Cập nhật mới

Ngôn Tình A Lê

A Lê
Chương 100


Chớp mắt đã qua thêm một tháng, thời tiết ấm dần, Lai Bảo cũng đã được sáu tháng tuổi, có thể tự ngồi dậy.

Chỉ còn nửa năm nữa là đến kỳ thi Hương, thêm vào chuyện của Khâu Vân Xuyên khi trước, Nguyễn Ngôn Sơ lại càng miệt mài đọc sách, gần như chẳng bước chân ra khỏi cửa. Việc làm ăn ở Chức Y Hạng cũng ngày càng phát đạt, Tiết Duyên dứt khoát mua luôn hai cửa tiệm bên cạnh, khiến Chức Y Hạng trở thành cửa hàng may sẵn lớn nhất ở Ninh An, ai nấy đều biết tiếng.

Ngày Khâu Vân Xuyên xuất giá, A Lê bế Lai Bảo ngồi trước cửa tiệm phơi nắng, Tiết Duyên tựa bên cạnh nàng, cùng ngắm mười dặm hồng trang rực cả con phố.

Tân lang là trưởng tử của Tống gia ở phía bắc thành, cưỡi ngựa cao to đi trước, dáng vẻ kiêu ngạo oai phong vô cùng. Tống gia mở ngân trang (ngân hàng tư nhân), là gia tộc lớn có tiếng mấy chục năm, lại còn có con gái làm phi trong cung, thế nên giàu có vô kể. Hai bên đường chật kín người xem náo nhiệt, đoàn rước dâu có quan sai mặc áo đen cầm đao dài đi hai bên, thế trận chẳng khác nào đế vương đi tuần.

A Lê ôm Lai Bảo trong lòng, mím môi nhìn cỗ kiệu đỏ mười hai người khiêng, rồi nghiêng đầu hỏi Tiết Duyên, “Nếu tính theo luật, kiểu xuất giá này có phải là vượt quá quy định không?”

Tiết Duyên thấp giọng đáp, “Không chỉ là vượt quá, dù có là tể tướng gả khuê nữ cũng không dám công khai để quan sai đi theo thế này. Nếu bị ngôn quan tấu giác, tru di cửu tộc Tống gia.”

A Lê thở dài, “Nhưng Ninh An cách kinh thành cả ngàn dặm, hoàng đế ở xa trời cao, ai quản được Khâu gia chứ?”

Tiết Duyên cười nhẹ, đưa tay chạm khẽ vào d** tai nàng, dịu giọng an ủi, “Đi đêm có ngày gặp ma, thiện ác có báo, chỉ là sớm muộn thôi.”

A Lê nghiêng đầu nhìn chàng, thấy chàng tuy cười nhưng trong mắt lại ánh lên sự lạnh lẽo, nàng hiểu rõ trong lòng Tiết Duyên chắc chắn đã có tính toán.

Mặt trời dần lên cao, ánh nắng chói chang, Lai Bảo ngồi ngoài nửa canh giờ đã díp mắt buồn ngủ. A Lê bế con nhét vào tay Tiết Duyên, xắn tay áo đi vào trong nhà, “Muốn ăn gì?”

Tiết Duyên đón lấy con một cách thuần thục, một tay bế, tay kia khoác lên vai nàng, nghĩ một lát rồi nói, “Ăn hoành thánh đi.”

A Lê bĩu môi, “Còn phải băm thịt, gói từng cái, phiền lắm, đổi món gì đơn giản hơn được không?”

Tiết Duyên nghiêng người chắn đường nàng, khi bước vào bếp thì cúi xuống hôn lên má, vừa cười vừa than nhẹ, “Hồi trước tức phụ đâu có chê phiền, sao giờ con lớn rồi thì lại không thích ta nữa hả?”

A Lê vội lấy mu bàn tay lau vết nước trên má, quay đầu liếc chàng một cái. Lại Bảo bị ép giữa hai người, tròn mắt tỉnh dậy, vẻ mặt như ngạc nhiên vô cùng. Dù biết con còn nhỏ chưa hiểu gì, nhưng A Lê vẫn đỏ bừng mặt, khẽ đẩy Tiết Duyên một cái, “Không đứng đắn gì hết!”

Tiết Duyên cười cợt nhả đi theo, lấy tạp dề giúp nàng buộc lại. Giờ chàng đã quen đến mức có thể buộc bằng một tay, thắt thành hình nơ đẹp đẽ.

A Lê vỗ vỗ nếp nhăn phía trước, quay sang giỏ rau xem còn gì, Tiết Duyên lại hỏi, “Tức phụ ơi, nàng có làm hoành thánh cho ta không?”

A Lê chẳng ngẩng đầu, lẩm bẩm, “Không.”

Tiết Duyên không chịu thua, hỏi lại lần nữa. Lai Bảo giờ đã bắt đầu ăn dặm, nghe được mấy từ quen thuộc nên cũng vỗ tay phụ họa, “a a” theo cha.

Hai cha con kẻ xướng người họa, phối hợp y như diễn tuồng trên sân khấu.

Tiết Duyên nói, “Mẫu thân xấu quá đi, không chịu nấu cơm cho tụi mình ăn.”

Lai Bảo gật đầu lia lịa, đôi giày hổ bó chân nhỏ xíu đạp loạn lên.

Tiết Duyên giữ chặt đôi chân nhỏ, tiếp tục nói, “Mẫu thân xấu lắm, hôn cái cũng không vui, còn nói cha không đứng đắn, chưa từng thấy ai như vậy.”

Lai Bảo phồng má, “phụt” một bãi nước bọt.

Tiết Duyên tiện tay lau đại lên mặt con, rồi nói tiếp, “Mẫu thân xấu lắm, không thương Lạ\ai Bảo nữa, muốn để bụng con đói, mà đói thì con không cao lên được, sau này thành thằng hề nhỏ, chẳng cưới được vợ đâu, thành con nít mít ướt mất thôi.”

Lai Bảo cau mày suy nghĩ một lát, rồi bất ngờ quay đầu “phụt” cho Tiết Duyên đầy mặt nước bọt.

Tiết Duyên nói, “…Con giỏi lắm, mau l**m sạch cho ta, không thì chuyện này chưa xong đâu.”

A Lê ôm củ cải trắng, dựa vào bếp cười đến nỗi không thẳng lưng nổi. Người ta nói gần mực thì đen, hóa ra gần trẻ con cũng khiến người ta nói giọng trẻ con theo. Tiết Duyên khi gặp người ngoài luôn điềm tĩnh, chững chạc, nhưng về đến nhà là toàn miệng “ăn cơm ăn cơm”, “tắm tắm”, “gấp chăn gấp chăn”, như thể nói vậy con mới nghe lời.

Phùng thị cũng không chịu nổi chàng như vậy, nhưng Tiết Duyên chẳng sửa được, cứ bước vào nhà là lưỡi tự cuộn lại.

A Lê từng lo rằng nếu một ngày nào đó chàng ra bàn chuyện làm ăn mà buột miệng nói “Ngươi định trả ta bao nhiêu tiền tiền trinh[1] đây?”, thì chắc chỉ còn nước chui xuống đất.

[1] Tiền trinh: đồng tiền Trung Quốc ngày xưa.

Bên kia, không khí ấm áp giữa cha con nhanh chóng tan biến, hai người lại cãi nhau ầm ĩ. Lai Bảo tuy chưa biết nói nhưng hiểu được là bị cha mắng, phồng má liên tục phun nước bọt. Tiết Duyên xách cổ áo con né ra xa, nhưng Lai Bảo nhỏ mà khỏe, vẫn làm ướt cả ngực áo của chàng.

A Lê đi tới bế con qua tay mình, cười bảo Tiết Duyên đi thay áo. Tiết Duyên còn bực bội, tháo áo ngoài ra, chỉ vào Lai Bảo đang ngoan ngoãn nằm trong lòng mẹ mà than, “Nhìn người biết nết, mới tí tuổi đã cãi cha, lớn lên chắc thành tên tiểu lưu manh mất thôi!”

Lai Bảo “phì” một tiếng.

“…” Tiết Duyên bó tay, chỉ biết nuốt giận mà bỏ đi thay đồ.

A Lê cười đến cong mắt, xoa má con, mịn màng như đậu hũ non. Thằng bé thừa hưởng làn da trắng nõn mịn màng của mẫu thân, đôi mắt đen lay láy khiến ai nhìn cũng khen như tiểu cô nương.

A Lê dịu dàng nói, “Lai Bảo ngoan, ngủ một lát đi nhé, mẫu thân làm hoành thánh bò cho con ăn, được không nè?”

Lai Bảo chẳng biết có hiểu không, chỉ cười khanh khách, rồi dụi đầu vào ngực mẫu thân, ngoan ngoãn nhắm mắt ngủ.

Ngày tháng cứ thế trôi chậm rãi, yên bình.

Đầu tháng Tư, Hồ An Hòa thuê một xưởng nhuộm, bắt đầu nghiên cứu cách nhuộm vải ra màu chuyển sắc.

Thời gian này, Chức Y Hạng liên tục tung ra những kiểu xiêm y mới. A Lê có thiên phú trong lĩnh vực này, không chỉ vẽ được các mẫu váy dựa trên phong cách tộc Di, mà còn kết hợp yếu tố trang phục đặc sắc của người Miêu, người Hồi Hột ở Thông Lĩnh, người Lật Túc Nộ Giang, tạo nên những thiết kế độc đáo. Cứ hai tháng lại đổi mẫu chủ đạo một lần, chẳng mấy chốc họ gần như độc chiếm toàn bộ thị trường may mặc ở Ninh An.

Nhưng Tiết Duyên dần nhận ra, đó không phải là kế lâu dài.

Chàng không muốn A Lê coi việc đó là gánh nặng. A Lê vẽ vì yêu thích, chứ nếu biến nó thành việc bắt buộc để kiếm tiền, sớm muộn niềm yêu thích ấy cũng sẽ phai nhạt. Tiết Duyên không muốn nàng vì tiền hay vì bất kỳ lý do nào khác mà đánh mất đam mê vốn có, bởi cái quá trình phải tự phủ định rồi chấp nhận, cuối cùng bất lực chịu thua, sẽ rất đau đớn.

Trong lòng chàng, việc nuôi sống gia đình là trách nhiệm của một nam nhi. Nếu để A Lê phải gánh một phần dù rất nhỏ, thì đó là thất bại của chính chàng.

Còn một lý do khác, mỗi lần Chức Y Hạng tung mẫu mới ở Ninh An, chưa tới ba ngày, các tiệm khác đã đua nhau bắt chước, còn hạ giá để cướp khách. Mẫu mã thì ai cũng có thể nhìn thấy, chuyện này không thể tránh, chỉ có thể cắn răng chịu thiệt.

Muốn phá thế bế tắc ấy, chỉ có một cách, tạo ra thứ mà người khác không thể bắt chước.

Và cách tốt nhất, chính là bắt đầu từ nhuộm vải.

Ninh An có nhiều thợ thêu tài giỏi, nhưng không ai có thể độc quyền một kiểu thêu. Còn nếu họ có thể nhuộm được loại vải có màu loang chuyển tự nhiên từ hồng nhạt sang đỏ đậm mà người khác không làm được, thì khi ấy, họ mới thật sự nắm quyền đứng đầu.

____________

Tác giả có lời:
Nhân vật mới của tôi rốt cuộc vẫn chưa kịp ra sân khấu, chỉ thiếu mấy trăm chữ nữa thôi…
Chưa viết xong [rối rắm nhỏ.jpg]
(Không phải anh thợ nhuộm đâu nha~)
 
A Lê
Chương 101


Vì loại vải có màu loang dần này, Hồ An Hòa đã thuê hẳn một xưởng nhuộm, vùi đầu làm việc suốt một tháng trời, cuối cùng cũng chế tạo ra một cái guồng nhuộm bằng gỗ. Loại guồng này khác với guồng kéo nước ở giếng, nó không quấn chặt mà trông giống như những vòng xoắn trên vỏ ốc sên, giữa các vòng có những khoảng hở nhỏ.

Nguyên lý nhuộm thực ra rất đơn giản, vải ngâm trong bể nhuộm thời gian khác nhau sẽ lên màu khác nhau. Chỉ cần quấn vải quanh guồng rồi từ từ xoay, khống chế thời gian vải ở trong bể, là có thể tạo ra màu loang đều và mượt.

Ngày ra sản phẩm, Tiết Duyên đã dậy sớm đi cùng Hồ An Hòa đến xưởng nhuộm, bên cạnh còn có một cậu thợ mộc trẻ. Ba người cùng đứng nhìn chằm chằm tấm vải đang dần dần được kéo lên khỏi bể nhuộm.

Hồ An Hòa căng thẳng, nắm chặt tay áo của Tiết Duyên, đến cả mắt cũng không dám chớp.

Đến khi tấm vải đẹp mắt loang từ trắng phớt hồng đến đỏ tươi hiện ra, tất cả đều thở phào nhẹ nhõm. Hồ An Hòa mím môi, suýt nữa thì dựa vào cánh tay Tiết Duyên mà khóc.

Tiết Duyên cũng thấy vui thay, mấy ngày nay cực khổ của Hồ An Hòa chàng đều thấy rõ trong mắt, giờ có được kết quả tốt, ai mà chẳng thấy mừng.

Chàng vỗ vai Hồ An Hòa, cười nói, “Không có đường thì tự mở lối, dám là người đi đầu thiên hạ, đó mới là điều kiện tiên quyết để thành công. Trước giờ ta cứ tưởng ngươi là kẻ chỉ biết đọc sách cứng nhắc, không ngờ lại có được ý chí như vậy, thật khiến người khác phải nhìn bằng con mắt khác đấy.”

Tiết Duyên hiếm khi khen ai thẳng thắn như vậy, ngoài A Lê ra. Hồ An Hòa nghe xong, đầu óc choáng váng, còn thấy chóng mặt hơn cả khi nhìn thấy tấm vải thành phẩm. Hắn cầm tấm vải quý đó vui sướng suốt một hồi lâu, đến khi nhận ra thì Tiết Duyên đã chẳng biết đi đâu mất.

Cánh cổng sơn đỏ mở rộng, bên đường có mấy bông hoa trắng nhỏ rung rinh dưới ánh mặt trời.

Hồ An Hòa sững lại, quay đầu hỏi tiểu nhị bên cạnh, “Tiết Duyên đi đâu rồi?”

Tiểu nhị đang lau guồng nhuộm, ngoan ngoãn đáp, “Chưởng quầy đi mua đồ ăn rồi, nói trưa nay ăn một bữa thật ngon, đi cũng phải nửa ngày rồi.”

Hồ An Hòa nhíu mày lẩm bẩm, “Sao không nói với ta một tiếng?”

“Có nói mà…” Tiểu nhị cười gượng, “Ngài còn gật đầu đồng ý nữa cơ.”

Hồ An Hòa nghiêng đầu nghĩ nghĩ, vẫn chẳng nhớ ra, nhưng cũng không để tâm thêm. Hắn lau tay vào quần, định trèo qua mấy cái bể nhuộm.

Sân không lớn, nhưng bể nhuộm lại nhiều, thêm cả cái guồng gỗ khổng lồ, gần như chẳng còn chỗ trống để đi lại. Tiết Duyên xếp các bể nhuộm thành hình bán nguyệt, bao quanh guồng, ngay gần cửa lớn. Thế nên nếu muốn vào nhà, hoặc là đi vòng xa hơn, hoặc là trèo qua bể nhuộm.

Trong bể toàn nước nhuộm, tiểu nhị chân ngắn gan nhỏ nên ngoan ngoãn đi vòng, đứng đợi ở cửa.

Còn Hồ An Hòa thì không. Giờ hắn đang hăng hái, đầy năng lượng, lại nhớ đến lời “mở lối mà đi” của Tiết Duyên, không khỏi thấy hơi đắc ý.

Tiểu nhị nhận ra ý đồ của hắn, kinh ngạc hỏi, “Phó chưởng quầy, ngài định trèo qua thật sao?”

Hồ An Hòa gật đầu chắc nịch, cẩn thận kẹp tấm vải quý trong tay, rồi vén vạt áo nhét vào thắt lưng, bám vào mép bể nhuộm định leo lên.

Tiểu nhị nói, “…Ngài làm khổ mình thế để làm gì chứ?”

Hồ An Hòa không có thể lực tốt như Tiết Duyên, lại thêm mấy hôm nay làm việc không ngơi nghỉ, chân đã hơi run. Cái bể cao đến ngang hông, với người khỏe thì chỉ cần nhảy một cái là qua, nhưng với hắn thì khá khó khăn.

Ánh mắt tiểu nhị từ ngạc nhiên ban đầu chuyển sang cảm phục, bị ý chí của hắn lay động. Hồ An Hòa cũng thấy thích cảm giác được ngưỡng mộ ấy.

Qua chừng nửa chén trà, hắn mới loạng choạng đứng vững trên miệng bể, định đổi tư thế để nhảy xuống cho oai.

Nhưng ngay lúc ấy, hắn nghe thấy phía sau vang lên tiếng đạp ầm ầm, như có con v*t t* l*n xông tới, đất cũng rung chuyển. Hắn khựng lại, nghiêng đầu nhìn ra cửa, song vì tầm nhìn bị che nên chỉ thấy được cánh cổng đỏ thắm.

Hồ An Hòa đang chơi hứng, tưởng chắc chỉ là gia súc nhà ai chạy ra, chẳng để tâm. Hắn kẹp tấm vải đỏ dưới nách, vung tay khởi động, hít sâu chuẩn bị nhảy xuống thì thấy mặt tiểu nhị méo mó đến kỳ lạ.

Nhất cổ tác khí, tái nhi suy, tam nhi kiệt [1]. Hồ An Hòa thấy miệng mình bị mắc nghẹn ở cuống họng, sắp không nín thở nổi nữa.

[1] Nhất cổ tác khí, tái nhi suy, tam nhi kiệt: một tiếng trống làm tinh thần hăng hái thêm (“Tả Truyện” Trang Công thập niên: ‘phu chiến, dũng khí dã. Nhất cổ tác khí, tái nhi suy, tam nhi kiệt’. Khi đánh trận dựa vào dũng khí, đánh một tiếng trống, dũng khí tăng lên, đánh hai tiếng trống, dũng khí suy giảm, đánh ba tiếng trống, dũng khí không còn. Sau này ví với nhân lúc đang hăng hái làm một mạch cho xong việc.)

Hắn bất đắc dĩ hỏi, “Ngươi làm sao thế?”

Tiểu nhị nói, giọng run, “Phó chưởng quỹ, bò, bò, bò!”

Hồ An Hòa gật đầu: “Ta biết.”

Tiểu nhị gần như tuyệt vọng, suýt nhảy dựng lên, vội kéo tay áo hắn, “Phó chưởng quỹ, là bò thật đấy ạ!”

Hồ An Hòa lảo đảo, tay rụt lại, ngơ ngác nghĩ sao tiểu nhị này hôm nay nói năng lạ lùng thế.

Chưa kịp hiểu ra, phía sau eo bỗng truyền đến một luồng sức mạnh cùng cơn đau nhói buốt, Hồ An Hòa trợn tròn mắt, tay quơ loạn trong không khí, “bõm” một tiếng rơi vào bể nhuộm.

Trong bể là thuốc nhuộm đỏ pha từ cỏ xuyến và phèn chua, lạnh buốt và nồng nặc vị đắng khó tả. Hồ An Hòa lau mặt, ngơ ngác nhìn lên, hắt mắt đẫm lệ qua làn nước đỏ mờ thấy một khuôn mặt bò to vàng đất, lỗ mũi còn phun khí nóng hầm hập.

Hắn không dám tin, tưởng mình hoa mắt, run rẩy đưa tay chạm vào khoen mũi của nó. Con bò bị ngứa, lắc lắc đầu, ánh mắt càng bốc lửa, khí nóng phả ra khiến hắn phải nheo mắt.

Lúc này hắn mới thật sự tin rằng nguy hiểm ở ngay trước mặt, nhưng toàn thân rã rời, muốn động cũng không được, thế mà tiểu nhị phía sau còn vừa nhảy vừa hét, “Phó chưởng quầy, đệ nói là bò thật đó, là bò thật!”

Con bò bị kinh động, lùi vài bước, hạ đầu xuống, thở phì phò rồi “xoẹt” một tiếng, xông tới.

Hồ An Hòa rùng mình, như được tiêm thuốc k*ch th*ch, gắng sức nhảy ra khỏi bể đúng lúc sừng bò còn cách hai tấc, lăn lộn bò vào nhà. Tiểu nhị run rẩy đóng sập cửa lại, “rầm” một tiếng, con bò vẫn dí sát mắt vào cửa sổ, húc húc như chưa chịu bỏ cuộc.

Tiểu nhị tay còn bám chặt then cửa, chân mềm nhũn, sắp khóc đến nơi.

Hồ An Hòa hỏi, “Nó sao lại truy đuổi ta?”

Tiểu nhị giọng như sắp khóc, “Ngài ôm tấm vải đỏ còn gì!”

Hồ An Hòa nghẹn lời, muốn nói lại thôi, mãi mới thở được, hỏi tiếp, “Nó đi chưa?”

Tiểu nhị chấm nước bọt chọc thủng giấy cửa sổ, nhìn ra ngoài thấy con bò vẫn đi qua đi lại, lắc đầu, “Chưa.”

Hồ An Hòa hít một hơi lạnh, “Con bò này của nhà ai vậy!”

Tiểu nhị không nhịn được cãi lại, “Sao đệ biết được!”

“……” Hồ An Hòa câm nín, bị lạnh đến run cầm cập, lưng đau nhói từng cơn, khổ sở chẳng khác gì chết đi sống lại. Hắn ngồi xuống đất, đang ủ rũ, bỗng nghĩ đến điều gì, bật dậy lao ra cửa, “Tiết Duyên còn ở ngoài kia, nếu hắn về thì làm sao bây giờ?!”

Nghe vậy, tiểu nhị cũng hoảng, nhưng vẫn kéo áo hắn lại, “Phó chưởng quầy, giờ ngài ra cũng vô ích thôi! Với lại ngài toàn thân đỏ chót, nếu con bò lại húc thêm lần nữa thì nguy hiểm lắm!”

Hai người đang giằng co, thì bên ngoài vang lên tiếng quát lạ, “Đồ trộm bò, đứng lại cho ta!”

Hồ An Hòa sững ra, lập tức đẩy cửa nhìn, Tiết Duyên đang đứng giữa sân, cách con bò hung dữ chừng ba bước. Cửa lớn có chừng mười người đứng chật kín, người đi đầu mặc áo dài xanh, hùng hổ chỉ vào Tiết Duyên, “Dám trộm bò của ta, mau theo ta đến quan phủ!”
 
A Lê
Chương 102


Trong tay Tiết Duyên còn xách theo một bình rượu và mấy gói thức ăn, chàng nhìn vũng nước bẩn đầy đất, con bò thì ung dung đi đi lại lại, rồi quay lại nhìn đám người dữ tợn kia, gần như đã hiểu ra chuyện gì đang xảy ra.

Ngay lúc ấy, Hồ An Hòa thở hổn hển đẩy cửa bước ra, lớn tiếng nói, “Ngươi bị mù à? Cả cái mớ hỗn độn này ngươi không thấy sao? Là con bò của ngươi tự dưng xông vào sân nhà ta, húc ta bị thương, giờ còn muốn báo quan? Trong đầu ngươi có bị úng nước không vậy?”

Hồ An Hòa vốn là người có học, dù giờ đã dính chút mùi tiền, nhưng bản tính vẫn là ôn hòa nho nhã. Hôm nay hắn tức giận phản bác người khác như vậy, thật đúng là hiếm thấy.

Tiết Duyên vẫn thản nhiên mang rượu và đồ ăn vào trong nhà, rửa tay xong mới lại bước ra ngoài.

Bên ngoài, nam tử mặc áo xanh đang cãi nhau om sòm với Hồ An Hòa, tiểu nhị đứng bên cạnh khuyên can, cậu dường như quen biết đám người kia, nháy mắt ra hiệu cho Hồ An Hòa bớt tranh cãi. Tiết Duyên thấy vậy hơi bất ngờ, l**m môi, liếc nhìn nam tử ở cửa từ đầu đến chân, trên người mặc toàn vải vóc sang trọng, rõ ràng là thiếu gia nhà giàu.

Phía sau thiếu gia ấy là mấy người mặt lạnh như băng, có người cầm gậy gỗ còn gắn cả đinh sắt, trong đó có hai kẻ đứng sát nhất đang canh chừng như hộ vệ. Tiết Duyên tin rằng nếu Hồ An Hòa mà động tay thì bọn chúng chắc chắn sẽ xông lên ngay lập tức.

Cãi nhau thì chẳng ra được kết quả gì. Tiết Duyên phủi phủi áo, rồi bước tới tách hai người ra.

Từ đó có thể thấy, nam tử kia tuy vô lý nhưng không phải loại liều mạng, chỉ muốn cãi cho thắng, chứ không dám đánh.

Tiết Duyên hỏi, “Xin hỏi huynh đài quý danh là gì?”

Thiếu gia chưa kịp mở miệng thì một kẻ đứng bên đã lớn tiếng đáp, “Đây là La công tử của chúng ta.”

Tiểu nhị kéo Hồ An Hòa qua một bên, rồi níu áo Tiết Duyên thì thầm, “Gọi là La Viễn Phương.”

Tiết Duyên ánh mắt lóe sáng, liền nở nụ cười, “Nghe cái tên là ta liền nhớ ra rồi. Thật ra trước đây đã từng gặp qua công tử, chỉ là lúc đó ngài quý nhân bận rộn, ta không tiện chào hỏi. Chỉ muốn nói một câu với ngài rằng, viễn phương xâm cổ đạo, tình thuý tiếp hoang thành[2], tên của công tử thật là hay.”

[2] Thuộc bài thơ Phú đắc cổ nguyên thảo tống biệt – 賦得古原草送別, câu đó nghĩa là Mùi thơm lan xa đến lối thành cũ, màu biếc tươi thắm kề thành hoang

Trong tình cảnh này, cứng rắn chẳng giải quyết được chuyện gì, Tiết Duyên là người biết uốn biết duỗi, vuốt mông ngựa đúng lúc không hề ngại.

La Viễn Phương cũng mỉm cười, khẽ “ừ” một tiếng, trông có vẻ vui vẻ.

Tiết Duyên lại nói, “Công tử bận trăm công nghìn việc, vậy mà còn đích thân đến tìm con bò lạc, thật vất vả quá. Không cần phiền đến ngài nữa, lát nữa ta sẽ sai người đem bò đến tận nhà trả, được chứ?”

Lời vừa dứt, La Viễn Phương lập tức đổi sắc mặt, lạnh giọng, “Không được!”

Tiết Duyên ôn hòa hỏi lại, “Tại sao thế?”

La Viễn Phương nói, “Ngươi ăn trộm bò của ta, đó là tội trộm cắp! Không chỉ phải trả bò, mà còn phải bồi thường tiền. Chuyện này đâu thể nói vài câu mồm mép là xong! Hoặc ngươi bồi thường ngay, hoặc chúng ta lên quan phủ ngay! Đừng tưởng giở trò bịp bợm, dù ta có bỏ qua, mấy huynh đệ phía sau cũng không bỏ qua đâu!”

Tiết Duyên hờ hững liếc hắn, thản nhiên hỏi, “Vậy ta phải bồi thường bao nhiêu?”

La Viễn Phương chống nạnh, giơ ngón tay tính toán, “Bò bị mất, ta lo lắng cả buổi, ngươi không bồi thường ta chút tiền à? Ta dẫn biết bao người đi tìm, không phải tốn chút rượu tốn chút nước à? Bò bị hoảng, bỏ bữa, thiếu thịt, chẳng phải là tiền sao?”

Hắn lải nhải suốt, miệng toàn nói tiền. Lúc đầu Tiết Duyên chưa nghĩ gì, nhưng càng nghe càng thấy giống kiểu có mưu đồ từ trước. Cái kiểu mặt dày ăn vạ này, trông sao mà quen đến lạ, giống hệt một người mà chàng từng gặp không lâu trước đó.

Tiết Duyên mím môi, ánh nhìn về phương xa một lúc lâu, trong đầu bỗng hiện lên hình bóng Khâu Vân Xuyên, rồi lại lập tức gạt đi.

Khâu tri phủ gia họ Khâu, phu nhân họ Vạn, lão phu nhân họ Tiền, sao có thể dính dáng gì đến người họ La này chứ?

Nhưng hai người quả thật có điểm giống, không nói tới ngoại hình, bọn họ đều rất giống ở cái tính vô lại, xem phúc ta là đệ nhất thiên hạ.

Chàng tính mở miệng, vốn định nói cái gì đó thì tiểu nhị bên cạnh kéo nhẹ áo chàng, khẩu hình miệng nói, “Chưởng quầy, hay là đưa hắn ít tiền đi, đuổi đi là được, dây dưa không thắng nổi đâu!”

Tiết Duyên định thần lại sau khi nhìn xa xăm, nói câu xin phép không tiếp chuyện, rồi sau đó xoay người cùng tiểu nhị đến một nơi xa hơn một chút, hỏi, “Ngươi biết hắn à?”

Tiểu nhị nói, “Đệ không biết hắn nhưng có nghe qua. Đó là công tử quần là áo lụa, thích nghe hí kịch nhất, mỗi ngày đều vung tiền như nước cho gánh hát. Hơn nữa, có thể ăn gì uống gì đều kiếm cái đắt nhất mà dùng, ở nhà hắn mà tức giận là sẽ không trả thù lao, chính hắn nghĩ kế đi khắp nơi lừa gạt, còn dùng kế hèn hạ nữa.”

Tiết Duyên thấy thú vị cười cười, hỏi, “Dùng kế gì?”

Tiểu nhị nói, “Lâu rồi đệ nghe nói trong nhà hắn có nuôi mấy con bò, không phải vì uống sữa ăn thịt đâu, mà là nuôi để đi gây rối. Chờ đến khi hắn không có tiền thì sẽ đem mấy con bò này ra thả ra ngoài, xem bò chạy đến nhà ai rồi sau đó liền đem cả đội người ngựa qua đòi tiền, nếu không cho thì làm ầm ĩ đến quan phủ. Đệ căn bản vẫn chưa tin, dù gì cũng là công tử con nhà giàu trên cơ mấy loại đầu óc đầy đất này. Giờ nhìn lại, mấy chuyện đó đều là thật!”

Tiết Duyên hỏi, “Thế hắn mà đi lừa ai là người đó sẽ trả tiền à?”

Tiểu nhị thở dài, “Không cho thì làm thế nào được! Huynh xem hắn đem đám người đó tới, tiên lễ hậu binh, không cho liền đánh, còn không thì đến quan phủ. Trong nhà hắn có người làm quan, ở Ninh An huynh cũng biết đấy, có tiền làm phiền thiên hạ. Mấy này dân chúng xui xẻo có cách nào khác đâu, cũng chỉ có thể ngậm bồ hòn mà thôi!”

Bọn họ to nhỏ ở chỗ này, La Viễn Phương đã sớm không còn kiên nhẫn, dậm chân một cái, nói “Kì kèo gì đấy!”

Tiết Duyên kéo cổ áo để giảm bớt hơi nóng, suy nghĩ một hồi, cười hỏi, “La công tử đây thấy bao nhiêu là hợp?”

Xưởng nhuộm bị bẩn nhiều chỗ, Tiết Duyên mặc bộ xiêm y cũ. A Lê tiết kiệm, thấy cổ tay áo chàng bị mục, còn đi vá lại, nhìn qua giống dân nghèo. La Viễn Phương khinh khỉnh liếc một vòng, lại nhìn Hồ An Hòa tóc đang bị nước bẩn làm ướt nhẹp, đang ngơ ngác ngồi đó, rồi nhìn tiểu nhị đang trốn sau lưng Tiết Duyên, thầm mắng “Một đám nhà quê.”

Hắn phẩy tay, giơ năm ngón “Năm.”

Tiểu nhị giật mình: “Năm lượng bạc à?” Thuận lợi thế sao?

La Viễn Phương ngẩng đầu, giọng khinh thường, “Năm lượng, ngươi có lấy được không đấy? Năm trăm văn! Mau đưa đi!”

Diễn thì diễn cho chót, Tiết Duyên liền bảo tiểu nhị ra ngoài giả vờ đi xoay tiền một lúc, một lát sau quay lại.

La Viễn Phương đã sớm mang người đi rồi, trong sân chỉ còn lại người gầy như củi khô đang chờ lấy tiền, tiểu nhị đem túi tiền lại, người nọ lại mắng nhiếc một hồi lâu rồi mới xách người đi ra ngoài. Tiết Duyên ngậm cọng cỏ ngồi một bên, nheo mắt nhìn theo bóng người nọ xa dần.

Sân cuối cùng cũng yên tĩnh trở lại, Tiết Duyên hỏi tiểu nhị, “Rốt cuộc La Viễn Phương là ai? Sao ta chưa từng nghe ở Ninh An có La gia nổi danh cái gì vậy?”

Tiểu nhị xoa xoa tay, do dự đáp, “Tuy hắn mang họ La, nhưng nghe nói có quan hệ gì đó với Khâu tri phủ, nhà chỉ có mẫu thân, không có nam nhân. Lúc xưa đệ còn học nghề, theo sư phụ đến Khâu phủ làm việc, quét vụn gỗ cho nhà người ta vào giờ Tý, từng thấy đại cô nương Khâu gia nói cười thân mật với La công tử này, miệng còn đệ nha đệ nha thân thiết lắm.”

Tiết Duyên lập tức hiểu ra phần nào, bỗng nghĩ ra điều mờ ám ở đây nhưng thấy quá kỳ quặc nên giấu đầu lưỡi không nói ra, chỉ hỏi, “Khâu tri phủ là người phong lưu à?”

Tiểu nhị ngơ ngác, chớp mắt mấy cái, “Đệ mới đến Ninh An chưa được vài năm, chỉ nghe nói đại khái thôi, không rõ lắm, cũng không thấy bảo phong lưu gì, chỉ biết là trong nhà Khâu tri phủ loạn lắm, không chỉ là quan hệ thê thiếp loạn không đâu, mặt khác cũng loạn không kém! Thì ra lão ta mê sắc từ trong trứng, tham tài yêu quyền, ăn của dân không biết bao nhiêu tiền mồ hôi nước mắt, trái một phòng di nương phải một phòng di nương rồi mà còn nạp thiếp không ngừng. Mười lăm năm tại nhiệm, mà biến cả phủ nha Ninh An thành bẩn thỉu xấu xa, khiến dân chúng đều hận bọn chúng đến chết. Nhưng Ninh An vốn bị người ta định đoạt, bây giờ còn kết thân với Tống gia, nhanh chóng biến thành hoàng thân quốc thích rồi, ai dám động vào chứ?”

Nói đến đây, tiểu nhị tức giận bất bình, tức đến mức đỏ cả mặt.

Tiết Duyên nhéo mũi, thầm nghĩ, nếu đúng là vậy, thì không chừng La Viễn Phương là con riêng của Khâu tri phủ cũng nên, nếu bên ngoài trêu hoa ghẹo nguyệt, không cẩn thận sinh con cũng không phải là chuyện không thể.

Mà nếu La Viễn Phương này thật sự là công tử của Khâu tri phủ thì thật đúng là ngưu tầm ngưu, mã tầm mã.

Một tên thì có tài cán vì giở trò ăn vạ, một kẻ thì có năng lực vì chút tiền trinh mà thích bắt người ta đền, quả đúng là thú vị thật.

Mà với cùng một nhà lại kết oán đến hai lần liên tiếp, đúng là trùng hợp đến kỳ lạ.

Nhuộm được tấm vải thành công vốn là chuyện rất đáng mừng, dù vừa mới xảy ra chuyện đó, nhưng tâm trạng của Tiết Duyên cũng không bị ảnh hưởng quá nhiều. Chàng trấn an Hồ An Hòa vài câu, rồi bảo người làm trong tiệm đi tìm người tới giúp, đưa Hồ An Hòa về nhà nghỉ ngơi.

Khi ấy, Tiết Duyên vẫn chưa từng nghĩ rằng về sau mối quan hệ giữa chàng và Khâu gia sẽ càng ngày càng rối rắm, thậm chí đến mức một mất một còn.

_______

Buổi tối hôm ấy, A Lê bế Lai Bao đến thăm Hồ An Hòa.

Thầy thuốc nói lưng hắn chỉ bị bầm, không nặng, vài ngày sẽ khỏi. A Lê còn nấu canh thịt nạc hầm tam thất địa hoàng, vừa giảm đau vừa tan máu tụ.

Hồ An Hòa vốn ốm yếu ăn không ngon, nhưng vừa ngửi thấy mùi thơm đã ngồi bật dậy, uống liền hai bát lớn.

A Lê đặt Lai Bao lên chăn, rồi ra ngoài giúp Vi Thúy Nương sắc thuốc.

Lai Bao giờ đã biết bò, miệng bi bô nói linh tinh, thằng bé khỏe mạnh, lại nghịch ngợm, bò lên bụng Hồ An Hòa kéo tóc hắn. Hồ An Hòa vốn thích trẻ con, mà Lai Bao lại thơm nức mùi sữa, hắn chẳng nỡ quát, sợ động nó khóc. Sau khi uống chén thuốc xong, cả vạt áo trước của hắn đều bị ướt.

Lai Bảo lại cười đến không kiềm được, hai tay nhỏ bé bỗng vỗ vỗ như cánh bướm nhỏ, vỗ loạn xạ lên mặt Hồ An Hòa.

Cho đến khi Tiết Duyên và Nguyễn Ngôn Sơ bước vào, cơn ác mộng mới chấm dứt.

Tiết Duyên lúc xưa cưng Lai Bao lắm, nhưng càng lớn thằng bé càng nghịch, chàng sợ chiều quá sẽ dạy con thành Tôn Ngộ Không mất nên Tiết Duyên không dám thuận theo tính nó nữa, nên bắt đầu thành phụ thân nghiêm khắc.

Chàng không nói lời nào, chỉ hơi nheo mắt, giơ tay chỉ một cái, Lai Bao dừng lại chút, lập tức im phăng phắc.

A Lê không ở đây, sợ Lai Bảo khóc, Nguyễn Ngôn Sơ chạy nhanh đến dỗ, bế bé lên đung đưa rồi đặt sang chỗ khác.

Thắt lưng của Hồ An Hòa vốn chẳng ổn, lại bị Lai Bảo giày vò vừa xong, nằm vật ra, r*n r* một bên.

Tiết Duyên ngoắt ngón tay, nói với Lai Bảo, “Lại đây.”

Lai Bào chớp đôi mắt đen nháy, mông nhích từng chút, cuối cùng bò lại gần. Bé được nuôi thành trắng trẻo mập mạp, tóc nhiều, đen bóng, A Lê sợ tóc dài quá sẽ che mắt nên cột ba bím tóc lỏng, trông như búp bê trong tranh Tết.

Tiết Duyên chống hai tay lên mép giường sưởi, khom người đứng dậy, mặt sa sầm lại, vỗ mấy cái rồi quát lên, “Lại gần đây!”

Lai Bảo ngẩng mặt, nhỏ giọng gọi “Phụ thân”.

Thằng bé biết nói sớm hơn đứa trẻ bình thường, bảy tháng đã mơ hồ gọi cha mẹ rồi. Bây giờ đã tám tháng, tuy chưa nói tròn câu, nhưng đã học được cách làm nũng. Mỗi lần thằng bé gọi mẹ mẹ, A Lê sẽ cho bé ăn ngon, còn vui vẻ hôn nhẹ lên bé, Lai Bảo vô thức liền cảm thấy Tiết Duyên sẽ mềm lòng giống thế.

Tiết Duyên quả thật mềm đi một chút, chớp mắt một cái, lông mi giãn ra, nhưng rồi nghĩ mới tí tuổi mà đã biết nên làm gì cho xong chuyện, đợi đến khi lớn chút thì đến cỡ đại nào nữa.

Lai Bảo vốn quen tinh ý nhìn sắc mặt người khác, thấy Tiết Duyên dường như có vẻ vui, liền càng được thể nghịch ngợm, đưa ngón tay chọc vào mu bàn tay chàng, vừa lắc đầu vừa ra vẻ muốn được ôm.

Tiết Duyên cắn nhẹ môi dưới, suýt nữa thì bị làm cho mềm lòng, nhưng lý trí cuối cùng vẫn thắng. Chàng túm lấy lưng quần của Lai Bảo, nhấc lên rồi quẳng thẳng sang đống chăn ở góc tường, lạnh giọng nói, “Đi mà tự kiểm điểm đi!”

Lai Bảo lắc lư ngồi dậy, vành mắt đỏ hoe, chỉ chốc lát sau là sắp òa khóc.

A Lê không có ở đó, người thương bé giờ chỉ còn mỗi tiểu thúc, Nguyễn Ngôn Sơ thở dài, vội vàng đứng ra hòa giải, “Tỷ phu, Lai Bảo chưa đầy chín tháng, nó còn nhỏ, có biết gì đâu, không cần nghiêm thế, nói vài câu là được rồi.”

Nhưng Tiết Duyên chẳng nghe, trừng mắt quát thêm một tiếng với Lai Bảo “Con khóc thử một tiếng xem!”

Giọng chàng vang như sấm, khiến cả Hồ An Hòa bên cạnh cũng giật mình. Lai Bảo mím môi, nuốt ngược nước mũi vào, cúi đầu, chẳng dám nói gì nữa.

Tiết Duyên tức đến bật cười, kéo chiếc khăn bên cạnh lau mặt cho thằng bé, vừa làm vừa nhỏ giọng mắng, “Thật là bẩn chết đi được.”

Làm xong, chàng vứt cái khăn ướt sang một bên, quay người định đi ra ngoài.

Hồ An Hòa nhìn mà thấy vui, giờ thấy chàng định ra ngoài, bèn gọi lại, “Người đi đâu đấy?”

Tiết Duyên nhíu mày, “Tìm vợ ta chứ còn đâu.”

Hồ An Hòa “ồ” một tiếng, rồi cố gắng ngồi thẳng dậy, vẫy tay gọi chàng lại, lẩm bẩm, “Dù sao cũng là huynh đệ, có mấy chuyện… ta phải nhắc ngươi một tiếng, hiểu không.”

Tiết Duyên nhíu mày chặt hơn, “Chuyện gì?”

Hồ An Hòa nuốt nước bọt, rồi cười hả hê nói, “Tiết Duyên, ta nói thật nhé, nếu ngươi cứ nuôi con theo kiểu này, đợi khi Lai Bảo lớn, ngươi già rồi, đảm bảo nó sẽ làm khổ ngươi.”

