Cập nhật mới

Khác Ấu Hoàng

Ấu Hoàng
Hoàng tử Chăm-pa.


"Bệ hạ, Chiêm Thành lại quấy vào biên giới nước ta."

"Vùng Ma Linh tới Bố Chính vẫn là đất của xứ Chiêm dâng cho ta từ thời Thánh Tông.

Nhưng ta vẫn chưa đụng tới."

"Cái gì?"

Tôi hỏi.

"Ba châu ấy vẫn chưa được khai thác sao?"

"Hồi bệ hạ, đường đi khó khăn, vùng ấy lại khô cằn, khó mà trồng trọt, rừng thiêng nước độc, dân khó mà sống.

Vì thế nên... tuy thuộc quyền sở hữu của ta, nhưng ở đó lại chỉ có một số người Chiêm sinh sống."

"Thái úy, chuyện này là thế nào?"

Tôi xoa trán.

"Hồi bệ hạ," Lý Thường Kiệt tâu.

"năm xưa, thần và tiên đế đã từng dừng thuyền ở vùng ấy sau khi bắt được Chế Củ.

Đúng như Trương Đại phu nói, vùng ấy rừng thiêng nước độc, cọp beo hoành hành.

Không thể đến ở được."

"Vô lý!"

Tôi đập tay lên tay vịn của bảo tọa.

"Thái úy!

Ta và khanh phải cùng giải quyết chuyện này!"

Và thế là tôi lại thân chinh trong bí mật.

Lần cuối tôi thấy cảnh tượng này là mấy năm trước, trước khi phụ hoàng thân chinh.

Những người đàn ông mặc trang phục phụ nữ sặc sỡ xanh đỏ tím vàng, má phấn môi son nhảy múa theo nhịp trống bồng uyển chuyển.

Nhấn mạnh đấy.

Những người đàn ông!

Đây là một lễ hội thường niên vào mùa xuân ở làng Triều Khúc.

Bây giờ tôi vẫn hay nghe kể về nó.

Một điệu múa đã tồn tại hơn một nghìn hai trăm năm.

Điệu múa Con đĩ đánh bồng.

Không giống bây giờ, từ "đĩ" có ý nghĩa tiêu cực và chỉ gái mại dâm, thời xưa, từ "đĩ" ám chỉ những người đàn ông giả gái.

Tương truyền rằng, cách đây gần ba trăm năm, Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng tập kết nghĩa sĩ ở làng Triều Khúc (1) để chuẩn bị đánh giặc.

Để nâng cao tinh thần quân sĩ và cũng để giải trí, ông đã cho tráng sĩ ăn mặc diêm dúa nhảy múa theo nhạc anh Bảnh.

Vì thấy quân sĩ múa hay quá, thế là vua Phùng Hưng gọi họ "những con đĩ của ta".

Lúc Thái phó gợi ý múa điệu múa này tôi cũng hơi ngạc nhiên.

Nhưng rồi nhìn một đám trai giả gái đi trước đoàn quân hùng hậu cùng với múa lân múa rồng thì tinh thần của tôi phấn chấn hơn hẳn.

Các quân sĩ cũng có tinh thần hơn.

"Em lại không được đi ạ?"

An Dân ngồi trên ngựa cùng một thiếu niên.

Tôi ngồi trong chiếc xe ngựa bên cạnh vén rèm ra nhìn đứa em trai bé bỏng mặt buồn rười rượi.

"Trẫm nói rồi."

Tôi cố với tay ra để xoa đầu thằng bé.

"Em lớn thêm một chút nữa nhé."

-

Lý Thường Kiệt đánh vào đất Chiêm nhưng không thành.

Cuối cùng ông đành cho vẽ lại bản đồ của ba châu ngày xưa phụ hoàng tôi đã chiếm thêm vào lãnh thổ Đại Việt.

"Đây là đất Chiêm Thành sao?"

Tôi leo lên một ngọn núi nhìn ra những cánh rừng xanh mơn mởn, những đàn chim bay lượn, tiếng hổ gầm văng vẳng ở phía xa.

Tuy nhiên, cái nắng nóng mùa hè khiến tôi hết hứng ngâm thơ.

"Bệ hạ xem," Lý Thường Kiệt khua tay về phía những ngọn núi.

"rừng rậm bạt ngàn.

Sông ngòi tuy nhiều nhưng địa hình không bằng phẳng, khó trồng trọt.

Chưa kể đến thời tiết thất thường nữa."

"Thái úy à," Tôi dựa tay vào gốc cây bên cạnh.

"ở đất Đại Việt ta, không phải chỉ có mỗi lúa gạo thôi đâu."

"Bệ hạ..."

Lưu Khánh Đàm sáng mắt lên.

"bệ hạ có phải đang muốn... chúng ta xuất khẩu gỗ không?"

"Như cái cây ta đang tựa vào đây."

Tôi nhìn cái cây cao chót vót.

"Loại này dùng chế tác đồ thủ công rất đẹp, thêm nữa, xây nhà, đóng tàu... vô số việc cần tới gỗ kia mà.

Mỗi năm cử dân phu đi lao dịch tới đây khai thác gỗ, rồi đưa về các làng nghề để họ chế tác thành sản phẩm."

"Và chúng ta chỉ việc đếm tiền thôi."

Tôi và Lưu Khánh Đàm đồng thanh.

Một vài âm thanh lạ vang lên, Lý Thường Kiệt nhanh chóng sai người đi xem xét.

"Thái úy này," Tôi ngơ ngác gọi Lý Thường Kiệt trong khi mắt nhìn xa về phía những cánh rừng điệp trùng.

"phía tây vùng này có nước nào?"

"Hồi bệ hạ," Ông đáp.

"phía tây vùng này chỉ có những bộ tộc người man.

Lúc trước sống ở miền nam Trung Hoa.

Nhưng vì dân số người Hán tăng mạnh, lại thêm các vấn đề nội bộ của Nam Chiếu(2) với Tống nên họ đã dần di cư xuống vùng núi này."

"Được rồi."

Tôi nhìn Lý Thường Kiệt và Lưu Khánh Đàm.

"Muốn khai thác gì thì đầu tiên, quốc phòng vẫn là ưu tiên số một.

Thái úy, nhờ ngài nhé."

"Thần tuân chỉ."

Thái úy đáp.

"Không.

Đồ.

Sát."

"Vâng!"

"Đàm, viết thư về cho Thái phó và Thượng thư, bảo họ đưa tới cho ta vài kiến trúc sư."

"Hồi bệ hạ, nếu là kiến trúc sư, thì ở đây thần có một người."

Lưu Khánh Đàm đáp rồi quay người đi.

Chỉ mấy giây sau anh ta đã quay lại với một người đàn ông trung niên.

Ông ấy có hàm râu xuề xòa lâu ngày không cắt tỉa cùng trán gần hói.

Đôi mắt như muốn lồi ra khỏi hốc mắt trông rất hung dữ.

Nhưng tôi không quen ông ta.

"Bệ hạ, đây là Ninh Chí An người Thiên Trường.

Hậu duệ Đại tướng quân Ninh Hữu Hưng thời Đinh.

Tuy không kế nghiệp võ của tổ tiên nhưng đã nối nghề cụ tổ trở thành một kiến trúc sư.

Hiện là môn khách của thần."

Lưu Khánh Đàm giới thiệu.

"Ninh tiên sinh, ta có thể nhờ ngài xây dựng cảng biển ở đây được không?"

Tôi hỏi.

"Cảng ạ?"

Cả hai người họ tròn mắt nhìn tôi.

"Trẫm học được ở một số sách phương Tây, ở đó họ xây dựng nên những cảng biển sầm uất lắm.

Nếu có các cảng biển lớn, thương nhân sẽ đổ tới nhiều hơn, và kinh tế nước ta sẽ càng phát triển."

"Chúng thần tuân chỉ!"

Lưu Khánh Đàm và Ninh Chí An đáp.

"À, Lưu Thị lang."

Tôi gọi vội khi hai người họ vừa quay đi.

"Bệ hạ có gì căn dặn?"

Lưu Khánh Đàm quay lại.

"Ta bảo để Ninh Tiên sinh phụ trách xây cảng, chứ không nói anh."

"Bệ hạ cần gì sai bảo?"

Lưu Khánh Đàm quỳ xuống.

"Phiền Thị lang tìm cho ta các mỏ kim loại quanh vùng này nhé."

Anh ta lại tròn mắt nhìn tôi.

"Có thể quanh đây sẽ có vàng đấy."

Tôi nháy mắt.

-

Tôi tạm cho Ninh Chí An chức Viên ngoại lang để tiện việc xây dựng.

Đồng thời tôi cũng ở lại vài ngày để giám sát.

Mang tiếng là giám sát chứ thực ra thì tôi đang muốn tránh xa cái cung điện ngột ngạt kia.

Lâu lâu trốn khỏi cung đi chơi cũng vui mà.

Tôi ngồi ngồi chơi cờ với Lưu Khánh Đàm vừa uống trà trong doanh trướng.

Tôi đang tính chiều nay sẽ đi săn hay làm gì đó cho khuây khỏa.

Nhắc đến săn bắn, em trai tôi bắn cung rất giỏi dù thằng bé mới có sáu tuổi rưỡi, chỉ dùng được loại cung tên nhỏ, nhưng chưa bao giờ tôi thắng được nó.

Sẵn đang khoe về em trai, tôi cũng phải khoe về bản thân mình.

Sau một thời gian luyện cờ với Lê Văn Thịnh, tôi khá là tự tin khả năng đánh cờ của mình không thua các kiện tướng đâu.

Nhưng tôi vẫn không phải đối thủ của Lưu Khánh Đàm.

Anh ta tung ra từng nước cờ hóc búa khiến tôi toát mồ hôi.

Khi đang bí nước thì tiếng huyên náo ở bên ngoài đã cứu tôi.

"Có gì mà ồn ào thế nhỉ?"

Tôi đi ra xem xét.

Lưu Khánh Đàm cũng biết ý nên cũng dẹp bỏ bàn cờ vây và đi theo.

Bên ngoài doanh trại, một đám dân mặc trang phục người Chăm đang làm ầm ĩ lên.

Tôi nghe được những từ tiếng Việt thô tục đến mức bị kiểm duyệt.

Nhưng chủ yếu vẫn là tiếng Chăm.

Phụ nữ mặc những chiếc đầm dài màu trắng và đội khăn, đàn ông mặc trang phục màu đen và có giắc theo vũ khí.

Tôi từng thấy những cảnh như thế này trên TV, trong các chương trình thời sự ở nước ngoài thường có các cuộc biểu tình với băng rôn khẩu hiệu gần giống thế này.

Ở đây không có băng rôn, chỉ có nông cụ thôi.

"Có chuyện gì ở đây thế?"

Tôi hỏi.

"Dạ thưa," Một người lính nói.

"đám man di này đang muốn làm loạn ạ."

"Tự tát vào mặt mình đi."

Tôi chỉ mặt hắn.

Dù không biết mình mắc tội gì nhưng hắn vẫn làm theo.

"Rồi nói với họ, Hoàng đế Đại Việt đang ở đây.

Nếu họ đang có bất mãn điều gì, hãy cử ra đại diện tới gặp.

Đích thân ta sẽ giúp họ giải quyết!"

Tôi nhìn những khuôn mặt phẫn nộ của những người Chăm trước mặt.

Trong tương lai thì họ cũng chẳng còn đất nước nữa rồi.

Trường hợp này khác với việc đánh Tống.

Khi Lý Thường Kiệt bắc chinh là để ngăn chặn cuộc tấn công của kẻ thù.

Còn đây, đây chính xác là một cuộc xâm lược.

Họ hoàn toàn có quyền phản kháng.

Nếu tôi thẳng tay đàn áp họ và cho quân khực hết đám loạn dân đó, tôi sẽ chẳng khác gì đám vua Trung Hoa bạo lực khát máu.

"Đàm."

Tôi kéo áo chàng Thị lang.

"nói thêm với họ rằng: ta biết các ngươi là người Chiêm, có phong tục riêng, tín ngưỡng riêng khác với người Việt.

Nhưng bây giờ nơi đây là lãnh thổ của Đại Việt.

Các ngươi sống trên đất của ta, thì các ngươi là con dân của trẫm.

Trẫm sẽ đối xử với các khanh một cách công bằng, bình đẳng và bác ái."

Ở trong lều chỉ huy, một chàng thanh niên bước vào và bắt chéo hai tay trước ngực kiểu Wakanda forever.

Tôi đứng dậy chắp tay đáp lễ.

Gã thanh niên trông khoảng mười chín hai mươi cao ráo vạm vỡ và có một mái tóc đen cắt ngắn hơi xoăn trên nước da rám nắng trông vô cùng mạnh mẽ.

Đôi mắt anh ta trông có vẻ không giống với những người Chăm khác.

Nó không hiện lên vẻ phẫn nộ hay sợ sệt như những người kia.

Tôi có thể thấy từ chúng một khí thế ngút trời.

"Mà, nếu được mấy người dân kia cử làm đại diện thì chắc là anh ta cũng có chút uy tín.

Có thể là nhân vật có chút tiếng tăm ở địa phương."

Thấy tôi giỏi chưa, tôi bắt đầu biết nhìn người rồi đấy.

Hoặc có thể đó là những gì anh ta cố ý thể hiện cho tôi thấy.

"Ninh Chí An đang cho phá các công trình của các ngươi sao?"

Tôi hỏi khi tất cả đã yên vị trong quân doanh.

Tên người Chăm quỳ giữa lều, hai bên là một số tướng tá và quan viên.

Ninh Chí An cũng đang ở đây.

Khi tôi nhìn sang ông ta thì ông ta cũng đang hoang mang lắm.

"Vâng."

Anh chàng người dân tộc đáp.

"Đó là những công trình được xây dựng từ thuở lập quốc và giữ nước của chúng ta.

Là chứng tích lịch sử cho những lần phản Hán chặn Tùy chống Đường và cả những trận chiến với người Việt các ngài.

Tuy không nhiều nhặn gì, nhưng đó là những gì tổ tiên chúng ta để lại."

"Bệ hạ," Chí An lên tiếng.

"Nếu muốn xây dựng cảng biển ở đây thì cần phải bỏ một số công trình cũ.

Nếu không sẽ không thể xây công trình mới được ạ."

"Hắn nói láo!"

Gã người Chăm nổi đóa lên.

"Hắn còn cho phá cả các công trình kiến trúc văn hóa của chúng thần nữa."

"Đó là thứ dị giáo, không thể để nó manh nha trong đất nước này được!"

"Thế mà là bao dung sao?

Các ngươi chỉ đang muốn đồng hóa chúng ta mà thôi, các ngươi chẳng khác gì lũ người Hán kia cả!"

"Các ngươi còn thấy trẫm đang ngồi đây không!?"

Tôi đập bàn.

"Bệ hạ bớt giận."

Lưu Khánh Đàm dâng trà cho tôi.

"Người anh em," Tôi gọi anh chàng người Chăm.

"ta hiểu vấn đề của các anh."

Tôi quay sang Chí An.

"Kiến trúc sư, các kiến trúc văn hóa và những công trình mang ý nghĩa lịch sử, giữ chúng lại."

"Đội ơn bệ hạ!"

Anh ta lạy tôi liên tục.

"Nhưng bệ hạ," Chí An tâu.

"nếu thế thì sẽ không có đủ không gian để xây dựng kho bãi và các công trình dân sinh đâu ạ."

"Chúng ta có thể tìm nền móng cũ của các công trình lớn và xây dựng trên đó.

Về chuyện bến cảng, ta nghĩ, nếu có thể thì hãy tìm khu vực có nước sâu để tiện cho thuyền bè cập cảng."

"Nhưng bệ hạ, nếu thế, ta sẽ bị xem là nhu nhược với ngoại giáo mất."

"Chí An. có ba thứ ngài không thể vô lý cướp đoạt đi của người dân."

Tôi đưa ba ngón tay về phía ông ta.

"Đó là tính mạng của họ, tài sản của họ, và lòng tự tôn của họ.

Nếu mất đi một trong ba thứ ấy, nhân dân sẽ không bao giờ tha thứ cho kẻ cầm quyền."

Tôi đọc y lời Lê Văn Thịnh đã dạy tôi lúc đi Tống.

Dù hiện tại anh ta đang bận tối mắt ở sông Như Nguyệt.

"Nhưng bệ hạ, nếu không phá bỏ một số công trình, ta sẽ thiếu đất đai để xây dựng.

Các kho bãi, quân doanh, rồi xưởng tàu... cả chùa chiềng nữa.

Sẽ mất rất nhiều thời gian và cả ngân sách..."

"Trẫm hiểu, tiền bạc và thời gian vô cùng đáng quý.

Nhưng làm sao đáng quý bằng người dân?

Ta thà để mất tiền của và mười năm, hai mươi năm cuộc đời, còn hơn là nhận lấy sự bất mãn từ bách tính của chính mình."

"Chú Ninh, cháu tôn trọng chú chú là một kiến trúc sư tài ba."

Lưu Khánh Đàm tiếp lời tôi.

"Nhưng đây không còn là vấn đề quy hoạch đô thị nữa, mà là xây dựng quốc gia.

Chính trị gia bọn cháu cần mang tầm nhìn của mười năm, một trăm năm.

Còn chú, chúng cháu cần chú xây dựng các công trình có thể tồn tại một nghìn hai nghìn năm.

Khi mộ của chúng ta đều đã xanh cỏ, thì các công trình ấy vẫn còn vững vàng.

Đó mới là việc của chú.

Còn điều khiển đất nước, chèo lái con thuyền này, là việc của bọn cháu."

Theo như sách sử mà tôi học thì việc đồng hóa dân tộc khác là việc đã diễn ra suốt hàng nghìn năm nay.

Người Hán đã đồng hóa các dân tộc xung quanh mình, tạo ra một nền văn minh rực rỡ và huy hoàng trên đồng bằng Hoa Hạ.

Tôi đã nghĩ đó là lẽ thường tình.

Nhưng với tâm hồn của con người thời hiện đại và trí óc của một con người sinh ra vào thế kỷ XXI, tôi biết tương lai đất nước tôi sẽ có đến năm mươi tư dân tộc anh em với những bản sắc và tín ngưỡng riêng.

Cụ cố, ông nội và cha tôi đã có thể giữ cho các bộ tộc miền núi kia thần phục và khiến họ phải giúp chúng tôi đánh giặc, thế mà tôi không thể thu nhận những con người miền nam này thì sao dám ngồi trên ngai vàng kia và nhận mình là con trai của vua Lý Thánh Tông anh hùng?

"Ra là thế."

Gã người Chăm cười khùng khục.

"Ra đây là lý do chúng ta không thể đánh bại được Đại Việt."

"Ngươi làm sao thế?"

Tôi hỏi.

"Ồ, lỗi của ta."

Hắn đứng dậy, bàn tay phải đặt lên ngực trái.

"Tên ta là Indravarman.

Hoàng tử của Chiêm Thành."

(1) Thuộc xã Tân Triều huyện Thanh Trì, Hà Nội.

(2) Đến thời điểm trong truyện, Nam Chiếu đã trở thành nước Đại Lý.
 
Ấu Hoàng
Chuẩn bị.


Chiêm Thành không phải một quốc gia thống nhất.

Đó là liên minh của các tiểu quốc nhỏ, trong đó bốn tiểu quốc mạnh nhất gồm Amaravati, Vijaya, Kauthara và Panduranga.

Chế Củ là quốc vương cuối cùng của Vijaya đứng đầu Chiêm Thành.

Sau khi ông ta mất, một người đến từ Sud, một tiểu quốc khác nhỏ hơn đã trở thành người đứng đầu.

"Anh đến đây với mục đích gì?"

Tôi bình tĩnh hỏi chàng thanh niên vừa tự xưng là hoàng tử của nước Chiêm.

"Đây vốn là đất của người Sud chúng tôi."

Anh ta nói.

Giọng điệu như thể đây là nhà của hắn.

Đến cả Lưu Khánh Đàm thường ngày điềm tĩnh cũng phải kinh ngạc ra mặt.

"Chế Củ đã chiếm lấy đất đai của tôi rồi lại đem dâng cho các ngài.

Tôi ở đây đúng rồi mà."

"Anh định ám sát trẫm?"

Tôi hỏi tiếp.

"Nếu ám sát ngài mà đòi lại được quê hương thì ta cũng làm."

Anh ta cười.

"To gan!"

Những người xung quanh tuốt vũ khí.

"Bỏ vũ khí xuống!"

Tôi hét lớn.

"Nhưng, bệ hạ..."

Lưu Khánh Đàm chắn giữa tôi và Indravarman.

"Nếu hắn định ám sát trẫm thì đã làm từ lúc trẫm ở ngoài kia rồi."

"Bệ hạ anh dũng thật đấy."

"Tôi đang sợ vãi ra quần đây này."

"Chúng ta đều là người sẽ đứng đầu quốc gia."

Tôi hít một hơi thật sâu và bước tới, cách Chế Ma Na đúng hai bước chân.

Đứng gần anh ta cảm giác rất run, nhưng tôi tự cắn vào miệng để giữ bình tĩnh.

Anh ta có thể dễ dàng đoạt mạng tôi trong tình huống này, nhưng để có được sự tin tưởng, tôi cần làm thế thôi.

"Bỏ qua mấy trò đùa nhạt nhẽo đi.

Vào thẳng vấn đề, Chế Củ đã dâng miền đất này cho phụ hoàng trẫm, bây giờ nơi này là đất của Đại Việt.

Anh định làm gì?"

"Các ngài vừa mới xuất một đạo quân mười vạn binh mã đánh chiếm tới tận Ung Châu nước Tống."

Indravarman nhún vai.

"Các ngài nghĩ nếu như Chiêm Thành, Đại Lý, Đại Tống, và Chân Lạp bốn nước cùng xuất quân, thì mất bao lâu để san phẳng Đại Việt?"

"Anh nghĩ thế ư?"

Tôi nhìn anh ta bằng ánh mắt thương hại.

"Đúng, ta nghĩ như thế đấy."

