Khác Việt Cổ Sử Ca

[BOT] Wattpad

Administrator
25/9/25
59,383
0
0
406846672-256-k907999.jpg

Việt Cổ Sử Ca
Tác giả: CaLacThucKhuya
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Mỗi dân tộc trên thế giới đều soi mình qua những tấm gương truyền thuyết và sử thi vĩ đại.

Người Việt ta cũng từng có một kho tàng thần thoại huy hoàng như thế, nhưng trải qua bao biến bạt của thời gian và nỗi đau xâm lược, nhiều sử sách đã thất lạc, nhiều vị thần bản địa đã bị lãng quên trong màn sương quá khứ.

Tác phẩm này ra đời từ niềm trăn trở ấy.

Đây không phải là một tiểu thuyết tu tiên giải trí thông thường, mà là một nỗ lực phục dựng Sử thi Bách Việt.

Bằng cách xâu chuỗi những mảnh ghép còn sót lại trong thần thoại, ghi chép Việt và Trung, kết hợp với tư liệu nghiên cứu về văn hóa của người Dao, người Miêu, người H-mông cùng các giả thuyết từ những chuyên gia uy tín, tôi mong muốn tái hiện một kỷ nguyên Thần Thoại của riêng chúng ta.

Lưu ý quan trọng từ

Tác giả:
1.

Tính hư cấu và Nghiên cứu: Mọi chi tiết trong truyện đều được tôi dày công xâu chuỗi từ các nguồn tư liệu thực tế và phỏng đoán của các chuyên gia.

Tuy nhiên, đây vẫn là một tác phẩm văn học, có những chi tiết hư cấu để phục vụ mạch truyện sử thi.

2.

Sự đa dạng và Khác biệt: Một số tình tiết có thể xa lạ hoặc gây tranh luận do tính chất ít được phổ biến rộng rãi của tư liệu.

Rất mong quý độc giả đón nhận với tâm thế cởi mở; nếu có điểm nào chưa rõ, xin hãy tìm hiểu thêm qua các bài nghiên cứu chuyên sâu để có cái nhìn đa chiều.

3.

Tâm huyết của người viết: Tôi đã rất đắn đo cho từng chi tiết để đảm bảo tính logic và tôn trọng tinh thần cốt lõi của các dân tộc anh em.

Xin đừng "ném đá" nếu có những kiến thức đi



vietnam​
 
Có thể bạn cũng thích
  • (Tạm Drop)|Cảm hứng Lịch Sử Việt Nam|Nữ chiến sĩ năm ấy
  • [ Dã Sử Tự Viết] Vì Người
  • [BH tự viết] Chuyện Đế Vương
  • Hệ Thống Đỉnh Phong Đại Việt
  • Lịch Sử Việt Nam
  • [Dã sử Việt] THƯỢNG DƯƠNG
  • Việt Cổ Sử Ca
    Chương 1: Thời Đại Sáng Thế


    Thuở sơ khai, khi thời gian còn chưa thành hình và không gian chỉ là một hố thẳm vô định, vạn vật rơi vào trạng thái hư vô hỗn độn, là một khối hỗn mang u tối.

    Giữa hư không ấy, những thực thể sáng thế đầu tiên bắt đầu thức tỉnh, mỗi vị dùng thần lực riêng biệt để phân tách trật tự khỏi sự hỗn loạn.

    Tại Bắc Âu, thần khổng lồ Ymir tự xé xác mình, dùng nhục thân vĩ đại để kiến tạo nên chín thế giới.

    Giữa trung tâm ấy, hạt giống thần nảy mầm hóa thành Cây Thế Giới Yggdrasil, vươn rễ cắm sâu vào cõi chết và đưa tán lá chống đỡ chín tầng mây, trở thành chiếc cầu nối vĩnh cửu giữa thần thánh và phàm trần.

    Tại Ai Cập, giữa vùng nước đen ngòm của hư vô Nun, thần Atum hiện thân.

    Ngài là bậc "Ngôn xuất pháp tùy", chỉ bằng ý chí và những lời phán truyền mà khai sinh ra vầng mặt trời cùng các vị thần nguyên tố, đặt định quy luật cho sự sống nảy mầm từ cát bụi.

    Thần Bầu Trời Tengri vĩ đại cưỡi trên những cơn gió rít, phái thiên nga cắp lấy những mẩu đất từ đáy nước thiêng mang lên, bồi đắp nên những đồng cỏ xanh mướt và vùng thảo nguyên Mông Cổ hùng vĩ, bao la.

    Tại phía Tây, từ quả trứng vàng Hiranyagarbha rực rỡ, Brahma hiện ra trong tư thế thiền định.

    Ngài không dùng tay chân, mà ngân lên âm thanh khởi thủy A-um, dùng tần số của chân ngôn để dệt nên mạng lưới nhân quả và các tầng trời luân hồi hư ảo.

    Tại Hy Lạp, từ vùng hỗn độn Chaos, Mẹ Đất Gaia tự mình tách ra, sinh ra bầu trời Uranus để tạo thành một vòng ôm khép kín, định hình nên không gian cho chư thần ngự trị.

    Tại Cục Đông thế gian, hai vị thần Izanagi và Izanami tuân chỉ chúng chư thiên, đứng trên nhịp cầu mây, dùng giáo ngọc khuấy động đại dương nhầy nhụa.

    Những giọt nước mặn nhỏ xuống từ mũi giáo đông đặc lại, hóa thành quần đảo Oyashima giữa muôn trùng sóng vỗ.

    Tại vùng đất Slavic bao la, thần Rod hiện thân trong một quả trứng vũ trụ.

