Cập nhật mới

Khác Ấu Hoàng

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
344005601-256-k549387.jpg

Ấu Hoàng
Tác giả: Kougun
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Một thiếu niên mười sáu tuổi gần như không biết gì về lịch sử bị ném trở về quá khứ và trở thành một trong những vị Hoàng đế tại vị lâu nhất lịch sử Việt Nam.



xuyênkhông​
 
Ấu Hoàng
Trong cái rủi vẫn có cái xui.


Bốn rưỡi chiều, Hà Nội thổi vào người tôi một luồng không khí se lạnh của tháng Mười hai.

Tôi dắt chiếc xe đạp ra cổng trường, nơi hàng trăm đứa học sinh khác trạc tuổi tôi cũng tụm năm tụm ba trò chuyện chém gió ăn quà vặt.

Tôi cũng không nằm ngoài số đó.

Hai cốc nước mía mười nghìn trước cổng trường, dù trời hơi lạnh thật, nhưng uống nước đá vẫn thấy thích.

Ngày nào cũng thế, tôi vẫn đứng ở cổng trường, chờ đợi một người.

Hầu như chiều nào cũng giống thế này.

Nhưng ai mà tin được một ngày bình thường như thế này mà lại thay đổi hoàn toàn cuộc đời tôi cơ chứ?

Nó bắt đầu khi tôi bắt gặp người bạn nữ lớp bên.

Tôi thầm thương trộm nhớ cô bạn ấy từ cấp hai.

Khi lên cấp ba, chúng tôi học chung trường nhưng khác lớp.

Đã một học kỳ trôi qua, tôi vẫn chưa dám nói chuyện với cô ấy.

Dù là hỏi "Bài thi cuối kỳ của cậu tốt chứ?" hay thậm chí là "Cậu ăn cơm chưa?", tôi cũng không dám mở lời.

Cứ cười đi.

Trái Đất này mười người thì cũng phải có tới chín người yêu đơn phương không dám nói giống người thứ mười thôi.

Và vâng, mỗi khi tan học, tôi sẽ dắt xe đạp ra cổng trường và đứng đợi nữ thần trong lòng mình.

Tôi sẽ ngắm cô ấy đến mê mệt và chỉ dừng lại khi thằng bạn thân của tôi hối thúc tôi về nhà.

"Chiều này vẫn giống chiều qua,

Nàng đi một mạch, bỏ ta thẫn thờ."

Hôm nay, nó chơi thơ lục bát.

Có lần nó còn làm hẳn một bài hịch đọc cho tôi nghe.

"Câm mồm."

Tôi mắng thằng bạn.

Còn nó thì hồn nhiên cầm cốc nước mía lên hút.

Chúng tôi là bạn cùng bàn từ đầu học kỳ đến giờ.

Bạn tôi có gương mặt chững chạc, trông như thanh niên đôi mươi chứ không phải là học sinh lớp Mười.

Dù chiều cao không tới nổi một mét bảy và khả năng vận động khá kém, nó lại là một "học bá" bước ra từ phim ngôn tình Trung Quốc.

Được rồi, không hẳn là học bá.

Nó học ban xã hội, bá đạo từ Văn Sử Địa sang tới Tiếng Anh.

Tuy nhiên, các môn tự nhiên thì chỉ ở mức tạm chấp nhận.

Tôi thì dở tệ những môn học thuộc lòng, bao gồm cả môn Ngữ Văn.

Tôi có thể kèm nó Toán Lý Hóa Sinh, nó kèm ngược lại tôi Văn với Anh và khảo bài những môn học thuộc.

"Hôm nay tử vi của mày khá xấu."

Thằng bạn tôi kéo chiếc điện thoại.

"Có thể sẽ gặp tai nạn.

Nhưng trong cái rủi sẽ có cái xui, đừng lo lắng quá."

"Có giúp tao cưa đổ crush không?"

Tôi hỏi lại, chắc chắn là câu cuối nó thêm vào.

"Cái đấy là nằm ở mày."

Nó nhún vai.

"Muốn quen người ta nhưng không dám nói, khác nào muốn trúng số nhưng không chịu đi mua vé số?

Tao nói này, mày không thể cứ im lìm như thế được đâu.

Phải hành động chứ."

"Nhưng..."

"Bậc vĩ nhân lịch sử không trở thành vĩ nhân nhờ đứng nhìn.

Họ hành động, họ tìm đường để đi đến thành công."

Rồi nó lại nhìn tôi từ đầu đến chân.

"Riêng đường đi tới trái tim crush của mày thì tao thấy nó bị bịt kín mít luôn."

"Thằng chó này!"

Tôi đấm vào tay nó.

"Thôi nào, tử vi nói mà, đâu phải tao bịa ra."

"Bắt đền mày ngày mai khao tao trà sữa đấy."

Nói rồi tôi leo lên chiếc xe đạp.

"Tao về đây."

"Sang đường nhớ đừng nhìn, phải quan sát."

Nó vẫn dán mắt vào điện thoại.

"Là ý gì?"

Tôi hỏi lại.

"Leonardo da Vinci nói thế."

Nó đáp bằng chất giọng nhẹ nhàng và trầm ấm.

"Về cẩn thận nhé, người anh em."

"Nghe gớm quá!"

Đến đoạn này thì vẫn na ná mọi ngày.

Các bạn mong chờ điều gì ở một thằng học sinh lớp Mười học ban tự nhiên yêu đơn phương cô bạn lớp bên?

Một bộ phim thanh xuân vườn trường?

Tôi cũng muốn lắm.

Nhưng xem ra ông trời thì không.

Ngay khi đạp xe tới ngã tư, tôi đã thấy cô ấy.

Nữ thần của lòng tôi.

Cô ấy cất bước.

Trong bộ đồng phục mùa đông màu trắng và xanh và chiếc quần đồng phục xanh đen.

Những cơn gió nhảy múa qua những lọn tóc đen mượt dài ngang lưng.

Đôi mắt long lanh của cô cẩn thận quan sát hai bên trước khi qua đường.

Khi đã qua tới bên kia đường, cô vẫy tay chào tôi.

Tôi đã nói rằng cô ấy giống như một nàng tiên nữ chưa nhỉ?

Khi cô ấy vẫy tay với tôi và mỉm cười, tôi đã nghĩ, hôm nay chết cũng đáng lắm.

Suy nghĩ thật ngu si vì khi đó tôi đã không nhìn đường.

Chiếc xe đạp của tôi đã chắn trước mặt một chiếc xe tải.

Sau đó tôi chỉ nhớ, mình đã nằm trên đường.

Bất động.

Tầm nhìn mờ nhạt dần.

Người tôi bê bết máu.

Tiếng người xe xôn xao.

Trí não dần ngừng suy nghĩ.

-

Chết vì gái đúng là cái chết tê tái mà.

-

Và tôi dần dần nhắm mắt.

-

Khi mở mắt, tôi thấy trước mặt mình là một người đàn ông.

Ông ta mặc bộ trang phục nhìn rất cổ.

Trông như phim cổ trang Trung Quốc.

Nhưng cũng không giống lắm.

Bộ râu được cắt tỉa kỹ lưỡng của ông điểm vài sợi bạc.

Ông chăm chăm nhìn tôi với một ánh mắt long lanh đầy kỳ vọng.

"Chúc mừng bệ hạ."

Tiếng một người phụ nữ nói bên tai tôi.

"Giờ Hợi, ngày hai mươi lăm tháng Giêng năm Chương Thành Gia Khánh thứ tám(1), hoàng tử ra đời, sức khỏe tốt."

"Được...

được!"

Người đàn ông ấy rơi từng giọt lệ nhìn tôi.

"Cuối cùng, trẫm cũng đã có được một hoàng nam!

Đất nước này, có người kế ngôi rồi!"

Ông ta bật lên, ra khỏi tầm mắt tôi.

"Truyền lệnh của trẫm, phong hoàng tử làm Hoàng thái tử.

Từ mai, đổi niên hiệu và đại xá thiên hạ!"

Người đàn ông ấy lại nhìn tôi.

Ông săm soi tôi từ đầu đến chân.

"Khà khà khà..."

Ông ta cười, một nụ cười đầy hồn nhiên, nhưng tiếng cười thì có chút... có nên gọi là hắc ám không nhỉ?

Không hẳn là hắc ám đâu.

Chắc là do chất giọng trầm của đàn ông có tuổi.

"Bệ hạ."

Một giọng nữ khác yếu ớt cất lên.

"Con của thiếp..."

"Á!"

Người đàn ông có chút giật mình.

Ông lúng túng cố bế tôi lên.

Nhưng khi hai bàn tay ông cố bế tôi lên thì cả cơ thể tôi đau nhói.

Tôi hét ầm lên, âm thanh duy nhất tôi phát ra được là những tiếng oa oa.

Một người phụ nữ khác đón lấy tôi và đặt tôi vào vòng tay của một người phụ nữ khác.

Cô ấy trông trẻ trung, chắc là mười chín, và đang trong trạng thái rất mệt mỏi.

Mặt mày tái nhợt, mồ hôi nhễ nhại, tóc tai rũ rượi.

"Con trai của ta..."

"Cô là ai?

Sao tôi lại là con của cô được?"

"Con trai của chúng ta..."

Người đàn ông kia tới ngồi bên cạnh cô.

Xét tuổi tác giữa họ, tôi thấy ông ta đẻ ra cô gái kia còn được.

Nhưng sao họ lại gọi tôi là con của họ nhỉ?

"Thái tử của ta à...

Tương lai, con sẽ là Hoàng đế của Đại Việt!"

Ông nói đầy vẻ oai hùng.

Thái tử?

Hoàng đế?

Tôi đang nằm mơ à?

Đại Việt?

Mơ quay về thời cổ đại à?

Đại Việt?

Đó là tên nước ta từ thuở xa lắc xa lơ rồi mà.

Và người đàn ông kia gọi tôi là hoàng tử rồi Thái tử là thế nào?

Ông ta là ai vậy?

Người kia gọi ông ta là bệ hạ?

Tức là ông ta là vua?

Giấc mơ này có vẻ rõ ràng quá nhỉ?

Tôi là một học sinh trung học phổ thông bình thường như bao học sinh khác.

Vẫn giỏi môn này dốt môn kia, vẫn có một tình yêu tuổi học trò không bao giờ dám nói ra.

Và ròi tôi nhận ra, hiện tại, tôi đang ở trong thân xác của một em bé sơ sinh tay chân ngắn ngủn và đang quẫy đạp.

Miệng tôi cố gào lên, nhưng chỉ phát ra được những tiếng oe oe.

-

Sau khi định thần lại và nằm trong chiếc nôi bằng gỗ, tôi bắt đầu suy nghĩ.

Đầu tiên, đây không phải mơ.

Tôi có thể cảm nhận rõ ràng những chuyển động của mình.

Không mông lung như một giấc mơ.

Tiếp theo, những người phụ nữ trước mặt tôi đều mặc trang phục như trong phim cổ trang.

Nhà cửa được trang trí rất đẹp với những nét cổ kính như phim kiếm hiệp Trung Quốc, không có dấu vết của thời hiện đại.

Không điện thoại, không điều hòa, không TV...

Cuối cùng là cái thân xác sơ sinh này.

Không có răng, tóc lú nhú, tay chân ngắn ngủn và có phần mập mạp.

Không còn dấu vết của chàng thiếu niên cao to đẹp trai, khụ khụ, được rồi, không hẳn là cao to, nhưng cũng khá ưa nhìn đấy.

Từ những dữ kiện ấy và xâu chuỗi với những bộ phim cổ trang Trung Quốc và phim hoạt hình Nhật Bản mà tôi đã từng xem cùng lũ bạn, tôi kết luận, mình đã xuyên không rồi.

Tiên sư ông trời!

Bao nhiêu thằng không chọn lại chọn tôi để ném về cái thời đại này hả!?

Ở cái nơi không có internet thế này thì tôi sống kiểu gì!?

Rồi còn bố mẹ tôi nữa.

Tôi vừa bị xe tải đâm chết đấy.

Bố mẹ tôi chắc đang lo lắm.

Còn bạn tôi nữa.

Thằng bạn tôi rất giỏi lịch sử, sao ông không đưa nó về mà lại là tôi!?

Còn mối tình đơn phương của tôi nữa.

Cả năm qua cô ấy mới nhìn tôi lại là lúc tôi bị xe tải đâm chết ngắc.

Ông đang đùa tôi đấy à!?

Sau khi chửi trời chửi đất, tôi tiếp tục một số thông tin hiện có.

Ông vua lúc nãy có thể là cha tôi.

Sau một lúc lâu hội ý với mấy ông già (tôi đoán thế, nghe giọng của họ thì tôi thấy cũng khàn đặc), ông đã đặt cho tôi cái tên Lý Càn Đức.

Tôi nghe loáng thoáng là chữ "Càn" có ý nghĩa gì đó liên quan tới trời.

Còn chữ "Đức" thì chắc chắn là đạo đức rồi.

Tiếp theo, họ Lý.

Hoàng đế Đại Việt.

Tức là triều đại nhà Lý trong lịch sử Việt Nam.

Phong làm Thái tử.

Với kinh nghiệm xem phim cổ trang cùng bà ngoại và mẹ, tôi biết Thái tử là con trai của vua, người sẽ trở thành Hoàng đế trong tương lai.

Vậy tức là Lý Càn Đức tôi sẽ trở thành Hoàng đế của Đại Việt?

Điều đó có nghĩa là tôi sẽ là một vị vua của nhà Lý sao?

Quá nhiều câu hỏi xoay xoành xoạch trong đầu tôi.

Chẳng lẽ kiếp trước chết vì gái thì kiếp sau đầu thai làm vua?

Nhưng đây là xuyên không về quá khứ...

Mặc dù tôi thích phim khoa học viễn tưởng nhưng những thứ như kiểu nghịch lý về du hành thời gian lúc nào cũng khiến tôi đau não.

Não bộ tôi hoạt động hết công suất.

Đến mức tôi đã ngủ thiếp đi.

Sau nhiều ngày ở trong cái thân xác em bé sơ sinh, tôi cũng đã dần chấp nhận sự thật rằng mình đã xuyên không rồi.

Nhưng chính xác thì xuyên không về năm nào thì tôi không biết.

Thời nhà Lý, sách giáo khoa chỉ dạy về chuyện Lý Thái Tổ dời đô, Lý Thường Kiệt đánh Tống và Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh thôi.

Mấy đoạn chính trị kinh tế xã hội này kia thì tôi... toàn ngủ.

Tôi nghĩ rằng nếu có đứa được đưa về thời đại xa xưa này thì nên là thằng bạn thân tôi.

Tôi chỉ học Lịch sử cho có để được lên lớp thôi mà.

Vào tiết cũng chỉ ngủ chứ có học hành gì đâu.

"Ba cái trò tử vi chết tiệt.

Sớm biết có ngày này thì mình đã chăm học lịch sử hơn rồi."

(1) Năm 1066.
 
Ấu Hoàng
Những rắc rối trong hậu cung còn nhiều hơn số người ở trong đó.


Ba năm trôi qua như một cái chớp mắt.

À, với bạn thì chỉ là chuyển sang chương tiếp theo thôi.

Nhưng với tôi thì đó là ba năm khốn khổ nhất cuộc đời.

Là ba năm đầu tiên tôi sống trong thân xác của Thái tử Đại Việt Lý Càn Đức.

Lần đầu tập đi khá khó khăn.

Bởi tôi nhớ cách đứng dậy và bước đi nhưng đôi chân nhỏ bé yếu ớt của đứa trẻ một tuổi không hợp tác với tôi.

May làm sao tôi vẫn xoay sở được để có thể đi đứng và đã có thể chạy khi được mười lăm tháng tuổi.

Nhưng đó chưa phải tất cả.

Với tôi, mọi thứ đều lạ lẫm.

Văn hóa, kiến trúc, chữ viết...

Rất may là chúng tôi vẫn nói tiếng Việt.

Kể ra thì, trước khi trở về đây, tôi đã nghĩ rằng người Việt chúng tôi khi ấy nói tiếng Trung.

Chắc khi trở về phải đi cúng viếng các vị vua mới được.

Nhắc đến trở về, tôi không biết mình cần bao lâu mới có thể về được nữa.

Tôi không nhớ vua nào là tên Lý Càn Đức cả.

Hay chính xác hơn, vị vua nhà Lý duy nhất tôi biết tên thật là Lý Thái Tổ - Lý Công Uẩn.

Sách giáo khoa không mấy đề cập đến tên của các vị vua.

Khi học tôi cũng khá mừng vì không phải nhớ quá nhiều cái tên, nhưng bây giờ thì tôi ước gì ngày ấy tôi biết tên của các vị vua.

Năm nay cũng đánh dấu sự kiện lần đầu tôi được dự chầu cùng phụ hoàng tôi.

Thú thật nhé, ngồi trên cao và nhìn một loạt những ông già đáng tuổi cha tuổi ông mình lễ phép chào mình, kể cũng thích.

Bên cạnh những vị quan lại đại thần mặc áo quan, tôi còn thấy rất nhiều sư sãi mặc áo cà sa đứng dự chầu nữa.

Tôi nhớ bạn tôi từng nói về vấn đề này.

Thời Lý, các hòa thượng Phật giáo có quyền lực chính trị chứ không đơn thuần chỉ là sư sãi.

"Bệ hạ, ở Hoa Lư năm nay vụ mùa ổn định."

"Bệ hạ, có thương nhân Đại Lý hối lộ huyện lệnh Hà Bắc để trốn thuế.

Sự việc kéo dài đã một thời gian..."

"Bệ hạ, họ Nùng đang có bụng phản..."

"Bệ hạ, thần đề xuất với tội đọc truyện không like thì phạt xẻo tai."

"Bệ hạ, có thuyền lớn của thương nhân phương Tây bị mắc ngang ở sông, cản trở người dân đi lại trên sông..."

"Bệ hạ..."

Được rồi, nghe họ nói một hồi thì tôi bắt đầu ngủ gật.

Cuối buổi, một người nói rằng có cống vật.

Đó là lần đầu tiên tôi thấy con voi màu trắng.

Hai con voi trắng được nhốt trong chiếc cũi đặt giữa sân rồng.

Hoàng đế, Thái tử (tôi) và quần thần cùng ra xem.

Thậm chí Hoàng hậu và mẹ tôi, một Nguyên phi cũng tới xem.

Mẹ tôi, Nguyên phi Ỷ Lan, có một sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành.

Có thể nói, sắc đẹp của bà khiến tôi, người đã có người trong mộng, cũng phải xao xuyến.

Làn da bà trắng hồng hào đầy sức sống, chân mày thon thả nữ tính, ánh mắt đầy sức quyến rũ và đôi môi đỏ mọng mang một vẻ hút hồn.

Bà đang mặc một bộ trang phục lộng lẫy với màu đỏ chủ đạo và đeo nhiều trâm cài tóc bằng vàng và bạc.

Mái tóc đen óng ả của Nguyên phi được búi cao, để lộ ra chiếc cổ cao xinh đẹp.

Người được đưa vào cung cách đây mấy năm sau một chuyến tuần du của phụ hoàng.

Nghe nói, khi xa giá của phụ hoàng đi đến đâu, người người đổ ra xem.

Nhưng có một người đứng sau gốc lan đứng hát mà không chịu tới bên xa giá hành lễ.

Lúc đó phụ hoàng tôi giận, nhưng thấy nhan sắc của mẫu phi nên đã nguôi ngoai và sau một lúc lâu trò chuyện, mẹ tôi đã nhập cung trở thành Ỷ Lan phu nhân.

Tôi chỉ nghe bố tôi nhắc tới đền Thái phi Ỷ Lan ở dưới Gia Lâm chứ cũng chưa đi bao giờ.

Nếu khi trở về thế kỷ XXI mà tôi đi cúng Thái phi và khấn "Mẹ ơi, là con này, mẹ nhận ra con không?" thì chắc bà ấy cũng giật bắn mình cho xem.

Quay lại với hai con voi.

Tôi biết rõ, hai con voi đó chỉ bị bạch tạng thôi.

Nhưng mẹ tôi thì không.

Bà ngồi cạnh tôi và liên tục giảng cho tôi biết rằng voi trắng là vật thiêng, là điềm báo cho một đất nước hùng mạnh và thịnh vượng, blah blah blah.

Đúng là thời cổ đại, toàn là mê tín.

Và vâng, tôi là một con người của khoa học.

"Thái tử."

Vua cha gọi tôi.

Bàn tay ông vẫy về phía tôi.

Mẹ tôi khẽ đẩy tôi lên.

Tôi lon ton bước về phía phụ hoàng bằng đôi chân bé nhỏ bên trong bộ trang phục vướng víu dài tới tận mắt cá chân.

"Hãy xem hai con bạch tượng này, con nghĩ sao về chúng?"

Đương kim Hoàng đế Đại Việt có nước da hơi ngăm, ánh mắt Người hiền dịu nhưng cặp chân mày thì trông cương trực và mạnh mẽ.

Ở hai bên khóe mắt có những vết chân chim lộ ra khi Người mỉm cười, hàng ria mép mỏng khẽ cong lên.

Vị vua mặc một bộ cổn miện với áo bào màu đen, thêu nhiều hoa văn núi, rồng, chim, hổ...

ông đeo một cái thắt lưng nạm ngọc.

Ấn tượng nhất là chiếc mũ Bình Thiên.

Mũ miện mười hai tua dài xuống, mỗi tua có mười hai viên ngọc.

Tính cả trước sau tổng cộng hai trăm tám mươi tám viên.

Vắt ngang chiếc mũ và rủ xuống hai bên là một dải lụa trắng.

Các bạn nhớ bức tượng vua Lý Thái Tổ ở vườn hoa Chí Linh chứ?

Vua cha tôi không hề mặc như thế.

Người oai hơn rất nhiều.

Tôi thở dài và nhìn hai con voi.

Tôi muốn nói rằng chúng bị bạch tạng do rối loạn sắc tố Menalin.

Nhưng nếu nói thế có thể cha tôi sẽ cho thiêu sống tôi mất.

Dù không biết nhiều về lịch sử, nhưng tôi có chơi game và xem một số phim về lịch sử, có phim nào đó từng kể về một cô gái bị thiêu sống vì bị nghi ngờ là phù thủy đấy còn gì.

"Bẩm phụ hoàng," Tôi cố nghĩ ra cái gì đó vừa ý lọt tai ông vua.

"voi trắng là điềm lành của đất nước.

Có thể đôi bạch tượng này chính là quà ông trời ban cho phụ hoàng, ông trời muốn phụ hoàng thiên thu trường tồn, mãi mãi làm một đấng minh quân cai trị Đại Việt ta sánh vai với các cường quốc."

Vâng, nghe chẳng ăn nhập gì cả, nhưng cha tôi thích là được rồi.

Tôi có thể thấy niềm vui sướng hiện lên đôi mắt ông.

Một vẻ hớn hở và vui mừng như một đứa trẻ.

"Đúng là con trai của ta."

Phụ hoàng tôi vuốt râu.

"Được!

Truyền lệnh của trẫm, nhân dịp này, cải niên hiệu làm năm Thiên Huống Bảo Tượng (1) thứ nhất.

Ý các khanh thế nào?"

"Bệ hạ vạn tuế!"

Quần thần cùng quỳ xuống.

Sau lệnh "bình thân" của phụ hoàng, các vị quan lại bắt đầu kéo nhau xuống xem voi.

"Thái tử thật là trí hiếu."

Một người đàn ông râu tóc bạc phơ bước tới gần tôi.

Với tầm mắt của một đứa bé ba tuổi, người đàn ông đó to lớn như một người khổng lồ.

Mà dù đứng ngang hàng với những người lính vốn cao to, ông cũng đã cao lớn hơn họ đôi phần.

Điểm nổi bật nhất trên gương mặt ông là một vết sẹo lớn dài từ sống mũi chéo xuống tới hết gò má.

Gương mặt ông có nhiều vết đồi mồi và những vết chân chim in hằn trên đuôi mắt ông.

Râu ông dài như bức tượng Quan Công mà bạc trắng.

Từ ông tỏa ra một khí thế oai phong lẫm liệt, tôi đoán ngày trẻ ông từng là một võ tướng.

Ông mặc áo bào bằng gấm màu tía và đội mũ cánh chuồn, loại dành cho quan văn.

Trên tay ông là một chiếc hốt bằng ngà.

Ông đưa chiếc hốt ra trước và cúi người chào tôi.

"Ngài là ai?"

Tôi không biết ông ta.

Đây là lần đầu tôi được tới gặp những quan lại này.

"Thứ lỗi cho thần."

Ông vội nói.

"Thần, Lý Đạo Thành, khấu kiến Thái tử."

À, tên ông này thì quen.

Cha mẹ tôi thường nhắc tới cái tên này.

Nếu tôi nhớ đúng, ông là Thái sư, vị quan quyền lực nhất trong triều.

Nói nhỏ nè, Thái sư duy nhất mà tôi có ấn tượng là Thái sư Trần Thủ Độ.

Trớ trêu thay, ông ta lại là người sẽ lật đổ nhà Lý của tôi sau này.

"Thái sư."

Mẹ tôi đột nhiên xuất hiện.

Bà khẽ nhún người chào Thái sư.

Thái sư cũng cúi người chào.

Phải tôi tôi đá lông mày một cái là xong.

Người cổ đại thật là cồng kềnh.

"Nguyên phi mới sinh hạ hoàng tử, mà thần sắc vẫn thật tươi trẻ.

Dung nhan của người đúng là mẫu nghi thiên hạ."

"Ngài nói thế là sai rồi."

Mẹ tôi lắc đầu.

Nhưng nụ cười của bà cho tôi biết là bà thích cái cụm từ đó.

"Mẫu nghi thiên hạ chỉ có một thôi.

Và đó là chính thất của bệ hạ.

Hạng thứ phi như ta làm sao dám giành chứ."

"Nguyên phi khiêm tốn như vậy, thật là phúc của quốc gia."

"Thái sư.

Ngài nghĩ sao về Thái tử?"

Mẹ tôi hướng cuộc trò chuyện về tôi.

"Thái tử còn nhỏ, đã thể hiện trí tuệ và lòng nhân hiếu.

Tương lai có thể là bậc minh quân sánh với bất kỳ vị đế vương nào."

"Tương lai của Thái tử cũng là tương lai của quốc gia.

Hy vọng đến khi Thái tử đăng cơ, ta vẫn được thấy Thái sư đến thiết triều."

"Thần tuổi cao sức yếu, e không sống được đến lúc đó.

Tương lai của Đại Việt ta, đành nhờ Nguyên phi và thế hệ sau rồi."

Lý Đạo Thành cúi người.

"Nguyên phi thứ tội, thần còn có công vụ."

Rồi ông quay sang tôi.

"Thái tử.

Thần xin phép."

Kể ra được một hàng những ông già nghiêm chỉnh cúi người lễ phép với mình cũng oai đấy, nhưng nghe nhiều lại thấy tổn thọ.

Tôi vẫn muốn có ai đó xêm xêm tuổi mình để được tâm sự hơn.

Con cái của các quan thì cũng chưa đủ trưởng thành để vào hoàng cung, còn con của các phi tần khác của phụ hoàng thì... hầu hết đều là con gái và lớn tuổi hơn tôi.

Duy chỉ có một đứa em trai cùng mẹ với tôi vừa mới sinh.

Hí hửng như một đứa trẻ, tôi phóng thẳng tới Minh Nhân cung, nơi này hiện đang là nơi em trai tôi ở.

Thằng bé tên là Lý An Dân, được lấy từ "tế thế an dân".

Vừa sinh ra, thằng bé đã được phong làm Minh Nhân Vương.

Nghe cũng oai lắm.

Nhưng làm sao oai bằng Thái tử là tôi được.

Khi đến đó, tôi thấy người hầu đều đang quỳ xuống.

Tôi rón rén đến đứng sau bức tường và lén quan sát.

Dương Hoàng hậu đang ở đó và nhìn em trai tôi.

Hoàng hậu Dương Hồng Hạc là vợ cả của phụ hoàng tôi, nhưng không sinh được mống con nào nên có vẻ đang thất sủng.

Đấy, các cô ngồi đấy đọc truyện có muốn làm hoàng hậu nữa không?

Mà khoan, nếu bà ta đang bị thất sủng, có khi nào bà ta đang định làm hại em trai tôi không?

Mỗi khi ăn cơm trưa ở nhà, bà ngoại tôi thường mở phim xem.

Tôi nhớ có một phim cung đấu nào đó có người đã giết chết một đứa bé sơ sinh chỉ để tranh sủng.

Khốn nạn thêm nữa là tự nhiên cảnh phim đó hiện về trong đầu tôi ngay cái lúc oái ăm này.

"Này!"

Tôi hét lớn.

Bà Hoàng hậu rõ ràng là giật bắn mình.

Bà ta có mái tóc đen điểm bạc, gương mặt có nhiều nếp nhăn nhưng đã cố che đi bằng lớp trang điểm.

Dáng người bà có phần đầy đặn hơn mẹ tôi, bộ trang phục và trang sức trên người bà cũng thể hiện sự cách biệt vị thế giữa hai người, một người là dòng dõi danh gia vọng tộc, con gái của Diễn Quận công Dương Đức Uy, thái ấp ở Nghệ An.

Còn mẹ tôi chỉ là một người con gái hái dâu ở nông thôn.

"Thái tử!?"

Bà ta trông rõ ràng là đang bối rối.

Tôi nhớ vừa nãy bà ta đã than với phụ hoàng là mình mệt nên muốn về nghỉ trước, thế mà lại tới đây, rõ ràng là mưu đồ bất chính mà.

"Bà định làm gì em tôi!?"

Tôi quát.

Dù âm thanh thốt ra từ miệng của một đứa trẻ ba tuổi nghe trong veo và chẳng có gì giống dọa dẫm, nhưng bà Hoàng hậu kia có vẻ đang run sợ.

Tất nhiên rồi, người ta tương lai sẽ là Hoàng đế đó.

Tất nhiên bà ta phải sợ rồi.

Ánh mắt bà ta trông rõ là lo lắng.

Còn em tôi thì khóc oe oe.

"Thái tử..."

Dương Hoàng hậu bình tĩnh lại.

"ta tưởng con đang cùng Hoàng thượng và Nguyên phi ngắm bạch tượng?"

"Ta đang hỏi bà đấy, bà định làm gì em trai ta?"

"Làm gì à?"

Bà ta quay lại và bế đứa trẻ sơ sinh lên.

Tôi chạy vùng tới.

Ngay lúc đó Dương Hoàng hậu ôm An Dân vào lòng.

"Ngoan nào..."

Bà ta dỗ dành đứa bé.

"Thái tử cũng biết," Bà vừa nói vừa dỗ em tôi, thằng bé dần nín khóc.

"ta đã từng này tuổi mà không có nổi một mụn con.

Thế mà Nguyên phi nhập cung mới mấy năm đã sinh ra tới hai hoàng nam.

Ta cũng ghen tị lắm chứ."

"Hoàng hậu..."

"Ta là Hoàng hậu."

Bà lắc An Dân một cách nhẹ nhàng.

"Nhưng trước khi làm Hoàng hậu, ta cũng là đàn bà.

Ông trời không cho phép ta sinh con, Thái tử cũng không cho phép ta bế một đứa hay sao?"

"Ta, xin lỗi."

Tôi cúi người xấu hổ vì đã nghi ngờ bà.

"Hoàng hậu."

Mẹ tôi xuất hiện bên ngưỡng cửa, bà kính cẩn cúi mình trước Hoàng hậu, người có địa vị cao hơn mình.

"Nguyên phi," Hoàng hậu cũng nhẹ nhàng đáp lễ.

Sau đó bà trả An Dân cho người hầu.

"mới nhập cung mấy năm đã sinh được tới hai hoàng tử.

Thật đáng mừng."

"Hoàng hậu quá khen.

Sinh con trai cho bệ hạ là trách nhiệm của thần.

Sao có thể nhận lời khen ấy được."

Với kinh nghiệm xem bạn cùng lớp đá xoáy lẫn nhau, tôi nhận ra ngay mẹ tôi đang cố tình cà khịa Hoàng hậu không sinh được con trai.

"Nếu có gì khó khăn, em cứ nói với ta."

Hoàng hậu mỉm cười.

"Ta dù gì cũng là Hoàng hậu, ta luôn xem các con của bệ hạ như là con mình."

"Tạ Hoàng hậu quan tâm."

Hoàng hậu ra về, mẹ tôi mới thở dài ôm lấy An Dân và ngồi xuống.

"Mẫu phi, may mà Hoàng hậu không có ý xấu, con cứ nghĩ bà ấy sẽ làm gì An Dân nữa chứ."

Tôi hớn hở nói với mẹ.

"Thái tử," Mẹ tôi nhìn tôi với ánh mắt nghiêm trọng.

"con còn nhỏ, chưa hiểu hết bản tính con người.

Ai mà biết được nếu không có con, thì hoàng tử nhỏ này đã gặp phải chuyện gì."

"Dạ..."

"Hoàng hậu nói rằng sẽ xem con như con ruột, ai mà biết được âm mưu của bà ta có phải là muốn sau này, khi con lên ngôi sẽ tôn bà ta làm Hoàng Thái hậu hay không.

Rồi sau đó, bà ta sẽ ra lệnh giết ta, chôn sống ta chăng?"

Tôi nín thinh không nói được lời nào.

"Con phải cẩn thận với người phụ nữ đó."

Mẹ tôi nói tiếp.

"Không, cả đời này, hãy luôn cẩn thận với phụ nữ.

Họ thường nguy hiểm hơn đàn ông."

Và đó là bài học đầu tiên tôi học được sau lần đầu thiết triều.

(1) Thiên Huống Bảo Tượng (天貺寶象): Trời cho voi quý
 
Ấu Hoàng
Có căn.


Một năm sau, đứa bé sơ sinh kia đã bắt đầu tập đi.

"Cẩn thận thôi, An Dân."

Tôi nói khi thấy đứa bé lạch bạch từng bước.

"Anh!"

An Dân gọi lớn chạy về tôi.

Rồi thằng bé ngã oạch.

Và bắt đầu khóc.

Tôi dỗ thế nào cũng không chịu nín.

Trông trẻ con mệt thật.

Có cách nào giúp thằng bé tập đi dễ hơn không nhỉ?

Ý nghĩ vừa nảy ra, tôi liền bắt tay vào làm ngay.

Hai hôm sau, tôi mang một chiếc xe tập đi cho trẻ đến Minh Nhân cung.

Chiếc xe có bốn bánh và một tay cầm vừa với tấm với của An Dân.

"Thái tử," Một người hầu nhìn chiếc xe tập đi cho bé mà tôi đã nhờ người làm hộ với ánh mắt kỳ lạ.

"Đây, ta gọi nó là xe tập đi."

Tôi tự hào khoe.

Nhưng cũng ngay lúc đó tôi thấy hơi hối hận.

Nếu vì chiếc xe này mà lịch sử thay đổi thì sao nhỉ?

Tôi có làm gì khiến cho dòng chảy lịch sử thay đổi không?

Tôi chỉ thầm mong là mình đã xem phim quá nhiều chứ chuyện mình làm chẳng ảnh hưởng gì đến lịch sử cả.

Chỉ là một chiếc xe thôi mà.

Nhưng rồi hiệu ứng cánh bướm lại hiện lên trong đầu tôi.

Trong khi còn đang suy nghĩ mông lung thì tiếng reo của người hầu đã khiến tôi hướng sự tập trung về phía An Dân, thằng bé đang đẩy chiếc xe và tập tễnh bước.

Bước chân dần vững vàng hơn.

Trong một khoảnh khắc, tôi nghĩ là mình muốn vứt quách cái lịch sử qua một bên và sử dụng kiến thức của thế kỷ XXI để thống trị thế giới cổ đại này.

Mà thôi, nghe viển vông chết đi được.

"Không ngờ là Thái tử có thể nghĩ ra một thứ như thế này."

Dương Hoàng hậu bước tới.

"Hoàng hậu!"

Tất cả người hầu quỳ xuống.

An Dân còn đang mải mê với chiếc xe tập đi và va vào chân Hoàng hậu.

"Minh Nhân Vương!"

Một cung nữ khẽ đứng dậy, nhưng nhìn thấy ánh mắt của Hoàng hậu, cô lại quỳ xuống.

"Aaa," Dương Hoàng hậu bế An Dân lên.

"An Dân bé nhỏ.

Mới ngày nào ta còn ôm trọn con trong lòng, nay con đã tập đi rồi sao?"

"Anh!"

An Dân gọi tôi.

Thực ra thì đó là từ duy nhất mà thằng bé nói được.

"Hoàng hậu," Tôi cố cứu thằng bé.

"ngọn gió nào đưa Người đến đây thế?"

"Ồ, ta chỉ đang rảnh rỗi thôi."

Hoàng hậu đặt đứa bé xuống và dịu dàng nhìn tôi.

"Ta là mẫu nghi thiên hạ, thì trước mắt ta cũng phải trông nom được hai đứa con nhỏ này đã chứ.

Không lo được việc trong nhà, sao có thể đảm đương việc quốc gia.

Ta nói có đúng không?"

"Hoàng hậu dạy phải."

Tôi cúi người.

"Con xin ghi nhớ."

"Thái tử!

A!

Hoàng hậu!"

Một quan thái giám chạy vội vào.

"Có tin của bệ hạ gửi về ạ."

Khoe với các bạn nhé, phụ hoàng tôi đang thân chinh đi đánh Chiêm Thành.

Sách giáo khoa Lịch sử chỉ toàn chiến tranh với Trung Quốc mà quên hẳn ở phía nam nước ta ngày ấy còn có một quốc gia cực kỳ hùng mạnh: Chăm-pa, còn gọi là Chiêm Thành.

Có lẽ vì cộng đồng người Chăm ở Việt Nam hiện nay (thế kỷ XXI ấy) nên những cuộc chiến tranh như thế này không được đưa vào sách giáo khoa.

Tôi, Thái tử Đại Việt Lý Càn Đức, năm nay sáu tuổi (không tính tuổi mụ thì là bốn) và đã bắt đầu học chữ Hán.

Dù nói chuyện bằng tiếng Việt nhưng trong văn bản thì sử dụng chữ Hán.

Tôi cũng đã xem phả hệ hoàng gia, theo đó thì tôi là trưởng tử của Hoàng đế Lý Nhật Tôn và Nguyên Phi Ỷ Lan Lê Thị Khiết, cháu nội của Thái Tông Hoàng đế Lý Phật Mã và là chắt của Thái Tổ Hoàng đế Lý Công Uẩn.

Tuy tôi dốt Lịch sử thật.

Nhưng bạn cùng bàn của tôi là học sinh chuyên sử.

Nó đã chỉ tôi mẹo để nhớ thứ tự các vị vua thời Lý – Trần.

Theo thứ tự là Thái Tổ, Thái Tông, Thánh Tông và Nhân Tông.

Nếu có kiểm tra cũng chỉ hỏi khoảng bốn đến năm vị vua đầu thôi.

Vậy nếu bạn tôi dạy đúng, thì cha tôi hiện tại là vua Lý Thánh Tông.

Và tôi sẽ là Lý Nhân Tông.

Tôi chạy vội đến điện Thiên Khánh, nơi phụ hoàng tôi ngự chầu và xử kiện.

Ở đó các quan lại đang đứng nghe người sứ giả báo cáo.

Còn mẹ tôi ngồi trên một chiếc ngai vàng bên cạnh chiếc ngai của cha tôi.

Trong khi cha tôi ra trận đánh giặc thì mẹ tôi chính là người thay ông quản lý đất nước.

Hỗ trợ bà còn có Thái sư Lý Đạo Thành và các quan lại.

Trước đây, khi ông nội tôi thân chinh đánh giặc thì cha tôi ở lại lo việc nội sự.

Nhưng một đứa trẻ như tôi ngồi trên đó cũng chỉ để làm cảnh thôi và hóa ra mẹ tôi lại giỏi trong việc này nên không ai phản đối.

