Khác VỀ TỪ HÀNH TINH KÝ ỨC.

[BOT] Wattpad

Administrator
25/9/25
59,383
0
0
174855210-256-k369447.jpg

Về Từ Hành Tinh Ký Ức.
Tác giả: caothanhlam80
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Hoàn thành


Giới thiệu truyện:

Cuốn ký sự "Về từ hành tinh ký ức" là những ghi chép của tác giả Võ Diệu Thanh từ lời kể của những nạn nhân vụ thảm sát Ba Chúc do Khmer Đỏ gây ra.



vodieuthanh​
 
Có thể bạn cũng thích
  • Sự Thật Về Các Ngày Lễ
  • Truyền kỳ về 18 đời vua Hùng
  • Câu Truyện Về Con Lười Ngọc
  • CẢ LỚP XUYÊN KHÔNG VỀ NĂM 1418 VÀ KHỞI NGHĨA LAM SƠN
  • star above
  • [Đỗ Nhật Hoàng x Nguyễn Huy_Steven Nguyễn] Nơi ánh...
  • Về Từ Hành Tinh Ký Ức.
    CÁI XÁC QUỲ.


    Đội quân khát máu của Pol Pot đi đến đâu là đốt phá giết chóc đến đó; ngoài súng đạn, bọn chúng còn tàn sát dân thường bằng những công cụ thô sơ với những cách thức tàn nhẫn nhất.

    Từ trẻ nít cho đến người già, phụ nữ cho tới thanh niên, tất cả nạn nhân của chúng đều không một tấc sắt trong tay...

    để phục vụ cho mục tiêu phi nhân, cho cuộc chiến phi nghĩa mà chúng khơi mào.

    Theo lời kể của chú Tư Long, xã Lê Trì, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang - nạn nhân thảm sát Ba Chức.

    Nội ngoại tôi có hai trăm người đã bị giết.

    Không phải tự nhiên chúng tôi chạy vô hang núi.

    Không phải tự nhiên chúng tôi chạy vô chùa Phi Lai.

    Nó đặt pháo bên kia giồng Tà Muôn.

    Giồng đất đó cao lắm.

    Là bên này kênh Vĩnh Tế.

    Là đất mình.

    Mỗi ngày pháo hai, ba lần.

    Khi thì sáng khi thì chiều.

    Không có nơi nào để tránh pháo trừ hang núi và chùa.

    Cứ vào đó trốn cảm thấy an tâm hơn.

    Hễ im tiếng pháo là chạy về nhà nấu cơm.

    Ăn xong lại chạy tiếp vô hang núi trốn pháo.

    Có những hang cạn, có những hang sâu.

    Có những hang do con người khoét cho sâu thêm đặng ở đông hơn.

    Mỗi hang núi trốn hàng trăm người.

    Hết tháng này tới tháng khác.

    Những nhà nào dư dả có lúa gạo thì gánh gạo tản cư.

    Ăn hết lại phải về nhà xay gạo rồi tản cư tiếp.

    Những nhà nghèo thì phải lên rẫy trồng tỉa.

    Những năm đó đói kém, chúng tôi không biết chạy đi đâu trừ việc bám trụ xóm làng quen thuộc của mình.

    Tại mình lớn lên ở đây.

    Chiến tranh đâu phải là mới thấy.

    Cô biết đó.

    Hồi đó ở đây là căn cứ.

    Đạn pháo nào mà không từng chứng kiến.

    Hồi chiến tranh, nghe đạn pháo dân cũng chạy vô chùa.

    Mấy ổng hai bên thấy vậy bắn né chùa ra.

    Chùa như là nơi quy ước để dành cho những người dân trốn đạn pháo.

    Ai mà ngờ tụi nó pháo vô chùa.

    Chết mấy chục người.

    Ừ thì trốn trong hang núi leo nheo như vậy đâu có sung sướng gì.

    Nhưng đó là chỗ có thể sống được qua những đợt pháo.

    Riết rồi quen.

    Xe bộ đội lên chở đi di tản, họ nói nên vô cánh núi Dài, vô Tri Tôn, chỗ đó có căn cứ cũ, hiểm trở, du kích dễ phòng cũng dễ công.

    Ba Chúc gần căn cứ tụi nó quá mà địa hình lại trống trải rất thất thế trong phòng thủ.

    Nhưng lúc đó không mấy người tin là sẽ có chiến sự nên cũng lười đi, có một số đi rồi lại quay trở về.

    Cứ ăn cơm xong lại vô chùa, vô núi trốn pháo.

    Ai cũng như ai hết chớ có phải chỉ mình mình đâu.

    Thành ra thấy cũng thường.

    Cho tới một đêm, tụi nó tràn sâu vô cô lập Ba Chúc.

    Cánh trên, nó đưa quân đóng chặn ngang đồng Lạc Quới, chặn lối về Chi Lăng, Tịnh Biên.

    Cánh dưới, tụi nó chiếm cánh đồng Lương Phi, bọc qua dọc nửa núi Dài, chặn lối thoát về Tri Tôn.

    Khi cô lập xong Ba Chúc hoàn toàn, tụi nó mới yên tâm tiến hành tàn sát.

    Những cánh lính đi trước không giết người mà chỉ đốt nhà.

    Ba Chúc ít cây cỏ, lại nhằm mùa hạn nên đồng ruộng, làng xóm trống trải.

    Nhà bị đốt hết, cả thị trấn trở thành một cánh đồng lớn, có thể nhìn thông thống từ đầu xã tới cuối xã, chỉ còn chùa Phi Lai và núi Tượng đứng trơ trọi.

    Nhà cháy ầm ầm, khói cuộn mù mịt không thấy lối đi.

    Mấy đứa nhỏ bốn, năm tuổi chịu không nổi khói khóc um.

    Khói lửa kinh hoàng lắm cô ơi.

    (Pol Pot hình trái)

    Chỗ khác thì tôi không rành.

    Chỗ hang núi tôi đang trốn thì chỉ có một thằng ôm máy bộ đàm C25, hai thằng ôm súng AK.

    Nó cầm súng chỉ vô miệng hang rồi châm tiếng Khmer gì đó.

    Bà già Thạch Út đã từng vô sóc buôn bán nên bả châm tiếng Khmer với nó.

    Bà nói mấy chú này mời mình xuống lộ, xuống đó người ta giải quyết.

    Một thằng chĩa súng, một thằng trói từng người.

    Rồi nó lùa đi.

    Trên đường đi, nội tôi & bà ba Vàng già quá đi không nổi, nó bắn chết tại chỗ.

    Tôi thấy không được rồi, đã có ý định trốn từ chỗ đó.

    Lúc xuống một chút nữa nó bắn bác Hai tôi (ba chị Tư Chỉnh), bác Hai tôi bị bắn chúi đầu vô bụi tầm vông chết.

    Lúc đó tôi mới tức tốc bỏ chạy.

    Tôi chạy miết tới đường quằng, chỗ cây me thì gặp ba tôi cùng bác gái và hai em tôi ở đó.

    Ba tôi nói ráng trốn đi con, tụi này nó ác lắm.

    Chúng tôi cứ chạy băng qua đường rừng mà không biết đâu là lối mòn, đâu là đường chưa mở.

    Chừng tới một chỗ le mọc nhiều, mọi người mới chui vô bụi le trốn.

    Tôi lấy lá le rải lên che cho mọi người.

    Thằng Hưởng em tôi, tôi ém nhét nó vô hang, lấy lá le phủ lên đầu nó.

    Tôi cũng chui vào bụi le trốn.

    Lúc từ trong bụi le nhìn ra tôi mới hoảng hốt.

    Chỗ tụi tôi trốn sát bên một lối mòn.

    Tụi nó dắt người đi xuống, không biết bao nhiêu mà kể cô ơi.

    Đông lắm.

    Hàng mấy trăm người.

    Đi hoài không thấy hết.

    Chưa bao giờ đi với nhau đông như vậy.

    Không ai trong số họ giống như đang đi vô chỗ chết cả.

    Có lẽ, cả đoàn đều không ngờ rằng chỉ một chút nữa, tất cả đều gặp nhau phía bên kia thế giới.

    (Pon Pot đi đầu) ẢNH: TL

    Những ngày chạy trốn, ngồi trên một tảng đá cao chỗ núi Tượng, nhìn ra đồng tôi thấy tụi Pol Pot lùa người ra.

    Họ mặc quần áo đủ màu.

    Có người còn che dù.

    Rồi tụi nó ria súng bắn.

    Mấy cái đìa thì xác người chất vun.

    Quần áo họ đủ màu nằm chất lên nhau la liệt.

    Đống đống như vậy, nhiều, nhiều lắm.

    Thấy rõ hết cô ơi.

    Vì tháng Ba, đồng ruộng đất mới cày nên trống không.

    Chẳng có cây cỏ gì.

    Chỉ tụi nó đi lại ăn uống, giết người và xác người.

    Dọc theo núi Tượng cũng có xác người nhưng ít hơn không chất đống như những chỗ đồng trống.

    Chúng tôi trốn quanh một hòn đá lớn.

    Những người khỏe leo lên cao, được ngách đá che chở.

    Bác tôi phụ nữ yếu ớt không leo kịp được nên nấp dưới chân tảng đá.

    Đêm 16 mưa lớn lắm.

    Cũng đêm đó chúng tôi có gặp một cặp vợ chồng với một đứa con còn đỏ hỏn.

    Tôi nhớ là tôi lượm được tấm cao su che mưa cho người phụ nữ và đứa nhỏ.

    Họ trốn trong hang gần chỗ tôi.