    Ngài dùng quyền năng của tình yêu và sự sống để phá vỡ vỏ trứng, tách bầu trời đầy sao khỏi đại dương mênh mông, tạo ra thần Svarog để rèn nên thế gian và đặt định những định luật đầu tiên của sự sinh tồn, làm chủ những cánh rừng rậm rạp và những thảo nguyên bất tận của xứ Bạch Dương.

    Ấy là thần thoại của thế giới, nay bàn về ta, thần thoại của Đất Việt, Cá Lạc gọi là Việt Tộc Sử Thi.

    Thuở ấy thế gian còn hư vô bất định, trời đất là mảng dính liền lấy nhau.Ngài ấy sinh ra từ hư vô.

    Thân hình Ngài cao bao nhiêu không tính nổi.

    Chỉ biết nếu ngài đứng, ngước lên không thấy đầu gối này, bàn chân ngày to hơn cả bể, đôi mắt ngài sáng hơn cả thái dương.

    Ngài lấy đạp đất, lấy lấy chống trời, một tiếng gầm vang vọng thế gian, chấn động hư không, Ngài đem bầu trời và mặt đất tách thành hai.

    Ngài cao tới đâu, trời cao tới đó, vì trời khi ấy còn yếu, Ngài liền lấy đất đá,xây lên cây cột chống trời, trời cao đến đâu, Ngài liền xây cột cao đến đó, vì thế dân gian gọi ngài là Thần Trụ Trời, có nơi thì gọi là Bàn Cổ hay Pan Hu.

    Từ đó mà đất trời chia làm hai.Mặt đất phẳng như cái mâm vuông, bầu trời trùm lên như cái bát úp, chỗ trời đất giáp nhau gọi là chân trời.

    Vì thế mà đất được gọi là mặt, trời được là bầu.

    Đợi cho bầu trời đã khô cứng lại, Thần Trụ Trời bèn đập đi cây cột chống trời.

    Đất đá cừ cột rơi xuống, trở thành núi thành non, thành gò, thành đồi.

    Vì thế mặt đất ngày nay không còn bằng phẳng như xưa, gồ ghề nhấp nhô.

    Còn hố mà Thần đào để đắp trụ, chính là biển.

    Hoàn thành công việc, Thần hóa thành khí, gọi là Nguyên Khí, hư vô mà hựu thực, từ đây, sử thi bắt đầu

    Từ trong Nguyên Khí hư vô ấy, sinh ra sáu ông thần khổng lồ cao lớn, thân cao vạn trượng đi xây dựng thế gian.

    Có ông thần lấy tay đếm từng hạt cát, ấy không phải cát thường mà là cát linh.

    Có hạt đại diện cho sinh mệnh thế gian, ông đếm được bao nhiêu, thế gian có từng ấy sinh mệnh.

    Có hạt đại diện cho phù sa, cho dưỡng chất sinh mệnh, ông đếm được bao nhiêu, thế gian có từng ấy cây cối động vật sinh sôi.

    Thế gian muôn loại, vạn vật đều có hạn định giới hạn, đó là căn số cân bằng cho thế gian.

    Ông đếm là để định ra căn số thế gian này.

    Có ông thần nhìn lên bầu trời, thấy bầu trời trống rỗng, chẳng có gì, ông liền đi khắp thế gian, tìm ra những viên đá, những bảo ngọc lấp lánh nhất, trắng sáng nhất.

    Ông đem chúng đính lên bầu trời, từ đó sao trời sinh ra, lung linh như ngọc, dày đặc như dòng sông.

    Rồi ông tìm chọn viên ngọc to nhất, đẹp nhất, đính lên bầu trời, đó là mặt trăng này đấy.

    Có ông thấy núi non sau khi cột trụ trời đập vỡ còn nằm rải rác ngổn ngang, bèn bê từng ngọn núi lớn, hòn non cao xếp lại thành hàng, đó là dãy núi.

    Ông lại bồi vùng đất cao lên thành cao nguyên lộng gió, san vùng đất thấp xuống thành đồng bằng phẳng lặng bao la.

    Cả một vùng cương vực hùng vĩ hiện ra dưới bàn tay của ông.

    Có ông nhìn xuống đại địa, thấy các hố và bể lớn nằm chết lặng không thông, liền ấn mười ngón tay khổng lồ vào lòng núi đá cho nước phun trào.

    Đó là thác đầu nguồn.

    Ông lại dùng tay vạch lối cho nước chảy, rẽ đất tạo rãnh.

    Rãnh nhỏ là khe suối.

    Rãnh lớn là sông ngòi.

    Nước chảy vào hố, trở thành hồ.

    Rồi gom các sông thành sông lớn, nối chúng ra bể, thành biển cả.

    Đó là chuyện trăm sông đổ về biển.

    Có ông thần bồi đắp lại mặt biển, tạo ra vùng trũng, vùng sâu, tạo ra vũng rãnh cho đáy biển.

    Rồi khi nước biển dâng cao, thấy nước lại ngập cả nhân gian, ông lại lấy tay mà tát bể, định lại mực nước biển, ấy là cho chúng sinh mảnh đất liền mà sinh sôi nảy nở sau này.

    Nước còn lại bị thần đưa xuống đất, đấy là nước ngầm.

    Có ông đứng giữa đất trời hoang lạnh, tự nhổ lông trên thân mình mà cắm xuống đất đen, lông ấy chạm đất liền hóa thành đại thụ cao vút.

    Ông vốc nước bể tát vào mầm xanh cho hoa cỏ mọc đầy rực rỡ dưới chân.

    Thấy muôn loài mọc rải rác lộn xộn, ông bèn nhổ lên sắp đặt lại thành rừng thành rậm, vỗ vào thân cây mà định cho mỗi loài cây cối chỗ ở và tiết khí.