Dương Hoàng hậu, bất ngờ thay cũng ủng hộ việc này.

Tôi đang đứng phía sau chiếc rèm ở bên cạnh ngai vàng.

Ở đây tôi có thể thấy rõ gương mặt mẹ mình và các quan lại ở hàng đầu.

"Bệ hạ đang định lui quân sao?"

Mẫu phi tôi nhìn người sứ giả truyền tin bằng ánh mắt long sòng sọc.

"Bẩm Nguyên phi, Chế Củ thủ mà không đánh.

Quân ta đi đường xa mệt mỏi, khó lòng đánh được với kẻ địch trên chính lãnh thổ chúng.

Bệ hạ và tướng sĩ đều bắt đầu nản và đang chuẩn bị lui quân rồi ạ."

"Thái bảo thì sao?"

Thái sư hỏi người sứ giả.

"Sao ngài ấy không khuyên bệ hạ?"

"Hiệu úy thái bảo tiên phong đi đầu.

Nhưng đánh mà không có kết quả, chính vì thế nên bệ hạ mới bắt đầu nản ạ."

"Ôi trời ơi..."

Mẹ tôi ngả lưng ra sau chiếc ghế, rồi như chợt nhớ ra mình đang ngồi trước bá quan nên bà ấy lập tức ngồi thẳng dậy.

"Ngươi lui được rồi."

"Các ái khanh hãy yên tâm."

Mẹ tôi nói với các quan lại khi sứ giả truyền tin đi ra ngoài.

"Bệ hạ từ năm mười bốn tuổi đã đánh trận, Thái bảo là tướng tài trăm trận trăm thắng.

Chế Củ chỉ đang cố chút hơi tàn thôi.

Thế, hôm nay tới đây thôi.

Bãi triều."

"Nguyên phi vạn an!"

Mẹ tôi bước vào trong rèm.

Tôi vội núp vào sau góc tường.

Khi vào tới phòng, tôi thấy mẹ tôi ngồi phịch lên giường và xoa đầu.

"Mẹ."

Tôi bước vào.

Nhìn người mẹ mệt mỏi ngồi trên giường, tôi ước gì mình đem theo một hộp salonpas hay mấy viên panadol extra.

"Đức!"

Mẹ tôi lại ngồi thẳng dậy.

"Sao con lại ở đây?"

"Phụ hoàng đánh trận không thắng được ạ?"

"Thái tử," Mẹ tôi vỗ lên giường.

"lại đây với ta nào."

Tôi ngồi lên bên cạnh mẹ mình.

Bà bắt đàu vuốt lại tóc cho tôi.

"Những cuộc chiến này rốt cuộc có ý nghĩa gì ạ?"

Tôi hỏi với một giọng điệu ngây thơ.

"Không có chiến tranh không phải sẽ tốt hơn sao ạ?"

Đây là một mong muốn từ sâu thẳm trong tôi.

Nếu không có chiến tranh, sách Lịch sử sẽ ngắn đi rất nhiều.

Và bọn học sinh chúng tôi cũng không phải học ngày học đêm vì mấy con chữ con số chán ngắt nữa.

Sâu xa hơn, ông nội tôi mất trong kháng chiến chống Mỹ từ trước khi tôi ra đời nên tôi cũng không muốn chiến tranh rồi chết chóc.

Chết chóc rồi lại đau thương.

"Thái tử," Mẹ tôi mỉm cười rồi lại bắt đầu một thiên anh hùng ca của ông cố, ông nội và cha tôi về đánh giặc ở các vùng sâu vùng xa mà tôi cũng chẳng biết những chốn ấy là chốn nào.

"Nhà Tống và Chiêm Thành nhiều lần quấy nhiễu biên giới của ta."

Mẹ tôi kết thúc câu chuyện dài lê thê.

"Chúng ta luôn phải đề phòng nhà Tống ở phía bắc và Chiêm Thành phía nam, ở các vùng biên giới cũng luôn có những kẻ không thần phục triều đình và có ý định làm phản."

Mẹ tôi dừng lại một chút.

"Chúng ta mở mang bờ cõi, đất nước càng rộng lớn, chúng ta càng mạnh.

Khi đã mạnh, ngoại bang sẽ phụ thuộc vào chúng ta.

Sự phụ thuộc của chúng thể hiện qua những lần cống nạp.

Chế Củ đã lơ là cống nạp, thế thì cần phải xuất quân cho chúng thấy cái uy của một nước lớn."

"Nhưng con thực sự không thích chiến tranh.

Tại sao không phải là mối quan hệ ngoại giao bình thường như mình với Mỹ?

Mặc dù từng chiến tranh gay gắt với nhau, rồi bị cấm vận nhưng bây giờ hai nước đã có trở thành đối tác chiến lược toàn diện đấy thôi.

Sao chúng ta không lấy hợp tác song phương làm đích đến?"

"Con đang nói linh tinh gì thế?

Mỹ là ai?"

"À thì, ý con là, con thích một mối quan hệ hòa bình hơn là cứ hở ra là phải đánh nhau."

Tôi dặn mình là phải suy nghĩ kỹ rồi mới được mở mồm ra nói.

"Thái tử, một vị vua, không được phép để cảm xúc cá nhân xen vào công việc.

Con có thể muốn yên bình, nhưng người khác thì không.

Con có thể tin tưởng kẻ khác, nhưng kẻ khác cũng có thể lợi dụng điều đó.

Khi con là một vị vua, con sẽ luôn cần phải xem xét tất cả những kẻ xung quanh con.

Cả người mà con tin tưởng nhất, cũng có thể thể phản bội lại con vào một ngày nào đó."

"Con... hiểu..."

Thực sự là tôi có hiểu chút chút.

Nhưng tôi cũng không biết phải làm thế nào.

Suy nghĩ chuyện chính trị đúng là đau đầu mà.

Tự nhiên tôi hiểu được lý do các chính trị gia thường bạc tóc sớm hoặc bị hói.

"Được rồi."

Mẹ tôi xoa đầu tôi.

"Ta sẽ đi cầu Phật cho phụ hoàng con thắng trận trở về."

Ở điểm này, bà giống bà ngoại tôi ở thế kỷ XXI.

Trước khi tôi đi thi, bà tôi thường bắt tôi ăn đậu đỏ, kiêng trứng, rồi bắt thắp hương lạy cụ lạy Phật.

Cha mẹ tôi ở đây và hầu hết mọi người dân đều rất sùng đạo Phật.

Người dân còn gọi mẹ tôi là Quan Âm nữa kìa.

"Con cũng muốn đi."

"Thái tử.

Con là Hoàng đế tương lai.

Việc của con bây giờ là học cách cai trị.

Cầu nguyện cho phụ hoàng con, để ta làm là đủ rồi."

Giờ ngồi xuống và suy nghĩ, nếu tôi thực sự trở thành một vị vua, trở thành Lý Nhân Tông, tức là tôi sẽ phải vừa lo toan nội chính như mẹ, vừa phải lo đánh giặc như cha.

Thực sự là nghĩ đến thôi mà thấy thật là nản chí.

Sao một thằng học sinh mười năm chỉ biết ăn học chơi như tôi lại phải đi làm vua cơ chứ?

-

Đến tháng sau, có sứ giả về báo tin phụ hoàng thắng trận trở về thật.

"Sau khi nghe tin Nguyên phi ở trong nước lo việc nội trị, giúp dân no ấm, bệ hạ đã vô cùng vui mừng và quyết tâm đánh cho bằng được Chiêm Thành."

Người sứ giả thông báo.

"Cuối cùng, đã bắt được Chế Củ và đang giải về kinh thành.

Đến giờ Thân sẽ về đến Thăng Long ạ."

Quan lại nghe xong thì vui mừng bàn tán.

Tôi chỉ cần nghe đến đó, lập tức chạy ra Đại Hưng Môn, cổng nam kinh thành Thăng Long.

Tất nhiên là nhờ người cưỡi ngựa đưa đi rồi.

Một đứa nhóc bốn tuổi chạy được quãng đường dài đó sao?

Khi tôi vừa đến nơi, xa xa, một đoàn người ngựa đang nối đuôi nhau lũ lượt kéo về.

Cát bụi bay mịt mù phía sau họ.

Những ngọn gió thổi những lá cờ bay phất phới.

Các lá cờ màu vàng với viền màu đỏ với những Hán tự màu đen.

Trên lá viết hai Hán tự Đại Việt.





Tôi chạy ra khỏi cổng thành và đến trước hai người cưỡi ngựa đi đầu.

Ánh nắng chiều rọi lên bộ giáp của họ khiến họ như đang lấp lánh.

Ngay lập tức, tôi quỳ xuống.

"Phụ hoàng!"

Tôi nói lớn hết mức có thể.

"Mừng Người thắng trận trở về."

"Thái tử."

Cha tôi và người đi bên cạnh ngay lập tức xuống ngựa.

"Sao con đã ra tới đây rồi?"

Phụ hoàng tôi bế tôi lên.

"Con... nhớ cha."

Đó là sự thật.

Dù gì thì bây giờ, ông ấy là cha tôi.

Và với một lý do sâu xa hơn, nếu ông mất, tôi sẽ phải ngồi lên cái ngai vàng chán ngắt kia.

"Con trai ta..."

Phụ hoàng tôi cười khà khà.

"Cha, cho phép con..."

Tôi cúi người với lấy thanh kiếm bên hông ông và rút nó ra.

Tiếng kim loại sắc lạnh kêu lên nghe thật ai oán.

Và thanh kiếm đó quá nặng so với một đứa trẻ bốn tuổi.

Nhưng tôi gồng hết sức đưa cao nó lên.

Người đang đi cạnh cha tôi đưa cao cây đại đao và hô lớn.

Quân sĩ phía sau reo hò thắng trận.

Cha tôi cũng mỉm cười nhưng nụ cười ông tắt ngúm khi thanh kiếm rơi khỏi tay tôi.

Rất may là Người đã đón được.

"Phụ hoàng."

Tôi nhìn cha.

"Mẫu phi đang chờ đấy ạ."

"Thái bảo," Cha tôi nhìn người đàn ông kia.

Ông ta có vẻ tuổi cao hơn cha tôi một chút.

Ông ta không to lớn như Thái sư nhưng trông rất rắn rỏi.

Đôi mắt của ông long lanh như hai viên ngọc.

Mặc dù cao tuổi nhưng ông lại không có râu, và tôi có thể nhận ra khi còn trẻ, ông đã đẹp trai đến mức nào.

"ta giao việc khao quân cho chú.

Tối nay gọi các tướng đến điện Thiên Khánh dự yến."

"Thần lĩnh mệnh!"

Thái bảo cúi người và truyền lệnh tướng sĩ.

Tôi đoán ông ta ngày trẻ có thể đẹp trai như Sơn Tùng, nhưng giọng thì giống ông thầy thể dục trường tôi.

Giọng oang oang và đầy uy lực.

Nếu làm ca sĩ thì... có lẽ sẽ hát được những bài hát cần vận nội lực.

"Phụ hoàng, Thái bảo đó là ai thế ạ?"

Tôi hỏi khi cùng cha quay về hoàng cung trên lưng con ngựa chiến.

Xung quanh có một đội cấm vệ quân bảo vệ.

Người dân hai bên đường quỳ xuống hô vạn tuế, vạn an, vạn phúc...

"Chú ấy tên là Ngô Tuấn."

Cha tôi nói.

"Nhưng đã được ban quốc tính."

Vừa nghe đến cái tên Ngô Tuấn, tôi lập tức nhón người cố quay lại nhìn người đàn ông đẹp trai kia thêm lần nữa.

Ở trường tôi có một bức vẽ cảnh ông mặc giáp, và thằng bạn tôi vẫn thường bảo "Ông ấy đẹp trai hơn thế này nhiều.".

Giờ thì tôi công nhận, Ngô Tuấn thật đẹp trai hơn hẳn bức vẽ ở trường tôi.

Ông ấy chính là Lý Thường Kiệt.

Một đứa mù Lịch sử như tôi cũng phải biết đến ông ấy.

Dù gì thì bốn năm trước, tôi vẫn là học sinh trường THPT Lý Thường Kiệt mà.
 
Ấu Hoàng
Học, học nữa, học mãi.


Những vũ nữ ca múa trong lớp áo lụa lả lướt.

Quan văn tướng võ cùng nhau ăn uống cười nói.

Nếu tôi không nhầm, ngoài kia, binh lính cũng đang nhậu nhẹt tưng bừng.

"Trẫm lần này đánh Chiêm, không thể không thành nếu các vị không tận lực giúp trẫm."

Hoàng đế phát biểu sau màn ca vũ.

"Trong đó, không thể không kể đến công lao của Nguyên phi và Thái sư đã cùng các quan văn thay trẫm nội trị, hay những tướng võ cùng trẫm ngoại chiến, đi đầu chém giặc.

Hôm nay, trẫm đặc biệt ban thưởng cho vị tướng đã tận lực cống hiến.

Cho mời Hiệu úy thái bảo Lý Thường Kiệt!"

Lý Thường Kiệt bước ra giữa điện và vái Hoàng đế Hoàng hậu, sau đó quay sang Nguyên phi và Thái tử.

"Hiệu úy thái bảo phụng lãnh Tiết Việt Đại Tướng, sung chức Tiền phong, bắt được vua Chiêm Thành là Chế Củ."

Quan thái giám đọc tờ chiếu.

"Luận công ban thưởng, thăng chức Phụ quốc thái uý kiêm lãnh chức Chư trấn tiết độ Đồng trung thư môn hạ, Thượng trụ quốc..."

Tên thái giám ngập ngừng nhìn phụ hoàng nhưng cũng nhanh chóng đọc tiếp sau cái nhướn mày của ông.

"Thiên tử nghĩa đệ."

Quan lại xôn xao.

Đến cả Dương Hoàng hậu và mẹ tôi cũng ngạc nhiên ra mặt.

"Phong làm Quốc phụ quốc Đại tướng quân, tước Khai Quốc công, đứng đầu công hầu.

Khâm thử." (1)

Mọi người im lặng một lúc.

"Chúc mừng Thái úy thăng quan!"

Thái sư Lý Đạo Thành đưa cao cốc rượu.

"Chúc mừng Thái úy thăng quan!"

Các quan tướng khác cũng chúc mừng Lý Thường Kiệt.

"Tiếp tục đi."

Cha tôi nói lớn.

"Cho mời, vua Chiêm Thành!"

Tôi và An Dân đã về sớm nên đã không kịp nhìn mặt tên vua Chiêm Thành kia.

Nhưng nghe nói y đã xin dâng đất để cầu hòa.

-

"Cho mời, Tân Quốc sư!"

Một vị hòa thượng trông khoảng ngoài bốn mươi bước vào.

Ông mặc áo cà sa màu đỏ bước từng bước nhẹ nhàng tiến vào sảnh điện Thiên An.

Ông vái phụ hoàng tôi rồi tới Dương Hoàng hậu.

Khi ông vái tôi, ánh mắt chúng tôi chạm nhau.

Đôi mắt ông đầy mạnh mẽ, nụ cười của ông dịu dàng như một ông lão hiền từ.

Cha tôi bước tới đối diện ông và chắp tay lễ Phật.

"Quốc sư.

Lỗi của trẫm không nhận ra hiền nhân."

"A di đà Phật."

Vị Quốc sư cúi gập người.

"Bệ hạ quá lời rồi.

Lão nạp chỉ tình cờ học được đôi ba chữ nghĩa, không dám nhận chức vị Quốc sư này."

Cha tôi đưa tay về phía Lý Đạo Thành.

"Mời Quốc sư về chỗ."

Vị hòa thượng thở dài, biết mình không cãi lại được nên đành bước tới bên cạnh Thái sư Lý Đạo Thành.

Tôi đã nói rằng thời Lý, các nhà sư có quyền lực chính trị chưa nhỉ?

Vị Quốc sư này là Thảo Đường Quốc sư, ông bị lẫn vào đoàn tù binh cha tôi dẫn về từ Chiêm Thành.

Một lần tình cờ cha tôi biết về tri thức sâu rộng của ông và đùng một cái thăng ông lên vị trí Quốc sư.

"Trong thời gian trẫm thân chinh, đã có nhiều chuyện xảy ra."

Vị Hoàng đế ngồi xuống ngai vàng.

"Nhưng nhờ có Nguyên phi và Thái sư đồng sức nên thiên tai và loạn dân đều được xử lý.

Tất nhiên, trẫm đã luận công ban thưởng cho Thái úy, thì Thái sư và Nguyên phi cũng phải được tưởng thưởng xứng đáng.

Đúng không?"

"Bệ hạ," Thái sư bước ra.

"thần là lão thần đầu triều.

Cả đời dốc sức cho Đại Việt.

Nay đã chẳng còn mưu cầu điều gì nữa rồi."

"Thái sư nói gì thế?"

Phụ hoàng tôi tặc lưỡi.

"Trẫm là thiên tử.

Chẳng lẽ trẫm không có gì cho khanh được sao?

Khanh muốn gì?

Đất đai?

Mỹ nữ?"

"Thiên hạ tứ phương, đều là đất của bệ hạ.

Thần không dám lấy.

Thần nay đã tám mươi, mỹ nữ cỡ nào cũng chẳng còn sức để mà hưởng nữa.

Bệ hạ định thưởng cho cháu thần chăng?"

Cả triều đình cười phá ra.

Tôi thì cứ ngôi im như phỗng.

-

Thấm thoát lại một năm nữa trôi qua.

Khi ấy tôi năm tuổi.

Ở thế kỷ XXI, có lẽ năm sau tôi sẽ bắt đầu vào học lớp một.

Nhắc đến chuyện đi học, năm nay phụ hoàng tôi cho xây dựng Văn Miếu để thờ Khổng Tử, Chu Công và một loạt nhân vật nghe-có-vẻ-nổi-tiếng mà tôi chẳng nhớ hết nổi.

Nhìn công trình xây dựng đồ sộ và hoành tráng, tôi cũng muốn làm một Toán Miếu để thờ Pytago, Talet.

Rồi tôi nhớ tới Văn Miếu ở Hà Nội thế kỷ XXI, trông cổ kính nhưng vẫn giữ được sự uy nghi.

Công nhận nhà nước bảo tồn di tích văn hóa tốt thật.

Cả nghìn năm rồi, qua biết bao cuộc chiến tranh tàn phá mà vẫn gìn giữ và bảo tồn Văn Miếu như mới.

"Hiền tài là nguyên khí của quốc gia."

"Con nói gì?"

Phụ hoàng tôi đứng bên cạnh hỏi.

"Dạ không ạ."

Tôi vội chối.

"Thái tử," Phụ hoàng tôi quỳ xuống ngang với tôi.

"con có biết Văn Miếu này là để làm gì không?"

"Dạ... thờ Khổng Tử, Chu Công, Tứ phối, và..."

"Thất thập nhị hiền."

Vua cha tôi nhắc.

"Vâng."

"Nơi này ngoài để thờ cúng tiền nhân, còn có một chức năng khác.

Con đoán ra không?"

"Là để dạy học ạ?"

"Quả đúng là Thái tử thông minh hơn người."

Vua cha tôi cười lớn.

"Trẫm đang định, sẽ cho con đến Văn Miếu này học tập."

"Dạ?"

Tôi ngạc nhiên.

"Con tưởng là để cho những học sinh tới để học chứ."

"Không.

Chỉ mình con thôi."

"Nhưng nếu con chỉ học có một mình thì..."

"Thì?"

Tôi định nói là cô đơn.

Nhưng nhớ lại thì quanh năm suốt tháng tôi chỉ chơi với thái giám, cung nữ và hoàng đệ tôi thôi mà.

Hóa ra đúng là chẳng có ai ngang tuổi tôi để vào học chung cả.

"Thế còn con cái của các quan lại thì sao ạ?"

Tôi hỏi tiếp.

Nhưng phụ hoàng tôi đã đi nói chuyện cùng các quan lại khác.

Nói chung là, kể từ đó, tôi vào học tại Văn Miếu.

Quanh đi quẩn lại là đọc sách lịch sử và văn học.

Học về Khổng Tử, Tứ thư ngũ kinh, các kinh điển Phật giáo, Đạo đức kinh của Đạo giáo, học cả lịch sử Trung Quốc, nghệ thuật chiến tranh, kỹ năng trị quốc, rồi quan hệ Đại Việt với các nước láng giềng.

Nhưng đó là việc của suốt nhiều năm liền.

Bây giờ, khi ngồi học trong lớp, chúng ta sẽ thấy ảnh Bác Hồ cười với chúng ta.

Còn tôi phải vừa ngồi đọc sách và cái người viết ra nó (Khổng Tử) đang nhìn tôi.

Tôi không mê tín, nhưng mỗi khi tôi đọc sai hay không hiểu chỗ nào đó, tôi lại có cảm giác ông ta đang lườm tôi.

Thầy giáo của tôi là một hòa thượng tên Dương Minh Nghiêm, đã ngoài năm mươi tuổi, pháp hiệu là Thông Huyền chân nhân.

Tôi thường gọi ông là sư phụ.

Đáng lý người có trách nhiệm dạy tôi học là một người được gọi là quan giáo thụ, nhưng hiện tại trong triều chưa có chức này.

Quốc sư Thảo Đường, người mới được phong chức Quốc sư đã đề cử ông giáo này cho tôi.

Ông sư thầy của tôi có hàng ria mỏng hơi cong như người Châu Âu và một đôi mắt hiền hậu.

Giọng ông trầm bổng đọc những dòng chữ nhạt nhẽo nghe như hát.

Tôi khá lười, nhưng kể ra việc duy nhất mà tôi giỏi chính là học.

Tuy nhiên, không phải cái môn này.

Và sư phụ tôi chỉ khen tôi trong giờ Toán học.

Tôi có thể làm phép tính nhân hai chữ số rất nhanh.

Còn lại thì, tôi không hề nghiêm túc học kinh thư của Khổng Tử hay thánh nhân thánh nhiếc gì đó.

Chỉ toàn là những con chữ vô nghĩa.

Sau ba ngày, tôi đã nổi khùng với ông thầy.

"Nếu học nhiều mà không ứng dụng được thì sao phải học ạ?"

Tôi hỏi khi chúng tôi tranh cãi về vấn đề muôn thuở mà đến thế kỷ XXI vẫn còn: học Lịch sử để làm gì?

Sau đó, ông dẫn tôi ra ruộng.

Trên cánh đồng lúa nước, những cây lúa nước đang dựng thẳng đứng như những ngọn cỏ đầy hiên ngang.

"Sư phụ này, dù con có hỏi câu hỏi hơi kỳ quặc, nhưng Người cũng không ác độc đến mức bắt con đi cày ruộng đâu nhỉ."

Sư phụ tôi nhướn mày.

"Chẳng cần nói tới thân phận, con mới năm tuổi, làm sao mà..."

Một đứa nhóc trông còn nhỏ hơn tôi vác cây cuốc cao hơn cả nó chạy ngang qua hai thầy trò.

"Thật ra thì, ta cũng muốn thử."

Ông vuốt ria.

"Sư phụ..."

Tôi làm ánh mắt mè nheo.

"Nhưng tiếc thay, đó không phải mục đích của chúng ta hôm nay."

Ông đưa tay về phía cánh đồng lúa.

"Người hãy nhìn những cây lúa đó.

Người thấy gì?"

"Cây lúa, cần có người chăm sóc, nếu không thì, không thể sống được."

"Đúng.

Nhưng chưa vào đúng trọng tâm."

Tôi suy nghĩ hồi lâu.

"Nếu chưa nghĩ ra, chúng ta sẽ để chuyện này sau hãy nói."

Thông Huyền chân nhân ngồi xuống bên một hàng nước.

Văn hóa này đến tận bây giờ, ở các con phố Hà Nội vẫn còn hiện hữu khắp các con phố.

Chỉ là có thêm cà phê nước ngọt và những điếu thuốc lào.

"Dù gì cũng đến đây rồi, Lý lang, ngồi xuống đây với bần tăng nào."

"Từ thời Nam Việt Vũ Đế đến nay đã hơn một nghìn năm, kinh sách của ta gần như chẳng có gì."

Vị hòa thượng giảng dạy trong khi ngồi uống chè.

"Thái tử có thể muốn trở thành một đấng minh quân thì cần phải học.

Học để trở thành vua, học để làm người.

Thiên mệnh vô thường, phải luôn tiếp thu kiến thức và kinh nghiệm tiền nhân để lại mới có thể bảo vệ được ngai vàng và xã tắc."

"Nhưng sao lại phải học cả lịch sử và văn thơ của kẻ đã khiến chúng ta mất gần hết?"

Tôi cãi chày cãi cối.

"Trong khi sách của chúng thì có nhiều thứ rõ ràng là mê tín, chẳng có tí khoa học gì cả.

Rồi còn cả mấy ông thánh nhân nữa, sách của thánh nhân thì không sai được chắc?"

"A di đà Phật.

Học hỏi, chính là để tạo ra cái mới từ trong cái cũ.

Bài học từ quá khứ chính là để chuẩn bị cho tương lai.

Học là để tìm ra những thứ hợp với tư tưởng nhân dân và có lợi cho quốc sách.

Nếu Thái tử cứ học theo kiểu tự mãn như thế, người chỉ có thể làm một kẻ hèn mọn mà thôi.

Sách của người Hán, trên có thể khuyên quân vương, dưới có thể dạy dân chúng.

Lưu truyền từ đời này sang đời khác vẫn không mai một mà Thái tử có thể nói là không cần học sao?

Thánh nhân thì có thể sai, nhưng không thể nhìn vào những cái sai xót nhỏ đó mà phủ nhận họ.

Sách đúng hay sai, không nằm ở chữ viết trong đó, mà là thái độ của Thái tử khi đọc sách kìa."

Bạn biết đấy, lúc ấy tôi vẫn không để ý lắm.

Giống như khi bạn nghe mấytay đa cấp dạy bạn những thứ như báo hiếu, tăng cường sức khỏe, dậy sớm đểthành công...

Bạn biết chúng có ích cho bạn nhưng bạn vẫn không làm.

Khi ấy tôicũng như vậy.

Dù gì thì tôi cũng là một thằng nhóc mười sáu tuổi ở trong thânxác của một đứa trẻ năm tuổi thôi mà.

À, nếu tính cả hai kiếp thì bây giờ tôi...hai mươi mốt tuổi.

(1) Tờ chiếu trích từ Việt điện u linh tập phần Lý Thường Kiệt và được thêm bớt các thứ.
 
Ấu Hoàng
Băng hà.


Hôm đó, sư phụ tôi có việc phải ra ngoài nên đã để tôi ở lại trong Văn Miếu một mình với mấy pho tượng.

Tôi chán nản lật qua lật lại mấy con chữ.

"Khổng Tử này," Tôi thở dài nhìn bức tượng.

"Ngài viết ra cái mớ này, Ngài giải thích hộ con, nếu con học chữ của Ngài thì con có quay về thời đại của con được không?"

Khổng Tử không trả lời.

Đương nhiên.

"Ngài có bao giờ nghĩ rằng, cái đống mà Ngài viết ra, một nghìn năm nữa chẳng còn ai học không?

Ở thời của tôi, mọi người học theo Huấn Hoa Tử hết rồi."

Khổng Tử không phản ứng.

"Sách của ông tôi chưa thấy bao giờ, nhưng sách của Huấn Hoa Tử được lên TV đấy nhé."

Có tiếng động sau lưng tôi.

Tôi quay lại thì thấy một quả bóng đang lăn vào.

"Phật Tổ ơi!

Có tên khùng nói chuyện với pho tượng kìa."

Phía sau tôi, một cô bé đang che miệng nói.

"Mi là ai?

Sao vào được đây?"

Tôi quay ngoắt lại quát.

"Công tử xin thứ tội."

Con bé vội quỳ xuống.

"Dân nữ chỉ muốn vào đây để tìm quả bóng, không nghĩ đây là nơi dưỡng bệnh của công tử."

Từ bộ trang phục trơn sờn cũ, tôi đoán con bé này là thường dân.

"Ta không có điên!"

Tôi quát ầm lên.

"Dân nữ ít học nên không biết, hóa ra nhà giàu thì thích nói chuyện với tượng."

Càng nói tôi càng cảm thấy bực.

Con bé đó đang nghĩ tôi bị tự kỷ thì phải.

"Khoan," Tôi vẫy tay với con bé.

"vào đây ta hỏi."

Con bé rón rén bước vào.

"Em biết đây là ai không?"

Tôi trỏ vào Khổng Tử.

"Dạ, là Khổng Tử."

"Ông nổi tiếng hơn tôi nghĩ đấy."

Tôi nghĩ.

"Em biết vì lúc nãy công tử đã nói thế."

"À, hiểu rồi."

Tôi gật gù.

"Cũng nhanh trí đấy.

Mi tên gì?"

"Em họ Lê, tên là Lan Anh ạ."

"Họ Lê à..."

Tôi bước tới bên cạnh con bé.

Trông có vẻ chỉ bằng tuổi tôi là cùng.

"Em biết chữ không?"

"Không ạ."

Lan Anh đáp.

"Em còn không biết họ tên của mình viết như thế nào."

"Thế có muốn thay tên đổi họ không?"

Tôi hỏi vu vơ.

"Nếu được đổi họ, thì em muốn được mang họ Lý ạ."

"Hỗn xược!"

Tôi mắng.

"Lại muốn mang họ của hoàng thất?"

"Dạ... dạ... vì chữ Lý là chữ duy nhất em biết viết ạ.

Hơn nữa, em thích ăn mận.

Với cả..."

Nó cười tủm tỉm, trông thấy ghét không tả được.

"được làm công chúa thích lắm."

"Thế làm Hoàng hậu thì sao?"

"Ừm, em không nghĩ làm Hoàng hậu thì tốt ạ.

Giống như Hoàng hậu hiện tại, chẳng sinh được con trai nên đang bị thất sủng đấy."

"Hóa ra chuyện của Dương Hoàng hậu lan truyền khắp nơi."

Tôi thầm thấy thương cho bà.

Đến con bé con năm tuổi đầu còn biết chuyện.

"Mà nếu làm Hoàng hậu thì em muốn làm Hoàng hậu của một vị vua anh minh ạ."

Trong lúc bọn tôi còn đang nói chuyện, có tiếng của sư phụ tôi vang tới.

"Có người tới!"

Tôi tặc lưỡi rồi ném quả bóng cho con bé.

"Đi nhanh đi.

Bị ông già đó bắt được thì phiền lắm."

"Dạ."

Con bé ôm quả bóng và leo tường ra ngoài.

"Thái tử mới nói chuyện với ai sao?"

Thông Huyền chân nhân bước tới.

"À, ta mới nói chuyện với Khổng Tử."

Tôi chém gió.

"Thái tử nói chuyện với tượng sao?"

Ông nhướn mày.

"Không phải tượng.

Mà là vạn thế sư biểu, Người đã để lại cho hậu thế cả một kho tàng kiến thức tự cổ chí kim.

Vừa có thể răn dạy quân vương, vừa có thể giáo hóa chúng dân.

Người không đơn thuần chỉ là một pho tượng.

Người là bất tử đối với chúng ta!"

Ờm, tôi chẳng biết tôi vừa nói gì nữa.

Khổng Tử nhập chăng?

"A di đà Phật.

Thái tử quả là anh minh."

Thầy tôi chắp tay vái tôi rồi quay sang vái Khổng Tử.

"Bần tăng ngu muội rồi."

"Được rồi sư phụ."

Tôi quay vào bàn.

"Chúng ta học tiếp đi."

Vâng, thực sự thì đến đây tôi mới bắt đầu nghiêm túc "dùi mài kinh sử".

Có lẽ là vì tôi muốn trở thành một vị vua anh minh.

Những tưởng cuộc sống của tôi sẽ thanh bình trôi qua như thế, và rồi sau đó tôi sẽ được trở về thời đại của mình.

Nhưng không.

Trời xanh đố kỵ anh tài (câu này Thông Huyền chân nhân dạy).

Cha tôi, Hoàng đế Lý Thánh Tông đã lâm bệnh và đang dần trở nặng hơn.

Nhiều người còn đang đồn rằng Người sẽ sớm qua đời.

Tất nhiên, những kẻ độc mồm độc miệng ấy đều bị bêu đầu thị chúng, nhưng bệnh tình của vị vua Đại Việt cũng chẳng khá hơn được.

Mỗi ngày, mẫu phi tôi thường dẫn theo An Dân đi chùa tụng kinh cầu sức khỏe cho phụ hoàng.

Với một con người khoa học như tôi, việc cầu kinh để mong sức khỏe tốt hơn là chuyện vô lý.

Thay vào đó, chăm sóc thuốc thang cho Người còn có ý nghĩa hơn.

Nhưng ở cái thời đại mà cảm lạnh cũng gây chết người như bây giờ thì việc thuốc thang cần người có chuyên môn đảm nhiệm.

Lúc này tôi rất sợ.

Kiếp trước, tôi và bố tôi không hợp nhau lắm.

Bố tôi làm chủ doanh nghiệp, ít khi ăn cơm chung với gia đình.

Tôi thì lấy cớ bận học, bố con tôi gần như chẳng bao giờ nói chuyện tới mười câu, tất cả đều chỉ xoay quanh thành tích học tập của tôi và công việc của bố.

Kiếp này tôi được một người cha hiền dịu nhưng cũng vô cùng mạnh mẽ và yêu thương vợ con.

Tôi thì đang có nguy cơ mất ông ấy.

Tự nhiên tôi hiểu được ý nghĩa tồn tại của tôn giáo.

Không đơn thuần là những giáo điều răn dạy con người.

Cũng không phải là mê tín dị đoan.

Con người tạo ra những vị thần của lòng mình và tin vào họ như một đấng toàn tri và toàn năng.

Để khi con người trở nên yếu đuối sẽ có nơi để đặt niềm tin và hy vọng.

Con người cần có một đức tin, để có thể gửi gắm những nỗi niềm của mình.

Đó là lý do tôn giáo và tín ngưỡng tồn tại.

"Sư phụ," Tôi hỏi Thông Huyền chân nhân khi đang tập viết.

"Phật Tổ có thể giúp phụ hoàng con khỏi bệnh không?"

"A di đà Phật."

Sư phụ tôi lại tiếp tục cái kho A di đà.

"Linh hồn đi theo lục đạo (1).

Phúc phần ở Nhân đạo đã hết thì sẽ tới các đạo khác."

"Cha con sẽ không chết!"

Tôi gắt lên.

"Thiện tai thiện tai.

Thái tử, nói lời đó, hai ta sẽ bị chém đầu đấy."

Ông đưa ngón tay lên miệng ra hiệu.

"Nếu có bất trắc xảy ra, thì đó là lý do bần tăng ở đây."

"Dạ?"

"Bần tăng được thánh thượng và sư phụ tin tưởng, giao phó trách nhiệm dạy dỗ Thái tử.

Để Thái tử có thể trị vì đất nước sau này như một đấng minh quân."

-

"Thái tử..."

Vua Lý Thánh Tông thều thào khi nằm trên giường bệnh ở điện Hội Tiên.

"Phụ hoàng!"

Tôi nắm lấy tay ông.

Bàn tay to lớn

"Trẫm, sắp không qua khỏi rồi."

"Bệ hạ," Dương Hoàng hậu hầu hạ thuốc bên cạnh ông cố khuyên nhủ.

"đừng nói những lời gở ấy."

"Từ năm mười bốn tuổi, trẫm đã chinh chiến sa trường.

Làm Hoàng đế nhiều năm, gần cuối đời mới sinh được Thái tử...

Thế mà lại phải ra đi khi con trai ta còn quá nhỏ thế này sao!?"

"Phụ hoàng, xin Người đừng nói gở.

Phụ hoàng là bậc hiền quân, nhất định phụ hoàng sẽ không sao đâu mà.

Phật Tổ sẽ phù hộ độ trì chúng ta, nhất định phụ hoàng sẽ bình an và tai qua nạn khỏi."

"Quốc sư," Cha tôi cố ngồi dậy nhìn Thảo Đường Quốc sư đang quỳ bên giường.

"trẫm chưa học hết đạo của Quốc sư.

Thật là, phụ lòng Quốc sư rồi."

"A di đà Phật."

Thảo Đường thiền sư chắp tay.

"Bệ hạ lấy vũ uy chấn thiên hạ, lấy đức để an con dân, lấy trí giáo hóa chúng dân.

Chẳng lẽ Phật Tổ lại phũ phàng như thế sao?"

"Thái sư, Thái úy..."

Vua cha tôi nhìn xuống hai vị cận thần đang đứng đằng xa.

"Bệ hạ căn dặn."

Hai vị quan đầu triều quỳ xuống.

"Hai ngươi, một người là lão thần triều đình, một người là Thiên tử nghĩa đệ... ta tin tưởng hai ngươi, giao lại con trai ta cho hai ngươi.

Hãy phò tá ấu chúa, và bảo vệ Đại Việt, bảo vệ cơ nghiệp Thái Tổ Thái Tông truyền lại...

Cúc cung tận tụy, đến chết mới thôi."

"Thần lĩnh chỉ!"

"Thái tử..."

Vua Lý Thánh Tông lại gọi tôi.

"Cha!"

Tôi nhào tới ôm chầm lấy ông.

"Các ngươi, ra ngoài đi."

Vua cha tôi vẫy đuổi tất cả mọi người ra ngoài.

Sau khi tất cả mọi người ra ngoài, vị vua lại nằm xuống.

Tôi vội vã nắm lấy tay ông.

"Phụ hoàng, con mới bảy tuổi, con chưa thể làm được điều vĩ đại như Người.

Xin người đừng bỏ con mà."

Hơi thở của phụ hoàng tôi càng lúc càng yếu dần.

"Tuổi trẻ làm nên nghiệp lớn, không phải là không có."

"Phụ hoàng!"

"Sơn hà Đại Việt, giao lại cho con."

Ông thở dài rồi cười khà khà.

"Trước ngày con ra đời, trẫm đã mơ thấy một vị tiên trao con vào tay ta, ông ấy bảo rằng, con đến từ một nơi được gọi là Việt Nam, tới đây để cứu giúp Đại Việt ta.

Khi ta tỉnh, cũng là lúc con ra đời.

Từ đó, ta đã biết, con chính là người sẽ đưa đường dẫn lối cho Đại Việt ta."

Ông nhìn tôi.

"Xứ thần tiên của con, là nơi như thế nào vậy?"

"Con...

đến từ tương lai."

Tôi nói thật.

"Tương Lai?"

Đôi mắt vị vua mở to.

"Con đến đây, từ một nghìn năm sau."

Tôi kể về thế giới của tôi cho ông.

Càng nghe, đôi mắt ông càng như muốn bay ra ngoài.

"Hầu như ai cũng được đi học?

Không còn vua chúa, không còn nô lệ.

Không còn thần phục phương bắc.

Đất nước ta..."

Ông cười khùng khục.

"Đất nước được điều hành bởi chính phủ."

Tôi thao thao bất tuyệt.

"Một đất nước thái bình, hạnh phúc, văn minh, công bằng, chùa Diên Hựu của Thái Tông, Quốc Tử Giám của cha, cả kinh thành Thăng Long, đều còn đó..."

Tôi nhìn nụ cười và đôi mắt nhắm nghiền của ông.

Tay ông nắm chặt lấy tay tôi.

Sống mũi tôi cay xè, nước mắt tôi dàn dụa.

"Tất cả đều còn đó...

Chỉ... không còn cha..."

Ngày Canh Dần tháng Giêng, năm Thần Vũ thứ tư, Hoàng đế Lý Nhật Tôn băng hà, thọ bốn mươi chín tuổi, Thái tử Lý Càn Đức lên ngôi trước linh cữu.

Tôi lên ngôi khi mới bảy tuổi.

(1) Thuyết lục đạo luân hồi trong Phật giáo.

Gồm Nhân đạo, Súc sinh đạo, Ngạ quỷ đạo, Thiên đạo, Atula đạo và Địa ngục đạo.
 
