cô Trà.

Không còn phòng khách.

Không còn cái lạnh oi ả nồng ngoài kia.

Chỉ còn một căn buồng phủ rèm lụa đỏ, ánh sáng không có nguồn, chỉ tràn vào như máu trộn với sương.

Người mợ hằng đêm mong nhớ đang đứng quay lưng về phía cô.

Nàng để tóc xõa dài, đen như bờ sông lúc nửa đêm.

Làn da trắng xanh, ánh lên bởi ánh sáng đỏ, trông không thật, nhưng đẹp đến mức khiến người ta nghẹt thở.

Thân thể nàng gầy, mềm mại, như một dòng sông mảnh uốn quanh giấc mơ.

Tấm áo lụa đào trễ khỏi vai, trôi xuống như suối lụa, để lộ một bên vai gầy và sống lưng thoảng hằn dấu vết cũ, có thể là bầm, có thể là móng tay người tình đã từng níu lại trước khi nàng bỏ đi.

Hải Bình thở dốc.

Vành mắt đỏ hoe.

Mợ muốn chạy đến, nhưng chân như bị níu lại bởi đất bùn hay linh hồn kẻ khác.

Nàng quay lại.

Đôi mắt nàng, đẹp như mắt mèo hoang, long lanh, bí ẩn và sắc lạnh.

Môi nàng đỏ như cánh sen sắp tàn, mang cái đẹp của sự thối rữa, đẹp đến mức làm người ta quên mất sợ.

Ngực nàng phập phồng nhẹ, như không khí quanh đó bị ép lại vì quá gần một linh hồn chưa kịp tan.

Da nàng mịn như tơ, lạnh như tro, và thơm thứ mùi độc địa, giống rễ cây bị chôn lâu năm trong mộ đất, quyện với ngải, với nhang, với nước mắt.

"Mợ lại tìm em à."

Nàng nói, giọng thoảng như tiếng hát từ đình làng xưa đã bỏ hoang.

Hải Bình bước tới.

Tay mợ run.

Mắt mợ ươn ướt như vừa khóc.

Nhưng mợ không thấy buồn, mà là có một khao khát rất cũ đang trỗi dậy, như tiếng trống từ lễ gọi hồn của làng năm xưa.

Mợ chạm vào tay nàng.

"Sao mợ không trả lời em thế, mà cũng phải thôi, mợ ghét em lắm mà."

Giọng nàng thầm thì ngay sau gáy Hải Bình, âm thanh như lông chim rớt xuống mặt nước, lạnh, nhưng có chút ngọt, và gợi một thứ dục vọng không thuộc về cõi người.

Hải Bình đặt trán mình lên trán nàng, mũi mình lên mũi nàng.

Hơi thở cả hai hòa vào nhau, một người thở ra mê muội, một người hít trong đói khát.

Họ đổ lên nhau như mưa đầu mùa đổ lên xác pháo cũ, ướt át, mềm rũ, không còn ranh giới.

Lụa phủ rơi dần, từng lớp, như lớp đời bị gỡ khỏi nhau.

Hải Bình áp má vào ngực nàng.

Ngực nàng mềm mại, nhưng không có hơi ấm cũng không có tiếng tim đập.

Nhưng Hải Bình lại nghe thấy tiếng đập của chính mình vọng lại từ lồng ngực đó, như thể đã giao phần hồn sống của mình vào thân xác người kia.

Nàng nhắm mắt.

Cổ nàng nghiêng sang một bên, để lộ mạch máu xanh và một vết nứt nhỏ như dấu răng cũ.

Mợ hôn lên vai nàng.

Mợ vuốt những lọn tóc dài, mảnh như tơ nhện nhuộm đen.

Cơn mộng như nước lụt tràn ngập cánh đồng xưa, nơi xác người chưa kịp vớt kịp đã mọc hoa ngải tím ngắt.

Tiếng thở đan vào nhau, nghe như nhịp trống âm phủ đánh nhầm vào đêm tân hôn.

Mỗi cú chạm của nàng như lửa âm ty liếm qua đỉnh ngực mợ.

Mỗi cái vuốt ve như kéo linh hồn ra khỏi xác mà vẫn khiến mợ thèm khát lần nữa.

Tấm thân Hải Bình như trôi bồng bềnh giữa dòng nước đục ngầu, bị trói bằng tóc nàng, bị buộc bằng hơi thở nàng, và tan rã dưới làn da nhợt nhạt như xác ve mùa cũ của nàng.

Mợ rên rỉ, lạc lối trong khoái cảm không thốt nên lời.

"Trả lời em đi, có phải mợ hận em lắm không?"

Hải Bình không trả lời.

Mợ chỉ ngậm môi nàng mà cắn.

Trong làn máu ảo ảnh chảy ra, cô nếm được mùi đất mộ, mùi nấm mọc, mùi rễ cổ thụ ngâm trong nước thiêng.

Mợ để tay mình trượt dọc sống lưng nàng, chạm vào những vùng da mịn như nhung, nhưng lạnh như rắn rết bò qua.

[...]

Dạng ngồi nép bên bàn thờ, ngọn đèn dầu khẽ run run soi nửa khuôn mặt cô, bấy giờ Dạng không đeo mặt nạ bạc nữa, đường chỉ đỏ nóng rực hai bên má như hai con rết sống chực chờ bò ra bất cứ lúc nào.

Mùi nhang cháy hăng hắc quyện với hơi lạnh ban đêm khiến cô hơi rùng mình.

Cô Trà ngồi bần thần trước bàn thờ rất lâu, đến khi Dạng chịu không nổi nữa, nhẹ nhàng cúi xuống gần, Dạng mới thấy sau gáy cô Trà có mấy vết cào đỏ bầm, như mới bị ai cào bằng móng tay, còn rịn chút máu khô.

Dạng khẽ rụt tay, giọng lạc đi vì sợ:

"Cô Trà... sau gáy của cô."

Pháp lực cao thâm như cô Trà, ai có thể lại gần cô, huống chi là để lại mấy vết cào như thế này.

Gió ngoài hiên lùa vô, ngọn lửa bấc nghiêng ngả.

Giọng cô Trà cất lên, nhỏ mà vang trong khoảng không tĩnh mịch:

"Không có gì."

Biết trước Hải Bình gọi hồn mình lên để làm ba cái chuyện này, vậy mà cũng để mợ ấy được toại nguyện, cô Trà cũng không hiểu bản thân cô muốn làm cái gì với mợ nữa.

"Hồi nãy con có đi qua chỗ Mợ Cả nằm nghỉ, mợ cứ rấm rứt khóc mãi, cứ liên tục xin lỗi, cầu xin người ta đừng đi, đừng bỏ rơi mợ nữa, chắc Mợ Cả thương người đó lắm phải không cô."

Mi mắt Cô Trà rũ xuống, không khó để nhìn ra tia u uất trong con ngươi tưởng chừng như điềm tĩnh ấy.

"Không phải, là hận, hận đến chết."

Vậy tại sao lại hận?

Cô Trà không biết.

Cô trà chỉ nhớ, mợ luôn miệng nói hận cô, ngồi trước mồ mã cô chỉ vào mắng, vì sao lại bỏ mợ lại, vì sao lại yêu mợ, vì sao lại để mọi thứ ra nông nỗi này...vì sao lại không mang mợ theo.

Từng câu hỏi vì sao của mợ, cô Trà không thể trả lời được câu nào nữa, cứ như thế im lìm suốt bốn năm.

Cô Trà chợt nhớ ra, hồi mới chết, Hải Bình cứ kêu thầy gọi hồn cô lên suốt, cô không chịu lên, cứ để mợ làm mọi thứ để rồi về tay trắng, có lẽ vì thế nên mợ mới ghét cô, đốt bài vị, đập cả bát hương cô Trà trong ngày giỗ đầu tiên.

Nhưng bấy nhiêu thôi đâu có khiến mợ hận cô Trà sâu đậm đến thế được.

Cô Trà nhớ rất rõ, trong suốt quá trình hai người yêu nhau, đến trở thành chị dâu em chồng, mãi đến khi làm tình nhân cho mợ, cô Trà đâu có làm chuyện chi có lỗi với mợ đâu.

Chỉ có mợ thôi, chỉ có mợ năm lần bảy lượt lừa dối, phản bội cô Trà, cô không giận mợ thì thôi, chứ nào có lí mợ hận ngược lại cô Trà.

Cô Trà thở dài, dẫu sao cũng là chuyện đã qua rất lâu rồi.

Cho dù yêu hay hận cũng chẳng phải là nhớ nhau trong tâm trí, in hằn bóng hình của người đó trong tim hay sao.

Nên Cô Trà không hận mợ, cũng không yêu mợ, cũng như coi mợ chỉ là một vị khách phương xa vô tình ghé ngang cái làng này.

Hải Bình tỉnh dậy trong một cơn hoảng loạn, lồng ngực hẫng đi, nhịp tim đập loạn xạ, và đôi mắt nặng trĩu như mới vừa thức dậy sau một giấc mơ dài đầy ám ảnh.

Mợ ngẩng lên, môi khô rát, cơ thể ngập tràn cảm giác như vừa xuyên qua một lằn ranh vô hình, một thế giới khác.

Chăn mỏng rơi hờ xuống ngực, áo lụa xô lệch, tóc tai rối bời.

Giữa hai chân vẫn còn cảm giác tê rần, khó nói rõ là dư âm khoái lạc hay sự trống rỗng kỳ lạ để lại sau một cơn mơ tràn xác thịt.

Mồ hôi vẫn còn âm ấm trên da, nhưng không rõ là vì giấc mơ vừa rồi... hay thứ gì khác.

Cảm giác nơi đầu ngón tay, nơi môi, nơi ngực còn âm ỉ một sự đụng chạm như thật

Nhưng không có nàng ở đó.

Không có những giây phút đắm đuối, những nụ hôn lạnh buốt và đầy ma mị.

Mợ không thể chắc chắn rằng mình đã thật sự nằm mơ hay đã trái ngang vào một thế giới ngoài tầm kiểm soát của chính mình.

Trong mắt mợ, không còn là cái không gian đỏ rực của mộng, mà chỉ còn lại căn phòng tối, lạnh lẽo, nơi cô Trà vẫn ngồi, chân vắt chéo, tay gõ nhẹ lên bàn như đánh nhịp cho cơn gió đi qua.

Cái bóng mờ mờ sau tấm rèm lụa động khẽ, rồi bà thầy bước ra.

Đôi mắt dài và sâu như giếng cổ nhìn mợ Cả, khoé môi bà cong lên nửa như cười, nửa như cợt nhả.

"Mợ Cả tỉnh rồi à?

"Trời đất," Cô Trà nhếch môi cười, "Mộng mị mà hăng dữ hen.

Mợ rên nghe mê thiệt, ai đứng ngoài cũng tưởng đang... làm chuyện đó thiệt luôn á."

Mợ ngồi dậy, luống cuống chỉnh lại áo.

Nhưng tay run, kéo tới kéo lui mà cổ áo vẫn lệch một bên, lộ ra phần da mịn như ngó sen có vết hằn đỏ mờ mờ, chẳng biết là ảo ảnh hay vết thật.

Đã là nít quỷ thì bao nhiêu tuổi vẫn là nít quỷ.

Cô Trà đi tới, ngồi nghiêng một bên giường.

Cô đưa tay lên chạm vào lư hương, rút ra một cành trầm vẫn còn âm ỉ khói.

Rồi cô vẽ một đường mảnh trong không khí, một nét khói lặng lẽ nhưng thấm sâu, như sợi chỉ buộc giữa mộng và thực.

Cô bước lại gần mợ, cúi xuống sát mặt mợ.

Mùi da thịt cô Trà vẫn phảng phất trầm hương, nhưng bên dưới là mùi gì khác, ẩm, lạnh, ma mị như khói sương đêm rằm.

"Tưởng mợ đoan trang, lạnh lùng, ai dè cũng biết nhục dục như ai.

Còn biết chủ động, rên khe khẽ, cào vai người ta như mèo lên giống."

"Mợ Cả cũng dâm loàn, như bao đàn bà khác thôi."

Hải Bình bặm môi, mặt đỏ gay, không biết vì tức, vì xấu hổ hay vì một phần nào đó trong câu nói ấy...

đúng.

Giọng cô không lớn, nhưng từng chữ như kim châm vào da.

Hải Bình siết chặt váy áo, môi run run:

"Cái thứ hương quái quỷ đó mà cô gọi là 'cho dễ ngủ'?

Cô không nói, tui cũng biết cô giở ba cái trò... bỏ ngải, bỏ bùa."

"Ngải gì đâu, mợ tự thèm người ta, tự muốn thấy, tự nguyện dâng mình trong mơ.

Mợ coi lại lòng mình đi, chớ đổ thừa tôi.

Mợ nghĩ tới người chết đó, mà thân xác lại khao khát một người đang sống là sao?"

"Mà thôi," Cô Trà cắt lời, nhếch môi như không coi phản ứng kia ra gì.

"Tình thương nào mà chẳng có chút dâm tình lén lút trong lòng.

Nhục dục là cái lẽ thường tình.

Ai sống cũng có.

Chỉ có xác chết mới không còn ham muốn.

Mợ còn biết mộng mị, biết thèm khát... chứng tỏ mợ còn sống."

Ánh đèn trước mặt mợ nhấp nháy, bóng tối xung quanh dường như đang sống, thở đều như một con quái vật đang giấu mình trong bóng đêm dài tưởng chừng như vô tận.

Hải Bình không trả lời.

Mợ chỉ quay người sang, cảm nhận trong lòng một nỗi hoang mang dâng lên, như thể bản thân vừa rơi xuống vực sâu không đáy.

Nàng có trở về thật không?

Mợ đã thật sự nằm trong vòng tay ấy không?

Hải Bình nhìn xuống tay mình.

Bàn tay vẫn còn mùi thơm như ngải, mùi hương ấy ám vào lòng mợ, chảy trong huyết quản như máu, không thể nào rửa sạch.

Chỉ cần nhắm mắt lại, mợ lại thấy hình ảnh đó cơ thể mịn màng của nàng, lạnh lẽo nhưng quyến rũ, và cái cách nàng vùi mình vào mợ, hôn sâu mà không cho phép mợ thoát ra.

Nhưng khi Hải Bình mở mắt ra lần nữa, tất cả chỉ còn là bóng tối.

Không còn nàng nữa, không có cánh tay ôm lấy cô, không có hơi thở mơ hồ ấy.

"Mợ Cả," giọng cô Trà rơi xuống nhẹ như bụi tro " Mợ đừng đến đây nữa."

Hải Bình ngẩng lên, khẽ nhíu mày.

"Mợ càng đến, càng nhìn thấy nàng rõ hơn.

Nhưng rồi mợ sẽ chẳng còn biết đâu là thật, đâu là ảo.

Đến lúc ấy... mợ không đầu được nữa đâu.

Huống chi người mợ đã gặp chắc gì là nàng, nàng vốn chẳng cần mợ nữa."

Giọng cô Trà dịu dàng đến mức Hải Bình có cảm giác như bị một tấm lụa mềm vây lấy, quấn chặt lấy tim mình.

Mỗi lời cô nói như thể kéo mợ vào một cái hố sâu trong tâm hồn mà không thể thoát ra được.

Cô Trà bước lại gần, rất gần, đến mức hơi thở của bà phả nhẹ trên gương mặt Hải Bình.

Cảm giác đó, như thể một luồng sóng không thể cưỡng lại được, làm da thịt mợ nóng bừng lên, dù là phản ứng khó hiểu và đầy mâu thuẫn.

"Mợ suy nghĩ lại xem, trong mộng mợ cũng khóc, chứng tỏ mợ đâu có hạnh phúc với cái người mợ yêu cho mấy, tôi xem quẻ rồi, hai người đều dằn vặt trong cái quá khứ đau khổ ấy quá nhiều, nên buông bỏ thôi, người ta đã chọn bước đi tiếp, thì mợ hà cớ gì phải chấp nhất sống chết với cái chuyện đã qua làm gì."

Nói tóm lại là không cần mợ nữa, Hải Bình nghĩ thế, đôi mắt phủ thêm vài phần u oán.

Cô Trà vươn tay, nhẹ nhàng vuốt ve làn tóc của mợ, rồi dừng lại trên đôi vai mềm mại.

Cái chạm ấy không phải là một cái vuốt ve bình thường.

Nó như thể một sự gợi mở, một sự mời gọi mà mợ không thể cưỡng lại được, dù cho bản thân có giãy giụa hay không.

"Mợ Cả... tôi thấy mợ quá dễ bị tổn thương.

Cũng như tôi, cũng là kẻ dằn vặt trong tình yêu không có hồi kết."

Cô Trà cúi xuống, hơi thở ấm áp lướt qua vành tai mợ, khiến Hải Bình lạnh sống lưng.

Một cảm giác vừa sợ hãi vừa hấp dẫn xâm chiếm lấy từng tế bào trong cơ thể mợ.

Mợ muốn quay đi, nhưng đôi chân như mọc rễ vào đất, không thể di chuyển.

"Tôi biết mợ thấy có lỗi với người ấy nhiều lắm.

Nhưng người mợ muốn tìm đã không còn đau khổ về những chuyện ấy nữa đâu, người ra đi thanh thản lắm, nên mợ đừng dằn vặt hay canh cánh trong lòng nữa."

Giọng Cô Trà không còn là những lời cợt nhả, mà là những lời thủ thỉ đầy ma lực, từng chữ như muốn trói chặt Hải Bình lại.

Làn da mợ nóng bừng, trái tim đập loạn nhịp, mỗi hơi thở đều trở nên ngột ngạt.

Cô Trà nhìn vào mắt Hải Bình, như thể đã thấy rõ hết tất cả những gì giấu kín trong lòng mợ.

Cô Trà cười, nhẹ nhàng rút tay lại, nhưng vẫn đứng đó, gần đến mức chỉ cần mợ cúi xuống là có thể chạm vào môi bà.

"Không thể nào, em ấy không thể bỏ rơi tôi thêm lần nào nữa đâu, cho dù dùng mọi thủ đoạn cũng phải trói em ấy trở lại bên cạnh tôi."