    Sáng đó tụi nó lên phát hiện ra họ.

    Tụi nó ngoắc ra dắt họ đi.

    Đi được một lúc bỗng tụi nó quay lại.

    Lần trở lại này nó phát hiện ra bác gái tôi.

    Bác tôi quỳ xuống lạy nó.

    Tôi không hiểu sao? dòng họ nội ngoại từ má tới anh, chị, em tôi chết tới hai trăm người, mà tôi chỉ nhớ mỗi cái chết của bác gái, một người không ruột thịt.

    Tôi nhớ như in, dù sự việc diễn ra cách đây bốn mươi năm.

    Nó chĩa súng vào bác.

    Bác lạy nó.

    Mấy cậu ơi tha cho tôi, tôi là người dân chớ không phải giặc.

    Bác nói chưa hết câu, khi bác vừa bước chân lên bệ đá nó bắn bác một phát súng, viên đạn xuyên qua đầu.

    Bác chúi đầu xuống bệ đá rồi chết trong tư thế đó, người quỳ, đầu chúi xuống bệ đá.

    Bác chết ngay dưới chân tôi.

    Tôi không hiểu sao tụi nó không nán lại lùng sục.

    Chỉ cần nó bước tới bước lui vài bước chân đã phát hiện tôi, ba tôi, chị tôi đang trốn quanh khe đá.

    Dường như bận bịu với việc giết bác gái tôi đã làm cho tụi nó lơ là việc lùng sục.

    Tụi nó bỏ đi.

    Cái chết của bác gái tôi làm mọi người còn sống gần như không dám nhúc nhích.

    Ai cũng im lìm chịu trận một chỗ.

    Chúng còn đáo tới đáo lui chỗ chúng tôi vài lần.

    Nhưng nhìn thấy xác bác tôi nằm chỏng khu, chúng nghĩ là không còn ai nên lại bỏ đi.

    Tôi đứng ở gần đó, lấy con mắt nhìn bác gái tôi chết quỳ mà không dám động tay vào sửa.

    Cái nắng tháng Ba hèn hạ gì?

    Cô biết đó, nhìn da tôi đi, da người sống nhưng dưới cái nắng của miền núi Ba Chúc nó cháy đen vầy nè.

    Nắng tháng Ba, cái nắng cháy sau những ngày hạn dài, cây cỏ tiêu điều.

    Người trốn trong nhà còn héo nữa nói gì là phơi giữa nắng.

    Cô đem nước xối vô đá, vô cát nó sôi lên.

    Người sống nằm trên đá dám chín thịt, chín da.

    Mùa đó, cây lớn cây nhỏ đều rụng sạch lá.

    Chỉ còn lại thân cây và những nhánh già.

    Không một lá non nào nhú ra khỏi thân.

    Nếu người lạ nhìn tưởng đâu cả cánh rừng trên núi đã chết khô.

    Núi Tượng nhìn đâu cũng thấy toàn đá.

    Đá nằm dọc, đá nằm ngang, đá ngả nghiêng dưới nắng.

    Nắng như đổ lửa lên đá.

    Xác bác tôi phơi quỳ trong cái nắng tháng Ba đổ lửa như vậy.

    Tôi nhìn vào cái dáng quỳ bất động của bác thấy như bác đang rất mỏi.

    Tôi cứ muốn với tay sửa lại nhưng rồi lại thôi.

    Cho tới ba ngày sau, chịu đựng hết nổi, khi ít nghe tiếng lùng sục của chúng, tôi liều gan lật bác lại sửa xác bác cho ngay ngắn.

    Nhưng cô hình dung thử coi, người chết ba ngày, tay chân bác tôi đã đơ cứng với dáng quỳ chổng khu trên đất.

    Tôi kéo mấy lần nhưng tay chân vẫn đơ cứng, nắm tới đâu da bị tuột tới đó...

    Ba tôi nói: "Thôi con, đừng sửa nữa, tụi nó trở lại thấy mất dấu lại tìm kiếm kỹ là chết hết".

    Tôi buộc phải để bác trở về vị trí quỳ mọp như lúc bác bị giết.

    Chúng tôi vẫn ở bên khe đá.

    Đói thì moi củ ráng bay mọc trong khe đá để ăn.

    Hoặc có khi hái lá xây rừng để ăn.

    Lá đó vị chát chát chua chua.

    Ăn xong mười ngày, lúc xuống núi, tôi đi không nổi.

    Chị tôi khát quá.

    Em tôi đái bao nhiêu chị tôi uống hết bấy nhiêu.

    Uống nước đái riết thở cũng chảy máu cam.

    Không chịu được cảnh đó, tôi lần theo rừng le trụi lá tìm nước.

    Tôi không dám đi mà chỉ dám lết trên đá lần dò tìm chỗ có nước.

    Bọn Pol Pot có thể xuất hiện bất cứ lối mòn nào.

    Lu hũ chum vại có thể chứa nước được đều đã bị đập.

    Nước hiếm hoi như mạng sống của chúng tôi lúc này.

    Nhưng chúng tôi phải tìm nước.

    Không có nước, cái chết vì khát nó đáng sợ không thua gì cái chết bị giết.

    Tụi nó đập hết chum vại hay bất cứ thứ gì có thể trữ nước mưa.

    Ngay cả một mảnh lu bể chúng cũng đập.

    Chúng hi vọng chúng tôi không còn chỗ để sống sót.

    Tôi đi tìm nước, lết mải miết theo sườn đồi.

    Trong một lần tìm nước tôi đã đụng đầu với bốn tên Pol Pot.

    Lúc đó tôi đang đứng bên một bụi le mới lún phún vài chồi non.

    Còn bốn tên đó đi trên con đường trước mặt.

    Hai tên trước khiêng cuốc con gà, hai thằng sau khiêng cái bao bố.

    Chúng cúi đầu đi xuống núi, chỉ cần chúng ngước mắt lên là đã nhìn thấy tôi.

    Tôi nín thở đứng im nghĩ bụng, chắc là chết.

    Nhưng nó đã không trông thấy dù tôi chỉ đứng cách đó vài bước chân.

    Ba tôi lúc đó ở trên cao cũng nhìn thấy.

    Ông nghĩ thầm chuyến này chết thằng Long con tôi rồi.

    Tôi cũng không biết vì sao mình sống sót được.

    Cũng như tôi cũng không hiểu sao mình chỉ cách bà bác có một bước chân mà bả bị bắn chết còn tôi sống sót.

    Cái chết thật dễ.

    Bữa mà bộ đội vô đánh giải tỏa, ba cha con nằm trên tảng đá, xung quanh có vài xác người chết.

    Tôi nghe hơi xe tăng chạy qua.

    Ba tôi nói giờ con ráng niệm Phật đi, vái bộ đội về giải tỏa.

    Tôi nhìn thấy xe tăng từ núi Phú Cường, mười hai chiếc chạy qua.

    Nhìn lên phía vách núi trên cao, tôi thấy một ông nằm mở sơ đồ.

    Tôi nói "ba ơi ba, ai ở trên cây kìa."

    Ở trển người đó dòm xuống, thấy chúng tôi ông nhảy xuống ôm từng người.

    Người đó nói "Chú ráng đi.

    Bữa nay giải tỏa."

    Người đó là trinh sát.

    Anh thấy tụi Pol Pot đi lại nhưng không bắn.

    Rồi hai bên đánh nhau.

    Đạn bay chéo xịt, chéo xịt ngay trước mặt tôi.

    Một trái B40 bắn ngay miệng hang chỗ tôi trốn.

    Nó quay vòng vòng rồi xịt khói.

    Trưa hôm đó bộ đội cầm cờ kêu "bộ đội giải tỏa rồi, bà con trên núi ai còn sống hãy về nhà".

    Chúng tôi mừng rỡ xuống núi.

    Nhưng khi xuống, có ai đâu cô.

    Chỉ có ba cha con tôi và chị Tư Chỉnh...

    Chết hết rồi.

    Cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân vũ trang Tây Ninh hành quân chiến đấu chống Pol Pot

    ẢNH DO BỘ CHỈ HUY BIÊN PHÒNG TÂY NINH CUNG CẤP (BÁO TÂY NINH)

    Lúc giải tỏa đi xuống, tôi nhìn thấy hai bên đường tiền rải lưỡng biên.

    Mớ còn nguyên, mớ bị tụi nó xé.

    Tôi cứ đi ngang qua tiền bạc.

    Chẳng còn ham gì nữa.

    Người tôi mặc ba cái quần ba cái áo nhưng khi xuống nước chỉ còn phần trước, phần sau đã trần trụi do mười ngày tôi chỉ di chuyển bằng cách bò lết.

    Lúc xuống núi, tôi gặp một người phụ nữ mập mạp đeo vàng nhiều lắm nằm chết bên đường.

    Tôi nói với ba, "mẹ kìa ba".

    Ba tôi bước tới gần nói không phải, mẹ tôi cụt một ngón trỏ.

    Tôi thấy vàng nhiều quá nên buột miệng nói "vàng kìa ba".

    Ba nói "thôi đừng lấy vàng của người ta con ơi".

    Chắc có lẽ ba tôi nhìn thấy dáng bà ấy rồi liên tưởng tới mẹ tôi.

    Mẹ cũng mập mạp như vậy, cũng đeo nhiều vàng như vậy.

    Lúc đó mẹ đang mang bầu em tôi.

    Có lẽ ba tôi không còn tâm trí nghĩ tới vàng bạc nữa.

    Vợ con gần chục người sống chết thế nào còn chưa biết.

