Khác A

  • Người khởi tạo Người khởi tạo [BOT] Wattpad
  • Ngày bắt đầu Ngày bắt đầu
A
3 - II


Anh nằm trên một cái giường giống như giường xếp, nhưng cao hơn và bị trói chặt không thể nào cựa quậy được.

Ánh sáng có vẻ chói hơn bình thường chiếu thẳng vào mặt.

O'Brien đứng một bên, đang cúi xuống chăm chú quan sát.

Bên kia là một người đàn ông mặc áo choàng trắng, tay cầm một cái ống tiêm.

Mặc dù mắt đã mở, anh chỉ nhận ra khung cảnh xung quanh một cách từ từ.

Anh có cảm giác như mình vừa bơi đến đây từ một thế giới khác, từ một thế giới rất sâu bên dưới mặt nước.

Anh không biết mình đã ở dưới đó bao lâu.

Từ khi bị bắt anh chưa thấy ánh sáng ban ngày, cũng như chưa biết bóng tối là gì.

Ngoài ra, trí nhớ của anh cũng không còn liên tục nữa.

Có những lúc ý thức, ngay cả loại ý thức người ta vẫn có trong khi ngủ, bị tê liệt hoàn toàn, rồi sau đó nó xuất hiện trở lại như từ hư vô.

Nhưng khoảng hư vô ấy kéo dài mấy ngày, mấy tuần hay chỉ mấy giây thì không thể nào biết được.

Cơn ác mộng bắt đầu xuất hiện ngay từ cú nện đầu tiên vào khuỷu tay.

Sau này anh mới biết rằng đấy chỉ là khúc dạo đầu, là vụ hỏi cung bình thường mà bất cứ phạm nhân nào cũng phải trải qua.

Mỗi người đều phải thú nhận đủ thứ tội lỗi như gián điệp, phá hoại và những tội tương tự như thế.

Thú nhận chỉ là hình thức, nhưng tra tấn thì thật một trăm phần trăm.

Anh không nhớ mình đã bị đánh bao nhiêu lần, mỗi lần kéo dài bao lâu.

Lần nào cũng có năm hoặc sáu người mặc đồng phục đen.

Chúng đánh bằng tay, đánh bằng dùi cui, đánh bằng gậy sắt, đá bằng giầy đinh.

Có những lúc anh lăn lộn dưới sàn nhà, chẳng còn biết ngượng, như một con vật, cuộn mình lại để tránh một cách vô vọng những cú đá, nhưng như thế càng làm chúng đá hăng thêm, vào sườn, vào bụng, vào khuỷu tay, vào gióng chân, vào háng, vào dái, vào xương cùng.

Đôi khi việc tra tấn diễn ra liên miên đến nỗi anh thấy điều khủng khiếp nhất, dã man nhất, không thể nào tha thứ được không phải là việc bị cai ngục đánh đập mà chính là việc anh cứ tỉnh táo, không ngất đi được.

Có những lúc anh bị thần hồn nát thần tính đến nỗi bắt đầu van xin ngay khi chưa bị đánh, ngay khi thấy cánh tay mới giơ lên anh đã tuôn ra

một tràng những lời thú nhận, cả tội thật lẫn tội tưởng tượng.

Cũng có lúc anh kiên quyết không thú nhận gì hết, phải cố gắng lắm mới nói được một lời, mà bao giờ cũng lẫn trong tiếng rên la; cũng có lúc anh ngây thơ thoả thuận với mình như sau: "Mình sẽ thú nhận, nhưng không phải ngay bây giờ.

Mình phải giữ cho đến khi đau không thể chịu được.

Ba cú đá nữa thôi, hai cú đá nữa thôi, mình sẽ nói tất cả những gì họ muốn".

Đôi khi anh bị đánh đến không đứng vững được, chúng quăng anh xuống sàn như quăng một bao khoai tây, để cho nằm nghỉ mấy tiếng rồi lại lôi ra đánh tiếp.

Đôi khi được nghỉ khá lâu.

Những lúc nghỉ anh nhớ rất mù mờ vì đấy thường là những lúc mê man hoặc thiếp đi.

Anh nhớ buồng giam có chiếc giường chỉ có giát, giống như cái kệ gắn chặt vào tường và cái chậu rửa mặt bằng sắt tây mỏng; anh nhớ được ăn súp nóng, bánh mì và đôi khi có cả cà phê nữa.

Anh nhớ một người thợ cạo nhăn nhó đã cắt tóc, cạo râu cho anh; anh nhớ cả những người đàn ông khinh khỉnh, tất bật nghe nhịp tim, kiểm tra phản xạ, lật mí mắt rồi kiểm tra xem anh có bị gẫy xương không và tiêm thuốc ngủ vào ven.

Tra tấn đã bớt dần, bây giờ họ chỉ doạ là chính: trả lời không đúng ý thì liệu đấy.

Lấy khẩu cung không phải là bọn vô lại mặc đồng phục đen nữa mà là những điều tra viên của Đảng, những người thấp, béo, nhanh nhẹn, đeo kính sáng loá, thay nhau quần anh mười đến mười hai tiếng liên tục, đấy là anh nghĩ thế chứ làm sao biết chính xác được.

Bọn này luôn cố làm sao để anh bị hơi đau, nhưng đau không phải là vũ khí chính của họ.

Họ tát vào mặt, véo tai, giật tóc, bắt đứng bằng một chân, không cho đi tiểu, chiếu ánh sáng vào mặt cho đến chẩy nước mắt; nhưng đấy chỉ có tác dụng làm nhục, làm cho anh không thể suy nghĩ và tranh cãi được.

Vũ khí thực sự của họ là những đợt lấy cung tàn nhẫn kéo dài hết giờ này sang giờ khác, làm cho anh rối trí, đưa anh vào bẫy, vặn vẹo những câu anh nói, khẳng định rằng anh nói dối, bảo rằng anh tự mâu thuẫn với chính mình cho đến khi anh phát khóc vì xấu hổ và suy kiệt về mặt tinh thần.

Có lần hỏi cung anh phải khóc đến năm sáu lượt.

Họ thường quát tháo, đe doạ sẽ trả anh cho bọn cai ngục, nhưng cũng có khi họ bất ngờ đổi giọng, gọi anh là đồng chí, nhân danh Chuanh và Anh Cả kêu gọi anh, hỏi anh rằng chả lẽ đến lúc này mà lòng trung thành với Đảng trong anh chưa lên tiếng, chả lẽ anh không muốn khắc phục hậu quả đã gây ra hay sao?

Thần kinh bị rối loạn sau nhiều giờ khẩu cung nên ngay cả những lời kêu gọi kiểu đó cũng làm anh trào nước mắt.

Cuối cùng thì không phải nắm đấm hay mũi giầy của bọn cai ngục mà chính những câu nói lải nhải kiểu đó đã quật anh ngã hoàn toàn.

Anh chỉ còn là một cái miệng để

nói, một bàn tay để kí tất cả những gì người ta yêu cầu.

Anh chỉ còn quan tâm đến mỗi một việc: xem họ muốn anh thú nhận điều gì và thú nhận ngay, trước khi bị hành hạ thêm.

Anh thú nhận đã ám sát các nhà lãnh đạo nổi tiếng của Đảng, đã phân phát những cuốn sách có hại, đã biển thủ công quĩ, đã bán bí mật quân sự và tham gia hoạt động phá hoại.

Anh thú nhận đã làm gián điệp ăn lương của Eastasia từ năm 1968.

Anh thú nhận là người mê tín, là người sùng bái chủ nghĩa tư bản, là đồng tính luyến ái.

Anh thú nhận đã giết vợ mặc dù anh biết và những người đang thẩm vấn anh chắc chắn cũng biết rằng cô vẫn còn sống.

Anh thú nhận đã tiếp xúc trực tiếp với Goldstein trong nhiều năm và là thành viên của một tổ chức bí mật, gần như tất cả những người anh quen đều là thành viên của tổ chức này.

Thú nhận tất, đưa tất cả mọi người vào tròng cho nhẹ.

Ngoài ra, ở một khía cạnh nào đó thì tất cả những lời khai của anh đều đúng.

Đúng, anh là kẻ thù của Đảng và theo quan niệm của Đảng thì ý nghĩ và việc làm chỉ là một.

Anh còn nhớ cả những chuyện khác nữa.

Mỗi chuyện là một bức tranh riêng, xung quanh là những khoảng trống tối mò.

Anh đang ở trong buồng giam, không hiểu là sáng hay tối vì anh chỉ nhìn thấy có một đôi mắt, ngoài ra không thấy gì khác.

Ngay bên cạnh có một cái gì đó phát ra tiếng tích tắc đều đều.

Đôi mắt cứ phình to ra và ngày một sáng hơn.

Bất ngờ anh bay lên, chìm vào trong đôi mắt và bị nuốt chủng.

Anh bị trói vào một cái ghế, ánh sáng chói chang, xung quanh đủ các loại đồng hồ đo.

Một người đàn ông mặc áo choàng trắng đang đọc số liệu trên các đồng hồ đo đó.

Có tiếng giầy đinh bước vội vã bên ngoài.

Cánh cửa kẹt mở.

Người sĩ quan có bộ mặt bằng sáp bước vào, theo sau là hai cai ngục.

"Buồng một linh một", viên sĩ quan nói.

Người mặc áo trắng không quay lại, hắn cũng không nhìn Winston, hắn chỉ nhìn các đồng hồ đo mà thôi.

Anh đang lăn trong một hành lang cực to, rộng đến cả cây số, khắp nơi là một màu vàng rực rỡ; anh vừa lăn vừa cười vang và hét lên những lời thú tội.

Anh khai tất, khai cả những việc không chịu khai khi bị tra tấn.

Anh kể lại toàn bộ cuộc đời mình dù thính giả đã biết rồi.

Cả những cai ngục, cả những điều tra viên, cả những người mặc áo choàng trắng, cả O'Brien, Julia và ông Charrington cùng lăn với anh, vừa lăn vừa cười hô hố.

Một số việc khủng khiếp đang chờ anh ở phía trước, nhưng anh vượt qua được và chúng đã không xảy ra.

Mọi việc thế là xong, không còn đau nữa, mọi tình tiết của cuộc đời anh đều được trình bày, được mọi người thông cảm và tha thứ.

Anh giật mình vùng dậy khỏi cái giường chỉ có giát, vì hình như nghe thấy tiếng O'Brien.

O'Brien không hề xuất hiện trong những lần hỏi cung, nhưng anh cảm thấy rằng O'Brien ở gần đâu đây, chỉ không trông thấy mà thôi.

Chính anh ta là người chỉ đạo mọi thứ.

Anh ta là người đưa cai ngục tới và cũng chính anh ta ngăn không cho chúng giết anh.

Anh ta là người quyết định khi nào thì Winsron phải gào lên vì đau, khi nào thì được nghỉ, khi nào được ăn, khi nào được ngủ, khi nào phải tiêm.

Anh ta là người ra câu hỏi và mớm câu trả lời.

Anh ta là người tra tấn, là người bảo vệ, là quan toà, là bạn.

Có lần, Winston không nhớ đấy là lúc ngủ do thuốc hay lúc ngủ bình thường, hay khi đã tỉnh, anh nghe thấy có tiếng thì thầm bên tai: "Winston, đừng lo, tôi sẽ bảo vệ anh.

Tôi đã theo dõi anh suốt bảy năm ròng.

Đây là thời điểm quyết định.

Tôi sẽ cứu anh, sẽ biến anh thành một người hoàn hảo."

Anh không chắc đấy có phải là giọng của O'Brien không, nhưng đấy chính là giọng đã nói với anh trong một giấc mơ khác, bảy năm về trước: "Chúng ta sẽ gặp nhau ở nơi không còn bóng tối nữa".

Anh không nhớ đoạn cuối những cuộc thẩm vấn.

Đấy là những khoảng trống tối mò, sau đó mới hiện ra dần dần buồng giam hay căn phòng, nơi anh đang nằm.

Anh nằm thẳng đừ, bất động hoàn toàn.

Anh bị trói chặt mấy chỗ.

Ngay gáy cũng bị dán chặt xuống giường.

O'Brien nhìn anh một cách chăm chú, có vẻ buồn nữa.

Nhìn từ dưới lên, nét mặt anh ta có vẻ thô và nhàu nát

với những chỗ xệ ra ngay bên dưới mí mắt và những vết nhăn chạy từ khoé mũi xuống cằm.

Anh ta có vẻ già hơn là Winston vẫn tưởng, phải bốn tám hoặc năm mươi.

Anh ta cầm cái tay quay lắp trên mặt một bảng tròn có ghi số xung quanh như mặt đồng hồ.

"Tôi đã nói với anh", O'Brien bảo.

"nếu chúng ta còn gặp nhau thì sẽ là gặp ở đây rồi mà"

"Vâng", Winston trả lời.

Chỉ thấy tay O'Brien khẽ cử động, ngoài ra không một tín hiệu báo trước nào, thế mà một cơn đau như chụp xuống toàn thân anh.

Cái đau này rất đáng sợ vì anh không biết người ta đang làm gì và anh cảm thấy đang bị một đòn chí tử.

Anh thấy toàn thân vặn vẹo không còn hình thù gì, các khớp thì như bị giật tung ra, nhưng không hiểu đấy là thật hay chỉ là cảm giác do tác dụng của dòng điện thôi.

Toát mồ hôi hột vì đau, nhưng còn hơn cả đau là nỗi sợ: xương sống anh sắp gẫy đến nơi.

Anh nghiến chặt răng, chỉ thở bằng mũi, cố kìm tiếng la, càng lâu càng tốt.

"Anh sợ", O'Brien vừa nói vừa quan sát nét mặt anh, "rằng sắp gẫy cái gì đó.

Anh sợ nhất là gẫy xương sống.

Anh thấy rõ cảnh những đốt sống rời ra và tuỷ sống chảy xuống.

Winston, anh đang nghĩ đến chuyện đó, đúng không?"

Winston không trả lời.

O'Brien vặn ngược tay quay.

Cơn đau dịu xuống nhanh cũng như lúc nó đến vậy.

"Đấy mới là bốn mươi", O'Brien bảo.

"Anh thấy số trên này ghi đến một trăm.

Anh phải nhớ nhá, trong khi chúng ta nói chuyện, tôi có thể làm cho

anh đau bất cứ khi nào và với bất cứ mức độ nào mà tôi muốn.

Nếu anh nối dối, nếu anh quanh co, nếu anh tỏ ra ngốc nghếch hơn bình thường, thì ngay lập tức anh sẽ phải thét lên vì đau đấy.

Anh có hiểu không?

"Hiểu", Winston đáp.

O'Brien tỏ ra dịu dàng hơn.

Anh ta thận trọng sửa lại kính và đi qua lại vài bước.

Giọng anh ta tỏ ra nhẹ nhàng và đầy nhẫn nại.

Anh ta có vẻ là một bác sĩ, một thày giáo, một cha cố, chỉ cố giảng giải, thuyết phục chứ không có ý trừng phạt.

"Tôi phải mất công với anh lắm đây", O'Brien nói, "vì anh xứng đáng như vậy.

Anh biết rõ anh gặp rắc rối vì chuyện gì rồi.

Anh biết lâu rồi, nhưng anh không chịu nhận.

Anh bị loạn óc.

Trí nhớ của anh có vấn đề.

Anh không thể nhớ các sự kiện có thật, nhưng lại tự khẳng định là nhớ các sự kiện chưa hề xảy ra bao giờ.

May là chuyện này có thể chữa được.

Anh chưa chữa vì anh không muốn.

Chỉ cần một chút ý chí thôi, nhưng anh đã không chịu làm.

Ngay bây giờ, tôi biết rõ mà, anh vẫn bám lấy căn bệnh của mình và cho rằng đấy là đạo đức.

Ta hãy bắt đầu bằng một thí dụ cụ thể.

Hiện nay Oceania đang đánh nhau với siêu cường nào?"

"Khi tôi bị bắt thì Oceania đánh nhau với Eastasia"

"Với Eastasia.

Tốt.

Thế Oceania luôn luôn đánh nhau với Eastasia, đúng không?"

Winston hít một hơi dài.

Anh mở miệng định nói rồi lại thôi.

Anh không thể rời mắt khỏi cái bảng số.

"Winston, hãy nói sự thật.

Sự thật của anh.

Hãy nói cho tôi biết, anh nhớ những gì?"

"Tôi nhớ một tuần trước khi tôi bị bắt, chúng ta không hề đánh nhau với Eastasia.

Chúng ta đã là đồng minh của họ.

Lúc đó đang đánh nhau với Eurasia.

Chiến tranh kéo dài đã bốn năm.

Trước khi..."

O'Brien giơ tay ra hiêu cho anh ngưng lại.

"Một thí dụ nữa", anh ta nói, "mấy năm trước anh có một lầm lẫn rất lớn.

Anh tin rằng ba người, một thời từng là đảng viên tên là Jones, Aaroson và Rutherford, không mắc những tội mà họ qui kết như phản bội và phá hoại, sau khi chính họ đã thú nhận tất cả và bị tử hình.

Anh tin rằng anh đã nhìn thấy bằng chứng không thể bị phủ nhận rằng những lời thú tội của họ đều là giả.

Anh tưởng đã từng nhìn thấy một bức ảnh.

Anh tin rằng đã từng cầm một bức ảnh như thế trên tay.

Một bức giống như bức này"

Trong tay O'Brien bỗng xuất hiện một mẩu báo hình chữ nhật.

Anh ta giơ trước mặt Winston chừng năm giây.

Đấy đúng là một tấm ảnh, không còn nghi ngờ gì nữa, đúng nó.

Chính là bức ảnh ĐÓ.

Bức ảnh chụp Jones, Aaroson và Rutherford tham dự một buổi lễ của Đảng ở New York mà anh đã từng cầm trong tay mười một năm về trước và lập tức huỷ ngay.

Nó hiện diện trước mặt anh trong một sát na rồi biến mất.

Nhưng anh đã nhìn thấy, chắc chắn là đã nhìn thấy!

Anh cố hết sức, cố một cách tuyệt vọng để tách nửa người ra khỏi cái giường.

Nhưng anh không thể cụ cựa được, hướng nào cũng bị xiết chặt.

Lúc ấy anh quên cả cái bảng số.

Lúc đó anh chỉ muốn một điều: được cầm tấm ảnh hoặc ít nhất cũng được nhìn cho rõ.

"Đã từng có một bức như thế!", anh gào lên.

"Không", O'Brien bảo.

Anh ta bước ngang qua căn phòng.

Có một cái lỗ nhớ trên bức tường đối diện.

O'Brien nâng tấm chắn lên.

Mẩu giấy vô hình, mỏng manh đó cuốn đi theo luồng gió ấm và sẽ bị ngọn lửa thiêu ngay tức khắc.

O'Brien quay lại.

"Tro", anh ta nói.

"Tro không có hình thù.

Bụi.

Nó không tồn tại.

Chưa bao giờ tồn tại"

"Nhưng nó đã tồn tại!

Đang tồn tại!

Nó tồn tại trong đầu.

Tôi nhớ.

Anh nhớ"

"Tôi không nhớ", O'Brien đáp.

Winston vô cùng chán ngán.

Đây chính là nước đôi.

Anh cảm thấy hoàn toàn bất lực.

Nếu anh biết chắc là O'Brien nói dối thì đấy không thành vấn đề.

Nhưng rất có khả năng là O'Brien đã thực sự quên bức ảnh.

Nếu như vậy thì anh ta đã quên việc phủ nhận là mình nhớ và quên luôn cả việc mình đã quên.

Làm sao có thể tin chắc rằng đây đơn giản chỉ là một trò lừa đảo?

Nhỡ cái sự "chập mạch" này xẩy ra thật thì sao?

- đấy chính là điều làm anh bối rối.

O'Brien nhìn anh đầy ưu tư.

Lúc này trông anh ta càng giống một ông thày đang vất vả với một đứa học trò ngang bướng nhưng có triển vọng.

"Có một câu khẩu hiệu của Đảng về vấn đề làm chủ quá khứ", anh ta nói.

"anh có nhớ không?"

"Ai làm chủ quá khứ người đó sẽ làm chủ tương lai; ai làm chủ hiện tại người đó sẽ làm chủ quá khứ", Wiston ngoan ngoãn nhắc lại.

"Ai làm chủ hiện tại người đó sẽ làm chủ quá khứ", O'Brien vừa nói vừa gật đầu tỏ vẻ đồng tình.

"Winston, theo anh thì quá khứ có thực sự tồn tại không?"

Một lần nữa Winston lại cảm thấy hoàn toàn bất lực.

Anh liếc nhìn cái bảng số.

Anh không biết phải trả lời là "có" hay "không" thì sẽ không bị đau; anh cũng không biết câu nào là đúng nữa kia.

O'Brien khẽ mỉm cười.

"Winston, anh là một nhà lí luận tồi.

Anh chưa bao giờ suy nghĩ xem tồn tại nghĩa là gì.

Tôi xin nói rõ hơn.

Quá khứ có tồn tại một cách cụ thể, trong vũ trụ không?