Một khoảng lặng chết người bao trùm cả căn phòng, không ai cử động, không ai lên tiếng.

Mợ Cả đứng im, cảm giác nghẹn ngào như có gì đó đang dâng lên trong lòng, không thể nói thành lời.

Cô Trà bước lùi lại một bước, nhưng cái ánh mắt thâm sâu vẫn không rời mợ.

Cái mùi hương từ huân hương lại bắt đầu lan tỏa khắp không gian, như một cái bẫy ngọt ngào khiến Hải Bình lún sâu vào trạng thái mơ hồ.

Cô Trà nhìn mợ một lần cuối rồi quay đi, để lại Hải Bình đứng đó, tay siết chặt thành nắm đấm, nhưng không thể cựa quậy.
 
[Bhtt/ Duyên Gái] Huyết Ước Trầm Linh
3.


Hội làng năm ấy mở vào đầu mùa gió nồm, khi khắp cánh đồng lúa vừa gặt xong, mùi rơm khô còn vương trong từng luồng gió, thơm ngai ngái mà thân thương đến lạ.

Cả làng từ mấy hôm trước đã rộn ràng dựng cờ, treo phướn, giăng đèn kết hoa.

Từ đình làng ra đến bến nước, đâu đâu cũng có tiếng người, tiếng cười, tiếng trống hội thùng thùng vọng ra từ sớm.

Người già khoác áo the thâm, đội khăn lượt, bọn trẻ thì chạy đuổi nhau với những chiếc tò he, ông đồ viết câu đối đỏ, cô hàng chè xanh bày mấy chiếc chum gốm đầy khói tỏa.

Trên sân đình, mấy cô đào hát đang tập dợt lại điệu "Xuân Nữ", tiếng trống chầu xen lẫn tiếng thanh la, nhịp phách đều đều mà rộn rã.

Trong cảnh náo nhiệt ấy, cô Trà bước xuống từ chiếc võng do hai người phu gánh, theo sau là Lai và Dạng.

Cả ba người đều ăn mặc chỉn chu, nhưng chỉ riêng cô Trà khiến người ta phải ngoái nhìn.

Cô mặc áo ngũ thân the đen, trong lót áo cánh lụa màu thiên thanh, cổ cao viền chỉ trắng, khép kín nhưng mềm mại.

Mái tóc cô búi gọn kiểu vấn khăn nhung, cài trâm ngà chạm đầu phượng, hai bên tóc rủ xuống đôi bông tai bằng vàng y, khẽ đung đưa theo từng bước đi.

Trên cổ là chuỗi bạch ngọc nhỏ, sáng ngời dưới ánh nắng sớm, tay trái là chiếc vòng đồng khắc họa tiết sen nở, đơn sơ mà thanh nhã, còn ở tay phải cầm chiếc quạt nan xếp, tà áo dài chạm gót, hễ gió thổi lại lướt khẽ qua mặt đất, như thể chính cô là người lạc bước ra từ tranh lụa.

Gương mặt cô Trà tĩnh lặng, chỉ đôi mắt có gì đó sâu thẳm như mặt nước ao thu.

Người trong làng vừa thấy bóng cô đã nhao nhao chào hỏi.

"Dạ Cô Trà tới."

"Năm nào Cô Trà cũng ghé, chắc đình năm nay lại được lộc lớn!"

"Cái vía của cô linh lắm, có cô đến, lễ cúng Trấn Điền năm ngoái được mùa thấy rõ nha."

Dân tình coi cô như người phúc hậu, có điềm lành, hễ cô đến dự hội là năm ấy mùa màng no đủ, không mất mát.

Dân làng lễ phép cúi đầu chào, trẻ con ríu rít chạy theo tà áo dài của cô, người lớn nhìn với ánh mắt vừa kính vừa nể.

Cô Trà chỉ mỉm cười nhè nhẹ, ánh mắt thăm thẳm, nụ cười không vướng bụi trần, mà sao thoáng qua lại có cái gì đượm buồn, không hiểu nổi.

Hội làng đang rộn, tiếng trống chiêng hòa vào gió, khói nhang nghi ngút quanh bàn tế Hà Bá.

Dạng đi bên cạnh, vừa quạt vừa thì thầm:

"Năm nay quan huyện cũ cũng về xem lễ đó cô, nghe đâu trạc ngoài năm mươi, mà tính tình nghiêm lắm, xét xử bao nhiêu án oan của cái làng này."

Cô Trà chỉ khẽ "ừ", rồi dõi mắt về phía rạp quan khách.

Ở đó, giữa đám quan viên áo thụng xanh, có ông Đoàn, quan huyện cũ, dáng người cao ráo, râu chòm thưa, ánh mắt lúc nào cũng như lắng đọng ưu phiền.

Bên cạnh ông là cậu Đạo quan huyện mới được bổ nhiệm về thay cha.

Cậu mặc áo dài tím sậm, cổ tay thắt chặt, nét mặt trầm mặc mà khôi ngô, chỉ có ánh nhìn hơi xa xăm, không hướng vào hội mà như đang trôi về đâu đó.

Cô Trà chưa kịp quay đi thì nghe giọng ông Đoàn trầm khàn:

"Đạo à, con tới tuổi rồi, thôi nghe lời ba mà lo việc nhà cửa.

Cô Dung mất lâu rồi, đừng chấp niệm nữa.

Con nên cưới vợ, sinh con... cho ba còn được vui tuổi già."

Giọng cậu Đạo cất lên, khàn khàn nhưng dứt khoát:

"Ba, người ta chưa chết.

Chưa có xác, chưa phát tang, sao ba lại nói vậy?

Dung còn sống, chỉ là lạc đâu đó thôi."

Ông Đoàn thở dài, giọng ông nhỏ lại:

"Con khờ quá, người lạc vào rừng Trầm có ai toàn xác trở về đâu con.

Ba nói thật lòng, nếu con thấy được, cô Trà người vừa đẹp vừa nết na, lại có của ăn của để.

Ba thấy nó hợp với con lắm.

Để Ba qua dạm hỏi, được không con?"

Cô Trà đứng phía sau, nghe từng chữ, sống lưng lạnh dần.

Trong thoáng chốc, bàn tay cầm quạt của cô run lên khẽ khàng.

Ánh nắng xiên qua tán cau rọi xuống tà áo, làm ánh ngọc trên cổ cô loang loáng như hơi nước.

Giọng cậu Đạo bật lên, đanh thép mà đáp:

"Ngoài Dung ra, con sẽ không cưới ai hết."

Ông Đoàn thoáng chững lại, rồi xoay người, chạm phải ánh nhìn của cô Trà.

Cái nhìn ấy khiến ông hơi khựng, nét mặt ông thoáng lúng túng, nửa ngượng, nửa xót xa.

Ông gượng cười, nói lảng:

"Ờ... cô Trà đó hả, lâu rồi không gặp.

Cô khỏe không?

Mấy vụ hương khói đình này cô rành hơn tụi tôi nhiều, phải nhờ cô chỉ dẫn đó nghen."

Rồi ông quay sang kéo con trai:

"Đi con, người ta đang dọn sân khấu hát bội rồi.

Coi sớm chứ trễ hết chỗ ngồi."

Cậu Đạo nhìn thoáng qua, ánh mắt chạm nhẹ vào cô Trà, chỉ một khoảnh khắc thôi, nhưng trong đó có điều gì đó chênh chao khó gọi tên.

Gió thổi qua hàng cờ ngũ sắc, bay phần phật.

Cô Trà đứng lặng nhìn theo bóng hai cha con khuất dần trong đám đông, hương trầm phảng phất, tiếng nhạc lễ lại dồn dập hơn.

Trời đã ngả về đêm, sương mỏng rơi như tơ, lẫn trong mùi nhang khói và tiếng trống chầu rền rĩ.

Cô Trà ngồi trên ghế tre, đôi tay đan vào nhau để trước bụng, mắt lim dim dõi theo sân khấu nhỏ phía trước.

Dưới ánh đèn dầu chập chờn, mấy ả đào đang ca đoạn "Xuân Nữ", giọng ngân nga, thổn thức, thỉnh thoảng hòa với tiếng đờn kìm réo rắt mà nao lòng.

Một ả đào đứng giữa sân khấu, ánh đèn hắt lên làm đôi mắt cô ta long lanh như giọt lệ.

Mấy câu hò cất lên, chậm rãi, mơn man:

"Ơi a... người đi đò mấy nhịp sông sâu,

Đò qua bến lạ, người đâu còn chờ..."

Tay ả đưa quạt, cổ nghiêng một bên, động tác mềm như nước mà vẫn phảng phất chút đau thương.

Tiếng đờn kìm réo rắt, xen lẫn tiếng trống chầu thưa thớt, nghe đến nao lòng.

Người làng ngồi quanh, vừa hít hà khen ngợi vừa khẽ thở dài.

"Ừ, con nhỏ hát cũng được đó chớ..."

"Được thì được, mà vẫn không bằng cô Liễu hồi đó..."

Cái tên "Liễu" vừa thoát ra, như một luồng gió lạnh lướt ngang qua vai Cô Trà.

Người ta nói, đã bốn năm rồi, làng này vẫn không tìm được ả đào nào có được cái phong thái của Liễu, cái đẹp làm người ta vừa mê vừa sợ.

Diễm lệ mà kiêu sa, lạnh lùng mà lại gợi ra thứ ma lực khó gọi tên.

Cô Trà bỗng thấy lòng mình siết lại.

Nụ cười trên môi tắt dần, thay vào đó là một cơn nhói sâu tận lòng ngực, như ai siết một sợi dây vô hình quanh tim.

Mắt cô mờ đi, tiếng hát, tiếng trống, tiếng người, tất cả tan vào nhau, chỉ còn lại một khoảng tối đang dâng lên, nuốt trọn.

Rồi mọi thứ tối sầm.

Khi mở mắt ra, cô thấy mình đứng giữa rừng Trầm.

Rừng Trầm đêm ấy đặc quánh sương, dày như màn lụa chết phủ trùm lên mọi thứ.

Không có ánh trăng, chỉ có hơi ẩm lạnh lẽo luồn qua từng khe lá, mùi đất ẩm và máu tanh quyện lại thành thứ mùi ngọt ngấy, hệt như linh hồn ai đó đang rữa nát mà vẫn cố bám vào trần thế.

Cậu Đạo cứ thế mà đi trong cái mê loạn ấy, chân dẫm lên bùn, mắt nhòe đi vì sương và nước mắt.

Mỗi bước đi là một nhát dao cắt vào lòng, một lời khấn thầm gửi đến Thần Phật.

Cậu không biết mình đã đi bao lâu, chỉ biết trong đầu vang mãi tiếng gọi của Dung, khẽ, yếu, như hơi thở của cô sắp hóa thành màn sương rừng Trầm.

Và rồi cậu thấy cô.

Thị Dung nằm đó, giữa rừng Trầm, đầu bê bết máu, da trắng nhợt, hơi thở của cô yếu ớt như sợi tơ sắp đứt, đôi môi khẽ mấp máy gọi tên cậu, mắt lờ đờ nhưng vẫn còn ánh sáng, ánh sáng cuối cùng, chập chờn như đốm lửa tàn trước cơn gió dữ.

"Đạo...

đừng...cứu em."

Tiếng cô khàn đục, run rẩy, bàn tay dính máu chạm vào tay cậu, lạnh như nước giếng khuya "Em không sống ra khỏi rừng Trầm được."

Cậu nghẹn ngào, cổ họng như bị ai bóp nghẹt.

"Không, anh sẽ bế em ra, anh tìm thầy lang, anh sẽ cứu em mà Dung."

Dung khẽ mỉm cười, nụ cười méo mó, ướt át, như vừa cười vừa khóc.

"Là Liễu... cô ả sai âm binh đến giết Dung...

Cô ta là tộc nửa người nửa quỷ...

Cô ta lợi dụng em, muốn cưới anh chỉ để moi tung tích sợi chuỗi cổ... cô ta muốn lấy lại phần hồn cuối cùng để trở thành thần..."

Cậu Đạo run lên bần bật.

Sương tràn vào phổi, vào mắt, cay xè.

"Anh không yêu Liễu, anh sẽ cưới em mà Dung, em ráng chút nha, anh đưa em đi, anh đưa em đi ra khỏi rừng tìm thầy lang."

Dung nhìn cậu, ánh mắt long lanh, nước mắt hòa với máu, nhỏ xuống cổ tay cậu, nóng đến rát da.

"Em xin lỗi, em mệt quá, anh Đạo đừng buồn Dung nha."

Rồi cô hộc máu.

Mắt mở trừng trừng, phản chiếu khuôn mặt cậu, méo mó, đau đớn, tuyệt vọng đến điên dại.

Cậu Đạo ôm lấy thân thể cô, gọi tên cô giữa màn sương lạnh.

Tiếng kêu xé toạc không gian, vọng lại từng hồi, như tiếng quỷ gào giữa địa ngục.

Đồng tử Cậu Đạo co thắt, ánh mắt sắt lạnh:

"Anh sẽ giết Liễu, anh sẽ giết nó, ở đây lạnh lắm, anh đưa em về nhà."

Cậu vừa đi vừa lẩm nhẩm, như kẻ mất trí, bế xác Dung mà tưởng như cô còn sống.

Hơi lạnh của cô ngấm qua da thịt cậu, nhưng cậu không buông, giữa rừng Trầm sương dày, cậu cứ chạy, cứ gọi, cứ khóc.

Mỗi tiếng nấc của cậu hòa vào sương, thấm xuống đất, thành mùi ẩm ngọt quái dị.

"Có ai không, cứu Dung đi, làm ơn cứu Dung đi mà, muốn tôi trả cái gì cũng được, làm ơn cứu Dung đi..."

Cậu ôm Dung chạy.

Chạy trong vô vọng.

Cứ thế, cậu đi suốt một ngày một đêm, mắt đỏ rực, miệng khô khốc, chân lấm đầy máu, như người hành hương tuyệt vọng mong phép màu trong thế giới vốn không còn chỗ cho điều kỳ diệu.

Khi ngã xuống, vẫn còn cố ôm chặt thân xác Dung vào ngực, như thể nếu buông ra, cô sẽ tan vào màn sương mãi mãi.

Cảnh tượng ấy làm tim cô Trà nhói lên, một thứ thương xót mơ hồ không biết là vì ai.

Và rồi... cô nhận ra có một đôi mắt khác đang dõi theo.

Ẩn sâu trong làn sương phía xa, một dáng người từ từ hiện ra.

Từng bước chân chậm rãi, thong dong như dạo chơi giữa hai cõi thực và mộng.

Liễu, ả đào mà cô chỉ mới nghe nhắc, nay lần đầu thấy rõ mặt.

Ả đẹp đến đáng sợ.

Gương mặt diễm lệ, làn da trắng mờ như ánh trăng phủ sương.

Mỗi bước đi của nàng như kéo theo một lớp khói mỏng, uốn lượn quanh gót chân trần.

Ánh mắt Liễu kiêu sa, lạnh lùng, mà trong vẻ lạnh ấy lại có nét quyến rũ khó cưỡng, tựa như một đóa Mạn Đà La vừa nở giữa địa ngục.

Mái tóc nàng đen như than, buông xõa tới thắt lưng, rối nhẹ trong sương, đôi khi vướng vào khóe môi đỏ thắm.

Áo nàng mặc là loại vải gấm đen thêu chỉ vàng, cổ áo cao, bó nhẹ nơi eo, vạt dài quét đất.

Trên cổ, sợi dây chuỗi ngọc bích cũ kỹ ánh lên thứ sắc xanh lạ lùng, thứ màu của sự độc địa, của âm hồn.

Liễu đứng nhìn cậu Đạo hồi lâu, khóe môi khẽ cong.

"Chỉ bằng cậu mà đòi giết được tôi á?"

Giọng ả ngân như tiếng đàn lảnh lót, nhưng từng chữ toát ra vẻ khinh miệt đến rợn người.

Nói dứt lời, ả cúi xuống.

Ngón tay thon dài khẽ chạm lên má Dung.

Cái xác lạnh ngắt mà Liễu vuốt ve lại hóa dịu dàng đến lạ, cái chạm như đang vỗ về một người tình đang ngủ.

Cô Trà thoáng thấy ánh nhìn trong mắt Liễu, có gì đó buồn bã, nặng như sắt đá, rồi nhanh chóng bị che đi bởi nụ cười nhạt.

Bất chợt, Liễu ngước mặt lên.

Đôi mắt ả sâu thẳm, sáng rực như hai viên thủy tinh đen, nhìn thẳng vào cô Trà.

Đồng tử ả giãn rộng, trống rỗng, vô hồn.

Cô Trà giật mình, tim đập dồn dập.

Lẽ ra Liễu không thể thấy cô được, đây chỉ là mộng cảnh do Dung tạo ra, là kí ức mà Dung muốn cô thấy, sao Liễu có thể...

Khóe môi Liễu khẽ nhếch, ả nhấc tay lên, vẫy chào một cách nhàn nhã, thản nhiên như đang chào người quen cũ.

Ngay khoảnh khắc đó, hai bóng đen từ phía sau ả bật tới, hai oán linh méo mó, thân thể co quắp, kêu thứ âm tiết gớm ghiếc.

Chúng lao thẳng về phía cô Trà, mang theo hơi lạnh rợn người.

Cô Trà nghiến răng, tùy tiện niệm một chú trong miệng.

Một tiếng 'roẹt' khô khốc vang lên, rồi cả hai oán linh bị bẻ gãy giữa không trung, thân thể nổ tung thành từng làn khói đen hòa vào sương trắng.

Liễu vẫn đứng đó, không nhúc nhích.

Sợi tóc đen của ả lay nhẹ, vạt áo uốn theo chiều gió.

Ả nghiêng đầu, đôi mắt như ánh trăng soi qua mặt hồ tĩnh lặng, khóe môi cong lên trong nụ cười nửa thương hại, nửa khinh bạc.

Thân ảnh Liễu cũng dần tan vào làn sương, chỉ còn lại tiếng lụa chạm gió và mùi hương trầm quẩn quanh, dìu dịu mà ám ảnh đến tận xương tủy.