    Mà thật ra thì chết hết rồi, trong đó có đứa em chưa lọt lòng mẹ của tôi.

    Làng xóm tiêu điều hết cô ơi.

    Nhà bị đốt rụi hết mà.

    Không có đường sá gì nữa.

    Chỉ có tro tàn, xác người nằm ngổn ngang nối tiếp như vậy.

    Tội nghiệp con nít quá, không đứa nào chịu nổi.

    Anh Út Nam hai vợ chồng còn sống mà con ảnh chết.

    Tự ảnh bóp con mình.

    Trong hang còn sống mấy chục người mà mấy đứa nhỏ đói khóc quá.

    Lúc đó tụi Pol Pot đang tới gần.

    Ảnh bụm miệng con ảnh tới lúc nó chết.

    Em tôi còn trong bụng má tôi cũng đã chết theo má...

    Xóm làng tang thương.

    May mà lúc hồi cư có mấy anh bộ đội.

    Chúng tôi ở quây quần chỗ mấy anh đóng quân.

    Che chòi kê giường nhưng khi ngủ ai cũng chui xuống gầm giường ngủ.

    Ngày nào tụi nó cũng pháo qua mấy trận.

    Có khi tụi nó cũng tràn vô nhưng bị bộ đội đánh dạt ra.

    Những ngày xuống núi tôi gặp nước, đứng cầm ca uống hoài.

    Nhờ mấy chú bộ đội cản.

    Cháu đừng uống nhiều, nguy hiểm lắm.

    Rồi lúc xuống Lương Phi thấy nhà anh Nguyện ăn cơm, đói quá tôi ăn một bữa, ăn xong chuyển đi nhà thương Lương Phi.

    Bác sĩ nói thôi đừng ăn nhiều quá, ăn quá bao tử giãn đau chết à.

    Tôi thật sự thấy mình may mắn vì đã ba lần được tử thần tha mạng.

    Có lẽ những người nhà tôi đã phù hộ cho chúng tôi.

    Như bác gái tôi nằm đó đã phù hộ cho chúng tôi.

    Sự sống của chúng tôi đổi bằng mười ngày bác tôi chết quỳ.

    Mười ngày phơi xác dưới nắng.

    Mạng sống của nhóm người chúng tôi được đổi bằng mười ngày bác chết quỳ dưới cái nắng tháng Ba.

    Quỳ từ khi còn sống cho tới lúc chết.

    Quỳ từ khi thịt da còn đầy đặn cho tới khi bị nắng đốt cháy da.

    Quỳ cho tới lúc từng xớ thịt rã ra, mùi bốc lên và dòi lúc nhúc sinh sôi.

    Chúng tôi sống bên cạnh xác quỳ của bác.

    Mười ngày sống bên cạnh xác chết của bác gái, tôi đọng trong đầu mình cho tới bốn mươi năm.

    Mà có lẽ tới ngày nhắm mắt, tôi cũng nhớ như in cái xác quỳ phơi dưới nắng của bác gái tôi.

    Ờ, không dễ gì quên đâu cô.

    Sau những ngày đói khát, sau những ngày về từ cái chết, chúng tôi gặp nhau, hoàn hồn, chợt nhớ má, nhớ nội, nhớ những người thân đã chết, mới khóc.

    Má tôi lúc đó đang mang thai.

    Em tôi chưa kịp chào đời đã chết chung với má...

    Buồn vô kể.

    Mà khi yên bình rồi mới thấy buồn, mới thấy nhớ từng người.

    Ai cũng thất thơ thất thểu.

    Ba tôi thấy vậy cưới vợ sớm cho tôi.

    Nhà có thêm người, như thấy yên tâm hơn.

    Rồi sanh con đẻ cái.

    Chúng tôi vẫn ở đây cho tới bây giờ.

    Không quên đâu cô.

    Sợ gì bây giờ?

    Thù gì bây giờ.

    Chắc đánh qua đánh lại họ cũng chết hết rồi.

    Họ cũng bỏ xác xứ người.

    Bỏ đầy đồng bên xứ mình đó chớ.

    Mình cũng cho người chôn một mớ.

    Nhưng không xuể.

    Như chỗ đất tôi có ba xác mấy thằng Pol Pot.

    Để vậy thôi, chó tha riết rồi cũng đâu mất tiêu.

    Lúc đó lo no, lo đói cũng không nghĩ gì nhiều.

    Ừ thì trồng tỉa bên cạnh những đống thây người.

    Tại cô lâu lâu nhìn một lần cô thấy sợ.

    Như tôi nhìn riết rồi cũng quen.

    Như những bộ xương trong nhà mồ vậy, có gì lạ nữa đâu cô.

    (Còn tiêp)
     
    Về Từ Hành Tinh Ký Ức.
    CÓ AI CÒN SỐNG KHÔNG?.


    Tôi nằm im giữa những xác người...

    Anh em tôi, má tôi đang nằm ở đâu trong những đống xác người xung quanh, tôi cũng không còn nghĩ tới.

    Tôi chỉ biết chết.

    Chỉ có chết mới có thể sống được lúc này.

    Theo lời kể của cô Tư Chỉnh, ở Ba Chúc, Huyện Tri Tôn, Tỉnh An Giang - nạn nhân của cuộc diệt chủng Ba Chúc.

    Tôi vẫn nghĩ sao mọi người lại làm như vậy.

    Ví như chúng tôi đừng đi theo tụi nó.

    Chúng không giết người tại xóm hay tại những hang núi.

    Ở những nơi đó chỉ cần giết vài người, số còn lại đã len lỏi và trốn được.

    Không nấp chỗ này cũng nấp chỗ kia, cơ may sống sẽ rất cao.

    Chúng biết nên chúng không giết tại những nơi nhiều nhà cửa cây cối mà chúng lùa dân ra đồng trống.

    Ở đó chỉ cần hai, ba người cầm súng là chúng có thể khống chế hàng trăm người.

    Chạy đường nào cũng trống và cũng bị bắn.

    Thật ra nếu sáng ý một chút sẽ nhận ra hai cây súng không đủ bắn hết chúng tôi.

    Nhưng trong đầu chúng tôi, những họng súng đó có thể tuôn đạn không bao giờ hết.

    Những người chưa từng cầm súng như chúng tôi nghĩ như vậy.

    Mà cho dù súng có thể nổ hàng ngàn viên đạn thì cũng có thể ùn lên một lượt chạy tản lạc hoặc sáp lá cà, ai sống thì sống, ai chết thì chết chắc không mấy người bị giết.

    Nhưng trong đầu chúng tôi hoàn toàn không có ý muốn giết chúng.

    Những họng súng làm chúng tôi cảm giác mình đã chết.

    Chỉ còn mong chúng nó không giết mình.

    Mà cũng do chúng tôi không nghĩ mình sẽ chết kiểu vậy.

    Vì phía dân mình đông lắm.

    Đông khủng khiếp.

    Đông tới mức mình không cảm thấy sợ dẫu trước mặt là thú dữ.

    Chúng tôi cảm thấy như mình có thể trốn được giữa đám đông.

    Vài tên lính không đủ sức làm chúng tôi sợ hãi.

    Chúng tôi bảo nhau đừng vội vàng, đừng làm liều mà cứ bình tâm đứng đó chờ đợi.

    Từng người một đứng đó chờ tới lượt mình.

    Tôi nhiều khi nhớ lại sao giống cảnh người ta cắt đầu cá.

    Từng con cá lội nhởn nhơ chờ tới lượt mình.

    Nhưng những con cá không biết gì hết, còn tôi thì biết sắp tới lượt mình bị đập đầu.

    Không cô ạ, chỗ núi hang không lớn nên ở lì cũng không được.

    Thật ra nó chỉ là kiểu mấy tảng đá lớn chồng chéo qua lại thành một cái hốc chớ chẳng phải hang gì đâu.

    Dạ, đúng rồi, mấy mươi người ngồi nhum nhum trong đó để tránh pháo.

    Nó mà quăng lựu đạn một trái là chết sạch.

    Mà dẫu không chết hết nhưng nghĩ tới lựu đạn đã sợ nên ai cũng chui ra.

    Không có cây cối gì quanh đó đâu cô.

    Núi Tượng mùa hạn cây cỏ còi cọc xác xơ.

    Năm nào cũng vậy, hễ Thanh minh, người ta đi cúng, quét dọn mồ mả, đốt vàng mã, đốt rác thế nào cũng cháy lan cả núi.

    Năm nào nó cũng cháy một lần.

    Bữa đó tháng Ba cuối hạn nên cả núi khô khốc.

    Cây trụi lá, chỉ còn thân và nhánh.

    Hôm trước đó có vài trận mưa nhỏ, le mọc lún phún nhưng chẳng che chắn được gì.

    Hễ tụi nó tràn vô lùng sục một hồi là thấy hết.

    Vậy chớ chỗ núi cũng dễ trốn hơn chỗ đồng bằng.

    Quang gánh thức ăn các thứ đã chuẩn bị sẵn hết.

    Chúng tôi lại không đi xa.

    Khi chúng tràn vô chúng tôi không thấy có gì là nghiêm trọng.

    Vài người trong nhóm nghe được tiếng Khmer dịch lại nói họ kêu đi theo xuống núi Nước, có ông lớn giải quyết, đừng mang theo gì hết.

    Ngay lúc đó chú Tư Dul hô một tiếng.

    - Chạy mấy con ơi.

    Chú và hai đứa con của chú chạy cùng với một số người khác.

    Chúng không bắn kịp.

    Ba tôi nói thôi đừng chạy, theo họ coi ông lớn giải quyết sao.

