Cập nhật mới

Khác Truyện Phương Tây Huyền Bí Sưu Tầm

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
153,753
Điểm cảm xúc
0
Điểm thành tích
0
VNĐ
44,735
101418947-256-k441063.jpg

Truyện Phương Tây Huyền Bí Sưu Tầm
Tác giả: quanthang123
Thể loại: Bí ẩn
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Tổng hợp truyện Huyền bí Phương Tây



[đọc thêm]
[ẩn bớt]​
 
Truyện Phương Tây Huyền Bí Sưu Tầm
Trại Trẻ Đặc Biệt Của Cô Peregrine - Ransom Riggs


Trại Trẻ Đặc Biệt Của Cô Peregrine

Tác giả: Ransom Riggs

Dịch giả: Lê Đình Chi

Thể loại: Be st se lle r, Kỳ ảo, Giả tưởng, Kinh dị, Tiể u thuyế t, Văn học phương Tây

Bộ sách: Những đứa trẻ đặc biệ t của cô Pe re grine (tập 1)

Công ty phát hành: Nhã Nam

Nhà xuất bản: NXB Văn Học

ISBN: 978-06469-6207-6

Nguồn: vuile n.com

Edit: GiangFTG

Ebook được thực hiện hoàn toàn với mục đích phi thương mại, nhằm chia sẻ với những bạn ở xa hoặc không có

điều kiện mua sách, khi sao lưu xin ghi rõ nguồn.

Trong điều kiện có thể bạn hãy mua sách để ủng hộ nhà xuất bản và tác giả.

Mục Lục

Giới Thiệu

Mở Đầu

Chương 1

Chương 2

Chương 3

Chương 4

Chương 5

Chương 6

Chương 7

Chương 8

Chương 9

Chương 10

Chương 11

Giới Thiệ u

Jacob lớn lên cùng những câu chuyện ông nội thường hay kể.

Câu chuyện về thưở thiếu thời ông đã trải qua tại một trại trẻ đã được

phù phép, nơi sinh sống của những đứa trẻ sở hữu năng lực phi thường: một cô bé biết bay, một cậu bé tàng hình, một cô bé có thể tạo ra

lửa...

Năm tháng qua đi, Jacob dần không còn tin vào những điều phù phiếm, cậu đặt những bước đi đầu tiên vào một cuộc sống nhung lụa

êm đềm do bố mẹ bày sẵn trước mắt.

Nhưng cái cái chết đột ngột của người ông cậu kính yêu nhất đã làm thay đổi tất cả.

Theo lời trăng

trối của ông, cậu lên tàu tìm kiếm trại trẻ từng được nhắc đến trong những câu chuyện xa xưa.

Và chính tại đây, cậu không chỉ khám phá ra

bí mật động trời về thân thế của mình, mà còn bước chân vào một cuộc phiêu lưu sẽ biến cuộc đời tầm thường tẻ nhạt vốn có của cậu

sang một trang mới vĩnh viễn không thể quay đầu...

Một tuyệt phẩm với trí tưởng tượng không có giới hạn được kết hợp từ con chữ và những bức ảnh hoài cổ nhuốm màu gothic, TRẠI

TRẺ ĐẶC BIỆT CỦA CÔ PEREGRINE sẽ làm mê hoặc không chỉ thiếu niên mà cả những người trưởng thành, bất kỳ ai còn muốn tin rằng

những câu chuyện cổ tích không hoàn toàn là hư cấu.

Mở Đầu

Tôi vừa mới chấp nhận rằng cuộc đời mình sẽ bình thường thì những chuyện khác thường bắt đầu xảy ra.

Chuyện đầu tiên tới như

một cú sốc kinh hoàng, và như bất cứ điều gì làm bạn thay đổi mãi mãi, nó cắt rời cuộc đời tôi thành hai nửa: Trước và Sau.

Như nhiều

điều khác thường sẽ tới sau đó, nó liên quan tới ông nội Abraham Portman của tôi.

Ngày tôi còn nhỏ, ông nội Portman là người thú vị nhất tôi biết.

Ông từng sống trong một trại mồ côi, chiến đấu trong các cuộc chiến

tranh, vượt đại dương trên những chiếc tàu hơi nước và băng qua sa mạc trên lưng ngựa, biểu diễn trong các gánh xiếc, biết mọi thứ về

súng đạn, cách thức tự vệ và kỹ năng sống sót trong thế giới hoang dã, nói được ít nhất ba thứ tiếng ngoài tiếng Anh.

Tất cả đều có vẻ lạ

lẫm vô cùng với một cậu nhóc chưa bao giờ rời khỏi Florida, và bất cứ khi nào gặp ông, tôi lại khẩn khoản nài rủ ông thết đãi mình những

câu chuyện.

Ông luôn chiều tôi, kể lại chúng như những bí mật chỉ có thể gửi gắm nơi tôi.

Lên sáu tuổi, tôi quyết định rằng cơ hội duy nhất để mình có được cuộc đời ngoạn mục dẫu chỉ bằng một nửa của ông nội là trở thành

nhà thám hiểm.

Ông động viên tôi bằng cách chiều chiều cùng tôi cắm cúi nhìn xuống những tấm bản đồ thế giới, lên kế hoạch cho

những chuyến thám hiểm tưởng tượng bằng các tuyến đường vạch ra bằng đinh rệp mũ đỏ và kể cho tôi nghe về những chốn lạ lùng tôi

sẽ khám phá một ngày nào đó.

Ở nhà, tôi thể hiện tham vọng của mình để ai cũng biết bằng cách lượn lờ vòng quanh với một miếng bìa

cuộn thành ống áp vào mắt, miệng hét toáng lên, "Đất liền kia rồi!" và "Chuẩn bị một toán đổ bộ nào!" cho tới khi bố mẹ đá đít tôi ra

ngoài.

Tôi nghĩ hai người lo rằng ông nội có thể tiêm nhiễm vào tôi một thói mơ mộng vô phương cứu chữa nào đó mà tôi sẽ không bao

giờ dứt bỏ được - lo rằng những chuyện hoang đường này sẽ khiến tôi dửng dưng với những tham vọng thực tế hơn - đến mức một ngày

nọ mẹ phải kéo tôi ngồi xuống và giải thích rằng tôi không thể trở thành một nhà thám hiểm vì mọi thứ trên thế giới đã được khám phá cả

rồi.

Tôi đã sinh ra nhầm thế kỷ, và tôi cảm thấy mình bị lừa dối.

Tôi thậm chí còn cảm thấy bị lừa dối nhiều hơn khi vỡ lẽ ra là phần lớn những câu chuyện hay ho nhất ông nội Portman kể không thể

nào là thật.

Những câu chuyện dài nhất luôn kể về tuổi thơ của ông, chẳng hạn như ông ra đời tại Ba Lan nhưng đến năm mười hai tuổi

đã được đưa bằng tàu thủy tới một trại trẻ ở Wales.

Khi tôi hỏi vì sao ông bị chia lìa với hai cụ nội, câu trả lời của ông luôn giống nhau: vì

những con quái vật truy đuổi ông.

Ba Lan nát bươm cũng chỉ vì chúng, ông kể vậy.

"Quái vật kiểu như thế nào ạ?" tôi tròn mắt hỏi.

Câu hỏi này đã trở thành thường lệ.

"Những con quái vật lưng gù gớm ghiếc, da dẻ lở

loét và hai con mắt đen ngòm ấy" ông trả lời như thế.

"Và chúng bước đi thế này này!"

Rồi ông nhấc từng bước chân lê tới chỗ tôi như

một con quái vật trong mấy bộ phim ngày xưa cho đến khi tôi cười phá lên, vùng bỏ chạy.

Mỗi khi mô tả chúng, ông lại thêm thắt vào vài chi tiết kinh dị mới: chúng bốc mùi rác rưởi đang phân hủy; chúng vô hình, ta chỉ có

thể thấy cái bóng của chúng, có một bó xúc tu uốn éo ẩn trong miệng chúng, sẵn sàng lao vút ra trong nháy mắt và lôi tuột bạn vào giữa

bộ hàm mạnh mẽ.

Chẳng mấy chốc tôi bắt đầu bị khó ngủ, trí tưởng tượng tích cực thái quá của tôi biến tiếng lốp xe kêu lạo xạo trên mặt

đường ướt thành hơi thở phì phò nặng nề ngay bên ngoài cửa sổ phòng mình, hay những cái bóng dưới cánh cửa ra vào thành những

xúc tu đen xám đang uốn éo.

Tôi sợ chết khiếp lũ quái vật nhưng lại vẫn hào hứng tưởng tượng ra cảnh ông nội tôi chiến đấu với chúng và sống sót để kể lại câu chuyện.

Còn lạ kỳ hơn thế là những câu chuyện ông kể về cuộc sống tại trại trẻ ở Wales.

Theo lời ông, đó là một nơi được phù phép, được lập

nên để bảo vệ những đứa trẻ khỏi lũ quái vật nằm trên một hòn đảo ngày ngày đều sáng ánh mặt trời và chưa từng bao giờ có ai bị ốm

hay chết.

Tất cả mọi người sống cùng nhau trong một ngôi nhà lớn, được một con chim già sắc sảo bảo vệ, hay ít nhất trong chuyện kể là

như thế.

Tuy nhiên, khi lớn lên, tôi bắt đầu thấy nghi ngờ.

"Là chim gì hả ông?" một buổi chiều năm lên bảy, tôi hỏi trong lúc đưa mắt nhìn ông đầy ngờ vực từ bên kia bàn chơi bài, khi ông vừa

để tôi thắng cờ tỷ phú.

"Một con chim ưng to hút tẩu thuốc", ông đáp.

"Ông ơi, ông nghĩ cháu ngớ ngẩn lắm hay sao thế ạ."

Ông đưa ngón cái gạt qua đống tiền màu cam và xanh dương đang vơi dần của mình.

"Ông hông bao giờ ngẫy cháu ngớ ngẩn,

Yakob."

Tôi biết mình đã làm ông buồn vì khẩu âm Ba Lan vốn chẳng bao giờ ông để lộ bỗng buột ra rất rõ, khiến cho không trở thành

hông và nghĩ biến thành ngẫy.

Cảm thấy có lỗi, tôi quyết định đành cho ông thêm cơ hội.

"Nhưng tại sao lũ quái vật lại muốn làm hại ông ạ?" tôi hỏi.

"Vì bọn ông không giống những người khác.

Bọn ông đặc biệt."

"Đặc biệt thế nào cơ?"

"À, đủ kiểu đặc biệt", ông kể.

"Có một cô bé biết bay, một cậu bé nuôi ong trong cơ thể, một người anh trai và cô em gái có thể nâng

bổng những tảng đá lên quá đầu."

Khó mà dám chắc ông có đang nghiêm túc hay không.

Thế nhưng lại phải nói rõ, ông tôi không phải người có tiếng hay kể chuyện

cười.

Ông cau mày khi nhìn ra vẻ nghi ngờ trên mặt tôi.

"Được rồi, cháu không nhất thiết phải tin lời ông", ông nói.

"Ông có ảnh đây này!"

Ông đẩy chiếc ghế gấp đang ngồi ra sau và đi vào

trong nhà, để tôi lại một mình ngoài hàng hiên có lắp kính.

Một phút sau, ông trở ra, cầm theo một hộp đựng xì gà cũ.

Tôi nhổm người ra

trước để nhìn trong khi ông lấy ra bốn bức ảnh nhăn nhúm ố vàng.

Đầu tiên là một bức ảnh mờ nhòe chụp thứ gì đó trông như một bộ quần áo mà không thấy người mặc.

Hoặc thế, hoặc người mặc đồ

không hề có đầu.

"Tất nhiên là cậu ta có đầu!"

ông tôi vừa nói vừa cười.

"Chỉ có điều cháu không thể nhìn thấy được."

"Sao lại không?

Cậu ấy vô hình ạ?"

"Ái chà, hãy xem bộ óc của anh chàng này kìa!"

Ông nhướng mày lên như thể khả năng suy luận của tôi đã khiến ông ngạc nhiên.

"Tên cậu ta là Millard.

Một anh chàng rất nhộn.

Thỉnh thoảng cậu ta sẽ nói, "Này Abe, tớ biết hôm nay cậu đã làm gì đấy nhé, đoạn kể lại xem cháu đã đi đâu, đã ăn gì, cả vụ cháu ngoáy mũi khi tưởng không có ai nhìn nữa.

Đôi lúc cậu ta sẽ đi theo cháu, lặng thinh như một

con chuột, không mặc gì trên người để cháu không thể trông thấy cậu ta theo dõi mình!"

Ông lắc đầu.

"Tưởng tượng được chứ, chàng

trai?"

Ông đưa cho tôi một bức ảnh khác.

Sau khi tôi đã có chút thời gian ngắm nghía nó, ông hỏi, "Thế nào?

Cháu thấy gì?"

"Một cô bé phải không ạ?"

"Gì nữa nào?"

"Cô ấy đội một chiếc mũ miện."

Ông tôi gõ gõ vào phần dưới bức ảnh.

"Còn hai bàn chân cô ấy thì sao?"

Tôi cầm bức ảnh đưa lại gần hơn.

Đôi bàn chân cô gái không chạm xuống mặt đất.

Nhưng cũng không phải cô đang nhảy, cô gái

dường như đang lơ lửng trong không trung.

Miệng tôi há hốc.

"Cô ấy đang bay!"

"Gần đúng", ông tôi nói.

"Cô bé đang bay lên.

Chỉ có điều cô ấy không thể hoàn toàn kiểm soát bản thân, thành ra đôi khi bọn ông

phải buộc một sợi dây vào cô ấy để giữ cô ấy khỏi trôi đi mất!"

Đôi mắt tôi dán chặt vào khuôn mặt búp bê đầy ám ảnh của cô gái.

"Thật thế ạ?"

"Tất nhiên là thật", ông cáu kỉnh nói, lấy lại bức ảnh và thay thế nó bằng một bức ảnh khác, lần này chụp một cậu bé gầy khẳng khiu

đang giơ một tảng đá lớn lên.

"Victor và em gái cậu ta không thông minh cho lắm", ông nói, "nhưng cháu ạ, hai anh em họ quả rất khỏe!"

"Trông anh ấy không có vẻ khỏe lắm", tôi vừa nói vừa ngắm nghía hai cánh tay gầy gò của cậu bé.

"Tin ông đi, cậu ấy rất khỏe.

Ông đã thử vật tay với cậu ấy một lần, và thiếu chút nữa cậu ấy đã vặn gãy rời bàn tay ông đấy!"

Nhưng lạ lùng nhất là bức ảnh cuối cùng.

Nó chụp nửa sau đầu một người, bên trên vẽ một khuôn mặt.

Tôi nhìn chằm chằm vào bức ảnh cuối cùng trong khi ông nội Portman giải thích.

"Cậu ấy có hai miệng, cháu thấy không?

Một đằng

trước và một đằng sau.

Chính vì thế mà cậu ấy rất to béo!"

"Nhưng cái miệng này là giả", tôi nói.

"Khuôn mặt chỉ được vẽ lên thôi."

"Hẳn rồi, khuôn mặt vẽ là giả.

Nó được dùng cho chương trình xiếc.

Nhưng như ông đã nói với cháu đấy, cậu ấy có hai miệng.

Cháu

không tin ông sao?"

Tôi ngẫm nghĩ một hồi, nhìn vào các bức ảnh rồi sau đó nhìn vào ông tôi, vẻ mặt ông thành thật như không bao giờ có điều gì giấu

giếm.

Việc gì ông phải nói dối chứ?

"Cháu tin ông", tôi nói.

Và tôi thực sự tin ông - ít nhất là trong vài năm - cho dù chủ yếu vì tôi muốn thế, giống như những đứa trẻ khác ở tuổi tôi muốn tin

vào ông già Noel.

Chúng ta bám lấy những câu chuyện cổ tích của mình cho tới khi cái giá phải trả cho niềm tin vào chúng trở nên quá

cao, với tôi là hồi cấp hai khi Robbie Jensen tụt quần tôi vào bữa trưa trước một bàn toàn con gái và tuyên bố là tôi tin vào chuyện cổ

tích.

Tôi đoán chuyện này chỉ là kết quả từ việc tôi kể lại những câu chuyện của ông ở trường, nhưng trong khoảnh khắc bẽ bàng ấy, tôi

đã mường tượng ra biệt danh "anh chàng cổ tích" sẽ đeo đuổi tôi suốt nhiều năm và cho dù có công bằng hay không, tôi cũng thấy giận

ông vì chuyện này.

Chiều hôm ấy ông nội Portman tới trường đón tôi, như ông vẫn thường làm khi cả bố mẹ tôi đều bận việc.

Tôi trèo vào ghế phụ trong

chiếc Pontiac cũ của ông và tuyên bố tôi không còn tin vào những câu chuyện cổ tích của ông nữa.

"Chuyện cổ tích nào cơ?"

ông hỏi, đưa mắt nhìn tôi từ sau cặp kính.

"Ông biết mà.

Những câu chuyện ấy.

Về những đứa trẻ và lũ quái vật"

Ông tôi có vẻ bối rối.

"Ông có nói đó là chuyện cổ tích đâu nhỉ?"

Tôi nói với ông rằng chuyện tưởng tượng và chuyện cổ tích cũng chỉ là một, và những câu chuyện cổ tích là dành cho lũ nhóc còn tè

dầm, và tôi biết những bức ảnh và câu chuyện của ông đều là hư cấu.

Tôi những tưởng ông sẽ nổi cáu hay tranh luận, nhưng thay vì thế

ông chỉ nói, "Được rồi", và khởi động chiếc Pontiac chạy.

Ông nhấn ga một cái, thế là chúng tôi rời khỏi lề đường.

Và câu chuyện cũng

chấm dứt ở đó.

Tôi đoán ông đã nhìn ra rằng cuối cùng tôi cũng phải từ bỏ niềm tin vào chúng, nhưng ông buông bỏ mọi thứ nhanh đến mức khiến

tôi cảm thấy mình đã bị lừa dối.

Tôi không hiểu được tại sao ông lại bịa ra tất cả những thứ đó, lừa tôi tin rằng những điều phi thường có

thể xảy ra trong khi không phải vậy.

Phải mấy năm sau bố tôi mới giải thích chuyện này với tôi: ông nội cũng đã kể cho bố vài câu chuyện

tương tự khi bố còn nhỏ, nhưng chúng không phải bịa đặt, mà nói chính xác là những phiên bản phóng đại thái quá của sự thật, vì câu

chuyện về thời thơ ấu của ông nội Portman không hề là chuyện cổ tích.

Đó là một câu chuyện kinh hoàng.

Ông nội tôi là thành viên duy nhất của gia đình thoát được khỏi Ba Lan trước khi Thế chiến thứ Hai bùng nổ.

Khi ông mới mười hai

tuổi, hai cụ nội đã trao ông vào tay những người xa lạ, để con trai út của họ lên một chuyến xe lửa tới Anh chỉ mang theo một cái va li và quần áo mặc trên người.

Đó là chuyến đi không hẹn ngày trở lại.

Ông không bao giờ gặp lại bố hay mẹ mình, hay các anh trai, các anh em

họ, hoặc cô dì chú bác.

Tất cả hẳn đều đã mất trước ngày sinh nhật thứ mười sáu của ông, bị sát hại dưới tay những con quái vật mà ông

chỉ kịp tránh thoát.

Song đây không phải là loại quái vật có những cái xúc tu và da dẻ lở loét, không phải loại quái vật một đứa trẻ lên bảy

tuổi có thể để tâm tới.

Chúng là những con quái vật mang khuôn mặt người, mặc quân phục bảnh bao, đi đều bước, nom bình thường tới

mức bạn không thể nhận ra bản chất của chúng cho tới khi đã quá muộn.

Giống như những con quái vật, câu chuyện về hòn đảo được phù phép cũng là thực tế dưới lớp vỏ ngoài hư cấu.

So sánh với cảnh

tượng kinh hoàng trên lục địa châu Âu, trại trẻ đã đón nhận ông nội tôi chắc hẳn giống như một thiên đường, và vì thế nó đã trở thành

thiên đường trong các câu chuyện của ông: một nơi trú ẩn an toàn với những mùa hè bất tận, các thiên thần bảo hộ cùng những đứa trẻ

có phép thuật, vốn dĩ không thể bay, tàng hình hay nhấc bổng được đá tảng, tất nhiên rồi.

Điểm khác thường khiến chúng bị săn đuổi chỉ

đơn giản là nguồn gốc Do Thái của chúng.

Chúng là những đứa trẻ mồ côi trong chiến tranh, bị con thủy triều máu đánh dạt lên hòn đảo

nhỏ ấy.

Điều khiến chúng trở nên đáng kinh ngạc không phải là chuyện chúng có những quyền năng mầu nhiệm; nguyên việc chúng

thoát khỏi các khu tập trung người Do Thái và phòng hơi ngạt cũng đã là một phép mầu rồi.

Tôi thôi không đòi ông kể chuyện cho mình nữa, và tôi thầm nghĩ chắc ông cũng thấy nhẹ nhõm.

Một bầu không khí huyền bí bao

quanh các chi tiết về phần đời trước đây của ông.

Tôi không tò mò tìm hiểu.

Ông đã phải trải qua địa ngục và có quyền được giữ những

bí mật của mình.

Khi nghĩ tới cái giá ông phải trả tôi cảm thấy xấu hổ vì đã ghen tị với cuộc đời ông, và cố cảm thấy may mắn vì cuộc

sống an toàn mình đã hưởng trong khi chẳng làm gì để xứng đáng được như thế.

Rồi vài năm sau đó, khi tôi mười lăm tuổi, một việc dị thường và khủng khiếp xảy ra, thế là chỉ còn lại Trước và Sau.

Chương 1

Tôi dành buổi chiều cuối cùng của Trước để dựng một mô hình thu nhỏ cỡ một phần mười nghìn tòa nhà Empire State bằng những

hộp đựng tã giấy người lớn.

Đó quả là một công trình đẹp đẽ, phần đáy dài mỗi chiều một mét rưỡi và vươn lên ngạo nghễ trên khu bày

mỹ phẩm, với nền móng là các hộp cỡ lớn, những hộp loại siêu nhẹ cho đài quan sát, và những chồng tã giấy dùng thử đủ cỡ được xếp

cẩn thận tạo nên phần chóp nhọn mang tính biểu tượng của tòa nhà.

Mô hình gần như hoàn hảo, ngoại trừ một chi tiết tối quan trọng.

"Cậu dùng tã giấy Neverleak", bà Shelley nói, cau mày nhìn công trình của tôi đầy ngờ vực.

"Loại đang bán giảm giá là Stay-Tite cơ

mà."

Bà Shelley là quản lý cửa hàng, đôi vai luôn chùng xuống cùng bộ dạng khắc khổ đã trở thành một phần bộ đồng phục của bà ta,

cũng như sơmi polo màu xanh dương mà tất cả chúng tôi phải mặc.

"Cháu tưởng bà bảo là Neverleak", tôi đáp, vì quả tình bà ta đã nói thế thật.

"Stay-Tite", bà quản lý khăng khăng, lắc đầu đầy tiếc rẻ

như thể tòa tháp của tôi là một con ngựa đua bị què còn bà ta đang cầm trong tay một khẩu súng ngắn có báng nạm ngọc trai.

Một im

lặng lúng túng buông xuống, trong khi ấy bà ta tiếp tục lắc đầu, hết đưa mắt từ tôi đến tòa tháp rồi lại trở về phía tôi.

Tôi nhìn bà ta chằm

chằm vô cảm, như thể hoàn toàn không sao nắm bắt nổi bà ta đang ngụ ý công kích gì.

"Ôi trời", cuối cùng tôi lên tiếng.

"Ý bà là muốn cháu làm lại từ đầu ấy ạ?"

"Tôi chỉ bảo là cậu đã dùng Neverleak", bà quản lý nhắc lại.

"Không vấn đề gì.

Cháu sẽ bắt đầu ngay lập tức."

Dùng mũi đôi giày đen đế mềm vẫn hay đi, tôi gạt cái hộp duy nhất làm móng tòa

tháp.

Trong khoảnh khắc, toàn bộ công trình nguy nga ào ào đổ ụp xuống quanh chúng tôi, làm cả một con thủy triều tã giấy tràn ra trên

sàn, những cái hộp liên tiếp đập vào chân các khách hàng đang hoảng hồn, trượt dài ra tới tận cửa ra vào tự động lúc này đã trượt mở để

luồng hơi nóng tháng Tám ùa vào.

Khuôn mặt bà Shelley chuyển sang màu quả lựu chín.

Đáng lẽ bà ta nên đuổi việc tôi ngay tại chỗ, song tôi biết mình sẽ chẳng bao

giờ gặp may đến thế.

Suốt mùa hè tôi đã cố để bị đuổi việc khỏi Smart Aid, tuy nhiên việc này đã được chứng tỏ là gần như bất khả thi.

Tôi đi làm muộn hết lần này tới lần khác mà hầu như chẳng có lý do nào; thay đổi lung tung các thứ đến mức gây sốc; thậm chí còn cố

tình xếp hàng lên nhầm kệ, bày nước thơm xen vào giữa thuốc xổ và để lẫn bao cao su với dầu gội đầu trẻ em.

Hiếm có lúc nào tôi tận tụy

làm bất cứ việc gì, ấy vậy nhưng cho dù tôi có tỏ ra bất tài vô dụng đến đâu đi nữa, bà Shelley vẫn kiên quyết giữ tôi lại trong danh sách

trả lương.

Hãy cho phép tôi chứng thực cho phát biểu lúc trước của mình: với tôi, bị đuổi việc khỏi Smart Aid gần như là điều bất khả thi.

Bất cứ

nhân viên nào khác hẳn cũng đã bị tống ra khỏi cửa từ đời tám hoánh rồi.

Đây chính là bài học đầu tiên của tôi về chính trị.

Có ba cửa

hàng Smart Aid tại Englewood, thị trấn nhỏ mơ màng kề bên bãi biển nơi tôi sống.

Có hai mươi bảy cửa hàng ở hạt Sarasota, và một trăm

mười lăm trên cả Florida, rải khắp tiểu bang như một chứng phát ban vô phương chữa trị.

Lý do tôi không thể bị đuổi việc là vì các bác tôi

sở hữu tất cả các cửa hàng kể trên.

Lý do khiến tôi không thể bỏ việc là chuyện làm việc tại Smart Aid với vai trò công việc đầu tiên trong đời đã từ lâu trở thành một truyền thống thiêng liêng trong gia đình.

Kết quả duy nhất từ chiến dịch tự phá hoại của tôi là mối xung khắc

không thể hóa giải nổi với bà Shelley cùng sự oán giận tột độ trường tồn từ các nhân viên khác - những người, nói một cách thẳng thắn,

kiểu gì cũng oán giận tôi, vì cho dù tôi có làm đổ bao nhiêu hàng trưng bày hay trả tiền thiếu cho bao nhiêu khách hàng, đến một ngày

nào đó tôi vẫn sẽ thừa kế một phần đáng kể của công ty, còn họ thì không.

***

Lội qua đống tã giấy, bà Shelley gí ngón tay vào ngực tôi và chực nói gì đó gay gắt thì hệ thống loa thông báo xen ngang vào.

"Jacob, cậu có điện thoại ở đường dây số hai.

Jacob, đường dây số hai."

Bà quản lý trừng mắt nhìn tôi khi tôi lùi lùi chuồn đi, để khuôn mặt như lựu chín của bà ta ở lại giữa đống đổ nát của tòa tháp tôi dựng

lúc trước.

***

Phòng nhân viên là một căn phòng ẩm ướt không cửa sổ, và lúc đến đó tôi gặp cô phụ việc nhà thuốc, Linda, đang gặm một cái

sandwich không vỏ trong quầng sáng rực rỡ của chiếc máy bán đồ uống tự động.

Cô ta hất hàm về phía cái điện thoại được gắn trên

tường.

"Của cậu đường dây số hai ấy.

Người gọi nghe có vẻ kỳ lắm."

Tôi cầm ống nghe đang treo toòng teng lên.

"Yakob?

Có phải cháu đấy không?"

"Vâng, cháu chào ông."

"Yakob, ơn Chúa.

Ông cần chìa khóa của ông.

Chìa khóa của ông đâu?"

Ông có vẻ lo lắng, thở không ra hơi.

"Chìa khóa nào cơ ạ?"

"Đừng giở trò", ông gắt.

"Cháu biết chìa khóa nào còn gì."

"Nhỡ ông để nó nhầm chỗ thì sao ạ."

"Bố cháu xúi cháu làm chuyện này chứ gì", ông nói.

"Cứ nói cho ông biết.

Bố cháu không cần phải biết."

"Chẳng ai xúi cháu làm gì hết."

Tôi cố thay đổi chủ đề.

"Sáng nay ông đã uống thuốc chưa ạ?"

"Chúng đến tìm ông, cháu hiểu chưa?

Ông không biết bằng cách nào chúng tìm thấy ông sau từng ấy năm qua, nhưng chúng đã làm

được.

Ông sẽ phải chiến đấu với chúng bằng cái gì đây, con dao trét bơ mắc dịch này chăng?"

Đây không phải là lần đầu tiên tôi nghe ông nói kiểu này.

Ông nội tôi đã già, và thành thực mà nói ông bắt đầu lẫn lộn.

Những dấu

hiệu suy giảm minh mẫn của ông ban đầu chỉ loáng thoáng, như quên mua đồ tạp hóa hay gọi mẹ tôi bằng tên dì tôi.

Nhưng đến hè này,

chứng lú lẫn đang phát triển dần của ông đã có một bước ngoặt tàn khốc.

Những câu chuyện hoang đường ông tưởng tượng ra về phần

đời của mình trong chiến tranh - những con quái vật, hòn đảo được phù phép - đã trở nên thật đến nỗi ám ảnh với ông.

Ông tỏ ra đặc biệt

bất an trong mấy tuần gần đây, và bố mẹ tôi, sợ rằng ông đang trở thành một mối nguy hiểm cho chính mình, đã nghiêm túc nghĩ tới

chuyện đưa ông vào viện dưỡng lão.

Vì một lý do nào đó, tôi là người duy nhất nhận được những cuộc gọi điện báo điềm gở này từ ông.

Như thường lệ tôi cố hết sức để làm ông bình tâm lại.

"Ông vẫn an toàn mà.

Mọi thứ vẫn ổn.

Cháu sẽ mang đến một bộ phim để ông

cháu mình xem sau, ông thấy thế nào?"

"Không, ở yên chỗ cháu đấy!

Ở đây không an toàn!"

"Ông ơi, không phải lũ quái vật đang tìm đến ông đâu.

Ông đã giết hết chúng trong chiến tranh rồi, ông nhớ chứ?"

Tôi quay mặt vào

tường, cố che giấu cuộc hội thoại kỳ lạ này để Linda khỏi nghe thấy, cô ta đang tò mò đưa mắt về phía tôi trong khi giả bộ đọc một tạp chí

thời trang.

"Không phải tất cả chúng", ông nói.

"Không, không, không.

Đúng là ông đã giết rất nhiều, nhưng vẫn luôn còn nhiều hơn."

Tôi có

thể nghe thấy ông đang lục lọi quanh nhà, mở ngăn kéo, đóng sầm thứ này thứ kia.

Ông đang rơi vào cơn hoảng loạn cùng cực.

"Cháu

phải tránh xa chỗ này, nghe ông nói chứ?

Ông sẽ ổn thôi - cắt lưỡi chúng và đâm vào mắt chúng, đó là tất cả những gì cháu phải làm!

Chỉ

cần ông tìm ra cái chìa khóa mắc dịch đó!"

Cái chìa khóa đang được nhắc tới dùng để mở một cái rương to tướng trong gara của ông nội Portman.

Trong rương là một kho súng

và dao đủ để trang bị cho một đội dân quân nhỏ.

Ông đã dành nửa cuộc đời sưu tầm chúng, cất công đi tới tận các hội chợ súng ở tận

ngoài tiểu bang, thực hiện những chuyến đi săn dài ngày, lôi cả gia đình miễn cưỡng của mình tới trường tập bắn vào các chủ nhật nắng

đẹp để mọi người có thể học bắn súng.

Ông yêu những khẩu súng của mình đến mức thậm chí có lúc đi ngủ cùng chúng.

Bố tôi có một

bức ảnh cũ để chứng minh cho điều đó: ông nội ngủ trưa với khẩu súng ngắn trong tay.

Khi tôi hỏi bố xem vì sao ông nội lại phát cuồng lên vì súng như thế, bố tôi nói đôi khi chuyện này vẫn xảy ra với những người từng là

quân nhân hay những người phải trải qua những điều tàn khốc cực độ.

Tôi đoán là sau tất cả những gì ông nội tôi đã trải qua, ông không

bao giờ còn cảm thấy được an toàn ở bất cứ đâu, thậm chí cả ở nhà.

Điều mỉa mai nằm ở chỗ, giờ đây khi ảo giác và chứng hoang tưởng

bắt đầu kiểm soát ông, điều đó thành ra lại đúng - ông không còn được an toàn ở nhà, làm sao mà an toàn được khi có ngần ấy súng ống

xung quanh.

Đó là lý do vì sao bố tôi lại lấy cái chìa khóa đi.

Tôi nhắc lại lời nói dối rằng tôi không biết nó ở đâu.

Thêm nhiều tiếng rủa và tiếng rầm rầm nữa vang lên trong lúc ông nội Portman

lục tung khắp nhà để tìm chìa khóa.

"Phù", cuối cùng ông nói.

"Cứ để bố cháu giữ cái chìa khóa nếu nó thấy điều đó quan trọng đến thế.

Để nó nhặt xác ông luôn!"

Tôi gác máy lễ độ hết mức có thể rồi gọi điện cho bố.

"Ông nội lại lên cơn rồi!", tôi cho bố biết.

"Hôm nay ông đã uống thuốc chưa?"

"Ông không nói với con.

Nhưng nghe có vẻ là chưa."

Tôi nghe thấy bố thở dài.

"Con ghé qua xem ông thế nào được không?

Bố không thể dứt ra khỏi công việc ngay bây giờ được."

Bố

tôi làm tình nguyện viên bán thời gian cho tổ chức cứu hộ chim, giúp chữa trị cho những con diệc trắng bị ô tô đụng và những con bồ

nông nuốt phải lưỡi câu.

Ông là một nhà điểu cầm học nghiệp dư và cũng muốn trở thành tác giả viết về thiên nhiên - có cả đống bản

thảo chưa được xuất bản để chứng minh cho điều đó - những thứ chỉ có thể được coi là công việc đúng nghĩa nếu bạn tình cờ kết hôn với

một phụ nữ mà gia đình sở hữu tới một trăm mười lăm nhà thuốc.

Tất nhiên, thứ tôi đang làm cũng chẳng phải công việc đúng nghĩa gì cho cam, và nếu thích thì tôi luôn dễ dàng lỉnh đi được.

Vậy là

tôi nói sẽ ghé qua xem ông nội thế nào.

"Cảm ơn con, Jake.

Bố hứa chúng ta sẽ sớm thu xếp ổn thỏa mọi chuyện liên quan tới ông nội, được chứ?"

Mọi chuyện liên quan tới ông nội.

"Ý bố là đưa ông vào viện dưỡng lão phải không ạ", tôi nói.

"Biến ông thành vấn đề của người

khác."

"Bố mẹ vẫn chưa quyết định."

"Tất nhiên hai người đã quyết định rồi."

"Jacob..."

"Bố, con có thể lo liệu chuyện của ông.

Thật đấy."

"Bây giờ thì có lẽ là con lo liệu được.

Nhưng tình hình của ông sẽ chỉ ngày càng tệ thêm thôi."

"Được thôi.

Sao cũng được."

Tôi gác máy và gọi cậu bạn Ricky để đi nhờ xe.

Mười phút sau, tôi nghe thấy tiếng còi khàn khàn chẳng lẫn vào đâu được từ chiếc

Crown Victoria cũ kỹ của cậu ta vọng vào từ bãi để xe.

Trên đường ra ngoài, tôi thông báo lại tin xấu cho bà Shelley: tòa tháp xây bằng tã

giấy Stay-Tite của bà ta sẽ phải đợi tới ngày mai.

"Chuyện gia đình khẩn cấp", tôi giải thích.

"Được rồi", bà ta nói.

Tôi bước ra ngoài buổi chiều muộn nóng nực và thấy Ricky đang ngồi hút thuốc trên mui chiếc xe cà tàng.

Có điều gì đó trên đôi ủng

cáu bùn của cậu ta, cũng như trong cách cậu ta nhả những bụm khói thuốc lượn lờ trên môi và ánh hoàng hôn chiếu lên mái tóc màu xanh

lục ấy làm tôi nhớ tới anh chàng James Dean vô dụng, lỗ mãng.

Anh chàng này đúng là tất cả những thứ đó, một sản phẩm lai tạp kỳ lạ

giữa các nhóm văn hóa chỉ có ở miền Nam.

Trông thấy tôi, cậu ta đứng lên khỏi mui xe.

"Mày bị đuổi chưa?", cậu ta gân cổ lên hỏi với từ

tít cuối bãi để xe.

"Suỵtttt", tôi vừa nói vừa chạy lại chỗ cậu ta.

"Bọn họ không biết kế hoạch của tao đâu!"

Ricky đấm mạnh vào vai tôi với ý động viên nhưng thiếu chút nữa đã làm trật khớp xoay của tôi.

"Đừng lo, Ed Đặc Biệt.

Luôn có ngày

mai mà."

Cậu ta gọi tôi là Ed Đặc Biệt vì tôi có tham gia vài lớp năng khiếu, mấy lớp này, trên lý thuyết mà nói, là một phần trong chương trình

giảng dạy đặc biệt của trường tôi, một cách lựa chọn từ vựng rất tinh tế mà Ricky cảm thấy vô cùng thú vị.

Tình bạn của chúng tôi là thế:

phần khó chịu cũng nhiều ngang với phần hợp tác.

Phần hợp tác là một thỏa thuận thương mại không chính thức mà chúng tôi đã thảo ra

với nhau đổi chất xám lấy cơ bắp, trong đó tôi giúp cậu ta không trượt môn Anh văn, còn cậu ta giúp tôi không bị mất mạng dưới tay

những thằng bệnh hoạn to vâm nghiện steroid vẫn lảng vảng khắp các lối đi trong trường.

Chuyện cậu ta làm bố mẹ tôi cực kỳ gai mắt chỉ

là một lợi ích bổ sung.

Tôi nghĩ có lẽ Ricky là bạn thân nhất của tôi, và đây là cách ít thảm hại hơn để nói rằng cậu ta là người bạn duy

nhất tôi có.

Ricky đá vào cánh cửa bên phía ghế phụ chiếc Crown Vic, một cách để mở cửa, và tôi bèn chui vào trong xe.

Chiếc Vic thật đáng kinh

ngạc, một tác phẩm nghệ thuật dân gian không chủ đích xứng đáng được trưng bày trong bảo tàng.

Ricky đã mua nó từ bãi xe thải của thị

trấn với giá một phần tư vại bia - hay ít nhất đó là những gì cậu ta nói - chiếc xe là một con ngựa nòi có thứ mùi mà cả một rừng các món

khử mùi không khí được cậu ta treo sau kính chắn gió cũng không thể át nổi.

Các ghế ngồi được gia cố bằng băng dính để những chiếc lò

xo không tìm được đường xuyên qua lớp vỏ bọc đâm vào mông bạn.

Tuyệt hơn cả là phần ngoại thất, một bề mặt hoen gỉ chi chít những

vết móp, vết lõm chẳng khác gì cảnh trên mặt trăng, kết quả từ kế hoạch kiếm thêm tiền đổ xăng bằng cách cho phép những kẻ tiệc tùng

say xỉn dùng gậy đánh golf nện chiếc xe với mức phí một đô mỗi gậy.

Quy định duy nhất, và cũng không được tuân thủ chặt chẽ cho lắm,

là bạn không được phép nhắm vào bất cứ thứ gì làm bằng kính.

Động cơ nổ vang giữa một đám khói xanh lè.

Trong lúc chúng tôi rời khỏi bãi để xe, lăn bánh qua các dãy cửa hàng hướng tới nhà ông

nội Portman, tôi bắt đầu lo lắng không biết chúng tôi có thể thấy gì khi tới đó.

Những viễn cảnh tồi tệ nhất bao gồm ông nội trần như

nhộng chạy ngoài phố, lăm lăm trên tay một cây súng săn, sùi bọt mép trên bãi cỏ trước nhà, hay nằm nấp đợi đâu đó với một món đồ cùn trong tay.

Điều gì cũng có thể xảy ra, và tôi đặc biệt bồn chồn khi nghĩ rằng đây sẽ là ấn tượng đầu tiên của Ricky về một người tôi vẫn

nhắc tới với lòng kính trọng.

Bầu trời đã chuyển sang màu của một vết bầm mới khi chúng tôi rẽ vào khu ông nội tôi sống, một mê cung rối rắm với những ngõ cụt

đan xen nhau được gọi dưới cái tên chung Circle Village.

Chúng tôi dừng xe tại chốt an ninh để thông báo, nhưng vì ông lão ngồi trong

phòng đang ngáy vang còn cổng thì mở toang, chuyện vẫn thường diễn ra, nên chúng tôi cứ thế lái xe vào.

Điện thoại của tôi kêu bíp bíp

báo có tin nhắn, bố tôi hỏi mọi việc thế nào, và trong khoảng thời gian ngắn ngủi cần thiết để tôi trả lời, Ricky đã thành công trong việc

làm chúng tôi lạc đường hoàn toàn tới mức đáng kinh ngạc.

Khi tôi nói chịu không biết chúng tôi đang ở đâu, cậu ta bật rủa và thực hiện

liên tiếp một loạt cú quay đầu xe, vừa lái vừa phun thành hình vòng cung qua cửa xe những bãi nước bọt thấm thuốc lá trong lúc tôi liếc

mắt nhìn quanh tìm kiếm một dấu mốc quen thuộc.

Thật không dễ chút nào, cho dù tôi đã tới thăm ông nội vô số lần từ bé đến lớn, vì nhà

nào nhà nấy trông cũng giống hệt nhau: thấp bè, vuông vắn như những chiếc hộp, chẳng mấy khác biệt, được tô điểm bằng các khung

cửa nhôm hay gỗ sẫm màu kiểu thập kỷ bảy mươi, hay ở mặt tiền dựng các cây cột bằng thạch cao gần như chỉ góp phần gây nhầm lẫn

thêm.

Các biển chỉ đường, bong tróc bạc phếch vì phơi nắng, chẳng còn mấy hữu ích.

Dấu mốc thực sự chỉ có những bãi cỏ làm cảnh lạ

lẫm đầy màu sắc, nhờ chúng mà Circle Village trở thành một bảo tàng ngoài trời thực sự.

Cuối cùng, tôi nhận ra một hòm thư được đỡ trên giá kim loại, cho dù có vẻ ngay ngắn và sang chảnh song lại đang chảy ra những

giọt nước mắt hoen gỉ.

Tôi hét lớn bảo Ricky rẽ trái; bộ lốp chiếc Vic nghiến ken két và tôi bị hất đập người vào cửa xe.

Cú va đập hẳn đã

vặn lại con ốc nào đó bị lỏng trong đầu tôi, vì đột nhiên tôi vụt nhớ lại đường đi.

"Ngay chỗ đám hồng hạc nhảy múa ấy!

Rẽ trái ở chỗ

đám ông già Noel đội mũ đủ loại dân tộc!

Thẳng qua chỗ mấy cậu nhóc thiên sứ đang tè!"

Khi chúng tôi rẽ ở chỗ mấy cậu nhóc thiên sứ, Ricky giảm tốc độ đến khi xe bò rì rì và ngước mắt nhìn đầy ngờ vực vào ngôi nhà ông

nội tôi sống.

Ngoài cổng không một ngọn đèn nào bật, không thấy quầng sáng của màn hình ti vi sau bất cứ khung cửa sổ nào, cũng

không thấy chiếc Town Car nào hiện diện ở lô để xe.

Tất cả cư dân trong khu vực đều đã tháo chạy lên phía Bắc để trốn tránh cái nóng

gay gắt của mùa hè, để mặc những bức tượng trang trí ngoài vườn chìm nghỉm trong thảm cỏ mọc cao và các cánh cửa chớp đóng chặt, vì

thế nhà nào nhà nấy trông như một hầm tránh bom nhỏ màu phấn.

"Nhà cuối cùng bên trái", tôi nói.

Ricky đạp ga và chúng tôi chồm chồm lao xuống con đường.

Tới ngôi nhà thứ tư hoặc thứ năm,

chúng tôi chạy xe ngang qua một ông già đang tưới cỏ.

Đầu ông ta hói nhẵn như một quả trứng, ông ta đứng đó mặc áo choàng tắm và đi

dép lê, phun nước lên bãi cỏ xén cao tới mắt cá chân.

Ngôi nhà cũng tối om, cửa chớp đóng chặt như những ngôi nhà khác.

Tôi quay

sang nhìn, và ông lão dường như trừng mắt nhìn lại - mặc dù tôi hơi sốc nhận ra rằng không thể có chuyện đó - vì đôi mắt ông ta chỉ đục

một màu trắng sữa.

Thật lạ, tôi nghĩ.

Ông nội chưa bao giờ nhắc đến chuyện hàng xóm của ông có người bị mù.

Đi hết con phố là đến một bức tường những cây thông non, Ricky cua mạnh tay lái sang trái lượn vào đường chạy xe dẫn vào nhà

ông nội tôi.

Cậu ta tắt máy, ra khỏi xe, và đá mở cửa cho tôi.

Chúng tôi hối hả giẫm giày lên cỏ khô đi về phía cửa.

Tôi bấm chuông và chờ đợi.

Một con chó sủa ẳng lên đâu đó, một âm thanh cô độc giữa màn đêm oi bức.

Không nghe ai trả lời, tôi

liền đập cửa vì nghĩ có thể chuông cửa hỏng rồi.

Ricky vung tay lên đập những con muỗi mắt bắt đầu bu đến quanh chúng tôi.

"Có khi ông mày ra ngoài rồi cũng nên", Ricky cười nhăn nhở nói.

"Hẹn hò tình tứ chăng."

"Cứ cười đi", tôi nói.

"Bất cứ tối nào trong tuần ông tao cũng còn nhiều cơ hội hơn tao với mày.

Chỗ này đầy ấp các bà góa, tha hồ

chọn."

Tôi cợt nhả để làm dịu thần kinh xuống.

Sự im lặng khiến tôi lo ngại.

Tôi lấy chìa khóa dự phòng từ chỗ giấu trong bụi cây ra.

"Đợi tao ở đây."

"Còn khuya ấy.

Tại sao chứ?"

"Vì mày cao đến một mét chín sáu và tóc màu xanh lục, còn ông tao vừa không biết mặt mày vừa có một đống súng trong nhà."

Ricky nhún vai và nhét một cục thuốc lá nữa vào ngậm trong má.

Cậu ta đến ngồi duỗi dài trên một cái ghế gập trong khi tôi mở khóa

cửa trước bước vào trong nhà.

Ngay cả dưới ánh sáng lờ mờ tôi cũng có thể nói ngôi nhà đã gặp phải một tai họa; trông như thể nơi này vừa bị lũ trộm lục tung.

Các

giá sách và ngăn tủ bị vét trống trơn, những món đồ trang trí chẳng mấy giá trị và những tờ tạp chí Reader's Digest khổ lớn từng được

xếp trên đó bị ném tung tóe dưới sàn.

Nệm đi văng và ghế bị lật nhào.

Cửa tủ lạnh và tủ đông mở toang, những thứ đựng bên trong chảy

ra thành từng vũng dính bết trên vải sơn lót sàn.

Tim tôi chùng xuống.

Cuối cùng thì ông nội Portman cũng đánh mất sự minh mẫn thật rồi.

Tôi gọi tên ông - nhưng không nghe thấy

gì.

Tôi đi từ phòng này qua phòng khác, bật đèn lên, tìm kiếm ở mọi ngóc ngách mà một ông lão hoang tưởng có thể trốn tránh lũ quái

vật: sau các món đồ gỗ, trên tầng áp mái chật chội, dưới gầm bàn thợ trong gara.

Thậm chí tôi còn kiểm tra cả bên trong ngăn tủ đựng vũ

khí của ông, mặc dù tất nhiên nó bị khóa, tay cầm có những chỗ đầy vết xước do ông cố cậy mở ra.

Ở ngoài hiên, một dãy dương xỉ chưa

được tưới nước tối sẫm dần, đung đưa theo con gió hây hẩy; quỳ hai đầu gối trên mặt sàn trải vải sơn, tôi cúi xuống ngó vào bên dưới

những chiếc ghế mây, lo sợ những gì có thể mình phát hiện ra.

Tôi nhìn thấy một quầng sáng từ phía sân sau.

Chạy ra ngoài qua cửa sau, tôi tìm thấy một cây đèn pin bị bỏ lại trên bãi cỏ, luồng sáng chiếu về phía vạt rừng tiếp giáp với sân sau

nhà ông - một khu vực hoang vu rậm rạp với những cây cọ lùn lá răng cưa và cọ chạy dài cả dặm từ Circle Village đến khu dân cư kế tiếp,

Century Woods.

Theo truyền thuyết địa phương, khoảng rừng này nhung nhúc rắn, gấu trúc Bắc Mỹ và lợn lòi.

Khi hình dung ra ông nội

tôi đang ở ngoài đó, lạc lối và mất trí, lang thang chỉ với chiếc áo choàng tắm trên người, một cảm giác u ám lan khắp người tôi.

Tuần nào

cũng có tin tức mới về một công dân lớn tuổi sẩy chân rơi vào một bể lắng và bị cá sấu ăn thịt.

Chẳng khó gì để tưởng tượng ra kịch bản

xấu nhất.

Tôi hét lớn gọi Ricky và nháy mắt sau cậu ta xuất hiện, chạy vòng qua bên hông nhà.

Cậu ta lập tức nhận ra điều tôi đã bỏ sót: một

vết xước dài dữ tợn trên cánh cửa hậu.

Ricky khẽ huýt sáo.

"Một vết cào quỷ quái.

Có lẽ là do lợn rừng.

Hay một con linh miêu.

Mày phải

nhìn thấy móng vuốt của bọn chúng cơ."

Một tràng sủa hung hãn vang lên gần đó.

Cả hai chúng tôi cùng giật mình bồn chồn đưa mắt nhìn nhau.

Hoặc một con chó, tôi nói.

Tiếng sủa khởi đầu một phản ứng dây chuyền và chăng mấy chốc tứ phía đều ầm ĩ tiếng sủa.

"Có thể lắm", Ricky gật đầu nói.

"Tao có một khẩu .22 trong thùng xe.

Mày đợi ở đây."

Rồi cậu ta quay ra lấy súng.

Tiếng chó sủa lắng dần xuống, thay bằng dàn đồng ca đêm của những con côn trùng, vo vo xa lạ.

Mồ hôi chảy ròng ròng từng giọt

xuống trên mặt tôi.

Lúc này trời đã tối hẳn, nhưng con gió cũng ngừng thổi và không khí dường như còn nóng hơn cả ban ngày.

Tôi nhặt đèn pin lên và bước về phía các hàng cây.

Ông nội tôi đang ở đâu đó ngoài kia.

Tôi biết chắc là thế.

Nhưng ở đâu?

Tôi không

phải thợ săn, Ricky cũng không.

Ấy thế nhưng dường như có thứ gì đó đang dẫn dắt tôi - một sự thôi thúc trong lồng ngực; một lời thì

thầm trong không khí nóng nực đặc quánh - và đột nhiên tôi không thể đợi thêm một giây nào nữa.

Tôi lao vào lùm cây bụi như một con

chó săn đánh hơi thấy một dấu vết vô hình.

Thật khó để chạy trong một khu rừng ở Florida, từng tấc đất nếu không bị các cây lớn chiếm chỗ thì cũng ken kín những cây cọ lùn

chỉ đến ngang đùi nhưng nhọn như mũi giáo và những mạng lưới chằng chịt dây mơ tròn, nhưng tôi vẫn cố hết sức, lớn tiếng gọi tên ông

và đưa đèn pin chiếu khắp xung quanh.

Từ khóe mắt, nhìn thấy một vật màu trắng nổi bật lên, tôi bèn lao thẳng tới chỗ đó, nhưng khi lại

gần hơn, vật đó hóa ra chỉ là một quả bóng đá bạc phếch đã xẹp lép tôi đánh mất từ nhiều năm trước.

Tôi đang định bỏ cuộc và quay trở lại chỗ Ricky thì trông thấy một dải hẹp những cây cọ lùn có vẻ mới bị giẫm rạp xuống cách chỗ

mình không xa.

Tôi bước vào đó và chiếu đèn ra xung quanh: những chiếc lá bị thứ gì đó sẫm màu bắn lên.

Cổ họng tôi khô khốc.

Cố trấn

tĩnh lại, tôi bắt đầu lần theo lối đi.

Tôi càng đi xa hơn, dạ dày lại càng thắt lại, như thể cơ thể tôi đã biết cái gì nằm phía trước và đang cố

gắng cảnh báo tôi.

Rồi sau đó, vệt cây bụi bị đè bẹp gí xuống mở rộng ra, và tôi trông thấy ông.

Ông nội tôi nằm úp mặt xuống một đám dây leo, chân xoạc ra, một cánh tay gập lại dưới thân mình như thể ông đã bị rơi từ rất cao

xuống.

Tôi tin chắc rằng ông đã chết.

Chiếc áo lót ông mặc ướt sũng máu, quần ông rách toạc và một chiếc giày đã mất.

Suốt một lúc lâu,

tôi chỉ đứng nhìn trân trối, ánh đèn pin run rẩy chiếu lên người ông.

Khi đã có thể thở bình thường trở lại, tôi gọi tên ông, nhưng ông

không hề cựa quậy.

Tôi quỳ gối xuống áp lòng bàn tay lên lưng ông.

Máu trào ra vẫn còn ấm.

Tôi có thể cảm thấy hơi thở của ông, dù rất yếu.

Tôi luồn cánh tay xuống dưới người ông và lật ông nằm ngửa ra.

Ông nội tôi vẫn còn sống, dù chỉ còn hấp hối, đôi mắt ông đờ dại,

khuôn mặt hốc hác, trắng bệch.

Rồi tôi nhìn thấy những vết cào rách chằng chịt trên thân người ông và thiếu chút nữa ngất xỉu.

Những

vết rách rất rộng và sâu, dính bết đất, còn mặt đất nơi ông vừa nằm bê bết máu dính nhớp.

Tôi cố lấy những mảnh áo rách của ông che

lên các vết thương mà không nhìn vào chúng.

Tôi nghe thấy Ricky gọi lớn từ phía sân sau.

"TAO Ở ĐÂY!" tôi la lên, và đáng ra nên nói thêm gì đó, như nguy hiểm đấy hay có máu,

nhưng không thể nói nên lời.

Tất cả những gì tôi nghĩ đến là những người ông đáng lẽ nên qua đời trên giường, ở nơi yên tĩnh với tiếng rì

rì khe khẽ của máy móc, chứ không phải nằm một đống trên mặt đất ướt sũng hôi hám với lũ kiến bò lổm ngổm bên trên, trong bàn tay run

rẩy nắm chặt một con dao mở bì thư bằng đồng thau.

Một con dao mở bì thư.

Đó là tất cả những gì ông có để tự vệ.

Tôi gỡ nó ra khỏi các ngón tay ông, ông đưa tay ra chới với bất lực, tôi bèn nắm lấy tay ông.

Các ngón tay bị gặm cụt móng của tôi đan vào các ngón tay ông, nhợt nhạt và nổi đầy những tĩnh mạch tím tái.

"Cháu phải đưa ông đi", tôi nói với ông, luồn một cánh tay xuống dưới lưng ông, cánh tay còn lại dưới hai chân ông.

Tôi bắt đầu

nâng ông lên, nhưng ông rên lên và cứng người lại, vì thế tôi dừng lại.

Tôi không thể làm đau ông.

Tôi cũng không thể để mặc ông ở đó,

và chẳng còn biết làm gì hơn ngoài chờ đợi, tôi cẩn thận khẽ phủi đất khỏi cánh tay, khuôn mặt và mái tóc bạc lưa thưa của ông.

Đúng lúc

đó tôi nhìn thấy môi ông mấp máy.

Giọng nói của ông gần như nghe không rõ, thậm chí còn khẽ hơn một tiếng thì thầm.

Tôi cúi xuống, ghé tai sát vào miệng ông.

Ông

đang lẩm bẩm lúc mê lúc tỉnh, lúc nói tiếng Anh, lúc lẫn sang tiếng Ba Lan.

"Cháu không hiểu", tôi thì thầm.

Tôi nhắc lại tên ông cho tới khi đôi mắt ông dường như tập trung vào tôi, rồi ông thở hắt ra một hơi

và nói, khẽ nhưng rõ ràng, "Hãy tới hòn đảo, Yakob.

Ở đây không an toàn."

Lại vẫn là sự hoang tưởng xưa cũ.

Tôi siết nhẹ bàn tay ông và cam đoan rằng chúng tôi vẫn ổn, và ông rồi sẽ ổn cả.

Đây là lần thứ hai

tôi nói dối ông trong một ngày.

Tôi hỏi ông chuyện gì đã xảy ra, con vật gì đã khiến ông bị thương, nhưng ông không lắng nghe.

"Hãy tới hòn đảo", ông nhắc lại.

"Ở

đó cháu sẽ được an toàn.

Hứa với ông đi."

"Cháu sẽ đi.

Cháu hứa."

Tôi còn có thể nói gì khác đây?

"Ông tưởng có thể bảo vệ cháu", ông nói.

"Đáng lẽ ông phải nói với cháu từ lâu rồi..."

Tôi có thể thấy sự sống đang rời khỏi ông.

"Nói gì với cháu cơ?" tôi cố nén khóc hỏi.

"Không còn thời gian nữa", ông thì thầm.

Rồi ông ngẩng đầu lên khỏi mặt đất, run rẩy vì gắng sức, và phều phào vào tai tôi, "Hãy tìm

con chim.

Trong cái vòng.

Ở phía bên kia ngôi mộ ông lão.

Mồng ba tháng Chín năm 1940."

Tôi gật đầu, nhưng ông có thể nhận ra tôi

không hiểu.

Bằng chút sức lực cuối cùng của mình, ông nói thêm, "Emerson... lá thư".

Hãy nói cho họ biết những gì đã xảy ra, Yakob."

Nói xong, ông nằm vật xuống, kiệt sức xỉu đi.

Tôi nói với ông là tôi yêu ông.

Sau đó dường như ông chìm vào mê man, ánh mắt rời

khỏi tôi hướng lên bầu trời lấp lánh các vì sao.

Một lát sau, Ricky xồng xộc lao đến từ sau lùm cây.

Nhìn thấy ông nằm bất động trên tay tôi, cậu ta bật lùi lại một bước.

"Ôi trời ơi.

Ôi

lạy Chúa.

Ôi lạy Chúa", cậu ta thét lên, đưa hai tay bưng mặt, và trong khi cậu ta lảm nhảm về tìm mạch và gọi cảnh sát, rồi hỏi tôi có thấy

gì trong rừng hay không, một cảm giác lạ lùng tột độ xâm chiếm lấy tôi.

Tôi đặt ông nội xuống và đứng dậy, mọi đầu dây thần kinh căng

lên nhờ cái trực giác mà tôi không hề biết mình có.

Có thứ gì đó trong rừng, được rồi - tôi có thể cảm nhận được điều đó.

Không có trăng, và trong các lùm cây không có gì động cựa ngoài chính chúng tôi, ấy thế nhưng bằng cách nào đó tôi lại biết đúng thời

điểm để giơ đèn pin lên, biết đúng vị trí để rọi đèn tới, và trong một khoảnh khắc, tôi nhìn thấy trong luồng sáng hẹp ấy một khuôn mặt

dường như vừa bước ra từ những cơn ác mộng thời thơ ấu của tôi.

Khuôn mặt đó trợn trừng nhìn lại với đôi mắt ngập giữa chất lỏng tối

sẫm, những múi thịt nhăn nheo đen như than đeo bùng nhùng trên cái lưng gù, miệng nó há ngoác ra một cách quái đản để một mớ lưỡi

dài như những con lươn uốn éo thò ra.

Tôi hét lên gì đó, nó liền quay ngoắt lại và biến mất, làm lùm cây rung rinh khiến Ricky chú ý.

Cậu ta giơ khẩu súng .22 lên và bắn, pằng - pằng - pằng - pằng, rồi hỏi, "Cái gì thế?

Cái quỷ gì thế?"

Nhưng cậu ta không nhìn thấy nó, còn

tôi không thể nói cho cậu ta hiểu được trong khi tôi đang đứng chết cứng tại chỗ như hóa đá, cái đèn pin đang cạn nguồn chập chờn

chiếu vào khoảng rừng hoang vắng.

Rồi sau đó chắc tôi đã ngất đi, vì cậu ta có gọi Jacob, Jake, này Ed, mày ổn chứ hay gì đó, và đó là

điều cuối cùng tôi còn nhớ được.

Chương 2

Những tháng tiếp theo sau cái chết của ông, tôi quay cuồng qua một vòng luyện ngục của những phòng chờ tường sơn màu be và

những phòng khám không tên, bị mang ra phân tích và hạch hỏi, được bàn luận đến ngay ngoài tầm tai, phải gật đầu khi người ta nói

chuyện với mình, phải nhắc lại những gì đã nói, trở thành mục tiêu của hàng nghìn cái nhìn thương hại và đôi lông mày nhíu chặt.

Bố mẹ

tôi đối xử với tôi như với một người thừa kế mong manh dễ vỡ, tránh đôi co cãi vã trước mặt tôi, sợ ngộ nhỡ sẽ làm tôi vỡ vụn ra.

Tôi không ngừng mơ thấy những cơn ác mộng khiến tôi la hét đến bừng tỉnh, nghiêm trọng đến mức tôi phải đeo một cái ngáng miệng

để tránh nghiến đến nát răng trong khi ngủ.

Tôi không thể nhắm mắt lại mà không nhìn thấy nó - thứ ghê rợn với cái miệng đầy xúc tu

trong rừng.

Tôi tin chắc nó đã giết chết ông nội và sẽ sớm quay lại tìm tôi.

Đôi khi cảm giác kinh hoàng ghê rợn đó lại lan tràn khắp trong

tôi hệt như tối hôm đó và tôi lại cảm thấy chắc chắn nó đang chờ đợi ngay gần đó, nấp sau một lùm cây tối đen, đằng sau chiếc xe kế bên

trong bãi để xe, sau gara nơi tôi cất xe đạp của mình.

Giải pháp của tôi là không ló mặt ra khỏi nhà nữa.

Trong nhiều tuần liền, tôi nhất định không chịu đi dù chỉ là ra lối chạy xe để lấy thư

báo buổi sáng.

Tôi ngủ trên một đống chăn đệm trên sàn phòng giặt đồ, căn phòng duy nhất trong nhà không có cửa sổ và cửa ra vào

được khóa từ bên trong.

Suốt hôm đưa tang ông nội tôi đã ở đó, cầm theo laptop ngồi trên máy sấy quần áo, cố tìm lãng quên trong các

trò game trực tuyến.

Tôi trách cứ bản thân về những gì đã xảy ra.

Giá như mình tin ông, tôi cứ không ngừng lặp lại mãi cái điệp khúc ấy.

Nhưng tôi đã

không tin ông, và cũng không ai khác tin, và giờ đây tôi đã biết ông từng cảm thấy thế nào vì cũng chẳng có ai chịu tin tôi.

Kịch bản tôi

đưa ra về sự kiện này nghe có vẻ hợp lý một cách hoàn hảo cho tới khi tôi bị buộc phải nói những từ đó lên thành tiếng, đến lúc ấy nó trở

nên thật điên rồ, nhất là vào ngày tôi phải thuật lại tất tật cho viên sĩ quan cảnh sát tới nhà chúng tôi.

Tôi kể cho ông ta mọi chuyện đã

xảy ra, thậm chí cả về con vật kia, trong khi ông ta ngồi gục gặc đầu ở mé bên kia cái bàn bếp, chẳng ghi gì vào cuốn sổ gáy xoắn của

mình.

Khi tôi kể xong, tất cả những gì viên cảnh sát nói là, "Tuyệt lắm, cảm ơn", rồi quay sang bố mẹ tôi hỏi liệu tôi đã được đưa đi gặp ai

chưa".

Làm như tôi không biết ngụ ý của ông ta là gì.

Tôi nói với ông ta là tôi còn một lời khai nữa, rồi giơ ngón tay thối lên và đi ra ngoài.

Lần đầu tiên sau nhiều tuần, bố mẹ quát tôi.

Thực nhẹ nhõm biết bao - cái âm thanh quen thuộc ngọt ngào đó.

Tôi gào lên đốp lại

bằng những lời lẽ tệ hại.

Rằng hai người họ vui vì ông nội Portman đã chết.

Rằng tôi là người duy nhất thực sự yêu ông.

Tay cớm và bố mẹ tôi trò chuyện một hồi ngoài lối chạy xe, rồi sau đó tay cớm lái xe đi, một tiếng sau quay lại cùng một người đàn

ông tự giới thiệu là họa sĩ vẽ ký họa.

Ông này mang theo một giá vẽ to và yêu cầu tôi mô tả lại con vật kia, và trong khi tôi kể, ông họa sĩ

phác họa lại nó, thỉnh thoảng lại dừng tay để hỏi cho rõ hơn.

"Nó có mấy mắt?"

"Hai."

"Hiểu rồi", ông họa sĩ nói, cứ như thể những con quái vật là chủ đề hoàn toàn bình thường của một họa sĩ ký họa làm việc cho cảnh

sát.

Khá rõ ràng, đây là nỗ lực nhằm xoa dịu tôi.

Hành động rõ ràng nhất là khi người họa sĩ cố gắng đưa cho tôi bản phác họa hoàn chỉnh.

"Chú không cần cho cái này vào hồ sơ của chú hay sao đó à?" tôi hỏi ông ta.

Người họa sĩ nhướng mày lên trao đổi với viên cảnh sát.

"Tất nhiên rồi.

Không biết chú nghĩ gì vậy nhỉ?"

Quả là một sự sỉ nhục rõ rành rành.

Thậm chí đến cậu bạn thân nhất và duy nhất Ricky của tôi cũng không tin tôi, mà cậu ta cũng có mặt ở đó đấy chứ.

Cậu chàng thề

sống thề chết là chẳng nhìn thấy bất cứ con vật nào trong rừng tối hôm ấy - cho dù tôi đã chiếu đèn pin vào đúng ngay nó - và cậu ta

cũng nói thế với hội cớm.

Tuy thế, cậu ta đã nghe thấy tiếng chó sủa.

Cả hai chúng tôi đều nghe thấy.

Vì thế chẳng có gì ngạc nhiên khi

cảnh sát kết luận rằng một bầy chó hoang đã giết ông nội tôi.

Có vẻ như người ta đã phát hiện ra chúng ở đâu đó, và tuần trước đó một

phụ nữ đi dạo ở khu Century Woods cũng đã bị chúng cắn nhiều nhát.

Tất cả đều diễn ra vào ban đêm, các bạn nhớ cho.

"Đó chính là lúc

khó trông thấy các sinh vật nhất?" tôi nói.

Nhưng Ricky chỉ lắc đầu và lẩm bẩm gì đó về chuyện tôi cần một "người tẩy não".

"Ý mày là bác sĩ tâm lý chứ gì", tôi đáp, "cảm ơn rất rất nhiều.

Có bạn bè biết thông cảm như mày thật quý hóa quá."

Chúng tôi đang

ngồi trên nóc nhà tôi ngắm nhìn cảnh hoàng hôn trên vịnh, Ricky ngồi co người lại như lò xo trên chiếc ghế Adirondack đắt đến mức phi

lý bố mẹ tôi mua về từ một chuyến đi tới hạt Amish, hai chân cậu ta gập lại dưới người, hai cánh tay khoanh thật chặt, cậu ta hút liên tục

hết điếu thuốc này tới điếu khác với vẻ kiên quyết dứt khoát.

Cậu ta vẫn luôn có vẻ không thoải mái khi đến nhà tôi, nhưng từ cái cách

ánh mắt cậu ta trượt qua mỗi khi nhìn sang phía tôi, tôi có thể nhận ra giờ đây thứ làm cậu ta bất an không còn là sự giàu có của bố mẹ tôi

nữa, mà là chính tôi.

"Sao cũng được, tao chỉ đang thẳng thắn với mày", cậu ta nói.

"Cứ tiếp tục nói về lũ quái vật thế, kiểu gì rồi họ cũng lôi mày đi.

Khi

đó mày thực sự thành Ed Đặc Biệt."

"Đừng có gọi tao như thế."

Cậu ta búng điếu thuốc lá đi và nhổ một bã thuốc dính nhớp qua lan can.

"Mày lúc nào cũng vừa hút vừa nhai thuốc lá thế à?"

"Mày là ai hả, mẹ tao chắc?"

"Trông tao có giống một kẻ đi thổi kèn cho đám lái xe tải để đổi lấy phiếu ăn không hả?"

Ricky là một chuyên gia sành sỏi về những câu pha trò về các bà mẹ, nhưng câu đùa này có vẻ vượt quá mức cậu ta nuốt nổi.

Cậu ta

bật dậy khỏi ghế, đẩy tôi mạnh đến mức tôi thiếu chút nữa rơi khỏi nóc nhà.

Tôi hét lớn bảo cậu ta biến đi, nhưng cậu ta đã bỏ đi rồi.

Phải hàng tháng sau tôi mới gặp lại Ricky.

Thế là chấm hết cho quan hệ bạn bè.

***

Cuối cùng, bố mẹ tôi cũng đưa tôi tới gặp bác sĩ tâm lý thật - một người đàn ông trầm lặng có nước da màu ô liu tên là bác sĩ Golan.

Tôi không chống đối.

Tôi biết mình cần sự giúp đỡ.

Tôi nghĩ mình là một ca rất hóc búa, song bác sĩ Golan đã giải quyết xong trường hợp của tôi nhanh tới mức đáng ngạc nhiên.

Thái độ

bình thản, không chút cảm xúc của ông ta khi giải thích mọi thứ gần như đã thôi miên tôi, và chỉ trong vòng hai buổi trị liệu, ông ta đã

thuyết phục được tôi rằng con vật kia chẳng qua chỉ là sản phẩm từ trí tưởng tượng bị kích động thái quá của tôi; sang chấn tâm lý từ cái

chết của ông nội tôi đã làm tôi nhìn thấy thứ không thực sự có mặt ở đó.

Bác sĩ Golan giải thích rằng ban đầu chính những câu chuyện kể

của ông nội Portman đã ghi lại trong tâm trí tôi hình ảnh sinh vật đó, vì thế chỉ có thể lý giải một cách hợp lý là khi tôi quỳ gối đỡ ông trên tay, quay cuồng trước cú sốc kinh khủng nhất quãng đời non trẻ của mình, tôi đã tưởng tượng ra chính con quái vật ông đã kể.

[1]

Thậm chí còn có cả một cái tên cho trạng thái của tôi: rối loạn stress cấp tính.

"Mẹ chẳng thấy nó có gì dễ thương

cả," mẹ tôi nói

khi nghe được lời chẩn đoán mới bóng bẩy về tôi.

Dẫu vậy, câu bông đùa của mẹ chẳng làm tôi bận tâm.

Gần như bất cứ bệnh gì nghe

cũng còn hơn bị điên.

Thế nhưng việc tôi không còn tin rằng những con quái vật có thật không có nghĩa là tôi đã khá hơn.

Tôi vẫn bị những con ác mộng

giày vò.

Tôi sợ hãi, hoang tưởng và cực kỳ khó tương tác với người khác tới mức bố mẹ tôi phải thuê một gia sư để tôi chỉ phải đến

trường học vào những ngày tôi cảm thấy đủ sức làm vậy.

Và cuối cùng họ cũng cho phép tôi nghỉ việc ở Smart Aid.

"Cảm thấy khá hơn"

trở thành công việc mới của tôi.

Chẳng bao lâu sau, tôi cũng quyết định làm cho mình bị đuổi khỏi cả công việc này nữa.

Khi vấn đề vặt vãnh về chứng điên loạn nhất

thời của tôi đã được làm rõ, chức năng của bác sĩ Golan dường như chủ yếu chỉ còn gói gọn vào chuyện kê đơn.

Vẫn còn gặp ác mộng ư?

Tôi đã có thuốc này cho nó.

Lên cơn hoảng loạn trên xe đưa đón của trường ư?

Cái này sẽ giúp giải quyết ổn thỏa.

Không ngủ được?

Hãy tăng liều lên thôi.

Tất cả những viên thuốc đó làm tôi phát phì lên và đờ đẫn đi, trong khi tôi vẫn khổ sở như cũ, chỉ ngủ được ba hay

bốn giờ mỗi tối.

Cũng chính vì thế tôi bắt đầu nói dối bác sĩ Golan.

Tôi vờ như ổn cả trong khi bất cứ ai nhìn tôi đều có thể thấy bọng mắt

lù lù và cái cách tôi hết hồn nhảy dựng lên khi nghe tiếng động đột ngột.

Suốt một tuần tôi bịa ra toàn bộ phần nhật ký thuật lại các giấc

mơ, làm các giấc mơ của tôi nghe có vẻ êm dịu và đơn giản, giống như của những người bình thường.

Một giấc mơ là tới gặp nha sĩ.

Trong một giấc mơ khác tôi đang bay.

Tôi kể với ông bác sĩ rằng có hai đêm liền tôi mơ mình khỏa thân ở trường.

Sau đó, ông bác sĩ ngắt lời tôi.

"Thế còn những con quái vật thì sao?"

Tôi nhún vai.

"Không thấy bóng dáng chúng.

Cháu đoán như thế có nghĩa là cháu đang khá hơn, phải không?"

Bác sĩ Golan gõ gõ bút một lát rồi viết gì đó.

"Tôi hy vọng không phải cậu chỉ đang kể cho tôi những gì cậu nghĩ tôi muốn nghe."

"Tất nhiên là không rồi", tôi nói, ánh mắt lướt qua những bằng cấp được lồng khung treo trên tường, tất cả đều xác nhận năng lực

chuyên môn của vị bác sĩ trong nhiều chuyên ngành của tâm lý học, trong đó, tôi tin chắc, bao gồm cả chuyện làm thế nào phát hiện ra

một cậu nhóc vị thành niên bị rối loạn stress cấp tính đang nói dối.

"Hãy thành thực trong một phút nhé."

Ông bác sĩ đặt bút xuống.

"Cậu đang nói với tôi là trong tuần này cậu không hề mơ về chúng

thậm chí chỉ một đêm đúng không?"

Tôi vẫn luôn là một kẻ nói dối thảm hại.

Thay vì tự làm mình bẽ mặt, tôi nương theo lời bác sĩ.

"À", tôi lí nhí, "có lẽ là một đêm."

Sự thật là cả tuần nay tối nào tôi cũng mơ thấy thế.

Chỉ khác đi vài chi tiết nhỏ, nhưng nó luôn diễn ra thế này: tôi nằm phục xuống

trong góc phòng ngủ của ông nội, ánh sáng lờ mờ màu hổ phách hắt vào qua các ô cửa sổ, soi sáng một khẩu súng hơi bằng nhựa màu

hồng bắn đạn bi sắt dựng ngoài cửa.

Một cái máy bán hàng tự động to tướng sáng trưng nằm ở vị trí đáng ra là của chiếc giường, bên

trong không phải kẹo mà đựng đầy các hàng dao chiến đấu sắc như dao cạo và những khẩu súng ngắn bắn đạn xuyên giáp.

Ông nội tôi

đứng đó, mặc một bộ quân phục Anh cũ kỹ, nhét những tờ đô la vào máy, nhưng phải tốn khá nhiều mới mua được một khẩu súng và

chúng tôi đang cạn dần thời gian.

Cuối cùng, một khẩu .45 lăn về phía khung kính, nhưng trước khi rơi xuống nó lại bị mắc kẹt.

Ông nội

[2]

bật rủa bằng tiếng Yiddish

, đá vào cái máy, đoạn quỳ gối xuống thò tay vào trong cố với lấy khẩu súng, song cánh tay ông bị mắc kẹt.

Đúng lúc ấy chúng đến, những cái lưỡi dài đen ngòm của chúng trượt đi trên mặt kính bên ngoài, tìm một lối vào trong.

Tôi chĩa khẩu

súng bắn đạn bi sắt về phía chúng rồi siết cò, nhưng chẳng có gì xảy ra.

Trong lúc đó, ông nội Portman đang la hét như một người điên -

[3]

[4]

tìm con chim đi, tìm cái vòng, Yak ob vai

, mày k hông hiểu sao, đồ ngốc yutzi

quỷ tha ma bắt - thế rồi các cửa sổ vỡ tung, kính vỡ

ào ào tuôn xuống như mưa và những cái lưỡi đen ngòm trùm hết lên chúng tôi và thường tới lúc này tôi bừng tỉnh giữa một vũng mồ hôi,

tim đập như trống trận, dạ dày quặn thắt.

Cho dù giấc mơ vẫn luôn như thế và chúng tôi đã nhắc qua nó cả trăm lần, bác sĩ Golan vẫn yêu cầu tôi mô tả lại nó vào mỗi buổi trị

liệu.

Cứ như thể ông ta đang lật đi lật lại phần vô thức của tôi, tìm kiếm một manh mối nào đó rất có thể ông ta đã bỏ qua trong chín mươi

chín lần trước.

"Và trong giấc mơ ông nội cậu nói gì?"

"Vẫn luôn là mấy thứ đó", tôi nói.

"Về con chim, cái vòng và ngôi mộ."

"Những lời trăng trối của ông cụ."

Tôi gật đầu.

Bác sĩ Golan đan các ngón tay vào nhau rồi chống cằm, đúng phóc bộ dạng của một bác sĩ tâm lý đang ngẫm nghĩ.

"Có ý tưởng mới

nào xem chúng nghĩa là gì không?"

"Có chứ.

Chả nghĩa lý gì hết."

"Thôi nào.

Cậu đâu có nghĩ thế."

Tôi muốn làm như thể không quan tâm đến những lời trăng trối của ông, nhưng sự thực là có.

Chúng đã gặm nhấm tôi khủng khiếp

cũng gần như những cơn ác mộng.

Tôi cảm thấy mình mắc nợ ông, tôi không được phép phủ nhận với bất kỳ ai trên đời rằng những lời

trăng trối của ông là vô nghĩa và hoang tưởng, còn bác sĩ Golan tin rằng việc hiểu được chúng sẽ giúp tôi xua đi những giấc mơ đáng sợ.

Vậy là tôi cố.

Một số điều ông nội Portman nói thực sự có ý nghĩa, chẳng hạn như chuyện ông muốn tôi đi tới hòn đảo.

Ông lo lắng rằng những

con quái vật sẽ tới tìm tôi, và cho rằng hòn đảo là nơi duy nhất tôi có thể thoát được khỏi chúng, như ông từng thoát được khi còn là một

cậu bé.

Sau đó ông đã nói "Đáng lẽ ông phải nói với cháu", nhưng vì không có thời gian để ông nói với tôi điều đáng lẽ phải nói đó, cho

dù nó là cái gì, tôi tự hỏi biết đâu ông đã làm điều tốt nhất có thể sau lựa chọn này và để lại một manh mối dẫn tới ai đó có thể nói cho tôi

biết - một người biết bí mật của ông.

Tôi đoán đó chính là ý nghĩa của tất cả những lời nói bí hiểm về cái vòng, ngôi mộ và lá thư.

Trong một thời gian tôi đã nghĩ "vòng" có thể là một con phố tại Circle Village - một nơi chỉ toàn những lối cụt vòng vèo thắt lại như

cái vòng - và "Emerson" có thể là một người ông từng gửi thư cho.

Một người bạn cũ thời chiến tranh ông vẫn giữ liên lạc chẳng hạn.

Có thể nhân vật Emerson này sống tại Circle Village, ở một trong những cái vòng của khu này, gần một nghĩa địa, và một trong những lá thư

ông ta giữ có đề mồng ba tháng Chín năm l940, và đó là lá thư tôi cần đọc.

Tôi biết chuyện này nghe thật điên rồ, nhưng có những

chuyện còn điên rồ hơn thế hóa ra đều đúng.

Vậy là sau khi đâm vào ngõ cụt khi tìm kiếm trên mạng, tôi tới trung tâm cộng đồng của

Circle Village, nơi những người già tụ tập để chơi trò đẩy đĩa shuffleboard và bàn luận về những cuộc phẫu thuật mới nhất của họ, để hỏi

xem nghĩa địa ở đâu và liệu có ai biết ông Emerson nào không.

Họ nhìn tôi như thể tôi có cái đầu thứ hai mọc trên cổ, kinh ngạc khi thấy

một cậu nhóc vị thành niên đang nói chuyện với mình.

Chẳng có nghĩa địa nào tại Circle Village và không ai trong khu này tên là Emerson, cũng chẳng có con đường nào tên là hẻm Thòng Lọng, đại lộ Vòng hay cái gì Vòng cả.

Hoàn toàn vô ích.

Dẫu vậy, bác sĩ Golan vẫn chưa chịu tha cho tôi.

Ông ta gợi ý tôi tìm hiểu về Ralph Waldo Emerson, một nhà thơ nổi tiếng thời xưa

theo lời ông bác sĩ.

"Emerson đã viết rất nhiều thư", ông ta nói.

"Có thể đó là điều ông nội cậu muốn nói tới."

Nghe chẳng khác gì chĩa

súng bắn bừa trong đêm tối, nhưng để thoát được Golan, một buổi chiều tôi nhờ bố đưa tới thư viện để tôi có thể kiểm tra khả năng này.

Tôi nhanh chóng khám phá ra rằng Ralph Waldo Emerson quả thực đã viết rất nhiều thư được xuất bản.

Trong chừng ba phút tôi thực sự

vô cùng phấn khích, như thể mình đã cận kề một bước đột phá, và rồi sau đó có hai điều trở nên rõ ràng: thứ nhất, Ralph Waldon Emerson đã sống và chết từ thế kỷ mười chín, và do đó không thể viết bất cứ lá thư nào đề mồng ba tháng Chín năm l940 được, và thứ hai

là những gì ông này viết tối nghĩa và khó hiểu đến mức khó có chuyện làm ông nội tôi, một người không thể gọi là ham đọc, mảy may

quan tâm tới.

Tôi khám phá ra khả năng gây ngủ của Emerson theo cách dữ dội nhất, gục xuống ngủ úp mặt lên cuốn sách, làm nước dãi

chảy tùm lum lên khắp một bài luận có nhan đề "Tự lực" và lại mơ về cái máy bán hàng tự động lần thứ sáu trong tuần đó.

Tôi vùng vẫy

la hét om sòm và bị tống khứ ra khỏi thư viện không chút khách khí, và từ đầu tới cuối tôi không ngừng nguyền rủa bác sĩ Golan cùng mớ

giả thiết ngu ngốc của ông ta.

Giọt nước tràn ly nhỏ xuống vài ngày sau đó, khi gia đình tôi quyết định đã tới lúc nên bán ngôi nhà của ông nội Portman.

Tuy vậy,

trước khi có thể cho phép những người mua tiềm năng vào nhà, nơi này cần được lau dọn đã.

Theo lời khuyên của bác sĩ Golan, người

nghĩ rằng "đối diện với hiện trường của cơn sang chấn" sẽ tốt cho tôi, tôi được huy động giúp bố và cô Susie thu dọn đống bừa bộn bên

trong.

Suốt một hồi sau khi chúng tôi vào trong ngôi nhà, bố liên tục kéo tôi sang một bên để kiểm tra nhằm đoan chắc tôi vẫn ổn.

Kể

cũng ngạc nhiên, có vẻ tôi ổn thật, bất chấp những mẩu dây bảo vệ hiện trường đang dính vào các bụi cây và tấm màn che bị rách ngoài

hiên đập phành phạch trong cơn gió nhẹ, những thứ này - cũng như cái thùng rác Dumpster được thuê đang chồm hỗm ngoài lề đường,

chờ đợi nuốt chửng những gì còn lại từ cuộc đời ông nội tôi - làm tôi thấy buồn, nhưng không sợ.

Khi đã dám chắc là tôi không sắp sửa lên cơn động kinh sùi bọt đầy mồm, cả nhà bắt tay vào việc.

Được trang bị các túi đựng rác,

chúng tôi phăm phăm dọn dẹp cả ngôi nhà, dọn sạch các giá, ngăn tủ và các xó xỉnh, khám phá ra hàng đống bụi đất dưới những món đồ

đã nhiều năm không xê dịch.

Chúng tôi xây các kim tự tháp những thứ có thể giữ lại hay tận dụng, và nhiều kim tự tháp những thứ sẽ

dành cho cái thùng rác Dumpster.

Cô tôi và bố tôi không phải người đa cảm, và đống đồ dành cho cái thùng Dumpster luôn to hơn.

Tôi

trầy trật thuyết phục để giữ lại một số thứ, như chồng tạp chí National Geographic bị ngấm nước cao đến hai mét rưỡi đứng chông chênh

trong một góc gara - đã bao buổi chiều tôi dành ra để đọc chúng say sưa, tưởng tượng mình ở giữa những thổ dân New Guinea người trát

đầy bùn hay khám phá một lâu đài nằm cheo leo trên đỉnh vách núi ở vương quốc Bhutan?

- nhưng lời nói của tôi luôn bị gạt đi.

Tôi cũng

không được phép giữ lại bộ sưu tập áo chơi bowling cũ của ông ("Chúng thật phiền phức", bố tôi tuyên bố), những đĩa nhạc jazz thời

thập niên 1920 loại 78 vòng một phút ("Sẽ có người trả khá tiền vì chỗ đĩa này cho xem"), hay những thứ ở bên trong ngăn tủ chứa vũ khí to đùng vẫn khóa kín của ông ("Con đang đùa phải không?

Bố hy vọng là con đang đùa.")

Tôi nói với bố là ông không có tim.

Cô tôi rút lui khỏi hiện trường, để lại hai bố con tôi trong phòng làm việc, chúng tôi đang phải

soạn một núi các hóa đơn tài chính cũ.

"Bố chỉ thực tế thôi.

Đây là những gì xảy ra khi người ta qua đời, Jacob."

"Thế ư?

Thế khi bố qua đời thì sao?

Con có nên đốt sạch bản thảo cũ của bố không?"

Bố tôi đỏ gay mặt.

Đáng ra tôi không nên nói thế, nhắc tới các dự án viết lách dở dang của bố chắc chắn là chuyện cấm kỵ.

Thay vì

gắt lên với tôi, bố chỉ im lặng.

"Hôm nay bố đưa con đi cũng vì bố nghĩ con đã đủ chín chắn để làm việc này.

Bố đoán là bố đã nhầm."

"Bố đang nhầm.

Bố nghĩ tống khứ hết mọi thứ của ông đi thì con sẽ quên ông.

Nhưng không có chuyện đó đâu."

Bố tôi giơ hai bàn tay lên đầu hàng.

"Con biết không?

Bố đã phát ốm vì cứ phải tranh cãi về nó rồi.

Cứ việc giữ lại bất cứ thứ gì con

muốn."

Ông ném một xấp báo đã ố vàng xuống dưới chân tôi.

"Đây là một tập hợp đã được đánh đề mục về các suy đoán từ năm Kennedy bị ám sát.

Hãy mang nó về đóng khung mà treo lên!"

Tôi đá xấp báo đi rồi bước ra ngoài, đóng sầm cửa lại sau lưng, sau đó đợi ngoài phòng khách để chờ bố tôi ra xin lỗi.

Khi nghe thấy

tiếng máy hủy tài liệu hoạt động, tôi biết ông sẽ không làm thế, vậy là tôi đùng đùng lao vào nhà khóa trái mình lại trong phòng ngủ.

Căn

phòng sặc mùi không khí tù đọng, mùi da giày và mùi nước hoa hơi chua của ông.

Tôi tựa người vào tường, đôi mắt lần theo một vệt hằn

trên tấm thảm trải giữa cửa ra vào và giường nằm, chỗ đó có một vùng ánh sáng mặt trời mờ mờ hình chữ nhật chạm vào rìa một cái hộp

nhô ra từ dưới lớp ga trải giường.

Tôi đến bên cạnh, quỳ xuống kéo cái hộp ra.

Đó là cái hộp đựng xì gà cũ bám đầy bụi - như thể ông đã

để đó cho tôi tìm ra.

Bên trong hộp là những bức ảnh tôi biết quá rõ: cậu bé vô hình, cô bé đang bay lên, cậu bé nhấc bổng đá tảng, người có hình khuôn

mặt vẽ đằng sau đầu.

Tất cả đều đã trở lên giòn, bong tróc - và cũng nhỏ hơn so với trong trí nhớ của tôi - và giờ đây, ngắm nhìn chúng

khi tôi đã gần như trở thành người lớn, tôi chợt nhận ra vẻ giả tạo trong mấy bức ảnh rõ đến mức nào.

Có khi chỉ cần một chút tăng giảm

phơi sáng khi tráng phim cũng có thể làm cái đầu của cậu nhóc "vô hình" biến mất.

Tảng đá khổng lồ được đứa trẻ gầy còm đáng nghi

ngờ kia nhấc lên hoàn toàn có thể dễ dàng được tạo nên từ bọt xốp hay thạch cao.

Nhưng những quan sát này quả là quá tinh tế đối với

một cậu nhóc sáu tuổi nhất là với một cậu bé thực sự muốn tin.

Phía dưới mấy bức ảnh đó còn có thêm năm bức nữa mà ông nội Portman chưa bao giờ cho tôi xem.

Tôi tự hỏi vì sao, cho tới khi nhìn

lại gần hơn.

Ba bức ảnh bị dàn dựng rõ ràng tới bức thậm chí cả một đứa bé cũng phát hiện ra được: một bức ảnh ghép tức cười hình một

cô gái "bị nhốt" trong một cái chai; một bức khác chụp một đứa trẻ "đang bay lên", được treo bằng thứ gì đó giấu trong khung cửa tối om

sau lưng cô bé; bức ảnh thứ ba là một con chó với khuôn mặt một cậu bé được dán lên một cách thô thiển.

Như thể ba bức ảnh này còn

[5]

chưa đủ kỳ cục, hai bức ảnh cuối như thể được lấy ra từ những cơn ác mộng của David Lynch

: một bức chụp một nghệ sĩ uốn dẻo trẻ

không mấy vui vẻ đang biểu diễn một tư thế uốn gập lưng rợn người; bức kia là một cặp sinh đôi kỳ quái mặc những món trang phục quái

đản nhất tôi từng thấy.

Thậm chí cả ông nội tôi, người đã nhồi đầy đầu tôi các câu chuyện về lũ quái vật có những cái lưỡi xúc tu cũng đã

nhận ra những bức ảnh kiểu này có thể khiến bất cứ đứa trẻ nào gặp ác mộng.

Quỳ gối ở đó, trên sàn nhà bụi bặm trong phòng ông với mấy bức ảnh trên tay, tôi nhớ lại mình đã cảm thấy bị lừa dối như thế nào

vào cái ngày tôi vỡ lẽ ra rằng các câu chuyện của ông không phải sự thật.

Giờ đây, sự thật dường như đã hiển nhiên: những lời trăng trối

của ông chỉ đơn giản là một ngón xảo thuật nữa, và hành động cuối cùng của ông là để tiêm nhiễm vào tôi những cơn ác mộng và ảo giác

hoang tưởng rồi đây sẽ phải cần đến hàng bao nhiêu năm trị liệu tâm lý cùng đống thuốc đủ để tàn phá cơ thể mới tống khứ đi được.

Tôi đóng cái hộp lại và mang nó ra phòng khách, nơi bố tôi và cô Susie đang trút một ngăn kéo đầy ắp phiếu mua hàng giảm giá đã

được cắt nhưng chưa bao giờ được dùng vào một túi rác dung tích gần bốn mươi lít.

Tôi đưa cho hai người cái hộp.

Họ cũng chẳng buồn hỏi có gì bên trong.

***

"Vậy sự thật là thế sao?" bác sĩ Golan hỏi.

"Cái chết của ông cậu hoàn toàn vô nghĩa sao?"

Tôi đang nằm dài trên đi văng ngắm nghía một bể cá trong góc phòng, tù nhân vàng óng của nó đang lười nhác bơi lượn lờ thành

từng vòng.

"Trừ phi chú có ý tưởng nào hay hơn", tôi nói.

"Một học thuyết lớn lao nào đó về tất cả ý nghĩa của nó mà chú vẫn chưa nói

cho cháu biết.

Nếu không..."

"Cái gì?"

"Nếu không, việc này chỉ lãng phí thời gian thôi."

Ông bác sĩ thở dài và đưa tay lên véo sống mũi như thể cố tống khứ một cơn đau đầu.

"Ý nghĩa những lời trăng trối của ông cậu

không phải là kết luận tôi cần rút ra", ông ta nói.

"Những gì cậu nghĩ mới là vấn đề."

"Đó là một mớ lời lẽ tâm lý học vớ vẩn mắc dịch", tôi gắt lên.

"Những gì cháu nghĩ không phải là vấn đề; mà là thực tế!

Nhưng cháu

đoán là chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết được, vậy thì ai thèm quan tâm?

Cứ việc đánh thuốc mê cháu và nhận hóa đơn thanh toán đi."

Tôi muốn ông bác sĩ nổi điên - muốn ông ta tranh luận, quả quyết rằng tôi sai nhưng thay vì thế ông ta ngồi đó mặt lạnh tanh, cầm

bút gõ gõ vào tay vịn ghế.

"Nghe có vẻ như cậu đang bỏ cuộc", sau một lát ông bác sĩ lên tiếng.

"Tôi rất thất vọng.

Theo như tôi thấy

cậu không có vẻ là một kẻ dễ dàng bỏ cuộc."

"Vậy thì chú chả biết gì về cháu rồi", tôi đáp.

***

Tôi chẳng có chút xíu tâm trạng tiệc tùng nào hết.

Tôi biết rõ mình sắp phải tham gia một bữa tiệc khi bố mẹ tôi bắt đầu bóng gió một

cách chẳng mấy khéo léo rằng dịp cuối tuần sắp tới chắc chắn sẽ buồn chán và tẻ nhạt ra sao, trong khi tất cả chúng tôi đều biết thừa tôi

sắp tròn mười sáu tuổi.

Tôi đã khẩn khoản nài xin bố mẹ hãy bỏ qua bữa tiệc sinh nhật năm nay vì, bên cạnh các lý do khác, tôi chẳng thể

nghĩ ra được dù chỉ một người mà tôi muốn mời, song vì lo rằng tôi đã dành quá nhiều thời gian một mình, hai người khư khư cho rằng

giao tiếp xã hội là một hình thức trị liệu.

Sốc điện cũng được coi là một hình thức trị liệu đấy, tôi nhắc nhở họ.

Nhưng mẹ tôi rất ghét phải

bỏ lỡ bất cứ cái cớ nào dù mong manh nhất để tiệc tùng ăn mừng - có lần bà đã mời bạn bè đến mừng sinh nhật con vẹt Australia mào

vàng của chúng tôi - một phần vì bà rất khoái khoe ngôi nhà chúng tôi đang sống.

Cầm ly rượu vang trên tay, mẹ lôi khách đi từ căn

phòng chật ních đồ đạc này sang căn phòng khác, hết lời tán dương tài năng của kiến trúc sư và kể lại những câu chuyện đầy khó khăn

gay cấn về quá trình xây dựng ("Phải mất hàng tháng mới mua được những cái giá đèn treo tường này từ Italia đấy.")

Chúng tôi vừa về đến nhà sau buổi trị liệu thảm họa của tôi với bác sĩ Golan.

Tôi đi theo bố vào căn phòng khách tối om một cách rất

đáng ngờ còn ông đang lẩm nhẩm gì đó kiểu như "Thật tệ khi chúng ta lại không chuẩn bị gì cho sinh nhật con" và "À mà không sao, để

năm tới cũng được mà" thì tất cả ánh sáng bừng lên tràn ngập không gian, để lộ ra băng rôn chúc mừng, bóng bay, và cả một đám đông

đủ thành phần các cô dì chú bác và anh chị em họ mà hiếm khi tôi nói chuyện cùng - bất cứ ai mẹ tôi có thể huy động đến dự - và Ricky,

người tôi rất ngạc nhiên thấy lởn vởn cạnh tô rượu pân lớn, trông lạc lõng đến tức cười trong chiếc áo khoác da gắn mũ đinh trang trí.

Khi

mọi người đã xong màn chúc mừng và tôi đã thôi giả vờ ngạc nhiên, mẹ khoác vai tôi thì thầm, "Thế này có ổn không?"

Tôi rất khó chịu,

mệt mỏi và chỉ muốn chơi game Warspire III: The Summoning trước khi leo lên giường và bật ti vi.

Nhưng chúng tôi sẽ phải làm gì đây,

bảo mọi người về nhà hết ư?

Tôi nói mọi thứ đều ổn, và bà mỉm cười như thể để cảm ơn tôi.

"Ai muốn xem phần mới xây thêm nào?" mẹ tôi du dương nói, tự rót thêm cho mình một ít Chardonnay trước khi dẫn đầu một đoàn họ

hàng kéo lên lầu.

Ricky và tôi gật đầu chào nhau từ hai đầu căn phòng, im lặng nhất trí chịu đựng sự có mặt của những người khác thêm một hay hai

tiếng nữa.

Chúng tôi đã không hề nói chuyện với nhau kể từ hôm cậu ta suýt nữa đẩy tôi văng khỏi nóc nhà, nhưng cả hai chúng tôi đều

hiểu tầm quan trọng của việc duy trì cái ảo tưởng rằng mình có bạn bè.

Tôi đang định tới nói chuyện với cậu ta thì bác Bobby nắm khuỷu

tay kéo tôi vào một góc.

Bác Bobby là một người đàn ông vạm vỡ với khuôn ngực thùng tô nô, lái một chiếc xe to tướng, sống trong một

ngôi nhà lớn và sớm muộn gì cũng sẽ gục ngã trước một cơn đau tim mạnh mẽ, kết quả của bao nhiêu gan ngỗng béo và hamburger cỡ

lớn ông đã nhét vào bộ ruột của mình theo năm tháng, để lại mọi thứ cho đám anh họ nghiện cần sa của tôi và bà vợ bé nhỏ lặng lẽ của

ông.

Ông cùng bác Les của tôi là hai đồng chủ tịch của Smart Aid, và họ luôn làm việc này - kéo người ta vào góc để thì thào bí hiểm, như

thể đang toan tính một vụ giết người chứ không phải tán thưởng món xốt quả bơ của bà chủ nhà.

"Mẹ cháu bảo là cháu đang thực sự vượt qua được, ờ... chuyện ông nội cháu."

Chuyện của tôi.

Chẳng ai biết phải gọi nó là gì.

"Rối loạn stress cấp tính", tôi nói.

"Cái gì?"

"Đó là thứ cháu gặp phải.

Đã gặp phải.

Thế nào cũng được."

"Thế thì tốt.

Thật mừng khi nghe thấy thế."

Ông phẩy tay như thể để gạt tất cả những chuyện chẳng thú vị gì đó lại sau lưng chúng

tôi.

"Mẹ cháu và bác nghĩ vậy.

Cháu có thích tới Tampa vào hè này để xem tình hình làm ăn của gia đình không?

Đến trụ sở công ty với

bác để vỡ vạc đầu óc một thời gian thì sao nào?

Trừ phi cháu thích các kệ xếp hàng hơn!"

Ông phá lên cười to đến mức tôi bất giác lùi lại

một bước.

"Cháu thậm chí có thể ở tại ngôi nhà, đi câu cá cháo với bác và các anh họ cháu vào dịp cuối tuần."

Sau đó, bác tôi dành ra

năm phút lê thê mô tả chiếc du thuyền mới của ông, đi vào những chi tiết tỉ mỉ, gần như khêu gợi, như thể chỉ mình chuyện đó thôi cũng

đủ để chốt lại thỏa thuận.

Khi nói xong, bác cười ngạo nghễ, và chìa tay ra để tôi bắt.

"Vậy cháu nghĩ sao, Jacob?"

Tôi đoán nó đã được tính toán để trở thành một đề nghị tôi không thể từ chối, nhưng tôi thà trải qua mùa hè trong một trại lao động ở

Siberia còn hơn ở bên bác tôi và lũ con được nuông chiều của ông.

Còn chuyện làm việc tại trụ sở của Smart Aid, tôi biết nhiều khả năng

đó là một phần không thể tránh trong tương lai của mình, nhưng tôi đã tính sẽ phải có ít nhất vài mùa hè tự do nữa cộng thêm bốn năm

đại học trước khi buộc phải nhốt mình vào cái lồng của tập đoàn.

Tôi do dự, cố nghĩ cho mình một lối thoát êm thấm.

Thay vì thế, những

gì tôi nói ra lại là, "Hiện giờ cháu không chắc bác sĩ tâm lý của cháu sẽ nghĩ đó là một ý tưởng hay."

Đôi lông mày chổi sể của bác tôi nhíu lại.

Gật gật gù gù ông nói, "À phải, hẳn rồi, tất nhiên.

Vậy cứ coi như bác cháu mình chỉ nói

suông thôi nhỉ?"

Rồi ông bỏ đi không buồn đợi câu trả lời, giả bộ vừa thấy ai đó bên kia phòng mà ông cần phải tới bắt chuyện.

Mẹ tôi tuyên bố đã đến lúc mở quà.

Bà luôn nhất quyết đòi tôi phải làm việc đó trước mặt tất cả mọi người, một chuyện cực kỳ rắc rối,

vì như đã nhắc qua lúc trước, tôi không có khiếu nói dối cho lắm.

Điều đó cũng có nghĩa là tôi không hề giỏi trong việc vờ thể hiện lòng

biết ơn vì những chiếc đĩa CD nhạc Giáng sinh đồng quê được tặng lại hay phiếu đặt mua dài hạn tạp chí Field and Stream - suốt nhiều

năm bác Les đã bị ám ảnh bởi ảo tưởng đáng kinh ngạc rằng tôi là một đứa "hướng ngoại" - nhưng vì phép lịch sự tôi cố nặn ra một nụ

cười và nâng từng món quà đã được mở giấy bọc ra lên để mọi người cùng chiêm ngưỡng cho tới khi chồng quà trên bàn cà phê chỉ còn

lại ba món.

Tôi với lấy món quà bé nhất trước tiên.

Bên trong là chìa khóa chiếc ô tô mui kín sang trọng đã chạy được bốn năm của bố mẹ tôi.

Mẹ

tôi giải thích là bố mẹ chuẩn bị mua một chiếc xe mới, vì thế tôi được thừa kế cái cũ.

Chiếc xe đầu tiên của tôi!

Mọi người đều ồ và à,

nhưng tôi cảm thấy mặt mình nóng bừng.

Nếu chấp nhận một món quà xa xỉ như thế trước mặt Ricky thì có khác nào khoe của, giá cái xe

của cậu ta còn chưa bằng món tiền tiêu vặt hằng tháng tôi nhận được năm mười hai tuổi.

Dường như bố mẹ luôn cố gắng làm cho tôi

quan tâm tới tiền bạc, nhưng thật ra tôi lại chẳng hề quan tâm.

Có điều, khi đã thừa mứa thì thật dễ dàng nói mình không quan tâm đến

tiền bạc.

Món quà kế tiếp là một chiếc máy ảnh kỹ thuật số mà tôi đã nài nỉ đòi bố mẹ mua suốt mùa hè năm ngoái.

"Ái chà", tôi thốt lên cảm

nhận trọng lượng của nó trên tay mình.

"Tuyệt quá."

"Bố đang lên dàn ý cho một cuốn sách mới về chim", bố tôi nói.

"Bố nghĩ con có thể đảm nhiệm phần chụp ảnh."

"Một cuốn sách mới ư!" mẹ tôi thốt lên.

"Quả là một ý tưởng phi thường, Frank.

Nhân nói đến nó, cuốn sách trước mà anh định viết

thì sao nhỉ?"

Rõ ràng bà đã cạn vài ly rượu vang.

"Anh vẫn đang chỉnh sửa lại vài thứ", bố khẽ đáp.

"À, tôi hiểu rồi."

Tôi có thể nghe thấy bác Bobby cười khùng khục.

"Xem nào!" tôi nói lớn tiếng, với lấy món quà cuối cùng.

"Cái này là của cô Susie."

"Thực ra", cô tôi nói khi tôi bắt đầu xé giấy bọc, "nó là của ông nội cháu."

Tôi khựng lại giữa chừng.

Cả căn phòng bỗng lặng ngắt,

mọi người nhìn cô Susie cứ như thể cô vừa gọi tên một con quỷ nào đó.

Quai hàm bố tôi đanh lại còn mẹ tôi phụt ngụm rượu vang bà vừa

uống ra.

"Cứ mở nó ra rồi cháu sẽ thấy", cô Susie nói.

Tôi lột nốt phần giấy gói còn lại và tìm thấy một cuốn sách cũ bìa cứng, mép các trang sách đã quăn, và không còn bìa áo.

Đó là cuốn

Tuyển tập Ralph Waldo Emerson.

Tôi nhìn nó chằm chằm như thể cố đọc xuyên qua bìa, không thể hiểu nổi nó đã tới nằm trên đôi bàn tay đang run rẩy của mình như

thế nào.

Không ai ngoài bác sĩ Golan biết về những lời trăng trối của ông nội, và bác sĩ đã hứa vài lần là trừ phi tôi có nguy cơ uống

[6]

[7]

Drano

hay nhảy lộn ngược từ trên cầu Sunshine Skyway

xuống, mọi thứ chúng tôi trao đổi tại phòng khám của ông ta sẽ được giữ bí

mật.

Tôi đứng dậy rời đi, sợ rằng mình sẽ bật khóc trước mặt tất cả mọi người, và chợt có thứ gì đó tuột ra từ giữa các trang sách rơi xuống

sàn.

Tôi cúi xuống nhặt nó lên.

Đó là một lá thư.

Emerson.

Lá thư.

Tôi cảm thấy mặt mình không còn chút máu nào.

Mẹ cúi về phía tôi căng thẳng thì thầm hỏi liệu tôi có cần uống nước không, như một

cách nhắc nhở bình tĩnh lại, mọi người đang nhìn chằm chằm đây.

Tôi nói, "Con cảm thấy hơi, ừm..." rồi sau đó, đưa một bàn tay lên ôm

bụng, tôi lao vào phòng mình.

***

Lá thư được viết tay trên một tờ giấy đẹp không kẻ dòng, với những nét vòng nắn nót tới mức gần như là một bản thư pháp, màu mực

đen đậm nhạt không đồng đều, như thể được viết ra từ một chiếc bút máy cũ.

Lá thư viết:

Abe thân yêu nhất đời.

Ta hy vọng lá thư này đến nơi k hi cậu vẫn an toàn và vô cùng k hỏe mạnh.

Đã lâu lắm rồi k ể từ lần cuối chúng ta nhận được tin

của cậu!

Nhưng ta viết k hông phải để trách móc, chỉ để cậu biết chúng ta vẫn hay nghĩ đến cậu và cầu mong cậu được bình yên.

Abe

can đảm và k hôi ngô của chúng ta!

Còn về cuộc sống trên hòn đảo, có rất ít thay đổi.

Nhưng bình lặng và trật tự chính là cách chúng

ta thích mọi thứ diễn ra!

Không rõ chúng ta có thể nhận ra cậu sau bấy nhiêu năm hay k hông dù ta chắc chắn cậu sẽ nhận ra chúng

ta - nghĩa là số ít những người còn lại.

Sẽ thật ý nghĩa nếu có một bức ảnh chụp gần đây của cậu, nếu cậu có một bức để gửi.

Ta gửi

k èm đây một bức ảnh tất nhiên rất cũ rồi của chính ta.

E nhớ cậu k inh k hủng.

Cậu k hông viết cho cô bé sao?

Với sự tôn trọng và ngưỡng mộ.

Cô phụ trách Alma LeFay Peregrine

Đúng như lời hứa, người viết thư đã kèm theo một bức ảnh cũ.

Tôi cầm bức ảnh giơ lên dưới ánh đèn bàn, cố tìm ra một vài chi tiết trên hình bóng khuôn mặt người phụ nữ, nhưng chẳng có gì để

tìm.

Bức ảnh trông thật lạ, song không hề giống mấy bức ảnh của ông nội tôi.

Không hề có thủ thuật nào ở đây.

Trong ảnh chỉ đơn giản

là một người phụ nữ - một phụ nữ đang hút tẩu.

Trông nó giống như cái tẩu của Sherlock Holmes, uốn cong và trễ xuống từ môi bà.

Đôi

mắt tôi cứ chốc chốc lại trở lại nhìn vào nó.

Liệu đây có phải là thứ ông đã muốn tôi tìm ra không?

Đúng vậy, tôi nghĩ, hẳn là thế - không phải những lá thư của Emerson mà là một

lá thư kẹp trong cuốn sách của Emerson.

Nhưng cô phụ trách Peregrine này là ai mới được chứ.

Tôi xem phong bì để tìm địa chỉ người gửi,

nhưng chỉ thấy một dấu bưu điện đã phai màu có ghi Đảo Cairinholm., Cymru, Anh.

Anh - đó là nước Anh.

Nhờ tìm hiểu các tập bản đồ từ hồi còn nhỏ tôi biết rằng Cymru có nghĩa là xứ Wales.

Cairnholm hẳn chính là hòn đảo cô Peregrine đã nhắc tới trong lá thư của mình.

Có thể nào đó cũng chính là hòn đảo ông nội tôi đã sống khi còn là một cậu bé

chăng?

Chín tháng trước, ông đã bảo tôi "tìm Chim".

Chín năm trước, ông từng thề là trại trẻ nơi ông sống được bảo vệ bởi một con chim -

một "con chim ưng hút tẩu thuốc".

Ở tuổi lên bảy, tôi đã hiểu lời kể đó theo đúng nghĩa đen, nhưng cô phụ trách trong bức ảnh cũng

đang hút tẩu, và họ của cô là Peregrine, tên một loài chim ưng.

Liệu có phải con chim ông nội muốn tôi tìm thực ra chính là người phụ nữ

đã cứu ông - cô phụ trách của trại trẻ?

Biết đâu bà vẫn còn ở trên hòn đảo đó sau bấy nhiêu năm, đã già nhưng được chăm sóc bởi số ít

những học trò cũ của bà, những đứa trẻ đã lớn lên nhưng không bao giờ rời đi.

Lần đầu tiên, những lời trăng trối của ông bắt đầu có một ý nghĩa thật lạ lùng.

Ông muốn tôi tới hòn đảo và tìm người phụ nữ này, cô

phụ trách ngày xưa của ông.

Nếu có ai đó biết về những bí mật tuổi thơ của ông nội tôi, người ấy chỉ có thể là bà.

Nhưng dấu bưu điện

trên phong bì đã mười lăm năm tuổi.

Liệu bà có thể còn sống không?

Tôi nhẩm tính nhanh trong đầu: nếu bà đã điều hành trại trẻ từ năm

l939 và, giả dụ, hai mươi lăm tuổi vào lúc ấy, vậy thì giờ đây bà đã phải ngoài chín mươi tuổi.

Vậy thì có thể lắm - ở Englewood có những

người còn già hơn thế vẫn sống một mình và tự lái xe - và thậm chí dù bà Peregrine đã qua đời trong khoảng thời gian sau khi gửi lá thư,

nhiều khả năng tại Cairnholm vẫn còn những người có thể giúp đỡ tôi, những người đã biết ông nội Portman khi ông còn nhỏ.

Những

người biết các bí mật của ông.

Chúng tôi, cô phụ trách đã viết thế.

Số ít những người còn lại.

***

Như bạn hẳn cũng có thể hình dung, thuyết phục bố mẹ cho phép tôi trải qua một phần mùa hè trên một hòn đảo tí xíu nằm ngoài

khơi bờ biển xứ Wales là chuyện chẳng dễ dàng gì.

Bố mẹ tôi - nhất là mẹ - có vô vàn lý do thuyết phục để giải thích rằng đây là một ý

tưởng tồi, bao gồm cả chi phí, cũng như việc tôi dự kiến sẽ trải qua mùa hè ở chỗ bác Bobby học cách điều hành một đế quốc dược phẩm,

rồi thì tôi không có ai để đi cùng, vì chẳng ai trong bố mẹ tôi có hứng thú muốn đi, mà chắc chắn tôi không thể đi một mình.

Tôi không có

nổi lời phản bác hữu hiệu nào, và lý do khiến tôi muốn thực hiện chuyến đi - tôi nghĩ - tôi cần phải làm vậy - thì khó mà giải thích sao

cho nghe không có vẻ còn điên rồ hơn tình trạng hai người vốn đã sợ tôi đang rơi vào.

Chắc chắn tôi sẽ không kể với bố mẹ về những lời

trăng trối của ông nội Portman, về lá thư hay bức ảnh - họ thể nào cũng nhốt tôi lại.

Lập luận nghe lọt tai mà tôi có thể nghĩ ra chỉ có những thứ đại loại như, "Con muốn biết nhiều hơn về lịch sử gia đình" và câu cự nự chẳng bao giờ thuyết phục, "Chad Kramer và Josh

Bell sẽ sang châu Âu hè năm nay.

Sao con lại không được?"

Tôi viện tới chúng thường xuyên hết mức mà không có vẻ tuyệt vọng (và

thậm chí một lần còn dùng đến bài "đâu có vẻ gì là bố mẹ không có tiền?" một chiến thuật tôi lập tức thấy hối tiếc), nhưng có vẻ như

chuyến đi sẽ khó lòng mà thành được.

Thế rồi vài chuyện xảy ra đem đến cho tôi thuận lợi lớn.

Trước hết, bác Bobby đã nguội hết hứng thú để tôi trải qua mùa hè cùng ông

- vì ai mà muốn một kẻ tâm thần sống trong nhà họ chứ?

Vậy là lịch trình của tôi bỗng dưng rộng mở.

Tiếp theo, bố tôi lại phát hiện ra đảo

Cairnholm là một khu sinh thái chim cực kỳ quan trọng, và có vẻ như nó là nơi cư trú của một nửa số lượng cá thể trên toàn thế giới của

một loài chim đã khiến ông lên cơn cuồng điểu học cấp tính.

Bố tôi bắt đầu nói rất nhiều về cuốn sách chim muông mới ở dạng giả thuyết

của ông, và bất cứ lúc nào chủ đề này được gợi ra, tôi lại cố hết sức cổ vũ bố và tỏ vẻ quan tâm.

Nhưng yếu tố quan trọng nhất là bác sĩ

Golan.

Và chỉ sau một chút phỉnh phờ tối thiểu ở mức đáng ngạc nhiên từ phía tôi, ông bác sĩ đã làm tất cả chúng tôi choáng váng vì

không chỉ phê chuẩn ý tưởng của tôi mà còn động viên bố mẹ để tôi đi.

"Điều đó có thể quan trọng với cậu ấy", ông bác sĩ nói với mẹ tôi vào một buổi chiều, sau buổi trị liệu.

"Đó là một địa điểm ông nội

cậu bé đã thần thoại hóa tới mức việc đến thăm tận nơi sẽ chỉ giúp xóa đi tấm màn thần bí.

Cậu bé sẽ thấy nơi đó cũng bình thường,

chẳng có gì là mầu nhiệm như bất cứ nơi nào khác, và từ đó, những câu chuyện hoang đường của ông nội cậu ấy sẽ mất đi sức ám ảnh

của chúng.

Lấy thực tế để chống lại hoang tưởng có thể là một cách rất hiệu quả."

"Nhưng tôi tưởng thằng bé vốn đã không tin vào mấy chuyện đó rồi", mẹ vừa nói vừa quay sang tôi.

"Phải không, Jake?"

"Con không tin vào chúng", tôi cam đoan với bà.

"Không, một cách có ý thức thì con trai bà không tin", bác sĩ Golan nói.

"Nhưng phần vô thức mới là thứ gây phiền phức cho cậu bé

lúc này.

Những giấc mơ, nỗi lo lắng."

"Và ông thực sự nghĩ đi tới đó có thể có ích?" mẹ tôi nói, nheo mắt nhìn ông bác sĩ như thể trấn tĩnh bản thân để nghe sự thật trần

trụi.

Về những gì tôi nên hay không nên làm, lời nói của bác sĩ Golan là luật pháp.

"Đúng thế", ông ta đáp.

Và chỉ cần có thế.

***

Sau đó, mọi thứ diễn ra đâu vào đấy với tốc độ đáng kinh ngạc.

Vé máy bay được đặt mua, lịch trình được lên, kế hoạch được vạch ra.

Bố và tôi sẽ đi trong ba tuần vào tháng Sáu.

Tôi băn khoăn liệu từng đó có quá lâu hay không nhưng bố tôi tuyên bố ông cần ít nhất

chừng ấy thời gian để nghiên cứu kỹ lưỡng về các quần thể chim của hòn đảo.

Tôi nghĩ mẹ sẽ phản đối - những ba tuần!

- nhưng chuyến

đi của hai bố con càng cận kề, bà dường như lại càng cảm thấy phấn khích cho chúng tôi.

"Hai người đàn ông của tôi", mẹ tôi thường nói,

mặt rạng ngời, "lên đường làm một cuộc phiêu lưu lớn nào!"

Tôi thực sự cảm động trước tâm trạng nhiệt tình của mẹ - cho tới một buổi chiều tôi nghe trộm được bà nói chuyện điện thoại với một người bạn, nói bà nhẹ nhõm tới mức nào khi được "có lại cuộc sống của mình" trong ba tuần và "không phải lo lắng đến hai đứa trẻ túng

bấn".

Con cũng yêu mẹ, tôi những muốn nói thế với tất cả sự mỉa mai cay nghiệt có thể viện đến, nhưng bà lại chẳng nhìn thấy tôi, vậy là

tôi giữ im lặng.

Tất nhiên tôi có yêu mẹ, nhưng chủ yếu vì đó là một bổn phận, chứ không phải vì mẹ là người có lẽ tôi sẽ yêu quý khi gặp

bà đi bộ dọc xuống phố.

Mà nói gì thì nói, đó cũng là chuyện mẹ tôi chẳng bao giờ làm; chỉ có người nghèo mới đi bộ.

Trong quãng thời gian ba tuần từ lúc năm học kết thúc cho tới khi chuyến đi của chúng tôi bắt đầu, tôi cố gắng hết sức để tìm hiểu

xem bà Alma LeFay Peregrine có còn hiện diện trên đời hay không, nhưng việc tìm kiếm trên Internet chẳng cho biết điều gì.

Giả sử bà vẫn

còn sống, tôi những hy vọng có thể liên lạc được với bà qua điện thoại hay ít nhất cũng báo để bà biết trước tôi sẽ đến, nhưng tôi nhanh

chóng phát hiện ra thậm chí gần như chẳng có ai tại Cairnholm sở hữu một chiếc điện thoại.

Tôi chỉ tìm thấy một số máy duy nhất cho cả

hòn đảo, vì thế tôi bèn gọi vào đó.

Phải mất gần một phút để kết nối, đường dây kêu xì xì, lạch cạch, im bặt rồi lại xì xì, đến mức tôi có thể cảm nhận được từng dặm

khoảng cách xa lắc mà cuộc gọi của mình phải trải qua.

Cuối cùng, tôi nghe thấy tiếng chuông kiểu châu Âu lạ tai đó - goạpppppp goạpppppp - và một người đàn ông tôi chỉ có thể đoán là đã say mèm trả lời điện thoại.

"Hố tiểu!"

ông ta gầm lên.

Ở đầu dây bên kia vang lên một lượng tiếng ồn kinh người, thứ rống rít khàn khàn bạn có thể trông đợi

được nghe vào lúc cao điểm của một bữa nhậu chén chú chén anh tưng bừng.

Tôi gắng xưng danh, song không nghĩ ông ta có thể nghe

tôi nói.

"Hố tiểu!"

ông ta lại rống lên lần nữa.

"Ai đấy hả?"

Nhưng tôi còn chưa kịp nói gì, ông ta đã bỏ ống nghe xuống để hét lớn lên với ai

đó.

"Tao đã bảo cưm mùm, đồ con hoang ngủ gật kia, tao đang..."

Và sau đó đường dây im tịt.

Tôi ngồi đó, áp ống nghe vào tai bần thần giây lát, rồi gác máy.

Tôi cũng chẳng buồn gọi lại.

Nếu chiếc điện

thoại duy nhất tại Cairnholm kết nối tới một cái ổ tệ hại nào đó gọi là "hố tiểu", nó có thể báo trước được gì về phần còn lại của hòn đảo

đây?

Không lẽ chuyến đi đầu tiên tới châu Âu của tôi sẽ phải dành để trốn tránh những gã điên say bét nhè và ngắm nhìn lũ chim phóng

uế trên các dải bờ biển lởm chởm đá sao?

Có thể là vậy lắm.

Nhưng nếu thế nghĩa là cuối cùng tôi có thể cho bí mật của ông nội được yên

nghỉ và tiếp tục cuộc sống bình thường của mình, thì bất cứ điều gì tôi phải chịu đựng cũng đáng giá.

Chương 3

Sương mù quây kín chúng tôi như một dải băng bịt mắt.

Khi thuyền trưởng thông báo chúng tôi đã gần đến nơi, thoạt đầu tôi nghĩ

ông ta đang đùa; tất cả những gì tôi có thể nhìn thấy từ mặt boong đang tròng trành của chiếc phà là một tấm màn xám xịt vô tận.

Tôi bíu

chặt lấy thanh chắn lan can và căng mắt nhìn xuống những con sóng màu xanh lục, dõi theo con cá rất có thể sắp được thưởng thức bữa

sáng của tôi, trong khi bố tôi đứng co ro bên cạnh, mặc mỗi cái áo sơ mi.

Thời tiết lạnh và ẩm ướt hơn so với những gì tôi từng biết về

tháng Sáu.

Tôi hy vọng, vì bố và cũng vì cả tôi là ba mươi sáu giờ đồng hồ kinh khủng chúng tôi đã phải gồng mình vượt qua cho tới lúc

này - ba lần chuyển máy bay, hai quãng thời gian ngồi chờ, vật vờ chợp mắt ở các ga tàu hỏa bẩn thỉu, và bây giờ là chuyến đi phà dài

dằng dặc làm ruột như muốn lộn nhào này - sẽ không uổng công.

Thế rồi bố tôi reo lên, "Nhìn xem", tôi ngẩng đầu lên thì thấy một khối

núi đá lừng lững hiện ra từ màn sương trắng đục trước mắt chúng tôi.

Đó là hòn đảo của ông nội tôi.

Hiện ra lừng lững, lạnh lẽo cô tịch, lờ mờ giữa sương mù, được canh gác bởi cả triệu con chim đang kêu

váng lên, trông nó tựa như một pháo đài cổ xưa do những người khổng lồ xây dựng.

Khi tôi ngước mắt nhìn lên những vách đá dựng

đứng của nó, phần đỉnh biến mất trong một dải mây ma quái, cái ý niệm nơi này là một chốn mầu nhiệm chẳng hề có vẻ gì là lố bịch.

Cơn buồn nôn của tôi dường như biến mất.

Bố tôi chạy vòng quanh như con nít vào dịp Giáng sinh, đôi mắt dán vào những con chim

bay lượn trên đầu chúng tôi.

"Jacob, nhìn xem kìa!"

ông reo lên, chỉ vào một đám chấm đen trên không trung.

"Chim hải âu Manx!"

Khi chúng tôi lại gần các vách đá hơn, tôi bắt đầu nhìn thấy những hình thù kỳ dị lập lờ dưới nước.

Một thủy thủ đi ngang qua bắt

gặp tôi cúi người qua thành lan can nhìn chằm chằm vào chúng, bèn hỏi, "Chưa bao giờ thấy xác tàu đắm hả?"

Tôi quay sang người thủy thủ.

"Thật sao?"

"Cả vùng này là một nghĩa địa hàng hải.

Như mấy ông thuyền trưởng già thường nói - 'Giữa mũi Hartland và vịnh Cairnholm là một

nấm mồ của thủy thủ, dù vào ban đêm hay ban ngày!'"

Đúng lúc đó, chúng tôi đi ngang qua một xác tàu lờ lờ mặt nước, đường viền của đống xác màu xanh hiện lên rõ tới mức trông như thể

nó sắp nhô lên khỏi mặt nước, chẳng khác nào một con zombie chui lên từ một nấm mồ nông.

"Thấy cái kia không?" người thủy thủ vừa

[8]

nói vừa chỉ vào nó.

"Nó bị một chiếc U- boat

bắn chìm đấy."

"Từng có những chiếc U-boat ở quanh đây sao?"

"Hàng đống.

Cả vùng biển Ireland đầy nhóc tàu ngầm Đức.

Dám cược là anh bạn trẻ sẽ có trong tay một nửa lực lượng hải quân nếu

có thể làm nổi lên tất cả các tàu bị chúng bắn chìm bằng ngư lôi."

Người thủy thủ nhướng một bên lông mày lên vẻ rất kịch, rồi vừa phá

lên cười vừa bỏ đi.

Tôi chạy dọc theo boong phà tới phía đuôi, nhìn theo dấu xác tàu đắm trong khi nó biến mất bên dưới phà chúng tôi.

Sau đó, đúng

lúc tôi bắt đầu băn khoăn liệu chúng tôi có cần đến dụng cụ leo núi để lên đảo hay không, những vách đá dốc của nó bắt đầu thoai thoải xuống để đón chúng tôi.

Chúng tôi đi vòng qua một mũi đất để tiến vào một vịnh biển hình bán nguyệt có bờ lởm chởm đá.

Từ đằng xa,

tôi nhìn thấy một bến tàu nhỏ với những chiếc tàu đánh cá đầy màu sắc đang dập dềnh, và đằng sau bến cảng là một thị trấn nằm lọt

thỏm trong một khoảng đất xanh rì hình lòng bát.

Một dải các khu đồng cỏ với bầy cừu rải rác nằm trải rộng vắt qua những ngọn đồi

vươn lên để gặp một ngọn núi cao, nơi một bức tường mây đang dựng lên như một tấm bình phong bằng bông.

Nơi này thật kỳ thú và

đẹp đẽ, không giống bất cứ nơi nào tôi từng thấy qua.

Tôi cảm thấy một chút phấn khích phiêu lưu khi chúng tôi tiến vào vịnh, như thể

tôi vừa phát hiện ra đất liền ở nơi mà trên bản đồ chỉ là một mảng màu xanh thuần nhất.

Chiếc phà cập bến, chúng tôi liền vác hành lý đi vào thị trấn nhỏ.

Sau khi xem xét cận cảnh hơn, tôi rút ra kết luận rằng, cũng như rất

nhiều thứ khác, nơi này nhìn gần cũng chẳng đẹp như lúc nhìn từ xa.

Những ngôi nhà tường quét vôi trắng, nom có vẻ cũ kỹ là lạ ngoại

trừ những cái chảo thu tín hiệu vệ tinh nhô lên khỏi mái, nằm hai hàng theo một mạng lưới nhỏ những con phố rải sỏi lầy lội.

Vì Cairnholm

nằm ở quá xa và có vai trò quá nhỏ bé để biện hộ được cho chi phí chạy đường điện từ đất liền ra, những chiếc máy phát điện chạy dầu

diesel tỏa mùi lợm giọng thi nhau kêu rù rù ở khắp mọi ngõ ngách như những con ong bắp cày đang nổi đóa, hòa nhịp cùng tiếng gầm

của máy kéo, phương tiện cơ giới duy nhất di chuyển trên đảo.

Ở bên rìa thị trấn, những ngôi nhà nông thôn có vẻ cũ kỹ bị bỏ hoang nằm

trơ trọi, mái chẳng còn, bằng chứng của một cộng đồng dân cư đang teo tóp dần, lớp trẻ bị những cơ hội hứa hẹn quyến rũ hơn ở nơi

khác thu hút từ bỏ truyền thống đánh cá và làm nông hàng thế kỷ.

Hai bố con tôi kéo lê hành lý đi qua thị trấn để tìm một nơi nào đó có tên là Priest Home, bố tôi đã đặt một phòng ở đó.

Tôi mường

tượng ra một nhà thờ cũ được chuyển thành nhà trọ qua đêm - chẳng có gì đẹp đẽ, chỉ đơn giản là nơi để ngủ những lúc chúng tôi không

đi ngắm chim hay lần tìm theo các manh mối.

Chúng tôi hỏi vài cư dân địa phương để tìm đường nhưng đổi lại chỉ nhận được những cái

nhìn bối rối.

"Họ nói tiếng Anh mà, phải không nào?" bố tôi nói ra nỗi băn khoăn của mình.

Đúng lúc bàn tay tôi bắt đầu đau nhức vì

trọng lượng quá mức của chiếc va li tôi mang theo, bố con tôi bắt gặp một nhà thờ.

Chúng tôi nghĩ đã tìm ra nơi trọ của mình, cho tới khi

đi vào trong và phát hiện ra quả thực nơi này đã được chuyển đổi mục đích, nhưng là thành một bảo tàng nhỏ xám xịt, chứ không phải

nhà trọ qua đêm.

Chúng tôi tìm thấy người trông coi bảo tàng làm việc bán thời gian trong một căn phòng treo đầy lưới đánh cá và kéo xén lông cừu cũ.

Khuôn mặt ông này sáng lên khi trông thấy bố con tôi, rồi sau đó lại ỉu xìu khi ông ta nhận ra chúng tôi chỉ lạc đường.

"Tôi đoán là hai người đang tìm Priest Hole", ông ta nói.

"Đó là nơi duy nhất trên đảo này có phòng trọ cho thuê."

Sau đó ông ta chỉ dẫn cho bố con tôi bằng thứ thổ âm thật du dương mà tôi thấy cực kỳ êm tai.

Tôi rất thích nghe người xứ Wales nói,

kể cả khi một nửa những gì họ nói tôi hoàn toàn không hiểu nổi.

Bố tôi cảm ơn ông này và quay ra để đi tiếp, nhưng thấy ông ta hữu ích

đến thế, tôi bèn nán lại hỏi ông ta thêm một câu nữa.

"Bố con cháu có thể tìm thấy trại trẻ cũ ở đâu ạ?"

"Cái gì cũ cơ?"

ông ta vừa hỏi vừa nheo mắt nhìn tôi.

Trong một khoảnh khắc kinh khủng, tôi đã sợ rằng chúng tôi đến nhầm đảo, hay còn tệ hơn thế, cái trại trẻ kia cũng chỉ là một thứ nữa

ông nội tôi bịa ra.

"Có phải từng có một khu trại cho những đứa trẻ tị nạn không ạ?" tôi hỏi.

"Trong thời chiến?

Một ngôi nhà rất lớn ấy ạ?"

Người đàn ông cắn môi nhìn tôi đầy ngờ vực, như thể cân nhắc xem nên giúp đỡ hay phủi tay sạch sẽ.

Nhưng rồi ông ta thấy thương

hại tôi.

"Tôi không biết gì về người tị nạn cả", ông ta nói, "nhưng tôi nghĩ tôi biết nơi cậu muốn nói tới.

Nó ở cách đây khá xa, ở bên kia

hòn đảo, phải đi qua đầm lầy và khu rừng.

Nhưng nếu tôi là cậu, tôi sẽ không lang thang tới đó một mình.

Chỗ ấy nằm cách quá xa đường

đi và sẽ chẳng ai nghe được cậu gọi - chẳng có gì ngoài cỏ ướt và phân cừu để tránh cho cậu khỏi bước thẳng ra khỏi vách đá."

"Thật tốt được biết vậy", bố tôi vừa nói vừa đưa mắt nhìn tôi.

"Hứa với bố là con sẽ không một mình tới đó."

"Được rồi, được rồi."

"Mà cái gì khiến các vị quan tâm tới chỗ đó vậy?" người đàn ông hỏi.

"Nơi đó đâu có trên bản đồ du lịch."

"Chỉ là một nghiên cứu phả hệ nho nhỏ thôi", bố tôi nán lại gần cửa để trả lời.

"Bố tôi đã ở đó vài năm khi còn bé."

Tôi có thể thấy

ông nỗ lực tránh đề cập bất cứ điều gì về bác sĩ tâm lý hay việc ông nội đã qua đời.

Bố tôi cảm ơn người phụ trách bảo tàng thêm lần nữa

rồi hối hả kéo tôi ra khỏi cửa.

Theo lời chỉ dẫn của người phụ trách bảo tàng, chúng tôi lần bước trở lại cho tới khi bắt gặp một bức tượng bộ dạng ảm đạm tạc bằng

đá đen, một đài tưởng niệm có tên gọi Người Phụ Nữ Đợi Chờ, dành để tưởng nhớ tới những cư dân của đảo mất tích ngoài biển.

Bà ta

mang bộ mặt thật đáng thương hại, đứng đó với hai cánh tay duỗi thẳng hướng về phía bến tàu, cách đó khá nhiều nhà, nhưng cũng về

phía Priest Hole, nằm ở ngay bên kia đường.

Quả thực tôi chẳng phải người sành sỏi về khách sạn, nhưng chỉ một lần liếc mắt qua tấm

biển dãi dầu mưa nắng cũng đủ để cho tôi biết chỗ nghỉ của bố con tôi sẽ khó có khả năng là một trải nghiệm bốn sao với lá bạc hà để

trên gối.

Được in bằng chữ thật to ở trên cùng là RƯỢU VANG, BIA, RƯỢU MẠNH.

Phía dưới, được viết bằng cỡ chữ khiêm tốn hơn

nhiều, Đồ ăn ngon.

Được viết tay ở dưới cùng, rõ ràng là một ý nghĩ tình cờ nảy ra, là Nhiều phòng cho thuê, cho dù chữ Nhiều đã bị

gạch đi, để lại mỗi phòng.

Trong lúc hai bố con khệ nệ tha lôi hành lý về phía cửa ra vào và bố tôi cằn nhằn gì đó về những kẻ bịp bợm và

quảng cáo dối trá, tôi liếc mắt trở lại phía Người Phụ Nữ Đợi Chờ, tự hỏi liệu biết đâu bà ta chỉ đang đợi ai đó mang đồ uống cho mình.

Bố con tôi xoay xở khuân đồ qua cửa và đứng chớp mắt trong một quầy rượu trần thấp tối mờ đột ngột hiện ra.

Khi đôi mắt tôi đã

[9]

quen với bóng tối, tôi nhận ra hố

là một cách mô tả khá chính xác về nơi này: những cửa sổ khung chì gắn kính bé tẹo chỉ cho lọt vừa

đủ ánh sáng để tìm được vòi rót bia mà không va đụng vào bàn ghế trên lối đi.

Những cái bàn cũ mèm và cập kênh, trông có vẻ làm củi sẽ

hữu ích hơn.Vào thời điểm ấy, một lúc nào đó giữa buổi sáng, quầy rượu đã kín một nửa, với những người ở nhiều cung bậc khác nhau

của trạng thái say xỉn thầm lặng, đầu gục xuống phủ phục như đang cầu nguyện bên những cái cốc đựng thứ chất lỏng màu hổ phách.

"Hẳn các vị là người thuê phòng", người đàn ông ngồi đằng sau quầy bar lên tiếng, rồi bước ra bắt tay bố con tôi.

"Tôi là Kev, còn

những người này đều là bạn bè cả.

Hãy nói chào khách nào, các bạn."

"Xin chào", họ lầm bầm, gật gù về phía món đồ uống của mình.

