Cập nhật mới

Khác [12cs] Mặt đất và bầu trời

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
401106861-256-k316614.jpg

[12Cs] Mặt Đất Và Bầu Trời
Tác giả: Yuu335
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Giữa những mùa gió đỏ lửa, có hai dòng sông cùng khởi nguồn từ một miền tuổi trẻ.

Một dòng chảy về phương Bắc, dọc dãy Trường Sơn hun hút, băng qua mưa bom và lửa đạn, mang theo tiếng lòng của đất đá và những bước chân thanh xuân rực lửa.

Một dòng lại xuôi về phương Nam, nơi cánh rừng khép kín và những con đường bí mật ngập trong mùi cỏ cháy, máu và hoa rừng.

Cả hai con sông ấy, tưởng chừng xa cách vạn dặm, lại cùng uống chung một nguồn: khát vọng về ngày mai sáng chói.

Trên vai họ, không chỉ có ba lô và vết thương, mà còn cả những giấc mơ lặng thầm của tuổi trẻ chưa kịp chín.



vietnam​
 
[12Cs] Mặt Đất Và Bầu Trời
Những lá đơn tình nguyện


Các nhân vật trên không có thật, được tạo ra do trí tưởng tượng và chỉ dựa trên lịch sử.

TẤT CẢ TÌNH TIẾT, NHÂN VẬT ĐỀU LÀ HƯ CẤU

.

.

.

Hồ Thanh Thư

(Thiên Bình)

"Tôi đã tốt nghiệp khoa Y, nay tự nguyện xin gia nhập quân đội.

Tôi xin được làm công tác quân y, đem kiến thức học được góp sức cứu chữa thương binh, tiếp sức cho đồng đội nơi tiền tuyến.

Dù gian khổ, hiểm nguy, tôi xin chấp nhận vì một ngày đất nước được thống nhất."

.

.

Trần Quyết Thắng

(Ma Kết)

"Tôi là Thắng, sinh viên khoa Lịch sử, Đại học Tổng hợp Hà Nội.

Đất nước đang trong cảnh khói lửa, là người con Việt Nam, tôi không thể ngồi yên sách vở.

Tôi tình nguyện lên đường nhập ngũ, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc đến hơi thở cuối cùng."

.

.

Phạm Văn Lực

(Bạch Dương)

"Tôi quê Quảng Nam, gia đình có truyền thống cách mạng.

Nay, có lệnh tổng động viên, tôi tình nguyện xin vào bộ đội, xin đi bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì mà đất nước cần.

Tôi thề không ngại hy sinh, miễn Tổ quốc được độc lập."

.

.

Vũ Thị Ngọc Quyên

(Kim Ngưu)

"Tôi là con gái Nghệ An, cha mẹ đều làm nông.

Tôi quen núi rừng, đường sá, xin tình nguyện làm thanh niên xung phong, góp một phần mọn cho Tổ Quốc, giao liên cho bộ đội.

Tôi thề không sợ gian khổ, không sợ hy sinh, quyết làm tròn nhiệm vụ!"

.

.

Trương Cẩm Liên

(Cự giải)

"Chồng tôi tên Hùng, tôi với anh mới cưới thì anh nhập ngũ.

Tôi chỉ mới gần hai lăm, làm hậu phương hỗ trợ anh, nuôi giấu bộ đội, chi viện lương thực."

.

.

Đặng Nhật Quang

(Song Tử)

"Tôi là sinh viên ngành Toán, cả nước có lệnh tổng động viên, lòng tôi khao khát được ra trận trực tiếp bảo vệ hình hài đất nước, vì đất nước, tôi thề sẽ hoàn thành nhiệm vụ bằng bất cứ giá nào."

.

.

Hà Thị Diệu Vy

(Song Ngư)

"Tôi là tân sinh viên của đại học Y khoa, nay có lệnh tổng động viên, thấy mình không thể ngồi yên được nữa, tôi viết đơn này muốn xin làm thanh niên xung phong, nguyện đi bất cứ chiến trường nào, cống hiến cho đất nước.

Tôi là phụ nữ nhưng không sợ gian khổ, chỉ mong góp một phần nhỏ bé cho kháng chiến."

.

.

Đoàn Kiên Trung

(Thiên Yết)

"Tôi trước là du kích, dân quân tự vệ cùng với ba má, nay viết đơn muốn xin chính thức gia nhập quân giải phóng.

Để đánh tan giặc Mỹ, thống nhất đất nước, tôi nguyện hy sinh, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao."

.

.

Bùi Hoàng Anh Hùng

(Bảo Bình)

"Tôi trước là kỹ sư nhà máy điện, nay có lệnh tổng động viên, tôi viết đơn xin tình nguyện ra trận bảo vệ Tổ Quốc, có chết cũng không tiếc."

.

.

Trịnh Thị Ánh Mai

(Nhân Mã)

"Tôi là con gái Hải Phòng, năm nay mười bảy, dù tuổi còn nhỏ nhưng tôi muốn ra trận giúp ích cho đồng bào cả nước.

Tôi viết đơn này xin tình nguyện gia nhập đội thanh niên xung phong, tôi không ngại gian khổ, chỉ cần vì đất nước, tôi xin nguyện hi sinh, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng."

.

.

Lê Thị Thục Uyên

(Xử Nữ)

"Tôi là con gái, nhưng thạo văn công, học hành giỏi giang.

Tôi viết đơn này xin được gia nhập bộ đội, dùng cái tài của mình để cống hiến cho đất nước, nguyện không sợ hy sinh, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao."

.

.

Đặng Văn Tùng

(Sư Tử)

"Tôi là sinh viên, sau khi nghe lệnh tổng động viên, tôi viết đơn này muốn xin đi bộ đội để bảo vệ đất nước.

Dù tuổi đời còn trẻ, nhưng tôi tự tin mình có thể làm tốt nhiệm vụ.

Nếu đơn này được chấp nhận, tôi xin thề quyết tử vì Tổ Quốc quyết sinh."

....

*lấy cảm hứng từ Việt Nam những năm 1968 đến 1975*
 
[12Cs] Mặt Đất Và Bầu Trời
Chương 1: Mùa thu ở Hà Nội


TẤT CẢ TÌNH TIẾT ĐỀU LÀ HƯ CẤU

.

.

.

(Nhân vật xuất hiện trong chương: Thư - Thiên Bình, Thắng - Ma Kết)

Hà nội một mùa Thu năm 196x

Hà Nội cuối thu, trời trong xanh mà se se lạnh.

Buổi sáng, sương còn quấn lấy những mái ngói rêu phong, mỏng như khói, phất phơ qua từng tán cây cổ thụ.

Hồ Gươm phẳng lặng, mặt nước như tấm gương khổng lồ, soi bóng tháp Rùa trầm mặc giữa lòng hồ.

Trên những con đường lát gạch quanh hồ, từng đoàn sinh viên đạp xe qua, tiếng chuông xe lanh canh hòa vào tiếng gánh hàng rong:

– Ai bánh khúc nóng đê... bánh khúc nóng đê...

Có một thiếu nữ trẻ bước chậm dọc vỉa hè, chiếc cặp sách ép ngang ngực.

Dáng người nhỏ nhắn, chẳng ốm yếu, nhưng gọn ghẽ, gương mặt trắng trẻo làm nổi bật đôi mắt to đen nhánh, sáng như hồ nước trong những ngày không gió.

Tóc cô dài ngang lưng, buộc gọn sau gáy bằng một sợi vải xanh nhạt, vài sợi tơ rơi lòa xòa trước trán, mỗi khi gió heo may ùa về lại khẽ rung như có tiếng thì thầm, hoà vào cái đẹp của những ngày cuối thu thành đô.

Chiếc áo dài vải mộc đã sờn ở tay, màu xanh lam phai dần qua những lần giặt, thả xuống đôi guốc gỗ kêu nhịp lóc cóc.

Con gái miền Nam ra Bắc từ thuở chín, mười tuổi, giọng nói của cô đến nay vẫn chưa lẫn đi đâu được.

Trong đám bạn miền Bắc, cô thường là người nổi bật chỉ vì giọng Sài Gòn trong trẻo, lạ tai.

– Ê Thư, đi đâu mà vội thế!

Một cô bạn sinh viên cất tiếng gọi vơi với, "Thư" (Thiên Bình) cái tên thân thuộc đã đi theo cô từ thưở chào đời.

Thư ngoái lại, cười tươi:

– không nhanh đâu, mình đi bình thường đó chớ.

Cô sinh viên vơi với ban nãy tay dùng áo vuốt mồ hôi, lấm tấm theo bước chân của Thư.

– Thế cậu đi đâu, chả báo trước cho chị em trong ký túc.

Hẹn hò à?

Anh nào?

Thư cười khì:

– Yêu với đương cái gì, mình đi coi mít-tinh.

– Ờ nhờ, xém thì quên mất, cái Cúc với cái Hoa đi chưa?

– Đi hết rồi, có mỗi cậu, tương tư anh nào nên quên mất luôn chuyện quan trọng như vậy!

Sáng nay, trường đại học tổ chức cho sinh viên năm hai đi dự mít-tinh ở Bờ Hồ.

Tin tức từ miền Nam gửi ra dồn dập: lính Mỹ đã đặt chân đến Đà Nẵng, chiến sự căng thẳng từng ngày, biệt động Sài Gòn mở nhiều chiến dịch, quân giải phóng vẫn đang không ngừng chiến đấu.

Hà Nội vẫn yên bình, vẫn tiếng ve mùa hè, tiếng trống trường mùa thu, nhưng trong từng con người, trong từng nhịp thở, đã có một mạch ngầm không yên.

Người ta nói về chiến tranh bằng giọng nhỏ lại, nhưng ánh mắt thì sáng rực lên.

Đoàn sinh viên kéo về phía quảng trường.

Cờ đỏ sao vàng rợp trời, băng-rôn giăng ngang con phố nhỏ.

Nắng cuối thu trải xiên qua hàng cây, rắc vàng lên tóc, lên vai từng người.

Thư đi giữa đám đông, dáng nhỏ nhắn như lạc giữa biển áo trắng, vậy mà ánh mắt vẫn lấp lánh, rạng rỡ.

Theo sau là cái Lan, đứa bạn cùng khoa với Thư.

Trong lòng cô, nỗi nhớ vẫn thường trực.

Nhớ Sài Gòn tuổi thơ, hẻm nhỏ đầy nắng, nhớ tiếng guốc mẹ gõ lóc cóc ngoài ngõ, nhớ vị mía ghim ngọt lịm mỗi chiều tan học.

Những âm thanh, hình ảnh ấy bây giờ như một vệt khói mỏng, ùa về trong tâm trí.

Giữa quảng trường, loa phóng thanh bật giọng một sinh viên đang đọc kiến nghị phản đối Mỹ:

– Tuổi trẻ chúng ta quyết không lùi bước.

Dẫu phía trước là bom đạn, là hy sinh, chúng ta cũng nguyện đứng lên bảo vệ Tổ quốc...

Giọng trầm và dõng dạc, không cần gân cổ mà vẫn vang xa, khiến cả đám đông như nín lại nghe.

Thư khẽ ngẩng lên.

Trên bục gỗ dựng tạm, cô thoáng thấy dáng người con trai cao gầy, vai rộng, gương mặt nghiêm nghị, đôi mắt sáng như đang quét qua từng gương mặt dưới sân.

Ánh nắng xiên xuống, hắt lên nét rắn rỏi trên gò má anh.

Anh vừa ngưng nói thì cả đám đông đã hò reo ầm ĩ, nhưng khẩu hiệu "vì Tổ Quốc quyết sinh", "đả đảo đế quốc Mỹ" vang lên không ngớt bên tai khiến cho trái tim Thư như rộn ràng hơn.

Cô vỗ tay không ngớt, cái Lan cũng hào hứng, nó thì thầm bên tai Thư.

– Mả cha cái thằng Mỹ, thù thật đấy.

Lan nói, vỗ tay cuồng nhiệt, đoạn lại ngưng, nửa đùa nửa thật.

– Ấy chứ tớ cũng muốn đi đánh chết bố bọn nó, cơ mà...cũng sợ, bom đạn kinh lắm!

Chắc vào bộ đội được vài hôm là tè ra quần!

Nói rồi nó cười khà khà, nhe cả cái hàm răng hô ra.

Thư thấy thế cũng chỉ biết cười.

Mà bỗng nhiên lòng cô thấy thật bối rối.

Đi bộ đội, sao mà nghe nó... vừa xa vừa gần.

Xa, vì chưa đứa nào trong bọn thực sự hình dung được bom rơi đạn nổ là thế nào.

Gần, vì ngày nào cũng thấy tên những người đi trước vang lên trong những buổi chia tay, rồi biến mất dần trên những lá thư thưa thớt gửi về.

Thư chợt thấy ngực mình nặng trĩu.

Cô chưa từng nói ra, nhưng mỗi lần nghĩ đến chuyện rời khỏi Hà Nội, rời khỏi những buổi chiều ngồi trên bờ đê ngóng gió, những trang sách vở thân thương dưới cây phượng sân trường, Thư thấy trong lòng dấy lên một nỗi sợ mơ hồ.

Sợ không còn được trở về.

Sợ những điều dang dở còn chưa kịp làm, những lời chưa kịp nói.

Nhưng Thư cũng sợ nếu cô cứ sống mà chưa làm được điều chi cho Đất nước.

Ở bên ngoài thành phố Hà Nội thơ mộng này, biết bao nơi của tổ quốc ruột thịt đang bốc cháy trong khói lửa triền miên, biết bao máu xương của đồng bào đã đổ xuống dưới làn bom đạn của quân thù, vậy mà Thư, một người của thế hệ trẻ, thế hệ đang luôn không ngừng cố gắng từng ngày trong công cuộc xây dựng, bảo vệ quê hương.

Thư đáng lẽ phải đứng lên, phải đấu tranh!

Nhưng Thư lại chỉ ngồi đây sống ngày qua ngày êm vui đằm thắm dưới sự bảo vệ của đô thành...

Liệu mình sẽ sống như thế này mãi ư?

Liệu mình có thể đứng lên làm được gì đó cho đất nước?

Nhưng khói lửa bom đạn quá đáng sợ, mình sợ...cái niềm riêng của mình, nếu cho đi, liệu có thể giúp ích được gì cho đất nước không...?

Có hay...

– Nỗi sợ nào rồi cũng qua đi, chỉ có sự thờ ơ mới ở lại mãi.

Mỗi hy sinh, dù nhỏ bé đến đâu, cũng góp thêm sức mạnh cho đất nước.

Nếu không bước lên, làm sao biết trái tim mình có thể lớn lao đến nhường nào?

Như có một thứ gì đó chợt nổ tung, và mắt Thư sáng lên dưới cái nắng tà của Hà Nội, chất giọng ấy một lần nữa vang lên bên tai và những tiếng hò reo lại vang vọng khắp cả một quảng trường rộng lớn.

Nhưng dường như giờ đây trong đôi mắt thơ ngây của Thư chỉ còn hình ảnh của một đôi mắt khác, một đôi mắt của khát khao, của lý tưởng, đôi mắt ấy như rực cháy một điều gì đó thực mãnh liệt, một điều gì đó khiến trái tim Thư bồi hồi nao nức không thôi.

Đó phải chăng là "trái tim lớn lao"...một trái tim ánh lên lửa như đang đúc, đang tôi lên từng thanh thép non nớt của tuổi trẻ.

Con Lan lại ghé tai Thư, cắt đứt mạch suy nghĩ trong cô.

– Ấy, Trần Quyết Thắng (Ma Kết) khoa Sử đấy.

Khả năng tuyên truyền khiếp thật!

Nói một hồi mà tớ còn muốn ra trận luôn đây nè!

Thư nghe, mỉm cười khe khẽ.

Cái tên ấy... không hiểu sao nghe thân quen lạ, và ánh mắt ấy cũng thân quen làm sao.

Nhưng cô chẳng nói gì, chỉ cúi đầu bước tiếp.

Chỉ là trong lòng có chút gì đó mến mộ pha lẫn tò mò về đôi mắt sáng rực lửa ấy, trong đôi mắt ấy chứa những gì?

Trong trái tim ấy là những lý tưởng gì?

Liệu đó có phải là thứ mà Thư có thể hiểu được không...?

....

Trong ký túc xá tối hôm nay thật nhộn nhịp, ánh đèn dầu và bóng đèn dây tóc vàng vọt sáng lên như những đốm sao nhân tạo.

Dãy hành lang dài hẹp, tường loang lổ, những ô cửa sổ mở ra gió đêm lùa vào mang theo mùi hoa sữa ngai ngái, pha lẫn cả mùi khói than từ bếp tập thể.

Cả một thế hệ sinh viên đang sống chen chúc ở đây, con trai, con gái, từ khắp mọi miền đất nước.

Người Nghệ Tĩnh, người Nam Định, Thái Bình, người Thanh Hóa, người Hải Phòng... và cả những đứa như Thư, từ tận phương Nam tập kết ra.

Tất cả gom lại, chung mái ngói, chung giường tầng cọt kẹt, chung bữa cơm độn bo bo với rau muống luộc, vậy mà tiếng cười vẫn vang cả dãy.

Ban ngày, họ áo trắng tới trường, mang theo sách vở, dáng đi hối hả nhưng ánh mắt thì sáng lạ lùng.

Ban đêm, cả ký túc xá lại rộn ràng sinh hoạt.

Có đứa lôi đàn măng-đô-lin ra gảy, có đứa đập nhịp hát những bài ca cách mạng: "Tiến về Sài Gòn ta quét sạch giặc thù..." – giọng vừa khỏe khoắn, vừa tha thiết, như tràn ra ngoài khung cửa, hòa với tiếng xào xạc của hàng cây.

Thư nghe mãi mà vẫn thích lắm, mà hôm nay nghe, Thư lại chợt nhớ về ánh mắt của anh Thắng, khoa sử.

Thư ngồi nép ở một góc, vừa nghe bạn bè hát vừa cặm cụi may vá.

Đôi bàn tay nhỏ nhắn thoăn thoắt, kim chỉ đưa qua đưa lại, lúc ngẩng lên lại mỉm cười, nụ cười trong veo, như không vướng chút bụi trần.

Mỗi khi đến đoạn cao trào, cô lại khẽ hát theo, giọng Sài Gòn trộn vào những giọng Nghệ, giọng Bắc, giọng Thanh.

Cả dãy nhà thành một hợp xướng kỳ lạ, đủ mọi miền, nhưng chung một điệp khúc.

Các chàng sinh viên khoa Văn, khoa Sử, khoa Toán... mỗi lần sang giao lưu đều mang theo dáng vẻ khác nhau.

Có anh cao gầy, cặp kính trắng, giọng trầm trầm đọc thơ.

Có anh vạm vỡ, vai rộng, nói cười sang sảng.

Bọn con gái cứ rì rầm: "Đấy, anh Hòa khoa Toán, đẹp trai phết!" – hoặc "Thằng Dũng khoa Văn, đọc thơ là thôi, tim cứ rung hết cả."

Tiếng cười lan ra, đỏ bừng cả má ai.

Thư thì ít khi để tâm đến những lời trêu chọc.

Cô vốn chan hòa, ai cũng quý, nhưng trong ánh mắt lúc nào cũng như tìm kiếm điều gì xa xôi hơn.

Có lần, một cậu bạn khoa Y gợi ý:

– Thư nè, bữa mô rảnh, mình rủ nhau ra bãi giữa sông Hồng chơi nghen?

Nghe bảo ngoài đó mát lắm.

Thư chỉ cười, lắc đầu:

– Ừ, để bữa khác.

Giờ tui lo học trước cái đã.

Nói vậy, nhưng thực ra, trong lòng cô đâu chỉ nghĩ đến chuyện học.

Mỗi tin tức từ miền Nam đưa ra, trái tim cô lại rộn lên.

Dẫu ngồi giữa Hà Nội thanh bình, cô vẫn luôn nghe như có tiếng gọi từ quê hương vọng về, tiếng gọi thôi thúc, thiết tha, không thể dửng dưng.

Nhưng dường như một điều gì đó trong tim Thư vẫn như níu bước chân cô, làm cho đôi mắt Thư lúc nào cũng ánh lên một chút phiền não.

Hôm nay, cả ký túc xá mất điện.

Xui gì mà xui dữ!

Trời tối mịt, chỉ còn ánh trăng non vắt ngang bầu trời.

Sinh viên nam nữ kéo nhau ra sân, ngồi thành từng nhóm.

Anh Thắng khoa Sử lại xuất hiện, dưới sự động viên của bạn bè, anh ngài ngại đứng lên giữa vòng tròn, giọng vang vang kể chuyện về Hai Bà Trưng, về trận Ngọc Hồi – Đống Đa, về những trang sử oanh liệt.

Tiếng anh trầm mà rắn, khiến cả đám ngồi dưới im phăng phắc.

Thư nghe lại cảm thán cha ông mình, người xưa tài thật!

Thư ngồi lặng, ngước nhìn khuôn mặt ấy trong ánh trăng.

Đôi mắt người kể chuyện sáng rực, giọng dứt khoát, như có lửa cháy trong từng chữ.

Thư ngẩn ngơ đôi chút, thầm ước ao về đôi mắt ấy, cô thầm nghĩ phải chi mà mình có được đôi mắt đó...không phải là kiểu tình yêu!

Mà là kiểu nghĩa đen thật sự ấy!

Cái Lan nó lại để ý đến ánh mắt như mê đắm của Thư dành cho Thắng, nó khều khều Thư, hỏi ghẹo:

– Ấy, cái Thư nhà ta biết yêu rồi à?

Thư giật mình như vừa tỉnh giấc, nghe con Lan nói mà đỏ hết cả mặt.

Cô cuống cuồng lên:

– Yêu cái gì mà yêu!

Mình chỉ nhìn có chút thôi, tại...Thắng...

– Ấy, bà đây còn chưa nhắc tên người ta, mà cậu đã cuống quýt lên như thế!

Ôi dào!

Thích rồi!

– Thật à?

Sao chẳng bảo gì cho bọn tớ nghe hết vậy?

Cái Cúc nó hóng chuyện xen vào, thế là thêm bốn năm đứa con gái lao vào trêu Thư, cô ngượng đến nổi mặt đỏ tía lên như trái cà chua, ai hỏi gì cũng chẳng buồn giải thích nữa.

Cuối cùng cô cũng chỉ bảo đúng một câu.

– Mình chỉ tò mò về đôi mắt của anh ấy thôi, nó sáng như sao vậy, như sao trên lá cờ tổ quốc ta...

Đêm muộn, khi bạn bè đã ngủ, Thư còn ngồi bên cửa sổ.

Ngoài kia, phố phường chìm trong tĩnh lặng.

Chỉ còn tiếng tàu điện leng keng xa dần về phía bến.

Ánh trăng rơi xuống hàng cây, trải bạc trên mái nhà ngói thẫm.

Cô mở vở, viết những dòng ngắn ngủi:

"Ngày... tháng... năm...

Hôm nay đi mít-tinh.

Người phát biểu ở quảng trường nói mạnh mẽ quá, lòng mình cứ rạo rực.

Họ bảo tên anh là Thắng, khoa Sử.

Mình không biết vì sao, chỉ nhớ cái giọng ấy, ánh mắt ấy.

Hà Nội yên bình, nhưng chắc chẳng được lâu nữa.

Có lẽ, một ngày gần, mình cũng sẽ phải đi xa, nhưng mình còn nhiều vướng bận quá, chẳng biết phải làm sao, thật hèn hạ..."
 
[12Cs] Mặt Đất Và Bầu Trời
Chương 2: Những rung cảm đầu đời


(Thư - Thiên Bình, Thắng - Ma Kết)

Sân vận động Hàng Đẫy, một buổi chiều cuối thu.

Trời hanh khô, mây trắng lững thững, gió mát thổi qua, làm cờ đỏ sao vàng treo dọc khán đài phấp phới.

