Cập nhật mới

Khác Tử Cấm Thành

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
163635529-256-k720527.jpg

Tử Cấm Thành
Tác giả: pnpu_2311
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

"Có một series tranh về Cố Cung những năm trước trùng tu.

Nhớ nhất một câu, đại loại là Cố Cung những năm ấy có nhớ về những chủ tử của mình, kẻ còn người mất, kẻ biệt ly."



trungquốc​
 
Tử Cấm Thành
1


#Tử_Cấm_Thành_nghìn_lẻ_một_đêm

#An_dịch_và_viết

ĐÊM THỨ NĂM

Trên thế giới này, tòa nhà xa hoa nhất, uy nghiêm nhất, khổng lồ nhất chính là công trình kiến trúc được xây dựng từ năm Vĩnh Lạc (vị hoàng đế thứ 3 của triều Minh) thứ 4 - Tử Cấm Thành.

Suốt 600 năm sau đó, Tử Cấm Thành trở thành nơi ở của hai gia tộc lớn - nhà họ Chu và nhà họ Ái Tân Giác La.

Hai gia tộc này luân phiên sở hữu, tự xưng là "con trời" (thiên tử).

Song trước kia Tử Cấm Thành không được gọi là Tử Cấm Thành.

Trong sách "Quảng nhã - Thích thiên" có viết: "Thiên cung vị chi tử cung" (thiên cung được gọi là "Tử Cung", Tử có nghĩa là màu tím, cung trong cung điện).

Bởi vậy, tòa "lâu đài" này mới có tên gọi là Tử Cấm Thành.

Nguyên tòa Tử Cấm Thành, không phải viện tử nào cũng được mở cửa để khách đến tham quan.

Chỉ 45% viện tử trên tổng số viện tử được mở.

Tử Cấm Thành là một ký hiệu, được xây ở ngay giữa thành phố Bắc Kinh tráng lệ, đến tận nay, về mặt ý nghĩa, Tử Cấm Thành vẫn là tòa thành tượng trưng cao nhất cho quyền lực, dục vọng, và thậm chí là cái chết.

600 năm ròng rã, không một ai có thể tự do ra vào tòa thành này, chẳng thể nào nhìn thấu, cũng không cách nào lý giải.

Sự kết hợp giữa gia tộc hoàng gia thần bí và sự sợ hãi tột cùng, kể từ xa xưa, những người từng đi ngang qua, ngoại trừ cúi đầu thì thứ duy nhất có thể nghĩ đến đó chính là - quỷ thần.

Nghe nói bên trong Tử Cấm Thành có hai lực lượng bộ đội đóng quân gồm đội bảo vệ Cố Cung (tính luôn cả đội phòng cháy chữa cháy) và đội bảo vệ gần Trung Nam Hải (nằm ở phía Tây Cố Cung, là đơn vị bảo vệ văn vật trọng điểm quốc gia, trước giải phóng, khu vực này là hành cung của các đời đế vương và là nơi tổ chức tiệc rượu, gồm điện Cần Chính, Tiêu viên, Thủy Vân tạ,...), song về phần địa điểm đóng quân thì người ngoài không một ai biết.

Vì bố tôi công tác ở Cố Cung nên thi thoảng ông ấy cũng phải trực ca đêm, vì vậy sau khi trời tối tôi cũng khá thường xuyên đến Cố Cung chơi.

Chỉ là nhiệt độ ban đêm ở Cố Cung thấp hơn so với ở ngoài cung (thấp hơn rất nhiều), một năm bốn mùa đều thấp như vậy, bạn chỉ có thể cảm thấy "lạnh hơn" chứ không bao giờ thấy "nóng hơn".

Hơn nữa đêm đến luôn có gió nhẹ thong thả thôi, nếu bạn không tự hù dọa mình cho rằng là ma là quỷ thì thật sự rất thoải mái.

Bên cạnh đó trong Cố Cung có rất nhiều cây và con hẻm, vì vậy khi gió thổi sẽ tạo ra tiếng khí lưu, đôi khi còn kết hợp thêm cả tiếng mèo và quạ kêu nữa, nếu đi dạo vào những lúc như thế này (cộng thêm cả trí tưởng tượng phong phú), nói theo mê tín thì sẽ cảm thấy có chút âm trầm.

Nghe bạn bè kể lại rằng, trước kia, hồi tầm năm một chín tám mấy ấy, có một đoàn làm phim đến Cố Cung quay cảnh đêm, tới tận 12 giờ mà vẫn chưa quay xong.

Diễn viên ai nấy đều sợ hãi muốn bỏ về nhưng đạo diễn không cho phép.

Mọi người bó tay, chỉ có thể tiếp tục quay phim, nhưng đúng lúc đó, "trên" tường xuất hiện một loạt bóng dáng quần áo của các cung nữ, loáng thoáng còn nghe thấy cả tiếng phụ nữ khóc.

Thế là toàn bộ đoàn làm phim bỏ chạy trối chết, mãi đến sáng hôm sau mới dám quay lại thu dọn.

Có một câu chuyện rất nổi tiếng mà tất cả mọi người đều biết thậm chí còn lên cả bản tin CCTV, đã được chứng thực là có thật.

Câu chuyện ấy xảy ra vào một đêm dông năm 1992, mưa to như trút nước, sấm sét đùng đoàng.

Lúc ấy đã quá giờ ăn trưa, thời tiết ngày hôm đó âm trầm như buổi đêm.

Bên trong Cố Cung, ngoại trừ những bức tường sừng sững thì rất hiếm khi thấy bóng người, lúc này càng thê lương hơn gấp bội.

Đa phần du khách đã về hết, chỉ còn lại một đám thanh niên mê thám hiểm, cầm camera đi chụp đủ địa điểm yêu thích.

Họ muốn tranh thủ lúc trời mưa to chụp lại một ít quang cảnh hiếm có mà lúc thời tiết thường khó thể thấy.

Đương lúc họ đi ngang qua một bức tường trống thì bỗng một ánh sét lóe lên con hẻm đen ngòm.

Lúc họ muốn bước tiếp thì tất cả đều sững người: họ thấy có một đội cung nữ đang đi ngang qua bức tường nọ.

Vốn tưởng là ảo giác nhưng sau một hồi họ chợt nhận ra: đây là sự thật.

Lúc này có người tỉnh lại từ cơn sợ hãi vội giơ máy ảnh lên chụp lại được tấm hình này (như ở dưới khung comment).

Họ đều cho rằng đây là hồn ma của các cung nữ hiện về.

Nhưng sau này các nhà khoa học đã giải thích rằng, chúng ta có thể thấy được những điều này là vì tường ở Cố Cung được sơn màu đỏ, có chứa ô xi sắt, mà tia chớp có thể truyền điện năng, nên nếu lúc này tình cờ có cung nữ đi ngang qua thì bức tường sẽ có tác dụng tương đương với việc "ghi chép" lại, và nếu sau này tia chớp đúng lúc xuất hiện lần nữa thì có thể sẽ có công dụng như "chiếu phim", dẫn đến việc trên tường sẽ xuất hiện bóng dáng của cung nữ.

Nhưng những giải thích đó vẫn khiến mọi người khó có thể tin.

Về phần chuyện này có thật hay không thì chẳng ai dám chắc chắn.

Cũng có thể là muốn tiết kiệm tiền điện nên ban đêm mới không mở cửa Cố Cung chưa biết chừng.

(Còn nữa)

Dù thành Bắc Kinh hay thành Huế thì cũng là nơi chôn vùi tuổi thanh xuân của các cung nữ, thị vệ, thái giám...

NÀNG CÓ BẰNG LÒNG CÙNG TRẪM CHÔN VÙI NƠI NÀY KHÔNG
 
Tử Cấm Thành
Lưu ý khi thăm quan Tử Cấm Thành


- Mua vé trước trên web, để bảo tồn di tích, Cố Cung giới hạn lượng vé bán ra trong ngày

- Đừng đi thứ 2 vì hôm đó Cố Cung đóng cửa

- Mùa đông Cố Cung chỉ mở cửa đến 4h30 chiều
 
Tử Cấm Thành
Sơ đồ các cung điện của TCT


Sơ đồ Tử Cấm Thành.

Các ký hiệu màu đỏ để chỉ các địa điểm trong bài.

- – - Đường ước lượng phân chia Hâu Cung phía Bắc và Tiền Triều phía Nam.

A.

Ngọ môn

B.

Thần Vũ môn

C.

Tây Hoa môn

D.

Đông Hoa môn

E.

Các tòa tháp ở góc

F.

Thái Hòa môn

G.

Thái Hòa điện

H.

Võ Anh điện

J.

Văn Hoa điện

K.

Nam tam sở

L.

Càn Thanh cung

M.

Ngự Hoa viên

N.

Dưỡng Tâm điện

O.

Ninh Thọ cung

Nguồn: Wikipedia.

Sơ đồ các cung phòng được mở cửa cho du khách thăm quan hiện nay tại Cố Cung Bắc Kinh

Nguồn: Tử Cấm Thành- 故宫北京

Ảnh chụp từ vệ tinh của cung điện này.
 
Tử Cấm Thành
Đông Tây lục cung


Cố cung Bắc Kinh - Tử Cấm thành là một quần thể kiến trúc quy mô lớn bắt đầu xây dựng vào năm Vĩnh Lạc thứ 4 (1406), trải qua 2 triều đại Minh Thanh, rộng tầm 720.000m2, gồm khoảng 9999 gian phòng, xung quanh có tường cao 10m, hào nước sâu 52m.

Tử Cấm thành được chia thành 2 phần: Ngoại triều (tiền triều) ở phía nam, là nơi hoàng đế thực hiện các nghi lễ hoàng gia và nội đình (hậu cung) ở phía bắc, là nơi ở của hoàng đế và các thành viên trong hoàng tộc, cũng là nơi hoàng đế thiết triều.

Một nét kiến trúc độc đáo của Tử Cấm thành là các công trình được xây dựng đối xứng 2 bên dựa trên 1 trục Nam - Bắc ở chính giữa.

3 cung điện lớn nhất của nội đình tức Hậu tam cung gồm Càn Thanh cung , Giao Thái điện và Khôn Ninh cung.

Mỗi bên đông - tây của của Hậu tam cung còn có 6 cung khác, gọi là Đông lục cung và Tây lục cung.

Từ thời Ung Chính, do hoàng đế rời Càn Thanh cung chuyển đến sống tại Dưỡng Tâm điện để tỏ lòng kính trọng với tiên đế Khang Hi nên Hoàng hậu cũng rời Khôn Ninh cung và đến sống tại một trong Đông Tây lục cung.
 
Tử Cấm Thành
P4: Hàm Phúc cung


PHẦN 4: HÀM PHÚC CUNG

LỊCH SỬ

Cung được xây dựng vào năm Vĩnh Lạc thứ 18 thời Minh (1420), lúc đầu được đặt tên là Thọ An cung, đến năm Gia Tĩnh thứ 14 (1535) mới đổi thành Hàm Phúc cung.

Triều Thanh, cung được trùng tu vào các năm Khang Hy thứ 22 (1683) và Quang Tự thứ 23 (1897) nhưng vẫn cơ bản duy trì bố cục và kiến trúc ban đầu.

Hàm Phúc cung vào 2 triều Minh Thanh dùng làm nơi ở của tần phi, tuy nhiên cũng có ngoại lệ khi được nhiều hoàng đế chọn làm nơi thủ hiếu (chịu tang vua cha).

Tháng Giêng năm Gia Khánh thứ 4 (1799), Càn Long băng hà, Gia Khánh chọn Hàm Phúc cung làm nơi trai giới để tỏ lòng hiếu thảo với vua cha, trong thời gian này, Gia Khánh xử lí chính vụ và triệu kiến các quân cơ đại thần ở đây, đến tháng 10 năm mới chuyển về Dưỡng Tâm điện, hơn nữa còn ban cho cung Hàm Phúc 1 đôi câu đối: “Nhất nhật vạn cơ hàm hi cung hữu tác” – “Quần lê bách tính phúc tích đức vô cương”.

Sau khi Gia Khánh mất, con trai ông là Hoàng đế Đạo Quang cũng ở Hàm Phúc cung chịu tang, làm 1 bài thơ có tên là “Sơ cư Hàm Phúc cung thuật bi” để bày tỏ niềm tiếc thương tiên đế.