Cô Trà đứng giữa rừng, áo lụa lay nhẹ, mắt dõi vào khoảng không.

Một cơn đau chợt xé toạc lồng ngực, dữ dội đến mức cô khuỵu xuống, hai tay ôm bụng, thở hắt ra từng hơi đứt đoạn.

Gió thổi mạnh hơn, gào rú qua tán cây như tiếng người rên xiết.

Cảnh vật xung quanh xoay tròn rồi chuyển màu, trước mắt cô chẳng còn là rừng Trầm nữa, mà là một hầm tối sâu thẳm, mùi tanh nồng xộc lên khiến cô muốn nôn.

Dưới chân, ánh lửa lờ mờ hắt lên một thân thể đẫm máu không phải là Thị Dung nữa, mà là chính cô, của bốn năm về trước.

Cô Trà run rẩy lùi lại, bàn tay chạm phải vách đá lạnh buốt.

Tiếng rên khe khẽ vang lên từ thân xác dưới đất, của chính cô, khi oán linh chậm rãi rút bàn tay đen thẫm ra khỏi bụng, máu phun ra như suối.

Cơn đau từ ký ức ấy bỗng truyền ngược về hiện tại, buốt thấu tận tim gan.

Cô cảm nhận từng đường gân bị xé, từng mạch máu rách toạc, hơi thở gấp gáp như bị ai bóp nghẹt.

"Đau quá..."

Cô thều thào, giọng vỡ vụn.

Nhưng không ai đáp lại cô Trà cả.

Thân xác trước kia của cô ngã nhào, đôi mắt vẫn mở trừng trừng.

Cô Trà quỳ xuống, đưa tay chạm vào khuôn mặt mình, làn da lạnh như băng, môi tím tái, trong mắt còn đọng lại chút ánh sáng cuối cùng.

Một giọt nước mắt rơi, lăn dài xuống má rồi tan vào máu.

Giữa cơn mơ hồ, một bóng người hiện ra, một vị sư, áo nâu sậm, dáng gầy gò.

Giọng ông trầm mà xa:

"Khi dòng tộc có người tích đủ phước, tổ tiên sẽ đến đón họ về.

Ta đi thôi con."

Cô Trà mấp máy môi, hơi thở yếu dần:

"Nếu... con để hết phước đức của mình cho Hải Bình... thì sao?"

Vị sư nhìn cô, ánh mắt từ bi mà buồn bã:

"Vậy thì con sẽ thành quỷ, vĩnh viễn lang thang nơi hai cõi."

Cô bật cười khẽ, môi rớm máu, mắt long lanh như ánh nước.

"Cho dù có đọa ma... thành quỷ... con cũng không muốn để cho mợ ấy... mất một sợi tóc nào."

Một tiếng "bụp" vang lên, tim cô như vỡ làm đôi.

Toàn thân co giật, hơi thở đứt quãng.

Khi máu trào lên cổ họng, cô chỉ kịp nhìn thấy bóng vị sư dần nhạt, rồi tan vào hư không.

Cô ngã xuống, tựa lưng vào vách đá lạnh ngắt.

Đôi mắt hé mở, nhìn lên trần hầm tối tăm, nơi vài tia sáng lọt qua khe nứt, yếu ớt như sinh mệnh chính mình.

Nỗi đau thể xác giờ hòa cùng nỗi đau trong tim, không còn biết cái nào khiến cô đau đớn hơn nữa.

Còn trên mặt đất, giữa gian thờ đỏ lửa, Hải Bình quỳ trước bàn cúng, tay run rẩy khi cầm từng nén nhang.

Giọng mợ khàn đi:

"Nam Mô A Di Đà Phật... con chưa từng cầu xin điều gì... chỉ lần này thôi... xin Người giữ lấy cô gái con yêu.

Con nguyện đánh đổi tất cả."

Giọng mợ nghẹn lại, nước mắt rơi từng giọt xuống nền gạch, vỡ tan như thuỷ tinh.

Người hầu quanh đó lặng lẽ quay đi, ai nấy đều thấy thương mà chẳng dám thốt lời.

Hải Bình ngày nào đoan trang, giờ lại quỳ gối khấn vái điên dại như người mất trí.

Lửa trong đèn vụt cháy mạnh rồi tàn dần, khói mỏng bay lên như tiếng thở dài.

Nén nhang cuối cùng trong lư hương cũng tắt ngấm.

Hồn cô Trà không về.

Cùng khoảnh khắc ấy, Hải Bình khụy xuống, nửa phần hồn mợ cũng như theo ngọn lửa kia mà trôi đi tìm người yêu.

"Không... không thể nào..."

Hải Bình lắp bắp, bàn tay run lẩy bẩy chạm vào ngọn đèn đã tàn.

"Con sai rồi..."

Mợ nức nở "Là tại con ích kỉ, nếu có trừng phạt hãy trừng phạt con, xin đừng mang em ấy đi... con sai rồi..."

Chị dâu bước đến, khẽ đặt tay lên vai chị:

"Mợ để em ấy yên nghỉ đi..."

Nhưng Hải Bình lắc đầu, môi run run:

"Không, em ấy nói sẽ ở bên chị một đời... sao có thể bỏ chị mà đi được..."

Không ai hay, ngay giây phút ấy, linh hồn cô Trà ngồi bên cạnh, lặng lẽ đưa tay vuốt bờ vai đang run rẩy của mợ.

[...]

Cô Trà giật mình mở mắt.

Màn sương rừng Trầm tan biến như bóng ma được siêu thoát, chỉ còn gian phòng tĩnh lặng, mùi trầm nhè nhẹ và ánh đèn dầu in bóng lên vách đất.

Tim cô đập một nhịp thật mạnh rồi chùng xuống như lưới mắc đáy sông.

Không còn vết thương giữa lồng ngực, không còn đau đớn âm ỉ, chỉ một cơn mệt như thể phần hồn vừa đi dạo ở cõi u minh nào đó.

Dạng cúi sát cạnh giường, giọng trong trẻo mà pha chút tò mò trẻ dại:

"Cô mơ gì mà nhắc tên Liễu dữ ạ?

Cô mơ thấy cô Liễu hả?

Cô Liễu có đẹp không cô?"

Trà nhíu mày, đưa hai ngón tay ấn nhẹ vào thái dương, nhắm mắt dưỡng thần.

Hơi thở kéo dài, mảnh và lạnh như khói sương.

"Ừ, đẹp."

Chỉ hai tiếng, nhẹ như tơ, mà đủ khiến căn phòng trầm xuống, im phăng phắc.

Lúc mở mắt ra lần nữa... cô Trà mới thấy có người thứ ba trong phòng.

Hải Bình đứng cạnh cột gỗ, im lặng như bóng trăng lạc vào màn đêm.

Mợ mặc bộ ngũ thân lam trầm, trên tóc là trâm phượng mảnh, búi cao gọn gàng, vài sợi lòa xoà ôm lấy gò má.

Làn da trắng như sứ nung, ánh mắt dài, đuôi mắt hơi hất lên tạo thành vẻ đẹp sắc lạnh, kiêu hãnh, mà bí ẩn.

Sống lưng mợ thẳng tắp, điềm đạm, sắc mặt tĩnh lặng nhưng ánh mắt lại sâu hoắm, ẩn một ngọn lửa tức giận khó cất lời.

Hải Bình nở nụ cười nhàn nhạt, nhưng ý cười không chạm đến đáy mắt.

"Đẹp đến nhường nào vậy cô Trà ?"

Dạng giật mình, luống cuống toan phân bua, nhưng cô Trà chỉ hơi nhướng mắt.

Ánh nhìn điềm nhiên đến lạ, khiến người khác chẳng biết cô đang nghĩ gì.

"Dạng" Cô nói, giọng chậm rãi " Xuống bếp hâm lại ấm trà giúp cô."

Dạng hiểu cô Trà đang đuổi khéo, nên đành cúi đầu dạ thưa, rồi rời đi.

Cánh cửa khép lại, để lại khoảng không giữa hai người, yên tĩnh, chỉ còn tiếng ve sớm và hơi trầm thoang thoảng.

Hải Bình thong thả tiến gần, ngồi xuống cạnh bàn, đầu hơi nghiêng.

Mợ tự rót trà cho mình, động tác uyển chuyển, như thể xem cô Trà như không khí.

Cô Trà vẫn ngồi dựa gối, ngón tay thon dài vuốt nhẹ dải tóc rơi nơi vai, mắt khẽ khép.

"Mợ đến từ bao giờ thế."

Hải Bình không đáp ngay.

Mợ tiến hai bước, đứng gần đến nỗi cô Trà ngửi thấy hương trên áo mợ phảng phất xen mùi trầm trong phòng, thơm mát nhưng sâu như nước giếng khuya.

"Đủ lâu để nghe cô Trà gọi tên Liễu năm lần bảy lượt.

Sao, nhỏ đó đẹp lắm hả."

Cô Trà hơi nhướng mi, môi cong thành nụ cười nhẹ như khói nhang:

"Đẹp."

Phòng chỉ còn ánh đèn vàng rọi nghiêng, hắt lên những đường cong mơ hồ nơi gò má và đôi môi vừa khẽ run.

Hải Bình đứng gần đến mức hơi thở mợ như lướt qua cổ Cô Trà, mang mùi hoa cam dịu, mà lại nồng đến khó thoát.

Ngón tay mợ trượt lên, kẹp nhẹ lấy cằm cô Trà, buộc cô ngẩng mặt đối diện.

Giọng mợ trầm, ấm, mà cứng rắn như mũi dao lướt qua mặt nước:

"Em đừng có làm tôi điên lên."

Rồi khóe môi mợ khẽ nhếch.

Một nụ cười chậm, vừa trêu vừa như dỗ dành.

Mợ để ngón tay trượt dọc theo viền môi Cô Trà, mơn man như thử nếm lấy từng hơi thở run rẩy.

Đôi mắt nửa khép nửa mở, hàng mi cong bóng loáng dưới ánh đèn, mợ thì thầm, từng chữ rơi ra như mật:

"Laurence."

Tên ấy... như một nhát dao mảnh, bén, cắt ngang cơn mơ hồ trong tâm trí.

Cô Trà chết lặng, máu trong người như ngừng chảy.

Cái tên ấy đã từng là hạnh phúc đầu đời nhưng bây giờ nó chỉ gợi lên một phần ký ức bị giật tung ra khỏi nơi chôn giấu, trần trụi, đau rát, trong những năm tháng cô giấu tận đáy lòng, giữa xứ người xa lạ.

Người kia cúi xuống, ánh đèn dầu chao lên, soi nửa gương mặt vừa dịu dàng, vừa tàn nhẫn.

Một nụ hôn đặt lên cổ, nhẹ như khói, nhưng lại khiến toàn thân cô Trà run rẩy.

Mọi thứ quanh dường như chao nghiêng, cả hơi thở, cả ánh đèn, cả lớp vải mỏng phập phồng trên vai.

Bàn tay mợ chạm lên gò má cô Trà, ngón tay lướt qua như cánh ve khẽ rung trên mặt nước.

Cô Trà cảm thấy tim mình lỡ một nhịp.

Cơ thể vốn đã mỏi mệt, nay lại mềm đi như tơ lụa bị gió hong.

Hơi thở của người ấy phủ gần bên tai, ấm và nặng, khiến cô rối bời, chẳng còn biết mình là ai, đang tỉnh hay mê.

Ngón tay mợ lần nữa khẽ nâng cằm cô Trà, lực đạo vừa đủ để buộc cô phải ngẩng lên.

Nụ cười ấy, chậm rãi mà thấu tận lòng.

Không biết là trêu ghẹo hay dỗ dành, nhưng chỉ cần một cái nhìn, cô Trà thấy mọi phòng tuyến mình dựng bấy lâu đều sụp đổ.

Không khí giữa hai người mỏng đi.

Cô nghe rõ tiếng tim mình đập xen giữa hơi thở của đối phương.

Mỗi tiếng đều mang theo cơn choáng váng dìu dặt.

Cơ thể mỏi rời, không đủ sức lùi lại, cũng chẳng đủ lý trí để rời đi.

Bờ vai cô run khẽ khi Hải Bình kéo sát hơn, hơi thở quẩn quanh giữa hai người như khói hương đêm cúng.

Mợ ngồi lên người cô Trà, không nặng nề xác thịt mà như một nghi lễ, thiêng liêng, chiếm lĩnh.

Hai đùi trong chạm vào bụng cô Trà, bao lấy cô.

Hơi thở hai người quấn lấy nhau, nóng rồi lạnh, rối bời rồi miên man như khói trầm bay trong buồng kín.

Mí mắt Hải Bình khép hờ.

Đôi môi mợ hé ra một chút, để mời gọi, buông lơi, thở ra một tiếng dài thỏa mãn như kẻ đang nếm hạnh phúc mong manh sau hằng hà đau đớn chỉ riêng mình mợ biết.

Một tiếng thở khẽ nữa từ sâu trong cổ họng mợ vang lên, ngón tay Hải Bình đặt lên vai cô Trà, từng khớp run khẽ.

Hải Bình rướn người, trượt má hôn dọc cổ cô Trà, cằm khẽ run, rồi ép trán mình vào hõm vai đó, nơi mợ từng chôn tất cả tiếng nức mở mà không ai hay biết.

Mợ lại cúi xuống, hai tay ôm chặt cổ cô Trà, ngón tay run run như cào tìm đường sống, rồi áp môi vào cổ cô, không hôn, chỉ dụi mặt vào, như con mèo nhỏ tìm mùi thân thuộc:

"Sao em nói em không cần mợ nữa."

Giọng mợ khản đặc, nghe như tiếng nức nở từ sâu trong cổ họng, vừa giận vừa sợ Cô Trà bỏ mợ đi mất.

Cô Trà ngửa đầu, hơi thở chạm vào tai mợ, im lặng đến tàn nhẫn.

Bàn tay đặt trên đùi Hải Bình, giữ chặt, như trấn an, như giam cầm.

"Không phải mợ đã có chồng mới rồi sao?"

Hải Bình cười khẽ, khóe môi run, nụ cười mệt mỏi nhưng không giấu nổi ý cười.

Mợ lại mút nhẹ lên cổ cô Trà, hơi thở rối loạn:

"Trong nhà Hội đồng... họ gọi em là gì?"

Cô Trà chớp mắt, chậm rãi nhớ lại.

"Cô Cả."

"Còn giờ người làng họ gọi mợ là gì?"

"Mợ Cả."

Hải Bình ngẩng đầu lên, đôi mắt đẹp đến rực sáng trong làn khói mịt mờ:

"Thế chẳng phải em đã thừa nhận... mợ đã gả cho em rồi sao?"

Cô Trà im lặng, mí mắt khẽ run.

Và trong khoảng lặng đó, mọi thứ dường như tan chảy như rượu, như khói, như tình.
 
[Bhtt/ Duyên Gái] Huyết Ước Trầm Linh
4.


Mưa ngoài hiên rút dần, để lại mùi đất ẩm trộn với hơi gió lạnh lùa qua khe cửa.

Trong phòng, ngọn đèn dầu lay nhẹ, ánh vàng hắt lên bức vách như một nhịp thở chậm rãi.

Lớp khói mỏng lững lờ, chưa chịu tan, quấn lấy mùi trầm, mùi cau phai, và thoảng đâu đó là mùi da thịt ấm còn vương trên chăn gối.

Hải Bình nằm nghiêng, tấm chăn phủ hờ qua lưng, tóc mây chạm vào gối, vai trần như phủ một lớp sáng nhợt nhạt của trăng tàn.

Mợ im lặng, đôi mắt hé mở, nhìn sang người nằm cạnh mình.

Trà cũng chưa ngủ, ngón tay cô khẽ chạm vào sợi tóc vướng trên má mợ, kéo xuống thật nhẹ, đủ để mợ giật mình mà chẳng dám rụt lại.

Mợ đưa tay đặt lên ngực Trà, nơi nhịp tim đập đều mà yếu ớt, cái nhịp từng hành hạ mợ suốt bao năm vắng bóng.

"Em chưa ngủ à?"

Hải Bình trở mình, tay vô thức nắm lấy cổ tay Trà.

Cô Trà mỉm cười, ánh mắt chưa rời gương mặt mợ.

"Chưa.

Tôi còn bận nhìn mợ."

"Nhìn chi?"

"Nhìn cho kỹ.

Để lỡ sáng chết bất đắc kỳ tử thì còn nhớ mặt mợ."

Hải Bình bật cười, nhưng khóe mắt đã hoen đỏ.

"Em mà bỏ mợ đi lần nữa... mợ theo xuống âm tào địa phủ mà lôi về cho bằng được."

Mợ khẽ nhích lại, trán kề vào trán cô, hơi thở hai người hòa vào nhau, ấm mà run rẩy như thể cả thế gian chỉ còn lại cái sát gần ấy..

Trà siết tay mợ, vuốt nhẹ dọc sống lưng, từng cử động chậm rãi, dịu dàng mà khiến lòng người run lên.

Cô khẽ nói: "Nhưng mà đêm nay tôi sẽ không đi đâu cả.

Giờ thì mợ ngủ đi.

Tôi ở đây."

Cô Trà cúi xuống, hôn nhẹ lên trán, rồi gò má, đến khi chạm môi mợ thì chỉ còn lại hơi thở run rẩy.

Cái hôn không vội, không mạnh, chỉ ấm đến tận xương tủy mợ.

Hải Bình gật đầu, nhắm mắt, tay vẫn giữ chặt lấy vạt áo nàng như sợ ai cướp mất.

Ngoài kia, tiếng mưa đã ngừng hẳn, trời vừa tờ mờ sáng.

Ánh nắng đầu tiên rọi qua khe cửa, len vào phòng, rơi nhẹ lên tấm chăn còn vương hơi ấm của đêm qua.

Mùi trầm vẫn phảng phất, quyện trong mùi da người, ngòn ngọt, ngai ngái, như thứ dư vị chẳng muốn tan.

Hải Bình mở mắt trước.

Mợ nằm yên, không dám cựa, sợ lay động nhẹ cũng làm mất giấc ngủ của người bên cạnh.

Cô Trà nằm nghiêng, tóc xõa lòa xòa trên gối, vài sợi bết lại vì mồ hôi, môi khẽ hé, hơi thở đều và ấm.