    Ba tôi không chạy vì nội tôi già yếu lắm.

    Ba chạy sẽ phải bỏ nội.

    Mà hồi xưa tới giờ đất Ba Chúc cũng đánh đấm ầm ì.

    Thì cũng có đạn lạc.

    Thì cũng có bắn nhau và bắn nhầm dân.

    Nhưng bên nào cũng muốn giành dân hết.

    Không có dân lấy ai nuôi cơm nuôi áo.

    Chỉ có vài người dân, thân bên này bị bên kia giết.

    Chớ ở đây chưa từng có một bên nào chiếm đất và lùa hết dân đi giết cả.

    Chưa từng.

    Chúng lùa chúng tôi đi thành hàng từ núi Tượng xuống núi Nước.

    Tất cả quang gánh đồ đạc đều để lại núi và đều bị chúng lấy sạch sau đó.

    Hàng trăm người cứ đi mà không biết đi đâu và sẽ làm gì.

    Bên một cái đìa chỗ giồng Ông Tướng gần núi Nước chúng bàn tán nhau bằng tiếng Khmer.

    Chúng tôi đứng đó hoàn toàn không nghĩ chúng đang bàn cách giết người sao cho gọn gàng và không có người chạy trốn.

    Núi Nước chỉ vài ba hòn đá lớn.

    Không có một bóng cây nào hết.

    Chúng chia chúng tôi thành từng nhóm, trai theo trai, gái theo gái, già theo già, trẻ theo trẻ.

    Chúng dùng áo và áo ngực để trói từng người.

    Đứng từ xa, chúng tôi thấy chúng đập đầu nhóm thanh niên trước.

    Đập từng người một, hết người này tới người khác, rất nhanh và rất dứt khoát.

    Nếu ai còn giãy giụa chúng bồi thêm bằng những phát súng hoặc đập bằng cây.

    Nhưng thường thì chúng không bắn mà chỉ đập đầu.

    Đập đến khi nào chết hẳn thì thôi.

    Sự việc diễn ra gọn gàng tới mức những chàng trai gân guốc mạnh khỏe cũng trở nên ngoan ngoãn như những cái trứng.

    Bốp, bốp, bốp...

    Vậy là xong một nhóm.

    Những người mạnh khỏe, nóng vội, có thể phản kháng, có thể bỏ chạy đã bị giết ngay tốp đầu một cách dễ dàng.

    Nhóm còn lại là phụ nữ, trẻ con và người già thì coi như không hề có ý định chống trả nên chúng giết sau.

    Qua nhóm nữ, tôi là người bị đập đầu tiên.

    Có lẽ do tôi là người khỏe mạnh có sức vóc hơn cả.

    Chúng dùng khúc lõi tràm đập từ trên xuống đỉnh đầu tôi.

    Tôi nghe bung một tiếng, máu tràn xuống mặt.

    Khi tôi ngã xuống, chúng đập thêm một nhát nữa vào trán.

    Tôi chỉ còn kịp nghe tiếng má tôi:

    - Chết con tôi rồi!.

    Tôi không còn biết gì nữa hết.

    Lần đầu tiên tôi chết.

    Tôi không biết mình chết bao lâu.

    Tôi không thấy cảnh chúng đập đầu má và anh em tôi.

    Khi tỉnh dậy trời còn sáng.

    Nửa người dưới của tôi ngập trong nước, nửa người trên gác lên bệ đá.

    Máu của tôi, máu của những người khác tràn khắp người khắp mặt tôi.

    Xung quanh chồng chất những xác người.

    Lúc đó dưới chân tôi có một đứa trẻ mở mắt nhìn tôi, nó hỏi:

    - Má con đâu rồi?.

    Tôi nói nhỏ:

    - Thôi đừng có nói, coi chừng tụi nó còn ở đây.

    Đó là đứa nhỏ mới tám, chín tuổi.

    Tôi nằm im giữa những xác người.

    Lúc đó tôi không nghĩ gì hết.

    Anh em tôi, má tôi đang nằm ở đâu trong những đống xác người xung quanh, tôi cũng không còn nghĩ tới.

    Tôi chỉ biết chết.

    Chỉ có chết mới có thể sống được lúc này.

    Tôi nằm chết như vậy thật lâu.

    Khi mọi thứ im ắng hết và trời đã tối hẳn, tôi mới có ý định bò dậy.

    Lúc này vết thương trên đầu đã chảy máu bết vào tóc, nhầy nhụa.

    Sao lúc đó không chảy đến kiệt máu tôi cũng không biết nữa.

    Máu chảy đã đời tự nó khô lại.

    Máu dính vô tóc cũng khô lại.

    Tóc tôi như tóc bà đanh.

    Tôi bò dậy hỏi nhỏ:

    - Ai vậy?.

    Ai còn sống thở dưới chân tôi vậy?.

    - Tôi nè.

    Năm Phước nè.

    Ai vậy?.

    - Con!

    Tư Chỉnh.

    - Có ai còn sống không?.

    Lúc đó có một người nữa là chị Nhòng cũng lên tiếng.

    Cô Năm mới đi lật kiếm từng đứa con.

    Tụi nó chết hết rồi.

    Cô cũng như tôi không khóc một chút nào hết.

    Chết hết rồi.

    Chúng tôi xác nhận được duy nhất điều đó rồi dắt díu nhau đi về phía núi Tượng.

    Lúc đi, tôi hoàn toàn không nhớ con bé còn sống hỏi má con đâu rồi.

    Hai mươi năm sau tôi vẫn nhớ câu hỏi má con đâu rồi của nó.

    Chắc là họ đã chết đâu đó.

    Bản thân nó có sống được hay không sau khi chúng tôi bỏ đi.

    Có khi nó sống, lại lang thang và bị giết lần nữa.

    Có khi nó sống được cho tới ngày giải tỏa nhưng tôi chưa bao giờ gặp lại nó.

    Má nó đâu?

    Chết hết rồi chớ đâu nữa.

    Tôi hối hận là mình đã không nhớ tới nó.

    Lúc đó tôi không nhớ gì hết.

    Cái chết có thể đến lần nữa, nó lớn hơn mọi thứ xung quanh, lớn hơn cả vết thương khủng khiếp trên đầu có thể giết tôi hoặc khiến tôi quên luôn chính mình bất cứ lúc nào.

    Tôi chỉ biết mình nên thoát khỏi chỗ này.

    Chúng tôi đi về núi Tượng quen thuộc của tôi, nó có nhiều hang hốc hơn.

    Hi vọng có thể trốn được tụi nó.

    Lúc ở núi Tượng nhiều ngày, vết thương trên đầu và trên trán khô dần.

    Ruồi nghe mùi máu thối bay vèo vèo, đáp vô vết thương kiếm ăn, đẻ trứng.

    Tôi lấy áo quấn kín đầu để tránh ruồi.

    Trên núi Tượng chúng tôi thật sự cũng không biết mình có sống được hay không.

    Vì quanh đó, nấp trong khe đá, chúng tôi nghe tiếng của chúng dắt chó đi lục lạo.

    Trốn người thì dễ chớ trốn những cái mũi thính của đám chó bẹc giê thì thật không dễ.

    Nhiều người trốn trong hang đã bị phát hiện, bị giết sau một thời gian lẩn trốn.

    Tôi không hề tin là mình có thể sống được.

    Có lần tôi đụng mặt một nhóm tụi nó tám thằng.

    Con chó đi trước.

    Con chó đã nhìn thấy tôi.

    Mắt nó dòm ngầu ngầu vầy nè.

    May mắn là tôi thấy nó trước.

    Tôi nằm quẹo một bên giả chết.

    Tôi nghĩ chắc mình không may mắn lần nữa.

    Tôi biết là mình không thể đánh lừa được con chó.

    Nó đã được huấn luyện để phân biệt người sống và người chết.

    Nó dễ dàng nhận ra sự sống trong con người nằm bất động của tôi.

    Nhưng không hiểu sao nó không sủa.

    Chắc mùi hôi thúi của vết thương trên đầu tôi đã đánh lừa được nó.

    Chắc trong tôi lúc đó mùi của xác chết nhiều tới mức nó đánh tan mùi của sự sống.

    Mà cũng có thể do lùng sục và ngửi nhiều mùi xác chết, những cái mũi thính của con chó đã bị mệt, không còn khôn lanh nữa nên nó không phản ứng gì.

    Bảy, tám thằng Pol Pot đi sau, nó cầm súng, cổ quấn khăn.

    Mấy tên Pol Pot cũng nhìn thấy tôi.

    Nhưng có lẽ mặt mày tôi đầy máu, vết thương trên đầu trên trán bắt đầu bầm tím sưng vù cả mặt, màu da tôi khét nắng đen thui nên chúng nghĩ tôi đã chết.

    Cũng có thể chúng tin theo mấy con chó.

    Cả người và chó đều nhìn tôi một lúc rồi bỏ đi.

    Cô Năm Phước trốn ở gần đó chui ra nói ở đây không được rồi.

    Bả chun vô bụi le nằm im ru, tôi kiếm cái lùm cũng chui vô đó nằm.

    Chúng tôi chẳng thể di chuyển nhiều.

    Ba ngày không một giọt nước.

    Nằm im ở đó tôi nghe tiếng tụi nó nói chuyện dậy núi, nghe tiếng đập đầu người của chúng lúc xa lúc gần.

    Có khi bên sườn núi, có khi từng cánh đồng dưới chân núi vọng lại.

    Tiếng đập đầu người dường như trở thành âm thanh quen thuộc và nhiều nhất giữa không gian tĩnh mịch.