Chúng tôi đi theo Kev lên một cầu thang hẹp tới một dãy các phòng (số nhiều hẳn hoi!) có thể mô tả một cách độ lượng là tiện nghi

tối thiểu.

Có hai phòng ngủ, bố tôi lấy phòng lớn hơn, và một phòng kiêm nhiệm ba vai trò bếp, phòng ăn và phòng sinh hoạt, nghĩa là nó

được trang bị một cái bàn, một ghế xô pha bị mọt xông, và một cái bếp.

Phòng vệ sinh "hầu như" lúc nào cũng dùng được, theo như lời Kev, "nhưng nếu rủi mà nó trục trặc thì vẫn luôn có Ông Lão Đáng Tin Cậy".

Ông ta hướng sự chú ý của chúng tôi về phía nhà vệ sinh di

động ngoài hẻm sau nhà, vừa khéo nằm trong tầm nhìn từ cửa sổ phòng ngủ của tôi.

"À, mà các vị sẽ cần đến những cái này đấy", ông ta vừa nói vừa lấy hai cây đèn dầu từ trong ngăn tủ ra.

"Các máy phát điện ngừng

chạy lúc mười giờ vì chuyển dầu bằng tàu ra đây đắt khủng khiếp, vì vậy, hoặc là các vị đi ngủ sớm, hoặc các vị hãy học lấy cách yêu

thích nến và dầu hỏa."

Ông ta nhe răng ra cười.

"Hy vọng là không quá Trung cổ với các vị."

Chúng tôi quả quyết với Kev rằng nhà vệ sinh bên ngoài và đèn dầu cũng tốt thôi, thực ra nghe còn có vẻ vui vui - vâng thưa ông,

một cuộc phiêu lưu nho nhỏ - rồi ông chủ nhà dẫn chúng tôi xuống cầu thang thực hiện phần chót của chuyến giới thiệu.

"Các vị cứ tự

nhiên tới đây dùng bữa", ông ta nói, "và tôi dám chắc hai người sẽ làm thế thôi, vì kỳ thực cũng chẳng còn chỗ nào khác để ăn đâu.

Nếu

các vị cần gọi điện thoại, chúng tôi có một buồng điện thoại ở góc đằng kia.

Đôi lúc sẽ phải xếp hàng một lúc, vì sóng di động ngoài này

chập chờn lắm, và các vị đang trông thấy đường điện thoại cố định duy nhất trên hòn đảo này.

Đúng thế, chúng tôi có tất cả - chỗ ăn duy

nhất, cái giường duy nhất, điện thoại duy nhất!"

Rồi ông chủ nhà ngả người ra sau phá lên cười, thật to và thật lâu.

Cái điện thoại duy nhất trên đảo.

Tôi đưa mắt nhìn nó - đó là thứ buồng điện thoại có một cánh cửa bạn có thể đóng lại để được

riêng tư, giống như những buồng điện thoại bạn vẫn thấy trong những bộ phim cũ - và kinh hoàng vỡ lẽ ra đây chính là cái ổ trác táng

[10]

đó, đây chính là nơi diễn ra cuộc nhậu điên rồ tôi từng được nối máy đến khi gọi tới đảo vài tuần trước".

Đây chính là hố tiểu

.

Kev đưa cho bố chìa khóa phòng của chúng tôi.

"Nếu có gì cần hỏi", ông chủ nhà nói, "các vị biết phải tìm tôi ở đâu rồi đấy."

[11]

"Cháu có một câu hỏi", tôi nói.

"Một cái hố tiểu - ý cháu là một cái hố tu sĩ

- có nghĩa là gì?"

Mấy người đàn ông ngồi ở quầy bar phá lên cười.

"Sao chứ, nó là một cái hố cho các tu sĩ, tất nhiên rồi!" một người nói, khiến những

người còn lại càng cười dữ hơn.

Kev bước tới chỗ một miếng ván sàn lồi lõm cạnh lò sưởi, có một con chó trông dơ dáy đang nằm ngủ.

"Ngay chỗ này" ông ta vừa

nói vừa giậm giậm giày xuống chỗ có vẻ là một cái cửa trên sàn nhà.

"Lâu lắm rồi, cái thời chỉ cần là người Công giáo là cậu đã có thể bị

treo lủng lẳng lên cây, đám tu sĩ thường tìm tới đây lánh nạn.

Nếu đám đồ tể của Nữ hoàng Elizabeth tìm đến săn lùng, chúng tôi giấu bất

cứ ai cần lẩn trốn vào những chỗ giống như cái 'hố tu sĩ' này."

Cái cách ông chủ nhà nói khiến tôi có cảm giác như thể chính ông ta từng

quen biết các cư dân đã chết từ lâu của hòn đảo.

"Đúng là ấm cúng!" một khách nhậu nói.

"Cược là bọn họ ấm sực như bánh mì nướng và căng tròn như cái trống ở dưới đó!"

"Tôi ưa ấm cúng hơn là bị đám giết tu sĩ treo cổ lên vào bất cứ ngày nào", một người khác nói.

"Nào, nào!" người thứ nhất nói.

"Uống vì Cairnholm - mong sao nơi này luôn là tảng đá trú ẩn của chúng ta!"

"Uống vì Cairnholm!" họ đồng thanh hô lên và nhất loạt nâng cốc.

***

Bị lệch múi giờ và mệt phờ người, bố con tôi đi ngủ sớm - hay đúng hơn là chúng tôi lên giường nằm, lấy gối che đầu để ngăn bớt

tiếng thình thình đinh tai lọt qua ván lát sàn, to đến mức có lúc tôi nghĩ chắc chắn đám bợm rượu đã xâm lược căn phòng của mình.

Sau

đó, chắc hẳn đồng hồ đã điểm mười giờ vì cùng lúc những chiếc máy phát điện rù rù bên ngoài chuyển sang lọc xọc rồi tắt phụt, giống

như tiếng nhạc vọng lên từ dưới cầu thang và ánh đèn đường chiếu sáng qua cửa sổ phòng tôi.

Đột nhiên tôi được bao trùm trong bóng

tối lặng tờ hạnh phúc, chỉ còn tiếng thì thào của những con sóng ngoài xa nhắc tôi nhớ mình đang ở đâu.

Lần đầu tiên sau nhiều tháng, tôi chìm vào một giấc ngủ thật sâu, mê mệt, không ác mộng.

Thay vào đó tôi mơ thấy ông nội tôi thời

còn bé, về đêm đầu tiên ông trải qua ở đây, một người xa lạ tại một nơi xa lạ, dưới một mái nhà xa lạ, sống nhờ vào những người nói một

thứ tiếng xa lạ.

Khi tôi bừng tỉnh, mặt trời đang chiếu vào qua cửa sổ, tôi chợt nhận ra bà Peregrine đã không chỉ cứu cuộc đời ông, mà cả

cuộc đời của tôi và bố tôi nữa.

Hôm nay, nếu gặp may, cuối cùng tôi sẽ có thể cảm ơn bà.

Tôi xuống cầu thang thấy bố đã ngồi tì bụng vào một cái bàn, xì xụp uống cà phê và tỉ mẩn lau bóng loáng cái ống nhòm ưa thích của

ông.

Đúng lúc tôi ngồi xuống, Kev xuất hiện, mang ra hai chiếc đĩa có món thịt bí ẩn và bánh mì rán.

"Cháu không biết là người ta có thể

rán bánh mì", tôi nhận xét Kev bèn trả lời là ông ta nhận thấy đồ ăn mà đem rán lên thì đều ngon hơn cả.

Trong lúc ăn sáng, bố và tôi bàn bạc kế hoạch cho ngày hôm nay.

Hai bố con đại loại sẽ đi thám thính, để làm quen với hòn đảo.

Trước hết, chúng tôi sẽ tìm kiếm các vị trí quan sát dùm cho bố tôi, sau đó tìm chỗ trại trẻ.

Tôi ngấu nghiến phần đồ ăn của mình, nóng

lòng muốn bắt đầu.

Được nạp năng lượng chu đáo nhờ bữa sáng béo ngậy, chúng tôi rời quán rượu và đi bộ vào thị trấn, né tránh những chiếc máy kéo

và gân cổ hét lên với nhau trong tiếng ầm ầm của những chiếc máy phát điện cho tới khi các con phố nhường chỗ cho cánh đồng và

tiếng ồn lặng dần sau lưng hai bố con.

Đó là một ngày mát mẻ lộng gió - mặt trời ẩn mình sau những dải mây khổng lồ rồi ngay sau đó lại

ló dạng, phủ những tia sáng lộng lẫy xuống các quả đồi - và tôi cảm thấy tràn đầy năng lượng cũng như hy vọng.

Chúng tôi nhắm tới một

bãi biển lổn nhổn đá, từ lúc còn ở trên phà bố tôi đã để ý thấy ở đó có một bầy chim.

Mặc dù tôi không rõ hai bố con sẽ tới được nơi đó

bằng cách nào - hòn đảo có hình dáng hao hao như cái bát, với những ngọn đồi leo dần lên tới đỉnh chỉ để rồi lại rơi khỏi các vách đá

hiểm trở bên bờ biển - nhưng hóa ra tại đúng chỗ này, rìa đá trở nên thoai thoải và có một lối mòn dẫn xuống một dải cát hẹp chạy theo

mép nước.

Hai bố con tôi lần bước xuống bãi biển, ở đó có vẻ như cả một nền văn minh chim đang vỗ cánh, kêu quàng quạc và bận rộn bắt cá

trong những vũng nước thủy triều để lại.

Tôi quan sát trong khi mắt bố mở to.

"Thật đáng kinh ngạc", ông lẩm bẩm, dùng đầu tù cây bút

của ông gại gại vào một bãi phân chim nặng mùi.

"Bố cần chút thời gian ở đây.

Được chứ?"

Tôi đã từng thấy qua vẻ mặt này của ông, và tôi biết chính xác "chút thời gian" có nghĩa là gì: từ giờ này qua giờ khác.

"Vậy thì con

sẽ tự mình đi tìm ngôi nhà", tôi nói.

"Không được đi một mình.

Con đã hứa rồi."

"Vậy con sẽ tìm một người có thể đưa con đi."

"Ông Kev sẽ biết ai đó."

Bố tôi nhìn ra biển, nơi một ngọn hải đăng lớn han gỉ nhô lên từ một đống đá.

"Con biết câu trả lời sẽ là gì nếu mẹ con có mặt ở đây rồi

đấy", ông nói.

Bố mẹ tôi có những lý thuyết khác nhau về mức độ để mắt của phụ huynh mà tôi cần đến.

Mẹ là nhà giám sát, luôn kèm cặp sát sao,

nhưng bố lại có phần thả lỏng hơn.

Ông nghĩ để tôi thỉnh thoảng phạm sai lầm cũng là điều quan trọng.

Bên cạnh đó, cho phép tôi đi thì

ông mới được tự do cả ngày để nghịch phân chim.

"Thôi được", bố tôi nói, "nhưng nhớ để lại cho bố số điện thoại của ngườiđi cùng con."

"Bố, ở đây làm gì có ai có điện thoại."

Bố tôi thở dài.

"Phải.

Được thôi, miễn là họ đáng tin cậy."

***

Kev ra ngoài có việc, và bởi vì nhờ ai đó trong đám bợm rượu khách quen của ông ta đi cùng tôi dường như là một ý tưởng tồi, tôi bèn

tìm đến cửa hàng gần nhất để hỏi thăm xem liệu có ai đó đáng tin nhờ cậy được chút không.

Trên cửa ghi HÀNG CÁ.

Tôi đẩy mở cửa và

thấy mình đang thu lu trước mặt một người khổng lồ râu xồm đeo cái tạp dề đỏ lòm máu.

Ông ta rời mắt khỏi con cá vừa bị chặt đầu để

nhìn tôi chằm chằm, trên tay là con dao làm cá máu nhỏ tong tỏng, và tôi thầm thề sẽ không bao giờ có thái độ phân biệt với người say

nữa.

"Để làm quái gì cơ chứ?"

ông ta gầm lên khi tôi cho ông ta hay nơi tôi muốn tới.

"Chả có gì ở đó ngoài đầm lầy và thời tiết điên khùng

hết."

Tôi giải thích về ông nội tôi và trại trẻ.

Ông hàng cá cau mày nhìn tôi, sau đó rướn người qua quầy ném một cái nhìn đầy ngờ vực

xuống đôi giày tôi đi.

"Tôi chắc là Dylan rảnh để đưa cậu đi đấy", ông ta nói, chĩa con dao làm cá về phía một cậu nhóc trạc tuổi tôi đang sắp cá trong một

thùng đông lạnh, "nhưng cậu sẽ cần xỏ chân vào thứ gì đó phù hợp.

Sẽ không ổn nếu cứ để cậu đi với đôi giày thể thao này - bùn sẽ lột

tuột chúng ngay lập tức!"

"Thật sao?" tôi hỏi.

"Ông chắc chứ?"

"Dylan!

Mang ra cho anh bạn đây của chúng ta một đôi ủng!"

Cậu nhóc kia rên lên rồi làm bộ chán nản từ tốn đậy nắp thùng đông lạnh lại và lau hai bàn tay, đoạn buông thõng hai vai đi tới một

bức tường kê những chiếc giá chất đầy đồ khô.

"Vừa khéo chúng tôi lại có vài đôi ủng rất chắc chắn để bán", ông hàng cá nói.

"Mua một đôi không được gì miễn phí!"

Ông ta phá

lên cười và chém mạnh con dao xuống một con cá hồi, đầu con cá bắn vọt qua mặt quầy trơn nhẫy máu để rồi hạ cánh hoàn hảo vào một

cái xô nhỏ chuyên hứng đầu.

Tôi moi chỗ tiền bố cho phòng khi khẩn cấp từ trong túi quần ra, thầm nghĩ chấp nhận bị tống tiền tí chút cũng là cái giá rẻ cho việc tìm ra người phụ nữ tôi đã vượt Đại Tây Dương để gặp mặt.

Tôi rời khỏi hàng cá với một đôi ủng cao su rộng đến mức đôi giày thể thao của tôi cũng xỏ vừa vào bên trong, đồng thời còn nặng

đến mức thật khó để tôi bắt kịp người dẫn đường bất đắc dĩ của mình.

"Vậy cậu đi học ngay trên đảo à?" tôi hỏi Dylan trong lúc rảo chân chạy để cố theo cho kịp.

Tôi thực sự thấy tò mò - cuộc sống ở đây

sẽ thế nào với một ai đó trạc tuổi tôi?

Cậu ta lẩm bẩm tên một thị trấn trong đất liền.

"Sao cơ, mất một tiếng đồng hồ đi một tiếng đồng hồ về bằng phà sao?"

"Phải."

Và chỉ thế thôi.

Cậu ta đáp lại những nỗ lực bắt chuyện tiếp tục thậm chí còn bằng ít âm tiết hơn - nghĩa là chẳng có lấy một lời - thế

nên cuối cùng tôi đành bỏ cuộc và đi theo cậu ta.

Trên đường ra ngoài thị trấn, chúng tôi bắt gặp một người bạn của cậu ta, một anh

chàng lớn tuổi hơn mặc bộ đồ thể thao màu vàng chói, đeo sợi dây chuyền vàng giả.

Cho dù có thay lên người bộ đồ của nhà du hành vũ

trụ, anh chàng này trông cũng chỉ lạc lõng đến thế là cùng tại Cairnholm.

Cậu ta cụng nắm tay chào Dylan và tự giới thiệu mình là Worm.

"Nghĩa là Sâu ấy à?"

"Đó là nghệ danh trên sân khấu của anh ấy", Dylan giải thích.

[12]

"Chúng tôi là bộ đôi hát rap bệnh nhất xứ Wales", Worm nói.

"Tôi là MC

Worm còn đây là Nhà Giải Phẫu Cá Tầm, tức MC Dylan

Bẩn Thỉu, tức MC Công Việc Bẩn Thỉu, người chơi beatbox số một Cairnholm.

Muốn thể hiện cho anh chàng Mẽo này thấy chúng ta biểu

diễn thế nào chứ, D Bẩn Thỉu?"

Dylan có vẻ khó chịu.

"Bây giờ sao?"

"Chơi vài điệu xem nào, thanh niên!"

Dylan đảo mắt ngán ngẩm nhưng vẫn làm theo yêu cầu.

Thoạt đầu, tôi nghĩ cậu ta đang sặc vì nuốt phải lưỡi, có điều những tiếng ho

cậu ta bật ra cũng thành nhịp điệu - pu, pu, pu CHA, pu, pu CHA - và Worm bắt đầu rap trên nền đó.

"Tao thích rũ rượi tại Priest Hole/ Bố mày luôn ở đó vì ông ta sống nhờ trợ cấp/ Tao gieo vần quá là khớp, à phải, tao làm nó có vẻ dễ

dàng/ Nhịp của Dylan nóng như cà ri gà!"

Dylan dừng lại.

"Nghe chẳng có nghĩa gì cả", cậu ta nói.

"Mà chính bố anh mới đang sống nhờ trợ cấp."

"Ồ cứt thật, thằng D Bẩn Thỉu đang hay thì đứt dây đàn!"

Worm bắt đầu vừa chơi beatbox vừa biểu diễn một điệu robot tàm tạm, đôi

giày thể thao của anh ta khoét thành hố xuống nền sỏi.

"Cầm lấy mic, D!"

Dylan có vẻ ngượng nhưng vẫn cất giọng.

"Tôi gặp một cô nàng, tên cô nàng là Sharon/ Cô nàng khoái bộ đồ thể thao và đôi giày tôi

đang đi/ Tôi cho cô nàng xem giờ, như trong phim Doctor Who/ Tôi nghĩ ra bài này trong khi đang ngồi bô!"

Worm lắc đầu.

"Ngồi bô hả?"

"Em chưa sẵn sàng mà lại!"

Hai người họ quay sang tôi và hỏi tôi nghĩ sao.

Xét đến chuyện chính họ còn chẳng thích nổi đoạn rap của nhau, tôi không dám chắc

nên nói gì.

"Tớ đoán là tớ quen kiểu âm nhạc có, ừm, hát và đàn ghi ta và những thứ kiểu đó hơn."

Worm phẩy tay cho qua ý kiến của tôi.

"Cậu này sẽ chẳng nhận ra một giai điệu cực phê cho dù nó có tớp vào hai quả cà của cậu ta",

anh chàng lẩm bẩm.

Dylan bật cười, và hai người họ trao đổi với nhau một chuỗi cử chỉ phức tạp gồm nhiều giai đoạn từ bắt tay đến cụng nắm đấm rồi xòe

bàn tay giơ lên cao đập vào nhau.

"Giờ chúng ta đi được chưa?", tôi hỏi.

Hai anh chàng kia còn lầm bầm à ơi một lúc nữa, nhưng chẳng mấy chốc sau đó chúng tôi lại lên đường, lần này có Worm đi theo.

Tôi tụt lại sau cùng, cố mường tượng ra xem nên nói gì với bà Peregrine khi gặp bà.

Tôi trông đợi được giới thiệu với một quý bà

người xứ Wales chính hiệu, ngồi nhấp trà trong phòng khách và nói chuyện xã giao cho tới lúc có vẻ là thời điểm thích hợp để báo tin

buồn.

Cháu là cháu nội của ông Abraham Portman, tôi sẽ nói vậy.

Cháu rất tiếc phải báo với bà điều này, nhưng ông đã rời bỏ chúng

ta.

Tiếp theo, khi bà đã lặng lẽ lau nước mắt xong, tôi sẽ dồn dập trút câu hỏi về phía bà.

Tôi đi theo Dylan và Worm, trên một lối mòn chạy qua những bãi cỏ chăn cừu rồi sau đó làm một chuyến leo núi nhọc nhằn đến mức

phổi muốn nổ tung.

Trên đỉnh lơ lửng một màn sương mù uốn quanh như rắn lượn, đặc quánh đến mức có cảm tưởng như bước chân vào

một thế giới khác.

Quả là một cảnh như trong Kinh Thánh; tôi có thể hình dung ra màn sương mù đó là do Chúa, trong cơn thịnh nộ ít dữ

dội của Người, đã giáng xuống để nguyền rủa người Ai Cập.

Khi chúng tôi đi xuống sườn núi bên kia, màn sương mù dường như chỉ càng

dày thêm.

Mặt trời nhạt dần thành một khối màu trắng nhợt nhạt.

Sương ẩm bám vào mọi thứ, dính lên da tôi, làm ướt quần áo tôi.

Nhiệt

độ tụt xuống.

Tôi để lạc mất Worm và Dylan trong giây lát, rồi sau đó lối mòn trở nên bằng phẳng và tôi bắt kịp họ đang đứng đợi mình.

"Anh chàng Mẽo!"

Dylan gọi.

"Đường này!"

Tôi ngoan ngoãn đi theo.

Chúng tôi rời lối mòn băng qua một đồng cỏ lầy lội.

Lũ cừu nhìn chúng tôi chằm chằm bằng cặp mắt to ngờ

nghệch, bộ lông của chúng ướt sũng, đuôi cụp xuống.

Một ngôi nhà nhỏ hiện ra trong màn sương mù.

Bốn phía căn nhà đóng ván kín

mít.

"Các cậu có chắc là chỗ này không?", tôi nói.

"Trông có vẻ như vườn không nhà trống vậy."

"Trống à?

Không đâu, trong ấy đầy ắp phân", Worm trả lời.

"Đi nào", Dylan nói.

"Đến nhìn qua xem."

Tôi có cảm giác đây là một trò bịp, song vẫn cứ bước tới gõ cửa ra vào.

Cánh cửa không cài chốt và hơi nhích ra khi tôi chạm tay vào.

Bên trong quá tối để nhìn thấy gì, vậy là tôi bước tới một bước và đặt chân - thật ngạc nhiên - xuống thứ gì đó như một nền đất, nhưng rồi

tôi nhanh chóng nhận ra kỳ thực đó là một bãi phân rộng mênh mông ngập đến cẳng chân.

Căn nhà tồi tàn vô chủ nom từ bên ngoài thì

thật vô hại, kỳ thực lại là một chuồng cừu tạm bợ.

Và có thể nói là một hố phân theo đúng nghĩa đen.

"Ôi Chúa ơi", tôi ré lên kinh tởm.

Từng tràng cười phá lên giòn giã từ bên ngoài.

Tôi loạng choạng lùi lại qua ngưỡng cửa trước khi mùi xú uế làm mình ngất xỉu và bắt

gặp hai anh chàng kia đang gập người lại, đưa tay ôm bụng.

"Chúng mày là đồ đểu", tôi vừa nói vừa giậm mạnh chân để giũ bớt phân dính vào ủng.

"Sao cơ?"

Worm nói.

"Bọn này đã bảo anh bạn là trong đó đầy ắp phân rồi còn gì!"

Tôi chỉ vào mặt Dylan.

"Mày có đưa tao đến chỗ ngôi nhà hay không hả?"

"Nó nghiêm chỉnh đấy", Worm vừa nói vừa chùi nước mắt.

"Tất nhiên là tao nghiêm chỉnh!"

Nụ cười tắt phụt trên khuôn mặt Dylan.

"Tôi cứ tưởng cậu đang đùa thôi, anh bạn."

"Gì cơ?"

"Đùa ấy."

"Thế hả, tao không đùa đâu."

Hai anh chàng đưa mắt nhìn nhau ngần ngại.

Dylan thì thầm gì đó với Worm.

Worm thì thầm lại cái gì đó.

Cuối cùng, Dylan quay sang

tôi và chỉ ngược lên lối mòn.

"Nếu mày thực sự muốn thấy chỗ đó", cậu ta nói, "cứ đi tiếp qua bãi lầy và khu rừng.

Đó là một ngôi nhà cũ

rất to.

Mày không nhầm được đâu."

"Thế là thế quái nào.

Mày phải đi với tao chứ!"

Worm ngoảnh mặt đi chỗ khác nói, "Bọn tao chỉ đi được tới đây thôi."

"Vì sao?"

"Chỉ là thế thôi."

Rồi bọn họ quay người và bắt đầu đi ngược trở lại con đường chỉ tôi đã đi qua lúc trước, chìm dần vào làn sương mù.

Tôi cân nhắc các lựa chọn của mình.

Tôi có thể cúp đuôi và theo chân hai kẻ đã lừa gạt mình trở lại thị trấn, hoặc cứ một mình đi tiếp

và nói dối bố về chuyện đó.

Sau bốn giây căng thẳng ngẫm nghĩ, tôi lên đường đi tiếp.

***

Một đầm lầy rộng mênh mông lờ mờ trải rộng vào trong màn sương mù từ cả hai bên lối mòn, xa hết tầm mắt tôi cũng đủ nhìn thấy

những bụi cỏ màu nâu và mặt nước màu trà, gần như không có dấu mốc nào ngoài những chồng đá thỉnh thoảng nhô lên chỗ này chỗ

kia.

Khu đầm đột ngột kết thúc trước một khoảng rừng với những thân cây trơ trụi như những bộ xương, tán cành xoắn xuýt vào nhau

chĩa lên trên như những đầu cọ vẽ ẩm ướt, có một đoạn lối mòn biến mất hoàn toàn dưới các thân cây đổ và thảm dây thường xuân, muốn

lần đi theo nó thì chỉ có mà bằng niềm tin.

Tôi tự hỏi bằng cách nào một người già cả như bà Peregrine lại có thể đi qua được một con

đường đầy chướng ngại như thế này.

Bà hẳn phải có người mang đồ tới tiếp tế, tôi thầm nghĩ, mặc dù lối mòn trông có vẻ đã nhiều tháng,

nếu không muốn nói là nhiều năm, vắng dấu chân người.

Tôi trườn qua một thân cây khổng lồ rêu bám trơn tuột, và lối mòn đột ngột rẽ ngoặt.

Những hàng cây bỗng rẽ ra như một tấm rèm, rồi

đột nhiên nó hiện ra ngay kia, trong lớp sương mù bao xung quanh, trên đỉnh một ngọn đồi rậm rì cỏ dại.

Trại trẻ.

Tôi hiểu ra ngay lập tức

tại sao hai thằng nhóc kia lại từ chối tới đây.

Ông nội tôi đã mô tả nó cả trăm lần, nhưng trong các câu chuyện của ông, nó luôn là một nơi tươi sáng, hạnh phúc - to lớn và lộn xộn,

phải, nhưng tràn ngập ánh sáng và tiếng cười.

Thứ hiện ra trước mặt tôi không phải là nơi để ẩn trốn khỏi lũ quái vật mà chính là một con

quái vật đang trừng mắt nhìn xuống từ nơi tọa lạc của nó trên đồi với vẻ thèm thuồng đến đờ đẫn.

Cây cối mọc trổ ra từ các ô cửa sổ vỡ,

những dây leo xù xì bấu lên các bức tường như các kháng thể đang tấn công một con virus - như thể chính thiên nhiên đã khơi chiến

chống lại nó - song tòa nhà có vẻ như không thể bị giết chết, kiên quyết đứng vững bất chấp những góc cạnh vẹo vọ của mình và những

mảnh trời có mép lởm chởm như những hàm răng nhọn lộ ra qua các khoảng mái bị sập.

Tôi cố thuyết phục bản thân rằng rất có thể vẫn còn người sống tại đó, dù trại trẻ đã đổ nát đến vậy.

Ở nơi tôi sống, những chuyện

như thế cũng chẳng phải chưa nghe bao giờ - một ngôi nhà lụp xụp chực đổ ở bên rìa thị trấn, rèm cửa luôn luôn kéo kín, hóa ra từng là

nhà của một người già cô độc sống nhờ vào món mì ramen và những mảnh móng tay móng chân cắt ra chẳng nhớ nổi từ bao giờ, tuy

nhiên không ai hay biết về nó cho tới khi một người đánh giá bất động sản hay một người điều tra dân số quá tham vọng xâm nhập vào

để rồi phát hiện ra linh hồn xấu số kia đã trở về cát bụi trên một chiếc xô pha hiệu La-Z-Boy.

Có những người quá già đến nỗi không còn

sức chăm chút cho nơi ở, bị gia đình lãng quên vì lý do này hay lý do khác - thật buồn, nhưng đời là thế.

Có nghĩa là, dù có thích hay

không, tôi vẫn sẽ phải gõ cửa.

Tôi viện hết chút can đảm ít ỏi mình có và len lách qua đám cỏ dại mọc cao đến thắt lưng tới chỗ cổng vòm dẫn vào nhà, giờ chỉ còn

là ngói vỡ và gỗ mục, rồi ghé mắt nhìn vào qua một cửa sổ rạn nứt.

Tất cả những gì tôi có thể thấy được qua mặt kính ố mờ là hình dáng

của đồ đạc bên trong, vì thế tôi gõ lên cửa ra vào và lùi ra đứng đợi trong sự yên lặng kỳ quái, bàn tay mân mê lần theo mép lá thư của bà

Peregrine trong túi.

Tôi mang nó theo phòng khi cần chứng minh mình là ai, nhưng một phút trôi qua, rồi hai, có vẻ như khả năng tôi cần

tới nó đang giảm dần.

Xuống sân, tôi vòng quanh nhà để tìm một lối vào khác, vừa đi vừa ước lượng diện tích nơi này, song dường như nó chẳng có diện

tích cụ thể nào, như thể cứ mỗi lần tôi rẽ qua góc thì ngôi nhà lại mọc đâu thêm những ban công, ngọn tháp và ống khói mới.

Thế rồi tôi

vòng ra sau nhà và tìm thấy cơ hội của mình: một khung cửa không còn cánh cửa, chằng chịt dây nho dại, mở hoác ra tối om; một cái

mồm đang há sẵn chỉ đợi nuốt chửng tôi.

Chỉ nguyên nhìn vào nó tôi đã nổi da gà, nhưng tôi không đi nửa vòng trái đất để rồi quay đầu

hét toáng lên bỏ chạy trước một ngôi nhà đáng sợ.

Tôi nghĩ tới tất cả những nỗi kinh hoàng ông nội Portman đã phải đối diện trong đời,

và cảm thấy quyết tâm của mình cứng rắn hơn.

Nếu có ai đó bên trong, tôi sẽ tìm ra họ.

Tôi leo lên những bậc cấp đổ nát và bước qua

ngưỡng cửa.

***

Đứng trong một lối đi tối như hầm mộ ngay phía bên kia ngưỡng cửa, tôi cứng đờ người nhìn trân trối vào thứ gì đó trông chẳng khác

gì những bộ da đang bị treo trên móc.

Sau một khoảnh khắc xây xẩm buồn nôn tưởng tượng có một kẻ ăn thịt người vặn vẹo chồm ra từ

trong bóng tối, lăm lăm dao trên tay, tôi nhận ra đó chỉ là những chiếc áo khoác đã mục nát thành giẻ rách và mốc xanh vì thời gian.

Tôi

bất giác rùng mình và hít một hơi thật sâu.

Mới chỉ thám hiểm được ba mét phía trong ngôi nhà mà tôi đã sắp bĩnh cả ra quần.

Bình tĩnh

lại, tôi tự nhủ, rồi chậm chạp tiến lên, tim đập như trống dồn trong lồng ngực.

Mỗi căn phòng đều là một thảm họa, cái sau khó tin hơn cái trước.

Những tờ báo chất thành đống.

Những món đồ chơi nằm rải rác,

bằng chứng cho thấy những đứa trẻ đã không còn ở đây từ rất lâu, nằm phơi dưới bụi.

Nấm mốc lan tràn đã làm những bức tường gần cửa

sổ ngả màu đen kịt và đầy những đám lẩn mẩn như mọc lông.

Các lò sưởi đầy nghẹt đám dây nho dại bò từ trên mái xuống và bắt đầu lan

rộng ra trên các mặt sàn như xúc tu của quái vật ngoài hành tinh.

Nhà bếp trông như hiện trường của một thí nghiệm khoa học thất bại

thảm hại - những giá chất đầy thức ăn đóng hộp bị nổ tung sau khi trải qua sáu mươi mùa hết đông lại rã, làm bắn tung tóe lên tường

những vết ố thật kinh khủng - còn trong phòng ăn, bụi vôi vữa trên trần rơi xuống dày tới mức trong giây lát tôi chợt nghĩ đang có tuyết

rơi trong nhà.

Đến cuối một hành lang tù mù thiếu sáng, tôi mạo hiểm thử sức nặng của mình trên một cầu thang ọp ẹp, đôi ủng dưới chân

tôi để lại những dấu mới tinh trên các tầng bụi dày.

Các bậc thang rên kèn kẹt như thể vừa thức dậy sau một giấc ngủ dài.

Nếu có ai đó

trên lầu, họ đã phải ở trên này từ lâu lắm rồi.

Cuối cùng, tôi đến hai căn phòng mất trọn cả mấy bức tường, trong đó đã mọc lên cả một khu rừng nhỏ đầy cây bụi và cây con còm cõi.

Tôi đứng giữa luồng gió vừa đột ngột nổi lên, tự hỏi cái gì đã có thể gây ra hư hại này, và bắt đầu có cảm giác một chuyện khủng khiếp

nào đó từng xảy ra ở đây.

Tôi không thể khớp được những câu chuyện thôn quê bình dị ông kể với ngôi nhà ác mộng này, cũng như với

ý tưởng ông đã tìm nơi trú ẩn ở nơi đây trong khi cảm giác về tai họa tràn ngập khắp trong nhà.

Còn nhiều chỗ nữa để thám hiểm, song

đột nhiên chuyện đó có vẻ thành ra mất thời gian vô ích, không thể có chuyện ai đó vẫn còn sống ở đây, cho dù là những kẻ yếm thế

khép mình nhất.

Tôi rời khỏi ngôi nhà với cảm tưởng mình đang ở xa sự thật hơn bao giờ hết.

Chương 4

Sau khi đã nhảy lên ngã xuống, quờ quạng tìm đường như một người mù qua cánh rừng và màn sương mù, để rồi quay trở lại với thế

giới của mặt trời và ánh sáng, tôi ngạc nhiên phát hiện ra mặt trời đã lặn, ánh sáng chuyển sang đỏ quạch.

Bằng cách nào đó, cả ngày đã

trôi qua.

Tại quán rượu, bố đang chờ tôi, trên mặt bàn trước mặt ông là một vại bia đen kịt như màn đêm và chiếc laptop đã mở.

Tôi ngồi

xuống và xoáy luôn vại bia của bố khi ông còn chưa kịp ngừng gõ bàn phím để ngẩng đầu lên.

"Ôi, Chúa lòng lành", tôi phun ra phì phì sau khi ực cả một ngụm đầy, "cái gì thế này?

Dầu nhớt lên men chắc?"

"Gần đúng rồi đấy", ông bật cười nói, rồi giật lại món đồ uống.

"Nó không giống bia Mỹ.

Mà con cũng đâu đã biết mùi vị bia Mỹ ra

sao, phải không nào?"

"Đương nhiên là chưa", tôi nói kèm theo một cái nháy mắt, cho dù đúng là như thế.

Bố thích nghĩ rằng tôi cũng hòa đồng và thích

phiêu lưu như ông hồi còn bằng tuổi tôi - ý tưởng huyễn hoặc có vẻ dễ tồn tại lâu dài nhất.

Tôi trải qua một cuộc truy vấn ngắn xem tôi đã tới chỗ ngôi nhà bằng cách nào và ai đã đưa tôi tới đó, và vì kiểu nói dối dễ nhất là bỏ

bớt chi tiết ra khỏi một câu chuyện thay vì thêm thắt vào, tôi đã vượt qua thử thách một cách xuất sắc.

Tôi đương nhiên quên hẳn không

nhắc tới chuyện Worm và Dylan đã lừa tôi giẫm ngập chân vào phân cừu rồi đánh bài chuồn khi còn cách đích nửa dặm.

Bố có vẻ phấn

khởi vì tôi đã tìm được hai cậu nhóc trạc tuổi mình; tôi đoán tôi cũng đã quên nhắc đến chuyện cả hai cậu chàng nọ đều ghét tôi.

"Vậy trại trẻ thế nào?"

"Nát bươm."

Bố tôi rụt người.

"Bố đoán đã một thời gian dài trôi qua kể từ khi ông nội con sống ở đó, phải không?"

"Vâng.

Hay bất cứ ai khác."

Bố tôi đóng màn hình laptop xuống, một dấu hiệu chắc chắn cho hay tôi sắp nhận được toàn bộ sự chú ý của ông.

"Bố có thể thấy

con rất thất vọng."

"Thế đấy, con không vượt hàng nghìn dặm tới đây để tìm kiếm một trại trẻ đầy ắp rác rưởi."

"Vậy con định làm gì?"

"Tìm người để hỏi chuyện.

Có người sẽ biết chuyện gì đã xảy ra với những đứa trẻ từng sống tại đó.

Con đoán một vài người trong số

họ hẳn vẫn còn sống, nếu không phải quanh đây thì cũng trong đất liền.

Trong một nhà dưỡng lão hay đâu đó."

"Hẳn rồi.

Cũng là một ý tưởng."

Song bố tôi chẳng có vẻ gì là đã bị thuyết phục.

Tiếp theo là một khoảng ngừng gượng gạo, rồi ông

nói, "Vậy khi đã ở đây rồi, con có cảm thấy bắt đầu nắm bắt tốt hơn về con người trước đây của ông nội không?"

Tôi ngẫm ngợi.

"Con không biết.

Con đoán là vậy.

Đây chỉ đơn giản là một hòn đảo thôi, bố biết vậy mà phải không?"

Bố tôi gật đầu.

"Chính xác."

"Còn bố thì thế nào?"

"Bố ư?"

Ông nhún vai.

"Bố đã thôi không còn cố tìm cách hiểu ông nội con từ lâu rồi."

"Thật buồn quá.

Chẳng lẽ bố không thấy quan tâm sao?"

"Tất nhiên, trước đây bố cũng từng quan tâm.

Thế rồi, sau một thời gian, bố không còn quan tâm nữa."

Tôi có thể cảm thấy cuộc trò chuyện đang đi theo một hướng không làm tôi hoàn toàn thoải mái, nhưng tôi vẫn nhất quyết tiếp tục.

"Tại sao?"

"Khi ai đó không chịu mở cửa cho con vào, cuối cùng con sẽ thôi không gõ cửa nữa.

Hiểu bố muốn nói gì chứ?"

Hiếm có khi nào bố tôi lại nói thế này.

Có thể đó là do vại bia, có thể vì chúng tôi đang rất xa nhà, mà cũng có thể vì ông cho rằng cuối

cùng tôi đã đủ lớn để nghe chuyện kiểu này.

Dù lý do là gì đi nữa, tôi cũng không muốn ông dừng lại.

"Nhưng ông là bố của bố.

Làm sao bố lại bỏ cuộc đơn giản vậy thôi?"

"Người bỏ cuộc không phải là bố!" tiếng ông bật ra có phần hơi quá lớn, ông bèn cúi mặt nhìn xuống, bối rối lắc lắc vại bia.

"Chỉ đơn

giản... bố nghĩ, thực ra là ông nội con không biết cần làm bố như thế nào, nhưng cảm thấy kiểu gì cũng phải trở thành một người bố, vì

không ai trong số các anh chị em của ông sống sót qua chiến tranh.

Vậy là ông của con giải quyết việc này bằng cách lúc nào cũng vắng

mặt - đi săn, đi công chuyện, con biết đấy.

Và thậm chí ngay cả khi ông có mặt cũng chẳng khác gì không có."

"Có phải đây là chuyện về một dịp Halloween không ạ?"

"Con đang nói về cái gì đấy?"

"Bố biết đấy... từ bức ảnh."

Đó là một câu chuyện cũ, và nó như thế này.

Lúc đó là dịp Halloween.

Bố tôi đã bốn hay năm tuổi mà chưa bao giờ được chơi trò "cho

kẹo hay bị ghẹo", và ông nội Portman đã hứa đưa bố tôi đi chơi trò này khi ông đi làm về.

Bà nội đã mua cho bố tôi bộ quần áo thỏ màu

hồng ngớ ngẩn, bố tôi mặc nó vào rồi ngồi bên lối chạy xe đợi ông nội về nhà từ lúc năm giờ đến khi tối mịt, nhưng ông nội không hề xuất

hiện.

Bà nội đã nổi điên đến mức bà chụp một bức ảnh bố tôi đang khóc ngoài đường để cho ông tôi thấy ông là một ông bố tồi đến thế

nào.

Chẳng cần phải nói, bức ảnh đó từ lâu đã trở thành một truyền kỳ trong các thành viên gia đình, và là một nỗi ngượng ngùng lớn lao

cho bố tôi.

"Chuyện này còn hơn cả một cái lễ Halloween", bố tôi cằn nhằn.

"Jake, quả thực con gần gũi ông hơn nhiều so với bố ngày xưa.

Bố

không biết nữa... chỉ là có gì đó không nói ra lời giữa ông và con."

Tôi không biết nên trả lời thế nào nữa.

Chẳng lẽ bố đang ghen tị với tôi?

"Sao bố lại nói với con chuyện này?"

"Vì con là con trai bố, và bố không muốn con bị tổn thương."

"Tổn thương thế nào ạ?"

Bố tôi ngừng lời.

Bên ngoài mây đã dạt đi, những tia nắng ban ngày cuối cùng hắt bóng chúng tôi lên tường.

Cảm giác buồn nôn

cuộn lên trong dạ dày tôi, giống như khi bố mẹ bạn sắp nói với bạn rằng họ sẽ ly dị, nhưng bạn đã biết điều đó từ trước khi họ mở lời.

"Bố chưa bao giờ tìm hiểu quá sâu về ông nội con vì bố sợ những gì có thể mình sẽ tìm thấy", cuối cùng bố tôi lên tiếng.

"Ý bố là về chiến tranh ư?"

"Không.

Ông nội con giữ kín những bí mật đó vì chúng đau đớn.

Bố hiểu điều đó.

Ý bố là về những chuyến đi, chuyện ông luôn vắng

nhà.

Điều ông thực sự làm.

Bố nghĩ - cả cô của con và bố đều nghĩ - là có một người phụ nữ khác.

Có khi nhiều hơn một."

Tôi để những lời này lơ lửng giữa hai bố con trong giây lát.

Mặt tôi chợt ngứa ran lên một cách kỳ quái.

"Bố, chuyện đó thật điên rồ."

"Có lần cô và bố tìm thấy một lá thư.

Nó đến từ một phụ nữ mang cái tên mà cả cô và bố đều không biết, thư gửi cho ông nội con.

Em

yêu anh, em nhớ anh, k hi nào anh trở lại, những lời đại loại như thế.

Đúng kiểu thư tình sến sẩm.

Bố sẽ không bao giờ quên được."

Tôi cảm thấy một cơn hổ thẹn trào lên nóng bừng, như thể bố vừa mô tả về tội lỗi của chính tôi.

Ấy vậy nhưng tôi vẫn chưa thể tin

hẳn vào chuyện đó.

"Cô và bố xé lá thư đi, ném xuống bồn cầu rồi xối nước.

Và cũng không bao giờ tìm thấy lá thư nào khác nữa.

Bố đoán là sau đó ông

đã cẩn thận hơn."

Tôi không biết phải nói gì nữa.

Tôi không thể nhìn thẳng vào bố.

"Bố xin lỗi, Jake.

Thật nặng nề khi phải nghe chuyện này.

Bố biết con tôn thờ ông đến mức nào."

Ông đưa tay tới bóp nhẹ lên vai tôi,

nhưng tôi hất ông ra, rồi kéo ghế ra sau và đứng dậy.

"Con chẳng tôn thờ ai cả."

"Rồi rồi.

Chỉ là... bố không muốn con bị bất ngờ, vậy thôi."

Tôi chộp lấy áo khoác vắt lên vai.

"Con định làm gì vậy?

Bữa tối sắp được dọn ra rồi."

"Bố đã hiểu lầm ông", tôi nói.

"Và con sẽ chứng minh điều đó."

Bố tôi thở dài.

Kiểu thở dài cho phép.

"Ừm.

Bố hy vọng con làm được."

Tôi lao ra khỏi Priest Hole, đóng sầm cửa lại và bắt đầu bước đi, lang thang vô định.

Đôi khi bạn chỉ cần bước qua cửa.

Tất nhiên, điều bố tôi nói hoàn toàn đúng: tôi tôn thờ ông nội.

Có những điều về ông mà tôi cần phải chứng minh là sự thật, nhưng

việc ông là một kẻ ngoại tình không nằm trong số đó.

Khi tôi còn là một cậu nhóc, những câu chuyện kỳ ảo của ông nội Portman đồng

nghĩa với việc có thể sống một cuộc sống mầu nhiệm.

Ngay cả sau khi tôi không còn tin vào chúng, vẫn còn điều gì đó thật mầu nhiệm ở

ông.

Từng chịu đựng tất cả những nỗi kinh hoàng, từng phải chứng kiến những gì tồi tệ nhất của nhân loại và cuộc đời bị nó giày xéo

đến mức không còn nhận ra nổi nữa, ông đã bước ra khỏi tất cả những chuyện đó trong hình hài con người đáng kính trọng, nhân hậu và

can đảm như tôi biết chắc - điều đó thật mầu nhiệm.

Vì thế tôi không thể tin ông là một kẻ dối trá, lừa lọc và là một ông bố tồi.

Vì nếu ông

nội Portman không phải là người đáng kính trọng và nhân hậu, thì tôi không chắc ai mới là người như thế.

***

Cửa ra vào bảo tàng đang mở và đèn bật sáng, nhưng dường như bên trong không có ai.

Tôi tới đó để tìm người phụ trách bảo tàng,

hy vọng ông ta biết đôi điều về lịch sử hòn đảo và cư dân của nó, và có thể đem lại chút ánh sáng về trại trẻ bỏ hoang kia cùng tung tích

những người trước đây từng ở đó.

Đoán là ông ta chỉ ra ngoài ít phút - hiển nhiên là chẳng có đám đông nào xô đẩy chen nhau vào bảo

tàng của ông ta - tôi lang thang vào trong chốn tôn nghiêm này giết thời gian bằng cách xem qua các hiện vật được trưng bày.

Các hiện vật trưng bày, cũng chẳng nhiều nhặn gì, được sắp xếp trong những ngăn tủ lớn hở mặt trước dàn thành hàng trên bức

tường và kê ở chỗ trước đây từng dành cho các bục cầu nguyện.

Đa phần chúng chán đến không tả nổi, toàn về cuộc sống tại một làng

chài truyền thống cũng như những bí ẩn lâu đời của nghề chăn nuôi, nhưng có một hiện vật nổi bật lên hẳn so với phần còn lại.

Nó được

trưng bày ở một vị trí danh dự phía đầu phòng, trong một cái lồng kỳ cục ngự phía trên nơi từng là án thờ.

Nó nằm sau một rào chắn bằng

dây thừng bị tôi bước qua và một biển cảnh cáo nhỏ tôi chẳng buồn đọc, còn cái lồng lại có các thành bên bằng gỗ đánh bóng và phần

nắp bằng thủy tinh hữu cơ, như thế bạn chỉ có thể nhìn vào từ trên xuống.

Khi nhìn vào trong, hẳn là tôi đã thực sự há hốc miệng - và trong một giây hoảng loạn đã nghĩ quái vật!

- vì tôi vừa đột ngột và bất

ngờ đối diện với một thi thể đen thui.

Thân hình co rúm của nó mang vẻ tương đồng kỳ lạ với các sinh vật đã ám ảnh những giấc mơ của

tôi, cũng như màu da thịt của nó, trông như thứ gì đó đã bị quay trên lửa.

Nhưng khi nhận thấy thân hình đó không thể sống dậy và để lại

một vết sẹo vĩnh viễn trong tâm trí tôi bằng cách đập vỡ kính và chộp lấy cổ tôi, cơn hoảng loạn ban đầu dịu xuống.

Đó chỉ đơn thuần là

một hiện vật trong bảo tàng, cho dù là một hiện vật quá mức bệnh hoạn.

"Tôi thấy là cậu đã gặp qua Ông Lão!" một giọng nói cất lên sau lưng tôi, và khi ngoảnh lại tôi thấy ông phụ trách bảo tàng đang sải

bước đi về phía mình.

"Cậu trấn tĩnh khá đấy.

Tôi từng thấy nhiều người lớn hẳn hoi còn phải lăn quay ra bất tỉnh!"

Ông ta cười nhăn nhở

và đưa tay ra để bắt tay tôi.

"Martin Pagett.

Đừng tưởng là hôm trước tôi nhớ được tên cậu nhé."

"Jacob Portman", tôi nói.

"Ai đây ạ, nạn nhân của vụ án mạng nổi tiếng nhất xứ Wales ạ?"

"Chà!

Vậy đấy, cũng có thể là thế lắm, tuy nhiên tôi chưa bao giờ nghĩ về ông ấy theo cách đó.

Ông ấy là cư dân cao niên nhất hòn

đảo của chúng tôi, nổi tiếng trong giới khảo cổ dưới cái tên Người Cairnholm - mặc dù với chúng tôi thì ông ấy chỉ là Ông Lão.

Chính xác

là hơn hai nghìn bảy trăm năm tuổi rồi, cho dù khi chết ông ấy mới chỉ mười sáu tuổi.

Vậy nên kỳ thực đây là một ông lão khá trẻ trung."

"Hai nghìn bảy trăm năm?" tôi thốt lên, liếc nhìn khuôn mặt cậu thiếu niên đã chết, những đường nét tinh tế trên khuôn mặt bằng

cách nào đó vẫn được lưu giữ hoàn hảo.

"Nhưng ông ấy trông thật..."

"Đó là chuyện thường thôi khi người ta trải qua những năm hoàng kim của mình ở một nơi oxy và vi khuẩn không thể tồn tại, chẳng

hạn như dưới đầm lầy của chúng tôi.

Dưới đó là một suối nguồn tươi trẻ đích thực - tất nhiên là với điều kiện người ta đã chết rồi."

"Và ông tìm thấy ông ấy ở đó sao?

Ở đầm lầy ấy?"

Ông phụ trách phá lên cười.

"Không phải tôi!

Những người thợ than bùn đã tìm được ông ấy trong khi đào than bùn gần chỗ mộ đá

lớn ngoài kia, từ hồi thập niên bảy mươi.

Trông ông ấy còn tươi đến mức người ta cứ tưởng có thể một tên sát nhân nào đó đang lẩn khuất

tại Cairnholm - cho tới khi đám cớm xem qua cây cung thời đồ đá trong tay ông ấy và cái vòng bện bằng tóc người tròng quanh cổ ông

ấy.

Ngày nay người ta không còn bện chúng như thế nữa."

Tôi rùng mình.

"Nghe có vẻ như đây là một vụ hiến sinh."

"Chính xác.

Ông ấy bị kết liễu bằng một sự phối hợp giữa thắt cổ, nhận chìm cho ngạt, mổ bụng moi ruột và một cú nện vào đầu.

Giết

người như thế kể cũng hơi quá cẩn thận, cậu có nghĩ thế không?"

"Cháu đoán vậy."

Ông Martin phá lên cười.

"Cậu ta đoán là vậy cơ đấy!"

"Rồi, được rồi, đúng thế."

"Chắc chắn là thế rồi.

Nhưng nói gì thì nói, điều thực sự đáng kinh ngạc với những người hiện đại chúng ta là có vẻ như cậu thiếu

niên này sẵn sàng đón nhận cái chết.

Thậm chí còn hăm hở là đằng khác.

Người dân chỗ cậu ấy tin rằng đầm lầy - và đặc biệt là đầm lầy

của chúng tôi là lối vào thế giới của các vị thần, vì thế cũng là địa điểm hoàn hảo để hiến tặng món lễ vật quý giá nhất của họ: chính bản

thân họ."

"Thật điên khùng."

"Có lẽ vậy.

Tuy nhiên tôi cho rằng ngay lúc này đây chúng ta cũng đang giết nhau bằng đủ các cách thức rồi sẽ trở thành điên khùng

với những người trong tương lai.

Còn nói về những cánh cửa mở sang thế giới bên kia, một đầm lầy cũng không phải là lựa chọn tồi.



không hoàn toàn là nước, cũng không hẳn là đất - nó là một nơi trung gian."

Ông ta cúi người xuống cái lồng, ngắm nghía hiện vật bên

trong.

"Chẳng phải ông ấy thật đẹp sao?"

Tôi nhìn cái xác lần nữa, một thân thể đã bị siết cổ, mổ bụng, dìm nước và bằng cách nào đó đã trở nên bất tử trong quá trình ấy.

"Cháu không nghĩ vậy", tôi nói.

Ông Martin thẳng người lên, rồi bắt đầu nói với giọng phô trương.

"Lại đây, anh bạn, và hãy nhìn vào người hắc ín này!

Ông ấy nằm

an nghỉ, đen nhánh, khuôn mặt hiền hòa mang màu bồ hóng, tứ chi héo tàn như những vỉa than, đôi bàn chân như những súc gỗ trồi bám

đầy những dây nho héo quắt!"

Ông ta dang hai cánh tay ra như một nghệ sĩ sân khấu còn non kinh nghiệm và bắt đầu khệnh khạng bước

đi quanh cái lồng trưng bày.

"Lại đây, anh bạn, và chứng kiến sự tàn khốc trên những vết thương của ông ấy!

Những đường dao rạch

ngoằn ngoèo sần sùi; óc và xương bị đá đập lòi ra; thòng lọng vẫn quấn trên cổ ông ấy Món lễ vật bị cắt rạch và ném xuống - kẻ tìm kiếm

Thiên Đường - ông lão bị giam cầm trong tuổi trẻ - ta gần như yêu người!"

Ông phụ trách cúi người rất kịch trong khi tôi vỗ tay.

"Ái chà", tôi nói, "là ông sáng tác cả sao?"

"Trúng phóc!"

ông ta đáp lại kèm theo một nụ cười ngượng ngập.

"Thỉnh thoảng tôi vẫn đùa nghịch cùng những câu thơ, nhưng đó

chỉ là một thú vui thôi.

Dù sao cũng cảm ơn cậu đã hùa theo tôi."

Tôi tự hỏi người đàn ông lập dị hoạt ngôn này làm gì ở Cairnholm, với quần là thẳng nếp và những bài thơ nửa mùa, trông ông ta

giống một giám đốc ngân hàng hơn một người đang sống trên một hòn đảo lộng gió chỉ có duy nhất một cái điện thoại và chẳng có con

đường được lát tử tế nào.

"Còn bây giờ, tôi hẳn sẽ rất vui được giới thiệu với cậu phần còn lại bộ sưu tập của mình", ông ta vừa nói vừa tiễn tôi ra cửa, "nhưng

tôi e là đã đến giờ đóng cửa.

Tuy vậy, nếu cậu thích trở lại vào ngày mai..."

"Thực ra cháu đang hy vọng ông có thể biết gì đó", tôi lên tiếng, ngăn ông phụ trách lại trước khi ông ta có thể xua tôi ra ngoài.

"Về

trại trẻ cháu đã nhắc tới sáng nay.

Cháu đã tới xem tận mắt."

"À!"

ông phụ trách thốt lên.

"Tôi cứ tưởng đã dọa được cậu tránh xa nó rồi cơ đấy.

Vậy tòa nhà ma ám của chúng ta bây giờ thế nào?

Vẫn đứng vững chứ?"

Tôi cam đoan với ông ta là nó vẫn đứng vững, rồi đi thẳng vào trọng tâm.

"Những người từng sống ở đó - ông có biết chuyện gì đã

xảy ra với họ không?"

"Họ đã chết", ông ta trả lời.

"Lâu lắm rồi."

Tôi ngạc nhiên - cho dù rất có thể tôi không nên cảm thấy thế.

Bà Peregrine đã già.

Người già thì chết.

Nhưng điều đó không có nghĩa

là cuộc tìm kiếm của tôi đã chấm dứt.

"Cháu đang tìm bất cứ ai có thể từng sống ở đó, không chỉ mình cô phụ trách."

"Tất cả đã chết", ông phụ trách nhắc lại.

"Không còn ai sống ở đó kể từ thời chiến tranh."

Tôi phải mất giây lát để ngẫm nghĩ.

"Ý ông là sao?"

Chiến tranh nào cơ ạ?"

"Ở quanh đây, khi chúng tôi nói 'chiến tranh', cậu bé ạ, chỉ có một cuộc chiến chúng tôi muốn nhắc đến - Thế chiến thứ Hai.

Một

cuộc không kích của quân Đức đã giết chết họ, nếu tôi không nhầm."

"Không, không thể thế được."

Ông phụ trách gật đầu.

"Hồi ấy có một trận địa pháo phòng không ở mũi đất xa nhất của hòn đảo, ngay sau khu rừng trại trẻ tọa lạc.

Điều đó biến Cairnholm thành một mục tiêu quân sự chính đáng.

Cũng phải nhắc luôn với cậu là chuyện 'chính đáng' hay không chẳng

mấy quan trọng với bọn Đức.

Dù thế nào đi nữa, một trong số những quả bom đã rơi lệch hướng, và, thế là..."

Ông ta lắc đầu.

"Rủi thật."

"Không thể thế được", tôi lặp lại, cho dù tôi bắt đầu băn khoăn.

"Sao cậu không ngồi xuống để tôi pha cho cậu ít trà nhỉ?"

ông ta nói.

"Trông cậu không được bình tĩnh lắm."

"Cháu chỉ thấy hơi chóng mặt thôi..."

Ông phụ trách đưa tôi tới chỗ một cái ghế trong phòng làm việc của ông ta rồi quay đi pha trà.

Tôi cố trấn tĩnh lại.

Bị trúng bom trong

chiến tranh - điều đó hiển nhiên đã giải thích cho những căn phòng tường bị thổi bay nọ.

Nhưng còn lá thư từ bà Peregrine - đóng dấu

bưu điện Cairnholm - được gửi đi mới chỉ mười lăm năm trước thì sao?

Ông Martin quay trở lại, đưa cho tôi một chiếc cốc.

"Có một chút Penderyn trong đó", ông ta nói.

"Phương thuốc bí mật đấy.

Nó sẽ

giúp cậu trấn tĩnh lại lập tức."

Tôi cảm ơn ông ta và nhấp một ngụm, nhận ra quá trễ rằng phương thuốc bí mật này chính là whisky nồng độ rất cao.

Có cảm giác

như thể xăng đặc đang ào ào tuôn xuống thực quản của tôi.

"Đúng là nó có gây chút kích thích", tôi thừa nhận, mặt đỏ ửng lên.

Ông ta cau mày.

"Có lẽ tôi cần đi tìm bố cậu."

"Không, không, cháu sẽ ổn thôi.

Nhưng nếu ông có thể kể thêm cho cháu biết về vụ không kích, cháu sẽ rất biết ơn."

Ông Martin ngồi xuống một cái ghế đối diện với tôi.

"Về chuyện đó, tôi thấy tò mò đấy.

Cậu nói là ông nội cậu đã sống ở đây.

Ông

cậu không bao giờ kể về vụ không kích sao?"

"Cháu cũng thấy tò mò về chuyện ấy", tôi nói.

"Cháu đoán có thể nó xảy ra khi ông cháu đã rời khỏi đây.

Vụ không kích ấy xảy ra vào

đầu hay cuối cuộc chiến ạ?"

"Tôi rất xấu hổ phải thừa nhận là tôi không biết.

Nhưng nếu cậu muốn biết đến thế, tôi có thể giới thiệu cậu với một người biết chuyện - ông bác Oggie của tôi.

Ông cụ đã tám mươi ba tuổi, đã sống ở đây suốt cả đời.

Và vẫn còn minh mẫn lắm."

Ông Martin liếc nhìn

đồng hồ đeo tay.

"Nếu như chúng ta tới gặp ông cụ trước khi bộ phim Cha Ted được phát trên ti vi, tôi tin chắc ông cụ sẽ rất vui kể cho

cậu nghe bất cứ điều gì cậu thích."

***

Mười phút sau, ông Martin và tôi đã chen nhau ngồi lún sâu trên chiếc ghế xô pha chật chội quá mức trong phòng khách nhà cụ

Oggie, nơi chất đống những chồng sách, những cái hộp đựng những đôi giày cũ mòn vẹt và đủ đèn để thắp sáng cả hang động

Carlsbad, tất cả đều không cắm dây nguồn chỉ trừ một bóng.

Tôi bắt đầu nhận ra rằng việc sống trên một hòn đảo xa xôi biến con người

ta thành những kẻ chuyên tích trữ nhặt nhạnh.

Cụ Oggie ngồi đối điện với chúng tôi, mặc một chiếc áo khoác ngoài đã mòn trơ sợi vải và

một cái quần ngủ như thể cụ vốn luôn trông đợi có người tới làm bạn - chỉ có điều là những người này không đáng để cụ phải mặc quần

âu tử tế - và trong lúc nói chuyện không ngừng gật gù hết tới lại lui trên chiếc ghế bành bọc vải nhựa.

Chỉ nguyên chuyện có người lắng nghe đã khiến cụ có vẻ rất vui, và cuối cùng, khi cụ đã kết thúc một tràng dài nói về thời tiết, chính trị xứ Wales và tình trạng đáng ái ngại

của giới trẻ ngày nay, ông Martin cũng có thể lái cụ sang vụ không kích và những đứa trẻ ở trại trẻ nọ.

"Hẳn rồi, ta còn nhớ họ", cụ nói.

"Một nhóm người thật lạ lùng.

Thỉnh thoảng chúng ta lại thấy họ trong thị trấn - những đứa trẻ, rồi

thỉnh thoảng cả người phụ nữ trông coi họ nữa - đi mua sữa, thuốc và những thứ khác.

Ta chào 'chúc buổi sáng tốt lành' là thể nào bọn

họ cũng nhìn đi chỗ khác.

Bọn họ luôn sống tách biệt trong trại trẻ lớn đó.

Người ta cứ đồn đại suốt về những gì có thể đã diễn ra ở đó,

dù chẳng ai biết chắc."

"Đồn đại kiểu gì cơ?"

"Đủ thứ vớ vẩn.

Như ta nói rồi đấy, chẳng ai biết chắc gì hết.

Tất cả những gì ta có thể nói là những đứa trẻ đó không phải loại trẻ mồ

côi thông thường người ta vẫn nghĩ đến - không giống như những trại trẻ khác, với những đứa trẻ sẽ vào thị trấn diễu hành này nọ và

luôn có thời gian để tán chuyện.

Đám trẻ này khác hẳn.

Vài đứa trong số chúng thậm chí còn chẳng nói chuẩn tiếng Anh phổ thông.

À

mà, bất kỳ thứ tiếng Anh nào luôn."

"Bởi vì họ không hẳn là trẻ mồ côi", tôi nói.

"Họ là người tị nạn từ các nước khác.

Ba Lan, Áo, Tiệp Khắc..."

"Chúng là người tị nạn sao?" cụ Oggie vừa nói vừa nhướng mày nhìn tôi.

"Hay nhỉ, trước đây ta chẳng hề nghe nói gì về chuyện đó."

Cụ có vẻ tự ái, như thể tôi đã sỉ nhục cụ bằng cách ra vẻ biết nhiều hơn cả cụ về hòn đảo của cụ.

Nhịp bập bênh trên ghế của cụ trở nên

gấp gáp hơn, hung hăng hơn.

Nếu đây là kiểu đón tiếp ông nội tôi và những đứa trẻ khác nhận được tại Cairnholm thì cũng chẳng lạ khi

họ thu mình lại với nhau.

Ông Martin hắng giọng.

"Vậy còn cuộc không kích thì sao, bác?"

[13]

"À, khiến người ta dựng hết tóc trên đầu.

Phải, phải, bọn Jerry

chết tiệt.

Ai mà quên được bọn chúng chứ?"

Cụ bắt đầu mô tả hồi

lâu về cuộc sống trên đảo dưới sự đe dọa của những cuộc không kích Đức: còi báo động rền vang; những lần hoảng loạn xô đẩy nhau

xuống hầm trú ẩn; những dân phòng tình nguyện chạy từ nhà này sang nhà khác trong đêm để đảm bảo cửa được che kín, đèn đường tắt

hết nhằm khiến phi công địch không dễ dàng thấy được mục tiêu.

Họ chuẩn bị chu đáo hết mức có thể nhưng chẳng bao giờ thực sự nghĩ

sẽ bị tấn công, nếu tính đến tất cả những hải cảng, nhà máy trên đất liền, toàn là những mục tiêu quan trọng hơn so với trận địa pháo nhỏ

xíu ở Cairnholm.

Nhưng đến một đêm, bom bắt đầu nã xuống.

"Tiếng nổ thật khủng khiếp", cụ Oggie nói.

"Cứ như thể những người khổng lồ đang giậm chân uỳnh uỳnh khắp đảo, và dường như

nó kéo dài vô tận.

Bọn chúng đã dồn chúng ta vào đường cùng, nhưng may là không ai ở thị trấn thiệt mạng, ơn Chúa.

Nhưng các chàng

pháo thủ của chúng ta thì không như vậy - cho dù họ đã cho đi chẳng kém gì nhận về - và cả những linh hồn tội nghiệp ở trại trẻ mồ côi

nữa.

Chỉ cần đúng một quả bom.

Họ đã hiến dâng tính mạng cho nước Anh.

Vì vậy dù họ từ đâu đến, xin Chúa ban phước lành cho họ vì

điều đó."

"Cụ có nhớ chuyện đó xảy ra khi nào không ạ?" tôi hỏi.

"Vào đầu hay cuối cuộc chiến?"

"Ta có thể cho cháu biết ngày tháng chính xác", cụ đáp.

"Hôm ấy là ngày mồng ba tháng Chín năm 1940."

Không khí như bỗng bị rút hết khỏi phòng.

Trong tâm trí tôi lóe lên hình ảnh khuôn mặt tái mét của ông nội, đôi môi chỉ hơi mấp máy

của ông thì thào ra đúng ngày tháng đó.

Mồng ba tháng Chín năm 1940.

"Cụ có... cụ có chắc về chuyện đó không ạ?

Chắc chắn đúng là hôm đó?"

"Ta chưa bao giờ phải chiến đấu", cụ nói.

"Ta thiếu mất một tuổi.

Đối với ta, buổi tối hôm ấy là toàn bộ cuộc chiến tranh.

Vì thế, phải,

ta chắc chắn."

Tôi cảm thấy đờ đẫn, hẫng hụt.

Thật quá lạ lùng.

Tôi tự hỏi liệu có phải ai đó đang bỡn cợt mình hay không - một trò đùa quái đản,

chẳng có gì đáng buồn cười?

"Và không có bất kỳ ai sống sót sao?"

ông Martin hỏi.

Ông cụ ngẫm nghĩ giây lát, ánh mắt trôi dần lên trần nhà.

"Giờ cháu nhắc mới nhớ", cụ nói, "bác nghĩ là có.

Chỉ một người.

Một cậu

thanh niên, không lớn hơn cậu nhóc này là mấy."

Nhịp bập bênh dừng lại khi cụ nhớ ra chuyện cũ.

"Cậu ta đi vào thị trấn sáng ngày hôm

sau, trên người không có lấy một vết xước.

Gần như không hề bị chấn động, cứ nghĩ đến việc cậu ta vừa phải chứng kiến số phận của tất

cả bạn bè mình mà xem.

Đó là điều kỳ quái nhất."

"Có thể cậu ấy bị sốc", ông Martin nói.

"Nếu thế bác cũng chẳng thấy lạ", cụ Oggie đáp.

"Cậu ta chỉ lên tiếng có độc một lần, hỏi bố bác khi nào chuyến tàu kế tiếp nhổ neo

vào đất liền.

Cậu ta bảo muốn tự mình cầm vũ khí giết lũ quái vật đáng nguyền rủa đã hãm hại người thân của cậu ta."

Câu chuyện cụ Oggie kể cũng cường điệu hệt như những câu chuyện ông nội Portman từng hay kể, ấy vậy nhưng tôi không có lý do

gì để nghi ngờ cụ.

"Cháu biết cậu thanh niên ấy", tôi nói.

"Đó là ông nội cháu."

Hai người nhìn tôi với vẻ kinh ngạc.

"Chà", cụ Oggie nói.

"Chúa cứu rỗi cho tôi."

Tôi cáo từ và đứng dậy.

Ông Martin, để ý thấy tôi có vẻ rất buồn bã, ngỏ ý muốn đưa tôi về quán rượu, nhưng tôi từ chối.

Tôi cần

được ở một mình suy ngẫm.

"Vậy hãy sớm tới gặp tôi nhé", ông ta nói, và tôi hứa sẽ làm thế.

Tôi chọn con đường dài để quay về, đi qua những đốm sáng lay động của bến cảng, không khí nặng trĩu hơi mặn của biển và khói tỏa

ra từ ống khói của cả trăm lò sưởi đang đỏ lửa.

Tôi cuốc bộ tới cuối một cầu tàu và quan sát mặt trăng nhô lên trên mặt nước, tưởng tượng

ra ông nội tôi đang đứng ở đó vào buổi sáng hôm sau ảm đạm ấy, đờ đẫn vì choáng váng, chờ một con tàu sẽ đưa ông rời khỏi tất cả

những chết chóc ông đã phải trải qua, đưa ông tới với cuộc chiến, và thêm nhiều chết chóc nữa.

Không thể tránh khỏi lũ quái vật, thậm

chí cả trên hòn đảo này, cái hòn đảo không lớn hơn một hạt cát trên bản đồ, được bảo vệ bởi hàng núi sương mù, những vách đá nhọn

hoắt và những con thủy triều cuồn cuộn.

Không thể, dù ở bất cứ đâu.

Ông đã cố bảo vệ tôi tránh xa cái sự thật u ám ấy.

Ngoài xa, tôi nghe thấy tiếng những chiếc máy phát điện lọc xọc và lặng dần, rồi tất cả ánh sáng dọc bến tàu và trên cửa sổ các ngôi

nhà sau lưng tôi lập lòe trong giây lát trước khi tắt hẳn.

Không biết một cảnh tượng như thế trông sẽ ra sao khi nhìn từ trên một chiếc máy bay - cả hòn đảo đột nhiên vụt biến mất, như thể nó chưa bao giờ tồn tại bên dưới.

Một vụ nổ siêu tân tinh ở quy mô thu nhỏ.

***

Tôi đi bộ quay về dưới ánh trăng, cảm thấy mình thật bé nhỏ.

Tôi thấy bố đang ngồi trong quán rượu, vẫn ở cái bàn ông ngồi lúc

trước, một đĩa thịt bò ăn dở một nửa và nước xốt đã đông mỡ nằm trên bàn trước mặt ông.

"Xem ai đã về kìa", bố nói khi tôi ngồi xuống.

"Bố đã để phần bữa tối cho con đấy."

"Con không đói", tôi nói, và kể cho bố những gì tôi đã tìm hiểu được về ông nội Portman.

Bố tôi có vẻ tức giận nhiều hơn ngạc nhiên.

"Bố không thể tin nổi là ông con chưa bao giờ nói về chuyện này", ông nói.

"Chưa một

lần."

Tôi có thể hiểu cơn giận của bố: việc một người ông giữ một bí mật như thế với đứa cháu mình là một chuyện, nhưng một ông bố lại

giữ kín nó với con trai mình, và trong thời gian lâu đến vậy, lại là chuyện khác.

Tôi cố lái cuộc trò chuyện theo một hướng tích cực hơn.

"Chẳng phải thật đáng kinh ngạc sao?

Mọi thứ ông đã trải qua ấy."

Bố tôi gật đầu.

"Bố nghĩ sẽ chẳng bao giờ chúng ta biết đầy đủ câu chuyện được đâu."

"Ông nội thật biết cách giữ bí mật, bố nhỉ?"

"Con đùa chắc?

Ông nội con chẳng bao giờ bộc lộ cảm xúc ra cả."

"Dẫu vậy con tự hỏi liệu điều đó có đem đến lời giải thích nào hay không.

Vì sao ông lại xử sự xa cách đến vậy khi bố còn nhỏ."

Bố

ném về phía tôi một cái nhìn sắc lẹm, và tôi biết mình cần nhanh chóng bày tỏ quan điểm nếu không sẽ có nguy cơ quá trớn.

"Trước đó

ông đã mất gia đình của mình hai lần rồi.

Một lần ở Ba Lan, rồi một lần nữa ở đây - gia đình nhận nuôi ông.

Vì thế khi bố và cô Susie ra

đời..."

"Như chim sợ cành cong sao?"

"Con nghiêm túc đấy.

Bố không nghĩ là điều này chứng tỏ có thể thực ra ông nội không hề lừa dối bà nội sao?"

"Bố không biết, Jake.

Bố đoán là bố không tin mọi thứ lại có thể đơn giản đến vậy."

Bố tôi thở dài, hơi thở tạo thành sương bên trong

vại bia của ông.

"Dẫu vậy, bố nghĩ bố biết tất cả những chuyện này thực sự nói lên cái gì.

Tại sao con và ông nội lại gần gũi đến thế."

"Được rồi bố..."

"Ông nội con đã mất năm mươi năm để vượt qua nỗi sợ có một gia đình.

Con xuất hiện vào đúng thời điểm."

Tôi không biết phải trả lời thế nào nữa.

Làm sao bạn có thể nói Con xin lỗi, ông nội đã k hông yêu bố đủ nhiều với chính bố mình

được chứ?

Tôi không thể, vậy nên thay vì thế tôi chỉ chúc bố ngủ ngon và lên lầu đi ngủ.

***

Tôi trằn trọc trở mình gần hết đêm.

Tôi không thể thôi nghĩ tới những lá thư - lá thư bố tôi và cô Susie đã tìm thấy khi còn nhỏ, được gửi tới từ "người đàn bà khác" đó, và lá thư tôi tìm thấy một tháng trước, được gửi từ bà Peregrine.

Ý nghĩ làm tôi thao thức là thế này: thế

nếu họ cùng là một người phụ nữ thì sao?

Dấu bưu điện trên lá thư của bà Peregrine đã có từ mười lăm năm trước, nhưng theo mọi lời kể lại, bà đã bị thổi bay lên tầng bình lưu từ

năm 1940 rồi.

Trong tâm trí tôi, như vậy còn lại hai cách giải thích khả dĩ: hoặc là ông nội tôi trao đổi thư tín với một người đã chết - phải

thừa nhận điều này khó xảy ra - hoặc người viết thư kỳ thực không phải là bà Peregrine mà là ai đó sử dụng danh tính của bà để che giấu

thân phận mình.

Nhưng tại sao người ta lại phải che giấu thân phận của mình trong một lá thư cơ chứ?

Vì người ta có điều gì đó cần giấu.

Vì đó là

người đàn bà khác.

Sẽ thế nào đây nếu điều duy nhất tôi khám phá ra trong chuyến đi này là ông nội tôi là một kẻ ngoại tình dối trá?

Trong những hơi thở

cuối cùng của mình, có phải ông đã cố nói cho tôi biết về cái chết của gia đình nhận nuôi mình - hay thừa nhận một cuộc phiêu lưu tình ái

phù phiếm đã kéo dài hàng thập kỷ?

Có thể là cả hai, và sự thật là hồi còn trẻ, ông đã phải chịu cảnh gia đình tan nát nhiều lần tới mức

không còn biết làm thế nào để có một gia đình, hay chung thủy với một gia đình nữa.

Dẫu vậy, tất cả chỉ là suy đoán.

Tôi không biết, mà cũng chẳng có ai để hỏi.

Bất cứ ai có thể nắm giữ câu trả lời đều đã chết từ lâu.

Chỉ

trong vòng chưa tới hai mươi bốn giờ, toàn bộ chuyến đi đã trở thành vô nghĩa.

Tôi chìm vào một giấc ngủ bồn chồn.

Đến rạng sáng, tôi bừng tỉnh vì có tiếng gì đó trong phòng mình.

Lật người quay ra để xem đó là

cái gì, tôi bật ngồi thẳng dậy trên giường.

Một con chim lớn đang đậu trên cái tủ nhỏ trong phòng, trừng mắt nhìn xuống tôi.

Cái đầu

bóng mượt của nó có lông màu xám, hai cựa đập lạch cạch xuống cái tủ gỗ trong lúc nó dịch qua dịch lại dọc theo rìa nóc tủ, như thể để

nhìn tôi rõ hơn.

Tôi cứng người trừng trừng nhìn lại, tự hỏi liệu đây có phải là một giấc mơ hay không.

Tôi hét lên gọi bố, và khi giọng tôi vang lên, con chim cũng vọt lên khỏi nóc tủ.

Tôi đưa cánh tay che trước mặt và lăn người quay đi,

khi tôi quay trở lại nó đã biến mất, bay vụt qua cửa sổ mở rộng.

Bố tôi vừa chạy vừa vấp lao vào, mắt nhắm mắt mở.

"Có chuyện gì vậy?"

Tôi chỉ cho ông thấy những dấu cựa trên mặt tủ gỗ và một cái lông rơi dưới sàn.

"Chúa ơi, thật kỳ quái", bố tôi nói, lật đi lật lại cái

[14]

lông trên bàn tay.

"Chim ưng

gần như không bao giờ tới gần người đến thế."

Tôi nghĩ có thể tôi đã nghe nhầm ông.

"Bố vừa nói là chim ưng ạ?"

Bố tôi giơ cái lông lên.

"Một con chim ưng", ông nói.

"Chúng là những sinh vật đáng kinh ngạc - loài chim nhanh nhất trên thế giới.

Khi lao vút đi trên bầu trời, chúng giống như những kẻ biến hình."

Cái tên chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên kỳ lạ, nhưng nó để lại trong

tâm trí tôi một cảm giác huyền bí tôi không tài nào rũ bỏ được.

Trong lúc ăn sáng, tôi bắt đầu tự hỏi liệu có phải mình đã quá dễ dàng bỏ cuộc.

Mặc dù đúng là không ai còn sống để tôi có thể hỏi

chuyện về ông nội, nhưng vẫn còn trại trẻ, với nhiều điều chưa được khám phá.

Nếu nơi ấy từng có lúc nào đó nắm giữ những câu trả lời

về ông nội tôi - có thể dưới dạng những lá thư, một album ảnh hay một tập nhật ký - nhiều khả năng chúng đã bị thiêu cháy hay mục nát từ hàng thập kỷ trước".

Nhưng nếu rời khỏi hòn đảo mà không đoan chắc được điều đó, tôi biết mình sẽ hối tiếc.

Và đó chính là lý do khiến một người cực kỳ nhạy cảm trước những cơn ác mộng, những nỗi kinh hoàng ban đêm, những hình ảnh từ các

bộ phim kinh dị, và trước việc Nhìn Thấy Những Thứ Thực Ra Không Có lại thuyết phục chính mình thực hiện một chuyến đi cuối cùng

tới ngôi nhà bỏ hoang gần-như-chắc-chắn-bị-ám, nơi ít nhất một tá trẻ con đã gặp phải cái chết bất thình lình.

Chương 5

Đó là một buổi sáng gần như quá hoàn hảo.

Vừa rời khỏi quán rượu là y như bước ngay vào một trong những bức ảnh chỉnh sửa quá

lố thường được người ta đưa lên làm hình nền trên những chiếc máy tính mới: đường phố với những ngôi nhà đổ nát một cách rất không

thật chạy dài ra tận ngoài xa, rồi nhường chỗ cho những cánh đồng xanh rì được bao quanh bằng những bức tường đá chạy ngoằn ngoèo, và phủ lên toàn bộ phong cảnh là những đám mây trắng xốp.

Nhưng đằng sau tất cả cảnh tượng này, đằng sau những ngôi nhà,

cánh đồng và bầy cừu đang thấp thoáng xung quanh như những chiếc kẹo bông nhỏ xíu, tôi có thể thấy những vạt sương mù dày đặc

liếm quanh sườn núi ngoài xa như những cái lưỡi, nơi thế giới này kết thúc và thế giới tiếp theo bắt đầu, lạnh, ẩm ướt vắng bóng mặt trời.

Tôi đi bộ vượt qua sườn dốc, bước thẳng vào cơn mưa đang rơi xuống.

Như thường lệ, tôi đã quên khuấy mất đôi ủng cao su của

mình, còn con đường nhanh chóng trở thành một dải uốn lượn chìm sâu trong bùn.

Nhưng chịu ướt một chút dường như còn dễ chịu hơn

rất nhiều so với viễn cảnh phải leo qua ngọn đồi đó hai lần trong một buổi sáng, vậy là tôi cúi gằm mặt xuống trước cơn mưa lất phất và

vất vả lê bước đi tiếp.

Không lâu sau, tôi đi ngang qua chuồng cừu, loáng thoáng bên trong là hình dáng lũ cừu đang chen chúc nhau

trốn tránh mưa rét, rồi tiếp theo là khu đầm lầy phủ đầy sương mù, im ắng một cách ma quái.

Tôi chợt nghĩ tới vị cư dân hai nghìn bảy

trăm năm tuổi của bảo tàng Cairnholm và tự hỏi đầm lầy này liệu còn lưu giữ bao nhiêu người nữa như ông ta, những người dừng lại nơi

cõi chết và vẫn chưa được khai quật; bao nhiêu người nữa đã từ bỏ cuộc sống của họ ở đây để tìm kiếm thiên đường.

Khi tôi tới được trại trẻ, cơn mưa vốn chỉ lất phất lúc này đã ào ào như trút nước.

Không còn thời gian để nấn ná ngoài khoảng sân

đầy cây dại của ngôi nhà và ngẫm nghĩ về hình hài xấu xa hiểm ác của nó - cái cách khung cửa ra vào không còn cánh cửa dường như

nuốt chửng lấy tôi khi tôi bước qua nó, cái cách những tấm ván lát sàn cong vênh vì ngấm nước mưa dưới lối đi hơi lún xuống dưới đôi

giày của tôi.

Tôi đứng vắt nước khỏi chiếc áo sơ mi của mình và lắc lắc mái tóc, rồi khi đã làm khô người đến hết mức có thể xoay xở được

- nghĩa là cũng chẳng khô cho lắm - tôi bắt đầu tìm kiếm.

Tìm cái gì, tôi cũng không rõ.

Một cái hộp đựng thư chăng?

Hay tên ông nội tôi

khắc trên một bức tường?

Tất cả dường như đều khó có khả năng xảy ra.

Tôi đi vòng quanh, lật giở những chồng báo cũ dính bết, cúi xuống ngó dưới gầm ghế gầm bàn.

Tôi tưởng tượng sẽ khám phá ra một

cảnh tượng kinh hoàng nào đó - một đống xương khô mặc những mảnh giẻ rách cháy đen - nhưng tất cả những gì tôi tìm thấy là những

căn phòng đã trở thành lộ thiên chứ không còn nằm trong nhà, mọi nét đặc trưng đã bị hơi ẩm, gió và những lớp bụi đất xóa hết.

Tầng trệt

chẳng cho biết điều gì.

Tôi quay trở lại cầu thang, biết rằng lần này mình sẽ phải leo thôi.

Câu hỏi duy nhất là leo lên hay xuống đây?

Một

lý do chống lại việc leo lên tầng là có rất ít cơ hội tẩu thoát cấp tốc (khỏi những con khỉ đột hay những con ma cà rồng hoặc bất cứ thứ gì

khác mà bộ óc đang lo sợ của tôi có thể tưởng tượng ra) ngoại trừ lao mình xuống qua một khung cửa sổ trên lầu.

Đi xuống hầm cũng gặp

phải rắc rối tương tự, thêm vào đó còn có thêm điểm tệ hại là tối tăm, trong khi tôi không có đèn pin.

Vậy thì lên lầu.

Các bậc cầu thang phản đối sức nặng của tôi bằng một bản giao hưởng run rẩy và cọt kẹt, nhưng vẫn đứng vững, và những gì tôi

khám phá ra trên lầu - ít nhất là so với tầng trệt bị bom phá tan tành - trông giống như một cái kén thời gian.

Nằm dọc một lối đi giấy dán

tường đã bong tróc, các căn phòng đều ở tình trạng tốt đến mức đáng ngạc nhiên.

Cho dù có một hai phòng đã bị nấm mốc xâm chiếm ở

chỗ mưa lọt vào qua khung cửa sổ vỡ, trong những căn phòng còn lại là những món đồ gần như mới tinh, chỉ khác ở chỗ có một hai lớp

bụi mỏng: một cái áo sơ mi bị mốc vắt bừa lên lưng tựa của một cái ghế, ít tiền xu lẻ nằm rải rác trên một chiếc giường.

Có thể dễ dàng tin

rằng mọi thứ vẫn y nguyên như khi những đứa trẻ để chúng lại, như thể thời gian đã ngừng lại vào đêm họ chết.

Tôi đi từ phòng này sang phòng khác, kiểm tra mọi thứ bên trong như một nhà khảo cổ học.

Có những món đồ chơi bằng gỗ đã mủn

nát trong một cái hộp; những chiếc bút chì màu trên một bậu cửa sổ, màu sắc đã phai dưới ánh sáng của cả vạn buổi chiều đã trôi qua;

một ngôi nhà búp bê với những con búp bê bên trong, những tù nhân chung thân trong một nhà tù lộng lẫy.

Trong một thư viện nhỏ, hơi

ẩm len lỏi vào đã uốn cong các giá sách thành những nụ cười méo xệch.

Tôi lướt ngón tay theo các gáy sách trơ nhẵn, như thể đang cân

nhắc xem có nên lấy một cuốn ra đọc.

Có những tác phẩm kinh điển như Peter Pan và Khu vườn bí mật, những cuốn sách lịch sử được

viết bởi các tác giả đã bị lịch sử lãng quên, sách học tiếng Latin và Hy Lạp.

Góc phòng kê vài bàn học cũ.

Tôi hiểu ra đây là phòng học

của những đứa trẻ, và bà Peregrine là cô giáo của họ.

Tôi cố mở hai cánh cửa nặng trịch, xoay tay cầm, nhưng chúng đã bị phồng ra và đóng chặt - tôi bèn lùi lại lấy đà rồi lao tới dùng vai

thúc vào cửa.

Hai cánh cửa kèn kẹt bật mở ra còn tôi thì ngã sấp mặt xuống căn phòng kế tiếp.

Trong lúc chống tay đứng dậy nhìn quanh,

tôi nhận ra nó chỉ có thể từng là phòng bà Peregrine.

Trông nó giống như một căn phòng trong lâu đài của Người Đẹp Ngủ Trong Rừng,

với những cây nến chăng đầy mạng nhện cắm trên giá gắn vào tường, một cái bàn trang điểm có gương, mặt bàn xếp những cái lọ pha lê,

và một chiếc giường lớn bằng gỗ sồi.

Tôi hình dung ra lần cuối cùng bà ở đây, tung chăn vùng dậy giữa đêm khuya khi nghe thấy tiếng

còi báo động phòng không hú vang, tập hợp lũ trẻ, tất cả đều đang lơ mơ ngái ngủ và ôm khư khư áo khoác trên giường xuống dưới nhà.

Bà có sợ k hông? tôi tự hỏi.

Bà có nghe thấy những chiếc máy bay đang tới k hông?

Tôi bắt đầu có cảm giác thật kỳ quái.

Tôi có cảm giác mình đang bị theo dõi; rằng những đứa trẻ vẫn đang ở đây, được bảo tồn như

cậu thiếu niên ở đầm lầy, bên trong các bức tường.

Tôi có thể cảm thấy họ đang dõi theo tôi qua các khe nứt và lỗ khóa.

Tôi đi sang căn phòng tiếp theo.

Ánh sáng yếu ớt chiếu vào qua một cửa sổ.

Những mảnh vụn giấy dán tường màu xanh nhạt rơi

xuống hai chiếc giường nhỏ vẫn còn nguyên ga trải đã phủ bụi.

Bằng cách nào đó, tôi biết đây từng là phòng của ông nội mình.

Tại sao ông lại đưa cháu tới đây?

Ông cần cháu phải thấy cái gì?

Thế rồi tôi để ý thấy thứ gì đó dưới gầm một trong hai chiếc giường và quỳ gối xuống xem.

Đó là một chiếc va li cũ.

Có phải cái này là của ông k hông?

Có phải đây chính là chiếc va li ông đã cầm theo lên tàu vào lần cuối cùng ông thấy hai cụ

nội, k hi cuộc đời thứ nhất của ông đang dần trôi tuột đi k hông?

Tôi kéo cái va li ra và lóng ngóng xoay xở với những chiếc đai da đã sờn mục của nó.

Cái va li dễ dàng mở ra - nhưng ngoài một gia

đình gián chết, nó hoàn toàn trống trơn.

Tôi cũng cảm thấy trống rỗng, và nặng nề lạ thường, như thể trái đất đang quay quá nhanh, làm lực hút tăng lên, kéo tôi xuống phía

sàn.

Đột nhiên cảm thấy kiệt sức, tôi ngồi xuống giường - rất có thể là giường của ông - và vì những lý do tôi không thể giải thích nổi, tôi

nằm dài ra trên tấm ga bẩn thỉu đó và nhìn chằm chằm lên trần nhà.

Ông đã nghĩ gì k hi nằm đây vào ban đêm?

Có phải ông cũng gặp ác mộng k hông?

Tôi bắt đầu khóc.

Khi hai cụ nội chết, ông có biết k hông?

Ông có cảm thấy họ ra đi k hông?

Tôi khóc dữ hơn.

Tôi không muốn thế, nhưng không thể làm mình lại được.

Không thể ngăn mình lại, thế là tôi nghĩ đến đủ thứ tồi tệ, cứ nuôi dưỡng chúng mãi thêm cho tới khi tôi khóc dữ tới mức phải thở dốc

lấy hơi giữa những cơn nức nở.

Tôi nghĩ đến chuyện các cụ nội tôi đã bị chết đói như thế nào.

Tôi nghĩ đến việc thi thể kiệt quệ của họ bị

đẩy vào lò thiêu vì những người họ không hề biết lại căm ghét họ.

Tôi nghĩ đến cảnh những đứa trẻ sống trong ngôi nhà này đã bị thiêu

cháy và nổ tung ra thành từng mảnh bởi một gã phi công đã dửng dưng bấm một cái nút.

Tôi nghĩ tới việc gia đình của ông đã bị tước

đoạt khỏi ông như thế nào, và cũng chính vì thế mà bố tôi đã lớn lên với cảm giác không có một người cha đúng nghĩa ra sao, và giờ đây

tôi phải trải qua những cơn căng thẳng tột độ, những cơn ác mộng và đang ngồi một mình trong một ngôi nhà đổ nát mà khóc lóc, những

giọt nước mắt nóng hổi ngu ngốc tưới đẫm trên khắp cái áo sơ mi tôi đang mặc.

Tất cả chỉ vì một nỗi đau kéo dài suốt bảy mươi năm đã

bằng cách nào đó được truyền lại cho tôi như một vật gia truyền tẩm độc, và những con quái vật tôi không thể chiến đấu chống lại vì tất

cả chúng đều đã chết, không thể bị giết, bị trừng phạt hay chịu bất cứ hình thức phán xét nào khác.

Ít nhất ông nội tôi đã có thể nhập ngũ

và chiến đấu với chúng.

Còn tôi có thể làm gì đây?

Khi cơn nức nở qua đi, đầu tôi đau như dần.

Tôi nhắm mắt lại, áp các đốt ngón tay vào sát mắt để ngăn không cho chúng gây phiền

toái nữa, dù chỉ trong giây lát, và cuối cùng, khi tôi ngưng ép và mở mắt ra, một sự thay đổi thần kỳ đã đến với căn phòng: có một tia

nắng duy nhất chiếu vào qua cửa sổ.

Tôi đứng dậy, đi tới chỗ mặt kính rạn nứt, và thấy bên ngoài trời vừa mưa vừa nắng - một kiểu thời

tiết kỳ cục mà dường như chẳng ai gọi tên được.

Mẹ tôi, xin nói luôn là tôi không hề có ý đùa cợt, gọi nó là "những giọt nước mắt của trẻ

mồ côi".

Thế rồi tôi nhớ những gì Ricky đã nói về kiểu thời tiết này - "Quỷ sứ đánh vợ!"

- và tôi bật cười, đồng thời cũng cảm thấy dễ

chịu hơn.

Thế rồi trong vạt nắng chiếu dọc qua căn phòng, tôi trông thấy một thứ trước đó tôi đã không nhận ra.

Đó là một cái rương - hay ít

nhất là cạnh của một cái rương - đang nhô ra từ dưới gầm chiếc giường thứ hai.

Tôi bước tới, lật tấm ga trải giường che khỏi tầm nhìn phần

lớn món đồ.

Đó là một chiếc rương cũ to, cái ổ khóa đã hoen gỉ cũng to bự.

Không thể có chuyện nó trống trơn, tôi thầm nghĩ.

Rương trống không

thì ai khóa làm gì.

Hãy mở tôi ra!

Có vẻ như nó đang kêu gọi.

Tôi đầy ắp các bí mật nè!

Tôi bấu lấy hai bên cạnh rương và lôi nó ra.

Cái rương không nhúc nhích.

Tôi lại lôi, mạnh hơn, nhưng nó vẫn không xê dịch dù chỉ

một phân.

Tôi không dám chắc liệu có phải cái rương thực sự nặng đến thế, hay hơi ẩm và bụi tích tụ lại qua hàng thế hệ đã bằng cách

nào đó làm nó dính chặt xuống sàn.

Tôi đứng dậy đá vài cái vào nó, có vẻ vì thế mà thứ gì đó đã bung lỏng ra, rồi tiếp theo tôi đã có thể

di chuyển cái rương bằng cách lôi lần lượt từng bên một, nhích dần nó ra ngoài theo cách bạn có thể dùng để di chuyển một cái lò hay tủ

lạnh, cho tới khi cái rương đã chui hẳn ra khỏi gầm giường, để lại một dãy vết sượt hình dấu ngoặc đơn dưới sàn nhà.

Tôi giật mạnh cái

khóa móc, nhưng bất chấp một lớp gỉ dày, cái khóa có vẻ vẫn rất chắc chắn.

Tôi thoáng nghĩ tới việc tìm chìa khóa - hẳn phải ở đâu đó

quanh đây - nhưng tôi có thể sẽ phải mất hàng giờ để tìm kiếm, mà cái khóa thì trông hoen gỉ đến mức tôi tự hỏi không biết liệu chìa khóa

còn tác dụng gì với nó nữa hay không.

Lựa chọn duy nhất dành cho tôi là phá khóa.

Nhìn quanh tìm thứ gì đó có thể làm được việc này, tôi thấy một cái ghế hỏng trong một căn phòng khác.

Tôi bẻ một chân ghế và hăm

hở bắt tay vào phá khóa, giơ cái chân ghế lên cao quá đầu như một tay đao phủ rồi giáng nó xuống mạnh hết mức có thể, hết lần này tới

lần khác, cho tới khi cái chân ghế cuối cùng cũng gãy và tôi chỉ còn lại trong tay một đoạn chân ghế vỡ.

Tôi đưa mắt nhìn quanh phòng

tìm thứ gì đó chắc chắn hơn và nhanh chóng nhận ra có một thanh sắt lỏng lẻo trên khung giường.

Sau vài cú đá thật mạnh, thanh sắt rơi

xuống sàn kêu loảng xoảng.

Tôi luồn một đầu thanh sắt vào vòng móc khóa rồi đẩy mạnh đầu còn lại ra sau.

Chẳng có gì xảy ra.

Tôi vịn cả người lên đầu thanh sắt, hai bàn chân nâng lên khỏi sàn như thể đang tập đu xà.

Chiếc rương khẽ cọt kẹt, nhưng cũng chỉ

có thế.

Tôi bắt đầu nổi nóng.

Tôi đá cái rương, dồn lên thanh sắt tất cả sức lực của mình, các tĩnh mạch trên cổ tôi nổi lên căng phồng, vừa

gồng mình tôi vừa hét lên, Mở ra, đồ chết tiệt, mở ra, cái rương ngu ngốc k ia!

Cuối cùng cơn tuyệt vọng và bực bội của tôi cũng có một

chỗ để nhắm vào: nếu tôi không thể làm ông nội quá cố của mình thổ lộ các bí mật của ông, tôi hoàn toàn có thể moi các bí mật ra khỏi cái

rương cũ kỹ này.

Và rồi thanh sắt bị trượt đi, tôi bị đập mạnh người xuống sàn, bao nhiêu không khí trong phổi như bị ép hết ra ngoài.

Tôi nằm đó, nhìn chằm chằm lên trần nhà, hổn hển thở lấy hơi.

"Những giọt nước mắt của trẻ mồ côi" đã kết thúc, và lúc này bên

ngoài chỉ còn là cơn mưa theo nghĩa thông thường, dữ dội hơn bao giờ hết.

Tôi tính quay trở lại thị trấn tìm một cái búa tạ hay một cái cưa

kim loại - nhưng điều đó chỉ làm nảy sinh những câu hỏi tôi chẳng hề muốn trả lời.

Thế rồi tôi nảy ra một ý tưởng thật thiên tài.

Nếu tôi có thể tìm ra cách nào đó làm vỡ cái rương, tôi sẽ không cần bận tâm đến cái khóa

nữa.

Và sức mạnh nào có thể mạnh mẽ hơn tôi, mạnh mẽ hơn cơ bắp nửa trên cơ thể phải thừa nhận là kém phát triển của tôi cùng những

công cụ vớ vẩn vừa bất lực với cái rương?

Trọng lực.

Nói cho cùng, tôi đang ở trên tầng hai của ngôi nhà, và mặc dù tôi không nghĩ sẽ có

cách nào đó cho phép mình nâng cái rương lên được đủ cao để đẩy nó qua một cửa sổ, nhưng hàng tay vịn ở chiếu nghỉ trên đầu cầu

thang đã sập xuống từ lâu rồi.

Tất cả những gì tôi cần làm là lôi cái rương theo lối đi ra đó rồi đẩy xuống.

Những thứ nằm bên trong có còn

nguyên vẹn được sau cú rơi hay không là chuyện khác - nhưng ít nhất cũng sẽ tìm ra được bên trong có gì.

Tôi quỳ xuống đằng sau cái rương, nhổm người tựa trên hai gót chân và bắt đầu đẩy nó ra lối đi.

Nhích được gần chục phân, phần

chân bằng kim loại của nó lún vào mặt sàn mềm và cái rương bướng bỉnh dừng lại.

Không chịu thua, tôi vòng sang bên đối diện, dùng cả

hai bàn tay tóm chặt lấy cái khóa móc rồi kéo đi giật lùi.

Trước sự kinh ngạc tột độ của tôi, cái rương dịch liền một hơi phải đến gần một

mét.

Đây chẳng phải là một thứ lao động cao quý gì cho cam - tôi phải lặp đi lặp lại động tác ngồi xổm nhích người giật lùi cọ mông xuống

sàn hết lần này tới lần khác, mỗi cú trượt đi của cái rương lại đi kèm tiếng kim loại nghiến ken két trên gỗ chói tai - nhưng chẳng mấy chốc

tôi đã lôi nó ra được khỏi phòng và chuyển sang kéo lê từng chút từng chút một, từ trước khung cửa này qua trước khung cửa khác, ra

phía chiếu nghỉ.

Tôi đắm mình vào trong nhịp điệu kéo lê, và cũng nhờ đó mà mồ hôi toát ra đầm đìa đầy nam tính.

Cuối cùng tôi cũng ra tới chiếu nghỉ, rồi cùng một tiếng làu bàu chẳng mấy tế nhị cuối cùng, lôi cái rương ra chiếu nghỉ ngay sau

mình.

Giờ thì nó trượt đi thật dễ dàng, và lôi thêm vài cái nữa, tôi đã đưa cái rương ra chông chênh bên rìa chiếu nghỉ; chỉ cần một cú

huých cuối cùng là đủ đẩy nó rơi xuống.

Nhưng tôi muốn được nhìn tận mắt cái rương vỡ ra - phần thưởng cho tất cả nỗ lực của tôi - vậy

là tôi đứng dậy, cẩn thận nhích ra phía rìa cho tới khi thoáng nhìn thấy được sàn căn phòng tối mờ mờ bên dưới.

Sau đó, tôi nín thở tặng

cho cái rương một cú đạp nhẹ.

Nó lừng khừng giây lát, lảo đảo bên bờ rìa của định mệnh, rồi quả quyết nhào ra trước và rơi, lộn vòng trên không như một điệu vũ ba

lê quay chậm tuyệt đẹp.

Thế rồi một tiếng va đập thật lớn rền vang dường như làm chấn động cả ngôi nhà trong khi một đám bụi từ phía

dưới xộc lên tới chỗ tôi, làm tôi phải che mặt và rút lui vào trong lối đi cho tới khi nó tan đi.

Một phút sau, tôi trở lại một lần nữa từ chiếu

nghỉ ngó xuống và rồi nhìn thấy không phải một đống mảnh gỗ vỡ nát như tôi từng khấp khởi hy vọng thu được, mà là một cái lỗ rìa lởm

chởm như răng cưa với kích thước đúng bằng cái rương trên nền ván lát sàn Nó đã rơi thẳng xuống dưới tầng hầm.

Tôi hối hả chạy xuống cầu thang và úp sấp bụng bò tới rìa chỗ sàn nhà bị thủng như kiểu người ta tiếp cận một cái lỗ trên băng

mỏng.

Cách phía dưới chừng năm mét, qua một màn bụi lơ lửng và bóng tối, tôi nhìn thấy những gì còn lại của cái rương.

Nó đã vỡ nát

như một quả trứng khổng lồ, các mảnh vỡ của nó nằm lẫn lộn trong một đống đổ nát và ván sàn nát vụn.

Nằm rải rác khắp nơi là những

mảnh giấy nhỏ xíu.

Có vẻ như cuối cùng tôi đã tìm thấy một hộp đựng thư!

Nhưng sau đó, nheo mắt lại nhìn kỹ hơn, tôi có thể nhận ra

những đường nét trên đó những khuôn mặt, dáng người - và khi đó tôi nhận ra những mảnh giấy kia không phải là thư mà là những bức

ảnh.

Có đến hàng tá.

Tôi nóng bừng người lên vì phấn khích - rồi nhanh chóng lạnh toát người khi chợt nhận ra một điều kinh khủng.

Tôi cần phải đi xuống dưới đó.

***

Tầng hầm là một tổ hợp rối rắm nhiều căn phòng, thiếu ánh sáng đến mức tôi có mang băng bịt mắt thám hiểm chúng thì cũng chẳng

có gì khác biệt.

Tôi đi xuống các bậc thang kêu răng rắc và đứng dưới chân cầu thang một lúc, hy vọng đôi mắt mình cuối cùng sẽ điều

tiết được, nhưng bóng tối ở dưới này đen thui tới mức chẳng thể nào điều tiết nổi.

Tôi cũng hy vọng rồi mình sẽ quen được với mùi - một

thứ mùi khó ngửi hăng hăng kỳ lạ, giống như tủ đựng hóa chất trong một phòng dạy môn hóa - nhưng không tài nào quen nổi.

Vậy là tôi

lê bước đi tới, kéo cổ áo sơ mi lên che mũi, hai bàn tay chìa ra phía trước lần sờ, và hy vọng mọi sự sẽ ổn thỏa.

Tôi vấp chân suýt ngã.

Có thứ gì đó bằng thủy tinh trượt đi trên sàn.

Mùi có vẻ càng thêm khó chịu.

Tôi bắt đầu tưởng tượng ra

những thứ đang rình rập trong bóng tối phía trước mình.

Quên lũ quái vật và ma quỷ đi - sẽ thế nào nếu có một cái hố nữa dưới sàn?

Nguời ta sẽ chẳng bao giờ tìm ra xác tôi.

Thế rồi tôi chợt nhớ ra, trong một phút lóe sáng thiên tài nho nhỏ, là bằng cách bật màn hình chính của chiếc điện thoại di động vẫn

đút trong túi quần (bất chấp việc tôi đang ở cách xa trạm tiếp sóng gần nhất đến mười dặm), tôi có thể biến nó thành một cái đèn pin mờ

mờ.

Tôi giơ điện thoại lên, chĩa màn hình ra xa khỏi mình.

Quầng sáng hầu như không thể xuyên vào bóng tối, vậy là tôi chiếu nó xuống

sàn.

Toàn là những phiến đá lát nứt nẻ và phân chuột.

Tôi hướng quầng sáng sang bên; một tia phản chiếu yếu ớt lóe lên hất trở lại.

Tôi bước lại gần thêm một bước và đưa điện thoại lia xung quanh.

Từ trong bóng tối hiện lên một dãy những chiếc giá xếp từng hàng

bình thủy tinh.

Những chiếc bình có đủ loại hình dạng và kích thước, bên ngoài cáu bụi, bên trong đựng đầy thứ gì đó bèo nhèo lơ lửng

trong chất lỏng đục lờ lờ.

Tôi nghĩ tới khu nhà bếp và những cái bình đựng rau quả vỡ nát tôi đã tìm thấy ở đó.

Có thể nhiệt độ ở dưới

này ổn định hơn, và vì thế những cái bình ở đây vẫn giữ được.

Nhưng sau đó, tôi lại gần hơn và nhìn kỹ hơn, để rồi nhận ra trong những cái bình này không phải là rau quả, mà là nội tạng.

Óc.

Tim.

Phổi.

Mắt.

Tất cả đều được ngâm trong một thứ formaldehyd pha lấy, giải thích cho thứ mùi kinh khủng đó.

Tôi bịt mồm loạng choạng lao vào bóng tối rời xa khỏi chúng, vừa nôn ọe vừa cố kìm lại.

Đây là chỗ quái quỷ nào vậy?

Những cái bình đó là thứ rất có thể người ta sẽ

trông đợi tìm thấy dưới tầng hầm của một trường y có hành tung hắc ám nào đó, chứ không phải của một ngôi nhà toàn trẻ con.

Nếu

không vì tất cả những điều kỳ diệu ông nội Portman đã kể về nơi này, rất có thể tôi đã tự hỏi liệu có phải bà Peregrine đã cưu mang lũ trẻ

chỉ để lấy nội tạng của họ.

Khi đã ít nhiều bình tĩnh lại, tôi ngước lên và thấy một quầng sáng mờ khác phía trước mình - không phải ánh phản chiếu lại luồng

sáng từ điện thoại của tôi, mà là một tia sáng ban ngày yếu ớt.

Hẳn nó lọt xuống qua cái lỗ tôi tạo ra.

Tôi kiên quyết bước tới, hít thở qua

làn vải của cái áo sơ mi được kéo cao lên, đồng thời tránh xa khỏi các bức tường cũng như bất cứ nỗi kinh ngạc ghê tởm nào chúng có thể

chứa đựng.

Quầng sáng dẫn tôi đi vòng qua một góc quẹo, vào một căn phòng nhỏ có một phần mái đã đổ sập xuống.

Ánh sáng ban ngày chiếu

xuyên qua cái lỗ xuống một đống ván sàn vỡ nát và mảnh thủy tinh vỡ, từ đó cuộn lên đám bụi lơ lửng, những mảnh thảm rách nằm rải rác

đây đó như những miếng thịt khô.

Bên dưới đống đồ nát tôi có thể nghe thấy tiếng lạo xạo của những bàn chân tí hon, một cư dân gặm

nhấm sống trong bóng tối nào đó đã sống sót sau khi thế giới của nó bị đổ ập xuống.

Và nằm giữa đống tan hoang này là cái rương bị

phá hủy, những bức ảnh rải tung tóe xung quanh nó như hoa giấy.

Tôi cẩn thận lần tìm đường đi qua đống đổ nát, những mảnh gỗ nhọn hoắt nhô cao lên như những cây lao và những tấm ván chi chít

đinh gỉ.

Quỳ gối xuống, tôi bắt đầu cứu vãn những gì có thể từ đống tàn tích.

Tôi có cảm giác mình như một nhân viên cứu hộ, nhặt các

bức ảnh lên khỏi đống đổ nát, lau sạch đi mảnh thủy tinh và vụn gỗ.

Và cho dù một phần trong tôi muốn khẩn trương - chẳng thể nói

chắc được liệu phần còn lại của sàn tầng trệt có đổ sập xuống đầu tôi hay không và nếu có thì là khi nào - tôi vẫn không thể ngăn mình

xem xét chúng.

Thoạt nhìn, trông chúng giống như những bức ảnh ta có thể tìm thấy trong bất cứ cuốn album gia đình nào.

Có những bức ảnh chụp

những người vui vẻ nhảy nhót trên bãi biển, mỉm cười ngoài vòm cổng sau nhà, những phong cảnh khác nhau trên đảo, và rất nhiều trẻ

con, chụp một mình hay chụp đôi, những bức ảnh chụp phong cảnh trên đảo, những bức hình chụp thân mật hay những bức chân dung

chụp trước phông nền, người được chụp ôm khư khư những con búp bê có đôi mắt vô hồn, như thể họ đã tới hiệu ảnh Glamour ở một

trung tâm thương mại kinh khủng nào đó thế kỷ trước.

Nhưng điều khiến tôi thực sự rợn gáy không phải là những con búp bê bộ dạng

như zombie, cũng không phải là kiểu tóc kỳ quái của những đứa trẻ hay việc dường như những đứa trẻ trong ảnh không bao giờ mỉm

cười, mà là việc càng ngắm nhìn kỹ, tôi càng thấy những bức hình trở nên quen thuộc.

Tất cả đều có cái vẻ gì đó ghê rợn, giống những

bức ảnh cũ của ông nội tôi, nhất là những bức ảnh ông giấu kín dưới đáy cái hộp đựng xì gà của ông, cứ như thể tất cả chúng đều thuộc

cùng loạt ảnh.

Chẳng hạn, có một bức ảnh hai cô gái trẻ tạo dáng trước phông nền vẽ cảnh đại dương trông chẳng giống lắm.

Bản thân cái ảnh cũng

chẳng mấy lạ, điều kỳ dị là ở tư thế của hai người chụp.

Cả hai đều quay lưng lại ống kính.

Tại sao họ bỏ ra bấy nhiêu công sức và chi phí

để được chụp ảnh - vào thời đó chụp chân dung khá tốn tiền - để rồi lại quay lưng vào ống kính chứ.

Phần nào trong tôi trông đợi sẽ tìm

thấy trong đống đổ nát một bức ảnh nữa cũng chụp các cô gái này quay mặt vào ống kính, để lộ ra những hộp sọ đang nhăn nhở thay vì

các khuôn mặt.

Những bức ảnh khác dường như cũng bị chỉnh sửa theo cùng cách như một vài bức ảnh của ông nội tôi.

Một bức như thế chụp cô

gái đứng một mình trong một nghĩa địa nhìn xuống một hồ nước phản chiếu cảnh vật phía trên - nhưng trên mặt nước lại có bóng của hai

cô gái.

Nó làm tôi nhớ tới bức ảnh chụp cô gái bị nhốt trong chai của ông nội Portman, chỉ có điều thủ thuật phòng tối được sử dụng ở

đây, dù là gì đi nữa, trông không có vẻ gì là giả tạo.

Một bức ảnh khác chụp một cậu thiếu niên có vẻ bình thản đáng kinh ngạc trong khi

phần thân trên của cậu ta có vẻ đang bị ong bu đầy.

Cái đó cũng dễ làm giả thôi, phải không nào?

Như bức ảnh cậu bé đang nâng bổng

một vật chắc chắn là tảng đá làm từ thạch cao.

Đá giả, ong giả.

Tóc gáy tôi dựng cả lên khi tôi nhớ lại điều ông nội Portman đã nói về một cậu bé ông từng biết ở trại trẻ này - một cậu bé nuôi ong

trong người.

Mỗi lần cậu ta há miệng là vài con ong sẽ bay ra, ông đã kể như thế, nhưng chúng k hông bao giờ đốt trừ k hi Hugh muốn

chúng làm vậy.

Tôi chỉ có thể nghĩ tới một cách giải thích.

Nhưng bức ảnh của ông có nguồn gốc từ chính cái rương đang nằm tan nát trước mặt tôi.

Song tôi vẫn chưa chắc chắn về điều đó cho tới khi tìm thấy một bức ảnh kỳ quái: hai đứa trẻ đeo mặt nạ mặc áo cổ diềm xếp nếp, một cậu

dường như đang cho cậu kia ăn một dải ruy băng.

Tôi không biết chính xác hai nhân vật này có ngụ ý gì - ngoại trừ tạo cảm hứng cho

những cơn ác mộng; họ là ai, hai vũ công ba lê cùng bị chứng bạo dâm chắc?

- nhưng tôi chắc chắn một trăm phần trăm ông nội Portman

cũng có một bức ảnh chụp chính hai cậu bé này.

Tôi đã thấy bức ảnh đó trong cái hộp xì gà của ông chỉ mới vài tháng trước.

Không thể nào có chuyện trùng hợp ngẫu nhiên, cũng có nghĩa là những bức ảnh ông đã cho tôi xem - và thề với tôi là của những

đứa trẻ ông đã biết trong trại trẻ này - thực sự có nguồn gốc từ trại trẻ tôi đang đứng đây.

Nhưng phải chăng thế nghĩa là, bất chấp

những nghi ngờ tôi đã ấp ủ thậm chí từ khi còn là cậu nhóc tám tuổi, những bức ảnh kia đều là thật?

Thế còn những câu chuyện kỳ ảo đi

kèm với chúng thì sao đây?

Thật khó lòng tin rằng có bất kỳ chuyện nào trong đó là thật - thật theo đúng nghĩa đen.

Ấy thế nhưng đứng

đó giữa khung cảnh bụi bặm tranh tối tranh sáng của trại trẻ tịnh không bóng người nhưng đồng thời cũng có vẻ đầy những hồn ma lởn

vởn, tôi thầm nghĩ, biết đâu đấy...

Đột nhiên một tiếng đổ sập ầm ầm vọng lại từ đâu đó trong phần ngôi nhà phía trên đầu tôi, tôi liền giật bắn người tới mức tất cả các

bức ảnh tuột khỏi hai bàn tay.

Ngôi nhà đang lún sụt xuống, tôi tự nhủ hoặc đang đổ sụp xuống kìa!

Nhưng trong khi tôi cúi xuống nhặt các bức ảnh lên, tiếng đổ

sập ầm ầm lại vang lên, và trong nháy mắt chút ánh sáng yếu ớt chiếu xuống qua cái lỗ trên sàn tắt phụt, vậy là đột nhiên tôi ngồi chồm

hỗm trong bóng tối đen như mực.

Tôi nghe thấy tiếng bước chân, rồi những giọng nói.

Tôi dỏng tai lên cố lắng nghe xem chúng đang nói gì, nhưng không thể.

Tôi

không dám nhúc nhích, sợ rằng cử động nhỏ nhất cũng có thể gây ra một dòng thác những mảnh vỡ ầm ầm đổ xuống khắp xung quanh

mình.

Tôi biết nỗi sợ mình cảm thấy thật vô lý - hoàn toàn có thể chỉ là mấy cậu nhóc rapper ngớ ngẩn kia lại đang bày ra một trò chơi

khăm nữa - nhưng tim tôi đang đập như thể tôi chạy với tốc độ một trăm dặm trên giờ, và trực giác tinh nhạy của một con thú ẩn sâu trong

tôi ra lệnh cho tôi phải im lặng.

Hai chân tôi bắt đầu tê dại.

Khẽ khàng nhất có thể, tôi chuyển tì người từ chân này sang chân bên kia để máu lưu thông trở lại.

Có một

mảnh nhỏ xíu nào đó rời ra khỏi đống đổ nát và lăn đi, gây nên một tiếng động nghe thật to trong khung cảnh im lặng như tờ.

Những

giọng nói im bặt.

Thế rồi một tấm ván sàn kêu răng rắc ngay trên đầu tôi và một đám bụi vữa lả tả rơi xuống như một cơn mưa nhỏ.

Dù ai ở

trên đó, họ cũng biết chắc tôi đang ở đâu rồi.

Tôi nín thở.

Thế rồi tôi nghe thấy giọng một cô gái dịu dàng lên tiếng, "Abe?

Có phải anh đấy không?"

Tôi tưởng mình vừa mơ suốt.

Tôi chờ cô gái lên tiếng lần nữa, nhưng một lúc lâu sau chỉ có tiếng mưa rào rào đập xuống mái nhà, như

cả nghìn ngón tay đang gõ xa xa ở đâu đó.

Rồi một cây đèn bão vụt sáng lên trên đầu tôi, tôi ngửa cổ ngước lên thì thấy sáu đứa trẻ đang

quỳ gối quanh đường rìa nham nhở của lỗ vỡ trên sàn nhà, chăm chú nhìn xuống.

Không hiểu từ đâu, nhưng tôi nhận ra họ.

Khuôn mặt họ dường như tôi đã từng gặp trong một giấc mơ nửa nhớ nửa quên.

Tôi đã

thấy họ ở đâu rồi nhỉ - và làm thế nào họ lại biết tên ông nội tôi được?

Sau đó tất cả trở nên rõ ràng.

Trang phục của mấy đứa trẻ thật lạ, thậm chí cũng không giống người xứ Wales.

Những khuôn mặt nhợt

nhạt vắng bóng nụ cười của họ.

Các bức ảnh rải ra trước mặt tôi, chăm chăm ngước nhìn lên tôi trong khi mấy đứa trẻ chăm chăm nhìn

xuống.

Tôi đột nhiên hiểu ra.

Tôi đã trông thấy họ trong những bức ảnh đó.

Cô gái vừa lên tiếng lúc trước đứng lên để nhìn tôi được rõ hơn.

Trong hai bàn tay mình, cô gái giữ một quầng sáng chập chờn, không

phải là một cây đèn bão hay một ngọn nến, mà dường như giống một quả cầu lửa, không có chất đốt nào ngoài làn da trần của cô gái.

Tôi

đã thấy bức ảnh của cô chưa đầy năm phút trước đó, và trong ảnh cô trông rất giống lúc này, thậm chí vẫn đang ấp ủ cùng thứ quầng lửa

lạ lùng đó giữa hai bàn tay mình.

Tôi là Jacob, tôi muốn nói lên thành tiếng.

Tôi đã tìm các bạn.

Nhưng quai hàm tôi đã trở nên cứng đờ, và tất cả những gì tôi có thể

làm là mở to mắt nhìn trân trối.

Cô gái tỏ vẻ khó chịu.

Tôi trông quả là thảm hại, ướt sũng nước mưa, cả người phủ đầy bụi và đang ngồi xổm giữa một đống đổ nát.

Cho dù cô gái và những đứa trẻ khác đã trông đợi tìm thấy cái gì phía dưới cái hố trên nền nhà này, thứ đó cũng không phải là tôi.

Đám trẻ rì rầm trao đổi gì đó, đoạn đứng dậy rồi nhanh chóng tản ra.

Sự di chuyển đột ngột của họ làm tôi bừng tỉnh, lấy lại được

giọng nói của mình và hét lớn lên bảo họ đợi đã, nhưng họ đã chạy rầm rập trên ván lát sàn, lao về phía cửa ra vào.

Tôi lần mò vượt qua

đống đổ nát và loạng choạng mò mẫm đi trong tầng hầm sặc mùi khó ngửi về phía cầu thang.

Nhưng khi tôi lên trở lại được tầng trệt, nơi

phần ánh sáng ban ngày bị họ đánh cắp đã bằng cách nào đó quay trở lại, mấy đứa trẻ kia đã biến mất khỏi ngôi nhà.

Tôi lao vụt ra ngoài, hối hả chạy xuống những bậc thềm xây bằng gạch xập xệ, ra tới bãi cỏ, vừa chạy vừa hét to "Đợi đã!

Dừng lại!"

Nhưng họ đã biến mất: Tôi đưa mắt nhìn khắp sân, trong khoảng rừng, vừa thở hổn hển vừa thầm rủa chính mình.

Có cái gì đó gãy răng rắc đằng sau vạt cây.

Tôi quay ngoắt lại nhìn và thoáng trông thấy đằng sau những cành cây đan nhau chằng

chịt có cái gì đó thấp thoáng động đậy - đường gấu của một chiếc váy trắng.

Chính là cô gái đó.

Tôi lao vào vạt rừng, gắng hết sức chạy

đuổi theo.

Cô gái cũng chạy đi theo lối mòn.

Tôi vượt qua những thân cây đổ, cúi người xuống tránh những cành cây sà thấp, đuổi theo cô gái cho đến khi hai buồng phổi như

bốc cháy.

Cô gái vẫn cố gắng cắt đuôi tôi, rời lối mòn rẽ vào khu rừng không hề có đường đi rồi trở lại lối mòn.

Cuối cùng, khu rừng cũng

nằm lại đằng sau, và hai chúng tôi chạy vào khu đầm lầy trống trải.

Tôi nhận ra cơ hội của mình.

Giờ thì cô gái không còn nơi nào để trốn

- muốn bắt kịp cô tôi chỉ cần thắng về tốc độ và trong tình hình tôi thì đi giày thể thao, mặc quần jean, còn cô gái mặc váy, thắng thua coi

như đã rõ.

Tuy vậy, ngay khi tôi bắt đầu thu hẹp khoảng cách, cô gái đột ngột rẽ ngoặt và lao thẳng vào đầm lầy.

Tôi chẳng còn lựa chọn

nào khác ngoài lao theo.

Không thể chạy được nữa.

Địa hình ở đây rất bất trắc: mặt bùn không ngừng lún xuống, bẫy tôi vào những hố bùn sâu đến đầu gối

làm quần tôi ướt sũng và bám chặt vào hai chân tôi.

Thế nhưng cô gái dường như lại biết chính xác cần đặt chân vào đâu, và cô bứt lên

ngày một cách xa, rồi cuối cùng biến mất vào trong màn sương mù làm tôi chỉ còn biết bám theo dấu chân của cô.

Sau khi bị cô gái cắt đuôi, tôi vẫn tiếp tục hy vọng dấu chân của cô sẽ hướng trở lại lối mòn, nhưng chúng lại chạy mỗi lúc một sâu

hơn vào đầm lầy.

Thế rồi màn sương mù khép lại sau lưng tôi, khiến tôi không thể thấy được lối mòn nữa, và tôi bắt đầu tự hỏi liệu mình

có thể tìm được đường ra hay không.

Tôi cố gọi cô gái - Tên tôi là Jacob Portman!

Rồi là cháu nội của ông Abe!

Tôi sẽ k hông làm hại

bạn đâu!

- nhưng dường như sương mù và bùn lầy đã nuốt chửng giọng nói của tôi.

[15]

Dấu chân của cô gái dẫn tới một đống đá.

Trông đống đá giống một lều băng lớn màu xám, nhưng đó là một mộ đá

- một trong

những ngôi mộ xếp từ đá nguyên khối mà Cairnholm được đặt tên theo.

Mộ đá này cao hơn tôi một chút, dài và hẹp, có khoảng mở hình chữ nhật ở một đầu, trông như một cánh cửa, và ngôi mộ đá nhô lên

khỏi bùn lầy giữa một bụi cỏ.

Lội ra khỏi bãi lầy lên khoảng đất tương đối rắn chắc bao quanh nó, tôi nhận ra lối vào là một đường hầm

chạy sâu vào bên trong.

Ở hai bên lối vào có khắc những hình vòng khép kín và hình xoáy ốc phức tạp, những ký tự tượng hình cổ xưa

mà theo thời gian đã không còn ai hiểu ý nghĩa của chúng nữa.

Cậu bé đầm lầy nằm ở đây, các ký tự đó viết vậy tôi thầm nghĩ.

Hay

nhiều khả năng là, Hãy từ bỏ hy vọng, hỡi tất cả những ai bước vào đây.

Nhưng tôi vẫn bước vào, vì dấu chân cô gái dẫn vào trong đó.

Ở bên trong, đường hầm của ngôi mộ đá rất hẹp, ẩm ướt và tối thui,

chật chội tới mức tôi chỉ có thể tiến lên trong tư thế cúi khom lưng xuống đi lòng khòng như cua bò.

Thật may, không gian khép kín không

thuộc vào danh sách vô số thứ làm tôi sợ hết hồn hết vía.

Hình dung ra cô gái đang sợ hãi run rẩy ở đâu đó phía trước, tôi vừa tiến lên vừa nói chuyện với cô, cố hết sức trấn an cô là tôi không

hề có ý xấu.

Những lời tôi nói vọng trở lại chỗ tôi nghe méo mó.

Đúng lúc hai đùi tôi bắt đầu đau nhức vì tư thế kỳ cục tôi buộc phải làm,

đường hầm mở rộng ra thành một gian phòng, tối om nhưng đủ rộng để tôi có thể đứng thẳng, duỗi thẳng hai cánh tay sang hai bên mà

không chạm vào tường.

Tôi lấy điện thoại ra và một lần nữa dùng nó làm đèn pin bất đắc dĩ.

Chẳng mất mấy thời gian để xác định được kích thước chỗ này.



chỉ là một căn phòng tường đá rộng cỡ phòng ngủ của tôi - và hoàn toàn trống trải.

Chẳng có cô gái nào ở đây cả.

Tôi đang đứng đó, cố hình dung ra bằng cách quái quỷ nào cô gái đã trốn thoát thì chợt một điều làm tôi bừng tỉnh - một điều hiển

nhiên tới mức tôi cảm thấy mình thật ngốc vì mất nhiều thời gian đến thế mới nhận ra.

Không hề có cô gái nào cả.

Tôi đã tưởng tượng ra

cô gái, và cả những đứa trẻ còn lại nữa.

Bộ óc tôi đã hình dung ra họ ngay khi tôi nhìn vào những bức ảnh của họ.

Thế còn bóng tối đột

ngột, lạ lùng đã ập xuống trước khi mấy đứa trẻ xuất hiện thì sao?

Một thoáng mất ý thức.

Dù thế nào đi nữa, điều đó không thể là thật, những đứa trẻ này đều đã chết lâu lắm rồi.

Cho dù họ chưa chết, cũng thật ngớ ngẩn nếu

tin họ vẫn trông giống hệt như trước đây, khi chụp những bức ảnh đó.

Thế nhưng mọi thứ đã xảy ra nhanh tới mức tôi chưa lúc nào có cơ

hội dừng lại ngẫm nghĩ xem liệu có phải mình đang đuổi theo một ảo ảnh hay không.

Tôi thậm chí đã có thể đoán trước lời giải thích của bác sĩ Golan: Ngôi nhà đó là một nơi chứa đựng nhiều cảm xúc với cậu đến mức,

chỉ cần có mặt bên trong nó là đủ để cậu bị rối loạn stress.

Phải, ông ta là một gã ngốc luôn lải nhải mớ lý luận tâm lý học.

Nhưng điều

đó không có nghĩa là ông ta sai.

Tôi quay lại, cảm thấy thật ê mặt.

Thay vì cúi khom người đi lòng khòng như cua, tôi rũ bỏ hết chút tự tôn cuối cùng của mình và bò

hẳn trên hai bàn tay và hai đầu gối về phía ánh sáng mờ mờ hắt vào từ miệng đường hầm.

Ngẩng đầu nhìn lên, tôi nhận ra mình đã trông thấy cảnh này trước đây: trong một bức ảnh tại bảo tàng của ông Martin, chụp nơi

người ta tìm thấy cậu bé đầm lầy.

Chẳng hiểu sao người ta từng có lúc tin cái đầm lầy sặc mùi xú uế này là một cánh cổng dẫn tới thiên

đường - và tin tưởng một cách chắc chắn đến mức một cậu bé trạc tuổi tôi đã sẵn sàng từ bỏ mạng sống để tới đó.

Thật là một sự phí

phạm ngu ngốc, đáng buồn.

Rồi tôi cảm thấy chắc chắn mình muốn về nhà.

Tôi không quan tâm tới những bức ảnh dưới tầng hầm, và tôi đã ớn đến tận cổ những

điều kỳ lạ, những bí ẩn và những lời trăng trối rồi.

Việc chạy theo nỗi ám ảnh của ông nội với chúng chỉ khiến tinh thần tôi xuống dốc

thêm chứ chẳng hề khá hơn.

Đã đến lúc mặc kệ chúng.

Tôi chui ra khỏi đường hầm chật chội bên trong ngôi mộ đá, bước chân ra ngoài chỉ để rồi lại bị ánh sáng làm chói mắt.

Đưa tay lên

che, tôi nheo mắt nhìn qua kẽ ngón tay vào một thế giới tôi hầu như không thể nhận ra nổi.

Vẫn là khu đầm lầy, vẫn là lối mòn, vẫn là mọi

thứ hệt như trước, nhưng lần đầu tiên kể từ khi tôi tới đây, cảnh vật chìm ngập trong ánh mặt trời vàng óng tươi vui, bầu trời xanh ngắt,

không còn vết tích của màn sương mù đặc quánh mà với tôi đã trở thành thứ đặc trưng cho phần này của hòn đảo.

Không khí cũng oi

nồng, giống những ngày hè nóng bức nhất hơn là những ngày đầu hè hiu hiu gió.

Chúa ơi, ở đây thời tiết thay đổi chóng cả mặt, tôi

thầm nghĩ.

Tôi bì bõm lội trở lại chỗ đường mòn, cố lờ đi cảm giác sởn gai ốc khi bùn sình chui vào tất, và quay trở lại thị trấn.

Thật lạ, lối mòn

không còn lầy lội nữa - cứ như thể nó đã khô cong chỉ trong vài phút - nhưng nó đã bị ném bom rải thảm bởi vô số bãi phân động vật to

cỡ quả bưởi, đến mức tôi không thể cứ thế đi thẳng.

Làm sao lúc trước tôi lại không để ý tới chuyện này nhỉ?

Chẳng lẽ tôi đã chìm vào

một cơn hoang tưởng suốt cả buổi sáng sao?

Liệu có phải lúc này tôi đang ở trong tình trạng đó không?

Tôi không ngước mắt lên khỏi lối mòn rải đầy những bãi phân động vật trải dài trước mắt mình cho tới khi vượt qua ngọn đồi và trên

đường quay lại thị trấn, tôi nhận ra tất cả đống chất thải vừa rồi từ đâu ra.

Sáng nay một đội quân máy kéo đã dồn dập lăn bánh trên các

con đường rải sỏi, kéo theo những xe hàng chở đầy cá và gạch than bùn tấp nập lên xuống từ phía bến cảng, rồi giờ đây những xe hàng

đó lại được ngựa và la kéo.

Tiếng móng sắt khua lộc cộc đã thay thế tiếng gầm của động cơ.

Cả tiếng rù rù thường trực của những chiếc máy phát điện chạy dầu diesel cũng vắng bặt.

Không lẽ cả hòn đảo đã sạch nhẵn nhiên

liệu chỉ trong vài giờ tôi vắng mặt ư?

Mà cư dân thị trấn lúc trước đã giấu tất cả lũ vật thô lớn xác này ở đâu chứ?

Thêm nữa, tại sao mọi người ai cũng nhìn tôi vậy?

Tất cả những người tôi đi ngang qua đều nhìn tôi chằm chằm với đôi mắt mở to hết

cỡ, dừng hết mọi thứ họ đang làm lại để ngoái cổ dõi theo khi tôi đi bộ qua.

Tôi nghĩ bụng chắc mình trông nhếch nhác lắm, đoạn nhìn

xuống thì thấy từ hông trở xuống bê bết bùn còn từ hông trở lên thì toàn vôi vữa, vậy là tôi cúi gằm mặt xuống và bước đi nhanh hết mức

có thể về phía quán rượu, ở đó ít nhất chẳng ai biết tôi là ai, tôi có thể trốn trong cảnh tranh tối tranh sáng cho tới khi bố quay về ăn trưa.

Tôi quyết định là khi bố về, tôi sẽ nói thẳng với bố rằng tôi muốn về nhà ngay khi có thể.

Nếu ông do dự, tôi sẽ thừa nhận mình đã bị ảo

giác, và chắc chắn hai bố con tôi sẽ có mặt trên chuyến phà tiếp theo.

Ở bên trong Priest Hole vẫn là tập hợp quen thuộc gồm những vị khách say sưa đang mọp người cúi xuống những vại bia sủi bọt và

những cái bàn mòn vẹt cùng nội thất bẩn thỉu tôi đã dần trở nên quen thuộc như ngôi nhà thứ hai của mình.

Nhưng khi bước về phía cầu

thang, tôi nghe thấy một giọng lạ hoắc gắt lên, "Mày nghĩ mày đang đi đâu vậy hả?"

Tôi quay lại, một chân đang đặt lên bậc cầu thang thấp nhất, và thấy người phục vụ quầy nhìn tôi từ đầu đến chân.

Chỉ có điều đó

không phải là Kev, mà là một người bộ dạng bướng bỉnh cau có mà tôi không nhận ra.

Ông ta đeo tạp dề của người phục vụ quầy, sở hữu

đôi lông mày chổi sể chạy dính vào nhau thành một dải liền và một hàng ria rậm dài như sâu bướm khiến cho khuôn mặt ông ta trông như

kẻ sọc.

Tôi có thể nói, Cháu lên lầu xếp va li, và nếu bố cháu vẫn k hông chịu đưa cháu về nhà, cháu sẽ giả bộ lên cơn, nhưng thay vì thế

tôi trả lời, "Cháu lên phòng thôi", một câu trả lời được đưa ra với giọng điệu giống một câu hỏi hơn là trình bày ý định.

"Thế à?" người đàn ông nói, dận mạnh cái cốc ông ta vừa rót đầy xuống.

"Với mày nơi này trông có vẻ giống khách sạn lắm à?"

Tiếng ván gỗ kêu răng rắc vang lên khi chư vị khách khứa quay người trên ghế của họ để nhìn về phía tôi.

Tôi nhanh chóng nhìn lướt

qua mặt họ.

Không ai trong số đó tôi quen mặt.

Tôi thầm nghĩ, Hẳn mình đang rơi vào một cơn hoang tưởng.

Ngay lúc này đây.

Một con hoang tưởng là thế này đây.

Chỉ có điều

nó có vẻ chẳng giống gì cả.

Tôi không hề thấy những tia chớp hay đổ mồ hôi đầy lòng bàn tay.

Có vẻ như thế giới đang phát điên thì

đúng hơn, chứ không phải tôi.

Tôi nói với người phục vụ quầy là hiển nhiên đã có nhầm lẫn nào đó.

"Bố cháu và cháu thuê phòng ở trên lầu", tôi nói.

"Bác xem này,

cháu có chìa khóa đây", rồi tôi lấy chìa khóa trong túi quần ra làm bằng chứng.

"Để tao xem nào", người đàn ông nói, nhô người qua quầy giật cái chìa khỏi bàn tay tôi.

Ông ta giơ nó lên ánh sáng lờ mờ, ngắm

nghía nó như một người thợ làm đồ trang sức.

"Đây không phải là chìa khóa của chúng tao", ông ta gằn giọng, rồi bỏ tọt cái chìa vào túi

mình.

"Giờ hãy nói cho tao xem mày thực sự muốn gì trên đó, và lần này đừng có nói láo!"

Tôi cảm thấy mặt mình nóng lên.

Chưa từng có ai không phải bà con thân thích gì mà lại gọi tôi là kẻ dối trá.

"Cháu đã nói với bác rồi.

Bố con cháu thuê mấy căn phòng đó!

Không tin, bác hỏi Kev mà xem!"

"Tao chẳng biết Kev nào hết, và tao không thích bị xỏ mũi", ông ta thản nhiên nói.

"Ở đây chẳng có phòng nào cho thuê cả, và người

duy nhất sống trên lầu là tao!"

Tôi đưa mắt nhìn quanh, trông đợi ai đó nở một nụ cười để cho tôi biết đây là một trò đùa.

Nhưng khuôn mặt của đám khách nhậu vẫn

như tạc bằng đá.

"Anh chàng này là người Mỹ", một người mang bộ râu rậm rì nhận xét.

"Chắc là quân nhân."

"Đồ ngu", một người khác hầm hừ.

"Nhìn thằng nhóc mà xem.

Nó còn búng ra sữa!"