Mợ nhìn nàng hồi lâu.

Trong nắng sớm, gương mặt ấy hiền đến lạ, chẳng còn vẻ lạnh lùng, chỉ còn chút gì đó mong manh như sắp tan vào không khí.

Hải Bình khẽ đưa tay, chạm lên gò má, vuốt nhẹ như dỗ dành giấc ngủ Trà.

"Nhìn nữa đi, tôi tỉnh rồi."

Giọng cô Trà vang lên, nhỏ thôi mà đủ làm mợ giật mình.

Mợ cười, giọng khàn sau đêm dài.

"Tỉnh hồi nào?"

"Lúc mợ khẽ thở dài.

Mợ đừng thức vội, cho tôi ôm mợ thêm một lúc nhé."

Hải Bình nhìn nàng, nụ cười thoáng qua giữa đôi mắt ươn ướt.

Trà nghe mợ "Ừ" một tiếng, rồi vùi mặt vào cổ mợ, hít lấy mùi hương quen thuộc đã từng khiến cô mất ngủ bao năm.

Bên ngoài, tiếng chim vừa hót lên đầu ngõ, ánh sáng trải đều khắp phòng, ấm, yên, mà cũng man mác buồn, như thể ngày mới đã đến, nhưng trái tim hai người vẫn chưa sẵn sàng rời khỏi cơn mộng mị của tối qua.

Buổi sáng ở phủ Cô Trà, nắng mới vừa rọi qua hiên nhà, xuyên qua hàng song gỗ lim khảm xà cừ, rọi xuống nền gạch tàu bóng lưỡng.

Trong sân, tiếng người hầu gánh nước, tiếng chén bát lách cách hòa cùng tiếng chim chào mào ríu rít ngoài hàng cau.

Mùi gỗ lim ẩm quyện cùng hương trầm thoảng từ bàn thờ gia tiên, phảng phất trong không khí mùi ấm của người ở, mùi quế, mùi trà, và mùi tóc đàn bà mới gội.

Trà ngồi nơi bàn ăn kê sát cửa sổ trông ra vườn dâu.

Áo ngũ thân màu thiên thanh, cổ thắt dải lụa trắng, tóc búi cao vấn trâm bạc, vài sợi tơ mỏng vương xuống cổ.

Mắt cô sáng mà trông lạnh lùng, môi điểm chút son phớt hồng, cổ để trần, da mịn như ngọc thoa sương mà mang nét uể oải, cái kiểu người đàn bà vừa trải qua một đêm dài chẳng trọn giấc.

Bên kia, Hải Bình chọn áo gấm đỏ sẫm, cổ tay lộ chiếc vòng ngọc bích, dáng ngồi đoan trang mà ánh nhìn thì chẳng chịu yên, như có chút dư âm từ đêm qua còn vương lại.

Bàn ăn gỗ mun kê ngay cửa sổ, nơi gió sớm lùa vào mát rượi.

Trên bàn chỉ có dăm món, bát cháo gà điểm chút hành, đĩa đậu phụ rán vàng, dưa hấu cắt lát mỏng, chén nước tương trong veo.

Tất cả đều thanh, nhẹ, như chính người ăn.

"Em vẫn ăn nhạt như xưa à?"

Mợ cười nhẹ, giọng trầm mà êm như nhung.

"Mợ nhớ, hồi đó chỉ cần cho dư muối một chút là em chê ngay."

Cô Trà húp muỗng cháo nhỏ, môi khẽ chạm thành bát, mùi cháo gà và gừng hòa làm một.

"Ừ, vị đậm quá...

ăn không có được.

Ăn nhạt riết quen."

"Nhiều năm rồi, vẫn chẳng đổi gì hết ha."

"Có thứ đổi được, có thứ không."

Cô nói khẽ, mắt nhìn ra hiên, nơi gió đang lay mấy tàu lá dâu bay phất phới.

Một lát, Hải Bình đặt muỗng xuống, ánh mắt dừng nơi cổ áo cô Trà, nắng sáng buổi sớm nghiêng qua vai, hắt lên đường cong nơi cổ và xương quai xanh, khiến làn da cô sáng mờ như ngọc ẩn dưới sương.

"Trong làng người ta kể... làng này có cái tộc gì lạ lắm.

Nửa người, nửa quỷ.

Ăn thịt uống máu người để sống, em có thấy sợ không."

Cô Trà cười nhẹ, đôi môi hơi cong:

"Sợ chi ba cái đồ quỷ đó.

Giờ mợ ra sau nhà tôi, lấy nhánh cây dâu trộn máu chó mực, quất vô mình tụi nó cái he rách da, rách thịt, còn bị trói bằng thứ ấy là hết phép luôn, nằm im chịu chết thôi."

Khi bữa ăn tàn, trời đã sáng hẳn.

Nắng rọi xiên qua song cửa, quệt lên tường những vệt vàng hắt bóng hai người ngồi lặng.

Ấm trà cạn dần, khói chỉ còn vương nơi chóp nắp, mảnh mảnh như sương tan.

Cô Trà khẽ đặt tách trà xuống, tiếng chạm nhẹ vang trong gian nhà tĩnh.

Hơi nước còn bốc lên, vướng lấy làn mi dài của Hải Bình, ánh nhìn hai người chạm nhau trong một khoảnh khắc chênh chao, nửa thực nửa mộng.

[...]

Dưới mái hiên cổ, mưa bụi giăng như tơ trời rớt xuống, lất phất trên tà áo ngũ thân thiên thanh của cô Trà.

Vạt áo chạm đất, thấm chút ẩm, mùi đất, mùi rêu, cả mùi trầm nén cháy sót lại từ buổi cúng sớm.

Sân rêu phủ, gốc mai trắng già đứng co ro với những nhành tàn, nhà lạ, cảnh lạ, chỉ có bóng người quen, mà nay cũng hoá xa xăm mất rồi.

Cô đứng đó, dáng thẳng, nét mặt an tĩnh, nhưng trong mắt cô là một mặt hồ mùa đông, im phăng phắc, lạnh đến mức chỉ cần một hạt sỏi rơi xuống thôi cũng đủ làm vỡ mặt nước thành nghìn mảnh.

Tóc cô búi thấp, vài sợi bung ra ôm lấy gò má phớt lạnh.

Bốn năm qua, Trà tự vá lấy bình yên của mình bằng tay trần, từng mũi vá đều đã cũ, chỗ dày chỗ mỏng, cố che đi nỗi cô độc cắn rứt mỗi đêm cô bật tỉnh giữa ác mộng.

Mùi thuốc nam quanh quần trên thân như nhắc rằng cô đã sống qua bốn năm dài theo cách không ai biết đến, âm thầm, lặng lẽ, tự nhủ rằng đau khổ rồi cũng sẽ qua đi.

Hải Bình đứng đối diện, áo ngũ thân đỏ sẫm lấm vài hạt mưa, tóc cài trâm ngọc rung khẽ.

Vẻ kiêu bạc năm nào vẫn còn, nhưng bên dưới chỉ còn là một khoảng trống, một vết rạn đã ăn sâu đến tận đáy tâm can.

Hai người đứng cách nhau chỉ một lối đá nhỏ mà như cách cả bốn năm dài hun hút, đi mãi cũng không tới được nhau.

Hải Bình nâng tay chỉnh lại cổ áo cho Trà một chút, động tác chậm rãi như đang chạm vào cả linh hồn Trà thay vì vải vóc tầm thường, như đang đặt tay lên nỗi đau đã ngủ yên của người kia, như muốn xoa dịu cả bốn năm xa cách bằng một cái vuốt thật khẽ.

Giọng mợ nhẹ như sương:

"Trời tối rồi.

Nhớ đóng cửa, đốt đèn.

Đêm nay gió lớn lắm... ngủ thì đắp chăn cẩn thận vào."

Mợ ngập ngừng một nhịp, rồi tiếp, như sợ không nói thì đêm nay sẽ mất luôn cơ hội:

"Gió từ rừng Trầm hay lùa về cửa sổ hướng Đông nhà em... nhớ đóng lại.

Nhỡ trúng cảm gió thì khổ."

Trà chớp mắt, cố giấu tiếng thở dài.

Cô cười, nụ cười mềm mà nghiêng nghiêng, như muốn che một nỗi mệt lử đã ăn sâu vào xương cốt:

"Mợ dặn như tôi còn bé lắm vậy.

Tôi đâu còn nhỏ nữa.

Bốn năm qua tôi ở đất lạ cũng tự lo được hết mà."

Câu nói vừa rơi, tiếng côn trùng ngừng lại một nhịp, như cả chiều tà cũng nín thở.

Hải Bình đứng khựng lại, bàn tay đang đặt lên vạt áo người thương khẽ run.

Mắt mợ đỏ lên, và lần này không giấu được nữa.

Giọng mợ vỡ òa:

"Phải.

Em vẫn sống tốt... vẫn bước qua ngày tháng không có mợ.

Em giỏi lắm."

Mợ cố cười, nhưng cái kiểu cười ấy như có ai bóp nát từ trong tim.

"Nhưng em có biết không... bốn năm ấy, mợ sống mà như đã chết theo em rồi.

Cứ mỗi đêm, mợ nghe tiếng gió lùa qua mái nhà, là mợ tưởng tượng biết đâu em ở chỗ nào xa lắm cũng đang co ro vì lạnh.

Mợ tưởng tượng em chảy máu do cái tính hậu đậu của em, ăn cơm muốn gắp thêm một đũa cho em rồi giật mình, em đâu còn ở bên mợ nữa...."

Giọng mợ nghẹn, như có mũi dao xoáy từ lòng ngực lên cổ.

Mợ buông thõng tay, nhìn xuống mũi giày ướt nước mưa, nước mắt rơi lã chã.

"Mợ đã nghĩ... chắc em hận mợ lắm.

Mợ đáng bị em bỏ rơi.

Nên mợ không dám tìm, không dám phiền em.

Mợ bảo với trời đất rằng thôi, chỉ cần em sống bình yên, dù quên mợ cũng được."

Hải Bình hít sâu, chạm nhẹ vào tay người kia, hệt như sợ chỉ cần hơi mạnh tay một chút, Trà sẽ tan ra như tro mất:

"Hôm nay, mợ mới được đứng đây dặn em từng chuyện nhỏ như vậy... như một người vợ thật sự."

Mợ mỉm cười, nhưng lệ rơi thẳng xuống ngực áo, thấm vào vải như thấm vào da thịt.

"Cho mợ ích kỷ một lần thôi...

để được sợ.

Sợ em lại bỏ mợ mà đi.

Sợ sáng dậy, bên cạnh trống trơn, không còn hơi ấm của em nữa."

Một cơn gió đêm lùa qua, chạm vào hai dáng hình nghiêng vào nhau dưới bóng đèn dầu mờ.

Mùi hương trầm, tro rơm, và cả ngàn nỗi nhớ chưa từng nguôi ngoai ngày nào.

Rồi rất khẽ, như sợ đêm nghe được, Hải Bình nói:

"Đi sang nhà đi, không mợ đứng đây dặn em cả đời mất."

Dưới ánh đèn dầu chập chờn trên tay, mợ đứng quay lưng, mái tóc đen dài xõa nhẹ buông xuống như tấm màn che hết mọi cảm xúc.

Trà hít một hơi thật sâu, giọng nghẹn lại mà vẫn cố giữ cho đều đều:

"Mợ biết hông... tôi cứ nghĩ hoài.

Anh Hai tôi hết lần này đến lần khác đi ngoại tình, phá nát cái hôn nhân, cái danh phận danh giá của mợ.

Vậy mà mợ... vậy mà mợ vẫn tha thứ, hết lòng vun vén.

Chỉ tới lúc mợ bị ép đến đường cùng mợ mới buông tay."

Hải Bình không đáp.

Vai mợ run lên, nhưng mợ bấu chặt ngón tay vào lòng bàn tay như tự cầm giữ mình.

Trà bước thêm một nhịp, nuốt xuống nghẹn ngào:

"Còn tôi..."

Giọng cô khàn đi "Tôi đâu làm gì nên tội để mợ ghét tôi dữ vậy?

Tôi thương mợ nhưng chưa từng xen vô chuyện nhà mợ, chưa từng làm mợ khó xử.

Vậy mà mỗi lần mợ nhìn tôi, tôi thấy như mình là người lấy hết tất cả của mợ vậy."

Trà siết chặt ngực áo mình, giọng cô trượt xuống thành một tiếng thì thầm gần như tuyệt vọng:

"Nếu như anh trai tôi không có bậy bạ mà làm người chồng hiền của mợ, nếu như nhà Hội đồng êm ấm, không xáo trộn, liệu mợ có từng một lần quay đầu nhìn về phía tôi?"

Trà cười, tiếng cười khinh khỉnh vang lên giữa không gian lạnh buốt, nghe được tiếng nức nở bên trong.

"Chớ đừng nói chi chuyện mợ tìm tới tôi bây giờ."

Chắc là không.

Trà tự trả lời bằng một nụ cười rất mệt.

Cô hiểu câu trả lời đó từ lâu rồi... ngay từ cái "nếu" đầu tiên.

Nhưng con người ta lạ lắm, biết vô vọng mà vẫn bám víu.

Trà cứ ngỡ rằng nếu mình chịu khó hơn một chút, bền lòng hơn một chút, ngoan hơn một chút... thì mợ sẽ thương cô dù chỉ bằng nửa cái nhìn mợ dành cho những người đã từng làm tổn thương mợ.

Hải Bình mím môi thật chặt.

Mợ quay mặt sang, nhưng chỉ dám nhìn lệch sang khoảng không, không đủ can đảm đối diện đôi mắt Trà.

Bóng lưng mợ dưới ánh đèn trông vừa kiêu hãnh vừa thê lương đến lạ.

Trà đưa mắt nhìn bóng lưng đó, ánh nhìn vừa tuyệt vọng vừa như sắp buông xuôi hết thảy.

Như bao lần trước, hóa ra bốn năm trước hay bốn năm sau, mọi thứ vẫn không có gì thay đổi.

Gió lùa qua mành trúc, phát ra tiếng lách tách nhỏ như tiếng nấc bị nuốt vào trong.

Ngọn đèn dầu chao nhẹ, hắt lên gương mặt Trà, đôi mắt đã ngấn nước, long lanh như sắp tràn.

Nếu Phật thật sự có tồn tại, Trà chắc chắn sẽ quỳ xuống mà hỏi Ngài rằng, tại sao lại để cô yêu người đàn bà tàn nhẫn như Hải Bình.

Nhưng thôi... chắc đến cả Phật cũng không muốn nghe em than phiền nữa.

Trà không trách mợ đâu.

Chỉ là đau đến mức này rồi thì người ta phải biết tự dừng lại.

Trà buông tay không phải vì hết yêu.

Mà vì nếu yêu thêm nữa thì có lẽ cô sẽ chẳng còn lại gì của mình mất.

"Mợ về đi, về nhà Thống Đốc, hay về nhà Hội đồng cũng được, dẫu sao đó cũng là nhà chồng mợ, rời khỏi cái làng Kỳ Hạ này, cầu cho mợ an yên...thôi mà có cũng được, không có cũng chẳng sao, miễn là không dính dáng gì đến tôi nữa."

Hải Bình đứng đó, đôi mắt đỏ hoe, nhưng mợ không nói thêm được gì.

Còn Trà quay đi, sải bước chậm mà chắc như người vừa kiên quyết cắt lìa một phần trái tim mình, để lại vết cứa vẫn còn rỉ đau trong gió đêm.

Hải Bình đứng chết trân một lúc, rồi bỗng bước tới, quýnh quáng đến mức chẳng còn giữ được cái dáng Mợ Cả sang trọng thường ngày.

"Khoan đã, Trà... khoan đã."

Giọng mợ sượng, gấp, nghe như người vừa chạy dưới nắng đổ lửa về tới hiên nhà.

"Em tha thứ cho hắn... không phải vì em thương hắn.

Em là dâu nhà Hội đồng, nhưng cũng là con gái Thống đốc Vĩnh.

Em ở trong cái lồng son đó quá lâu rồi, mỗi cái quyết định của em đều bị cột bằng trăm mối ràng buộc.

Vì cha em, vì dòng họ, vì cái nhà Hội đồng đầy chuyện thị phi đó."

Trà mở miệng, nhưng không thốt được chữ nào.

Hải Bình nhìn cô, mắt mợ hoe lên, từng chữ thốt ra chậm rãi:

"Em thù mình ư?

Không.

Em sợ mình.

Lúc đó em sợ cái kiểu thương của mình.

Em biết đó là thật lòng, chân thành, không có tính toán nhưng em quen sống trong cái nhà đầy nghi kỵ... nên cái chân thật đó làm em sợ, lỡ như em đi sai một bước thôi, em và mình sẽ mất hết tất cả, nên khi nhìn thấy nó, em không biết nên làm sao.

"

Trà nhắm mắt lại, cố giữ bình tĩnh.

Cánh cửa nhà đang mở hé, chỉ cần một cái đẩy nhẹ là cô có thể rời khỏi nơi này, rời luôn mối dây tình cảm mệt mỏi từ lâu.

Nhưng chân cô như dính xuống đất, không tài nào di chuyển được.

Hải Bình bước tới một bước, rồi thêm một bước nữa, gần như quên mất cái dáng cao quý kiêu kỳ vốn có.

Mợ run tay như không biết giấu nó vào đâu, đôi mắt hoảng loạn mà cố kìm nén:

"Đó giờ em ăn nói không khéo, nhưng không phải ý vậy.

Mình hiểu lầm em rồi."

Trà khựng lại nơi ngưỡng cửa, tay nắm chặt vạt áo, nhưng không quay đầu.

Hải Bình nhìn Trà rất lâu, rất kỹ, nhìn người mà mình đã thương đến chai cả lòng nhưng chưa một lần dám thừa nhận.

"Em chưa bao giờ coi mình như chỗ dựa tạm bợ.

Em...em thương mình thiệt lòng."

Bờ vai Trà khẽ run nhưng cô không quay lại.