    Nó không còn đáng sợ nữa.

    Nghe quen như tiếng chặt củi của má tôi.

    Mà lúc đó tôi cũng không thấy nhớ má, không nghĩ tới ai hết.

    Lúc đó chẳng có suy nghĩ gì nhiều.

    Cứ vất vưởng trong những khe đá quen với cái đói, cái khát.

    Trong những ngày lang thang ẩn trốn tôi nhìn thấy xác những đứa trẻ chỉ còn cái bộng ngực.

    Khi chúng bị xé hai, ruột gan tuôn ra ngoài dòi đã ăn sạch.

    Chỉ còn cái bộng ngực bao một lớp da khô.

    Những cái chết đủ kiểu nằm khắp trên những nơi tôi đi qua.

    Tôi lần mò kiếm nước uống.

    Thức ăn thì không trông mong gì rồi.

    Nhưng chúng tôi không hi vọng có thể rời khỏi núi Tượng ngay lúc này.

    Chị Nhòng nôn nóng muốn đi về hướng Tri Tôn.

    Chúng tôi bàn, nói tụi nó còn đầy dưới chân núi và cả trên núi, đi là chết.

    Lúc đó chúng tôi còn chưa biết chúng đã đóng quân chặn ngang chỗ cánh đồng Lương Phi, lối về Tri Tôn.

    Chị Nhòng cãi chúng tôi rồi bỏ đi một mình.

    Khi nhìn thấy mất dấu chị, chúng tôi biết là chị đã trốn đi rồi.

    Chỉ vài phút sau, nghe tiếng súng nổ bụp dưới lối mòn cách đó chừng vài chục thước, chúng tôi biết là chị đã bị bắn.

    Nếu đi cùng có lẽ tất cả chúng tôi đều đã chết.

    Thì chúng tôi cũng tìm cách đi đâu đó.

    Tôi nói "hay mình lên Hoàng Sa Lãnh Thượng".

    Chỗ đó tôi có lên rồi.

    Nghĩ là ở đó xa, tụi nó không lên.

    Nhưng lần dò trong đêm nên đi lẩn quẩn hoài mà tụi tôi cũng không biết lối nào về hướng Hoàng Sa Lãnh Thượng.

    Đói quá, có lượm mấy trái xoài rụng ăn rồi lại đi.

    Đang đi, tự nhiên nhận ra trời sắp sáng, chúng tôi hết biết gì luôn.

    Đang luýnh quýnh kiếm đường trốn thì thấy một thằng Pol Pot đứng ở vách núi phía trên cao.

    Nó phang cái cây xuống.

    Tôi với cô Năm vội vàng kiếm chỗ trốn.

    Chỗ đó chỉ có cục đá bự, nứt đôi như chiếc xuồng, một người chun vô thì được, hai người sẽ lộ.

    Cô Năm chui vô đó nằm.

    Tôi đứng ngoài quýnh quáng hết biết làm gì, tưởng ngày đó mình thế nào cũng chết.

    Tôi đứng nép bên một tảng đá có nhánh chùm gởi rồi im ru niệm Phật, giao mọi an nguy của số phận cho phật trời chớ không còn biết làm gì nữa...

    Nhánh cây che được một phần phía trên của tôi.

    Một lúc sau tụi nó đi lên.

    Tụi nó đi kiếm người để giết.

    Nhưng có lẽ mệt quá nên kiếm không kỹ, bởi vì lúc này đã là ngày thứ tám rồi.

    Chớ ngày thường tụi nó lục lạo dữ lắm.

    Nếu tụi nó kiếm như ngày thường thì tôi khó thoát.

    Chỗ tôi đứng nhánh cây chỉ che tạm bợ phần mặt, phần ngực, từ khúc hai chân trở xuống không có gì che chắn cả.

    Rồi tụi nó cũng xuống núi.

    Tôi với cô Năm trốn cho tới khi tối lại tiếp tục đi vòng vòng kiếm đường ra.

    Đêm đó trời có trăng mờ mờ.

    Chúng tôi đi mãi tới mộ ông nội tôi.

    Tôi nói với cô Năm:

    - Mộ ông nội kìa cô Năm.

    Chúng tôi nằm bên mộ ông nội ngủ.

    Sáng 10 giờ, tụi tôi nghe bắn nhau, nghe tiếng máy bay bay ù ù trên đầu.

    Tôi với cô Năm đi lên một chút thấy có cái hang kín và sâu.

    Cô Năm nói:

    - Chỉnh, Chỉnh mày chun xuống dưới trước đi.

    Tôi xuống đó gặp gạo, nước thấy vững bụng, thấy cơ may sống nhiều hơn rồi.

    Phía ngoài bắn nhau dữ lắm, tiếng đạn dội lên đá chát chát.

    Trưa đó nghe tiếng người la lớn:

    - Bộ đội giải tỏa rồi, bà con ai còn sống về đi.

    Sợ tụi nó giả mạo, tôi với cô Năm cứ tìm lùm cây trốn miết.

    Xế trưa, tiếng gọi ngày càng nhiều.

    Tôi nghe có những tiếng quen quen mới bò ra gặp mọi người rồi lần về nhà.

    Mười ngày chúng tôi sống lặng lẽ, không ăn và cũng không nói chuyện gì cả.

    Nước thì có vài ba bữa được uống một lần, số còn lại nhịn khát.

    Tôi theo đoàn người về xóm của mình.

    Chẳng còn biết đâu là xóm mình nữa, nhà cửa cháy rụi hết rồi, xác người nằm la liệt.

    Trên đường đi qua chỗ cây dầu giữa đường tôi thấy những xác người phụ nữ trần truồng phơi trên đường.

    Xác họ đã trương sình, nằm dang hai chân ra.

    Và phần giữa hai chân, còn y những cây tầm vông sốc thẳng từ cửa mình lên bụng...

    Lúc đó tôi không sợ gì nhiều.

    Những kiểu chết mà tôi từng chứng kiến cũng đủ nhiều, quen rồi.

    Nhưng sau này, khi hồi tưởng lại, tôi nghe cơn ớn lạnh chạy khắp người.

    Sao có những nhóm người may mắn bị đập đầu gọn như nhóm ở núi Nước.

    Sao lại có những nhóm người bị giết kiểu lột đồ sốc cây dài vào cửa mình cho tới chết?

    Phải chăng là do những nhóm người khác nhau nên cái ác cũng khác nhau?

    Hay do những đợt đầu người đông quá, đập đầu cho nhanh nhất và khỏe nhất.

    Chừng giết gần hết rồi, đập đầu chán chê rồi nên bắt được người nào, chúng nhẩn nha hành hạ bằng những cách công phu hơn.

    Tôi lúc đó mười tám, nếu bị giết kiểu sóc tầm vông vào cửa mình chắc chắn không còn đường sống.

    Mà nếu còn sống, chắc chắn không thể nào ngồi đây kể lại được cho cô nghe đủ chuyện.

    Trong cái rủi người thân bị giết hết vẫn còn cái may là không bị điên khi sống lại.

    May nhất không phải là lần thoát chết đầu tiên mà là trong những ngày còn ít người sống, bị lùng sục không còn một gốc cây ngọn cỏ nào mà vẫn thoát.

    Chớ nếu bị bắt muộn không biết tôi chết kiểu nào.

    Mười ngày đó cô.

    Đói khát mười ngày nghĩa lí gì.

    Cô coi máu chảy cạn rồi khô vẫn sống.

    Cô coi, dòi đục vết thương bấy nhậy vẫn sống.

    Mà hồi đợt đó ai bị thương cũng cầm cự suốt mười ngày, chừng được điều trị thì vết thương nào cũng bị dòi ăn luồn vô tới xương.

    Cũng chẳng nhớ nó đau nhức như thế nào.

    Chỉ còn nhớ tính toán coi mình trốn kiểu gì để tránh bị bắt lần nữa.

    Dạ, cũng chẳng thấy nhớ thương buồn tủi gì hết.

    Cứ trốn rồi trốn.

    Hết những chỗ cheo leo rồi tới những vườn xoài dưới chân núi.

    Phải, là mười ngày, sau khi bộ đội giải tỏa Ba Chúc, chúng tôi mới gặp nhau.

    Chúng tôi cùng thoát chết, cùng trốn chung trên núi Tượng, chỉ cách nhau chừng trăm thước nhưng không ai gặp ai.

    Trốn mà, sao gặp được.

    Mà nếu tụm lại chắc dễ bị phát hiện hơn, chắc bị giết sạch lần nữa rồi.

    Lúc về tới xóm, gặp cậu Hai tôi và Tư Long, nó hỏi tôi.

    - Má em đâu rồi chị Tư?.

    Lúc đó tôi mới nhớ tới những thây người chồng chất lên nhau chỗ núi Nước.

    Trong đó có ba má tôi, sáu chị em tôi.

    Có cả má Tư Long, chị em Tư Long.

    Tôi nói nhẹ một câu:

    - Chết hết rồi!.

    Lúc đó tôi và mọi người mới òa khóc.

    Rồi cơn đau từ thể xác lẫn tinh thần mới ào về.

    Chết hết rồi.

    Tôi bị mất tất cả người thân đã mười ngày, nhưng đến hôm nay tôi mới nhớ tới điều đó.

    Nội, ba má, sáu anh chị em đã chết hết trong một ngày.

    Tất cả đều bị giết.

    Mười ngày không ai làm đám tang, không có mồ mả nên cũng không mở cửa mả, không làm thất, không cúng cơm mỗi ngày.

