Cập nhật mới

Khác Vọng Môn Ký Sự

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
394434739-256-k292819.jpg

Vọng Môn Ký Sự
Tác giả: Tuyndeoo
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Vọng Môn Ký Sự theo chân Thanh Lan một thiếu nữ mang trong mình vốn y thuật thâm sâu học từ người cha danh y, bước vào phủ Tướng quân với tâm nguyện chữa lành.

Thế nhưng, từng vụ án, từng cái chết đầy uẩn khúc dần cuốn nàng vào vòng xoáy âm mưu và huyết lệ.

Giữa những bức rèm thêu nơi quyền quý và những ngõ nhỏ bình dân, Thanh Lan từng bước vén màn những bí mật bị chôn sâu về quyền lực, nhân tâm, và cả bản thân mình.



trinhthám​
 
Vọng Môn Ký Sự
HỒI 1: LỤA BẠC


"Cũ quá rồi!

Cái biển hiệu này còn trụ được tới giờ cũng lạ."

Nghĩa Trọng vừa chống nạnh vừa lau trán, tay kia cầm chổi quét bụi sơn.

Bên cạnh, Cao Hạo chắp tay sau lưng:

"Tiệm Y Lương Đường này trải bao mùa gió bụi, già chứ chưa chết.

Có cũ thì cũng chỉ là mặt ngoài thôi."

Thanh Lan từ trong nhà bước ra, tay bưng thau nước trong veo, đặt thau xuống bậc cửa.

"Nghĩa bá nghỉ tay một lát đi, kẻo say nắng bây giờ."

Nghĩa Trọng cười hề hề, nhận lấy chén nước nàng rót, vừa uống vừa quệt mồ hôi:

"Cái tiệm này dù có sập, ta vẫn còn sức mà sửa."

Cao Hạo đứng kế bên, chắp tay sau lưng, nghiêng đầu nhìn lên tấm biển gỗ.

Ông chỉ cây bút sơn về phía chữ "Lương" đã bong tróc:

"Cái chữ này bị mọt ăn mất nét rồi, không khắc lại sớm, mai mốt gió thổi bay mất chữ 'Lương', còn lại mỗi 'Y Đường' thì đúng là mất mặt với thiên hạ."

Nghĩa Trọng ngước lên nhìn, bật cười:

"Chủ tiệm đã già, biển hiệu cũng theo thời gian mà nhăn nheo, còn trách ai được nữa?"

Đúng lúc ấy, một bà lão gánh rau lặc lè đi ngang qua, thấy cảnh tượng liền chống gánh, cười móm mém:

"Ấy chết, cái gì cũng cũ thì đã sao!

Y Lương Đường của lão Cao thì cả Trường An này ai chẳng biết.

Biển có mọt, chữ có rụng thì người ta vẫn kéo đến nườm nượp đấy thôi!"

Cao Hạo bật cười, tiện tay đưa cho bà vài đồng tiền, nhón lấy bó rau tươi nhất:

"Tiếng tăm là thứ chóng mọc rêu.

Cứu người mới đáng để giữ."

Thanh Lan bước tới, nhận lấy bó rau, cười tủm tỉm:

"Cha à, giản dị vậy hoài, ít nhất cũng phải tranh thủ moi được chút lợi lộc chứ?"

Nghĩa Trọng đứng một bên chen vào:

"Đúng đấy!

Để tiệm lâu lâu còn mọc thêm chữ Phát tài nữa, có phải vui không?"

Bà lão gánh rau nheo mắt nhìn về phía cửa, bỗng ồ lên một tiếng:

"Ơ kìa, con bé Thanh Lan đấy à?

Lớn ghê nhỉ!

Mới ngày nào còn lon ton đòi quà cái bà già này cơ mà!"

Thanh Lan đỏ mặt, gãi đầu, dáng vẻ lúng túng chẳng khác nào con thỏ nhỏ bị bắt gặp trốn khỏi hang.

Cao Hạo đứng bên, cười khà khà:

"Giờ thì khác rồi!

Bướng lắm, không còn ngoan ngoãn như hồi bé đâu.

Cãi cha như hát hay!"

Bà lão khoái chí, gật gù:

"Thế mới lớn!

Con gái mà biết cãi lý thì mới giữ được cửa nhà, chứ ngoan quá coi chừng bị người ta gạt đấy."

Thanh Lan bĩu môi, làm bộ giận dỗi cha mình.

Nàng chắp tay chào Nghĩa Trọng và bà bán rau.

Trước khi đi, nàng bưng thúng thuốc nhỏ trên tay, quay đầu lại nháy mắt trêu:

"Cha cứ hiền lành mãi thế, thiên hạ này thành ra ai cũng nợ ân Y Lương Đường mất thôi!

Coi chừng sau này danh tiếng to như núi, người ta dựng tượng cha ngay giữa Đông Thị đấy!"

Cao Hạo cười ha hả, khoát tay:

"Thôi thôi, dựng tượng thì để người ta cúng vái chắc?

Cha ngán lắm rồi, chỉ cầu mỗi ngày được yên ổn chữa bệnh là đủ."

Bà bán rau bật cười, xoa đầu Thanh Lan như xoa đầu một đứa nhỏ rồi giục:

"Đi nhanh đi con ơi, trời đứng bóng rồi đấy!"

Thanh Lan lè lưỡi, cười khúc khích rồi lon ton chạy đi, bóng áo xanh chập chờn giữa phố xá.

Chờ bóng Thanh Lan khuất hẳn, bà quay sang thầm thì với Cao Hạo:

"Con bé ấy coi bộ có khiếu đông y đấy.

Tay chân lanh lẹ, ánh mắt cũng tinh...

Có được một 'đệ tử' như vậy, còn gì bằng hả Cao đại phu?"

Cao Hạo chống nạnh, ngẩng đầu nhìn về phía con gái, vừa cười vừa lắc đầu:

"Cũng nhờ nó ở bên ta từ bé, quen hơi thuốc, quen cả mạch đập, nên dạy bảo cũng đỡ vất vả."

Ông ngừng một nhịp:

"Có điều, nó... bướng lắm.

Trực giác nhạy thật, tay nghề cũng khá, nhưng tin vào bản thân quá hóa cố chấp.

Khuyên răn nhiều khi như nước đổ lá sen."

Nghĩa Trọng bên cạnh, vừa mài lại góc biển gỗ vừa chen vào:

"Tính thế cũng tốt mà, không dễ bị người đời dắt mũi đâu."

Cao Hạo xoa trán như gạt đi mệt mỏi:

"Phải, tự lập thì tốt nhưng cũng nguy hiểm.

Cố chấp quá, e có ngày vấp ngã mà chẳng kịp đứng dậy."

Bà lão gánh rau gật gù, thở dài:

"Phải đấy, ở cái kinh đô này mưu mô nhiều như cá trong sông Vị, đếm làm sao cho xuể.

Người ta cười đấy, chứ trong lòng ai biết ai."

Bà chỉnh lại đòn gánh, cười xòa chào Cao Hạo và Nghĩa Trọng rồi hoà vào dòng người.

Nghĩa Trọng dựng thẳng tấm biển lên, phủi tay áo, cười khoái trá:

"Xong rồi, Cao đại phu!

Biển mới chắc như thành Trường An đấy nhé!"

Cao Hạo khoanh tay ra sau, bước tới vỗ vỗ tấm gỗ:

"Nhà buôn gạo mà sửa biển cũng khéo thế, hay trước kia giấu nghề đấy?"

Nghĩa Trọng hớp ngụm trà, cười hề hề:

"Giấu gì mà giấu!

Hồi còn trẻ, nghề gì cũng từng lăn lộn, từ vá thúng đến sửa cửa, quen tay cả thôi."

Thấy vậy, Cao Hạo rút xâu tiền trong tay áo, toan đưa tới.

Nghĩa Trọng liền đẩy lại, khoát tay xua:

"Thôi thôi, tiền bạc làm gì cho nặng túi, Khi nào có dịp, mời ta chầu rượu ba vò, thịt chưng ba cân, vậy là huề!"

Cao Hạo bật cười ha hả, gật đầu:

"Được!

Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy!"

Tiếng cười rộn ràng vang lên trước tiệm Y Lương Đường, hòa lẫn mùi thuốc thanh thanh và ánh nắng chiều nghiêng ngả.

Đêm xuống.

Ánh đèn dầu lay động theo từng cơn gió nhẹ, hắt lên vách gỗ cũ kỹ những bóng hình chập chờn méo mó.

Gió len lỏi qua khe cửa, mang theo hơi lạnh mơ hồ, như thể cả Trường An rộng lớn cũng đang chìm trong một nỗi tĩnh mịch khó gọi thành tên.

Trong gian phòng chính của Y Lương Đường, Cao Hạo đang cẩn thận xoa bóp huyệt vị cho một lão bá tử.

Bàn tay ông di chuyển chậm rãi mà vững vàng, như đã khắc ghi từng kinh mạch sau bao năm bôn ba hành y.

Thanh Lan đứng bên, đưa dụng cụ cho cha.

Ngón tay nàng thoảng lướt qua khay thuốc.

Người khách già sau khi được điều trị, chắp tay cung kính cảm tạ:

"Đa tạ Cao đại phu!

Nếu không nhờ ngài, lão hủ e rằng chẳng thể ngủ yên đêm nay."

Cao Hạo phất tay áo nói:

"Lão bá khách khí rồi, về nhà nhớ theo lời ta dặn, xoa bóp huyệt vị mỗi tối, đừng để phong hàn xâm nhập."

Lão bá lại ngập ngừng như nhớ ra điều gì liền nhìn về phía Thanh Lan, chứa đựng sự tò mò:

"Nghe nói con gái của Cao đại phu, Thanh Lan, có màu tóc khá kỳ lạ.

Xem ra quả thực là đúng."

Cao Hạo thản nhiên đáp:

"Lão bá nói thế thì cũng không hẳn là đến Y Lương Đường để chữa bệnh, mà để nói chuyện về tóc con gái ta."

Lão bá tử cười hề hề, từ trong túi áo lấy ra một cây trâm bạc tinh xảo, ánh bạc lấp lánh dưới ngọn đèn dầu, rồi đưa cho Thanh Lan:

"Ta là thương nhân bán đồ trang sức, từng gặp vô số ngoại hình kỳ lạ, nhưng màu tóc bạc này thì quả thật ít thấy.

Trừ khi... có vấn đề về sức khỏe."

Lão bá tử nói, rồi đưa cây trâm cho Thanh Lan.

"Nhưng mà cô nương, ta thấy nó rất hợp với màu tóc của nàng.

Màu bạc của trâm cũng như màu tóc bạc của nàng, lại có phần hài hòa.

Cứ nhận đi, cho ta vui."

Thanh Lan nhìn cây trâm, ánh mắt bối rối rồi mỉm cười nhìn cha mình không biết phải trả lời thế nào.

Nàng thấp giọng nói:

"Cây trâm này... nhìn qua đã biết không phải vật rẻ tiền."

Thấy vẻ ngập ngừng của nàng, lão bá tử bật cười ha hả, vờ như than thở:

"Ôi chao, lão phu hôm nay không mang theo tiền, hay cứ coi như đưa cây trâm thay bạc.

Nếu thật sự ngại mai đem bán đi, cũng đáng chút đỉnh.

Mong Cao đại phu thông cảm cho kẻ già này."

Cao Hạo nhìn cảnh ấy, bật cười lắc đầu.

"Được rồi, coi như nhận tấm lòng lão bá tử vậy."

Thanh Lan nghe vậy mới rụt rè nhận lấy cây trâm, ngón tay miết nhẹ trên hoa văn tinh xảo, ngại ngùng cúi đầu.

Cao Hạo tiễn khách ra tận cửa, đưa mắt dõi theo bóng lão bá tử khuất dần nơi cuối con phố rồi mới quay trở vào.

Thanh Lan vẫn ngồi nơi bàn, hai tay nâng cây trâm bạc nghiêng ngó đủ kiểu, vẻ tò mò lẫn thích thú.

Cao Hạo thấy vậy, khoanh tay trêu:

"Vật quý như thế, nên cất đi thì hơn.

Dân hành y như chúng ta, gom góp cả năm tiền công cũng chưa chắc mua nổi.

Cứ để thiên hạ thấy, lại đồn đoán đủ điều."

Thanh Lan chu môi miễn cưỡng gật đầu, cất cây trâm vào lòng.

Nhưng trong lòng vẫn thầm tiếc rẻ, quả thật... cũng muốn thử cài lên một lần xem sao.

Dọn dẹp xong đống dược liệu và dụng cụ, Thanh Lan cùng cha thu xếp lại Y Lương Đường.

Đến khi ánh đèn ngoài hiên lụi dần, nàng viện cớ mệt mỏi, chui vào phòng, chùm chăn kín đầu, vờ như đã chìm vào giấc ngủ.

Ngoài gian chính, tiếng lách cách khẽ vang lên có lẽ là cha nàng đang dọn nốt ít giấy tờ.

Đợi một lúc lâu cho mọi âm thanh lắng xuống, Thanh Lan mới nhấc chăn, mắt sáng rỡ.

Nàng rón rén rút từ trong ngực áo ra cây trâm bạc, tay run run vì phấn khích.

Lôi từ hộc bàn ra một chiếc gương đồng cũ kỹ đã mờ ánh, Thanh Lan kê sát vào ánh đèn dầu leo lét, chăm chú soi ngắm.

Nàng luống cuống vơ lấy lược, loay hoay buộc tóc thế nào cho vừa với cây trâm, hết nghiêng trái lại ngó phải.

Đôi mắt hổ phách trong gương lộ rõ sự tinh nghịch.

"Chắc thử một chút thôi... không sao đâu!"

Thanh Lan thì thầm với mình, môi cong lên.

Ngay lúc ấy từ gian ngoài đột nhiên vang lên một tiếng.

RẦM!

Tiếng động bất ngờ khiến Thanh Lan giật thót.

Nàng bật dậy, quên luôn cây trâm bạc còn cài lỏng lẻo trên đầu, vội vã lao ra ngoài.

Trước cửa Y Lương Đường, cánh cửa gỗ đã bị xô bật mở, bản lề kêu lên kẽo kẹt.

Một bóng người loạng choạng đổ vào trong.

Đó là một nam tử, toàn thân lấm lem bụi đất, áo quần xộc xệch, vai khoác một chiếc túi vải nặng trĩu.

Mùi máu tanh nồng xộc vào mũi Thanh Lan trước khi nàng kịp nhìn rõ mặt hắn.

Dưới ánh đèn dầu, máu đỏ sẫm loang trên sàn gỗ từng giọt rơi tí tách.

Cao Hạo cũng vừa bước ra, mắt lập tức dừng lại trên người nam tử lạ.

Ông không lên tiếng, chỉ quan sát như đang cân nhắc mọi khả năng có thể xảy ra.

Người kia lảo đảo vài bước, khó nhọc vịn lấy cạnh bàn, giọng khàn đặc:

"Cứu... cứu ta..."

Thanh Lan lập tức cảm thấy cảnh giác, đôi chân vô thức lùi lại một bước.

Cao Hạo vẫn giữ vẻ bình tĩnh.

"Bị thương ở đâu?"

Nam tử không đáp, chỉ dùng tay ôm chặt bên hông, máu đỏ sẫm qua từng kẽ ngón tay nhỏ xuống sàn gỗ.

Nàng chớp mắt, như đang cân nhắc điều gì.

"Nếu ngươi muốn chữa trị, trước tiên hãy nói rõ thân phận.

Giữa đêm khuya đột nhiên xông vào, chẳng hay có phải là kẻ đang trốn chạy quan phủ không?"

Nam tử hổn hển thở dốc, như thể đang cố chịu đau.

Hắn cười nhạt một tiếng, giọng khàn khàn:

"Nếu ta thực sự là kẻ xấu, hai người đã chẳng có cơ hội hỏi ta câu đó."

Thanh Lan khựng lại, mi mắt giật nhẹ, vừa định phản bác thì Cao Hạo đã cất giọng:

"Nếu ngươi có thể giết, hẳn đã chẳng phí hơi nói lời vô ích."

Nam tử sững người, rồi bật cười, nhưng tiếng cười nhanh chóng bị chặn lại bởi cơn đau.

Một tiếng rên khẽ thoát ra, mồ hôi lạnh rịn đầy trán.

Cao Hạo đứng dậy, vén tà áo.

"Dẫn người vào trong, mang ngân châm và thuốc cầm máu ra."

Nàng chần chừ, nhưng cuối cùng vẫn làm theo.

Ngân châm cắm vào đúng huyệt vị.

Máu dần ngừng chảy.

Thanh Lan cúi xuống kiểm tra vết thương, từng động tác vừa nhanh nhẹn vừa cẩn trọng, không chút dư thừa.

Nam tử bị thương rốt cuộc cũng thở ra một hơi nhẹ nhõm.

Đôi mắt phẳng phất sự mệt mỏi, nhưng vẫn giữ thần sắc cảnh giác.

Nàng rót một bát trà nóng, đặt xuống bàn, rồi ngước nhìn hắn:

"Ngươi tên gì?

Ở đâu tới?"

Người kia lặng im giây lát rồi đáp gọn lỏn:

"Lục Du.

Người huyện Dĩnh Xuyên."

"Dĩnh Xuyên?

Xa như vậy, sao lại chạy đến Trường An?"

"Lên kinh thành bái sư học nghệ, chẳng may giữa đường gặp chuyện."

Thanh Lan nhìn hắn một lúc lâu, không vội vàng đặt câu hỏi.

"Gặp chuyện gì?"

Lục Du im lặng một chút, rồi mới nhấp một ngụm trà.

Hắn nhếch môi, giọng vẫn bình thản.

"Có vẻ ta vào thành không đúng lúc, khiến quan phủ nghĩ ta có gì đó đáng nghi."

Cao Hạo hừ nhẹ:

"Ngươi có vẻ không giống một thư sinh lên kinh cầu học."

Lục Du không nói gì, chỉ lẳng lặng nhìn vào chén trà trong tay.

Thanh Lan khoanh tay, ánh nhìn dừng lại trên người trước mặt.

Có gì đó không đúng một sự dè chừng len lỏi trong từng cử động của hắn.

Nhưng nếu không muốn nói, nàng cũng chẳng buồn hỏi nhiều.

Một lúc sau, nàng cất giọng:

"Ngươi bị thương không nhẹ, mấy ngày tới đừng cử động mạnh.

Nếu không có chỗ ở, có thể tạm nghỉ trong hậu viện Y Lương Đường.

Nhưng có một quy tắc: không được gây phiền phức."

Lục Du bật cười nhẹ:

"Đa tạ cô nương.

Nhưng ta không quen."

Ngoài cửa sổ, gió đêm lùa vào, hơi lạnh len lỏi qua từng tấc da thịt.

Vài sợi tóc bạc bay phất phơ nhưng nàng chẳng buồn gạt đi, chỉ lặng im chăm chú dõi theo người trước mặt.

"Thực sự... chỉ là một kẻ đi bái sư học nghệ thôi sao?"

Hắn bắt gặp cái nhìn nghi ngờ ấy, liền trêu chọc:

"Cô nương hành y mà cũng phong lưu thế sao?

Tậu cả trâm bạc tinh xảo thế kia"

Thanh Lan lúc này mới chợt nhớ ra, giật mình sờ lên đầu, quả nhiên cây trâm bạc còn cài sơ sài ở đó.

Nàng vội gỡ xuống, ho khan mấy tiếng làm bộ vô tội.

Vết thương đã được băng bó cẩn thận.

Lục Du đứng dậy, động tác có phần cứng nhắc.

Tay hắn run nhẹ, nhưng ánh mắt vẫn cố giữ vẻ điềm tĩnh.

Mấy đồng bạc vụn từ trong tay áo rơi xuống bàn, phát ra âm thanh giòn nhưng không quá lớn.

"Tiền thuốc men, giữ lấy."

Thanh Lan xua tay.

"Ta chưa nói là sẽ nhận."

Lục Du bật cười, tay kéo lại túi vải khoác bên vai:

"Y thuật tinh thông như vậy, không lấy thù lao thì chẳng phải uổng phí công sức sao?"

Dưới ánh đèn lờ mờ, nàng thoáng thấy viền mép túi hơi sờn, nhưng chất vải dày dặn và đường may tỉ mỉ, không giống túi của dân thường.

Trên mép túi, những hoa văn mờ nhạt như từng thuộc về một bộ phục sức tinh tế hơn.

Cao Hạo khoanh tay đứng bên cạnh, nhìn theo bóng lưng Lục Du.

"Tiểu tử, nếu đã trốn quan phủ, đừng để bọn họ bắt được lần nữa."

Lục Du quay đầu, lộ rõ vẻ trào phúng:

"Đa tạ tiền bối nhắc nhở, ta sẽ nhớ kỹ."

Thanh Lan chống cằm, giọng điệu lơ đãng nhưng ẩn chứa sự tò mò:

"Ngươi nói lên kinh học nghệ, nhưng lại không giống người chỉ đơn thuần muốn bái sư."

"Vậy ta giống gì?"

"Giống một kẻ có chuyện muốn giấu."

Hắn bật cười, nhưng tiếng cười đó vang lên lửng lơ, chẳng rõ là vui hay buồn:

"Ai mà chẳng có chuyện riêng."

Thanh Lan im lặng.

Nàng không phải người thích xen vào chuyện người khác, nhưng trong lòng lại có một cảm giác mơ hồ, như thể có điều gì đó chưa được nói ra.

Dĩnh Xuyên...

Một vùng đất không tầm thường.

Đó là nơi sản sinh nhân tài, nơi các học giả, quan lại xuất thân.

Nếu Lục Du đến từ Dĩnh Xuyên, lại cố tình né tránh quan phủ, thì hắn không đơn giản chỉ là một thư sinh cầu học.

Nàng có thể hỏi.

Lẽ ra nên hỏi.

Nhưng cuối cùng lại thôi.

Lục Du cúi đầu.

"Đa tạ cô nương đã ra tay cứu giúp.

Nếu có duyên, ngày sau sẽ báo đáp."

"Ta không cần."

"Nhưng ta muốn."

Nói rồi, hắn cười một cái, không nhanh không chậm rời khỏi Y Lương Đường.

Gió đêm lùa qua khung cửa, mang theo hơi lạnh nhè nhẹ.

Thanh Lan không giấu nổi sự xao động trong lòng, ánh mắt chợt đăm chiêu.

Ngón tay vô thức gõ nhẹ lên mặt bàn, tiếng gõ đều đặn vang vọng trong không gian.