Hải Bình thấy vậy thì càng quýnh, tiếng nói gấp đến mức lộ cả sự sợ hãi:

"Lúc ở nhà Hội đồng em tránh mình, em đối xử với mình tệ, em nói Trà đừng thương em..., không phải vì em ghét mình, thiệt ra là em sợ em không xứng, em sợ người ta thấy em với mình, sợ cái nhà Hội biết rồi hại mình, mình biết lòng dạ từng người trong nhà đó mà, từng người từng người...

đâu có ai hiền, toàn là rắn đội lốt người."

Mợ đứng sau lưng Trà, gần đến mức hơi thở chạm nhẹ vào gáy cô, nhưng bàn tay vẫn không dám vươn ra.

Chỉ run run, co lại trước ngực.

"Em xin mình... mình đừng bỏ em mà."

Trà nhắm mắt, bàn tay siết đến trắng bệch.

Cô thở một hơi thật chậm, cố nuốt trọn cái cảm giác đang xoáy vào sâu trong tim mình.

"Mợ đừng nói kiểu dỗ dành tôi."

Hải Bình lập tức lắc đầu, mái tóc xõa quệt vào lưng Trà khẽ khàng như van xin.

"Không... không phải dỗ dành gì hết."

Mũi mợ đỏ ửng, hơi thở đứt quãng vì khóc.

"Những lời em nói là thiệt."

Hải Bình hít mạnh một hơi, như gom hết những gì còn lại trong tim để nói bằng được điều mà bao năm trời mợ không dám thốt ra.

"Em thương mình.

Em thương mình thiệt lòng.

Em xin mình đừng bỏ em lại thêm lần nào nữa.

Em xin mình cho em một cơ hội được sửa sai, được bù đắp những tháng ngày em lầm lỗi."

Dưới ánh đèn dầu lụi dần, lời thú nhận của Hải Bình rơi xuống như giọt nước cuối cùng làm tràn cả mặt hồ vốn đã chẳng yên từ lâu.

Con đường đầy sỏi đá bỗng trở nên nhỏ lại, im lặng tới nỗi cả tiếng thở của hai người cũng nghe rõ mồn một.

Trà đứng sát ngưỡng cửa, một chân muốn quay lại với mợ, một chân lại bị níu bởi hàng vạn dây tơ rối bời trong lòng.

Cô hít sâu, nhưng hơi thở lại nghẹn ngay nơi lồng ngực, đau đến mức không phân biệt được đâu là giận, đâu là thương, đâu là nỗi sợ bị tổn thương thêm lần nữa.

Trà cảm giác như ai vừa bóp lấy tim mình.

Cô mở mắt, mà bờ mi lại ứa ra một giọt lệ cố kìm từ nãy giờ.

"Em thương mình thiệt lòng."

Câu nói đó cứ lặp lại trong đầu Trà, từng chữ một, như bàn tay ai vạch lại vết thương cũ cô đã dày tâm khổ trí cất giấu suốt bốn năm.

Tha thứ... hay không?

Nếu tha thứ, thì lấy gì để bảo chứng rằng ngày mai, hay tháng sau, hay vài năm nữa, mợ sẽ không vì nỗi sợ năm ấy mà quay lại làm tổn thương cô lần nữa?

Nếu không tha thứ... liệu cô có sống nổi với cái khoảng trống mợ để lại không?

Từ lâu rồi, lòng cô vốn đã quen với bóng dáng người đàn bà này, quen tới mức nếu bứng nó ra, Trà sẽ chết thêm lần nữa.

Trà mở mắt.

Con đường mờ tối, bóng hai người đổ dài nền sỏi đá.

Cô nhìn cái bóng đó mà lòng thắt lại, hai cái bóng gắn chặt vào nhau nhưng ngoài đời thì cứ lạc nhau hoài.

Trà mím môi, hơi thở run run.

"Mợ nói vậy thì nói chứ tôi biết tin làm sao bây giờ?"

Trà thầm nói trong lòng, nhưng không bật ra được thành lời.

Trà không biết nên chạy khỏi nơi này, hay quay lại mà vùi mặt vào vai mợ khóc một trận cho ra hết tủi hờn mấy năm qua.

Hóa ra thương nhau quá cũng thành cực hình như vậy.

Trà mở mắt.

Bàn tay cô buông vạt áo, chậm chạp xoay lại.

Hải Bình đứng ngay đó, rất gần đôi mắt ngấn nước, môi run, dáng vẻ kiêu kỳ mọi ngày biến mất sạch sẽ.

Cuối cùng cái nửa còn lại, cái nửa yếu đuối, mềm lòng, khờ dại trong Trà đã chiến thắng.

Cuối cùng, giữa bao nhiêu đổ nát, cô vẫn chọn tin mợ thêm một lần nữa.

"Mợ đừng khóc nữa.

Tôi tin mợ lần này nữa thôi."

Hải Bình khựng lại, mắt mở to.

Nhưng nhanh thôi, Hải Bình đã ôm lấy cô thật chặt, khác có điều cái ôm ấy khác hẳn tất thảy lời cầu xin mềm yếu ban nãy của mợ, nó siết chặt, dồn dập.

Khoảng cách giữa hai thân người như bị ép đến không còn kẽ hở.

"Cuối cùng..."

Mợ khẽ nói bên tai cô, giọng thấp và lạ đến mức khiến da gà cô nổi lên.

"Mình cũng chịu quay lại bên em rồi."

Câu nói ấy không biết vì vui mừng hay vì một thứ gì sâu sắc hơn, mang theo sắc thái khiến Trà thoáng rùng mình.

Cô không hiểu rõ cái sai nằm ở đâu, chỉ biết trong khoảnh khắc đó bản năng trong người cô khẽ cảnh báo.

"Mợ... mợ buông nhẹ ra chút."

Cô cố nói nhẹ nhàng nhưng hơi thở bắt đầu nghẹn lại.

Phải đến lúc ấy, Hải Bình mới từ từ nới lỏng vòng tay.

Không gian chùng xuống, chỉ còn tiếng gió lùa qua mành trúc và nhịp thở chưa kịp bình lại của cả hai.
 
[Bhtt/ Duyên Gái] Huyết Ước Trầm Linh
5. Ngoại Truyện: Lạnh


Có những người chỉ cần nói tên mình một lần đã đủ để ta nhớ cả đời.

Còn em...

Tôi nghe tên em ba lần, vào ba khoảnh khắc quan trọng nhất đời mình, lúc tôi đang giữ đạo làm con, rồi thành vợ người ta, cuối cùng là làm mẹ của một đứa trẻ cùng máu mủ.

Và kỳ lạ thay.

Lần nào em cũng không phải nhân vật chính.

Tôi không biết vì sao, nhưng mỗi khi nhớ lại, tôi có cảm giác như suốt đời mình em chỉ đứng bên lề câu chuyện của tôi để nhìn mọi thứ thay đổi.

Năm ấy tôi còn là cô gái trẻ, mới cất bước ra khỏi vòng tay mẹ.

Cả nhà đặt kỳ vọng vào tôi phải ngoan, phải lễ giáo, phải trở thành người con khiến gia đình nở mặt.

Nhưng người đầu tiên khiến tôi biết tim mình có thể đập lệch một nhịp lại là em.

Laurence, du học sinh Pháp vừa trở về.

Hôm ấy em mỉm cười, nói bằng giọng Việt lơ lớ:

"Xin chào, em là Laurence."

Tôi không hiểu sao lúc đó tim tôi đập nhanh đến lạ.

Có thể do em khác biệt.

Có thể do ánh mắt em nhìn tôi.

Thánh khiết, long lanh, sáng như chứa cả trời xa xứ.

Có thể đó chỉ là phút bồng bột của tuổi trẻ.

Có thể đó chỉ là cảm giác được nhìn thấy một thế giới rộng hơn khuôn phép của nhà mình.

Nhưng hôm ấy, tôi biết mình vừa muốn làm người con ngoan của gia đình, nhưng cũng không muốn trói mình vào những khuôn phép mà tôi chưa hiểu.

Laurence đi.

Còn tôi ở lại, với bổn phận.

Hôm gặp em trong vai em chồng, trời cuối mùa hạ nóng đến mức chạm vào đâu cũng thấy bỏng tay.

Em mặc áo dài đỏ như cô dâu, em nhìn tôi, khẽ cúi đầu:

"Em là Như Ý, em gái anh Tân."

Khi ấy tôi vừa trở thành vợ người ta.

Vai trò mới, trách nhiệm mới, một chiếc áo nặng mùi lễ giáo mà tôi phải mặc vừa dù nó rộng hay chật.

Em xuất hiện như một mặt trời trong căn nhà đầy những bóng ma mang tên luật lệ.

Một cô gái hiền dịu, nhẹ nhàng, mang nét buồn tủi mà tôi không hiểu.

Tôi thương Như Ý theo một cách bản năng, vừa là chị, vừa là vợ, vừa là người muốn dang tay che cho em khỏi tất cả những điều khắc nghiệt mà tôi chính là người đang chịu.

Nhưng đâu đó trong ánh mắt em có một thứ gì đó... tôi không với tới được.

Hoặc tôi không đủ can đảm để chạm đến.

Còn lần thứ ba.

Hiên nhà buổi sớm chìm trong sương bạc, tôi gặp một người con gái đứng dưới nắng sáng.

Tóc dài, mắt đen, giọng nhẹ như gió thoảng:

"Tôi tên Trà."

Một cái tên xa lạ.

Một khuôn mặt xa lạ.

Nhưng lạ lùng thay, đó vẫn là khoảnh khắc quan trọng nhất trong đời tôi khi tôi đã là mẹ, ngực còn đau âm ỉ vì con vừa cai sữa, tim còn trống rỗng vì những tháng ngày loay hoay tìm bản thân giữa muôn ngàn trách nhiệm.

Trà nhìn tôi, như nhìn xuyên qua những lớp vỏ mà tôi tự đắp lên để sống sót qua năm tháng không còn người tôi yêu bên cạnh.

Nhưng...

đó là chuyện của sau này.

[...]

Ngày giỗ đầu tiên của em, tôi làm một điều mà ai cũng bảo là thất lễ, tôi đập bát hương em.

Tôi nhớ em từng nói, nửa đùa nửa thật: "

Sau này lỡ em chết thì chị phải cúng giỗ đàng hoàng, không thì em sẽ về hù từng người trong nhà."

Mà tôi... tôi lại muốn được em hù.

Tôi muốn em hiện về, dù chỉ để la tôi một câu, mắng tôi một câu, hay lườm tôi cái kiểu em vẫn hay lườm khi tôi nói sai ý em.

Thế là tôi đập bát hương.

Âm thanh sành sứ vỡ nát vang lên, và trong khoảnh khắc đó, tôi tưởng như nghe tiếng ai đó hét lên "Chị điên hả?!"

Nhưng tôi không điên.

Hay có lẽ tôi điên thật.

Tôi ngẩng đầu lên, chờ đợi... nhưng không có ai cả.

Chỉ có khói nhang bay thành từng đường cong mỏng như hơi thở của em ngày nào.

Ba trăm bảy mươi sáu ngày rồi.

Sáng nay tôi lại đưa tay sang bên trái giường, tìm em thói quen cà rịch cà tang hoài không bỏ được.

Tôi chạm vô khoảng trống, lạnh ngắt, y như cái buổi sáng đầu tiên em mất.

Em không chịu được lạnh, nhưng lại thích cái cảm giác bước ra hiên lúc trời se se, thích để gió táp vào mặt, thích co ro rồi chui vào lòng tôi mà lầm bầm: "Lạnh quá...

ôm em đi."

Em luôn run lên từng đợt khi gió bấc thổi, thế mà cứ đòi tôi đưa ra hiên đứng nhìn sương đọng trên sân.

Tôi lại chiều em.

Lúc ấy cứ nghĩ chuyện một người ôm một người lạnh run lập cập là bình thường.

Giờ mới biết đó là những giây phút hạnh phúc cuối cùng của một đời mà tôi đã không kịp giữ.

Bây giờ mỗi lần gió lạnh thổi qua, tôi vẫn giật mình quay lại.

Tưởng như em lại lén sau lưng, giọng nhỏ xíu: "Hải Bình kéo khăn lên cho em với."

Tưởng em đứng đó, tấm lưng nhỏ và yếu đến mức chỉ cần tôi buông tay ra là gió sẽ cuốn mất.

Nhưng quay lại chỉ thấy hiên nhà trống hoác.

Gió thổi qua người tôi mà chẳng ai run lên trong ngực tôi nữa.

Tôi không giỏi lời lẽ.

Hồi em còn sống, tôi thương mấy cũng chỉ có cách im ru mà ôm em từ sau lưng, áp tay lên lưng em mỗi khi em ho vì lạnh.

Em thì khác nói nhiều, cười nhiều, chọc tôi nhiều.

Em ôm tôi bất kể chỗ nào em thích, ở dưới hiên, trong bếp, ngoài vườn.

Mỗi lần tôi rầy tụi người làm, em đứng cạnh, lén chen vô chạm nhẹ tay tôi một cái, như xin đừng gắt với người ta quá.

Mấy cái động chạm nhỏ xíu đó... giờ nhớ lại tôi thấy tim mình đau như bị cắt ra từng mảng.

Sáng nào tôi cũng pha trà sen nhạt như em thích.

Em hay ngồi sát bên tôi, vắt chân lên ghế, gối đầu lên vai tôi, thỉnh thoảng chạm nhẹ đầu ngón tay lên mu bàn tay tôi để xin thêm miếng đường.

Tôi vốn ít nói, chỉ gật đầu.

Giờ pha xong ly trà, tôi vẫn quay sang chờ bàn tay em gõ nhẹ hai cái lên tay tôi như hồi trước.

Chờ hoài, chỉ có tiếng chim sáo kêu sổ lồng.

Bữa ăn, tôi dọn hai phần.

Nhưng chén bên trái luôn đầy hơn, vì hồi xưa em ăn ít, lạnh bụng hoài, tôi phải ép.

Em hay co chân ngồi sát tôi, thỉnh thoảng chọc đũa vô đĩa đồ ăn của tôi để lấy miếng thịt ít mỡ nhất nhất.

Nhiều khi đồ ăn mặn quá, đôi mày em nhíu lại, em đưa mặt sát lại gần ngực tôi, nói nhỏ:

"Lát phải dẫn em đi ăn cái gì bù lại đó nha, nay em ăn không có nhiều đâu đó."

Tôi không biết nói gì ngoài cúi đầu, để trán mình chạm trán em.

Hồi đó tôi nghĩ làm vậy là đủ cho em biết tôi thương em.

Giờ nghĩ lại, thấy sao mà ít ỏi đến thế, sao mà tiếc đến thế.

Mỗi chiều, tôi lại ra sân phơi đồ.

Treo lên mấy cái áo mỏng manh của em, đồ người chết hơn một năm rồi, có ai còn phơi đâu.

Nhưng tôi vẫn giặt, vẫn phơi nắng, xếp từng cái ngay ngắn như thể em còn sống, còn run run đứng sau lưng ôm tôi, ghé mặt vô gáy tôi, nói:

"Bình, cho em ôm chút.

Trời lạnh quá."

Giờ tôi phơi áo một mình, đứng yên lâu đến nắng phủ nóng tóc mai hồi nào mà còn chẳng biết.

Trong phòng ngủ, cái cửa sổ chỗ em hay mở nửa đêm, tôi vẫn để hé hé.

Em mê luồng khí lạnh lọt qua, bảo nó giúp em dễ ngủ.

Nhiều bữa tôi thức giấc, thấy phòng lạnh tê da, liền bật dậy định đóng cửa.

Nhưng ngay lúc tay sắp chạm vào song gỗ, tôi lại khựng người lại, tôi sợ nếu một ngày nào đó em trở về thật, em sẽ đứng ngoài cửa, lạnh tái người mà không thấy đường vào.

Thế là tôi để mở.

Cái lạnh đó xuyên vô da thịt, đau đến mức nhức xương, mà tôi vẫn chịu đựng.

Giống như tôi đang sống giùm sở thích của em.

Tới khuya, gió lùa mạnh, rèm lay nhẹ.

Tôi nghe rõ mồn một cái rung nhẹ của song cửa, đúng cái tiếng ngày xưa em mê.

Tôi lại tưởng em đang đứng sát bên cạnh, cái thân nhỏ run lẩy bẩy mà mặt thì phóng khoáng, mắt cười lấp lánh trong bóng tối mà nhìn tôi.

Gió thổi, tấm rèm bay lên chạm vô tay tôi.

Tôi giật mình tưởng bàn tay em nữa.

Nhớ cái lần em lạnh quá, áp tay vô má tôi, nói khẽ tới mức tôi phải ghé sát tai mới nghe:

"Bình ơi, em lạnh quá... nhưng em thích lạnh lắm."

Tiếng em nói cứ lẩn quẩn trong đầu tôi suốt một năm nay, như hằn vào trí óc.

Chiều đó trời trở lạnh đột ngột, gió từ sông thổi vô xé từng lớp áo.

Tôi vừa bước vô phòng thì thấy có đứa người làm đang dọn tủ áo của em.

Tụi nó sợ tôi buồn nên cả năm nay chẳng đứa nào dám đụng, vậy mà không biết ai bữa nay cả gan mở ra.

Thấy tôi, tụi nó giật mình xanh mặt.

"Mợ... tụi con tính dọn cho gọn."

Độ khoảng cách đây hai năm, mỗi đứa sẽ có một trận đòn nhừ tử, nếu không có em ngăn tôi lại.

Nhưng hôm ấy, tôi không nói gì, chỉ đưa mắt một cái, tụi nó hiểu, lật đật chạy đi như bị ma đuổi.

Cái tủ còn mở hé.

Tôi đứng đó một lúc mới bước lại.

Không biết sao hôm nay gió từ cửa sổ tạt thẳng vô, quẹt ngang mặt tôi lạnh buốt.

Em mê cái lạnh đó.

Mê đến độ trời trở lạnh chút là em lập tức chạy ra mở cửa, rồi nhoẻn miệng cười khi hơi lạnh táp vô người, dù lúc đó hai bàn tay em tím ngắt như sắp hoại tử tới nơi.