Ấu Hoàng
Hoàng hậu của ấu đế.


"Bệ hạ."

Quan thái giám gọi tôi.

"Sắp đến giờ chầu rồi ạ."

Tôi ngồi đừ người ra đó nhìn bộ trang phục dành cho người uy phong và quyền lực nhất đất nước.

Tôi không muốn mặc nó.

Cha tôi là người duy nhất có tư cách mặc nó.

"Có chuyện gì mà lâu thế?"

Tiếng của Thái sư Lý Đạo Thành vang lên.

Lão thần đầu triều bước vào phòng nghỉ của tôi và thấy tôi vẫn chưa lên đồ thì liền thở dài.

"Các ngươi ra ngoài đi."

Chờ cho các nội quan đều đã rời khỏi, Thái sư bước tới và giúp tôi thay y phục.

Lạ lùng là tôi lại ngồi ngoan ngoãn cho ông khoác từng thứ một lên người tôi.

"Vì sao ta lại ở đây?"

Tôi hỏi, tất nhiên không phải hỏi Thái sư.

"Vì trách nhiệm của Người."

Nhưng ông vẫn đáp.

"Vì Người sinh ra trong gia đình đế vương."

"Cứ sinh ra trong gia đình đế vương thì sẽ như thế này à?"

"Đất nước không thể một ngày không có vua.

Chúng thần không có Người thì không khác nào rắn mất đầu."

"Các Ngài chính là đầu của đất nước mà!"

Tôi nhắc.

"Nhưng nếu bệ hạ không dẫn dắt chúng thần," Lý Đạo Thành siết chặt quai mũ khiến tôi giật mình.

"thì thần sẽ đập đầu vào tường chết ngay tại đây."

"Ngài..."

Tôi tròn mắt nhìn ông.

"Quân lâm thiên hạ."

Vị quan mỉm cười.

"Liệu bệ hạ có phải người như thế không?"

Tôi không biết nên đáp lại ông như thế nào.

"Tiên đế đã tin tưởng, trao lại đất nước này cho bệ hạ.

Nếu bệ hạ không muốn gánh vác trách nhiệm này, thì chúng thần sẽ chỉ có hai lựa chọn.

Một là lập vua khác, và nước ta sẽ lại rơi vào loạn tam vương bát vương hay thậm chí là thập vương.

Khi ấy, đất nước ta xem như tiêu tùng."

"Còn..."

Tôi nuốt nước bọt.

"lựa chọn thứ hai?"

"Là chúng thần sẽ nhất loạt tự vẫn để tạ tội với tiên đế."

Cả hai lựa chọn ông đưa ra đều là ép tôi lên ngôi.

Ít ra ông ta còn có hai lựa chọn.

Còn tôi thì chẳng có quyền chọn.

Tôi bước ra điện Thiên An, những sợi tua ngọc đung đưa và tôi cứ lo chúng sẽ va vào mặt tôi khi tôi bước đi.

Ở tòa điện này, ông nội tôi và cha tôi đã ngồi thiết triều suốt hàng chục năm qua.

Thời ông cố tôi, nơi này mang tên Càn Nguyên.

Tôi ngồi lọt thỏm trên chiếc bảo tọa đường bệ mà ba đời nhà tôi đã ngồi.

Phía sau tôi còn có một chiếc ngai cho Dương Hoàng hậu, bây giờ là Hoàng Thái hậu Thượng Dương.

Tôi đã tôn bà (chính xác thì là các quan đại thần tôn dưới danh nghĩa của tôi) là Hoàng đích mẫu nhiếp chính, còn mẹ tôi là Hoàng sinh mẫu, không có quyền dự chính.

Giữa tôi và bà có một chiếc rèm ngăn cách.

Tất cả quan đại thần quỳ xuống.

"Thánh thượng vạn tuế vạn tuế vạn vạn tuế!"

"Thái hậu thiên tuế thiên tuế thiên thiên tuế!"

Các bạn biết đấy, hầu hết là tôi ngồi im như phỗng.

Đại khái thì ngày đầu tiên, các quan đại thần bàn truy tôn miếu hiệu cho tiên đế là Thánh Tông, thụy hiệu là Ứng Thiên Sùng Nhân Chí Đạo Uy Khánh Long Tường Minh Văn Duệ Vũ Hiếu Đức Thánh Thần Hoàng đế.

Tính từ ngày tôi đăng cơ và tế cáo trời đất ở sân rồng sẽ là năm Thái Ninh thứ nhất.

Tiếp sau đó là đủ thứ chuyện khác như cúng tế, chôn cất linh cữu tiên hoàng, gửi sứ nhà Tống...

Và tôi chẳng nói gì ngoài "miễn lễ", "chuẩn tấu" và "bãi triều".

Cuối buổi chầu, Thái úy đề xuất ý kiến lập Hoàng hậu.

"Thái úy này," Cuối cùng tôi đành lên tiếng.

"trẫm mới bảy tuổi, ờm, chuyện này có hơi..."

"Bệ hạ, Hoàng hậu là người sẽ ở bên cạnh bệ hạ và hỗ trợ người quản lý cả hậu cung và cả những quốc sách quan trọng."

Thái sư Lý Đạo Thành cất lời.

"Lập hậu sớm cũng sẽ giúp người ổn định việc nhà, an cư lạc nghiệp."

Có một số vấn đề như này.

Tiên đế trao cho hai vị này quyền điều hành quốc gia, hỗ trợ tôi, cho đến khi tôi đủ khả năng tự mình chấp chính.

Nhưng thân xác cha tôi chưa lạnh, họ đã quay sang đá lẫn nhau.

Lý Thường Kiệt thì muốn mẹ tôi, Thái phi Ỷ Lan nhiếp chính cùng tôi.

Còn Lý Đạo Thành thì muốn giữ chính thống, Hoàng hậu nhiếp chính.

Quyền lực trong triều thì nằm gọn trong tay Thái sư Lý Đạo Thành và Thái hậu Thượng Dương.

Còn binh quyền thì nằm trong tay Thái úy Lý Thường Kiệt.

Lý Đạo Thành thì muốn học theo nhà Tống, cho quan văn dẫn binh, Thái úy thì cãi rằng chính vì như thế nên nhà Tống chẳng có được bao nhiêu tướng tài.

Quan lại trong triều cũng chẳng biết giải quyết thế nào với hai người này.

Tuy nhiên, phần lớn thì ủng hộ Lý Đạo Thành.

Lý do hả?

Vì có một số lời đồn về mối tình tay ba drama như phim Hàn của tiên đế, Thái hậu và Thái úy.

Rồi rộ lên thêm một số lời đồn về việc Thái úy không ủng hộ để Thái hậu nhiếp chính là vì tư tình riêng.

Thế đấy, tôi ngồi ở giữa, chẳng biết làm sao.

"Nhưng trẫm còn quá nhỏ."

Tôi lên tiếng.

"Không thể lo được việc trong nhà, làm sao dám quản cả thiên hạ?"

Lý Thường Kiệt cao giọng.

"Thái úy," Thái sư Lý Đạo Thành lên tiếng.

"ngài đang quá lời rồi đấy."

"Thần phạm thượng."

Lý Thường Kiệt quỳ xuống.

"Xin bệ hạ trách phạt."

"Không sao," Tôi xua tay.

"Thái úy cũng là vì lo cho trẫm.

Về việc này, trẫm sẽ xem xét."

Sáng ngồi làm bù nhìn cho các quan lại và Thái hậu, sau đó lại đến học ở Văn Miếu.

Dần dần, để chạy thoát khỏi những buổi chầu buồn chán, tôi viện cớ cần chú tâm vào việc học để chuồn sớm trong khi các quan và Thái hậu tiếp tục buổi chầu.

"Hả?

Đổi thầy?"

Tôi ngơ ngác ở trước cửa Văn Miếu.

Sư phụ tôi đang từ từ bước ra với tay nải trên vai, đang trò chuyện với một vị tăng trạc tuổi.

"A di đà Phật."

Không Lộ vái tôi.

"Bệ hạ, bần tăng và Thánh Tông Hoàng đế là đồng môn.

Nay tiên đế băng, bần tăng phải về chùa Khai Quốc cầu cho linh hồn của Thánh Tông.

Đồng thời kế nghiệp Thánh Tông và Thảo Đường sư phụ, làm trưởng môn phái Thảo Đường."

"Sư phụ..."

Tôi chắp tay vái ông.

"Sư phụ vất vả rồi."

"Tiên đế từng kể với bần tăng, bệ hạ là thần tiên giáng trần.

Bệ hạ thông minh lanh lợi, bần tăng thẹn tài cán không đủ, không có khả năng để dạy bệ hạ.

Bệ hạ muốn trở thành bậc minh quân, ngoài Phật pháp còn cần cả sách Nho nữa."

"Con hiểu."

Tôi gật đầu.

"Sư phụ định..."

"Bần tăng khi trước đi Tây Trúc cầu đạo, cón kết thân với hai người bạn."

Dương Sư phụ đưa tay về phía vị hòa thượng bên cạnh.

"Đây là Nguyễn Viết Y.

Trước khi xuất gia hành nghề chài, đã đọc và thông hiểu sách Nho.

Nhất định sẽ phù hợp hơn bần tăng."

"Đại sư."

Tôi vái Nguyễn Viết Y.

"Bần tăng hiệu Giác Hải, húy Viết Y.

Xin được dốc chút tài mọn để hỗ trợ bệ hạ."

Và như thế, tôi đổi từ kho A di đà này sang kho A di đà khác.

"Sư phụ không phải môn đồ phái Thảo Đường sao?"

Tôi hỏi Giác Hải thiền sư.

"A di đà Phật."

Giác Hải thiền sư vái tôi.

"Khác phái nhưng không khác đạo.

Đều là người cầu đạo, dẫu đường đi khác nhau, chỉ cần cầu được đạo thì không có chuyện chia rẽ.

Ai đúng ai sai, cầu được đạo khắc biết.

Bần tăng là môn đồ phái Vô Ngôn Thông, tư tưởng có phần khác với thiền phái Thảo Đường, hy vọng bệ hạ không chê."

"Thiền cũng chia ra làm các phái khác nhau sao?"

Tôi nghĩ cứ ngồi nhắm mắt và suy nghĩ vẩn vơ là thiền chứ.

"A di đà Phật."

Giác Hải Thiền sư lấy bút viết lên những tờ giấy trắng.

"Bắt đầu từ Khương Tăng Hội, Đại Việt ta đến nay có ba phái chính."











"Phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi."

Giác Hải thiền sư bắt đầu giảng.

"Dòng này chịu ảnh hưởng của kinh Lăng già, kinh Tượng đầu tinh xá và kinh Phương Quảng Tổng Trì.

Mục đích của các thiền sư phái này là giác ngộ và để đi đến giác ngộ đầu tiên họ phải thanh lọc thân tâm, nhà Phật gọi là "giới".

Giới luật đối với các thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi được thể hiện ở việc không tham dục, không tham danh lợi, tin ở nghiệp lực, sống bố thí, không chấp trước.

Đối với dòng thiền này, Tâm Phật tròn đầy như thái hư, không thiếu không thừa, không rời không tới, không được không mất, chẳng một chẳng khác, không thường không đoạn, không sinh không diệt."

Tôi ậm ừ giả vờ hiểu.

"Thứ hai," Giác Hải thiền sư tiếp tục viết.







"phái Vô Ngôn Thông.

Dòng thiền này gần gũi với đời sống xã hội, hòa nhập vào đời sống người dân trong khi vấn đề tâm linh vẫn giữ sự độc lập riêng.

Tăng sư phái ấy nhấn mạnh giáo pháp "vô đắc", chủ trương giác ngộ ngay tức khắc, gọi là "đốn ngộ".

Nói cách khác, chúng tăng ni sử dụng biện pháp tu chứng, tự cá nhân nhận thức thế giới bằng thiền định, "đạt ngộ" thì tâm là Phật, Pháp cũng là Phật.

Vì vô đắc nên chúng thần thường nhập thế, gần gũi chúng dân."

"Nói như thế, chẳng phải trừu tượng quá sao?"

Tôi hỏi.

"Trừu tượng?"

Giác Hải thiền sư chau mày.

"Ý con muốn hỏi là, rốt cuộc, vô đắc là gì?"

"Vô đắc, nhấn mạnh về sự giác ngộ.

Sự giác ngộ không thể được ai trao cho.

Chỉ có mình mới có thể tự giành lấy."

Đến đây thì tôi hiểu được đại khái rồi.

Về cơ bản, ngay từ kiếp trước tôi đã chẳng mặn mòi gì với mớ Phật pháp giáo điều này.

Đến cả quyển sách Giáo Dục Công Dân lớp 10 tôi còn chẳng kham nổi nữa là.

"Cuối cùng, thiền phái mới được lập gần đây.

Phái Thảo Đường."





"Thánh Tông Hoàng đế lập ra dòng thiền này sau khi đón Thảo Đường thiền sư về làm Quốc sư.

Tương tự như phái Vô Ngôn Thông, phái Thảo Đường cũng yêu chuộng thi ca.

Lại có sự giao thoa giữa Nho và Phật.

Nhưng cũng vì trọng trí thức và văn chương mà phái Thảo Đường chỉ ảnh hưởng tới tầng lớp giàu có."

Giác Hải thiền sư nhìn tôi chòng chọc.

"Thánh Tông Hoàng đế sáng lập phái Thảo Đường như một cách tổng hợp cả Nho và Phật, cả văn hóa dân gian của Trung Hoa, cả Đại Việt, Tây Trúc và Chiêm Thành.

Chính vì thái độ cởi mở với cái mới trân trọng cái truyền thống, Thánh Tông Hoàng đế mới có thể trở nên vĩ đại như thế.

Bệ hạ có hiểu điều đó nghĩa là gì không?"

"Là sự cởi mở, sự giao thoa và lòng đức độ.

Ngoài Phật pháp và văn hóa, còn mang ý nghĩa ngoại giao, con nói đúng không?"

Và thời gian cứ thế thấm thoát trôi...

"Bệ hạ, bần tăng nghe nói triều đình đã chọn được người đủ phẩm chất để đưa vào cung lập làm Hoàng hậu rồi phải không?"

Giác Hải thiền sư hỏi tôi trong một buổi chiều đầu hè.

"Vâng."

Tôi thở dài.

Lúc sáng khi nghe tin này tôi cũng hãi hùng lắm.

Việc chọn vợ cho mình mà phải để mấy lão già chọn hộ, thời phong kiến này đúng là chẳng có tự do dân chủ gì hết.

"Nhưng sư phụ, trẫm mới bảy tuổi, sao đã phải lấy vợ rồi ạ?"

"Bệ hạ, Người có biết vì sao một vị quân chủ lên ngôi khi còn nhỏ thường gây ra biến cố diệt quốc không?"

Tôi khẽ gật đầu.

"Vì khi ấy, quân vương không có thực quyền, quyền lực nằm trong tay ngoại thích và quan lại phụ chính."

"Vương Mãng và Dương Kiên là ông ngoại của Hoàng đế.

Hai người họ đã làm gì?"

"Vương Mãng soán Hán lập Tân, Dương Kiên soái ngôi nhà Bắc Chu, thống nhất Trung Hoa, lập ra nhà Tùy."

Đọc Lịch sử Trung Quốc hóa ra lại hay.

Tôi bây giờ có thể đặt bản thân mình vào vị trí của các vị vua ấy để có thể đưa ra quyết định.

Tuy chẳng sáng lạn gì, nhưng cũng có thể nhờ vào đó mà tôi có thể đoán được quần thần của mình.

Ít nhất là từ những gì họ thể hiện.

Giác Hải thiền sư cũng có phần thông tuệ sử sách Trung Hoa hơn so với Thông Huyền chân nhân.

"Bệ hạ nghĩ vì sao Thái úy không dám bật lại Thái hậu?"

"Vì... tiên đế giao đất nước lại cho Thái sư và Thái úy phụ chính cùng với Thái hậu chăng?"

"Việc Thái sư và Thái úy được giao cho trọng trách phụ chính ai ai cũng biết.

Mang danh là đại thần phụ chính, chỉ một nước đi sai lầm cũng có thể bị vu vào tội phản nghịch, bệ hạ có nghĩ, mỗi khi Thái úy đưa ra một quyết định mà không được chấp nhận, ông ấy hoàn toàn có thể làm binh biến, trừ khử cả Thái sư và Thái hậu không?"

"Ông ấy không thể làm thế được."

Tôi khẳng định.

"Thế lực của Thái sư trong triều ăn đứt Thái úy.

Về mặt quân sự, nếu Thái úy làm càn, thế lực của Dương Hoàng hậu ở Nghệ An sẽ phóng Toyota về và gô cổ ông ấy ngay."

"Thế nếu Thái úy và Thái sư thực sự có một trận chiến, bệ hạ sẽ về phe nào?"

"Trẫm..."

Tôi không thể chọn được.

Cả Thái úy và Thái sư đều vô cùng quan trọng đối với đất nước này.

"Bệ hạ đừng quá lo lắng."

Thầy tôi vội nói khi thấy tôi bắt đầu căng thẳng.

"Thái sư tuy đang theo phe ủng hộ Thái hậu, nhưng ông ấy cũng sẽ không làm chuyện đại nghịch bất đạo đâu."

"Thế người mà ta thực sự cần lo lắng là ai?"

"Họ Dương."

Sư phụ tôi đáp ngay lập tức.

"Họ Dương?"

"Họ Dương có quyền lực cưc kỳ lớn trong triều ta.

Dương Đức Uy tuy ở ngoài xa, nhưng hắn vẫn là anh của Thiên Cảm Hoàng hậu, tức là anh vợ của Thái Tông, là cha của Thượng Dương Hoàng thái hậu, là bố vợ của Thánh Tông.

Bây giờ hắn một mình trấn giữ xứ Nghệ, bệ hạ nghĩ nếu trong triều có biến, hắn sẽ làm gì?"

"Hắn sẽ đem quân về và lật đổ trẫm ư?"

"Xứ Nghệ có cảng biển lớn, giao thương với Tống, Lưu Cầu, Cao Ly và cả các nước Ba Tư rất thịnh.

Nhưng bệ hạ đã bao giờ đọc báo cáo về thuế ở nơi ấy chưa?"

"Rồi."

Tôi gật đầu.

"Cũng bình thường thôi..."

Tôi chau mày.

Bình thường?

Thuế má nơi ấy mà bình thường, chứng tỏ điều đó rất bất thường.

Hoạt động kinh tế phát triển, thế mà thuế thu được chẳng cao hơn những vùng khác là bao.

Tôi đặt câu hỏi, nguồn lợi nhuận khổng lồ từ việc giao thương kia đã đi đâu?

Tôi không nhận báo cáo về việc đắp đê điều gì, nhưng báo cáo về việc đóng tàu xuất hải quân đánh cướp biển thì một xấp.

Dù cướp biển có nhiều thật, thì số thuyền trong báo cáo cũng quá lớn.

Trường hợp mà tôi đang nghĩ...

Dương Đức Uy đang nuôi quân.

Nhớ lại sự kiện hồi tôi mới lên ngôi, một người trong gia tộc họ Dương của Thượng Dương Thái hậu đã dâng lên cho tôi một con hươu và nói rằng đây là hươu trắng, là điềm lành.

Tôi nhìn kiểu gì cũng ra hươu bình thường, nhưng quần thần thì bảo đó là hươu trắng, các sư thầy cũng đồng tình, một số quan chức thì chỉ im lặng không lên tiếng.

Còn Thượng Dương Thái hậu thì xuống chiếu phong hắn làm Thái bảo, tức là quan võ nắm binh quyền, về địa vị thì chỉ dưới mỗi Lý Thường Kiệt.

Túm lại là, gia tộc họ Dương đang rục rịch cho một âm mưu gì đó to rất lớn.

"Bệ hạ đã hiểu chưa?"

Giác Hải thiền sư lại hỏi.

"Nhưng, chắc gì thiên hạ đã phục hắn?"

"Thần nghe nói, từ lâu, Thái hậu đã có cảm tình đặc biệt với Minh Nhân Vương đúng không?"

"Không lẽ, bà ấy định soái ngôi của ta, và lập Minh Nhân Vương lên ngôi?"

"À, chắc là không đâu."

Ông rót trà.

"Nhưng cũng có thể chứ."

"Rốt cuộc là thế nào?

Sư phụ đừng dọa trẫm nữa mà."

"Lúc nãy ta có hỏi Người về chuyện của Vương Mãng và Dương Kiên."

Sư phụ tôi bước tới dưới chân tượng Khổng Tử.

"Liệu thiên hạ này, có còn là của họ Lý nữa không đây?"

"Nhưng trước sau gì đất nước này cũng sẽ thành của họ Trần thôi."

Tôi nghĩ nhưng không dám thốt lên.

Ông ta mà nghe được chắc lôi tôi xuống khỏi ngai vàng đó ngay lập tức.

"Nhà Lý chưa thể mất lúc này được."

Tôi nói lớn.

"Trẫm khẳng định đấy."

"Làm sao bệ hạ dám khẳng định như thế?"

Nguyễn Viết Y chất vấn tôi.

"Từ khi Thái Tổ lập quốc đến nay là hơn sáu mươi năm.

Tiền Lý, Đinh, Lê đều chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian ngắn.

Nước Nam Việt của họ Triệu cũng chỉ tồn tại được chín mươi bảy năm.

Sao bệ hạ dám khẳng định họ Lý ta có thể cai trị quốc gia này được một trăm hai trăm năm?"

"Vì trẫm nhất định sẽ bảo vệ cơ đồ nhất tổ nhị tông để lại.

Con ghét cai ngai vàng đó.

Nên con càng không muốn em trai con phải ngồi lên nó và làm bù nhìn cho đám quần thần.

Không chỉ nội trị, dẫu cho ngoại bang có xâm lược, con cũng sẽ thân chinh đánh dẹp, như ba đời nhà con đã làm.

Thánh Tông đã giao lại đất nước này cho con, con nhất định không làm phụ lòng Người."

Bạn biết lý do thực sự thật ra là gì không?

Tôi đang sợ là nếu tôi từ bỏ ngai vàng, lịch sử sẽ bị đảo lộn mất.

Tôi càng không muốn em trai tôi trở thành con rối chính trị cho các lão già.

Cả việc bảo vệ đất nước cũng thế.

Tôi đảm bảo mình không nói xuông.

Sau buổi học, tôi quay trở về Cấm Thành.

Nhưng trước khi về đến cung, tôi đã thấy Thái úy Lý Thường Kiệt đang ở trước cửa Cấm Thành.

"Dừng xe."

Tôi gọi lớn.

"Bệ hạ."

Thái úy cúi thấp người chào tôi.

"Thái úy đến tìm ta hay tìm Thái phi?"

Tôi hỏi ông.

"Bệ hạ, thần có việc hệ trọng cần bàn với người.

Không biết thần có thể ở riêng với người không?"

"Được."

Tôi gật đầu.

"Thái úy lên xe đi, chúng ta cùng vào cung."

"Sao?

Đã tổ chức xong lễ cưới rồi?"

Lần đầu tiên tôi cưới vợ, hóa ra tôi còn chưa biết mặt mũi vợ mình như thế nào, thậm chí là còn không biết tên tuổi quê quán và còn chưa từng gặp mặt cũng chưa hề nói chuyện.

Quan trọng hơn, lễ cưới của chính tôi nhưng tôi còn không có mặt.

"Vì ngại bệ hạ tuổi nhỏ nên chúng thần đã tổ chức theo lễ dân gian ở quê của tân nương.

Sính lễ cũng đã gửi đến nhà người ta rồi.

Đêm nay chỉ còn động phòng nữa thôi."

"Sao đến tận bây giờ khanh mới nói với trẫm!?"

"Bệ hạ đừng lo."

Thái úy khẽ cười.

"Chính vì thế nên hôm nay thần mới ở đây."

"Khanh định..."

"Bệ hạ," Lý Thường Kiệt lấy từ trong tay áo ra một quyển sách.

"trong hôm nay, bệ hạ hãy học hết những thứ này."

"Không được!"

Tôi quát ầm lên.

"Đây là tảo hôn!

Là ấu dâm!

Pháp luật sẽ trừng trị cả ngài lẫn ta đấy."

"Pháp luật thì Bệ hạ muốn là sửa được mà."

"Thế là lạm quyền!

Hơn nữa, trẫm không nghĩ Thái úy lại giữ bên mình thứ văn hóa phẩm đồi trụy đó.

Mọi người thấy thì sẽ nghĩ gì đây?"

"Bệ hạ, thần đã từng này tuổi rồi, dẫu có lòng cũng không còn sức nữa."

"Ngài có lòng?

Dê già vẫn thích gặm cỏ non à?

Hay gu của ngài mặn như mắm Phú Quốc?"

"Trời ơi Bệ hạ, thần mà dám làm thế bà xã thần sẽ giết thần mất.

Tất cả là vì Bệ hạ thôi."

Cuối cùng, tôi vẫn phải ngồi cùng ông ta nghe mấy thứ mà cả tôi và các bạn hoàn toàn có thể tìm thấy những mô tả sinh động hơn từ những trang web đen.

Cuối cùng tôi cũng về đến điện Thiên Khánh.

"Bệ hạ," Thái úy Lý Thường Kiệt cúi người vái tôi.

"thắng trận trở về."

"Thắn trận trở về cái đầu ông.

Ông muốn tôi làm cái gì với cái thân xác này hả?

Giờ ông muốn tôi làm gì đây?

Dũng cảm tiến lên hả!?"

Đêm hôm đó, tôi bước vào phòng nghỉ của mình, hôm nay được trang trí màu đỏ với lụa là gấm vóc và cả hoa.

Còn có cả một mùi hương khác mọi ngày phang phảng quanh phòng.

Trên giường của tôi, có hai cô bé trạc tuổi tôi đang ngồi chờ sẵn.

Họ mặc trang phục đỏ và đội mạng che mặt.

"Ừm, trẫm không có kinh nghiệm trong chuyện này."

Tôi lẽn bẽn nói.

"Nên nếu có thể thì, đêm nay, chúng ta có thể đi ngủ sớm không?"

Sao chứ?

Lần đầu của tôi đấy!

Sao tôi có thể làm trò đó với hai cô bé mới mười tuổi được.

Tôi sống ở thời cổ đại nhưng tôi tuân thủ theo pháp luật thế kỷ XXI và các giá trị đạo đức của đất nước và thời đại của tôi!

Tôi không thể làm thế được.

"Thần khấu tạ long ân."

Hai cô bé quỳ rạp đầu lạy tạ.

Hơi gượng ép.

Chắc tôi nên làm gì đó để hai đứa trẻ thấy thoải mái hơn.

"Khoan đã, các em có thích Toán không?"

Tôi hỏi.

Và chúng tôi dành cả đêm để học hình học không gian đến khi cả ba đứa thiếp đi.

Sáng hôm sau, khi tôi tỉnh dậy tôi mới được chiêm ngưỡng nhan sắc của hai Hoàng hậu.

Cô bé bên trái, tên Hoa, họ Bùi lớn hơn tôi hai tuổi.

Cô bé bên phải tên Vy, bằng tuổi tôi.

Nhan sắc ư?

Bạn mong chờ gì ở nhan sắc của một vị hoàng hậu?

Quốc sắc thiên hương?

Chị em Thúy Kiều?

Hay là người yêu Chí Phèo?

Khiến các bạn thất vọng rồi.

Hai cô bé chưa dậy thì thì làm sao mà tôi dám nói bừa chứ.

Hơn nữa, tôi có người trong mộng rồi.
 
Ấu Hoàng
Quy hoạch đô thị.


Sau khi cưới vợ, tôi gặp họ mỗi tuần để... học Toán Lý Hóa.

Trừ lúc thiết triều ở điện Thiên An và đi học ở Văn Miếu ra thì tôi ở trong điện Thiên Khánh để làm những công việc khác (thực tế là Dương Thái hậu làm còn tôi ngồi cạnh để học) và nghỉ ngơi.

Còn hai người vợ của tôi (Hoa là Thánh Cực Hoàng hậu, còn Vy là Chiêu Thánh Hoàng hậu) ở trong cung Long Thụy và cung Thúy Hoa, phía sau điện Thiên Khánh.

Họ cũng được sắp xếp người để dạy các lễ nghi cung đình, cầm kỳ thi họa, việc quản lý hành chính và cả, nói nhỏ nhé, việc thị tẩm tôi là ưu tiên hàng đầu.

"Bệ hạ," Một vị quan lại bước ra trong một buổi chầu giữa năm Thái Ninh thứ hai.

"nhiều ngày mưa dầm không dứt, ảnh hưởng đến mùa màng.

Thần đề nghị tìm cách giải quyết."

"Bùi Thái sử," Thái hậu lên tiếng.

"việc của nhà nông, họ sẽ có cách thôi."

"Không."

Tôi lên tiếng.

Đứng phắt dậy khỏi chiếc ngai.

"Cần giải quyết triệt để chuyện này."

"Bệ hạ?"

Mọi người trố mắt nhìn tôi.

Tôi bước ra khỏi tấm rèm.

"Các khanh nghĩ mưa chỉ ảnh hưởng đến mùa màng thôi sao?"

Tôi trỏ mặt Bùi Thái sử, người giữ chức vụ quan sát thiên văn khí tượng trong triều.

"Thương nhân không buôn bán được.

Kinh tế của ta không ảnh hưởng sao?

Còn học sinh thì sao?

Họ không đến trường được, các khanh nghĩ có ảnh hưởng đến tương lai của Đại Việt không?

Các quân binh đang canh gác ngoài cổng nữa.

Các khanh có nghĩ một ngày họ trở ốm và quân giặc tới thì sao?"

Đến đây, văn võ bá quan quỳ rạp xuống.

"Chúng thần ngu muội.

Xin bệ hạ trách phạt."

"Được, thế trẫm sẽ phạt các khanh đi thông cống thoát nước."

Tôi buột miệng.

Mọi người lại nhìn nhau.

"Cống?"

"Đào cống sao?"

"Bệ hạ, chuyện này..."

"Chúng ta sẽ không làm như những đường giếng thoát nước."

Tôi ngoắc viên thái giám lại và bảo hắn lấy bút.

"Chúng ta sẽ làm một hệ thống cống ngầm khép kín."

"Đầu tiên, chúng ta đào một lỗ trên ruộng," Tôi vẽ lên sàn điện.

"rồi dùng vật liệu không thấm nước tạo thành một cái ống, dẫn nước ra sông lớn.

Trên đường phố cũng thế.

Các khanh hãy đào lỗ thông ra sông.

Quan trọng nhất là phải tính toán được độ dốc của đường ống thoát nước.

Nếu để nằm ngang, nó không thể dẫn nước đi được, còn nếu quá dốc, áp lực nước sẽ quá mạnh và có thể gây ra thiên tai, rất nguy hiểm."

Các quan lại có vẻ không hiểu lắm.

"Đại khái thì đây sẽ là vụ quy hoạch đô thị đầu tiên trong lịch sử.

Trẫm phục mình quá đi.

Hô hô hô."

Tôi đang muốn gì ư?

Đêm hôm kia, tôi đã đọc một vài quyển sách sử về Lê Long Đĩnh.

Khác với sử sách thường chép về một vị hôn quân, ông ta là một vị vua cực kỳ nghiêm túc trong việc trị quốc.

Điểm đáng nói ở đây là ông ta đã xin nhà Tống cho đặt một người ở chợ để trong coi việc buôn bán giữa hai nước Việt và Tống.

Điểm này giống như là xin cấp phép đặt văn phòng đại diện thương mại ở nước ngoài bây giờ vậy.

Hôm qua tôi đã tìm một Thị lang trong triều có đầu óc trong giao thương, anh ta nói rằng người trông coi đó có thể giống như đại diện của vua ở chợ vậy.

Và tôi quyết định rằng tôi cũng sẽ đề ra những quyết định mang tính vượt thời đại như thế.

"Bệ hạ," Thái hậu lên tiếng, các quan lại đang chen chúc nhau ngắm cái mớ hình vẽ của tôi lục đục quay về chỗ đứng.

Thái sư và Thái úy còn đứng nhầm bên.

"Đúng như tiên đế nói, bệ hạ giống như tiên trên trời giáng xuống vậy."

"Thái hậu quá khen."

"Nhưng phương pháp này là của thần thánh, không phù hợp với người phàm như chúng ta."

"Ừ, có lý."

"Tôi năm nay hơn bảy mươi tuổi rồi mà chưa thấy cái thứ cống thoát nước nào như thế."

"Nhưng nếu là phương pháp của thần thánh, sao kẻ ở dưới như ta dám..."

"A di đà Phật."

"Ta nghĩ, từ thời Thái Tổ đến Thánh Tông đều sùng Phật, nhưng từ khi lên ngôi, bệ hạ không mấy khi lễ Phật, có lẽ đây là lý do khiến Phật Tổ không vừa ý nên đang trách mắng chúng ta thôi."

Thái hậu nói một tràng nghe rõ mê tín di đoan.

"Thái hậu, mưa là một hiện tượng khoa học, hơi nóng từ mặt trời khiến hơi nước bốc lên..."

"Bệ hạ!"

Thái hậu quát.

"Ta nghĩ," Bà hạ giọng sau khi lườm tôi một cái dài như con bé thủ quỹ khi tôi quên đem tiền đóng tiền quỹ lớp.

"khi xưa Thánh Tông sùng đạo, cũng thường lễ Phật ở chùa Pháp Vân, bây giờ nếu ta tới rước tượng Phật về cầu tạnh, thì có thể thay đổi tình trạng này chăng."

"Thái hậu," Lý Đạo Thành bước ra.

"năm xưa, Tản Viên Sơn Thánh và Đồ Sơn Thủy Thánh tranh nhau con gái của vua Hùng, cứ đến tháng bảy, thủy thánh lại dâng nước đánh sơn thánh.

Nay nếu ta cúng tế cho sơn thánh, có thể phần nào tiếp sức cho Người đánh bại thủy thánh để sớm ngày bá tánh sinh hoạt bình thường trở lại."

"Thái sư nói chính hợp ý ta."

Mấy hôm sau, văn võ bá quan tới núi Tản Viên, nơi mà tôi đoán bây giờ là núi Ba Vì, và cúng bái Sơn Tinh.

Khi mọi người còn đang tiến hành dâng hương và tế lễ, tôi chạy ra đằng sau núi.

Tôi lén lấy một chiếc cốc thó được trong cung.

Nhưng đó là nhà tôi mà, về cơ bản tôi đang cầm theo đồ của mình nên không phải là ăn trộm.

Tôi chôn chiếc cốc xuống đất.

Hy vọng không ai tới đào nó lên.

"Khi nào về, tao sẽ đào mày lên và đem bán cho bảo tàng.

Tao sẽ giàu to mà chẳng cần tới cái doanh nghiệp của ông già.

Ha ha ha."

"Công tử?"

Phía sau tôi, một cô bé xuất hiện.

Tôi mất hơi nhiều thời gian để nhận ra cô bé.

Là Lan Anh!

Con bé đột nhập vào Văn Miếu.

"Người là con của vị đại thần nào thế?"

Con bé hỏi tôi.

"À, ta họ Lý."

"Công tử là hoàng thất ư?"

"À, cũng có thể xem là thế."

Tôi gãi đầu.

"Mà, mày nhận ra tao à?"

"Vâng, em chẳng mấy khi được tiếp xúc với giới nhà giàu, nên em có ấn tượng mạnh với công tử lắm."

"Thế ngươi làm gì ở đây?"

"Thần theo phụ thân đến thăm đền thờ thần Tản Viên, để cầu cho thần đánh thắng thần Đồ Sơn."

"À, lại Sơn Tinh Thủy Tinh à?"

"Ngươi biết không?

Đám quan lại này chạy hết vào đây để cúng cho một nhận vật thần thoại, rõ là mê tín, chẳng có tí khoa học nào cả."

Tôi trỏ ngón tay vào đền thờ Sơn Tinh.

"Công tử, Ngài không phải con của quan lại họ Lý đúng không?"

"Cái gì?"

"Ngài là hoàng tử ạ?"

"Hả?"

Tôi đứng hình mất mấy giây.

"Sao mày..."

"Vì khẩu khí của ngài rất đặc biệt, hơn nữa, thần từng hỏi cha, cha thần bảo nơi thần vào chơi khi ấy là Văn Miếu, nơi hoàng tử học tập.

Công tử, người là hoàng tử sao!?"

"À, không."

Tôi lại gãi đầu.

"Ta là Hoàng đế."

"Hoàng..."

Lan Anh cứng họng rồi quỳ rạp xuống.

"Bệ hạ."

"Đứng dậy đi."

Tôi đỡ con bé.

"Bệ hạ!

Dân nữ bẩn thỉu thấp hèn, không dám chạm vào long thể bệ hạ."

Con bé lùi ra xa.

"Lan Anh tiếp chỉ."

Tôi thở dài.

"Lại đây."

"Bệ hạ..."

Tôi nắm lấy tay con bé.

Tay con bé có hơi chai sạn, nhưng những ngón tay vẫn nhỏ bé và mềm mại.

"Mày thấy chưa?"

Tôi mỉm cười.

"Dù trẫm là Thiên tử, nhưng trước khi là Thiên tử, trẫm là một con người.

Mày cũng là con người.

Đã là con người, thì ai cũng được hưởng nhân quyền và dân quyền như nhau, tạo hóa ban cho chúng ta quyền bình đẳng.

Bình đẳng trong cuộc sống, và bình đẳng trong pháp luật.

Cho nên, đừng có cư xử với ta như một Hoàng đế.

Hãy xem ta, như một người bạn."

"Bệ hạ..."

"Bệ hạ!"

"Bệ hạ!

Người đầu rồi!?"

"Chạy thôi," Tôi nắm tay Lan Anh bỏ chạy.

"Để họ bắt được thì phiền bỏ xừ."

Hai đứa tôi chạy trong núi, rất may là không ai bị ngã hay bị thương.

"Thế, quê em cũng đang bị ngập à?"

Tôi hỏi Lan Anh khi đang quay lại đền Tản Viên vì trời sắp tối.

"Dạ."

Lan Anh đáp.

"Nên em mới cùng cha tới đây cầu sơn thánh."

"Thế thì để anh dạy em cái này nhé."

Tôi lấy một cành cây và vẽ lại kế hoạch quy hoạch đô thị của tôi.

"Hay quá!"

Hai mắt Lan Anh sáng rực.

"Quả đúng là bậc Thiên tử có khác."

"Nịnh hay đấy."

Tôi gật gù.

"Em nói thật đấy ạ.

Bệ hạ, cái này..."

"Nếu em nói thật, vậy hãy về và thực nghiệm đi.

Nếu thành công, thì đó là em đã chiến thắng Thủy Tinh chứ không phải Sơn Tinh nữa.

Em sẽ có thể trở thành anh hùng cứu quốc đấy."

"Em ạ?"

Lan Anh tròn mắt.

Nhưng có vẻ con bé cũng thích thế.

"Nhưng, em là con gái..."

"Trưng Nữ Vương là đàn ông sao?

Bà Lệ Hải là đàn ông sao?

Đại Việt ta chứng kiến bao nhiêu nữ anh hùng hào kiệt rồi?

Tương lai còn có Võ Thị Sáu, Nguyễn Thị Minh Khai... ai nói chỉ đàn ông mới làm được anh hùng?"

"Ôi, mình nói hay thật.

Chính mình còn phục mình nữa kìa."

Tôi hí hửng trong lòng.

"Lan Anh!"

Có tiếng gọi từ đằng xa.

"Bệ hạ, phụ thân gọi, dân nữ xin phép."

"Đi cẩn thận đấy."

Tôi gật đầu rồi con bé chạy đến chỗ bố nó.

"Ấy chết, mình quên mất triều đình."

Sau đó tôi phóng như bay về đền sơn thánh.

"Sorry các khanh."

Tôi vẫy tay và cười với họ.

"Trẫm hơi ham chơi."