Cao Hạo nhìn con gái.

"Sao?

Hứng thú với tiểu tử đó à?"

Thanh Lan lắc đầu, nhưng giọng lại có gì đó lạc lõng.

"Không... chỉ là một cảm giác lạ, không sao giải thích được."

Cao Hạo nhìn con gái, không nói gì thêm.

Ông chỉ chậm rãi đặt ấm trà xuống bàn, rót cho mình một chén, hương trà nhàn nhạt lan tỏa trong không gian tĩnh lặng của Y Lương Đường.

Bên ngoài, gió đêm len lỏi qua những dãy nhà gỗ, cuốn theo hơi lạnh cùng chút mùi máu tanh.

Phố chợ vắng lặng.

Giữa bóng tối chập chờn, tiếng bước chân ai đó xa dần, chậm rãi, đều đặn, như thể vừa mang theo một bí mật chưa kịp lộ ra.
 
Vọng Môn Ký Sự
HỒI 2: CHIẾU CHỈ HOÀNG QUYỀN.


Buổi sớm, làn gió nhẹ khẽ lùa qua những con phố vắng, kéo theo từng đợt sương mù lững lờ, khiến Trường An chìm trong sắc mờ ảo.

Lá trên cành đung đưa, như còn ngái ngủ trong cái lạnh phảng phất len lỏi qua từng góc tường rêu phong.

Nắng nhạt xuyên qua cửa sổ, trải lên nền nhà một lớp sáng mờ mỏng, nhưng chẳng thể xua đi hoàn toàn sự tĩnh lặng của căn phòng nhỏ.

Thanh Lan vẫn cuộn tròn trong chăn, hơi thở đều đều, tựa hồ còn vương chút dư âm của đêm dài thức muộn.

Cao Hạo đứng ngoài cửa nhìn con gái.

Đến khi ánh sáng len lỏi vào tận mép giường, ông mới trầm giọng cất tiếng:

"Lan Nhi, dậy đi.

Sáng nay ra chợ mua vài thứ, đừng lười biếng nữa."

Thanh Lan lười nhác ngồi dậy, dụi mắt, vươn vai, gương mặt vẫn còn vương nét ngái ngủ, bĩu môi than thở:

"Cha ơi, sáng sớm thế này sao không tự đi mà cứ bắt con dậy..."

Cao Hạo đứng khoanh tay, giọng nghiêm nghị nhưng vẫn xen chút ôn hòa:

"Nghĩ gì vậy?

Ta có tuổi rồi, đi chợ một chuyến cũng mệt.

Con là sức lực của nhà này, không đi thì ai lo?"

Thanh Lan lắc đầu, miễn cưỡng kéo áo choàng xuống giường, vừa thở dài vừa càu nhàu:

"Vậy sao cha không đi?

Chợ đông thì con không chen đâu đấy."

Cao Hạo chỉ cười, không đáp.

Nàng đành chán nản xách giỏ, bước ra ngoài.

Sương sớm còn giăng, phủ lên cả khu phố một lớp màn mờ ảo.

Dưới ánh sáng nhạt nhòa, vài cánh cửa bắt đầu hé mở, những hàng quán đầu tiên cũng đã bày biện sẵn, mùi thức ăn ấm nóng hòa lẫn trong làn khí se lạnh.

Thanh Lan vươn vai, ngáp một cái, đưa mắt nhìn quanh rồi lẩm bẩm:

"Chợ Đông gì mà sáng sớm mù mịt, cứ như chưa tỉnh ngủ vậy.

Chà, cha cứ làm như ông cụ suốt thôi ấy."

Cao Hạo phía sau chống quạt, lắc đầu:

"Mới sáng sớm đã lẩm bẩm, con gái không thể giống ta một chút sao?"

"Cha lúc nào cũng nghiêm khắc, sao không thử giống những người khác một lần chứ?"

Cao Hạo cười nhẹ:

"Nếu không nghiêm khắc, làm sao dạy được con?"

Thanh Lan phồng má, nhưng không cãi lại, nhàn nhã bước vào chợ.

Mắt nàng lướt qua các quầy hàng rau củ, thịt cá, mùi thức ăn buổi sáng thoang thoảng trong không khí, khiến bụng nàng bắt đầu réo rắt.

Nàng hừ một tiếng, lầm bầm:

"Thôi đi, cha.

Con là học trò giỏi, còn phải lo cho cha nữa sao?"

Thanh Lan bước ra chợ Đông, giỏ tre vung vẩy theo từng bước chân.

Sương sớm dần tan, để lộ cảnh tượng nhộn nhịp quen thuộc.

Người bán hàng xếp lại những bó rau xanh, hàng thịt vang lên tiếng dao chặt lách cách, mùi bánh hấp thoang thoảng trong không khí.

Trường An phồn hoa, chợ búa cũng phân chia rành mạch.

Đông Thị nằm về phía đông nội thành, gần khu dân cư thường dân, là nơi tập trung hàng hóa phổ thông, giá cả phải chăng, thuận tiện cho kẻ buôn người bán.

Ngược lại, Tây Thị ở gần phủ quan lại, sát bên các khu quý tộc, chuyên bày bán những vật phẩm cao cấp, hàng ngoại nhập từ Tây Vực hoặc Nam Dương, kẻ lui tới phần nhiều áo gấm xênh xang.

Cả hai khu đều là chợ lớn, được triều đình quy hoạch chặt chẽ.

Có thời gian buôn bán cố định, lính tuần tra đi lại giữ trật tự, quan chưởng thị định kỳ kiểm hàng, niêm yết giá.

Trên bản đồ thành Trường An, chúng nằm trong hơn trăm "phương" tức những ô vuông phân khu vuông vức như bàn cờ.

Trung tâm của thành là cung Vị Ương, nơi thiên tử ngự, phía nam tỏa ra các khu hành chính, đền miếu, phố xá và dân cư tất thảy đều tuân theo quy củ tề chỉnh, mô phạm bậc nhất thiên hạ.

Giữa khung cảnh đó, nàng dừng bước trước một quầy cá ven đường, tiện tay chọn lấy một con cá trắm lớn tươi rói.

Người bán là một phụ nhân trung niên, tay thoăn thoắt đánh vảy, mổ bụng, vừa làm vừa cười tươi:

"Hôm nay cô nương lại mua cá trắm sao?

Định nấu món gì đây?"

Thanh Lan chống cằm nghĩ ngợi, rồi lười biếng đáp:

"Chắc đem kho tiêu, cha ta thích ăn đậm vị một chút."

Bà chủ hàng cười:

"Cao đại phu đúng là người có khẩu vị tốt."

Nhận cá, nàng thả vào giỏ rồi đi tiếp, ghé qua hàng rau mua ít cải xanh, vài củ hành, sau đó dừng chân trước quầy đậu hũ.

Thấy nàng, ông lão râu bạc cười hiền:

"Lại là cô nương!

Hôm nay mua đậu hũ mềm hay cứng?"

"Cha ta không thích ăn mềm, vậy lấy loại cứng đi.

Nhưng lão bá này, có bớt giá không đấy?"

Ông lão bật cười, tay thoăn thoắt gói đậu vào lá sen:

"Hôm qua cô nương còn đòi nợ ta ba đồng, nay lại muốn bớt nữa à?"

"Được rồi, vậy hôm nay ta không nợ nữa."

Mua xong đồ, Thanh Lan rảo bước qua những con đường lát đá xanh ngang chợ Đông.

Người qua lại mỗi lúc một đông, từ thương nhân, dân thường đến kẻ sĩ, ai nấy đều tất bật.

Chợ Đông vẫn thế, huyên náo, rộn ràng như một khúc nhạc sớm mai.

Nàng vác giỏ, chậc lưỡi lẩm bẩm:

"Mới sáng sớm mà cha đã sai việc, nghiêm túc chẳng khác nào ông cụ."

Mặt trời lên cao, những tia sáng đầu tiên xuyên qua mái hiên, chiếu xuống con phố dần nhộn nhịp.

Hàng quán bắt đầu mở cửa, tiếng rao bán vang lên, hòa cùng bước chân người qua lại.

Đang loanh quanh giữa chợ đông, tay ôm rổ rau thơm vừa chọn được, Thanh Lan mắt đảo qua các sạp hàng xung quanh.

Nàng tự nhủ không biết còn thiếu gì nữa.

Đúng lúc đó, từ góc chợ, một bóng người quen thuộc lọt vào tầm mắt.

"Thuý Nga?"

Bà lão gầy gò, quấn khăn vải cũ, đang khom lưng chọn mớ hoa thược dược khô treo ngược trên giàn.

Thuý Nga người chuyên thu mua và bào chế dược thảo hiếm, nổi tiếng với tính tình cổ quái, khó gần, nhưng tay nghề lại bậc nhất.

Gừng khô, rễ tử liên, phấn hoa sen đá qua tay bà đều như biến thành thuốc quý.

Nhà bà không ở trong thành mà nép mình ở tận khu chợ ngoại ô, nơi đất đá lởm chởm, chẳng quy củ ngăn nắp như Đông Thị hay Tây Thị.

Cũng ít ai dám bén mảng tới, trừ những kẻ có gan và biết nhìn thuốc như Thanh Lan.

Một giây ngẫm nghĩ, rồi nàng cất giọng gọi:

"Thuý Nga bà bà?

Hôm nay cũng xuống chợ sớm vậy à?"

Người kia khựng tay xoay đầu lại, mắt nheo nheo dưới vành khăn cũ:

"Ồ, là nha đầu Thanh Lan đấy à?

Khéo thật, lão thân vừa nhẩm trong bụng là thiếu ít lá xạ, ngờ đâu lại gặp được kẻ hiểu thuốc giữa chốn chợ đông."

Thanh Lan bật cười, cúi đầu đáp:

"Ta chỉ tiện tay đi chợ thay phụ thân, nào ngờ lại gặp được bà nơi đây."

Thuý Nga gật đầu, khóe môi nhếch nhẹ:

"Thế thì hay, nhân lúc còn sớm, đi loanh quanh cùng lão thân một vòng xem có món gì hiếm.

Gặp người biết nhìn dược thế này, chẳng lẽ lại để lỡ dịp."

Thanh Lan cười xoà, xua tay.

"Nào dám nhận hiểu sâu.

Ta chỉ theo nghề đông y, chuyên phần trị liệu chứ không thuần về dược vật, hiểu cũng chỉ ở mức vừa đủ mà thôi."

Thuý Nga nghe vậy thì cười khà khà, tiếng cười khô khốc mà sảng khoái:

"Biết mình biết người, vậy là khá.

Lắm kẻ chưa thuộc nổi tên thảo mộc đã vội xưng là y giả.

Nha đầu nhà ngươi, dù chưa thạo, nhưng còn hơn khối kẻ mở miệng ra toàn lời rỗng tuếch."

Vậy là hai bà cháu rảo bước bên nhau, hòa vào dòng người tấp nập.

Chợ đông buổi rạng sáng nhộn nhịp hơn hẳn, kẻ bán người mua chen chân dưới mái lều bạt, tiếng gọi nhau í ới, tiếng dao thớt va chạm, cả hương rau thơm lẫn khói bếp lò quyện vào không khí lành lạnh.

Thuý Nga tay trái xách giỏ mây, tay phải chỉ trỏ, lâu lâu lại cúi xuống săm soi một bó thảo dược, miệng lẩm bẩm phân biệt thật giả.

Thanh Lan đi bên cạnh vừa nghe vừa ghi nhớ, thỉnh thoảng góp lời, đôi mắt sáng lên mỗi khi bắt gặp món thuốc lạ.

Đến một dãy cuối chợ, khi cả hai đã chọn đủ dược liệu, mặt trời cũng lên cao, nắng xiên thẳng xuống mái chợ lợp lá.

Thuý Nga đưa tay che trán, nheo mắt:

"Chà, nắng đã gắt thế này rồi... cũng nên lui về thôi, lão thân tuổi già xương cốt chẳng chịu được nóng."

Thanh Lan lấy tay áo lau giọt mồ hôi lăn qua thái dương, gật đầu:

"Ta cũng bắt đầu thấy mỏi rồi, chúng ta nên về thôi"

Cả hai vừa quay bước, thì từ phía góc chợ chợt vang lên tiếng reo hò ồn ào.

Thanh Lan nghiêng đầu nhìn, thấy một đám đông đang tụ hội gần bãi đất trống, nét mặt ai nấy đều phấn khích.

Nàng tò mò, kéo tay áo Thuý Nga:

"Bà bà, bên đó có chuyện gì mà trông náo nhiệt nhỉ?"

Thuý Nga tay vẫn cầm giỏ dược:

"Đi xem thử cũng chẳng hại gì."

Lách qua đám đông, cảnh tượng hiện ra trước mắt khiến Thanh Lan bật cười.

Hoá ra là mấy gã trai tráng trong vùng đang tổ chức một trận đá gà.

Hai con kê oai vệ, lông cổ dựng đứng, mỏ sắc móng nhọn, xoay quanh nhau trong vòng tròn đất được vạch bằng dây thừng cũ.

Tiếng cổ vũ rộn ràng, có kẻ còn hét vọng:

"Đặt kèo đi!

Gà mồng đỏ ăn chắc đấy!"

Thuý Nga cười khà khà, lắc đầu:

"Đúng là trai trẻ thời nào cũng vậy, gặp tí máu là hăng."

Thanh Lan chăm chú nhìn hai con kê đang xoay vòng trong bãi đất.

Nàng ghé tai Thuý Nga, bông đùa.

"Bà đoán xem, con nào sẽ thắng?"

Thuý Nga đưa tay vuốt cằm, đoạn đáp:

"Con giáp mồng cao kia coi bộ sức vóc cường tráng, nhưng con tất đuôi cụt ấy lại lắm phần linh hoạt..."

Bà ngừng lại một chút.

"Nếu là lão thân đem bạc ra cá, chắc nghiêng về con tất.

Đánh chẳng mạnh, nhưng lanh tay lẹ chân, coi chừng lật thế trong chớp mắt."

Thanh Lan nghe vậy thì cười khúc khích, tay che miệng:

"Chà, xem ra bà cũng chẳng kém dân cá cược ngoài chợ là bao."

Thuý Nga đưa mắt lườm:

"Nha đầu ngươi!

Lão thân là người luyện thuốc, chẳng luyện gà.

Chỉ là... mắt quen nhìn sinh khí, chút tướng kê nhỏ nhặt, vẫn nhận ra được."

Thanh Lan vẻ không tin lắm, nhưng cũng không trêu chọc thêm, chỉ mím môi cười trừ.

Bên trong vòng đất, tiếng hô hào đã rộ lên.

Trận đấu bắt đầu.

Hai con kê xù lông, giương cựa, xoay vòng từng bước một, ánh mắt chẳng khác gì mãnh thú rình mồi.

Đám đông xung quanh cũng trở nên náo nhiệt.

Người hét, kẻ gào, vài tay áo vắt vai đã bắt đầu hô to đặt cược:

"Mười quan cho con mồng đỏ!"

"Con tất ăn chắc, ta theo mười hai!"

Có gã còn cố đe dọa kẻ khác đổi kèo, giọng gằn gằn:

"Ngươi mà đặt ngược ta, lỡ thua thì đừng trách chân ngươi vấp đá lúc về!"

Thuý Nga nghe vậy chỉ hừ một tiếng, tay vẫn cầm giỏ dược, lẩm bẩm:

"Bạc ít mà khí thế lớn...

Chẳng biết nên phục hay nên ngán."

Thanh Lan bật cười, nhưng mắt vẫn không rời hai con gà đang lao vào nhau giữa bụi đất mù mịt.

Trận đấu vừa lên đà kịch liệt, móng cựa tung loạn, lông bay khắp chốn.

Ai nấy còn đang vỗ tay, reo hò chưa dứt thì bất chợt.

Con tất khựng lại, chân quỵ xuống, rồi lăn phịch một vòng trên đất.

Từ cẳng trái nó, máu rỉ ra từng giọt, nhuộm đỏ lớp bụi mỏng bên dưới.

Tiếng xôn xao tức thì dâng lên như sóng vỡ bờ.

"Chết rồi!

Con tất gãy cựa!"

"Nhìn xem, máu chảy đen sì!"

Đám đông hoang mang tột độ, xôn xao chẳng khác gì tổ kiến vỡ.

Ngay lập tức, hai gã chủ gà hằm hằm bước ra, mặt đỏ bừng bừng giận dữ.

Gã bên trái chỉ tay quát lớn:

"Ngươi giở trò!

Con giáp nhà ngươi trước trận còn rịt thuốc gì vào cựa!"

Gã bên phải không vừa, lập tức đẩy ngược lại:

"Bớ làng nước!

Chính ngươi mới hại gà ta!

Mới rồi còn gạ cược đổi kèo, không trúng liền bày độc kế hại con tất!"

Lời qua tiếng lại, chưa đầy mấy câu đã xông vào nhau ẩu đả giữa vòng chợ.

Mấy người dân chạy đến can liền bị xô bật ra.

Có kẻ la:

"Cản lại!

Cản lại mau!

Có án mạng bây giờ!"

Thuý Nga tay nắm chặt quai giỏ, lùi về phía sau kéo Thanh Lan theo.

Bà chỉ thở dài, mắt liếc qua đám đông đang hỗn loạn chẳng lấy gì làm lạ.

"Chậc... cũng chẳng mới mẻ gì."

Thuý Nga thấp giọng, như thể đang trò chuyện với chính mình, nhưng đủ để Thanh Lan nghe rõ.

"Ngó con giáp mà xem, cựa nó là loại sắt mài chuốt kỹ, nhọn như kim, có thể cứa đứt cả lá tre non."

Bà giọng chậm rãi như đang giảng bài:

"Gà mang cựa ấy, đá vài ba đòn là đối thủ đứt da rách thịt, choáng váng cũng phải.

Kẻ dùng thứ này rõ là hèn kế dẫu thắng cũng chẳng vẻ vang."

Thanh Lan mắt vẫn dán vào con tất nằm co rúm, chân vẫn rỉ máu đen:

"Thế thì người kia thật sự giở trò?"

Thuý Nga cười khẩy:

"Có mắt mà không nhìn được cựa gắn thì chỉ là đồ mù.

Nhưng chợ là chốn cá cược, ai mà dám hé răng?

Cãi nhau vài trận, rồi lại đâu vào đấy thôi."

Thanh Lan nhìn đám người đang ẩu đả, hàng quán đổ nghiêng, tiếng quát tháo vang như ong vỡ tổ.

Nàng nắm nhẹ tay áo Thuý Nga:

"Chúng ta... có nên cản lại không?

Lỡ xảy ra chuyện lớn thì sao?"

Thuý Nga không đáp ngay.

Bà đảo mắt qua một vòng, đám đông đang reo hò, kẻ cá cược, người cười cợt, chẳng ai thật sự có ý can ngăn.

Rồi lắc đầu:

"Không nên xen vào.

Chuyện người chơi trò cá cược, ai thắng ai thua đều có gan chịu.

Đụng vào chỉ rước hoạ vào thân."

Bà dừng một chút, nhìn Thanh Lan:

"Nha đầu, y thuật có thể cứu người, nhưng chẳng phải chuyện nào cũng đáng để nhúng tay vào.

Phải biết lúc nào ra tay, lúc nào nên tránh."

Thanh Lan không đáp, nhưng mắt vẫn còn vương lại nơi con tất nằm trên đất, máu thấm cả lớp bụi nâu dưới chân.

Đột nhiên, giữa cơn náo loạn và tiếng người cãi vã, một hồi trống dồn dập vang lên từ phía xa âm thanh hối hả, nặng tựa đá đập vào tim.

Tùng!

Tùng!

Tùng–Tùng–Tùng!

Âm trống truyền qua gió, lan dọc các nẻo phố phường, khiến đám đông đang xô đẩy giữa sân gà cũng dừng lại, ngẩng đầu nhìn về hướng thành môn.

Thuý Nga nheo mắt.

"Trống quan phủ.

Dồn dập như thế... chắc lại có chuyện chẳng lành."

Bà quay sang Thanh Lan, hạ giọng:

"Đây là loại trống dùng để triệu dân tụ họp, lệnh phát từ nha môn.

Không có việc lớn, chẳng ai dám gõ."

Thanh Lan cảm thấy bầu không khí trở nên nặng nề, nàng hướng về phía nơi tiếng trống vang vọng.

Cả hai bà cháu rảo bước nhanh về phía nha môn.

Từ xa đã thấy người tụ lại đông như trẩy hội, chen chúc trước cổng lớn.

Tiếng xì xào bàn tán nổi lên khắp nơi như ong vỡ tổ.

"Nghe nói...

Thánh thượng sắp hạ chỉ!"

Một người thì thầm, mắt láo liên.

"Chẳng rõ là tin lành hay dữ... mấy hôm nay kinh thành có vẻ bất ổn."

"Lại sợ triều đình muốn điều binh về phương Nam... nghe đâu biên cương có động."

"Không không, ta nghe có người trong nội giám bảo rằng liên quan đến phủ Tướng quân!"

Thuý Nga kéo nhẹ áo Thanh Lan.

"Nha đầu, đừng nghe nhiều, càng nghe càng rối.

Cứ đứng yên xem quan nha đọc gì đã.

Nếu quả có chiếu thật, cả thành đều sẽ rõ."

Thanh Lan gật đầu, nhưng mắt vẫn không rời khỏi bậc tam cấp nơi cửa phủ.

Trong lòng nàng dâng lên một nỗi dự cảm mơ hồ trống phủ không dễ vang, mà đã vang...

ắt không phải chuyện nhỏ.

Chợt, tiếng trống im bặt.

Một khoảnh khắc lặng ngắt bao trùm lấy cả quảng trường, ngay đến tiếng gió cũng như bị nuốt chửng.

Từ phía sau cổng lớn, một viên quan khoác triều phục thêu rồng chậm rãi bước ra.

Dáng đi trầm ổn, uy nghi như núi, mỗi bước như nện vào lòng đất.

Trong tay là một cuộn chiếu vàng, hai đầu chạm ngà trắng, buộc chặt bằng dây lụa điều thêu kim tuyến.

Dừng lại nơi thềm cao, viên quan đưa mắt quét qua đám đông đang nín thở chờ đợi.

Ánh nhìn sắc như dao lướt qua từng người, khiến vạn vật như lặng đi.

Rồi, hắn nâng cao cuộn chiếu, chậm rãi tháo dây.

Lớp da thuộc mềm mại dần mở ra, để lộ những hàng chữ thánh bút màu mực đen trên nền giấy vàng, nét bút rồng bay phượng múa, cứng cáp mà uy nghi.