Quá khứ có đang xảy ra tại một chỗ nào đó, tại một thế giới vật lí nào đó không?"

"Không"

"Thế thì nó tồn tại ở đâu?"

"Ở trong các tài liệu.

Bằng giấy trắng mực đen"

"Trong các tài liệu.

Và..."

"Trong đầu óc.

Trong đầu óc con người"

"Trong đầu óc.

Rất tốt.

Nhưng chúng tôi, Đảng, làm chủ tất cả các tài liệu và chúng tôi làm chủ tất cả các khối óc.

Thế thì chúng tôi làm chủ quá khứ rồi, có phải thế không?"

"Nhưng các anh làm thế nào bắt người ta thôi nhớ?", Wiston gào lên, đột nhiên quên khuấy mất cái bảng số.

"Nó nằm ngoài ý thức.

Nó không phụ thuộc vào ý chí.

Các anh làm sao kiểm soát được đầu óc người ta?

Các anh không kiểm soát được đầu óc tôi!"

O'Brien trở nên nghiêm khắc.

Anh ta đặt tay lên bảng số.

"Ngược lại", anh ta bảo.

"Chính anh không kiểm soát được đầu óc mình thì có.

Vì vậy mà anh phải ở đây.

Anh phải ở đây vì thiếu khiêm tốn và không chấp hành kỉ luật.

Anh không chịu phục tùng và đấy chính là cái giá phải trả cho sự sáng suốt.

Anh thích được một làm người điên, làm thiểu số, cái thiểu số rút lại chỉ còn một người.

Winston, chỉ có một tâm trí đã được đưa vào kỉ cương mới nhận thức được hiện thực.

Anh tin rằng hiện thực là một cái gì đó khách quan, bên ngoài, tồn tại tự thân.

Anh còn tin rằng hiện thực là hiển nhiên, ai cũng thấy.

Vì suy nghĩ một cách lầm lạc như vậy cho nên khi anh trông thấy một cái gì đó thì anh cho rằng người khác cũng thấy như thế.

Nhưng tôi xin nói với anh rằng hiện thực không phải là cái gì đó bên ngoài.

Hiện thực nằm trong đầu óc người ta, ngoài ra không ở đâu khác.

Không

phải trong đầu óc cá nhân, vì cá nhân rất hay lầm lẫn hay chí ít cũng mau tàn lụi: hiện thực nằm trong trí tuệ của Đảng, trí tuệ tập thể và vĩnh hằng.

Đảng coi cái gì là chân lí thì cái ấy là chân lí.

Không thể thấy hiện thực nếu không nhìn bằng cặp mắt của Đảng.

Winston, đấy chính là điều anh cần học lại.

Để làm điều đó cần phải có ý chí, cần phải huỷ diệt chính cá nhân mình.

Muốn trở thành người sáng suốt, anh phải tập trở thành người khiêm tốn trước đi đã.

Anh ta ngừng trong giây lát, dường như để Winston có thì giờ tiêu hoá những điều vừa nói.

"Anh còn nhớ", anh ta tiếp tục, "đã viết trong nhật kí: "Tự do là tự do nói hai cộng hai là bốn" chứ?"

"Có", Winston đáp.

O'Brien giơ tay trái lên, lưng bàn tay hướng về phía Winston, ngón cái quặp vào trong, bốn ngón chìa ra.

"Có mấy ngón tay, Winston?"

"Bốn."

"Nhưng nếu Đảng bảo không phải bốn mà năm thì sao?"

"Bốn."

Vừa nói xong anh đã phải thét lên vì đau.

Mũi kim trên cái bảng số nhảy ngay lên năm lăm.

Mồ hôi túa ra khắp người.

Hít vào thì đau như xé phổi, thở ra thì bao giờ cũng kèm những tiếng rên rỉ nặng nề, anh đã cắn chặt răng, nhưng không ăn thua.

O'Brien theo dõi, bốn ngón tay vẫn giơ lên như cũ.

Anh ta quay cái cần sang bên trái.

Cơn đau có giảm chút ít.

"Có mấy ngón tay, Winston?"

"Bốn."

Mũi kim chỉ sáu mươi.

"Có mấy ngón tay, Wiston?"

"Bốn!

Bốn!

Tôi phải nói thế nào nữa?

Bốn!"

Mũi kim chắc chắn đã nhích lên, nhưng anh không nhìn.

Anh chỉ nhìn thấy một bộ mặt nghiêm khắc, tàn nhẫn và bốn ngón tay mà thôi.

Các ngón tay đứng ngay trước mắt, như những cái cột, to lớn, mờ ảo, có vẻ như đang lay động, nhưng vẫn chỉ có bốn.

"Có mấy ngón tay, Winston?"

"Bốn!

Thôi đi!

Thôi đi!

Sao lại làm thế?

Bốn!

Bốn!"

"Có mấy ngón tay.

Winston?"

"Năm!

Năm!

Năm!"

"Không, Winston, vô ích thôi.

Anh nói dối.

Anh vẫn nghĩ chỉ có bốn.

Bây giờ có mấy ngón?"

"Bốn!

Năm!

Bốn!

Anh muốn bao nhiêu thì là từng ấy.

Thôi đi, đừng làm đau nữa!"

Bất thình lình anh ngồi dậy, tay O'Brien quàng qua vai.

Có thể anh đã ngất đi mất mấy giây.

Những sợi dây trói anh đã được cởi ra.

Anh cảm thấy rất lạnh, người cứ run bắn lên, răng va vào nhau lập cập, nước mắt chảy thành từng dòng xuống hai bên má.

Anh ngả người vào O'Brien, như một đứa trẻ, cảm thấy yên lòng khi có cánh tay rắn chắc quàng quanh vai.

Anh cảm thấy rằng O'Brien là người che chở, rằng đau là từ bên ngoài đưa lại, từ một nguồn nào đó và O'Brien chính là người đã cứu anh.

"Winston, anh chậm hiểu lắm", O'Brien dịu dàng nói.

"Tôi biết làm thế nào được", Winston vừa nói vừa khóc.

"Làm sao tôi có thể không nhìn thấy những cái đứng ngay trước mặt?

Hai cộng hai là bốn"

"Đôi khi, Winston.

Đôi khi là năm đấy.

Đôi khi là ba nữa kia.

Đôi khi là tất cả.

Anh phải cố nữa lên.

Trở thành sáng suốt không phải là việc dễ đâu"

Anh ta đặt Winston nằm xuống giường.

Chân tay lại bị trói như cũ, nhưng đau đã giảm nhiều, run cũng hết, chỉ còn mệt và rét.

O'Brien gật đầu với người mặc áo choàng trắng, vốn vẫn đứng yên một chỗ suốt cuộc thẩm vấn vừa rồi.

Người mặc áo choàng trắng cúi nhìn vào mắt Winston, kiểm tra nhịp tim, kề tai vào sát ngực anh để nghe, gõ chỗ này chỗ khác vài cái rồi gật đầu với O'Brien.

"Lần nữa nhá", O'Brien bảo.

Cơn đau lập tức thấm vào da thịt Winston.

Kim đồng hồ chắc phải ở số bảy mươi, bảy lăm.

Lần này anh nhắm mắt lại.

Anh biết rằng các ngón tay vẫn ở đấy, vẫn chỉ có bốn.

Vấn đề là vượt qua được cơn co giật.

Anh không biết là mình có kêu gào hay không nữa.

Đau giảm dần.

Anh mở mắt ra.

O'Brien xoay cái cần lại.

"Có mấy ngón tay, Winston?"

"Bốn.

Tôi nghĩ là bốn.

Tôi sẽ nhìn ra năm nếu có thể được"

"Anh muốn gì?

Muốn thuyết phục tôi là nhìn thấy năm hay muốn thực sự như vậy?"

"Muốn thực sự"

"Lần nữa nhá", O'Brien lại bảo.

Cái kim có thể đã nhảy lên tám mươi, cũng có thể chín mươi rồi.

Thỉnh thoảng Winston mới nhớ được lí do mình bị đau.

Một rừng ngón tay lay động như đang nhảy múa, dầy lên rồi thưa đi, cái nọ lùi vào sau cái kia rồi lại tái xuất hiện.

Anh cố gắng đếm, nhưng để làm gì thì anh không nhớ.

Anh chỉ biết rằng không thể nào đếm được, có thể là vì sự trùng hợp bí ẩn giữa số bốn và số năm.

Đau lại giảm dần.

Anh mở mắt ra, hoá ra anh vẫn nhìn thấy y như trước.

Rất nhiều ngón tay, giống như một rừng cây đang chuyển động, uốn lượn về đủ mọi hướng, đan chéo vào nhau rồi lại rời ra.

Anh nhắm mắt lại.

"Tôi đang giơ lên mấy ngón tay, Winston?"

"Tôi không biết.

Tôi không biết.

Anh còn làm thế một lần nữa là tôi chết đấy.

Bốn, năm, sáu... xin thề, tôi không biết"

"Khá hơn rồi", O'Brien bảo.

Mũi kim tiêm chọc ngập vào cánh tay Winston.

Ngay lúc đó một luồng hơi ấm dễ chịu, viên mãn tràn khắp các ngõ ngách trong cơ thể anh.

Anh đã gần như quên hết cơn đau vừa rồi.

Anh mở mắt ra và nhìn lên O'Brien với vẻ biết ơn.

Khi nhìn thấy khuôn mặt thô, đầy nếp nhăn, vừa rất xấu vừa rất thông minh đó, lòng anh như muốn tan ra.

Nếu có thể cử động được thì anh đã duỗi tay ra và đặt lên tay O'Brien rồi.

Chưa bao giờ anh yêu O'Brien hơn lúc này, nhưng đấy không phải chỉ vì anh ta không còn bị hành hạ nữa.

Tình cảm xưa cũ đã trở về: O'Brien là bạn hay thù không quan trọng.

O'Brien là người có thể nói chuyện, thế thôi.

Có thể là con người ta cần được người khác thông

cảm hơn là được yêu chăng.

O'Brien đã tra tấn anh, xuýt nữa làm anh bị điên và chốc nữa chắn chắn sẽ giết anh.

Nhưng không sao.

Trong một nghĩa nào đó thì điều này còn sâu sắc hơn là tình bằng hữu.

Họ đã là những người gần gũi với nhau, đã từng có chỗ cho họ gặp nhau và trao đổi ngay cả khi chưa một từ nào thực sự được thốt ra thành tiếng.

O'Brien nhìn anh như muốn nói rằng anh ta cũng đang nghĩ như thế.

Giọng anh ta thật nhẹ, giống như hai người đang tâm sự vậy.

"Winston, anh có biết mình đang ở đâu không?"

"Tôi không biết.

Tôi chỉ đoán thôi.

Trong Bộ Tình Yêu"

"Anh có biết đã ở đây bao lâu không?"

"Tôi không biết.

Mấy ngày, mấy tuần, mấy tháng gì đó...

Tôi nghĩ phải mấy tháng rồi"

"Thế anh có biết vì sao chúng tôi lại đưa người ta đến dây không?"

"Để bắt họ nhận tội"

"Không, không phải thế đâu.

Thử lần nữa xem nào"

"Để trừng phạt"

"Không!", O'Brien reo lên.

Giọng anh ta bỗng trở thành khác hẳn, nét mặt thì vừa nghiêm nghị vừa rất sinh động.

"Không!

Không phải chỉ để bắt các người thú tội, cũng không phải để trừng phạt các người đâu.

Liệu tôi có phải nói cho anh biết vì sao chúng tôi lại đưa các anh đến đây không?

Để chữa cho các anh đấy!

Để làm cho các anh trở thành những người sáng suốt đấy!

Tất cả những ai đã đến đây, sau khi rời tay chúng tôi đều được chữa khỏi hết, anh có hiểu không, Winston?

Chúng tôi không quan tâm đến những tội lỗi vớ vẩn mà các anh đã làm.

Đảng không quan tâm đến những hành động công khai: chúng tôi chỉ quan tâm đến tư tưởng thôi.

Chúng tôi không chỉ tiêu diệt kẻ thù, chúng tôi còn cải hoá chúng.

Anh có hiểu tôi nói gì không?"

Anh ta cúi sát xuống người Winston.

Vì nhìn gần nên mặt anh thành to khủng khiếp và vì nhìn từ dưới lên cho nên càng thấy nó xấu kinh khủng.

Hơn nữa nó còn có vẻ phấn khích, chăm chú của một người điên.

Winston lại thấy nản.

Anh chỉ mong làm sao chui được thật sâu xuống nữa.

Anh nghĩ chắc chắn O'Brien sẽ vặn tay quay để đùa cho vui.

Nhưng đúng lúc đó O'Brien quay mặt đi.

Anh ta đi đi lại lại vài bước rồi bắt đầu nói, không còn sôi nổi như trước nữa:

"Trước hết anh phải hiểu rằng ở đây không có những kẻ tử vì đạo.

Anh đã đọc về những sự bức hại tôn giáo trong quá khứ.

Thời Trung Cổ từng có Toà Dị Giáo.

Nhưng họ đã thất bại.

Họ định nhổ tận gốc dị giáo, nhưng kết quả lại hoàn toàn ngược lại.

Vì cứ một tên bị thiêu sống thì lại xuất hiện hàng ngàn tên khác.

Vì sao?

Vì Toà Dị Giáo hành quyết kẻ thù một cách công khai, hành quyết khi chúng chưa sám hối, thực chất là chúng bị giết do không chịu sám hối.

Người ta chết vì không chịu từ bỏ đức tin của mình.

Dĩ nhiên là nạn nhân sẽ được tôn vinh, còn quan toà, đao phủ thì bị phỉ nhổ.

Sau này, trong thế kỉ hai mươi, có những chế độ gọi là toàn trị.

Đấy là những người phát xít ở Đức và cộng sản ở Nga.

Người Nga bức hại dị giáo còn tàn tệ hơn Toà Án thời Trung Cổ.

Họ tưởng rằng đã học được từ những sai lầm của quá khứ, dù sao họ cũng hiểu rằng không được tạo ra những kẻ tử vì đạo.

Trước khi đưa các nạn nhân ra xét xử công khai, họ đã cố gắng buộc chúng tự huỷ hoại thanh danh của chính mình.

Phạm nhân bị hành hạ bằng tra tấn,

bằng cách phong toả về thể xác và tinh thần, biến chúng thành những kẻ ti tiện, hèn hạ; chúng đã thú nhận tất cả những gì người ta mớm cho, tự bôi nhọ mình, đổ tội cho nhau, khóc lóc, van xin tha tội.

Nhưng chỉ được vài năm rồi tình hình lại trở lại như cũ.

Những người bị giết lại được phong thánh, sự tha hoá của họ được tha thứ.

Một lần nữa lại phải hỏi vì sao?

Trước hết là vì những lời thú tội của chúng là do bị tra khảo, không thật.

Chúng tôi sẽ không mắc sai lầm kiểu đó.

Tất cả mọi lời thú tội được nói ra ở đây đều chân thật hết.

Chúng tôi sẽ làm cho những lời khai đó thành ra chân thật.

Và trên hết, chúng tôi không cho những người chết đứng dậy chống lại chúng tôi.

Winston, đừng có nghĩ rằng hậu thế sẽ minh oan cho các anh.

Hậu thế sẽ không biết các anh là ai.

Các anh sẽ bị xoá sạch khỏi dòng chảy của lịch sử.

Chúng tôi sẽ biến các anh thành khí và phun vào tầng bình lưu.

Các anh sẽ không để lại gì, không còn tên trong sổ hộ tịch, không còn trong trí nhớ người đời.

Các anh sẽ bị xoá khỏi quá khứ cũng như tương lai.

Các anh chưa và sẽ không bao giờ có mặt trên cõi đời này.

Thế thì mất công tra tấn mình làm gì?

Winston cay đắng nghĩ.

O'Brien im bặt, như thể Winston vừa nói thành tiếng vậy.

Bộ mặt xấu xí, to bè cúi xuống sát Winston, đôi mắt hơi nheo lại.

"Anh nghĩ", anh ta nói tiếp, "rằng nhất định chúng tôi sẽ thịt anh, tất cả những lời anh nói, những việc anh làm sẽ chẳng có ý nghĩa gì, trong trường hợp đó tại sao chúng tôi lại mất công lấy cung anh, đúng không?

Có phải anh đang nghĩ thế không?"

"Phải", Winston đáp.

O'Brien khẽ mỉm cười.

"Anh là vết nứt trong một cái khuôn.

Anh là một vết ố cần phải tẩy sạch.

Tôi đã nói với anh là chúng tôi khác những tên đao phủ trong quá khứ rồi phải không?

Đối với chúng tôi vâng lời một cách tiêu cực hay ngay cả sự quy

phục hèn hạ nhất cũng chưa đủ.

Cuối cùng, khi anh đầu hàng chúng tôi thì đấy phải là hành động tự nguyện hoàn toàn.

Chúng tôi không bao giờ thịt một tên dị giáo vì hắn còn chống đối chúng tôi: khi nó còn chống đối thì chúng tôi chưa thịt.

Chúng tôi cải đạo hắn, giành lấy khối óc của hắn, cải hoá hắn.

Chúng tôi sẽ gột rửa hết ác tâm và ngộ nhận của hắn, đưa hắn về phe với mình, mà không phải bề ngoài đâu nhé, thực sự, bằng cả tâm hồn và trí tuệ kia.

Chúng tôi biến hắn thành người đằng mình rồi sau mới giết.

Chúng tôi không chấp nhận tư tưởng sai lầm, dù ở đâu, dù bí mật và vô nghĩa đến mức nào.

Dù có chết ngay chúng tôi cũng không chấp nhận bất kì sự lệch lạc nào.

Trong quá khứ một tên dị giáo đi lên giàn hoả thiêu vẫn còn là dị giáo, hắn tiếp tục hô hào, hân hoan với giáo lí của mình.

Ngay nạn nhân của những cuộc thanh trừng ở Nga, khi đi qua hành lang ra pháp trường, vẫn có thể giữ trong đầu những ý nghĩ phản loạn.Chúng tôi khác, chúng tôi làm cho đầu óc người ta trở nên trong trắng hoàn toàn rồi mới đập.

Mệnh lệnh của các chế độ chuyên chế trong quá khứ là: "Mi không được".

Mệnh lệnh của các chế độ toàn trị là: "Mi phải".

Mệnh lệnh của chúng tôi là: "Mi là".

Không kẻ nào được đưa đến đây còn đủ sức chống lại chúng tôi nữa.

Tất cả đều được tẩy sạch hoàn toàn.

Ngay ba tên phản bội khốn nạn, anh đã từng tin là chúng vô tội, là Jones, Aaroson và Rutherford, cuối cùng cũng bị chúng tôi hạ gục đấy.

Chính tôi cũng tham gia hỏi cung.

Tôi trông thấy chúng kiệt sức dần, chúng rên rỉ, khúm núm, khóc lóc và cuối cùng thì không phải vì đau hay vì sợ mà là vì hối hận.

Trước khi chúng tôi giải quyết xong thì chúng chỉ còn lại là những cái vỏ người mà thôi.

Trong đầu chúng chỉ còn lại sự nuối tiếc vì những việc đã làm và tình yêu đối với Anh Cả.

Thật là cảm động khi được chứng kiến tình yêu của chúng đối với Anh.

Chúng cứ van xin được bắn cho mau, để chúng có thể chết khi tâm hồn vẫn còn trong trắng.

Giọng anh ta đầy vẻ mộng mơ.

Nhưng nét mặt thì vẫn phấn khích, cuồng nhiệt một cách điên khùng như cũ.

Anh ta không giả vờ, Winston chợt nghĩ, anh ta không phải là kẻ đạo đức giả, anh ta tuyệt đối tin tưởng vào những điều mình nói.

Nhưng cái làm Winston khó chịu nhất chính là anh đã nhận ra sự kém cỏi về trí tuệ của mình.

Anh cứ ngắm mãi cái thân hình nặng nề nhưng tao nhã của O'Brien đi qua đi lại, thoắt ẩn thoắt hiện trước mắt.

O'Brien lớn hơn anh về mọi phương diện.

Không có điều gì anh đã từng suy nghĩ hay có thể suy nghĩ từ trước đến nay mà O'Brien không biết, không cân nhắc kĩ và không bác bỏ từ lâu.

Đầu óc anh ta chứa trọn đầu óc của mình, Winston nghĩ.

Thế thì làm sao có thể nói là O'Brien điên?

Chắc chắn là ta,

Winston, ta bị điên rồi.

O'Brien dừng bước, cúi xuống nhìn.

Giọng anh ta trở lại cứng rắn như cũ.

"Winston, anh đừng có nghĩ là sẽ thoát, dù anh có đầu hàng hoàn toàn thì cũng thế thôi.

Chưa một người lầm lạc nào được tha thứ.

Ngay cả nếu chúng tôi để anh được sống một cách tự nhiên anh cũng không thoát khỏi tay chúng tôi đâu.

Những việc xảy ra với anh ở đây sẽ là vĩnh viễn.

Hãy hiểu trước như vậy đi.