"Nhưng nhìn cái áo khoác của nó xem", người đàn ông rậm râu vừa nói vừa giật tay áo khoác của tôi.

"Mày còn lâu mới tìm thấy nổi

thứ này ở cửa hàng.

Chắc chắn phải là đồ của quân đội."

"Nghe này", tôi nói, "cháu không ở trong quân đội, và cháu không định lừa ai hết, cháu thề đấy!

Cháu chỉ muốn tìm bố cháu, lấy

hành lý của cháu, và..."

"Người Mỹ ư, quỷ bắt tôi đi!" một người béo phị gầm lên.

Ông ta nhấc thân hình đáng kể của mình dậy khỏi một cái ghế đẩu rồi đứng

chắn giữa tôi và cửa ra vào, nơi tôi đang từ từ lùi đến.

"Giọng thằng này tôi nghe ngứa tai lắm.

Tôi dám cược nó là một thằng gián điệp

của bọn Jerry!"

"Cháu không phải là gián điệp", tôi yếu ớt phản đối.

"Cháu chỉ lạc đường thôi."

"Tóm được rồi", ông ta vừa phá lên cười vừa nói.

"Tôi đề nghị chúng ta moi sự thật từ thằng này theo cách quen thuộc.

Bằng một sợi

thừng!"

Những giọng say nhèm rống lên tán thành.

Tôi không dám chắc họ đang nghiêm chỉnh hay chỉ đùa, nhưng tôi không hề có ý bám trụ

lại để tìm hiểu.

Một bản năng nguyên thủy lan đi trong bộ óc đang hỗn loạn vì lo lắng của tôi, thúc giục, Chạy.

Sẽ dễ hình dung có

chuyện quái quỷ nào đang xảy ra hơn nhiều nếu không có đám bợm rượu say mèm ngồi chật ních trong phòng đang đe dọa làm thịt tôi.

Tất nhiên, bỏ chạy sẽ chỉ làm họ thêm chắc chắn về tội trạng của tôi, nhưng tôi chẳng quan tâm.

Tôi cố gắng vòng qua ông béo.

Ông ta định tóm lấy tôi, nhưng một kẻ vừa chậm chạp vừa say xỉn không phải là đối thủ của một người vừa nhanh nhẹn vừa đang sợ

chết khiếp.

Tôi vờ nhào sang trái rồi lẹ làng lách sang phải vòng qua người ông ta.

Ông béo gầm lên giận dữ trong khi những gã bợm

nhậu còn lại nhấc người khỏi những chiếc ghế cạnh quầy để ùa vào tôi, song tôi đã lách thoát khỏi các ngón tay của họ, lao qua cửa ra

ngoài trời chiều nắng ấm.

***

Tôi lao xuống phố, đôi chân tôi giẫm những tảng đất dính cỏ xuống nền sỏi, những giọng nói giận dữ dần dần lặng hẳn sau lưng tôi.

Đến góc đường đầu tiên, tôi quay ngoắt người rẽ vào để thoát khỏi tầm mắt của họ, băng qua một khoảng sân đầy bùn, trong khi lũ gà

vừa nhảy tránh khỏi đường tôi đi vừa kêu lên quàng quạc, rồi kế đến là một khu đất trống, một hàng các bà các cô đang đứng đó chờ bơm

nước từ một cái giếng cũ lên, họ quay đầu sang nhìn khi tôi chạy vụt qua.

Một ý nghĩ tôi không còn thời gian để nghiền ngẫm kỹ lưỡng

chợt lướt qua trong đầu - Ơ hay, Người Phụ Nữ Đợi Chờ biến đi đâu rồi nhỉ?

- nhưng rồi tôi bắt gặp một bức tường thấp và phải tập

trung vào việc leo qua nó - đặt tay lên, nhấc chân, đu người qua.

Tôi đặt chân xuống một con đường nhộn nhịp và thiếu chút nữa bị một

chiếc xe ngựa chạy nhanh cán phải.

Tay xà ích hét lên gì đó khá xúc phạm về mẹ tôi trong khi hông con ngựa của lão ta lướt qua sát sạt

ngực tôi, để lại những dấu móng ngựa và vệt bánh xe chỉ cách các đầu ngón chân tôi có vài phân.

Tôi không hiểu nổi chuyện gì đang xảy ra.

Tôi chỉ biết có hai điều: rất có thể tôi đang ở trong tình trạng bị mất trí, và tôi cần tránh xa

khỏi những người khác cho tới khi tìm hiểu được xem tôi có bị vậy thật không.

Vì mục đích đó, tôi hối hả chạy vụt vào một con hẻm nằm

sau hai dãy nhà, ở đó có vẻ có nhiều chỗ ẩn nấp, rồi tìm ra rìa thị trấn.

Tôi giảm tốc lại thành rảo bước, hy vọng một cậu nhóc người Mỹ

bê bết bùn đất, áo quần bẩn thỉu nhưng chỉ đang bước đi sẽ thu hút ít sự chú ý hơn so với một anh chàng cuống cuồng chạy.

Cố gắng xử sự cho có vẻ bình thường của tôi thật chẳng dễ gì, vì mỗi âm thanh nhỏ nhất hay chuyển động mơ hồ nhất cũng làm tôi

nhảy dựng lên.

Tôi gật đầu và vẫy tay chào một phụ nữ đang phơi đồ, nhưng giống như mọi người, bà ta chỉ tròn mắt nhìn tôi.

Tôi liền

rảo bước nhanh hơn.

Chợt nghe thấy một tiếng động lạ lùng sau lưng, tôi vội vàng chui vào trong một nhà xí.

Trong lúc tôi đợi trong đó, nấp sau cánh cửa

khép hờ, đôi mắt tôi liếc nhìn qua những bức tường bị vạch lên chi chít.

Dooley là một thằng chọc hậu thích giai.

[16]

Ái chà, k hông có đường à?

Cuối cùng, một con chó đi ngang qua, bám theo sau là một lứa chó con đang ăng ẳng.

Tôi thở phào và bắt đầu thả lỏng người ra một

chút.

Trấn tĩnh lại, tôi quay trở ra con hẻm.

Có thứ gì đó túm lấy tóc tôi.

Tôi còn chưa kịp hét lên, một bàn tay đã vụt xuất hiện từ đằng sau, gí một vật sắc vào cổ họng tôi.

"Mày mà hét lên là tao cắt cổ", một giọng nói cất lên.

Kề sát lưỡi dao vào cổ tôi, kẻ tấn công đẩy tôi ép người vào tường nhà xí rồi bước vòng ra để đối mặt với tôi.

Tôi kinh ngạc tột độ khi

thấy đó không phải là một trong những người đàn ông trong quán rượu.

Mà là cô gái.

Cô gái mặc một chiếc váy trắng giản dị với vẻ mặt

cứng rắn, khuôn mặt cô đẹp đến mức đáng kinh ngạc, cho dù cô có vẻ đang nghiêm túc nghĩ tới chuyện rạch khí quản của tôi.

"Mày là ai?" cô gái rít lên.

"Người...

ờ... tôi là người Mỹ", tôi lắp bắp, không chắc lắm cô gái muốn hỏi gì.

"Tôi là Jacob."

Cô gái gí con dao sát hơn vào cổ tôi, bàn tay cô run rẩy.

Cô đang sợ - cũng có nghĩa là cô rất nguy hiểm.

"Mày đang làm gì trong ngôi

nhà?" cô hỏi.

"Tại sao mày lại đuổi theo tao?"

"Tôi chỉ muốn nói chuyện với bạn thôi!

Đừng giết tôi!"

Cô gái quắc mắt nhìn tôi gườm gườm.

"Nói với tao?"

"Về trại trẻ, về những người từng sống ở đó."

"Ai cử mày tới đây?"

"Ông nội tôi.

Tên ông là Abraham Portman."

Miệng cô gái há hốc.

"Dối trá!" cô hét lên, mắt tóe lửa.

"Mày nghĩ tao không biết mày là ai hả?

Tao không phải vừa mới ra đời hôm

qua!

Mở mắt ra, để tao nhìn mắt mày xem nào!"

"Tôi mở đây!

Mắt đây!"

Tôi mở hai mắt ra to hết mức có thể.

Cô gái đứng kiễng chân lên nhìn chằm chằm vào chúng, rồi giậm chân và

hét lên, "Không, đôi mắt thật của mày cơ!

Đôi mắt giả này không lừa được tao đâu, cả lời nói dối lố bịch của mày về Abe cũng thế!"

"Đó không phải là lời dối trá - và đây là đôi mắt của tôi!"

Cô gái gí dao vào cổ tôi mạnh đến mức tôi cảm thấy khó thở.

Tôi lấy làm

mừng vì lưỡi dao khá cùn, nếu không chắc hẳn cô gái đã cứa được cổ tôi rồi.

"Nghe này, tôi không phải là thứ bạn nghĩ đâu, dù nó có là gì

đi nữa", tôi rền rĩ.

"Để tôi chứng minh cho mà xem!"

Bàn tay cô gái hơi nới ra một chút.

"Vậy hãy chứng minh điều đó đi, nếu không tao sẽ tưới cỏ bằng máu của mày!"

"Tôi có một thứ ở ngay đây."

Tôi thò tay vào trong áo khoác.

Cô gái bật lùi lại, hét lên bảo tôi dừng lại, đồng thời giơ lưỡi dao lên làm nó cứ run run trong không trung ngay giữa hai mắt tôi.

"Chỉ là một lá thư thôi!

Bình tĩnh lại nào!"

Cô gái hạ lưỡi dao trở lại xuống cổ tôi, còn tôi từ từ lấy lá thư và bức ảnh của bà Peregrine từ trong túi áo khoác ra, giơ lên để cô thấy.

"Lá thư là một phần lý do khiến tôi tới đây.

Ông nội tôi đã đưa nó cho tôi.

Nó được Chim gửi tới.

Các bạn gọi cô phụ trách của mình như

thế, đúng không nào?"

"Điều đó chẳng chứng tỏ gì hết!" cô gái nói, mặc dù gần như chẳng buồn xem qua lá thư.

"Làm cách nào mày biết nhiều đến vậy về

chúng tao hả?"

"Tôi nói với bạn rồi, ông nội tôi..."

Cô gái giật lá thư khỏi tay tôi.

"Tao không muốn nghe lời nào về chuyện vớ vẩn đó nữa!"

Có vẻ tôi đã làm cô nổi cáu.

Cô im lặng một

lát, khuôn mặt cau lại thất vọng, như thể đang cân nhắc xem tốt nhất nên xử trí cái xác của tôi thế nào sau khi cô đã thực hiện những lời đe

dọa của mình.

Tuy vậy, trước khi cô gái kịp quyết định, những tiếng hò hét đã vang lên ầm ĩ từ đầu kia con hẻm.

Chúng tôi quay lại thì

thấy đám người từ quán rượu đang chạy về phía mình, được vũ trang bằng gậy gỗ và các nông cụ.

"Gì thế này?

Mày đã làm gì?"

"Bạn không phải là người duy nhất muốn giết tôi!"

Cô gái thu con dao khỏi cổ tôi, thay vào đó kề nó vào sườn tôi, rồi túm lấy cổ áo tôi.

"Giờ mày là tù binh của tao.

Làm chính xác như

tao bảo, nếu không mày sẽ phải hối tiếc!"

Tôi không đôi co gì.

Tôi không biết liệu rơi vào tay cô gái thất thường này thì cơ hội của mình có khá hơn chút nào so với việc rơi vào

tay đám bợm nhậu say khướt miệng dớt dãi ròng ròng đang vung vẩy gậy gọc kia không, song ít nhất với cô, tôi đoán mình còn có chút

hy vọng thu được vài câu trả lời.

Cô gái xô tôi một cái, vậy là chúng tôi bắt đầu chạy xuống một đường hẻm gần kề.

Được nửa đường về phía cuối hẻm, cô gái dạt vào

một bên đường và lôi tôi theo sau, cả hai chúng tôi chui qua dưới một dãy ga trải giường đang phơi trên dây và nhảy qua một hàng rào

mắt cáo vào trong sân một ngôi nhà nhỏ.

"Vào đây", cô gái thì thào, rồi sau khi nhìn quanh để đảm bảo chúng tôi không bị trông thấy, cô đẩy tôi qua một cánh cửa vào trong

một căn nhà chật chội sặc mùi khói than bùn.

Không có ai bên trong ngoài một con chó già đang ngủ trên xô pha.

Nó mở một mắt ra nhìn chúng tôi, không mấy để ý tới những gì

trông thấy, rồi lại ngủ tiếp.

Chúng tôi lao tới một ô cửa sổ nhìn ra ngoài đường và nép sát người vào bức tường cạnh ô cửa.

Chúng tôi

đứng đó nghe ngóng, cô gái cẩn thận dùng một bàn tay giữ lấy cánh tay tôi và kề con dao vào sườn tôi.

Một phút trôi qua.

Giọng nói của những gã đàn ông có vẻ tắt dần rồi lại vọng tới; thật khó mà biết họ đang ở đâu.

Tôi đưa mắt nhìn

quanh căn phòng nhỏ.

Có vẻ quá sơ sài, ngay cả với Cairnholm.

Trong góc là một chồng giỏ đan tay xếp ngả nghiêng.

Một cái ghế bọc

vải bố được kê trước một khung kiềng bếp đun than đá lớn rèn bằng sắt.

Trên bức tường đối diện với chúng tôi treo một quyển lịch, và

cho dù trong phòng quá tối để nhìn thấy rõ nó từ nơi đang đứng, chỉ nhìn qua quyển lịch tôi cũng lóe lên một ý nghĩ kỳ lạ.

"Bây giờ là năm nào?"

Cô gái bảo tôi im miệng lại.

"Tôi nghiêm chỉnh đấy", tôi thì thầm.

Cô gái nhìn tôi trong giây lát, lấy làm quái gở.

"Tao không biết mày đang định giở trò gì, nhưng tự tới đó mà xem đi", cô vừa nói vừa

đẩy tôi về phía quyển lịch.

Nửa trên là một bức ảnh đen trắng chụp cảnh vùng nhiệt đới, những cô gái được chụp cả người, tóc để mái bằng, mặc đồ tắm trong có

vẻ xưa rích đang mỉm cười trên bãi biển.

In trên khung thứ ngày là "Tháng Chín 1940".

Ngày thứ nhất và thứ hai của tháng đã bị gạch đi.

Một cảm giác tê dại đờ đẫn lan khắp người tôi.

Tôi ngẫm lại tất cả những chuyện lạ lùng đã chứng kiến sáng hôm đó: sự thay đổi kỳ lạ

và đột ngột của thời tiết, rồi hòn đảo tôi cứ nghĩ đã biết rõ giờ đây đầy ắp những người lạ hoắc; rồi chuyện tất cả mọi thứ xung quanh tôi

trông kiểu dáng đều có vẻ cũ kỹ nhưng bản thân chúng thì lại mới toanh.

Quyển lịch trên tường có thể giải thích tất cả.

Mồng ba tháng Chín năm 1940.

Nhưng làm sao có thể chứ?

Thế rồi lời trăng trối của ông trở lại với tôi.

Ở phía bên k ia ngôi mộ của ông lão.

Đó là một điều tôi chưa bao giờ lý giải nổi.

Từng có

lúc tôi tự hỏi liệu có phải ông muốn nói về những bóng ma - vì tất cả những đứa trẻ ông biết ở đây đều đã chết, tôi sẽ phải tới bên kia nấm

mộ để tìm họ - nhưng cách lý giải đó quá thi vị.

Ông tôi là người bộc trực, không phải loại người thích bóng gió ám chỉ.

Ông đã cung cấp

cho tôi những chỉ dẫn trực tiếp nhưng chỉ đơn giản là không có thời gian để giải thích: tôi hiểu ra "Ông Lão" chính là cách cư dân địa

phương gọi cậu thiếu niên trong đầm lầy, và ngôi mộ đá chính là mộ của ông ta.

Và sáng nay tôi đã chui vào trong đó để rồi chui ra ở một

thời điểm khác: mồng ba tháng Chín năm 1940.

Trong lúc tất cả những điều này diễn ra trong đầu tôi thì căn phòng cũng lộn nhào, hai đầu gối tôi mềm nhũn ra khuỵu xuống, cùng

với nó, mọi thứ nhòa đi thành một tấm màn đen kịt chập chờn.

***

Tôi tỉnh dậy trên sàn nhà, hai tay bị trói vào bộ kiềng bếp.

Cô gái đang bồn chồn đi đi lại lại và có vẻ đang trò chuyện rất sôi nổi với

chính mình.

Tôi giữ cho mắt mình khép hờ và lắng nghe.

"Nó chắc là một xác sống", cô gái đang nói.

"Nếu không tại sao nó lại rình mò quanh trại trẻ cũ như một tên trộm thế?"

"Tớ không rõ nữa", ai đó lên tiếng, "nhưng có vẻ cậu ta cũng không."

Vậy là tóm lại không phải cô gái đang nói chuyện một mình -

cho dù từ chỗ đang nằm, tôi không thể thấy cậu thiếu niên vừa lên tiếng.

"Cậu nói là cậu ta thậm chí còn không nhận ra mình đang ở

trong một vòng?"

"Tự kiểm tra xem", cô gái vừa nói vừa ra hiệu về phía tôi.

"Cậu có thể hình dung ra người thân thích nào của Abe lại chẳng có chút

manh mối nào như thế không?"

"Cậu có thể hình dung ra một xác sống không?" cậu thiếu niên kia hỏi.

Tôi hơi nghiêng đầu đi, đưa mắt liếc quanh phòng, nhưng vẫn

không thấy cậu ta.

"Tớ có thể hình dung ra một xác sống đóng giả người", cô gái đáp.

Con chó, lúc này đã dậy, lon ton chạy tới và bắt đầu liếm mặt tôi.

Tôi nhắm nghiền mắt lại và cố tảng lờ, nhưng màn rửa mặt bằng lưỡi

nó dành cho tôi vừa nhơn nhớt nước bọt vừa nặng mùi đến mức cuối cùng tôi buộc phải ngồi dậy để cứu bản thân.

"À, nhìn xem ai dậy rồi kìa!" cô gái nói.

Cô vỗ tay, dành cho tôi một tràng hoan hô đầy mỉa mai.

"Lúc trước mày diễn một màn khá lắm.

Tao rất ấn tượng đoạn ngất xỉu.

Tao tin chắc sân khấu đã đánh mất một diễn viên tài ba khi thay vì làm nghệ sĩ mày lại lựa chọn làm sát

nhân và ăn thịt người."

Tôi mở miệng toan biện hộ cho sự vô tội của mình - rồi ngừng bặt khi thấy một cái cốc lơ lửng trong không khí trôi về phía mình.

"Uống ít nước đi", cậu thiếu niên nói.

"Hiện giờ không thể để cậu chết trước khi chúng tôi đưa cậu về chỗ cô phụ trách, phải không

nào?"

Giọng cậu ta có vẻ như vọng lại từ chân không.

Tôi đưa tay với lấy cái cốc, và khi ngón tay út của tôi chạm vào một bàn tay vô hình,

thiếu chút nữa tôi đánh rơi cái cốc.

"Anh chàng này hậu đậu quá", cậu thiếu niên nói.

"Cậu vô hình à", tôi gần như không thốt nên lời.

"Phải.

Millard Nullings, sẵn sàng phục vụ quý ông."

"Đừng cho nó biết tên cậu!" cô gái kêu lên.

"Còn đây là Emma", cậu thiếu niên tiếp tục.

"Cô ấy có hơi hoang tưởng một chút, tôi chắc cậu đã nhận ra điều đó."

Emma nhìn trừng trừng vào cậu ta - hay vào khoảng không gian tôi hình dung cậu ta đang chiếm chỗ - nhưng không nói gì.

Cái cốc

run rẩy trên tay tôi.

Tôi bắt đầu lắp bắp định giải thích cho mình lần nữa nhưng bị những giọng nói giận dữ vọng vào từ ngoài cửa sổ cắt

ngang.

"Im lặng!"

Emma khẽ rít lên.

Tiếng bước chân của Millard vang lên, tiến tới chỗ cửa sổ, và cửa chớp nhích ra một chút.

"Đang có chuyện gì vậy?"

Emma hỏi.

"Họ đang lục soát các ngôi nhà", cậu ta đáp.

"Chúng ta không thể ở đây lâu hơn nữa."

"À, chúng ta cũng không thể ra ngoài đó!"

"Tớ nghĩ là có thể đấy", Millard nói.

"Nhưng để chắc ăn, cho phép tớ tham khảo cuốn sách của tớ đã."

Cánh cửa chớp lại đóng kín,

và tôi thấy một cuốn sổ ghi chép nhỏ bìa da bay lên khỏi một cái bàn và mở ra giữa không trung.

Millard ậm ừ khe khẽ trong lúc lật trang.

Một phút sau, cậu ta gập cuốn sổ lại.

"Đúng như tớ nghi ngờ!" cậu ta nói.

"Chúng ta chỉ cần chờ khoảng một phút nữa là bước thẳng ra ngoài qua cửa trước được rồi."

"Cậu điên à?"

Emma hỏi.

"Chúng ta sẽ bị cả đám người vượn đần độn kia xúm vào ném gạch ngay!"

"Không đâu, nếu chúng ta ít đáng quan tâm hơn thứ sắp xảy ra", Millard trả lời.

"Tớ cam đoan với cậu, đây là cơ hội tốt nhất bọn

mình sẽ có trong nhiều giờ nữa."

Tôi được cởi trói khỏi bộ kiềng bếp và điệu ra cửa, chúng tôi nằm phục xuống đó chờ đợi.

Thế rồi một tiếng động vang lên bên ngoài,

còn ầm ĩ hơn cả tiếng đám đàn ông la hét: những động cơ.

Có đến hàng tá, nếu căn cứ vào âm thanh của chúng.

"Ồ!

Millard, sáng suốt thật!"

Emma reo lên.

Cậu thiếu niên khịt mũi.

"Cho nên cậu đừng nói những gì tớ học là tốn thời gian vô ích."

Emma đặt tay lên tay nắm cửa rồi quay lại tôi.

"Nắm lấy tay tao.

Đừng chạy.

Làm như thể chẳng có gì xảy ra hết."

Cô đã cất con dao đi

nhưng cam đoan với tôi là nếu tìm cách chạy trốn thì tôi sẽ lại được thấy nó - ngay trước khi cô dùng nó để giết tôi.

"Làm sao tôi biết được là cô sẽ không làm thế nếu tôi không trốn?"

Cô gái ngẫm nghĩ giây lát.

"Mày làm sao biết được."

Rồi sau đó đẩy mở cửa ra.

***

Con đường bên ngoài đông chật người, không chỉ đám khách trong quán rượu - tôi lập tức nhận ra đám này đang đứng ngay dưới chỗ

ngôi nhà bên cạnh - mà cả các chủ cửa hàng mặt mày cau có, đám phụ nữ và cánh xà ích đã bỏ ở việc đang làm đến đứng giữa đường

ngẩng mặt ngước lên trời.

Trên đó, không xa trên đỉnh đầu chúng tôi là một đội máy bay chiến đấu của Đức Quốc Xã đang gầm rú bay

qua thành đội hình hoàn hảo.

Tôi đã thấy những bức ảnh chụp những máy bay kiểu này tại bảo tàng của ông Martin, phần trưng bày có

tiêu đề "Cairnholm trong vòng vây".

Tôi nghĩ thật lạ kỳ biết bao khi thấy mình, vào một buổi chiều chẳng có gì đáng chú ý về mọi mặt

khác, lại đột nhiên ở dưới bóng những cỗ máy chết chóc của kẻ thù, những thứ có thể trút bão lửa xuống đầu mình bất cứ lúc nào.

Chúng tôi băng qua đường với vẻ bình thản nhất có thể, Emma túm chặt cứng lấy cánh tay tôi.

Chúng tôi suýt tới được con hẻm ở

bên kia đường thì bị người nào đó phát hiện ra.

Tôi nghe thấy một tiếng hét, cả hai chúng tôi quay đầu lại thì thấy đám đông bắt đầu lao

theo mình.

Chúng tôi chạy.

Con hẻm rất hẹp, nằm dọc hai bên là những chuồng gia súc.

Chúng tôi chạy hết nửa chiều dài con hẻm thì tôi

nghe thấy Millard nói, "Tớ sẽ nán lại và ngáng chân bọn họ!

Hãy đến gặp tớ đằng sau quán rượu sau đúng năm phút rưỡi nữa!"

Tiếng bước chân của cậu ta vang lên sau lưng chúng tôi và khi chúng tôi tới cuối con hẻm, Emma ngăn tôi lại.

Chúng tôi ngoái lại nhìn

và thấy một cuộn thừng tự trải ra lơ lửng, chạy vắt ngang qua mặt đường lát sỏi ở tầm cao ngang mắt cá chân.

Sợi dây được kéo căng ra

đúng lúc đám người đuổi theo chạy tới nơi, thế là bọn họ vấp phải nó và ngã nhào xuống bùn, thành một đống hỗn độn chân tay vung

vẩy quờ quạng.

Emma reo lên, và tôi gần như chắc chắn mình có thể nghe thấy Millard đang cười.

Chúng tôi chạy tiếp.

Tôi không biết vì sao Emma đồng ý gặp Millard tại Priest Hole, vì chỗ đó ở phía bến cảng chứ không gần phía

trại trẻ.

Nhưng vì tôi cũng không thể giải thích vì sao Millard biết chính xác lúc những chiếc máy bay đó sắp sửa bay qua, vậy nên tôi

không bỏ công hỏi.

Tôi thậm chí còn ngỡ ngàng hơn khi thấy mọi hy vọng chui được vào trong mà không bị nhận ra của chúng tôi đều bị

phá hỏng hết bởi thay vì lén vòng ra đằng sau, Emma lại đẩy tôi đi thẳng vào qua cửa trước.

Chẳng có ai trong quán ngoài người phục vụ quầy.

Tôi quay đi cố giấu mặt.

"Phục vụ quầy!"

Emma nói.

"Khi nào ở đây bắt đầu bán đồ uống đây?

Tôi khát chẳng kém gì một người cá mắc cạn rồi đây!"

Ông ta phá lên cười.

"Tôi không quen phục vụ các cô bé."

"Đừng bận tâm mấy chuyện đó!" cô gái la lên, đập mạnh bàn tay lên mặt quầy.

"Rót cho tôi bốn phần thứ whisky mạnh nhất nguyên

độ rượu chưa pha của ông.

Và đừng có vác thứ đồ rởm pha nước nhạt thếch kinh khủng ông vẫn hay mang ra phục vụ khách!"

Tôi bắt đầu có cảm giác cô gái chỉ muốn sinh sự - muốn đùa cợt, tôi có thể nói vậy - để cố vượt mặt Millard và trò chăng dây qua

đường của cậu ta.

Người phục vụ quầy bar nghiêng người qua quầy.

"Vậy là cô bé muốn thứ dữ phải không nào?"

ông ta vừa nói vừa cười nhăn nhở

thật phóng đãng.

"Có điều đừng để bố mẹ cô bé nghe được, nếu không tôi sẽ bị cả ông tu sĩ lẫn cảnh sát bám theo đấy."

Ông ta lấy ra

một cái chai đựng thứ gì đó sẫm màu trông có vẻ xấu xa rồi bắt đầu rót cho cô gái một cốc đầy.

"Thế còn anh bạn đây của cô bé thì sao

nhỉ?

Tôi đoán chắc là say tít như một anh chàng trợ tế rồi phải không?"

Tôi vờ chăm chú nhìn lò sưởi.

"Anh chàng có vẻ bẽn lẽn nhỉ?" người phục vụ quầy bar hỏi.

"Cậu ta từ đâu tới vậy?"

"Có thể nói là cậu ta tới từ tương lai", Emma nói.

"Tôi có thể nói cậu ta điên chẳng kém gì một bầy chồn bị nhốt trong lồng."

Một cái nhìn lạ lùng thoáng hiện qua trên mặt người phục vụ quầy bar.

"Cô bé nói anh chàng này làm sao cơ?"

ông ta hỏi.

Và rồi sau

đó hẳn ông ta đã nhận ra tôi, vì ông ta hét tướng lên, dằn mạnh chai whisky xuống quầy, bắt đầu lao bổ về phía tôi.

Tôi nhổm dậy để chạy, nhưng người phục vụ quầy bar còn chưa kịp lao ra từ sau quầy, Emma đã dốc ngược cốc rượu ông ta rót cho

cô, làm thứ chất lỏng màu nâu đổ tung tóe ra khắp quầy.

Rồi cô làm một điều thật đáng kinh ngạc.

Cô úp lòng bàn tay xuống ngay mặt quầy ướt sũng rượu, và chỉ nháy mắt sau một bức tường lửa cao gần nửa mét bùng lên.

Người phục vụ quầy bar rú lên rồi bắt đầu quật khăn của ông ta xuống để dập bức tường lửa.

"Đằng này, thằng tù kia!"

Emma gọi, rồi vừa túm lấy cánh tay tôi, cô vừa kéo tôi về phía lò sưởi.

"Giờ giúp tao một tay!

Thò tay vào

đây và nhấc lên!"

Cô gái quỳ gối xuống và thò tay vào một khe rãnh chạy dọc trên sàn.

Tôi cũng thò tay vào chỗ ngay cạnh tay cô rồi chúng tôi cùng

nhấc một cái nắp nhỏ dưới sàn lên để lộ ra một cái hố rộng bằng vai tôi: hố tu sĩ.

Trong lúc khói mù mịt tràn ngập căn phòng và người

phục vụ quầy bar đang vật lộn dập lửa, chúng tôi lần lượt tụt xuống hố và biến mất.

Cái hố tu sĩ này kỳ thực là một đường hầm dốc đứng chạy sâu xuống tầm một mét hai, dẫn vào một khoản không gian chật hẹp.

Dưới

hầm tối đen hoàn toàn, nhưng ngay sau đó tôi nhận ra nó tràn ngập thứ ánh sáng dìu dịu màu cam.

Emma đã dùng bàn tay mình làm đuốc

thắp sáng, một quả cầu lửa nhỏ xíu dường như đang lơ lửng ngay trên lòng bàn tay cô.

Tôi há hốc miệng nhìn vào nó, mọi chuyện khác

đều bị quên bẵng.

"Mở nó ra!" cô gắt lên, đồng thời đưa cho tôi một cái xẻng.

"Có một cánh cửa ngay phía trước đấy."

Tôi lê chân tiến lên cho đến hết khoảng không gian chật hẹp.

Sau đó, Emma vượt lên trước tôi, ngồi bệt xuống, dùng cả hai gót chân

đá vào tường.

Nó đổ xuống, mở ra ánh sáng ban ngày.

"Hai người đây rồi", tôi nghe thấy Millard nói trong khi chúng tôi luồn vào một con hẻm.

"Không thể ngăn mình làm ra chuyện gì đó

ngoạn mục phải không nào?"

"Tớ không biết cậu đang nói gì", Emma đáp, cho dù tôi có thể thấy cô đang tự mãn.

Millard dẫn chúng tôi tới chỗ một chiếc xe ngựa dường như đang đợi chính chúng tôi.

Ba chúng tôi bò lên đằng sau xe, chui vào dưới

một tấm vải dầu hòng đi lậu.

Gần như ngay lập tức, một người đàn ông bước tới, leo lên lưng ngựa, giật cương và chúng tôi lắc lư theo

nhịp chuyển động của chiếc xe.

Chúng tôi im lặng ngồi trên chiếc xe đang di chuyển một lúc.

Từ những âm thanh liên hồi biến đổi xung quanh tôi có thể đoán là

chúng tôi đang ra ngoài thị trấn.

Tôi thu hết can đảm hỏi một câu.

"Làm sao cậu biết có chiếc xe này?

Rồi những chiếc máy bay nữa?

Cậu là thầy bói hay kiểu kiểu như

thế à?"

Emma cười khúc khích.

"Khó mà gọi là vậy."

"Bởi vì tất cả chuyện đó đều đã xảy ra hôm qua", Millard trả lời, "và cả hôm kia nữa.

Chẳng phải đó là cách mọi thứ diễn ra trong vòng

của cậu sao?"

"Cái gì của tôi cơ?"

"Nó không đến từ cái vòng nào hết", Emma nói, cố giữ giọng thật khẽ.

"Tớ đã nói với cậu mãi rồi, nó là một cái xác sống chết tiệt."

"Tớ không nghĩ vậy.

Một xác sống sẽ không bao giờ để cậu bắt sống nó."

"Thế này nhé", tôi thì thầm.

"Tôi không phải là thứ cô nói, dù nó là thứ gì đi nữa.

Tôi là Jacob."

"Chúng ta sẽ xem xét chuyện đó sau.

Giờ thì im lặng đi."

Đoạn cô gái với tay lên, hơi kéo tấm vải dầu lại một chút để lộ một dải trời xanh

đang trôi qua phía trên cao.

Chương 6

Khi những ngôi nhà cuối cùng đã khuất hẳn sau lưng, chúng tôi lặng lẽ tuột xuống khỏi chiếc xe, sau đó đi bộ leo qua ngọn đồi về

phía khu rừng.

Emma đi bên cạnh tôi im lặng và trầm ngâm, chưa lúc nào buông rời cánh tay tôi, trong khi Millard đi bên kia, vừa ngân nga

khe khẽ một mình vừa đá vào những hòn đá.

Tôi cảm thấy vừa bồn chồn, vừa bối rối lại vừa kích động đến mức buồn nôn váng vất.

Phần

nào trong tôi có cảm giác một chuyện hệ trọng sắp xảy ra.

Phần khác trong tôi chờ đợi sẽ tỉnh giấc bất cứ lúc nào, ra khỏi tình trạng hiện

tại, dù đó là cơn mê sảng, cơn căng thẳng hay bất cứ cái gì khác, rồi tỉnh dậy có thể với khuôn mặt ngập giữa một vũng nước dãi trên bàn

phòng nghỉ tại Smart Aid và nghĩ, Uầy, thật lạ lùng, rồi trở lại với công việc buồn tẻ trước đây - làm chính mình.

Nhưng tôi không tỉnh dậy.

Chúng tôi chỉ tiếp tục bước đi, cô gái có thể tạo ra lửa bằng hai bàn tay, anh chàng vô hình và tôi.

Chúng

tôi băng qua khu rừng, con đường mòn ở đó rộng và quang đãng như bất cứ lối đi nào trong một công viên quốc gia, sau đó tới một bãi

cỏ trải rộng đầy hoa với những dải vườn gọn ghẽ chạy xen giữa.

Chúng tôi đã tới trại trẻ.

Tôi ngỡ ngàng tròn mắt nhìn - không phải vì nó quá xấu xí, mà vì nó quá đẹp.

Không hề có một tấm ván lợp mái lệch chỗ hay một cửa

sổ vỡ kính nào.

Những tòa tháp và ống khói đờ đẫn nằm sụp xuống ngôi nhà tôi vẫn còn nhớ giờ đây chĩa thẳng lên bầu trời đầy kiêu

hãnh.

Khu rừng lúc trước có vẻ đang nuốt chửng những bức tường của ngôi nhà lúc này lùi ra tận ngoài xa.

Tôi được dẫn đi xuống một lối đi lát đá, rồi lên một dãy bậc cấp mới sơn dẫn tới vòm cổng.

Emma có vẻ không còn coi tôi là một mối

đe dọa như lúc trước, song trước khi vào nhà cô trói quặt hai tay tôi ra sau lưng - tôi nghĩ chắc cô muốn thể hiện thôi.

Cô đang diễn vai

người thợ săn trở về, còn tôi là con mồi bị tóm.

Cô đang định lôi tôi vào trong thì bị Millard ngăn lại.

"Giày của cậu ta dính đầy bùn đất", cậu ta nói.

"Không thể để cậu ta tha bùn vào trong.

Chim sẽ lên cơn đau tim mất."

Vậy là trong

khi hai người áp giải chờ đợi, tôi cởi giày và cả đôi tất vốn cũng bết bùn ra.

Sau đó, Millard gợi ý rằng tôi nên xắn hai bên ống quần jean

lên để chúng không quệt xuống thảm, tôi liền làm theo, và Emma sốt ruột túm lấy tôi, rồi lôi phắt tôi qua cửa.

Chúng tôi đi xuống một hành lang mà tôi nhớ rằng vốn bị bít lại tới mức gần như không qua nổi bởi những món đồ đạc vỡ, rồi lên cầu

thang, lúc này được quét véc ni sáng bóng, những khuôn mặt đầy vẻ tò mò trong phòng ăn nhìn tôi qua lan can.

Chỗ bụi vôi vữa trong

như tuyết rơi đã biến mất, thế chỗ nó là một cái bàn gỗ dài được kê ghế tựa vòng xung quanh.

Vẫn là chính trại trẻ tôi từng thám hiểm,

nhưng mọi thứ đã được khôi phục lại đúng trật tự.

Vị trí tôi nhớ là có đám rêu xanh bây giờ được thay bằng giấy dán tường, ván gỗ ốp

chân tường và đủ loại màu sơn vui mắt.

Hoa được cắm trong các bình.

Những đống gỗ mục và vải bọc mủn nát đã tự dựng lại thành hình

những chiếc xô pha và ghế bành êm ái, và ánh nắng chiếu qua những khung cửa sổ cao lắp kính từng có lúc cáu đầy bụi bẩn đến mức tôi

đã nghĩ chúng bị bịt giấy đen che lại.

Cuối cùng, chúng tôi tới một căn phòng nhỏ nhìn ra sau nhà.

"Canh chừng nó trong khi tớ báo cô phụ trách", Emma nói với Millard,

và tôi cảm thấy bàn tay cậu ta nắm lấy vai mình.

Khi cô gái rời khỏi, bàn tay cậu ta cũng buông ra.

"Cậu không sợ tôi sẽ ăn óc cậu hay làm gì đó đại loại thế hay sao?" tôi hỏi cậu ta.

"Không sợ lắm."

Tôi quay sang cửa sổ và ngỡ ngàng mở to mắt nhìn ra ngoài.

Ngoài sân có rất nhiều trẻ con, gần như tôi có thể nhận ra tất cả từ

những bức ảnh ố vàng.

Vài người lười nhác thơ thẩn dưới các bóng cây; số khác tranh giành một quả bóng và đuổi nhau qua các luống

hoa rực rỡ đầy màu sắc.

Đây chính xác là thiên đường ông nội tôi đã mô tả.

Đây là hòn đảo được phù phép; đây là những đứa trẻ có phép

thuật.

Nếu quả thực đang mơ, tôi không còn muốn thức dậy nữa.

Hay ít nhất cũng là không phải thức dậy lập tức.

Ngoài sân cỏ, ai đó vừa đá quá mạnh vào một quả bóng, làm nó bay vút lên một lùm cây được xén tỉa thành hình một con vật khổng lồ

và mắc kẹt lại.

Có một hàng gồm mấy lùm cây được xén tỉa thành hình con vật như thế - những sinh vật kỳ vĩ cao ngang tòa nhà, đứng

gác đối diện với khu rừng - gồm một con quái vật mình sư tử đầu chim có cánh, một con nhân mã đang đứng trên hai chân sau, và một

người cá.

Truy tìm quả bóng bị thất lạc của mình, hai cậu thiếu niên chạy tới chân lùm cây hình nhân mã, theo sau là một cô gái trẻ.

Tôi

lập tức nhận ra đây chính là cô gái bay lên trong tập ảnh của ông, chỉ có điều lúc này cô không phải đang bay.

Cô bước đi chậm rãi, mỗi

bước đều nặng nề khó nhọc, cả người cứ chúi xuống đất như thể phải chịu thêm một trọng lực bổ sung.

Khi tới chỗ hai cậu con trai, cô giơ hai cánh tay lên còn hai cậu kia buộc một vòng dây thừng quanh eo cô gái.

Cô gái cẩn thận rút

chân ra khỏi đôi giày của mình rồi bay lên như một quả khí cầu.

Thật đáng kinh ngạc.

Cô bay lên cao mãi cho tới khi sợi dây buộc quanh

eo cô căng ra, sau đó cứ thế lơ lửng cách mặt đất ba mét, được hai cậu con trai níu lại.

Cô nói gì đó, hai cậu con trai gật đầu và từ từ thả dây ra.

Cô từ từ bay lên cao hơn men theo sườn con nhân mã; khi lên cao ngang

ngực con vật, cô đưa tay luồn vào đám cành cây để lấy quả bóng, song nó đã bị mắc kẹt rất sâu bên trong.

Cô nhìn xuống và lắc đầu, hai

cậu con trai bèn kéo cô xuống mặt đất, xuống đến nơi cô lại xỏ chân vào đôi giày trọng lực và tháo dây ra.

"Thích màn trình diễn chứ?"

Millard hỏi.

Tôi im lặng gật đầu.

"Có những cách dễ hơn nhiều để lấy quả bóng đó", cậu ta nói, "nhưng

bọn họ biết đang có khán giả."

Bên ngoài, một cô gái nữa đang lại gần con nhân mã.

Cô gái đã sắp thành niên và có vẻ ngoài hoang dã, mái tóc bù xù như tổ chim

của cô đang trên đường trở thành những món tóc cuốn lọn dài.

Cô gái cúi người xuống, nắm lấy cái đuôi dài đầy lá của con vật tỉa từ tán

cây rồi quấn nó quanh cánh tay mình, sau đó nhắm mắt lại như thể đang tập trung.

Giây lát sau, tôi thấy bàn tay con nhân mã cử động.

Tôi tròn mắt nhìn chằm chằm qua lớp kính cửa, chăm chú nhìn vào bàn tay màu xanh lục đó, thầm nghĩ chắc chắn nguyên nhân là cơn gió

đang thổi, nhưng rồi từng ngón tay của nó bắt đầu động đậy như thể cảm giác đang chậm chạp trở lại với chúng.

Tôi kinh ngạc theo dõi

trong khi cánh tay khổng lồ của con nhân mã gập lại, rồi nó thò tay vào chính lồng ngực của mình, moi quả bóng ra, rồi ném trở lại cho

mấy đứa trẻ đang reo hò.

Trong khi trận bóng tiếp tục trở lại, cô gái có mái tóc rối bù buông đuôi con nhân mã ra, và nó một lần nữa trở lại

bất động.

Hơi thở của Millard làm mờ lớp kính cửa sổ ngay cạnh tôi.

Tôi kinh ngạc quay sang cậu ta.

"Tôi không có ý bất lịch sự đâu", tôi nói,

"nhưng các cậu là loại người gì vậy?"

"Chúng tôi đặc biệt", cậu ta đáp, nghe có vẻ hơi lúng túng.

"Chẳng lẽ cậu không phải?"

"Tôi không biết.

Tôi không nghĩ vậy."

"Tiếc quá nhỉ."

"Sao cậu lại bỏ nó ra?" một giọng nói cất lên sau lưng chúng tôi, tôi bèn quay lại thì thấy Emma đang đứng trên ngưỡng cửa.

"Mà

thôi, kệ đi", cô vừa nói vừa bước tới nắm lấy sợi dây trói.

"Đi nào.

Bây giờ cô phụ trách sẽ gặp mày."

***

Chúng tôi vào bên trong trại trẻ, diễu qua trước nhiều đôi mắt tò mò nữa đang theo dõi từ các khe cửa và đằng sau những chiếc ghế

xô pha, vào một phòng khách tràn ngập ánh nắng, một người phụ nữ có vẻ ngoài nổi bật đang ngồi đan trong một chiếc ghế có lưng dựa

cao, kê trên một tấm thảm Ba Tư tinh xảo.

Bà mặc toàn một màu đen từ đầu tới chân, mái tóc được búi tròn hoàn hảo trên đỉnh đầu, bà đeo

găng tay có viền đăng ten, và cổ áo cánh hồ bột được cài cao khít - cả con người bà cũng chỉn chu hệt như trại trẻ.

Tôi đã có thể đoán ra

bà là ai dù trước đó không hề nhớ tới bức ảnh của bà trong chỗ ảnh tôi tìm thấy từ cái rương bị vỡ nát.

Đây chính là bà Peregrine.

Emma dẫn tôi bước lên tấm thảm rồi đằng hắng, và nhịp đưa đều đặn của đôi que đan bà Peregrine đang cầm liền ngừng lại.

"Chúc buổi chiều tốt lành", người phụ nữ ngước nhìn lên và nói.

"Cậu hẳn là Jacob."

Emma há hốc miệng nhìn bà.

"Làm thế nào cô biết được."

"Ta là cô phụ trách Peregrine", bà nói, đồng thời giơ ngón trỏ lên ra dấu bảo Emma im lặng, "hoặc cô Peregrine, nếu cậu muốn gọi như

thế hơn, vì hiện tại cậu không phải do ta coi sóc.

Rất vui vì cuối cùng cũng gặp cậu."

Bà Peregrine đưa một bàn tay đi găng chìa về phía tôi, và khi thấy tôi không thể đón lấy, bà nhận ra sợi dây trói quanh cổ tay tôi.

"Cô Bloom!" bà la lên.

"Chuyện này là thế nào?

Đây là cách đối xử với khách sao?

Cói trói cho cậu ấy ngay!"

"Nhưng thưa cô phụ trách!

Nó là một tên ăn cắp, một kẻ dối trá và em không rõ là còn những gì nữa!"

Ném một cái nhìn đầy nghi ngờ

về phía tôi, Emma thì thầm gì đó vào tai bà Peregrine.

"Sao chứ, cô Bloom", bà Peregrine vừa nói vừa cười phá lên.

"Thật vớ vẩn!

Nếu anh chàng này là một xác sống, cô lúc này hẳn đang

bị nấu trong nồi xúp của cậu ấy rồi.

Tất nhiên cậu ấy là cháu của Abraham Portman.

Cứ nhìn cậu ấy xem!"

Tôi cảm thấy nhẹ cả người; có thể cuối cùng tôi sẽ không phải tự biện minh cho mình.

Bà đã chờ gặp tôi!

Emma dợm giọng phản đối, nhưng bà Peregrine chặn đứng cô lại bằng một cái nhìn khiến người ta bối rối.

"Vâng, được thôi", Emma

thở dài, "nhưng cô đừng nói là em đã không cảnh báo trước."

Và sau vài cú giật mạnh vào nút buộc, sợi dây rơi xuống.

"Mong cậu thứ lỗi cho cô Bloom", bà Peregrine nói trong khi tôi xoa xoa hai cổ tay trầy trụa của mình.

"Cô bé ít nhiều có tố chất sân

khấu."

"Cháu cũng đã nhận thấy thế."

Emma quắc mắt lên tức tối.

"Nếu nó đúng là người nó tự xưng, vậy tại sao nó không hề biết gì về các vòng - thậm chí nó còn chả biết

giờ là năm nào?

Nào, cô hãy hỏi nó đi!"

"Tại sao cậu ấy lại chưa biết", bà Peregrine chỉnh lại.

Và người duy nhất ta sẽ đặt câu hỏi là cô, vào chiều mai, về vấn đề sử dụng ngữ

pháp cho chính xác!"

Emma rên lên.

"Còn bây giờ, nếu cô không phiền", bà Peregrine nói, "ta cần nói vài lời riêng tư với cậu Portman."

Cô gái biết tranh luận chỉ vô ích.

Cô thở dài và đi ra cửa, nhưng trước khi rời đi còn ngoái lại nhìn tôi lần cuối cùng.

Trên khuôn mặt cô

là một biểu cảm tôi chưa hề thấy trước đó: lo lắng.

"Cả cậu nữa, cậu Nullings", bà Peregrine gọi với ra.

"Người lịch sự thì không nghe lén những cuộc trò chuyện của người khác!"

"Em chỉ nán lại để hỏi xem cô có muốn dùng trà không thôi mà", Millard lên tiếng, tôi có cảm giác cậu ta hơi nịnh đầm.

"Chúng tôi không muốn, cảm ơn cậu", bà Peregrine trả lời ngắn gọn.

Tôi nghe thấy tiếng đôi chân trần của Millard bước đi xa dần trên

ván lát sàn, và cánh cửa đóng sập lại đằng sau cậu ta.

"Đáng lẽ ta phải mời cậu ngồi", bà Peregrine vừa nói vừa ra hiệu về phía một chiếc ghế tựa có vẻ êm ái đằng sau lưng tôi, "nhưng xem

ra cậu đang lấm lem khắp người."

Thay vì ngồi, tôi quỳ gối trên sàn nhà, cảm thấy mình như một người hành hương cầu xin lời khuyên từ

một nhà tiên tri thông thái.

"Cậu đã ở trên hòn đảo được vài ngày rồi", bà Peregrine nói.

"Sao cậu để lãng phí nhiều thời gian đến thế rồi mới tới thăm chúng ta?"

"Cháu không biết mọi người ở đây", tôi nói.

"Làm thế nào bà biết được cháu đã ở đây vài ngày rồi?"

"Ta đã quan sát cậu.

Mà cậu cũng đã thấy ta rồi, cho dù có lẽ cậu không nhận ra điều đó.

Ta đã dùng hình dạng khác của mình."



với tay lên và rút từ tóc ra một cái lông vũ dài màu xám.

"Sẽ hay hơn nhiều nếu sử dụng hình dạng một con chim khi quan sát loài người",

bà giải thích.

Tôi há hốc miệng.

"Vậy ra chính bà đã ở trong phòng cháu sáng nay?" tôi thốt lên.

"Chính là con diều hâu đó?"

"Chim ưng", bà chỉnh lại.

"Một con chim ưng Peregrine, tất nhiên rồi."

"Vậy là đúng rồi!" tôi nói.

"Bà chính là Chim!"

"Đó là một biệt danh ta chấp nhận nhưng không cổ súy", bà đáp.

"Còn bây giờ, đến lượt câu hỏi của ta", bà Peregrine nói tiếp.

"Cậu

muốn tìm kiếm gì trong cái xác nhà đổ nát đó vậy?"

"Bà", tôi trả lời, và đôi mắt người phụ nữ mở to ra thêm một chút.

"Cháu không biết phải tìm bà như thế nào.

Mãi đến hôm qua cháu

mới biết được là tất cả mọi người ở đây..."

Rồi sau đó tôi ngừng lại, nhận ra những lời mình nói tiếp theo nghe sẽ lạ lùng đến thế nào.

"Trước đó cháu không nhận ra là mọi

người ở đây đã chết."

Bà mím môi cười khẽ với tôi.

"Chúa lòng lành.

Chẳng lẽ ông nội cậu không kể bất cứ điều gì về các bạn cũ của cậu ta sao?"

"Vài chuyện.

Nhưng suốt một thời gian dài cháu vẫn nghĩ chúng chỉ là chuyện cổ tích."

"Ta hiểu rồi", bà nói.

"Cháu hy vọng điều đó không làm bà phật lòng."

"Chỉ hơi ngạc nhiên thôi.

Nhưng nói chung chúng ta thích người khác nghĩ về mình như thế hơn, vì điều đó có thể giúp ngăn lại

những kẻ không mời mà tới.

Ngày nay càng lúc càng có ít người tin vào những chuyện này - các nàng tiên, xác sống, và tất cả những thứ

vớ vẩn đó - và như vậy những người bình thường không còn bỏ công ra tìm kiếm chúng ta nữa.

Điều đó làm chúng ta dễ sống hơn một

chút.

Những câu chuyện ma và những ngôi nhà cũ ghê rợn cũng có ích cho chúng ta - cho dù trong trường hợp của cậu thì có vẻ không

phải thế."

Bà mỉm cười.

"Hẳn gia đình cậu luôn có những trái tim sư tử."

"Vâng, cháu đoán là vậy", tôi vừa nói vừa nở nụ cười dè dặt, cho dù kỳ thực tôi cảm thấy mình có thể xỉu bất cứ lúc nào.

"Dù thế nào đi nữa, về nơi này", người phụ nữ vừa nói vừa khoát tay thật rộng ra xung quanh.

"Khi còn bé, cậu đã tin ông nội cậu

đang 'dựng lên tất cả', như người ta vẫn nói đúng không nhỉ?

Nhồi nhét vào cậu một mớ dối trá to tướng.

Phải vậy không?"

"Không hẳn là những lời dối trá, nhưng..."

"Hư cấu, bốc phét, diễu võ giương oai - bất cứ cách nói nào cậu thích.

Từ lúc nào cậu nhận ra những gì Abraham đã kể là sự thật?"

"À", tôi nói, nhìn chằm chằm vào mê cung các họa tiết quyện vào nhau được dệt trên tấm thảm, "cháu đoán mình vừa mới nhận ra

ngay lúc này đây."

Bà Peregrine, lúc trước vốn rất hào hứng, dường như có phần hơi xịu xuống một chút.

"Ôi Chúa ơi, ta hiểu rồi."

Rồi sau đó vẻ mặt của

bà trở nên dữ tợn, như thể trong khoảng thời gian im lặng ngắn ngủi giữa hai chúng tôi, bà đã trực cảm được điều khủng khiếp tôi sắp nói

với bà.

Dẫu thế, tôi vẫn phải tìm một cách để nói ra thành lời.

"Cháu nghĩ ông muốn giải thích mọi thứ", tôi nói, "Nhưng ông đã đợi quá lâu.

Vì thế, ông cử cháu tới đây thay mình để tìm bà."

Tôi

lấy lá thư nhàu nhĩ từ trong túi áo khoác ra.

"Đây là thư bà gửi.

Chính nó đã đưa cháu tới đây."

Bà cẩn thận vuốt phẳng lá thư trên tay vịn chiếc ghế đang ngồi rồi cầm nó lên, mấp máy đọc.

"Thật vô ơn làm sao!

Trong khi trên

thực tế ta đã cầu xin cậu ấy hồi đáp."

Bà lắc đầu, ngồi đăm chiêu trong giây lát.

"Chúng ta luôn mong mỏi tin tức của Abe biết chừng nào.

Ta từng hỏi cậu ấy liệu có phải muốn làm ta lo đến chết hay không mà cứ khăng khăng sống công khai như vậy.

Cậu ấy có thể cứng đầu

đến bất trị thế đấy!"

Bà gập lá thư lại cho vào phong bì, và dường như một đám mây đen vừa lướt qua trên đầu bà.

"Cậu ấy qua đời rồi phải không?"

Tôi gật đầu.

Rồi tôi ngắc ngứ kể với bà những gì đã xảy ra - nghĩa là kể với bà câu chuyện cảnh sát đã dựng lên và tôi cũng đi tới chỗ

tin vào nó sau vô số buổi tư vấn tâm lý.

Để khỏi bật khóc, tôi chỉ kể với bà những nét chung chung: ông sống ở vùng ngoại ô thị trấn;

chúng tôi vừa mới trải qua một đợt hạn hán và khu rừng đầy ắp những con thú hoang tuyệt vọng đang sắp chết đói; ông đã ở không

đúng chỗ, không đúng thời điểm.

"Đáng lẽ ông cháu không nên sống một mình", tôi giải thích, "nhưng như bà nói đấy, ông rất bưởng

bỉnh."

"Ta đã e sợ chuyện này", bà nói.

"Ta đã cảnh báo cậu ấy đừng rời khỏi đây."

Hai nắm tay bà siết chặt lấy đôi que đan đang để trong

lòng, như thể cân nhắc xem nên dùng chúng để đâm ai.

"Và rồi để cháu cậu ấy mang tin xấu trở lại báo cho chúng ta."

Tôi có thể hiểu cơn giận dữ của bà.

Chính tôi cũng từng trải qua nó.

Tôi cố an ủi bà, viện ra tất cả những sự thật nửa vời nhằm mục

đích trấn an mà bố mẹ tôi cùng bác sĩ Golan đã nói tới trong những khoảnh khắc đen tối nhất tôi trải qua mùa thu vừa rồi, "Đã đến lúc để

ông ra đi.

Ông rất cô đơn.

Bà nội cháu đã mất nhiều năm rồi, và đầu óc ông cũng không còn sáng suốt nữa.

Ông luôn quên cái này cái

kia, lẫn lộn mọi thứ với nhau.

Đó là lý do vì sao ban đầu ông lại có mặt trong rừng."

Bà Peregrine buồn bã gật đầu.

"Cậu ấy cứ thế để cho mình già đi."

"Theo khía cạnh nào đó, ông cháu đã gặp may.

Cái chết không kéo dài và dai dẳng.

Không phải nằm viện nhiều tháng trời, bị gắn vào

đủ thứ máy móc."

Những lời này thật lố bịch, tất nhiên rồi - cái chết của ông hoàn toàn vô nghĩa, ghê rợn - nhưng tôi nghĩ nói thế thì cả

hai chúng tôi sẽ cảm thấy dễ chịu hơn một chút.

Bỏ mớ đồ đan sang bên, bà Peregrine đứng dậy và khó nhọc bước tới cửa sổ.

Dáng đi của bà cứng nhắc và vụng về, như thể một

chân bà ngắn hơn chân bên kia.

Bà nhìn ra ngoài sân, về phía những đứa trẻ đang chơi đùa.

"Bọn trẻ không được phép biết chuyện này", bà nói.

"Ít nhất là chưa phải

bây giờ.

Điều đó sẽ chỉ làm chúng phiền muộn."

"Vâng.

Tùy theo ý bà thôi."

Bà lặng lẽ đứng một hồi bên khung cửa kính, đôi vai run rẩy.

Cuối cùng, khi quay lại đối diện với tôi, bà đã hoàn toàn bình tĩnh và lý

trí: "Được rồi, cậu Portman", bà hỏi nhanh, "ta nghĩ cậu đã bị cật vấn đủ rồi.

Hẳn cậu cũng có những chuyện muốn hỏi."

"Một nghìn lẻ một câu thôi ạ."

Bà lấy một cái đồng hồ từ trong túi áo ra và xem giờ.

"Chúng ta hãy còn ít thời gian trước giờ ăn tối.

Ta hy vọng chừng đó là đủ để

khai sáng cho cậu."

Bà Peregrine ngừng lời và ngẩng đầu lên.

Đột nhiên, bà hối hả bước tới cửa phòng khách, mở toang nó ra và thấy Emma đang phủ

phục ở phía bên kia, khuôn mặt đỏ bừng đầy vệt nước mắt.

Cô đã nghe thấy tất cả.

"Cô Bloom!

Cô đã nghe trộm phải không?"

Emma loạng choạng đứng dậy, bật ra tiếng nức nở.

"Người lịch sự thì không nghe trộm những cuộc nói chuyện không dành cho..."

Nhưng Emma đã vùng chạy khỏi phòng, và bà

Peregrine bèn chấm dứt câu nói bằng một tiếng thở dài chán nản.

"Thật không may.

Ta e rằng cô bé khá nhạy cảm với chuyện ông nội

cậu."

"Cháu thấy rồi", tôi nói.

"Tại sao vậy?

Có phải họ...?"

"Khi Abraham rời đi để chiến đấu trong chiến tranh, cậu ấy đã mang theo trái tim của tất cả chúng ta, nhưng đặc biệt là cô Bloom.

Phải, hai người họ ngưỡng mộ nhau, là người tình, người yêu của nhau."

Tôi bắt đầu hiểu vì sao Emma lại gò ép bản thân không được tin tôi đến thế, bởi điều đó sẽ có nghĩa, gần như chắc chắn, là tôi có mặt

ở đây để báo tin xấu về ông.

Bà Peregrine vỗ vỗ tay như để phá vỡ một thứ bùa mê.

"À, vậy đấy", bà nói, "biết làm sao được."

Tôi theo bà rời phòng đi ra cầu thang.

Bà Peregrine leo lên cầu thang với vẻ cương quyết mạnh mẽ, hai tay giữ chặt lấy tay vịn để kéo

mình lên từng bậc một, từ chối bất cứ sự giúp đỡ nào.

Khi chúng tôi lên tới chiếu nghỉ, bà dẫn tôi theo hành lang tới thư viện.

Giờ thì

trong nơi này đúng như một phòng học thực sự, bàn học được kê thành một hàng, có một tấm bảng viết phấn trong góc và những cuốn

sách phủ bụi được xếp ngay ngắn trên các giá.

Bà Peregrine chỉ vào một cái bàn học và nói, "Ngồi xuống đi", vậy là tôi bèn thu người

ngồi xuống đó.

Bà đi tới phía đầu phòng và đối diện với tôi.

"Cho phép ta dành cho cậu một bài giới thiệu ngắn.

Ta nghĩ cậu sẽ tìm thấy câu trả lời cho phần lớn câu hỏi của cậu ở trong nó."

"Vâng."

"Các hợp phần tạo nên loài người thực ra đa dạng hơn rất nhiều so với những gì phần lớn con người có thể ngờ tới", bà bắt đầu.

"Cách phân loại thực sự của người Homo sapiens là một bí mật chỉ một số ít người biết, và cậu giờ sẽ là một trong số đó.

Về cơ bản, nó là

sự phân đôi đơn giản thành hai nhánh: những người năng lực chuẩn, hay số đông bình thường tạo nên đa số nhân loại, và một nhánh ẩn

- giống người bí mật, cậu có thể coi là vậy - những cá thể được gọi là dị nhân, hay 'linh hồn đặc biệt' trong ngôn ngữ thiêng liêng của tổ

tiên ta.

Và như cậu hẳn cũng đã nhận ra, chúng ta ở đây thuộc về nhóm người thứ hai."

Tôi gật đầu như thể đã hiểu, mặc dù bà làm tôi hoàn toàn lạc hướng.

Hy vọng bà nói chậm lại một chút, tôi đưa ra một câu hỏi.

"Nhưng tại sao người ta không biết tới những người như bà?

Liệu những người ở đây cùng bà có phải là nhóm duy nhất không?"

"Có những người đặc biệt ở khắp nơi trên thế giới", bà nói, "cho dù số lượng của chúng ta đã giảm đi rất nhiều so với trước đây.

Những ai còn sống đều ẩn mình, giống như chúng ta đang làm."

Giọng bà chuyển sang một âm điệu nuối tiếc dịu dàng.

"Đã từng có thời

chúng ta có thể công khai hòa nhập cùng những người bình thường.

Ở một số nơi trên thế giới, chúng ta được nhìn nhận như các pháp

sư và người có phép thần thông, được nhờ trợ giúp vào những thời điểm khó khăn.

Một số nền văn hóa đã lưu giữ lại được mối quan hệ

hài hòa này với cộng đồng chúng ta, cho dù chỉ tại những nơi mà cả đời sống hiện đại lẫn các tôn giáo chính không thể tạo dựng được

chỗ đứng như tại hòn đảo pháp thuật huyền bí Ambrym tại New Hebrides.

Song phần lớn thế giới đã quay ra chống lại chúng ta từ lâu

rồi.

Người Hồi giáo xua đuổi chúng ta.

Người Cơ Đốc giáo thiêu sống chúng ta như phù thủy.

Thậm chí cả những người tà giáo tại xứ

Wales và Ireland rốt cuộc cũng đi tới kết luận tất cả chúng ta đều là những pháp sư độc ác và do ma quỷ đội lốt."

"Vậy sao những người như bà lại... cháu không biết nữa... lại không tự lập quốc gia cho mình ở đâu đó?

Tới đó và sống tự tại?"

"Giá như chuyện này được đơn giản như thế", bà Peregrine nói.

"Những nét dị năng thường bị gián đoạn qua một thế hệ, hay có khi

là mười.

Những đứa trẻ đặc biệt không phải luôn luôn, hay thậm chí là thường xuyên, được sinh ra từ những ông bố bà mẹ đặc biệt, và các

bậc phụ mẫu đặc biệt không phải luôn luôn, hay thậm chí thường xuyên, sinh ra những đứa con đặc biệt.

Cậu có thể hình dung vì sao

điều này lại là một mối nguy hiểm cho tất cả những người có dị năng trong một thế giới luôn sợ hãi sự khác biệt đến thế hay không?"

"Vì những ông bố bà mẹ bình thường sẽ phát khiếp nếu con cái họ bắt đầu... phóng ra lửa chẳng hạn, phải thế không ạ?"

"Chính xác là vậy, cậu Portman.

Những đứa con đặc biệt của những cặp bố mẹ bình thường rất hay bị ngược đãi và bỏ mặc theo

những cách ghê rợn nhất.

Chỉ mới vài thế kỷ trước đây thôi, bố mẹ của những đứa trẻ đặc biệt vẫn còn đơn giản cho rằng những đứa con trai hay con gái 'thực sự' của họ đã bị đánh cắp và tráo đổi bằng các thế thân nghĩa là những tạo vật giống hệt nhưng bị phù phép và xấu

xa, nếu không muốn nói là hoàn toàn giả tạo - điều này, vào những thời kỳ tăm tối, được coi như điều kiện cho phép bỏ mặc những đứa

trẻ tội nghiệp, nếu họ không thẳng tay loại trừ chúng."

"Thật kinh khủng."

"Rất kinh khủng.

Cần phải làm điều gì đó, vậy là những người giống như ta tạo nên những địa điểm mà những đứa trẻ đặc biệt có thể

sống tách biệt khỏi những người bình thường - những nơi ẩn náu được tách riêng về không gian và thời gian như nơi này, một điều ta vô

cùng tự hào."

"Những người giống như bà?"

"Người đặc biệt chúng ta được phú cho những năng lực người thường không có được, những kỹ năng cũng vô hạn về sự kết hợp và

đa dạng không kém gì màu da hay gương mặt của những người khác.

Có nghĩa là một số năng lực khá thông dụng, chẳng hạn như đọc ý

nghĩ, trong khi có những cái lại hiếm gặp hơn, như năng lực kiểm soát thời gian của ta."

"Thời gian ư?

Cháu tưởng bà biến thành một con chim."

"Chắc chắn rồi, và trong đó ẩn chứa chìa khóa cho năng lực của ta.

Chỉ có chim mới kiểm soát được thời gian.

Vì thế, tất cả những

người kiểm soát thời gian phải có khả năng hóa thành hình dạng một con chim."

Bà Peregrine nói ra những lời này một cách nghiêm túc, bình thản tới mức tôi phải mất một khoảnh khắc mới tiêu hóa nổi nó.

"Chim...

là những người du hành vượt thời gian sao?"

Tôi có thể cảm thấy mình đang nở một nụ cười ngờ nghệch.

Bà Peregrine nghiêm nghị gật đầu.

"Tuy nhiên, phần lớn chúng chỉ có thể thỉnh thoảng xuyên qua thời gian một cách tình cờ.

Chúng

ta, những người có thể kiểm soát trường thời gian một cách có ý thức - và không chỉ cho bản thân chúng ta, mà cho cả những người khác

- được gọi là các Chủ Vòng Thời Gian.

Chúng ta tạo nên những vòng thời gian, trong đó những người đặc biệt có thể sống vô thời hạn."

"Một cái vòng", tôi nhắc lại, nhớ tới yêu cầu của ông: tìm con chim, trong cái vòng.

"Và nơi này là một cái vòng?"

"Phải.

Mặc dù đúng hơn cậu có thể gọi nó là mồng ba tháng Chín năm 1940."

Tôi nhô người qua cái bàn học nhỏ về phía bà.

"Ý bà muốn nói sao?

Nó chỉ là một ngày thôi ư?

Nó lặp lại sao?"

"Hết lần này tới lần khác, dù vậy chúng ta vẫn tiếp tục trải nghiệm nó.

Nếu không chúng ta đã không có chút ký ức nào về, à phải,

bảy mươi năm vừa qua chúng ta đã sống ở đây."

"Thật đáng kinh ngạc", tôi nói.

"Tất nhiên, chúng ta đã ở đây, tại Cairnholm, chừng hơn một thập kỷ, trước mồng ba tháng Chín năm 1940 - cô lập về không gian, nhờ

vị trí địa lý có một không hai của hòn đảo - nhưng phải bắt đầu từ thời điểm đó chúng ta mới cần phải cô lập cả về thời gian."

"Sao lại thế?"

"Vì nếu khác đi tất cả chúng ta đã bị giết rồi."

"Bởi quả bom."

"Chắc chắn là vậy."

Tôi nhìn chằm chằm xuống mặt bàn.

Tất cả bắt đầu sáng tỏ - cho dù mới chỉ mơ hồ.

"Vậy còn vòng nào khác ngoài vòng này không

ạ?"

"Rất nhiều", bà Peregrine nói, "và gần như tất cả các Chủ Vòng Thời Gian quản lý chúng đều là bạn bè của ta.

Để ta xem nào: có cô

Gannet ở Ireland, vào tháng Sáu năm 1770; cô Nightjar ở Swansea vào mồng ba tháng Tư năm 1901; cô Avocet và cô Bunting cùng tại

[17]

Derbyshire vào ngày Thánh Swithin năm 1867; cô Treecreeper ta không nhớ chính xác ở đâu nữa - à, và cô Finch

đáng mến.

Ta có một

bức ảnh rất đáng yêu của cô ấy ở đâu đó."

Bà Peregrine vất vả lôi một album ảnh to tướng từ một cái giá xuống và đặt lên bàn học trước mặt tôi.

Bà cúi xuống phía trên vai tôi

trong lúc lật những trang album cứng đơ, tìm kiếm một bức ảnh nào đó nhưng nấn ná dừng lại ở những bức ảnh khác, giọng đượm vẻ hoài

cổ mơ màng.

Trong khi chúng diễu qua, tôi nhận ra những bức ảnh từ chiếc rương bị vỡ nát dưới tầng hầm và từ hộp đựng xì gà của ông.

Bà Peregrine đã sưu tập tất cả chúng.

Thật lạ khi nghĩ rằng bà đã cho ông nội tôi xem cũng chính những bức ảnh này bao nhiêu năm

trước, khi ông còn ở vào tuổi tôi - rất có thể ngay ở đây, trong căn phòng này, tại chiếc bàn này - và giờ đây bà đang cho tôi xem tất cả

chúng, như thể bằng cách nào đó tôi đã đặt chân vào quá khứ của ông.

Cuối cùng, bà giở tới bức ảnh chụp một phụ nữ với dáng vẻ thoát tục và một con chim nhỏ tròn trịa đậu trên bàn tay, và nói, "Đây là

cô Finch và bà cô của cô ấy, bà Finch."

Người phụ nữ và con chim có vẻ đang giao tiếp với nhau.

"Làm sao bà có thể phân biệt được họ với nhau?" tôi hỏi.

"Bà Finch già hầu như lúc nào cũng thích giữ hình dạng chim sẻ.

Mà như thế cũng tốt, thật vậy.

Bà ấy chẳng bao giờ thích trò chuyện nhiều."

Bà Peregrine lật thêm vài trang nữa, lần này dừng lại ở một bức ảnh chụp một nhóm phụ nữ và trẻ con trông chẳng vui vẻ gì tập hợp

lại quanh một mặt trăng bằng giấy.

"À, phải rồi!

Ta đã gần như quên mất bức ảnh này."

Bà lấy bức ảnh ra khỏi chỗ gài và kính cẩn cầm nó lên.

"Người phụ nữ đứng đằng

trước kia là cô Avocet.

Đến với những người đặc biệt chúng ta cô ấy cũng như một nhân vật trong hoàng tộc vậy.

Suốt năm mươi năm

người ta đã cố gắng để bầu cô ấy làm chủ tịch Hội đồng Các Chủ Vòng Thời Gian, nhưng cô ấy không bao giờ có thể từ bỏ việc dạy học

tại ngôi trường do cô ấy và cô Bunting thành lập.

Ngày nay, chẳng có một Chủ Vòng Thời Gian nào xứng đáng với danh xưng này lại

chưa từng nhận được sự dạy dỗ của cô Avocet, kể cả ta!

Kỳ thực, nếu nhìn thật kỹ: có thể cậu sẽ nhận ra cô bé đeo kính kia."

Tôi nheo mắt.

Khuôn mặt bà chỉ vào rất tối và hơi nhòe.

"Là bà sao?"

"Ta là học viên trẻ nhất cô Avocet từng dạy dỗ", bà Peregrine nói đầy tự hào.

"Thế còn những cậu con trai trong ảnh thì sao?" tôi hỏi.

"Trông họ thậm chí còn trẻ hơn cả bà."

Khuôn mặt bà Peregrine tối sầm lại.

"Cậu đang nhắc tới những đứa em trai lầm lạc của ta.

Thay vì tách riêng ra, bọn họ cùng tới

trường học ta.

Bọn họ được nuông chiều thái quá như hai hoàng tử vậy.

Ta dám nói chính điều đó đã làm hỏng họ."

"Họ không phải là những Chủ VòngThời Gian sao?"

"Ồ, không", bà gắt gỏng.

"Chỉ có phụ nữ là được sinh ra để trở thành Chủ Vòng Thời Gian, và ơn trời vì điều đó!

Nam giới thiếu sự

nghiêm túc, phẩm chất cần thiết ở những người phải gánh vác trách nhiệm lớn lao như vậy.

Các Chủ Vòng Thời Gian chúng ta phải đi

lùng khắp mọi miền để tìm kiếm những đứa trẻ đặc biệt đang cần giúp đỡ, đưa bọn chúng tránh xa những kẻ muốn gây hại cho chúng ta,

rồi cung cấp cái ăn cái mặc, nơi trú ẩn cho những đứa trẻ chúng ta phụ trách, và truyền dạy cho chúng những hiểu biết của tộc người

chúng ta.

Và thế vẫn chưa đủ đâu, chúng ta còn phải đảm bảo để vòng của mình được khởi động lại mỗi ngày như đồng hồ vậy."

"Nếu chúng không được khởi động lại thì chuyện gì sẽ xảy ra?"

Bà Peregrine giơ một bàn tay run rẩy lên ngang mày và loạng choạng lùi lại, làm bộ kinh hoàng.

"Tai ương, chấn động, thảm họa!

Thậm chí ta còn không dám nghĩ tới chuyện đó.

Thật may, cơ chế để khởi động lại các vòng rất đơn giản: hằng ngày một trong số chúng

ta cần phải đi xuyên qua lối vào.

Hành động này giúp nó thông suốt cậu thấy đấy.

Lối vào vòng cũng ít nhiều giống như một cái lỗ trên

bột nhào còn ướt; nếu thỉnh thoảng cậu không lấy ngón tay chọc vào nó, cái lỗ đó có thể tự động bị bít lại.

Và nếu không có lối vào hay

lối ra - không có cái van giảm áp nào để có thể qua đó xả bớt, nhiều thứ áp lực tự nhiên sẽ tích tụ lại trong một hệ thống thời gian khép

kín..."

Bà đưa hai tay ra dấu nổ bùm, như thể đang mình họa lại một vụ nổ pháo.

"Vậy đấy, cả hệ thống sẽ trở nên bất ổn."

Bà Peregrine lại cúi người xuống album ảnh và tỉ mẩn lần qua các trang.

"Nhắc mới nhớ, có lẽ ta có một bức ảnh của...

à, nó đây rồi.

Một lối vào là thế này đây!"

Bà lấy một bức ảnh nữa ra khỏi vỉ cài.

"Đây là cô Finch và một trong những học trò của cô trong lối vào huy

hoàng dẫn tới vòng của cô ấy, tọa lạc tại một khu hiếm khi được sử dụng của hệ thống tàu điện ngầm London.

Khi nó được khởi động, cả

đường hầm chìm trong một quầng sáng chói chang khủng khiếp.

Ta luôn nghĩ lối vào vòng của chúng ta so với nó có lẽ khá khiêm tốn",

bà nói, một chút ghen tị thoáng lộ ra.

"Cháu hỏi cho rõ thôi nhé", tôi nói.

"Nếu hôm nay là mồng ba tháng Chín năm 1940, vậy thì ngày mai... cũng là mồng ba tháng Chín

sao?"

"À, một phần nhỏ trong số hai mươi bốn giờ của vòng thuộc về mồng hai tháng Chín, nhưng, đúng vậy, ngày mai vẫn là mồng ba."

"Vậy là ngày mai không bao giờ tới."

"Có thể nói là vậy."

Bên ngoài, một tiếng ầm ầm xa xa nghe như tiếng sấm vẳng lại, và cửa sổ tối sầm lại rung lên lạch cạch.

Bà Peregrine ngước nhìn lên

và một lần nữa lấy đồng hồ ra.

"Ta e rằng ta chỉ có thể dành ra chừng đó thời gian vào lúc này.

Ta hy vọng cậu sẽ ở lại dùng bữa tối."

Tôi nói tôi sẽ ở lại dùng bữa; hầu như không bận tâm đến việc bố có thể băn khoăn xem tôi đang ở đâu.

Tôi loay hoay bước ra từ

đằng sau cái bàn học và bắt đầu đi theo bà Peregrine ra cửa, nhưng rồi một câu hỏi nữa lại hiện lên trong đầu tôi, câu hỏi đã đeo đẳng tôi

một thời gian dài.

"Ông nội cháu tới đây có phải để chạy trốn bọn Quốc Xã thật không?"

"Đúng thế", bà nói.

"Một số đứa trẻ tới với chúng ta trong những năm kinh khủng ngay trước khi chiến tranh bùng nổ.

Có rất nhiều

biến động."

Trong bà có vẻ đau khổ, như thể ký ức vẫn còn tươi mới.

"Ta tìm thấy Abraham trong một khu trại dành cho người tị nạn trên

đất liền.

Cậu ấy là một cậu bé tội nghiệp, bị giày vò, nhưng thật mạnh mẽ.

Ta lập tức nhận ra cậu ấy thuộc về cộng đồng chúng ta."

Tôi cảm thấy nhẹ nhõm; ít nhất phần đời đó của ông cũng đúng như tôi từng hiểu.

Song vẫn còn một điều nữa tôi thắc mắc, mà

không biết nên đặt câu hỏi như thế nào.

"Ông nội cháu...

ông có giống như...?"

"Như chúng ta không chứ gì?"

Tôi gật đầu.

Bà Peregrine mỉm cười thật lạ lùng.

"Cậu ấy giống cậu, Jacob."

Rồi bà quay đi, tập tễnh bước về phía cầu thang.

***

Bà Peregrine nhất thiết yêu cầu tôi phải rửa sạch bùn đất trước khi ngồi vào bàn ăn, và yêu cầu Emma đưa tôi đi tắm.

Tôi nghĩ bà hy

vọng bằng cách nói chuyện một chút với tôi, Emma sẽ bắt đầu cảm thấy dễ chịu hơn.

Nhưng cô thậm chí còn chẳng nhìn tôi.

Tôi dõi theo

trong lúc cô vặn nước lạnh vào bồn tắm rồi làm ấm nước bằng hai bàn tay trần của mình, khỏa đi khỏa lại cho tới khi hơi nước bốc lên.

"Hay quá", tôi nói.

Nhưng cô gái rời đi mà không đáp lại một lời nào.

Sau khi đã biến nước trong bồn thành màu nâu khá sẫm, tôi choàng khăn tắm lên người, ra khỏi bồn và tìm thấy một bộ đồ để thay

treo sau cánh cửa - một cái quần vải tuýt rộng thùng thình, một cái áo sơ mi có khuy cài cổ, một đôi dây đai đeo quần quá ngắn song tôi

không tìm ra nổi cách chỉnh thế nào cho vừa.

Vậy là tôi có hai lựa chọn cho việc mặc quần, hoặc là để nó tụt quanh mắt cá, hoặc là phải

kéo quần tít lên tận rốn.

Tôi quyết định rằng phương án hai là lựa chọn đỡ tệ hại hơn, rồi xuống dưới nhà để dùng bữa ăn có lẽ là kỳ lạ

nhất trong đời mình với trang phục chẳng khác gì một anh hề chưa hóa trang.

Bữa tối là một đám nhòe nhoẹt quay cuồng chóng mặt của những khuôn mặt và cái tên, rất nhiều trong đó tôi mơ hồ hồi tưởng lại

được từ những bức ảnh và những lời mô tả đã từ lâu lắm của ông.

Khi tôi vào phòng ăn, đám thiếu niên, vốn trước đó đang la hét ầm ĩ để

tranh chỗ ngồi quanh bàn, đều đứng sững cả lại và nhìn tôi chằm chằm.

Tôi có cảm giác họ không mấy khi có khách tới ăn tới.

Bà Peregrine, đã ngồi chỉnh tề ở đầu bàn, đứng dậy và dùng khoảng im lặng đột ngột này như cơ hội để giới thiệu tôi.

"Với những ai trong các cô cậu chưa có vinh hạnh gặp cậu ấy", bà nói, "đây là cháu nội của Abraham, Jacob.

Cậu ấy là khách danh

dự của chúng ta, và đã vượt qua một quãng đường dài để có mặt tại đây.

Ta hy vọng các cô cậu sẽ cư xử với cậu ấy đúng mực."

Sau đó,

bà chỉ vào từng người trong phòng và giới thiệu tên, phần lớn những cái tên đó tôi lập tức quên ngay, như chuyện thường xảy ra khi tôi

bối rối.

Sau màn giới thiệu là cả một cơn mưa câu hỏi, nhưng đã được bà Peregrine đánh bạt đi một cách cực kỳ hiệu quả.

"Jacob sẽ ở lại chỗ chúng ta chứ ạ?"

"Theo như ta biết thì không."

"Abe đâu rồi?"

"Abe đang bận việc ở Mỹ."

"Tại sao Jacob lại mặc quần của Victor?"

"Victor không cần tới nó nữa, còn cậu Portman cần tắm rửa."

"Abe đang làm gì ở Mỹ vậy?"

Đến câu hỏi này tôi đưa mắt nhìn Emma, lúc ấy vẫn đang trừng mắt nhìn từ trong góc phòng, và cô liền đứng vụt dậy khỏi ghế, kiêu

hãnh bước ra khỏi phòng.

Những người khác, có vẻ đã quá quen với tính khí bốc đồng của cô gái, không hề tỏ vẻ bận tâm.

"Đừng bận tâm Abe đang làm gì", bà Peregrine gắt lên.

"Khi nào cậu ấy quay lại ạ?"

"Đừng bận tâm tới chuyện đó.

Chúng ta dùng bữa nào!"

Tất cả mọi người đồng loạt ngồi xuống ghế.

Tưởng mình đã tìm thấy một cái ghế còn trống, tôi tới đó ngồi xuống và cảm thấy một cái

nĩa chọc vào đùi mình.

"Thứ lỗi nhé!"

Millard la lên.

Nhưng bà Peregrine buộc cậu ta phải từ bỏ trò đùa của mình, yêu cầu cậu ta ra khỏi

phòng về mặc quần áo.

"Ta còn phải bảo cậu bao nhiêu lần nữa", bà nói với theo sau cậu ta, "những người lịch sự không ở trần đi ăn tối!"

Các cô cậu thiếu niên làm việc ở nhà bếp xuất hiện mang lên các khay thức ăn, tất cả đều đậy nắp bạc sáng bóng khiến thực khách

không thể nhìn thấy những gì ở trong, bèn tha hồ tung ra những phỏng đoán hoang đường về thực đơn bữa tối.

"Ủng da rái cá!" một cậu con trai hét to.

"Mèo con muối và gan chuột chù!" một người khác nói, phỏng đoán này được những đứa trẻ ít tuổi hơn đáp lại bằng những tiếng

cười khúc khích.

Nhưng khi những cái nắp cuối cùng cũng được nhấc lên, một bữa tiệc vương giả lộ diện: một con ngỗng quay, lớp da

ngả màu vàng cánh gián hoàn hảo; nguyên một con cá hồi và một con cá tuyết, mỗi con đều được bày kèm với chanh, thì là tươi và rưới

bơ đun chảy; một bát đựng trai hấp; những đĩa đựng rau củ nướng; những ổ bánh mì nóng hổi mới ra lò; và đủ các loại thạch và xốt mặc

dù tôi không nhận ra được là gì nhưng trong có vẻ rất ngon.

Tất cả đều lộng lẫy mời gọi dưới ánh sáng lung linh của đèn khí đốt, cách xa

cả một thế giới so với những món hầm nhừ béo ngậy không thể luận ra nguồn gốc tôi đã phải cố nuốt vào tại Priest Hole.

Chưa có gì vào

bụng kể từ bữa sáng, tôi liền lao vào ăn ngấu nghiến chẳng để ý tới gì khác nữa.

Đáng lẽ tôi không nên thấy ngạc nhiên vì những đứa trẻ đặc biệt có cách ăn đặc biệt, nhưng giữa những lần đưa nĩa lấy thức ăn, tôi

nhận ra mình đang lén liếc mắt nhìn quanh phòng.

Olive, cô gái có thể bay lên được cài đai buộc vào một cái ghế được vít chặt xuống sàn

để cô không lơ lửng bay lên tận trần nhà.

Để những người còn lại không bị lũ côn trùng quấy rầy, Hugh, cậu con trai nuôi ong trong

bụng, ngồi ăn trong một cái màn chống muỗi lớn, ở một cái bàn ai đó kê trong góc.

Claire, cô gái trông như búp bê với những lọn tóc

vàng óng hoàn hảo, ngồi ngay cạnh bà Peregrine nhưng không ăn miếng nào.

"Bạn không đói sao?" tôi hỏi cô.

"Claire không ăn cùng với chúng ta", Hugh lên tiếng, một con ong thoát ra khỏi miệng cậu ta.

"Bạn ấy ngượng."

"Tôi không ngượng!" cô gái vừa đáp vừa trừng mắt nhìn cậu ta.

"Thế à?

Vậy thì ăn gì đó đi!"

"Không ai ở đây phải ngượng về năng lực của họ cả", bà Peregrine nói.

"Chỉ đơn giản là cô Densmore thích ăn một mình.

Phải vậy

không, cô Densmore?"

Cô gái nhìn chằm chằm vào mặt bàn trống trước mặt mình, rõ ràng ước gì mọi sự chú ý hãy tan biến đi.

"Claire có miệng ở sau gáy", Millard giải thích, lúc này cậu ta đang ngồi cạnh tôi, mặc trên người một chiếc áo vest dạ tiệc (ngoài ra

không còn gì khác).

"Cái gì cơ?"

"Nào, hãy cho cậu ấy thấy đi!" ai đó lên tiếng.

Chẳng mấy chốc, tất cả mọi người quanh bàn đều hối thúc Claire ăn chút gì đó.

Và cuối

cùng, chỉ để làm bọn họ im lặng, cô gái làm theo.

Một cái đùi ngỗng được để xuống trước mặt cô.

Cô xoay người ra sau, và vừa bám lấy tay vịn ghế, cô vừa ngả người về phía lưng,

chạm gáy xuống đĩa.

Tôi nghe thấy tiếng cắn nhai vang lên rất rõ, và khi cô gái ngẩng gáy lên trở lại cái đùi ngỗng đã hụt đi một miếng lớn.

Bên dưới mái tóc vàng óng của cô gái là hai hàm răng sắc lẹm.

Đột nhiên tôi chợt hiểu bức ảnh lạ lùng chụp Claire tôi đã thấy trong

cuốn album ảnh của bà Peregrine, người thợ ảnh đã dành cho nó hai khuôn hình: một bức chụp khuôn mặt xinh đẹp kiêu hãnh của cô gái,

bức kia chụp những lọn tóc đã che khuất hoàn toàn phần gáy cô.

Claire quay người lại như trước, khoanh hai tay, bực bội vì đã để mình bị thúc giục đến chỗ thực hiện một màn trình diễn mất mặt như

thế.

Cô gái ngồi im lặng trong khi những người khác dồn dập đặt câu hỏi với tôi.

Sau khi bà Peregrine đã gạt đi thêm vài câu hỏi về ông

nội tôi, đám thiếu niên quay sang các chủ đề khác.

Họ có vẻ đặc biệt quan tâm tới cuộc sống diễn ra vào thế kỷ hai mươi mốt.

"Có mô tô bay không?" một cậu con trai mới dậy thì có tên Horace hỏi, bộ vest sẫm màu cậu ta mặc khiến chủ nhân của nó trong

giống như một anh chàng học việc.

"Không", tôi nói.

"Ít nhất là chưa có."

"Người ta đã xây các thành phố trên mặt trăng chưa?" một cậu con trai khác hỏi đầy hy vọng.

"Hồi thập niên sáu mươi, chúng tôi đã để lại trên đó ít rác và một lá cờ, nhưng cũng chỉ có thế thôi."

"Nước Anh vẫn thống trị thế giới chứ?"

"À... không hẳn là thế."

Họ có vẻ thất vọng.

Chớp thời cơ, bà Peregrine liền nói, "Các em thấy chưa?

Nói cho cùng tương lai cũng không có gì ghê gớm cả.

Chẳng có gì không ổn với hiện tại cũ kỹ tốt đẹp ở đây lúc này!"

Tôi có cảm giác đây là điều bà thường cố in vào đầu đám trẻ, mà không

mấy thành công.

Nhưng nó làm tôi tự hỏi: họ đã ở đây, trong "hiện tại cũ kỹ tốt đẹp lúc này", được bao lâu rồi?

"Các bạn có phiền nếu mình hỏi các bạn bao nhiêu tuổi rồi không?" tôi hỏi.

"Mình tám mươi ba tuổi", Horace nói.

Olive giơ tay lên đầy phấn khích.

"Tuần tới là tớ bảy mươi lăm tuổi rưỡi!"

Tôi tự hỏi làm cách nào họ theo dõi được tháng và năm nếu

ngày không bao giờ thay đổi.

"Tớ một trăm mười bảy hay một trăm mười tám tuổi gì đấy", một cậu con trai mắt lờ đờ tên là Enoch nói.

Trong cậu ta chỉ chưa quá

mười ba.

"Tớ từng sống trong một vòng khác trước khi tới vòng này", cậu ta giải thích.

"Tớ gần tám mươi bảy tuổi rồi", Millard nói trong khi mỡ ngỗng chảy nhỏ giọt từ miệng, và khi cậu ta nói, chỗ thịt ngỗng đang nhai

dở không ngừng chuyển động bên trong bộ hàm vô hình của cậu ta để tất cả cùng thấy.

Mọi người rên lên che mắt và nhìn đi chỗ khác.

Sau đó đến lượt tôi.

Tôi nói với họ mình mười sáu tuổi.

Tôi thấy một số người mở to mắt.

Olive phá lên cười ngạc nhiên.

Với tất cả họ,

thật kỳ lạ khi tôi còn trẻ đến thế, nhưng điều lạ lùng với tôi là không hiểu sao họ dường như trông đều còn trẻ đến vậy.

Tôi biết vô số

người tám mươi tuổi ở Florida, và những đứa trẻ này xử sự chẳng giống gì với họ cả.

Có vẻ như sự bất biến của cuộc sống họ trải qua tại

đây, những ngày trôi qua không hề thay đổi - trong mùa hè bất tận này - đã làm ngưng lại cả cảm xúc lẫn cơ thể họ, gói gọn họ lại trong

tuổi trẻ của mỗi người như Peter Pan và những Cậu Bé Thất Lạc của cậu ta.

Một tiếng bùm đột ngột vọng vào từ bên ngoài, lần thứ hai trong tối hôm nay, nhưng to hơn và gần hơn lần thứ nhất, làm tất cả đĩa và

đồ bạc rung lên cành cạch.

"Tất cả, khẩn trương kết thúc bữa ăn đi!" bà Peregrine ra lệnh, và bà vừa cất lời thì một cơn chấn động nữa rung chuyển ngôi nhà,

khiến một bức ảnh lồng khung bật rơi khỏi bức tường đằng sau tôi.

"Cái gì vậy?" tôi hỏi.

"Lại là đám Jerry mắc dịch đó!"

Olive càu nhàu, đấm nắm tay nhỏ nhắn của cô xuống bàn, rõ ràng là bắt chước một người lớn nóng

tính nào đó.

Thế rồi tôi nghe thấy âm thanh gì đó giống như tiếng còi hụ ngoài xa, và đột nhiên tôi hiểu chuyện gì đang xảy ra.

Đây là tối

mồng ba tháng Chín năm 1940, và chỉ lát nữa một quả bom sẽ rơi xuống từ trên trời và phá bung ra một cái hố khổng lồ trong nhà.

Tiếng

còi kia là còi báo động phòng không, vọng lại từ đỉnh đồi.

"Chúng ta phải rời khỏi đây", tôi nói, cơn hoảng hốt trào lên tận cổ.

"Chúng ta cần rời đi trước khi quả bom rơi trúng!"

"Cậu ta chẳng biết gì kìa!"

Olive cười khúc khích.

"Cậu ta nghĩ chúng ta sắp chết cơ đấy!"

"Chỉ là thời điểm chuyển đổi thôi", Millard nói, kèm theo một cái nhún vai chiếc áo vest dạ tiệc của cậu ta.

"Chẳng việc gì phải cuống

cuồng lên thế đâu."

"Tối nào cũng thế này sao?"

Bà Peregrine gật đầu.

"Tối nào cũng vậy", bà nói.

Tuy vậy, tôi vẫn chưa hoàn toàn an tâm.

"Chúng em có thể ra ngoài và chỉ cho Jacob thấy không ạ?"

Hugh hỏi.

"Vâng, chúng em có thể ra không ạ?"

Claire nài nỉ, đột nhiên

trở nên hào hứng sau hai mươi phút hờn dỗi.

"Thời điểm chuyển đổi lúc nào cũng tuyệt đẹp!"

Bà Peregrine do dự, chỉ ra rằng đám trẻ vẫn chưa ăn xong bữa tối, nhưng họ nài nỉ bà cho tới khi bà mềm lòng.

"Được rồi, miễn là tất cả

các em đều đeo mặt nạ", bà nói.

Đám trẻ bật dậy khỏi ghế và ùa ra khỏi phòng, để cô bé Olive tội nghiệp lại sau cho tới khi ai đó thấy ái ngại và tới cởi cái đai buộc cô

vào ghế.

Tôi chạy theo sau họ qua ngôi nhà vào một căn phòng nghỉ ốp ván gỗ, tại đây mỗi người trong số họ đều vơ lấy thứ gì đó từ

trong một cái tủ trước khi lao ra ngoài cửa.

Bà Peregrine cũng đưa cho tôi một cái như thế, và tôi đứng xoay xoay món đồ đó trên tay.

Trông nó giống như một khuôn mặt đàn hồi làm bằng cao su đen, có hai cái lỗ rộng lắp kính hệt như những con mắt đông cứng lại vì kinh

hoảng, còn cái mũi thòng ra thành một ống trụ tròn, đáy có đục lỗ.

"Tiến lên", bà Peregrine nói.

"Đeo nó vào."

Và rồi tôi nhận ra vật đó là gì: một cái mặt nạ phòng khí độc.

Tôi chụp nó lên mặt và đi theo bà ra bãi cỏ, đám trẻ đã đứng đó rải rác như những quân cờ trên một bàn cờ không kẻ ô, chẳng biết ai

là ai đằng sau những chiếc mặt nạ, tất cả đều đang ngước lên, theo dõi những cuộn khói đen cuộn trên bầu trời.

Những ngọn cây đang

cháy đùng đùng trong màn khói mù mịt ngoài xa.

Tiếng ì ầm của những chiếc máy bay không thể trong thấy dường như vọng tới từ mọi

hướng.

Thỉnh thoảng lại vọng tới một tiếng nổ ập ùng, tôi có thể cảm nhận nó dội lên trong lồng ngực mình như tiếng đập của một trái tim

nữa, kéo theo là những làn hơi bỏng rát, như thể ai đó vừa mở rồi đóng một cái lò ngay trước mặt tôi.

Tôi nằm phục xuống theo mỗi cơn

chấn động, nhưng đám trẻ thì chẳng hề nao núng lấy một giây.

Thay vì thế họ hát, lời hát của họ được căn chính xác với nhịp nổ của những quả bom.

Chạy đi, thỏ, chạy đi, thỏ, chạy, chạy, CHẠY ĐI!

Bùm, bùm, BÙM, súng người nông dân nổ

Ông ta sẽ vẫn ổn dù k hông có món bánh nhân thỏ, vậy nên

Chạy đi, thỏ, chạy đi, thỏ, chạy, chạy, CHẠY ĐI!

Loạt đạn vạch những đường sáng chói lên nền trời đúng lúc bài hát kết thúc.

Đám trẻ vỗ tay hoan hô như những khán giả chứng kiến

một màn pháo hoa, những ánh chớp dữ dội đủ màu lóe sáng như những vết rạch trên mặt nạ họ đeo.

Cuộc không kích ban đêm này đã trở

thành một phần thường trực trong cuộc sống của họ, tới mức họ không còn nghĩ về nó như một điều gì đó khủng khiếp - kỳ thực, bức

ảnh chụp cảnh tượng này tôi từng thấy trong cuốn album của bà Peregrine được chú thích là Màn trình diễn tuyệt đẹp của chúng tôi.



tôi cho rằng cảnh tượng này đúng là thế, theo cách thức chết chóc riêng của nó.

Trời bắt đầu lất phất mưa phùn, như thể những mảnh kim loại bay lượn trên không trung đã chọc thủng các đám mây.

Những cơn rung

chấn giảm dần.

Cuộc không kích dường như đang đến hồi kết.

Những đứa trẻ bắt đầu rời đi.

Tôi tưởng chúng tôi sẽ trở vào trong, nhưng họ đi qua cửa trước tới một phần khác của sân nhà.

"Chúng ta đi đâu đây?" tôi hỏi hai đứa trẻ đeo mặt nạ.

Họ không nói gì, nhưng có vẻ như cảm nhận được sự lo lắng của tôi, họ nhẹ nhàng cầm lấy tay tôi và dẫn tôi đi cùng những người

khác.

Chúng tôi đi vòng quanh nhà ra góc đằng sau, tất cả mọi người đang tập trung lại đó quanh một cái cây to được xén tỉa.

Song cái

cây này không được tạo hình thành một sinh vật thần thoại mà thành một người đang nằm trên bãi cỏ, một khuỷu tay chống xuống đỡ lấy

thân mình, tay còn lại chỉ lên trời.

Phải mất một lát tôi mới nhận ra đây là một bản sao bằng cành lá phần bích họa vẽ Adam của Michelangelo trên tường nhà nguyện Sistine.

Tác phẩm này quả rất ấn tượng, nếu tính đến việc nó được tạo thành từ các tán cây.

Người

ta gần như có thể nhận ra vẻ điềm tĩnh trên khuôn mặt của Adam, hai khóm dành dành đang nở kia chính là đôi mắt.

Tôi nhìn thấy cô gái có mái tóc rối bù hoang dại đang đứng ngay gần.

Cô mặc một chiếc váy vải hoa đã vá víu nhiều lần đến nỗi trông

chẳng khác gì một cái mền khâu chần.

Tôi tới chỗ cô gái, chỉ về phía Adam và hỏi, "Có phải cậu đã tỉa nên cái này không?"

Cô gái gật đầu.

"Bằng cách nào vậy?"

Cô gái cúi xuống, giữ một lòng bàn tay phía trên mặt cỏ.

Vài giây sau, một mảng cỏ hình bàn tay uốn éo vươn dài ra, mọc lên cho tới

khi chúng chạm đến lòng bàn tay cô.

"Điên rồ quá", tôi nói.

Rõ ràng, đầu óc tôi lúc này không phải đang ở trạng thái phân định mọi chuyện được rõ ràng nhất.

Ai đó bảo tôi im lặng.

Tất cả đám trẻ đang đứng im lặng, nghển cổ nhìn về phía một vùng trời.

Tôi ngước nhìn lên nhưng chỉ thấy

những đám khói cùng ánh chớp lửa đạn màu cam phản chiếu lên chúng.

Rồi tôi nghe thấy tiếng động cơ của đúng một chiếc máy bay vang lên giữa những tiếng động khác.

Nó rất gần, và ngày một gần hơn.

Cơn hoảng loạn tràn ngập trong tôi.

Đây chính là buổi tối họ bị giết.

Không chỉ là buổi tối đó, mà chính là khoảnh khắc này.

Tôi tự hỏi có

lẽ nào những đứa trẻ này chết đi vào mỗi buổi tối chỉ để rồi được vòng thời gian làm sống lại, như một giáo phái tôn thờ tự sát, buộc mình

cứ vĩnh viễn bị nổ tung rồi lại được ghép lại nguyên hình?

Một vật nhỏ màu xám tách ra khỏi các đám mây và rít lên lao về phía chúng tôi.

Một tảng đá, tôi nghĩ thầm, nhưng những tảng đá

không rít lên khi rơi xuống như thế.

Chạy đi, thỏ, chạy đi, thỏ, chạy đi.

Tôi hẳn đã làm thế nhưng giờ không còn thời gian nữa; tất cả những gì tôi có thể làm là hét toáng

lên và nhào xuống đất tìm chỗ ẩn nấp.

Nhưng chẳng có chỗ nào để ẩn nấp cả, vì vậy tôi nằm bẹp xuống cỏ, đưa hai cánh tay lên ôm lấy

đầu như thể bằng cách nào hành động này sẽ giữ cho cái đầu gắn chặt vào cơ thể tôi.

Tôi nghiến chặt hàm và nhắm nghiền mắt lại, nín thở nhưng thay vì tiếng nổ đinh tai tôi chờ đợi, mọi thứ trở nên tĩnh lặng hoàn toàn,

triệt để.

Đột nhiên chẳng còn tiếng động cơ gầm rú, không còn tiếng bom vèo vèo, không còn tiếng súng nổ tung loạt ngoài xa.

Cứ như

thể ai đó đã làm cả thế giới câm lặng.

Tôi chết rồi sao?

Tôi bỏ hai tay ra khỏi đầu và chậm chạp nhìn ra đằng sau mình.

Những lùm cây bị gió thổi uốn cong đang đông cứng tại chỗ.

Bầu trời

là một bức ảnh chụp những quầng lửa bất động vờn quanh một dải mây.

Những giọt mưa treo lơ lửng ngay trước mắt tôi.

Và ở giữa đám

trẻ đang đứng thành vòng, trông giống như vật thờ trong một nghi lễ huyền bí nào đó, một quả bom đang lơ lửng, phần đầu mũi hướng

xuống dưới của nó dường như đang thăng bằng trên ngón tay chìa ra của Adam.

Sau đó, như một bộ phim bị cháy trong máy chiếu khi bạn đang xem dở dang, một quầng sáng tuyền một màu trắng lóa nóng bỏng

trải rộng ra trước mắt tôi, nuốt chửng tất cả.

***

Thứ đầu tiên tôi nghe thấy khi có thể nghe được trở lại là tiếng cười.

Sau đó, màu trắng nhạt dần đi và tôi thấy tất cả chúng tôi đang ở

quanh Adam đúng như trước đó, song lúc này quả bom đã biến mất, màn đêm trở lại yên tĩnh và thứ ánh sáng duy nhất trên bầu trời

không một gợn mây là ánh trăng tròn.

Bà Peregrine xuất hiện phía trên tôi và chìa tay ra.

Tôi nắm lấy tay bà, loạng choạng đứng dậy, đầu

óc quay cuồng.

"Cho ta xin lỗi", bà nói.

"Đáng lẽ ta phải chuẩn bị cho cậu sẵn sàng hơn."

Dẫu vậy, bà không giấu nổi nụ cười, và cả những đứa trẻ khác cũng vậy khi họ cởi bỏ mặt nạ ra.

Tôi tin chắc mình vừa bị xỉu đi.

Tôi cảm thấy đầu óc quay cuồng, mệt mỏi.

"Có lẽ đêm nay cháu nên quay về nhà ngủ", tôi nói với bà Peregrine.

"Bố cháu sẽ lo lắng."

Rồi tôi nhanh chóng nói tiếp, "Cháu có thể về nhà chứ, phải không?"

"Tất nhiên cậu có thể", bà đáp, và lớn tiếng hỏi xem ai tình nguyện đưa tôi về chỗ ngôi mộ đá.

Tôi ngạc nhiên thấy Emma bước tới.



Peregrine có vẻ hài lòng.

"Bà có chắc về bạn ấy không?" tôi thì thầm hỏi cô phụ trách.

"Mới vài tiếng trước bạn ấy còn sẵn sàng cắt cổ cháu đấy."

"Cô Bloom có thể nóng tính, nhưng cô bé là một trong những học viên ta tin tưởng nhất", bà đáp.

"Vả lại ta nghĩ cậu và cô bé có thể

có vài điều để trao đổi riêng, tránh khỏi những đôi tai tò mò."

Năm phút sau, hai chúng tôi đã lên đường, chỉ có điều lần này hai tay tôi không bị trói và cô gái không còn kề dao vào sườn tôi.

Vài

thành viên ít tuổi hơn trong đám trẻ đi theo chúng tôi tới tận rìa sân nhà.

Họ muốn biết liệu ngày mai tôi có quay lại hay không.

Tôi đưa ra

những lời cam đoan mơ hồ, nhưng quả thực tôi khó lòng để tâm vào những gì đang diễn ra ngay trong lúc này, chứ chưa nói gì tới tương

lai.

Chỉ còn hai chúng tôi đi vào khu rừng tối tăm.

Khi trại trẻ đã khuất hẳn sau lưng chúng tôi, Emma ngửa một bàn tay ra, lắc cổ tay, và

một quả cầu lửa nhỏ xíu bùng lên ngay phía trên các ngón tay cô.

Cô giơ nó ra phía trước mình như một người bồi bàn bưng khay, ánh lửa

soi sáng con đường và hắt hai cái bóng của chúng tôi lên các thân cây.

"Tớ đã nói với cậu là chuyện đó thật tuyệt chưa nhỉ?" tôi lên tiếng, cố phá vỡ sự im lặng càng lúc càng thêm khó xử.

[18]

"Nó chẳng mát

tí nào cả", cô đáp lại, chìa quầng lửa lại đủ gần để tôi có thể cảm thấy hơi nóng nó phả ra.

Tôi né người tránh và lùi lại vài bước.

"Ý tớ không phải là...

Ý tớ là cậu làm được như vậy thật tuyệt."

"À, cậu phải nói năng cho rành rọt tôi mới hiểu được chứ", cô gái gắt gỏng, rồi dừng bước.

Chúng tôi đứng đối diện nhau, giữ một khoảng cách thận trọng.

"Cậu không phải sợ tôi", cô nói.

"À, thế ư?

Làm sao tớ biết cậu không nghĩ tớ là một sinh vật xấu xa, còn đây không phải chỉ là một cái bẫy nhằm dụ tớ ra một mình để

rốt cuộc cậu cũng có thể giết tớ?"

"Đừng có ngốc thế", cô nói.

"Cậu đến chẳng hề báo trước, cậu là một kẻ lạ mặt tôi không hề biết, rồi lại đuổi theo tôi như một gã điên.

Tôi phải nghĩ gì đây?"

"Được, tớ hiểu rồi", tôi nói, mặc dù chẳng hiểu gì.

Cô gái đưa mắt nhìn xuống đất và bắt đầu dùng mũi ủng di di vào đất thành một cái lỗ nhỏ.

Quả cầu lửa trên tay cô đã đổi màu từ da

cam sang chàm dịu.

"Những điều tôi đã nói không đúng.

Tôi có nhận ra cậu."

Cô ngước mắt lên nhìn tôi.

"Cậu trông rất giống ông nội

mình."

"Thỉnh thoảng người ta cũng nói với tớ như thế."

"Tôi xin lỗi lúc trước đã nói tất cả những điều kinh khủng đó.

Tôi không muốn tin rằng cậu đúng là người cậu nói.

Tôi biết điều đó có

nghĩa là gì."

"Được rồi", tôi đáp.

"Khi còn bé hơn, tớ từng rất mong muốn được gặp tất cả mọi người.

Bây giờ, chuyện đó cuối cùng đã diễn ra..."

Tôi lắc đầu.

"Thì tớ chỉ lấy làm tiếc là lại vì thế."

Rồi sau đó cô gái lao tới chỗ tôi, dang hai cánh tay ôm vòng quanh cổ tôi, ngọn lửa trên bàn tay cô đã tắt phụt ngay trước khi cô

chạm vào tôi, làn da nơi cô đỡ lấy ngọn lửa vẫn còn nóng hổi.

Chúng tôi cứ đứng như thế trong bóng tối một hồi, tôi và người phụ nữ cao

tuổi với vẻ ngoài vị thành niên, hay đúng hơn là cô gái xinh đẹp từng yêu ông nội tôi khi ông bằng tuổi tôi bây giờ.

Tôi chẳng thể làm gì

ngoài việc cũng đưa hai cánh tay ôm lấy cô, vậy là tôi làm thế, và sau một hồi tôi đoán cả hai chúng tôi cùng khóc.

Tôi nghe thấy Emma hít một hơi thật sâu trong bóng tối, rồi buông tôi ra.

Ngọn lửa bùng sáng trở lại trên bàn tay cô.

"Xin lỗi", cô nói.

"Tôi không hay..."

"Đừng lo về chuyện đó."

"Chúng ta nên đi tiếp."

"Dẫn đường đi", tôi nói.

Chúng tôi đi bộ qua rừng trong sự im lặng dễ chịu.

Khi tới chỗ đầm lầy, Emma nói, "Chỉ được đặt chân lên đúng chỗ tôi đặt chân thôi

đấy", và tôi làm theo, đặt chân lên đúng vết chân của cô.

Khí đầm lầy cháy lập lòe thành những đốm lửa màu xanh lục ở phía xa, như thể

đồng điệu với nguồn sáng của Emma.

Chúng tôi tới được chỗ ngôi mộ đá và chui vào trong, bám theo nhau tới căn phòng đằng trong rồi quay trở ra, bước vào một thế giới

chìm trong sương mù.

Emma dẫn tôi trở lại lối mòn, và khi chúng tôi tới đó, cô đan tay lại với tay tôi và siết chặt.

Chúng tôi lặng im trong

giây lát.

Sau đó, cô quay người trở lại, màn sương mù nuốt chửng lấy cô nhanh tới mức trong một khoảnh khắc tôi tự hỏi liệu có thực cô

đã từng ở đó hay không.

***

Quay trở về thị trấn, tôi có phần trông đợi sẽ thấy những chiếc xe ngựa lăn bánh trên các con phố.

Thay vì thế, tôi được chào đón

bằng tiếng rù rù của máy phát điện và ánh sáng tỏa ra từ màn hình ti vi đằng sau cửa sổ các ngôi nhà.

Tôi đã trở về nơi của mình, đúng

như nó vốn thế.

Vẫn là Kev đang phục vụ ở quầy bar, ông ta giơ một chiếc cốc lên về phía tôi khi tôi bước vào.

Không vị khách nào trong quán rượu

đề xuất nện tôi một trận nhừ tử.

Mọi thứ trên đời có vẻ đều ổn cả.

Tôi lên lầu thì thấy bố đang ngủ gật trước laptop bên cái bàn nhỏ xíu của chúng tôi.

Khi tôi đóng cửa, ông giật mình bừng tỉnh.

"À!

Chào con!

Con ra ngoài muộn đấy.

Đúng thế không nhỉ?

Mấy giờ rồi?"

"Con không biết nữa", tôi nói.

"Con nghĩ là chưa đến chín giờ.

Đám khách uống rượu vẫn còn ngồi lại."

Bố vươn vai rồi dụi mắt.

"Con đã làm gì hôm nay vậy?

Bố đã hy vọng sẽ gặp con vào bữa tối."

"Con chỉ tìm hiểu thêm một chút ở chỗ trại trẻ cũ thôi."

"Có tìm thấy gì hay không?"

"À... thực ra thì không hẳn", tôi nói, nhận thấy có lẽ đáng ra tôi phải để tâm nghĩ ra một câu chuyện thuyết phục hơn làm bình phong.

Bố nhìn tôi rất lạ.

"Con lấy mấy thứ này ở đâu ra vậy?"

"Lấy cái gì cơ ạ?"

"Quần áo con đang mặc", bố tôi nói.

Tôi nhìn xuống và nhận ra mình đã quên khuấy mất bộ đồ áo sơ mi quần vải tuýt có đai đeo tôi đang mặc.

"Con nhặt được chúng

trong trại trẻ", tôi đáp, vì không có thời gian để nghĩ ra một câu trả lời ít kỳ quái hơn.

"Trong oách chứ ạ?"

Bố tôi nhăn mặt.

"Con mặc quần áo nhặt được lên người sao?

Jake, như thế thật mất vệ sinh.

Mà chuyện gì đã xảy ra với quần jean và

áo khoác của con rồi hả?"

Tôi cần phải thay đổi chủ đề.

"Chúng bẩn kinh khủng quá rồi, thế nên con, ừm..." tôi ngừng lời, làm ra vẻ vừa nhận ra tài liệu đang mở

trên màn hình máy tính của bố.

"Ái chà, đó là cuốn sách của bố phải không?

Nó thế nào rồi ạ?"

Bố tôi đóng sập màn hình laptop xuống.

"Ngay lúc này thì cuốn sách của bố không phải là chuyện cần quan tâm tới.

Điều quan trọng

trong thời gian chúng ta ở đây là trị liệu cho con.

Bố không rõ việc dành cả ngày một mình trong trại trẻ cũ đó có thực sự là điều bác sĩ

Golan nghĩ đến hay không.

Khi ông ấy bật đèn xanh cho chuyến đi này ấy."

"À, con nghĩ bố vừa lập kỷ lục đấy", tôi nói.

"Cái gì?"

"Khoảng thời gian dài nhất từng trôi qua mà bố không nhắc tới bác sĩ tâm lý của con", tôi giả bộ đang nhìn xuống một cái đồng hồ

đeo tay tưởng tượng.

"Bốn ngày, năm giờ và hai mươi sáu phút."

Tôi thở dài.

"Khoảng thời gian đó thật quý báu."

"Ông ấy đã giúp ích cho con rất nhiều", bố tôi nói.

"Chỉ Chúa mới biết nếu chúng ta không tìm được ông ấy thì bây giờ con đã đang ở

trong tình trạng nào rồi."

"Bố nói đúng.

Bác sĩ Golan đã giúp con.

Nhưng điều đó không có nghĩa là ông ta nhất thiết phải kiểm soát mọi thứ trong cuộc sống

của con.

Ý con là, lạy Chúa, như thế có khác gì bố mẹ mua cho con một cái lắc tay khắc dòng chữ Golan Sẽ Làm Gì Nhỉ?

Như thế con có

thể tự vấn bản thân trước khi làm bất cứ cái gì.

Trước khi con đi vệ sinh.

Bác sĩ Golan sẽ muốn con tống bãi phân đó xuống bên rìa hay đi

ngay xuống giữa?

Đâu là bãi phân hữu ích nhất về mặt tâm lý con có thể thải ra?"

Bố tôi không nói gì trong vài giây, và khi ông lên tiếng, giọng ông rất khẽ, khàn khàn.

Ông nói với tôi là ngày mai tôi sẽ đi quan sát

chim với ông dù tôi có thích hay không.

Khi tôi trả lời là bố đã nhầm lẫn một cách đáng buồn, ông đứng dậy đi xuống quán rượu.

Tôi nghĩ

ông đi uống hay làm gì đó, vì thế tôi quay sang thay quần áo, nhưng vài phút sau bố tôi lại tới gõ cửa phòng ngủ của tôi và nói có người

nào đó đang chờ tôi ở đầu dây điện thoại.

Tôi đoán người đó là mẹ, vậy là tôi nghiến chặt hai hàm răng và đi theo bố xuống nhà tới chỗ buồng điện thoại ở tận cái góc đằng xa

của quán rượu.

Ông đưa ống nghe cho tôi rồi tới ngồi xuống bên một cái bàn.

Tôi đóng cửa buồng lại.

"A lô?"

"Tôi vừa nói chuyện với bố cậu", một người đàn ông nói.

"Ông ấy có vẻ hơi lo lắng."

Đó là bác sĩ Golan.

Tôi muốn nói rằng cả ông ta và bố tôi đều cuốn xéo đi được rồi, nhưng tôi biết tình thế lúc này đòi hỏi một chút khéo léo.

Nếu tôi làm

Golan mếch lòng lúc này, điều đó cũng đồng nghĩa với việc chuyến đi sẽ chấm hết.

Tôi chưa thể rời đi, chưa thể đi trong khi còn quá

nhiều điều cần tìm hiểu về những đứa trẻ đặc biệt.

Vậy là tôi diễn kịch và thuật lại những gì tôi đã trải qua - tất cả ngoại trừ phần những đứa trẻ trong một vòng thời gian - và cố làm ra vẻ tôi đang đi dần tới quan điểm là chẳng có gì đặc biệt về hòn đảo hay ông nội tôi.

Màn

đối thoại này cũng giống như một buổi trị liệu nhỏ qua điện thoại vậy.

"Tôi hy vọng không phải cậu chỉ đang nói với tôi những gì tôi muốn nghe", ông ta nói.

Đây đã trở thành một câu thông dụng của

ông bác sĩ.

"Có lẽ tôi nên tới đó và kiểm tra trực tiếp cậu.

Tôi có thể tận dụng vài ngày nghỉ.

Cậu thấy thế nào?"

Làm ơn hãy nói ông đang đùa đi, tôi thầm cầu khẩn.

"Cháu không sao.

Thật đấy", tôi nói.

"Thư giãn nào, Jacob, tôi chỉ đang đùa thôi, dù có Chúa làm chứng, tôi hoàn toàn có thể dành ra chút thời gian rời khỏi phòng khám.

Và tôi thực sự tin cậu.

Đúng là cậu nghe có vẻ ổn.

Thực ra, vừa nãy tôi mới nói với bố cậu rằng có lẽ điều tốt nhất ông có thể làm là dành

cho cậu một chút không gian tự do và để cậu tự mình giải quyết mọi thứ."

"Thật thế sao?"

"Cậu đã phải chịu đựng sự giám sát của bố mẹ cậu và tôi quá lâu rồi.

Đến một mức nào đó, chuyện này thành ra phản tác dụng."

"À, cháu thực sự đánh giá cao điều đó."

Ông bác sĩ còn nói thêm gì đó nữa mà tôi hầu như không nghe được; có rất nhiều tiếng ồn từ phía đầu dây của ông ta.

"Khó nghe chú

nói quá", tôi nói.

"Chú đang ở trung tâm thương mại hay sao vậy?"

"Sân bay", ông ta trả lời.

"Tôi ra đón em gái.

Dù sao đi nữa, tất cả những gì tôi muốn nói là hãy tận hưởng kỳ nghỉ đi.

Khám phá và

đừng lo lắng quá nhiều.

Tôi sẽ sớm gặp lại cậu, được chứ?"

"Một lần nữa xin cảm ơn chú, bác sĩ G."

Khi gác máy, tôi cảm thấy áy náy vì lúc trước đã nói năng thật tệ về ông bác sĩ.

Đến lúc này đã hai lần ông ta đứng ra bênh vực ủng

hộ tôi trong khi chính bố mẹ tôi không hề làm thế.

Ở phía bên kia phòng, bố tôi đang đánh bạn với một vại bia.

Tôi dừng lại chỗ bàn ông trên đường lên lầu.

"Ngày mai thì..." tôi nói.

"Cứ làm những gì con muốn, bố cho là vậy."

"Bố chắc chứ?"

Bố tôi cau có nhún vai.

"Lệnh của bác sĩ mà."

"Con sẽ quay về ăn tối.

Con hứa đấy."

Bố tôi chỉ gật đầu.

Tôi để ông ngồi lại dưới quầy bar và lên phòng đi ngủ.

Trong khi chìm vào giấc ngủ, dòng suy nghĩ của tôi lại tìm tới những đứa trẻ đặc biệt và câu đầu tiên họ hỏi sau khi bà Peregrine giới thiệu tôi: J acob có ở lại với chúng ta k hông?

Vào lúc ấy tôi đã nghĩ, Tất nhiên là k hông.

Nhưng sao lại

không chứ?

Nếu tôi không bao giờ quay về nhà, chính xác ra tôi sẽ thấy thiếu vắng cái gì chứ?

Tôi hình dung ra ngôi nhà trống rỗng lạnh

lẽo của mình, tới thị trấn không bạn bè đầy ắp những ký ức tệ hại, tới cuộc sống hoàn toàn chẳng có gì đáng chú ý đã được vạch sẵn ra

cho tôi.

Và tôi chợt nhận ra mình chưa bao giờ nghĩ tới chuyện chối bỏ nó.

Chương 7

Buổi sáng mang đến mưa, gió và sương mù, thứ thời tiết sầu thảm khiến tôi khó lòng tin nổi ngày hôm qua có thể là gì khác ngoại trừ

một giấc mơ lạ lùng và kỳ diệu.

Tôi ngấu nghiến thật nhanh bữa sáng của mình và nói với bố là tôi sẽ ra ngoài.

Ông nhìn tôi như thể tôi là

một kẻ ngớ ngẩn.

"Trong thời tiết này ư?

Để làm gì?"

"Đi chơi với..." tôi bắt đầu nói mà không hề suy nghĩ.

Thế rồi, để lấp liếm, tôi giả bộ bị nghẹn thức ăn trong cổ họng.

Nhưng đã quá

muộn; bố đã nghe thấy tôi nói.

"Đi chơi với ai hả?

Bố hy vọng là không phải với mấy thằng rapper lưu manh đó."

Cách duy nhất để thoát khỏi cái hố này là đào xuống sâu hơn nữa.

"Không.

Bố chưa bao giờ thấy họ đâu, họ sống ở đầu kia của, ừm,

hòn đảo, và..."

"Thật sao?

Bố không nghĩ có ai sống ở phía đó."

"À, có đấy, chỉ vài người thôi.

Có vẻ là những người chăn cừu và làm mấy việc linh tinh khác.

Dù sao thì họ cũng rất hay ho, họ để ý

trông chừng cho con trong khi con vào trong ngôi nhà."

Bạn bè và an toàn: hai thứ bố tôi khó lòng có thể phản đối.

"Bố muốn gặp họ", bố tôi nói, có làm ra vẻ nghiêm khắc.

Ông vẫn hay trưng ra bộ mặt này, bắt chước một ông bố nhạy cảm, không

chấp nhận những trò vớ vẩn - hình mẫu tôi nghĩ ông mong mỏi trở thành.

"Chắc chắn rồi.

Nhưng con đã hẹn gặp họ ở đó, vậy nên để lần khác bố nhé."

Bố tôi gật đầu và ăn thêm một miếng nữa.

"Nhớ về ăn tối đấy", ông nói.

"Nghe rõ mười mươi rồi, thưa bố."

Tôi hối hả chạy tới chỗ đầm lầy.

Trong lúc thận trọng dò dẫm bước qua đám lầy thụt bẩn thỉu, cố nhớ lại con đường được tạo thành từ

những đám cỏ mờ mờ ảo ảo như các hòn đảo Emma đã dùng để vượt qua nơi này, tôi thầm lo tất cả những gì tìm thấy ở phía bên kia sẽ chỉ

là thêm nhiều mưa hơn nữa cùng một ngôi nhà đổ nát.

Vì thế, quả là nhẹ nhõm khi tôi chui ra khỏi ngôi mộ đá và tìm được ngày mồng ba

tháng Chín năm 1940 đúng như khi tôi rời khỏi: một ngày ấm áp, nắng ráo, vắng bóng sương mù, bầu trời tuyền một màu xanh đáng tin

cậy, trên đó những đám mây tạo thành các hình dáng có vẻ thật quen thuộc dễ chịu.

Thậm chí còn tốt hơn thế, Emma đang ở đó chờ tôi,

ngồi bên rìa gò mộ ném đá xuống đầm.

"Thật đúng lúc!" cô vừa reo lên vừa đứng bật dậy.

"Đi nào, mọi người đang đợi cậu."

"Vậy sao?"

"Phả...

ải", cô vừa nói vừa đảo mắt đầy sốt ruột, cầm lấy tay tôi và kéo tôi đi theo mình.

Tôi cảm thấy rất kích động - không chỉ vì sự

đụng chạm của Emma, mà vì cả ý nghĩ về cái ngày phía trước, đầy ắp những khả năng vô tận.

Mặc dù theo cả triệu biểu hiện bề ngoài, nó

hẳn sẽ giống như ngày hôm trước - cùng cơn gió sẽ thổi, và cùng những cành cây sẽ rơi xuống - song trải nghiệm của tôi về nó sẽ mới

mẻ.

Và những đứa trẻ đặc biệt cũng thế.

Họ là những vị thần của thiên đường bé nhỏ lạ lùng này, còn tôi là vị khách của họ.

Chúng tôi hối hả băng qua đầm lầy và qua khu rừng, như thể đang bị muộn một cuộc hẹn.

Khi tới chỗ trại trẻ, Emma dẫn tôi đi vòng ra

sân sau, một sân khấu nhỏ bằng gỗ đã được dựng lên ở đó.

Những đứa trẻ tíu tít đi ra đi vào, mang các món đồ trang trí sân khấu, mặc lên

người những bộ vest hoặc những chiếc đầm sequin lấp lánh.

Một ban nhạc nhỏ đang làm quen với nhạc cụ, chỉ gồm một cây đàn xếp,

một cây kèn trombon méo mó và một cái cưa nhạc cụ được Horace chơi bằng cây vĩ.

"Gì thế này?" tôi hỏi Emma.

"Mọi người đang dàn dựng một vở kịch à?"

"Rồi cậu sẽ thấy", cô nói.

"Có những ai tham gia vậy?"

"Rồi cậu sẽ thấy."

"Vở kịch về cái gì vậy?"

Cô liền véo tôi một cái.

Một tiếng còi vang lên, và tất cả mọi người chạy lại tìm chỗ ngồi tại một hàng ghế gấp kê đối diện với sân khấu.

Emma và tôi ngồi

xuống đúng lúc màn mở, để lộ ra một chiếc mũ rơm dập dềnh trên một bộ vest kẻ sọc lòe loẹt màu đỏ và trắng.

Chỉ đến khi nghe thấy một

giọng nói tôi mới nhận ra rằng đó - tất nhiên rồi - là Millard.

"Thưa các quý...

ý bà...

à và quý ô...

ông!" cậu ta dài giọng ê a.

"Tôi vô cùng hân hạnh được trình diễn trước quý vị một màn vô tiền

khoáng hậu!

Một chương trình với độ táo bạo vô song, thể hiện phép thuật xuất chúng tới mức chỉ đơn giản là quý vị sẽ không tin nổi

vào mắt mình!

Các công dân thân mến, tôi xin giới thiệu với quý vị cô Peregrine và Những Đứa Trẻ Đặc Biệt của cô!"

Khán giả vỗ tay hoan hô vang dội.

Millard nhấc mũ lên.

"Cho màn ảo thuật thứ nhất của chúng tôi, tôi xin giới thiệu cô Peregrine!"

Cậu ta chui vào sau màn rồi lại xuất hiện sau giây lát, trên

một cánh tay có vắt một tấm ga được gấp lại, cánh tay kia có một con chim ưng đậu lên.

Cậu ta gật đầu với ban nhạc, và ban nhạc bắt đầu

cử lên một giai điệu rè rè có vẻ là nhạc hội hè.

Emma thúc khuỷu tay vào tôi.

"Xem kìa", cô thì thầm.

Millard để con chim ưng xuống và giơ tấm ga ra đằng trước, che khuất con chim khỏi tầm nhìn của khán giả.

Cậu ta bắt đầu đếm lùi.

"Ba, hai, một!"

Đến "một", tôi nghe thấy tiếng đập cánh không lẫn vào đâu được, rồi sau đó nhìn thấy cái đầu của bà Peregrine - cái đầu người của

bà - nhô lên đằng sau tấm ga trong tràng vỗ tay thậm chí còn vang dội hơn.

Mái tóc bà rối bời, và tôi chỉ có thể nhìn thấy từ vai bà trở

lên; dường như bà ở trần đằng sau tấm ga.

Có vẻ khi bạn biến thành chim, quần áo sẽ không đồng hành trong quá trình này.

Cầm lấy mép tấm ga, bà kín đáo quấn nó quanh người.

"Cậu Portman!" bà gọi, từ trên sân khấu nhìn xuống tôi.

"Ta rất vui vì cậu đã trở lại.

Đây là một chương trình chúng ta từng mang đi

lưu diễn vòng quanh lục địa hồi những ngày thanh bình.

Ta nghĩ cậu sẽ học hỏi được từ nó."

Rồi sau đó bà lướt xuống khỏi sân khấu trên

nền một đoạn nhạc đệm, đi vào trong nhà để mặc quần áo.

Lần lượt từng người một, những đứa trẻ đặc biệt rời khỏi vị trí khán giả và bước lên sân khấu, mỗi người trình diễn một tiết mục của

riêng mình.

Millard bỏ bộ đồ dạ hội của mình ra để trở nên hoàn toàn vô hình và diễn trò tung hứng với những cái chai thủy tinh.

Olive

cởi đôi giày trọng lực của mình ra và trình diễn một bài thể dục thách thức trọng lực trên những cái cọc cắm song song với nhau.

Emma

tạo ra lửa, nuốt vào rồi lại khạc ra mà không hề làm mình bị bỏng.

Tôi vỗ tay hoan hô cho tới khi nghĩ hai bàn tay mình sẽ bị phồng rộp

lên.

Khi Emma trở về chỗ ngồi, tôi quay sang cô và nói, "Tớ không hiểu.

Các cậu trình diễn những hết mục này cho mọi người xem sao?"

"Tất nhiên", cô đáp.

"Những người bình thường à?"

"Tất nhiên là những người bình thường.

Vì sao những người đặc biệt lại trả tiền để xem những thứ bản thân họ có thể tự làm chứ?"

"Nhưng chẳng lẽ việc biểu diễn này không làm lộ tẩy các cậu sao?"

Emma tặc lưỡi.

"Chẳng ai ngờ vực gì hết", cô nói.

"Người ta tới những buổi trình diễn nhỏ để xem những màn trình diễn mạo hiểm, các

tiết mục ảo thuật và những trò loại đó, và theo như tất cả mọi người đều thấy, đó chính xác là những gì chúng tôi trình diễn cho họ xem."

"Vậy là các cậu náu mình ngay trong tầm mắt mọi người."

"Đó từng là cách phần lớn những người đặc biệt kiếm sống", Emma nói.

"Và chưa từng có ai bị bại lộ sao?"

"Thỉnh thoảng chúng tôi lại gặp phải một kẻ ngu ngốc mò ra sau sân khấu hỏi những câu tọc mạch, và cũng vì thế luôn phải có một

cánh tay mạnh mẽ thường trực để làm nhiệm vụ đá đít những kẻ đó đi.

Mà nói đến quỷ sứ... thì quỷ sứ kia rồi!"

Trên sân khấu, một cô gái có bộ dạng như con trai đang lôi một tảng đá to bằng cỡ cái tủ lạnh mini từ sau màn sân khấu ra.

"Bạn ấy có

thể không phải là người thông minh nhất trên đời", Emma thì thầm, "nhưng có một trái tim bao la và sẵn sàng chấp nhận xuống mồ vì bạn

bè.

Bronwyn và tôi, chúng tôi rất thân nhau."

Ai đó đã đưa ra để mọi người truyền tay nhau một tập thiếp giới thiệu bà Peregrine từng dùng để quảng cáo cho chương trình biểu

diễn của họ.

Tập thiếp đến tay tôi, tấm của Bronwyn ở trên cùng.

Trong bức ảnh, cô gái đứng chân trần, nhìn chằm chằm vào ống kính

với ánh mắt lạnh lùng.

Được viết chạy ngang mặt sau tấm thiếp là dòng chữ CÔ GÁI LỰC SĨ KỲ DIỆU CỦA SWANSEA!

"Tại sao bạn ấy không chụp cảnh mình đang nhấc bổng một tảng đá lên, nếu đó là điều bạn ấy thể hiện trên sân khấu?" tôi hỏi.

"Bạn ấy lúc đó đang rất khó chịu vì Chim buộc bạn ấy ăn mặc 'như một quý bà' để chụp ảnh.

Bạn ấy từ chối nhấc bất cứ cái gì lên, dù

là một cái hộp đựng mũ."

"Trông có vẻ như bạn ấy cũng không thích đi giày nữa."

"Thường là thế."

Bronwyn kết thúc việc kéo tảng đá ra giữa sân khấu, và trong một khoảnh khắc lúng túng, cô chỉ nhìn chăm chăm vào các khán giả,

như thể ai đó đã bảo cô dừng lại cho thêm phần kịch tính.

Sau đó, cô cúi người xuống, giữ lấy tảng đá giữa hai bàn tay to bản của mình rồi

từ từ nhấc bổng nó lên cao quá đầu.

Tất cả mọi người cùng vỗ tay và hò reo ầm lên, sự hân hoan của đám trẻ không hề giảm xuống cho

dù có lẽ họ đã chứng kiến cô gái thực hiện màn trình diễn này đến cả nghìn lần rồi.

Cảnh tượng này cũng gần giống như có mặt tại một

cuộc tập họp nhằm kích thích tinh thần đồng đội tại một ngôi trường tôi không theo học.

Bronwyn ngáp dài, bước xuống, kẹp lấy tảng đá bằng một cánh tay.

Sau đó, cô gái có mái tóc hoang dã lên sân khấu.

Emma cho hay

tên cô này là Fiona.

Cô gái đứng đối diện với các khán giả đằng sau một cái chậu trồng cây đựng đầy đất, hai bàn tay cô giơ lên phía trên

chậu đất như một nhạc trưởng.

Ban nhạc bắt đầu chơi bản "Chuyến bay của ong nghệ" (ít nhất thì cũng cố hết mức), và Fiona xòe cụp

các ngón tay bên trên chậu đất, khuôn mặt cô cau lại khó nhọc vì cố sức và tập trung.

Khi giai điệu mạnh dần lên, một hàng cây hoa cúc

mọc lên từ đất và mọc lá trổ hoa vươn lên phía hai bàn tay cô gái.

Cảnh tượng trông giống như một đoạn phim quay nhanh ghi lại cảnh

cây nở hoa, ngoại trừ việc Fiona dường như đang kéo những bông hoa vươn lên khỏi chậu đất của chúng bằng những sợi dây vô hình.

Tất cả khán giả đều thích thú cực độ, bật dậy khỏi ghế ngồi để cổ vũ nghệ sĩ.

Emma lật giở tập thiếp tới tấm của Fiona.

"Thiếp của bạn ấy là tấm ưa thích của tôi", cô nói.

"Chúng tôi đã bỏ ra nhiều ngày cho trang

phục của bạn ấy."

Tôi nhìn vào tấm thiếp.

Fiona mặc như một cô gái hành khất, đứng ôm một con gà con.

"Bạn ấy muốn vào vai gì vậy?" tôi hỏi.

"Một

nông dân vô gia cư à?"

Emma véo tôi.

"Bạn ấy muốn trông có vẻ tự nhiên, như một người hoang dã.

Jill Người Rừng, bọn tôi gọi bạn ấy như thế."

"Có thật bạn ấy tới từ trong rừng rậm không?"

"Bạn ấy tới từ Ireland."

"Có nhiều gà rừng con lắm sao?"

Emma lại véo tôi lần nữa.

Trong khi chúng tôi đang thì thầm, Hugh đã lên gia nhập cùng Fiona trên sân khấu.

Cậu ta đứng đó há

miệng ra, để những con ong bay ra ngoài tới thụ phấn cho những bông hoa Fiona đã tạo nên, như một nghi lễ kết đôi kỳ lạ.

"Fiona còn phát triển lên được thứ gì ngoài những bụi cây và bông hoa không?"

"Tất cả các luống cây cỏ này", Emma vừa nói vừa chỉ về phía những dải vườn trong sân.

"Và đôi khi cả những cây thân gỗ nữa."

"Thật sao?

Cả cây thân gỗ luôn hả?"

Emma lại lật tìm trong tập thiếp.

"Đôi khi chúng tôi sẽ diễn màn Jill và cây đậu thần.

Ai đó sẽ bám chặt lấy một trong những cái cây

nhỏ ở bìa rừng và chúng tôi sẽ cùng xem Fiona có thể làm nó cao lên đến chừng nào trong khi bạn kia cưỡi trên cái cây đó."

Cô giở tới

chỗ bức ảnh muốn tìm rồi gõ gõ ngón tay lên nó.

"Đó là kỷ lục", Emma nói đầy tự hào.