Hàng nghìn sinh viên các trường đại học kéo về đây tham gia ngày hội thể thao, vừa để rèn luyện, vừa để biểu dương sức trẻ.

Thư cùng nhóm bạn khoa Y chen vào hàng ghế.

Tiếng cười, tiếng gọi nhau í ới, tiếng giày vải lẹp kẹp trên đường chạy, tiếng còi tu huýt... tất cả hòa lại thành một bản nhạc sống động.

Trên sân, từng tốp sinh viên đang thi đấu bóng chuyền, bóng rổ, điền kinh.

Mặt trời ngả dần, ánh sáng vàng rót xuống những dáng hình thanh xuân đang chạy, đang nhảy, đang hò reo cổ vũ.

Thư vừa cổ vũ vừa xuýt xoa:

– Trời ơi, mấy anh chạy nhanh dữ chưa!

Một cô bạn Thanh Hóa ngồi bên cười hích:

– Mi coi kìa, cái anh cao gầy đang chạy kia là Thắng mi thích kìa.

Hắn chạy khỏe lắm, lại biết võ nữa.

– Thích cái gì?

Không có thích!

Thư ngẩng mắt nhìn.

Giữa đường chạy bụi tung mờ, một dáng người cao, vai rộng, đôi chân dài sải đều, bước chạy chắc nịch.

Gương mặt nghiêm mà sáng, mồ hôi chảy trên gò má nhưng ánh mắt thì thẳng tắp phía trước.

Tiếng hò reo dậy cả khán đài, Thư khẽ mím môi cười, trong lòng dấy lên một cảm giác khó gọi tên.

Bạn bên cạnh lại thì thầm:

– Nghe đâu anh ni còn đứng lớp dạy võ cho sinh viên tự vệ trong ký túc.

Mấy đứa con trai mê lắm, theo học đông nghịt.

Thư không đáp, chỉ gật nhẹ.

Trong ánh chiều, mắt cô long lanh, như giữ lại hình ảnh ấy vào sâu trong trí nhớ.

Lại thêm những điều mới về "đôi mắt" cái tên mà tự lúc nào Thư đã đặt cho Thắng.

Tối hôm đó, tại sân ký túc xá, đoàn thanh niên tổ chức giao lưu văn nghệ, dạo này Sài Gòn mở nhiều chiến dịch, thắng cũng lớn, nên bọn sinh viên vui lắm, đêm nào cũng lôi nhau ra sân ăn mừng văn nghệ.

Một chiếc chiếu trải giữa sân, mấy bóng đèn dầu treo trên dây sắt, xung quanh sinh viên ngồi chen chúc, tiếng cười rộn rã.

Người hát, người đọc thơ, người kể chuyện, ai cũng náo nức.

Thư vốn hát hay, được bạn bè kéo ra giữa chiếu.

Bảo là Sài Gòn đang thắng lớn, người Sài Gòn hát thì mới phải đạo, thế là ép được Thư ra hát.

Cô hơi đỏ mặt, nhưng rồi cũng cất giọng.

Một bài ca dao Nam Bộ, ngọt ngào mà da diết:

– Gió đưa gió đẩy, về rẫy ăn còng...

Giọng Sài Gòn của cô cất lên, lảnh lót mà dịu dàng, khiến cả sân lặng đi.

Những tiếng xì xào nhỏ: "Con nhỏ trong Nam đó, hát ngọt ghê..."

Rồi khi kết thúc, tiếng vỗ tay vang rền, cả đám bạn ùa ra ôm cô cười khúc khích.

Trêu khéo cả trường giờ "đổ" cô Thư khoa y hết rồi.

Ngồi trong đám đông, có một đôi mắt chăm chú dõi theo.

Thắng ngồi giữa nhóm sinh viên tự vệ, gương mặt nghiêm nhưng khóe môi thoáng mỉm cười.

Anh không nói gì, chỉ nhìn, rồi cúi xuống trò chuyện với bạn bên cạnh.

Chỉ là anh ấn tượng về một "đôi mắt" đã luôn dõi theo anh mấy hôm nay, đôi mắt ấy đặc biệt, không phải là đôi mắt mến mộ đơn thuần của tình cảm đôi lứa, mà là một đôi mắt khát khao như đang "tìm kiếm" một điều gì đó quan trọng trong cuộc đời.

Thư chẳng hề hay biết.

Cô chỉ thấy tim mình đập nhanh hơn sau khi hát xong, má còn nóng bừng.

Đêm gió heo may lại ùa về, mang theo tiếng cười trong trẻo vang khắp sân trường.

...

Một buổi chiều Hà Nội, sau cơn mưa rào bất chợt.

Trời quang đãng trở lại, đường phố còn lấm tấm vũng nước.

Hàng cây sấu ven đường nhỏ giọt tí tách xuống vỉa hè.

Không khí mát lạnh, hương hoa sữa càng nồng nàn, quyện lẫn mùi đất ẩm.

Thư ôm cặp, vội vã rẽ qua phố Nguyễn Trãi để tìm nhà một người quen mượn tài liệu học tập.

Nhưng con phố dài, nhiều ngõ ngách, biển số lẫn lộn, đi mãi cô vẫn chưa tìm ra.

Mái tóc dài dính lòa xòa vì mưa, vạt áo dài ướt sũng một mảng, đôi guốc gỗ kêu lộc cộc trên nền gạch ướt.

Cô đứng lúng túng trước đầu ngõ, ngó quanh.

Sinh viên đi qua đi lại, ai nấy đều bận rộn.

Thư khẽ cắn môi, vừa định quay ra hỏi một người thì từ phía cuối ngõ, một dáng cao gầy, sao mà quen thuộc nhưng cũng sao thật xa lạ.

Anh trai mặc áo sơ mi trắng đã ngả màu, quần ka-ki xắn cao ống, trên vai khoác chiếc túi vải bạc.

Bước đi dứt khoát mà không vội vã.

Gương mặt sạm nắng, góc cạnh, ánh mắt đen sâu và sáng, là đôi mắt mà Thư mong mỏi.

Trần Quyết Thắng.

Thư bạo dạn lên tiếng:

– Cậu gì ơi, cho mình hỏi... nhà số bốn mươi tám ngõ này là chỗ nào vậy?

Thắng dừng lại, đưa mắt nhìn.

Thoáng ngạc nhiên, rồi anh gật đầu, nụ cười hiền mà ít khi lộ:

– À, nhà cậu Phúc phải không?

Đi thẳng vào, tới cây bàng là thấy, có biển treo ngoài cửa.

Giọng Hà Nội chuẩn, ấm và chắc, từng chữ rơi xuống rõ ràng.

Thư khẽ gật, cười tươi:

– Dạ, cảm ơn cậu.

Cô quay đi vài bước, rồi lại ngoái nhìn.

Thắng đứng đó, dáng cao nổi bật giữa con ngõ nhỏ.

Gương mặt nghiêm nghị, đôi mắt vẫn sáng dưới bóng chiều, như đang nhìn xa hơn cả những vũng nước loang loáng.

Trong khoảnh khắc ngắn ngủi, cô bỗng nhớ lại giọng phát biểu ở quảng trường, dáng chạy nhanh trên sân vận động, ánh mắt trong đêm trăng ở ký túc.

Bây giờ, tất cả ghép lại thành một hình ảnh rõ rệt.

Cô cảm thấy "đôi mắt" ấy sẽ giúp cô nhận ra được một điều gì đó rất quan trọng.

...

Mùa đông Hà Nội, rét cắt da.

Những con đường quen thuộc phủ một lớp sương mờ, hơi thở ai bước ra cũng hóa thành khói.

Sinh viên đi học, áo bông chật chội, khăn len quấn cổ, tay đút túi áo mà vẫn run cầm cập.

Trong ký túc xá, đêm rét buốt, cả phòng nữ sinh co ro trong chăn bông cũ, hơi người quyện lại, những câu chuyện rì rầm vẫn không dứt.

Đám bạn của Thư thường trêu:

– Chúng mày ơi Thư nó thẫn thờ nữa kìa, chắc lại nhớ anh Thắng yêu nữa rồi!!

Thư mỗi lần như thế chỉ biết cười khổ.

– Các cậu thiệt tình...

Nhưng trong lòng, Thư biết, có điều gì khác lạ đang lớn dần.

Từ sau hôm gặp trong con ngõ mưa, cô hay nhớ tới ánh mắt và giọng nói ấy.

Không hiểu sao, mỗi lần nghe ai nhắc đến "anh Thắng khoa Sử", tim cô lại nhói lên một nhịp.

Còn Thắng, từ dạo hôm đó, cũng thấy bóng dáng nhỏ nhắn áo dài xanh lam cứ hiện ra đâu đó trong tâm trí.

Anh vốn là người ít nói, gương mặt lúc nào cũng nghiêm, bạn bè hay gọi là "ông cụ non".

Thế mà lạ, hễ nghĩ đến cô gái Sài Gòn với giọng nói trong trẻo, lòng anh lại thấy mềm đi, như có nắng xuân len vào giữa mùa đông.

Trong buổi sinh hoạt tự vệ, khi cả nhóm tập võ trên sân trường, bạn bè đã nhận ra điều ấy.

Một cậu bạn chọc ghẹo:

– Này Thắng, hình như mấy hôm nay ông cu chăm tập lạ thường nhể?

Đừng bảo vì có...

"cô bạn khoa Y" đến coi nha?

Thắng khẽ chau mày, nhưng khóe môi vẫn hiện nụ cười mơ hồ.

Anh không trả lời, chỉ siết chặt nắm đấm, tung một cú đòn gọn gàng.

Tiếng hò reo dậy lên, nhưng trong mắt anh lại thấp thoáng hình ảnh cô gái nhỏ con, tóc đen dài bay theo gió.

Thấp thoáng hình ảnh đôi mắt có chút u buồn.

...

Một chiều cuối tuần, nhóm sinh viên rủ nhau ra bãi giữa sông Hồng.

Bờ cát trắng trải dài, sóng nước lăn tăn phản chiếu ánh hoàng hôn.

Thư cùng mấy cô bạn ríu rít nhặt hoa cỏ, tiếng cười giòn tan.

Còn Thắng và nhóm con trai đá bóng trên bãi đất trống.

Quả bóng lăn về phía Thư.

Cô luống cuống né tránh, guốc gỗ cắm xuống cát.

Một bóng dáng nhanh nhẹn lao tới, kịp chặn bóng.

Thắng đứng đó, tóc ướt mồ hôi, ánh mắt thoáng lo lắng:

– Thư có sao không?

Thư hơi bất ngờ, lắc đầu, giọng Sài Gòn ngân dài:

– Hong sao đâu, nhưng lần sao cẩn thận hơn nhe.

Cả đám bạn cười ồ.

Thi nhau hùa vào trêu:

– Ui chao, Thư với Thắng nói chuyện kìa, coi bộ có duyên ra phết!

– Úi em "Thư ơi em có sao hônggg"

Thắng đỏ mặt quay đi, Thư cũng ngượng ngùng cúi xuống.

Nhưng từ giây phút ấy, khoảng cách vô hình giữa hai người đã ngắn lại một đoạn.

...

Một buổi sáng sớm trong thư viện trường.

Ánh nắng mùa đông lọt qua khung cửa kính mờ hơi sương, rơi xuống những dãy bàn gỗ dài.

Sinh viên ngồi chen chúc, tiếng lật sách khe khẽ hòa với mùi giấy cũ ngai ngái.

Thư ôm chồng sách giải phẫu dày cộp, loay hoay tìm chỗ ngồi.

Các bàn đều kín, chỉ còn một khoảng trống nhỏ cuối phòng.

Vừa đặt sách xuống, cô ngẩng lên thì bắt gặp ánh mắt quen thuộc.

Thắng ngồi đó, trước mặt là một cuốn sách sử dày, bìa đã sờn.

Anh ngẩng đầu, thoáng ngạc nhiên, rồi nụ cười mơ hồ nở trên môi.

– Thanh Thư khoa Y, có cần tôi dọn bớt chỗ không?

Thư chớp mắt, mỉm cười:

– Phiền Thắng ghê.

Cô ngồi xuống.

Cả hai lặng lẽ mở sách, tiếng giấy lật khẽ như hơi thở.

Nhưng chẳng bao lâu, Thư cau mày, lật mãi không tìm thấy đoạn ghi chú cần.

Thắng nghiêng người sang, giọng nhỏ:

– Thư tìm gì vậy?

– Thư kiếm phần động mạch chủ, mà sách này rối quá...

Thắng khẽ cười, lấy bút gạch một đường trong sách của mình:

– Ở đây này.

Còn có sơ đồ trong phụ lục, dễ nhìn hơn.

Thư ngạc nhiên:

– Ủa, Thắng cũng đọc sách y khoa nữa hả?

– Thắng đọc để hiểu.

Lịch sử đâu chỉ là vua chúa trận đánh.

Con người, xã hội, y học, văn hóa... tất cả đều là lịch sử.

Nói xong, Thắng cúi xuống viết tiếp, nhưng đôi mắt vẫn sáng rực, giọng chắc nịch.

Thư nhìn anh, thoáng sững người.

Trong tim, một sợi dây như rung khẽ.

Từ buổi ấy, họ bắt đầu hay chạm mặt.

Khi thì ở thư viện, khi thì trong những buổi sinh hoạt đoàn.

Mỗi lần gặp, Thắng luôn là người mở lời trước, một câu hỏi ngắn, một lời chỉ dẫn, một ánh mắt.

Ban đầu, Thư còn ngượng, trả lời cộc lốc.

Nhưng dần dần, cô thấy lòng mình nhẹ hơn khi trò chuyện.

Có hôm, sau buổi lao động ở ngoại thành, đoàn sinh viên kéo nhau về, trời sẩm tối, gió thổi lạnh buốt.

Thư bước lùi lại, áo khoác mỏng, run lên khe khẽ.

Thắng lặng lẽ đi ngang, tháo chiếc khăn len quàng lên vai cô:

– Gió mùa lạnh lắm.

Thư giữ lấy.

– Ơ Thư...

– Thư cứ nhận, kẻo lại cảm lạnh, thế thì Thắng...xót lắm.

Nói rồi anh vội bước đi trước, dáng cao sừng sững giữa màn sương tím.

Cô đưa tay chạm vào khăn, còn hơi ấm, mùi nắng, mùi gió, mùi mồ hôi...

Trái tim cô run lên, vừa lạ lẫm vừa thân thương.
 
[12Cs] Mặt Đất Và Bầu Trời
Chương 3: Đôi mắt


(Thư - Thiên Bình, Thắng - Ma Kết)

Hà Nội chẳng mấy chốc đã vào cuối đông, trời sương mù, Hồ Tây trải mênh mông dưới lớp khói trắng mỏng manh.

Nước hồ phẳng lặng, vài cánh chim sà thấp, tiếng vỗ cánh xao xác.

Con đường ven hồ lác đác hàng quán nhỏ, khói bếp nghi ngút tỏa ra mùi khoai nướng, ngô nướng thơm lừng.

Thư đi cùng mấy cô bạn, vừa ríu rít vừa run rẩy trong cái lạnh căm căm.

Tới giữa đường, mấy đứa bất chợt gặp nhóm sinh viên nam.

Trong đó, Thắng đứng hơi lùi sau, khăn len quấn ngang cổ, dáng cao nổi bật.

Một cậu bạn reo lên:

– Ấy, trùng hợp nhỉ!

Hay là gộp cả bọn đi chung cho vui?

Cả nhóm ồn ào đồng ý.

Họ nối hàng, nam nữ xen lẫn, bước trên con đường mờ sương.

Thư bước chậm lại, bất giác song song với Thắng.

Anh nghiêng mặt nhìn, ánh mắt sáng, khẽ nói:

– Lại gặp Thư rồi, dạo này Thư vẫn khoẻ chứ?

– Thư vẫn khoẻ, Thắng thì sao?

– Vẫn thế thôi Thư ạ.Ừm...Thư có hay ra hồ không?

– Hong... học hành mệt quá, cũng hong có đi chơi nhiều.... – Thư cười, giọng ngọt liệm – Ở đây lạnh quá, mấy ngón tay muốn cứng đơ luôn.

Thắng lặng lẽ tháo găng len, đưa cho cô:

– Thư cầm lấy.

Ở Hà Nội mùa đông mà đi tay không thì chịu sao nổi.

Thư khựng lại, bối rối:

– Nhưng... còn Thắng thì sao?

Hôm trước mới vừa đưa Thư cái khăn choàng cổ, hôm nay lại găng tay...

Anh mỉm cười, đôi mắt ánh lên dưới màn sương:

– Thắng quen thời tiết Hà Nội rồi, với Thắng là đàn ông, không sợ lạnh.

Cô đón lấy, mang vào.

Găng còn vương hơi ấm, mùi len ngai ngái hòa cùng mùi gió hồ.

Tim Thư đập thình thịch, nhưng ngoài mặt vẫn giả vờ bình thản.

Cả nhóm kéo nhau ra quán ven hồ, mua ngô nướng.

Bắp ngô vàng ruộm, vỏ cháy xém, mùi thơm quyện khói tỏa ra khắp không gian.

Thư cầm trái ngô nóng hổi, vừa thổi vừa cắn, gò má ửng hồng.

Thắng ngồi đối diện, lặng lẽ nhìn, trong mắt ánh lên một điều gì sâu xa khó tả.

Bạn bè lại trêu:

– Ui chao, anh Thắng chăm lo cho "cô bạn Sài Gòn" dữ chưa!

Ngô chưa kịp chín mà đã canh sẵn cho người ta rồi kìa!

Thư đỏ mặt, vội cúi gặm hạt ngô.

Thắng hơi nhíu mày, nhưng khóe môi vẫn thoáng một nụ cười khó giấu.

Trời sập tối, sương dày đặc hơn.

Nhóm bạn lần lượt tản về.

Thư và Thắng còn sót lại ở đoạn đường gần ga Tràng Tiền.

Đèn phố vàng vọt rải xuống mặt đường ướt loáng, bóng họ đổ dài.

Thư bước lặng, vạt áo dài khẽ rung theo gió.

Thắng đi cạnh, tay giữ chặt quai túi vải.

Một lúc, anh lên tiếng:

– Thư... có hay nhớ Sài Gòn không?

Cô nhìn xa xăm, giọng nhỏ:

– Nhớ chứ.

Nhớ hoài.

Nhớ cái hẻm nhà, nhớ tiếng guốc má gõ...

Nhớ mùi mía ghim nữa.

Có bữa nằm mơ thấy Sài Gòn, tỉnh dậy khóc luôn.

Thắng không nhìn cô, chỉ khẽ gật, giọng trầm:

– Thế...Thư có muốn về lại Sài Gòn không?

Thư ngước mắt, lại là "đôi mắt" ấy, bỗng chốc trái tim cô trùng xuống, như có một điều gì đó đè nặng lên trên, khiến cô không thể nào thở nỗi.

Thư im lặng một hồi lâu, rồi cất tiếng.

– Thư trước ở Sài Gòn, ba Thư là quân giải phóng, trước làm biệt động, sau này thành bộ đội tập kết ra Bắc...

Thắng ngoái đầu nhìn Thư, anh cười:

– Ba Thư giỏi nhỉ, thế giờ ba Thư đang ở đơn vị nào ngoài này rồi?

– Ba Thư...bị bọn Mỹ bắt đi, tra tấn, hy sinh rồi.

Trước lúc ra Bắc không hiểu sao chúng lại nghi ngờ, thế là để giúp các anh em biệt động về Bắc an toàn, ba Thư tình nguyện ở lại, còn Thư với má, được các chú bộ đội giúp, an toàn ra ngoài Bắc...

Hai từ "hy sinh" khiến Thắng như chững lại.

Anh im lặng một hồi lâu, cũng chẳng biết nói gì, cũng chẳng biết làm sao.

Thư thở dài, đôi mắt buồn rười rượi.

Thư lại mở lời.

– Thắng biết không, có nhiều lúc...Thư chẳng thể hiểu nổi...

– Thư không hiểu điều gì?

– Thư không hiểu nổi đôi mắt của Thắng.

Thư, trong lần đầu tiên của cuộc đời, bỏ xuống cái vẻ yểu điệu thục nữ của một người con gái Hà Nội, đưa đôi mắt buồn đượm của mình nhìn thẳng vào mắt của Thắng.

Kiên định.

– Đôi mắt của Thắng giống đôi mắt của ba Thư, nó sáng, nó cháy bổng một lý tưởng gì đó khiến cho họ có thể sống, có thể chết, có thể bỏ lại cả những cái tôi, những niềm riêng để giữ mãi ngọn lửa ấy...

– Thư...

– Thắng... có bao giờ Thắng thấy sợ không?

– Sợ điều gì?

Thư cúi đầu, giọng nghèn nghẹn:

– Sợ... mình chẳng làm được gì cả.

Sợ chết trước khi kịp làm điều gì có ích.

Sợ hy sinh... mà hóa ra vô nghĩa.

Sợ phải bỏ lại cả ước mơ còn đang dang dở, bỏ lại tuổi xuân, bỏ lại má tóc đã bạc vì thương nhớ chồng con...

Lời vừa dứt, gió rét cắt ngang.

Cô run rẩy.

Đó là lần đầu tiên Thư nói hết nỗi sợ trong lòng.

– Nhưng Thư không muốn phải sống mãi thế này...Thư muốn được cống hiến, Thư cũng sợ khi Thư vẫn chưa làm được gì cho tổ quốc thân thương....

Thư thật...hèn hạ..

Thắng im lặng một hồi lâu.

Rồi anh nghiêng người, mắt nhìn thẳng vào cô.

Ánh nhìn ấy, sáng và trong, kiên định, nghiêm khắc mà sao cũng ấm áp đến lạ.

– Thư, không ai trong chúng ta sinh ra đã can đảm cả.

Nhưng sống thời này, có những việc không chọn cũng phải chọn.

Và những nỗi niềm của Thư ắt cũng chỉ là những nỗi ưu tư thường của cái tuổi đôi mươi này thôi.

Anh ngừng một nhịp, giọng chậm mà chắc:

– Nếu chỉ nghĩ đến cái chết, thì chết thật vô nghĩa.

Nhưng nếu nghĩ rằng, phía sau mình là nhân dân, là mẹ, là hàng triệu người đang cần một ngày yên bình... thì mỗi bước đi đều có nghĩa.

Ngay cả khi ngã xuống.

Không có cái chết nào là vô nghĩa cả.

Quan trọng là, Thư biết mình sẽ chết vì điều gì, sống vì điều gì, để bảo vệ ai, để bảo vệ cái gì.

Để rồi Thắng tin là Thư sẽ hiểu ra, sẽ tìm được chân lý của chính Thư.

– Giống như Thắng vậy, nếu có tin kêu gọi đi nhập ngũ, Thắng sẽ đi ngay, Thắng sẽ cầm súng lên ngay vì Thắng muốn bảo vệ cuộc sống bình yên của Mẹ, bảo vệ con đường mà bố đã và đang bước đi, bảo vệ ông bà khỏi bom đạn ở dưới quê.

Còn nếu không, thì Thắng vẫn sẽ học thật giỏi, sẽ là hậu phương vững chắc giúp đồng bào nơi chiến tuyến thôi!

Cái quan trọng là Thư cần biết Thư thật sự muốn điều gì, không phải cứ cầm súng ra mặt trận là chiến đấu, ta cũng có thể "chiến đấu" từ những điều rất nhỏ nhặt, và rồi cái phần công sức tưởng như là nhỏ nhặt ấy của ta sẽ góp phần làm nên cái chiến thắng huy hoàng của mai sau, Thắng tin là vậy!

Thư ngước mắt.

Đôi mắt Thắng như có lửa, soi rọi thẳng vào những góc tối trong tâm can.