Văn võ bá quan, Thái hậu và Nguyên phi đều thở phào nhẹ nhõm.

Ít nhất thì họ quan tâm tới an nguy của tôi hơn việc nghĩ xem sorry là cái gì.
 
Ấu Hoàng
Đảo chính.


Này, tôi hoàn toàn không tin ba cái chuyện mê tín, nhưng mấy hôm sau, mưa tạnh hẳn luôn.

"A di đà Phật.

Sơn thánh và Phật Pháp Vân thiêng thật."

Nguyễn Viết Y nhìn trời.

"Nhưng mô hình của bệ hạ cũng hay lắm.

Tuy nhiên, chúng ta không thể làm ra những đường ống như thế trong tình trạng này được."

"Tình trạng này?

Ý sư phụ là gì?"

"Cách của bệ hạ, tạo ra một loại ống như thế, rồi chôn dưới đất, lại còn chắp nối vào nhau để dẫn ra sông ra biển nữa.

Với trình độ của người hạ giới chúng thần thì quá sức."

"Đừng có xem con là người trời chứ."

Tôi thở dài.

"Chẳng qua mấy hôm rồi mưa quá nên mặt trời không chiếu sáng đủ để làm bay hơi nước thôi."

Cuối buổi học, tôi quay về Cấm Thành thì lại gặp Thái sư đang đứng chờ.

"Thái sư."

Tôi ngóc đầu ra khỏi kiệu.

"Bệ hạ, cẩn thận."

Quan thái giám nhắc tôi.

Từ dạo cái hệ thống cống rãnh kia được vẽ lên điện Thiên An, Thái úy và Thái sư tự nhiên ghét nhau ra mặt.

Tôi nghe ngóng được họ vừa cãi nhau to về nó.

Thái sư thì muốn kính Phật hành lễ, ông ta cho rằng sử dụng kiến thức của trời mà không được cho phép là đại nghịch bất đạo trong khi rõ ràng là tôi cho phép.

Ngược lại, Thái úy Lý Thường Kiệt muốn dùng nó để dẫn nước, để thử khả năng thực tiễn và áp dụng vào các công việc khác.

Ông ta muốn áp dụng cái mô hình đó ở nơi quê trước để thử nghiệm.

Trớ trêu thay, có một số tin đồn rằng Thái sư Lý Đạo Thành đã qua lại với người của họ Dương ở cả Lạng Châu và Nghệ An.

Triều đình bàn tán xôn xao mấy ngày nay.

Họ thắc mắc không biết Thái sư đang nghĩ gì.

Nhưng tôi thì khá yên tâm về lòng trung thành của ông.

Tôi gần như đã quên hết những lời mẹ dạy cách đấy mấy năm.

"Bệ hạ," Quan thái giám liếc Thái sư rồi lại nhìn tôi.

"như thế có hơi nguy hiểm không ạ?"

"Đi cùng Thái sư mà còn sợ nguy hiểm sao?"

Tôi cười.

"Dưới gầm trời này ai có thể chống lại Thái sư?"

Tôi chỉ một tên lính gác cổng.

"Ngươi hả?"

Hắn chỉ biết quỳ dập trán xuống đất.

"Hay ngươi?"

Tôi chỉ tên khiêng kiệu.

Hắn cũng quỳ xuống.

"Hay ý ngươi là," Tôi nhìn viên thái giám.

"Thái sư muốn ám hại ta?"

"Ơ..."

Tên thái giám hoảng loạn thấy rõ.

"Thái sư, hạ quan không dám có ý đó, chỉ là..."

"Thôi được rồi."

Tôi cười ngặt nghẽo.

"Trẫm chỉ đùa thôi.

Các ngươi đứng dậy đi.

Trẫm sẽ tản bộ cùng Thái sư, các ngươi lui đi."

"Bệ hạ," Lý Đạo Thành nói với tôi khi đang đi bộ vào cấm cung.

"quân bất hí ngôn, sao có thể nói đùa vô nghĩa như thế chứ?"

"Bình thường thôi."

Tôi thở dài.

"Trước có kẻ còn đem sách đen vào chốn cung đình để dạy trẫm cơ."

"Bệ hạ là người đứng đầu cả một quốc gia, sao người có thể nói ra những lời như thế?"

"Rốt cuộc hôm nay ông muốn nói gì với trẫm?"

"Dạo gần đây Thái úy có gặp riêng bệ hạ không?"

Lý Đạo Thành hỏi.

"Thái úy à?"

Tôi nghiêng đầu.

"À, ngày mai khanh sẽ khởi hành ra biên cương phải không?

Chúc khanh đi mạnh giỏi nhé."

"Bệ hạ, lão thần đang nghiêm túc."

Lý Đạo Thành trừng mắt.

Vết sẹo của ông khẽ giật giật.

"Thôi được rồi."

Tôi thời dài.

"Lát nữa trẫm sẽ cho khanh xem cái này."

Tôi bước vào sân rồng, nơi này vốn dùng để cúng tế trời đất và làm các nghi lễ quan trọng.

Bây giờ, có một người đàn ông to lớn đang cầm tay An Dân và dạy thằng bé bắn cung.

"Thái úy."

Tôi bước vào sân tập.

"Bệ hạ."

Lý Thường Kiệt cúi người vái tôi.

"Anh!"

An Dân ném cung nhào tới, nhưng đi được vài bước thì nhớ ra gì đó nên đành lùi lại và cúi đầu.

"Bệ hạ."

Trở thành vua đã chia cắt tình cảm anh em bọn tôi.

Chẳng biết từ khi nào, giữa chúng tôi xuất hiện một rào cản lễ nghi.

Tuy nhiên, đó chỉ khi ở trước mặt người khác, khi ở riêng, chúng tôi vẫn là anh em.

Em trai tôi dạo này dậy sớm tập thể dục, dáng người rất có khí phách.

Trên ngón tay cái thằng bé đeo một chiếc nhẫn, loại hỗ trợ bắn cung, được gọi là thiếp.

"Em đã bắn được tên chưa?"

Tôi cố nở một nụ cười dịu dàng.

"Thần đệ đã có thể ngắm chuẩn hơn.

Tất cả là nhờ Thái úy chỉ dạy."

"Minh Nhân Vương điện hạ rất có tố chất."

Lý Thường Kiệt khen.

"Mới hướng dẫn một lần đã có thể sử dụng được cung tên.

Tương lai nhất định sẽ còn tiến xa."

Sau khi liếng thoắng về tài nghệ của em trai tôi, Thái úy mới quay sang Thái sư.

"Thái sư, ngọn gió nào đưa ngài tới đây thế?"

Lý Thường Kiệt cúi gập người.

"Ta chỉ tình cờ đi ngang qua thôi."

Lý Đạo Thành cúi người đáp lễ.

"Thì ra, Thái úy đang dạy Minh Nhân Vương bắn cung sao?

Sao ta không nghe nói gì hết vậy?"

"À không."

Lý Thường Kiệt lắc đầu.

"Ta chủ yếu dạy võ công cho bệ hạ, nhưng có lẽ vì Thái sư, mà lịch luyện tập của bệ hạ bị gián đoạn rồi."

Tôi thề là lúc đó Lý Đạo Thành đã rung lên bần bật.

Chắc ông ta tức lắm rồi.

Vì sao Thái úy lại dạy võ cho tôi hả?

Đích thân tôi bảo đấy.

Thái úy đang dần nhàn hạ vì một số chức vụ trong triều được chuyển giao cho người khác dưới quyền Thái hậu.

Mà các cụ nói, nhàn cư vi bất thiện, để Thái úy không bất thiện, tôi đành nhờ ông ấy kèm cặp mình võ thuật.

Và cả đất nước này ai mà không biết Thái úy Lý Thường Kiệt có võ công vô địch thiên hạ.

Với profile như thế, tôi phải tận dụng ngay chứ.

"Bệ hạ, hôm nay ta sẽ tiếp tục những gì hôm qua đang dang dở."

Lý Thường Kiệt bơ hoàn toàn Lý Đạo Thành và cùng tôi luyện thương.

Tôi vung cây bổng lên và tấn công vào đối thủ trong tưởng tượng.

Lý Thường Kiệt đang dạy tôi U Linh Thương Pháp, bài thương pháp do Thái Tổ sáng tạo ra và được lưu truyền trong quân đội.

"Bệ hạ," Thái úy chỉ dẫn khi tôi đang thực hiện các động tác.

"động tác của Người thiếu uyển chuyển."

"Bệ hạ," Thái sư nhắc.

"đòn tấn công của người thiếu lực."

Hai ông già ở bên cạnh cứ tranh miệng nhau mà chỉ dẫn giống như hai đứa con nít lên ba tranh nhau giành bật công tắc đèn.

"Bệ hạ cố lên."

Còn em tôi ở bên cạnh cổ vũ.

"Này," Tôi hạ cây gậy xuống sau khi múa xong một đoạn thương pháp.

"Thái sư và Thái úy, ai mạnh hơn?"

Hai vị nhìn nhau.

"Thái sư đã tinh thông võ nghệ từ khi còn nhỏ tuổi.

Tại hạ thực sự không thể so bì."

Lý Thường Kiệt khiêm tốn nói.

"Thái úy tuy trẻ hơn ta nhiều tuổi, nhưng trên chiến trường anh dũng thiện chiến, lập biết bao chiến công, ta thẹn không bằng được."

Lý Đạo Thành cũng chối.

"Hay lắm."

Tôi vỗ tay.

"Ta cũng muốn xem hai vị giao đấu."

"Bệ hạ?"

Hai ông già nhìn tôi với bốn con mắt mở to.

"Trăm nghe không bằng một thấy."

Tôi nhìn họ.

"Ta thực lòng muốn được mở mang tầm mắt, chiêm ngưỡng trận so tài giữa hai dũng tướng hàng đầu Đại Việt ta."

"Bệ hạ," Lý Đạo Thành cố thoái thác.

"thần tuổi đã cao, e sẽ làm bệ hạ không vừa mắt."

"Năm xưa Hoàng Trung tuổi ngoài thất tuần vẫn có thể đấu với Quan Vũ bất phân thắng bại..."

"Hoàng Trung và Quan Vũ có giao đấu sao?"

Thái úy xoa cằm. (1)

"... nay chỉ là một trận giao hữu mà khanh lại từ chối, lẽ nào khanh không quan tâm đến sự phát triển võ công của trẫm?"

"Bệ hạ..."

Thực ra thì tôi đang nhõng nhẽo thôi.

Cuối cùng hai người họ cũng cởi bỏ quan phục và cầm lấy hai cây gậy.

Nhìn thấy hai thân thể cường tráng với cơ bắp cuồn cuộn loang lổ mực đen và những vết sẹo trên cơ thể họ, tôi như thấy được sự tàn khốc của chiến tranh.

"Thái úy," Tôi lại gần nói thầm Lý Thường Kiệt.

"Thái sư tuổi đã cao, sức khỏe không còn như thời tráng niên, trong trận đấu, đừng đánh hết sức."

"Thái sư," Tôi nói thầm với Lý Đạo Thành.

"Thái úy là võ quan đầu triều, quân cấm vệ ở đây có đông người là con nhà võ có danh tiếng, ngài nên nhẹ tay để giữ thể diện cho ngài ấy."

Hai lão già đều nghe tôi nói như thế, có lẽ họ sẽ chỉ đánh hời hợt thôi.

Tự nhiên tôi thấy mình thật thông minh.

Hai cây gậy va vào nhau, Lý Thường Kiệt xoay cây gậy trong tay và vung nó vào vai Thái sư.

Lý Đạo Thành đưa thân gậy ra đỡ đòn và chọc mũi gậy vào ngực Thái úy, Lý Thường Kiệt lùi lại, ông nắm đuôi cây gậy và quét rộng, Thái sư lùi khỏi tầm, Thái úy nhảy tới vung gậy xuống đầu Thái sư.

Người đàn ông già đặt ngang cây gậy đỡ đòn.

"Thái úy!"

"Thái sư!"

Quân sĩ đang đứng gác cũng chăm chú xem trận đấu và hò reo cổ vũ.

Đến lúc trời chạng vạng, hai người họ vẫn bất phân thắng bại.

"Được bao nhiêu hiệp rồi?"

Tôi hỏi tên lính bên cạnh.

"Bẩm bệ hạ, hơn hai trăm hiệp ạ."

"Ta xem thì mỏi cả mắt, thế mà tay họ vẫn chưa mỏi à?"

Cuối cùng, hai cây gậy không chịu được nữa, cả hai gãy đôi.

"Đủ rồi."

Tôi bước lên sàn.

Dưới ánh nắng cuối chiều, cơ thể của họ lấp lánh những giọt mồ hôi.

"Nhờ hai vị, hôm nay trẫm được mở mang tầm mắt."

"Tôi nhớ tôi bảo hai ông nương tay với nhau cơ mà."

Có vẻ như đấu được nửa chừng thì họ quên béng luôn.

"Thái sư, đã có tuổi rồi, mà vẫn oai dũng phi thường.

Tại hạ bái phục."

Lý Thường Kiệt cúi người.

"Hôm nay kẻ hậu bối này cũng được mở mang tầm mắt."

"Thái úy quá lời rồi."

Lý Đạo Thành cũng cúi người.

"Nếu Thái úy không nhường ta, làm sao ta còn đứng vững chứ."

"Đủ rồi đủ rồi."

Tôi vẫy tay cắt ngang cuộc trò chuyện của hai ông già.

"Người đâu, ban rượu."

Hai vị cầm hai cốc rượu và uống một hơi cạn sạch.

"Mong hai vị, từ nay tiếp tục giúp trẫm."

Tôi nói với họ.

"Tiên đế băng hà khi trẫm còn nhỏ, nỗi đau này thực không từ ngữ nào có thể tả nổi.

Nhưng may thay, trẫm có hai vị đều là những trung thần, mong hai vị," Tôi cúi người.

"cùng trẫm nâng đỡ giang sơn Đại Việt."

"Bệ hạ!"

Cả hai người quỳ xuống, những người xung quanh cũng quỳ xuống hành lễ.

"Được rồi, trẫm còn phải về phòng đọc sách.

Hôm nay, thực cảm ơn hai vị."

Tối đó, khi tôi đang đọc Hán thư, phần Vũ Đế kỷ thì Thái hậu Thượng Dương bước vào điện.

"Đích mẫu."

Tôi bỏ sách xuống.

"Bệ hạ, ta nghe nói, hôm nay bệ hạ đã cho Thái sư và Thái úy giao đấu."

Thái hậu chẳng hành lễ, hỏi thẳng tôi.

Bà ấy chưa từng quên các nghi lễ này.

"Đó chỉ là một trận đấu giao hữu thôi."

"Giao hữu?

Là cái gì?"

"Ý trẫm là...

Thái sư và Thái úy đều từng là võ tướng, trẫm muốn được học hỏi võ công từ họ.

Vừa để mở mang tầm mắt, vừa giúp hai người họ xóa bỏ những hiềm khích lâu nay."

"Bệ hạ, rốt cuộc Người đang nghĩ cái gì vậy!?"

Thái hậu quát lên.

"À, trẫm..."

"Thái úy là chiến thần đương thời, được tiên đế trọng dụng.

Thái sư tuổi đã cao, lỡ chẳng may, Thái úy có âm mưu hãm hại Thái sư, thì Lý Thường Kiệt kia hoàn toàn có thể đổ lỗi rằng hắn đang làm theo chỉ thị của bệ hạ, giúp bệ hạ mở mang tầm mắt.

Đến lúc đó, Bệ hạ sẽ mất đi Thái sư đầu triều, Thái úy sẽ thừa cơ chiếm lấy quyền lực.

Bệ hạ muốn có một kẻ chuyên quyền sao?

Bệ hạ muốn mình như Tần Nhị Thế, như Hán Hoàn Đế (2) sao!?"

"Chứ người muốn con giống ai?

Lưu Anh hay Vũ Văn Xiển (3)?"

Tôi gắt lên.

"Bệ hạ!"

Thái hậu tức giận quát lên.

Nhưng bà không làm được gì tôi vì tôi là vua nên đành rời khỏi điện, mặc cho tôi đứng hình ở trong phòng.

Một lúc sau, đến lượt Hoàng thái phi bước vào.

"Mẫu phi!"

Tôi đứng dậy ngay lập tức.

"Bệ hạ, nghe nói hôm nay Thái úy và Thái sư đã giao chiến dưới sự chỉ thị của Bệ hạ sao?"

"V... vâng."

Tôi ngồi xuống.

"Con chỉ là, muốn hai người họ..."

"Hiện tại họ đang ở hai phe đối lập nhau, chỉ một sơ sẩy nhỏ thôi cũng có thể khiến một trong hai vong mạng.

Tất nhiên, trong tình huống này, mất đi một trong hai người họ đều là vấn đề của cả quốc gia chứ không riêng gì bệ hạ hay ta."

"Hay Thái hậu?"

Tôi vô tình nói thêm.

"Thái hậu có tới đây sao?"

Tôi kể lại mấy câu ngắn ngủi Thái hậu và tôi trao đổi mới một lúc trước.

"Thái hậu sợ rằng Thái úy đả thương Thái sư sao?"

Mẹ tôi nhìn ra bên ngoài cửa sổ trầm ngâm.

"Ngày trước, Thái sư và mẫu phi có quan hệ rất thân thiết, sao bây giờ,"

"Thái sư chưa từng ủng hộ ta."

Mẹ tôi quay lại nhìn tôi.

"Ông ta chỉ về phe một thứ duy nhất: sự chính thống."

"Hả?"

"Việc ông ta giúp ta trị quốc khi tiên đế thân chinh là vì Thái hậu đã đồng ý.

Còn lần này," Mẹ tôi ngồi xuống trước mặt tôi.

"việc buông rèm nhiếp chính chỉ dành cho Thái hậu và ấu chúa.

Ta hoàn toàn không có cái đặc quyền ấy."

"Nhưng, con thấy mẹ có năng lực hơn Thái hậu mà."

"Năng lực?

Năng lực thì là gì so với địa vị, thế lực và tiền tài?

Ta không phải chính thất của Thánh Tông.

Ta không có thế lực chính trị chống lưng, ta chỉ là một con bé nông dân ở nông thôn được Thánh Tông đón vào cung thôi."

"Nhưng những chuyện này thì liên quan gì đến việc học võ của con?"

"Đơn giản thôi.

Nếu đây là một âm mưu để ám sát Thái sư, thì khi đó phe cánh của bà ta sẽ giảm sút cực mạnh.

Việc Thái úy đích thân dạy võ cho bệ hạ, chẳng qua là vì chính bệ hạ ra lệnh.

Nếu không, đừng mong Lý Thường Kiệt đó được tới cấm cung mỗi ngày như thế."

"Rốt cuộc thì mẹ và Thái hậu đấu đá nhau vì điều gì?"

Tôi gắt lên.

"Mọi người cùng đoàn kết với nhau không phải sẽ tốt hơn sao?"

"Đoàn kết?"

Mẹ tôi trừng mắt rồi khẽ liếc xung quanh như thể sợ ai đó nghe thấy từ đó.

"Người nghĩ ta không muốn sao?

Ta cũng muốn cùng Hoàng đích mẫu của người buông rèm nghe chính sự lắm chứ.

Nhưng ta được phép ư?"

"Nhưng..."

"Bệ hạ."

Thái phi Ỷ Lan đập bàn.

"Người quá ngây thơ."

"Mẹ, con thực sự, muốn cùng cả mẹ, và Thái hậu,"

"Muốn?"

Thái phi nhướn mày.

"Người nghĩ người chỉ cần muốn là được?

Người chỉ được phép lựa chọn mà thôi.

Một là Thái hậu, hai là ta.

Thế thôi!"

"Tại sao lại phải chọn một trong hai kia chứ!?"

"Vì đó là bắt buộc."

"Trẫm là Thiên tử!"

Tôi hét lớn.

"Trẫm lệnh cho cả hai người hòa hợp với nhau!"

"Bệ hạ!"

Mẹ tôi, giống Thái hậu, quát tôi một cái rồi bực tức bước ra khỏi điện.

Vài hôm sau, tôi vẫn ngồi chơi trên ngai vàng như thường ngày.

Tôi chẳng nghe các quan nói gì hết mà cứ mãi suy nghĩ làm cách nào để mẹ mình và Thái hậu có thể cùng nhau hợp tác.

"Bệ hạ!

Thái hậu!"

Một người lính lao vào với vẻ hớt hải.

"Có chuyện gì vậy?"

Thượng Dương Thái hậu hỏi.

"Hoàng thái phi và Thái úy dẫn quân tới đòi Thái hậu phải nhường lại vị trí nhiếp chính cho Thái phi."

(1) Hai ông này có giao đấu.

Nhưng là trong một tiểu thuyết được viết sau thời điểm này khoảng vài trăm năm.

(2) Hai ông này đều gặp tình trạng hoạn quan chuyên quyền, dẫn đến triều đại suy vong.

Thượng Dương Thái hậu đang nhắc Lý Nhân Tông rằng Lý Thường Kiệt chỉ là một hoạn quan và tác hại của việc trọng dụng hoạn quan.

(3) Hai vị vua cuối cùng của Tây Hán và Bắc Chu.

Đều bị ông ngoại của mình soán ngôi.
 
Ấu Hoàng
Binh biến nhưng chưa kịp động binh đã có biến.


Quan lại xôn xao bàn tán.

"Hoang đường!"

Thái hậu đứng phắt dậy.

"Thái hậu đừng nóng."

Tôi khuyên Dương Thái hậu.

"Trẫm sẽ khuyên can Hoàng sinh mẫu.

Chắc người chỉ đang nhất thời nóng giận mà thôi."

"Bệ hạ!"

Thái hậu quay sang quát tôi.

"Đây rõ ràng là tạo phản rồi!"

"Bà ấy là mẹ trẫm, cũng là ái phi của tiên hoàng, sao có thể..."

"Con tiện nhân đó muốn cướp đi mọi thứ của ta sao!?"

Thái hậu giận dữ bước ra khỏi màn che.

"Con tiện nhân đáng chết!

Con nô tì chẳng đáng mười quan tiền mà dám tranh giành ngôi báu này với ta!?"

"Thái hậu!"

Tôi quát lên.

"Bà không được phép nói mẹ trẫm như thế!"

"Im đi!"

Dương Thái hậu quay lại hất ngã tôi.

"Người nghĩ Người ngồi lên được đó là xong hả?

Chẳng qua, Người chỉ là con tốt ta dựng lên thôi, tên nhóc con như mi, con của một con tiện dân không có tư cách ngồi lên chiếc ngai này!"

"Thái hậu!"

Một vị quan bước tới gần.

"Sao người có thể nói ra những lời đại nghịch bất đạo như vậy chứ!?"

"Im miệng!"

Thượng Dương Thái hậu rút thanh kiếm đeo bên hông tên lính vừa chạy vào báo tin và chém vào ông ta, khiến ông bị thương ở tay.

"Bổn cung là mẫu nghi thiên hạ!

Bổn cung là chính thất của tiên đế.

Bổn cung không thể nào thua trước con tiện nhân kia được!"

"Thái hậu!"

Tôi chạy tới cạnh bà.

"Người điên rồi sao?"

"Ta đang rất tỉnh táo!"

Bà ta túm lấy tôi.

"Thái hậu!"

Quan viên gào thét cố can vị Thái hậu đang tức giận.

"Tránh xa ta ra!"

Bà ta đưa thanh kiếm lên ngang cổ tôi.

"Ngươi dám tiến lên một bước, Đại Việt sẽ mất đi thêm một Hoàng đế nữa ngay bây giờ đấy."

"Thái hậu..."

Tôi ngước lên nhìn bà ta.

"Thái hậu!"

Mẹ tôi và Lý Thường Kiệt tiến vào điện, trên tay Lý Thường Kiệt là cây đại đao.

"Không được lại gần!"

Dương Thái hậu hét lớn.

"Mày mà lại gần tao nửa bước, con mày khó mà đảm bảo."

"Thái hậu," Lý Thường Kiệt kinh hãi.

"bà đang..."

"Tránh ra cho ta!"

Dương Thái hậu bắt tôi làm con tin và dắt tôi rời khỏi điện.

Xung quanh, vô số quân sĩ đang bao vây lấy bà.

"Thái hậu," Tôi nói với bà.

"dù người có định làm gì thì cũng không thành đâu.

Ta còn có một em trai, dẫu cho có giết ta ở đây thì bà cũng chẳng đạt được gì mà chỉ hại mình thôi."

"Giết mi?

Mi nghĩ ta muốn giết mi?"

Dương Thái hậu hỏi.

"Ta không chỉ muống giết mi.

Tao còn muốn giết cả mẹ mày, em mày, và tất cả những kẻ đã công nhận con tiện nhân kia ngang hàng với ta!"

"Thái hậu!

Bà dám nói thế với mẹ trẫm?"

Tôi nóng máu và cắn lên tay mụ ta khiến mụ phải thả tôi ra.

Hóa ra tôi đã nhầm.

Nhiều năm trước, tôi đã nghĩ đây là một vị Hoàng hậu dịu dàng không thể có con nên chỉ có thể tìm kiếm niềm hạnh phúc ấy ở những đứa con khác của chồng mình.

Nhưng quả đúng là mấy đời dì ghẻ nâng niu con chồng.

Mụ Hoàng hậu độc ác này không chỉ muốn giết tôi, mà còn cả mẹ tôi và em tôi.

"Bắt mụ yêu hậu đó lại!"

Tôi ra lệnh.

-

Mấy ngày liền tôi không ra chầu.

Tôi đã nói rằng mình cần tĩnh tâm để xem xét lại.

Mẹ tôi cũng nói rằng vụ việc vừa rồi đã khiến tôi kinh sợ nên cần để tôi nghỉ ngơi.

Trong lúc đó, bà đã một mình nhiếp chính.

"Thánh thượng," Quan thái giám bước vào nói với tôi.

"Thái phi đã ra lệnh tống giam Dương Hoàng hậu cùng rất nhiều cung nữ vào cung Thượng Dương rồi ạ."

"Trẫm biết!"

Tôi quát ầm lên khiến tên thái giám sợ giật bắn mình.

"Thế, hạ thần xin cáo lui."

"Khoan đã."

Tôi vẫy hắn quay lại.

"Thái sư về chưa?"

Thái sư Lý Đạo Thành đang trên đường ra biên cương một thời gian nên hoàn toàn không có mặt trong khi Lý Thường Kiệt làm binh biến.

Ngay sau khi ra lệnh bắt giam Dương Hoàng hậu, tôi đã hạ lệnh gọi Lý Đạo Thành về ngay lập tức.

"Bẩm bệ hạ, Thái sư đang trên đường về ạ."

"Thế thì gọi Thái úy đến đây."

Sau một lúc chờ đợi, Lý Thường Kiệt cũng tới.

"Bệ hạ cho gọi thần."

Ông quỳ vái tôi.

"Chuyện binh biến hôm trước, đã lan ra ngoài chưa?"

Vừa hỏi xong thì tôi tặc lưỡi.

"Kệ đi.

Dù có lan ra hay chưa thì chắc Dương Đức Uy kia cũng biết rồi."

"Bệ hạ yên tâm."

Lý Thường Kiệt tâu.

"Dương Đức Uy đã bị bêu đầu thị chúng rồi ạ."

"Sao nhanh thế?"

"Tất cả những người có liên quan đều bị giam chờ xét xử rồi ạ."

Thái úy phớt lờ câu hỏi của tôi.

Tôi thở dài.

"Thế mẫu phi định sẽ giải quyết Thượng Dương Thái hậu thế nào?"

"Bệ hạ, chuyện này..."

"Chôn sống bà ấy."

Mẹ tôi bước vào cắt ngang lời Lý Thường Kiệt.

"Mẫu phi."

Tôi tròn mắt nhìn bà.

"Ta sẽ cho chôn sống bà ta."

Mẹ tôi lặp lại.

"Rồi cho tuẫn táng cùng tiên đế.

À, còn phải đem chôn cả lũ cung nữ nữa."

"Mẹ."

Tôi thốt lên.

"Có nhất thiết phải làm như thế không?"

"Có!"

Mẹ tôi dứt khoát đáp.

"Nhưng bà ấy... chỉ là..."

"Mẹ già khó nhọc mới có ngày nay, mà bây giờ phú quý người khác được hưởng thế thì con để mẹ già vào đâu?"

"Nhưng con...

Thái hậu, đâu có ngược đãi mẹ đâu."

"Bệ hạ," Lý Thường Kiệt lên tiếng.

"nếu hôm đó thần và Thái phi không làm binh biến thì người sẽ bị chôn sống cùng tiên đế, có thể chính là Thái phi!"

"Cái gì cơ?"

"Bảy mươi hai cung nữ kia, là bảy mươi hai sát thủ ả ta nuôi để chờ thời điểm Dương Đức Uy đem quân tới thì nội ứng ngoại hợp giết hết tất cả và nắm quyền.

Họ Dương đã lên kế hoạch trừ khử cả ta và Người rồi, bệ hạ."

Thái phi Ỷ Lan nói.

"Sau đó ả sẽ đưa em trai người là Minh Nhân Vương lên ngôi để dễ bề thao túng."

"Tại sao chứ..."

"Từ lâu lắm rồi, ả yêu hậu đó vẫn luôn muốn Minh Nhân Vương trở thành hoàng đế.

Vì ả ta biết nếu là bệ hạ, người được thần tiên phái xuống thì sẽ rất khó điều khiển."

Mặt mẹ tôi đỏ bừng lên vì giận "Mụ yêu hậu đó định giết con của ta!"

"Nên người mới tiên phát chế nhân?"

Tôi nhớ lại lời dạy của bà mấy năm trước.

"Đúng thế."

Mẹ tôi nói.

"Ta đã chuẩn bị chiếu chỉ với ấn triện của bệ hạ và cả người đưa tin ngày đêm chạy ngựa tới Nghệ An.

Khi ấy, người của ta đã ở sẵn đó đợi Dương Đức Uy có động thái đáng ngờ thì chém tại chỗ."

"Sao mẹ làm nhanh thế?"

Tôi tròn mắt.

"Mà sao mẹ làm được tất cả những việc đó mà con không hay biết gì hết?"

"Bệ hạ," Lý Thường Kiệt khẽ nói.

"Khu mật sứ, được tiên hoàng giao lại cho Thái phi."

"Khu mật sứ?"

Khu mật sứ là một nhóm các hoạn quan điều phối và giám sát giấy tờ sổ sách của Hoàng đế.

Và người đứng đầu Khu mật xứ... không ai khác, chính là vị hoạn quan đang quỳ trước mặt tôi.

"Các người làm trẫm kinh hãi thật đấy."

Tôi rặn ra một nụ cười.

"Tiên đế đã lường được sự chuyên quyền của họ Dương từ lâu."

Lý Thường Kiệt nói.

"Người ngay từ đầu đã yêu cầu thần, phụ giúp Thái phi, loại trừ gian thần, phò tá ấu chủ."

"Thế còn Thái sư?"

"Dương Đức Uy có mời Thái sư làm nội ứng."

Lý Thường Kiệt nói tiếp.

"Nhưng Thái sư đã cự tuyệt.

Ông ấy nể tình nhà họ Dương có công với nước với dân nên đã không báo cáo lại chuyện này, để lũ giặc đó tự biết sửa lỗi...

Thái sư không có liên quan trong vụ này.

Thượng Dương Thái hậu cũng biết, ông ấy chỉ ủng hộ sự chính thống, tức là Thái hậu cùng ấu đế buông rèm nhiếp chính.

Ông ta không bao giờ ủng hộ việc sát quân."

"Bệ hạ!"

Tên thái giám chạy vào.

"Thái sư đang tự trói mình và quỳ ở bên ngoài."

Tôi, Thái phi và Thái úy chạy ra ngoài.

"Bệ hạ!"

Lý Đạo Thành khóc lóc dập đầu xuống sàn.

Ông đang bị dây thừng trói toàn thân và đang mặc một bộ quần áo trắng của phạm nhân.

"Vi thần ngu xuẩn, ủng hộ kẻ gian.

Xin bệ hạ giáng tội."

"Thái sư!"

Tôi phóng vút xuống, vấp bậc thang và suýt ngã ra đất.

"Mau cởi trói cho Thái sư!"

Tôi ra lệnh.

"Tránh xa ta ra!"

Thái sư quát khi hai tên lính đang tới gần ông.

Tôi rút thanh kiếm bên hông tên lính và cắt đứt dây thừng.

"Bệ hạ!"

Lý Đạo Thành giằng lấy thanh kiếm trong tay tôi.

"Thái sư!"

Lý Thường Kiệt lao tới.

"Ta là kẻ mang trọng tội."

Thái sư khóc lóc kề thanh kiếm lên cổ mình.

"Tội lỗi của ta là ủng hộ yêu hậu.

Nay, ta chỉ có thể dùng cái chết để tạ tội!"

"Lý Đạo Thành tiếp chỉ!"

Tôi hét lớn.

"Bệ hạ..."

"Tiếp chỉ!"

Tôi quát.

Lý Đạo Thành và những người xung quanh đồng loạt quỳ xuống.

"Thánh Tông Hoàng đế ra đi, giao lại ấu chúa và giang sơn cho Thái sư và Thái úy.

Hai vị như tay phải và tay trái của trẫm.

Thảo Đường Quốc sư vừa viên tịch.

Nay lại mất đi một trong hai vị, làm sao trẫm có thể giữ được giang sơn của nhất tổ nhị tông!?"

"Bệ hạ..."

Lý Đạo Thành khóc.

"Truyền ý chỉ của trẫm, tội của Thái sư Lý Đạo Thành là tin theo kẻ gian, nay phải tiếp tục dốc hết sức lực, vì Đại Việt cống hiến hơn nữa để chuộc tội!"

"Bệ hạ..."

Lý Đạo Thành khóc như một đứa trẻ.

Bây giờ nhớ lại, tôi lại thấy ông ta mít ướt thực sự.

Có lẽ là bệnh mau nước mắt của người già.

"Sao ạ?"

Tôi nhìn mẹ tôi với ánh mắt nghiêm trọng.

"Lưu đày?"

"Không phải lưu đày."

Mẹ tôi vừa xem tấu chương vừa trả lời tôi.

"Chính Thái sư đề nghị xin được đi đấy chứ.

Hơn nữa, vốn dĩ ông ta đang đi rồi, chỉ là bệ hạ gọi ông ta về thôi."

Lý Đạo Thành đã xin ra Nghệ An, đất cũ của Dương Đức Uy.

Suốt nhiều năm bất ổn vì họ Dương nên cần chỉnh đốn lại.

Xong việc sẽ hồi triều.

"Ông ấy xin giáng chức xuống Tả gián nghị đại phu."

Mẹ tôi nhìn tôi.

"Không những thế, ông ấy còn đem theo cả vị hiệu của tiên đế để thờ phụng."

"Nhưng, đem theo vị hiệu của phụ hoàng..."

"Đáng ra là không được."

Mẹ tôi giải thích.

"Đường đường là Hoàng đế, sao có thể được thờ trong nhà của bề tôi.

Nhưng ông ấy đã có lòng, thôi thì lần này ta sẽ nhắm mắt cho qua."

Mẹ tôi thở dài và dãn mặt ra.

"Mẹ..."

"Nhân đây thì, bệ hạ à," Mẹ tôi lại nghiêm nét mặt nhìn tôi.

"bệ hạ có biết sắp sửa có chuyện gì hay không?"

"Chuyện... chuyện gì ạ?"

"Sứ thần nhà Tống sắp sang nước ta đấy."
 
Ấu Hoàng
Vua trẻ con.


Tôi nhìn tên sứ giả từ từ bước ra khỏi điện Thiên An.

Không kiềm chế được một cái thở phào nhẹ nhõm.

Nhà Tống đang có nhiều vấn đề khác cần lo hơn.

Nhà Liêu và Tây Hạ đang quậy tưng bừng ở biên giới phía bắc, trong nước thì đang thực hiện tân pháp của Vương An Thạch (1).

Tôi còn đang lo hắn tới khiêu chiến.

Đại Việt và nhà Tống sẽ có một trận đại chiến trên sông Như Nguyệt do Lý Thường Kiệt chỉ huy.

Bây giờ ông đã ngoài năm mươi rồi, rất có thể cuộc chiến sẽ sớm diễn ra thôi.

Nhưng may sao chưa phải bây giờ.

Tên sứ giả đó tới, mặt hầm hầm khiến nhiệt độ trong điện như tụt xuống.

Lúc ánh mắt chúng tôi chạm nhau, tôi như muốn nín thở.

Nhưng tên sứ giả đó chỉ chia buồn về việc của Thánh Tông, bàn về việc giá cả một số mặt hàng như trầm hương Chiêm Thành có tăng giá rồi đọc tờ chiếu và phong tôi làm Giao Chỉ Quận Vương.

Lúc đó tôi nghĩ "Mình đường đường là Hoàng đế, sao lão vua nhà Tống lại phong mình làm vương?" nhưng nhớ lại thì phụ hoàng tôi cũng nhận tước phong Nam Bình Vương và tất cả đều chỉ là nhận cho có, một chiến thuật ngoại giao mềm dẻo.

Đồng thời, mẹ tôi đã chuẩn bị tất cả.

Ngay bên dưới sàn, trước mặt tôi là một tờ giấy tổng hợp những lời tôi nên nói và cần nói khi sứ giả hỏi.

Mà sau khi nói thì viên thông ngôn sẽ phải chỉnh sửa lại.

Sau này mà có chuyện gì thì cứ lôi thằng phiên dịch ra làm bia đỡ đạn.

"Xin lỗi ông anh, nhưng tôi không còn lựa chọn nào khác."

Tôi thầm thương cho số phận viên phiên dịch.

Tôi dùng thông dịch viên, còn mẹ tôi cứ như có bằng I e lờ tê ét (Ielts) tiếng Trung, bà và tên sứ giả cứ xì xà xì xồ qua lại còn tôi thì ngồi im bặt.

Nếu nhà Tống bận rộn với ngoại bang, thì Đại Việt cũng có vấn đề nội bộ.

Tôi có nói là trầm hương Chiêm Thành tăng giá chưa?

Từ Chiêm Thành muốn tới Tống cần đi qua Nghệ An, chính xác là cái chỗ mà nhà họ Dương đóng cọc.

Có vẻ chúng đã dựng lên hẳn mấy trạm thu phí trên đường đi buôn của thương nhân.

Sau khi diệt trừ đồng đảng trong vụ mưu hại tôi thì kiểm kê lại tình trạng ở Nghệ An và hủy bỏ một số chính sách hỗ trợ tăng cao quyền lực cho họ Dương của Thượng Dương Thái hậu.

Sau khi điều tra những kẻ có thư từ qua lại với họ Dương, tôi đã quyết định tha bổng cho họ.

Tất nhiên là sau khi bàn luận kỹ lưỡng với mẹ.

Mẹ tôi bây giờ đã chính thức được ngồi lên chiếc ghế Hoàng thái hậu đường đường nhiếp chính.

Bà bảo rằng việc không truy cứu trách nhiệm liên đới sẽ khiến những kẻ ấy phục tôi từ trong tâm.

"Vương An Thạch là ai ạ?"

Tôi hỏi mẹ tôi trong một buổi tối ngồi học.

"Y là một nhà thơ rất có tài."

Mẹ tôi đáp trong khi chỉ An Dân viết chữ.

"Có thể sánh ngang với Tam Tô và Tăng Củng (2) cũng nên."

"Thế quan điểm chính trị của ông ấy là gì ạ?"

"Hửm?"

Thái hậu nhướn mày nhìn tôi.

"Con không có ý trốn học đâu."

Tôi cố thanh minh.

"Con chỉ là... muốn biết về những nhân vật kiệt xuất ở nước ngoài thôi.

À... biết người biết ta, trăm trận trăm thắng mà."

"Bệ hạ chăm học, là phúc của bách tính."

Mẹ tôi khẽ mỉm cười.