Sau đó, Hàm Phúc cung lại được dùng làm nơi ở của tần phi, trong đó có Trang Thuận Hoàng quý phi, Thành quý phi, Đồng quý phi, Thường phi của Đạo Quang.

Năm Đạo Quang thứ 30 (1850), Hoàng đế Đạo Quang qua đời, Hoàng đế Hàm Phong nối ngôi, ở lại Hàm Phúc cung thủ hiếu, sau khi mãn hạn, Hàm Phong vẫn thường xuyên qua lại đây và ở lại Đồng Đạo đường.

Năm Hàm Phong thứ 3, Khang Từ hoàng thái hậu (Tĩnh quý phi của Đạo Quang, dưỡng mẫu của Hàm Phong) cũng có 1 thời gian ngắn ở lại cung này.

Trong khoảng từ năm Hàm Phong thứ 5 đến năm Hàm Phong thứ 6, Ý tần Diệp Hách Na Lạp thị của Hàm Phong (sau này là Từ Hi thái hậu), đã từng ở trong Đồng Đạo đường.

Năm Hàm Phong thứ 6, Ý tần hạ sinh hoàng tử duy nhất của Hàm Phong, tức Ái Tân Giác La Tái Thuần, sau là Hoàng đế Đồng Trị.

Ý tần nhanh chóng được thăng tới tước Quý phi, rời sang cung Trữ Tú.

Ngày nay, nội thất của Đồng Đạo đường bài trí từ thời Hàm Phong vẫn còn được bảo quản nguyên vẹn.

Trong 12 bức Cung Huấn đồ mà Càn Long ngự ban cho Đông – Tây lục cung, cung Hàm Phúc sở hữu bức “Tiệp dư đương hùng đồ”, mang ý nghĩa ca ngợi lòng dũng cảm.

KIẾN TRÚC

_Hàm Phúc môn: là cửa chính dẫn vào cung, bên trong có 1 cửa ngăn gồm 4 cánh, tác dụng như 1 tấm bình phong.

Cung Hàm Phúc có hình dạng và cấu tạo có phần cao hơn 1 chút so với 5 cung còn lại trong Tây lục cung, ở vị trí đối xứng với Cảnh Dương cung trong Đông lục cung

_Chính điện: mái hiên treo hoành phi đề 3 chữ “Hàm Phúc cung”, rộng 3 gian lợp ngói hoàng lưu ly, trước gian chính đặt 1 tấm bình phong, tường phía đông treo bức “Thánh chế tiệp dư đương hùng tán”, tường phía tây treo bức “Tiệp dư đương hùng đồ” – 1 trong 12 bức Cung Huấn đồ do vua Càn Long ngự ban.

Ở vị trí trung tâm gian chính là bảo tọa dành cho chủ nhân của Hàm Phúc cung, 2 bên có 2 bàn trà và 1 lò đốt than cho mùa đông.

2 bên chính điện có thiết kế 2 cửa nhỏ đi ra hậu viện

_Đông điện và tây điện: nằm ở 2 bên đông tây chính điện, mỗi điện có 3 gian

_Hậu điện: được xây dựng vào năm Vĩnh Lạc thứ 18 thời Minh (1420), mang tên là Đồng Đạo đường, rộng 5 gian, bên dưới mái hiên trang trí đấu củng (1 loại kết cấu đặc biệt trong kiến trúc cung đình Trung Hoa, gồm những thanh ngang từ trụ cột chìa ra gọi là “củng” và những trụ kê hình vuông chèn giữa các “củng” gọi là “đấu”), xà nhà làm bằng gỗ cây phương, trang trí hoa văn long phượng.

Trước cửa ra vào có 1 tấm mành che, gian thứ 2 phía đông và gian thứ 2 phía tây có cửa sổ.

Chu Gia Tháp trong cuốn: “Quốc triều cung sử tụ biên” có viết: “Hậu điện trong Hàm Phúc cung được Cao Tông Thuần Hoàng đế (tức vua Càn Long) ngự ban bức hoành phi “Tư đức hàm gia”.

Buồng đông treo bức hoành phi “Cầm Đức di”, buồng tây treo bức hoành phi “Họa Thiện thất” cũng đều của Cao Tông Thuần Hoàng đế ngự bút”.

Vì thế, các nhà sử học cho rằng, vào những năm Càn Long, Hoàng đế đã từng ở tại Đồng Đạo đường.

Gian ngoài cùng phía tây có đôi câu đối: “Cư trung lãm ngoại khâm hoài sướng – Kích cốc ma kiên chức thực ân”.

Gian chính treo bức hoành phi “Tương tán hồ nghi” do hoàng đế Hàm Phong ban, ở trên có khắc ấn “Hàm Phong ngự bút chi bảo”, 2 bên có đôi câu đối “Thịnh thế hoàn khu nhưng vọng trạch” – “Đoan cư tiêu cán tảo quan hoài”.

_Đông điện, tây điện: nằm ở 2 bên đông – tây Đồng Đạo đường, mỗi điện có 3 gian.

_Phía đông nam khoảng sân trước Đồng Đạo đường có 1 tỉnh đình (loại giếng nước có mái che phía trên)

CÁC HẬU PHI ĐÃ TỪNG LÀ CHỦ NHÂN CỦA HÀM PHÚC CUNG:

_Cung Thuận Vinh Trang Đoan Tĩnh hoàng quý phi Lý Thị của Minh Thần Tông Vạn Lịch hoàng đế khi còn là Kính phi đã từng ở Hàm Phúc cung.

Bà sinh cho Vạn Lịch hoàng lục tử Chu Thường Nhuận và hoàng thất tử Chu Thường Doanh.

_Hiếu Tĩnh Thành Hoàng hậu Bác Nhĩ Tề Cát Đặc thị của Hoàng đế Đạo Quang

_Trang Thuận Hoàng quý phi Ô Nhã thị của Hoàng đế Đạo Quang, bà nội Hoàng đế Quang Tự: sinh năm Đạo Quang thứ 2 (1822), con gái quan bút thiếp Thức Linh Thọ, nhập cung vào khoảng giữa năm Đạo Quang thứ 15 và 16 (1835 - 1836) sơ phong Lâm quý nhân, ngụ tại Hàm Phúc cung.

Ngày 6 tháng 11 năm Đạo Quang thứ 17 (1837), bị giáng làm Tú thường tại, đến ngày 23 tháng 7 năm Đạo Quang thứ 19 (1839) mới được phục vị Lâm quý nhân.

Tháng 9 năm Đạo Quang thứ 20 (1840), Ô Nhã thị sinh Hoàng thất tử Ái Tân Giác La Dịch Hoàn, sau là Thuần Hiền thân vương, tháng 11 cùng năm sắc phong Lâm tần.

Tháng 2 năm Đạo Quang thứ 22 (1842), sinh Hoàng cửu nữ Thọ Trang Cố Luân công chúa, tháng 5 cùng năm tấn phong Lâm phi.

Năm Đạo Quang thứ 24 (1844), sinh Hoàng bát tử Ái Tân Giác La Dịch Hỗ, sau là Chung Đoan thân vương, năm Đạo Quang thứ 25 (1845), sinh Hoàng cửu tử Ái Tân Giác La Dịch Huệ, sau là Phu Kính quận vương.

Tháng 12 năm Đạo Quang thứ 26 (1846), tấn phong Lâm quý phi.

Sau vua Hàm Phong lên ngôi tôn bà là Hoàng Khảo Lâm Quý thái phi, Đồng Trị lên ngôi tấn tôn bà là Hoàng tổ Lâm Hoàng Quý thái phi.

Ngày 26 tháng 11 năm Đồng Trị thứ 5 (1866), Ô Nhã thị qua đời, thọ 44 tuổi, được ban thụy hiệu là Trang Thuận Hoàng quý phi, tháng 10 năm Đồng Trị thứ 6 (1867), táng tại Đông lăng.

_Thành quý phi Nữu Hỗ Lộc thị của Hoàng đế Đạo Quang: sinh năm 1813, mất năm 1888, nhập cung sơ phong Thành quý nhân, không lâu sau bị giáng làm Du thường tại, rồi lại được phục vị Thành quý nhân.

Năm 1835 sắc phong Thành tần, đến năm 1847 lại bị giáng làm quý nhân.

1850, Hàm Phong tấn tôn là Thành tần, năm 1861, Đồng Trị tấn tôn là Hoàng Tổ Thành phi, 1876, tấn tôn Thành quý phi.

_Đồng quý phi Thư Mục Lộc thị của Hoàng đế Đạo Quang: Năm sinh không rõ, con gái 1 viên Lang trung tên là Ngọc Chương, nhập cung sơ phong Đồng quý nhân, tháng 11 năm Đạo Quang thứ 12 (1832), sắc phong Đồng tần, tháng 11 năm Đạo Quang thứ 14 (1834), tấn phong Đồng phi, năm Đạo Quang thứ 16 (1836), tái tấn phong Đồng quý phi.

Ngày 2 tháng 7 năm Đạo Quang thứ 20 (1840), sinh Hoàng thất nữ.

Ngày 26 tháng 11 năm Đạo Quang thứ 21 (1841), sinh Hoàng bát nữ Thọ Hi Hòa Thạc Công chúa.

Ngày 17 tháng 3 năm Đạo Quang thứ 24 (1844), sinh Hoàng thập nữ.

Ngày 10 tháng 9 cùng năm Thư Mục Lộc thị bị giáng làm Đồng quý nhân.

Ngày 20 tháng 12 cùng năm Hoàng thất nữ mất, ngày 20 tháng giêng năm Đạo Quang thứ 25 (1845), Hoàng thập nữ cũng qua đời.

Sau vua Hàm Phong lên ngôi tấn tôn bà là Hoàng Khảo Đồng tần, Đồng Trị tái tấn tôn là Hoàng Tổ Đồng quý phi.

Năm Quang Tự thứ 3 (1877), Thư Mục Lộc thị qua đời, kim quan tạm đặt tại Điền thôn, đến tháng 9 đưa vào Đông lăng.

_Thường phi Hách Xá Lý thị của Hoàng đế Đạo Quang: sinh ngày 15 tháng 11 năm Gia Khánh thứ 13 (tức 31/12/1808), năm Đạo Quang thứ 9 sơ phong Thường Quý nhân.

Hàm Phong lên ngôi, tấn tôn là Hoàng Khảo Thường tần, mất ngày 7 tháng 10 năm 1860 tại Viên Minh viên, thọ 53 tuổi.

Đồng Trị truy tôn là Hoàng tổ Thường phi.

Ngày 2 tháng 9 năm Đồng Trị thứ 2, táng tại Đông lăng.

_Từ Hi thái hậu

Vị trí Hàm Phúc cung

Hàm Phúc môn

Chính điện.

Nguồn: Văn hóa cung đình Mãn Thanh.
 
Tử Cấm Thành
P5: Diên Hi cung


PHẦN 5: DIÊN HI CUNG

Diên Hi cung là 1 trong 6 cung điện phía đông của Tử Cấm Thành, nằm ở phía đông nam đông lục cung.

Cung được xây dựng vào năm Vĩnh Lạc thứ 18 triều Minh (1420), lúc đầu mang tên Trường Thọ cung đến năm Gia Tĩnh thứ 14 triều Minh (1535) đổi thành Diên Kì cung.

Khi nhà Thanh trị vì, đổi tên 1 lần nữa là Diên Hi cung.

Cung được trùng tu lần đầu vào năm Khang Hi thứ 25 (1686), sửa chữa những lần sau vào năm Gia Khánh thứ 7, năm Đạo Quang thứ 25, năm Hàm Phong thứ 5.

LỊCH SỬ:

Vào 2 triều Minh – Thanh, Diên Hi cung là chỗ ở của phi tần.

Vào thời Càn Long, hoàng đế truyền lệnh cho họa sĩ dựa theo những mỹ đức của hậu phi Trung Hoa cổ đại mà vẽ lên 12 bức Cung huấn đồ, ngày Tết đem treo ở đông tây lục cung, sau đó đem bảo quản ở Học Thi đường trong Cảnh Dương cung.

Cung Diên Hi được ban bức Tào hậu trọng nông đồ, ca ngợi đức tính cần lao, lấy từ điển cố Tào Hoàng hậu của Bắc Tống Nhân Tông vô cùng coi trọng việc đồng áng, khuyến khích nhân dân cấy cày.