Trong giây lát, cô thấy nỗi sợ của mình tan chảy, nhường chỗ cho một cảm giác mới, vừa vững vàng, vừa bình yên.

Lớp mờ sương che mờ kín đôi mắt của Thư bỗng như tan biến, và Thư như nhớ lại những ngày thưở bé.

Nơi những ước mong đầu đời hiện hữu, khi Thư thấy bọn Mỹ-Nguỵ bức ép dân ta, khi thấy những người giải phóng quân kiên trung hào hùng, khi thấy những ngôi làn cháy phừng phực trong lửa hận, khi thấy những thương binh nằm la liệt dưới nền đất lạnh sau những trận đánh, chịu cái đau xé trời mà không ai cứu chữa vì sự thiếu thốn quân nhu, quân y.

Cô bỗng đưa tay lên đặt ngay trên trái tim mình, một giọt nước mắt lăn dài trên má.

Một khoảng lặng dịu dàng bao trùm.

Hàng liễu rũ xuống, gió hồ đưa hương ngai ngái của bùn non.

Thư bất giác đặt bàn tay nhỏ vào tay Thắng.

Bàn tay anh ấm, rắn rỏi.

Trong khoảnh khắc ấy, cô biết mình đã tìm thấy điểm tựa.

Niềm tin của Thắng, chính là ngọn đèn soi đường cho trái tim còn đang ngập ngừng của Thư.

...

Mùa hè Hà Nội năm ấy oi nồng hơn mọi khi.

Cái nắng dội xuống mái ngói đỏ, hắt lửa lên những con đường bụi mù.

Trên bầu trời, máy bay Mỹ vẫn rình rập, tiếng còi báo động ban đêm vẫn còn ám ảnh trong từng giấc ngủ.

Nhưng giữa những ngày chập chờn ấy, trường đại học vẫn rộn ràng tiếng cười của tuổi trẻ.

Thư sắp bước vào kỳ thi tốt nghiệp.

Căn phòng ký túc chật chội, bàn ghế lung lay, ánh đèn dầu leo lét, mấy cô bạn gái chen nhau học, tiếng lật giấy sột soạt không ngớt.

Ngoài cửa sổ, trăng nhòa nhạt treo lơ lửng trên nền trời xanh bạc, như chứng giám cho bao giấc mơ còn dở dang.

Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, phá hoại biết bao nhiêu cánh đồng lúa xanh mát, vì thế mà cơm ở bếp tập thể ngày càng kham khổ.

Một ngày hai bữa, gạo độn bo bo, khoai sắn, rau muống già xào muối.

Có bữa, cả phòng chia nhau một chút mắm ruốc, vừa ăn vừa cười mà nước mắt lưng tròng.

Thư gắp phần nhiều cho bạn, chỉ giữ lại ít nhất cho mình.

Cô nhỏ con, da trắng, trông yếu đuối, nhưng nghị lực bền bỉ.

Có hôm, cả ký túc đang ăn thì còi báo động vang lên.

Tất cả vội vã bưng bát, ôm sách, chạy xuống hầm trú.

Đất ẩm, mùi mốc, trẻ con khóc, người già ho khục khặc.

Sinh viên ngồi sát nhau, mắt nhìn nhau ánh lên lo âu.

Nhưng Thư khẽ thì thầm:

– Ráng đi mấy bạn, rồi ngày mai còn học nữa...

Nụ cười hiền của cô làm người bên cạnh dịu lòng.

Còn Thắng, năm cuối khoa Sử.

Anh cùng nhóm bạn trai thường trực trong đội tự vệ trường.

Ban ngày học, tối tập bắn, tập võ, canh gác.

Mỗi lần còi rú, anh lao ra sân trường, mắt ngước lên bầu trời đêm đỏ rực ánh chớp bom xa xa.

Anh quen với gian khổ, nhưng lòng vẫn trĩu nặng khi nhìn những chuyến tàu đêm dừng ở ga Hàng Cỏ, chở thương binh từ chiến trường ra.

Có người mất một chân, có người chỉ còn một cánh tay, máu thấm đỏ băng trắng.

Tiếng rên, tiếng khóc, tiếng gọi mẹ, tất cả đập vào tai, ám ảnh không nguôi.

Thắng lặng lẽ ghi vào sổ tay: "Sử không chỉ viết bằng giấy mực.

Sử hôm nay được viết bằng máu của những người ngã xuống."

Giữa hoàn cảnh ấy, Thư và Thắng vẫn tìm thấy những khoảng trời riêng.

Sau giờ học, họ ra ghế đá ven hồ Văn, Thư kể về những ký ức Sài Gòn thơm mùi cà phê vỉa hè, tiếng rao "ai ăn bánh mì hông" trong đêm khuya.

Thắng im lặng lắng nghe, mắt nhìn xa xăm.

Bạn bè vẫn trêu, nhưng giờ thì cả hai chẳng buồn giấu nữa.

Mỗi khi đi cùng nhau, Thư thấy lòng yên ổn, còn Thắng như có thêm sức mạnh.

Họ chẳng nói nhiều lời hoa mỹ, nhưng trong ánh mắt là tất cả.

Trời xuân, gió thổi hun hút qua những con phố nhỏ, len vào từng kẽ áo, rít qua từng ô cửa kính.

Những hàng bàng trơ trọi cành khẳng khiu, lá vàng rụng rải rác trên vỉa hè lát đá.

Trong tươi mát ấy, trường đại học vẫn sáng đèn suốt đêm.

Lũ sinh viên, kẻ gục trên bàn, kẻ thì cặm cụi chép bài, kẻ ôm sách.

Thắng ngồi bên cửa sổ phòng ký túc, ánh đèn dầu soi xuống cuốn sách dày cộp.

Trang giấy vàng úa, chữ đã nhòe đi vì thời gian.

Anh không đọc nữa, chỉ ngồi lặng, mắt nhìn xa ra ngoài, nơi ánh trăng lạnh nhạt đang trải một vệt sáng mờ trên mái ngói.

Trong lòng Thắng, những ngày này, một ngọn lửa bùng cháy không ngừng.

Từ những buổi trực canh trong đội tự vệ, anh đã nghe rõ tiếng ù ù của phản lực Mỹ lao qua bầu trời, đã thấy ánh sáng chớp lóe khi bom rơi xuống ngoại thành.

Anh từng cùng đồng đội chạy tới ga Hàng Cỏ, đưa thương binh từ chiến trường ra, những thân thể dập nát, những đôi mắt còn vương bụi đỏ Trường Sơn.

Những hình ảnh ấy cứ hằn vào tâm trí, đêm về không sao ngủ được.

Anh nhớ đến cha mình, một trí thức cũ từng tham gia kháng chiến chống Pháp, nay đã yếu, mỗi lần nhắc tới đất nước lại trầm ngâm.

Nhớ đến mẹ, tần tảo trong ngôi nhà nhỏ ngõ Hàng Bột, ngày ngày vẫn cặm cụi may vá, chắt chiu từng đồng.

Thắng biết, anh không thể ngồi yên.

Một tối, sau buổi học, anh cùng Thư đi bộ dọc con phố Tràng Tiền.

Đèn điện vàng vọt rải xuống, cửa hiệu phần lớn đã đóng cửa, chỉ còn dăm ba quán nước chè ven đường sáng leo lét.

Gió lạnh, Thư kéo sát áo choàng, đôi guốc gõ lộp cộp trên nền đá.

Thắng chậm rãi nói, giọng Hà Nội trầm nhưng chắc:

– Thư này, có lệnh tổng động viên rồi.

Thư khựng lại.

Cô ngẩng lên nhìn anh.

Trong đôi mắt đen sâu thẳm kia, có ánh sáng của niềm tin, của khát vọng.

Thư đã biết sớm muộn sẽ có ngày này, Thư có chút không nỡ, khoé mắt có chút cay xè, nhưng cô không bộc lộ gì, chỉ hỏi:

– Thế...Thắng đăng kí tình nguyện chưa? – Thư hỏi khẽ.

Thắng khẽ gật đầu, bàn tay siết chặt quai túi vải:

– Rồi Thư ạ.

– Thế à...

Nói đoạn cô khựng lại, nắm lấy tôi tay Thắng, khẽ nói.

– Thư cũng đăng kí đi thanh niên xung phong, chỉ là tính đợi học xong luôn nghề y rồi đi, làm quân y trên chiến trường.

Nói rồi, anh nhìn cô, môi nở nụ cười, bước chậm lại.

Gió heo may lùa qua mái tóc, khiến gương mặt anh càng thêm rắn rỏi.

Thư đi bên cạnh, lòng chợt se sắt.

Cô vừa thương, vừa nể, vừa lo lắng.

Và trong sâu thẳm, một niềm kiêu hãnh âm thầm dâng lên.

Những ngày sau đó, Thắng dồn hết tâm trí vào việc tập luyện với đội tự vệ.

Anh chạy bộ quanh sân trường mỗi sáng, tập võ, tập bắn, mồ hôi đẫm áo.

Đêm về, anh ghi lại trong cuốn sổ tay: "Nếu mai này ra trận, ta không hổ thẹn với tuổi hai mươi của mình."

Không chỉ có anh, bọn sinh viên từ năm nhất đến năm cuối trong trường cũng đều nháo nhào lên cả, chúng nó hầu như ai cũng đăng ký tình nguyện đi bộ đội, vừa vui mà cũng vừa bồn chồn.

Cuối tuần, loa phóng thanh truyền đi thông báo: Tất cả sinh viên nam chuẩn bị khám tuyển nhập ngũ.

Cả trường xôn xao.

Không khí vừa náo nức, vừa trĩu nặng.

Những cuộc chia tay nhỏ nhoi đã bắt đầu lấp ló trong từng ánh mắt.

Thắng bình thản thu xếp.

Anh đứng trên sân trường, gió bấc lồng lộng, áo sơ mi bạc màu bay phần phật, dáng cao sừng sững.

Và trong lòng anh, một niềm tin dâng trào: tuổi trẻ này sẽ thuộc về Tổ quốc.
 
[12Cs] Mặt Đất Và Bầu Trời
Chương 4: Ngày toàn thắng sẽ về


(Thư - Thiên Bình, Thắng - Ma Kết, Lực - Bạch Dương)

Mùa đông năm 197x

Hà Nội vừa trải qua một mùa thu bom đạn nặng nề.

Trên những con phố, vẫn còn những hố bom chưa kịp lấp, những mái nhà thủng lỗ chỗ, bức tường cháy sạm.

Nhưng giữa cảnh điêu tàn, tiếng ve đầu hạ đã râm ran, từng chùm hoa phượng đỏ rực trên sân trường, như những ngọn lửa nhỏ thắp sáng cả một bầu trời tuổi trẻ.

Lệnh tổng động viên đến.

Tất cả nam sinh lên đường khám tuyển, chuẩn bị nhập ngũ.

Tin ấy như một cơn gió mạnh, cuốn phăng đi sự yên bình mong manh của những ngày sinh viên.

Thư trở về căn nhà nhỏ ở phố Hàng Cót, nơi má cô đang ở nhờ người quen từ ngày tập kết.

Người phụ nữ Sài Gòn ấy, dáng gầy, mái tóc đã điểm sợi bạc, ánh mắt sâu thẳm, từng là vợ một bộ đội tập kết ra Bắc.

Giờ chỉ còn là goá phụ.

Thư ngồi bên bàn gỗ cũ, chần chừ mãi mới nói:

– Má à... con tính, học xong con xin đi vô Nam.

Con đi làm quân y, coi như nối bước ba, nối bước má.

Má nhìn con gái, ánh mắt bỗng hoe đỏ.

Bà lặng im thật lâu, rồi nắm lấy bàn tay nhỏ nhắn ấy, giọng run run:

– Thư...

Má biết ngày này cũng sẽ tới.

Từ hồi con còn nhỏ, má đã nghĩ... cái nợ nước này, con mình khó mà tránh.

Nhưng con gái...

đường vô Nam đâu phải dễ.

Đạn bom, gian truân...má với em ở nhà...

Thư cắn môi, ánh mắt sáng rực:

– Con biết.

Nhưng má ơi, con đi không chỉ vì nước, mà còn vì nhà mình, vì Sài Gòn, vì xóm làng, vì những người đang chờ...

Nói đến đó, giọng cô nghẹn lại.

Má ôm con vào lòng, run rẩy.

Ngoài kia, tiếng loa phóng thanh lại vang lên, đều đều: "Toàn dân chuẩn bị... chi viện cho chiến trường miền Nam..."

"Miền Nam đang đợi."

...

Ngày Thắng ra ga Hàng Cỏ, trời nắng gắt.

Sân ga chật ních người, những người mẹ già tay ôm vội chiếc khăn, những cô gái mắt hoe đỏ, những đứa trẻ níu áo cha không rời.

Tiếng loa gọi tên từng đơn vị, tiếng còi tàu ré lên từng hồi dài, át cả tiếng khóc.

Thắng mặc bộ quân phục mới, màu xanh cỏ úa, xanh như đất trời Tổ quốc.

Áo còn cứng hồ, nhưng trên vai đã lấp lánh ngôi sao lạ lẫm.

Ba lô căng tròn, đôi dép cao su kêu cồm cộp trên nền ga.

Anh đứng thẳng, dáng cao rắn rỏi, mắt nhìn về phía đoàn tàu, nhưng lòng lại rối bời.

Vừa chào tạm biệt người mẹ thân yêu, nhưng vẫn chưa thấy người con gái ấy đến...

Thư chen qua dòng người, chạy tới.

Áo dài trắng hôm nay đã ố màu vì nhiều lần giặt, tóc dài buộc gọn, khuôn mặt trắng trẻo ửng hồng vì nắng.

Cô thở hổn hển, tay ôm chặt chiếc khăn len cũ, chính chiếc khăn năm nào Thắng từng quàng cho cô.

– Thắng! – Thư gọi, giọng run.

Anh quay lại.

Trong giây phút ấy, giữa biển người chen lấn, thời gian như ngừng lại.

Họ bước về phía nhau, không ai nói gì.

Chỉ có đôi mắt dán chặt lấy nhau, chan chứa nghìn điều.

Thắng nhìn Thư mà lòng bồi hồi, khẽ run run.

Rồi Thắng lấy hết can đảm, bất ngờ kéo Thư vào lòng.

Cái ôm chặt, vụng về, nóng hổi, như thể chỉ cần buông ra, tất cả sẽ tan biến.

Giọng anh nghèn nghẹn:

– Thư...

Thắng...

Thắng thương Thư.

Từ lâu rồi.

Thư chết lặng.

Mọi ồn ào quanh ga bỗng tan biến, chỉ còn tiếng tim mình đập dồn dập trong lồng ngực.

Nước mắt cô trào ra, thấm ướt ngực áo anh.

– Thắng...

Thư cũng thương Thắng.

Nhưng...

Cô chưa kịp nói hết, tiếng còi tàu lại rít lên, dài và xé lòng.

Người lính hối thúc gọi:

– Đồng chí, nhanh lên!

Anh buông Thư ra, hai bàn tay vẫn giữ chặt vai cô.

Ánh mắt sáng rực, giọng đầy chắc nịch:

– Thư nghe Thắng nè.

Ngày thắng lợi, Thắng sẽ vào Nam tìm Thư.

Cho dù qua bao nhiêu rừng núi, qua bom đạn, Thắng cũng tìm.

Thư tin Thắng nha.

Thư gật mạnh, nước mắt lăn dài.

Cô đưa chiếc khăn len vào tay anh:

– Giữ lấy...

để nhớ Thư.

Thắng đi mạnh khoẻ!

Thắng siết chặt khăn, quay đi.

Bóng anh hòa vào dòng lính, ba lô xanh, áo xanh, mũ tai bèo xanh, dần dần biến mất trong đám đông.

...

Tiếng còi tàu xé toang bầu trời.

Đoàn tàu sắt ì ầm lăn bánh.

Trên sân ga, bụi than, khói xám cuộn lên, che mờ cả ánh nắng.

Và Thư đứng đó, một mình, nhỏ bé, nước mắt hòa vào gió, nhìn theo đoàn tàu xa dần, xa dần...

Đoàn tàu rời ga Hàng Cỏ, tiếng sắt nghiến vào đường ray ken két, kéo theo bao ánh mắt còn dõi theo, còn níu lại.

Trong toa chật chội, mùi khói than, mùi mồ hôi, mùi áo lính mới còn ngai ngái, quyện lại thành một thứ hương vị lạ lẫm mà Thắng sẽ không bao giờ quên.

Anh ngồi sát cửa sổ, ba lô đặt gọn bên chân, chiếc khăn len của Thư còn ấm trong túi ngực.

Gió hun hút lùa qua khe cửa, mang theo cả bụi than đen nhòe, bám vào tóc, vào mặt.

Nhưng anh vẫn để mặc, mắt nhìn mãi về phía sau, nơi Hà Nội thân thương vừa lùi xa.

Hà Nội, với những mái ngói đỏ rêu phong, với hồ Gươm lặng như gương mỗi sớm mai, với giảng đường cũ kỹ nơi tiếng giảng bài còn vang vọng... và với dáng người con gái nhỏ nhắn, da trắng trẻo, đôi mắt ươn ướt tiễn anh đi ở ga tàu.

Tất cả đang dần chìm khuất sau màn khói mờ.

Bên trong toa, tiếng cười nói rộn ràng của những chàng lính trẻ vang lên, át đi cả tiếng ầm ầm của tàu.

Có anh lính vừa rời ghế giảng đường, còn nguyên dáng sinh viên.

Có anh thợ máy, tay vẫn còn chai sạn dầu mỡ.

Có anh quê tận Nghệ An, giọng nặng trĩu như tiếng gió Lào.

Tất cả cùng khoác lên màu xanh, chung một hướng ra trận.

– Ê đồng chí, quê đâu đấy? – Một anh lính ngồi cạnh lên tiếng, giọng xứ gió Lào khàn khàn.

– Hà Nội. – Thắng trả lời, giọng dõng dạc, rõ ràng.

– Ờ, trai Hà Nội mà vô tận Nam thì... coi bộ cũng được đó hí.

Vô đó thì đạn bom chớ chẳng đùa.

Lại là sinh viên nữa chớ. – Anh kia bật cười khan, rồi vỗ vai Thắng một cái.

– Thôi tôi đi trước!

Thắng chỉ mỉm cười.

Trong mắt anh, không hề có chút sợ hãi, mà chỉ có một ánh sáng lặng lẽ, chắc nịch.

Tàu đi qua những cánh đồng Bắc Bộ.

Tháng ba, lúa mới thì con gái, xanh mướt như thảm ngọc.

Xa xa, bóng người nông dân lom khom cấy, con trâu thong thả kéo cày, khói bếp lam chiều lơ lửng trên mấy mái nhà tranh.

Cảnh tượng ấy khiến tim Thắng dâng lên một niềm thương tha thiết.

Anh thầm nghĩ: Mình đi đây, không chỉ vì lý tưởng, mà còn vì những mùa lúa này, vì những mái nhà này.

Ngày nào đó, bom sẽ không còn rơi, những ruộng lúa sẽ được xanh yên bình, trẻ con sẽ được chạy nhảy không lo hầm hố...

Anh đưa tay chạm khẽ vào túi ngực, nơi chiếc khăn len vẫn còn đó.

Như một lời hứa thầm lặng với Thư, với mẹ, với đất nước.

Đêm xuống.

Trong toa, tiếng hát cất lên khe khẽ:

– Đường Trường Sơn xe anh qua, nhà em ở cạnh đường Trường Sơn...

Tiếng hát ban đầu rụt rè, rồi lan ra, cả toa hòa vào.

Giọng Bắc, giọng Trung, giọng Nam hòa làm một, xóa nhòa mọi cách biệt, chỉ còn lại một nhịp đập chung.

Thắng cũng cất tiếng, giọng Hà Nội ấm nhưng khàn đặc, hát thì lệch tông, nhưng anh vẫn cứ hát.

Trong lòng anh, một niềm kiêu hãnh dâng trào: tuổi hai mươi của mình đang viết nên bản hùng ca.

Ngoài cửa sổ, bóng đêm phủ dày, chỉ còn trăng lưỡi liềm treo trên cao, soi xuống từng đường ray sáng loáng.

Con tàu vẫn miệt mài lao vào miền gió lửa...

Mỗi khi ngang qua một cây cầu, tiếng sắt thép vang rền, vọng xuống mặt sông đen sẫm dưới kia như tiếng trống trận.

Ngoài trời, từng vệt pháo sáng xa xa cứ quét rực cả nền trời rồi tắt lịm, để lại khoảng tối đặc quánh.

Trong toa, đám lính trẻ vẫn cười nói rộn rã, nhưng thỉnh thoảng lại có phút lặng.

Ai cũng hiểu: càng đi về phía Nam, càng gần chiến trường, nguy hiểm càng cận kề.

Một giọng xứ Quảng vang lên sang sảng, to nhất khoa, kéo mọi người ra khỏi những cuộc trò chuyện riêng tư.

– Tụi bây biết hôn, vô tới đất Quảng Nam, Quảng Ngãi trở xuống là gió Lào với bom đạn chớ không còn yên ổn chi mô!

Thắng bị thu hút, quay lại.

Đó là một chàng trai trẻ, nôm cái mặt non choẹt, nước da ngăm rắn rỏi, thân hình rắn chắc như cây sồi.

Mắt sáng, trán rộng, dưới cằm có cái sẹo dài, giọng nói dứt khoát, có phần nóng nảy.

Áo lính trên người cậu ta đã sớm nhăn nhúm, hơi to so với người cậu, ba lô vắt chéo, cái chi cũng huỳnh huỵch, khác hẳn vẻ trầm ngâm của mấy anh lính khác.

Cậu ta cứ đi bắt tay hết người lính này đến các người lính khác, cuối cùng thì cũng đến trước mặt Thắng.

– Tui Phạm Văn Lực (Bạch Dương), Quảng Nôm. – Cậu ta chìa tay, cái bắt chắc nịch như kìm sắt. – Sinh tháng ba.

Từ nhỏ tới chừ chỉ biết...

đánh nhau giữ xóm!

Cả toa phá lên cười.

Thắng cũng mỉm cười, bắt tay lại.

– Hà Nội, Trần Quyết Thắng.

– Quyết Thắng à!

Là Quyết Thắng!

Tên hay rứa!

Lực cười khì khì, lộ cả cái hàm răng thưa, anh vừa nói vừa cười, cả toa cũng cười vui theo.

– Tên hay!

Hay thật!

– Cũng là sinh viên à?

Mấy người lính gần đó hùa nhau hỏi, Thắng cũng cười cười trả lời.

Vừa như nói thật vừa như đùa:

– Tôi học sử, nay đi làm sử trên chiến trường!

– Hà! – Lực cười ha hả, vỗ bồm bộp vào vai Thắng. – Rứa thì hợp rồi!

Tôi đánh, ông viết, cả hai mình đều làm nên lịch sử!

– Nói hay!

Đánh cho bay cái thằng giặc Mỹ!

– Làm nên lịch sử nhờ!

Nói rồi, Lực lôi trong ba lô ra một nắm khoai khô, chuyền cho anh em.

Giọng anh khàn khàn nhưng ấm áp:

– Ăn đi!

No bụng mới đánh được Mỹ.

Mấy ông ở thủ đô chắc quen cơm trắng cá kho, chớ tụi tui quen khoai sắn cả rồi.

Thắng nhận lấy, chợt thấy nơi khóe miệng nóng ran.

Anh nhìn Lực, thấy hiện lên một thứ chất lửa khác hẳn: mộc mạc, ngang tàng, nhưng chan chứa sức sống, gợi lên cho anh một cảm giác thân thương đến lạ kì.

Lực sau đấy cũng chen vào ngồi cạnh Thắng, đêm đến, toa dần im lặng, Lực cũng say sưa ngủ, dập dìu dựa vào vai Thắng mà ngủ, Thắng khó chịu lắm, không ngủ được mà cũng chẳng nỡ đẩy cậu ra.