Hắn đáp lại tôi bằng giọng điệu đe dọa.

"Pha này toang rồi."

Vốn dĩ tôi định dọa cho anh ta sợ và quy phục, nhưng nếu bị bốn nước bu lại đánh hội đồng, chúng tôi gần như không có lấy một cơ hội nào.

Liệu Đại Việt có thể chống chọi được một cuộc tấn công của bốn nước?

Đây là một câu hỏi khiến cả vua Lý Thánh Tông đau đầu.

"Tuy nhiên, ta lại không thể làm như thế."

Indravarman thở dài.

"Cái gì?"

Tôi chau mày.

"Nếu như Hoàng đế của Đại Việt đã thân chinh ở đây, thì tức là ở kinh thành Thăng Long kia, các ngài đã có một ai đó vô cùng tài giỏi đang chèo lái con thuyền đất nước."

Anh ta nhìn Lưu Khánh Đàm.

"Ta thích cụm từ "con thuyền đất nước" này đấy."

"Vậy anh đến gặp ta, chắc chắn không dừng lại ở mấy cái công trình kiến trúc đâu nhỉ."

Tôi quay lại bàn đưa anh ta đĩa trầu.

"Đúng."

Indravarman ngồi khoanh chân xuống và bốc lá trầu lên ăn.

Tôi cũng ngồi xổm xuống đối diện anh ta.

"Hiện tại, chúng ta với Chân Lạp đang có một số tranh chấp."

Dù đang nói, nhưng tôi thấy rõ mặt anh ta đang nhăn nhúm lại vì vị cay của lá trầu.

"Cho đáng đời cái tội dọa ta."

Tôi cười thần trong lòng.

Tục ăn trầu chỉ có ở người Việt và các dân tộc miền núi phía bắc.

Tên này làm sao biết miếng trầu là phải bao gồm cả cau với lá trầu quét vôi và vỏ cây chay.

"Thế chiến sự thế nào?"

Tôi ngồi hẳn xuống.

Lưu Khánh Đàm đặt ấm chè bên cạnh tôi.

"Cũng... tàm tạm..."

Trên má anh ta có một giọt nước mắt.

"Nhưng chúng ta ở đây thì bàn vấn đề ở đây đi."

Tôi từ từ rót nước, cố tình trêu tức hắn.

Nhắc mới nhớ, ở đây không có thuốc lào.

Bà tôi vẫn thường bảo, ăn trầu là phải có thêm cái điếu cày.

"Thế anh muốn thế nào?"

Tôi đưa tách trà cho hắn.

Hắn cũng khá lắm, vẫn giữ được bình tĩnh và đón lấy tách trà.

Nhưng hành động uống vội của hắn đã khiến ai đó phía sau tôi phì cười.

"Tôi muốn hỏi, ngài có thể bảo đảm cho người dân của tôi một cuộc sống ấm no hay không?"

"Anh không muốn chiếm lại đất đai của mình à?"

Tôi hỏi và quét vôi lên lá trầu.

"Chỉ cần ngài cho họ một cuộc sống ấm no là được."

Indravarman trố mắt nhìn tôi cho trọn miếng trầu vào miệng.

"Anh không nghĩ ta sẽ lấy họ làm con tin sao?"

Tôi hỏi khi đang nhai trầu.

Cũng như nhai mía thôi.

Chỉ là vị của nó kinh khủng hơn rất nhiều.

Nhưng nhai nhiều thì sẽ quen.

"Con tin?

Nếu họ là con tin, thì tiền chuộc là bao nhiêu?"

Indravarman hỏi.

"Điều mà cả hai chúng ta đều muốn."

Tôi nhổ toẹt bã trầu ra đất.

"Hòa bình."

Cả hai đồng thanh.

Đám loạn dân bên ngoài doanh trại sau khi nghe Indravarman trình bày lại sự việc thì vui mừng khôn xiết và kéo nhau đi đàn ca nhảy múa.

Tối hôm sau, Thái úy cũng trở về từ biên giới.

"Về vấn đề thu nhận đám dân Chiêm đó," Thái úy nêu ý kiến.

"thần nghĩ cứ để họ tự trị lẫn nhau ở đây thế này là không ổn."

"Đúng thế," Lưu Khánh Đàm nói.

"Nhưng nếu để một người thiếu tầm nhìn đến đây cai quản thì cũng không ổn."

"Chúng ta cần một người vừa thông tuệ văn hóa Việt, vừa hiểu biết và có lòng bao dung."

Một người nói.

"Bệ hạ," Một người lính vào báo.

"có thánh dụ từ Thái hậu."

"Cho vào!"

Tôi vội nói.

"Hoàng huynh!"

An Dân nhảy chân sáo vào lều.

Đi sau thằng bé là một thiếu niên có đôi mắt gian manh khá giống Lưu Khánh Đàm nhưng nụ cười dịu dàng hơn.

Và tôi nhớ là đã gặp cậu ta rồi.

"An Dân!"

"Minh Nhân Vương!"

Cả doanh trướng cúi người vái cậu bé bảy tuổi.

"Sao... sao em lại tới tận đây?"

Tôi kéo một chiếc ghế nhỏ ra.

"Thần đệ," Thằng bé lắc tờ chiếu trên tay.

"mang theo thánh dụ từ Thái hậu."

Toàn bộ doanh trướng quỳ xuống chờ nghe thánh dụ.

Cả tôi cũng phải quỳ.

"Thừa thiên hưng vận, Thái hậu chế viết."

Giọng nói trong trẻo ngọng líu ngọng lơ của đứa bé sáu tuổi cầm tờ thánh chỉ vàng nghe có hơi buồn cười nhưng không ai dám cười.

"Ba xứ phương nam do Thánh Tông Hoàng đế đem gươm đi mở mang bờ cõi mà có được.

Đó vốn là đất của..."

"Người Man."

Người thiếu niên kia nhắc.

"...của người Man!"

Tờ thánh dụ mất một lúc lâu mới đọc xong vì có nhiều chữ An Dân chưa học.

Đại ý là thế này: ba xứ ấy là đất man nên hỗn loạn khó quản.

Lại còn giặc cướp, thú dữ và thiên tai, cần người có tài năng và đức độ đủ lớn và cả năng lực cầm binh để chuẩn bị cho những trường hợp bất trắc nơi biên phòng.

Nhân sự đã được lựa chọn xong xuôi cả rồi.

Tôi ngước nhìn thiếu niên bên cạnh An Dân, anh ta là Lưu Khánh Ba, em trai của Lưu Khánh Đàm.

"Khánh Ba dẫn em tới đây đấy!"

Thằng bé khoe.

Chưa kịp nói thêm gì, ngoài lều lại có tiếng nói vọng tới.

"Thái phó đến!"

Một lão già râu tóc bạc phơ chống gậy bước vào doanh trướng.

Bên cạnh còn có một người hầu đang đỡ.

Cặp kính của ông lấp lánh dưới ánh đèn dầu.

"Thái phó!"

Cả doanh trướng lại chào.

Sau khi ngồi xuống vị trí chỉ ở dưới tôi và An Dân, Thái phó Lý Đạo Thành cầm lấy cốc trà và thổi.

"Thái hậu lệnh cho lão thần tới để bàn giao trách nhiệm."

"Thái hậu lệnh cho ngài?"

"Nếu đây đã là đất của ta, thì cũng nên để dân ta tới ở.

Đồng thời đưa một số con em người Chiêm tới đất Việt ở để củng cố quan hệ giữa hai nước.

Vua Chiêm phía nam biết dân Chiêm đất bắc không phải chịu khổ nhục sẽ tự động cảm ân đức của ta.

Tất nhiên là chỉ ở phía nam Hoành Sơn để dễ kiểm soát."

Lý Đạo Thành nhấp một ngụm trà.

"Đó là lý do, nhân sự phương nam sẽ cần những người có năng lực trị an, vừa có năng lực quân sự để có thể chuẩn bị cho mọi trường hợp."

"Thái phó đã lựa chọn được rồi chăng?"

Lưu Khánh Đàm hỏi.

"Đúng thế."

Lý Đạo Thành dộng cây gậy xuống đất.

"Cho gọi Trần Kỵ úy và Phí Ngự sử!"

Hai người bước vào, một người mặc áo quan và một người mặc áo giáp.

"Bệ hạ vạn tuế!"

Cả hai quỳ vái tôi.

"Phong Phí Nguyên làm Châu mục Bố Chính lo việc trị dân, Trần Quỳnh làm Kỵ úy lo việc binh.

Cả hai mau chóng nhậm chức."

Lý Đạo Thành phong chức cho họ.

"Thần, khấu tạ long ân!"

Cả hai vái tôi và lùi về cuối doanh trướng.

"Cho gọi Vũ Đại phu và Quách Lang tướng."

Hai người khác bước vào vái tôi.

"Phong Vũ Trung Siêu là Châu mục Lâm Bình lo việc an dân, Lang tướng Quách Mãn lo việc binh.

Cả hai nhanh chóng nhậm chức."

Lâm Bình khi trước có tên Địa Lý.

Nhưng vì dễ nhầm với khái niệm Địa lý nói chung nên cha tôi đã cho đổi tên.

"Thần khấu tạ long ân!"

"Cuối cùng là Minh Linh."

Tôi lẩm bẩm.

"Nơi này là biên cương, cần có tướng tài.

Dân cư khó quản, cần người có đức lớn.

Hơn nữa cũng cần người giám sát xây dựng cảng biển và việc giao thương nữa."

"Gọi Lưu Thượng thư!"

Thượng thư Lưu Ngữ bước vào.

"Cha!"

Lưu Khánh Đàm và Lưu Khánh Ba vội vái phụ thân.

"Thượng thư sao lại..."

"Bệ hạ, thần cao tuổi rồi, xin được giao lại chức Thượng thư này cho người khác.

Thần muốn rời xa xứ kinh kỳ ấy về nơi quê mùa mà an hưởng tuổi già thôi."

Giờ tôi mới để ý, bố con họ có chiếc sống mũi như đúc ra từ cùng một khuôn.

Nhưng đôi mắt Lưu Khánh Đàm nhỏ hơn Thượng thư, còn Lưu Khánh Ba trông cũng có phần ngây ngô.

Trái với vẻ hiền hòa của người bố và em trai, Lưu Khánh Đàm mang điệu cười khinh khỉnh khiến người đối diện sởn tóc gáy.

"Phong Lưu Ngữ làm Tiết độ sứ Minh Linh.

Tả vũ vệ Hà Ư, ngươi hãy tới Minh Linh quản lý việc binh, đừng để ta phải thất vọng."

Lý Đạo Thành nói và nhấp ngụm trà.

"Ngoài ra, Lưu Khánh Ba, tuổi trẻ anh tài, đến Minh Linh hỗ trợ phụ thân.

Lang trung Bùi Minh Giang, quản lý việc di dân, nếu đoàn di dân mất kiểm soát hay gặp bất cứ nguy hiểm gì, ta sẽ hỏi tội ngươi đấy."

"Ti chức lĩnh mệnh!"

Bùi Lang trung quỳ xuống.

"Về vấn đề di dân, người nào di dân xuống ba châu miền nam sẽ được miễn thuế ba năm.

Đồng thời triều đình cũng sẽ hỗ trợ lương thực và chỗ ở trong thời gian đầu."

Doanh trướng xì xầm bàn tán.

"Được rồi," Thái phó đứng dậy.

"Việc của ta chỉ có thế thôi.

Ta về đây."

"Thái phó đi cẩn thận!"

Mọi người vái ông cho đến khi ông ra khỏi doanh trướng.

Và như thế, vấn đề cai quản ba châu miền nam đã được giải quyết xong xuôi.

"Thôi nào An Dân, Lưu Thượng thư, ý ta là Tiết độ sứ già rồi, cần có con ở bên cạnh chăm sóc chứ."

Tôi nói khi cùng An Dân đi dạo trên đồi.

Thằng bé có hơi hờn dỗi khi Lưu Khánh Ba sẽ rời khỏi kinh thành.

"Em biết anh để Khánh Ba đi là để anh ấy phụng dưỡng Tiết độ sứ.

Cha chúng ta mất từ khi anh em mình còn quá nhỏ... em còn chẳng nhớ được khuôn mặt của phụ hoàng.

Hôm qua gặp được Lưu Ngữ, em mới nhận ra, ông ấy cũng sắp gần đất xa trời rồi.

Nên có con cháu bên cạnh..."

"An Dân..."

Lâu nay tôi không để ý, nhưng em trai tôi trưởng thành rất nhanh.

Rất ra dáng vương gia tông thất.

"Được rồi!"

Tôi xoa đầu đứa em.

"Lần sau, anh sẽ dẫn em đi du ngoạn!"

"Thật ạ?"

Thằng bé lại sáng mắt ra.

"Nếu em không ngại xa xôi, có thể đau ốm, có thể nguy hiểm... và mẹ..."

"Đường xa, bệnh tật thì được ở bên thần tiên cũng tự khắc qua thôi."

An Dân cười.

Rồi nụ cười của thằng bé biến mất.

"Còn mẹ thì..."

"Ừ, mẹ thì đáng sợ thật."

Mẹ chúng tôi được dân gian ví như Bồ Tát sống, nhưng riêng về dạy dỗ các con thì cực kỳ nghiêm khắc.

Từ lời lẽ, cử chỉ, và cả vấn đề giờ giấc.

"Nhưng em đừng lo."

Tôi nói với An Dân.

"Ta là Hoàng đế, em là vương gia.

Hai chúng ta đều cần có những trải nghiệm cuộc sống để thấu hiểu dân tình thế sự.

Rồi chúng ta cũng phải đi làm này làm kia thôi."

Tôi mỉm cười thở dài.

"Sự thật thì luôn luôn đơn giản nhưng mẫu hậu với bá quan make it complicated.

Nên là chúng ta cứ enjoy cái moment này thôi."

"Vâng."

Tôi đảm bảo sau tiếng vâng đó là cả tá những dấu hỏi chấm.

"Bệ hạ," Lưu Khánh Đàm cắt ngang chúng tôi.

"Sứ giả của Thái hậu từ Thăng Long báo tin, binh mã nhà Tống lại chuẩn bị rồi ạ."

"Đã chuẩn bị rồi sao?"

Tôi hỏi, cũng không ngạc nhiên lắm.

Bởi tôi đã nghĩ nó sẽ xảy ra sớm hơn.

"Tình hình thế nào?"

"Nhà Tống đã xin hòa hoãn với các nước phương bắc và chuẩn bị quân mã nam tiến.

Theo mật thám của ta báo về thì đầu năm sau sẽ tấn công."

"Đầu năm sau..."

Tôi nhìn lên trời.

"Minh Nhân Vương."

"Bệ hạ có gì căn dặn."

An Dân đáp.

Thằng bé này cũng thật là nhanh trí, tôi vừa gọi nó là "Minh Nhân Vương" thì nó đã đổi từ "hoàng huynh" thành "bệ hạ".

"Em đã tới sông Như Nguyệt bao giờ chưa?"

"Cũng lâu rồi em chưa tới đó ạ."

"Được, khi về Thăng Long, cả nhà ta sẽ cùng ngự thuyền dạo sông Như Nguyệt."
 
Ấu Hoàng
Cung đấu?


Tôi họp mặt các tướng lĩnh trên một chiếc thuyền giữa sông Như Nguyệt.

Sông Như Nguyệt bây giờ là sông Cầu.

Một nghìn năm trước nó rộng hơn bây giờ.

Có lẽ do phù sa bồi lấp trong suốt cả nghìn năm.

Hai bên bờ sông là những cánh rừng um tùm.

Những con đường để đi từ các xứ phía bắc tới Thăng Long đều sẽ phải đi ngang qua con sông này.

Trên sông có rất nhiều bến đò để giúp người dân sang sông.

Từ sông Như Nguyệt đi tới kinh thành Thăng Long chỉ mất có nửa ngày cưỡi ngựa.

"Phòng tuyến của ta, sẽ kéo dài từ vùng núi Tản Viên kéo dài tới ngã ba sông Như Nguyệt nối với sông Thái Bình và sông Thiên Đức."

Lý Thường Kiệt trình bày trên sa bàn.

"Hai bên bờ sông Như Nguyệt có nhiều rừng rậm và núi.

Những nơi ấy khó mà qua sông được."

"Thái úy," Một tướng trẻ trông trạc tuổi Lê Văn Thịnh lên tiếng.

"nếu giặc nhắm đường vòng thì sao?"

"Đường vòng qua vùng Tam Đảo quá hiểm trở.

Nếu đi đường ấy chẳng những nguy hiểm, còn có lợi cho ta.

Còn đi vòng ra đường sông Thái Bình cũng quá xa, quân giặc mệt mỏi, ta đánh tất thắng."

"Thái úy," Hoằng Chân Hầu Lý Hải Dương lên tiếng.

"tại hạ có ý này."

"Quân hầu cứ nói."

"Vùng ngã ba sông Thiên Đức, Như Nguyệt và Thái Bình tuy là có lợi thế cho ta, nhưng giặc muốn tiến qua cũng không phải là quá khó khăn."

"Quân hầu có kế sách gì?"

"Thái úy," Hoằng Chân Hầu chắp tay.

"tại hạ xin nguyện đứng ra chặn giặc nơi này."

"Tại hạ cũng nguyện đi."

Chiêu Văn Hầu cũng đứng ra.

"Thái úy, hai vị quân hầu," Vị tướng trẻ khi nãy lên tiếng.

"mọi người đều quên rồi sao?"

Anh lấy một mô hình chiếc thuyền đặt lên cửa sông Bạch Đằng.

"Thủy quân nhà Tống."

Mọi người há hốc mồm kinh ngạc.

"Tuy nhà Tống trọng văn khinh võ, nhưng quân sĩ của họ không hề nhu nhược như đám văn nhân."

Anh ta phân tích.

"Với sức mạnh kinh tế của nhà Tống thì một hạm đội vài trăm chiến thuyền mất vài tháng chuẩn bị là cùng.

Hơn nữa, nếu không có thuyền, quân Tống sẽ rất khó khăn trong việc vượt sông và tiến đánh vì nước ta có hệ thống sông ngòi chằng chịt.

Đoàn thuyền ấy cũng có thể chở lương thực và khí giới, nếu không đánh chặn, chúng ta sẽ gặp bất lợi."

"Sao ta có thể quên một chuyện quan trọng như thế chứ!?"

Lý Thường Kiệt vò đầu.

"Thái úy, việc chặn địch ở cửa sông Bạch Đằng, cứ giao cho tại hạ."

Anh chàng ấy cất tiếng.

"Nhưng mà," Lý Thường Kiệt nhìn anh ta từ đầu tới chân.

"cậu là ai thế?"

"Đúng rồi, cậu là ai thế?"

"Sao cậu lại ở đây?"

"Sao chúng tôi chưa từng gặp cậu?"

Mọi người nhìn anh ta như người xa lạ.

Tôi còn chẳng nhớ anh ta là ai.

Anh có mái tóc đen cột đuôi ngựa ngắn, đôi mắt sắc sảo và thân hình có phần thư sinh hơn là võ tướng.

Và hình như tôi gặp anh ta rồi.

Nhưng tôi không thể nhớ ra anh ta.

"Bệ hạ, các vị tướng quân," Lê Văn Thịnh run bần bật cố nín cười.

"đây là Lý Kế Nguyên.

Anh ấy đỗ kỳ thi năm Thái Ninh thứ tư, đứng thư ba, sau thần và Đoàn lang.

Hiện tại đang giữ chức Trung lang tướng."

"Thứ lỗi cho thần."

Anh quay về phía tôi và quỳ xuống.

"Thần, Trung lang tướng Lý Kế Nguyên, được Thái hậu chiếu cố cho phép tham gia bàn chính sự cùng các tướng."

Mọi người bắt đầu mờ mờ nhớ ra.

"Khanh chính là, người đã trả lời câu hỏi con dao của trẫm đó à?"

Tôi nhận ra rồi.

Hắn là tên đã nói rằng mình cần bảo vệ xã tắc chứ không phải mình tôi.

Hóa ra là võ tướng, thảo nào ngông đến thế.

"Bình thân đi."

"Tạ bệ hạ."

Lý Kế Nguyên đứng dậy và quay sang Lê Văn Thịnh.

"Cảm tạ Lê Thị lang đã nhớ đến tại hạ."

"Trung lang tướng khách sáo rồi."

Lê Văn Thịnh đáp.

"Anh trả lời được câu hỏi mà ta không thể nghĩ ra, tất nhiên ta phải nhớ rồi."

"Nhưng anh được Thái hậu chiếu cố sao?"

"Thái hậu quả là bậc Quan Âm, nhớ tới một kẻ như hạ thần, còn cất nhắc thần vị trí cao và cho phép thần tham gia bàn luận chiến sự."

Lý Kế Nguyên tâng bốc mẹ tôi lên chín tầng mây.

"Trung lang tướng," Tôi chỉ vào bản đồ chiến dịch.

"anh có đảm nhận được nhiệm vụ này không?"

"Thần nhất định sẽ làm tròn trách nhiệm!"

"Tốt!"

"Bệ hạ!"

Hai người bước ra trước mặt tôi.

"Thần Hoằng Chân Hầu,"

"Thần Chiêu Văn Hầu,"

"xin được chặn đánh quân thù ở cửa sông Thiên Đức!"

"Được!"

Tôi cười toác mang tai và đứng phắt dậy.

"Chư tướng nghe lệnh!"

"Chúng thần xin đợi lệnh!"

Tất cả quỳ xuống.

"Cương thổ nước ta do tổ tiên để lại.

Chúng ta quyết không để mất một tấc đất nào!"

"Bệ hạ vạn tuế!"

Đó là chuyện xảy ra trước khi tôi nam chinh mấy ngày.

-

Hiện tại, ở hữu ngạn sông có một thứ trông mới toanh.

"Hoàng huynh!"

An Dân dựa vào lan can thuyền tròn mắt mắt nhìn bức tường trên bờ sông đang được xây dựng.

"Cái gì thế kia?"

"Ta gọi là, Phòng tuyến sông Như Nguyệt."