Chúng tôi sẽ dầy xéo anh đến không còn ngẩng đầu lên được nữa kia.

Anh sẽ gặp những cái không thể gỡ ra được, dù anh có sống thêm cả ngàn năm nữa cũng vậy thôi.

Anh sẽ không bao giờ còn những tình cảm của một người bình thường nữa.

Bên trong anh tất cả đều sẽ chết.

Trong anh không bao giờ còn có tình yêu, tình bằng hữu, niềm vui sống, nụ cười, tính hiếu kì, lòng dũng cảm hay trung thực nữa.

Anh sẽ thành rỗng tuếch.

Chúng tôi sẽ vắt anh đến giọt cuối cùng, rồi sẽ đưa chúng tôi thế vào chỗ đó"

Anh ta ngừng lời và ra hiệu cho người mặc áo choàng trắng.

Winston cảm thấy có vật gì nằng nặng đẩy vào phía sau đầu.

O'Brien ngối xuống cạnh giường, mặt anh ta chỉ cao hơn Winston chút ít.

"Ba ngàn", O'Brien nói với sang người mặc áo choàng trắng.

Hai cái gối nhỏ, ẩm ẩm, kẹp vào hai bên thái dương Winston.

Anh co rúm người lại.

Đau, nhưng khác lần trước.

O'Brien động viên bằng cách cầm lấy tay, cử chỉ gần như thân mật.

"Lần này thì không đau đâu", anh ta nói.

"Hãy nhìn thẳng vào mắt tôi"

Đúng lúc đó xảy ra một vụ nổ kinh hoàng, hay là một cái gì đó giống như

một vụ nổ, mặc dù anh không dám chắc là có kèm theo tiếng động hay không.

Điều chắc chắn là đã có một tia chớp loá mắt.

Winston không bị đau nhưng bị hất tung lên.

Mặc dù anh vẫn nằm ngửa từ trước, nhưng lúc đó anh có cảm giác như bị vật ra vậy.

Một cú giáng không đau đè anh nằm sát xuống giường.

Trong đầu cũng có chuyện nữa.

Khi mắt đã nhìn rõ, thì anh nhớ lại được mình là ai, hiện đang ở đâu và nhận ra được người đang nhìn mình, nhưng ở đâu đó, không rõ là ở đâu vẫn có một khoảng trống khá lớn, cứ như là một phần não bị lấy đi mất rồi vậy.

"Rồi sẽ qua thôi", O'Brien nói.

"Nhìn vào mắt tôi đây.

Oceania đang đánh nhau với nước nào?"

Winston nghĩ.

Anh biết Oceania nghĩa là gì, anh cũng biết mình là công dân Oceania.

Anh cũng nhớ cả Eurasia và Eastasia nữa; nhưng ai đánh nhau với ai thì chịu.

Thực ra là anh không biết rằng đang có chiến tranh nữa kia.

"Tôi không nhớ"

"Oceania đang đánh nhau với Eastasia.

Bây giờ anh đã nhớ chưa?"

"Nhớ rồi".

"Oceania luôn luôn đánh nhau với Eastasia.

Từ ngày anh mới sinh, từ ngày có Đảng, từ ngày có sử, chiến tranh liên miên, không nghỉ, vẫn chỉ là một cuộc chiến tranh mà thôi.

Anh nhớ chưa?"

"Nhớ rồi."

"Mười một năm trước anh đã bày đặt ra một câu chuyện về ba kẻ bị kết án tử hình vì tội phản bội.

Anh phịa ra là nhìn thấy một mẩu giấy chứng minh rằng chúng vô tội.

Mẩu giấy đó chưa hề tồn tại.

Anh bịa ra như thế rồi sau đó lại tin là thật.

Bây giờ anh nhớ lại chính cái lúc mình bịa đặt toàn bộ chuyện này.

Anh nhớ được chưa?"

"Nhớ rồi."

"Bây giờ tôi sẽ đưa các ngón tay của tôi lên.

Anh nhìn thấy năm ngón tay.

Anh có nhớ không?"

"Nhớ."

O'Brien giơ tay trái lên, ngón cái quặp vào trong.

"Có năm ngón tay.

Anh có nhìn thấy năm ngón tay không?"

"Có."

Anh quả thật đã nhìn thấy, trong một tích tắc, trước khi tâm trí anh thay đổi.

Anh nhìn thấy năm ngón tay, không hề có sự sai lệch nào.

Rồi mọi thứ trở lại bình thường như cũ, cả nỗi sợ hãi, cả lòng hận thù, cả sự lúng túng cùng ùa vào một lúc.

Nhưng có một lúc, anh không biết có dài không, có thể chỉ ba mươi giây, chắc chắn là thế, khi những lời gợi ý của O'Brien lấp vào khoảng trống ở trong đầu và trở thành chân lí tuyệt đối và hai cộng hai có thể là ba

mà cũng có thể là năm, nếu cần.

Trạng thái đó trôi qua trước khi O'Brien bỏ tay anh ra, mặc dù anh không thể tái tạo được, anh vẫn nhớ nó, như người ta nhớ những kinh nghiệm sống động của những giai đoạn "hồn Trương Ba, da hàng thịt" [1] trong cuộc đời vậy.

"Bây giờ", O'Brien nói, "ít nhất anh cũng hiểu rằng điều đó có thể xảy ra"

"Vâng", Winston đáp.

O'Brien đứng lên, có vẻ hài lòng.

Winston trông thấy người đàn ông mặc áo choàng trắng đứng bên trái anh bẻ một lọ thuốc và hút vào ống tiêm.

O'Brien mỉm cười.

Anh ta sửa lại gọng kính theo thói quen.

"Anh có nhớ", O'Brien nói, "đã viết trong nhật kí rằng tôi là bạn hay là thù không quan trọng, vì chí ít tôi cũng là người hiểu được anh và có thể tâm sự được?

Anh có lí.

Tôi thích nói chuyện với anh.

Cách tư duy của anh hấp dẫn lắm.

Chúng ta có cách suy nghĩ giống nhau, ngoại trừ một việc: anh bị tâm thần.

Trước khi kết thúc buổi hôm nay, nếu muốn, anh có thể hỏi tôi vài câu"

"Câu hỏi nào cũng được à?"

"Câu nào cũng được", anh ta thấy Winston liếc nhìn cái mặt đồng hồ đo".

"Tắt rồi.

Câu hỏi đầu tiên"

"Các anh đã làm gì với Julia?"

O'Brien lại mỉm cười.

"Winston, cô ta đã phản bội anh.

Ngay lập tức, vô điều kiện.

Hiếm có người giác ngộ nhanh như vậy.

Nếu gặp, chưa chắc anh đã nhận ra cô ta đâu.

Tất cả những sự hung hăng, dối trá, ngu dốt và hư hỏng của cô ta đều đã được gột rửa hết.

Sự chuyển biến phải nói là tuyệt vời, như sách giáo khoa"

"Các anh có tra tấn cô ấy không?"

O'Brien không đáp.

"Hỏi câu khác đi", anh ta bảo.

"Anh Cả có tồn tại không?"

"Tất nhiên là có.

Đảng tồn tại.

Anh Cả là hiện thân của Đảng"

"Ông ta có tồn tại giống như tôi không?"

"Anh không tồn tại", O'Brien nói.

Một lần nữa anh cảm thấy bất lực.

Anh biết hay anh có thể tưởng tượng ra những lí lẽ chứng tỏ anh không tồn tại, nhưng đấy là những lí lẽ nhảm nhí,

đấy chỉ là trò chơi chữ mà thôi.

Câu: "Anh không tồn tại" không phải là vô lí hay sao?

Nhưng nói làm gì?

Tâm trí anh như thắt lại khi nghĩ đến những lí lẽ không thể bác bỏ được, những lí lẽ điên rồ mà O'Brien sử dụng để quật ngã anh.

"Tôi nghĩ rằng tôi tồn tại", anh nói một cách mệt mỏi.

"Tôi nhận thức được nhân dạng của chính mình.

Tôi đã sinh ra và tôi sẽ chết.

Tôi có tay và chân.

Tôi chiếm một thể tích nhất định trong không gian.

Không một vật rắn nào có thể nằm trong khoảng không đó đồng thời với tôi.

Anh Cả có tồn tại theo nghĩa như vậy không?"

"Điều đó không quan trọng.

Ông ta tồn tại"

"Anh Cả có chết không?"

"Dĩ nhiên là không.

Anh Cả chết làm sao được.

Câu tiếp theo"

"Huynh Đệ có tồn tại không?"

"Winston, điều này thì không bao giờ anh biết được đâu.

Nếu chúng tôi quyết định tha anh khi xong việc và nếu anh có sống đến chín mươi tuổi đi nữa thì anh cũng không tìm được câu trả lời là có hay không cho câu hỏi này đâu.

Đấy sẽ là câu đố không giải được trong suốt cuộc đời còn lại của anh"

Winston nằm im.

Ngực anh nâng lên hạ xuống gấp hơn trước.

Anh vẫn chưa hỏi câu xuất hiện đầu tiên trong kí ức.

Anh phải hỏi câu đó, nhưng lưỡi như cứng lại, không nói được.

Có một cái gì đó như sự khôi hài thoáng hiện trên

mặt O'Brien.

Ngay cặp kính cũng ánh lên vẻ nhạo báng.

Anh ta biết, Winston chợt nghĩ, anh ta biết mình sắp hỏi câu gì!

Vừa nghĩ thế các từ đã tự động bật ra:

"Người ta làm gì trong buồng một linh một?"

Nét mặt O'Brien không hề thay đổi.

Anh ta đáp cộc lốc:

"Winston, anh biết người ta làm gì trong buồng một linh một.

Tất cả đều biết người ta làm gì trong buồng một linh một."

Anh ta lấy tay ra hiệu cho người mặc áo choàng trắng.

Cuộc nói chuyện có vẻ như đã kết thúc.

Chiếc kim tiêm đâm ngập vào cánh tay Winston.

Anh lập tức ngủ say như chết.

[1] Nguyên văn: when one was in effect a different person - khi người ta thực chất là một người khác.
 
A
3 - III


"Quá trình cải tạo của anh chia làm ba giai đoạn.

Học, hiểu và tiếp thu.

Đã đến lúc chuyển sang giai đoạn hai rồi đấy", O'Brien bảo.

Winston vẫn nằm ngửa như mọi khi, tuy thời gian gần đây những chỗ buộc có được nới ra chút ít.

Anh vẫn bị trói chặt vào giường nhưng có thể co đầu gối hay quay đầu sang hai bên cũng như có thể nâng từ khuỷu tay trở lên.

Cái đồng hồ đo cũng không còn đáng sợ như trước nữa.

Nếu nhanh trí anh còn có thể tránh được cả các cơn đau: O'Brien thường chỉ quay bảng số khi không chấp nhận câu trả lời.

Đôi khi suốt buổi nói chuyện anh không bị đau lần nào.

Anh không nhớ đã có tất cả bao nhiêu buổi.

Quá trình này kéo dài khá lâu, không xác định được, có thể đã mấy tuần rồi; có cả những buổi giải lao, có khi mấy ngày, có khi chỉ vài giờ.

"Khi nằm ở đây", O'Brien nói, "anh vẫn thường tự hỏi, anh còn hỏi cả tôi, tại sao Bộ Tình Yêu lại tốn nhiều thì giờ và công sức với anh như vậy.

Khi anh ở một mình thực ra câu hỏi đó vẫn lởn vởn trong đầu.

Anh có thể hiểu được cơ chế hoạt động của xã hội ta, nhưng chưa hiểu được động cơ sâu xa của nó.

Anh có nhớ đã viết trong nhật kí: "Tôi hiểu như thế nào, nhưng không hiểu tại sao" không?

Chính lúc anh nghĩ đến "tại sao" là lúc anh ngờ rằng mình là người bất bình thường đấy.

Anh đã đọc cuốn sách, tác phẩm của Goldstein, hoặc ít nhất đã đọc vài chương.

Anh có thấy điều gì mới không?"

"Anh cũng đọc rồi à?", Winston hỏi.

"Tôi viết cuốn đó.

Đúng hơn phải nói tôi tham gia viết.

Như anh biết đấy, làm gì có cuốn nào do chỉ một người viết"

"Những điều viết trong đó có thật không?"

"Phần mô tả thì thật.

Còn chương trình nó nêu ra là nhảm.

Bí mật thu thập kiến thức... khai hoá từ từ... sau đó là khởi nghĩa của vô sản... lật đổ Đảng.

Chính anh cũng đoán được nó nói gì rồi mà.

Nhảm nhí tất.

Vô sản sẽ không bao giờ khởi nghĩa, cả ngàn năm, cả triệu năm nữa cũng vậy mà thôi.

Chúng không thể vùng dậy được.

Không cần nói lí do: anh tự biết rồi.

Nếu anh còn ấp ủ giấc mơ về khởi nghĩa vũ trang thì hãy quên đi.

Không có cách nào lật đổ được Đảng.

Quyền lực của Đảng là vĩnh viễn.

Anh hãy lấy đấy là xuất phát điểm cho những suy nghĩ của mình"

O'Brien bước lại gần giường hơn.

"Vĩnh viễn", anh ta nhắc lại.

"Bây giờ trở lại với câu hỏi "thế nào" và "tại sao".

Anh đã hiểu Đảng làm thế nào để giữ được quyền hành.

Bây giờ hãy nói cho tôi biết tại sao chúng tôi lại bám vào quyền lực.

Động cơ của chúng tôi là gì?

Tại sao chúng tôi lại thích quyền lực?

Nói đi - Anh ta giục vì thấy Winston vẫn nằm yên"

Nhưng Winston không trả lời.

Anh cảm thấy mệt rã rời.

Trên nét mặt O'Brien lại thoáng hiện lên vẻ hăng hái điên khùng.

Anh ta biết trước những điều Winston sẽ nói: Đảng tranh giành quyền lực không phải vì mình mà vì quyền lợi của đa số nhân dân.

Đảng tranh giành quyền lực là vì quần chúng là một đám người yếu đuối, hèn nhát; quần chúng không thể mang nổi gánh nặng của tự do, không dám đối diện với sự thật; họ phải được lãnh đạo và thường xuyên bị những người mạnh hơn lừa bịp.

Loài người đứng trước một sự lựa chọn: hạnh phúc hay là tự do và đa số thích hạnh phúc hơn.

Đảng là người chăm lo cho những người cùng khổ, là đội ngũ những người tận tuỵ làm những điều ác nhân danh điều thiện, những người suốt đời hi sinh hạnh phúc của mình vì hạnh phúc của nhân dân.

Thật là khủng khiếp, Winston

nghĩ, khủng khiếp nhất là O'Brien tin chính những điều anh ta nói.

Cứ nhìn mặt anh ta thì thấy.

O'Brien biết tất.

Anh ta biết rõ hơn Winston cả ngàn lần, anh ta biết quần chúng đang phải sống trong cảnh khốn cùng đến mức nào, anh ta biết Đảng đã dùng những sự dối trá và hành động dã man như thế nào để giữ mãi quần chúng trong thảm cảnh đó.

Anh ta hiểu hết, cân nhắc hết nhưng không hề dao động: mục đích cuối cùng sẽ biện minh cho tất cả.

Ta biết làm gì, Winston chợt nghĩ, với một thằng điên thông minh hơn ta, hắn chú ý nghe hết lí lẽ của ta nhưng sau đó vẫn ngoan cố bám vào những ý tưởng điên rồ của hắn?

"Các anh cai trị chúng tôi vì hạnh phúc của chúng tôi", anh thều thào nói.

"Các anh tin rằng quần chúng không thể tự lãnh đạo được, cho nên..."

Anh giật nẩy người và suýt hét lên vì đau.

Cơn đau truyền khắp cơ thể.

O'Brien xoay kim lên số ba lăm.

"Vớ vẩn, Winston, vớ vẩn hết.

Anh phải biết nhiều hơn thế mới phải"

Anh ta xoay mũi kim lại và nói tiếp:

"Bây giờ tôi sẽ trả lời giúp anh.

Nó là thế này.

Đảng tranh giành quyền lực chỉ vì quyền lực.

Chúng tôi không quan tâm đến hạnh phúc của kẻ khác, chúng tôi chỉ quan tâm đến quyền lực.

Không phải là tài sản, không phải sự xa hoa, không phải sống lâu, không phải hạnh phúc: chỉ có quyền lực, quyền lực thuần tuý.

Rồi anh sẽ hiểu quyền lực thuần tuý nghĩa là gì.

Chúng tôi biết việc mình làm và đấy là điểm khác biệt của chúng tôi với các băng đảng trong quá khứ.

Tất cả bọn họ, ngay cả những người có vẻ giống chúng tôi, đều là những kẻ hèn nhát và giả dối.

Những người phát xít ở Đức và cộng sản ở Nga rất gần gũi với chúng tôi về mặt phương pháp, nhưng họ không đủ dũng khí để thừa nhận động cơ của mình.

Họ làm bộ và cũng có thể thực sự

tin rằng họ buộc phải cướp chính quyền và sẽ giữ trong một khoảng thời gian nào đó, thiên đường đã cận kề, người ta sẽ được tự do và bình đẳng.

Chúng tôi không phải là những người như vậy.

Chúng tôi biết rằng không có ai giành chính quyền để rồi sau sẽ từ bỏ nó.

Quyền lực không phải là phương tiện, quyền lực là mục đích.

Không ai đi thiết lập chuyên chính để bảo vệ cách mạng, người ta làm cách mạng để thiết lập chuyên chính.

Mục đích của đàn áp là đàn áp.

Mục đích của tra tấn là tra tấn.

Mục đích của quyền lực là quyền lực.

Bây giờ anh đã bắt đầu hiểu tôi chưa?"

Winston cảm thấy choáng váng, trước đây anh đã từng bị như thế, bộ mặt mệt mỏi của O'Brien làm anh váng vất.

Đấy là bộ mặt mạnh mẽ, dầy và thô nhưng đầy trí tuệ và lòng nhiệt tình được chế ngự; anh tự cảm thấy thua kém, nhưng dù sao cũng là bộ mặt mệt mỏi.

Có những chỗ xệ ra bên dưới mí mắt, những đám da bùng nhùng dưới hai gò má.

O'Brien cúi xuống, cố ý đưa bộ mặt nhàu nát lại gần hơn.

"Anh nghĩ rằng", anh ta nói, "mặt tôi già và mệt mỏi.

Anh nghĩ rằng tôi nói về quyền lực trong khi không có khả năng ngăn chặn tình trạng suy sụp của chính cơ thể mình.

Winston, chả lẽ anh không hiểu rằng cá nhân chỉ là một tế bào trong cơ thể?

Sự mệt mỏi của tế bào chính là nhựa sống của cơ thể.

Anh có chết khi cắt móng tay không?"

Anh ta quay lưng, đi đi lại lại, một tay đút vào túi.

"Chúng tôi là những tín đồ của quyền lực", anh ta nói.

"Chúa chính là quyền lực.

Nhưng đối với anh hiện nay quyền lực chỉ là ngôn từ mà thôi.

Đã đến lúc anh phải hiểu quyền lực nghĩa là gì rồi đấy.

Trước hết anh phải biết rằng quyền lực mang tính tập thể.

Cá nhân chỉ có quyền lực khi anh ta không còn là cá nhân nữa.

Anh đã biết khẩu hiệu của Đảng: "Tự do là nô lệ".

Có bao giờ anh nghĩ đến việc đảo lại câu đó không?

Nô lệ là tự do.

Một mình - Tự do - người ta bao giờ cũng thua.

Tất nhiên là thế rồi vì ai cũng phải chết, đấy chính là thất bại lớn nhất của kiếp người.

Nhưng nếu anh ta khuất phục hoàn

toàn, khuất phục tuyệt đối, nếu anh ta chối bỏ cá tính của mình, nếu anh ta hoà tan vào Đảng đến mức trở thành Đảng thì khi đó anh ta sẽ là người có quyền lực vô biên và trở thành bất tử.

Thứ hai, anh cần phải hiểu rằng quyền lực là quyền lực đối với con người.

Đối với thể xác, nhưng trên hết là đối với tinh thần.

Quyền lực đối với vật chất, hay sự vật bên ngoài như anh nói, không có ý nghĩa gì.

Vật chất đã bị chúng tôi chinh phục hoàn toàn từ lâu"

Trong một sát na Winston bỗng quên cái đồng hồ đo.

Anh gắng sức ngồi lên, nhưng hoá ra chỉ làm cho mình đau thêm.

"Nhưng làm sao các anh có thể chinh phục được vật chất?", anh thốt lên.

"Ngay cả thời tiết hay định luật hấp dẫn các anh cũng không chinh phục được.

Lại còn bệnh tật, ốm đau, chết chóc..."

O'Brien giơ tay ngăn lại.

"Chúng tôi chinh phục được vật chất vì chúng tôi chinh phục được tinh thần.

Hiện thực nằm ở trong hộp sọ.

Từ từ rồi anh sẽ hiểu.

Không có việc gì chúng tôi không làm được.