"Hai mươi mét."

"Các cậu chắc phải thấy buồn tẻ kinh khủng ở đây nhỉ?"

Cô định véo tôi lần nữa nhưng tôi đã chặn bàn tay cô lại.

Tôi chẳng phải chuyên gia về các cô gái, nhưng khi một cô cố véo bạn đến

bốn lần, tôi tin chắc đó là tán tỉnh.

Còn có thêm vài tiết mục nữa sau khi Fiona và Hugh rời sân khấu, nhưng đến lúc đó đám trẻ đã trở nên nhốn nháo, và không lâu sau

chúng tôi giải tán để dùng thời gian còn lại của ngày hôm đó đắm chìm trong niềm hạnh phúc mùa hè: thảnh thơi uống nước chanh dưới

ánh mặt trời; chơi bóng vồ; chăm nom cho những khoảnh vườn mà nhờ có Fiona hầu như chẳng cần phải chăm nom; thảo luận về thực

đơn cho bữa trưa.

Tôi muốn hỏi bà Peregrine nhiều hơn về ông nội - một chủ đề tôi né tránh với Emma, cô luôn trở nên ủ ê mỗi khi có ai

nhắc đến tên ông - nhưng cô phụ trách đã đi giảng bài tại phòng học dành cho những đứa bé hơn đám này.

Dẫu vậy, có vẻ như tôi có

thoải mái thời gian, và nhịp sống chậm chạp cùng cái nóng buổi trưa làm tôi nhụt hết quyết tâm để làm bất cứ việc gì cần nhiều nỗ lực

hơn chuyện tha thẩn quanh khu nhà trong cảm giác kinh ngạc mơ màng.

Sau một bữa ăn trưa ê hề với sandwich kẹp thịt ngỗng và bánh pudding sô cô la, Emma bắt đầu gợi ý lôi kéo những đứa trẻ lớn tuổi

hơn đi bơi.

"Quên đi", Millard rên rẩm, cái khuy quần trên cùng của cậu ta mở bung ra.

"Tớ căng phồng như một con gà tây Giáng sinh

rồi."

Chúng tôi nằm ườn ra trên những cái ghế bọc nhung kê quanh phòng khách, no đến muốn vỡ bụng.

Bronwyn nằm co người lại, vùi

đầu giữa hai cái gối.

"Tớ sẽ chìm nghỉm xuống tận đáy mất", câu trả của cô vang lên nghèn nghẹt.

Nhưng Emma vẫn khăng khăng hối thúc.

Sau mười phút ngon ngọt phỉnh phờ, cô cũng dựng Hugh, Fiona và Horace dậy khỏi giấc

ngủ trưa của họ và thách Bronwyn, người có vẻ không thể bỏ qua được bất cứ cuộc cạnh tranh nào, thi bơi với mình.

Khi thấy tất cả

chúng tôi cùng kéo nhau ra khỏi nhà, Millard liền la lối rằng chúng tôi đã cố tình bỏ cậu ta lại.

Nơi tốt nhất để bơi là gần bến tàu, nhưng đi tới đó cũng đồng nghĩa với việc phải đi bộ qua thị trấn.

"Còn đám khùng say khướt cứ

nghĩ tớ là gián điệp Đức thì sao hả?" tôi nói.

"Hôm nay tớ không thích bị người khác vác gậy lùa đâu."

"Cậu đãng trí quá", Emma nói.

"Đó là hôm qua.

Họ sẽ chẳng còn nhớ gì hết."

"Chỉ cần choàng một cái khăn quanh người cậu để họ không thấy, ờ, mấy thứ quần áo tương lai của cậu là được", Horace nói.

Tôi đã

mặc lại quần jean và một chiếc áo phông, trang phục thường ngày của tôi, còn Horace mặc bộ vest đen quen thuộc của cậu ta.

Anh

chàng này có vẻ sở hữu cùng phong cách ăn mặc với bà Peregrine: bất cứ lúc nào cũng nghiêm chỉnh thái quá đến mức kinh khủng.

Bức

ảnh chụp cậu ta cũng nằm trong số ảnh tôi tìm thấy trong cái rương vỡ nát, và trong nỗ lực "phục trang" cho việc chụp ảnh, cậu ta đã

vượt quá mọi ranh giới: mũ chóp cao, gậy, kính một mắt - tóm lại là đủ lệ bộ.

"Cậu có lý", tôi vừa nói vừa nhướng mày về phía Horace.

"Tớ không muốn ai nghĩ mình mặc đồ quái dị."

"Nếu cậu đang đề cập đến cái áo gi lê của tôi", cậu ta trả lời thật cao ngạo, "phải, tôi thừa nhận mình là một người chạy theo mốt."

Những người khác cười khúc khích.

"Tiếp tục đi, cứ việc cười anh bạn Horace của các vị!

Cứ việc gọi tôi là một anh chàng bảnh chọe nếu

thích, nhưng chuyện những người dân trong làng sẽ chẳng nhớ các vị mặc gì không hề cho các vị quyền được mặc như một kẻ hành

khất!"

Nói xong, cậu ta quay sang vuốt phẳng phiu các ve áo của mình, hành động chỉ làm đám trẻ cười dữ hơn.

Vừa càu nhàu, cậu ta vừa

trỏ ngón tay như thể quy tội cho bộ đồ tôi mặc.

"Còn về cậu ta, xin Chúa cứu giúp chúng ta nếu đó là tất cả những gì tủ quần áo của

chúng ta có thể trông đợi trong tương lai!"

Khi tiếng cười đã lắng xuống, tôi kéo Emma sang một bên và thì thầm, "Chính xác thì cái gì đã làm Horace trở nên đặc biệt - ý tớ là bên

cạnh quần áo của cậu ấy?"

"Cậu ấy có những giấc mơ tiên tri.

Thường xuyên có những cơn ác mộng khủng khiếp, còn chúng lại có xu hướng rất đáng lo ngại là

trở thành hiện thực."

"Thường xuyên đến mức nào cơ?

Nhiều lắm sao?"

"Cậu hãy tự hỏi cậu ấy đi."

Nhưng Horace đang chẳng có tâm trạng nào để thù tiếp những câu hỏi của tôi.

Vậy là tôi đành dành chúng lại cho một dịp khác.

Khi chúng tôi đi vào thị trấn, tôi quàng một cái khăn quanh hông và khoác một cái khăn khác lên vai.

Cho dù không hẳn là tiên tri,

song Horace đã đúng về một chuyện: không ai nhận ra tôi.

Đi xuống đường cái, chúng tôi gặp phải vài ánh mắt lạ lùng, nhưng không ai

làm phiền chúng tôi.

Chúng tôi thậm chí còn đi ngang qua lão béo đã gây phiền toái đủ điều cho tôi ở chỗ quầy bar.

Ông ta đang nhồi

một tẩu thuốc bên ngoài tiệm bán thuốc lá và ba hoa về chính trị với một người phụ nữ hầu như chẳng buồn lắng nghe.

Tôi không dừng

được nhìn ông ta chằm chằm khi chúng tôi đi ngang qua.

Ông ta cũng trừng mắt nhìn lại, chẳng hễ có lấy một dấu hiệu là nhận ra.

Cứ như thể ai đó đã "khởi động lại" cả thị trấn.

Tôi tiếp tục nhận ra những thứ tôi đã thấy ngày hôm trước: cũng vẫn chiếc xe điên

cuồng lao đi vùn vụt xuống con đường, bánh sau của nó trồi trụt trên mặt sỏi, vẫn cùng những người phụ nữ xếp hàng cạnh giếng nước;

một người đàn ông quét hắc ín lên đáy một chiếc thuyền chèo tay, tiến độ công việc chẳng nhích lên được thêm chút nào so với hai mươi

bốn giờ trước.

Tôi gần như trông đợi sẽ thấy bóng ma của chính mình cắm đầu chạy băng qua thị trấn với một đám đông đuổi theo sau,

nhưng tôi đoán mọi thứ sẽ không diễn ra như thế.

"Các cậu hẳn phải biết rất nhiều về những gì diễn ra quanh đây", tôi nói.

"Như hôm qua, với những cái máy bay và cái xe đó."

"Millard là người biết tất cả", Hugh nói.

"Đúng thế", Millard nói.

"Thực ra tớ đang trên đường hoàn tất bản tường thuật hoàn chỉnh đầu tiên trên thế giới về một ngày trong

cuộc sống của một thị trấn, theo trải nghiệm của tất cả mọi người ở đó.

Mọi hành động, mọi cuộc hội thoại, mọi âm thanh, tạo ra bởi mỗi

cá thể trong số một trăm năm mươi chín con người và ba trăm ba mươi hai con vật cư trú tại Cairnholm, theo từng phút một, từ lúc mặt trời

mọc đến khi mặt trời lặn."

"Thật không tin nổi", tôi nói.

"Tớ không thể không đồng ý", cậu ta trả lời.

"Chỉ trong hai mươi bảy năm tớ đã quan sát được nửa số động vật và gần như toàn bộ

con người."

Tôi há hốc miệng.

"Hai mươi bảy năm?"

"Cậu ấy dành ra ba năm riêng cho những con lợn!"

Hugh nói.

"Có nghĩa là ghi chú lại mọi thứ về những con lợn hằng ngày trong

suốt ba năm!

Cậu có thể tưởng tượng nổi không?

'Cơn này phẹt ra một bãi phân!' 'Con kia kêu ụt ịt rồi lăn ra ngủ ngay trên chất thải của

chính nó!'"

"Các ghi chú là tối cần thiết cho quá trình này", Millard kiên nhẫn giải thích.

"Nhưng tôi có thể hiểu sự ghen tị của cậu, Hugh.

Nó hứa

hẹn sẽ là một công trình chưa từng có tiền lệ trong lịch sử giới học thuật hàn lâm."

"À, đừng có mà vểnh mũi lên", Emma nói.

"Nó cũng sẽ là một thứ chưa từng có tiền lệ trong lịch sử của những thứ dở hơi.

Nó là thứ

dở hơi đệ nhất từng được viết ra!"

Thay vì trả lời, Millard bắt đầu chỉ ra các biến cố ngay trước khi chúng xảy ra.

"Bà Higgins sắp sửa lên cơn ho", cậu ta nói, và sau đó

một người phụ nữ trên đường sẽ ho tới ho lui cho tới khi đỏ gay cả mặt, hay "Ngay bây giờ, một ngư dân sẽ than vãn về nỗi khó khăn khi

phải hành nghề trong thời chiến tranh", và sau đó một người đàn ông tựa người vào một cái xe chất đầy lưới đánh cá sẽ quay sang một

người đàn ông khác và nói, "Giờ đây dưới nước có quá nhiều lũ U-boat chết tiệt đó tới mức đi kiểm tra lưới của mình cũng không còn an

toàn nữa!"

Tôi thật sự bị ấn tượng, và nói với Millard như vậy.

"Tớ rất vui là có người trân trọng công trình của mình", cậu ta đáp.

Chúng tôi đi bộ dọc theo bến tàu ồn ào bận rộn cho tới hết cầu tàu, rồi sau đó men theo bờ biển lởm chởm đá về phía mũi đất, tới chỗ

một bãi cát.

Mấy cậu con trai bọn tôi cởi đồ ra chỉ mặc lại quần lót (tất cả ngoại trừ Horace, cậu ta chỉ cởi đôi giày và cái nơ ra) trong khi

các cô gái biến mất để thay sang những bộ đồ tắm kiểu cổ kín đáo.

Sau đó tất cả chúng tôi đều bơi.

Bronwyn và Emma bơi thi với nhau,

trong khi những người còn lại bơi vòng quanh; khi đã mệt, chúng tôi lên bãi cát và đánh một giấc.

Đến lúc trời nóng quá, chúng tôi lại lao

xuống nước, và khi nước biển lạnh làm chúng tôi rét run, chúng tôi lại lên bờ, và cứ thế lặp đi lặp lại cho tới khi bóng chúng tôi bắt đầu dài

ra trên mặt cát.

Chúng tôi trò chuyện với nhau.

Họ có cả triệu câu hỏi dành cho tôi, và khi ở cách xa bà Peregime, tôi có thể trả lời họ một cách thẳng

thắn.

Thế giới của tôi thế nào?

Mọi người ăn, uống, mặc những gì?

Khi nào khoa học sẽ khắc chế được bệnh tật và cái chết?

Họ sống

trong cảnh huy hoàng, nhưng thèm khát những khuôn mặt mới, những câu chuyện mới.

Tôi kể cho họ tất cả những gì có thể, cố moi

trong óc những mẩu chuyện về lịch sử thế kỷ hai mươi từ giờ giảng của cô Johnston - đổ bộ lên mặt trăng!

Bức tường Berlin!

Việt Nam!

-

nhưng họ khó lòng hiểu nổi.

Công nghệ và mức sống trong thời đại của tôi là điều làm họ kinh ngạc nhất.

Nhà của chúng tôi có điều hòa không khí.

Họ đã nghe

nói về vô tuyến truyền hình nhưng chưa bao giờ được thấy một cái, và choáng váng khi được biết gần như phòng nào trong nhà tôi cũng

có một cái hộp biết nói và phát hình ảnh.

Di chuyển bằng đường hàng không với chúng tôi cũng thông dụng và bình dân như di chuyển

bằng tàu hỏa với họ.

Quân đội của chúng tôi chiến đấu với những chiếc máy bay không người lái điều khiển từ xa.

Chúng tôi mang theo

người những chiếc điện thoại kiêm máy tính có thể nhét vừa trong túi quần, và cho dù cái của tôi không hoạt động ở đây (nơi này dường

như không có thiết bị điện tử nào hoạt động được), tôi vẫn lấy nó ra để cho họ thấy phần thân máy bóng loáng có mặt kính của nó.

Mặt trời bắt đầu lặn khi cuối cùng chúng tôi lên đường quay về.

Emma bám dính lấy tôi, mu bàn tay cô cọ lên bàn tay tôi trong khi

chúng tôi bước đi.

Đi ngang qua một cây táo ở ngoài rìa thị trấn, cô dừng lại để hái một quả, nhưng ngay cả khi Emma đã đứng kiễng

chân, quả táo ở thấp nhất vẫn nằm ngoài tầm tay cô, vậy là tôi làm điều bất cứ quý ông nào cũng sẽ làm là giúp nâng người cô lên, quàng

hai cánh tay tôi quanh eo cô và cố không rên lên khi tôi nhấc cô, cánh tay trắng nõn của cô vươn lên, mái tóc ướt lấp lánh dưới ánh mặt

trời.

Khi tôi đặt Emma xuống, cô nhẹ nhàng đặt một nụ hôn lên má tôi rồi đưa cho tôi quả táo.

"Này", cô nói, "cậu dành được nó đấy."

"Quả táo hay nụ hôn cơ?"

Cô bật cười và chạy vụt đi để bắt kịp những người khác.

Tôi không biết phải gọi điều vừa diễn ra giữa hai chúng tôi là gì, song tôi

thích nó.

Nó có vẻ thật ngây ngô, mong manh và tuyệt vời.

Tôi cho quả táo vào túi và chạy theo cô.

Khi chúng tôi đi tới chỗ đầm lầy và tôi nói phải về nhà, Emma giả bộ hờn dỗi.

"Ít nhất hãy để tôi đưa cậu về", cô nói, vậy là chúng tôi

vẫy tay chào tạm biệt những người khác và băng qua đầm tới chỗ ngôi mộ đá, vừa đi, tôi vừa cố hết sức để ghi nhớ những chỗ cô đặt

chân.

Khi tới đó, tôi nói, "Hãy đi cùng tớ sang bên kia một phút thôi."

"Tôi không thể.

Tôi phải quay về, nếu không Chim sẽ nghi ngờ chúng ta."

"Nghi ngờ chúng ta về cái gì?"

Emma rụt rè mỉm cười.

"Về... một điều gì đó."

"Một điều gì đó."

"Cô ấy luôn cảnh giác tìm kiếm thứ gì đó", cô gái vừa nói vừa bật cười.

Tôi thay đổi chiến thuật.

"Vậy ngày mai cậu tới gặp tớ thì sao nhỉ?"

"Gặp cậu?

Ở bên đó ư?"

"Sao không chứ?

Bà Peregrine sẽ không có mặt để canh chừng chúng ta.

Thậm chí cậu còn có thể gặp bố tớ.

Tất nhiên, chúng ta sẽ

không nói cho ông ấy biết cậu là ai.

Và khi đó có thể ông ấy sẽ thoải mái hơn một chút về chuyện tớ đi đâu và làm gì suốt cả ngày.

Tớ đi

chơi với một cô gái hấp dẫn ư?

Như thế có vẻ giống điều ước trong mơ hay ho nhất của một ông bố."

Tôi nghĩ có thể Emma sẽ mỉm cười về chuyện cô gái hấp đẫn, nhưng thay vì thế cô lại trở nên nghiêm túc.

"Chim chỉ cho phép bọn tôi sang bên đó mỗi lần vài phút thôi, chỉ để vòng được mở thông, cậu biết đấy."

"Vậy hãy nói với bà ấy những gì cậu sẽ làm!"

Emma thở dài.

"Tôi muốn thế lắm.

Thật lòng đấy.

Nhưng đó là một ý tưởng tồi."

"Bà ấy quàng dây vào cổ các cậu chặt quá nhỉ."

"Cậu không biết cậu đang nói về chuyện gì đâu", cô cau mày nói.

"Và xin cảm ơn vì đã so sánh tôi với một con chó.

Thông thái đấy."

Tôi tự hỏi làm thế nào chúng tôi lại đi từ tán tỉnh sang tranh cãi nhanh đến vậy.

"Tớ không hề có ý như thế."

"Không phải là tôi không thích", Emma nói.

"Mà chỉ là không thể."

"Được rồi, tớ đề nghị thế này nhé.

Quên chuyện tới chỗ tớ cả ngày đi.

Chỉ qua đó phút thôi, ngay bây giờ."

"Một phút?

Chúng ta có thể làm gì trong một phút?"

Tôi cười nhăn nhở.

"Cậu sẽ ngạc nhiên đấy"

"Nói cho tôi biết đi!" cô vừa nói vừa đẩy tôi.

"Chụp ảnh cậu."

Nụ cười của Emma vụt biến mất.

"Lúc này diện mạo của tôi đâu có hấp dẫn nhất đâu", cô nói với vẻ ngờ vực.

"Không, trông cậu tuyệt lắm.

Thật đấy."

"Chỉ một phút thôi?

Hứa nhé?"

Tôi để cô chui vào trong mộ đá trước.

Khi chúng tôi chui trở ra, thế giới mờ mịt sương mù và lạnh lẽo, mặc dù may thay cơn mưa đã

dứt.

Tôi lấy điện thoại ra và vui mừng thấy lý thuyết của tôi đã đúng.

Ở phía bên này vòng thời gian, các thiết bị điện tử hoạt động ngon

lành.

"Máy ảnh của cậu đâu?"

Emma vừa nói vừa rùng mình vì lạnh.

"Làm cho xong chuyện này đi!"

Tôi giơ điện thoại lên và chụp ảnh cô.

Cô chỉ lắc đầu, như thể chẳng còn gì về thế giới kỳ lạ của tôi có thể làm cô ngạc nhiên nữa.

Sau

đó cô chạy né đi, còn tôi phải đuổi theo cô vòng quanh mộ đá, cả hai chúng tôi cùng cười phá lên, Emma trốn mất khỏi tầm mắt tôi để rồi

lại lao vụt ra để thu hút ống kính.

Một phút sau, tôi đã chụp nhiều ảnh đến mức cái điện thoại của tôi gần như cạn sạch pin.

Emma chạy tới lối vào mộ đá và tặng cho tôi một cái hôn gió.

"Gặp lại cậu ngày mai, chàng trai tương lai!"

Tôi giơ tay lên vẫy chào tạm biệt, và cô chui vào trong đường hầm đá.

***

Tôi trở lại thị trấn lạnh cóng, ướt sũng và cười toe toét như một gã khùng.

Vẫn còn cách quán rượu nhiều căn nhà nữa thì tôi nghe

thấy một âm thanh lạ lùng vang lên trên nền rì rầm của các máy phát điện - ai đó đang gọi tên tôi.

Theo hướng giọng nói, tôi thấy bố đang

đứng giữa phố mặc chiếc áo len sũng nước, hơi thở phả ra mờ mịt đằng trước ông như làn khói ống xả vào một buổi sáng lạnh lẽo.

"Jacob!

Bố tìm con mãi!"

"Bố dặn là về trước bữa tối mà, con về đây rồi!"

"Quên bữa tối đi.

Lại đây với bố."

Bố tôi chưa bao giờ bỏ bữa tối.

Chắc chắn phải có chuyện gì.

"Có chuyện gì vậy ạ?" ,

"Bố sẽ giải thích trên đường", bố tôi vừa nói vừa sải bước về phía quán rượu.

Đến đó, ông chăm chú nhìn tôi.

"Con ướt sũng cả người

rồi kìa!"

ông kêu lên.

"Vì Chúa, con đã mất nốt cái áo khoác còn lại rồi sao hả?"

"Con, ừm..."

"Mà sao mặt con đỏ gay thế kia?

Trông con như bị cháy nắng vậy."

Khỉ thật.

Suốt cả một buổi chiều trên bãi biển không kem chống nắng.

"Con đang nóng bừng cả người vì chạy", tôi nói, mặc dù làn da

trên hai cánh tay tôi đang nổi gai ốc lên vì lạnh.

"Có chuyện gì vậy?

Có ai chết hay sao ạ?"

"Không, không, không", bố tôi nói.

"À, cũng gần như thế.

Một con cừu nào đó."

"Chuyện đó thì liên quan gì đến chúng ta?"

"Người ta nghĩ lũ trẻ con đã gây ra chuyện đó.

Như một hành động phá hoại."

"Người ta là ai cơ?

Cảnh sát bảo vệ cừu sao?"

"Những người nuôi cừu", bố tôi nói.

"Họ vặn hỏi tất cả mọi người dưới hai mươi tuổi.

Và tất nhiên họ rất quan tâm tới chuyện con đã

ở đâu cả ngày."

Bụng tôi thắt lại.

Tôi không hẳn đã có được một câu chuyện chắc chắn làm bình phong, và tôi cố gắng vắt óc nghĩ ra một chuyện gì

đó trong khi chúng tôi về tới gần Priest Hole.

Bên ngoài quán rượu, một đám đông nhỏ đang xúm quanh một vài người nuôi cừu mặt mũi có vẻ rất tức giận.

Một người mặc bộ áo

liền quần bê bết bùn, tựa người trên một cây chĩa xọc rơm đầy vẻ đe dọa.

Một người khác đang tóm lấy cổ áo Worm.

Worm mặc một cái

[19]

quần thể thao màu sáng chói mắt và áo sơ mi có ghi dòng chữ TÔI THÍCH NGƯỜI TA GỌI TÔI LÀ BIG POPPA

.

Anh chàng đang

khóc, bong bóng mũi phập phồng ở môi trên.

Người nuôi cừu thứ ba, gầy khẳng khiu và đội một cái mũ len đan chỉ về phía tôi khi hai bố con tôi lại gần.

"Nó đây rồi!"

ông ta hét

lên.

"Mày đã đi đâu hả, con trai?"

Bố vỗ lên lưng tôi.

"Hãy nói cho họ biết đi", ông tự tin nói.

Tôi cố làm ra vẻ mình chẳng có gì để giấu.

"Cháu đi khám phá phía bên kia đảo.

Chỗ ngôi nhà lớn."

Mũ Len Đan trông có vẻ lúng túng.

"Ngôi nhà lớn nào?"

"Cái đống đổ nát cũ kỹ trong rừng", Chĩa Xọc Rơm nói.

"Chỉ một gã điên hẳn hoi mới đặt chân đến chỗ đó.

Chỗ ấy bị ma ám, và là một

cái bẫy chết người."

Mũ Len Đan nheo mắt nhìn tôi.

"Ở trong ngôi nhà lớn với ai hả?

"Chẳng ai cả", tôi nói, và thấy bố ném cho tôi một ánh mắt tinh quái.

"Bố láo!

Tao nghĩ mày ở cùng với thằng này", người đàn ông đang tóm Worm nói.

"Cháu chẳng bao giờ giết con cừu nào cả!"

Worm kêu lên.

"Câm mồm!" người đàn ông gắt lên.

"Jake?" bố tôi lên tiếng.

"Thế còn chuyện về các bạn con là thế nào?"

"À, chuyện tào lao thôi, bố."

Mũ Len Đan quay sang gắt lên, "Sao hả, đồ nhóc con dối trá.

Tao phải quất cho mày một trận ngay đây trước mặt Chúa và mọi người."

"Ông tránh xa con tôi ra", bố tôi nói, thể hiện giọng Ông Bố Cứng Rắn khá nhất của ông.

Mũ Len Đan bật rủa và tiến một bước về

phía bố tôi, đoạn ông ta cùng bố tôi gườm gườm đối diện nhau.

Chưa ai trong hai người kịp tung ra quả thụi thì, một giọng quen thuộc đã

cất lên, "Dừng lại, Dennis, chúng ta sẽ thu xếp chuyện này", và ông Martin chen qua đám đông tới đứng chặn giữa hai người.

"Hãy bắt

đầu bằng việc cho chúng tôi biết những gì con trai ông nói với ông", ông nói với bố tôi.

Bố trừng mắt nhìn tôi.

"Nó nói sẽ đi gặp mấy người bạn ở phía bên kia đảo."

"Bạn nào?"

Chĩa Xọc Rơm hoạnh họe.

Tôi có thể thấy chuyện này sẽ chỉ xấu đi trừ phi tôi làm điều gì đó thật quyết liệt.

Rõ ràng tôi không thể nói với họ về những đứa trẻ -

mà đằng nào họ cũng sẽ chẳng tin tôi - vậy nên thay vì thế tôi chấp nhận một rủi ro lường trước được.

"Chẳng có ai cả", tôi nói, cúi mặt xuống vờ xấu hổ.

"Họ chỉ là tưởng tượng."

"Nó nói gì thế?"

"Con trai tôi nói đám bạn của nó chỉ là tưởng tượng", bố tôi nhắc lại, nghe có vẻ lo lắng.

Mấy người nuôi cừu trao đổi với nhau những cái nhìn ngỡ ngàng.

"Thấy chưa?"

Worm nói, một tia hy vọng lóe lên trên khuôn mặt nó.

"Thằng nhóc này là một đứa thần kinh chết tiệt!

Chắc chắn phải

là nó!"

"Cháu chưa bao giờ chạm đến chúng cả", tôi nói, cho dù chẳng ai đang thực sự lắng nghe.

"Không phải là cậu người Mỹ", người nuôi cừu đang túm lấy Worm nói.

Ông này giật mạnh cái áo của nó.

"Còn thằng này, nó đã có

tiền sự rồi.

Mấy năm trước, tôi đã thấy nó đá một con cừu rơi từ trên vách đá xuống.

Không thể tin nổi nếu tôi không chính mắt nhìn thấy.

Sau khi nó làm thế tôi có hỏi nó vì sao.

Để xem con cừu có bay được không, nó nói thế.

Thằng nhóc này là một đứa bệnh hoạn, hẳn rồi.

Đám đông rì rầm đầy ghê tởm.

Worm trông không được thoải mái lắm nhưng cũng không chối cãi gì về câu chuyện.

"Thế còn thằng bạn bán cá của nó đâu?"

Chĩa Xọc Rơm hỏi.

"Nếu thằng này dính đến chuyện đó, các vị cũng có thể đặt cược ngay

là thằng kia cũng thế."

Ai đó nói người ta đã thấy Dylan ở gần chỗ bến tàu, và mấy người được phái đi tìm cậu ta.

"Thế nếu là một con sói thì sao, hoặc là một con chó hoang?" bố tôi nói.

"Bố tôi đã bị lũ chó sát hại."

"Trên đảo Cairnholm chỉ có chó chăn cừu thôi", Mũ Len Đan trả lời.

"Và chính xác thì chó chăn cừu không có bản năng đi giết cừu."

Tôi ước gì bố tôi chịu kết thúc chuyện này và rút lui khi còn dễ dàng làm được thế, nhưng ông đã dính sâu vào vụ này chẳng khác gì

[20]

Perry Mason

.

"Chúng ta đang nói về bao nhiêu con cừu đây nhỉ?" bố tôi hỏi.

"Năm", người nuôi cừu thứ tư đáp, ông ta là một người lùn hoẳn, mặt mũi cau có từ nãy đến giờ chưa nói câu nào.

"Tất cả đều là của

tôi.

Bị giết ngay trong bãi nhốt.

Mấy con vật khốn khổ thậm chí chẳng có cơ hội chạy trốn."

"Năm con cừu.

Theo ông nghĩ năm con cừu sẽ có bao nhiêu máu?"

"Tôi sẽ không lạ nếu là cả một bồn đầy ắp."

"Vậy thì chẳng phải kẻ gây ra chuyện đó người sẽ bê bết máu sao?"

Mấy người nuôi cừu đưa mắt nhìn nhau.

Họ nhìn tôi, rồi sau đó nhìn Worm.

Sau đó, họ nhún vai rồi gãi đầu.

"Có lẽ là lũ cáo", Mũ Len

Đan nói.

"Cả một bầy cáo thì có thể", Chĩa Xọc Rơm nói đầy ngờ vực, "nếu hòn đảo này có thể có nhiều đến thế."

"Tôi vẫn cho rằng những vết cắt quá gọn", người đàn ông đang tóm Worm nói.

"Chắc chắn phải do một con dao gây ra."

"Tôi không tin như vậy", bố tôi đáp.

"Vậy thì ông cứ tự đến mà xem", Mũ Len Đan nói.

Vậy là trong khi đám đông bắt đầu giải tán, nhóm nhỏ chúng tôi đi theo mấy người

nuôi cừu tới chỗ hiện trường vụ án.

Chúng tôi leo qua một ngọn đồi thấp, qua một cánh đồng gần đó, tới chỗ một cái lán nhỏ bằng ván

gỗ màu nâu đằng sau là một khu nuôi nhốt súc vật hình chữ nhật.

Chúng tôi dè dặt lại gần và nhìn vào qua khe các thanh rào.

Cảnh tượng đẫm máu bên trong trong gần như trong tranh, tác phẩm của một họa sĩ điên theo trường phái ấn tượng chỉ vẽ bằng màu

đỏ.

Bãi cỏ bị giày xéo ngập sũng máu, cũng như những cọc rào dãi dầu sương gió của bãi nhốt và mấy xác cừu màu trắng nằm cứng đờ, bị

quăng quật trong tư thế của cơn đau đớn cực độ đầy cam chịu.

Một con đã cố leo qua hàng rào và những cái chân nhỏ bé của nó bị mắc

kẹt giữa các thanh rào.

Cái xác cừu nằm treo trước mắt tôi ở một tư thế thật kỳ quặc, bị phanh ra làm đôi từ cổ xuống tận đáy chậu, như thể

nó đã bị mở khóa kéo ra.

Tôi buộc phải quay mặt đi.

Những người khác vừa thì thầm vừa lắc đầu, rồi ai đó khẽ huýt sáo.

Worm ậm ọe rồi bắt đầu khóc, hành

động bị nhìn nhận như ngầm thừa nhận tội lỗi; tên tội phạm không thể đối diện với tội ác của chính hắn.

Nó bị điệu tới nhốt trong bảo

tàng của ông Martin - ở chỗ từng là phòng cất đồ thánh và giờ làm xà lim tạm thời của hòn đảo - cho tới khi bị bàn giao lại cho cảnh sát

trong đất liền.

Chúng tôi để người chủ bãi nuôi cừu ở lại bần thần với những con cừu bị giết của ông ta và quay trở lại thị trấn, khó nhọc leo qua

những ngọn đồi ướt nhẹp trong cảnh chạng vạng xám xịt.

Quay về phòng mình, tôi biết sắp phải có một cuộc nói chuyện với Ông Bố

Cứng Rắn, vì vậy tôi cố hết sức để tước vũ khí ông trước khi ông kịp động thủ.

"Con đã nói dối bố, và con xin lỗi."

"Thế à?" bố tôi hỏi đầy mỉa mai, trong khi thay cái áo len ướt bằng một cái áo khô.

"Con khá lắm.

Giờ chúng ta sẽ nói về chuyện dối

trá nào đây?

Bố khó lòng hiểu nổi chuyện gì nữa."

"Về chuyện con nói đi gặp bạn.

Chẳng có đứa trẻ nào khác trên đảo cả.

Con đã bịa ra bọn họ vì không muốn bố lo lắng về việc con ở

đó một mình."

"À, đúng là bố có lo lắng, thậm chí dù ông bác sĩ của con đã bảo bố đừng lo."

"Con biết thế."

"Vậy còn chuyện mấy người bạn tưởng tượng này thì thế nào đây?

Golan có biết về chuyện này không?"

Tôi lắc đầu.

"Đó cũng là một lời nói dối.

Chỉ là con phải tìm cách rũ mấy người kia khỏi bám lấy mình."

Bố tôi khoanh hai tay lại, không chắc nên tin vào cái gì nữa.

"Thật là."

"Thà để họ nghĩ con hơi lập dị còn hơn là để họ nghĩ con là một kẻ giết cừu, phải không nào?"

Tôi ngồi xuống bên bàn.

Bố nhìn tôi một hồi lâu, và tôi không dám chắc ông có tin tôi hay không.

Sau đó, ông đi tới chỗ chậu rửa và

vục nước lên rửa mặt.

Sau khi đã lau khô và quay trở lại, bố tôi có vẻ đã quyết định rằng tin tôi thì đỡ phiền phức hơn nhiều.

"Con chắc chúng ta không cần gọi lại cho bác sĩ Golan chứ?" bố tôi hỏi.

"Để có một cuộc nói chuyện dài thú vị?"

"Nếu bố muốn thế.

Nhưng con ổn cả."

"Đây chính xác là lý do vì sao bố không muốn con dây dưa với mấy thằng nhóc rapper kia", bố tôi nói, vì ông cần viện đến một thứ gì

đó đủ vẻ răn dạy để cuộc trò chuyện này có thể tính là nghiêm túc.

"Về chuyện đó thì bố đúng", tôi nói, mặc dù trong thâm tâm tôi không thể tin có ai trong hai cậu chàng kia đủ khả năng làm chuyện

đó.

Worm và Dylan thích nói thánh nói tướng, nhưng cũng chỉ có thế thôi.

Bố ngồi xuống đối diện với tôi.

Trông ông có vẻ mệt mỏi.

"Bố vẫn muốn biết bằng cách nào người ta lại có thể bị bắt nắng vào một

ngày như hôm nay."

Phải rồi.

Những vết bắt nắng.

"Con đoán là da con hơi nhạy cảm", tôi nói.

"Chắc là vậy thôi", bố tôi nói khô khan.

Ông để tôi yên, và tôi đi tắm, đồng thời nghĩ về Emma.

Sau đó, tôi đánh răng trong lúc nghĩ về Emma rồi rửa mặt trong lúc nghĩ về Emma.

Tiếp theo, tôi về phòng, lấy quả táo cô đưa cho tôi từ trong túi ra, để nó lên bàn đầu giường, rồi sau đó, như thể nhằm đảm bảo với bản

thân là cô vẫn còn tồn tại, tôi lấy điện thoại của mình ra và xem qua những bức ảnh tôi đã chụp cô hồi chiều.

Khi nghe thấy tiếng bố lên

giường ở phòng bên, tôi vẫn đang xem, khi những chiếc máy phát ngừng hoạt động và đèn trong phòng tôi tắt phụt, tôi vẫn đang xem, rồi

đến khi không còn ánh sáng ở đâu khác, chỉ có khuôn mặt Emma trên màn hình điện thoại bé nhỏ của tôi, tôi vẫn nằm đó trong bóng tối

và tiếp tục xem.

Chương 8

Hy vọng thoát được một bài lên lớp nữa, tôi dậy sớm và ra khỏi nhà trước khi bố thức giấc.

Tôi nhét một tờ giấy nhắn vào dưới cánh

cửa ra vào phòng ông rồi đi lấy quả táo của Emma, nhưng nó không còn ở trên cái bàn đầu giường, nơi tôi để nó lại.

Một cuộc tìm kiếm kỹ

lưỡng dưới sàn moi ra rất nhiều bụi lưu cữu vón lại thành cục và một vật nhăn nheo như làm bằng da to bằng cỡ quả bóng golf.

Tôi đang

bắt đầu tự hỏi liệu có phải ai đó đã xoáy mất quả táo hay không thì nhận ra cái vật nhăn nheo kia chính là quả táo.

Vào một thời điểm nào

đó đêm qua quả táo đã xuống cấp trầm trọng, trở nên teo quắt tới mức tôi chưa từng thấy quả nào quắt queo như thế.

Trông như thể nó

đã trải qua cả năm bị bỏ mặc trong máy sấy khô thực phẩm đóng kín.

Khi tôi thử nhặt lên, quả táo liền vụn ra trên bàn tay tôi như một

nhúm đất.

Ngỡ ngàng, tôi hất nó đi rồi ra ngoài.

Trời mưa tầm tã, nhưng chẳng mấy chốc tôi đã bỏ lại bầu trời xám xịt sau lưng để đổi lấy ánh mặt

trời đáng tin cậy của vòng thời gian.

Tuy nhiên, lần này chẳng có cô gái xinh đẹp nào đợi tôi ở phía bên kia ngôi mộ đá - hay bất cứ ai

khác.

Tôi cố không tỏ ra quá thất vọng, nhưng đúng là tôi cảm thấy hơi thất vọng.

Ngay khi tới trại trẻ, tôi bắt đầu tìm kiếm Emma, nhưng bà Peregrine đã chặn tôi lại trước khi tôi kịp đi qua tiền sảnh.

"Ta muốn nói vài lời với cậu, cậu Portman", bà nói, rồi dẫn tôi vào gặp riêng trong bếp, vẫn còn thơm nức mùi bữa sáng ngon lành tôi

đã lỡ mất.

Tôi có cảm giác như đang bị gọi lên phòng phụ trách.

Bà Peregrine tựa người vào cái bếp to.

"Cậu có thích thời gian ở cùng chúng tôi không?" bà hỏi.

Tôi trả lời là có thích, rất thích.

"Thế thì tốt", bà đáp, rồi nụ cười của bà biến mất.

"Ta hiểu cậu đã có một buổi chiều vui vẻ với một vài học sinh của ta hôm qua.



cả một cuộc trò chuyện rất sôi nổi nữa."

"Chuyện đó rất tuyệt.

Tất cả họ thực sự rất dễ mến."

Tôi cố gắng nói đến mọi thứ thật nhẹ nhàng, song tôi có thể thấy bà Peregrine

đang bực tôi vì lý do nào đó.

"Hãy nói cho ta biết", bà nói, "cậu có thể mô tả thế nào về bản chất cuộc trò chuyện của các cô các cậu?"

Tôi cố nhớ lại.

"Cháu không biết... bọn cháu đã nói về rất nhiều thứ.

Mọi thứ ở đây thế nào.

Mọi người ở nơi cháu đang sống thì thế

nào."

"Nơi cậu đang sống."

"Đúng thế."

"Và cậu có nghĩ việc trò chuyện về những thứ trong tương lai với những đứa trẻ của quá khứ là khôn ngoan không?"

"Những đứa trẻ?

Bà thực sự nghĩ về họ như thế sao?"

Tôi hối tiếc vì đã nói như thế ngay khi những lời này buột ra khỏi miệng mình.

"Bản thân chúng cũng nhìn nhận bản thân như thế", bà gắt gỏng.

"Cậu định gọi chúng thế nào đây?"

Với tâm trạng của bà, đây không phải là một vấn đề tế nhị tôi sẵn sàng tranh luận.

"Trẻ con, cháu đoán vậy."

"Đúng thế.

Bây giờ, như ta đang nói", bà Peregrine nói, nhấn mạnh các từ bằng cách chém tay xuống bếp, "cậu có nghĩ việc trò

chuyện về tương lai với những đứa trẻ của quá khứ là khôn ngoan không?"

Tôi quyết định thử đánh liều.

"Chắc là không?"

"À, nhưng có vẻ cậu đã làm thế đấy!

Tôi biết điều đó vì tối qua khi dùng bữa chúng ta được Hugh thết đãi một bài tổng kết công phu

đáng kinh ngạc về những điều kỳ diệu của công nghệ viễn thông thế kỷ hai mươi mốt."

Giọng bà đầy vẻ mỉa mai.

"Mọi người có biết rằng

khi người ta gửi một lá thư đi vào thế kỷ hai mươi mốt, bên kia có thể nhận được gần như ngay lập tức không?"

"Cháu nghĩ bà đang nói về thư điện tử."

"À, Hugh biết tất cả về nó."

"Cháu không hiểu", tôi nói.

"Chẳng lẽ đó là vấn đề sao?"

Bà Peregrine thôi tựa người vào bếp, bước một bước tập tễnh về phía tôi.

Cho dù bà thấp hơn tôi đến cả ba chục phân, song bà vẫn

có thể chiếm thế áp đảo.

"Là một Chủ Vòng Thời Gian, ta đã tuyên thệ phải giữ an toàn cho những đứa trẻ này, và trên hết điều đó có nghĩa là giữ chúng ở đây

- trong vòng - trên hòn đảo này."

"Vâng."

"Thế giới của cậu là nơi không bao giờ chúng có thể gia nhập, cậu Portman.

Vì thế liệu có ích gì khi nhồi nhét vào đầu óc chúng

những lời đao to búa lớn về những điều kỳ diệu đáng kinh ngạc của tương lai?

Giờ thì cậu đã làm cho một nửa đám trẻ năn nỉ được thực

hiện một chuyến đi bằng máy bay phản lực tới Mỹ và nửa còn lại mơ đến một ngày chúng cũng có thể sở hữu một chiếc điện thoại kiêm

máy tính như của cậu."

"Cháu xin lỗi.

Lúc đó cháu không nhận ra."

"Đây là nhà của chúng.

Ta đã cố làm cho nó thành một nơi đẹp đẽ nhất có thể.

Nhưng thẳng thừng mà nói thì chúng không thể rời đi,

và ta sẽ rất biết ơn nếu cậu không làm cho chúng muốn thế."

"Nhưng sao họ lại không thể rời đi?"

Bà nheo mắt lại nhìn tôi giây lát rồi lắc đầu.

"Tha thứ cho ta.

Ta đã tiếp tục đánh giá thấp mức độ khờ dại của cậu."

Bà Peregrine,

người dường như không bao giờ có thể ngồi không, cầm lấy một cái xoong để trên bếp và bắt đầu dùng miếng cọ nồi bằng thép để cọ rửa

nó.

Tôi tự hỏi liệu bà đang tảng lờ câu hỏi của tôi hay chỉ đơn giản là cân nhắc xem tốt nhất nên đưa ra câu trả lời thế nào.

Khi cái xoong đã sạch bong, bà để nó lại lên bếp và nói, "Chúng không thể lưu lại trong thế giới của cậu, cậu Portman, bởi vì chỉ trong

một thời gian ngắn chúng sẽ già đi và chết."

"Ý bà nói sao, chết ư?"

"Ta không rõ mình có thể nói thế nào cho thẳng thắn hơn nữa.

Chúng sẽ chết, Jacob."

Bà nói ngắn gọn, như thể muốn để chủ đề này

lại sau lưng hai chúng tôi càng nhanh càng tốt.

"Với cậu, có vẻ là chúng tôi đã tìm ra một cách để qua mặt cái chết, nhưng đó chỉ là một

ảo giác thôi.

Nếu lũ trẻ nán lại quá lâu bên phía cậu của vòng thời gian, tất cả bấy nhiêu năm chúng đã bỏ qua sẽ ập đến với chúng ngay

lập tức chỉ trong thời gian tính bằng giờ."

Tôi mường tượng ra cảnh tượng một người nhăn nheo teo tóp lại và vụn ra thành bụi đất như quả táo trên bàn đầu giường tôi.

"Thật

kinh khủng", tôi rùng mình thốt lên.

Vài thời khắc như thế mà ta đã không may phải chứng kiến đều nằm trong số những ký ức tồi tệ nhất đời ta.

Và để ta cam đoan với cậu

nhé, ta đã sống đủ lâu để thấy một số điều thực sự khủng khiếp."

"Vậy là chuyện này đã xảy ra trước đây rồi."

"Với một cô bé dưới sự chăm nom của ta, thật đáng tiếc.

Cách đây nhiều năm rồi.

Tên cô bé là Charlotte.

Đó là lần đầu tiên và cũng là

cuối cùng ta thực hiện một chuyến đi gặp một trong những người chị em Chủ Vòng Thời Gian của ta.

Trong quãng thời gian ngắn ngủi

ấy, Charlotte đã tìm cách qua mặt được những đứa trẻ lớn tuổi hơn đang canh chừng cô bé và lang thang ra ngoài vòng thời gian.

Hồi ấy

là năm 1985 hay 86, ta tin là vậy.

Charlotte đang một mình thơ thẩn trong làng thì bị một cảnh sát bắt gặp.

Khi không thể giải thích được

mình là ai và đến từ đâu - hay ít nhất là theo cách ông cảnh sát thấy thuận tai - cô bé tội nghiệp liền bị đưa bằng tàu thủy tới một trung

tâm chăm sóc trẻ em trong đất liền.

Chuyện đó xảy ra hai ngày trước khi ta có thể tìm được cô bé, và tới lúc ấy cô bé đã già đi ba mươi lăm

năm."

"Cháu nghĩ cháu đã thấy qua bức ảnh chụp cô ấy", tôi nói.

"Một phụ nữ trưởng thành trong trang phục của một cô bé."

Bà Peregrine buồn bã gật đầu.

"Sau chuyện đó cô ấy không bao giờ còn trở lại như trước được nữa.

Ngay cả tâm trí cũng vậy."

"Chuyện gì đã xảy ra với cô ấy vậy?"

"Bây giờ cô bé sống với cô Nightjar.

Cô Nightjar và cô Thrush phụ trách tất cả những ca khó."

"Nhưng như thế không có nghĩa là họ bị trói buộc vào hòn đảo này, phải vậy không?" tôi hỏi.

"Chẳng phải họ vẫn có thể rời khỏi vào

lúc này, thời điểm năm 1940, hay sao?"

"Phải, và lại bắt đầu già đi như bình thường.

Nhưng để làm gì chứ?

Để bị rơi vào một cuộc chiến tranh tàn khốc sao?

Hay để chạm

trán những người sợ hãi và hiểu lầm họ?

Và còn cả những mối nguy hiểm khác nữa.

Tốt nhất là ở đây."

"Những mối nguy hiểm khác nào vậy?"

Khuôn mặt bà tối sầm lại, như thể hối tiếc vì đã khơi ra chuyện này.

"Cậu không cần bận tâm đến làm gì.

Hay ít nhất là chưa."

Nói đoạn, bà xua tôi ra ngoài.

Tôi hỏi thêm lần nữa ý bà muốn nói gì khi nhắc tới "những mối nguy hiểm khác", nhưng bà đã đóng sầm

cửa lại trước mặt tôi.

"Hãy tận hưởng buổi sáng đi", bà khẽ nói, gượng cười.

"Tìm cô Bloom đi, ta tin chắc cô bé đang mong gặp cậu lắm."

Rồi bà đi vào trong nhà.

Tôi tha thẩn ra ngoài sân, tự hỏi làm thế nào tôi có thể xua được hình ảnh quả táo teo quắt ra khỏi đầu.

Tuy vậy, không mấy chốc tôi

đã làm được điều đó.

Không phải là tôi quên đi; chỉ là nó thôi không làm tôi băn khoăn nữa.

Đó là điều lạ lùng nhất.

Trở lại với nhiệm vụ tìm kiếm Emma, Hugh cho tôi biết cô đang vào làng mua đồ, vậy là tôi ngồi xuống dưới bóng mát của một cái cây

để đợi.

Trong vòng năm phút, tôi đã nửa thức nửa ngủ trên mặt cỏ, mỉm cười như một gã phê thuốc, khoan khoái tự hỏi không biết thực

đơn bữa trưa sẽ có gì.

Dường như chỉ riêng việc có mặt ở đây cũng tạo ra một tác động như gây mê lên tôi; như thể bản thân vòng thời

gian đã là một thứ ma túy - sự kết hợp giữa một thứ thuốc giúp cải thiện tâm trạng và một thứ thuốc an thần - và nếu nán lại quá lâu, tôi sẽ

không bao giờ muốn rời đi nữa.

Nếu đúng như thế, tôi nghĩ, điều đó sẽ giải thích rất nhiều điều, chẳng hạn như tại sao họ lại có thể sống cùng một ngày lặp đi lặp lại

triền miên trong hàng thập kỷ mà không bị mất trí.

Phải, nơi này tuyệt đẹp và cuộc sống rất tốt, nhưng nếu ngày nào cũng hệt như ngày

nào và những đứa trẻ thực sự không thể rời đi như bà Peregrine nói, vậy thì nơi này không chỉ đơn thuần là một thiên đường mà cũng là

một thứ nhà tù nữa.

Chỉ có điều nó quá tuyệt vời đến mê hoặc, vì thế người ta có thể phải mất nhiều năm để nhận ra, và đến khi ấy thì đã

quá muộn; rời đi lúc đó sẽ là quá nguy hiểm.

Vậy thì quả thực đây thậm chí còn không phải là một quyết định nữa.

Bạn ở lại.

Chỉ đến sau này - nhiều năm sau này - bạn mới bắt

đầu tự hỏi những gì đã có thể diễn ra nếu bạn không ở lại.

***

Chắc hẳn tôi đã ngủ thiếp đi, vì đến khoảng gần trưa, tôi bừng tỉnh vì cảm thấy thứ gì đó đang thúc vào bàn chân mình.

Tôi mở một

mắt ra thì phát hiện thấy một thân người nhỏ xíu đang cố chui vào nấp bên trong cái giày của tôi, nhưng bị mắc kẹt trong mớ dây giày.

Nhân vật này có tứ chi cứng đờ hậu đậu, cao bằng nửa cái nắp bịt trục bánh xe, mặc quân phục dã chiến.

Tôi quan sát nó vật lộn để gỡ

mình ra trong giây lát rồi đờ ra bất động như một món đồ chơi dây cót vừa chạy hết vòng cót cuối cùng.

Tôi cởi giày để gỡ nó ra, rồi lật

nó lại, tìm chỗ lên dây cót, nhưng không thấy chỗ nào cả.

Nhìn gần, món đồ chơi này là một vật lạ lùng, trông có vẻ thô kệch, cái đầu của

nó một viên đất sét vê tròn, khuôn mặt là một vết ấn ngón cái nhòe nhoẹt.

"Mang nó lại đây đi!" ai đó gọi từ bên kia sân.

Một cậu con trai đang giơ tay vẫy tôi từ một gốc cây ở bìa rừng.

Chẳng có việc gì khẩn cấp phải làm, tôi nhặt chú lính đất sét lên và đi tới đó.

Dàn hàng ra quanh cậu con trai nọ là cả một đội ngũ

hình nhân chạy cót, lảo đảo đi qua đi lại như những người máy bị trục trặc.

Khi tôi lại gần, chú lính trên tay tôi vụt sống lại, cựa quậy như

thể đang cố thoát đi.

Tôi để nó xuống cùng chỗ với những hình nhân khác và phủi đất sét còn dính trên quần mình.

"Tớ là Enoch", cậu con trai nói.

"Cậu chắc là anh chàng đó hả."

"Tớ đoán là thế", tôi đáp.

"Xin lỗi nếu chú lính quấy rầy cậu", cậu ta nói, cho chú lính tôi vừa trả về vào đoàn với đồng bạn.

"Chúng hiểu ý, cậu thấy đấy.

Vẫn

chưa được huấn luyện nghiêm chỉnh.

Mới chỉ chế ra chúng tuần trước."

Cậu ta nói với một chút khẩu âm khu Đông London.

Những

quầng đen hệt như của xác chết chạy vòng quanh mắt cậu ta như mắt một con gấu trúc Mỹ, và bộ áo liền quần cậu ta mặc - cũng chính là

bộ đồ cậu ta đã mặc trong những bức ảnh tôi từng thấy dính đầy đất sét và bụi.

Nếu không nhờ khuôn mặt phúng phính tròn trịa, cậu ta

hoàn toàn có thể là một chú thợ lau ống khói từ Oliver Twist bước ra.

"Cậu đã tạo ra những hình nhân này sao?" tôi hỏi, thực sự thấy ấn tượng.

"Bằng cách nào?"

"Chúng là những người tí hon", cậu con trai đáp.

"Đôi khi tớ gắn đầu búp bê lên cho chúng, nhưng lần này tớ đang vội nên chẳng

mất công thế nữa."

"Những người tí hon là cái gì?"

"Là nhiều hơn một người tí hon."

Cậu ta nói như thể đó là một chuyện bất cứ gã ngốc nào cũng biết.

"Vài người nghĩ chúng là các

hình nhân, nhưng tớ nghĩ gọi thế thật ngớ ngẩn, cậu thấy có phải không?"

"Chắc chắn rồi."

Chú lính đất sét tôi mang trả lại đã bắt đầu lang thang tiếp.

Enoch lấy chân đẩy nó trở lại cùng đồng đội.

Đám tí hon dường như đang

di chuyển rất lộn xộn, va chạm vào nhau như những nguyên tử ở trạng thái kích thích.

"Đánh đi, lũ ẻo lả!" cậu ta ra lệnh, và đến lúc đó tôi

nhận ra lũ tí hon không chỉ đơn thuần va vào nhau, mà đang tay đấm chân đá.

Tuy nhiên, anh chàng đất sét lang thang không bận tâm tới

đấm đá, và khi chú lính này bắt đầu tập tễnh lỉnh đi lần nữa, Enoch chộp lấy nó và vặt luôn hai chân.

"Đây là chuyện xảy đến với những kẻ đào ngũ trong quân đội của ta!" cậu ta la lên, và ném chú lính cụt chân xuống cỏ, nó quằn quại

trong thật quái gở trong lúc những chàng lính khác xông vào tấn công nó.

"Cậu luôn cư xử với tất cả đồ chơi của mình theo cách đó sao?"

"Sao cơ?" cậu ta hỏi.

"Cậu thấy thương hại cho chúng à?"

"Tớ không biết nữa.

Có nên thế không nhỉ?"

"Không.

Nếu không nhờ tớ thì chúng còn chẳng có sự sống."

Tôi bật cười, và Enoch quắc mắt nhìn tôi.

"Có gì buồn cười hả?"

"Chắc cậu đang đùa."

"Cậu hơi đầu đất phải không hả?" cậu ta nói.

"Nhìn đây."

Cậu ta chộp lấy một lính đất sét và lột hết quân phục ra.

Sau đó, bằng cả

hai tay, cậu ta bẻ đôi nó ra ngang thân và moi từ trong lồng ngực đất sét ra một quả tim nhỏ xíu đang co bóp.

Chú lính lập tức bất động.

Enoch dùng ngón cái và ngón trỏ cầm quả tim lên cho tôi xem.

"Quả tim này lấy từ một con chuột", cậu ta giải thích.

"Đó là khả năng của tớ - lấy đi sự sống của một thứ và trao nó cho thứ khác, có

thể bằng đất sét như cái này hoặc vật gì đó từng sống nhưng không còn sống nữa."

Enoch bỏ quả tim đã ngừng đập vào trong bộ áo liền

quần của mình.

"Ngay khi nghĩ ra cách huấn luyện đúng đắn cho chúng, tớ sẽ có cả một đạo quân như thế này.

Chỉ có điều chúng sẽ rất

to lớn."

Và cậu ta giơ thẳng một cánh tay lên cao quá đầu để cho tôi thấy cao lớn đến mức nào.

"Cậu có thể làm gì?" cậu ta hỏi.

"Tớ à?

Không gì cả, thật đấy.

Ý tớ là không thể làm gì đặc biệt như cậu."

"Tiếc thật", cậu ta đáp.

"Nhưng dù sao cậu cũng sẽ tới sống cùng bọn tớ chứ?"

Vẻ mặt cậu ta cho thấy không hẳn muốn tôi làm thế,

cậu ta dường như chỉ tò mò.

"Tớ không biết nữa", tôi nói.

"Tớ chưa nghĩ về chuyện đó."

Tất nhiên đây là một lời nói dối.

Tôi đã nghĩ về chuyện đó, nhưng chủ

yếu như một giấc mơ giữa ban ngày.

Cậu ta nhìn tôi với vẻ ngờ vực.

"Nhưng cậu không muốn à?"

"Tớ chưa biết."

Nheo mắt lại, cậu ta chậm rãi gật đầu, như thể đã hiểu ý tôi.

Sau đó, cậu ta cúi người sát lại và thì thầm, "Emma đã kể với cậu về Tấn Công Làng rồi phải không?"

"Tấn công vào đâu cơ?"

Cậu ta nhìn đi chỗ khác.

"Ồ, chẳng có gì đâu.

Chỉ là một trò vài người bọn tớ hay chơi thôi."

Tôi có trực cảm rằng mình đang bị gài bẫy.

"Cậu ấy không nói gì với tớ cả", tôi nói.

Enoch nhích người trên gốc cây về phía tôi.

"Tớ dám cược là cậu ấy đã không nói", cậu ta nói.

"Tớ cược là có nhiều điều về nơi này

cậu ấy không muốn cậu biết."

"Ồ vậy sao?

Vì sao thế?"

"Vì khi đó cậu sẽ thấy nó không tuyệt vời như mọi người muốn cậu nghĩ, và cậu sẽ không ở lại."

"Là những điều gì vậy?" tôi hỏi.

"Không thể nói được", cậu ta nói, dành cho tôi một nụ cười tinh quái.

"Tớ có thể gặp rắc rối to mất."

"Thế nào cũng được", tôi nói.

"Là cậu gợi chuyện ra trước mà."

Tôi đứng dậy bỏ đi.

"Đợi đã!" cậu ta la lên, chộp lấy tay áo tôi.

"Tại sao tớ phải ở lại nếu cậu chẳng chịu nói gì với tớ cả?"

Cậu ta xoa cằm thận trọng ngẫm nghĩ.

"Đúng là tớ không được phép nói gì hết... nhưng tớ đoán là tớ không thể ngăn cản nếu cậu

muốn lên lầu và ngó vào căn phòng ở cuối hành lang."

"Vì sao?" tôi hỏi.

"Có gì trong đó vậy?"

"Anh bạn Victor của tớ.

Anh ấy muốn gặp cậu.

Hãy lên đó nói chuyện một chút."

"Được", tôi nói.

"Tớ sẽ đi."

Tôi bắt đầu đi về phía trại trẻ, rồi sau đó nghe tiếng Enoch huýt sáo.

Cậu ta làm điệu bộ lướt một bàn tay dọc theo phía trên một

khung cửa.

Chìa k hóa, miệng cậu ta tạo thành khẩu hình.

"Sao tớ lại cần chìa khóa nếu có người ở trong phòng?"

Cậu ta quay đi, giả bộ không nghe thấy.

***

Tôi thong thả đi vào trong nhà, lên cầu thang như thể có việc ở trên đó và chẳng quan tâm nếu có ai biết chuyện.

Tới lầu hai không bị

ai trông thấy, tôi rón rén bước tới chỗ căn phòng ở cuối hành lang và thử mở cửa.

Cửa bị khóa.

Tôi gõ, nhưng không ai trả lời.

Ngoái lại nhìn đằng sau để đảm bảo không có ai đang theo dõi, tôi đưa bàn tay lên dò tìm phía trên khung cửa.

Tất nhiên tôi tìm thấy một cái chìa

khóa.

Tôi mở cửa, lách vào trong.

Căn phòng cũng giống như bất cứ phòng ngủ nào khác trong trại trẻ - có một tủ thấp có ngăn kéo, một tủ

đứng đựng quần áo, một lọ hoa trên bàn đầu giường.

Mặt trời gần trưa chiếu qua rèm cửa kéo kín màu mù tạt, làm ánh sáng vàng tỏa ra

khắp nơi, khiến cho cả căn phòng dường như bị đóng khuôn trong hổ phách.

Chỉ đến lúc đó, tôi mới để ý thấy một thanh niên nằm trên

giường, mắt nhắm nghiền, miệng hơi hé mở, bị che khuất nửa người sau một tấm màn ren.

Tôi cứng người lại, sợ đánh thức anh ta.

Tôi nhận ra anh ta từ cuốn album của bà Peregrine, mặc dù tôi chưa hề thấy anh ta vào các

bữa ăn hay quanh ngôi nhà, và chúng tôi cũng chưa bao giờ được giới thiệu với nhau.

Trong bức ảnh, anh ta đang ngủ trên giường,

giống hệt như lúc này.

Có phải anh ta đã bị cách ly, đã nhiễm phải một chứng bệnh ngủ nào đó không?

Liệu có phải Enoch đang tìm cách

để làm cả tôi cũng bị mắc bệnh nữa?

"Xin chào?" tôi thì thầm.

"Anh vẫn thức chứ?"

Anh ta không cử động.

Tôi đặt một bàn tay lên cánh tay anh ta và lay nhẹ.

Đầu anh ta ngật sang một bên.

Thế rồi tôi bất chợt nghĩ đến một điều khủng khiếp.

Để kiểm tra một giả thuyết, tôi giơ bàn tay lên trước miệng anh ta.

Tôi không thể

cảm thấy hơi thở của anh ta.

Ngón tay tôi chạm vào môi anh ta, đôi môi lạnh ngắt như băng.

Choáng váng, tôi rụt bàn tay lại.

Rồi nghe thấy tiếng bước chân, tôi quay ngoắt lại thì thấy Bronwyn trên ngưỡng cửa.

"Cậu không được phép vào đây!" cô rít lên.

"Anh ấy chết rồi", tôi nói.

Đôi mắt Bronwyn hướng về phía cậu thanh niên, và khuôn mặt cô cau lại.

"Đó là Victor."

Đột nhiên ký ức vụt qua với tôi, cho tôi hay đã thấy khuôn mặt anh ta ở đâu.

Anh ta chính là cậu con trai nâng bổng tảng đá trong

tập ảnh của ông nội tôi.

Victor là anh trai của Bronwyn.

Không thể biết được anh ta có thể đã chết bao lâu rồi; chừng nào vòng thời gian

tiếp tục vận hành, có thể năm mươi năm đã trôi qua mà trông chỉ như một ngày.

"Chuyện gì đã xảy ra với anh ấy vậy?" tôi hỏi.

"Có lẽ tớ sẽ đánh thức anh bạn Victor dậy", một giọng nói vang lên từ đằng sau chúng tôi, "và cậu có thể tự mình hỏi anh ta."

Đó là

Enoch.

Cậu ta đi vào và đóng cửa lại.

Bronwyn nhìn cậu ta qua làn nước mắt trào ra.

"Cậu có thể đánh thức anh ấy dậy không?

Ôi làm ơn đi, Enoch."

"Tớ không thể", cậu ta nói.

"Hiện giờ tớ có rất ít tim, mà muốn làm sống dậy một con người, dù chỉ trong một phút thôi, thì cũng cần

rất nhiều tim."

Bronwyn tới chỗ người thanh niên đã chết và bắt đầu chải ngón tay lên mái tóc anh ta.

"Làm ơn đi", cô năn nỉ, "đã nhiều năm trời

chúng ta không nói chuyện với Victor."

"Được rồi, tớ có mấy quả tim bò ngâm bảo quản dưới tầng hầm", cậu ta nói, làm bộ cân nhắc.

"Nhưng tớ ghét phải dùng nguyên liệu

thứ phẩm.

Còn tươi bao giờ cũng tốt hơn!"

Bronwyn òa khóc nức nở.

Một giọt nước mắt của cô rơi xuống áo khoác của người anh trai, cô liền vội vàng dùng tay áo mình lau đi.

"Đừng khóc lóc thảm thiết thế", Enoch nói, "cậu biết là tớ không thể chịu được chuyện đó mà.

Dù sao đi nữa, đánh thức Victor dậy thì

thật tàn nhẫn.

Anh ta thích nơi anh ta đang lưu lại."

"Và nơi đó là ở đâu vậy?" tôi hỏi.

"Ai mà biết được?

Nhưng lần nào bọn tớ làm anh ta sống dậy để nói chuyện, anh ta cũng có vẻ vội vã muốn trở lại đó ghê lắm."

"Thật tàn nhẫn khi cậu đùa bỡn với Bronwyn như thế và lừa gạt tôi", tôi nói.

"Và nếu Victor chết rồi, tại sao mọi người không chôn

anh ấy đi?"

Bronwyn ném về phía tôi một cái nhìn nhạo báng tột độ.

"Như thế chúng tôi sẽ chẳng bao giờ thấy anh ấy nữa", cô nói.

"Đừng gay gắt thế, anh bạn", Enoch nói.

"Tớ chỉ gợi ý cậu lên đây vì tớ muốn cậu biết hết sự thật thôi mà.

Tớ đứng về phía cậu."

"Thế à?

Vậy thì sự thật là gì nào?

Victor chết như thế nào?"

Bronwyn ngước mắt lên.

"Anh ấy bị giết bởi một...

ái ái!" cô la lên vì Enoch đã véo mạnh vào cánh tay cô.

"Im nào!" cậu ta kêu lên.

"Không đến lượt cậu nói!"

"Thật lố bịch!" tôi nói.

"Nếu không ai trong hai người chịu nói cho tôi biết, tôi sẽ đi hỏi bà Peregrine."

Enoch vội sải bước tới chỗ tôi, trừng mắt.

"Ồ không, cậu không được làm thế."

"Vậy à?

Sao lại không?"

"Chim không thích bọn tớ nói về Victor", cậu ta nói.

"Đó là lý do cô ấy lúc nào cũng mặc đồ đen, cậu biết đấy.

Dù thế nào đi nữa, cô

ấy không được phép phát hiện ra chúng ta đã từng ở đây.

Cô ấy sẽ treo ngược chúng ta lên mất!"

Thật đúng lúc, chúng tôi nghe thấy vang lên trên cầu thang tiếng bước chân tập tễnh không lẫn vào đâu được của bà Peregrine.

Bronwyn tái mặt và lao vụt qua trước mặt tôi ra khỏi cửa, nhưng trước khi Enoch kịp tẩu thoát, tôi đã chặn đường cậu ta.

"Tránh ra!" cậu

ta rít lên.

"Nói cho tớ biết chuyện gì đã xảy ra với Victor!"

"Tớ không thể!"

"Vậy nói cho tớ biết về Tấn Công Làng."

"Chuyện đó tớ cũng không nói được!"

Cậu ta cố đẩy tôi lần nữa để vượt qua, nhưng khi nhận ra không thể làm được cậu ta đành chịu

thua.

"Được rồi, đóng cửa lại, và tớ sẽ cho cậu biết!"

Tôi đóng cửa lại đúng lúc bà Peregrine lên tới chiếu nghỉ.

Chúng tôi đứng dán tai vào cánh cửa trong giây lát, lắng nghe dấu hiệu cho

thấy chúng tôi đã bị phát hiện.

Tiếng bước chân của cô phụ trách vang lên ngoài hành lang hướng về phía chúng tôi, đến nửa đường rồi

dừng lại.

Một cánh cửa khác cót két mở ra, sau đó đóng lại.

"Cô ấy vào phòng mình", Enoch thì thầm.

"Được rồi", tôi nói.

"Tấn Công Làng."

Có vẻ ân hận vì đã nhắc tới chuyện này, cậu ta ra hiệu bảo tôi rời xa khỏi cánh cửa.

Tôi đi theo, cúi người xuống để cậu ta có thể thì

thầm vào tai tôi.

"Như tớ đã nói, đó là một trò bọn tớ chơi.

Nó diễn ra đúng như tên gọi ấy."

"Ý cậu là các cậu thực sự tấn công vào làng sao?"

"Phá tung nó lên, đuổi dân làng chạy tán loạn, lấy những gì bọn tớ thích, đốt trụi chỗ này chỗ kia.

Một trận cười thỏa thích."

"Nhưng như thế thật kinh khủng!"

"Bọn tớ cũng phải thực hành kỹ năng của mình bằng cách nào đó chứ, phải không?

Phòng khi bọn tớ cần phải tự vệ.

Nếu không, bọn

tớ sẽ bị lụt nghề.

Hơn nữa còn có luật chơi.

Bọn tớ không được phép giết ai.

Chỉ làm họ phát khiếp một chút thôi.

Và nếu ai đó có bị

thương thì, chậc, họ sẽ lành lặn y như cũ ngày hôm sau và chẳng nhớ gì về chuyện đó cả."

"Cả Emma cũng chơi à?"

"Không.

Bạn ấy giống hệt cậu.

Nói là như thế thật tồi."

"À, đúng thế đấy."

Cậu ta đảo mắt đi.

"Hai người quả là xứng đôi."

"Thế có nghĩa là sao?"

Cậu ta vươn hết chiều cao một mét sáu ba của mình và chỉ một ngón tay vào ngực tôi.

"Như thế nghĩa là tốt hơn hết cậu đừng có ra

vẻ cao ngạo với tôi, anh bạn ạ.

Vì nếu bọn này không thỉnh thoảng tấn công cái làng khỉ gió ấy, phần lớn những người ở đây hẳn đã mất

trí từ lâu rồi."

Cậu ta đi ra cửa, đặt bàn tay lên tay nắm rồi sau đó quay lại nhìn tôi.

"Và nếu cậu nghĩ bọn này xấu xa, thì hãy đợi đến khi thấy chúng."

"Chúng là ai?

Mọi người đang nói về cái quái gì vậy?"

Cậu ta giơ một ngón tay lên ra hiệu bảo tôi im lặng, rồi ra ngoài.

Tôi lại chỉ có một mình.

Đôi mắt tôi lại bị hút về phía người nằm trên giường.

Chuyện gì đã xảy ra với anh vậy, Victor?

Có thể anh ấy đã hóa điên và tự sát, tôi thầm nghĩ - anh ấy quá chán ngán với sự vui vẻ nhưng vĩnh viễn không có tương lai này đến

mức uống thuốc chuột hay nhảy từ trên vách núi xuống.

Hoặc nguyên nhân là chúng, những "mối nguy hiểm khác" bà Peregrine đã

bóng gió nói đến.

Tôi bước ra hành lang và vừa dợm bước về phía cầu thang thì nghe thấy tiếng bà Peregrine vang lên sau một cánh cửa khép hờ.

Tôi

vội chui vào trong căn phòng gần nhất nấp kín cho tới khi bà đã tập tễnh đi qua chỗ tôi và xuống dưới cầu thang.

Sau đó, tôi để ý thấy

một đôi ủng để trước một chiếc giường được trải ga phẳng phiu - đôi ủng của Emma.

Tôi đang ở trong phòng ngủ của cô.

Dọc theo một bức tường có kê một chiếc tủ ngăn kéo và treo một tấm gương, áp vào một bức tường khác là một bàn viết có cái ghế

tựa được đẩy lui vào dưới gầm bàn.

Đây là căn phòng của một cô gái gọn ghẽ không có gì để giấu giếm, hay có vẻ là như vậy cho tới khi

tôi thấy một cái hộp đựng mũ để ngay trong tủ tường.

Cái hộp được buộc bằng một sợi dây, và ở phía trước có mấy dòng viết ngang

bằng chì sáp:

Riêng tư:

Thư tín của Emma Bloom

Không được mở

Viết thế chẳng khác gì vẫy vẫy một món đồ lót màu đỏ trước mặt một con bò tót.

Tôi ngồi xuống, ôm cái hộp trong lòng và tháo dây

buộc ra.

Trong đó phải có cả trăm lá thư hay hơn thế, tất cả đều do ông tôi gửi.

Tim tôi đập nhanh hẳn lên.

Đây chính là tứ mỏ vàng tôi đã hy vọng tìm thấy trong trại trẻ cũ đổ nát.

Tất nhiên, tôi cảm thấy không

thoải mái lắm vì xem trộm thế này, nhưng nếu những người ở đây cứ khăng khăng giữ kín bí mật, thì được thôi, tôi đành phải tự mình tìm

hiểu mọi thứ.

Tôi muốn đọc tất cả nhưng lại sợ rằng sẽ bị ai đó bắt gặp, vì vậy tôi khẩn trương lướt qua chúng để nắm được tinh thần chung.

Nhiều

lá thư được viết từ đầu thập niên 1940, khi ông nội Portman còn ở trong quân đội.

Tôi chọn ngẫu nhiên để xem thử thì thấy chúng đều rất

dài và ướt át, đầy ắp những lời bày tỏ tình yêu cùng những mô tả lủng củng về vẻ đẹp của Emma bằng thứ tiếng Anh hồi đó còn vụng về

của ông ("Em đẹp như một bông hoa, và cũng thơm nữa, anh có thể hái được chăng?") Trong một lá thư ông gửi kèm một bức ảnh chụp

ông đang ngồi trên một quả bom với một điếu thuốc lá phì phèo trên môi.

Theo thời gian, những lá thư của ông dần trở nên ngắn hơn và thưa hơn.

Đến thập niên 1950 có lẽ mỗi năm có một lá thư.

Phong bì

cuối cùng đề tháng Tư năm 1963; bên trong không có lá thư nào, chỉ có vài bức ảnh.

Hai bức là của Emma, những bức ảnh cô đã gửi cho

ông được ông gửi trả lại.

Bức ảnh thứ nhất được gửi sớm hơn cả - một bức ảnh chụp đùa vui để đáp lại bức ảnh của ông - trong đó cô

đang gọt khoai tây và giả bộ hút thuốc bằng một trong những cái tẩu của bà Peregrine.

Bức ảnh tiếp theo buồn hơn, và tôi đoán cô đã

gửi nó đi sau khi ông tôi không viết lá thư nào suốt một thời gian dài.

Bức ảnh cuối cùng - trên thực tế là thứ cuối cùng ông tôi từng gửi

cho Emma - cho tôi thấy ông ở tuổi trung niên, đang bế một cô bé.

Tôi phải mất một phút nhìn chăm chăm vào bức ảnh cuối cùng mới nhận ra cô bé đó là ai.

Đó là cô Susie của tôi, lúc ấy có lẽ khoảng

bốn tuổi.

Sau đó không có thêm lá thư nào nữa.

Tôi tự hỏi Emma đã tiếp tục viết thư cho ông nội tôi trong bao lâu nữa mà không nhận

được hồi âm, và ông đã làm gì với những lá thư của cô.

Đã ném chúng đi?

Hay giấu chúng vào đâu đó?

Hẳn bố tôi và cô Susie đã tìm thấy

một trong những lá thư đó hồi còn nhỏ, và nó đã làm họ nghĩ bố mình là một kẻ dối trá lừa gạt.

Họ đã lầm biết chừng nào.

Nghe thấy một tiếng đằng hắng vang lên thật rõ sau lưng mình, tôi bèn quay lại thì thấy Emma đang chằm chằm nhìn vào từ ngưỡng

cửa.

Tôi bò nhoài ra để nhặt nhạnh các lá thư lại, mặt đỏ bừng, song đã quá muộn.

Tôi đã bị bắt quả tang.

"Tớ xin lỗi.

Đáng ra tớ không nên vào đây."

"Cái đó tôi quá rõ chứ", cô nói, "nhưng dù sao đi nữa, đừng để tôi làm gián đoạn việc đọc của cậu."

Cô đùng đùng bước tới chỗ cái tủ

ngăn kéo, lôi một ngăn kéo ra rồi ném nó rơi đánh rầm xuống sàn.

"Trong khi làm việc đó sao cậu không ngắm qua luôn cả quần lót của

tôi đi này!"

"Tớ thực sự, thực sự xin lỗi", tôi nói.

"Tớ chưa bao giờ làm chuyện thế này."

"À, tôi cũng không lạ.

Còn mải nhòm trộm qua cửa sổ phòng phụ nữ mà, tôi đoán vậy!"

Cô đứng cúi xuống tôi, run lên vì tức giận,

trong khi tôi loay hoay cố xếp trả lại tất cả chỗ thư vừa khít vào trong hộp.

"Chúng được xếp theo hệ thống, cậu ạ.

Đưa chúng đây, cậu đang làm lộn tung mọi thứ lên rồi!"

Cô ngồi xuống đẩy tôi sang bên, đổ

hết mọi thứ trong hộp ra sàn và phân loại các lá thư ra thành từng chồng với tốc độ của một nhân viên bưu điện.

Nghĩ rằng tốt nhất là

nên im lặng, tôi ngoan ngoãn theo dõi trong lúc cô làm việc.

Khi đã dịu lại đôi chút, Emma nói, "Vậy là cậu muốn biết về Abe và tôi, phải không nào?

Muốn biết thì chỉ cần hỏi là được."

"Tớ không muốn tọc mạch."

"Điều đó thì giờ còn phải tranh luận mới biết được nhỉ?"

"Tớ đoán vậy."

"Thế nào?

Cậu muốn biết điều gì?"

Tôi ngẫm nghĩ về chuyện đó.

Tôi thực sự không biết nên bắt đầu từ đâu.

"Chỉ là... chuyện gì đã xảy ra vậy?"

"Thế thì được, chúng ta sẽ bỏ qua hết những đoạn hay ho và đi thẳng tới hồi kết.

Đơn giản thôi, thật đấy.

Anh ta rời đi.

Anh ta nói

yêu tôi và hứa sẽ trở lại một ngày nào đó.

Nhưng rồi chẳng bao giờ trở lại."

"Nhưng ông buộc phải đi, đúng không?

Để chiến đấu?"

"Buộc phải đi ư?

Tôi không biết.

Anh ta nói không thể tha thứ cho mình nếu cứ giương mắt nhìn cuộc chiến trong khi đồng bào đang

bị săn đuổi và tàn sát.

Nói rằng đó là bổn phận của anh ta.

Tôi đoán với anh ta bổn phận quan trọng hơn tôi.

Dù thế nào đi nữa, tôi đã

đợi.

Tôi đã đợi và lo lắng qua suốt cuộc chiến tranh khủng khiếp ấy, cứ mỗi lá thư đến tôi lại sợ rằng đó là tin báo tử.

Sau đó khi chiến tranh cuối cùng cũng kết thúc, anh ta nói không thể quay trở lại nữa.

Bảo là nếu quay về anh ta sẽ hóa điên mất.

Nói anh ta đã học được

cách tự vệ trong quân đội và không còn cần một cô bảo mẫu như Chim trông nom nữa.

Anh ta sẽ tới Mỹ tạo lập một trại trẻ cho chúng

tôi, rồi sau đó sẽ báo tin cho tôi.

Vậy là tôi đợi thêm nữa.

Tôi đợi lâu đến mức nếu thực sự đi cùng anh ta hẳn khi đó tôi đã bốn mươi tuổi

rồi.

Đến lúc đó anh ta đã lập gia đình với một người bình thường.

Và, như người ta nói, thế là hết."

"Tớ xin lỗi.

Tớ không hề biết."

"Đó là một câu chuyện cũ rồi.

Tôi không còn bận tâm nhiều về nó nữa."

"Cậu trách ông về việc bị mắc kẹt ở đây", tôi nói.

Emma trừng mắt nhìn tôi.

"Ai nói là tôi bị mắc kẹt?"

Rồi cô thở dài.

"Không, tôi không trách anh ấy.

Chỉ nhớ anh ấy thôi."

"Đến tận bây giờ sao?"

"Mỗi ngày."

Cô hoàn tất việc sắp xếp thư.

"Vậy là cậu biết rồi đấy", cô vừa nói vừa đậy nắp hộp lên chồng thư.

"Toàn bộ câu chuyện về mối tình

của đời tôi nằm trong một cái hộp phủ bụi để trong tủ tường."

Cô buông tiếng thở dài rồi nhắm mắt lại và bóp sống mũi.

Trong khoảnh

khắc, tôi gần như có thể thấy một bà lão ẩn đằng sau những đường nét tươi trẻ của cô.

Ông nội tôi đã giẫm nát trái tim héo mòn tội nghiệp

của cô, và vết thương vẫn còn há miệng, cho dù sau bấy nhiêu năm.

Tôi định đưa tay ôm quanh người cô, nhưng điều gì đó đã ngăn tôi lại.

Đây là một cô gái xinh đẹp, vui nhộn, mê hoặc, và thật kỳ diệu

làm sao, dường như thực sự thích tôi.

Nhưng giờ tôi đã hiểu người cô thích không phải là tôi.

Cô đã tan vỡ trái tim vì một người khác, và

tôi chỉ đơn thuần là người thế thân cho ông nội.

Chừng đó là đủ để bất cứ ai dừng lại, tôi không cần quan tâm liệu người đó có đang hăm

hở đến đâu.

Tôi biết có những người cảm thấy ý tưởng hẹn hò bồ cũ của bạn mình thật không chấp nhận nổi.

Theo thang giá trị đó, hẹn

hò với bạn gái cũ của ông nội bạn có thể coi là loạn luân.

Điều tiếp theo tôi biết là bàn tay Emma đang đặt lên cánh tay tôi.

Rồi cô tựa đầu lên vai tôi, và tôi có thể cảm thấy cằm cô đang dịch

dần về phía mặt tôi.

Có thể cho rằng đây là thứ ngôn ngữ cơ thể để nói "hãy hôn tôi đi".

Sau một phút nữa mặt chúng tôi sẽ kề nhau, và

tôi sẽ phải chọn giữa khóa môi hay xúc phạm cô nghiêm trọng bằng việc chối từ, mà tôi vốn đã xúc phạm cô một lần rồi.

Không phải là tôi

không muốn hôn Emma - tôi muốn thế hơn bất cứ điều gì khác - nhưng ý tưởng ôm hôn cô chỉ cách cái hộp đựng đầy những bức thư tình

được gìn giữ cẩn thận tới mức thái quá của ông nội tôi có nửa mét làm tôi có cảm giác kỳ dị và bối rối.

Rồi má cô áp vào má tôi, và tôi biết đã đến thời khắc hành động, vậy là tôi nói ra thứ đầu tiên xuất hiện trong đầu mình có thể làm tắt

ngấm cảm xúc.

"Giữa cậu và Enoch có gì không?"

Emma vụt lùi ra xa ngay lập tức, nhìn tôi như thể tôi vừa đề nghị hai chúng tôi ăn tối bằng thịt chó con vậy.

"Cái gì?!

Không!

Từ đâu

cậu lại có ý tưởng quái đản như thế chứ?"

"Từ cậu ta.

Cậu ta nghe có vẻ cay cú khi nói về cậu, và tớ có trực cảm là cậu ta không muốn tớ có mặt ở đây, như thể tớ đang chọc

gậy bánh xe vào trò chơi của cậu ta hay điều gì đó tương tự vậy."

Đôi mắt Emma tiếp tục mở to ra.

"Thứ nhất, cậu ta chẳng có 'trò chơi' nào để ai có thể 'chọc gậy bánh xe' cả, tôi có thể đoan chắc với

cậu như thế.

Cậu ta là một gã ngốc ghen tuông và một kẻ dối trá."

"Có thật cậu ta thế không?"

"Thế nào cơ?"

"Là một kẻ dối trá."

Emma nheo mắt lại.

"Sao chứ?

Cậu ta đang bày ra trò vớ vẩn gì đây?"

"Emma, chuyện gì xảy ra với Victor vậy?"

Trông cô có vẻ sốc.

Sau đó, vừa lắc đầu, cô vừa lẩm bẩm, "Quỷ tha ma bắt thằng nhóc ích kỷ đó đi."

"Có một điều không ai ở đây chịu nói cho tớ biết, và tớ muốn biết nó là gì."

"Tôi không thể", cô nói.

"Đó là tất cả những gì tớ từng được nghe!

Tớ không thể nói về tương lai.

Cậu không thể nói về quá khứ.

Bà Peregrine đã buộc chặt

tất cả chúng ta.

Nguyện vọng cuối cùng của ông nội là muốn tớ tới đây và tìm ra sự thật.

Chẳng lẽ điều đó không có ý nghĩa gì sao?"

Emma cầm lấy bàn tay tôi kéo vào lòng và nhìn xuống nó.

Dường như cô đang tìm lời thích hợp.

"Cậu nói đúng", cuối cùng cô lên

tiếng.

"Có một chuyện."

"Kể cho tớ đi."

"Không phải ở đây", cô thì thầm.

"Để tối nay."

Chúng tôi thỏa thuận sẽ gặp nhau vào lúc tối muộn, khi bố tôi và bà Peregrine đã ngủ.

Emma nhất quyết nói đó là cách duy nhất, vì

tai vách mạch rừng và chúng tôi không thể cùng nhau lẩn đi đâu ban ngày mà không gây nên nghi ngờ.

Để hoàn tất ấn tượng sai lầm là

chúng tôi không có gì để giấu giếm, Emma và tôi dành cả phần còn lại của buổi chiều tha thẩn ngoài sân trong tầm mắt của tất cả mọi

người, và khi mặt trời bắt đầu lặn, tôi đi bộ quay lại đầm lầy một mình.

***

Lại thêm một tối mưa tầm tã nữa ở phía thế kỷ hai mươi mốt, và đến khi về tới quán rượu, chỉ nguyên việc được ở trong một nơi khô

ráo cũng đủ khiến tôi lấy làm mừng.

Tôi tìm thấy bố đang một mình ngồi nhâm nhi vại bia tại một cái bàn, vậy là tôi kéo ghế ngồi xuống

rồi bắt đầu dựng lên những câu chuyện về ngày hôm nay của mình trong khi dùng khăn ăn lau khô mặt. (Tôi bắt đầu khám phá ra một

điều về việc dối trá: càng thực hành nó nhiều, nó sẽ càng dễ dàng hơn.)

Bố tôi thậm chí hầu như chẳng buồn lắng nghe.

"Hừm", ông nói, "thú vị đấy", rồi sau đó ánh mắt ông lại rời đi nơi khác, và ông uống

tiếp một ngụm bia nữa.

"Có chuyện gì với bố vậy?" tôi hỏi.

Bố vẫn còn giận con à?"

"Không, không, không có chuyện đó đâu."

Ông có vẻ định giải thích nhưng rồi lại gạt đi.

"À, nó thật ngớ ngẩn."

"Bố.

Nói cho con nghe đi nào."

"Chỉ là... người này xuất hiện mấy ngày trước.

Một người quan sát chim nữa."

"Bố quen người đó ạ?"

Ông lắc đầu.

"Chưa bao giờ nhìn thấy người này trước đây.

Thoạt đầu, bố nghĩ anh ta chỉ là một tay nghiệp dư có hứng thú, nhưng

anh ta cứ liên tục tìm đến cùng những địa điểm, cùng những bãi làm tổ, rồi ghi chép.

Chắc chắn anh ta biết mình đang làm gì.

Thế rồi hôm

nay bố thấy anh ta mang theo một lồng bẫy và một cặp Predator, vì thế bố biết anh ta là dân chuyên nghiệp."

"Predator?"

"Ống nhòm.

Loại cực kỳ chuyên nghiệp."

Cho đến giờ, bố tôi đã cuộn thật chặt cái khăn giấy lót đĩa của mình rồi lại vuốt phẳng nó ra

được ba lần, một thói quen mỗi khi bồn chồn.

"Chỉ có điều bố cứ tưởng bố đã giành được cơ hội khám phá quần thể chim này rồi, con biết

không?

Bố thực sự muốn cuốn sách này trở thành điều gì đó đặc biệt."

"Và rồi gã thối tha này xuất hiện."

"Jacob."

"Ý con là gã mắc dịch vô tích sự này."

Bố tôi bật cười.

"Cảm ơn con trai, nghe được đấy."

"Cuốn sách sẽ đặc biệt", tôi quả quyết nói.

Ông nhún vai.

"Bố không biết nữa.

Hy vọng là vậy."

Nhưng nghe giọng bố tôi có vẻ không gì chắc chắn lắm.

Tôi biết chính xác chuyện gì sắp diễn ra.

Đó là một phần của cái vòng luẩn quẩn bệnh hoạn bố tôi bị mắc kẹt vào.

Ông trở nên thực sự

say mê với một dự án nào đó, nói về nó liên tu bất tận trong hàng tháng liền.

Sau đó, không tránh khỏi, một vấn đề tí xíu nào đó sẽ xuất

hiện và gây trắc trở, rồi thay vì giải quyết nó bố tôi lại để nó hoàn toàn khống chế mình.

Điều tiếp theo bạn được biết là dự án sẽ bị chấm

dứt, và ông sẽ nhảy sang dự án kế tiếp, và cái vòng lại bắt đầu.

Bố tôi bị ngã lòng quá dễ dàng.

Đó là lý do ông có cả tá bản thảo chưa

hoàn tất khóa kín trong ngăn kéo bàn làm việc, và lý do tại sao cửa hàng bán chim ông cùng cô Susie định mở chẳng bao giờ trở thành

hiện thực và tại sao bố tôi có bằng cử nhân về ngôn ngữ châu Á nhưng chưa bao giờ đến châu Á.

Ông đã bốn mươi sáu tuổi mà vẫn

đang cố gắng tìm kiếm bản thân mình, cố gắng chứng minh ông không cần tới tiền của mẹ tôi.

Điều ông thực sự cần là một cuộc trò chuyện để cổ vũ tinh thần, mà tôi không cảm thấy mình đủ khả năng để dành nó cho ông, vậy là

tôi cố khéo léo thay đổi chủ đề.

"Kẻ quấy rối này đang ở đâu ạ?" tôi hỏi.

"Con nghĩ thị trấn có phòng nào cho thuê thì bố con mình đã

thuê hết rồi."

"Bố đoán anh ta cắm trại", bố tôi đáp.

"Trong thời tiết này sao?"

"Đó là phong cách của một tay đam mê điểu cầm học cứng cựa.

Điều kiện khó khăn giúp ta gần gũi hơn với đối tượng của mình, cả về

thể chất và tâm lý.

Thành công qua nghịch cảnh, những thứ kiểu đó."

Tôi bật cười.

"Thế sao bố không ra ngoài đó?" tôi nói, rồi lập tức ước gì đừng nói như vậy.

"Bởi cùng lý do khiến nhiều khả năng cuốn sách của bố sẽ không ra đời.

Luôn có ai đó tận tâm hơn bố."

Tôi bối rối cựa mình trên ghế.

"Con không có ý định đó.

Ý con là..."

"Suỵt!"

Bố tôi cứng người lại, lén nhìn ra phía cửa.

"Liếc nhanh vào nhưng đừng lộ liễu quá.

Anh ta vừa bước vào đấy."

Tôi cầm tờ thực đơn lên che mặt và nhìn qua phía trên tờ giấy.

Một người đàn ông bộ dạng bẩn thỉu luộm thuộm để râu đang đứng

trên ngưỡng cửa, giũ nước từ trong ủng ra.

Ông ta đội mũ đi mưa, đeo kính đen và mặc trên người thứ gì đó có vẻ như vài chiếc áo khoác

chồng lên nhau chiếc này ngoài chiếc kia, làm ông ta trông vừa béo vừa có vẻ ăn xổi ở thì.

"Con thích bộ dạng ông già Noel vô gia cư ông ta trưng ra", tôi thì thầm.

"Một vẻ bề ngoài khó rời mắt nổi.

Rất đi trước thời trang."

Bố tảng lờ tôi.

Người đàn ông khệnh khạng đi tới chỗ quầy bar, và những cuộc trò chuyện xung quanh ông ta chợt hơi lặng xuống.

Kev hỏi vị khách muốn gì, người đàn ông nói gì đó và Kev đi vào trong bếp.

Ông ta nhìn chằm chằm thẳng về phía trước trông khi chờ

đợi, và một phút sau Kev quay trở ra, đưa cho vị khách này một túi đựng đồ ăn.

Ông ta cầm lấy, ném vài tờ bạc xuống quầy bar, rồi đi ra

cửa.

Trước khi rời đi, ông ta quay lại chậm rãi nhìn quanh phòng.

Rồi sau một hồi lâu, ông ta rời đi.

"Anh ta hỏi mua gì vậy?" bố tôi lớn tiếng hỏi sau khi cánh cửa đã đóng sập lại.

"Bíp tết", Kev đáp.

"Nói anh ta không quan tâm chúng được nướng thế nào, vậy là anh ta lấy chúng sau khi mỗi mặt được nướng

mười giây.

Và chẳng phàn nàn gì."

Mọi người bắt đầu xì xào bàn tán, âm lượng những cuộc trò chuyện của họ lại tăng lên.

"Bíp tết sống", tôi nói với bố.

"Bố phải thừa nhận là chuyện này hơi quái lạ, kể cả với một nhà điểu cầm học."

"Có thể anh ta là người thích ăn đồ sống", bố tôi đáp.

"À vâng.

Hoặc có thể ông ta đã phát chán với việc sống bằng máu cừu."

Bố tôi đảo mắt.

"Người này hẳn là có bếp nấu dã ngoại.

Có thể anh ta chỉ thích nấu ăn ngoài trời thôi."

"Trong mưa sao?

Mà sao bố cứ phải bênh vực ông ta vậy nhỉ?

Con nghĩ ông ta là kẻ thù không đội trời chung của bố cơ mà."

"Bố không hy vọng con sẽ hiểu", ông nói, "nhưng con không lôi bố ra làm trò cười nữa cũng là tốt lắm rồi."

Và ông đứng dậy đi tới

chỗ quầy bar.

***

Vài giờ sau, bố tôi loạng choạng leo lên lầu, sặc sụa mùi rượu, và lăn kềnh ra giường.

Ông ngủ ngay lập tức, ngáy to khủng khiếp.

Tôi

vớ lấy một cái áo khoác và ra ngoài đi gặp Emma, không cần phải lén lút nữa.

Các con đường đều vắng tanh và im ắng tới mức ta gần như có thể nghe thấy tiếng sương rơi xuống.

Những đám mây lưa thưa giăng

ra trên bầu trời, và chỉ còn lại vừa đủ ánh trăng xuyên qua để soi đường cho tôi.

Trong khi tôi leo qua triền đồi, một cảm giác gai gai bỗng

len lỏi trong người tôi, tôi bèn nhìn quanh, thấy một người đang theo dõi mình từ một mô đất nhô lên đằng xa.

Người nọ đang đưa hai bàn

tay lên mặt, hai khuỷu tay khuỳnh ra như thể ông ta đang nhìn qua ống nhòm.

Điều đầu tiên tôi nghĩ là k hỉ thật, mình đã bị bắt gặp,

đoán chừng đó là một trong những người nuôi cừu đang canh chừng đóng vai thám tử.

Nhưng nếu đúng vậy, tại sao người đó không tới

đối diện với tôi?

Thay vì thế, ông ta chỉ đứng đó quan sát và tôi nhìn lại.

Cuối cùng, tôi ngẫm ra nếu mình bị bắt gặp thì cũng đã bị bắt gặp rồi, vì cho dù bây giờ tôi có quay về hay đi tiếp, kiểu gì chuyến

du hành khuya khoắt của tôi cũng sẽ đến tai bố.

Vậy là tôi giơ tay lên làm cử chỉ chào bằng một ngón và đi xuống, dấn bước vào màn

sương mù giá buốt.

Khi tôi chui ra khỏi mộ đá, có vẻ như những đám mây đã bị lột sạch đi và mặt trăng căng tròn như một quả bóng lớn màu vàng, sáng

đến mức tôi gần như phải nheo mắt lại.

Vài phút sau, Emma xuất hiện, lội qua đầm lầy, vừa xin lỗi vừa nói liến thoắng.

"Xin lỗi vì tớ đến muộn.

Đợi mãi mọi người mới lên giường đi ngủ hết!

Thế rồi trên đường ra ngoài tớ lại bắt gặp Hugh và Fiona đang

ôm chặt lấy nhau hôn hít ngoài vườn.

Nhưng đừng lo.

Họ đã hứa không nói gì nếu tớ cũng làm thế."

Cô quàng hai cánh tay quanh cổ tôi.

"Tớ nhớ cậu", cô nói.

"Xin lỗi vì chuyện lúc trước."

"Cả tớ cũng vậy", tôi vừa nói vừa ngượng nghịu vỗ lên lưng cô.

"Nào, chúng ta nói chuyện nào."

Cô kéo tôi đi.

"Không phải ở đây.

Có một chỗ tốt hơn.

Một nơi đặc biệt."

"Tớ không biết..."

Emma cầm lấy bàn tay tôi.

"Đừng thế chứ.

Rồi cậu sẽ thích nó, tớ hứa đấy.

Và khi chúng ta đó, tớ sẽ kể cho cậu biết tất cả."

Tôi biết chắc đó là một sắp đặt để kéo tôi đi tâm sự yêu đương cùng cô, và giá như tôi chín chắn hay khôn ngoan hơn, hay là một anh

chàng vẫn thường qua lại với các cô nàng hấp dẫn đến mức chuyện đó trở thành cơm bữa, rất có thể tôi đã có đủ cứng rắn để yêu cầu

được nói chuyện ngay lập tức tại đó.

Nhưng tôi lại chẳng phải mấy loại người kia.

Thêm nữa, còn phải kể đến cách cô rạng rỡ nhìn tôi, nở

nụ cười với cả tấm lòng, hay một cử chỉ bẽn lẽn như khi cô vuốt tóc ra sau cũng có thể khiến tôi muốn đi theo cô, giúp đỡ cô, làm bất cứ

điều gì cô yêu cầu.

Tôi đã bị áp đảo tới mức vô phương chống đỡ.

Mình sẽ đi, nhưng mình sẽ k hông hôn Emma, tôi tự nhủ.

Tôi nhắc lại nó như lời niệm chú trong khi cô dẫn tôi băng qua đầm lầy.

Không hôn!

Không hôn!

Chúng tôi hướng về phía thị trấn nhưng lại rẽ về phía bãi biển đầy đá nhìn ra ngọn hải đăng, thận trọng tìm

đường theo lối mòn dốc đi xuống bãi cát.

Đến mép nước, Emma bảo tôi đợi rồi chạy đi lấy thứ gì đó.

Tôi đứng nhìn luồng sáng của ngọn hải đăng chiếu xoay vòng, lướt qua

mọi thứ - cả triệu con chim biển đang ngủ trên các vách đá lỗ chỗ đầy hốc; những tảng đá lớn mà thủy triều xuống để lộ ra; một chiếc

thuyền nhỏ đã mục nát vùi trong cát.

Khi Emma quay lại, tôi thấy cô đã thay sang bộ đồ bơi của mình và đang cầm hai cái mặt nạ lặn.

"Ồ không", tôi nói.

"Không phải chứ."

"Có lẽ cậu sẽ muốn cởi bớt đồ ra đấy", cô nói, nhìn đầy ngờ vực vào cái quần jean và áo khoác của tôi.

"Những thứ cậu đang mặc

đều chẳng hợp để bơi chút nào."

"Đó là vì tớ không định bơi!

Tớ đồng ý lẻn ra đây gặp cậu giữa đêm khuya, được rồi, nhưng chỉ để nói chuyện thôi chứ không phải..."

"Chúng ta sẽ nói chuyện", cô quả quyết.

"Dưới nước.

Trong khi tớ mặc quần đùi ấy à."

Emma đá cát về phía tôi và bắt đầu quay đi nhưng rồi lại quay người trở lại.

"Tớ sẽ không tấn công cậu đâu, nếu đó là điều cậu đang

lo.

Đừng có tự tán dương mình như thế."

"Đâu có."

"Vậy thì nhanh lên, cởi cái quần dài ngớ ngẩn đó ra!"

Và sau đó cô tấn công tôi thật, vật tôi xuống cát, rồi vật lộn dùng một bàn tay

cố cởi thắt lưng tôi ra, trong khi dùng bàn tay kia hắt cát lên mặt tôi.

"Ặc!" tôi vừa kêu lên vừa phì phì nhổ cát ra, "đồ chơi xấu, chơi xấu!"

Tôi không có lựa chọn nào khác ngoài đáp trả bằng một vốc tay

đầy cát, và chẳng mấy chốc chuyện này biến thành một cuộc đấu ném cát không giới hạn.

Khi trận đấu kết thúc, cả hai chúng tôi đều

cười ngặt nghẽo và cố gắng giũ hết cát ra khỏi tóc nhưng chẳng ăn thua gì.

"Hay lắm, giờ thì cậu cần phải tắm một lượt, vì thế hãy xuống dưới làn nước khỉ gió kia đi."

"Rồi, được thôi."

Thoạt đầu nước lạnh đến rùng mình - một tình thế chẳng mấy hay ho trong điều kiện chỉ có độc chiếc quần đùi trên người - nhưng rồi

tôi làm quen với nhiệt độ rất nhanh.

Chúng tôi lội ra ngoài, qua các tảng đá tới chỗ có một chiếc xuồng được buộc vào cái cọc đánh dấu

độ sâu.

Chúng tôi leo vào trong xuồng, rồi Emma đưa cho tôi một mái chèo, cả hai chúng tôi cùng bắt đầu chèo xuồng, hướng tới chỗ

ngọn hải đăng.

Buổi tối ấm áp, mặt biển lặng sóng, và trong vài phút tôi đắm mình trong giai điệu vui tai của mái chèo khỏa nước.

Cách

ngọn hải đăng chừng một ki lô mét, Emma ngừng chèo và bước qua mạn.

Trước sự kinh ngạc của tôi, cô không chìm nghỉm xuống dưới

những con sóng mà đứng thẳng dậy, nước chỉ ngập tới hai đầu gối.

"Cậu đang đứng trên một doi cát hay cái gì vậy?" tôi hỏi.

"Không phải."

Cô với tay vào trong lòng xuồng, lấy ra một cái neo nhỏ và ném xuống.

Cái neo rơi chừng một mét thì dừng lại keng

một cái.

Một khoảnh khắc sau, luồng sáng của ngọn hải đăng quét qua và tôi nhìn thấy một cái thân tàu trải rộng phía dưới chúng tôi.

"Một chiếc tàu đắm!"

"Lại đây nào", cô nói, "chúng ta gần đến nơi rồi.

Và mang theo mặt nạ lặn của cậu."

Cô bắt đầu bước đi trên mặt thân con tàu đắm.

Tôi thận trọng bước ra khỏi xuồng và đi theo.

Nếu ai đó quan sát từ trên bờ, trông chúng tôi chắc có vẻ như đang bước đi trên nước.

"Cái tàu này to chừng nào vậy?" tôi hỏi.

"Khổng lồ.

Nó là một chiến hạm của Đồng minh.

Đụng phải mìn quân nhà và chìm ngay tại đây."

Emma dừng bước.

"Tránh nhìn về phía hải đăng trong một phút", cô nói.

"Hãy để mắt cậu làm quen với bóng tối."

Vậy là chúng tôi đứng nhìn vào bờ và đợi trong khi những con sóng nhẹ vỗ vào ống chân chúng tôi.

"Được rồi, bây giờ làm theo tớ

và hít một hơi thật sâu vào."

Cô bước tới một cái lỗ đen ngòm trên thân tàu - một cái cửa theo như hình dạng của nó - rồi ngồi xuống bên

mép và nhao người vào trong.

Thật điên rồ, tôi thầm nghĩ.

Rồi sau đó tôi chụp cái mặt nạ lặn cô đã đưa cho và lao xuống theo sau cô.

Tôi căng mắt nhìn vào khoảng không gian tối đen bao quanh giữa hai chân mình và thấy Emma đang lao người xuống sâu hơn nữa

theo các thanh ngang của một chiếc thang.

Tôi nắm lấy đầu trên thang và lặn theo, đưa từng bàn tay một kéo thân người xuống sâu dần

cho tới khi cái thang dừng lại ở một mặt sàn kim loại, cô đang đợi ở đó.

Dường như chúng tôi đang ở trong một kiểu khoang chứa hàng,

cho dù ở đây quá tối để có thể nói được gì nhiều hơn thế.

Tôi gõ vào khuỷu tay Emma rồi chỉ vào miệng mình.

Tớ cần thở.

Cô vỗ lên cánh tay tôi ra hiệu hiểu rồi với lấy một đoạn ống nhựa

nằm gần đó được nối với một cái ống chạy ngược theo thang lên mặt nước.

Cô ngậm ống vào miệng thổi, má cô phồng ra vì cố sức, sau

đó cô hít một hơi từ đường ống rồi chuyển nó sang cho tôi.

Tôi hăm hở hút không khí vào đầy căng hai buồng phổi.

Chúng tôi đang ở

sâu sáu mét dưới mặt nước, bên trong xác một con tàu đắm cũ, và chúng tôi đang thở.

Emma chỉ về phía một khung cửa phía trước chúng tôi, chẳng hơn một cái lỗ đen ngòm trong bóng tối âm u là mấy.

Tôi lắc đầu.

Không

muốn.

Nhưng cô nắm lấy bàn tay tôi như thể tôi là một chú nhóc chưa thay răng sữa đang hoảng sợ và kéo tôi về phía đó, lôi theo cả cái

ống.

Chúng tôi trôi qua khung cửa vào bóng tối ken đặc.

Trong một hồi, chúng tôi chỉ ở yên đó, thay nhau dùng ống thở.

Không có âm

thanh nào ngoài những hơi thở của chúng tôi òng ọc sủi bọt ra và những tiếng thình thình mơ hồ từ sâu bên trong con tàu khi những

mảnh thân tàu vỡ bị va đập trong dòng nước.

Nếu tôi có nhắm mắt lại, không gian xung quanh cũng không thể tối hơn.

Chúng tôi giống

như hai nhà du hành vũ đang trôi nổi trong một vũ trụ không có lấy một vì sao.

Thế nhưng sau đó, một điều đáng kinh ngạc và thật huy hoàng xảy ra - lần lượt từng vì sao hiện ra, rải rác đây đó trong thứ ánh sáng

màu lục lóe lên trong bóng tối.

Tôi tưởng mình đang bị ảo giác.

Nhưng rồi thêm nhiều đốm sáng nữa bừng lên, rồi nhiều nữa, cho tới khi cả một quầng tinh tú hiện ra quanh chúng tôi như hàng triệu vì sao xanh lục nhấp nháy, soi sáng cơ thể chúng tôi, phản chiếu ánh sáng

lên mặt nạ lặn của chúng tôi.

Emma giơ một bàn tay ra vẫy, nhưng thay vì tạo ra một quả cầu lửa, bàn tay cô bừng lên một quầng sáng

xanh lơ lấp lánh.

Những ngôi sao màu lục kết lại quanh bàn tay ấy, lóe sáng và xoay tròn, bắt chước theo những cử động của cô như một

đàn cá, và tôi chợt nhận ra đây đúng là một đàn cá thật.

Bị mê hoặc, tôi mất cả ý niệm về thời gian.

Chúng tôi ở lại đó có lẽ phải đến hàng giờ, mặc dù thực ra chỉ là vài phút.

Sau đó, tôi cảm

thấy Emma thúc khuỷu tay vào tôi, và chúng tôi rút lui qua ngưỡng cửa, leo lên thang, và khi chúng tôi ngoi lên khỏi mặt nước, thứ đầu

tiên tôi trong thấy là một dải ngân hà dài huy hoàng vắt ngang qua bầu trời và tôi cảm thấy bầy cá và những ngôi sao tạo thành một hệ

thống hoàn chỉnh, những phần trùng khớp của một tổng thể cổ xưa và bí hiểm nào đó.

Chúng tôi chui lên ngồi trên vỏ tàu và tháo mặt nạ lặn ra.

Suốt hồi lâu, chúng tôi chỉ ngồi như thế, nửa người chìm trong nước, chân

chạm vào nhau, không nói nên lời.

"Những con cá đó là gì vậy?" cuối cùng tôi nói.

"Bọn tớ gọi chúng là cá phát sáng."

"Tớ chưa bao giờ nhìn thấy cá phát sáng."

"Hầu hết mọi người cũng thế", cô nói.

"Chúng ẩn mình."

"Chúng thật đẹp."

"Phải."

"Và đặc biệt."

Emma mỉm cười.

"Cũng đúng nốt."

Rồi bàn tay cô đặt lên đầu gối tôi, và tôi để nó nằm đó, vì bàn tay ấy thật ấm áp và đem đến cảm

giác thật dễ chịu dưới làn nước lạnh.

Tôi lắng nghe tìm kiếm giọng nói trong đầu nhắc tôi không được hôn cô, nhưng nó đã lặng thinh.

Thế rồi chúng tôi hôn nhau.

Cảm giác mãnh liệt khi môi chúng tôi chạm nhau, lưỡi chúng tôi ép vào nhau còn bàn tay tôi áp lên gò má

trắng mịn hoàn hảo của Emma chặn đứng mọi suy nghĩ về đúng hay sai cũng như tất cả ký ức về lý do vì sao ban đầu tôi lại theo cô đến

đó.

Chúng tôi hôn và hôn, thế rồi đột nhiên tất cả kết thúc.

Khi cô lùi ra xa, khuôn mặt tôi vẫn tìm theo cô.

Cô đặt một bàn tay lên ngực

tôi, vừa dịu dàng vừa kiên quyết.

"Tớ cần thởđã, chàng ngốc."

Tôi bật cười: "Được rồi."

Cô nắm lấy hai bàn tay tôi và nhìn vào tôi, tôi liền nhìn lại.

Chỉ nhìn nhau thôi, nhưng cảm xúc này gần như còn mãnh liệt hơn cả hôn.

Rồi Emma nói, "Cậu cần ở lại."

"Ở lại", tôi nhắc lại.

"Ở đây.

Với bọn tớ."

Hiện thực trong những lời cô nói len lỏi vào, và sự mê hoặc của những gì vừa xảy ra giữa hai chúng tôi liền tan biến.

"Tớ muốn lắm, nhưng tớ không nghĩ mình có thể."

"Tại sao lại không?"

Tôi ngẫm nghĩ về ý tưởng đó.

Mặt trời, tiệc tùng, bạn bè - và sự đồng nhất, những ngày giống hệt nhau toàn tập.

Bạn có thể phát ốm

với bất cứ cái gì nếu quá nhiều, như tất cả những thứ xa xỉ phù phiếm mẹ tôi mua về để rồi nhanh chóng phát chán với chúng.

Nhưng Emma.

Còn có Emma.

Có thể không lạ lắm, những gì chúng tôi có thể có.

Tôi hoàn toàn có thể ở lại một thời gian, yêu cô rồi

sau đó về nhà.

Nhưng không.

Đến khi tôi muốn rời khỏi thì đã là quá muộn.

Emma chính là một nàng tiên cá mồi chài thủy thủ lao vào chỗ

chết.

Tôi cần mạnh mẽ lên.

"Người cậu muốn là ông tớ, không phải tớ.

Tớ không thể đóng vai ông cho cậu được."

Emma nhìn đi chỗ khác, vẻ đau khổ.

"Đó không phải lý do vì sao cậu nên ở lại.

Cậu thuộc về nơi này, Jacob."

"Không phải.

Tớ không giống cậu."

"Có, có đấy", cô khăng khăng.

"Không phải.

Tớ là một người bình thường, giống như ông nội tớ."

Emma lắc đầu.

"Có thực là cậu nghĩ thế không?"

"Nếu tớ có thể làm được gì đó ngoạn mục như cậu, cậu không nghĩ là giờ này tớ đã bị để ý đến rồi sao?"

"Tớ không định nói với cậu điều này", cô nói, "nhưng người bình thường không thể đi xuyên qua các vòng thời gian được."

Tôi ngẫm nghĩ câu nói này trong giây lát, nhưng cũng chẳng thấy có nghĩa lý gì.

"Chẳng có gì đặc biệt ở tớ cả.

Tớ là người tầm

thường nhất trên đời cậu có thể gặp."

"Tớ lấy làm ngờ chuyện đó lắm", Emma đáp.

"Abe có một năng lực rất hiếm có và đặc biệt, một điều hầu như không ai khác có thể làm

được."

Và sau đó, cô nhìn thẳng vào mắt tôi rồi nói, "Anh ấy có thể nhìn thấy lũ quái vật."

Chương 9

Anh ấy có thể nhìn thấy lũ quái vật.

Ngay khi cô nói ra những lời này, tất cả nỗi kinh hoàng tôi vốn tưởng mình đã để lại đằng sau

bỗng cuồn cuộn ùa về.

Chúng có thật.

Chúng có thật và chúng đã giết ông tôi.

"Tớ cũng có thể nhìn thấy chúng", tôi nói với cô, thì thầm như thể đó là một nỗi xấu hổ thầm kín.

Đôi mắt Emma ướt nhòe, cô liền ôm chầm lấy tôi.

"Tớ biết có điều gì đó đặc biệt ở cậu mà", cô nói.

"Và ý tớ muốn nói đó là lời khen

ngợi lớn nhất."

Tôi vẫn luôn biết mình kỳ lạ.

Song chưa bao giờ mơ mình lại đặc biệt.

Nhưng nếu tôi có thể nhìn thấy những thứ mà gần như không ai

khác có thể, điều đó sẽ giải thích tại sao Ricky đã không thấy gì trong rừng buổi tối ông nội tôi bị giết.

Điều đó giải thích vì sao tất cả mọi

người đều nghĩ tôi bị điên.

Tôi không hề điên hay bị ảo giác hay rối loạn stress; cảm giác hốt hoảng quặn thắt trong bụng tôi mỗi khi

chúng ở gần - cũng như nỗi kinh hoàng khi trông thấy chúng - đó là do năng lực dị thường của tôi.

"Và các cậu không thể nhìn thấy chúng sao?" tôi hỏi cô.

"Chỉ cái bóng của chúng thôi, đó là lý do chúng đi săn chủ yếu vào ban đêm."

"Điều gì ngăn cản chúng tìm tới cậu ngay lúc này?" tôi hỏi, sau đó tự chỉnh lại.

"Ý tớ là tìm tới tất cả chúng ta."

Emma trở nên nghiêm túc.

"Chúng không biết tìm chúng ta ở đâu.

Và chúng không thể đi vào vòng thời gian.

Vì thế chúng ta được an

toàn trên đảo - nhưng chúng ta không thể rời đi."

"Nhưng Victor đã làm thế."

Cô buồn bã gật đầu.

"Anh ấy bảo là cứ ở đây thì sẽ phát điên mất.

Bảo là anh ấy không thể chịu đựng thêm được nữa.

Khổ thân

Bronwyn.

Abe của tớ cũng đã rời đi, nhưng ít nhất anh ấy không bị những hồn rỗng sát hại."

Tôi buộc mình nhìn thẳng vào cô.

"Tớ thực sự xin lỗi phải nói với cậu chuyện này..."

"Cái gì?

Ôi không."

"Người ta thuyết phục tớ rằng đó là những con thú hoang.

Nhưng nếu những gì cậu đang nói là đúng, ông nội tớ cũng bị chúng sát

hại.

Lần đầu tiên và duy nhất tớ nhìn thấy một con chính là vào buổi tối ông mất."

Emma ép đầu gối sát vào ngực và nhắm mắt lại.

Tôi quàng tay ôm lấy cô, còn cô tựa vào đầu tôi.

"Tớ biết cuối cùng thế nào chúng cũng tìm được anh ấy", cô thì thầm.

"Anh ấy đã hứa sẽ được an toàn tại Mỹ.

Hứa rằng anh ấy có

thể tự bảo vệ bản thân.

Nhưng chúng ta không bao giờ được an toàn - tất cả chúng ta - một cách thật sự."

Chúng tôi ngồi nói chuyện trên xác tàu đắm cho tới khi trăng lặn và nước dâng lên vỗ vào cổ chúng tôi, còn Emma bắt đầu rùng mình

vì lạnh.

Sau đó, chúng tôi nắm tay nhau cùng lội trở lại chỗ chiếc xuồng.

Chèo xuồng về phía bãi biển, chúng tôi nghe thấy có tiếng người

đang gọi tên mình, sau đó, chúng tôi vòng qua một tảng đá và nhìn thấy Hugh cùng Fiona đang đứng trên bờ vẫy chúng tôi.

Thậm chí từ

xa cũng có thể thấy rõ có chuyện gì đó không hay.

Chúng tôi buộc xuồng rồi chạy tới gặp họ.

Hugh đang thở không ra hơi, lũ ong kích động bay vo ve quanh cậu ta.

"Có chuyện rồi!

Cậu cần quay về cùng bọn tớ!"

Không có thời gian để tranh luận nữa.

Emma mặc quần áo ra ngoài bộ đồ bơi của cô, còn tôi xỏ chân vào cái quần dính đầy cát của

mình.

Hugh nhìn tôi có vẻ ngần ngại.

"Nhưng cậu này thì không", cậu ta nói.

"Chuyện này nghiêm túc đấy."

"Không, Hugh", Emma nói.

"Chim đã đúng.

Cậu ấy là một trong chúng ta."

Cậu ta há hốc miệng hết nhìn cô rồi nhìn tôi.

"Cậu đã kể với cậu ta rồi?!"

"Tớ buộc phải làm thế.

Dù thế nào cậu ấy cũng đã tự đoán ra rồi."

Hugh có vẻ bối rối trong giây lát, nhưng sau đó quay sang bắt tay tôi một cách quả quyết.

"Vậy thì chào mừng tới với gia đình."

Tôi không biết phải nói gì, vì thế tôi chỉ đáp, "Cảm ơn."

Trên đường quay về trại trẻ, chúng tôi lượm lấy những mảnh thông tin đứt đoạn về những gì đã xảy ra từ Hugh, nhưng phần lớn thời

gian chúng tôi chỉ chạy.

Khi chúng tôi dừng lại trong rừng để nghỉ lấy hơi, cậu ta nói, "Đó là một trong những người bạn Chủ Vòng Thời

Gian của Chim.

Cô ấy bay tới cách đây một giờ trong tình trạng thật khủng khiếp, la hét kinh hoàng và làm tất cả mọi người bật dậy khỏi

giường.

Bọn tớ còn chưa kịp hiểu cô ấy muốn nói gì thì cô ấy đã ngất xỉu."

Hugh vặn vẹo hai bàn tay, có vẻ rất khổ sở.

"Ôi, tớ chỉ biết có

chuyện xấu đã xảy ra."

"Tớ hy vọng là cậu lầm", Emma nói, và chúng tôi chạy tiếp.

***

Ngoài hành lang, ngay bên ngoài cửa phòng khách đang đóng kín, lũ trẻ trong bộ đồ ngủ nhàu nhĩ đang xúm xít quanh một cây đèn

dầu, rì rầm bàn tán xem có chuyện gì đã xảy ra.

"Có lẽ họ đã quên khởi động lại vòng của họ", Claire nói.

"Cược với cậu đó là bọn hồn rỗng", Enoch nói.

"Cược với cậu chúng cũng đã ăn thịt rất nhiều người trong bọn họ, nuốt chửng đến

cả ủng!"

Claire và Olive than vãn, úp mặt vào hai bàn tay nhỏ xíu.

Horace quỳ gối xuống bên hai cô gái và nói với giọng trấn an, "Nào, nào.

Đừng để Enoch nhồi nhét những chuyện rác rưởi vào đầu các cậu.

Mọi người đều biết đám hồn rỗng thích những đứa trẻ hơn cả.

Chính

vì thế chúng đã để bạn cô Peregrine chạy thoát - cô ấy có hương vị như bã cà phê để lâu ngày ấy!"

Olive nhìn ra từ các kẽ ngón tay.

"Thế những đứa trẻ có hương vị thế nào?"

"Như quả dâu tây vậy", cậu ta nói như thật.

Hai cô gái lại rên lên.

"Để cho họ yên!"

Hugh gắt lên, và một bầy ong xua Horace vừa la vừa chạy tít xuống cuối hành lang.

"Có chuyện gì ở ngoài đó vậy?" bà Peregrine hỏi vọng ra từ trong phòng khách.

"Có phải tôi nghe thấy cậu Apiston không vậy?



Bloom và cậu Portman đâu?"

Emma rụt người lại và hướng ánh mắt e dè về phía Hugh.

"Cô ấy biết à?"

"Khi cô ấy phát hiện ra cậu ra ngoài, thiếu chút nữa cô đã phát cuồng.

Cứ tưởng cậu đã bị đám xác sống hay một con quỷ nào đó bắt

cóc.

Xin lỗi, Em.

Tớ đành phải nói cho cô biết."

Emma lắc đầu, nhưng tất cả những gì chúng tôi có thể làm là đi vào và đối diện với hậu quả.

Fiona lặng lẽ ra dấu chào chúng tôi - như

thể để chúc chúng tôi may mắn rồi chúng tôi mở cửa.

Bên trong phòng khách, ánh sáng duy nhất là từ một lò sưởi đang cháy, hắt những cái bóng nhảy múa lên bức tường.

Bronwyn lo

lắng cúi xuống một bà lão đang cựa mình nửa tỉnh nửa mê trên một chiếc ghế tựa, cả người quấn kín trong một tấm chăn.

Bà Peregrine

ngồi trên một chiếc ghế dài có đệm, bón cho bà lão từng thìa đầy thứ chất lỏng sẫm màu.

Khi Emma nhìn thấy khuôn mặt bà lão, cô cứng người lại.

"Ôi Chúa ơi", cô thì thầm.

"Đó là cô Avocet."

Chỉ đến lúc ấy tôi mới nhận ra, dù chỉ mơ hồ, từ bức ảnh bà Peregrine đã đưa cho tôi xem, chụp chính bà khi còn là một cô gái.



Avocet trong ảnh trông có vẻ thật bất khuất, nhưng giờ đây trông bà thật mong manh, yếu ớt.

Trong khi chúng tôi đứng nhìn, bà Peregrine cầm một cái bình bạc kề vào môi bà Avocet rồi nghiêng bình, và trong một khoảnh khắc

bà Chủ Vòng Thời Gian già dường như hồi tỉnh lại, ngồi nhổm ra trước, mắt sáng lên.

Nhưng sau đó vẻ mặt bà trở lại đờ đẫn, bà lại đổ vật

xuống ghế.

"Cô Bruntley", bà Peregrine nói với Bronwyn, "hãy đi chuẩn bị chỗ nằm nghỉ cho cô Avocet, rồi sau đó đi lấy một chai vang coca và

một bình brandy nữa."

Bronwyn đi ra ngoài, lễ phép gật đầu chào.

Tiếp theo, bà Peregrine quay sang chúng tôi và hạ giọng nói, "Ta vô cùng thất vọng về

cô, cô Bloom.

Vô cùng.

Lại còn chọn đúng tối nay để lẻn ra ngoài."

"Em xin lỗi, thưa cô.

Nhưng làm sao em biết được sẽ có chuyện không hay xảy ra ạ?"

"Ta sẽ phạt cô.

Tuy nhiên, tính đến hoàn cảnh, có lẽ cũng chẳng cần phí công để làm điều đó."

Bà đưa một bàn tay lên vuốt xuôi mái

tóc bạc trắng của người đã dạy dỗ mình.

"Cô Avocet sẽ không bao giờ bỏ những người mình phải trông nom để tới đây trừ phi có chuyện

gì rất khủng khiếp đã xảy ra."

Ngọn lửa rừng rực cháy làm những giọt mồ hôi rịn ra trên trán tôi, nhưng trên ghế bà Avocet đang nằm run rẩy.

Liệu bà có chết không?

Liệu có phải thảm kịch đã diễn ra giữa ông nội và tôi lại sắp sửa tái diễn, lần này là giữa bà Peregrine và cô giáo của bà hay

không?

Tôi mường tượng lại nó: tôi ôm lấy ông, kinh hoàng và bối rối, không bao giờ có thể ngờ tới sự thật về ông hay về bản thân tôi.

Tôi rút ra kết luận rằng những gì đang xảy ra lúc này không hề giống những gì đã xảy đến với tôi.

Bà Peregrine vẫn luôn biết bà là ai.

Lúc này thật khó có thể coi là đúng thời điểm để nhắc tới song tôi thấy tức giận và không thể kìm mình được.

"Bà Peregrine?" tôi bắt

đầu, và bà ngước lên.

"Đến khi nào bà mới định nói cho cháu biết?"

Bà định hỏi là chuyện gì, nhưng rồi ánh mắt bà rời sang Emma, và dường như đọc được câu trả lời trên khuôn mặt cô.

Trong khoảnh

khắc, bà có vẻ rất tức giận nhưng sau đó bà nhìn thấy vẻ bực bội của tôi, và cơn giận của bà lắng xuống.

"Sớm thôi, chàng trai.

Làm ơn

hãy hiểu.

Bày ra trước mặt cậu toàn bộ sự thật ngay từ cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa chúng ta sẽ là một cú sốc tệ hại.

Không thể dự đoán

phản ứng của cậu.

Cậu có thể đã bỏ chạy và không bao giờ quay trở lại.

Ta không thể chấp nhận rủi ro đó."

"Vậy là thay vì thế bà cố gắng dụ dỗ cháu bằng thức ăn, thú vui và các cô gái trong khi vẫn giấu kín mọi điều tồi tệ như một bí mật?"

Emma thảng thốt.

"Dụ dỗ?

Ôi, làm ơn, đừng nghĩ về tớ như thế, Jacob.

Tớ không chịu nổi đâu."

"Ta e rằng cậu đã hiểu lầm chúng ta một cách tệ hại", bà Peregrine nói.

"Còn về dụ dỗ cậu, những gì cậu thấy là cách chúng ta sống.

Chẳng có sự lừa dối nào cả, chỉ là không tiết lộ vài sự thực thôi."

"Được thôi, đây là một sự thực dành cho bà đây", tôi nói.

"Một trong những sinh vật đó đã giết ông nội cháu."

Bà Peregrine nhìn chăm chăm vào ngọn lửa một lát.

"Ta rất tiếc khi biết điều đó."

"Cháu đã nhìn thấy con vật đó bằng chính mắt mình.

Khi cháu kể cho những người khác, họ cố thuyết phục cháu là cháu đã mất trí.

Nhưng cháu không hề mất trí, và ông nội cháu cũng không.

Suốt đời mình ông vẫn luôn nói cho cháu biết sự thật, vậy mà cháu lại không

tin ông."

Nỗi hổ thẹn tràn ngập trong tôi.

"Nếu cháu tin, có lẽ ông vẫn còn sống."

Bà Peregrine thấy tôi đang loạng choạng, bèn bảo tôi ngồi xuống cái ghế đối diện với bà Avocet.

Tôi ngồi xuống, và Emma quỳ gối xuống bên cạnh tôi.

"Abe chắc đã biết cậu là một người đặc biệt", cô nói.

"Và anh ấy hẳn phải có

một lý do xác đáng để không nói với cậu."

"Đúng là cậu ấy có biết", bà Peregrine đáp.

"Và cậu ấy đã nói rõ điều đó trong một lá thư."

"Thế thì cháu không hiểu.

Nếu tất cả những chuyện ông kể đều đúng, và nếu ông biết cháu giống mình, tại sao ông lại giữ bí mật về

điều đó tới tận phút cuối đời?"

Bà Peregrine dùng thìa bón thêm brandy cho bà Avocet, bà này rên lên, ngồi nhổm dậy một chút rồi lại nằm vật xuống ghế.

"Ta chỉ có

thể đoán là cậu ấy muốn bảo vệ cậu", bà nói.

"Cuộc sống của chúng ta có thể đầy thử thách và thiếu vắng nhiều thứ.

Cuộc đời Abe còn

khắc nghiệt gấp đôi thế vì cậu ấy là người Do Thái sinh vào đúng thời điểm tệ hại nhất.

Cậu ấy phải đối diện với hai cuộc diệt chủng,

cuộc diệt chủng người Do Thái của bọn Quốc Xã và cuộc diệt chủng người đặc biệt của đám hồn rỗng.

Cậu ấy bị giằng xé bởi ý nghĩ

mình đang trốn tránh ở đây trong khi đồng loại với cậu ấy, cả người Do Thái lẫn người đặc biệt, đang bị tàn sát."

"Ông từng nói ông ra trận để chiến đấu với bọn quái vật", tôi nói.

"Đúng thế", Emma nói.

"Chiến tranh chấm dứt chế độ Quốc Xã, nhưng bọn hồn rỗng lại trở nên hung dữ hơn bao giờ hết", bà Peregrine nói tiếp.

"Vậy nên

như nhiều người đặc biệt khác, chúng ta phải tiếp tục ẩn trốn.

Nhưng ông nội cậu khi trở về đã thay đổi hoàn toàn.

Cậu ấy đã trở thành

một chiến binh, và quyết tâm xây dựng một cuộc đời cho mình bên ngoài vòng.

Cậu ấy từ chối trốn tránh."

"Tớ đã cầu xin anh ấy đừng đi Mỹ", Emma nói.

"Tất cả bọn tớ đều làm thế."

"Tại sao ông lại chọn nước Mỹ?" tôi hỏi.

"Vào thời ấy, tại đó có rất ít hồn rỗng", bà Peregrine đáp.

"Sau chiến tranh, đã có một cuộc di cư nhỏ của những người đặc biệt tới

Mỹ.

Trong một thời gian, nhiều người đã có thể sống như bình thường, giống như ông nội cậu.

Ước ao lớn nhất của cậu ấy là được bình

thường, sống một cuộc đời bình thường.

Cậu ấy thường nhắc tới chuyện đó trong những lá thư của mình.

Cậu ấy muốn cậu có những gì

cậu ấy không bao giờ có được."

"Được làm người bình thường", tôi nói.

Bà Peregrine gật đầu.

"Nhưng cậu ấy không bao giờ có thể thoát khỏi sự đặc biệt của mình.

Năng lực độc nhất vô nhị cộng với sự

anh dũng trong chiến tranh của cậu ấy với tư cách một người săn hồn rỗng, khiến cậu ấy trở nên quý giá.

Cậu ấy thường xuyên bị thúc

ép phải nhập cuộc, được yêu cầu giúp loại bỏ những ổ hồn rỗng gây rắc rối.

Bản tính khiến cậu ấy hiếm khi từ chối."

Tôi nghĩ tới tất cả những chuyến đi săn dài ông nội Portman vẫn thường tiến hành.

Gia đình tôi có một bức ảnh chụp ông trong một

chuyến đi săn như thế, cho dù tôi không rõ ai đã chụp nó hay vào lúc nào, vì ông hầu như luôn đi một mình.

Nhưng khi còn bé, tôi từng

nghĩ bức ảnh này thật buồn cười, vì trong ảnh ông mặc một bộ vest.

Ai lại mặc vest đi săn chứ?

Giờ tôi đã biết: ông đi săn thứ gì đó ghê gớm hơn những con thú.

Tôi xúc động trước ý niệm mới mẻ rằng ông nội không phải là một kẻ hoang tưởng bị súng đạn ám ảnh hay một kẻ lăng nhăng vụng

trộm hoặc một người đàn ông chẳng bao giờ có mặt bên gia đình, mà là một hiệp sĩ lang thang mạo hiểm tính mạng mình vì người khác,

sống trong ô tô hay các nhà trọ rẻ tiền, truy đuổi những cái bóng giết người, quay về nhà với một cơ số đạn ít hơn so với lúc mang đi,

mang trên người những vết bầm tím ông không bao giờ có khả năng giải thích và những cơn ác mộng ông không thể kể về.

Đổi lại vô vàn

hy sinh của mình, ông chỉ nhận được sự trách móc và ngờ vực từ những người ông yêu quý.

Tôi đoán đó là lý do vì sao ông viết nhiều

thư đến thế cho Emma và bà Peregrine.

Họ hiểu ông.

Bronwyn quay lại cùng một bình vang coca và thêm một bình brandy nữa.

Bà Peregrine bảo cô gái đi ra rồi đem trộn hai thứ chất lỏng

với nhau trong một cốc uống trà.

Sau đó, bà bắt đầu vỗ nhẹ lên gò má nổi những đường gân xanh của bà Avocet.

"Esmerelda", bà nói, "Esmerelda, cô phải tự ngồi dậy và uống thứ đồ uống tăng lực em đã chuẩn bị."

Bà Avocet rên khẽ, và bà Peregrine đưa cốc kề vào môi bà lão.

Bà lão uống vài ngụm, và cho dù bị sặc và ho, phần lớn chỗ chất lỏng

đỏ tía đã chui xuống họng bà.

Trong giây lát, bà mở mắt nhìn chằm chằm như thể sắp chìm trở lại vào trạng thái đờ đẫn, nhưng sau đó bà

ngồi thẳng dậy, mặt bừng sáng.

"Ôi trời", bà thốt lên, giọng khàn khàn khô khốc.

"Tôi đã ngủ thiếp đi sao?

Thật bất nhã quá."

Bà nhìn chúng tôi, hơi có vẻ ngạc

nhiên, như thể chẳng hiểu chúng tôi từ đâu ra.

"Alma?

Có phải cô đấy không?"

Bà Peregrine xoa nắn đôi bàn tay xương xẩu của bà lão.

"Esmerelda, cô đã đi cả một đoạn đường dài tới gặp chúng em giữa đêm khuya.

Em e là cô đã làm tất cả chúng em lo lắng kinh khủng đấy."

"Thật sao?"

Bà Avocet nheo mắt và cau mày, đôi mắt bà dường như nhìn dán vào bức tường đối diện, sống động với những cái bóng

chập chờn.

Rồi trên khuôn mặt bà thoáng hiện lên vẻ ám ảnh.

"Phải", bà nói.

"Tôi tới để cảnh cáo cô, Alma.

Cô cần cảnh giác.

Cô không

được phép để mình bị bất ngờ, giống như tôi đã bị."

Bà Peregrine dừng xoa bóp.

"Bởi cái gì ạ?"

"Chúng chỉ có thể là lũ xác sống.

Hai con tìm đến tối hôm qua, ngụy trang thành các thành viên hội đồng.

Tất nhiên, chẳng có thành

viên nam nào trong hội đồng, nhưng lốt ngụy trang đó đã lừa dối được lũ trẻ đang ngái ngủ do tôi quản lý để trói chúng lại và bắt chúng

đi."

Bà Peregrine há hốc miệng.

"Ôi, cô Esmerelda..."

"Cô Bunting và tôi thức giấc khi nghe thấy tiếng kêu tuyệt vọng của chúng", bà lão giải thích, "nhưng chúng tôi phát hiện ra mình bị

chặn cửa nhốt lại trong nhà.

Phải mất một lúc lâu mới phá được cửa, chúng tôi liền lần theo mùi tanh của đám xác sống ra ngoài vòng thời

gian, nhưng khi đó đã có cả một bầy dã thú chỉ nhìn thấy bóng chờ sẵn ở phía bên kia.

Chúng gầm rú ập vào tấn công chúng tôi."



ngừng lời, cố làm những giọt nước mắt.

"Còn lũ trẻ?"

Bà Avocet lắc đầu.

Đôi mắt bà dường như đã tắt hẳn ánh sáng.

"Lũ trẻ chỉ là mồi nhử", bà nói.

Emma cầm lấy bàn tay tôi siết chặt, và tôi nhìn thấy hai má bà Peregrine ướt long lanh trong ánh lửa.

"Cô Bunting và tôi mới là những người chúng muốn.

Tôi đã thoát được, nhưng cô Bunting thì không may mắn như thế."

"Bà ấy bị giết rồi sao?"

"Không, bị bắt cóc.

Cũng như cô Wren và cô Treecreeper khi vòng của họ bị tấn công nửa tháng trước.

Chúng đang tìm bắt các Chủ

Vòng Thời Gian, Alma.

Đây là một âm mưu được phối hợp có hệ thống.

Nhằm mục đích gì thì tôi không hình dung ra được."

"Vậy thì chúng sẽ tìm đến chúng em", bà Peregrine khẽ nói.

"Nếu chúng có thể tìm ra cô", bà Avocet đáp.

"Cô ẩn trốn tốt hơn những người khác, nhưng cô cần phải chuẩn bị sẵn sàng, Alma."

Bà Peregrine gật đầu.

Bà Avocet bất lực nhìn đôi bàn tay mình đang run rẩy trong lòng như một con chim gãy cánh.

Bà bắt đầu nấc

lên.