Bức tường cao hơn hai mét được xây bằng đá.

Dưới lòng sông là vô số cạm bẫy.

Quân lính đang hùng hục dựng cọc tre, đào hầm chông và chuẩn bị cả cung nỏ.

Ước gì tôi có thể dựng được bê tông thì tốt biết mấy, nhưng một thằng học sinh như tôi thì làm quái gì biết trộn bê tông.

Tôi đã nói rằng quân lính của Đại Việt khác biệt hoàn toàn với lính trong phim cổ trang Tàu chưa?

Trước hết, tổ chức quân đội được chia thành hai loại, bao gồm quân trung ương và quân địa phương.

Ngoài ra, lực lượng thổ binh của các tù trưởng miền núi cũng là một lực lượng nòng cốt trong chiến tranh du kích.

Ông cố tôi, vua Lý Thái Tổ, trước khi lên ngôi là Điện tiền chỉ huy sứ, đứng đầu cấm quân.

Đến khi lên ngôi, Người đặt ra Tả hữu túc xạ gồm một nghìn người theo hầu vua.

Cha tôi khi đặt ra tám quân hiệu, Ngự Long, Vũ Thắng, Vạn Tiệp, Long Dực, Thần Điện, Bổng Thánh, Bảo Thắng và Hùng Lược.

Đặc biệt, họ được thích lên mặt ba chữ Thiên tử quân và còn được xăm hình rồng lên người.

Dân thường không được xăm hình rồng đâu.

Và nhìn đi, Kiểm hiệu thái úy Lý Thường Kiệt đang đánh nhau với một con cá sấu dài mét rưỡi.

Ông ấy đấm vào má con cá sấu khiến nó văng sang một bên rồi túm đuôi con vật và nện nó xuống đất.

Con cá sấu cố bò đi, Lý Thường Kiệt đấm mạnh vào đầu nó.

Binh lính đứng hò reo.

Về cơ bản thì lên núi đánh hổ xuống sông đánh cá sấu là môn thể thao được yêu thích của con nhà võ.

Ngày xưa tôi cũng nghe phụ hoàng kể chuyện Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng đả hổ bằng tay không.

Ờm, không phải tôi nghi ngờ khả năng văn chương của Thánh Tông Hoàng đế đâu, nhưng qua giọng điệu của ông ấy, các bạn sẽ hình dung "đánh hổ bằng tay không" chẳng khác gì thanh niên bây giờ ra đầu ngõ chọc chó.

Nhìn xem, binh lính đánh cá sấu có khác gì mấy ông Tây Ban Nha đấu bò tót không?

Các bạn nghĩ người thường bơi được với cá sấu hả?

Đâu phải ai cũng là Yết Kiêu.

"Bệ hạ."

Phía sau tôi có hai người con gái trong bộ trang phục lộng lẫy màu vàng và đỏ bước tới.

Nào, bao nhiêu chương rồi họ mới lại xuất hiện nhỉ?

Vâng, đó là hai vị hoàng hậu của tôi.

Bùi Thị Ngọc Hoa – họ hàng của Thượng Dương Thái hậu và Nguyễn Thị Vy – cháu họ xa của Lý Đạo Thành.

Mặc dù tội trạng của nhà họ Dương đã được định nhưng mẹ tôi không diệt cả ba họ nhà họ.

"Hai nàng cũng đến đây à?"

Tôi mỉm cười.

"Bệ hạ vạn tuế."

Họ cúi đầu hành lễ.

"Minh Nhân Vương thiên tuế."

"Chị dâu."

An Dân khẽ cúi đầu.

Đúng là trẻ con chẳng kiêng dè xưng hô gì hết nhỉ.

"Bệ hạ, lúc nãy thần có gặp một thương nhân."

Vy nói, người hầu đi bên cạnh đưa lên một chiếc khay.

"Và mua được một món đồ từ La Mã."

Tôi nhìn cái "đến từ La Mã", nó y chóc cái vòng vàng tôi mua ngoài chợ năm trước.

"Nàng," tôi ngơ ra một lúc.

"nàng mua nó giá bao nhiêu thế?"

"Cũng không đắt lắm ạ."

Vy ngây ngô đáp.

"Chỉ bằng giá mua hai ba người hầu thôi."

"Nàng có thể gọi ông ấy đến gặp ta không?"

Tôi dịu dàng mỉm cười xoa đầu Vy.

"Vâng!"

Vy lập tức quay đi.

Không phải tôi cố ý thồn cơm chó đâu.

Nhưng dụ trẻ con thì cần phải làm thế.

Thật đấy.

Tôi xem Vy như em gái, con bé hoạt bát dễ thương và rất nhạy về mấy con số.

Con bé tính nhẩm nhanh gần bằng tôi đấy.

"Bệ hạ, thần nói chuyện riêng với Người được không?"

Ngọc Hoa hỏi.

Chúng tôi đứng bên mạn thuyền trông ra tả ngạn sông Như Nguyệt.

"Bệ hạ, thần đang lo lắng cho Vy."

Ngọc Hoa nói.

"Lo lắng?"

"Con bé còn quá nhỏ, đôi khi suy nghĩ không được..."

"Chín chắn?"

Tôi gợi ý.

"Vâng."

Hoa thở dài.

"Từ nhỏ con bé đã được sống trong sự quan tâm chiều chuộng của mọi người nên... con bé có đôi chút ích kỷ.

Thần đã luôn xem con bé như em gái, nhưng thực sự là con bé vẫn đang còn ở tuổi ăn tuổi chơi, thần e là sau này lớn lên, Vy dễ có những hành động sai lầm."

Khoan đã khoan đã khoan đã!!!

Đây là cung đấu đấy à!?

Hoa đang cố đá đít Vy ra khỏi hậu cung sao!?

Cô ấy đang cố tranh sủng sao?

Tôi đã đi từ cung đấu lên đến chính biến và suýt bị giết đây này.

Tha cho tôi đi, tôi không cần thêm một cuộc cung đấu nào nữa đâu!

Các bạn thích cung đấu thì đi mà xem phim Tàu ấy, tôi chẳng ham bị kiếm kề lên cổ thêm lần nữa đâu.

Nhân nhắc đến cung đấu, tự nhiên tôi lại nhớ đến bà cố tôi.

Bà cố tôi là Lập Giáo Hoàng hậu Lê Thị Phất Ngân, vợ vua Lý Thái Tổ, là một trong những hoàng hậu đầu tiên của triều Lý.

Nhưng hãy nhìn những người xung quanh bà mà xem.

Cha bà (Lê Hoàn) là vua, chồng cũ mẹ bà (Đinh Bộ Lĩnh) là vua, anh trai cùng cha khác mẹ của bà (Đinh Toàn) là vua, em trai bà (Lê Long Việt và Lê Long Đĩnh) là vua, ông ngoại bà (Dương Tam Kha)(1) là vua.

Chồng bà ( Lý Thái Tổ) cũng trở thành vua.

Thử tưởng tượng bà ấy là nhân vật trong phim cung đấu xem, các cô nhân vật chính kia có mà xách dép về quê hết.

Rồi, nhìn lại Hoa xem.

Cô ấy là họ hàng của tội thần.

Tất nhiên, mẹ tôi không muốn xử tội, nhưng trong đám cung nữ thái giám hầu hạ nàng mỗi ngày quá nửa là người của khu mật xứ và gián điệp mẹ tôi cài vào đấy.

Lớ ngớ một cái là bay đầu ngay.

"Thế, giữa Vy và nàng, ta nên lo lắng về ai hơn?"

Tôi nhướn mày hỏi.

"Dạ?"

"Vy là cháu của Thái phó, còn nàng là ai?"

"Thần..."

Nghe hơi quá đáng, nhưng tôi nhắc lại, Hoa là họ hàng của kẻ đã kề kiếm lên cổ tôi rồi đòi giết cả mẹ và em trai tôi đấy.

Tuy cô ấy không hề liên quan gì đến chuyện đó, nhưng để đảm bảo cái ngai vàng vẫn ở dưới mông tôi, mẹ tôi hầu như lúc nào cũng theo dõi nhất cử nhất động của cô ấy.

"Thần không bao giờ quên mình là cháu của kẻ loạn tặc."

Hoa nói.

"Thần luôn dành tấm lòng cũng như thân thể của mình cho riêng bệ hạ.

Thần chỉ... muốn tốt cho tất cả chúng ta."

"Ta hiểu mà."

Tôi mỉm cười.

"Vy còn nhỏ, chưa hiểu chuyện.

Giống như An Dân vậy.

Nhưng em trai trẫm đang nỗ lực trở thành một vương gia tài giỏi để giúp trẫm trị quốc.

Chẳng lẽ nàng không dạy dỗ đứa em gái kia của nàng trở thành một người con gái tốt sao?"

"Thần vẫn luôn cố gắng..."

"Các nàng hòa thuận, ấy mới là giúp trẫm."

Tôi xoa đầu Ngọc Hoa.

Thú thực là tôi ít khi làm thế này.

Tôi chỉ xoa đầu cô ấy khi cô ấy giải được bài tập hệ thức lượng thôi.

Mà xoa đầu một người cao hơn mình cũng hơi khó, thật đấy.

"Lâu lắm rồi bệ hạ mới xoa đầu thiếp."

Tôi thề là cô bé đang đỏ mặt.

"Ừ, từ lúc ta đi Tống, công việc ngập đầu, chẳng sang học với các nàng được."

Tôi thở dài.

Thực ra lý do tôi dạy họ cũng là để không bị quên những kiến thức trường lớp, phòng khi còn quay lại thế kỷ XXI.

"Bệ hạ xoa đầu thiếp tiếp đi."

Hoa cúi đầu bặm môi.

Tôi cũng bắt đầu thấy ngượng.

Nhưng làm gì có ai ở đây.

"Được rồi."

Tôi xoa đầu con bé.

"Bệ hạ khen thiếp đi."

"Hoa của ta ngoan lắm."

Mặt tôi lúc này chắc cũng đỏ như quả gấc.

Phía sau tôi có tiếng động.

Khi tôi quay lại, có sáu con mắt đang nhìn chằm chằm vào tôi.

"Mẹ!

An Dân!

Vy!"

Tôi hùng hổ bước về phía họ.

"Sao mọi người..."

"Hoàng huynh," An Dân cười toác mang tai.

"cái này gọi là gì nhỉ?"

"Bệ hạ bảo đây là ngôn tình."

Vy nói.

"Hai em nghe từ đâu hả?"

"Từ lúc bệ hạ xoa đầu chị Hoa."

Vy đáp.

"Từ đầu ạ."

An Dân đáp.

"Sao em có thể làm thế!?

Sao em lại..."

"Mẫu hậu bảo là "Im lặng mà xem đi."."

An Dân mách.

"Mẹ!"

"Khung cảnh thật trữ tình."

Mẹ tôi ngắm sông núi đánh trống lảng.

"Tôi là trò đùa của các người à!?"

(1) Chính sử không ghi nhận Dương Vân Nga là con gái của Dương Tam Kha.

Thậm chí tên của Đại Thắng Minh Hoàng hậu cũng không được đề cập đến trong chính sử.
 
Ấu Hoàng
Vệ Vương.


Lính truyền tinh lao vào điện Thiên An giữa buổi chầu với vẻ hớt hải.

"Bệ hạ!"

Hắn vừa thở dốc vừa báo cáo.

"Quân Tống tiến đến châu Lạng..."

"Tình hình thế nào?"

Tôi hỏi.

"...

Thân Phò mã đem quân chống trả giặc ở ải Chi Lăng..."

Hắn thở hồng hộc.

"Rồi sao nữa?"

Thái hậu hỏi.

"... thế giặc quá mạnh..."

"Rồi sao nữa?"

Thái sư và Thái úy hỏi.

"Thân Phò mã..."

"Phò mã làm sao?"

Cả triều đình hỏi.

"...

đã cho dân rút vào rừng thực hiện chiến tranh du kích, làm chậm bước tiến quân thù."

Nét căng thẳng trên mặt mọi người và cả bầu không khí nặng nề đã biến mất.

"Tuyệt vời!"

Mẹ tôi đứng phắt dậy.

Rồi nhận ra mình đang ngồi chầu nên nhanh chóng ngồi xuống.

"Không hổ là Phò mã Áo chàm của triều ta.

Báo cho Thân Phò mã, bảo y giữ vững phong độ, tiếp tục quấy rối quân Tống.

Lệnh các tù trưởng quanh vùng tiếp ứng.

Quân triều đình cũng sẽ nhanh chóng tới cứu viện."

"Chúng thần tuân chỉ!"

"Bệ hạ," Lê Văn Thịnh bước ra.

"thần xin được xuất trận đi giúp Thân Phò mã đánh giặc."

"Bệ hạ," Lưu Khánh Đàm bước ra.

"địa hình núi non châu Lạng hiểm trở.

Mình Lê Thị lang khó lòng tác chiến.

Thần xin được cùng Lê Thị lang đi ứng cứu."

"Sao trẫm từ chối được cơ chứ?

Hai người đều còn trẻ, lại đều là anh tài quốc gia."

Tôi đứng dậy bước ra.

"Truyền chỉ của trẫm, cho Thị lang Lê Văn Thịnh và Thị lang Lưu Khánh Đàm dẫn năm nghìn quân đến châu Lạng, tiếp ứng cho Thân Phò mã, bảo vệ người dân và công chúa."

"Bệ hạ thánh minh!"

-

"Chuyến này thần đi, lành ít dữ nhiều."

Lê Văn Thịnh nói khi cùng tôi đi về phía cổng Diệu Đức.

Anh ta cưỡi ngựa đi ngay bên cạnh kiệu của tôi và An Dân.

"Thầy đừng đùa trẫm."

Tôi cười.

"Không có thầy, trẫm biết phải làm sao?"

"Bệ hạ đề cao thần quá rồi."

Anh ta bật cười.

"Trẫm không nói quá đâu."

Tôi vén rèm kiệu.

Lê Văn Thịnh cưỡi ngựa đi cạnh tôi trong bộ áo giáp sắt trang trí hình đầu hổ với một chiếc áo choàng đỏ, oai phong không kém gì nam chính phim chưởng.

"Thầy là tâm phúc của trẫm.

Sau này trẫm lớn lên càng cần có thầy ở bên cạnh hơn.

Rồi thầy còn phải phục vụ cho con trẫm.

Như Thái sư Thái úy vậy."

"Thần chẳng nghĩ mình sống được đến lúc đó."

Lê Văn Thịnh cười.

"Còn Lưu Thị lang thì sao?"

Tôi với người ra hỏi người đang cưỡi ngựa đi bên cạnh Lê Văn Thịnh.

Anh ta mặc bộ quan phục thường ngày, còn chẳng đeo vũ khí.

"Thần trẻ hơn Lê Thị lang sáu tuổi, thần nghĩ mình sẽ sống lâu hơn anh ấy."

Lưu Khánh Đàm đáp.

"Chú tự tin quá nhỉ?"

Lê Văn Thịnh đấm vào vai Lưu Khánh Đàm.

Nhìn thấy hai người họ thân thiết như thế này, tôi cũng thấy vui lây.

"Thế thì," An Dân nhoài người ra.

"bản vương nhất định sống lâu hơn cả hai vị rồi."

Đến cổng Diệu Đức, kiệu của tôi dừng lại.

Lê Văn Thịnh và Lưu Khánh Đàm bước ra trước rồi quay lại, xuống ngựa chào tôi.

"Lê Văn Thịnh!

Lưu Khánh Đàm!"

Tôi đưa cao thanh kiếm nhỏ vừa cỡ người tôi.

"Toàn thắng trở về!"

"Chúng thần nhất định thắng trận trở về!"

Hai người họ quỳ xuống.

"Cấp báo!"

Một người lính cưỡi ngựa phóng tới.

Anh ta đeo lá cờ của lính truyền tin phóng thẳng đến trước kiệu của tôi.

"Có chuyện gì?"

Tôi vội hỏi.

"Thân phò mã tử trận rồi!"

-

"Bệ hạ, Lưu Kỷ đầu hàng quân Tống rồi ạ."

"Bệ hạ, châu Văn và châu Quang Lang đã rơi vào tay địch."

"Bệ hạ, Quách Quỳ treo thủ cấp của Thân Phò mã lên đầu giáo, rất nhiều dân miền núi không chịu được sỉ nhục đã tự vẫn.

Số còn lại ra sức báo thù, đều bị Quách Quỳ đem chém cả rồi!"

Tin tức chiến sự bay về liên tục, quân ta tạm thời chặn được địch, nhưng Quách Quỳ và quân Tống đánh như vũ bão, từng lớp phòng ngự bị đẩy lui đến tận phòng tuyến Như Nguyệt.

"Từ Vạn Xuân, thủy binh có thể vượt sông Lục Nam và sông Thương tiến sâu vào địa bàn vùng Đông Bắc, có thể xuôi sông Bạch Đằng, sông Thái Bình ra biển, lại có thể theo sông Đuống tiến vào ."

Thái Nguyên nói.

"Ở đây, ta sẽ đặt hai vạn quân và khoảng bốn trăm chiến hạm.

Chiêu Văn Hầu, Hoằng Chân Hầu, vị trí này xin nhờ hai vị."

Lý Thường Kiệt nói.

"Rõ!"

"Bệ hạ."

Lý Thường Kiệt quay sang nói với tôi.

"Chiến sự sẽ rất nguy hiểm.

Bệ hạ xin hãy lui về kinh thành ạ."

"Không được!"

Tôi cãi.

"Anh em của trẫm ở đây, con dân của trẫm ở đây, sao trẫm có thể về cung được?"

"Bệ hạ!"

Lê Văn Thịnh trừng mắt nhìn tôi.

"Đây không phải lúc để bệ hạ mè nheo đâu.

Chiến trường không phải chỗ cho trẻ con!"

"Thầy..."

"Lê Thị lang nói đúng đấy."

Lưu Khánh Đàm đặt hai tay lên vai tôi.

"An nguy của bệ hạ, quan trọng hơn tính mạng của tất cả chúng thần."

"Lưu Thị lang, chuyện này,"

"Bệ hạ ở đây chỉ vướng tay chúng thần thôi!"

Lý Thường Kiệt quát lớn.

"Thái úy!"

Lưu Khánh Đàm quắc mắt nhìn Lý Thường Kiệt.

Nhưng tôi biết ông ta nói đúng.

"Thôi được rồi."

Tôi thở dài.

"Trẫm sẽ về Thăng Long."

Tôi quay lại nhìn hội đồng tham mưu.

Trừ Lý Kế Nguyên và một số tướng khác đã ra biển chặn giặc thì các tướng tài của Đại Việt đều đã tập trung ở đây.

Tôi cúi gập người.

"Trẫm sẽ cầu phúc cho các vị nơi chiến trường."

"Bệ hạ vạn tuế!"

Tôi quay lại chỗ chiếc xe ngựa.

An Dân và một số quan nội hầu đang đứng chờ sẵn.

"Hoàng huynh!"

An Dân chạy tới cạnh tôi, vẻ mặt vô cùng hớt hải.

"Kinh thành ổn chứ?"

Tôi hỏi và lên kiệu.

"Một số người có người thân ở các vùng bị quân Tống chiếm đóng có chút kích động.

Mẫu hậu đã trấn an họ và hướng dẫn họ đi chùa cầu phúc.

Thái phó cũng đang lệnh cho quân sĩ phủ Nghệ tiến quân ra bắc."

Nhờ có cuộc trò chuyện với Indravarman mấy tháng trước, tạm thời quân sĩ biên giới phía nam đã có thể chuyển ra bắc, điều này cũng có ích cho Chiêm Thành vì họ cũng cần lực lượng để giải quyết mâu thuẫn với Chân Lạp mở rộng lãnh thổ và xử lý các công việc trong liên minh.

Tuy nhiên, theo lá thư mật thám báo lại, Chiêm Thành và Chân Lạp đã hòa hoãn để cùng công đánh mặt nam Đại Việt.

Đúng là không có kẻ thù vĩnh viễn và bạn bè mãi mãi.

Chỉ có lợi ích trường tồn.

Cũng phải thôi.

Indravarman là bạn tôi.

Chứ không phải vua cha anh ta.

Chúng tôi về đến Thăng Long, quan lại nội kinh đang tất tả lo việc trấn an nhân dân.

Có những người khóc lóc, có những bà mẹ lạc mất con.

Có những người không còn nguyên vẹn.

"Bệ hạ."

Người đánh xe gọi với vào bên trong.

"Có Đô hộ phủ Sĩ sư Ngụy đại nhân muốn diện kiến."

"Có chuyện gì?"

Tôi mở rèn xe ngựa, trước xe ngựa là một người đàn ông ăn mặc gọn gàng, hông đeo kiếm đang cúi đầu trước tôi.

Ông ta tên là Ngụy Trọng Hòa.

Vào năm tôi một tuổi, vua cha tôi đã cho Ngụy Trọng Hòa và Đặng Thể Tư làm Đô hộ phủ Sĩ sư, trách nhiệm giống như quan phủ, xử lý các án kiện tụng.

Họ giống như Bao Công của Thăng Long vậy.

"Nếu là chuyện cấp bách, chúng ta hãy vừa đi vừa nói."

Tôi nói vội.

"Đặng đại nhân đang lo rằng Quách Quỳ sẽ cho quân Tống trà trộn vào nạn dân và gây hoang mang cho dân ta ở trong thành."

Ngụy Trọng Hòa ngồi bên ngoài xe ngựa nói.

"Thế phải làm sao?"

Tôi hỏi.

"Hiện tại chúng thần đã cho người dò hỏi từng người dân một.

Tuy nhiên, số lượng quá lớn.

E rằng không kịp..."

"Thái phó đã có cách chưa?"

"Thái phó đang rất bận rộn với việc quân cơ ạ.

Hiện tại Chiêm Thành và Chân Lạp đang có động thái ở phía nam.

Vô cùng nguy hiểm đối với chúng ta."

"Được rồi, ngài cứ tiếp tục làm nhiệm vụ của mình đi.

Ta sẽ hồi cung bàn chuyện này với Thái hậu."