Bà là con gái của Bắc Tống Đại tướng quân Tào Bân, nổi tiếng là 1 vị hiền hậu trong lịch sử, luôn nghiêm khắc với bản thân, xử lí mọi việc rất công minh, lại quan tâm dân nghèo.

Tương truyền, Tào hậu trồng ngũ cốc, tự mình cày cấy, nuôi tằm dệt vải ở ngay cung điện của bà.

KIẾN TRÚC

_Diên Hi môn: là cửa chính dẫn vào cung, nằm ở hướng Bắc.

_Chính điện: rộng 5 gian, lợp ngói hoàng lưu ly, trên nóc mái trạm trổ hình linh thú, cửa vào đặt ở gian chính giữa.

Bên trong gian chính treo tấm biển: “Thận tán huy âm” được đích thân vua Càn Long ngự bút.

_Đông điện, tây điện: tọa lạc ở 2 bên đông tây Chính điện, mỗi điện gồm có 3 gian, gian giữa đặt cửa ra vào, lợp ngói hoàng lưu ly.

_Hậu điện: rộng 5 gian, cửa vào đặt ở gian chính giữa, lợp ngói hoàng lưu ly.

_Đông điện, tây điện: nằm ở 2 bên đông tây, mỗi điện gồm có 3 gian, gian giữa đặt cửa ra vào đều lợp ngói hoàng lưu ly.

Ngoài Diên Hi môn, các công trình trên vào thời Đạo Quang đều bị hỏa hoạn thiêu rụi.

Diên Hi cung nằm gần Thương Chấn Môn - cửa ra vào Tử Cấm Thành dành cho cung nữ, thái giám và hạ nhân nên khá ồn ào và phức tạp.

Nơi này từng nhiều lần xảy ra hỏa hoạn: năm Đạo Quang thứ 12 (1832), cháy lớn ở phòng bếp phía nam đông điện, năm Đạo Quang thứ 25 (1845), Diên Hi cung xảy ra 1 trận đại hỏa hoạn, thiêu hủy toàn bộ chính điện, hậu điện cùng với đông tây phối điện, tổng cộng 25 gian, cháy gần đến cửa cung.

Sau khi trùng tu, đến năm Hàm Phong thứ 5 lại xảy ra hỏa hoạn.

Năm Đồng Trị thứ 11 (1872), từng có đề nghị phục kiến Diên Hi cung nhưng chưa thực hiện được.

_Linh Chiểu hiên (Thủy Tinh cung): là 1 tòa lầu chưa hoàn thiện, nằm ở giữa tiền viện.

Tuyên Thống (niên hiệu của vua Phổ Nghi) nguyên niên (1909), ở vị trí trước kia là chính điện của Diên Hi cung, triều đình Mãn Thanh cho khởi công xây dựng 1 tòa lầu 3 tầng theo có kiến trúc theo kiểu phương Tây, đặt tên là “Thủy điện”.

4 phía “Thủy điện” là ao nước, xung quanh có các suối nhỏ và hòn giả sơn.

Lầu chính mỗi tầng của “Thủy điện” đều có 9 gian, tầng trệt 4 phía đông, tây, nam, bắc đều mở cửa, xung quanh là hành lang.

“Thanh cung từ” và “Thanh bái sử” chép rằng: “Thủy điện có xà nhà làm bằng đồng, tường bằng thủy tinh 2 lớp, ở giữa nuôi cá.

Sàn tầng trệt cũng được chế tác bằng thủy tinh, có thể xuyên qua sàn nhà mà nhìn ngắm đàn cá bơi lượn.

Vì thế, Long Dụ thái hậu ban cho “Thủy điện” cái tên “Linh Chiểu hiên”, tục gọi là “Thủy tinh cung”.

Thực tế, toàn bộ khung giá của Thủy điện đều được làm bằng sắt hoặc gang.

Phần lớn nguyên liệu được chọn để xây lầu là Hán bạch ngọc (đá cẩm thạch trắng), tường ngoài điêu khắc hoa văn, tường trong lát gạch men sứ trắng trên vẽ hoa văn đủ màu sắc.

Bởi vì quốc khố trống rỗng, Thủy Tinh cung đến mùa đông năm Tuyên Thống thứ 3 (1911) vẫn chưa hoàn thành, cuối cùng công trình phải đình trệ.

Thủy Tinh cung là công trình bằng thép duy nhất trong quần thể Cố cung Bắc Kinh.

_Lầu chính: Tọa lạc ở vị trí trước kia là hậu điện của Diên Hi cung, gồm có 2 tầng, sơn màu đỏ, nay là phòng thí nghiệm nghiên cứu - kiểm tra đo lường gốm sứ cổ của Viện bảo tàng Cố cung.

_Đông lầu: Tọa lạc ở phía đông Diên Hi cung, gồm có 2 tầng, sơn màu đỏ, nay là Trung tâm nghiên cứu Cổ thư họa của Viện bảo tàng Cố cung.

_Tây lầu: Tọa lạc ở phía tây Diên Hi cung, gồm có 2 tầng, sơn màu đỏ, nay là Trung tâm nghiên cứu Gốm sứ của Viện bảo tàng Cố cung.

Tháng 6 năm Tuyên Thống thứ 2 (1910), Long Dụ thái hậu từng hạ lệnh cho Sở đèn điện Tây Uyển lắp đặt lò sưởi điện, quạt điện và mắc đèn điện cho Diên Hi cung.

1917, phía bắc Diên Hi cung bị bom trực thăng phá hủy.

1931, Viện bảo tàng Cố cung kiến thiết lại Diên Hi cung làm nơi lưu trữ văn vật.

CÁC HẬU PHI ĐÃ TỪNG LÀ CHỦ NHÂN CỦA DIÊN HI CUNG

(Diên Hi cung là 1 cung điện nằm gần nơi phức tạp, ồn ào, lại xa chỗ của Hoàng đế nên chỉ các tần phi thất sủng mới ở tại nơi này).

_Thường tại Từ thị và 2 vị Đáp ứng không rõ phong hiệu của Khang Hi.

Tương truyền Từ thường tại và các Đáp ứng do thất sủng nên sống rất khổ cực, chi tiêu túng thiếu, ngay cả y phục, hài tất cũng không đủ dùng.

_Linh thường tại của Đạo Quang

_Thành quý phi (khi còn là Thành quý nhân) của Đạo Quang

_Điềm tần của Đạo Quang: không rõ năm sinh, chỉ biết bà có sinh thần vào ngày 20 tháng 3, là người thuộc tộc Phú Sát thị.

Thời Gia Khánh, Phú Sát thị vào tiềm để (nơi ở của Hoàng đế khi chưa lên ngôi) của Đạo Quang, được phong là Trắc Phúc tấn.

Sau khi Đạo Quang lên ngôi, bà được sắc phong Điềm tần, ban Diên Hi cung và ở tước Tần cho đến hết đời.

Ngày 19 tháng 7 năm Đạo Quang thứ 25 (1845), bà qua đời.

Tháng 6 cùng năm, Điềm tần nấu cơm trong phòng bếp phía nam đông điện của Diên Hi cung, vô tình gây ra 1 trận đại hỏa hoạn thiêu rụi toàn bộ chính điện, hậu điện và các điện phụ tổng cộng 25 gian, rất có thể bà đã bị thương nặng trong lần hỏa hoạn này mà qua đời.

Diên Hi cung nhìn từ bên ngoài.

Thủy tinh cung

Nguồn: Văn hóa cung đình Mãn Thanh.
 
Tử Cấm Thành
P6: Cảnh Dương cung


PHẦN 6: CẢNH DƯƠNG CUNG

LỊCH SỬ:

Cảnh Dương cung là 1 trong 6 cung điện phía đông của Tử Cấm Thành, nằm ở phía đông bắc Đông lục cung, phía đông Chung Túy cung và phía bắc Vĩnh Hòa cung.

Cung được xây dựng vào năm Vĩnh Lạc thứ 18 triều Minh (1420), lúc đầu mang tên Trường Dương cung đến năm Gia Tĩnh thứ 14 triều Minh (1535) đổi thành Cảnh Dương cung.

Khi nhà Thanh trị vì, cung được trùng tu vào năm Khang Hi thứ 25 (1686).

Vào triều Minh, Cảnh Dương cung là chỗ ở của phi tần.

Sang triều Thanh, cung được sửa chữa làm nơi lưu giữ, bảo quản sách vở, con dấu của hoàng gia.

Thời Khang Hi, cung được Hoàng đế ban cho câu đối: “Tụng khải tiêu hoa, bách tử trì biên nhật noãn” – “Thương phù bách diệp, vạn niên chi thượng xuân tình”.

Thời Càn Long, hoàng đế truyền lệnh cho họa sĩ dựa theo những mỹ đức của hậu phi Trung Hoa cổ đại mà vẽ lên 12 bức Cung huấn đồ, ngày Tết đem treo ở đông tây lục cung, sau đó đem bảo quản ở Học Thi đường trong Cảnh Dương cung.

Cung Cảnh Dương được ban bức Mã hậu luyện y đồ, ca ngợi đức tính tiết kiệm, lấy từ điển tích Hoàng hậu Mã thị của Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương, 1 vị hiền hậu nổi tiếng, tuy ở địa vị tôn quý nhưng lại hết sức giản dị: “Mã Hoàng hậu ngày thường chỉ mặc y phục thêu chỉ loại bình dân, giặt qua nhiều lần, rách thì vá lại chứ không chịu thay cái mới”.

24/08/1987: Cảnh Dương cung bị sét đánh gây ra hỏa hoạn, thiêu hủy 1 số kiến trúc cũ nên sau khi trùng tu, cung được trang bị thêm cột thu lôi.

KIẾN TRÚC:

_Cảnh Dương môn: là cửa chính dẫn vào cung, nằm ở hướng bắc, ngoảnh mặt về hướng nam.

Đi qua Cảnh Dương môn, ta sẽ bắt gặp 1 cửa ngăn bằng gỗ, có tác dụng như 1 bức bình phong.

_Chính điện: rộng 3 gian, lợp ngói hoàng lưu ly, nóc điện trạm trổ hơi khác so với 5 cung còn lại trong đông lục cung, mái hiên trang trí đấu củng (1 loại kết cấu đặc biệt trong kiến trúc cung đình Trung Hoa, gồm những thanh ngang từ trụ cột chìa ra gọi là “củng” và những trụ kê hình vuông chèn giữa các “củng” gọi là “đấu”).

Cửa vào đặt ở gian chính giữa, 2 gian bên cạnh có cửa sổ bằng thủy tinh.

Bên trong gian chính treo tấm hoành phi: “Nhu gia túc kính” được đích thân vua Càn Long ngự bút.

Ngoài ra, Càn Long còn ban cho Cảnh Dương cung các đôi câu đối treo trong 3 gian của chính điện, gồm: “Sinh cơ đối vật quan kỳ diệu” – “Nghĩa phủ nhân tâm hoạch sở ninh” ở gian phía đông; “Thận song nhật lãng lan phún vụ” – “Kê thụ phong thanh ngọc ái xuân” ở gian phía tây và “Thư phố lễ viên vô dịch hảo” – “Âu hương nghiên tịnh hữu dư hân” ở gian chính.

Trước chính điện có 1 đài ngắm trăng.

_Đông tiền điện, tây tiền điện: tọa lạc ở 2 bên đông tây Chính điện, mỗi điện gồm có 3 gian, gian giữa đặt cửa ra vào, lợp ngói hoàng lưu ly, mái hiên trang trí hoa văn toàn tử thể.

_Hậu điện: còn gọi là ngự thư phòng, rộng 5 gian, cửa vào đặt ở gian chính giữa, lợp ngói hoàng lưu ly.

4 gian bên đều có cửa sổ, mái hiên trang trí đấu củng (1 loại kết cấu đặc biệt trong kiến trúc cung đình Trung Hoa, gồm những thanh ngang từ trụ cột chìa ra gọi là “củng” và những trụ kê hình vuông chèn giữa các “củng” gọi là “đấu”), chạm khắc hoa văn Long hòa tỉ thể.

Hậu điện của Cảnh Dương cung được Càn Long ban tên là “Học Thi đường” và đôi câu đối: “Cổ hương phi phất đồ thư nhuận” – “Nguyên khí xung dung vật tượng hòa”.

_Tịnh Quan trai: điện phía đông của Học Thi đường, gồm có 3 gian, gian giữa đặt cửa ra vào, lợp ngói hoàng lưu ly, mái hiên trang trí hoa văn toàn tử thể.