Tàng hình, bay - tất tật.

Nếu muốn tôi có thể bay lên như một cái bong bóng xà phòng.

Nhưng tôi không muốn vì Đảng không muốn.

Anh hãy quên các khái niệm của thế kỉ mười chín về qui luật của tự nhiên đi.

Chúng tôi tạo ra qui luật tự nhiên"

"Làm gì có chuyện đó!

Các anh không phải là chủ các hành tinh.

Thế còn Eurasia và Eastasia?

Các anh còn chưa chiếm được cơ mà"

"Không quan trọng.

Chúng tôi sẽ chiếm khi cần.

Nhưng nếu chúng tôi không chiếm thì đã sao nào?

Chúng tôi có thể loại bỏ chúng khỏi đời sống của

mình.

Oceania là cả thế giới"

"Nhưng thế giới cũng chỉ là một hạt bụi.

Còn con người thì nhỏ bé, bất lực!

Con người đã có mặt trên đời này được bao lâu?

Hàng triệu năm trái đất không có người ở"

"Nhảm nhí.

Trái đất cũng chỉ bằng tuổi chúng tôi mà thôi.

Làm sao nó có thể già hơn được?

Không có gì tồn tại bên ngoài ý thức của con người"

"Nhưng có những hòn đá chứa đầy xương của các loài đã tuyệt chủng như voi mamut, voi mastodon, và các loài bò sát khổng lồ biết bay đã sống ở đây rất lâu trước khi xuất hiện con người nữa"

"Winston, anh đã nhìn thấy những cái xương ấy bao giờ chưa?

Tất nhiên là chưa.

Các nhà sinh vật học thế kỉ mười chín bịa ra đấy.

Trước khi con người xuất hiện là hư vô.

Sau con người, nếu một ngày nào đó loài người tuyệt chủng, thì cũng sẽ chẳng có gì.

Không có gì nằm ngoài con người hết"

"Nhưng toàn bộ vũ trụ nằm bên ngoài chúng ta.

Hãy nhìn lên các vì sao!

Một số nằm cách chúng ta cả triệu năm ánh sáng.

Chúng mãi mãi nằm ngoài tầm với của chúng ta"

"Sao là cái gì?", O'Brien hờ hững nói.

"Chỉ là những đốm lửa cách đây vài kilomet.

Nếu muốn chúng tôi có thể với tới.

Hoặc chúng tôi có thể dập tắt luôn.

Trái đất là rốn của vũ trụ.

Mặt trời và các vì sao quay xung quanh trái đất"

Winston lại cố vùng dậy một lần nữa.

Lần này anh không nói gì.

O'Brien tiếp tục, như đang đáp trả một lời phản đối:

"Đối với một số nhiệm vụ thì tất nhiên điều đó là sai.

Khi lái tầu trên biển hoặc khi dự báo nhật, nguyệt thực thì chúng tôi coi trái đất quay xung quanh mặt trời và các vì sao nằm cách đây triệu triệu kilomet.

Thế thì đã làm sao?

Anh nghĩ rằng chúng tôi không thể tạo ra được môn thiên văn học kép à?

Các vì sao ở gần hay ở xa là do nhu cầu của chúng tôi.

Anh nghĩ rằng các nhà toán học của chúng tôi không kham nổi việc đó à?

Anh đã quên nước đôi rồi sao?"

Winston nằm bẹp xuống giường.

Dù anh có nói gì thì cũng bị đập lại ngay bằng một câu trả lời tức thì, giống như bị giáng bằng dùi cui vậy.

Nhưng anh biết, anh biết là mình có lí.

Tin rằng không có gì tồn tại bên ngoài nhận thức của con người... chắc chắn phải có cách chứng minh là nó sai chứ?

Chả lẽ nó không được coi là nguỵ biện từ lâu rồi hay sao?

Thuyết ấy có tên đấy, nhưng gọi là gì thì anh không nhớ.

Nụ cười thoáng hiện trên khoé miệng O'Brien khi anh ta nhìn xuống.

"Winston, tôi đã nói lí thuyết không phải là mặt mạnh của anh.

Cái anh đang nghĩ tới là từ duy ngã đấy.

Nhưng anh lầm.

Đấy không phải là duy ngã.

Phải nói là duy ngã tập thể.

Nhưng dù sao cái này cũng khác, đúng hơn là ngược lại hoàn toàn.

Chúng ta đã lạc đề rồi", anh ta nói thêm bằng giọng khác hẳn.

"Quyền lực thực sự, cái quyền lực mà chúng tôi phải giành giật suốt ngày đêm là quyền lực đối với con người chứ không phải đối với đồ vật".

Anh ta ngừng lời, rồi sau đó hỏi, như một ông thày hỏi đứa học trò có năng khiếu: "Winston, làm thế nào để người này khẳng định quyền lực với người kia?"

Winston suy nghĩ.

"Bắt hắn phải chịu đau khổ", anh nói.

"Đúng quá.

Bắt hắn phải chịu đau khổ.

Vâng lệnh không thôi chưa đủ.

Nếu nó không chịu đau khổ thì làm sao anh biết được là nó đang phục tùng ý chí của anh chứ không phải ý chí của chính nó?

Quyền lực thể hiện trong việc làm cho người khác phải đau đớn và nhục nhã.

Quyền lực là xé nát tâm hồn người ta thành các mảnh nhỏ rồi sau đó ghép chúng lại theo ý của mình.

Bây giờ anh đã bắt đầu hiểu cái thế giới mà chúng tôi đang tạo dựng chưa?

Nó hoàn toàn đối lập với những xã hội không tưởng khoái lạc chủ nghĩa mà các nhà cải cách trước đây mường tượng.

Thế giới của sợ hãi, phản bội và khổ đau, thế giới của những kẻ chà đạp và bị chà đạp, thế giới, càng hoàn thiện thì lại càng tàn nhẫn.

Tiến bộ trong thế giới của chúng tôi là tiến đến ngày càng nhiều khổ đau hơn.

Các nền văn minh cũ tuyên bố rằng được xây dựng trên cơ sở của tình yêu thương và công bằng.

Thế giới của chúng tôi được xây dựng trên cơ sở hận thù.

Trong thế giới của chúng tôi sẽ không còn tình cảm nào khác ngoài nỗi sợ hãi, sự giận dữ, niềm hân hoan và nhẫn nhục.

Tất cả những cái khác sẽ bị huỷ diệt, tất cả.

Chúng tôi đã tiêu diệt tập quán suy nghĩ vốn là tàn dư của thời kì trước cách mạng.

Chúng tôi đã chặt đứt mối liên hệ giữa cha mẹ và con cái, giữa người này với người kia, giữa đàn ông với đàn bà.

Không còn ai dám tin vợ, con, bạn bè nữa.

Chả bao lâu nữa thì vợ và bạn cũng không còn.

Trẻ con sẽ bị tách ra khỏi mẹ ngay sau khi sinh như người ta nhặt trứng gà.

Bản năng nhục dục sẽ bị tiêu diệt.

Việc sinh đẻ sẽ trở thành một loại thủ tục như ta đổi tem thực phẩm hàng năm vậy thôi.

Chúng tôi sẽ huỷ diệt cảm giác cực khoái.

Các nhà thần kinh học đang nghiên cứu vấn đề đó.

Sẽ không còn lòng trung trừ lòng trung thành với Đảng.

Sẽ không còn tình yêu trừ tình yêu Anh Cả.

Sẽ không còn tiếng cười trừ tiếng cười hân hoan trước kẻ chiến bại.

Sẽ không còn văn chương, nghệ thuật, khoa học.

Khi chúng tôi trở thành vô địch thì chúng tôi không cần khoa học nữa.

Sẽ không còn phân biệt giữa đẹp và xấu.

Sẽ không còn tính hiếu kì, sẽ không còn niềm vui sống.

Niềm vui sướng trong đua tranh cũng bị tiêu diệt.

Nhưng Winston, không được quên rằng niềm say mê quyền lực thì mãi mãi, mãi mãi vẫn còn, ngày càng phát triển, ngày càng tinh tế hơn.

Sẽ còn mãi, sẽ hiện diện trong từng giây phút niềm hân hoan chiến thắng, niềm phấn khích vì được giầy xéo lên kẻ thù bất lực.

Nếu anh muốn có một bức tranh của ngày mai thì hãy tưởng tưởng chiếc ủng đang đạp lên mặt một người, đạp mãi".

Anh ta chợt ngưng như thể chờ phản ứng của Winston vậy.

Winston lại muốn chui xuống dưới cái giường.

Anh không thể nói được gì.

Lòng anh tái tê.

O'Brien tiếp tục:

"Xin nhớ là mãi mãi.

Lúc nào cũng có thể tìm được một cái mặt để mà chà đạp.

Luôn luôn sẽ có những kẻ dị giáo, kẻ thù của xã hội, chúng sẽ bị đánh bại, bị lăng nhục hết lần này đến lần khác.

Tất cả những điều anh đã trải qua từ ngày anh rơi vào tay chúng tôi, tất cả sẽ còn tiếp diễn, ngày một dữ dội hơn.

Theo dõi, phản bội, bắt bớ, tra tấn, hành quyết, biến mất sẽ không bao giớ dứt.

Trong thế giới đó nỗi sợ hãi cũng nhiều ngang với niềm hân hoan.

Đảng càng mạnh thì càng bất dung; đối lập càng yếu thì chuyên chế càng tăng.

Goldstein và những tên dị giáo của hắn sẽ sống mãi.

Chúng sẽ bị đánh, bị làm nhục, bị chế giễu, bị phỉ nhổ, nhưng chúng vẫn sống sót.

Vở kịch mà tôi đã đóng với anh suốt bảy năm qua sẽ còn được đóng đi đóng lại, từ thế hệ này sang thế hệ khác, ngày càng tinh vi hơn.

Trong tay chúng tôi sẽ luôn luôn có những kẻ dị giáo, chúng sẽ gào lên vì đau đớn, chúng sẽ bị đánh gục, bị khinh bỉ và cuối cùng, thực tâm hối hận, tự bò đến chân chúng tôi.

Winston, thế giới chúng tôi xây dựng là như thế đấy.

Thế giới của chiến công nối tiếp chiến công, hân hoan nối tiếp hân hoan rồi lại hân hoan nữa: áp lực, áp lực, áp lực mãi lên những sợi dây thần kinh quyền lực.

Tôi thấy anh đã bắt đầu hiểu thế giới đó rồi đấy.

Nhưng cuối cùng anh sẽ đi xa hơn sự hiểu biết suông.

Anh sẽ chấp nhận nó, hoan nghênh nó, trở thành một phần của nó"

Winston đã tỉnh, đủ sức lên tiếng.

"Không có đâu!", anh nói một cách yếu ớt.

"Winston, anh định nói gì?"

"Các anh không thể tạo dựng được thế giới như anh vừa kể.

Đấy chỉ là một giấc mơ.

Không thể được"

"Tại sao?"

"Không thể xây dựng một nền văn minh dựa trên nỗi sợ hãi, lòng thù hận và dã man.

Nó không thể nào tồn tại được"

"Tại sao không?"

"Nó không có sức sống.

Nó sẽ tan rã.

Nó sẽ tự sát"

"Nhảm nhí.

Anh có cảm tưởng rằng hận thù làm người ta mau kiệt sức hơn tình yêu.

Tại sao lại thế?

Mà nếu như thế thật thì đã sao nào?

Giả sử chúng tôi quyết định làm cho mình mau tàn hơn.

Giả sử chúng tôi quyết định đẩy nhanh nhịp sống của đời người lên, ba mươi tuổi đã là người lọm khọm rồi.

Thế thì có gì khác không?

Chả lẽ anh không hiểu rằng cái chết của một cá nhân không phải là sự diệt vong sao?

Đảng là bất tử"

Сũng như mọi khi, giọng anh ta làm Winston kiệt sức.

Ngoài ra anh còn sợ rằng nếu còn tiếp tục tranh cãi thì O'Brien có thể sẽ lại quay đồng hồ.

Nhưng anh cũng không thể im lặng thêm được nữa.

Mệt mỏi, thiếu lí lẽ, điểm tựa duy nhất là nỗi kinh hoàng không thể thốt lên lời do những lời nói của O'Brien tạo ra trong lòng anh.

Anh quay sang tấn công.

"Tôi không biết...Tôi không quan tâm.

Nhưng các anh sẽ thất bại.

Các anh sẽ bị đánh bại.

Cuộc đời sẽ đánh bại các anh"

"Winston, chúng tôi làm chủ đời sống, trong mọi biểu hiện của nó.

Anh có cảm tưởng rằng có một cái gì đó gọi là tính người, nó sẽ phản ứng với những gì chúng tôi làm và nổi lên chống lại chúng tôi.

Nhưng chính chúng tôi tạo ra tính người.

Con người ta dễ uốn lắm.

Hay anh đã trở lại với ý nghĩ cũ là bọn vô sản hay bọn nô lệ sẽ đứng lên lật đổ chúng tôi?

Quên chuyện đó đi.

Chúng là một lũ đớn hèn, có khác gì súc vật đâu.

Loài người là Đảng.

Những bọn khác, bên ngoài, không có ý nghĩa gì"

"Tôi không quan tâm.

Cuối cùng thì nhất định họ sẽ thắng các anh.

Sớm muộn gì họ cũng nhận ra bản chất của các anh và họ sẽ xé các anh ra thành từng mảnh"

"Anh đã nhìn thấy dấu hiệu nào hay là lí do nào chưa?"

"Chưa.

Tôi tin như thế.

Tôi biết là các anh sẽ thất bại.

Tôi biết là có một cái gì đó trong vũ trụ, một linh hồn hay một nguyên tắc mà các anh không thể nào vượt qua được"

"Winston, anh có tin vào Chúa không?"

"Không"

"Thế, vậy thì, nguyên tắc nào có thể thắng nổi chúng tôi?"

"Tôi không biết.

Linh hồn của Loài Người"

"Anh có tự coi mình là người không?"

"Có"

"Winston, nếu anh là người thì đây là người cuối cùng.

Loại người như anh đã bị diệt vong, chúng tôi là thừa kế.

Anh có hiểu anh là người đơn độc không?

Anh nằm ngoài lịch sử, anh không tồn tại", thái độ của anh ta bỗng thay đổi, anh ta lên giọng: "Anh coi mình là người đức hạnh hơn chúng tôi, những kẻ dối trá và dã man, đúng không?"

"Vâng, tôi coi mình là người đức hạnh hơn"

O'Brien không đáp.

Có hai giọng khác cùng lên tiếng.

Winston nhận ra giọng nói của mình.

Người ta phát lại buổi nói chuyện của anh với O'Brien vào buổi tối hôm anh gia nhập Huynh Đệ.

Anh nghe thấy mình hứa sẽ lừa dối, trộm cắp, làm tài liệu giả, giết người, reo rắc các chất ma tuý, thúc đẩy nạn mại dâm, reo rắc các bệnh hoa liễu, hắt axít xunphuaric vào mặt trẻ con.

O'Brien khẽ phẩy tay, ý muốn chẳng cần phải nghe thêm nữa.

Sau đó anh ta vặn công tắc, tắt máy.

"Đứng dậy", O'Brien nói.

Các nút buộc tự rời ra.

Winston thả chân xuống nền nhà và run rẩy đứng

lên.

"Anh là người cuối cùng", O'Brien bảo.

"Anh là người bảo vệ linh hồn của loài người.

Anh phải nhìn thấy cơ thể của chính mình.

Cởi quần áo ra"

Winston tháo sợi dây thắt bộ đồng phục.

Phec-mơ-tuya đã bị giật mất từ lâu rồi.

Anh không nhớ từ ngày bị bắt đã từng cởi hết quần áo lần nào chưa.

Bên trong bộ đồng phục là một mớ giẻ màu vàng quấn lấy người, khó có thể nhận ra đó là quần áo lót.

Sau khi thả hết những thứ ấy xuống sàn anh bỗng nhìn thấy một chiếc gương ba mặt ở đầu kia căn phòng.

Anh bước đến gần cái gương, rồi đứng sững lại.

Anh vô tình thét lên.

"Đi tiếp đi", O'Brien bảo.

"Đứng vào giữa cánh gương ấy.

Ngắm cả hai bên nữa"

Anh dừng bước vì sợ.

Một thân hình khòm khòm, xám ngoét, không khác gì bộ xương biết đi đang tiến lại phía anh.

Anh sợ không phải vì nhận ra mình mà bản thân cái hình hài ấy tự nó đã là đáng sợ rồi.

Anh bước lại gần hơn.

Mặt người trong gương đua ra đằng trước, vì thế mà lưng thành ra khòm khòm.

Đấy là bộ mặt một người tù tuyệt vọng, trán cao, đầu hói, mũi cong, gò má hóp, đôi mắt dữ tợn và cảnh giác.

Hai bên má đầy nếp nhăn, miệng tóp.

Đúng, đây là khuôn mặt anh, nhưng có vẻ như nó thay đổi nhiều hơn những biến đổi trong lòng anh.

Những tình cảm hiện ra trên nét mặt khác hẳn với những gì anh cảm thấy trong lòng.

Anh đã bị hói nhiều.

Đầu tiên anh tưởng tóc đã hoa râm, nhưng hoá ra là da đầu có màu xám.

Toàn thân, trừ hai tay và mặt ra, bụi đất bám lâu ngày thành một màu xám xịt.

Bên dưới lớp bụi, thỉnh thoảng lại có một vết thương màu đỏ; bên trên mắt cá chân, chỗ loét do dãn tĩnh mạch đã thành một đống sưng tấy, vẩy da tróc lởm chởm.

Nhưng vẻ hốc hác là đáng sợ hơn cả.

Ngực trơ ra không khác gì một bộ xương, chân teo lại đến nỗi đầu gối còn to hơn cả bắp vế.

Bây giờ anh mới hiểu tại sao O'Brien lại bảo ngắm cả hai bên.

Lưng còng hẳn xuống.

Đôi vai gầy đua ra đằng trước làm cho ngực trở thành sâu hoắm, cái cổ khẳng khiu

như cong gập lại, tưởng như không nâng nổi cái đầu.

Nếu được hỏi thì anh sẽ nói rằng đây là một ông lão sáu mươi đang mắc một căn bệnh ác tính.

"Có lúc anh đã nghĩ", O'Brien nói, "rằng mặt tôi đây, mặt của một Đảng viên nội bộ, trông vừa già vừa nhàu nát.

Thế còn mặt anh thì sao?"

Anh ta nắm lấy hai vai Winston và quay về phía mình.

"Hãy nhìn lại mình đi!", anh ta bảo.

"Hãy nhìn đất cát dơ dáy bám trên người anh đi.

Hãy nhìn đất cát trên những ngón chân kia kìa.

Hãy nhìn những vết loét khủng khiếp trên bắp chân xem.

Anh có biết anh hôi không khác gì một con dê không?

Có thể anh đã quen rồi.

Hãy nhìn xem anh gầy đến mức nào.

Thấy không?

Ngón cái và ngón trỏ của tôi đủ nắm trọn bắp tay anh rồi đấy.

Tôi có thể bẻ gẫy cổ anh như bẻ một của cà rốt.

Anh có biết từ ngày rơi vào tay chúng tôi anh đã sụt mất hai mươi lăm cân rồi không?

Ngay tóc anh cũng rụng từng nắm một.

Nhìn này!".

Anh ta nắm đầu Winston và giật ra một nhúm tóc.

"Mở miệng ra.

Chín, mười, còn mười một cái răng nữa.

Khi đến đây anh có mấy chiếc?

Mấy cái còn lại cũng rụng đến nơi rồi.

Nhìn này!"

Anh ta dùng ngón tay cái và ngón tay trỏ cầm một chiếc răng cửa của Winston.

Anh cảm thấy một cơn đau như muốn xé hàm ra.

O'Brien giật mạnh cái răng đã lung lay và nhổ cả chân lên rồi ném vào góc buồng giam".

"Anh đang thối rữa", anh ta bảo, "đang vỡ ra thành từng mảnh.

Anh là cái gì?

Một đẫy thịt thối.

Bây giờ quay lại, soi vào gương một lần nữa xem.

Anh nhìn thấy gì không?

Người cuối cùng trông như thế đấy.

Nếu anh là người

thì loài người trông như thế đấy.

Mặc quần áo vào đi"

Winston bắt đầu mặc quần áo, động tác vừa chậm vừa vụng về.

Cho đến lúc đó anh không ngờ mình lại gầy và yếu đến như thế.

Một ý nghĩ cứ lởn vởn mãi trong đầu: ta đã ở đây lâu hơn vẫn tưởng.

Và bất thình lình, trong khi buộc nắm giẻ rách tả tơi ấy quanh người, anh bỗng cảm thấy tủi cho cái thân hình tiều tuỵ của mình.

Anh ngồi vật xuống cái ghế đẩu bên cạnh giường ngủ và khóc oà lên.

Anh biết rằng một cái thân hình gầy trơ xương chỉ vận bộ đồ lót bẩn thỉu lại ngồi khóc dưới ánh đèn chói chang như thế là xấu, là nhục lắm; nhưng anh không cầm lòng được.