Ngụy Trọng Hòa nhảy xuống khỏi xe ngựa, không quên vái tôi rồi hối hả chạy đi lo việc của loạn dân.

-

"Tường không sao chứ?"

Mẹ tôi hỏi ngay khi thấy tôi về.

"Mẹ!"

Tôi xà vào lòng mẹ.

"Bệ hạ," Mẹ tôi hốt hoảng nhìn quanh.

An Dân ra hiệu cho những người khác ra ngoài.

"Con," Mẹ tôi ôm lấy tôi.

"Sẽ không có chuyện gì đâu đúng không ạ?"

Tôi khóc.

Dù đã biết trước rằng quân ta sẽ thắng.

Nhưng tôi không khỏi lo lắng.

Tôi nhận ra rằng dù thắng, thì trận chiến này vô cùng ác liệt.

Tôi không biết có bao nhiêu người sẽ chết, sẽ có bao nhiêu mất mát.

Đến tận khi Thân Cảnh Phúc hy sinh tôi mới nhận ra rằng mình hóa ra chẳng biết gì.

"Bệ hạ, Thái hậu, Minh Nhân Vương.

Thiên Thành công chúa yết kiến."

Quan nội hầu ở bên ngoài thông báo.

Cánh cửa mở ra, chị tôi lững thững bước vào.

Người con gái xinh đẹp mang một gương mặt buồn thảm.

Trên đầu chị quấn khăn tang màu trắng và đang mặc chiếc áo trắng.

Cô nhún người cúi mặt xuống.

"Chị!"

Tôi tới bên cô.

Đôi mắt chị tôi đỏ hoe.

"Bệ hạ, phò mã tử trận.

Thần thân phận đàn bà, không thể..."

Giọng chị tôi lạc đi.

"Tường," Mẹ tôi bước tới ôm lấy cô công chúa đang khóc.

"không sao đâu."

"Thái hậu."

Thiên Thành công chúa ôm lấy bà.

"Được rồi mà.

Chúng ta đi chùa nhé."

Bà vỗ về và lau nước mắt cho cô công chúa.

Tuy tuổi tác họ chênh nhau chỉ vài tuổi lẻ thôi nhưng mẹ tôi vẫn xem chị ấy như con mình.

"Vâng."

Bốn mẹ con kéo nhau lên chùa Diên Hựu.

Tiếng tụng kinh gõ mõ vang khắp không gian thanh tịnh của ngôi chùa.

"A di đà Phật."

Vị trụ trì họ Đinh hành lễ trước chúng tôi.

"Trụ trì, ngài vẫn khỏe chứ?"

Mẹ tôi hỏi.

"Thái hậu, lão nạp đã sống hơn trăm tuổi rồi, làm gì còn cái gọi là sức khỏe."

"Trụ trì đã ở đây ba đời vua, chẳng lẽ không có nguyện vọng gì sao?"

Mẹ tôi hỏi tiếp.

"Nếu là nguyện vọng..."

Ông nhìn tôi.

"lão nạp có thể, dành chút thời gian với bệ hạ không?"

-

Tôi và vị trụ trì hơn trăm tuổi đứng bên hồ sen sau chùa.

"Trụ trì có gì muốn nói với trẫm sao?"

Tôi hỏi.

"Nhiều là khác."

Ông nói.

"Bệ hạ, Người đã bao giờ nghĩ đến việc sẽ bảo vệ đất nước này như thế nào chưa?"

"Tất nhiên."

Tôi gật đầu.

"Trẫm sẽ bảo vệ đất nước này.

Mảnh đất này là nơi ông cha trẫm đã gầy công xây dựng.

Phận là con cháu phải biết gìn giữ."

"Từ trước khi lão nạp ra đời, cha anh của lão nạp đã gầy công thống nhất và xây dựng nên Đại Cồ Việt.

Khi lão nạp lên sáu tuổi, cha anh bị giết, ngoại bang lăm le xâm lược, nội bộ thì có loạn binh.

Cuối cùng, lão nạp đã phải cởi bỏ áo cổn, tháo mũ miện và trao lại đất nước cho người khác."

Ông nhìn tôi bằng đôi mắt đã mù.

"Liệu bệ hạ có sẵn sàng từ bỏ ngôi vua như vậy không?"

"Kh, khoan đã," Tôi toát mồ hôi hột.

"Lẽ nào...

ông... chính là..."

"Lãonạp, trước khi xuất gia, có tên là Đinh Toàn."

Ông nói.

"Người đời gọi là ĐinhThiếu Đế."
 
Ấu Hoàng
Muốn.


Vệ Vương Đinh Toàn, con trai thứ hai của Đinh Tiên Hoàng Đinh Bộ Lĩnh, vị vua thứ hai của nhà Đinh, lên ngôi sau khi cha và anh trai Đinh Liễn bị ám sát.

Tôi và ông ta có rất nhiều điểm chung.

Cả hai chúng tôi đều lên ngôi khi còn rất nhỏ và đang chuẩn bị đối mặt với giặc ngoại xâm.

Nhưng tôi may mắn hơn ông ấy.

Tôi có được nền tảng mà cha ông đã gầy dựng, có được các quan văn tướng võ tài giỏi hết lòng phò tá.

Còn Đinh Toàn đã phải cởi bỏ cổn mà khoác lên người Lê Hoàn, nhà Lê có từ đó.

Theo sử sách, không như những vị vua xứ Tàu tận diệt hoàng tộc cũ, Lê Đại Hành xem Đinh Toàn như con ruột, tước vị Vệ Vương, cho cầm quân đánh trận.

Nhưng đến năm hai mươi bảy tuổi, vị vua nhỏ tuổi nhất lịch sử nước nam đã trúng tên mà chết trận.

"Ngài..."

Tôi nuốt nước bọt.

"Nhưng, ngài phải, mất từ năm hai mươi bảy tuổi rồi chứ?"

"Lão nạp may mắn, được thần y cứu mạng."

Vệ Vương nói.

"Nhưng vì chẳng còn hứng thú với chốn cung đình nữa nên đã xuất gia.

Sau này Thái Tông xây chùa Diên Hựu mới mời lão nạp về làm trụ trì.

Những người biết lão nạp còn sống, chỉ có Thái Tổ, Lập Giáo Hoàng hậu, Thái Tông, Thánh Tông, và bây giờ là bệ hạ."

Tôi vẫn chưa hết run.

Ông lại ngước về phía tôi.

Đôi mắt ông đã không còn thấy gì, nhưng tôi có cảm giác chúng đang xoáy thẳng vào tâm can tôi.

"Thế, ngài có sẵn sàng từ bỏ ngai vàng để bảo vệ đất nước không, Lý Càn Đức?"

Gọi thẳng tên tôi như thế này, có vẻ ông đã sẵn sàng bị chém đầu rồi.

"Đất nước mà cha anh ta trao cho ta, vạn dân bá tánh mà ta cần bảo vệ... tất cả, ta đều vứt bỏ để đến nơi thanh tịnh này.

Ngài nghĩ ta còn vướng bận gì sao?"

Ông ta như đọc được suy nghĩ của tôi vậy.

"Không."

Tôi lắc đầu.

"Việc trẫm ngồi trên ngai vàng là trách nhiệm.

Thánh Tông trao đất nước cho trẫm.

Trẫm luôn sẵn sàng liều mình bảo vệ nó.

Trẫm dám đến tận đất Tống.

Trẫm dám đánh thẳng vào đất Tống.

Trẫm dám gặp mặt hoàng tử Chiêm Thành.

Vứt bỏ không vướng bận?

Vệ Vương, ngài chỉ đang chạy trốn thôi."

"Chạy... trốn..."

"Là hậu thế, ta kính trọng ngài như là người đã từ bỏ danh vọng gia tộc để bảo vệ đất nước.

Nhưng từ bỏ vương tước để quy y cửa Phật, ngài có thể làm được nhiều hơn kia mà."

"Loài rắn... chúng thay da định kỳ.

Nhưng chúng không tự bẻ đi răng nanh của mình."

Đinh Toàn thở dài.

"Kế phụ xem lão nạp như con ruột.

Nhưng quy y cửa Phật, lão nạp chưa từng hối hận về điều đó.

Đất nước này không cần một Vệ Vương, cũng chẳng cần một Phế Đế.

Nhưng ngôi chùa này cần một trụ trì."

Tôi nắm chặt tay.

Đôi mắt ông vẫn cứ xoáy thẳng vào tôi.

Cảm giác như có cả nghìn con mắt đang nhìn tôi từ khắp mọi phía vậy.

Khí thế của ông ta khiến đôi chân tôi bủn rủn.

Đúng là ông ta chỉ thay da, ông ta không bẻ đi răng nanh của mình.

Một người tỏa ra khí chất như thế mà còn phải từ bỏ ngôi vị hoàng đế, thế còn tôi thì sao?

"Lão nạp không còn là Hoàng đế nữa.

Lão nạp chỉ là một nhà sư mà thôi.

Như một nhà sư, lão nạp muốn hỏi bệ hạ."

"Con xin nghe."

Tôi nuốt nước bọt.

"Liệu bệ hạ đã làm điều tốt nhất chưa?"

"Hả?"

"Điều bệ hạ đang làm, đã là điều đúng đắn nhất chưa?"

"Điều đúng đắn nhất..."

Điều đúng đắn duy nhất đối với tôi là chết ngay từ lúc bị xe tải đâm kìa.

"Điều đúng đắn nhất..."

"Bệ hạ đang làm điều đúng đắn nhất... hay điều mà bệ hạ muốn?"

"Là..."

Ngay khoảnh khắc sắp chết, tôi đã nghĩ gì?

Ước được sống tiếp.

Ước được thay đổi bản thân.

Ước được làm nhiều điều có ích hơn.

Ước được tỏ tình với cô ấy.

Ước được thấu hiểu hơn tình cảm gia đình.

Ước được nói với bố tôi rằng tôi yêu ông ấy.

Ước được một lần nấu một bữa cơm cho mẹ.

Những điều ước ấy đã không thể hoàn thành.

Và dù tôi đã ước gì đi chăng nữa, tất cả chúng đều là những điều mà tôi muốn.

Xuyên không về đây ư?

Rõ ràng là đã là một điều không hề đúng đắn rồi.

"Hóa ra, ngay từ đầu, ta đã chỉ làm những gì ta muốn..."

Tôi gạt nước mắt.

"Khi phải lựa chọn giữa điều đúng đắn, và điều mình muốn.

Con người thường có xu hướng chọn điều mình muốn."

Đinh Toàn đặt hai tay trong lòng trong tư thế thiền định.

"Nhưng hãy nhớ, dẫu cho người khác có nói gì, hãy nhớ rằng, con đã đưa ra quyết định của chính bản thân mình."

"Quyết định... của bản thân..."

"Khi con đã đưa ra quyết định và bước đi, kẻ duy nhất có quyền nói con ngu ngốc chỉ có bản thân con mà thôi."

Đinh Toàn ho vài tiếng.

"Con muốn làm gì, hỡi vị vua nhỏ bé?"

"Con muốn... bảo vệ đất nước này."

"Con muốn làm gì?"

"Con muốn bảo vệ gia đình con."

"Con thực sự muốn làm gì?"

"Con muốn được chiến đấu!"

"Đông cung Thái tử Lý Nhật Tôn năm mười bốn tuổi cũng đã ngồi đây và nói với lão nạp những lời ấy."

Ông nhìn tôi bằng đôi mắt trắng dã, tự nhiên tôi lại thấy chúng sáng lên.

Có một tia sáng mong manh yếu ớt trong đôi mắt của vị sư già.

"Có vẻ như, ta đã hoàn thành trách nhiệm của mình rồi."

"Trụ trì, ngài..."

"A..."

Ông nhìn tôi và thốt lên một tiếng.

"Mặt trời... vẫn luôn cao như thế à?"

"Mặt trời..."

Tôi hoảng hốt quay ra sau, những gì tôi thấy chỉ là mặt trời ban chiều đang tỏa sáng ấm áp.

"Phụ hoàng..."

"Bệ hạ, hãy nhớ lời ta."

Ông cúi đầu mỉm cười.

"Nắng gắt soi bá chủ, ánh mặt trời sẽ luôn soi rọi đất nước ta.

Và ngày mai, con dân Đại Việt sẽ tiếp tục tắm trong ánh nắng của vầng thái dương hay không, là dựa vào quyết định của bệ hạ."

"Trụ trì, con xin cảm ơn."

Tôi vái ông.

Ông không trả lời.

"Trụ trì?"

Tôi gọi tiếp.

Nhưng ông không trả lời.

Trước khi tôi kịp nhận ra, vị sư già ấy đã viên tịch rồi.

-

Võ tướng sẽ chiến đấu theo kiểu của võ tướng.

Còn một đứa trẻ mười tuổi sẽ chiến đấu theo kiểu của một đứa trẻ mười tuổi.

Một tối trăng thanh gió mát đầu xuân ở Minh Linh, tôi đứng trên ngọn đồi hóng mát và ngắm trăng sao.

Lưu Khánh Ba đứng bên cạnh theo lệnh của cha mình.

Tất nhiên là không ai biết chuyện này.

"Cậu tới sớm quá nhỉ."

Người thanh niên xuất hiện sau lưng tôi một cách nhẹ nhàng.

"Indravarman," Tôi gọi.

"Ta xin lỗi."

Anh ta thở dài.

"Cha anh... muốn chiếm lại ba châu miền nam đúng không?"

"Đúng thế."

Indravarman nói.

"Biên giới tự nhiên giữa Đại Việt và Chiêm Thành là dãy Hoành Sơn.

Xem chừng... cha tôi muốn lấy lại các vùng phía nam Hoành Sơn."

"Cậu cũng thế mà phải không?"

"Tất nhiên!"

Indravarman gật đầu.

Anh ta thật thà quá luôn ấy.

"Nhưng chiếm lại rồi thì sao?

Lý Thường Kiệt còn sống, cậu còn sống, chúng tôi dù có chiếm lại cũng chỉ khiến cho nơi này hứng chịu chiến tranh mà thôi."

"Thế còn Chân Lạp?"

"Vua Chân Lạp cử một thân vương làm đại tướng.

Giờ đang sửa soạn binh mã rồi.

Bây giờ dãy núi phía tây là biên giới tự nhiên của Đại Việt.

Chúng không dễ dàng vượt qua đâu.

Nhưng... chỉ là vấn đề thời gian thôi."

"Khỉ thật."

Tôi nghiền răng.

"Nếu bị bốn nước cùng lúc tấn công, phụ hoàng sẽ làm gì?"

Đó là câu hỏi mà tôi đã hỏi cha tôi khi ông còn sống.

Vua Lý Thánh Tông đang ăn cơm thì dừng đũa.

Dường như ông chưa từng suy nghĩ về chuyện này.

"Bốn nước xung quanh ta."

Vị vua buông đũa khoanh tay nhìn cọng rau nằm giữa bát cơm suy nghĩ.

"Đại Tống, Đại Lý, Chân Lạp và Chiêm Thành.

Nếu cả bốn nước cùng tấn công, chúng ta sẽ khiến Đại Lý rút lui đầu tiên."

"Tại sao ạ?"

Tôi hỏi.

"Từ Đại Lý tới lãnh thổ Đại Việt phải vượt qua những ngọn núi vô cùng hùng vĩ."

Lý Thánh Tông nói.

"Đó là lá chắn tự nhiên của nước ta."

"Nhưng Đại Tống cũng thế mà ạ."

"Từ Đại Tống tới Đại Việt có nhiều đường hơn, còn cả đường thủy nữa."

Ông tiếp tục nói.

"Còn Đại Lý, Thái Tổ Thái Tông đã đánh dẹp chúng rất nhiều lần rồi.

Bản thân Đại Lý cũng nằm ở nơi nhiều núi non, tập hợp quân đội không hề nhanh.

Nói không ngoa thì, các tù trưởng ở vùng núi phía Bắc cũng có thể chặn được chúng trong một thời gian."

Cha tôi gật gù theo kiểu khá là chắc kèo.

"Còn, ba nước còn lại ạ?"

"Liên Chiêm Thành đánh Chân Lạp."

Cha tôi đáp ngay.

"Tại sao lại thế ạ?"

Tôi hỏi.

"Sau khi Chế Củ dâng ba châu miền nam, đường biên giới đã rộng mở hơn, thuận lợi hành quân hơn.

Nhưng vượt qua được thì lại gặp núi.

Giả như Chiêm Thành có chọn đường thủy, thì đó là một điểm chiến thắng cho quân ta rồi."

Đúng thế, quân Đại Việt mạnh nhất là thủy chiến.

"Còn từ Chân Lạp tới nước ta sẽ phải vượt qua một dãy núi vô cùng lớn.

Ta cho người tới khuyên vua Chiêm đem quân đánh Chân Lạp.

Khi quân đội Chân Lạp đang vượt núi tấn công ta, quân lực hao tổn nhiều.

Vua Chiêm chỉ cần thấy có lợi sẽ đem quân đánh Chân Lạp đang vô cùng mỏng manh.

Khi Chiêm Thành đánh tới tận kinh đô, có khi đám quân viễn chinh kia vẫn còn đang lạc đường trên núi."

"Là vây Ngụy cứu Triệu."

Mẹ tôi đang đút cho An Dân ăn lên tiếng.

"Đúng!"

Lý Thánh Tông gật đầu.

Bây giờ tôi chỉ đang gặp ba kẻ địch.

"Indravarman!"

Tôi gọi.

"Cha anh đang ở gần đây đúng không?"

"Khoảng hai ngày đi ngựa."

"Đưa ta tới gặp cha anh."

"Cậu định làm gì?"

"Chiếnđấu."

Tính đến thời điểm trong truyện, lịch sử nước ta chỉ có hai vị Hoàng đế lên ngôi khi còn nhỏ là Đinh Thiếu Đế và Lý Nhân Tông.

Tên húy của vua Lý Thánh Tông là Nhật Tôn (日尊), có nghĩa là mặt trời trên cao.
 
Ấu Hoàng
Mặt trận ngoại giao.


Nhìn bản đồ Đại Việt – Chiêm Thành, tôi dự đoán Minh Linh nằm ở khu vực Quảng Trị hay Quảng Bình.

Còn cha của Indravarman, Harivarman đang ở địa phận tỉnh Quảng Nam.

Hai ngày đi xe ngựa phóng hết tốc lực, tôi và Lưu Khánh Ba có mặt ở một tòa thành của Chiêm Thành vào lúc hoàng hôn.

Đập vào mắt tôi đầu tiên là một bức tượng cao đến bốn năm mét bằng vàng miêu tả một vị thần bốn tay đang nhảy múa.

Ông ta có mái tóc dài, một tay ông ta cầm một cây đinh ba lớn và toàn thân ông như sáng lên dưới ánh hoàng hôn.

Không có ý xúc phạm đâu, nhưng hai trong số bốn tay của ông ấy như đang múa quạt vậy.

Indravarman đứng trước bức tượng và hành lễ.

Tôi cũng làm theo, đặt hai tay bắt chéo ngực kiểu Wakanda và cúi đầu.

"Bệ hạ, làm như thế..."

"Nhập gia thì tùy tục."

Tôi nhắc.

"Khánh Ba, anh cũng mau làm đi."

Lưu Khánh Ba đành làm theo.

"Đó là ai thế?"

Tôi hỏi Indravarman.

"Là thần Shiva."

Anh ta đáp.

Tôi nhớ cái tên này từ những bộ phim Ấn Độ.

"Ông ta... vĩ đại lắm sao?"

"Người là vị thần đứng đầu Svarga.

Vị thần của sự hủy diệt, quan trọng nhất trong tôn giáo của chúng tôi."

"Tôn giáo của Ngài thờ thần hủy diệt ư?"

Lưu Khánh Ba hỏi.

"Dù Người là thần hủy diệt và thường đem lại chết chóc nhưng Người cũng là vị thần kiểm soát bệnh tật.

Chúng tôi cầu khấn tên Người mỗi khi muốn vượt qua bệnh tật và chết chóc."

Một thiếu niên và một đứa trẻ mặc áo giao lĩnh trơn, đi chân đất, đầu đội khăn vấn bước qua các ngôi đền Ấn Độ giáo.

Tôi nhanh chóng nhận ra những ngọn tháp đã từng thấy trong sách Mỹ Thuật về kiến trúc người Chăm.

Nhưng bây giờ tôi đang được nhìn chúng khi đang khởi công xây dựng.

Những đền đài ấy là những tòa tháp được xây bằng gạch đỏ cao chót vót.

Những bức tượng thần có nhiều tay mà tôi đoán được qua mấy bộ phim Ấn Độ như Shiva và... hết rồi.

Được rồi, đoạn tiếp theo sẽ hơi mất thuần phong mỹ tục đấy.

Tôi nhìn thấy một chiếc dương vật to đùng bằng đá dựng sừng sững giữa đường.

Trên đấy còn có ba đường kẻ bằng phấn trắng, đường ở giữa có một chấm tròn màu đỏ.

Cái thứ ấy được đặt trên một cái bồn có đường dẫn nước chảy xuống đất.

Có một người phụ nữ đi đến và tưới nước lên nó.

"Cái... gì thế?"

Lưu Khánh Ba không giấu nổi sự tò mò với dị giáo.

"Chúng ta gọi đó là Linga Yoni."

Không biết là do tôi tưởng tượng hay hoàng tử nước Chiêm đang cười chúng tôi.

"Là biểu tượng của thần Shiva.

Cái cột đó, tượng trưng cho nam, còn cái bệ ở dưới tượng trưng cho nữ."

"Là..."

"Đúng rồi."

Indravarman không để tôi đoán.

"Là bộ phận sinh dục."

"Hoàng tử."

Lưu Khánh Ba hằng giọng.

"Ta hiểu là ngài đang có thiện chí, nhưng vua nước ta còn nhỏ.

Nói những lời ấy..."

"Ta tưởng cậu có vợ rồi?

Những hai cô."

Indravarman tròn mắt nhìn tôi.

"Lẽ nào cậu... chưa..."