    Khi về lại với bình yên, tôi mới nhận ra được trên mảnh đất quen thuộc nơi cả nhà tôi từng quây quần, từng yêu thương nhau, giờ chỉ còn mình tôi.

    Tôi lại nhớ cảnh ba tôi lúc đó không dám bỏ chạy vì nội già yếu.

    Rồi tất cả đều bị đập đầu.

    Tôi chỉ còn biết ngồi khóc.

    Tôi mất tất cả người thân đã mười ngày rồi.

    Nhưng không sao.

    Trên chặng đường đó tôi cũng đã đi qua cửa chết.

    Tôi về từ địa ngục hay từ một thế giới khác.

    Nên những mất mát như lùi về một xứ sở nào đó rất xa, tôi vẫn chịu được.

    (còn tiếp)
     
    Về Từ Hành Tinh Ký Ức.
    NHỮNG CÁI CHẾT 2 LẦN.


    Còn xác người?

    Phải đốt khá nhiều xác người bị giết ở chùa Phi Lai đó cô.

    Không ai muốn đốt xác người cả.

    Chúng tôi là những người có đạo nên tôn thờ từng sợi tóc của người quá cố mà.

    Theo lời kể của cô Tư Chỉnh, ở Ba Chúc, H.Tri Tôn, Tỉnh An Giang - nạn nhân của cuộc diệt chủng Ba Chúc.

    Vết thương ở đầu, ở trán tôi bắt đầu hành.

    Lúc về nhà, Tư Long lấy xà bông bột quậy cho lên bọt gội đầu, rửa chỗ máu khô dính đầy tóc tôi.

    Máu khô bầm bầm trộn trong bọt xà bông...

    Rửa vết thương bể sọ bằng xà bông bột, nhớ tới tôi thấy sợ, chớ không hiểu sao vẫn sống được.

    Những xác người bị quân Polpot giết hại nằm trên cánh đồng Ba Chúc : Ảnh tư liệu

    Còn xác người?

    Phải đốt khá nhiều xác người bị giết ở chùa Phi Lai đó cô.

    Không ai muốn đốt xác người cả.

    Chúng tôi là những người có đạo nên tôn thờ từng sợi tóc của người quá cố mà.

    Nhà chúng tôi thờ từ ông bà cha mẹ tổ tiên đất nước đến thần phật đất trời, tất cả mười một cái bàn thờ.

    Theo đức Bổn Sư, chúng tin tưởng trên đầu mình có trời phật, những đấng thiêng liêng cao cả.

    Họ luôn chứng kiến từng hành động của mình.

    Mỗi người chết đều được làm ma chay cẩn thận, có mở cửa mả cúng kiếng bảy kỳ thất rất kỹ lưỡng.

    Trong suốt bảy kỳ thất cho tới khi xả tang, mỗi ngày đều có cúng cơm trên bàn thờ.

    Như má chồng tôi, khi ba chồng tôi bị chết cùng với ba, bốn chục người do trái pháo rớt ngay chùa thì mọi người đi tản cư hết, chỉ có má chồng tôi vẫn ở nhà cúng cơm và làm thất cho ba chồng tôi.

    Chính vì ở lại làm thất mà má chồng tôi bị lùa đi suýt chút nữa là bị giết.

    Với má chồng tôi lúc đó an nguy của bà không quan trọng bằng những nghĩa cử đối với người chồng đã qua đời.

    Người chết họ cũng cần phải ăn, cũng cần phải sống, cũng cần nhà ở đẹp đẽ, thậm chí cũng có nhu cầu được giải trí vui chơi như người sống.

    Chúng tôi chăm lo cho đời sống người chết còn kỹ hơn chăm cho người sống.

    Vì chúng tôi đã mất họ rồi, quá thương tiếc rồi, cũng là vì chúng tôi biết, khi chết rồi, họ không còn làm được gì cho họ cả.

    Chỉ có mình, người đang sống mới có thể giúp được họ.

    Vậy mà mọi thứ đảo lộn hết.

    Đốt xác người.

    Biết làm sao.

    Cuộc sống dường như chẳng có gì còn lưu giữ được.

    Làng xóm trở thành một đống rác khổng lồ, tưởng như cả trái đất này đều là xác người chồng lên lên xác người.

    Hôi không sống được.

    Cô nghĩ coi, ngày thường chỉ một xác người bị ương sình đã dậy mùi hàng nửa cây số.

    Đằng này hàng ngàn xác người nằm chất đống lên nhau, cùng dậy mùi một lúc.

    Chỗ chùa, thịt da người chết bị phân hủy, dòi tửa nó ruồng rút lầy lụa tràn ra nền chùa như bùn non, dày lên một lớp sâu gần cả gang tay.

    Những con dòi no mồi nó lớn nhanh không ngừng.

    Lần đầu tiên tôi nhìn thấy những con dòi to như vậy, bằng ngón tay người lớn, lúc nhúc vặn vẹo.

    Mùi hôi đầy cả bầu trời.

    Ai cũng cảm giác người mình lúc nào cũng nồng mùi hôi nên đi tắm thay áo nhiều lần.

    Nhưng thay xong, ngửi áo quần vẫn nghe hôi.

    Ngửi bàn tay lúc nào cũng hôi tưởng như bản thân vừa bưng bợ những xác chết.

    Kì thật bàn tay rất sạch rồi, áo quần rất sạch rồi.

    Nhưng do mùi hôi đầy cả không khí, thấm vào da thịt, thấm vào từng xoang mũi thậm chí nó đã thấm vào tâm khảm của cư dân Ba Chúc nên tẩy kiểu gì cũng không sạch.

    Hễ đi xứ khác thì thôi mà bước về tới Ba Chúc là nghe mùi xác người ngột cả mũi.

    Mùi nồng tới mức không làm cho mũi quen mà làm cho mũi cảm thấy nặng và đầu óc như treo đá treo sắt.

    Người sống còn phải sống nữa.

    Phải đốt thôi cô.

    Cô cảm thấy bất nhẫn cho những nạn nhân lắm, tôi hiểu.

    Nhưng nếu cô chứng kiến những người sống sót lúc đó thì cô sẽ thấy người sống cũng đáng thương không kém gì người đã nằm xuống.

    Sơ sẩy một chút thì cả làng cũng chết sạch vì cái đói, vì bệnh tật.

    Lúc đó họ cũng sẽ như những người đã bị giết, xác cũng sẽ thành rác lây lất bên đường.

    Mà vốn dĩ lúc đó chúng tôi cũng giống như một miếng rác trong một đống rác lớn thôi.

    Người sống không có cái ăn, cũng không có nhà ở.

    Cảnh gì bằng cảnh bị đốt nhà hả cô.

    Làng xóm nào cũng chỉ còn lại những lớp tro tàn.

    Tới đôi đũa còn không có.

    Mọi người che chòi che trại ở đỡ đặng lên rẫy trồng mì trồng đậu, trồng lúa.

    Phải lên núi Dài cắt lá tranh về lợp.

    Rồi lá tranh cũng không đủ mà lợp nữa, nói gì là thức ăn.

    Dễ chết lắm cô.

    Trong làng không còn một chút gì để ăn được.

    Tụi Pol Pot có bỏ lại chút gạo, chút đường do rút vội không mang theo kịp.

    Nhìn thấy thèm lắm nhưng không ai dám ăn vì sợ nó bỏ thuốc độc trong thức ăn.

    Cuộc sống người dân Ba Chúc lúc đó chỉ khác những ngày lẩn trốn trong rừng ở cái khoản không bị lùng giết thôi chớ cái đói cũng y như vậy.

    Thời đó không phải như thời bây giờ hễ nghe đói là khắp nơi ào về cứu trợ.

    Ba Chúc hẻo lánh, đường sá đi lại khó khăn nên không mấy người biết được chúng tôi đang đói khát từng ngày.

    Láng giềng của Ba Chúc là Lương Phi, Tri Tôn, Tịnh Biên cũng nghèo đói không hơn gì chúng tôi.

    Lúc này không ai còn nghĩ gì nhiều tới chuyện tâm linh nữa.

    Phải sống.

    Những người khỏe hơn thì đi đào củ nừng về ăn.

    Củ nừng rất khó ăn.

    Nếu tẻ không đúng nước thì ăn vô đau bụng chết luôn.

    Phải ngâm rồi tẻ bảy nước.

    Không ít hơn được.

    Rau mọc ven đường, mọc trên sườn núi là mau có ăn nhất.

    Những cây rau dền to bất thường dù không ai tưới phân tưới thuốc.

    Cọng của nó bằng ngón chân, lá xòe bằng bàn tay.

    Đất núi khô cằn có bao giờ có những cọng rau tươi tốt cỡ như vậy.

    Chúng tôi biết nơi đó từng có những xác người rũ xuống, từng có máu người chảy qua.

    Phải, chúng tôi vẫn ăn thôi.

    Cái gì ăn không bị độc chúng tôi đều ăn.

    Kể cả những cọng rau mập mạp bất thường.

    Ngay cả cá dưới đìa cũng vậy.

    Những ngày lũ tràn đồng, nhiều khi người đi bắt cá, thấy đầu người tóc sập sại trong nước, với tay vớt cái đầu lên thì chỉ còn tóc thôi, thịt da đã bị cá rỉa hết rồi.

    Cá lừ mặt nước trong mấy cái lung chỗ giồng Ông Tướng, bàu Điên Điển.

    Chưa bao giờ cá nhiều như vậy, nhiều tới mức nhìn thấy sợ.

    Chúng tôi biết vì sao.

    Chúng đánh hơi mùi thịt thối.