"Ôi, lũ trẻ yêu quý của tôi.

Hãy cầu nguyện cho chúng.

Giờ đây chúng hoàn toàn đơn độc."

Rồi bà quay đi và khóc.

Bà Peregrine kéo chăn trùm lên vai bà lão rồi đứng dậy.

Chúng tôi theo bà ra ngoài, để bà Avocet ở lại cùng nỗi đau khổ của bà.

***

Chúng tôi gặp lũ trẻ đang xúm lại quanh cửa phòng khách.

Dù bọn họ không nghe thấy tất cả những gì bà Avocet vừa nói thì cũng đã

nghe được đủ nhiều, và điều đó hiện rõ trên những khuôn mặt đầy lo âu của họ.

"Cô Avocet tội nghiệp", Claire vừa nói vừa thút thít, môi dưới run rẩy.

"Những đứa trẻ tội nghiệp của cô Avocet", Olive nói.

"Liệu bây giờ chúng có tìm đến chúng ta không, thưa cô?"

Horace hỏi.

"Chúng ta sẽ cần đến vũ khí!"

Millard la lên.

"Rìu chiến!"

Enoch nói.

"Bom!"

Hugh nói.

"Dừng lại ngay!", bà Peregrine lớn tiếng, giơ hai bàn tay lên yêu cầu mọi người im lặng.

"Tất cả chúng ta cần giữ bình tĩnh.

Phải, điều

đã xảy ra với cô Avocet thật bi kịch - vô cùng bi kịch - nhưng bi kịch như vậy không nhất thiết lặp lại ở đây.

Tuy vậy, chúng ta cần cảnh

giác.

Từ giờ trở đi các cô cậu sẽ chỉ được đi ra khỏi khuôn viên trại trẻ nếu được ta cho phép, và trong trường hợp đó phải đi thành cặp.

Nếu thấy ai đó lạ, cho dù họ có vẻ là người đặc biệt, hãy lập tức tới báo cho ta biết.

Chúng ta sẽ thảo luận về những chuyện này và

những biện pháp đề phòng khác vào buổi sáng.

Từ giờ tới lúc đó, tất cả lên giường!

Lúc này không phải là thời điểm cho một cuộc họp."

"Nhưng thưa cô..."

Enoch bắt đầu nói.

"Lên giường!"

Đám trẻ lon ton chạy về phòng.

"Còn về cậu, cậu Portman, ta không thoải mái cho lắm về việc cậu lang thang một mình.

Ta nghĩ có lẽ

cậu nên ở lại, ít nhất cho tới khi mọi thứ ít nhiều bình lặng trở lại."

"Cháu không thể cứ thế biến mất được.

Bố cháu sẽ lo cuống lên mất."

Bà Peregrine cau mày.

"Trong trường hợp đó, ít nhất cậu cần ở lại đây qua đêm.

Ta kiên quyết yêu cầu như vậy."

"Cháu sẽ ở lại, nhưng bà phải kể cho cháu mọi thứ bà biết về những sinh vật đã giết ông nội cháu."

Bà nghiêng đầu, quan sát tôi, dường như lấy làm thích thú.

"Được lắm, cậu Portman, ta đồng ý rằng cậu cần phải biết.

Hãy thu xếp

chỗ nghỉ cho mình đêm nay trên đi văng, rồi chúng ta sẽ trao đổi trước hết về điều đó."

"Cháu cần biết ngay bây giờ."

Tôi đã đợi mười năm để nghe sự thật, và tôi không thể chờ thêm một phút nào nữa.

"Làm ơn đi."

"Chàng trai trẻ ạ, có những lúc cậu đứng chông chênh trên một lằn ranh rất mong manh giữa cứng đầu một cách cuốn hút và ương

ngạnh một cách không thể chịu đựng nổi."

Bà quay sang Emma.

"Cô Bloom, cô có thể đi lấy bình vang coca giúp ta được chứ?

Có vẻ như

đêm nay ta sẽ không ngủ, và ta phải nhờ đến nó nếu cần thức cả đêm."

***

Phòng học quá gần khu phòng ngủ của đám trẻ để trò chuyện khuya, vì thế cô phụ trách và tôi rời sang một căn nhà kính nhỏ nằm

ven rừng.

Chúng tôi ngồi lên những cái chậu trồng cây úp ngược giữa các cây hồng leo, một cây đèn bão được đặt dưới mặt cỏ giữa hai

chúng tôi, bình minh vẫn chưa ló dạng đằng sau những bức tường kính.

Bà Peregrine lấy một cái tẩu từ trong túi ra, cúi xuống châm tẩu

thuốc nhờ ngọn lửa của cây đèn.

Bà trầm ngâm rít vài hơi thuốc, nhả lên trên những quầng khói xanh lơ, rồi bắt đầu nói.

"Vào thời cổ đại, người ta lầm tưởng chúng ta là thần thánh", bà nói, "nhưng những người đặc biệt chúng ta cũng có sinh có tử

chẳng khác gì người thường.

Các vòng thời gian chỉ đơn thuần trì hoãn điều không thể tránh khỏi, và cái giá chúng ta phải trả cho việc sử

dụng chúng là rất nặng nề - sự đoạn tuyệt vĩnh viễn với hiện tại đang diễn ra.

Như cậu biết đấy, những người sống quá lâu trong vòng

không thể đặt chân ra ngoài hiện tại nếu không sẽ già đi nhanh chóng và chết.

Đây là sự sắp đặt đã tồn tại từ cổ xưa."

Bà bập thêm một hơi thuốc, rồi nói tiếp.

"Nhiều năm trước, vào khoảng cuối thế kỷ trước, một nhóm tách biệt xuất hiện trong cộng đồng chúng ta - một nhóm những người

đặc biệt bất mãn, mang theo những ý tưởng nguy hiểm.

Họ tin rằng họ đã khám phá ra một phương pháp cho phép lợi dụng chức năng

của vòng thời gian để đem đến cho người dùng một điều giống như sự bất tử, không chỉ đơn thuần là ngừng lại quá trình lão hóa, mà còn

đảo ngược nó.

Họ nói tới tuổi trẻ vĩnh cửu có thể tận hưởng bên ngoài giới hạn của vòng thời gian, tới chuyện nhảy tới nhảy lui từ tương

lai về quá khứ mà không phải trả giá, không phải chịu đựng những hậu quả tồi tệ vẫn luôn ngăn chặn những hành động nông nổi như thế

- nói cách khác là làm chủ thời gian mà không bị cái chết làm chủ.

Toàn bộ ý tưởng này thật điên rồ - hoàn toàn là chuyện ba hoa rỗng

tuếch - một sự bác bỏ những quy luật thực tế kiểm soát mọi thứ!"

Bà thở hắt ra thật mạnh, sau đó dừng lại một lát để trấn tĩnh.

"Dù thế nào đi nữa, hai em trai ta, xuất sắc về kỹ năng nhưng lại thiếu sự tỉnh táo, đã bị ý tưởng đó hấp dẫn.

Chúng thậm chí còn cả

gan đề nghị ta trợ giúp để biến nó thành thực tế.

Các cậu đang nói đến chuyện biến mình thành các vị thần đấy ta đã nói vậy.

Không thể

làm được điều đó.

Và cho dù có thể thì cũng không nên làm.

Nhưng chẳng thể nào khiến chúng đổi ý.

Vì đã lớn lên giữa các học viên Chủ

Vòng Thời Gian của cô Avocet, chúng biết về kỹ năng độc nhất vô nhị của chúng ta nhiều hơn phần lớn các nam giới đặc biệt - vừa đủ

để trở thành nguy hiểm, ta e là vậy.

Bất chấp những lời cảnh báo, thậm chí là đe dọa của Hội đồng, vào mùa hè năm 1908, các em trai ta và

vài trăm thành viên của nhóm ly khai này - trong đó có cả một số Chủ Vòng Thời Gian hùng mạnh, tất cả đều là những tên phản bội - tìm

đến vùng đài nguyên Siberia để thực hiện thí nghiệm ghê tởm của chúng.

Chúng chọn địa điểm là một cái vòng cũ vô danh đã không

được dùng đến trong hàng thế kỷ.

Chúng ta đã trông đợi chúng trở về vòng suốt một tuần, trong nỗi thất bại ê chề, bị bẽ mặt trước bản

chất không thể khuất phục của tự nhiên.

Nhưng thay vì thế, sự trừng phạt giáng xuống đầu chúng còn kinh hoàng hơn nhiều: một vụ nổ

[21]

thảm họa đã làm vỡ tung kính cửa sổ ở tận Azores

.

Tất cả những ai có mặt trong vòng bán kính năm trăm ki lô mét chắc chắn đều đã

nghĩ vụ nổ là ngày tận thế.

Chúng ta cho rằng tất cả chúng đều đã bị giết, vụ nổ kinh hoàng làm chấn động thế giới đó là tiếng hét đồng

thanh cuối cùng của chúng."

"Nhưng bọn họ sống sót", tôi đoán.

"Có thể nói như vậy.

Những người khác có thể gọi trạng thái tồn tại của chúng sau đó là một kiếp sống đọa đày.

Vài tuần sau vụ nổ,

bắt đầu xuất hiện một loạt vụ tấn công nhằm vào những người đặc biệt bởi những sinh vật ghê tởm không thấy hình chỉ thấy bóng, trừ

những người đặc biệt như cậu - đây là những cuộc chạm trán đầu tiên của chúng ta với đám hồn rỗng.

Phải mất một thời gian chúng ta

mới nhận ra những con quái vật ghê tởm miệng đầy xúc tu kia trên thực tế chính là những người anh em lạc lối của chúng ta, những kẻ đã

bò ra khỏi miệng hố bốc khói nghi ngút mà thí nghiệm của chúng để lại.

Thay vì trở thành các vị thần chúng đã biến mình thành những

con quái vật."

"Chuyện gì đã diễn ra vậy?"

"Đó vẫn là một vấn đề được tranh cãi.

Một giả thuyết là chúng đã đảo ngược tuổi tác cho bản thân về một thời điểm thậm chí linh hồn

của chúng còn chưa được hình thành và cũng vì thế chúng ta gọi chúng là đám hồn rỗng - vì chúng không có trái tim hay linh hồn.

Trong

một sự trớ trêu đầy mỉa mai, chúng đã đạt được sự bất tử vốn tìm kiếm.

Người ta tin rằng các hồn rỗng có thể sống hàng nghìn năm,

nhưng đó là một cuộc sống trong sự giày vò thường trực về thể xác, của nỗi nhục nhã ê chề - kiếm ăn bằng những con vật đi lạc, sống

trong lẩn tránh cô độc - cùng sự thèm khát vô bờ máu thịt của các đồng loại trước đây của chúng, vì máu chúng ta là hy vọng cứu rỗi duy

nhất chúng có.

Nếu một hồn rỗng ăn thịt đủ nhiều người đặc biệt, nó sẽ trở thành một xác sống."

"Lại từ đó", tôi nói.

"Khi chúng cháu gặp nhau lần đầu tiên, Emma đã buộc tội cháu là một xác sống."

"Rất có thể ta cũng nghĩ đến điều tương tự nếu ta không từng quan sát cậu trước đó."

"Chúng là ai vậy?"

"Nếu trở thành hồn rỗng đồng nghĩa với sống trong địa ngục - và chắc chắn đúng là như thế - thì trở thành xác sống cũng gần như

sống trong luyện ngục.

Xác sống gần như là người thường.

Chúng không có năng lực đặc biệt nào.

Nhưng vì chúng có thể hòa lẫn vào

cộng đồng người, chúng sống để làm tôi tớ cho các huynh đệ hồn rỗng của chúng làm những việc thám thính, gián điệp và cung cấp

nguồn thịt sống.

Đó là hệ thống phân công thứ bậc trong đội ngũ những kẻ bị nguyền rủa nhằm mục tiêu đến một ngày nào đó biến toàn

bộ hồn rỗng thành xác sống và tất cả những người đặc biệt thành xác chết."

"Nhưng điều gì đã ngăn cản chúng vậy?" tôi hỏi.

"Nếu chúng từ là người đặc biệt, chẳng phải chúng biết tất cả những nơi ẩn náu của

bà và những người như bà sao?"

"May thay, có vẻ chúng không lưu được chút ký ức nào của cuộc sống trước đây.

Và dù các xác sống không hùng mạnh hay kinh

khủng như đám hồn rỗng, chúng cũng nguy hiểm không kém.

Không như các hồn rỗng, chúng không chỉ hành động theo bản năng, và

thường có khả năng hòa lẫn vào cộng đồng dân cư bình thường.

Rất khó phân biệt chúng với người thường cho dù có một số dấu hiệu.

Chẳng hạn như mắt của chúng.

Thật lạ lùng, lũ xác sống không có đồng tử."

Tôi bỗng nổi gai ốc khắp người, nhớ lại người hàng xóm có đôi mắt trắng dã đang tưới nước cho bãi cỏ mọc quá cao của ông ta vào

đêm ông nội tôi bị sát hại.

"Cháu nghĩ cháu đã nhìn thấy một gã.

Lúc đấy cháu cho rằng gã chỉ là một ông lão mù lòa."

"Vậy là cậu đã tinh ý hơn phần lớn những người khác", bà nói.

"Xác sống rất khéo qua mặt người đời.

Chúng có xu hướng sắm vai

những nhân vật hoàn toàn mờ nhạt trong xã hội: người đàn ông mặc bộ đồ xám trên tàu hỏa, người nghèo khổ ăn xin những đồng xu lẻ;

chỉ là những khuôn mặt như vô vàn khuôn mặt trong đám đông.

Cho dù người ta biết có một số từng chấp nhận mạo hiểm với nguy cơ bị

lộ tẩy khi đặt mình vào những vị trí nổi bật hơn - bác sĩ, chính khách, giáo sĩ - nhằm tương tác được với số lượng người lớn hơn, hoặc để

có được quyền lực nhất định lên họ, qua đó chúng có thể phát hiện những người đặc biệt đang ẩn mình trong đám đông bình thường -

như Abe chẳng hạn - dễ dàng hơn."

Bà Peregrine với lấy một cuốn album ảnh bà đã cầm theo từ trong nhà ra và bắt đầu lật giở.

"Những bức ảnh này đã được rửa lại và

phân phát cho những người đặc biệt ở khắp nơi, cũng giống như những tấm hình truy nã.

Hãy nhìn đây", bà vừa nói vừa chỉ vào một bức

ảnh chụp hai cô gái cưỡi trên một con tuần lộc giả, một ông già Noel có đôi mắt trắng dã khiến người ta ớn lạnh đang nhìn vào ống kính

qua bộ gạc của con tuần lộc.

"Gã xác sống này đã bị phát giác khi đang làm việc trong một khu bách hóa ở Mỹ vào dịp Giáng sinh.

Gã đã

có thể tiếp xúc với rất nhiều trẻ em trong một thời gian cực ngắn - chạm vào chúng, hỏi chuyện chúng - và dò tìm những biểu hiện của

năng lực đặc biệt."

Bà lật trang để lộ ra bức ảnh chụp một nha sĩ với vẻ mặt bệnh hoạn.

"Xác sống này làm việc như một bác sĩ phẫu thuật răng miệng.

Ta

không hề ngạc nhiên khi biết được rằng cái sọ hắn chụp ảnh cùng thuộc về một trong những nạn nhân đặc biệt của hắn."

Bà Peregrine lại lật trang, lần này sang bức ảnh chụp một cô bé con đang co rúm người lại trước một cái bóng to tướng.

"Đây là

Marcie.

Cô bé rời khỏi chúng ta ba mươi năm trước để sống với một gia đình bình thường ở nông thôn.

Ta đã cầu khẩn cô bé hãy ở lại,

nhưng cô bé rất kiên quyết.

Không lâu sau đó, cô bé bị một xác sống bắt cóc trong lúc đợi xe buýt của trường.

Người ta tìm thấy một cái

máy ảnh tại hiện trường cùng phim chụp bức ảnh này bên trong."

"Ai đã chụp nó vậy?"

"Chính gã xác sống.

Chúng thích những hành động kịch tính, và luôn để lại đằng sau một vật kỷ niệm cay độc nào đó."

Tôi chăm chú nhìn các bức ảnh, cảm giác rờn rợn quen thuộc khẽ cuộn lên bên trong tôi.

Khi không thể nhìn vào những bức ảnh đó thêm được nữa, tôi đóng cuốn album lại.

"Ta nói với cậu tất cả chuyện này vì cậu có quyền biết chúng", bà Peregrine nói, "nhưng cũng vì ta cần sự giúp đỡ của cậu.

Cậu là

người duy nhất trong chúng ta có thể ra ngoài vòng mà không gây nghi ngờ.

Chừng nào cậu ở đây cùng chúng ta và nhất định tiếp tục

đi đi về về, ta cần cậu theo dõi những người mới tới đảo và báo lại tình hình của họ cho ta."

"Vừa có một người hôm trước", tôi nói, nghĩ tới người quan sát chim đã làm bố tôi buồn phiền.

"Cậu có nhìn thấy mắt người đó không?" bà hỏi.

"Thực sự thì không.

Lúc đó rất tối, và ông ta đang đội một cái mũ to che khuất một phần khuôn mặt."

Bà Peregrine cắn nhẹ khớp đốt ngón tay, lông mày bà nhíu lại.

"Sao thế?

Bà nghĩ người đó có thể là một trong số chúng không?"

"Không thể nào chắc chắn được nếu không nhìn thấy đôi mắt", bà nói, "nhưng khả năng cậu bị bám theo khi tới hòn đảo này làm ta

rất lo ngại."

"Ý bà là sao?

Bị một xác sống bám theo?"

"Có thể chính là kẻ cậu mô tả là đã trông thấy vào buổi tối ông cậu chết.

Điều đó có thể giải thích vì sao chúng để lại mạng sống cho

cậu - để cậu có thể dẫn chúng tới một miếng mồi còn đáng giá hơn: nơi này."

"Nhưng làm sao chúng biết cháu là người đặc biệt?

Đến cháu còn không biết!"

"Nếu chúng biết về ông cậu, cậu có thể tin chắc là chúng cũng biết cả về cậu nữa."

Tôi nghĩ về tất cả những cơ hội chắc chắn chúng đã có để giết tôi.

Tất cả những lần tôi cảm thấy chúng ở gần kề trong những tuần

tiếp sau cái chết của ông nội Portman.

Có phải chúng đã theo dõi tôi không?

Để chờ tôi làm đúng những gì tôi đã làm, và tới đây?

Cảm thấy choáng váng, tôi gục lên hai đầu gối.

"Cháu không nghĩ bà có thể cho phép cháu uống một ngụm thứ vang đó", tôi nói.

"Đương nhiên là không."

Đột nhiên, tôi cảm thấy ngực mình thắt lại.

"Liệu có nơi nào cháu được an toàn không?" tôi hỏi bà.

Bà Peregrine đặt bàn tay lên vai tôi.

"Ở đây cậu được an toàn", bà nói.

"Và cậu có thể sống cùng chúng ta đến chừng nào cậu muốn."

Tôi cố mở lời, nhưng chỉ phát ra được những lời lí nhí rời rạc.

"Nhưng cháu... cháu không thể... bố mẹ cháu."

"Họ có thể yêu cậu", bà thì thầm, "nhưng họ sẽ không bao giờ hiểu được."

***

Khi tôi về tới thị trấn, mặt trời đang hắt những cái bóng dài đầu tiên vắt ngang qua các con đường, những bợm rượu đã uống cả đêm

đang chếnh choáng quay vòng quanh các cột đèn trên cuộc hành trình bất đắc dĩ trở về nhà, các ngư dân đang nặng nhọc lê bước ra bến

tàu với những đôi ủng to màu đen, còn bố tôi chỉ mới bắt đầu cựa mình tỉnh dậy từ một giấc ngủ nặng nề.

Trong khi ông xuống khỏi

giường mình, thì tôi đang leo lên giường tôi, kéo chăn trùm lên bộ quần áo đầy cát chỉ vài giây trước khi ông mở cửa để kiểm tra.

"Cảm thấy ổn chứ con?"

Tôi rên lên và lăn người tránh xa khỏi bố, ông bèn đi ra ngoài.

Chiều muộn hôm đó, tôi tỉnh dậy thì thấy một tờ giấy nhắn đầy cảm

thông và một hộp thuốc cảm trên mặt bàn phòng sinh hoạt chung.

Tôi mỉm cười và cảm thấy có lỗi trong thoáng chốc vì đã nói dối ông.

Sau đó, tôi bắt đầu lo lắng, ông đang lang thang ngoài kia qua các mũi đất cùng cái ống nhòm và cuốn sổ ghi chép nhỏ của ông, có thể

cùng với một gã điên đã giết đám cừu.

Dụi dụi xua giấc ngủ ra khỏi đôi mắt sau đó mặc áo mưa, tôi đi một vòng quanh làng rồi quanh những vách đá và bãi biển gần đó, hy

vọng sẽ bắt gặp bố tôi hoặc nhà điểu cầm học kỳ dị kia - và nhìn thật rõ đôi mắt ông ta - nhưng chẳng thể tìm thấy ai trong hai người.

Trời

đã nhá nhem, cuối cùng tôi đành bỏ cuộc và quay về Priest Hole thì thấy bố đang ngồi ở quầy bar, nhâm nhi bia cùng các vị khách quen.

Từ những vỏ chai rỗng ở quanh ông, tôi nghĩ hẳn ông đã ngồi đó được khá lâu.

Tôi ngồi xuống cạnh ông, hỏi ông có thấy nhà quan sát chim râu xồm hay không.

Ông bảo không thấy.

"À, nếu bố có gặp", tôi nói, "làm ơn hãy vì con mà giữ khoảng cách với ông ta, được chứ ạ?"

Bố nhìn tôi thật lạ.

"Tại sao?"

"Chỉ là ông ta làm con thấy bất an.

Nhỡ ông ta là một gã điên nào thì sao?

Nhỡ đâu ông ta lại chính là kẻ đã giết mấy con cừu kia?"

"Con lấy đâu ra những ý tưởng kỳ quái đó vậy?"

Tôi muốn nói với bố.

Tôi muốn giải thích tất cả, và muốn ông nói với tôi là ông hiểu, rồi dành cho tôi lời khuyên của một người cha.

Vào

khoảnh khắc đó, tôi muốn mọi thứ quay trở lại như trước khi chúng tôi tới đây; trước khi tôi tìm thấy lá thư của bà Peregrine, trở lại khi tôi

chỉ là một cậu ấm con nhà giàu bình thường hay sinh chuyện ở ngoại ô.

Thay vì thế, tôi ngồi xuống cạnh bố một hồi mà không nói gì, và

tôi cố nhớ xem cuộc đời mình từng thế nào trong thời kỳ xa xăm vô tận cách đây bốn tuần, hay hình dung xem nó có thể sẽ ra sao sau bốn

tuần nữa - nhưng tôi không thể.

Cuối cùng, hai bố con tôi chẳng còn gì nữa để nói với nhau, tôi bèn tìm cớ rút lui rồi lên lầu để được một

mình.

Chương 10

Vào tối thứ Ba, phần lớn những điều tôi nghĩ mình đã hiểu về bản thân hóa ra đều sai cả.

Đến tối Chủ nhật, bố tôi và tôi đã dự kiến sẽ

thu xếp hành lý về nhà.

Tôi chỉ còn vài ngày để quyết định xem nên làm gì.

Ở lại hay ra đi - chẳng lựa chọn nào có vẻ tốt.

Làm sao tôi có

thể ở lại đây và bỏ sau lưng mọi thứ tôi đã biết?

Nhưng sau tất cả những gì đã tìm hiểu được, làm sao tôi có thể về nhà đây?

Tệ hơn thế, chẳng có ai tôi có thể tâm sự về việc đó.

Kể với bố thì không được rồi.

Emma thường xuyên đưa ra những lý lẽ tha thiết để

thuyết phục tôi ở lại, song chẳng có lời nào trong đó nhắc đến cuộc sống tôi sẽ phải từ bỏ (cho dù nó có tầm thường đến đâu đi nữa),

hay sự biến mất đột ngột không thể lý giải nổi của đứa con duy nhất có thể tác động thế nào tới bố mẹ tôi, hay cảm giác tù túng ngột

ngạt mà chính Emma đã thú nhận cô cảm thấy khi ở trong vòng thời gian.

Cô hẳn sẽ chỉ nói, "Sẽ tốt hơn khi có cậu ở đây."

Bà Peregrine còn chẳng giúp được bằng chừng đó.

Câu trả lời duy nhất của bà là bà không thể đưa ra một quyết định như thế cho tôi

dù tôi chỉ muốn nói đến cùng cho rõ.

Dẫu vậy, rõ ràng bà muốn tôi ở lại ngoài sự an toàn của bản thân tôi, sự hiện diện của tôi trong

vòng thời gian sẽ làm cho những người khác an toàn hơn.

Nhưng tôi không có hứng thú với ý tưởng dành cả cuộc đời mình làm lính canh

cho họ. (Tôi bắt đầu ngờ rằng ông tôi đã có cảm giác tương tự, và đó là một phần lý do ông từ chối quay lại sau chiến tranh.)

Gia nhập cùng đám trẻ đặc biệt cũng sẽ có nghĩa là tôi không thể học xong trung học hay vào đại học, hoặc làm bất cứ việc gì trong

số những điều bình thường người ta vẫn làm khi trưởng thành.

Đến đây, tôi lại phải nhắc nhở bản thân liên tục là tôi không phải người

bình thường, và chừng nào các hồn rỗng còn tiếp tục săn đuổi tôi, bất cứ cuộc sống nào bên ngoài vòng cũng sẽ gần như chắc chắn rất

ngắn ngủi.

Tôi sẽ phải dành phần đời còn lại của mình sống trong sợ hãi, luôn phải nhìn trước ngó sau, bị những cơn ác mộng giày vò,

chờ đợi khoảnh khắc khi cuối cùng chúng cũng tới và tiễn tôi sang thế giới bên kia.

Đoạn kết này nghe còn ngán ngẩm hơn nhiều so với

chuyện bỏ lỡ đại học.

Sau đó tôi nghĩ: chẳng lẽ không có lựa chọn thứ ba sao?

Chẳng lẽ tôi không thể như ông nội Portman, trong năm mươi năm đã sống

thoải mái và đánh bại đám hồn rỗng ở bên ngoài vòng thời gian sao?

Đến đây, giọng nói tự ti trong đầu tôi lại chen vào.

Ông đã được huấn luyện trong quân ngũ, đồ ngốc.

Ông là một tay cứng cựa có cái đầu lạnh.

Ông chẳng k hác gì một k ho vũ k hí di

động đầy ắp súng gắn đạn ghém nòng ngắn.

Đem so với cậu thì ông đúng là Rambo đấy.

Tôi có thể đăng ký một lớp học bắn súng, phần lạc quan trong tôi liền nghĩ.

Học Karate.

Rèn luyện thể lực.

Đùa đấy à, anh bạn?

Cậu thậm chí còn chẳng thể bảo vệ nổi bản thân ở trường trung học!

Cậu phải mua chuộc thằng nhóc lỗ

mãng k ia làm vệ sĩ cho mình.

Và chỉ cần chĩa một k hẩu súng thật vào ai đó thôi là cậu đã tè cả ra quần rồi.

Không, tôi sẽ k hông như thế.

Cậu là một k ẻ yếu đuối.

Cậu là một k ẻ thua cuộc.

Đó là lí do vì sao ông nội k hông bao giờ nói cho cậu biết cậu thực sự là ai.

Ông

biết cậu sẽ k hông thể gánh vác nổi điều đó.

Im đi.

Im đi.

Suốt nhiều ngày tôi cứ nghiêng đi ngả lại giữa hai dòng nước như thế.

Ở lại hay ra đi.

Tôi bị ám ảnh triền miên mà không tìm ra nổi một

giải pháp nào.

Trong khi đó, bố đã hoàn toàn cạn hứng với cuốn sách của mình.

Ông càng làm việc ít đi thì càng trở nên thoái chí nhiều

hơn, và càng thoái chí thì ông lại càng dành nhiều thời gian hơn ở quầy bar.

Tôi chưa bao giờ thấy ông uống kiểu đó trước đây - sáu bảy

chai bia một tối - và tôi không muốn ở gần bố khi ông như vậy.

Tâm trạng ông rất tệ, và những lúc không lầm lì im lặng, ông sẽ nói với tôi

những điều tôi thực sự không muốn biết.

"Thể nào cũng có ngày mẹ con bỏ bố", ông nói vào một buổi tối.

"Nếu bố không làm ra được gì đó thật sớm, bố thực sự nghĩ mẹ sẽ

làm thế."

Tôi bắt đầu tránh ông.

Tôi không chắc thậm chí ông nhận ra điều đó.

Việc nói dối lúc đi về với tôi trở nên dễ dàng đến phát nản.

Trong lúc đó, tại trại trẻ đặc biệt, bà Peregrine áp đặt tình trạng gần như khóa trái cửa.

Cứ như thể tình trạng thiết quân luật vừa được

ban bố: những đứa trẻ ít tuổi hơn không được phép đi đâu mà không có người đi cùng, những đứa trẻ lớn hơn cần đi theo cặp, và bà

Peregrine phải biết tất cả mọi người đang ở đâu vào bất cứ lúc nào.

Chỉ nguyên việc xin được ra ngoài cũng đã khổ công lắm rồi.

Những người trực gác được cắt cử luân phiên để quan sát đằng trước và đằng sau trại trẻ.

Vào bất cứ lúc nào, cả ban ngày và phần

lớn buổi đêm, bạn cũng có thể thấy những khuôn mặt buồn chán đang ngó ra qua các cửa sổ.

Nếu trông thấy ai đó lại gần, họ sẽ giật một

sợi dây kéo làm rung một cái chuông trong phòng bà Peregrine, nghĩa là bất cứ khi nào tôi tới nơi, bà cũng đang đợi bên trong cửa để

thẩm vấn tôi.

Tình hình bên ngoài vòng thế nào?

Tôi có thấy gì lạ không?

Tôi có chắc mình không bị bám theo không?

Không mấy ngạc nhiên, đám trẻ bắt đầu trở nên bứt rứt.

Những đứa bé trở nên cáu bẩn trong khi những đứa lớn hơn rầu rĩ, phàn nàn

về những quy định mới với giọng vừa đủ lớn để người khác nghe thấy.

Những tiếng thở dài ngao ngán chợt vang lên trong không khí

thường là manh mối duy nhất cho biết Millard vừa lang thang vào một căn phòng.

Bầy ong của Hugh bay khắp nơi và đốt mọi người cho

tới khi chúng bị cấm cửa bên ngoài nhà, sau đó Hugh dành toàn bộ thời gian ngồi bên khung kính cửa sổ, trong khi bầy ong của cậu ta

bu đầy bên kia mặt kính.

Olive, tuyên bố cô đã để thất lạc mất đôi giày trọng lực của mình, thường xuyên bò qua bò lại trên trần nhà như một con ruồi, rắc

những hạt gạo xuống đầu người khác cho tới khi họ ngẩng đầu lên và nhận ra cô, lúc đó cô mới phá lên cười hết cỡ, tới mức khả năng bay

của cô không còn được duy trì, và cô phải bám vào một chùm đèn hay một thanh treo rèm để khỏi bị rơi xuống.

Lạ lùng hơn cả là Enoch,

cậu này biến mất xuống phòng thí nghiệm dưới tầng hầm để thực hiện các thí nghiệm giải phẫu có thể khiến Tiến sĩ Frankenstein phải cúi

đầu ngưỡng mộ trên đám lính đất sét của mình: cắt cụt chân hai chú lính để biến chú lính thứ ba thành một thứ người nhện quái gở, hay

nhét bốn quả tim gà vào một lồng ngực duy nhất trong nỗ lực nhằm tạo nên một siêu nhân đất sét không bao giờ cạn năng lượng.

Lần

lượt, những thân thể bé nhỏ màu xám của chúng đều gục ngã dưới thử thách, và tầng hầm thành ra giống một quân y viện dã chiến thời

Nội chiến.

Về phần mình, bà Peregrine cứ luôn tay luôn chân, hút hết tẩu thuốc này đến tẩu thuốc khác trong khi tập tễnh đi từ phòng này sang

phòng khác để kiểm tra đám trẻ như thể chỉ rời khỏi tầm mắt bà là chúng có thể biến mất ngay lập tức.

Bà Avocet ở lại, thỉnh thoảng lại thức tỉnh khỏi cơn mê mệt để lang thang theo các hành lang, khổ sở gọi tên những đứa trẻ tội nghiệp bị bỏ rơi của bà trước khi ngã quỵ

trên tay ai đó để rồi được đưa trở lại giường.

Tiếp theo là vô vàn phỏng đoán hoang tưởng về tai họa bi thảm của bà Avocet cùng lý do tại

sao các hồn rỗng lại muốn bắt cóc các Chủ Vòng Thời Gian, với đủ giả thuyết từ kỳ quái (như để tạo ra vòng thời gian lớn nhất trong lịch

sử, đủ để bao trùm cả hành tinh) đến lạc quan một cách lố bịch (như để làm bạn chơi với các hồn rỗng, một quái vật khủng khiếp chuyên

ăn các linh hồn cũng có thể trở nên vô cùng cô đơn).

Cuối cùng, một sự im lặng nặng nề đè nặng lên trại trẻ.

Hai ngày giam hãm đã làm tất cả mọi người bơ phờ.

Tin rằng hoạt động thường

nhật là cách tốt nhất chống lại trầm uất, bà Peregrine cố gắng thu hút sự quan tâm của mọi người bằng việc chuẩn bị các bữa ăn mỗi ngày,

và bằng cách giữ cho ngôi nhà ngăn nắp sạch sẽ.

Nhưng bất cứ khi nào không nhận lệnh trực tiếp là phải làm gì đó, đám trẻ lại nặng nề

ngồi ủ rũ xuống những chiếc ghế tựa, mắt nhìn chăm chăm vô hồn qua các khung cửa sổ khóa trái, lần giở những cuốn sách quăn mép

chúng đã đọc qua cả trăm lần trước đó hay ngủ.

Tôi chưa bao giờ tận mắt thấy năng lực đặc biệt của Horace cho đến một buổi tối cậu ta bắt đầu la hét.

Đám chúng tôi hối hả lao lên

cầu thang tới chỗ tầng áp mái, nơi cậu ta đang làm nhiệm vụ cảnh giới và bắt gặp cậu ta cứng đờ trên một chiếc ghế, hai bàn tay chới với

quờ quạng trong không khí đầy kinh hãi, như thể đang cố bấu víu lấy thứ gì đó trong cơn ác mộng.

Thoạt đầu, cậu ta chỉ la ầm ĩ, nhưng

sau đó bắt đầu lắp bắp, gào thét về cái gì mà mặt biển sôi sùng sục và tro trút xuống như mưa từ trên bầu trời và một thảm khói vô tận

phủ kín mặt đất.

Sau vài phút không ngừng lảm nhảm những lời tiên đoán như về tận thế này, có vẻ đã kiệt sức, cậu ta chìm vào giấc ngủ

chập chờn.

Những người khác đã chứng kiến chuyện này xảy ra trước đây - thường xuyên đến mức có cả ảnh chụp những lần lên đồng của cậu ta

trong cuốn album của bà Peregrine và họ biết phải làm gì.

Theo chỉ dẫn của cô phụ trách, đám trẻ khiêng cậu ta về giường, và khi tỉnh lại

vài giờ sau đó cậu ta khẳng định không nhớ gì về giấc mơ, mà những giấc mơ cậu ta không thể nhớ được thì hiếm khi trở thành sự thật.

Những người khác chấp nhận điều này vì họ còn có quá nhiều điều khác để lo lắng.

Tôi cảm thấy cậu ta đang giấu chuyện gì đó.

Khi ai đó mất tích ở một thị trấn nhỏ bé như Cairnholm, người ta sẽ nhận ra ngay.

Chính vì vậy, vào thứ Tư, khi ông Martin không mở

cửa bảo tàng như thường lệ hay rẽ vào Priest Hole làm một chầu rượu tối theo thói quen, người ta bắt đầu băn khoăn liệu có phải ông ta

bị ốm hay không, và khi vợ Kev đến nhà ông ta kiểm tra, bà ta thấy cửa trước để mở, ví và kính của ông Martin để trên quầy bếp nhưng

không có ai trong nhà, người ta bắt đầu bàn tán liệu có phải ông ta đã chết.

Khi thấy ông ta vẫn không xuất hiện vào ngày hôm sau, một

đám đàn ông được phái đi mở cửa tất cả các chuồng gia súc, tìm bên dưới những chiếc thuyền lật úp, tìm kiếm ở mọi nơi xem biết đâu

người đàn ông độc thân mê whisky này say quá mà ngủ quên mất.

Nhưng họ chỉ mới bắt đầu thì có một cuộc gọi qua radio sóng ngắn

cho biết: thi thể ông Martin đã được kéo lên ngoài biển.

Khi người ngư dân đã tìm thấy ông ta đi vào quán rượu thì tôi đang ở đó cùng bố.

Lúc đó mới tầm giữa trưa, nhưng ông này vẫn được

đưa cho một chai bia theo đúng nguyên tắc phục vụ, và chỉ trong vòng vài phút, người đàn ông đã thuật lại câu chuyện của mình.

"Lúc đó tôi đang ở trên chỗ mũi Gannet để kéo lưới", ông ta bắt đầu.

"Lưới nặng kinh khủng, một chuyện thật lạ vì bình thường ở đó

tôi chỉ kéo được rất ít, gần như chẳng có gì, vài con tôm vớ vẩn, thế thôi.

Nghĩ rằng mình đã kéo phải một lồng bẫy cua, tôi liền vớ lấy cây

lao có mấu và quờ quạng bên dưới thuyền cho tới khi nó móc vào thứ gì đó."

Tất cả chúng tôi cùng nhích người lui lại trên ghế của mình,

như thể đang trong giờ kể chuyện tại một trường mẫu giáo quái gở nào đó.

"Đó chính là Martin.

Có vẻ như ông ta đã rơi từ trên một vách

đá xuống và bị đám cá mập rỉa.

Có Chúa mới biết ông ta lang thang làm gì ngoài chỗ vách đá giữa đêm khuya trong khi chỉ choàng độc cái

áo và đi dép."

"Ông ta không mặc đồ à?"

Kev hỏi.

"Có lẽ đồ để ngủ thôi", người ngư dân nói.

"Không phải để ra ngoài trời mưa."

Người ta cầu nguyện vài lời ngắn ngủi cho linh hồn ông Martin, đoạn bắt đầu trao đổi các giả thiết.

Chỉ trong vòng vài phút, quán

rượu trở thành nơi họp bàn mịt mờ khói thuốc của các Sherlock Holmes chếnh choáng hơi men.

"Có thể ông ta say", một người đoán liều.

"Mà nếu ông ta lang thang ra chỗ vách đá, có thể ông ta chính là kẻ giết cừu và lúc đó đang bị săn đuổi", một người khác nói.

"Thế còn cái gã mới tới trông như con sóc ấy thì sao?"

ông ngư dân kia nói.

"Cái tay vẫn cắm trại ấy."

Bố tôi thẳng người dậy trên cái ghế đẩu chân cao đang ngồi.

"Tôi đã bắt gặp anh ta", ông nói.

"Tối hôm kia."

Tôi ngạc nhiên quay sang bố.

"Sao bố chẳng kể gì với con?"

"Tôi cố đến nhà thuốc trước khi đóng cửa, còn anh chàng này đi theo hướng ngược lại, ra khỏi thị trấn.

Có vẻ rất vội.

Tôi đụng vào

vai anh ta khi anh ta đi ngang qua và làm anh ta bực mình.

Anh ta dừng lại nhìn chằm chằm vào tôi.

Cố dọa nạt.

Tôi nhìn thẳng vào mặt

anh ta, bảo là tôi muốn biết anh ta đang làm gì ở đây, đang có mục đích gì.

Ở đây ai cũng nói về mình cả, tôi nói vậy."

Kev cúi người qua quầy bar.

"Và?"

"Trông anh ta như sắp sửa đấm tôi một cú, nhưng rồi chỉ bỏ đi."

Rất nhiều người thắc mắc - một nhà điểu cầm học thì làm gì, tại sao tay kia lại cắm trại, và nhiều điều khác tôi vốn đã biết.

Tôi chỉ có

một câu đang nóng lòng muốn hỏi.

"Bố có để ý thấy điều gì lạ về ông ta không?

Khuôn mặt ấy?"

Bố tôi nghĩ trong giây lát.

"À, thực ra thì có.

Anh ta đeo kính râm."

"Vào buổi tối sao?"

"Nghe thật kỳ cục."

Cảm giác buồn nôn cuộn lên trong tôi, và tôi tự hỏi bố tôi đã cận kề một chuyện còn tồi tệ hơn một cuộc so nắm đấm đến mức nào.

Tôi biết mình cần phải kể cho bà Peregrine biết chuyện này - và thật sớm.

"À, khỉ thật", Kev nói.

"Đã hàng trăm năm nay không có vụ giết người nào ở Cairnholm.

Tại sao lại có ai đó muốn giết ông già Martin

chứ?

Nghe chẳng có lý gì cả.

Tôi dám cược một chầu cho tất cả các vị là kết quả giải phẫu tử thi được trả về sẽ cho thấy ông ta đã xỉn

quắc cần câu."

"Có thể phải mất khá lâu trước khi có kết quả đấy", ông ngư dân nói.

"Cơn bão đang tràn đến, người dự báo thời tiết nói nó sẽ rất dữ

dội.

Trận bão tệ nhất chúng ta phải chịu trong cả năm nay."

"Người dự báo thời tiết nói", Kev dè bỉu.

"Tôi sẽ không tin gã khốn ngớ ngẩn ấy biết liệu bây giờ trời có đang mưa hay không."

***

Người dân trên đảo thường đưa ra những dự báo ảm đạm về những gì Mẹ Thiên nhiên định dành cho Cairnholm - nói gì thì nói, họ

cũng nằm dưới sự khống chế của các yếu tố thiên nhiên, và bản chất vốn đã bi quan nhưng lần này những lo ngại tồi tệ nhất của họ đã

được xác nhận.

Gió và mưa vốn trút xuống hòn đảo suốt cả tuần đến tối hôm ấy bỗng mạnh lên thành một cơn bão tồi tệ ập tới tối sầm

trời đất và làm mặt biển cuộn sóng ngầu bọt.

Giữa những tin đồn về việc ông Martin đã bị sát hại và thời tiết thị trấn cũng rơi vào cảnh

cửa đóng then cài chẳng kém gì trại trẻ.

Mọi người ở tịt trong nhà.

Các cánh cửa chớp đóng chặt, cửa ra vào được cài chốt chặt.

Ngoài

bến đậu, các con thuyền va đập vào nhau trong cơn sóng mạnh nhưng không chiếc nào rời bến ra khơi trong một cơn cuồng phong như

vậy chẳng khác gì tự sát.

Và bởi vì cảnh sát trong đất liền không thể ra nhận thi thể ông Martin cho tới khi biển lặng, cư dân thị trấn buộc

phải giải quyết câu hỏi phiền toái về chuyện cần làm gì với cái xác.

Cuối cùng, người ta quyết định rằng ông chủ hàng cá, người tích trữ

nhiều nước đá nhất trên đảo, sẽ giữ lạnh nạn nhân đằng sau cửa hàng của mình, giữa những con cá hồi, cá tuyết và các thứ hải sản khác.

Những thứ cũng giống như ông Martin, đã được vớt lên từ biển.

Tôi phải nghe theo yêu cầu nghiêm khắc của bố là không được rời Priest Hole, nhưng tôi cũng bị ràng buộc bởi yêu cầu của bà Peregrine phải báo lại bất cứ sự lạ nào xảy ra - và nếu một cái chết đáng ngờ không phải là sự lạ thì chẳng còn gì đáng gọi như vậy nữa.

Thế là tối đó tôi giả bộ bị cúm và khóa trái mình lại trong phòng, sau đó trèo qua cửa sổ rồi tụt xuống đất theo ống thoát nước.

Không

còn ai ngớ ngẩn đến mức mò ra ngoài, vì thế tôi chạy một mạch theo đường cái mà không sợ bị phát hiện, mũ trùm áo khoác đập phành

phạch dưới cơn mưa như roi quất.

Khi tôi tới trại trẻ, bà Peregrine đưa mắt nhìn tôi một cái là biết ngay có chuyện gì đó không ổn.

"Có chuyện gì xảy ra vậy?" bà hỏi, đôi

mắt nổi đầy tia máu nhìn khắp người tôi dò hỏi.

Tôi kể lại tất cả với bà, mọi chi tiết vụn vặt và những tin đồn tôi hóng được, mặt bà liền tái nhợt.

Bà hối hả kéo tôi vào trong phòng

khách, trong cơn hốt hoảng, bà đã tập hợp tất cả những đứa trẻ có thể tìm thấy lại đó rồi vội vã tập tễnh bước ra tìm số ít còn lại đã tảng

lờ tiếng gọi của bà.

Số còn lại bị để đứng đó, lo lắng và bối rối.

Emma và Millard dồn tôi vào góc.

"Tại sao cô lại cuống lên thế?"

Millard hỏi.

Tôi khẽ kể cho họ biết về ông Martin.

Millard tặc lưỡi còn Emma khoanh tay lại, trông có vẻ lo lắng.

"Có thực là nghiêm trọng đến thế không?" tôi hỏi.

"Ý tớ là, chuyện đó không thể do các hồn rỗng gây ra.

Chúng chỉ săn đuổi người đặc biệt thôi, phải không?"

Emma rên lên.

"Cậu muốn nói cho cậu ấy biết, hay tớ sẽ nói đây?"

"Hồn rỗng ưa thích người đặc biệt hơn nhiều so với người thường", Millard giải thích, "nhưng chúng có thể ăn thịt bất cứ cái gì để

sống, miễn đó là cơ thể sống và có máu thịt."

"Đó là một trong những cách để cậu biết có thể có một hồn rỗng lẩn khuất xung quanh", Emma nói.

"Xác chết sẽ liên tục xuất hiện.

Đó là lý do vì sao chúng chủ yếu du cư.

Nếu chúng không thường xuyên di chuyển từ nơi này sang nơi khác, người ta sẽ rất dễ lần ra

chúng."

"Thường xuyên đến mức nào?" tôi hỏi, một cơn ớn lạnh chạy dọc theo sống lưng.

"Ý tớ là chúng có cần ăn không?"

"À, rất thường xuyên", Millard nói.

"Xoay xở bữa ăn cho đám hồn rỗng là việc đám xác sống dành phần lớn thời gian của chúng để

làm.

Chúng tìm kiếm những người đặc biệt khi có thể, nhưng một phần đáng kể công sức và nỗ lực của chúng là dành cho việc lùng tìm

những nạn nhân bình thường, cả thú vật lẫn người, cho bọn hồn rỗng, sau đó xóa dấu vết."

Cậu ta nói đầy vẻ uyên bác, như thể đang

bàn luận về thói quen sinh sản của một loài gặm nhấm tương đối thú vị nào đó.

"Nhưng đám xác sống không bị bắt sao?" tôi nói.

"Ý tớ là chúng tiếp tay cho việc giết người, các cậu có nghĩ..."

"Một số bị bắt", Emma nói.

"Tớ cược là cậu đã nghe thấy không ít, nếu cậu theo dõi tin tức.

Có một gã bị người ta tìm thấy cùng

những cái đầu người để trong thùng lạnh và một cái nồi to đựng đầy phủ tạng băm nhỏ đang đun sôi lăn tăn, cứ như thể hắn đang chuẩn

bị bữa tối Giáng sinh vậy.

Tính theo thời đại của cậu thì chuyện này xảy ra cũng chưa lâu lắm."

Tôi nhớ - chỉ lờ mờ - về một chương trình ti vi đặc biệt giật gân phát lúc tối muộn về một kẻ giết người hàng loạt và ăn thịt người ở

Milwaukee, hắn đã bị bắt trong hoàn cảnh ghê rợn tương tự.

"Ý cậu là...

Jeffrey Dahmer?"

"Tớ tin rằng đó là tên của quý ông nọ, phải", Millard nói.

"Một vụ đáng kinh ngạc.

Dường như hắn chưa bao giờ mất đi sự thèm

muốn thịt sống, cho dù hắn đã không còn là hồn rỗng trong nhiều năm."

"Tớ cứ nghĩ các cậu đáng lẽ không biết gì về tương lai cơ đấy", tôi nói.

Emma mỉm cười dè dặt.

"Chim chỉ giữ lại những điều tốt ở tương lai cho riêng cô ấy, nhưng cậu có thể cược là bọn tớ được nghe tất cả

những chuyện khiến người ta bĩnh ra quần."

Sau đó, bà Peregrine quay lại, nắm tay áo Enoch và Horace lôi theo sau.

Tất cả mọi người đều đứng nghiêm.

"Chúng ta vừa được biết tin về một mối đe dọa mới", bà nói, rồi dành cho tôi một cái gật đầu tán thưởng.

"Một người đàn ông bên

ngoài vòng của chúng ta đã chết một cách đáng ngờ.

Chúng ta không thể biết chắc nguyên nhân cái chết hay liệu điều đó có báo hiệu

một mối đe dọa cho sự an toàn của chúng ta hay không, nhưng chúng ta cần xử sự như thể là có.

Cho tới khi có thêm thông báo, không ai

được phép ra khỏi nhà, thậm chí là để hái rau hay mua một con ngỗng về cho bữa tối."

Tất cả cùng rên lên, đáp lại, bà Peregrine cao giọng, "Mấy ngày vừa rồi đúng là thử thách với tất cả chúng ta.

Cô mong các em hãy

tiếp tục kiên nhẫn."

Những bàn tay giơ lên quanh phòng, nhưng bà dứt khoát từ chối mọi câu hỏi và đi ra ngoài để khóa các cửa ra vào.

Tôi hốt hoảng

chạy theo bà.

Nếu thực sự có thứ gì đó nguy hiểm trên đảo, nó có thể giết tôi ngay khi tôi bước chân ra bên ngoài vòng.

Nhưng nếu ở lại

đây, tôi sẽ bỏ mặc bố tôi không được bảo vệ, đó là chưa kể tới việc ông sẽ lo điên lên vì tôi.

Điều đó có vẻ còn tồi tệ hơn.

"Cháu cần đi", tôi nói khi bắt kịp bà Peregrine.

Bà kéo tôi vào trong một căn phòng trống rồi đóng cửa lại.

"Cậu phải hạ giọng xuống", bà ra lệnh, "và cậu phải tôn trọng quy định

của ta.

Những gì ta đã nói áp dụng cho cả cậu nữa.

Không ai rời khỏi trại trẻ này hết."

"Nhưng..."

"Cho tới giờ ta đã cho cậu quyền tự chủ chưa hề có tiền lệ trong việc đến và đi như cậu muốn, xuất phát từ việc tôn trọng vị thế đặc

biệt của cậu.

Nhưng có thể cậu đã bị bám theo tới đây, và việc đó đẩy tính mạng những đứa trẻ ta quản lý vào cảnh rủi ro.

Ta sẽ không

cho phép cậu gây nguy hiểm cho chúng - hay cho chính cậu - thêm nữa."

"Bà không hiểu sao?" tôi bực bội nói.

"Thuyền không thể ra khơi được.

Những người dân trong thị trấn đang mắc kẹt.

Bố cháu cũng

mắc kẹt.

Nếu thực sự có một xác sống, và hắn chính là kẻ cháu đã nghĩ, thì thiếu chút nữa hắn và bố cháu đã đánh nhau rồi.

Nếu hắn vừa

đem một người hoàn toàn xa lạ ra làm mồi cho một con hồn rỗng thì bà nghĩ xem hắn sẽ tìm đến ai tiếp theo?"

Khuôn mặt bà vẫn như tạc bằng đá.

"An nguy của cư dân thị trấn không phải là trách nhiệm của ta", bà nói.

"Ta sẽ không đẩy đám trẻ

ta phụ trách vào cảnh nguy hiểm.

Dù vì bất kì ai."

"Đó không chỉ là cư dân thị trấn.

Còn là bố cháu nữa.

Bà thực sự nghĩ vài cánh cửa khóa trái có thể ngăn cản cháu ra đi sao?"

"Có thể là không.

Nhưng nếu cậu khăng khăng muốn rời khỏi đây, ta kiên quyết yêu cầu cậu không bao giờ quay lại nữa."

Tôi bị sốc đến mức phải bật cười.

"Nhưng bà cần cháu", tôi nói.

"Phải, chúng ta cần cậu", bà đáp.

"Rất cần."

***

Tôi đùng đùng lao lên lầu tới phòng Emma.

Bên trong là một cảnh tuyệt vọng dường như bước ra từ một bức tranh của Norman

Rockwell, nếu Norman Rockwell từng vẽ những người trải qua thời gian khổ sở trong tù.

Bronwyn nhìn chằm chằm vô hồn ra ngoài cửa

sổ.

Enoch ngồi dưới sàn, chuốt gọt một khối đất sét cứng.

Emma đang ngồi bên mép giường, hai khuỷu tay chống lên đầu gối, xé những

tờ giấy ra từ một cuốn sổ tay rồi đốt cháy chúng giữa các ngón tay mình.

"Cậu đây rồi!" cô thốt lên khi tôi bước vào.

"Tớ đã đi đâu", tôi đáp.

"Bà Peregrine không cho tớ đi."

Mọi người lắng nghe trong khi tôi giải thích cảnh tiến thoái lưỡng nan của

mình.

"Tớ sẽ bị cấm trở lại nếu cố rời đi."

Cả cuốn sổ tay của Emma đã cháy hết.

"Cô ấy không thể làm thế!" cô kêu lên, không hề để ý đến ngọn lửa đang liếm vào bàn tay

mình.

"Cô ấy có thể làm những gì cô ấy thích", Bronwyn nói.

"Cô ấy là Chim."

Emma ném cuốn sổ của cô xuống và dập tắt lửa.

"Tớ tới chỉ để nói cho cậu biết tớ sẽ đi, dù bà ấy có muốn hay không.

Tớ sẽ không để bị cầm tù, và tớ sẽ không rúc đầu tìm chỗ trốn

trong khi chính bố tớ đang gặp nguy hiểm thực sự."

"Vậy tớ sẽ đi với cậu", Emma nói.

"Cậu đùa à", Bronwyn lên tiếng.

"Tớ nghiêm túc đấy."

"Điều cậu đang nói thật ngớ ngẩn", Enoch nói.

"Cậu sẽ biến thành một quả mận héo nhăn nheo, và vì cái gì chứ?

Cậu ta à?"

"Tớ sẽ không bị", Emma nói.

"Cậu phải ra ngoài vòng nhiều giờ đồng hồ liền thì thời gian mới bắt kịp cậu, và chuyện này sẽ không

mất nhiều thời gian đến thế, phải không nào, Jacob?"

"Đó là một ý tưởng tồi", tôi nói.

"Ý tưởng tồi là sao?"

Enoch nói.

"Bạn ấy thậm chí còn chẳng biết mình đang mạo hiểm tính mạng để làm gì."

"Cô phụ trách sẽ không thích chuyện này đâu", Bronwyn nói, chỉ ra chuyện đương nhiên.

"Cô sẽ giết bọn tớ mất.

Em."

Emma đứng dậy và đóng cửa.

"Cô ấy sẽ không giết chúng ta", cô nói, "những con quái vật kia thì có.

Và dù chúng không làm thế, thì

sống như thế này có khi còn tồi tệ hơn cả chết.

Chim kèm chúng ta chặt đến mức chúng ta hầu như không thở nổi nữa, và tất cả chỉ vì cô

ấy không có đủ can đảm để đối đầu với những thứ ở ngoài kia!"

"Hoặc không có ở ngoài kia", Millard nói, tôi đã không nhận ra cậu ta vẫn ở trong phòng cùng chúng tôi.

"Nhưng cô ấy sẽ không thích điều đó", Bronwyn nhắc lại.

Emma dấn một bước về phía bạn mình thách thức, "Cậu có thể nấp sau váy cô ấy bao lâu đây?"

"Cậu đã quên chuyện gì đã xảy ra với cô Avocet rồi sao?"

Millard nói.

"Chỉ khi những đứa trẻ cô ấy phụ trách rời khỏi vòng thì chúng

mới bị giết và cô Bunting bị bắt cóc.

Nếu chúng cứ ở yên trong vòng, hẳn đã không có gì xấu xảy ra."

"Không gì xấu ư?"

Emma nói đầy nghi ngờ.

"Phải, đúng là các hồn rỗng không thể đi qua các vòng.

Nhưng xác sống có thể, và cũng

chính theo cách đó đám trẻ bị lừa rời khỏi vòng.

Chẳng lẽ chúng ta cứ ngồi im đợi chúng tìm tới tận cửa nhà mình sao?

Sẽ thế nào nếu

thay vì những lốt ngụy trang khôn ngoan, lần này chúng mang súng tới?"

"Đó là điều tớ sẽ làm", Enoch nói.

"Đợi cho tới khi tất cả đã ngủ say, tớ sẽ chui xuống ống khói như ông già Noel và ĐOÀNG!"

Cậu ta

làm bộ bắn một khẩu súng lục tưởng tượng vào cái gối của Emma.

"Óc bắn đầy tường."

"Cảm ơn cậu vì mấy câu vừa rồi", Millard thở dài nói.

"Chúng ta cần tấn công chúng trước khi chúng biết là chúng ta biết chúng ở đó", Emma nói, "trong khi chúng ta vẫn còn yếu tố bất

ngờ."

"Nhưng chúng ta không biết chúng ở đâu!"

Millard nói.

"Chúng ta sẽ tìm ra."

"Và cậu định sẽ làm việc đó như thế nào?

Lang thang khắp nơi cho tới khi cậu thấy một hồn rỗng à?

Khi đó thì sao?

'Thứ lỗi cho tôi,

chúng tôi đang tự hỏi ngài dự định ăn thịt chúng tôi thế nào' chắc?"

"Chúng ta có Jacob", Bronwyn nói.

"Cậu ấy có thể nhìn thấy chúng."

Tôi cảm thấy họng mình thắt lại, ý thức được rằng nếu đội săn lùng này hình thành, về mặt nào đó tôi sẽ là người chịu trách nhiệm an

nguy của mọi người.

"Tớ mới chỉ nhìn thấy một con thôi", tôi cảnh báo họ.

"Vì thế tớ không thể gọi bản thân là một chuyên gia thực sự được."

"Và nếu cậu ấy không tình cờ thấy được con nào thì sao?"

Millard nói.

"Điều đó có thể nghĩa là chẳng có con quái vật nào hoặc

chúng đang lẩn trốn.

Cậu vẫn sẽ chẳng có manh mối nào, cũng như chắc chắn lúc này đang không có."

Khắp xung quanh là những cặp lông mày cau lại.

Millard có lý.

"À, có vẻ là lý trí lại thắng cuộc rồi", cậu ta nói.

"Tớ đi xuống lấy ít cháo để ăn tối đây, có ai trong mấy nhân vật muốn nổi loạn các

cậu thích đi cùng không?"

Lò xo giường kêu cót két khi cậu ta đứng dậy đi ra cửa.

Nhưng cậu ta chưa kịp ra khỏi phòng, Enoch đã đứng bật dậy và reo lên, "Tớ

nghĩ ra rồi!"

Millard dừng lại.

"Nghĩ ra cái gì?"

Enoch quay sang tôi.

"Người đàn ông có thể đã bị một hồn rỗng ăn thịt mà cũng có thể là không đó - cậu có biết người ta giữ xác ông

ta ở đâu không?"

"Ở chỗ hàng cá."

Cậu ta xoa xoa hai bàn tay vào nhau.

"Vậy thì tớ biết chúng ta có thể xác minh bằng cách nào rồi."

"Bằng cách nào đây?"

Millard hỏi.

"Chúng ta sẽ hỏi ông ta."

***

Một đội thám thính được thành lập.

Đi cùng tôi sẽ có Emma, cô thẳng thừng từ chối để tôi đi một mình, Bronwyn, người rất không

thích chọc giận bà Peregrine nhưng khăng khăng quả quyết chúng tôi cần sự bảo vệ của cô, và Enoch, người nghĩ ra kế hoạch chúng tôi

định thực hiện.

Millard, thì dù khả năng tàng hình của cậu ta có thể rất hữu ích nhưng cậu ta không muốn dính dáng vào chuyện này, và

chúng tôi đã phải mua chuộc để cậu ta khỏi ton hót về chúng tôi.

"Nếu tất cả chúng ta đi", Emma lý luận, "Chim sẽ không thể trục xuất Jacob.

Cô sẽ phải trục xuất cả bốn chúng ta."

"Nhưng tớ không muốn bị trục xuất!"

Bronwyn nói.

"Cô sẽ không bao giờ làm thế, Wyn.

Đó chính là điểm quan trọng.

Và nếu chúng ta có thể quay về trước giờ tắt đèn, có khi cô còn

chẳng biết chúng ta đã đi."

Tôi lấy làm ngờ về chuyện đó, nhưng tất cả chúng tôi đều đồng ý là đáng thử một phen.

Chuyến đi diễn ra như một cuộc vượt ngục.

Sau bữa tối, khi trại trẻ ở vào thời điểm hỗn độn nhất và bà Peregrine bị phân tâm nhất,

Emma giả bộ tới phòng khách, còn tôi tới phòng học.

Chúng tôi gặp nhau vài phút sau đó ở cuối hành lang trên lầu, tại đó một cái nắp

hình chữ nhật trên trần được kéo xuống để lộ một chiếc thang.

Emma leo lên, tôi theo sau, đóng kín nắp trở lại sau lưng, thế là hai chúng

tôi ở trên một khoang áp mái chật chội, tối tăm.

Ở cuối khoang áp mái ấy có một ống thông hơi có thể dễ dàng vặn ốc tháo ra, dẫn tới một

phần mái phẳng.

Chúng tôi bước ra ngoài trời đêm và gặp những người khác đã đợi sẵn.

Bronwyn dành cho mỗi chúng tôi một cái ôm tưởng muốn sụn

lưng rồi phân phát những chiếc áo mưa màu đen cô đã xoáy được, tôi đã đề nghị cả bọn mặc vào để ít nhiều chống đỡ với cơn bão đang

hoành hành phía bên ngoài vòng.

Tôi đang định hỏi chúng tôi định làm thế nào để xuống đất thì thấy Olive lơ lửng xuất hiện trong tầm

nhìn, bay qua rìa mái nhà.

"Có ai thích chơi nhảy dù không?" cô hỏi, miệng cười hết cỡ.

Cô đang chân trần và mang một sợi dây buộc lại quanh eo.

Tò mò muốn

biết cô được buộc vào cái gì, tôi ngó qua rìa mái xuống thì thấy Fiona, cầm dây trên tay, ló đầu qua một khung cửa sổ và vẫy tay chào tôi.

Có vẻ như chúng tôi còn có tòng phạm.

"Cậu đầu tiên", Enoch nói.

"Tớ?" tôi hỏi lại, ngần ngại lùi lại khỏi rìa mái nhà.

"Ôm lấy Olive và nhảy xuống", Emma nói.

"Tớ không nhớ kế hoạch này có bao gồm chuyện tớ phải đập vỡ xương chậu mình."

"Cậu sẽ không sao đâu, đồ ngốc, nếu cậu ôm chặt lấy Olive.

Sẽ rất nhộn.

Chúng tớ đã làm thế vô số lần rồi."

Cô ngẫm nghĩ giây lát.

"Thôi được, một lần."

Có vẻ như không còn lựa chọn nào khác, tôi bèn trấn tĩnh lại bước tới bên rìa mái nhà.

"Đừng sợ!"

Olive nói.

"Cậu thì dễ rồi", tôi đáp.

"Cậu làm sao rơi được!"

Cô chìa hai cánh tay ra và ôm vòng quanh người tôi, tôi cũng ôm vòng ra sau lưng cô, và cô thì thầm, "Rồi, đi nào."

Tôi nhắm mắt lại

rồi bước chân ra ngoài khoảng không.

Thay vì cú rơi tôi đã sợ, chúng tôi từ từ hạ xuống mặt đất như một quả khí cầu bị xì dần helium.

"Thật nhộn", Olive nói.

"Bây giờ cậu buông tay ra đi!"

Tôi làm theo, và cô lại bay vọt lên mái, vừa bay vừa nói "Viiiu!" suốt dọc đường.

Những đứa trẻ khác suỵt bảo cô im lặng, rồi lần lượt

từng người một, họ ôm lấy Olive và hạ xuống bên cạnh tôi.

Khi đã tập hợp đầy đủ, chúng tôi bắt đầu âm thầm đi về phía khu rừng dưới

mặt trăng đang lên, còn Fiona và Olive vẫy tay chào đằng sau chúng tôi.

Có thể chỉ là tôi tưởng tượng, nhưng dường như cả những sinh

vật được tỉa thành từ các tán cây có gió thổi qua dường như cũng đang vẫy chào chúng tôi, trong số đó Adam đang nghiêm nghị gật đầu

từ biệt.

***

Khi chúng tôi dừng lại ở rìa đầm lầy để nghỉ lấy hơi, Enoch thò tay vào trong chiếc áo khoác căng phồng của cậu ta và lấy ra những

cái bọc gói trong vải thưa.

"Cầm lấy những cái này", cậu ta nói, "Một mình tớ không mang hết được."

"Cái gì thế này?"

Bronwyn hỏi, mở lớp vải ra để lộ một tảng thịt màu nâu sẫm với những cái ống nhỏ thò từ trong ra.

"Eo ôi, tanh

quá", cô kêu lên, đưa nó ra xa khỏi mình.

"Bình tĩnh nào, chỉ là một quả tim cừu thôi", Enoch nói, dúi thứ gì đó ghê ghê có cùng kích cỡ vào tay tôi.

Thứ này sặc mùi formal, và

cho dù đã bọc trong vải, nó vẫn có vẻ nhớp nhớp thật khó chịu.

"Tớ sẽ ói mất nếu phải mang cái này", Bronwyn nói.

"Tớ sẽ rất thích được thấy cảnh đó", Enoch cằn nhằn, có vẻ mếch lòng.

"Nhét nó vào trong áo mưa của cậu và cố mà quen với nó đi."

Chúng tôi lần theo dải đất cứng ẩn kín để vượt qua đầm lầy.

Đến giờ tôi đã đi qua nơi này nhiều lần tới mức gần như quên mất nó có

thể nguy hiểm tới mức nào và đã nuốt chửng bao nhiêu sinh mạng qua các thế kỷ.

Bước chân lên gò mộ đá, tôi bảo tất cả mọi người cài

kín khuy áo khoác của mình lại.

"Nếu chúng ta thấy ai đó thì sao?"

Enoch hỏi.

"Cứ tỏ ra bình thường", tôi nói.

"Tớ sẽ nói với họ các cậu là bạn tớ từ Mỹ tới."

"Nếu chúng ta thấy một xác sống thì sao", Bronwyn hỏi.

"Chạy."

"Nếu Jacob nhìn thấy một hồn rỗng thì sao?"

"Trong trường hợp đó", Emma nói, "hãy chạy như quỷ sứ đang đuổi theo cậu."

Lần lượt từng người một, chúng tôi chui vào trong mộ đá, biến mất khỏi buổi tối mùa hè bình lặng đó.

Tất cả đều yên lặng cho tới khi

chúng tôi tới cuối căn phòng trong cùng, rồi sau đó áp suất không khí tụt xuống, nhiệt độ giảm và bão tố gầm rít như một thực thể đang

rống lên hết cỡ.

Chúng tôi quay về phía âm thanh, hồi hộp, và trong một khoảnh khắc chỉ đứng đó lắng nghe trong khi nó gào rống ở

phía miệng đường hầm.

Nghe giống như một con thú bị nhốt vừa được cho thấy bữa tối của nó.

Chẳng thể làm gì ngoài tự mình dấn thân

bước vào nó.

Chúng tôi quỳ gối xuống, bò vào nơi trông giống như một cái hố đen, các vì sao đã biến mất sau những đám mây tích mưa sừng sững

như những ngọn núi, làn mưa rát rạt và cơn gió lạnh cóng đâm xuyên qua áo khoác chúng tôi, những tia chớp làm chúng tôi sáng lóa lên

rồi khiến bóng đêm tiếp sau chúng dường như càng tối tăm hơn.

Emma cố thắp một ngọn lửa, nhưng trông cô giống như một cái bật lửa

hỏng, tia lửa nào lóe lên khi cô phẩy cổ tay cũng tắt phụt trước khi kịp bùng cháy, vì thế chúng tôi đành kéo áo khoác thu sát vào người,

cúi gập xuống chạy dưới cơn mưa trút xối xả vượt qua đầm lầy đang dềnh rộng lên bíu chặt lấy chân chúng tôi, định hướng nhờ vào trí

nhớ cũng nhiều như vào đôi mắt.

Trong thị trấn, mưa trút xuống đập rầm rầm như đánh trống vào mọi cánh cửa ra vào và cửa sổ, nhưng tất cả mọi người đều ở tịt trong

nhà cửa đóng then cài, chúng tôi chạy qua các đường phố ngập nước mà chẳng ai phát hiện ra, ngang qua một con cừu đơn độc bị mưa

làm tối mắt đang lạc bầy kêu rống lên, qua một cái nhà vệ sinh đang tuôn những thứ nó chứa ra ngoài đường, để tới cửa hàng cá.

Cửa ra

vào bị khóa, nhưng bằng hai cú đá huỳnh huỵch Bronwyn đã hất nó mở tung vào trong.

Lau khô hai bàn tay ở bên trong áo khoác, Emma

cuối cùng cũng có thể thắp lửa.

Trong khi những con cá tầm nhìn trừng trừng từ trong các bể thủy tinh, tôi dẫn cả toán vào trong cửa

hàng, đi vòng qua cái quầy Dylan đã đứng cả ngày vừa lầm bầm rủa sả vừa chặt cá thành khúc, qua một cánh cửa gỉ lỗ chỗ.

Ở bên kia là

một căn phòng bảo quản lạnh nhỏ, chỉ là một chái nhà sàn đất lợp tôn, tường làm bằng những tấm ván gỗ được cưa cắt thô kệch, mưa hắt

vào qua những nơi các tấm ván đã co lại tách rời nhau như những chiếc răng xấu xí.

Chen chúc trong phòng là một tá những chiếc bồn

hình chữ nhật kê trên các bệ đỡ bốn chân, bên trong đựng đầy đá.

"Ông ta đang ở trong cái nào?"

Enoch hỏi.

"Tớ không biết", tôi nói.

Emma đưa ngọn lửa của cô chiếu sáng xung quanh trong khi chúng tôi đi giữa những cái bồn, cố đoán xem cái nào có thể chứa bên

trong thứ gì khác ngoài cá - nhưng tất cả chúng trông đều giống nhau, như những chiếc quan tài không nắp đầy đá.

Chúng tôi có thể sẽ

phải tìm từng bồn một cho tới khi thấy ông ta.

"Miễn cho tớ nhé", Bronwyn nói, "tớ không muốn trông thấy ông ta.

Tớ không thích những thứ chết chóc."

"Cả tớ cũng thế, nhưng chúng ta phải làm", Emma nói.

"Chúng ta cùng hội cùng thuyền mà."

Mỗi chúng tôi chọn một cái bồn rồi vục tay vào trong như một con chó đang bới một luống hoa quý giá, hai lòng bàn tay khum lại

của chúng tôi bốc từng vốc đá ném xuống sàn.

Tôi đã vét vơi được nửa một cái bồn và đang mất dần hết cảm giác từ các ngón tay thì

nghe thấy Bronwyn kêu thét lên.

Tôi quay sang và thấy cô loạng choạng lùi ra khỏi một cái bồn, hai bàn tay đưa lên bịt miệng.

Chúng tôi xúm quanh để xem cô đã bới ra cái gì.

Thò lên khỏi đống đá là một bàn tay cứng đờ cong queo đầy lông.

"Dám cược là cậu

đã tìm thấy người chúng ta muốn tìm", Enoch nói, và qua kẽ các ngón tay đưa lên che mắt, chúng tôi quan sát trong khi cậu ta gạt bỏ

thêm nước đá, từ từ làm lộ ra một cánh tay, rồi thân trên, và cuối cùng là toàn bộ thân thể te tua của ông Martin.

Đó là một cảnh tượng ghê rợn.

Chân tay ông ta bị bẻ vặn vẹo theo những góc độ không thể tưởng tượng nổi.

Bụng và ngực ông ta đã

bị dùng kéo mở phanh và moi hết nội tạng ra, băng đá được nhồi đầy vào thế chỗ của chúng.

Khi khuôn mặt ông ta lộ ra, tất cả chúng tôi

nhất loạt hít mạnh vào.

Nửa khuôn mặt là một mớ giập nát đỏ bầm rách ra thành từng dải như một tấm mặt nạ bị xé.

Nửa kia chỉ còn đủ

lành lặn để nhận ra ông Martin qua: một mảng hàm lấm tấm râu, một phần má và lông mày như bị cưa rời ra, và một con mắt màu xanh lục,

bị phủ một lớp băng mỏng và mở trừng trừng trống rỗng.

Trên người ông ta chỉ mặc có quần lót và những mảnh rách tướp của cái áo

choàng ngủ bằng vải bông.

Không thể có chuyện ông Martin mặc như thế tự mình đi bộ ra chỗ các vách đá giữa đêm khuya.

Ai đó - hoặc

thứ gì đó - đã lôi ông ta ra đấy.

"Ông ta nát quá rồi", Enoch vừa nói vừa ngắm nghía ông Martin như một bác sĩ giải phẫu đánh giá một bệnh nhân vô phương cứu

chữa.

"Tớ phải nói trước với các cậu là cách này có thể sẽ không ăn thua."

"Chúng ta cứ phải thử đã", Bronwyn nói, mạnh dạn bước tới chỗ cái bốn cùng Emma và tôi.

"Chúng ta đã đi đến tận đây, vì thế ít nhất

cũng phải thử."

Enoch mở áo mưa của cậu ta và lấy từ túi áo trong ra một quả tim được gói ghém.

Trông nó giống như một cái găng của cầu thủ bắt

bóng chày tự gập lại.

"Nếu ông ta thức dậy", Enoch nói, "ông ta sẽ không vui vẻ lắm đâu.

Vậy hãy lùi lại và đừng có nói là tớ đã không

báo trước với các cậu."

Tất cả chúng tôi đều lùi lại một bước thật dài ngoại trừ Enoch, cậu ta cúi gập người vào trong bồn, vục tay vào trong đám đá nhét đầy

trong lồng ngực ông Martin, đảo qua đảo lại như thể đang khoắng tìm một lon xô đa trong thùng lạnh.

Sau một lát, cậu ta có vẻ cầm được

thứ gì đó, và dùng bàn tay còn lại giơ quả tim cừu lên quá đầu.

Một cơn rùng mình chạy dọc cơ thể Enoch và quả tim cừu bắt đầu đập, phun ra một luồng những hạt dung dịch ngâm pha lẫn máu

nhỏ mịn như sương.

Enoch thở từng nhịp nhanh, nhẹ.

Cậu ta dường như đang truyền thứ gì đó.

Tôi quan sát thi thể ông Martin xem có

dấu hiệu cử động nào không, nhưng ông ta vẫn nằm im.

Dần dần, quả tim trên tay Enoch bắt đầu đập chậm lại và co quắp màu chuyển dần sang xám đen, giống như thịt để quá lâu trong tủ

đá.

Enoch ném nó xuống đất và chìa bàn tay không của cậu ta về phía tôi.

Tôi lấy ra quả tim vẫn giữ trong túi và đưa nó cho cậu ta.

Cậu

ta lặp lại quá trình như lúc trước, quả tim co bóp, phun phì phì một lúc rồi co quắp lại như quả trước.

Sau đó, cậu ta lặp lại lần thứ ba, sử

dụng quả tim đã đưa cho Emma.

Chỉ còn lại quả tim Bronwyn đang giữ - cơ hội cuối cùng của Enoch.

Khuôn mặt cậu ta trở nên căng thẳng hơn hẳn khi cậu ta giơ nó

bên trên cỗ quan tài thô kệch của Martin, bóp chặt quả tim như thể muốn bấm xuyên các ngón tay vào nó.

Khi quả tim bắt đầu lắc lư run

rẩy như một chiếc mô tơ quá tải, Enoch hét lên, "Dậy đi, người chết.

Dậy đi!"

Tôi nhìn thấy một cử động thoáng qua.

Có thứ gì đó đã nhúc nhích dưới lớp đá.

Tôi lấy hết can đảm cúi xuống, tìm kiếm xem có dấu

hiệu nào của sự sống không.

Suốt một hồi lâu không có động tĩnh gì, nhưng sau đó thi thể co giật đột ngột và dữ dội tới mức như thể đã

bị sốc điện bằng điện thế cả nghìn vôn.

Emma kêu thét lên, và tất cả chúng tôi cùng bật lùi lại.

Khi tôi bỏ tay xuống để nhìn trở lại đầu

ông Martin đã quay về phía tôi, một con mắt đục lờ đảo loạn lên rồi dường như dán vào tôi.

"Ông ta nhìn thấy cậu rồi!"

Enoch reo lên.

Tôi cúi người vào.

Người chết bốc mùi của đất mới xới lật lên, cùng mùi nước biển và thứ gì đó còn tệ hơn.

Đá rơi khỏi bàn tay ông ta

trong khi nó giơ lên run rẩy trong không khí giây lát, đau đớn và xanh rớt, rồi đặt lên cánh tay tôi.

Tôi cố tranh đấu với nỗi thôi thúc muốn

hất nó ra.

Đôi môi ông tách ra và miệng ông ta há ra.

Tôi cúi xuống lắng nghe xem ông ta nói gì, nhưng chẳng có gì để nghe cả.

Tất nhiên là

k hông thể có, tôi thầm nghĩ, vì phổi ông ấy đã vỡ nát - nhưng sau đó một âm thanh rất khẽ thoát ra, tôi liền cúi xuống gần hơn, tai tôi gần như chạm vào đôi môi đông cứng của ông ta.

Thật lạ, tôi chợt nghĩ tới máng thoát nước mưa ở cạnh nhà tôi, ở đó nếu cúi đầu xuống chỗ

các thanh song chắn và đợi đến khi dòng xe cộ tạm lắng, bạn có thể nghe thấy tiếng thì thầm của một dòng suối chảy ngầm dưới lòng

đất, nó bị vùi dưới nền móng xây lên thị trấn nhưng vẫn tiếp tục chảy, bị cầm tù trong thế giới của bóng đêm thường trực.

Những người khác đang xúm quanh, nhưng tôi là người duy nhất có thể nghe thấy người chết nói gì.

Từ đầu tiên ông ta nói là tên tôi.

"Jacob."

Cảm giác sợ hãi lần khắp người tôi.

"Vâng."

"Tôi chết rồi."

Từng từ được phát ra chậm chạp như một thứ chất lỏng đang ri rỉ nhỏ giọt.

Ông ta chỉnh lại.

"Tôi là người chết."

"Hãy nói cho cháu biết chuyện gì đã xảy ra", tôi nói.

"Ông có thể nhớ lại không?"

Tiếp theo là một khoảng ngừng bặt.

Gió rít qua các khe hở trên tường.

Ông Martin nói gì đó nhưng tôi không nghe được.

"Ông nói lại đi.

Làm ơn nào, Martin."

"Ông ta đã giết tôi", người chết thì thầm.

"Ai cơ?"

"Ông lão của tôi."

"Ý ông là cụ Oggie sao?

Là chú của ông sao?"

"Ông lão của tôi", ông nhắc lại.

"Ông ta to ra.

Và khỏe, khỏe lắm."

"Ai đã giết ông, ông Martin?"

Con mắt ông ta nhắm lại, và tôi sợ ông ta đã lịm hẳn.

Tôi nhìn sang Enoch.

Cậu ta gật đầu.

Quả tim trên bàn tay cậu ta vẫn đập.

Mi mắt ông Martin lại động dậy.

Ông ta lại bắt đầu nói, chậm chạp, đều đều, như thể đang thuật lại điều gì đó.

"Ông ta đã ngủ yên

qua cả trăm thế hệ, cuộn mình lại như một bào thai trong lòng đất bí hiểm, bị rễ cây tiêu hóa, đã phân hủy trong bóng tối, như hoa quả

mùa hè đóng hộp bị lãng quên trong chạn thức ăn cho tới khi lưỡi mai của một người nông dân moi ông ta ra, một bà đỡ thô vụng cho một

vụ thu hoạch lạ lùng."

Ông Martin ngừng lời, đôi môi run rẩy, và trong khoảng im lặng ngắn ngủi Emma nhìn tôi thì thầm, "Ông ấy đang nói gì thế?"

"Tớ không biết", tôi nói.

"Nhưng nghe như một bài thơ vậy."

Ông ta nói tiếp, giọng lạc đi nhưng lúc này đã đủ lớn để tất cả mọi người có thể nghe thấy - "Ông ta nằm an nghỉ, đen nhánh, khuôn

mặt hiền hòa mang màu bồ hóng, tứ chi héo tàn như những vỉa than, đôi bàn chân như những súc gỗ trồi bám đầy những chùm nho héo

quắt" - và cuối cùng tôi cũng nhận ra bài thơ.

Đó là bài thơ ông ta viết về cậu bé đầm lầy.

"Ôi, Jacob, tôi đã chăm lo cho ông ta cẩn thận biết bao!"

ông Martin nói.

"Lau bụi trên kính, thay đất và làm cho ông ta một ngôi nhà

- như chăm đứa con đã lớn bị bầm giập của chính mình.

Tôi chăm lo cẩn thận biết bao, vậy mà..."

Ông ta bắt đầu run rẩy, và một giọt nước

mắt chảy xuống gò má ông ta rồi đóng băng ở đó.

"Vậy mà ông ta đã giết tôi."

"Ý ông là cậu bé đầm lầy sao?

Là Ông Lão sao?"

"Đưa tôi trở lại đi", ông ta cầu xin.

"Đau quá."

Bàn tay lạnh giá của ông ta nắm lấy vai tôi, giọng nói của ông ta lại tắt dần.

Tôi đưa mắt nhìn Enoch cầu cứu.

Cậu ta siết chặt các ngón tay cầm quả tim và lắc đầu.

"Giờ hãy nhanh lên, anh bạn", cậu ta nói.

Thế rồi tôi hiểu ra một điều.

Cho dù ông Martin đã mô tả về cậu bé đầm lầy, nhưng không phải cậu bé đầm lầy đã giết ông ta.

Chúng

chỉ trở nên hữu hình với những người còn lại, với chúng ta, k hi chúng đang ăn, bà Peregrine đã nói với tôi như thế, có nghĩa là k hi đã quá muộn.

Ông Martin đã nhìn thấy một hồn rỗng - vào ban đêm, trong mưa, trong khi nó xé ông ta thành từng mảnh - và tưởng nhầm đó

là hiện vật trung bày quý giá nhất của mình.

Cảm giác sợ hãi cố hữu lại sống dậy, làm cả người tôi nóng bừng.

Tôi quay sang những người khác.

"Một hồn rỗng đã gây ra chuyện

này với ông ấy", tôi nói.

"Nó đang ở đâu đó trên đảo."

"Hãy hỏi ông ấy xem ở đâu", Enoch nói.

"Ông Martin, ở đâu, cháu cần biết ông đã thấy nó ở đâu?"

"Làm ơn.

Đau quá."

"Ông đã thấy nó ở đâu?"

"Ông ta tới cửa nhà tôi."

"Ông Lão sao?"

Hơi thở Martin bỗng nín bặt lạ lùng.

Thật kinh khủng khi phải nhìn vào ông nhưng tôi buộc mình làm thế, dõi theo ánh mắt ông trong

khi nó di chuyển rồi tập trung nhìn vào thứ gì đó sau lưng tôi.

"Không", ông ta nói.

"Là hắn."

Thế rồi một luồng sáng quét qua trên người chúng tôi và một giọng quát to, "Ai ở đằng k ia đấy!"

Emma nắm tay lại, và ngọn lửa tắt phụt, tất cả chúng tôi cùng quay ngoắt lại thì thấy một người đàn ông đang đứng trên ngưỡng cửa,

một bàn tay cầm đèn pin, trên bàn tay kia là một khẩu súng ngắn.

Enoch rút cánh tay ra khỏi cái bồn đá trong khi Emma và Bronwyn đứng sát lại quanh cái bồn để che Martin khỏi tầm nhìn.

"Chúng

cháu không hề có ý đột nhập", Bronwyn nói.

"Chúng cháu đang định rời đi đây, thật đấy ạ!"

"Đứng yên tại chỗ của chúng mày!" người đàn ông quát.

Giọng ông ta trầm trầm, không rõ khẩu âm vùng nào.

Tôi không thể nhìn

thấy được khuôn mặt ông ta đằng sau luồng sáng, nhưng những cái áo khoác được mặc chồng lên nhau lập tức cho biết danh tính chủ

nhân.

Đó chính là người quan sát chim nọ.

"Thưa ông, chúng cháu chưa có gì ăn suốt cả ngày hôm nay rồi", Enoch rên rỉ, và một lần hiếm hoi nghe đúng như một cậu nhóc

mười hai tuổi.

"Chúng cháu chỉ đến đây tìm một hai con cá thôi, cháu xin thề đấy ạ!"

"Vậy sao?" người đàn ông nói.

"Có vẻ chúng mày đã moi một con ra rồi.

Để xem là loại nào nào."

Người đàn ông đưa qua đưa lại cây

đèn pin như thể muốn dùng luồng sáng tách chúng tôi ra.

"Dẹp sang bên!"

Chúng tôi làm theo, và ông ta quét luồng sáng lên người ông Martin, một cảnh tượng bệnh hoạn đến rùng rợn.

"Chúa ơi, quả là một

con cá kỳ lạ, phải không nào?"

ông ta nói, hoàn toàn dửng dưng.

"Chắc phải là cá tươi.

Nó vẫn còn đang quẫy!"

Luồng sáng dừng lại

trên khuôn mặt ông Martin.

Con mắt ông ta đảo đảo, đôi môi ông ta mấp máy không thành tiếng, chỉ là chút hồi quang phản chiếu trong

khi sự sống Enoch truyền cho ông ta cạn dần.

"Ông là ai?"

Bronwyn hỏi.

"Điều đó còn phụ thuộc vào việc mày muốn hỏi về ai", người đàn ông đáp, "và điều đó còn xa mới quan trọng bằng việc tao biết

chúng mày là ai."

Ông ta chiếu đèn pin vào mỗi chúng tôi và nói như thể đang dẫn ra một hồ sơ mật.

"Emma Bloom, một người phát lửa,

bị bỏ rơi tại một gánh xiếc khi bố mẹ cô ta không bán được con mình cho gánh xiếc nào.

Bronwyn Bruntley, sở hữu thần lực, chiến binh

hung hãn, không hề biết đến sức mạnh của chính mình cho tới buổi tối cô ta thộp cổ gã bố dượng thối tha.

Enoch O'Connor, có năng lực

hồi sinh, ra đời trong một gia đình làm nghề mai táng không thể hiểu nổi tại sao các khách hàng của họ cứ liên tục bỏ đi."

Tôi thấy từng

người thu mình lại tránh xa khỏi ông ta.

Rồi ông ta chiếu đèn vào tôi.

"Và Jacob.

Những ngày vừa rồi cậu qua lại với những người đặc biệt

thật nhỉ."

"Làm sao ông biết tên tôi?"

Người đàn ông hắng giọng, và khi lên tiếng trở lại, giọng ông ta đã thay đổi hẳn.

"Cậu quên tôi nhanh vậy sao?"

ông ta nói với khẩu

âm New England.

"Nhưng khi đó tôi chỉ là ông già lái xe buýt tầm thường, vì thế tôi đoán là cậu không nhớ nổi."

Chuyện này nghe thật vô lý, nhưng bằng cách nào đó người đàn ông này đã làm tôi nhớ ngay tới ông lái xe buýt ở trường cấp hai của

tôi, ông Barron.

Một người chẳng mấy ai ưa, tính khí khó chịu, cứng nhắc như người máy tới mức vào ngày cuối cùng của năm lớp tám

chúng tôi đã dùng ghim dập kín lên khuôn mặt ông ta trên bức ảnh trong cuốn niên giám trường, làm nó trông như một hình nộm đang

ngồi sau tay lái vậy.

Tôi vừa kịp nhớ ra những gì ông ta thường nói khi tôi bước xuống xe buýt vào mỗi buổi chiều thì người đàn ông

trước mặt tôi nhắc lại nó:

"Hết tuyến, Portman!"

"Ông Barron?" tôi hoài nghi hỏi lại, cố tìm cách nhìn ra khuôn mặt ông ta đằng sau luồng sáng đèn pin.

Người đàn ông phá lên cười rồi hắng giọng, khẩu âm ông ta lại thay đổi: "Hoặc ông ta hoặc người làm vườn", ông ta nói bằng giọng

Florida trầm trầm lè nhè.

"Cây nhà ôôông bààà cần được cắt tỉa.

Tôi sẽ tính giá phải chăng cho ôôông bààà!"

Đó chính xác là giọng nói

của người đàn ông trong nhiều năm đã chăm lo bãi cỏ của gia đình tôi và dọn sạch bể bơi cho chúng tôi.

"Làm sao ông làm được thế", tôi hỏi.

"Làm thế nào ông biết những người đó?"

"Vì tôi chính là những người đó", người đàn ông nói, khẩu âm lại trầm xuống.

Ông ta bật cười, làm bùng lên nỗi kinh hoàng trong tôi.

Tôi chợt nghĩ tới một điều.

Đã bao giờ tôi thấy đôi mắt của ông Barron chưa nhỉ?

Thực sự thì chưa.

Ông ta luôn đeo cặp kính mát to

tướng che kín mặt.

Người làm vườn cũng đeo kính mát, và đội một cái mũ rộng vành.

Tôi đã bao giờ quan sát thật kỹ bất cứ ai trong số họ

chưa?

Kẻ muôn mặt này còn từng đóng bao nhiêu vai nữa trong cuộc đời tôi đây?

"Có chuyện gì xảy ra thế?"

Emma hỏi.

"Người này là ai?"

"Im mồm!" gã đàn ông gắt lên.

"Rồi sẽ đến lượt mày."

"Ông đã theo dõi tôi", tôi nói.

"Ông đã giết những con cừu đó.

Ông đã giết ông Martin."

"Ai, tôi ư?" hắn nói, giọng vẻ như vô tội.

"Tôi chẳng giết ai cả."

"Nhưng ông là một xác sống, đúng chứ?"

"Đó là cách gọi của chúng", hắn nói.

Tôi không hiểu nữa.

Tôi đã không còn gặp người làm vườn kể từ khi mẹ tôi thay ông ta bằng người khác ba năm trước, và ông Barron

cũng đã biến mất khỏi cuộc đời tôi sau năm lớp tám.

Liệu có thật là họ - gã này - đã theo dõi tôi không?

"Làm thế nào ông biết phải tìm tôi ở đâu?"

"Sao chứ, Jacob", hắn nói, giọng lại thay đổi thêm lần nữa, "chính cậu đã cho tôi biết.

Một cách bí mật, tất nhiên rồi."

Giờ lại là khẩu

âm miền Trung nước Mỹ, nhẹ nhàng, có học thức.

Hắn chĩa cây đèn pin lên trên để quầng sáng của nó chiếu vào mặt mình.

Bộ râu tôi thấy hắn mang hôm trước đã biến mất.

Giờ đây thì không thể nhầm lẫn được nữa.

"Bác sĩ Golan", tôi thốt lên, giọng nói lào thào của tôi bị chìm nghỉm trong tiếng mưa trút xuống rầm rầm.

Tôi nhớ lại cuộc nói chuyện điện thoại giữa chúng tôi mấy ngày trước.

Tiếng ồn phía đầu dây bên kia - hắn nói đang ở sân bay.

Nhưng không phải hắn đang đi đón em gái.

Hắn đang tới tìm tôi.

Tôi tựa lưng vào cái bồn ông Martin nằm, choáng váng, cả người mụ mị.

"Người hàng xóm", tôi nói.

"Ông già đang tưới nước bãi cỏ

vào đêm ông nội tôi chết.

Đó cũng là ông."

Gã đàn ông mỉm cười.

"Nhưng còn đôi mắt của ông", tôi nói.

"Kính áp tròng", hắn trả lời.

Hắn dùng ngón cái lấy một bên kính áp tròng ra, để lộ một con mắt trắng đục.

"Ngày nay người ta có thể

làm giả những thứ thật đáng kinh ngạc.

Và nếu tôi có thể dự đoán thêm vài câu hỏi nữa của cậu thì, phải, tôi là một bác sĩ tâm lý có bằng

cấp - đầu óc của những người bình thường đã từ lâu hấp dẫn tôi - và không, bất chấp việc những buổi trị liệu của chúng ta dựa trên sự

dối trá, tôi không nghĩ chúng hoàn toàn lãng phí thời gian.

Kỳ thực, tôi có thể tiếp tục giúp đỡ cậu - hay đúng hơn là chúng ta có thể

giúp đỡ lẫn nhau."

"Làm ơn, Jacob", Emma nói, "đừng nghe hắn ta."

"Đừng lo", tôi nói.

"Tớ đã một lần tin tưởng hắn.

Tớ sẽ không mắc lại sai lầm đó đâu."

Golan tiếp tục nói như thể không nghe thấy lời tôi.

"Tôi có thể trao cho cậu sự an toàn, tiền bạc.

Tôi có thể trả lại cho cậu cuộc sống của cậu, Jacob.

Tất cả những gì cậu phải làm là làm việc cùng chúng tôi."

"Chúng tôi?"

"Malthus và tôi", hắn nói, quay người ra sau gọi, "Hãy tới chào hỏi đi nào, Malthus."

Một cái bóng xuất hiện trên ngưỡng cửa đằng sau ông ta, và giây lát sau tất cả chúng tôi đều nghẹt thở bởi một thứ mùi tanh tưởi

nồng nặc xộc lên.

Bronwyn đưa tay bịt miệng và lùi lại một bước, còn tôi thấy hai nắm tay Emma siết lại, như thể cô đang định tấn công

nó.

Tôi đặt bàn tay lên cánh tay cô và mấp máy miệng nhắc, Đợi đã.

"Đây là toàn bộ đề nghị của tôi", Golan tiếp tục, cố làm ra vẻ chừng mực.

"Giúp chúng tôi tìm ra thêm những người như cậu.

Đổi lại,

cậu sẽ không có gì phải sợ từ Malthus hay các đồng loại của ông ấy.

Cậu có thể sống ở nhà.

Những lúc rỗi rãi cậu sẽ đi cùng tôi và tìm

hiểu thế giới, và chúng tôi sẽ trả cậu hậu hĩnh.

Chúng ta sẽ nói với bố mẹ cậu rằng cậu là trợ lý nghiên cứu của tôi."

"Nếu tôi đồng ý", tôi nói, "chuyện gì sẽ xảy ra với các bạn tôi?"

Gã đàn ông làm một cử chỉ đe dọa bằng khẩu súng của mình.

"Bọn họ đã có lựa chọn cho mình từ lâu rồi.

Điều quan trọng là có một

kế hoạch lớn lao đang diễn ra, Jacob, và cậu sẽ là một phần trong đó."

Tôi có cân nhắc tới điều đó không ư?

Tôi đoán hẳn là có, cho dù chỉ trong một khoảnh khắc.

Bác sĩ Golan đã đề nghị tôi đúng thứ tôi

đang tìm kiếm: lựa chọn thứ ba.

Một tương lai không phải là ở đây vĩnh viễn hay rời đi và chết.

Nhưng chỉ cần một cái đưa mắt nhìn qua

các bạn tôi, những khuôn mặt căng thẳng tột độ vì lo âu của họ, là đủ để xua tan mọi cám dỗ.

"Thế nào?"

Golan hỏi.

"Câu trả lời của cậu là gì?"

"Tôi thà chết còn hơn làm bất cứ điều gì để giúp ông."

"Thế à", hắn nói, "nhưng cậu vốn đã giúp tôi rồi."

Hắn bắt đầu lùi ra phía cửa.

"Thật tiếc là chúng ta sẽ không có thêm buổi trị liệu

nào cùng nhau nữa, Jacob.

Cho dù tôi nghĩ đây không hoàn toàn là một mất mát vô ích.

Bốn người các cậu có thể đủ để cuối cùng cũng

giúp ông bạn Malthus trút bỏ được hình thù thấp kém ông ấy đã mắc kẹt quá lâu này."

"Ôi không", Enoch khóc nấc lên, "tớ không muốn bị ăn thịt!"

"Đừng khóc, mất mặt quá đấy", Bronwyn gắt.

"Chúng ta phải giết chúng, có thế thôi."

"Uớc gì tôi có thể ở lại quan sát", Golan nói trên ngưỡng cửa.

"Tôi thực sự thích chứng kiến!"

Sau đó hắn bỏ đi, chỉ còn lại chúng tôi và nó.

Tôi có thể nghe thấy con quái vật kia thở trong bóng tối, tiếng thở rin rít như đường

ống hỏng bị rò.

Tất cả chúng tôi đều lùi lại một bước, rồi một bước nữa, cho tới khi lưng chúng tôi chạm tường, và chúng tôi đứng sát vào

nhau như những tội nhân bị kết án trước một đội xử bắn.

"Tớ cần ánh sáng", tôi thì thầm với Emma, cô đang rơi vào trạng thái bị sốc đến mức dường như quên mất năng lực của mình.

Bàn tay cô như bốc cháy, và giữa những cái bóng chập chờn tôi nhìn thấy nó, đang ẩn nấp giữa mấy cái bồn.

Cơn ác mộng của tôi.

Nó cúi rạp xuống đó, trần trụi, nhẵn thín, lớp da xám đen lốm đốm rũ xuống ngoài bộ xương thành những nếp gấp chừng, đôi mắt nó nằm

giữa thứ chất nhầy tanh thối chảy nhỏ giọt viền quanh, chân vòng kiềng, bàn chân thô kệch và các bàn tay xương xẩu biến dạng thành

các móng vuốt vô dụng - từng phần cơ thể trông đều nhăn nheo tàn tạ như thân hình của một người già không đếm nổi số tuổi, trừ một

thứ.

Bộ hàm ngoại cỡ của nó là đặc trưng nổi bật, bên trong là bộ răng dài và sắc như những con dao lóc thịt nhỏ, cồng kềnh đến mức

phần lợi không tài nào chứa đựng nổi, vì thế đôi môi của nó luôn co lại thành một nụ cười quái gở.

Thế rồi những cái răng khủng khiếp đó bắt đầu há ra, miệng con quái vật mở rộng để ba cái lưỡi ngoằn ngoèo thò ra vươn lên trong

không khí, mỗi cái to bằng cỡ cổ tay tôi.

Chúng duỗi dài ra tới nửa chiều dài căn phòng, phải đến ba mét hoặc hơn, rồi lơ lửng ở đó, uốn

éo, con quái vật thở phì phò qua hai cái lỗ như bị hủi trên khuôn mặt, tựa hồ đang ngửi mùi chúng tôi và ngẫm nghĩ xem nên ngấu nghiến

chúng tôi thế nào là hay nhất.

Lý do duy nhất khiến chúng tôi chưa chết là vì chúng tôi quá dễ bị giết như một kẻ sành ăn đang chiêm

ngưỡng một bữa thịnh soạn, nó chẳng có lý do nào để nóng vội.

Những người khác không thể nhìn thấy con quái vật như tôi nhưng nhận ra cái bóng của nó cùng những cái lưỡi như dây thừng hắt

trên tường.

Emma vẫy cánh tay, và ngọn lửa của cô cháy mạnh hơn.

"Nó đang làm gì?" cô thì thầm.

"Tại sao nó không xông vào chúng

ta?"

"Nó đang đùa bỡn với chúng ta", tôi nói.

"Nó biết chúng ta đã như cá nằm trên thớt."

"Chúng ta không phải thế", Bronwyn thì thầm.

"Chỉ cần tớ nhìn được rõ thẳng mặt nó.

Tớ sẽ tống bộ răng kinh tởm đó tụt hết vào

trong mồm nó."

"Tớ sẽ không lại gần bộ răng đó đâu nếu tớ là cậu", tôi nói.

Con hồn rỗng ì ạch bước thêm vài bước tương ứng với những bước chúng tôi lùi lại, những cái lưỡi của nó rời nhau hơn rồi tách hẳn

khỏi nhau, một cái hướng về phía tôi, cái thứ hai về phía Enoch và cái thứ ba về phía Emma.

"Để bọn tao yên!"

Emma hét lên, vung bàn tay rừng rực như một ngọn đuốc đánh ra.

Cái lưỡi ngoặt đi tránh khỏi ngọn lửa của cô, sau

đó rụt lại như một con rắn chuẩn bị tấn công.

"Chúng ta cần tới chỗ cánh cửa!" tôi hô lớn.

"Con hồn rỗng đang ở chỗ cái bồn thứ ba từ trái sang, vì vậy hãy đi sang bên phải!"

"Chúng ta sẽ không bao giờ tới được đó!"

Enoch kêu to.

Một cái lưỡi chạm vào má cậu ta, cậu ta liền hét toáng lên.

"Chúng ta sẽ chạy khi đếm đến ba!"

Emma hô lớn.

"Một..."

Thế rồi Bronwyn lao mình về phía con quái vật, hét lớn như một nữ thần báo tử.

Con quái vật rít lên và đứng thẳng người dậy trên hai

chân, mớ da bùng nhùng của nó căng lên.

Đúng lúc nó định lao ba cái lưỡi về phía cô, cô bèn đâm sầm cả người vào cái bồn đá có

Martin, đưa hai cánh tay luồn xuống đáy cái bồn khi nó lật nghiêng rồi nhấc bổng nó lên, và cả cái bồn to tướng đó, đầy ắp đá cá và thi

thể của Martin, bay bổng trong không trung và rơi ập xuống con hồn rỗng với một tiếng rầm khủng khiếp.

Bronwyn quay ngoắt lại lao về phía chúng tôi.

"TRÁNH RA!" cô hét lên, tôi vừa kịp tránh sang bên thì cô lao rầm vào bức tường

ngay cạnh tôi, phá tung thành một cái lỗ qua những tấm ván nát mục.

Enoch, người bé nhỏ nhất trong chúng tôi, lao qua đầu tiên, theo

sau là Emma và tôi còn chưa kịp phản đối thì Bronwyn đã chộp lấy hai vai lẳng vai tôi vào màn đêm ướt sũng.

Tôi tiếp đất đập ngực

xuống một vũng nước mưa.

Cái lạnh làm tôi rùng mình, nhưng miễn đã cảm nhận được bất cứ cái gì ngoài cái lưỡi con quái vật hồn rỗng

siết lại quanh cổ mình, tôi đã mừng lắm rồi.

Emma và Enoch kéo tôi đứng dậy, và chúng tôi bắt đầu chạy.

Một lát sau, Emma lớn tiếng gọi tên Bronwyn rồi dừng lại.

Chúng tôi

ngoái lại sau và nhận ra Bronwyn không đi cùng chúng tôi.

Chúng tôi gọi cô và căng mắt tìm kiếm trong bóng tối không đủ can đảm để chạy trở lại, rồi sau đó Enoch reo lên, "Đằng kia!" và

chúng tôi thấy Bronwyn đang dựa người vào một góc cái kho lạnh.

"Bạn ấy đang làm gì thế!"

Emma kêu lên.

"BRONWYN CHẠY ĐI!"

Có vẻ như cô gái đang bám lấy cái nhà kho.

Sau đó, cô lùi lại chạy lấy đà rồi thúc vai vào góc chịu lực của căn nhà, và như một công

trình xếp bằng que diêm, cả nhà kho đổ sập xuống, một đám mưa đá vụn và mảnh dăm gỗ văng ra tung tóe và bị một cơn gió thổi cuốn

theo xuống con đường.

Tất cả chúng tôi cùng reo hò và hoan hô trong khi Bronwyn chạy hết tốc lực về phía chúng tôi với một nụ cười hể hả trên khuôn mặt,

rồi đứng dưới cơn mưa xối xả, chúng tôi ôm hôn cô và cười phá lên.

Song chẳng mấy chốc, tâm trạng chúng tôi lại chùng xuống vì cú sốc

từ những gì vừa xảy ra dần đè nặng xuống, rồi sau đó Emma quay sang tôi hỏi một câu chắc hẳn đang nằm trong đầu cả ba người.

"Jacob, làm sao gã xác sống kia lại biết nhiều về cậu thế?

Và cả bọn tớ nữa?"

"Cậu gọi hắn là bác sĩ", Enoch nói.

"Hắn là bác sĩ tâm lý của tớ."

"Bác sĩ tâm lý!"

Enoch thốt lên.

"Tuyệt làm sao!

Không chỉ đem kể tuốt về chúng ta với một gã xác sống, cậu ta còn bị điên nữa!"

"Nói lại ngay!"

Emma hét lên, đẩy cậu ta thật mạnh.

Cậu ta định đẩy lại thì tôi chen vào giữa.

"Dừng lại!" tôi nói, tách hai người khỏi nhau.

Tôi nhìn thẳng vào Enoch.

"Cậu nhầm rồi.

Tớ không điên.

Hắn làm cho tớ nghĩ như thế,

mặc dù chắc chắn hắn đã biết tớ là người đặc biệt ngay từ đầu rồi.

Nhưng cậu đã đúng về một điều.

Tớ đã để lộ về các cậu.

Tớ đã kể

những câu chuyện của ông nội với một người xa lạ."

"Đó không phải lỗi của cậu", Emma nói.

"Cậu đâu biết là chúng tớ có thật."

"Tất nhiên là có chứ!"

Enoch hét lên.

"Abe kể cho cậu ta mọi thứ.

Thậm chí còn cho cậu ta xem cả những bức ảnh chết tiệt chụp

chúng ta!"

"Golan biết mọi thứ ngoài việc làm thế nào để tìm ra các cậu", tôi nói.

"Và tớ đã dẫn hắn tới thẳng đây."

"Nhưng hắn đã lừa cậu", Bronwyn nói.

"Tớ chỉ muốn các cậu biết tớ rất xin lỗi."

Emma ôm lấy tôi.

"Ổn rồi.

Chúng ta còn sống."

"Trong lúc này", Enoch nói.

"Nhưng gã điên đó vẫn ở ngoài kia, và từ chuyện hắn sẵn sàng cho con thú cưng hồn rỗng của mình

chén chúng ta, tớ dám cược hắn đã biết được cách để tự mình đi vào vòng."

"Ôi Chúa ơi, cậu có lý", Emma nói.

"Nếu vậy", tôi nói, "tốt hơn chúng ta nên quay về đó trước hắn."

"Và trước khi nó chui ra", Bronwyn nói thêm.

Chúng tôi quay lại và thấy cô đang chỉ vào kho lạnh vừa đổ sập, những mảnh vỡ đã bắt

đầu nhúc nhích trong đống đổ nát.

"Tớ đoán nó sẽ lao thẳng tới chỗ chúng ta, và vừa khéo tớ chẳng còn cái nhà nào để đẩy sập xuống

đầu nó nữa."

Ai đó hô lớn, Chạy! nhưng chúng tôi vốn đã chạy rồi, lao xuống con đường về nơi duy nhất hồn rỗng không thể bắt kịp chúng tôi -

trong vòng.

Chúng tôi hối hả chạy khỏi thị trấn trong bóng tối đặc quánh, những đường viền xanh mờ mờ của các trại trẻ nhường chỗ

cho những cánh đồng dốc thoai thoải, rồi đến lượt chạy lên triền dốc, từng dòng nước chảy xiết ngang qua chân chúng tôi, làm lối mòn

trở nên đầy bất trắc.

Enoch trượt chân ngã nhào.

Chúng tôi nâng cậu ta dậy và chạy tiếp.

Khi chúng tôi sắp leo lên đỉnh đồi, hai bàn chân Bronwyn cũng

trượt đi, và cô gái trượt dài xuống dốc đến sáu mét rồi mới dừng lại được.

Emma và tôi chạy trở lại giúp đỡ, và trong khi hai chúng tôi nắm

lấy tay cô, tôi quay lại nhìn phía sau chúng tôi, hy vọng trông thấy bóng dáng con quái vật kia.

Nhưng chỉ có màn mưa xối xả, tối đen như

mực.

Khả năng phát hiện ra các hồn rỗng của tôi chẳng còn mấy giá trị khi không có ánh sáng để nhìn thấy chúng.

Nhưng sau đó, khi

chúng tôi leo ngược trở lên đỉnh đồi, lồng ngực phập phồng hổn hển, một tia chớp chạy dài lóe lên thắp sáng màn đêm, tôi liền quay lại

thì thấy nó.

Nó ở cách phía sau chúng tôi một quãng nhưng đang leo lên rất nhanh, những cái lưỡi chắc nịch cắm xuống bùn và kéo nó

lên sườn dốc dần dần như một con nhện.

"Chạy!" tôi hét lên, và tất cả chúng tôi cùng lao xuống triền dốc bên kia, cả bốn cùng ngồi bệt xuống trượt đi cho tới khi xuống tới đất

bằng và có thể chạy tiếp.

Lại một tia chớp nữa lóe lên.

Con quái vật đã ở gần hơn lúc trước.

Với tốc độ này, chúng tôi khó lòng chạy thoát khỏi nó.

Hy vọng

duy nhất của chúng tôi là bày mưu đánh lừa nó.

"Nếu nó bắt kịp chúng ta, nó sẽ giết hết chúng ta", tôi nói lớn tiếng, "nhưng nếu chúng ta tách ra, nó sẽ phải lựa chọn.

Tớ sẽ dẫn nó

đi vòng vèo theo đường dài và cố làm nó bị lạc trong đầm.

Các cậu hãy tới chỗ vòng nhanh nhất có thể!"

"Cậu điên rồi!"

Emma kêu lên.

"Nếu có ai đó cần ở lại đằng sau, người đó phải là tớ!

Tớ có thể dùng lửa chiến đấu với nó!"

"Trong mưa thì không được đâu", tôi nói, "với lại cậu cũng đâu có nhìn thấy nó!"

"Tớ sẽ không để cậu tự sát như thế đâu!" cô hét lên.

Không còn thời gian tranh luận nữa, Bronwyn cùng Enoch chạy tiếp về phía trước trong khi Emma và tôi rẽ khỏi lối mòn, hy vọng con

quái vật sẽ đuổi theo, và nó làm thế thật.

Lúc này nó đã đuổi gần tới mức không cần tia chớp nào lóe lên tôi cũng biết nó đang ở đâu; chỉ

cần cảm giác cuộn thắt lại trong bụng là đủ để tôi xác định nó.

Chúng tôi cầm tay nhau chạy, băng qua một cánh đồng đầy luống cày và rãnh, vấp ngã và níu lấy nhau trong cuộc chạy trốn thục

mạng.

Tôi đang đưa mắt nhìn quanh tìm những hòn đá để dùng làm vũ khí thì trong màn đêm phía trước xuất hiện một cái nhà - một cái lán

nhỏ xiêu vẹo, cửa sổ vỡ kính còn cửa ra vào thì đâu mất, lúc trước vì quá hoảng hốt nên tôi đã không nhìn thấy nó.

"Chúng mình phải trốn đi thôi!" tôi nói giữa hai nhịp thở.

Cầu trời cho con quái vật này ngu ngốc, tôi thầm cầu nguyện trong khi chúng tôi rẽ về phía cái lán, cầu trời, cầu trời cho nó ngu

ngốc.

Chúng tôi đi thành một vòng cung rộng, hy vọng vào được trong lán mà không bị phát hiện ra.

"Đợi đã!"

Emma kêu lên khi chúng tôi chạy vòng ra đằng sau lán.

Cô lấy một miếng vải thưa của Enoch từ trong áo khoác ra và cuống

cuồng quấn nó quanh một hòn đá nhặt dưới đất, làm thành một thứ kiểu như dây lăng đá.

Cô bưng nó giữa hai bàn tay cho tới khi nó bắt

lửa rồi lăng nó ra xa khỏi chúng tôi.

Nó rơi xuống đám bùn lầy ngoài xa, sáng lên yếu ớt trong bóng tối.

"Để đánh lạc hướng", cô giải thích, rồi chúng tôi quay lại chui vào ẩn mình trong căn lán u ám.

***

Chúng tôi lách qua một cánh cửa đã bung khỏi bản lề rồi đặt chân vào một bãi phân chuồng tối đen rộng mênh mông nồng nặc mùi.

Khi bàn chân chúng tôi lún xuống trong tiếng òm ọp lộn mửa, tôi mới nhận ra chúng tôi đang ở đâu.

"Cái gì thế này?"

Emma thì thầm, rồi đột ngột có tiếng con vật gì đó thở hắt ra làm cả hai chúng tôi giật nẩy mình.

Căn lán đầy nghịt

những con cừu tìm chỗ trú ẩn khỏi màn đêm bất trắc, hệt như chúng tôi.

Khi thị lực đã dần dần thích ứng được, chúng tôi bắt gặp những

ánh mắt lờ mờ của chúng đang nhìn chằm chằm vào mình - có đến hàng chục, hàng chục con.

"Đây đúng là thứ tớ nghĩ phải không", Emma vừa nói vừa rón rén nhấc một bàn chân lên.

"Đừng nghĩ về nó", tôi đáp.

"Lại đây nào, chúng ta cần tránh xa khỏi cái cửa này."

Tôi cầm lấy tay cô và hai chúng tôi tiến sâu vào trong lán, lách giữa một bầy những con vật nhút nhát co rúm lại khi chúng tôi chạm

phải.

Chúng tôi đi qua hành lang hẹp vào một căn phòng có cái cửa sổ cao và cửa ra vào vẫn nằm nguyên trên bản lề, tách biệt khỏi màn

đêm bên ngoài, còn những căn phòng khác chẳng biết có được vậy hay không.

Lách vào tận góc trong cùng, chúng tôi quỳ gối xuống

chờ đợi và lắng nghe, nấp sau một bầy cừu sợ sệt.

Chúng tôi cố ngồi không quá sát xuống lớp phân nhưng thực sự không thể nào tránh nổi chuyện này.

Sau một phút nhìn chăm chăm

mờ mịt vào bóng tối, tôi bắt đầu nhận ra những hình dáng trong phòng.

Trong một góc có những chiếc thùng và hộp xếp chất đống, dọc

theo bức tường sau lưng chúng tôi treo những món dụng cụ han gỉ.

Tôi tìm kiếm xem có thứ gì đó đủ sắc để dùng làm vũ khí.

Nhìn thấy

một vật trong giống cái kéo khổng lồ, tôi đứng dậy cầm lấy.

"Định xén lông vài con cừu à?"

Emma hỏi.

"Còn hơn không có gì."

Đúng lúc tôi gỡ cái kéo xén lông cừu từ trên tường xuống, có tiếng gì đó vang lên bên ngoài cửa sổ.

Lũ cừu be be hoảng hốt, rồi sau

đó một cái lưỡi dài đen sì chui vào qua khung cửa sổ mất kính.

Tôi ngồi trở lại xuống sàn nhẹ nhàng hết mức có thể.

Emma đưa bàn tay

lên che miệng để giấu hơi thở của mình.

Cái lưỡi sục sạo quanh phòng như một cái kính tiềm vọng, dường như đang xem xét không gian này.

May thay, chúng tôi đã ẩn trốn

trong căn phòng nặng mùi nhất trên cả hòn đảo.

Mùi của từng ấy con cừu hẳn đã át hết mùi hai chúng tôi, vì sau một phút có vẻ như con

quái vật đã bỏ cuộc và thu lưỡi ra ngoài cửa sổ.

Chúng tôi nghe thấy tiếng bước chân nó đi xa dần.

Emma đưa bàn tay che miệng xuống và thở hắt ra.

"Tớ nghĩ nó bị lừa rồi", cô thì thầm.

"Tớ muốn cậu biết một điều", tôi nói.

"Nếu chúng ta thoát được lần này, tớ sẽ ở lại."

Emma nắm lấy bàn tay tôi.

"Cậu định thế thật chứ?"

"Tớ không về nhà được.

Không thể, sau những gì đã xảy ra.

Dù thế nào đi nữa, dù không biết tớ có giúp được không, tớ cũng nợ các

cậu điều đó và còn nợ nhiều hơn nữa.

Tất cả các cậu từng an toàn tuyệt đối cho tới khi tớ đến đây."

"Nếu chúng ta qua được lần này", cô vừa nói vừa tựa vào tôi, tớ sẽ không nuối tiếc gì nữa."

Rồi, dường như một thứ nam châm kỳ lạ nào đó khiến đầu chúng tôi cứ thế xáp lại gần nhau, nhưng đúng lúc môi chúng tôi sắp chạm

nhau, sự yên tĩnh bị những tiếng be be kinh hoàng vọng lại từ căn phòng bên cạnh phá vỡ.

Chúng tôi rời nhau ra trong khi âm thanh kinh

khủng kia làm lũ cừu xung quanh chúng tôi cuồng lên nhốn nháo, nhảy chồm lên nhau và đẩy chúng tôi áp vào tường.

Con quái vật không ngu ngốc như tôi đã hy vọng.

Rồi sau đó tôi có thể ngửi thấy mùi nó, thậm chí còn nồng nặc hơn những thứ mùi xú uế khác trong căn lán, và tôi có thể cảm thấy nó

đang ở ngưỡng cửa căn phòng.

Toàn bộ lũ cừu lập tức dạt ra xa cửa, xúm xít vào nhau như một đàn cá, thành ra chúng tôi bị lèn chặt vào

tường đến mức không khí bị ép hết ra khỏi phổi.

Hai chúng tôi bám chặt vào nhau nhưng không dám phát ra âm thanh nào, và trong một

khoảnh khắc căng thẳng tột độ, chúng tôi chỉ nghe thấy tiếng be be của lũ cừu và tiếng những cái móng chân loạng choạng đang khua

lộc cộc.

Sau đó, một tiếng kêu kinh hoàng vang lên, đột ngột và tuyệt vọng rồi im bặt cũng đột ngột như thế, bị cắt ngang bởi tiếng gặm

xương răng rắc rởn tóc gáy.

Không cần nhìn tôi cũng biết một con cừu vừa bị xé toạc ra.

Cảnh hỗn loạn nổ ra.

Những con vật hoảng loạn nhảy chồm chồm lên va vào nhau, hất chúng tôi đập vào tường nhiều lần đến mức

tôi xây xẩm mặt mày.

Con hồn rỗng rít lên một tiếng chói tai rồi bắt đầu tóm lũ cừu đưa lên hai hàm răng ròng ròng nước dãi của nó, hết

con này tới con khác, ngoạm mỗi con một nhát làm máu phun ra tung tóe rồi ném sang bên như một ông vua phàm ăn đang ngốn ngấu

một bữa tiệc thời Trung cổ.

Nó lặp đi lặp lại hành động đó - giết dần lũ cừu để mở đường về phía chúng tôi.

Tôi cứng đờ người vì sợ hãi.

Đó là lý do vì sao tôi hoàn toàn không lý giải được điều diễn ra sau đó.

Tất cả bản năng của tôi đều lớn tiếng thúc giục tôi hãy ẩn kín, hãy rúc sâu nữa xuống đống phân, nhưng rồi một ý nghĩ rõ ràng lóe lên

xuyên qua cơn tê liệt - mình sẽ k hông để hai đứa chết trong cái lán đầy phân này - và tôi kéo Emma ra đằng sau con cừu to nhất tôi có

thể thấy rồi lao tới chỗ cửa ra vào.

Cánh cửa đang đóng và cách đó ba mét, đồng thời có rất nhiều cừu đứng chen giữa nó và tôi, nhưng tôi mở một đường lách qua

chúng như một cầu thủ tiền vệ.

Tôi thúc vai vào cánh cửa và nó mở tung ra.

Tôi nhào ra cơn mưa bên ngoài và hét lên, "Lại đây bắt tao đi, đồ khốn kiếp xấu xí!"

Tôi biết mình đã thu hút được sự chú ý của nó vì

nó rống lên một tiếng thật ghê rợn và những con cừu bay ra khỏi cửa qua trước mặt tôi.

Tôi loạng choạng đứng lên, và khi đã chắc con

quái vật đang đuổi theo tôi chứ không phải Emma, tôi chạy về phía đầm lầy.

Tôi có thể cảm thấy nó đằng sau mình.

Tôi đã có thể chạy nhanh hơn, nhưng tôi vẫn cầm theo cái kéo xén lông cừu - dường như tôi

không thể buộc mình bỏ nó đi được - và rồi mặt đất mềm ra dưới chân tôi, và tôi biết mình đã tới đầm lầy.

Hai lần con hồn rỗng đã tới đủ gần để lưỡi của nó quệt được lên lưng tôi, và cả hai lần, đúng lúc tôi tin chắc một cái lưỡi sắp sửa quấn

quanh cổ tôi và siết lại đến khi đầu tôi vỡ tung, nó lại vấp ngã và tụt lại.

Lý do duy nhất khiến tôi đến được chỗ mộ đá với cái đầu vẫn

còn nguyên vẹn gắn vào người là vì tôi biết chính xác phải đặt chân lên chỗ nào; nhờ Emma, tôi có thể chạy gấp qua chặng đường đó

vào một đêm không trăng giữa cơn bão tố.

Leo lên gò đất của mộ đá, tôi chạy vòng quanh tới lối vào kè đá và chui vào.

Bên trong đen kịt như hắc ín, nhưng điều đó cũng chẳng

quan trọng - chỉ cần tới được căn phòng trong cùng là tôi sẽ an toàn.

Tôi bò tới bằng hai bàn tay và đầu gối, vì thậm chí đứng thôi cũng

sẽ làm mất thêm thời gian mà tôi thì không có thời gian để lãng phí, và khi đã bò được nửa đường tới đích, đồng thời cảm thấy một chút

lạc quan dè dặt về cơ may sống sót của mình, thì đột nhiên tôi không thể bò đi thêm được nữa.

Một trong những cái lưỡi đã quấn lấy cổ

chân tôi.

Con hồn rỗng đã quấn hai cái lưỡi của nó quanh những tảng đá bên ngoài cửa đường hầm như để giữ cho nó khỏi trượt đi trên bùn,

rồi phủ kín lối vào bằng thân hình của nó như một cái nắp úp lên miệng bình.

Cái lưỡi thứ ba đang lôi tôi về phía nó, tôi đã trở thành một

con cá mắc câu.

Tôi cào xuống đất, nhưng phía dưới toàn là sỏi và các ngón tay tôi lập tức trượt đi.

Tôi lật ngửa người ra và dùng bàn tay còn tự do

bấu vào các tảng đá, nhưng tôi đang trôi đi quá nhanh.

Tôi cố dùng cái kéo xén lông cừu của mình đăm vào cái lưỡi, nhưng nó quá gân

guốc và chắc chắn, như cái dây chão tạo thành từ những bó cơ đang uốn lượn, trong khi lưỡi kéo của tôi quá cùn.

Vậy là tôi nhắm chặt

mắt lại, vì tôi không muốn hai hàm răng đang há hoác của nó là thứ cuối cùng tôi nhìn thấy, và nắm chặt cái kéo xén lông cừu chĩa ra phía

trước bằng cả hai bàn tay.

Thời gian dường như bị kéo căng ra, người ta bảo đó là tình trạng thường thấy trong những vụ đâm xe, tai nạn

tàu hỏa hay những cú rơi tự do từ trên máy bay xuống, và điều tiếp theo tôi cảm thấy là một cú va đập làm cả người tôi nẩy lên khi tôi đâm

sầm vào con hồn rỗng.

Tất cả không khí trong lồng ngực tôi bị ép hết ra ngoài, và tôi nghe thấy nó rống lên.

Tôi và nó cùng nhào ra khỏi đường hầm rồi lăn

từ trên gò mộ xuống đầm lầy, và khi mở được mắt ra, tôi thấy cái kéo xén lông cừu của mình đâm lút cán vào hai hốc mắt của con quái vật.

Nó rống lên như mười con lợn cùng bị thiến một lúc, lăn lộn và quẫy đạp trong lớp bùn đang dềnh lên vì mưa, tuôn ra cả một dòng chất

lỏng đen ngòm của chính nó, thứ chất lỏng sền sệt phun lên tay cầm han gỉ của cái kéo.

Tôi có thể cảm thấy nó đang chết dần, sự sống bị tháo cạn dần khỏi nó, lưỡi nó lỏng ra quanh cổ chân tôi.

Tôi có thể cảm thấy cả sự

khác biệt ở mình, cơn hoảng loạn khiến dạ dày tôi quặn thắt đã dần dần biến mất.

Cuối cùng, con quái vật cứng đờ ra và chìm nghỉm,

trước mắt tôi, lớp chất lỏng nhớt quánh khép lại trên đầu nó, một đám máu đen thẫm là dấu hiệu duy nhất cho hay nó từng ở đó.

Tôi có thể cảm thấy đầm lầy đang nuốt tôi xuống cùng con quái vật.

Tôi càng vùng vẫy, nó dường như càng muốn tôi hơn.

Tôi thầm

nghĩ hẳn sẽ kỳ lạ lắm nếu một nghìn năm sau người ta tìm thấy tôi và con vật kia cùng được bảo quản trong than bùn dưới đầm lầy.

Tôi cố quẫy đạp tiến về phía đất cứng nhưng chỉ càng làm mình lún xuống sâu hơn.

Bùn lầy dường như đang leo lên tôi, dâng lên

theo cánh tay tôi, lên ngực tôi, bao quanh cổ tôi như một nút thòng lọng.

Tôi la lên kêu cứu - và thật kỳ diệu, cứu viện đến thật dưới dạng mà ban đầu tôi nghĩ là một con đom đóm đang nhấp nháy bay về

phía tôi.

Sau đó nghe thấy tiếng Emma gọi, tôi liền đáp lại.

Một cành cây đáp xuống nước.

Tôi chộp lấy nó rồi Emma kéo, và cuối cùng khi đã ra được khỏi đầm lầy, tôi run rẩy đến mức không

thể đứng nổi.

Emma ngồi xuống bên cạnh tôi, và tôi đổ ập vào vòng tay cô.

Mình đã giết nó, tôi nghĩ.

Mình giết được nó thật rồi.

Trong suốt khoảng thời gian sống trong sợ hãi, tôi chưa bao giờ mơ mình có

thể thực sự giết được một con quái vật!

Điều đó làm tôi cảm thấy mạnh mẽ.

Giờ đây tôi có thể tự bảo vệ bản thân.

Tôi biết mình sẽ không bao giờ có thể mạnh mẽ như ông

nội, nhưng tôi cũng không phải là một kẻ yếu đuối hèn nhát.

Tôi có thể giết chúng.

Tôi dè dặt cất lời.

"Nó chết rồi.

Tớ đã giết nó."

Tôi bật cười.

Emma ôm lấy tôi, áp má cô vào má tôi.

"Tớ biết anh ấy hẳn sẽ rất tự hào về cậu", cô nói.

Chúng tôi hôn nhau, cảm giác thật êm ái dễ chịu, mưa nhỏ xuống từ mũi chúng tôi và chạy vào trong khuôn miệng vừa hé mở của

chúng tôi thật ấm.

Emma lùi ra ngay và thì thầm, "Điều lúc trước cậu đã nói ấy, cậu có ý đó thật chứ?"

"Tớ sẽ ở lại", tôi nói.

"Nếu bà Peregrine cho phép."

"Cô sẽ cho phép.

Tớ sẽ đảm bảo chắc chắn điều đó."

"Trước khi lo lắng về chuyện ấy, tốt hơn chúng ta cần tìm ra tay bác sĩ tâm lý của tớ và đoạt lấy súng của hắn."

"Đúng thế", cô nói, nét mặt đanh lại.

"Vậy đừng lãng phí thời gian nữa."

***

Chúng tôi bỏ lại cơn mưa sau lưng và chui ra giữa một khung cảnh mờ mịt khói và tiếng động.

Vòng thời gian vẫn chưa được khởi

động lại, đầm lầy chi chít hố bom, bầu trời ầm ì tiếng động cơ máy bay, từng bức tường lửa màu cam lần về phía hàng cây ngoài xa.

Tôi

đang định đề xuất là chúng tôi hãy đợi đến khi hôm nay trở thành hôm qua và tất cả những thứ này biến mất rồi hãy cố gắng tìm đến trại

trẻ thì hai cánh tay rắn rỏi bỗng ôm chầm lấy tôi.

"Cậu còn sống!"

Bronwyn reo lên.

Enoch và Hugh đang ở cùng cô, và khi cô lùi ra hai cậu con trai tiến lại bắt tay tôi và ngắm nghía

tôi từ đầu đến chân.

"Tớ xin lỗi đã gọi cậu là một kẻ phản bội", Enoch nói.

"Tớ rất vui là cậu không chết."

"Cả tớ cũng thế", tôi đáp.

"Tất cả vẫn lành lặn chứ?"

Hugh vừa hỏi vừa ngắm nghía tôi.

"Còn đủ hai tay hai chân", tôi nói, vung chân đá lên để chứng tỏ chúng còn nguyên lành.

"Và các cậu không phải lo về con hồn rỗng

đó nữa.

Chúng tớ giết nó rồi."

"Ồ, khiêm tốn làm gì!"

Emma nói đầy tự hào.

"Cậu đã giết nó."

"Xuất sắc", Hugh nói, nhưng cả cậu ta lẫn hai người kia đều không hề mỉm cười.

"Có chuyện gì vậy?", tôi hỏi.

"Đợi đã.

Tại sao ba cậu không ở trại trẻ?

Bà Peregrine đâu?"

"Cô ấy đi rồi", Bronwyn nói, môi run rẩy.

"Cả cô Avocet nữa.

Hắn bắt họ đi."

"Ôi Chúa ơi", Emma thốt lên.

Chúng tôi đã quá muộn.

"Hắn đến mang theo súng", Hugh nói, mắt nhìn chằm chặp xuống đất.

"Định bắt Claire làm con tin, nhưng bạn ấy cắn hắn bằng cái

miệng sau gáy, thế là hắn tóm tớ.

Tớ cố chống lại, nhưng hắn dùng súng nện vào đầu tớ."

Cậu ta sờ tay vào sau tai và khi bỏ ra, các ngón

tay cậu ta dính máu.

"Hắn nhốt tất cả mọi người dưới hầm và nói nếu cô phụ trách và cô Avocet không biến thành chim, hắn sẽ khoan

thêm một cái lỗ nữa lên đầu tớ.

Họ đành làm theo, và hắn nhét cả hai vào trong một cái lồng."

"Hắn có một cái lồng sao?"

Emma hỏi.

Hugh gật đầu.

"Một cái lồng nhỏ, để họ không có chỗ mà làm gì hết, như biến hình đổi dạng hay bay đi."

"Tớ cứ nghĩ chắc mình sẽ bị bắn, nhưng sau đó hắn tống tớ xuống hầm cùng những người khác rồi mang hai con chim bỏ chạy."

"Và bọn tớ tìm thấy họ như thế khi quay về", Enoch cay cú nói.

"Trốn tránh như một đám hèn nhát."

"Bọn tớ không phải đang trốn!"

Hugh gắt lên.

"Hắn nhốt bọn tớ lại!

Suýt nữa thì hắn đã bắn bọn tớ!"

"Quên chuyện đó đi", Emma quát.

"Hắn chạy đi đâu rồi?

Tại sao các cậu không đuổi theo hắn?!"

"Bọn tớ không biết hắn đi đâu", Bronwyn nói.

"Bọn tớ đã hy vọng các cậu thấy hắn."

"Không, bọn tớ không thấy hắn!"

Emma nói, bực bội đá vào một tảng đá.

Hugh lấy thứ gì đó trong túi áo sơ mi ra.

Đó là một bức ảnh nhỏ.

"Hắn nhét cái này vào túi áo tớ trước khi bỏ đi.

Nói nếu chúng tớ tìm

cách bám theo hắn, đây là điều sẽ xảy ra."

Bronwyn giật bức ảnh trên tay Hugh.

"Ôi", cô thảng thốt.

"Có phải đó là cô Raven không?"

"Tớ nghĩ đó là cô Crow", Hugh nói, đưa hai bàn tay lên xoa mặt.

"Có nghĩa là họ coi như đã chết", Enoch rên rỉ.

"Tớ biết ngày này thế nào cũng tới mà!"

"Đáng lẽ chúng ta không bao giờ nên rời khỏi nhà", Emma khổ sở nói.

"Millard đã đúng."

Ở rìa phía xa của đầm lầy, một quả bom rơi xuống, sau tiếng nổ nghẹt lại dưới bùn của nó là một trận mưa bùn đất bị hất tung lên ngoài

xa.

"Đợi một phút đã", tôi nói.

"Thứ nhất, chúng ta không biết đây là bà Crow hay Raven.

Cũng hoàn toàn có thể chỉ là ảnh chụp một

con quạ bình thường.

Và nếu Golan định giết bà Peregrine và bà Avocet, tại sao hắn lại phải khổ công đến thế để bắt cóc họ?

Nếu hắn

muốn họ phải chết, họ đã chết rồi."

Tôi quay sang Emma.

"Mà nếu chúng ta không ra ngoài, chúng ta cũng đã bị nhốt lại dưới tầng hầm

như mọi người khác, và bây giờ vẫn còn một hồn rỗng đang lảng vảng ngoài kia!"

"Đừng cố vỗ về tớ làm gì!" cô nói.

"Tất cả chuyện này xảy ra là lỗi của cậu!"

"Mười phút trước cậu còn nói là cậu rất mừng!"

"Mười phút trước cô Peregrine còn chưa bị bắt cóc!"

"Các cậu thôi đi nào!"

Hugh nói.

"Điều quan trọng bây giờ là Chim bị bắt đi rồi và chúng ta cần cứu cô về!"

"Được", tôi nói, "vậy chúng ta hãy cùng nghĩ xem.

Nếu các cậu là một xác sống, các cậu sẽ mang hai Chủ Vòng Thời Gian bị bắt cóc

đi đâu?"

"Còn tùy vào việc cần làm gì với họ", Enoch nói.

"Mà điều đó thì chúng ta không biết."

"Trước hết cậu sẽ phải đưa họ rời khỏi đảo đã", Emma nói.

"Vì thế cậu cần một cái thuyền."

"Nhưng là hòn đảo nào?"

Hugh hỏi.

"Ở trong hay ở ngoài vòng thời gian?"

"Hòn đảo ở ngoài đang bị một cơn bão tàn phá tanh bành", tôi nói.

"Không ai có thể đi xa được với một cái thuyền ngoài đó cả."

"Vậy thì hắn chắc phải ở bên này", Emma nói, bắt đầu có vẻ hy vọng.

"Vậy thì chúng ta còn nấn ná ở đây làm gì?

Tới chỗ bến tàu

thôi!"

"Có thể hắn đang ở bến tàu", Enoch nói.

"Đấy là nếu hắn chưa rời đi.

Cho dù hắn không có ở đó và chúng ta tìm được cách lần ra hắn

giữa đêm hôm tối tăm thế này mà không bị các mảnh trái phá xuyên thủng ruột trên đường, vẫn còn phải nghĩ tới khẩu súng của hắn nữa.

Các cậu điên hết rồi sao?

Các cậu muốn Chim bị bắt cóc hay bị bắn ngay trước mắt chúng ta hơn?"

"Hay lắm."

Hugh hét lên.

"Thế thì chúng ta chỉ cần bỏ cuộc và quay về nhà thôi, nhỉ?

Ai thích một cốc trà nóng dễ chịu trước khi lên

giường nào?

Khỉ thật, đằng nào Chim cũng không có nhà, cứ thay hẳn bằng một cốc rượu toddy đi!"