Khi cuộn chiếu được trải hết, nắng sớm chiếu xuống phản quang qua lớp da thuộc, rực rỡ uy nghiêm, bất khả xâm phạm.

Viên quan cất giọng sang sảng, vang vọng giữa quảng trường rộng lớn:

"Bách tính nghe chỉ!"

Cả đám đông đồng loạt quỳ xuống, tiếng hô vang dậy:

"Hoàng thượng vạn tuế!

Vạn tuế!

Vạn vạn tuế!"

Viên quan giương cao chiếu chỉ, giọng đọc dõng dạc, từng chữ như đinh đóng cột:

Phụng thiên thừa vận, Hoàng đế chiếu viết:

Tướng quân Lý Tử An dốc lòng vì nước, thân chinh biên thùy, lập nhiều chiến công hiển hách, được trẫm ưu ái, trăm quan kính phục.

Nay bệnh tình nguy kịch, ngự y viện tận lực điều trị, song bệnh trạng không thuyên giảm.

Trẫm nay hạ chiếu, truyền khắp thiên hạ: bất kể quan hay dân, hễ là người tinh thông y đạo, có thể giải nguy cứu mệnh, đều được phép tiến cung bái kiến.

Nếu cứu được Tướng quân, tất có trọng thưởng, ban hàm lộc hậu, lưu danh sử sách.

Khâm thử!"
 
Vọng Môn Ký Sự
HỒI 3: CHIẾU TRIỆU.


Tiếng "Khâm thử!" vừa dứt, đám đông như bừng tỉnh khỏi cơn nín thở.

Mọi người bắt đầu rì rầm, bàn tán xôn xao như sóng vỗ vào bờ.

"Truyền cả thiên hạ... vậy là bệnh Tướng quân thật sự không nhẹ rồi!"

"Danh y mà cũng không chữa nổi, chẳng lẽ tuỳ trời định đoạt?"

"Chà, ai mà đủ bản lĩnh cứu được phen này, chắc chắn một bước lên mây!"

"Lại nói... không biết người ngoài dân gian có ai dám tiến cung không.

Cái mệnh ấy không dễ gánh đâu."

Thuý Nga "hừ" một tiếng, giọng vừa mỉa mai vừa trầm ngâm:

"Chà, nay thì đến lượt giang hồ chữa bệnh cho triều đình.

Bao năm không trọng, lúc nguy lại cầu."

Viên quan dừng lại, rồi cúi người, gấp cuộn chiếu chỉ với vẻ thành kính, trao lại cho thị vệ đứng cạnh.

Người hầu lập tức bước lên, hai tay tiếp nhận, cẩn thận ôm chặt lấy thánh chỉ như ôm một vật linh thiêng rồi cúi đầu lui xuống, vội vã rời khỏi nha môn, hướng về phủ Thái y và các viện quan trong triều.

Thanh Lan nghe dứt chiếu chỉ, mắt sáng bừng như trẻ nhỏ thấy trò vui.

Nàng quay sang nhìn Thuý Nga.

"Bà thấy không?

Dân dã mà được tiến cung, cơ hội ngàn năm có một!"

Thuý Nga lắc đầu cười khà khà:

"Lại cái tật thấy việc lạ là ngứa tay ngứa óc.

Chớ có quên, chốn cung đình đâu phải nơi để dạo chơi hay trổ tài bừa bãi."

Nhưng Thanh Lan đã chẳng còn nghe rõ câu dặn của bà lão.

Cái cảm giác nôn nao, cái bản tính yêu nghề và ham khám phá như đốt lên trong huyết mạch.

Tình thế hiểm nghèo, thuốc không thuyên giảm, vậy chẳng phải là lúc để thử sức sao?

Bà đưa tay xoa trán, lẩm bẩm như than:

"Đúng là tuổi trẻ...

đầu nóng tim non, chưa từng nếm mùi cung đình hiểm hóc."

Một người dân đứng gần đó bỗng chen lời, nửa thật nửa đùa:

"Nói thì nói vậy, chứ tôi thấy cha con nhà Y Lương đường cũng có bản lĩnh.

Lão Cao y thuật trứ danh, con gái ông ta cũng lanh lợi lắm mà!

Nếu thử sức phen này, biết đâu lại vang danh thiên hạ?"

Lời vừa dứt, mấy người khác phụ hoạ, ánh mắt hiếu kỳ đổ dồn về phía Thanh Lan.

Có kẻ còn thì thầm:

"Chẳng phải cô nương ấy từng chữa khỏi cho con nhà họ Phí đấy ư?

Dùng toàn thảo dược dân dã, vậy mà hiệu nghiệm."

Thanh Lan nghe mà chỉ cười cười, tay đưa lên vén tóc ra sau tai.

Trong lòng nàng, một mạch suy nghĩ đã bắt đầu thành hình.

Thuý Nga nheo mắt nhìn nàng, cằn nhằn:

"Đấy!

Thấy chưa?

Mới có mấy lời tung hô mà đã như vươn cánh sắp bay..."

Thanh Lan bật cười, tay siết lấy túi vải bên hông, nơi vẫn còn mấy thang thuốc mới mua sáng nay.

"Nếu là cơ hội do trời ban, sao có thể làm ngơ?"

Nàng bật cười hề hề, rồi chẳng nói chẳng rằng, tung gấu áo xoay người phóng vèo như én lượn về hướng Y Lương Đường.

"Cha ơi!

Cha ơi!

Có tin động trời!"

Tiếng nàng vang xa, làm mấy người dân ngoái đầu nhìn theo, vừa cười vừa lắc đầu.

Phía sau, Thuý Nga còn đang chép miệng, chưa kịp mắng thêm câu nào thì thấy nàng đã biến thành một cái bóng khuất dần ở cuối ngõ.

Bà lão hấp tấp kéo khăn vải, càu nhàu:

"Trời đất quỷ thần ơi, cái đứa này!

Mới nghe phong thanh đã như diều gặp gió, chẳng để bà già này thở cái nào cho tử tế..."

Thế là một già một trẻ, một đứa như gió thoảng, một người lật đật đuổi theo, tạo thành một cảnh tượng vừa buồn cười vừa dễ thương giữa cái chợ đang dần tan chợ sớm.

Ở Y Lương Đường, Cao Hạo đang cầm chổi tre quét đám lá khô rụng đầy sân.

Ánh nắng sớm đã bắt đầu gắt, từng đường chổi được ông vun vén tỉ mỉ như tính cách vẫn luôn cẩn trọng của mình.

Từ đầu ngõ, bóng ai đó lao đến như tên bắn, còn vừa chạy vừa... uốn éo một cách vô cùng không cần thiết.

Cao Hạo dừng tay, híp mắt nhìn kỹ, vừa thấy tà áo quen quen đã lập tức thở dài, lẩm bẩm:

"Lại bày trò gì nữa đây trời..."

Thanh Lan vừa chạy đến vừa tung hô:

"Cha ơi!

Tin lớn!

Đại sự thiên hạ đó!"

Cao Hạo chưa kịp mở miệng, nàng đã xoay vòng thêm một cú nữa như múa hát trong hí khúc rồi dừng lại sát mé hiên, thở hồng hộc.

Ông đặt chổi xuống, chống nạnh nhìn con gái, mặt tỉnh bơ:

"Sáng chưa ăn mà đã lên cơn, có phải hôm qua ăn thang bổ khí không đúng liều?"

Thanh Lan hai tay xòe ra như đang múa vũ khúc:

"Cha ơi!

Trời giáng chiếu chỉ!

Triệu danh y vào cung chữa bệnh cho Tướng quân đó!

Nếu trị được bệnh sẽ được trọng thưởng, nghe oách không!?"

Cao Hạo cầm chổi trên tay đập nhẹ xuống đất:

"Chưa ăn sáng mà nói đã lạc giọng.

Trọng thưởng không nuôi được mạng nếu dính vào thị phi cung đình."

Thanh Lan chép miệng, cười lém lỉnh:

"Cha đừng lo, chỉ cần chọn lọc kỹ, bày trận rõ ràng thuốc vào như binh qua, địch tất lui mà!"

Cao Hạo nhướng mày, mắt nheo lại như thấy trước một đống rắc rối.

Thuý Nga lẽo đẽo theo sau, vừa tới cổng Y Lương Đường đã thở hổn hển như trâu kéo xe mùa hạ.

Bà chưa kịp đứng thẳng lưng, đã giơ tay lên... cốc một cái vào đầu Thanh Lan:

"Nha đầu chết bầm!

Bà già này sáu mươi tuổi đầu rồi chứ có phải ngựa đâu mà rượt theo con cả nửa phố!"

Thanh Lan xoa đầu, le lưỡi cười trừ, lùi ra sau lưng cha.

Cao Hạo lúc này mới đặt chổi xuống, nhìn Thuý Nga với vẻ bất ngờ:

"Thuý bà bà?

Sao hôm nay lại rảnh rỗi đến tận đây?"

Thuý Nga phẩy tay áo, chống nạnh thở phì phì:

"Rảnh gì mà rảnh?

Bị con gái ông dắt đi dạo hết cả chợ Đông chợ Tây, xong thấy trống phủ nổi mới tò mò đi theo.

Giờ nó lại bay về đây như chim sẻ gặp gió, làm ta suýt hụt hơi rồi mất."

Cao Hạo nén cười, ông nhìn sang con gái đang làm bộ ngây thơ vô tội, thở dài một tiếng:

"Sáng sớm mà náo nhiệt quá rồi đấy."

Cả ba bước vào trong, hương thuốc thoảng nhẹ từ tủ gỗ bên góc phòng, nơi những ngăn kéo nhỏ xếp đều tăm tắp ghi tên các loại thảo dược.

Cao Hạo rót trà, đặt ba chén xuống bàn rồi ngồi nghiêm chỉnh.

"Được rồi, nói đi.

Rốt cuộc là chuyện gì khiến con chạy như bị đuổi nợ vậy?"

Thanh Lan lập tức đứng dậy, tay áo phất một cái, làm bộ dáng trang nghiêm:

"Thưa cha, vừa nãy tại nha môn, có chiếu chỉ triệu danh y từ khắp nơi vào cung chữa bệnh cho Tướng quân Lý Tử An.

Ai chữa khỏi sẽ được ban thưởng trọng hậu!"

Nói đến đây, nàng không kìm được mà bắt đầu... múa minh hoạ.

Tay trái đưa ngang làm cuộn chiếu, tay phải kéo một cái như đang tháo dây lụa, miệng còn nghiêm trang giả giọng viên quan:

"Hoàng thượng chiếu viết—!"

Xong rồi, nàng vung tay diễn cảnh "truyền chiếu", lại đảo người mô phỏng cảnh dân chúng xôn xao, thậm chí còn nhấc gấu váy nhún gối làm điệu bộ "thần dân nghe chỉ".

Cao Hạo không nén được bật cười.

Ông lắc đầu:

"Con nhà người ta nghe chiếu thì im lặng kính cẩn, con nhà này thì thành diễn viên chèo mất rồi."

Thuý Nga ngồi bên uống trà, cố nhịn cười mà mặt cứ nhăn nhó như uống nhầm thuốc tẩy giun.

Bà lẩm bẩm:

"Cái con nhỏ này...

đúng là đồ con hát gánh chèo bỏ lỡ đường thi cử."

Cao Hạo đặt chén trà xuống bàn, không còn vẻ đùa cợt như ban nãy nữa.

"Triệu tập danh y ngoài triều... e rằng thái y viện đã bó tay rồi."

Thanh Lan ngẩn người nhưng vẫn làm bộ nghiêm túc.

"Phải phải"

Cao Hạo đan hai tay trước ngực, tựa lưng vào ghế, mắt nhìn ra cửa sổ như suy ngẫm điều gì:

"Triều đình xưa nay không tùy tiện triệu lương y từ dân gian.

Chỉ khi nào tình thế nguy cấp, nội viện không còn phương cứu vãn... thì mới buộc phải 'hạ mình' mời người ngoài vào."

Thuý Nga gật đầu phụ hoạ:

"Cũng đúng.

Thái y trong cung đều là người đỗ khoa danh, được chọn lọc nghiêm ngặt.

Nếu họ mà cũng đành chịu, thì bệnh tình của Tướng quân không đơn giản là 'một cơn sốt' đâu."

Cao Hạo lặng đi giây lát, rồi thở dài.

"Con còn trẻ, lại là nữ nhi.

Cha sao nỡ để con dấn thân vào nơi hiểm nguy ấy?"

Thanh Lan định cãi, nhưng bị ánh mắt nghiêm nghị của ông chặn lại.

"Triều đình không phải chỗ để thử vận.

Hào quang cũng lắm mà hố sâu cũng nhiều.

Một khi bước chân vào, chẳng ai đảm bảo con còn đường lui."

Ông ngừng lại.

"Con là tất cả những gì cha còn lại.

Nếu con có mệnh hệ gì... thì cha sống sao nổi?"

Thuý Nga uống cạn chén trà, đặt xuống bàn rồi vỗ vai Thanh Lan, giọng đầy hào sảng:

"Giỏi lắm nha đầu, có chí thì nên!

Lão Cao à, ông cứ lo xa quá, con bé này không phải dạng tay mơ đâu."

Cao Hạo liếc sang.

"Chính vì biết nó không tay mơ nên ta mới sợ.

Con bé này xưa nay bướng bỉnh, một khi đã quyết thì chẳng thèm nghĩ đến hậu quả."

Thuý Nga xua tay.

"Lão Cao cứ lo!

Ta xem nha đầu này mệnh lớn, trí sáng, khắc tự xoay xở được.

Không sao đâu mà."

Cao Hạo thở dài như mang cả trời sầu:

"Phận làm cha, không lo mới là lạ đấy.

Bà biết con bé này từng suýt bị người ta dụ lúc mới mười hai tuổi không?"

Ông quay sang nhìn Thanh Lan, vừa nghiêm vừa bất lực:

"Hôm đó nó ra đồng bắt ếch, gặp một lão bán kẹo dẻo râu dài.

Ông ta dụ cho con cóc nhựa biết nhảy, thế là nó hí hửng đi theo tới tận bờ tre đầu làng.

May mà có bà Tư đi cấy sớm bắt gặp, chứ không thì..."

Thuý Nga nghe tới đó phá lên cười:

"Trời đất!

Nha đầu Thanh Lan mà cũng từng bị dụ bằng con cóc nhựa à?"

Thanh Lan đỏ mặt, chu môi gắt nhẹ:

"Con mới mười hai, ai mà chẳng tò mò!

Với lại... nó nhảy thật mà!"

Thuý Nga khoát tay, giọng chắc nịch, pha chút cười cợt:

"Thôi thì... cứ để nó ra va chạm với đời một phen.

Trưởng thành không thể chỉ học sách thuốc với nghe lời cha mãi được.

Cứ ru rú trong nhà thế này, biết sao được mùi đời mặn nhạt ra sao?"

Cao Hạo nghe thế thì im lặng một chốc.

Trong mắt ông, lo lắng vẫn chưa nguôi, nhưng cũng không còn gay gắt như ban đầu.

Cuối cùng, ông thở dài:

"Lời bà nói... cũng có phần đúng.

Nhưng đời không chỉ có mùi mặn, còn có mùi tanh.

Mà cái tanh đó vấy vào rồi, khó mà rửa sạch."

Ông nhìn sang con gái, đôi mắt trìu mến pha lẫn bất an:

"Ta không cản con đi, chỉ mong con biết đường quay về.

Đừng để cha già này phải hối hận vì đã buông tay."

Thanh Lan nghe vậy thì cười tủm tỉm.

"Cha cứ lo xa quá, con chắc chắn sẽ quay về bình an mà, không thì ai phụ cha chữa bệnh đây?"

Nàng chắp tay cúi đầu, làm bộ ngoan ngoãn như học trò.

"Chẳng phải cha vẫn hay nói: 'Thầy thuốc giỏi là phải thấu được nỗi đau của thiên hạ'?

Con ra ngoài xem thiên hạ đau thế nào, mới biết trị cho đúng chứ."

Thuý Nga phì cười, vỗ đầu Thanh Lan:

"Thấy chưa, mới chớm gió đã học được trò nói mát dỗ người.

Lão Cao, cha này mà không cho nó đi thì nó còn múa mồm tới tối!"

Cao Hạo chỉ biết lắc đầu, nhưng trong đáy mắt đã có sự mềm lòng rõ rệt.

Tối ấy, trong phòng nhỏ bên hiên, ánh đèn dầu hắt xuống mấy chồng sách cũ đã sờn gáy.

Thanh Lan chống cằm, lật nhanh từng trang Nội Kinh và Thương Hàn Luận, miệng lẩm bẩm mấy phương thuốc từng đọc thuở nhỏ, ánh mắt rực lên như chiến mã chuẩn bị ra trận.

Ngoài gian nhà chính, Cao Hạo vừa dọn dẹp xong bát đũa, tay vẫn còn ướt nước chè.

Ông rón rén đi tới cửa phòng con gái, lén ngó đầu vào, thấy con bé đang nghiêm túc thì không nhịn được, cười khẽ:

"Gớm, chưa gì đã làm ra vẻ danh y.

Đọc kiểu đó, coi chừng mai lên triều run tới rớt hết chẩn mạch đấy."

Thanh Lan ngẩng đầu, bĩu môi một cái, đáp gọn:

"Cha không tin, còn cười nhạo!

Biết đâu người ta chưa kịp bắt mạch đã thấy con bước vào, khí thế đằng đằng, liền xin chẩn bệnh thì sao?"

Cao Hạo suýt sặc nước bọt, vừa lau miệng vừa lắc đầu:

"Thôi đi cô nương, đừng có đem cái dáng hùng hổ của con ra dọa thiên hạ."

Thanh Lan tức khí, vớ lấy cuốn sách cũ giơ giơ như định ném:

"Cha có tin cuốn này mà bay tới là cha khỏi cần uống thuốc luôn không?"

Hai cha con cười vang cả gian phòng nhỏ.

Ngoài trời, trăng non vừa nhú lên khỏi mái ngói, sáng vằng vặc như đang chộn rộn đợi ngày mai đến.
 
Vọng Môn Ký Sự
HỒI 4: ĐỘC DƯỢC.


Hôm sau, ánh nắng mờ nhạt thổi qua tầng mây xám, phủ lên những mái nhà trong thành một màu u trầm, bảng lảng như khói sương chưa tan.

Cao Hạo đã thức dậy từ canh năm.

Trời còn chưa sáng rõ, ông đã quen tay quét dọn trước tiệm thuốc, sắp lại các lọ bình, lau khô mặt quầy bằng chiếc khăn cũ đã sờn mép.

Trong khoảnh khắc thường nhật ấy, ông ngẩng đầu nhìn về căn phòng phía trong.

Ông tiến tới, gõ nhẹ lên cánh cửa gỗ.

"Lan Nhi, dậy chưa?"

Không có tiếng đáp lại.

Chỉ là sự tĩnh lặng lạnh nhẹ như sương mai.

Ông nhíu mày, đẩy cửa bước vào.

Phòng vắng tênh.

Ánh sáng nhợt nhạt rọi qua khe cửa, trải lên mặt giường nơi chăn gối đã được xếp ngay ngắn, gọn gàng đến mức lạ thường.

Tựa như ai đó đã rời đi từ lâu, mà vẫn không muốn để lại một chút xáo trộn nào.

Cao Hạo thở dài, quay người bước ra khỏi phòng, bóng dáng ông lẫn vào ánh sáng tro buổi sớm.

Ông đi xuống bếp, dự định hâm lại ít cơm nguội từ hôm trước, thì bất giác dừng chân.

Mùi đậu xanh thơm dịu đã len vào trong không khí, một mùi quen thuộc, giản dị và ấm lòng.

Trên bếp lửa đã tắt từ lâu, nồi cháo vẫn còn âm ấm.

Nắp được đậy cẩn thận.

Ông bước tới mở nắp ra là món cháo đậu xanh ông vẫn hay nấu cho con gái, nhưng hôm nay lại là nó nấu cho ông.

Bên cạnh chiếc nồi, một mảnh giấy cũ được ép thẳng, đặt ngay ngắn trên mặt bàn.

Nét chữ quen thuộc hơi nghiêng nghiêng, viết bằng mực nhạt:

"Con đi rồi, cha đừng lo nhé.

Nhớ ăn uống đầy đủ."

Cao Hạo cầm tờ giấy trong tay, mắt dừng lại thật lâu trên dòng chữ.

Một lát sau, ông buông tiếng thở nhẹ, vừa chép miệng vừa lẩm bẩm:

"Con bé này...

đi mà chẳng thèm chào cha một tiếng tử tế."

Rồi ông ngồi xuống, múc một bát cháo, như thể vẫn còn cảm nhận được hơi ấm của con gái đâu đây trong từng thìa, từng hơi thở.

...

Bình minh vừa ló dạng, cả thế gian đã cuốn vào guồng quay.

Nơi tiếp nhận danh y chật kín người.

Những nam y áo rộng, tóc cài trâm, tay ôm hòm thuốc hoặc bọc vải chứa dụng cụ, nét mặt nghiêm nghị xếp hàng trước cổng lớn.

Ai nấy đều tỏ ra bình tĩnh, nhưng những ngón tay không ngừng nắm chặt vào tay hòm hay đôi mắt chốc chốc liếc quanh đã nói lên sự căng thẳng.

Tiếng nghị luận vang vọng, như một dòng chảy ngầm trong không khí.

Xen lẫn vào đó là âm thanh của quan viên quát tháo, tiếng bút lông sột soạt trên sổ sách, và thỉnh thoảng, một tiếng thở dài nặng nề khi có kẻ bị gạch tên mà không thể biện minh.

Nơi này không chỉ là cổng vào, mà còn là ranh giới giữa hy vọng và thất vọng.

Hôm nay, nàng không thể thất bại.

Giữa hàng người chen chúc, Thanh Lan đứng hơi chếch về phía sau một thân hình cao lớn, lưng áo nàng phảng phất mùi thảo dược mùi của những cuốn y thư cũ, những đêm thức trắng bên bàn gỗ nhỏ, mùi của ký ức và kỳ vọng.

Nàng tranh thủ kiểm tra lần cuối túi vải mang theo bên mình.

Một lọ rượu thuốc, vài nhánh dược liệu đã phơi khô, khăn tay thêu nhỏ, và quyển y bạ được buộc bằng dây chỉ đỏ.

Tay nàng khẽ lướt qua từng món, như thể tự trấn an.

Nàng ngước lên.