Tiết Duyên nhướn mày, “Sao?”

“Thì nó sẽ thấy ngươi phiền chứ sao!” Hồ An Hòa giọng khuyên nhủ từng bước, “Ngươi nghĩ xem, nếu hồi nhỏ ngươi mà gặp ông già suốt ngày cau có, chỉ cần ngươi làm sai là đập bàn mắng, bắt ngươi ngồi úp mặt vô tường, gào thét như pháo nổ, ngươi sẽ thế nào? Ta nói cho ngươi biết, sau này Lai Bảo chắc chắn chẳng có tí thiện cảm nào với ngươi đâu. Thế nên, ngươi phải dịu đi một chút, dù không được như A Lê, thì ít ra cũng đừng động tay động chân, phải kiềm bớt cái tính nóng đó trước mặt con.”

“…Ai động chân hả.” Tiết Duyên nói, “Nó còn bé thế, có nhớ gì đâu. Với lại, A Lê với nội nó chiều hư nó rồi, nếu tao cũng không dạy, sau này chẳng hóa thành tai họa à.”

Hồ An Hòa cắn hạt dưa, nói lúng búng, “Không tin ta à?”

Tiết Duyên suýt nói tin cái đầu mi, nhưng quay đầu lại thấy Lai Bảo đang bĩu môi, trợn mắt nhìn mình, nên lại do dự.

Anh trầm ngâm một lát, quay sang hỏi Nguyễn Ngôn Sơ, “Đệ thấy có đúng không?”

Đệ đệ gãi mũi, không biết nên gật hay lắc, cuối cùng ậm ừ, “Đệ chưa lấy vợ, mấy chuyện này không hiểu lắm.”

Tiết Duyên l**m môi, quả thật đem lời Hồ An Hòa nói để trong lòng mà suy nghĩ kỹ.

Thoắt cái đã đến giờ đi ngủ. A Lê quỳ ngồi trên giường sưởi, trải chăn, Lai Bảo ôm A Hoàng ngồi bên gối, vừa ngậm ngón tay vừa chơi. Tiết Duyên thấy thế, liền đánh nhẹ vào mu bàn tay bé, thấp giọng nói, “Bẩn bẩn, con ngậm cái đó khác gì ăn lông chó, làm gì cũng phải nghĩ tí chứ?”

Tiết Duyên chẳng hề đánh mạnh, bình thường Lai Bảo chỉ kêu một tiếng là thôi, nhưng bây giờ thấy A Lê đang ở ngay bên, bé bạo dạn hơn, chớp mắt mấy cái rồi òa khóc.

Tiết Duyên nhìn mấy giọt nước mắt rơi lộp bộp lên lưng A Hoàng, đứng sững tại chỗ, không biết phải làm gì.
 
A Lê
Chương 103


A Lê nghe thấy, bất đắc dĩ quay đầu lại vẫy tay, Lai Bảo bĩu môi, lắc lắc cái mông nhỏ rồi bò đến, chui vào lòng mẫu thân.

A Lê mỉm cười lau nước mắt cho con, dịu giọng hỏi, “Cục cưng nhà ta sao lại khóc nữa rồi?”

Lai Bảo ê a cựa quậy lung tung, khóe mắt thì cứ liếc về phía Tiết Duyên. Cậu chưa biết nói, nhưng rất biết dùng ánh mắt. Tiết Duyên tức đến nỗi mắt như bốc lửa, nhưng A Lê đang ở ngay đó, nên chàng cũng không dám làm gì thật, chỉ xỏ dép đi xuống nhà uống nước lạnh.

A Lê cong môi, gọi với theo, “Tiết Duyên, chàng đi giặt khăn đi, dùng nước ấm nhé, rồi mang mấy cái bánh bao nhỏ trên bàn lại đây.”

Bánh bao nhỏ làm từ sữa bò, chỉ to bằng móng tay, bỏ vào miệng là tan, lại còn thêm chút tương đậu phộng, ăn vào thơm và ngọt. Bình thường khi Lai Bảo đói, A Lê thường cho cậu ăn thứ này. Tiết Duyên cũng thích, trên đường bưng đĩa quay lại còn bốc một nắm nhét vào miệng, cố tình nháy mắt trêu chọc Lai Bảo.

A Lê nhìn ra được màn ganh đua nhỏ giữa hai cha con, cũng không nói gì, chỉ giữ chặt lấy Lai Bảo đang định giãy đòi lăn ra ăn vạ, dỗ dành, “Con nhường cha một chút đi, đừng lúc nào cũng giận dỗi thế.”

Tiết Duyên đứng dưới đất lạnh nhạt đáp, “Nếu nó mà có được cái nhận thức đó, ta đã thi đỗ Trạng nguyên rồi.”

A Lê khẽ nói, “Chàng có thể bớt nói vài câu không?”

“Được thôi.” Tiết Duyên khoác áo ngoài lên vai, lững thững đi ra, vừa tới cửa thì quay đầu lại, chỉ vào Lai Bảo mắng một câu, “Thằng nhóc con, nhỏ tuổi mà lắm chuyện thật.”

A Lê dở khóc dở cười, vội lấy tay bịt miệng Lai Bảo đang sắp òa lên, bế con vừa dỗ vừa nói đủ lời hay lẽ phải, cuối cùng mới khiến cậu yên.

Khi Tiết Duyên quay lại, Lai Bảo đã ngủ say, miệng còn khẽ chu lên, A Lê ngồi bên cạnh cắt móng tay cho con, kiên nhẫn và dịu dàng. Miệng Tiết Duyên tuy lầm bầm, nhưng con mình thì vẫn là con mình, dù có bực đến đâu cũng thương. Chàng bưng chậu nước ấm, giặt khăn lau mặt lau chân cho con, chẳng dám mạnh tay chút nào.

Đợi mọi việc xong xuôi, A Lê đã ngáp ngắn ngáp dài. Tiết Duyên mang nước ra để một bên, thổi tắt đèn, rồi chui vào chăn ôm lấy A Lê ngủ.

Lai Bảo nằm vắt ngang giữa hai người, cậu đã lớn hơn nhiều, tay chân dài ra, chiếm chỗ khắp nơi. A Lê một tay ôm vai con, tay kia nắm cổ tay của Tiết Duyên, chẳng bao lâu đã mơ màng sắp ngủ.

Nhưng Tiết Duyên thì không. Trong lòng chàng rối bời như tơ vò, mở mắt nhìn xà nhà một lúc, cuối cùng bật dậy, duỗi chân kéo cái giỏ của A Hoàng lại, nhấc con thỏ ra ngoài, đặt Lai Bảo vào trong, rồi đẩy giỏ về chỗ cũ. A Hoàng ngơ ngác nằm dưới đất một lát, nức nở vài tiếng, sau đó chậm chạp đi tìm chỗ khác ngủ.

A Lê bị chàng làm ồn mà tỉnh, dụi mắt ngồi dậy hỏi, “Chàng làm gì thế?”

Không còn đứa nhỏ nằm giữa, Tiết Duyên cuối cùng cũng có thể vòng tay ôm trọn A Lê, thở ra đầy mãn nguyện. Sau sinh, A Lê hồi phục rất tốt, vòng eo lại thon như cũ, nhưng vẫn mềm mại hơn xưa, chạm vào vừa ấm vừa mềm, thoang thoảng hương thơm và mùi sữa, ngọt đến phát ngấy.

Tiết Duyên hỏi, “Lê nhỏ, ta có phải quá nghiêm khắc với Lai Bảo không?”

A Lê buồn ngủ đến mức mí mắt dính vào nhau, nhưng nghe chàng nói vậy vẫn cố mở mắt, khẽ đáp, “Chàng đừng nghĩ lung tung, con khóc đâu phải vì chàng mắng, con khôn lắm. Mấy hôm trước bị gà mổ vào ngón chân còn chẳng khóc, tối nay chỉ là muốn làm nũng thôi.”

Tiết Duyên lập tức đổi hướng chú ý, “Con gà nào mổ nó?”

“…Chuyện đó không quan trọng.” A Lê vỗ vỗ cánh tay chàng, dịu giọng nói, “Con trai thì trầy trật một chút có sao đâu, nuông chiều quá lại không hay. Hơn nữa là nó tự đi chộp hạt ngô của gà, bị mổ là đáng đời. Chỉ là nội lại đau lòng một lúc lâu, suýt nữa còn khóc.”

Tiết Duyên ngập ngừng, “Lê nhỏ, nàng thật nghĩ vậy sao?”

A Lê chui đầu vào cánh tay chàng, đầu óc mơ màng, sắp chẳng nói nổi nữa, nhưng Tiết Duyên cứ lải nhải bên cạnh, nàng lại không nỡ mặc kệ, cố gắng tỉnh táo đáp, “Nghĩ gì cơ?”

Tiết Duyên nói, “Phải dạy Lai Bảo thế nào?”

A Lê đáp, “Đứa con đầu tiên mà, ta cũng chẳng rõ cách nào là tốt nhất. Ta cũng chẳng có mộng công danh gì to tát, chỉ mong ngày nào nó cũng vui vẻ, khỏe mạnh, lớn lên tự lo được cho mình, không gây chuyện, sống yên ổn. Dù chẳng phú quý vinh hoa, ta cũng mãn nguyện rồi. Bà nội thương cháu lắm, mà tính Lai Bảo lại chẳng ngoan, lúc quấy thì ta cũng khó dạy. Nhưng chàng chỉ cần nghiêm mặt một chút là nó biết sợ, thế cũng tốt.”

Đến cuối, giọng A Lê yếu dần. Tiết Duyên lấy cằm cọ vào má nàng, “Lê nhỏ, nàng đừng ngủ vội.”

A Lê ngáp, dứt khoát ngồi dậy, vỗ bụng chàng hỏi, “Rốt cuộc chàng còn muốn làm gì nữa?”

Tiết Duyên nói, “Hồ An Hòa hôm nay bảo ta không dịu dàng.”

A Lê ôm góc chăn, kiên nhẫn nói, “Bây giờ thế này là tốt rồi, chàng đóng vai nghiêm khắc, bà nội thì chiều chuộng, dù Lai Bảo có nghịch thế nào, có chàng trấn giữ thì nó cũng chẳng dám làm quá. Mà ngày thường lại được bà nội yêu thương, nó sẽ không học mấy tính xấu, sẽ là đứa trẻ ngoan, lương thiện. Chàng xem, chẳng phải rất ổn sao?”

Tiết Duyên gật đầu, nửa hiểu nửa không, một lúc sau lại hỏi, “Thế còn nàng, làm mẫu thân thì sao?”

A Lê lấy gối ném nhẹ vào chàng, “Ta rang hạt bí cho hai cha con ăn, được chưa?”

Tiết Duyên cười, đón lấy cái gối, kéo cổ tay nàng vào lòng, cười không ngớt, “Được, được, được hết.”

A Lê nhắm mắt, ậm ừ, “Tiết Duyên, ngủ đi, được không?”

Tiết Duyên vẫn chưa ngủ được. Bình thường chàng quá bận, sáng đi tối về, hiếm khi có thời gian yên ổn ở bên A Lê. Còn có thêm một đứa dính người như Lai Bảo, chỉ khi đêm khuya tĩnh lặng mới có thể ở riêng, nói dăm ba câu chuyện nhỏ.

Đêm nay hiếm khi có dịp yên bình như thế, Tiết Duyên chỉ muốn được gần nàng thêm chút nữa, nói thêm vài câu thôi.

Nhìn ánh trăng ngoài cửa sổ, Tiết Duyên bắt đầu tìm chuyện để nói, “Đừng lúc nào cũng gọi ta cả tên, ‘Tiết Duyên, Tiết Duyên’, nghe không hay, chẳng thân mật gì cả.”

A Lê khẽ “ừm” một tiếng, thuận theo, “Thế nên gọi thế nào?”

Tiết Duyên cũng chẳng biết, cằm tựa l*n đ*nh đầu nàng, lẩm bẩm, “Hay là học theo nhà người ta đi, Vi Thúy Nương gọi Hồ An Hòa thế nào nhỉ?”

A Lê cười, “Bình thường thì gọi là Hồ An Hòa, lúc vui thì gọi lão Hồ, lúc giận thì gọi ‘tên họ Hồ kia’.” Nàng nghiêng đầu cọ cọ ngực chàng, hỏi, “Chàng thích cái nào?”

“…Toàn mấy cái kỳ quặc.” Tiết Duyên bất lực, xoa xoa tóc nàng, “Thôi, ngủ, ngủ đi.”

____

Tháng Tư thoắt cái đã qua, lại mấy tháng nữa, khi Lai Bảo có thể run rẩy đỡ tường mà tập đi, thì kỳ thi Hương cũng bắt đầu.

Đây là cấp thi thứ nhất trong ba kỳ khoa cử. Do tổ chức vào mùa thu tháng Tám nên gọi là thi Hương. Người trúng tuyển gọi là cử nhân, sang năm xuân có thể vào kinh thi Xuân Vi (kỳ thi mùa xuân), người đỗ gọi là cống sĩ, rồi cống sĩ được dự thi Đình, diện kiến Hoàng đế.

Kỳ thi Hương lấy tỉnh làm ranh giới, trường thi phía Bắc đặt tại trường thi ở Ninh An, cách nhà chỉ nửa canh giờ xe ngựa, nên đỡ được phần vất vả đường xa.

Người xưa nói: “Mười năm đèn sách chẳng ai hay, một ngày đỗ đạt khắp thiên hạ biết.” Thiên hạ có hàng vạn sĩ tử, mà đỗ được chỉ vài trăm, mà một khi trúng cử thì đã bước vào tầng lớp “sĩ”, được miễn thuế, được trọng vọng, nếu may mắn còn có thể làm quan, làm tri huyện.

Đây có thể nói là đại sự lớn nhất trong năm của Tiết gia.

Đêm trước khi đến trường thi, A Lê làm một bàn đầy món ngon.

Chân giò kho tàu, hàm ý “chu đề”[1], có tên trên bảng vàng. Bánh nếp kéo sợi, hàm ý “hàng năm thăng chức”. Bánh vừng giòn ngọt, hàm ý “lên như diều gặp gió”. Cá chép hầm củ cải, hàm ý “cát tường như ý”. Món chính là bánh bao hấp, biểu trưng cho sự hưng vượng, phát đạt.

[1] Chu đề: đồng âm với “trúng bảng đỏ”, ý chỉ đỗ đạt.

Tuy nhiên, trước thi nên ăn đồ nhẹ, nên cuối cùng, Nguyễn Ngôn Sơ chỉ ăn vài miếng đậu phụ trộn hành, uống ít canh, ăn hai bánh bao.

Chuyên tâm ôn luyện suốt một năm, đối với kỳ thi này, Nguyễn Ngôn Sơ tự tin vô cùng. Thi gồm ba đợt, mỗi đợt ba ngày, tổng cộng chín ngày, lần lượt là bát cổ văn, bài xử án, và sách vấn. Trong thời gian đó, thí sinh không được rời trường thi, thậm chí không được ra khỏi buồng thi, khi bắt đầu thi, lều chõng sẽ bị khóa, chỉ được uống nước, thức ăn tự mang.

Kỳ thi Hương rất gian khổ, nên khi ra khỏi trường, thí sinh thường gầy đi trông thấy, có người thậm chí xi6em y xộc xệch, sắc mặt hốc hác.

Ngày mười bảy tháng Tám, thi xong môn cuối, Tiết Duyên cùng Hồ An Hòa đi đón người.

Nguyễn Ngôn Sơ vốn đã gầy, nay qua chín ngày liền, áo rộng thênh thang, ống tay áo bay phất phơ, có vẻ tiên phong đạo cốt, như thể sắp cưỡi gió mà đi. Tiết Duyên không nhắc chuyện thi cử, chỉ cười vỗ vai cậu, “Đợi về nhà, tỷ tỷ đệ thấy dáng này chắc xót xa lắm đấy.”

Nguyễn Ngôn Sơ thi xong tâm trạng tốt, còn đùa, “Thế thì chi bằng ghé cửa tiệm chọn vài món áo bông, ít nhất trông còn ra dáng người.”

Hồ An Hòa ngồi bên cười toe, “A Ngôn, huynh nói thật đấy, nhịn đói bao ngày như vậy không thể ăn cá thịt ngay được đâu, dễ đau bụng lắm. Tỷ tỷ đệ làm cả đống món, lát nữa đệ tuyệt đối đừng ăn, hại thân đấy!”

Nói rồi cả ba cười rộn, xa phu hô “kéo”, ngựa chậm rãi kéo xe đi.

Nắng chói chang, Tiết Duyên hạ rèm xuống, trong khoảnh khắc quay đầu lại bỗng thấy La Viễn Phương bước ra khỏi cổng trường thi. Hắn béo tốt, mặt bóng loáng, chẳng giống người vừa chịu chín ngày khổ sở, miệng còn quát tháo sai bảo gia nhân, bước đi phăm phăm.

Tiết Duyên lập tức thấy nghi, nhưng xa phu đã giục ngựa rẽ qua khúc đường, bóng dáng kia khuất hẳn.

Về nhà rồi, công việc bận rộn, Tiết Duyên lo chuyện buôn bán ngày càng nhiều, thêm cả Lai Bảo ngày càng nghịch, dần cũng quên mất dáng người béo ục ịch ở cổng trường thi hôm đó.

Đến khi hoa quế tung bay khắp trời thu, thi Hương công bố danh sách.

Nguyễn Ngôn Sơ tất nhiên trúng cử không nghi ngờ gì, dĩ nhiên không ngoài dự đoán, nhưng chỉ đệ nhị (hạng hai).

Tên người đứng đầu, Giải nguyên, lại ngoài mọi dự tính, chính là công tử La Viễn Phương, kẻ có quan hệ mập mờ với Khâu tri phủ.

_________

Tác giả có lời muốn nói:
Nhìn Tiết Duyên và A Lê từ vợ chồng son dính như keo, giờ thành cặp vợ chồng già rồi…
 
A Lê
Chương 104


Bất kể xếp hạng là đệ nhất hay đệ nhị, chỉ cần trúng cử nhân thì đã là chuyện lớn đáng mừng rồi. Tối hôm đó, Tiết Duyên liền đến đặt phòng ở Hội Tiên Lâu, sau đó gọi phu thê Hồ An Hòa cùng đi ăn một bữa.

Hội Tiên Lâu là tửu lâu lớn nhất Ninh An, cao đến sáu tầng, tầng trên cùng cũng là nơi sang trọng nhất, gọi là Phù Vân Các. Người xưa có câu: “Phía tây bắc có lầu cao, cao cùng mây nổi sánh vai”, đại khái chính là nói đến nơi như thế này. Cả sáu tầng rộng đến mức có thể cho ngựa chạy vòng, nhưng chỉ có một gian phòng duy nhất, không có cửa ngăn, chỉ dùng những bình phong thêu Thục tầng tầng phân cách, không phải cứ có tiền là có thể đặt được.

Nguyễn Ngôn Sơ thi đậu cử nhân, từ nay chẳng còn là người thường nữa, một chân đã bước vào quan lộ, nên khi tiểu nhị nhìn thấy, cũng phải kính cẩn gọi một tiếng “Cử nhân lão gia”. Cũng vì vậy, khi Tiết Duyên hỏi xem tầng sáu có thể dùng được không, sắc mặt tiểu nhị mới có vẻ khó xử, “Tiết chưởng quầy, Phù Vân Các đã có người đặt rồi, mới nửa canh giờ trước thôi, là vị Giải nguyên của kỳ thi Hương này, La công tử. Hôm nay hắn mở tiệc tạ thầy, e là không tiện đổi được. Hay là ngài chọn gian khác được không ạ?”

Tiết Duyên hơi nhíu mày, phòng bị đặt trước vốn là chuyện bình thường, nhưng cái tên La Viễn Phương ấy lại khiến chàng không khỏi nghĩ nhiều. Dù sao thì, một kẻ ăn chơi trác táng, đến “Xuất sư biểu” cũng đọc vấp váp, mà nay lại thi đỗ cử nhân, còn đỗ đầu Giải nguyên — chuyện này thế nào cũng thấy như một vở hài kịch.

Tiết Duyên không lập tức lên tiếng, nhưng không có nghĩa là chàng không suy tính.

Tiểu nhị bị sắc mặt chàng dọa cho sợ hãi, tim đập thình thịch. Ai mà chẳng biết Tiết Duyên có tiền, giờ lại có thêm một cậu em vợ vừa thi đỗ cử nhân, tương lai chắc chắn sẽ thành nhân vật có máu mặt ở Ninh An, nên hắn nào dám đắc tội, chỉ biết đứng ngẩn ra, lúng túng không biết nói sao.

A Lê dịu giọng hòa giải, “Vậy tầng năm được chứ?”

Tiểu nhị như được giải thoát, “Dĩ nhiên là được ạ!”

A Lê khẽ mỉm cười, “Số có chín, năm ở chính giữa; như núi, ở nơi đỉnh; mang thế cực thịnh, không nghiêng không lệch[1], rất tốt.”

[1] Số có chín, năm ở chính giữa; như núi, ở nơi đỉnh; mang thế cực thịnh, không nghiêng không lệch: Nguyên văn là “数有九,五居正中,若峰,在其之巅,具鼎盛之势,不偏不倚。”. “数有九” – trong hệ thống số (từ 1 đến 9), số 9 được coi là số lớn nhất, tượng trưng cho cực thịnh. “Số có chín, năm ở chính giữa” còn số 5 thì nằm ở chính giữa, tượng trưng cho sự cân bằng, trung hòa (vì dãy 1–9, số 5 ở trung tâm). “Như núi, ở nơi đỉnh” ví như ngọn núi, tầng năm giống như đỉnh núi cao, ở vị trí trung tâm nhưng cao vút. “Mang thế cực thịnh, không nghiêng không lệch” có thế vượng cực độ, lại không nghiêng lệch về bên nào, tượng trưng cho điềm lành, thịnh vượng và cân bằng.

Cầu thang rộng, bậc lại thấp, chẳng mấy chốc họ đã lên đến nơi. Tiết Duyên để Lai Bảo ngồi trên vai mình. Ban đầu còn thấy nhẹ, nhưng thằng nhỏ cứ nghịch ngợm cười khanh khách, túm tóc cha kéo tới kéo lui, đến khi ngồi vào bàn, dù là giữa tiết cuối thu, Tiết Duyên vẫn toát cả mồ hôi.

A Lê đón lấy Lai Bảo đặt xuống đất, rồi rút khăn tay ra lau mồ hôi trên trán cho chàng. Tiết Duyên khẽ cười, tiện tay vuốt lại nếp nhăn trên tay áo nàng. Hai người đã là phu thê lâu năm, những việc thân mật như vậy đã thành thói quen, chẳng hay họ đã khiến người ngoài phải ngưỡng mộ.

Tiểu nhị tươi cười nói, “Tiết chưởng quỹ và phu nhân thật là ân ái quá!”

Tiết Duyên “ừ” một tiếng, mặt không đỏ mà cũng không né, thản nhiên nhận lời khen, rồi gọi người bắt đầu dọn món. Trong lúc gọi món, ánh mắt chàng vẫn thường xuyên liếc nhìn A Lê, nụ cười nơi khóe mắt, đuôi mày giấu cũng không giấu nổi.

Khi không phải nghĩ đến giá cả, việc gọi món bao giờ cũng rất nhanh.

Tiểu nhị miệng dẻo như bôi mỡ, lúc rời đi còn đổ thêm dầu vào đèn, vừa làm vừa nói cười rạng rỡ, “Kinh báo đã đăng danh bảng, Nguyễn công tử đúng là tướng mạo phú quý, quan vận hanh thông! Chờ đến xuân tới qua kỳ thi Hội và thi Đình, chẳng phải sẽ là vị Trạng nguyên đầu tiên của Ninh An chúng ta sao! Đến lúc đó lại mời ngài quay lại Hội Tiên Lâu mở tiệc mừng công, vinh quy bái tổ, thật là chuyện vinh dự biết bao!”

Nguyễn Ngôn Sơ mỉm cười cảm ơn, đợi tiểu nhị khép cửa rời đi rồi, Tiết Duyên chợt hỏi, “A Ngôn, ở thư viện của đệ có mấy vị tiên sinh?”

Nguyễn Ngôn Sơ nghĩ một lúc rồi đáp, “Thư viện có rất nhiều tiên sinh, nhưng dạy bọn đệ chỉ có ba người. La công tử vẫn luôn là học cùng với đệ, nên thầy của bọn đệ cũng như nhau, hai người họ Triệu, một người họ Tôn. Nếu nói ai có ân lớn nhất, thì hẳn là Tôn tiên sinh, vì thầy dạy bọn đệ lâu nhất, giảng giải cũng nhiều nhất.”

Nói đến đây, cậu khẽ lắc đầu rồi cười, “Vừa rồi nghe tiểu nhị nhắc đến tiệc tạ thầy, đệ cũng thấy lạ. La công tử nửa năm nay chẳng đến lớp mấy buổi, đa phần thời gian toàn ở ngoài cửa trêu chim, hát hí, đấu dế, thế mà giờ lại mở tiệc tạ thầy sao?”

Hồ An Hòa, vốn chẳng ưa gì La Viễn Phương, cúi mắt, buông một câu nhạt nhẽo, “Trong đầu toàn men rượu, làm việc gì mà chúng ta lý giải được.”

Vi Thúy Nương “suỵt” một tiếng, đá hắn dưới gầm bàn. Hồ An Hòa trợn mắt, đành ngậm miệng.

Bữa tiệc vốn để mừng công, nhắc chuyện người khác như vậy thật mất hứng, nên khi món ăn được mang lên, mọi người lại chuyển sang những câu chuyện thường nhật.

Lai Bảo vừa tròn một tuổi, mặc quần hở đáy, hai cái chân mũm mĩm chẳng chịu ngồi yên. Tiết Duyên nuôi con theo kiểu “thuận theo tự nhiên”, bế lên đút cho vài muỗng cơm, thấy thằng nhỏ lắc đầu không ăn nữa thì đặt nó xuống đất. Dù sao nó cũng không ngốc, đói thì tự khắc chạy lại ôm chân người lớn đòi ăn. Để tránh nó chạy lung tung ngã va, Tiết Duyên còn mang theo một sợi dây mềm, một đầu buộc ở thắt lưng Lai Bảo, đầu kia buộc vào cổ tay mình. Thỉnh thoảng lại kéo về sờ xem có bị trầy xước gì không.

Với cách làm này, A Lê không tỏ thái độ gì, nhưng Phùng thị thì không tán thành, thấy tội đứa nhỏ. Thế nhưng khi Lai Bảo tự đâm đầu vào tường khóc nức nở, được Tiết Duyên kéo về, dỗ mãi không nín, cuối cùng bị chàng trừng mắt một cái thì nín bặt, Phùng thị cũng đành im lặng chấp nhận.

A Lê ăn ít, chẳng bao lâu đã no, liền dắt Lai Bảo ra ngoài đi dạo. Trời tối gió lạnh, Tiết Duyên cởi áo khoác khoác lên vai nàng, dặn dò kỹ lưỡng rồi mới để hai mẹ con ra ngoài.

Tầng năm toàn là phòng riêng, hành lang yên tĩnh, không ồn ào. Lai Bảo hiếu động, gặp gió mát liền nhảy nhót cười vang. A Lê nhíu mày ra dấu “suỵt”, rồi chỉ vào trong phòng ý bảo “cha nghe được đấy”, thằng nhỏ bĩu môi, mới chịu ngoan lại.

Hành lang rộng chừng hai bước, hai bên đều đặt bình gốm xanh, trong cắm đủ loại hoa rực rỡ. Hai đầu hành lang đều có cầu thang: phía đông lên tầng sáu Phù Vân Các, phía tây có đường xuống dưới lầu. A Lê dựa tường, mỉm cười nhìn Lai Bảo lắc lư đi qua đi lại, thỉnh thoảng lại cho một hạt lạc luộc mềm.

Một lúc sau, Lai Bảo có vẻ hứng thú với cầu thang phía đông, nghiêng đầu nhìn một lát rồi bỗng chạy lạch bạch tới đó, định trèo lên. A Lê vừa buồn cười vừa bất đắc dĩ, vội đến đỡ con dậy, phủi bụi trên mông rồi cười hỏi, “Con biết đi rồi cơ mà, sao lại bò nữa hả?”

Lai Bảo “ư ư” trong miệng một lúc, cố gắng nói, “Mẫu thân, khúc khúc.”

A Lê nghe không rõ, xoa tai con, cười hỏi lại, “Khúc khúc gì?”

Lai Bảo vội chỉ tay về phía cầu thang, giậm chân nói to, “Ca ca!”

A Lê hơi hiểu ra, ngẩng mặt nhìn hướng đó, nghiêng tai lắng nghe, quả nhiên có tiếng hát vọng ra, là vở “Tây Sương Ký” của Vương Thực Phủ, khúc “Chính Cung · Đoan Chính Hảo”:

“Trời mây biếc, đất hoa vàng, gió tây thổi mạnh, nhạn bắc bay nam.
Sáng sớm ai nhuộm rừng phong đỏ rực, đều là lệ người ly biệt.”

Tai A Lê chưa hồi phục hẳn, chỉ nghe được chừng nửa, nhưng La Viễn Phương hát quá nhập tâm, giọng vẫn xuyên qua lớp lớp bình phong mà vọng đến. Hắn quả thật có thiên phú hát hí, giọng bẩm sinh trong trẻo như nữ tử, uyển chuyển dịu dàng, lại không hề ngại ngùng. Có lẽ uống vài chén, giọng càng thêm khàn quyến rũ, như vừa khóc vừa kể. Lai Bảo nghe một lúc, đôi mắt chớp chớp, rồi mím môi suýt khóc.

A Lê vội ôm con vào lòng, vỗ lưng dỗ dành, định quay về phòng.

Nhưng vừa quay người, chợt nghe La Viễn Phương cất cao giọng nói, “Âu Dương đại nhân, vụ thi Hương này đa tạ ngài tương trợ, vãn bối xin kính ngài một chén! Kỳ thi Xuân sắp tới, còn mong ngài nói giúp đôi lời với các vị đại nhân trong triều…”

Chưa dứt lời, liền nghe tiếng Khâu tri phủ nổi giận quát, “Ngươi nhỏ giọng lại được không hả!”
 
A Lê
Chương 105


Vừa dứt lời, liền có tiếng bước chân vang lên, hướng về phía cầu thang, dường như có người muốn ra xem có ai đi lại không.

Tim A Lê khẽ run, vội ôm lấy Lai Bảo đang nức nở, nhân lúc Khâu tri phủ vừa ló đầu ra liền ẩn mình vào gian nhã thất.

Hành lang vẫn yên tĩnh như thường ngày. Khâu tri phủ cũng đã uống vài chén, đầu óc choáng váng, cảnh giác giảm đi nhiều. Hắn đảo mắt nhìn quanh một vòng, thấy bốn phía chẳng có ai, trong lòng mới yên tâm đôi chút, rồi quay lại.

Trong nhã gian, mọi người đều bị làm giật mình, đồng loạt dừng đũa nhìn về phía đó.

Tiết Duyên nhìn thấy mồ hôi trên chóp mũi A Lê, cau mày, đưa tay lau đi, khẽ hỏi, “Đi đâu mà ra nông nỗi thế này?”

Lai Bảo quơ quơ tay chân muốn trèo lên đùi Tiết Duyên, miệng lắp bắp định giải thích, nhưng chẳng nói rõ được câu nào. Tiết Duyên liền ôm thằng bé đặt lên đầu gối, lấy khăn tay lau mũi cho nó, rồi làu bàu, “Cha con nói với con bao nhiêu lần rồi, không được giở tính dỗi với mẫu thân con. Nam nhi thì phải mạnh mẽ, sao lại cứ khóc nhè mãi vậy hả?”

Phùng thị thấy không nỡ, trừng mắt lườm Tiết Duyên một cái, sau đó bế lấy Lai Bảo, dịu giọng hỏi A Lê, “Vừa rồi có chuyện gì vậy? Con vội vàng chạy vào, xảy ra chuyện gì à?”

Phát hiện ra bí mật lớn như thế, tuy đã tránh được nguy hiểm, nhưng tim A Lê vẫn chưa yên. Nàng ngồi xuống cạnh Tiết Duyên, nắm chặt tay chàng để trấn tĩnh lại một hồi lâu, rồi mới kể hết những gì mình vừa thấy cùng suy đoán của bản thân.

Thật ra cũng chẳng cần đoán nữa, mọi chuyện đã rõ rành rành, La Viễn Phương gian lận trong kỳ thi Hương.

A Lê không nhận ra giọng nói của tri phủ, chỉ biết đó là một nam nhân trung niên, có vẻ rất thân mật với La Viễn Phương, chắc chắn cũng có dính dáng trong chuyện này. Gian lận thi cử đâu phải chuyện đơn giản như mua rượu hay mua đồ — đây là tội chém đầu! Không chỉ cần tiền, mà còn phải có quyền thế và quan hệ. Mà trong toàn thành Ninh An này, người có thể ngầm thông đồng với chủ khảo, ít không kể hết, mà lại trùng hợp là La Viễn Phương còn có nhiều mối dây liên hệ với Triệu gia, nên đoán ra cũng chẳng khó.

Chỉ là, rốt cuộc La Viễn Phương với Khâu tri phủ có quan hệ gì, thì vẫn là một bí ẩn.

Dù thế nào, chuyện này cũng không thể bỏ qua được. Trong kỳ thi Hương, La Viễn Phương dựa vào làm rối kỉ cương để đoạt lấy Giải nguyên, chuyện này thật ra chẳng sao cả, nhưng nếu trong kỳ thi Xuân hắn lại gian lận lần nữa, thì ảnh hưởng đến Nguyễn Ngôn Sơ một cách chí mạng. Từ lúc rời khỏi Túy Tiên Lâu đến khi về nhà, Tiết Duyên vẫn im lặng, mặt không biểu cảm, không nói một lời.

Bữa cơm hôm đó, thật không biết nên gọi là vui hay buồn nữa.

Giờ đã là đầu tháng mười, thời tiết hơi lạnh. A Lê sợ lạnh, mà Lai Bảo cũng không thể bị gió, nên trong nhà sớm đã thay chăn dày. Trước khi ngủ, Phùng thị đến đây một chuyến, nói thấy Tiết Duyên tâm trạng không tốt, muốn bế Lai Bảo sang ngủ cùng, để chàng có chút yên tĩnh. A Lê không đồng ý, chỉ cười khuyên bà quay về, rồi ôm Lai Bảo lại gần Tiết Duyên, cùng chàng trò chuyện cho khuây khỏa.

Tiết Duyên lúc bàn chuyện làm ăn thì miệng lưỡi linh hoạt, còn trước mặt A Lê thì cũng nói nhiều, nhưng bản chất vẫn là người hơi trầm mặc. Tính cách đại nam nhi là vậy, gặp chuyện khó giải quyết, nếu trong lòng chưa nghĩ ra cách giải quyết, lại sợ khiến người nhà lo lắng, thì chàng sẽ chọn im lặng, giấu trong lòng.

A Lê vừa bực tính ấy của chàng, nhưng hiểu được nguyên do thì lại thấy thương.

Phía sau sân có cây táo xanh, buổi chiều A Lê cùng Vi Thúy Nương dùng gậy đập được một ít quả chín, vị giòn ngọt, ăn rất ngon. A Lê rửa một nắm, đưa cho Lai Bảo vài quả, nhỏ giọng dặn, “Cục cưng, con đi đút cho cha một quả, rồi nói với cha, ‘Cha đừng buồn, con còn ở đây.’”

Với đứa trẻ hơn một tuổi, câu này quá khó. A Lê kiên nhẫn dạy đi dạy lại mấy lần, Lai Bảo mới lắp bắp học theo được.

A Lê mừng rỡ xoa tóc con, hôn nhẹ lên má, nói nhỏ, “Bé con ngoan, tối nay không được chọc cha giận, không được khóc nhé?”

Lai Bảo là đứa lanh lợi, biết khi nào được phép làm nũng, khi nào phải ngoan. Nghe vậy, nó liền gật đầu lia lịa, rồi lạch bạch chạy về phía Tiết Duyên. A Hoàng cũng lon ton bám theo, cứ dí sát chân sau của Lai Bảo. Lai Bảo hổn hển quay đầu lại đánh vào mặt nó, A Hoàng chẳng thèm tránh, cuối cùng A Lê phải nhét cho nó hai quả táo nhỏ đã bỏ hạt, mọi chuyện mới yên.

Tiết Duyên vẫn dựa lười biếng vào tường, thu hết cảnh tượng ấy vào mắt. Lòng vốn đang nặng trĩu, bị hai mẹ con làm cho vui lên ít nhiều, khẽ mỉm cười.

Lai Bảo có chút đắc ý, vênh váo, đứng yên một chỗ, cười toe toét với Tiết Duyên. Răng cậu chỉ mới mọc năm cái, ba cái trên, hai cái dưới, trông như con chuột nhỏ. Tiết Duyên bóp sống mũi, nhịn không nổi cũng bật cười.

A Lê ngồi xổm phía sau, sốt ruột vỗ lưng con, khẽ nhắc, “Bé con, bé con mau nói đi con.”

Lai Bảo “dạ” một tiếng, nhớ ra chuyện đó, nhưng trí nhớ của đứa bé chẳng khá hơn con cá là mấy, chớp mắt lại quên mất. Nó quay đầu nhìn mẫu thân, mím môi, cố mãi mới bật ra được một tiếng: “Mẫu thân ơi —”

Tiết Duyên nhìn hai mẹ con, cười nhè nhẹ, “Hai mẹ con lại đang bày trò xấu gì đó à?”

A Lê vốn chẳng cảm thấy gì, nhưng bị chàng nhìn thế, vành tai cũng đỏ lên. Lai Bảo bóp chặt quả táo nóng hổi trong tay, tới nước này rồi cũng chẳng thể rút lui, A Lê đành nấp sau lưng con, dạy lại cho cậu, để cho cậu nói cho Tiết Duyên nghe, như thể diễn một màn hát đôi.

“Phụ thân, cha đừng buồn nữa nha —”

Lai Bảo nói: “Cha, nưng bầu nứa nha!”

“Con còn ở đây, táo con cho cha ăn nha —”

“Con nòn ở nưa, cáo cáo cho cha năn nha!”

A Lê sửa: “Là táo, táo mà!”

Lai Bảo chu môi, cố gắng học theo: “Cáo!”

“Táo!”

“Cáo!”

A Lê chịu thua: “…Thôi kệ.”

Lai Bảo cũng nói theo: “Thôi kẹ!”

A Lê cắn môi, nhỏ giọng: “Câu này không được học.”

Lai Bảo cảm thấy mẫu thân nói quá nhiều, theo không kịp, mặt đầy vẻ khổ sở, “Thôi mệ đừng lói nưa.”

A Lê nhìn đôi mắt đen tròn xoe của cậu, bỗng quên cả lời, hai mẹ con nhìn nhau một lúc lâu, chẳng ai nói gì. Cho đến khi A Hoàng gặm nát mấy quả táo rồi nhè ra, lại chạy tới giật lấy táo trong tay Lai Bảo. Lai Bảo bị l**m, hét toáng lên, nhảy dựng định giẫm chân thỏ. Cậu đứng không vững, suýt ngã, may được Tiết Duyên nhanh tay túm cổ áo kéo về giường.

A Lê vẫn ngồi xổm, chống cằm nhìn chàng. Tiết Duyên bị nàng nhìn đến xương cũng mềm, nghiêng người ôm nàng vào lòng.

Ba người quây thành một vòng. Tiết Duyên xoa tóc Lai Bảo, lại hôn lên má A Lê, cảm thấy lòng đầy ắp, phiền muộn cũng tiêu tan không ít.

A Lê nói, “Tiết Duyên, chuyện của La Viễn Phương, chàng đừng nôn nóng. Từ giờ đến thi Xuân còn năm tháng, đủ thời gian mà. Nếu Khâu tri phủ thật là cha ruột của La Viễn Phương, thì chuyện này càng rắc rối. Dân không đấu nổi quan, A Ngôn trước khi vào thư phòng còn dặn ta khuyên chàng, rằng dù phải đợi ba năm nữa cũng không sao. Nhà mình ở Ninh An đến giờ đã chẳng dễ dàng gì, nếu vì chuyện này mà rước họa vào thân, khiến cả nhà bị liên lụy, thì đệ ấy sẽ không còn mặt mũi nào đọc sách nữa.”

Tiết Duyên gật đầu: “Ta biết chừng mực.”

A Lê cau mày: “Vậy chàng hứa với ta, không được hành động theo cảm tính, được chứ?”

Con người vốn sinh ra đã khao khát công bằng. Khi đối diện với những kẻ dối trá, giành lợi bằng mánh lới, ai mà chẳng sinh lòng chán ghét. Tiết Duyên từ nhỏ là người kiêu ngạo, tuy gia cảnh sa sút, nhưng vẫn nhờ tài năng tự mình gầy dựng lại, bước từng bước đi lên. Bao năm qua chịu đủ sóng gió, nhưng chuyện chạm đến giới hạn của chàng hết lần này tới lần khác, chỉ có cái Khâu gia mà thôi. Khổ nỗi đó lại là bọn rắn độc ở Ninh An, không thể động vào, cũng chẳng dễ tránh. A Lê hiểu nỗi bức bối trong lòng chàng.

Tiết Duyên nói: “Ta biết mà.”

Lai Bảo chẳng hiểu người lớn nói gì, chỉ loay hoay nhét đồ vào miệng.

Tiết Duyên lấy nửa củ cải mà cậu móc được từ ổ A Hoàng ra, ném đi, rồi làm bộ định đánh đòn. Lai Bảo co người lại, mới chịu yên.

A Lê bật cười, kéo chăn nhỏ đắp cho con, rồi đẩy Tiết Duyên đi thổi đèn, cùng nằm xuống.

Đầu tháng, trăng chỉ là một vệt mảnh như sợi chỉ, đêm ngoài cửa sổ sâu thẳm như tấm lưới đen.

A Lê nằm nghiêng, chẳng bao lâu cảm thấy sau lưng lạnh, là Tiết Duyên chui vào, ôm nàng từ phía sau, áp ngực vào lưng nàng.

A Lê khẽ cười, nhắm mắt nói nhỏ, “Ra xa chút, lạnh.”

Tiết Duyên đáp “Ừ”, rồi kẹp chân lại, kèm chân nàng vào giữa, “Giờ được chưa?”