Ngoài kia, tiếng bom dội xa xa, từng chớp sáng lóe trên bầu trời.

Anh khẽ mở túi ngực, chạm vào chiếc khăn len.

Trong khoảnh khắc ấy, anh bỗng nghe tiếng Lực thì thầm phía dưới, giọng xứ Quảng khô khốc nhưng tha thiết:

– Mai mốt có khi... con không về được.

Nhưng miễn quê mình sạch bóng thằng Mỹ là được.

Nó nói mớ, nhưng sao nghe mà tha thiết, Thắng nằm im, nghe tim mình đập rộn ràng.

Anh biết: con đường trước mắt sẽ là con đường của máu và nước mắt.

Nhưng anh cũng biết, bên cạnh mình, đã có những người anh em, những người đồng chí kề bên.

Con tàu vẫn lao về phía Nam, xuyên qua bóng tối, xuyên qua đêm, như một mũi tên lao vào tim kẻ thù.
 
[12Cs] Mặt Đất Và Bầu Trời
Chương 5: Con đường ra trận


(Thắng - Ma Kết, Lực - Bạch Dương)

Con tàu cuối cùng cũng dừng ở ga Vinh, xung quanh là một bầu trời đỏ lựng vì bom Mỹ vừa cày xới.

Ga xép, nhà chờ sập vẹo, khói bụi còn âm ỉ, người dân vẫn còn hốt hoảng chạy tản cư.

Đoàn tân binh lục tục xuống tàu, ba lô lỉnh kỉnh, mặt mày lem nhem khói than.

Một cán bộ chỉ huy đứng tuổi, giọng dõng dạc mà lạc đi vì khản:

– Các đồng chí!

Tạm thời sẽ hành quân bộ, về đóng quân ở các làng quanh đây, vừa ổn định sinh hoạt, vừa tập luyện chiến thuật cơ bản.

Khi có lệnh, sẽ phân bổ vào chiến trường cụ thể.

Cả đoàn rì rầm.

Thắng thắt lại quai ba lô, nhìn quanh.

Anh thấy những gương mặt trẻ, đôi mắt còn ánh lên vẻ bỡ ngỡ, mà lòng chợt nhói: "Tuổi này... có lẽ còn đang ngồi giảng đường, đang đi dạo bên bờ hồ, chứ đâu phải cầm súng?"

Hành quân vài chục cây số, họ về đến một làng ven sông Lam, đường đi đầy bùn, ba lô trên vai thì hơn 30kg, chân phồng rộp, người thì đẫm mồ hôi vì nóng, cơ mà cũng có cái hay, vì khi đi bộ, Thắng được ngắm nhìn cảnh làng quê Việt Nam thân thương.

Làng ở đây nghèo, nhà tranh thấp tè, mái rạ đã thủng chỗ này chỗ khác vì mảnh bom.

Nhưng bà con ra đón, tay gánh nước, tay bưng khoai luộc, miệng cười móm mém:

– Các chú bộ đội vô nhà tui ở, có chi cứ nói!

Chỉ mong các chú khỏe, đánh cho giặc nó cút!

Đêm đó, Thắng và Lực được phân vào ở nhờ trong một căn nhà tranh cũ.

Lại là thằng Lực, thắng nghĩ bụng, chắc có duyên với nó.

Nhà chỉ có hai mẹ con, bà cụ ngoài năm mươi, và cô con gái chừng mười bảy.

Căn buồng trống trải, giường tre ọp ẹp, vài tấm chăn đã sờn.

Lực thả phịch ba lô xuống, nằm vật ra chiếu, thở phì phò:

– Trời đất, đi bộ rạc cả giò!

Cái thân tui chắc quen chạy ngoài nắng rồi, chớ gùi ba lô thế ni... gãy lưng mất thôi.

Thắng bật cười, rút khăn lau mồ hôi:

– Lính mới mà than sớm thế à?

Mai mốt vào chiến trường, còn khổ gấp mười.

– Thì biết rứa, nhưng tui nói thiệt, tui nóng tính lắm.

Hồi còn ở quê, ai nói chi trái tai là tui phang liền.

Má cứ bảo cái đầu nóng như lửa, không biết vô bộ đội có sửa được không.

Sợ ra đến chiến trường dòm bọn Mỹ tức quá, cứ thế mà đánh thì lại chết sớm!

Lực nói xong, quay qua, cười hồn hậu.

Thắng nhìn cậu, chợt thấy thương: cậu chàng trẻ măng, đôi mắt còn trong veo, mà đã vội khoác áo lính, gánh cả núi bom lên vai.

Nó mộc mạc giản dị, đậm nét quê hương mà Thắng yêu thương.

Những ngày sau đó, họ tập bắn, tập bò, tập ngụy trang.

Nắng miền Trung như đổ lửa, ruộng đồng bốc hơi, mồ hôi ướt sũng áo.

Thắng gầy đi thấy rõ, nước da trắng xanh, hai mắt hõm sâu, nhưng dáng vẫn thẳng, bước vẫn đều.

Đêm về, nằm trên giường tre, anh lặng người.

Trong lòng, vừa kiêu hãnh, vừa lo lắng.

Anh tự nhủ: Mình phải rèn, phải cứng như thép, chứ vào chiến trường mà gục thì sao viết được lịch sử?

Bên cạnh, Lực thì lăn ra ngủ khì khì, ngáy o o, có khi nửa đêm vùng dậy, mơ màng hét:

– Bắn!

Bắn tụi nó!

Địt mẹ tụi mày!

Cả lán cười ầm.

Cán bộ dặn:

– Lực à, cái tính nóng của cậu phải bớt đi.

Ra trận không phải cứ hăng máu mà sống được.

Cần trí, cần nhẫn.

Lực gãi đầu, cười xòa:

– Rõ!

Cơ mà... hễ nghĩ tới giặc là máu tui sôi.

Một tối, sau buổi huấn luyện, Thắng ngồi ngoài hiên, nhìn trăng treo vằng vặc trên đỉnh tre.

Anh nhớ Hà Nội, nhớ lớp học cũ, nhớ mẹ, nhớ đứa em đang còn học cấp ba ở Hà Nội, nhớ dáng Thư tiễn ở ga tàu.

Trong ngực, chiếc khăn len vẫn còn đây, như một vệt sáng âm ỉ.

Anh lật sổ tay, viết vài dòng gửi về cho Thư:

"Hôm nay bắn bia không trúng.

Tay run.

Tự giận mình mãi.

Nhưng bên cạnh có Lực, thằng em xứ Quảng, hồn nhiên mà gan lỳ, có hơi nóng tính, chẳng biết từ khi nào đã thân quen với nó.

Nó làm Thắng thấy, tuổi trẻ đâu chỉ có lo toan, còn có lửa nữa.

Mai này, vào Nam, không biết rồi ai mất ai còn.

Nhưng Thắng tin, chỉ cần còn sống, chúng tôi sẽ viết tiếp câu chuyện...

Ngòi bút run run.

Ngoài kia, tiếng dế kêu rỉ rả, tiếng gió từ sông Lam thổi về mát rượi.

Lòng Thắng bỗng dâng lên một niềm thương vừa ấm áp, vừa xót xa.

...

Lại thêm ngày mới ở làng ven sông Lam, đoàn tân binh dần quen với nhịp sống mới, mỗi một hôm lại có thêm một ít các tân binh được điều đi, mấy đứa sinh viên bách khoa, khoa học nghe đâu đi tập huấn pháo kích cả rồi, còn mấy thằng khoa văn thì điều sang chiến trường khác.

Buổi sáng tập quân sự, buổi chiều hành quân dã ngoại, tối về thì cùng dân làng sinh hoạt.

Người dân thương lính lắm.

Bà cụ chủ nhà ngày nào cũng dúi cho Thắng và Lực củ khoai, chén nước chè xanh, miệng cười móm mém:

– Ăn cho chắc bụng mà tập, mai mốt vô trong ni thì bom đạn đầy trời, có cái chi mà ăn.

Lực hồn nhiên cười:

– Cụ cứ yên tâm, khẩu phần ni chắc hơn khoai ở quê con nhiều rồi.

Hồi trước con đi chăn trâu, đói bụng thì bứt ngọn khoai non mà nhai thôi.

Nghe anh nói mà Thắng chỉ biết cười khổ, vừa hài vừa thương.

Thương cho dân mình sao còn đói khổ quá, nếu không có chiến tranh, chắc chắn đất nước đã phát triển hơn nhiều, dân còn có cái để mà ăn, để mà sống sung túc.

Bà cụ nghe, lắc đầu, mắt hoe đỏ.

Người già hiểu hơn ai hết: tuổi mười chín đôi mươi đáng lẽ còn ở nhà, nhưng nay đã gùi ba lô vào chỗ chết.

Một buổi chiều, đang tập bắn ở cánh đồng, tiếng máy bay trực thăng Mỹ rền rĩ trên trời.

Cả đơn vị ùa xuống hầm cá nhân, tim đập thình thịch.

Bom nổ cách xa mấy dãy núi, nhưng khói và tiếng dội như xé toạc lồng ngực.

Thắng nằm sấp dưới hầm, má ép sát đất, tay bấu chặt súng.

Anh nghe rõ từng tiếng ù ù, từng tiếng "ầm" rung trời.

Mồ hôi lạnh toát sau gáy.

Trong thoáng chốc, anh thấy mình nhỏ bé lạ thường, một sinh viên Hà Nội, chưa bao giờ nghĩ sẽ nằm đây, giữa đồng không, nghe bom gào ngay trên đầu.

Lực nằm bên cạnh, môi mím chặt, mắt trợn, bàn tay nắm chặt như muốn nhảy lên bắn.

Thắng phải ghìm lại:

– Lực, mày bị làm sao đấy, nằm yên, mau!

Lực nghiến răng, nhưng nghe theo.

Cái nóng của cậu bốc lên như lửa, nhưng ánh mắt thì sáng rực.

Sau cơn bom, cậu cười khan:

– Bom to thì đã sao?

Đánh quen rồi, còn chi mà sợ.

Thắng không nói gì.

Anh biết, Lực nói vậy để át đi nỗi sợ.

Trong mắt cậu vẫn còn run run.

Và trong lòng chính Thắng, cơn sợ ấy vẫn chưa tan.

Anh bỗng hiểu: làm lính, không phải chỉ có hào hùng, còn có cả những phút yếu đuối, run rẩy đến tận xương tủy.

Đêm hôm đó, dân làng nhóm lửa ngay sân đình, mời lính ngồi quây quần.

Trẻ con ngồi vòng trong, mắt tròn xoe ngước nhìn mấy anh bộ đội.

Mấy cô gái trẻ thì đưa bắp luộc, củ sắn, khẽ mỉm cười bẽn lẽn.

Một bác nông dân gầy guộc, lưng còng, bưng vò rượu nếp ra, rót vào chén đất:

– Các chú uống đi.

Rượu quê, chẳng đáng chi, nhưng là tấm lòng.

Chỉ mong các chú đánh cho giặc nó không còn thả bom, để ruộng này còn xanh, con tôi còn được học chữ.

Thắng nâng chén, uống cạn.

Rượu cay xộc lên tận óc, nóng ran.

Trong đầu anh chợt hiện ra hình ảnh Thư, dáng nhỏ bé giữa sân ga, mắt ướt nhoè.

Rồi chồng lên đó là những mảnh ruộng xơ xác vì bom, là mái nhà sập lở, anh cũng nhớ đôi mắt mẹ, đôi mắt đầy nếp nhăn tiễn anh ra đi.

Anh thấy trái tim mình vừa rát bỏng, vừa căng tràn.

Anh lặng lẽ suy tư: Chiến tranh không chỉ giết chết người, nó còn giết cả mùa màng, giết cả giấc ngủ của bao trẻ thơ.

Nếu mình có chết đi, cũng mong máu mình làm phân xanh lại cho những cánh đồng này.

Đêm khuya, khi mọi người đã ngủ, Thắng vẫn nằm thao thức.

Ngoài kia, tiếng ếch nhái kêu râm ran, tiếng nước sông Lam vỗ bờ khe khẽ.

Anh áp tay lên ngực, cảm nhận chiếc khăn len của Thư.

Anh nghĩ đến ngày mai, ngày kia, và những tháng ngày sẽ tới.

Bom đạn, cái chết, và cả tình yêu còn dang dở.

...

Những ngày ở nhà dân ven sông Lam trôi qua vừa nhanh, vừa chậm.

Nhanh là bởi lịch tập dày đặc: sáng võ, trưa bắn, chiều hành quân.

Chậm là vì ai cũng nóng ruột, chờ cái lệnh cuối cùng phân công về chiến trường.

Trong những lúc nghỉ ngơi, cả tiểu đội quây quần quanh bếp rạ, khói cay xè mắt, tiếng nói cười vang rộn.

Một cậu lính trẻ, người dong dỏng cao, giọng Bắc lơ lớ, vừa gọt củ sắn vừa nói:

– Tớ mà vào Nam, gặp lại bà chị họ ở trong Sài Gòn, chắc mừng phát khóc mất.

Nghe nói bây giờ trong ấy căng lắm...

Một anh khác, dáng gầy nhẳng, đeo cặp kính dày cộp, chêm vào, giọng đùa cợt:

– Ấy chết, chưa đánh xong đã lo gặp chị họ rồi.

Coi chừng đạn nó chẳng chừa cái kính cận đâu nhá!

Cả nhóm cười ầm.

Nhưng trong nụ cười ấy vẫn phảng phất một nỗi lo âm thầm.

Ai cũng biết, ra chiến trường thì sống chết khó lường, chuyện gặp lại nhau không phải dễ.

Chiều hôm ấy, cán bộ gọi mấy người ra, thông báo:

– Một số đồng chí sẽ đi trước, vào các đơn vị ở Khu 5, Tây Nguyên.

Còn lại chờ thêm ít ngày, rồi hành quân tiếp.

Không khí chợt lặng đi.

Người được gọi tên thì gói ghém vội ba lô, cột lại đôi dép cao su.

Người ở lại thì nắm tay, bịn rịn.

Một cậu lính gầy, chường hai mươi, bị móm, mắt sáng rực, vừa khoác ba lô vừa cười:

– Thôi, tao đi trước nghe!

Ngày toàn thắng gặp nhau ở Hà Nội, uống chè xanh quanh hồ Hoàn Kiếm!

Thắng vừa quen cu cậu được mấy hôm, có cùng sở thích văn chương sử học, ấy mà chưa kịp hiểu nhau thêm đã xa nhau, Thắng cũng có chút hơi không nỡ, nhưng rồi lại nghe đến "ngày toàn thắng" thì lại yên lòng.

Một anh khác chen vào, giọng khàn:

– Ừ, nhớ giữ cái mạng mà về đó!

Toàn thắng thì ai cũng phải có mặt, không thiếu thằng nào!

Câu nói như một lời hẹn ước chung, không ai dám nhắc tới hai chữ "hy sinh".

Nhưng trong mắt mỗi người, đã có ánh ướt thoáng qua.

Đêm ấy, Thắng ngồi bên hiên nhà tranh, nhìn mấy bóng lính đi khuất dần trên con đường làng hun hút.

Lực ngồi cạnh, cắm cúi mài con dao găm mới lĩnh, vừa làm vừa lầu bầu:

– Tui thèm vô trận lắm rồi.

Nhưng coi tụi nó đi trước... cũng thấy trong bụng trống trơn.

Thắng lặng thinh.

Anh biết, chẳng ai dám nói thẳng ra: nỗi lo, nỗi sợ, và cả cái cảm giác có thể không bao giờ gặp lại nhau nữa.

Nhưng chính trong cái im lặng ấy, một tình đồng đội đã lặng lẽ kết dính, bền chặt hơn cả keo sơn.

Ngoài đồng xa, lửa đom đóm lập lòe, tiếng ếch nhái râm ran.

Một làng quê nghèo, đêm yên bình mong manh, mà dưới lớp yên ấy, chiến tranh đã kề sát từng mái rạ, từng nếp chăn.
 
[12Cs] Mặt Đất Và Bầu Trời
Chương 6: Con đường ra trận (tiếp)


(Thắng - Ma Kết, Lực - Bạch Dương)

Mấy hôm sau, đơn vị vẫn còn trú quân ở nhà dân, chờ lệnh mới.

Buổi tối, cả nhóm lính trẻ quây quần quanh ngọn đèn dầu tù mù, người viết thư, kẻ vá lại quai ba lô, kẻ thì lôi đàn măng-đô ra gảy vài nốt vụng về.

Hát vang:

- Giải phóng miền Nam, chúng ta cùng quyết tiến bước...

Trong tiếng đàn lạc nhịp, Lực cởi áo, vắt lên sào, sáng giờ nó mãi chạy ngoài đồng nắng với mấy đứa trẻ trong làng, người rũ mồ hôi.

Thắng tình cờ thấy quyển sổ nhỏ nhét trong túi áo nó rơi ra, cái quyển sổ mà Lực nó hay mân mê mỗi khi rảnh rang, làm bằng da, nhỏ xíu, cũ kĩ.

Anh nhặt lên, định đưa lại thì thoáng thấy dòng chữ nguệch ngoạc: "Phạm Văn Lực, 12/4/1955."

Thắng sững lại.

Anh ngẩng lên, nhìn Lực, cái dáng gầy chắc, đôi mắt sáng, cái cười hồn hậu.

Trong một thoáng, tim anh như thắt lại.

Có chút gì đó bùi ngùi chua xót, thảo nào anh cứ thấy nó thân thương đến lạ, thì ra là bằng tuổi đứa em anh.

Anh gọi khẽ, ánh mắt vừa giận mà vừa thương:

– Lực, lại đây.

Cậu chạy lại, cười hề hề:

– Gì rứa, Thắng?

Thắng đưa cuốn sổ, giọng trầm hẳn:

– Này, năm năm lăm...

Tính ra, cậu mới mười sáu thôi à?

Thằng Lực nó đứng im tại chỗ, vội chộp lấy quyển sổ tay, rồi toan muốn trốn đi.

Chưa kịp trốn thì nhóm lính xúm lại, ồ lên.

Một cậu gãi đầu, cười khì:

– Thảo nào tao cứ thấy mặt chú non choẹt!

Cũng có cậu lính khác lại quở trách:

– Một thằng nhóc vắt mũi chưa sạch!

Thế mà cũng ra chiến trường!

Chả biết có đánh đấm được không chứ...

– Đúng rồi ni, không lo ở nhà mà học đâu, bày trò!

Thằng Lực như bị phơi ra bí mật dấu bây lâu nay, nó gãi gãi đầu, miệng lầm bầm không vui, biết mình cũng không đúng, nó nói khẽ:

– Em nhỏ tuổi chứ cái gan em đâu có nhỏ...còn học thì lúc mô học chả được...

Thắng nghiêm mặt, quát:

– Cậu còn trẻ con, sao lại khai gian tuổi để nhập ngũ?

Cái này đâu phải đùa!

Ra chiến trường, bom đạn nó không tha cho tuổi tác đâu!

Lực cuối mặt xuống, vờ như hối lỗi, rồi lại cười khì, cái cười hồn nhiên đến lạ, giọng nó bỗng ngọt hẳn, như đang làm nũng.

– Anh à, quê em vô chiến sự ác lắm.

Nhà em bị bom sập hai lần rồi.

Ba với anh trai cũng vô bộ đội cả, có mình em ở nhà thì coi răng được.

Thấy người ta đi, em cũng muốn đi.

Mười sáu, mười tám, hai mươi... thì đạn nó cũng rứa thôi.

Cả nhóm lặng đi.

Không khí như dừng lại.

Những đôi mắt trẻ con kia nhìn nhau, mỗi người như thấy bóng dáng mình trong đó: tuổi sinh viên, tuổi mười chín đôi mươi, non nớt, nhưng đã phải đứng trước cái chết.

Thắng ngồi sụp xuống, đưa tay đặt lên vai Lực.

Anh thở dài, giọng nghẹn lại, đôi mày anh cau có, như bám sát vào nhau:

– Trời ạ, mày đúng là...

Nhưng rồi nó lại giãn ra:

– Nhưng thôi.

Giờ đã vào đây rồi thì là đồng đội.

Nhớ, đã coi nhau là anh em thì phải giữ lấy mạng sống của nhau.

Lực gật đầu, cười toe, như thể vừa được khen:

– Dạ, em biết rồi, anh Thắng.

Cả nhóm lại tiếp tục không khí rộn ràng, mọi người bâu vào trêu trọc thằng Lực, khiến cho nó như trở thành em út của đội.

Tiếng cười vang rộn, át đi bóng tối đang phủ ngoài sân đình.

Nhưng trong lòng Thắng, vẫn còn nguyên một nhát dao nhói: cái tuổi mười sáu kia đáng lẽ phải ngồi trên ghế nhà trường, vậy mà nay đã khoác súng, gùi đạn, chờ bom.

Sáng của ngày thứ năm, sương mù còn phủ dày trên sông Lam, tiếng kẻng báo tập hợp vang giòn từ sân đình.

Toàn đơn vị xếp hàng chỉnh tề, súng khoác vai, ánh mắt ngước về phía cán bộ chính trị viên.

Người cán bộ chính trị dáng người nhỏ, nom đã gần năm, bốn chục, nhưng nhìn khoẻ khoắn, nghiêm nghị.

Ông tên Dinh, khi thường không hay nói năng gì nhiều, nét mặt lúc nào cũng như cau có.

Nhưng hôm nay lại hơi thả lỏng, ông nói.

Giọng ông vang to, từng chữ rõ ràng:

– Các đồng chí!

Bộ chỉ huy đã có lệnh: đơn vị ta sẽ hành quân vào Trị – Thiên.

Tiếng vỗ tay vang lên, các anh em đồng chí nhìn nhau, vui có, sợ có buồn có, đoạn, ông Dinh ngưng một lúc rồi nói tiếp.

– Đây là mặt trận ác liệt, nhưng cũng là nơi cần xương máu tuổi trẻ các đồng chí nhất.

Chuẩn bị gói ghém, hai ngày nữa xuất phát.

– Tổ Quốc đang gọi, miền Nam ruột thịt đang gọi!

Cả hàng quân như bừng lên.

Tiếng reo, tiếng cười, xen lẫn tiếng vỗ vai nhau rộn rã.

Những khuôn mặt non trẻ bừng sáng như vừa nhận một niềm vinh dự lớn lao.

Thế là ca khúc giải phóng miền Nam lần nữa lại vang lên, hào hùng biết bao.

Lực gần như nhảy cẫng lên, hai mắt sáng rỡ:

– Anh Thắng!

Anh nghe chưa?

Vô Trị Thiên, thành cổ đó!

Rứa mới đã!

Em chờ từng ngày ni đó!

Thắng mím môi, lòng rộn lên một nhịp khó tả.

Niềm vui vì cuối cùng anh cũng được thực sự khoác súng ra trận, thực sự được góp một phần công nhỏ cho quê hương thân thương.

Nhưng đồng thời, trong niềm vui ấy có một vệt mờ sâu kín: nỗi lo, nỗi trĩu nặng về những điều chưa biết ở phía trước.

Anh nhìn quanh.

Nhiều gương mặt bạn bè rạng rỡ, nhưng trong ánh cười ấy vẫn phảng phất nét run rẩy.

Ai cũng hiểu, chiến trường là nơi khốc liệt.

Vào đó, sống sót để trở về không hề dễ dàng.

Thắng siết chặt quai súng, cố nén lại những dòng suy nghĩ.

Anh tự nhủ: Mình đi, không chỉ cho mình.

Mình đi là thay cho mẹ, cho bao người dân miền Nam, thay cho Thư...

Mình đi là để lịch sử ngày mai viết lại, không có bóng giặc trên đất này nữa.

Chiều hôm ấy, khi đơn vị tan tập, cả nhóm ngồi bên hiên nhà dân, gió thổi hây hẩy.