O'Brien đặt tay lên vai anh, cử chỉ có thể coi là thân mật.

"Không thể để như thế này mãi được", anh ta bảo.

"Anh có thể chấm dứt chuyện này bất cứ khi nào anh muốn.

Tất cả chỉ phụ thuộc vào anh thôi"

"Các anh đấy!", anh nức nở nói.

"Các anh làm tôi ra nông nỗi này đây"

"Không, Winston, chính anh làm anh ra nông nỗi thế đấy chứ.

Anh đã chấp nhận chuyện này ngay từ khi anh chống lại Đảng.

Tất cả những chuyện này ẩn chứa ngay trong hành động đầu tiên đó của anh.

Anh đã biết trước tất cả rồi mà"

Anh ta ngừng một chút, rồi nói tiếp:

"Winston, chúng tôi đã đánh anh.

Chúng tôi đã làm cho anh thành thân tàn ma dại.

Anh đã nhìn thấy thể xác của mình như thế nào rồi.

Tâm hồn anh cũng thế mà thôi.

Tôi nghĩ rằng lòng tự trọng cũng chẳng còn nhiều nhặn gì

đâu.

Anh đã bị đá, bị đánh, bị lăng nhục, anh đã phải gào lên vì đau, anh đã từng quằn quại trong vũng máu và những thứ do chính mình nôn mửa ra.

Anh đã van xin tha thứ, anh đã phản bội tất cả mọi vật, mọi người.

Còn cái gì xấu xa hơn mà anh chưa làm nữa nào?"

Winston không khóc nữa, nhưng nước mắt vẫn còn rơi lã chã.

Anh ngước nhìn O'Brien.

"Tôi chưa phản bội Julia"

O'Brien cúi xuống, đầy ưu tư.

"Chưa", anh ta bảo, "chưa, hoàn toàn đúng như thế.

Anh chưa phản bội Julia"

Winston rất khâm phục O'Brien, tình cảm này thật là vững chắc, vĩnh viễn không gì có thể lay chuyển được.

Thông minh, thông minh quá! anh tự nhủ.

Chưa bao giờ O'Brien tỏ ra không hiểu ý anh.

Bất kì một người nào khác cũng đều sẽ bảo anh đã phản bội Julia rồi.

Còn gì anh chưa khai khi bị tra tấn cơ chứ?

Anh đã khai tất cả những gì anh biết về cô, thói quen, tính tình, quá khứ; anh đã khai chi tiết các cuộc hẹn hò, đã khai tất cả những điều họ nói với nhau, đã khai những bữa ăn với đồ mua ngoài chợ đen, những vụ thông dâm, những dự định chống Đảng - khai tất.

Nhưng theo cái nghĩa mà anh hiểu lúc này thì anh chưa phản bội Julia.

Anh vẫn còn yêu cô.

Tình cảm của anh đối với cô vẫn như xưa.

O'Brien hiểu hết, không cần giải thích dài dòng.

"Này anh", Winston hỏi, "họ sắp bắn tôi chưa?"

"Có thể còn lâu đấy", O'Brien nói.

"Anh là một ca khó.

Nhưng đừng vội thất vọng.

Không chóng thì chầy, ai cũng khỏi hết.

Lúc đó chúng tôi sẽ bắn anh"
 
A
3 - IV


Anh cảm thấy khá hơn rất nhiều.

Anh béo ra và khoẻ lên từng ngày, nếu quả thật có thể nói đến ngày ở đây.

Ánh sáng vẫn trắng như thế, tiềng ù ù cũng vẫn như thế, nhưng buồng giam thì có vẻ tiện nghi hơn những chỗ trước đây.

Trên giường có cả gối và nệm, bên cạnh lại còn một chiếc ghế đẩu để ngồi.

Họ cho anh đi tắm và còn thường xuyên cho rửa ráy trong cái chậu bằng sắt tây.

Họ còn mang đến cả nước nóng vào phòng cho anh rửa mặt.

Họ cho anh một bộ đồ lót mới và một bộ đồng phục sạch sẽ.

Họ đắp lên chỗ loét do giãn tĩnh mạch một loại dầu, không còn ngứa nữa.

Họ nhổ hết những cái răng còn lại và làm cho anh một bộ răng giả.

Đã mấy tuần hoặc mấy tháng trôi qua rồi.

Nếu muốn anh có thể tính được ngày tháng vì hiện nay có vẻ như anh được cho ăn tương đối đều.

Anh kết luận rằng được cho ăn ba lần trong hai mươi bốn giờ; có đôi khi anh lờ mờ tự hỏi không hiểu được ăn ban đêm hay ban ngày.

Thức ăn khá ngon, cứ hai bữa lại được một bữa có thịt.

Có lần còn được phát cả một bao thuốc lá.

Anh không có diêm, nhưng người cai ngục mang thức ăn đến cho anh, một người không hề mở miệng bao giờ, vẫn thường cho lửa để hút.

Thời gian đầu, khi mới hút lại anh thấy khó chịu, nhưng rồi cũng qua và anh giữ gói thuốc khá lâu, chỉ hút nửa điếu sau mỗi bữa ăn.

Họ cho anh một cái bảng trắng và một mẩu bút chì treo trong góc buồng

giam.

Ban đầu anh không dùng.

Lúc nào anh cũng cảm thấy rất uể oải.

Nhiều khi anh nằm từ bữa nọ đến bữa kia, không hề động đậy, khi thì thiếp đi, khi thì mơ mơ màng màng, mở mắt ra cũng là cả một sự khó khăn.

Ánh sáng chiếu thẳng vào mặt cũng không sao, anh đã quen ngủ như thế từ lâu rồi.

Vẫn ngủ tốt, nhưng mơ thì mạch lạc hơn.

Thời gian này anh hay mơ lắm, mà lại toàn những giấc mơ vui vẻ.

Anh mơ thấy mình ở khu Địa Hoàng, hay đang ngồi giữa một đống đổ nát, rất đẹp, đầy nắng với mẹ, với Julia, với O'Brien, không làm gì hết, chỉ ngồi phơi nắng và nói về những cảnh thái bình.

Khi thức, nếu anh có nghĩ thì đa phần cũng là nghĩ về những giấc mơ.

Bây giờ, khi tác nhân đau đớn không còn, anh có cảm giác như mình đã mất khả tập trung suy nghĩ.

Anh không thấy chán, không muốn nói chuyện, không muốn bị rối trí.

Được ở một mình, không bị đánh đập, không bị tra hỏi, được ăn no, sạch sẽ, thế là thoả mãn lắm rồi.

Càng ngày càng ngủ ít đi, nhưng anh vẫn nằm dài suốt ngày trên giường như cũ.

Anh chỉ quan tâm đến mỗi một điều, đấy là nằm yên và lắng nghe sự hồi phục của cơ thể.

Anh thường lấy tay rờ rẫm chỗ này, chỗ kia để khẳng định chắc chắn rằng thớ thịt thì nở ra còn da thì căng thêm mỗi ngày.

Cuối cùng, khi phát hiện ra là đùi to hơn đầu gối thì anh tin chắc rằng mình đang béo lên.

Sau đó, tuy ban đầu có hơi miễn cưỡng, anh bắt đầu thường xuyên tập thể dục.

Chẳng bao lâu sau anh đã có thể đi được chừng ba cây số, đấy là tính bằng cách đếm số bước chân quanh buồng giam, và cái lưng còng bắt đầu thẳng dần ra.

Anh cố gắng tập những động tác khó hơn, anh vừa ngạc nhiên vừa cảm thấy nhục nhã khi phát hiện ra những việc mình không thể nào làm được.

Anh không thể chạy, không thể giữ cái ghế đẩu khi đưa thẳng tay ra, không thể đứng một chân, ngã ngay.

Đứng lên ngồi xuống cũng không được, đùi và bắp vế đau không thể nào chịu nổi.

Anh nằm sấp, đưa tay nâng người lên.

Vô vọng, không nâng được một centimet nào.

Nhưng sau mấy ngày, đúng hơn là sau mấy lần ăn, anh đã thực hiện được kì công này.

Sau một thời gian nữa thì anh có thể làm sáu lần liên tục.

Anh còn bắt đầu cảm thấy tự hào về thân thể của mình và đôi khi còn tin rằng rồi mặt cũng sẽ lấy lại hình dáng bình thường.

Chỉ có những lúc vô tình đặt tay lên cái đầu hói anh mới chợt nhớ đến khuôn mặt rách nát, tàn tạ đã từng nhìn thấy trong gương.

Đầu óc cũng trở nên hoạt bát hơn.

Anh ngồi lên giường, lưng tựa vào tường, cái bảng trắng đặt trên đầu gối, anh bắt đầu học lại.

Anh đã đầu hàng, chuyện đó xong rồi.

Thực ra, như anh thấy lúc này, anh đã sẵn sàng đầu hàng trước khi quyết định rất lâu.

Anh đã nhận thức được sự nhẹ dạ và nông nổi của hành vi chống Đảng ngay khi rơi vào Bộ Tình Yêu, không, anh nhận thức được điều đó từ lúc đứng nghe cùng với Julia mệnh lệnh đanh thép phát ra từ màn vô tuyến cơ.

Bây giờ thì anh hiểu rằng Cảnh Sát Tư Tưởng đã theo dõi anh suốt bảy năm ròng, giống như người ta quan sát một con bọ hung bằng kính lúp vậy.

Không một hành động, hay một câu nói nào bị bỏ qua, không một ý nghĩ nào không bị giải mã.

Họ đặt được cả một tí bụi trắng trên bìa cuốn nhật kí vào đúng chỗ cũ.

Họ quay lại đĩa ghi âm cho anh nghe, đưa cả ảnh cho anh xem.

Có mấy cái chụp anh với Julia.

Có cả...

Anh không thể đấu tranh chống Đảng được nữa.

Hơn nữa, chân lí còn thuộc về Đảng.

Chắn chắn là như thế, làm sao một bộ óc tập thể, bất tử lại có thể sai lầm được?

Lấy tiêu chuẩn nào ở bên ngoài để kiểm chứng các ý kiến của Đảng?

Tỉnh táo là khái niệm thống kê.

Vấn đề chỉ còn là học cách suy nghĩ giống như họ.

Chỉ có điều...

Cây bút chì có vẻ to và khó cầm.

Anh bắt đầu ghi ra những ý nghĩ xuất hiện trong đầu.

Anh viết bằng những chữ in to và vụng:

TỰ DO LÀ NÔ LỆ

Và ngay bên dưới là:

HAI CỘNG HAI LÀ NĂM

Sau đó có vẻ như gặp một chút trắc trở.

Tâm trí anh như trốn tránh một cái gì đó, không thể nào tập trung được.

Anh biết rằng anh biết sau đó sẽ là cái gì, nhưng không thể nào nhớ ra được.

Còn khi anh nhớ lại được thì đấy là do anh suy luận ra chứ không phải nó tự đến.

Anh viết:

CHÚA LÀ QUYỀN LỰC

Anh chấp nhận tất.

Quá khứ là khả biến.

Quá khứ chưa bao giờ thay đổi.

Oceania đang đánh nhau với Eastasia.

Oceania luôn luôn đánh nhau với Eastasia.

Jones, Aaroson và Rutherford đã phạm những tội mà họ bị qui kết.

Anh chưa bao giờ nhìn thấy bức ảnh phủ nhận tội trạng của họ.

Chưa bao giờ có một bức ảnh như thế, nó là do anh bịa ra.

Anh nhớ rằng mình nhớ những chuyện ngược lại, nhưng đấy là nhớ sai, đấy là anh tự lừa dối mình mà thôi.

Đơn giản quá!

Chỉ cần đầu hàng, mọi thứ khác sẽ tự đến.

Giống như khi đang bơi ngược, dù có cố đến mấy dòng nước cũng vẫn đẩy lại sau, và thế là ta quyêt định quay lại, bơi theo dòng, không chống cự nữa.

Chỉ có thái độ của ta thay đổi, ngoài ra mọi sự vẫn vậy: việc phải xẩy ra nhất định sẽ xảy ra.

Chính anh cũng không hiểu tại sao có lúc mình lại làm loạn.

Mọi việc thật là đơn giản.

Chỉ có điều....

Tất cả đều có thể đúng.

Những cái gọi là qui luật tự nhiên đều là nhảm nhí.

Định luật vạn vật hấp dẫn cũng là nhảm nhí nốt.

"Nếu muốn - O'Brien bảo - ngay bây giờ tôi có thể bay lên như một cái bong bóng xà phòng".

Winston giải thích như sau: "Nếu anh ta nghĩ rằng có thể bay lên, đồng thời mình nghĩ rằng nhìn thấy anh ta làm như thế thì có nghĩa là điều đó thực sự xảy ra".

Bất thình lình, một ý nghĩ hiện về trong tâm trí, giống như một mảnh vỡ của con tầu đắm trồi lên trên mặt nước: "Thực ra chuyện đó không thể xẩy ra được.

Là ta tưởng tượng ra như thế.

Đấy chỉ là ảo giác mà thôi".

Nhưng anh đã kịp thời dập tắt ngay ý nghĩ này.

Rõ ràng là nguỵ biện rồi.

Đấy là giả định rằng ở đâu đó, bên ngoài ta có một thế giới "thực", nơi có những sự kiện "thực" đang xảy ra.

Nhưng đào đâu ra thế giới như vậy?

Chúng ta có thể biết được gì về vật chất nếu không sử dụng tâm trí của mình?

Tất cả đều ở một cái tâm này mà ra.

Điều gì xảy ra trong tâm trí tất cả mọi người thì sẽ xảy ra trong thực tế.

Anh dễ dàng phát hiện được sai lầm, nhưng khả năng mắc sai lầm là không có.

Nhưng anh cũng hiểu rằng anh không được để cho những ý nghĩ như thế xuất hiện trong đầu nữa.

Một ý nghĩ nguy hiểm vừa lởn vởn là trong đầu phải xuất hiện điểm mù ngay lập tức.

Quá trình này phải là tự động, mang tính bản năng.

Ngômo gọi đấy là ngưngtội.

Anh bắt đầu luyện tập ngưngtội.

Anh đưa ra khẳng định: "Đảng bảo rằng trái đất phẳng", "Đảng bảo rằng nước đá nặng hơn nước thường" và luyện tập để không nhìn thấy hoặc không hiểu những lí lẽ mâu thuẫn với những khẳng định này.

Quả là một việc khó.

Nó đòi hỏi một khả năng tư duy và ứng biến nhanh chóng.

Các vấn đề toán học, thí dụ như khẳng định hai cộng hai là năm vượt quá tầm của anh.

Nó đòi hỏi phải có một kiểu tư duy cực kì mạnh mẽ và mềm dẻo, một khả năng ứng dụng logic nhuần nhuyễn, nhưng liền sau đó lại không phát hiện được những sai lầm logic thô thiển nhất.

Trí tuệ cần mà ngu dốt cũng cần, thế mới khó.

Anh luôn luôn tự hỏi khi nào thì họ đem mình đi bắn.

"Tất cả phụ thuộc vào anh" - O'Brien đã bảo thế, nhưng anh biết rằng không thể đẩy nhanh quá trình này bằng một hành động hữu thức được.

Có thể mười phút nữa mà cũng có thể mười năm nữa.

Họ có thể biệt giam anh trong nhiều năm, có thể đưa anh vào trại khổ sai, có thể thả ra một thời gian, đôi khi họ cũng làm như thế.

Hoàn toàn có khả năng là toàn bộ trò bắt bớ và tra hỏi sẽ được diễn lại một lần nữa.

Chỉ có một điều chắc chắn, đấy là sẽ chết vào lúc bất ngờ nhất.

Truyền thống, một truyền thống bất thành văn, người ta biết, dù không nghe thấy ai nói bao giờ, rằng họ thường bắn từ phía sau, vào gáy, không báo trước, khi đang đi từ buồng giam này sang buồng giam kia.

Một ngày nọ, từ "ngày" thực ra là không chính xác, có thể lúc ấy là nửa đêm cũng nên, phải nói rằng một lần anh rơi vào một giấc mơ có vẻ lạ lùng và đầy an lạc.

Anh đang đi trong một hành lang, chờ một viên đạn.

Anh biết rằng chỉ một chút nữa thôi.

Mọi việc đã được giải quyết, đã được dàn xếp, đã

nhất trí rồi.

Không còn nghi ngờ, không còn lí sự, không còn đau khổ, không sợ hãi gì nữa.

Người anh khoẻ mạnh.

Anh bước một cách nhẹ nhàng, hân hoan với mỗi cử động và cảm thấy như đang đi dưới ánh mặt trời.

Anh không còn đi trong hành lang hẹp màu trắng của Bộ Tình Yêu nữa, mà đang bước trên một đoạn đường đầy nắng, rộng cả cây số, người ngây ngất như say ma tuý vậy.

Anh đang ở vùng Địa Hoàng, chân bước theo con đường mòn ngang qua bãi chăn thỏ cũ.

Anh có thể cảm được đất nhún nhảy dưới chân và ánh mắt trời dụi êm chiếu trên gò má.

Bên rìa cánh đồng là những cành cây du lung lay trước gió, xa hơn một chút là con suối với những con cá nhỏ đang bơi trong những vũng nước màu xanh dưới bóng dương liễu.

Anh bỗng giật nảy mình vì sợ.

Mồ hôi chạy dọc sống lưng.

Anh nghe thấy tiếng mình kêu:

"Julia!

Julia!

Anh yêu em!

Julia!"

Anh có cảm tưởng như cô đang hiện diện đâu đây.

Không phải bên cạnh mà là bên trong anh.

Dường như cô đã trở thành một phần cơ thể anh.

Trong giây phút đó anh cảm thấy yêu cô nhiều hơn khi họ còn bên nhau, ngoài tự do.

Anh biết rằng cô đang còn sống ở đâu đó và đang rất cần anh giúp đỡ.

Anh nằm ngửa ra, cố gắng tập trung suy nghĩ.

Anh đã làm gì?

Phải thêm bao nhiêu năm đầy ải nữa chỉ vì một phút yếu lòng vừa rồi?

Bây giờ sẽ có tiếng giầy đinh bước ngoài hành lang.

Họ không bao giờ tha thứ cho một cơn bộc phát như vậy được.

Bây giờ họ sẽ biết, nếu quả thật trước đó họ chưa biết, rằng anh đã vi phạm thoả thuận.

Anh đã vâng lời Đảng, nhưng vẫn tiếp tục căm thù Đảng.

Trước đây anh đã che dấu những ý nghĩ phi chính thống của mình bằng cách tuân theo.

Bây giờ anh lùi thêm một bước nữa: anh đầu hàng về mặt trí óc, nhưng hy vọng giữ cho lương tâm

còn nguyên vẹn.

Anh biết rằng như thế là sai nhưng vẫn bám lấy sai lầm của mình.

Họ hiểu, O'Brien sẽ hiểu.

Tiếng kêu ngu xuẩn kia chính là lời tự thú.

Phải làm lại từ đầu.

Có thể phải mất hàng năm.

Anh đưa tay vuốt mặt, để xem hình thù của nó ra làm sao.

Có những vết rạch sâu ở hai bên má, xương gò má nhọn hoắt, mũi tẹt.

Ngoài ra, kể từ lần soi gương cuối cùng anh còn có thêm một bộ răng giả nữa.

Thật khó mà giữ được vẻ lãnh đạm nếu không biết rõ nét mặt của mình.

Chỉ giữ nét mặt không thôi thì chưa đủ.

Lần đầu tiên anh hiểu rằng muốn giữ một điều bí mật thì phải giấu nó với ngay chính bản thân mình.

Tất nhiên là lúc nào cũng phải biết là có điều đó đấy, nhưng khi chưa cần thì không được để cho nó bén mảng đến gần ý thức dưới bất cứ hình thức có thể định danh nào.

Từ nay trở đi anh không những phải suy nghĩ đúng, cảm đúng mà còn phải mơ đúng nữa kia.

Anh phải khoá kín lòng căm thù vào bên trong, giống như một cục thịt của chính anh, nhưng lại không có liên hệ gì với anh, như một khối u vậy.

Một ngày nào đó họ sẽ bắn anh.

Không thể nói là khi nào, nhưng trước đó vài giây thì chắc là có thể đoán được.

Luôn luôn từ phía sau, khi đang đi trong hành lang.

Mười giây cũng đủ.

Trong thời gian đó tâm hồn anh có thể kịp thay đổi hoàn toàn.

Và thế là bất thình lình, không nói một lời nào, chân vẫn bước đều, nét mặt không hề thay đổi, anh xé tung cái mặt nạ ra, đoàng! loạt súng căm hận của anh đồng loạt lên tiếng.

Lòng hận thù sẽ choán hết tâm hồn anh, như ngọn lửa đang bừng bừng gào thét.

Và đúng lúc đó: đoàng! viên đạn bay ra, quá chậm hoặc là quá sớm.

Họ sẽ bắn vỡ óc anh trước khi kịp cải tạo nó.