A Lê nghĩ một chút, “Được rồi.”

Tiết Duyên bật cười nhỏ, cằm chôn vào cổ nàng, khẽ nói, “Càng ngày càng yếu ớt.”

Giọng chàng nhỏ quá, A Lê nghe không rõ, nên chẳng đáp.

Tiết Duyên cũng không nói thêm gì, chỉ giữ nguyên tư thế nằm nghiêng, tay trái vắt qua eo nàng, đan mười ngón tay với tay trái nàng, đặt lên bụng trước. Hơi ấm xuyên qua lớp vải mỏng, hòa cùng mùi hương nhè nhẹ, khiến người ta thấy an lòng vô cùng.

Ban ngày lẫn lộn chuyện cơm áo, nhân tình thế thái, đời sống không tránh khỏi những bất như ý, khiến người ta thấy chát nơi đầu lưỡi.

Nhưng đến đêm, ngay cả hơi thở cũng trở nên ngọt ngào.

Những ngày sau đó, Tiết Duyên dành nhiều thời gian để điều tra quan hệ giữa La Viễn Phương và Khâu tri phủ, may là chuyện ấy vốn chẳng phải bí mật gì. Chuyện xấu của giới quan lại luôn là đề tài tán gẫu của dân thường, tin xấu truyền ngàn dặm, có những việc dù muốn giấu cũng chẳng giấu nổi.

Mười mấy năm trước, Khâu phu nhân từng nổi trận lôi đình vì Khâu tri phủ nuôi thiếp bên ngoài, còn sinh nhi tử định mang về nhà. Bà vì chuyện này mà tức giận, suýt châm lửa đốt cả Khâu phủ, Người lớn tuổi chút ở Ninh An vẫn còn nhớ rõ chuyện ấy.

Khâu tri phủ là kẻ nổi tiếng háo sắc. Ngay cả khi bị giáng chức đi vùng Vân Quý xa xôi, ông ta vẫn có thể sinh được một nữ nhi. Trong phủ thì thiếp thất nhiều vô kể, ngoài phủ lại càng nhiều không kể xiết. Chẳng biết do những người đàn bà đó có vấn đề, hay do chính ông ta, mà bảy bảy bốn chín người thiếp, chỉ sinh được hai khuê nữ. Vì thế khi thiếp La thị sinh được nhi tử, ông ta liền quỳ hướng về mộ tổ khấu đầu, còn hứa sẽ nâng La thị làm Trắc phu nhân, để nhi tử nhận tổ quy tông.

Chuyện kế tiếp cũng rất đơn giản, phóng hỏa đốt nhà. Khâu phu nhân cũng không phải kẻ ngốc, biết rõ chuyện đó đe dọa trực tiếp đến vị trí chính thất của mình, nếu không thể ngăn, thì thà ngọc nát hơn ngói lành. Khâu tri phủ Triệu bị dọa đến suýt đứt hơi, nhưng Khâu phu nhân vốn cay nghiệt, lại có cha là đại quan trong kinh thành, nên ông ta vẫn luôn sợ vợ ba phần. Dưới áp lực của nhạc phụ, ông ta đành để chuyện La Viễn Phương nhập phủ chìm vào quên lãng.

Khâu phu nhân từ đó mang bệnh, ai dám nhắc đến họ La này kia trước mặt bà, bà liền làm ầm lên đòi chết, cũng không biết là thật điên hay giả điên. Khâu tri phủ sợ đến run đùi, từ đó không dám nhắc nữa, chỉ âm thầm mua nhà riêng cho mẫu tử La Viễn Phương, thỉnh thoảng tới thăm.

Lần gian lận thi cử này, phần lớn cũng là do tư tâm của Khâu tri phủ, vừa là áy náy vì năm xưa, vừa là mong nhi tử đỗ đạt làm Trạng nguyên, để có cớ nhận tổ quy tông, khỏi bị tuyệt hậu.

Còn chuyện tại sao Khâu Vân Xuyên lại thân thiết với La Viễn Phương, thì càng dễ hiểu hơn. Kẻ thù của kẻ thù chính là bạn, cả hai cùng ghét cô nương A Ước của tộc Di nọ, lại thêm La Viễn Phương là nhi tử duy nhất của Khâu gia, nên Khâu Vân Xuyên cũng có ý nịnh bợ, vì thế bề ngoài hai người mới bị đồn là “tỷ đệ tốt”.

Dù đã nắm rõ đầu đuôi, nhưng việc xử lý vẫn khó khăn, chỉ có thể chờ thời cơ.

Cuối tháng mười, triều đình bỗng ban lệnh tăng thuế nông và truy thu lương thực năm nay. Để tránh dân nổi loạn, mỗi ba tỉnh cử một vị Tuần phủ đến giám sát hỗ trợ.

Tuần phủ Chu Kham đại nhân sẽ đến Ninh An vào giữa tháng mười một.
 
A Lê
Chương 106


Quan Tri phủ là chức tòng tứ phẩm, còn Tuần phủ là tòng nhị phẩm. Dù Khâu tri phủ có thực lòng hoan nghênh vị khách ngoại lai tên Chu Kham hay không, thì thể diện vẫn là thứ nhất định phải làm cho đủ.

Sáng hôm ấy, thành Ninh An liền được canh phòng nghiêm ngặt. Bọn sai dịch mặc áo đen đứng chặn khắp các con đường chính, một giọt nước cũng khó lọt. Đến giờ Tỵ, Chu Kham cùng đoàn người mới cưỡi ngựa tiến vào. Quân lính đánh chiêng mở đường, phía trước giơ cao hai tấm biển “yên lặng” và “tránh ra”, tiếp đó là bài tử ghi chức quan, rồi đến các vật nghi trượng như xích sắt, gậy gỗ, roi da đen, bầu vàng, thương đuôi, quạt đen, lọng vàng… Cả đoàn rầm rộ, thế trận chẳng khác nào lễ rước dâu của Khâu tri phủ năm nào.

Từ cửa thành vào nha môn, đi theo đường Trường Nhạc là gần nhất. Chức Y Hạng chiếm trọn góc ngã ba với ba cửa hàng liền kề, nên người trong tiệm cũng được dịp “thưởng thức phong thái” của Tuần phủ đại nhân.

Tuy vậy, Tiết Duyên chẳng hề quan tâm người được rước rầm rộ ấy là ai, chỉ lười biếng ngả người trên ghế, nhắm mắt xoay hạt hồ đào sắt trong tay.

Hồ An Hòa thì lại hiếu kỳ vô cùng. Hắn nghe nói vị Tuần phủ mới đến là người Hán, vốn dĩ cũng từng là đại quan triều Yên. Bản thân hắn sinh trưởng trong nhà quan, tuy cha không có phẩm cấp cao, nhưng lăn lộn chốn quyền quý bao năm, nhân vật có máu mặt ở kinh thành đều từng gặp qua. Lúc này hắn dán sát vào cửa sổ ngó ra ngoài, chẳng phải để nhận thân quen biết gì, chỉ cần thấy mặt quen cũng đủ thú vị rồi.

Nhưng khi nhìn rõ chính diện của Chu Kham, Hồ An Hòa bỗng trố mắt, run tay suýt đánh rơi bình sứ bên cạnh.

Tiểu nhị hốt hoảng đỡ lấy, nghi hoặc hỏi, “Nhị chưởng quỹ, ngài bị bệnh sao?”

Hồ An Hòa chẳng rảnh để trả lời. Hắn hít mạnh một hơi, quay đầu kéo phắt Tiết Duyên lại, chỉ ra ngoài nói, “Tiết Duyên, người kia ngươi có quen không?”

Tiết Duyên bị hắn kéo nhăn cả áo, cau mày đáp, “Hỏi vớ vẩn, hắn là ai ta là ai, sao ta lại quen được.”

Hồ An Hòa tức giận thụi một cú vào tay chàng, ghé tai quát nhỏ, “Ngươi nhìn kỹ lại xem! Người cưỡi con ngựa đi đầu kia, chẳng phải là biểu cữu của ngươi sao?”

Nghe vậy, Tiết Duyên mới nghiêm mặt nhìn ra. Ban đầu chàng còn tưởng Hồ An Hòa lại giở trò, nhưng khi thấy rõ nửa bên mặt Chu Kham, sắc mặt chàng lập tức thay đổi.

Hồ An Hòa dán mắt theo dõi, thấy phản ứng ấy thì càng chắc mẩm, hạ giọng hớn hở nói, “Biểu cữu của ngươi mặt có nốt ruồi to như thế, năm xưa ta chỉ nhìn một lần mà ám ảnh ba đêm liền, làm sao quên được! Ngươi còn chẳng tin!”

Ngoài cửa sổ, Khâu tri phủ và Chu Kham đang song hành đi qua. Tiết Duyên nheo mắt, gạt Hồ An Hòa sang bên, bước nhanh ra ngoài.

Thuở trước, khi tổ phụ Tiết Duyên còn giữ chức Thừa tướng, Tiết gia có thế lực hùng mạnh, một tay che trời. Chu Kham khi ấy chỉ là biểu đệ của mẫu thân Tiết Duyên, nhưng nhờ dây mơ rễ má ấy mà được nhiều thuận lợi trên con đường làm quan. Sau này, Tiết Chi Dần bị vu oan xử tử, Tiết gia vì thế mà xuống dốc, chi của phụ thân Tiết Duyên bị vạ lây nặng nề, các thúc bá cũng bị đày đi, phần lớn rời kinh. Còn Chu Kham khi đó chỉ là một người bà con xa, may mắn không bị cuốn vào, thoát nạn.

Tiết Duyên chưa từng ngờ, vị biểu cữu năm xưa diện mạo tầm thường kia nay lại thành hàng nhị phẩm Tuần phủ, còn xuất hiện đúng lúc thế này.

Đoàn nghi trượng từ từ đi qua cửa Chức Y Hạng, Khâu tri phủ vừa đi vừa trò chuyện cùng Chu Kham. Chu Kham giữ vẻ nghiêm nghị, thỉnh thoảng mới đáp lời. Một tiếng chiêng nữa vang lên, hai con ngựa đen đi đầu rẽ ngoặt ở đầu ngõ, rồi khuất hẳn.

Chẳng bao lâu, lệnh giới nghiêm được dỡ bỏ, phố xá lại ồn ào náo nhiệt. Gánh bán kẹo hồ lô chẳng biết từ đâu tràn ra, những xiên táo đỏ bóng mượt căng mọng, cắm đầy như đuôi công xòe. Tiết Duyên vẫn đứng nguyên chỗ cũ, mắt nhìn vào khoảng không vô định, chẳng rõ đang nghĩ gì.

Hồ An Hòa xoa tay bước ra, mắt sáng rỡ hỏi, “Là biểu cữu ngươi thật sao?”

Tiết Duyên khẽ gật đầu.

Hồ An Hòa vỗ tay, “Quả thật trời không tuyệt đường người! Tuần phủ có quyền giám sát cả quân chính địa phương, chuyện tham ô lớn thế này, hắn chẳng lẽ làm ngơ? Nếu bắt được kẻ chủ mưu, ấy là công lớn, còn được ban thưởng nữa! Huống hồ lại có chút thân tình với ngươi, về lý về tình đều nên giúp. Đến khi đó, chẳng những La Viễn Phương vào ngục, mà cả đám Khâu gia cũng sụp đổ, dân Ninh An mới có đường sống!”

Tiết Duyên l**m môi, bỗng mỉm cười, “Ta nói ngươi ngốc, quả nhiên ngươi thật sự chẳng thông minh. Nếu hắn mà có đầu óc như ngươi, tám năm nay sao có thể từ bà con xa lên tới Tuần phủ nhị phẩm?”

Hồ An Hòa ngớ ra, “Hửm?”

Tiết Duyên thong thả nói, “Chu Kham là biểu cữu của ta, nhưng chẳng thân thiết gì, trước kia gần như chưa nói với nhau câu nào. Giờ đã tám năm không liên lạc, người ta còn chẳng chắc nhớ mặt ta, sao dám chắc sẽ giúp? Hơn nữa, ngôn quan, quan lại vốn che chở cho nhau, Khâu Thời Tiến lăn lộn chốn quan trường lâu năm, gốc rễ với triều đình ắt sâu rộng, muốn lật đổ hắn đâu dễ. Cùng lắm, nếu Chu Kham thật sự còn nhớ ta, chịu ra tay giúp, thì ta tay trắng tìm đến, chẳng chứng cứ gì trong tay, cuối cùng vẫn chỉ uổng công thôi.”

Hồ An Hòa nghe ra lẽ, lòng hy vọng ban đầu cũng tiêu tan, nản lòng hỏi, “Thế thì làm sao bây giờ, lại mừng hụt rồi.”

Tiết Duyên cúi đầu trầm ngâm một lúc, sau mới nói, “Chưa chắc là mừng hụt. Cơ hội đến, cũng nên thử một phen.”

Hồ An Hòa hỏi, “Ý ngươi là sao?”

“Đem chứng cứ La Viễn Phương tham ô bày ra trước mặt hắn, xem hắn xử trí thế nào. Nếu Chu Kham muốn tra, ta sẽ đẩy thuyền theo dòng, nếu hắn không muốn, ta liền án binh bất động. Quân tử báo thù mười năm chưa muộn, rồi cũng có ngày khiến bọn họ mất mạng.”

“Hay!” Hồ An Hòa lập tức tán đồng, nhưng rồi lại nhăn mặt, “Thế nhưng… chứng cứ đâu?”

Tiết Duyên khẽ cười, “Hắn ta chẳng phải chính là bằng chứng lớn nhất sao?”

Một cơn gió lạnh thổi qua, Hồ An Hòa kéo chặt cổ áo.

Hắn liếc nhìn Tiết Duyên, âm thầm nghĩ, trời hanh khô quá… Tiết chưởng quỹ lại sắp giở trò rồi.

_____

Ngày mồng bảy tháng Chạp là tiết Đại Tuyết, nhưng Ninh An lại gặp một mùa đông ấm lạ thường. Thông thường tháng Mười Một đã có tuyết rơi, vậy mà nay sắp đến Tết, chẳng thấy nổi một hạt tuyết, trời cũng chưa lạnh hẳn. Mấy cô nương gia không sợ lạnh, vẫn mặc áo mỏng đi lại trên phố, bó thắt eo thành chiếc eo nhỏ.

Thoải mái thì có, nhưng chẳng lành.

Tục ngữ nói, “Tuyết rơi đúng lúc triệu năm được mùa”, nay trời thế này, e rằng sang xuân năm sau tám chín phần sẽ hạn hán.

Sáng hôm ấy, đầu phố Vĩnh Lạc dựng lên một sân khấu tạm, diễn vở Tây Sương Ký.

Thường thì miền Bắc rét đậm, mùa đông chẳng có gánh hát nào dám thò đầu ra diễn ngoài trời, một là không chịu nổi đông lạnh, hai là vì áo bông dày khiến diễn xuất vụng về. Nhưng năm nay trời ấm, nên không trở ngại gì. Chỉ nửa canh giờ sau khi dựng xong, dân hiếu kỳ đã kéo đến đông nghẹt. La Viễn Phương vốn mê hát như điếu đổ, tất nhiên cũng có mặt.

Bề ngoài, vở kịch này là do Chức Y Hạng mời về để hút khách, nhưng thật ra… chỉ vì La Viễn Phương mà diễn.

Vị thiếu gia này mê hát, mê rượu, bề ngoài phong lưu phóng khoáng, nhưng thật ra đầu óc chẳng khá là bao, bị Khâu tri phủ nuông chiều đến hư. Với thủ đoạn của Tiết Duyên, muốn đối phó hắn chẳng có gì khó, chỉ cần đúng thuốc trị là xong.

Khi vở kịch hát đến nửa chừng, Tiết Duyên ra hiệu cho tiểu nhị mang rượu lên, mục đích duy nhất, chuốc say hắn.

Từ lần ở Túy Tiên Lâu, Tiết Duyên đã biết khi La Viễn Phương say sẽ ra sao, hồ đồ, buông lời chẳng kiêng dè, dễ bị dắt mũi.

Cái tính ngốc nghếch ấy, giờ lại hóa ra lợi thế cho Tiết Duyên.

Chọn đúng ngày này dựng sân khấu, không phải vì nắng đẹp, mà vì hôm nay Chu Kham sẽ cùng Khâu tri phủ đi thị sát các con phố. Tiết Duyên đã tốn tiền mua chuộc đám nha dịch bên cạnh Khâu Thời Tiến để moi lịch trình của Chu Kham, rồi tỉ mỉ bày sẵn cuộc kịch này.

Chẳng bao lâu, tiểu nhị từ đầu phố chạy tới, ghé tai Tiết Duyên nói nhỏ, “Chưởng quầy, Chu Kham đại nhân sắp tới rồi.”

Tiết Duyên gật đầu, rồi hướng về cô đào đang hát vai Thôi Oanh Oanh ra hiệu, nàng ta thấy thế, đành nghẹn giọng sửa ngay câu hát đang đến đoạn cao trào, “Trời xanh biếc, đất vàng hoa, gió xuân phá. Một chén ly sầu. Cửa sổ vắng, người chưa đi, trăng tròn cô tịch, chốn cũ quay về.”

Câu vừa ra khỏi miệng, khán giả liền trố mắt.

Thôi Oanh Oanh đứng trên đài, chân tay luống cuống, mồ hôi lấm tấm. Nàng chẳng hiểu sao người thuê lại muốn đổi lời, nhưng đã nhận tiền thì phải diễn. Dù chuẩn bị sẵn, đến khi thấy khán giả ngẩn ra, nàng vẫn chẳng biết kết thế nào.

Tiết Duyên điềm nhiên đứng dưới sân khấu, ánh mắt lia qua chỗ La Viễn Phương. Hai bình rượu vào bụng, hắn đã chếnh choáng, nhưng vừa nghe lời hát sai lạc kia liền nổi cơn, ném bình rượu xuống, mắng, “Hát cái quái gì thế!”

Hắn nhảy lên sân khấu, đuổi luôn cả hai diễn viên chính xuống, rồi lại uốn tay bắt nhịp hát lại nguyên đoạn vừa rồi.

Không xa đó, Chu Kham thấy chỗ ấy ồn ào náo nhiệt, nhoẻn cười nói với Khâu tri phủ Khâu, “Khâu đại nhân, bên kia đang hát kịch, chúng ta qua xem chứ?”

Khâu Thời Tiến vốn định gật đầu, nhưng vừa liếc thấy người đang hát là La Viễn Phương thì hốt hoảng suýt ngã ngựa.

Chu Kham tinh tường, lập tức nhận ra khác lạ, khẽ cau mày, đỡ ông ta, “Vị trên sân khấu kia, là người quen của ngài sao?”

Khâu Thời Tiến mặt trắng bệch, vội lắc đầu, “Không… không quen!”

Chu Kham cười, “Trời còn sớm, việc sau chẳng gấp, ta nghe xem một khúc đã.”

Khâu Thời Tiến đành gượng cười, “Phải, hát hay thật, ha ha… ha ha…”

Người cần xem đã đến đông đủ, màn kịch hay sắp bắt đầu.

La Viễn Phương hát rất khá, lại thêm men rượu, hát xong đoạn Trường đình tống biệt, khán giả vỗ tay rần rần. Cặp diễn viên thật của vai Oanh Oanh và Trương Sinh đứng dưới đài cười gượng, mặt cứng đờ.

La Viễn Phương được tâng bốc đến đỏ mặt, tưởng mình thật sự là danh ca, cười ha hả cúi chào, rồi chỉ tay mắng luôn hai người diễn viên, “Hát thì hát cho đàng hoàng, đến lời cũng không nhớ, hát cái đồ khỉ gì! Nay ta vui thì bỏ qua, lần sau nữa ta méc cha ta đánh gãy chân các ngươi!”

Người diễn Thôi Oanh Oanh dù sao cũng là nữ nhi gia, bị mắng như vậy, suýt nữa khóc ra.

Có người bên dưới thấy bất bình, lên tiếng can, “La lão gia, trời đông giá rét lạnh thế này, người ta diễn cũng không dễ dàng, sai có một câu thôi, bỏ qua đi.”

Lập tức có kẻ khác chen vào phản bác, “Ngươi biết gì! La lão gia vốn là người nghiêm khắc, cẩn trọng tỉ mỉ, nên mới học giỏi thế chứ, chẳng thế mà thi đỗ cử nhân! Là cử nhân đó, sau này còn làm quan to nữa cơ!”

Tiếng phụ họa dồn dập, ai nấy thi nhau nịnh bợ, tâng La Viễn Phương lên tận mây xanh.

Tiết Duyên đứng bên nhìn, thấy đám người hắn thuê sẵn đang nói như rót mật vào tai, lòng mỉm cười. Hắn khẽ gật đầu với một nam nhân phía đối diện. Người kia nhận lệnh, lấy hơi thật sâu rồi gào lên, “Đám nịnh hót các ngươi mù hết rồi à? Cái loại vô học ấy mà cử nhân? Tiền mua chứ gì! Hắn học nổi ba chữ tam tự kinh chắc? Ta khinh!”

Câu ấy vừa dứt, cả phố lặng như tờ.

Chu Kham khẽ nhíu mày, bước lên một bước nghe rõ hơn. Khâu Thời Tiến hoa mắt chóng mặt, suýt ngất.

Tiết Duyên quan sát từng nét biến sắc trên mặt Chu Kham, trong lòng cũng có chút tính toán.

Trên sân khấu, La Viễn Phương đã nổi đóa, xắn tay chửi tay đôi. Hắn đánh không giỏi nhưng mồm thì độc địa, tục tĩu chẳng kiêng ai, câu nào câu nấy bẩn thỉu đến mức mấy cô nương gia dưới đài đỏ cả mặt.

Sắc mặt Chu Kham càng lúc càng khó coi, “cử nhân” vốn là danh dự của sĩ tử, mặt mũi của triều đình. Nếu phạm lỗi, có thể bị tước danh hào.

Khâu Thời Tiến chỉ thấy hắn sắp chết rồi.

Trên sân khấu, hai kẻ vẫn đấu khẩu kịch liệt, càng nói càng mất kiểm soát.

Cuối cùng, nam nhân kia hét to, “Ngươi xem cái bộ dạng thô bỉ ấy, sao thi đỗ Giải nguyên được? Mua bằng chứ gì, có tí tiền bẩn thôi!”

La Viễn Phương gào trả, “Cha ta có tiền có quyền thì sao! Ta chẳng những mua được cử nhân, sau còn mua cả Trạng nguyên! Lúc ấy ta lột da, róc xương cả nhà ngươi, ném vào chảo dầu chiên giòn tám phần, rồi mang làm lót tường chuồng chó nhà ta!”

Đám đông vốn xem vui, giờ thì xôn xao chấn động.

Khóe môi Tiết Duyên khẽ nhếch. Quả nhiên, giây sau đã nghe tiếng quát lạnh lẽo của Chu Kham, “Người đâu, trói tên cuồng đồ kia lại cho ta!”
 
A Lê
Chương 107


Trong vài ngày tiếp theo, Chu Kham hành động dứt khoát, lập tức gửi một bản tấu khẩn lên triều đình, rồi phái người áp giải La Viễn Phương về kinh, giao cho Đại Lý Tự thẩm tra.

Khâu Thời Tiến chỉ biết khóc không ra nước mắt, nhưng lại chẳng có cách nào khác, đành phải nuốt hận vào bụng, một đêm mà tóc bạc gần nửa đầu.

Năm ngày sau, khi sự việc gần như đã định, Tiết Duyên cuối cùng gửi thiếp xin yết kiến Chu Kham, đích thân đến phủ bái phỏng. Từ khi Chu Kham đến Ninh An, mỗi ngày đều có vô số người đến cầu kiến, mà lúc này Khâu Thời Tiến còn đang xoay vòng tìm cách cứu nhi tử bảo bối của mình, nên cũng chẳng để tâm đến việc đó.

Để tránh gây nghi ngờ, Tiết Duyên chuẩn bị lễ vật chu đáo, chỉ một mình đến.

Chu Kham là người trọng tình nghĩa, chưa từng quên ơn Tiết gia khi xưa. Tám năm không liên lạc, nay gặp lại Tiết Duyên, mặt ông ửng đỏ vì xúc động, nắm tay chàng nói, “Ta thật không ngờ đời này còn có thể gặp lại con. Mà con nay cũng đã thành đạt, chẳng còn là đứa nhỏ non nớt năm xưa nữa, thật là phúc phận! Nếu tổ phụ con ở dưới suối vàng biết được, chắc chắn cũng sẽ rất vui mừng.”

Tiết Duyên đáp, “Con cũng không ngờ có thể gặp lại biểu cữu. Khi con còn nhỏ, tổ phụ từng nói rằng thúc anh tuấn bất phàm, tương lai nhất định là long phượng trong loài người. Giờ nhìn lại, quả nhiên ông nói chẳng sai chút nào.”

Chu Kham cười to: “Cháu ngoại trai ngoan thế, mau ngồi đi!”

Hai người đều là kẻ khôn ngoan, nên lời nói ra tự nhiên trơn tru, vừa lòng cả đôi bên. Hàn huyên một hồi, bảy phần là chân tình, ba phần là xã giao, trà nguội lại được rót thêm, cuối cùng mới đi vào chính sự.

Tiết Duyên kể lại chuyện La Viễn Phương, lời ít mà ý nhiều, chỉ giấu đi phần mình can dự.

Nghe xong, Chu Kham hết sức kinh ngạc, nhíu mày hỏi, “Vậy vị cử nhân đó thật là con riêng của Khâu tri phủ sao? Có bằng chứng gì không?”

Tiết Duyên lắc đầu, “Không có. Nhưng đây vốn chẳng phải chuyện bí mật, để lại không ít dấu vết. Nếu thật sự muốn tra, chắc chắn có thể tìm ra.”

Chu Kham trầm ngâm rồi khoát tay, “Quá khó rồi. Không nói đến việc thời gian đã lâu, nhân chứng vật chứng đều bị hủy, chỉ riêng chuyện điều tra cũng khó như lên trời. Khâu Thời Tiến làm tri phủ Ninh An, quyền thế trong tay không nhỏ. Dù Hình bộ hay Đại Lý Tự cử người đến, nếu hắn cố tình che giấu hay gây cản trở, thì chẳng ai làm gì được.”

Tiết Duyên sốt ruột, buột miệng hỏi, “Đến cả Hoàng thượng cũng không làm gì được sao?”

Chu Kham cười, liếc nhìn chàng, “Còn trẻ quá, vẫn còn thiếu kiên nhẫn.”

Ông nhấp ngụm trà, chậm rãi nói, “Thời điểm này không thuận. Hiện nay Hoàng thượng bận đến mức không phân biệt ngày đêm, cùng lắm cũng chỉ hỏi qua vài câu chứ không đích thân can thiệp. Con có biết mấy tháng trước triều đình ra chiếu chỉ thu thuế không?”

Tiết Duyên gật đầu: “Con biết.”

Chu Kham nói, “Đó là vì nước Đông Di (Nhật Bản) tấn công bằng đường biển, quốc khố phải gom lương thảo chuẩn bị cho chiến dịch năm sau. Việc gian lận khoa cử tất nhiên trọng đại, nhưng quốc sự còn lớn hơn. Huống hồ, La Viễn Phương chỉ là một Giải nguyên nhỏ bé ở phương Bắc, không đáng để Hoàng thượng phí tâm. Ngài sẽ giao việc này cho trọng thần xử lý. Mà Khâu Thời Tiến lại là bạn cũ của Tả tướng, La Viễn Phương phạm tội tất bị chém, nhưng sau khi hắn bị lôi ra tế trời, những việc còn lại tra hay không, chỉ cần một lời của Tả tướng là xong. Con nghĩ xem, Khâu Tri Tiến sẽ chọn hi sinh bản thân vì nhi tử, hay chọn giữ vinh hoa phú quý của mình?”

Tiết Duyên nắm chặt chén trà đến trắng bệch đầu ngón tay, trầm mặc hồi lâu mới khẽ hỏi, “Vậy… chuyện này, chỉ có thể dừng ở đây sao?”

Chu Kham thở dài, “Tiết Duyên à, nước trong triều còn sâu hơn con tưởng rất nhiều.”

Không biết bao lâu, rèm cửa bị vén lên, gió lạnh ùa vào, có hạ nhân mang trà nóng đến thay. Tiết Duyên khép mắt nghỉ giây lát, mới lấy lại tinh thần. Chu Kham cũng không muốn nói thêm chuyện chính trị, liền đổi sang đề tài khác, “Nếu thúc nhớ không nhầm, sang năm con đã hai mươi mốt rồi nhỉ?”

Tiết Duyên đáp: “Cảm tạ thúc vẫn còn nhớ.”

Chu Kham “ồ” một tiếng rồi cười, “Tuổi này đáng ra phải lấy vợ sinh con rồi.”

Nhắc đến chuyện này, Tiết Duyên cười thật lòng hơn chút, “Con có rồi.”

Trong trí nhớ của Chu Kham, Tiết Duyên vẫn còn ở trước tám năm, là công tử quyền quý ở kinh thành, hô phong hoán vũ, có thê tử thì cũng nên là của nhà quan to hiển quý. Ông nghe vậy, theo bản năng hỏi, “Cưới cô nương nhà ai vậy?”

Vừa hỏi xong, ông liền nhận ra lỡ lời, nhưng cũng không kịp thu lại.

Tiết Duyên chỉ mỉm cười, cúi đầu nói, “Là cô nương con thích.”

Chu Kham sững lại, rồi bật cười ha hả, “Thích là tốt rồi, thích là tốt rồi. Lần này không tiện, nhưng sau này nhất định phải về kinh chơi, đến nhà ta ở ít hôm, để thúc còn gặp mặt mới được. Có thể khiến tiểu ma vương năm xưa Tiết Duyên nói ra một chữ ‘thích’, chắc hẳn là một tuyệt sắc giai nhân rồi.”

Tiết Duyên gật đầu, “Nhất định rồi. Nếu không có gì thay đổi, sang năm con sẽ đưa A Lê về kinh một chuyến, vừa để tế tổ, vừa thăm mộ cha mẹ.”

Chu Kham cười nói, “Giờ con đã có thể tự mình gánh vác mọi việc, bọn họ dưới suối vàng chắc cũng yên lòng rồi.”

Sau đó hai người trò chuyện dăm ba câu chuyện nhà rồi Tiết Duyên cáo từ.

Đêm trước Tiểu Niên, Chu Kham rời Ninh An quay về kinh, mang theo một tin tốt, tội của La Viễn Phương đã được xác định, cùng với chủ khảo Âu Dương Kỳ nhận hối lộ đều bị xử trảm, tốc độ phá án nhanh chưa từng có. Nhưng Khâu Thời Tiến vẫn yên ổn ngồi ghế tri phủ, chẳng hề bị liên lụy chút nào.

Tết vừa qua, khoa thi mùa xuân dự định vào tháng Hai. Từ Ninh An lên kinh mất khoảng hai mươi ngày. Để tránh vội vàng dự thị, Nguyễn Ngôn Sơ dự định khởi hành vào ngày mười sáu tháng Giêng, đến nơi còn có thể thuê phòng ôn tập thêm ít lâu.

Ngày Tết Nguyên Tiểu, A Lê cùng Phùng thị đi chùa Vân Thủy khấn Văn Thù Bồ Tát, xin thêm một lá bùa bình an.

Trước khi đi, Tiết Duyên đang ở bếp cùng Lai Bảo đánh vảy cá, một con cá đen to tướng, vảy rơi trắng xóa như tuyết. Lai Bảo chẳng sợ tanh, cũng chẳng sợ máu, vừa bịt mắt vừa chạy trong đống vảy, kêu “ú ú” vui sướng. Tiết Duyên chẳng cản, chỉ lo làm việc trong tay mình, thỉnh thoảng quát, “Cẩn thận, đừng ngã đấy!”

Chuyện cha con chơi với nhau vốn chẳng có gì, nhưng rơi vào mắt mẫu thân và bà nó thì lại thành “nghịch dại”.

Phùng thị xưa nay chiều cháu, nhưng lần này cũng giận thật, kéo tay Lai Bảo đánh hai cái vào mông, rồi trừng Tiết Duyên một cái, vừa lẩm bẩm vừa dắt cháu đi thay đồ.

A Lê cũng không vui, mím môi nói với Tiết Duyên, “Lát nữa ta với bà đi chùa, chỗ chàng làm bẩn phải tự quét, xiêm y cũng phải tự giặt, không phải lần nào gây họa cũng bắt chúng ta dọn giùm đâu đấy.”

Tiết Duyên đặt con dao trong tay xuống, khẽ cười kéo tay A Lê, dỗ dành, “Đừng mà.”

A Lê né tránh, nói nhỏ, “Nhưng chàng lúc nào cũng như vậy, dắt Lai Bảo lên núi xuống biển nghịch ngợm, con nó mới có một tuổi thôi, chàng đã để nó như thế, sau này lớn lên chẳng phải thành con khỉ mất rồi à? Còn dắt nó nhảy vào đống bùn, lấy pháo ra ném xuống sông, áo quần bẩn thỉu hết cả, lại còn là áo bông nữa, giặt sao được!”

Tiết Duyên đáp tỉnh bơ, “Vậy thì vứt đi thôi.”

A Lê tức đến nỗi nói không nên lời, đẩy vai chàng một cái rồi quay người định đi. Tiết Duyên bật cười thấp, nhanh như chớp móc lấy ngón út của nàng kéo về, dùng chóp mũi cọ lên má nàng, khẽ hỏi, “Thật sự giận rồi à?”

A Lê cố giữ vẻ nghiêm, nhưng bị chàng mạnh mẽ hôn lên môi một cái, cuối cùng vẫn bật cười, che mặt nói, “Tránh ra đi, người toàn mùi tanh cá.”

Tiết Duyên nhướn mày, “Không phải vì nàng mà ta mới đích thân nấu ăn đó sao?”

A Lê nâng mặt chàng đẩy ra xa, Tiết Duyên lại mặt dày nhào tới, hai người đùa giỡn một hồi, trán đều lấm tấm mồ hôi. Tiết Duyên ngồi d*ng ch*n, ôm A Lê ngồi trên đùi, một tay siết eo nàng, tay kia nghịch ngợm nơi d** tai.

Cái chậu cá vướng víu, chàng duỗi chân đá bay ra xa cả trượng, nước trong chậu hắt tung tóe khắp nền đất.

A Lê nhìn cảnh đó chỉ biết bó tay, nghiêng đầu hỏi, “Tiết Duyên, chàng nói xem, nếu có một ngày ta không còn nữa, chàng có phải sẽ dắt Lai Bảo biến thành hai con khỉ lấm lem không?”

Tiết Duyên chẳng buồn nghĩ, hỏi lại ngay, “Không còn nữa? Nàng định đi đâu?”

A Lê khựng lại, “Đây không phải điều quan trọng.”

Tiết Duyên nói, “Đó mới là quan trọng. Nàng định đi đâu? Nàng không được rời khỏi ta, nơi nào cũng không được đi. Nếu có đi, cũng phải ta đi cùng. Với cái thân thể nhỏ bé này của nàng, lỡ bị người ta bắt nạt, ta chẳng phải đau lòng chết mất sao. Cho nên nàng chỉ có thể ở trong tầm mắt ta, để ta giữ chặt lấy.”

A Lê nói, “Ta không phải muốn hỏi chuyện đó…”

Tiết Duyên ôm chặt lấy nàng, cố tình trêu chọc, “Chuyện đó vốn không tồn tại, câu hỏi của nàng cũng vô nghĩa. Ta không trả lời.”

Hai người cãi qua cãi lại hồi lâu, A Lê hoàn toàn không nói lại nổi. Đến khi Phùng thị dắt Lai Bảo ra, cuộc tranh luận mới dừng. Tiết Duyên giúp nàng vuốt lại mái tóc bị rối, rồi vỗ nhẹ lưng, giọng dịu dàng, “Đi đi, về sớm một chút.”

A Lê mỉm cười, cúi người ôm Lai Bảo hôn lên má con, rồi vẫy tay chào Tiết Duyên, cùng Phùng thị lên xe ngựa.

Xa phu vung roi, bánh xe lăn đều, chiếc xe chậm rãi đi xa, chẳng mấy chốc chỉ còn lại một chấm nhỏ giữa con đường.

Tiết Duyên cúi người bế Lai Bảo lên, thở dài, “Chỉ còn lại hai cha con ta thôi, đi nấu cá nào!”

Lúc ấy, trong lòng Tiết Duyên vẫn bình thản yên ổn, chàng ngỡ rằng, đó chỉ là một buổi sáng bình thường như bao ngày khác.

__________

Chùa Vân Thủy là ngôi chùa lớn nhất ở Ninh An, trước kia A Lê cùng Phùng thị đã tới đây nhiều lần, đường đi quen thuộc. Hai người dâng hương, cúng tiền công đức, xin bùa bình an, rồi đến lạy tượng Thích Ca Mâu Ni, mọi việc đều thuận lợi, chỉ mất hơn một canh giờ.

Tất cả suôn sẻ cho đến khi vừa bước ra khỏi điện Đại Hùng, họ chạm mặt Khâu Vân Xuyên.

Sau khi La Viễn Phương bị xử trảm, ngoài mặt việc ấy không liên can gì đến Khâu gia, nhưng trong lòng Khâu Vân Xuyên vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề. Nàng ta và người đệ đệ ấy thân thiết bao năm, từng hy vọng sau này hắn có thể đỗ đạt, gánh vác cơ nghiệp cả Khâu gia, để nàng ta cũng được hưởng chút vinh quang. Ai ngờ La Viễn Phương chết thảm, mười mấy năm toan tính công dã tràng, uất hận trong lòng nàng dâng lên tận cổ.

Huống hồ, ngoài chuyện lợi ích, La Viễn Phương dù sao cũng là đệ đệ ruột với tỷ tỷ, cùng huyết thống, tình thân sâu nặng.

Nhưng cái chết của hắn rõ ràng là gieo gió gặt bão, trách ai được đây. Khâu Vân Xuyên tức giận, liền trút hết oán hận sang Tiết Duyên.

Một là vì sau khi La Viễn Phương chết, người đỗ Giải nguyên Ninh Bắc lại là Nguyễn Ngôn Sơ, em vợ Tiết Duyên, chuyện này khiến nàng càng thêm phẫn bất bình. Hai là bởi chuyện gian lận khoa cử bị phơi bày, xét đến cùng cũng do vở “Tây Sương Ký” mà Tiết Duyên mời diễn, thế là nàng ta ghét ai thì ghét cả tông chi họ hàng, trút hết nỗi hận vào Tiết gia.

Hai tháng nay, nàng ta không ít lần tới Chức Y Hạng gây chuyện, khi thì sai vú già đến, khi thì tự mình ra mặt. Tiết Duyên thì vẫn bình tĩnh, chẳng bao giờ ra gặp, chỉ bảo người làm mời nước, mời ăn, mời uống. Đánh thì không đánh trả, mắng cũng chẳng đáp, khiến Khâu Vân Xuyên như đấm vào bông, giận đến nghẹn cổ, mà chẳng làm gì được.

Nhưng thù oán đã kết, lại là oán sâu, chẳng thể hóa giải.

Giờ nhìn thấy A Lê cùng Phùng thị bước ra, mắt nàng ta lập tức trừng lên, bước nhanh tới định châm chọc mấy câu, trút cơn giận sáng nay bị mẹ chồng mắng.

Nhưng A Lê chỉ liếc qua, ánh mắt khẽ lướt mà không dừng, dường như chẳng hề thấy nàng, vẫn mỉm cười khoác tay Phùng thị đi qua. Nàng mặc váy lụa màu san hô, khoác áo choàng trắng tinh, viền cổ lót lông mềm mịn, dung nhan tươi tắn, dáng đi nhẹ nhàng thanh lịch, toàn thân toát lên phong thái quý phái.

Trước đây Tiết Duyên đã dặn A Lê, nếu chẳng may gặp đại nữ nhân Khâu gia kia, tuyệt đối đừng nói, cũng đừng nhìn.

Thế nên A Lê chẳng liếc sang lần nào, cùng Phùng thị thản nhiên đi xa.

Bị phớt lờ khiến cơn giận và lòng ghen của Khâu Vân Xuyên càng bốc cao hơn.

Nha hoàn bên cạnh rụt rè hỏi, “Phu nhân, chúng ta về thôi ạ? Lão phu nhân chắc đang chờ sốt ruột, bữa trưa còn phải cùng ăn bữa cơm đoàn viên nữa.”

Khâu Vân Xuyên lườm nàng ấy một cái sắc lẻm, “Lắm lời!” Nói xong, nhìn hướng A Lê và Phùng thị rời đi, như bị ma xui quỷ khiến, ra lệnh, “Đuổi theo.”

Ngày mười lăm tháng Giêng Tết Nguyên Tiêu, khách hành hương đến chùa đông nghịt. Cả sân chùa chen chúc người, khói hương nghi ngút. A Lê sức khỏe vốn yếu, má đỏ hồng lên, Phùng thị cũng hơi mệt, hai người thong thả tìm chỗ dưới tàng cây cạnh lầu Tàng Kinh ngồi nghỉ.

Khâu Vân Xuyên cùng hai nha hoàn cũng theo đến, ngồi phía sau góc tường.

Hai bên cách nhau không xa, nghe rõ từng lời, chỉ là không thấy mặt.

Chỗ lầu Tàng Kinh yên tĩnh, xa tiếng ồn trong điện chính. Ánh nắng xiên qua mái ngói chiếu xuống nền, bóng sáng ranh rới rơi ngay nơi mũi giày A Lê. A Lê cười khẽ, đưa chân giẫm lên ranh sáng tối ấy.

Phùng thị thấy vậy kéo vành mũ nàng xuống, khẽ trách, “Sao lại nghịch như trẻ con thế.”

A Lê nói, “Lai Bảo thích giẫm bóng, con chơi cùng nó mãi, nên quen rồi.”

Phùng thị khựng lại, bỗng nói, “Hay con sinh thêm cho nó một muội muội đi, vậy cho nó bớt nghịch.”

A Lê sững người, ngẩng lên nhìn bà, bắt gặp ánh mắt cười hiền, khuôn mặt lập tức đỏ bừng. Nàng mím môi, nhỏ giọng, “Tiết Duyên không muốn.”

Phùng thị nói, “Con nghe lời nam nhân làm gì. Miệng thì nói không, nhưng nếu con thật sự mang thai, nó chắc mừng đến nhảy lên nóc nhà ấy chứ!”

A Lê bật cười, “Thật thế ư?”