Một cậu lính trầm ngâm, chống cằm nói:

– Không biết trong đó thế nào...

Tao nghe nói Trị Thiên nhiều đầm lầy, sốt rét còn ác hơn cả đạn.

Một cậu khác chen vào, giọng nửa đùa nửa thật:

– Ừ, sốt rét rừng nó vắt người ra còn khổ hơn cả bom.

Nhưng mà thôi, miễn thắng được Mỹ thì chịu hết.

Thế là có người gắt lên:

– Chúng mày chưa đánh mà sợ rồi à?

Chả đáng mặt đàn ông, đáng mặt bộ đội giải phóng!

– Sợ cái mẹ gì!

Tao chỉ...

Lực cười hề hề, vỗ đùi cái bốp, xoá tan không khí căng thẳng:

– Lo chi mấy chuyện vặt!

Đạn bom em không sợ, sốt rét em cũng không.

Vô được chiến trường, em chỉ mong đánh được vài thằng Mỹ, rồi... có chết cũng đáng!

Mấy anh có thấy vậy không?

Thắng quay sang, nhìn gương mặt trẻ măng ấy, cười khì:

– Nó nói đúng đấy, cơ mà cũng phải cố mà sống.

Sống mới quan trọng.

Còn sống mới còn đánh, mới còn ngày về.

Chết thì dễ, nhưng sống mà đi tới thắng lợi mới khó.

Lực ôm choàng lấy vai Thắng, lại cười toe:

– Anh yên tâm.

Em sống dai lắm.

Em mà chết thì ai đi cùng anh uống chè xanh ngày toàn thắng?

Cả nhóm phá lên cười, xóa tan không khí nặng nề.

Nhưng sau tiếng cười ấy, trong mắt Thắng vẫn còn một khoảng tối, như bóng núi xa xăm cứ lẩn khuất không chịu tan.

Đêm đó, sau buổi sinh hoạt cuối ngày, Thắng trở về gian nhà tranh nơi đơn vị tạm trú.

Ánh đèn dầu leo lét hắt bóng anh xuống vách, chập chờn như chính lòng dạ đang rối bời.

Một đồng đội dúi vào tay anh tờ thư mới được chuyển từ hậu phương.

Nét chữ nghiêng nghiêng, mềm mại, quen thuộc, của Thư.

Anh khẽ run tay mở ra.

"...Thư đã thi xong, đã tốt nghiệp rồi.

Mấy ngày qua, lòng cứ thấp thỏm nghĩ đến Thắng.

Ngoài này, trường xá vẫn rộn ràng, sinh viên vẫn hát vang trong sân, nhưng thiếu Thắng, cảnh vật sao cứ như thiếu một mảng trời..."

Anh đọc đi đọc lại từng chữ, như nuốt lấy hơi thở của cô.

Mỗi dòng, mỗi nét bút như gói cả dáng người nhỏ nhắn, làn da trắng mịn, và nụ cười trong trẻo ngày nào.

Một thoáng, cảnh ga tàu hôm chia tay ùa về, đôi mắt ngấn lệ của Thư khiến lòng anh se thắt.

Thắng ngồi thật lâu, rồi rút cuốn sổ tay, lấy bút chì cùn viết lên trang giấy đã ố vàng.

"Thư thương mến,

Hôm nay Thắng nhận được thư của Thư.

Biết Thư đã tốt nghiệp, lòng Thắng mừng vô hạn.

Thắng thì cũng vừa nhận lệnh vào Trị – Thiên.

Ở đó, chắc gian khổ và ác liệt lắm, nhưng Thắng không ngại.

Nghe bom rơi ở ngoài này, Thắng đã nghĩ: nếu mình không đi, thì ai sẽ đi?

Nếu không có tụi mình, thì lấy ai giữ lấy non sông?

Thư à, chiến tranh làm ta xa nhau, nhưng cũng để thử lòng ta.

Thắng vẫn nhớ từng buổi Thư cười trong sân trường, nhớ cả cái khăn len Thư gửi, đêm nào cũng đặt bên ngực.

Mai kia, dẫu có phải đi qua bao nhiêu đạn bom, Thắng vẫn hứa, ngày toàn thắng sẽ tìm vào Nam, sẽ tìm Thư.

Khi đó, ta sẽ lại đi bên nhau trên đường Hà Nội rợp hoa sấu vàng..."

Viết xong, tay anh run run.

Anh gấp lá thư, đưa cho cán bộ nhờ chuyển hậu phương.

Trong lòng nhẹ bẫng, như thể vừa gửi một phần linh hồn mình về phía Nam.

Đêm xuống, anh nằm dài trên chõng tre, nghe tiếng gió sông thổi hun hút.

Lực đã ngáy khò khò, tiếng ngáy quen thuộc ru anh ngủ như bài ca của mẹ, mấy đồng đội khác cũng chìm vào giấc ngủ.

Thắng trằn trọc, tay lần vào túi áo, chạm vào chiếc khăn của Thư.

...

Sáng hôm ấy, trời còn mờ sương, cả làng đã rộn ràng.

Tiếng gà gáy xen lẫn tiếng mõ trâu, tiếng chèo đò trên sông Lam khua đều, nhưng bao trùm lên tất cả là tiếng bước chân rậm rịch của đoàn lính trẻ.

Sân đình chật kín.

Bộ đội xếp hàng ngay ngắn, ba lô gọn gàng, súng dựng thẳng.

Người dân trong làng kéo đến đông nghịt: bà già tóc bạc chống gậy run run, những người mẹ bế con, mấy cô gái mang theo nải chuối, củ khoai, dúi vội vào tay mấy anh bộ đội trẻ.

Một bà cụ nắm lấy tay Thắng, đôi bàn tay gầy guộc, mắt rớm lệ:

– Các chú đi mạnh giỏi, đánh cho giặc nó hết đường.

Nhớ giữ lấy thân mình, nghe con!

Thắng cúi đầu, siết chặt tay cụ, không nói nên lời.

Chỉ dùng ánh mắt như muốn nói: cụ đợi cháu!

Cháu sẽ mang hoà bình về!

Tiếng trống xuất quân vang lên.

Cả đơn vị chỉnh tề bước ra khỏi sân đình, đi dọc con đường làng rợp bóng tre.

Hai bên, dân làng đứng thành hàng dài.

Có người lặng lẽ khóc, có người vẫy tay, có đứa trẻ chạy theo mấy bước, rồi lại níu áo mẹ đứng lại.

Lực vừa đi vừa ngoái nhìn, nụ cười hồn nhiên nở rộ:

– Anh Thắng, coi kìa, làng tiễn đông quá!

Tui thấy như đi hội chớ không phải đi đánh giặc.

Thắng gườm khẽ, nhưng rồi cũng mỉm cười.

Trong lòng anh, niềm xúc động dâng lên, trào như sóng.

Anh biết, sau lưng mình, là trọn vẹn niềm tin của những con người này.

Một cậu lính trong hàng bất chợt hát lên câu:

"Đường chúng ta đi rộng thênh thang tám thước,

Đường miền Nam ta rộng dài theo đất nước..."

Tiếng hát vang, lan dần sang người bên cạnh, rồi cả đơn vị đồng thanh.

Tiếng hát trẻ trung, rộn rã, át đi tiếng máy bay đâu đó đang vần vũ.

Dân làng hai bên đường cũng hòa vào, tiếng vỗ tay, tiếng "Hoan hô bộ đội!" nối nhau.

Đến đầu làng, đoàn quân dừng lại một chốc.

Cán bộ đơn vị Dinh đứng nghiêm, giọng dõng dạc:

– Chúng tôi xin hứa trước bà con: sẽ chiến đấu đến cùng, không phụ lòng quê hương đất nước.

Ngày toàn thắng, chúng tôi sẽ trở về!

Dân làng đồng loạt vỗ tay, nhiều người òa khóc.

Một cô gái trẻ, chắc chừng mười bảy, mười tám, rút chiếc khăn tay trắng trao cho Lực.

Cậu đỏ mặt, nhưng vẫn nhận, nhét vội vào túi áo, cười hì hì.

Thắng thấy vậy, chợt mỉm cười.

Tuổi trẻ, dẫu trong khói lửa, vẫn còn chỗ cho hồn nhiên và thương mến.

Khi tiếng kèn hiệu vang lên, đoàn quân rẽ khỏi con đường làng, tiến ra quốc lộ.

Dân làng vẫn đứng nhìn mãi, cho đến khi bóng dáng mấy chục chiếc ba lô khuất dần trong màn sương mỏng.

Trong hàng quân, Thắng quay lại một lần.

Con đường làng hun hút, hàng tre nghiêng ngả trong gió sớm.

Anh thấy lòng mình rưng rưng, như thể vừa khép lại một cánh cửa tuổi trẻ, để mở ra con đường mới, con đường ra trận, con đường sống chết.

Bên cạnh, Lực huýt sáo khe khẽ, mắt sáng rực:

– Đi thôi anh Thắng!

Miền Nam đang chờ!

Thắng hít một hơi dài, siết chặt dây quai ba lô.

Anh bước nhanh hơn, hòa vào nhịp chân của đồng đội, như hòa vào nhịp đập chung của cả dân tộc trong những ngày ra trận.
 
[12Cs] Mặt Đất Và Bầu Trời
Chương 7: Đường Trường Sơn


(Thắng - Ma Kết, Lực - Bạch Dương, Thư - Thiên Bình, Kim Ngưu - Quyên)

Hà Nội, mùa.

Phố phường loang loáng màu nắng hanh, hàng sấu trút lá vàng xuống vỉa hè.

Trong sân trường Y, những dãy ghế đá vắng đi tiếng sinh viên ríu rít.

Một lớp người vừa rời ghế giảng đường, mang theo y cụ, stéthoscope, và cả trái tim còn non trẻ, để bước thẳng vào chiến tranh.

Thư đứng lặng trước cổng trường.

Tấm bằng tốt nghiệp vừa nhận sáng nay còn mới tinh, chữ in chưa kịp nhòe mồ hôi tay.

Cô nhỏ bé, gương mặt trắng trẻo nổi thường nổi bật dưới mái tóc dài, nhưng nay lại thành tóc ngắn rồi, cô bảo cắt đi cho tiện làm nhiệm vụ.

Đôi mắt long lanh hiện lên ánh sáng rắn rỏi, thứ ánh sáng chỉ có ở tuổi trẻ dám chọn con đường khó.

Trong túi áo, Thư cất đơn xin nhập ngũ: quân y, bổ sung cho chiến trường B2 – Nam Bộ.

Chỉ ít ngày nữa thôi, cô sẽ rời Hà Nội, vượt Trường Sơn để vào nơi bom đạn ác liệt nhất.

Chiều về, Thư đạp xe qua Hồ Gươm.

Nước hồ xanh thẫm, tháp Rùa nổi lên mờ ảo trong sương.

Dọc phố, những gánh hàng rong vẫn lặng lẽ, tiếng rao vẫn cất lên, như một lớp áo bình yên phủ lên thành phố.

Nhưng trên cao, những khinh khí cầu thả bom bi thỉnh thoảng lại xuất hiện, nhắc người ta nhớ: chiến tranh chưa hề rời xa.

Thư khẽ dừng xe, ngước nhìn tháp Rùa.

Cô nhớ đến ba, người lính tập kết, đi theo bộ đội từ những ngày đầu, để lại má và Thư nơi Hà Nội.

Giờ đây, con đường của cô như nối tiếp con đường của cha, để thành một vòng tròn định mệnh.

Đêm hôm ấy, trong căn gác nhỏ ở khu tập thể, Thư trải thư từ ra bàn.

Có một lá thư của Thắng, mực vẫn còn mùi ngai ngái.

Cô đọc đi đọc lại: "Ngày toàn thắng, Thắng sẽ tìm Thư...".

Thư cắn nhẹ môi.

Trong lòng cô bỗng dâng lên một nỗi vừa bồi hồi, vừa xao xuyến.

Thắng – chàng sinh viên khoa Sử ngày nào, đôi mắt nghiêm nghị, dáng người cao gầy, tiếng cười khẽ khàng.

Giờ đây, anh đang ở đâu trên con đường vào lửa đạn?

Cô mường tượng hình ảnh Thắng đang hành quân cùng đồng đội, ba lô nặng trĩu, chân dẫm lên con đường mịt mù khói bom.

Và chính cô, cũng sắp bước lên một con đường khác, đi về một hướng khác của Tổ quốc.

Đêm cuối cùng ở Hà Nội, gió heo may tràn qua từng con phố nhỏ.

Thư ngồi bên chiếc bàn gỗ ọp ẹp trong căn gác tập thể, xếp từng món đồ vào ba lô: vài bộ áo bà ba nâu, một chiếc khăn rằn mẹ gửi ra, cuốn sổ tay y học cũ, hộp thuốc bông gạc.

Mỗi thứ, cô chạm tay vào đều như gói ghém một phần kỷ niệm.

Ngoài phố, tiếng rao đêm vẫn vang vẳng: "Ai bánh khúc nóng đê..."; tiếng bánh xe đạp lọc cọc trên mặt đường gạch.

Thành phố vẫn sống đời sống bình dị, nhưng Thư hiểu, chỉ cần một trận bom bất chợt, tất cả có thể tan vỡ.

Cô mở ngăn bàn, lấy ra lá thư của Thắng, đọc lần nữa.

Những dòng chữ nghiêng nghiêng: "Ngày toàn thắng, Thắng sẽ tìm Thư..." như thắp thêm ngọn lửa trong tim.

Rồi cô cất chúng vào hành trang ra đi của mình.

Sáng hôm sau, ga Hàng Cỏ đông nghịt.

Những chuyến tàu quân sự nối đuôi nhau rít còi, chở hàng đoàn người trẻ đi vào các hướng.

Thư mặc bộ bà ba màu nâu, khoác ba lô sau lưng, chen vào dòng người.

Khung cảnh y như cái ngày mà Thư chào tạm biệt Thắng.

Các mẹ, các chị đứng hai bên, dúi vào tay bộ đội trái bắp, củ khoai, bịch muối vừng.

Có người bật khóc nức nở, có người chỉ nắm chặt tay con, không thốt được lời.

Má Thư dắt con gái ra tận ga.

Người đàn bà nhỏ bé, tay run run, chỉnh lại dây quai ba lô cho con:

– Con gái... vô đó, có đói có khổ cũng ráng chịu.

Nhớ giữ lấy thân, nghe con.

Thư ôm má, nước mắt ứa ra nhưng cô cố cười:

– Má đừng lo.

Con là quân y, con có thuốc men, con biết tự chăm sóc mình.

Với lại... con còn lời hứa với ba, với Thắng...

Má chỉ biết lắc đầu, rồi dúi vào tay con chiếc khăn rằn cũ.

– Cái này hồi trước ba con để lại.

Mang theo, coi như có hơi ấm ba bên con.

Thư nắm chặt, lòng se sắt.

Tiếng còi tàu hú dài.

Đoàn người ào ạt bước lên.

Thư quay đầu nhìn lại: Hà Nội buổi sáng mờ sương, mái ngói rêu phong, hàng xà cừ in bóng dài trên nền phố.

Cô thấy má đứng chen trong dòng người, tay vẫy hoài không ngớt.

Tàu lăn bánh, tiếng sắt nghiến trên đường ray rít lên chan chát.

Mỗi vòng quay bánh tàu như xé nát một phần ký ức.

Thư đứng bên cửa sổ, gió ùa vào, tóc bay tán loạn.

Lòng cô rộn lên vừa buồn, vừa rực sáng: buồn vì xa má, xa Hà Nội; rực sáng vì biết mình đang đi vào con đường của lý tưởng, của tuổi trẻ.

Con tàu xuyên suốt dọc miền, rùng rình chở theo bao gương mặt trẻ.

Ngoài cửa sổ, đất trời Bắc Bộ lùi dần.

Những đồng lúa đã gặt xong, gốc rạ vàng ươm loáng ánh nắng.

Thỉnh thoảng đoàn tàu băng qua một cây cầu sắt, sông nước mênh mông mở ra, sóng ánh bạc lấp loáng.

Thư ngồi sát cửa sổ, má kề vào ba lô, mắt mở lớn.

Lần đầu tiên rời xa Hà Nội, lòng cô đầy xao xuyến.

Phía trước là những miền đất xa lạ, phía trước là chiến tranh khốc liệt, mà trong cô, một thứ cảm xúc kỳ lạ vẫn nảy nở: vừa hồi hộp, vừa phấn khích.

Trong toa tàu, tiếng cười nói râm ran.

Toàn nữ nhiều, phần lớn là thanh niên xung phong, y tá, hộ lý, có vài chị mới tốt nghiệp bác sĩ như Thư.

Họ quây quần, rút bánh đa, ngô rang chia cho nhau.

Mỗi người một quê, giọng nói rộn ràng đủ vùng miền.

Đêm xuống, tàu ghé ga dọc đường.

Mỗi ga là một câu chuyện.

Có nơi bà con ùa ra, tay cầm mấy nải chuối, mấy củ khoai, dúi cho bộ đội.

Có nơi, tiếng còi báo động hú lên, đèn tắt phụp, tàu phải nằm im trong bóng tối, chờ máy bay Mỹ đi qua mới dám chuyển bánh.

Thư ngồi trong khoảng tối, nghe tiếng bom dội đâu đó xa xa, lòng thắt lại.

Nhưng khi tàu lăn bánh trở lại, cô lại tựa đầu vào kính.

Qua mấy ngày, tàu dừng ở ga cuối.

Từ đây, đoàn quân được tổ chức thành từng nhóm nhỏ, chuẩn bị băng rừng, vượt dãy Trường Sơn vào Nam.

Những người dân địa phương kéo đến tiễn.

Có bà cụ rưng rưng nắm tay Thư, giọng miền Trung đặc quánh:

– Con gái, rứa là đi xa lắm, đi chi cho khổ...

Nhưng thôi, ráng nghe con.

Miền Nam đang đợi mấy đứa.

Ngày đầu đặt chân lên Trường Sơn, nắng đổ như lửa, gió khô rát mặt.

Ba lô nặng, đường rừng gập ghềnh, dây leo quất vào người rát buốt.

Nhưng trong đoàn, không ai than.

Tiếng hát vang lên để át đi mệt nhọc:

"Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây,

Bên ấy mưa nhiều, bên này nắng cháy..."

Đại đội của cô đi có tầm mấy chục người, đều là thanh niên xung phong, lính mới, bằng tuổi Thư có, lớn hơn cũng có, mà đa phần là nhỏ tuổi hơn Thư.

Cả đoàn vừa vào cánh rừng là đã gặp một cô thiếu nữ trẻ, mặc đồng phục lính cụ Hồ, nước da ngâm đen vì nắng rừng.

Cô bé có dáng người cao gầy, đôi mắt to long lanh mà khi nào cũng cong lên thành hai vầng trăng, cái miệng thì nhanh nhẩu, lúc nào cũng cười tươi dù lấm lem bụi trần.

Con bé nói giọng Nghệ An, gặp tiểu đội là cười tít mắt, nó đi từ trên phía rừng xuống, tay cầm theo một chiếc gậy gộc, vai mang ba lô, tóc bím lại nhưng vẫn hơi rối bời, mái còn lém tém như bị cháy rồi cắt đi:

– Các đồng chí ni là quân tiếp viện cho chiến trường B2 phải không?

Anh đại đội trưởng dẫn dắt đại đội đi vừa gặp con bé thì liền mừng rỡ, anh bước lên, nói:

– Đúng vậy, đây là các tân binh được điều bổ sung cho chiến trường.

Con bé lại cười:

– Em là giao liên, tên Quyên.

Em nhận lệnh cấp trên xuống dới ni dẫn đường cho các đồng chí ra mặt trận.

Đường trên ni khó đi lắm, các đồng chí nhớ nghe rõ lời em nói, đi cho sát em nghe.

Cả đại đội cười tươi gật đầu, Thư nhìn con bé mà sao thấy đáng yêu lắm, cũng vừa gật gù vừa nhìn con bé.

Thế rồi cả đội lại hành quân tiếp, ai nấy đều mồ hôi đẫm trán, đôi vai nhỏ bé lấm bụi đỏ, nhưng ánh mắt vẫn rực sáng.

Có lẽ vì họ biết, từng bước chân này đưa họ lại gần hơn với miền đất phương Nam, nơi các đồng bào ruột thịt đang chờ.

Ngày thứ ba trên đường Trường Sơn.

Con đường mòn len lỏi qua rừng già, dốc dựng đứng, đá sắc nhọn cắt vào dép cao su.

Trời tháng Chạp nhưng nóng hầm hập, hơi đất bốc lên hăng hắc.

Trên đầu, tán cây rậm đến nỗi ánh nắng không lọt qua được, vậy mà vẫn oi bức, mồ hôi túa ra, lưng áo ai cũng ướt sũng.

Ấy vậy chứ các chị vẫn cư ca vang, vui tai lắm, nào là Trường Sơn Đông - Trường Sơn Tây, rồi Cô gái mở đường, rồi Tiếng đàn Ta Lư, Thư nghe mà thấy rừng Trường Sơn sao rộn ràng, sao mà tha thiết biết mấy.

Dù thi thoảng con đường vẫn bị ném bom, và tiếng máy bay trinh sát vẫn rên ầm ĩ trên bầu trời, nhưng không có gì có thể cản bước được đoàn quân đi tiếp.

Cái Quyên vẫn dẫn đường cho mọi người, vừa đi nó vừa hát líu lo như con chim sẻ, thi thoảng lại kể chuyện về những cánh rừng Trường Sơn và những đoàn xe không kính oai hùng.

Mỗi lần nó kể chuyện, cái giọng xứ Nghệ của nó thánh thoát, mắt nó thì cứ cong lên vì cười, lạc quan đến lạ kì, mọi người trong đội ai cũng quý nó.

Hỏi sao nó dũng cảm mà lạc quan thế, nó cũng chỉ cười khì bảo "quen rồi".

Thư gò vai gánh ba lô nặng trĩu, bước chân trầy trật.

Mỗi khi ngẩng lên, chỉ thấy lưng áo nâu của đồng đội phía trước, nhòe đi trong mồ hôi và bụi đỏ.

Lần đầu tiên trong đời, cô thấy đôi chân mình nặng nề đến vậy, từng bước như dẫm lên ngực, nhưng lại cứ nghĩ đến phương Nam, cô lại cắn răng bước tiếp.

Đêm đến, đoàn dừng lại bên một con suối nhỏ.

Mấy chị em vội vã tháo ba lô, ngồi phịch xuống đất, thở dốc.

Thư vốc nước lên mặt, nước mát lạnh, nhưng môi lại mặn chát vị muối mồ hôi.

Bên kia suối, Hường, một thanh niên xung phong trong đoàn, lôi ra mấy củ sắn khô, chia cho cả nhóm:

– Ăn đi, mai còn đi tiếp.

Thư cầm miếng sắn khô, cố nuốt nhưng cổ họng nghẹn lại.

Trong khoảnh khắc ấy, cô nhớ má đến quay quắt, nhớ dáng người lom khom ngồi vá áo dưới ánh đèn dầu, nhớ mùi canh chua cá lóc nấu khế ngày còn ở Sài Gòn, nhớ cả tiếng chuông xe điện leng keng trên phố Tràng Tiền.

Cô quay mặt đi, nước mắt rơi lã chã xuống đất.

Chưa kịp để cô đau buồn, thì tiếng bom lại bất ngờ vang rền.

Mặt đất rung chuyển.

Máy bay Mỹ quần thảo trên đầu, ánh sáng loé lên như xé toạc bầu trời.

Cả đoàn vội vã lao xuống hầm chữ A dựng tạm ven suối dưới sự hướng dẫn của Quyên.

Trong bóng tối ẩm ướt, hơi người chen chúc, tim Thư đập loạn xạ dù đã chịu cảnh này không biết bao lần.