    Đấy sự tích về sáu ông thần xây dựng thế giới, mà dân gian vẫn lưu truyền câu nói:

    Ông đếm cát

    Ông tát bể

    Ông kể sao

    Ông đào sông

    Ông trồng cây

    Ông xây rú

    Ông trụ trời

    Chẳng biết về sau các ông có biến mất hay chẳng, chỉ biết thế gian có linh, Nguyên Khí lại tiếp tục quay cuồng diễn sinh.

    Có ngọn lửa đầu tiên bùng lên từ tinh hoa thanh khiết nhất của Nguyên Khí, ấy là ngọn lửa của Trật tự tối cao.

    Ngọn lửa ấy bay lên ngự nơi đỉnh bát úp, hóa thành Mặt Trời huy hoàng.

    Chẳng ai rõ danh tính thực sự của Ngài, ta gọi Ngài là Thần Mặt Trời, hay có nơi cung kính gọi là Đế Tuấn.

    Trong dòng chảy Nguyên Khí ấy, lại sinh ra một thực thể kỳ vĩ thế nhân gọi là Chúc Cửu Âm.

    Thần mình rồng sắc đỏ, mặt người, thân dài vạn dặm, ngự nơi núi Chung Sơn tối tăm mịt mù.

    Ngài không ăn, không ngủ, cũng chẳng cần hít thở.

    Ngài mở mắt là ban ngày rực rỡ, nhắm mắt là đêm tối mênh mông.

    Ngài thổi hơi ra là mùa hạ nóng rực, hít hơi vào là mùa đông băng giá.

    Chúc Cửu Âm nằm đó, dùng con mắt thần trên trán mà chiếu rọi vào những hố thẳm tăm tối nhất, canh giữ ranh giới giữa hư không và thực hữu, giữa ánh sáng và bóng đêm của thuở sơ khai.

    Vì thân giống rồng, thế nhân gọi ngài là Chúc Long.

    Nguyên Khí trở thành quy tắc khởi nguyên, dân đặt tên là Hồng Nguyên.

    Hồng Nguyên thai nghén sinh linh, ấy là Hồng Quân.

    Ngài chính là hiện thân của quy luật trời đất.

    Thế nhưng hỡi ôi, Nguyên khí có một phần ác, bốn phần tà.

    Nhưng hỡi ôi, Nguyên Khí vốn không chỉ có ánh sáng.

    Trong lòng nó vẫn âm ỉ một phần Ác và bốn phần Tà.

    Phần Ác dữ dội nhất đã hóa thành Ma thần La Hầu.

    Ngài bước ra từ bóng tối với sát khí trùng thiên, mỗi hơi thở mang theo mùi máu và sự hủy diệt.

    La Hầu đi đến đâu, chúng sinh khởi nguyên đều phải run sợ mà nép mình, bởi Ngài chính là hiện thân của nỗi khiếp đảm tột cùng của thế gian.

    Và bốn phần Tà kia hóa thành Tứ Nguyên Tà Thú.

    Thuở đầu, chúng vốn mang tính tà mị nhưng lòng không mang ác ý.

    Hiềm nỗi, thế gian về sau sinh ra lòng tham lam, sự oán hận và những cuộc giết chóc triền miên.

    Chính cái Ác của lòng người đã thấm vào máu thịt của chúng, bắt chúng phải hóa thân thành Tứ Đại Hung Thú, hung danh cổ kim.

    Thứ nhất là Thao Thiết với thân dê, mặt người, mắt nằm dưới nách, răng hổ, móng tay người.

    Tiếng như tiếng khóc trẻ em, bản tính tham ăn vô độ, tương truyền nó có dạ dày không đáy.

    Thứ hai là Cùng Kỳ, có dáng như hổ, có cánh đại bàng, biết nói tiếng người.

    Cùng Kỳ thích ác ghét thiện, thấy ai đánh nhau thì trợ kẻ sai, thấy ai trung lương thì cắn đứt mũi họ.

    Thật độc ác.

    Thứ ba là Hỗn Độn, thân cái bị thịt, lại có sáu chân, bốn cánh, lại không có ngũ quan, nó sống trong mờ mịt hỗn loạn.

    Nghe đồn chỉ xuất hiện khi có hỗn loạn đau thương.

    Cuối cùng là Đào Ngột.

    Thân như hổ, có lông dài, mặt người, chân lợn rừng, lại có răng nanh dài tám tấc.

    Con này là loại hung hãn cứng đầu, lầm lỳ cố chấp đến kinh dị.

    Nguyên Khí sinh ra hai hạt giống kỳ lạ.

    Một hạt rơi xuống đất, sinh ra cây Khởi Sinh, có nơi gọi là cây Phong, có nơi gọi là cây Si hay cây Chu.

    Cây Khởi Sinh cao ngút khổng lồ, đỉnh chạm tới trời.

    Thân cây sần sùi, có nhựa đỏ như máu.

    Rễ cây cắm xuống cả cõi linh giới, thân cây rộng vạn người ôm không xuể, tán lá che lấp cả mặt trời mặt trăng.

    Hạt còn lại Hồng Quân đã cầm đi.

    Đấy là hạt giống cây Kiến Mộc hùng vĩ.

    Tương truyền ngọn Kiến Mộc chạm tới Tiên Giới, tán cây rộng khắp mà kỳ lạ, không che mây mưa, không che mặt trời mặt trăng, ánh trăng ánh sao.

    Cây chính là con đường duy nhất giao giữa hai giới tiên phàm.

    Vì thế mà có ma quỷ nhờ thế đi lên quấy rối tiên thần, lại có thần linh hạ phàm làm loạn nhân gian.

    Vì thế mà vị vua Chuyên Húc, tức Huyền Đế, đã ra lệnh chặt đi.

    Thế gian cứ hỗn loạn với chúng thần khởi nguyên, cho đến một ngày, chuyện Hồng Quân muốn tạo ra Thiên Đạo, đặt Thiên Quy, quy định luật lệ thế gian vạn vật đã dẫn tới sự phản đối của chúng thần.