Tấm bảng vàng trên cổng sáng bừng dưới ánh bình minh, lấp lánh từng nét chữ khắc sâu:

"Nơi tiếp nhận danh y – Duy tài thị thượng."

Thanh Lan mím môi.

Không có đường lui nữa.

Phía trước, một viên quan mặc triều phục xanh sẫm ngồi trên ghế cao, gương mặt lạnh lùng không lộ ra chút cảm xúc nào.

Đôi mắt khô khốc lướt qua từng kẻ đứng trước mặt hắn, như thể chỉ đang xem xét một danh sách vô hồn, chứ không phải con người bằng xương bằng thịt.

"Ngươi tên gì?

Xuất thân nơi đâu?

Học y từ ai?"

Những câu hỏi lặp đi lặp lại không chút cảm xúc.

Kẻ nào lúng túng, ấp úng thì bị đuổi xuống ngay.

Khi tới lượt Thanh Lan, nàng bước lên trước, giữ thái độ bình tĩnh.

Nhưng chưa kịp mở lời, viên quan đã nheo mắt lại.

"Là nữ?"

Giọng hắn không lớn, nhưng đủ để vài kẻ xung quanh ngẩng đầu lên nhìn.

Thanh Lan cúi người, giọng không nao núng:

"Tiểu nữ Thanh Lan, người Dương Châu, từng theo học y thuật của đại phu Lạc Thủy, sau mở y quán riêng."

Viên quan nheo mắt nhìn nàng, đầu bút lông hơi dừng lại.

"Nữ nhân mà cũng hành y?"

Hắn cười nhạt, lật danh sách, giọng lạnh tanh.

"Bản quan chưa từng thấy nữ y nào được vào phủ quan, chứ đừng nói là y viện của triều đình.

Chỉ e trò lừa đảo của bọn lang băm mà thôi."

Vài kẻ đứng sau lưng bật cười nhạo báng.

Nàng vẫn giữ sự điềm tĩnh:

"Y thuật không phân biệt nam nữ.

Nếu đại nhân nghi ngờ, tiểu nữ nguyện ý thử tài ngay tại đây."

Viên quan quan sát nàng một lúc, rồi phất tay.

"Được, bản quan cũng muốn xem thử."

Một hán tử trung niên bước lên.

Hắn cúi đầu, tay ôm bụng, trên trán hơi rịn mồ hôi, sắc mặt vàng vọt như bệnh thật.

"Ngươi đoán xem, bệnh gì?"

Viên quan khoanh tay, giọng khinh bạc.

Thanh Lan tiến lên, chậm rãi bắt mạch.

Nhịp mạch hơi hỗn loạn, nhưng không yếu, hơi thở người bệnh có mùi chua nhàn nhạt.

Ánh mắt nàng lóe lên, bàn tay đặt trên mạch cổ tay chậm rãi di chuyển một chút.

"Hạ tiêu hư hàn, tỳ vị tổn thương, khí huyết không thông."

Nàng buông tay, giọng bình thản.

"Bệnh này do hàn khí xâm nhập vào tạng phủ, khiến tỳ vị suy yếu, dẫn đến khí huyết không lưu thông.

Lâu ngày, nó làm tổn thương dạ dày, gây đau bụng, khó tiêu."

Viên quan chưa kịp nói gì, hán tử trung niên đã giật mình, ôm bụng nói:

"Đại nhân!

Vị cô nương này nói không sai!

Tiểu nhân mấy tháng nay ăn vào là khó tiêu, hay đau quặn từng cơn, lại thường xuyên ợ nóng!"

Vài tiếng xì xào vang lên, vài lang y khác bất giác nhìn Thanh Lan với đôi mắt khác.

Viên quan im lặng một lúc lâu, sau đó cười nhạt, cúi đầu viết vài chữ vào danh sách.

"Ngươi qua được vòng đầu."

Hắn khép sổ lại, liếc nàng lần nữa.

"Đến khi có phán quyết từ triều đình, sẽ có người thông báo."

Thanh Lan cúi đầu nhận lệnh, rồi lui ra khỏi hàng.

Nhưng nàng biết, mọi chuyện vẫn chưa kết thúc ở đây.

Mặt trời chưa lên hẳn, bóng tối vẫn còn vương trên những bức tường cao.

Cơn gió sớm lùa qua phố, mang theo hơi ẩm lạnh lẽo.

Dưới chân nàng, phiến đá xanh ươn ướt phản chiếu sắc trời nhợt nhạt.

Danh sách cuối cùng được công bố.

Thanh Lan cùng Mộc Nhiên, vị lang y danh tiếng của kinh thành, được hộ vệ áp giải vào phủ tướng quân.

Người đi trên phố dạt sang hai bên, nhìn theo hai thầy thuốc hiếm hoi dám bước vào nơi ấy.

Ai cũng hiểu, nếu không thể cứu được vị tướng quân kia, rất có thể chính bọn họ cũng khó giữ được mạng sống.

Mộc Nhiên bước chậm lại một chút, nghiêng đầu, như để lắng nghe tiếng động phía sau.

Bất giác, hắn đưa tay vuốt nhẹ ngón trỏ lên cổ tay áo, như một thói quen vô thức mỗi khi suy nghĩ điều gì đó.

Hắn không nói, cũng chẳng liếc nhìn Thanh Lan, chỉ giữ nguyên dáng vẻ ung dung mà bước tiếp.

Trong sự điềm tĩnh ấy, có gì đó cho thấy đây không phải lần đầu hắn đối mặt với sống chết.

Đúng lúc ấy, hắn chợt nhận ra ánh mắt của Thanh Lan, không quá lộ liễu.

Hắn cười nhạt, giọng chẳng buồn hạ thấp:

"Nhìn ta như vậy, cô nương định bắt mạch luôn à?"

Thanh Lan chững bước.

Nàng không hẳn là đang dò xét hắn, chỉ là không quen với phong thái ung dung đến lạ lùng này.

Giữa bầu không khí căng thẳng, ai cũng mang vẻ nặng nề vậy mà hắn thì chẳng có lấy một chút áp lực nào trên mặt.

Nàng chớp mắt, đáp lại.

"Nếu đại phu thấy cần."

Mộc Nhiên chỉ cười, không nói thêm.

Tiếng bước chân vang đều trên nền đá.

Cổng lớn phủ tướng quân chậm rãi mở ra.

Đằng sau lớp gỗ nặng nề là một khoảng sân rộng, đá xanh loang lổ rêu phong.

Họ không dừng lại lâu.

Cả hai được dẫn thẳng đến sảnh chính, nơi một đám quan viên đang tụ tập.

Một người đàn ông khoác quan phục xanh đậm đứng giữa, nhìn chằm chằm về phía họ.

"Hai vị lang trung."

Giọng hắn không che giấu được sự thăm dò.

"Tướng quân bệnh tình nguy kịch, nếu chẩn trị sai lầm, không chỉ liên lụy bản thân mà còn làm hại đến tông tộc.

Các ngươi đã cân nhắc kỹ chưa?"

Thanh Lan không nói gì, chỉ vuốt nhẹ hộp thuốc, đầu ngón tay lần theo từng góc cạnh như đang cố trấn an chính mình.

Mộc Nhiên cười nhẹ, chắp tay thi lễ, giọng ôn hòa nhưng không giấu được vẻ tự tin:

"Hạ quan hành y đã nhiều năm, không dám nói là danh y thiên hạ, nhưng trước nay chưa từng thất thủ."

Viên quan gật đầu, mắt nhìn qua Thanh Lan, rõ ràng có phần không mấy tin tưởng.

"Mộc tiên sinh danh chấn kinh thành, vốn dĩ triều đình tín nhiệm."

Hắn dừng lại, đưa mắt sang Thanh Lan.

"Còn vị cô nương này...

Quê quán ở đâu?

Sư thừa ai mà dám đảm đương trọng trách?"

Từng ánh mắt trong sảnh đều đổ dồn về nàng.

Thanh Lan không kiêu ngạo, không nhún nhường.

"Tiểu nữ không dám vọng ngôn, chỉ biết lấy y thuật lập thân.

Bệnh nhân trước mặt, dù là ai cũng không thể khoanh tay đứng nhìn."

Một số quan viên có vẻ lưỡng lự, nhưng vẫn có kẻ nhếch môi cười mỉa.

"Khẩu khí thật lớn."

"Lẽ nào muốn so tài cùng Mộc tiên sinh?"

Thanh Lan bình tĩnh, đáp:

"Không dám so tài, chỉ mong tận lực cứu người."

Viên quan khoát tay, không muốn phí thời gian.

"Dẫn họ đi."

Hai hàng hộ vệ lập tức mở lối, đưa họ băng qua hành lang dài, tiến thẳng tới phủ tướng quân.

Cuộc kiểm tra thực sự chỉ mới bắt đầu.

Thanh Lan bước vào đại viện, đôi mắt vô thức lướt qua từng chi tiết xa hoa hiện ra trước mặt.

Nàng từng nghe kể về sự giàu có của các trọng thần trong triều, nhưng chỉ khi tận mắt chứng kiến, nàng mới thật sự cảm nhận được sự choáng ngợp.

Đèn lồng treo cao, ánh nến phản chiếu lên trần nhà chạm trổ tinh xảo; từng cột trụ gỗ đàn hương khắc hình rồng bay phượng múa tỏa ra mùi hương dịu nhẹ.

Trên tường là những bức họa sơn thủy trải dài, nét bút uyển chuyển tựa phượng múa rồng bay.

Hoàn toàn khác biệt với những con phố giản dị nàng vẫn quen, nơi này thuộc về một thế giới khác, thế giới của quyền lực và địa vị, nơi những kẻ ngồi trên cao nắm vận mệnh bao người.

Thanh Lan nghiêng đầu quan sát, trong mắt phản chiếu ánh đèn ấm vàng như ngấn nước.

Mộc Nhiên bước bên cạnh, khóe môi cong lên đầy ý trêu ghẹo.

"Cô nương lần đầu vào phủ quan lớn sao?"

Giọng của hắn có phần lửng lơ.

Thanh Lan giật mình, thu mắt lại.

"Hạ quan vốn quen hành y giữa dân gian, nơi sang trọng thế này... quả thật ít khi lui tới."

Mộc Nhiên nén cười.

"Nhìn bộ dạng cô nương... chẳng khác nào kẻ quê mùa mới lên kinh."

Thanh Lan không trả lời, chỉ quay mặt đi, lẩm bẩm trong miệng một câu chửi thề nhẹ.

"Mặt dày như mặt trống."

Nàng phồng má, cảm giác tức giận dâng lên trong lòng, nhưng lại không biết làm gì ngoài việc im lặng, bước tiếp.

Vừa bước qua ngưỡng cửa, nàng lập tức cảm nhận được bầu không khí u trầm bao phủ cả gian phòng.

Rèm trướng dày nặng buông xuống, che lấp ánh sáng bên ngoài, chỉ còn những ngọn đèn dầu leo lét hắt lên vách tường một sắc vàng nhạt u ám.

Hương dược thảo nồng nàn hòa lẫn với một mùi âm khí khó tả, tựa hồ nơi này đã bị bệnh tật vây kín từ rất lâu.

Tử An nằm bất động trên giường, thân hình gầy guộc nhưng vẫn toát ra khí chất uy nghi của một võ tướng từng dạn dày trận mạc.

Đôi mắt khép hờ, hơi thở tuy yếu nhưng đều, như cơn gió mong manh đang cố vượt qua đỉnh núi cheo leo.

Thanh Lan chợt thấy lòng dâng lên cảm giác bất an.

Có gì đó... không ổn.

Bên giường, hai vị thái y đã đứng chờ từ trước.

Khi thấy nàng và Mộc Nhiên bước vào, họ liền chắp tay chào.

Một người râu tóc bạc phơ, thần sắc trầm ổn, cất tiếng trước:

"Lão phu là Lâm Minh."

Người còn lại, dáng vẻ nghiêm nghị, cũng cúi người giới thiệu:

"Hạ quan tên Tuân Mã."

Tuân Mã dáng người gầy cao, giọng nói khàn khàn.

Đôi mắt trầm sâu lướt qua Thanh Lan và Mộc Nhiên, như thể đã nhìn thấu cả hai.

Cả hai thái y nhường bước, ra hiệu cho Mộc Nhiên lên trước.

Hắn không chút do dự, tiến đến, đặt tay lên cổ tay Tử An, bắt mạch cẩn thận.

Thanh Lan đứng sau quan sát.

Mắt nàng dừng lại trên đỉnh đầu vị tướng quân những mảng hói loang lổ không phải dấu vết của tuổi già, mà là biểu hiện của chứng rụng tóc bất thường.

Làn da ông xám ngắt, môi thâm đen, đầu ngón tay phớt sắc tím.

Dưới ánh đèn dầu, sắc diện ấy càng thêm phần tiều tụy.

Nàng liếc sang Tuân Mã, cúi đầu hỏi:

"Xin hỏi, tướng quân lâm bệnh từ bao giờ?"

Tuân Mã đáp:

"Khởi phát từ cơn đau bụng dữ dội, sau đó yết hầu rát buốt.

Vài tháng sau, da sạm lại, gần đây lại thêm chứng lỵ ra huyết."

"Vậy sao?"

Căn bệnh này nghe không đơn giản.

Những triệu chứng ấy khác gì lưỡi dao mài mòn thân thể, như độc tố ngấm dần vào huyết mạch từng ngày.

Nếu chỉ là bệnh tật thông thường, sao lại không thể chẩn đoán được?

Thái y viện vốn là nơi tập hợp những danh y tài giỏi, nếu là bệnh hiểm nghèo hay thông thường, đã có thể tự mình đưa ra phán đoán.

Nhưng nếu đã mời danh y bên ngoài, thì chắc chắn có điều gì đó không ổn.

Hay... vấn đề không nằm ở việc tìm ra nguyên nhân, mà ở chỗ họ đã sớm nghi ngờ có kẻ hạ độc?

Nàng quan sát hai vị Thái y.

Lâm Minh vẫn giữ vẻ điềm nhiên, song đôi mắt đôi lúc nhìn qua Tử An, vài phần lo ngại.

Cũng phải thôi Thái y là người giữ mạch sống cho các trọng thần trong triều, một khi y đạo bất thông kẻ lâm nạn không cứu được, kẻ mang danh "Thái y" cũng khó mà toàn vẹn.

Gánh nặng khi ấy, chẳng riêng chi họ, ngay cả người được mời đến như Mộc Nhiên... và cả nàng, cũng không thể thoái thác.

Tuân Mã thì mặt không đổi sắc, hai tay chắp sau lưng, chỉ chờ kết luận sau cùng được tuyên ra.

Còn hắn, vẫn cúi thấp, chăm chú bắt mạch, chưa vội đoán định.

Nếu quả thật là trúng độc... vậy kẻ hạ thủ ắt chẳng tầm thường.

Một mưu kế có thể khiến danh y triều đình cũng đành bó tay, tuyệt chẳng phải loại độc dễ nhìn dễ biết.

Thủ pháp hạ độc phải là tinh vi đến cực điểm, không lưu tăm tích, không để dấu vết.

Chỉ khi xác định được loại độc, nàng mới có thể phân tích triệu chứng chính xác và đưa ra kết luận cuối cùng.

Nhưng lúc này, tất cả vẫn chỉ là suy đoán.

Nếu vội vàng phát biểu khi chưa có chứng cứ rõ ràng, không chỉ khó được chấp nhận, mà còn có thể bị xem là kẻ gây rối.

Phải thật bình tĩnh.

Không lên tiếng.

Không để lộ bất kỳ manh mối nào.

Trước tiên, cần âm thầm quan sát và điều tra bắt đầu từ thức ăn và nước uống, hai nguồn có khả năng chứa độc cao nhất.

Nghe có vẻ hợp lý.

Độc được đưa vào từng chút một, mỗi ngày một ít, khiến nạn nhân suy yếu dần mà không ai nghi ngờ.

Một thủ pháp tinh vi giết người trong im lặng, không ai có thể tra ra.

Nhưng nếu thật sự là vậy, có ba điểm bất hợp lý.

Thứ nhất, thức ăn và nước uống của Tử An đều được kiểm tra nghiêm ngặt.

Một tướng quân nắm trọng binh, nếu có thể bị đầu độc dễ dàng, thì chẳng khác nào phòng tuyến đã bị xuyên thủng từ bên trong.

Mỗi bữa ăn đều có người thử độc trước, từng món đều do kẻ thân tín giám sát.

Nếu muốn hạ độc theo cách thông thường, kẻ chủ mưu phải chắc chắn có người ở bên cạnh Tử An, nhưng đến nay chưa ai bị tình nghi.

Thứ hai, nếu đã có cơ hội ra tay, tại sao không dùng một liều mạnh để kết liễu ngay, mà lại kéo dài?

Độc phát tác nhanh khiến cái chết trông giống như bệnh tật hoặc tai nạn, ít ai nghi ngờ.

Nhưng kéo dài thời gian, để bệnh trạng bộc lộ từng chút một, chẳng phải là đang tự đẩy mình vào thế nguy hiểm sao?

Thứ ba, thái y trong triều không phải hạng tầm thường.

Nếu độc thực sự có trong thức ăn, lẽ nào bọn họ lại không phát hiện ra?

Không thể nào.

Kiểm tra độc tố trong thực phẩm là điều cơ bản nhất của y thuật.

Nếu ngay cả họ cũng không tìm ra dấu vết, thì chứng tỏ độc không đến từ đường ăn uống.

Vậy thì...

Độc đã vào cơ thể bằng cách nào?

Thanh Lan bước quanh phòng, mọi thứ vẫn gọn gàng, ngay ngắn, không hề có dấu hiệu bị xáo trộn.

Nếu thật sự có kẻ hạ độc, hắn đã làm cách nào để không để lại dù chỉ một dấu vết?

Nàng cân nhắc đến một khả năng: độc có thể đã được tẩm vào chăn ga gối đệm.

Một phương pháp đầu độc âm thầm, không cần qua đường ăn uống, cũng chẳng cần xâm nhập cơ thể ngay lập tức chỉ cần tiếp xúc lâu dài, chất độc sẽ thẩm thấu vào da thịt.

Nghe thì hợp lý, nhưng lại có quá nhiều điểm vô lý.

Chăn gối trong phủ mỗi ngày đều được thay mới.

Đồ cũ được mang ra giặt sạch, phơi khô, rồi mới đưa vào sử dụng lại.

Nếu kẻ hạ độc chỉ tẩm độc vào một bộ chăn, chẳng phải chỉ cần thay đi là kế hoạch thất bại?

Hơn nữa, một tướng quân trọng yếu đang bệnh nặng, không phải ai cũng có thể tùy tiện ra vào phòng ngủ của ông ta.

Kẻ đó có thể lấy lý do gì để chạm vào chăn gối mà không bị nghi ngờ?

Ngay cả khi có thể tiếp cận được, một vấn đề khác lại xuất hiện: độc dược không thể chỉ dùng một lần rồi thôi.

Chỉ một lượng nhỏ khó có thể khiến một người như Tử An suy yếu đến mức này.

Nếu muốn hiệu quả kéo dài, hắn buộc phải tẩm độc vào nhiều bộ chăn gối khác nhau.

Nhưng phủ tướng quân đâu chỉ có một hai bộ?

Mỗi loại đều được làm cầu kỳ, kích thước lớn, số lượng lên đến hàng trăm.

Để đảm bảo nạn nhân liên tục tiếp xúc với độc, hắn sẽ phải tẩm độc hết thảy, hoặc lén lút ra tay nhiều lần.

Điều đó không chỉ tốn kém, mà còn mất thời gian kinh khủng.

Một phương pháp rườm rà, đầy rủi ro, và quan trọng là không đáng để thử.

Cách này tuyệt đối không thể là phương thức hạ độc chính.

Không thể nào.

Nếu kẻ đó đủ thông minh để chọn một thủ pháp tinh vi như thế, hắn cũng sẽ không phạm sai lầm sơ đẳng như vậy.

Một kế hoạch hạ độc phải đảm bảo tính liên tục, khó bị phát hiện, và quan trọng nhất phải có đủ thời gian để hoàn thành mục đích.

Chăn gối có thể là phương tiện hỗ trợ, nhưng không thể là phương thức chính.

Quá rườm rà.

Quá nhiều lỗ hổng.

Quá dễ bị thay thế.

Vậy rốt cuộc là gì?

Nếu không phải đồ ăn, không phải chăn gối thì chất độc đã len lỏi vào cơ thể bằng con đường nào?

Một cảm giác bất an dâng lên trong lòng.

Hung thủ đã ra tay bằng cách mà ngay cả Thái y viện cũng không tìm ra, một phương pháp hạ độc kín kẽ, vô thanh vô tức, đủ sức khiến nạn nhân dần suy sụp mà không ai hay biết?
 
Vọng Môn Ký Sự
HỒI 5: TƯỚNG QUÂN.


Một thứ vẫn luôn hiện diện, lặng lẽ nhưng không thể thiếu.

Người ta tiếp xúc với nó mỗi ngày, vô thức chấp nhận mà không đề phòng.

Nếu chất độc ngấm dần thì ta đã chạm vào nó từ bao giờ?

Nàng quan sát khắp căn phòng, từng vật dụng lần lượt lọt vào tầm nhìn.

Mọi thứ ở đây đều phục vụ sinh hoạt của Tử An, không có gì bất thường.

Nhưng chính sự bình thường ấy mới là điều đáng ngờ.

"Thứ mà ai cũng biết, nhưng không ai nghi ngờ..."

Cảm giác như câu trả lời đã lẩn khuất ngay trước mắt, chỉ cần chạm tay vào là có thể kéo nó ra ánh sáng.

Nhưng là gì?

Là thứ gì?

Thanh Lan vắt óc suy nghĩ, lòng bức bối như có ngọn lửa âm ỉ thiêu đốt.

Câu trả lời ẩn mình đâu đó giữa những thứ quen thuộc này chỉ chờ nàng nhận ra.

Đúng lúc ấy, cánh cửa hé mở.

Một vị quan già bước vào.

Hắn lướt mắt qua hai vị lang y trong phòng, có phần bâng quơ:

"Sao dạo này không thấy Tử An ra ngoài hít thở nữa?

Trước đây chẳng phải mỗi lần ra ngoài, ngài đều nói thấy đỡ hơn sao?"

Lâm Minh đáp:

"Từ khi bệnh trở nặng, đại nhân chỉ ra ngoài đúng ba ngày.

Sau đó kiệt sức, nằm liệt giường.