Bên trong toàn là chút gì còn sót lại của em, áo len trắng, mấy cái áo mỏng tay dài em mặc khi trời se lạnh nhưng lại hở cổ, để rồi lát sau em lại dựa qua tôi, cà đầu vào vai xin sưởi chút hơi ấm.

Phải chi tôi biết giữ em lại.

Tôi ráng nuốt vô cổ họng cái suy nghĩ đó, rồi ngước lên.

Một thứ đập vô mắt tôi.

Chiếc khăn quàng cổ màu xám, cái khăn em hay quấn mỗi lần trời lạnh.

Cái khăn em hay kéo lên che mũi, đôi mắt em ló ra nhìn tôi vừa long lanh vừa nghịch ngợm, muốn tôi ôm em chặt thêm một chút.

Tôi đưa tay lấy khăn xuống.

Khăn nhẹ hều, không hiểu sao em lại chọn nó giữ ấm suốt bao cái mùa lạnh giá.

Đưa lên gần mặt, tôi nghe rõ cái mùi quen, mùi xà phòng em hay dùng, thoảng thêm chút hương da thịt rất riêng của em, cái mùi sạch, ấm, khiến tim tôi nhói một cái như bị ai đâm vào.

Tôi nín thở, quấn khăn qua cổ.

Ngay khoảnh khắc lớp vải chạm vào da... tôi đứng khựng.

Y như có bàn tay em chạm lên người tôi.

Tôi nhắm mắt lại.

Hồi còn sống, mỗi lần trời lạnh, em hay tựa trán vào vai tôi, hai tay ôm ngang bụng tôi, ngón cái cọ nhẹ lên sườn tôi theo thói quen.

Em lạnh run, còn tôi nóng như lửa.

Rồi em cười nhỏ:

"Nhiều khi em sống nhờ hơi ấm của Bình đó."

Tôi đâu có nói gì.

Tôi ít nói.

Thương em quá mà không biết nói làm sao, chỉ biết cúi đầu chạm trán em, để hơi thở hai đứa quyện vô nhau.

Giờ khăn quàng lên, hơi em không còn, chỉ còn lạnh cắt vô da, nhưng tôi lại tưởng như em đang đứng sau lưng, luồn tay qua, kéo khăn lại cho ngay ngắn.

Tôi đưa tay ra sau...

Vô thức tìm bàn tay em.

Tôi đưa tay ra sau, vô thức muốn nắm tay em, muốn kéo em sát vô người mình.

Nhưng không có ai.

Không có hơi thở.

Không có tiếng cười nhỏ nơi sau gáy tôi.

Tôi chìa tay ra trong khoảng không đó, y như người sắp chết đuối quơ lấy thứ gì đó để bám... mà quơ hoài, nắm hoài, chỉ toàn gió lạnh thôi.

Không có em.

Không bao giờ còn có em.

Cổ họng tôi đau nhói.

Tôi muốn gọi tên em.

Rất muốn.

Muốn tới độ môi tôi run lên từng nhịp.

Nhưng gọi không được.

Tên em mắc nghẹn trong cổ tôi, đau đến mức tôi phải vịn vào thành tủ cho khỏi té.

Tôi mở mắt ra, mà mọi thứ trong phòng nhòe đi như ai trát nước lên mắt.

Bảy trăm lẻ chín ngày em mất.

Vài đêm, khi nằm cạnh con, tôi vẫn giơ tay vuốt xuống sóng lưng ai đó trong bóng tối, cái thói quen năm xưa khi tôi với em lẫn vào nhau, khi em dụi đầu vào ngực tôi, thì thầm những lời chẳng đầu chẳng cuối.

Tôi vẫn nhớ rõ từng lượt da thịt em, từng nốt ruồi trên người em, từng nụ hôn em để lại, từng vị ấm áp em xin tôi giữa những cơn lạnh thấu xương.

Tôi nhớ cái cách em rướn người lên ôm cổ tôi, tựa trán vào môi tôi và bật cười khẽ như đứa con nít.

Những đêm em lén nắm tay tôi dưới chăn, kéo tôi lại gần hơn, giọng run run vì lạnh:

"Hải Bình đừng xa em.

Em sợ lắm."

Tôi đã hứa.

Tôi đã giữ chặt lấy tay em.

Thế mà em vẫn bỏ tôi lại.

Có những ngày tôi quên mất là em đã chết.

Thật đấy.

Tôi đi ngang qua hiên, thấy gió lạnh lùa vào, liền cằn nhằn: "Em lại quên đóng cửa à?"

Rồi tôi đứng đực mặt ra, trái tim như bị ai đó thò tay vào bóp nát.

Hôm nọ tôi gấp chăn cho con, bất giác gõ nhẹ vào đầu tấm nệm như cách tôi vẫn hay gọi em dậy.

"Như Ý, dậy ăn sáng..."

Chỉ đến khi con khóc ré lên tôi mới hoàn hồn.

Con bé giống em đến lạ.

Nhất là đôi mắt.

Mỗi lần nó nhìn tôi, tôi cứ tưởng tôi nhìn thấy em.

Nên tôi ôm nó chặt đến mức nó ngộp thở, rồi tôi lại bật khóc.

Tôi không biết mình đang ôm con hay ôm lấy cái bóng của em nữa.

Tôi ôm con gái vào lòng.

Con bé nhỏ xíu, ngủ yên như chưa từng biết thế giới này có thể tàn nhẫn đến mức nào.

Tôi đặt một nụ hôn lên trán con, thì thầm cái tên mà tôi đã chốt lại giữa vô vàn đêm trằn trọc:

"An...

Con tên là An."

Không phải An vì mong bình an như người ta thường nghĩ, mà vì một điều tôi không dám nói với bất kỳ ai.

Bình – An – Như Ý.

Bình An Như Ý.

Mong Như Ý luôn được Bình An.

Hoặc là...

Như Ý luôn có Bình An bên cạnh.

Khi tôi cho con bú xong, dỗ nó ngủ, tôi thường nghe rõ mồn một giọng em thì thầm bên tai:

"Nhớ giữ ấm cho con.

Nhớ đừng để nó lạnh như em."

Mỗi lần như vậy, toàn thân tôi run lên.

Tôi quay lại, chẳng có ai.

Chỉ có chiếc màn lay nhẹ vì gió lạnh tràn vào từ khe cửa tôi đã quên đóng.

Tôi ngồi phịch xuống, ôm lấy con, miệng lập bập:

"Em ơi...

Em đi đâu rồi...sao em để mình tôi lại vậy?"

Tôi nhớ em từng nói:

"Em thích con nít... mai mốt chị đừng để con mình lớn lên trong cô đơn nha."

Vậy mà bây giờ... chỉ còn mình tôi, lầm lũi làm cả phần của hai người.

Tôi không nói ra với bất kỳ ai.

Nhưng tôi nhớ em nhiều đến mức muốn hóa điên.

Những đêm nằm xuống, tôi chỉ cần nhắm mắt là cảm được rõ ràng cái cách em vòng tay qua cổ tôi, cách em ôm lưng tôi, cách em gối đầu lên ngực tôi và đòi tôi vuốt tóc em đến khi em ngủ.

Có lúc tôi còn cảm giác đầu ngón tay em lướt qua bụng tôi, lạnh lẽo như ngày nào em bất ngờ chạm vào tôi, giọng thì nhỏ xíu mà nghịch ngợm kinh khủng:

"Để em ôm một lát."

Tôi cũng nhớ cái hơi ấm giữa hai cơ thể, cái cách em siết lấy tôi, cái run rẩy khi em lạnh mà vẫn đòi tôi lại gần hơn nữa.

Em yếu, nhưng lúc ôm tôi lại mạnh một cách khó hiểu.

Như thể em sợ nếu buông ra thì tôi sẽ rời khỏi thế gian của em.

Thế mà cuối cùng... người buông tay lại là em.

Có đêm tôi vô thức quờ tay sang bên, vuốt xuống tấm nệm như đang vuốt tấm lưng trần của, em cái thói quen của tôi khi em nằm trên tôi, thở gấp và lẫn trong hơi lạnh.

Tấm nệm lạnh ngắt.

Tay tôi run đến mức tôi tưởng mình phát sốt.

Tôi nhìn sang.

Bên cạnh chỉ có bóng đèn dầu và vạt chăn bị gió làm nhúc nhích.

Tôi bật khóc trong im lặng.

Đau đến không làm sao thở được.

Tôi không nhớ mình bắt đầu điên từ lúc nào.

Có lẽ từ ngày tôi nghe thấy giọng em lần thứ ba, lần thứ tư, rồi lần thứ năm...

đến mức tôi không phân biệt được đâu là ảo giác, đâu là em thật sự nói với tôi.

Tối hôm ấy, gió bấc tràn vào, lạnh đến mức đèn dầu chao nghiêng.

Tôi đang ru con, bỗng nghe tiếng chân rất nhẹ ngoài hiên.

Nhẹ đến mức tôi tưởng chỉ là tiếng lá khô bị gió cuốn.

Nhưng rồi...

"Hải Bình..."

Tôi đứng phắt dậy.

Con bé trong tay tôi giật mình khóc, nhưng tôi chẳng nghe được tiếng nó.

Tai tôi chỉ đầy đúng một âm thanh ấy, giọng em, mỏng như hơi thở, lạnh như sương, gần đến mức tưởng em đang đứng sau gáy.

Tôi đặt con xuống nôi, lòng bàn tay tê đi vì lạnh.

Không hiểu sao tôi lại nghĩ... em đang đứng ngoài hiên, chắc chắn là thế.

Em luôn tìm tôi mỗi khi trời rét, luôn run lập cập đến muốn ngất mà vẫn bước ra đó để hít khí lạnh cho thỏa cái ước nguyện của em.

Tôi bước đến hiên, chân trần trên nền gạch.

Gió lùa qua áo, lạnh từ da chạy thẳng vào tim.

Tôi quay người.

Không có ai.

"Như Ý?"

Tôi gọi, giọng khản đặc.

Tôi bước ra sân, chân trần, nền đất lạnh buốt cứa vào da.

"Như Ý, em ở đâu?"

Tiếng gió rít lên.

Trong tiếng gió, tôi nghe rõ giọng em cười khẽ, cái kiểu cười nghịch ngợm chỉ riêng em mới có:

"Hải Bình đừng xa em.

Em sợ lắm."

Tôi nghẹn thở.

Ngực tôi quặn lại như bị ai đó bóp mạnh.

Tôi đi theo giọng nói đó, bước ra bãi đất trống sau nhà, nơi em từng đứng run run trong buổi sáng hừng đông.

Tôi thấy bóng người.

Một dáng nhỏ, vai run nhẹ, mái tóc dài lòa xòa trong gió.

Tôi lao đến, tim muốn nổ tung.

Tôi chạm vào.

Và cơ thể ấy tan ra.

Chỉ là làn khói trắng do hơi lạnh bốc lên từ đất.

Tôi chới với như bị ai tát một cái thật mạnh vào má.

Tôi chụp vào khoảng không, ôm lấy không khí như ôm lấy xác em lần cuối.

Lồng ngực tôi siết lại đến mức đầu óc tôi tối sầm, mạch đập bên cổ đau điếng.

Tôi quỳ xuống, hai tay bấu chặt đất, móng gãy rách mà không thấy đau.

"Em bỏ tôi lại làm gì...

Em về đi... về đi mà...

Tôi van em..."

Gió ào qua, quất mạnh vào mặt tôi.

Từ gió, em thì thầm:

"Lạnh quá..."

Tôi bật cười.

Một tiếng cười không giống tiếng người nữa.

Vỡ vụn.

Khàn đặc.

Mất kiểm soát.

Em lạnh?

Tất nhiên em lạnh.

Người chết lúc nào chẳng lạnh.

Tôi cười đến mức nước mắt chảy dài xuống miệng, mặn chát.

Tôi đứng bật dậy, chạy trong sương khuya, gọi tên em như một kẻ mất trí.

Tôi bắt đầu ngủ rất ít.

Hoặc có khi tôi ngủ, nhưng đầu óc tôi ở đâu đó khác.

Một nơi không phải trần gian này.

Đêm nào cũng vậy, tầm canh ba, tôi mở mắt mà không biết mình thức hay mơ.

Xung quanh yên tĩnh đến mức nghe được cả âm thanh gió lùa qua then cửa.

Tôi luôn nằm nghiêng, hướng về phía em từng nằm, như thói quen cũ chưa bỏ được.

Rồi tôi thấy em.

Không phải kiểu hiện ra rõ ràng.

Chỉ là dáng người gầy gò, co ro trong góc tối.

Chiếc lưng gầy, mái tóc dài, cái kiểu hơi nghiêng đầu của em khi lắng nghe thứ gì đó rất xa mà ngoài em ra, chẳng ai nghe thấy được.

"Sao em ngồi đó?"

Tôi hỏi, giọng rất bình tĩnh.

Bóng người không trả lời.

Chỉ hơi di chuyển.

Một chút thôi.

Vai rung lên như khi gió thổi mạnh.

Tôi đứng dậy, đi đến chỗ em.

Bàn chân tôi lạnh cóng.

Không khí cũng lạnh đến mức hít vào thấy buốt từ cuống họng lên tận óc.

Khi tôi đưa tay ra...

Bóng đó tan biến.

Tôi đứng im, nhìn khoảng trống ấy hồi lâu đến mức sống lưng tê rần.

Rồi hỏi lại một câu không đầu không cuối:

"Lại lạnh nữa à?"

Không ai đáp.

Nhưng tôi thấy gáy mình lạnh buốt, lạnh đến mức như ai chạm nhẹ vào.

Tôi mỉm cười.

Có những khoảnh khắc, tôi thấy như có người đứng sát sau lưng, hơi thở rất lạnh phả lên cổ tôi.

Tôi xoay lại, chẳng thấy gì, nhưng gió thổi mùi quen quen... mùi tóc em.

Tôi bắt đầu nói chuyện một mình.

Không phải độc thoại, mà là đối thoại.

Như có người trả lời thật.

Giọng nhẹ, lạnh, lẫn trong tiếng gió.

"Em ăn gì chưa?"

"...chưa..."

"Em lạnh không?"

"...lạnh lắm..."

"Tôi nói rồi, em đừng ra gió."

"...em chết rồi..."

Một câu trả lời chưng hửng.

Tôi nghe rõ đến mức tim tôi chùng xuống.

Tôi quay phắt lại.

Không ai cả.

Chỉ có cánh cửa đang mở hé, gió kéo tấm rèm bay nhẹ như bàn tay ai đó lướt qua.

Ánh trăng lạnh lọt qua cửa.

Bên cạnh tôi, khoảng trống chỗ em từng nằm lõm xuống một chút.

Như có ai vừa đặt lưng nằm lên.

Tôi đưa tay ra.

Lạnh buốt.

Tôi dịch người sang gần hơn, như ôm một người vô hình.

"Em ngủ chưa?" tôi thì thầm.

Gió lùa vào, vạt mùng phập phồng nhẹ.

Tôi nghe tiếng thở.

Nhẹ đến mức tôi phải nín thở mới nghe rõ.

"...chưa..."

Tôi nhắm mắt.

Không hề giật mình.

Không hề sợ hãi.

Chỉ mỉm cười.

Một nụ cười kéo dài trên mặt, sai trái và tuyệt vọng.

Tôi kéo chăn lên cho em.

Cẩn thận.

Rất chậm.

"Lạnh thì nói tôi."

Gió khẽ thổi vào má tôi, lạnh như môi em từng chạm.

Tôi mơ màng thở ra một tiếng:

"Ngủ đi.

Tôi ở đây."

Và chính lúc đó...

Tôi hiểu mình đã đi quá xa để quay lại như trước rồi.

Tôi không biết chính xác khi nào mình bắt đầu nghe tiếng em rõ đến vậy.

Ban đầu chỉ là thoáng qua, một hơi thở, một tiếng bước chân mảnh như gió lướt sau lưng.

Rồi thành giọng em, khẽ như tơ quấn quanh tai.

"Bình... em lạnh."

Tôi giật mình quay lại, tay còn đang ôm chặt bé An đang ngủ trong vòng tay, và phải mất vài giây mới nhớ ra, em đã mất.

Mất hai năm rồi.

Nhưng đầu tôi lại tin rằng em vừa đứng ngay đó, ngay sát bức vách, bàn tay gầy gò của em sắp đặt lên lưng tôi.

Tôi vẫn nói chuyện với em mỗi đêm.

Không phải thói quen, mà như một phần não tôi bị kẹt lại năm ấy.

Tôi để chiếc chăn dày nhất trên giường, dù giữa mùa gió nóng oi bức.

Tôi để đó vì em sợ lạnh, vì mỗi mùa đông về em đều co ro cả người, run đến mức răng va vào nhau, nhưng vẫn thích mở hết cửa, thích đứng ngoài hiên mà để gió táp vào mặt.

Mỗi lần tôi nhớ đến đó, đầu tôi lại ong lên như có ai lấy móc thép ngoáy vào.

Tôi muốn nôn.

Nôn ra cả cái nỗi đau bị mắc kẹt trong lòng mình suốt bảy trăm ba mươi ngày.

Tôi phát điên thật sự khi đứng trong phòng thay áo cho con.

Tôi cúi xuống, tay còn run vì thiếu ngủ, bỗng vô thức gọi:

"Em lấy giúp tôi cái khăn với."

Không có ai đáp.

Nhưng tôi, tôi nghe tiếng chân.

Tiếng bước nhẹ như tà váy lụa quệt xuống gạch.

Cái tiếng mà tôi tưởng mình đã quên từ lâu.

Tôi quay lại.

Và em đứng đó.

Em của tôi.

Thân yêu của tôi.

Má hồng nhợt, môi tím nhẹ vì lạnh, tóc dài rủ sang một bên, mặc chiếc len đen mà em hay mặc vào mùa đông.

Em nghiêng đầu, mỉm cười với con, y như đêm em nhìn tôi lần đầu cái nụ cười dịu dàng đến mức tôi chỉ muốn ôm lấy em, đặt em xuống giường, hôn cho đến khi cơ thể em ấm lên.

Tôi đưa tay chạm vào em.

Ngón tay tôi... xuyên qua không khí.

Ảo giác vỡ tan.