Tư tưởng không chính thống chưa bị khuất phục, không hề sám hối đã vĩnh viễn vượt khỏi tầm với của họ.

Lí tưởng của họ đã bị bắn thủng một lỗ.

Chết mà vẫn căm thù - đấy chính là tự do.

Anh nhắm mắt lại.

Khó hơn rèn luyện trí tuệ rất nhiều.

Đấy là tự thoái hoá, tự làm cho mình trở thành phế nhân.

Phải lao vào nơi ô trọc nhất trong những nơi ô trọc.

Cái gì là khủng khiếp nhất, đáng buồn nôn nhất?

Anh nghĩ đến Anh Cả.

Bộ mặt to bè (vì luôn nhìn thấy trên áp phích nên anh nghĩ nó phải rộng cả mét), chòm râu đen, rậm, đôi mắt dõi theo khắp nơi, tự động hiện về trong tâm trí anh.

Tình cảm thực của anh đối với Anh Cả là gì?

Anh nghe thấy tiếng giầy đinh đi ngoài hành lang.

Cánh cửa sắt kẹt mở.

O'Brien bước vào.

Đằng sau là viên sĩ quan mặt sáp và các cai ngục đồng phục đen.

"Đứng lên", O'Brien ra lệnh.

"Lại đây"

Winston đứng trước mặt anh ta.

O'Brien đưa hai tay nắm chặt vai Winston và nhìn sát vào mắt anh.

"Anh định lừa tôi", Anh ta nói.

"Thật là ngu ngốc.

Đứng thẳng lên.

Nhìn vào mắt tôi đây"

Anh ta chợt ngừng và sau đó nói một cách nhẹ nhàng hơn:

"Anh có tiến bộ.

Về mặt tri thức thì gần như tốt rồi.

Nhưng về mặt tình cảm thì anh vẫn ngoan cố như cũ.

Winston, hãy nói cho tôi biết, nhưng không được nói dối đấy, anh biết là tôi sẽ phát hiện được ngay mà, hãy cho tôi biết tình cảm thực của anh đối với Anh Cả?"

"Tôi căm thù ông ta"

"Anh căm thù ông ta.

Tốt.

Bây giờ chính là lúc anh bước vào giai đoạn cuối cùng.

Anh phải yêu Anh Cả.

Vâng lời không thôi chưa đủ, anh phải yêu ông ta nữa cơ"

Vừa bỏ tay ra anh ta vừa khẽ đẩy Winston về phía cai ngục.

"Vào buồng một linh một", anh ta ra lệnh.
 
A
3 - V


Từ ngày đi tù Winston đều biết hay tưởng là biết mình đang ở đâu trong toà nhà không hề có một cái cửa sổ nào.

Có thể là do anh đã cảm nhận được sự khác biệt, dù là rất nhỏ, sự chênh lệch của áp suất khí quyển.

Buồng, nơi anh bị cai ngục đánh, nằm bên dưới mặt đất.

Phòng, nơi anh bị O'Brien thẩm vấn, nằm sát mái.

Chỗ anh đang ở hiện nay nắm sâu dưới mặt đất, có thể ở tận tầng dưới cùng của toà nhà.

Buồng này to hơn hầu hết các buồng anh đã trải qua.

Nhưng anh không nhìn rõ các đồ vật xung quanh.

Anh chỉ trông thấy hai chiếc bàn nhỏ ngay trước mặt, cả hai đều bọc nỉ xanh.

Một cái cách anh chừng một, hai mét, cái kia xa hơn, tận gần cửa chính.

Anh bị trói chặt vào ghế, không cử động được, đầu cũng không quay được.

Một cái gì đó giống như yên ngựa mềm kẹp chặt đầu anh vào phía sau, anh chỉ có thể nhìn thẳng phía trước mà thôi.

Anh ngồi một mình, sau đó cửa mở và O'Brien bước vào.

"Có lần anh đã hỏi tôi", O'Brien nói, "người ta làm gì trong phòng một linh một.

Tôi bảo rằng chính anh đã biết.

Tất cả mọi người đều biết.

Phòng một linh một là địa ngục trần gian [1] "

Cửa lại mở.

Một cai ngục bước vào, tay xách một cái hộp hay giỏ đan bằng dây thép.

Anh ta đặt nó lên cái bàn ở xa hơn.

Vì bị O'Brien che nên Winston không nhìn rõ đấy là cái gì.

"Địa ngục trần gian", O'Brien nói, "mỗi người mỗi khác.

Người thì bị chôn sống, kẻ bị thiêu sống hay bị dìm xuống nước cho đến chết, hoặc bị đóng cọc

xuyên qua người, hàng trăm kiểu chết khác nhau.

Cũng có khi đấy chỉ là những thứ rất bình thường, không nguy hiểm đến tính mạng"

Anh ta tránh sang một bên cho Winston nhìn rõ hơn cái hộp đặt trên bàn.

Đấy là một cái lồng hình chữ nhật, có tay cầm ở bên trên để tiện cho việc di chuyển.

Mặt trước của nó được gắn một cái nắp, giống như mặt nạ kiếm sĩ, phần lõm quay vào bên trong.

Mặc dù cách xa chừng ba, bốn mét nhưng anh vẫn nhìn thấy cái lồng được ngăn làm hai, trong cả hai ngăn đều có cái gì đó xao động.

Chuột cống!

"Đối với anh", O'Brien nói, "địa ngục là chuột cống"

Ngay khi nhìn thấy cái lồng Winston đã cảm thấy rùng mình, đã sợ, dù chưa biết là sợ cái gì.

Bây giờ thì anh đã hiểu cái mặt nạ ấy dùng để làm gì.

Anh như tan nát cả cõi lòng.

"Anh không được làm như thế!", - anh thét lên, giọng lạc đi.

"Không!

Không!

Không được"

"Anh có nhớ", O'Brien hỏi, "những giây phút hoảng loạn thường xẩy ra trong các giắc mơ chứ?

Trước mặt anh là một bức tường đen, bên tai có tiếng gào thét.

Có một cái gì đó khủng khiếp ở bên kia bức tường.

Thâm tâm anh biết rằng anh biết đấy là cái gì, nhưng anh không dám công nhận.

Bên kia bức tường là những con chuột"

"O'Brien!", Winston cố gắng kiềm chế giọng nói.

"Anh biết rằng không cần làm thế.

Các anh còn muốn gì nữa?"

O'Brien không đáp.

Làm ra vẻ dậy đời, đôi khi anh ta vẫn tỏ ra như thế, O'Brien đăm chiêu nhìn xa xăm, như thể đang nói với một cử toạ phía sau Winston vậy.

"Đau đớn không", anh ta bảo, "đôi khi chưa đủ".

Có những người chịu được đau đớn cho đến tận lúc chết.

Nhưng mỗi người đều có một cái gì đó không thể chịu đựng được, không thể hình dung được.

Dũng cảm hay là hèn nhát không thành vấn đề.

Khi đang rơi từ trên cao xuống mà anh nắm lấy sơi dây thì đấy không phải là hèn.

Nếu vừa trồi lên khỏi mặt nước mà anh hít thở ngay thì đấy không phải là hèn.

Đấy chỉ là bản năng, không cưỡng lại được.

Chuột thì cũng vậy thôi.

Anh không chịu được chuột.

Đấy là sức ép, ngay cả nếu muốn, anh cũng không thể kháng cự được.

Anh sẽ làm tất cả những gì người ta đòi hỏi"

"Nhưng họ cần gì?

Cần gì?

Làm sao tôi có thể làm nếu tôi không biết đấy là cái gì?"

O'Brien cầm cái lồng và đưa đến cái bàn ở gần hơn.

Anh ta cẩn thận đặt lên mặt nỉ.

Winston nghe thấy máu chạy rần rần trong lỗ tai.

Anh cảm thấy như đang ngồi một mình, hoàn toàn cô đơn.

Anh đang ngồi giữa một cách đồng trống, một bình nguyên đầy nắng, mọi tiếng động đều vẳng lại từ rất xa.

Nhưng cái lồng chuột thì chỉ cách anh có vài mét mà thôi.

Những con chuột cực to.

Chúng đã đạt độ tuổi mà mõm đã hết nhọn và trông rất dữ, lông thì chuyển từ xám sang nâu.

"Chuột cống", O'Brien vẫn như nói với cử toạ vô hình, "là loài gậm nhấm nhưng ăn cả thịt.

Anh biết rồi.

Chắc chắn là anh đã nghe nói đến những khu vực nghèo nhất trong thành phố của chúng ta.

Trên một số đường phố phụ nữ không dám để con một mình trong nhà dù chỉ năm phút thôi.

Chuột sẽ tấn công ngay.

Chỉ một lúc là chúng sẽ gặm đến xương.

Chúng tấn công cả người ốm và người hấp hối nữa.

Chúng thông minh lắm, phát hiện được người bất lực ngay lập tức"

Có tiếng rít lên trong lồng.

Winston có cảm giác như tiếng rít vẳng lại từ rất xa.

Chuột đang cắn nhau; chúng muốn chui qua tấm vách ngăn.

Winston nghe thấy một tiếng rên tuyệt vọng.

Có vẻ như cũng từ ngoài đưa lại.

O'Brien vừa nâng cái lồng lên, vừa ấn một cái gì đó ở bên trong.

Một tiếng tách đanh gọn vang lên.

Winston giật mạnh.

Không ăn thua, mọi chỗ, ngay cả đầu cũng bị buộc chặt vào ghế rồi.

O'Brien đưa cái lồng lại gần hơn.

Bây giờ nó chỉ còn cách mặt Winston dưới một mét.

"Tôi đã ấn cái đòn bẩy thứ nhất", O'Brien bảo.

"Kết cấu cái lồng thì anh biết rồi đấy.

Cái mặt nạ sẽ chụp kín mặt anh, không thể nào ra được.

Khi tôi ấn cái đòn bẩy thứ hai thì cửa lồng sẽ được nâng lên.

Chuột đói sẽ lao đến như tên bắn.

Anh đã nhìn thấy chuột nhảy chưa?

Chúng sẽ nhảy thẳng vào mặt anh và bắt đầu gặm.

Đôi khi chúng tấn công mắt trước.

Đôi khi chúng cắn thủng má và xơi lưỡi"

Cái lồng được đưa lại gần hơn, chỉ chút nữa là nó sẽ trùm lên mặt.

Winston nghe thấy những tiếng rít chói tai, dường như ở phía trên đầu.

Nhưng anh vẫn gồng mình lên để chống lại cơn hoảng loạn.

Nghĩ, nghĩ, ngay cả khi chỉ còn một phần trăm giây... thì nghĩ vẫn là hi vọng duy nhất.

Mùi hôi hám, mốc meo của lũ chuột đập ngay vào mũi.

Cơn buồn nôn dâng lên nghẹn cổ, anh gần như ngất đi.

Mọi thứ đều trở thành đen.

Anh biến thành một con vật điên khùng, gào thét trong một sát na.

Nhưng anh đã vùng thoát ra khỏi bóng đen bằng cách bám vào một ý nghĩ.

Chỉ có một cách, một cách duy nhất để tự cứu mình.

Phải đặt một người khác, một cơ thể khác vào giữa anh và lũ chuột.

Cái mặt nạ đã gần đến nỗi anh chẳng còn nhìn thấy gì khác được nữa.

Cái cửa lưới chỉ còn cách mặt anh chừng hai gang tay.

Lũ chuột biết, chúng đã sẵn sàng.

Một con cứ nhảy lên nhảy xuống, một con khác, lông rụng nham

nhở, bố già của cống rãnh, thì đứng lên, hai chân trước màu hồng hồng bám lên những thanh thép, hít lấy hít để.

Winston nhìn rõ râu và những chiếc răng màu vàng.

Nỗi hoảng loạn tăm tối lại tràn ngập lòng anh.

Anh trở nên mù loà, bất lực, mụ mị đi.

"Đây là cách trừng phạt thường được áp dụng ở Trung Quốc", O'Brien nói, vẫn với giọng dậy đời như mọi khi.

Cái mặt nạ đã úp vào anh.

Sợi dây thép cọ vào má.

Và sau đó...không, không thoát được, chỉ còn hi vọng, một chút hi vọng mong manh.

Muộn quá rồi, có thể là muộn quá rồi.

Nhưng anh chợt hiểu rằng trên thế giới này chỉ còn một người duy nhất để cho anh đẩy cái đòn trừng phạt này sang, chỉ còn một cơ thể để anh có thể nhét vào giữa anh và lũ chuột.

Anh điên cuồng gào lên, liên tục.

"Đem cho Julia!

Đem cho Julia!

Không phải tôi!

Julia!

Tôi không quan tâm, muốn làm gì với cô ấy thì làm.

Xé toạc mặt cô ấy, lột đến tận xương.

Không phải tôi!

Julia!

Không phải tôi!"

Anh ngã ra đằng sau, ngã vào khoảng không sâu thẳm, xa hẳn lũ chuột.

Anh vẫn bị trói chặt vào thành ghế, nhưng anh đã rơi qua nền nhà, qua những bức tường, qua đất, qua biển, qua không gian, rơi vào khoảng không trong vũ trụ, vào khoảng không giữa các vì sao, xa, xa mãi bầy chuột.

Anh đã cách chúng cả năm ánh sáng, nhưng O'Brien vẫn đứng bên cạnh.

Vẫn còn thấy thanh thép lành lạnh cọ vào má.

Anh chợt nghe thấy một tiếng tách nữa, tiếng động như truyền qua đêm đen bao phủ xung quanh và anh hiểu rằng đấy là tiếng đóng cửa cái lồng chứ không phải mở.
 
A
3 - VI


Quán Cây Dẻ gần như không có ai.

Ánh nắng xiên khoai chiếu qua cửa sổ đổ lên mặt bàn đầy bụi.

Lúc đó là mười lăm giờ chiều, giờ này thường vắng.

Màn vô tuyến phát một bản nhạc du dương.

Winston ngồi vẫn ngồi trong góc như mọi khi, mắt dán vào cái li không.

Thỉnh thoảng anh lại ngước nhìn bộ mặt to lớn, đang chăm chăm theo dõi anh, trên bức tường đối diện.

ANH CẢ ĐANG QUAN SÁT BẠN, hàng chữ bên dưới viết như thế.

Người hầu bàn tự động đi tới và rót rượu Gin Chiến Thắng vào li, sau đó anh ta còn giỏ thêm vài giọt từ một cái chai có ống hút ở nắp vào nữa.

Đấy là đường hoá học pha dầu đinh hương, món tủ của quán này.

Winston lắng nghe màn vô tuyến.

Bây giờ chỉ có nhạc thôi, nhưng Bộ Hoà Bình có thể sẽ phát bản tin đặc biệt bất cứ lúc nào.

Tin tức từ mặt trận Phi Châu đặc biệt đáng lo.

Anh cảm thấy áy náy về việc này ngay từ sáng cơ.

Quân đội Eurasia (Oceania đang đánh nhau với Eurasia: Oceania luôn luôn đánh nhau với Eurasia) đang tiến về phía nam với tốc độ chóng mặt.

Bản tin buổi trưa không nói cụ thể vùng nào, nhưng có khả năng là mặt trận đã lan đến vùng cửa sông Congo rồi.

Brazzaville và Leopoldville đang bị đe doạ.

Không cần bản đồ cũng biết điều đó có ý nghĩa như thế nào.

Đấy không chỉ là vấn đề mất vùng Trung Phi: lần đầu tiên trong suốt cuộc chiến, lãnh thổ của Oceania đang bị đe doạ.

Một tình cảm mãnh liệt, không phải nỗi sợ, mà là sự xúc động không có lí do bỗng dậy lên trong lòng anh và sau đó lắng dần.

Anh không nghĩ đến chiến cuộc nữa.

Bây giờ anh không thể tập trung suy nghĩ về bất cứ vấn đề gì quá mấy giây.

Anh nâng cốc và uống cạn ngay lập tức.

Cũng như mọi lần, rượu Gin làm cho anh rùng mình và hơi buồn nôn.

Khiếp quá.

Đinh hương với đường hoá học không đã kinh rồi, nhưng nó vẫn không đánh tan được mùi

hôi dầu của rượu và điều kinh khủng nhất chính là mùi rượu Gin cứ bám riết lấy anh suốt ngày đêm, lại luôn làm anh liên tưởng tới mùi của....

Anh không bao giờ nhắc đến chúng, ngay cả trong suy nghĩ, và cố gắng không gợi ra hình ảnh của chúng trong đầu.

Chúng là một cái gì đó mờ ảo, lượn lờ trước mặt, nhưng mùi thì xộc thẳng vào mũi.

Rượu Gin sôi lên trong dạ dày, anh chề môi ra để ợ.

Từ ngày được tha anh đã lên cân, da dẻ cũng trở lại như cũ, thậm chí còn hồng hơn.

Mặt phị ra, da trên mũi và hai gò má thì đỏ và sần sùi, ngay phần da đầu hói cũng có màu hồng.

Người hầu bàn tự động mang đến một bàn cờ và tờ Times, số mới nhất, thậm chí anh ta còn giở sẵn cả trang có in ván cờ thế ngày hôm đó nữa.

Nhìn thấy li của Winston đã cạn, anh ta lấy chai và rót đầy.

Ở đây không cần phải gọi.

Họ biết thói quen của anh.

Một bàn cờ luôn bày sẵn, một cái bàn trong góc luôn dành cho anh, ngay cả khi quán chật thì anh vẫn ngồi một mình vì chẳng ai dám lảng vảng đến gần một người như anh.

Anh không thèm đếm số li đã uống.

Lâu lâu họ lại mang đến một mẩu giấy bẩn thỉu và bảo đấy là hoá đơn, nhưng anh ngờ rằng họ thường tính bớt cho anh.

Ngay cả họ có tính thêm thì anh cũng chẳng quan tâm.

Trong túi anh lúc nào cũng rủng rỉnh tiền.

Anh còn đi làm, một chỗ ngon ăn, lương còn cao hơn cả trước lúc bị bắt.

Màn vô tuyến thôi phát nhạc, rồi đến tiếng phát thanh viên.

Winston dỏng tai lên nghe.

Không phải tin chiến sự.

Chỉ có một bản thông báo ngắn của Bộ Ấm No.

Quí vừa qua đã sản xuất vượt mức về dây giày do kế hoạch Ba Năm Lần Thứ Mười đề ra là 98 phần trăm.

Anh xem ván cờ thế và bắt đầu xếp quân.

Cờ tàn rất khéo, còn hai mã.

"Trắng đi trước, chiếu hết sau hai nước".

Winston ngước nhìn ảnh Anh Cả.

Quân trắng bao giờ cũng chiếu hết, anh nghĩ với cảm giác thần bí mù mờ.

Luôn luôn là như thế, không có ngoại lệ, trời đã sinh ra thế rồi.

Từ khai thiên lập địa đến nay chưa bao giờ có ván cờ thế nào mà quân đen lại được.

Đấy có phải biểu tượng chiến thắng vĩnh viễn, không bao giờ thay đổi của cái Thiện đối với cái Ác không?

Bộ mặt to lớn, bình thản, đầy quyền uy nhìn lại anh, biểu đồng tình.

Quân trắng luôn luôn chiếu hết.

Tiếng phát thanh ngừng trong giây lát và sau đó nói tiếp bằng giọng nghiêm trọng hơn nhiều: "Chú ý, vào hồi mười lăm giờ ba mươi sẽ có một thông báo quan trọng.

Mười lăm giờ ba mươi!

Tin đặc biệt quan trọng.

Hãy chú ý theo dõi thông tin của chúng tôi.

Mười lăm giờ ba mươi".

Bản nhạc lại tiếp tục.

Tim Winston đập rộn lên.

Đây là tin chiến sự, bản năng mách bảo anh rằng đây sẽ là tin không hay.

Suốt ngày hôm nay, ý nghĩ về thất bại thảm hại trên mặt trận Phi Châu cứ trở đi trở lại trong đầu, làm anh lo lắng không yên.

Anh tưởng như đang trông thấy những đạo quân đông như kiến của Eurasia vượt qua các vùng biên giới vốn là bất khả xâm phạm từ trước đến nay và tràn xuống mũi của lục địa Phi Châu.

Tại sao lại không bọc sườn chúng?

Anh mường tượng được đường bờ biển phía Tây châu lục.

Anh nhặt con mã trắng và đặt vào góc bên kia của bàn cờ.

Đứng đấy mới hợp lí.

Trong khi nhìn thấy lũ mọi đen đang tiến về phía Nam thì anh cũng thấy một đạo quân khác đang bí mật tập hợp lực lượng, bất ngờ xâm nhập vào hậu phương của chúng, cắt đứt các đường vận chuyển trên biển và trên đất liền.

Anh cảm thấy đã tạo ra đạo quân ấy bằng chính ước muốn của mình.

Nhưng phải hành động gấp thì mới kịp.

Nếu chúng chiếm được toàn bộ Phi Châu, nếu chúng chiếm được các căn cứ không quân và hải quân ở mũi Hảo Vọng Các thì Oceania sẽ bị cắt ra làm đôi.