"Y vốn là con của quan lại địa phương, từ nhỏ đã được cọ xát với đời sống nhân dân nên y có thể hiểu cho nỗi lòng của dân."

"Thế còn những cải cách của ông ta?"

"Cải cách của y, bao gồm những lệ về quân sự như là biến dân thành lính, dạy võ cho dân... rồi dân bảo quản ngựa.

Nếu làm ngựa chết thì phải đền."

"Con thấy cũng ổn mà."

Tôi nhún vai.

"Học võ có thể tăng cường sức khỏe, đồng thời cũng luyện được tác phong quân ngũ.

Giống như thực hiện nghĩa vụ quân sự bắt buộc vậy.

Khi cần sẽ có sẵn quân dự bị sẵn sàng chiến đấu."

"Đúng vậy đấy."

Mẹ tôi gật đầu dù tôi nghĩ bà cũng không biết chính xác nghĩa vụ quân sự là gì.

Thời đại này thì tráng đinh, người từ trên hai mươi tuổi sẽ phải đi sưu dịch.

Có thể là xây dựng, đào kháng sản hay làm dân phu cho binh lính.

Không giống với nghĩa vụ quân sự ở thế kỷ XXI lắm.

"Nhưng vấn đề của biến pháp này nằm ở tài chính.

Đầu tiên, nhà nước cho dân vay tiền, đến mùa thu hoạch thì trả lại kèm theo lãi.

Dân đinh mà không đi sưu dịch thì được nộp tiền cho nhà nước.

Nhà nước sẽ lấy tiền ấy để thuê người đi sưu dịch.

Và ông ta mở một trạm buôn bán của nhà nước, ở đó sẽ thu mua hàng của dân và cho thương nhân vay vốn có lãi suất."

Bà ngừng lại một chút để tôi ghi chép và kiểm tra chữ viết của An Dân.

"Ở một mức độ nào đó, những cải cách ấy có thể giải quyết được vấn đề ngân khố nhà Tống đang dần có dấu hiệu giảm sút vì chiến tranh, nhưng đồng thời cũng có ảnh hưởng đến quý tộc nên không được ủng hộ nhiều cho lắm.

Hay chính xác hơn là quý tộc đều phản đối ông ta (3)."

"Nhưng nó có lợi cho dân chúng mà đúng không?"

"Cũng không hẳn."

Thái hậu rót trà.

"Bệ hạ biết đấy, ngân khố nhà Tống đang khá khó khăn, nên họ đang cố đưa ra một lãi suất khá cao để bù vào quốc khố của mình.

Tuy nhiên, dân cày ruộng cơm còn không đủ ăn, sao có thể chịu được lãi suất của nhà nước."

"Ồ..."

Tôi thấy cái này khá giống với tình trạng vay nặng lãi với tính dụng đen ở thời hiện đại.

Có điều, chủ nợ lại chính là triều đình trung ương.

"Thế nếu chúng ta áp dụng chúng vào Đại Việt thì sẽ thế nào ạ?

Chúng ta hiện tại không có chiến tranh, quốc khố cũng dư dả, nếu ta áp dụng biến pháp này với mức lãi suất thấp thì có hiệu quả hay không?"

"Trong thời gian đầu thì có."

Mẹ tôi nhấp một ngụm nước.

"Nhưng dần dần, giới quý tộc sẽ không bằng lòng đâu.

Giới thương nhân cũng sẽ phản đối biến pháp này vì nó ảnh hưởng đến quyền lợi của họ.

Đồng thời về lâu về dài cũng sẽ ảnh hướng đến dân chúng, không sớm thì muộn cũng sẽ gây ra bất bình, và có thể là khởi nghĩa, binh biến, nội chiến."

"Con hiểu rồi."

Tôi gật gù.

"Ngoài ra, ông ta cũng có cho cải cách thi cử."

Mẹ tôi nói tiếp.

"Dần dần bớt lệ thuộc vào kinh thư của Khổng Tử."

"Nhưng như thế là tiến bộ đấy."

Tôi vội nói.

"Thời của con, thi cử quan trọng là Toán Lý Hóa Sinh, ai còn học sách Khổng Tử nữa."

"Vấn đề là triều đình nhà Tống hầu hết đều là những quan lại theo Nho học."

Mẹ tôi tỏ ra đã quen với mấy lời nói vớ vẩn của tôi.

"Đùng một cái cải cách, đâu phải muốn là đổi ngay được.

Phái cựu đảng của Tư Mã Quang đâu có dễ mà để yên.

Họ không thể chỉ vì giải quyết vấn đề nhất thời mà từ bỏ những thứ đã ăn sâu vào tiềm thức cả nghìn năm được.

Trừ phi... có một biến cố nào đó khiến cả nước Tống thay đổi."

"Thế tức là, biến pháp của Vương An Thạch có thể áp dụng trong thời gian ngắn khi đang rơi vào khủng hoảng, còn nước ta đang ổn định chính trị và kinh tế, với tầm nhìn chiến lược cho mười hay hai mươi năm tới thì khó mà duy trì, phải không?"

"Đúng là như thế đấy bệ hạ."

Bà khen tôi.

"Nhưng "biết người" rồi, bệ hạ nên tiếp tục "biết ta" đi."

"Dạ?"

Tôi tròn mắt nhìn ông.

Bà liếc mắt vào quyển Đường Thư trên bàn.

"Con biết rồi."

Tôi lại cầm quyển sách lên và tiếp tục đọc.

Nhưng được ba chữ tôi lại ngước lên.

"Mẹ có nghĩ Đại Việt và Tống sẽ có chiến tranh không?"

"Bệ hạ, chuyện này ta không có gan đoán đâu."

Mẹ tôi làm nét mặt nghiêm trọng.

"Sắp có chiến tranh ạ?"

An Dân hỏi.

"Không đâu," Tôi xoa đầu đứa bé.

"mà nếu có, thì trẫm cũng sẽ bảo vệ em."

-

Chẳng cần Thái hậu đoán già đoán non, mấy tháng sau một gã tự xưng là tiến sĩ của nhà Tống, tên là Từ Bá Tường, đã cho người thông báo đến Đại Việt về việc chuẩn bị xâm lược của nhà Tống.

Hiện đang là mùa xuân năm Thái Ninh thứ ba.

Thời tiết khá đẹp để đi du xuân, nếu ở thời hiện đại tôi sẽ cắm mặt vào học ôn thi giữa kỳ.

Ở đây, tôi có thể đi thuyền ra giữa sông Hồng, vừa ngắm cảnh vừa học làm thơ.

Nhưng không phải hôm nay.

Tôi đang phải ngồi nghe mấy ông già cãi nhau.

"Xem ra chuyến viếng thăm trước chính là để thăm dò tình hình nước ta."

"Tên này liệu có tin được không?"

"Từ Bá Tường tuy là người có học thức, nhưng lại không có của đút lót cho quan lại bên trên nên không được làm quan."

"A di đà Phật.

Thí chủ hãy bình chọn cho truyện đi."

"Hắn có vẻ bất mãn với triều đình nhà Tống."

"Nếu bắt hắn nộp cho vua Tống thì liệu có thể ngăn cuộc chiến này không?"

"Mạng của một tiến sĩ vô danh có thể ngăn được một cuộc chiến tranh không?"

"Giặc Chiêm còn đang quấy phá phía nam nữa, ta liệu có đủ binh lực để chống Tống không?"

"Cuộc chiến này là điều tất yếu rồi."

Tôi đứng dậy.

"Trẫm thấy, sớm hay muộn gì, ta và nhà Tống cũng phải đánh một trận lớn.

Nếu chúng tới, ta sẽ dốc toàn bộ sức lực và của cải để bảo vệ đất nước!"

"Bệ hạ vạn tuế!"

Quần thần quỳ xuống.

"Các vị ái khanh," Tôi nảy ra một ý tưởng.

"trẫm đang có ý, đón Thái sư...

đón Tả gián nghị đại phu Lý Đạo Thành về triều."

"Bệ hạ, Tả gián nghị đại phu đang trấn thủ Nghệ An..."

"Nhưng mọi chuyện đã ổn thỏa rồi đấy thôi."

Tôi nhảy vào họng ông quan.

"Thái úy còn việc binh, đâu thể gánh vác nhiều như thế được.

Hơn nữa, qua sự việc giặc Chiêm cuối thu năm vừa rồi, chúng ta cũng thấy được, Thái úy đang lơ là việc quân binh.

Trẫm nghĩ là do ngài đã quá bận rộn với việc nội trị.

Nên trẫm muốn đón Thái sư về để lo việc quốc chính."

"Sắp sửa chiến tranh với nhà Tống rồi."

Tôi nghĩ.

"Lý Thường Kiệt ơi, tôi cắn rơm cắn cỏ lạy ông, lo mà sửa soạn quân đội đi, sắp đánh nhau to đấy."

"Bệ hạ," Một người bước ra.

"thần có việc cần tấu."

Người này trông khoảng ngoài bốn mươi, mái tóc ông đã điểm bạc.

Ông giữ chức Hữu gián nghị đại phu từ thời cha tôi.

"Sự việc vừa rồi, Tả gián nghị đại phu tuy không cố ý nhưng cũng đang mang tội.

Nếu để ông ấy tiếp tục giữ chức Thái sư, thần e là quần thần sẽ khó mà phục tùng, hơn nữa, cũng sẽ để lại gương xấu cho đời sau noi theo.

Thuộc hạ kiến nghị, nên để ngài ấy giữ chức Thái phó, tuy chức vị dưới Thái sư, nhưng vẫn ở hàng quan đầu triều, như thế vẫn xem như là giáng chức rồi ạ."

"A di đà Phật.

Thái phó là là chức quan giữ nhiệm vụ nuôi dạy bệ hạ."

Một nhà sư bước ra.

"Lý Đạo Thành đã có tuổi, liệu có đủ minh mẫn để dạy bệ hạ không?"

"Ngài đang lo rằng vị trí của Giác Hải thiền sư sẽ bị ảnh hưởng sao?"

Một viên quan trẻ hỏi lớn.

"Giác Hải thiền sư đang là thầy dạy học của bệ hạ.

Các ngài đang muốn dùng ngài ấy để củng cố vị trí của giới tăng lữ các ngài?"

"A di đà Phật."

Giác Hải thiền sư quay về phía viên quan trẻ.

"Lưu Thị lang nói thế, không biết là có ý gì?"

"Đầu tiên, đúng là theo điển lễ, Thái phó có nhiệm vụ dạy dỗ ấu chúa."

Lưu Thị lang giải thích.

"Nhưng khi Thái Tổ lập quốc, Người đã dùng quan Thái phó như một võ quan chỉ huy cấm vệ quân.

Thứ hai, từ khi Thảo Đường Quốc sư viên tịch, ngài, Thông Huyền chân nhân và thiền sư Diệu Nhân chính là những người lãnh đạo của giới tăng lữ, hạ quan ngờ rằng, những nhà sư ngày tụng kinh niệm phật khuyên người ta rời xa tham sân si và những điều trần tục đang muốn lợi dụng ngài để..."

"Đàm!"

Một vị quan lớn tuổi hơn cắt lời anh ta.

"Lưu Thượng thư, hạ quan chỉ nói sự thật thôi."

Lưu Thị lang cúi người.

Anh chàng Thị lang ấy tên Lưu Khánh Đàm, là người đã nói với tôi về chuyện đặt người đại diện cho vua ở chợ của Lê Long Đĩnh.

Còn Lưu Thượng thư kia là Lưu Ngữ, cha anh ta.

"Giác Hải thiền sư," Lưu Thượng thư quay sang hai vị cao tăng cúi người.

"con trai tại hạ còn trẻ không hiểu chuyện.

Xin các vị đừng chấp."

Vị thiền sư kia chắp tay lạy vị Thượng thư dù nét mặt ông ta trông rõ ràng là đang hờn dỗi.

"Lưu Thị lang cũng vì quan tâm đến bệ hạ, sao bần tăng trách ngài được."

Giác Hải Thiền sư nói.

"Được rồi được rồi."

Tôi can họ.

"Thái sư tuổi cao sức yếu, trẫm thì tuổi nhỏ, lại nghịch ngợm.

Sẽ làm khó Thái sư mất.

Hơn nữa, Giác Hải thiền sư đang làm rất tốt việc giảng dạy.

Trẫm cũng không có nhu cầu thay người."

Rồi chẳng hiểu sao tôi nhìn vào một lượt quan văn tướng võ già nua cùng một dàn sư cọ đã đứng còn không vững trước mặt mình và nảy ra ý tưởng.

"Đúng rồi!"

Tôi búng ngón tay.

"Truyền lệnh của trẫm, từ hôm nay, các quan đại thần tuổi cao vào chầu sẽ cho phép ngồi ghế hoặc chống gậy."

Họ lại tròn mắt nhìn tôi.

"Các vị đều tuổi cao sức yếu, làm sao chạy theo trẫm được đúng không?"

Tôi cười tươi, mẹ tôi ngồi sau rèm khẽ hằng giọng nhưng tôi giả điếc.

"Lỡ các vị ngã ra đấy, làm sao trẫm lo được..."

"Bãi triều!"

Mẹ tôi hô lớn và lao tới túm tay tôi kéo đi trong sự ngơ ngác của cả triều đình.

"Bệ hạ, bệ hạ đừng nói những câu dân dã như thế chứ."

Mẹ tôi mắng tôi khi đang về điện Thiên Khánh.

"Đây là chốn triều đường, sao bệ hạ có thể..."

Tôi thấy mấy đứa thái giám tuổi nhỏ ngang tôi núp dưới hành lang, một đứa đưa quả bóng lên.

Tôi nháy mắt với chúng và lỉnh đi trong khi mẹ tôi còn đang nói.

Tôi là thiên tử, lời tôi nói ra là ý của ông trời.

Nhưng sự thật thì tôi cũng chỉ là một đứa trẻ mà thôi.

(1)Thừa tướng nào đó của nhà Tống.

(2) Những nhà thơ cuối thời Đường đầu thời Tống.

Tam Tô là Tô Tuân, Tô Thức và Tô Triệt.

(3) Chính xác thì nhà Tống không kẹt tiền, mà là kẹt đồng để đúc vũ khí nên từ thời Tống đã bắt đầu cho sử dụng tiền giấy.

Trên thực tế, nhà Tống là một trong những nước có nền kinh tế phát triển nhất thế giới vào thế kỷ XI.
 
Ấu Hoàng
Thái phó.


Trong gần hai tuần tiếp theo, tôi không chầu.

Lý Thường Kiệt đi Nghệ An để đón Lý Đạo Thành về kinh.

Các bạn đoán xem tôi làm gì trong khoảng thời gian đó?

Tôi đã dùng xe ngựa của phủ Thượng thư và cùng Lưu Khánh Đàm, đi theo sau đoàn người Thái úy.

Chàng trai trẻ này là một COCC chính hiệu khi là con nhà danh gia vọng tộc, nhà mặt phố bố làm to.

Mười bảy tuổi được theo cha lên triều dự chính.

Chuyện anh ta nói leo trong lúc thượng triều đáng lý phải bị phạt, nhưng nể mặt cha anh ta nên tôi chỉ nhắc nhở.

Anh ta có dáng người cao ráo thư sinh, tóc đen dài mượt buộc gọn gàng.

Anh có một đôi lông mày mảnh mai và đôi mắt sắc sảo, đi kèm với một nụ cười nhếch mép thường trực khiến anh trông như một con cáo ranh mãnh.

"Thái hậu mà biết thì thần bay đầu mất."

Lưu Khánh Đàm thở dài nhưng môi vẫn nở nụ cười.

"Chuyện này, trời biết, đất biết, ta biết, anh biết."

Tôi nói khi đang ngắm đường.

"Sống để bụng, chết mang theo."

"Ngươi nghe thấy không?"

Lưu Khánh Đàm hỏi tên đánh xe.

"Bệ hạ đã định sẵn sau vụ này sẽ giết ngươi để diệt khẩu đấy."

"Bệ hạ tha mạng!"

Tên phu xe co rúm người.

"Ngươi không đánh xe đàng hoàng thì trẫm sẽ lấy đầu của ngươi thật đấy."

Mất gần sáu ngày để đi từ Thăng Long tới Nghệ An.

Nếu là bây giờ đi bằng ô tô trên đường quốc lộ thì nửa ngày là tới, nhưng cái thời một nghìn năm về trước, khi mà đường đi thì toàn núi non sông nước và đi bằng xe ngựa, mỗi khi đi phải tránh đường núi đề phòng giặc cướp và khi qua sông phải tìm cầu hoặc đi thuyền qua sông, thì việc đi mất sáu ngày cũng là nhanh lắm rồi.

"Bệ hạ, đến Nghệ An rồi."

Lưu Khánh Đàm lắc tôi dậy.

"Đàm này," Tôi tập tễnh bước đi trên phố.

"nếu ta mà giống như Lê Ngọa Triều, ta sẽ bêu đầu anh đấy."

"Nghiêm túc đi, Công tử."

Lưu Khánh Đàm đi bên cạnh tôi, tay cầm cây quạt phẩy phẩy.

Anh ta mặc bộ y phục màu trắng trông đạo mạo chẳng kém gì mấy tay đạo sĩ bấm ngón tay đoán ý trời trong phim Tàu.

"Anh biết xem bói à?"

"Ta chỉ biết đôi chút thôi."

Anh chàng Thị lang mỉm cười.

"Chuyện của tương lai, đâu thể nói bừa.

Huống chi, tương lai của Công tử đây, ảnh hưởng đến cả vạn dân trong thiên hạ này."

"Khẽ mồm thôi."

Tôi ré lên.

Chúng tôi đến được trước cửa phủ của quan Gián nghị đại phu.

Ở đó có một đoàn người ngựa đang đứng chờ.

"Này người anh em," Tôi kéo tay áo một người.

"anh có biết ai đang vào thăm Gián nghị đại phu không?"

"Mi là ai?"

Hắn quắc mắt nhìn tôi.

"Sao ta phải nói với mi?"

Tôi đưa hắn mấy đồng tiền.

"Biết chưa?"

"À," Hắn nhìn tôi cười.

"người đang ở trong, là Thái úy đương triều đấy."

"Không ngoài dự đoán."

Tôi nghĩ.

"Ngài ấy vào đã lâu chưa?"

Lưu Khánh Đàm hỏi.

"Ngài ấy đã vào được một lúc lâu rồi."

"Thái úy!"

Lý Thường Kiệt bước ra khỏi phủ Gián nghị đại phu.

"Công tử, chạy thôi."

Lưu Khánh Đàm kéo áo tôi.

"Thái úy đã ra về."

Tôi nói khi đứng núp bên góc tường quan sát.

"Mặt mũi hầm hầm thế chắc là không gọi được Giá nghị đại phu hồi triều rồi."

Lưu Khánh Đàm giả vờ vuốt những sợi râu không tồn tại của mình.

"Để ta."

Tôi phủi áo và bước tới cửa phủ.

Khi ấy Lý Thường Kiệt đang nói chuyện với một thiếu niên.

"Thái úy," Tôi gọi lớn.

"đường sá xa xôi, ngài không vất vả chứ?"

"Công tử à," Tên lính khi nãy chạy tới.

"Thái úy không đùa được đâu."

"Bệ hạ!"

Thái úy quỳ xuống, mặt mũi tái mét nhìn tôi rồi đưa mắt lườm Lưu Khánh Đàm.

Tay Thị lang làm cái vẻ mặt tôi bị ép.

"Bệ..."

"... hạ..."

Toàn bộ lính lác của Lý Thường Kiệt và cả gia nô phủ Gián nghị đại phu đều quỳ xuống.

"Các ái khanh bình thân."

Tôi cười và vẫy tay với họ.

"Trẫm đến thăm Gián nghị đại phu.

Xong việc sẽ trọng thưởng các khanh."

Nói rồi tôi bước qua cửa và lon ton chạy vào phủ Gián nghị đại phu.

"Thằng nhóc kia!"

Một tên cầm chổi hét lớn.

"Ai cho mày vào đây?"

"Vua đấy!"

Đám người ngoài cửa hét lớn.

Tên kia lập tức xanh lè mặt mũi.

Tôi tới được căn phòng chính giữa.

Bên trong, Lý Đạo Thành đang ngồi uống trà.

Ít lâu không gặp, Nhìn ông có vẻ già đi nhiều.

Ông ngước lên nhìn thấy tôi thì phun trà ra đầy bàn.

"B... bệ hạ!"

Tả gián nghị đại phu lắp bắp.

"Gián nghị đại phu," Tôi cười.

"à, Thái phó, sao ông không về với trẫm?"

"Bệ hạ."

Lý Đạo Thành quỳ rạp xuống.

"Lão thần vô năng, không dám nhận chức vụ quan trọng ấy được."

"Ngài là người như thế nào, trẫm là người hiểu rõ."

Tôi bước vào nhà.

"Nhớ năm đó, ngài đã nói với ta, tiên đế đã giao lại đứa con côi là ta cho ngài, nếu ta thoái thác trách nhiệm, ngài sẽ lôi cả triều đình tự tử.

Thế mà bây giờ ngài lại thoái thác trách nhiệm sao?

Lý Đạo Thành!

Sao ngài có thể ích kỷ như thế?"

"Bệ hạ..."

"Cúc cung tận tụy, đến chết mới thôi."

Tôi lặp lại.

"Ngài vứt lời của phụ hoàng ta dễ dàng như thế sao?

Thế mà ngài còn dám đem cả bài vị của tiên đế về sao?

Ngài không sợ nhìn mặt tiên đế sao?

Ngài có dám nói với Người rằng ngài đã vứt bỏ ta khi ta chỉ mới tám tuổi không!?"

"Bệ hạ, thần không thể!"

Lý Đạo Thành dập đầu.

"Thần đã suy nghĩ rất nhiều, thần thân mang trọng tội, không thể tiếp tục cứ thế mà làm quan đầu triều được.

Bệ hạ giữ cho đầu thần còn trên cổ đã là phúc, thần không thể nhận tiếp ân điển này nữa.

Với thánh chỉ này, thần to gan kháng chỉ."

"Ông chơi tôi đấy à?

Được lắm, đã thế thì tôi sẽ tới bến với ông luôn."

"Ê," Tôi ngoắc tay với tên người hầu của Lý Đạo Thành.

"ngươi biết hiệu vị của Thánh Tông Hoàng đế ở đâu không?"

"Bệ hạ..."

Hắn khẽ ngước lên.

"Đưa ta đến bài vị của cha ta."

Tôi ra lệnh.

Đứng trước vị hiệu của Lý Thánh Tông trong ngôi miếu mới xây, chiếc vị hiệu có bốn hàng Hán tự màu vàng, viền được chạm khắc vảy rồng tinh xảo.

Trong lư hương vẫn còn ba nén hương cháy dở.

Tôi đi quanh bàn thờ một vòng.

Xem ra Lý Đạo Thành rất chăm chỉ lau dọn cúng bái.

Tôi bước tới trước tấm vị hiệu đốt ba nén hương.

"Phụ hoàng," Tôi gọi.

"nhi thần vô năng, tuổi còn quá nhỏ, lại không được năng thần phò trợ, là họa của quốc gia."

"Bệ hạ!"

Mấy lão già ngoài cửa thốt ầm lên nhưng tôi mặc kệ họ.

"Nay con cần Thái phó Lý Đạo Thành hồi triều phò tá, phụ hoàng trên trời có linh thiêng," Tôi lấy ra một đồng xu.

"Nếu là mặt ngửa, Thái phó Lý Đạo Thành sẽ hồi triều cùng với con.

Nếu là mặt úp, con sẽ bắt Lý Đạo Thành về kinh chịu tội."

Tôi cắm ba nén hương lên lư hương và tung đồng xu.

Sau đó thì các bạn biết rồi đấy, Lý Đạo Thành thu dọn đồ đạc và quay về kinh thành Thăng Long.

-

Thái Ninh năm thứ tư, tôi đã lên chín.

Thái phó đeo chiếc kính viễn lên.

"Bệ hạ..."

Lý Đạo Thành run rẩy.

"mắt của lão thần... thực sự... có thể nhìn rõ bệ hạ hơn rồi..."

Ông lão tám mươi lăm tuổi quỳ xuống khóc.

"Ân đức này của bệ hạ, lão thần kiếp này xin ghi nhớ, kiếp sau, nhất định sẽ báo đáp bệ hạ!"

"Thái phó không cần phải làm thế."

Tôi mỉm cười.

"Thái phó chỉ cần, kiếp này, tận trung với trẫm, vì nước vì dân, vì một Đại Việt hùng cường đến thiên thu."

"Bệ hạ vạn tuế!"

Tất cả mọi người quỳ xuống.

Mặc dù trong lòng thấy vui, nhưng sâu trong thâm tâm tôi lại thấy sợ.

"Nghĩ thế quái nào mà lại đi chế ra mắt kính hả!?"

Nhưng mắt của Lý Đạo Thành đã kém lắm rồi.

Đọc chữ không còn rõ nữa.

Hôm nọ có người dâng lên một miếng đá thạch anh.

Với điểm Hóa đứng top trong trường, tôi nhanh chóng nhận ra với miếng thạch anh đó, tôi sẽ có được cát silic.

Tôi đã cho người nghiền nát chúng ra cùng với chì và vỏ sò để có được hỗn hợp.

Sau đó đem nung.

Tôi bảo nghệ nhân trong cung làm gọng kính vừa với sống mũi Thái phó và dây đeo vòng ra sau đầu cùng khuôn mắt kính tròn.

Cuối cùng có được chiếc kính như thế này.

Tôi tin rằng nó là chiếc kính đầu tiên trong lịch sử.

Hoặc không.

Hy vọng là không.

"Các ái khanh," Tôi gọi bá quan.

"trẫm ở ngôi đã bốn năm, mới chỉ học được đôi ba chữ, sách đọc vẫn chưa nhiều.

Các thầy chùa thì không thể giải hết câu chữ đạo Khổng.

Thái hậu có dạy thêm thì cũng chỉ như Mạnh mẫu.

Nên, trẫm muốn chọn người tài trong dân gian có thể giúp trẫm học rộng biết nhiều hơn!"

"Bệ hạ," Lưu Thượng thư tâu.

"triều ta không thiếu người học rộng..."

"Đấy là một phần thôi."

Tôi thầm tự mắng mình vì chưa sửa được cái tật nhảy vào mồm người lớn.

"Trẫm thấy văn võ bá quan nhiều người đã qua ngũ tuần, trẫm lại còn nhỏ, e đến khi trẫm trưởng thành lại khuyết mất nhiều vị trí quan trọng.

Nên nhân đây cũng muốn tìm người để giúp nước.

Nay trẫm ban chiếu, tuyển Minh kinh bác học và thi Nho học tam trường, ý các khanh thế nào?"

"Bệ hạ anh minh!"

Các quan đồng thanh.

Tôi nhìn mẹ tôi, bà khẽ gật đầu hài lòng.

Thực ra tôi đã tập dượt câu vừa nãy cả buổi tối đấy.

Vì vấn đề tuyển chọn quan lại này ảnh hưởng trực tiếp tới việc học của tôi.

Còn tại sao, thì phải quay về hai ngày trước.
 
Ấu Hoàng
Trạng nguyên.


"Bệ hạ," Giác Hải thiền sư lạy tôi.

"thứ cho bần tăng vô năng!"

"Sư phụ?"

Tôi tròn mắt nhìn vị sư thầy đang quỳ trước cửa Văn Miếu.

"Bệ hạ, chúng thần đi Thiên Trúc thỉnh kinh cầu đạo, chẳng phải để làm quan làm lại.

Chỉ mong đời sống tinh thần của dân chúng được sung túc.

Chúng thần không thể cầm quân đánh giặc như Thái úy, cũng không có năng lực trị quốc của Thái phó.

Ở với chúng thần, bệ hạ sẽ chỉ là một Phật tử, không phải một minh quân."

"Sư phụ,"

"Thánh Tông đã từng nói với chúng thần, Phật pháp có thể dùng để giáo hóa chúng dân, nhưng trị quốc vẫn cần Nho học.

Bần tăng không đủ khả năng dạy bệ hạ thông tuệ đạo Khổng."

Tôi thở dài.

Nhưng quả thật, tôi hiểu ý của Giác Hải thiền sư.

Phụ hoàng tôi cũng từng nói với tôi chuyện này.

Muốn trở thành một đấng minh quân, học kinh Phật thơ ca là chưa đủ.

Còn cần học cả kinh Khổng, sử sách, cả kinh tế, nông nghiệp...

Bởi thế, trở thành vua thì dễ, làm được vua mới khó.

Ngồi lên ngai vàng dễ, giữ được ngai vàng khó.

"Trẫm hiểu rồi."

Tôi đỡ vị sư thầy dậy.

"Sư phụ giữ gìn sức khỏe."

"Bệ hạ, hôm nay, bần tăng to gan mời Người đến một nơi được không?"

Tôi và Giác Hải thiền sư đến cánh đồng lúa nhiều năm trước Thông Huyền chân nhân đã đưa tôi tới khi tôi còn là Thái tử.

Hóa ra bao năm qua tôi còn chẳng thèm quay lại đây.

Đã mấy vụ mùa trôi qua rồi.

Tôi nhìn nhưng cây lúa.

Chúng đầy những hạt nặng trĩu và cong xuống.

"Vụ màu năm nay cũng không đến nỗi nào."

Tôi nhớ năm trước khi tôi lên ngôi, năm Thần Vũ thứ ba, năm ấy mất mùa, Vua Lý Thánh Tông vì thế mà lo lắng, bệnh tình ngày càng trở nặng đến đầu năm Thần Vũ thứ tư thì băng hà.

"Người còn nhớ, ngày trước Thông Huyền chân nhân dẫn người đến đây, cây lúa ấy như thế nào không?"

"Chúng, không có hạt, và dựng thẳng đứng."

"Còn bây giờ?"

"Rất nhiều hạt.

Và trĩu xuống."

"Giống như một con người vậy."

"Hả?"

Tôi nhìn vị tăng sư.

"Con người, khi không có giá trị, họ sống một cách cao ngạo.

Đến khi có giá trị, họ mới bắt đầu cúi đầu thấp."

"Khiêm tốn?"

"Đúng thế.

Làm người có giá trị, cần phải biết khiêm tốn.

Khiêm tốn mà sống, khiêm tốn mà học tập.

Việc học, là cốt lõi của con người."

Giác Hải thiền sư thở dài một cái.

"Nhưng khi bước ra đời, phải đứng thật thẳng lưng.

Thẳng lưng, sống hiên ngang như một đấng anh hùng."

"Lời sư phụ dạy, học trò xin đời đời nghi nhớ."

Tôi quỳ xuống lạy ông.

"Sư phụ, xin nhận của học trò ba lạy."

"Hai lão tăng sư đều đi rồi à?"

Mẹ tôi vẫn ngồi xem tấu chương.

"Giác Hải tâm như hải,

Thông Huyền đạo hựu huyền.

Thần thông kiêm biến hoá,

Nhất Phật, nhất thần tiên." (1)

Tôi buồn rầu quay sang Thái hậu.

"Mẹ, con có xứng làm vua thật không?

Sao dần dần mọi người đều rời bỏ con?"

"Chỉ là hai vị cao tăng thôi.

Người này đi thì người khác tới."

Mẹ tôi lạnh lùng nói.

"Bệ hạ, nếu người để cảm xúc cá nhân xen vào công việc quá nhiều, người sẽ không thể đưa ra những quyết định sáng suốt được đâu."

"Nhưng..."

"Người là Hoàng đế."

Mẹ tôi cắt lời.

"Người là người quyết định muôn dân bách tính ngoài kia sẽ ra sao.

Họ có thể không biết ngày mai họ có cơm ăn hay không, họ có thể không biết ngày mai mình có phải mặc giáp ra trận hay không.

Nhưng Người phải luôn sẵn sàng.

Người phải luôn chuẩn bị tinh thần năm sau sẽ có hạn hán, tháng sau địch quốc sẽ xâm lược, ngày mai sẽ có đại thần đột ngột qua đời.

Người phải luôn chuẩn bị tinh thần để đối phó với những tình huống tồi tệ nhất.

Đồng thời, người cũng không được biểu đạt cảm xúc."

Mẹ tôi dừng lại một lúc.

"Nếu bệ hạ bước lên điện với khuôn mặt ủ rũ, người sẽ khiến quần thần nghĩ rằng đất nước ta sắp đại nạn, họ càng có lý do để rời bỏ bệ hạ.

Con hiểu chứ?"

"Con hiểu."

Tôi gật đầu dứt khoát An Dân cũng gật gù tỏ ra hiểu.

"Việc bây giờ là tìm thầy mới."

"Vừa hay," Mẹ tôi kẽ liếm lông bút, đây là lần đầu tôi thấy bà làm thế.

"ta đang có một kế hoạch muốn cùng con thực hiện."

-

Cuộc thi diễn ra đúng như kế hoạch.

Sau khi các sĩ tử đỗ các kỳ thi ở địa phương và các cuộc khảo thí trên kinh thành được gọi vào cung diện kiến quan lại cùng Thái hậu và Hoàng đế.

Và chẳng cần đoán, các bạn cũng biết đấy, tôi chỉ ngồi yên đó thôi.

Mẹ tôi mới là người quyết định.

Từ ra đề, chỉ định địa điểm thi, người chấm thi...

Cuối cùng còn lại được mười người đến trước mặt tôi và Thái hậu.

"Mười người à?"

Mẹ tôi xem danh sách mười người rồi quay sang tôi.

"Bệ hạ, người có muốn ra đề cuối cùng không?"

"Trẫm sao?"

Tôi tròn mắt ngạc nhiên.

"Bệ hạ là Thiên tử mà, đôi khi cũng phải tỏ chút uy quyền chứ."

Bà nói thế nhưng tôi thấy trong ánh mắt mẹ tôi là "Để xem suốt thời gian qua con học hành như thế nào nào."

Phải nói thêm rằng, việc tuyển chọn quan lại và tìm thầy học mới cho tôi là hai lý do vô cùng chính đáng.

Nhưng lý do thứ ba, không được chính đáng cho lắm, chỉ có ba mẹ con tôi biết, đó là "tạo điều kiện cho những người dân tầng lớp thấp được tham gia vào triều đình."

Từ khi Ngô Vương giành lại độc lập, Đinh Hoàng thống nhất các sứ quân, Lê Đại Hành đánh đuổi bè lũ xâm lăng, Thái Tổ lập quốc dời đô, nhị tông đánh dẹp tứ phương, tính đến nay là hơn trăm năm.

Tổng quan lại thì chỉ có mấy cách để trở thành người trong triều đình.

Một là thân thích với vua, như Dương Tam Kha là em vợ Ngô Quyền.

Hai là làm thái giám, như Đỗ Thích.

Ba là những tướng lĩnh cùng vua đánh dẹp tứ phương và con cháu được trọng dụng.

Bốn là làm môn khách của các quan lại rồi được tiến cử.

Và năm, vượt qua được kỳ thi Bạch Liên của nhà Phật.

Mà cái này thì chỉ dành cho các nhà sư.

Những cách trên đều có ưu điểm và nhược điểm của nó.

Ví dụ như không phải ai cũng sẵn sàng xuống tóc đi tu để vào triều làm quan.

Cũng như thế, không phải ai cũng sẵn sàng mất đi "công cụ duy trì nòi giống".

Thân thích của tôi thì loanh quanh hoàng tộc, đều đã đi trấn thủ biên cương.

Những tướng lĩnh và các quan lại thì không nói làm gì.

Môn khách của các quan lại?

Có một cái nhược điểm to chà bá lửa, đó là quan lại đó có thể sử dụng những môn khách ấy để tạo ra thế lực cho mình và âm mưu đảo chính.

Tôi thì muốn những người dân thường biết chữ, đã đọc nhiều kinh sách và thông hiểu tri thức trên trời dưới đất vào triều làm quan.

Như thế sẽ tạo ra tiền đề để nhân dân tầng lớp thấp cho con cái mình học chữ, những người biết chữ sẽ càng chăm đọc sách, những người chăm đọc sách sẽ ứng thi làm quan làm lại.

Từ đó nâng cao dân trí toàn dân.

Mẹ tôi nghi ngại rằng chuyện này sẽ đả động tới quyền lợi của những thế gia, những người muốn truyền lại vị trí của mình trong triều cho con cháu mình (như Lưu Thượng thư và Lưu Khánh Đàm) nên lý do thứ ba này được giấu nhẹm đi.

Thêm nữa, mẹ tôi xuất thân là dân đen nên bà cũng muốn giúp đỡ những người có cùng xuất thân như mình.

Tôi vén tấm màn lên và bước lại gần mười thí sinh khảo thí.

Họ quỳ xuống và không dám ngước đầu lên.

"Bình thân."

Tôi nói với họ.

"Tạ bệ hạ."

Mười người họ lục tục đứng dậy nhưng vẫn đưa tay ra vái tôi.

Vì để giữ mình gần như đứng ngang với họ nên tôi vẫn đang đứng trên cầu thang, cách họ khoảng bốn mét.

"Trẫm hỏi khanh," Tôi chỉ vào một chàng thanh niên trông khoảng ngoài hai mươi.

"vì sao khanh đi thi khoa cử?"

"Bẩm bệ hạ."

Hắn đáp.

"Thần cả đời đọc sách thánh hiền, không tham gia khảo thí để lấy công danh, há chẳng phải phí hoài công sức sao?"

"Các khanh cũng thế sao?"

"Bẩm bệ hạ," Một người có vẻ ngoài đứng tuổi nói.

"thần nhiều năm đèn sách, cũng chỉ vì muốn muốn làm rạng danh tiên tổ."

"Thần từ nhỏ sức khỏe yếu kém, chỉ biết chút thơ văn nhưng cũng muốn dốc hết sức xây dựng nước nhà."

"Học hành nhiều năm, cũng chỉ mong đỗ đạt làm quan, giúp dân giúp nước."

Tôi khá hài lòng về câu trả lời của họ.

Dù nghe cứ như lặp đi lặp lại một lời.

Và dường như họ đều mong chờ vào mục số bốn ở trên kia.

Tôi đến bên một chàng Nho sinh trông khoảng ngoài ba mươi có mái tóc đen nhánh cột đuôi ngựa và vận bộ trang phục trắng.

"Khanh cho trẫm biết, trên đời này có cái gì không cần đào mà vẫn sâu?"

"Bẩm bệ hạ, là biển."

Anh ta đáp.

"Cái gì, khi ngươi đứng, thì nó nằm, mà khi ngươi nằm, thì nó lại đứng?"

"Bẩm bệ hạ, là bàn chân."

"Tại sao hổ lại ăn thịt sống?"

Anh ta tròn mắt nhìn tôi.

Hắn nhìn ngang, những người khác cũng tỏ vẻ bí.

"Bệ hạ, thần xin chịu tội."

Hắn quỳ xuống.

"Bệ hạ," Một người bước ra.

"Cho phép thần."

Tôi ra hiệu cho hắn trả lời.

"Hổ ăn thịt sống, bởi vì hổ không biết nấu."

Đám Nho sĩ ồ lên gật gù.

Tôi hỏi người tiếp theo.

"Đình nào lớn nhất?"

"Bẩm bệ hạ, là triều đình."

"Con gì có lưỡi mà không có miệng, có mũi mà không có mắt?"

"Thứ quái vật gì thế?"

Một tên khẽ hỏi nhưng tôi vẫn nghe được.

"Bẩm bệ hạ.

Là con dao."

Anh ta đáp sau vài giây suy nghĩ.

Tôi hỏi người tiếp theo.

"Khi nào thì bốn bằng mười?"

Hắn suy nghĩ một lát rồi cũng đáp.

"Bẩm bệ hạ, mười cái miệng, hay bốn cái miệng thì cũng là cái ruộng." (2)

"Nếu trẫm và cha khanh cùng rơi xuống sông, khanh sẽ cứu ai?"

Người Nho sinh nhìn tôi với ánh mắt tuyệt vọng.