Cậu ta khóc trong giận dữ, đưa tay lên chùi mắt.

"Làm sao đến thử mà cậu cũng không dám, sau tất cả những gì cô đã làm cho chúng ta chứ hả?"

Enoch còn chưa kịp trả lời, chúng tôi đã nghe thấy tiếng ai đó gọi từ phía con đường mòn.

Hugh bước tới, nheo mắt, và sau giây lát

khuôn mặt cậu ta trở nên thật lạ.

"Đó là Fiona", cậu ta nói.

Trước lúc đó tôi chưa bao giờ nghe thấy Fiona thốt ra dù chỉ một tiếng lí nhí.

Không thể luận ra nổi cô đang nói gì trong tiếng động cơ máy bay và những tiếng nổ đằng xa, vậy là chúng tôi cùng chạy băng qua đầm

lầy.

Khi tới chỗ con đường mòn, chúng tôi đều đã thở hổn hển còn Fiona đã khàn đặc giọng vì la hét, đôi mắt cô cũng hoang dại chẳng

kém gì mái tóc.

Ngay lập tức, cô bắt đầu lôi kéo, đẩy chúng tôi theo lối mòn về phía thị trấn, cuồng loạn la hét bằng thứ khẩu âm Ireland

nặng trịch mà không ai trong chúng tôi hiểu nổi.

Hugh nắm lấy hai vai cô và bảo cô hãy trấn tĩnh lại.

Fiona hít một hơi thật sâu, người run rẩy như một chiếc lá, đoạn chỉ về phía đằng sau mình.

"Millard bám theo hắn!" cô nói.

"Cậu ấy

đã trốn khi hắn nhốt tất cả chúng ta xuống tầng hầm, và khi hắn chuồn ra ngoài cậu ấy liền bám theo!"

"Tới đâu?" tôi hỏi.

"Hắn có một cái thuyền."

"Thấy chưa!"

Emma reo lên.

"Bến tàu!"

"Không", Fiona nói, "đó là cái thuyền của cậu, Emma.

Cái thuyền cậu nghĩ không ai biết đến, mà cậu vẫn buộc ở chỗ cái bãi cạn bé

xíu ấy.

Hắn đã leo lên thuyền cùng cái lồng và chỉ đi vòng vòng, nhưng sau đó thủy triều lên quá mạnh, vì thế hắn ghé thuyền vào chỗ

gò đá có ngọn hải đăng, và hắn vẫn đang ở đó."

Chúng tôi hối hả lấy hết sức chạy tới chỗ ngọn hải đăng.

Khi tới chỗ vách đá nhìn xuống nó, chúng tôi tìm thấy những đứa trẻ còn lại

trong một bãi cói túi rậm rạp gần rìa đá.

"Nằm xuống!"

Millard khẽ suỵt.

Chúng tôi quỳ gối xuống và bò tới chỗ họ.

Đám trẻ đang nằm phục xuống thành một đám rải rác đằng sau đám cói túi, thay nhau nhìn

về phía hải đăng.

Trông họ như bị sốc vì sức ép trái phá - nhất là những đứa bé nhất - tựa như chưa hoàn toàn tiếp nhận được cơn ác

mộng đang diễn ra.

Việc chúng tôi mới vừa sống sót qua khỏi một cơn ác mộng của riêng mình hầu như không được để tâm tới.

Tôi bò giữa đám cói túi tới rìa vách đá và nhìn ra.

Xa hơn chỗ con tàu đắm nằm chìm dưới nước, tôi có thể thấy chiếc xuồng của Emma

được buộc vào các tảng đá.

Không thấy Golan và hai Chủ Vòng Thời Gian đâu.

"Hắn đang làm gì dưới kia vậy?" tôi hỏi.

"Ai biết được", Millard đáp.

"Chờ ai đó tới đón, hoặc chờ con nước đứng để hắn có thể chèo ra."

"Trong cái xuồng bé xíu của tớ sao?"

Emma hỏi có vẻ hoài nghi.

"Như tớ nói rồi đấy, bọn tớ không biết."

Ba tiếng nổ đinh tai vang lên liền nhau, và tất cả chúng tôi đều nằm phục xuống trong khi bầu trời lóe sáng màu cam.

"Có quả bom nào rơi xuống quanh đây không, Millard?"

Emma hỏi.

"Nghiên cứu của tớ chỉ liên quan tới hành vi của con người và động vật thôi", cậu ta đáp.

"Chứ không phải bom."

"Quả là hữu ích vô cùng cho bọn mình lúc này", Enoch nói.

"Cậu còn chiếc thuyền nào giấu quanh đây không?" tôi hỏi Emma.

"Tớ e là không", cô nói.

"Chúng ta đành phải bơi qua đó thôi."

"Bơi qua đó rồi sao?"

Millard hỏi.

"Để bị bắn nát bét ra à?"

"Chúng ta sẽ nghĩ ra cách", Emma trả lời.

Millard thở dài.

"Ồ, đáng yêu quá.

Tự sát ngẫu hứng."

"Thế nào?"

Emma nhìn từng người trong chúng tôi.

"Ai có ý tưởng nào hay hơn không?"

"Nếu tớ có đám lính của tớ..."

Enoch lên tiếng.

"Chúng sẽ mủn ra từng mảnh trong nước", Millard nói.

Enoch gục đầu xuống.

Những người khác im lặng.

"Vậy là quyết định rồi nhé", Emma nói.

"Ai tham gia nào?"

Tôi giơ tay lên.

Bronwyn cũng vậy.

"Các cậu sẽ cần tới ai đó mà gã xác sống không thể trông thấy", Millard nói.

"Để tớ đi cùng, nếu

các cậu nhất định phải đi."

"Bốn là đủ rồi", Emma nói.

"Hy vọng tất cả các cậu đều bơi tốt."

Không còn thời gian để nghĩ lại hay nói những lời tạm biệt dài dòng.

Những người còn lại chúc chúng tôi may mắn, và chúng tôi lên

đường.

Chúng tôi cởi những chiếc áo khoác đi mưa màu đen của mình ra rồi lách qua đám cói túi, lom khom cúi gập người xuống như lính biệt

kích đến khi tới chỗ lối mòn dẫn xuống bãi biển.

Chúng tôi ngồi bệt trượt xuống, một dòng cát nhỏ chảy xuống quanh hai bàn chân và

dọc theo hai ống quần chúng tôi.

Đột nhiên, một tiếng ồn vang lên như có năm mươi chiếc cưa máy cùng hoạt động trên đầu chúng tôi, chúng tôi vừa nằm bẹp xuống

thì một chiếc máy bay ầm ầm lao qua, luồng gió thổi bạt tóc chúng tôi và làm tung lên một cơn lốc cát.

Tôi nghiến chặt hai hàm răng, chờ

đợi một quả bom nổ tung xé banh chúng tôi thành từng mảnh.

Không có quả bom nào tới.

Chúng tôi tiếp tục đi.

Khi tới bãi biển, Emma tập hợp chúng tôi sát lại nhau.

"Có một xác tàu đắm nằm giữa chỗ này và hải đăng", cô nói.

"Theo tớ ra chỗ nó.

Ngâm mình dưới nước.

Đừng để hắn thấy các cậu.

Khi tới chỗ xác tàu đắm, chúng ta sẽ tìm kiếm hắn và quyết định xem tiếp theo làm gì."

"Hãy mang các Chủ Vòng Thời Gian của chúng ta về", Bronwyn nói.

Chúng tôi bò trườn xuống những con sóng và úp sấp bụng lao vào làn nước lạnh.

Thoạt đầu việc bơi ra tương đối dễ dàng, nhưng

chúng tôi càng bơi xa bờ, dòng nước càng có xu hướng đẩy chúng tôi trở lại.

Thêm một chiếc máy bay nữa lao vụt qua trên đầu, làm bắn

vọt lên một đám hạt nước rát rạt.

Tới chỗ xác tàu đắm thì chúng tôi đều thở dốc.

Bám vào thân tàu han gỉ, chỉ nhô đầu lên khỏi mặt nước, chúng tôi nhìn chăm chú về

phía hải đăng và hòn cù lao nhỏ trơ trọi nó được xây trên, nhưng không thấy tung tích gì của tay bác sĩ tâm lý khó lường.

Trăng tròn là là

trên bầu trời, thỉnh thoảng lại hiện ra qua màn khói bom, sáng lên như ngọn hải đăng thứ hai chập chờn ma quái.

Chúng tôi lần tiến lên hết dọc thân con tàu đắm, chỉ còn phải bơi gần năm trăm mét qua biển là tới chỗ ngọn hải đăng.

"Tớ đề nghị chúng ta nên làm như sau", Emma nói.

"Hắn đã chứng kiến Wyn khỏe như thế nào, vì thế bạn ấy là người gặp nhiều

nguy hiểm nhất.

Jacob và tớ sẽ tìm Golan và thu hút sự chú ý của hắn trong khi Wyn lén tiếp cận từ phía sau và nện cho hắn một cú ra trò

vào đầu.

Cùng lúc, Millard đoạt ngay lấy lồng chim.

Có ai phản đối gì không?"

Như thể để trả lời, một phát súng vang lên.

Thoạt đầu chúng tôi không nhận ra nó là gì - nghe không giống như những phát súng lớn

mà chúng tôi từng nghe thấy, xa xa và dữ dội.

Đây là tiếng nổ của một khẩu súng cỡ nhỏ một tiếng bọp thay vì đoàng - và chỉ đến khi nghe thấy phát súng thứ hai, kèm theo tiếng nước bắn lên ngay gần, chúng tôi mới biết đó là Golan.

"Lùi lại!"

Emma hét lên, chúng tôi liền leo lên khỏi mặt nước và cắm đầu chạy băng băng trên thân tàu cho tới khi nó tụt sâu vào lòng

nước dưới chân chúng tôi, rồi nhào xuống nước phía đằng sau thân tàu.

Một lát sau, tất cả chúng tôi cùng tập trung lại, hổn hển thở lấy

hơi.

"Thế này mà đòi tập kích hắn cơ đấy!"

Millard nói.

Golan đã ngừng bắn, nhưng chúng tôi có thể thấy hắn đứng canh chừng cạnh cửa vào hải đăng, tay lăm lăm súng.

"Hắn có thể là một gã khốn đê tiện, nhưng hắn không ngu", Bronwyn nói.

"Hắn biết chúng ta bám theo."

"Bây giờ thì không được rồi, chúng ta không thể!"

Emma vừa nói vừa đập tay xuống nước.

"Hắn sẽ bắn nát bét chúng ta!"

Millard bước lên trên xác tàu.

"Hắn không thể bắn được thứ hắn không nhìn thấy.

Để tớ đi."

"Dưới biển cậu có còn vô hình nữa đâu, đồ ngốc", Emma nói, và đúng là thế - chỗ cậu ta đứng trong nước, có một khoảng trống hình

thân người nhấp nhô.

"Còn hơn các cậu", cậu ta nói.

"Dù thế nào đi nữa, tớ đã bám theo hắn suốt quãng đường trên đảo mà hắn không hề biết gì.

Tớ nghĩ

tớ có thể xoay xở thêm vài trăm mét nữa."

Thật khó tranh luận, vì lựa chọn duy nhất còn lại của chúng tôi là bỏ cuộc hoặc lao vào một làn đạn.

"Được", Emma nói.

"Nếu cậu thực sự nghĩ cậu có thể làm được."

"Ai đó cần phải làm anh hùng", cậu ta đáp, và bước đi ngang qua thân tàu.

"Lời trăng trối trứ danh", tôi thì thầm.

Ngoài xa, giữa làn khói, tôi nhìn thấy Golan quỳ gối xuống trên ngưỡng cửa ngọn hải đăng và ngắm bắn, gác tay súng qua một hàng

lan can.

"Cẩn thận!" tôi hét lên, nhưng đã quá muộn.

Một phát súng vang lên.

Millard kêu thét.

Tất cả chúng tôi cùng leo lên trên xác tàu và hối hả chạy tới chỗ cậu ta.

Tôi cảm thấy chắc như bắp là mình sắp bị bắn, và trong

khoảnh khắc tôi nghĩ tiếng bàn chân chúng tôi bì bõm trong nước chính là những viên đạn đang trút như mưa xuống chúng tôi.

Nhưng

sau đó tiếng súng ngừng lại - phải nạp đạn, tôi thầm nghĩ - và chúng tôi có một quãng nghỉ ngắn để hành động.

Millard đang quỳ gối trong nước, đờ đẫn, máu đang trào ra chảy dọc thân người cậu ta.

Lần đầu tiên tôi có thể nhìn thấy hình dáng

thực của cơ thể cậu ta, nhuộm trong màu đỏ.

Emma cầm lấy cánh tay cậu ta.

"Millard!

Cậu không sao chứ?

Nói gì đi!"

"Tớ xin lỗi", cậu ta nói.

"Có vẻ tớ đã bị lộ và làm mình dính đạn."

"Chúng ta cần phải cầm máu!"

Emma nói.

"Chúng ta phải mang cậu ấy trở vào bờ."

"Vớ vẩn", Millard nói.

"Gã đó sẽ không bao giờ để các cậu lại gần hắn lần nữa đâu.

Bây giờ mà quay lại là chúng ta chắc chắn sẽ để

mất cô Peregrine."

Thêm nhiều phát súng vang lên.

Tôi cảm thấy một viên đạn bay vèo sượt qua tai mình.

"Đằng này!"

Emma hô lớn.

"Lặn xuống!"

Thoạt đầu tôi không biết ý cô là gì - chúng tôi còn cách đuôi cái tàu đắm đến ba mươi mét - nhưng rồi tôi nhìn thấy chỗ cô đang chạy

tới.

Đó là cái lỗ đen ngòm trên boong tàu, cửa dẫn xuống khoang chứa hàng.

Bronwyn và tôi nâng Millard lên và chạy theo cô.

Những đầu đạn kim loại đập choang choang vào thân tàu xung quanh chúng tôi.

Nghe như ai đó đá vào một cái thùng rác.

"Nín thở", tôi bảo Millard, rồi chúng tôi nhảy xuống khoang tàu và lặn.

Chúng tôi kéo mình xuống theo cái thang, xuống sâu vài thanh ngang và bám lại ở đó.

Tôi cố giữ mắt mở nhưng nước mặn xót quá.

Tôi có thể nếm thấy vị máu của Millard trong nước.

Emma đưa cho tôi ống thở, và chúng tôi lần lượt truyền nó cho nhau.

Tôi đã hết cả hơi sau cuộc chạy, và vài giây mới được thở một

hơi trong cái ống không đủ cho tôi.

Hai buồng phổi tôi đau rát, và tôi bắt đầu cảm thấy choáng váng.

Ai đó giật áo sơ mi của tôi.

Ngoi lên.

Tôi chầm chậm kéo mình lên theo thang, rồi sau đó Bronwyn, Emma và tôi ngoi lên mặt nước vừa

đủ để thở và nói, trong khi Millard ở lại chỗ an toàn dưới đó mấy mét, một mình dùng hẳn cái ống thở.

Chúng tôi khẽ thì thầm, không rời mắt khỏi ngọn hải đăng.

"Chúng ta không thể ở lại đây", Emma nói.

"Millard sẽ mất máu đến chết."

"Đưa cậu ấy vào bờ phải mất hai mươi phút", tôi nói.

"Nguy cơ cậu ấy chết dọc đường cũng chẳng kém."

"Tớ không biết phải làm gì khác nữa!"

"Hải đăng rất gần đây", Bronwyn nói.

"Chúng ta sẽ đưa cậu ấy tới đó."

"Nếu thế Golan sẽ khiến tất cả chúng ta mất máu đến chết!" tôi nói.

"Không đâu", Bronwyn đáp.

"Sao lại không?

Cậu chống được đạn à?"

"Có thể", Bronwyn đáp đầy bí hiểm, rồi hít một hơi và biến mất xuống dưới thang.

"Cô ấy nói gì thế?" tôi hỏi.

Emma có vẻ lo lắng.

"Tớ cũng chịu.

Nhưng dù là gì đi nữa, tốt hơn bạn ấy nên khẩn trương lên."

Tôi cúi xuống để xem Bronwyn đang

làm gì, nhưng thay vì thế lại loáng thoáng thấy Millard ở chỗ cái thang phía dưới chúng tôi, xúm quanh là những con cá đèn tò mò.

Sau

đó, tôi cảm thấy rung động của thân tàu truyền vào bàn chân mình, và giây lát sau, Bronwyn ngoi lên, cầm theo một tấm kim loại hình chữ

nhật dài mét tám rộng mét hai, phía trên là một cái lỗ tròn được đóng đinh tán xung quanh.

Cô đã giật rời cánh cửa khoang chứa hàng ra

khỏi bản lề của nó.

"Cậu định làm gì với cái đó vậy?"

Emma hỏi.

"Tới chỗ ngọn hải đăng", Bronwyn đáp.

Sau đó cô đứng dậy, giơ cánh cửa ra che phía trước mình.

"Wyn, hắn sẽ bắn cậu mất!"

Emma kêu lên, rồi một phát súng nổ - nó trúng vào cánh cửa và nẩy đi.

"Thật kinh ngạc!" tôi thốt lên.

"Nó là một cái khiên!"

Emma bật cười.

"Wyn, cậu đúng là thiên tài!"

"Tớ có thể cõng Millard trên lưng", cô nói.

"Còn các cậu, nấp ra đằng sau."

Emma kéo Millard lên khỏi mặt nước và quàng hai cánh tay cậu ta quanh cổ Bronwyn.

"Dưới đó thật tuyệt diệu", cậu ta nói.

"Emma,

tại sao cậu chẳng bao giờ kể cho tớ biết về những thiên thần đó?"

"Thiên thần nào cơ?"

"Những thiên thần màu xanh lục đáng yêu sống ngay dưới kia."

Cậu ta đang run rẩy, giọng mơ màng.

"Họ đã đề nghị đưa tớ lên thiên

đường, thật tử tế."

"Không ai sắp được lên thiên đàng hết", Emma nói, trông cô có vẻ lo lắng.

"Cậu bám chắc lấy Bronwyn, được chứ?"

"Tốt thôi", cậu ta đờ đẫn nói.

Emma, đứng đằng sau Millard, đẩy cậu ta áp vào lưng Bronwyn để cậu ta không bị tuột xuống.

Tôi đứng đằng sau Emma, làm đoạn

hậu cho đoàn rồng rắn ngắn ngủn lạ lùng này, rồi chúng tôi bắt đầu chật vật lê bước đi qua boong tàu về phía ngọn hải đăng.

Chúng tôi là một cái bia lớn, và ngay lập tức Golan bắt đầu nã đạn về phía chúng tôi.

Tiếng những viên đạn của hắn đập vào cánh cửa

nẩy đi vang lên đinh tai - nhưng đồng thời lại có gì đó làm người ta yên tâm - song sau chừng hơn chục phát súng, hắn ngừng lại.

Có điều

tôi không lạc quan tới mức nghĩ hắn đã hết đạn.

Đến đuôi xác tàu, Bronwyn cẩn thận dẫn chúng tôi xuống nước, luôn giữ cho cánh cửa to tướng che đằng trước chúng tôi.

Đoàn rồng

rắn của chúng tôi trở thành một chuỗi người bơi chó xúm lại đằng sau cô.

Emma nói với Millard trong khi chúng tôi bơi, buộc cậu ta trả lời

các câu hỏi để cậu ta không lịm đi.

"Millard!

Ai đang là thủ tướng?"

"Winston Churchiil", cậu ta nói.

"Cậu bị mất trí à?"

"Thủ đô của Miến Điện là gì?"

"Chúa ơi, tớ không biết.

Rangoon."

"Tốt!

Sinh nhật cậu là khi nào?"

"Cậu có thể thôi gào lên và để tớ được bình yên chảy máu không hả!"

Không mất mấy thời gian để băng qua khoảng cách ngắn ngủi giữa xác tàu đắm và ngọn hải đăng.

Khi Bronwyn dùng vai đỡ tấm lá

chắn của chúng tôi và leo lên các tảng đá, Golan bắn thêm vài phát nữa, và sức va chạm của những viên đạn làm cô mất thăng bằng.

Trong khi chúng tôi co ro thu mình lại sau lưng Bronwyn, cô loạng choạng và thiếu chút nữa trượt chân ngã ra sau rơi khỏi bờ đá, nếu thế

trọng lượng của cả cô và cánh cửa hẳn sẽ đè bẹp tất cả chúng tôi.

Emma chống hai bàn tay vào lưng Bronwyn và đẩy, cuối cùng cả

Bronwyn và cánh cửa cùng lảo đảo tiến lên chỗ đất khô.

Ba chúng tôi xúm xít lại loạng choạng đi theo cô, run lẩy trong màn đêm lạnh giá.

Nơi rộng nhất khoảng năm mươi mét, mõm đá nơi ngọn hải đăng tọa lạc trên thực tế là một cù lao nhỏ.

Ở dưới chân đế han gỉ của

ngọn hải đăng có chừng một tá bậc đá dẫn lên một cánh cửa để mở, Golan đang đứng đó chĩa khẩu súng ngắn của hắn thẳng về hướng

chúng tôi.

Tôi đánh bạo liếc một cái qua lỗ trên cánh cửa.

Một bàn tay hắn cầm một cái lồng chim nhỏ, trong lồng là hai con chim đang vỗ cánh

đứng chen sát nhau đến mức tôi không thể phân biệt nổi con nào với con nào.

Một phát đạn rít lên bay vèo qua và tôi vội thụp xuống.

"Lại gần thêm nữa là tao sẽ bắn cả hai mụ!"

Golan hét lên, rung rung cái lồng.

"Hắn nói dối đấy", tôi nói.

"Hắn cần họ."

"Cậu làm sao biết chắc được", Emma nói.

"Nói cho cùng, hắn là một gã điên."

"Thế nhưng chúng ta không thể không làm gì cả."

"Xông tới chỗ hắn!"

Bronwyn nói.

"Hắn sẽ không biết phải làm gì.

Nhưng để thành công chúng ta cần xông tới NGAY!"

Và chúng tôi còn chưa kịp cân nhắc, Bronwyn đã chạy về phía hải đăng.

Chúng tôi không còn lựa chọn nào khác ngoài chạy theo -

nói gì thì nói, cô đang mang lá chắn bảo vệ của chúng tôi - và một khoảnh khắc sau đạn đã liên hồi nện choang choang vào cánh cửa và

trúng vào những tảng đá quanh chân chúng tôi.

Cảm giác lúc đó không khác gì bám trên nóc một đoàn tàu tốc hành.

Bronwyn thật kinh khủng, cô hét lên như một chiến binh man rợ:

các mạch máu trên cổ hằn lên, máu Millard dính bết trên khắp cánh tay và sau lưng cô.

Vào khoảnh khắc đó, tôi cảm thấy thật mừng là

mình không ở phía bên kia cánh cửa.

Khi chúng tôi lại gần ngọn hải đăng, Bronwyn hô lớn, "Nấp vào sau tường!"

Emma và tôi giữ lấy Millard và nhao sang trái nấp sau

bức tường phía xa của hải đăng.

Trong khi chúng tôi chạy đi, tôi thấy Bronwyn nhấc bổng cánh cửa lên quá đầu rồi ném nó về phía

Golan.

Một tiếng rầm như sấm động vang lên, tiếp ngay sau là một tiếng thét, và vài giây sau Bronwyn gia nhập cùng chúng tôi đằng sau

tường, mặt đỏ bừng, thở hổn hển.

"Tớ nghĩ tớ nện trúng hắn rồi!" cô nói đầy kích động.

"Còn về mấy con chim thì sao?"

Emma nói.

"Cậu có nghĩ đến họ không?"

"Hắn đánh rơi họ xuống.

Họ ổn cả."

"À, đáng lẽ cậu nên hỏi bọn tớ trước khi hăng máu lên và mạo hiểm tính mạng tất cả chúng ta!"

Emma gắt lên.

"Yên nào", tôi gắt khẽ.

Chúng tôi nghe thấy tiếng kim loại nghiến ken két rất nhỏ.

"Chuyện gì vậy?"

"Hắn đang leo lên cầu thang", Emma đáp.

"Tốt hơn các cậu nên bám theo hắn", Millard thều thào.

Chúng tôi ngạc nhiên nhìn cậu ta.

Cậu ta đang ngồi sụp xuống tựa vào

tường.

"Bọn tớ lo xong cho cậu cái đã", tôi nói.

"Ai biết ga rô cầm máu không?"

Bronwyn cúi xuống và xé ống quần đang mặc ra.

"Tớ biết", cô nói.

"Tớ sẽ cầm máu cho cậu ấy, hai cậu đi tóm gã xác sống đi.

Tớ đã

nện hắn một cú nặng, nhưng chưa đủ nặng.

Đừng để hắn có cơ hội hồi sức."

Tôi quay sang Emma.

"Cậu đi chứ?"

"Nếu như thế có nghĩa là tớ cần đun chảy khuôn mặt gã xác sống đó ra", cô nói, những vầng lửa nhỏ hình vòng cung bùng lên giữa

hai bàn tay cô, "thì chắc chắn là có."

***

Emma và tôi leo qua cánh cửa khoang tàu đang nằm méo mó trên các bậc thang nó tiếp đất, và đi vào trong hải đăng.

Tòa tháp về cơ

bản là một gian phòng hẹp và vươn lên hun hút theo phương thẳng đứng - đúng ra là một lồng cầu thang khổng lồ - trong đó chiếm phần

lớn không gian là một cầu thang mỏng mảnh chạy xoắn ốc từ sàn lên tới một chiếu nghỉ bằng đá, cao tới hơn ba mươi mét.

Chúng tôi có

thể nghe thấy tiếng bước chân Golan khi hắn leo lên cầu thang, nhưng bên trong quá tối để có thể biết hắn còn cách đỉnh tháp bao xa.

"Cậu có thấy hắn không?" tôi hỏi, ngước mắt nhìn lên độ cao chóng mặt của lồng cầu thang.

Câu trả lời dành cho tôi là một phát đạn trúng vào bức tường gần đó nẩy ra, tiếp theo là một phát đạn nữa trúng vào cánh cửa dưới

chân tôi.

Tôi nhảy vụt ra sau, tim đập thình thịch.

"Ở trên kia!"

Emma kêu lên.

Cô nắm lấy cánh tay tôi và kéo tôi vào sâu hơn bên trong, tới một chỗ những phát súng của Golan không

thể với tới - ngay bên dưới cầu thang.

Chúng tôi leo lên vài bậc, những bậc thang lúc này đã lắc lư như một con thuyền trong thời tiết xấu.

"Mấy cái bậc thang này khiếp

quá!"

Emma kêu lên, các ngón tay cô trắng bệch ra trong khi bám lấy lan can.

"Cho dù chúng ta lên được tới đỉnh mà không bị rơi, rồi hắn

cũng sẽ bắn chúng ta mất!"

"Nếu không thể leo lên", tôi nói, "có lẽ chúng ta có thể làm hắn rơi xuống."

Tôi bắt đằu nhún qua nhún lại chỗ đang đứng lắc mạnh

thanh lan can và giậm chân, làm từng đợt rung chấn truyền lên phía trên.

Emma nhìn tôi trong một giây như thể tôi là một gã khùng,

nhưng sau đó hiểu ra; cô liền bắt đầu rung lắc, đạp chân cùng tôi.

Không mấy chốc, cầu thang đã rung lên bần bật như hóa rồ.

"Nhỡ toàn bộ chỗ này sụp xuống thì sao?"

Emma hét lên.

"Hãy hy vọng là không!"

Chúng tôi lắc mạnh hơn.

Ốc vít, bu lông bắt đầu rơi xuống rào rào.

Thanh lan can rung lên mạnh tới mức tôi gần như không nắm được

nó nữa.

Tôi nghe thấy Golan gào lên một tràng rủa rất ấn tượng, rồi sau đó có một vật rơi lạch cạch xuống cầu thang, rồi tiếp đất ngay gần đó.

Ý nghĩ đầu tiên của tôi là, Ôi Chúa ơi, nhỡ đó là cái lồng chim thì sao - và tôi lao vụt xuống cầu thang qua trước mặt Emma, chạy

xuống đất để kiểm tra.

"Cậu làm gì thế?!"

Emma kêu lên.

"Hắn sẽ bắn cậu mất!"

"Không, hắn sẽ không bắn đâu!" tôi vừa nói vừa đắc thắng cầm khẩu súng ngắn của Golan giơ lên.

Khẩu súng vẫn còn nóng do tất

cả những phát đạn hắn đã bắn, giờ nằm nặng trĩu trên bàn tay tôi, và tôi không rõ liệu bên trong còn viên đạn nào không mà cũng chẳng

biết làm cách nào để kiểm tra việc đó trong bóng tối gần như đen đặc.

Tôi cố nhớ lại một cách vô vọng điều gì đó hữu ích từ vài bài học

bắn súng bố mẹ đã để ông dạy tôi, nhưng cuối cùng tôi chỉ chạy trở lại theo các bậc thang lên chỗ Emma.

"Hắn mắc kẹt trên đỉnh rồi", tôi nói.

"Chúng ta cần phải từ tốn, cố gắng thương thuyết với hắn, nếu không ai mà biết được hắn sẽ làm

gì với hai con chim."

"Tớ sẽ thương thuyết với hắn ngay khi hắn lộn cổ xuống", Emma nói qua hai hàm răng nghiến chặt.

Chúng tôi bắt đầu leo lên.

Cầu thang rung lắc dữ dội và hẹp tới mức chúng tôi chỉ có thể nối nhau leo lên, cúi khom người xuống để

không bị cộc đầu vào các bậc thang phía trên.

Tôi thầm cầu nguyện rằng những món ốc vít bu lông chúng tôi đã lay cho rơi xuống không

làm nhiệm vụ siết chặt lấy phần nào quan trọng.

Chúng tôi chậm lại khi lên gần tới đỉnh.

Tôi không dám nhìn xuống, chỉ còn lại hai bàn chân tôi đặt trên các bậc thang, một tay tôi

trượt theo thanh lan can đang run bần bật còn bàn tay kia cầm khẩu súng.

Không còn thứ gì khác tồn tại.

Tôi chuẩn bị sẵn sàng đón nhận một cuộc tấn công bất ngờ, nhưng không có cuộc tấn công nào tới.

Cuối cầu thang là một lối mở dẫn

lên một chiếu nghỉ bằng đá trên đầu chúng tôi, qua nó tôi có thể cảm thấy cái lạnh se người của trời đêm và nghe thấy tiếng gió rít như

huýt sáo.

Tôi chĩa khẩu súng qua khoảng mở, rồi ló đầu lên.

Cả người tôi căng ra, sẵn sàng giao chiến, nhưng tôi không thấy Golan.

Một

bên tôi là ngọn đèn đồ sộ đang quay, nằm sau lớp kính dày - ở gần thế này, ngọn đèn sáng đến chói lóa, tôi buộc phải nhắm tịt mắt lại khi

nó quay qua - và bên kia là hàng lan can mảnh khảnh.

Bên ngoài hàng lan can là khoảng không: mười tầng nhà trống hoác, dưới nữa là đá

và mặt biển dậy sóng.

Tôi bước lên lối đi hẹp và quay lại chìa tay để kéo Emma lên.

Chúng tôi đứng tựa lưng vào lớp kính nóng ấm bao ngoài ngọn đèn, mặt

hướng ra làn gió lạnh căm.

"Chim đang ở gần đây", Emma thì thầm.

"Tớ có thể cảm thấy cô."

Cô vẫy cổ tay và một quả cầu lửa đỏ ối bùng lên dữ dội.

Có điều gì đó trong màu sắc và cường độ của ngọn lửa cho thấy rõ lần này

thứ cô tạo ra không chỉ là một nguồn sáng, mà còn là một vũ khí.

"Chúng ta cần tách ra", tôi nói.

"Cậu đi theo một hướng và tớ đi theo hướng khác.

Như thế hắn không thể trốn thoát được chúng ta."

"Tớ sợ lắm, Jacob."

"Tớ cũng thế.

Nhưng hắn bị thương rồi, chúng ta lại có súng của hắn."

Cô gật đầu và chạm vào cánh tay tôi, sau đó quay đi.

Tôi chầm chậm đi vòng theo ngọn đèn, nắm chặt lấy khẩu súng có thể có đạn, và dần dà nhìn được phía bên kia.

Tôi thấy Golan đang ngồi xổm, đầu cúi gục xuống, lưng tựa vào lan can, cái lồng chim đặt giữa hai đầu gối hắn.

Một vết rách trên

sống mũi hắn đang chảy máu đầm đìa, những tia máu đỏ bầm chạy thành vệt trên mặt hắn như nước mắt.

Một cái đèn đỏ nhỏ được kẹp vào một trong các nan lồng.

Cứ vài giây nó lại chớp nháy.

Tôi tiến thêm một bước, hắn liền ngẩng đầu lên nhìn tôi.

Khuôn mặt hắn là một mảng máu bết cứng lại, một con mắt trắng dã của hắn

vằn những tia đỏ ngầu, nước bọt sùi ra từ hai bên khóe miệng hắn.

Hắn loạng choạng đứng dậy, một bàn tay cầm cái lồng.

"Đặt nó xuống."

Hắn cúi người xuống như thể để làm theo nhưng chỉ giả bộ nhằm lùi xa khỏi tôi và cố bỏ chạy.

Tôi hét lớn và đuổi theo, nhưng ngay

khi hắn vòng ra biến mất sau nhà đèn, tôi thấy quầng lửa của Emma phụt tới qua lớp bê tông.

Golan rống lên, lùi lại phía tôi, mái tóc bốc

khói nghi ngút, một cánh tay đưa lên che mặt.

"Dừng lại!" tôi quát hắn, và hắn nhận ra đã bị mắc kẹt.

Hắn giơ cái lồng lên che chắn cho mình, và lắc cái lồng một cái đầy đe dọa.

Hai

con chim kêu rít lên và mổ vào bàn tay hắn qua nan lồng.

"Mày muốn cái này chứ gì?"

Golan gào lên.

"Tới đây, đốt tao đi!

Lũ chim cũng sẽ bị đốt trụi!

Bắn tao đi, tao sẽ ném cái lồng qua lan

can!"

"Không đâu, nếu tôi bắn vào đầu ông!"

Hắn cười phá lên.

"Có muốn thì mày cũng không bắn được súng.

Mày quên rồi à, tao đã quá quen với cái tâm hồn mong manh bạc

nhược của mày.

Làm thế mày sẽ gặp ác mộng đấy."

Tôi cố hình dung ra điều đó: vòng ngón tay tôi quanh lẫy cò và siết lại; cú giật và tiếng nổ đinh tai.

Có gì nặng nề đến thế nhỉ?

Tại

sao chỉ nghĩ tới việc đó thôi bàn tay tôi đã run rẩy rồi?

Ông tôi đã giết bao nhiêu xác sống?

Hàng chục?

Hay hàng trăm?

Nếu ông ở đây

thay vì tôi, Golan hẳn đã chết rồi, hắn sẽ bị bắn ngã thẳng cẳng trong khi đang đờ đẫn tựa lưng vào lan can.

Đó là một cơ hội tôi đã bỏ phí

mất, chỉ một phần nghìn giây không quyết đoán cũng có thể khiến hai Chủ Vòng Thời Gian mất mạng.

Ngọn đèn biển khổng lồ quay qua, làm chúng tôi tràn ngập trong ánh sáng, biến chúng tôi thành những hình khối trắng lóa.

Golan,

đang đứng quay mặt vào đèn, liền nhăn mặt quay đi chỗ khác.

Lại thêm một cơ hội nữa bị lãng phí, tôi thầm nghĩ.

"Hãy để cái lồng xuống và đi cùng chúng tôi", tôi nói.

"Sẽ không ai bị thương nữa."

"Tớ không biết đâu đấy", Emma nói.

"Nếu Millard không qua khỏi, có thể tớ sẽ cân nhắc lại chuyện đó."

"Mày muốn giết tao à?"

Golan nói.

"Được lắm, làm cho xong đi.

Nhưng chúng mày sẽ chỉ trì hoãn điều không tránh khỏi, chưa kể sẽ

còn làm sự tình xấu hơn với chính chúng mày.

Giờ đây bọn tao đã biết làm thế nào để tìm thấy chúng mày.

Đồng bọn của tao đang tới, và

tao có thể cam đoan những tổn thất họ gây ra sẽ khiến những gì tao đã làm với bạn chúng mày có vẻ vẫn là một hành động nhân từ."

"Làm cho xong đi ấy à?"

Emma nói, ngọn lửa của cô bắn một chùm tia nhỏ lên trời.

"Ai nói chuyện đó sẽ nhanh nhỉ?"

"Tao đã nói với chúng mày rồi, tao sẽ giết bọn họ", Golan nói, kéo cái lồng áp vào ngực.

Emma bước một bước về phía hắn.

"Tao đã tám mươi tám tuổi", cô nói.

"Trông tao có giống như vẫn cần đến hai bà trông trẻ không?"

Vẻ mặt cô lạnh lẽo, khôn dò.

"Mày không biết đã bao lâu tao mong muốn được thoát khỏi đôi cánh người đàn bà đó.

Tao xin thề là mày

đang làm ơn cho chúng tao đấy."

Golan quay đầu hết xuôi lại ngược, bối rối xem xét chúng tôi.

Con bé này nói thật đấy à?

Trong giây lát hắn dường như thực sự

hoảng sợ, nhưng rồi hắn nói, "Chúng mày thật ngu ngốc."

Emma xoa hai lòng bàn tay vào nhau rồi từ từ tách chúng ra, kéo ra một quầng lửa.

"Để rồi xem."

Tôi không chắc Emma sẽ đẩy chuyện này xa tới đâu, nhưng tôi cần phải can thiệp vào trước khi mấy con chim cháy thui hay bị ném

qua lan can.

"Hãy nói cho chúng tôi biết ông muốn gì ở các Chủ Vòng Thời Gian này, và có thể cô ấy sẽ nhẹ tay với ông", tôi nói.

"Chúng tao chỉ muốn kết thúc thứ chúng tao đã bắt đầu", Golan nói.

"Đó là tất cả những gì chúng tao muốn từ trước đến giờ."

"Ý mày là cái thí nghiệm đó", Emma nói.

"Bọn mày đã thử nó một lần, và hãy xem điều gì đã xảy ra.

Bọn mày đã biến chính mình thành

quái vật!"

"Phải", hắn nói, "nhưng cuộc đời sẽ chán ngắt đến thế nào nếu chúng ta luôn thành công ngay từ lần đầu tiên chứ."

Hắn mỉm cười.

"Lần này chúng tao sẽ tập hợp năng lực của tất cả những người kiểm soát Thời gian xuất chúng nhất thế giới, như hai quý bà đây.

Chúng

tao sẽ không thất bại lần nữa.

Chúng tao đã có cả trăm năm để tìm ra bước đi sai lầm.

Kết luận là tất cả những gì chúng tao cần là một

phản ứng lớn hơn!"

"Một phản ứng lớn hơn?" tôi nhắc lại.

"Lần trước các người đã thổi tung một nửa Siberia!"

"Nếu ta phải thất bại", hắn nói vẻ khoa trương, "hãy thất bại cho ngoạn mục!"

Tôi nhớ tới giấc mơ tiên tri của Horace và những đám mây tro cùng mặt đất cháy sém, và tôi hiểu ra cậu ta đã mơ thấy cái gì.

Nếu đám

xác sống và hồn rỗng lại thất bại, lần này chúng sẽ phá hủy nhiều lần hơn so với chỉ năm trăm dặm rừng không người ở.

Còn nếu chúng

thành công và biến mình thành những bán thần bất tử như chúng vẫn mơ tưởng trở thành... tôi rùng mình khi nghĩ tới điều đó.

Riêng việc

phải sống dưới quyền của chúng đã là một địa ngục.

Ánh đèn quay vòng tới và làm Golan chói mắt lần nữa - tôi căng người, sẵn sàng lao tới - nhưng khoảnh khắc đó kết thúc quá nhanh.

"Không quan trọng", Emma nói.

"Cứ bắt cóc tất cả Chủ Vòng Thời Gian bọn mày muốn.

Họ sẽ không bao giờ giúp bọn mày."

"Có, bọn họ sẽ giúp.

Họ sẽ phải làm thế nếu không chúng tao sẽ giết bọn họ từng người một.

Và nếu như thế không ăn thua, bọn tao

sẽ giết từng đứa chúng mày và bắt họ chứng kiến."

"Các người điên rồi", tôi nói với hắn.

Hai con chim bắt đầu hoảng hốt kêu rít lên.

Golan gào to át tiếng chúng.

"Không!

Điều thực sự điên rồ là việc những người đặc biệt chúng mày trốn tránh khỏi thế giới trong khi chúng mày có thể thống trị

nó - quy phục cái chết trong khi chúng mày có thể khống chế nó - và để những kẻ mang bộ gene người bình thường đẩy chúng mày

xuống bùn, trong khi chúng mày có thể dễ dàng biến chúng thành nô lệ của mình, như chúng xứng đáng phải bị như thế."

Cứ nói hết một

câu, hắn lại lắc mạnh cái lồng.

"Đó mới là điên rồ!"

"Dừng lại!"

Emma hét lên.

"Vậy ra mày có quan tâm!"

Hắn lắc cái lồng mạnh hơn.

Đột nhiên, cái đèn nhỏ màu đỏ gắn vào nan lồng bắt đầu sáng lên gấp đôi, và

Golan quay ngoắt đầu lại tìm kiếm trong màn đêm đằng sau hắn.

Sau đó, hắn quay lại nhìn Emma và nói, "Mày muốn bọn họ chứ gì?

Đây!"

đoạn hắn lùi lại và vung cái lồng quật vào mặt cô.

Emma kêu lên và cúi xuống tránh.

Như một vận động viên ném đĩa, Golan tiếp tục vung tay cho tới khi cái lồng bay qua trên đầu cô,

sau đó thả tay ra.

Nó rơi khỏi tay hắn, bay qua lan can, lộn nhào trong không trung biến mất vào màn đêm.

Tôi bật rủa, còn Emma kêu thét lên và lao người tới với qua lan can, quơ quơ vào không khí trong lúc cái lồng rơi xuống biển.

Trong

khoảnh khắc hỗn loạn đó, Golan chồm tới quật tôi xuống sàn.

Hắn đấm một cú vào bụng tôi, cú nữa nện vào cằm tôi.

Tôi quay cuồng chóng mặt và không thở nổi.

Hắn chộp lấy khẩu súng, và tôi phải vận hết sức lực để giữ không cho hắn cướp mất nó.

Vì hắn muốn đoạt lấy khẩu súng đến thế, tôi biết súng chắc chắn có đạn.

Tôi đã định ném khẩu súng qua lan can, nhưng hắn thiếu chút

nữa đã giật được nó và tôi không thể buông khẩu súng ra.

Emma hét lên, Đê tiện, mày là đồ đê tiện, rồi hai bàn tay cô, với quầng lửa bao

quanh như găng tay, lao tới từ phía sau và chộp lấy cổ hắn.

Tôi nghe thấy da thịt Golan kêu xèo xèo như miếng thịt bò lấy ra từ tủ lạnh đặt len một vỉ nướng nóng.

Hắn gào lên, quay đi khỏi tôi,

mái tóc thưa của hắn cháy bùng lên, sau đó hai bàn tay hắn thộp lấy cổ Emma, như thể miễn là bóp nghẹt được cô, hắn không bận tâm sẽ

bị chết cháy.

Tôi đứng bật dậy, giơ khẩu súng lên bằng cả hai bàn tay và ngắm bắn.

Tôi có được tầm bắn thoáng chỉ trong một khoảnh khắc.

Tôi cố trấn tĩnh đầu óc mình và tập trung giữ vững cánh tay, tạo nên một

đường thẳng tưởng tượng kéo dài từ vai tôi qua đầu ruồi tới mục tiêu - cái đầu của một người.

Không, không phải người, mà là thứ rác

rưởi của người.

Một quái vật.

Một thế lực đã dàn xếp sát hại ông nội tôi và làm tiêu tan tất cả những gì tôi từng khiêm nhường gọi là cuộc

sống, cho dù có thể là một cuộc sống chẳng mấy thú vị và lôi tôi đến đây, tới nơi này và khoảnh khắc này, cũng gần như cái cách mà

những thế lực ít xấu xa bạo lực hơn đã nhào nặn cuộc sống của tôi và quyết định thay phần tôi từ khi tôi đủ lớn để đưa ra nhưng quyết

định.

Thả lỏng hai bàn tay, hít vào, giữ súng thẳng.

Nhưng giờ đây tôi đã có cơ hội để đẩy lùi thế lực đó, một cơ hội mong manh đến mức gần như không tồn tại mà tôi cảm thấy rõ ràng đang trôi đi mất.

Giờ siết cò nào.

Khẩu súng ngắn giật nẩy lên trong tay tôi, tiếng nó vang lên như vừa có một cơn địa chấn, dữ dội và đột ngột tới mức tôi nhắm tịt mắt

lại.

Khi tôi mở mắt ra, mọi thứ dường như bị đóng băng lại một cách lạ lùng.

Mặc dù Golan đang đứng sau lưng Emma, khóa quặt hai cánh

tay cô lại, lôi cô ra phía lan can, nhưng trông như thể hai người được đúc bằng đồng vậy.

Chẳng lẽ các Chủ Vòng Thời Gian đã trở lại

thành người và đang phù phép lên chúng tôi?

Nhưng rồi sau đó mọi thứ trở lại bình thường và Emma vùng được hai cánh tay ra, còn

Golan bắt đầu loạng choạng lùi lại, sau đó hắn lảo đảo khổ sở ngồi tựa vào lan can.

Há hốc miệng kinh ngạc nhìn tôi, hắn định nói nhưng nhận ra mình không thể.

Hắn áp hai bàn tay lên cái lỗ bằng cỡ đồng xu tôi đã

khoan vào cổ hắn, máu trào ra giữa các ngón tay hắn, chảy xuống theo cánh tay, rồi sức lực tuôn chảy hết ra khỏi người, hắn ngã lộn ra

sau và biến mất.

Ngay khoảnh khắc Golan biến mất khỏi tầm nhìn, chẳng ai buồn nhớ tới hắn nữa.

Emma chỉ tay ra biển và kêu lên, "Kìa, nó kìa!"

Theo

hướng ngón tay cô và nheo mắt nhìn ra xa, tôi có thể lờ mờ nhìn thấy một ngọn đèn LED màu đỏ đang nhấp nháy trên các con sóng.

Sau

đó, chúng tôi hối hả chạy lại chỗ cửa xuống cầu thang rồi cuống cuồng chạy mãi, chạy mãi xuống cái cầu thang xoáy ốc, gần như không

hy vọng tới kịp chỗ cái lồng trước khi nó chìm xuống nhưng vẫn điên cuồng cố gắng.

Chúng tôi lao ra ngoài, thấy Millard mang trên mình một dải băng ga rô và Bronwyn đứng bên cạnh cậu ta.

Cậu ta la lớn lên gì đó tôi

không nghe rõ, nhưng chừng đó là đủ để trấn an tôi rằng cậu ta còn sống.

Tôi nắm lấy vai Emma và nói, "Cái xuồng!"

đồng thời chỉ tới

chỗ chiếc xuồng bị đánh cắp đã được buộc vào một tảng đá, nhưng nó ở quá xa, tận phía bên kia hải đăng, mà thời gian thì không còn

nữa.

Thay vì thế, Emma kéo tôi ra phía biển, chúng tôi liền chạy tới rồi lao mình xuống.

Tôi hầu như không cảm thấy lạnh.

Tất cả những gì tôi có thể nghĩ đến là tới kịp chỗ cái lồng trước khi nó biến mất dưới các con sóng.

Chúng tôi khỏa nước, nhổ phì phì và ho sặc trong khi từng cơn sóng cồn đen kịt vỗ vào mặt chúng tôi.

Thật khó nói ngọn đèn báo hiệu

kia ở cách bao xa, nó chỉ là một đốm sáng le lói giữa đại dương tối om cuộn sóng.

Nó nhô lên rồi chìm xuống, xuất hiện rồi biến mất, đã hai

lần chúng tôi mất dấu nó và phải dừng bơi, cuống cuồng tìm kiếm rồi mới lại trong thấy nó.

Dòng hải lưu mạnh đang cuốn cái lồng ra ngoài khơi, và cuốn theo cả chúng tôi.

Nếu không nhanh tới được chỗ cái lồng, chúng tôi

sẽ kiệt sức và chết đuối.

Tôi giữ ý nghĩ bi quan này cho riêng mình chừng nào có thể, nhưng khi ngọn đèn biến mất lần thứ ba, và chúng

tôi tìm kiếm nó lâu đến mức thậm chí không còn chắc nó đã biến mất từ phía nào trên mặt biển cuộn trào đen kịt, tôi bèn hét to, "Chúng ta

phải quay lại thôi!"

Emma không buồn nghe.

Cô bơi phía trước tôi, ra xa hơn ngoài khơi.

Tôi chộp lấy bàn chân đang đạp nước của cô nhưng cô đá hất tôi

ra.

"Nó biến mất rồi!

Chúng ta sẽ không tìm thấy nó đâu!"

"Im đi, im đi!" cô hét lên, và từ hơi thở khó nhọc của cô, tôi có thể thấy cô cũng đã kiệt sức không kém gì tôi.

"Im mồm lại và tìm đi!"

Tôi túm lấy cô, nhìn thẳng vào mặt cô và hét lên, còn cô đá tôi ra, đến khi thấy tôi vẫn không chịu buông tay, còn cô không thể buộc

tôi làm thế, cô bắt đầu khóc, chỉ còn là những tiếng gào thét tuyệt vọng không thành lời.

Tôi cố kéo Emma về phía ngọn hải đăng, nhưng cô giống như một tảng đá dưới nước, lại kéo tôi xuống.

"Cậu phải bơi!" tôi hét lên.

"Bơi đi, nếu không chúng ta sẽ chết đuối!"

Thế rồi tôi nhìn thấy nó - một đốm sáng đỏ nhấp nháy rất mờ.

Nó ở rất gần, ngay dưới mặt nước.

Thoạt đầu tôi không nói gì, sợ rằng

mình chỉ tưởng tượng ra, nhưng sau đó đốm sáng nhấp nháy lần thứ hai.

Emma vừa ho vừa reo lên.

Có vẻ như cái lồng đã nằm lại trên một xác tàu đắm khác - nếu không làm thế nào nó có thể nằm nông dưới

nước như thế?

- và vì nó chỉ vừa mới chìm xuống, tôi tự nhủ rất có thể hai con chim vẫn còn sống.

Chúng tôi bơi tới, chuẩn bị lặn xuống vớt cái lồng, mặc dù tôi không biết phải lấy dưỡng khí từ đâu, chúng tôi gần như đã hết hơi.

Thế

rồi thật lạ lùng, cái lồng có vẻ như đang trồi lên về phía chúng tôi.

"Chuyện gì vậy?" tôi hét lên.

"Có phải đó là một xác tàu đắm không?"

"Không thể nào.

Không có cái nào ở đây hết!"

"Vậy thì đó là cái quái gì chứ?"

Trông nó giống như một con cá voi sắp sửa trồi lên mặt nước, dài, đồ sộ, và xám xịt, hoặc một con tàu ma đang trồi lên từ nấm mồ biển

cả, và rồi một cơn sóng cồn đột ngột, dữ dội từ phía dưới dâng lên, đẩy chúng tôi ra xa.

Chúng tôi có bơi ngược lại nhưng cũng chẳng có

nhiều cơ may hơn một vật nổi lềnh bềnh bị cuốn vào một cơn thủy triều, rồi đợt sóng cồn ấy xô ập vào chân chúng tôi và cả chúng tôi

cũng bị nâng lên, cưỡi lên con sóng.

Từ trong lòng nước bên dưới chúng tôi, thứ đó nổi lên, vừa rít lên vừa kêu lanh canh như một con quái vật kim khí khổng lồ.

Chúng

tôi bị mắc kẹt lại trong một làn sóng sủi bọt lần nhanh đi theo mọi hướng trên mặt nước, rồi bị hất mạnh lên một bề mặt làm bằng các tấm

lưới kim loại.

Chúng tôi móc các ngón tay vào các ô lưới để không bị lôi tuột xuống biển.

Tôi nheo mắt lại nhìn qua làn nước mặn bắn tung

tóe và thấy cái lồng đã nằm lại giữa thứ gì đó trong như hai cái vây nhô lên khỏi lưng con quái vật, một cái nhỏ hơn cái kia.

Sau đó, tia

sáng từ ngọn hải đăng quét qua, và trong vầng sáng của nó tôi nhận ra chúng không phải là những cái vây mà là một tháp chỉ huy và

một khẩu pháo lớn bị gắn cố định xuống.

Thứ chúng tôi đang nằm lên không phải là một con quái vật, một xác tàu đắm hay một con cá

voi...

"Nó là một chiếc U-boat!" tôi hét lên.

Không phải ngẫu nhiên mà chiếc tàu ngầm trồi lên từ bên dưới chúng tôi.

Chắc hẳn đây là thứ

Golan đã đợi.

Emma đã đứng dậy và chạy qua mặt boong tròng trành về phía cái lồng.

Tôi loạng choạng đứng dậy theo.

Đúng lúc tôi bắt đầu chạy,

một con sóng ào qua boong hất cả hai chúng tôi nằm bẹp xuống.

Tôi nghe thấy một tiếng quát, bèn ngẩng đầu lên thì thấy một người đàn ông mặc quân phục xám nhô lên từ một cửa chui trên cái

tháp chỉ huy và chĩa súng vào chúng tôi.

Đạn trút xuống như mưa, nện chan chát lên mặt boong.

Cái lồng còn ở cách quá xa - chúng tôi sẽ bị bắn nát bươm trước khi kịp tới chỗ

nó - nhưng tôi có thể thấy Emma vẫn định thử làm điều đó.

Tôi chạy tới, ngáng cô và cả hai chúng tôi lăn khỏi boong rơi xuống nước.

Mặt biển đen ngòm khép lại bên trên chúng tôi.

Đạn cày

rào rào xuống nước, để lại đằng sau những đường vạch sủi bọt.

Khi chúng tôi trồi trở lại lên mặt nước, Emma túm lấy tôi và hét lên, "Tại sao cậu làm thế?

Tớ gần cứu được họ rồi!"

"Hắn định giết cậu!" tôi vừa nói vừa vùng ra - và sau đó tôi chợt vỡ lẽ thậm chí có thể Emma còn không hề trông thấy hắn, vì cô đã

quá tập trung vào cái lồng, vì thế tôi chỉ lên boong tàu, nơi gã xạ thủ đang sải bước tới chỗ cái lồng.

Hắn cầm cái lồng lên lắc lắc.

Cửa

lồng mở tung, và tôi thấy hình như có gì cử động bên trong - một lý do để hy vọng - rồi sau đó luồng sáng từ hải đăng quét qua trùm lên

tất cả.

Tôi nhìn thấy khuôn mặt gã xạ thủ hiện lên trọn vẹn trong luồng sáng, miệng hắn nở nụ cười ma mãnh, đôi mắt trắng dã vô hồn.

Hắn là một xác sống.

Hắn thò tay vào cái lồng và lấy ra một con chim ướt sũng, chỉ có một con trong đó.

Từ trên tháp chỉ huy, một tên lính nữa huýt sáo

với hắn, và hắn cầm theo con chim chạy về phía cửa chui.

Chiếc tàu ngầm bắt đầu kêu cành cạch và rít lên.

Nước xung quanh chúng tôi sủi lên như đang sôi.

"Bơi, nếu không nó sẽ cuốn chúng ta chìm xuống theo nó mất!" tôi hét lên với Emma.

Nhưng cô không nghe thấy tôi nói - đôi mắt cô

đang hút về một chỗ khác, về phía một mảng nước tối đen gần đuôi tàu.

Cô bơi về phía nó.

Tôi cố ngăn cô lại nhưng cô hất tôi ra.

Sau đó, giữa tiếng ầm ĩ của chiếc tàu ngầm, tôi nghe thấy một tiếng kêu chói

tai, cao vút.

Bà Peregrine!

Chúng tôi tìm thấy bà đang dập dềnh trên các con sóng, vật lộn cố giữ cho đầu nhô lên khỏi mặt nước, một cánh đập đập, cánh kia có

vẻ bị gãy.

Emma vớt bà lên.

Tôi hét to bảo chúng tôi cần phải đi.

Chúng tôi bơi đi bằng chút sức lực còn lại.

Đằng sau chúng tôi, một xoáy nước đang mở ra, tất cả lượng nước bị chiếc tàu ngầm chiếm

chỗ ào ạt cuộn trở lại lấp đầy khoảng trống khi nó lặn xuống.

Biển đang nuốt lấy chính nó và cố nuốt chửng cả chúng tôi, nhưng giờ đây

chúng tôi đã mang theo bên mình một biểu tượng chiến thắng có cánh đang kêu rít lên, hay ít nhất cũng là một nửa chiến thắng, và bà

đem lại cho chúng tôi sức mạnh để chống lại dòng xoáy ghê gớm đó.

Sau đó, chúng tôi nghe thấy Bronwyn đang lớn tiếng gọi, và cô bạn

lực sĩ lao tới băng qua các con sóng kéo chúng tôi trở vào nơi an toàn.

***

Chúng tôi nằm trên bãi đá dưới bầu trời quang đãng, thở hổn hển lấy hơi, cả người run lẩy bẩy vì kiệt sức.

Millard và Bronwyn có quá

nhiều câu hỏi, nhưng chúng tôi chẳng còn hơi sức đâu để trả lời họ.

Họ đã thấy Golan rơi xuống, rồi chiếc tàu ngầm nổi lên và lặn xuống

cũng như bà Peregrine được đưa lên khỏi mặt nước, nhưng bà Avocet thì không; họ đã hiểu những gì cần hiểu.

Hai người ôm lấy chúng

tôi cho đến khi chúng tôi thôi không run rẩy nữa, và Bronwyn ấp bà phụ trách vào dưới áo mình để ủ ấm cho bà.

Khi đã ít nhiều lấy lại

được sức, chúng tôi tháo dây buộc chiếc xuống của Emma và chèo về phía bờ biển.

Khi chúng tôi tới đó, cả đám trẻ cùng lội ra chỗ nước nông để gặp chúng tôi.

"Bọn mình nghe thấy tiếng súng!"

"Cái tàu lạ đó là gì thế?"

"Cô Peregrine đâu?"

Chúng tôi leo ra khỏi xuồng, và Bronwyn vén áo lên để lộ con chim đang thu mình trong đó.

Đám trẻ xúm lại xung quanh, bà Peregrine

hơi há mỏ ra quàng quạc với bọn họ để chứng tỏ bà mệt mỏi nhưng ổn cả.

Một tràng hoan hô vang lên.

"Các cậu làm được rồi!"

Hugh reo lên.

Olive nhảy một điệu jig nho nhỏ và hát, "Chim, Chim, Chim!

Emma và Jacob đã cứu Chim!"

Nhưng cuộc ăn mừng rất ngắn ngủi.

Mọi người nhanh chóng nhận ra bà Avocet vắng mặt, cũng như tình trạng nguy kịch của

Millard.

Đoạn ga rô cho cậu ta được buộc chặt, nhưng cậu ta đã mất nhiều máu và đang yếu dần.

Enoch đưa cho Millard áo khoác của

mình, còn Fiona đưa cho cậu cái mũ len cô đội.

"Bọn tớ sẽ đưa cậu vào thị trấn tìm bác sĩ", Emma nói với cậu ta.

"Vớ vẩn", Millard đáp.

"Ông ta chưa bao giờ trong thấy một cậu nhóc vô hình, và ông ta sẽ chẳng biết phải làm gì nếu có gặp đi nữa.

Ông sẽ chữa nhầm bên chân hoặc hét tướng lên rồi bỏ chạy."

"Ông ta có hét tướng lên rồi bỏ chạy hay không không quan trọng", Emma nói.

"Một khi vòng được khởi động lại, ông ta sẽ chẳng

nhớ gì hết."

"Hãy nhìn quanh cậu đi.

Đáng ra vòng phải được khởi động lại từ một tiếng trước rồi."

Millard nói đúng - bầu trời im ắng, trận không kích đã kết thúc, nhưng những cuộn khói bom vẫn đang hòa lẫn giữa các đám mây.

"Không hay chút nào", Enoch nói, và mọi người đều thấy lo ngại.

"Dù thế nào đi nữa", Millard nói tiếp, "tất cả những gì tớ cần đều ở trong nhà.

Chỉ cần cho tớ một bát cồn thuốc phiện và rửa vết

thương bằng rượu mạnh.

Dù sao vết thương cũng chỉ vào phần mềm.

Sau ba ngày tớ sẽ lại ngon lành như thường."

"Nhưng vết thương vẫn còn chảy máu", Bronwyn nói, chỉ ra những giọt nhỏ màu đỏ lấm chấm trên mặt cát phía dưới cậu ta.

"Vậy hãy buộc cái ga rô mắc dịch đó chặt hơn nữa!"

Cô làm theo, và Millard thở hắt ra mạnh đến nỗi khiến mọi người cùng co rúm lại, sau đó ngất xỉu trong vòng tay cô.

"Cậu ấy không sao chứ?"

Claire hỏi.

"Chỉ ngất đi thôi", Enoch nói.

"Cậu ấy không hề khỏe như vẫn cố giả bộ."

"Chúng ta làm gì bây giờ?"

"Hỏi cô Peregrine!"

Olive nói.

"Phải.

Đặt cô xuống để cô có thể biến hình trở lại", Enoch nói.

"Cô không thể cho chúng ta biết phải làm gì khi vẫn còn trong lốt chim

đâu."

Vậy là Bronwyn đặt bà xuống một đám cát khô, và tất cả chúng tôi lùi lại chờ đợi.

Bà Peregrine nhảy chồm lên vài lần, đập bên cánh

còn lành, sau đó quay cái đầu phủ đầy lông vũ nhìn quanh và chớp mắt với chúng tôi - nhưng chỉ có thế.

Bà vẫn là một con chim.

"Có thể cô muốn một chút riêng tư", Emma gợi ý.

"Chúng mình hãy quay lưng lại."

Và chúng tôi làm theo, tạo thành một vòng lớn quanh bà.

"An toàn rồi, cô P", Olive nói.

"Không có ai nhìn đâu ạ!"

Sau một phút, Hugh ghé mắt nhìn và nói, "Không được, vẫn là chim."

"Có thể cô quá mệt và lạnh!"

Claire nói, và khá nhiều người tán thành rằng lý do này hợp lý, nên chúng tôi quyết định sẽ quay trở về trại

trẻ, chữa vết thương cho Millard với những thứ chúng tôi có, và hy vọng sau một thời gian nghỉ ngơi, cả cô phụ trách lẫn vòng thời gian

của bà sẽ trở lại bình thường.

Chương 11

Chúng tôi leo lên triền dốc và vượt qua đỉnh đồi như một toán cựu binh đã rã rời vì chiến tranh, thành hàng một, đầu cúi gằm: Bronwyn bế Millard trên tay, còn bà Peregrine nằm trên mái tóc như tổ chim của Fiona.

Quang cảnh xung quanh lỗ chỗ những hố bom

còn bốc khói, những đám đất vừa bị xới lên hất vung vãi ra khắp nơi như thể một con chó khổng lồ nào đó đã đào bới.

Tất cả chúng tôi tự

hỏi không biết cái gì đang chờ đợi mình ở nhà, nhưng không ai dám nói ra lời.

Chúng tôi có được câu trả lời thậm chí từ trước khi đi qua khu rừng.

Bàn chân Enoch đá phải thứ gì đó, cậu ta bèn cúi người xuống

nhìn.

Đó là một viên gạch đã cháy đen một nửa.

Cơn hoảng loạn bùng lên.

Đám trẻ bắt đầu cuống cuồng chạy theo lối mòn.

Khi họ tới chỗ bãi cỏ, những đứa nhỏ nhất òa khóc.

Khói

bốc mù mịt khắp nơi.

Quả bom đã không dừng lại trên ngón tay Adam như thường lệ mà xẻ dọc anh ta làm đôi ngay chính giữa và nổ

tung.

Góc đằng sau nhà đã biến thành một đống đổ nát sụp xuống bốc khói ngùn ngụt.

Những đám lửa nhỏ cháy trên lớp giấy dán tường

đã thành than của hai căn phòng.

Nơi Adam từng nằm là một cái hố nham nhở đủ sâu để chôn một người đứng thẳng.

Giờ đây thật dễ

hình dung cảnh tượng nơi này sẽ ra sao vào một ngày nào đó: chính là đống phế tích buồn thảm như có ma ám tôi đã khám phá ra lần đầu

tiên mấy tuần trước.

Ngôi nhà ác mộng.

Bà Peregrine nhảy xuống từ trên đầu Fiona và bắt đầu hối hả chạy vòng quanh trên mặt cỏ cháy sém, kêu lớn lên hốt hoảng.

"Cô phụ trách, chuyện gì đã xảy ra vậy?"

Olive hỏi.

"Tại sao thời điểm chuyển đổi không tới?"

Bà Peregrine chỉ có thể kêu rít lên đáp lại.

Dường như bà cũng bối rối và hoảng loạn như tất cả chúng tôi.

"Làm ơn hãy biến hình trở lại!"

Claire nài nỉ, quỳ gối xuống trước mặt bà.

Bà Peregrine đập cánh, nhảy lên và dường như đang cố gồng mình, nhưng vẫn không thể biến hình.

Đám trẻ xúm quanh đầy lo ngại.

"Có chuyện gì đó không ổn", Emma nói.

"Nếu có thể trở lại thành người thì đến lúc này cô đã làm rồi."

"Có lẽ chính vì thế vòng thời gian bị dịch chuyển", Enoch đề xuất.

"Còn nhớ chuyện về cô Kestrel lúc trước không khi cô ấy bị ngã xe

đạp trong một vụ tai nạn giao thông chứ?

Cô ấy bị đập đầu xuống và biến thành một con chim cắt trong cả một tuần.

Và chính lúc đó

vòng thời gian của cô ấy bị dịch chuyển."

"Chuyện đó thì có liên quan gì tới cô Peregrine?"

Enoch thở dài.

"Có thể cô chỉ bị chấn thương đầu và bọn mình chỉ cần đợi một tuần để cô bình phục lại."

"Một cái xe tải đang phóng nhanh là một chuyện", Emma nói.

"Bị đám xác sống hành hạ lại là chuyện khác.

Chẳng thể biết được tên

khốn đó đã làm gì cô Peregrine trước khi bọn tớ cứu được cô ấy."

"Đám xác sống?

Số nhiều à?"

"Chính đám xác sống đã bắt bà Avocet đi", tôi nói.

"Làm sao cậu biết được?"

Enoch hỏi.

"Chúng là đồng bọn của Golan, phải không nào?

Và tớ đã thấy đôi mắt của cái gã bắn vào bọn tớ.

Chẳng còn gì để nghi ngờ nữa."

"Vậy thì cô Avocet chết chắc rồi", Hugh nói.

"Chúng chắc chắn sẽ giết cô ấy."

"Có thể là không", tôi đáp.

"Ít nhất cũng không phải ngay lập tức."

"Tớ biết một điều về đám xác sống", Enoch nói, "chúng giết những người đặc biệt.

Đó là tập tính của chúng.

Chúng sẽ làm thế."

"Không, Jacob nói đúng", Emma nói.

"Trước khi gã xác sống đó chết, hắn đã nói cho bọn tớ biết vì sao chúng bắt cóc nhiều Chủ

Vòng Thời Gian đến thế.

Chúng sẽ ép buộc họ phải thực hiện lại phản ứng từng tạo ra các hồn rỗng hồi trước - chỉ có điều ở quy mô lớn

hơn.

Lớn hơn rất nhiều."

Tôi nghe thấy ai đó kêu lên thảng thốt.

Những người khác đều im lặng.

Tôi nhìn quanh tìm bà Peregrine và thấy bà cô độc đậu bên rìa

cái hố bom ở chỗ Adam.

"Chúng ta cần chặn chúng lại", Hugh nói.

"Chúng ta cần tìm ra nơi chúng mang các Chủ Vòng Thời Gian tới."

"Bằng cách nào?"

Enoch hỏi.

"Bám theo một chiếc tàu ngầm chắc?"

Đằng sau tôi, một tiếng hắng giọng vang lên thật to, chúng tôi quay lại thì thấy Horace đang ngồi xếp bằng trên đất.

"Tớ biết nơi

chúng đang tới", cậu ta khẽ nói.

"Ý cậu là sao, cậu biết ư?"

"Đừng bận tâm cậu ấy biết bằng cách nào, cậu ấy biết", Emma nói.

"Chúng đã mang cô ấy đi đâu, Horace?"

Cậu ta lắc đầu.

"Tớ không biết tên nơi đó", cậu ta nói, "nhưng tớ đã thấy nó."

"Vậy hãy vẽ nó ra", tôi nói.

Cậu ta ngẫm nghĩ giây lát rồi kiên quyết đứng dậy.

Trông như một người truyền bá Phúc Âm hành khất trong bộ vest đen rách toạc,

cậu ta lê chân tới chỗ một đống tro tràn ra từ bên trong ngồi nhà nứt toác rồi cúi xuống bốc đầy một lòng bàn tay muội than.

Tiếp theo,

dưới ánh trăng dìu dịu, cậu ta bắt đầu vẽ lên một bức tường vỡ bằng những nét thật rộng.

Chúng tôi xúm lại quanh để xem.

Cậu ta đang vẽ một hàng những nét đậm thẳng đứng, trên cùng là nhưng vòng xoắn mảnh, trông

như cọc rào và dây thép gai.

Ở một bên là một khu rừng tối tăm.

Dưới đất có tuyết phủ, được thể hiện bằng muội than đen.

Và đó là tất cả.

Sau khi vẽ xong, cậu ta loạng choạng lùi ra và ngồi phịch xuống cỏ, ánh nhìn đờ đẫn, xa xăm.

Emma dịu dàng đặt tay lên vai cậu ta và

nói, "Horace, cậu còn biết gì thêm về nơi này không?"

"Nơi đó lạnh lẽo lắm."

Bronwyn bước tới xem xét những nét Horace vạch ra trên tường.

Cô vòng cánh tay ôm lấy Olive, đầu Olive hiền hòa tựa vào vai cô.

"Tớ trông nó như một nhà tù vậy", Bronwyn nói.

Olive nghển cổ lên.

"Thế nào?" cô khẽ hỏi.

"Khi nào chúng ta đi?"

"Đi đâu?"

Enoch vừa nói vừa giơ hai bàn tay lên.

"Đó chỉ là một mớ nguệch ngoạc!"

"Đó là một nơi nào đó", Emma nói và quay lại nhìn thẳng vào mặt cậu ta.

"Chúng ta không thể cứ tới chỗ nào có tuyết và tìm một cái nhà tù."

"Và chúng ta cũng không thể ở lại đây."

"Sao lại không?"

"Hãy nhìn tình trạng nơi này đi.

Hãy nhìn cô phụ trách.

Chúng ta đã có khoảng thời gian rất tuyệt ở đây, nhưng nó kết thúc rồi."

Enoch và Emma đôi co một hồi.

Những người còn lại ai nấy chọn cho mình một bên.

Enoch lý luận rằng họ đã tách biệt quá lâu khỏi

thế giới, họ sẽ bị mắc kẹt trong cuộc chiến tranh hay bị đám hồn rỗng bắt nếu rời khỏi vòng, và tốt hơn nên tìm cơ hội ở đây, ít nhất họ

cũng thông thuộc địa hình nơi này.

Những người khác nhấn mạnh rằng đằng nào giờ chiến tranh và đám hồn rỗng đã tìm đến với họ rồi,

và họ không có lựa chọn nào khác.

Đám hồn rỗng và bọn xác sống sẽ quay lại tìm cô Peregrine, và thậm chí khi đó chúng còn đông hơn.

Và phải nghĩ tới cả cô Peregrine nữa.

"Chúng ta sẽ tìm một Chủ Vòng Thời Gian khác", Emma đề xuất.

"Chỉ có những người bạn của cô phụ trách mới biết cách giúp cô."

"Nhưng sẽ thế nào nếu tất cả các vòng thời gian khác cũng đều đã bị dịch chuyển?"

Hugh nói.

"Sẽ thế nào nếu tất cả Chủ Vòng Thời

Gian khác đều đã bị bắt cóc?"

"Chúng ta không thể nghĩ theo lối đó.

Nhất định phải còn lại vài người."

"Emma nói đúng", Millard nói, nằm trên mặt đất lấy một mảnh tường vỡ làm gối kê đầu.

"Nếu lựa chọn còn lại là cứ chờ đợi và hy

vọng - rằng sẽ không có thêm hồn rỗng nào mò tới, rằng cô phụ trách sẽ khá hơn - thì theo tớ đó chẳng phải là lựa chọn."

Những người thoái chí cuối cùng cũng bị làm cho bẽ mặt và phải đồng ý.

Cần rời bỏ trại trẻ.

Đồ mang theo cần được đóng gói.

Cần

trưng dụng vài chiếc thuyền từ chỗ bến tàu để sử dụng, và đến sáng tất cả sẽ lên đường.

Tôi hỏi Emma họ sẽ định hướng ra sao.

Nói gì thì nói, đám trẻ đã ở trên đảo gần tám mươi năm, còn bà Peregrine lại không thể nói hay

bay được.

"Có một bản đồ", cô nói với tôi trong khi chậm rãi quay đầu nhìn về phía trại trẻ đang bốc khói.

"Đấy là trong trường hợp nó chưa bị

cháy mất."

Tôi xung phong giúp cô đi tìm nó.

Quấn vải ướt lên che mặt, chúng tôi đánh liều đi vào trong nhà, chui vào qua bức tường đổ sập.

Các cửa sổ đã vỡ hết kính, không gian mù mịt khói nhưng nhờ ánh sáng mạnh từ ngọn lửa trên bàn tay Emma, chúng tôi tìm được đường

tới phòng học.

Tất cả các giá sách đã đổ ập xuống như những quân domino, chúng tôi đẩy chúng sang bên và phủ phục xuống tìm kiếm

trong những cuốn sách rơi vung vãi trên sàn.

Và như thể vận may đã mỉm cười, cuốn sách thật dễ tìm: đó là cuốn sách to nhất trong thư

viện.

Emma reo lên mừng rỡ và cầm nó lên.

Trên đường quay ra, chúng tôi tìm thấy rượu mạnh, cồn thuốc phiện và băng gạc sạch cho Millard.

Sau khi giúp lau sạch và băng vết

thương lại cho cậu ta, chúng tôi cùng ngồi xuống xem cuốn sách.

Thực ra đây là một tập bản đồ chứ không phải một tấm bản đồ, được

đóng trong bìa da được nhuộm màu đỏ thẫm như vang Bourgogne, mỗi trang đều được vẽ cẩn thận trên thứ chất liệu gì đó như giấy da.

Tập bản đồ rất đẹp và cổ, khổ to đến mức khít một vòng tay ôm của Emma.

"Nó được gọi là bản đồ Các Ngày", cô nói.

"Nó thể hiện tất cả các vòng thời gian được cho là từng tồn tại."

Trang cô đã giở ra có vẻ

là một bản đồ Thổ Nhĩ Kỳ, mặc dù không có con đường nào được vẽ, không biên giới nào được vạch rõ.

Thay vào đó, tấm bản đồ có vẽ

rải rác những vòng xoáy ốc nhỏ xíu, tôi đoán đó là vị trí các vòng thời gian.

Ở giữa mỗi vòng xoáy là một ký hiệu đặc trưng tương ứng với

một chú giải ở phía cuối trang bản đồ, tại đó các ký hiệu xuất hiện trở lại cạnh một dãy các con số cách nhau bằng dấu gạch ngang.

Tôi

chỉ vào dòng ghi 29-3-316 / ?-?-399 và hỏi, "Đây là cái gì vậy, một loại mật mã à?"

Emma đưa ngón tay lần theo dòng số.

"Vòng thời gian này là ngày hai mươi chín tháng Ba năm 3l6 Công nguyên.

Nó tồn tại cho tới

tận thời điểm nào đó vào năm 399, nhưng ngày tháng thì không rõ."

"Chuyện gì xảy ra năm 399 vậy?"

Cô nhún vai.

"Trong đó không nói rõ."

Tôi vươn người ra trước cô và lật sang một bản đồ Hy Lạp, trên đó còn dày đặc các vòng xoáy ốc và con số hơn.

"Nhưng liệt kê tất cả

những cái này ra để làm gì?" tôi hỏi.

"Làm thế nào cậu có thể tới những vòng cổ xưa này được?"

"Bằng cách nhảy cóc", Millard nói.

"Đó là một việc cực kỳ phức tạp và nguy hiểm, nhưng bằng cách nhảy cóc từ một vòng tới một

vòng khác - một ngày thuộc về năm mươi năm trước trong quá khứ chẳng hạn - cậu có thể thấy mình tiếp cận được toàn bộ những vòng

đã ngừng tồn tại trong vòng năm mươi năm vừa qua.

Nếu từ đó cậu có thể tìm được tới chúng, ở trong các vòng đó cậu sẽ còn tìm thấy

những vòng khác, và cứ thế tăng lên theo số mũ."

"Đó là du hành vượt thời gian", tôi kinh ngạc thốt lên.

"Du hành vượt thời gian thật sự."

"Phải, tớ cho là vậy."

"Vậy thì nơi này", tôi nói, chỉ tay vào hình vẽ bằng muội than của Horace trên tường.

"Chúng ta không những phải xác định xem nó

nằm ở đâu, mà còn vào thời điểm nào nữa, đúng không?"

"Tớ e là thế.

Và nếu quả thực cô Avocet đang bị đám xác sống, những kẻ khét tiếng thành thạo trong việc nhảy cóc thời gian bắt giữ,

thì rất có khả năng nơi cô ấy và các Chủ Vòng Thời Gian khác bị đưa tới nằm ở đâu đó trong quá khứ.

Điều đó sẽ khiến cho việc tìm họ

càng thêm khó khăn, và việc đến đó càng thêm nguy hiểm.

Vị trí những vòng thời gian trong quá khứ đều bị các kẻ thù của chúng ta biết

rõ, và chúng thường lảng vảng chờ chực ngay gần lối vào."

"À, nếu thế", tôi nói, "quả là chuyện tốt khi tớ đi cùng các cậu."

Emma quay sang nhìn tôi.

"Ồ, thế thì tuyệt quá!" cô reo lên rồi ôm chầm lấy tôi.

"Cậu chắc chứ?"

Tôi nói với cô là tôi chắc.

Dù đang mệt rã rời, đám trẻ cũng hồ hởi huýt sáo và vỗ tay.

Một vài người ôm hôn tôi.

Thậm chí cả Enoch

cũng bắt tay tôi.

Nhưng khi tôi quay lại nhìn Emma, nụ cười của cô đã biến mất.

"Có chuyện gì vậy?" tôi hỏi.

Cô cựa người bối rối.

"Có một chuyện cậu cần phải biết", cô nói, "và tớ e là nó sẽ làm cậu không muốn đi cùng bọn tớ."

"Không đâu", tôi cam đoan với cô.

"Khi chúng ta rời khỏi đây, vòng thời gian sẽ khép lại đằng sau chúng ta.

Có thể cậu sẽ không bao giờ còn quay lại được thời điểm

cậu xuất phát để tới đây.

Hay ít nhất cũng không dễ dàng."

"Chẳng có gì cho tớ ở đó nữa", tôi vội nói.

"Thậm chí dù có thể quay lại, tớ cũng không chắc mình muốn thế."

"Bây giờ cậu nói vậy thôi.

Tớ cần cậu phải chắc chắn."

Tôi gật đầu, rồi đứng lên.

"Cậu đi đâu thế?"

Emma hỏi.

"Đi dạo."

Tôi không đi xa, chỉ chậm rãi vòng quanh khoảng sân gọn ghẽ, ngắm nhìn bầu trời lúc này đã quang đãng, với hàng tỷ ngôi sao trải ra

rải rác.

Những ngôi sao cũng là những kẻ du hành vượt thời gian.

Có bao nhiêu trong số những đốm sáng cổ xưa kia là dư ảnh cuối cùng

của các mặt trời giờ đây đã chết?

Có bao nhiêu ngôi sao nữa đã hình thành nhưng ánh sáng của chúng vẫn chưa đi xa được tới đây?

Nếu

tất cả các mặt trời trừ mặt trời của chúng ta đều vụt tắt tối nay, sẽ phải mất quãng thời gian bằng bao nhiêu đời người nữa chúng ta mới

nhận ra sự cô độc của mình?

Tôi vẫn luôn biết bầu trời đầy ắp các bí ẩn - nhưng mãi tới bây giờ tôi mới nhận ra mặt đất cũng đầy ắp bí ẩn

đến mức nào.

Tôi tới chỗ con đường mòn dẫn vào rừng.

Ở đầu bên kia là nhà và mọi thứ tôi biết, không bí ẩn, bình thường và an toàn.

Có điều nó k hông an toàn.

Không hẳn an toàn.

Không còn an toàn nữa.

Đám quái vật đã sát hại ông nội Portman, và chúng đã bám

theo tôi.

Sớm muộn gì chúng sẽ lại tiếp tục.

Có khi nào một ngày nào đó tôi quay về nhà và thấy bố mình nằm chết dưới sàn, người đầm

đìa máu?

Hoặc là mẹ tôi?

Ở đầu bên này con đường, đám trẻ đang tập trung thành từng nhóm nhỏ đầy phấn khích, lần đầu tiên trong

cuộc đời được bàn bạc lên kế hoạch cho tương lai.

Tôi bước trở lại chỗ Emma, cô vẫn đang cúi xuống tập bản đồ to tướng.

Bà Peregrine đậu cạnh Emma, dùng mỏ mổ lên chỗ này chỗ kia

trên bản đồ.

Cô ngước lên khi tôi lại gần.

"Tớ chắc", tôi nói.

Cô mỉm cười.

"Tớ rất vui."

"Chỉ còn một việc tớ phải làm trước khi đi."

***

Tôi quay về thị trấn ngay trước bình minh.

Mưa cuối cùng cũng ngớt, và khởi đầu của một ngày quang đãng đã hé rạng phía chân

trời.

Đường cái trông giống như một cánh tay với các tĩnh mạch bị rạch toang, những vết rạch dài ở nơi nước lụt cuốn trôi lớp sỏi rải

đường đi mất.

Tôi bước vào quán rượu, qua chỗ quầy bar vắng tanh lên lầu, đến hai căn phòng của bố con tôi.

Tối om, cửa phòng bố tôi vẫn đóng,

điều này khiến tôi nhẹ nhõm vì tôi vẫn chưa nghĩ ra được làm thế nào để nói những gì phải nói với ông.

Thay vì thế, tôi ngồi xuống, lấy

bút và giấy rồi viết cho ông một lá thư.

Tôi cố giải thích mọi thứ.

Tôi viết về đám trẻ đặc biệt, về các hồn rỗng cũng như việc tất cả những câu chuyện ông nội Portman kể

hóa ra đều là sự thật.

Tôi kể với bố những gì đã xảy đến với bà Peregrine và bà Avocet, đồng thời cố giải thích để ông hiểu vì sao tôi phải

ra đi.

Tôi mong ông đừng lo lắng.

Sau đó, tôi dừng bút rồi đọc những gì vừa viết.

Không ổn.

Bố sẽ không bao giờ tin vào lá thư.

Ông sẽ nghĩ tôi đã bị mất trí hệt như

ông nội, hoặc cho rằng tôi đã bỏ trốn hay bị lừa đi theo kẻ nào đó, hay nhảy từ trên vách đá xuống.

Dù là thế nào, tôi cũng sẽ hủy hoại

cuộc sống của ông.

Tôi vo tờ giấy lại và ném nó vào sọt rác.

"Jacob?"

Tôi ngoảnh lại và thấy bố đang tựa người vào thành cửa, đôi mắt lờ mờ, tóc rối bù, mặc một chiếc áo sơ mi bết bùn và quần jean.

"Con chào bố."

"Bố sẽ hỏi con một câu đơn giản, không vòng vo", ông nói, "và bố muốn một câu trả lời đơn giản, không vòng vo.

Tối qua con đã ở

đâu?"

Tôi có thể thấy ông đang cố sức để giữ bình tĩnh.

Tôi đã quyết định chấm dứt việc nói dối.

"Bố, con ổn cả.

Con đã ở cùng các bạn con."

Chẳng khác gì tôi giật chốt an toàn một quả lựu đạn.

"ĐÁM BẠN CỦA CON CHỈ LÀ TƯỞNG TƯỢNG!" bố tôi hét lên.

Ông bước lại phía tôi, mặt đỏ gay.

"Bố ước gì mẹ con và bố đừng

bao giờ để gã bác sĩ tâm lý lập dị đó thuyết phục đưa con tới đây, vì chuyện đó đã trở thành một tai họa ghê gớm!

Vừa rồi là lần cuối

cùng con nói dối bố đấy!

Giờ hãy vào phòng con và bắt đầu gói ghém đồ.

Chúng ta sẽ lên chuyến phà tiếp theo!"

"Kìa bố?"

"Và khi chúng ta về nhà, con sẽ không được ra khỏi nhà cho tới khi chúng ta tìm được bác sĩ tâm lý nào đó không ngu toàn tập!"

"Bố!"

Tôi cân nhắc trong giây lát xem mình có buộc phải chạy trốn khỏi ông hay không.

Tôi hình dung ra bố đè tôi xuống, lớn tiếng gọi

người tới giúp, rồi điệu tôi lên phà với hai cánh tay bị giữ lại trong một cái áo bó chặt người dùng để kiểm soát bệnh nhân tâm thần.

"Con không đi với bố đâu", tôi nói.

Đôi mắt ông nheo lại, rồi ông nghiêng đầu sang một bên như thể chưa nghe rõ.

Tôi đang định nhắc lại câu vừa rồi thì có tiếng gõ cửa.

"Biến đi!" bố tôi gắt lên.

Tiếng gõ cửa lại vang lên, lần này to rõ hơn.

Bố tôi đùng đùng xông tới mở toang cửa ra, và đứng trên đầu cầu thang là Emma, một

quả cầu lửa xanh lơ nhỏ xíu nhảy múa trên bàn tay cô.

Bên cạnh cô là Olive.

"Xin chào", Olive nói.

"Chúng cháu tới đây gặp Jacob."

Bố tôi ngớ người ra nhìn họ.

"Cái gì thế này..."

Hai cô gái lách qua ông vào trong phòng.

"Hai người đang làm gì ở đây vậy?" tôi khẽ gắt lên với họ.

"Bọn mình chỉ muốn tự giới thiệu thôi", Emma đáp, nhoẻn một nụ cười hết cỡ về phía bố tôi.

"Chúng cháu gần đây có chơi khá thân

với con trai chú, vì thế chúng cháu thấy ghé qua thăm cũng là hợp lẽ."

"Được thôi", bố tôi nói, đưa mắt nhìn qua nhìn lại hai vị khách.

"Cậu ấy thực sự là một chàng trai cừ khôi", Olive nói.

"Rất can đảm!"

"Và đẹp trai nữa!"

Emma nói thêm và nháy mắt với tôi.

Cô bắt đầu chao qua chao lại quả cầu lửa giữa hai bàn tay mình như một món

đồ chơi.

Bố tôi nhìn nó chăm chăm như bị thôi miên.

"Ph... phải", ông lắp bắp.

"Hẳn rồi."

"Chú không phiền nếu cháu cởi giày ra chứ ạ?"

Olive hỏi, rồi cởi luôn giày ra mà không đợi câu trả lời, và lập tức lơ lửng bay lên tận

trần.

"Cảm ơn chú.

Thế này thoải mái hơn nhiều!"

"Bố, đây là các bạn con.

Những người bạn con đã kể với bố.

Đây là Emma, còn kia là Olive, trên trần ấy."

Bố tôi loạng choạng lùi lại một bước.

"Bố vẫn đang ngái ngủ", ông mơ màng nói.

"Bố mệt quá..."

Một cái ghế tựa nhấc mình lên khỏi sàn, bồng bềnh bay tới chỗ ông, đằng sau là một dải băng bó được quấn rất có nghề nhấp nhô

trong không khí.

"Vậy mời chú ngồi xuống", Millard lên tiếng.

"Được", bố tôi đáp, và ông ngồi xuống.

"Cậu làm gì ở đây vậy?" tôi thì thào hỏi Millard.

"Đáng lẽ cậu cần nằm nghỉ chứ?"

"Tớ đi loanh quanh thôi."

Cậu ta giơ lên một lọ thuốc trông có vẻ hiện đại.

"Tớ phải công nhận trong tương lai họ chế tạo được

những viên thuốc giảm đau công hiệu đến kỳ diệu!"

"Bố, đây là Millard", tôi nói.

"Bố không nhìn thấy cậu ấy vì cậu ấy vô hình."

"Rất vui được gặp cháu."

"Cháu cũng vậy", Millard nói.

Tôi đến bên bố và quỳ gối xuống cạnh ghế ông ngồi.

Đầu ông hơi gật gù.

"Bố, con sẽ đi.

Có thể bố con mình sẽ không gặp nhau một

thời gian."

"Ồ, vậy sao?

Con định đi đâu?"

"Một cuộc du hành."

"Một cuộc du hành", ông nhắc lại.

"Khi nào con về?"

"Con cũng không biết nữa."

Bố tôi lắc đầu.

"Hệt như ông nội con vậy."

Millard vặn nước từ vòi vào một cái cốc rồi mang tới cho bố tôi, ông đưa tay ra cầm lấy nó,

như thể những cái cốc thủy tinh bay lơ lửng chẳng có gì lạ thường.

Tôi đoán ông thực sự nghĩ mình đang mơ.

"Được rồi, chúc ngủ

ngon", bố tôi nói rồi đứng dậy, bám vào ghế để đứng vững hẳn, sau đó lê bước về phòng ngủ của mình.

Dừng lại ngoài cửa, ông quay lại

nhìn vào mặt tôi.

"Jake này?"

"Vâng, thưa bố?"

"Cẩn thận con nhé!"

Tôi gật đầu.

Bố tôi đóng cửa lại.

Một khoảnh khắc sau tôi nghe thấy ông nằm vật xuống giường.

Tôi ngồi xuống và đưa tay lên xoa mặt.

Tôi không biết phải cảm thấy thế nào nữa.

"Bọn mình có giúp được gì không?"

Olive hỏi từ chỗ cô đang bám trên trần.

"Tớ không rõ nữa", tôi nói.

"Tớ không nghĩ vậy.

Sau đây bố tớ sẽ chỉ thức dậy và nghĩ ông đã nằm mơ thấy tất cả các cậu."

"Cậu có thể viết một lá thư", Millard gợi ý.

"Nói với ông ấy bất cứ điều gì cậu muốn - ông ấy không bám theo bọn mình được đâu."

"Tớ đã viết một lá thư.

Nhưng nó không phải là bằng chứng."

"À", cậu ta đáp.

"Phải, tớ hiểu khó khăn của cậu rồi."

"Bị vậy cũng hay nhỉ", Olive nói.

"Ước gì bố mẹ tớ đã yêu tớ đủ để lo lắng khi tớ rời khỏi nhà."

Emma đưa tay ra siết nhẹ bàn tay Olive.

Rồi Emma nói, "Có lẽ tớ có bằng chứng đấy."

Cô lấy từ trong cạp váy ra một cái ví nhỏ rồi lấy từ đó ra một bức ảnh.

Cô đưa bức ảnh cho tôi.

Đó là ảnh chụp cô và ông tôi khi ông

còn trẻ.

Tất cả sự chú ý của cô tập trung vào ông, nhưng ông dường như đang để tâm đi đâu.

Bức ảnh thật buồn và đẹp, bao hàm toàn

bộ phần ít ỏi tôi biết về mối quan hệ của hai người.

"Nó được chụp ngay trước khi Abe lên đường ra trận", Emma nói.

"Bố cậu sẽ nhận ra tớ, phải không?"

Tôi mỉm cười với cô.

"Trông cậu như chưa già thêm lấy một ngày."

"Tuyệt vời!"

Millard nói.

"Đó là bằng chứng của cậu."

"Cậu luôn giữ bức ảnh này bên mình sao?" tôi hỏi khi trả lại Emma bức ảnh.

"Phải.

Nhưng tớ không còn cần đến nó nữa."

Cô tới bên bàn, cầm lấy cây bút của tôi và bắt đầu viết lên đằng sau bức ảnh.

"Tên bố

cậu là gì?"

"Franklin."

Khi đã viết xong, cô đưa bức ảnh cho tôi.

Tôi xem qua cả hai mặt rồi lấy lá thư của mình từ trong sọt rác ra, vuốt phẳng nó, rồi để lại

trên bàn cùng bức ảnh.

Frank lin thân mến,

Rất vui được gặp cậu.

Đây là một bức ảnh của bố cậu và tôi đã chụp k hi ông ấy sống ở đây.

Tôi hy vọng nó sẽ đủ để thuyết phục

cậu rằng tôi vẫn còn sống, và những câu chuyện Jacob k ể k hông phải là hư cấu.

Jacob sẽ đi cùng các bạn tôi và tôi trong một thời gian.

Chúng tôi sẽ tông chừng cho nhau được an toàn hết mức mà những người

như chúng tôi có thể giữ được.

Một ngày nào đó, k hi nguy hiểm đã qua, cậu ấy sẽ trở về với cậu.

Tôi xin hứa với cậu.

Thân,

Emma Bloom

T.B: Tôi biết có thể cậu đã tìm thấy một lá thư tôi gửi cho bố cậu nhiều năm trước.

Đó là một lá thư k hông hợp tình hợp lý cho lắm,

và tôi cam đoan với bố cậu rằng bố cậu k hông hề đề nghị tôi viết; và ông ấy cũng k hông trả lời nó.

Ông ấy là một trong những người

chính trực nhất mà tôi từng biết.

"Sẵn sàng đi rồi chứ?" tôi hỏi.

Các bạn tôi đang đứng trên ngưỡng cửa, chờ đợi tôi.

"Chỉ đi nếu cậu cũng sẵn sàng", Emma đáp.

Chúng tôi lên đường tới triền đồi.

Khi tới gần đỉnh đồi nơi tôi luôn dừng lại để xem mình đã đi xa đến mức nào, lần này tôi vẫn bước đi

tiếp.

Đôi khi tốt hơn không nên nhìn lại.

Khi chúng tôi tới chỗ mộ đá, Olive vỗ lên các tảng đá như một con thú cưng đã thân quen lâu ngày.

"Tạm biệt, vòng thân mến", cô

nói.

"Mày đã luôn là một cái vòng thật tốt, và chúng tao sẽ nhớ mày lắm."

Emma bóp khẽ lên vai cô gái, cả hai người cùng quỳ phục

xuống và chui vào trong.

Vào đến căn phòng trong cùng, Emma ghé ngọn lửa của cô sát lên tường và chỉ cho tôi thấy thứ tôi chưa bao giờ nhận ra trước đây:

một danh sách dài các ngày tháng và chữ cái viết tắt họ tên được khắc vào đá.

"Đó là tất cả những lần người ta từng dùng vòng thời gian

này", cô giải thích.

"Tất cả những ngày khác mà vòng thời gian đã được cài đặt theo."

Nhìn vào danh sách, tôi đọc được một dòng P.M 3-2-1853 và một dòng J.R.R.

1-4-1797 và một dòng gần như không còn đọc nổi X.J.

1580.

Gần dưới cùng là một vài dấu hiệu lạ lùng tôi không hiểu được.

"Chữ Rune", Emma nói.

"Cổ lắm rồi."

Millard lần tìm trong đám sỏi cho tới khi thấy một viên đá có cạnh sắc, rồi dùng một viên đá khác làm búa, cậu ta đục một dòng ghi

chú của mình bên dưới những dòng khác.

Dòng này viết A.P.

3-9-1940.

"AP là ai vậy?"

Olive hỏi.

"Alma Peregrine", Millard nói, rồi cậu ta thở dài.

"Đáng ra người khắc dòng này phải là cô, chứ không phải tớ."

Olive lần bàn tay lên trên những nét khắc thô ráp.

"Cậu có nghĩ lúc nào đó một Chủ Vòng Thời Gian khác sẽ tới đây để tạo ra một

vòng thời gian không?"

"Tớ hy vọng là thế", cậu ta nói.

"Tớ thực lòng hy vọng là thế."

***

Chúng tôi chôn cất Victor.

Bronwyn bê cả chiếc giường của anh ta lên và mang nó ra ngoài, Victor vẫn nằm trên đó, và khi toàn bộ

đám trẻ tập hợp lại trên bãi cỏ, cô kéo chăn đắp ra và ôm lấy Victor, đặt cái hôn cuối cùng lên trán anh ta.

Mấy cậu con trai chúng tôi nâng

các góc giường lên như những người khiêng linh cữu và đưa anh ta tới đặt xuống cái hố quả bom đã đào thành.

Rồi tất cả chúng tôi cùng

leo lên ngoại trừ Enoch, cậu ta lấy một người đất sét từ trong túi áo ra và nhẹ nhàng đặt lên ngực chàng trai.

"Đây là chú lính cừ nhất của tớ", cậu ta nói.

"Để làm bạn cùng cậu."

Người đất sét ngồi dậy, Enoch bèn dùng ngón cái ấn nó nằm

xuống.

Người đất sét bèn lăn sang bên, một cánh tay kê dưới đầu và có vẻ như ngủ thiếp đi.

Khi cái hố đã được lấp đầy, Fiona kéo vài chồi cây và đoạn dây leo rải lên nền đất mới đắp và bắt đầu trồng chúng.

Khi những người

còn lại trong chúng tôi đã hoàn thành việc gói ghém đồ cho cuộc hành trình, Adam đã trở lại vị trí cũ của anh ta, chỉ có điều giờ đây anh

ta đánh dấu ngôi mộ của Victor.

Sau khi đám trẻ đã nói lời từ biệt trại trẻ, một số cầm theo vài mảnh gạch hay bông hoa ngắt trong vườn làm kỷ niệm, chúng tôi thực

hiện chuyến đi cuối cùng qua hòn đảo: qua những vạt rừng cháy đen nghi ngút khói, qua đầm lầy bị những hố bom đào xới, qua rặng đồi

và xuống qua thị trấn nhỏ với làn khói than bùn lơ lửng phía trên nơi các cư dân đang nấn ná bên các khung cửa sổ và cửa ra vào, quá

mệt mỏi và choáng váng tới mức dường như chẳng hề nhận ra cuộc diễu hành nho nhỏ của những đứa trẻ có dáng vẻ đặc biệt ngang qua

phía trước họ.

Chúng tôi lặng lẽ nhưng đầy kích động.

Đám trẻ đã không hề ngủ, nhưng nếu nhìn vào họ bạn sẽ không thể biết được điều đó.

Hôm

ấy là ngày mồng bốn tháng Chín, và lần đầu tiên sau một thời gian rất dài, ngày tháng lại bắt đầu trôi qua.

Vài người trong đám trẻ quả

quyết họ có thể cảm nhận thấy sự khác biệt; không khí trong buồng phổi họ tươi mới hơn, dòng máu tuần hoàn trong người họ chảy

nhanh hơn.

Họ cảm thấy tràn đầy sức sống và chân thực hơn.

Cả tôi cũng thế.

***

Tôi từng mơ thoát khỏi cuộc sống bình thường của mình, song cuộc đời tôi chưa bao giờ bình thường.

Chỉ đơn giản tôi đã không thể

nhận ra nó khác thường tới mức nào.

Cũng như thế, tôi chưa bao giờ tưởng tượng được rằng nhà có thể là một nơi tôi sẽ nhớ nhung.

Ấy

vậy nhưng khi chúng tôi chuyển đồ xuống những chiếc thuyền của mình trong ánh bình minh đang dần ló dạng, trước một lằn ranh mới

của Trước và Sau, tôi nghĩ tới mọi thứ mình sắp để lại sau lưng - bố mẹ, thị trấn nơi tôi sống, cậu bạn từng thân nhất và là người bạn duy

nhất của tôi - và nhận ra việc ra đi sẽ không hề giống như tôi từng tưởng tượng, không giống như rũ bỏ một gánh nặng.

Ký ức về chúng là thứ gì đó rõ ràng và nặng nề, và tôi sẽ mang nó theo mình.

Ấy thế nhưng, cuộc sống trước đây của tôi là một thứ không thể quay trở lại, cũng như ngôi nhà bị trúng bom của đám trẻ.

Các cánh

cửa đã bị hất tung ra khỏi những cái lồng của chúng tôi.

Mười đứa trẻ đặc biệt và một con chim đặc biệt cần được thu xếp đủ chỗ chỉ trên ba chiếc thuyền chèo tay, trong khi rất nhiều thứ cần

bị lược bỏ và để lại trên bến tàu.

Khi chúng tôi đã xong việc, Emma đề nghị một người trong chúng tôi nói điều gì đó - một lời phát biểu

dành cho chuyến đi phía trước - nhưng dường như không ai có sẵn từ ngữ.

Vậy là Enoch giơ cao cái lồng của bà Peregrine lên, bà liền kêu

lên một tiếng thật to, chói tai.

Chúng tôi đáp lại bằng một tiếng hô vang, vừa là tiếng reo chiến thắng vừa là lời than vãn, dành cho mọi

thứ đã mất đi nhưng vẫn có thể giành lại.

Hugh và tôi chèo chiếc thuyền đầu tiên.

Enoch ngồi quan sát chúng tôi ở mũi thuyền, sẵn sàng chờ đến lượt mình, trong khi Emma

đầu đội mũ ngắm nhìn hòn đảo đang lùi xa dần.

Mặt biển như một tấm gương gợn sóng lăn tăn trải ra vô tận phía trước chúng tôi.

Ngày

mới ấm áp, nhưng một cơn gió lạnh nổi lên khỏi mặt nước, và tôi có thể thoải mái chèo trong hàng giờ.

Tôi tự hỏi làm thế nào sự bình yên

này có thể thuộc về một thế giới đang trong chiến tranh.

Trên chiếc thuyền kế tiếp, tôi thấy Bronwyn vẫy tay và đưa chiếc máy ảnh của bà Peregrine lên mắt.

Tôi mỉm cười đáp lại.

Chúng tôi

không mang theo bất cứ cuốn album ảnh cũ nào; có thể đây sẽ là bức ảnh đầu tiên trong một cuốn album mới tinh.

Thật lạ khi nghĩ tới

chuyện một ngày kia có lẽ tôi cũng sẽ có xấp ảnh ố vàng của chính mình để chỉ cho những đứa cháu đang hoài nghi xem - cùng những

câu chuyện hoang đường của chính tôi để kể lại cho chúng.

Sau đó, Bronwyn hạ chiếc máy ảnh xuống và giơ cánh tay lên, chỉ vào thứ gì đó phía đằng sau chúng tôi.

Ngoài xa, nổi lên đen sẫm

trong ánh mặt trời đang lên, một đoàn chiến hạm xuất hiện nơi đường chân trời.

Chúng tôi chèo nhanh hơn.

HẾT

[1] Nguyên văn là "cute", cấp tính tiếng Anh là "acute", ở đây mẹ Jacob chơi chữ để đùa cậu.

[2] Thứ tiếng của người Do Thái ở Trung Âu và Đông Âu, gần với tiếng Đức cổ.

[3] Khốn khổ (tiếng Yiddish).

[4] Thằng ngốc (tiếng Yiddish).

[5] Một đạo diễn điện ảnh Mỹ có phong cách làm phim kinh dị, ám ảnh người xem.

[6] Một sản phẩm dùng để thông các đường ống dẫn nước thải.

[7] Cây câu dài 6,67 ki lô mét bắc qua vịnh Tampa ở Florida, có nhịp giữa treo bằng cáp.

[8] Phiên âm tiếng Anh của từ tiếng Đức U-Boot (Unterseeboot - tàu ngầm), thường dùng để gọi tàu ngầm Đức trong hai cuộc Thế chiến.

[9] Hole, nguyên văn tiếngAnh, ám chỉ tên nhà trọ Priest Hole.

[10] Nguyên văn là "piss hole", lúc trước Jacob nghe nhằm từ "Priest Hole" thành "piss hole"

[11] Nguyên văn tên nhà trọ "Priest Hole", dịch theo nghĩa đen là "hố tu sĩ".

[12] MC (emcee): thông thường được hiểu là người dẫn chương trình, còn trong âm nhạc hiphop, từ này dùng để chỉ rapper.

[13]

Biệt danh đặt cho lính Đức trong cuộc Thế chiến thứ Hai, cũng như Tommy chỉ quân Anh, Ivan chỉ quân Nga v.v.

[14]

Tiếng Anh là "Peregrine", trùng với họ cô phụ trách trong lá thư Jacob nhận được chính vì vậy đoạn trước ông của Jacob có nói tới một "con chim ưng hút tẩu" thực ra là ám chỉ cô phụ trách Peregrine.

[15]

Nguyên văn tiếng Anh là "cairn", tên thị trấn là Cairnholm.

[16]

Nguyên văn tiếng Anh: "Wot, no sugar?" một câu đùa được cho là xuất phát từ quân đội Anh, binh lính vạch lên nơi họ có mặt để phàn nàn về tình trạng tiếp tế thiếu thốn, lâu dần trở thành một câu đùa quen thuộc.

[17] Cũng như họ của cô Peregrine (một loại chim ưng), họ của tất cả các Chủ Vòng Thời Gian đều là tên các loài chim.

Gannet là chim điên.

Nightjar là cú muỗi.

Avocet là chim mỏ cứng.

Treecreeper là chim sâu.

Bunting là chim sẻ đất.

Finch là chim sẻ.

[18] Jacob nói là "cool", theo ngôn ngữ giới trẻ hiện đại có thể hiểu là "hay, tuyệt", nhưng nghĩa gốc của từ này là "mát", Emma hiểu theo nghĩa này.

[19] Một trong những biệt danh của ban nhạc rap The Notorious B.I.G.

[20] Nhân vật luật sư trong các truyện trinh thám của Erle Stanley Gardner.

[21]

Một quần đảo trên Đại Tây Dương.
 
Truyện Phương Tây Huyền Bí Sưu Tầm
Percy Jackson Series 1: Kẻ Cắp Tia Chớp - Rick Riordan


Kẻ Cắp Tia Chớp

Tác giả: Rick Riordan

Dịch giả: Vũ Kim Dung

Nxb: Văn Học

Số trang: 512

Kích thước: 14x20,5 cm

Trọng lượng: 550 gram

Giá bìa: 91000 VNĐ

++++++

Quản lý dự án: Doraemon25

Chụp ảnh: Doraemon25

Đánh máy: bodauphong, the dark knight, Sea Turtle, Super Junior, mejie, dhongtham123, o0o2712o0o, Doraemon25, cobelala, another, hoalytra

Check: southsky2010, to_you, iluvbook09

Làm ebook: jackreacher1994

Thư ký: Moon85

Nguồn: e-thuvien.com

––––•(-• KẺ CẮP TIA CHỚP •-)•––––

THUỘC SERIES PERCY JACKSON VÀ CÁC VỊ THẦN TRÊN ĐỈNH OLYMPUS

RICK RIORDAN - TIỂU THUYẾT GIA VĂN HỌC THIẾU NHI ĂN KHÁCH NHẤT NƯỚC MỸ

RICK RIORDAN là tác giả có sách bán chạy nhất do tờ New York Times bình chọn cho Series truyện dành cho trẻ em Percy Jackson và các vị thần Olympia và Series Tiểu thuyết trinh thám dành cho người lớn Tres Navarre.

Ông có mười lăm năm giảng dạy môn tiếng Anh và lịch sử ở các trường trung học cơ sở công và tư ở San Francisco Bay Area ở California và ở Texas, từng nhận giải thưởng Giáo viên Ưu tú đầu tiên của trường vào năm 2002 do Saint Mary's Hall trao tặng.

Ông hiện đang sống ở San Antonio, Texas cùng vợ và hai con trai, dành toàn bộ thời gian cho sáng tác.

Các giải thưởng cho cuốn KẺ CẮP TIA CHỚP:

• A New York Times Bestseller

• Selected for Al Roker's Book Club For Kids, the Today Show

• A Best Book of 2005, School Library Journal

• A New York Times Notable Book of 2005

• A Best Book of 2005, Child Magazine

• Bluebonnet Award Nominee 2006, Texas Library Association

• Askews Torchlight Award (UK) Winner, 2006

• Chicago Public Library Best of the Best Book List, 2005

• VOYA Top Shelf Fiction List for 2005

• ALA Notable Book for 2005

• YALSA Best Book for Young Adults 2005

• Red House Children's Book Award Winner (UK), 2006

• CCBC choice award 2006, Cooperative Children's Book Center

• A 2006 Notable Children's Book, National Council for Teachers of English

• A Publishers Weekly National Children's Bestseller

• Warwickshire Book Award Winner (UK), 2007

• Beehive Award Winner 2007 (Children's Literature Association of Utah)

• Maine Student Book Award Winner 2007...

Series Percy Jackson và các vị thần Olympia gồm 5 cuốn là: The Lightning Thief, The Sea of Monsters, The Titan's Curse, The Battle of Labyrinth, The Last Olympian.

Bộ sách này đã bán được 8.1 triệu bản trên toàn thế giới, chiếm 129 tuần trong danh sách Sách bán chạy nhất trên New York Times cho thể loại sách thiếu nhi.

Kẻ cắp tia chớp đã được bán bản quyền cho 34 nước.

Sách đã được chuyển thể thành phim truyện nhựa cùng tên do Chris Columbus đạo diễn, và sự tham gia của các sao: Uma Thurman, Pierce Brosnan... , vừa được công chiếu khắp thế giớivào cuối tháng 2.2010 ở Mỹ và sẽ được bắt đầu công chiếu tại Việt Nam từ ngày 5.3.2010 tại hệ thống rạp Megastar.

Tác phẩm cũng được chuyển sang video game.

Chuyện gì sẽ xảy ra nếu các vị thần trên đỉnh Olympus vẫn còn sống ở thế kỷ 21?

Chuyện gì sẽ xảy ra nếu họ yêu và có con với người trần?

Và những đứa con đó có thể trở thành những anh hùng vĩ đại – như Theseus, Jason và Hercules?

Chuyện gì sẽ xảy ra nếu bạn là một trong số những đứa trẻ đó?

Với việc khám phá ra thân phận bán thần của mình, cậu bé mười hai tuổi Percy Jackson đã bắt đầu lên đường thực thi nhiệm vụ cực kỳ nguy hiểm trong cuộc đời mình.

Với sự giúp đỡ của thần rừng và con gái của nữ thần Athena – Annabeth, Percy đã đi khắp nước Mỹ để tìm bắt kẻ trộm vũ khí hủy diệt – tia chớp của thần Zeus.

Trên khắp cuộc hành trình đó, cậu đã phải đối mặt với những kẻ thù hùng mạnh, những người đang muốn ngăn cản cậu thi hành nhiệm vụ.

Vượt qua tất cả, cậu muốn gặp người cha mà cậu chưa bao giờ biết được.

Và Oracle đã cảnh báo cho cậu về sự phản bội của một người bạn...

1.

Tôi Trót Làm Cô Giáo Dạy Đại Số Bốc Hơi

Nói thật nhé, tôi đâu muốn làm á thần!

Nếu khi đọc sách này, bạn cho rằng một nửa dòng máu chảy trong huyết quản mình thuộc về thần thánh, tôi khuyên bạn hãy đóng sách lại ngay đi.

Hãy tin mọi lời dối trá về thân thế của mình từ cha mẹ và sống cuộc đời bình dị như bao người khác.

Mạng á thần như trứng treo đầu đẳng.

Đáng sợ lắm!

Cái chết đau đớn, kinh khiếp luôn theo sát gót họ gần như mọi lúc mọi nơi.

Nếu bạn là một đứa trẻ bình thường, bạn đọc cuốn sách này vì bạn nghĩ nó là một điều hư cấu, thì thật tuyệt.

Tiếp tục đọc nó nhé!

Tôi ganh tị với bạn vì bạn có thể giả vờ những chuyện trong cuốn sách này chưa bao giờ xảy ra.

Nếu thấy những gì tả trong sách này giống với mình quá, nếu thấy trực giác, linh tính không chịu ngủ yên, hãy ngừng đọc ngay vì có thể bạn giống chúng tôi.

Nếu bạn biết, chẳng chóng thì chày chúng cũng đánh hơi thấy và tìm đến lấy mạng bạn.

Đừng trách tôi không báo trước nhé.

Tên cha sinh mẹ đẻ của tôi là Percy Jackson.

Tôi mười hai tuổi.

Vài tháng trước đây, tôi còn là học sinh nội trú tại Học việc Yancy, một trường tư dành cho học sinh cá biệt thuộc khu vực thượng New York.

Tôi có phải là một cậu nhóc "cá biệt" không?

Có, ai cũng biết thế.

Mọi thời điểm trong quãng đời ngắn ngủi và đau khổ của tôi đều chứng minh điều đó.

Nhưng mãi đến tháng Năm vừa rồi, mọi chuyện mới bắt đầu tệ hại không chịu nổi.

Đó là lúc khối lớp Sáu chúng tôi đi tham quan ở Manhattan.

Hai mươi tám nhóc tỳ tâm thần có vấn đề cùng hai giáo viên lên chiếc xe buýt vàng chóe nhắm Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan thẳng tiến.

Các mẫu vật trưng bày có từ thời Hy Lạp và La Mã cổ đại là mục đích tham quan của ngày hôm đó.

Phải phải, nghe như sắp bị tra tấn vậy.

Hầu hết những chuyến tham quan của Học viện Yancy đều thế cả.

Nhưng hôm nay, thầy Brunner dạy tiếng Latinh sẽ hướng dẫn học trò, thế nên lòng tôi tràn ngập hy vọng.

Thầy giáo tôi trạc tuổi trung niên ngồi xe lăn có gắn động cơ.

Tóc thầy thưa mỏng, bộ râu quai nón không chăm chút thường xuyên và thầy thường mặc áo khoác cũ sờn ám mùi cà phê.

Nhìn qua chẳng ai bảo thầy có gì thú vị nhưng ngược lại, trong giờ học thầy hay kể chuyện, nói đùa và cho học trò chơi nhiều trò bổ ích.

Thầy còn có một bộ sưu tập tuyệt vời toàn vũ khí và áo giáp của người La Mã cổ.

Vậy nên chỉ mỗi tiết của thầy là tôi không thấy buồn ngủ.

Tôi hy vọng buổi tham quan này suôn sẻ, hay ít nhất cũng không có sự cố gì xảy đến với tôi.

Nhưng hỡi ôi, đó chỉ là hy vọng hão huyền.

Hình như buổi tham quan hay dã ngoại nào tôi cũng gặp chuyện khóc dở mếu dở.

Chẳng hạn, trong chuyến thăm chiến trường Saratoga hồi lớp Năm, tôi gặp tai nạn với khẩu đại bác có từ thời Chiến tranh Cách mạng.

Thực lòng thì tôi không cố tình nhắm bắn xe buýt của trường.

Nhưng dù thanh minh thế nào đi nữa thì tôi cũng bị đuổi học.

Còn nữa, hồi lớp Bốn, khi chúng tôi được đến phía sau hậu trường của hồ cá mập ở Thế giới Đại Dương, tôi chẳng may chạm vào cần đòn bẩy trên lối đi hẹp khiến cả lớp phải tập bơi bất đắc dĩ.

Chưa hết, trước đó tôi còn...

Mà thôi, chắc các bạn đoán ra cả rồi.

Nhưng lần tham quan này, tôi tự hứa với lòng nhất định mình sẽ ngoan.

Suốt quãng đường xuống trung tâm, tôi nghiến răng chịu cảnh nhỏ Nancy Bobofit - mặt đầy tàn nhang, tính hay táy máy - cầm bánh kẹp bơ đậu phộng rưới xốt cà chốc chốc lại đập vào đầu Grover, bạn thân nhất của tôi.

Grover là con mồi ngon xơi của những đứa ngỗ ngược như Nancy.

Thằng bạn chí cốt của tôi gầy nhẳng, lúc buồn bực chỉ biết khóc.

Chắc chắn nó đúp vài năm rồi vì trong khối lớp Sáu, chỉ mình nó có mụn trứng cá và vài cọng râu thưa.

Grover là trẻ tật nguyền.

Nó có giấy được miễn học thể dục cả đời vì bị bệnh gì đó ảnh hưởng đến cơ chân.

Dáng đi của nó vẹo vọ trông rất tội nghiệp, như thể mỗi bước chân đều làm nó đau đớn.

Tuy nhiên, chớ thấy vậy mà tưởng lầm.

Mỗi khi căn-tin có món bánh bột ngô nhân thịt, nhìn Grover chạy đua đến đó thì cứ gọi là lác mắt nhé.

Quay lại chuyến tham quan để đời hôm ấy.

Nancy Bobofit điềm nhiên đều đặn ném mẩu vụn véo từ cái bánh kẹp vào mái tóc nâu xoăn tít của Grover.

Chỉ lát sau, đầu nó dính chi chít đầy mẩu bánh nhỏ.

Nhỏ Nancy biết tôi không làm gì được nó vì tôi đang trong thời gian bị theo dõi chặt chẽ bởi từng mắc lỗi trước đó.

Trước lúc đi, thầy hiệu trưởng đe rằng tôi sẽ bị đuổi học thẳng thừng nếu gây bất cứ chuyện gì không tốt, làm mọi người xấu hổ hoặc đơn giản chỉ là chọc cười ai đó trong chuyến đi này.

Tôi lẩm bẩm:

- Tớ sẽ lấy mạng con nhỏ cho coi.

Grover cố trấn tĩnh:

- Không sao đâu mà.

Tớ thích bơ đậu phộng.

Nó lanh lẹ né mẩu bánh từ tay Nancy vừa bay tới.

- Thế này thì quá lắm.

Tôi đã chực đứng dậy nhưng bị Grover kéo xuống ghế, đoạn nhắc:

- Đang trong thời gian quản chế, chắc cậu biết nếu có xô xát, ai là kẻ phải giơ đầu chịu báng rồi đấy!

Giờ ngẫm lại, tôi ước lần ấy mình hạ đo ván Nancy luôn cho xong.

Bị cấm túc trong trường sau giờ học không nhằm nhò gì so với mối họa tôi sắp tự rước vào thân.

Thầy Brunner dẫn đầu đoàn tham quan.

Điều khiển xe lăn đi trước, thầy đưa chúng tôi qua mấy phòng trưng bày rộng thênh thang, đi qua mấy bức tượng tạc từ đá cẩm thạch và dãy tủ kính bày đầy đồ cổ bằng chất liệu gốm màu da cam pha màu đen.

Tôi cực kỳ ngạc nhiên: suốt hai ba ngàn năm qua, sao đồ gốm vẫn chưa bị bể nhỉ?!

Thầy Brunner gọi chúng tôi đến vây quanh cây cột đá cao gần bốn mét.

Đầu cột có con nhân sư lớn và kể rằng nó vốn là bia của ngôi mộ cổ, nơi an nghỉ của một bé gái trạc tuổi chúng tôi.

Thầy còn kể tỉ mỉ về những hình chạm khắc hai bên cột.

Chuyện của thầy khá hay.

Tôi muốn nghe lắm nhưng mấy bạn đứng gần cứ nói chuyện riêng hoài.

Mỗi lần tôi bực mình quát bảo họ im miệng, cô Dodds đứng canh chừng gần đó lại lừ mắt cảnh cáo tôi.

Cô Dodds người nhỏ thó quê ở Georgia, dạy môn Toán.

Dù đã năm mươi tuổi nhưng cô luôn mặc áo da màu đen.

Cô nanh nọc và đanh đá, trông như lúc nào cũng sẵn sàng cưỡi xe Harley phân khối lớn đâm thẳng vào tủ đựng đồ của kẻ nào mà cô không ưa.

Cô mới dạy chúng tôi được vài tháng do thầy Toán cũ của chúng tôi bị suy nhược thần kinh.

Ngay hôm đầu nhận lớp, cô Dodds đã quý Nancy và coi tôi là tên vô lại.

Mỗi khi cô xỉa ngón trỏ cong như móc câu về phía tôi với giọng ngọt như mía lùi: "Nghe này cưng...", y như rằng tôi bị phạt ở lại sau giờ học cả tháng.

Có lần, sau khi bị cô bắt ngồi đến tận nửa đêm gôm hết phần bài giải trong chồng sách bài tập toàn cũ, tôi bảo Grover: "Chắc cô Dodds không phải là người".

Nó nghiêm trang nhìn tôi, bảo:

- Cậu hoàn toàn đúng.

Thầy Brunner vẫn đang nói về nghệ thuật thể hiện trong cách tổ chức ma chay của người Hy Lạp cổ.

Giọt nước tràn ly đúng lúc Nancy cười khúc khích, nói câu gì đó về hình chạm người thanh niên trần truồng trên cột đá.

Không chịu nổi, tôi quay xuống:

- Có câm mồm không thì bảo?

Tôi không chủ tâm quát to như thế.

Cả lớp cười ồ.

Thầy Brunner ngừng kể, nói với tôi:

- Trò Jackson vừa nhận xét gì thế?

Mặt tôi đỏ rần:

- Thưa thầy, không ạ.

Thầy Brunner chỉ bức tranh khắc trên cột:

- Em thử trình bày nội dung bức tranh này xem.

Nhìn bức điêu khắc, tôi mừng rơn vì biết khá rõ:

- Có phải Kronos đang nuốt các con vào bụng không ạ?

Rõ ràng thầy Brunner chưa thỏa mãn với câu trả lời ấy:

- Phải.

Và ông ta đã làm thế vì...

Tôi cố moi óc nhớ bài:

- Vì... thần Kronos là chúa tể của các vị thần và...

- Các vị thần nào?

Tôi nói chữa:

- À không, người khổng lồ Titan.

Kronos không tin các con, vốn là các vị thần.

Thế nên ông ta nuốt sống các con mình.

Đúng không ạ?

Nhưng vợ Kronos đã tráo thần Dớt, lúc ấy là hài nhi, bằng một hòn đá rồi giấu con đi.

Sau này, thần Dớt khôn lớn đã lừa cha để ông ói ra anh chị em mình...

Đám con gái đứng sau tôi kêu lên:

- Eo ôi!

- ...

Và thế là xảy ra cuộc chiến lớn, một bên là các vị thần, bên kia là người khổng lồ Titan.

Cuối cùng, các vị thần đã chiến thắng.

Có tiếng cười khúc khích trong đám học trò.

Đứng sau lưng tôi, Nancy rỉ tai bạn nó:

- Học cho lắm cũng có mài kiến thức ra ăn được đâu.

Sau này đi xin việc làm, chẳng ai yêu cầu: "Xin hãy giải thích tại sao Kronos lại nuốt các con vào bụng" cả!

Thầy Brunner hỏi:

- Trò Nancy Bobofit vừa có ý hay.

Tôi xin diễn giải thành câu hỏi để trò Jackson giải thích nhé: Chuyện em vừa kể áp dụng vào thực tiễn như thế nào?

Grover thì thầm:

- Dính chưởng.

Nancy rít lên, mặt nó còn đỏ hơn cả mái tóc đỏ rực trên đầu:

- Câm ngay.

Ít nhất Nancy cũng bị bắt lỗi.

Trong trường chỉ mình thầy Brunner luôn phát hiện được những điều bậy bạ mà nó phát ra.

Tai thầy chẳng khác dàn ra-đa hiện đại.

Ngẫm nghĩ câu hỏi một lát, tôi nhún vai:

- Thưa thầy, em không biết ạ.

Thầy Brunner có vẻ thất vọng:

- Được rồi.

Chuyện này khuyên con người ta không nên cả tin.

Thần Dớt cho cha uống rượu pha mù tạt khiến ông nôn ra năm người con của mình vốn là các vị thần bất tử.

Họ vẫn sống và trưởng thành ngay trong bụng người khổng lồ Kronos.

Các vị thần đánh bại cha, dùng ngay liềm cắt cỏ của Kronos băm ông thành trăm ngàn mảnh nhỏ và rải xuống ngục Tartarus, phần tận cùng của địa ngục.

Tôi biết các em mừng vì đã đến giờ ăn trưa.

Phiền cô Dodds đưa các em ra ngoài nhé?

Cả lớp tản ra.

Đám con gái ôm bụng, còn bọn con trai xô đẩy nhau cười đùa ầm ĩ.

Grover và tôi dợm quay ra cửa thì nghe thầy Brunner gọi giật lại:

- Trò Jackson.

Biết ngay mà.

Tôi bảo Grover đi tiếp, đoạn quay lại hỏi:

- Dạ, thầy bảo gì em ạ?

Ánh mắt của thầy thật khó quên.

Cặp mắt nâu luôn tập trung nhìn chăm chú ấy hình như đã cả ngàn tuổi và nhìn thấu sự đời.

- Trò phải học cách trả lời các câu hỏi thầy đưa ra chứ!

- Về người khổng lồ ư, thưa thầy?

- Về thực tiễn và cách áp dụng những kiến thức đã học vào đời sống thực tế.

- À, ra thế.

- Thông tin thầy cung cấp vô cùng quan trọng.

Thầy mong em hiểu tầm quan trọng lớn lao của nó.

Thầy chỉ muốn có được các câu trả lời tốt nhất từ em.

Hãy nhớ lấy điều đó, Percy Jackson ạ.

Tôi chạnh lòng.

Sao lúc nào thầy cũng thúc ép tôi thế ?!

Phải công nhận những ngày thi môn học của thầy vui cực kỳ.

Khi đó, thầy Brunner mặc áo giáp của người La Mã cổ và thét vang: "Nhìn đây".

Tay cầm kiếm chỉ hộp phấn, thầy thách các trò chạy lên bảng, viết tên bất kỳ nhân vật huyền thoại nào của Hy Lạp và La Mã cổ từng được học, kể tên cha mẹ họ và vị thần mà họ thờ phượng.

Nhưng khổ nỗi thầy kỳ vọng tôi phải học hành bằng bạn bằng bè, dù biết tôi mắc bệnh khó đọc và chứng mất tập trung.

Cả đời tôi chỉ nhận toàn điểm C trở xuống.

Không – thầy không chỉ kỳ vọng tôi phải học hành bằng bạn bằng bè.

Thầy muốn tôi phải giỏi hơn nữa cơ.

Nhớ cả đống tên người và thông tin về họ đã khó, huống hồ thầy còn đòi tôi phải đánh vần cho đúng từng cái tên.

Tôi lí nhí hứa sẽ cố gắng nhiều hơn nữa.

Nhưng thầy Brunner chỉ buồn bã nhìn mãi bia đá như thể thầy đang dự đám tang người con gái nọ.

Lát sau, thầy bảo tôi ra ngoài ăn trưa cho kịp.

Cả lớp tụ tập trên bậc tam cấp của viện bảo tàng ngắm dòng người đi bộ tấp nập trên Đại lộ Số Năm.

Trên trời, một cơn dông lớn dữ dội đang kéo đến. chưa bao giờ tôi thấy đám mây to, đen kịt như thế trên bầu trời thành phố.

Không biết có phải tại Trái đất đang nóng lên hay không mà từ Giáng sinh đến giờ, thời tiết khắp bang New York này kỳ lạ lắm: nào bão tuyết khốc liệt, nào lụt lội ghê gớm, nào cháy rừng do sét đánh.

Lần này nếu có bão nhiệt đới xuất hiện, tôi cũng không ngạc nhiên.

Hình như không ai để ý đến thời tiết thì phải.

Góc kia có mấy thằng con trai đang vãi mẩu bánh cho chim bồ câu ăn.

Ở góc này, Nancy đang tìm cách móc túi một bà qua đường và tất nhiên cô Dodds không hề hay biết gì.

Tôi và Grover tách khỏi đám đông và tìm chỗ ngồi trên thành hồ dưới chân đài phun nước.

Biết đâu thấy vậy, người qua đường sẽ tưởng hai đứa tôi không phải học sinh của cái trường toàn bọn học dốt, cá biệt mà các trường khác không nhận nên mới dồn cả vào đây.

Grover hỏi:

- Thầy phạt cậu à?

- Không.

Đời nào thầy Brunner phạt tớ.

Lắm lúc tớ chỉ mong thầy đừng quan tâm tớ quá thế.

Tớ đâu phải thiên tài.

Grover im lặng một lúc lâu.

Cứ tưởng nó sắp nhận xét một câu thật sâu sắc hay triết lý cao xa để an ủi tôi thì nó lại bảo:

- Tớ xin cậu quả táo có được không?

Tôi đắng hết cả miệng, chẳng thiết ăn bèn cho nó.

Ngắm dòng xe cộ chạy xuống phía cuối Đại lộ Số Năm, tôi nhớ căn hộ của mẹ chỉ cách đây một quãng.

Từ Giáng sinh đến giờ chưa gặp được mẹ, giờ tôi chỉ chực nhảy ngay lên taxi về thẳng nhà.

Mẹ sẽ ôm chầm lấy tôi, mừng rỡ vì được gặp con nhưng đồng thời bà sẽ thất vọng cho coi.

Mẹ sẽ gửi tôi trở lại Học viện Yancy, với lời dặn dò tôi phải cố gắng cho dù tôi đã chuyển đến sáu ngôi trường trong vòng sáu năm[1] và chắc hẳn lần này cũng sẽ bị đuổi học nữa cho coi.

Ánh mắt buồn rười rượi của mẹ chắc sẽ làm tôi quỵ mất.

Thầy Brunner ngồi trong xe lăn đậu phía dưới chân dốc dành cho người tàn tật.

Thầy vừa đọc tiểu thuyết vừa ăn cần tây.

Lưng ghế của thầy có gắn chiếc dù đỏ khiến nhìn từ xa, trông xe lăn giống bàn cà phê di động.

Vừa giở gói giấy bánh kẹp định ăn, tôi đã thấy Nancy Bobofit dẫn mấy đứa bạn xấu ma chê quỷ hờn đến đứng ngay trước mặt.

Chắc nó đã chán móc túi khách du lịch nên đến đây gây sự.

Con nhỏ ném phần ăn trưa còn lại vào người Grover:

- Ối, chỉ lỡ tay chứ không cố ý đâu.

Nó quay sang tôi cười phô hàm răng vẩu.

Tàn nhang trên mặt nó màu vàng da cam, trông như ai vừa xịt sơn đầy mặt nó vậy.

Tôi cố không nổi nóng.

Nhân viên tư vấn tâm lý của trường dặn tôi cả triệu lần rằng: "Nếu gặp chuyện chướng tai gai mắt, hãy đếm đến mười và cố tự chủ".

Nhưng lúc này tôi giận quá nên không nhớ được gì.

Hai tai tôi lùng bùng như có ai đánh trống trận bên trong.

Tôi không nhớ là đã chạm vào người Nancy, chỉ thấy loáng cái nó đã ngồi bệt trong hồ nước, hét vang:

- PERCY ĐẨY EM NGÃ.

Không biết từ đâu, cô Dodds đã ở sát ngay cạnh hai thằng tôi.

Có vài đứa học trò thì thào:

- Cậu có thấy không...

- ... nước hồ này kỳ quá...

- ... hình như nước dâng lên lôi tuột con nhỏ Nancy...

Tôi không hiểu bọn nó nói gì, chỉ biết tai họa lại sắp giáng xuống đầu mình.

Ngay sau khi ngó từ đầu đến chân cô trò cưng, biết Nancy không hề hấn gì và hứa sẽ mua cho nó áo phông của viện bảo tàng ở quầy lưu niệm, bla bla bla, cô Dodds quay ngay sang tôi.

Ngọn lửa đắc thắng bừng lên trong mắt cô như thể tôi vừa làm một chuyện cô đã chờ xem suốt mùa hè.

- Nghe này, cưng...

Tôi lúng búng:

- Em biết rồi.

Một tháng gôm sách bài tập ạ?

Đó không phải điều cô Dodds muốn nghe.

- Đi theo tôi.

Grover la lên:

- Khoan đã.

Lỗi tại em.

Chính em đẩy bạn Nancy ạ.

Tôi trố mắt ngạc nhiên nhìn nó.

Thật không thể tin nó dám bao che cho tôi.

Grover vốn sợ cô Dodds như sợ cọp cơ mà.

Cô Dodds trừng mắt nhìn khiến cằm nó run bần bật.

- Cậu Underwood, tôi lại không nghĩ như vậy.

- Nhưng mà...

- Em ở nguyên đó.

Grover tuyệt vọng nhìn tôi.

Tôi bảo nó:

- Không sao đâu.

Cảm ơn cậu vì đã cố cứu tớ.

Cô Dodds quát lớn:

- Trò Percy, đi nào.

Nancy Bobofit trề môi đắc thắng.

Tôi nhìn nó với ánh mắt lát-nữa-mày-sẽ-biết-tay-tao.

Đẩy nó ngã vào hồ nước được thì có bị rắc rối chút đỉnh cũng đáng.

Ước gì tôi nhớ được động tác xô mạnh Nancy xuống nước khi nãy.

Tôi quay lại nhìn cô Dodds, nhưng cô ấy đã không ở đó.

Cô ấy đang đứng ở lối vào viện bảo tàng, ở những bậc thang trên cùng, đang kiên nhẫn chờ tôi đi đến.

Sao cô ấy đi đến đó nhanh như vậy nhỉ?

Chuyện ấy thường hay xảy đến với tôi.

Chắc thi thoảng não tôi lại ngủ quên.

Ngay sau đó, tôi biết mình vừa bỏ lỡ một điều gì đó, như thể một mảnh ghép của trò chơi xếp hình vừa tan vào hư không, để mặc tôi đứng đó nhìn trân vào chỗ trống.

Nhân viên tư vấn tâm lý của trường bảo đó một phần là do chứng mất tập trung do hiếu động thái quá: não tôi nhận thức sai về sự vật hiện tượng bên ngoài.

Thực lòng tôi cũng không chắc lắm.

Tôi đi theo cô Dodds.

Đi được nửa bậc thang, tôi ngoái lại nhìn Grover.

Mặt tái nhợt, nó hết ngó tôi lại quay sang cầu cứu thầy Brunner.

Hình như nó muốn báo cho thầy biết chuyện nhưng thầy đang đắm mình vào cuốn tiểu thuyết trên tay, không để ý gì đến xung quanh.

Tôi quay đầu lại.

Cô Dodds một lần nữa lại biến mất.

Bây giờ cô ấy lại đang ở trong viện bảo tàng, đứng phía cuối sảnh ra vào, đang vẫy tay giục tôi khẩn trương tiến vào.

Tôi bụng bảo dạ: "Sẽ không có chuyện gì đâu.

Chắc cô giáo ép mình đến quầy lưu niệm mua áo phông cho Nancy thôi".

Nhưng rõ ràng tôi đoán sai bét.

Tôi theo cô vào sâu trong viện bảo tàng.

Khi tôi bắt kịp cô, chúng tôi đã trở lại khu trưng bày mẫu vật thời La Mã, Hy Lạp cổ đại.

Ngoài chúng tôi ra, phòng trưng bày rộng thênh thang không một bóng người.

Cô Dodds đứng khoanh tay cạnh cây trụ đá lớn thờ các vị thần trong thần thoại Hy Lạp.

Từ họng cô phát ra tiếng kêu lạ tai, nghe như tiếng gầm gừ.

Dù không có tiếng ấy, hồn vía tôi đã lên mây cả.

Chỉ một mình đối mặt với thầy cô đã sợ rồi, đối mặt với cô Dodds đáng sợ gấp nghìn lần.