Chúng ta cũng không thể tùy tiện vào, có việc gì cần thì chỉ được vào chốc lát rồi phải lui ngay."

Lão ấy nghe xong thì gật gù, chép miệng:

"Ừm... cũng chẳng trách được.

Bệnh như thế, còn chống đỡ đến nay cũng đã là giỏi."

Nói rồi, lão kéo nhẹ vạt áo, chậm rãi quay lưng bước ra ngoài.

Tiếng cửa gỗ khép lại khô khốc giữa bầu không khí nặng nề.

Thanh Lan lẩm bẩm, mắt không rời khỏi bóng người trên giường:

"Ba ngày...

Mỗi lần ra ngoài đều thấy khá hơn.

Nhưng sau đó lại nhanh chóng kiệt quệ, nằm liệt giường..."

Nàng ngẩng đầu.

Một suy đoán hiện lên.

Cửa sổ đóng kín.

Không khí trong phòng ngột ngạt.

Tử An chỉ ra ngoài đúng ba ngày.

Mỗi lần trở về, ông đều thấy khá hơn.

Không thể là thức ăn mỗi món đều được kiểm tra nghiêm ngặt, có người thử độc trước.

Không thể là chăn gối, đều thay mới, giặt sạch mỗi ngày.

Không thể là thứ gì cần tiếp xúc trực tiếp.

Chẳng ai ngu ngốc đến mức mất công thay từng món đồ chỉ để hạ độc.

Chỉ còn một khả năng duy nhất...

Độc tố không nằm trong đồ vật.

Mà trong chính không khí này.

Thứ đang giết Tử An chính là từng hơi thở hít vào mỗi ngày!

Hung thủ không cần tiếp cận nạn nhân, không cần mạo hiểm bỏ độc vào thức ăn hay nước uống.

Hắn chỉ cần biến căn phòng này thành một nhà giam vô hình, một nơi mà mỗi hơi thở đều trở thành lưỡi dao cứa vào sinh mạng.

Suy nghĩ của Thanh Lan tua nhanh như dòng nước xiết.

Từng mảnh lý thuyết cứ thế xếp chồng lên nhau, nhưng không thể nào khớp lại.

Nàng đảo mắt nhìn quanh, phân tích từng chi tiết.

Tấm rèm?

Chăn gối?

Đồ gỗ?

Không đúng.

Những thứ này đều được thay giặt thường xuyên.

Nếu thực sự bị tẩm độc, người hầu hạ chắc chắn cũng đã trúng độc.

Phải chăng nàng đã bỏ sót điều gì?

Mỗi giả thuyết nảy lên lại nhanh chóng bị bác bỏ.

Chỉ còn một khả năng duy nhất.

Nàng không chắc, nhưng đó là lựa chọn cuối cùng.

Ánh mắt dừng lại trên những chiếc bình đặt trên bàn.

Không khí trong phòng lặng như tờ, mỏng manh như thể có thứ gì đó vô hình đang bao trùm lấy mọi thứ.

Một cơn lạnh buốt lặng lẽ len vào sống lưng.

Liệu có phải... chính không khí này đã bị đầu độc ngay từ trước, ngay cả khi căn phòng vẫn còn mở?

Không thể kiềm chế, Thanh Lan bước nhanh về phía Tuân Mã, vươn tay nắm lấy cánh tay ông.

"Tướng quân!

Đại nhân có sở thích gì không?

Có vật gì giúp thư giãn, làm dịu tâm trí không?

Bất cứ thứ gì nhưng phải liên quan đến mùi hương!"

Câu hỏi đột ngột khiến Tuân Mã chững người.

Bên cạnh, Mộc Nhiên vẫn cầm bút ghi chép bỗng ngừng lại, đầu hơi nghiêng, như đang cân nhắc từng lời nàng nói.

Tuân Mã chớp mắt, có vẻ chưa hoàn toàn hiểu ý nhưng vẫn đáp:

"Sở thích ư?

Đại nhân thích đốt hương.

Một loại hương đặc biệt trong phủ điều chế, giúp an thần, dễ ngủ."

Hương an thần?

Câu trả lời vừa dứt, một tia chớp xé ngang suy nghĩ của Thanh Lan.

Không chần chừ, nàng xoay người, đảo mắt quét nhanh khắp gian phòng và dừng lại trên án hương.

Không thể sai được.

Thanh Lan lao tới.

Nắp bát hương bị mở ra.

Ngón tay nàng lướt qua lớp tro còn ấm.

Khói vẫn tỏa ra, mùi thơm nhàn nhạt len lỏi trong không khí.

Thanh Lan cúi xuống, ghé mũi lại gần để cảm nhận rõ hơn.

Thứ mùi ấy...

Hương thơm vốn nhàn nhạt, thoang thoảng dễ chịu, nhưng khi nàng tập trung hơn, một tầng hương khác từ từ lộ ra hăng nhẹ, hơi nồng, và có phần đặc quánh.

Nếu không ngửi kỹ, có lẽ chẳng ai nhận ra sự bất thường này.

Không đúng.

Một loại hương an thần... nhưng sao lại mang theo mùi như thế này?

Không ổn.

Hoàn toàn không ổn.

Nàng biết, hương này có điều bất thường.

Mùi thơm thoạt nhìn tưởng vô hại, nhưng trong lòng lại nổi lên linh cảm khác lạ.

Có gì đó không ổn... rất không ổn.

Thế nhưng lúc này, trong tay vẫn chưa có bằng chứng cụ thể.

Nếu vội vàng nói ra khi chưa nắm chắc, chẳng khác nào vu cáo Phủ tướng quân lơ là quản lý.

Gặp người quân tử thì còn đỡ, nhưng nếu chẳng may rơi vào tai kẻ mưu mô xảo trá, thì e rằng chính nàng mới là người mất đầu.

Nàng hạ quyết tâm: phải tìm cho ra chứng cớ rõ ràng, rồi mới ra tay được.

Tuân Mã nhìn nàng đầy nghi hoặc, chẳng hiểu gì:

"Cô nương đang làm gì thế?"

Thanh Lan quay lại, nhoẻn miệng cười hì hì, giả bộ ngây ngô như chẳng có chuyện gì xảy ra.

Mộc Nhiên ngồi đó, Hắn không nói gì, chỉ gập lại quyển bút ký, tựa hồ mỗi nét chữ vừa rồi đều là điều đáng suy.

Thanh Lan biết rõ, người này không hề đơn giản.

Hắn trầm mặc, nhưng không hề ngu ngơ.

Có lẽ...

đã ngờ ngợ điều gì đó.

Nàng bèn giả vờ không để tâm, chưa vội tiết lộ bất kỳ manh mối nào.

Nàng xoay người, hướng về Lâm Minh:

"Đại phu, trong phủ này... ai là người lo việc đốt hương mỗi tối?

Có thay đổi người hay là chỉ một người làm mãi?"

Lâm Minh bất ngờ trước cách hỏi thẳng thắn của nàng.

"Mỗi đêm đều do một người chuyên trách đốt hương, không thay ca.

Người vận chuyển hương là một người khác, phụ trách đưa trầm đến các cung vào đầu giờ Thân."

Tuân Mã đứng bên cạnh, tay áo chắp sau lưng, gật đầu:

"Trình tự ấy đã định từ lâu, không có thay đổi.

Cô nương hỏi chuyện này để làm gì?"

Thanh Lan cười trừ.

"Ừm... tò mò thôi.

Tiểu nữ thấy hương này thơm kỳ lạ.

Hỏi chơi vậy mà."

Nàng vừa nói vừa đưa tay phe phẩy làn khói nhẹ, trông chẳng khác gì một cô gái nhà quê đang ngó nghiêng chuyện lạ trong cung thành.

Thấy Thanh Lan cứ quanh quẩn nơi án hương, tay áo phất phơ, ngón tay thỉnh thoảng lại chạm vào vụn trầm còn sót, Tuân Mã và Lâm Minh đưa mắt nhìn nhau, đồng loạt thở dài.

"Cô nương, nơi này không tiện dừng chân quá lâu.

Hương vụ dùng trong nội điện, không thể tùy tiện đụng vào."

Dứt lời, Ông đưa tay kéo nhẹ nàng lùi về sau vài bước.

Thanh Lan ngoảnh lại, ánh mắt ngơ ngác như chẳng hiểu gì, miệng cười lấp lửng:

"Tiểu nữ chỉ ngó qua một chút...

Vụn hương này thơm lắm, không nhìn kỹ thì uổng."

Mộc Nhiên gật đầu.

"Đã sơ bộ kiểm tra xong tình trạng của Tướng quân.

Tạm thời chưa phát hiện gì rõ ràng."

Hai vị thái y đồng loạt cúi người thi lễ, chuẩn bị cáo lui.

Thanh Lan nghe vậy thì hồn vía lên mây.

"Còn... chỗ hương thì sao?!"

Nàng hoảng hốt nhìn quanh.

Làn khói trầm vẫn mỏng mảnh vương vấn trong không khí, ngỡ là vô hại, nhưng nàng biết chắc trong đó có điều bất ổn.

Không thể để thứ ấy tiếp tục ở lại trong phòng này được.

Tuyệt đối không.

Nàng quay sang Tuân Mã, môi mấp máy định nói gì đó, nhưng ông đã giục:

"Mau lui, nơi này không còn việc của cô nương nữa."

Thanh Lan mím môi, mắt liếc nhanh về phía lư hương vẫn đang cháy.

Nếu để yên, e rằng cơ hội duy nhất sẽ vụt mất.

Nàng cắn răng, rồi trong một khoảnh khắc ngỡ như vô tình, chân trái lảo đảo một cái.

Tay áo vung lên

choang!

Bát hương nghiêng đổ.

Tro trầm tung tóe đầy sàn.

Căn phòng bỗng chốc chìm trong tĩnh mịch.

Mọi ánh mắt đồng loạt đổ dồn về phía nàng.

Nàng đứng yên như tượng, trong lòng gào thét:

"Chết rồi... lần này đúng là đánh liều thật rồi."

Thanh Lan đứng giữa phòng, mặt thoáng biến sắc, nhưng rất nhanh đã lấy lại dáng vẻ hồn nhiên.

Nàng đưa tay lên gãi đầu, môi mím lại như kẻ lỡ tay làm vỡ đồ quý:

"Tiểu nữ vô ý... thật là sơ suất."

Tuân Mã bước tới.

"Đây là vật trong nội cung, lại dùng cho tẩm thất của Tướng quân.

Cô nương tự tiện đụng chạm, e là đã vượt khuôn rồi."

Lâm Minh từ phía sau cũng tiến lại, khom lưng xem xét tro trầm vương vãi dưới đất.

"Thứ này không phải hương thường.

Là trầm hạng tốt, mỗi phần đều có ghi chép rõ ràng.

Nay bị đổ thế này... chẳng dễ bẩm báo."

Thanh Lan nghe vậy thì luống cuống, cúi đầu thật sâu, miệng vẫn cố giữ vẻ ngây ngô:

"Tiểu nữ ngu dại, mong hai vị đại phu trách nhẹ.

Chỉ là...

ừm...

đồ đã đổ rồi, chi bằng...

đổi loại hương khác, có khi còn thơm hơn ấy chứ?"

Nàng vừa nói vừa ngẩng đầu, mắt long lanh, giọng lộ vẻ thành khẩn khó phân biệt là thật hay giả.

Mắt Thanh Lan đảo qua một vòng, như đang tìm lối thoát giữa tình thế bối rối.

Mộc Nhiên vẫn đứng yên, tay chắp sau lưng như đã thấu suốt mọi toan tính.

"Tro hương rơi vãi, chẳng phải việc hệ trọng.

Cô nương này vốn không quen quy củ trong phủ, một đôi sơ suất cũng là thường.

Xin hai vị đại phu chớ nên trách nặng lời."

Lời nói tưởng nhẹ như gió, song hàm ý che chở rõ ràng.

Tuân Mã xoa trán, nhưng không cãi lại.

Lâm Minh thì thở ra, đáp gọn:

"Vậy cũng được.

Dù sao, trầm đốt đêm nay cũng phải thay."

Thanh Lan nghe vậy, liền cúi đầu sâu.

"Tiểu nữ ngu muội, cảm tạ đại phu đã rộng lòng dung thứ."

Nói rồi, nàng lui về sau vài bước, trong lòng đã tính sẵn: bằng bất cứ giá nào cũng phải giữ lại một ít để chứng minh linh cảm của mình không phải vô cớ.

Lợi dụng lúc mọi người không còn để tâm, cơ hội chợt hé mở trong khoảnh khắc.

Thanh Lan cúi xuống, bàn tay thoăn thoắt nhặt lấy một nhánh hương còn sót bên mép chiếu, khéo léo giấu vào ống tay áo.

Động tác nhẹ, không gây một tiếng động, không để ai sinh nghi.

Nhưng khi cầm nhánh hương lên, nàng khựng lại.

Loại hương này... không giống trầm thường thấy trong phủ, ngón tay Thanh Lan mướt dọc thân hương cảm nhận cấu tạo lạ thường.

Lúc này nàng mới để ý đây vốn không phải hương thuộc Trung Nguyên, mà là loại "Thiên Trúc hương" nghe do một thương nhân lạ từ Tây Vực mang đến.

Hương được nén thành thanh dài, bên trong có lõi mảnh như cành tre non.

Khi đốt, khói không bay loạn mà đi thẳng tắp, không tạo tàn tro mù mịt.

Năm xưa, nàng từng nghe thương nhân nọ nhắc đến loại hương này, một vị quý phi thời tiền triều từng dùng để dâng cúng Phật, người ta gọi nó là "hương nhập thánh".

Thanh Lan suy ngẫm.

Loại hương này không những có thể dùng xông phòng, mà còn thuộc hàng quý hiếm, thậm chí cao cấp hơn cả trầm thông thường.

Cấu tạo thanh mảnh có lõi, dễ cắm, dễ đốt, không cần than hồng.

Đặc biệt: khói thơm lâu, ít khói, mùi lại thanh khiết.

Rất giống loại hương chuyên dùng trong các nghi lễ cung đình hay Phật môn.

Một suy nghĩ vụt qua đầu như chớp.

Nếu kẻ nào muốn giấu độc vào hương, thì loại hương này chính là lựa chọn hoàn hảo nhất.

Tuân Mã và Lâm Minh đã xoay người bước ra ngoài.

Mộc Nhiên đi chậm hơn nửa bước, quay đầu nhìn lại.

Đôi mắt ấy, như vô tình mà cũng hữu ý, song chẳng để lại lời nào.

Thanh Lan liền khom người, giữ trọn lễ nghi, rồi theo sau đoàn người, rời khỏi phòng.

Gian nội thất dần trở nên yên lặng, nhường lại không gian để Tướng quân tĩnh dưỡng.

Phía sau tấm rèm sa lay động theo gió xuân nhè nhẹ.

Trên giường, thân thể Tướng quân vẫn lặng im bất động, sắc diện nhợt nhạt, hơi thở yếu ớt như sợi tơ cuối mùa, mong manh tưởng chừng có thể tan biến bất cứ lúc nào.
 
Vọng Môn Ký Sự
HÒI 6: ANH THẢO.


Tối ấy, bởi bệnh tình của Tướng quân vẫn chưa rõ căn nguyên, lại cần tiện bề theo dõi và chữa trị, Mộc Nhiên cùng Thanh Lan được lưu lại phủ qua đêm.

Cả hai được an trí tại hai gian phòng cũ, cách nội phủ một đoạn đủ gần để ứng biến, đủ xa để tránh hiềm nghi.

Phòng của Thanh Lan đơn sơ.

Trên bàn gỗ cũ, bữa tối đã được dọn sẵn: một bát cơm trắng và vài lát cá khô mặn chát.

Thanh Lan không kêu ca, cũng chẳng chê trách.

Vừa nhai từng miếng, vừa suy tính trong đầu.

"Nhánh hương ấy... phải tìm cách thử sớm.

Mùi kia rõ ràng có gì bất thường."

Ánh đèn hắt lên vách, đổ bóng nàng loang lổ như nước.

Ngoài sân, gió xuân hiu hắt thổi qua mái ngói cũ, mang theo mùi ẩm mốc của đất đai ẩm lạnh, khiến cả căn phòng càng thêm vắng lặng.

Cơm cá chẳng còn mấy hấp dẫn, Thanh Lan buông đũa, thở dài.

Nàng chống tay đứng dậy, vươn vai một cái, đoạn đẩy cửa bước ra ngoài, để gió đêm xua bớt những suy nghĩ rối ren trong đầu.

Hành lang vắng, ánh trăng lửng lơ trên cao, chiếu xuống phủ một lớp sáng nhàn nhạt như lụa trắng.

Nàng bước chầm chậm qua lối vườn cũ.

Đang thả hồn theo tiếng gió, mắt bỗng bắt gặp một bóng người đứng bên hồ nhỏ phía xa.

Dưới ánh trăng, dáng áo dài phiêu dật, một tay cầm đá cuội ném xuống mặt nước từng vòng sóng nhỏ lăn tăn tỏa ra trong im lặng.

Là Mộc Nhiên.

Không rõ hắn đang nghĩ điều gì, thần sắc trầm mặc như thấm gió sương.

Thanh Lan rón rén bước lại gần, nhẹ như mèo lẻn, mắt đảo quanh đầy hiếu kỳ.

Nàng nín thở len lén ngó nghiêng sau gốc cây, tưởng như đang rình bắt một bí mật lớn.

Mộc Nhiên dường như đã cảm thấy, lưng vẫn quay về phía sau.

"Rình rập mãi, chẳng lộ diện đi."

Thanh Lan cười khúc khích, không giấu nữa, từ sau gốc cây bước ra.

"Ai rình chứ?

Tiểu nữ tình cờ đi ngang... thấy có người đứng yên như tượng gỗ thì muốn xem thử có phải bị trúng phong không thôi."

Nàng nghịch ngợm đi tới, định trêu hắn thêm vài câu, nhưng nhìn thấy vẻ mặt đăm chiêu ấy, lại thôi.

Thanh Lan nhìn vào bóng nước lăn tăn dưới ánh trăng, gió đêm thoảng qua lạnh buốt.

Trong đầu nàng lại vang vọng câu hỏi vẫn chưa có lời đáp từ buổi sáng...

...

Khi ấy, hai vị Thái y cùng Mộc Nhiên và Thanh Lan vừa rời khỏi tẩm thất, để lại không gian yên tĩnh cho Tướng quân tĩnh dưỡng.

Thanh Lan đi sau vài bước, đột ngột lên tiếng:

"Tuân công, kẻ phụ trách mang trầm hương tới mỗi đêm là ai?

Có phải người đó cố định không?

Còn kẻ nào phụ trách việc đốt hương... có thay đổi theo ngày chăng?"

Tuân Mã đáp.

"Trầm hương mỗi tối do một người vận chuyển, người khác chuyên việc châm đốt.

Vẫn là hai người cũ, không thay đổi."

Thanh Lan gật đầu, trong lòng đã âm thầm ghi lại từng lời.

Sau một hồi ngập ngừng, nàng ngẩng mặt, lấy hết can đảm:

"Nếu có thể... tiểu nữ muốn gặp hai người kia, kẻ đưa hương và người đốt hương mỗi đêm trong phủ."

Câu nói khiến Tuân Mã và Lâm Minh sững lại.

Dường như trong phút chốc, họ định từ chối dù là dân y, nhưng vẫn là người trong triều, chẳng thể để một dân nữ hỏi han lung tung.

Nhưng đúng lúc ấy, Mộc Nhiên đưa tay đặt nhẹ lên vai Thanh Lan.

"Việc ấy có thể giúp phần nào trong việc chẩn bệnh.

Nàng ta tinh ý, e là phát hiện điều mà chúng ta chưa thấy."

Tuân Mã và Lâm Minh nhìn nhau một lúc, cuối cùng cũng gật đầu, dù vẻ miễn cưỡng vẫn hiện rõ.

Thanh Lan quay sang Mộc Nhiên, bĩu môi như mèo con không hài lòng, nhưng chỉ lặng im, không lên tiếng.

Cả hai được dẫn đến một gian nhà phụ gần nhà bếp, nơi đã chuẩn bị sẵn bàn trà.

Chẳng bao lâu sau, hai người đàn ông bước vào.

Một người vạm vỡ, thân hình chắc khỏe, quần áo còn vương mùi khói hương, đôi tay thô ráp, chính là Hiểu Minh, kẻ phụ trách việc châm đốt hương.

Cạnh bên là Nhã Duy, thấp người và gầy guộc, gương mặt khắc khổ, chuyên lo công việc vận chuyển trầm hương.

Dù là vì bị gọi đến đột ngột, cả hai đều không giấu được sự khó chịu.

Hiểu Minh nhăn mặt, còn Nhã Duy thì nhìn quanh dò xét.

Họ quỳ một gối thi lễ, chẳng giấu nổi sự bực bội.

Tuân Mã có việc gấp, cáo lui trước.

Lâm Minh ngồi lại.

"Cô nương nếu có điều gì muốn hỏi, cứ hỏi thẳng.

Chúng ta chẳng phải rảnh rỗi ngồi đây uống trà chuyện phiếm."

Thanh Lan cúi người đáp lễ, ngữ khí khiêm tốn.

"Vậy xin hỏi... hai vị đây làm việc trong phủ đã được bao lâu?"

Nhã Duy chắp tay đáp trước:

"Bẩm cô nương, tiểu nhân theo việc vận chuyển trầm hương đã ba năm, còn Hiểu Minh huynh thì lâu hơn một chút."

Hiểu Minh gật đầu.

"Tại hạ chuyên đốt hương cho Tướng quân mỗi đêm đã hơn bốn năm.

Việc ấy không đổi người, chỉ có tay quen mới làm được."

Thanh Lan đáp:

"Ngoài việc xông hương và đưa hương, hai vị... chắc cũng có lúc giúp đỡ vài việc khác ngoài giờ, phải không?

Phủ lớn, người ít, tất cũng cần tay chân quen thuộc..."

Câu nói như một lời thăm dò kín đáo.

Hiểu Minh chau mày, đáp cẩn thận:

"Có khi cũng giúp quét tước, khiêng vác, nhưng tuyệt chẳng ai dám tự tiện vào nội thất.

Việc đều theo lệ mà làm."

Nhã Duy chen vào:

"Đúng đó ạ.

Mỗi phần việc đều có định sẵn.

Tiểu nhân chưa từng ở lại quá lâu, chỉ nhận hương từ kho rồi đem đến giao cho Hiểu Minh huynh, sau đó lập tức rời đi."