Những người khác cũng ngơ ngác nhìn nhau.

Quan lại hai bên cũng khẽ trao đổi về câu hỏi hóc búa này.

Tất nhiên, đến tận thế kỷ XXI còn có biết bao nhiêu chàng trai đau đầu khi bị người yêu mình hỏi câu tương tự mà.

"Bẩ... bẩm bệ hạ...

Phụ thân thần là cha của bốn đứa con.

Còn bệ hạ, là cha của cả thiên hạ.

Xét về lợi hại, thần, nhất định sẽ cứu bệ hạ rồi ạ."

"Vậy là, vì trẫm, khanh sẵn sàng phạm tội bất hiếu?"

"Bệ hạ thứ tội!"

Hắn quỳ rạp xuống.

"Còn ngươi?"

Tôi hỏi tên bên cạnh, người vừa trả lời câu hỏi con dao.

"Cha thần mất rồi ạ."

Hắn đáp ngay tắp lự.

"Còn nếu bệ hạ định rơi xuống hoàng tuyền thì thứ cho thần vô năng, không thể đi cùng bệ hạ.

Thần còn phải bảo vệ xã tắc Đại Việt, không phải một mình bệ hạ."

"Hỗn láo!"

Một vị quan hét lớn.

"Không sao!"

Tôi phất tay.

"Khẩu khí lớn lắm!

Ta thích."

"Ngươi thì sao?"

Tôi hỏi tên tiếp theo.

"Cha thần rất giỏi bơi lội, ông ấy sẽ cứu bệ hạ."

"Tức là ngươi sẽ không nhảy xuống cứu trẫm?"

"Thần không biết bơi, nếu thần xuống, triều ta có thể sẽ phải mất một vị trí quan trọng."

"Quan trọng hơn cả trẫm?"

Tôi khẽ nhướn mày.

Đến đây thì hắn bí.

"Bệ hạ, cho phép thần."

Gã Nho sinh lúc nãy vừa trả lời câu hỏi con hổ xin được cứu bồ.

Anh ta trông khoảng ngoài hai mươi, tóc cắt ngắn và có ánh mắt khá tự tin.

"Bệ hạ, tại sao Người lại dẫn phụ thân thần ra bờ sông?"

"Trẫm..."

"Và chẳng lẽ, bệ hạ ngồi trên ngôi vị cửu ngũ chí tôn, thế mà lại không biết bơi sao?"

Hắn nhảy vào họng tôi nói.

Nếu là Thái hậu thì hắn đã lôi đi đánh đòn rồi.

"Nhưng với cổn miện như thế này," Tôi dang tay ra.

"trẫm có thể bơi sao?"

"Nếu là thế," Hắn cúi gập người.

"Thứ lỗi cho thần, thần chỉ có thể cứu người ở gần thần nhất."

Sau đó tôi tiếp tục ra nhiều câu hỏi khác cho các Nho sinh.

Hầu hết đều là câu hỏi mẹo.

Và chỉ có anh chàng bảo tôi không biết bơi trả lời được hết.

"Đủ rồi bệ hạ."

Thái hậu gọi tôi về chỗ.

Sau đó, các quan viên tiếp tục đưa ra những bài khảo thí riêng để chọn xem ai phù hợp với vị trí nào.

"Có vẻ bệ hạ tìm được thầy học mới rồi."

Thái hậu nói khi tôi về chỗ ngồi.

"Kỳ thi tuyển Minh kinh bác học và Nho học tam trường năm Thái Ninh thứ tư," Quan thái giám đọc quyết định của Thái hậu.

"đỗ đầu, làng Đông Cứu Lê Văn Thịnh."

Anh càng Nho sinh trả lời được hầu hết các câu hỏi khi nãy quỳ xuống vái.

"Thần, Lê Văn Thịnh, khấu tạ long ân."

Tôi sặc nước trà.

Cô giáo lịch sử của tôi từng đố lớp tôi về "Tứ Trạng".

Đến cả thằng bạn chuyên sử của tôi cũng chỉ biết mỗi Trạng Lường Lương Thế Vinh.

Sau đó chúng tôi mới biết thêm về Lưỡng Quốc Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi.

Trạng Nguyên nhỏ tuổi nhất lịch sử, nguyên mẫu của câu chuyện Cậu bé thông minh trong Sách giáo khoa, Nguyễn Hiền.

Và Lê Văn Thịnh, Trạng Nguyên đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. (3)

"Lê Văn Thịnh..."

Tôi khẽ lặp lại.

"...

Bổn cung thấy, Lê Văn Thịnh thông minh xuất chúng, lại từng làm thầy đồ trong dân gian, nay phong chức Thị độc vào cung hầu bệ hạ học.

Khâm thử."

"Thần, Lê Văn Thịnh nhất định không làm Thái hậu và bệ hạ thất vọng.

Nguyện dốc toàn tâm toàn lực vì bệ hạ và vì xã tắc Đại Việt."

(1) Bài thơ Tán Giác Hải thiền sư, Thông Huyền đạo nhân của vua Lý Nhân Tông.

Tương truyền ông làm bài thơ này khi ông bảy tuổi, sau khi Thông Huyền chân nhân chữa bệnh sợ ve sầu của ông.

(2) Trong tiếng Hán, miệng là khẩu, điền là ruộng.

Bốn cái miệng là bốn chữ khẩu (口), ghép vào nhau thành chữ điền (田).

Mười cái miệng là chữ thập (十) và chữ khẩu, ghép vào nhau cũng thành chữ điền.

(3) Các danh hiệu Trạng nguyên, Bảng nhãn và Thám hoa đến đời Trần mới được đặt.

Nhưng đa số mọi người đều xem Lê Văn Thịnh là Trạng nguyên đầu tiên.

Kỳ thi Minh kinh bác học năm Thái Ninh thứ tư (1075) cũng là kỳ thi tuyển chọn quan lại đầu tiên trong lịch sử Việt Nam.

Bên cạnh vua Lý Thánh Tông cho xây Văn Miếu và vua Lý Nhân Tông mở Quốc Tử Giám thì Lê Văn Thịnh là Trạng nguyên khai khoa của Đại Việt, là những người mở đầu cho giáo dục khoa cử của Việt Nam.

Về "Tứ Trạng" thì không rõ sách nào chép, chỉ biết cô giáo Lịch sử cấp ba của tác giả đố như thế.
 
Ấu Hoàng
Thầy trò.


Những buổi học với thầy Lê cũng quanh quẩn quanh Tứ Thư Ngũ Kinh, lịch sử và văn thơ.

Bớt được kinh Phật kể cũng khỏe, nhưng đôi khi tôi và mẹ vẫn thường tụng kinh và ăn chay vào một số ngày.

Thậm chí An Dân cũng bắt đầu phải tập ngồi thiền và tụng kinh.

"Thầy, trẫm muốn hỏi, vì sao quan phương bắc như Triệu Đà lại được xem là vua của nước ta?"

Tôi hỏi thầy Lê trong một buổi học Nam sử.

"Ý của bệ hạ là..."

Y nhướn mày nhìn tôi.

"Ý con là, Triệu Đà chỉ là quan của Tần Thủy Hoàng, chỉ vì đương lúc loạn thế đánh xuống phía nam, tiêu diệt Âu Lạc mà xem y như vua của dân Việt ta sao?"

Tôi dốt Lịch sử, nhưng bạn cùng bàn tôi chuyên Sử.

Nó thường hay đi cãi nhau khắp các diễn đàn trên mạng về vấn đề "Có chấp nhận Triệu Đà là một vị Hoàng đế của Việt Nam hay không?"

Đại khái là vì Triệu Đà lấy quốc hiệu Nam Việt, và Đại Việt sử ký toàn thư cũng có một kỷ riêng về ông ta.

Hơn nữa trong thời gian trị vì, ông cai trị theo phong tục tập quán người Việt như ngồi xổm, nhuộm răng, đi chân đất...

Các hậu duệ của ông cũng mang một nửa dòng máu Việt.

Bác Hồ cũng có thơ:

"Triệu Đà là vị hiền quân,

Quốc danh Nam Việt trị dân năm đời." (1)

Nói chung là tôi chẳng quan tâm lắm.

Nhưng ở đây thì lại phải quan tâm.

Thời này có cả đền thờ của Triệu Đà ở lộ Khoái (2), phía đông nam thành Thăng Long.

Một số nơi xem ông là thành hoàng của làng mình.

"Hạ thần học thức nông cạn, không dám đoán bừa.

Chỉ dám xét theo sách sử và truyền tụng trong dân gian.

Theo ý của hạ thần, xưa An Dương Vương gầy dựng nước Âu Lạc, đã có thể chống lại được cuộc xâm lăng của Tần Thủy Hoàng.

Nhưng rồi lại để thua và mất nước vào tay Triệu Đà.

Đà vốn là quan phương bắc, nhưng khi về nước nam, y đã cai trị nước Việt theo phong tục của người Việt, thậm chí khi Cao Tổ nhà Hán muốn Vũ Đế nhà ta thần phục, ông ta cũng chỉ thần phục trên danh nghĩa.

Giống như nhà Đinh, nhà Lê và cả nhà Lý chúng ta, bên ngoài xưng vương, nhưng trong nước vẫn là lễ nghi Hoàng đế."

"Nhưng Triệu Đà vốn là người phương bắc mà."

Tôi cãi cố.

"Tích Quang, Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp (3) cũng là quan phương bắc kia mà."

Thầy Lê đáp.

"Thậm chí họ còn chẳng xưng đế xưng vương gì cả.

Họ mang cái đức cái nhân của họ từ phương bắc tới nên họ được lòng dân.

Còn như Tô Định, tham lam tàn bạo hà hiếp bá tánh thì sẽ chỉ có được sự phẫn nộ của dân chúng mà thôi.

Cuối cùng, hắn cũng bị Trưng Vương đánh đuổi."

Ánh mắt anh ta nhìn tôi giống như muốn nhắc tôi rằng "mày mà láo nháo là biến khỏi ngai vàng ngay."

"Ví như Lê Đại Hành, đương lúc Đại Cồ Việt đang nguy khốn mà tiếm ngôi chăng?"

"Vua Đinh và Thái tử bị ám sát, quốc gia lại sắp có nạn binh đao, lúc đó là bất khả kháng.

Quan trọng không nằm ở việc nối ngôi chính thống, là hào trưởng hay trẻ chăn trâu, ngôi vị Hoàng đế không xem ở xuất thân.

Bệ hạ nghĩ thử xem," Thầy chỉ thẳng vào tôi.

Tội này đáng lý phải bị chém ngay tại chỗ.

"Ngôi vị Hoàng đế, nhìn vào đâu để đánh giá?"

Tôi nhìn chòng chọc vào "anh giáo" của mình.

Mà nếu cộng cả tuổi của tôi ở tiền kiếp thì tôi và thầy mình bằng tuổi đấy.

Tôi đặt tay lên ngực mình.

Sống ở đây đã ngót gần mười năm, cách nói chuyện úp úp mở mở của người thời này tôi đã quen rồi.

"Nhìn vào đức!"

Tôi phán.

"Chính xác!"

Lê Văn Thịnh gật đầu mạnh và thu tay lại.

"Người giỏi trị nước không xét thân thế, không xem cương thổ, chỉ xem ở đức mà thôi.

Triệu Võ Đế sẵn sàng chịu làm phiên thuộc của nhà Hán, nhún nhường trước các vua Hán, giúp nước ta tránh nạn binh đao trong gần trăm năm.

Dân chúng được an cư lạc nghiệp.

Là người sẵn sàng vứt bỏ tự tôn cá nhân để muôn dân được thái bình.

Đó há chẳng phải chính là cái tuyệt đức của bậc quân tử đó sao?

Sống tới hơn trăm tuổi là xứng đáng lắm!"

Học với thầy Lê có cái hay.

Đó là anh ta thường dẫn tôi đi dạo quanh thành.

Chúng tôi chủ yếu đi bộ chứ không dùng xe ngựa.

Đây vừa là cách rèn luyện sức khỏe, vừa để gần dân chúng.

Khổ nỗi, mấy tay thái giám không dám để tôi đi lông nhông trên phố.

Họ cứ nhất mực đi theo.

Nên thầy giáo tôi đã bày ra kế cho hai thầy trò trèo tường ra khỏi Văn Miếu.

Khác với phim tàu toàn đội mũ đi hia, đi chân đất là truyền thống của người Việt, nhưng mấy tên thái giám cứ sợ tôi bị thương nên bắt tôi mang giày.

Cuối cùng thì tôi cũng được đi chân đất dạo chơi trên phố.

"Thầy, đây là gì?"

Tôi chỉ vào một thứ nữ trang bằng vàng đính đá quý màu xanh màu đỏ.

"Đây là trang sức từ một đất nước ở xa về phía tây, tên là La Mã."

"La Mã!?"

Tôi tròn mắt nhìn Lê Văn Thịnh.

Dốt lịch sử thì dốt, nhưng tôi biết La Mã là gì nhé.

"Một đất nước có lịch sử lâu đời.

Nằm ở rất xa về phía tây."

"Khách quan thật có mắt nhìn."

Gã thương nhân ấy là người Việt.

Hắn cười tươi rói, để lộ ra một chiếc răng bằng vàng giữa hàm răng nhuộm đen.

Ở Đại Việt thì răng đen là mốt, nhuộm răng đen mới chứng tỏ mình nhà giàu, nhưng tôi thì xin kiếu.

Mẹ tôi và các quan đầu triều cũng không chuộng mốt này cho lắm.

"Đây đều là hàng thượng hạng đến từ La Mã.

Hai vị cứ tự nhiên quan sát lựa chọn."

Cuối cùng, tôi chọn được một sợi dây chuyền bằng vàng.

Giá cao ngất ngưởng nhưng thầy tôi đã ghi giấy nợ và cho phép hắn tới ngân khố quốc gia để lấy tiền nợ.

"Quan lại La Mã là một hội đồng được gọi là Viện Nguyên Lão."

Lê Văn Thịnh giảng cho tôi về La Mã trên đường về.

"Hoàng đế nước ấy không xem mình là con của trời mà tự ví mình như thần thánh.

Có thể anh em con ở nơi ấy chăng?"

"Con chẳng có hứng thú nhận mấy tên ví mình như thần thánh làm anh em đâu."

Tôi thở dài.

"Nhưng con tưởng ở La Mã người ta làm theo kiểu chọn người tài lên làm vua?"

"Trước đây thì thế."

Lê Văn Thịnh nói.

"Nhưng sau một thời gian dài các Nguyên Lão của La Mã tự gây dựng thế lực phân chia ảnh hưởng khiến cho đất nước rối loạn thì quyền hành tối cao lại quay trở về với Hoàng đế."

"Thầy có thể giải thích cho con vì sao lại chuyển từ chế độ thiện nhượng ấy sang chế độ thế tập không?"

Tôi hỏi thầy Lê khi hai thầy trò về đến (trèo tường vào) Văn Miếu.

"Nếu bệ hạ phải lựa chọn giữa Thượng Dương Thái hậu và Linh Nhân Thái hậu, Người sẽ chọn ai?"

Lê Văn Thịnh ngồi têm trầu.

"Tất nhiên là mẹ trẫm."

"Sự thật là bệ hạ đã chọn Linh Nhân Thái hậu.

Nhưng nếu khi ấy có một cuộc chiến tranh giành ngôi vị nhiếp chính giữa hai vị Thái hậu thì bệ hạ có ngăn được không?"

"Không."

Tôi thành thật trả lời.

"Đấu đá nội bộ trong cung, có thể dễ dàng dẫn tới chiến tranh trong nước.

Trong nước mà có chiến tranh, thì ai là người khổ?"

"Bá tánh."

"Nếu có chiến tranh, bá tánh bị đưa ra chiến trường, ai sẽ cày ruộng sản xuất lương thực?"

"Vậy thì chế độ tập quyền có tác dụng thế nào?"

"Thì khi ấy, ngai vàng sẽ chỉ trao cho người con của Hoàng đế trước, dẫu có tranh chấp thì cũng hiếm khi nào vượt ra ngoài phạm vi cung đình.

Tuy cũng có những lần có binh biến, như loạn tam vương thời Thái Tông.

Nhờ sự bao dung độ lượng của Người mà mọi chuyện cũng ổn thỏa.

Nhưng để tránh những trường hợp đáng tiếc như thế xảy ra, ngôi vị Thái tử nên được quyết định sớm."

Thầy Lê nhìn tôi.

"Xuyên suốt lịch sử, bệ hạ là Thái tử trẻ nhất đấy."

"Nhưng trẫm có thắc mắc khác.

Từ La Mã tới chỗ ta, xa xôi vạn dặm, vậy thì giá thành sản phẩm sẽ như thế nào?"

Tôi ngồi nghịch sợi dây chuyền vàng.

"Giá thành sản phẩm của La Mã cao gấp trăm lần sản phẩm của nhà Tống.

Vì lẽ đó, chỉ có trong Hoàng cung hoặc quý tộc giàu nứt đố đổ vách mới có thôi."

"Thế còn cửa hàng bên đường đó?"

"Ở đó bán toàn đồ giả thôi."

Lê Văn Thịnh nói như thể anh ta đã biết từ đầu.

Ánh mắt anh ta như trêu tôi.

"Trẫm đã phí tiền vào thứ gì thế này?"

Tôi lắc cái vòng trong tay.

"Thái hậu sẽ giết trẫm mất."

"Bệ hạ yên tâm."

Lê Văn Thịnh mỉm cười.

"Tờ ngân phiếu khi nãy thần đưa hắn cũng là đồ giả thôi."

"Hả?"

"Bệ hạ nghĩ chức tước thần đủ to để đụng tới ngân khố quốc gia sao?"

Lê Văn Thịnh cười đắc ý rồi bỏ miếng trầu vào miệng nhai.

"Ừ... nhỉ..."

Tôi gãi đầu.

"Nhưng sao thầy không nói với ta ngay từ đầu?"

"Để dạy bệ hạ thôi."

Lê Văn Thịnh mỉm cười.

Dạy học cho vua thích thật.

Mắng Hoàng đế cà khịa hoàng tộc mà chẳng lo chịu tội.

"Kinh đô của La Mã là một thành trì giàu sang bậc nhất.

Có thể nói, đó là trung tâm thương mại của cả thiên hạ.

Điểm đầu của con đường tơ lụa là từ Đại Tống.

Còn điểm cuối chính là kinh đô của La Mã.

Một thành trì xa hoa tráng lệ.

Tuy nhiên, để đi từ đó tới đây, sẽ phải băng qua sa mạc, đi qua các Hãn Quốc ở Tây Vực rồi giặc cướp.

Đó là lý do sản vật từ La Mã có giá thành cao ngất ngưởng."

"Họ có thể đi đường biển mà."

Tôi gợi ý.

"Có chứ."

Thầy Lê gật đầu.

"Thời thuộc Hán, có một thuyền buôn của La Mã đã từng cập cảng ở nước ta.

Nhưng trên biển cũng đâu có thiếu cướp biển và thiên tai.

Thần từng gặp một thương nhân Tây Dương, ông ta nói rằng đi đường biển phải vòng qua một nơi gọi là Lục địa Đen, rồi băng qua những vùng biển đầy nguy hiểm."

Với một vài kiến thức, tôi đoán ra ngay Lục địa Đen mà anh ta nói chính là Châu Phi.

"Chung quy lại, con đường nào cũng sẽ nguy hiểm như nhau thôi."

"Còn chứ."

Tôi mim cười.

"Bệ hạ có cao kiến gì sao?"

"Đường hàng không."

Tôi trỏ ngón tay lên trời.

"Hàng... không?"

Lê Văn Thịnh ngước lên nhìn trần nhà.

"Ý bệ hạ là... bay?"

"Đúng!"

Tôi búng tay.

"Là bay!"

"Bệ hạ đúng là người trời mà."

Lê Văn Thịnh cười khùng khục.

"Thứ lỗi cho thần, thần không biết bay."

"Ta nói thầy hay," Tôi nói với Lê Văn Thịnh.

"Một nghìn năm nữa con người sẽ thống trị cả bầu trời."

"Thống trị bầu trời ư?"

"Không chỉ bầu trời.

Sẽ có ngày, chúng ta sẽ đặt chân lên mặt trăng nữa kìa."

"Bệ hạ, chú Cuội và Hằng Nga đã lên đó từ lâu rồi."

Lê Văn Thịnh rót trà.

"Và dẫu ngày mà con người trần thế có thể lên được cung trăng thì thần cũng đã về nơi chín suối rồi."

Ánh mắt của Lê Văn Thịnh đăm chiêu nhìn ra ngoài vườn.

Tôi có thể thấyanh ta đang mơ.

Mơ về tương lai khi con người bay lượn trên bầu trời.

(1) Hai câu này nằm trong bài thơ Lịch sử nước ta của Bác.

(2) Lộ Khoái tương đương tỉnh Hưng Yên hiện tại.

(3) Tích Quang và Nhâm Diêm là Thái thú Giao Chỉ và Cửu Chân cuối thời Tây Hán đầu thời Đông Hán (thế kỷ I CN), là những người đầu tiên truyền bá Hán học vào nước ta.

Sĩ Nhiếp là Thái thú cuối thời Đông Hán đầu thời Tam Quốc (cuối thế kỷ II đầu thế kỷ III CN), được xem như Nam Giao học tổ.
 
Ấu Hoàng
Anh hùng.


"Dạo này con có cảm thấy những mặt hàng từ phương bắc đang tăng giá không?"

Thầy Lê hỏi tôi khi cả hai đang "đi học" ở gần một khu chợ.

Chuyện này mẹ tôi cho phép.

Thái úy cũng nói rằng: "Bệ hạ nên gần dân chúng để hiểu được đời sống nhân dân."

"Con cũng có thấy."

Tôi cắn một miếng bánh.

"Biên giới có chuyện à?"

"Nhóc không biết đó thôi."

Người thương nhân nói với tôi.

Tôi không thấy vấn đề gì khi ông ta gọi tôi là "nhóc", nhưng hình như thầy tôi thì có.

"Nhà Tống đang đóng cửa biên giới, bây giờ người mình chẳng qua được mà người bên kia cũng chẳng về được."

"Sao tự nhiên lại đóng cửa biên giới?"

Tôi hỏi.

"Ai mà biết.

Chắc lão họ Vương kia lại có cải cách gì đó rồi."

Ông ta đáp một cách bực dọc.

"Thế những mặt hàng này..."

Tôi đưa tay về phía những mặt hàng đang bày bán.

"ông nhập lậu à?"

"Thì mình phải linh hoạt chứ."

Ông ta cười.

Tôi nhìn thầy giáo và ra hiệu, nhờ anh ta gọi quan phủ điều tra tên này.

"Bệ hạ, người nghĩ sao về chuyện này?"

Lê Văn Thịnh hỏi tôi khi hai thầy trò về đến Văn Miếu.

"Sắp có chiến tranh rồi."

Tôi khẳng định.

"Sao bệ hạ lại nghĩ thế?"

"Nhà Tống đang gặp nhiều vấn đề biên phòng phương bắc, nên rất cần giao thương để thu thuế và bổ sung chi phí quốc phòng.

Không lý nào họ lại đi làm một chuyện ngu ngốc như đóng cửa biên giới cả.

Nếu có lý do cho việc đó, thì chỉ có thể là họ đang ngăn chặn một thứ gây nguy hại đến nước họ.

Và đó có thể là gì ngoài thông tin cơ chứ?"

"Quá đúng là bệ hạ!"

Lê Văn Thịnh sáng mắt khen ngợi.

"Bài này tôi học rất kỹ để thi học kỳ đấy."

Thực ra cũng nhờ Lê Văn Thịnh đã dạy tôi một chút về binh thư nữa.

Thầy Lê nhỉnh hơn các sư thầy kia ở chỗ là anh ta rất rành binh pháp.

Mới kết thúc kỳ thi Minh kinh bác học có một tháng, Lý Thường Kiệt đã gô đầu anh giáo của tôi đi và cho anh giữ chức Thị lang.

Chức Thị lang này là phụ giúp cho Thượng thư giống Lưu Khánh Đàm nhưng nhiệm vụ khác nhau.

Lưu Khánh Đàm lo các công việc xây dựng, còn Lê Văn Thịnh làm việc quân sự.

Từ tuyển quân cho đến đúc binh khí.

Dù phải một lúc gánh cả hai việc nhưng Lê Văn Thịnh không hề tỏ ra lúng túng, anh ta luôn hoàn thành tốt trách nhiệm của mình.

"Nhưng nếu có chiến tranh thực sự, thầy nghĩ ai sẽ là người đủ khả năng lãnh đạo quân dân ta kháng chiến?"

Tôi hỏi.

"Tất nhiên, chỉ có Thái úy triều ta đủ khả năng mà thôi."

Lê Văn Thịnh nói.

"Thái úy là chiến thần đương thời, có thể sánh với Ngô Vương ngày xưa.

Tuy nhiên, một mình ông ấy là không đủ."

"Không đủ ư?"

Tôi chau mày.

"Thái úy võ nghệ phi thường, trí dũng song toàn, vậy mà còn chưa đủ để đánh bại nhà Tống sao?"

"Nếu là một đội quân nhỏ, Thái úy có thể đánh.

Nhưng nếu nhà Tống quyết khô máu, mình Thái úy không đủ."

"Thế phải làm sao?"

"Bệ hạ à, Đại Việt ta không phải chỉ có mình Thái úy thôi đâu."

-

Ngay trong buổi chầu hôm sau, tin tình báo bay về, quân Tống thực sự đang tích trữ lương thực khí giới ở Ung Châu và chuyển quân số lượng lớn về phía Côn Lôn Quan, sẵn sàng công đánh Đại Việt.

Hóa ra chúng đã chuẩn bị từ lúc vua Lý Thánh Tông mới đánh Chiêm.

Rồi sau vụ nội loạn của họ Dương thì chúng thấy thời cơ đang dần chín muồi và đã đẩy mạnh công tác chuẩn bị cho cuộc xâm lược.

Thậm chí chúng còn đang tiến hành mua chuộc các tù trưởng miền núi.

"Vương An Thạch cho rằng chúng ta vừa mới chiến tranh với Chiêm Thành xong nên không còn đủ quân để chống trả ư?"

"Sao ông ta có thể quá quắt như thế chứ?"

"Hắn cũng chưa like truyện nữa."

"Các ái khanh," Tôi gọi lớn.

"về vấn đề này, trẫm thấy là hoàn toàn có lý do đấy."

Văn võ bá quan quay lên nhìn tôi.

"Vương An Thạch vốn là một tay chơi lão làng.

Hắn ta nhất định là đang muốn lấy chiến tranh để nuôi chiến tranh."

"Bệ hạ," Một người lên tiếng.

"Thần đánh trận hơn hai mươi năm chưa từng nghe binh thư nào nói đến kế này."

"Đây là một thuật ngữ," Tôi giải thích.

"trong chiến tranh Đông Dương, Pháp đã dùng chính chiêu bài này khiến quân dân ta khốn đốn."

Tôi nhìn hai hàng quan lại, họ nghiệt mặt ra như nghe tiếng nước ngoài.

"Nói ngắn gọn, Vương An Thạch muốn sử dụng tài nguyên thu được từ chúng ta để bù đắp vào ngân khố đang dần kiệt quệ của nhà Tống.

Đồng thời giúp quân sĩ phương bắc có thêm chút sĩ khí.

Tình huống xấu nhất, nếu ta thua trận, ta sẽ bị bóc lột như thời Đường.

Thậm chí có thể quân binh và dân phu nước ta có thể còn phải đi lên miền bắc để đánh trận."

Cái này tôi chưa học, nhưng ông bà tôi đều là chiến sĩ trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Ông tôi hy sinh, bà tôi vẫn thường kể chuyện về các chiến dịch quân sự.

Tôi cũng nhớ được chút chút.

Quay trở lại triều đình Đại Việt, các quan lại sau khi nghe tôi trình bày về lấy chiến tranh nuôi chiến tranh thì mặt họ bắt đầu dãn ra.

Nhưng rồi họ lại cau có và xì xào.

"Sao bệ hạ nghĩ ra được những thứ như thế được nhỉ?"

"Lê Văn Thịnh đã dạy bệ hạ những gì thế?"

"Một đứa trẻ có thể có được kiến thức cao siêu như thế sao?"

"Bệ hạ, thần có lời muốn nói."

Một người bước ra khỏi hàng và cúi người hành lễ với tôi.

Anh ta trông khoảng ngoài ba mươi, dáng người to lớn cùng và có cái uy của một tướng quân.

Các bạn tưởng tôi không biết anh ta à?

Tất nhiên là tôi có biết.

Đó là Chiêu Văn Hầu Lý Thái Nguyên, cháu nội của Uy Minh Vương Lý Hoảng.

Uy Minh Vương là em trai vua Lý Thái Tông, vậy nên anh ta là em họ tôi.

"Quân hầu cứ nói."

"Nếu chúng ta đã sắp sửa có một cuộc đại chiến với nhà Tống, bệ hạ đã liệu được đối sách chưa?"

"Tất nhiên."

Tôi mỉm cười.

Những ngày học sấp mặt để chuẩn bị cho bài kiểm tra của tôi sắp phát huy tác dụng rồi.

"Chúng ta sẽ đánh phủ đầu nhà Tống.

Quân ta sẽ đánh thẳng vào Ung Châu."

Quần thần lại xôn xao bàn tán.

Mẹ tôi ở phía sau cũng phải thì thào "Con nói cái gì thế?"

"Bệ hạ, chuyện đó..."

"Bệ hạ, đánh vào đất Tống...

Từ thời Lê chúng ta cũng chỉ mới đánh phá quanh biến giới, tiến vào tận Ung Châu, chuyện này... là bất khả thi rồi ạ."

"Bất khả thi cái gì?

Các khanh đã thử bao giờ chưa mà biết?"

Tôi lên giọng.

"Vua Lê mới lập quốc đã có đánh vào đất Tống, khiến quân thần nhà Tống sợ xanh mặt, triều ta hùng mạnh như thế này mà lại không thể xuất binh một trận dằn mặt nhà Tống sao?"

Tôi biết là tôi hơi quá lời, nhưng ít nhất thì nói thế khiến đám võ tướng có vẻ hừng hực khí thế hơn.

"Bệ hạ."

Một người khác bước ra và quỳ xuống.

"Thần xin được đánh trận."

Người này có gương mặt trẻ măng, cùng lắm là bằng tuổi Lưu Khánh Đàm.

Anh có ánh mắt mạnh mẽ giống cha tôi và cắt tóc ngắn.

Anh là Hoằng Chân Hầu Lý Hải Dương, con của Phụng Càn Vương Lý Nhật Trung, em ruột của Thánh Tông.

Tức là em họ tôi luôn.

"Quân hầu từ từ."

Tôi nói với anh ta và quay lại nhìn các triều thần.

"Các vị, các vị nghĩ ai là người thích hợp nhất chỉ huy quân sĩ đánh vào đất Tống?"

Họ không ai nói được lời nào.

Có lẽ vì họ đều biết ai là người thích hợp nhất.

"Bệ hạ," Thái úy Lý Thường Kiệt bước ra.

"thần, xin được đánh trận."

-

"Bệ hạ thực sự giao hết quyền hành cho Thái úy ư?"

Lê Văn Thịnh hỏi khi đang cùng tôi tập viết chữ.

"Tất nhiên."

Tôi nói khi đang tập viết bài Đoản Ca Hành của Tào Tháo.

Đây vừa là cách để rèn chữ, vừa để hiểu thêm về nhân vật ấy qua giọng thơ và chất thơ của y.

Hồi xưa xem phim Tam Quốc chỉ biết Tào Tháo là gã gian hùng tàn ác háo sắc, bây giờ học về y tôi mới thấy cái chất anh hùng trong y.

Tuy nhiên, tôi không đời nào muốn có một anh hùng như ông ta ở bên.

"Thầy cũng bảo Thái úy là chiến thần đương thời còn gì."

"...

được."

"Ngài không được vào đây đâu ạ."

"Quân hầu..."

"Chuyện gì ồn ào thế?"

Tôi nhìn ra ngoài.

"Bệ hạ."

Hoằng Chân Hầu Lý Hải Dương xuất hiện trước mặt tôi.

Mặt anh ta nóng bừng lên.

Rồi chợt nhớ ra điều gì, anh vội quỳ xuống.

"Thần mạo phạm vào giờ học của bệ hạ, xin bệ hạ thứ tội.

Nhưng thần có việc cần tấu."

"Ngoài Thái úy, nước ta vẫn còn rất nhiều các tướng tài khác, tại sao bệ hạ chỉ trọng dụng duy nhất mình Thái úy?"

Anh ta nói sau khi tôi cho phép.

"Trẫm..."

"Bệ hạ, nếu quân quyền rơi quá nhiều vào tay một người, bệ hạ có lường được hậu quả hay không?"

Anh ta cắt lời tôi.

"Được rồi."

Tôi quay lại bàn học và rót một cốc trà.

"Hạ hỏa hạ hỏa đi."

Anh ta nhận cốc trà nhưng chưa uống ngay.

"Bệ hạ, thần không có tâm trạng."

"Hình như là trẫm chiều em quá rồi em hư đúng không?"

Tôi hỏi.

"Quân hầu," Lê Văn Thịnh đứng bên cạnh khuyên nhủ.

"chú ý lời nói."

"Bệ hạ," Lý Hải Dương nói tiếp.

"thần là hoàng thân quốc thích, từ nhỏ đã được luyện võ và học binh thư, chỉ mong có một ngày được dẫn quân đánh trận, bảo vệ quốc gia như cha ông.

Nay bệ hạ trọng dụng đại thần, rời xa huynh đệ như thế này, có khác gì Ngụy Văn Đế với các huynh đệ ngày xưa?"

"Giờ lại lấy Tam Quốc ra dọa trẫm cơ đấy."

Tôi nóng máu.

"Thế giờ em đọc bốn câu cuối bài Đoản Ca Hành xem."

"Núi không ngại cao,

Nước không ngại sâu,

Chu Công thả cơm,

Thiên hạ về theo."

Hải Dương đọc lại bài thơ.

"Chu Công ngày xưa làm rơi vãi cơm khi nhai, trong lòng chỉ mong chờ tìm được hiền tài giúp nước (1).

Nay trẫm đã có nhân tài và giang sơn nhất tổ nhị tông để lại, lại không biết trân quý," Tôi quay vào trong đưa tay về phía Chu Công.

"làm sao dám cai trị thiên hạ này?

Quân hầu đường đường là người của hoàng thất, lại đi ganh tị chỉ vì chút chuyện nhỏ nhặt này ư?

Liệu quân hầu có đang định làm một loạn tam vương nữa hay không?"

"Bệ hạ quá lời."

Hải Dương dập đầu xuống.

"Thần ngu muội, nhất thời không hiểu chuyện, xin bệ hạ trách phạt."

"Được!"

Tôi lớn tiếng và ngồi xổm xuống cạnh anh.

"Nghe lời trẫm này, sau khi Thái úy thắng trận, nhà Tống sẽ đem quân sang đánh nước ta.

Khi ấy, trẫm muốn khanh tận tâm tận lực hỗ trợ Thái úy bảo vệ đất nước."

Tôi nhớ lại lời cha tôi đã nói với Thái úy và Thái sư trước lúc lâm chung.

"Cúc cung tận tụy, đến chết không thôi."

Ánh mắt anh ta nhìn tôi như sáng lên.

"Thần xin tiếp chỉ!"

"Bệ hạ," Lê Văn Thịnh gọi tôi sau khi Lý Hải Dương đã đi khuất.

"sao bệ hạ có thể khẳng định được nhà Tống sẽ lại đem quân tới?"

"Trẫm..."

Tôi chỉ lên trời.

"xem thiên tướng."

-

Tối hôm ấy, Lý Thường Kiệt tìm tới điện Thiên Khánh khi tôi đang ăn cơm.

"Bệ hạ thứ tội, thần lỡ làm phiền giờ cơm của bệ hạ, thần sẽ quay lại sau."

Lý Thường Kiệt quay đi.

"Thái úy, vào đây nào."

Tôi ngoắc tay.

"Thái úy, không cần phải ngại đâu."

Mẹ tôi cũng nói.

"Thái úy!"

An Dân gọi lớn.

Cuối cùng Thái úy đành ngồi xuống ở vị trí xa nhất.

"Lại gần đây nào."

Tôi ngoắc tay.

Lý Thường Kiệt từ từ xích lại gần.

Tôi xới cớm cho vào bát rồi mời Thái úy.

"Bệ hạ!"

Thái úy trông rõ ràng là khó xử.

"Ừm, thế này hơi khó xử nhỉ."

Tôi nhìn mọi người.

"Người đâu!?"

Chờ tên thái giám tới, tôi bảo hắn mang cho tôi cái chiếu.

Vua tôi ngồi khoanh chân trên chiếu.

Trên mâm chỉ có mấy món thịt cá rau canh.

Về cơ bản thì ẩm thực thời này cũng không khác với thời tôi lắm.

Tuy muối khá đắt đỏ nhưng đây là hoàng cung, không phải lo về chuyện đó.

Dù tôi rất thèm phở, mì gói và cả trà sữa nữa.

"Ăn nhiều vào An Dân."

Tôi gắp thịt cho em tôi.

"Ăn nhiều mới mau lớn."

Ánh mắt Thái hậu và Thái úy chòng chọc nhìn hai đứa trẻ.

"Thái úy, việc học võ của bệ hạ và Minh Nhân Vương dạo này thế nào?"

Thái hậu hỏi.

"Hồi Thái hậu, bệ hạ và điện hạ đều lanh lợi hoạt bát, nhanh chóng tiếp thu được tinh hoa võ thuật của dân tộc và cả thương pháp của Thái Tổ.

Sau này nhất định có thể thân chinh dẹp giặc như tiên đế và các vương gia tiền triều."

"Thái úy cũng ăn đi."

Tôi xắn một miếng cá ra và gắp cho Lý Thường Kiệt.

"Ơ, bệ hạ, thần," Lý Thường Kiệt cố tránh.

"Khanh lại không nể trẫm."

Tôi tặc lưỡi.

Cuối cùng Lý Thường Kiệt đành nhận.

"Thái úy phu nhân dạo này khỏe không ạ?"

An Dân hỏi.

"Phu nhân nhà thần vẫn khỏe.

Tạ điện hạ quan tâm."

"Thái úy là nghĩa đệ của tiên đế, tức là nghĩa thúc của bệ hạ và bản vương."

An Dân xưng hô thì có phần trịnh thượng, nhưng cái giọng nói nhí nha nhí nhảnh của đứa trẻ bảy tuổi khiến tôi suýt phì cười.

"Phu nhân của ngài cũng là người nhà cô(2) thôi.

Người nhà quan tâm nhau là chuyện nên làm mà."

"Điện hạ quá lời rồi.

Thần tích đức ba đời mới có được vinh hạnh ấy."

"Mùa đông sắp tới rồi."

Mẹ tôi đặt đũa xuống.

"Phu nhân Thái úy cũng dần có tuổi, sức khỏe cũng không còn như xưa.

Ta sẽ tặng khanh một ít áo ấm đem về."

"Thái hậu..."

Lý Thường Kiệt ăn cơm với nước mắt.

"Thế khanh đã quyết định xong chưa?"

Tôi hỏi Lý Thường Kiệt khi ngồi đánh cờ cũng ông sau bữa cơm.

"Quyết định..."

"Chiến thuật, hướng hành quân, nhân sự, quân số..."

Tôi đặt quân cờ vây xuống.

"Bẩm bệ hạ, thần và các Thị lang đã sắp xếp xong hết từ mùa hè.

Chỉ có phía các tù trưởng thì...

Lang tướng Nùng Tông Đản đang thu xếp ạ."

Tôi nhìn ông.

"Mà, Thái úy vốn dùng binh cẩn trọng lại đồng ý với chiến thuật đánh vào nước Tống của trẫm cơ đấy."

"Ngồi yên đợi giặc sao bằng đánh trước để bẻ gãy mũi nhọn của nó."