    Thần Mặt Trời phản đối kịch liệt.

    Thần dùng lửa Thái Dương nung chảy Thiên Đạo, tạo nên một mảng trời bị hổng ở phía Nam.

    Thế nhưng sức nóng của ngọn lửa lại khiến trời thủng một lỗ, hồng thủy trào xuống.

    Chúng thần phải hùa lại, xây nên cột chống trời.

    Đó chính là Bất Chu Sơn.
     
    Việt Cổ Sử Ca
    Chương 2: Thời Đại Khởi Sinh


    Đó là câu chuyện về thời đại sáng thế, khi Thần Trụ Trời sáng thế, khi sáu Ông xây dựng thế giới, khi Hồng Quân muốn tạo Thiên Đạo.

    Nay ta kể về truyện khai sinh muôn loài, khai sinh con người.

    Vì cây Khởi Sinh mọc quá nhanh, chọc thủng trời, tán cây che đi nhật nguyệt ánh sao, làm cho trời đất rơi vào cõi tăm tối mờ mịt.

    Từ trong luồng mây trời, thần Vân sinh ra, từ trong khói sương mù, thần Vụ sinh ra.

    Họ muốn chặt đi cây Khởi Sinh.

    Thần Vân là anh, tính cách phóng khoáng như mây trời, giỏi việc tìm kiếm nguyên liệu, nhìn hướng gió và chọn ngày lành để khởi sự.

    Thần Vụ là em, tính cách trầm mặc và tỉ mỉ.

    Ngài là bậc thầy về lửa và nước, người trực tiếp canh lò rèn để đúc nên những chiếc rìu sắc lẹm.

    Họ không cao lớn bằng núi, nhưng bả vai rộng như cánh cung, bàn tay thô ráp và đầy sẹo do lửa lò rèn và rìu sắt.

    Đôi mắt họ sáng như sao, có thể nhìn thấu lõi gỗ để biết đâu là thớ cây cứng nhất.

    Hai thần leo lên núi cao chót vót gian truân, dân gian gọi là núi Thần Long, để tìm loại quặng Xích Kim quý hiếm.

    Họ leo xuống vách lũng sâu ngàn trượng, dân gian gọi là lũng Hổ Gầm, tìm quặng Hắc Thiết cứng rắn.

    Họ dựng lò bên dòng suối, quạt gió thổi lửa suốt ngày đêm, ánh lửa rực đỏ chín tầng trời.

    Họ nện búa, tiếng búa vang đại ngàn.

    Cuối cùng họ rèn ra hai cây rìu, một cây rìu Bạc, một cây rìu Vàng.

    Thế nhưng đốn cây đâu dễ dàng, cây Khởi Sinh cao đến chọc trời, thân cây vạn người ôm không xuể.

    Họ chặt vào cây, cây chảy ra nhựa đỏ như máu, nhựa xuống đất, lại chảy về rễ cây.

    Chặt một nhát, cây mọc lại một nhát.

    Chặt một ngày, đêm về cây lại nguyên.

    Hai thần chặt quanh năm mà không thể khiến cây tổn thương, họ liền nảy ra kế.

    Họ lấy vụn gỗ và rơm rạ, chặn vào nhát chém, lại lấy cành dương liễu mà quấn lại.

    Dòng nhựa máu bị chặn, cây Khởi Sinh không thể hồi phục, ngày càng héo úa.

    Hai anh em Vân Vụ lại tiếp tục chặt, họ chặt ngày nghỉ đêm, chặt quanh năm suốt tháng.

    Cho tới một ngày, cây đổ như núi sập, như trời nghiêng, mà bầu trời có được ánh sáng, mặt trời lại chiếu xuống nhân gian.

    Từ trong nhựa cây và bọt khí, một con bướm khổng lồ bay ra.

    Bướm thân tỏa hào quang, đôi cánh che lấp bờ sông, là sinh mệnh giao thoa giữa thần linh và thiên nhiên, mang trong mình quyền năng của sự sống.

    Vì cây Khởi Sinh sụp đổ, cân bằng đất trời bị phá vỡ, nước từ rễ cây trào ra, hòa cùng nhựa đỏ, trở thành lũ ngập thế gian, có màu đỏ hồng, nên gọi Hồng Thủy.

    Con Bướm bay trên mặt Hồng Thủy, thấy một đống bọt trắng xóa đã trôi.

    Nó mệt quá, liền xà xuống mà nghỉ ngơi.

    Bọt này vốn là kết tính âm dương của nước và trời, của thiên nhiên hòa quyện.

    Con Bướm nằm trên đó, hấp thụ khí bọt mà sinh ra 12 quả trứng thần.

    Nhưng Bướm không thể ấp trứng.

    Truyện lại kể rằng, khi cây Khởi Sinh sụp đổ, các cành nhỏ và lá cây bay lơ lửng trong không trung.

    Những chiếc lá xanh hóa thành các loài chim, và chiếc lá rực rỡ nhất, mang theo nhiều linh khí nhất, đã hóa thành chim Tùng và chim Tót.

    Chim Tùng thân lớn hùng vĩ, mang sức mạnh của đại ngàn.

    Thân mình chim Tùng rực rỡ như màu đồng hun, đôi cánh rộng và cứng cáp như những lá chắn.

    Chim Tót nhỏ hơn, có bộ lông màu vàng óng ả như những tia nắng đầu tiên.

    Chim Tót mang trong mình hỏa khí rất mạnh, nhịp tim đập nhanh và cơ thể tỏa ra hơi ấm nồng nàn.

    Chim Tùng và Tót, rút lông quý từ ức, lại lấy sợt tơ từ bọt nhựa cây Phong, bện thành tổ quý, đặt vào 12 trứng thần.