    Hàng ngàn xác người nằm dưới đáy đìa, thịt mỡ phân hủy nồng nặc mùi vốn dĩ là món ngon của bầy cá.

    Tụi nó mê lắm và mau lớn lắm.

    Chúng tôi vẫn ăn những con cá lớn đó.

    ***

    Xác của nội, của ba má tôi, của anh em tôi cũng như gần hết dân Ba Chúc cứ phơi dưới nắng rồi phơi dưới mưa suốt mấy tháng mùa mưa, rồi chìm ngập trong màn nước suốt sáu tháng mùa lũ.

    Năm 78 (năm 1978 - NV) đó lũ lớn dữ lắm.

    Những người còn sống quá ít để làm chuyện chôn cất.

    Lại nhằm ngay năm cả nước đói kém.

    Biên giới vẫn chưa yên, nó vẫn pháo qua mỗi ngày, có khi tụi nó còn luồn vào núi Dài giết người.

    Những người lên núi Dài chặt củi, kiếm thức ăn đi hoài không thấy về, khi người thân đi tìm chỉ thấy gánh củi, nón nải ở đó còn người thì bị mất tích mà không rõ nguyên nhân.

    Dạ đúng vậy, không nhận được xác người thân nào của tôi hết.

    Tôi chỉ biết ba tôi bị bắn chết chỗ núi Tượng vì lo cõng nội tôi.

    Biết vậy thôi cũng không lấy xác được.

    Xác người cứ để đó.

    Mỗi hầm cả ngàn trong khi dân thì không còn sống mấy người, làm sao chôn cất được.

    Con gì tha được cứ tha.

    Nắng nôi, mưa gió riết rồi quần áo cũng mục.

    Thịt da thì bị rữa, bị tan, bị dòi đục từ lâu rồi.

    Mùa vụ vừa xong lại tới nước lên.

    Nước linh binh khắp các cánh đồng.

    Nước ngập đất liền sâu một, hai thước.

    Chỗ lung đìa thì nước sâu mấy sải tay.

    Thì đúng là sau mùa nước, thịt da đã vô bụng cá hết rồi, chỉ còn lại cốt thôi.

    ***

    Mùa hạn năm sau khi nước rút cuộc sống bình ổn hơn, mọi người mới dùng xe bò đi gom xương cốt.

    Tư Long cùng với ba người nữa đánh ba đôi bò đi gom cốt.

    Loại xe bò có thùng đó cô.

    Ra ruộng, xuống mấy cái lung mấy cái bào mò từng cái xương.

    Mớ thì lượm, mớ thì mò trong nước.

    Xương trẻ con mục hết, chỉ còn xương người lớn không hà.

    Mỗi ngày đều đi gom cốt như vậy.

    Ba, bốn đôi bò lấy ròng rã cả tháng.

    Không lấy được hết đâu cô.

    Mấy ngàn người lận mà.

    Một số bị đất cát vùi lấp mò không thấy.

    Đành phải ngưng.

    Rồi sau đó mấy người đi cày ruộng đi làm cỏ bắt đầu nhặt những cái sọ những khúc ống quyển đem về chùa tập hợp.

    Không còn biết ai là ai.

    Nhà chùa lấy lưới B40 vây lại như cái bồ rồi chất xương vô đó.

    Sau này mới làm mái che.

    Tôi lúc đó đi trị thương hơn năm sau mới về.

    Về nhà, người cũng yếu nên chẳng làm gì giúp mọi người hết.

    Mà tôi cũng không có vô nhà mồ, cũng không trở lại núi Nước.

    Lần nọ không có việc làm, tôi theo nhỏ em dâu bán cơm chỗ nhà mồ bây giờ đó cô.

    Bưng cơm vô chùa, nhìn thấy hình người nằm chết đủ kiểu, nhìn thấy hình nhà cháy, tôi đứng khóc mướt.

    Làm như tôi tủi thân.

    Làm như thấy được cảnh người thân mình bị chết.

    Mọi thứ của mười ngày khổ sở dường như tràn về y nguyên.

    Mà ngộ, sao lúc đang bị tơi tả thì không biết khóc lóc miếng nào hết.

    Giờ thì cũng hết khóc rồi.

    Lúc dắt cô trở lại chỗ núi Nước, chỗ giồng Ông Tướng, nhìn thấy mấy cảnh cũ tôi không còn buồn khổ gì nữa.

    Cô thấy đó, tôi cũng hết cái cảm giác tủi thân.

    Mặc dù tôi biết, rất có thể dưới lớp ruộng chỗ tôi đứng cho cô chụp hình đó còn xác người thân tôi.

    Không biết được đâu vì lúc ấy bị dập dưới đó rất nhiều.

    Qua mấy mùa mưa nắng lụt lội, biết ai được đem về ai còn ở lại.

    Rồi cũng quen.

    Giống như khi nhìn thấy những hài cốt trong chùa bị ẩm bị mốc, tôi cũng không thấy đau lòng gì nữa.

    Lúc ông Gánh ở chùa thuê mấy đứa nhỏ ôm cốt ra sân phơi, nhìn những đứa trẻ ôm trong tay ba, bốn cái sọ người chạy tung tăng, tôi tự hỏi rằng má tôi, em tôi ở đâu trong số đó.

    Chỉ biết vọng trong ngàn người đó mà thương nhớ người thân.

    Tôi nói với con trai: "Con ráng làm giúp chùa đi con, đừng có lấy tiền nha con.

    Vì có ông bà ngoại, có mấy dì mấy cậu con trong đó".

    (Còn tiếp)
     
    Về Từ Hành Tinh Ký Ức.
    NHỮNG ĐỨA TRẺ KO TRỞ VỀ.


    Giữa cơn lo sợ, vợ tôi không nghe được những giẫy giụa bức bối của một bé hai tuổi trong cơn mất hơi thở cuối cùng.

    Vợ tôi vẫn ôm con như vậy cho tới khi bên ngoài bình yên.

    Nghĩa là không còn tiếng khóc nữa...'

    LTS: Đội quân khát máu của Pol Pot đi đến đâu là đốt phá giết chóc đến đó; ngoài súng đạn, bọn chúng còn tàn sát dân thường bằng những công cụ thô sơ với những cách thức tàn nhẫn nhất.

    Từ trẻ nít cho đến người già, phụ nữ cho tới thanh niên, tất cả nạn nhân của chúng đều không một tấc sắt trong tay...

    để phục vụ cho mục tiêu phi nhân, cho cuộc chiến phi nghĩa mà chúng khơi mào.

    Vết tích còn để lại trong chùa Tam Bửu và Phi Lai Ảnh: T.L

    Theo lời kể của anh Út Nam, xã Lê Trì, Huyện Tri Tôn, Tỉnh An Giang - nạn nhân của cuộc diệt chủng ở Ba Chúc.

    Tôi hiểu tâm trạng cô ấy, nhưng có lẽ tôi không hiểu hết.

    Tôi chỉ là người đứng ngoài, lúc đó tâm trí ai cũng mang đầy những lo sợ cảnh tượng tụi nó phát hiện ra hang, lo sợ những cái chết khủng khiếp đến với mọi người trong đó có mình.

    Lúc đó nỗi đau không nhiều hơn nỗi sợ.

    Chỉ đến khi bình an, nhớ lại con của mình với cái xác nhỏ nhắn oặt oại mới thấy đau đớn từng cơn khóc từ trong bụng khóc ra.

    Còn vợ tôi khổ hơn tôi nhiều lắm, hơn ai hết, chính cô ấy là người nghe tiếng khóc của con tôi rõ nhất, nghe bằng cả cơ thể, nghe bằng cả trái tim.

    Nó nằm trong tay vợ tôi.

    Nó khóc thét.

    Mà nó không thể nào không khóc được.

    Hang núi ngột ngạt tăm tối lắm.

    Mấy chục người trong đó.

    Người lớn biết ngoài kia là những kẻ giết người.

    Người lớn biết tử thần đang đi qua đi lại trước cửa hang, đi suốt từ sáng cho tới 5 giờ chiều, nên họ có thể nín ăn, nín đại tiểu tiện, thậm chí nín thở một chút.

    Những đứa trẻ lên 1 lên 2 chẳng cần quan tâm chuyện đó, nó chỉ biết là rất ngột, rất tối.

    Chúng sợ hãi, chúng bất an, chúng cảm thấy không chịu đựng được.

    Chúng khóc để được đưa ra khỏi hang.

    Hay đơn thuần cảm thấy muốn khóc thì khóc vậy thôi.

    Chúng tôi không biết làm sao để đứa trẻ hết khóc.

    Không phải lạnh để có thể ủ ấm, không phải đói để có thể cắn da cắn thịt mình cho nó lót dạ.

    Cái nó cần là không khí trong lành ngoài kia.

    Nhưng ngoài kia không phải là nơi con người sống được, ngoài kia là đất của bầy quỷ.

    Chỉ có trong hang này là chúng tôi còn có thể sống được.

    Vốn dĩ chúng tôi đã sống trong hang bốn, năm ngày rồi.

    Ngay hôm đầu tiên, khi tụi nó bố ráp bao vây Ba Chúc thì chúng tôi đã trốn lên đây - Hang cô Mười Lan, nơi gần chùa Long Châu.

    Chúng tôi đã xay gạo, đã mang thức ăn lên từ trước.

    Mấy ngày đầu, có một nhóm lính Pol Pot vây ở chùa Long Châu.

    Lúc đó trong chùa túm tụm 50 - 60 người.

    Tốp lính này vây một hồi rồi phất tay kêu mọi người chạy, rồi tụi nó đốt chùa.