"Văn hóa chúng ta khác các Ngài."

Lưu Khánh Ba nhắc.

"Chúng ta theo lễ giáo Khổng Nho, những thứ... những thứ tục tĩu kia..."

"Không sao đâu Khánh Ba."

Tôi mỉm cười.

"Ta chỉ hơi giật mình thôi.

Ta và anh cũng có một cái ở giữa hai chân mà."

"Bệ..."

Tôi nghĩ anh ta đang ước được quay ngược thời gian và về nhà ngủ chứ không phải đi theo tôi.

Khi ba người bước qua, anh còn giả vờ là mình không quan tâm đến thứ đó bằng cách quay mặt đi và nhìn nó bằng khóe mắt.

Chúng tôi đứng trong một căn phòng lớn được đốt đuốc sáng trưng.

Mùi trầm hương thơm thoang thoảng bay vào mũi tôi.

Người đàn ông ngồi trên chiếc ngai lớn dát vàng đang dùng tay bốc thịt nhai ngấu nghiến.

"Indravarman," Ông ta gọi Indravarman bằng tiếng Chăm, nhưng tôi đã học được đôi chút nên có thể nghe hiểu rồi.

"con dẫn ai tới vậy?"

"Một người bạn của con."

Chế Ma Na đưa tay về phía tôi.

Tôi nhìn người đàn ông trước mặt.

Harivarman.

Ông ta có nước da bánh mật dưới ánh nến sáng quắc như ban ngày.

Mái tóc đen của ông loăn xoăn và dài ngang vai, hàm râu quai nón của ông được cắt tỉa gọn gàng và đôi mắt màu hổ phách của ông nhìn tôi chằm chằm.

Tôi vô thức bước về phía ông.

Bàn ăn trước mặt ông nhắc tôi rằng cả ngày hôm nay tôi mới ăn có một tô mì nóng lúc sáng sớm.

"Lý Càn Đức."

Ông nhìn tôi và chuyển sang nói tiếng Việt.

"Ông..."

Tôi trố mắt nhìn ông.

"Đôi mắt của ngươi, giống Nhật Tôn lắm."

"Ông biết phụ hoàng ta?"

"Ta gặp hắn tám năm trước ở Phật Thệ."

Ông nói.

"Cũng phải cảm ơn hắn đã bứng hộ ta tên Chế Củ cùng đám thân binh của hắn."

"Làm sao ông biết mặt ta?"

"Ở xứ Minh Linh có tai mắt của ta kia mà."

Vua Chiêm nói và giật một quả nho.

"Thế ngài định lấy lại xứ ấy sao?"

"Không."

Ông ta đáp và cúi tới nhìn thẳng vào mắt tôi.

"Ta muốn cả cái đất nước Đại Việt của nhà ngươi ấy."

"Nói càn!"

Lưu Khánh Ba quát lên.

"Vừa hay, ta cũng muốn cả cái liên minh của ngài trở thành lãnh thổ của Đại Việt."

Tôi siết chặt bàn tay, cố tỏ ra rằng tôi và ông ta ngang hàng.

Nhưng đôi chân tôi thì run lẩy bẩy còn Harivarman thì chắc đang cười trong lòng.

"Vậy là nhà ngươi đích thân tới tuyên chiến?"

Hắn hỏi.

Khí thế của hắn mạnh hơn Indravarman.

Khí thế của bậc quân vương.

"Không."

Tôi đáp.

"Chuyện nước nào diệt nước nào, hãy để hậu thế quyết định.

Còn bây giờ..."

Tôi lùi lại chắp tay.

"Harivarman.

Hãy chuyển hướng quân của ngài đến Chân Lạp."

Ông vua Chiêm Thành ngồi nhằn xương gà.

"Tại sao ta phải làm thế?"

Hắn nhổ khúc xương ra.

"Thế tại sao ngài lại quyết định đánh nước ta?"

"Vì ta và Chân Lạp có cùng một văn hóa."

Harivarman đáp.

"Tại sao ta lại phải đi liên minh với một nước có nền văn hóa khác mình để đánh nước có cùng văn hóa với mình?"

"Vì đánh Chân Lạp sẽ cho ngài nhiều lợi ích hơn."

Tôi thẳng thắn nói.

"Ngươi nói thử xem."

Harivarman đưa tôi cái đùi gà.

"Như ngài thấy, dù đã trải qua một nghìn năm bắc thuộc, Đại Việt ta vẫn là dân tộc nói tiếng Việt, vẫn cắt tóc đi chân trần, vẫn xăm mình vẫn thờ cúng các vua Hùng.

Sau hàng nghìn năm, huyết quản chúng ta vẫn chảy dòng máu rồng tiên.

Chúng ta là Con Rồng Cháu Tiên, Lạc Long Quân và Âu Cơ vẫn là Quốc Tổ Quốc Mẫu.

Hán – Đường mất cả nghìn năm vẫn không thể đồng hóa dân tộc ta hoàn toàn.

Ngài nghĩ ngài có thể khiến dân tộc ta thờ một cái dương vật ư?"

Tôi có thể nghe tiếng Indravarman bật cười ở phía sau.

"Thế còn Chân Lạp?"

"Với nền văn hóa giống nhau, ngài hoàn toàn có thể dễ dàng biến người Chân Lạp thành người Chăm.

Hơn nữa, nếu ngài lấy tượng vàng từ nước ta, ngài sẽ phải nấu chảy chúng ra để làm tượng mới.

Còn tượng từ Chân Lạp thì không."

"Chỉ thế thôi à?"

Ông ta vẫy cái cánh gà trước mặt tôi.

Tôi bặm môi nhìn ông ta.

"Kém quá."

"Hương Kỳ Nam một miếng vạn lạng vàng!"

Lưu Khánh Ba thét lên.

"Ngươi mới nói gì?"

Harivarman hỏi lại.

"Trầm hương từ Chiêm Thành là cống phẩm đặc biệt dành riêng cho hoàng đế nước Tống.

Giá của một miếng trầm hương ấy không rẻ đâu."

Harivarman nhìn vào hộp trầm hương bên cạnh.

Có vẻ như trong mắt ông đang hình dung đó là vạn lạng vàng.

"Ngài nghĩ xem, nếu ở Đại Tống nó đã có giá vạn lạng vàng, thế nếu đem hương Kỳ Nam ấy bán cho các nước xa như Liêu, Cao Ly và Nhật Bản thì sao?"

"Giá sẽ còn cao hơn ư?"

Ông ta bắt đầu hứng thú.

"Đúng!"

"Nhưng chia buồn với các ngươi, nước ta không có đoàn thuyền nào có thể đi quãng đường xa đến thế.

Thêm nữa, cướp biển..."

"Nhưng chúng tôi thì có!"

Lưu Khánh Ba nhấn mạnh.

"Đại Việt là cường quốc thủy quân.

Chúng tôi có thể chống trả với mọi tên cướp biển.

Nếu ngài liên minh với chúng tôi, Đại Việt có nhiều mối hàng, và chúng tôi có thể giới thiệu các ngài với những mối làm ăn đó.

Có thể còn được giảm các thứ thuế.

Sản vật của các ngài sẽ đi khắp thiên hạ, và cha con ngài chỉ việc bơi trong đống tiền mà thôi."

"Khắp... thiên hạ?"

"Gỗ quý, hương liệu, cây trái, lụa là, gia vị..."

Lưu Khánh Ba thao thao bất tuyệt "Những thứ ấy có thể bán tới những nước phía bắc và cả những đất nước xa xôi phía tây."

"Cả... về phương tây?"

"Thời Hán, Trương Khiên mở ra con đường buôn lụa đến tận Ai Cập.

Từ đó trở thành một con đường giao thương kéo dài hàng nghìn dặm.

Ngài nghĩ thế nào về... một con đường tơ lụa trên biển?

Độc quyền bởi Chiêm Thành và Đại Việt?"

"Con đường tơ lụa... trên biển..."

Harivarman chắc đang hoang mang lắm.

Những lời Lưu Khánh Ba nói ra nghe như kiểu "Bạn Harivarman, bạn có muốn đổi đời không?"

"Hoàng đế La Mã chắc chắn không thể nào từ chối được vải lụa.

Vua nước Liêu chắc chắn cũng không nỡ chối bỏ trầm hương.

Ngài nghĩ mà xem, Chân Lạp có thể trao cho ngài những thứ ấy không?"

Quốc vương và hoàng tử Chiêm Thành bắt đầu suy nghĩ lợi hại.

"Indravarman."

Harivarman gọi con.

"Có con."

"Bảo Paramabhodhisatvavarman chuẩn bị đi."

Cái tên ông ta nói ra khiến tôi hơi hoang mang.

Sao họ có thể đặt được cái tên như thế nhỉ?

"Đó là chú của tôi."

Indravarman nhìn tôi giải thích.

"Nếu Chân Lạp cử thân vương dẫn quân, thì chúng ta cũng sẽ đáp lại chúng bằng một thân vương."

Harivarman tiếp tục ăn.

"Chúng ta sẽ tiến thẳng tới Angkor."

"Này," Tôi hỏi Lưu Khánh Ba khi đang dùng bữa ở một cung điện khác.

"chuyện thuyền buôn tới khắp thiên hạ..."

"Thần nói láo đấy."

Đôi mắt anh ta đang ngắm nghía cái đùi gà tự nhiên lại giống Lưu Khánh Đàm đến lạ.

Một ánh mắt gian manh.

"Ông ta không biết chứ?"

"Chắc chắn là ông ta biết thần nói láo rồi.

Thuyền Đại Việt ta chuyên đi đường sông, không mạnh về đường biển.

Còn Chiêm Thành, thuyền buôn của họ có những chiếc đã tới được Lưu Cầu.

Tuy nhiên, họ thường xuyên bị hải tặc cướp phá nên chưa thể thống trị giao thương hàng hải.

Thần đoán, Harivarman muốn lợi dụng thủy thủ và thủy quân của ta để giúp hắn đánh phá cướp biển."

"Nhưng anh chỉ nói dối một nửa thôi đúng không?"

Tôi hỏi.

"Chuyện nước ta có những mỗi hàng với La Mã là thật mà."

"Vâng ạ."

Anh ta đáp.

"Nhưng con đường tơ lụa trên biển... cái đấy thần có nói hơi quá.

Nhưng khi ngoại giao, chúng ta cần khôn khéo mà."

"Chà... loại đầu to mắt cận như anh em các anh chả biết đánh đấm gì nhưng vẫn đáng sợ thật đấy."

Tôi gật gù.

"Bệ hạ quá khen rồi."

Lưu Khánh Ba dùng tay xé gà cho vào miệng.

"Anh không dùng đũa à?"

Tôi hỏi.

"Nhập gia tùy tục, thưa bệ hạ."
 
Ấu Hoàng
Tuân và kháng.


Từ biệt cha con vua Chăm, tôi quay về Thăng Long.

Mẫu hậu tôi đã cùng chị gái và em trai tôi giải quyết vấn đề phân phát lương thực cho nạn dân.

Hai hoàng hậu cũng xuất hiện trấn an người dân.

Gián điệp quân Tống trà trộn vào cũng bị gô cổ toàn bộ.

Hai lão Bao Công của tôi cũng vất vả lắm, vì chúng luyện tiếng Việt thành thạo như người bản xứ.

Biết gì không?

Người tìm ra cách để phát hiện quân Tống trà trộn vào Thăng Long chính là An Dân đấy.

Phương pháp của thằng bé làm rất đơn giản: rải đá ra khắp đường.

Người Việt có tập tục đi chân đất từ lâu.

Da chân trở nên chai và dày, trèo cây rất giỏi.

Nhờ phương pháp của An Dân mà chúng tôi dễ dàng phân loại được đám người Tống đã quen với việc mang giày dép.

Đi qua một đoạn đường nhiều đá nhọn, tên nào chảy máu hoặc than đau thì đó không phải người Việt.

Mặc dù việc tìm vài tên gián điệp trong cả thành Thăng Long khổng lồ chẳng khác gì mò kim đáy biển.

Nhưng các bạn biết đấy, thành Thăng Long đông dân, tức là camera chạy bằng cơm có ở khắp mọi nơi.

Soi chân ư?

Đơn giản.

Còn với Việt gian bán nước hả?

Những kẻ ấy còn dễ bị bắt hơn.

Ngụy Trọng Hòa và Đặng Thể Tư chỉ cần hỏi dăm ba câu là lòi đuôi chuột ngay.

Dễ hiểu thôi, đám Việt gian đó làm sao bằng được lính Tống đã được đào tạo bài bản cho những nhiệm vụ thâm nhập này.

Chỉ mấy ngày sau khi tôi rời đi, quân Tống đã kéo đến cách Thăng Long chỉ còn có mấy dặm, dân chúng rối loạn, binh sĩ mất sạch ý chí.

Chị Tường đã đứng trên tường thành đưa cao thanh kiếm và đọc một bài diễn văn kéo sĩ khí quân dân lên đến đỉnh điểm, Thái phó đã mặc lại áo giáp và lên xe ngựa xuất chinh.

Quân Tống kinh hãi trước sĩ khí cao ngút trời của quân Việt, lại bị tạt sườn bởi đạo quân đang đóng gần đó, dẫn đầu bởi Lê Văn Thịnh.

"Bệ hạ định ra tiền tuyến ư?"

Chị Tường trố mắt nhìn tôi.

"Em không tham gia đánh trận đâu."

Tôi đáp.

"Em chỉ xem xét ở hạ nguồn sông thôi.

Sẽ không tới tận doanh trại đâu mà."

"Nhưng mà..."

"Nhờ chị nói lại với mẹ em là đừng lo cho em nhé."

"Chuyện này..."

"Cảm ơn chị gái!"

Tôi chạy vút tới bên cạnh thầy Lê trước khi chị tôi kịp nói thêm gì.

Đúng ra bây giờ thầy ấy phải ở ngoài doanh trại, nhưng Lưu Khánh Ba đã đổ bệnh rồi, thầy tôi là người có kinh nghiệm nhất trong việc tháp tùng tôi...

đi đây đi đó.

Thế cho nên thầy trò tôi lại tiếp tục đồng hành cùng nhau.

"Thầy, chúng ta đi thôi."

Tôi nhìn vào đôi mắt tràn ngập ý chí chiến đấu của thầy giáo trẻ.

"Tới bến Như Nguyệt."

-

Người ta nói, sông Hồng được gọi là sông Hồng vì làn nước có màu hơi đỏ.

Nhưng trong tình huống này, sông Như Nguyệt phù hợp với cái tên đó hơn.

Dòng sông nhuốm màu máu.

Xác chết trôi theo dòng sông về phía tôi giống như những bộ phim cổ trang về chiến tranh mà tôi từng xem.

Nhưng khủng khiếp hơn tỷ lần.

Khi xem phim, các bạn dùng mắt để nhìn.

Còn tôi nhìn thấy những thân xác chỉ còn lại một nửa.

Những cái đầu không có thân đang trôi, nội tạng nổi lềnh bềnh trên mặt sông Có một cánh tay mắc cạn ngay dưới chân tôi.

Bên cạnh cảnh tượng hãi hùng ấy, tiếng gào thét, tiếng vũ khí va chạm, tiếng chửi thề và cả tiếng khóc lóc của binh sĩ hai bên đang tra tấn tai trái tôi.

Còn tai phải tôi nghe tiếng lũ kền kền và lũ quạ tranh nhau chỗ thịt người.

Tiếng kêu của chúng, tiếng xé thịt, tiếng chúng vỗ cánh để đuổi những con khác tránh khỏi con mồi của mình.

Chúng khiến đầu tôi đau như búa bổ.

Mùi máu tanh và hôi thối của những cái xác và cảm giác căng thẳng tột độ khiến cơ thể tôi đổ mồ hôi như tắm, da gà da vịt nổi lên... tất cả như hòa làm một.

Một cảm giác rùng mình đến buồn nôn xuất hiện trong tôi.

Lê Văn Thịnh ở sau lưng tôi thầm tụng kinh.

Tôi quỳ xuống, cầu cho linh hồn các tướng sĩ hy sinh được an nghỉ nơi chín suối.

"Cuộc chiến này là không thể tránh khỏi."

Tôi nghĩ khi đi dọc bờ sông.

"Những điều mình có thể làm được nhiều nhất chính là giảm thiểu thương vong cho cả hai phe.

Để làm được điều đó, cần phải rút ngắn thời gian chiến sự và nhanh chóng khiến quân Tống đầu hàng."

Tôi biết kết thúc cuộc chiến là quân Tống sẽ rút lui, nhưng bộ tham mưu đã tính toán rằng cuộc chiến này có thể kéo dài.

Người Việt không muốn mất nước, quân Tống cũng không muốn trở về mà không được gì.

Quân Tống lúc đầu tiến quân như vũ bão nhưng đối mặt với chiến lũy hùng vĩ của Lý Thường Kiệt và sự anh dũng thiện chiến quân sĩ Đại Việt, Quách Quỳ đã phải dừng lại và chờ thủy quân tới.

Quá nhọ cho một viên tướng tài, thủy quân của nhà Tống đã tịt ngòi ở cửa sông Bạch Đằng.

Trong thư, Lý Kế Nguyên đã viết sẽ không để một tên lính Tống nào đặt chân lên đất Việt.

Nếu có thì hắn sẽ trở thành cái xác sớm thôi.

Không biết Lý Kế Nguyên có cắm cọc không nhỉ?

"Bệ hạ?"

Thầy Lê gọi tôi.

"Nếu đi nữa, ta sẽ tới Vạn Xuân, sẽ gặp doanh trại của Chiêu Văn Hầu và Hoằng Chân Hầu."

Tôi nhìn về phía trước.

Những túp lều bắt đầu hiện ra.

Cờ quạt bay phất phới trong gió.

Tôi dừng bước.

Tôi không biết phải tiến lên hay quay về.

Nếu tới đó, những người lính sẽ đặt an nguy của tôi lên hàng đầu và có thể sẽ ảnh hướng rất lớn đến công việc.

Nhưng tôi không nỡ quay lại.

"Thầy," Tôi gọi.

"gần đây có đền miếu gì không?

Ta muốn đi cầu nguyện."

-

Ngôi đền bé nhỏ nằm bên bờ sông chăng đầy mạng nhện.

Lư hương vẫn còn đó nhưng chẳng có lấy một nén hương, đến cả tấm bài vị cũng mờ đến mức không còn thấy rõ chữ nữa.

"Đền miếu thế này, chẳng biết có thiêng không nữa?"

Thầy tôi làu bàu.

Thiêng hay không cũng mặc.

Tôi cốt chỉ muốn giảm nhẹ gánh nặng đang đè lên vai mình.

Đôi ba lời cầu nguyện nghe thì mê tín nhưng còn hơn là không làm gì.

"Đã là thần thì không phân biệt thần lớn thần nhỏ."

Tôi nói.

"Miễn là có thể giúp được quân sĩ đánh thắng trận, có là ma thần ta cũng khấn."

"Bệ hạ, như thế..."

Thầy tôi định nói gì đó nhưng rồi lại ngừng lại.

"Để thần giúp bệ hạ dọn dẹp."

Sau khi dọn sạch đống mạng nhện và lau dọn bụi bẩn, tôi đốt ba nén hương và quỳ trước tấm bài vị.

"Quân sĩ đang chiến đấu ngoài kia để bảo vệ nước nhà.

Con thân là Hoàng đế lại không thể thân chinh đánh dẹp, cũng không thể đốc thúc người ngựa, thật là mất mặt với tổ tiên.

Nay, con khẩn xin thần linh giúp con đánh lui giặc giã, cho đất nước thái bình, người dân được ấm no, cho nước nhà ta phồn thịnh đến thiên thu.

Nếu các thần nguyện ý giúp con, xin hãy gửi cho con một dấu hiệu."

Sau khi khấn cầu thắng trận và thắp hương, tôi khẽ thở dài.

Nếu như có thể gửi chút gì đó để giúp binh sĩ ngoài tiền tuyến thì tốt biết mấy.

Nhưng tôi chỉ có thể làm thế này thôi.

Một chút cầu nguyện cũng đủ để khiến tâm hồn nhẹ đi được một chút gánh nặng trong lòng.

Tôi nhìn tấm bài vị đã được lau sạch.

Chữ vẫn mờ nhạt theo những năm tháng đã qua.

Sau khi thắng trận nhất định tôi sẽ cho tu sửa ngôi đền này.

"Thần nghe nói, đền này thờ hai vị tướng quân."

Lê Văn Thịnh nói.

"Thờ tướng quân à?"

Tôi hỏi.

"Dân gian gọi nơi này là đền Trương Tướng quân, còn gọi là đền Thánh Tam Giang."

Thầy kể.

"Tương truyền, khi Triệu Việt Vương chống giặc Lương ở đầm Dạ Trạch, có hai anh em Trương Hống và Trương Hát theo phò tá diệt giặc.

Sau này, Hậu Lý Nam Đế sát hại Triệu Việt Vương cướp ngôi thì hai ông giữ đã giữ tấm lòng trung quân nhảy xuống sông tự vẫn.

Đền này được dựng để tưởng nhớ hai người."

"Thầy vừa nói gì?"

Tôi hỏi lại.

"Đền này được dựng lên để thờ hai vị tướng Trương Hống và Trương Hát của Triệu Việt Vương Triệu Quang Phục ạ."

Tôi nhìn lại tấm bài vị.

Những chữ Hán tự đã mờ kia như sáng rực lên đến mức tôi có thể nhìn thấy:







"Trương tướng quân..."

Tôi nhớ lại hơn mười năm trước, khi tôi còn học cấp hai.

Lời Lê Văn Thịnh vừa nói nghe giống hệt những lời cô hướng dẫn viên du lịch nói.

Hơn một trăm đứa trẻ ngồi trước đền và nhìn cánh cửa đỏ rực, tường trắng và mái ngói đỏ hồng.

Mỗi lớp cử một thành viên tới thắp hương.

Còn tôi thì ngủ gật.

"Thầy!"

Tôi gọi lớn, miệng cười toe toét như vừa tìm được đường cứu nước.