_ Cổ Giám trai: điện phía tây của Học Thi đường, gồm có 3 gian, gian giữa đặt cửa ra vào, lợp ngói hoàng lưu ly, mái hiên trang trí hoa văn toàn tử thể.

Phía tây nam hậu viện có 1 giếng nước.

Chủ nhân duy nhất của Cành Dương cung là Hiếu Tĩnh Hiển Hoàng hậu Vương thị của vua Minh Thần Tông (Vạn Lịch), sinh ngày 17 tháng giêng năm Gia Tĩnh thứ 44 (tức 27/02/1565), mất ngày 13 tháng 9 năm Vạn Lịch thứ 39 (tức 18/10/1611).

Vương thị vốn là cung nữ của Từ Thánh Hoàng thái hậu (mẹ đẻ Thần Tông), vì xinh đẹp nên được Thần Tông lâm hạnh rồi sinh ra Hoàng trưởng tử Chu Thường Lạc (sau là Minh Quang Tông).

Bà đã từng là cung nữ trong 4 năm, ở ngôi Cung phi 23 năm và ngôi Hoàng quý phi 6 năm.

Cha bà là Vương Thiên Thụy – chỉ huy Cẩm Y Vệ, mẹ bà là Cát thị, từng làm việc trong cung.

Bà có 2 người con với Minh Thần Tông là Minh Quang Tông Chu Thường Lạc và Vân Mộng Công chúa Chu Hiên Nguyên.

Vương thị tuy được sinh được Hoàng tử, công chúa nhưng Hoàng đế không yêu thương bà, Thần Tông phong cho bà tước Phi rồi Hoàng quý phi cũng chỉ là vì miễn cưỡng nghe theo sự sắp đặt của Từ Thánh Hoàng thái hậu.

Bấy giờ sủng phi của Thần Tông là Trịnh quý phi, cùng sinh được hoàng tử nhưng địa vị lại cao hơn Vương thị.

Trịnh thị được Hoàng đế sủng ái nên muốn gì được nấy, làm mưa làm gió khắp hậu cung.

Trong khi đó, Vương thị bị Thần Tông cho “Bình cư” ở Cảnh Dương cung (việc bình cư không khác với bị biếm vào lãnh cung là mấy), sống 1 cuộc đời u ám, thê lương như giam cầm.

Nhà Minh có lệ lập con trưởng nối ngôi nên triều thần ủng hộ Chu Thường Lạc làm Thái tử, nhưng vì Thần Tông không thích Vương thị cộng với việc bị Trịnh quý phi dụ dỗ dành ngôi báu cho Hoàng tam tử Chu Thường Tuân của bà ta nên việc lập Thái tử bị trì hoãn mãi.

Năm Vạn Lịch thứ 29, dưới sức ép của các đại thần và không thể đi ngược lại di huấn của tổ tiên, Thần Tông phải bất đắc dĩ ban ngôi Thái tử cho Chu Thường Lạc nhưng Thái tử bắt buộc phải cắt đứt quan hệ với mẹ đẻ Vương thị.

Khi Thái tử có con nối dõi, Thần Tông có hoàng tôn, vì quan lại trong triều nhiều lần can gián, dân gian lại nghị luận xôn xao, Thần Tông miễn cưỡng tấn phong Vương thị là Hoàng quý phi.

Tước vị tuy vô cùng tôn quý nhưng chỉ là hữu danh vô thực, Vương thị ở cung Cảnh Dương ngày đêm ai oán, than khóc đến mù cả hai mắt, đến tháng 9 năm Vạn Lịch thứ 39 (1611) thì ngã bệnh.

Thái tử biết tin, thỉnh cầu Thần Tông cho phép đến thăm hỏi, mẹ con gặp nhau, Vương thị hai mắt đã mù lòa, chỉ có thể nắm lấy vạt áo của con trai mà nói rằng: “Con khôn lớn như thế này, ta chết cũng không có gì ân hận”, rồi qua đời, thọ 47 tuổi, thụy hiệu Ôn Túc Hoàng quý phi.

Bà khi sống bị hắt hủi, lúc chết tang lễ cũng chỉ được làm hết sức qua loa.

Sau khi Thần Tông băng hà, Chu Thường Lạc lên nối ngôi, truy phong mẹ đẻ là Hoàng thái hậu nhưng chưa cử hành nghi lễ chính thức thì nhà vua đã băng hà.

Con trai là Chu Do Hiệu lên ngôi, truy phong bà nội là Hiếu Tĩnh Ôn Ý Kính Nhượng Trinh Từ Tham Thiên Dận Thánh Hiển hoàng hậu và cho nhập táng vào Định lăng cùng với Thần Tông.

Chính điện.

Đông tiền điện

Tây tiền điện

Hậu điện/ Ngự thư phòng/ Học thi đường.

Đông hậu điện/ Tịnh quan trai

Tây hậu điện/ Cổ giám trai
 
Tử Cấm Thành
Đồi Cảnh Sơn


Hôm qua có up đố các bạn, đứng ở đâu để có thể nhìn toàn cảnh Cấm Thành.

Hôm nay mình sẽ nói về nơi ấy đây, một nơi thú vị, không thể bỏ qua nếu các bạn có dịp ghé Bắc Kinh nhé.

Cảnh Sơn là một ngọn đồi nhân tạo ở thành phố Bắc Kinh, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Núi này tọa lạc ở quận Tây Thành, chính bắc của Tử Cấm Thành Bắc Kinh, trục trung tâm của Bắc Kinh.

Từ đây khi leo lên đỉnh, ta có thể ngắm bao quát toàn bộ Tử Cấm Thành.

Ngọn đồi nhân tạo cao 45,7 m này được tạo dựng dưới thời vua Vĩnh Lạc của nhà Minh, đắp hoàn toàn bằng đất đào hào của cung điện hoàng gia và đất đào những con kênh, lũy quanh đó và được chuyển bằng xe và người đến đây.

Theo lý giải của thuật Phong Thủy, đây là đồi được xây tạo thế bình phong cho cung thành vốn không có đồi núi chen chắn, do đó dân gian gọi đây là Đồi Phong Thủy.

Vị Vua cuối cùng của triều Minh, Sùng Trinh hoàng đế đã thắt cổ tự tử dưới gốc 1 cây hoè trên ngọn đồi này.

Có lẽ, trước khi mất, Sùng Trinh cũng muốn nhìn ngắm lại Tử Cấm Thanh như hoa như gấm, mà ông đã tự tay đánh mất.

Hiện ngọn đồi năm trong khuôn viên của Công Viên Cảnh Sơn.

Đừng chỉ dạo chơi trong Tử Cấm Thành nhé, hãy lên đỉnh đồi và ngắm toàn bộ cung điện ấy, vào một buổi hoàng hôn, bạn sẽ hiểu vì sao tôi yêu nơi này đến vậy ❤️

Nguồn: Tử Cấm Thành- 故宫北京
 
Tử Cấm Thành
Thái Lăng


Quần thể Thái lăng thuộc khu Thanh tây lăng gồm:

_Địa cung Thái lăng: là nơi an táng hoàng đế Ung Chính cùng với Hiếu Kính Hiến hoàng hậu Ô Lạt Na Lạp thị và Đôn Túc hoàng quý phi Niên thị.

_Thái đông lăng: là tòa hậu lăng an táng Hiếu Thánh Hiến hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị.

_Thái lăng Phi viên tẩm nằm ở phía đông địa cung Thái lăng: là nơi an táng 21 vị phi tần của hoàng đế Ung Chính.

Theo thống kê, đây là nơi yên giấc nghìn thu của 1 vị Hoàng quý phi, 3 vị phi, 1 vị tần, 5 vị quý nhân, 7 vị thường tại và 4 vị cách cách.

Phi viên tẩm có 3 hàng chôn cất, theo hướng nam lên bắc, từ đông sang tây:

Hàng 1 có 5 vị gồm: Ninh phi Võ thị - Tề phi Lý thị - Thuần Khác Hoàng quý phi Cảnh Giai thị - Khiêm phi Lưu thị - Mậu tần Tống thị

Hàng 2 có 9 vị gồm: Mã thường tại, Na thường tại, Hải quý nhân, An quý nhân, Quách quý nhân, Lý quý nhân, Trương quý nhân - Lý thường tại, Xuân thường tại.

Hàng 3 có 7 vị gồm: Trương cách cách, Tô cách cách, Thường thường tại, Cao thường tại, Cố thường tại, Y cách cách, Trương cách cách.

Thông thường, phi tần có địa vị cao nhất sẽ được an táng ở vị trí trung tâm của hàng chôn cất, người có địa vị cao thứ hai sẽ được an táng ở phía đông của trung tâm, còn người có địa vị cao thứ ba sẽ được an táng ở phía tây của trung tâm.

Ví dụ, nhìn vào hàng chôn cất số 1, có thể thấy thứ tự của các nương nương sẽ là:

1.

Thuần Khác Hoàng quý phi Cảnh Giai thị

2.

Tề phi Lý thị

3.

Khiêm phi Lưu thị

4.

Ninh phi Võ thị

5.

Mậu tần Tống thị

Ngoài ra còn có 6 vị phi tần không được an táng tại quần thể Thái lăng nhưng vẫn được nhắc đến với tư cách là tần phi của hoàng đế Ung Chính (theo các cuốn Thanh sử cảo, Thanh triều văn hiến thông khảo, Thanh hoàng thất tứ phổ) gồm:

Lão quý nhân chôn tại viên tẩm của Tô Ma Lạt Cô (thị nữ của Hiếu Trang Văn hoàng hậu, người nuôi dưỡng Khang Hi đại đế).

Cát thường tại, vốn là Cát Quan nữ tử, không rõ nơi chôn cất.

Anh đáp ứng, còn có tên là Lan Anh, không rõ nơi chôn cất.

Uông đáp ứng, không rõ nơi chôn cất.

Đức đáp ứng, không rõ nơi chôn cất.

Thị thiếp Vân Huệ, không rõ nơi chôn cất.

Ảnh: Mr Hoang Li

Nguồn: Văn hóa cung đình Mãn Thanh
 
Tử Cấm Thành
chuyến xe buýt số 375


Câu chuyện xảy ra vào một đêm khuya ngày 14 tháng 11 năm 1995 trên chuyến xe buýt số 375 (có phiên bản bảo rằng là tuyến 330, 331, 333), đêm rất lạnh, gió cũng rất lớn.

Một chiếc xe buýt chầm chậm ghé lại trạm dừng xe buýt trước Viên Minh Viên, đó là chuyến xe buýt cuối cùng của ngày.

Trên xe có một bác tài xế khá lớn tuổi và một cô soát vé trẻ trung.

Cửa xe mở ra, bốn hành khách lên xe gồm một cặp vợ chồng trẻ, một bà lão và một thanh niên.

Sau khi lên xe, cặp vợ chồng ngồi ở hàng ghế đôi sau vị trí của tài xế, cậu thanh niên và bà lão lần lượt một trước một sau ngồi ở hàng ghế đơn bên phải.

Xe chạy về phía trạm cuối Hương Sơn...

Đêm càng thêm tĩnh lặng, bên tai chỉ có thể nghe thấy tiếng động cơ, trên đường gần như chẳng có ai, cũng không có chiếc xe nào qua lại, bởi đêm tháng 11 ở Bắc Kinh rất lạnh, huống chi là một đoạn đường hẻo lánh như thế này (hồi ấy đoạn đường đó cực kỳ hoang vu)

Xe tiếp tục đi tới, qua tầm hai trạm, lúc tới trạm cửa Bắc Cung là đã đi được hơn 300 mét, mọi người bỗng nghe thấy tài xế lớn tiếng mắng mỏ: "Mẹ nó, bình thường giờ này ngay cả một bóng ma cũng đ** thấy, hôm nay thật sự gặp ma cmnr, đm!

Còn đ** thèm đứng chờ ở trạm chờ nữa chứ!".

Lúc này mọi người mới trông thấy ở một nơi cách họ tầm 100 mét có hai bóng đen đang vẫy xe.

Cô gái soát vé cất tiếng nói: "Thôi ngừng lại đi ạ, bên ngoài trời lạnh như thế, với cả tuyến này đã là tuyến cuối cùng rồi". (Mọi người nên biết khi đó tuyến đường từ Viên Minh Viên đến Hương Sơn quả thực có tuyến xe buýt này, với cả đã muộn như thế rồi, tài xế sẽ không chạy vào con đường hẻo lánh như vậy)

Xe dừng, có hai người bước tới, không, chính xác là ba người, bởi giữa hai người đó còn có một người nữa.