    Tót nằm bên trong, lấy hơi ấm mà ấp nở trứng thần, Tùng đứng bên ngoài, giang đôi cánh mà che trở gió mưa bão bùng.

    Có câu hát rằng: "Tùng nhìn trời xanh, canh chừng ác thú, Tót nhìn trứng nhỏ, hát lời yêu thương.

    Mười hai năm dài, chân chim mỏi rã, Mười hai năm ròng, lòng chẳng hề lay..."

    Mười hai năm trời, các quả trứng lần lượt sinh ra.

    Đầu tiên là Thần Bầu Trời, hùng vĩ và mạnh mẽ, Ngài lại sinh ra Thần Sấm, Thần Mưa, Thần Gió... các vị thần điều khiển thời tiết.

    Ngài vung tay trời quang mây tạnh, bão gió biến mất.

    Thứ hai là Thần Đất, dịu dàng và ấm áp.

    Bà sinh ra Thần Đá, sinh ra bốn nữ thần bốn mùa cai quản tiết trời.

    Tiếp đến là Thần Lửa và Thần Nước sinh ra cùng lúc.

    Thần Lửa cai trị núi lửa, bốc hơi dòng nước; Thần Nước cai trị nguồn nước, dẹp yên Hồng Thủy.

    Sau đó, là ba đại thần thú được sinh ra, đó là Tổ Long, Nguyên Phượng và Thủy Kỳ Lân.

    Tổ Long chính là vua loài rồng và biển cả.

    Ngài sinh ra loài rồng rắn giao long, lại sinh ra các loài cá nước bò sát.

    Rồng đi giao hòa cùng vạn vật, sinh hạ chín đứa con hình hài kỳ dị, chẳng vị nào giống rồng hoàn toàn, sử gọi là Long Sinh Cửu Tử.

    Nguyên Phượng là vua của loài chim, sinh ra loài phượng chim hoàng, sinh ra khổng điểu chu tước, loài đại bàng mạnh mẽ, loài chim ưng uy vũ.

    Thần có lửa niết bàn, bất diệt bất tử, có thể dục hỏa trùng sinh.

    Thủy Kỳ Lân là vua muôn thú.

    Ngài sinh ra loài kỳ lân, sinh ra muôn loài hổ báo hươu nai, hung thú rừng rậm.

    Thần cai quản thất thải điềm lành, thống trị thiên lôi, mạnh mẽ khôn lường.

    Trứng thần sinh ra Xà Điểu, thần thân trên là chim, thân dưới là rắn, đuôi dài trăm trượng cai quản đầm lầy và bầu trời, bảo hộ cho con người đi săn.

    Trứng lại nở ra Thần Cây Cối.

    Thần không phải cây mà là linh hồn đại ngàn, thần dạy cho con người phân biệt hoa quả cây cối, biết đâu mà ăn, đâu mà tránh, cây mọc ở đâu, mọc mùa nào.

    Thần là người trồng ra cây Chu Đồng.

    Thân cây đen, cứng như đồng, cao lớn bằng trăm ngọn núi, lá cây bằng vàng, quả cây bằng ngọc, ban cho nhân loại đồng thiết, sắt vàng.

    Tiếp là Thần Quy.

    Thần Quy khổng lồ, bóng cho mặt trời, chân chạm tới trần, thần có mai vàng như hoàng kim, thông minh uyên bác, dạy cho con người xây nhà, lấy bốn cột chống lên, lấy mái úp lên mà thành nhà.

    Quả thứ 11 nở ra Thần Trâu.

    Thần cao lớn như núi, làn da đen tuyền, đẻ ra đàn trâu đành bò, là ông tổ của loài gia súc trong nhà.

    Thần lại ban lúa cho nhân loại, sai loài trâu bò giúp người cày cấy.

    Quả cuối cùng chính Khấu, con người đầu tiên trên thế giới.

    Khấu học xây nhà từ Thần Quy, học săn bắt từ Xà Điểu, học hái lượm từ Thần Cây Cối, lại học cày cấy thì Thần Trâu.

    Con Bướm vì sinh ra sinh linh thế gian, dân gian gọi là Mẹ Bướm, hay Mai Bang.

    Vì thuở ấy có mình Khấu là người.

    Khấu sinh con với Xà Điểu, sinh ra anh em, nửa trên là người, nửa dưới là rắn.

    Dân gian có nơi gọi là Giang và Ương, có nơi gọi là ông Thu và bà Thu.

    Ở đây ta tạm gọi Giang và Ương.

    Vì trời đất khi ấy chưa có con người, Giang và Ương muốn kết hôn, nhưng ngặt vì phận anh em ruột thịt, sợ trái luân thường đạo lý, họ bèn lập ra ba thử thách, xem ý kiến trời đất.

    Thử thách thứ nhất, họ đốt hai đống củi ở hai ngọn núi đối diện.

    Lạ thay, khói bốc lên lại ngược hướng gió bay đến tìm nhau, hòa quyện làm một dải mây bồng bềnh.

    Thử thách thứ hai, hai anh em mỗi người vác một thớt đá, một thớt đực, một thớt cái, lên hai đỉnh núi cao rồi cùng thả xuống vực sâu.

    Lạ thay, khi xuống tới đáy thung lũng, hai thớt đá lại nằm chồng khít lên nhau như đã được sắp đặt từ tiền kiếp.

    Thử thách cuối cùng, Giang đứng trên đỉnh núi cao, tay thả sợi chỉ theo gió; Ương đứng dưới chân núi, tay cầm cây kim thần.

    Lạ thay, sợi chỉ thanh mảnh lại thuận theo ý trời, xâu thẳng qua lỗ kim bé nhỏ.

    Khấu chứng kiến, biết ý trời đã thuận, thiên đạo đã định, liền chúc phúc cho hôn sự hai người.