Bom nổ dội xuống, đất đá rơi lộp bộp trên mái hầm.

Một chị thanh niên xung phong bên cạnh ôm chặt lấy tay cô, thì thầm run run:

– Răng... răng nó biết mình ở đây rồi?

Bom ngớt.

Đêm rừng lại tối đen đặc.

Tiếng ve rừng rỉ rả, tiếng côn trùng kêu thê thiết.

Mùi khét của thuốc nổ còn ám trong không khí, nồng nặc đến khó thở.

Các cô các chị, em trong đội thì lấm tấm bụi, mặt mũi ngờ nghịt vì khói lửa.

Sau trận bom ấy, nhiều người trong đoàn lả đi vì kiệt sức.

Một cô gái trẻ, mới mười chín tuổi, lên cơn sốt rét, run bần bật, môi tím tái.

Thư vội châm ngọn đèn dầu, lấy thuốc ra, chăm sóc.

Trong khoảnh khắc ngồi bên thân hình bé nhỏ ấy, nghe tiếng rên rỉ yếu ớt, Thư bỗng rùng mình, cô thật sự cảm nhận cái mong manh của mạng sống nơi rừng núi này.

Bom đạn có thể giết người ngay tức khắc, nhưng bệnh tật mới là kẻ thù dai dẳng, gặm nhấm từng giọt sức lực.

Thế mới thấy, các chiến sĩ trên đường Trường Sơn khói lửa này đã gian khổ như thế nào, càng nghĩ Thư lại càng muốn mau mau ra mặt trận, mau mau cống hiến cho đất nước.
 
[12Cs] Mặt Đất Và Bầu Trời
Chương 8: Đường Trường Sơn (tiếp)


(Quyên-Kim Ngưu, Thư-Thiên Bình, Vy-Song Ngư)

Rừng Trường Sơn ngày nối ngày vẫn trải dài bất tận.

Nắng thì như lửa, mưa thì như trút nước.

Những dốc đá dựng đứng nối tiếp nhau, nhiều đoạn tưởng chừng chân không còn nhấc nổi.

Quyên đi trước, dáng người mảnh dẻ, vai gánh ba lô to gấp rưỡi Thư mà bước vẫn thoăn thoắt, còn Thư, mệt đến rã mồ hôi, chân thì rộp lên còn áo thì ướt đẫm.

Thỉnh thoảng, con bé ngoái lại, giọng Nghệ An ấm và vang:

– Nì đồng chí, đi chậm thôi, kẻo hụt hơi.

Trường Sơn không có chi vội cả, cứ đều chân là tới.

Thư mỉm cười, thở hổn hển:

– Tôi biết rồi, cảm ơn đồng chí.

Quyên bật cười, hàm răng trắng lóa giữa làn da ngăm:

– Tui quen núi rồi, ngày xưa còn đi giao liên.

Đường ni, với tui, như đường làng thôi.

Nghe giọng nói hồn nhiên mà rắn rỏi ấy, Thư thấy lòng dịu xuống.

Cô bỗng cảm nhận được sự an tâm kỳ lạ khi có Quyên bên cạnh, như một người em, một người bạn, một bóng cây che chở giữa dặm dài.

Đêm đó, đoàn dừng chân ở một lán rừng.

Trăng lên lấp ló qua tán cây, ánh sáng đổ thành vệt bạc trên mặt đất.

Thư trải tấm ni-lông làm chỗ nằm.

Bên cạnh, Quyên rút trong ba lô ra một chiếc kèn nhỏ, thổi khúc Làng tôi.

Giai điệu mộc mạc vang lên, dìu dặt, khiến cả lán im bặt.

Thư nằm nghe, mắt dần ngân ngấn.

Hình ảnh Hà Nội, Hồ Gươm, mái ngói phố cổ lại ùa về.

Và đâu đó, bóng dáng Thắng, ánh mắt nghiêm nghị, bàn tay chắc nịch hiện ra như thật.

Quyên thổi xong, quay sang cười:

– Thư nhớ nhà, nhớ người chi đó hỉ?

Thư đỏ mặt, lúng túng:

– Nhớ... má.

Với lại... nhớ Hà Nội.

Quyên không hỏi thêm, chỉ khẽ gật.

Giọng con bé trầm xuống, nặng mà ấm:

– Đi xa ai mà không nhớ.

Nhưng mình đi để có ngày mai, để con nít trong làng mình không còn nghe tiếng bom.

Nhớ thì nhớ, nhưng cũng phải ráng.

...

Sáng hôm sau, khi đoàn lại bước tiếp, trời bất ngờ đổ mưa.

Rừng Trường Sơn biến thành biển nước, đất đỏ nhão nhét, trơn như mỡ.

Người đi sau giẫm vào dấu chân người đi trước, vậy mà vẫn trượt ngã liên tục.

Thư ngã dúi xuống, bùn vấy đầy áo.

Quyên vội kéo dậy, con bé cau mày, làm ra vẻ bực bội.

– Đấy, Thư mà đi một mình thì chắc mất xác rồi!

Thư thấy thế thì cũng vôi vội đứng dậy, nhỏ tiếng xin lỗi Quyên, ấy vậy mà khi Thư vừa ngước mặt lên nhìn Quyên, con bé đã cười khằng khặc, nó vừa cười vừa dùng tay vuốt lên đôi má của Thư, đôi má lem luốc bụi bùn.

Thư nhìn mình lấm lem, bất giác cũng cười theo, cười trong mưa, trong bùn, nhưng lòng lại ấm áp lạ thường.

Đêm ấy rừng tối đặc.

Chỉ có tiếng mưa lộp bộp trên tán lá, tiếng côn trùng rả rích.

Đoàn vừa dừng lại chưa kịp trải tấm ni-lông thì tiếng kẻng báo động vang dội.

Máy bay Mỹ ập đến.

Tiếng động cơ gầm rú, rạch nát bầu trời.

Ánh sáng xanh lét từ pháo sáng quét xuống, như lưỡi dao lia qua từng thân cây.

– Bom tọa độ!

Chạy mau! – tiếng chỉ huy hô vang.

Cả đoàn ào xuống những hầm chữ A cắm sẵn ven đường.

Thư lao theo, tim đập dồn, chân lấm bùn trơn trượt.

Vừa chui được vào hầm, cô nghe "ầm...

ầm...

ầm" liên hồi, đất đá rơi rào rào.

Không khí nồng mùi khói thuốc súng, nghẹt thở.

Trong bóng tối, đồng đội nắm tay cô thật chặt.

Nhưng bên tai, Thư nghe tiếng kêu thét ngắn gọn, xé toạc màn đêm:

– Á... cứu tôi với!

Một bóng người vừa kịp lao vào hầm kế bên, thì quả bom trúng ngay miệng hầm.

Đất đá vùi kín.

Tiếng kêu lịm đi, chỉ còn tiếng nổ và mùi đất cháy khét lẹt.

Thư chết lặng.

Toàn thân run bắn, đôi tai ù đi.

Trong chốc lát, cô nhận ra: người vừa bị vùi lấp là một chị hộ lý, mới hai mươi tuổi, vẫn hay ngồi kể chuyện quê Thái Bình trong những tối nghỉ.

Con Quyên muốn vội lao ra, nhưng rồi bị các đồng đội kéo lại:

– Đi ra đấy bom nó nổ cho bỏ mẹ đấy!

Con bé cắn môi, tay run không kìm lại được, khoé mắt lại như đẫm nước.

Khi bom ngớt, cả đoàn bật đèn pin nhỏ, lao ra đào bới.

Tay cuốc, tay xẻng, tay trần, hốt hốt hải hải.

Đất đá ướt nhão, dính đầy mồ hôi và máu.

Thư cũng lao vào, bàn tay mềm yếu xước toạc, chảy máu.

Móng tay bật ra, đau buốt, nhưng cô không dừng.

Trong lòng cô vang dội một tiếng gào: Mình là quân y, mình phải cứu... phải cứu!

Nhưng khi lôi được thân người ra, thân thể đã mềm oặt, đôi mắt hờ hững không còn ánh sáng.

Bụi đất vẫn còn chơi đùa trên màu áo xanh biếc của rừng đã nhuộm màu đỏ tươi của máu, cô thanh niên im lìm, chỉ còn lại hơi thở thoi thóp, trong một phút lặng im sau tiếng bom, cô gái đưa tay lên kêu khẽ hai tiếng: Mạ ơi... rồi lặng đi trong tiếng máy bay kêu gào trên bầu trời Tổ Quốc.

– Ôi em ơi....Hương ơi!

Một nấm đất mới nhanh chóng đắp lên dưới gốc cây rừng.

Không bia, không cờ.

Chỉ có một mảnh vải trắng buộc trên cành cây làm dấu.

Thư đứng lặng, hai bàn tay run rẩy, đôi mắt rớm lệ.

Đây là lần đầu tiên trong đời, cô chứng kiến cái chết gần đến thế, không phải là dòng chữ trên báo, không phải là chuyện kể của người khác, mà là một con người bằng xương bằng thịt, còn nói cười hôm qua, giờ đã nằm yên dưới nấm đất lạnh.

...

Đêm ấy, cả đoàn lại lên đường, bước trong mùi bom khét lẹt, trong bóng tối đặc quánh.

Tiếng suối xa xa róc rách, tiếng gió hú qua rừng.

Trên vai họ, ba lô vẫn nặng trĩu, nhưng lòng người càng nặng hơn.

Gió rừng rít từng hồi, đất đá dưới chân nhão nhoẹt, trơn trượt.

Thư đi sau cùng, mắt vẫn đỏ hoe, bước chân lạc nhịp.

Cô cứ nấc lên trong tiếng khóc thút thít suốt cả quãng đường đi, tiếng khóc ấy dù nhỏ nhưng sao lại như vang vọng giữa những cánh rừng lặng im.

Anh Quang vẫn luôn dẫn trước, vai vuông vức trong bộ quân phục sờn cũ, bất chợt dừng lại.

Anh xoay người, ánh mắt nghiêm, nhìn thẳng vào Thư.

– Đồng chí Thư! – giọng anh vang gọn, sắc lạnh – Là quân y, đồng chí khóc thì ai gượng dậy cho đồng đội?

Thư khựng người, ngẩng lên, môi run run.

Các chị em đứng bên cạnh, định chen vào nhưng Quang giơ tay ngăn, vẫn nhìn Thư, giọng chậm rãi mà dứt khoát:

– Ở chiến trường, nước mắt không cứu được ai.

Người nằm xuống... chính là để ta đi tiếp.

Nếu đồng chí không đứng vững, còn bao người nữa sẽ ngã?

– Đồng chí có nhớ mình đã viết những gì trong đơn tình nguyện không?

Hãy nhớ về lý do mà đồng chí bắt đầu.

Những lời như từng nhát dao cứa vào lòng, nhưng đồng thời cũng như búa đóng cọc.

Thư cắn môi, nước mắt nghẹn ngào, cô đưa tay ôm lấy mặt.

Trong tiếng nấc, cô nhìn thẳng vào Quang rồi nói:

– Rõ ạ.

Quang không đáp, chỉ xoay người đi tiếp, bước chân chắc nịch, bóng dáng khuất dần trong hàng quân.

Đêm hôm đó, khi cả đoàn dựng lán nghỉ, Thư lặng lẽ ngồi ở góc, nhìn bàn tay mình rớm máu vì đào đất.

Lời anh Quang cứ vang vọng trong đầu: Nước mắt không cứu được ai.

Gió từ đại ngàn thổi qua, mang theo hương nhựa cây hăng hắc.

Thư hít sâu, bàn tay nắm chặt, thầm nhủ bản thân phải mạnh mẽ lên, phải kiên cường lên, vì Tổ Quốc vẫn đang đợi, ấy vậy mà đôi tay cô vẫn thôi không ngừng run rẩy, và hình ảnh thân xác nhuốm máu không nguyên vẹn của đồng đội lại hiện lên trước mắt, khiến cho đầu thư đau như búa nổ.

Ở góc lán, Quyên nằm nghiêng, khẽ liếc qua, thấy Thư vẫn thức, chỉ buông một câu nhỏ:

– Chị ngủ đi, có em ở ni rồi.

Chị không phải sợ đâu.

...

Ngày thứ ba, đoàn vẫn bước đều qua rừng núi.

Tiếng suối chảy róc rách hòa cùng tiếng ve, tiếng gió, nhưng trên từng khuôn mặt, bóng dáng nấm mộ đồng đội hôm trước vẫn như còn phảng phất.

Thư dẫu cho phờ phạc hẳn ra sau cái chết của chị hộ lý nhưng dường như cô lại bước đi nhanh hơn trước.

Cô không còn hay chậm chân rơi rớt lại sau.

Mỗi khi vai nặng, bước mỏi, cô lại siết quai ba lô chặt hơn, nhớ đến ánh mắt của anh Quang, nhớ đến lời anh nói với mình.

Một buổi chiều, đoàn đến bản nhỏ, được bà con nhường nhà sàn cho ở tạm.

Đang chia nhau nấu cơm, một cậu lính trẻ vội vàng chạy tới, bàn chân dẫm phải mảnh tre nhọn, máu tuôn xối xả.

Cậu kêu "ối giời ôi" vang cả góc bản, hình như cậu cũng là giao liên giống con Quyên, hôm nay không may lỡ té suối, dép cao su hỏng mất.

Mọi người nháo nhác.

Chưa kịp ai phản ứng, Thư đã xắn tay, kéo cậu ngồi xuống, móc gói bông băng cất trong túi ra.

Động tác còn vụng về, nhưng đôi mắt thì sáng, bàn tay run rẩy giờ lại kiên quyết.

– Ngồi im đi, tui băng liền cho.

Máu chảy nhiều quá, không cầm kịp là nguy.

Cậu lính cắn răng, mồ hôi túa ra.

Thư lau sạch, cẩn thận nhặt hết dằm tre ra, rồi băng chặt, cố gắng vận dụng những gì mà cô đã được học.

Khi công việc xong, cả lán rộn tiếng khen.

Anh Quang đứng ngoài cửa, im lặng nhìn.

Ánh mắt vẫn nghiêm nghị, nhưng sâu trong đó thoáng một tia hài lòng.

Anh không nói lời nào, chỉ gật khẽ rồi quay đi.

Tối hôm đó, Quyên ngồi cạnh Thư, khẽ thúc cùi chỏ:

– Rứa mới phải chớ.

Thư mà yếu đuối hoài, ai mà nhờ cậy.

Thư nhìn bàn tay dính máu đã khô, cô nhìn xa xăm nói:

– Ừm, Quyên nói đúng đó, chị không thể cứ vô dụng vậy hoài, chị sẽ không để ai chết như Hương nữa.

Quyên quay sang nhìn Thư, đôi mắt con bé đăm chiêu, như hiểu ra điều gì đó, nó lại gần, vùi đầu vào đùi Thư.

Thư thấy thế thì có hơi bất ngờ, nhưng rồi cũng dùng tay vuốt tóc con bé, Thư hát lên mấy tiếng hát ngọt liệm.

Giữa cái gió rừng, Quyên nói với Thư:

– Chuyện của Hương không phải lỗi của chị, chị đừng tự trách mình.

Thư nhắm mắt, vẫn hát cho Quyên nghe.

Mắt cay xè, lòng ấm áp.

...

Buổi sáng ngày thứ tư trên rừng Trường Sơn vén mây chậm rãi.

Cả rừng núi như choàng một tấm áo mỏng màu xám nhạt, lẫn lộn giữa hơi sương và khói đốt lán.

Những tiếng chim lạc vang rời rạc, xa xăm, như báo hiệu một ngày mới chẳng dễ dàng gì.

Thư vừa đặt chân đến một nơi đóng quân trên đường Trường Sơn.

Đường hành quân mấy ngày qua đã rút kiệt sức, nhưng khi nhìn thấy căn lán dựng giữa rừng, vài dãy hầm chữ A đào vội, những dây võng mắc chằng chịt dưới tán cây đại ngàn, trong lòng cô dâng lên cảm giác vừa lo lắng, vừa bồi hồi.

Anh Quang sau khi vào hầm chỉ huy đồn đóng quân một chút thì đi ra, tập hợp lại tiểu đội của Thư.

– Các đồng chí, hiện tại các đồng chí có lệnh đóng quân ở đơn vị này, đáng lẽ đội ta sẽ hành quân vào Nam nhưng vì đơn vị này đang thiếu người, tạm thời tôi sẽ chuyển giao tiểu đội cho đội quân y tại đây.

Nói rồi anh chào tạm biệt từng người rồi cho giải tán, đến chỗ của Thư đứng, anh nhìn Thư trìu mến, bắt lấy tay Thư.

Bàn tay anh cứng rắn, chai sạn, cái nắm ngắn ngủi nhưng đầy ắp.

Ánh mắt anh không mềm đi, nhưng giọng trầm xuống, như một sự thừa nhận lặng lẽ:

– Từ đây, đồng chí sẽ ở chiến trường thật sự.

Ráng mà vững.

Thư gật đầu, môi mím lại.

Không dám hứa hẹn gì nhiều, chỉ một câu nhỏ gọn:

– Tôi sẽ cố hết sức ạ.

Anh Quang không nói thêm, chỉ giơ tay chào.

Rồi anh quay bước, bóng dáng dần hòa vào đoàn quân khác đang đi tiếp.

Lúc đó, Thư cảm thấy khoảng trống lạnh ngắt phủ xuống, nhưng đồng thời, một luồng khí mới ùa vào, cô hiểu mình đã thật sự sang một chặng đường khác.

...

Chỉ huy mới tiếp nhận tiểu đội của đội quân y là một bác sĩ tên Đức.

Người không cao, mặt hơi bầu bĩnh, trán đã hằng sâu những nếp nhăn, dáng nhanh nhẹn, giọng Bắc đặc sệt.

Bác sĩ Đức giới thiệu ngắn gọn:

– Tôi là y sĩ chính của đơn vị này, tên Đức, ba mươi hai tuổi.

Từ nay, các đồng chí theo tôi.

Việc chi cũng phải nghe lệnh, rõ chưa?

Thư gật.

Nhìn Đức, đôi mắt nghiêm, sâu hun hút và mang nét gì đó khắc khổ, mắt anh còn thâm quầng đen kịt, giọng nói cũng khàn khàn lúc nào cũng nói chậm, như rất mệt vậy.

Ngay sau đó, bác sĩ Đức dẫn đội đi quanh đơn vị.

Đường rừng vặn vẹo, những căn hầm ngụy trang lá cây, mùi đất ẩm ngai ngái bốc lên khắp nơi.

Những tấm băng ca bằng tre dựng sẵn bên gốc cây, thuốc men cất trong những túp lán nhỏ, bọc kỹ bằng lá chuối khô.

Không khí vừa khẩn trương, vừa ngột ngạt, như tất cả đang căng mình đón chờ cơn bão lớn.

Trong lúc giới thiệu với các đồng đội khác, Bác sĩ Đức gọi một cô gái trẻ đang lúi húi rửa nồi ở suối lên:

– Này Vy, lại đây, gặp tiểu đội mới này.

Cô bé bước tới, dáng gầy gò, tóc bím dài thườn thượt, mặt rám nắng, hơi ửng hồng.

Đôi mắt tròn to nhưng hơi rụt rè, cứ nhìn xuống nhiều hơn nhìn lên.

Khi tới gần, giọng Thanh Hóa vang khẽ:

– Em là Diệu Vy, y tá ở đây.

Em quê Thanh Hoá, mới học năm nhất thôi.

Thư thoáng ngạc nhiên.

Năm nhất mà đã vào tận đây?

Cô nhìn đôi bàn tay nhỏ bé của Vy, còn lấm lem đất, rồi bắt gặp cái nhìn loáng thoáng sợ hãi nơi mắt cô bé.

Một thoáng thương cảm ập tới.

Bác sĩ Đức chỉ dặn dò cô đôi lời rồi đi mất.

Khi ông vừa đi cũng là lúc cô bé lên tiếng:

– Em sẽ hướng dẫn các đồng chí về nơi ở, chỗ sinh hoạt và nơi làm việc nhé.

....
 
[12Cs] Mặt Đất Và Bầu Trời
Chương 9: Con đường máu thịt


Đường Trường Sơn không chỉ là núi non, mưa gió, mà còn là một thế giới riêng.

Người ta hay gọi đó là "con đường máu thịt," bởi ở đây có đủ tất cả: quân đi, gùi hàng, xe tải, xe thồ, thương binh cáng dọc suối, dân công mở đường, và bộ đội phục kích dọc bìa rừng.

Tất cả hòa lẫn vào nhau, tạo thành một bản nhạc ồn ào, lúc rộn rã tiếng cười, lúc rúng động bởi bom dội.

Ngày đầu tiên Thư nhận nhiệm vụ, đơn vị quân y đóng tại một căn lán bên suối, có hầm tránh bom đào sát vách núi.

Phía bên kia suối, cách chỉ vài con dốc, là đơn vị giao liên, nơi Quyên, người bạn Thư vừa làm quen làm việc.

Hai bên thường xuyên qua lại, trao đổi tin tức, đưa thương binh, tiếp tế thuốc men.

May mắn đến lạ, Thư và Quyên lại gặp nhau, giữa rừng sâu xa lạ.

Một sáng đầu tiên sau khi đến căn cứ, sương giăng trắng xóa, rừng núi im ắng như còn ngủ.

Từ xa, tiếng gùi hàng lục cục vọng về.

Mấy chị dân công với đôi vai bé nhỏ mà gùi tới cả bảy tám chục ký gạo, bước đều như sóng.

Quyên dẫn đầu, miệng huýt sáo, mồ hôi chảy ròng trên trán.

Thấy Thư, Quyên cười tít mắt, ném mấy trái quả nhặt được từ trong rừng chi:

– Nì, quà cho quân y!

Thư vội đón lấy, bật cười thích thú.

Cuộc sống ở Trường Sơn chẳng khác nào vừa tồn tại, vừa bám víu vào từng khoảnh khắc.

Tầm bảy giờ, tiếng cưa đục mở đường vọng lên, xen lẫn tiếng hò đẩy xe thồ nặng.

Đất đỏ văng đầy mặt, bùn dính bết vào ống quần.

Thỉnh thoảng, tiếng máy bay trinh sát rú qua, tất cả lại ùa xuống hầm, ôm nhau nín thở.

Khi máy bay đi, người ta lại bò lên, làm tiếp công việc như chưa hề có cơn bão nào đi qua.

Trưa, thương binh nằm la liệt trên võng, tiếng rên ỉ ỉ.

Thư cùng Vy cặm cụi băng bó phụ cho các đồng chí quân y túc trực.

Cánh tay cô run lên mỗi khi nhìn vết thương loang máu, nhưng nhớ tới lời anh Quang, nhớ tới ánh mắt đồng đội, cô nén lại, đôi tay dần cứng rắn hơn.

Vy thì nhiều lúc lóng ngóng, vừa chạm vào đã hỏng việc, khiến Bác Đức cứ gắt gỏng chửi ầm cả lên.

Buổi chiều hôm ấy, mưa rừng bất chợt đổ xuống, ào ào như trút nước.

Nước từ vách núi đỏ ngầu chảy xuống, hòa với bùn đất thành từng dòng đặc quánh.

Trên đường mòn, vài tốp cáng thương binh hối hả chạy về lán quân y, tiếng gọi nhau dồn dập, át cả tiếng mưa.

– Có thương binh nặng!

Mau chuẩn bị!

Tiếng hô vang làm Thư giật mình, lòng thắt lại.

Đây là lần đầu tiên cô trực tiếp đối diện với cảnh máu me khốc liệt.

Vy nghe tin đã vội chạy đi lấy dụng cụ y tế, còn Thư vội lấy hết sức bình tĩnh, sắp xếp băng, thuốc, dao kéo lên bàn tre.