Sau khi lên xe, họ chẳng nói gì cả, gồm một người tóc tai rối bời và luôn cúi thấp đầu, còn hai người còn lại mặc trường bào theo kiểu quan phục thời Thanh, mặt mũi cả hai đều trắng bệch.

Mọi người ai nấy đều sợ hãi và hoang mang, duy chỉ có tài xế bình tĩnh tiếp tục lái xe tiến về phía trước.

Lúc này cô gái soát vé mở miệng nói: "Quý khách đừng sợ, có lẽ là gần đây có đoàn phim cổ trang, họ uống hơi nhiều nên không kịp thay quần áo mà thôi", mọi người nghe cô gái nói thế thì đều bình tĩnh trở lại.

Chỉ có bà cụ kia là thường xuyên quay đầu nhìn ba người đằng sau với nét mặt cực kỳ nghiêm túc.

Xe vẫn tiếp tục đi...

Qua tầm ba bốn trạm nữa, đường xá vẫn rất yên tĩnh, gió vẫn lớn...

Cặp vợ chồng trẻ kia đã xuống xe, tài xế và cô soát vé đang vui vẻ trò chuyện với nhau.

Đúng lúc này thì bà cụ bỗng đứng dậy nhào tới trước mặt cậu thanh niên rồi tát bôm bốp lên mặt cậu ta như đang phát điên vậy, luôn miệng mắng rằng cậu thanh niên lúc lên xe đã lén trộm tiền của mình.

Cậu thanh niên bực mình đứng dậy mắng lại bà cụ: "Bà đã lớn thế rồi mà sao lại ngậm máu phun người thế?".

Bà cụ không nói gì, chỉ nhìn cậu thanh niên bằng cặp mắt giận dữ, vươn tay trái gắng sức níu lấy cổ áo cậu không chịu buông.

Cậu thanh niên mặt đỏ phừng phừng không thốt nên lời.

Bà cụ lại tiếp tục nói: "Đằng trước là đồn công an, chúng ta xuống đó để công an họ xử lý!".

Cậu thanh niên sừng sộ đáp trả: "Đi thì đi, ai sợ ai!".

Xe ngừng, bà cụ kéo cậu thanh niên bước xuống xe.

Nhìn theo chiếc xe buýt đã đi xa, bà cụ thở dài một hơi nhẹ nhõm.

Cậu thanh niên vội hỏi: "Đồn cảnh sát ở đâu?", bà cụ nói: "Đồn cảnh sát gì chứ!

Bà già này vừa mới cứu mạng cậu đấy!"

Cậu thanh niên vẫn không hiểu chuyện gì đang xảy ra: "Bà cứu mạng tôi gì chứ.

Tôi thì sao, không phải tôi vẫn đang sống sờ sờ à?"

Bà cụ: "Ba người vừa lên xe lúc nãy không phải là người, mà là ma!"

Cậu thanh niên: "Bà bị điên à!", nói xong liền xoay người muốn đi.

Bà cụ: "Cậu không tin cũng không sao, nhưng để tôi nói hết đã!".

Cậu thanh niên dừng lại, bà lão nói tiếp, "Lúc họ vừa mới lên xe là tôi đã nghi ngờ rồi, vì thế tôi mới không ngừng quay ra sau nhìn họ.

Nói ra cũng thật trùng hợp, nhờ gió từ cửa sổ thổi vào nên tôi mới thấy được tất cả.

Gió thổi tốc lên bộ trường bào của hai người kia, tôi thấy họ không có chân."

Cậu thanh niên mở to mắt nhìn bà cụ, mặt mũi đổ đầy mồ hôi, không thốt lên được lời nào.

Bà cụ nói: "Ngây người làm gì, còn không mau báo cảnh sát đi!"

Ngày hôm sau, trạm điều hành xe buýt báo án: đêm qua, tài xế và nhân viên soát vé của một chuyến xe buýt cuối mất tích.

Cảnh sát cấp tốc điều tra và liên lạc ngay với cậu thanh niên đêm qua đã báo án và bị cảnh sát nghi là "bị tâm thần".

Hai tiếng sau, họ đã tìm được cậu thanh niên và bà cụ kia.

Ngay đêm đó, các báo của Bắc Kinh nhanh chóng đưa tin về vụ việc này và tiến hành phỏng vấn bà cụ và cậu thanh niên nọ.

Ngày thứ ba, cảnh sát phát hiện chiếc xe buýt mất tích ngay tại khu vực gần đập nước Mật Vân, cách Hương Sơn hơn 100 km.

Trong xe có ba xác chết đã thối rữa nghiêm trọng, đồng thời cũng tồn tại rất nhiều điểm đáng ngờ:

Thứ nhất: Xe buýt không thể chạy hơn 100 km sau khi đã chạy suốt cả ngày trời được (vì mỗi một ngày, một chiếc xe buýt chỉ có một lượng xăng cố định để di chuyển đủ chuyến đã quy định mà thôi), và cảnh sát phát hiện bên trong bình xăng không phải là xăng mà là máu tươi.

Thứ hai: Càng khó hiểu hơn là những thi thể được phát hiện chưa tới hai ngày mà đã thối rữa nghiêm trọng, thậm chí ngay cả mùa hè thì cũng không thể xảy ra hiện tượng này, sau khi kiểm chứng thì cũng xác định chắc chắn không có sự nhúng tay từ phía con người.

Thứ ba: Cảnh sát đã kiểm tra chặt chẽ các camera theo dõi trên các tuyến đường đến Mật Vân nhưng không hề phát hiện được manh mối nào.

Chuyện này đã gây rúng động toàn bộ giới y học và ngành cảnh sát ở Bắc Kinh.

Nếu không tin mọi người có thể đi hỏi những người lớn tuổi ở Bắc Kinh là sẽ biết ngay thôi.

Nguồn: Qing An
 
Tử Cấm Thành
thơ


Thành quách lặng im như chưa hề phố xá

Lớp gạch đá ngổn ngang vẽ bóng lâu đài

Buồn thì lún sâu vui thì gập ghềnh đau thương thì vỡ vụn

Giọng trống âm âm san phẳng vết héo mòn

Dòng mương xanh chảy từ thời Lý

Trở về trấn giữ nguồn nước Đông A

Tình yêu vẫn đâu đây rêu mọc

Cổ hơn cả Tử cấm thành

Cổng nào mở cho người hỡi tình yêu thế kỷ?

Cánh cửa nào dẫn tới cấm cung?

Thơ: tử cấm thành
 
Tử Cấm Thành
Minh triều


XUYÊN KHÔNG LÀM PHI, CHỚ VỀ MINH TRIỀU!

Vì sao ư, bởi vì bạn nhất định sẽ chết sớm.

Bạn bị bệnh, không được gặp thầy thuốc, chỉ có thể nói triệu chứng để bốc thuốc mà thôi (1).

Y học ngày xưa, dù có đủ "vọng, văn, vấn, thiết" cũng chưa chắc đã sống nổi, huống hồ chỉ là nói triệu chứng để kê đơn.

Hóa ra các nương nương đi sớm như vậy không phải vì cung đấu, mà là vì cung quy quá khắc nghiệt :'(

Nếu bạn không chết vì bệnh, có lẽ cũng chết vì buồn.

Nếu may mắn các chụy em trong cung không ghét bạn thì không sao, ngộ nhỡ bị ghét, bị tẩy chay "chơi mình đi má ai rảnh đâu mà chơi", bạn cũng không có ai mà chơi đâu.

Gọi mấy bà thím à nhầm mệnh phụ ở ngoài vô chơi á?

Không có đâu.

Minh triều quy định, trừ ngày rằm và khánh tiết (ví dụ sinh nhật chụy hậu, sinh nhật má thiên hạ aka thái hậu...) vô họp điểm danh với trung cung , quần thần mệnh phụ không được vô cớ vào cung (2).

Rồi vậy là xong, không có cái màn chụy em bạn dì vô bà tám bày kế này kế nọ quậy banh nóc hậu cung hay má ruột thấy con gái bánh bèo vô dụng quá vô mắng xơi xơi giữa đường giữa sá rồi quẩy mông về.

Cung đấu đều là lừa dối, lừa dối hết.

Nguồn: Trà chanh trà đá - Chém gió hậu cung.
 
Tử Cấm Thành
Minh triều


#Lich_su #Chuyen_o_thien_trieu

~ CON ĐƯỜNG DẪN ĐẾN MỘT HÔN QUÂN

Có lẽ do toàn phải viết triều Lê, nên đôi khi mình cũng khá hứng thú với chuyện triều Minh.

Theo tin đồn hành lang thì đây là triều đại bị các tác giả ngôn tình hắt hủi nhất, do các vua bị tiếng... xấu chai.

Ông nào giỏi thì thường ác, may được ông nào vừa giỏi vừa hiền thì đoản mệnh, còn lại là hôn quân.

Thời này hoạn quan cậy thế lộng quyền, mà nam chính ngôn tình thì phải một tay che trời mới được, chả nhẽ lại cho anh ấy mất cái kia?

Không không, nam chính ngôn tình có thể tàn bạo vô nhân đạo, ngây thơ ngốc nghếch, vân vân và vũ vũ, nhưng không thể khiếm khuyết chuyện đàn ông.

Minh quân, hôn quân thì triều đại nào cũng có, nhưng khi so gia phả, có lẽ không triều đại nào trong lịch sử "thiên triều" đặc sắc bằng triều Minh.

- Minh Hiến Tông: Về trị quốc, có thể xem như có tài năng.

Yêu say đắm bà cung nữ hơn mình 18 tuổi, phong làm quý phi, để mặc bà ấy bức hại từ hoàng hậu đến cung phi, ai có thai sinh con là giết hết, lại còn cấu kết hoạn quan hãm hại triều thần, khiến hoàng đế suýt đoạn tử tuyệt tôn.

Yêu đến nỗi bà ấy chết xong cũng đau buồn rồi bệnh chết theo.

- Minh Hiếu Tông: Là đứa con trai sống sót hiếm hoi của vị si tình phía trên.

Có thể xem là một minh quân, dù vẫn còn vấn đề về ngoại thích.

Là hoàng đế duy nhất trong lịch sử "thiên triều" theo chế độ một vợ một chồng.

Chả biết có trao thân cho cô nào khác không, chứ về danh phận thì chỉ có một chính thê từ lúc còn làm thái tử đến tận khi nhắm mắt xuôi tay.

Không lập phi tần, mặc triều thần can gián.

- Minh Vũ Tông: Là kết quả mối tình "trung trinh" của vị phía trên.

Nghe đâu lúc bé cũng thông minh, cơ trí, khổ nỗi càng lớn càng sa đà vào tửu sắc, không màng chính sự.

Đam mê lớn nhất có lẽ là xây vườn thú.

- Minh Thế Tông: Là em họ của vị thích xây vườn thú phía trên.

Nửa đời đầu cũng giỏi giang, quyết đoán, nhưng nửa đời sau lại nghe lời bùa mê thuốc lú của đám đạo sĩ, đóng cửa luyện đan không màng chính sự.

Đam mê lớn nhất có lẽ là tu tiên.

- Minh Thần Tông: Là cháu nội của vị "thần tiên bệ hạ" phía trên.

Có lẽ do gene, nên nửa đời đầu cũng giỏi giang, quyết đoán, nửa đời sau đóng cửa... sầu đời.

Nguyên nhân "sa ngã" của vị này tương đối phức tạp, chứ không phải chỉ vì chuyện ái tình như nhiều người phê phán.

Chính trị thời này khá thú vị, nếu đủ siêng mình sẽ đào sâu.

- Minh Hy Tông: Là cháu nội của vị "sầu đời" phía trên.

Đến lúc này, gene tốt đã cạn rồi.

Không màng chính sự, để mặc hoạn quan, nhũ mẫu lộng quyền giết hại trung lương.

Đam mê lớn nhất là điêu khắc gỗ.

Ngày xưa cứ thấy "hôn quân" là mình chửi, nhưng sau này nhìn lại, có một số vấn đề thuộc về thời thế, không phải cứ muốn xử lý là xử lý được.

Thật ra, làm một hoàng đế, không phải cứ có lòng yêu nước thương dân là đủ.