Phùng thị gật đầu, “Tất nhiên rồi, đủ nếp đủ tẻ, phúc khí đầy nhà, bé gái lại đáng yêu biết bao. Lai Bảo có muội muội, sau này cũng không cô đơn. Nhưng nói gì thì nói, chuyện này là của hai phu thê con, sao cũng được, ta đều thấy tốt.”

A Lê mỉm cười, nắm tay bà lắc nhẹ, “Bà nội là tuyệt nhất.”

Hai người cười rạng rỡ, nhưng ở góc khuất bên kia, Khâu Vân Xuyên nghiến răng đến nỗi hàm sau như muốn gãy.

Lần này nàng at đến chùa Vân Thủy là để cầu con. Về Tống gia đã gần một năm mà vẫn chưa có thai. Tống gia dòng dõi lớn, coi trọng con nối dõi hơn tất cả. Dù nàng ta là nữ nhi của quan tri phủ, nhưng không có con, trước Tống lão phu nhân quyền thế kia, vẫn không ngẩng đầu lên nổi. Mấy chị em dâu ngoài mặt không nói gì, sau lưng lại cười nhạo, bảo nàng ta là “gà mái không biết đẻ”.

Nghe được cuộc nói chuyện kia, lòng nàng càng thêm chua chát, ghen tị, tay nắm chặt đến bật máu, nửa lời không thốt nổi.

Một lát sau, mặt trời đã lên cao, nha hoàn sợ lỡ bữa, run rẩy khuyên, “Phu nhân, chúng ta về đi thôi?”

Khâu Vân Xuyên lắng nghe, thấy A Lê và Phùng thị cũng đang rời khỏi lầu, liền nheo mắt nói, “Bám theo tiếp cho ta.”

Đường xuống núi hẹp, quanh co hiểm trở, chỉ đủ hai xe ngựa đi song song, phải ghìm cương chậm rãi. Sợ gặp sự cố, Tiết Duyên cẩn thận cho thêm hai vú già đi theo, nhưng vì người đông, A Lê không để họ vào chùa.

Trên xe bốn người cười nói vui vẻ, chẳng ai chú ý rằng phía sau có một chiếc xe khác đang bám sát.

Ngay khi xe phía trước rẽ qua khúc cua, Khâu Vân Xuyên lạnh lùng ra lệnh, “Bảo xa phu đâm vào đi.”

Hai nha hoàn kinh hoàng thất sắc, vội ngăn, “Phu nhân, hai bên đường là vực sâu, nguy hiểm lắm, xin người đừng kích động!”

Khâu Vân Xuyên nói, “Ta đâu bảo đâm chết họ, chỉ cần đụng nhẹ vào đuôi xe, dọa cho bọn họ sợ một trận là được.”

Trong đầu nàng ta tính toán, đoạn này chỉ cao hơn một trượng, dù có rơi cũng không chết, cùng lắm xây xát. Hơn nữa xe nàng ta cũng sẽ hư hại, đến lúc đó còn có thể nhân cơ hội ép Tiết Duyên xin lỗi, một công đôi việc.

Nha hoàn lắc đầu nói, “Phu nhân, thật sự không được đâu!”

Khâu Vân Xuyên vén rèm nhìn ra ngoài, thấy xe trước sắp rẽ, sốt ruột tát mạnh vào mặt tỳ nữ, quát, “Ta bảo làm thì làm!”

Nha hoàn bị tát ngã dúi, lưng đập mạnh vào cửa xe. Xa phu hoảng loạn, tay kéo chặt dây cương, con ngựa giật mình hí vang, dựng vó lên, và trong khoảnh khắc sau, mất kiểm soát, lao thẳng về phía trước…

Tác giả có lời muốn nói:
Các bằng hữu đừng sợ nhé, dao ngọt vẫn là dao đường đó! Nào nào, đến đây, vui lên nào!
 
A Lê
Chương 108


Một tiếng nổ lớn vang lên, rồi trời đất đảo lộn.

Mọi thứ đến quá nhanh, A Lê hoàn toàn không biết chuyện gì xảy ra. Trong tai chỉ còn lại tiếng nữ nhân kinh hãi hét lên và tiếng ngựa hí thê lương. Cửa xe ngựa bật tung, khung gỗ vặn xoắn méo mó, nàng cùng Phùng thị bị hất văng ra ngoài. Khoảnh khắc rơi xuống đất, thậm chí nàng còn nghe thấy tiếng xương gãy răng rắc, rõ ràng đến rợn người.

Trước mắt mịt mù bụi đất, bóng dáng Phùng thị vẫn còn lờ mờ, co rút lại trong đau đớn. A Lê theo bản năng lật người, lấy thân mình che lên, hai tay chống xuống, dùng lưng đỡ lấy bánh xe đang nghiến tới. Xe lao nhanh như gió, cơn đau xé toạc chỉ diễn ra trong chớp mắt, mà lại dài như cả một đời người.

Tiếng ồn ào dần tan đi, A Lê trượt khỏi người Phùng thị, mềm oặt ngã xuống đất.

Nhờ có A Lê đỡ, Phùng thị không bị thương nặng, vẫn cố gượng bò dậy. Tai bà ong ong, vừa rồi mọi thứ như một cơn ác mộng, thân thể đã không còn nghe theo ý chí, chỉ thấy mình như bị nhốt trong một thế giới hoang tàn, khắp nơi đổ nát, chỉ còn lại bà và A Lê.

Ngón tay Phùng thị run run, bà quỳ sụp bên cạnh A Lê, nắm chặt cổ tay nàng, khóc không thành tiếng, nước mắt lớn như hạt châu, rơi mãi mà nghẹn cứng cổ họng.

Khách hành hương dưới núi vội chạy tới, có người tốt bụng gọi xe ngựa, cùng nhau đưa hai người đến y quán.

Giữa cảnh hỗn loạn, có người thở dài, “Con ngựa sao lại kinh hoảng đột ngột thế này? Mấy chục năm hiếm thấy chuyện lớn như vậy. Cô nương tốt lành thế kia, chẳng biết còn cứu được không.”

Cách đó vài trượng, Khâu Vân Xuyên được phu xe đỡ dậy. Nàng ta không bị thương nặng, chỉ trẹo cổ chân, đau đến toát mồ hôi.

Nhìn sang bên kia, nơi cỗ xe gần như vỡ vụn, khách hành hương đang hối hả cứu người, Khâu Vân Xuyên mặt mày tái nhợt, vội nói, “Đi, về phủ mau, đừng để ai nhìn thấy chúng ta!”

______

Khi tới y quán, A Lê vẫn còn tỉnh, chỉ là cổ họng khô rát, như kẻ lữ hành lạc giữa sa mạc khát khô tìm nước. Muốn nói một câu thôi mà cũng phải dốc hết sức, chỉ bật ra được vài hơi yếu ớt.

Môi nàng khẽ động, Phùng thị vẫn nhận ra được, nàng nói, “Nội ơi, con đau quá…”

Phùng thị sống mũi cay xè, đôi mắt vốn đã đỏ hoe lại rơi lệ. Bà vội cúi xuống dỗ dành, giọng run run, “Lê nhỏ ngoan của nhà ta, con phải cố lên, được không? Nội ở đây với con, uống thuốc rồi sẽ khỏi thôi, đừng sợ nhé, được không?”

A Lê mỉm cười khẽ, gật đầu đáp, “Con không sợ.”

Phùng thị nấc nghẹn, nắm lấy bàn tay nàng áp lên má mình để sưởi ấm. Tay A Lê vốn lạnh, giờ càng lạnh như băng, khiến tim bà run rẩy. Bà cố sức thổi hơi ấm lên, nhưng vô ích.

Lúc ấy đại phu mang hòm thuốc tới, sắc mặt trầm nặng, bắt mạch.

Phùng thị lùi sang một bên, hai tay che miệng, ánh mắt không dám rời khỏi gương mặt A Lê, tái nhợt như tờ giấy, vương đầy máu khô, mày nhíu lại, hơi thở mỏng manh, ngực phập phồng nhẹ như sợi tơ. Đôi mắt vẫn mở, lông mi run run, không còn tiêu điểm.

Trên trán trái là một vết đỏ thẫm, do khi rơi khỏi xe đầu va vào đá.

Không biết bao lâu, đại phu đứng dậy, khẽ lắc đầu.

Phùng thị gần như sụp đổ, lao tới nắm áo ông, quỳ sụp xuống khóc nghẹn, “Xin ông, cứu đứa con ta đi mà…”

Đại phu vội đỡ dậy, thở dài, “Không phải ta không cứu, mà thật sự quá nặng. Xe ngựa nghiền qua người, xương gãy nhiều, đầu lại va mạnh, máu chảy quá nhiều, ta chỉ là thầy thuốc, chẳng phải thần tiên. Mạch nàng đã sắp tắt, dù có cứu cũng chỉ giữ được một hơi.”

Phùng thị xưa nay điềm đạm, chưa bao giờ tuyệt vọng như thế. Một bà lão sáu mươi, khóc đến nấc nghẹn, giọng run run, “Nhưng nàng còn tỉnh mà, nàng vẫn nói chuyện được, sao ông lại nói là không cứu nổi?!”

Đại phu đáp, “Ta cũng không hiểu. Người thường giờ này đã hôn mê từ lâu, nàng vẫn còn cố được mấy lời. Thôi được, ta sẽ làm hết sức, nhưng hậu quả thế nào, ta không dám hứa.”

Ông nhẹ giọng, “Ta đi kê thuốc, bà ở lại trông nàng đi.”

Phùng thị ngồi bệt xuống đất, tay vịn cột gỗ, mệt lả. Bà không hiểu, sáng nay còn bình yên, sao chỉ mấy canh giờ đã thành ra thế này?

Khi Tiết Duyên xông vào, A Lê đã gần như không gượng nổi.

Mi mắt nàng nặng trĩu, thế giới trước mắt mờ nhòe, dù cố mở ra cũng không rõ được gì. Toàn thân đau như bị hàng vạn kim châm. Lờ mờ nghe tiếng đồ vật vỡ choang, ai đó quát to, “Mù à! Làm đổ thuốc rồi!”

Tiết Duyên chẳng còn để tâm, mặc chiếc áo đơn mỏng manh, tay vẫn dính vệt tương đen nâu, lao đi giữa gió lạnh, trông chẳng khác nào kẻ lang thang. Chàng quỳ xuống bên giường, th* d*c, đôi tay nóng rực run rẩy đặt lên bàn tay băng giá của A Lê, lạnh và nóng, đối lập tàn nhẫn.

A Lê khẽ động, gắng sức chạm cổ tay chàng.

Chỉ một cái chạm nhẹ ấy, Tiết Duyên đã muốn bật khóc.

Giọng chàng khàn đặc, “A Lê, nàng bị làm sao vậy?”

A Lê khẽ liếc chàng, đôi mắt mờ đi. Tiết Duyên cắn chặt răng, cơ mặt co lại, nước mắt rưng rưng.

Nàng đã chờ chàng đến, dốc cạn sức lực chỉ để nói thêm đôi câu, nhưng thật sự không còn nổi.

Đại phu bưng bát thuốc đen kịt đến, đưa đơn cho Phùng thị, khẽ nói, “Cho uống đi rồi về nhà nghỉ ngơi. Ở đây cũng vô ích, ở nhà ngược lại còn thoải mái hơn chút. Trong thuốc có nhân sâm, chỉ cầm hơi được chút ít. Còn lại là tùy số mệnh. Ta thật sự hết cách.”

_______

Nguyễn Ngôn Sơ ra ngoài có việc, Lai Bảo được Vi Thúy Nương trông bên nhà, trong nhà chỉ còn hai người.

A Lê nằm đó, như đang ngủ, bình yên đến lạ. Nếu không phải mảnh vải trắng trên trán đã nhuốm máu, người ta còn tưởng nàng chỉ đang mơ.

Tiết Duyên ngồi bên, muốn chạm mà không dám.

Không ai hiểu nổi chàng tuyệt vọng đến nhường nào, A Lê vẫn ở đây, mà như đã rời xa. Chàng không dám nghĩ, nếu A Lê thật sự ra đi, chàng sẽ ra sao.

Không điên thì cũng chết.

Bao năm qua, sức sống duy nhất nâng chàng dậy chính là nàng. Chàng làm lụng, nỗ lực, chỉ để cho nàng một cuộc đời tốt hơn. Nếu nàng không còn, tất cả đều vô nghĩa. Tình cảm ấy đã hòa vào xương tủy, tách ra chẳng khác nào róc thịt trên xương, đau đến tận linh hồn.

Không gian lặng im, mùi máu và thuốc đắng lẫn vào nhau, hương thơm quen thuộc trên người nàng đã phai gần hết.

Chàng cúi xuống, tham lam hít một hơi cuối cùng.

Bốn bề không ai, Tiết Duyên khẽ úp mặt lên cánh tay A Lê, cuối cùng bật khóc nức nở.

Cho tới bây giờ, Tiết Duyên vẫn không tin, chàng cảm thấy mọi thứ như một giấc mộng, loanh quanh mãi chẳng tìm thấy lối ra. Giá mà chỉ là mơ thôi, chàng thà quay lại mười năm trước, chịu đựng hết mọi khổ sở, chỉ để sáng nay, khi A Lê nói muốn đi chùa Vân Thủy, có thể giữ nàng lại, nói rằng, “Không cho nàng đi. Nếu nàng đi, nửa mạng của ta cũng chẳng còn.”

Tim bị moi đi một nửa, Tiết Duyên ngồi đờ đẫn bên giường, nhìn trân trân suốt năm canh giờ, chẳng uống nổi giọt nước nào.

Đêm xuống, Phùng thị mệt quá ngủ thiếp đi.

Vi Thúy Nương bưng thuốc tới, chàng nhẹ nhàng đỡ A Lê dậy cho uống. Không dám kiểm tra hơi thở, chỉ cố tin nàng chưa rời đi. Khi thấy cổ họng nàng khẽ nuốt xuống, chàng mới thở ra một hơi.

Vi Thúy Nương khuyên, “Ngươi cũng nghỉ chút đi, nửa đêm ta trông cho.”

Tiết Duyên lắc đầu, “Ta còn chịu được.”

Nói đi nói lại bao lần, Vi Thúy Nương chỉ biết thở dài, lặng lẽ rời đi.

Chàng cúi xuống, khẽ nhéo vành tai nàng, thì thầm, “Nàng xem, ta thành ra thế này rồi, nàng có thấy đau lòng không?”

Tất nhiên, chẳng có tiếng đáp lại.

Chàng ngừng một chút, tự nói tiếp, “Nếu nàng thương ta thì tỉnh lại đi, ta đã lâu chưa trò chuyện với nàng rồi, bây giờ im lặng thế này ta không quen, chịu không nổi.”

Chàng lẩm bẩm mãi, như người hóa dại, “A Lê, ta đau dạ dày rồi, nàng làm trứng hấp cho ta được không? Ta thích ăn cái đó nhất, cho nhiều hành lá, ta ăn liền năm quả cũng được… Nàng không thương ta nữa à? Trước đây mỗi khi ta kêu đau, nàng cứ sốt ruột mãi, giờ nàng chẳng thèm nhìn ta lấy một cái.” Nói tới đây, Tiết Duyên lại thấy buồn bực, “Sao nàng nỡ thế hả?”

A Lê vẫn lặng im.

Chàng nói tiếp, “Em còn nhớ lần mình đi Thiếu Lương chữa tai không. Lúc ở bờ Hoàng Hà ấy, nghèo đến mức mua cái bánh bao cũng phải tính toán mãi. Nàng khóc, nói mình hết tiền rồi, đòi về. Nàng biết không, khi ấy lòng ta đau đến thế nào. Ta chỉ nghĩ, sao ta lại không có tiền được chứ, sao lại để nàng khóc vì không có tiền mà không được chữa bệnh. Tiền đúng là thứ tốt thật. Nhưng bây giờ… có tiền rồi, ta còn chữa được bệnh cho nàng không?”

Chàng cười khan, giọng nghẹn, “A Lê, nửa đời nước mắt của ta đều rơi vì nàng. Nàng đến là để đòi nợ ta phải không?”

“Ta nợ nàng bao nhiêu, nói đi, để ta trả. Nàng đừng cứ im lặng thế này. Khi Tiết Duyên gặp chuyện khổ cũng biết khóc đấy, nàng biết không?”



Không biết từ khi nào, giọng chàng đã khản đặc.

Nguyễn Ngôn Sơ không biết chuyện của A Lê, chỉ nghe Tiết Duyên nói nàng bị cảm, ngủ sớm, mai không tiễn được.

Nguyễn Ngôn Sơ vội vàng hỏi vài câu, nghe nói A Lê không sao thì mới yên tâm. Dù tiếc vì không gặp A Lê lần cuối, nhưng cậu vẫn mỉm cười dặn Tiết Duyên chăm sóc nàng thật tốt.

A Lê có đệ đệ ngoan hiểu chuyện, hiền lành như nàng.

Suy nghĩ tản mạn, Tiết Duyên khẽ vuốt ngón tay nàng, nhìn ngọn nến sắp tàn lay lắt trên bàn, lòng rỗng không.

Ngoài cửa vang lên tiếng chân dồn dập. Hồ An Hòa xông vào, thở hổn hển, nói. “Tiết Duyên, ta tìm được hai vú già đi theo xe hôm nay rồi, có một người tỉnh lại, nói là sau khi xe lật, bà ta thấy Khâu Vân Xuyên. Hơn nữa, cỗ xe mà Khâu Vân Xuyên ngồi, y hệt cái xe đã lao vào!”

Tiết Duyên hít mạnh một hơi, bật dậy, đôi mắt đỏ ngầu như sắp hóa thú ăn người.
 
A Lê
Chương 109


Hồ An Hòa nói tiếp, “Ta còn nghe người qua đường bảo rằng Khâu Vân Xuyên không về Tống gia, mà lại đưa cả xa phu và nha hoàn cùng quay về Khâu phủ, khiến Tống lão phu nhân nổi giận đùng đùng, suýt nữa viết hưu thư đuổi đi. Nếu nàng ta không có tật giật mình, thì trốn cái gì chứ? Chắc chắn trong lòng có quỷ!”

Tiết Duyên đứng yên tại chỗ rất lâu không nói gì, chỉ thấy trong mắt chàng tràn đầy tia đỏ, lóe lên sát khí rõ rệt.

Chỉ một khắc sau, chàng xoay người, toan lao ra ngoài.

Hồ An Hòa phản ứng cực nhanh, vội vàng túm lấy chàng từ phía sau, hoảng hốt hỏi, “Tiết Duyên, ngươi định làm gì vậy?”

Lúc này lý trí của Tiết Duyên gần như bị cơn giận dữ nuốt chửng, chàng không còn bận tâm đến điều gì khác, trong đầu chỉ còn một ý niệm, giết người báo thù cho A Lê.

Hồ An Hòa chỉ là một thư sinh yếu ớt, làm sao địch nổi người đang liều mạng như Tiết Duyên, chàng gần như bị kéo lê về phía cửa. Bao nhiêu năm quen biết, Hồ An Hòa chưa từng thấy Tiết Duyên thế này, như hóa thành ma, ánh mắt, khóe miệng đều phủ đầy sát khí, toàn thân dựng ngược như có gai nhọn.

Vai đụng mạnh vào khung cửa phát ra tiếng “rầm”, đau buốt, nhưng thấy Tiết Duyên sắp xông ra ngoài, Hồ An Hòa cắn răng, dứt khoát nhào xuống đất ôm chặt lấy cổ chân chàng, gằn giọng hét, “Tiết Duyên, ngươi bình tĩnh lại đi!”

Lời này chẳng khác nào giẫm trúng đuôi sư tử, Tiết Duyên toàn thân run lên, quay phắt lại, gằn từng chữ, “Bình tĩnh? Đến nước này rồi mà bảo ta bình tĩnh?”

Cơ mặt chàng căng cứng, giọng khàn khàn gần như gầm lên, “Ngươi có biết A Lê của ta sắp chết rồi không?! Bình thường ta nâng niu nàng trong tay, sợ chạm mạnh làm nàng đau, mà giờ xem nàng bị người ta hành hạ đến thế này! Ta không thể bình tĩnh được, nếu A Lê không tỉnh lại, cả đời này ta cũng không thể bình tĩnh, ta sớm muộn gì cũng phóng hỏa đốt Khâu phủ, chặt tay chặt chân cái lão già đó với con tiện nhân kia, băm ra từng khúc cho chó ăn!”

Giọng Tiết Duyên khô khốc, mấy từ cuối gần như rít qua kẽ răng, lạnh lẽo đến rợn người.

Chàng cúi đầu, giọng trầm lạnh, “Buông ra.”

Hồ An Hòa mồ hôi túa ra, cố sức giữ chặt, “Không buông!”

Tiết Duyên không chút nương tay, đá mạnh vào vai hắn. Hồ An Hòa không kịp đề phòng, đau đến co rúm người lại. Tiết Duyên liếc hắn bằng ánh mắt lạnh lẽo rồi quay người đi thẳng.

Phòng bên là nơi Nguyễn Ngôn Sơ đang nghỉ, Hồ An Hòa không dám kêu to, mồ hôi chảy ròng, chỉ có thể trơ mắt nhìn Tiết Duyên phi thân lên ngựa, quất roi lao vào màn đêm.

Lai Bảo vì đột ngột xa mẫu thân nên quấy không chịu ngủ, phải đến khi Vi Thúy Nương dỗ mãi mới yên. Nàng chưa kịp chợp mắt thì nghe tiếng động ngoài sân. Khoác vội áo, nàng chạy ra thì thấy Hồ An Hòa ngã sõng soài trên đất, kinh hãi đỡ dậy hỏi, “Xảy ra chuyện gì thế?!”

Hồ An Hòa không kịp giải thích, kéo tay nàng nói gấp, “Đến Khâu phủ mau, muộn là không kịp đâu!”

Đoạn đường vốn đi hai khắc đồng hồ, Tiết Duyên thúc ngựa đi như bay, chỉ nửa thời gian đã tới.

Cửa lớn Khâu phủ đóng chặt, hai con sư tử đá uy nghi lặng nhìn. Tiết Xuyên bước tới, không thèm gõ cửa, tung chân đá mạnh.

Cửa gỗ lim vang lên tiếng trầm nặng, rồi lại thêm mấy cú nữa, tiếng đập dồn dập khiến gia nhân bên trong bực bội chửi rủa, “Mẹ kiếp! Ai nửa đêm không ngủ tới đây đập cửa vậy? Không biết đây là địa bàn của ai à? Đúng là……”

Cửa “két” một tiếng mở ra, lời chưa dứt thì hắn đã ăn ngay một cú đấm, ngã lăn ra đất, ngây người không kịp hoàn hồn.

Tiết Duyên áo quần nhàu nát, dính máu, dưới ánh đèn mờ, như ác quỷ đòi mạng. Đám gia đinh trực đêm nghe tiếng động ùa ra, tay cầm gậy gộc đao thương, nhưng khí thế dữ dội trên người Tiết Duyên khiến ai nấy chần chừ, không dám lao tới.

Chàng không định dây dưa, đoạt lấy gậy sắt, xông thẳng vào trong.

Khâu phủ là tòa nhà lớn bảy gian, Khâu Thời Tiến vốn sợ chết, ở tít trong cùng. Phía trước là sương phòng cùng viện của phần đông thiếp thất và gia nhân. Nhà Khâu gia to như vậy, gia đinh hơn trăm người, một mình Tiết Duyên muốn xông vào chẳng khác nào lên trời.

Khi Hồ An Hòa và Vi Thúy Nương chạy tới, cả tiền viện đã như sắp tan hoang, nơi nơi đều là đồ gốm, ngói vỡ đầy đất, mấy tên gia đinh nằm r*n r* một chỗ. Giữa sân, Tiết Duyên bị hơn chục người vây lại, áo rách tươm, toàn thân là máu, nhưng ánh mắt điên loạn không sợ hãi, khủy tay hất ngược đánh bật kẻ phía sau, rồi xoay người vung gậy xuống, nhằm thẳng vào đầu kẻ đối diện.

Tiếng kêu thất thanh vang khắp nơi.

Dù Khâu phủ có nhiều gia đinh, nhưng vốn là nhà quan, xưa nay chưa từng gặp kẻ dám tới gây sự, nên lũ đó phần lớn chỉ múa may giả vờ, chẳng ai dám liều mạng. Tiết Duyên rõ ràng không cần sống nữa, khiến bọn họ sợ đến tái mặt.

Trong khoảnh khắc ấy, ai nấy đều tưởng người kia sẽ bị đập chết.

Trước mắt Tiết Duyên là màn máu đỏ, đầu óc chỉ đầy hình ảnh A Lê nằm bất động trên giường, cả tim chàng bị xoắn lại, đau đến tê dại. Chàng đánh đến phát cuồng, không còn biết mình đang làm gì, chỉ còn một ý niệm duy nhất, “Khâu gia phải trả giá.”

A Lê của chàng không thể chịu oan vô ích.

Ngay khi cây gậy sắp giáng xuống đầu đối phương, Hồ An Hòa liều mạng lao tới, vai húc mạnh vào người Tiết Duyên, ép chàng dính vào tường, quát lên, “Tiết Duyên, A Lê còn chưa chết, ngươi điên cái gì thế! Ngươi đây là muốn làm gì vậy, muốn giết người à, muốn vào nhà lao mới hả dạ sao?!”

Gậy sắt rơi xuống đất kêu “choang”, mọi người đồng loạt thở phào.

Tiết Duyên bị ép sát vào tường lạnh, không nhúc nhích được.

Vi Thúy Nương vội nói, “Tiết Duyên, chúng ta biết ngươi đau lòng, nhưng ngươi là trụ cột trong nhà, ngươi không thể ngã xuống được, vì A Lê, cũng vì cả A Ngôn nữa. Ngày mai nó lên kinh thành rồi, ngươi muốn nó phân tâm sao? Nếu nó biết A Lê bệnh nặng, ngươi nghĩ nó còn thi nổi không?”

Nàng ngừng lại, dịu giọng, “Ngươi bây giờ không chỉ có một mình nữa, ngươi muốn chết thì chết, nhưng A Lê thì sao đây, nội biết làm gì đây? Cả nhà chỉ còn trông vào ngươi thôi.”

Hồ An Hòa nhìn thấy ánh máu trong mắt Tiết Duyên dần tắt, biết chàng đã tỉnh lại, giọng nghẹn, “Tiết Duyên, về nhà đi, nói không chừng A Lê tỉnh rồi đấy, đang dựa vào gối chờ ngươi đấy. Ngươi ở đây có ích gì, phát điên lên thì trong lòng có thoải mái gì không? Vô ích thôi, về nhà đi.”

Tiết Duyên im lặng hồi lâu, cuối cùng cũng tỉnh táo lại.

Hồ An Hòa nhắm mắt, nhẹ giọng đáp, “Về nhà thôi.”

Đêm đi tấn công phủ quan, lại đả thương gia đinh, tội này không nhẹ. May mà tối nay Khâu Thời Tiến không ở nhà, bây giờ đã là đêm khuya, trận hỗn chiến giữa Tiết Duyên và bọn chúng chỉ diễn ra ngoài sân, chưa ai trong nội viện biết trừ gia đinh. Vi Thúy Nương ở lại khuyên giải, lại bồi thêm một khoản bạc lớn mới dập được vụ này.

Cả đêm không ai chợp mắt. Tờ mờ sáng hôm sau, Tiết Duyên thay xiêm y, tiễn Nguyễn Ngôn Sơ lên đường đi kinh đi thí.

Mọi người đều cố giữ vẻ bình tĩnh, chỉ riêng Lai Bảo là cười thật lòng, quấn lấy cữu cữu muốn bế.

Nguyễn Ngôn Sơ hôn lên má đứa cháu, dịu giọng dặn, “Thúc đi rồi, Lai Bảo phải nghe lời mẫu thân, không được giận dỗi lung tung. Mẫu thân con vất vả lắm, hiểu không nào?”

Lai Bảo đáp giòn tan, “Hiểu ạ!”

Tiết Duyên đứng bên, nhìn vào đôi mắt long lanh của Lia Bảo, tim chợt thắt lại, vội quay đi nhìn gốc cây khô bên cạnh. Lai Bảo vẫn bi bô nói không rõ, Nguyễn Ngôn Sơ kiên nhẫn đáp lại, dặn đi dặn lại phải ngoan.

Thấy giờ không còn sớm, Phùng thị bế Lai Bảo đi, sợ thằng bé khóc mãi.

Nguyễn Ngôn Sơ mỉm cười, quay sang Tiết Duyên, người từ đầu đến cuối không nói một lời, nhẹ giọng, “Tỷ phu, mấy ngày nay huynh vất vả rồi.”

Tiết Duyên khẽ cười, gật đầu. Cổ họng chàng bỏng rát, như có lửa cháy, chẳng nói nổi. Dù đã thay áo mới, nhưng sắc mặt vẫn nhợt nhạt, đứng cũng chỉ nhờ gắng gượng.

Nguyễn Ngôn Sơ không để ý, nghĩ chàng chỉ mệt vì chăm A Lê. Cậu mím môi, lấy trong tay áo ra vài đồng bạc vụn, đưa cho chàng.

Phùng thị cười hỏi, “Đưa làm gì thế?”

Nguyễn Ngôn Sơ đáp, “Để mua cho tỷ tỷ ít kẹo. Hồi nhỏ mỗi lần tỷ bị bệnh, cha đều mua mấy viên kẹo về, kỳ lạ lắm, cứ ăn vào là khỏi. Tỷ tỷ thích kẹo gừng, đến giờ vẫn vậy.”

Phùng thị bảo, “Trong nhà có tiền, con giữ lấy mà dùng đường xa.”

Nguyễn Ngôn Sơ lắc đầu, dịu dàng nói, “Đây là tiền con kiếm được khi viết chữ thuê ven đường, ý nghĩa khác. Dùng nó mua kẹo cho tỷ tỷ ăn, chắc chắn sẽ ngọt hơn.”

Nắm mấy đồng bạc ấy trong tay, Tiết Duyên thấy như bỏng rát, tim đau như bị dao cùn cứa từng nhát.

Sau khi từ biệt, Nguyễn Ngôn Sơ lên ngựa khởi hành. Dậy sớm quá, Lai Bảo buồn ngủ, dụi mắt rồi ngủ gục trong lòng Phùng thị.

Sân viện bỗng trở nên yên ắng, chỉ còn tiếng vó ngựa xa dần.

Không biết bao lâu sau, Tiết Duyên nhắm mắt, bỗng đấm mạnh vào thân cây bên cạnh, phịch một tiếng.

Tháng Giêng trời còn lạnh, vỏ cây cứng ráp mà thô ráp, Tiết Duyên dường như dùng hết đánh, làn da bị vỏ xước qua, sức máu từ khớp tay lập tức ứa ra, đỏ tươi.

Chàng không cảm thấy đau, chỉ lặng người, tim tê dại, hô hấp như cũng chỉ còn nhờ bản năng.

Gió lạnh luồn vào cổ áo, dán lên da, khiến chàng run nhẹ. Tiết Duyên chậm rãi ngồi thụp xuống, lưng cong như con thú bị thương, vùi mặt vào hai tay. Không biết qua bao lâu, cuối cùng chàng bật ra một tiếng nấc nghẹn, rất nhỏ, gần như không nghe thấy.

Phùng thị mắt đã nhòe lệ, muốn nói gì đó nhưng chẳng thể thốt ra, sợ chàng nghe thấy tiếng khóc. Bà vội quay đi, dùng mu bàn tay lau nước mắt, rồi lặng lẽ bước vào nhà.

Vi Thúy Nương khẽ nói, “An Hòa, mình về thôi. Lát nữa Lai Bảo tỉnh, cần người trông. Thật ra để hắn ở đây cũng tốt, xảy ra chuyện lớn như vậy, chẳng thể bình tâm ngay được. Tiết Duyên khổ lắm rồi.”

Hồ An Hòa gật đầu, mắt cay xè, ngẩng nhìn bầu trời.

Mấy con chim khách chuyền từ cành này sang cành khác, ríu rít gọi nhau. Trước kia hắn thấy là điềm lành, nay chỉ thấy lòng rối bời, nhìn bộ lông đen trắng của chúng cũng thấy buồn bã nặng nề.

Người ta thường nói tức nước vỡ bờ, chẳng biết lần này có đúng không.

Tiết Duyên vẫn giữ nguyên tư thế cúi gập người, máu từ mu bàn tay rỉ xuống đất, từng giọt thẫm đỏ thấm vào bùn, tạo thành những vệt nhỏ đáng sợ.
 
A Lê
Chương 110


Nửa tháng sau đó, ngày nào Tiết Duyên cũng túc trực bên A Lê. Tình trạng của nàng lúc tốt lúc xấu, thỉnh thoảng tỉnh lại vài lần, nhưng chưa được bao lâu lại mê man ngủ tiếp.

Thầy thuốc nói đó là do lúc ngã ngựa đã va mạnh vào trán, về sau có thể tỉnh lại hay không, hoặc có để lại di chứng gì không, thì còn phải xem số mệnh.

Mùa xuân đã đến, vì năm trước là mùa đông ấm, nên năm nay trời càng thêm dịu. Mới đầu tháng hai mà hoa lê đã nở trắng xóa, hương thơm lan khắp.

Tiết Duyên đi dạo một vòng ngoài sân, bẻ một cành lê c*m v** bình sứ, đặt ngay trên chiếc bàn nhỏ đầu giường A Lê. Hoa lê nhỏ xinh, cánh trắng nhị vàng, yếu mềm mà đáng yêu, từng chùm từng chùm nở rộ, tỏa ra hương ngào ngạt khiến người say đắm.

Chàng khẽ cúi xuống hít một hơi, mỉm cười nói, “Lê nhỏ, nàng còn nhớ tửu lâu ở Lũng huyện không, hoa lê sau vườn năm ấy cũng nở rộ, Hồ huyện lệnh còn gửi thư hỏi khi nào ta về thăm. Nàng mau tỉnh lại đi, kẻo lỡ mùa hoa năm nay, lại phải đợi thêm một năm nữa đấy.”

A Lê vẫn nhắm mắt, hơi thở yếu ớt, không đáp lời.

Trong mắt Tiết Duyên thoáng hiện nét thất vọng, nhưng rồi nhanh chóng giấu đi. Chàng cầm bông vải thấm nước làm ẩm đôi môi khô nứt của nàng.

Bây giờ mỗi ngày chàng đều ngủ sớm dậy sớm, ăn mặc chỉnh tề, gọn gàng như cũ, chỉ sợ nếu A Lê tỉnh lại, thấy chàng tiều tụy sẽ đau lòng.

Hồ An Hòa đã rời đi từ hôm sau khi Nguyễn Ngôn Sơ khởi hành, sang Thiếu Lương tìm danh y Mã Thần Y, việc buôn bán trong tiệm đều giao cho Vi Thúy Nương trông coi. Còn Tiết Duyên, ba ngày năm bữa mới ghé qua tiệm một lần, phần lớn thời gian đều ở nhà, canh chừng bên giường A Lê. Trước kia quá bận rộn, sáng đi tối về, chẳng có mấy khi được nói chuyện cùng nàng, giờ thì cuối cùng cũng có thể ở bên nàng cả ngày nhưng A Lê lại chẳng thể đáp lại nữa.

Thế gian này giống như một cái vòng luẩn quẩn, con người bị vặn vẹo trong đó, tròn méo theo tay người đời, mà chẳng thể thoát ra.

Ban ngày có Phùng thị bên cạnh, lòng chàng còn thấy yên phần nào, nhưng đến đêm khuya tĩnh mịch, trong phòng chỉ còn hai người họ, cùng một con thỏ nhỏ bị đói gầy rộc.

A Hoàng nằm bên tay A Lê, má dán vào mu bàn tay nàng, khe khẽ thở đều, Tiết Duyên đưa tay ôm cả hai vào lòng, nhắm mắt lại, nhưng suốt đêm chẳng thể ngủ. Còn sống mà như chết, áp lực đến nỗi mỗi hơi thở đều là một cơn đau.

Ngày trước, chàng từng nghĩ tiền là quan trọng nhất, có thể mua nhà, mua gấm vóc lụa là, đổi lấy cuộc sống sung túc. Nhưng bây giờ, Tiết Duyên nghĩ, nếu có thể đổi hết gia sản chỉ để A Lê khỏe lại, thì đúng là chuyện đáng mừng nhất đời.

Thế nhưng ngày ngày trôi qua, hoa lê cũng đã tàn, mà A Lê vẫn như cũ.

Đêm cuối xuân ấy, Tiết Duyên mơ một giấc mơ. Trong mơ, họ trở về căn nhà cũ ở huyện Long, nơi khắp núi đều phủ hoa nở. A Lê ngồi trên chiếc xích đu dưới giàn nho, đong đưa nhè nhẹ. Nàng mặc chiếc váy vàng nhạt, môi hồng hào, thấy chàng đến thì vẫy tay cười tươi.

Khoảnh khắc đó, Tiết Duyên thấy như có viên kẹo mật tan chảy trong lòng, ngọt đến tận xương tủy. Chàng bước tới, muốn đẩy nhẹ xích đu cho nàng, nhưng bàn tay lại xuyên qua thân thể nàng, chạm không được.

Trong chớp mắt, từ thiên đường rơi thẳng xuống địa ngục. Chàng hoảng loạn, thử lại hết lần này đến lần khác, nhưng đều vô ích. Cuối cùng, chàng đành thừa nhận, mình không thể chạm đến A Lê nữa, dù nàng ở ngay trước mặt, hương thơm trên người vẫn phảng phất.

A Lê không hiểu chuyện gì, ngẩng mặt hỏi nhỏ, giọng tủi thân, “Tiết Duyên, ta đung đưa không nổi nữa, chàng giúp ta đi.”

Tiết Duyên chân tay luống cuống đứng ngây tại chỗ, chẳng biết trả lời ra sao.

Thấy chàng im lặng, A Lê cúi đầu thất vọng, tựa mặt lên dây xích đu, khẽ nói, “Chàng mệt rồi sao?”

Tiết Duyên lắc đầu, “Ta không mệt.”

A Lê khẩn cầu, “Vậy ôm ta đi, đã lâu rồi chàng chưa ôm ta, ta đợi mãi chàng lâu lắm rồi, giờ chàng mới tới.”

Đầu lưỡi chàng đắng nghét, mãi mới thốt ra nổi mấy chữ, “Bé con, ta không ôm được nàng.”

A Lê cúi đầu, im lặng thật lâu. Rồi nàng nói nhỏ, “Tiết Duyên, vừa rồi có người đến tìm ta, bảo ta phải đi đến một nơi khác.”

Nàng nhíu mày, “Nhưng ta không nỡ rời chàng.”

Tim Tiết Duyên co thắt, vội hỏi, “Nàng đi đâu cơ?”

A Lê ngơ ngác, “Ta không biết.”

Tiết Duyên quỳ xuống, hơi thở gấp gáp, mắt ngấn lệ, “Nàng đừng đi được không?”

Nhưng A Lê như chẳng nghe thấy, chỉ khẽ chỉ về phía xa, nơi ánh sáng trắng đang tỏa rực, dịu dàng nói, “Tiết Duyên, chàng xem ánh sáng kia đến đón ta đó.”

Máu trong người Tiết Duyên như chảy ngược, từng sợi tóc dựng lạnh. Chàng muốn mở miệng, nhưng lưỡi đã cứng lại. Khói trắng mờ mịt dâng lên, A Lê bước xuống khỏi xích đu, đi về phía ánh sáng, càng lúc càng xa.

Tiếng nhạc lạ lùng vang lên bên tai, mơ hồ như tiếng tụng kinh, ru người vào giấc ngủ.

Ngay sau đó, Tiết Duyên choàng tỉnh, trước mắt tối đen, trời chưa sáng. Cơn mộng vừa rồi khiến tim như bị rút cạn máu, toàn thân toát mồ hôi.

Chàng ngồi bật dậy, th* d*c nặng nề, mồ hôi nhỏ xuống cổ áo. A Hoàng bị giật mình, lật người, rồi lại ngủ tiếp.

Phải mất một lúc, Tiết Duyên mới thoát khỏi cơn tuyệt vọng đó. Chàng sờ gối, đã ướt đẫm, chẳng biết là nước mắt hay mồ hôi.

Chàng quay sang kéo chăn đắp cho A Lê, rồi trần chân xuống đất, uống cạn chén trà lạnh, ngồi thất thần đến tận sáng.

Chàng ngay cả ăn sáng cũng không ăn, lại đến y quán.

Các thầy thuốc cùng dược đồng đều nhận ra chàng, đều hỏi, “Tiết chưởng quầy, phu nhân đỡ hơn chưa?”

Tiết Duyên chậm rãi lắc đầu, mọi người nhìn thấy liền hiểu ý, không hỏi nữa, chỉ lộ vẻ mặt nuối tiếc, thở dài nói, “Hy vọng có thể sớm bình phục.”

Tiết Duyên sợ nhất là ánh mắt thương hại của người khác, vội lảng đi, không dám nhìn.

Dù biết không có phép màu nào, thầy thuốc vẫn dành thời gian đến nhà Tiết Duyên xem bệnh cho A Lê. Chàng đứng một bên, tay lạnh ngắt như chờ tuyên án.

Một lúc sau, thầy thuốc thu hộp thuốc lại, thở dài, “Nói thật, giờ thế này, ngài cầu Phật e còn hiệu nghiệm hơn cầu ta.”

Tiết Duyên nuốt nước bọt, nghẹn lời.

A Lê nằm yên trong chăn đỏ, gối bên là hoa mẫu đơn thêu rực rỡ, sắc mặt nàng an tĩnh, hiền hòa, ngực vẫn khẽ phập phồng như đang ngủ. Tiết Duyên không hiểu, sao ai nấy đều nói nàng sắp chết chứ?

A Hoàng bò quanh thân A Lê, rồi nằm xuống bên tay nàng, khẽ cắn ngón tay nàng một chút.

Tiết Duyên chẳng ngồi, chỉ đứng đó nhìn nàng mãi, chàng đã gầy đi rất nhiều, không sắm thêm áo mới, ống tay áo rỗng, cằm phủ râu xanh, chưa bao giờ tiều tụy đến thế.

Phùng thị từ sau bước tới, nhẹ giọng hỏi, “Tứ nhi à, sao tóc mai con bạc thế này?”

Tiết Duyên ngẩn ra, đưa tay sờ lên thái dương, rồi soi gương, lúc này mới phát hiện quả thật bạc rồi.

Chàng cười, lại khẽ nói, “Đầu bạc đến già, thế cũng tốt.”