    Hình như tốp này không có nhiệm vụ giết người.

    Hay là do nó muốn chứng tỏ nó không giết người để dân tin tưởng nó, đi theo nó, để nó có thể giết nhiều hơn, gọn gàng hơn.

    Những tốp sau thì giết tàn sát không chừa một ai, ngay cả những đứa con nít còn đang bú.

    Tất cả chúng tôi đều từng chứng kiến cảnh tụi nó giết người nên kiên quyết trốn.

    Ban ngày thì chúng tôi vào hang và ngồi im phăng phắc.

    Mỗi tối, khi tụi nó rút quân xuống xóm thì mọi người ra nấu cơm, nấu một chút vắt cho mỗi người một vắt cơm để cầm hơi.

    Rồi sáng sớm, khi tụi nó còn ngủ, chúng tôi nấu cơm thêm một lần để chuẩn bị cho cơn đói trong ngày.

    Dạ, nấu cơm lúc đó được.

    Tại tụi nó đốt nhà, lửa cháy nghi ngút nên lửa nấu cơm không ăn thua gì.

    Trốn với tôi có vợ tôi và hai đứa nhỏ, một đứa lên 4t, một đứa lên 2t.

    Dụng cụ giết người dã man của Pol Pot

    Ảnh chụp tại nhà trưng bày chứng tích tội ác của Pol Pot tại An Giang

    Ngày thứ tư, thứ năm gì đó.

    Chúng tôi nghe tiếng lùng sục bên ngoài và đứa con út của tôi bắt đầu khóc.

    Nó khóc tức tưởi tưởng như là tiếng khóc nó có thể vọng ra khỏi hang, ra khỏi núi, ra tận những căn cứ của tụi Pol Pot.

    Những tiếng khóc thất thanh, lồng lộng dội vào vách đá, vang tận chín tầng trời.

    Tiếng khóc con trẻ thường chỉ làm cha mẹ xốn xang thương xót.

    Nhưng tiếng khóc trẻ lúc này, giữa bốn bề thinh lặng là tiếng động duy nhất gọi mời tử thần.

    Tiếng khóc của con trẻ như những nhát dao chém vào nỗi sợ hãi của người lớn.

    Tiếng khóc không còn là tiếng khóc nữa mà trở thành những tiếng bom.

    Nó có thể nổ tung từng mạng người.

    Chúng tôi không muốn bị giết.

    Chúng tôi càng không thể để cho mấy chục người cùng trốn trong hang bị giết vì tiếng khóc của con mình.

    Vợ tôi ôm con tôi vào lòng, áp tiếng khóc nó vào người.

    Vợ tôi không còn nhớ mình nên bụm miệng con kiểu gì cho con an toàn, chỉ biết là làm sao cho mọi người trong hang đừng ai nghe tiếng khóc nữa, nhất là làm sao cho những uất ức thét gào của con tôi đừng lọt ra khỏi hang.

    Vợ tôi ôm đứa nhỏ vào lòng trong nỗi lo lắng kinh hoàng như vậy.

    Có lẽ lúc này không còn hồn vía của một bà mẹ ôm con nữa rồi mà chỉ là xác của mẹ ôm xác con.

    Và rồi không còn ai nghe con tôi khóc nữa.

    Chỉ có mỗi vợ tôi còn nghe.

    Không nghe bằng âm thanh mà nghe bằng những ngằn ngặt trong trạng thái bị nén lại, bị giấu kín.

    Nhưng có lẽ giữa cơn lo sợ, vợ tôi cũng không nghe được những giẫy giụa bức bối của một đứa bé 2 tuổi trong cơn mất hơi thở cuối cùng.

    Vợ tôi vẫn ôm con như vậy cho tới khi bên ngoài bình yên.

    Nghĩa là không còn tiếng khóc nữa.

    Không còn một động tịnh gì hết.

    Con tôi đã chết từ lúc nào rồi.

    Tôi chỉ nhìn thấy điều đó, thấy cái xác oặt oại của con tôi.

    Tôi nhìn thấy sự mất mát rất mờ nhạt trong ánh sáng ngột ngạt của hang.

    Vợ tôi là người cảm được mềm mại của con, cảm được hơi ấm non nớt quen thuộc còn đọng lại trên thân xác nhỏ bé của con.

    Hơi ấm cuối cùng.

    Chẳng bao lâu, chúng tôi không còn tìm thấy được hơi ấm đó.

    Nó còn rất nhỏ, chỉ mới 2 tuổi, chỉ mới đỏ đẻ nói chuyện.

    Tôi từng bồng nó trên tay, từng nghe hơi ấm ngọt lành của con nên tôi hiểu cảm nhận vợ tôi trong lúc ôm hơi ấm đó, ôm trong tay hơi ấm đang trôi đi từ chút từ chút cho tới khi chỉ còn lại một hình hài nhỏ bé lạnh băng.

    Chúng tôi lúc đó không đau khổ như vậy.

    Nỗi sợ vẫn còn nguyên đó.

    Ngay cả chúng tôi cũng chưa biết là sống chết thế nào.

    Vì tụi Pol Pot lùng sục rất hăng.

    Vài hôm sau hang của ông Ba Lê ở bên cạnh tôi bị bể, 17 người trong hang bị bắn.

    Tôi đứng nép trong vồ đá bên này nhìn thấy hết.

    Chúng tôi cảm thấy sợ hãi nên bỏ hang, chia thành nhiều nhóm lẩn trốn.

    Có nhóm thoát được nhưng có nhóm đi ngang qua đồng Lương Phi bị lọt vòng vây của tụi nó và chết sạch.

    Cái chết đến bất cứ lúc nào nên chúng tôi không đủ tâm trạng để nhớ nhiều về nỗi đau của mình.

    Nhưng sau đó, khi bình an, khi nỗi sợ qua rồi, chúng tôi nhớ không sót một chi tiết nào.

    Tội nghiệp những đứa con nít.

    Chưa bao giờ những đứa con nít khổ như trận này.

    Chúng bị giết đủ kiểu.

    Những cái xác bị xé đôi, những cái xác bị đập đầu vào tường.

    Tội nghiệp ba má tụi nó.

    Nói sao cho hết khổ?

    Sau cuộc chiến, cả xã không còn đứa trẻ sơ sinh nào hết.

    Tôi may mắn còn sót lại đứa con 4 tuổi.

    Bên vồ Đá Dựng còn thê thảm hơn, để cứu 72 người, anh Trần Văn Tỏ phải nén đau thương bóp mũi đứa con trai 5 tuổi, ông Khế và ông Đức cũng quặn lòng lần lượt bóp mũi ba đứa cháu nội của mình.

    Chỉ là chứng kiến thôi tôi còn đau như vậy.

    Chỉ là sợ quá ôm con vào lòng cho khỏi nghe tiếng khóc của nó, rồi ngột quá nó ra đi mà vợ tôi còn hãi hùng như vậy.

    Bóp mũi con, tôi nghĩ là phải bầm gan tím ruột, tôi nghĩ là mình đã chết trước khi nó chết.

    Chết là cái chắc.

    Tôi nghĩ vậy.

    Vì lí do này vì lí do kia, những đứa con nít lần lượt bị giết.

    Cô vô nhà mồ nhìn đống cốt đi, những cái đầu của tụi nó.

    Trong đó chưa thấm thía gì so với thực tế những đứa con nít bị giết.

    Một nhà đều có ba, bốn đứa trẻ trở lên mà.

    Nhiều trẻ con chết lắm.

    Nhưng tại con nít xương mềm, nắng nôi, mưa gió cả năm trời, nó rã hết rồi.

    Cô coi đó, một, hai tháng, đôi, ba tháng, một, hai tuổi, có khi chỉ một, hai ngày tuổi, xương non xèo mềm như da thịt, sao mà không bị mục rữa hả cô.

    Nếu còn cái sọ của những đứa mới một, hai tháng thì mình thấy sao hả cô.

    Tôi thấy sợ những cái sọ đầu người lớn nhưng tôi không thấy sợ những cái sọ của trẻ em.

    Mỗi lần nhìn từng cái sọ trẻ con, tôi như có cảm giác hiện lên đó là những gương mặt non nớt, những giọng nói ngọng nghịu, những tiếng cười ngặt nghẽo sắp phát ra.

    Thật.

    Những cái sọ trẻ con, dáng của cái trán to, ngây ngô, cưng hết biết, con tôi cũng vậy mà.

    Nhưng khi tôi nhìn thấy những cái trán ngây ngô có một chỗ bể lớn, tôi lại hình dung tới khúc cây cứng đã đập mạnh vào đó, hay một phát đạn...

    Mọi người không sợ như tôi.

    Chỉ có tôi thấy sợ như vậy thôi.

    Ở đây ai cũng quen rồi.

    Nếu không quen chỉ có nước bỏ xứ tha phương.

    Ngay cả chuyện của con tôi, tôi cũng quên rồi.

    Vợ tôi có quên hay không tôi không biết.

    Vì có những nỗi đau phụ nữ không nói ra, nhưng nỗi đau nó ám ảnh trong lòng dai lắm, ít khi nào quên hẳn, phụ nữ mà.

    Có lẽ cô ấy chưa quên được, mãi mãi không quên được.

    Nhưng cô ấy cũng phải có nhiều cái khác để nhớ, như gia đình, như những đứa con hiện tại.

    Cô không hỏi qua cô ấy là đúng.

    Tôi không muốn cô gợi cho cô ấy nhớ gì hết.

    Quên được đã là khó khăn quá rồi. (HẾT)

    Võ Diệu Thanh.
     
    Back
    Top Dưới