Ánh mắt cô nhìn trụ đá không bình thường, như thể cô chỉ muốn nghiền nó ra cám.

- Cậu mang lại rắc rối cho chúng tôi.

Tôi cố giữ thân bằng cách chiều theo ý cô:

- Dạ, cô dạy phải.

Cô Dodds kéo mạnh tay áo khoác da màu đen:

- Cậu tưởng lần này tôi để yên sao?

Ánh mắt cô còn hơn cả giận dữ.

Nó trở nên độc ác vô song.

Tôi hốt hoảng nghĩ thầm: "Dù thế nào thì cô Dodds cũng là cô giáo mà.

Chẳng lẽ cô ấy nỡ hãm hại mình?"

- Thưa cô, em sẽ cố gắng hơn nữa ạ.

Có tiếng sấm làm rung chuyển cả tòa nhà.

- Này Percy Jackson, ngươi tưởng qua mắt được bọn ta sao?

Chẳng chóng thì chày, bọn ta cũng tìm được ngươi.

Nếu tự thú, ngươi sẽ bớt đau đớn nhiều đấy.

Tôi chẳng hiểu cô đang nói gì.

Tôi chỉ lo thầy cô tìm thấy đống kẹo tôi giấu trong phòng ở ký túc xá để thỉnh thoảng lén bán cho các bạn.

Hoặc có lẽ họ biết tôi tải bài luận viết về Tom Sawyer trên mạng đem nộp mà không hề đọc chữ nào trong sách và giờ tính trừ phăng điểm của bài luận ấy.

Hoặc tệ hơn, họ sẽ bắt tôi phải đọc cuốn truyện dày cộm đó.

Cô Dodds rít lên:

- Thế nào hả?

- Thưa cô, em không...

- Ta hết kiên nhẫn với ngươi rồi.

Thế rồi, một chuyện quái đản nhất trên đời xảy đến.

Chắc đầu óc tôi có vấn đề rồi.

Cô Dodds bắt đầu thay hình đổi dạng.

Mắt cô đỏ rực như lò than nướng thịt ngoài trời, ngón tay vươn dài biến thành móng vuốt nhọn hoắt.

Cô rít lên.

Ý tôi là không phải rít giống người đang tức giận, mà như rắn hổ mang bành rít vậy.

Áo khoác trên người cô tan chảy biến thành đôi cánh lớn có màng da dày.

Cô Dodds không còn là người nữa rồi.

Cô biến thành mụ phù thủy nhăn nheo có cánh dơi, móng vuốt sắc nhọn và miệng đầy răng nhọn vàng khè và sắp sửa xé tôi thành từng mảnh nhỏ.

Sau đó, cơn ảo giác tiến triển quái dị hơn nữa.

Thầy Brunner một phút trước đó còn ngoài cổng viện bảo tàng giờ đã xuất hiện ngay cửa phòng trưng bày, tay giơ cao cây viết.

Vừa tung bút lên cao, thầy vừa hô to:

- Bắt lấy, Percy!

Lập tức, cô Dodds lăn xả vào tôi.

Hoảng hốt kêu to, tôi né sang một bên chỉ kịp nghe tiếng móng vuốt vụt trượt nghe vun vút ngay bên tai.

Tôi chộp cây bút bi trên không trung nhưng khi chạm tay tôi, nó liến biến thành cây kiếm.

Đó chính là cây kiếm bằng đồng mà thầy Brunner thường dùng trong những ngày thi.

Mắt long lên tàn độc, cô Dodds phóng vọt về phía tôi.

Đầu gối tôi bủn rủn, hai tay run bắn suýt làm rơi thanh kiếm.

Cô Dodds gầm lên:

- Cho mày chết này.

Dứt lời, cô lao thẳng vào tôi.

Cơn kinh hoàng hoàn toàn chế ngự tôi.

Tôi chỉ làm đúng theo bản năng là vung kiếm lên.

Lưỡi kiếm sắc lẻm chém xả vai và xuyên qua người cô như thể thân xác cô làm từ nước.

Cô Dodds như lâu đài cát đặt ngay trước quạt công suất cực mạnh.

Người cô nổ tung, biến thành bột màu vàng nghệ rồi tan biến ngay trước khi kịp rơi xuống.

Dấu vết chẳng còn gì ngoài mùi trứng thối, tiếng kêu giãy chết và âm khí lạnh buốt.

Tôi cảm tưởng cặp mắt vằn đỏ vẫn còn đâu đó trên cao đang trừng trừng nhìn tôi.

Chỉ còn mình tôi trơ trọi trong phòng trưng bày trống trải, quạnh quẽ.

Trong tay tôi có cây bút bi nhỏ.

Thầy Brunner biến mất.

Ngoài tôi ra, xung quanh không còn ai khác.

Tay tôi run bắn.

Chắc chắn đồ ăn trong bữa trưa của tôi bị nhiễm nấm gây ảo giác mất rồi.

Chẳng lẽ từ đầu đến cuối là do tôi tưởng tưởng ra sao?

Tôi trở ra phía ngoài.

Trời bắt đầu mưa.

Vẫn ngồi bên đài phun nước, Grover lấy sơ đồ viện bảo tàng che đầu cho khỏi ướt.

Nancy Bobofit ướt như chuột lột sau khi vùng vẫy dưới hồ nước giờ vẫn đứng đó càu nhàu với mấy đứa bạn xấu ma chê quỷ hờn của nó.

Vừa thấy tôi, nó bảo:

- Tao mong cô Kerr đánh cho mày tướp mông ra.

Tôi ngạc nhiên:

- Ai cơ?

- Thằng đần, cô giáo chứ còn ai.

Tôi chớp mắt lia lia.

Trường tôi có cô giáo nào tên Kerr đâu nhỉ?

Tôi hỏi Nancy rằng nó vừa nói nhăng nói cuội gì thế.

Nó tròn mắt nhìn tôi, tỏ vẻ chán nản, sau đó chẳng thèm trả lời câu hỏi của tôi.

Tôi hỏi Grover có thấy cô Dodds đâu không.

Nó bảo:

- Ai cơ?

Tuy nhiên, nó hơi ngập ngừng và không dám nhìn thẳng tôi.

Tưởng nó chòng ghẹo mình, tôi bảo:

- Đừng đùa nữa.

Tớ hỏi nghiêm túc đấy.

Trên trời cao, tiếng sấm nổ rền.

Tôi thấy thầy Brunner ngồi bên trên bờ dốc dành cho người tàn tật, bên dưới cây dù màu đỏ.

Thầy cắm cúi đọc sách như thể chưa hề nhúc nhích từ đầu buổi đến giờ.

Thấy tôi đến bên, thầy ngơ ngác nhìn lên:

- À, có phải cây bút của thầy không?

Jackson này, lần sau đi học nhớ mang theo dụng cụ học tập nhé.

Mãi đến lúc thầy giật bút khỏi tay mình, tôi vẫn chưa nhận ra là mình đang cầm nó.

Tôi rụt rè:

- Thưa thầy, cô Dodds đâu rồi ạ?

Thầy mở to mắt nhìn tôi, vẻ không hiểu:

- Cô Dodds nào?

- Cô giáo đi cùng bọn em sáng nay ấy ạ.

Cô Dodds dạy toán ấy.

Thầy nhíu mày ngồi thẳng lưng, nét mặt thoáng lo âu:

- Percy này, đoàn tham quan hôm nay không có cô Dodds nào cả.

Còn nữa, thầy biết rõ mười mươi Học viện Yancy ta không có nữ giáo viên nào tên Dodds hết.

Em có bị làm sao không vậy?

2.

Ba Bà Già Đan Tất m Phủ

Tôi thường gặp nhiều chuyện quái đản, nhưng thường thì cảm giác lạ lẫm qua nhanh, chẳng mấy chốc tôi không còn nhớ gì nữa.

Nếu có ảo giác hai mươi tư giờ một ngày, bảy ngày một tuần, chắc tôi sẽ không chịu nổi.

Suốt năm học ấy, hình như cả trường cố tình hùa nhau đùa tôi thì phải.

Họ tỉnh bơ bảo rằng cô Kerr, cô giáo tóc vàng xinh đẹp, người tôi chưa bao giờ gặp cho đến lúc cô lên xe buýt vào cuối buổi tham quan là cô giáo dạy môn đại số từ hồi Giáng sinh đến giờ.

Thỉnh thoảng, vì muốn bắt quả tang bạn bè nói dối, tôi vờ vô tình hỏi về cô Dodds nhưng họ chỉ trố mắt nhìn lại như thể tôi bị lẩn thẩn vậy.

Vì thế tôi gần như tin lời họ rằng cô Dodds chưa bao giờ có mặt trên đời.

Nhưng chỉ gần như thôi.

Duy chỉ có Grover không lừa được tôi.

Khi nghe tôi nhắc cô Dodds, nó ngần ngừ giây lát rồi mới bảo không có cô giáo nào tên như vậy.

Nhưng tôi biết nó nói dối.

Rõ ràng có chuyện gì đó không ổn.

Lúc ở bảo tàng nhất định có chuyện gì đó bất thường xảy ra.

Ban ngày, tôi không có nhiều thời gian nghĩ đến chuyện ấy.

Nhưng ban đêm, lắm lúc tôi giật mình toát mồ hôi lạnh choàng tỉnh từ giấc mơ có hình ảnh cô Dodds với móng vuốt sắc nhọn và cánh dơi to tướng.

Thời tiết tiếp tục diễn biến bất thường khiến tâm trạng tôi không sao vui lên được.

Một đêm một cơn bão lớn đã quét sạch các cửa sổ ở ký túc xá nơi tôi đang ở.

Mấy ngày sau, đài loan tin vòi rồng lớn chưa từng thấy xuất hiện ở thung lũng Hudson và tiếp đất cách Học viện Yancy có mười lăm dặm.

Một trong những hoạt động hiện tại của môn học lịch sử là đếm số lượng rơi xuống bất thường của các loại máy bay nhỏ do các cơn gió giật bất ngờ gây nên ở khu vực Đại Tây Dương trong năm đó.

Từ đó bắt đầu quãng thời gian tôi luôn vô cớ cáu kỉnh và khó chịu, đồng thời lực học đuối dần, điểm D dần thay thế bằng điểm F.

Tôi đánh nhau với Nancy và đám bạn nó thường hơn và hầu như tiết nào tôi cũng bị thầy cô tống ra ngoài hành lang.

Cuối cung, tôi đã cãi lại thầy Nicoll, thầy giáo dạy môn Ngữ văn khi thầy cứ hỏi đi hỏi lại rằng: tại sao tôi lười học môn thầy quá thế.

Tôi ví thầy với "con sâu rượu", dù tôi không chắc lắm về nghĩa vủa nó.

Nhưng nó nghe có vẻ rất hay.

Tuần sau đó, thầy hiệu trưởng viết thư gửi mẹ tôi chính thức tuyên bố rằng: Năm học sau, tôi không được mời lại Học viện Yancy nữa.

Tôi cay cú nghĩ thầm: "Càng tốt.

Thế lại hóa hay."

Tôi nhớ nhà kinh khủng.

Tôi muốn được sống với mẹ trong căn hộ bé như cái tổ cò ở khu Thượng New York dù có phải học trường công và nghiến răng nhịn ông cha dượng đáng ghét say sưa cờ bạc tối ngày.

Tuy nhiên, Học viện Yancy cũng có thứ làm tôi phải nhớ nhung.

Nào cảnh rừng cây tĩnh lặng ngoài cửa số phòng ký túc xá, nào dòng sông Hudson uốn lượn phía xa xa, nào mùi cây thông thoảng bay trong gió.

Tôi sẽ nhớ Grover.

Nó là bạn tốt tuy có hơi khác người.

Tôi lo cho nó lắm: sang năm không có tôi ở bên, không biết nó có trụ nổi không.

Còn nữa, tôi sẽ nhớ lớp học tiếng Latinh, nhớ những buổi kiểm tra đầy vui nhộn của thầy Brunner.

Tôi sẽ không bao giờ quên người thầy từng đặt niềm tin nơi tôi, nói tôi nhất định sẽ học hành tấn tới.

Đến thời điểm ôn thi cuối cấp, tôi chỉ dồn sức học môn Latinh.

Tôi chưa quên hôm ở viện bảo tàng, thầy Brunner có bảo môn thầy dạy có tầm quan trọng sống còn với tôi.

Dù không hiểu nguyên do, nhưng tôi bắt đầu tin thầy nói đúng.

Buổi tối trước ngày thi, tôi nản chí đến nỗi ném cả cuốn Hướng dẫn về Thần thoại Hy Lạp của Cambridge.

Từ ngữ như nhảy múa trước mắt, quay vòng vòng quanh đầy tôi.

Các chữ cái giống người cưỡi ván trượt, hết lộn lên lại nhào xuống.

Tôi không thể nào nhớ được sự khác nhau giữa Chiron[2] và Charon[3], Polydictes[4] và Polyphemus[5].

Còn cách chia động từ tiếng Latinh ư?

Quên nó đi.

Tôi sốt ruột đi tới đi lui trong phong, cảm giác như cả đàn kiến lửa đang bò trong áo sơ mi.

Tôi nhớ nét mặt nghiêm trang và cặp mặt sáng ngàn năm tuổi của thầy Brunner.

Tiếng thầy văng vẳng bên tai: "Trò Percy Jackson, tôi chỉ chấp nhận ở em những gì tốt đẹp nhất mà thôi."

Cố trấn tĩnh, tôi cúi xuống nhặt cuốn sách lên.

Trước nay, tôi chưa từng nhờ thầy giúp.

Có lẽ lần này, nếu tôi hỏi thầy Brunner, thầy sẽ cho lời khuyên hữu ích.

Hoặc chí ít tôi cũng có cơ hội xin lỗi trước khi nhận điểm F to tướng cho bài thi Latinh ngày mai.

Tôi không muốn rời Học viện Yancy với tâm trạng day dứt khôn nguôi vì đã khiến thầy Brunner nghĩ mình là kẻ thất bại.

Hầu như phòng nào cũng tối đen, vắng vẻ, chỉ riêng cửa phòng thầy Brunner hé mở.

Ánh đèn từ bên trong hắt ra vắt ngang hành lang kéo dài đến tận cửa lớn.

Khi cách cửa phòng thầy ba bước chân, tôi nghe có tiếng nói vẳng ra.

Thầy Brunner vừa hỏi câu gì tôi nghe không rõ, chie nghe rõ ràng tiếng Grover trả lời:

- ... lo cho Percy, thưa thầy.

Tôi sững người.

Thường thì tôi không quen nghe lén ai bao giờ.

Nhưng giả sử bạn cùng tuổi tôi, tôi thách bạn không nghe nếu biết bạn bạn thân nhất của mình đang nói chuyện với người lớn về chính mình.

Tôi nhích lại gần hơn.

Tiếng Grover vang lên:

- ... một mình trong hè này.

Ý em là, bọn "Người Tử Tế" đã có mặt trong trường!

Khi ta biết chắc, bọn chúng cũng biết luôn.

Thầy Brunner đáp:

- Nếu chúng ta giục giã cậu ấy chỉ làm tình hình thêm xấu đi.

Ta cần thằng bé chín chắn hơn chút nữa.

- Nhưng cậu ấy không còn thời gian nữa.

Ngày Hạ chí là hạn chót rồi...

- Ta sẽ giải quyết việc này mà không cần đến cậu ấy.

Grover này, để thằng bé tận hưởng yên bình được ngày nào hày ngày ấy.

- Thưa thầy, nhưng cậu ấy đã nhìn thấy bà ta...

Thầy Brunner khăng khăng:

- Do tưởng tượng thôi.

Sương Mù bao trùm toàn bộ học trò và đội ngũ giáo viên đủ để cậu ấy tin điều ngược lại.

- Thưa...

Tôi... tôi không thể một lần nữa không hoàn thành nhiệm vụ.

- Giộng cậu ấy nghẹn lại, - Ngài cũng biết nếu lần này thất bại, tôi sẽ gặp chuyện gì rồi.

Thầy Brunner dịu giọng:

- Không có chuyện đó đâu, Grover.

Đáng lẽ ta nên để mặc bà ta, không can thiệp.

Mà thôi, giờ cậu chỉ việc giữ cho Percy toàn mạng đến mùa thu tới...

Cuốn sách giáo khoa môn Thần thoại học tuột khỏi tay tôi, rơi xuống đất nghe đánh "thịch".

Thầy Brunner im bặt.

Tim đập như trống làng, tôi nhặt nhanh sách và cắm đầu cắm cổ trở xuống sảnh.

Một bóng đen vụt qua khung cửa kinh sáng đèn trước phòng thầy Brunner.

Cái bóng cao lớn hơn ông thầy cả đời ngồi xe lăn rất nhiều, nắm lăm lăm trong tay một thứ rất giống cây cung.

Tôi đẩy nhanh cánh cửa gần nhất và lẻn vào trong.

Mấy giây sau, tôi nghe tiếng lộp cộp-lộp cộp-lộp cộp như có ai dọng súc gỗ xuống sàn vang lên, kế đến là tiếng khụt khịt như thú đánh hơi ngoài cánh cửa phòng tôi đang nấp.

Một cái bóng đen sì, cao to dừng ngay trước tấm kính cửa giây lát rồi đi tiếp.

Mồ hôi chảy thành dòng xuống cổ tôi.

Tiếng thầy Brunner ở đâu đó ngoài hành lang vọng lại nghe lào xào:

- Không có gì cả.

Từ hồi Đông Chí đến giờ, đầu óc ta làm sao ấy.

Grover đáp:

- Tôi cũng vậy.

Nhưng tôi thề là...

Thầy giáo ngắt lời:

- Thôi về ký túc xá đi.

Ngày mai thi mấy môn liền đấy, nhớ học cho tốt vào.

- Ông nhắc chi cho thêm nản vậy.

Đèn trong văn phòng thầy Brunner vụt tắt.

Tôi đứng chờ trong phòng tối và tưởng thời gian như ngừng trôi.

Mãi sau, tôi chuồn ra hành lang và trở về phòng.

Grover nằm trên giường, điềm nhiên ôn bài trọng tâm thi trong vở ghi môn Latinh như thể nó chưa xuống giường từ tối đến giờ.

Nó nheo mắt:

- Vừa đi đâu về thế?

Thuộc hết bài chưa mà ung dung quá vậy?

Tôi im lặng, không nói không rằng.

Grover nhíu mày:

- Trông cậu thất thần chưa kìa.

Mọi chuyện ổn cả chứ?

- Chỉ... hơi mệt thôi.

Tôi quay đi để nó không nhìn mặt tôi mà đoán già đoán non và sửa soạn đi ngủ.

Tôi không thể hiểu thông tin vừa nghe được dưới nhà.

Tôi chỉ ước tất cả đều là thông tin của trí tưởng tượng của riêng tôi mà thôi.

Nhưng có một điều quá rõ rang: Thầy Brunner và Grover bí mật nói chuyện với nhau vê tôi.

Họ tin chắc tôi sắp gặp nạn.

Chiều hôm sau, vừa ra đến cửa phòng thi sau khi làm bài thi môn tiếng Latinh dài ba tiếng, mắt tôi như nhảy múa với những cái tên Hy Lạp và La Mã cổ đại tôi đã viết sai.

Toi nghe tiếng thầy Brunner gọi giật lại.

Tôi thoáng lo lắng rằng thầy phát hiện đêm qua tôi nghe lén chuyện của thầy nhưng hóa ra tôi lo hão.

- Percy này, đừng nản lòng khi phải rời Học viện Yancy nhé.

Theo thầy... thế là thượng sách, em ạ.

Giọng thầy như an ủi, nhưng câu chữ thầy dùng khiến tôi ngượng chín cả người.

Dù thầy rất khẽ khàng, nhưng mấy bạn chưa làm xong bài còn trong phòng nghe thấy hết.

Nhỏ Nancy Bobofit nhìn tôi bĩu môi và gửi cái nụ hôn gió chế nhạo.

Tôi lẩm bẩm:

- Em biết rồi ạ.

Thầy hết cho xe chạy lên, lại cho xe chạy đẩy lùi xuống như thể thầy không biết phải nói gì:

- Tức là... em không hợp với trường này.

Thế nên sớm muộn gì em cũng phải rời trường thôi.

Mắt tôi cay xè.

Thế đấy!

Người thầy tôi kính trọng nhất đứng trước mặt cả lớp và bảo thẳng rằng tôi không có khả năng tiếp tục theo học được nữa.

Suốt một năm qua thầy luôn tin tưởng tôi, vậy mà bây giờ thầy bảo số tôi thể nào cũng bị tống cổ khỏi trường.

Tôi run rẩy:

- Dạ phải.

- Không, không phải như em nghĩ đâu.

Tôi nói linh tinh gì thế này.

Tôi muốn nói là... em không hề bình thường một chút nào.

Tôi không hề có ý...

Tôi cắt ngang:

- Cảm ơn thầy!

Cảm ơn thầy đã nhắc em điều đó.

- Kìa Percy...

Nhưng tôi đã cắm cúi bỏ đi

Trong ngày cuối cùng của học kỳ, tôi tống hết quần áo vào va li.

Đám con trai cười nói và khoe nhau dự định cho kỳ nghỉ hè sắp đến.

Một đứa bảo sẽ thực hiên chuyến đi bộ đường trường xuyên đất nước Thụy Sĩ xinh đẹp.

Đứa khác khoe sẽ lái du thuyền ở biển Carribbea cả tháng.

Cũng như tôi, chúng đều là tội phạm vị thành niên, chỉ có khác là nhà chúng giàu nứt đố đổ vách.

Bố chúng toàn là tổng giám đốc tập đoàn xuyên quốc gia nọ hay đại sứ Hoa Kỳ ở nước kia, hoặc chí ít cũng là một nhân vật nổi tiếng.

Còn tôi chỉ là đứa cha căng chú kiết, xuất thân từ một dòng họ chẳng có ai thành danh cả.

Bọn bạn hỏi tôi hè định làm gì.

Tôi bảo sẽ về Manhattan với mẹ.

Tôi giấu chúng chuyện hè này tôi sẽ dắt chó đi dạo thuê để kiếm chút tiền mọn hoặc gõ cửa từng nhà bán phiếu mua báo dài hạn nhằm cung phụng cho thói cờ bạc của cha dượng.

Có thế, ông mới cho tôi ăn ngày hai bữa.

Nếu may mắn có thời gian rảnh rỗi, tôi sẽ lại ôm đầu lo cháy ruột vì không biết sẽ học ở đâu khi bắt đầu năm học mới.

Nghe tôi nói, một đứa trong nhóm đáp:

- À, thế cũng hay.

Đoạn nó quay sang với mấy đứa kia tán gẫu tiếp như thể cái thằng tôi chưa từng tôi tại trên đời.

Tôi sợ nhất là phải từ biệt Grover, nhưng hóa ra tôi lo hão.

Nó đã mua sẵn vé xe buýt về Manhattan, cùng chuyến với tôi luôn.

Vậy là trên đường quay về thành phố, chúng tôi lại vai kề vai ngồi sát bên nhau.

Dọc đường, Grover cứ bồn chồn ngoái nhìn chằm chằm vào lối đi giữa hai hàng ghế để quan sát hành khách trên xe.

Tôi nhớ rất rõ mỗi lần rời Học viện Yancy , Grover lại hoảng hốt, nhấp nhổm như ngồi trên chảo lửa như thể nó biết chuyện xấu thế nào cũng đến.

Lúc đầu tôi tưởng nó sợ bị trêu chọc.

Nhưng trên xe buýt, ai rỗi hơi chòng ghẹo nó chứ.

Cuối cùng, chịu không nổi tôi bèn bảo :

- Tìm mấy "Người Tử Tế" chứ gì ?

Grover giật thót mình :

- Cái... cái gì?

Cậu vừa nói gì?

Tôi bèn nói thật là đã nghe lén nó và thầy Brunner nói chuyện đêm trước ngày thi.

Mắt Grover giật liên hồi:

- Cậu nghe được gì rồi?

- À... có nghe được mấy câu.

Mà này, Hạn chót vào ngày Hạ chí nghĩa là gì thế?

Grover nhăn như bị:

- Thôi mà Percy...

Hôm ấy, chẳng qua tớ lo cho câu quá nên mới ra nông nỗi.

Ý tớ là cậu ảo tưởng về việc cô giáo dạy toán là ma quỷ đấy.

- Nhưng Grover...

- Tớ bèn bảo thầy Brunner rằng cậu đang bị căng thẳng quá mức.

Bằng chứng là trường làm gì có cô giáo nào tên Dodds, với lại...

- Này Grover, cậu nói dối dở lắm.

Hai tai nó đỏ lựng như mào gà.

Nó lục túi áo lấy tấm danh thiếp nhàu nát, bẩn lem nhem:

- Vậy cậu giữ cái này đi.

Ngộ nhỡ hè có cần đến tớ thì cứ gọi.

Trên tấm giấy nhỏ có dòng chữ hoa kiểu cầu kỳ làm chứng khó đọc của tôi thêm trầm trọng.

Mãi sau tôi mới nhìn ra nội dung sau:

Grover Underwood

Người trông giữ

ĐỒI CON LAI

Long Island , New York

009-0009

- Con lai là...

Grover gắt:

- Chớ nói to!

Đó là địa chỉ nơi tớ ở... trong hè.

Tôi buồn nẫu ruột.

Hóa ra, Grover có nhà nghỉ dành cho mùa hè.

Tôi chưa bao giờ nghĩ nhà nó cũng giàu như đại đa số bọn bạn học trong Học viện Yancy.

Mặt tôi như đưa đám :

- Ra thế.

Vậy trong hè, nếu có muốn ghé dinh thự nhà cậu, tớ gọi số này à?

Nó gật đầu:

- Hoặc... khi có chuyện, cậu cần tớ giúp.

- Hè tớ cần cậu làm gì?

Tôi cố tình ăn nói phũ phàng.

Màu đỏ lan từ mặt xuống cổ Grover:

- Percy này, thực ra là tớ... tớ phải bảo vệ cậu.

Tôi trợn mắt nhìn nó.

Suốt năm học vừa rồi, tôi phải ẩu đả không biết bao nhiêu lần để bảo vệ Grover khỏi bị bắt nạt.

Gần đến ngày chia tay, tôi mất ăn mất ngủ vì lo không có tôi, Grover sẽ sống ra sao khi bắt đầu năm học mới.

Và bây giờ nó lại hành động như thể người cần được bảo vệ là tôi ấy.

Tôi bèn hỏi nó:

- Grover này, chính xác thì cậu đang bảo vệ tớ khỏi cái gì thế?

Một âm thanh ken két vang lên bên dưới chân bọn tôi.

Khói đen bốc ra từ bảng đồng hồ và cả xe buýt bốc mùi như trứng thối.

Bác lái xe lầm bầm nguyền rủa và tấp xe sát lề đường cao tốc.

Mấy phút sau, có tiếng loảng xoảng trong khoang chứa động cơ xe.

Tài xế bảo tất cả hành khách phải xuống xe ngay.

Grover và tôi rời xe như bao người khác.

Mấy chục con người đứng lố nhố ven con lộ trải dài tít tắp.

Nếu xe không hỏng và không phải bước chân khỏi xe buýt như thế này, chẳng ai để ý xem khu này thuộc địa phận nào.

Bên đường phía chúng tôi đứng toàn cây gỗ thích và rác rến do xe cộ qua đường hất xuống.

Nhìn qua con đường trải nhựa bốc hơi dưới nắng chang chang sang bên kia đường, tôi chỉ thấy một cửa hàng bán trái cây xây theo kiểu cũ.

Hàng hóa trong tiệm trông rất tươi ngon: nào anh đào và táo đỏ như màu máu, nào quả óc chó và mơ tươi mởn, nào rượu táo ướp lạnh đựng trong bình lớn.

Tiệm không có khách, chỉ có ba bà già ngồi ở ghế bập bênh bên dưới tán cây gỗ thích, đang đan một đôi vớ lớn tôi chưa bao giờ thấy qua.

Vớ gì mà rộng như áo len, nhưng hình dáng đúng là vớ đi chân.

Bà ngồi bên phải đan một chiếc, bà ngồi bên trái đan chiếc kia.

Bà ngồi giữa ôm chiếc rổ lớn đựng cuộn sợi xanh dương to tướng, trông như cuộn dây điện.

Ba bà lão này giống trong chuyện cổ tích: mặt xanh tái, da nhăn nheo như vỏ trái cây héo, tóc bạc cột gọn sau gáy, giấu sau vành khăn lớn in hoa sặc sỡ và cánh tay gầy guộc thò ra từ tay áo váy bằng vải bông bạc phếnh.

Nhưng lạ nhất là hình như họ dồn cả sáu con mắt vào tôi.

Họ không ngắm hành khách tản ra thành nhiều nhóm mà chỉ nhìn tôi... chằm chằm.

Tôi liếc Grover định kể ngày với nó nhưng mặt nó trắng bệnh không còn hột máu.

Đầu mũi nó giật giật.

- Cậu sao thế Grover?

Mà này, để tớ kể cho nghe...

- Nói ngay xem ba bà kia có nhìn cậu không?

Có hay không?

- Có nhìn.

Quái đản quá cậu nhỉ?

Chẳng lẽ chân tớ đi vừa cặp vớ ấy?

- Thôi đừng đùa nữa.

Vui lắm đấy mà đùa.

Bà già ngồi giữa lôi ra chiếc kéo lớn làm bằng vàng cẩn bạc, hai lưỡi kéo sắc lẻm, sáng loáng.

Tôi nghe tiếng Grover thở hào hển.

Nó giục:

- Mình vào xe đi, nhanh lên.

- Cái gì?

Trong xe nóng như lò bánh mỳ ấy.

- Lên xe ngay đi.

Nó mở cửa bước vào nhưng tôi cứ đứng lỳ.

Bên kia đường, ba bà già vẫn không rời mắt khỏi tôi.

Bà ngồi giữa cắt sợi dây.

Tôi xin thề có nghe tiếng "xoạt" từ bên kia đường vọng sang.

Hai bà bạn còn lại cuộn đôi vớ to khổng lồ lại, còn tôi phân vân tự hỏi vớ ấy dành cho ai: Kinh Kông hay yêu quái khổng lồ mình đầy lông lá.

Bác tài nổ máy.

Một đám khói xám phụt ra từ động cơ xe chở khách.

Cả chiếc xe rung bần bật, tiếng máy lại nổ giòn.

Hành khách reo lên mừng rỡ.

Vụt mạnh chiếc mũ mềm vào vô lăng, bác tài khoái chí:

- Có thế chứ.

Mời bà con lên xe đi.

Vừa chạm chân lên sàn xe, tôi bất chợt choáng váng như thể bị cảm nắng.

Trông Grover cũng không hơn gì.

Nó run cầm cập, hai hàm răng va vào nhau lách cách.

- Grover này?

- Gì cơ?

- Hình như cậu giấu tớ chuyện gì thì phải?

Nó đưa ống tay áo lên lau trán:

- Percy, lúc nãy cậu thấy gì ở tiệm trái cây?

- À, lại ba bà già đó.

Họ có gì mà cậu sợ thế?

Chắc họ không giống cô...

Dodds đâu nhỉ?

Nhìn mặt Grover thật khó đoán câu trả lời, nhưng có điều tôi biết chắc ba bà ở tiệm trái cây còn đáng sợ hơn cô Dodds gấp nhiều lần.

Nó bảo:

- Thì cứ kể xem cậu nhìn thấy những gì.

- Bà ngồi giữa lấy kéo cắt sợi dây.

Grover nhắm nghiền mắt, tai nó huơ huơ như làm dấu thánh nhưng không phải.

Dấu của Grover cổ xưa hơn dấu thánh nhiều.

- Vậy, cậu thấy bà ta cắt sợi dây.

- Ừ.

Thì sao?

Miệng hỏi thế nhưng trong lòng tôi biết đó là chuyện nghiêm trọng.

Grover cắn ngón tay cái, miệng lẩm bẩm:

- Thế này không được.

Tớ không muốn kết cục như lần vừa rôi.

- Lần vừa rồi?

- Sao lúc nào cũng là lớp sáu thế.

Không ai qua nổi lớp sáu cả.

Tôi bắt đầu phát hoảng vì thấy Grover nói nhảm hoài:

- Grover!

Cậu huyên thuyên gì vậy?

- Khi nào đến bến xe buýt, cho tớ đi cùng cậu về nhà.

Cậu hứa đi.

Yêu cầu của nó nghe rất kỳ khôi nhưng tôi hứa đại cho xong.

- Mê tín vừa thôi, ông mãnh!

Sợ điềm gở à?

Grover không trả lời.

- Này, tớ muốn hỏi về việc cắt dây vừa rồi.

Nó ám chỉ có người sắp chết hả cậu?

Nó rầu rĩ nhìn tôi như thể vừa chọn xong loại hoa mà tôi thích nhất dùng để phủ lên quan tài cho tôi vậy.

3.

Grover Không Mặc Quần

Đến lúc thú tội: Xe vừa vào bến, tôi đã bỏ rơi Grover tắp lự.

Tôi biết, tôi biết.

Làm thế là quá đáng với bạn bè lắm lắm.

Nhưng Grover làm tôi sợ muốn chết.

Nó nhìn tôi như thể tôi chết từ tám đời, miệng lẩm bẩm: "Biết ngay mà, lần nào cũng thế" và "Sao không ai trụ nổi cho đến hết năm lớp sáu?"

Tôi không còn lạ gì Grover.

Bàng quang nó hoạt động trên mức bình thường mỗi khi chủ nhân lo âu.

Thế nên tôi không ngạc nhiên khi vừa xuống xe buýt, nó bắt tôi hứa phải đợi nó trước khi te te chạy thẳng vào nhà vệ sinh.

Thay vì chờ bạn, tôi lấy va li chuồn ra cổng đón taxi về khu Thượng Manhattan.

Tôi bảo tài xế:

- Khu đông, ngã tư đường một lẻ bốn và đưòng Hoàng Tử.

***

Trước khi giới thiệu độc giả với mẹ tôi, tôi xin có đôi lời.

Tên bà là Sally Jackson, người tốt bụng nhất trần đời và là minh chứng sống cho câu triết lý cửa miệng của tôi: Người hiền chẳng bao giờ gặp lành.

Mẹ tôi lên năm tuổi cũng là lúc ông bà ngoại tôi tử nạn vì máy bay rơi.

Sau đó, bà được ông cậu mang về nuôi nhưng người đó chẳng thèm quan tâm gì đến cô cháu gái.

Vì muốn làm tiểu thuyết gia, nên suốt thời gian học trung học, mẹ tôi vừa học vừa đi làm quần quật cốt dành tiền lên đại học dự khóa viết văn.

Thế rồi ông cậu bị ung thư khiến mẹ tôi đang học lớp mười hai phải bỏ ngang để ở nhà chăm sóc cậu.

Ít lâu sau, ông cậu mất bỏ lại mẹ tôi tứ cố vô thân, không tiền bạc, không bằng cấp.

Thời gian ngắn ngủi tươi đẹp nhất của mẹ tôi là lúc gặp cha tôi.

Tôi không nhớ tý gì về cha, ngoại trừ cảm giác ấm áp bao trùm.

Có thể đó là dấu vết nụ cười ông dành cho tôi.

Mẹ không muốn nhắc đến cha vì hễ đả động đến chuyện ấy, mẹ lại buồn vô hạn.

Mẹ cũng không có lấy một tấm hình của ông.

Chắc bạn đọc cũng hiểu: cha mẹ tôi không cưới xin gì hết.

Mẹ bảo cha giàu có và là yếu nhân.

Quan hệ của họ được giấu trong vòng bí mật.

Thế rồi một ngày kia, cha lên tàu vượt biển Đại Tây Dương trong một chuyến công du khẩn cấp và không bao giờ trở lại.

Mẹ bảo cha mất tích ngoài khơi.

Không phải chết, chỉ mất tích thôi.

Mẹ xoay xỏa đủ mọi nghề, học bổ túc ban đêm lấy bằng tú tài và cố gắng nuôi tôi khôn lớn.

Chưa bao giờ tôi thấy mẹ phàn nàn hay nổi nóng, dù chỉ một lần.

Nhưng tôi biết, tôi là một đứa trẻ chẳng dễ nuôi chút nào.

Cuối cùng, mẹ lấy dượng Gabe Ugliano, người chỉ đễ chịu trong ba mươi giây đầu gặp mặt, sau đó để lộ ngay bản chất là tay đểu cáng có hạng.

Hồi còn bé tí, tôi đã gán cho dượng cái tên "Gabe Cóc Chết".

Xin lỗi vì tôi tả quá thực nhưng dượng Gabe hôi thật cơ.

Người ông ta lúc nào cũng có mùi bánh pizza tỏi thiu ủ cả tháng trong quần đùi bẩn.

Làm trung gian hòa giải cho tôi và dượng, cuộc sống của mẹ khó nhọc thêm mấy phần: nào là cách Gabe Cóc chết đối xử với bà, nào là nỗi lo vì xung đột giữa cha dượng và con ghẻ có thể bùng nổ bất cứ lúc nào...

Đơn cử là chuyện tôi về nhà là minh chứng hùng hồn cho điều đó.

***

Vừa bước qua ngưỡng cửa căn hộ nhỏ xíu, tôi vừa hy vọng mẹ đã đi làm về.

Nhưng tôi sớm phải thất vọng vì trong phòng khách chỉ có dượng Gabe đang vui vẻ cùng đám bạn cờ bạc.

Tivi mở kênh thể thao ESPN ồn ã.

Vỏ bim bim và lon bia rỗng vương vãi khắp mặt thảm.

Chẳng buồn nhìn lên, dượng Gabe vừa cắn đầu điếu xì gà, vừa làu bàu:

- Mày về đấy à?

- Mẹ con đâu ạ?

- Đi làm.

Mày có tiền không?

Thế đấy.

Không hề có chuyện dượng niềm nở: "Vào nhà đi con.

Mừng con dã trở về.

Sáu tháng qua, con sống thế nào?"

Cha dượng tôi mập ra trông thấy.

Trông ông ta giống con hải mã mú míp ních trong bộ quần áo mua ở cửa hàng đồ cũ.

Đầu Gabe Cóc Chết chỉ còn ba cọng tóc lúc nào cũng chải mượt, vắt ngang qua đỉnh đầu hói bóng lưỡng như thể trông cho đẹp trai, bảnh chọe hay gì gì đó.

Dù quản lý gian hàng bán đồ điện tử Mega-Mart dưới khu Queens nhưng ông ta hầu như chỉ ngồi nhà.

Theo tôi, đáng lẽ dượng phải bị đuổi việc từ lâu rồi mới phải.

Ngược lại, dượng cứ lãnh lương tì tì để mua xì gà (thứ làm tôi buồn nôn) và tất nhiên, để uống bia.

Lúc nào cũng thấy ông ấy nốc bia.

Mỗi khi thấy mặt tôi ở nhà, dượng lại đòi tôi cúng tiền cho xới bạc.

Gabe Cóc Chết gọi đó là "Bí mật giữa cánh dàng ông với nhau", ngụ ý rằng nếu tôi hé môi với mẹ, ông ta sẽ đánh tôi sống dở chết dở.

Tôi bảo:

- Con không có tiền.

Gabe Cóc Chết nhướn đôi lông mày bóng dâu.

Ông ta đánh hơi thấy mùi tiền thính như chó săn thấy con mồi.

Kể cũng lạ, tôi tưởng mùi hôi thối từ cơ thể ông át mọi mùi khác chứ.

- Mày đi tãi từ bến xe về chắc chứn tốn cả hai chục đồng.

Chí ít giờ trong túi mày phải còn sáu bảy đồng tiền lẻ.

Nhà tao đâu phải nhà nuôi trẻ làm phúc.

Muốn sống ở đây phải biết điều chứ.

Tao nói có gì trật không, Eddie?

Chú Eddie, vốn là quản lý tòa nhà chung cư này, nhìn tôi với vẻ mặt cắn rứt.

Nếu tách chú khỏi chiếu bạc này, ai cũng bảo chú không đến nỗi tệ.

Chú bảo:

- Kìa Gabe, cháu nó vừa chân ướt chân ráo vào nhà mà.

Dượng Gabe đay lại:

- Nhưng tao nói có đúng không?

Eddie vội cúi xuồng đĩa bánh, không dám ngẩng đầu lên.

Hai người lạ ngồi cạnh cú cũng im lặng.

Tôi móc nắm tiền trong túi ném lên bàn:

- Này đây.

Cầu cho dượng thua cháy túi.

Dượng Gabe gào lên sau lưng tôi:

- Này học sinh ưu tú, người ta gửi bảng điểm của mày về đây rồi đấy, con ạ.

Học ngu còn ra vẻ ta đây!

Tôi sập cửa phòng "mình" đánh rầm.

Thực ra, đó không hẳn là phòng riêng của tôi.

Trong lúc tôi ở lại trường nội trú, nó là "phòng nghiên cứu" của dượng Gabe.

Khốn nỗi ông ta chẳng "nghiên cứu" gì ngoài đống tạp chí xe hơi cũ.

Tuy nhiên, cha ghẻ tôi khoái tống táng đồ đạc của tôi vào tủ, "trưng bày" đôi giày cao cổ dính ầy bùn lên bậu cửa sổ và cố hết sức làm phòng này ám mùi nước hoa đàn ông gớm guốc trộn mùi khói thuốc lá và bia thiu chua lòm.

Tôi ném va li lên giường.

Về nhà thích thật.

Có thể nói mùi dượng Gabe còn tệ hơn ác mộng về cô Dodds, tệ hơn cả âm thanh sởn da gà lúc bà già bán trái cây cắt sợi dây xanh.

Nghĩ đến đó, tôi thấy tay chân bủn rủn.

Tôi nhớ nét mặt hớt ha hớt hải của Grover – cách nó bắt tôi hứa không về nhà nếu không có nó đi cùng.

Bất giác tôi rùng mình.

Tôi cảm giác người nào... hoặc con gì đang ngó tôi chằm chằm.

Có thể ngay lúc này nó đang bò lên cầu thang, móng vuốt ngày càng mọc dài nhọn hoắt.

Đúng lúc ấy, tiếng mẹ tôi vang lên :

- Percy về đấy à con ?

Tôi nhìn mẹ đứng ngay cửa phòng, bao nỗi sợ hãi tan biến mất.

Chỉ cần thấy mẹ bước vào phòng, lòng tan an bình, thanh thản ngay.

Mắt mẹ lấp lánh và đổi màu dưới ánh đèn.

Nụ cười mẹ ấm áp như tấm chăn mềm mại ủ ấm tôi ngày đông giá.

Mái tóc nâu dài của mẹ điểm bạc nhưng với tôi, mẹ không bao giờ già.

Mỗi khi mẹ nhìn tôi, hình như bà chỉ thấy tôi tốt đẹp mọi bề, không một chút xấu xa.

Tôi chưa bao giờ nghe mẹ gắt gỏng hay nặng lời với ai bao giờ, ngay cả với dượng Gabe và tôi.

Mẹ ôm tôi vào lòng :

- Trời, Percy của mẹ.

Mới từ Giáng sinh đến giờ, con đã cao lớn quá chừng.

Áo thun đồng phục của nhân viên cửa hàng kẹo mang dòng chữ "Nước Mỹ Ngọt Ngào" mẹ mang tên người có mùi thơm dễ chịu nhất trên đời.

Nó là hỗn hợp mùi của sôcôla, cam thảo và đủ thứ ngọt ngon bày bán trong cửa hàng dưới khu mua sắm Grand Central.

Như mọi khi, để đón tôi về nhà, mẹ mang về cho tôi một bịch tướng toàn "hàng mẫu miễn phí".

Hai mẹ con ngồi bên mép giường.

Nhìn tôi ăn ngấu nghiến các thanh kẹo dẻo có mùi quả việt quất, mẹ dịu dàng vuốt tóc tôi, bắt tôi kể hết mọi điều tôi chưa viết trong thư.

Mẹ không hề đả động đến chuyện tôi bị đuổi học.

Dù thế tôi vẫn băn khoăn: liệu tôi thế này có là bình thường chăng ?

Liệu tôi có ngoan, có xứng với tình yêu thương của mẹ ?

Tôi bảo rằng mẹ hỏi dồn dập như thế, tôi lấy sức đâu trả lời cho kịp: "Thôi mẹ, cứ hỏi người ta hoài!".

Nhưng trong thâm tâm, tôi cực kỳ vui sướng vì lại được ở bên mẹ.

Có tiếng dượng Gabe từ phòng ngoài gọi oang oang :

- Này Sally, món xúp đậu có chưa?

Tôi nghiến răng trèo trẹo.

Người tốt bụng, xinh đẹp nhất đời như mẹ tôi xứng đáng lấy được người chồng triệu phú, chứ không phải cơm bưng nước rót cho lão Gabe Cóc Chết kia!

Muốn làm mẹ vui, tôi bảo mấy ngày cuối cùng ở Học viện Yancy vui lắm.

Tôi còn bảo rằng dù bị đuổi học nhưng tôi không quá buồn bã.

Ít nhất thì lần này, tôi cũng trụ được đến gần hết năm.

Không những thế, tôi còn có thêm một vài người bạn mới và học tiếng Latinh không tồi.

Còn nữa, thật lòng mà nói, mấy vụ đánh nhau không đến nỗi ghê gớm như trong thư thầy hiệu trưởng gửi phụ huynh.

Tôi thật sự thích Học viện Yancy lắm và đó là tình cảm tận đáy lòng tôi.

Càng kể, tôi càng tin năm vừa qua tôi hoàn toàn vui vẻ.

Tôi nghẹn ngào khi nhắc đến thầy Brunner và Grover.

Giờ ngồi ôn lại, tôi thấy ngay cả vụ né tránh được bánh kẹp bơ đậu phộng của Nancy Bobofit ném vào người không đến nỗi quá khó chịu.

Nhưng khi kể đến chuyến tham quan viện bảo tàng thì...

Ánh mắt mẹ tôi như thúc giục tôi kể hết :

- Con bảo sao cơ?

Cái gì làm con sợ thế?

- Thưa mẹ, không có gì ạ.

Phải nói dối mẹ, tôi day dứt ghê lắm.

Tôi định kể mẹ nghe chuyện cô Dodds, chuyện ba bà già cắt sợi dây xanh nhưng chính tôi cũng thấy chúng thật ngớ ngẩn, không thể xảy ra trong đời thực.

Mẹ cắn môi ra chiều suy nghĩ.

Bà biết tôi cố giấu nhưng không ép tôi nói thật.

- Có quà bất ngờ cho con đây.

Mẹ con mình sẽ đi tắm biển.

Tôi mở to mắt sung sướng:

- Đến Montauk nữa hả mẹ?

- Ừ.

Mình đi nghỉ ba đêm hai ngày.

Cũng căn nhà gỗ cũ.

- Khi nào ạ?

Mẹ mỉm cười:

- Mẹ thay đồ xong, mình đi ngay.

Tôi không tin vào tai mình.

Hai năm nay mẹ con tôi chưa đi Montauk vì được Gabe bảo nhà không đủ tiền.

Chỉ nghĩ đến chuyện được đi biển, lòng tôi náo nức như hồi con thơ bé.

Dượng Gabe thò đầu vào cửa gầm lên:

Sally, tôi bảo cô nấu nò xúp đậu chứ có yêu cầu nem công chả phượng đâu mà chưa làm, còn ngồi ỳ đó?

Tôi chỉ muốn cho ông ta ăn quả thụi nhưng mẹ đã kịp đưa mắt ngăn lại.

Tôi hiểu mẹ muốn nhắc tôi "chín bỏ làm mười" cho yên nhà yên cửa cho đến lúc mẹ thu xếp xong đồ đạc cho chuyến đi.

Đến lúc ấy, hai mẹ con sẽ được yên thân.

Mẹ quay sang dượng Gabe:

- Em làm ngay đây.

Chẳng là hai mẹ con vừa bàn sẽ đến Montauk vài ngày.

Cha ghẻ tôi nheo mắt:

- Lại đi à?

Cô nói thật không đấy ?

Tôi lầm bầm:

- Biết ngay mà.

Đời nào dượng cho mình đi chơi.

Mẹ tôi bình thản :

- Dượng đồng ý đấy.

Chẳng qua dượng lo chuyện tiền nong thôi.

"Lo" ư?

"Tức cành hông" thì có!

Dượng tức vì phải bớt bia bớt rượu.

Mẹ nói thêm:

- Con à, Gabriel sẽ không phải làm món súp đậu.

Mẹ sẽ làm món xúp đậu bảy lớp cho ông ấy ăn trong những ngày cuối tuần.

Ngoài ra còn có xốt guacamole.

Kem chua.

Toàn món ngon thôi.

Mắt Gabe Cóc Chết sáng rực:

- Với lại, chi phí chuyến đi biển... trừ vào quỹ may quần áo mới của cô nhé.

- Vâng, cứ như thế anh ạ.

- Với lại, tối Chủ nhật cô nhớ thu xếp về sớm để kịp nấu bữa tối.

Mà này, chớ lấy xe tôi đi lung tung.

Chỉ đi từ đây đến Montauk và từ đó về nhà thôi đấy.

- Anh yên tâm, mẹ con em sẽ giữ gìn xe cẩn thận.

Dượng Gabe gãi cằm:

- Tôi chỉ đồng ý nếu cô nhanh tay làm vài món lai rai ngay bây giờ.

Với lại bảo thằng nhỏ xin lỗi vì về đúng lúc tôi đang chơi bài làm người ta mất tập trung.

Tôi bụng bảo dạ: "Hay để tôi đá trúng "bộ hạ" ông vài phát?

Muốn nằm liệt giường rên rỉ cả tuần không?"

Nhưng mẹ tôi đã lừ mắt nhìn, nhắc tôi đừng chọ tức dượng.

Tôi chỉ muốn hét thật to: "Sao mẹ để ông ta trèo đầu trèo cổ hoài vậy?

Ông ta nghĩ gì đâu cần mẹ quan tâm cho mệt xác?"

Tôi đành làu bàu:

- Con xin lỗi.

Con có lỗi vì đã làm dượng mất tập trung trong ván bài cực kỳ quan trọng khi nãy.

Mời dượng quay lại xới bạc ngay kẻo mọi người chờ.

Gabe Cóc Chết nheo mắt, cố vận hành bộ óc bé như hạt đậu để tìm xem trong giọng nói tôi có chút mỉa mai nào chăng.

- Thôi thôi, giờ mày nói gì chả được.

Nói đoạn, ông ta quay ra chơi bài.

Mẹ tôi bảo:

- Cảm ơn con.

Ngay khi đến Montauk, mẹ con mình sẽ nói nốt chuyện... bất cứ chuyện gì con chưa kịp nói, nhé?

Tôi thoáng thấy ánh lo sợ trong mắt mẹ, hệt như mắt Grover trên xe buýt lúc chiều.

Giống Grover, chắc mẹ cũng cảm nhân luồng gió lạnh buốt khác thường vừ vụt qua và linh tính hiểm nguy đang rình rập từng bước chân tôi.

Nhưng ngay sau đó mẹ cười xòa khiến tôi cho rằng mình lầm.

Đời nào người như mẹ lại có những suy nghĩ u ám như thế.

- Mẹ xong ngay bây giờ đây.

Mẹ vỗ nhẹ đầu tôi rồi tất tả vào bếp.

***

Hơn tiếng đồng hồ sau, chúng tôi đã sẵn sàng lên đường.

Dượng Gabe không làm gi, chỉ quăng vội hành lý lên xe cho mẹ rồi vội vã quay lại với ván bài dở dang.

Ông ta luôn miệng chì chiết, rên rỉ vì cuối tuần mẹ không ở nhà nấu đồ ăn nấu sốt, lại còn mang chiếc Camaro đời 78 của ông ta đi những hai ngày.

Quăng chiếc túi cuối cùng lên xe, ông ta hầm hè với tôi :

- Chỉ cần xe trầy một vết nhỏ thôi là mày liệu hồn tao đấy.

Làm như tôi sắp lái xe không bằng.

Khổ nỗi cha ghẻ tôi không cần biết.

Nếu hải âu trót ị lên lớp sơn mới của xe, ông ta sẽ tìm cách đổ hết tội lên đầu tôi.

Nhìn cha dượng đã ngà sau lảo đảo quay vào tòa chung cư, tôi tức không chịu nổi nên vô tình vung tay lên đúng lúc dượng Gabe vừa đến cửa.

Tôi làm động tác giống hệt Grover làm lúc trên xe buýt, một kiểu làm dấu đuổi tà gì đó và phẩy tay về hướng Gabe Cóc Chết.

Thế là cách cổng sập mạnh, va trúng mông khiến ông ta bay thẳng đến chân cậu thang hệt như bị trúng đạn đại bác.

Chắc tại gió to quá, hay tại bản lề cửa bị hư nhưng tôi không nán lại lâu đủ để tìm hiểu rõ nguyên nhân.

Leo tót lên xe, tôi giục mẹ đi thật nhanh.

***

Nhà gỗ hai mẹ con thuê nằm trên bãi biển phái nam, gần cuối đảo Long Island.

Nhà nhỏ xíu sơn màu tùng lam nhẹ bị lún gần nửa dưới cồn cát.

Rèm cửa trong nhà bạc phếch.

Khăn trải giường lúc nào cũng dính cát bay từ ngoài vào và tủ kệ đầy mạng nhện.

Còn biển thường lạnh buốt đến độ không thể bơi được.

Nhưng tôi thích nơi này vô cùng.

Hồi tôi còn bé xíu, mẹ đã đưa tôi đến đây.

Còn mẹ đến nơi này trước cả khi có tôi.

Dù chưa bao giờ mẹ nói ra nhưng tôi biết tại sao bà gắn bó đặc biệt với nơi này.

Đây là nơi mẹ gặp gỡ cha tôi.

Xe càng đến gần Montauk, mẹ càng trẻ lại.

Dấu vết của bao năm tháng nhọc nhằn hằn trên mặt mẹ chợt biến mất.

Mắt mẹ đổi màu xanh biếc như màu biển khơi.

Xe đến nơi đúng lúc hoàng hôn.

Hai mẹ con mở hết cửa sổ và dọn quanh một lượt như mọi khi.

Xong xuôi, mẹ con tôi vừa dạo chơi trên bờ biển vừa ném bỏng ngô xanh cho đàn hải âu vờn quanh.

Chúng tôi ăn thạch, kẹo bơ cứng màu xanh màu biển cùng đủ loại hàng mẫu miễn phí mẹ mang từ cửa hàng về.

Tôi xin có đôi dòng giải thích về thực phẩm màu xanh biển của mẹ.

Chẳng là dượng Gabe có lần bảo đồ ăn không thể có màu xanh nước biển.

Mẹ và dượng cãi nhau, như bao chuyện nhỏ nhặt khác.

Nhưng kể từ đó, mẹ hay tìm thực phẩm màu xanh về ăn: mẹ làm bánh sinh nhật có màu xanh, làm sinh tố xanh từ quả việt quất.

Mẹ mua loại tortilla chip làm từ ngô xanh và các loại kẹo xanh từ tiệm về nhà.

Dượng Gabe tức điên còn tôi khoái vô cùng.

Chọn đồ ăn màu xanh cộng với việc mẹ giữ họ thời con gái, không lấy họ Ugliano của dượng chứng tỏ mẹ không nhất nhất nghe lời ông ta.

Tôi cũng giống mẹ ở chỗ rất có cá tính.

Thấy màn đêm dần buông, chúng tôi cùng nhóm lửa nướng xúc xích và kẹo marshmallow.

Mẹ thủ thỉ kể tôi nghe nhiều chuyện thời thơ ấu của mẹ, cả những chuyện xảy ra trước khi ông bà ngoại tôi mất vì tai nạn máy bay.

Mẹ còn kể cho nghe về những cuốn sách mẹ muốn viết một khi mẹ có đủ tiền và nghỉ việc ở cửa hàng kẹo.

Cuối cùng, tôi lấy hết can đảm nêu thắc mắc đeo bám tôi mỗi lần đến nghỉ ở Montauk: thắc mắc về cha ruột tôi.

Cặp mắt mẹ mơ màng.

Chắc bà sắp nhắc lại câu chyện về cha mà tôi nghe nhiều lần nhưng vẫn muốn nghe nữa.

- Cha con rất tốt bụng, đẹp trai, cao lớn và có uy lắm.

Tuy nhiên, ông cũng rất dịu dàng.

Con giống cha ở mái tóc đen bóng và màu mắt xanh lá cây tuyệt đẹp.

Tôi đỏ mắt:

- Thôi mà mẹ.

Mẹ vẫn cười cười, làm như bà biết tôi nghĩ gì.

Tôi sẽ ngượng chín nếu phải thú nhân tôi hay ngắm mình trong gương, hình dung mình lớn thêm vài chục tuổi để từ đó có chút khái niệm về diện mạo cha mình.

Mẹ tôi lục tung túi kẹo tìm kẹo màu xanh biển:

- Giá cha nhìn thấy con lúc này.

Hẳn ông sẽ tự hào lắm lắm.

Tôi tự hỏi sao mẹ có thể bình thản mà nói thế.

Tôi có gì hay ho chứ?

Chẳng qua tôi chỉ là học sinh cá biệt vừa mắc chứng hiếu động thái quá vừa bị bệnh khó đọc với tổng kết dưới mức trung bình, đã thế còn phải học lớp sáu những sáu năm và bị đuổi học những sáu lần.

- Hồi ấy, con lên mấy?

Lúc cha đi ấy?

Mẹ tôi đăm đăm nhìn ngọn lửa:

- Cha chỉ ở bên mẹ một mùa hè.

Ngay trên bãi biển này.

Cũng căn nhà gỗ này đây.

- Nhưng... lúc con mới sinh, cha có thấy con mà.

- Không đâu con.

Ông biết mẹ sắp sinh nhưng chưa bao giờ thấy con.

Ông có việc phải đi trước khi con chào đời.

Tôi định đính chính là: Theo trí nhớ, con biết đôi chút về cha.

Cảm giác ấm áp.

Và nụ cười của ông.

Tôi luôn cho rằng khi tôi mới rời bụng mẹ, hai cha con có gặp nhau.

Dù mẹ không trực tiếp công nhận điều đó, tôi vẫn luôn tin nhất thiết đó phải là sự thật.

Giờ tôi lại nghe nói là cha chưa bao giờ thấy mặt con...

Tự nhiên tôi giận cha quá.

Dẫu biết mình vô lý nhưng tôi vẫn bất mãn vì ông đã vượt biển lần ấy, vì ông không có can đảm cưới mẹ tôi.

Nếu cha không bỏ rơi hai mẹ con, đâu đến nỗi giờ chúng tôi phải sống chung nhà với Gabe Cóc Chết, tôi đâu phải học nội trú và chỉ được ở bên mẹ lúc nghỉ hè.

- Năm tới con lại ở nội trú ư?

Mẹ định tìm cho con trường khác à?

Mẹ thổi thổi thanh kẹo từ trong đống lửa ra.

Giọng bà đầy muộn phiền:

- Cũng chưa biết nữa.

Chắc... chắc ta phải tính cách thôi.

- Mẹ không muốn con ở bên mẹ ư?

Tôi hối hận ngay lập tức vì đã trót lỡ lời.

Mắt mẹ ầng ậc nước.

Bà nắm tay tôi thật chặt:

- Ôi, không phải vậy đây Percy.

Mẹ... mẹ buộc phải làm thế.

Vì điều đó tốt cho con nên mẹ mới phải gởi con đi xa như vậy.

Nghe mẹ nói, tôi lại nhớ đến lời thầy Brunner: Tốt nhất tôi nên rời khỏi Học viện Yancy.

- Vì con không được bình thường ư?

- Con nói như thể đó là điều tồi tệ vậy.

Nhưng con đâu biết con trai mẹ đặc biệt vô cùng.

Mẹ tưởng Học viện Yancy xa xôi như thế sẽ tốt cho con.

Mẹ đã nhầm vì tưởng cuối cùng cũng tìm được chỗ an toàn cho con.

- Mẹ nói an toàn là sao?

Chẳng lẽ con gặp nguy hiểm gì ư?

Khi ánh mắt chúng tôi gặp nhau, ký ức lại ùa về tràn ngập tâm trí tôi.

Từ trước đến giờ tôi gặp nhiều chuyện rất kỳ cục và đáng sợ, trong đó có nhiều chuyện tôi chỉ muốn quên phắt.

Hồi lớp ba, có một ông mặc áo khoác đen to sù sụ theo dõi tôi ngoài sân chơi.

Mãi đế khi thầy cô dọa gọi cảnh sát, ông ta mới gầm lên bỏ đi.

Tuy nhiên, không ai tin khi nghe tôi kể rằng dưới vành mũ sùm sụp của hắn chỉ có một con mắt ngay giữa trán.

Chưa hết, trước đó rất lâu, hồi tôi học mẫu giáo, đến giờ ngủ trưa cô bảo mẫu vô tình đặt tôi vào cũi có con rắn nằm sẵn trong đó tự lúc nào.

Lúc đón con, mẹ tôi thét lên khi thấy toi đang chơi với con rắn dài thậm thượt.

Chỉ bằng đôi tay nhr xíu, mũm mĩm, tôi đã thắt nút mình rắn như thắt nút dải ruy băng.

Đến tuổi đi học – những chuyện sởn gai ốc luôn xảy ra.

Những chuyện cực kỳ nguy hiểm.

Và tôi bị buộc phải chuyển trường.

Dẫu biết nên kể cho mẹ chuyện ba bà già ở sạp trái cây, chuyện cô Dodds ở viện bảo tàng, nhất là màn ảo giác kỳ cục trong đó tôi phanh thây cô giáo thành tro bụi bằng thanh kiếm dài, thế nhưng tôi lại không dám.

Lạ thay, tôi có cảm giác nếu báo tin ấy, chuyến đi Montauk sẽ kết thúc ngay lập tức mà tôi lại không muốn thế chút nào.

- Mẹ cố giữ con càng gần mẹ càng tốt.

Nhưng mọi người bảo thế là sai lầm.

Nhưng còn có một lựa chọn duy nhất: nơi cha muốn gửi con theo học.

Nhưng... mẹ không đành lòng làm thế.

- Cha muốn gửi con đến trường đặc biệt ư?

- Không phải trường.

Là trại hè.

Tôi không hiểu gì cả.

Tại sao người cha không ở bên từ khi tôi chào đời có thể bàn với mẹ chuyện đưa tôi đi trại hè?

Va nếu chuyện đi trại hè quan trọng đến vậy, tại sao trước nay mẹ chưa từng đả động đến?

Thấy tôi hoang mang, mẹ bảo:

- Xin lỗi con, nhưng mẹ không thể nói với con về trại hè.

Mẹ... không thể để con đến đó.

Làm thế có nghĩa mẹ con ta sẽ vĩnh viễn không còn gặp mặt nhau.

- Vĩnh viễn ư?

Nhưng con tưởng trại hè chỉ...

Mẹ quay mặt đi, chăm cú nhìn đống lửa.

Nhìn mặt mẹ, tôi biết chỉ cần tôi hỏi thêm câu nữa, bà sẽ khóc òa.

***

Giấc mơ đêm ấy của tôi sống động như ngoài đời thật.

Ngoài biển mưa gió bão bùng.

Hai con vật đẹp như tranh vẽ, một con tuấn mã trắng tuyền và con đại bàng lông như dát vàng, đánh nhau dữ dội sát mép sóng.

Đại bàng xà xuống, giương móng vuốt to lớn cào rách mũi chú ngựa trắng.

Chú ngựa giận dữ chồm lên, vung chân dá cánh đại bàng.

Giữa lúc giao tranh, đất trời rung chuyển.

Đâu đó sâu trong lòng đất vang lên tiếng gầm ghê rợn xúi giục chúng lao vào nhau cắn xé.

Tôi chạy về phía chúng và biết mình nhất định phải can ngăn nhưng không hiểu sao chân tôi chạy rất chậm.

Tôi biết cứ đà nay, tôi sẽ không kịp mất.

Từ xa, tôi thấy đại bàng nhào xuống mổ lòi mắt chú ngựa bạch.

Tôi thét lên: "Đừng!"

Tôi giật mình choàng tỉnh.

Bên ngoài đang có bão thật.

Gió mạnh cỡ này chắc chắn phải có cây đổ, nhà sập chứ chẳng chơi.

Ngoài bãi cát không có tuấn mã và đại bàng, chỉ có sấm chớp chốc chốc rực sáng cả bầu trời.

Những ngọn sóng cao sáu mét dội vào đụn cát nghe như tiếng đại bác.

Mẹ tôi thức giấc sau loạt sấm rền.

Bà ngồi dậy, mắt mở to, nhìn tôi âu lo:

- Bão nhiệt đới.

Tôi biết chuyện này thật điên rồ.

Mới đầu hè, biển ở Long Island không bao giờ có bão lớn như thế.

Thế nhưng, đại dương dường như đã quên điều đó.

Trong tiếng gió hú, tôi nghe có tiếng gầm gừ từ xa vọng tới.

Tiếng kêu nghe đau đớn, vật vã làm tôi sởn cả tóc gáy.

Sau đó là tiếng động tiến đến gần hơn, nghe như tiếng búa nện trên cát.

Một giọng nói tuyệt vọng – ai đó vừa hét vừa đập vào cửa căn nhà gỗ.

Mẹ tôi mặc nguyên váy ngủ lao xuống đất, chạy ra mở cửa.

Grover ướt như chuột lột hiện trên khung cửa.

Nhưng hình như... cậu ta không phải Grover, bạn tôi.

Nó hổn hển:

- Tôi kiếm hai mẹ con suốt đê.

Các người nghĩ sao mà ra đây thế?

Mẹ nhìn tôi hoảng hốt.

Bà không sợ Grover.

Lý do nó đến tìm mới làm bà kinh hãi.

Tiếng mẹ gào át cả tiếng mưa:

- Percy!

Ở trường đã xảy ra chuyện gì?

Con đã không kể cho mẹ nghe chuyện gì?

Tôi chết sững, mắt nhìn Grover đăm đăm nhưng không hiểu trước mắt mình là cái gì.

Nó gào lên:

- Những Kẻ Bất Tử!

Nó đuổi sát tôi rồi.

Cậu chưa kể với mẹ ư?

Tôi sốc thực sự khi nghe nó mắng bằng tiếng Latinh.

Tôi hiểu nó vừa nói gì nhưng quá kinh ngạc vì không biết bằng cách nào Grover tìm đến tận đây giữa đêm hôm khuya khoắt.

Với lại, Grover không mặc quần.

Chân nó... chỗ lúc trước là chân nó thì...

Mẹ nghiêm khắc nhìn tôi và lần đầu tiên đanh giọng ra lệnh:

- PERCY!

Nói cho mẹ NGAY.

Tôi lắp bắp kể về ba bà già ở sạp trái cây và về cô Dodds.

Mẹ nhìn chằm chằm vào tôi, mặt bà tái nhợt như thây ma trong ánh sáng lập loe.

Bà chộp lấy túi xách và quăng áo mưa cho tôi:

- Ra xe ngay.

Cả hai đứa.

NHANH LÊN!

Grover chạy ra chiếc Camaro.

Nói chạy cũng không đúng, nó đang phi nước đại.

Phần thân sau lông lá gân guốc của nó rung rung.

Giờ tôi mới nhớ nó bảo có bệnh về cơ.

Tôi đã hiểu lý do nó chạy thì nhanh nhưng đi bình thường lại như bị tật.

Bởi vì chỗ đáng lẽ phải có bàn chân lại thay bằng cặp móng guốc.

4.

Mẹ Dạy Tôi Đấu Bò

Xe xuyên màn đêm, lần theo những con đường thôn quê tối tăm.

Gió mạnh quất chiếc Camaro từng hồi.

Mưa vụt tới tấp vào kính trước.

Không biết mẹ nhìn đường bằng cách nào, chỉ biết mẹ đạp chân ga liên tục.

Mỗi khi có chớp, tôi lại quay sang nhìn Grover đang ngồi cạnh mình ở hàng ghế sau và tưởng minh mất trí hoặc tưởng nó mặc quần may bằng thảm lông dài.

Nhưng mùi cơ thể nó nhắc tôi nhớ đến những chuyến tham quan trại nuôi gia súc từ hồi mẫu giáo – mùi mỡ lông cừu.

Mùi của một đọng vật ẩm ướt ở trang trại.

Tôi không nghĩ được câu gì để hỏi, ngoại trừ:

- Vậy ra... cậu quen mẹ tôi?

Grover liếc nhanh kính chiếu hậu dù bên ngoài không có xe nào sau xe chúng tôi:

- Không hẳn.

Thật ra thì đây là lần giáp mặt đầu tiên.

Tuy nhiên, bà biết tớ đang bảo vệ cậu.

- Bảo vệ tớ ư?

- Tớ giữ đầu còn trên cổ cho cậu.

Đảm bảo cậu không hề hấn gì.

Nói thế không có nghĩa tớ giả bộ làm bạn cậu. – Nó nói nhanh.

- Tớ thật sự coi cậu là bạn.

- Vậy thì... thật ra cậu là gì vậy?

- Tớ là gì giờ không quan trọng.

- Không quan trọng ư?

Từ eo trở xuống, bạn thân nhất của tớ mang lốt lừa...

Grover bật ra tiếng kêu chói tai, be... be... be... be...!

Dù từng nghe nó kêu như vậy nhưng tôi luôn cho rằng đó là kiểu cười ngượng.

Giờ tôi mới biết đó là tiếng kêu be be khó chịu.

Nó gào lên:

- Dê chứ!

- Cái gì?

- Từ eo trở xuống, tớ mang lốt dê.

- Cậu vừa nói cậu là gì giờ không quan trọng mà.

- Be... be... be...!

Phải tay thần rừng[6] khác, cậu đã bị giẫm chết dám xúc phạm kiểu đó đấy.

- Úi chà!

Khoan đã.

Thần rừng...

ý cậu là như trong thần thoại Hy Lạp thấy Brunner hay kể ư?

- Thế cậu tưởng ba bà già bên sạp trái cây là gì?

Cô Dodds là gì nào?

- Thế nghĩa là cậu công nhận có cô Dodds phải không ?

- Tất nhiên là có.

- Vậy tại sao...

Grover nói tỉnh bơ như không:

- Cậu càng biết ít, càng ít quái vật tìm đến cậu.

Chúng tôi buông Màn Sương che mắt mọi người và mong cậu tin bọn "Người Tử Tế" chỉ là ảo giác.

Nhưng nó không tác dụng.

Cậu dần hiểu rõ thân phận của mình.

- Thân phận... khoan khoan.

Cậu vừa nói gì?

Tiếng gầm quái đản vang lên sau xe, gần hơn khi nãy.

Thứ đuổi theo bọn tôi không hề chệch hướng.

Mẹ tôi bảo:

- Giải thích dài dòng lắm, Percy.

Giờ nói không kịp đâu.

Chúng ta phải đưa con đến chỗ an toàn trước đã.

- Sao lại thế?

Ai đang lùng bắt con vậy?

Nghe giọng Grover, tôi biết nó vẫn còn tự ái vụ tôi gọi nó là lừa:

- Ôi dào, đừng có lo.

Chỉ là Thần Cai Quản Địa Ngục và vài tên tay sai hèn mọn thôi mà.

- Grover, thôi đi!

- Xin lỗi cô Jackson!

Cô cho xe chạy nhanh hơn chút nữa được không ạ?

Tôi cố hiểu chuyện gì đang xảy đến với mình nhưng không thể.

Chỉ biết rằng tôi không nằm mơ.

Trí tưởng tượng của tôi không quá phong phú.

Có nằm mơ tôi cũng không tưởng tượng ra chuyện lạ nhường này.

Mẹ cua gấp sang trái.

Xe phóng vút trên con đường nhỏ hẹp, hai bên đường là các trang trại tắt đen tối đen, dãy đồi thấp phủ cây xanh, và những tấm biển đề "Mời quý khách chọn dâu tươi" đóng trên cọc rào sơn trắng.

Tôi hỏi:

- Ta đi đâu thế này?

Giọng mẹ căng thẳng như thẻ cố kìm nén nỗi sợ hãi vì tôi :

- Đến trại hè mẹ kể hôm nọ.

Cha muốn con đến đó.

- Nhưng mẹ không muốn cơ mà.

Mẹ van vỉ:

- Thôi mà con.

Đang lúc nước sôi lửa bỏng thế này, đừng vặn vẹo mẹ nữa.

Cố gắng hiểu và thông cảm, con ạ.

Ba chúng ta đang gặp nguy đấy.

- Chỉ vì có bà già cắt sợi dây xanh ư?

Grover giải thích:

- Họ không phải người thường mà là Nữ thần Định Mệnh.

Giờ cậu đã hiểu tại sao họ xuất đầu lộ diện trước mặt cậu chưa?

Nhớ là họ chỉ cắt sợi dây khi cậu sắp... có người sắp chết.

- Ý cậu là tớ sắp chết ư?

- Không.

Tớ không nói vậy.

Tớ chỉ bảo "có người sắp chết" thôi.

- Không, cậu đã dùng rõ ràng từ "cậu".

Ý là nói đến tớ chứ gì.

- Tớ nói cậu theo nghĩa là "một người nào đó" Chứ không phải theo nghĩa "cậu", cậu hiểu không?

Mẹ tôi quát:

- Hai đứa thôi đi.

Bà xoay mạnh vô lăng sang phải.

Tôi thoáng thấy bóng đen mẹ vừa cố tránh giờ lùi xa phía sau xe, mất hút vào màn mưa dày đặc.

Tôi hỏi:

- Cái gì thế?

Mẹ làm như không nghe tôi hỏi:

- Gần đến đích rồi.

Còn khoảng một dặm nữa.

Cầu trời phù hộ.

Tôi không biết đích đến ở đâu, nhưng tôi thấy chính mình nghiêng người về trước, mong đợi, ao ước cả ba sớm đến được đó.

Bên ngoài chỉ có mưa và màn tối.

Trước mắt là đồng trống, bức tranh quen thuộc của vùng ven Long Island.

Tôi nghĩ về cô Dodds – giây phút cô Dodds biến hình thành quái vật răng nhọn có cánh.

Hai chân tôi run rẩy trong nỗi sợ hãi muộn màng.

Hóa ra cô ấy không phải là người.

Cô ấy đã định xe xác tôi thật.

Tôi nhớ cả thấy Brunner... và thanh kiếm thầy đã ném cho tôi.

Chưa kịp quay sang hỏi Grover, tóc gáy tôi đã dựng đứng hết cả.

Ánh sáng lóe lên đi kèm tiếng nổ "Đùng" đinh tai nhức óc.

Xe hơi nổ tung.

Tôi nhớ mình bay lên cao, cùng lúc như vừa bị đè nén, nướng trên lửa và xối vòi rồng vào người.

Tôi ngã giúi giụi vào lưng ghế trước:

- Úi, đau quá.

Mẹ hét lên:

- Percy!

- Con không sao...

Tôi rùng mình cố thoát khỏi trạng thái mê mụ.

Hóa ra tôi chưa chết.

Xe cũng không phải bị nổ, chỉ bị sa xuống mương nhỏ.

Một bên xe ngập dưới bùn.

Nóc xe rách toác như vỏ trứng.

Mưa thả sức dội thẳng vào trong.

Sét đánh.

Đó là lý do duy nhất cho việc này.

Chiếc xe bị thổi bay ra khỏi mặt đường.

Cạnh tôi là một đống lù lù bất động:

- Grover!

Người nó bất động.

Máu đang rỉ ra từ khóe miệng.

Tôi lắc mạnh cái hông đầy lông lá của nó, bụng bảo dạ: "Đừng chết!

Dù có là nửa người nửa thú, cậu vẫn là bạn thân nhất của tớ và tớ không muốn cậu chết!"

Chợt nó thều thào:

- Thức ăn.

Tôi biết Grover còn hy vọng.

Mẹ bảo:

- Percy này, chúng ta phải...

Tiếng gầm gừ quái đản vọng lên phía sau chúng tôi.

Tôi nghe như có đàn kiến lửa bò trong xương.

- Gừ!

Gừ!

Gừ!

Nghe giống tiếng hai bánh sau quay tít trong bùn.

Nhưng tôi biết đó không phải là tiếng bánh xe.

Tôi ngoái nhìn.

Giữa ánh chớp lòe, nhìn xuyên qua kính trước xe lấm tấm bùn, tôi thấy một bóng đen đứng bên đường đang cúi xuống xe.

Nhìn nó, tôi sợ chết khiếp.

Trong tối không nhìn rõ mặt nhưng nhất định gã này rất to lớn, trông như cầu thủ bóng bầu dục.

Hình như hắn trùm tấm chăn lớn trên đầu.

Nửa người phía trên của hắn to bè, thô ráp.

Hai cánh tay hắn giơ lên trông giống hai cái sừng.

Tôi nuốt khan:

- Ai...

Cái gì kia...

Mẹ đanh giọng ra lệnh:

- Percy, ra khỏi xe ngay.

Đúng lúc ấy tôi nghe tiếng gừ gừ thật lớn, giống tiếng thú dữ khụt khịt.

Tiếng gừ phát ra từ cái đầu trùm khăn.

Mẹ tôi lao cả người vào cánh cửa bên phía vô lăng.

Cánh cửa kẹt dưới bùn, không mở được.

Tôi cố mở cửa ngay cạnh chỗ mình ngồi.

Cũng kẹt luôn.

Tim tôi đập như trống làng.

Trong cơn tuyệt vọng, tôi nhìn lên lỗ hổng trên trần xe.

Có khả năng thoát ra từ lối ấy, chỉ tội hai cạnh vết rách kêu xèo xèo và còn bốc khói.

Mẹ bảo tôi:

- Trèo lên từ lưng ghế sau.

Percy, muốn sống con phải chạy thật nhanh.

Con có thấy cái cây to kia không?

- Mẹ bảo gì cơ?

Lại thêm tia chớp nữa.

Nhìn qua lỗ thủng trên nóc xe, tôi thấy cái cây mẹ vừa nói tới: một cây thông to lớn, có kích thước bằng với cây-thông-Giáng-sinh-ở-Nhà-trắng đang đứng sừng sững trên sườn ngọn đồi gần nhất.

- Cây ấy đánh dấu địa phận của trại hè.

Rồi con sẽ thấy ngôi nhà thấp dưới thung lũng.

Cứ cắm đầu chạy thẳng đến đừng dừng lại.

Nhớ gào to kêu cứu.

Khi nào đến cửa hẵng dừng lại.

- Mẹ... cũng đi với con nhé!

Mặt mẹ xanh xao, ánh mắt buồn bã hệt lúc mẹ đứng ngắm biển.

- Không.

Mẹ phải đi với con, giúp con dìu Grover nữa chứ!

Grover rên rỉ to hơn:

- Thức ăn!

Gã đầu trùm chăn đang gầm gừ, khịt khịt đi về phía chúng tôi.

Khi hắn đến gần, tôi mới biết đầu hắn không trùm chăn.

Tôi tưởng vậy vì hai cánh tay hắn cực kỳ to cứ vung vẩy bên mình.

Không có chăn mền gì cả.

Cái đống to bè, lù lù kia chính là đầu hắn.

Còn hai vật nhọn trông như sừng...

- Nó không lùng bắt Grover và mẹ.

Nó định bắt con.

Với lại, mẹ không thể vượt qua ranh giới để vào trại được.

- Nhưng...

- Đừng nhùng nhằng kẻo không kịp.

Đi đi.

Mẹ van con đấy!

Thế này thì tức thật.

Tôi giận mẹ, giận con dê Grover, căm tức quái thú có sừng đang lảo đảo nhắm phía chúng tôi thẳng tiến... trông nó như con bò mộng vậy.

Tôi trèo qua người Grover, đẩy cánh cửa ra ngoài mưa:

- Cả ba cùng đi.

Ra đi mẹ.

- Mẹ đã bảo...

- Mẹ!

Con không bỏ mẹ đâu.

Giúp con lôi Grover ra đi.

Không chờ mẹ trả lời, tôi bò ra ngoài, kéo Grover từ trong xe ra.

Không hiểu sao nó nhẹ bẫng nhưng tôi không thể cõng nó đi xa nếu mẹ không chạy đến đỡ một tay.

Hai mẹ con, người khiêng chân, người khiêng đầu Grover bước thấp bước cao leo lên đồi, băng qua bãi cỏ dại tươi tốt cao đến ngang người.

Ngoái đầu, lần đầu tiên tôi nhìn rõ quái vật nọ.

Hắn cao gần hai mét rưỡi, dáng điệu lừ đừ, tay chân nổi cơ bắp cuồn cuộn như hình ở trang bìa tạp chí Muscle Man.

Cơ tay, cơ chân, cơ tàn thân hắn nổi căng như mấy trái bóng rổ dưới làn da đầy gân như dây chão.

Hắn mặc độc chiếc quần lót to đùng, trắng lốp kỳ dị không kém nửa người trên của hắn.

Lông màu nâu dày và cứng mọc từ rốn và càng lan đến vai càng rậm dày hơn.

Cổ hắn là bó cơ phủ lông đỡ cái đầu to khổng lồ.

Mũi hắn dài như cánh tay tôi vậy.

Hai cánh mũi hắn ươn ướt có xỏ vòng vàng tròn bằng đồng sáng loáng.

Cặp mắt hắn dữ tợn và độc ác.

Cặp sừng của hắn màu trắng vằn đen nhọn hoắt, nhọn hơn cả đầu bút chì vừa chuốt xong.

Tất nhiên tôi nhận diện được quái vật.

Ngay từ những tiết học đầu năm, thầy Brunner đã kể về loài này.

Nhưng tôi không bao giờ nghĩ nó có thật.

Nước mưa làm xốn mắt khiến tôi chớp lia lịa:

- Kia là...

Mẹ tôi bảo:

- Con trai của Pasiphae đang nóng lòng muốn lấy mạng con đấy.

- Nhưng đó là quái vật đầu...

Mẹ cảnh bảo :

- Đó là tên tục của nó.

Tên cũng có quyền năng đấy.

Cây thông vẫn còn xa quá.

Ít nhất còn trăm mét nữa mới đến chỗ nó.

Tôi lại ngoái nhìn phía sau.

Quái vật đầu bò cúi xuống xe hơi, nhìn qua cửa kính.

Thực ra, nói nhìn cũng không đúng: trông giống hít hít, ngửi ngửi hơn.

Tôi không hiểu sao hắn phải làm thế vì ba chúng tôi chỉ cách hắn khoảng năm chục bước chân.

Grover rên rỉ:

- Thức ăn.

Tôi vội ngăn:

- Suỵt!

Yên lặng nào.

Mẹ ơi, nó làm gì vậy?

Chẳng lẽ nó không thấy mình tít đằng này ư?

- Thị lực và thính lực của nó kém lắm.

Nó chỉ giỏi đánh hơi thôi.

Nhưng nó cũng sắp phát hiện ra ta rồi đấy.

Y như rằng, con quái vật gầm lên giân dữ.

Nó móc tay vào lỗ thủng trên nóc xe Camaro, nhấc bổng lên khiến khung gầm xe kêu loảng xoảng, đoạn giơ xe lên đầu trước khi ném xuống cuối đường.

Xe va mạnh vào mặt đường nhựa và trượt dài một quãng xa trước khi dừng lại hẳn làm tia lửa bắn tung té.

Thùng xăng nổ tung.

Tó nhớ lời Gabe Cóc Chết hăm dọa: "Chớ làm xước xe, dù chỉ một vết nhỏ..."

Rất tiếc vì làm dượng thất vọng đấy!

- Percy này, khi thấy mẹ con mình, nó sẽ tấn công ngay.

Con cứ chờ đến giây cuối cùng rồi nhảy phất sang hai bên.

Khi lao vào mục tiêu nó định hướng kém lắm.

Con hiểu chưa?

- Sao mẹ biết?

- Từ lâu lắm, mẹ đã lo có kẻ tấn công con.

Đáng lẽ mẹ phải tiên liệu trước việc này.

Giữ con gần mẹ thế này là quá ích kỷ.

- Giữ con gần mẹ ư?

Nhưng mà...

Lại thêm tiếng gầm tức tối, con quái vật đầu bò bắt đầu leo lên đồi.

Nó đã thấy chúng tôi.

Dù chỉ cách cây thông vài mét, nhưng sườn ở đây dốc hơn, trơn trượt hơn chân đồi.

Còn nữa, Grover chẳng nhẹ hơn ký lô gam nào.

Quái vật đầu bò tiến đến gần.

Chỉ mấy giây nữa nó ở ngay phía trước chúng tôi.

Chắc mẹ mệt đứt hơi nhưng bà vẫn cố xốc Grover lên vai:

- Đi đi con!

Ta chia nhau ra tìm đường thoát!

Hãy nhớ lời mẹ dặn.

Dù không muốn chia tách, tôi vẫn biết mẹ nói đúng.

Chỉ còn cách ấy thôi.

Tôi chạy thục mạng sang trái, lập tức quái vật đuổi ngay sau.

Đôi mắt đen của nó chứa chất hận thù.

Người nó bốc mùi hôi như thịt thối.

Nó chúi đầy chuẩn bị húc.

Cặp sừng nhọn sắc nhắm vào ngực tôi.

Tôi chỉ muốn chạy trốn.

Nỗi sợ hãi giục tôi cứ nhắm mắt chạy, muốn ra sao thì ra nhưng cách ấy không được.

Sức tôi sao chạy nhanh hơn nó chứ.

Thế nên tôi cố bám chân xuống đất, đến phút cuối mới nhảy vọt sang bên cạnh.

Quái vật đầu bò lao vút qua hệt như toa tàu chở hàng, miệng rống lên tức tối rồi quay phắt lại.

Lần này, nó không nhắm tới tôi mà nhắm đến chỗ mẹ tôi đang đỡ Grover nằm xuống bãi cỏ.

Chúng tôi đã lên đến đỉnh đồi.

Tôi thấy thung lũng phía dưới hệt như lời mẹ kể, thấy cả căn nhà có đèn sáng lấp lánh trong mưa.

Nhưng nơi ấy cách chúng tôi tám chín trăm mét.

Chúng tôi sẽ không bao giờ đến đó được.

Quái vật gầm gừ, móng vuốt cào đất dưới chân.

Hắn chằm chằm nhìn mẹ đang lùi xuống chân đồi, trở lại con lộ nhằm đánh lạc hướng không cho nó đến gần Grover.

Mẹ bảo tôi :

- Chạy đi con.

Mẹ không đi xa hơn được nữa.

Chạy đi.

Nhưng tôi sợ quá chỉ biết trố mắt đứng nhìn, như thể quái vật sắp húc tôi chứ không phải mẹ.

Mẹ tính nhảy sang bên giống mẹ dạy tôi khi nãy nhưng lần này quái vật quyết không bị lừa lần nữa.

Nó vươn tay nắm cổ mẹ đúng lúc bà định chay trốn.

Hắn nhấc bổng mẹ lên.

Hai chân bà quẫy đạp giữa trời.

- Mẹ ơi!

Nhìn thẳng mắt tôi, mẹ chỉ trăn trối có một câu:

- Chạy đi!

Thế rồi, quái vật gầm lên cuồng nộ và siết bàn tay nắm cổ mẹ tôi.

Trong chớp mắt, mẹ tan vào quầng sáng ngay trước mắt tôi.

Bóng mẹ như dát ánh sáng vàng huyền ảo cứ mờ dần.

Sau ánh chớp lòe vừa tới, mẹ tôi biến mất.

- Không!

Cơn giận hoàn toàn đẩy lùi cảm giác sợ hãi.

Một sức mạnh mới đốt cháy cơ thể tôi.

Nó giống với nguồn năng lượng sục sôi tôi có được khi phải đương đầu với cô Dodds đầy móng vuốt.

Quái vật cúi xuống Grover đang nằm bất động trên bãi cỏ, hít ngửi như thể muốn nhấc bổng bạn tôi lên và làm cậu ấy biến mất như đã làm với mẹ tôi.

Đừng hòng tôi để hắn làm thế.

Tôi cởi áo mưa màu đỏ đang mặc trên người, vừa vẫy vừa gào tướng lên và chạy thẳng đến chỗ nó :

- Này!

Thằng đần kia!

Muốn tao xay mày làm chả không?

Món hamburger thịt băm kia!

Quái vật giơ nắm đấm to tướng quay sang tôi rống lên.

Hơi thở của nó hôi đến nỗi tôi chỉ muốn ăn chay đến hết đời.

Tôi nảy ra một ý.

Nói ra nghe ngớ ngẩn nhưng giờ không phải lúc kén chọn.

Tôi vừa đi giật lùi về phía cây thông, vừa điên cuồng vẫy áo đỏ trước mũi quái vật đầu bò, định bụng đến phút cuối sẽ nhảy bật sang bên.

Nhưng chuyện không như tôi tưởng.

Nó húc quá nhanh, đồng thời hai tay quơ hai bên không cho tôi nhảy nhót đi đâu hết.

Thời gian như ngừng trôi.

Hai chân tôi tê cứng.

Vì không nhảy sang trái hay phải được, tôi bèn nhảy chồm tới đạp mạnh đầu hắn như đạp bạt lò xo sau đó tung người lên trước khi ngồi phịch lên vai, hai chân quắp cổ nó.

Cái quái nào mà tôi lại làm được điều này nhỉ?

Tôi không có thời gian tìm hiểu.

Tôi chưa kịp chớp mắt, quái vật đã lao đầu vào gốc cây đánh rầm.

Cú va chạm suýt làm răng tôi văng cả ra ngoài.

Nó lảo đảo lùi lại, cố lắc người cho tôi rơi xuống đất.

Nếu không ôm chặt hai sừng, chắc chắn tôi đã bị vưng xuống đất.

Sấm chớp vẫn đì đùng như đại bác.

Nước mưa tràn vào mắt khiến tôi không thể nhìn rõ.

Đã thế mùi thịt thối rữa trên người nó xốc vào mũi làm tôi không sao chịu nổi.

Dù cố hết sức thộp cổ tôi nhưng hai cánh ta ngứn cục mịch của nó không với ra sau được.

Nó hết giũ mình lại nhảy cỡn lên như trong cuộc đấu bò thực sự.

Nếu nó chạy giật lùi, bang người vào gốc cây thì chắc tôi nát nhừ.

Nhưng khổ nỗi nó chỉ biết mỗi chiêu di chuyển lên trước.

Giờ thì tôi biết thóp nó rồi nhé.

Trong lúc đó, Grover bắt đầu rên rỉ.

Dù muốn thét to bảo nó im miệng, nhưng tôi không làm được.

Vì đang bị xốc nẩy trên cổ bò nên hễ mở miệng định nói, thể nào tôi cũng cắn phải lưỡi.

Grover rên rỉ:

- Thức ăn.

Quái vật guồng chân chạy về phía nó, móng xới tung đất đá xung quanh và chúi đầu chuẩn bị húc.

Dù chỉ còn chút hơi tàn, nhưng mối thù quái vật làm mẹ mình biến mất, khiến tôi quên hết mệt nhọc.

Giờ nó còn định nhắm vào bạn tôi nữa.

Tôi phải ngăn nó bằng được.

Cứ nghĩ nó bóp cổ làm mẹ nghẹt thở, sau đó khiến bà biến mất chỉ sau ánh chớp lòe, cơn thịnh nộ sôi sục trong đó.

Tôi nắm chặt một bên sừng với cả hai tay và dùng hết sức bình sinh bẻ ngược ra sau.

Người con quái vật căng cứng lại, gầm gừ ra bộ ngạc nhiên, rồi thì...

"Rắc!"

Nó rú lên hất văng tôi ra.

Tôi rơi trong tư thế nằm ngửa trên bãi cỏ, đầu đập mạnh vào tảng đá.

Tôi ngồi lên khi mắt nảy đom đóm, hai tay nắm chặt chiếc sừng nhọn cỡ bằng con dao to.

Quái vật đầu bò lao ngay tới.

Không kịp nghĩ ngợi gì, tôi lăn mình qua trái rồi lồm cồm bò dậy còn quái vật lăn lông lốc trước mặt.

Tôi đâm thẳng sừng nhọn vào sườn nó, ngay phía trên mạng sườn đầy lông lá.

Quái vật gầm lên, quằn quại, tay quơ quào trước ngực và bắt đầu tan rã.

Không giống mẹ tôi biến thành luồng sáng vàng, nó biến thành cát bị gió mạnh thổi đi tứ tán, hệt như lúc cô Dodds "bốc hơi".

Con quái vật biến mất không để lại dấu vết.

Mưa ngừng rơi.

Bão chưa tan hẳn, tuy nhiên đã lùi xa.

Tôi ngửi thấy mùi gia súc đâu đây.

Hai đầu gối tôi bủn rủn.

Đầu tôi đau như thể sắp bị bửa làm đôi.

Người tôi mềm nhũn, vừa sợ hãi vừa đau buồn.

Tôi vừa thấy mẹ tôi biến mất.

Tôi muốn nằm xuống và khóc.

Nhưng Grover nằm đó đang chờ tôi cứu mạng.

Thế nên tôi cố xốc nó dậy, lảo đảo dìu nó xuống thung lũng, nhắm hướng ngôi nhà còn đang sáng đèn thẳng tiến.

Đạp lên bùn lầy, cỏ dại và xuyên qua màn đêm đi về hướng đèn vàng.

Tôi vừa đi vừa khóc và gọi tên mẹ, nhưng tôi giữ chặt lấy Grover.

Tôi không thể buông nó ra được.

Điều cuối cùng tôi nhớ được là tôi khuỵu xuống bậc thềm gỗ, mặt ngửa lên nhìn quạt trần quay tít trên mái hiên, mấy con thiêu thân lượn quanh bóng đèn vàng, nhớ hai khuôn mặt nghiêm nghị: một ông râu quai nón và cô gái dễ thương có mái tóc vàng nhạt uốn lọn như nàng Lọ Lem trong chuyện cổ tích.

Hai người họ nhìn xuống toi, cô gái bảo:

- Chính là cậu ta.

Không thể nhầm được.

Người kia đáp:

- Khẽ chứ, Annabeth.

Cậu ấy còn tỉnh.

Đưa vào trong đi.

5.

Tôi Chơi Bài Pinoch Với Ngựa

Tôi có một giấc mơ rất kỳ lạ: tôi bị lạc vào trại nuôi gia súc đông đảo.

Đa phần bọn chúng muốn giết tôi.

Số còn lại đòi "thức ăn" liên tục.

Chắc chắn tôi tỉnh nhiều lần, nhưng những gì tôi nghe và thấy đều mơ hô thê nên tôi lại thiếp đi.

Tôi nhớ được nằm trên giường êm, được bón cho thứ gì có vị giống bỏng ngô rang bơ nhưng lại là bánh ngọt.

Cô bé tóc uốn lọn cúi xuống giường, bĩu môi lau thức ăn rớt xuống cằm cho tôi.

Vừa thấy tôi mở mắt, bạn ấy hỏi ngay:

- Hạ chí năm nay có chuyện gì xảy ra vậy?

Tôi thều thào :

- Gì cơ?

Bạn tóc vàng nhìn quanh như sợ ai nghe lén:

- Chuyện gì đang xảy ra?

Vật gì bị đánh cắp thế?

Chỉ còn mấy tuần nữa là đến hạn rồi.

Tôi lí nhí:

- Xin lỗi bạn.

Tôi không...

Có tiếng gõ cửa.

Cô bé ấn vội miếng bánh to tướng vào miệng tôi.

Lần sau, lúc tôi mở mắt, cô bé không còn ở đó.

Một gã tóc bạch kim bảnh trai, vạm vỡ như vận động viên lướt sóng đứng cuối giường nhìn tôi chằm chằm.

Mắt anh ta xanh biếc – ít nhất anh ta có hơn chục con mắt - mọc trên má, trán và mu bàn tay.

Cuối cùng, khi tôi bình phục, cảm giác lạ lẫm với một mội trường xung quanh tan biến.

Thậm chí họ còn thân thiện hơn những nơi tôi từng đến.

Tôi ngồi trên ghế xếp ngoài một mái hiên lớn, ngắm nhìn đồng cỏ và dãy đồi xanh phía xa.

Gió nhè nhẹ thổi mang theo mùi dâu ngọt lịm.

Chân tôi đắp chăn ấm, lưng lót chiếc gối êm.

Mọi thứ đều tuyệt, duy chỉ có miệng tôi như bò cạp chiếm làm tổ.

Lưỡi vừa hôi vừa đắng nghét hai hàm răng nhức nhối không chừa chỗ nào.

Trên mặt bàn cạnh chỗ tôi ngồi có chiếc ly cao.

Nước trong ly giống nước táo ép.

Trong ly có ống hút và chiếc dù giấy cắm xuyên qua quả anh đào giống Maraschino.

Tay tôi yếu đến nỗi suýt làm đổ ly khi vừa kịp nắm lấy nó.

Một giọng nói thân quen vang lên:

- Cẩn thận chứ!

Grover đứng dựa lan can quanh thềm.

Hình như cả tuần rồi nó không chợp mắt thì phải.

Nó cắp hộp giày dưới nách.

Nó mặc quần jean xanh, áo thun màu cam in dòng chứ: TRẠI CON LAI.

Grover lấy lại diện mạo cũ, không còn nửa người nửa dê nữa.

Vậy có lẽ đêm rồi tôi gặp ác mộng do ăn quá nhiều kẹo xanh biển.

Chắc mẹ tôi không sao.

Chúng tôi vẫn đang trong kỳ nghỉ, nên rẽ vào thăm người quen của mẹ là chủ nhân ngôi nhà rộng lớn này.

Và...

Grover bảo:

- Cậu đã cứu sống tớ.

Không trả hết công ơn trời biển ấy tớ nghĩ ít nhất cũng nên quay lại đồi.

Chắc cậu muốn giữ cái này.

Nó cung kính đặt hộp giấy vào lòng tôi.

Trong hộp là chiếc sừng bò đen vân trắng, gốc sừng lởm chởm do bị bẻ gãy, đầu nhọn của sừng còn dính máu khô.

Đó không phải ác mộng.

Tôi hồi tưởng:

- Con quỷ đầu bò.

- Ừm...

Percy, nói thế không hay đâu...

- Chẳng phải trong thần thoại Hy Lạp, người ta gọi thế là gì?

Thứ nửa người, nửa bò là quỷ đầu bò, không đúng sao?

Grover sốt ruột đổi tư thế:

- Cậu bất tỉnh suốt hai ngày trời.

Cậu nhớ được gì nào?

- Mẹ tớ!

Có thực là...

Grover rưng rưng lệ, giống hồi bị bắt nạt trong căng tin trường.

Tôi day mặt ra hướng đồng cỏ.

Ở đó có nhữngcánh rừng nhỏ, có dòng suối uốn lượng và ruộng đất bát ngát trải tận chân trời.

Thung lũng này lọt dưới quần thể đồi phủ cây xanh.

Trước mặt chúng tôi là cây thông to lớn mọc sừng sững trên đỉnh đồi.

Dù là cái cây đẹp đẽ được tắm mình trong nắng vàng như mật ong, trông nó vẫn ngạo nghễ thế nào ấy.

Tất cả chỉ tại mẹ tôi không còn.

Đáng lẽ cả thế gian phải chìm trog đêm tối lạnh lẽo.

Không có bất cứ thứ gì được khoe sắc tươi đẹp cả.

Grover sụt sịt:

- Tớ xin lỗi cậu.

Tớ kém cỏi, tớ... là thần rừng tệ hạ nhất trên đời.

Nó khóc lóc, dậm chân mạnh đến nỗi bàn cân rụng ra.

Ý tôi là một bên giày Converse tuột ra vì bên trong nhồi toàn bọt biển, chỉ chừa lỗ cắm móng guốc vào.

Nó lẩm bẩm:

- Ôi, sông mê Styx!

Trời xanh trong chợt vang tiếng sấm rền.

Lúc nó vất vả nhét chân trở lại giày, tôi nghĩ bụng: "Thế là rõ rồi nhé."

Grover là thần rừng, nửa người nửa dê.

Tôi cam đoan là nếu cạo trọc cái đầu tóc nâu lượn sóng kia, tôi sẽ thấy cả cặp sừng nhỏ xíu.

Nhưng tôi chẳng lấy thế làm lạ.

Tôi quá đau lòng nên chẳng buồn quan âm đến thần rừng, hay thậm chí là quỷ đầu bò nữa.

Tâm chí tôi chỉ còn hình ảnh mẹ bị bóp nghẹt đến đọ tan thành không khí, thành vầng sáng màu vàng dịu.

Giờ tôi tứ cố vô thân, là trẻ mồ côi rồi.

Tôi sẽ sống với Gabe Cóc Chết ư?

Không đời nào.

Có lẽ trước mắt tôi sẽ lang thang đầu đường xó chợ ít bữa, sau đó khai man mình mười bảy tuổi để xin đăng lính.

Phải nghĩ cách thôi.

Grover sụt sịt hoài.

Tội nghiệp thằng bé, hay tôi nghiệp con dê, hay thần rừng đáng thương gì đó...

Nó co rúm người lại, tưởng tôi sắp trút giận lên người nó bằng cách nện cho nó một trận.

Tôi bảo:

- Đó không phải lỗi của cậu!

- Có mà.

Đáng lẽ tớ phải bảo vệ cậu.

- Mẹ tớ nhờ cậu trông nom tớ à?

- Không, nhưng đó là nhiệm vụ của tớ.

Hay ít nhất trước đây tớ được giao công việc ấy.

- Nhưng tại sao...

Tự nhiên tôi xây xẩm mặt mày, mọi thứ trước mắt đảo lộn cả.

- Đừng căng thẳng quá.

Đây, cầm chặt vào.

Nó giúp tôi giữ chặt cái ly và đưa ống hút vào miệng tôi.

Mới nhấp một ngụm, tôi vội nhả ống hút ra ngay vì tưởng mình uống nước táo.

Hóa ra, nó không giống nước táo chút nào.

Nước này có vị bánh quy sôcôla.

Nó giống với vị bánh quy mẹ làm – bánh quy sôcôla màu xanh, mềm mại và nóng hổi với các hạt chip đang tan chảy.

Uống chất lỏng đó, người tôi ấm lên, cảm giác khoan khoái và tràn đầy sinh lực.

Tôi vẫn đau xé lòng, tâm trạng u ê không vui lên được.

Tuy nhiên, tôi có cảm giác được mẹ vuốt má, giúi vào tay chiếc bánh quy như hồi bé và an ủi bảo với tôi rằng rồi mọi chuyện sẽ đâu vào đấy.

Nháy mắt, tôi đã uống cạn ly nước.

Tôi tiếc rẻ nhìn chiếc ly.

Rõ ràng, nước tôi vừa uống ấm ấm, thế mà đá dưới đáy ly còn nguyên, không tan.

Grover hỏi:

- Ngon không?

Tôi gật.

Giọng nó thèm thuồng làm tôi hối hận vì không mời bạn một miếng:

- Nó có vị gì?

- Xin lỗi.

Đáng lẽ mình nên uống chung.

Nó trợn tròn mắt:

- Không!

Tớ có muốn uống đâu.

Chỉ tò mò thôi mà.

- Mùi bánh quy sôcôla, thứ mẹ tớ tự tay làm.

Nó thở dài:

- Cậu thấy trong người thế nào?

- Đủ sức quăng con nhỏ Nancy Bobofit ra xa trăm mét.

- Thế tốt.

Tốt đấy.

Nhưng chớ liều uống thứ ấy lần nữa nhé!

- Sao lại thế!

Nó lấy ly trên tay tôi, nhẹ nhàng đặt lên bàn như người tháo kíp thuốc nổ.

- Ta đi thôi.

Chiron và Ngài D.

Đang chờ.

Mái hiên rộng chạy vòng quanh nhà, từ trước ra sau thành vòng khép kín.

Cặp chân yếu ớt của tôi gắng sức đi gần hết chiều dài của thềm gỗ.

Grover bảo đưa sừng quỷ đầu bò nó cầm cho nhưng tôi cứ ôm khư khư.

Tôi đã phải trả giá quá đắt cho món đồ kỷ niệm này nên sẽ giữ nó bên mình, không lúc nào rời.

Khi ra đến mé sau nhà, tôi mệt đứt hơi, phải dừng lại để thở.

Tôi đoán chắc mình đang ở bờ bắc đảo Long Island.

Bởi đứng từ đây, tôi thấy thung lũng trải dài đến bờ biển.

Mặt biển lấp lánh cách nhà chừng hai cây số.

Tôi không tin vào mắt mình khi ngắm quang cảnh từ đây đến đó.

Rải rác trên bãi đất trống là những tòa kiến trúc xây theo lối Hy Lạp cổ: một nhà rạp giữa đồng trống, một khán đài vòng và một đấu trường hình tròn.

Chỉ có diều, chúng đều rất mới.

Những chiếc cột đá sáng bóng dưới nắng rực rỡ.

Trong hố cát rộng gần đó, khoảng chục thiếu niên đang chơi bóng chuyền với các thần rừng.

Trên mặt hồ nhỏ có vài chiếc xuồng máy đang lượn vòng.

Đằng kia có lũ học trò mặc áo thun màu cam giống áo Grover đuổi nhau đùa nghịch quanh khu nhà gỗ lẩn khuất trong rừng thưa.

Tôi còn thấy mấy tấm bia cho người tập bắn cung nữa.

Xa xa có mấy người cưỡi ngựa đi xuống con đường mòn.

Chắc tôi bị ảo giác hay sao mà thấy vài con ngựa còn mọc cánh nữa.

Dưới chân thềm có hai người đang chơi bài ngồi đối diện nhau qua chiếc bàn.

Bạn gái tóc vàng cho tôi ăn bánh ngọt mùi bỏng ngô rang bơ đang dựa lan can của mái hiên ngay cạnh họ.

Người quay mặt lại phía tôi có vóc người nhỏ nhưng chắc nịch.

Ông này mũi đỏ, mắt ươn ướt và có mái tóc đen bóng, đen đến nỗi gần như chuyển màu tím.

Trông ông ta giống mấy bức vẽ thiên thần bé như hài như.

Họ gọi là gì nhỉ ?

À, tiểu thiên sứ!

Nét mặt ông ngây thơ như đứa trẻ đang chơi đùa trong công viên thiếu nhi vụt biến thành đàn ông trung niên.

Mặc áo sơ mi sặc sỡ in hình chúa sơn lâm, ông này sẽ rất hợp với xới bạc nhà dượng tôi.

Tôi tin chắc riêng về khoản bài bạc, ông ta còn "trên tài" cả dượng tôi nữa kìa.

Grover rỉ tai tôi:

- Ngài D.

đấy.

Ông ta trông nom trại này.

Nhớ cư xử cho phải phép, nghe chưa?

Con bé kia là Annabeth Chase.

Tuy chỉ là thành viên của trại nhưng chưa ai ở đây lâu bằng nó.

Còn Chiron thì cậu biết rồi...

Nó chỉ ông xoay lưng lại phía tôi.

Điều đầu tiên đập vào mắt tôi là ông ta ngồi xe lăn.

Sau đó tôi thấy chiếc áo khoác bằng vải tuýt, mái tóc nâu thưa thớt và bộ râu quai nón tua tủa kia quen quá...

Tôi gọi to:

- Thầy Brunner!

Thầy giáo Latinh quay lại nhìn tôi mỉm cười.

Cặp mắt ông tinh nghịch giống đôi lần trong lớp, ông bất thần cho lớp làm bài kiểm tra đột xuất, hoặc soạn lựa chọn đúng cho mọi câu hỏi đều là B.

- Percy đến đây à?

Tốt quá.

Đang thiếu tay chơi bài đây.

Thầy chỉ tôi ghế bên tay phải Ngài D..

Ồng này lừ mắt nhìn tôi và thở dài sườn sượt:

- Dù chẳng muốn nhưng tôi vẫn phải chào mừng cậu đến Trại Con Lai.

Đây, cầm bài lên đi.

Mà này, đừng tưởng tôi vui đến độ nhảy cỡn lên khi nhìn thấy bản mặt cậu đâu nhé!

- Vâng... cảm ơn ạ.

Nhìn cặp mắt vằn đỏ của ông ta, tôi vội nhích ghế ra xa.

Nhờ chút kinh nghiệm sống chung với dượng Gabe, tôi biết người lớn bia rượu vào hay thích đánh đấm lung tung.

Nếu Ngài D.

đây làm mặt lạ với rượu, chắc tôi đi bằng đầu.

Thầy Brunner gọi cô bé tóc vàng:

- Annabeth?

Bạn gái bước lên.

Thầy Brunner giới thiệu:

- Percy, bạn trẻ này chăm sóc em đến khi bình phục đấy.

Annabeth thân mến, phiền em xem qua chỗ nghỉ ngơi cho Percy nhé?

Tạm thời ta bố trí Percy ở lều Số Mười Một.

Annabeth đáp:

- Vâng, ngài Chiron.

Trạc tuổi tôi, Annabeth cao hơn tôi chừng năm phân nhưng trông khỏe mạnh hơn tôi nhiều.

Với làn da rám nắng và tóc vàng uốn lọn, Annabeth gần giống mẫu con gái California tôi hay hình dung, chỉ tội mắt khác hẳn.

Đôi mắt xám trông như màu mây lúc trời dông bão: đẹp nhưng dữ dội, thông minh nhưng không hiền cho lắm, như thể cô ấy đang cân nhắc nên ra đòn thế nào để tôi nốc ao lập tức.

Annabeth hết nhìn sừng quỷ đầu bò lại nhìn tôi.

Tôi thầm mơ người đẹp sẽ trầm trồ: "Trời, bạn hạ quái vật đầu bò cơ à?" hoặc "Ôi, bạn thật dũng mãnh!" hay câu gì tương tự.

Ngược lại, Annabeth "bóc mẽ":

- Cậu này nhểu dãi lúc ngủ, xấu quá!

Dứt lời, cô đi nhanh xuống bãi cỏ, làn tóc bay trong gió.

Cố giữ thể diện, tôi lập tức nói lảng:

- Vậy, thầy Brunner... thầy làm việc ở đây ạ?

Người trước kia là thầy Brunner bảo:

- Đừng một điều thầy Brunner, hai điều thầy Brunner nữa.

Ta e đó chỉ là biệt danh.

Giờ ta là Chiron.

- Nếu thế, em sẽ gọi là thầy Chiron ư!

- Không, cứ gọi là bác Chiron được rồi.

Tôi chẳng hiểu gì cả, đành quay sang ông quản lý trại:

- Vâng ạ.

Thưa... chữ D. viết tắt của tên gì ạ?

Ông ta ngưng tráo bài, nhìn tôi như thể tôi vừa vô ý ợ rõ to.

- Này anh bạn trẻ, tên gọi có quyền năng riêng.

Đừng vô duyên vô cớ bói bô bô tên người ta, nghe chưa?

- À phải.

Em xin lỗi.

Ông Chiron, trước là thầy Brunner, xen vào:

- Phải nói bác thật lòng vui sướng khi thấy cháu còn sống đến được đây.

Đã lâu lắm rồi bác mới tiếp nhận trại viên tiềm năng.

Cứ phí hoài thời gian cho hết năm này đến năm khác thật chẳng thích thú gì.

- Tiếp nhận ư?

- Năm qua bác ở Học viện Yancy là để dẫn dắt, định hướng cho cháu.

Hầu như trường học nào cũng có thần rừng của trại.

Ngay khi gặp cháu, Grover báo ngay cho bác.

Cậu ấy cảm nhận ở cháu có điều gì đó rất đặc biệt nên bác quyết định đến khu thượng Manhatta.

Bác thuyết phục thầy giáo dạy tiếng Latinh tạm... nói thế nào nhỉ... lánh mặt một thời gian.

Tôi cố nhớ lại ngày đầu năm học.

Chưa đầy một năm nhưng tưởng chừng đã lâu lắm, trí nhớ tôi mờ nhạt cả.

Tuy nhiên, tôi mang máng nhớ tuần đầu ở Yancy, tôi học tiếng Latinh với một iáo viên khác.

Thế rồi, người ấy biến mất không một lời giải thích và thầy Brunner tiếp nhận lớp tôi.

- Có nghĩa bác đến Yancy chỉ để dạy cháu thôi ư?

Ông Chiron gật đầu:

- Thật ra, lúc mới gặp cháu, bác chưa chắc chắn lắm.

Bác và mọi người liên lạc vơi mẹ cháu, thông báo trại sẽ theo sát cháu để nếu cần đưa ngay cháu đến đây.

Nhưng cháu cần được trang bị kiến thức trước đã.

Cũng may mà vào đến trại, cháu vẫn bảo toàn mạng sống.

Nhập trại luôn là thử thách đầu tiên đôi với mỗi trại viên.

Ngài D. sốt ruột:

- Kìa Grover, cậu có định chơi bài không thế?

- Dạ có.

Nó run rẩy ngồi xuống chiếc ghế thứ tư.

Tôi thật không hiểu sao Grover lại sợ cái ông béo quay, lùn tịt mặc áo sơ mi sặc sỡ in hình mấy con hổ vằn vện này.

Ngài D. nhìn tôi hồ nghi:

- Cậu có biết chơi bài không đã?

- Không biết.

Ông ta nhắc:

- Phải nói là "Không biết, thưa ngài".

Tôi nhắc lại, bụng càng lúc càng không thích người quản lý trại hè:

- Không biết, thưa ngài.

Ông ta quay sang tôi giảng giải:

- Ngoài trò chơi điện tử Pacman và màn chọi cá sấu, bài bạc là một trong những thú tiêu khiển hay nhất loài người từng sáng tạo nên.

Theo ta, hễ ai tự xưng là người văn minh đều phải rành luật chơi.

Ông Chiron đỡ lời:

- Tôi chắc Percy nắm luật chơi nhanh thôi.

Tôi nói:

- Hai ông làm ơi cho biết đây là đau?

Sao cháu phải đến đây?

Thầy Brunner, à quên, bác Chiron, sao bác đến Học viện Yancy dạy cháu?

Ngài D. bĩu môi:

- Đến tôi còn không biết tại sao nữa là.

Người quản lý trại chia bài.

Mỗi khi một lá bài bay đến chỗ nó, Grover lại co rúm người lại.

Bác Chiron nhìn tôi cười thông cảm hệt như hồi còn dạy tiếng Latinh.

Không cần biết điểm của tôi tệ cỡ nào, thầy Brunner vẫn coi tôi là học trò cưng.

Ông luôn mong tôi có đáp án đúng trong tiết học của mình.

Ồng bảo:

- Percy này, thế mẹ cháu không kể gì à?

Tôi nhớ mắt mẹ buồn thăm thẳm mỗi lúc ngắm biển xanh dào dạt:

- Mẹ nói...

Bà sợ phải đưa cháu đến Trại này, nhưng đó là ý nguyện của cha cháu.

Bà bảo nếu đã đến đây, cháu phải ở lại luôn, không được đi đâu hết.

Mẹ muốn hai mẹ con ở với nhau.

Ngài D. bảo:

- Các bà mẹ giống nhau ở điểm ấy.

Chính vì thế họ thường phải chết.

Này cậu, xuống bài đi chứ?

- Sao cơ ạ?

Ông ta nóng nảy giải thích luật chơi.

Tôi bèn làm theo.

Bác Chiron bảo:

- Còn phải giải thích nhiều.

Bài học định hướng bình thường của trại tôi e không đủ.

- Kiểu như xem phim hướng nghiệp trong trường học ư?

- Không.

Percy này, cháu đã biết Grover là thần rừng.

Cháu vừa (ông chỉ cái sừng trong hộp) hạ quỷ đầu bò.

Không phải chuyện nhỏ, đúng không nào?

Thực tế là có nhiều thế lực lớn tác động lên đời sống của cháu.

Các vị thần mà cháu tưởng chỉ có trong thần thoại Hy Lạp chính là thế lực đó.

Họ có thật và hiện còn tồn tại.

Tôi trố mắt nhìn ba người ngồi quanh bàn, chỉ chờ có người hét lên: "Không phải thế!".

Nhưng chỉ có ngài D. reo lên:

- Tứ quý.

Ăn điểm rồi.

Ông vừa chặc lưỡi khoái chí vừa tính số điểm cộng.

Grover rụt rè hỏi:

- Ngài D., nếu ngài không ăn thì cho cháu lon Coca Ăn Kiêng này nhé?

- Hả?

Ừ, lấy đi.

Grover cắn một miếng lon nhôm rỗng nhai lúng búng.

Tôi bảo ông Chirron:

- Hượm đã.

Bác vừa bảo Thượng Đế có tồn tại ư?

- Đấng Tối Thượng là vấn đề hoàn toàn khác.

Ta sẽ không bàn đến khái niệm trừu tượng đó.

- Trừu tượng ư?

Bác nói...

- Ta nói đến thánh thần, những nhân vật vĩ đại kiểm soát các thế lực tự nhiên và sức mạnh con người.

Đó là những vị thần bất tử trên đỉnh Olympia.

Rõ ràng vấn đề ta đang bàn tới nhỏ hơn khái niệm về Đấng Tối Thượng nhiều.

- Chà, nhỏ quá nhỉ!

- Phải.

Chính là những vị thần mà ta giới thiệu trong lớp học tiếng Latinh.

- Là thần Dớt, nữ thần Hera, thần Apollo... phải không?

Một lần nữa lại có tiếng sấm ì ầm dù trời trong xanh không một gợn mây.

Ông quản lý nhắc:

- Này, nếu là cậu, tôi sẽ không bừa bãi gọi tên thần thánh đâu.

- Nhưng có cả kho truyện về họ cơ mà.

Họ là... truyền thuyết dân gian dùng để giải thích các hiện tượng thiên nhiên như sấm chớp, hay các mùa trong năm...

Hồi khoa học chưa ra đời, người ta mới tin thần thánh.

Ngài D. giễu cợt:

- Khoa với chả học!

Này Perseus Jackson...

Tôi nhăn mặt khi ông gọi đúng tên tôi.

Tôi có khoe với ai đâu nhỉ?

- Hai ngàn năm nữa, người ta sẽ nghĩ gì về thứ cậu gọi là "khoa học" bây giờ?

Hả?

Họ sẽ bảo đó là bộ đồ thờ của người nguyên thủy.

Thế đấy.

Ôi, người phàm trần mới đáng yêu làm sao.

Cứ như ếch ngồi đáy giếng.

Họ tưởng mình tiến bộ, văn minh lắm lắm.

Này Chiron, người phàm trần văn minh cỡ nào?

Có giống cậu bé này không?

Dù không ưa gì Ngài D. nhưng tôi không thể không chú ý cách ông ta gọi tôi là người phàm trần, làm như...

ông ta thì không!

Riêng điều đó khiến tôi kinh ngạc quá đỗi, nhất là ngay trước mặt tôi, Grover đang ngoan ngoãn phục vụ thú chơi bài của ông và vờ nhai lon nhôm ngon lành để không bị hỏi tới.

Ông Chiron bảo:

- Cháu muốn tin hay không thì tùy nhưng thực tế bất tử là... còn sống mãi.

Có khi nào cháu thoáng nghĩ tới khả năng không bao giờ chết, không bao giờ già yếu chưa?

Thần thánh tồn tại, như cháu bây giờ, cho đến đời đời kiếp kiếp.

Tôi vừa nghĩ ra câu bông lơn: "Bất tử lợi quá đi!", nhưng giọng bác Chiron buộc tôi phải suy nghĩ thấu đáo hơn.

- Có nghĩa dù người đời có tin hay không, các vị thần vẫn tồn tại?

Bác Chiron đồng tình:

- Chính xác.

Giả sử là thần, cháu có thích được coi là huyền thoại, giống chuyện cổ tích giải thích hiện tượng sấm chớp không?

Hoặc giả mai sau, cháu có thích người đời coi Perseus Jackson là huyền thoại nhằm giải thích cách nam thiếu niên nói chung vượt qua nỗi đau mất mẹ?

Trống ngực tôi như trống trận.

Bác Chiron cố tình khích bác tôi nhưng tôi sẽ không cho ông toại nguyện:

- Cháu không thích.

Mặt khác, cháu không tin có thần thánh.

Ngài D. làu bàu:

- Tin đi, trước khi họ nổi giận thiêu đốt cậu ra tro.

Grover lắp bắp:

- Cháu xin ông... xin ông lượng thứ.

Percy vừa mất mẹ.

Cậu ấy bị sốc ạ.

Ngài D. nhấm nhẳng quăng lá bài xuống bàn:

- May mắn gớm nhỉ!

Làm công việc khốn khổ này sao chán thế không biết.

Phải dạy dỗ đám năm sinh còn không tin có mình trên đời!

Ông phấy tay.

Tức thì chum rượu hiện ra trên mặt bàn như thể trong nháy mắt.

Tia nắng uốn lượn trong không trung tạo thành hình ly nhỏ.

Trong ly có sẵn rượu nho đỏ.

Tôi há hốc miệng, nhưng ông Chiron còn không buồn rời mắt khỏi quạt bài.

Ông chỉ cảnh cáo:

- Kìa Ngài D., phải biết kiếm chế chgiờ!

Ông quản lý trại nhìn ly rượu vờ ngạc nhiên:

- Chết tôi rồi. – Ông ngửa mặt nhìn trời nói lớn. – Chỉ là thói quen cũ thôi mà.

Xin lỗi đấy!

Sấm lại nổ vang rền.

Ngài D. phẩy tay.

Ly rượu biến thành lon nước ngọt.

Ông thở phào, thích thú mở nắp rồi chơi bài tiếp.

Ông Chiron nháy mắt với tôi:

- Ngày xưa, ngài D.

đây làm cha ông ấy bực mình vì đem lòng yêu nữ thần cây, người đáng lẽ ông ta không nên động vào.

- Cái gì cơ?

Tôi lẩm bẩm, mắt vẫn không rời lon nước như thể nó là vật thể ngòai vũ trụ.

Ông quản lý công nhận:

- Đúng vậy.

Làm như trừng phạt được ta, cha khoái lắm không bằng!

Hình phạt đầu tiên: cấm uống rượu.

Thật kinh khủng.

Mười năm ấy chẳng khác cực hình!

Lần thứ hai thì...

Thử hỏi nàng xinh đẹp thế, ta cầm lòng sao đặng?

Lần thứ hai, cha nhốt ta ở Đồi Con Lai, trại tiếp nhận mấy đứa hỗn xược như cậu đấy, Percy ạ.

Cha bảo ta: "Phải gây ảnh hưởng tốt.

Chuyên tâm dạy dỗ lớp trẻ chứ đừng làm hư chúng nhé".

Trời đất!

Nói thế mà nghe được.

Ngài D. nói năng như đứa trẻ lên ba: hờn dỗi, vùng vằng như trẻ con.

Tôi lắp bắp:

- Vậy ra... cha ngài là...

Ông quản lý kêu trời :

- Chiron ơi là Chiron!

Tôi tưởng anh dạy gã trai này mọi kiến thức tối thiểu rồi chứ.

Cha ta là thần Dớt chứ còn ai nữa!

Tôi lục tâm trí tìm chữ D. viết tắt cho tên gì trong thần thoại Hy Lạp: rượu nho, da hổ, nhân viên trại toàn thần rừng...

Còn nữa, Grover khúm núm như thể ông ta là chủ nhân của nó.

- Vậy ra ngày là thần rượu vang Dionysus.

Ngài D. tỏ vẻ chán nản:

- Grover, thời nay trẻ con hay nói thế nào?

"Phải, có thế cũng không biết" à?

- V... vâng ạ.

- Vậy thì, thưa anh Percy Jackson, có thế mà anh cũng không biết à?

Hay cậu tưởng tôi là Aphrodite?

Nhầm tôi với nữ thần của sắc đẹp, tình yêu và dục vọng thì quá thể lắm!

- Ngài là thần ư?

- Phải rồi, nhóc tì.

- Ngài!

Là thần!

Ông ta quay sang nhìn thẳng mắt tôi.

Nhìn lửa, ngọn lửa xanh lè nhảy múa bên trong đôi mắt ấy, tôi biết Ngài D.

đang cảnh cáo tôi cho tôi thấy phần nhỏ nhất trong bản tính thực của ông.

Trước mắt tôi hiện lên cảnh dây leo của cây nho siết cổ những kẻ không tin vào thần thánh cho đến chết, các chiến binh say xỉn phát điên vì khao khát chiến tranh, những thủy thủ gào thét trong lúc tay họ biến thành vây, mặt họ dài ra thành mõm cá heo.

Tôi biết nếu tôi còn làm quá, ông ta sẽ trừng phạt tôi ra trò.

Ông ta có thể gieo rắc bệnh tật vào não bộ tôi đủ khiến tôi bị mặc áo trói nằm nhà thương điên đến hết đời.

Ông ta gắn giọng:

- Này, định thử tôi chắc?

- Không!

Dạ không, thưa ngài.

Ngọn lửa dịu đi.

Ông quay sang quạt bài:

- Thôi, tôi thắng ván này nhé!

- Gượm đã, Ngài D. – Bác Chiron lật ngửa quạt bài xuống bàn, lẩm nhẩm tính điểm. – Ván này phần thắng thuộc về tôi.

Tôi những tưởng Ngài D. sẽ cho bác bốc hơi ngay trên xe lăn.

Ai dè, ông chỉ thở dài thườn thượt, như thể việc ông ta thua thầy giáo dạy Latinh đã thành lệ.

Ông đứng dậy, Grover cũng đứng lên theo.

- Mệt rồi.

Tôi ngả lưng lấy sức quản trò tối nay.

Nhưng trước hết, Grover này, cậu theo ta vào trong bàn lại chuyện trong nhiệm vụ vừa rồi, cậu làm chưa được tốt lắm.

Mặt Grover lấm tấm mồ hôi:

- V... vâng, thưa ngài.

Ngài D. quay sang tôi:

- Percy Jackson về lều Mười Một.

Và nhớ chính đốn cách cư xử, thái độ cho đúng mực, nghe chưa?

Dứt lời, ông bước nhanh vào nhà.

Grover thiểu não theo sau, mặt xanh như tàu lá.

Tôi quay sang hỏi bác Chiron:

- Liệu Grover có sao không?

Ông lắc đầu, dù nét mặt thoáng chút âu lo:

- Ông bạn già Dionysus không giận ai hết.

Chẳng qua ông ta không thích công việc này.

Ông bị... nói theo cách của cậu là: bị phạt cấm túc.

Thần Dionysus chỉ bất mãn vì còn cả trăm năm nữa, ông ấy mới được phép quay về đỉnh Olympia.

- Thế có cung điện trên đỉnh Olympia thật à?

- Nghe này, đỉnh Olympia ở xứ Hy Lạp.

Nhà của các thần, nơi hội tụ sức mạnh của họ chính là đnh Olympia.

Ngày nay, do tôn trọng truyền thống, ta vẫn gọi nơi hội tụ sức mạnh thần thánh là Olympia.

Tuy nhiên cung điện đã chuyển sang chỗ khác.

Đương nhiên, các thần cũng "chuyển nhà" luôn.

- Các thần Hy Lạp đã chuyển đến...

Mỹ ư?

- Đúng vậy.

Họ mang theo trái tim của phương Tây.

- Sao cơ ạ?

- Cố gắng hiểu đi, Percy.

Thế theo cháu, nền Văn minh Phương Tây là gì?

Chỉ là khái niệm trừu tượng thôi ư?

Không, nó là thế lực sống rất năng động.

Nó là tri thức tích lũy từng chiếu sáng nhiều thiên niên kỷ.

Các vị thần ta đang nói tới là một phần của nền văn minh ấy.

Có người còn bảo họ là cha đẻ của Văn minh Phương Tây, hay ít nhất họ gắn bó quá mật thiết với vần hào quang của nó nên hình ảnh họ luôn chói sáng.

Chỉ khi nền Văn minh Phương Tây bị phá hủy hoàn toàn, ảnh hưởng của các vị thần ấy mới mất đi.

Xứ Hy Lạp là nơi nhen nhóm ngọn lửa đầu tiên.

Sau đó... ta hy vọng trò còn nhớ vì trò đã qua được môn của ta mà... phần tinh túy nhất của nó chuyển tới La Mã.

Các vị thần chuyển theo.

Có thể tên tuổi thay đổi: chẳng hạn Jupiter thay cho Dớt, Venus thay cho Aphrodite... nhưng vẫn là thần thánh cũ, thế lực cũ.

- Rồi họ cũng chết mà.

- Chết ư!

Không bao giờ.

Phương Tây có bao giờ chết?

Họ chỉ đổi chỗ thôi: khi ở Đức, lúc ở Pháp hay Tây Ban Nha.

Nơi nào ngọn lửa văn minh chói sáng nhất, ở đó có các vị thần.

Họ ở Anh quốc cả mấy thế kỷ ấy chứ!

Trong ba thiên niên kỷ gần đây nhất, họ đều để lại dấu ấn tại nơi họ trị vì: trong hội hoạ, điêu khắc và kiến trúc.

Hãy nhìn những tòa nhà đẹp nhất mà xem.

Percy ạ, giờ tất nhiên họ đang ở Mỹ.

Hãy nhìn quốc huy của Hoa Kỳ xem: là đại bàng của thần Dớt đó.

Cậu có thấy tượng thần lửa Promethe ở trung tâm Rockefeller Center, mặt tiền xây theo kiến trúc Hy Lạp của các tòa nhà trụ sở cơ quan hành chính Hoa Kỳ ở Washington chưa?

Thách cháu tìm được một thành phố của Mỹ không có đầy rẫy hình ảnh cư dân đỉnh Olympia đấy!

Cháu thích hay không thì tùy vì nhiều người cũng chẳng ưa gì La Mã cổ đại.

Nhưng hãy tin bác.

Giờ nước Mỹ là trái tim của ngọn lửa thiêng, là cường quốc phương Tây.

Thế nên đỉnh Olympia mới ở đây, chúng ta mới ở đây.

Tôi như vừa hứng quả bom tấn, đặc biệt là hình như tôi vừa được nhập vào nhóm bác Chiron gọi là "chúng ta", như thể tôi là thành viên câu lạc bộ gì gì đó.

- Bác Chiron, vậy bác là ai?

Và cháu... cháu là ai?

Ông mỉm cười, nhúc nhích như thể sắp đứng lên rời xe lăn, nhưng tôi biết không bao giờ có chuyện đó.

Ai cũng biết Brunner-Chiron bị liệt nửa người, từ eo trở xuống.

Bác trầm ngâm:

- Ai cũng muốn tìm lời giải cho câu hỏi: "Thực ra Percy là ai?"

Nhưng tạm thời chúng tôi sắp xếp một giường trong lều Mười Một cho cháu.

Cháu còn gặp nhiều bạn mới, chuẩn bị cho thời khóa biểu dày kín ngày mai.

Chưa hết, đên đốt lửa trại tối nay hứa hẹn nhiều điều thú vị.

Bác thích sôcôla nhất đấy.

Ông đứng lên rời khỏi xe lăn theo cách rất lạ lùng.

Tấm chăn tuột khỏi chân, nhưng ông không động đậy.

Phần eo phía trên thắt lưng của ông dài mãi, cao lên thêm.

Lúc đầu tôi tưởng ông mặc quần lót dài bằng vải nhung trắng, nhưng khi ông cứ cao lên mãi, cao hơn chiều cao bình thường của con người, tôi mới biết bác Chiron không mặc quần lót nhung.

Đó là ức của một loài vật toàn cơ và gân được phủ một lớp lông trắng mịn.

Xe lăn biến thành chiếc rương kim loại lớn có bánh xe.

Chắc chắn phải có phép màu chi đây vì rương nhỏ thế không thể nhét cả thân hình kềnh càng của ông vào được.

Ông bước một chân lên trước: chân này có đầu gối xương xẩu và móng guốc cựa to đánh bóng loáng.

Chân trước cùng cặp bước lên theo, rồi đến hai chân sau.

Chiếc rương trống trơn, chỉ còn cái vỏ sắt bên trong đựng cặp chân người giả.

Tôi ngạc nhiên nhìn con ngựa vừa rời xe lăn: một con ngựa đực màu trắng to lớn khác thường.

Tuy nhiên, đó không hẳn là ngựa đơn thuần bởi chỗ đầu ngựa là nửa người phía trên của thầy giáo dạy tiếng Latinh nối với phần thân ngựa.

Nhân mã Chiron bảo:

- Dễ chịu quá đi mất.

Bác bị giam trong xe đẩy này lâu đến nỗi mê mụ cả người.

Giờ mình đi ngay thôi.

Percy, đến gặp gỡ và làm quen với các trại viên khác đi nào.

6.

Tôi – Chúa Tể Tối Thượng Trong Nhà Vệ Sinh !

Vừa kịp chấp nhận sự thật thầy giáo dạy tiếng Latinh là con ngựa, chúng tôi thăm thú một vòng thật vui vẻ dù tôi cẩn thận không dám đi sau ông.

Tôi có kinh nghiệm sau vài lần bị phạt hốt phân ngựa trong lễ diếu hành Macy's Day nên xin lỗi: với tôi, phía trước mặt nhân mã Chiron đáng tin hơn phía sau nhiều.

Hai chúng tôi đi ngang qua bãi bóng chuyền.

Mấy bạn cùng cắm trại huýnh nhau.

Có người chỉ chỏ sừng quỷ đầu bò trong tay tôi, người khác bảo: "Chính cậu ta đấy."

Hầu hết trại viên lớn hơn tôi.

Các thần rừng bạn họ cao lớn hơn Grover.

Mọi thần rừng tôi thấy đều mặc áo thun in chữ màu vàng cam "TRẠI CON LAI", đi lại trên cặp chân trần đầy lông và có móng guốc.

Bình thường tôi không hay ngượng nhưng với kiểu nhìn như thể cả đám đang trông đợi tôi trông cây chuối, tôi không thoải mái cho lắm.

Tôi ngoái đầu nhìn căn nhà khi nãy.

Hóa ra nó lớn hơn tôi tưởng.

Nhà có bốn tầng, sơn màu xanh da trời, xung quanh có mái hiên và lan can sơn trắng trông như khu nghỉ dưỡng cao cấp bên bãi biển.

Lúc ngó lên ngắm chong chóng gió hình con đại bàng bằng đồng trên nóc nhà, tôi phát hiện một cửa sổ cao nhất của tầng áp mái tối om.

Có thứ gì đó làm cửa lay động.

Trong một thoáng, linh tính mách bảo tôi đang bị theo dõi.

Tôi hỏi nhân mã Chiron:

- Cái gì trên kia thế?

Nụ cười của ông tắt ngấm khi nhìn theo tay tôi chỉ:

- À, chỉ là gác xép thôi mà.

- Có ai sống trên đó không?

Ông có vẻ muốn chấm dứt ngay đề tài tôi vừa gợi ra:

- Không.

Chẳng có sinh vật sống nào trên đó cả.

Tôi tin bác.

Nhưng rõ ràng tôi thấy có thứ làm màn cửa lay động.

Giọng vui vẻ của ông pha thêm phần giục giã:

- Percy à, ta đi thôi.

Bác định cho cháu xem mấy thứ.

Khi băng qua mấy ruộng dâu, tôi thấy đám trại viên hái nhiều rổ dâu lớn.

Gần đó, có thần rừng dùng ống sậy làm sáo thổi lên giai điệu dìu dặt.

Bác Chiron bảo trại này trồng toàn dâu thượng hại cung cấp cho nhiều nhà hàng ở New York và đỉnh Olympia.

- Dâu giúp trang trải mọi chi phí.

Cái hay ở chỗ hầu như không ai phải chăm sóc, tưới bón gì, cây vẫn trĩu quả.

Ông kể giống cây ăn quả này luôn mọc xum xuê ở bất cứ nơi nào có mặt Ngài D. quản lý.