    Thế là Giang và Ương cưới nhau, từ đó dòng giống con người được khai sinh, đi khắp mặt đất, tạo lập nên bản làng.
     
    Việt Cổ Sử Ca
    Chương 3: Sự tích các dân tộc


    Thế gian đã có nhân loại, ai cũng giống ai.Có một lần, Giang và Ương đi rừng bắt được con dúi.

    Dúi cầu xin tha mạng, dâng cho họ một hạt giống thần.

    Họ mủi lòng thả dúi đi, đem hạt về vun vào đất, ngày đêm chăm sóc.

    Hạt giống nảy mầm thành dây bầu, kết thành giàn, đến mùa cho ra một quả duy nhất.

    Lạ thay, quả bầu càng ngày càng lớn, to hơn cả gian nhà.Thuở ấy, Hồng Quân sáng tạo Thiên Đạo, Thần Mặt Trời giận dữ thiêu đốt thiên không, làm bầu trời thủng một lỗ lớn.

    Nước lụt từ trời tràn xuống.

    Vợ chồng Giang Ương nhờ bám vào quả bầu thần, ăn ruột bầu mà thoát kiếp nạn.

    Khi thần linh xây xong Bất Chu Sơn để ngăn dòng nước, lũ rút đi nhưng mặt đất chỉ còn là đống tro tàn, không bóng người sống.Giang và Ương muốn phục hồi nhân loại, nhưng lần này họ chỉ sinh ra được một cục thịt, đặt trong vỏ bầu.

    Họ nhanh chí dùng dao xẻ cục thịt thành nhiều mảnh, ném ra muôn ngả.

    Từ đó sinh ra người Việt, người Thái, người Dao, người Miêu và người Khmer.

    Người Khmer xuôi dọc về phương Nam, sau này tạo lập nước Phù Nam.

    Các tộc còn lại sống quần cư, lãnh thổ trải dài từ sông Dương Tử phía Bắc đến tận sông Hồng phía Nam.

    Từ Mân Việt, Điền Việt, Thường Việt tới Thái, Lào, Dao, H'Mông... bách tộc cùng chung sống, nên gọi là Bách Việt.Lại kể về Thần Trâu.

    Khi hồng thủy chảy từ thiên đình xuống, ngài lấy thân mình cõng con người vượt thiên tai.

    Ngài đi miệt mài ngày đêm về phía Đông, nơi có núi Thái Sơn cao chót vót.

    Nhờ ngài mà tộc người có nơi trú ẩn qua cơn đại nạn.

    Nhưng vì kiệt sức, Thần Trâu ngã xuống.

    Từ linh cốt của ngài, Xi Vưu sinh ra.Xi Vưu mình đồng da sắt, thân hình cường tráng, có tám tay, chín ngón chân.

    Ông có thể ăn cát đá, bay lượn trên mây, hô mưa gọi gió, điều khiển sấm chớp.

    Xi Vưu dạy tộc người săn bắt, tiễn thuật; dạy cách thuần thú, nuôi gia súc; dạy cả trồng trọt cày cấy.

    Đặc biệt, ông truyền dạy thuật luyện kim đúc đồng vang danh thiên hạ, binh pháp trận đồ và cách tính toán thiên tượng.

    Vì tộc này giỏi cung tên, người Hoa Hạ gọi họ là tộc Đông Di.Tiếng lành vang xa, các tộc Bách Việt từ Miêu, Dao đến Việt đều quy phục dưới trướng Xi Vưu, lập nên Liên minh Cửu Lê hùng mạnh, ghi danh vào vạn cổ sử sách."*****"Lại kể về cha Giang, mẹ Ương.

    Vì kiệt sức sau khi khai sinh nhân loại, cha Giang tọa hóa thăng thiên, tan vào đất trời vĩnh cửu.

    Mẹ Ương ở lại, lòng nặng nỗi cô đơn và sầu muộn.

    Một ngày kia, mẹ lấy đất nặn thành hình người.

    Lạ thay, người đất hóa thành người thật, có da có thịt, biết cười đùa, chạy nhảy.Mẹ Ương thấy thế thì vui lòng lắm, bèn miệt mài nặn mãi không thôi.

    Nhưng sức người có hạn, nặn từng người thì quá chậm.

    Mẹ liền nghĩ ra một kế: lấy một sợi dây leo nhúng xuống bùn lầy, rồi hất mạnh lên cao.

    Những giọt bùn tung tóe rơi xuống đất đều hóa thành người thật.

    Chẳng mấy chốc, mặt đất đã trở nên đông vui, nhộn nhịp.Nhân gian gọi mẹ Ương là Nữ Oa, cha Giang là Phục Hy.

    Họ tôn thờ Thần Đất là Hậu Thổ, Thần Lửa là Chúc Dung, Thần Nước là Cộng Công, và Thần Trụ Trời là Bàn Cổ.

    Lại gộp 6 Ông Cổ Thần thành Cự Linh Thần.Thế nhưng, lòng người sớm nảy sinh phân biệt.

    Tộc người được nặn từ đất tự coi mình là dòng giống cao quý, thuộc tầng lớp quý tộc.

    Tộc người sinh ra từ bùn đất bị coi là bình dân, sinh ra để bị cai trị.

    Thế gian bắt đầu có sự chia lìa.Một ngày kia, Thần Lửa và Thần Nước đại chiến kinh thiên động địa, làm sập núi Bất Chu.

    Bầu trời rách toác, Hồng Thủy từ thiên đình lần nữa cuồn cuộn trào xuống, nhấn chìm vạn vật.Mẹ Ương đau lòng trước cảnh chúng sinh lầm than.