Thanh Lan trầm ngâm chốc lát, như cân nhắc điều gì, đoạn ngẩng lên.

"Hai vị mỗi ngày ngoài thời điểm giao hương và giờ xông hương buổi tối... thường làm những gì?

Phủ lớn việc nhiều, lẽ nào chỉ chuyên mỗi một việc ấy?"

Hiểu Minh tiếp lời.

"Bẩm cô nương, thường thì ban ngày tại hạ phụ trách quét dọn hành lang bên phía Đông, có khi theo chân tổng quản làm vài việc lặt vặt trong viện ngoài.

Đến giờ Tý thì mới vào khu nội để xông hương cho Tướng quân."

Nhã Duy cũng lên tiếng:

"Còn tiểu nhân thì ngoài giờ giao hương, thường khuân vác tạp vật ngoài kho, cũng có lúc chuyển trà bánh hoặc than củi theo lệnh tổng sự.

Đều là việc lặt vặt, chẳng có gì đáng nói."

Thanh Lan hỏi thêm:

"Vậy... những việc ấy có người làm chứng không?

Ý ta là, có người thấy hai vị làm gì, ở đâu, vào giờ nào?"

Hiểu Minh đáp trước, có phần dè dặt:

"Bẩm... thường thì cũng có người qua lại, như mấy tiểu thái giám, hoặc người lo bếp.

Nhưng bảo là có ai theo sát chứng kiến từng việc... thì e rằng không tiện nói chắc."

Nhã Duy cũng hùa vào:

"Tiểu nhân chỉ làm theo phân phó, chưa từng nghĩ phải để người khác xác nhận..."

Thanh Lan không nói thêm, một điểm nghi ngờ mơ hồ trong lòng đã dần trở nên rõ rệt...

Trở lại bên hồ, gió vẫn thổi nhẹ trên mặt nước, gợn sóng lăn tăn như lúc Hiểu Minh đáp lời nàng.

...

Mộc Nhiên ném viên đá cuối cùng xuống hồ.

"Hồi sáng có người tay chân lạ vụng.

Một cái bát hương đặt yên một chỗ, vậy mà cũng có thể...

'vấp ngã' vào được."

Thanh Lan giật mình, trừng mắt nhìn hắn, như muốn đạp thẳng xuống hồ cho hả giận.

"Ý đại phu là gì?

Muốn nói tiểu nữ mưu đồ hãm hại một cái bát hương vô tội à?"

Mộc Nhiên không đáp ngay, chỉ từ từ rút chiếc khăn từ trong túi áo, lau nhẹ tay một cách chăm chú.

Thanh Lan liếc nhìn, lẩm bẩm, như muốn nói xấu:

"Xì, cầm mỗi cục đá mà cũng phải lau tay."

Hắn nhét chiếc khăn vào túi áo, vẻ mặt nghiêm túc, giọng vẫn thong dong:

"Không dám.

Chỉ là bái phục cái sự 'tình cờ' của cô nương.

Trong cả căn phòng đầy đồ đạc, lại chỉ có mỗi cái bát hương là bị trượt chân vào."

Thanh Lan hừ một tiếng, không hề nao núng.

"Thì cũng còn đỡ hơn kẻ nào đó ném đá xuống hồ như đang tìm long mạch.

Hay đại phu đang thử xem cá có trúng độc không?"

Mộc Nhiên bật cười khẽ.

"Nếu có trúng độc thật, thì chắc cũng do ai đó "vô tình" làm rơi thêm vài thứ xuống nước."

Nàng khoanh tay lại.

"Vậy đại phu cứ uống thử vài ngụm xem?"

hai nhìn nhau trừng trừng, không ai chịu nhường ai.

Cuối cùng, lại đồng loạt quay đi, chẳng ai chịu nhận mình thua.

"Mộc đại phu... chẳng hay sáng nay nương tay với tiểu nữ là vì đã nhìn ra điều gì rồi chăng?"

Thanh Lan cười, đầy vẻ ranh mãnh.

Mộc Nhiên không đáp ngay.

Hắn thong thả rút từ tay áo ra một quyển ghi chép nhỏ, lật qua vài trang rồi mới cất lời:

"Ta chỉ nghĩ... một người tay vụng như cô nương, lại có thể 'sẩy chân' trúng ngay thứ ấy, hẳn không phải ngẫu nhiên."

Mắt Mộc Nhiên dừng lại nơi Thanh Lan.

"Cô nương cũng đã nhận ra điều gì rồi... phải không?"

Thanh Lan khựng lại.

Một thoáng lặng trôi qua trong ánh trăng, như thể từng mảnh suy nghĩ vụn vỡ trong đầu nàng vừa khớp lại.

"Vậy ra...

đại phu cũng cho rằng bệnh tình của Tướng quân không chỉ đơn thuần là cảm mạo?"

Mộc Nhiên đưa ra một quyển y bạ mỏng đã sờn gáy.

"Rụng tóc, ho ra máu, da sạm bất thường ba dấu hiệu ấy đã đủ khiến ta nghi ngờ.

Thế mà hai vị thái y lại chỉ gộp vào một chẩn đoán cảm phong thông thường..."

Mộc Nhiên trầm giọng,

"Nhưng ta còn phát hiện thêm một điều."

"Trên người Tướng quân có vương lại một thứ mùi rất nhạt, thoang thoảng như hạnh nhân đắng, lẫn rất nhẹ trong mùi trầm.

Phải cực kỳ tinh ý mới tách ra được."

Hắn ngừng lời, liếc sang Thanh Lan, rõ ràng mang ý dò xét chờ đợi xem nàng có nối kết được những manh mối còn lại.

Quả nhiên, nàng chững lại.

Sắc mặt biến đổi, như thể vừa chạm phải một suy nghĩ mà bản thân cũng không muốn gọi tên.

Không khí bỗng lặng đi cả hai đều hiểu, họ đã chạm đến ranh giới cấm kỵ trong y đạo.

Một loại độc mà người học y chân chính luôn sợ phải đối mặt.

Và rồi, gần như cùng lúc, giọng nói của cả hai hòa vào nhau:

"Bạch thạch..."

Không cần phải giải thích.

Với những người hiểu y lý, chỉ hai chữ ấy đã đủ khiến lòng lạnh buốt.

"Bạch thạch" thứ được gọi là "vua của các loại độc", không vị, không mùi rõ rệt, nhưng khi tán nhỏ, nung qua hoặc tẩm vào hương liệu, sẽ phát tán qua đường hô hấp mà khó ai nhận ra.

Nếu đưa qua thực phẩm, độc tố sẽ dần tích tụ trong phủ tạng.

Dấu hiệu khởi đầu thường bị nhầm với cảm mạo: chóng mặt, sốt nhẹ, uể oải.

Sau đó là rụng tóc, thổ huyết, môi tái, da dần nhợt như tro, có khi chuyển xám như phủ một lớp bụi chì.

Trong hơi thở có mùi hắc nhẹ như kim loại, hoặc thoang thoảng mùi hạnh nhân mà người thường tuyệt đối không thể ngửi thấy.

Tạng phủ bại hoại từng chút một, cái chết đến chậm, như lưỡi dao cùn cứa vào máu mạch từng ngày.

Thanh Lan nắm chặt quyển y bạ, giọng trầm xuống:

"Nếu thật là bạch thạch... thì kẻ hạ độc không chỉ tâm địa độc ác, mà còn tinh thông y lý, am hiểu chất độc đến mức có thể ngụy trang độc tính giữa trăm mùi, thậm chí qua mặt cả Thái y."

Mộc Nhiên lúc này mới thực sự hiểu ra vì sao nàng lại cố ý làm đổ bát hương khi ấy.

Dù không hề trao đổi từ trước, hai người vẫn cùng chạm đến một mối nghi ngờ chung.

Thanh Lan rút từ tay áo ra nhánh hương đã lén giữ lại, nhẹ giọng:

"Chưa thể kết luận tuyệt đối, nhưng sắc diện nhợt nhạt, hơi thở hôi mùi hạnh nhân, tóc rụng...

đều là dấu hiệu đặc trưng của bạch thạch.

Muốn xác thực, chỉ cần xem móng tay Tướng quân.

Nếu có sọc trắng... thì án đầu độc đã rõ ràng."

Nàng bỗng khựng lại, mặt biến sắc:

"Ấy chết...

Tướng quân chẳng lẽ vẫn còn đang xông loại hương ấy!?"

Định lao đi, nhưng vừa cất bước đã bị Mộc Nhiên nắm cổ áo kéo lại.

Hắn thở dài, bất lực mà tỉnh táo:

"Yên tâm.

Biết kiểu gì cô cũng phát hoảng lên như thế, ta đã liệu trước rồi.

Lúc ra ngoài ta đã 'gợi ý' cho Thái y chuyển sang dùng tinh dầu bách hợp, nói là giúp an thần tốt hơn."

Thanh Lan ngẩn ra một lúc.

Nàng cau mày, hậm hực:

"Vậy sao không báo cho tiểu nữ một tiếng trước!?"

Mộc Nhiên nhún vai, vẻ chẳng mấy quan tâm:

"Chẳng phải cô cũng ngửi ra cái hương đó có vấn đề rồi còn gì."

Thanh Lan trừng mắt:

"Biết là biết, nhưng cũng phải nói một tiếng chứ!

Bộ ai cũng thảnh thơi đi gợi ý người ta như đại nhân chắc?"

Hắn bật cười, nửa đùa nửa thật:

"Thì chẳng phải có người lo phá bát hương, kẻ khác phải lo phần còn lại sao?"

Rồi không đùa nữa, Mộc Nhiên đón lấy nhánh hương từ tay nàng, ánh mắt chậm rãi nghiêm lại.

"Bạch thạch, độc tánh cực mạnh, vô sắc vô vị, lại khó dò.

Chỉ hít phải trong vòng một tháng đã đủ làm thương tổn khí huyết, hao tổn ngũ tạng.

Nếu chậm trễ thêm vài ngày nữa chỉ e, Tướng quân khó giữ mạng."

Hắn vuốt cằm, nhíu mày, như còn vướng điều gì chưa thông suốt.

"...Nhưng bạch thạch vốn là kịch độc không dễ phát tán.

Lại chẳng tan trong nước lạnh, càng khó bay hơi khi không có nhiệt.

Kẻ đó làm sao khiến nó lan trong phòng nhanh như vậy?"

Thanh Lan nhếch môi.

"Không phải không có cách chỉ là, không dễ nhận ra."

Nàng ghé tai Mộc Nhiên thì thầm, giọng hạ nhỏ tới mức gió thoảng cũng khó mà nghe lọt.

....

Trăng non treo đầu cành, gió xuân thoảng nhẹ.

Giữa vườn hoa anh thảo lam ở hoa viên phía Tây biệt phủ, hai thân ảnh ẩn mình sau lùm cây thấp, mắt dõi về phía loạt lư hương đá đặt quanh gốc ngọc lan.

Hắn cau mày.

"Ngươi dắt ta ra tận đây, chẳng lẽ nơi này là đầu mối?"

Thanh Lan cười mỉa.

"Muốn đưa độc vào cơ thể tướng quân qua khói trầm, ắt không thể dùng dạng thường.

Bạch thạch khó bay hơi, muốn nó hòa vào hương thì chỉ có một cách, phải tán thật mịn như khói."

"Rồi trộn vào rượu, dùng độ cồn kéo nó bay hơi nhanh hơn?"

Nàng vừa kéo tay áo hắn, vừa lắc đầu:

"Chỉ kẻ nắm y đạo nửa vời mới nghĩ tới rượu.

Người thật sự am tường sẽ dùng nước cất đã đun nóng, hoặc dung dịch có tính chua nhẹ như giấm gạo hay nước chanh.

Bạch thạch tan tốt trong môi trường ấy, mà khi trộn vào bột trầm rồi đốt, sẽ phát tán đều, ít để lại dấu vết."

Mộc Nhiên cảm thán:

"Quả nhiên là tay trong, hiểu rõ cả độc lý lẫn khí tán."

"Vậy thì... kéo ta đến vườn anh thảo lam này là có dụng ý chi?"

Thanh Lan lườm hắn một cái:

"Để thử nghiệm, chứ chẳng phải dạo chơi."

Mộc Nhiên giả vờ kinh hãi, nhích người ra xa một chút:

"Thử nghiệm?

Không lẽ cô nương lấy ta ra làm thí vật?"

Thanh Lan mỉa mai:

"Lấy đại phu?

Dễ hỏng kết quả.

Tiểu nữ cần vật sống, không phải khúc gỗ biết đi."

Mộc Nhiên nhướn mày:

"Khúc gỗ mà biết đi, còn biết cứu người, há chẳng phải khối ngọc chưa mài?"

Thanh Lan bật cười khúc khích, mang theo ý trêu:

"Ngọc mà mặt dày như vậy, đem ném cũng vỡ tay người ta."

Mộc Nhiên lắc đầu xoa trán.

Sau vài câu vờn nhau nhẹ nhàng, Thanh Lan lại ghé vào tai hắn:

"Anh thảo lam là loài hoa vốn dùng làm thuốc, nhưng ít người hay, trong sách Nam Dược Diệu Phương có ghi: sắc hoa nhạy cảm với thuỷ dịch mang tính chua nồng.

Nếu tro hương có bị trộn lẫn dung môi như giấm gạo hay nước vắt từ trái thanh, chỉ cần chạm vào cánh hoa, màu hoa sẽ lập tức biến đổi."

Nàng nói tiếp.

"Nếu thật có người dùng dung dịch mang tính âm nhu để hòa thạch độc thành bụi, thì dư âm của nó hẳn còn lưu lại.

Chỉ cần dùng hoa thử, sẽ biết rõ thật hư."

Mộc Nhiên như hiểu ra.

"Thì ra cô nương định để chính hoa chỉ lối..."

Thanh Lan gật đầu, ẩn ý:

"Giữa đêm vắng, người nói dối có thể lẩn tránh, nhưng hoa thì không."
 
Vọng Môn Ký Sự
HỒI 7: CHIỀU GIÓ.


Dưới ánh đèn dầu lập lòe nơi Y Lương Đường, Cao Hạo đưa tay tiễn vị khách cuối cùng trong ngày.

Bóng người nọ khuất dần sau cánh cửa, để lại trước sân chỉ còn tiếng dế gáy và tiếng gió lướt qua tà áo trắng bạc màu của ông.

Cao Hạo xoay người bước vào trong.

Trên bàn gỗ là mâm cơm nguội lạnh, bát canh đã váng mỡ có lẽ đã dọn sẵn từ sớm.

Ông nhìn qua rồi ngồi xuống, tay cầm đôi đũa mà chẳng buồn gắp lấy miếng nào.

Trong đầu lại hiện lên hình bóng của con gái mình Thanh Lan.

Đứa nhỏ ấy, hôm nay đang ở nơi triều đình, đối diện với bao hiểm nguy, chỉ vì một lòng chữa bệnh cứu người.

"Ta khuyên con bao lần, triều đình là chốn hiểm ác, đâu phải nơi y giả có thể tuỳ tiện đặt chân...

Thế mà vẫn cố chấp."

Cao Hạo buông một tiếng thở dài, ông đưa mắt nhìn ra ngoài sân, nơi ánh trăng vừa ló khỏi tầng mây.

"Con đã chọn đường đi, thì phải học cách bước vững.

Nhưng...

đừng để mình lạc mất."

Ông chưa kịp gắp miếng cơm, thì bên ngoài vang lên tiếng bước chân nặng nhọc.

Cánh cửa mở ra lần nữa, theo sau là giọng nói khàn khàn:

"Ta nghe gió bảo, hôm nay Y Lương Đường yên ắng khác thường, lòng liền đoán chắc có người đang ngồi thở dài."

Người vừa bước vào không ai khác chính là Nghĩa Trọng lão bạn già bán gạo ở Đông Thị.

Gương mặt hằn sâu những nếp thời gian, song khoé miệng nhếch lên như ánh nắng cuối đông soi qua bức mành mục.

"Ngươi lại nghe chuyện đâu lắm thế?"

Cao Hạo nheo mắt cười, nhưng trong giọng vẫn còn chút đượm buồn.

"Thì gạo đi đến đâu, tai đi đến đó." – Nghĩa Trọng cười hề hề, ngồi xuống chiếu không chờ mời, tay vỗ nhẹ vò rượu.

"Con bé Thanh Lan... vẫn bướng y như thuở còn chạy loanh quanh sau lưng ông, đúng không?"

Cao Hạo không đáp, chỉ rót rượu vào chén nhỏ.

Rượu trong, sóng sánh như ánh trăng đáy chén.

Ông nhấp một ngụm, hương cay len qua cổ họng.

"Bướng, nhưng gan lì.

Con bé đó... nếu không phải là con của ngươi, ta còn tưởng là đứa nhỏ sinh ra để bước chân vào cõi hiểm."

Nghĩa Trọng đưa mắt nhìn Cao Hạo, không còn mang vẻ giễu cợt nữa.

"Ông dạy nó y thuật, cho nó lòng thương người, nhưng cũng khiến nó dám đi vào nơi chẳng ai muốn tới.

Giờ thì chỉ biết ngồi đây... uống thay cho con một chén."

Hai người già, một vò rượu, đôi chén sành, tiếng gió lùa qua vách tre.

Bên ngoài Y Lương Đường, đêm dần khuya... mà trong lòng hai người tri kỷ, vẫn chưa yên gió.

...

Hoa viên phía tây biệt phủ, ánh trăng rọi xuống từng tầng lá, soi rõ hai bóng người lom khom sau bụi cây anh thảo lam.

Mộc Nhiên và Thanh Lan, chẳng khác nào kẻ gian trốn chui trốn lủi, mắt trước mắt sau ngó nghiêng.

Thanh Lan nhón người dậy, kéo tay áo Mộc Nhiên thì thầm:

"Đi, mau tiểu nữ cần vài cánh anh thảo thử nghiệm."

Mộc Nhiên giật tay lại.

"Đây là vườn hoa hoàng gia, không phải ruộng rau sau nhà cô nương đâu.

Nghe nói khi trước là của một vị quan rất cổ quái, cả ngày chẳng lo việc nước, chỉ lo tưới hoa, bắt sâu.

Sau về hưu rồi mà còn gửi thư về phủ dặn phải chăm hoa như chăm cháu đích tôn đấy."

Hắn chỉ về phía trước, nơi hai tên lính canh đang ngồi gục mặt, tay cầm giáo mà đầu gật gù như gà mổ thóc.

"Nghiêm ngặt là thế, nhưng gặp phải hai vị thần ngủ này thì..."

Thanh Lan nhìn đăm đăm vào luống hoa trước mặt.

"Vì một manh mối... tiểu nữ không tiếc phạm vào quy củ một lần."

Rồi nàng nhìn hắn, như trêu chọc:

"Đại phu sợ à?"

Mộc Nhiên đảo mắt, tặc lưỡi:

"Sợ cái con khỉ.

Nhưng mà hái khéo vào, đừng để sót rễ, ta không muốn bị lôi ra giữa triều vì tội diệt hoa quốc bảo."

Thanh Lan bật cười khúc khích, cúi người tiến lên...

Cả hai rón rén trèo qua hàng rào chắn thấp phủ đầy dây leo.

Gót chân đặt lên nền đất ẩm, từng bước chậm chạp len lỏi qua những dãy vườn được chăm chút tỉ mỉ.

Không chỉ có anh thảo lam, nơi này còn bạt ngàn thảo hoa quý hiếm một bước chân sơ suất cũng đủ phạm tội hủy hoại vật phẩm tiến cống.

Thanh Lan hít một hơi, tự nhắc mình phải thật cẩn trọng.

Ấy vậy mà...

rắc!

Một tiếng gãy khô khốc vang lên giữa đêm vắng.

Thanh Lan giật mình lùi lại, mắt mở to kinh hãi.

Nàng vừa vô tình dẫm lên một cành cây khô giấu dưới lớp lá.

Chưa kịp phản ứng, Mộc Nhiên đã đưa tay giữ lấy vai nàng, đẩy nhẹ xuống thấp.

Hai người lập tức cúi rạp mình sau một bụi trúc rậm rạp.

Hơi thở nghẹn lại.

Cả hai nhìn quanh như hai pho tượng đá, ánh mắt lấm lét quét một vòng quanh hoa viên.

Phía xa, hai tên lính vẫn... gà gật như cũ.

Một nhịp tim trôi qua.

Hai nhịp.

Không có động tĩnh.

Thanh Lan ngẩng đầu trước, thở phào một hơi.

Mộc Nhiên liếc nàng, rít qua kẽ răng:

"Lần sau đi hái hoa nhớ dắt theo mèo, chân nặng như voi vậy."

Thanh Lan trừng mắt.

"Đại nhân thử đi dép thêu mỏng dính như tiểu nữ xem."

Cả hai lại tiếp tục trườn tới, dáng dấp chẳng khác nào hai đứa trẻ nghịch dại trốn nhà trèo rào đi chơi, tim đập như trống.

Gần tới dãy anh thảo lam xinh đẹp, Thanh Lan reo khe khẽ, ánh mắt sáng rỡ như sắp chạm được món đồ chơi yêu thích.

Nàng rướn người tới, luồn tay qua lùm hoa lấp lánh dưới ánh trăng, hái chừng năm, sáu bông sắc lam nhạt mỗi cánh hoa mỏng manh như sương.

Quay lại, nàng hí hửng chìa ra khoe với Mộc Nhiên:

"Nhìn xem!

Tươi không?

Lấy được rồi nhé."

Hắn nhăn mặt:

"Xong rồi thì mau lẻn về đi, còn đợi lính người ta mộng du tới tóm à?"

Thanh Lan dẩu môi, quay lưng định bước thì.

...bò soạt...

Một con tắc kè hoa to bằng bàn tay, không biết từ xó xỉnh nào trườn lên cổ chân nàng, móng bám lách tách.

"..."

Thanh Lan đứng hình.

Con vật lè chiếc lưỡi dài đỏ như máu về phía nàng, đôi mắt lồi đảo tròn.

"...AAA!!!"

Tiếng hét ngắt quãng nhưng đủ làm lá cây rung rinh.

Thanh Lan hoảng loạn đá chân một phát, con tắc kè bay vèo vào bụi cỏ.

Nhưng cùng lúc, cú đá đạp trúng mảnh sành, phát ra choang! một tiếng lanh lảnh.

Hai tên lính vốn đang ngủ gật giật bắn người dậy.

"Gì đó?!

Ai đó?!"

Mộc Nhiên không kịp nói câu nào, đã túm lấy cổ tay Thanh Lan:

"Chạy!!"