Sự lớn mạnh của các thế lực ngoại bang, chuyện bè phái trong triều từ trước lúc đăng cơ, hay những thứ lặng lẽ như cơ cấu hành chính, sự phân quyền giữa các bộ, các cục, sự biến đổi về tư tưởng, tôn giáo, xu hướng kinh tế thị trường trong xã hội...

đều không phải những thứ một mình một người có thể điều khiển được, dù người ấy là thiên tử.

Huống hồ, tuy gọi là "thiên tử", nhưng hoàng đế còn có cả đám tổ huấn, lễ chế, "đạo thánh hiền", rồi xyz chuyện từ đời ông cố nội đến đời ông tổ luôn có thể bị triều thần mang ra làm gông xiềng aka "gương sáng", không phải cứ muốn làm gì là làm được.

Nguồn: Vy huỳnh| bibutbong
 
Tử Cấm Thành
Minh Thế Tông Gia Dĩnh đế


"Tôi cho phép em cười tôi" và huyền thoại đốt cung quẩy ở Tử Cấm Thành

"Dã hoạch biên" chép rằng, năm Gia Tĩnh thứ 40, Vĩnh Thọ cung bị cháy, mà nguyên nhân cháy là do Minh Thế Tông Gia Tĩnh đế ham dzui, cùng Thượng mỹ nhân ở trong màn chơi trò đốt pháo bông.

Vĩnh Thọ cung cháy rụi mà cặp đôi dân chơi cũng xém thành heo quay.

Thượng mỹ nhân này lai lịch rất đặc biệt, xứng đáng trở thành tấm gương cho hội chị em ngôn tình, đặc biệt là những chị em "trẻ con thích chơi đồ cổ".

Truyền rằng năm ấy Thượng thị 13 tuổi chỉ là 1 tiểu cung nữ, hầu hạ trong nội cung.

Một hôm Gia Tĩnh đế tụng kinh, lúc gõ khánh vô tình gõ lộn cái bàn, nguyên dàn thị nữ không dám ngẩng đầu, chỉ có Thượng thị dám bật cười thành tiếng.

Thế Tông (lúc này đã 60t) gương mặt nghiêm túc không kém Tề Mặc nhìn chằm chặp Thượng thị, cuối cùng nói ra một câu không thể chuẩn soái ông nội hơn "Cháu à không em là ai?

Tôi cho phép em cười tôi!".

Thượng thị được thị tẩm, trở thành Thượng mỹ nhân, là Gia Tĩnh đế lão niên đệ nhất sủng phi, do còn trẻ trâu ở trong cung buồn quá nên bày trò đốt cmn cung như đã kể :v Tuy xém thành heo quay nhưng Gia Tĩnh vẫn sủng ái Thượng thị như cũ, 5 năm sau phong làm Thọ phi, nghi lễ cực kỳ hoành cmn tráng, truy phong phụ thân Thọ phi làm quan nhị phẩm, phong anh trai làm quan ngũ phẩm.

Đáng tiếc Gia Tĩnh đã già mà Thọ phi lại quá sung, sắc phong chưa bao lâu, ghế phi ngồi chưa nóng đít thì Gia Tĩnh đã tèo, dư luận lúc đó đồn rằng do Thọ phi túng dục mị hoặc nên vua mới ngỏm củ tỏi.

Thọ phi ở góa khi mới 18t, tuy nhiên cũng đã viết nên một huyền thoại về khởi nghiệp cho các bạn trẻ.

Nguồn: Trà chanh trà đá- Chém gió hậu cung
 
Tử Cấm Thành
Ngụy nương nương


DỰA THEO THAI GIÁO THỜI CỔ, NGỤY NƯƠNG NƯƠNG ĐÃ BỊ CÀN LONG CHÀ ĐẠP KHÔNG THƯƠNG TIẾC!

Y thư cổ dạy rằng: "Mang thai không ngồi xe, ngựa" (1)

-Ngụy thị mang thai thất công chúa phải tùy giá Viên Minh Viên (2)

-Mang thai thập tứ a ca tùy giá Giang Nam.

Thập tứ a ca sinh ngày 22/7 năm Càn Long thứ 22 (3), ngày 11/1 cùng năm tức khi Ngụy thị mang thai chưa đầy 4 tháng - thời gian nguy hiểm nhất, Ngụy thị đã phải theo Càn Long Nam tuần (4).

-Mang thai thập ngũ a ca đi Viên Minh Viên (5).

(Nghe đồn cửu công chúa khi trong bụng cũng theo mẹ đi Viên Minh hành xác nhưng mình không tìm được tài liệu :v À cái này do fan Ngụy nương nương bên Tàu lẫn Việt Nam đồn :v Còn 16 với 17 lười kiếm :v )

Y thư cổ cũng viết: mang thai không nên "trách mắng" (6a,b), "giận dữ" (7)

-Ngụy thị mang thai lần 4, bụng to phải dạy dỗ quy củ cho tân nhân (Thụy thường tại) (8).

Kết quả: sảy thai (9).

Càn Long có biết những chuyện này không?

Khó mà không biết :v Riêng đối với chuyện đi lại:

-Vì Hiếu Hiền hoàng hậu mang thai Vĩnh Tông, Càn Long đã cho tổ chức nguyên tiêu ở trong cung (10).

-Kế hậu mang thai và sinh thập nhị a ca ở trong cung (11).

Khi bà sắp sinh, Càn Long từ Viên Minh Viên hồi cung (12).

Càn Long đối với việc thập nhị a ca sinh ra tương đối coi trọng, còn viết cả thơ (13).

Ngụy thị dường như mỗi một lần mang thai là một lần cơ thể bị hành hạ, đáng thương, đáng thương thay :v

Nguồn: Trà chanh trà đá- Chém gió hậu cung.
 
Tử Cấm Thành
=))


Những lá sớ mà Khang Hy và Ung Chính từng phê duyệt.

Cuối cùng cũng hiểu tại sao họ phải thức đến tận khuya rồi. 🙂)

_________

Ngày 28 tháng 3 năm Khang Hy thứ 58.

Tổng đốc vùng Mân Chiết (Phúc Kiến, Chiết Giang ngày nay) sớ rằng: Đây là Xoài - đặc sản của Đài Loan, kính biếu Hoàng thượng ạ.

Khang Hy: Biết rồi.

Thứ này chẳng có ích gì, không cần dâng nữa.

Qua một tháng sau.

Ngày 29 tháng 4 năm Khang Hy thứ 58.

Tổng đốc vùng Mân Chiết: Đây là Xoài - đặc sản của Đài Loan, kính biếu Hoàng thượng.

Khang Hy: Biết rồi.

Trước chưa thấy quả xoài, tính xem xem nó thế nào, xem xong thấy thứ này cũng chẳng có ích gì.

Sau này đừng dâng lên nữa. (Đã kêu không dâng rồi còn dâng làm con mèo gì nữa vậy???)

(Xoài: Tui có lỗi gì đâu.

Tui ngon thấy mồ.)

_______

Ngày 15 tháng 5 năm Ung Chính thứ 13.

Quan giám sát thủy binh tỉnh Phúc Kiến: Bẩm Hoàng thượng, ở Đài Loan có một người phụ nữ nhặt được của rơi lại không tạm thời đút túi ạ.

Ung Chính: Đã đọc. (Chuyện bé tí này cũng cần phải dâng sớ à?)

_________

Ngày 1 tháng 7 năm Khang Hy thứ 60.

Chức tạo (quản lý việc dệt may, vải vóc) tỉnh Hàng Châu: Bẩm Hoàng thượng, Chu Nhất Quý tụ tập dân chúng khởi nghĩa rồi ạ.

Khang Hy: Nhà ngươi nói không có đầu có đuôi gì hết, chẳng hiểu ra sao.

Thật ra, Hoàng thượng trả lời thế này đã khách sáo lắm rồi đấy.

Bởi tin tức mà vị Chức tạo Hàng Châu này báo cáo là một tin cũ mèm, hai tháng trước đã có người dâng tấu rồi.

Ngày 8 tháng 5 năm Khang Hy thứ 60.

Tổng đốc vùng Mân Chiết: Bẩm Hoàng thượng, bọn dân đen ở Đài Loan tụ tập khởi nghĩa ạ.

Khang Hy: Việc này lớn đấy, trẫm đang viết chỉ dụ chiêu hàng.

Theo ghi chép trong lịch sử, cuối tháng 4 năm ấy, Chu Nhất Quý bắt đầu khởi nghĩa, đầu tháng 5, Tổng đốc Mân Chiết dâng sớ báo cáo.

Giữa tháng 6, nhà Thanh ra quân, đến cuối tháng 6 thì cuộc khởi nghĩa đã được dẹp loạn.

Thế mà vị Chức tạo Hàng Châu - Tôn Văn Thành này đến tận tháng 7 mới bẩm: "Có người làm khởi nghĩa ở Đài Loan kìa Hoàng thượng."

Hiểu tâm trạng của Hoàng thượng rồi đấy...

_________

Ngày 1 tháng 11 năm Khang Hy thứ 56.

Chức tạo Hàng Châu: Trụ trì chùa Pháp Vũ viên tịch rồi, còn có một kẻ trí thức tên Cừu Triệu Ngao mấy bữa trước cũng ngỏm luôn ạ.

Khang Hy: Nhà ngươi lại dám đặt sớ này vào cùng một cái túi với sớ hỏi thăm sức khỏe trẫm à?

Bất kính.

Muốn ăn đòn hử?

Vị quan Chức tạo Hàng Châu - Tôn Văn Thành này không những lẩn thẩn, còn vô cùng thích viết sớ hỏi thăm sức khỏe Hoàng thượng, dưới đây là những lá sớ mà ông ta gửi cho Ung Chính.

Ngày 1 tháng 11 năm Ung Chính thứ 1.

Chức tạo Hàng Châu: Hoàng thượng, ngài khoẻ không?

Ung Chính: Trẫm khoẻ.

Ngày 1 tháng 9 năm Ung Chính thứ 4.

Chức tạo Hàng Châu: Hoàng thượng, ngài khỏe không?

Ung Chính: Trẫm khoẻ.

Ngày 1 tháng 2 năm Ung Chính thứ 5.

Chức tạo Hàng Châu: Hoàng thượng, ngài khoẻ không?

Ung Chính: Trẫm khoẻ.

Ngày 1 tháng 1 năm Ung Chính thứ 5.

Chức tạo Hàng Châu: Hoàng thượng, ngài khoẻ không?

Ung Chính: Trẫm khoẻ.

Ngày 1 tháng 12 năm Ung Chính thứ 4.

Chức tạo Hàng Châu: Hoàng Thượng, ngài khoẻ không?

Ung Chính: Trẫm khoẻ, DẠO NÀY LẠI BÉO RA TÍ.

Ngày 1 tháng 11 năm Ung Chính thứ 4.

Ngày 1 tháng 9 năm Ung Chính thứ 5.

...

(Xin phép lược bớt!)

Có lẽ là bởi sớ hỏi thăm sức khỏe của Tôn Văn Thành nhiều quá, Hoàng thượng cũng bị lẫn luôn, như dưới này đây:

Ngày 23 tháng 11 năm Ung Chính thứ 3.

Chức tạo Hàng Châu: Đây là báo cáo tình hình thời tiết và giá lương thực, mời Hoàng thượng xem ạ.

Ung Chính: Trẫm khoẻ. (((((🙂

__________

Vị quan Tổng đốc tỉnh Trực Lệ (Hà Bắc ngày nay) này đây cũng lạ vô cùng, cái nội dung đã báo cáo rồi, cứ gửi hết lần này đến lần khác.

Ngày 4 tháng 6 năm Khang Hy thứ 56.

Tổng đốc vùng Trực Lệ: Đây là tình hình mưa gió ĐẦU tháng 6 của phủ Thuận Thiên, phủ Bảo Định và vài phủ khác.

Khang Hy: Ở đâu cũng mưa, nhiều sớ báo cáo thời tiết quá, với lại tình hình mưa gió ở Kinh Thành với Kinh Bắc trẫm biết lâu rồi.

Ngày 6 tháng 6 năm Khang Hy thứ 56.

Tổng đốc vùng Trực Lệ: Đây là tình hình mưa gió ĐẦU tháng 6 của phủ Thuận Thiên, phủ Bảo Định và vài phủ khác.

Khang Hy: Đã trả lời rồi.

Ngày 8 tháng 6 năm Khang Hy thứ 56.