"Là tiên phát chế nhân.

Thái úy, tướng ngoài trận mạc, bất cần lệnh vua.

Một khi đặt chân lên đất Tống, toàn bộ quyền quyết định sẽ nằm ở ngài.

À không, ngay khoảnh khắc ngài đi qua cổng Diệu Đức(3), mọi sự sẽ do ngài quyết định."

"Thần nghe nói hôm nay Hoằng Chân Hầu đã có chút bất bình về chiến dịch này."

Lý Thường Kiệt đổi chủ đề.

"Thái úy đi chấp trẻ con ư?"

Tôi cười.

"Tuy là Hầu tước, nhưng biểu đệ trẫm mới mười bảy tuổi, còn chưa hiểu chuyện.

Hy vọng Thái úy không để bụng."

Tôi không biết Lý Thường Kiệt cảm thấy thế nào khi nghe một đứa trẻ chín tuổi nói một người mười bảy tuổi là trẻ con.

Nhưng ở đây ai cũng xem tôi là người trời nên tôi cũng mặc.

"Thần đời nào dám để bụng."

Thái úy mỉm cười.

"Ngày còn trẻ, thần cũng ngông nghênh như thế.

Tiên đế còn chững chạc hơn thần."

"Thái úy," Tôi gọi.

"có muốn cùng trẫm, gánh vác giang sơn này không?"

"Là vinh dự của thần!"

Lý Thường Kiệt chắp tay nói.

Tôi mỉm cười.

"Đại Việt ta thật có phúc khi có một đấng anh hùng như khanh."

(1) Một điển tích thời nhà Chu.

Chu Công Đán mong có được hiền tài ra giúp nước, có người tới lúc ông đang ăn cơm, ông lập tức chạy ra đón trong khi còn đang nhai và nói chuyện thì phun cơm vào người ta.

Trong bài thơ Đoản Ca Hành, Tào Tháo đã nhắc đến điển tích này.

(2) Cô (孤) là tiếng nhún mình của các vua chư hầu, được dùng bởi những người mang tước vương, nghĩa là nói tự khiêm là kẻ đức độ kém.

(3) Cổng bắc kinh thành Thăng Long.
 
Ấu Hoàng
Quân sự và dân sự.


Cuộc chiến diễn ra vào mùa đông, thời tiết Trung Quốc năm ấy lại khá khắc nghiệt.

Mỗi ngày tôi đều thấp thỏm chờ đợi tin tức.

Cho đến một ngày, không thể chịu đựng được, tôi đã để lại triều đình cho Thái hậu, Thái phó và Thượng thư.

Tôi và Lê Văn Thịnh lên Lạng Châu.

Bây giờ chính là Lạng Sơn.

Lúc này đã là đầu tháng mười hai âm lịch.

Cái thời tiết lạnh thấu xương ở miền núi phía bắc này khiến tôi không dám nghĩ đến tình cảnh cái lạnh ở Trung Quốc.

Quân sĩ của tôi, Lý Thường Kiệt và rất nhiều người đang ở đó, cố gắng hết sức để ngăn chặn một cuộc tấn công của quân thù.

Họ đang chiến đấu vì Tổ quốc, vì nhân dân.

Và vì tôi.

Tôi không thể yếu đuối được.

Nhà của của người dân ở đây là nhà sàn hoặc những ngôi nhà được xây dựa vào núi.

Ngôi nhà lớn nhất và đẹp nhất cũng được dựng lên từ gỗ và lợp bằng rơm.

Trên đỉnh ngôi nhà đó có một lá cờ màu vàng viền đỏ đề chữ Việt màu đen.

Sân nhà còn đang phơi một lớp da hổ.

"Chị!"

Tôi lon ton chạy vào ngôi nhà lớn đó.

Trong chiếc áo choàng lông thú dài tới chân, tôi đã suýt ngã mấy lần.

"Công chúa."

Lê Văn Thịnh cúi người vái công chúa Thiên Thành.

Đây là lần thứ ba tôi gặp chị.

Lần đầu là khi phụ hoàng mất.

Lần hai là khi chị về Thăng Long sau cuộc loạn họ Dương.

Chị gái tôi có nước da trắng hồng xinh đẹp không kém gì mẹ tôi.

Dáng người thon thả và đoan trang của con nhà hoàng tộc.

Đôi mắt chị hiền hậu, mái tóc đen nhánh để xuông dài.

Chị mặc một chiếc áo lông màu nâu dài ấm áp, đeo nhiều trang sức bạc và vấn một chiếc khăn đen trên đầu.

Đây là bộ trang phục truyền thống của người dân tộc Tày ở miền núi phía bắc.

Chị tôi được gả cho tù trưởng xứ này là Thân Cảnh Phúc.

Phò mã hiện đang cùng Lý Thường Kiệt bắc chinh.

"Bệ hạ vạn tuế."

Chị tôi quỳ xuống.

"Chị, bình thân đi."

Tôi đỡ chị tôi.

"Chị em một nhà cả mà."

"Lê Thị lang."

Chị tôi tiếp tục nhún người chào Lê Văn Thịnh.

"Bệ hạ không làm khó ngài chứ?"

"Bệ hạ lo lắng cho quân sĩ ngoài biên ải thế này, là phúc phận của quốc gia, sao thần có thể lười nhác được."

Lê Văn Thịnh đáp.

"Tại vì ở đây thông tin sẽ về nhanh hơn."

Tôi nói.

"Chị, mấy ngày nay tình hình thế nào?"

"Tình hình chiến sự, khá là khả quan."

Chị tôi dẫn tôi và Lê Văn Thịnh tới cạnh một tấm bản đồ da vẽ khu vực vùng núi phía bắc Việt Nam và miền nam Trung Quốc.

"Phó tướng quân ta, Tông Đản đã chỉ huy lực lượng của các tù trưởng đánh chiếm các trại ở phía tây."

Chị tôi lần ngón tay theo các dãy núi và các tòa thành trì đã bị đánh dấu X.

"Trong khi đó, quân thủy do Thái úy chỉ huy sẽ đánh vào Khâm – Liêm.

Có thể chỉ vài ngày thôi là chiếm được Khâm Liêm."

"Liệu, mọi chuyện có thuận buồm xuôi gió không đây?"

Tôi thở dài.

Với cái thời tiết này thì ai cũng chỉ muốn trùm chăn và ngủ một giấc thật dài.

Tôi từng xem một số phim cổ trang, thấy chuyện quân sĩ phe này không quen khí hậu mà ngã bệnh rồi phe kia đánh ngược lại khá nhiều.

Dẫu biết trước là sẽ thắng, nhưng tôi vẫn lo lắng không thôi.

"Bệ hạ không cần phải lo lắng, ảnh hưởng đến long thể."

Chị tôi khuyên.

"Thái úy là chiến thần anh dũng nhất Đại Việt.

Các tướng Tông Đản, Vi Thủ An, Lưu Kỷ cũng là tướng tài.

Dẫu có khó khăn, nhưng chỉ cần quân và dân đồng lòng thì khó khăn nào chúng ta cũng có thể vượt qua được."

"Quân và dân..."

Tôi nhớ mang máng lại tiết học trên lớp ngày xưa.

Cô giáo tôi có nói gì đó về nhân dân nước Tống trong cuộc chiến này.

"Thầy!"

Tôi quay sang Lê Văn Thịnh.

"Chuẩn bị hành trang đi.

Chúng ta sẽ sang Tống một chuyến."

-

Quân pháp Đại Việt nghiêm minh, binh lính tuyệt nhiên không rớ tới một hạt gạo nào của dân.

Nhân dân nước Tống vẫn sống yên bình.

Khi tôi và Lê Văn Thịnh hỏi thì họ chỉ đáp ngắn gọn "Quân Việt không làm hại thường dân."

Tên sứ giả năm trước tới Thăng Long mở mồm một tiếng Giao Chỉ, hai tiếng An Nam.

Thấy những người dân vùng biên giới này gọi quân Việt là tôi có thể hình dung được phần nào ấn tượng của binh lính Đại Việt trong mắt họ.

"Tài sản của nhân dân.

Tính mạng của nhân dân.

Và lòng tự tôn của nhân dân."

Lê Văn Thịnh nói khi chiếc xe ngựa đi ngang qua một cánh đồng lúa.

"Kẻ cầm quyền mà vô lý tước đoạt đi ba thứ ấy của dân sẽ không bao giờ được tha thứ."

"Thầy, ta đang ngăn chặn cuộc tấn công của họ, nhưng trong mắt họ thì ta đang là quân xâm lược, đúng không?"

"Đúng là thế."

Tôi gặp một toán lính Đại Việt đang ngồi uống nước bên đường.

"Dừng xe đã."

Tôi gọi người đánh xe và nhảy xuống chỗ họ.

"Trời lạnh thật đấy."

Một người than thở.

"Thời tiết này mà chúng mình còn phải đi đánh trận."

"Vợ tôi đang mang thai bảy tháng.

Sắp sinh rồi."

"Tranh thủ lập công kiếm ít tiền mua áo mới cho vợ đi."

"Các anh em."

Tôi gọi lớn.

Họ ngước lên nhìn tôi.

"Bệ..."

Một tên nhìn tôi và á khẩu.

Tôi nhanh chóng quắc mắt với hắn.

Sao hắn nhận ra tôi nhỉ?

"Tôi chỉ tình cờ tới đây thôi."

Tôi ngồi xổm xuống cạnh họ.

"Tình hình quân cơ thế nào?"

"Mọi chuyện khá thuận lợi.

Thái úy đã hạ lệnh không tơ hào lấy một cắc nào của dân Tống.

Ông ấy còn soạn thảo cả "Phạt Tống lộ bố văn" nữa cơ."

"Phạt Tống lộ bố văn?"

Tôi nhìn họ.

"Cái kia kìa."

Hắn chỉ vào một tờ giấy dán trên tấm bản gỗ lớn bên cạnh.

"Trên đó viết gì thế?"

Tôi hỏi.

Chẳng quả là vì nó nằm hơi cao nên tôi ngước không tới chứ không phải là tôi không biết chữ nhé.

"Trời sinh chúng dân, đức quân ắt gần.

Đạo là quân chủ, cốt ở nuôi dân.

Nay nghe vua Tống ngu hèn, bất tuân lời thánh nhân.

Nghe kế An Thạch, làm phép thanh miêu trợ dịch.

Dân chúng lầm than, quan lại béo tốt.

Mệnh dân vốn ở trời, nay bỗng sa cảnh éo le.

Kẻ ở trên cao tất phải xót.

Việc làm từ trước bất cần thưa.

Nay ta phụ mệnh quốc vương ra bắc.

Cốt muốn dẹp yên làn sóng yêu nghiệt, quốc thổ dẫu khác ý dân không phân biệt; quét cho sạch dơ bẩn hôi tanh, cho dân hưởng tháng ngày Thuấn Nghiêu.

Nay ta ra quân, vốn để giúp dân.

Truyền lời hịch văn, người nghe an lòng.

Tự mà suy nghĩ, chớ có sợ gì."

Sau khi nghe thầy tôi đọc, tôi quay lại nhìn mấy tên lính.

"Cái này là Thái úy viết sao?"

"Nghe các tướng quân bảo, trước khi đi, Thái phó đã dặn dò Thái úy không được làm mất lòng dân Tống.

Nên mỗi khi qua một làng mạc nào chúng tôi cũng đều dán hịch lên.

Nhờ thế mà dân Tống không cản trở quá nhiều.

Đôi lúc còn giúp chúng tôi chăm sóc người ngựa bị ốm.

Thái úy cũng cho phép thương nhân hai bên trao đổi buôn bán trở lại."

"Không hổ danh là Lý Thường Kiệt."

"To gan!"

Một tên quát tôi.

"Dám gọi tên Thái úy như thế."

"Ồ, xin lỗi xin lỗi."

Tôi cười trừ.

Cái tên biết thân phận thật của tôi bặm môi cố không đánh vào đầu tên đồng đội mình.

"Cố gắng thắng trận nhé."

Tôi nói và lấy mấy xâu tiền trong người ra đưa cho họ.

"Gia đình các anh đang chờ ở nhà.

Chúng ta đều không muốn bỏ mạng ở nơi xa quê phải không?"

Tôi lên xe ngựa và tiếp tục tiến về phía nơi Thái úy đóng quân.

Mấy tay lính nói chuyện với nhau và sau một khoảnh khắc tôi thấy chúng mặt tái nhợt không còn giọt máu rồi đồng loạt quỳ xuống hướng về phía xe ngựa hành lễ.

"Thầy, Thái phó có gặp Thái úy à?"

Tôi hỏi.

"Thần nghe mấy bà tám ở phủ Thượng thư kể trước ngày xuất chinh, Thái phó đã tới gặp Thái úy và họ trò chuyện cùng nhau tới tận đêm."

"Ra thế."

Tôi gật gù.

Xe ngựa đi qua một đám ăn mày.

Họ bám dính lấy chiếc xe ngựa để xin ăn.

Người đánh xe và nhóm tùy tùng cố gắng đẩy họ tránh xa khỏi xe ngựa.

"Đợi đã nào!"

Tôi nói lớn.

Tôi nhận ra đó không phải ăn mày, mà là dẫn tị nạn.

Quần áo chỉ hơi bẩn.

Một số người có mang theo hành lý và dẫn theo con nhỏ.

"Công tử, những người này..."

"Cũng chỉ là bá tánh không có cơm ăn.

Họ chắc là từ phương bắc muốn tránh chiến tranh."

Tôi xua tay.

"Cho họ ít lương thực đi."

Mấy tay tùy tùng tần ngần một chút rồi cũng chia gạo cho đám nạn dân.

"Chư vị bá tánh!"

Tôi nói lớn.

"Nếu các vị đói quá thì hãy đi về phía nam.

Đại Việt luôn mở rộng cửa chào đón các vị.

Hoàng đế Đại Việt sẽ sắp xếp công ăn việc làm và nơi ở cho các vị."

Họ ngớ người ra.

"Công tử, để ta."

Lê Văn Thịnh thuật lại những lời tôi nói bằng tiếng Trung.

"Hoàng đế Đại Việt thật tốt quá."

"Người đúng là Bồ Tát."

Nhóm dân tị nạn cảm ơn ríu rít và tiếp tục đi.

Đi về phía nam.

"Họ sẽ ra sao?"

Tôi hỏi khi xe ngựa đã đi được một quãng xa.

"Nếu họ vượt qua được các dãy núi ở phía nam... sau đó là khí hậu, bệnh tật, văn hóa, ngôn ngữ..."

"Rắc rối vậy?"

"Tất nhiên rồi."

Thầy Lê gật đầu.

"Dù Đại Việt ta luôn mở rộng cửa đón bằng hữu tứ phương, nhưng đâu thể nuôi mấy kẻ ăn không ngồi rồi được.

Họ cần phải tạo ra giá trị cho đất nước chứ."

"Thế thì để họ khai hoang các vùng đất ở xa đi."

Tôi đề nghị.

"Sớm hay muộn gì, người Hoa cũng sẽ tràn xuống phương nam vì giặc phương bắc thôi mà."

"Bệ hạ nghĩ sao?"

Thầy Lê nhướn mày.

"Nếu đợi đến lúc phương bắc quá loạn, làn sống di cư ồ ạt của người Hoa sẽ sẽ khiến chúng ta không ứng phó kịp.

Nhưng nếu để từng nhóm từng nhóm nhỏ di cư xuống, chúng ta có thể xử lý dần.

Giống như ngăn lũ vậy.

Nếu ta chia nhỏ dòng chảy của các con sông lớn ra thành các con kênh nhỏ thì tránh được lượng nước quá lớn dẫn đến vỡ đê."

"Chà," Lê Văn Thịnh vuốt chòm râu không tồn tại của mình.

"Bệ hạ sở hữu những kiến thức hơi vượt quá độ tuổi đấy."

"Tôi hơi bị giỏi vật lý đấy."

"Nhưng kể ra, cũng tội nghiệp cho đám nạn dân đó thật.

Không biết họ sẽ mất bao lâu để quen với môi trường mới đây."
 
Ấu Hoàng
Giao thừa.


Điều tôi lo sợ: quân Đại Việt sẽ khiến dân Tống lo sợ, và như thế sẽ khiến tính "chính nghĩa" của chúng tôi bị mất đi.

Nhờ "Phạt Tống lộ bố văn", người dân nước Tống hiểu rằng quân Việt tới để giúp dân Tống.

Nhờ thế mà quân sĩ có thể yên tâm chiến đấu mà không sợ bị dân chúng nổi lên giết hại.

Vì đây không phải một cuộc xâm lược.

Thái úy Đại Việt tới đây chỉ để hủy bỏ các chính sách của Vương An Thạch và tiễn những tên tướng lĩnh nhà Tống tới gặp vua Nghiêu vua Thuấn.

Tôi cũng yên tâm hơn, nhưng thay vì về nước, tôi quyết định tới doanh trại thăm Thái úy và các tướng.

Thầy Lê dùng lệnh bài Thị lang để xin vào gặp Thái úy.

"Lê Thị độc không ở kinh thành hầu bệ hạ học, lại tới đây làm gì?"

Lý Thường Kiệt đang nghiên cứu địa hình Ung Châu bằng cái sa bàn lớn, ông gọi Lê Văn Thịnh mà chẳng ngước lên khỏi cái bàn.

"Một chút công chuyện thôi."

Thầy tôi mỉm cười đáp.

Tôi nhìn cái sa bàn.

Nó cao ngang với tầm mắt tôi.

"Ta nghĩ nên di dời quân ở ngọn đồi này đi."

Tôi chỉ vào một quân doanh nằm trên một ngọn đồi nhỏ.

"Sườn đồi không cao, quân địch dễ đánh."

Lý Thái úy mặt trắng bệch ngã phịch xuống sau lời nói của tôi.

"B... b... bệ hạ..."

Lý Thường Kiệt lắp ba lắp bắp.

"Bệ hạ!"

Các tướng đồng loạt quỳ xuống.

"Chúng chúng chúng thần thân mang giáp sắt... không thể hành lễ đầy đủ... mong bệ hạ thứ tội..."

Lý Thường Kiệt vẫn chưa hoàn hồn.

Ông lại lườm Lê Văn Thịnh.

Thầy giáo của tôi làm ra vẻ mặt tôi bị ép.

"Các khanh bình thân đi."

Tôi nói với họ và nhảy tót lên chỗ ngồi cao nhất của Lý Thường Kiệt.

"Thế, tình hình thế nào?"

"Bẩm bệ hạ, quân Tống có vẻ có vấn đề trong đường truyền tin nên đến giờ này đã hơn một tháng kể từ khi ta chiếm được Khâm Châu và Liêm Châu mà vẫn chưa thấy quân tiếp viện của chúng."

Một người nói.

Anh ta mặc giáp sắt, nhưng tóc tai, vũ khí và một số phụ kiện trên người trông không giống người Việt.

"Dẫu có biết, chúng cũng không thể gửi tới đây quá đông quân cứu viện."

Một người khác nói.

"Vấn đề ở tướng giữ thành Ung Châu kìa."

"Là kẻ nào?"

Tôi hỏi.

"Bẩm bệ hạ, là Tô Giám."

"Tô Giám à?"

Tôi nhớ tên này.

Cô giáo Lịch sử của tôi có kể về hắn.

Tôi chỉ nhớ mang máng là hắn giỏi.

"Không cần biết kẻ thù có là ai.

Chỉ cần Đại Việt ta quân tướng đồng lòng, cùng kề vai sát cánh bên nhau thì tất sẽ chiến thắng."

Tôi chắp tay lại nhìn họ.

Tất cả người trong lều đồng loạt quỳ xuống.

"Các vị tướng quân, non sông Đại Việt ta, nhờ cả vào các vị."

Các tướng đồng loạt hô to vạn tuế.

"Công tử."

Một người tới lều tôi.

Thái úy đã sắp xếp cho tôi và Lê Văn Thịnh một lều riêng.

"Tại hạ xin được diện kiến."

"Ai thế?"

Tôi hỏi.

"Tại hạ Thân Cảnh Phúc."

"Vào đi."

Tôi gọi.

Vì việc tôi xuất hiện ở đây là bí mật quốc gia nên các tướng khi tới tìm tôi sẽ gọi tôi là công tử.

Điều này khiến các quân sĩ nghĩ rằng tôi là con của vị tướng quân nào đó đang học về chiến trận.

Anh rể tôi đã gần ba mươi.

Anh có đôi mắt sáng và thân hình vạm vỡ.

Râu tóc có phần xuề xòa nhưng cũng toát ra vẻ oai phong.

"Phò mã đi chuyến này," Tôi rót nước mời ông, Lê Văn Thịnh thì đi ra ngoài.

"ta đảm bảo không thiệt thòi.

Nhất định ta sẽ nâng tước của phò mã lên hai ba bậc."

"Phúc vốn không phải người Việt, được làm rể hoàng thất đã là đặc ơn to lớn.

Nay Phúc chẳng mong gì hơn."

"Anh rể à," Tôi vỗ vai anh.

"anh chỉ cần chăm sóc chị em đàng hoàng là được."

"Đảy!"

Thân Cảnh Phúc gật đầu.

Tôi biết sơ qua thì từ này dịch từ tiếng Tày ra tiếng Việt nghĩa là "vâng".

"Anh có yêu chị em không?"

"Có!"

Anh ta tự nhiên trông chất pác hẳn ra.

Lại còn đỏ mặt.

"Công chúa... công chúa dịu dàng, yêu thương mọi người, công chúa không chê Phúc là người man.

Công chúa tốt lắm."

"Sao giống ai đó thế nhỉ?"

Tôi nhớ ra là anh ta giống tôi.

Đi khắp nơi khoe crush của mình.

"Được rồi."

Tôi vỗ lưng ông anh rể.

"Ở miền xuôi chúng ta có câu, Thuận vợ thuận chồng, tát biển Đông cũng cạn mà.

Anh chị chung sống hòa thuận với nhau, cùng nhau bảo vệ biên cương, giúp đời sống nhân dân phát triển, à, còn phải có cháu cho em bế nữa đấy.

Rồi sau này em sẽ cho nó làm tướng quân."

"Phúc nhất định sẽ yêu thương công chúa.

Không phụ ơn tiên đế và bệ hạ."

"Anh có biết, con gái Việt rất thích ăn cơm chồng nấu không?"

"Công chúa biết nấu ăn.

Công chúa nấu ăn rất ngon."

Thân Cảnh Phúc nói như đứa trẻ được ăn cơm mẹ nấu.

"Cả món Việt và món Tày."

"Anh phải chiều chị ấy chứ."

Tôi cười.

"Tranh thủ đang xa nhà, anh học nấu món ăn của người Việt đi.

Rồi về nhà làm chị em lác mắt."

Anh ta sáng mắt ra.

"Tạ bệ hạ."

Anh đứng dậy.

"Phúc đi học ngay."

Thấy ghê chưa?

Cái đứa không dám mở miệng tỏ tình với crush bây giờ lại đang chỉ người khác cách lấy lòng vợ đấy.

-

"Nhanh nhanh lên nào các anh em!"

Tôi gọi lớn.

Một toán lính bu lại quanh tôi cùng với cái nồi lớn.

Tôi dùng khăn quấn lấy nắp nồi và nhấc lên.

Khói bốc lên nghi ngút.

Mùi bánh chưng xộc vào mũi mọi người.

Sao lại là bánh chưng hả?

Vì hôm nay là Tết Nguyên Đán.

"Công tử," Một người khẽ khều tôi.

"những chuyện thế này hãy để chúng tôi làm."

"Dù không biết công tử là ai, nhưng qua cách Thái úy và các tướng quân đối đãi, công tử chắc là con của vị hầu vương nào rồi."

"Ôi dào, ai quan tâm ba cái đó."

Tôi vỗ lưng anh ta.

"Tất cả chúng ta là con dân của Đại Việt.

Chung một quê hương, chúng ta là đồng bào.

Cùng một lý tưởng, ta gọi nhau là đồng chí."

"Đồng chí..."

Những người lính này không biết chữ.

Họ không được đi học nhiều nên có vẻ không hiểu lắm về từ "đồng chí".

Nhưng từ ánh mắt họ, tôi biết họ thích từ này.

"Đồng chí Chu."

"Đồng chí Dũng."

"Đồng chí Thái úy."

"Đồng chí Viễn."

"Thái úy!"

Đám lính ré lên và lùi ra xa khỏi Lý Thường Kiệt.

"Công tử."

Ông chắp tay trước tôi và mời tôi vào lều.

"Bệ hạ, xin bệ hạ hãy chú ý đến thân phận của mình."

Tướng quân Tông Đản nhắc tôi khi vào tới trong lều.

"Thân với chả phận."

Tôi thở dài.

"Nếu bỏ qua cái ngôi vị Hoàng đế thì ta và họ cũng bình đẳng thôi."

"Bệ hạ!"

Tông Đản hét lên.

"Ta nói các ngài nghe, những người lính ấy đến nơi chiến trường để đất nước ta được bình yên."

Tôi chỉ tay ra ngoài.

"Họ bỏ bữa cơm ngày Tết cùng gia đình, họ để vợ con ở lại quê nhà, họ đến nơi đất khách quê người này, sẵn sàng bán mạng vì quê hương.

Vậy mà ta không thể chịu một chút khó nhọc này sao?

Thánh Tông Hoàng đế ngày xưa cùng ngồi một mâm với binh lính, cùng ở một lều với tướng sĩ.

Phận làm con như ta, đâu thể để cha mình trên trời bẽ mặt được."

Các tướng lĩnh không nói được gì.

"Các ngài không cần làm quá lên như thế đâu."

Lê Văn Thịnh và hai người lính ôm một cái nồi to vào giữa lều.

"Quân gần binh, ấy là chuyện tốt."

"Lê Thị lang, chuyện này không dừng lại ở việc gần gũi thôi đâu."

Một người mắng Lê Văn Thịnh.

"Nếu kẻ địch biết bệ hạ ở đây, chúng đẩy mạnh quân tới, và nếu có điều gì bất trắc..."

"Ý ngài là... cả ngài và tất cả những người ở đây, đều không có khả năng bảo vệ bệ hạ?"

Lê Văn Thịnh hỏi khiến ông ta câm nín.

"Ngày xưa có một đứa trẻ," Tôi kể.

"mỗi năm Tết đến đều cùng bà ngoại gói bánh chưng.

Nhưng khi nó lớn dần, những đêm giao thừa của nó lại trở thành những cuộc ăn chơi đàn đúm bên bờ hồ với đám bạn đồng trang lứa và xem pháo hoa.

Đến năm mười sáu tuổi, nó xe cán chết.

Và không còn được gói bánh chưng cùng gia đình nữa.

Điều đó khiến đứa trẻ vô cùng hối hận."

Tôi khịt mũi.

"Đón Tết bên gia đình là điều mà ai cũng muốn.

Nhưng phận nhà binh, các ngài, và cả họ, đều phải chịu thiệt thòi.

Vì lẽ đó, ta muốn tạo ra một không khí đầm ấm, như một gia đình."

Tôi quay mặt vào vách lều nuốt ngược nước mắt, cố không để họ nhìn thấy.

"Thái úy," Tôi gọi.

"phát thịt cho tướng sĩ đi.

Đêm nay giao thừa, hãy để họ thoải mái."

Ông không nói gì, chỉ quỳ lạy tôi.

"Được rồi."

Tôi quay lại sắn tay áo lên.

"Thầy, đưa con đôi đũa."

Bên trong thành Ung Châu, pháo hoa cũng đã được bắn lên.
 
Ấu Hoàng
Lê Văn Thịnh?


"Sao lại đóng quân ở đây?"

Tôi hỏi khi ngồi nghịch thanh kiếm trong lều.

"Sao không đóng doanh trên núi để tiện quan sát?"

"Bệ hạ," Thầy Lê ngồi bên bàn với bút nghiên sẵn sàng.

"quanh đây toàn rừng rậm, nói về chiến đấu ở môi trường rừng rậm thế này, quân của các tù trưởng rõ ràng là có kinh nghiệm hơn quân Tống.

Tán cây cũng sẽ che khuất khói khi ta nấu nướng, quân địch khó mà biết nơi ta đóng doanh cũng như quân số của ta.

Hơn nữa ở đây gần sông dễ nấu nướng hơn."

"Ồ."

Tôi gật gù.

"Lê Thị lang đúng là tinh thông mọi thứ trên đời nhỉ."

"Với trọng trách cao cả là hầu bệ hạ học, sao thần dám lơ là bất kỳ một lĩnh vực nào cơ chứ.

Được dạy dỗ thần tiên giáng trần như thế này, cả đời thần còn không dám mơ tới."

"Thế thầy biết võ không?"

Anh giáo của tôi chỉ mỉm cười không đáp.

"Lê Thị lang!"

Từ ngoài lều có tiếng gọi lớn.

"Có chuyện gì?"

Lê Văn Thịnh mở cửa lều.

"Có thư của Thái úy gửi về."

Người lính đưa tờ giấy cho thầy tôi.

Lê Văn Thịnh đón lấy lá thư và đọc.

Nét mặt anh dần tối sầm lại.

Nhưng rồi lại ngay lập tức tươi lên.

"Làm thế nào mà Thái hậu Ỷ Lan có thể nhìn nét mặt và đoán tâm tư của người khác nhỉ?"

Tôi vẫn thắc mắc chuyện đó, hoặc có lẽ là do người đàn ông trước mặt tôi là một kỳ tài quá đỗi tài năng mà thôi.

"Thầy, có chuyện gì thế?"

Tôi lo lắng hỏi.

"Công tử, có muốn cùng ta đi Côn Lôn Quan một chuyến không?"

Lê Văn Thịnh đưa lá thư cho tôi.

"Có chuyện gì thế?"

Tôi giật lấy lá thư.

"Lê Thị lang, hiện tại toàn quân của ta đang phải dàn trải để canh giữ bốn mặt thành Ung Châu.

Tô Giám là tướng tài, thành này ắt khó phá.

Theo mật thám của ta, viện quân nhà Tống do Trương Thủ Tiết dẫn đầu sẽ sớm tiếp cận Côn Lôn Quan và tấn công vào hậu quân của ta.

Ta không rõ quân số của chúng, nhưng dù không đông thì với thế chủ động chúng cũng sẽ dễ dàng khiến quân ta rối loạn.

Ta biết cậu là người đa mưu túc trí thông làu binh thư, các tướng của ta đều đã chia ra canh giữ các mặt thành Ung rồi, người duy nhất còn lại có thể điều động binh lính chỉ còn mình cậu.

Nhận lệnh của ta, chặn đứng quân tiếp viện từ nhà Tống."

"Trương Thủ Tiết ư?"

Tôi cau mày.

"Công tử biết hắn sao?"

Lê Văn Thịnh hỏi.

"Không, ta chỉ không biết cha mẹ hắn kỳ vọng điều gì khi đặt cho hắn cái tên này thôi."

Tôi nhún vai.

"Thế Côn Lôn Quan ở đâu?

Không thể nào là núi Côn Luân được, chỗ đó quá xa."

Trong phim kiếm hiệp toàn nghe tới núi Côn Luân.

Một lần xem bản đồ các nước trong khu vực từ nhà Tống, Liêu, Tây Hạ, Đại Việt, Cao Ly, Chiêm Thành, Chân Lạp và cả Nhật Bản, tôi xác định được núi Côn Luân phải nằm đâu đó Tây Bắc Trung Quốc hiện nay.

Ung Châu nằm ở gần biên giới Việt – Tống nên không thể nào hai thứ ấy là một được.

"Côn Lôn Quan nằm cách Ung Châu hơn hai mươi dặm về phía bắc."

Lê Văn Thịnh nghiên cứu cái bản đồ.

"Địa hình hiểm trở thế này..."

Thầy tôi quay lại nhìn tên lính.

"Chúng ta còn bao nhiêu binh mã?"

"Hiện tại chỉ còn khoảng tám trăm binh lính."

"Tám trăm..."

"Khoan đã nào, không phải chúng ta xuất chinh hơn mười vạn binh sao?"

Tôi lên tiếng.

"Thành Ung Châu có kiên cố hay Tô Giám có giỏi cỡ nào thì cũng đâu thể chống chọi được mười vạn quân cơ chứ."

"Thường thì khi công thành, phe tấn công cần quân số gấp ba lần phe phòng thủ."

Lê Văn Thịnh giải thích.

"Cộng thêm tài năng của tướng giữ thành thì mười vạn quân cũng khó mà phá được thành này.

Hơn nữa, chúng ta còn phải chia quân ra canh giữ những vùng tạm chiếm và phòng chống quân Tống đánh úp từ các hướng khác."

Tôi nghĩ nếu Lê Văn Thịnh đeo kính thì anh ta sẽ đưa tay đẩy kính cho xem.

"Chúng ta còn bao nhiêu chiến mã?"

Thầy hỏi tiếp.

"Hiện tại chúng ta vẫn hơn một nghìn ngựa chiến tốt."

Tên lính đáp.

"Quân đến cứu viện chắc chắn không ít hơn một vạn."

Lê Văn Thịnh bước ra khỏi lều.

"Tập hợp cho ta một trăm con ngựa nhanh nhất và một trăm binh lính nhanh chóng đến Côn Lôn Quan.

Bảy trăm người còn lại, tập hợp những người khỏe mạnh và hai trăm bộ giáp tốt nhất.

Chúng ta sẽ đón đầu quân Tống."

Một cổng thành bằng đá sừng sững chặn giữa con đường độc đạo.

Trên thành có tấm bảng viết ba Hán tự:

關崙崑

Một đoàn kỵ binh vượt qua cánh cổng.

Dẫn đầu bởi một đoàn cờ quạt với chữ Tống và chữ Trương.

Tôi đoán kẻ đi đầu chính là Trương Thủ Tiết.

Lê Văn Thịnh đưa tay ra hiệu cho người lính bên cạnh.

Hắn nghe thấy liền thổi một hồi tù và.

Tiếng tù và vang lên, Trương Thủ Tiết dừng ngựa.

Hai bên sườn đồi, cờ Đại Việt giương cao bay phất phới trong gió.

Từ hai bên đồi, một đoàn hai trăm bộ binh giáp trụ đầy mình bước ra chắn giữa con đường.

Những tấm khiên lớn dựng lên, những mũi giáo tua tủa chĩa về phía trước.

"Tướng giặc là ai?

Mau xưng tên họ!"

Hắn hét lớn bằng tiếng Tàu.

Lê Văn Thịnh không trả lời.

Anh chỉ nhẹ nhàng đưa một lá cờ nhỏ lên.

Quân sĩ nhận lệnh lập tức giương cung.

Anh chàng Thị lang giật mạnh lá cờ xuống, những mũi tên bắn ra tiêu diệt một số lượng lớn quân Tống.

Bộ binh quân Tống đưa những tấm khiên lên chặn cơn mưa tên.

Lê Văn Thịnh đổi lệnh, quân sĩ lăn những tảng đá xuống đẩy ngã tiếp những hàng bộ binh.

Những mũi tên, giáo và tre vuốt nhọn cứ thể xả xuống quân Tống.

Trương Thủ Tiết ngã ngựa.

"Thắng rồi!"

Tôi hét lớn.

"Chưa đâu Công tử."

Lê Văn Thịnh mặt không biến sắc, tiếp tục ra lệnh.

"Chuẩn bị ngựa chiến, chúng ta sẽ chiếm Côn Lôn Quan."

"Giặc man chớ chạy!"

Một đoàn ngựa chiến lao về phía chúng tôi dẫm đạp lên những người lính.

Lưỡi đao của ông vung xuống.

Lê Văn Thịnh rút kiếm chặn đòn nhưng vẫn bị hất văng.

"Thầy!"

Tôi lao tới đỡ lấy anh ta.

Anh chàng Trạng nguyên đưa tay ra chặn tôi lại.

"Mi là kẻ nào!?"

"Ông nội mi, Trương Thủ Tiết đây!"

Gã kia đưa đại đao về phía Lê Văn Thịnh.

Ông ta nói tiếng Việt khá rõ.

Trên mặt ông chi chít sẹo, bộ giáp màu đồng của ông ta như sáng lên dưới ánh nắng ban trưa.

Con ngựa của ông ta có bộ lông màu nâu như cà phê sữa và nó to hơn những con ngựa Việt rất nhiều.

"Trương Thủ Tiết..."

Tôi tròn mắt rồi lại quay xuống nhìn cái xác nằm chổng chơ giữa đường.

"Nhưng..."

"Đó chắc là thế thân của hắn."

Lê Văn Thịnh nói.

"Tên này không tệ đâu."

"Biết uy lão phu" Hắn phổng mũi lên.

"còn không mau hàng?"

"Nhưng, ông ta làm cách nào để xác định vị trí của thầy!?"

Tôi hỏi nhằm mục đích câu giờ.

Kỵ binh của địch có khoảng một trăm, nhưng với lợi thế bất ngờ và kỵ binh, chúng đang tàn sát quân Việt.

"Hừ, ngay khoảnh khắc những mũi tên bắn ra, ta đã thấy chỗ này bắn sớm hơn những nơi khác một chút."

Trương Thủ Tiết bắt đầu khoe mẽ.

"Tức là binh lính ở đây phải nhận lệnh trước những vị trí khác.

Điều đó chứng tỏ, tướng giặc phải ở đây."

"Quả là tướng tài."

Lê Văn Thịnh thở dài.

"Sớm biết gặp phải loại người như lão thì ta đã ở nhà ngủ rồi."

"Sợ chưa?"

Trương Thủ Tiết cười ầm lên.

"Không mau đầu hàng?"

Thầy tôi quay lại nhìn tôi.

"Ta xin lỗi..."

Anh ta đưa thanh kiếm ngang qua, chắn giữa tôi và Trương Thủ Tiết.

"Ta nói ông không tệ, là ông nói tiếng Việt không tệ đâu."

Anh chàng Trạng nguyên cười ha hả.

Hắn nhăn nhó.

"Ta là Thị lang Đại Việt Lê Văn Thịnh!"

Anh hét lớn.

"Hôm nay dẫu có hy sinh tại đây ta cũng không để ngươi tiến thêm một bước chân nào!

Dẫu thân này phơi lại nơi đây, ta cũng không để một tên lính Tống nào chạm vào thiên tử nước nam!"

"Ngông cuồng!"

Trương Thủ Tiết vung đao tấn công.

Lê Văn Thịnh dùng kiếm uyển chuyển gạt lưỡi đao sang một bên.

Ông ta lại vung lưỡi đao đánh mạnh vào người thầy tôi.

Anh bị hất văng vào gốc cây.

"Lũ Giao Chỉ các ngươi điên hết rồi."

Trương Thủ Tiết kề đao lên vai thầy tôi.

Lê Văn Thịnh thụp người xuống và chui qua bụng con ngựa của Trươn Thủ Tiết.

"Ngươi sai rồi."

Lê Văn Thịnh chĩa kiếm vào mặt lão tướng quân.

"Chúng ta có thể điên.

Nhưng chúng ta không phải là người Giao Chỉ!

Chúng ta là người Việt Nam!"

"Còn nói!?"

Lưỡi đao đâm vào Lê Văn Thịnh.

Anh nhảy sang bên né và chạy về phía con ngựa gần nhất.

"Lão già nhãi nhép, có dám cùng ta đấu ba trăm hiệp không?"

Lê Văn Thịnh ngồi trên lưng ngựa khiêu khích Trương Thủ Tiết rồi phóng ngựa lên cao.

"Ranh con!"

Trương Thủ Tiết thúc ngựa đuổi theo.

Như có phép màu, ngay khi ông ta gần đuổi kịp thầy tôi thì con ngựa của Lê Văn Thịnh xoay lại, lưỡi kiếm trong tay Lê Văn Thịnh chém bay đầu Trương Thủ Tiết.

"Hả?"

Tôi trố mắt.

"Đâu cần phải ngạc nhiên đến thế."

Lê Văn Thịnh nhặt cái thủ cấp lên.

