(Quyên-Kim Ngưu, Thư-Thiên Bình, Vy-Song Ngư)
Rừng Trường Sơn ngày nối ngày vẫn trải dài bất tận.
Nắng thì như lửa, mưa thì như trút nước.
Những dốc đá dựng đứng nối tiếp nhau, nhiều đoạn tưởng chừng chân không còn nhấc nổi.
Quyên đi trước, dáng người mảnh dẻ, vai gánh ba lô to gấp rưỡi Thư mà bước vẫn thoăn thoắt, còn Thư, mệt đến rã mồ hôi, chân thì rộp lên còn áo thì ướt đẫm.
Thỉnh thoảng, con bé ngoái lại, giọng Nghệ An ấm và vang:
– Nì đồng chí, đi chậm thôi, kẻo hụt hơi.
Trường Sơn không có chi vội cả, cứ đều chân là tới.
Thư mỉm cười, thở hổn hển:
– Tôi biết rồi, cảm ơn đồng chí.
Quyên bật cười, hàm răng trắng lóa giữa làn da ngăm:
– Tui quen núi rồi, ngày xưa còn đi giao liên.
Đường ni, với tui, như đường làng thôi.
Nghe giọng nói hồn nhiên mà rắn rỏi ấy, Thư thấy lòng dịu xuống.
Cô bỗng cảm nhận được sự an tâm kỳ lạ khi có Quyên bên cạnh, như một người em, một người bạn, một bóng cây che chở giữa dặm dài.
Đêm đó, đoàn dừng chân ở một lán rừng.
Trăng lên lấp ló qua tán cây, ánh sáng đổ thành vệt bạc trên mặt đất.
Thư trải tấm ni-lông làm chỗ nằm.
Bên cạnh, Quyên rút trong ba lô ra một chiếc kèn nhỏ, thổi khúc Làng tôi.
Giai điệu mộc mạc vang lên, dìu dặt, khiến cả lán im bặt.
Thư nằm nghe, mắt dần ngân ngấn.
Hình ảnh Hà Nội, Hồ Gươm, mái ngói phố cổ lại ùa về.
Và đâu đó, bóng dáng Thắng, ánh mắt nghiêm nghị, bàn tay chắc nịch hiện ra như thật.
Quyên thổi xong, quay sang cười:
– Thư nhớ nhà, nhớ người chi đó hỉ?
Thư đỏ mặt, lúng túng:
– Nhớ... má.
Với lại... nhớ Hà Nội.
Quyên không hỏi thêm, chỉ khẽ gật.
Giọng con bé trầm xuống, nặng mà ấm:
– Đi xa ai mà không nhớ.
Nhưng mình đi để có ngày mai, để con nít trong làng mình không còn nghe tiếng bom.
Nhớ thì nhớ, nhưng cũng phải ráng.
...
Sáng hôm sau, khi đoàn lại bước tiếp, trời bất ngờ đổ mưa.
Rừng Trường Sơn biến thành biển nước, đất đỏ nhão nhét, trơn như mỡ.
Người đi sau giẫm vào dấu chân người đi trước, vậy mà vẫn trượt ngã liên tục.
Thư ngã dúi xuống, bùn vấy đầy áo.
Quyên vội kéo dậy, con bé cau mày, làm ra vẻ bực bội.
– Đấy, Thư mà đi một mình thì chắc mất xác rồi!
Thư thấy thế thì cũng vôi vội đứng dậy, nhỏ tiếng xin lỗi Quyên, ấy vậy mà khi Thư vừa ngước mặt lên nhìn Quyên, con bé đã cười khằng khặc, nó vừa cười vừa dùng tay vuốt lên đôi má của Thư, đôi má lem luốc bụi bùn.
Thư nhìn mình lấm lem, bất giác cũng cười theo, cười trong mưa, trong bùn, nhưng lòng lại ấm áp lạ thường.
Đêm ấy rừng tối đặc.
Chỉ có tiếng mưa lộp bộp trên tán lá, tiếng côn trùng rả rích.
Đoàn vừa dừng lại chưa kịp trải tấm ni-lông thì tiếng kẻng báo động vang dội.
Máy bay Mỹ ập đến.
Tiếng động cơ gầm rú, rạch nát bầu trời.
Ánh sáng xanh lét từ pháo sáng quét xuống, như lưỡi dao lia qua từng thân cây.
– Bom tọa độ!
Chạy mau! – tiếng chỉ huy hô vang.
Cả đoàn ào xuống những hầm chữ A cắm sẵn ven đường.
Thư lao theo, tim đập dồn, chân lấm bùn trơn trượt.
Vừa chui được vào hầm, cô nghe "ầm...
ầm...
ầm" liên hồi, đất đá rơi rào rào.