Buổi chiều, chàng đến chùa Vân Thủy.

Hoa mai ngoài chùa đã rụng, chỉ còn cành trơ trụi. Tiết Duyên chợt nhớ, một năm trước, mình từng cùng A Lê tới đây.

Lúc đó chàng chưa tin Phật, chỉ đứng một bên nhìn nàng thành tâm lễ bái.

Đang mùa vụ, ruộng đồng khô hạn, biết thu hoạch sẽ chẳng khá, nhưng vẫn phải cấy. Trong chùa vắng lặng, vài tiểu hòa thượng cúi đầu quét sân, thấy Tiết Duyên, họ mỉm cười gật đầu.

Tiết Duyên chặn một người lại, hỏi nhỏ, “Làm sao để dâng tiền hương hỏa?”

Tiểu hòa thượng đáp, “Trước cửa chùa có thùng công đức ạ.”

Tiết Duyên nói, “Ta muốn dâng nhiều lắm.”

Tiểu hòa thượng hơi ngạc nhiên, “Bao nhiêu ạ?”

Tiết Duyên đáp, “Ba ngàn lượng.”

Tiểu hòa thượng tròn mắt, rồi vội chạy đi thỉnh phương trượng ra.

Cuối cùng, Tiết Duyên dùng ba ngàn lượng bạc ấy để dát vàng tất cả tượng Phật trong chùa.

Trước khi đi, phương trượng nói, “Trong “Pháp Viện Châu Lâm – Bát khổ bộ” có viết: đời người có tám khổ, sinh, lão, bệnh, tử, oán tắng hội, ái biệt ly, ngũ ấm xí thịnh, cầu bất đắc. Mà Phật còn nói: Mệnh do mình tạo, tướng do tâm sinh.”

Mệnh do mình tạo…

Nhưng đến nước này, Tiết Duyên chẳng biết mình còn làm được gì.

Chàng chỉ có thể chờ đợi, ngày lại ngày, đêm lại đêm.

Giữa tháng tư, không biết là do Phật linh thiêng cảm động bởi ba ngàn lượng vàng kia, hay là thuốc bấy lâu đã có hiệu quả, bệnh của A Lê bắt đầu thuyên giảm. Sắc mặt nàng hồng hào hơn, mạch tượng cũng đều hơn. Thầy thuốc thở phào, “Giữ được mạng rồi. Còn khi nào tỉnh, phải xem nàng thôi.”

Dù vậy, Tiết Duyên vẫn thấy như được sống lại từ vực chết.

Cùng lúc đó, một tin vui khác cũng đến, Nguyễn Ngôn Sơ thi đỗ Cống sĩ trong kỳ thi Xuân, ở lại kinh chờ thi Đình.

Đầu tháng năm, chiến sự giữa triều Chu và Đông Di bùng nổ. Triều đình ra lệnh thu gom lương thảo vật tư. Nhưng miền Bắc đại hạn, lại thêm sưu thuế nặng nề, dân chẳng còn gì để nộp. Để lập công, Khâu Thời Tiến cho quan sai đi từng nhà đòi gạo đòi bạc, dọa rằng nếu không nộp sẽ bắt giam vì tội cản trở công vụ, nhẹ thì phạt đòn, nặng thì sung quân.

Vài ngày sau, đến chiều, binh lính thu thuế kéo đến Chức Y Hạng.

______

Tác giả nói:

Cố gắng thêm chút nữa thôi nhé! Hôm nay là Valentine đó ~ Ai chưa có người yêu thì để lại bình luận, Lý Điềm Tịch sẽ gửi “bao lì xì độc thân ấm lòng” nha
 
A Lê
Chương 111


Có lẽ vì mới đỗ cống sĩ nên đám sai nha dẫn đầu rất cung kính, tỏ vẻ khách khí, nhưng thái độ lại cực kỳ cứng rắn. Chức Y Hạng vốn là một trong những hộ đóng thuế lớn ở Ninh An, muốn bảo Khâu tri phủ buông bỏ miếng mồi béo bở này gần như là chuyện không thể. Vi Thúy Nương nghiến răng đến mức suýt vỡ, mấy lần định đuổi đám người kia ra khỏi cửa, nhưng bị bọn tiểu nhị đau khổ ngăn lại.

Khi Tiết Duyên đến nơi, mấy tên sai nha đã ngồi đến tê cả mông, nhưng vẫn cố lì ra không chịu đi, như thể thề không lấy được tiền thì quyết không bỏ cuộc.

Thấy chàng đến, Vi Thúy Nương vẫn còn giận sôi, nghiến răng nói, “Tiền này chúng ta không thể đưa, dù chỉ một đồng. Tại sao phải mang mồ hôi xương máu của mình đi nuôi mấy con dòi trong hố phân đó. Ăn no béo tốt, nhưng thật ra toàn là lũ quái vật hút máu dân đen. Nếu là quyên góp cho triều đình đánh giặc, ta nguyện chết cũng không từ, nhưng nếu là để đưa cho cái Khâu gia ấy, ta nhổ vào cả nhà hắn. Vật hợp theo loài, người tụ theo nhóm, lũ rùa con cũng phải kéo bè mà ra hại người ta chứ!”

Giọng nàng chẳng hề nhỏ, từng chữ từng chữ đều để đám sai nha nghe thấy rõ ràng. Một tên nóng tính lập tức đứng phắt dậy, rút đao ra quát, “Con mụ chanh chua kia! Đúng là đứa nói bậy nhất, ngươi dám nói lại một lần nữa không!”

Vi Thúy Nương gần như phát điên, tiện tay cầm lấy cái bình sứ bên cạnh ném đi “choang” một tiếng, vỡ toang trên tường, mắng, “Nói chính là ngươi đó, đồ súc sinh! Suốt ngày chạy theo đít chủ nhân mà sủa, được quăng cho khúc xương là mừng cả năm! Còn dám rút đao dọa ta? Thật nực cười, thời nay đến chó cũng có tính rồi à!”

Vi Thúy Nương vốn là người thất học, nhưng khi chửi người thì miệng như pháo, nổ đùng đùng, từng câu như dao cắt vào mặt, nghe xong chỉ thấy hoa mắt chóng mặt, không kịp đáp lại.

Tên sai nha đỏ bừng cả mặt, mắt trợn trừng định lao lên, nhưng bị tên cầm đầu quát lại.

Vi Thúy Nương hừ lạnh một tiếng, liếc hắn khinh bỉ, nhổ một bãi xuống đất, thái độ đầy khiêu khích.

Từ nhỏ nàng đã là người không chịu được uất ức, ai dám bắt nạt thì dù phải lột da róc xương cũng phải trả lại. Nàng coi A Lê như muội muội ruột, những chuyện xảy ra gần đây khiến nàng hận Khâu gia đến tận xương, giờ lại bị ép đến nước này, cơn giận thật không thể nuốt trôi.

Tên sai nha cầm đầu sắc mặt khó coi, gượng cười một chút rồi quay sang Tiết Duyên hỏi, “Tiết chưởng quầy, chuyện này… ngài tính sao?”

Tiết Duyên đứng đó, mặt mày âm trầm, im lặng.

Mấy tháng nay lo toan mệt mỏi khiến hắn gầy sọp đi, cũng chẳng còn cười nữa. Đôi mắt phượng dài hẹp của chàng vốn đã sắc, giờ lại thêm vẻ lạnh lẽo, khiến người ta không dám nhìn thẳng. Ngay cả mấy tên sai nha cầm đao cũng không dám vô lễ, chỉ biết giữ ý.

Một lúc lâu sau, chàng mới lên tiếng, giọng lạnh lẽo, “Các người muốn bao nhiêu?”

Nghe vậy, Vi Thúy Nương lập tức như bị châm lửa, hít sâu một hơi định cãi, nhưng chạm phải ánh mắt của Tiết Duyên, nàng lại dần bình tĩnh lại.

Nguyễn Ngôn Sơ ở kinh thành còn chưa đứng vững, Tiết gia ở Ninh An cũng không chỗ dựa, chỉ có danh nhà có cử nhân hão huyền. So với Khâu gia, đúng là không thể so. Giờ đây thế cục bị dồn từng bước, họ chẳng có cách nào phản kháng, chỉ có thể cam chịu, uất nghẹn đến phát điên.

Vi Thúy Nương nhắm mắt, quay người bỏ đi.

Tên sai nha cầm đầu thấy nàng đi thì thở phào, nở nụ cười, giơ năm ngón tay ra, “Năm nghìn lượng. Tiết chưởng quầy, chắc với ngài cũng chẳng khó chứ?”

Tiết Duyên nói, “Miền Bắc liên tiếp hạn hán, nay đã sắp tháng Sáu mà chưa một giọt mưa,
lúa mạch ngoài đồng sắp chết khô cả rồi. Các người không thấy sao? Dân không thu hoạch hoa mầu, mà còn bị các người ngày ngày ép tiền ép bạc, dân khổ thế thì thương nhân sao mà sống nổi? Tiệm này đã ế ẩm bao ngày, trong nhà vợ lại bệnh nặng, tiền thuốc mỗi ngày tiêu chẳng xuể. Phiền các vị về nói lại với Khâu tri phủ, Tiết mỗ đây mở tiệm vải chứ không mở ngân hàng, nhiều tiền như thế, ta thật sự không có.”

Tên sai nha nhìn quanh tiệm rồi nói, “Giờ không kiếm được, nhưng tiền tích góp trước đây chắc có chứ? Tiết chưởng quầy, đây là việc vì nước, đừng có giấu.”

Tiết Duyên cười lạnh, “Câu Vi Thúy Nương nói vừa nãy không sai. Các ngươi đúng là lũ chó săn, chỉ cần được ném cho miếng xương là trung thành ngay.”

Tên sai nha lập tức sầm mặt, cố nén giận hỏi, “Ý Tiết chưởng quỹ là gì?”

Tiết Duyên phủi tay áo, cúi mắt nói, “Tiền… để ta gom góp, hai ngày nữa tự tay mang đến cho Khâu tri phủ, được chứ?”

Nghe vậy, bọn họ dịu lại, chắp tay, “Vậy phiền Tiết chưởng quỹ.”

Tiết Duyên không nói thêm, bảo người tiễn họ ra rồi đi thẳng về nhà.

Giờ đây chàng đã gần tới giới hạn chịu đựng, chỉ còn lý trí gắng gượng. A Lê đang dần hồi phục, chàng không muốn rước thêm rắc rối, chỉ mong nàng yên tĩnh dưỡng bệnh, nhanh chóng khỏe lại. Còn mọi gánh nặng phía sau để chàng gánh.

Chàng không biết, nếu sợi dây này cũng đứt, mình sẽ làm ra chuyện gì nữa.

Chàng thực sự đã là cung mạnh hết đà.

_____

Lần gặp lại Khâu Thời Tiến là ở hoa sảnh Khâu gia. Hai người ngồi đối diện, trên bàn đặt một ấm trà Phổ Nhĩ, bề ngoài có vẻ thân thiện.

Dù giữa họ oán thù chất chồng, nhưng đây mới là lần thứ hai Tiết Duyên thật sự gặp ông ta, lần đầu là khi La Viễn Phương bị bắt, Tiết Duyên chỉ thấy từ xa.

Khâu Thời Tiến khoảng ngoài bốn mươi, dáng vẻ nho nhã, cười ôn hòa, nhiệt tình rót trà cho Tiết Duyên.

Tiết Duyên không uống. Chỉ việc ngồi ở đây đã là gắng gượng, trong mắt chàng, mọi thứ ở Khâu gia đều phủ bụi, âm u và nặng nề, từng khắc đều là tra tấn.

Khâu Thời Tiến không biết, tưởng chàng căng thẳng, còn dịu giọng an ủi vài câu.

Còn về tội lỗi mà nữ nhi ông ta từng gây ra cho người khác, y chẳng hề có chút áy náy.

Trong lúc nói chuyện, y còn ra vẻ quan tâm, nhắc đến bệnh tình của A Lê, “Tiết phu nhân khá hơn chưa?”

Tiết Duyên đáp, “Làm phiền đại nhân quan tâm.”

Khâu Thời Tiến cười, “Ta làm quan phụ mẫu, ắt phải yêu dân như con.”

Tiết Duyên suýt hắt cả ấm trà nóng vào mặt y.

Nói chuyện qua loa, phụ tá bên cạnh Khâu Thời Tiến tiến vào, ghé tai nói nhỏ điều gì đó. Tiết Duyên đứng dậy cáo từ, Khâu Thời Tiến còn tiễn ra tận cửa, giữ bộ dạng quan gần dân.

Tiết Duyên thật không hiểu, đã làm hết chuyện xấu xa, sao còn giữ bộ mặt đạo đức giả ấy làm gì?

Ngay lúc chàng bước qua ngưỡng cửa, nghe thấy tên phụ tá nói, “Kinh thành vừa có công văn khẩn, bệ hạ lo cho nạn hạn phía Bắc, sắp thân chinh đến Ninh An tuần tra. Chỉ thị mọi lễ nghi phải giản đơn, không được gây phiền cho dân. Còn chuyện thuế ruộng đất để đánh Đông Doanh, tạm thời khỏi phải thu thêm, chiến sự hoãn lại, lo giữ an bình trong nước là chính.”

Khâu Thời Tiến nửa mừng nửa lo, “Thế số tiền đã thu được rồi thì xử lý thế nào đây…”

Tiết Duyên không nghe nốt câu sau, không phải vì hai người Khâu Thời Tiến có chuyện rắc rối gì, mà vì Khâu Vân Xuyên bất ngờ xuất hiện.

Từ đêm Tết Nguyên Tiêu xảy ra chuyện, nàng ta trốn không về Tống gia ăn Tết, khiến Tống lão phu nhân càng oán nặng, chẳng bao lâu liền nạp thêm ba tiểu thiếp để nối dõi. Những ngày của Khâu Vân Xuyên ở Tống gia không hề dễ chịu.

Bên cạnh nàng ta vẫn là con nha hoàn cũ, tầm mười ba mười bốn tuổi, diện mạo bình thường, chỉ có nốt ruồi đỏ ở đuôi mắt rất dễ nhận.

Dù Khâu Vân Xuyên kiêu căng ương ngạnh thế nào, lúc thấy Tiết Duyên, trong lòng vẫn có chút sợ. Nàng cau mày, cố tỏ vẻ cứng cỏi, “Ngươi tới nhà ta làm gì?”

Tiết Duyên chỉ liếc nàng một cái, rồi bước thẳng đi.

Chỉ một cái nhìn, mà khiến Khâu Vân Xuyên nổi da gà, run lên bần bật. Nhìn bóng lưng chàng, nàng cảm thấy chàng sẽ không bỏ qua dễ dàng. Cha nàng không ưa nàng, Tống gia cũng không, mà giờ Tiết gia lại ngày càng lên, Tiết Duyên giàu có, Nguyễn Ngôn Sơ lại sắp vào thi Đình……Khâu Vân Xuyên rất sợ nếu chuyện xe ngựa ấy thật sự bị bại lộ vào mọt ngày nào đó, nàng sẽ mất hết, chẳng còn đường sống.

Nha hoàn bên cạnh cúi đầu, sợ hãi không dám nói, cho đến khi bị nàng kéo mạnh một cái.

Khâu Vân Xuyên nheo mắt, giọng thấp, lạnh lẽo, “Đi lấy cho ta hai vị thuốc…”

______

Tối hôm ấy, Tiết Duyên đang ôm Lai Bảo chơi trong phòng.

Lai Bảo đã một tuổi rưỡi, nghịch ngợm, chạy khắp nơi đuổi gà dí chó, đến cả con A Hoàng cũng lười chơi cùng. Chỉ khi ngồi bên mẫu thân, thằng bé mới ngoan ngoãn, không dám thở mạnh.

Cậu thường hỏi, “Phụ thân ơi, sao mẫu thân vẫn ngủ vậy?”

Tiếng nói còn ngọng nghịu, nhưng câu này là cậu nói quen nhất.

Tiết Duyên chỉ đáp, “Mẫu thân con mệt quá thôi.”

Lai Bảo gật đầu “ồ” một tiếng, nhưng lần sau gặp lại vẫn hỏi y như thế.

Ánh nến trên tường chập chờn, chiếu ánh vàng lên đường chỉ thêu hoa mẫu đơn trên chăn. Tiết Duyên bảo con ngồi ngay ngắn, cho chân vào trong chăn, nắm tay nó cắt móng.

Lai Bảo ngồi yên, đôi mắt đen láy như hai hạt nho, cuối cùng nhìn sang ngón tay A Lê, lẩm bẩm, “Phụ thân, dài.”

Tiết Duyên khẽ cười, “Ừ, cắt xong cho con rồi phụ thân sẽ cắt cho mẫu thân.”

Cảnh tượng này quen thuộc, chỉ khác là trước đây người làm chuyện đó là A Lê, còn giờ là chàng.

Xong xuôi, Tiết Duyên ra ngoài múc nước, Lai Bảo ngáp một cái, chui vào lòng mẫu thân ngủ.

Thằng bé còn nhỏ, không hiểu bệnh tật hay sinh tử là gì. Cha bảo mẹ ổn, nó tin thật, chỉ nghĩ rằng mỗi lần mình tới không đúng lúc, nên chẳng gặp được mẹ tỉnh táo ôm mình.

Cậu gối lên vai mẹ, kéo chăn đắp bụng, lim dim ngủ.

Tiết Duyên ngồi cạnh nhìn hai mẹ con một lúc, thấy Lai Bảo ngủ say, mới cúi người bế nó sang phòng Phùng thị.

Dạo này vẫn vậy, Lai Bảo do Phùng thị và Vi Thúy Nương thay nhau chăm, không được ngủ cùng mẫu thân nữa. Tiết Duyên tự thấy áy náy, nhưng thằng bé ngoan lạ thường, chưa từng khóc vì chuyện này. Chàng vừa thương vừa tự hào nhi tử chàng kiên cường vừa hiểu chuyện hơn tưởng.

Giờ Tuất, vú già mang thuốc tới.

Phùng thị tuổi đã cao, sức yếu, chăm Lai Bảo đã vất vả, không rảnh bận tâm chuyện khác nên Tiết Duyên thuê thêm một vù già khỏe mạnh lo quét dọn và sắc thuốc. Còn mọi việc liên quan đến A Lê, chàng đều tự tay làm, giao cho người khác, chàng không yên tâm.

Đơn thuốc phần lớn là để hoạt huyết tiêu ứ, thêm vài lát nhân sâm để trợ khí, vị đắng. Nhưng hôm nay, mùi thuốc lại tanh.

Tiết Duyên cảnh giác hỏi, “Thay thuốc rồi à?”

Vù già đáp, “Vi cô nương mang tới hai nhánh nhung hươu. Ta hỏi đại phu, bảo không xung, nên thêm vào. Đại phu còn nói nhung hươu bổ hơn nhân sâm, tốt cho khí huyết.”

Tiết Duyên không nói gì thêm, múc một thìa đưa cho bà ta, “Nếm thử đi.”

Bà ta uống một ngụm, chàng khuấy trong bát, uống theo. Đợi một lúc, thấy không sao, chàng mới yên tâm, đút cho A Lê.

Nhưng đến nửa đêm, A Lê sốt cao.

Tiết Duyên vốn chưa ngủ, đang nghĩ về chuyện nghe được ở Khâu phủ rằng Hoàng thượng sắp đến Ninh An tuần du. Nghe tiếng A Lê rên khẽ, chàng giật mình bật dậy, thấy nàng toát mồ hôi đầy mặt, tim như bị dao đâm.

Chàng nhào đến bên giường, run giọng, “Lê nhỏ, Lê nhỏ, nàng sao thế?”

A Lê thở gấp, trên mu bàn tay nổi đầy ban đỏ của bệnh sởi, người run rẩy trong lòng chàng.

Khoảnh khắc ấy, Tiết Duyên thật sự thấy mình sắp chết. Chàng run rẩy đắp chăn cho nàng, rồi lao ra ngoài gọi đại phu. Đại phu gần như bị chàng kéo xềnh xệch đến, may mà kịp. Sau vài mũi châm, bệnh tình mới ổn, nhưng sắc mặt nàng tái nhợt.

Đại phu nghiêm mặt hỏi, “Có cho nàng uống bậy gì không?”

Tiết Duyên lập tức nghĩ đến bát thuốc tanh lúc tối, quay đầu nhìn vú già, ánh mắt đỏ ngầu, sát khí hừng hực.

Vú già sợ đến quỳ sụp, lắp bắp, “Không… không có, ta đều làm đúng toa thuốc… A, chỉ thêm hai tiền nhung hươu mà Vi cô nương gửi tới thôi…”

Vi Thúy Nương cũng có mặt, giật mình, “Ta khi nào gửi nhung hươu?”

Vú già sắp khóc thành tiếng, “SAu bữa trưa một chút, có một tiểu nha hoàn đến, nói Vi cô nương sai mang thuốc tới, bảo là nhung hươu, vất vả lắm mới mua được…”

Tiết Duyên hỏi dồn, “Còn thuốc không?”

Vú già gật, “Còn một ít, tôi đi lấy ngay!”

Vú già vốn định giấu lại cho con mình uống bồi bổ, nhưng thấy Tiết Duyên nổi giận thì sợ, vội mang hết ra.

Đại phu liếc qua liền biến sắc, “Đây là ô đầu và bối mẫu, khác nhung hươu một trời một vực! Làm sao nhận nhầm được!”

Vú già bật khóc, “Ta là một người đàn bà chân quê, sinh ra ở nông thôn, lớn ở nông thôn, nào đã gặp đồ hiếm như vậy! Nghe nói quý hiếm thì tưởng thuốc bổ, không nghĩ nhiều…”

Đại phu giận dữ, chỉ vào bà nói, “Ngươi sắp hại chết người đấy! Trong sách nghiên cứu thảo mộc có ghi rõ ‘Thập bát phản, bán lâu bối liêm cập công ô’, ô đầu vốn là thứ độc nhất, gặp bối mẫu thì càng làm tăng nguy cơ mất mạng! Đồ đàn bà ngu, đồ đàn bà ngu, sao ngươi không đi hỏi thêm vậy!”

Vú già nói, “Nhưng ta cũng uống mà, vẫn bình thường”

Đại phu quát, “Thân thể ngươi sao sánh với người bệnh yếu này được!”

Hai người cãi nhau, ồn ào, còn Tiết Duyên vẫn xanh mặt đứng một bên, thần sắc dữ tợn đến méo mó. Một lúc sau, chàng xông lên, túm cổ áo vú già, gằn giọng, “Con nha hoàn mang thuốc đó đến cho ngươi trông thế nào?”

Vú già run rẩy nhớ lại, “Khoảng mười ba, mười bốn tuổi, mặt tầm thường, chỉ có một nốt ruồi đỏ ở đuôi mắt, nhìn là nhớ.”

Tiết Duyên lập tức nhớ tới con nha hoàn bên cạnh Khâu Vân Xuyên. Cơ mặt chàng giật liên hồi, nắm tay siết chặt, định lao ra ngoài.

Vi Thúy Nương nhanh tay kéo chàng lại, “Ngươi đi đâu?”

Tiết Duyên nghiến răng, “Ta giết ả!”

Không cần nói tên, Vi Thúy Nương cũng đoán ra. Mắt nàng đỏ lên, giữ chặt tay chàng: “Ngươi tưởng cánh tay mình là hội tụ đủ bảy mươi hai biến đồng sắt thép à? Ngươi làm thế chỉ mất cả mạng, ta thấy ngươi chán sống rồi đấy!’’

Tiết Duyên quát, “Ta mặc kệ!”

Vi Thúy Nương rưng rưng, nén giọng, “Tiết Duyên , lấy trứng chọi đá chỉ vô ích, ngươi cứ từ từ. Nếu có chết, cũng không thể chết dưới tay loại người đó, ngươi xem có đúng không?”

Cuối tháng Năm là thời điểm tốt, tiết trời dễ chịu, rất hợp lòng người, hoa trong góc tường nở rộ.

Nhưng Tiết Duyên chỉ thấy lạnh thấu tim.

Trong phòng yên tĩnh đến rợn người, vú già và đại phu nhìn nhau, không hiểu sao chàng bỗng phát điên.

Tiết Duyên nhìn A Lê nằm yên trong chăn, nàng vốn là người hiền lành, dịu dàng, cho dù người ta có xem thường nàng thì nàng cũng chưa từng làm hại ai. Nàng tốt như vậy, sao lại có nhiều kẻ độc ác cứ muốn giết nàng, thật quá bất công.

Tiết Duyên đã quyết định điên rồ nhất đời mình, không màng tất cả, liều chết một phen, đập nồi dìm thuyền.

_________

Lời tác giả:
Dạo này tôi phải về trường, mệt kinh khủng, mà chương kết lại viết mãi không xong, nghẽn đến muốn táo bón.
Tôi thực sự muốn đăng liền một lèo cho xong, nhưng kẹt quá, không biết phải viết thêm mấy ngày nữa, nên tạm đăng nửa trước…
Cái chương bị kẹt này khiến tôi tức muốn đập đầu ba mươi cái tạ lỗi
 
A Lê
Chương 112


Khi mọi người đều đã rời đi, căn phòng lại trở về với dáng vẻ yên tĩnh ban đầu. Mùi thuốc nồng nặc lan tỏa trong không khí, vị đắng khiến người ta bứt rứt trong lòng.

Từ tốn ngồi xuống bên cạnh A Lê, Tiết Duyên dùng ánh mắt tham lam dõi theo khuôn mặt nàng, chăm chú nhìn từng tấc một.

Không biết đã qua bao lâu, hắn bỗng khẽ cất tiếng, “A Lê, ta đã làm một quyết định, rất l* m*ng, không biết nàng có trách ta hay không.”

Ngừng lại một lát, chàng lại mỉm cười, giọng chắc nịch, “Nhưng nàng sẽ không trách ta đâu. Dù ta làm gì, nàng cũng sẽ đứng cùng ta. Nàng tin ta, điều đó ta biết rõ.”

Áo quần đã bị nhàu nhĩ, Tiết Duyên cởi ra, rồi tháo giày, nằm xuống bên cạnh A Lê. Hai đầu gối co lại, thân mình cuộn tròn, hai tay khum lấy bàn tay nàng, vô định kể những chuyện vặt vãnh. Tư thế ấy thân mật vô cùng, đến mức có thể nghe thấy tiếng tim A Lê đập khẽ khàng. Tiết Duyên chợt cảm thấy như trở lại những ngày xa xưa, khi A Lê còn khỏe mạnh hoạt bát, họ tựa vào nhau, nói về những chuyện vụn vặt trong ngày, hạnh phúc và ngọt ngào.

Khi đã hạ quyết tâm buông bỏ tất cả, dốc sức một phen, lòng người cũng tự nhiên thấy nhẹ nhõm. Tiết Duyên trông thoải mái, một khi mở lời thì chẳng thể ngừng được nữa.

Cuối cùng, chàng lại bắt đầu mơ tưởng về một tương lai, gần ngay trong tầm tay mà cũng xa tận chân trời.

Tiết Duyên nói, “Lê nhỏ à, nếu sau này nàng khỏe lại, mà ta vẫn còn sống, ta sẽ đưa nàng về Dương Châu, được không? Ta nghĩ, so với Ninh An, nơi đó hợp với nàng hơn, gió mềm nước ấm, thuyền hoa san sát; chẳng như nơi này, gió lạnh đủ khiến người tê cóng. Ta còn muốn thấy nàng mặc bộ váy lụa xanh nhạt, đi trên con đường lát đá xanh, tay cầm chiếc ô hoa. Đầu cầu là liễu biếc, xa xa là thuyền buôn, thật đẹp. Ta vẫn chưa từng được thấy cảnh ấy đâu.”

Chàng cười khẽ, dùng cằm râu lún phún cọ vào mu bàn tay mềm mại của A Lê, nhẹ giọng hỏi, “Nàng nói có phải không?”

Trong phòng yên ắng, chỉ còn tiếng hơi thở yếu ớt và tiếng nến cháy lách tách. Tiết Duyên khẽ cắn đầu ngón tay nàng, dịu dàng nói, “Ngủ thôi. Ngày mai sáng sớm, Lai Bảo lại đến quấy nàng cho xem. Thằng bé cao lên nhiều rồi, mà càng lúc càng ngoan. Trước kia nó nghịch ngợm, ta tức giận; nay ngoan rồi, ta lại thấy thương, cứ nghĩ là mình mắc nợ nó… Nàng nói xem, có phải trên đời này, người cha nào cũng như vậy không? Còn nàng, làm mẫu thân, cũng thế phải không?”

Trời đã dần sáng, Tiết Duyên cũng cảm thấy buồn ngủ. Chàng xoa trán, quay người thổi tắt ngọn đèn.

Chàng không thấy được, nơi khóe mắt A Lê trượt xuống một giọt lệ, nhanh chóng tan vào mái tóc mai, chỉ còn lại vệt ướt mờ nơi thái dương.

Nửa tháng trôi qua như chớp mắt, bình yên tựa như con thuyền soi bóng trăng trên mặt nước lặng. Mọi người gần như đã quên, không lâu trước đó, Tiết Duyên từng phát điên đến mức nào.

Mùng chín tháng Sáu, Chu Đế đến Ninh An.

Ngài là một vị minh quân, ít nhất là người thật sự lo cho dân chúng. Suốt chặng đường, ngài xuất hành rất nhẹ nhàng, hành trình còn nhanh hơn cả sứ giả báo tin mừng thi Đình. Khâu Thời Tiến nhận tin sớm, mang theo quan sai ra nghênh đón ở cổng thành, lại lệnh cho dân chúng xếp hàng hai bên đường, đồng loạt quỳ lạy hô vạn tuế, tiếng vang chấn động.

Hạn hán nhiều năm, lúa mạch ngoài thành Ninh An đã gần gục xuống đất, dân đói rét, sắc mặt vàng vọt, áo quần chắp vá.

Nhưng nghi thức nghênh giá lại xa hoa đến cực điểm, tám cỗ kiệu lớn, mái che thả chuông vàng khắc rồng.

Chu Đế khẽ nhíu mày, thấp giọng hỏi, “Chẳng phải đã dặn, mọi thứ đều phải giản lược sao?”

Cơn giận của bậc đế vương chẳng cần lộ rõ, chỉ mấy lời cũng đủ khiến người ta run sợ. Sau khi triều đại thay đổi, đây là lần đầu Khâu Thời Tiến diện kiến Chu Đế; vốn đã nơm nớp lo sợ, giờ nghe hỏi vậy, hai đầu gối gần như mềm nhũn, suýt quỳ sụp, môi run run chẳng thốt nổi lời.

Chu Đế phẩy tay, cũng không muốn gây thêm khó dễ trong lúc dân khốn cùng, “Thôi, không ngồi kiệu nữa, đi bộ đi.”

Thế là đoàn người uy nghi tiến về phủ nha. Hai bên là binh lính cầm đao, cảnh giác nhìn quanh. Khâu Thời Tiến cúi đầu, răm rắp đi bên cạnh Chu Đế, khẽ trò chuyện đôi câu.

Thiên tử chỉ cần một cơn giận là vạn xác phơi thây. Dân chúng tuy căm hận Khâu Thời Tiến thấu xương, nhưng chẳng ai dám hé miệng, chỉ đành cắn răng quỳ rạp dưới đất.

Con phố vốn ồn ào giờ im phăng phắc, chỉ còn đoàn ngự giá từ từ tiến bước.

Chu Đế nghiêng đầu hỏi, “Khâu đại nhân, tháng trước trẫm đã hạ lệnh hoàn lại tiền thuế thừa của năm ngoái, sao dân chúng vẫn tiều tụy thế này?”

Khâu Thời Tiến đã đoán trước sẽ bị hỏi, nhưng nghe thật vẫn giật mình, mồ hôi túa ra như mưa.

Quả thật, một tháng trước Chu Đế đã gửi lương thực tiền bạc đến, nhưng y giữ lại một phần ba, rồi qua tay quan lại tầng tầng, khấu trừ, cắt xén. Khi đến tay dân, chẳng còn lại quá hai phần mười, mà đến giờ vẫn chưa phát hết.

Bộ máy quan lại ở Ninh An rối ren, chức vị chồng chéo, từ Khâu Thời Tiến xuống đến người thực sự tiếp xúc dân đã hơn mười cấp. Hồ sơ phê duyệt chồng chất, làm việc dây dưa có thể tưởng tượng ra.

Dĩ nhiên, chuyện ấy không thể nói thật với thiên tử. Khâu Thời Tiến lau mồ hôi, lấy cớ đã chuẩn bị sẵn, “Ninh An người đông đất ít, dân cư phân tán, việc phát tiền gạo rất khó khăn. Lại thêm dạo này trẻ sơ sinh nhiều, cha mẹ thương con, thường nhịn ăn nhường phần cho con bú, bản thân chẳng nỡ ăn thêm hạt lúa nào. Bởi thế mới ra nông nỗi này. Làm quan mà không chu toàn, thần tự thấy thẹn trong lòng, nhưng thật lực bất tòng tâm, quả thật hổ thẹn với chức trách.”

Nói xong, y giả vờ đau khổ, còn định quỳ xuống, khóc lóc, “Thần làm việc bất lực, xin bệ hạ trách phạt!”

Chu Đế thoáng động lòng, nhưng chưa kịp nói, thì giọng quát lớn đã vang lên, “Ngươi đáng chết! Phải bị róc xương, phơi xác đường phố cho chó rừng gặm mới phải! Làm tri phủ mà chẳng có chút lòng vì dân, chỉ biết giả dối, khiến cả nha môn trên dưới đều hư nát, dân không chốn sống. Còn dám tự xưng là quan phụ mẫu? Ngươi không biết hổ thẹn sao, lương tâm ngươi ở đâu rồi, miệng toàn lời dối trá, trở mặt nhanh hơn trẻ lên ba! Làm quan hay làm kép hát? Bao năm tại vị, tội nghiệp chồng chất, máu người nhuộm đỏ tay, nửa đêm ngươi không thấy cắn rứt hay sao?!”

Tiết Duyên đứng bên đường, tay nắm lấy lưỡi đao của lính cản trước mặt, lời chàng vang dội, rắn rỏi, khiến Khâu Thời Tiến mặt cắt không còn giọt máu.

Mọi người quanh đó đều chết lặng, không ai dám tin rằng có người dám chặn ngự giá, giữa phố mà mắng thẳng mặt quan tứ phẩm.

Đó chẳng khác nào tìm chết.

Tiết Duyên đương nhiên hiểu hậu quả, nhưng chàng không sợ. Không toan tính, không mưu kế, chàng biết mình lấy trứng chọi đá, song vẫn lao lên, bằng hết dũng khí. Bởi chàng hiểu, đây có lẽ là cơ hội duy nhất để đối mặt Khâu Thời Tiến, không thể có chút sợ hãi hay do dự.

Chu Đế nheo mắt, nghiêng người nhìn sang.

Khâu Thời Tiến dựng hết tóc gáy, vội hét, “Vô lễ! Thằng điên nào dám quấy nhiễu thánh giá, bắt lấy cho ta!”

Thị vệ bên cạnh Chu Đế đặt tay lên chuôi kiếm, định tiến lên, nhưng Chu Đế giơ tay ngăn, “Khoan, xem đã.”

Khi ấy, thủ hạ dưới quyền Khâu Thời Tiến đã phản ứng, túm lấy vai Tiết Duyên định kéo đi.

Tay Tiết Duyên bị lưỡi đao cứa rách, máu đỏ tươi nhỏ xuống đất, nhưng chàng chẳng thấy đau, dùng khuỷu tay hất văng tên bên phải, vùng ra, bước lên một bước nói lớn, “Khâu Thời Tiến! Trước mặt Thánh thượng, không được nói dối. Nếu ta không phải kẻ điên, ngươi chính là tội khi quân, phải tru di cửu tộc!”

“Ngươi!” Khâu Thời Tiến trừng mắt, lắp bắp, “Điên rồi, điên thật rồi……” Y hít sâu, quay người khom mình thưa, “Bệ hạ, kẻ này là chủ một tiệm may ở Ninh An, dạo gần đây thê tử hắn bị trọng thương, gia sản tiêu tan, hắn không chịu nổi nên phát điên, thần trí rối loạn, nói năng bậy bạ. Là lỗi của thần để hắn lọt vào hàng ngự giá, thần sẽ lập tức giam giữ!”

Chu Đế nhìn y đầy ẩn ý, nhàn nhạt hỏi, “Các ngươi quen nhau? Nếu không, sao biết rõ thế?”

Khâu Thời Tiến nghẹn họng, chưa kịp nói gì thì Tiết Duyên đã thoát khỏi tay bộ khoái, quỳ xuống trước mặt Chu Đế, dõng dạc từng chữ, “Trong thời gian tại vị, Khâu tri phủ Ninh An ngang ngược, tham ô, hại dân, đây là tai họa lớn! Nhưng quyền thế hắn quá lớn, lại kết thân với Tống gia, chẳng ai dám chống lại. Dân chúng lầm than, tương lai mờ mịt, nay may được Thánh thượng ngự giá đến, thảo dân cả gan tâu thật, dù tan xương nát thịt, vạn chết không từ!”

Lời vừa dứt, dân chúng xung quanh ồ lên. Khâu Thời Tiến không biết là sợ hay giận, run như cầy sấy, tiếng “vô lễ!” vừa thoát ra đã bị tiếng la hét phẫn nộ của dân lấn át.

Một khi có người đầu tiên dám đứng ra, sợ hãi liền hóa thành giận dữ; rồi người thứ hai, thứ ba đứng dậy. Chưa đầy vài hơi thở, hai bên đường đã đầy người, chỉ tay về phía Khâu Thời Tiến, ai nấy đều phẫn nộ tố cáo, có người òa khóc. Tiếng la xen lẫn tiếng nức nở vang động trời đất.

Tình thế xoay chuyển nhanh đến mức không ai kịp phản ứng.

Chu Đế thoáng sững sờ, rồi chậm rãi nhìn sang Khâu Thời Tiến, cau mày hỏi, “Khâu đại nhân, chuyện này ngươi giải thích sao đây? Chẳng lẽ, tất cả bọn họ cũng đều điên cả à?”

Khâu Thời Tiến mặt trắng bệch, không tin nổi nhìn đám dân ngày thường hèn yếu, giờ lại dữ tợn như thú bị chọc giận, ánh mắt như muốn xé xác hắn. Còn nguyên nhân chính, Tiết Duyên, đang quỳ gục bên cạnh, máu nhuộm đỏ đất, gân xanh nổi ở trán, hai mắt nhắm chặt.

Y chưa bao giờ nghĩ rằng chuyện sẽ thành ra thế này.

Chu Đế bình thản nhìn, hai tay chắp sau lưng, chờ một câu trả lời.

Đầu óc Khâu Thời Tiến rối loạn, chưa kịp nghĩ, đã quỳ phịch xuống, khóc rống, “Bệ hạ! Dân ngu học ít, trí kém, dễ bị xúi giục, người biết rõ điều đó mà! Họ bị người ta lợi dụng, mới làm ra những chuyện điên cuồng thế này. Thần ở chức mười ba năm, luôn tận tụy, chưa từng làm chuyện bẩn thỉu, xin bệ hạ minh xét!”

Chu Đế khẽ gật đầu, rồi nhìn sang Tiết Duyên, hỏi, “Ngươi còn điều gì muốn nói chăng?”

Tiết Duyên đáp: “Có!”

Chu Đế mỉm cười: “Vậy cứ nói cho trẫm nghe.”

Tiết Duyên dập đầu, “Trước khi nói, thảo dân Tiết Duyên có một điều muốn cầu xin.”

Nghe cái tên ấy, Chu Đế khựng lại, dường như đang nhớ ra điều gì, lát sau mới gật đầu: “Chuẩn.”

Tiết Duyên ngẩng đầu, quai hàm siết chặt, nói dằn từng chữ, “Hôm nay thảo dân ngăn thánh giá, dâng lời tâu, quả là tội chết muôn lần, nhưng đó là do một mình thảo dân quyết, gia quyến hoàn toàn không biết gì. Mong bệ hạ sáng suốt, đại ân không liên lụy người vô tội. Nếu bệ hạ nghe xong mà nổi giận, thảo dân xin lấy máu mình tế tội, chỉ cầu vợ con, tổ mẫu được bình an!”

Chu Đế mỉm cười nhạt: “Chuẩn.”

Tiết Duyên không chút sợ hãi, ngẩng đầu nhìn thẳng, cất giọng, “Cuối năm ngoái, vì điều chỉnh thuế má, Khâu Thời Tiến dưới sự giám sát của Chu Kham đại nhân đã thu thuế dân, việc đó vốn hợp lý. Nhưng sau khi Chu đại nhân rời đi, Khâu Thời Tiến lại lấy cớ thuế tính sai, ép dân nộp thêm lần nữa, khiến đến gần Tết mà dân chẳng đủ tiền mua manh áo mới, nhiều nhà còn chẳng có thóc gạo ăn!”

Mồ hôi lạnh túa ra trên trán Khâu Thời Tiến, y run rẩy nhìn Chu Đế, định mở miệng biện giải, nhưng Chu Đế chỉ liếc qua, rồi quay sang Tiết Duyên, “Còn gì nữa không?”

“Sau đó vì triều đình phái binh đánh Đông Doanh, cần gom góp lương thảo và tiền bạc, Khâu Thời Tiến để cầu công danh mà chẳng đoái hoài đến sống chết của bách tính, dẫn quan binh đi từng nhà thu thuế, ai không nộp thì liền cướp đoạt, thậm chí còn bắt người bỏ ngục. Sau triều đình thương xót vùng Bắc bị hạn hán, hạ lệnh trả lại tô thuế của năm trước, nhưng cho đến nay, đa phần dân chúng vẫn chỉ nhận được hai phần mười số lương, không đủ để cầm hơi! Dân lâm vào bệnh tật, mà kẻ làm quan phụ mẫu là tri phủ lại xa xỉ phung phí, còn đem cháo thịt thừa ném sau cửa cho chó hoang ăn.”

Nghe đến đây, sắc mặt Chu Đế cuối cùng cũng biến đổi, ông nhìn Khâu Thời Tiến, thấp giọng hỏi, “Vậy tiền đi đâu rồi?”

Miệng Khâu Thời Tiến khẽ mở ra, nửa ngày chẳng nói được lời nào.