Em biến mất.

Trả lại căn phòng trống rỗng và tiếng con đang khóc đến khản giọng.

Tôi ôm nó vào ngực, nhưng tay tôi yếu đến mức suýt buông rơi.

"Em... chị xin lỗi... xin em đừng bỏ chị như vậy..."

Tôi thở gấp, từng hơi như bị bóp nghẹt.

Cả người nóng ran, nhưng trong ngực thì lạnh như bị ai nhét đá vào tim.

Tôi nhìn quanh phòng, cái phòng mà tôi và em từng ôm nhau ngủ, từng giỡn với nhau, từng hôn đến mức em đỏ mặt ngại ngùng, từng... từng nói về một đứa bé mà em không kịp gặp.

Tôi phát điên thật rồi.

Cơn điên đến nhanh, dữ dội, như lũ.

Như thể đầu óc tôi đã bị nén quá lâu và cuối cùng cũng nổ tung.

Tôi đặt con vào nôi, tay run đến mức suýt làm nó trượt khỏi tay.

Nó khóc.

Tiếng khóc chọc thẳng vào óc tôi như đinh sắt.

Tôi ôm đầu.

"Đừng khóc nữa...

đừng khóc nữa...

để mẹ nghe tiếng em..."

Tôi quay sang tủ áo.

Tôi mở phăng cánh cửa.

Tôi lôi hết áo của em ra, từng cái một áo lụa, áo lạnh, khăn quàng màu xám em từng đòi tôi mua dù nó mỏng kinh khủng.

Tôi ôm hết vào người, chà vào mặt, vào cổ, vào tim.

Tôi cố tìm hơi em.

Tôi cố ép trí óc mình tin rằng em vẫn ở đây.

Nhưng áo chỉ còn mùi xà phòng cùng nắng sớm.

Không có em.

Tôi quăng hết đống áo xuống đất, rồi ngồi giữa chúng, thở dốc như người sắp chết.

Tim đập đến muốn xé lồng ngực.

Tôi gào lên, khàn đặc:

"Em ở đâu, em trốn đi đâu rồi hả?"

Không có tiếng nào đáp lại ngoài tiếng con khóc thét vì sợ.

Tôi cảm thấy cái gì đó trong người tôi gãy vụn.

Một tiếng như xương nứt nhưng nằm ở trong tim.

Tôi ngẩng đầu nhìn gương treo tường.

Trong gương là tôi tóc rối, mắt đỏ, gương mặt méo mó, áo còn vương sữa, môi bật máu vì cắn.

Tôi lao đến.

Bàn tay tôi đập mạnh vào gương đến mức kính nứt xoẹt ra như tia chớp.

Tôi đập lần nữa.

Lần nữa.

Lần nữa.

Cho đến khi máu rịn ra từ bàn tay.

Cho đến khi con trong nôi gào đến ngắt hơi.

Cho đến khi tôi không còn cảm thấy đau ở tay nữa, chỉ còn đau trong ngực.

Tôi bám lấy khung gương, thở dốc, giọng khàn đi:

"Em... vì sao bỏ chị lại?

Vì sao bắt chị sống một mình với cái đống hỗn độn này?"

Tôi ngồi bệt xuống nền đất, giữa vô số mảnh kính vỡ và đống áo của em.

Tôi run như sốt rét.

Tôi ôm đầu, khóc nức nở như muốn nôn cả trái tim ra ngoài:

"Như Ý...

Bình lạnh quá... em ôm Bình đi... một lần thôi..."

Tôi biết em không đến.

Tôi biết em đã mất.

Nhưng bộ não của tôi thứ đã cố tỏ ra bình tĩnh suốt hai năm cuối cùng cũng bỏ cuộc.

Tôi ru con trong nước mắt, tiếng ru nghẹn lại từng quãng như muốn đứt làm đôi.

Gian nhà rộng mà đêm thì sâu, gió lùa qua khe vách nghe buốt như tiếng thở dài của phận đàn bà mỏi mòn.

Đứa nhỏ đã chìm vào giấc ngủ, hơi thở đều đều, nhưng vòng tay của tôi vẫn siết lấy con, như siết lấy chút ấm cuối cùng còn sót lại trên đời.

Ngoài kia, bóng trăng treo lơ lửng, vàng vọt như vệt dầu trên mặt nước.

Tôi ngước nhìn, môi run run, rồi lại cúi xuống khe khẽ ngân:

"Anh ơi... em vẫn đợi mỏi mòn..."

Giọng hát vốn mềm mại, nay lại vỡ vụn.

Mỗi chữ như cào vào lòng ngực tôi.

Chim đêm kêu quang quác ngoài bờ rào, nghe mà thấm vào bài ru, làm nó thêm thê lương.

"Thương nhớ ai... chim ơi cho nhắn một đôi lời..."

Tôi đưa tay gạt nước mắt, nhưng càng gạt càng tràn ra nhiều hơn.

Trong đầu tôi chỉ có một khuôn mặt, mảnh mai, dịu dàng, nhưng cứ mỗi lần chạm vào ký ức ấy, tim tôi lại thắt lại như ai siết lấy.

"Người đi xa có nhớ... là nhớ ai ngồi trông cánh chim trời..."

Tôi khép mắt, hình dung cảnh mình ngồi chờ ngoài hiên, chờ một bóng người sẽ không bao giờ quay về được nữa.

Chờ đến khi tóc rũ xuống vai, chờ đến nỗi chẳng còn biết mình đang sống vì điều chi nữa.

"Sao chẳng thấy đâu..."

Tiếng cuối rớt xuống như một tiếng nấc.

Nến trên bàn thờ tắt gần hết, chỉ còn mồi lửa nhỏ leo lét, như kiệt sức cùng mẹ con tôi.

Tôi cúi đầu, đôi vai run lẩy bẩy.

Chỉ có tiếng thở dài thổi qua mái ngói, hòa vào tiếng ru đứt quãng của người đàn bà đang mất dần chỗ bấu víu trong cõi đời này.
 
[Bhtt/ Duyên Gái] Huyết Ước Trầm Linh
6.


Hải Bình đến đình làng khi trời đã sẫm màu, bóng chiều đè nặng xuống khoảng sân gạch loang lổ rêu xanh.

Nắng tắt rất chậm, như cố níu lại chút hơi ấm cuối cùng trước khi buông tay.

Bước qua ngưỡng cửa đình, mợ có cảm giác mình vừa rời khỏi nhân gian, không gian bên trong mát lạnh, trầm lặng, mùi giấy mục, gỗ cũ và khói nhang lâu năm quyện vào nhau, nồng nàn đến ngột ngạt, như thể từng hơi thở đều mang theo ký ức của người đã khuất.

Hải Bình ngồi xuống trước án thư.

Những quyển sách làng xếp ngay ngắn, nặng trĩu thời gian.

Mợ lần giở từng cuốn gia phả, địa bạ, những biên chép khô khốc về hương hỏa và lễ nghi, đọc mà tâm trí rỗng không.

Chữ nghĩa chạy qua mắt, nhưng không ở lại trong đầu.

Có thứ gì đó trong mợ cứ bồn chồn, như một nhịp tim không chịu vào khuôn, như thể mợ đến đây không phải để đọc mấy chuyện cũ kỹ này.

Rồi mợ chạm phải một tập sách mỏng, nằm lạc giữa những cuốn dày nặng.

Bìa sách xám xịt, không niên đại, chỉ đề bốn chữ mực đã phai, Thiên Phán Cổ Thần.

Ngay khoảnh khắc ấy, ngực mợ thắt lại, một cảm giác khó chịu lan nhanh như kim châm dưới da.

Mợ biết mình không nên mở, nhưng tay vẫn tự động lật trang đầu.

Sách chép về một lần duy nhất con người được thấy Thần bằng da bằng thịt.

Ba thần nữ cùng giáng lâm, vẻ đẹp không thuộc về trần thế, dáng đứng ung dung mà cao vời vợi, khí chất thánh khiết đến mức khiến kẻ phàm tục không dám ngước nhìn.

Không ai thấy rõ dung mạo họ.

Khuôn mặt như bị che bởi một lớp sương mỏng, càng cố nhớ càng trống rỗng, chỉ còn lại một cảm giác mơ hồ, kính sợ, run rẩy, và một nỗi buồn không rõ nguyên do.

Trang sau khiến Hải Bình phải dừng lại rất lâu.

Không ghi tội trạng, không một dòng giải thích.

Chỉ có ghi chép kết cục cuối cùng, Thanh Du bị thiêu sống trong lửa địa ngục suốt một trăm năm, đau đớn đến tận cùng.

Nhược Lam bị đày vào luân hồi, trôi dạt hết kiếp này sang kiếp khác, không biết khi nào mới được dừng.

Hải Bình khép sách lại, đầu ngón tay run nhẹ.

Trong ngực mợ dâng lên một nỗi day dứt không hình dạng, không phải sợ, cũng chẳng hẳn là thương.

Mợ thấy khó thở, như thể những dòng chữ kia không nằm yên trên trang giấy, mà đang âm thầm áp sát, ép mợ đối diện với một điều mợ chưa từng dám nghĩ tới.

Hải Bình im lặng một hồi lâu rồi mới ngước nhìn bà cụ canh đình đang ngồi châm nhang bên án thờ.

Mợ hỏi, giọng thấp hẳn đi, rằng rốt cuộc hai vị Thần ấy đã phạm phải điều gì.

Bà cụ dừng tay châm nhang, im lặng một thoáng rất lâu, rồi mới đáp: "Ái tình."

Giọng bà đều đều, không mang thương xót.

"Đã là Thần thì không được dính vào nhục dục trần thế."

Hải Bình thấy ngực mình thắt lại lần nữa, như bị gõ trúng một điểm mềm trong tim.

Bà cụ nói tiếp, không nhìn mợ: "Không chỉ hai vị ấy đâu.

Cách đây bốn năm, cũng có người nhờ sợi chuỗi ma quỷ kia mà mưu hóa Thần.

Tưởng chừng sắp thành công tới nơi rồi, vậy mà cũng hỏng.

Chỉ vì vướng tơ tình."

Bà cụ châm thêm một nén nhang, lửa bén chậm, khói cuộn lên mỏng như tơ.

Bà nói, giọng đều đều, như kể một chuyện đã nằm yên trong ký ức rất lâu rồi.

"Trong sách xưa."

Bà cụ cất giọng, khàn khàn mà rõ chữ.

"Vị thần đã phán tội Thanh Du và Nhược Lam, người ta không gọi bà ấy đơn giản là Cựu Thần.

Tên đủ là Phán Mẫu Cổ Thần, vị thần lâu đời nhất, cũng là uy nghiêm nhất trong số những đấng cai quản Làng Kỳ Hạ."

Bà cụ nói rằng Phán Mẫu nghe lệnh bề trên, tuân theo thiên quy, nên trên danh nghĩa vẫn là thần bảo hộ cho con người.

Nhưng suốt từng ấy năm, bà chưa từng đáp lại một lời khấn nào của dân làng.

Không phải bà không nghe, mà là không chịu nghe.

Nếu bà từng chịu lắng lòng người một lần thôi, thì mấy trăm sinh mạng đã không phải chết oan chết uổng.

Nhớ lại năm đó, khi tộc nửa người nửa quỷ tràn về như lũ dữ, máu loang cả bờ rạch, dân làng Kỳ Hạ khóc lóc, dập đầu đến sứt trán, ngày đêm quỳ trước đình, gọi tên bà trong tuyệt vọng.

Phán Mẫu hiện thân giữa khói nhang mịt mù, chỉ lắc đầu.

Giọng bà lạnh lùng mà ung dung, như phán một án đã viết sẵn trên sổ sinh tử, đó là số mệnh an bài, không thể đổi.

Bà cụ khẽ thở ra, ánh mắt như chìm vào một thời rất xa.

"Nhưng sách cổ cũng chép." bà nói nhỏ "Trước khi thành Thần, bà ấy vốn là người.

Cũng từng yêu, từng đắm mình trong ái tình nhục dục như bao kẻ phàm trần.

Chỉ là... bà yêu lầm."

Người đàn ông bà trao trọn lòng tin đã phản bội.

Cái giá hắn phải trả nặng đến mức không ai dám ghi rõ trong sách, chỉ biết kết cục thê thảm đến tận cùng.

Từ đó, Phán Mẫu đoạn tuyệt với yêu thương, coi ái tình là mầm họa, là thứ khiến thần cũng có thể sa ngã.

"Có lẽ."

Bà cụ kết lời, giọng trầm xuống.

"Vì từng đau đến tận xương tủy, nên bà ấy mới trở nên cay nghiệt.

Với Phán Mẫu Cổ Thần, yêu thương không cứu được ai, nó chỉ đẩy người ta nhanh hơn về phía định mệnh."

Giữa sự tĩnh lặng nặng nề của đình làng, Hải Bình chợt nhận ra điều khiến mình day dứt nhất, những phán quyết kia không chỉ dành cho hai vị Thần lầm lỡ.

Đó là lời cảnh cáo dành cho chính mợ, cho Trà hoặc cho chính Cựu Thần, rằng có những con đường, chỉ cần bước sai một bước vì ái tình, thì dù là người hay Thần, đều không còn đường quay lại.

Hải Bình khép sách lại.

Tiếng bìa giấy chạm nhau khô khốc vang lên trong gian đình vắng.

Mợ không đứng dậy ngay, chỉ cúi đầu một lúc, để ánh nhìn dừng lại trên trang giấy đã ố màu, như thể còn sót lại điều gì đó mợ chưa hiểu hết được.

Rồi mợ cười.

Nụ cười rất khẽ, chỉ nhếch môi một chút, không vui, cũng chẳng mỉa mai.

Trong ánh chiều tàn hắt xiên qua khung cửa, khóe môi ấy mang theo thứ gì đó mơ hồ, ma mị, như làn khói nhang vừa tan mà vẫn còn ám mùi lại trong không khí.

Đôi mắt Hải Bình tối đi, ánh nhìn sâu hơn thường ngày, khiến người đối diện khó phân biệt mợ đang muốn biết điều gì ở họ.

Mợ ngẩng đầu lên, nhìn bà cụ canh đình.

Giọng mợ nhẹ tênh, như hỏi bâng quơ, lại như thăm dò:

"Con thấy trong sách không nhắc đến mấy chuyện này."

Mợ ngừng một chút, nụ cười vẫn còn đó.

"Vậy mà bà lại biết rõ từng li từng tí."

Hải Bình nghiêng đầu, ánh nhìn không rời khỏi bà cụ.

"Sao bà biết hết vậy?"

Bà quay lại nhìn mợ, ánh mắt sâu và đục:

"Người giữ đình đâu phải chỉ quét dọn nhang khói cho sạch sẽ đâu mợ.

Muốn ngồi ở chỗ này thì phải rành rẽ trăm chuyện của cái làng Kỳ Hạ này, nhất là mấy chuyện sách vở cố tình không ghi."

Bà đưa tay chỉ về mấy tủ sách cũ, rồi lại chỉ xuống nền đình:

"Chữ thì để trong sách.

Còn chuyện thì nằm ở đây, ở miệng người sống.

Đời sau muốn biết, không lẽ chỉ trông vô mấy trang giấy đã bị lựa lọc qua hàng trăm thế hệ kia sao?"

Bà nhìn Hải Bình, ánh mắt nghiêm lại:

"Cho nên người giữ đình phải nhớ, phải hiểu, rồi truyền lại.

Không phải để hù dọa ai, mà để hậu thế còn biết sợ, biết dè chừng, biết có những thứ không được hỏi tới."

Nói rồi, bà cụ im lặng.

Trong gian đình cũ, chỉ còn tiếng gió lùa qua mái ngói và mùi nhang trầm âm ỉ không tan.

[...]

Cô Trà vừa chạm vào tầng sâu của ký ức thì mộng cảnh lập tức khép chặt lại quanh cô, như thể có một bàn tay vô hình kéo thẳng cô rơi xuống đáy của nỗi đau.

Trước mắt Trà là rừng cỏ bông lau mênh mông, trắng xóa đến choáng ngợp.

Gió thổi ào ạt, cỏ lau nghiêng ngả, va vào nhau phát ra những âm thanh rì rào không dứt, nghe như tiếng người than khóc.

Thị Dung lạc bước giữa rừng, dáng người nhỏ bé lọt thỏm trong biển lau trắng, mỗi bước chân đều run rẩy.

Cô đi trong sợ hãi, đầu óc mơ màng, phương hướng tan rã, càng bước càng không biết đâu là lối ra.

Ký ức chậm rãi lật mở nguyên do.

Trước đó không lâu, Thị Dung còn ngồi trên chiếc Peugeot 203 thân xe đen bóng, mui xe cong nhẹ, bên trong là hàng ghế da còn tỏa thứ hương mới toang.

Ánh Dương ngồi cạnh cô, là người bạn thân từ thuở hai đứa còn để chân trần chạy trên bờ ruộng.

Giọng Ánh Dương dịu dàng, thân mật như bao lần trước, bảo rằng tiện đường nên cho Dung đi nhờ về nhà.

Dung không chút nghi ngờ.

Với cô, Ánh Dương là người chưa từng rời bỏ mình, là chỗ đáng để cô tin tưởng.

Xe rẽ khỏi con đường quen, tiến sâu vào vùng vắng người.

Ánh Dương nói cần dừng lại một lát để "xem lại bánh xe, hình như có trục trặc".

Xe dừng giữa rừng cỏ bông lau, bốn bề chỉ có gió và lau trắng.

Ánh Dương bảo Dung bước xuống xem một chút, trước khi xuống xe còn quay lại dặn Dung nhớ kiểm tra kĩ bánh xe sau.

Nhưng chỉ vài nhịp tim sau, cửa xe đóng sầm.

Động cơ gầm lên.

Chiếc xe quay đầu, bỏ mặc Dung đứng trơ trọi giữa rừng lau bạt ngàn.

Ánh Dương không quay lại.

Dung gọi theo, gọi đến khản giọng, nhưng chỉ có gió trả lời.

Trong khoảnh khắc ấy, lòng cô lạnh đi, một cảm giác trống rỗng, đau buốt vì bị phản bội.