Không khí nồng mùi khói thuốc súng, nghẹt thở.
Trong bóng tối, đồng đội nắm tay cô thật chặt.
Nhưng bên tai, Thư nghe tiếng kêu thét ngắn gọn, xé toạc màn đêm:
– Á... cứu tôi với!
Một bóng người vừa kịp lao vào hầm kế bên, thì quả bom trúng ngay miệng hầm.
Đất đá vùi kín.
Tiếng kêu lịm đi, chỉ còn tiếng nổ và mùi đất cháy khét lẹt.
Thư chết lặng.
Toàn thân run bắn, đôi tai ù đi.
Trong chốc lát, cô nhận ra: người vừa bị vùi lấp là một chị hộ lý, mới hai mươi tuổi, vẫn hay ngồi kể chuyện quê Thái Bình trong những tối nghỉ.
Con Quyên muốn vội lao ra, nhưng rồi bị các đồng đội kéo lại:
– Đi ra đấy bom nó nổ cho bỏ mẹ đấy!
Con bé cắn môi, tay run không kìm lại được, khoé mắt lại như đẫm nước.
Khi bom ngớt, cả đoàn bật đèn pin nhỏ, lao ra đào bới.
Tay cuốc, tay xẻng, tay trần, hốt hốt hải hải.
Đất đá ướt nhão, dính đầy mồ hôi và máu.
Thư cũng lao vào, bàn tay mềm yếu xước toạc, chảy máu.
Móng tay bật ra, đau buốt, nhưng cô không dừng.
Trong lòng cô vang dội một tiếng gào: Mình là quân y, mình phải cứu... phải cứu!
Nhưng khi lôi được thân người ra, thân thể đã mềm oặt, đôi mắt hờ hững không còn ánh sáng.
Bụi đất vẫn còn chơi đùa trên màu áo xanh biếc của rừng đã nhuộm màu đỏ tươi của máu, cô thanh niên im lìm, chỉ còn lại hơi thở thoi thóp, trong một phút lặng im sau tiếng bom, cô gái đưa tay lên kêu khẽ hai tiếng: Mạ ơi... rồi lặng đi trong tiếng máy bay kêu gào trên bầu trời Tổ Quốc.
– Ôi em ơi....Hương ơi!
Một nấm đất mới nhanh chóng đắp lên dưới gốc cây rừng.
Không bia, không cờ.
Chỉ có một mảnh vải trắng buộc trên cành cây làm dấu.
Thư đứng lặng, hai bàn tay run rẩy, đôi mắt rớm lệ.
Đây là lần đầu tiên trong đời, cô chứng kiến cái chết gần đến thế, không phải là dòng chữ trên báo, không phải là chuyện kể của người khác, mà là một con người bằng xương bằng thịt, còn nói cười hôm qua, giờ đã nằm yên dưới nấm đất lạnh.
...
Đêm ấy, cả đoàn lại lên đường, bước trong mùi bom khét lẹt, trong bóng tối đặc quánh.
Tiếng suối xa xa róc rách, tiếng gió hú qua rừng.
Trên vai họ, ba lô vẫn nặng trĩu, nhưng lòng người càng nặng hơn.
Gió rừng rít từng hồi, đất đá dưới chân nhão nhoẹt, trơn trượt.
Thư đi sau cùng, mắt vẫn đỏ hoe, bước chân lạc nhịp.
Cô cứ nấc lên trong tiếng khóc thút thít suốt cả quãng đường đi, tiếng khóc ấy dù nhỏ nhưng sao lại như vang vọng giữa những cánh rừng lặng im.
Anh Quang vẫn luôn dẫn trước, vai vuông vức trong bộ quân phục sờn cũ, bất chợt dừng lại.
Anh xoay người, ánh mắt nghiêm, nhìn thẳng vào Thư.
– Đồng chí Thư! – giọng anh vang gọn, sắc lạnh – Là quân y, đồng chí khóc thì ai gượng dậy cho đồng đội?
Thư khựng người, ngẩng lên, môi run run.
Các chị em đứng bên cạnh, định chen vào nhưng Quang giơ tay ngăn, vẫn nhìn Thư, giọng chậm rãi mà dứt khoát:
– Ở chiến trường, nước mắt không cứu được ai.
Người nằm xuống... chính là để ta đi tiếp.
Nếu đồng chí không đứng vững, còn bao người nữa sẽ ngã?
– Đồng chí có nhớ mình đã viết những gì trong đơn tình nguyện không?
Hãy nhớ về lý do mà đồng chí bắt đầu.
Những lời như từng nhát dao cứa vào lòng, nhưng đồng thời cũng như búa đóng cọc.
Thư cắn môi, nước mắt nghẹn ngào, cô đưa tay ôm lấy mặt.