Tiết Duyên lại nói, “Khâu Thời Tiến chẳng những tham ô, ức h**p dân lành, mà còn dung túng người nhà, coi luật pháp triều đình như cỏ rác. Vệ Ưởng từng nói: ‘Vương tử phạm pháp, thứ dân đồng tội. Pháp chẳng thi hành là vì kẻ trên phạm trước.’ Nhưng hai đứa con của Khâu Thời Tiến ở Ninh An lại như cua còng nghênh ngang giữa phố, gặp ai trái ý liền bắt giam. Nữ nhi hắn, Khâu Vân Xuyên, thậm chí từng buông lời ngông cuồng rằng: ‘Ở Ninh An thành, ta chính là vương pháp.’ Ngạo mạn đến vậy, thật khiến người kinh sợ!”

Khâu Thời Tiến giận dữ quát, “Ngươi nói bậy!”

Tiết Duyên chẳng thèm liếc y một cái, tiếp tục nói, “Khâu Vân Hân không chỉ ngạo mạn, mà còn độc ác vô cùng. Ngày lễ Nguyên Tiêu, trước cổng chùa Vân Thủy, nàng ta dùng xe ngựa húc vào thê tử ta. Đến nay thê tử ta vẫn chưa tỉnh hẳn. Việc này Khâu Thời Tiến biết rõ như ban ngày, nhưng giả như không biết, để nữ nhi vẫn ung dung ngoài vòng pháp luật. Mà cuối tháng trước, Khâu Vân Xuyên còn dùng bối mẫu và ô đầu hại thê tử ta, khiến nàng suýt mất mạng. Loại ác phụ như thế, không phanh thây vạn khúc thì sao xứng với công lý và thiên đạo!”

Trong đám dân xem quanh đó vang lên từng tràng hò reo, xen lẫn tiếng khóc nức nở.

Bị quyền thế đè nén quá lâu, giờ cảm xúc dân chúng rốt cuộc cũng có nơi trút ra, ai nấy đều phẫn nộ tột độ.

Khâu Thời Tiến lúc này đã hoàn toàn ngã quỵ xuống đất, tay chân bủn rủn, chỉ sợ hãi nhìn Chu Đế mặt mày u ám, trong lòng đã biết ngày tận số của mình đến rồi.

Còn Tiết Duyên mím chặt môi, rồi lại nói ra một việc đủ khiến triều đình chấn động.

“Để mưu cầu gia nghiệp, Khâu Thời Tiến còn mua chuộc giám khảo kỳ thi Hương, mua cho nhi tử hắn vị trí Giải nguyên. La Viễn Phương, kẻ không biết một chữ, lại bỗng hóa thành người đứng đầu kỳ thi Hương. Thử hỏi những kẻ dùi mài kinh sử hàng chục năm, cuối cùng vẫn bị đánh rớt, họ còn biết nghĩ sao? Tội ác này thật tày trời, khiến người phẫn hận! Nhưng chuyện lớn đến thế, báo lên kinh thành lại bị nhẹ nhàng đè xuống, Khâu Thời Tiến chẳng hề hấn gì, vẫn tiếp tục hại dân một phương. Quan lại che chở nhau đến bao giờ mới hết? Triều đình bao giờ mới quét sạch thói ấy!”

Chu Đế kinh hãi, quay phắt sang nhìn Khâu Thời Tiến, sắc mặt xanh mét, hiển nhiên tức giận cực độ. Ông tung một cước đá vào vai Khâu Thời Tiến, gầm lên, “Người đâu! Cởi quan phục của tên ô lại này, giam vào đại lao! Lập tức phong tỏa Khâu phủ, không cho bất kỳ ai chạy thoát!”

Người tùy tùng bên cạnh hỏi, “Bệ hạ, vậy còn Tống phủ thì sao?”

Chu Đế nghiến răng nói, “Cũng niêm phong! Khâu thị đem nhốt vào ngục, nghiêm tra!”

Tùy tùng vâng lệnh, “Dạ!”

Chẳng qua mấy hơi thở, Khâu Thời Tiến đã bị người ta vặn tay kéo đi. Y mặt xám như tro, chẳng còn chút khí thế kiêu căng xưa kia, thảm hại vô cùng. Nơi y đi qua, có người phun nước bọt lên người y. Kẻ từng là tri phủ tứ phẩm cao cao tại thượng, thoáng chốc đã thành tù nhân dưới gót chân, chỉ còn lại chiếc mũ cánh chuồn bị giẫm bẹp trên đất.

Tiết Duyên thở phào một hơi, cả người bỗng mềm nhũn, hai tay chống xuống đất, khép mắt lại.

Chu Đế nhìn chàng một lát, bỗng thân chinh cúi xuống đỡ chàng dậy, rồi bảo thị vệ bên cạnh: “Đi lấy bình thuốc trị thương đến.”

Chẳng bao lâu, trong tay Tiết Duyên đã có thêm một bình nhỏ màu xanh biếc. Chàng mím môi, hành lễ nói, “Tạ ơn bệ hạ.”

Chu Đế nhìn chàng, ôn tồn nói, “Trẫm từng nghe qua tên ngươi.”

Tiết Duyên kinh ngạc ngẩng đầu. Chu Đế lại nói, “Hồi thi Đình, Nguyễn ái khanh từng nhắc đến ngươi. Trẫm vốn chưa chắc, tưởng chỉ là trùng tên. Nhưng nhìn dáng vẻ trầm ổn, điềm tĩnh của ngươi hôm nay, quả thật chẳng phải người tầm thường. Ngươi là nhân tài, Nguyễn ái khanh cũng vậy, mai sau tất có thành tựu lớn.”

Tiết Duyên khẽ cười, dịu giọng đáp, “Giờ thần chỉ mong thê tử sớm bình phục.”

Chu Đế nhìn sang tùy tùng, căn dặn, “Gọi Lưu ngự y đến xem.”

Tùy tùng hơi khó xử, “Khi mới đến Bắc địa, Lưu ngự y bị nước độc, thân thể yếu, giờ vẫn chưa có sức dậy nổi.”

Chu Đế nói, “Vậy cho ông ta nghỉ nửa ngày, tối đi.”

Tùy tùng đáp, “Tuân chỉ.”

Tiết Duyên mừng rỡ khôn xiết, vội quỳ xuống dập đầu, “Tạ ơn bệ hạ.”

Chu Đế ôn hòa gật đầu, rồi xoay người rời đi.

Có người đến đỡ Tiết Duyên đứng lên, lại cung kính dắt đến xe ngựa, muốn đưa chàng về phủ.

Tiết Duyên khéo léo từ chối. Chàng không về nhà, cũng chẳng tới cửa tiệm, mà lại ghé chùa Vân Thủy.

Chàng mới đến đó ba lần cả thảy.

Lần thứ nhất là đi cùng A Lê. Khi ấy chàng chưa tin mấy chuyện này, chỉ đứng một bên nhìn nàng quỳ lễ cho có lệ.

Lần thứ hai là khi chàng gần như sụp đổ, bệnh đến phát cuồng, bỏ ra ba nghìn lượng bạc để dát vàng lại tượng Phật. Khi ấy chàng nghĩ, chỉ cần A Lê khỏi thì dù tán gia bại sản cũng cam tâm.

Còn bây giờ, Tiết Duyên không biết lòng mình có gì.

Phương trượng đã nhận ra chàng, thấy chàng đến liền thân hành ra đón.

Ông dẫn Tiết Duyên vào Đại Hùng Bảo Điện, ngắm tượng Phật mới được dát vàng lại. Có lẽ vì mang tâm khác nên Tiết Duyên cảm thấy nụ cười của Phật giờ đây càng hiền từ, trang nghiêm, quanh thân toả ánh kim quang.

Phương trượng nói, “Tượng này vốn không lớn như thế. Khách hành hương cúng vàng, quét từng lớp từng lớp mới thành hình nay. Phật dát vàng thân chẳng độ người; khi Phật không độ người, chỉ có người tự độ mình. Nhân quả là nhân quả, nói đến cùng, vẫn phải dựa vào chính mình.”

Tiết Duyên đứng trong điện một lúc, mũi phảng phất mùi trầm hương, tiếng mõ đều đều như gõ vào lòng.

Chàng lại nhớ đến A Lê.

Chẳng bao lâu, mặt trời đã ngả về tây, ánh sáng vàng dịu lơ lửng ở tầng trời thấp, sáng mà chẳng gắt.

Tiết Duyên ngẩng nhìn bầu trời, rồi xoay người ra khỏi cổng chùa, ghé qua rừng mai.

Đã gần một năm không có mưa, phần lớn giếng đều cạn, ngay cả rừng mai cũng chẳng còn ẩm ướt; đất khô nứt, lá úa, có cành trụi trơ, trông thật tiêu điều. Tiết Duyên lựa lấy một nhánh còn tươi nhất, cẩn thận bẻ xuống bỏ vào tay áo, định mang về cho A Lê. Nhà cửa lạnh lẽo quá lâu rồi, cũng nên có chút sắc tươi mới.

Không hiểu vì sao, trong lòng Tiết Duyên mơ hồ cảm thấy hôm nay sẽ có chuyện tốt, tim cũng đập nhanh hơn thường lệ.

Nhưng chưa đi được mấy bước, lá non trên nhành mai đã bị cọ rụng, còn mấy chiếc thì cuộn lại, như đứa bé cuộn mình ngủ. Tiết Duyên nhíu mày, dừng lại, tìm bậc đá ngồi xuống, tỉ mỉ vuốt phẳng từng lá.

Lòng bàn tay hắn có vết thương, chỉ băng tạm, hễ dùng sức là rỉ máu. Tiết Duyên khẽ nhấc ngón út, tránh những gai nhỏ trên cành, làm việc một cách kiên nhẫn, tỉ mỉ.

Nhưng dù sao tay chàng cũng vụng, chẳng bao lâu cành mai đã bị chàng làm gãy rụng gần hết lá, trông chẳng khác cây gậy đầy gai cong queo. Tiết Duyên nhìn một hồi, cuối cùng ném đi. Chàng nghĩ, không thể để A Lê thấy thứ này, xấu hổ quá.

Khi Hồ An Hoà thở hổn hển chạy đến, Tiết Duyên vẫn đang đi khắp rừng mai tìm những cành đẹp, vừa chọn vừa chê bai.

Hồ An Hoà người đầy bụi đường, áo bào vừa phủi liền bay lên một lớp tro. Giọng khản đặc, hắn gào lên, “Ngươi bị bệnh à? Không về nhà, còn loanh quanh ở đây làm gì?!”

Nghe tiếng, Tiết Duyên khựng lại, như không dám tin. Đến khi quay đầu thấy mặt Hồ An Hoà, tim chàng khẽ run, mấy cành mai trong tay cũng rơi loạt xoạt xuống đất.

Chàng xoay người, vui mừng chạy tới, ôm chặt lấy Hồ An Hoà, nói, “Ngươi thật sự trở về rồi!”

Hồ An Hoà vốn đang giận sôi, nhưng thấy Tiết Duyên như con chó nhỏ nhào tới, hắn sững lại, hai tay giơ lên, chẳng biết để đâu cho phải.

Hắn l**m môi, cẩn thận vỗ vỗ lưng Tiết Duyên, hơi ngẩn ngơ nói. “Ngươi nhớ ta đến thế sao?”

Tiết Duyên buông hắn ra, lùi một bước, hỏi ngay, “Mã thần y tìm được chưa?”

“……” Hồ An Hoà đau khổ thốt, “Ta đã biết mà, trong lòng ngươi vốn chẳng có ta. Dù ta vì ngươi mà trả giá nhiều đến thế, ngươi cũng chẳng hề đoái hoài.”

Tiết Duyên cau mày, giọng đầy mất kiên nhẫn, “Lắm lời thế làm gì, ta hỏi ngươi, Mã thần y tìm được chưa?”

“…” Hồ An Hòa cúi đầu, ủ rũ đáp, “Đang ở nhà rồi. Còn có một ông cụ râu bạc trắng, ăn mặc rất chỉnh tề, hình như họ Lưu, trông có vẻ không được khỏe, có người dìu tới. Vừa bước vào sân đã loay hoay tìm nhà xí, ta cũng chẳng biết đến làm gì. Ta vội đi tìm ngươi nên chưa kịp hỏi rõ. Nội nói ngươi có thể đang ở đây, ta liền chạy không nghỉ tới, giờ thì vừa mệt vừa khát. Từ sáng tới giờ ta chỉ uống được hai ngụm nước, là tách trà lớn bên đường, một chén mất hai đồng tiền, thứ nước gì mà đắt thế, trong đó rải vụn vàng chắc? Thật là, thấy ta già yếu liền chém giá, sao đời lại thế. Còn ngươi nữa, ta cực khổ chạy về, ngươi lại…”

Hồ An Hòa lải nhải nói một hồi dài, ngẩng đầu lên mới phát hiện trước mặt đã chẳng còn ai.

Hắn ngạc nhiên quay lại, chỉ kịp thấy bóng lưng Tiết Duyên đang lao thẳng xuống núi, rẽ một khúc rồi thoắt cái đã biến mất.

Khoảnh khắc ấy, Hồ An Hòa cảm thấy, chi bằng nhảy xuống đây còn sảng khoái hơn. Thế gian này sao cứ thích bắt nạt người lương thiện và đơn thuần như hắn vậy?

_______

Ngày A Lê tỉnh lại là một ngày trời đẹp. Như mọi khi, Tiết Duyên đang ôm đứa bé Lai Bảo ngồi bên giường, dạy nó đọc sách.

Cửa sổ khẽ mở một khe nhỏ, hương lan từ chân tường phảng phất bay vào, tai nàng ù ù, mọi âm thanh mơ hồ, phải thật lâu sau mới dần nghe rõ.

Tiết Duyên chỉ vào ba chữ “Nhân chi sơ”, quay sang hỏi Lai Bảo: “Đọc thế nào?”

Lai Bảo bĩu môi, phồng má, “Không biết.”

Tiết Duyên trừng mắt, “Dạy bao nhiêu lần rồi mà còn không biết? Đồ ngốc!”

Lai Bảo còn chưa nói sõi, cãi không lại Tiết Duyên, đánh cũng không nổi, tức quá liền ném phịch quyển sách xuống.

Tiết Duyên chọc nhẹ vào trán cậu, “Quậy cái gì, ồn ào thế, cẩn thận làm mẫu thân con thức giấc.”

Lai Bảo đứng lên, loạng choạng chạy tới muốn đánh đầu Tiết Duyên, miệng lầm bầm, “Cha xấu, xấu! Con không cần cha nữa!”

Tiết Duyên một tay giữ chặt eo cậu không cho ngã, tay kia cong ngón trỏ định búng trán, Lai Bảo sợ quá òa khóc, quay đầu bỏ chạy. Tiết Duyên muốn túm lấy áo cậu, nhưng vẫn chậm một bước, Lai Bảo loạng choạng chạy ra khỏi cửa, vừa ngoặt đã biến mất.

Tiết Duyên quát với theo, “Thằng nhóc thối, con chờ đó cho cha, tối nay cha sẽ…”

Chưa kịp nói hết, bên cạnh chợt vang lên một tiếng cười khẽ. A Lê nghiêng đầu nhìn chàng, ánh mắt dịu dàng, nói nhỏ, “Đừng dọa thằng bé nữa.”

Tiết Duyên sững người.

Đại phu từng nói với chàng rằng, tình trạng của A Lê ngày càng khá hơn nhưng không biết lúc nào sẽ tỉnh lại. Chàng vốn đã chuẩn bị sẵn tâm lý, nhưng khi giây phút ấy thật sự đến, mọi cảm xúc, suy nghĩ đều như không còn nằm trong tầm kiểm soát.

Chàng chậm rãi quay đầu lại, ánh mắt chạm vào đôi mắt trong sáng rạng ngời của nàng. Nàng vẫn yếu, khẽ mỉm cười, khóe môi cong lên, lúm đồng tiền lộ ra.

Tiết Duyên chỉ cảm thấy tim mình bị ai đó đập mạnh một cái, rồi liền đập loạn không ngừng. Tay chân run lên, dường như chẳng còn là của mình nữa.

Chàng mở miệng, nhưng không thốt ra được lời nào.

A Lê đưa tay muốn chạm vào mặt chàng, Tiết Duyên vội cúi xuống, để ngón tay nàng khẽ chạm vào má mình, lành lạnh, dịu mát, cảm giác quen thuộc ấy khiến lòng người cay xè.

Tiết Duyên mím môi, nước mắt gần như trào ra. A Lê khẽ cười, nói, “Ta không ở đây, mà râu chàng cũng chẳng buồn cạo à.”

Tiết Duyên nắm chặt tay nàng, giọng trầm đục, “Không có.”

A Lê cười, “Vẫn còn cứng đầu.”

Cuộc đối thoại tự nhiên như thể thời gian chưa từng trôi qua, bao nhiêu thống khổ và chờ đợi dường như chỉ là một giấc mộng. Mọi thứ vẫn y như cũ.

Cảm giác ấy vừa quen thuộc, vừa lạ lẫm, nhưng lại khiến người ta thấy bình yên lạ thường.

Tiết Duyên khẽ thở dài, hôn lên đầu ngón tay nàng, thì thầm, “Nàng đã chẳng để ý tới ta lâu lắm rồi… ta thấy khó chịu lắm.”

A Lê gật đầu, “Ta biết.”

Tiết Duyên lại nói, “Dạo này ta sống không tốt. Những thứ ăn vào ta chẳng thấy ngon, ngủ cũng không yên.”

A Lê dùng đầu móng tay gãi nhẹ vào lòng bàn tay hắn, khẽ cười, “Ta biết.”

Tiết Duyên vừa tủi thân vừa thấy may mắn, giọng nghèn nghẹn, “Lê nhỏ này, không có nàng ta sống không nổi.”

A Lê khẽ nói, “Ta biết, ta sẽ không rời chàng nữa.”

Từ ngày A Lê tỉnh lại, ngay cả thời gian cũng trở nên dịu dàng hơn. Mọi thứ dần quay lại như xưa.

Đến cuối năm, bệnh tình của nàng gần như đã khỏi hẳn, ngoài dáng người hơi gầy thì không còn vẻ bệnh tật. Mã thần y và Lưu ngự y thay nhau chăm sóc suốt hai tháng, đến khi nàng có thể tự đi lại mới rời đi. Chỉ là do tổn thương gân cốt nên nếu đi nhiều vẫn sẽ thấy đau.

Tiết Duyên đặc biệt làm cho nàng một chiếc ghế có bánh nhỏ, mỗi ngày đẩy nàng đi dạo khắp nơi, nhất quyết không để nàng chạm chân xuống đất.

A Lê thấy chàng làm quá, nhưng mỗi khi nhìn vào đôi mắt đen thẫm kia đầy cầu khẩn, nàng lại chẳng nỡ nói gì.

Nửa năm qua, Tiết Duyên đã thay đổi rất nhiều. Từng là con nhím toàn gai, giờ lại giống như một chú chó ngoan. Luôn thích nắm tay nàng, chẳng nói chẳng rằng, chỉ ngồi yên như thế mà cười, nụ cười ấy ngốc nghếch nhưng lại đáng yêu đến lạ.

Cửa hàng chàng cũng chẳng còn màng quản lý, để mặc đấy. Trước đây còn định bán luôn, bị Vi Thúy Nương mắng cho một trận mới thôi, nhưng A Lê biết chàng vẫn chưa hoàn toàn bỏ ý định đó.

Trong quãng thời gian nàng hôn mê, nàng không phải hoàn toàn vô tri vô giác. Nhiều khi Tiết Duyên nói chuyện bên tai, nàng đều nghe được. Khi chàng nằm cạnh mà khóc, nàng cũng biết.

A Lê nghĩ, so với mình, người chịu đựng đau khổ hơn trong quãng thời gian ấy chính là Tiết Duyên. Vì vậy sau khi tỉnh lại, nàng càng chiều chàng hơn, hầu như điều gì hắn muốn, nàng đều đồng ý. Hai người có thêm nhiều thời gian bên nhau, lại như quay về những ngày tân hôn, ngọt ngào, quấn quýt.

Lai Bảo đã hai tuổi, nghịch ngợm như khỉ con, chạy nhảy khắp nơi không chịu yên một lát.

Vi Thúy Nương thì đã mang thai hơn nửa năm, bụng to tròn như quả dưa hấu, song vẫn nhanh nhẹn vô cùng. Nàng dựa vào cái thai trong bụng mà càng thêm hống hách với Hồ An Hòa, quát nạt đủ điều, còn Hồ An Hòa thì cười hì hì, cam tâm tình nguyện mà chiều.

Năm nay thật đặc biệt, bão tố trôi qua, cuối cùng cũng được bình an.

Giữa tháng mười, Chu đế ra lệnh xử lăng trì Khâu Thời Tiến, Khâu gia bị tịch thu tài sản, nam đinh trong tam tộc bị chém sạch, nữ quyến sung làm quân kỹ, của cải nhập kho triều đình.

Sự việc chấn động, quan lại bị liên lụy đến mấy chục người, triều đình như bị “tẩy máu”. Khâu Vân Xuyên sau khi bị sung quân lưu đày, Tống gia cũng bị kéo theo, nam nhân đều bị bắt giam, gần như diệt tộc. Cuối cùng, Tống lão phu nhân phải dẫn số tộc nhân còn sót lại rời khỏi Ninh An để tự bảo toàn.

Khâu gia từng huy hoàng hơn mười năm, giờ rơi vào cảnh người người căm hận, tiếng xấu muôn đời, quả thật là gieo gió gặt bã.

Chung quy ác chẳng thắng thiện.

_____________

Trưa giao thừa, Hồ Khôi Văn đưa thê tử và mẫu thân của Tiểu Cà Lăm đến, cùng nhau đón năm mới. Nguyễn Ngôn Sơ thi Đình đỗ Thám hoa, được Hoàng đế trọng dụng, ở lại kinh thành làm biên tu Hàn Lâm viện, phẩm cấp thất phẩm. Tuy không về được, nhưng gửi rất nhiều quà, đồ ăn ngon, điểm tâm linh tinh, phần lớn là hạt dưa, kẹo đậu phộng.

Lai Bảo không thích vị đó, ăn một miếng liền nhổ ra, ngồi xổm phì phì cả buổi, khiến Tiết Duyên bực mình đá nhẹ vào mông cậu một cái.

Chu đế cũng sai người mang lễ tới, trang sức, lụa gấm, mấy chiếc bình sứ cổ cao hơn người, quà chất đầy nửa gian nhà.

Quả thật, như câu nói Vật cực tất phản, họa tận ắt phúc đến, tất cả đều là thật.

Tối đó sau khi xem pháo hoa, Phùng thị dẫn mọi người gói bánh sủi cảo, tiếng cười không dứt. Bữa tối do chính A Lê nấu, năm món mặn, ba món chay, hai món canh, hai món nguội, phong phú vô cùng. Hồ Khôi Văn và Vi chưởng quầy ăn đến căng bụng, phải dìu nhau ra ngoài đi dạo cho tiêu. Vi Thúy Nương đang mang thai, quang minh chính đại tranh thủ thời gian ngồi thoải mái ở đầu giường được đặt lò sưởi, ăn dưa chuột, Hồ An Hòa bám lấy bên cạnh, hai người ngươi một miếng, ta một miếng, khiến A Hoàng thèm nhỏ dãi, chạy quanh giường suốt.

Tiết Duyên nhân lúc Lai Bảo mải đuổi bắt thỏ, lén đưa A Lê ra ngoài xem tuyết.

Buổi trưa có tuyết rơi, giờ vẫn chưa tan, trắng xóa một màu. Đèn lồng đỏ treo cao, phản chiếu xuống nền tuyết, tràn ngập hương vị năm mới.

A Lê mặc bộ y phục đẹp, đeo đôi hoa tai hồng ngọc, môi đỏ tươi, lười biếng tựa trong lòng Tiết Duyên.

Tiết Duyên cúi đầu nhìn nàng, yêu thương h*n l*n ch*p m**, khẽ nói, “Tối nay trăng thật đẹp.”

A Lê ngẩng lên nhìn trời, ngạc nhiên, “Đêm giao thừa nào có trăng đâu?”

Tiết Duyên cười, đáp, “Nàng chính là vầng trăng nhỏ của ta.”

Chàng không giỏi nói lời ngọt ngào, có phần ngượng ngùng vụng về, nói xong lại hối hận, thấy mình ngốc nghếch, liền nghiêm mặt đứng thẳng, cố giấu sự lúng túng.

A Lê cười không ngớt, nhìn thấy vành tai hắn đỏ lên, nàng khẽ cắn môi, nâng mặt chàng lên, dịu dàng nói, “Chàng cũng vậy.”

Tiết Duyên ngẩn ra, “Cũng vậy là ý gì?”

A Lê cười, “Là trăng đó, vầng trăng biết tỏa sáng.”

Nàng tựa trán vào cằm chàng, giọng nhẹ như gió, “Cảm ơn chàng, vì sau bao khổ đau vẫn chọn ở lại bên ta. Những ngày sau này, chúng ta… cứ thế mà sống chậm rãi thôi.”

[ HOÀN TRUYỆN CHÍNH ]
 
A Lê
Chương 113: Ngoại truyện 1


Lúc Lai Bảo năm tuổi, cơ thể của A Lê cơ bản đã khỏi hẳn, chuyện tốt thành đôi, sau một hồi mây mưa nhiệt tình, trong bụng lại có thêm một đứa bé.

Tiết Duyên vui buồn lẫn lộn về chuyện này, Lai Bảo và Tứ Hỉ lại vui đến mức muốn nhảy lên nóc nhà.

Tứ Hỉ là nhi tử của Hồ An Hòa, có bộ dạng thư sinh trắng nõn, tuấn tú đẹp trai, nhưng mà hơi hơi chút ngốc nghếch giống cha hắn, phản ứng chậm hơn nửa nhịp so với người khác, mỗi ngày bị ca ca không có lương tâm lớn hơn hắn hai tuổi đùa giỡn quay mòng mòng. Vi Thúy nương kiên trì chính sách muốn nuôi thả với nhi tử, chỉ cần ăn uống, những thứ khác đều không quan tâm, hắn được Lai Bảo dẫn lên núi xuống sông, cuối cùng mang theo một thân phân trâu phân dê về nhà, còn cười ha ha hỏi hắn có thơm hay không.

Nàng chỉ yêu cầu nhi tử mình hai điều: sống, và không được thiếu đạo đức.

Thật ra, lúc Tứ Hỉ mới sinh ra đã có một đại danh rất đoan chính. Hồ An Hòa vắt hết óc mới nghĩ ra, xuất phát từ “Ly Tao” của Khuất Nguyên.

“Danh dư viết Chính Tắc hề, tự dư viết Linh Quân.”[1]

Lúc đầu, tên là Hồ Linh Quân.

Nhưng sau hai ngày gọi, Vi Thúy nương lại nói không được, rất nữ tính, không đủ nam tính.

Hồ An Hòa cực kỳ không đồng ý với quan điểm này, Linh Quân Linh Quân, hoạt bát linh động như vậy, vừa nhìn đã biết là một cái tên tốt cho đứa bé thông minh rồi, sao lại tức giận chứ?

Nhưng hắn cũng không cãi được Vi Thúy nương, uất nghẹn cả đêm, ngày hôm sau nguyên đôi mắt thâm quầng thỏa hiệp nói, “Vậy gọi là Hồ Chính Tắc đi.”

Vi Thúy nương lại thử gọi hai ngày, sau đó vẫn từ chối như cũ, lý do là “Quá khô khan, không đủ sức sống hừng hực.”

Hồ An Hòa đầy tuyệt vọng: “…” Nàng giết ta đi.

Vì việc này mà hai người tranh luận rất lâu nhưng vẫn không có kết quả, cuối cùng thật sự không còn cách nào, nên đến nhà Tiết Duyên đi thu thập ý kiến, sau đó gửi thư cho Nguyễn Ngôn Sơ ở kinh thành xa xôi, giày vò đến khi đứa nhỏ sắp đến tuổi thì mới quyết định được đại danh —— Hồ Kì Trung.

Hồ An Hòa không biết vì sao nhi tử hắn lại lấy cái tên vô văn hóa không có ý nghĩa như vậy nữa, trông thì kỳ quặc, nhưng tốt xấu gì cũng có đại danh, có thể đăng hộ tịch được, rốt cuộc vẫn vui vẻ.

Buổi tối hắn cùng Vi Thúy nương ôm tiểu nhi tử đến Tiết gia ăn cơm chúc mừng, A Lê đích thân xuống bếp làm một bàn thức ăn, trong đó có một món thịt viên mà Tứ Hỉ thích ăn nhất, mặt trên nước sốt sền sệt, mùi hương xông vào mũi, Lai Bảo hì hục ăn được một nửa, bỗng nhiên ngẩng đầu hỏi, “Dì Thúy, sao tiểu đệ đệ không có nhũ danh?”

Vi Thúy nương nghĩ, hình như đúng là có chuyện như vậy, làm sao có thể không có tiểu danh được?

Nhìn thấy bóng Tứ Hỉ bên bàn bên kia đang ăn thịt viên chỉ còn lại nửa cục, Vi Thúy nương lúc này đánh nhịp, “Vậy gọi là Hồ Tứ Hỉ đi!”

A Lê và Tiết Duyên liếc nhau, không nhịn được cười ra tiếng.

Hồ An Hòa gần như sụp đổ, “Chúng ta có thể nghiêm túc một chút được không?”

Vi Thúy nương nói, “Tên rẻ dễ nuôi, Tứ Hỉ vào cửa may mắn mà, sao lại không nghiêm túc chứ?”

Từ đó trở đi, Hồ Kì Trung đã có một cái tên thật đáng yêu và hoạt bát —— Tứ Hỉ.

Phùng thị rất hài lòng, hai nhà sống cạnh nhau, một đứa Lai Bảo một đứa Tứ Hỉ, vừa nghe là thấy rất chiêu tài, cát tường như ý!

Khi Lai Bảo năm tuổi, Tứ Hỉ ba tuổi, hai nhà dời đến kinh thành.

Nguyễn Ngôn Sơ được Chu đế tán thưởng, hai mươi tuổi đã có thể lên làm đại phu tư vấn tứ phẩm, Nghê Thuận cũng vì tạm thời xuất hiện trong trận hải chiến với Đông Dương mà được phong làm phó Đô chỉ huy sứ, xếp vào chánh ngũ phẩm. Từ tứ phẩm và chánh ngũ phẩm, mặc dù không tính là quan lớn rất hiển hách gì, nhưng hai người một văn một võ, đều là tuổi trẻ tài cao, có thể nói là tiền đồ vô hạn.

Sau ba năm chiến đấu với Đông Doanh (Nhật Bản), mặc dù triều Chu đã chiến thắng, nhưng thực lực của một quốc gia bị thua lỗ, quốc khố nhất thời trống rỗng, nguyên Đại tư nông bởi vì bị bệnh mà cáo lão về quê, trong triều không có nhân tài phù hợp nào, vị trí này liền trống không. Nguyễn Ngôn Sơ nhìn đúng thời cơ, tiến cử Tiết Duyên với Chu đế, Chu đế tất nhiên vẫn còn nhớ rõ Tiết Duyên chỉ dùng một người mà đã dám ngăn cản thánh giá lúc ở Ninh An, sau mấy lần cân nhắc, lại thật sự tiếp nhận tin đồn này.

Tiết Duyên liền âm soa dương thác[2] trở thành đại tư nông nhị phẩm, phụ trách kinh doanh muối sắt.

[2] Âm soa dương thác: Từ gốc “阴差阳错”, thường vì sai thời điểm, sai địa điểm mà hiểu lầm nọ nối tiếp hiểu lầm kia

Tiết gia đã chứng kiến ba thế lực trỗi dậy chỉ trong vòng 5 năm ngắn ngủi, cây to đón gió, đã đủ làm chói mắt người khác. Dưới sự khuyên bảo của A Lê, Tiết Duyên trở nên rất khiêm tốn, quan nhị phẩm của người ta ở đại viện nhà cao cửa rộng, mấy trăm gia phó, mà chàng chỉ mua một căn nhà nhỏ ở ngoại ô, cách vách là trường tư thục của Hồ An Hòa, trong nhà chỉ có hai người, vẫn là cùng Hồ gia thay phiên nhau dùng, buổi tối thì trở về nhà mình.

Vì thế, các quan viên còn lại còn âm thầm trào phúng chàng, nói thương nhân chàng xuất thân thấp kém quen rồi, có tiền có quyền cũng sẽ không dùng đâu.

Tiết Duyên tai trái vào tai phải ra, coi như bọn họ đang đánh rắm.

Không bao lâu, Nguyễn Ngôn Sơ và Nghê Thuận cũng thành lập cơ sở kinh doanh gia đình bên cạnh trường tư thục của Hồ An Hòa, bốn sân thông nhau thành một đường, dài gần nửa con phố. Tiết Duyên lại tiếp tục phạm phải vấn đề tiêu tiền một cách hoang phí, A Lê khuyên mà cũng không khuyên được, chỉ có thể bất lực nhìn chàng bỏ ra một số tiền lớn để đưa hàng xóm xung quanh dời ra ngoài, sau đó phá phòng ốc của người ta, rồi trồng một rừng cây rậm rạp, không có người trong phạm vi mười dặm.

Cứ như vậy, Tiết gia đã trở thành chủ nhân duy nhất của thôn trong thành này.

Những quan viên ban đầu trào phúng Tiết Duyên đều đã ngoan ngoãn ngậm miệng lại.

Tư thục của Hồ An Hòa cũng trở thành nơi nóng bỏng nhất kinh thành, dù sao hàng xóm láng giềng đều là quan lớn của triều đình, hắn lại là cử nhân có công danh trong người, những hài tử có tiền vô thế không có cách nào đi Quốc Tử Giám để học đều thích đến chỗ hắn, còn thiên vị tặng lễ vật quý giá. Phong thủy thay phiên nhau, ban đầu Hồ An Hòa nghèo nhất biến thành người giàu nhất, thật đúng như những gì Vi Thúy nương nói lúc trước, “Đào lý mãn thiên hạ”.[3]

Lúc A Lê mang thai năm tháng, thai đã ổn định, Vi Thúy nương ném Tứ Hỉ cho nàng, còn mình và Hồ An Hòa đi đạp thanh.

Hơn nữa mấy ngày gần đây, trong triều bận rộn, Tiết Duyên đã không thể về nhà trong hai ngày liên tiếp, mỗi ngày ở cùng A Lê nói chuyện nhỏ nhẹ, rồi Phùng thị vâng lời răm rắp, một đại vô lại dẫn theo một tiểu trứng mềm muốn náo loạn lên trời.

Nghê Thuận quay lại một lần ở giữa, đúng lúc Lai Bảo túm lấy Tứ Hỉ đuổi theo con ngỗng, hai người hùng hổ, mấy con ngỗng trắng lớn bị dọa đến mức nhảy loạn cả sân, khói bụi bốc lên bốn phía. Hắn tức giận, xắn tay áo tát hai đứa vài cái, sau đó phạt đi đứng ở góc tường.

Lúc ấy A Lê không ngăn cản, nhưng buổi tối bị hai cục bông mỗi đứa một bên ôm chân khóc nên nàng vẫn mềm lòng.

Lời nói của Lai Bảo rất rõ ràng, vừa bôi nước mắt nước mũi lên làn váy của A Lê, vừa khóc nói, “Mẫu thân, con muốn ăn bánh bao hoa mai.”

A Lê sờ sờ cái đầu nhỏ bé của hắn, lắc đầu nói, “Đã muộn quá rồi, giờ ăn thì sẽ bị đau bụng, không được ăn.”

Lai Bảo nói, “Nhưng đệ đệ cũng muốn ăn.”

Tứ Hỉ ngây ngốc ngồi trên mặt đất, kéo đầu nhìn Lai Bảo, vẻ mặt không thể giải thích được.

Lai Bảo nhẹ nhàng đạp hắn ta một cước, hỏi, “Tứ Hỉ, đệ có muốn ăn bánh bao không?”

Tứ Hỉ nói, “Ta không thích ăn bánh bao.”

“…” Lai Bảo âm thầm trừng mắt, “Ngươi thích ăn!”

A Lê lẳng lặng ngồi ở một bên, cười nhìn bọn họ náo loạn.

Ngày thường Tứ Hỉ hay bị Lai Bảo bắt nạt nên sợ, bị trừng mắt như vậy lập tức giằng mạnh xuống, mặt dán vào đùi A Lê, lẩm bẩm nói_: “Vậy, vậy thì thích…”

Lai Bảo quay đầu nhìn A Lê, “Mẫu thân, con và đệ đệ đều muốn ăn bánh bao hoa mai.”

A Lê cong môi, giọng điệu dịu dàng mà cương quyết, “Vậy cũng không được ăn.”

Lai Bảo sững người một lúc rồi đảo mắt, nảy ra một ý tưởng xấu, hắn ngồi xổm xuống rồi tiến đến bên tai Tứ Hỉ, nhỏ giọng nói, “Tiểu Hỉ Tiểu Hỉ, ngươi mau khóc đi.”

Tứ Hỉ hít một hơi đầy nước mũi, rồi nuốt xuống, “Không khóc, ta mệt quá.”

Lai Bảo hé răng cắn vành tai hắn ta một cái, “Ngươi không phiền! Ngươi muốn khóc!”

“…” Tai là nơi nhạy cảm nhất, bị cắn thế này dù không đau cũng cảm thấy nhột nhột bò lên lưng, Tứ Hỉ nhếch miệng, òa một tiếng gào thét.

Lai Bảo ôm bả vai hắn dỗ dành, sau đó lại nhìn A Lê, “Mẫu thân, đệ đệ tham khóc quá.”

A Lê bất đắc dĩ nhìn bọn họ, trong lòng nàng biết rõ, nếu bây giờ nàng không đồng ý, Lai Bảo tuyệt đối sẽ quấn lấy nàng ầm ĩ nửa canh giờ. Cái xấu xa và bướng bỉnh của Tiết Duyên truyền hết cho hắn, Phùng thị bái phục, tính tình bây giờ của Lai Bảo không được người khác thích lắm, lại cực kỳ giống Tiết Duyên.

Mèo ngại chó phiền, ai thấy cũng muốn đá hai cước, nhưng lại sợ phụ thân và cữu cữu và tiểu thúc thúc sau lưng hắn.

Tứ Hỉ khóc nấc lên, A Lê không còn cách nào khác, ôm hắn lên rồi dỗ dành hai cái, “Sáng sớm hôm sau dì và nội sẽ làm cho con ăn được không?”

Tứ Hỉ nhìn Lai Bảo một cái, thấy hắn gật gật đầu, lúc này mới khóc lóc nói với A Lê nói, “Được ạ…”

Cuối cùng căn phòng im lặng.

Lai Bảo dẫn Tứ Hỉ đi lấy nước rửa mặt xong, rồi ngoan ngoãn thay tẩm y, bò lên đầu giường ngủ.

Sáng sớm hôm sau, A Lê giữ lời hứa làm hai lồng bánh bao hoa mai, Lai Bảo vui vẻ ăn một cái lồng nhỏ, Tứ Hỉ cũng ăn không ít, cuối cùng còn lại năm cái, Lai Bảo dặn dò vú già khi thu dọn bát đĩa, ngàn vạn lần đừng ném bánh bao đi, buổi trưa hắn còn muốn ăn.

Vú già vui vẻ đáp ứng, để an toàn, còn giấu ở tầng tối nhất trong tủ.

Lai Bảo cảm thấy mỹ mãn nắm tay Tứ Hỉ đi chơi.

Giữa trưa, A Lê gọi hai đứa nhỏ trở về ngủ trưa, Tiết Duyên trở về im lặng không một tiếng động, nhìn thấy Lai Bảo đang nằm ở cuối giường, lòng bàn tay chàng ngứa ngáy, nhấc cổ áo hắn lên muốn kéo xuống đánh một trận, nhưng nhìn thấy A Lê đang ngủ say, chàng nghĩ rằng không thể làm ồn đến nàng, chàng lại hít sâu vài hơi, cố gắng đè ngọn lửa trở lại bụng, xoay người ra ngoài tìm đồ ăn.

Sau khi Nghê Thuận về liền nói cho chàng biết chuyện đã xảy ra hôm qua, Tiết Duyên tức giận đến mức ót như bốc khói, sau khi làm việc xong, rảnh rỗi một ngày về nhà dạy mấy đứa nhỏ, không ăn liên tiếp hai bữa cơm rồi, nên chàng đã đói đến phát hoảng.

Chàng không đi tìm vú già, tự mò vào phòng bếp, lật lung tung nồi niêu xoong chảo, cuối cùng cũng tìm được năm cái bánh bao trong chén sứ ở trong góc.

Tiết Duyên ngửi ngửi, nhân rau khô, rất thơm.

Chàng cũng không nghĩ nhiều, lấy một cái đĩa đổ một ít giấm, chưa được mấy ngụm mà đã ăn hết, đang định tìm thêm mấy cái nữa, thì quay đầu lại nhìn thấy vẻ mặt phẫn uất đứng ở cửa.

Ngay sau đó chính là một tiếng tê tâm phế liệt “Nương!”
 
A Lê
Chương 114: Ngoại truyện 2


Giọng hét ấy gần như xuyên phá cả bầu trời, A Lê giật bắn người, vội vàng khoác áo quần và mang giày chạy xuống. Tứ Hỷ dụi nhẹ mắt ngồi dậy, cũng chạy theo sau.

Chẳng bao lâu, nhà bếp đã chật kín người. Hai vú già nhìn nhau, ngơ ngác nhìn Lai Bảo đang ngồi trên đất lăn lộn, gào khóc ăn vạ. Tiết Duyên mặt lạnh như tiền, quát mấy tiếng thấy không ăn thua, liền giơ chân định đá.

Cảnh đó làm Phùng thị sợ tái mặt, bà vội vàng quát lớn, rồi kéo Lai Bảo lại ôm vào lòng, cau mày nói, “Thằng bé còn nhỏ, chưa hiểu chuyện. Sao con lại thô lỗ như thế? Dạy dỗ thì phải kiên nhẫn chứ.”

Tiết Duyên bất lực xoa trán, liếc nhìn A Lê, trong lòng mệt mỏi.

Lần nào cũng vậy cả. Mỗi khi Lai Bảo làm sai chuyện gì, chỉ cần Tiết Duyên vừa xắn tay áo định dạy dỗ, bàn tay còn chưa chạm vào, Phùng thị đã vội vàng ra can ngăn. Người ta nói cháu cách ông bà một đời thì thương hơn, mà giữa Phùng thị và Lai Bảo là cách nhau tới ba đời, nên yêu chiều cũng là điều dễ hiểu. Nhưng thứ cưng chiều không có nguyên tắc, chỉ khiến Tiết Duyên đau đầu.