"Bệ hạ có gì căn dặn?"

"Thầy có đem theo giấy bút không?"

Lê Văn Thịnh nhanh chóng lấy giấy bút nghiên mực ra và bắt đầu mài mực.

Tôi quỳ xuống chắp tay trước tấm bài vị.

"Cảm ơn Người..."

Nước mắt tôi bắt đầu lăn dài trên má.

"Cảm ơn Người...

đã bảo vệ cho Đất Mẹ của chúng con..."

Tôi bắt đầu đặt bút.

Từng nét chữ cứ thế tuôn ra qua đôi bàn tay nhỏ bé.

Da gà da vịt tôi nổi lên.

Một làn gió lạnh toát phà dọc sống lưng tôi, nhưng sau đó là cảm giác ấm áp như đang ngồi dưới ánh mặt trời mùa xuân.

Từng ký tự như đang phát sáng dưới ánh nến mờ nhạt.

Tay tôi run lên.

Ai mà ngờ được, mình lại đang chấp bút cho bài thơ thần này.

Chẳng lẽ đây chính là lý do tôi được đưa về đây sao?

"Nam quốc sơn hà Nam đế cư,

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,

Nhữ đẳng hành khan... thủ bại hư."

Lê Văn Thịnh đọc bài thơ lên, cảm giác như anh ta cũng không kiềm được nước mắt, giọng anh lạc đi thấy rõ.

"Bệ hạ, đây là..."

Tôi nổi da gà.

Không phải vì lạnh, thực ra một phần thực sự là vì lạnh.

Nhưng hơn thế nữa, tôi đang phấn khích.

Trước sức mạnh của cái gọi là tín ngưỡng.

Một người bao nhiêu năm qua chưa từng tin vào thần phật, chưa một lần nghiêm túc đi chùa, chưa một lần quan tâm đến tín ngưỡng hay tôn giáo, bây giờ lại được thần linh soi đường dẫn lối.

Đúng thế.

Dù mồ mả tổ tiên đã bị cỏ phủ xanh, nhưng họ dõi theo chúng tôi.

Các vua Hùng đã dựng nước, và bây giờ, họ đang dõi theo chúng tôi, quan sát chúng tôi giữ nước.

Vong linh của các vị anh hùng, linh hồn của liệt tổ liệt tông...

Họ vẫn luôn ở đây, dang tay che chở cho Đất Mẹ của triệu người con đất Việt.

"Thầy!"

Tôi hét lớn và cười toác mang tai.

"Bệ hạ có gì căn dặn?"

"Giúp trẫm nhé."

-

"Nam quốc sơn hà Nam đế cư,

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư."

"Nam quốc sơn hà Nam đế cư,

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư."

Giọng thơ văng vẳng trong núi rừng.

Quân sĩ Đại Việt nghe được thì lầm bầm đọc.

Người nào biết chữ thì viết lại.

Sau đó thì họ cùng nhau đọc lớn bài thơ thần.

"NAM QUỐC SƠN HÀ NAM ĐẾ CƯ,

TIỆT NHIÊN ĐỊNH PHẬN TẠI THIÊN THƯ.

NHƯ HÀ NGHỊCH LỖ LAI XÂM PHẠM,

NHỮ ĐẲNG HÀNH KHAN THỦ BẠI HƯ."

"ÔÔÔÔÔÔ!!!"

Sĩ khí quân Việt tăng lên đến cực đại.

Còn phía quân Tống thì đang tụt dốc không phanh.

Quá rõ ràng, Quách Quỳ xem như đã sa lầy ở Đại Việt.

Tiến không được mà rút cũng chẳng xong.

"Ông trời ơi."

Lê Văn Thịnh thở dốc do đã phải gào mồm đọc bài thơ hàng chục lần.

Nhờ có hiệu ứng tiếng vang của núi sông rừng rậm mà âm thanh vang đi rất xa, lại còn có vẻ thần bí.

"Bài thơ này, thực sự có thể giúp tăng sĩ khí quân ta và hạ sĩ khí quân Tống.

Bệ hạ thật là thánh minh."

"Thầy nói quá rồi."

Tôi gãi mũi.

"Nhưng chỉ bằng bài thơ này thì không thắng được đâu."

"Bệ hạ..."

"Chúng ta... phải đến Vạn Xuân một chuyến."

-

Lê Văn Thịnh dẫn tôi vào lều chỉ huy của Thái Nguyên và Hải Dương.

Bước vào trong, các tướng đều sững sờ khi nhìn thấy tôi.

"Không cần hành lễ."

Tôi bắc lấy chiếc ghế và đứng lên nhìn chiếc sa bàn.

"Tình hình thế nào?"

"Hồi bệ hạ, tối nay chúng ta sẽ đánh thẳng vào trại của Quách Quỳ.

Thái úy cũng sẽ đánh vào trại của Triệu Tiết.

Sĩ khí quân ta đang hăng, quân Tống lại mệt mỏi.

Ta nhất định sẽ một trận phân định thành bại.

Đuổi hết giặc cỏ ra khỏi quê cha đất tổ, giang sơn sẽ sạch bóng quân thù!"

"Tốt!"

Tôi vỗ mạnh bàn.

"Trẫm tin tưởng ở các khanh!"

"Bệ hạ vạn tuế!"

"Nếu cần bất cứ một thứ gì, trẫm sẽ hỗ trợ các ngươi ngay.

Chỉ cần đuổi được giặc, tất cả các khanh sẽ thăng quan tiến chức!"

-

"Trẫm nghe nói, vợ em vừa mới sinh đứa thứ nhất phải không?"

Tôi hỏi Chiêu Văn Hầu khi trong lều chỉ có hai người.

"Vâng."

Thái Nguyên đáp.

"Là con trai."

"Thế, nếu ta truyền chỉ cấm đệ dẫn quân tham chiến, đệ có chịu không?"

Đánh trận vô cùng nguy hiểm.

Đây lại là xông thẳng vào bản doanh của đại tướng Quách Quỳ.

Ai mà biết được trong bản doanh ấy có bao nhiêu tên giống như Trương Thủ Tiết.

Thực sự là đã một năm rồi nhưng tôi vẫn thường gặp ác mộng với lão ta.

Và nếu Thái Nguyên có mệnh hệ gì, sao tôi dám nhìn mặt đứa con mới sinh của anh và nói rằng "Cha con chết là vì ta.".

"Thần to gan kháng chỉ."

Chiêu Văn Hầu đáp ngay tức khắc.

"Nhưng, con trai của đệ..."

"Nếu nó biết cha nó tham sống sợ chết mà ở ru rú trong doanh trại, thằng bé sẽ hận thần mà thần cũng không vui vẻ gì mà sống tiếp được."

"Đúng thế bệ hạ."

Hoằng Chân Hầu bước vào.

"Hải Dương?"

Chúng tôi nhìn cậu.

"Thần nhất quyết không để Chiêu Văn Hầu lĩnh trọn vinh quang."

Hải Dương chắp tay đáp.

"Đây là đánh trận đấy."

Tôi nhấn mạnh.

"Đừng trẻ con nữa."

"Thần là tông thất, lại là nguyên soái, phải đi đầu làm gương cho quân sĩ."

"Chuyện sống chết đấy!"

"Chết nơi sa trường là vinh dự của võ tướng."

Hải Dương đáp.

"Bệ hạ, lời người nói năm trước, thần vẫn luôn nhớ trong lòng."

Hai người họ quỳ xuống chắp tay về phía tôi.

"Cúc cung tận tụy, đến chết không thôi."

Hay thật, lời tôi nói ra cả năm trước giờ lại hại tôi.

"Bệ hạ không muốn con trai thần mất cha, thần cũng không muốn những đứa trẻ khác mất cha mất mẹ dưới lưỡi đao của giặc ngoại xâm."

Thái Nguyên nói.

"Nên thần mới đứng ở đây.

Thần đến nơi này là để bảo vệ đất nước, để bảo vệ nhân dân Đại Việt."

"Xin bệ hạ, để chúng thần được chiến đấu!"

"Thôi được rồi!"

Tôi ngồi phịch xuống.

"Dám bật cả vua cơ đấy.

Trẫm lệnh cho các em, sống sót trở về!"

"Chúng thần tuân chỉ!"

Và hai người họ kháng chỉ.
 
Ấu Hoàng
Đàm phán.


Bình minh ló ra sau núi xác chết.

Binh sĩ Đại Việt thương vong đến hàng nghìn người.

Tôi bước tới bờ sông.

Giữa lòng sông là một người đàn ông đang đứng tựa vào lá cờ Đại Việt.

Lá hoàng kỳ tung bay phất phới trong gió sớm.

Chiêu Văn Hầu chết đứng dưới lá hoàng kỳ.

Binh lính khóc hết nước mắt.

Không ai dám di dời thân xác của ông.

"Cò."

Tôi khóc nức lên.

"Hòa Chơ Hầu?"

"Vẫn chưa vớt được xác ạ."

Tên lính báo cáo.

"Hồ đồ!"

Tôi ném chiếc mũ về phía hắn.

"Em trẫm chưa chết!

Trẫm cấm ngươi nói gở!"

"Thần biết tội!"

Hắn quỳ xuống.

"Thần sẽ tự phạt trượng."

"Bệ hạ," Thầy Lê rót nước cho tôi.

"xin người chú ý giữ gìn long thể."

"Là trẫm hại họ."

Tôi làu bàu.

"Nếu trẫm cố can họ thì họ đã không..."

"Bệ hạ, xin người đừng nói những lời ấy."

Lê Văn Thịnh nhắc.

"Những lời ấy là lời sỉ nhục dành cho võ tướng.

Họ đã làm tốt nghĩa vụ làm thần làm tướng.

Nếu bệ hạ thực sự yêu mến họ, hãy dành cho họ những lời tự hào."

"Một vị vua không được phép để lộ ra cảm xúc cá nhân."

Lời mẹ tôi vang lên bên tai.

Nhìn xem, tôi đang khóc bù lu bù loa ở đây.

"Xem ra, trẫm chẳng phù hợp để làm vua."

"Bệ hạ, sĩ tướng bỏ mạng để bảo vệ Người, bệ hạ nói lời ấy thì khác nào đang đạp đổ công lao của họ?"

"Thế thầy bảo ta phải làm sao?"

"Mạnh mẽ hơn."

"Hả?"

Đôi mắt ướt sũng của tôi nhìn vào nụ cười buồn thảm của Lê Văn Thịnh.

"Trở nên thật mạnh mẽ, trở thành một đấng quân vương vĩ đại, bảo vệ sự ấm no của vạn dân bá tánh."

Thầy tôi đưa tôi chiếc khăn.

"Có như thế, những người đã hy sinh, Hoằng Chân Hầu, Chiêu Văn Hầu, Thân phò mã, và cả Thánh Tông Hoàng đế dưới suối vàng mới có thể mỉm cười được."

"Trẫm hiểu rồi."

Tôi đứng dậy lau nước mắt.

"Lê Thị lang, báo cáo tình hình chiến sự chỗ Thái úy cho ta."

"Hồi bệ hạ."

Lê Văn Thịnh đứng dậy.

"Nhờ sự anh dũng thiện chiến của hai vị quân hầu, Triệu Tiết đã phải điều ba vạn quân của mình sang hỗ trợ cho Quách Quỳ.

Doanh trại của y gần như trống không, Thái úy đã diệt trừ gần hết quân của Triệu Tiết rồi ạ."

"Tốt!"

Tôi gật đầu một cái.

"Thị lang Lê Văn Thịnh tiếp chỉ."

"Thần xin tiếp chỉ!"

"Cùng ta đi dọn thây nào."

Cả ngày hôm đó được dành ra để thu dọn xác người chết chất lại thành đống và đào hố chôn tập thể.

Các binh lính đem thi thể đồng đội mình hạ xuống huyệt trong khi nước mắt nước mũi giàn dụa trên khuôn mặt.

Tôi đã yêu cầu họ đeo khẩu trang (thực ra chỉ là cái khăn che mũi và miệng) để tránh mùi xác chết khiến cơ thể và tinh thần họ sụp đổ.

Đến tối, toàn thể doanh trại đội khăn tang đứng hai bên đường nhìn chiếc quan tài của Thái Nguyên từ từ được đem về nhà.

"Ngài ấy luôn là người tốt với chúng ta nhất."

Một người khóc.

"Ngài ấy còn từng đến thăm con trai tôi khi vợ tôi sinh..."

"Hoằng Chân Hầu trẻ tuổi dũng mãnh, dù có hơi ngạo mạn nhưng ngài ấy rất tốt..."

"Tội nghiệp đứa trẻ nhỏ."

"Mong các vị quân hầu yên nghỉ."

"Phấn chấn lên!"

Lê Văn Thịnh gầm lên như hổ.

Tiếng khóc của binh sĩ bị đứt đoạn.

"Hai vị quân hầu đã chiến đấu và hi sinh anh dũng!

Hôm nay hãy cùng tiễn đưa hai vị tướng quân với niềm kiêu hãnh của các ngươi!

Họ, và tất cả những người đã ngã xuống đều đang bảo vệ cho Đại Việt, cho hàng nghìn năm văn hiến chi bang!"

"Cung ngênh hai vị tướng quân toàn thắng trở về!"

Lý Thường Kiệt chắp tay hét lớn.

"CUNG NGHÊNH HAI VỊ TƯỚNG QUÂN TOÀN THẮNG TRỞ VỀ!"

Binh sĩ gầm lên như sấm.

Tiếng hô vang của họ cứ thế vang vọng cho đến khi đội đưa tang đi khuất.

Tôi còn nghe được văng vẳng tiếng hô vang tương tự ở bên kia sông.

Có vẻ như thuộc tướng thân cận nào đó của Quách Quỳ cũng đã tử trận.

Tôi quay trở về Thăng Long.

Vì đang rất bận nên mẹ tôi chỉ quở trách vài câu rồi tiếp tục xử lý sổ sách.

Bà giao cho tôi một nhiệm vụ: đến Quốc Tử Giám.

Cả nước đang vào trạng thái binh bị, dồn quốc lực tài lực và cả nhân lực cho cuộc kháng chiến.

Nhưng việc giáo dục là việc không được phép xem nhẹ.

Mẹ tôi nói thế đấy.

Ưu tiên đầu tiên là chiến trường Như Nguyệt và Bạch Đằng, ưu tiên thứ hai chính là hoàn thành Quốc Tử Giám để giáo dục con em.

Quốc Tử Giám được xây dựng trong khuôn viên Văn Miếu, nghìn năm sau, nơi này sẽ được gọi với cái tên quần thể di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám.

Còn bây giờ thì tôi đang được thấy những người công nhân đang thi công.

Phải nói rằng khi biết được mình là người đã xây dựng nên Quốc Tử Giám tồn tại một nghìn năm, tôi cũng hãi lắm.

"Bệ hạ vạn tuế."

Một người đàn ông bước tới vái tôi.

Ông ấy là Đoàn Văn Khâm, người lớn tuổi nhất trong mười người đỗ kỳ thi Minh kinh Bác học Thái Ninh năm thứ tư.

Ông có dáng người to lớn và cứng rắn trong bộ thường phục màu xanh lục.

Râu tóc ông có màu muối tiêu, đôi mắt nâu của ông buồn bã nhìn tôi.

"Đoàn Ngoại lang có chuyện gì sao?"

Tôi hỏi.

"Lão thần chỉ thấy mình vô dụng."

Ông phân trần.

"Lê Thị lang và Lý Nguyên soái đều đang chiến đấu nơi trận mạc.

Lão thần lại chỉ có thể ở đây..."

"Đoàn Thị lang đang nói gì thế?"

Tôi lên giọng quở trách ông.

"Ngài đỗ thứ nhì kỳ thi do ta tổ chức.

Ngài được Thái hậu và bá quan chọn và giao phó nhiều trọng trách, từ phòng tuyến Như Nguyệt, sửa sang cổng thành, đến cả công trình quan trọng như Quốc Tử Giám ta cũng giao cho ngài.

Ngài nói như thế, khác nào bảo rằng chúng ta tín nhiệm sai người, khác nào bảo trẫm là hôn quân?"

"Bệ hạ..."

"Thị lang đừng tự trách mình."

Tôi nắm lấy tay ông.

Bàn tay sần sùi chai sạn của ông to gấp ba lần tay tôi.

"Quốc Tử Giám là công trình quan trọng đến cỡ nào, ngài lại không hiểu sao?"

Đột nhiên tôi nhớ lại lần đi Minh Linh.

Lưu Khánh Đàm cũng đã nói với Ninh Chí An về tầm quan trọng của các công trình kiến trúc.

Đúng như chàng trai trẻ ấy nói, khi tất cả chúng tôi đều chẳng còn thì các công trình kiến trúc vẫn sẽ ở đó.

Thành Thăng Long, Văn Miếu, chùa Diên Hựu, một nghìn năm nữa vẫn sẽ sừng sững ở đó.

Như những chứng tích lịch sử cho một nghìn năm xây dựng đất nước và bảo vệ tổ quốc của biết bao thế hệ.

Đó không đơn thuần là những công trình kiến trúc.

Đó là bằng chứng cho sự tồn tại của những danh nhân lịch sử.

Đó là bằng chứng cho sự tồn tại của một nền văn hiến.

Đó là bằng chứng cho sự tồn tại của chúng ta trên mảnh đất linh thiêng này.

"Hoàng huynh!"

Từ phía xa xa, An Dân đang chạy tới với bông lau trong tay.

"An Dân."

Tôi mỉm cười nhìn đứa em trai.

"Minh Nhân Vương."

Đoàn Văn Khâm vái thằng bé.

"Đoàn Thị lang vất vả rồi."

Thằng bé mỉm cười dang tay ôm lấy thân hình to lớn của ông trong sự ngỡ ngàng của chúng tôi.

"Hoàng huynh nhanh lên."

An Dân túm lấy tay tôi và kéo đi.

"Chuyện gì thế?"

"Nhanh lên, nếu không thì em "chết" mất."

"Quốc Tử Giám là nơi để cho con em chúng ta học tập và trở thành người có thể hộ quốc tì dân."

Tôi vừa bước theo An Dân vừa quay lại nói với Đoàn Văn Khâm.

"Khi ngài bắt đầu đào móng, là ngài đang đặt những viên gạch đầu tiên cho nền giáo dục nước nhà.

Hãy tự hào về điều đó!

Sau này tên tuổi ngài cũng sẽ vĩ đại không kém gì những tướng lĩnh chiến đấu nơi sa trường đâu."

Không rõ ông ấy có nghe thấy tôi nói hay không, nhưng khi tôi nói câu cuối thì ông đã khuất dạng sau những tán cây.

"Hoàng huynh cứu em!"

An Dân kéo tôi ra giữa bãi sân.

"Quân của anh Hùng đã đến sát cổng thành phía đông, lương thảo quân ta đã bị cháy, giờ em chỉ còn khoảng tám nghìn quân, phía tây thì có quân của anh em họ Trương đang làm ngư ông đắc lợi."

Vị vương gia nhỏ bé quay sang nhìn tôi với ánh mắt van nài.

"Hoàng huynh, em sắp "mất nước" rồi."

Tôi bật cười.

Sau đó tiếng cười của tôi lớn dần lên.

Em trai tôi nhỏ tuổi nhưng thực sự là rất thông minh.

Tuy nhiên, thằng bé còn rất non nớt.

Anh em nhà họ Trương đều đã mười hai mười ba tuổi, lại là con nhà võ.

Cậu bé tên Hùng kia là cháu của tướng quân Trần Nẫm, đã được tiếp xúc binh thư và cả vũ khí từ lâu.

Dù bằng tuổi tôi nhưng cậu ta cao hơn tôi hẳn một cái đầu.

Tôi nhìn lại An Dân.

Thằng bé nhỏ nhất ở đây.

"Đúng là em trai của ta!"

Tôi vỗ lên vai thằng bé và siết mạnh.

"Đau em."

Tôi nhìn "thành trì" của An Dân.

Các "thành trì" đều được xây dựng từ những viên đá và que gỗ.

Mỗi đứa trẻ tương đương với hai nghìn lính.

Ở phía xa xa, Thái phó vừa xem sổ sách vừa quan sát lũ trẻ vẫn đang đứng quan sát.

Tôi quay sang nhìn anh em họ Trương.

Họ cúi đầu vái tôi.

Tôi quay sang nhìn Hùng, cậu ta cũng vái một một cái ngắn ngủn.

"Nếu các cậu nương tay với ta, ta sẽ quy cho các cậu là nịnh thần đấy."

Tôi nói lớn.

"Bệ hạ vạn tuế!"

Lũ trẻ nói lớn.

"Thế thì," Tôi nhặt một cây củi lên và bẻ đôi.

Một nửa giữ lại, nửa kia đưa cho An Dân.

"em trai, hãy cùng ta cứu lấy quốc gia nào!"

"Thần đệ xin vâng mệnh!"

"Cương thổ tổ tiên để lại, không được để mất một tấc đất nào!"

Tôi hét lớn.

"Thiên hạ chúng ta có hôm nay, do tổ tiên đánh mà có được."

Que củi trong tay tôi đưa cao.

"Hỡi các anh em, hãy cùng ta," Tôi chĩa mũi que về phía Hùng.

"cứu quốc!"

"Phụng chỉ giết giặc!"

An Dân chạy về phía Hùng.

"Khai chiến!"

"ÔÔÔ."

"Tám nghìn quân" của An Dân cũng chạy theo.

Chà, mặc dù phát biểu thì rất oai, nhưng anh em tôi bị hai mặt giáp công và bị bắt làm tù binh.

-

Trong những ngày tiếp theo, chúng tôi chủ yếu tập đánh trận bên cạnh những giờ luyện chữ nghĩa.

Xem ra nhiều người cũng đã nghi ngờ rằng cuộc chiến này có thể kéo dài và một ngày nào đó họ sẽ phải ra trận.

Lưu Khánh Đàm hớt hải bước vào Văn Miếu trong khi đám trẻ chúng tôi đang tập trận.

"Lưu Thị lang có chuyện gì sao?"