Trong tiếng nấc, cô nhìn thẳng vào Quang rồi nói:
– Rõ ạ.
Quang không đáp, chỉ xoay người đi tiếp, bước chân chắc nịch, bóng dáng khuất dần trong hàng quân.
Đêm hôm đó, khi cả đoàn dựng lán nghỉ, Thư lặng lẽ ngồi ở góc, nhìn bàn tay mình rớm máu vì đào đất.
Lời anh Quang cứ vang vọng trong đầu: Nước mắt không cứu được ai.
Gió từ đại ngàn thổi qua, mang theo hương nhựa cây hăng hắc.
Thư hít sâu, bàn tay nắm chặt, thầm nhủ bản thân phải mạnh mẽ lên, phải kiên cường lên, vì Tổ Quốc vẫn đang đợi, ấy vậy mà đôi tay cô vẫn thôi không ngừng run rẩy, và hình ảnh thân xác nhuốm máu không nguyên vẹn của đồng đội lại hiện lên trước mắt, khiến cho đầu thư đau như búa nổ.
Ở góc lán, Quyên nằm nghiêng, khẽ liếc qua, thấy Thư vẫn thức, chỉ buông một câu nhỏ:
– Chị ngủ đi, có em ở ni rồi.
Chị không phải sợ đâu.
...
Ngày thứ ba, đoàn vẫn bước đều qua rừng núi.
Tiếng suối chảy róc rách hòa cùng tiếng ve, tiếng gió, nhưng trên từng khuôn mặt, bóng dáng nấm mộ đồng đội hôm trước vẫn như còn phảng phất.
Thư dẫu cho phờ phạc hẳn ra sau cái chết của chị hộ lý nhưng dường như cô lại bước đi nhanh hơn trước.
Cô không còn hay chậm chân rơi rớt lại sau.
Mỗi khi vai nặng, bước mỏi, cô lại siết quai ba lô chặt hơn, nhớ đến ánh mắt của anh Quang, nhớ đến lời anh nói với mình.
Một buổi chiều, đoàn đến bản nhỏ, được bà con nhường nhà sàn cho ở tạm.
Đang chia nhau nấu cơm, một cậu lính trẻ vội vàng chạy tới, bàn chân dẫm phải mảnh tre nhọn, máu tuôn xối xả.
Cậu kêu "ối giời ôi" vang cả góc bản, hình như cậu cũng là giao liên giống con Quyên, hôm nay không may lỡ té suối, dép cao su hỏng mất.
Mọi người nháo nhác.
Chưa kịp ai phản ứng, Thư đã xắn tay, kéo cậu ngồi xuống, móc gói bông băng cất trong túi ra.
Động tác còn vụng về, nhưng đôi mắt thì sáng, bàn tay run rẩy giờ lại kiên quyết.
– Ngồi im đi, tui băng liền cho.
Máu chảy nhiều quá, không cầm kịp là nguy.
Cậu lính cắn răng, mồ hôi túa ra.
Thư lau sạch, cẩn thận nhặt hết dằm tre ra, rồi băng chặt, cố gắng vận dụng những gì mà cô đã được học.
Khi công việc xong, cả lán rộn tiếng khen.
Anh Quang đứng ngoài cửa, im lặng nhìn.
Ánh mắt vẫn nghiêm nghị, nhưng sâu trong đó thoáng một tia hài lòng.
Anh không nói lời nào, chỉ gật khẽ rồi quay đi.
Tối hôm đó, Quyên ngồi cạnh Thư, khẽ thúc cùi chỏ:
– Rứa mới phải chớ.
Thư mà yếu đuối hoài, ai mà nhờ cậy.
Thư nhìn bàn tay dính máu đã khô, cô nhìn xa xăm nói:
– Ừm, Quyên nói đúng đó, chị không thể cứ vô dụng vậy hoài, chị sẽ không để ai chết như Hương nữa.
Quyên quay sang nhìn Thư, đôi mắt con bé đăm chiêu, như hiểu ra điều gì đó, nó lại gần, vùi đầu vào đùi Thư.
Thư thấy thế thì có hơi bất ngờ, nhưng rồi cũng dùng tay vuốt tóc con bé, Thư hát lên mấy tiếng hát ngọt liệm.
Giữa cái gió rừng, Quyên nói với Thư:
– Chuyện của Hương không phải lỗi của chị, chị đừng tự trách mình.
Thư nhắm mắt, vẫn hát cho Quyên nghe.
Mắt cay xè, lòng ấm áp.
...
Buổi sáng ngày thứ tư trên rừng Trường Sơn vén mây chậm rãi.
Cả rừng núi như choàng một tấm áo mỏng màu xám nhạt, lẫn lộn giữa hơi sương và khói đốt lán.