    Bà lặn lội khắp bốn phương tìm kiếm tinh hoa ngũ hành: Đá Đỏ từ lửa thiêng phương Nam, Đá Trắng từ kim khí phương Tây, Đá Xanh từ đại ngàn phương Đông, Đá Đen từ lòng biển phương Bắc và Đá Vàng từ linh thổ trung tâm.Bà đem năm sắc đá ấy luyện trong lửa thần suốt chín chín tám mốt ngày.

    Đá tan chảy thành một thứ dịch lỏng ngũ sắc rực rỡ như cầu vồng.

    Mẹ Ương mang dịch ấy bay lên cao toan vá lại thiên không.

    Nhưng lạ thay, bà vá tới đâu, trời rách tới đó, sức thần không sao địch nổi sức sụp của vòm trời.Lúc bấy giờ, Thần Quy tiến đến bảo: "Trời đã mất cột trụ, vá chỗ này sẽ thủng chỗ kia.

    Con hãy chặt bốn chân ta mà dựng cột chống trời, rồi hẵng vá trời"Mẹ Ương nghe theo, chặt bốn chân Thần Quy dựng thành bốn cột trụ vững chãi ở bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc.

    Lúc này vòm trời mới ngừng rách thêm.

    Bà dùng dịch ngũ sắc vá lành những vết nứt cuối cùng.

    Thứ dịch ấy đông lại, hòa vào vòm trời xanh thẳm, thỉnh thoảng lại phát ra quang mang rực rỡ, chính là những đám mây ngũ sắc mà người đời vẫn thấy ngày nay.Đó là điển tích, Nữ Oa vá trời.*****Lại kể, về hai tộc đất nặn và đất bùn.

    Tộc đất bùn vốn hiền hòa, có một tộc lớn gọi là Liên Sơn Thị, trong Liên Sơn thị có một người, ta không biết tên, tạm gọi là Viêm Đế.

    Ông trời sinh thân thể kỳ dị, đầu bò mặt rồng, lại có bụng trong suốt như thủy tinh, có thể thấy được dược tính, độc tính ăn vào, từ đó chuẩn được bệnh, giải được y.

    Ông lại có Roi Thần, quất vào cây mà biết độc tính.

    Mỗi ngày, ông đi khắp vùng, ăn đủ loại kỳ dược dị độc, từ đó mà y thuật tinh thông.Viêm Đế còn tinh thông trồng trọi, dạy dân nông nghiệp, nên dân tôn là Thần Nông.

    Vì trên thông y pháp, dưới thấu nông nghiệp, nên được dân tôn làm vua, mới có danh xưng Viêm Đế.Ta kể về tộc đất nặn, ở tộc Hữu Hùng Thị, có bà Phụ Bảo.

    Một hôm nhìn thấy sấm chớp lôi quang quanh sao Bắc Đẩu mà thụ thai.

    Bà sinh ra một người con, đặt tên Công Tôn Hiên Viên.

    Hiên Viên vừa sinh ra đã biết nói, lại thông minh hơn người.Ông lớn lên mạnh mẽ, dạy dân biết nuôi tằm dệt vải, lại dạy xây nhà, đẽo xe, lập ra lịch pháp Lục Thập Hoa Giáp, chế tạo chuông nhạc.

    Ông còn sai thuộc hạ Thương Hiệt, nhìn vế chân chim mà chế ra chữ viết.Vì tài cán hơn người, dân phong làm vua, gọi là Hoàng Đế, đổi thành Hiên Viên Thị.Người Hiên Viên Thị hiếu chiến, đánh Thần Nông Thị, Viêm Đế thua mà quy hàng.

    Hai tộc hợp nhất, gọi là Viêm Hoàng, lập nên Hạ Quốc, nên gọi người tộc Hạ.Người Hạ hiếu chiến, Hiên Viên mang binh đi đánh Cửu Lê.

    Tây Vương Mẫu phái Cửu Thiên Huyền Nữ dạy người Hạ binh pháp, lại có Ứng Long trợ giúp, còn có con gái của Hiên Viên là Nữ Bạt, thân mang hoang khí, làm khô héo vạn vật xung quanh.Bên Cửu Lê, có tám mốt anh em của Xi Vưu đầu có sừng bò, mình thú, trán sắt, xương đồng.

    Có thần gió Phong Bá, dáng chim mình huơu, đuôi rắn, phất tay tạo cuồng phong, thổi bay giặc phương Bắc.

    Có thần mưa Vũ Sư, phất tay làm mưa làm lũ, cuốn trôi chiến mã, chiến xa người Hạ.

    Lại có thần Khổng Lồ Phụ Khoa phò trợ, tay vách núi đè chết quân địch.

    Còn có thần Xã Điểu trợ giúp, làm sĩ khí Cửu Lê dâng cao.Lại kể thần Mặt Trời có chín người con là chim Lạc.

    Chim Lạc lông vàng như ánh dương, đôi cánh che lấp trời, trên đầu là có mao dài, thân tỏa ra khí nóng mặt trời.

    Người Hạ gọi là Kim Ô.

    Chim Lạc bay khắp phía nam, từ sông Dương Tử tới tận sông Hồng.

    Người dân Bách Việt ai cũng thờ cúng.Tương truyền, khi trời nhiều mây ít nắng, dân Bách Việt lại đúc trống đồng, khác Mặt Trời, chim Lạc, lại khác hươu nai con người, mà kêu gọi chim Lạc.

    Còn khi trời nắng oi bức, họ lại cử ra dũng sĩ, giương cung mà bắn, bên dưới trống kèn, và xua chim Lạc đi vùng khác.

    Người Cửu Lê hay gọi chim Lạc trợ giúp khiến quân Hạ khốn đốnTrận chiến diễn ra trăm năm, không hồi kết.

    Quân Cửu Lê hung mãnh, lai có thuật luyện kim chế thần binh, khiến quân Hạ e dè.

    Mà Nữ Bạt mang đến khô cặn, héo úa, làm cho thần thông Phong Bá, Vũ Sư mất đi tác dụng.