Cả hai vọt ra, băng qua lùm hoa, giẫm lên cả cỏ dại, váy áo vướng víu mà chẳng dám quay đầu lại.

Phía sau tiếng lính quát tháo, tiếng giày đạp đất nặng nề.

Mộc Nhiên vừa chạy vừa lầm bầm:

"Bảo là đi hái hoa, ai ngờ lại thành đi hốt náo loạn..."

Thanh Lan bám sát phía sau:

"Là do con tắc kè trời đánh kia chứ tiểu nữ có muốn đâu!"

Tiếng bước chân rầm rập vang dội khắp hoa viên, lá cành rung lên xào xạc như cũng muốn góp phần hoảng loạn.

Thanh Lan vừa chạy vừa thở dốc, váy vướng víu quét cả gốc cỏ, tiếng chân lạch bạch như gà bị dí.

Phía sau tiếng hò hét của binh lính vang dậy:

"Dừng lại!

Hai kẻ khả nghi kia!

Nếu không dừng, chớ trách hạ thủ vô tình!"

Mộc Nhiên ngoái đầu, thở hồng hộc.

"Không ổn rồi!

"phía trước có hai lối ta đi bên trái, cô nương chạy bên phải!

Còn chạy chung, thì cùng chui vào rọ cả lũ!"

Thanh Lan còn chưa kịp phản ứng, mặt mũi tái xanh:

"Khoan đã, đại phu nói cái gì mà—"

Thanh Lan còn chưa kịp đáp, mắt tròn mắt dẹt, thì đã bị hắn đẩy mạnh một cái, loạng choạng rẽ sang lối khác.

"Tin ta đi!"

Nói rồi, hắn vụt người rẽ ngược hướng, thân ảnh biến mất trong bóng cây rậm rạp, để lại Thanh Lan đứng ngơ ngác, tóc tai rối tung tay vẫn nắm chặt gấu áo.

Thanh Lan biết rõ không còn thời gian.

Phía sau, tiếng giày giẫm rầm rập trên nền đất chẳng hề nguôi.

Đám lính vẫn không buông tha.

Chạy đến nỗi thở hồng hộc, tim như muốn nhảy khỏi lồng ngực, mắt nàng lia nhanh khắp nơi tìm chỗ ẩn nấp.

Giữa màn cây lay động, một ngôi nhà gỗ nhỏ ẩn mình sau rặng rừng hiện ra trong tầm mắt.

Mắt nàng sáng lên, chẳng kịp nghĩ nhiều, liền phóng thẳng tới, đẩy mạnh cánh cửa gỗ.

Két một tiếng, nàng trượt người lách vào trong, đóng sập cửa lại tựa lưng vào tường, tim đập thình thịch như trống trận.

Thanh Lan nín thở, lưng áp sát vách gỗ lạnh toát, mắt nhắm nghiền, chỉ còn lại đôi tai căng hết mức để nghe ngóng động tĩnh bên ngoài.

Tiếng bước chân vẫn còn.

Lũ lính đang lùng sục đâu đó quanh rừng, vừa chạy vừa cãi nhau ỏm tỏi.

Tên to con đá mạnh vào gốc cây ngọc lan, giận dữ nói:

"Ta nói rồi mà, lúc nãy tiếng động phát ra rõ là phía bên này, ngươi lại cứ kéo đi vòng qua chỗ vườn mẫu đơn làm gì?"

Tên kia gắt lại:

"Vậy sao không bắt được chúng đi?

Ngươi tai thính mũi thính như chó săn mà chỉ biết vênh mặt!

Đụng đâu mất dấu đấy!"

"Vậy thì tản ra tìm!

Lỡ để nó trốn mất thì cả lũ ăn đòn!"

Giọng nói mỗi lúc một xa dần, rồi chỉ còn tiếng gió và cành lá va vào nhau như thì thầm.

Thanh Lan nuốt nước bọt.

Tim đập bình bịch như muốn nhảy ra ngoài, nhưng ít nhất... tạm thoát rồi.

Thanh Lan tựa người vào tường gỗ, thở dốc.

Một lúc sau, khi tim đã đập chậm lại, nàng mới ngước mắt nhìn quanh.

Trăng bạc lùa qua khe hở, soi rọi từng lớp bụi mờ trong không gian nhỏ hẹp.

Hóa ra...

đây là một cái nhà kho cũ.

Vài cái thúng to đựng đầy cỏ khô chất đống ở góc tường, lẫn lộn cả rơm và lá úa.

Thanh Lan rón rén bước lại phủi nhẹ tà váy rồi vỗ vỗ vào một đống cỏ, chắc là chỗ người làm vườn gom lại sau khi tỉa cỏ xong.

Có lẽ để cuối tuần tiện một lượt đem đi đổ.

Cũng chẳng có gì lạ lẫm.

Cỏ trong hoa viên thường cần thời gian để mọc lại.

Người chăm vườn riêng chỉ cần một ngày là có thể tỉa gần hết đám cỏ, phần còn lại trong tuần dùng để tưới hoa, nắn lại suối giả, bón đất quanh ao, hoặc dọn rêu trên đá.

Công việc vừa tỉ mẩn, vừa nhàm chán.

Thanh Lan đi thêm một đoạn nữa vào bên trong.

Nàng lấy tay áo che mũi, nhăn mặt vì mùi cỏ khô lẫn bụi bặm bốc lên trong làn khí ẩm mốc lâu ngày.

Mắt vẫn không ngừng quan sát, nàng chậm rãi rảo bước qua những đống cỏ chất cao, đến khi ngang qua một chiếc bàn gỗ kê sát vách thì bất giác dừng chân.

Chiếc bàn cũ kỹ, mặt gỗ xám sạm theo thời gian, thoạt nhìn chẳng có gì đáng chú ý.

Thế nhưng

nàng khựng lại.

Thanh Lan cúi sát xuống, mặt bàn đã được lau sạch... quá sạch.

Nhưng chính vì sạch như vậy, một điều bất thường lại càng hiện rõ: ở mép bàn, có một đường bụi hẹp kéo dài, như thể bị lau vội không đều tay.

Nếu là dọn dẹp thường ngày... thì sao lại lau ẩu đến thế này?

Đường bụi in rõ vằn vèo sát mép bàn, không đều, không sạch.

Nếu là người làm vườn lau dọn thì cớ gì lại bỏ sót?

Hay là... mục đích ban đầu của người lau chiếc bàn này vốn chẳng phải để dọn dẹp?

Từng nghi vấn bất thường cứ lởn vởn trong đầu, không chịu yên.

Thanh Lan cúi thấp hơn, quan sát kỹ khắp mặt bàn một lần nữa.

Gần mép bàn, nơi có vệt bụi lau dở, nàng nhận thấy vài chấm nhỏ lấm tấm giống như vết nước từng bắn vào rồi khô lại.

Thanh Lan đưa tay áo nhẹ nhàng phủi đi một lượt.

Bên dưới, mặt gỗ hiện ra xám xịt sần sùi hơn phần còn lại.

Những vết đốm ấy khô xạm lại, như thể từng bị thứ gì đó nhỏ giọt lên, ăn mòn hoặc khiến màu gỗ biến đổi.

Thanh Lan ghé sát, đưa mắt so màu gỗ xung quanh.

Quả nhiên, nơi có vết đốm kia, sắc gỗ tái và xám hơn bình thường không phải dấu nước thường, mà giống như bị dính... hóa chất?

Thanh Lan khoanh tay lại, chăm chú như đang giải một bài toán phức tạp.

Nàng cúi xuống, tập trung vào từng chi tiết nhỏ.

Nàng thầm nghĩ:

"Nếu là vết do môi trường, thì phải là do ẩm mốc hay nước thấm lâu ngày.

Khi ấy màu sắc sẽ sậm lại đen hoặc nâu thẫm, thậm chí mềm nhũn, bề mặt có thể hơi rệu rã, loang lổ như vết mục.

Nhưng cái này... lại không giống thế."

"Nó khô khốc.

Xám xịt.

Không ẩm, không mềm, mà cứng lại như bị rút sạch độ ẩm.

Không có vẻ gì là tự nhiên."

Thanh Lan vươn tay ra chạm vào mặt gỗ.

Cảm giác lạnh, khô, cứng.

Một cảm giác khác biệt hoàn toàn so với gỗ bình thường vô cơ, vô hồn.

"Không phải là tự nhiên,"

...

Dưới ánh trăng lờ mờ, Mộc Nhiên cắm đầu chạy như bị chó rượt.

Hắn phóng vèo qua mấy rặng cây, lao bừa vào lối mòn nào đó chẳng biết dẫn đi đâu.

Tiếng bước chân lính đuổi sát sau lưng như tiếng trống thúc tử thần.

"Phủ tướng quân gì mà xây to như thành trì thế này, huống hồ Mộc phu ta còn chưa tới đây bao giờ...

Sao biết đường mà chạy?!"

Hắn dừng lại một chút, đảo mắt tìm lối thoát.

"Chỗ nào cũng giống chỗ nào cái gì mà tường rào, hành lang, vườn hoa...

Lắm trò rối rắm!"

Tiếng lính phía sau gắt lên:

"Dừng lại!

Bằng không đừng trách đao không có mắt!"

Mộc Nhiên vừa thở dốc vừa trườn mình vào sau một gốc cây to, lưng tựa vào thân cây, tay che ngực mà thở lấy thở để.

"Chạy mãi cũng không ổn... phải kiếm chỗ nấp tử tế trước đã," hắn lẩm bẩm, mắt đảo nhanh như chớp.

Nhưng khi tiếng chân lính mỗi lúc một gần, hắn biết mình không có nhiều thời gian.

Hắn lục nhanh trong túi áo, móc ra một chiếc khăn tay cũ.

"Có trò rồi."

Nhanh như sóc, hắn cố tình để rơi chiếc khăn tay bên lối mòn dẫn về hướng tây, đoạn còn giả vờ lết vài dấu chân cho có lệ rồi vọt ngược trở lại nấp vào sau bụi cây lớn gần đó.

Không lâu sau, một tên lính chạy đến, mắt quét ngang dọc.

Bỗng ánh đuốc rọi vào chiếc khăn rơi trên đất.

Tên lính reo lên:

"Ha!

Vật chứng đây rồi!

Hắn chạy hướng tây, mau đuổi theo!"

Tiếng bước chân rầm rập lại vang lên, dần khuất xa về phía khác.

Trong khi đó, Mộc Nhiên vẫn im thin thít sau gốc cây, chờ cho mọi thứ lắng xuống mới nhếch môi, cười khẩy:

"Khôn lỏi ăn đứt vạn thằng hung hăng.

Đuổi đi, đuổi nữa đi...

Còn ta thì..."

Hắn phủi áo, len lỏi theo đường ngược lại.

Không biết phía trước còn rắc rối gì, nhưng ít nhất hắn còn nguyên mạng.

Mộc Nhiên chống tay lên đầu gối, thở dốc rồi càm ràm như ông cụ non:

"Đi lấy mỗi cái vật thử nghiệm mà ta phải bò lê bò lết thế này...

Đường đường là đại phu, chứ có phải đạo tặc đâu mà chui rúc như chuột trốn mèo!"

Hắn ngửa mặt nhìn trời đêm, thở dài đánh thượt:

"Hay là... về luôn nhể?

Mặc xác nha đầu kia..."

Nói thì nói thế, nhưng chân vừa định quay đi thì đã khựng lại.

Mộc Nhiên cau mày, mặt nhăn như bị ai nắm gáy:

"Không được...

Con nhóc đó mà bị tóm, thế nào cũng khai ta ra.

Lúc đó thì không chỉ mất mạng, mà còn bị bêu đầu làm gương.

Ta còn chưa cưới vợ nữa mà..."

Hắn rên rỉ, vừa phủi tay vừa tiếp tục lén lút men theo lối mòn nhỏ, giọng vẫn làu bàu không ngớt như thể tự thuyết phục bản thân đi làm điều tử tế là một việc đau khổ không kém gì nhổ răng.

Mộc Nhiên đi lòng vòng như gà mắc tóc, vừa vò đầu bứt tai vừa than thở:

"Trời ơi, phủ to như mê cung... lạc rồi còn gì!"

Đang lầm bầm hắn bỗng nhiên khựng lại, có tiếng gì đó rất khẽ, như... tiếng khóc.

Tiếng nấc lặng lẽ, nhỏ đến nỗi nếu không chú ý sẽ chẳng nhận ra.

Hắn lập tức cảnh giác, nín thở lắng tai rồi rón rén lần theo âm thanh.

Tiếng khóc dẫn hắn đi sâu hơn qua những lối rợp bóng, qua cả những luống hoa và bờ đá phủ rêu.

Càng đi, khung cảnh quanh hằng càng khác lạ một tòa kiến trúc nhỏ hiện ra giữa làn sương mỏng, thấp thoáng bên mặt nước lặng như gương.

Bóng trăng đổ xuống mái cong phản chiếu mặt hồ, khiến nơi ấy như bước ra từ tranh thuỷ mặc.

Hắn lẩm bẩm:

"Thuỷ tạ?"

Thuỷ tạ kiến trúc cổ dùng để uống trà, ngâm thơ... nhưng ai lại đến đó khóc một mình giữa đêm?

Hắn nín thở, từng bước tiến sát mép hiên...
 
Vọng Môn Ký Sự
HỒI 8: ĐIỆP KHÚC


Trong căn kho ẩm thấp, nàng vẫn đang suy tư, ánh mắt đăm chiêu nhìn vết xám kỳ lạ trên mặt bàn.

Thứ gì có thể khiến gỗ khô khốc, bề mặt trở nên thô ráp như vậy?

Một loại dung dịch nào chăng?

Nhưng nếu là dung dịch, nó phải đủ mạnh để làm thay đổi kết cấu gỗ, lại không để lại dấu vết ăn mòn rõ rệt...

"Là cái gì mới được chứ..."

Nàng lẩm bẩm đưa tay xoa trán, cố lục lọi trong trí nhớ những bài giảng y thuật và dược liệu mà cha từng truyền dạy.

Khi đang miên man, mắt nàng vô tình nhìn xuống cạnh chân bàn.

Một thứ gì đó lấp ló gần nền đất.

Nàng cúi xuống xem, hoá ra chỉ là vài cọng cỏ khô rơi vãi, chắc từ trên bàn rớt xuống

Thanh Lan cúi xuống nhặt cọng cỏ lên, tay mân mê sợi thân khô giòn.

Trong đầu vụt lên một câu hỏi đơn giản mà quái lạ:

Tại sao lại có cỏ rơi ở đây chứ?

Nàng đứng dậy, bước đến bên mấy chiếc thúng cỏ khô chất ở góc kho.

Tiện tay nhúp một nắm nhỏ, nàng so sánh từng sợi.

Quả nhiên là cùng một loại.

Cỏ gấu.

Loại này có đặc điểm rất rõ: rễ bò dài dưới đất, thân mềm, lá mảnh như sợi chỉ.

Khi bị nhổ hoặc kéo lên, chúng dễ cuốn lấy nhau thành từng búi.

Khi khô rồi lại càng quấn chặt, bám dính như mạng tơ mỏng.

Nhưng...

đó mới là điều đáng ngờ.

Nàng nhìn lại mấy cọng cỏ vương dưới đất rơi lưa thưa, rải rác, như thể ai đó cố tình làm rớt, hoặc thứ gì kéo theo chúng rồi rơi vãi.

Nếu là do người làm vườn gom lại, sao không vón thành búi như thường?

Sao lại có những sợi rơi rớt đơn độc như thế này?

Có điều gì đó không đúng ở đây.

Thanh Lan chợt nghĩ:

Có khi nào... là do gió thổi?

Nhưng vừa lóe lên, suy nghĩ ấy lập tức bị nàng gạt bỏ.

Không hợp lý.

Nếu thật sự là gió, thì cỏ gấu vốn có thân mảnh và tính kết dính cao phải vướng lại với nhau thành búi nhỏ.

Sao lại rơi lưa thưa từng cọng như vậy?

Nàng quỳ xuống sát sàn, đưa tay xoa nhẹ mặt gỗ.

Thanh Lan dùng đầu ngón tay miết nhẹ lên mặt sàn.

Lớp bụi mỏng manh dính vào da, không nhiều đến mức làm đục tay, nhưng vừa đủ để nhận ra căn phòng này không hoàn toàn bị bỏ mặc.

Những vết xước mảnh chạy dọc mặt sàn gỗ hiện rõ.

Gỗ mềm, lại không được phủ lớp bảo vệ kỹ.

Kiểu xước này không phải do chân người đi lại mà do vật cứng chà sát thường xuyên.

Có lẽ được quét mỗi sáng bằng chổi thô, loại chổi rơm già hoặc sợi tre khô, vì lông chổi quá cứng nên để lại dấu vết li ti trên nền.

Chăm quét, nhưng là kiểu làm cho có lệ, không nâng niu mặt sàn.

Căn phòng này không phải hoàn toàn bị lãng quên, mà là bị đối xử qua loa.

Nhưng bụi vẫn bám, mỏng, đều, không bị xáo trộn.

Nếu vừa quét xong thì đã không có lớp bụi tĩnh thế này.

Dọn dẹp có lẽ chỉ làm lấy lệ, lại làm từ đầu ngày, để thời gian trôi qua đủ lâu cho lớp bụi mới lắng xuống mặt sàn.

Sạch nhưng không mới như thể có người muốn giữ cho căn phòng này khỏi mục nát, nhưng cũng chẳng có ý định thật sự quan tâm đến nó.

Thanh Lan khựng lại.

Khoan đã...

Mỗi ngày được quét dọn một lần vào sáng sớm?

Thanh Lan giật mình, linh cảm có gì đó bất thường.

Nàng lập tức cầm mấy cọng cỏ kia lên, định xem xét kỹ nhưng trời tối quá!

Ánh sáng mờ mịt khiến mọi thứ nhòe nhoẹt như hòa vào bóng đêm.

Nàng đảo mắt nhìn quanh, rồi dừng lại ở một ô cửa thông gió nho nhỏ nằm phía trên tường gỗ.

Không chần chừ, nàng bước nhanh tới, nhón chân với tay lên, đưa mấy cọng cỏ về phía luồng ánh trăng chiếu xiên vào.

Dưới ánh sáng nhạt nhòa ấy, vết lộ dần rõ.

Những sợi cỏ ngả màu vàng nâu, lớp ngoài hơi xỉn nếu không để ý kỹ, lại trong điều kiện thiếu sáng, thì khó lòng nhận ra.

Nàng đưa một nhúm lên mũi, hương hăng nhẹ lập tức xộc vào.

Không còn là mùi cỏ tươi, mà giống thứ mùi rơm cũ lẫn một chút vị chua chua đặc trưng.

Chính xác là cỏ gấu, được cắt từ một đến ba ngày trước.

Nếu bị chất đống quá lâu, nó sẽ bắt đầu lên men, bốc ra mùi rơm ủ, đôi khi lẫn cả mùi mốc nhẹ như dưa muối hỏng.

Nàng cau mày.

Vậy thì... những sợi cỏ này đã nằm đây ít nhất một, hai ngày.

Nhưng nếu nhà kho được quét dọn mỗi sáng vậy tại sao chúng vẫn còn ở đây?

Đúng vậy nghi vấn mấu chốt nằm ở chỗ đó.

Nếu cỏ thật sự đã rơi ở đây được một hai ngày mà nhà kho lại được dọn dẹp mỗi sáng vậy thì tại sao đám cỏ ấy vẫn còn nguyên vẹn, nằm chình ình ngay dưới chân bàn?

Không thể là do dọn ẩu được.

Người dọn ẩu thì cũng sẽ quét sơ quanh mấy khu vực dễ thấy trước tiên.

Mà đám cỏ này lại nằm ngay dưới chân bàn, một chỗ vô cùng dễ lọt vào tầm mắt.

Nếu là chỗ khuất như sau cánh cửa, góc phòng hay chân tường thì còn có thể bỏ sót.

Nhưng chỗ này lù lù ra đấy, mà vẫn "bị bỏ quên"?

Phi lý!

Nàng lùi lại một bước trong đầu bắt đầu dựng lại chuỗi khả năng:

Một là, đám cỏ này mới rơi gần đây, nhưng mùi lại cho thấy ít nhất đã để qua một đêm, thậm chí hai ngày.

Hai là đám cỏ không nằm đây vào lúc sáng, mà được ai đó đem tới, bỏ xuống vào thời điểm sau khi việc dọn dẹp đã xong.

Nếu vậy, thì là ai?

Và để làm gì?

Thanh Lan trong lòng rối như tơ vò.

Nàng bắt đầu gạt bỏ từng giả thiết:

Không thể là ai đó cố tình để lại đám cỏ.

Nếu muốn đánh lạc hướng hay tạo hiện trường giả, kẻ đó phải để lại một vật chứng rõ ràng hơn một vết máu, một mẫu vải, một dấu chân chứ không phải vài cọng cỏ rơi vãi.

Quá mờ nhạt, quá mơ hồ.

Không ai ngu đến mức lấy vài cọng cỏ làm dấu vết!

Mà nếu hắn muốn giấu gì đó, việc lau bàn một cách vội vã lại càng khiến mục đích mờ ám rõ ràng hơn.

Một bên là hành động xóa dấu vết, một bên lại là để lại dấu vết?

Hai hành động hoàn toàn mâu thuẫn!

Nàng khoanh tay, chậm rãi thở ra, mắt lướt qua toàn bộ hiện trường như đang xếp lại từng mảnh ghép vụn vỡ trong đầu.

Mặt bàn có dấu lau vội như thể ai đó vừa chùi đi thứ gì rất nhanh.

Dưới đất, vài vệt đốm xám khô, không giống vết bẩn thông thường.

Màu xám ấy không phải do bụi hay đất, càng không phải do thời gian tự nhiên tạo thành.

Lác đác mấy cọng cỏ khô rơi dưới chân bàn, đã ngả màu vàng úa, rõ ràng là để qua ít nhất một đêm.

Nhưng vị trí lại quá dễ thấy ngay lối đi mà nơi này vốn được quét dọn mỗi sáng.

Nếu là vết tích từ hôm qua, lẽ ra đã bị quét sạch từ lâu.

Nàng nhớ rõ kho này vốn ít người lui tới, chỉ dùng chứa cỏ khô, đồ vụn lặt vặt trong phủ.

Ngoài người làm vườn hoặc lính phụ kho, hầu như chẳng ai bước vào.

Thanh Lan cúi xuống, ánh mắt dừng lại thật lâu trên đám cỏ lưa thưa dưới chân bàn.