Những tiếng chim lạc vang rời rạc, xa xăm, như báo hiệu một ngày mới chẳng dễ dàng gì.
Thư vừa đặt chân đến một nơi đóng quân trên đường Trường Sơn.
Đường hành quân mấy ngày qua đã rút kiệt sức, nhưng khi nhìn thấy căn lán dựng giữa rừng, vài dãy hầm chữ A đào vội, những dây võng mắc chằng chịt dưới tán cây đại ngàn, trong lòng cô dâng lên cảm giác vừa lo lắng, vừa bồi hồi.
Anh Quang sau khi vào hầm chỉ huy đồn đóng quân một chút thì đi ra, tập hợp lại tiểu đội của Thư.
– Các đồng chí, hiện tại các đồng chí có lệnh đóng quân ở đơn vị này, đáng lẽ đội ta sẽ hành quân vào Nam nhưng vì đơn vị này đang thiếu người, tạm thời tôi sẽ chuyển giao tiểu đội cho đội quân y tại đây.
Nói rồi anh chào tạm biệt từng người rồi cho giải tán, đến chỗ của Thư đứng, anh nhìn Thư trìu mến, bắt lấy tay Thư.
Bàn tay anh cứng rắn, chai sạn, cái nắm ngắn ngủi nhưng đầy ắp.
Ánh mắt anh không mềm đi, nhưng giọng trầm xuống, như một sự thừa nhận lặng lẽ:
– Từ đây, đồng chí sẽ ở chiến trường thật sự.
Ráng mà vững.
Thư gật đầu, môi mím lại.
Không dám hứa hẹn gì nhiều, chỉ một câu nhỏ gọn:
– Tôi sẽ cố hết sức ạ.
Anh Quang không nói thêm, chỉ giơ tay chào.
Rồi anh quay bước, bóng dáng dần hòa vào đoàn quân khác đang đi tiếp.
Lúc đó, Thư cảm thấy khoảng trống lạnh ngắt phủ xuống, nhưng đồng thời, một luồng khí mới ùa vào, cô hiểu mình đã thật sự sang một chặng đường khác.
...
Chỉ huy mới tiếp nhận tiểu đội của đội quân y là một bác sĩ tên Đức.
Người không cao, mặt hơi bầu bĩnh, trán đã hằng sâu những nếp nhăn, dáng nhanh nhẹn, giọng Bắc đặc sệt.
Bác sĩ Đức giới thiệu ngắn gọn:
– Tôi là y sĩ chính của đơn vị này, tên Đức, ba mươi hai tuổi.
Từ nay, các đồng chí theo tôi.
Việc chi cũng phải nghe lệnh, rõ chưa?
Thư gật.
Nhìn Đức, đôi mắt nghiêm, sâu hun hút và mang nét gì đó khắc khổ, mắt anh còn thâm quầng đen kịt, giọng nói cũng khàn khàn lúc nào cũng nói chậm, như rất mệt vậy.
Ngay sau đó, bác sĩ Đức dẫn đội đi quanh đơn vị.
Đường rừng vặn vẹo, những căn hầm ngụy trang lá cây, mùi đất ẩm ngai ngái bốc lên khắp nơi.
Những tấm băng ca bằng tre dựng sẵn bên gốc cây, thuốc men cất trong những túp lán nhỏ, bọc kỹ bằng lá chuối khô.
Không khí vừa khẩn trương, vừa ngột ngạt, như tất cả đang căng mình đón chờ cơn bão lớn.
Trong lúc giới thiệu với các đồng đội khác, Bác sĩ Đức gọi một cô gái trẻ đang lúi húi rửa nồi ở suối lên:
– Này Vy, lại đây, gặp tiểu đội mới này.
Cô bé bước tới, dáng gầy gò, tóc bím dài thườn thượt, mặt rám nắng, hơi ửng hồng.
Đôi mắt tròn to nhưng hơi rụt rè, cứ nhìn xuống nhiều hơn nhìn lên.
Khi tới gần, giọng Thanh Hóa vang khẽ:
– Em là Diệu Vy, y tá ở đây.
Em quê Thanh Hoá, mới học năm nhất thôi.
Thư thoáng ngạc nhiên.
Năm nhất mà đã vào tận đây?
Cô nhìn đôi bàn tay nhỏ bé của Vy, còn lấm lem đất, rồi bắt gặp cái nhìn loáng thoáng sợ hãi nơi mắt cô bé.
Một thoáng thương cảm ập tới.
Bác sĩ Đức chỉ dặn dò cô đôi lời rồi đi mất.
Khi ông vừa đi cũng là lúc cô bé lên tiếng:
– Em sẽ hướng dẫn các đồng chí về nơi ở, chỗ sinh hoạt và nơi làm việc nhé.
....