Điều đó có nghĩa là: thua trận, phân chia lại thế giới, tan rã Đảng!

Anh hít vào thật sâu.

Trong lòng anh bỗng nổi lên một mớ những tình cảm mâu thuẫn nhau, xoắn xuýt vào nhau, giằng xé nhau, đúng hơn phải nói là các tình cảm đó không xoắn xuýt vào nhau mà là xếp chồng lên nhau thành từng lớp, không thể biết lớp nào nằm ở đáy nữa.

Cơn xúc động rồi cũng qua.

Anh đặt con mã trở lại vị trí cũ, nhưng không tập trung vào ván cờ được.

Ý nghĩ cứ lang thang ở tận đâu đâu.

Anh lấy ngón tay vẽ trên mặt bàn bụi một cách vô thức:

2+2=5

"Chúng không thể chui vào bụng anh được" - Julia bảo.

"Những việc xảy ra với anh ở đây sẽ là vĩnh viễn" - O'Brien đã nói như thế.

Đúng như thế.

Có những việc, do chính ta làm và rồi sau đó ta không thể nào hồi phục lại được nữa.

Một cái gì đó đã chết ở trong lòng: đã chai lại, đã bị đốt cháy hết rồi.

Anh đã trông thấy Julia, thậm chí đã nói chuyện với cô.

Không có gì nguy hiểm.

Bản năng mách bảo anh rằng từ nay họ gần như không còn quan tâm đến anh nữa.

Anh có thể hẹn gặp cô lần thứ hai nếu một trong hai người muốn như thế.

Họ gặp nhau một cách tình cờ.

Chuyện đó xảy ra ở trong công viên, một ngày tháng ba, gió lạnh kinh người, mặt đất thì rắn như đá, cỏ chết hết, xung quanh chỉ có vài khóm nghệ tây, gió đánh tả tơi.

Anh đang vừa đi vừa chạy, tay lạnh cóng, mắt nhoè nước, thì bất ngờ trông thấy cô, họ cách nhau chỉ chừng mươi mét.

Anh ngạc nhiên vì thấy cô thay đổi nhiều quá, nhưng cụ thể thay đổi thế nào thì anh không nói được.

Họ đi lướt qua nhau, không ai nói một lời nào; nhưng sau đó anh quay lại và đi theo cô.

Anh biết là không có gì nguy hiểm cả, không ai thèm quan tâm đến anh nữa.

Cô không nói gì.

Cô bước ngang qua đám cỏ, dường như muốn tránh anh, nhưng sau đó thì có vẻ như chấp nhận để anh đi bên cạnh.

Chẳng bao lâu sau họ đã lọt vào giữa những bụi cây khẳng khiu, trơ trụi, chẳng tránh được gió mà cũng chẳng giấu được người.

Họ đứng lại.

Lạnh khủng khiếp.

Gió luồn trong những nhánh cây, gió giật những khóm nghệ tây bẩn thỉu, tả tơi.

Anh ôm ngang sườn cô.

Không có màn vô tuyến, nhưng micro thì có thể lắm, ngoài ra họ có thể bị người ta nhìn thấy nữa.

Nhưng cái đó không quan trọng, không còn gì là quan trọng nữa.

Họ có thể nằm xuống đất và làm cái đó nếu họ muốn.

Chỉ nghĩ đến điều đó anh đã thấy lạnh sống lưng rồi.

Cô không có phản ứng gì, vẫn cứ để anh ôm như thế.

Bây giờ thì anh hiểu chuyện gì đã xảy ra với cô.

Mặt cô tái hơn, có một vết sẹo dài, chạy suốt trán, đến tận thái dương, được mấy sợi tóc che đi một phần.

Nhưng đấy không phải là cái chính.

Cái chính là eo cô đẫy đà thêm và thật lạ là đã trở nên rắn hơn.

Anh nhớ có lần, sau khi bom nổ, anh đã tham gia kéo một cái xác ra khỏi đống gạch vụn, anh lấy làm ngạc nhiên vì nó không chỉ rất nặng mà còn cứng và khó giữ, có vẻ như đấy là một cục đá chứ không phải xác người nữa.

Bây giờ cô cũng hệt như thế.

Anh cho rằng da thịt cô đã thay đổi, khác hẳn ngày xưa.

Anh không tìm cách hôn cô, họ cũng không nói gì với nhau.

Lần đầu tiên cô nhìn thẳng vào mắt anh là khi họ đã quay lại và đang đi ngang qua đám cỏ.

Chỉ là giây lát, nhưng ánh mắt chứa đầy ác cảm, khinh khi.

Anh không biết đấy là ác cảm với quá khứ hay còn do bộ mặt béo phì và đôi mắt ướt nhoèn vì gió nữa.

Họ ngồi trên hai cái ghế bằng sắt, cạnh nhau, nhưng vẫn giữ một khoảng cách tương đối.

Anh thấy rằng cô sắp lên tiếng.

Cô đưa chiếc giầy khá thô ra thêm vài phân và cố ý di di một cọng cỏ.

Anh thấy bàn chân cô có vẻ cũng to thêm.

"Em đã phản bội anh", cô bảo.

"Anh đã phản bội em", anh cũng nói.

Một lần nữa cô lại nhìn anh, cái nhìn vẫn đầy ác cảm như cũ.

"Có lúc", cô nói tiếp, "người ta doạ bằng những cái mà ta không thể chịu đựng được, ta không thể tưởng tượng là lại có thể như thế.

Và ta nói: 'Đừng làm thế với tôi, hãy làm với người khác, với người này... người này'.

Sau này có thể ta sẽ giả vờ rằng đấy chỉ là giả, ta nói thế là để họ dừng tay, chứ ta không có chủ ý thế.

Nhưng không phải vậy.

Lúc đó ta chủ ý như thế.

Ta nghĩ rằng không còn cách nào khác, đấy là lối thoát duy nhất.

Ta muốn họ làm điều đó với người kia.

Người kia có bị đau khổ thì cũng mặc xác nó.

Ta chỉ còn nghĩ đến cá nhân mình thôi"

"Ta chỉ nghĩ đến cá nhân mình thôi", anh lặp lại.

"Và sau đó thì tình cảm của ta không thể nào còn được như xưa nữa"

"Đúng thế", anh nói, "không thể nào còn được như xưa"

Không còn gì để nói nữa.

Gió ép bộ đồng phục vào sát người.

Im lặng trở nên nặng nề, cũng không thể ngồi thêm được nữa vì lạnh quá.

Cô bảo phải đi ngay mới kịp chuyến tầu điện ngầm và đứng lên.

"Chúng ta phải gặp nhau một lần nữa", anh nói.

"Vâng", cô bảo".

"Chúng ta phải gặp nhau lần nữa"

Anh lững thững bước theo cô, hai người cách nhau nửa bước.

Họ không nói gì thêm.

Không phải là cô muốn tránh xa anh, nhưng cô bước nhanh đến nỗi anh không thể nào theo kịp.

Anh quyết định sẽ tiễn cô đến tận ga tầu điện ngầm, nhưng sau đó thấy rằng lẽo đẽo theo cô trong gió lạnh thế này là việc lực bất tòng tâm và vô ích nữa.

Anh không chỉ muốn đi cho khuất mắt cô, mà hơn thế, còn muốn vào ngay quán Cây Dẻ nữa, chưa bao giờ cái quán ấy có sức hấp dẫn với anh bằng lúc này.

Anh cảm thấy nhớ cái bàn ở trong góc, nhớ tờ báo, nhớ bàn cờ và li rượu không bao giờ cạn.

Cái chính là quán rất ấm.

Chỉ một lúc sau, không hẳn là vô tình, anh để cho một nhóm nhỏ xen vào giữa hai người.

Anh lưỡng lự rảo bước, nhưng sau đó đi chậm lại và cuối cùng quay ngang và rẽ sang hướng khác.

Khi đi cách chỗ cũ chừng năm mươi thước anh còn ngoái lại.

Không đông, nhưng anh đã không thể nào nhận ra cô nữa.

Bất kì ai trong hơn một chục người đang hớt hơ hớt hải bước kia cũng có thể là cô.

Không thể nhận ra cái thân hình đẫy đà, thô kệch của cô từ phía sau được nữa.

"Lúc đó ta có chủ ý như thế"- Julia đã nói như vậy.

Anh cũng có chủ ý như thế.

Anh không chỉ nói điều đó, anh muốn điều đó.

Anh muốn họ đưa cô chứ

không phải anh cho lũ....

Có những nốt nhạc lạ xen vào bản đang phát trên màn vô tuyến.

Những nốt rè rè, khủng bố, những nốt nhạc vàng.

Sau đó - có thể chuyện đó không xảy ra đâu, có thể đấy chỉ là sự hồi sinh của kí ức khi nghe thấy những âm thanh quen thuộc mà thôi - một giọng cất lên:

Dưới bóng cây dẻ này

Tôi bán anh và anh bán tôi.

Mắt anh đẫm lệ.

Người hầu bàn vô tình đi ngang.

Nhận thấy li của anh đã cạn, anh ta mang chai rượu tới và rót đầy.

Anh nâng li rượu lên ngửi.

Cảm giác kinh tởm không giảm mà còn tăng thêm sau mỗi lần đưa li lên miệng.

Nhưng rượu đã là một phần của con người anh.

Nó là cuộc sống, là cái chết và sự tái sinh của anh.

Rượu dìm anh vào trạng thái mụ mị hằng đêm và cũng chính rượu đánh thức anh mỗi sáng.

Khi anh thức giấc, thường là sau mười một giờ, mắt không mở ra được, miệng đắng nghét, còn lưng thì đau như là bị gẫy, anh sẽ không thể nào ngồi lên được nếu không phải là để lấy cái chai và cái li đã đặt bên cạnh giường ngay từ tối hôm trước.

Thế rồi, với chai rượu bên cạnh, anh cứ ngồi đờ đẫn như thế mà nghe màn vô tuyến nói đến tận trưa.

Từ mười lăm giờ trở đi anh là khách thường trực của quán Cây Dẻ.

Không còn ai quan tâm đến công việc anh làm, tiếng còi không còn đánh thức anh, màn vô tuyến không còn nhắc nhở anh.

Thỉnh thoảng, hai lần một tuần, anh có đến công sở, một văn phòng đầy bụi, vắng ngắt trong Bộ Sự Thật để làm việc, nếu có thể gọi đấy là công việc.

Anh được bổ nhiệm vào tiểu ban của một trong rất nhiều tiểu ban của hằng hà sa số ban bệ chuyên giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình biên soạn lần in thứ mười một cuốn từ điển Ngômo.

Họ tham gia soạn thảo cái gọi là Báo Cáo Sơ Bộ, nhưng báo cáo cái gì thì anh cũng chẳng rõ.

Có một vấn đề cần giải quyết: dấu phẩy đặt bên trong hay bên ngoài dấu

ngoặc đơn?

Trong tiểu ban còn bốn người nữa, cũng có hoàn cảnh như anh.

Có những ngày họ giải tán ngay khi vừa gặp nhau, sau khi đã thống nhất rằng thực ra chẳng có việc gì để mà làm cả.

Nhưng cũng có những hôm họ nhiệt tình lao vào công việc, chúi mũi viết biên bản hay chắp bút cho những bản ghi nhớ tràng giang đại hải, chẳng bao giờ có đoạn kết; hay tranh luận sôi nổi về những vấn đề phải mang ra bàn thảo, có khi lạc đề vì những cuộc thảo luận tinh tế về định nghĩa, và còn doạ đưa nhau đi gặp cấp trên nữa.

Nhưng sự nhiệt tình đột nhiên lắng xuống, họ ngồi quanh bàn, nhìn nhau bằng những con mắt vô hồn, như những bóng ma tan dần khi có tiếng gà gáy sáng.

Màn vô tuyến ngừng bặt trong giây lát.

Winston lại ngẩng đầu lên.

Tin tức!

Không, người ta chỉ thay bản nhạc thôi.

Anh mường tượng rõ bản đồ Phi Châu ở trong đầu.

Việc di chuyển các binh đoàn được thể hiện bằng những mũi tên: màu đen hướng thẳng xuống phía nam còn màu trắng đi ngang sang hướng đông, đâm vào phần đuôi mũi tên thứ nhất.

Để cho vững dạ, anh lại ngước nhìn khuôn mặt điềm tĩnh, tự tin trong bức ảnh.

Có thể tưởng tượng là không có mũi tên thứ hai được không?

Anh không quan tâm đến chuyện đó nữa.

Anh uống một ngụm rượu và nhấc con mã lên, đi một nước.

Hết.

Nhưng nước đi này rõ rằng là sai, vì rằng...

Kí ức đột ngột hiện về trong tâm trí anh.

Anh nhìn thấy một căn phòng, ngọn nến đang cháy, cái giường lớn phủ vải trắng toát, anh, lúc đó mới chín, mười tuổi, ngồi dưới chân giường, tay lắc cái cốc gieo xúc xắc, cười như nắc nẻ.

Mẹ anh ngồi trước mặt, cũng cười.

Đấy là khoảng một tháng trước khi bà biến mất.

Đấy là giây phút hoà bình, khi anh quên được cái đói trong dạ dày và tình yêu thương của anh đối với mẹ tạm thời được đánh thức.

Anh nhớ rõ ngày hôm đó: mưa như trút, nước chảy thành dòng trên kính cửa sổ, trong phòng tối om, sách cũng không đọc được.

Hai đứa trẻ trong căn buồng tối, tù túng, buồn không chịu được.

Winston lải nhải đến sốt ruột, rồi đòi ăn, đi qua đi lại, kéo hết đồ vật từ chỗ nọ sang chỗ kia, đá vào những tấm ván ốp đến nỗi hàng xóm phải đập vào tường; cô em thì thỉnh thoảng lại gào lên.

Cuối cùng mẹ bảo: "Thôi, ngoan đi nào, mẹ sẽ mua cho con một thứ đồ chơi.

Đẹp lắm.

Con sẽ thích đấy", rồi bà bước ra phố, trong mưa, để vào một cửa hàng tạp hoá ở gần đấy và mang về một hộp các tông có món đồ chơi "rắn và thang" [2] .

Bây giờ anh vẫn nhớ rõ mùi các tông ướt.

Món đồ chơi trông không ra gì.

Thanh gỗ thì nứt nẻ, súc sắc thì không phẳng.

Winston phụng phịu đứng nhìn, chẳng thèm quan tâm đến món đồ chơi mới.

Mẹ thắp một ngọn nến và họ ngồi xuống chơi.

Nhưng anh mê ngay và phá lên cười khi cái vòng tròn nhỏ xíu từ từ tiến lên từng bậc thang hoặc là rơi xuống chỗ con rắn, gần điểm xuất phát.

Anh chơi tám vàn, mỗi lần đều được bốn điểm.

Cô em gái nhỏ, ngồi ở đầu giường, cô còn quá nhỏ, chẳng hiểu mô tê gì nhưng cũng cười vì thấy mẹ và anh cười.

Suốt buổi chiều hôm ấy cả ba người đều vui, y như ngày anh còn bé vậy.

Anh vội xua ngay bức tranh ấy ra khỏi đầu.

Kí ức sai lầm.

Thỉnh thoảng anh lại bị kí ức sai lầm làm phiền như vậy đấy.

Cũng không đáng ngại lắm nếu ta biết rõ chúng.

Có cái đã từng xảy ra, có cái chưa từng xảy ra.

Anh quay lại bàn cờ và nhấc con mã trắng lên.

Bất ngờ, anh đánh rơi quân cờ đến cách một cái.

Anh nhảy dựng lên như có kim đâm vào người.

Tiếng kèn đồng bỗng gầm lên, như muốn xé toạc bầu không khí.

Bản tin!

Chiến thắng rồi!

Kèn đồng thổi trước khi đưa tin là chiến thắng.

Như có một luồng điện truyền khắp quán.

Ngay cả các hầu bàn cũng nhảy lên và dỏng ra tai nghe.

Sau tiếng kèn đồng là tiếng ồn ào chưa từng có.

Một giọng nói lắp bắp, hồi hộp vang lên trên màn vô tuyến, nhưng nó bị chìm ngay trong tiếng reo hò vang lên ngoài đường phố.

Tin tức lập tức được truyền đi khắp các ngõ nghách.

Winston không nghe được mấy, nhưng như thế cũng đủ - giống như anh đã dự đoán: hạm đội hải quân hùng mạnh bí mật tập trung và bất ngờ tấn công vào hậu phương quân địch, mũi tên trắng cắt đứt đôi cái đuôi của mũi tên đen.

Những lời hân hoan, đứt quãng nghe khi được khi không vì tiếng ồn ào: "Cuộc hành binh chiến lược... một sự phối hợp tài tình... tháo chạy hỗn

loạn... nửa triệu tù binh... sự suy sụp hoàn toàn... làm chủ toàn bộ Phi Châu... kết thúc chiến tranh trong một tương lai không xa... chiến thắng vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại... chiến thắng, chiến thắng, chiến thắng!"

Chân Winston cứ giật liên hồi.

Anh vẫn ngồi ở chỗ cũ, nhưng đầu óc anh đang phóng đi, phóng rất nhanh, anh đang hoà cùng đám đông bên ngoài, hò reo đến điếc cả tai.

Anh lại ngước nhìn Anh Cả.

Một người khổng lồ ngạo nghễ trên đầu thiên hạ!

Bọn mọi Á Châu sẽ tan tành khi đập vào tảng đá chắn đường ấy!

Anh nghĩ mới mười phút trước, đúng thế, chỉ mười phút trước anh vẫn còn nghi ngờ, anh vẫn còn chưa biết tin từ mặt trận sẽ ra sao: chiến thắng hay là thất bại.

Không, không phải chỉ có đội quân Eurasia bị xoá sổ!

Trong anh đã diễn ra nhiều thay đổi kể từ ngày vào Bộ Tình Yêu, nhưng sự thay đổi tối hậu, sự thay đổi cần thiết, chữa lành căn bệnh thì bây giờ mới xẩy ra.

Màn vô tuyến vẫn tiếp tục rót vào tai người ta huyền thoại vế số tù binh, về chiến lợi phẩm, về những cuộc tàn sát, nhưng tiếng hò reo bên ngoài thì đã lắng xuống rồi.

Những người hầu bàn tiếp tục trở lại làm việc.

Một người cầm cái chai đến bên bàn anh.

Winston, vẫn còn mơ màng, không biết là li đã được rót đầy.

Anh không còn chạy và reo hò nữa.

Anh đã quay lại Bộ Tình Yêu, mọi việc đều được tha thứ, tâm hồn anh trở nên trong trắng như tuyết.

Anh ngồi trên ghế bị cáo, nhận hết, khai ra tất cả mọi người.

Anh đang đi trong một hành lang lát đá trắng, cảm giác như đang bước dưới ánh mặt trời, phía sau là viên cai ngục.

Viên đạn mà anh chờ đợi bấy lâu đang chui vào óc anh.

Anh ngắm nhìn khuôn mặt to bè.

Phải bốn mươi năm anh mới hiểu được ý nghĩa của nụ cười ẩn chứa đằng sau chòm râu đen ấy.

Một sự hiểu lầm ác nghiệt, vô ích!

Mình là một kẻ ngoan cố, bướng bỉnh, được thương lại còn không muốn!

Hai giọt nước mắt, anh vừa uống một ngụm Gin, lăn trên cánh mũi.

Nhưng tốt rồi, bây giờ thì mọi việc đều tốt rồi, cuộc chiến đấu đã kết

thúc.

Anh đã thắng được mình.

Anh đã yêu Anh Cả.

1949

Dịch lần đầu 15/03/2004 - 15/06/2004.

[1]Nguyên văn: the worst thing in the world - điều tệ hại nhất trên thế gian.

[2]Nguyên văn: Snake and ladder (Rắn và thang), trò chơi, tính điểm, thêm điểm thì chuyển quân lên (leo thang), còn mất điểm thì chuyển xuống dưới (xuống rắn)
 
A
Phụ lục


Những nguyên tắc cơ bản của Ngômo

(lược dịch)

Ngômo là ngôn ngữ chính thức của Oceania, được sáng chế để phục vụ cho hệ tư tưởng Chuanh hay Chủ nghĩa xã hội Anh quốc.

Vào năm 1984 chưa có ai sử dụng Ngômo trong giao tiếp, kể cả nói cũng như viết.

Những bài xã luận trên tờ Times được viết bằng Ngômo, nhưng đấy là công việc của các chuyên viên.

Người ta cho rằng Ngômo sẽ hoàn toàn thay thế Ngôn ngữ cũ (tiếng Anh chuẩn như vẫn gọi) trước năm 2050.

Hiện nay nó đang dần ổn định, ngày càng có nhiều đảng viên sử dụng các từ và cấu trúc ngữ pháp của Ngômo trong giao tiếp.

Phương án được sử dụng vào năm 1984, được thể hiện trong lần xuất bản thứ chín và mười cuốn Từ điển Ngômo là phương án tạm, còn chứa nhiều từ thừa và các cấu trúc ngữ pháp cũ, sẽ bị thay thế trong lần xuất bản thứ mười một.