Trở lại hiện tại của ký ức, Thị Dung bước đi giữa rừng lau, tim đập dồn dập, hơi thở rối loạn.

Cỏ lau cao quá đầu quất vào da đau rát, che kín cả bầu trời.

Cô xoay vòng, cố tìm một lối thoát nhưng bốn phía đều như nhau.

Và rồi, từ phía sau, một bàn tay trắng nõn bất ngờ kéo giật cô ngã xuống.

Cỏ lau đổ rạp, không gian tối sầm lại, nặng nề và ngột ngạt.

Thân thể Dung bị trùm kín, hơi thở nghẹn lại trong hoảng loạn.

Dung phản ứng dữ dội, vùng vẫy, gào lên trong tuyệt vọng, dùng tất cả sức lực còn lại để chống cự.

Cô sợ hãi, phẫn nộ, cảm giác như bị đẩy thẳng vào vực sâu không đáy.

Nhưng nửa chừng, giữa cơn hỗn loạn ấy, Dung chợt nhận ra người đang làm điều đó là ai.

Khoảnh khắc nhận ra, mọi sức lực trong cô tan biến.

Nỗi sợ nhường chỗ cho một cơn căm phẫn lạnh lẽo, buốt đến tận xương, cái đau của việc bị chính người mình tin tưởng phản bội.

Thị Dung bật khóc thảm thiết, tiếng khóc đứt quãng, uất ức và nhục nhã, như thể mọi niềm tin trong đời đã bị xé nát ngay tại đây.

Khi tất cả lắng xuống, rừng cỏ bông lau trở nên im ắng đến đáng sợ.

Gió vẫn thổi, lau vẫn lay động, nhưng giữa khoảng trắng mênh mông ấy, Thị Dung nằm co quắp như một sinh linh bị bỏ quên.

Thân thể cô rã rời, mềm nhũn, không còn đủ sức để nhúc nhích.

Áo quần xộc xệch, dính đầy bùn đất và cỏ khô, làn da tái nhợt, lạnh ngắt, run lên từng cơn nhỏ trước gió.

Mỗi nhịp thở đều nặng nề, đau đớn, như thể chỉ cần hít sâu thêm một chút thôi là lồng ngực sẽ vỡ tan ra.

Hai cánh tay gầy guộc ôm chặt lấy chính mình, không phải để che chắn nữa, mà như một phản xạ cuối cùng của người đã bị tổn thương đến mức không còn biết phải làm gì khác.

Trong khoảnh khắc tuyệt vọng ấy, Dung đã cầu xin.

Không phải bằng tiếng gào thét, mà bằng giọng thì thầm đứt quãng, yếu ớt đến mức chính cô cũng không chắc có thành lời hay không.

Cô gọi Thần, gọi những đấng linh thiêng mà từ bé cô vẫn tin sẽ lắng nghe người khốn khổ.

Đôi môi khô nứt mấp máy, từng ngón tay run rẩy co lại trong vô thức.

"Làm ơn xin hãy cứu con."

Lời cầu xin rơi xuống giữa rừng lau, nhỏ bé và mong manh như chính hơi thở của cô lúc này.

Nhưng không có ai đáp lại.

Chỉ có gió, chỉ có tiếng cỏ lau xào xạc, lạnh lẽo và vô tình.

Sự im lặng kéo dài, nặng nề, như một lời từ chối không thốt ra thành lời.

Khi Dung nhận ra điều đó, đôi mắt cô mở trừng trừng, trống rỗng.

Nước mắt tràn ra, lăn dài xuống thái dương, nhưng không còn tiếng nấc nào nữa.

Trong khoảnh khắc ấy, không chỉ thân thể cô bị giày xéo, mà cả niềm tin cuối cùng cũng lặng lẽ sụp đổ.

Rồi Ánh Dương quay lại.

Cô ta bước ra từ rừng lau với dáng vẻ bình thản đến tàn nhẫn.

Váy áo vẫn gọn gàng, gương mặt không một chút hoảng loạn, như thể mọi thứ vừa xảy ra chỉ là một việc đã được sắp đặt từ trước.

Ánh Dương nhìn Thị Dung nằm đó, một cái nhìn hờ hững, không thương xót, rồi quay sang kẻ kia, giọng hạ thấp, đều đều, như đang chốt lại một cuộc trao đổi.

"Việc cô nhờ tôi, tôi đã làm xong rồi."

Cô ta dừng một nhịp, rồi nói tiếp, dứt khoát:

"Giờ cô nên làm đúng như đã hứa.

Giúp tôi gả cho cậu Thái."

Kẻ kia cúi xuống, bế Thị Dung lên.

Thân thể cô nhẹ bẫng, mềm oặt trong vòng tay ả, đầu gục sang một bên, mái tóc rối che khuất nửa gương mặt tái nhợt.

Dung không phản ứng, chỉ còn hơi thở mỏng manh phả ra rất khẽ, như thể bất cứ lúc nào cũng có thể tan biến.

Ả đặt cô lên băng ghế sau chiếc ô tô sơn đen bóng đậu sẵn ở rìa rừng.

Thân thể Dung đổ nghiêng, bất động, như một món đồ đã hoàn tất việc trao đổi.

Cánh cửa xe khép lại bằng một tiếng "cạch" khô khốc.

[...]

Trà tỉnh lại rất chậm, như thể linh hồn vẫn còn mắc kẹt đâu đó, chưa chịu trở về trọn vẹn.

Ý thức nổi lên lềnh bềnh, mang theo dư vị của một nơi không thuộc về mình, tâm thức của Dung.

Ở đó có những góc tối ẩm ướt, những ý nghĩ không tên quấn chặt lấy nhau, vừa quen thuộc vừa ghê tởm.

Trà cảm thấy mình đã bước ra, nhưng những dấu tay vô hình vẫn còn in trên da thịt tinh thần.

Cô mở mắt nhưng chẳng thấy gì trước mắt.

Bóng tối không phải là hư vô, mà là một thứ hiện diện đặc quánh, mềm mại, như có thể chạm vào.

Trà không hoảng hốt, ngược lại, cô thấy bình thản đến lạ, thậm chí hơi khoan khoái, cảm giác của kẻ vừa đi qua một cơn điên vừa lấy lại chút tỉnh táo yếu ớt.

Có người ở rất gần, Trà biết điều đó, không cần nhìn.

Hơi thở quen thuộc ấy khiến ngực cô dịu lại, rồi đồng thời thắt chặt hơn.

Một ý nghĩ vụn vặt, không đầu không cuối, trôi ra khỏi môi:

"Mợ có yêu em không, Hải Bình?"

Câu hỏi bật ra nhẹ như sương, không mang theo mong đợi, cũng chẳng cần câu trả lời.

Chỉ là...

Trà muốn nghe giọng mợ.

Muốn biết mình còn neo được vào thực tại hay không.

Một nhịp lặng ngắn ngủi.

Rồi Hải Bình đáp, giọng trầm, thấp, vững vàng như một lời nguyện đã được quyết định từ rất lâu:

"Có."

Chỉ một chữ thôi, nhưng nó rơi xuống lòng Trà nghiêm trọng hơn bất kỳ lời thề thốt nào.

Trà khẽ cười, nụ cười mơ hồ, không hẳn vui, cũng chẳng buồn.

Trong đầu cô, những mảnh ký ức vụn vỡ của Dung vẫn còn lởn vởn, thì thầm về hận thù, về tình cảm, về những thứ không xứng đáng được gọi là "con người" nhưng vẫn cố khoát lên bộ mặt đạo mạo giả dối.

"Vậy..."

Trà xoay đầu về phía âm thanh, dù biết mình chẳng thể nhìn thấy gì.

"Vì em, mợ có thể làm được những gì?"

Câu hỏi lần này không còn vô thưởng vô phạt nữa.

Nó mang theo một sợi dây mảnh, thử thách, kéo căng giữa hai người.

Trà tự hỏi, nếu Hải Bình do dự, nếu mợ lảng tránh, thì có lẽ cô sẽ cười xòa, coi như chưa từng hỏi.

Nhưng Hải Bình không làm thế.

"Tất cả.

Mợ sẽ làm tất cả vì em.

Cho dù có phải giết bao nhiêu người, làm bao nhiêu chuyện ác đi nữa."

Không một giây suy nghĩ, không cần một lời giải thích.

Câu trả lời gọn gàng, tuyệt đối, khiến Trà bỗng thấy tim mình đập chệch đi một nhịp.

Có thứ gì đó vừa được trao vào tay cô là một niềm tin tuyệt đối, hay lại là một lời nguyền rủa trăm năm nữa, Trà không chắc.

Cô bật cười.

Lần này tiếng cười rõ hơn, mềm mại hơn, mang theo chút trêu ngươi cố ý.

"Em nói đùa thôi nhé..."

Trà kéo dài giọng, như đang thử nếm một ý nghĩ nguy hiểm, "nhưng nếu em muốn giết hết cái làng này thì sao?"

Lời nói rơi ra nhẹ tênh, gần như vô trách nhiệm.

Trong khoảnh khắc ấy, chính Trà cũng không biết mình có thật sự muốn điều đó không.

Có thể chỉ là dư chấn của tâm thức Dung.

Có thể là cơn điên còn sót lại.

Hoặc cũng có thể... là ham muốn thẳm sâu mà cô chưa từng dám nhắc đến.

Hải Bình im lặng.

Sự im lặng ấy không phải là bối rối.

Nó nặng nề, không khí như đặc quánh lại thành một lớp bùn đen, nghiêm túc đến mức Trà cảm thấy sống lưng mình lạnh đi.

Trong bóng tối, Trà chợt nhận ra, câu nói vừa rồi không còn là trò đùa nữa.

"Vậy thì mợ sẽ thuận theo ý muốn của em."

Không gian dường như khẽ rung lên.

Trà không thấy gì, nhưng cô cảm nhận được, một nụ cười rất gần, rất lạnh lẽo, rất đẹp theo cách nguy hiểm.

Trong khoảnh khắc đó, Trà không còn cười nữa.

Cô hít vào thật sâu, cảm giác rờn rợn lan khắp lồng ngực, vừa sợ hãi, vừa khoái cảm.

Hương khói trong phòng Trà cháy rất chậm.

Chúng không gắt, không nồng, mà âm ỉ như một thứ hơi thở có ý thức, len lỏi vào từng kẽ phổi.

Hải Bình ngồi đó đã lâu mà không nhận ra thời gian trôi qua thế nào.

Mợ chỉ thấy đầu mình nhẹ dần, như có ai đó đang vuốt ve những sợi suy nghĩ cuối cùng, khiến chúng mềm ra, rũ xuống.

Khói cuộn chậm trong căn phòng kín, trườn sát nền rồi leo lên mép giường, quấn quanh cổ tay, mắt cá chân như những dải lụa vô hình.

Hải Bình đứng đó đã lâu, nhưng cảm giác đứng hay ngồi dần trở nên mơ hồ.

Trà khẽ trở mình.

Chỉ một chuyển động rất nhỏ, tấm chăn mỏng trượt xuống một chút, để lộ bờ vai trắng trong ánh đèn mờ.

Hải Bình nuốt khan.

Cổ họng mợ khô rát, tim đập chậm lại một nhịp, rồi lệch hẳn sang nhịp khác, nhịp của ham muốn.

Một cơn sóng dịu dàng tràn lên trong lồng ngực mợ.

Muốn lại gần hơn, muốn chạm vào Trà, muốn xác nhận rằng Trà là thật, là của mình.

Bàn tay Hải Bình khẽ run, như thể chỉ cần Trà thở mạnh hơn một chút, mợ cũng sẽ không kiềm được mà cúi xuống, đặt môi lên làn da nhợt nhạt kia.

Ánh nhìn Trà đón lấy Hải Bình không hề ngạc nhiên, cũng chẳng né tránh.

Ngược lại, nó mềm mại và dịu dàng, như đã chờ khoảnh khắc này từ lâu.

Trà nhích người dậy, chủ động rút ngắn khoảng cách, để đầu gối chạm nhẹ vào đùi Hải Bình.

"Lại gần em một chút."

Trà nói khẽ.

Đấy vốn không phải mệnh lệnh.

Nhưng Hải Bình nghe thấy như vậy.

Mợ nghiêng người tới, chậm chạp, gần như ngoan ngoãn.

Khi Hải Bình vừa chạm tới, Trà đã đưa tay lên trước, các ngón tay mát lạnh lướt qua cổ tay mợ, rồi nắm lấy, kéo sát hơn.

Da kề da.

Hải Bình khẽ rùng mình.

Mợ cúi xuống, hơi thở phả lên cổ Trà, mang theo mùi hương khói và sự mụ mị ngọt ngào.

Bàn tay mợ đặt lên eo Trà, lần này không còn do dự nữa, nhưng vẫn chờ đợi một dấu hiệu.

Trà cho mợ dấu hiệu ấy.

Cô nghiêng người, để mợ tựa hẳn vào mình.

Một sự tin cậy giả tạo, nhưng đủ để khiến tim Hải Bình đập dồn dập.

Trà vòng tay qua lưng mợ, chậm rãi vuốt dọc sống lưng, từng nhịp đều đặn, như đang trấn an lấy linh hồn đang run rẩy vì sung sướng của mợ.

"Mợ có thấy dễ chịu không?"

Trà hỏi, giọng mềm hẳn đi.

Hải Bình không trả lời ngay.

Mợ gật đầu, trán khẽ chạm vào vai Trà.

Bàn tay mợ siết lại, ôm lấy cô chặt hơn, như sợ mất đi cảm giác này nếu buông ra.

Ham muốn dâng lên, không gấp gáp, mà sâu lắng và nặng nề, hòa lẫn với một thứ cảm xúc nguy hiểm hơn, sự lệ thuộc.

Trà cảm nhận được tất cả.

Cô nhích lên thêm một chút, để ngực áp sát vào Hải Bình, để hơi thở hai người hòa vào nhau.

Trà đưa tay lên gáy mợ, các ngón tay đan vào tóc, kéo nhẹ, đủ gần để môi kề sát tai, đủ xa để không chạm môi vào tai mợ.

"Thả lỏng đi."

Trà thì thầm.

"Mợ căng thẳng quá rồi."

Hải Bình khẽ run.

Toàn bộ cơ thể mợ đáp lại lời thì thầm ấy trước cả khi lý trí kịp phản đối.

Mợ cúi xuống hơn, vùi mặt vào cổ Trà, để hơi thở nóng ấm in hằn lên làn da kia.

Trà chợt ngồi dậy, rồi đưa tay lên, đặt lên ngực mợ, cảm nhận nhịp tim đang chậm dần.

Cô vuốt nhẹ, rất đều, không hề vội vã.

"Em chỉ muốn yên ổn sống ở làng này thôi." cô nói tiếp, giọng nhỏ hơn.

"Nhưng có người cứ thích làm rối tung mọi thứ lên."

Hải Bình nhíu mày rất nhẹ.

Trong đầu mợ hiện lên một cái tên quen thuộc, rồi lập tức bị làn khói và hơi ấm xung quanh làm cho mờ đi.

Bàn tay Hải Bình ở sau lưng Trà siết lại.

Trà xoay người một chút, để mặt áp vào ngực mợ, giọng nói nghe như đang buồn bã thật sự.

"Em không muốn gây chuyện đâu.

Em chỉ muốn mọi thứ trở nên yên tĩnh như ban đầu để mợ không phải lo cho em nữa."

Câu nói ấy rơi xuống rất nhẹ.

Nhưng Hải Bình nghe ra được điều còn lại chưa nói.

Mợ cúi đầu, hít sâu mùi tóc Trà, cảm giác bảo vệ trỗi lên trong tim rõ ràng hơn cả lý trí đang mách bảo.

"Em có thể quyết định sinh sát của ma quỷ trong làng."

Trà nói tiếp, chậm rãi "Nhưng em không thể tùy ý giết người, bề trên sẽ biết và đến giết em đi thôi."

"Ánh Dương."

Trà nói rất khẽ, như thể chỉ nhắc tên thôi cũng làm bẩn không khí.

"Cô ả xem Dung như món hàng để giúp ả gả cho cậu Thái, mà cậu Thái là anh trai của cậu Đạo.

Người mưu mô như ả sao xứng đáng được hưởng vinh hoa phú quý được hả mợ.

Chỉ tội cho Dung, phận đàn bà con gái như nhau, ấy thế mà bị bạn thân nối khố phản bội, nếu như không có chuyện ấy, hẳn là Dung sẽ không u uất mà đi sai đường, dẫn đến cái chết cho chính mình.

Ngày mai vợ chồng cậu Thái mợ Dương đi Tây học về, nhỡ thấy mặt em giống Thị Dung, ai biết được liệu ả ta có đem em ra làm con cờ cho ả ta đổi chát lấy cái chi nữa không?"

Hải Bình thở ra một hơi rất chậm.

Cơn mụ mị trong đầu bỗng đổi vị, không còn êm nữa mà nóng lên, âm ỉ.

Mợ không thích hình dung, nhưng những hình ảnh tự tìm đến, làm lồng ngực nặng trĩu.

Trà khẽ xoay người, để mặt đối diện với mợ, hai bàn tay ấm áp ôm lấy mặt Hải Bình.

Ánh mắt cô không còn ngậm nước mang ý cười như trước, chỉ có một sự lạnh lẽo mệt mỏi.

"Lúc ấy Dung không chịu nổi cú sốc ấy."

Trà nói.

"Bây giờ, em cũng vậy, em dẫu sao cũng là người đã chết một lần, em không sợ, nhưng em thương mợ, em không muốn bỏ mợ lại thêm một lần nào nữa."

"Nếu người đó không còn."

Trà nói tiếp, chậm rãi.

"Thì chắc mợ cũng đỡ phải bận tâm."

Mợ im lặng một lúc.

Rồi vòng tay quanh Trà khép lại chặt hơn.

"Em nghỉ đi."

Hải Bình nói, giọng thấp.

"Để mợ lo."

Trà không trả lời ngay.

Cô chỉ khẽ gật đầu, rúc sâu hơn vào lòng mợ, như một người đã mệt thật sự.

Khóe môi cong lên rất nhẹ, khuất trong bóng tối.
 
Back
Top Bottom