Một chiến sĩ trẻ được cáng vào, máu từ đầu gối phun ra đỏ tươi, loang ướt cả tấm chăn, hình như anh bị trúng pháo kích, mảnh chân rách nát ra, gãy xương hở, xương đâm hẳn ra bên ngoài.

Mặt anh trắng bệch, đôi mắt lờ đờ, hơi thở yếu ớt.

Thư chỉ kịp thoáng nhìn thôi mà toàn thân lạnh toát, đôi bàn tay bấu chặt vào vạt áo, tim đập như muốn vỡ lồng ngực.

– Nhanh lên! – Bác sĩ Đức quát, ánh mắt như dao chém. – Giữ vết thương cho chặt, định hình chân, cầm máu lại, tôi đang bận ca này, sơ cứu đi rồi tôi qua ngay.

Thư lao tới, hai tay run lẩy bẩy, nhưng cô vẫn ấn chặt băng vào vết thương.

Máu nóng hổi tràn ra qua kẽ ngón tay, mùi tanh nồng xộc thẳng lên mũi, khiến cô muốn nôn thốc ra ngoài.

Nhưng ánh mắt người lính trẻ nhìn cô vừa đau đớn, vừa khẩn cầu khiến Thư siết chặt bàn tay hơn.

Vy thì cứ chạy lên chạy xuống lấy nước sạch và băng gạc, dù còn lóng ngóng nhưng lại giúp ích rất nhiều.

Thư vẫn cố ấn chặt vào vết thương hở xương đang rỉ máu liên tục của anh lính.

Anh rên rỉ không thành tiếng, ứa nước mắt ướt cả khuôn mặt.

Cô quay sang nhìn anh, ánh mắt nặng trĩu:

– Đồng chí cố lên!

Cô nắm lấy băng gạt, bàn tay vẫn run nhưng kiên quyết.

Trong tiếng mưa rào rạt, trong ánh đèn dầu leo lét, Thư và Vy cẩn thận sơ cứu nhẹ cho người lính, mồ hôi ròng ròng chảy xuống mặt, hòa lẫn máu.

Tiếng rên siết của người lính làm không gian đặc quánh, như nhát dao cứa vào tim:

– Đi tìm gây tê đi Vy, bác sĩ Đức sắp qua rồi!

Ngoài kia, Quyên vừa đưa thương binh tới xong, đứng nép dưới mái hiên, người ướt sũng.

Mới 15 tuổi, vai gùi còn hằn vết đỏ, nhưng mắt Quyên dõi vào bên trong lán, không hề chớp.

Cô bé cắn chặt môi, bàn tay siết nắm dây súng cá nhân đeo chéo người.

Một chị giao liên lớn hơn vỗ vai Quyên, nói nhỏ:

– Con nít mi mà gan lì thiệt.

Vô hầm nghỉ chút đi.

Quyên lắc đầu, giọng khàn:

– Họ chịu đau còn được, tui đứng nhìn chi mà không được.

Câu nói bật ra nghe mạnh mẽ, nhưng trong mắt Quyên ánh lên một nỗi gì sâu kín.

Đằng sau vẻ rắn rỏi ấy là sự xót xa, một nỗi sợ mơ hồ, nhưng cô không bao giờ để người khác thấy.

Trong lán, sau gần một giờ đồng hồ giằng co với tử thần, cuối cùng vết thương cũng được xử lý, máu ngừng chảy.

Người lính vẫn còn mê man, nhưng hơi thở đã ổn định hơn.

Bác sĩ Đức ngồi phịch xuống khi vừa đi ra khỏi "phòng" phẫu thuật, bác hằng giọng.

– Má nó chứ, lại hết thuốc tê, đồng chí Dung đi báo cáo với cấp trên đi.

Thư và Vy đang bận bịu chăm sóc các thương binh khác thì cũng nghe được, vội chạy đến tính xem tình hình của anh lính ban nãy, khi biết anh đã qua cơn nguy kịch.

Thư thả đôi tay dính đầy máu xuống, toàn thân mệt rã rời, mồ hôi và nước mưa hòa thành từng dòng.

Lúc này, cô mới thấy đôi vai mình như nặng trĩu.

Vy thì ngồi thụp xuống góc lán, mặt tái nhợt.

Quyên đợi từ trước, bước vào, đưa cho Thư một nắm cơm nắm ướt sũng nước mưa:

– Nì, ăn đi.

Làm việc sáng giờ, chả có cái chi bỏ bụng.

Thư đưa tay nhận lấy, chia cho Vy một nửa rồi họ ăn trong im lặng.

Đêm đó, trong lán, cả đội quân y tập hợp đầy đủ, từ người cũ đến người mới vào đơn vị đều chen chúc ngồi thành một vòng tròn mà ở giữa là Bác sĩ Đức.

Bác sĩ hôm nay rất mệt mỏi, trên người vẫn còn y nguyên bộ đồ phẩu thuật trắng nhuốm đầy máu tươi của ban sáng.

Bác đứng trước cái bàn tròn, thở dài một hơi rồi trải bản đồ, cau có nói:

– Địch sắp đánh phá ác liệt hơn.

Đường máu này đang gấp rút đưa quân vào B2, bọn Mỹ cũng thính lắm, cấp trên báo xuống sắp tới sẽ có nhiều trận càng.

Không khí trong lán căng thẳng đến tột độ dưới đôi mày cau có trên trũng mắt sâu hút của Bác Đức.

Đoạn, bác thở hắt vài hơi rồi lại nói tiếp:

– Trong đoàn thanh niên xung phong mới tới, có ai tốt nghiệp y chưa?

Cả đoàn im lặng, chỉ có mình Thư lên tiếng:

– Dạ thưa...có em ạ.

Bỗng chốc mắt bác sĩ Đức sáng lên:

– Thế à?

Tên gì đây đồng chí?

Tốt rồi!

– Thư, Hồ Thanh Thư ạ.

– Đồng chí Thư, từ mai đồng chí vào phụ mổ và học từ từ nhé.

Tim Thư như hẫng một nhịp đi sau câu nói ấy.

Ngoài kia, rừng Trường Sơn xào xạc.

Nghe như tiếng người thì thầm, nghe như tiếng bước chân vô tận của cả một dân tộc đang đi, nối nhau không dứt.

Đêm ấy, lán quân y không ngủ.

Ngoài kia, bom rền như xé nát bầu trời, ánh chớp lóe sáng soi rừng núi thành màu trắng xóa.

Mỗi lần bom dội, cả lán rung bần bật, đất từ trần hầm rơi lả tả xuống tóc, xuống vai.

Quyên nằm bên ngoài, súng đặt sát người, mắt mở trừng trừng nhìn ra màn đêm đen đặc.

Trong lòng cô bé 15 tuổi ấy vừa sục sôi một ý chí: phải mạnh mẽ, phải gồng lên, không được yếu đuối.

Nhưng tận sâu trong ngực, có khi nỗi sợ vẫn cuộn trào, như bóng tối tràn từ rừng sâu thẳm.

Thư thì ngồi cạnh thương binh vừa mổ chân khi chiều, đôi mắt thâm quầng, tay nắm chặt cổ tay anh lính để chắc rằng mạch vẫn còn đập.

Cô biết, đây chỉ mới là khởi đầu.

Trường Sơn sẽ còn nhiều ngày đêm như thế này, máu, nước mắt, và sự sống giằng co với cái chết từng phút, từng giây.

Sau khi băng bó xong, Thư ra ngoài suối rửa tay.

Nước suối lạnh như cắt, mùi đất, mùi máu vẫn còn vương vất.

Trên bờ, mấy anh bộ đội đang giặt áo, đùa nhau, tiếng cười vang khắp khe núi.

Dù khổ cực, vẫn có tiếng hát bật lên, kéo dài, hòa trong tiếng gió, tiếng nước.

Thư đứng im nghe, bỗng thấy lòng mình dịu xuống.

Trong khói bom, cái đẹp vẫn tồn tại, cái đẹp của tình người, của tiếng hát, của sự sống không chịu khuất phục.

...

Má ơi, mai này rồi con sẽ làm được gì cho Tổ Quốc đây?

Con đến nơi rồi má ơi, nhưng mà không phải là chiến trường B2 ở miền Nam mà con sẽ công tác ở đơn vị quân y trên tuyến Trường Sơn má ạ.

Ở đây mọi người tốt lắm, nhưng cái chết vẫn luôn thường trực xung quanh đây.

Hôm nay, con được biết là sẽ phải vào phòng phẫu thuật, con sợ lắm Má ơi, mà cũng vui lắm.

Vui vì sẽ được tận tay cứu chữa cho các anh bộ đội, mà cũng sợ mình sẽ không làm nổi, không vững vàng trước nỗi sợ...

Má ở nhà có khoẻ không má?

Con nhớ má lắm!

Con ở nơi xa vẫn khoẻ lắm má, má đừng lo cho con nghe.

Con hứa ngày đất nước thống nhất sẽ về với má.

Con yêu má.

...

Sau đêm hôm đó, rừng Trường Sơn rộn ràng như một con suối lũ.

Cả tuyến đường mòn bỗng vang lên tiếng chân rậm rịch, tiếng gọi nhau í ới, tiếng súng đập vào thắt lưng chan chát.

Nhiều đoàn quân lớn từ ngoài Bắc mới hành quân vào, mang theo cả niềm hăm hở lẫn những vết thương tươm máu từ các trận đánh dọc đường.

Tiếng hát của những tiểu đội xe không kính cứ vang lên không ngớt, và con đường Trường Sơn cứ như chạy thẳng vào tim.

Lán quân y nhỏ bé lập tức trở thành nơi căng sức.

Từ sáng tinh mơ, Thư đã chạy tới chạy lui, hết cầm máu, tiêm thuốc, băng bó, lại lo nấu nồi cháo loãng cho thương binh nhẹ.

Tiếng rên rỉ hòa với tiếng gọi bác sĩ, gọi y tá thành một bản nhạc dồn dập, nặng trĩu, không phút nào ngừng.

Ấy vậy dù bị thương nặng cỡ nào, các anh vẫn trêu được mấy cô y tá, làm cho gương mặt lấm lem bụi trần của Thư mấy chốc lại đỏ bừng.

Thế mới lấy làm lạ, cái Vy vậy chứ lại không bị chọc bởi các anh nhiều, dù con bé rất xinh xắn, có thể nói là xinh nhất trong cả bọn con gái.

Như thế hỏi ra mới biết em nó có người thương rồi.

Trưa, bom dội xuống gần đường mòn, khói bụi phủ mờ cả cánh rừng.

Vài thương binh mới được đưa về, áo rách nát, máu khô dính thành từng mảng.

Thư lao vào như cái máy, đôi bàn tay bé nhỏ cứ hết ấn, khâu, buộc, băng, đến mức chẳng còn cảm giác, rồi lại chạy vào phòng mổ phụ việc bác Đức, chị Dung.

Cổ họng khát cháy, bụng cồn cào, nhưng cô không dám buông tay.

Chiều xuống, những vết thương nặng nhất vẫn chưa xử lý xong.

Trời Trường Sơn đỏ rực trong hoàng hôn, nhưng trong lán, ánh đèn dầu leo lét soi những gương mặt xạm đen vì bụi và máu.

Thư cúi gập người trên chiếc bàn tre, từng giọt mồ hôi rơi xuống áo thương binh.

Quyên đi ngang, quẳng vào tay Thư một nắm cơm cháy khét lẹt, mặt nó nhăn nhúm, dạo này bom rơi nhiều, nó cứ đi phá bom thế là đăm ra cũng khó chịu căng thẳng, cũng không còn cười nhiều như trước.

– Nì, ăn tạm đi, kẻo lả ra.

Thư mím môi, lắc đầu:

– Để khi nào xong đã.

Quyên định gắt, nhưng nhìn thấy ánh mắt mệt mỏi, tay run run của Thư thì nghẹn lời.

Cô bé mới mười lăm tuổi đó chỉ biết siết chặt quai súng, rồi lặng lẽ đứng ngoài cửa lán, mắt dõi vào, như muốn gánh giùm chị chút nào hay chút nấy.

Đến tờ mờ tối, công việc mới tạm lắng.

Lúc ấy, Thư đã kiệt sức, áo quần dính máu, mùi tanh ngấm vào da thịt.

Cả ngày chưa hạt cơm nào vào bụng, nhưng cô không thấy đói, chỉ thấy người trống rỗng như cái vỏ.

Đêm, trăng nhạt sau tán cây rừng.

Thư và Vy rủ nhau ra suối.

Con suối mát lạnh róc rách, mặt nước loang loáng ánh trăng như muôn vàn mảnh gương vỡ.

Hai chị em ngồi trên tảng đá, im lặng rất lâu, chỉ nghe tiếng côn trùng rì rào và tiếng bom xa dội về như tiếng sấm u u dưới đất.

Vy cởi chiếc áo nâu bạc phếch, lặn xuống dòng suối, nước bắn tung toé.

Gương mặt ngây thơ của cô bé hồng lên trong làn sương đêm.

Tắm xong, Vy run rẩy chui vào bộ quần áo khác, rồi gục đầu vào vai Thư:

– Em buồn ngủ quá, chắc em ngủ luôn ngoài hầm đây...

– Lâu lắm mới có một đêm bình yên thế ni...

Nói rồi, chẳng đợi Thư trả lời, cô bé đã thiếp đi như một đứa trẻ, hơi thở đều đều.

Thư vẫn ngồi lặng.

Nước suối lạnh thấm vào đôi bàn chân, lan lên khắp cơ thể, nhưng trong lòng cô nóng ran.

Hình ảnh những vết thương, những khuôn mặt trắng bệch, những dòng máu nóng loang trên tay cứ hiện lên chập chờn, không cách nào xua đi.

Cô ngửa mặt nhìn trời.

Bầu trời Trường Sơn đêm ấy đầy sao, sáng long lanh giữa khoảng rừng thăm thẳm.

Nhưng mỗi ánh sao lại như một ánh mắt, dõi xuống, hỏi han, trách móc, nhắc nhở.

Thư chợt thấy mình nhỏ bé đến tận cùng, như hạt bụi giữa cuộc chiến quá rộng lớn, quá tàn nhẫn.

Một cơn gió lạnh thổi qua, mang theo mùi lá mục ngai ngái, mùi khói thuốc súng còn vương từ ban ngày.

Thư rùng mình, ôm gối ngồi im, mắt ráo hoảnh mà trong lòng như đang khóc.
 
[12Cs] Mặt Đất Và Bầu Trời
Chương 10: Cô gái mở đường


(Quyên-Kim Ngưu, Vy- Song Ngư, Thư-Thiên Bình)

Mấy nay, không chỉ lán quân y căng như dây đàn.

Ở khúc cua dốc phía tây đèo 050, nơi bom Mỹ cày nát con đường, Quyên cùng tổ nữ phá bom cũng tất bật từ sáng sớm.

Con đường Trường Sơn lúc nào cũng chằng chịt hố bom.

Ban ngày, máy bay F-105, F-4 lượn trên đầu, gầm rú như thú dữ.

Đêm đến, đoàn xe lại phải tranh thủ băng qua, chở vũ khí, lương thực vào Nam.

Muốn xe đi, chỉ có cách đào lấp hố, phá bom bi, phá mìn ngay dưới mũi giặc.

Quyên từ sáng đã bận bịu vô cùng, lưng chưa kịp hết gùi nặng đã lại nai nịt súng ngắn, dao găm, kìm cộng lực.

Mái tóc cắt ngắn lòa xòa trên trán, đôi mắt đen láy ánh lên vẻ lì lợm.

Trong tay con bé là một cái que tre mài nhọn, thứ "dụng cụ" để rà từng quả bom bi Mỹ còn sót lại.

Chị Hà, tổ trưởng phá bom, giọng xứ Nghệ đặc quánh, dặn to:

– Quyên, mi đi vòng phía trái!

Nhớ cẩn thận, coi chừng bom bi còn nằm trong bụi!

– Rõ! – Quyên đáp, tiếng vừa cứng cỏi vừa non trẻ.

Con bé chui rúc vào bờ rào cây rậm, đôi bàn tay nhỏ nhắn vạch từng lớp lá.

Mùi thuốc nổ ngai ngái xộc lên mũi.

Một quả bom bi, bé bằng nắm tay, vỏ nhôm sáng loáng, nằm lẫn trong lớp cỏ dại.

Tim Quyên đập thình thịch, mồ hôi rịn ra trên trán.

Nhưng bàn tay con bé không run.

Nó lấy dao găm, cẩn trọng nhấc nó ra, bỏ vào hố cát chuẩn bị sẵn.

"Ầm!" – Một tiếng nổ dữ dội vang lên ở đoạn đường khác.

Đất đá bắn tung tóe.

Quyên giật mình, ngã khuỵu xuống, tai ù đặc.

Nhưng chỉ thoáng chốc, nó bật dậy, bụi đất phủ kín mặt, đôi mắt sáng quắc:

– Bom nổ chậm đó!

Cẩn thận, còn nhiều lắm!

Buổi trưa, cả tuyến đường rộn rã.

Từ xa vọng lại tiếng động cơ khàn khàn quen thuộc: đoàn xe không kính đang vào.

Những chiếc xe tải chở hàng, mặt trước không còn kính chắn gió, chỉ còn khung sắt méo mó, bùn đất văng tung tóe.

Gió rít hun hút qua khoang lái.

Các anh lái xe đầu quấn khăn, mắt nheo lại, miệng ngậm điếu thuốc rê cháy đỏ.

Một anh lính trẻ, mặt rám nắng, ngồi vắt vẻo trên thùng xe, vẫy tay với bọn nữ phá bom:

– Các chị, các em cố lên, lấp cho xong đoạn này, tụi anh còn vô kịp chuyến đêm nay!

Tiếng cười rộn ràng vang lên, át cả tiếng bom còn vọng xa.

Chị Hà chống xẻng, hô to:

– Rứa thì mấy anh phải hứa khi vô tới nơi nhớ hát "Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây" gửi ra cho tụi tui nghe đó!

Tiếng reo hò vang rừng.

Quyên, đôi má đỏ ửng vì bụi đất và mệt, cũng bật cười theo.

Con bé ngước nhìn mấy anh bộ đội lái xe, thấy trong ánh mắt họ không chỉ có niềm vui mà còn cả cái bình thản lạ lùng trước cái chết luôn rình rập, con bé cứ nhìn từng đoàn xe đi nhanh qua, đôi mắt nhỏ của nó như đang kiếm tìm một ai đó, và khi hình ảnh một anh lái xe với mái tóc xén nâu nhạt và nụ cười rộng đi ngang, trái tim nhỏ bé trong lồng ngực con bé bỗng đập nhanh, dồn dập một thứ tình cảm mơ hồ, vừa ngưỡng mộ, vừa ngại ngùng, như một mầm cây non vừa chạm nắng.

Buổi chiều, trời Trường Sơn lại nổi gió.

Đám bom bi rải thảm sáng loáng khắp mặt đường, như lũ rắn độc nằm phục.

Đội phá bom tỏa ra, từng người cầm gậy tre, cẩn trọng chọc xuống đất, dò từng tiếng "cạch" lạnh lùng.

Quyên nhặt quả bom thứ mười trong ngày, mồ hôi thấm ướt lưng áo.

Con bé nghĩ tới mẹ, tới cánh đồng làng bên Nghệ An, nơi mùa gặt chưa kịp xong thì cô đã trốn nhà đi bộ đội.

"Mạ ơi, con không thể ngồi yên khi tụi anh ngoài chiến trường cần đường thông suốt."

Ý nghĩ ấy làm đôi tay cô vững lại, dù mồ hôi chảy xuống làm nhòe mắt.

Tiếng chị Hà vang lên:

– Cố lên!

Hết ngày ni, ta thông đường, đêm nay xe vô hàng chục chuyến, thắng lợi ni có phần máu mồ hôi của tụi mình đó!

Cả đội reo "rõ!" vang dội.

Quyên cắn chặt môi, tay vẫn lách qua từng bụi cây, từng hòn đất.

Tối xuống.

Đoàn xe rầm rập lăn bánh qua con đường vừa phá bom xong, bánh xe nghiến lên mặt đất còn bốc khói.

Các anh bộ đội trên xe lại vẫy tay, tiếng hát vang dậy giữa rừng.

Quyên đứng bên vệ đường, tay áo rách tươm, tóc rối bời, lòng như có lửa cháy.

Đôi mắt nó sáng rực, ngẩng nhìn những vệt đèn pha loang loáng xuyên đêm tối.

Một thoáng, nó thấy mình thật nhỏ bé, nhưng cũng thấy rõ: mình đang góp một phần máu thịt cho con đường này sống dậy, cho đoàn xe này đến nơi.

Trong khoảnh khắc ấy, Quyên vừa muốn khóc, vừa muốn cười, vừa thấy tự hào lẫn bâng khuâng.

Tuổi mười lăm của cô bé đã bỏ lại phía sau sự hồn nhiên con trẻ, chỉ còn lại đôi bàn tay chai sạn, đôi mắt nhìn thẳng vào hiểm nguy, và một trái tim mơ mộng vẫn lặng thầm giấu kín giữa Trường Sơn rực lửa, thế là nó lại khẽ hát:

– Cô gái mở đường ra đi cứu nước, mái tóc xanh xanh tuổi trăng tròn...

...

Đêm hôm đó, suối Trường Sơn vẫn róc rách chảy.

Trăng muộn treo lửng lơ trên tán cây rậm rạp, hắt xuống ánh sáng mờ mờ, đủ soi từng giọt sương lấp lánh trên lá cỏ.

Thư vẫn ngồi thẫn thờ bên bờ, hai bàn tay đặt trên gối, mắt dõi xa xăm.

Cái mệt, cái đói, cái buồn như đè chặt lồng ngực, chẳng thốt thành lời.

Tiếng bước chân nhẹ vang lên.

Quyên xuất hiện, người ướt đẫm mồ hôi và bụi đất, tay ôm một nắm sắn nướng còn nóng hổi, đưa ra trước mặt Thư.

– Nì, ăn chút đi, đừng nhịn ri rồi lả ra.

Thư ngẩng lên, bắt gặp gương mặt bé nhỏ, rám nắng, đôi mắt sáng rực như có lửa.

Cô khẽ cười mệt mỏi, nhận lấy.

– Ngày nào cũng đem cho chị, bộ em là má chị hả?

Thư bẻ một miếng sắn, định ăn, chợt thấy ống tay áo Quyên rách toạc, chỗ bả vai loang một vệt máu sẫm.

Cô giật mình, buông miếng sắn xuống:

– Em bị thương rồi kìa!

Sao không nói với ai?

Quyên giật nhẹ vai, tỏ ra thản nhiên:

– Có chi mô, trầy xước thôi.

Việc ni thường mà chị.

Với lại mệt lắm rồi, phá hơn mười quả!

Hơi đâu mà đau với chả điếng.

Thư cau mày, kéo Quyên ngồi xuống tảng đá.

Cô lấy băng gạc trong túi quân y, cẩn thận băng bó cho Quyên từng chút một.

Lớp da trầy rớm máu, lẫn bụi đất, đau rát đến nỗi Quyên khẽ nhăn mặt, nhưng miệng vẫn cố mỉm cười, con bé cố làm ra bộ mặt tươi cười thường ngày.

– Chút xíu, không xi nhê.

Mấy quả bom bi ni còn chưa doạ được tui nữa là...

Thư nhìn khuôn mặt non trẻ kia, bỗng thấy nhói lòng.

Mười lăm tuổi, cái tuổi đáng lẽ đang còn ở nhà, còn cắp sách tới trường, mà Quyên lại gánh trên vai cả công việc phá bom, gùi hàng, dầm mưa dãi nắng như một người lớn.

– Em gan thật đó...

Nhưng Quyên nè, đừng coi thường vết thương.

Ở đây nhiễm trùng là chết người đó. – Thư nói, giọng vừa nhẹ vừa kiên quyết.

Quyên không đáp, chỉ mím môi, ánh mắt lơ đễnh nhìn vào màn đêm.