Ở đây xin được bàn về các nguyên tắc cơ bản của Ngômo trong lần xuất bản thứ mười một.

Mục đích của Ngômo không chỉ là cung cấp cho những người đi theo Chuanh phương tiện thể hiện thế giới quan và hoạt động tư duy mà còn nhằm ngăn chặn mọi luồng tư tưởng không phù hợp khác.

Người ta cho rằng khi Ngômo đã giành thắng lợi hoàn toàn và Ngôn ngữ cũ đã bị quên thì những tư tưởng dị giáo, nghĩa là những tư tưởng xa lạ với Chuanh sẽ không còn đất sống vì không thể tư duy được, nếu quả thật tư duy là phải thông qua vỏ ngôn ngữ như người ta vẫn nói.

Từ vựng được xây dựng sao cho có thể thể hiện một cách chính xác, mà thường là cực kì chính xác ý tưởng mà đảng viên muốn nói, đồng thời loại bỏ tất cả những nghĩa phụ, nghĩa không cần thiết.

Điều này được thực hiện bằng cách chế ra các từ mới, nhưng chủ yếu là bằng cách loại bỏ những từ thừa và tẩy sạch những nghĩa dị giáo hoặc nói chung là các nghĩa phái sinh của những từ còn được giữ lại.

Xin dẫn một thí dụ.

Từ tự do vẫn còn, nhưng nó chỉ còn được sử dụng trong những mạnh đề như: "vào cửa tự do" mà thôi.

Nó không còn được sử dụng theo nghĩa cũ

như: "tự do chính trị" hay "tự do tư tưởng" nữa bởi vì những khái niệm này đã không còn, khái niệm không còn thì dĩ nhiên tên phải mất.

Bên cạnh đó việc loại bỏ từ vựng được coi là mục đích tự thân của quá trình hoàn thiện Ngômo, những từ nào không thật cần thiết sẽ bị loại bỏ không thương tiếc.

Ngômo được sáng chế không phải với mục đích mở rộng mà là giới hạn tầm tư duy của con người, giảm số từ vựng đến mức tối thiểu cũng là nhằm mục đích ấy, một cách gián tiếp.

Ngômo được xây dựng trên cơ sở tiếng Anh hiện nay, nhưng đa số người hiện nay sẽ không hiểu được ý nghĩa của hầu hết các mệnh đề của nó, ngay cả khi không có một từ mới nào.

Từ vựng Ngômo được chia làm ba nhóm: nhóm A, nhóm B (các từ kết hợp) và nhóm C.

Nhóm A gồm những từ cần dùng cho cuộc sống thường ngày thí dụ như: ăn, uống, làm việc, mặc, lên cầu thang, xuống cầu thang, đạp xe, làm vườn, nấu nướng v.v.

Nó bao gồm phần lớn những từ ta vẫn dùng hiện nay như: đánh, chạy, chó, cây, nhà cửa, cánh đồng, nhưng so với hiện nay thì số lượng đã giảm rất nhiều và ý nghĩa mỗi từ được xác định cực kì chính xác.

Mọi sự mập mờ đều bị loại bỏ.

Mỗi từ thuộc nhóm này thường chỉ gồm một âm tiết hay một vài âm tiết riêng rẽ và thể hiện một nghĩa duy nhất.

Không thể dùng các từ nhóm A cho các cuộc thảo luận về văn chương, chính trị hay triết học.

Chúng chỉ có thể được dùng để thể hiện những ý nghĩ đơn giản, có mục đích rõ ràng, thường là để chỉ các vật hay hành động vật lí cụ thể.

Ngữ pháp Ngômo có hai đặc điểm nổi bật.

Trước hết đấy là một từ có thể đóng vai trò như động từ, danh từ, tính từ và trạng từ.

Ví dụ từ thougt (ý nghĩ) sẽ không còn, từ think (suy nghĩ) sẽ đóng vai trò cả danh từ và động từ.

Đôi khi cả những cặp từ không có cùng một gốc thí dụ từ knife (con dao) đóng luôn vai trò của nó và của động từ cut (cắt) v.v.

Ngoài ra các từ phủ định thường được tạo ra bằng cách thêm chữ un (không) vào trước từ khẳng định, còn để nhấn mạnh ý khẳng định thì thêm chữ plus

(cộng), còn để nhấn mạnh nữa thì thêm doubleplus (đôi cộng).

Thí dụ từ khônglạnh sẽ hoàn toàn thay thế cho từ ấm, còn từ cộnglạnh sẽ thay thế cho từ rất lạnh còn từ đôicộnglạnh sẽ thay thế cho từ cực kì lạnh.

Bằng cách đó sẽ giảm được rất nhiều từ, ví dụ từ khôngtốt sẽ thay thế cho từ xấu, từ tối sẽ được thay bằng khôngsáng hoặc sáng thay bằng khôngtối tuỳ theo sự lựa chọn của những người biên tập từ điển.

Đặc điểm thứ hai là Ngômo không còn các động từ bất qui tắc nữa.

Tất cả các động từ thời quá khứ đều có kết thúc là ed.

Thí dụ steal (ăn cắp) chia ở thời quá khứ sẽ là stealed hay từ think thời quá khứ sẽ là thinked và như vậy các từ swam, gave, brought, spoke, taken v.v. sẽ bị xoá bỏ hoàn toàn.

Nhóm B là các từ được tạo ra cho các mục đích chính trị, nghĩa là những từ không những có ý nghĩa chính trị mà còn tạo ra một thái độ chính trị cần thiết nơi người sử dụng.

Nếu không hiểu một cách đầy đủ các nguyên lí của Chuanh thì việc sử dụng các từ này thật là một công việc thiên nan vạn nan.

Đôi khi có thể dịch các từ này sang Ngôn ngữ cũ hoặc dùng các từ nhóm A để giải thích, nhưng đấy sẽ là những mệnh đề rất dài và ý nghĩa không thể nào đầy đủ được.

Từ vựng nhóm B là những từ ngắn, chỉ vài âm tiết đã có thể nói được cả một loạt ý tưởng và hơn thế nữa còn nói chính xác hơn, sinh động hơn ngôn ngữ bình thường.

Từ vựng nhóm B là những từ kép, gồm hai hoặc nhiều từ hoặc thành phần của các từ ghép lại với nhau sao cho có thể dễ phát âm.

Thí dụ từ goodthink (nghĩtốt) nghĩa là chính thống hay có thể nói: "nghĩ theo kiểu chính thống".

Danh-động từ là goodthink, quá khứ là goodthinked, phân từ hiện tại là goodthinking, tính từ là goodthinkfull, trạng từ là goodthinkwise, còn người suy nghĩ theo lối chính thống sẽ là goodthinker.

Từ vựng nhóm B cũng có thể được cấu tạo từ bất cứ thành phần nào của những từ khác như Bôbi - là Bộ Hoà Bình, Bôti là Bộ Tình Yêu, Bôta là Bộ Sự Thật và Bôno là Bộ Ấm No v.v.

Ý nghĩa của một ít từ này được mở rộng đến nỗi bao gồm một loạt khái niệm và sau khi đã gói các khái niệm này vào một từ thì có thể vất bỏ và quên các khái niệm đó đi.

Khó khăn lớn nhất của các biên tập viên từ điển Ngômo không phải là việc nghĩ ra từ mới mà là xác định ý nghĩa của nó,

cũng có nghĩa là xác định một loạt các từ bị nó thay thế.

Như chúng ta đã thấy, có một số từ như từ tự do, tuy trước đây có một vài nghĩa có hại nhưng vẫn được giữ lại, sau khi đã loại bỏ những nghĩa xấu đó rồi.

Rất nhiều từ khác như danh dự, công bằng, nhân cách, chủ nghĩa quốc tế, dân chủ, khoa học, tôn giáo thì bị xoá sổ hoàn toàn.

Có một số từ mới thay thế những từ đó, nhưng sau khi thay rồi thì lại xoá bỏ chính những khái niệm ấy.

Thí dụ các từ tập hợp xung quanh khái niệm tự do, bình đẳng được thay bằng crimethink (nghĩtội), hoặc các từ tập hợp xung quanh khái niệm khách quan, duy lí được thay bằng oldthink (nghĩcũ).

Đảng viên, giống như một người Do Thái cổ, phải tin rằng tất cả các dân tộc khác đều thờ các "chúa trời rởm".

Anh ta không cần biết tên các "chúa" ấy là gì, dù có là Baal, Osiris, Moloch hay Ashtoroh thì cũng vậy mà thôi, càng biết ít anh ta lại càng chính thống hơn.

Anh ta chỉ cần biết Jehovah và các điều răn của Jehovah là đủ, các chúa trời khác với những đức tính khác đếu là "đồ rởm" hết.

Tương tự như vậy, đảng viên biết hạnh kiểm tốt là như thế nào, nhưng biết rất mù mờ là được phép đi lệch khỏi đó bao xa.

Thí dụ đời sống tình dục của anh ta được điều chỉnh bởi hai từ sexcrime (sextội) và goodsex (sextốt).

Sextội bao gồm tất cả các lệch lạc về tình dục.

Nó bao gồm gian dâm, thông dâm, đồng tính và các lệch lạc khác kể cả làm tình chỉ vì mục đích nhục dục.

Chẳng cần phải liệt kê hết vì tất cả các hành động đó đều bị trừng phạt và thường là bị tội tử hình.

Trong phần từ vựng C, bao gồm các thuật ngữ khoa học kĩ thuật, có thể sẽ có những từ liên quan đến các lệch lạc vè tính dục, nhưng đa số công dân sẽ không cần biết những khái niệm đó.

Anh ta chỉ cần biêt ý nghĩa của sextốt, đấy là việc giao hợp với mục đích sinh con, người đàn bà không được có một chút khoái cảm nào, tất cả những điều khác đều là sextội.

Ngômo không cho phép những tư tưởng phi chính thống xuất hiện, vì không có từ ngữ để mà suy nghĩ, biết đấy là phi chính thống là "xong

phim".

Không có từ nào trong phần B là trung lập hết.

Đa số các từ đều là từ nói lái.

Thí dụ từ joycamp (trạivui) là để chỉ trại lao động khổ sai, hay Bôbi là Bộ Hoà Bình nhưng thực chất là Bộ Chiến Tranh, chúng có ý nghĩa hoàn toàn ngược lại với cái mà ta tưởng ban đầu.

Mặt khác một số từ lại thể hiện thái độ khinh bỉ trắng trợn thực tế xã hội Oceania, thí dụ từ culicấp chỉ những trò

giải trí nhảm nhí và tin tức dối trá mà Đảng cung cấp cho đám đông dân chúng.

Một số từ lại có hai nghĩa, nghĩa tốt nếu là nói về Đảng và nghĩa xấu nếu là nói về kẻ thù.

Tất cả các từ có ý nghĩa chính trị hay có thể có ý nghĩa chính trị đều được đưa vào nhóm B.

Tên của tất cả các tổ chức, các nhóm người, các học thuyết, các nước, các toà nhà công cộng đều được lập theo một mô hình: ít âm tiết, dễ phát âm và thể hiện được nguồn gốc.

Thí dụ Ban Tài Liệu trong Bộ Sự Thật, nơi Winston công tác, được gọi là Banta, Ban Sáng Tác gọi là Bansa, Ban Chương Trình Vô Tuyến gọi là Banvô vân vân và vân vân.

Đấy không phải chỉ là vấn đề tiết kiệm thời gian.

Ngay từ những năm đầu thế kỉ XX việc sử dụng các thuật ngữ rút gọn đã trở thành đặc trưng của ngôn ngữ chính trị và xu hướng này càng nổi rõ trong các nước và các tổ chức theo đường lối toàn trị.

Thí dụ như các từ Nazi, Gestapo, Comintern v.v.

Ban đầu là vô thức, nhưng Ngômo lại áp dụng một cách có chủ đích.

Khi rút ngắn một tên là ta đã giới hạn và đánh tráo một cách tinh vi ý nghĩa của nó, cắt đứt những tình cảm gắn bó với từ đó.

Thí dụ từ Communist International gợi trong lòng người những khái niệm như tứ hải giai huynh đệ, cờ đỏ, chiến luỹ, Karl Marx và Công xã Paris.

Nhưng từ Comintern lại gợi ra trong tâm tưởng hình ảnh một tổ chức gắn bó như các mắt xích và một học thuyết được xác định rõ ràng.

Nó nói đến một cái gì đó rõ ràng, dễ xác định và có mục đích giới hạn như kiểu một cái bàn hay cái ghế vậy thôi.

Có thể phát âm từ Comintern mà không cần suy nghĩ, trong khi Communist International nhất định bắt người ta liên tưởng, dù chỉ trong giây lát.

Tương tự như vậy từ Bôta gợi ra ít tình cảm và nếu có thì cũng dễ kiểm soát hơn Bộ Sự Thật.

Trong Ngômo sự thuận miệng của từ ngữ quan trọng hơn tính chính xác và qui luật ngữ pháp.

Đối với mục đích chính trị thì trước hết đấy phải là các từ ngắn, có ý nghĩa rõ ràng, dễ phát âm và càng tạo được ít tình cảm trong lòng người nói càng tốt.

Đa số các từ nhóm B có hai âm tiết như nghĩtốt, Bôbi, sextội, trạivui, Chuanh... và khi nói phải nhấn mạnh cả âm đầu cũng như âm cuối.

Nó buộc người ta phải nói nhanh, lắp bắp và nghe rất đơn điệu.

Mục đích là làm sao có thể nói những câu chuyện về các vấn đề tư tưởng một cách hoàn toàn vô thức.

Đối với các vấn đề thuộc về đời sống thường nhật thì nhất định phải suy nghĩ trước khi nói, nhưng các đảng viên khi đưa ra các

phán xét về chính trị hoặc đạo đức thì phải có khả năng phun ra các ý kiến đúng một các tự động như khẩu súng vãi đạn vậy.

Luyện tập sẽ giúp anh ta, ngôn ngữ cung cấp cho anh ta phương tiện, cấu trúc từ vựng với những âm thanh muốn xé màng nhĩ và bị xuyên tạc một cách cố ý, phù hợp với Chuanh làm cho công việc càng dễ dàng hơn.

Công việc còn dễ dàng hơn nữa vì số từ không có bao nhiêu.

So với hiện nay thì từ vựng Ngômo phải nói là cực ít và càng ngày càng giảm.

Khác với đa số các ngôn ngữ khác, từ vựng Ngômo chỉ giảm chứ không tăng.

Giảm là thắng lợi bởi vì càng ít từ thì người ta càng ít suy nghĩ lung tung.

Sau chót, người ta hi vọng rằng khi nói đảng viên chỉ cần dùng cuống họng mà không cần phải sử dụng đến hệ thần kinh trung ương nữa.

Mục đích này thể hiện rõ nhất trong từ vịtngữ, nghĩa là kêu quạc quạc như bày vịt.

Giống như đa số các từ thuộc nhóm B vịtngữ cũng co hai nghĩa.

Nếu nói một người nào đó "quạc" ra một câu phù hợp với chính thống thì đấy là lời khen, thí dụ nếu tờ Times viết về một diễn giả của Đảng là: diễn giả vịtngữ đôicộngtốt thì đấy là một lời ngơi khen nồng nhiệt và rất có giá trị.

Nhóm C là các từ thuộc lĩnh vực khoa học và kĩ thuật.

Các từ này cũng giống như những từ chúng ta đang sử dụng hiện nay nhưng được qui định chặt chẽ hơn và đã bị tước bỏ hết các nghĩa có hại.

Chúng cũng tuân thủ các qui luật ngữ pháp như từ vựng của phần A và B nói trên.

Rất ít từ nhóm C được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày hay trong lĩnh vực chính trị.

Bất cứ nhà khoa học hay kĩ sư nào cũng có thể tìm được những từ cần thiết thuộc lĩnh vực của anh ta trong một bản danh sách dành riêng cho lĩnh vực ấy, nhưng anh ta hiểu rất hời hợt về các lĩnh vực khác.

Các bản danh sách có rất ít từ chung và những từ thể hiện khoa học như là phương pháp tư duy thì hoàn toàn không có.

Bản thân từ "khoa học" cũng không tồn tại, từ "Chuanh" đã bao hàm tất cả các nghĩa có thể chấp nhận được của khoa học rồi.

Từ những điều đã trình bày ở trên có thể thấy rằng Ngômo không cho phép phát biểu bất kì tư tưởng phi chính thống nào.

Dĩ nhiên là có thể nói những lời dị giáo thô thiển theo kiểu báng bổ.

Thí dụ có thể nói: "Anh Cả không tốt".

Nhưng đối với một người chính thống thì câu đó là câu hoàn toàn vô

nghĩa vì chẳng thể nào chứng minh được, đơn giản vì không có đủ từ.

Những tư tưởng trái ngược với Chuanh chỉ có thể xuất hiện dưới dạng mù mờ, không thành tiếng; các tư tưởng dị giáo đó bị lên án một cách chung chung, không phân biệt cái nào ra cái nào.

Vào năm 1984 Ngôn ngữ cũ vẫn là phương tiện giao tiếp, có khả năng là khi sử dụng từ vựng Ngômo người ta sẽ nhớ nghĩa cũ của chúng.

Nhưng thực ra người được giáo dục theo tinh thần nướcđôi sẽ dễ dàng vượt qua được khó khăn này và chỉ vài thế hệ nữa thì sai lầm kiểu đó sẽ không thể nào xảy ra được.

Một người lớn lên cùng Ngômo sẽ không thể nào biết rằng trước đây từ tự do còn có nghĩa thí dụ như trong câu: "tự do tư tưởng", cũng như một người không nghe nói đến cờ tướng bao giờ sẽ không biết rằng từ hậu hay từ sĩ trên bàn cờ có nghĩa khác hẳn từ đó ngoài đời.

Nhiều tội lỗi và sai lầm sẽ không xảy ra vì những tội lỗi ấy không có tên gọi và vì vậy cũng không thể nào mường tượng được.

Cũng có thể thấy trước được rằng cùng với thời gian đặc trưng cơ bản của Ngômo sẽ càng ngày càng hiện rõ, đấy là số từ ngày một ít hơn và ý nghĩa của mỗi từ thì ngày càng hẹp hơn, khả năng sử dụng chúng một cách sai lầm sẽ ngày một ít đi.

Khi Ngôn ngữ cũ đã bị thay thế hoàn toàn thì mối dây liên hệ với quá khứ cũng sẽ bị chặt đứt một cách vĩnh viễn.

Lịch sử đã bị viết đi viết lại, nhưng văn chương của quá khứ vẫn còn sót lại ở đâu đó và khi người ta chưa quên hẳn ngôn ngữ cũ thì người ta vẫn có thể đọc được.

Nhưng trong tương lai nếu văn chương còn có cơ may sống sót ở đâu đó thì cũng không ai hiểu được, không thể nào phiên dịch sang Ngômo được nữa.

Chỉ có thể dịch từ Ngôn ngữ cũ sang Ngômo các tài liệu kĩ thuật hay những câu nói về các hành động trong đời thường hoặc những tư tưởng chính thống (nghĩtốt - nói theo Ngômo).

Điều đó có nghĩa là không thể nào dịch được trọn vẹn sang Ngômo một cuốn sách ra đời trước năm 1960.

Văn chương trước cách mạng phải cải biến cả về ngôn ngữ và ý nghĩa cho phù hợp với tư tưởng chính thống.

Lấy thí dụ một đoạn trong Tuyên ngôn độc lập của nước Mĩ:

....Mọi người sinh ra đều bình đẳng, thượng đế đã ban cho họ những quyền không thể tách rời, đấy là quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh

phúc....

Không thể nào dịch được ý nghĩa ban đầu của đoạn văn này sang Ngômo.

Chỉ có thể dồn cả đoạn vào một từ: tộitưtưởng, còn nếu dịch toàn bộ thì những câu chữ đó của Jefferson sẽ biến thành bài tụng ca quyền lực tuyệt đối.

Đa số tác phẩm văn chương trong quá khứ đã được phiên dịch theo kiểu này.

Vì thể diện người ta cố gắng giữ lại tên tuổi một số nhân vật lịch sử, nhưng lại cải biến tác phẩm của họ cho phù hợp với đường lối của Chuanh.

Một số nhà văn như Shakespeare, Milton, Swift, Byron, Dicken và những người khác đang được dịch và khi hoàn thành thì tác phẩm ban đầu của họ cũng như những tác phẩm còn sót lại khác sẽ bị tiêu huỷ.

Việc phiên dịch tiến hành rất chậm và khó có thể tin rằng có thể hoàn thành trước thập kỉ thứ hai của thế kỉ hai mươi mốt.

Còn rất nhiều tác phẩm có tính chất thực dụng khác, ví dụ như các bản hướng dẫn kĩ thuật và các tài liệu đại loại như vậy cũng cần phải được xử lí.

Chính vì cần phải dành thời gian cho công tác dịch thật cho nên việc chính thức sử dụng Ngômo mới được hoãn đến năm 2050.
 
Back
Top Dưới