Tôi và anh ta tiến ra một góc, tránh xa lũ trẻ đang tiếp tục mô phỏng lại các kế sách trong các quyển binh thư.

"Chiến trường biến thành cái chợ rồi ạ."

Lưu Khánh Đàm đáp.

Theo lời anh chàng Thị lang trẻ tuổi, từ sau trận đánh đêm hôm đó, nhiều ngày liền gần như không có đánh nhau.

Chỉ có vài trận nhỏ, thương vong không đáng kể.

Thậm chí quân Việt còn chế vè hát trêu quân Tống.

Từ những trận đánh đẫm máu nhuộm đỏ dòng sông, hai bên chuyển sang đấu khẩu.

Chúng tôi trêu chúng là lũ đàn bà, thì chúng gọi lại chúng tôi là đám khỉ núi.

Nói ra nghe hơi buồn cho quân Tống, nhưng số lượng dân phu bỏ chạy và đào binh phe chúng cũng đông ra phết đấy.

"Đừng lo Đàm, mọi chuyện sẽ ổn thôi."

Tôi cúi đầu cố nín cười.

"Ổn là ổn thế nào ạ?"

Lưu Khánh Đàm bực mình nói.

"Mới hôm qua còn có mấy tên lính muốn sang tả ngạn sông để chơi đá bóng với lính Tống đấy."

"Anh nói gì cơ?"

Tôi phì cười.

"Vâng, chúng muốn đi chơi đá bóng với kẻ thù.

Thần không đùa đâu."

Chà, ước gì chiến tranh giữa hai nước được quyết định bằng một trận đá bóng nhỉ.

Vừa lành mạnh vừa không phải có người chết.

"Thế anh giải quyết thế nào?"

"Mỗi tên mười trượng."

Lưu Khánh Đàm thở dài.

Vẻ điềm tĩnh gian xảo thường ngày biến thành vẻ bất mãn cau có nhưng trông dễ thương lắm.

"Còn chỗ Thái úy thì sao?"

Tôi hỏi.

"Cũng... thế ạ..."

"Cõ lẽ... cũng đến lúc viết thư cầu hòa rồi."

"Cầu hòa!?"

Anh ta thốt lên.

"Ừ.

Bảo Thái úy viết thư cầu hòa đi."

Tôi nói.

"Nhưng, tại sao chúng ta không đuổi cùng gi..."

Lưu Khánh Đàm dừng lại suy nghĩ.

Xem ra anh ta cũng đã nhận ra mấu chốt của vấn đề rồi.

Quách Quỳ chính thức đã sa lầy ở Đại Việt.

Thủy quân thì về cơ bản là không thể tiến vào lãnh thổ Đại Việt.

Quách Quỳ giờ chỉ có chọn bị chém đầu ở Biện Kinh hay Thăng Long thôi.

Hơn nữa, chúng tôi cũng cần thời gian để hồi phục lại nền kinh tế bị tàn phá do chiến tranh.

Với kiến thức từ tương lai, tôi mới biết rằng chuyện này là phải xảy ra.

Còn với người đương thời như thì chắc anh ta đang nghĩ mấy cái kiểu như "Người giời đúng là khác thường, có thể suy nghĩ được chuyện sâu xa đến thế."

Với lá thư cầu hòa của Lý Thường Kiệt, Quách Quỳ sẽ rút lui, và hai nước sẽ lại bắt tay giảng hòa.

Kết thúc chiến tranh, nhân dân trở lại cuộc sống thường nhật.

Tuy nhiên, tên Quách Quỳ ấy lại đòi gặp mặt riêng Lý Thường Kiệt.

"Thái úy, tại hạ đi với ngài."

Lưu Khánh Đàm xin.

Tôi đang ở trong doanh trại cùng Lý Thường Kiệt, Lưu Khánh Đàm và Lê Văn Thịnh.

Các tướng lĩnh khác đã đi điểm quân và dẫn binh do thám xung quanh.

Hơn nữa, Thái úy là võ quan đầu triều, còn Lưu Khánh Đàm và Lê Văn Thịnh là "thân tín" của tôi.

Đây gần như là một cuộc họp bí mật.

Có lẽ các tướng xin đi điểm quân cũng là để tạo không gian kín cho chúng tôi.

"Không được."

Lê Văn Thịnh can.

"Với cái vẻ mặt nom như đang chuẩn bị lấy mạng người ta như chú thì ở lại đi.

Để anh."

"Không được."

Lưu Khánh Đàm cũng ngăn.

"Mỗi lần nóng lên là giọng anh như hổ gầm, lỡ hắn sợ quá vỡ mật mà chết ở đấy thì ai chịu trách nhiệm."

"Được rồi Đàm."

Tôi vỗ lưng anh ta.

"Thầy của ta không phải Trương Phi, và anh cũng không hợp với nhiệm vụ ngoại giao một tí nào."

"Bệ hạ nói thế là..."

"Nhìn mặt anh khiến ta lạnh sống lưng."

Tôi nói thật.

"Có ai đi đàm phán mà mang ánh mắt gian như anh không?"

"Thế thì thần," Lê Văn Thịnh mím môi nín cười.

"Thầy cũng không."

Tôi nhìn Lê Văn Thịnh.

"Nhưng..."

"Lỡ thầy nói giống như lần trò chuyện với Tô Giám thì thầy chỉ khiến hắn nhảy xuống sông tự tử rồi đổ cho Thái úy giết người thôi."

"Bệ hạ và Thịnh gặp Tô Giám rồi!?"

Lý Thường Kiệt nhìn tôi.

Hai con mắt ông như muốn nhảy ra ngoài.

"Chuyện đó nói sau."

Tôi hằng giọng.

"Túm lại, chuyến ngoại giao này, ta sẽ đi với ngài."

"Quá nguy hiểm!"

Cả ba người phản đối.

"Các ngài không hiểu thế nào là ngoại giao đàm phán đâu."

Tôi lên giọngra vẻ thông thái.

"Quách Quỳ sẽ không bao giờ nghĩ rằng ta là hoàng đế.

Hơn nữaai cũng dễ mở lòng trước trẻ con mà.

Một tướng quân đem một tiểu đồng theo cũngcó gì lạ đâu."
 
Ấu Hoàng
Quách Quỳ.


Đến khi nhìn mặt Quách Quỳ thì tôi hối hận.

Mặt ông ta nom trông giống hệt Trương Phi trên phim.

Dưới ánh trăng mờ và những ngọn nến leo lắt nhảy múa theo những gợn sóng trên sông, ông ta trông càng dữ tợn hơn.

Đôi chân của tôi run lẩy bẩy.

Cảm giác hồi hộp và sợ hãi khiến tôi xanh cả mặt.

Râu tóc ông ta xồm xoàm, mắt lồi hơn cả Ninh Chí An, gân đỏ nổi lên như người thiếu ngủ.

Hoặc là vừa mới khóc.

Y bước lên chiếc thuyền của tôi và Lý Thường Kiệt.

Trên đó đã đặt sẵn một bàn ăn với đồ nhắm và hai cốc rượu.

Lão ta nhìn chúng tôi lườm lườm.

Hoặc là chỉ nhìn Lý Thường Kiệt chứ chẳng cho tôi vào mắt.

Tất nhiên, một tướng quân thì để ý đến một thằng nhóc mặc viên lĩnh trơn tay ôm bình rượu đang run rẩy làm gì.

"Giá như mình đưa Trương Phi(1) bên mình theo."

Tôi thầm nghĩ.

"Đại Tống, Phục man tướng quân Quách Quỳ, hân hạnh."

Hắn giới thiệu mà khiến tôi muốn sút vào mặt hắn.

"Đại Việt, Phụ quốc thái úy Lý Thường Kiệt, hân hạnh."

Nhưng chẳng cần biết tên kia là tướng quân to cỡ nào, vẫn là loại chức tước nằm hàng dưới so với Thái úy, người nắm toàn bộ binh quyền cả nước.

Và kiểu xưng tên nước Đại Việt chứ không phải An Nam hay Giao Chỉ cũng phần nào chứng tỏ vị thế của hai nước là ngang nhau.

Tôi lặng lẽ rót rượu cho hai người họ.

"Phong cảnh đêm nay đẹp thật đấy."

Quách Quỳ mở lời như trai tân tán gái.

"Sông thì đầy máu, sau lưng toàn núi xác.

Khái niệm cái đẹp của ông khác tôi rồi đấy."

Tôi thầm nghĩ.

"Nếu không có bức tường tua tủa tre vuốt nhọn kia thì chúng ta giờ đã ở trong thành Thăng Long ăn thịt uống rượu và xem ca vũ rồi."

Quách Quỳ nói tiếp.

"Có thể nào, thê thiếp của quốc vương và phu nhân của Thái úy sẽ là người đang múa cho ta xem?"

Trong đầu tôi hiện lên suy nghĩ chuốc say hắn rồi trói lại làm mồi câu cá sấu.

"Phu nhân nhà ta khi còn trẻ múa rất đẹp.

Chỉ tiếc, tuổi tác đã cao, không còn uyển chuyển như trước nữa."

Lý Thường Kiệt nhẹ nhàng đáp.

Tôi biết thừa đấy là ngôn từ ngoại giao, chứ không thì đôi tay siết chặt nổi gân của ông đã cho Quách Quỳ nhập viện khoa chấn thương chỉnh hình.

"Lý Thường Kiệt, ta rất kính trọng ngài đấy."

Quách Quỳ nói.

"Nếu ngài đến đất Tống ta, đất phong chắc chắn không dưới vạn hộ, chức tước chắc chắn không dưới quận công!"

"Nhưng liệu một kẻ võ biền như ta có thể yên ổn ở xứ các ngài không?"

"Chứ đất Giao Chỉ này thì sao?"

Quách Quỳ đưa tay về phía phòng tuyến.

"Đất nhỏ như cái lỗ mũi, dân thì ít, vua thì trẻ con.

Có thể sánh bằng với Đại Tống ta sao?"

"Nghe người đánh không được cái xứ đất bé dân thưa vua trẻ nít đang nói kìa."

Lý Thường Kiệt mỉm cười.

"Các người dùng kế bẩn!"

"Thái Tổ Thái Tông nước Tống khi xưa cũng dùng mưu hèn để đoạt thiên hạ đấy thôi."

"Đó là thiên ý!"

"Nam quốc sơn hà Nam đế cư,

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư."

Lý Thường Kiệt đọc lại bài thơ.

"Chẳng phải, việc các ngài không thể xâm phạm vào bờ cõi Đại Việt ta, cũng là thiên ý sao?"

"Cái đó..."

Quách Quỳ cứng họng.

Hắn chỉ còn nước cười trừ.

"Đúng là Thái úy xứ nam văn võ song toàn, tại hạ bái phục."

Hai người họ cạn chén và uống một hơi hết cốc rượu.

"Rượu này là..."

Mặt Quách Quỳ nghiệt ra.

Chắc hắn chưa uống thứ rượu như thế bao giờ.

"Bồ đề tửu."

Lý Thường Kiệt nói.

"Xứ ta gọi là rượu nho, rượu này được làm ra từ quả nho lên men, có nguồn gốc từ Hy Lạp."

"Ta chưa từng nghe đến xứ ấy."

"Đất nước ấy nằm ở phía tây, xa hơn cả Tây Vực.

Người ta thường gọi, nơi ấy là xứ sở của các vị thần."

"Lý Thái úy thật có hiểu biết rộng rãi."

Thực ra rượu nho du nhập vào Trung Hoa từ thời Đường.

Nhưng vì loạn lạc chiến tranh nên thất truyền.

Các bạn còn nhớ tên buôn hàng giả mà Vy bắt về chứ?

Hắn không chỉ bán hàng giả mà còn buôn lậu muối và rượu nữa.

Chừng ấy tội là đủ để cho hắn gia nhập Juventus.

Đặng Thể Tư tìm thấy trong nhà hắn những hũ rượu lạ nên đã dâng lên cho tôi.

Tôi nhận ra mùi rượu nho và đã tha cho hắn với điều kiện là hắn phải làm rượu cho triều đình không lương.

Từ một tên tội phạm lại được vào trong cung làm việc thì quá là oách xà lách luôn.

Tuy nhiên, để tiện việc đi lại cũng như xử tội, tôi cũng đã ra lệnh hoạn hắn luôn.

Túm lại, từ một tên gian thương, hắn đổi năng lực của đàn ông để được thăng cấp lên thành viên chức nhà nước.

Dù trách nhiệm chẳng cao hơn ngự trù mấy.

"Nếu ngài thích, chúng ta sẽ đưa hắn cho ngài, để ngài dâng lên vua Tống."

Tôi gợi ý.

"Học được cách làm ra thứ rượu ngon, chắc chắn vua ngài sẽ không xử tội ngài nặng đâu."

"Tên nhãi nhà ngươi cũng biết ăn nói đấy."

Quách Quỳ gãi râu.

"Nhưng mà, việc ta để thua ở đây đã là trọng tội rồi.

Mất biết bao binh lính, đoàn thủy binh kia cũng chẳng thấy tung tích đâu."

"Thấy thế quái nào được."

Tôi nghĩ.

"Có thể họ đã gặp bão."

Lý Thường Kiệt đoán.

"Cơn bão mang tên Lý Kế Nguyên."

"Thái úy, chúng ta đều là người hiểu chuyện."

Quách Quỳ nói.

"Ngài viết thư cầu hòa, nhất định là cũng nhận ra rằng cuộc chiến này không thể kéo dài nữa đúng không?"

"Đúng thế."

Lý Thường Kiệt gật đầu xác nhận.

"Ngài cũng biết điều đó mà."

"Ta muốn về lâu rồi."

Hắn thở dài.

"Nhưng nếu ta không đem được chút gì về, chẳng phải thứ ta mất sẽ là cái mạng này sao?

Như thế cũng quá thiệt thòi rồi."

"Quách Tướng quân, ngài còn chưa hiểu sao?"

Tôi hỏi.

"Nếu đánh tiếp, thứ ngài mất sẽ là mạng ngài và cả vạn binh sĩ dưới trướng ngài đấy."

"Oắt con nhà ngươi cũng được học hành tốt đấy.

Nhưng ngươi nên hiểu rằng chuyện có bao nhiêu người bỏ mạng không phải mối quan tâm của bệ hạ ta hay Vương An Thạch."

"Cái gì?"

Tôi và cả Lý Thường Kiệt chau mày.

Quách Quỳ đưa cốc rượu lên lắc lắc.

"Không có mười sáu châu Yên Vân(2), Đại Tống ta không có được quân đội mạnh như thời Đường, thời Hán.

Cũng không có quân chủ anh minh thần võ như Hán Vũ Đường Tông(3), cũng chẳng có Vệ Thanh hay Lý Tích(4).

Chỉ có được một Địch Hán Thần(5) thì ông ấy cũng nhập quan hạ thổ lâu rồi."

Quách Quỳ uống một ngụm rượu.

"Tất nhiên, nếu muốn đánh đám nhung địch ngoài kia thì cũng đánh được.

Nhưng đánh xong thì sao?"

"Ta chưa hiểu ý tướng quân."

Lý Thường Kiệt nói còn tôi bước tới rót rượu cho Quách Quỳ.

"Đám ngoại tộc đó chẳng qua muốn có được tơ lụa gốm sứ của trung nguyên thôi."

Quách Quỳ nhấp một ngụm rượu.

"Có đánh hết được đám này thì đám khác lại tới.

Chi bằng ném cho chúng mớ vải vóc đó rồi ai về nhà nấy.

Chúng thích thảo nguyên hoang mạc của chúng thì kệ chúng.

Ta cần nơi để yên ổn làm ăn."

Suy nghĩ một chút thì hắn nói cũng có phần hợp lý.

Ở một mặt nào đó, tôi và Harivarman cũng đang mua lấy hòa bình.

Mới hôm trước, trong một cuộc tranh luận trong một buổi học ở Quốc Tử Giám, có người nói rằng khi không lại đi nuôi đám người Chăm, tốn tiền vô ích.

Thế mà em trai tôi phản bác được ngay.

"Nuôi họ đỡ tốn kém hơn là đánh nhau."

Đại Việt giàu có thật, nhưng không thể nào sánh bằng Đại Tống.

Việc dùng tiền mua lấy bình yên là quá hời.

"Thiên sinh chưng dân, quân đức tắc mục.

Quân dân chi đạo, vụ tại dưỡng dân."

Quách Quỳ nói khi tôi rót rượu cho y.

"Câu này nói quả không sai.

Chỉ cần dân đủ ăn đủ mặc, tất sẽ không loạn.

Thay vì tu sửa Trường Thành như Tần Thủy Hoàng hay đem quân chinh phạt tứ phương như các vua khác, chúng ta chỉ cần đưa ít tiền cho chúng là xong.

Số tiền đưa cho đám ngoại tộc đó cũng giống như cốc rượu này đổ xuống sông thôi."

Lý Thường Kiệt xem ra cũng đang suy nghĩ về lời của Quách Quỳ.

"Thế thì tại sao, chúng ta lại ở đây?"

Lý Thường Kiệt hỏi.

"Vì đám văn nhân kia nghĩ rằng đám Giao Chỉ các ngươi chẳng là cái thá gì cả, có thể một trận diệt gọn.

Ai mà ngờ được," Quách Quỳ chĩa ngón tay vào Lý Thường Kiệt.

"xứ Giao Chỉ này có một Lý Thường Kiệt và một tên quốc vương vắt mũi chưa sạch mà có thể khiến cho đám văn thần võ quan đồng lòng đến như thế.

Đại Tống ta, quả là không bằng được."

Quách Quỳ ngồi trầm ngâm thêm một chút.

"Hòa ước Thiền Uyên... mới đó mà cũng sáu mươi năm rồi."

Hòa ước Thiền Uyên là hòa ước giữa Tống và Liêu năm Cảnh Đức thứ hai nhà Tống, tương ứng với niên hiệu Ứng Thiên thứ mười hai thời vua Lê Đại Hành (1005).

Hai nước kết nghĩa anh em, mỗi năm Tống cống nạp cho Liêu bạc và lụa.

Hóa ra ngay từ sáu mươi năm trước, nhà Tống đã thấy rằng cống nạp cho đám du mục đó rẻ hơn là phải đánh nhau.

Giống như đi học nộp tiền tiêu vặt cho trùm trường còn hơn là để nó đánh.

Đánh nhau thì không lại mà mách cô thì chẳng ăn thua.

Thà quỳ xuống giảng hòa sớm để mọi chuyện được êm xuôi.

"Từ sau hòa ước Thiền Uyên, suốt ba triều Chân Tông, Nhân Tông, Anh Tông, nước Tống giảm chi tiêu quốc phòng, quân đội Hà Bắc và Biện Kinh đều chỉ còn cái mã.

À, quân Thiểm Tây khá hơn một chút do còn chiến đấu với .

Nhưng nói chung là binh bị không được chú trọng.

Ai cũng sợ rằng bản thân sẽ bị một tên võ tướng lật đổ."(7)

Quách Quỳ đập vỡ cốc rượu khiến cả tôi và Lý Thường Kiệt giật mình.

"Không một tên văn nhân nào biết rằng Đại Tống đang nằm giữa rừng cọp beo hổ sói!"

Hắn gầm lên.

"Mặt sông phẳng lặng như tờ kia, làm gì có ai thấy được những cơn sóng đang cuồn cuộn đánh dưới đáy sâu.

Hòa bình giữa các nước chỉ là tạm thời mà thôi!

Một lũ ngu dốt chỉ biết khua môi múa bút, hoàn toàn không hiểu được tình cảnh của mình!"

Hình như ông ta say rồi.

"Lợi ích của quốc gia là thứ mà những người đứng đầu đất nước như chúng ta phải đặt lên hàng đầu."

Tôi lấy cốc rượu mới cho y.

"Quách Tướng quân, ngài đã bao giờ nghĩ đến viễn cảnh, về tương lai đất nước của một nghìn năm sau chưa?"

Y nhìn tôi với đôi mắt như muốn nhảy ra khỏi tròng.

"Một nghìn năm nữa, khi mà cả ngài và ta đã về với cát bụi, thì Tổ Quốc của chúng ta vẫn còn.

Và lợi ích từ chiến tranh chẳng là gì so với lợi ích có được từ những hiệp định thương mại và các ký kết vì lợi ích đôi bên cả.

Ta thừa nhận, ta đã sống rất lâu trong cảnh thái bình.

Những thứ chiến tranh, đau thương và đói nghèo, chỉ còn lại trong lời kể của cha ông.

Bao năm qua, ta luôn thấp thỏm lo sợ về cuộc chiến hôm nay.

Thực sự là khi nó tới ta mới biết, thế nào là nỗi đau của chiến tranh."

Tôi nhìn y, Lý Thường Kiệt cũng im lặng.

"Cả hai ta đều biết chiến tranh gây ra những tổn thất như thế nào mà.

Những người đồng hữu của ngài đã tử trận ở đây, ta xin gửi lời chia buồn."

Tôi nói với giọng điệu buồn đau thực lòng.

"Chúng ta đều đã lĩnh đủ rồi.

Không cần phải có thêm người chết vì cuộc chiến tranh vô nghĩa này nữa đâu."

"Vô nghĩa?"

Y hỏi tôi.

"Ngươi có biết bao nhiêu mạng người đã chết ở Ung Châu không?

Oan hồn của họ cứ bám riết lấy chúng ta kia kìa!"

"Oan hồn của họ là do chính các ngài tạo ra!"

Tôi hét lên.

"Nếu các ngài không định gây sự với chúng tôi, chúng tôi sẽ không phải tàn hại một người dân vô tội nào cả!

Nếu các ngài không dẫn quân xâm lược, chúng tôi cũng không phải dựng binh chống lại!"

"Dân Giao Chỉ các ngươi..."

"Giao Chỉ chỉ còn là dĩ vãng thôi!"

Tôi hét vào mặt hắn.

"Quách Quỳ, ngươi nghe cho rõ đây."

Tôi trỏ vào mặt hắn.

"Quốc hiệu nước ta là Đại Việt!

Ngươi đang ở trên lãnh thổ của Đại Việt!