Loại cỏ này... không phải thứ được cắt mỗi ngày.

Thường thì ba ngày, năm ngày, thậm chí cả tuần mới gom một lần.

Nếu đúng như vậy—thì trong quãng thời gian không ai cắt, không ai đụng tới, vì sao lại có cỏ rơi ra?

Không thể là gió.

Gió không khéo đến mức chỉ thổi rơi đúng vài cọng lại rơi ngay vị trí dễ thấy nhất dưới chân bàn, chẳng văng ra chỗ nào khác.

Vậy là gì?

Nàng nhíu mày.

Trong đầu lặng lẽ lướt qua từng khả năng có người vào đây, có người chạm vào đống cỏ khô, rồi vô tình hoặc cố ý đánh rơi vài cọng.

Nhưng vì sao chỉ vài cọng?

Vì sao ở đúng chỗ này?

Một ý nghĩ vụt qua.

Nàng khựng lại.

Mắt dán chặt vào mặt đất.

Như thể cả không gian chợt im bặt.

Thanh Lan lập nên một giả thuyết mới:

Cỏ gấu khô, bản chất có rễ mềm, dễ quấn, khi khô lại càng bám chặt vào nhau thành từng búi.

Muốn tách chúng ra, không phải chuyện dễ.

Ấy thế mà ở đây, chúng lại rơi lẻ tẻ, từng cọng, rải lưa thưa ngay chân bàn.

Chỉ có một khả năng hợp lý: cỏ từng bám vào vật gì đó di chuyển, và trong lúc chuyển động có thể là vội vã, hoặc rung lắc cỏ mới rơi rớt dần ra.

Gió?

Không đủ mạnh.

Tay người làm vườn?

Nếu vậy thì cỏ phải rơi cả búi, không thể lẻ tẻ thế này.

Chỉ còn một giả thiết...

Dụng cụ làm vườn.

Nàng thốt lên:

"Đúng rồi..."

Khi cắt cỏ, liềm, kéo, hay sào gom thường bị cỏ khô bám chằng vào.

Nếu ai đó dùng những vật dụng ấy rồi vội vã rời đi thậm chí là chạy thì những cọng cỏ dính trên cán hay lưỡi sẽ theo rung động mà rơi rớt dọc đường.

Không theo hàng lối, mà rải ngẫu nhiên.

Vài cọng cỏ ấy... giờ lại nằm ngay dưới chân bàn này.

Thanh Lan nhìn kỹ, rồi cúi sát xuống mặt bàn.

Ở đó có một vệt xám mờ nhòe, hơi lệch màu với sắc gỗ xung quanh không rõ nét, nhưng đủ lạ để thu hút sự chú ý.

Nếu thật sự từng có vật gì đó đặt ở đây, và là vật bằng kim loại như liềm, kéo, hoặc cán cụ làm vườn thì việc để lâu sẽ để lại dấu in.

Bụi không thể bám, ánh sáng bị chặn, gió không thể thổi qua.

Còn vật ấy thì đâu rồi?

Nàng liếc sang một bên bàn nơi có vệt lau dở.

Một mảng sạch bóng, khác hẳn với lớp bụi đều đều còn lại.

Vậy ra...

Một ý nghĩ vụt đến, như bóng trăng lạnh soi rõ mặt nước.

Ai đó đã cố tình lau mặt bàn.

Không phải để làm sạch.

Cũng không phải do ngẫu nhiên.

Mà là để xóa dấu.

Xóa đi dấu vết của một vật từng được đặt ở đây.

Nếu món đó để lâu ngày, chắc chắn mặt gỗ phía dưới sẽ đổi màu mờ xám, hoặc nhạt hơn xung quanh.

Dù chỉ nhấc nó đi, dấu in vẫn sẽ hiện ra.

Nhưng nếu lau sạch toàn bộ mặt bàn, lớp bụi và vết cũ sẽ bị xóa đều, khiến người đến sau không còn nhận ra chỗ nào từng bị che khuất.

Thanh Lan đưa tay vuốt nhẹ qua vệt xám còn sót lại, lẩm bẩm:

"Ngươi lau bàn, nhưng lại không lau hết.

Nghĩa là quá vội vàng.

Và rõ ràng đang muốn che giấu điều gì đó."

Nàng chậm rãi đứng dậy, quan sát một vòng quanh căn kho đơn sơ.

"Vậy thì... thứ từng đặt ở đây là gì?"

Một món đồ làm vườn thông thường ư?

Thanh Lan chau mày, tay xoa trán.

Tầm mắt nàng bất chợt dừng lại nơi vệt sạm mờ vừa nãy.

Một thoáng lặng người.

Một ý nghĩ loé lên.

Bạch thạch.

Loại chất kịch độc ấy vốn không dễ bay hơi.

Nếu muốn phát tán nhanh và rộng, kẻ thủ ác phải hòa nó với thứ gì đó có tính ăn mòn nhẹ, như giấm hay nước chanh.

Nàng nhớ lại lời cha từng dạy:

"Giấm có thể làm dung môi để hoà tan thuốc, bào mòn nhẹ bề mặt, làm mềm hỗn hợp khô thậm chí dùng để bôi, trộn hoặc điều chế thuốc bột."

Nếu quả thật hương đã bị tẩm độc, và âm mưu ấy đã qua mặt được cả thái y, thì...

Kẻ đó không thể là kẻ ngu xuẩn.

Một người bình thường sẽ không dám động đến loại thủ đoạn này.

Huống hồ... mục tiêu lại là Tướng quân, kẻ nắm binh quyền, có tai mắt khắp nơi.

"Nếu đã dám ra tay, thì chắc chắn đã tính toán từ trước."

Cỏ rơi.

Mặt bàn bị lau.

Vệt sạm mờ li ti.

Mùi chanh, giấm thoang thoảng.

Và bạch thạch.

Thanh Lan đứng bất động giữa căn kho vắng, tâm trí như guồng nước quay cuồng.

Những mảnh vụn của câu chuyện rải rác xung quanh.

Ai đó đã cố che giấu.

Nhưng chính sự che giấu ấy lại khiến chúng lộ ra.

Nàng chưa có bằng chứng hiển nhiên.

Chưa đủ để buộc tội.

Nhưng từng dấu vết, từng chi tiết nhỏ đều đang dẫn về cùng một hướng.

Một kết luận vẫn còn mơ hồ.

Nhưng Thanh Lan tin vào trực giác của mình.

Đúng lúc ấy.

"cạch."

Tiếng động vang lên sát vách cửa gỗ.

Tiếng chà sát.

Không phải kéo lê.

Cũng không giống tiếng chuột nặng hơn, cẩn trọng hơn.

Thanh Lan nín thở.

"Lính tuần?

Hay kẻ đang tìm lại thứ bị bỏ sót?"

"Hoặc Tệ hơn là... hung thủ quay lại xóa dấu vết."

"Lính canh vừa rời khỏi.

Nếu có chuyện gì, mình sẽ không kịp gọi ai."

Nàng đưa tay vào túi áo, rút ra một vật nhỏ cây trâm bạc quen thuộc.

Ban đầu nàng không định mang theo, còn định để ở nhà, nhưng lúc ra đi quá vội, quên khuấy mất.

Giờ thì... cũng may.

Nàng nắm chặt cây trâm trong tay.

Phiền thật đấy đã đi đến bước cuối cùng rồi.

Chỉ còn chút nữa thôi manh mối đã gần sáng tỏ, sự thật chỉ còn cách một hơi thở.

Thanh Lan bước tới cửa kho, áp lưng vào tấm gỗ lạnh, lắng nghe.

Một nhịp thở...

Hai nhịp...

Tiếng gió lùa lất phất, chẳng có động tĩnh gì lạ.

Nàng thở ra thật chậm, tự nhủ trốn ở đây lâu cũng chẳng có ích gì.

Thanh Lan siết chặt cây trâm trong tay, rồi đặt tay lên chốt cửa.

Nàng hé mở nhẹ.

Soạt!

Một thứ gì đó bất ngờ lao thẳng vào!

Thanh Lan giật mình, lập tức giơ cây trâm lên—

"Meo!!"

Một bóng nhỏ nhảy phốc vào trong, lông xù lên vì hoảng.

Là... một con mèo.

Nàng chớp mắt, tay vẫn còn chưa hạ xuống.

Trước mặt nàng không phải lính canh, cũng chẳng phải sát thủ mà là... một con mèo mướp đang xù lông, giương mắt nhìn nàng bằng vẻ mặt tội nghiệp.

Thanh Lan chững bước

"...Ể...

M... mèo á?"

Ánh mắt cảnh giác dần hoá thành ngơ ngác.

Nàng đứng chết lặng mất một thoáng, cây trâm trong tay còn chưa kịp thu lại.

"Nãy giờ... ta dọa đánh nhau với mèo thật à?"

Thanh Lan thở hắt ra, lòng vẫn chưa hoàn toàn trấn tĩnh sau cú "hù dọa" đầy kịch tính ấy.

Nàng tựa lưng vào cửa, tay siết chặt cây trâm như phản xạ, lòng còn mang chút ngờ vực.

Con mèo mướp lông xù ban nãy giờ đã ngoan ngoãn dụi dụi chân nàng, trông hiền lành và dễ thương đến khó tin hoàn toàn không giống con vật vừa khiến nàng suýt phóng đòn chí mạng.

Thanh Lan cúi xuống xoa đầu nó:

"Dọa người ta suýt xỉu mà giờ còn làm bộ nũng nịu..."

Nhưng rồi nàng chững lại.

Con mèo đang ngậm thứ gì đó trong miệng một mảnh vải... không, là chiếc khăn tay.

Thanh Lan cúi xuống, nhẹ nhàng lấy ra.

Trên nền vải lót trắng, một chùm hoa hiện rõ nhỏ nhắn được thêu bằng chỉ bạc, đơn giản mà tinh tế.

Nàng nhíu mày:

"...Khăn này chẳng phải là..."

Một cái tên bỗng vang lên trong đầu như tiếng sấm giữa trời quang:

"Mộc Nhiên!!"

Nàng vò đầu bứt tai.

"Trời đất ơi, quên khuấy hắn mất rồi!"

...

Trong khi đó, ở một góc khác trong khu vườn chìm trong sương mỏng.

"Giờ này rồi, ai lại còn ra thủy tạ mà khóc lóc như ma gọi?"

Hắn đảo mắt quan sát xung quanh.

Thủy tạ nằm giữa hồ lớn, có cây cầu nhỏ nối từ cổng hoa viên dẫn thẳng tới nằm đúng trục chính, đường hoàng, sáng sủa.

Nhưng điều khiến hắn chột dạ là... tiếng khóc ấy lại không vọng ra từ nơi đó.

Mộc Nhiên quay đầu, lần theo âm thanh lạ, men theo lối nhỏ phía sau rặng trúc.

Và ở đó là một gian lầu nhỏ, nằm lệch hẳn khỏi trục chính, sát bên mép hồ cạn.

Nước đã rút gần hết, chỉ còn vệt bùn xanh rêu và vài phiến đá trơn trượt.

Gian lầu ấy thấp, mái ngói xám xịt, lan can gỗ lởm chởm, tường phủ một lớp rêu phong dày.

Không khí lạnh lẽo, ẩm thấp, chẳng khác gì nơi bị bỏ quên.

Hắn nuốt nước bọt, da gà nổi cả lên.

"U u ám ám thế này... thật sự là có người khóc hay là..."

Lần theo âm thanh rấm rứt ấy một hồi, Mộc Nhiên men sát theo mép rặng trúc, khom người nấp sau một gốc cổ thụ già rêu phong đầy thân.

Hắn len lén thò đầu ra ngó thử.

Ánh trăng lờ mờ rọi xuống mép hồ cạn.

Dưới đó... quả nhiên có một bóng người con con, nhỏ bé, đang ngồi sụp xuống bên bờ, mặt úp vào đầu gối, cả người rung lên khe khẽ.

"Hu hu hu hu..."

Tiếng khóc nhè nghe non choẹt, thút thít như mèo ướt.

Mộc Nhiên phải vội bịt mồm lại để không bật ra tiếng cười.

Trời đất quỷ thần ơi...

Ai đời nửa đêm nửa hôm, trốn vào chỗ rêu mốc mà ngồi nhõng nhẽo khóc hú hú như con nít bị lạc chứ?

Hắn nhíu mày.

"Bị ma hù hay sao mà khóc kiểu đó?"

Nhưng rồi ánh mắt hắn bỗng đổi khác.

Hắn nhìn kỹ lại dáng người ấy... hình như là một cậu bé?

Mộc Nhiên đằng hắng một tiếng, ho khụ một cái ra vẻ thanh tao, tay chỉnh lại tà áo như thể mình là một kẻ sĩ ôn tồn, nho nhã:

"Tiểu tử, canh ba rồi còn ở đây khóc lóc, lẽ nào bị lạc đường?

Có cần ta—"

Chưa kịp nói xong, thằng bé kia đã quay ngoắt lại, hai mắt tròn xoe ngập ngừng thoắt cái đã lùi về sau một bước, tay cầm lấy một cành cây nhỏ vung vẩy như thể sắp lao vào xông trận.

"Ngươi là ai đó!

Đừng hòng tới gần, ta... ta có vũ khí đó nha!"

Mộc Nhiên sững người nửa giây.

Hắn nhìn cái "vũ khí" đang đung đưa kia chỉ là một nhánh cây khô cong veo, đầu cành còn gãy xém.

Hắn suýt nữa thì bật cười thành tiếng, cố lắm mới giữ được vẻ mặt đứng đắn.

"Ừm... vũ khí sắc bén đấy."

Hắn gật đầu phụ hoạ.

"Ta chỉ là người qua đường.

Nhưng e là cây kia đánh chưa xong đã tự gãy mất một nửa rồi."

Thằng bé cúi đầu nhìn lại cành cây trong tay, mặt thoáng bối rối.

Hình như chính nó cũng nhận ra vũ khí của mình hơi... yếu vía.

Mộc Nhiên nheo mắt:

"Tiểu bằng hữu, con nhà ai mà canh ba không ngủ, lại ra đây ngồi thút thít bên hồ?

Còn mang theo cành cây phòng thân nữa chứ?"

Thằng bé lnhìn hắn, môi mím lại rồi phồng má, khoanh tay quay ngoắt mặt đi.

Một lúc sau mới nói giọng cong cớn:

"Hừ, người lớn các người toàn hỏi chuyện không đâu.

Tự dưng con nhà ai là sao?

Con nhà trời, được chưa!"

Mộc Nhiên suýt bật cười, khoé miệng co giật liên tục.

Cái cách thằng bé này nói chuyện... cái điệu bĩu môi đầy thách thức, cái kiểu xỉa xói nhẹ nhàng nhưng khó ưa ấy...

Hắn bất giác đưa tay vỗ trán một cái rõ to:

"Trời ạ, quen lắm!

Cái thái độ này... cái mặt khó ưa này... sao mà giống y chang một người ta biết!"

Không buồn lòng vòng nữa, hắn cúi người xuống, hỏi thẳng:

"Này tiểu tử, rốt cuộc ngươi lén trốn ra đây làm gì?"

Thằng bé đang rấm rứt, nghe hỏi thì sực nhớ, liền giơ tay chỉ về cái hồ đá nhỏ cạnh đó, nước đục ngầu như nước vo gạo để ba hôm, mặt mếu máo:

"Huhu ta... ta nuôi ếch dưới hồ này... nuôi lâu lắm rồi á... nó còn đẻ nhiều trứng lắm... mà... mà giờ... chết hết rồi huhu..."

Mộc Nhiên cứng đờ.

Gương mặt từ ngơ ngác chuyển thành bàng hoàng, rồi từ bàng hoàng chuyển sang... tái mét.

Một làn khí lạnh như thể ếch vừa nhảy vào áo hắn.

"Ếch... trứng... nhơn nhớt..."

Hắn rùng mình toàn thân.

Trong khoảnh khắc đó, hắn quăng luôn phong thái thư sinh trí thức nãy giờ, cúi người xuống, nắm lấy hai vai đứa nhỏ, lắc một cái.

Mặt Mộc Nhiên đen kịt như đáy nồi, mắt nảy lửa:

"TẠI SAO NUÔI HAY VẬY HẢ?!

HỒ ĐÁ ĐỂ NGẮM CẢNH, KHÔNG PHẢI AO CHĂN NUÔI!!"

Thằng bé vùng vẫy khỏi tay hắn, mặt phồng lên như trái cà chua chín:

"Ta nuôi ở đây vì cái hồ này bỏ hoang rồi, bẩn lắm người ta mới không dùng nữa chứ bộ!

Hồ sạch sao nuôi được ếch chứ!

Không hiểu gì hết trơn!"

Nó vừa dứt lời thì-

Tõm!

Một con ếch xanh tím bất thình lình nhảy từ mép bờ lên, đáp cái "bạch" ngay bên cạnh.

"Ếch kìa!"

Thằng bé reo lên như vớ được của báu, lập tức cúi xuống nhặt con ếch lên, ôm chặt vào lòng vuốt ve.

Mộc Nhiên tái mét.

Mặt hắn trắng bệch, như thể máu bị ai hút cạn.

Hắn lùi lại một bước, rồi hai bước, cuối cùng chui tọt hẳn vào bụi trúc như tránh tà.

Ngón tay run lẩy bẩy chỉ về phía con ếch, giọng vỡ ra:

"Thả... thả nó xuống!

Ngay lập tức!"

Thằng bé tròn mắt, ôm chặt con ếch hơn:

"Sao lại thả?

Nó là bạn ta!

Còn biết đớp muỗi cho ta mà!"

"..."

Hắn nuốt khan, toàn thân nổi da gà.

Cái cảm giác nhơn nhớt như thể vừa trườn thẳng vào tận xương sống, bám riết lấy hồn vía không buông.

Trong khi đó, thằng bé vẫn vô tư cúi rạp bên bờ nước, lúi húi với cái rổ nan con con.

Nó nghiêng nghiêng rổ, nhẹ tay vớt lên từng mảng trứng ếch đang nổi lềnh bềnh trên mặt nước đục ngầu, cẩn thận như thể sợ làm vỡ.

Mắt nó rưng rưng.

"Rõ ràng hôm qua còn bình thường... trong veo, tròn vo...

Mà sáng nay quay lại đã thấy nó như vầy rồi... nát nhòe, méo mó, chẳng cái nào nở được cả..."

Giọng nó vừa buồn vừa ấm ức, như sắp khóc đến nơi.

Mộc Nhiên nhăn mặt, khóe môi giật giật.

Dẫu toàn thân vẫn còn rờn rợn, hắn cũng cố lấy lại phong thái của kẻ học rộng hiểu nhiều, không thể để thằng nhóc con này xem thường được.

Hắn hắng giọng, rướn người lại gần, cố giữ vẻ bình tĩnh khi nhìn xuống đống trứng:

"Hừm... màu nước có vẻ đục bất thường.

Trứng thì không chỉ không nở được mà còn biến dạng, có dấu hiệu phân rã.

Có thể trong nước có—"

"Ếch!"

Thằng nhóc bất ngờ kêu to một tiếng như ma hú, rồi hự một cái dúi ngay con ếch đang ôm thẳng vào tay áo Mộc Nhiên.

Hắn đông cứng.

Con ếch mềm mềm, lạnh toát, dính nhớp cả tay áo hắn, còn thở phì phò.

Mộc Nhiên cảm thấy linh hồn mình tạm thời rời cơ thể.

"Ngươi—!"

Hắn quát, bật người ra phía sau, suýt nữa vấp ngã vào bụi trúc.

Thằng nhóc cười ha hả, đắc chí như vừa phá được trò lớn nhất đời:

"Chí sĩ mà nhát ếch, còn không bằng ta!"

Mộc Nhiên mặt đen như đáy nồi, nghiến răng ken két:

"Nha đầu thối... ngươi tên gì!"

Thằng bé bĩu môi, tay vẫn ôm con ếch như báu vật:

"Không nói!

Huynh đoán đi, đoán trúng thì ta nói tiếp chuyện!"

Mộc nhiên đứng dậy hắng giọng, quyết không đùa nữa.

Hằng gạt mấy nhánh cỏ trườn dài che lối, cúi thấp người xuống mép hồ cạn.

Mặt nước đục ngầu, nổi lềnh bềnh vài đám bọt lạ, xen lẫn mảng rêu úa, có mùi ngai ngái nhè nhẹ bốc lên.

Mộc Nhiên thò một cành trúc khô quấy nhẹ mặt nước, thấy lớp váng mỏng tan ra để lộ đáy bùn lầy... nhưng trong đám bùn ấy lại ánh lên vài vệt lạ lẫm, như từng có thứ gì đó lắng xuống, rồi hòa tan.

Mộc Nhiên chau mày, đáy hồ hoang vốn không sạch, nhưng cũng không đến nỗi độc địa.

Mà nếu chỉ là nước dơ, sao trứng ếch lại hỏng nhanh đến thế?

Hắn híp mắt, suy nghĩ trong đầu:

"Chẳng lẽ có ai cố tình thả thứ gì vào đây?"

Mộc Nhiên vẫn không rời mắt khỏi mặt hồ.

Lớp váng loang loáng ấy trắng đục, với chút vàng lợt nơi rìa mép.

Nó mỏng tang, mịn màng như lớp dầu nổi trên bề mặt nước cháo nguội.

Thằng nhỏ bám chặt lấy vai áo hắn, lí nhí:

"Chẳng phải... chỉ là váng tự nhiên thôi sao?

Nước bẩn thì hồ nào chả vậy..."

Mộc Nhiên không quay đầu, chỉ tiếp tục nhìn chăm chú.

"Váng tự nhiên do hồ bẩn thì thường đặc, nhầy, màu xanh rêu hoặc đen...

Thối.

Dơ.

Đọng từng mảng như xác mục lâu ngày..."

Hắn chỉ tay vào lớp váng:

"Còn cái này..."

"Trơn, mịn, màu sáng.

Loang đều... mà lại không tan.

Không phải thứ tự nhiên sinh ra trong cái hồ bỏ hoang này đâu."

Nói rồi, hắn cầm nhánh trúc quấy nhẹ một vòng.

Váng nước chao nghiêng, như lớp màn mỏng lay động rồi tụ về một phía.

Cảnh tượng này rất giống với lớp váng của dung dịch có dầu, hoặc hỗn hợp giấm pha với bột nào đó.

Bột tan trong dung môi nhưng không hoàn toàn hòa lẫn vào nước, để lại vết váng nổi lên trên mặt.
 
Back
Top Bottom