Lai Bảo bây giờ nghịch ngợm, phách lối chẳng coi ai ra gì, một nửa lỗi là do Phùng thị bênh vực quá mức.

Nhưng lần này Tiết Duyên quyết tâm phải dạy cho một trận. Sắc mặt chàng không đổi, chỉ thẳng xuống đất, lạnh giọng, “Lại đây.”

Lai Bảo sụt sịt, vùi đầu trong ngực Phùng thị, chẳng thèm liếc nhìn phụ thân lấy một cái.

Tiết Duyên tức đến mức mũi cũng muốn vẹo đi.

Chàng liếc sang A Lê, ra hiệu bằng ánh mắt. A Lê hiểu ngay, quay sang Lai Bảo, giọng dịu dàng, “Bảo Bảo ngoan nào, lại đây với mẫu thân.”

Lai Bảo hít mũi mấy cái, có vẻ dao động.

A Lê bèn móc ra một viên kẹo lạc, mở lòng bàn tay ra cho cậu xem, nhẹ giọng dụ dỗ, “Lại đây, có muốn ăn kẹo không?”

Lai Bảo dán mắt nhìn viên kẹo khá lâu, cuối cùng không chịu nổi cám dỗ, bước từng bước nhỏ đi tới. Nhưng đầu ngón tay còn chưa kịp chạm vào kẹo, đã bị Tiết Duyên túm cổ áo xách lên.

Lai Bảo lập tức nhận ra mình bị lừa, vừa tủi thân vừa giận dữ, dang chân ra định chạy, nhưng cả người vẫn bị treo lơ lửng, giãy thế nào cũng vô ích.

Tứ Hỷ ngồi xổm dưới đất, chống cằm ngẩn ngơ nhìn, trầm trồ nói, “Ca ca, huynh bay cao ghê đó!”

Lai Bảo gào, “Bay cái gì mà bay, đệ đừng có nói nữa được không!”

Tứ Hỷ bĩu môi, thật sự im lặng, rồi quay sang chỗ A Lê xin kẹo. Lai Bảo nhìn thấy thế, suýt ngất tại chỗ vì tức.

Phùng thị đã bị A Lê khéo léo khuyên đi, vú già cũng tản hết, không còn ai cản trở hành động bạo lực của Tiết Duyên. Chàng ném Lai Bảo xuống đất, xắn cao tay áo, rút một cây chổi định quất. Lai Bảo không chịu khuất phục, chạy vòng quanh nhà tránh né, vật lộn trong tuyệt vọng.

A Lê chỉ ngồi một bên, bế Tứ Hỷ trong lòng, không hề có ý định lên tiếng can ngăn. Lai Bảo bị Tiết Duyên ép dồn vào góc tường, mặt mũi đầy tuyệt vọng.

Ngay khi cây chổi sắp giáng xuống người, Lai Bảo bỗng lóe lên linh cảm, la lớn, “Cha ơi đừng đánh con! Con cho cha tiền!”

Tiết Duyên khựng lại, nheo mắt nhìn kỹ, rồi chậm rãi đặt cây chổi xuống, hứng thú hỏi, “Con lấy đâu ra tiền?”

Lai Bảo đáp: “Con tự kiếm được.”

Tiết Duyên hơi ngạc nhiên, quay lại nhìn A Lê. Thấy nàng cũng mang vẻ hoang mang, chàng l**m môi, không nói gì thêm. Một đứa trẻ mới năm tuổi mà nói tự kiếm tiền, tuổi này dường như chỉ biết nghịch để gây sự chú ý người khác thôi, nghe chẳng giống chuyện đàng hoàng gì. Tiết Duyên quyết định thuận theo, thăm dò tiếp:

“Muốn dùng tiền đổi lấy việc khỏi bị đánh, cũng được. Nhưng con định trả cho ta bao nhiêu?”

Lai Bảo nói, “Cha, nếu hôm nay cha cho con năm mươi văn, một tháng sau con trả lại cha một lượng bạc!”

Tiết gia là nhà giàu, một lượng bạc chẳng đáng gì. Nhưng với dân thường, đó là hai ba tháng tiền công. Một đứa bé năm tuổi mà nói như vậy thì làm sao làm ra nhiều tiền như vậy.

Tiết Duyên nhíu mày, “Cái tật nói khoác này học ở đâu ra?”

Lai Bảo ngẩng đầu, “Con không nói khoác!”

A Lê bước lại, nhẹ giọng hỏi, “Thế trước đây con cũng kiếm tiền kiểu này à?”

Lai Bảo đáp, “Con đã kiếm được ba lượng rồi!”

Tiết Duyên đỡ A Lê ngồi xuống, thuận miệng hỏi, “Thế tiền của con đâu?”

Lai Bảo chỉ sang Tứ Hỷ: “Cho đệ đệ mua kẹo hồ lô ăn rồi.”

A Lê ngạc nhiên, “Ba lượng bạc? Con mua bao nhiêu kẹo hồ lô vậy?”

Lai Bảo bĩu môi, “Thì ăn một que, vứt một que. Còn lại hơn nửa đem cho gà trong nhà ăn rồi…”

Chưa nói xong, Tiết Duyên đã nổi cơn thịnh nộ, giơ tay định đánh. A Lê vội giơ tay cản, khẽ lắc đầu.

Tiết Duyên tức đến bật cười, quay một vòng tại chỗ, nói, “Được! Ta cho con năm mươi văn, con đem đi làm vốn. Nếu một tháng không kiếm được một lượng bạc, phạt chép Sử Ký năm nghìn lần!”

Lai Bảo trố mắt, “Thế thì phải chép tới bao giờ ạ…”

Tiết Duyên đáp, “Chép không xong thì hai mươi năm nữa bảo nhi tử con chép tiếp! Ta chiều con quá, giờ con tưởng mình là cha ta rồi hả?”

Thấy chàng lại sắp nổi giận, A Lê vội đẩy vai chàng, kéo tay áo dắt đi.

Buổi tối, Phùng thị sợ Tiết Duyên còn cáu mà đánh con, nên cho hai đứa nhỏ ngủ trong phòng mình.

Bụng A Lê đã nhô cao, nhưng rõ ràng nhỏ hơn lúc mang Lai Bảo. Tiết Duyên đối với đứa con này tràn đầy mong chờ, hy vọng là một tiểu cô nương.

Nếu lại là một thằng nhóc, mà tính tình nghịch ngợm như cha nó, thì Tiết Duyên cảm thấy mình chắc chắn sẽ đoản thọ mất mười năm.

Theo đơn thuốc của đại phu, Tiết Duyên chuẩn bị một chậu nước thuốc đen sì bốc hơi nghi ngút cho A Lê ngâm chân.

Chàng ngồi xổm dưới đất, vừa kiên nhẫn xoa bóp bắp chân cho nàng vừa nói, “Lê nhỏ này, nàng nói xem, thằng nhóc đó hằng ngày toàn làm cái quái gì mà cứ bí bí mật mật vậy?”

A Lê bóc đậu phộng cho chàng ăn, nói nhỏ, “Dù sao cũng chẳng phải việc tốt lành gì đâu.”

Tiết Duyên cười, “Mai ta đi theo xem thử.”

A Lê phủi sạch vụn đậu phộng trên tay, cười nói “được”.

Sáng hôm sau, Lai Bảo kéo Tứ Hỷ ăn sáng xong là chạy ra khỏi nhà như cơn gió.

Tiết Duyên không vội, đặt bát cháo xuống, lau miệng, rồi vào phòng lấy cho A Lê một chiếc khăn choàng, bình thản đi theo.

Nghê Thuận hôm qua đã biết chuyện này, để thể hiện sự quan tâm đến việc giáo dục cháu trai, còn phái cả một đội mật phục đi theo dõi.

Lai Bảo chạy như con lừa con điên, băng qua phố xá ngõ hẻm, còn thỉnh thoảng quay đầu xem cha có đuổi theo không. Cậu cứ tưởng mình hành sự kín đáo, nào biết đâu quanh mình, từ người bán kẹo, quét rác cho đến ăn mày đều là quan sai cải trang.

Ngõ càng lúc càng hẹp, Tiết Duyên cau mày. Chàng thật không ngờ, giữa kinh thành phồn hoa mà vẫn có chỗ dơ bẩn thế này.

Rác thối, lá rau úa đầy góc tường, mùi phân gà hăng hắc xộc lên. Tiết Duyên nắm tay A Lê cẩn thận dẫn đi, không để váy nàng dính bẩn.

Khi họ đến nơi, Tiết Duyên bỗng hiểu vì sao lúc nãy lại có mùi đó.

—— Trường chọi gà.

Cuối thu, một gã nam nhân cao lớn vạm vỡ, chỉ mặc một mảnh vải thô quấn quanh hông, đang khom lưng bắt gà, người đầy những vết bẩn. Lai Bảo len lỏi qua đám đông như ngựa quen đường cũ, hớn hở hỏi, “Hắc chưởng quầy, con gà Lô Hoa của cháu đâu?”

Gã nam nhân chìa tay: “Tiền đâu?”

Lai Bảo huých cùi chỏ Tứ Hỷ, Tứ Hỷ “ồ” một tiếng, rồi móc từ đế giày ra năm đồng tiền.

Lai Bảo trừng mắt, “Đệ không sợ bị chai chân à!”

Tứ Hỷ ngơ ngác, “Chai chân là gì ạ?”

Lai Bảo thở dài, xoa đầu nó, thì thầm, “Nói cũng không hiểu, khỏi nói.”

Cậu đưa tiền cho chưởng quỹ, rồi kéo Tứ Hỷ ngồi xổm chờ xem trận đấu sắp bắt đầu, đầy vẻ háo hức.

Tiết Duyên và A Lê ngồi ở phía sau đám đông, nhìn hai bóng nhỏ ấy qua khe hở, ánh mắt đầy phức tạp.

A Lê nắm chặt tay Tiết Duyên, tay kia đặt lên bụng, tự trách, “Ta thật sự không biết con tìm được nơi này thế nào. Bình thường con nói ra ngoài chơi, ta cứ tưởng đến thư viện cùng học với bạn, ai ngờ là đi đánh bạc…”

Tiết Duyên đút cho nàng viên kẹo, hờ hững nói, “Không trách nàng được, nàng đang mang thai, hơn nữa, dù có mọc thêm ba con mắt cũng không trông nổi thằng đó.”

A Lê cau mày, kẹo sữa ngọt gắt, nàng xoay trong miệng một vòng rồi nhổ ra tay chồng.

Tiết Duyên nhỏ giọng mắng: “Đúng là tiểu thư yếu đuối.” Sau đó lại cho ngay vào miệng mình, nhai rộp rộp rồi nuốt: “Ngon mà.”

A Lê nhăn mặt: “Gớm quá đi!”

Hai người còn đang nói cười, thì bên kia trận đấu gà đã vào hồi kịch liệt. Gà Lô Hoa của Lai Bảo đang giao chiến với một con gà trống lông đỏ cao to, toàn cảnh đầy kịch liệt. Vì sân toàn cát, hai con gà quạt cánh mấy cái đã khiến bụi bay mù mịt, chỉ nghe thấy tiếng quác quác, phành phạch và kêu rít thảm thiết.

Lai Bảo hét khản cổ, một tay bịt miệng Tứ Hỷ, một tay hưng phấn chỉ đạo, “Xông lên! Đá nó! Đúng đúng đúng, mổ mắt nó! Ôi trời ơi sao ngu thế, đá đi chứ!”

Trận đấu càng lúc càng căng. Gà đỏ bị thương chân trái, không đứng vững, quay vòng vòng như con vụ. Gà Lô Hoa nghiêng đầu, nhìn chằm chằm sơ hở của đối thủ, dang cánh, chuẩn bị lao vào.

Lai Bảo hồi hộp tới nỗi nín thở, nên khi có người vỗ vai mình, cậu liền theo phản xạ huých cùi chỏ ra sau.

Tiết Duyên đỡ lấy, giọng trầm thấp, “Tiết Văn, vui không?”

Lai Bảo không thèm nhìn, cau có tránh ra, kéo Tứ Hỷ vào lòng, “Ngươi là ai thế, tránh ra chút coi.”

Tiết Duyên nói, “Ta là cha ngươi.”

Lai Bảo “hề” một tiếng, cuối cùng quay đầu lại, “Ngươi biết cha ta là ai mà dám nói bậy… À, cha.”

Tiết Duyên cười như không cười, nhìn cậu, “Khá lắm, Tư Văn. Dám dạo khắp trời nam đất bắc thế này, có phải lần sau định đi buôn muối lậu không?”

Lai Bảo lắp bắp: “Cha, quan muối là cha quản, con nào dám…”

Ngay khoảnh khắc ấy, thấy nụ cười cuối cùng trên môi cha tắt hẳn, Lai Bảo biết mình tiêu rồi. Cậu nuốt khan, kéo Tứ Hỷ đứng dậy, lùi lại hai bước rồi quay đầu bỏ chạy.

Tiết Duyên đặt hai ngón tay lên môi, thổi một tiếng huýt dài.

Tức thì, từ bốn phía ùn ùn xông ra hàng chục binh sĩ, bao vây kín cả trường gà.

Hai con gà sững sờ, ông chủ trường gà cũng ngẩn người, rồi bỏ cả gà, toan trèo tường chạy.

Nghê Thuận quát to, “Người đâu, kéo hắn xuống cho ta!”

Tiết Duyên mặt không biểu cảm, nhàn nhạt nói, “Theo luật, tụ tập đánh bạc, nhẹ thì trượng hình, nặng thì sung quân.”

Đám dân xem náo nhiệt đều hoảng hồn, ôm đầu ngồi xuống, nức nở không dám hó hé. Lai Bảo chết lặng, nhìn sang A Lê cầu cứu.

A Lê đáp lạnh, “Bảo Bảo, lần này con thật sự sai rồi. Mẫu thân sẽ không giúp con nữa.”

Nghê Thuận cười khoái chí, không quên quát lớn, “Nhìn cái gì đó! Ngồi xuống, ôm đầu, nói hai đứa đấy! Sao, còn muốn bị đánh à?”

Lai Bảo mím môi, kéo Tứ Hỷ ngồi xuống, mí mắt rủ xuống, suýt khóc.

Tứ Hỷ m*t tay, tò mò hỏi, “Ca ca, chúng ta sắp bị đánh hả?”

Lai Bảo r*n r*: “Đệ… có thể đừng nói nữa được không!”

Đêm hôm ấy thực sự là một cột mốc quan trọng, khắc sâu trong tâm hồn non nớt của Lai Bảo, một vết mực đậm không thể xóa.

________

Tác giả có lời muốn nói:
Câu cuối cùng nghe kỳ cục ghê [cười khóc.jpg] Chương sau muội muội xuất hiện nhé~
 
A Lê
Chương 115: Ngoại truyện 3


Buổi tối tháng Sáu, thời tiết oi bức. A Lê mở hết cửa ra vào, cửa sổ, lại trải chiếu tre lên giường, cùng hai đứa con vừa ăn nho vừa hóng mát.

Ngoài cửa sổ ve kêu râm ran, hương hoa nguyệt quý lan tỏa trong không khí, dễ chịu vô cùng.

Tiết Duyên dùng tay trái ôm A Lê, tay phải ôm Bảo Du, đối diện là Lai Bảo đang khom lưng, gập người, ngồi xếp bằng chơi cửu liên hoàn.

A Hoàng sau khi bị cắt lông trông gầy đi nhiều, đang yên ổn nằm ở phía trong cùng, đôi mắt khép hờ, dáng vẻ lười biếng y như trước.

Bảo Du năm nay ba tuổi, Lai Bảo chín tuổi, còn A Hoàng đã mười một, đã là một chú thỏ già thực thụ. May mắn thay nó luôn được ăn ngon, uống tốt, được A Lê cưng như tiểu công chúa nhỏ. Dù đã già, không còn nhảy nhót được nhưng nó vẫn ăn khỏe, tinh thần tốt, sống khỏe mạnh hoạt bát.

Tiết Duyên vắt chéo chân, tựa người trên gối dựng đứng sau lưng, hưởng thụ cảm giác như đang ôm trọn cả thế giới.

Bảo Du vừa gội đầu xong, tóc được lau khô gần hết, mềm mượt rũ trên vai. Khuôn mặt nhỏ trắng trẻo, xinh xắn, khi cười mắt cong cong như trăng non. Bé chụm ba ngón tay lại, nhẹ nhàng vuốt đầu A Hoàng, rồi ngẩng đầu nhìn Tiết Duyên, giọng trẻ con trong veo, “Cha ơi, con muốn nghe kể chuyện.”

Tiết Duyên nói “được”, lại véo má bé một cái, mỉm cười hỏi, “Vậy con gái cha muốn nghe chuyện gì nào?”

Bảo Du áp mặt vào ngực cha, nghĩ một hồi vẫn chưa nghĩ ra, bèn quay sang tìm Lai Bảo, “Ca ca, nghe kể chuyện nên nghe chuyện gì đây?”

Lai Bảo vốn tưởng chẳng ai quan tâm mình, giờ thấy đôi mắt đen láy của muội muội nhìn sang, cậu cười rạng rỡ, ném ngay bộ cửu liên hoàn ra xa, rồi bò nhanh tới ngồi cạnh Bảo Du, “Huynh muốn nghe gì, muội cũng muốn nghe cái đó nhé?”

Bảo Du kéo vạt áo chàng, ngoan ngoãn gật đầu, ngọt ngào đáp.

Lai Bảo hùng hồn tuyên bố, “Vậy thì con muốn nghe chuyện Bàn Cổ khai thiên tích địa!”

A Lê bật cười, “Con trai quả thật đều thích mấy chuyện này.”

Bảo Du cũng cười theo, Tiết Duyên khẽ nhếch môi, dùng mũi chân đá nhẹ mông nhi tử, rồi gật đầu ra hiệu, “Mang hết mấy thứ trái cây, hạt dưa, nước trà lại đây.”

“Dạ có liền!”

Lai Bảo siêng năng như một tiểu lao công, kéo bàn nhỏ tới bên giường, bày hạt dưa, nước trà, nho đầy đủ. Sau đó còn lấy chăn mỏng đắp lên chân mẹ và em, tiện thể chui luôn A Hoàng vào trong chăn.

Tính cách cậu thật giống hệt Tiết Duyên, bướng bỉnh, khó dạy, nhỏ mọn như tổ ong, nhưng lại rất biết lo cho gia đình. Dù ở ngoài nghịch ngợm tới mức nào, tới giờ nhất định cũng phải về nhà. Đối với ba nữ nhân trong nhà thì hết mực yêu thương, chiều chuộng, dịu dàng chu đáo.

Nghê Thuận từng cười bảo, “Hai cha con ra ngoài thì như sói, về nhà lại như chó.”

Câu nói nghe thô, nhưng thật chẳng sai, chỉ là sau đó cả hai cha con đều xúm lại đánh hắn một trận.

Khi mọi thứ đã sắp xếp ổn thỏa, Lai Bảo ưỡn mông, nghiêng người nằm ngay lên đùi Tiết Duyên .

Tiết Duyên khựng lại, theo phản xạ định đá con xuống.

Lai Bảo không chịu, ôm chặt không buông, “Muội muội với mẫu thân đều được nằm thế này, cha thiên vị!”

Tiết Duyên đáp, “Thì sao nào!”

Lai Bảo quyết không nhả, hai chân móc lên eo cha, khiến chăn bị nhào nát thành một đống, hai cha con như đang vật lộn. A Lê ôm lấy Bảo Du, hai mẹ con cười nghiêng ngả, A Hoàng bị làm ồn chịu không nổi, đành chuyển qua góc khác ngủ.

Giằng co thêm một lúc, Tiết Duyên tức mà bật cười, cuối cùng cũng để mặc con như vậy.

Lai Bảo mãn nguyện tựa đầu lên bụng cha, há miệng hướng về phía Bảo Du, “A——”

Bảo Du hiểu ý, nhanh tay bóc một quả nho, đút vào miệng ca ca, cười tươi như búp bê sứ.

Lai Bảo lại quay sang nhìn A Lê, “A ——”

Tiết Duyên liếc thấy, bực mình, âm thầm véo con một cái sau lưng, “Ngậm miệng lại và lập tức xuống ngay cho ta!”

“…” Lai Bảo không dám làm loạn nữa, ngoan ngoãn bò xuống, ngồi bên cạnh Bảo Du.

Tiết Duyên nghiêm mặt nói, “Ngày xửa ngày xưa, trời đất còn chưa tách rời, mọi vật hỗn độn, như một quả trứng gà vậy…”

Lai Bảo hỏi xen vào, “Vậy thì hỗn độn với trứng có gì liên quan nhau?”

Tiết Duyên lạnh lùng liếc cậu một cái. Lai Bảo chớp mắt, im bặt.

Tiết Duyên tiếp tục kể, “Có một vị khổng nhân tên là Bàn Cổ, sống trong khối hỗn độn ấy, ngủ suốt mười tám nghìn năm…”

Lai Bảo lại chen vào, “Thế ông ấy ăn gì, uống gì, đi vệ sinh ra sao?”

Tiết Duyên nói, “Tiết Văn, trong đầu con ngoài chuyện ăn uống và đi vệ sinh ra còn gì khác không hả?”

A Lê và Bảo Du cười nghiêng ngả. Lai Bảo đành chịu thua, “Được rồi được rồi, con không hỏi nữa, được chưa.”

Tiết Duyên cảnh cáo liếc một cái, rồi kể tiếp, “Một ngày kia, Bàn Cổ đột nhiên tỉnh dậy. Vừa có ý thức, ông liền mở mắt, thấy xung quanh tối đen như mực. Ông bèn nhổ một chiếc răng của mình, biến nó thành một cây thần phủ vô cùng lợi hại, rồi giơ lên chém mạnh vào lớp vỏ trứng bao quanh…”

Lai Bảo nói nhỏ, “Ông ấy hung dữ quá…”

A Lê vội bịt miệng con, Bảo Du nhét ngay một quả nho vào tay cậu, nhỏ giọng, “Ca ca, đừng nói nữa.”

Lai Bảo hơi ấm ức, mím môi, “Được thôi.”

Tiết Duyên khoanh tay, lạnh giọng hỏi, “Còn muốn nghe nữa không?”

Lai Bảo nói, “Nghe ạ.”

Tiết Duyên hí mắt, “Vậy thì con im miệng.”

Lai Bảo “dạ” một tiếng, ôm A Hoàng rúc vào góc, trông đáng thương như chú chó con bị mắng.

Tiết Duyên cuối cùng cũng hài lòng, “Sau khi Bàn Cổ chém, chỉ nghe một tiếng nổ lớn, vỏ trứng vỡ thành hai nửa. Phần nhẹ và trong bay lên, tụ lại thành trời; phần nặng và đục rơi xuống, hóa thành đất. Bàn Cổ đứng sừng sững giữa trời đất, đầu đội trời, chân đạp đất.”

“Vì sợ trời đất lại hợp làm một, Bàn Cổ giữ nguyên tư thế đó, mỗi ngày trời cao thêm một trượng, ông lại cao thêm hai trượng. Cứ như thế suốt mười tám nghìn năm nữa, cuối cùng trời đất định hình, Bàn Cổ kiệt sức mà ngã xuống.”

Bảo Du nghe vô cùng chăm chú, đôi môi đỏ mọng khẽ mím lại, trông chẳng khác gì A Lê.

Tiết Duyên nhìn hai mẹ con, lòng ngập tràn vui sướng, xoa đầu từng người, rồi kể tiếp, “Sau khi Bàn Cổ ngã xuống, thân thể ông biến hóa to lớn. Mắt trái hóa thành mặt trời, mắt phải thành mặt trăng, hơi thở biến thành gió và mây, tiếng nói hóa ra sấm sét, máu chảy thành sông ngòi, mồ hôi thành mưa móc. Tứ chi hóa thành đông tây nam bắc, tóc thành đồng cỏ, rừng cây, nước mắt hóa thành muôn ngàn vì sao. Từ đó, nhân gian có ánh nắng, mưa rơi, vạn vật sinh sôi.”

A Lê hào hứng vỗ tay, Bảo Du cũng vỗ theo, đôi mắt sáng rực, ánh nhìn ngưỡng mộ ấy khiến Tiết Duyên cảm thấy vô cùng mãn nguyện.

A Lê hỏi, “Bảo Du, cha kể hay không?”

Bảo Du nói, “Cha kể hay lắm!”

Tiết Duyên cúi xuống hôn lên má nàng, dịu giọng, “Bảo Du của cha cũng ngoan lắm.”

Ba người bên kia thân mật ríu rít, còn Lai Bảo ôm con thỏ ngồi một góc, trông tội nghiệp như đứa con bị nhặt về.

A Lê là người nhớ ra con trước, gọi tay ra hiệu, “Lại đây nào.”

Lai Bảo lề mề bò tới, ngập ngừng hỏi, “Cha ơi, Bàn Cổ… là từ đâu ra ạ?”

Câu hỏi đó có ý nghĩa đấy chứng tỏ thằng bé biết suy nghĩ, đáng khen.

Nhưng Tiết Duyên vẫn muốn tát cho một cái.

Lai Bảo nghĩ một lát lại hỏi tiếp, “Vậy tim gan phổi thận của Bàn Cổ thì biến thành cái gì ạ?”

Lai Bảo nghĩ một lúc, lại hỏi, “Ông ấy có nhiều răng thế, nhổ một cái ra làm thần phủ, vậy mấy cái còn lại cũng thành thần phủ hết hả? Nếu đúng thế, thì giờ những cây phủ đó chôn ở đâu? Ai mà tìm được, có phải cũng có thể hủy diệt thế giới không?”

“Còn nữa, lúc Bàn Cổ ngã xuống, ông ấy ở tư thế nào mà tứ chi lại hóa thành đông tây nam bắc? Dang tay dang chân ra như chữ ‘đại’ à? Vậy trông kỳ lắm.”

“Nếu sau khi Bàn Cổ hóa thành vạn vật thì mới có con người đầu tiên, vậy người đó làm sao biết chuyện Bàn Cổ khai thiên tích địa được? Ông ta đâu có thấy! Hay là người đó chính là Bàn Cổ chuyển sinh, mang ký ức kiếp trước? Vậy bây giờ ở Đại Chu này, có khi nào vẫn còn một Bàn Cổ đang sống giữa chúng ta, làm người bình thường mà mang trong mình ký ức mấy ngàn kiếp không?”

Lai Bảo càng nói càng hứng, “Cha ơi, chúng ta đi tìm Bàn Cổ đi!”

Tiết Duyên chịu hết nổi, gầm lên, “Tiết Văn, con cút ra ngoài cho ta ngay!!”

Lai Bảo ngơ ngác một lúc, hiểu ra rồi bực bội, kéo kéo vạt áo, hừ một tiếng, nhảy xuống giường. Trước khi đi còn hôn chụt lên má A Lê và Bảo Du mỗi người một cái, rồi lén trợn trắng mắt với cha.

Tiết Duyên chỉ tay ra cửa, “Ra ngoài!”

Lai Bảo đáp, “Ra thì ra, con đi tìm Hồ thúc phụ, hai chúng con cùng đi tìm Bàn Cổ!”

Tiết Duyên tức điên, ném gối về phía con, quát, “Thế thì con mang họ Hồ luôn đi cho rồi!”

Lai Bảo ôm gối chạy ra ngoài, vẫn không quên la lên, “Không đâu! Hồ Lai Bảo nghe dở ẹc, con không muốn!”

Đêm hôm đó, Tiết Duyên ngồi trầm ngâm suy nghĩ rốt cuộc mình đã làm thế nào mà sinh ra được thằng con trời đánh như thế này?
 
A Lê
Chương 116: Ngoại truyện 4


Năm sáu tuổi, Bảo Du lần đầu tiên thay răng.

Tiểu cô nương vốn xinh xắn đáng yêu, nay bỗng dưng mất một chiếc răng cửa ở hàm dưới, liền khóc ròng mấy ngày liền. A Lê và Tiết Duyên dỗ kiểu gì cũng không ăn thua, khiến cả nhà như phủ mây đen. Nhưng nữ nhi lại khác nam nhi, nam nhi không nghe lời còn có thể đánh cho một trận, chứ khuê nữ cục cưng thì Tiết Duyên nào nỡ chạm đến. Nghĩ đi nghĩ lại chẳng có cách nào, cuối cùng chàng quyết định đẩy chuyện rắc rối này sang cho Tiết Văn.

Khi ấy Tiết Văn mười hai tuổi, cao lớn giống hệt cha, lại luôn cố giữ vẻ mặt nghiêm nghị lạnh lùng, thoạt nhìn như thiếu niên mười bốn mười lăm tuổi.

Cậu cực kỳ ghét cái tên gọi thân mật “Lai Bảo”. Sau nhiều lần phản kháng kịch liệt, cuối cùng cậu cũng giành lại được tôn nghiêm của mình, không ai dám gọi như thế nữa. Tiết Duyên thì thấy hơi tiếc, cái tên đó tốt biết bao, vừa cát tường vừa dễ thương, sao nói không cho gọi là không cho gọi ngay được chứ…

Tối hôm đó ăn cơm xong, Tiết Văn bế Bảo Du ra ngồi dưới mái hiên “nói lý lẽ”. Tứ Hỷ ngồi bên cạnh gặm bắp ngô, nghiêng đầu nhìn hai người.

Tiết Văn nói, “Bảo Du, mấy hôm nay muội rất không ngoan đấy, muội biết không?”

Bảo Du cúi đầu gật nhẹ, giọng ỉu xìu, “Ca ca, muội không vui.”

Tiết Văn xoa đầu nàng, dịu dàng hỏi, “Sao lại không vui? Vì cái răng à?”

Bảo Du mím môi, ngón tay xoắn lấy tay áo, lí nhí nói, “Như vậy xấu lắm…”

Tiết Văn hỏi, “Ai nói thế? Mỗi đứa trẻ lớn lên đều sẽ thay răng mà, chẳng ai cười muội đâu.” Cậu còn chỉ ví dụ, “Nhìn Tứ Hỷ ca ca đi, hai năm trước nó cũng mất răng cửa, thổi nến còn chẳng tắt được, mà ngày nào chẳng cười toe toét. Muội phải học nó, phải vui vẻ, mạnh mẽ, đừng suốt ngày khóc nhè.”

Tứ Hỷ ngẩn người, “Huynh đang khen đệ đó hả?”

Bảo Du im lặng, hai bím tóc rũ xuống vai, cái mũi khẽ run run, trông đáng thương như một con mèo nhỏ.

Tiết Văn lại nói, “Bảo Du, muội phải nghe lời. Mới rụng có một cái răng mà đã khóc, sau này còn rụng nhiều hơn nữa đấy. Giờ muội không chịu ăn, chẳng lẽ sau này đói chết sao?”

Bảo Du vừa mới sụt sịt, nghe cậu nói thế liền bịt miệng lại, chuẩn bị òa khóc lớn.

Tứ Hỷ hoảng hốt, lập tức đẩy Tiết Văn ra, ôm vai cô bé dỗ dành, “Đừng nghe huynh ấy nói bậy, Bảo Du của chúng ta là đẹp nhất, kiểu gì cũng xinh.”

Tiết Văn cau mày, ánh mắt lập tức dừng lại ở bàn tay đang đặt trên eo muội muội, chẳng nghe lọt chữ nào, thấp giọng gằn, “Hồ Tứ Hỷ, đệ đang làm gì đấy?”

Tứ Hỷ bình thường rất nghe lời Tiết Văn, nhưng lần này lại không hề để ý. Cậu ném nửa trái bắp còn lại sang một bên, lau tay vào quần, rồi định lau nước mắt cho Bảo Du. Tiểu cô nương ngốc nghếch đứng im, chẳng né tránh. Lửa đang hừng hực đang thiêu đốt lòng Tiết Văn, cậu hít mạnh một hơi, tung chân đá thẳng vào Tứ Hỷ, hai người lăn lộn trên đất, quấn lấy nhau.

Tiết Văn túm cổ Tứ Hỷ mắng, “Đồ chó chết, ai cho ngươi chạm vào mặt muội muội ta hả?!”

Tứ Hỷ bị nghẹt thở đỏ cả mặt, vẫn không chịu yếu thế, phản bác, “Thế sao ngươi lại làm muội ấy khóc!”

Tiết Văn gào, “Ngươi nói bậy cái gì vậy!” Cậu hơn đối phương hai tuổi, dễ dàng đè bẹp Tứ Hỷ, thậm chí còn ngồi lên người cậu ta, trừng mắt quát, “Nam nữ thụ thụ bất thân ngươi không biết à! Sau này tránh xa muội muội của ta ra! Ngươi bụng dạ chẳng tốt, đồ lưu manh thối tha!”

Đây là lần đầu tiên Tứ Hỷ đánh nhau với Tiết Văn, lại còn vì tiểu cô nương cậu ấy thích nhất. Tứ Hỉ vừa sợ vừa kích động, cậu gân cổ la lên, “Vậy thì đánh đi!”

Tiết Văn nói, “Được thôi, nhưng nói trước, bị đau không được khóc, ai khóc người đó là đồ nhát gan!”

Tứ Hỷ nuốt nước bọt, nghẹn một lúc rồi nói, “Tiết Văn, ngươi th* t*c quá!”

Tiết Văn trừng mắt, “th* t*c cục cứt! Giờ muộn rồi, lát nữa cha ta về thì cả hai ta chết chắc! Sáng mai, rừng nhỏ đầu phía đông, giờ Thìn, ai không đến là con gà mái, vừa xấu vừa béo lại không đẻ được trứng, Tết sẽ bị làm thịt!”

“……” Tứ Hỷ bị thuyết gà mái của cậu làm cho cứng họng, cãi không lại, chỉ biết gào lên một tiếng, “Được!”

Tiết Văn hừ lạnh, phủi bụi đứng dậy, quay người nắm tay Bảo Du dắt vào nhà, rầm một tiếng đóng cửa lại.

A Lê trong nhà nghe thấy động tĩnh, nhìn nhi tử áo quần nhàu nhĩ, liền hỏi, “Vừa rồi ồn ào gì ngoài kia thế?”

Tiết Văn giữ vẻ lạnh lùng, “Chuyện nam nhi, mẫu thân đừng hỏi.”

A Lê quay sang hỏi Bảo Du, “Bảo Du, ca ca con làm gì ngoài đó thế?”

Tiết Văn thấy nguy, lập tức kéo tay áo muội muội ra hiệu đừng nói.

Bảo Du bị cảnh đánh nhau làm sợ, quên cả đau răng, nhìn mẫu thân rồi lại nhìn ca ca, không biết nghe ai.

Tiết Văn vội tìm cớ, “Bảo Du, đi tìm bà nội đi, bà bảo nhớ muội đó.”

Bảo Du “dạ” một tiếng, quay đầu lại ôm A Hoàng, chạy ra ngoài.

A Lê ngồi bên bàn vá áo, cười bất lực, “Thôi, con thích làm gì thì làm, nhưng nếu gây chuyện để cha con mắng thì mẫu thân không bênh đâu đấy.”

Tiết Văn chẳng để tâm, đây đâu phải gây chuyện, rõ ràng là bảo vệ gia đình, chống giặc ngoại xâm mà! Cậu bật dậy vươn vai vài cái, cười hí hửng, “Mẫu thân, để con pha trà cho mẫu thân nha.”

A Lê nhìn bóng lưng con trai, mỉm cười. Nàng biết cậu chắc chắn có “bí mật nhỏ” gì đó, nhưng đã không muốn nói thì nàng cũng chẳng hỏi thêm. Nhưng đến ngày hôm sau, khi Tứ Hỷ cõng một Tiết Văn khập khiễng, nước mắt lưng tròng trở về, nàng lập tức hối hận vì tối qua đã không gặng hỏi.

Hóa ra Tứ Hỷ thật sự đến rừng nhỏ ứng chiến, hơn nữa còn thắng.

Bởi ở giây phút quyết đấu cuối cùng khi bị Tiết Văn đè xuống đất, cậu vội vàng tung tuyệt chiêu, đầu sắt!

Tiết Văn nằm choáng váng dưới đất, ôm bụng mà nghĩ, “Học hành quả nhiên có ích, đến cả đầu cũng cứng hơn người.”

Ngã xuống đất, cậu trầy chân chảy máu, không gãy xương nhưng mất khá nhiều máu. Vì thấy quá mất mặt, cậu định đợi đến khi vết thương đóng vảy rồi mới giả vờ bình thường trở về. Nhưng Tứ Hỷ lo lắng quá, thấy cậu không chịu đi, bèn cắn răng cõng cậu về nhà.

Gió lạnh thổi phần phật, tóc Tiết Văn dính đầy đất, rối tung, thảm hại vô cùng.

Vừa vào cửa, đối diện ánh mắt kinh ngạc của bà Phùng thị và A Lê, cậu chỉ muốn chui xuống đất cho xong.

Sau khi mời thầy thuốc, băng bó xong, mọi chuyện ổn thỏa thì cũng gần trưa.

Tiết Văn nằm trên giường, đầu óc trống rỗng, trước mắt chỉ nhấp nháy hai chữ to — mất mặt!

Tứ Hỷ ngồi cạnh, mặt đầy áy náy, còn Bảo Du thì ngồi bên, mắt rưng rưng thương anh. Tiết Văn liếc qua thấy hai người, gân thái dương giật giật, đập tay lên giường gào, “Hồ Kỳ Trung, tránh xa muội muội ta ra!”

Tứ Hỷ khổ sở nói, “Ca, huynh đừng tức giận, đến giờ đệ vẫn không biết huynh giận cái gì.”

Tiết Văn như đấm vào bông, nghẹn cứng cổ họng, nhắm mắt im lặng hồi lâu rồi xua tay, “Ra ngoài đi, ta không muốn thấy mặt ngươi.”

Tứ Hỷ gật đầu, “Được rồi, huynh nghỉ ngơi nhé.” Nói xong, cậu nắm tay Bảo Du, cúi đầu cười dịu dàng, “Bảo Du ngoan, huynh dẫn muội đi ăn kẹo hồ lô nhé?”

Bảo Du ngẩng lên, cười tươi rói, “Vâng ạ.”

Tiết Văn gào khản cổ trên giường, “Không! Được! Đi!”

Tứ Hỷ bịt tai Bảo Du, giả vờ không nghe thấy, hí hửng dắt cô bé ra ngoài.

Từ nhỏ đến giờ, đây là lần đầu tiên Tứ Hỷ dám chống lại Tiết Văn, không những thắng, mà còn thấy ngọt ngào.

Tiết Văn nằm trên giường, gào lên, “Hồ Tứ Trung! Cả đời này ta sẽ không tha cho ngươi! Buông muội muội ta ra!”

Cứ thế nghẹn tức suốt cả ngày. Đến tối, Tiết Duyên về nghe chuyện, chẳng giận mà còn chế giễu nhi tử, “Bị một đứa nhỏ hơn hai tuổi như Tứ Hỉ, yếu hơn mà đánh ngã, thật là mất mặt, nhục chưa từng thấy!”

Tiết Văn chỉ nghĩ, mình đúng là vừa mất muội muội, lại què chân, Mệt đến khi về nhà!

Tiết Duyên vốn tưởng chỉ là trẻ con nghịch nhau, nào ngờ ngày hôm sau, thấy Tứ Hỷ tặng hoa dại cho Bảo Du, còn thơm nhẹ lên má tiểu cô nương, chàng mới ý thức được mức độ nghiêm trọng.

Nhi tử bị đánh, nữ nhi bị cướp, mà hôm qua chàng còn khen thủ phạm một trận… Đây là tạo nghiệt gì thế này!

Trẻ con chưa hiểu chuyện yêu đương, chỉ đơn giản là thích chơi với nhau thôi. Nhưng Tiết Duyên nhìn không thuận mắt, thấy Tứ Hỷ suốt ngày quấn lấy Bảo Du, nào hoa nào kẹo, liền tìm mọi cách ngăn cách hai đứa. Ban đầu chỉ là viện cớ không cho Bảo Du sang nhà bên kia, sau đó dứt khoát cấm cửa cả Hồ gia.

Cha của Tứ Hỷ, Hồ An Hòa, tỏ rõ bất mãn, nhưng Tiết Duyên giả vờ không nghe thấy.

Mãi đến nửa tháng sau, A Lê mới phát hiện những mưu hèn kế bẩn này của Tiết Duyên, vừa tức vừa buồn cười. Tối đó, nhân lúc hai đứa nhỏ sang ngủ bên Phùng thị, nàng nghiêm túc nói chuyện với Tiết Duyên.

A Lê hỏi, “Tiết Duyên này, chàng có thấy mình gần đây thật là trẻ con không?”

Tiết Duyên ôm gối ngồi co chân vào góc tường, mắt cụp xuống, im lặng.

A Lê nói tiếp, “Chàng là người có địa vị, giờ lại đi giận dỗi với một đứa trẻ con, không thấy mất mặt sao?”

Tiết Duyên phản bác, “Cái đó đâu phải con nít… nó là kẻ trộm!”

A Lê tức đến bật cười, mím môi nhìn chàng, “Chàng có thể nói chuyện cho có lý được không?”

Tiết Duyên đáp, “Đây không phải chuyện có lý hay không có lý…”

A Lê nói, “Chàng cưỡi ngựa tre lại, chạy quanh giường nghịch ném quả mơ xanh. Cùng sống ở làng Trường Can, hai trẻ nhỏ không hề có tị hiềm.[1] Nghe qua chưa?”

[1] Thuộc bài thơ Trường Hành Ca 1 của Lý Bạch.

Tiết Duyên khô khốc cãi lại, “Chuyện này cũng đâu liên quan gì tới có tị hiềm với không tị hiềm……”

A Lê véo má chàng một cái, nhỏ giọng nói, “Nhìn cái dáng chàng nhỏ mọn chưa kìa, bọn nhỏ còn bé tí, tám chữ còn chưa viết được nét nào, mà đã vội ghen. Sau này nếu Bảo Du lớn thật rồi, thật sự muốn lấy chồng, chẳng phải chàng cũng muốn theo con về làm của hồi môn luôn sao?”

Tiết Duyên nói, “Không được, trừ khi nàng cùng ta đi.”

A Lê bị chọc cười, hai người trêu ghẹo nhau một lúc. Trước khi ngủ, A Lê vẫn không quên dặn, “Tóm lại chàng không được làm vậy nữa, Tứ Hỷ sẽ không bắt nạt Bảo Du đâu. Với lại, Lai Bảo sẽ bảo vệ muội muội mà, chàng hơn ba mươi tuổi đầu rồi, đừng có xen vào mấy chuyện trẻ con nữa, được không?”