Tổng đốc vùng Trực Lệ: Đây là tình hình mưa gió ĐẦU tháng 6 của phủ Thuận Thiên, phủ Bảo Định và vài phủ khác.

Khang Hy : Đã trả lời rồi mà.

Ngày 10 tháng 6 năm Khang Hy thứ 56.

Tổng đốc vùng Trực Lệ: Đây là tình hình mưa gió ĐẦU tháng 6 của phủ Thuận Thiên, phủ Bảo Định và vài phủ khác.

Khang Hy: Trẫm biết ngày 12 sẽ có mưa lớn ở Kinh Thành với Kinh Bắc từ lâu rồi.

Không cần báo nữa đâu.

Ngày 25 tháng 6 năm Khang Hy thứ 56.

Quan Tổng đốc vùng Trực Lệ: Đây là tình hình mưa gió GIỮA tháng 6 của phủ Thuận Thiên, phủ Bảo Định và vài phủ khác.

Đường sông đã được xây dựng tốt, không có nạn châu chấu.

Khang Hy: (Mẹ nó...) Ngày 27 có mưa, trẫm cũng biết rồi.

Không được báo cáo nữa. (Aaaa)

Cứ tưởng cuối cùng cũng hết rồi, năm sau lại tiếp tục.

Ngày 21 tháng 6 năm Khang Hy thứ 57.

Quan Tổng đốc vùng Trực Lệ: Đây là tình hình lượng mưa dồi dào của phủ Thuận Thiên, phủ Bảo Định và vài phủ khác.

Khang Hy: Nước mưa dồi dào từ sớm, báo cáo của khanh cũng "dồi dào" quá rồi đấy. (Cmn chứ, nhà ngươi đang spam đấy hử?)

________

Vẫn là vị Tổng đốc ở trên (nhưng lúc này còn đang làm Tuần phủ, chưa được thăng chức).

Ngày 24 tháng 2 năm Khang Hy thứ 50.

Tuần phủ vùng Trực Lệ: Thần có thể đến Kinh Thành dự tiệc sinh nhật của Hoàng thượng không ạ?

Khang Hy: Không được đến.

Ngày 2 tháng 3 năm Khang Hy thứ 50.

Tuần phủ vùng Trực Lệ: Ngày 13 tháng 3, thần đến dự sinh nhật ngài nhé?

Khang Hy: Không cho đến.

________

Cư dân mạng bày tỏ:

Vị sếp này tốt tính ghê, tui đọc cái báo cáo thời tiết kia mà muốn ói máu.

Có tâm như mấy thím bán hàng online rep inbox của các thượng đế vậy.

Cả đống sớ linh tinh thế này, làm gì còn thời gian cho cả hậu cung ba ngàn giai lệ chứ.

Vậy nên hậu cung đã hợp sức diễn cho chúng ta bộ Chân Hoàn Truyện đấy còn gì. 🙂)))

Ông ở Trực Lệ là ham party hay ham Hoàng thượng vậy ạ?

Mà mạng lag hay sao, gửi những hai lần.

Tôn Văn Thành mạng lớn thật đấy.

Bất kính thế kia mà sống hết thời Khang Hy lại đến thời Ung Chính được luôn.

"Dạo này lại béo ra tý."

Muahahahah.

________

Tài liệu tham khảo: 台北故宫博物院官网 -《清代宮中檔奏摺及軍機處檔摺件》

Tạm dịch: Tủ sớ trong cung và tủ sớ các bí mật quân sự thời nhà Thanh - Website Viện bảo tàng cố cung Đài Bắc.

Tổng hợp và viết bài: 数知实验室 (Bạn nào muốn đọc bài gốc thì có thể lên weibo tìm tên người viết.)

Dịch: Linh Lung Tháp.

Bài viết sau khi đăng tải được 3 ngày đã có 174k lượt thích, 215k lượt chia sẻ, 34k bình luận.

Mình đọc khoảng 100 top comments đầu tiên, và không thấy ai nói tư liệu được sử dụng ở đây là giả, là bịa gì cả.

Thực ra, thím viết bài không để nguồn nhé, thế là có bình luận (khoảng 8k likes) kêu này thuộc về bên Viện Bảo tàng mình nhắc ở trên.

Mình tìm theo tên tư liệu ấy thì quả là có thật, khá khớp với mốc lịch sử.

Nhưng lời văn ở đây được hiện đại hoá rồi, nghĩa tương đương thôi.

Mình đọc được một bình luận dưới bài post này đây, thấy có bạn nói đợt trước cũng đi Cố cung Đài Bắc, bạn ấy với bố nhìn thấy cái này được trưng trong đó cũng cười suốt.

Mực đỏ viết tay đàng hoàng luôn. 🙂)))
 
Tử Cấm Thành
giải oan cho các quan đại thần nhà Thanh


Giải oan cho các quan đại thần nhà Thanh.

Chẳng lẽ bạn nghĩ rằng hai vị Hoàng đế thông minh nhất, chăm chỉ nhất triều nhà Thanh, lại có một đám đại thần lẩn thẩn như thế này?

Ôi, đương nhiên là không phải rồi.

1.

Về việc biếu xoài.

Vị Tổng đốc vùng Mân Chiết dâng xoài cho Khang Hy, tên gọi Giác La Mãn Bảo, là bà con xa cùng tộc với Hoàng thượng, cũng là thế hệ thứ hai của người Đông Bắc.

Việc ông ta gửi xoài cho Hoàng thượng, xuất phát từ tâm trạng của một người Đông Bắc lần đầu tiên được nhìn thấy trái cây vùng nhiệt đới, vậy nên muốn chia sẻ cho đồng hương để cùng thưởng thức.

Khang Hy ăn được món ngon như vậy, đáng lẽ sẽ thích vô cùng.

Nhưng, nghĩ đến việc xoài chín rồi thì để không được, xanh thì không ngon, nhận một đống xoài thì dân chúng nơi đó sẽ tức giận mắng chửi, thế là quyết định không cho Mãn Bảo gửi nữa.

Hoàng thượng không nói “không ngon”, chỉ nói rằng “vô ích”, thật ra là tiếc tiền vận chuyển, dùng bạc của triều đình hết mà.

Đương nhiên, Hoàng đế sẽ không nói mấy lời “phàm trần tục thế” giống chúng ta rồi, ông ta sẽ nói:

”̶N̶̶g̶̶ư̶̶ờ̶̶i̶ ̶Đ̶̶ô̶̶n̶̶g̶ ̶B̶̶ắ̶̶c̶ ̶b̶̶ọ̶̶n̶ ̶t̶̶a̶ ̶ở̶ ̶đ̶̶â̶̶u̶ ̶c̶̶ũ̶̶n̶̶g̶ ̶c̶̶ó̶ ̶h̶̶ế̶̶t̶̶.̶"

“Bất thượng hiền, sử dân bất tranh.

Bất quí nan đắc chi hóa, sử dân bất vi đạo.

Bất kiến khả dục, sử dân tâm bất loạn.”

- Đạo Đức Kinh | Lão Tử

Dịch xuôi:

Không sùng thượng hiền tài, khiến cho dân không tranh.

Không quý của khó được, khiến cho dân không trộm cướp.

Không phô trương những gì kích thích lòng ham muốn, khiến cho lòng dân không loạn. (Nguồn: nhantu.net)

Không lâu sau khi biếu xoài, Mãn Bảo được thăng lên làm Thượng thư, có địa vị cực cao.

2.

Về việc hỏi thăm sức khỏe.

Vị quan dệt may Hàng Châu cứ lặp đi lặp lại mấy câu hỏi thăm Ung Chính – Tôn Văn Thành này, là được ông nội của Tào Tuyết Cần (Tác giả Hồng Lâu Mộng) – Tào Dần tiến cử.

Chức quan dệt may thuộc quyền quản lý của phủ nội vụ, là người của riêng Hoàng thượng, chứ không phải là người của bên triều đình.

Chức quan này không chỉ quản lý việc may mặc của hoàng gia, còn là cơ sở ngầm đấy.

Cả Tôn Văn Thành và Tào Dần đều là tai mắt của Khang Hy đặt ở từng địa phương để thu thập tình báo.

Tôn Văn Thành báo cáo với Khang Hy về việc ở Đài Loan có người tạo phản, bởi nơi ông nằm vùng mãi tận Hàng Châu nên có lẽ tin tức này truyền đến ông ta qua đường biển, nhưng khi ấy đã dẹp loạn được khởi nghĩa rồi.

Khang Hy tất nhiên sẽ chẳng trách ông ta, bởi việc nghe ngóng thông tin rồi báo cáo là phận sự của Tôn Văn Thành.

Hoàng thượng còn khoe rằng: “Chúng ta đánh thắng bọn dân đen kia rồi!”

Có cảm giác thành tựu quá luôn ấy chứ.

Tôn Văn Thành giữ chức quan dệt may Hàng Châu trong suốt 21 năm, đến khi Ung Chính lên ngôi, muốn điều tra ông ta, điều tra mấy năm liền cũng chẳng tìm ra xíu sai sót nào cả.

Lúc này, Tôn Văn Thành liên tục dâng lên Hoàng thượng những lá sớ hỏi thăm sức khỏe.

Đây là một loại sách lược, dùng rất nhiều tin tức dư thừa để ảnh hưởng những suy đoán của Hoàng đế, Ung Chính vừa nhìn vào là sẽ biết ông ta là một lão già lẩn thẩn, mà chẳng phải một kẻ khôn khéo, gian trá.

Sớ nào Ung Chính cũng trả lời, còn nói mình “béo ra tý”, bạn xem kìa, ông ta nhận được rất nhiều sự quan tâm của Hoàng thượng.

Quần áo bạn mặc từ nhỏ đều do người này làm ra, giờ kẻ này ngày nào cũng ngớ ngẩn hỏi thăm sức khỏe bạn.

Ung Chính cũng bị ông ta lừa, cảm thấy người này không khôn khéo gian trá gì, chỉ là có chút hoa mắt ù tai tuổi già thôi.

Làm chức quan dệt may này thường bị khám xét nhà lắm, nhà của Tào Tuyết Cần bởi vậy cũng bị tịch thu đó thôi.

Trải qua hai đời Hoàng đế, Khang Hy và Ung Chính, Tôn Văn Thành mất chức cũng chỉ do tuổi già.

3.

Về việc dự yến thọ.

Vị Tổng đốc vùng Trực Lệ (nhậm chức này hơn 10 năm) suốt ngày dự báo thời tiết kia tên gọi Triệu Hoằng Nhiếp, là con của Triệu Lương Đống.

Triệu Lương Đống chính là vị quan Tổng binh để râu quai nón mà nhân vật Vi Tiểu Bảo trong cuốn tiểu thuyết của Kim Dung gặp ở Thiên Tân, sau này trở thành vị tướng quân với những chiến công vô cùng hiển hách.

Triệu Hoằng Nhiếp vừa vào triều làm quan đã là quan nhị phẩm, ông ta nhỏ hơn Khang Hy 2 tuổi, cũng là bạn đồng lứa của Khang Hy.

Khoảng cách ngày sinh của hai người này cũng không cách biệt là bao, một kẻ là Bạch Dương, một người là Kim Ngưu.

Khang Hy già đi một tuổi, Triệu Hoằng Nhiếp cũng già đi một tuổi.

Ông ta muốn dự sinh nhật của Khang Hy, ý muốn nói ở đây là muốn đi gặp ông anh già, hai người họ có mối quan hệ vô cùng thân thiết.

Hoàng đế không cho ông ta đến Kinh Thành, là bởi thấy ông ta tuổi cũng lớn rồi, sao chịu được đường sá xa xôi.

Bạn thử tưởng tượng khi mình quên sinh nhật người yêu xem nào, có chết không chứ?

Năm Khang Hy thứ 56, Triệu Hoằng Nhiếp cứ báo đi báo lại tình hình thời tiết, năm ấy Khang Hy đã 64 tuổi, còn ông ta đã 62, già cả hết rồi.

Nhìn mấy bản tấu sớ mà xem, Triệu Hoằng Nhiếp có vẻ đã chẳng thể đảm nhiệm công việc được nữa, nhưng Khang Hy vẫn giữ ông ta làm chức Tổng đốc.

Năm Khang Hy thứ 61, Triệu Hoằng Nhiếp qua đời, cùng năm ấy, Hoàng đế cũng băng hà.