    Xi Vưu vốn là con Thần Trâu, hung mãnh vô song, Hiên Viên phải cùng Thần Nông, mới ngang tài ngang sức.Ứng Long đánh với chim Lạc, trời long đất lở.

    Kể rằng, có Hình Thiên, là tướng nhà Hạ, vì bất mãn với Hiên Viên, cho rằng xâm lược là sai trái, mà gia nhập vào Cửu Lê.

    Ông bị chém đầu, liền lấy núm vú làm mắt, lấy rốn làm miệng, tay cầm rìu, tay khiên mà múa may đánh giặc.

    Lại kể Phụ Khoa đánh đuổi Nữ Bạt, nhưng càng chạy càng khô nóng, dù uống hết nước sông Hoàng Hà, sông Vị mà vẫn khát, cuối cùng kiệt sức mà ngã xuống, hóa thành rừng đào bát ngát.Truyện lại kể, có người Hạ, họ Hậu.

    Một lần đi lạc, bị mãnh thú tấn công, được người Cửu Lê cứu chữa, thấy thuật xua chim Lạc, liền học được.

    Trở về Hạ Quốc, thấy hai bên đánh nhau, người họ Hậu liền làm lễ, lắp cung tên, mà xui đuổi chim Lạc.

    Cứ thế, khi các trận chiến đã diễn ra kịch liệt, người kia lại xua đuổi chim Lạc.Cuối cùng, Xi Vưu thất thủ, bị Hiên Viên chém đầu, máu ông chảy thành sông, mọc ra rừng phong, lá đỏ như máu.

    Người Cửu Lê thất bại mà chạy tan tác.

    Người Bạch Việt chạy xuống phía Đông Nam, gia nhập Xích Quỷ, người Miêu, người Dao chạy đến phía Tây Nam, chạy lên vùng rừng núi toàn rắn rét độc cạp, nguy hiểm không lường.

    Họ sáng tạo ra cổ thuật, nuôi cổ trùng, nhờ thấy mà đánh đuổi người Hạ, xua đuổi quân của Ngũ Đế.Người họ Hậu vì hổ thẹn mà quy ẩn không nhận công.

    VÌ quân Cửu Lê thua người Hạ, tộc Đông Di bị xâm lược mà dần biến mất.

    Người Hạ gọi là lê dân, vốn người Hạ có trăm họ, gọi là bách tính, thế nên mới thành lê dân bách tính như ngày nay.Lại kể về chín con Chim Lạc, vì căm giận người Hạ đã tiêu diệt Cửu Lê, nên thường rủ nhau xuất hiện cùng lúc.

    Chín đại linh điểu hóa thành chín mặt trời rực lửa, thiêu đốt nhân gian khiến dân Hạ lâm vào cảnh hạn hán liên miên, đói khổ khôn cùng.Đến đời vua Nghêu, có Hậu Nghệ là con cháu của người họ Hậu năm xưa.

    Thấy muôn dân lầm than, lại nghe vua Nghêu hứa ban thưởng hậu hĩnh, Hậu Nghệ liền giương cung thần, lắp tên sắc, bắn rụng tám con Chim Lạc, xua tan họa mặt trời.

    Người dân Hạ đồng lòng tung hô, vua Nghêu liền gả Hằng Nga cho ông.

    Nàng vốn là con gái thần sông Hà Bá, nhan sắc tuyệt trần, thế gian hiếm ai bì kịp.

    Tây Vương Mẫu cảm kích công lao, sai tiên nữ ban cho vợ chồng ông linh dược, chỉ cần uống vào là có thể bay về trời, đứng vào hàng thần tiên.Thế nhưng, từ khi nắm giữ quyền thế và tiền tài, lại có thanh danh vang dội, Hậu Nghệ dần trở nên ngạo mạn.

    Ông xem thường phàm dân, bắt nạt kẻ yếu, tính tình ngày càng tàn ác khiến Hằng Nga vô cùng chán ghét.Trong số học trò của Hậu Nghệ có Phùng Mông, kẻ vốn trời sinh đê tiện, tâm địa tà ác, lại dám mơ tưởng đến sắc đẹp của sư nương.

    Một lần, nhân lúc Hậu Nghệ cùng các đệ tử đi săn, Phùng Mông giả vờ đau ốm ở lại để đột nhập cung cấm, ép buộc Hằng Nga phải giao ra thuốc tiên.

    Trong tình thế cấp bách, Hằng Nga thà tự mình uống hết linh dược chứ không để thuốc quý rơi vào tay kẻ gian.

    Nàng vừa nuốt xong, cơ thể nhẹ bẫng rồi dần dần bay lên cao, hướng về phía cung Quảng Hàn trên mặt trăng, trở thành vị tiên cai quản nơi ấy.Thấy Hằng Nga hy sinh bản thân vì lẽ phải, thần tiên đã ban cho nàng Thỏ Ngọc để bầu bạn.

    Đó vốn là loài linh vật có lòng hy sinh, từng hiến thân mình cứu người nên được chọn để cùng nàng sống nơi cung trăng.Về phần Phùng Mông, sau đó bị Hậu Nghệ phát hiện và bắn chết.

    Còn Hậu Nghệ, kẻ vốn tàn ác, khi về già sức yếu, không có thuốc tiên để trường sinh, cuối cùng bị dân chúng oán hận mà đánh chết.

    Đúng là "thầy nào trò nấy", "ngưu tầm ngưu, mã tầm mã".

    Kẻ ác giả ác báo, nghiệp chướng cuối cùng cũng đến.

    Tổ tiên vốn đã vô ơn khi dùng bí thuật của người Cửu Lê để hại người Cửu Lê, đến đời hậu duệ lại càng đại ác, nên phải nhận lấy cái kết bi thảm.
     
    Back
    Top Dưới