"Nhưng..."

Tôi nhìn quanh.

Kỵ binh Đại Việt mười mấy người nhưng đã đánh bại mấy chục kỵ binh nước Tống.

Nhưng điều khó hiểu là hầu hết lính kỵ của chúng đều ngã ngựa.

"Làm sao mà..."

"Trương Thủ Tiết tìm được nơi này dựa vào tốc độ phản ứng của quân sĩ."

Lê Văn Thịnh ném thủ cấp của Trương Thủ Tiết cho người lính.

"Quân lính ở gần bản doanh sẽ phản ứng nhanh hơn những nơi còn lại.

Chỉ cần nhìn vào thời điểm phóng tên mà có thể đoán ra được vị trí của chúng ta.

Tên này... nên khử hắn càng sớm càng tốt."

"Nhưng, sao thầy có thể đánh bại hắn dễ như thế?"

"Vì hắn muốn mau chóng đánh bại thần nên chỉ mang theo một toán quân nhỏ nhằm tăng tính cơ động.

Tuy nhiên, hắn đã không tính tới việc ngựa của hắn là loại ngựa Tây Lương.

Đây là giống ngựa khỏe, có thể phi nước đại rất nhanh.

Ngựa Việt không thể đọ được."

"Thế thì..."

"Tuy ngựa Việt bé hơn, chậm hơn, nhưng lại giỏi leo trèo."

"Leo trèo?"

"Nước ta có địa hình nhiều đồi núi.

Ngựa của ta có thể leo trèo trên đồi và linh hoạt di chuyển ở những nơi đầm lầy.

Không giống ngựa phương bắc, chỉ biết phóng trên thảo nguyên bằng phẳng."

Anh ta nhìn tôi.

"Triệu Việt Vương diệt quân Lương ở đầm Dạ Trạch nhờ lũ ngựa này đấy thôi."

Với thủ cấp của Trương Thủ Tiết cùng cái chết của các tướng Trương Biện (cái tên bị bắn chết giữa đường), Hứa Dự, Vương Trấn, Nguyên Dụ, viện quân của quân Tống bị hất cẳng toàn bộ.

Nhưng điều khiến tôi để tâm nhất lại là lời nói của Lê Văn Thịnh.

"Chúng ta là người ViệtNam!"
 
Ấu Hoàng
Tô Giám.


Tôi ở trong doanh trại hơn một tháng, Thành Ung Châu vẫn sừng sững như núi.

Việc tôi có mặt trong doanh không ai biết ngoài các tướng nên tôi hoàn toàn không ảnh hưởng tí gì tới sĩ khí ba quân.

Quân doanh bí bách, hết đánh cờ vịnh thơ rồi câu cá, Lê Văn Thịnh lại rủ tôi leo lên một ngọn đồi cao cách thành Ung Châu mấy dặm, vừa đủ để quan sát trận chiến.

Đây là lần đầu tôi được thấy thành Ung Châu.

Tường thành cao hơn hẳn kinh thành Thăng Long và cũng bề thế hơn.

Xung quanh tường thành có một con hào, binh lính Đại Việt bắc những chiếc ván gỗ làn cầu để bước qua nhưng dễ dàng bị cung tên phía Tống bắn hạ.

Binh sĩ leo lên tường thành, quân Tống ở trên tường thành đẩy những chiếc thang xuống.

Máy bắn đá bắn lên, quân Tống dùng chính những viên đá ấy đè chết lính Việt.

Cảnh tượng không khác gì phim cổ trang.

Có điều, tất cả là thật.

"Thầy, tại sao không đốt luôn cổng thành đi?"

Tôi hỏi.

"Đốt được cổng thành, tức là có một bức tường lửa ngăn chặn chúng ta vào thành."

Lê Văn Thịnh giải thích.

"Thêm nữa, ngay trên cổng thành cũng có máng nước để phòng trường hợp hỏa hoạn.

Và phía sau cánh cổng đó, không biết bao nhiêu cạm bẫy đang chờ chúng ta."

Tôi gật gù và tiếp tục quan sát.

Tôi nhìn những mũi tên đang bay và những lá cờ phấp phới.

Có vẻ như hướng gió có lợi cho quân Tống nên những mũi tên của chúng bay xa hơn.

Vì gặp bất lợi về hướng gió nên tên của quân ta khó bắn lên được còn quân địch thì cứ thả mưa tên xuống.

"Nếu như thế này, tức là ở cổng thành bên kia tên của quân ta sẽ thuận lợi về hướng gió phải không?"

Tôi hỏi.

"Đúng thế."

Lê Văn Thịnh gật đầu.

"Xem ra dân Ung Châu cũng khá là quyết tâm với cuộc chiến này."

"Dân?"

"Bệ hạ có nhận ra không?"

Thầy Lê chỉ lên tường thành.

Trên những bức tường, có những người lóng ngóng thấy rõ trong bộ áo giáp nặng trịch.

Một người lính Việt lên được tường thành, có người còn ném vũ khí và ngã ra.

Trông không giống binh lính được huấn luyện.

"Những người đó rõ ràng là không hề có kinh nghiệm chiến đấu.

Họ giống như những tên lưu manh chỉ biết mấy ngón nghề để bắt nạt kẻ yếu.

Để chuyện như thế này xảy ra cũng đủ biết trong thành chẳng còn mống binh sĩ nào nữa rồi.

Binh sĩ của ta được rèn luyện qua trăm trận, ắt sẽ thắng được thôi mà."

Đến hoàng hôn, quân dân Ung Châu vẫn giữ vững cổng thành.

Vì ngại đêm tối khó quan sát, Lý Thường Kiệt cho quân rút lui nhưng vẫn để lại một số binh lính đánh trống để dồn ép tinh thần của những kẻ trong thành.

"Xem ra Lê Thị lang không có năng lực làm thầy bói rồi."

Tôi liếc đểu anh ta khi cả hai thong dong quay về doanh trại.

"Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên.

Kẻ phàm trần như thần đâu thể đoán đúng ý trời được."

Lê Văn Thịnh nhún vai.

"Hơn nữa, khi bị dồn vào đường cùng, con người ta dễ có khuynh hướng làm mọi cách có thể để sống sót.

Họ đang chiến đấu bằng ý chí mà thôi...

Chà, thật tội lỗi khi để họ phải chết."

Tôi ngoái nhìn bức tường cao sừng sững như một thứ sẽ không bao giờ sụp đổ.

Bỗng tôi nhớ đến một bộ phim đã xem trước đây rất lâu.

"Thổ công!?"

Quân doanh ngạc nhiên nhìn tôi khi tôi trình bày kế hoạch của mình.

"Bệ hạ, chúng thần chưa từng nghe đến loại binh pháp này."

"Có phải là đào hầm rồi xông vào trong không ạ?"

Phò mã Thân Cảnh Phúc lên tiếng.

"Ở vùng núi Phúc từng dùng cách đó để đánh bại họ Nùng một lần."

"Đó là miền sơn cước chúng ta.

Còn ở chốn này thì làm sao mà thành công được?"

"Tù trưởng Lưu Kỷ nói đúng đấy."

Tôi gật đầu.

"Đào hầm để vào thành quá nguy hiểm vì chúng ta không biết địa thế trong thành."

Mọi người nhìn tôi và chờ đợi.

"Ngày xưa ở Hy Lạp, có hai tên khổng lồ từng muốn tấn công đỉnh Olympus.

Chúng đã xây một ngọn núi cao chót vót ngang với núi Olympus và thành công tiến vào cung điện của các vị thần."

Mấy tay tù trưởng xì xầm bằng tiếng dân tộc.

Còn các tướng người Việt thì đang tạo gương mặt kiểu "chào mừng đến với cuộc sống thường nhật của chúng tôi".

"Trong Đại chiến thành Ansi," Tôi nói tiếp.

"Đường Thái Tông đã dựng nên một bức tường cao để công hạ thành trì của Cao Câu Ly, nhưng nó bị quân Câu Ly chiếm lấy nên ông ta đành phải nhận thất bại ê chề."

Cái này có vẻ gần gũi hơn nên các tướng người Việt cũng xì xào bàn tán.

"Tóm lại, cách của ta là dựng một bức tường cao ngang bằng với tường thành, sau đó tấn công qua.

Thế thì khác gì chiến đấu trên đồng bằng đâu.

Và chiến đấu trên mặt phẳng, binh sĩ ta thua thế nào được?"

Mọi người bắt đầu nhìn nhau gật gù.

Hôm sau, binh lính bốc cát bỏ vào các bao lớn và chồng lên nhau, tạo thành một bức tường cao ngang với tường thành Ung Châu.

Nhờ có bức tường đó, quân Đại Việt chỉ mất vài ngày để có thể xông vào thành Ung Châu.

Chuyện tôi không ngờ tới là, Lý Thường Kiệt cho tàn sát hết dân trong thành.

Gần sáu mươi nghìn người đều bị giết không chừa một ai.

Tôi lao vào lều của Lý Thường Kiệt.

"Công tử, đây là lều của Thái úy."

Hai tên lính chặn tôi lại.

"Tránh ra!

Muốn bị chém đầu hả!?"

Tôi hất chúng ra và bước vào lều của Lý Thường Kiệt.

"Thái úy!"

Hai tên lính bước vào định lôi tôi ra.

"Hai ngươi mau ra ngoài."

Đợi hai tên lính đi rồi, Lý Thường Kiệt hành lễ trước tôi.

"Sao ngài lại làm thế?"

Tôi hỏi.

"Vì Tô Giám không thấy đâu cả."

Lý Thường Kiệt lạnh lùng đáp.

"Chỉ vì một người, ngài đồ sát cả một tòa thành ư?"

Tôi mắng.

"Ngài có thấy mình giống Bạch Khởi(1) không!?"

"Bệ hạ đã từng nói, khi thần bước qua khỏi cổng Diệu Đức, mọi quyết định là nằm ở thần.

Bao gồm cả việc quyết định dùng kế sách của bệ hạ.

Ở đây thần mới là người quyết định.

Khi về triều bệ hạ muốn chém đầu thần cũng được."

"Ngài..."

Tôi biết có quát tháo thì cũng chẳng để làm gì.

Chỉ đành giận dỗi bỏ ra ngoài.

"Bệ hạ đừng trách Thái úy."

Lê Văn Thịnh nói khi hai chúng tôi vào rừng giữa đêm hôm.

Nghĩ lại thì cũng tội cho anh ta khi phải lãnh trách nhiệm trông chừng thằng trẻ trâu như tôi, lại còn phải vác theo khối đá to đùng kia nữa.

"Thái úy làm việc là có lý do cả."

"Lý do!?

Lý do của ông ta là gì!?"

"Dân chúng Ung Châu cũng có một phần trách nhiệm trong việc này mà.

Ung Châu là nơi cung cấp lương thực và quân trang cho cuộc hành quân tiến đánh Đại Việt.

Việc tàn sát nhân dân Ung Châu cũng là để bảo vệ Đại Việt mà thôi."

"Quân binh đánh trận, liên quan gì tới nông dân thương nhân chứ?"

"Nông dân là nguồn lực sản xuất."

Thầy Lê giải thích.

"Thương nhân giao thương sẽ thông thạo đường lối.

Họ là một mối nguy hiểm nên cần phải loại bỏ."

"Còn người già, phụ nữ và trẻ em?

Họ cũng là mối nguy hiểm sao?"

"Nếu để họ sống, họ sẽ nuôi lòng căm hận sâu sắc với ta, sẽ gây khó khăn cho các vấn đề ngoại giao sau này.

Khi nãy bệ hạ đã nhắc tới Bạch Khởi, bệ hạ có nhớ quân dân Triệu Quốc đã kháng cự mãnh liệt đến thế nào khi Tần xâm lược không?"

"Biết thế thì đừng có mà làm!"

Tôi quát tháo.

Tôi và Lê Văn Thịnh lên một đỉnh đồi nhìn được toàn cảnh thành Ung Châu (đang cháy).

Tôi lấy khối đá thầy tôi vác theo và khắc lên đó bốn chữ "Ung dân chi mộ" rồi chôn xuống.

Sau đó thắp ba nén hương cầu phúc cho bá tánh Ung Châu.

Ai đó lên tiếng sau lưng tôi bằng tiếng Tàu.

Tôi quay lại thì thấy đó là một người đàn ông.

Ánh sáng từ ngọn đuốc không đủ sáng, nhưng nhờ có cái tòa thành đang cháy sau lưng (cảm ơn nhé Thái úy) mà tôi thấy được ông ta rõ như ban ngày.

Áo giáp vấy máu, râu tóc màu muối tiêu rũ rượi, trên tay ông ta là một thanh kiếm.

"Ông ấy nói gì thế?"

Tôi hỏi Lê Văn Thịnh.

"Các ngươi là người Việt?"

Lão ta hỏi bằng tiếng Việt.

Thanh kiếm của y sáng lên dưới ánh đuốc.

"Vâng."

Tôi đáp.

Lê Văn Thịnh khẽ chạm vào thanh kiếm bên hông.

"Người Việt hóa ra vẫn còn có kẻ nghĩa khí như thế này."

Gã người Hoa quỳ xuống bên cạnh tôi và đốt ba nén hương lên.

Y vái về phía tòa thành đang cháy và khóc lóc thảm thiết.

Tôi nghe loáng thoáng mấy chữ "xin lỗi".

Thầy Lê vẫy tôi.

Tôi đến bên cạnh anh và anh nói thầm vào tai tôi.

"Y chính là Tô Giám."

"Sao thầy biết?"

Tôi sửng sốt quay sang.

"Hắn vừa mới nói mà."

"Tạm thời đừng nói gì hết."

"Vị tướng quân này," Tôi bắt chuyện.

"là người Ung Châu sao?"

"Ta là Tô Giám.

Tri Ung Châu.

Thân là thành chủ, lại bỏ thành mà chạy.

Làm gì còn mặt mũi nào dám nhìn mặt bá tánh Ung Châu nữa."

Y gào lên một tiếng rồi trừng mắt nhìn tôi.

"Nước nam nhỏ bé, lại dám cả gan xâm phạm vào bờ cõi Đại Tống ta?

Lý nào lại như thế!?"

"Đại Việt ta, quân tướng trên dưới đồng lòng."

Lê Văn Thịnh nói.

"Vua nước nam ta tuy nhỏ tuổi nhưng tài trí hơn người.

Lý Thường Kiệt là anh hùng trăm năm có một.

Chúng ta chưa bao giờ sợ Đại Tống các ngài."

"Việc làm của các ngươi hôm nay, chúng ta nhất định sẽ báo thù!

Thiên quân vạn mã của ta sẽ san bằng nước nam!"

"Tô đại nhân," Tôi lên tiếng.

"ngài là bậc trí giả, chắc ngài cũng nhớ cách đây hơn một trăm năm, Lưu Hoằng Thao nước Nam Hán đã bị vua Ngô dìm chết như thế nào chứ?

Ngài có nhớ Hầu Nhân Bảo nước ngài đã tử trận thế nào không?

Đại Việt ta dẫu đất nhỏ dân thưa, cũng không đời nào chịu làm tôi tớ cho Đại Tống các ngài!"

"Nhà ngươi..."

Tô Giám giận đỏ bừng mặt.

"Ta biết nỗi đau mất thành của ngài."

Lê Văn Thịnh tiếp lời.

"Nhưng đây là vì dân nước nam.

Ta không thể để nơi tập kết lương thảo và khí giới của ngài tồn tại được.

Chúng ta vì để bảo vệ chính mình mà sẵn sàng cướp đoạt của kẻ khác.

Đó là bản chất của con người chúng ta."

"Tô đại nhân, ngài đã làm hết sức rồi."

Tôi chắp tay tỏ ý tôn trọng y.

"Vương An Thạch và Hoàng đế nước ngài đều ngu muội.

Nước Tống đúng là cần được cải cách.

Nhưng cải cách như các ngài hiện tại, cảnh Nghiêu Thuấn ở đâu không thấy, chỉ thấy lê dân lầm than.

Chúng ta đều là người đứng trên muôn dân, chẳng lẽ có thể đứng nhìn trăm họ đói khổ hay sao?"

Tô Giám lùi dần lại.

Thanh kiếm trong tay y đưa về phía tôi, nhưng cả tôi và Lê Văn Thịnh đều không phản ứng.

"Các ngươi rốt cuộc là ai?"

"Thị lang Đại Việt, Lê Văn Thịnh."

Thầy Lê chắp tay hành lễ.

"Hoàng đế Đại Việt."

Tôi nghênh mặt ra.

"Hoàng đế..."

Tô Giám nhìn chòng chọc vào tôi.

Rồi y cười xa xả.

"Ta hiểu rồi!

Là Hoàng đế!"

Tô Giám quỳ phịch xuống.

"Bảo sao, Đại Tống ta lại thua đám man di các ngươi.

Một đứa trẻ đã có thể phát ra những lời ấy, nước Tống ta thực sự không thể sánh được."

"Tô Giám."

Tôi gọi.

"Trẫm không đồng tình với việc thảm sát của Lý Thường Kiệt.

Nhưng trẫm cũng không đồng ý với cuộc chiến này.

Đây là các ngươi khơi mào trước.

Chúng ta chỉ đơn giản là tiên phát chế nhân mà thôi."

"Tiên phát... chế nhân..."

"Ngươi hãy về mà nói với vua nhà các ngươi, nếu ông ta không chịu bỏ cái suy nghĩ xâm lược, ta không đảm bảo được tiếp theo Lý Thái úy sẽ đồ sát thành trì nào đâu."

Tôi không hiểu tôi vừa nói gì nữa.

Tôi vừa mới cho phép Lý Thường Kiệt tàn sát thêm một tòa thành nữa ư?

Thế hành động thắp hương cho nhân dân Ung Châu này là tôi đang đạo đức giả à?

"Bình tĩnh.

Cần phải khiến cho ông ta sợ."

Tôi tự nhủ.

"Nước nam ta, lấy dân làm gốc, tuyệt đối sẽ không hạ sát người vô tội mà không có lý do."

Lê Văn Thịnh nhấn mạnh.

"Chúng ta không phải quân xâm lược.

Kẻ xâm lược, chính là các ngươi."

"Ta hiểu rồi."

Tô Giám quỳ dập đầu về phía tôi.

"Bệ hạ vạn tuế vạn tuế vạn vạn tuế."

"Tô Giám, hành động này là ý gì?"

Thầy Lê hỏi.

"Thần thực mong được làm thần tử của bệ hạ."

Tô Giám vẫn không ngước lên.

Lời nói của y khiến cả tôi va Lê Văn Thịnh sững sờ.

"Đây, là trung nghĩa sao?"

Tôi nghiến răng.

"Nếu được sinh ra ở nước nam sớm hơn mười năm, thần nhất định sẽ hầu bệ hạ đến hết đời."

Hắn nói tiếp.

"Chỉ tiếc, thần là thành chủ, phải chết cùng với thành.

Chỉ mong bệ hạ thương xót thần cả đời tận trung với nước tận tụy vì dân, cho thần được chết cùng với dân chúng toàn thành."

"Tô Giám..."

Tôi cất tiếng.

Chẳng chờ tôi đồng ý, người đàn ông đưa kiếm lên cắt ngang cổ mình.

Xác của Tô Giám được chôn ngay bên dưới tấm bia mộ tôi dựng.

Đầu ông ta hướng về phía thành Ung Châu.

(1) Người chôn sống bốn mươi vạn hàng binh nước Triệu trong đại chiến Trường Bình năm 265 TCN.
 
Ấu Hoàng
Quốc Tử Giám.


Quân ta đại thắng trở về.

Người Tống bị bắt làm nô lệ đi hàng hàng theo sau với hàng tấn của cải cướp được.

"Bệ hạ xem kìa," Thầy Lê mở rèm và nhìn cảnh sông núi vùng Quảng.

"phong cảnh nên thơ thật."

"Đại Việt thông Nam ải,

Tống triều thất vạn manh

Bản quân xuất thiên binh

Thái úy đồ Ung thành." (1)

Tôi ngồi trong xe ngựa mà cứ lải nhải mãi không thôi.

Tôi cũng không biết phong cảnh nên thơ chỗ nào khi mà trước sau tôi là nườm nượp người ngựa cờ quạt phấp phới, nô lệ lê lết mà đi.

Lý Thường Kiệt thì rút quân theo đường thủy nên tôi chẳng thấy mặt ông ta đâu.

"Mặc dù thần nói là nên thơ, nhưng thơ của bệ hạ thì..."

Thầy tôi tặc lưỡi.

"Thần tưởng bệ hạ đã hiểu rồi chứ.

Việc tàn sát này..."

"Trẫm hiểu."

Tôi gắt.

"Chính vì trẫm hiểu nên trẫm mới không thể chấp nhận được.

Tại sao lại như thế cơ chứ?

Tại sao không thể hợp tác song phương?

Sao chúng ta cứ phải chém giết lẫn nhau?"

"Bệ hạ còn nhớ, lý do Tần Thủy Hoàng thống nhất sáu nước không?"

"Là để kết thúc hàng trăm năm chiến loạn."

Tôi trả bài.

"Nhà Chu mất đi quyền uy của mình, các chư hầu nổi lên thôn tính lẫn nhau.

Cuối cùng, Tần Thủy Hoàng thống nhất lục quốc, nhưng chiến tranh cũng đâu có kết thúc.

Trung Hoa rồi lại loạn cào cào lên còn gì."

"Bệ hạ hãy hình dung, nếu cứ mãi chia cắt, mỗi nước một chữ viết, một văn hóa và một tín ngưỡng riêng, thì Trung Hoa có thể lớn mạnh như bây giờ không?"

"Ý thầy là gì?"

"Tuy Đại Tần chỉ tồn tại được hơn mười năm, nhưng những gì nó đem lại cho cả Trung Hoa là vô cùng to lớn.

Từ hệ thống cai trị, thống nhất về mặt lãnh thổ, đo lường, văn hóa, chữ viết.

Đời Hán củng cố lại, Văn Đế, Cảnh Đế, Vũ Đế nhà Hán đã tạo ra một nhà Hán hùng cường chính là nhờ sự thống nhất của Tần.

Nếu Tần không thống nhất, Hoa Hạ làm gì có Hán, có Tùy.

Cũng chẳng có Đường có Tống như ngày nay."

"Ý thầy là cái thành Ung Châu bé quá, ta nên xâm lược nhà Tống chiếm lấy Trung Hoa luôn hả?"

"Chuyện này thì quá khó nếu là ta của hiện tại."

Lê Văn Thịnh đáp ngay.

"Phía nam ta có Chân Lạp và Chiêm Thành.

Nếu muốn đánh lên Đại Tống, ta cần ít nhất là một trăm vạn quân."

"Một trăm vạn?"

Tôi kinh ngạc.

"Năm xưa tướng Vương Tiễn nước Tần xâm chiến Sở quốc rộng lớn đã cần tới sáu mươi vạn đại quân, nay Đại Tống giàu mạnh như thế, một trăm vạn, e còn không đủ để tới phía nam sông Hoàng Hà thôi.

Chưa kể, nếu ta đánh tới tận Biện Kinh (2), có thể phải gặp cả Liêu và Tây Hạ.

Và ta cũng không dại gì mà lại đi đánh lên để gặp hai kẻ địch mạnh như thế kia?"

Về đến Thăng Long, các bạn biết điều đầu tiên tôi làm là gì không?

Xử tội Lý Thường Kiệt?

Không.

Bây giờ có việc quan trọng hơn rồi.

Tôi giả ốm.

Nhưng một khi Thái hậu tới thì chắc chắn là tôi sẽ ốm...

đòn.

"Lý Càn Đức!"

Mẹ tôi đứng trước cửa điện Thiên Khánh hét to.

Chưa bao giờ bà gọi thẳng họ tên tôi như thế.

"Con ra đây ngay cho ta!"

"Mẫu hậu, ờ, hoàng huynh ốm nặng lắm."

An Dân cứu tôi bằng cách cố chặn cửa.

"Không ngồi dậy nổi luôn."

"Thế ai kia?"

Mẹ tôi trỏ về phía tôi, người đang cố lẻn ra khỏi điện Thiên Khánh bằng cách leo qua cửa sổ.

"M... m... mẫu hậu, con biết lỗi rồi."

Tôi chạy quanh sân rồng.

Mẹ tôi hóa ra khỏe thật.

Đuổi theo tôi khắp cái sân rộng thênh thang.

"Sao ta lại đẻ ra đứa con ngu dại như thế này hả?"

Mẹ tôi vung cây roi quấy xuống đất đánh cái tét.

"Dám lừa cả mẹ.

Ta còn sống sờ sờ ở đây này!

Sau này khi ta chết, con định tới tận Biện Kinh ngao du luôn hả!?"

Cuối cùng tôi bị chặn lại bởi Lê Văn Thịnh.

"Thầy, cứu trẫm."

Tôi cầu cứu anh ta.

"Thiên chức của thần là hầu bệ hạ học.

Lời mẹ dạy chính là bài học đầu tiên ạ."

Lê Văn Thịnh còn cố giữ tôi lại.

"Người đâu!"

Mẹ tôi quát lớn.

Mấy tên lính lập tức xuất hiện.

"Giữ bệ hạ và Lê Thị độc lại."

"Hả?"

Thầy Lê ngớ mặt ra nhìn mẹ tôi khi hai tên lính giữ chặt anh.

"Ta đường đường là mẫu nghi thiên hạ mà nay còn không dạy được con mình, sao dám dạy thiên hạ?

Còn ngươi, làm thầy mà không biết can gián, lại còn hùa theo, bản Thái hậu phải tự tay trừng phạt hai ngươi."

"Thái hậu tha mạng!"

"Mẫu hậu, trẫm biết lỗi rồi mà."

"Mẫu hậu!"

An Dân chạy tới can.

"Hoành huynh biết lỗi rồi mà."

"Con im lặng!"

Mẹ tôi quát cả An Dân.

"Con dám bao che cho nó, ta đánh luôn cả con."

Và cả ba người chúng tôi ăn đòn.

-

"Còn đau không?"

Tôi hỏi An Dân khi hai đứa tụt quần xuống và nằm úp để ngự y xoa thuốc.

Lê Văn Thịnh thì phải về nhà.

"Có ạ."

An Dân vẫn còn khóc.

"Rát lắm."

"Anh thật có lỗi khi lôi em vào chuyện này."

"Trợ giúp hoàng huynh là việc của thần đệ.

Em không giỏi được như hoàng huynh, chỉ có thể làm được như thế.

Nhưng mà," An Dân nhìn tôi với ánh mắt khẩn thiết.

"lần sau, anh dẫn em theo với nhé."

"Tất nhiên rồi."

Tôi xoa đầu thằng bé.

"Khi nào em lớn hơn chút nữa, ta sẽ đưa em đi cùng."

"Còn dám có lần sau?"

Linh Nhân Hoàng Thái hậu bước vào.

Ngự y lập tức đứng dậy và lùi ra.

Anh em chúng tôi kéo quần lên, ra khỏi giường và quỳ xuống sàn.

"Mẹ, chúng con biết lỗi rồi."

"Còn đau không?"

Mẹ tôi hỏi.

Hai anh em nhìn nhau.

"Dạ..."

"Một chút ạ..."

Mẹ tôi sà xuống ôm lấy chúng tôi.

"Mẹ xin lỗi."

Bà khóc.

"Mẹ xin lỗi."

"Mẹ, bọn con sai.

Là bọn con có lỗi."

An Dân sụt sịt.

"Là tại con.

Là con bắt em ấy.

Con làm vua mà không làm gương cho dân.

Làm anh mà dạy hư em.

Làm con mà bất hiếu với mẹ."

Cứ tưởng sướt mướt một chút là xong.

Mẹ tôi bắt hai đứa ngồi tụng hết Kinh Địa mẫu ở chùa Diên Hựu.

Nay là chùa một cột ở Hà Nội.

Ngôi chùa này được xây từ thời ông nội chúng tôi là vua Lý Thái Tông.

Tên Diên Hựu là để cầu cho vua được sống lâu.

Tôi cũng muốn sống lâu.

Nhưng tôi nghĩ là khi nào con trai tôi đủ lớn thì sẽ truyền ngôi cho nó và làm Thái thượng hoàng.

Sau đó thì đi ngao du cho khuây khỏa.

"...Kim ngôn Mẹ đây lời mạch huyết

Đức Từ Tôn tha thiết khuyên con

Hiếu Trung giữ vẹn cho tròn

Mẹ hiền phủ điển bảo toàn chúng sanh..."

Tiếng tụng kinh cứ thế vang khắp ngôi chùa cùng với tiếng mõ.

An Dân thì ngồi lắp bắp đọc theo vì thằng bé chưa học hết mặt chữ.

Chính tôi cũng mất kha khá thời gian để học được hết mớ Hán tự.

Và trong lúc tôi tụng kinh, tôi nghe có tiếng xì xầm bàn tán ở sau lưng.

Đám sư thầy ở đằng sau cố chen chúc ở ngưỡng cửa để quan sát Hoàng đế.

Sau một lúc làm ngơ, tôi lại nghe có tiếng tụng kinh sau lưng mình.

"...Chân linh mẫu xét soi vũ trụ

Điển âm dương kết tựu anh nhi

Thượng tầng Mẫu ngự phương phi

Phân ra thiên địa trị vì chúng sinh..." (3)

Rồi dần dần, càng có nhiều tiếng đọc hơn.

Đến khi tụng xong, tôi quay lại thì thấy sau lưng tôi là mấy hàng sư sãi.

Có những đứa trẻ trông có vẻ còn nhỏ hơn An Dân.

"Bệ hạ vạn tuế."

Họ quỳ rạp xuống.

"A di đà Phật."

Một vị sư già mặc chiếc áo cà sa đỏ bước ra chắp tay chào tôi.

Trông ông ta phải hơn trăm tuổi là ít.

Da mặt ông nhăn nheo, đôi mắt ông trắng dã, có vẻ như đã mù, hàm răng đen nhẻm cái còn cái mất.

Bên cạnh phải có một người đỡ.

"Bệ hạ và Minh Nhân Vương ghé thăm bổn tự, lại tụng Địa Mẫu Kinh, chắc là đã làm điều gì khiến Thái hậu phật ý chăng?"

"A di đà Phật."

Anh em tôi mỉm cười đáp lại.

"trẫm vừa lỡ... gây chuyện, Thái hậu đang không vui."

"Bệ hạ là Hoàng đế.

Đạo Phật là đạo tu tâm.

Muốn trị quốc, không thể dựa cả vào Phật được.

Còn, phận làm con mà khiến cha mẹ buồn lòng thì cũng nên làm đôi điều cho mẹ cha, kinh Phật chỉ giúp tu tâm, không phải là tất cả."

"Trẫm hiểu."

Tôi gật đầu chắp tay.

"Đinh Trụ trì dạy phải."

An Dân cúi người đáp.

"Phụ hoàng mất khi cô còn quá nhỏ để nhớ.

Nhờ mẫu hậu và các sư tăng dạy mà nên người.

Cô nhất định không để mẹ già chịu thiệt thòi."

"An Dân," Tôi hỏi thằng bé khi ra khỏi chùa.

Lê Văn Thịnh đã đứng đó chờ tôi sẵn.

"em quen vị Đại sư đó à?"

"Vâng."

An Dân đáp.

"Trước lúc phụ hoàng băng hà, mẹ dẫn em đi cầu Phật.

Em gặp ông ấy từ lúc đó.

Rồi lúc anh đi Tống bỏ em lại thì em thường gặp ông ấy."

"Ta chưa từng gặp ông ấy."

Tôi cau mày.

"Đinh Trụ trì năm nay đã hơn trăm tuổi rồi."

An Dân nói.

"Nghe nói cha và anh ông ấy bị kẻ gian hãm hại từ khi sáu tuổi, sau đó được mẹ và kế phụ nuôi dạy nhưng rồi các anh em con ruột của kế phụ ông ấy tranh nhau tài sản gì đó dẫn đến giết lẫn nhau thì ông ấy quy y cửa Phật."

"Bệ hạ," Thầy Lê đứng bên cạnh tôi lên tiếng.

"thần xin được nói lời này."

"Thầy cứ nói."

"Các vị cao tăng có công giáo hóa chúng dân, dạy dân lễ Phật, giúp dân ta thịnh về tinh thần.

Nhưng chùa chiềng mọc lên như cỏ, một số chùa còn nguy nga lộng lẫy hơn cả cung vua.

Theo hạ thần, cần phải giảm các khoản chi này."

Ở thời đại này, các học giả hầu hết đều vừa thấm nhuần Nho giáo, lại vừa hiểu Phật pháp và cả tư tưởng Đạo giáo của Lão Tử, họ hình thành nên một tư tưởng mà ngày nay chúng ta hay gọi là tam giáo đồng nguyên.

Kinh điển như anh giáo của tôi, đỗ kỳ thi Minh Kinh – thông tường kinh điển Phật giáo và Đạo giáo, đồng thời là cả kỳ thi Nho học tam trường.

Để đỗ được kỳ thi này, tức là anh ta phải học cả sách Nho, sách Phật và sách Đạo giáo.

"Tiền xây chùa hầu hết là tiền cúng dường của dân, chứ có phải bới từ quốc khố ra đâu."

"Vấn đề chính là, các tông thất và cả quan viên đều cúng dường rất nhiều.

Thần e rằng, đó có thể là một cách để... giấu tiền hối lộ."

"Chuyện đó...

để Đàm lo.

Anh ta còn trẻ, nhưng giỏi lắm."

"Đàm rất giỏi, thần không phản đối gì cậu ta.

Nhưng còn một vấn đề khác."

"Là gì?"

"Ngoài đường có vô số kẻ giả tăng giả sư vơ vét bất hợp pháp của dân.

Chúng bán những thứ thuốc vô lý hết sức mà kẻ nào cũng mở miệng ra là chùa tôi ba đời chữa bệnh này bệnh nọ.

Đó là thứ ung nhọt!"

Lê Văn Thịnh có phần trở nên kích động.

"Ta... sẽ tìm cách giải quyết chuyện này."

Tôi nói dối đấy.

Ở thời hiện đại, những chính trị gia lão làng còn lao tâm khổ tứ bạc hết cả đầu còn chưa giải quyết xong thì làm sao một thằng nhóc như tôi nói làm được là làm được.

"Lê Thị lang.

Ta đang tìm chú đây."

Lý Thường Kiệt xuất hiện.

"Bệ hạ."

Ông vái tôi và An Dân.

"Minh Nhân Vương."

"Thái úy có chuyện gì sao?"

Lê Văn Thịnh hỏi.

"Lê Thị lang," Lý Thường Kiệt quay sang thầy tôi.

"từ ngày mai, chú hãy tạm nghỉ công việc Thị độc và chuyên tâm vào việc binh."

"Nhưng, Thái úy, ta không thể bỏ qua việc dạy bệ hạ được."

Lê Văn Thịnh tròn mắt.

"Thái phó đã sắp xếp rồi.

Chú cứ yên trí."

-

Lý Đạo Thành đã thực sự sắp xếp tất cả.

Tạm thời, ông ấy sẽ thay Lê Văn Thịnh làm công việc Thị độc.

Nhưng tôi lại nảy ra một ý tưởng khác khiến cả triều đình một phen mắt chữ O mồm chữ A.

Đến mẹ tôi còn trố mắt, nhưng An Dân thì thích thú vô cùng.

Buổi học đầu tiên của tôi với Thái phó Lý Đạo Thành, trong Văn Miếu có cả An Dân và một loạt con cháu của các quan lại.

"Bệ hạ, chuyện này..."

Lý Đạo Thành lên tiếng.

"Thái phó yên tâm.

Trẫm đã có chủ ý này từ lâu rồi."

Tôi đứng ra trước lớp, ngay dưới tượng Khổng Tử.

"Các khanh," Tôi nói.

Đám nhóc tì bé nhất là sáu tuổi (vâng, là em trai tôi), lớn nhất khoảng mười ba đồng loạt quỳ xuống.

An Dân trơ ra một lát, tôi đánh lông mày ra hiệu, thằng bé hiểu ra liền quỳ xuống.

"Bệ hạ vạn tuế!"

An Dân nói lớn.

"Bệ hạ vạn tuế!"

Đám nhóc quỳ xuống nói theo.

Có vài đứa còn cố liếc lên nhìn mặt tôi.

"trẫm nhiều năm nay, đều học một mình ở chốn này.

Chỉ có Chu Công Khổng Tử cùng các thầy bầu bạn.

Trẫm buồn vì không có người đồng trang lứa.

Nên đã xuống chiếu, cho gọi con cái các quan lại vào Văn Miếu để học chung với trẫm, sau này có thể kế nghiệp cha anh, tiếp tục giúp trẫm nâng đỡ giang sơn."

"Chúng thần tuân chỉ!"

An Dân gào mồm đáp, cố nghe oai phong nhưng tôi lại thấy buồn cười.

"Chúng thần tuân chỉ!"

Đám nhóc cũng đáp.

"Được rồi," Tôi ngồi xuống.

"bình thân."

Đám trẻ lục tục ngồi ngay ngắn vào bàn.

"Bệ hạ."

Một người khoảng mười ba tuổi đứng dậy tâu.

"Tiên đế xây dựng nơi này vốn là để riêng bệ hạ học và thờ các vị hiền nhân.

Thảo dân chỉ là con nhà quan lại tầm thường, e là không có phúc ấy."

"Các khanh cứng nhắc quá nhỉ."

Tôi xoa cằm.

"Thế này đi.

Từ hôm nay ta sẽ cho xây dựng trường học trong Văn Miếu.

Ừm...

đúng rồi!

Xây Quốc Tử Giám!"

"Bệ hạ, chuyện này... không phải nên bàn với Lưu Thượng thư sao?"

"Mai trẫm sẽ bàn lại với ngài ấy.

Còn hôm nay," Tôi nhìn nhóm học sinh.

"trẫm muốn các khanh ra sau sân với trẫm."

Đứng giữa bãi đất trống, tôi cho lũ trẻ điểm danh rồi đứng thành hai hàng.

Sau đó tôi đặt một quả bóng ra giữa.

"Bệ hạ!"

Lý Đạo Thành réo lên.

"Thái úy đừng lo."

Tôi trấn an ông.

"Hôm nay là buổi học đầu tiên của họ, đừng khiến họ áp lực."

"Nhưng..."

"Các anh em nghe rõ đây!"

Tôi nói lớn và đạp lên quả bóng.

"

Sau này, khi trẫm trưởng thành và có quyền nhiếp chính, các khanh chính là những người sẽ ở bên trẫm và giúp trẫm xây dựng quốc gia, bảo vệ Tổ Quốc.

Chính vì thế, từ hôm nay, chúng ta sẽ cùng đồng tâm hiệp lực, đồng cam cộng khổ với nhau.

Quân thần như một!"

"Bệ hạ vạn tuế!"

An Dân réo lên.

"Bệ hạ vạn tuế!"

Đám trẻ cũng reo lên.

"Chính vì thế, hôm nay trẫm muốn chúng ta đá một trận bóng.

Đá bóng, vừa giúp nâng cao tinh thần đồng đội, vừa tăng cường sức khỏe.

Tất cả đều phải chơi.

Được rồi, tản ra!"

Đám nhóc chạy tản ra khắp sân.

"Thái phó," Tôi nhìn Lý Đạo Thành.

"thầy làm trọng tài nhé."

Thái phó bình chương quân quốc trọng sự Lý Đạo Thành tròn mắt nhìn tôi.

"Đúng là, cha nào con nấy."

Ông lầm bầm nhưng vừa đủ để tôi nghe.

"BẮT ĐẦU!"

Quả bóng lăn trên sân trong tiếng reo hò của đám trẻ.

Thế này mới là trẻ con chứ.

(1) Thơ tác giả chém.

(2) Kinh đô Bắc Tống.

(3) Cái này chép theo quyển Kinh Địa mẫu của bà ngoại tác giả, không rõ thời Lý quyển Kinh Địa mẫu chép như nào.
 
Back
Top Bottom