Phần đầu thì chàng vẫn nghe ngoan ngoãn, nhưng khi nghe tới câu “hơn ba mươi tuổi đầu rồi”, Tiết Duyên lập tức ngồi bật dậy, thẳng lưng, “Ý nàng là sao?”

A Lê đang quỳ trên giường gấp chăn, bị hỏi mà ngơ ngác, chớp mắt, “Là sao?”

Tiết Duyên nửa cười nửa nghiêm, hỏi với vẻ sâu xa, “Câu ‘được không’ của nàng là có ý gì?”

A Lê nói, “Chàng có thể đừng nhạy cảm như vậy không…”

Tiết Duyên liền kéo áo ra, khoe khoang mà vỗ vỗ lên bụng mình, chỗ cơ bắp đều tăm tắp. Chưa kịp để A Lê phản ứng, chàng đã nhào tới, đầu lưỡi lướt qua vành tai nàng, nheo mắt cười khẽ, “Đàn ông lớn tuổi nhạy cảm lắm, nàng biết rõ còn cố tình lại gần, chẳng phải tự chuốc lấy sao?”

… Đêm đó Tiết Duyên vô cùng thoả mãn, sáng sớm mở cửa ra, tinh thần phơi phới, cảm giác ngay cả gió thổi cũng trong lành hơn vài phần.

Còn về chuyện mập mờ giữa Tứ Hỷ và Bảo Du, dù đã chấp nhận rồi, nhưng trong lòng chàng vẫn cứ muốn “xả giận” cho bõ tức.

Chàng l**m môi, liếc sang tường bên cạnh, là sân của Hồ gia, rồi sải bước định qua đó. Chưa kịp ra khỏi cửa, liền đụng ngay Tứ Hỷ đang đi tới.

Tứ Hỷ ôm trong lòng một hũ mật ong, ban đầu hớn hở lắm, nhưng vừa thấy vẻ mặt nghiêm nghị của Tiết Duyên thì liền xoay người toan chạy.

Tiết Duyên quát, “Đứng lại đó! Đi đâu thế hả!”

Tứ Hỷ bĩu môi quay lại, ấp úng nói, “Con… con ra ngoài ăn chút gì thôi…”

Tiết Duyên hỏi, “Ăn gì?”

Tứ Hỷ lí nhí, “Con… con ăn gió Tây Bắc…”

Tiết Duyên không tiếp tục hỏi vặn, chỉ cười cười, “Tứ Hỷ, trong tay con có tiền không?”

Tứ Hỷ gật đầu, thật thà lấy túi tiền ra, “Thúc thúc, người cần bao nhiêu ạ?”

Tiết Duyên giật lấy ngay, “Tất cả.”

“…” Tứ Hỷ sắp khóc, “Thúc sao lại vậy, con còn cần dùng số này mà…”

Tiết Duyên hỏi, “Tiền quan trọng hơn hay Bảo Du quan trọng hơn?”

Tứ Hỷ lập tức đáp, “Bảo Du.”

Tiết Duyên gật gù, “Vậy đúng rồi. Trong lòng Bảo Du, ta là người quan trọng nhất. Mà ta lại quan trọng tiền hơn. Cho nên, túi tiền này… là của ta.”

Tứ Hỷ há miệng, còn chưa kịp hiểu nổi logic đó, Tiết Duyên đã thản nhiên quay lưng bước đi, mang theo cả túi tiền.

Đúng lúc này, Lai Bảo từ trong nhà chạy ra, hỏi khẽ, “Tứ Hỷ ơi, tiền mua xiên thịt cừu đâu rồi?”

Tứ Hỷ ủ rũ nói, “Đưa cho thúc rồi…”

Lai Bảo tức đến nỗi thở phì phì, mắng, “Sao lại đưa cho ông ta! Huynh mới là anh vợ tương lai của đệ mà! Trong lòng Bảo Du, huynh mới là quan trọng nhất! Nếu đệ thích Bảo Du, thì phải thích cả ta nữa, nên tiền này đáng ra phải cho huynh!”

Tứ Hỷ tủi thân, ngơ ngác nghĩ thầm, “Vậy rốt cuộc… tiền này nên cho ai mới đúng đây?”

Mãi đến mười năm sau, Tứ Hỷ đỗ Trạng Nguyên, quan cao quyền trọng, rước Bảo Du vào cửa trong cảnh huy hoàng rực rỡ, thì câu hỏi “tiền nên cho ai” ấy vẫn là một bí ẩn chưa có lời giải.
 
A Lê
Chương 117: Ngoại truyện 5


Đêm giao thừa năm ấy, mấy nhà thân thiết lại tụ họp cùng nhau đón năm mới.

Hồ Khôi Văn đã thăng chức, được điều về kinh thành, làm Hữu thông chính của Thông Chính Ty. Nhưng tuổi ông đã lớn, định vài năm nữa thì từ quan, cùng Vi chưởng quầy đi thu tiền thuê nhà sống an nhàn. Vi chưởng quầy vẫn giữ dáng vẻ phúc hậu như Phật Di Lặc, lúc nào cũng tươi cười, cái bụng lại càng to thêm. Mỗi ngày đều xách lồng chim dạo phố, ngắm hoa, sống thong thả vui vẻ.

Nữ nhi con rể đều không ở gần, người thân duy nhất nói chuyện được là thông gia thì cũng đi mất, nên Vi chưởng quầy bán luôn nhà đất ở Lũng huyện, dọn hẳn lên kinh thành mua đất.

Mắt nhìn đời của ông tinh tường, căn nhà mua chưa đến mấy năm đã tăng giá gấp đôi. Vi chưởng quỹ không buôn bán gì nữa, chỉ cho thuê nhà, đến cuối năm đi thu tiền, tuy chẳng giàu sang như trước nhưng sống dư dả thoải mái.

Sáng sớm ăn xong, Vi chưởng quỹ với Hồ Khôi Văn dắt nhau ra ngoài dạo chim. Trong sân chỉ còn bốn nam nhân hì hục giã bánh dày[1].

A Lê thì dẫn nhóm nữ quyến ngồi quanh bàn đá bên góc sân, vừa ăn bánh ngọt vừa chuyện trò, tiếng cười nói rộn ràng cả một góc nhà.

Bánh dày là món ăn đặc trưng của miền Nam, chỉ có vào dịp Tết. Lúc nhỏ, mỗi năm đến Tết, nhà A Lê và Nguyễn Ngôn Sơ đều tự tay giã. Bánh dẻo dính, có thể chế biến đủ kiểu, chiên, nấu, hấp, trộn đường hay ớt, kiểu nào ăn cũng ngon lạ.

Nhà thường ngày ăn sủi cảo mãi rồi, năm nay ai cũng thấy ngán, nên bàn nhau thử đổi vị, ăn một cái Tết kiểu Giang Nam xem sao.

Mấy hôm trước vừa có tuyết, mái hiên còn đọng những cột băng, góc tường chất mấy ông người tuyết tròn tròn ngốc nghếch. A Lê trải đệm bông lên ghế đá, giữa bàn đặt một lò than nhỏ, ai nấy đều mặc áo bông dày, vừa ăn vừa cười nói, chẳng thấy lạnh chút nào.

Nữ nhân tụ lại với nhau chung quy tán gẫu bát quái, tuổi nào cũng vậy, hễ bàn tới chuyện ai nhà ai là mắt sáng rực.

Vi Thúy Nương nói, “Các ngươi có nghe gì chưa, mấy hôm trước nhà Trịnh Thái phó xảy ra chuyện lớn đó. Cháu trai thứ hai của ông ta tính khí xấu, lại mê rượu, cãi nhau với thê tử, còn động thủ, đập phá tùm lum. Nữ nhân sao đấu nổi nam nhân, tức phụ nhà đó bị giật rụng mấy nhúm tóc, khóc sưng cả mắt, tức quá ôm hành lý về nhà mẹ đẻ rồi. Thật là, năm mới mà ra cái nông nỗi gì!”

Hồ phu nhân xen mồm vào, “Cháu dâu của Trịnh gia chính là cháu ngoại của Trương Thượng thư Bộ Binh đó. Thượng thư với cha ta xưa vốn là bạn cũ, hôm qua tới chúc Tết còn kể lại chuyện ấy, giận lắm. Hai phu thê mới cưới có hai ba năm, giờ ầm ĩ thế này thì biết kết cục sao đây.”

Phùng thị tiếp lời, “Có phải Trịnh Phụ Thanh, vị Trịnh Thái phó đó không? Hồi Tiết lão thái gia còn làm tể tướng, ta từng gặp ông ta, khi ấy ông ta mới chỉ là Ngự sử từ thất phẩm, vừa cưới vợ chưa lâu, mang thiếp tới cầu xin Tiết lão giúp đỡ. Lúc đó cũng vì chuyện trong nhà mà ầm ĩ, nghe nói sáng nọ vợ ông ngủ quên, không kịp lau giày cho chồng, ông ta phải mang giày bẩn vào triều, thấy mất mặt liền chửi mắng vợ tơi tả, khiến người ta bỏ về nhà mẹ đẻ… ồn ào mãi.”

Vi Thúy Nương thở dài, “Xem ra cái tính nóng nảy hay đánh vợ đó là di truyền rồi. Nữ nhi gia nhà người ta chọn chồng, nhất định phải mở to mắt mà nhìn cho kỹ.”

Mẫu thân của Nghê Thuận nãy giờ im lặng, nghe vậy cũng khẽ thở dài, “Đúng thế thật.”

Bên kia, tiếng giã nếp ‘bình bình boong boong’ hòa cùng tiếng cười của đám nữ nhân, rộn ràng như khúc nhạc Tết.

Hồ An Hòa xắn tay áo, tò mò nhìn qua, “Không biết họ đang nói gì thế?”

Tiết Duyên liếc sang chỗ A Lê, thấy nàng đang cười dịu dàng, vừa bóc hạt bí vừa đút cho Bảo Du, môi chàng cũng khẽ cong, “Mặc họ nói gì, miễn vui là được.”

Hồ An Hòa khẽ thở dài, “Ta chỉ sợ Thúy Nương nói xấu ta thôi.”

Nghe vậy, Nghê Thuận lập tức hứng thú hỏi, “Tiểu Hồ ca, huynh lại làm gì hả?”

Hồ An Hòa ủ rũ, “Tối qua ta muốn lấy cây bút sói nhỏ Hồ Châu mua cho Tứ Hỷ, lúc lục hộp phấn trang điểm của nàng thì lỡ làm vỡ hộp phấn son ra. Nghe nói là màu mới hiếm lắm, giờ chẳng còn bán, ta sợ quá giấu luôn, chưa dám nói.” Nói xong còn lẩm bẩm, “Nữ nhi phiền phức thật, phấn son thì có gì đâu, đỏ thì vẫn là đỏ, chứ sao lại chia thành đỏ nhạt, đỏ nước, đỏ sậm chứ…”

Nguyễn Ngôn Sơ khẽ cười, “Lúc dạy học trò vẽ, huynh cũng nói thế sao?”

Hồ An Hòa nghẹn, “…Cái tô trên mặt sao giống vẽ trên giấy được!”

Cả bọn cười ầm lên.

Trong khi đó, bên kia câu chuyện chuyển hướng, từ nhà Trịnh Thái phó đánh vợ, sang chuyện Nguyễn Ngôn Sơ và Nghê Thuận vẫn chưa thành thân.

Phùng thị than thở, “Hai đứa đều hai mươi lăm, hai mươi sáu rồi, người ta tuổi này con cái đã đi hỏi vợ rồi. Chúng lại chẳng có chút ý định nào cả. Đợi thêm vài năm nữa, dù chức to hay tiền nhiều thì có ích gì, lúc ấy còn ai chịu gả con gái tốt cho nữa.”

Mẫu thân của Tiểu Cà Lăm cũng nói, “Ta từng khuyên Thuận Tử rồi, nó chỉ bảo mình bận, sợ cưới vợ về không chăm nổi, làm khổ người ta.”

Vi Thúy Nương bĩu môi nhả vỏ hạt bí, “Chỉ toàn lấy cái cớ.”

A Lê cau mày dịu giọng, “Cứ thế này thì không ổn đâu, chi bằng chúng ta đừng phí tâm lo lắng, sang năm ta nhờ người quen giới thiệu vài cô nương tốt. Môn đăng hộ đối cũng chẳng sao, chỉ cần tính nết tốt là được, dù sao sống một mình cũng cô quạnh.”

Vi Thúy Nương xua tay, “Trước kia cũng mời mối rồi, mà xem họ làm được gì. A Ngôn còn đỡ, chỉ tránh mặt. Còn Nghê Thuận ấy, toàn giả điên giả khùng, dọa người ta chạy mất, tiếng tăm cũng chẳng còn, chẳng hiểu cố chấp cái gì.”

Câu chuyện râm ran, cãi cọ nửa buổi chẳng ra kết luận, rồi không hiểu sao lại vòng sang chuyện của Vi Thúy Nương.

A Lê ôm Bảo Du cười trêu, “Tỷ đừng nói người khác, nhìn lại mình đi, Tứ Hỷ một mình vậy không thấy cô đơn à? Sao không sinh thêm cho nó một muội muội?”

Hồ phu nhân và Phùng thị cùng phụ họa, khuyên rối rít. Vi Thúy Nương bị nói đến lùi hẳn ra sau, “Thôi thôi, giờ yên ổn thế này là tốt rồi. Sinh thêm đứa nữa, từ lúc bú đến lớn, chắc ta phát điên mất. Với lại Tứ Hỷ còn có Bảo Du, đâu cô đơn, nó vui lắm mà.”

A Lê nói, “Thế đâu có giống nhau.”

“Sao lại không giống.” Vi Thúy Nương chau mày, nàng ấy nhổ một hạt bí ra, lại nói, “Nhà muội chỉ có một khuê nữ, lỡ ta sinh thêm mà tìm không được dâu tốt, lại khổ như A Ngôn với Thuận Tử bây giờ thì sao.”

Phùng thị cười, “Thế ngươi sinh nữ nhi đi, để gả cho Tiết Văn nhà chúng ta làm vợ.”

Vi Thúy Nương xua tay, “Không được, đợi nữ nhi ta lớn thì con muội già mất rồi, ta đâu nỡ gả.”

A Lê nhìn ra cửa, thấy hai c** nh*, Tứ Hỷ và Tiết Văn, đang thi nhau ném đá chọc gà, cười mà không nói.

Hai đứa như tiểu tử choai choai, nghịch như quỷ mà đáng ghét muốn chết, sân cũng lớn mà bị hai cậu chèn ép được, gà vịt bay tán loạn, có con bị dọa lao thẳng vào đống tuyết, chổng mông ra ngoài, khiến cả hai cười ngặt nghẽo.

Tiết Duyên nhịn nãy giờ, cuối cùng không chịu nổi, ném cây chày xuống đất, chỉ vào Tiết Văn mà mắng cho một trận té tát. Hồ An Hòa đứng bên chống cằm nhìn, cười khoái chí.

Nghê Thuận thấy tội, khẽ can, “Ca, huynh đừng giận, trẻ con mà…”

Tiết Duyên quay sang trừng luôn hắn, mắng thêm một trận.

Nghê Thuận chỉ biết sờ mũi, cúi đầu tiếp tục giã nếp.

A Lê đứng nhìn mà cười nghiêng ngả, Vi Thúy Nương bảo, “Khỏi cần mua pháo, tối nay chỉ cần đốt Tiết Duyên nhà muội, đảm bảo ‘phụt’ một cái là bay thẳng lên trời.”

________

Đêm trừ tịch năm ấy thật náo nhiệt. Ăn xong cơm tất niên, mọi người quây quần nướng bánh chì-bá. Nào là nhân lạc, đường đỏ, mè, ngũ nhân, hoa quế, đậu đỏ, mùi thơm khác nhau, hòa quyện khắp sân.

Trên bếp đặt tấm lưới sắt, ai cũng cầm đũa gắp từng miếng đặt lên, mùi thơm quyện trong khói ấm, như thể thời gian cũng ngưng lại trong niềm chờ đợi.

Văn và Tứ Hỷ nghịch không yên, ở với A Lê một lát rồi năn nỉ đòi ra ngoài đốt pháo. Tiết Duyên lười quản, bảo Nghê Thuận dẫn đi, chỉ dặn, “Trông cho kỹ, đừng gây chuyện.”

Nghê Thuận cam đoan, “Huynh yên tâm!”

Ngoài trời rơi tuyết lất phất, hạt nhỏ li ti, không lạnh lắm. Nguyễn Ngôn Sơ quàng khăn choàng cho Bảo Du, bế ra ngoài xem. Tiết Văn và Tứ Hỷ mặc đại áo rồi chạy, A Lê phải bắt Tiết Duyên ra đuổi theo, ép từng đứa mặc thêm áo bông dày mới cho đi.

Pháo hoa, pháo nổ đều mua sẵn, đủ loại, nhiều chẳng kém cửa hàng.

Sân trong nhỏ, lại nuôi gà vịt, năm ngoái đốt pháo làm cả đàn hoảng, nửa tháng sau không đẻ trứng nổi, nên năm nay Phùng thị nhất quyết cấm đốt trong sân, bắt mang ra ngoài.

Tiết Văn chẳng bận tâm, cùng Nghê Thuận đốt pháo bùng bùng đầy vui vẻ.

Hai người chọn loại pháo to nhất, tiếng nổ vang rền, không màu mè hoa mỹ, chỉ “bùm” một tiếng sáng rực trời rồi tan, loại đó đốt chỉ để nghe cho đã.

Tiết Văn quỳ dưới đất, hai tay che gió giữ lửa, liên tiếp đốt bảy tám cái, khói thuốc nồng khắp nơi.

Tứ Hỷ thì chẳng thích ồn ào, chạy lấy pháo hoa que, cùng Bảo Du châm chơi. Loại này cầm tay được, cháy lâu mà an toàn, rất hợp cho tiểu cô nương. Tứ Hỷ mượn hương bên Tiết Văn, cùng Bảo Du nhảy nhót vui cười.

Nguyễn Ngôn Sơ khẽ chỉnh lại mũ cho Bảo Du, đứng bên nhìn, yên lặng. Tiết Văn và Nghê Thuận thì ồn ào, thi thoảng còn lỡ miệng chửi tục vài câu.

Nguyễn Ngôn Sơ liếc qua Nghê Thuận, giọng trầm, “Đừng mang mấy thói hư tật xấu ở quân doanh về nhà, hoặc là nói năng tử tế, hoặc im miệng.”

Nghê Thuận vội làm động tác “suỵt”, ngoan ngoãn đáp, “Rõ, Nguyễn đại nhân.”

Hai người quen nhau đã hơn mười năm, qua bao biến cố đổi thay. Nguyễn Ngôn Sơ vẫn nhớ dáng Nghê Thuận thuở nhỏ, gầy gò, thấp bé, nói năng lắp bắp, đôi mắt đen trong như nai con. Giờ đây, hắn đã thành vị phó tướng oai phong, dày dạn chiến công, dáng vẻ hiên ngang, chẳng còn chút rụt rè ngày xưa, duy chỉ đôi mắt ấy là vẫn như cũ.

Mười năm đủ để đổi thay mọi thứ, may là lòng người không đổi.

Nguyễn Ngôn Sơ thoát khỏi dòng suy nghĩ, chợt thấy ngẩn ngơ. Bên cạnh, Tứ Hỷ và Bảo Du đang cùng đắp người tuyết, cười nói dính lấy nhau.

Nghê Thuận vừa giúp Văn châm pháo, vừa len lén nhìn sang phía ấy.

Nguyễn Ngôn Sơ khẽ cười, “Đốt thêm hai cái nữa thôi, đừng nghịch quá.”

Tiết Văn vỗ ngực cam đoan, “Tiểu cữu, thúc cứ yên tâm!”

Một lát sau, Bảo Du mệt, kéo tay Nguyễn Ngôn Sơ đòi bế. Tứ Hỷ cũng theo, cả hai cùng về ăn bánh dày. Nguyễn Ngôn Sơ khẽ xoa đầu hai đứa, bế một, dắt một, chậm rãi trở về, chưa kịp xa thì nghe bùm một tiếng, kèm theo mùi khét lẹt.

Tiết Văn và Nghê Thuận đứng chết trân, đống củi gần đó bị nổ thủng một lỗ đen to tướng. Hai người nhìn nhau không nói nổi.

Một thoáng sau, cả hai cùng hét lên, hốt hoảng chạy đi múc nước. Nhưng muộn rồi, lửa bén theo gió, cháy bừng bừng.

Tiết Duyên trong nhà nghe động, mặt lạnh tanh chạy ra, thấy cảnh ấy thì giận sôi, chỉ tay mắng hai người, “Hai người các người cứ chờ đấy cho ta!”

Ngọn lửa theo gió bốc mạnh, mãi đến quá nửa đêm mới dập tắt được, đống củi cháy chỉ còn tro đen.

Tiết Duyên nổi giận, phạt Nghê Thuận và Văn mỗi người chép Luận ngữ hai mươi lần. Hai kẻ tội đồ viết gãy ba cây bút, suốt mồng một Tết chẳng được miếng cơm nào.

Nguyễn Ngôn Sơ ngồi cạnh giám sát, mặt lạnh như băng, không nể nang gì.

Nghê Thuận vừa viết vừa xoa cổ tay, lẩm bẩm, “Ta đây từng là thiếu niên anh tài, phó chỉ huy lẫy lừng, mà sao về nhà lại chẳng có tí địa vị nào… Cả đời chưa từng viết nhiều chữ như thế, còn mệt hơn đánh trận.”

Nguyễn Ngôn Sơ nhàn nhạt đáp hai chữ, “Đáng đời.”
 
A Lê
Chương 118: Ngoại truyện 6


Khi Tiết Văn đã trưởng thành, có thể tự gánh vác mọi việc, thì Tiết Duyên dắt A Lê rời kinh thành, xuôi Nam đến Dương Châu.

Có lẽ vì tuổi đã cao, chàng càng thích những ngày tháng thong thả nơi Giang Nam, khao khát một cuộc sống bình yên, chậm rãi như dòng nước. Dương Châu là quê hương của A Lê, giọng nói ở đó nhẹ mềm, con người dịu dàng, ngay cả gió cũng như ấm hơn, ngày nắng nhiều, rất hợp để sống những ngày trôi thật chậm.

Hồ An Hòa và Vi Thúy Nương cũng dọn theo sang, hai nhà vẫn ở sát cạnh nhau. Sống kề vai mấy chục năm, giờ nếu tách ra lại cảm thấy trống vắng. Hắn mua một căn nhỏ trong con hẻm vắng, mở tiệm sách nho nhỏ, chẳng rộng rãi gì, nhưng trang trí thanh nhã, lọ bình hay đồ gốm đều là vật quý, nhìn vào đã thấy tao nhã.

Chỉ là chỗ ấy quá khuất, mỗi ngày khách chẳng mấy ai, song Hồ An Hòa cũng chẳng bận tâm. Hắn đâu thiếu tiền, chỉ là tìm việc tiêu thời gian. Mỗi sáng sớm hắn dậy thật sớm, pha trà, đọc sách, vẽ tranh, dạy Vi Thúy Nương nhận mặt chữ, đời trôi chậm rãi mà an vui.

A Lê khi đó đã hơn ba mươi. Dù chăm sóc bản thân kỹ thế nào, khóe mắt cũng đã có nếp nhăn mảnh như tơ. Nhưng năm tháng và từng trải lại khiến vẻ đẹp của nàng thêm chiều sâu; không còn linh động hồn nhiên như thuở thiếu nữ, nhưng khí chất lại điềm đạm, tao nhã, chỉ một ánh mắt, một động tác cũng khiến người ta cảm thấy bình yên, dễ chịu.

Người xưa nói không sai, Chỉ có mùi hương tri thức mới giúp người ta bay xa nhất, đọc sách khiến con người tỏa sáng từ trong ra.

Trời tháng ba, mùa đẹp nhất trong năm. Khi giờ Mão còn chưa qua, trời đã muốn sáng bừng.

Sáng ấy Tiết Duyên dậy sớm, dắt con chó vàng già quanh nhà chạy một vòng mới quay về. Áo chàng dính mồ hôi, ướt đẫm phần ngực, chàng dùng chân khép cửa, tiện tay vắt áo lên ghế rồi đi thẳng vào bếp. Chó mệt, nằm bẹp dưới mái hiên thở hổn hển.

Trong bếp, A Lê đang kiên nhẫn hầm cháo đậu đỏ, hương thơm ngào ngạt khắp nhà. Con mèo mướp nằm ngoan dưới chân, cọ đầu vào chân nàng.

Con mèo và con chó ấy vốn là của chủ cũ ngôi nhà này. Khi Tiết Duyên mua, chủ nhà lúng túng định đuổi chúng đi, nhưng A Lê ngăn lại. Nàng tin vào duyên, cảm thấy chúng hiểu người nên để lại nuôi, vậy mà đã ba năm trôi qua.

Tiết Duyên cởi áo, để trần nửa người, tiến lại phía sau ôm lấy A Lê.

Trên người chàng còn hơi ẩm mồ hôi, mùi không dễ chịu lắm. A Lê nhún vai, ý bảo chàng buông ra.

Chàng giả vờ chẳng biết gì, còn lấy cằm cọ vào cổ nàng, khiến nàng bật cười khe khẽ.

A Lê vừa cười vừa xoa tóc ông, dịu giọng bảo, “Đi tắm đi, lát nữa còn ăn sáng.”

Tiết Duyên kh* c*n v*nh t** nàng, giọng lười biếng, “Ăn món gì?”

A Lê nói, “Ăn cải muối, được không?”

Tiết Duyên không hài lòng, cắn chặt răng một chút, “Không được, ta muốn ăn thịt.”

A Lê từ chối, “Chàng chưa nghe đại phu bảo gì rồi à, lớn tuổi rồi phải bớt dầu mỡ, sáng sớm ăn đồ béo không tốt đâu, chàng nghe lời đi.”

Tiết Duyên cau mày, “Sao nàng cứ nói ta già mãi vậy?”

A Lê cười, vừa lấy thìa đảo nồi cháo vừa đáp nhỏ, “Chẳng lẽ ta không nói thì chàng không lớn thêm tuổi sao?”

Chàng khó chịu, giật lấy muôi trong tay nàng rồi ném qua một bên. A Lê hốt hoảng quay lại, “Chàng làm gì thế…”

Chưa kịp nói xong, Tiết Duyên đã vòng tay bế bổng nàng lên, nhẹ hẫng như bế một cây bắp cải.

A Lê hoảng hốt ôm lấy cổ chàng, “Tiết Duyên, chàng làm gì vậy!”

Chàng cười hai tiếng, cúi đầu hôn lên xương quai xanh của nàng, nói đùa, “Chỉ muốn chứng minh, ta tuy có tuổi, nhưng sức vẫn còn nguyên. Việc gì cần làm thì sẽ làm được.”

Ngón tay A Lê chạm vào tấm lưng rắn chắc, cười vừa bất đắc dĩ vừa thương, “Đúng là trẻ con.”

Con mèo ngẩng đầu nhìn, Tiết Duyên liếc lại, nhướng mày, “Sao, ghen tị à?”

Mèo vẫy đuôi, “meo” một tiếng, rồi chạy ra sân nằm cạnh chó vàng, hai con dựa vào nhau phơi nắng.

A Lê lo nổi cháo khê, vội vã đập vai Tiết Duyên, “Thả ta xuống mau, cháo sắp khét rồi!”

Tiết Duyên không tình nguyện lại dùng cằm cọ vào nàng hai cái rồi mới chịu buông.

Bữa sáng là cháo đậu đỏ với cải muối, để chiều theo khẩu vị chàng, A Lê còn thêm chút thịt khô, mảnh nhỏ xíu, chẳng dài bằng ngón tay cái. Tiết Duyên chép miệng chê ít, song cuối cùng vẫn ngoan ngoãn ăn hết.

Ăn xong, hai người cho mèo chó ăn rồi khóa cửa ra ngoài.

Ngôi nhà ở gần ngoại ô, cây cối xanh rì, ít người qua lại, yên tĩnh lạ thường. Những năm bôn ba đã qua, giờ an nhàn rồi lại thấy tay chân thừa thãi; vì vậy Tiết Duyên dựng một cái quán nhỏ dưới tán cây ở cửa thành, bán trà, rượu ấm và vài món ăn nhẹ, giá rẻ, nhưng mở lúc nào là tùy hứng.

Trời lạnh không bán, trời nóng không bán, tâm trạng xấu không bán, tâm trạng quá tốt cũng không bán.

Không vì tiền, chỉ đơn thuần muốn trông thấy người, nghe chút chuyện xưa.

Khách hầu hết là người Bắc vào Nam, nhiều người từ kinh thành tới; nghe họ kể chuyện là dễ dàng có thể biết tin tức của Tiết Văn mình.

Ngày ấy trời đẹp, khách vào quán cũng nhiều, có hai người ghé sạp uống trà xanh.

A Lê vừa mới làm xong món rau trộn lá hương thung non, hào phóng biếu họ một đĩa, rồi cùng Tiết Duyên vừa bóc măng vừa nghe chuyện.

Buổi trưa trời nóng, hai người kia không vội mà đi, uống trà hóng mát, tán gẫu chút chuyện vặt.

Trong đó có một người cao cao than, “Thói đời bây giờ phân tầng dữ thật, giàu nghèo cách xa. Hôm nọ ta làm ăn ở kinh thành, lỗ đến suýt bán cả quần; mà bọn có tiền thì mở liền ba trường ngựa. Toàn ngựa tốt như thế mà dùng để đá cầu!”

Người thấp hơn cười, “Nhưng lúc ngươi chơi, chẳng phải cũng vui sao.”

Hắn lại nói, “Người ta có tiền, tự kiếm, muốn làm gì kệ họ, chúng ta quản được sao. Tiết Văn người ta tuổi còn trẻ đã là giàu nứt đổ vách, mười sáu mười bảy tuổi đã đi Ba Tư hai lần, nhìn lại ngươi đi, năm ngươi mười bảy tuổi làm gì. Cho nên để mà nói á, vận giàu sang đều là do trời cả, tránh cũng chẳng được.”

Người cao bĩu môi, “Thế còn gia thế nhà nó, phụ thân hắn, cữu cữu, tiểu thúc thúc đều là toàn quan lớn nức tiếng, thìa nó ngậm chắc không phải kim loại, mà là thìa vàng quá!”

Tiết Duyên nghe, sắc mặt sa sầm, đứng lên định đuổi người.

A Lê vội kéo tay, “Chàng làm gì thế?”

Tiết Duyên nói, “Thằng kia bị gì thế này, ăn lá hương nhung non của lão tử mà lại đi chê nhi tử của lão tử à!”

A Lê nói, “Cũng đâu phải lần đầu nghe đâu. Người ta nói xa nói gần bàn tán đứa con tiêu tiền như nước, còn bốc đồng thì chẳng có gì lạ cả, kệ họ đi.”

Tiết Duyên cau mày đập bàn, nghiêng đầu hỏi A Lê, “Nàng nói thằng nhỏ đó lại mở thêm mấy trường ngựa, đầu óc có vấn đề không vậy? Có tiền đi bịp thì cũng không nên bịp theo kiểu đấy!”

A Lê dịu giọng, “Tiền con kiếm, liên quan gì chàng? Chàng đừng bận tâm.”

“……” Tiết Duyên nói, “Thế sao nàng không khiến nó chịu cưới vợ đi trước, ngày nào cũng chỉ biết tiêu tiền tiêu tiền, chính sự thì không giải quyết. Lúc ta bằng tuổi nó là đã có vợ rồi, nàng nhìn lại nó đi, ngòai trừ cứ tiêu xài hoang phí thì còn ra thể thống gì nữa! Nó thì chỉ biết bay nhảy, suốt ngày nói muốn đi Ba Tư, đi thì mang về cho ta một cô nương Ba Tư luôn đi!”

A Lê lười nói chuyện với chàng, liếc chàng một cái, quay đầu không thèm nói nữa.

Bên kia hai vị khách vẫn tán gẫu giữa trời, giờ lại nói tới Tiết Duyên, đầu ngón tay Tiết Duyên run lên, vãnh tai lên nghe.

A Lê cười khẽ, khều vai chàng một cái, “Trẻ con.”

Chàng cầm tay nàng lại, vãnh lỗ tai lên bên kia đối thoại.

Người thấp nói, “Nghe đâu mấy năm trước, cha của Tiết Văn rời kinh thành, không biết đi đâu. Có người bảo cha con bất hòa, người khác lại nói bệ hạ nghi ngờ Tiết gia. Mặc kệ thế nào đi chăng nữa, Tiết gia mấy năm nay nổi bật quá mức rồi, cây to đón gió mà cứ giữ mình bo bo thế cũng là khôn ngoan rồi.”

Người cao gắp một miếng lá hương nhung non, “Ngươi lo cho họ làm gì, lo thân ngươi trước đi.”

Tiết Duyên giận run, đá ghế dưới chân, thì thầm với A Lê, “Bọn chúng lúc nào cũng nghĩ ta như thế đấy, rõ ràng do ta chọn thôi, nghĩ phức tạp thế làm gì chứ, hỏi ý kiến ta chưa mà bịa lắm thế!”

A Lê đưa chén trà cho chàng, cúi đầu than thở nói, “Biết vậy sáng không nên cho chàng ăn thịt, giờ hỏa khí bốc thế này.”

Người khách có vóc dáng thấp nọ cũng cười nói, “Thế còn ngươi, có chuyện gì xảy ra sao, sao chưa cưới vợ?”

Người cao khựng lại một chút, chiếc đũa dừng lại, rồi tự giải vây nói, “Ngươi không hiểu đâu, người có thật sự có tu dưỡng không muốn cưới vợ bé đâu. Cho nên, ta cũng đang chuẩn bị từng bước cho đúng chỗ, không nạp thiếp thất, chuyện này cũng không chọn qua loa được, sốt ruột không được đâu. Ngươi coi Tiết Duyên kìa, cũng đâu giống như thế đâu, cả đời chỉ có một người, một lòng một dạ, nghe thật đẹp biết bao.”

Người kia uống cạn chén đậu xanh, chậm rãi nói, “Người giàu yêu vợ nên không cưới thêm, còn kẻ nghèo như ngươi muốn gả rể cũng chẳng ai thèm, hai chuyện này khác nhau.”

Người cao hiểu ra mình đang bị châm chọc, tức đỏ mặt.

Còn Tiết Duyên thì cười hả hê. Cả đời chàng chẳng thiếu gì, nịnh hót nghe muốn kết kén lỗ tai rồi, chỉ riêng câu “một đời một người” là không bao giờ chán nghe.

Trước khi họ rời đi, chàng còn rộng rãi miễn tiền trà, biếu thêm bình canh ngân nhĩ lạnh.

A Lê giật bát măng lại, cười nhìn Tiết Duyên, liếc mắt một cái, thấp giọng nói, “Hỉ nộ vô thường, càng già càng giống con nít làm sao đây.”

Nàng còn chưa dứt lời, nụ cười trên mặt Tiết Duyên bỗng hạ xuống, phụng phịu về lại chỗ ngồi rồi nói với A Lê, “Tối nay về ta phải viết thư!”

A Lê thuận giọng, “Viết cho ai, viết gì?”

Tiết Duyên nói, “Viết cho Tiết Văn! Hỏi nó mở nhiều trường ngựa thế làm gì, phô trương lãng phí, xa hoa vô độ, quả thực vô pháp vô thiên, quên mất bậc cha ông đã gian khổ để đánh hạ giang sơn thế nào chứ sao?”

“……” A Lê chẳng bàn luận, “Tùy chàng thôi.”

Chiều hôm ấy, trời đang nắng bỗng đổ cơn mưa.

Nắng vẫn còn, mưa rơi mỏng như tơ, man mát trên mặt.

Tiết Duyên tiện tay dẹp sạp, kéo A Lê ra ngoài chơi.

A Lê chẳng hiểu logic của chàng, sao thời tiết không tốt thì không buôn bán, nhưng lại có thể đi chèo thuyền ngắm cảnh?

Tiết Duyên tạm thời quên mất chuyện còn tính viết thư phê bình chuyện của Tiết Văn, ngược lại đi thuê một chiếc thuyền nhỏ trên hồ Thọ Tây, chèo ra giữa hồ ngắm lá sen. Tháng ba, lá sen mới nhú, lá tàn năm trước còn sót lại, mưa rơi lên lá phát ra tiếng tí tách như khúc nhạc êm tai.

A Lê mặc váy vàng nhạt, rất hợp với sắc nước trời. Tiết Duyên mua cây ô giấy dầu ở trên đường, cùng nàng ngồi ở đầu thuyền nghịch nước.

Nước Tây hồ trong veo, mưa rơi lộp độp, có mấy chú cá nhỏ nhảy tung lên, có con còn chạm vào ngón tay nàng, mát lạnh, trơn trượt.

Mưa dần nặng hạt, Tiết Duyên sợ A Lê bị cảm lạnh, không chịu cho nàng ở bên ngoài nên kéo nàng vào khoang thuyền. Trên bàn nhỏ bày bánh ngọt mới mua, bình trà hoa nhài tỏa hương, trà, mưa, và mùi da thịt hòa lại, yên bình đến lạ.

No nê rồi, hai người nằm nghỉ, thuyền khẽ đu đưa.

Trên thuyền đang lắc lư, cực kỳ gây cảm giác buồn ngủ. A Lê vốn chẳng cảm thấy thế nhưng làm tổ trong lòng Tiết Duyên một lúc, mí mắt liền dính lại với nhau.

Tiết Duyên hiếm khi thấy cảnh đẹp, ôm vai nàng, nói khẽ, “Giá mà bây giờ là buổi tối thì tốt rồi, ra ngoài ngẩng đầu lên sẽ thấy đầy sao. Say rồi chẳng biết trời trong nước, thuyền trôi giấc mộng, sao sa khắp sông.”

A Lê ngái ngủ đáp, “Trời đang mưa, lấy đâu ra sao.”

Chàng ê một tiếng, nhéo nhẹ eo nàng, “Sao nàng chẳng có tí lãng mạn nào thế.”

A Lê bật cười không ngừng, “Có chứ, ta lãng mạn mà.”

Tiết Duyên hôn nhẹ lên mí mắt nàng, không thuận theo cũng không buông tha nói, “Thế nàng nói câu dễ nghe đi, xem có thể khiến ta vừa lòng không.”

Nàng nghĩ một lúc rồi khẽ nói, “Người người đều khen Giang Nam đẹp, khách chỉ nên ở Giang Nam mà già. Nước xuân biếc hơn trời, thuyền vẽ nghe mưa mà ngủ.”[1]

[1] “Người người đều khen Giang Nam đẹp, khách chỉ nên ở Giang Nam mà già. Nước xuân biếc hơn trời, thuyền vẽ nghe mưa mà ngủ.”: thuộc bài thơ Bồ Tát Man kỳ 3 của Vi Trang, Câu thơ kết hợp sự ngưỡng mộ và lòng yêu mến vẻ đẹp của Giang Nam với hình ảnh thiên nhiên yên bình và lãng mạn. Nó tạo ra một cảm giác thanh bình, tĩnh tại, lãng mạn và cổ kính, gợi lên nỗi nhớ nhung về một miền quê yên ả và đẹp đẽ.

Tiết Duyên mỉm cười, ngón tay khẽ vuốt tóc nàng, “Ngủ đi, tỉnh dậy rồi về.”

Lúc rời thuyền trời đã muộn, hai người ghé quán ven đường ăn mì hoành thánh, mua thêm ít cá khô mang về.

Từ xa đã nghe Vi Thúy Nương và Hồ An Hòa đang cãi nhau, hai người bọn họ ngươi một lời ta một chữ, bộ dạng vẫn như ngày trẻ.

Nguyên nhân to tiếng rất đơn giản, chỉ vì chuyện ăn bánh nhân hoa hồng hay nhân quế hoa.

Tiết Duyên kiên nhân khuyên cả nửa ngày, cuối cùng tức giận đuổi cả hai về.

Hồ An Hòa giận dỗi bỏ về, lát sau lại quay lại, đưa phong thư, nói thư của Tiết văn gửi tới.

Tiết Duyên giả bộ dửng dưng chỉ “ừ” một tiếng, nhưng A Lê thấy rõ bàn tay chàng siết chặt vì mừng, liền bật cười, thầm mắt chàng đúng là sĩ diện mà, còn rất dối lòng.

A Lê thắp nến sáng rực, chỉnh ngọn lửa, rồi sau đó cùng Tiết Duyên đọc thư. Tổng cộng chín trang, một chồng thật dày, hai người mở ra nhìn kỹ bên trong.

Ba trang đầu là thư của Tiết Văn vẽ vời chi chít; hai trang tiếp theo đầy màu hồng của Tứ Hỷ, bốn trang cuối mặt sau là chữ nhỏ trâm hoa của Bảo Du.

Tiết Duyên thở dài, “Khuê nữ nhi nuôi không uổng.”

Nói xong chàng lại bĩu môi, “Hai thằng nhóc kia lười thật, viết rất qua loa.”

A Lê nói, “Chàng không nên ép người ta nửa tháng một phong thư, nào có nhiều chuyện để kể đâu chứ, không qua loa sao được.”

Tiết Duyên biết mình vô lý nhưng vẫn cố cãi, lảm nhảm kể hết chuyện Tiết Văn và Tứ Hỉ gây rối từ nhỏ đến lớn. A Lê nghe mệt, bế mèo lên giường ngủ.

Tiết Duyên phía sau yếu ớt kêu nàng, “Lê nhỏ, nàng làm gì đấy?”

A Lê nói, “Ngủ.”

Tiết Duyên nói, “Lê nhỏ, giúp ta mài mực đi, ta muốn viết thư.”

A Lê nói, “Được.” Giọng nàng ba phần chiều, bảy phần bất đắc dĩ.

Nhưng khi bày giấy bút ra rồi, Tiết Duyên lại chậm chạp không chịu viết.

A Lê hỏi, “Sao chưa viết?”

Tiết Duyên nói, “Ta đang nghĩ lời.”

A Lê hỏi, “Nghĩ gì?”

Tiết Duyên nói, “Làm sao để thuyết phục Tiết Văn mau cưới vợ, cưới cô Ba Tư cũng được!”

________

Tác giả nói:

Tới đây, “A Lê” chính thức kết thúc rồi! Cảm ơn mọi người đã đồng hành cùng mình đến cuối cùng, thật may mắn khi được gặp các bạn
 
Back
Top Bottom