Thụy hiệu (tên sau khi mất) của Triệu Hoằng Nhiếp là Túc Mẫn, vị phu nhân của ông ta được thăng lên làm nhất phẩm cáo mệnh.

Hoàng thượng chỉ đặt những kẻ ông ta tin cậy nhất ở bên mình, đưa đi trấn thủ Trực Lệ.

Sau khi đọc xong ba việc này, bạn cảm thấy Hoàng thượng tin dùng ba kẻ ăn hại sao?

Ai cũng thông minh, ai cũng có kinh nghiệm hết.

Quan hệ giữa vua tôi và thần tử ở đây chắc bạn đã biết rồi, cũng biết được những suy nghĩ toan tính của ba người này cũng như cách làm việc với lãnh đạo của họ.

Lúc trước cho rằng những kẻ được trọng dụng toàn là mấy kẻ già lẩn thẩn, lại vô cùng ngớ ngẩn, sau này mới hiểu được, người nhận được sự tín nhiệm của lãnh đạo chắc chắn có chỗ tài giỏi của riêng họ.

Nguồn: https://mp.weixin.qq.com/s/wWS-WgQs7OVOOfOgqzLTJw

Dịch: Linh Lung Tháp.
 
Tử Cấm Thành
13 nơi bí ẩn trong Tử Cấm Thành


ĐÊM THỨ BA: 13 "nơi bí ẩn" trong lòng Tử Cấm Thành

Là dân Bắc Kinh chính cống, số lần tôi đến thăm Cố Cung chỉ "nhỉnh" hơn quý vị có "tí xíu" thôi - 24 lần.

Mỗi khi bạn bè đến Bắc Kinh chơi, tôi đều dẫn họ tới đây đầu tiên.

Hồi Olympic năm 2008 tôi có tham gia làm tình nguyện, hằng ngày đều tiếp đón rất nhiều bạn bè quốc tế, trạm đầu tiên trong lộ trình tham quan cũng là ở đây.

Bây giờ thì tôi rất ít đi vì không đủ kiên nhẫn đợi xếp hàng nổi nữa.

Có lẽ khi đến Cố Cung hẳn ai cũng sẽ đi theo trình tự như thế này: tiến vào từ Ngọ Môn, quần tới quần lui tìm đến cửa Thái Hòa, sau đó rồi bước vào điện Thái Hòa, điện Trung Hòa, điện Bảo Hòa, cung Càn Thanh, cung Khôn Ninh,... và ra cửa thành!

Nếu chỉ cưỡi ngựa xem hoa như thế thì tầm một buổi sáng là đã tham quan xong.

Tuy nhiên, sức hấp dẫn thật sự của Cố Cung chỉ có những người thực sự hiểu rõ về tòa thành này mới biết được.

Có rất nhiều phong cảnh, vật báu, tranh chữ,... mà nếu không nói với bạn thì dù bạn có đi bao nhiêu lần cũng sẽ không biết được.

Rất may mắn là cách đây không lâu, anh Lý Vỹ đã đích thân dẫn tôi đi dạo Cố Cung một chuyến, đi xong rồi tôi chợt cảm thấy 23 lần tham quan trước của mình quả rất uổng phí.

Tôi xin giới thiệu sơ lược về anh Lý Vỹ, anh ấy là hướng dẫn viên thâm niên của viện bảo tàng quốc gia, là khách quý của nhiều chương trình về lịch sử được phát sóng trên CCTV.

Kênh Youku và Weixin của anh ấy là AU炜, những bài đăng và video của anh ấy được rất nhiều bạn đọc hoan nghênh.

Điều khiến tôi ngạc nhiên tột độ và khắc sâu nhất trong chuyến đi này chính là 13 nơi thần bí của Cố Cung, hôm nay tôi xin phép được chia sẻ với quý vị, mong lần tới khi quý vị đến Cố Cung sẽ tìm hiểu nhé.

1.

"Chiếc hộp bí ẩn" trước cửa Thái Hòa:

Người đến Cố Cung thì bao la nhưng dường như có rất ít người chú ý đến nó, hai bên trái phải đều có một "hộp" như vậy.

Trong tòa thành mang tên Tử Cấm này không có bất kỳ một vật nào tự dưng lại được đặt ở một vị trí nào đó.

Chiếc "hộp" này cũng tương tự.

Nó đã xuất hiện ở đây từ thời Minh, rất nặng, không thể mở ra chỉ bằng sức của một người mà cần vài người hợp sức lại mới có thể mở được.

Có ghi chép kể lại rằng, hoàng đế Càn Long cũng từng tò mò bên trong tảng đá lớn này là thứ gì nên đã sai người mở ra xem.

Hóa ra bên trong là ngũ cốc tượng trưng cho đất đai và giang sơn xã tắc.

2.

"Đình đá" trước cửa Thái Hòa:

Cũng như cái "hộp đá" kia, có rất ít người chú ý đến cái "đình đá" này.

Ở giữa cái "đình" được khoét một lỗ vuông, được dùng để đặt "nguyệt phân bài".

Nguyệt phân bài là một kiểu lịch thịnh hành những năm cuối đời Thanh và những năm đầu Dân Quốc.

3.

Hoằng Nghĩa các nằm ở phía tây của khoảnh sân lớn thuộc điện Thái Hòa:

Hoằng Nghĩa các chính là "kim khố" (kho tiền) của Đại Thanh.

Ngày xưa vàng bạc đều được để hết ở đây.

Lúc thái giám "vận chuyển" tiền sẽ phải cởi sạch quần áo để tránh tình trạng lén lút trộm thêm.

Hiện tại không có nhiều người để ý đến Hoằng Nghĩa các bởi điện Thái Hòa đằng trước quá thu hút, song chỉ cần bạn chạy thêm mấy bước nữa thì sẽ có một góc chụp rất đẹp đấy.

4.

Hành lang ở hai bên hông của "Tam Đại điện" gồm điện Thái Hòa, điện Trung Hòa, điện Bảo Hòa:

Đây là nơi chụp ảnh lý tưởng nhất vì rất ít người qua lại, rất dễ tìm được góc chụp đẹp.

5.

Những "khối vuông trắng" trong sân lớn của điện Thái Hòa:

Đây là những khối vuông không hề tầm thường mà mang ý nghĩa lịch sử rất lớn.

Những khối vuông này không chỉ đơn giản để "trưng" như vậy mà là dấu hiệu cho biết phẩm cấp của quan viên.

Vào thời Thanh, trước sân có đặt những khối vuông như khối sắt vậy đó, tục gọi là "phẩm cấp sơn".

Căn cứ vào những khối vuông này, các vị quan sẽ tùy theo phẩm cấp của mình rồi đứng theo từng hàng ngay ngắn.

6.

Phần nền của Cố Cung chỉ sâu 7 - 8 mét, để phòng ngừa có người đào địa đạo lẻn vào.

7.

Hệ thống thoát nước của Cố Cung rất tốt, chưa từng có lũ:

Một ví dụ cụ thể là vào năm 2012, Bắc Kinh có một trận mưa rất to, non nửa Bắc Kinh chìm trong biển nước, chỉ duy nhất Cố Cung không hề bị ngập.

Ở Cố Cung có rất nhiều rãnh thoát nước, bạn có thể mở nắp rãnh ra đấy.

8.

Từ điện Bảo Hòa đi thẳng về phía Tây sẽ đến cửa Long Tôn, trên bức hoành có cắm một đầu mũi tên từ năm 1813:

Xuất xứ của mũi tên này cũng khá huy hoàng.

Năm ấy, lúc Thiên Lý giáo tấn công hoàng cung, quân khởi nghĩa đã đánh thẳng vào Tử Cấm Thành, mũi tên này được lưu lại từ cuộc chiến ấy.

Năm Gia Khánh thứ 18, khởi nghĩa nông dân Thiên Lý giáo nổ ra, quân khởi nghĩa cải trang, kết hợp với thái giám trong cung nội ứng ngoại hợp tấn công Tử Cấm Thành.

Đương quân phản loạn vừa đánh tới cửa Long Tông thì bị cấm vệ hoàng cung vây bắt, toàn bộ quân của Thiên Lý giáo bỏ mạng dưới cơn mưa loạn tiễn.

Trong đó có một mũi tên còn lưu lại ngay trên tấm hoành.

Hoàng đế Gia Khánh hạ lệnh lưu lại đầu mũi tên đó để tự nhắc nhở chính bản thân mình rằng nếu không thống trị quốc gia đàng hoàng thì quân khởi nghĩa vẫn sẽ mọc lên và đánh vào hoàng cung lần nữa, mà chỉ cần quân địch vượt được cửa Long Tông là sẽ nguy hại trực tiếp đến hậu cung và những nơi bí mật quân sự khác.

9.

Nếu bạn không đến Trân Bảo Quán thì chẳng khác nào chưa từng tới Cố Cung:

Đi qua cửa Tích Khánh chính là Trân Bảo Quán.

Hậu hoa viên bên trong cung Ninh Thọ là nơi hoàng đế Càn Long định an hưởng lúc tuổi già, nhưng vẫn chưa kịp hưởng thụ thì đã về trời.

Sau này nơi đó trở thành hậu hoa viên của thái hậu Từ Hy.

10.

Bậc cửa của Cửu Long Bích (bên trong Trân Bảo Quán) đối diện cửa Hoàng Cực là bậc cửa bằng đá duy nhất của cả Cố Cung.

11.

Hoa viên của cung Ninh Thọ (hay còn gọi là hoa viên Càn Long) là nơi cách âm tốt nhất Cố Cung và cũng là nơi có phong cảnh tao nhã nhất.

Chỉ cần bước vào cửa thì cả thế giới đều bất chợt yên lặng theo.

Hoàng đế Càn Long rất thích cảnh tượng trong bài "Lan Đình tập tự" của Vương Hy Chi nên kiến trúc bên trong đều được bài trí theo kiểu "lưu thương khúc thủy"(đây là một phong tục có từ đời nhà Chu, tầm vào thượng tuần tháng 3, mọi người ngồi hai bên bờ dòng nước và thả những chén rượu xuống, chén trôi tới ai thì người đó uống hoặc đối thơ), "mậu lâm tu trúc" (rừng xanh tốt, trúc vút cao).

Chỉ là "mậu lâm tu trúc" này được điêu khắc trên những thành lan can bằng đá

12.

Hòa Thân và Kỷ Hiểu Lam...

"xuyên không":

Đi qua hoa viên cung Ninh Thọ là cửa Nguyệt Lượng của hiên Di Hòa, mọi người sẽ thấy một bức họa, và bạn thấy gì không?

Kia chính là bức tranh có vẽ Kỷ Hiểu Lam và Hòa Thân bản truyền hình mà chúng ta từng xem đấy.

Bức tranh này tên là "Vạn Pháp Quy Nhất" vẽ lại cảnh tượng hoàng đế Càn Long nghe cao tăng giảng Phật tại một sơn trang nghỉ mát ở Thừa Đức.

Nhưng đây không phải là bản gốc.

13.

Chúng ta thường hay nghe thấy những cái tên như "Văn Uyên các", "Văn Uyên các Đại học sĩ",... những cái tên này quả thật tồn tại ở Cố Cung, chỉ là có rất ít người biết nó ở đâu.

Bước ra cửa trái ngoài sân lớn của điện Thái Hòa, đi thẳng, bạn sẽ thấy một ngọn cờ đề ba chữ "Đào Từ Quán" (đào từ có nghĩa là đồ gốm).

Sau khi tiến vào điện Văn Hoa, bạn lại vòng tiếp ra đằng sau là sẽ thấy Uyên Văn các hàng thật giá thật.

Thoạt trông có hơi cũ nát và tràn ngập mùi vị của lịch sử.

Hầu như không ai đến đây, chủ yếu là do hiếm người biết, cũng hiếm người đến dọn dẹp khu vực này.

Nếu các bạn có cơ hội đến Cố Cung, hãy đến tìm kiếm và thăm thú thử những gì tôi kể ở trên nhé.

Song những thứ trên chỉ là lớp vỏ ngoài mà thôi, thứ thật sự tinh túy của Cố Cung là những bức thi họa.

Tham quan Cố Cung, chỉ một ngày một đêm thôi chưa đủ.

(Còn nữa)

P/s: Đây là một bài viết do Sohu đăng lại, người dịch không tìm được bài gốc và tác giả gốc.

Cre: Qing An - 庆安
 
Back
Top Bottom