Thư vừa băng, vừa khẽ thở dài.

Lúc ấy, Vy từ trong lán đi ra, tay cầm bi đông nước.

Thấy hai người, cô khẽ cười:

– Hai người chưa ngủ à?

Em lấy thêm nước, mai có mà dùng.

Quyên liếc thoáng qua, cái nhìn nhanh như chớp, không nói gì, rồi lập tức quay đi, ánh mắt lạnh lại.

Cô bé rút bàn tay khỏi tay Thư, cầm lấy miếng sắn còn lại, cắn một miếng to, nhai kêu rốp rốp, như để lấp đi cơn bực bội mơ hồ.

Vy đặt bi đông xuống, nó cũng để ý hành động ấy của Quyên, mà sau cùng cũng không nói gì, chỉ đến ngồi cạnh bên Thư.

Đoạn, sự im lặng kéo dài trong không khí khiến cả ba có chút gượng gạo, thế là Vy lại mở lời, khoé môi hồng nở nụ cười, Vy làm ra vẻ hối lỗi:

– Chị Thư chắc mệt lắm rồi nhỉ?

Cũng vì em có hơi vụng về mà...

Quyên bỗng ngắt lời, giọng ngang ngang:

– Ừ, thế mới khổ cho chị Thư, đã phải làm như trâu rồi còn gặp đứa vụng về như ni, lần sau ráng cứng lên.

Ở ni mà yếu thì làm khổ người khác thôi.

Vy cứng người, nó mím môi chặt, đôi má ửng hồng như tức giận, như buồn tủi.

Thư hốt hoảng trông thấy, cô quay sang trừng mắt nhìn Quyên rồi lại nói với Vy.

– Em đừng nghĩ như thế Vy nhé, mấy hôm nay không có em thì chị chắc hoá thành quỷ mất, em giúp chị nhiều lắm, em...

Vy đứng phắc dậy, giọng hơi nghẹn lại:

– Em đi ngủ trước đây.

Rồi cô bé bỏ đi mà không nói thêm một câu nào.

Thư lặng nhìn theo, thở dài một tiếng.

Cô quay sang Quyên, nửa trách cứ nửa tra hỏi:

– Em với cái Vy có chuyện gì à?

Con bé cũng đâu có đến mức tệ như vậy, em cũng không biết an ủi con bé, còn buông lời như thế.

Quyên lẳng lặng nhai hết miếng sắn, mắt nhìn xuống đất, rồi cùng đứng dậy bỏ đi, để Thư một mình đầy khó hiểu về mối quan hệ của hai cô gái.

...

Những ngày sau đó, Thư và Vy gần như không còn khái niệm về ngày và đêm.

Cứ khi nào có tiếng dép cao su dồn dập, tiếng cáng tre lộc cộc chạy về phía lán quân y, là tim cô lại siết chặt.

Và rồi, công việc bắt đầu.

Xác thương binh, máu và những tiếng rên xiết – tất cả như một vòng xoáy vô tận.

Có hôm, từ sáng sớm đến tận chiều, thương binh đưa về không ngớt.

Có người cụt chân, cụt tay, có người bụng rách toạc, ruột lòi ra, chỉ cần sơ cứu cầm máu rồi lập tức chuyển đi tuyến sau.

Nhưng cũng không ít người gục xuống ngay trên cáng, chưa kịp gọi tên.

Máu ở trong lều quân chảy như nước, và tiếng rên rỉ thì như vang vọng.

Thư run rẩy trong những ca đầu tiên cô phải cầm giao mổ chứ không chỉ là phụ mổ nữa.

Lần đầu cầm dao cắt phần thịt đã hoại tử, bàn tay cô run đến mức dao cứ lách cách va vào khay sắt.

Không có thuốc tê, thương binh phải cắn răng chịu đựng.

Người lính trẻ, mặt mũi tái nhợt, mồ hôi vã ra như tắm, chỉ biết cắn chặt chiếc giẻ rách nhét vào miệng, đôi mắt trợn ngược, ngấn lệ.

Tiếng rên rỉ bị dồn nén, phát ra thành những âm thanh nghẹn ngào.

– Cố lên đồng chí... cố thêm chút nữa... – Vy lắp bắp, giọng nghẹn lại khi đứng bên cạnh hỗ trợ Thư, còn Thư chỉ im lặng, căng thẳng vô cùng.

Cô thấy rõ bàn tay người lính níu chặt lấy tay mình, móng bấm sâu vào da, rớm máu.

Thư mím môi, dồn hết sức bình tĩnh, tiếp tục công việc.

Có hôm, một thương binh được cáng về, ngực chi chít vết mảnh pháo.

Băng gạc thì đã hết, Thư buộc phải xé chiếc áo bà ba cũ trong ba lô của mình làm gạc tạm.

Đôi khi, đến cả dao kéo cũng không còn bén, phải mài trên đá suối rồi lại lao vào.

Mùi máu tanh, mùi mủ, mùi thuốc súng, mùi thịt cháy khét từ những vết bỏng bom napalm quyện lại, xộc thẳng vào mũi.

Ban đầu, Thư buồn nôn đến mức phải chạy ra ngoài, nhưng rồi chẳng còn thời gian cho yếu đuối nữa.

Cô nôn khan, lau vội miệng, lại lao vào lán.

Đêm xuống, ánh đèn dầu tù mù chiếu sáng gương mặt hốc hác của các y tá.

Thư cắn chặt môi, từng đường kim khâu vết thương bằng loại chỉ thô sơ lấy từ dù hỏng.

Không có kềm kẹp đủ, cô phải dùng đôi tay trần đè chặt vết thương để cầm máu.

Máu dính từ cổ tay chảy xuống, ngấm vào tay áo, thành một lớp nặng trịch, khô lại rồi nứt ra.

Những xác người không qua khỏi cũng phải đưa đi.

Thư đã dần chai sạn, nhưng mỗi lần nhìn đồng đội trẻ măng, đôi mắt vẫn mở trừng, thân thể lạnh ngắt, cô lại thấy nhói đau.

Có lần, cô và Vy cùng khiêng một xác lính ra sau lán để chôn tạm.

Đêm tối, trăng bạc phủ lên khuôn mặt chàng trai trẻ, chắc chỉ mới mười tám, mười chín.

Vy bật khóc nức nở, còn Thư chỉ biết cắn môi, tim quặn thắt.

Cái thiếu thốn càng làm mọi thứ trở nên khốc liệt.

Một ca mổ bụng phải làm ngay trên bàn tre lót lá chuối, dao mổ được khử trùng qua ngọn lửa.

Người lính đau đến nỗi cắn gãy cả đoạn gỗ trong miệng, đôi mắt dại đi.

Thư vừa khâu vừa run, bàn tay cô tê dại vì dính đầy máu, nhưng trong lòng chỉ có một ý nghĩ: cứu được ai thì cứu, bằng mọi giá.

Có những đêm, cô ngồi bệt xuống nền đất, lưng dựa vào cột lán, không còn sức để nhấc tay.

Mùi máu vẫn còn vương trên áo, tóc rối bù, mắt mờ đi vì khói đèn dầu.

Song ngủ lả ở góc lán, còn Hường thì vẫn thấp thoáng đâu đó ngoài bãi bom, cái bóng nhỏ bé hòa vào màn đêm.

Thư ôm mặt, ngồi lặng.

Cái ác liệt, cái tanh tưởi của chiến tranh dồn hết vào đôi bàn tay vốn sinh ra để cứu người.

Cô tự hỏi: mình có chịu nổi không?

Nhưng rồi, lại có tiếng gọi từ Vy:

– Chị Thư!

Có thương binh mới!

Và Thư lại đứng dậy, lao vào.
 
[12Cs] Mặt Đất Và Bầu Trời
Chương 11: Chiến trường Trị - Thiên


(Lực - Bạch Dương, Thắng - Ma Kết, Liên - Cự giải)

Chiều xuống trên Trường Sơn, lán quân y lác đác vài ngọn đèn dầu leo lét.

Sau một ngày dài đầy máu và mồ hôi, Thư ngồi một mình ở góc lán, tay run run mở lá thư vừa được giao liên chuyển đến.

Bì thư đã nhàu nát, loang vết bùn, chữ ghi tên người gửi mờ đi, nhưng vẫn còn nhận rõ nét chữ quen thuộc: "Trần Quyết Thắng"

Thư nghẹn lại.

Cả thân hình run lên, như thể một mạch máu trong người vừa được nối thông sau bao ngày đứt đoạn.

Cô ép bì thư vào ngực, nhắm mắt, hít một hơi thật dài rồi mới dám mở.

Dòng chữ hiện ra, thô ráp, xiêu vẹo vì được viết vội trên mảnh giấy học trò:

"Thư à, Thắng đã vào thành cổ.

Mới đặt chân tới, chưa qua sông Thạch Hãn.

Ngày đêm nơi đây vọng lại tiếng bom đạn, Thắng biết, ngày mai, ngày kia thôi sẽ ác liệt lắm.

Nhưng Thư đừng lo, anh còn sống là còn nhớ lời hứa: toàn thắng sẽ về, tìm người mà Thắng yêu."

Mắt Thư nhòe đi.

Nước mắt rơi xuống, loang vào dòng chữ, khiến mực nhòe thành vệt.

Cô ôm chặt lá thư, ngồi thẫn thờ thật lâu, cho đến khi Quyên bước vào, tay còn bê một rổ sắn luộc.

– Chị Thư, có chuyện chi rứa mà ngồi lặng thinh ri? – Quyên cau mày.

Thư mỉm cười, giấu nhanh lá thư vào túi ngực áo:

– Không có gì đâu em... chỉ là... tin nhà.

Quyên nhìn thoáng qua, chẳng hỏi thêm.

Nhưng Vy, từ góc lán, khẽ thì thầm:

– Có phải... thư người thương không chị?

Thư đỏ mặt, quay đi.

Câu hỏi ấy như lặng lẽ gieo vào đêm rừng Trường Sơn một nỗi xao động ngọt ngào, giữa khốc liệt máu lửa, cô nghẹn nghào:

– Ừa, anh đang ở Thành cổ đó em.

...

Trong khi đó, cách xa hàng trăm cây số, Thắng cùng đơn vị đang hành quân.

Đất Trị – Thiên đỏ quạch dưới chân, trời ngột ngạt mùi khói bom, văng vẳng tiếng súng dồn dập từ phía Nam sông vọng lại.

Tiểu đội của Thắng đang nghỉ trưa trước khi đến nơi đống quân

Thắng ngồi phịch xuống bên gốc cây, tháo mũ cối, mồ hôi chảy ròng ròng.

Lực cũng ngồi cạnh, thở hồng hộc, cười khì:

– Anh Thắng, vậy là tụi mình sắp đánh thật rồi hả?

Vui ghê!

Thắng trừng mắt:

– Vui cái gì?

Chiến tranh là máu, là chết chóc đó.

Mày còn nhỏ, biết gì mà ham.

Lực chỉ cười, đôi mắt sáng rực trong ánh lửa trại lập loè:

– Em biết, nhưng em muốn đứng trong hàng ngũ, muốn đánh cho Mỹ cút, ngụy nhào.

Dù có chết... cũng sướng hơn ngồi nhà.

Thắng lặng người.

Nhìn Lực, cậu vừa giận, vừa thương, vừa xót.

Thằng nhỏ mới mười sáu, gầy nhẳng như cây tre non, vậy mà cứ đòi làm người lớn, đòi chém, đòi giết.

Trong tiếng dế kêu rỉ rả, Thắng siết chặt tay khẩu súng, lòng nặng trĩu, nếu như có hoà bình...

Trời Trị – Thiên đầu hạ oi bức, mây vần vũ như dằn xé.

Đêm nào cũng có tiếng pháo bầy nện xuống ràn rạt, đất dưới chân rung lên từng chập.

Mặt đất đỏ quạch loang máu và bùn, những thảm cỏ khô loang lổ vết cháy sém, hôi ngai ngái mùi khói, mùi thuốc nổ, quyện với mùi xác súc vật chết đâu đó chưa kịp chôn.

Thắng bước lầm lũi bên Lực, ba lô nặng chĩu, súng đập lưng cồm cộm.

Họ đang trong đội hình hành quân men theo đường làng đã tan nát vì bom.

Những ngôi nhà tranh cháy nham nhở, vách đất sụp xuống thành đống, khói vẫn âm ỉ bốc ra.

Một ông cụ già lưng còng lom khom bên đống gạch vụn, đôi mắt mờ đục, miệng lẩm bẩm:

– Mi đốt, tau dựng lại... mi đốt nữa, tau lại dựng nữa...

Không ai trong đoàn dám dừng lại, nhưng tất cả đều ngoái nhìn.

Hình ảnh ấy như hằn vào mắt, làm tim nặng thêm một nhịp.

Chỉ có chỉ huy là vội vàng kêu ông đi sơ tán.

Lực khẽ thì thào, giọng căm phẫn đến lạ:

– Rồi em sẽ cho chúng biết.

Thắng không đáp ngay.

Cổ họng nghẹn lại.

Phải đi qua, phải nhìn tận mắt, mới thấy chiến tranh dữ dằn đến thế nào.

Những bức ảnh, những lời thầy giảng trong giảng đường khoa sử ngày nào không thể nào sánh bằng mùi khét lẹt của thịt cháy, mùi tanh của máu thấm đất, và ánh mắt uất nghẹn của dân lành.

Đêm ấy, đơn vị đóng quân trong một ngôi nhà bỏ hoang ở làng ven sông.

Căn nhà chỉ còn trơ mái rạ, một nửa mái đã sập, chái bếp bị bom khoét một lỗ sâu hoắm.

Trăng mờ vằng vặc, hắt xuống khoảng sân gạch lốm đốm máu khô.

Anh em trải tấm ni lông ra nằm chen chúc.

Mồ hôi dính chặt vào da, muỗi vo ve vây quanh.

Nhưng không ai ngủ nổi.

Tiếng pháo nện bên kia sông dội sang, từng đợt, từng đợt, cứa vào màng nhĩ như tiếng trống thúc quân vô hình.

Các anh nằm sát nhau, chen chúc, trời rét buốt, họ ôm nhau mà ngủ, nhưng hầu như chẳng ai có thể chộp mắt nỗi, một phần vì tiếng pháo rền vang, một phần vì nơi đất ẩm ướt, muỗi kêu ra rả, khó chịu vô cùng.

Chỉ có Lực, vẫn hồn nhiên, ngủ ngáy o o.

Thắng quay sang nhìn.

Ánh trăng chiếu vào khuôn mặt non choẹt, sáng lên, lạ lùng thay, không hề sợ hãi mà lại đầy háo hức.

Tim anh se thắt lại, sao mà thằng bé dũng cảm thế nhỉ?

Ngày hôm sau, cả đơn vị được lệnh đào công sự dọc bờ Bắc sông Thạch Hãn.

Nắng chang chang, đất đỏ nặng trịch, mùi cỏ cháy khét lẹt xộc vào mũi.

Đào một nhát cuốc là mồ hôi tuôn ra như tắm, trộn cùng bụi đất, chảy xuống cổ, rát bỏng.

Thắng hì hục xúc đất, đôi bàn tay phồng rộp.

Anh ngẩng lên, thấy mấy cậu lính trẻ mặt lấm lem, trán đỏ gay, vẫn hò nhau:

– Nhanh lên cho kịp hầm trú ẩn!

Bom nó quần thì chả kịp đâu!

Bỗng một trận pháo bầy rít tới.

Đất trời nổ tung.

Mấy người bị hất văng xuống hào, đất đá vùi lấp lên người.

Ngay khi bom bắt đầu trút xuống, mọi người bỏ chạy tán loạn, nằm xuống hào để tránh.

Duy chỉ có Lực là vẫn cứ tiếp tục đứng đó, giương đôi đồng tử mở to nhìn những chiếc máy bay trên bầu trời, dẫu cho trên đầu bom đã rơi ngay trước mắt, Thắng thấy thế thì vừa lao ngay đến Lực.

BÙM.

Thắng ôm chặt Lực, cả hai ngã dúi xuống bờ hào, tai ù đặc.

Khi khói bụi tản ra, anh mới thấy cách đó không xa, một đồng đội nằm bất động, nửa thân trên còn, nửa dưới tan nát.

Máu bắn tung tóe, hòa vào đất.

Lực chết lặng.

Mặt tái đi, môi run run, không thốt nổi một câu.

Thắng thì cắn chặt răng, tim như bị xé làm đôi, khoé mắt cay xè.

Ấy vậy mà mọi người lại lao vào cuốc đất tiếp ngay sau đó cho kịp tiến độ.

Tiếng thở dồn dập, tiếng cuốc bổ chan chát, hòa lẫn tiếng bom rít, tiếng pháo xa gần, tất cả thành một bản nhạc hỗn loạn của chiến tranh.

Lâu sau đó họ mới chôn cất người đồng đội tội nghiệp ấy.

...

Cuối cùng tiểu đội cũng đến bờ bắc sông Thạch Hãn, một buổi chiều âm u, gió hun hút thổi qua những lùm tre xác xơ.

Nước sông chảy xiết, đỏ ngầu phù sa, loang ánh nắng chiều vàng úa.

Trên bãi đất trống, bộ đội tập kết lại, chuẩn bị vượt sông.

Ai nấy im lặng, vẻ mặt vừa căng thẳng lại vừa háo hức.

Thắng chỉnh lại quai ba lô, lòng khó tả.

Bên cạnh, Lực cứ nghển cổ nhìn mặt sông, mắt sáng nhưng môi mím chặt.

Thằng em mới mười sáu tuổi ấy, vẫn giữ cái tính hồn nhiên, nhưng Thắng biết, nó cũng run, cũng sợ như tất cả bọn họ thôi.

Ở mép sông, một người đàn bà trẻ đang lúi húi nhóm bếp.

Mái tóc búi vội, áo bà ba bạc màu, tay thoăn thoắt đảo nồi cơm lớn.

Cạnh đó là mấy nồi canh rau tập tàng, vài rổ cá vụn vừa vớt dưới sông lên.

Anh lính trong đơn vị khẽ thì thầm:

– Quái, ai thế nhỉ?

Đàn bà con gái sao lại ở nơi chiến trường này?

Vừa nói tức thì thì cả đội lại quay sang nhìn, mắt ai nấy cũng ánh lên vẻ tò mò lạ thường người đàn bà nọ đang từng bước lại gần, đoạn, người đàn bà gù lưng gánh đồ đến chỗ các anh, khi đến thì mới ngẩng đầu lên.

Khuôn mặt trái xoan ấm áp, trẻ trung đến lạ thường, đôi mắt đượm buồn, nhưng nụ cười thì dịu nhẹ.

Người đàn bà vừa bước đến thì vị chỉ huy đội đã chạy đến, anh cười cười:

– O Liên!

Chị lại mang cơm đến đây à?

– Ừ, nay ngày đầu có tiếp viện, tui muốn đem chút đồ ăn cho các chú bộ đội ăn cho có sức mà đánh.

– Thế cảm ơn O nhé!

Các đồng chí lại đây ăn cơm này!

Thế là cả bọn lại ồ lên.

Thì ra người phụ nữ trẻ ấy là một "anh nuôi", đem cơm đến cho bọn họ ăn.

Sáng giờ đào hào cuốc đất, họ đã đói lã đi rồi, giờ được ăn cơm thì còn gì bằng!

Cả bọn vội chạy lại chỗ người phụ nữ, ai nấy cũng đều vui vẻ nhận lấy bát đũa, người phụ nữ thấy thế thì vui mừng lắm, chị cất tiếng, cái giọng Quảng Trị vừa trầm vừa mộc, nghe sao mà tha thiết:

– Các chú bộ đội ăn tạm nhen.

Rau cá chớ có gì mô.

Qua được sông rồi, nhớ giữ mình.

Các anh lính ăn cơm thì vui lắm, cứ lao vào mâm cơm đang bầy sẵn, nào là cá kho canh rau, toàn là những món "cao lương mỹ vị", ai nấy cũng ăn lấy ăn để, vừa ăn vừa nhồm nhoàm khen ngon.

Mỗi lần một anh bộ đội khen, là người phụ nữ ấy lại mỉm cười hiền hậu, vị chỉ huy thấy thế thì cũng vui lây, ông cười nói:

– Các cậu ăn từ từ thôi, kẻo nghẹn.

Sẵn đây giới thiệu với các cậu đây là O Liên, lái đò đưa bộ đội qua sông đấy, cũng là chị nuôi luôn.

À ra là thế, thì ra chính vì thế nên chị mới ở đây.

Lực ngồi phịch xuống bên đống củi, mồm vẫn nhồm nhoàm nhai cơm, lí nhí nói:

– O Liên..., nấu cơm ngon rứa!

Thế là vị chỉ huy chỉnh đốn lại cái bộ dạng vô tổ chức của nó bằng một cái cốc đầu thật mạnh:

– Nhai xong đi rồi nói.

– Ơ hay cái anh...

Chưa kịp để nó nói hết câu, anh chỉ huy đã quay sang Liên, người đàn bà lái đò, anh nhìn chị bằng một ánh mắt nửa trìu mến nửa lại đau lòng.

– Đem nhiều cơm thế này ra, tốn kém quá!

Sao o không để dành cho cháu nhà mà ăn!

– Có bao nhiêu đâu hả chỉ huy, Hùng nhà tui cũng đang trong đây, nuôi lính của hắn thì cũng là nuôi hắn rồi!

Người đàn bà mỉm cười, mắt nhìn xa xăm về phía bên kia sông, nơi thành cổ loang loáng trong khói súng.

– Hùng nhà tui... vô trong đó từ bữa ni tháng trước.

Hắn xin vô đó, lâu lâu nhắn ra một tờ giấy, toàn ghi chữ run run...

Tui đọc còn không ra hết, nhưng mà còn chữ là còn sống.

Nói đến đây, mắt chị ngân ngấn nước.

Nhưng chị vội cúi xuống, tiếp tục đảo nồi cơm, giọng chắc lại:

– Tui nấu cơm, đưa đò, nuôi bộ đội.

Hắn ở trong nớ, o ngoài ni.

Coi như hai vợ chồng cùng đánh giặc.

Chừ chỉ mong... ngày toàn thắng, được gặp lại hắn, cho hắn một bữa cơm nóng.

Cả đơn vị nhìn thấy thế thì xót lắm, ai cũng nhìn chị bằng một đôi mắt buồn rầu, Thắng cũng thế, anh nhìn người đàn bà ấy mà nghĩ xa xăm, nghĩ đến những người phụ nữ mà anh yêu ở hậu phương, nghĩ đến má, đến Thư..., người chỉ huy cũng chỉ biết lắc đầu thở dài.

Một anh lính trẻ rụt rè cất giọng:

– Qua được sông ni, tụi mình sẽ gặp anh nhà ở trong Thành cổ hỉ?

O Liên ngẩng lên, cười mím:

– Qua được thì sẽ gặp.

Lúc đó mấy chú "chăm" hắn giúp o nhé!

...

Đêm xuống.

Cả đơn vị ngồi co cụm bên bờ sông, chờ lệnh vượt.

Phía bên kia, pháo sáng quét loang loáng cả một vùng trời.

Tiếng súng dồn dập, đỏ rực chân trời.

O Liên đi phát từng nắm cơm vắt bọc lá chuối, dúi vào tay từng người.

Khi đến chỗ mấy anh, chị nhìn sâu vào mắt mấy anh, cười:

– Ráng qua được, chú nạ.

Qua được thì nói giùm với anh Hùng... ngoài ni, o vẫn đợi.

Thắng nghẹn lại, chỉ biết gật đầu.

Anh nhìn xuống nắm cơm trong tay, thấy nó nặng trĩu, như gói trọn cả tấm lòng, cả nỗi chờ mong, cả nước mắt của người đàn bà Quảng Trị.

...
 
Back
Top Bottom