Ở đây không có dân An Nam, cũng không có người Giao Chỉ, chỉ có bách tính Đại Việt mà thôi!"

"Quách Tướng quân, xin đừng để ý lời trẻ con."

Lý Thường Kiệt quắc mắt nhìn tôi.

Đến lúc này tôi mới nhận ra mình vừa lỡ lời.

"Ra là như thế..."

Quách Quỳ ngồi thừ ra.

"thảo nào..."

Ba chúng tôi im lặng nhìn mặt sông lặng như tờ.

Để ý một chút vẫn có thể cảm nhận được những cơn sóng.

"Lý Thái úy."

Quách Quỳ đưa cốc rượu lên.

"Ta sẽ rút binh."

"Ta sẽ cấp cho ngài tàu bè và lương thực."

Lý Thường Kiệt đưa cốc đáp lại.

"Còn nô lệ?"

"Cái này phải hỏi ý Hoàng đế.

Phận thần tử như ta không dám tự quyết."

"Ta hiểu."

Hai người họ cạn chén với nhau.

Quách Quỳ rời thuyền và quay lại chiếc bè nhỏ.

Hắn chắp tay chào Lý Thường Kiệt.

Ông cũng đáp lại.

"Quách Tướng quân đi mạnh giỏi."

"Lý Thái úy bảo trọng."

Quách Quỳ nói rồi hướng về phía tôi đang lục tục lấy mái chèo.

Lời chào của hắn khiến tôi suýt làm rơi mái chèo.

"Bệ hạ vạn tuế."

"Sao hắn ta biết được chứ?"

Tôi quay lại nhìn hắn đang chèo thuyền quay về doanh trại.

"Chính bệ hạ đã nói những người đứng đầu đất nước như chúng ta còn gì."

Lý Thường Kiệt thở dài.

"Nếu bệ hạ sợ Thịnh đi sẽ quát chết y thì đi với bệ hạ người có thể chết vì vỡ mật sẽ là thần mất."

Phụ quốc thái úy bước tới cạnh tôi và lấy cái mái chèo.

"Thái úy cũng thật là," Tôi ngồi xuống bên bàn ăn.

"sao ngài không tự xử lý...

đám... nô... lệ..."

Thế mà tôi ngủ thiếp đi trên thuyền luôn.

(1) Nhân vật chính muốn nhắc tới Trương Phi trong Tam Quốc Diễn Nghĩa với vẻ dữ tợn và quát chết Hạ Hầu Mậu ở Trường Bản.

Cho đến nay, ngoại hình của Trương Phi không hề được đề cập đến trong bất kỳ tài liệu nào ngoài tiểu thuyết Tam Quốc Diễn Nghĩa.

(2) Yên Vân thập lục châu là nơi cung cấp kỵ binh và chiến mã cho quân đội Trung Hoa từ thời Hán.

(3) Chỉ Hán Vũ Đế Lưu Triệt và Đường Thái Tông Lý Thế Dân.

(4) Vệ Thanh là danh tướng thời Hán.

Lý Tích là danh tướng thời Đường.

(5) Địch Thanh (tên tự Hán Thần) là danh tướng nhà Bắc Tống.

(6) Từ thời nhà Chu xem Hoa Hạ là trung tâm của thế giới, xung quanh là các dân tộc mọi rợ chưa có văn minh gồm (南蠻), (東夷), (北狄), và (西戎).

Quách Quỳ gọi nhung địch là nói tới nước Tây Hạ (ở phía tây nước Tống) và nước Liêu (ở phía bắc nước Tống).

(7) Tống Thái Tổ Triệu Khuôn Dận xuất thân là võ tướng, đoạt lấy binh quyền và lật đổ vua, lập ra nhà Tống.

Các đời vua sau này của nhà Tống đều thực hiện chính sách "văn nhân cầm quân" để đề phòng một cuộc lật đổ giống như thế.

Từ đó dẫn tới tình trạng yếu ớt về mặt quân sự của nhà Tống.

Nói chung là tác giả viết xung quá nên quên mất các nhân vật bất đồng ngôn ngữ.

Nên độc giả hãy giả vờ là Quách Quỳ đã học tiếng Việt mười năm rồi nhé.
 
Ấu Hoàng
Lý Nhân Tông.


Quân Tống rời khỏi đất Việt.

Thi hài của Thân Cảnh Phúc được trao trả và thực hiện mai táng theo nghi lễ người Tày.

Hoàng tộc và các quan lại đến tận nơi an ủi những người có người thân mất trong cuộc chiến.

Sau cả tháng trời giải quyết các vấn đề hậu chiến, tôi mặc áo cổn mũ miện chỉnh tề đứng trước một gò đất cao.

Đối diện tôi là một chiếc miếu thờ đơn giản như những miếu thờ ở bất kỳ một làng xã nào.

Sau lưng tôi là An Dân và mẹ, sau họ là các Hoàng hậu và các tông thất họ Lý.

Văn võ bá quan quỳ ở xa hơn.

Tất cả đều mặc lễ phục, nai nịt gọn gàng, áo mũ sạch đẹp xếp hàng ngay ngắn.

Tôi đang ở trong lăng Thiên Đức, đối diện với tôi là một gò đất hơi cao.

Ừ, nếu chỉ nhìn gò đất thì không ai biết được, đó là mộ của vị vua khai quốc Lý triều.

Mộ của ông cố tôi – Thái Tổ Lý Công Uẩn.

Tôi đưa ba nén hương đang cháy về phía mộ Thái Tổ.

"Chắt Càn Đức," Tôi dõng dạc nói.

"hôm nay cùng tôn tộc và văn võ bá quan ở đây, tế cáo Đức Thái Tổ, chúng con đã đuổi được giặc.

Non sông ta lại sạch bóng quân thù.

Ấy là nhờ ân đức của Người.

Ngày Thái Tổ khai quốc, rồng bay lên ở thành Đại La, thực là thuận theo ý trời mà thiên hạ ấm no.

Chắt hôm nay ở đây, xin tạ ơn Thái Tổ đã luôn dõi theo và bảo vệ chúng con."

Tôi vái ba lần và thắp ba nén hương xuống.

Sau đó tới lượt An Dân và mẹ tôi rồi các tông thất và các quan lần lượt thắp hương cho Thái Tổ.

Tôi tiếp tục di chuyển đến một gò đất khác.

"Cháu Càn Đức, hôm nay cùng văn võ bá quan ở đây, tế cáo Đức Thái Tông, chúng cháu đã đuổi được giặc.

Non sông ta lại sạch bóng quân thù.

Ấy là nhờ ân đức của Người.

Đức Thái Tông lấy vũ đánh tứ phương, lấy đức trị vạn dân, khó vua nào sánh bằng.

Cháu hôm nay ở đây, xin cảm tạ Thái Tông đã phù hộ vạn quân trên chiến trường, bảo vệ non sông gấm vóc nước nhà."

Gò đất thứ ba, cũng chính là mộ của phụ hoàng tôi.

"Phụ hoàng, con kế nghiệp Người đến nay đã năm năm.

Nay con cùng em và mẹ cùng tôn tộc văn võ bá quan ở đây, tế cáo Đức Thánh Tông, chúng con đã đây lui ngoại xâm.

Đức Thánh Tông để lại cho các con một giang sơn hùng cường và những người anh hùng tài đức vẹn toàn, có thể an định lòng dân, đánh lui ngoại xâm.

Con hôm nay ở đây, tạ ơn phụ hoàng trên trời cao đã luôn soi rọi chúng con, cho chúng con có thể dẹp giặc giã, yên quê nhà."

Khi tôi ngước lên, một cơn chóng mặt ập tới.

Tôi thấy xung quanh mình là một không gian trắng xóa.

Bá quan văn võ và cả gia đình tôi đều biến mất.

Giữa mười hai sợi lưu trên mũ miện của tôi, tôi loáng thoáng thấy một đứa trẻ.

Cậu bé ấy mặc cổn miện giống tôi, trong tay cậu là cái hốt bằng ngọc.

Xung quanh cậu có một lớp hào quang màu vàng.

Cậu bé có vầng trán cao và đôi mắt tròn lớn.

Đôi mắt cậu nhìn tôi với vẻ xen lẫn chút vui mừng và cả chút buồn rầu.

"Cậu... cậu là ai?"

Tôi hỏi.

Cậu bé ấy bước về phía tôi và nhìn tôi từ đầu đến chân, từ trước ra sau.

"Thì ra, ngươi là kẻ đang thế thân trẫm."

"Cậu..."

Tôi bắt đầu run.

Giọng nói của cậu ta nghe non choẹt, nhưng từ nó toát ra một khí thế ngút trời.

Khí thế của bậc thiên tử.

Ánh mắt ấy, thần thái ấy, tất cả đều ra dáng... một vị vua.

"Thế, làm vua có vui không?"

Người hỏi.

"Con..."

Tôi quỳ xuống, người tôi run lẩy bẩy và không dám ngước lên nhìn Người.

Như một thường dân không được phép nhìn mặt vua chúa.

"Đưa tay đây."

Người chìa tay ra.

Tôi đưa tay lên.

Người gõ chiếc hốt vào lòng bàn tay tôi.

"A!"

Tôi ré lên.

"Hoàng đế thì không được phép tỏ ra yếu đuối như thế!"

Người mắng.

"Ngươi đang thay trẫm làm vua.

Ngươi phải tỏ ra mình là một bậc thánh quân.

Cả đời ngươi chỉ được phép quỳ gối trước thần phật và tổ tiên mà thôi."

"Nhưng, con phải quỳ gối trước Người."

Tôi mím môi.

"Người là bậc hiền quân của đất nước..."

"Sao ngươi biết ta là hiền quân?"

Vị vua ngắt lời tôi.

"Lỡ ta là hôn quân thì sao?"

"Vì...

Người đã... chống lại được cuộc xâm lược của nhà Tống."

"Đó là công của Lý Thường Kiệt và các tướng lĩnh.

Ta có làm cái gì đâu."

"Nhưng..."

"Quốc Tử Giám, chống Tống xâm lược, ngoại giao với Chiêm...

Tất cả, đều là ngươi làm.

Không phải ta."

"Con?"

Tôi nhìn vị vua.

Người đang mỉm cười.

"Là ngươi."

Lý Nhân Tông thật ngồi xuống đối diện tôi.

"Thế làm vua có vui không?"

"Không ạ."

Tôi đáp.

"Nhưng, con đã học được rất nhiều điều."

"Như?"

"Bố con... thực ra ông ấy rất yêu thương con."

"Đúng.

Ta nhận ra điều đó."

Vua Lý Nhân Tông nói.

"Ông ấy vô cùng quan tâm đến ngươi."

"Thánh Tông cũng rất yêu thương con."

"Phụ hoàng ta mất khi ta còn quá nhỏ."

Người thở dài.

"Khi còn sống Người bận rộn với triều chính, nhưng nói chung, phụ hoàng luôn cho anh em ta một sự quan tâm hết mực.

Bọn ta được hưởng những gì tốt nhất đất nước.

Nhà lớn nhất, quần áo đẹp nhất, thức ăn ngon và bổ dưỡng nhất, nền giáo dục tốt nhất..."

"Bố con cũng thế."

Tôi gật đầu.

"Ông ấy cố gắng cho con điều kiện học hành tốt nhất có thể."

"Nhưng ngươi đã đối xử với ông ấy thế nào?"

"Con..."

Tôi không thể trả lời.

"Cha ngươi bận rộn công việc, nhưng ngươi cũng bận đi chơi với đám bạn đồng trang lứa.

Và ngươi đổ lỗi cho ông ấy rằng ông ấy chẳng thèm quan tâm đến ngươi, đúng không?"

"Vâng."

Nghe vị vua nói, tôi bắt đầu không kìm được nước mắt.

Tôi nhớ nhà.

Tôi nhớ mẹ tôi, bố tôi, bà tôi và các bạn.

"Khi còn ở thế kỷ XXI, con đã có những lời lẽ không hay với bố con."

"Ta đọc được trong sách ở chỗ ngươi, thay vì để lại cho con cái tiền bạc, hãy để lại cho chúng công cụ kiếm tiền.

Ở đây, phụ hoàng đã để lại cho chúng ta tất cả.

Một nền kinh tế vững mạnh, một quân đội hùng mạnh, quan lại tướng lĩnh xuất sắc...

Và nhiệm vụ của chúng ta là tận dụng tất cả những điều đó để bảo vệ đất nước này."

Người nhìn tôi.

Ánh mắt như muốn hỏi "Ngươi có biết mình phải làm gì không?"

"Con sẽ không phụ lòng Thánh Tông và bệ hạ."

Tôi lau nước mắt và hít ngược nước mũi vào.

"Con sẽ thay Người bảo vệ đất nước này."

"Tốt.

Đó cũng là điều ta định nói đấy."

"Nhưng, tại sao lại là con?"

Tôi phân trần.

"Con chỉ... con chỉ là một đứa trẻ.

Con không biết gì về lịch sử.

Con cũng không biết gì về chiến tranh hay điều hành đất nước.

Con..."

"Ta cũng thế."

Vua Lý Nhân Tông ngắt lời tôi.

"Dạ?"

"Ta cũng là một đứa trẻ.

Ta không biết mình phải làm gì trong tương lai.

Ở cái tuổi ăn tuổi chơi, thì ta phải làm vua.

Khi ta lên ngôi, Dương Thái hậu thì lấn quyền.

Thái sư và Thái úy thì cạch mặt nhau.

Thậm chí... khi ta tìm trong những tài liệu ở thời đại của ngươi, ta cũng không thể tìm thấy được quá nhiều thông tin về bản thân."

Bằng một cách thần kỳ nào đó, tôi có cảm giác Người đang nói dối.

"Túm lại, ngươi hãy tạm thời thay ta làm vua.

Khoảng..."

"Bao lâu ạ?"

"Ta không biết."

Lý Nhân Tông nhún vai.

"Nhưng cứ cố gắng lên.

Ngươi sẽ ổn thôi.

À thì, ta cũng không chắc lắm.

Nhưng mà ngươi sẽ làm tốt mà."

"Sao Người biết con sẽ làm tốt?"

"Đưa tay đây."

Lý Nhân Tông đưa tay ra.

Tôi đặt tay mình vào bàn tay vị vua.

Người dùng cái hốt gõ thật mạnh lên tay tôi.

"Kể ra, cô giáo ngươi cũng ghê gớm thật."

Ông vua con cười khúc khích.

"Sao Người đánh con?"

"À thì," Vị vua hằng giọng.

"ta đọc trong sách ở thời đại của ngươi, ta thấy có những... tư duy rất hay.

Như là, có những chuyện mà bản thân ngươi sẽ không thể nào hiểu được vì tư duy của ngươi còn nông cạn.

Nên những gì ngươi cần làm là nghe theo những người có tư duy cao hơn ngươi.

Làm theo lời họ và ngươi sẽ hiểu được lý do.

Hơn nữa, ta tin ngươi sẽ làm được."

"Người dựa vào đâu để tin con ạ?"

Vị vua trỏ vào ngực mình.

"Trái tim ta mách bảo như thế."

Hình như Người còn lỡ đọc nhiều tiểu thuyết mạng quá thì phải.

"Đừng lo."

Vua Lý Nhân Tông vỗ vai tôi.

"Ngươi cứ tiếp tục thay thế ta.

Cứ tiếp tục điều hành đất nước.

Ta tin là ngươi sẽ về nhà sớm thôi.

Chú ý các dấu hiệu.

Như... mấy con thú lạ và các sư thầy."

"Con..."

Tôi định hỏi tiếp, nhưng ánh mắt vị vua nhìn tôi đã hiện rõ ràng là "Không hỏi han gì nữa.

Tuân chỉ đi."

"Thần tuân chỉ."

Tôi quỳ dập trán xuống đất.

"Sao khép nép thế?"

"Chỉ được quỳ gối trước thần phật và tổ tiên."

Tôi lặp lại lời Người.

"Đối với con, Người chính là tổ tiên."

"Hừ."

Vị vua bật cười.

Đến bây giờ tôi mới thấy Người giống một đứa trẻ lên mười.

"Thế con có thể nhờ Người... làm mai cho con với một cô gái được không ạ?"

"Từ khi nào ngươi có quyền nhờ vả ta thế?"

Lý Nhân Tông đưa cái hốt lên chuẩn bị đánh tôi.

"Nhưng, vua có quyền ban hôn mà."

Tôi đưa tay định đỡ.

"Chuyện tình cảm của ngươi thì ta không giúp được."

"Dạ..."

Mặt tôi lúc này chắc là bí xị ra.

"Đừng lo.

Nhất định ngươi sẽ làm được mà."

Vị vua vỗ lên lưng tôi.

"Đã có thể đến tận đất Tống, đối diện với Quách Quỳ, đối thoại cùng vua Chiêm.

Thế mà lại không thể thổ lộ tình cảm của mình với một cô gái ư?"

"Con..."

"Thôi được rồi."

Vị vua niềm nở vỗ vai tôi.

"Cố gắng lên."

"Vâng."

Tôi cúi đầu.

"Nhờ người, gửi lời của con đến bố mẹ con.

Rằng con yêu họ."

"Không."

Ông vua con biến hình từ vẻ niềm nở thành gương mặt lanh tanh chỉ trong một khoảnh khắc.

"Nhưng..."

"Họ là cha mẹ ngươi, tự đi mà nói với họ."

"Dạ..."

Tôi cúi đầu.

"À, với cả..."

"Có chuyện gì ạ?"

"Đi thăm đám tang của Chiêu Văn và Hoằng Chân hộ ta nhé."

Tôi chớp mắt và trước mặt tôi lại là nấm mồ vua Thánh Tông.

"Con đứng thế này bao lâu rồi?"

Tôi quay lại hỏi mẹ.

"Bệ hạ nói gì thế?"

Mẹ tôi chau mày.

Dựa trên biểu hiện của bà, có vẻ như thời gian tôi nói chuyện với Lý Nhân Tông còn chưa tới một satna.

Tôi quay lại nhìn ba ngọn nhang trên tay.

Chúng chưa cháy thêm tí nào.

"Xem ra mình chưa xong chuyện rồi."

Tôi thắp ba ném nhang lên mộ vua Lý Thánh Tông rồi lần lượt từng người một tiếp tục thắp nhang.

-

Đám tang của một hầu tước, người tới viếng ra vào nườm nượp.

Có cả các hoàng thân, các quan lại, và các binh sĩ cũng gom góp lương thưởng của mình để đóng góp đồ táng.

Và đặc biệt nhất là sự xuất hiện của Hoàng đế.

"Máu thịt của người trở về với đất.

Chiến công của người anh hùng bất tử."

Tôi quỳ lạy bài vị của người em họ.

"Bệ hạ."

Một người đón đầu tôi khi tôi đang chuẩn bị tới đám tang tiếp theo.

Đó là một người đàn ông, tuổi đời có lẽ là hơn ba mươi, ông có một chòm râu dê nhỏ dưới cằm, gương mặt mang vẻ thư sinh nhưng đôi mắt thì có hai quầng thâm đen như gấu trúc.

"Ngài là..."

"Thần Tăng quan đô án Từ Vinh, khấu kiến bệ hạ."

Vị quan quỳ xuống, làm lộ ra hai đứa trẻ vẫn đang núp sau chân ông.

"Hai đứa, mau khấu đầu đi."

Hai đứa trẻ nhanh chóng quỳ xuống theo lời ông.

Gương mặt chúng không có nét gì giống nhau cả nên tôi đoán đó không phải hai anh em.

"Quan đô án bình thân."

Tôi đưa tay ra.

"Ngài tìm ta có chuyện gì không?"

"Bẩm bệ hạ..."

Vị quan lục tục đứng dậy.

"Thần có chuyện này..."

Ông ngập ngừng không nói.

"Ngài là người đứng ra chủ trì tang lễ của em ta phải không?"

Tôi hỏi.

"Đừng lo, nhất định ngài sẽ được tưởng thưởng xứng đáng mà."

"Tạ bệ hạ."

Ông cúi đầu.

"Nhưng chuyện thần muốn tâu không phải chuyện đó ạ."

"Vậy ngài muốn nói gì?"

"Thưa..."

Ông đỡ một đứa trẻ dậy.

"Đứa trẻ này là con trai thần.

Nó ra đời vào năm bệ hạ lên ngôi.

Tên là Từ Lộ."

"Hân hạnh."

Tôi chắp tay chào đứa bé rồi quay sang nhìn người cha.

"Ngài muốn nhờ ta... cho thằng bé tới học ở Quốc Tử Giám sao?"

"Được như thế thì tốt quá!"

Từ Vinh cười.

"Nhưng cũng không phải chuyện đó!"

Rồi ông ta lại quỳ xuống.

"Bệ hạ thứ tội.

Thần căng thẳng quá nên nói năng lung tung."

"Rốt cuộc chuyện ngài muốn tâu là gì mà ngài cứ đá chuyện nọ xọ chuyện kia thế?"

Tôi bực mình.

"Càn Anh."

Từ Vinh đỡ đứa bé còn lại dậy.

Thằng bé này có vẻ lớn hơn Từ Lộ một chút, nhưng nhìn nó có vẻ kém hoạt bát lanh lợi hơn.

"Đứa này là..."

"Dạ, đây là cháu của thần, gọi thần bằng cậu."

Từ Vinh nói.

"Tên của thằng bé là...

Lý Càn Anh."

"Lý?"

"Nhiều năm trước, chị họ của vợ thần là phi tần của Thánh Tông.

Được thị tẩm vào năm Thần Vũ và có chửa."

Tự nhiên ông ta nói chuyện lưu loát hơn hẳn.

"Khi đứa trẻ ra đời, Thánh Tông đã bệnh rất nặng.

Thượng Dương và Thái hậu thì đang trong một mối quan hệ căng thẳng, vì thế nên chị ấy đã mang đứa trẻ ra khỏi cung và nhờ thần nuôi dưỡng."

Còn tôi thì sững người ra.

"Thưa, Càn Anh, chính là... hoàng đệ của bệ hạ."
 
Back
Top Bottom