Thực ra, nho là thứ chịu ảnh hưởng nhiều nhất của ông nhưng do ông bị hạn chế trồng nho nên thay vào đó, họ trồng dâu.

Tôi ngắm thần rừng thổi sáo.

Tiếng nhạc khiến lũ sâu bọ chạy tứ tán khỏi luống dâu, giống người ta chạy hỏa hoạn.

Tooi bâng quơ tự hỏi không biết Grover có làm phép bằng tiếng nhạc như vậy chăng?

Không biết giờ này cậu ấy còn trong nhà lớn, đứng chịu trận nghe Ngài D. mắng mỏ không.

Tôi hỏi bác:

- Chắc Grover không bị phạt nặng đâu nhỉ?

Cậu ấy làm nhiệm vụ che chở, bảo vệ giỏi lắm.

Thật đấy.

Chiron thở dài.

Ông cởi áo khoác đắp lưng ngựa trông như yên cương vậy.

- Cũng tại Grover hay mơ mộng viển vông.

Lắm lúc không biết cậu ta căn cứ vào đâu để mơ xa đến thế.

Để đạt được mục đích của mình, trước hết Grover phải chứng tỏ tinh thần quả cảm vô song trên cương vị Người Bảo Vệ: tức là tìm được một trại viên và đưa người đó về Đồi Con Lai an toàn.

- Nhưng Grover làm được điều đó mà.

- Bác đồng ý với cháu.

Có điều bác không ở vị trí ban giám khảo.

Dionysus và Hội Đồng Bô Lão sẽ quyết định.

Bác e họ không cho rằng Grover hoàn thành nhiệm vụ vừa rồi.

Suy cho cùng, Grover để lạc mất cháu ở New York.

Sau đó đến mẹ cháu gặp chuyện... không may.

Còn nữa, Grover bất tỉnh nhân sự để cháu phải dìu vào trại.

Hội Đồng buộc phải đặt câu hỏi: Trong sứ mệnh vừa rồi, Grover chứng tỏ lòng quả cảm ở chỗ nào?

Tôi chực cãi.

Mọi sự cố xảy ra dều không phải lỗi Grover.

Thêm vào đó, tôi cực kỳ hối hận.

Nếu ở bến xe buýt, tôi không chuồn về trước, Grover đã không bị phạt.

- Người ta sẽ cho cậu ấy cơ hội sửa chữa chứ ạ?

Chiron nhăn mặt:

- Thực ra nhiệm vụ vừa rồi là cơ hội cho Grover sửa chữa lỗi cũ.

Sau sự cố đầu tiên cách đây năm năm, Hội Đồng không định giao nhiệm vụ cho Grover nữa.

Cả Olympia đều biết thất bại đầu tiên ấy nên ta khuyên Grover nên đợi thêm ít lâu nữa hẵng hay.

Tuổi còn trẻ mà...

- Grover mấy tuổi ạ?

- Hai mươi tám.

- Cái gì?

Hai mươi tám sao học lớp sáu được?

- Tuổi chín chắn của thần rừng gấp đôi con người, Percy à.

Nếu người thường học trung học cơ sở ba năm, Grover sẽ học sáu năm.

- Thế chán chết được.

- Ừ, chán thật.

Nói chung, Grover toàn phát triển chậm hơn bạn thần rừng cùng lứa.

Đến giờ cậu ấy vẫn chưa thành thạo phép thuật của thần rừng.

Thế mà cậu ta cứ nóng lòng thực hiện mơ ước có thể nói quá tầm tay.

Giờ có lẽ cậu ấy nên bằng lòng với nghề nghiệp bình dị nào đó...

- Thế không công bằng.

Vậy chứ lần đầu xảy ra chuyện gì?

Có tồi tệ lắm không để đến nỗi Grover bị phạt nặng thế?

Chiron quay mặt đi:

- Chắc ta phải khẩn trương lên thôi.

Nhưng tôi chưa thể dứt câu chuyện ra được.

Lòng tôi chộn rộn khi nhân mã Chiron nói đến số phận của mẹ tôi: hình như ông cố tình không dùng chữ chết!

Một ý tưởng nhen nhóm trong đầu, một tia hy vọng nhỏ xíu xuất hiện trong tôi.

- Bác Chiron này, nếu thần thánh và đỉnh Olympia có thật thì...

- Cháu muốn nói gì?

- ... thì địa ngục cũng có thật ư?

Mặt bác tối sầm:

- Đúng đấy, cháu à. – Bác ngừng lời để cẩn thận chọn từ ngữ thích hợp. – Sau khi thể xác chết đi, linh hồn cũng phải có nơi để đến chứ.

Nhưng từ giờ đến lúc cháu tìm hiểu thêm đôi chút về thế giới thần thánh... bác muốn cháu tạm quên địa ngục đi.

- Thế khi nào cháu mới được "hiểu thêm đôi chút" như bác nói?

- Bỏ đi, Percy.

Ta hãy xem trong rừng có gì nào?

Càng đến gần, tôi thấy khu rừng càng như rộng thêm.

Rừng ở đây chiếm một phần tư thung lũng.

Cây cối cao vút và đan xen dày đặc đến nỗi tôi tưởng đâu ngoại trừ người da đỏ, chưa ai từng đặt chân đến nơi này.

Bác Chiron bảo:

- Nếu muốn thử vận may thì rừng này khá đông đúc.

Nhưng cháu phải mang theo vũ khí.

- Rừng này có thú gì?

Cháu cần vũ khí gì ạ?

- Cứ từ từ, cháu sẽ biết hết thôi.

Tối thứ Sáu có trò chơi Cướp Cờ đấy.

- Ôi, cháu thích lắm.

- Cháu có kiếm với khiên chưa?

- Gì cơ ạ?

- Vậy là chưa rồi.

Bác cũng nghĩ cháu chưa có.

Chắc cỡ số năm vừa với cháu.

Bác cháu ta sẽ ghé kho vũ khí sau.

Tôi dợm hỏi sao trại hè có kho vũ khí làm gì nhưng vì đầu óc đang mải suy nghĩ về quá nhiều điều lạ lẫm xảy đến trong một thời gian ngắn, nên tôi làm thinh theo gót bác Chiron.

Chúng tôi tham quan khu tập bắn cung, hồ có nhiều xuồng máy và khu trại ngựa (bác Chiron có vẻ không thích lắm), bãi tập phóng lao, nhà hát và hí trường.

Bác Chiron bảo họ đấu kiếm đấu thương ngay tại hí trường.

- Đấy gươm và giáo ạ?

- Các nhà thách đấu với nhau.

Thường thì không chết ai đâu.

Nhưng hỗn chiến thì có.

Bác Chiron chỉ hí trường lớn giới hạn bằng hàng cột trắng kiểu kiến trúc Hy Lạp xây trên triền đồi trông ra biển.

Ở đó bài trí hơn chục chiếc bàn đá, ngoài ra không có mái, tường gì cả.

- Thế nhỡ trời mưa thì sao hả bác?

Bác nhìn tôi từ đầu đến chân như nhìn người lùn ngoài hành tinh:

- Thế trời mưa, cháu có ăn không?

Tôi đành im thít.

Khu lều trại là điểm đến cuối cùng.

Có mười hai căn lều gỗ náu mình ên vạt rừng gần hồ nước.

Chúng xếp thành hình chữ U: hai căn ở đáy và mỗi cạnh bên có năm căn.

Chắc chắn đó là quần thể kiến trúc kỳ lạ nhất mà tôi từng thấy.

Mười hai căn nhà nhỏ na ná giống nhau, ngoài trừ số nhà bằng đồng treo trước cửa: số lẻ treo bên trái, số chẵn treo bên phải.

Lều Số Chín có ống khói nhỉ xíu trông như nhà máy thu nhỏ.

Lều Số Bốn có cây cà chua leo kín tường và mái đan bằng tranh.

Hình như nhà Số Bảy được đúc bằng vàng khối sáng loáng, phản chiếu ánh nắng làm người ta chói mắt.

Nhà nào cũng quay mặt ra sân chung rộng bằng sân bóng đá, rải rác tượng kiểu Hy Lạp, đài phun nước, thảm hoa và vài vòng sắt tròn cho người tập bóng rổ.

Thấy chúng, tôi háo hức rảo bước nhanh hơn.

Ngay giữa sân chung có một hố lớn xây viền đá dùng đốt lửa sưởi.

Dù thời tiết chiều nay ấm áp, lửa vẫn cháy âm ỉ trong lò sưởi tập thể ấy.

Một cô bé khoảng chín, mười tuổi giữ lửa cháy đều bằng cách dùng que cời đảo than đá cháy đỏ.

Hai căn nhà đầu tiên gắn Số Một và Số Hai trông như lăng mộ vua hoặc nữ hoàng.

Chúng xây bằng đá trắng theo hình hộp kèm hàng cột nặng nề phía trước.

Nhà Số Một lớn và vững chãi nhất.

Mấy cánh cửa ra vào bằng đồng sáng loáng có khắc nhiều vệt như chữ viết ngoằn ngoèo.

Nhìn từ mọi phía, ta đều thấy như có sét vừa đánh xuống.

Nhà Số Hai kiểu dáng tao nhã hơn, hàng cột thanh mảnh hơn được trang trí bằng dây hoa điểm quả lựu.

Mấy mặt tường chạm khắc hình công phượng cầu kỳ.

Tôi đoán mò:

- Thần Dớt và Hera phải không ạ?

- Phải.

- Sao nhà họ... bỏ trống?

- Nhiều nhà không có người ở.

Cháu đoán đúng đấy.

Chưa ai ngụ trong nhà Số Một và Số Hai cả.

Vậy ra mười hai nhà biểu tượng cho mười hai cư dân đỉnh Olympia.

Nhưng tại sao một vài nhà bỏ trống?

Tôi dừng trước nhà đầu tiên dãy bên trái: nhà Số Ba.

Không cao và uy nghi như căn thứ nhất, nhà này dài, thấp và vững chãi.

Mấy mặt tường ngoài ốp đá nhám màu xám có gắn vỏ sò và san hô như thể mấy phiến đá ốp này đẽo trực tiếp từ đáy biển.

Tôi ngó vào cửa trước mở toang nhưng bác Chiron nhắc:

- Ấy chớ!

Đừng dại dột thế.

Trước khi bị bác kéo ra ngoài, tôi kịp ngửi thấy mùi biển trong nhà, giống hương gió mặn mòi bên bờ biển Montauk.

Tường bên trong sáng trắng như bào ngư.

Nhà kê sáu giường một trống trải.

Ga trải giường bằng lụa sẵn sàng chờ người sử dụng.

Tuy nhiên không có dấu hiệu cho thấy có người ở nhà này.

Căn nhà trống vắng, cô quạnh đến nỗi tôi lấy làm mừng khi bác Chiron đặt tay lên vai tôi bảo:

- Percy, ta đi thôi.

Hầu hết những nhà còn lại tấp nập người ra kẻ vào.

Nhà Số Năm sơn màu đỏ tươi, có điều thợ sơn quá vụng, trông như thể người ta dùng cả thùng sơn hắt lên tường hoặc dùng tay vốc sơn nước vỗ lên bề mặt tường nhà.

Mái nhà có chăng dây kẽm gai.

Trên cửa chính treo đầu lợn lòi nhồi rơm.

Cặp mắt con thú hoang ấy hình như bám riết lấy tôi.

Tôi thấy trong nhà có đám trẻ cả trai lẫn gái mặt mày bặm trợn đang vật tay và cãi vã trong tiếng nhạc rock mở lớn đinh tai nhức óc.

Đứa to mồm nhất là con bé chừng mười ba, mười bốn tuổi.

Mặc áo thun đồng phục của trại cỡ XXXL rộng thùng thình bên trong, nó trùm áo khoác rằn ri bên ngoài.

Tôi mới đứng ngoài cửa chưa đến một giây, nó đã quay qua nhìn tôi gườm gườm và nhếnh mép cười độc địa.

Nữ trại viên này gợi tôi nhớ đến Nancy Bobofit, chỉ có điều nó to lớn hơn.

Mái tóc rũ rượi của nó màu nâu, không phải màu đỏ như tóc Nancy.

Tôi rảo bước tiếp, khéo léo tránh bốn vó móng guốc cứng như thép của bác Chiron.

Tôi chợt nhận ra một điều:

- Cháu chưa thấy nhân mã nào khác quanh đây.

Bác Chiron buồn thiu:

- Tiếc là bà con dòng họ bác còn hoang dã, man rợ lắm.

Lúc vào rừng hay xem sự kiện thể thao, cháu sẽ thấy họ.

Nhưng họ không có mặt ở đây được.

- Tên bác là Chiron.

Vậy bác có phải...

Ông mỉm cười với tôi:

- Phải, bác là Chiron mà cháu thấy trong các câu chuyện kể, là thầy dạy Hercules đây.

- Nhưng... cháu tưởng Chiron ấy chết lâu rồi chứ?

Bác Chiron dừng bước như thể rất chú ý đế câu hỏi vừa rồi:

- Thực ra là bác không thể chết, cháu à.

Ngày xưa, thần linh cho bác toại nguyện là làm tiếp công việc bác yêu thích.

Khi nào nhân loại còn cần, bác còn dạy dỗ các anh hùng cho họ.

Để làm như ý mình muốn, bác được nhiều, nhưng cũng mất nhiều lắm.

Nhưng cho đến giờ này bác vẫn còn đây, có nghĩa là người ta còn cần đến bác.

Tôi ngẫm nghĩ: Phải dạy bảo lũ "nhất quỷ nhì ma" ba ngàn năm chưa bao giờ nằm trong danh sách mười điều đáng mơ ước nhất của tôi.

- Thế bác không thấy chán à?

- Không, không hề.

Thỉnh thoảng có mất tinh thần đôi chút, nhưng buồn chán thì không.

- Sao bác mất tinh thần?

Bác Chiron lại giả điếc:

- Kìa, Annabeth đang chờ.

Bạn gái tóc vàng tôi gặp trên Nhà Lớn đọc sách trước cửa nhà cuối cùng dãy trái: nhà Số Mười Một.

Thấy chúng tôi đến gần, cô gái ngước nhìn tôi xăm xoi như thể vẫn để bụng chuyện tôi nhểu dãi lòng thòng lúc trước.

Dù muốn biết bạn ấy đọc gì, tôi tôi không đọc được tựa sách in ngoài bìa.

Chắc bệnh khó đọc của tôi "tái phát" nữa rồi.

Tuy nhiên sau đó, tôi thấy chữ ngoài bìa không phải là tiếng Anh.

Nó giống kiểu chữ Hy Lạp cổ.

Sách có hình ảnh đền đài, tượng và các kiểu cột nhà.

Chắc là sách chuyên ngành kiến trúc.

Bác Chiron:

- Annabeth này, trưa này bác có lớp bồi dưỡng cung thủ giỏi.

Cháu tiếp tục hướng dẫn Percy nhé?

- Vâng ạ.

Bác Chiron hất đầu về phía cửa:

- Nhà Số Mười Một đây.

Cứ tự nhiên nhé, Percy.

Trong số mười hai căn, nhà Số Mười Một giống nhà gỗ trong khu cắm trại nhất.

Đặc biệt, nó khá cũ nát: nào then cửa mòn, nào sơn tường màu nâu bong tróc.

Trên cửa có một biểu tượng của ngành y: cây cọc gỗ mọc cánh có con rắn quấn quanh.

Hình như người ta gọi đó là y hiệu thì phải.

Nhà chật như nêm, con gái con trai ở chung và số người vượt quá số giường hiện có.

Túi ngủ ngổn ngang dưới sàn nhà.

Quang cảnh giống hệt phòng tập thể thao được Hội Chữ Thập Đỏ trưng dụng làm nơi sơ tán.

Bác Chiron không vào.

Khung cửa quá thấp so với chiều cao quá khổ của bác.

Tuy nhiên khi thấy bác, mọi trại viên đều cúi chào lễ phép.

- Thôi bác đi đây.

Chúc Percy may mắn.

Ta sẽ gặp nhau trong giờ ăn tối.

Ông khua móng cồm cộp chạy về phía sân tập bắn cung.

Ngấp nghé ngoài cửa, tôi nhìn bạn cùng phòng.

Chúng không cúi đầu cung kính nữa mà giương mắt nhìn như thầm đánh giá xem tôi "ngầu" cỡ nào.

Tôi biết thủ tuch này nhờ kinh nghiệm chuyển trường liên miên.

Annabeth nhắc:

- Kìa, vào đi chứ.

Nghe lời, tôi đi thẳng vào trong và lập tức tự biến mình thành trò cười.

Trong đám có tiếng cười khúc khích, nhưng không ai nói gì.

Annabeth lên tiếng:

- Percy Jackson này, mọi người ở đều ở nhà Số Mười Một đấy.

Có tiếng người hỏi:

- Trại viên thường hay chưa xác định?

Tôi không biết trả lời sao.

Annabeth đáp:

- Chưa xác định.

Cả nhóm rên lên khó chịu.

Một bạn trai có vẻ lớn hơn cả nhóm một chút bước lên:

- Thôi nào, mọi người.

Nhà Số Mười Một là vậy mà.

Mừng cậu đến ở chung với bọn này.

Chỗ của cậu dưới sàn, ngay chỗ này này.

Anh này khoảng mười chín tuổi, trông khá dễ chịu.

Anh ta cao lớn, rắn chắc, tóc hớt ngắn và có nụ cười thân thiện.

Anh mặc áo rộng, quần soóc, đi xăng đan và đeo dây da xâu năm hạt đất nung năm màu khác nhau.

Diện mạo anh bình thường ngoại trừ vết sẹo dài trắng to bản chạy từ mắt phải xuống tận hàm trông như bị rạch mặt vậy.

- Percy à, đây là anh Luke.

Giọng Annabeth sao là lạ, tôi bèn liếc sang.

Xin thề là bạn ấy có ngượng đỏ mặt!

Thấy tôi nhìn, Annabeth nghiêm mặt lại:

- Tạm thời, Luke sẽ tư vấn cho cậu.

Tôi hỏi:

- Tạm thời là sao?

Luke kiên nhẫn giải thích:

- Hiện tại trại chưa xác định danh tánh cậu.

Vì không biết xếp cậu vào nhà nào nên cậu sẽ ở đây.

Nhà Số Mười Một tiếp nhận mọi trại viên mới hoặc khách đến thăm.

Thông thường là thế.

Hermes là vị thần của khách thập phương mà.

Nhìn khoảnh sàn nhà nhỏ xíu giành cho mình tôi sực nhớ mình chẳng có gì dùng đánh dấu "lãnh thổ": không hành trang, quần áo, túi ngủ cũng không.

Tài sản duy nhất tôi chỉ có sừng của quỷ đầu bò.

Vừa định đặt nó xuống, tôi chợt nhớ thần Hermes cũng là thần của lũ trộm cướp.

Tôi nhìn quanh từng khuôn mặt bạn cùng phòng: người sưng sỉa, kẻ nghi ngờ, người khác cười ngây ngô.

Có người còn nhìn tôi với ánh mắt chờ đợi như thể mong tôi sơ hở để móc túi áo tôi.

Tôi hỏi:

- Em sẽ ở đây bao lâu?

- Hỏi hay đấy.

Đến khi người ta xác định danh tánh em.

- Việc xác định mất bao lâu?

Cả phòng cười ồ lên.

Annabeth bảo:

- Để tớ đưa Percy xem sân bóng chuyền.

- Nhưng tớ xem rồi mà.

- Đã bảo đi mà lại.

Khi bạn ấy nắm cổ tay tôi lôi ra ngoài, tôi còn nghe tiếng cười trong nhà Số Mười Một rộ lên sau lưng.

-o-

Đi được vài bước, Annabeth quay sang tôi:

- Jackson, tớ tưởng cậu khá hơn cơ đấy!

- Cái gì?

Cô nàng tỏ vẻ chán nản, hạ thấp giọng rành rọt:

- Tớ không tin cậu là người cả trại trông đợi.

Tôi cáu thực sự:

- Sao cậu cứ mặt nặng mày nhẹ với tớ thế?

Tớ đây vừa hạ đo ván quỷ đầu bò...

Annabeth sẵng giọng:

- Đừng ra vẻ ta đây anh hùng!

Cậu có biết cả trại này mơ có cơ hội như cậu không?

- Họ thích bị quỷ ăn tươi nuốt sống ư?

- Họ mơ giao tranh với quỷ đầu bò mà không được.

Cậu tưởng tụi này luyện tập khó nhọc làm gì chứ?

Tôi lắc đầu:

- Này, nếu thứ đánh nhau với tớ là quỷ đầu bò thật giống trong chuyện thần thoại...

- Thì đúng rồi, không là quỷ đầu bò thì là gì.

- Tớ tưởng chỉ có một con thôi chứ?

- Thì một con chứ mấy.

- Nhưng nó chết lâu lắm lắm rồi mà.

Thần Theseus giết nó trong mê cung.

Vậy...

- Percy à, quái vật không chết.

Người ta có thể lấy mạng chúng.

Nhưng chúng không chết.

- Thôi thôi, cậu nói thế ai hiểu cho nổi.

- Quái vật khác cậu và tớ ở chỗ không có linh hồn.

Cậu chỉ có thể tạm làm cúng tan biến ít lâu.

Nếu may mắn, hết đời cậu chúng cũng chưa hồi lại.

Tuy nhiên, vì là thế lực ban sơ nên quái vật có thể phục hồi nguyên trạng.

Tôi nhớ cô Dodds dạy toán:

- Thế giả sử tớ ngẫu nhiên hạ quái vật bằng kiếm thì...

- À, Nữ thần Báo Th..., à quên, cô giáo dạy toán của cậu chứ gì?

Đúng vậy, mụ ta vẫn còn nhởn nhơ ngoài kia.

Việc cậu làm chỉ khiến mụ ta nổi cơn tam bành thôi.

- Sao cậu biết cô Dodds?

- Tớ nghe cậu nói mơ lúc ngủ.

- Hình như cậu vừa gọi tên mụ.

Nữ thần Báo Thù, tay sai thần chết Hades chuyên nghề tra tấn hành hạ người ta phải không?

Annabeth hốt hoảng nhìn quanh như thể sợ tai họa sắp ụp xuống đến nơi:

- Dù vào trại rồi, cậu chớ gọi tên tục của chúng.

Chúng tớ dùng danh từ chung là bọn "Người Tử Tế" để gọi bọn chúng.

Tôi giả bộ rền rĩ dù trong lòng bất chấp, chẳng mảy may sợ sệt:

- Này, có cách nào nói chuyện mà không bị sấm chớp hăm dọa không Annabeth?

Tiện thể cho tớ hỏi sao tớ phải ở nhà Số Mười Một?

Sao ta phải chen chúc khổ sở trong khi nhà khác thiếu gì phòng trống?

Tôi chỉ mấy nhà đầu.

Annabeth tái mặt:

- Percy không biết rồi.

Không ai được chọn nhà cả.

Chỗ ở cho trại viên tùy thuộc vào thân thế cả bố mẹ người ấy.

Bạn gái tóc vàng mở to mắt nhìn tôi như thể kỳ vọng tôi "thông minh đột xuất".

- Mẹ tớ là Sally Jackson.

Bà bán kẹo ở nhà ga trung tâm.

Ý tớ là... hồi mẹ còn sống.

- Percy, tớ chia buồn khi biết chuyện xảy đến với mẹ cậu.

Nhưng ý tớ không phải thế.

Tớ muốn nói đến bố cậu kìa.

- Bố tớ chết rồi.

Tớ còn chưa biết mặt ông.

Annabeth thở dài như nghe chuyện nhàm tai:

- Bố cậu không chết.

- Cậu căn cứ vào đâu mà nói thế?

Cậu biết bố tớ ư?

- Không, tất nhiên tớ đâu được diễm phúc ấy.

- Thế sao cậu bảo...

- Cứ nhìn cậu thì biết.

Nếu không như bọn tớ, sao cậu đến được đây?

- Cậu biết gì về tớ mà nói?

Annabeth nhướn lông mày:

- Không ư?

Cậu chuyển trường liên tục.

Tớ cá mười lần thì có đến chín cậu bị đuổi học.

- Sao...

- Bác sĩ kết luận cậu mắc chứng khó đọc.

Có thể thêm bệnh hiếu động thái quá, không thể tập trung.

Tôi cố nuốt cục "ngượng" chẹn ngang cổ:

- Chẳng liên quan gì cả.

- Nếu tổng hợp lại, đó chắc chắn là dấu hiệu báo trước.

Khi cậu đọc, có phải chữ nghĩa trôi nổi lung tung không nào?

Sở dĩ như vậy vì não cậu lập trình bằng ngôn ngữ Hy Lạp cổ đại.

Còn về chứng hiếu đọng thái quá: cậu hấp tấp bốc đồng, không thể ngồi yên nghe giảng.

Nguyên do bởi ký ức về những lần giao tranh trên chiến trường xưa.

Hồn cậu lạc trong cuộc hỗn chiến thì tay chân cậu làm sao yên được?

Còn về bệnh mất tập trung: thực ra bởi cậu thấy quá nhiều.

Mọi giác quan của cậu đều nhạy bén hơn người phàm trần.

Tất nhiên, giáo viên muốn đưa cậu đi "chữa trị" vì hầu hết họ đều là quái vật đội lốt người.

Họ không muốn bị cậu phát hiện.

- Cậu biết rành như vậy... chắc là cậu cũng giống tớ?

- Hầu hết trại viên ở đây đều thế.

Nếu không giống tụi này, chỉ cần gặp quỷ đầu bò cậu cũng đủ chết, huống hồ còn ăn thức ăn của thần và uống rượu tiên!

- Cậu mới nói gì?

- Thức ăn đồ uống trại bồi dưỡng cho cậu đó.

Con người phàm ăn vào chết ngay.

Nó thiêu đốt máu huyết ra tro, biến xương cốt thành cát mịn.

Ai sống nổi chứ?

Chấp nhận thực tế đi, Percy.

Cậu đúng là con lai rồi.

Con lai ư?

Đầu óc tôi quay cuồng bao thắc mắc, không biết hỏi câu nào trước, câu nào sau.

Bất ngờ một giọng khàn khàn la tướng lên:

- Chà, có "ma mới", tụi bay ơi!

Tôi quay sang nhìn.

Đứa con gái to cao trong căn lều sơn đỏ lem luốc đang đi tới.

Nó kéo theo ba đứa bạn to béo, mặt mũi xấu xí đanh đá và mặc áo khoác rằn ri y chang như nó.

Annabeth thở dài:

- Kìa Clarisse, sao không ở lều lau chùi thương giáo, vũ khí?

Con bé cao lớn đáp:

- Không cần mày nhắc.

Chắc chắn thứ Sáu tao sẽ đè bẹp thứ con gái yếu đuối như mày.

Annabeth trả miếng:

- Cờ danh dự thuộc về đội tao.

Mày không có cơ hội sờ vào đâu.

- Thế ư?

Tụi tao sẽ xay mày ra cám.

Mắt Clarisse giật giật, như thể nó biết sức mình đến đâu nhưng vẫn muốn dọa cho oai.

Nó quay sang tôi:

- Anh bạn còi xương này là ai thế?

- Percy Jackson.

Còn đây là Clarisse, con gái thần Ares[7].

Tôi chớp mắt lia lịa:

- Là thần chiến tranh sao?

Clarisse nhếnh mép:

- Sao?

Sợ rồi à?

Tôi nhanh chóng lấy lại khẩu khí:

- Sợ gì.

Chẳng qua ngửi thấy mùi hôi nên tao hỏi cho chắc.

Clarisse gầm gừ:

- Tụi tao có nghi lễ đón mừng "ma mới" đấy, nhãi ạ.

- Tao không phải nhãi.

Tên tao là Percy.

- Mày tên gì, tao không cần biết.

Đi theo tao.

Annabeth cố can ngăn:

- Clarisse này...

- Mày có khôn thì tránh ra, mặc tụi tao.

Annabeth mếch lòng nhưng cô đành mặc kệ.

Còn tôi không cần bạn ấy giúp.

Là người mới đến, tôi phải tự xoay sở.

Có thế từ lần sau chúng mới để tôi yên.

Nhờ Annabeth cầm hộ sừng quỷ đầu bò, tôi xắn tay áo lên.

Nhưng Clarisse đã thộp cổ tôi lôi đến căn nhà có hàng cột bên ngoài.

Chỉ nhìn qua tôi biết ngay là nhà vệ sinh.

Tôi đấm đá túi bụi.

Dù đánh nhau với vô số địch thủ, tôi chưa thấy ai có bàn tay thép như Clarisse.

Nó lôi tôi đến nhà vệ sinh nữ, bên trong bài trí dãy bồn chia ngăn.

Ở đây hôi không kém gì nhà vệ sinh công cộng trông thành phố.

Dù bị Clarisse túm tóc kéo, tôi vẫn kịp nghĩ: Đáng lẽ nhà vệ sinh của thần thánh phải "đẳng cấp" hơn mới phải.

Mấy đứa bạn đi theo Clarisse cười ngặt nghẽo.

Tôi cố gom hết sức mạnh như lúc đấu với quỷ đầu bò, nhưng tiếc thay không được.

Clarisse ấn tôi vào một ngăn có bồn cầu:

- Tưởng mày ghê gớm lắm.

Ai tưởng mày xuất thân từ "Bộ Tam Vĩ Đại" thì nhầm to.

Chắc hôm trước quỷ đầu bò thấy mày đần quá nên cười đến độ không trụ lại nổi.

Bạn nó cười khanh khách.

Annabeth ôm mặt đứng trong góc nhà, quan sát qua kẽ ngón tay.

Clarisse đá gối tôi khuỵu xuống, giúi đầu tôi xuống bồn cầu.

Mùi tanh của ống nước han gỉ xộc lên, cộng với mùi... những thứ người ta đùn xuống toa lét.

Tôi cố vươn cổ lên.

Nhìn thứ nước bẩn ngầu bọt, tôi thầm quyết tâm: "Mình không thể vục đầu xuống đây.

Không đời nào."

Đúng lúc ấy có chuyện lạ đời.

Tôi nghe bụng mình thót lại, nghe tiếng nước lục bục và thấy đường ống nước rung chuyển.

Tay Clarisse nắm tóc tôi cợt lỏng hơn.

Nước từ bồn cầu bắn vọt lên thành hình vòng cung qua đầu tôi.

Điều tiếp theo tôi biết được là tôi bò lồm cồm dưới sàn nhà, còn Clarisse hét váng trời ngay phía sau.

Tôi xoay người nhìn đúng lúc nước phun vọt lần nữa.

Nước mạnh như vòi rồng xối thẳng vào mặt Clarisse, mạnh đến nỗi nó ngã ngồi xuống đất.

Nước như ở vòi cứu hỏa xịt mãi, đẩy nó lùi vào tận bên trong ngăn tắm có vòi hoa sen.

Clarisse giãy giụa, ngạt thở.

Mấy đứa bạn xô tới định cứu nhưng sáu bồn cầu khác đồng loạt phun nước vọt lên xối thẳng vào chúng.

Mấy vòi hoa sen cũng tự mở hết cỡ, kết hợp với nhau xịt đám con gái mặc đồ rằn ri trôi ra ngoài cửa nhà tắm trông như rác rưởi bị quét sạch không thương tiếc.

Clarisse cùng đám bạn vừa rời cửa, bụng tôi hết đau quặn và mọi nguồn nước tắt nhanh như khi khởi động.

Khắp nhà vệ sinh ướt át, Annabeth cũng chịu trận.

Tuy ướt sũng nhưng bạn ấy không bị đẩy ra cửa.

Vẫn đứng như trời trồng ngay chỗ cũ, Annabeth trố mắt nhìn tôi.

Nhìn xuống, tôi thấy trong phòng có mỗi chỗ tôi ngồi không bị ướt.

Chỗ khô ráo là thành vòng tròn quanh tôi.

Quần áo tôi không dính một giọt nước.

Không hề.

Tôi ngước lên, đầu gối run cầm cập.

Annabeth lắp bắp:

- Sao cậu làm được...

- Tớ không biết.

Chúng tôi theo nhau ra cửa.

Bên ngoài, Clarisse và ba đứa bạn bò trong đống bùn.

Đám đông trại viên hiếu kỳ vây quanh chúng.

Tóc Clarisse rũ rượi xõa xuống mặt.

Trong áo khoác rằn ri ướt sũng, người nó bốc mùi hôi như nước cống.

Nó nhìn tôi căm thù:

- Thằng "ma mới" kia, mày chết với tao.

Mua quan tài đi là vừa.

Đáng lẽ nên bỏ ngoài tai, nhưng tôi bảo:

- Muốn súc miệng bằng nước toa lét không, Clarisse?

Im miệng đi thì hơn.

Ba đứa bạn nâng Clarisse dậy, lôi nó về nhà Số Năm.

Chân nó khua loạn xạ khiến mấy người đứng xem dạt cả ra.

Annabeth trợn mắt nhìn tôi, không hiểu vì sợ hay vì giận tôi giội nước lên bạn ấy.

Tôi hỏi:

- Sao thế?

Nghĩ gì nói đại đi.

- Cậu sang đội tớ trong trận Cướp Cờ ngày thứ Sáu nhé?

7.

Bữa Tiệc Bốc Khói

Tiếng lành đồn xa: tin về sự cố nhà vệ sinh lan toàn trại.

Tôi đi đến đâu, người ta cũng chỉ trỏ và rỉ tai nhau về nước bồn cầu!!!

Hoặc có lẽ tôi nhầm: chắc mọi người chỉ nhìn Annabeth ướt lướt thướt.

Bạn ấy chỉ tôi xem vài chỗ nữa: xưởng kim loại có mấy bạn đang tự rèn kiếm, phòng thủ công có thần rừng đang thổi cát đánh bóng bức tượng bằng đá cẩm thạch khổng lồ, tạc hình một nhân vật nửa người, nửa dê và bức tường luyện tập.

Tường này có hai mảnh rung chuyển mạnh, đá tảng theo nhau lăn xuống như mưa, nham thạch nóng bắn tung tóe.

Nếu học viên không leo nhanh sẽ bị bỏng vì nham thạch.

Cuối cùng, chúng tôi trở lại hồ có đường mòn dẫn đến khu nhà ở.

Annabeth nói rõ từng tiếng:

- Tớ phải đi tập.

Ăn tối lúc bảy rưỡi.

Cứ theo bạn cùng nhà đến sảnh, nghe chưa?

- Annabeth này, tớ xin lỗi vụ toa lét vừa rồi.

- Đừng khách sáo.

- Không phải tại tớ đâu mà.

Thấy ánh mắt nghi ngờ của cô bạn tóc vàng, tôi mới hiểu cơ sự tại tôi cả.

Chính tôi điều khiển nước phụt ra từ các thiết bị dọc đường ống gắn trên tường.

Tôi không hiểu bằng cách nào nhưng thủ phạm chính là tôi.

Bồn cầu biết nhận lệnh tôi.

Hóa ra tôi có ảnh hưởng đến chuyện ống nước gì gì đó.

Annabeth bảo:

- Chắc cậu phải nói chuyện với Lời Sấm Truyền thôi.

- Ai cơ?

- Không phải ai.

Của một vật thôi.

Để tớ báo bác Chiron đã.

Ngó đăm đăm mặt hồ, tôi chỉ mong có người trả lời thẳng câu tôi hỏi, dù chỉ một lần.

Chưa bao giờ bị người khác từ dưới nhìn lên mông mình nên tôi ngượng chín người khi thấy hai bạn gái ngồi gác chân chữ ngũ dưới móng cầu cách tôi khoảng hai chục bước đang ngắm mình.

Họ mặc quần jeans xanh dương, áo thun xanh lá cây.

Mái tóc nâu bồng bềnh trên vai.

Họ mỉm cười vẫy tôi như bạn thân lâu ngày không gặp.

Tôi không biết hay dở ra sao, cũng giơ tay vẫy đáp trả.

Annabeth cảnh cáo:

- Đừng khích lệ họ.

Nữ thủy thần mà tán, đàn ông chết như ngả rạ.

Tôi choáng, lặp lại như người mất trí:

- Nữ thủy thần!

Tớ xin đủ, hết chịu nổi rồi.

Tớ về nhà đây.

Annabeth nhíu mày:

- Percy, cậu vẫn chưa hiểu à?

Nhà cậu là đây.

Chỉ còn mỗi chỗ này an toàn cho những người như chúng ta thôi.

- Chúng ta là bọn tâm thần có vấn đề phải không?

- "Chúng ta" có nghĩa không phải người phàm.

Hay chí ít chỉ một nửa là người thôi.

- Vậy nửa kia là gì?

- Biết rồi còn hỏi.

Tôi muốn thú nhận nhưng lại sợ.

Chân tay tôi ngứa ngáy, cảm giác chỉ có mỗi khi nghe mẹ nhắc đến bố.

- Nửa kia là thần thánh, là á thần.

Annabeth gật đầu:

- Cha cậu chưa chết.

Ông là cư dân đỉnh Olympia.

- Hoang đường!

- Không có đâu.

Trong mọi câu chuyện thần thoại, các thần hay làm gì nhất nào?

Họ đi khắp thiên hạ, yêu say đắm người phàm rồi sinh con đẻ cái.

Cậu tưởng mấy nghìn năm qua, họ bỏ được cái thói quen thâm căn cố đế ấy ư?

- Nhưng đó chỉ là...

- Tôi định nói "chuyện thần thoại", nhưng chợt nhớ bác Chiron từng bảo hai nghìn năm sau, tôi cũng sẽ trở thành huyền thoại nên lại thôi – Thế nếu bọn ta nửa thần...

- Á thần là tên chính thức.

Hoặc con lai.

- Thế bố cậu là ai?

Hai bàn tay nắm cọc hàng rào của Annabeth trắng bệch.

Tôi chột dạ, biết mình vừa động đến chủ đề nhạy cảm.

- Bố tớ là giáo sư Học viện Quân sự West Point.

Từ hồi còn bé xíu đến giờ, tớ chưa gặp ông ấy.

Bố tớ dạy môn lịch sử Hoa Kỳ.

- Vậy ông là người phàm.

- Thế cậu tưởng chỉ nam thần mới đủ tinh tường để tán thưởng vẻ đẹp của người trần thôi ư?

Sao cậu trọng nam khinh nữ thế?

- Vậy chứ mẹ cậu là ai?

- Tớ ở Nhà Số Sáu.

- Là sao?

Annabeth tự hào ngẩng cao đầu:

- Bà là Athena, nữ thần của trí tuệ, chiến tranh chính nghĩa và nghề thủ công.

Tôi bụng bảo dạ: "Ra thế.

Thảo nào."

- Thế bố tớ là ai?

- Tớ đã bảo cậu là chưa xác định mà.

Chẳng ai biết hết.

- Trừ mẹ tớ, đúng không?

- Chưa chắc.

Có phải lúc nào thần thánh cũng nêu danh tánh thật đâu.

- Nhưng bố tớ thì có.

Bố yêu mẹ tớ lắm.

Tuy hoài nghi nhìn tôi, nhưng Annabeth không muốn làm tôi cụt hứng:

- Chắc cậu đoán đúng.

Có thể ông ấy gửi đến hai mẹ con dấu hiệu nào đó.

Cách duy nhất để biết chắc là cha cậu gửi tín hiệu tuyên bố cậu là con đẻ của ông.

Tớ từng thấy vài lần như thế.

- Vậy vế ngược lại là cũng có thần thánh không tuyên bố nhận con?

Annabeth rà tay dọc đoạn lan can hồ:

- Các thần bận rộn lắm.

Họ có nhiều con nên không phải lúc nào...

Nói thẳng là đôi khi họ không quan tâm đến con cái đâu.

Họ mặc kệ.

Tôi nhớ bọn trẻ trong nhà thần Hermes, nhà Số Mười Một.

Bạn cùng phòng tôi nét mặt rầu rĩ, tuyệt vọng như thể cả đời ngóng trông một cuộc gọi không bao giờ đến.

Hồi còn học ở Học viện Yancy, tôi không lạ gì lũ trẻ giống bạn ở chung nhà với tôi bây giờ.

Bố mẹ chúng giàu có, đẩy con vào trường nội trú chỉ vì không có thời gian chăm sóc con.

Tôi những tưởng thần thánh phải tốt đẹp hơn đám phụ huynh trọc phú ấy.

Ai dè...

- Nói tóm lại, tớ sẽ kẹt ở trại này đến hết đời chứ gì?

- Cũng còn tùy.

Nhiều bạn chỉ đến đây nghỉ hè.

Chẳng hạn con của Aphrodite[8] hay Demeter[9] sẽ không có khả năng gì lớn lắm.

Quái vật không để ý họ nên họ chỉ cần huấn luyện vài tháng hè sau đó về thế giới phàm trần sống hết năm.

Nhưng trong trại có vài người... rời đây sẽ nguy hiểm đến tính mạng.

Chẳng hạn tớ và vài người bạn khác ở đây quanh năm.

Ra thế giới người phàm, bọn quái vật sẽ đeo dính chúng tớ.

Chúng nhận ra tụi tớ bằng cảm giác, sau đó đến thách đấu.

Nói chung, chúng không thèm để ý cho đến khi chúng ta đủ lớn, khoảng mười, mười một tuổi.

Đến tuổi ấy, nếu không đến được đây, các á thần sẽ bị giết chết.

Tin tớ đi, nếu tớ điểm vài cái tên, rất có thể họ là người quen của cậu.

Có người còn không biết mình là con thần thánh.

Nhưng chuyện đó rất hiếm hoi.

- Vậy quái vật không đến được đây ư?

Annabeth lắc đầu:

- Không, trừ khi chúng được đem đến giấu ở khu rừng kia hoặc được người trong trại gọi đến.

- Ai muốn gọi quái vật đến hại mình chứ?

- Có người muốn luyện kỹ năng giao chiến.

Có người đơn giản thích đùa ác.

- Đùa ác ư?

- Vấn đề ở chỗ: trại kín cổng cao tường, không cho người phàm và quái vật vào.

Từ ngoài nhìn vào thung lũng, người phàm trần sẽ thấy không có gì khác thường.

Chỉ là nông trại trồng dâu mà thôi.

- Thế cậu ở đây quanh năm ư?

Annabeth gật đầu.

Cô bạn tôi kéo sợi dây da giấu trong cổ áo đeo năm hạt đất nung, mỗi hạt một màu.

Dây này giống hệt dây trên cổ Luke.

Tuy nhiên, dây của Annabeth có thêm vòng tròn bằng vàng khá to.

- Tớ ở đây từ năm lên bảy.

Cứ đến tháng Tám, vào ngày cuối cùng của kỳ nghỉ hè hàng năm, mỗi người chúng tớ có thêm một hạt tròn đánh dấu một năm sống sót.

Tớ đã ở trại này lâu hơn hầu hết trại sinh, kể cả các đàn anh đàn chị của các Nhà.

Mấy anh chị ấy giờ vào vào đại học cả rồi.[10]

- Sao bé thế cậu đã đến đây rồi?

Cô bạn tôi móc ngón tay vào vòng tròn bằng vàng, sẵng giọng:

- Không phải việc của cậu, hỏi làm gì?

Tôi bồn chồn đứng trong bầu không khí im lặng nặng nề:

- Cậu không muốn kể thì thôi.

Vậy... nếu thích, tớ cứ việc đi khỏi đây chứ gì?

- Đúng vậy, nhưng làm thế là tự sát.

Với lại, cậu phải xin phép bác Chiron và Ngài D.

Tuy nhiên, từ nay đến cuối hè, họ sẽ không cho phép, trừ khi...

- "Trừ khi" cái gì?

- Trừ khi cậu được giao nhiệm vụ đi điều tra.

Nhưng khó có chuyện ấy lắm.

Lần gần đây nhất...

Annabeth im bặt.

Nghe giọng bạn, tôi đủ biết lần vừa rồi không suôn sẻ lắm.

- Nhớ lúc trong phòng bệnh, khi cậu cho tớ ăn...

- Thức ăn của thần.

- À, phải.

Cậu có hỏi tớ về ngày Hạ chí.

Annabeth chợt căng thẳng:

- Thế ra cậu có biết ít nhiều, phải không?

- À... không.

Hồi còn ở trường cũ, tớ có nghe bác Chiron và Grover bàn chuyện ấy.

Grover có nhắc đến ngày Hạ chí.

Cậu ấy bảo đại loại... ta không còn nhiều thời gian vì đó là hạn chót.

Thế nghĩa là gì, cậu có biết thì nói tớ nghe với.

Annabeth nắm chặt hai bàn tay:

- Giá tớ biết thì hay quá.

Chiron và nhóm thần rừng biết nhưng không cho tớ hay.

Hình như đỉnh Olympia có chuyện chẳng lành...

Lần này nghiêm trọng đấy.

Lần cuối cùng tớ đến đó, mọi thứ còn êm ả.

Vậy mà...

- Cậu đã lên tận đấy rồi ư? [11]

- "Dân định cư" ở trại này...

Chẳng hạn, Luke này, Clarisse này, tớ và mấy bạn khác đến đó tham quan vào ngày Đông chí.

Lúc ấy các thần tổ chức họp lớn tổng kết năm.

- Nhưng... cậu đến đó bằng cách nào cơ chứ?

- Đương nhiên xuất phát từ ga xe lửa Long Island rồi.

Ga Penn là bến cuối, sau đó đến tòa nhà Empire State, đi thang máy đặc biệt lên tầng thứ sáu trăm. – Cô ấy nhìn tôi như thể tôi chắc chắn phải biết chỗ này – Ôi, cậu là người New York chắc biết rõ chứ hả?

- À phải.

Theo tôi được biết thì tòa nhà Empire State chỉ có 102 tầng.

Tuy nhiên, tôi không nói ra.

- Ngay sau lần thăm viếng ấy, thời tiết thay đổi lạ lùng lắm.

Làm như các thần đánh nhau thì phải.

Kể từ đó, đôi lần tớ nghe các thần rừng xì xầm bàn tán.

Có căng tai lên nghe tớ cũng chỉ biết có báu vật bị đánh cắp.

Hình như nếu kẻ trộm không đem trả vật ấy trước ngày Hạ chí, sẽ có rắc rối lớn đấy.

Khi cậu đến, tớ hy vọng là...

Ý tớ là thần Athena hòa thuận với mọi thần, ngoại trừ thần chiến tranh Ares.

Tất nhiên, bà và thần biển Poseidon cũng kình nhau nhưng... nếu biết gạt hiềm khích qua một bên, chúng ta[12] hợp tác vẫn tốt như thường.

Tớ tưởng cậu biết chứ?

Tôi lắc đầu, thầm ước mình có khả năng giải đáp thắc mắc cho Annabeth.

Nhưng lúc này đây tôi vừa đói thắt ruột, vừa mệt rã rời, hơn nữa đầu óc chưa kịp xử lý thông tin từ những điều mắt thấy tai nghe vừa rồi nên không muốn hỏi thêm gì nữa.

Annabeth lẩm bẩm như nói một mình:

- Nhiệm vụ truy lùng lần này phải về tay mình.

Mình đâu còn bé bỏng gì nữa.

Chỉ cần họ cho mình biết vấn đề cần giải quyết...

Mùi thịt nướng từ đâu bay tới.

Giờ tâm trí tôi dễ theo đuổi ức gà và ngô nướng vàng thơm hơn là nghĩ đến quái vật và truy lùng này nọ.

Chắc nghe tiếng bụng tôi sôi ùng ục, Annabeth bảo tôi cứ về trước.

Bạn ấy sẽ theo ngay sau.

Tôi đành để cô bạn đứng đó, rà đầu ngón tay lên lan can như người vẽ sơ đồ chiến trường trước giờ giao tranh.

-O-

Khi tôi trở lại nhà Số Mười Một, mọi người hoặc đang trò chuyện hoặc cưỡi ngựa chạy chơi loanh quanh chờ đến giờ ăn tối.

Giờ tôi mới thấy các bạn ở chung nhà có nhiều nét giống nhau như mũi cao, mắt xếch và kiểu cười tinh nghịch.

Nếu còn đi học, thầy cô giáo sẽ liệt họ vào loại học sinh cá biệt.

Ơn trời, không ai để ý thấy tôi vào cửa, tay ôm sừng quỷ đầu bò nằm vật xuống khoảnh nền nhà được chia.

Anh Luke, huynh trưởng, đến chỗ tôi nằm.

Anh cũng có những nét đặc trưng của các con thần Hermes.

Vết sẹo có làm biến dạng nét mặt anh nhưng không ảnh hưởng đến nụ cười.

- Tìm được túi ngủ cho chú đây.

Còn đây nữa.

Anh đến cửa hàng của trại "xoáy" cho chú em ít đồ dùng vệ sinh cá nhân.

Tôi không dám chắc anh nói đùa về chuyện trộm đồ ngoài tiệm.

- Cảm ơn anh.

Luke ngồi bệt xuống nền nhà cạnh chỗ tôi nằm, lưng dựa tường:

- Đừng khách sao.

Ngày đầu mệt không chú em?

- Ở đây em thấy không hợp.

Em có tin thần thánh đâu cơ chứ!

- Phải phải, ai mới đến trại cũng nói thế.

Nhưng khi đã tin thần thánh rồi, mọi chuyện cũng chẳng dễ chịu hơn đâu.

- Vậy cha anh là thần Hermes ư?

Luke rút con dao bấm trong túi quần sau ra.

Tôi hết hồn, tưởng anh tính "lụi" dao vào bụng tôi nhưng hóa ra anh chỉ cạo bùn dính dưới đế xăng đan:

- Ừ, Hermes là cha anh.

- Nghe nói ông là sứ giả của các vị thần có gắn cánh ở hai bàn chân.

Hình như ông còn là thần của giới y học, mục đồng, lãng tử, thương nhân, trộm cướp và là người đưa linh hồn sang thế giới bên kia, phải không anh?

- Chính thế.

Cha anh bảo trợ cho bất cứ ai đi lại trên đường.

Chính vì thế mà chú em mới ở đây, tận hưởng lòng hiếu khách của Nhà Số Mười Một.

Cha anh không kén chọn người cần nhận sự giúp đỡ của ông.

Nói vậy khác gì bảo: "Cha tao không phiền giúp cả đứa vô danh tiểu tốt như mày".

Tuy nhiên, tôi không trách Luke.

Chắc anh đang mải suy nghĩ nên không cân nhắc câu chữ.

- Anh gặp cha lần nào chưa?

- Một lần.

Tôi nín thở chờ, tưởng anh sẽ kể hết nhưng Luke không nói gì.

Tôi tự hỏi lần gặp gỡ ấy có liên quan gì đến vết sẹo trên má anh không.

Luke ngẩng lên cười gượng:

- Percy đừng lo.

Đa phần anh em trong trại hè toàn người tốt.

Suy cho cùng, ta đều là anh em bà con cả.

Vậy chăm sóc nhau cũng là chuyện nên làm.

Hình như Luke hiểu lúc này tôi đang cảm thấy vô cùng lạc lõng.

Tôi rất biết ơn Luke.

Người chững chạc như anh, dù có là huynh trưởng đi nữa, thường cố tránh xa đứa choai choai mặt mày ủ dột như tôi.

Nhưng Luke niềm nở chào mừng tôi đến Nhà Số Mười Một, thậm chí anh còn trộm đồ vệ sinh cá nhân cho tôi nữa. từ sáng đến giờ, chỉ có anh đối tốt với tôi nhất.

Tôi quyết định hỏi anh điều tôi thắc mắc nhất.

Từ chiều đến giờ, tôi nôn nóng chỉ muốn tìm ngay lời giải:

- Lúc chiều, con thần Ares là Clarisse cười cợt chuyện người ta tưởng em là con của một trong "Bộ Tam Vĩ Đại".

Sau đó, hai lần Annabeth bảo có thể em là người cả trại đang mong đợi.

Bạn ấy còn bảo em nên nghe Lời Sấm Truyền.

Sao lại thế hả anh?

Luke gấp dao lại:

- Anh ghét vụ Sấm Truyền lắm.

- Anh nói sao, em không hiểu.

Da quanh vết sẹo Luke giật giật:

- Lời Sấm Truyền bảo anh toàn làm hỏng chuyện người khác.

Suốt hai năm qua, sau hậu quả tệ hại từ chuyến thăm vườn táo vàng của thần Hera, bác Chiron không cho phép ai truy lùng quái vật nữa.

Trong khi đó, Annabeth mong mỏi được rời trại hè, khám phá thế giới.

Con bé nhằng nhẵng đeo bám bác Chiron xin được giao nhiệm vụ, đến nỗi bác phải bảo rằng định mệnh Annabeth đã an bài, rằng bác đã nghe Lời Sấm Truyền về nó.

Tuy không được tiết lộ toàn bộ nhưng bác Chiron bảo Annabeth chưa thể thực hiện bất kỳ nhiệm vụ điều tra hay truy lùng gì được.

Cô bé phải chờ... nhân vật đặc biệt đến trại đã.

- Ai đặc biệt thế ạ?

- Đừng lo.

Cứ thấy ai nhập trại, Annabeth lại nghĩ đó chính là người cô bé trông đợi.

Thôi, tạm gác chuyện ấy lại đã.

Đến giờ ăn rồi.

Luke vừa dứt lời, có tiếng tù và rúc lên từng chặp.

Tuy chưa nghe bao giờ nhưng không hiểu sao tôi biết ngay ai đó vừa thổi vỏ ốc.

Luke hô:

- Nhà Số Mười Một, xếp hàng ngay!

Tôi và các bạn ở chung nhà khoảng hai mươi người lục tục kéo nhau ra sân chung.

Ai ở trại lâu nhất đứng hàng đầu thế nên tôi đứng cuối.

Mọi người từ các nhà khác cũng đổ ra sân, ngoại trừ ba nhà bỏ trống đầu tiên và Nhà Số Tám.

Ban ngày, Nhà Số Tám bình thường như những nhà khác nhưng khi mặt trời lặn, ánh sáng bàng bạc bắt đầu tỏa ra từ đó.

Chúng tôi theo nhau lên đồi, đến nhà lều rạp rộng lớn.

Các thần rừng từ đồng cỏ lên đồi theo chúng tôi.

Các Nữ Thủy thần Naiad cũng từ dưới hồ nổi lên.

Mấy cô gái từ trong rừng đi ra.

Tôi thấy tận mắt họ từ trong thân cây bước ra ngoài!

Tôi thấy một cô gái khoảng chín hay mười tuổi, bước ra từ thân cây thích và nhảy chân sáo lên đồi.

Tính tổng cộng cả trại hè có chừng trăm người, vài chục thần rừng và hơn chục Nữ Thủy Thần và Nữ Thần Cây.

Trong nhà rạp, đuốc cháy rừng rực gắn quanh cột nhà bằng đá.

Giữa nhà có lò than bằng đồng to bằng bồn tắm.

Mỗi nhà có bàn riêng phủ khăn trắng viền tím.

Bốn bàn để trống trong lúc bàn của Nhà Số Mười Một đông chen chúc.

Tôi phải ngồi ghé một bên mông cuối ghế băng, bên kia nhô ra ngoài.

Grover ngồi ở bàn Mười Hai với bác Chiron cùng mấy thần rừng.

Bàn họ còn có hai cậu bé tóc vàng béo phục phịch trông giống Ngài D.

Bác Chiron phải đứng ăn vì thân hình kềng càng của nhân mã không vừa bàn ăn cỡ nhỏ.

Annabeth ngồi bàn Sáu với nhóm thiếu niên dáng thể thao, nét mặt nghiêm nghị.

Cả nhóm đều mắt xám, tóc vàng như mật ong giống hệt Annabeth.

Clarisse ngồi bàn của thần Ares ngay sau tôi.

Rõ ràng là nó đã tạm quên vụ vòi rồng lúc trưa.

Bằng chứng là Clarisse và đám bạn đang cười hô hố, ợ triền miên, cố tình tạo âm thanh khó chịu.

Lát sau, bác Chiron gõ móng cồm cộp xuống nền nhà lát đá.

Mọi người im phăng phắc.

Bác nâng ly:

- Uống mừng các vị thần!

Mọi người làm theo.

Đoàn Nữ Thần Cây nối nhau mang thức ăn đến: nào nho, táo, dâu tây, pho mát, bánh mì nóng giòn và tất nhiên cả thịt nướng!

Ly tôi trống trơn nhưng anh Luke bảo:

- Muốn uống gì, cứ nhìn ly mà ra lệnh.

Tất nhiên chỉ thức uống không cồn.

Tôi dõng dạc:

- Nước ngọt Coke hương đào.

Loáng cái, ly đầy nước màu caramen sóng sánh.

Tôi chợt nảy ra một ý:

- Nước ngọt Coke hương đào màu xanh biển.

Nước trong ly chuyển sang màu xanh côban.

Tôi nhấp thử.

Ngon tuyệt!

Tôi vừa uống vừa nhớ đến mẹ, bụng bảo dạ: "Mẹ chưa chết... hẳn.

Giờ mẹ đang dưới cõi âm.

Nếu đó là nơi chốn cụ thể, sẽ có ngày..."

- Percy, của chú đây.

Luke chuyền cho tôi khay ức gà hun khói.

Lấy đầy đĩa mình xong, vừa định đưa một miếng to tướng lên miệng thì tôi thấy ai cũng mang đĩa của mình đến đống lửa to giữa sảnh.

Lúc đầu tôi tưởng họ ra đó lấy món tráng miệng.

Luke giục:

- Đi đi chứ.

Tới nơi, tôi thấy mỗi người lấy chút đồ ăn ngon nhất trong đĩa mình thả giữa lò lửa: nào dâu chín đỏ, nào thịt bò mềm, nào bánh mì tròn phết bơ béo ngậy.

Luke rỉ tai tôi:

- Ta đốt lễ vật cúng thần vì các thần thích mùi khói.

- Anh cứ giỡn em hoài.

Luke lừ mắt như bảo tôi chớ có đùa.

Tuy nhiên, tôi không khỏi thắc mắc tại sao các vị thần bất tử hùng mạnh vô song lại thích mùi thức ăn cháy.

Luke đến gần, cúi đầu ném chùm nho chín đỏ to tròn xuống lò lửa.

- Kính dâng thần Hermes.

Tôi đứng ngay sau anh.

Đến lượt mình, tôi ước mình biết tên cha để xướng lên giống anh Luke.

Cuối cùng, tôi thầm khấn: "Cha là ai, xin cho con biết.

Con cầu xin Người."

Tôi xắn miếng ức gà to tướng thả xuống đống lửa.

Khi khói bốc lên xộc vào mũi, tôi không hề khó chịu.

Mùi bay lên không giống thức ăn cháy.

Nó giống hỗn hợp mùi thơm của sôcôla, bánh bông lan mới ra lò, chả nướng vừa chín trộn hương hoa đồng nội và hàng trăm mùi hương khác tưởng không thể kết hợp với nhau.

Tôi tin thần thánh sống khỏe chỉ nhờ vào việc tận hưởng hỗn hợp mùi hương dễ chịu ấy.

Khi mọi người về chỗ ăn xong bữa, bác Chiron lại giậm chân yêu cầu im lặng.

Ngài D.

đứng lên cùng tiếng thở dài sườn sượt:

- Chào lũ trẻ hư các người một câu chắc chẳng mất gì.

Vậy thì, Chào mọi người.

Ông Chiron đây, người điều khiển các hoạt động của trại nói thứ Sáu tới có cuộc thi giành Cờ Danh Dự.

Nhà Số Sáu hiện là đương kim vô địch.

Bàn nhà thần Ares ồ lên chế giễu.

Ngài D. nói tiếp:

- Về mặt cá nhân mà nói, tôi không quan tâm.

Nhưng dẫu sao cũng chúc mừng Nhà Số Sáu.

Còn nữa, hôm nay trại hè ta có thành viên mới: Peter Jackson.

Bác Chiron ghé tai Ngài D. nói nhỏ câu gì đó.

Ông ta vội chữa lại:

- À quên, Percy Jackson chứ.

Trại ta hân hoan đón chào, vân vân và vân vân.

Thôi, mấy người bắt đầu trò lửa trại nhố nhăng được rồi đấy.

Đi hết đi nào.

Mọi người reo hò ầm ĩ chạy ra hí trường.

Nhóm hát xướng ca ở đó đều là các con của thần Apollo.

Chúng tôi, người cùng hòa theo mấy bài ca của trại hè về các thần, cũng cười đùa vui vẻ.

Thú vị nhất là tôi không còn cái cảm giác người ta nhìn mình chòng chọc nữa.

Tôi thấy mình dễ chịu như đang ở nhà.

Trời tối muộn.

Những đốm lửa nhỏ theo gió bốc lên bầu trời đầy sao.

Tiếng tù và vỏ ốc lại ngân dài.

Chúng tôi lại xếp thành hàng, đi đều bước về nhà mình.

Chỉ khi nằm dài trong túi ngủ đi mượn, tôi mới thấy mệt rã rời.

Tay tôi nắm chặt chiếc sừng kỷ niệm.

Trong một thoáng, mọi ký ức đẹp đẽ về mẹ ùa tới: nụ cười dịu dàng, cuốn truyện mẹ đọc cho tôi đi ngủ hồi tôi còn bé...

Tôi nhớ cả cách mẹ dạy làm thế nào để khỏi bị rệp cắn khi đi ngủ.

Mắt vừa nhắm, tôi ngủ ngay lập tức.

Ngày đầu tiên ở Trại Hè Con Lai của tôi là như vậy đấy.

Đêm ấy, tôi không biết thời gian tận hưởng niềm vui ở nhà mới thật quá ngắn ngủi.

8.

Giành Cờ Danh Dự

Mấy ngày sau đó, sinh hoạt của tôi dần đi vào nề nếp, giống hồi ở trường thường.

Chỉ có điều, người hướng dẫn tôi bây giờ là thần rừng, Nữ Thần Cây và nhân mã.

Sáng sáng, Annabeth chỉ tôi học tiếng Hy Lạp cổ.

Thật lạ đời vì khi trao đổi với nhau về các thần, chúng tôi chia động từ ở thời hiện tại.

Về chứng khó đọc của tôi, Annabeth nói đúng.

Tôi học tiếng Hy Lạp cổ dễ dàng.

Chí ít cũng dễ hơn tiếng Anh.

Mới học mấy buổi mà tôi đã đọc được vài câu thơ của đại thi hào Homer và không bị nhức đầu.

Thời gian còn lại trong ngày, tôi luân phiên tập nhiều môn thể thao ngoài trời để tìm môn sở trường.

Bác Chiron dạy tôi bắn cung, nhưng hai chúng tôi nhanh chóng biết tôi hoàn toàn lóng ngóng với cung nỏ.

Bác không phàn nàn một câu dù phải nhổ một mũi tên lạc cắm trúng đuôi mình.

Chạy bộ thì sao?

Cũng chẳng hơn gì.

Các cô giáo là Nữ Thần Cây cho tôi "hít khói".

Họ an ủi, bảo tôi chớ buồn rồi kể lý do khiến họ chạy giỏi: đó là nhờ mấy nghìn năm chạy trốn các nam thần phát cuồng vì yêu!

Tuy nhiên, tôi vẫn thấy bẽ bàng vì chạy không nhanh bằng cái cây.

Đến môn vật thì ...

"quên đi".

Mỗi lần tôi lò dò ra chiếu, Clarisse lại dần tôi nhừ tử.

Nó rít vào tai tôi:

- Tưởng con ông nọ bà kia là "ngầu" lắm sao?

Tôi chỉ thạo mỗi trò lái xuồng máy.

Đó chẳng phải kỹ năng của người hùng.

Người ta kỳ vọng ở anh chàng giết quỷ đầu bò nhiều hơn thế.

Trại viên và các huynh trưởng theo dõi từng nhất cử nhất động của tôi hầu mong đoán ra danh tánh cha tôi.

Nhưng chẳng dễ dàng gì.

Tôi không khỏe mạnh như con thần Ares, không giỏi bắn cung như con thần Apollo.

Tôi không khéo tay trong nghề rèn như thần Hephaestus, không biết điều khiển cây nho như thần Dionysus.

Luke bảo hình như tôi là con thần Hermes: nghề gì cũng biết nhưng chẳng giỏi nghề nào.

Nhưng tôi biết anh chỉ an ủi tôi mà thôi.

Chính anh cũng không biết tôi là con ai.

Dù thế, tôi vẫn thích trại hè, tôi dần quyến luyến với sương sớm phủ trắng bãi biển, hương dâu thơm lừng mỗi chiều, và tiếng động lạ lẫm từ trong rừng vọng tới hàng đêm.

Lúc dùng bữa ở bàn ăn của Nhà Số Mười Một, gạt một phần thức ăn trong đĩa vào lửa, tôi cố tìm mối liên hệ với người cha ruột của mình.

Chẳng có gì ngoại trừ cảm giác ấm áp, giống ký ức về nụ cười của cha.

Tôi dần thông cảm thái độ chua chát của Luke.

Hình như anh hờn giận cha mình.

Thôi đành vậy.

Thần thánh bận rộn làm nhiều việc vĩ đại.

Nhưng chẳng lẽ họ không đủ thời gian gửi một dấu hiệu, chẳng hạn như gọi điện thoại hay tạo tiếng sấm, để nhận con mình?

Thần Dionysus tạo lon nước ngọt từ không khí.

Chẳng lẽ cha tôi không có khả năng hóa phép biến cho mình cái điện thoại?

Chiều thứ Năm, ba ngày sau khi tham gia trại hè, lần đầu tiên tôi học đấu kiếm.

Cả Nhà Số Mười Một tập trung tại hí trường rộng lớn, khán đài hình vòng tròn.

Luke sẽ hướng dẫn môn kiếm thuật cho anh em.

Bài học bắt đầu bằng vài động tác đâm và vung kiếm cơ bản.

Chúng tôi dùng bù nhìn nhồi rơm mặc giáp trụ giống chiến binh Hy Lạp cổ để tập.

Tôi học không tồi.

Tập hồi lâu, tôi biết mình phải làm gì.

Sự hồi tưởng về những trận đánh xa xưa cũng khá rõ ràng.

Khổ nỗi tôi không tìm được cây kiếm vừa tay mình.

Kiếm ở đây hoặc quá nặng, hoặc quá nhẹ, hoặc quá dài.

Dù cố hết sức giúp nhưng Luke phải công nhận kiếm trong phòng tập không có cái nào hợp với tôi.

Sang phần tập đấu đối kháng, Luke bảo vì đây là lần đầu tiên của tôi nên anh sẽ đấu với tôi.

Một bạn cùng phòng bảo:

- Chúc may mắn.

Luke là tay kiếm cừ nhất.

Ba trăm năm qua, chưa ai thắng được anh ấy.

- Hy vọng anh ấy nhường tớ.

Cậu ta khịt mũi coi thường.

Luke chỉ tôi cách che chắn, tránh né và xông tới tấn công.

Mỗi lần liều lĩnh xông lên, tôi bầm tím thêm một ít, áo quần rách thêm một mảnh.

Luke vụt sống kiếm vào mạng sườn tôi:

- Percy, cẩn thận chứ.

Đừng tiến xa vội.

Vụt xuống!

Lao vào!

Xỉa đi!

Giờ lùi lại!

Chém!

Đến lúc anh thông báo tạm nghỉ, mồ hôi tôi ướt đầm đìa.

Mọi người kéo nhau đến bình làm mát nước uống.

Thấy Luke đổ nước lạnh buốt lên đầu, tôi cũng bắt chước.

Tôi lập tức thấy khỏe hơn gấp mấy lần.

Hai tay tôi mạnh mẽ hơn hẳn.

Tay cầm kiếm không thấy ngượng nghịu nữa.

Luke hô lớn:

- Mọi người tập trung đi.

Nếu Percy không phiền, ta đấu thử nhé?

Tôi nghĩ thầm: "Tuyệt!

Hãy xem Percy bị xử 'te tua' trước mặt cả Nhà Số Mười Một nào."

Con cái thần Hermes xúm lại xem.

Ai nấy cố nín cười, như thể họ biết thừa sức tôi đến đâu và háo hức chờ Luke "xử lý" cái bao cát tập đấm là tôi ra sao.

Luke nói sẽ trình diễn kỹ thuật tước kiếm đối phương.

Đấu sĩ sẽ dùng kiếm đè kiếm đối phương xuống khiến đối thủ không còn cách nào khác ngoài thả tay mặc vũ khí rơi xuống đất.

Anh nhấn mạnh:

- Động tác này khó.

Anh em chớ cười Percy vì hầu như ai cũng phải luyện tập vài năm mới thành thạo được.

Anh trình diễn chiêu thức ấy thật chậm.

Tất nhiên, kiếm rời tay tôi, rơi loảng xoảng xuống đất.

Chờ tôi nhặt kiếm xong, anh bảo:

- Giờ ta làm như thật.

Ta sẽ đấu tập để phân thắng bại.

Percy sẵn sàng chưa?

Tôi gật đầu.

Luke nhường tôi tấn công trước.

Không biết bằng cách nào, tôi có khả năng tránh không để Luke tước kiếm.

Sau màn dạo đầu, tôi dần quen tay, động tác thuần thục hơn.

Mỗi lần anh tấn công, tôi đều biết và chống đỡ hiệu quả.

Sau đó, tôi bước lên, xỉa thẳng kiếm ra trước.

Luke tránh dễ dàng, nhưng mặt anh biến sắc.

Anh nheo mắt và bắt đầu mạnh tay với tôi hơn.

Thanh gươm trong tay tôi nặng dần.

Tôi giữ thăng bằng không được tốt.

Biết mình sẽ thua sau vài giây ngắn ngủi nữa, tôi quyết định liều.

Tôi thử động tác tước kiếm đối phương.

Lưỡi kiếm của tôi chạm phần gốc kiếm của Luke.

Tôi xoay vặn cổ tay, dùng hết sức bình sinh ấn xuống.

Keng!

Kiếm của Luke chạm mặt sàn lát đá.

Mũi kiếm tôi chỉ cách khuôn ngực trống trải của anh chỉ có vài xăng-ti-mét.

Khán giả chết lặng.

Tôi hạ kiếm xuống:

- Ối, em xin lỗi.

Trong một thoáng, Luke sững sờ không thốt nên lời.

Luke bật cười:

- Xin lỗi ư?

Trời đất, có gì phải xin lỗi chứ.

Chú làm lại cho anh xem nào.

Tôi không muốn chút nào.

Luồng sinh lực vừa trào lên bất ngờ đã tắt ngấm.

Nhưng Luke năn nỉ mãi.

Lần này không thể gọi là giao tranh.

Hai kiếm vừa chạm nhau, Luke đã đè chuôi kiếm của tôi, hất nó trượt dài trên nền nhà.

Im lặng thật lâu.

Có tiếng hỏi trong đám người xem:

- Lúc nãy Percy gặp may phải không?

Luke quệt mồ hôi trán.

Anh chăm chú nhìn tôi như thầm đánh giá:

- Có thể.

Nhưng nếu Percy có thanh kiếm vừa tay, chưa biết sẽ ra sao...

Chiều thứ Sáu, tôi ngồi nghỉ với Grover bên hồ sau khi suýt chết vì tập leo tường.

Grover leo vút lên đầu tường nhanh như dê núi, còn tôi suýt bị nham thạch thiêu sống.

Áo tôi cháy nham nhở còn bốc khói.

Lông trên cánh tay cháy xém cả.

Ngồi trên móng cầu ngắm các Nữ Thủy Thần đan rổ dưới nước rất lâu, tôi mới dồn đủ can đảm hỏi Grover về cuộc gặp với Ngài D. hôm nọ.

Mặt nó xám ngoét:

- Vui lắm.

Nói chung tốt cả.

- Vậy cậu vẫn tiếp tục công việc lúc trước?

Nó ngượng ngập liếc tôi:

- Bác Chiron ch... cho cậu hay chuyện tớ muốn có giấy phép Truy Tìm à?

- Đâu... có.

Tôi định hỏi chứng chỉ quái quỷ gì nghe lạ thế, nhưng nghĩ giờ chưa phải lúc nên lại thôi.

- Bác ấy chỉ bảo cậu có nhiều dự định lớn...

Bác còn bảo cậu muốn thuyết phục quản lý trại cho phép hoàn tất nhiệm vụ của Người Trông Nom.

Thế ông ấy cho phép chưa?

Grover quay sang nhìn nhóm Nữ Thủy Thần:

- Thần Dionysus chưa đánh giá gì cả.

Vì ông chưa quyết định tớ thành công hay thất bại trong vụ của cậu nên số phận hai ta vẫn gắn với nhau không rời.

Nếu cậu được giao nhiệm vụ điều tra, tớ sẽ theo bảo vệ cậu.

Nếu cả hai toàn mạng trở về, Ngài D. mới kết luận tớ hoàn thành nhiệm vụ.

Tôi vui hẳn lên:

- Thế cũng được mà.

- Be...e...e!

Khả năng khác là ông ta sẽ chuyển tớ sang đội lau dọn chuồng ngựa.

Khả năng cậu được điều tra xa vời lắm...

Với lại nếu được đi, cậu cần gì tớ đi cùng!

- Đương nhiên tớ cần chứ.

Grover rầu rĩ ngó mặt hồ đăm đăm:

- Đan rổ... có nghề hữu dụng thích quá cậu nhỉ?

Tôi định an ủi, khen nó nhiều tài nhưng làm thế chỉ khiến nó buồn thêm mà thôi.

Tán gẫu về xuồng máy, kiếm thuật xong, chúng tôi quay sang tranh luận về ưu khuyết điểm của các thần.

Cuối cùng, tôi hỏi nó về bốn căn nhà bỏ trống.

- Nhà Số Tám, màu sáng bạc của thần Artemis.

Vì thề giữ trinh tiết suốt đời nên đương nhiên thần Artemis không có con.

Nhưng nếu trại không làm nhà cho bà thì không xong đâu.

Có Nhà Số Tám, Trại Con Lai sẽ không phải hứng cơn giận dữ của thần Artemis.

- Phải phải.

Nhưng còn ba lều kia... có phải của Bộ Tam Vĩ Đại không?

Grover căng thẳng như thể chúng tôi sắp đụng đến vấn đề nhạy cảm.

- Nhà Số Hai của Nữ thần Hera.

Giống nhà thần Artemis, Nhà Số Hai chỉ làm cho có.

Hera là thần của hôn nhân, vì thế bà sẽ không đi hoang, lăng nhăng với cả đám người phàm.

Chuyện ấy đã có chồng bà "phụ trách".

Khi nói tới Bộ Tam Vĩ Đại, người ta ám chỉ ba anh em có thế lực nhất, con người khổng lồ Kronos.

- Là Thần Dớt, thần Poseidon và thần Hades.

- Chính xác.

Chắc cậu cũng biết, đánh bại các người khổng lồ Titan xong, họ chiếm ngai vàng của cha và rút thăm chia quyền cát cứ.

Tôi nhớ lại bài đã học:

- Thần Dớt được bầu trời, thần Poseidon thống lĩnh biển cả và thần Hades xuống địa ngục.

- Ừ.

- Thần Hades không có nhà ở đây.

- Không.

Trên đỉnh Olympia cũng không có ghế của ông ta.

Ông ta chỉ loanh quanh dưới địa ngục thôi.

Nếu Trại Con Lai có nhà của ông ấy thì...

ớn lắm.

Cứ thế này lại hơn.

- Nhưng theo truyền thuyết, con hai thần Dớt và Poseidon là hằng hà sa số.

Sao nhà họ ở đây không có ai?

Grover sợ sệt đổi chân:

- Khoảng sáu mươi năm trước, sau Thế Chiến Thứ Hai, Bộ Tam Vĩ Đại cùng đồng thuận sẽ không sinh thêm anh hùng nữa.

Con cái họ quá hùng mạnh, ảnh hưởng ghê gớm đến tiến trình phát triển của nhân loại, gây nên bao cảnh đầu rơi máu chảy.

Cậu biết không, thực chất Thế Chiến Thứ Hai là sự giao tranh của một phe là các con thần Dớt và thần Poseidon đấu với phe bên kia là con của thần Hades.

Phe thắng trận là Dớt và Poseidon bắt Hades phải cùng thế sẽ không lăng nhăng với phụ nữ trần gian nữa.

Cả ba đều nhìn nước sông Mê Styx mà thề.

Sấm nổ từng tràng vang dội.

Tôi bảo:

- Giống thề độc, cậu nhỉ?

Grover gật đầu.

- Thế ba anh em họ có giữ lời không?

Mặt Grover tối sầm:

- Mười bảy năm trước, thần Dớt trót sa đà.

Ngôi sao phim truyền hình với mái tóc bồng bềnh làm thần mất ăn mất ngủ.

Khi cô bé Thalia, con họ chào đời...

Sông Mê Styx vốn nghiêm túc với chuyện thề bồi mà.

Do bất tử nên thần Dớt không việc gì, nhưng vì ông ta, cô con gái phải chịu số phận khủng khiếp.

- Bất công quá!

Đứa con gái đó có tội tình gì đâu.

Grover ngần ngừ:

- Percy này, con của Bộ Tam Vĩ Đại có quyền năng lớn hơn những con lai khác.

Mùi hương từ cơ thể họ cực kỳ mạnh, lôi kéo bọn quái vật đến.

Khi biết tin thần Dớt có con gái, Hades chẳng vui vẻ gì khi biết anh mình không giữ lời hứa.

Ông ta thả bọn quái vật kinh khiếp nhất nơi tận cùng địa ngục là Tartarus để chúng tìm Thalia hành hạ.

Khi cô bé tròn mười hai tuổi, một thần rừng được phái đến trông nom cô bé, nhưng người này chẳng làm được gì.

Thần rừng ấy cố đưa Thalia và hai người bạn con lai của cô đến trại.

Họ đến rất gần trại, leo lên tận đỉnh đồi.

Grover chỉ tay về phía bên kia thung lũng, nơi có cây thông lớn, đúng chỗ tôi quần nhau với quỷ đầu bò:

- Ba tên "Người Tử Tế" cùng đàn chó canh địa ngục đuổi theo họ.

Bị đuổi sát, Thalia bảo thần rừng đem hai người bạn đến nơi an toàn, để mình cô cầm chân quái vật.

Cô bé bị thương, kiệt sức và không muốn sống chui nhủi cả đời như thú hoang trốn thợ săn.

Dù không muốn bỏ Thalia nhưng thần rừng nọ không thuyết phục được cô đổi ý nên đành bảo vệ hai người kia.

Thế là một mình Thalia quyết chiến đến cùng trên đỉnh đồi.

Khi cô chết, thần Dớt thương con vô hạn.

Ông biến xác cô thành cây thông.

Linh hồn cô tiếp tục bảo vệ ranh giới của trại quanh thung lũng.

Chính vì thế mới có tên Ðồi Con Lai.

Tôi nhìn không chớp mắt vào cây thông trên đỉnh đồi xa xa.

Nghe Grover kể xong, tôi hụt hẫng và mang cảm giác có tội.

Một bạn gái trạc tuổi tôi đã hi sinh thân mình để cứu bạn.

Trước khi chết, cô đã chiến đấu với cả bầy quái thú.

So với cô, chiến tích thắng quỷ đầu bò của tôi chẳng là gì.

Tôi tự hỏi... nếu hôm đó tôi hành sự khác đi, liệu tôi có cứu được mẹ mình?

- Grover này, trong số anh hùng con thần thánh có ai xuống địa ngục chưa?

- Vài người, như Orpheus, Hercules, Houdini chẳng hạn.

- Thế có ai làm người chết sống lại chưa?

- Chưa.

Làm gì có chuyện ấy.

Orpheus suýt thành công nhưng...

Percy, có thật cậu định...

Tôi nói dối:

- Ðâu có, tớ chỉ hỏi cho biết thôi.

Vậy... luôn có thần rừng đi theo canh chừng cho á thần à?

Grover nhìn tôi cảnh giác như thể nó không tin tôi bỏ qua ý tưởng về Địa ngục:

- Không hẳn.

Tụi tớ đội lốt người đến nhiều trường học, cố phát hiện Con Lai nào có khả năng trở thành anh hùng sức mạnh hơn người.

Nếu tìm được ai đậm mùi con lai, chẳng hạn con cái của Bộ Tam Vĩ Đại, thần rừng chúng tớ sẽ báo cáo bác Chiron.

Bác ấy sẽ để mắt đến người đó bởi họ có thể gây rắc rối nghiêm trọng.

- Chính cậu phát hiện ra tớ.

Bác Chiron bảo cậu thấy tớ đặc biệt.

Grover nhìn tôi như thể tôi vừa đưa nó vào bẫy:

- Tớ đâu có...

Nghe này, đừng theo đuổi suy nghĩ đó nữa.

Nếu là con của một trong Bộ Tam Vĩ Đại, cậu sẽ không bao giờ được giao nhiệm vụ.

Như thế, tớ sẽ không bao giờ được công nhận là Người Trông Nom.

Có thể cậu là con thần Hermes, hoặc vị thần nào ít quyền lực hơn như thần Ganymede chẳng hạn.

Vậy nên đừng quá lo, nhé?

Tôi cảm giác Grover đang tự an ủi mình.

-O-

Ăn tối xong, ai nấy háo hức khác thường.

Chờ mãi cũng đến cuộc tranh Cờ Danh Dự.

Sau khi bát đĩa được dọn sạch, tù và vỏ ốc vang lên.

Chúng tôi đứng ngay bên bàn ăn.

Mọi người hò reo khi thấy Annabeth và hai người nữa cầm lá cờ bằng lụa chạy vào lều rạp.

Cờ dài khoảng ba mét bằng lụa bóng màu xám in hình chim lợn đậu trên cây ôliu.

Từ cửa đối diện, Clarisse cùng hai bạn nó cũng cầm lá cờ to bằng cờ của Annabeth chạy vào.

Chỉ có điều cờ của chúng màu đỏ chói, vẽ hình cây thương nhỏ máu và đầu lợn lòi.

Giữa đám đông ồn ào, tôi quay sang Luke nói như hét:

- Đó là Cờ Danh Dự à?

- Ừ.

- Lúc nào đội Athena và đội Ares cũng dẫn đầu ư?

- Không hẳn, nhưng thường thì họ thắng.

- Thế nếu cờ rơi vào tay Nhà khác thì phải in lại à?

Luke cười toe toét:

- Rồi cậu sẽ thấy.

Trước tiên ta phải giành được một trong hai cờ đã.

- Anh theo phe nào?

Luke liếc trộm tôi, như thể anh giấu điều gì tôi chưa biết.

Trong ánh đuốc bập bùng, vết sẹo làm mặt anh thành hung ác.

- Tạm thời Nhà Số Mười Một ta về phe Athena.

Tối nay ta sẽ cướp cờ đội Ares.

Cậu sẽ phải giúp một tay đấy.

Các đội đứng lên nhận đồng minh.

Đội Athena liên kết với hai đội đông nhất là Apollo và Hermes.

Rõ ràng họ đem quyền lợi đổi sự hỗ trợ, chẳng hạn thời gian sử dụng nhà tắm, làm hộ việc vặt và nhường vị trí tốt trên sân tập...

Đội Ares liên kết với các đội còn lại là các Nhà Dionysus, Demeter, Aphrodite và Hephaestus[13].

Con thần Dionysus là vận động viên thực thụ, chỉ có điều họ chỉ có hai người.

Con thần Demeter giỏi kỹ năng tự nhiên và hoạt động ngoài trời, nhưng không dũng mãnh cho lắm.

Hầu như họ không tham gia hoạt động gì, chỉ ngồi soi mình xuống mặt hồ, chải tóc và tán gẫu.

Không phải tôi trọng nam khinh nữ gì đâu vì nhà ấy cả trai lẫn gái đều thế.

Con thần Hephaestus không đông, cũng không xinh xắn nhưng cả bốn người họ đều to cao lực lưỡng vì cả ngày làm trong lò rèn.

Đối thủ đáng gờm đây!

Ðó là chưa kể đến hơn chục đứa con thần Ares vừa to cao nhất, xấu xí nhất và xấu tính nhất vùng Long Island, hay nói đúng hơn là cả hành tinh.

Báo Chiron giậm chân xuống nền đá.

- Hỡi các anh hùng!

Các bạn biết luật rồi đấy.

Suối nước là ranh giới.

Phạm vi thi đấu là cả khu rừng.

Các bạn được dùng mọi vật dụng có phép thuật.

Ai cầm cờ phải giơ cao cho mọi người cùng thấy và chỉ tối đa hai người được đi theo bản vệ cờ thôi.

Tù binh có thể bị tước vũ khí nhưng không cần trói và nhét giẻ vào miệng.

Không được giết hoặc gây thương tích cho đối phương.

Tôi sẽ vừa là trọng tài, vừa là cứu thương.

Hãy chọn binh khí đi nào!

Ông giơ hai tay lên.

Lập tức, mặt bàn xuất hiện đủ thứ: mũ giáp kiểu Hy Lạp cổ, kiếm đồng, giáo mác, khiên bằng da bò thuộc bọc kim loại.

Tôi trầm trồ:

- Chà Chà.

Ta sẽ dùng thứ này sao?

Luke nhìn tôi như nhìn tên ngớ ngẩn:

- Nếu cậu muốn Nhà Số Năm băm cậu làm chả nướng thì đừng dùng.

Này, cầm lấy.

Bác Chiron bảo cái này vừa với cậu.

Cậu sẽ bảo vệ vùng giáp ranh nhé.

Khiên của tôi to tướng có in y hiệu phía trước và nặng không thể tả.

Dùng nó làm ván trượt tuyết thì tốt, nhưng đừng ai bắt tôi vác khiên này chạy thật nhanh.

Tôi đội mũ của đồng minh đội Athena có chùm lông ngựa nhuộm xanh biển trên chóp.

Đội Ares và đồng bọn đội mũ có chùm lông vũ màu đỏ.

Annabeth hô lớn:

- Ðội xanh xung phong!

Cả đội hò reo, vung kiếm theo Annabeth theo đường mòn xuống phía nam khu rừng.

Ðội đỏ vừa tiến về phương Bắc vừa mắng nhiếc xỉ vả chúng tôi.

Tôi vừa cố tránh vấp mũi cây kiếm dài thậm thượt trong tay, vừa ráng đuổi kịp Annabeth:

- Này.

Bạn ấy chỉ cắm cúi đi.

- Cậu định thế nào?

Có đồ dùng phép thuật cho tớ mượn không?

Annabeth sờ túi như thể sợ tôi ăn trộm:

- Coi chừng cây giáo của Clarisse đấy.

Ðừng để nó chạm vào cậu.

Còn lại thì đừng lo.

Ta sẽ lấy được cờ của nhà Ares.

Anh Luke giao việc cho cậu chưa?

- Canh vùng biên giới.

Tớ chẳng hiểu gì cả.

- Dễ thôi.

Cứ đứng bên suối, xua quân đỏ đi.

Phần còn lại để tớ.

Ðội Athena luôn có kế hoạch đàng hoàng.

Dứt lời, bạn ấy chạy rõ nhanh, bỏ tôi lại với đám bụi mù mịt.

Tôi làu bàu:

- Ðược lắm.

Hân hạnh được cùng đội với cậu.

Ðêm ấy oi ả lạ thường.

Rừng tối om, thỉnh thoảng có bầy đom đóm bay lập lòe.

Annabeth bảo tôi đứng bên bờ suối có nước róc rách chảy qua mấy tảng đá lớn.

Sau đó, bạn ấy và cả đội tản ra trước khi vào rừng.

Ðầu đội mũ sắt cắm lông ngựa, tay cầm tấm khiên to bằng cái mẹt đứng chơ vơ bên suối, tôi thấy mình nực cười hết chỗ nói.

Thanh kiếm đồng này, như bao thanh kiếm từng qua tay tôi, lệch lạc thế nào ấy.

Chuôi kiếm bọc da thuộc trơn trượt như trái bóng bowling vậy.

Chắc đây chỉ là trò chơi đánh trận giả.

Ai lại tấn công thật bao giờ.

Ý tôi là cư dân Olympia phải ban hành luật lệ đàng hoàng chứ.

Từ xa vọng lại tiếng tù và vỏ ốc.

Tôi nghe tiếng thúc ngựa, tiếng hò hét trong rừng và cả tiếng kim khí chạm nhau loảng xoảng.

Một đồng minh nhà Apollo chạy vụt qua tôi nhanh như hoẵng rồi nhảy qua suối, tiến sâu vào lãnh địa đối phương.

Tôi chua chát nghĩ thầm: "Thế đấy.

Cũng như trước thôi, có trò vui thì chẳng đến lượt mình!"

Chợt có tiếng động làm tôi lạnh sống lưng.

Ngay gần chỗ tôi đứng vọng đến tiếng ch́ó dữ gầm gừ.

Theo bản năng tự vệ, tôi giơ khiên lên.

Một linh cảm lạ mách bảo có con gì đang theo dõi từng nhất cử nhất động của tôi.

Thốt nhiên, tiếng gầm gừ im bặt.

Tôi cảm giác nó vội lủi đi chỗ khác.

Từ bụi cây bên kia suối, năm chiến binh nhà Ares xông ra.

Tiếng la lối, gào thét của chúng xé toạc màn đêm yên tĩnh.

Clarisse hét:

- Dần nhừ tử thằng cặn bã đó cho tao!

Cặp mắt lồi như mắt lợn luộc của nó trợn lên sau hai khe hở của nón sắt.

Nó vung cây giáo dài thước rưỡi, lưỡi giáo nhọn sắc sáng loáng.

Mấy chị em nó cầm kiếm đồng.

Dù đó chỉ là kiếm thường nhưng cũng đủ làm tôi phát hoảng.

Năm đứa theo nhau lao qua suối.

Xung quanh không có ai để cầu cứu.

Tôi chỉ có thể hoặc chạy trốn, hoặc tự vệ, một mình chống trả nửa số "nhân khẩu" của Nhà số Năm.

Thấy đứa đầu tiên nhào tới, tôi nhảy sang bên để tránh.

Nhưng năm đứa này khôn hơn quỷ đầu bò.

Chúng bao vây tôi.

Clarisse xỉa mạnh ngọn giáo.

Khiên của tôi làm mũi giáo quay xuống đất, nhưng cảm giác đau nhói, râm ran lan khắp người tôi.

Tóc tôi dựng hết cả.

Cánh tay đeo khiên tê dại, tia lửa bắn tung tóe.

Điện giật.

Cây giáo lợi hại của Clarisse có điện.

Tôi ngã ngửa ra sau.

Thêm một đứa nhà Ares cầm chuôi kiếm thúc mạnh ngực tôi khiến tôi lăn lộn dưới đất.

Nếu chúng không phí thời gian cười ngặt nghẽo mà xông vào đấm đá tôi thì chắc người tôi đã mềm như thạch.

Clarisse xúi:

- Cắt tóc nó đi.

Túm tóc chặt vào.

Tôi cố gượng đứng dậy.

Thấy tôi giơ kiếm lên, Clarisse dùng giáo gạt mạnh.

Tia lửa điện lóe lên.

Giờ cả hai tay tôi đều tê dại.

Clarisse khoái trá:

- Úi chà, thằng này làm tao sợ chết khiếp.

Anh Percy ơi, tha cho em!

- Cờ đằng kia.

Sao không ra đó mà lấy?

Tôi cố giả vờ hằm hè, dọa dẫm nhưng chết nỗi giọng tôi chằng có chút khí thế nào.

Đứa khác bảo:

- Biết rồi.

Nhưng mày không thấy tụi tao không thèm cờ quạt gì à?

Tối nay, tao bắt mày phải đền cái tội dám làm cả nhà tao bẽ mặt hôm trước.

- Chúng mày tự bôi nhọ thanh danh mình đấy chứ.

Có lẽ cãi nhau tay đôi với chúng không phải việc làm khôn ngoan.

Hai đứa bèn tiến đến chỗ tôi.

Vừa lùi dần tới bờ suối, tôi vừa giơ khiên lên cao nhưng Clarisse nhanh như sóc.

Mũi giáo đâm trúng mạn sườn tôi.

Nếu không mặc áo giáp che kín ngực, chắc tôi thành món thịt nướng rồi.

Tuy nhiên, tôi vẫn bị điện giật mạnh đến độ hai hàm răng suýt rụng khỏi hàm.

Một đứa chung nhà với nó lướt lưỡi kiếm cắt ngọt ngang cánh tay tôi, để lại vết thương khá sâu và dài.

Nhìn máu mình chảy ròng ròng, tôi chóng mặt, toàn thân thoắt nóng lại lạnh buốt.

Tôi cố lý sự:

- Luật cấm gây thương tích mà.

Một thằng trong bọn Nhà Số Năm lên tiếng:

- Xin lỗi đấy.

Cùng lắm thì bị phạt, mất bữa tráng miệng tối mai thôi.

Nó đẩy tôi ngã ngồi xuống suối.

Nước bắn tung lên.

Cả bọn cười khả ố.

Chắc chắn sau khi cười thỏa thuê, chúng sẽ lấy mạng tôi.

Bất ngờ, chuyện lạ xảy đến.

Hình như nước làm tôi tỉnh táo, kích thích các giác quan của tôi, hệt như tôi vừa ăn h́ết gói thạch đậu hương cà-phê mẹ cho.

Clarisse cùng đồng bọn nhảy xuống nước định thộp cổ tôi nhưng tôi đã đứng vững chờ chúng đến.

Tôi đã biết phải làm gì.

Tôi đập lưỡi kiếm nằm ngang vào đầu tên chạy trước làm mũ sắt của hắn văng xuống đất.

Cú đập mạnh đến nỗi hai tròng mắt hắn rung lên trước khi ngã dúi xuống nước.

Thành viên thứ hai và thứ ba của đội quân Xấu Xí xông thẳng đến chỗ tôi.

Một tay đập mạnh khiên vào mặt đứa này, tay cầm kiếm của tôi xén ngọt chùm lông trên mũ đứa kia.

Cả hai vội lùi lại.

Đứa thứ tư run sợ, không dám tiến lên nhưng Clarisse còn hung hăng lắm.

Tia lửa điện trên lưỡi giáo của nó kêu lách tách.

Ngay khi nó xỉa cây giáo tới, tôi nắm ngay cán giáo đoạn giữa khiên và kiếm của tôi và bẻ gãy dễ dàng như bẻ cành củi khô.

- Ối!

Đồ ngu!

Ðồ giòi bọ hôi thối!

Có lẽ nó sẽ còn nói nhiều câu khó nghe hơn nếu tôi không nhanh tay dùng chuôi kiếm thúc mạnh vào trán, ngay giữa hai mắt nó.

Cú đẩy làm Clarisse văng giật lùi cách mép nước xa.

Vừa lúc đó tiếng hò reo vui mừng dội tới.

Luke giương cao cờ của đội đỏ chạy tới vạch ranh giới.

Sát cánh bên anh có hai bạn nhà Hermes chạy theo yểm hộ cùng vài đồng minh nhà Apollo chạy sau họ.

Vừa chạy, họ vừa đánh đuổi mấy đứa con thần Hephaestus.

Đám con thần Ares lồm cồm bò dậy, riêng Clarisse cay cú chết lặng như bị yểm bùa.

Nó gào lên:

- Lũ lừa đảo.

Trò lừa gạt mạt hạng!

Chúng cuống cuồng chạy theo Luke nhưng đã quá trễ.

Lúc anh cầm cờ chạy sang lãnh địa đội mình cũng là lúc mọi người đổ dồn về suối.

Đội chúng tôi ở bờ bên này cùng lúc ồ lên tiếng reo mừng chiến thắng.

Lá cờ đỏ mờ đi trước khi biến thành màu bạc.

Đầu lợn rừng và cây giáo biến thành y hiệu, biểu tượng của Nhà Số Mười Một.

Mọi người bên đội xanh đều đến chúc mừng Luke.

Họ công kênh anh trên vai đi vòng quanh.

Từ rừng già, bác Chiron vừa chạt nước kiệu tới vừa thổi vò ốc.

Cuộc thi kết thúc.

Đội tôi chiến thắng.

Vừa định theo các bạn ăn mừng chiến thắng, tôi nghe tiếng Annabeth thoảng bên tai:

- Cũng không tệ nhỉ, anh hùng!

Tôi quay ngoắt sang nhưng không thấy bạn.

Tiếng cô hỏi tiếp:

- Cậu học ở đâu chiêu thức đấu tay đôi lúc nãy thế?

Không khí lay động, Annabeth cầm mũ lưỡi trai của đội bóng chày Yankee hiện ra.

Cảm giác giận dữ trong tôi mạnh đến nỗi át cả sự ngạc nhiên trước một Annabeth biết tàng hình.

- Cậu dắt mũi tớ.

Sở dĩ cậu bảo tớ đứng đây vì biết thể nào Clarisse cũng đến chỗ tớ gây sự.

Trong khi đó, cậu phái anh Luke đưa quân tấn công hai bên sườn đối phương.

Cậu tính hết từ trước rồi phải không?

Annabeth nhún vai:

- Tớ đã bảo cậu rồi.

Lúc trước tớ có nói nhà Athena luôn có kế sách mà.

- Mưu đồ của cậu biến tớ thành mồi ngon của Clarisse!

- Đừng nói thế.

Tớ ráng hết sức chạy thật nhanh đến cứu cậu.

Đúng lúc tớ định nhảy vào...

- Cô nhín vai – Cậu đâu cần tớ giúp.

Lúc này, Annabeth mới thấy cánh tay tôi bị thương:

- Sao cậu làm được thế?

- Bị tụi nó rạch chứ còn sao nữa.

- Nó khỏi rồi.

Cậu nhìn mà xem.

Vệt máu biến mất.

Chỗ có vết thương há hoác giờ là vết sẹo dài màu trắng.

Thậm chí, sẹo cũng đang mờ dần.

Sẹo lớn nhỏ dần thành sẹo mảnh và biến mất ngay trước mắt tôi.

- Sao... sao lại thế được?

Annabeth suy nghĩ rất lung.

Cô bạn hết nhìn chân tôi lại nhìn cây giáo gãy của Clarisse rồi ra lệnh:

- Percy, cậu lên bờ đi.

- Gì cơ...

- Làm ngay đi.

Vừa đặt chân lên bờ, tôi đã mệt rã rời.

Hai cánh tay tôi tê dại.

Cảm giác phấn khích tan biến hoàn toàn.

Tôi suýt khuỵu xuống, may mà Annabeth đỡ kịp.

- Thôi chết, không hay rồi.

Tớ không mong...

Vậy mà mình cứ tưởng thần Dớt...

Tôi định bắt Annabeth giải thích rõ nhưng không kịp.

Tiếng chó dữ gầm gừ khi nãy lại nổi lên, lần này nghe gần hơn lần trước.

Tiếp đến là tiếng tru rờn rợn vang dội khắp rừng già.

Tiếng reo phấn khởi im bặt.

Bác Chiron thét lên bằng tiếng Hy Lạp cổ.

Mãi giây lát sau tôi mới hiểu trọn nghĩa:

- Sẵn sàng chiến đấu!

Mang cung cho ta!

Annabeth giơ cao thanh kiếm tuốt trần.

Ngay trên đống đá tảng sừng sững trước mặt chúng tôi có con chó săn đen trũi, to bằng con tê giác, mắt vằn đỏ như máu, bộ nanh sắc như dao.

Mắt nó phóng thẳng về phía tôi.

Không ai nhúc nhích ngoại trừ Annabeth.

Bạn ấy la lên:

- Chạy đi Percy!

Annabeth định bước lên che cho tôi nhưng con quái thú nhanh như cắt.

Nó nhảy qua đầu Annabeth.

Cả khối đen thẫm chỉ có răng nhọn trắng nhởn lao thẳng vào tôi.

Tôi ngã ngửa, chỉ kịp thấy hàm răng nhọn cắn ngập tấm áo giáp che ngực mình.

Sau đó là một loạt âm thanh xoàn xoạt, nghe như ai xé lần lượt bốn mươi tờ giấy, hết tờ này đến tờ khác.

Một vòng tên nhọn cắm phập quanh cổ quái thú.

Nó lăn ra chết ngay dưới chân tôi.

Tôi còn sống như có phép màu.

Tôi sợ không dám nhìn xuống tấm áo giáp tả tơi.

Thấy ngực mình ươn ướt, âm ấm, tôi biết mình bị thương nặng.

Chỉ chậm một giây thôi là quái thú sẽ biến tôi thành súc thịt vô tri nặng năm chục ký lô.

Lo sợ ra mặt, bác Chiron đến bên chúng tôi.

Annabeth bảo:

- Thật kinh khủng.

Đó là con chó ở mười hai tầng địa ngục, nơi trừng phạt những linh hồn tội lỗi.

Chúng không thể...

đáng lẽ chúng không...

Bác Chiron đăm chiêu:

- Có người gọi nó lên đây.

Nhất định là người trong trại.

Luke đi tới.

Lá cờ rũ rượi trong bàn tay buông thõng.

Niềm vui chiến thắng trong mắt anh tiêu tan.

Clarisse gào lên:

- Percy làm đấy.

Chính nó gọi con chó canh địa ngục.

Bác Chiron gắt:

- Im lặng nào!

Trước sự chứng kiến của mọi người, xác con chó lẩn vào bóng tối, rút xuống đất cho tới khi không còn dấu vết.

Annabeth giục tôi:

- Cậu bị thương kìa.

Xuống nước ngay đi.

- Tớ khỏe mà.

- Không, xuống đi.

Bác Chiron nhìn cậu ấy xem.

Tôi mệt muốn xỉu, không muốn lý sự dài dòng, chỉ lầm lũi bước xuống suối.

Toàn trại vây quanh tôi.

Tức thì, tôi khỏe khoắn hẳn lên.

Da thịt rách bươm trên ngực tôi lành lại.

Trong đám đông, vài người vụt đưa tay bưng miệng.

Tôi cố xin lỗi:

- Các cậu, tớ không biết sao lại thế.

Xin lỗi...

Nhưng mọi người không xem vết thương.

Mắt họ dồn về phía thứ gì lơ lửng trên đầu tôi.

Annabeth chỉ tay:

- Percy, nhìn kìa...

Lúc tôi ngửa mặt lên nhìn, dấu hiệu đã mờ dần.

Tuy nhiên, tôi vẫn nhận ra dấu nguệch ngoạc màu xanh lục lấp lánh sáng và đang xoay tròn kia là cây đinh ba.

Annabeth lẩm bẩm:

- Cha cậu đấy.

Thế này không hay rồi.

Bác Chiron tuyên bố:

- Thân thế Percy đã được khẳng định.

Mọi người vây quanh tôi đều quỳ xuống, ngay cả mấy đứa trẻ nhà Ares.

Tất nhiên, nét mặt chúng chẳng vui vẻ gì.

Tôi hoang mang cực độ:

- Cha tớ là ai?

Bác Chiron quả quyết:

- Thần Poseidon, thần gây động đất, dông bão và là thần của loài ngựa.

Chúng tôi kính cẩn chào đón Perseus Jackson, con trai của Thần Biển Cả.

10.

Tôi Phá Hỏng Chiếc Xe Buýt Cực Tốt

Việc thu xếp hành trang của tôi chẳng lâu la gì.

Grover tìm ba lô cho tôi.

Quyết định để sừng quỷ đầu bò ở nhà, tôi chỉ việc nhét thêm một bộ quần áo để thay đổi và bàn chải đánh răng vào đó là xong.

Cửa hàng của trại hè cho tôi vay một trăm đô la tiền thường và hai mươi đồng tiền vàng drachma.

Tiền này to bằng bánh bích qui, một mặt dập nổi hình các vị thần, mặt kia là tòa nhà Empire State.

Bác Chiron bảo để tiện thanh toán trong những giao dịch không thuộc thế giới phàm trần.

Tôi chẳng hiểu kiểu giao dịch gì lạ vậy.

Bác đưa tôi và Annabeth mỗi người một bình rượu thần và một bịch lớn bánh hình vuông và dặn chỉ dùng trong trường hợp cấp cứu, tức là có ai trong chúng tôi bị thương nặng.

Bác dặn đi dặn lại phải dùng cẩn thận vì là thức ăn của thần thánh.

Hễ con lai bị thương, ăn uống hai thứ đó sẽ khỏi.

Nhưng người trần ăn sẽ chết ngay.

Con lai nếu ăn quá nhiều cũng ốm sốt.

Dùng quá liều lượng, chúng tôi sẽ cháy ruột cháy gan, hiểu theo nghĩa đen.

Annabeth mang theo nón lưỡi trai thần mẹ bạn ấy tặng con gái nhân sinh nhật lần thứ mười hai.

Ngoài ra, bạn ấy còn mang cuốn sách kiến trúc bằng tiếng Hy Lạp cổ để đọc khi buồn chán và giấu trong ống tay áo con dao dài bằng đồng.

Tôi chỉ ngại máy dò kim loại ngoài bến xe phát hiện và đuổi cổ cả ba.

Grover đeo bàn chân giả, mặc quần dài cho giống người trần và đội nón tròn không vành nhỏ xíu che chỏm đầu.

Sở dĩ như vậy vì mỗi khi đi mưa, tóc bết xuống sẽ để lộ cặp sừng bé.

Ba lô màu cam của Grover đựng đầy mẩu kim loại và táo để ăn vặt cho đỡ buồn miệng.

Grover dắt túi áo bộ sáo bằng ống sậy do cha nó tự tay đẽo.

Tuy nhiên, nó chỉ biết chơi hai bài: bản Concerto thứ mười hai của Mozart và "Dã Từ Dĩ Vãng" của Hilary Duff.

Cả hai đều không hợp với nhạc cụ sáo.

Vẫy tay chào tạm biệt mọi người, ngắm bãi dâu, biển cả và Nhà Lớn lần cuối, chúng tôi nhắm cây thông vốn là Thalia, con gái thần Dớt, trên đỉnh đồi Con Lai thẳng tiến.

Bác Chiron ngồi xe lăn đợi sẵn.

Cạnh bác là anh chàng dáng thể thao tôi từng gặp khi nằm ở phòng bệnh.

Grover bảo anh ta là trưởng ban an ninh của trại hè.

Anh ta cần có mắt khắp cơ thể để không có gì làm anh ta bất ngờ.

Tuy nhiên, hôm nay anh ta mặc quần áo của tài xế nên tôi chỉ thấy mắt trên mu bàn tay, mặt và cổ anh ta.

Bác Chiron giới thiệu với tôi:

- Argus đây sẽ lái xe đưa các cháu vào thành phố, đồng thời để mắt đến mọi thứ.

Chợt có tiếng chân tiến đến gần.

Luke cầm đôi giày thể thao chạy lên đồi.

Anh thở dốc:

- May anh đuổi kịp mấy đứa.

Mỗi khi đứng gần Luke, Annabeth lại đỏ mặt.

Lần này cũng thế.

Luke quay sang tôi:

- Anh chỉ muốn chúc các em may mắn.

Anh định... em cầm cái này xài đỡ.

Anh trao cho tôi đôi giày trông không có gì khác thường.

Thậm chí nó cũng bốc mùi như mọi đôi giày cũ khác.

Luke kêu lên:

- Maia!

Cặp cánh chim trắng mọc ra từ gót giày.

Tôi giật bắn mình buông tay.

Đôi giày bay là là mặt đất một vòng, sau đó cánh cụp lại, biến mất.

Grover reo:

- Thích quá.

Luke tủm tỉm:

- Cái này đã giúp anh rất nhiều hồi anh truy tìm quái vật.

Quà của cha anh.

Chắc em cũng biết hồi này anh có dùng đến nó mấy đâu...

Anh chợt buồn hiu.

Tôi xúc động không nói lên lời.

Luke tình cảm thật, còn đến dã biệt chúng tôi.

Mấy ngày gần đây, tôi chỉ ngại anh chạnh lòng vì dù tôi không cố ý, mọi người vẫn để ý đến tôi thay vì tập trung vào anh như trước.

Nhưng nhìn xem, anh còn tặng tôi quà quý...

Nghĩ đến đây, mặt tôi đỏ không kém mặt Annabeth.

- Percy này, bao hy vọng dồn cả vào chú đấy.

Vậy nên... chú ráng hạ đo ván vài tên quái vật cho anh, nhớ chưa?

Anh bắt tay tôi, xoa mảnh đầu giữa hai sừng của Grover và ôm hôm tạm biệt Annabeth làm cô bé suýt ngất vì sung sướng.

Luke đi rồi, tôi bảo Annabeth:

- Trông cậu thở ghê chưa kìa.

- Tớ đâu có.

- Hôm thứ Sáu, cậu nhường cho anh ấy đi giành cờ phải không?

- Này Percy, tớ hết chịu nổi cậu rồi đấy.

Annabeth vùng vằng xuống chân đồi, chỗ có chiếc SUV trắng đậu bên lề đường.

Anh Argus vung vẩy chùm chìa khóa theo sau tôi.

Tôi cúi xuống nhặt đôi giày bay, đột nhiên tôi cảm nhận có một điều gì đó thật xấu sắp xảy đến.

Tôi nhìn và hỏi bác Chiron:

- Cháu không thể sử dụng nó đúng không ạ?

Bác ấy lắc đầu bảo:

- Luke có ý tốt.

Nhưng nói về bầu trời...

Đối với cháu mà nói sử dụng nó chẳng khôn ngoan chút nào.

Tôi thất vọng nhưng phải công nhận rằng bác ấy nói đúng.

Chơt tôi nảy ra một ý:

- Grover này, cậu thích giày có phép màu không?

Mắt nó sáng rỡ:

- Cho tớ à?

Chúng tôi bèn xỏ ngày giày vào chân nó.

Chuyến bay đầu tiên của anh chàng người dê sắp bắt đầu.

Grover hô:

- Maia!

Lúc cất cánh không hề hấn gì, nhưng chỉ lát sau nó lật nghiêng, ba lô trên vai trượt dài trên cỏ.

Hai cặp cánh bé xíu cứ chồm lên nhào xuống như con ngựa bất kham.

Bác Chiron nói với theo:

- Phải luyện tập.

Cháu cần tập ít bữa mới thành thao được.

- Ahhhhhh!...

Grover bay nghiêng xuống đồi tiến về chiếc xe trông như máy cắt cỏ bị ma nhập.

Tôi định chạy theo nhưng bác Chiron đã kéo tay lôi lại.

- Nếu có thời gian, bác sẽ huấn luyện kỹ cho cháu, Hercules và Jason đều tập tành rất lâu.

- Không sao đâu ạ.

Cháu chỉ ước...

Tôi im bặt, biết mình vừa suy nghĩ như đứa con hay vòi vĩnh.

Tôi ước cha cho tôi một vật màu nhiệm có thể giúp tôi thực hiện nhiệm vụ này: một món đồ hữu dụng như giày biết bay của Luke hay mũ tàng hình của Annabeth.

Bác Chiron kêu lên:

- Bác đang nghĩ vớ vẩn gì vậy nhỉ?

Bác không thể để cháu đi mà thiếu vật này được.

Ông lấy cây viết bi trong túi áo đưa cho tôi.

Nó bình thường giống cây viết dùng một lần rồi bỏ: mực đen, có nắp đậy giá khoảng ba mươi xu.

- À...

ừm.

Cảm ơn ạ.

- Đó là quà của cha cháu, bác giữ lâu lắm rồi.

Lúc đó bác không biết người bác chờ đợi là cháu.

Nhưng giờ bác đã hiểu trọn vẹn Lời Sấm Truyền.

Cháu chính là nhân vật đặc biệt Nhà Tiên Tri nói tới.

Nhớ trong chuyến thăm quan Viện Bảo tàng Metropolitan, trước khi cô giáo bốc hơi trước mặt tôi, bác Chiron có ném cho tôi cây viết, sau đó nó biến thành thanh kiếm.

Liệu có phải...

Tôi mở nắp.

Cây bút dài ra, nặng trĩu.

Chưa đầy nửa giây sau, trong tay tôi là thanh kiếm đồng sáng loáng hai lưỡi đều sắc ngọt.

Chuôi kiếm bằng da có cẩn vàng ròng trang trí.

Lần đầu tiên có thanh kiếm vừa tay tôi như vậy.

Bác Chiron bảo:

- Có một lịch sử dài bi tráng gắn liền với cây kiếm này.

Nhưng thôi, cháu không cần biết làm gì.

Tên nó là Anaklusmos.

Tôi dịch ngay:

- Nghĩa là Thủy Triều.

Chính tôi cũng ngạc nhiên vì vốn tiếng Hy Lạp cổ của mình.

- Khi nào cần lắm hẵng dùng.

Kiếm chỉ tác dụng với quái vật.

Tất nhiên anh hùng không nên hại người phàm nếu không thật cần thiết.

Nhưng kiếm này đặc biết, nó không hại người trần trong mọi trường hợp.

Tôi nhìn lưỡi kiếm sắc chắc chắn chém sắt như chém bùn:

- Kiếm sắc thế này sao nó không làm người phàm bị thương được?

- Đây là kiếm thần.

Sản phẩm từ chính tay người Cyclopes, được tôi trong lòng núi Etna rồi nhúng xuống sông Lethe.

Với nó, cháu có thể giết được quái vật hay bất kỳ cơ thể sống nào dưới địa ngục, miễn là chúng chưa kịp ra tay trước.

Nhưng lưỡi kiếm chỉ lướt qua cơ thể người phàm như ảo ảnh.

Lý do đơn giản là người phàm quá chất phác nên thanh kiếm không giết.

Ta nhắc cháu nhớ một điều: Vì là á thần nên cả vũ khí nhà trời lẫn phàm trần đều lấy mạng cháu được.

Cho nên cháu phải cẩn thận gấp đôi.

- Cảm ơn bác nhắc nhở.

- Thôi đậy nắp bút lại đi.

Vừa chạm nắp bút, thanh kiếm rút lại thành bút như cũ.

Tôi ngại ngần cất bút vào túi áo.

Chả là hồi đi học, tôi chúa hay đánh mất bút.

- Không có chuyện đó đâu.

- Chuyện gì cơ?

- Bút này không mất được.

Nó có bùa chú nên sẽ trở về túi cháu.

Cháu thử đi.

Bụng chỉ sợ mất bút quý nhưng tôi cũng thử ném xuống chân đồi.

Bút lẩn ngay vào đám cỏ.

- Đợi chút đi.

Giờ lục túi xem có chưa.

Đúng là cây bút có trong túi tôi thật.

Tôi thú nhận:

- Công nhận bút cực kỳ lợi hại.

Như nhỡ người phàm nhìn thấy thì sao ạ?

Bác mỉm cười:

- Đã có Màn Sương, đừng lo.

- Bác nói sao, cháu chưa hiểu.

- Trong sử thi Iliad nói rất nhiều về nó.

Mỗi khi vật hay thần thánh trà trộn trong thế giới người phàm, họ tạo ra Màn Sương để người phàm không nhận ra.

Dù cùng nhìn một sự vật hiện tượng, người phàm nhận thức khác hẳn á thần như cháu.

Người phàm chỉ loanh quanh trong cái thực tại bị hạn chế bởi nhận thức của họ.

Tôi cất Thủy Triều vào túi.

Đến lúc này, tôi mới hiểu hết việc mình sắp làm.

Tôi sắp rời Trại Con Lai thật rồi.

Cắm cúi nhằm phương Tây thẳng tiến, tôi không thể dựa dẫm vào ai vì không có người lớn giám sát, không kế hoạch cứu viện, thậm chí điện thoại di động cũng không (bác Chiron bảo quái vật sẽ lần theo sóng điện thoại di động để tìm ra tôi.

Dùng điện thoại di động chẳng khác nào "lạy ông tôi ở bụi này").

Để xua đuổi quái vật nhằm đến được Địa ngục, tôi chẳng có thứ gì khác ngoài thanh kiếm dắt trong người.

- Bác Chiron này... nếu nói các thần bất tử, có nghĩa lịch sử hình thành trước khi có họ, phải không ạ?

- Thực ra trước họ có bốn kỷ nguyên.

Thời của người khổng lồ Titan là kỷ nguyên thứ tư.

Có người nhầm gọi đó là Thời kỳ Hoàng kim.

Thời ta đang sống trong nền Văn minh phương Tây dưới sự trị vì của thần Dớt là kỷ nguyên thứ năm.

- Vậy trước khi có các thần... thế nào ạ?

Bác Chiron mím môi:

- Dù hồi đó chưa ra đời, bác cũng biết người phàm sống trong u tối và man rợ.

Kronos, chúa tể các Titan gọi thời ông trị vì là Thời kỳ Hoàng kim bởi con người vô tư, không cần tri thức.

Nhưng đó chỉ là luận điệu tuyên truyền.

Vua của người khổng lồ không hề quan tâm đến loài người trừ khi ông ta cần họ làm món khai vị hoặc cần giải trí.

Chỉ khi Dớt lên nắm quyền và người khổng lồ nhân hậu là Prometheus mang lửa cho loài người, giống loài của cháu mới tiến bộ.

Tuy nhiên sau đó Prometheus bị thần Dớt trừng phạt nặng.

Theo thời gian, các thần mới thương yêu loài người.

Nhờ đó mới có nền Văn minh phương Tây.

- Nhưng các thần không chết.

Khi nào nền Văn minh phương Tây còn, các thần cũng còn tồn tại.

Thế nên... nếu chẳng may cháu thất bại cũng không phương hại gì lắm, đúng không ạ?

Bác Chiron nhìn tôi cười buồn:

- Không ai biết Kỷ nguyên của phương Tây kết thúc khi nào.

Thần bất tử, khổng lồ Titan cũng sống mãi.

Hiện chúng vẫn tồn tại dù phải chui nhủi trong tù ngục, mãi chịu đau đớn và trừng phạt.

Chúng suy yếu nhưng chưa chết hẳn.

Lạy trời đừng để các thần chịu số phận tàn khốc như bọn Titan bây giờ.

Nếu không chúng ta sẽ lại sống cảnh tối tăm và hỗn mang như trong quá khứ.

Cháu ạ, ta chỉ có thể tuân theo số phận thôi.

- Số phận ư... giá biết số phận đưa ta đến đâu thì hay biết mấy.

- Bình tĩnh nào.

Giữ cho đầu óc sáng suốt, tỉnh táo.

Hãy nhớ cháu sắp ngăn chặn cuộc chiến tranh lớn chưa từng thấy của nhân loại đấy.

- Bác nói thế, cháu bình tĩnh sao nổi.

Đến chân đồi, tôi quay đầu nhìn lại.

Dưới gốc cây thông từng là Thalia, con gái thần Dớt, bác Chiron hiện nguyên hình nhân mã, tay giơ cao cây cung chào tạm biệt.

Đúng là nghi lễ tiễn đưa kiểu mẫu của thầy giáo nhân mã.

Argus lái xe đưa chúng tôi qua vùng quê thanh bình tiến vào khu vực phía tây Long Island.

Dù bên cạnh có Annabeth và Grover trông bình thường như bạn đi chung xe khác, tôi vẫn thấy lạ lẫm khi ra đến đường cái.

Sau hai tuần ở Trại Con Lai, tôi đi giữa thế giới thực mà tưởng mình nằm mơ.

Tôi trố mắt ngắm nghía từ cửa hàng thức ăn nhanh McDonald's, từ em bé ngồi sau xe cha mẹ, đến mọi biển quảng cáo từ khu mua sắm.

Tôi bảo Annabeth:

- Chưa thấy gì, cậu nhỉ?

Đi hơn mười dặm vẫn chưa gặp quái vật nào.

Nó khó chịu nhìn tôi:

- Đúng là óc tảo biển.

Nói thế xui xẻo lắm đấy.

- Làm ơn nhắc lại giùm.

Sao cậu ghét tớ thế?

- Đâu ai ghét bỏ gì cậu đâu.

- Lại chối rồi.

Annabeth cuộn mũ lưỡi trai trong tay:

- Nghe này...

Đúng ra ta không nên đi với nhau.

Cha cậu với mẹ tớ là địch thủ mà.

- Nhưng vì sao mới được?

Cô bạn chán nản:

- Cậu muốn bao nhiêu lý do, tớ có đủ bấy nhiêu.

Một là, mẹ tớ từng bắt gặp thần Poseidon đưa người tình vào đền Athena.

Hành động như thế cực kỳ thiếu tôn trọng.

Hai là, mẹ tớ và cha cậu từng tỉ thí, ai thắng sẽ là thần bảo trợ cho thành Athen.

Cha cậu tặng dân chúng suối nước biển ngu ngốc, mẹ tớ tặng cây ôliu.

Người ta thích quà của mẹ tớ hơn nên họ lấy tên bà đặt cho thành phố.

- Chẳng qua họ thích cây ôliu thôi.

- Thôi, bỏ đi.

- Nếu mẹ cậu hóa phép ra bánh pizza, tớ ủng hộ liền.

- Đã bảo không nói nữa cơ mà.

Ngồi sau vô lăng, anh Argus cười toe toét.

Anh không nói gì, nhưng một con mắt xanh lơ mọc sau gáy anh nhìn tôi nhấp nháy.

Đến khu Queens, đường đông khiến xe chạy chậm.

Mãi đến hoàng hôn, xe mới vào địa phận Manhattan.

Trời bắt đâu mưa.

Anh Argus dừng xe trước bến xe buýt Greyhound ở khu thượng Manhattan, gần căn hộ của mẹ tôi và dượng Gabe.

Tờ bướm ẩm ướt dán trên thùng thư có in hình tôi và dòng chữ: BẠN CÓ THẤY CẬU BÉ NÀY ĐU KHÔNG?

Tôi nhanh tay xé nó đi trước khi Annabeth và Grover để ý đến.

Xách hành lý xuống, đứng xem chúng tôi mua vé xong, anh Argus đánh xe về.

Lúc đưa xe khỏi bãi đậu, con mắt trên mu bàn tay anh còn mở to nhìn chúng tôi.

Nhà tôi ngay gần đây.

Nếu như mọi khi, mẹ tôi đi làm về rồi.

Ngay lúc này đây, có lẽ Gabe Cóc Chết đang chơi bài và chưa chắc đã nhớ đến bà.

Grover đeo ba lô lên vai.

Nó nhìn theo hướng tôi đang nhìn:

- Thắc mắc lý do mẹ cậu lấy ông Gabe chứ gì?

Tôi ngạc nhiên nhìn nó:

- Cậu biết đọc suy nghĩ người khác à?

Nó nhún vai:

- Tớ chỉ biết đọc cảm xúc thôi.

Chắc tớ quên chưa thông báo với cậu rằng thần rừng có tài đó.

Cậu đang nghĩ về mẹ và cha dượng, đúng không?

Tôi gật đầu tự hỏi Grover còn quên kể với tôi những gì nữa.

- Vì cậu, bà mới lấy ông Gabe.

Cậu vô tình gán tên Gabe Cóc Chết cho ông ta nhưng không hiểu cái gì cũng có nguyên do của nó.

Ông ấy hôi thật... rùng cả mình.

Đứng đây tớ còn ngửi thấy nữa là.

Dù cậu không ở bên ông ta cả tuần, tớ vẫn ngửi thấy mùi của ông ta ám trên người cậu.

- Cám ơn lời nhắc nhở.

Cảm phiền chỉ giùm nhà tắm công cộng gần nhất.

- Cậu nên biết ơn vì điều đó.

Cha dượng cậu hôi đến lợm giọng, đủ ngụy trang cho mọi á thần.

Chỉ cần ngửi mùi hôi của ông ta trong chiếc Camaro, tớ biết nhờ ông ấy nên cậu không bị phát hiện.

Nếu mỗi mùa hè, cậu không ở cạnh ông ta, chắc chắn quái vật lần ra cậu lâu rồi.

Mẹ cậu ở với ông ấy để bảo vệ con trai.

Bà ấy cực kỳ khôn ngoan đấy.

Hy vọng cậu vui khi biết mẹ hẳn yêu mình lắm nên mới ngậm bò hòn làm ngọt sống chung nhà với ông ấy.

Tôi không vui, nhưng cố ngăn cảm xúc lộ ngoài mặt.

Tôi nghĩ thầm: "Mẹ chưa chết.

Mẹ và con sẽ còn gặp nhau."

Cảm xúc tôi lẫn lộn thế, không biết Grover còn đoán được không.

Tuy vui vì có hai bạn đi cùng, nhưng tôi biết mình có tội vì không thẳng thắn với họ.

Tôi đã không nói thật lý do chính khi nhận nhiệm vụ khó khăn này.

Sự thật là tôi không quan tâm đến tia chớp của thần Dớt hay cứu thế giới hoặc thậm chí giúp cha trong lúc khó khăn.

Càng nghĩ tôi càng giận cha vì ông chưa bao giờ nhìn mặt con, hay giúp mẹ tôi, hay thực hiện trách nhiệm tài chính bằng cách gửi tiền đóng góp nuôi con.

Ông chỉ nhận tôi là con khi cần người giúp việc cho mình.

Tôi chỉ quan tâm đến mẹ mà thôi.

Nếu Hades không biết phải trái, cố tình bắt mẹ tôi, ông ta phải trả mẹ cho tôi.

Lời Sấm Truyền văng vẳng bên tai: Ngươi sẽ bị phản bội bởi người tự xưng là bạn.

Cuối cùng, ngươi sẽ không cứu nổi người quan trọng nhất của đời mình.

Tôi thầm ra lệnh: "Câm đi."

Mưa vẫn rơi như trút.

Sốt ruột chờ xe chạy, chúng tôi lấy mấy quả táo của Grover chơi tung hứng.

Annabeth khéo không thể tả.

Bạn ấy có thể dùng đầu gối, khuỷu tay, vai... hất táo lên cao.

Tôi chơi cũng không tồi.

Trò chơi kết thúc khi tôi ném trái táo về phía Grover.

Nó bay đến miệng cậu ta.

Chỉ một cái há miệng thật to của Grover, trái táo biến mất, cả cuống lẫn lõi đều không còn.

Grover đỏ mặt tính xin lỗi nhưng tôi và Annabeth mải cãi nhau nên không để ý.

Cuối cùng, xe buýt trờ tới.

Lúc xếp hàng lên xe, Grover nhìn quanh hít hà.

Tôi hỏi:

- Sao thế?

Nó căng thẳng:

- Tớ không biết.

Chắc chẳng có gì đâu.

Nhưng tôi thấy bất an nên cũng ngoái cổ nhìn.

Cuối cùng, lên được xe, tìm được chỗ ngồi phía dưới, tôi thở phào nhẹ nhõm.

Chúng tôi lúi húi cất đồ đạc lên giá hành lý.

Annabeth bồn chồn vỗ vỗ lưỡi trai của mũ lên đùi.

Khi mấy hành khách cuối cùng lên xe, cô bạn bấu chặt đầu gối tôi:

- Percy, trông kìa.

Bà già vừa lên xe mặc váy nhung nhàu nhĩ, đeo găng tay viền đăng ten, xách túi in hoa, đội sùm sụp mũ len màu cam đan lạ kiểu che gần hết khuôn mặt.

Lúc bà ta ngẩng mặt lên, cặp mắt đen lóe sáng khiến tôi hoảng sợ.

Chính là cô Dodds, tuy già hơn, nhăn nheo hơn nhưng khuôn mặt độc ác đó tôi không sao nhầm được.

Tôi ngây mặt như bị thôi miên trên ghế.

Lên sau bà ta còn hai bà nữa, người đội mũ xanh lá cây, người kia mũ tím.

Họ giống hệt cô Dodds: tay xương xẩu, đeo túi hoa, mặc váy nhung nhàu nát.

Chính là bộ ba Nữ thần Báo Thù độc ác.

Ba bà ngồi hàng đầu, ngay sau bác tài.

Hai người ngồi hai bên lối đi duỗi thẳng chân ra giữa đường làm thành chữ X.

Thoạt trông giống họ duỗi chân cho đỡ mỏi, nhưng tôi hiểu họ muốn nói: "Đừng hòng ra khỏi đây."

Xe rời bến, lăn bánh trên những con phố mưa trơn của Manhattan.

Tôi cố giữ để giọng không bị run:

- Cô Dodds hồi phục nhanh quá.

Sao cậu bảo nằm liệt cả đời?

Annabeth cãi:

- Tớ có nói nếu cậu gặp may.

Nhìn họ đủ biết cậu không gặp may rồi.

Grover rên rỉ:

- Gặp ba bà một lúc thì mình chết chắc.

Annabeth suy nghĩ rất lung:

- Đừng lo.

Nữ thần Báo Thù, ba quái vật kinh khiếp nhất địa ngục.

Không sao.

Không sao.

Ta cứ chui ra cửa sổ là xong.

Grover nhăn nhó:

- Cửa không mở.

- Hay cửa hậu vậy?

Xe không có cửa hậu.

Thậm chí nếu có, chúng tôi cũng không thoát được.

Đúng lúc đó, xe chạy qua đại lộ số Chín, sắp vào đường hầm Lincoln.

- Họ sẽ không tấn công trước mặt mọi hành khách trên xe.

Annabeth nhắc:

- Mắt người phàm không tinh.

Não họ chỉ xử lý thông tin căn cứ những gì thấy qua Màn Sương mà thôi.

- Nhưng nếu ba người kia giết chúng mình, họ cũng phải thấy chứ.

Annabeth trầm ngâm:

- Khó nói lắm.

Nhưng ta không nên trông cậy người phàm giúp đỡ.

Biết đâu có lối thoát hiểm trên trần xe.

Đến đường hầm Lincoln, trong xe tối sầm, chỉ còn đèn phía trên lối đi.

Tự nhiên, tiếng mưa rơi im bặt.

Cô Dodds đứng dậy.

Bằng giọng đều đều như tập từ trước, cô nói với mọi người trong xe:

- Tôi phải đi vệ sinh.

Bà thứ hai lên tiếng:

- Tôi cũng vậy.

Bà thứ ba nói theo:

- Tôi cũng vậy.

Họ theo nhau lần theo lối đi.

Annabeth bảo:

- Để đó cho tớ.

Percy, đội nón của tớ vào.

- Cái gì?

- Chỉ mình cậu là mục tiêu của họ.

Tàng hình rồi theo lối đi lên đầu xe.

Cứ mặc họ đi xuyên qua cậu.

Biết đâu cậu lên được cửa trên và đi thoát.

- Nhưng còn hai cậu thì sao?

- Rất có thể họ không nhận ra bọn tớ.

Nhưng cậu là con của một người trong Bộ Tam Vĩ Đại.

Mùi của cậu át hết mùi bọn tớ.

- Tớ không bỏ bạn như thế được.

Grover bảo:

- Đừng lo cho tụi tớ.

Đi ngay đi!

Tay tôi run bần bật, thấy mình hèn nhát quá.

Nhưng tôi vẫn cầm mũ đội lên đầu.

Khi nhìn xuống, tôi không thấy người mình đâu nữa.

Tôi lò dò đi lên.

Sau khi qua được mười hàng ghế, tôi ghé ngồi ghế trống đúng lúc ba Nữ thần Báo Thù đi qua.

Cô Dodds dừng lại, hít hít và nhìn thẳng vào tôi.

Tim tôi đập loạn xạ.

Rõ ràng bà ta không thấy gì.

Bà ta và hai người em của mình tiếp tục đi.

Không bị phát hiện, tôi đi tiếp lên đầu xe.

Xe sắp ra khỏi đường hầm Lincoln.

Tôi sắp nhấn núi "Dừng xe khẩn cấp" thì nghe tiếng hét rợn người sau lưng.

Ba người kia không còn là ba bà lão già nua nữa.

Mặt họ giữ nguyên (chắc không thể xấu hơn được) nhưng toàn thân họ đổi thành màu nâu, da dày lên và mọc cánh dơi.

Bàn tay bàn chân họ mọc vuốt như thú dữ.

Ba túi xách biến thành ba roi da bốc lửa.

Ba Nữ thần Báo Thù vây quanh Grover và Annabeth, vừa quật roi vun vút vừa rít lên:

- Nó đâu rồi?

Vật đó đâu?

Hành khách trên xe thét lên, co rúm trên ghế.

Đúng là họ có nhìn thấy chuyện bất thường.

Annabeth hét lên:

- Cậu ấy không có ở đây.

Đi mất rồi.

Ba nữ yêu quái mình người cánh dơi giơ roi lên.

Annabeth rút dao bằng đồng, còn Grover vơ can nhôm trong túi chuẩn bị ném.

Điều tôi làm tiếp theo thật khá bốc đồng và nguy hiểm đến độ đáng được có mặt trên áp phích vinh danh trẻ em hiếu động của năm.

Bác tài mất tập trung.

Ông nhìn gương chiếu hậu trong xe cố xem chuyện gì.

Vẫn tàng hình, tôi nắm vô lăng trong tay ông giật mạnh sang trái.

Mọi người kêu la, nghiêng hết sang phải.

Tôi hy vọng tiếng vừa nghe thấy chứng tỏ ba Nữ thần Báo Thù vừa va mạnh vào cửa sổ.

Bác tài hét lên:

- Ấy chớ!

Đừng.

Trời ơi.

Chúng tôi giành nhau vô lăng.

Sườn xe va mạnh vào tường trong đường hầm, tia lửa bắn tung tóe cả dặm sau xe.

Xe lao nhanh khỏi đường hầm, trở lại màn mưa tầm tã.

Người và yêu quái bị quăng quật trong xe.

Xe hơi chạy dạt sang hai bên lề đường.

Không hiểu bằng cách nào, bác tài tìm được đường thoát cho xe.

Xe buýt lao vút trên xa lộ, vượt qua năm sáu ngã tư, cuối cùng lăn bánh trên đường đất vùng nông thôn New Jersey.

Không ai tin ngay cạnh New York có loại đường vừa bé vừa lổn nhổn như vậy.

Bên trái đường là rừng, bên phải là sông Hudson.

Lúc này, hình như bác tài đang mất tay lái khiến xe gần lao xuống sông.

Tôi có thêm sáng kiến mới: Kéo thắng dành riêng cho trường hợp khẩn cấp.

Xe buýt rít lên, xoay tròn giữa mặt đường nhựa ướt rượt và tông vào gốc cây.

Đèn cấp cứu chớp nháy liên tục.

Cửa xe bật mở.

Bác tài chạy khỏi xe đầu tiên, hành khách cũng chen lấn nhau ra cửa.

Tôi nép sau lưng ghế tài xế cho họ ra hết.

Ba Nữ thần Báo Thù hoàn hồn.

Họ quật roi về phía Annabeth lúc bạn tôi rút dao hét lên bằng tiếng Hy Lạp cổ, ra lệnh cho họ lùi lại.

Grover ném lon rỗng lia lịa.

Có lối ra trống trải cho tôi dư sức chạy thoát.

Nhưng tôi không bỏ bạn bè.

Tôi cởi mũ tàng hình:

- Này!

Ba Nữ thần Báo Thù quay lại, nhe nanh đe dọa.

Lúc này, chạy ra cửa xe là thượng sách.

Cô Dodds lom khom đi giữa lối đi, giống hệt lúc đến bên trao bài kiểm tra điểm F cho tôi.

Mỗi khi bà ta vụt roi, lửa lại phụt từ dải dây da có gai lởm chởm.

Hai người em xấu xí của bà ta nhảy cóc trên hai dãy ghế hai bên, bò về phía tôi như hai con thằn lằn khổng lồ gớm guốc.

Cô Dodds nói giọng lè nhè của người miền nam, vùng nào đó phía dưới bang Georgia:

- Perseus Jackson.

Ngươi đắc tội với các thần.

Ngươi phải chết.

- Trông bà ghê quá.

Sao, hồi này hết dạy toán rồi à?

Bà ta gầm lên.

Annabeth và Grover rón rén theo sau ba Nữ thần Báo Thù tìm lối ra.

Annabeth cầm dao đi trước nhưng tôi không để bạn ấy làm cái việc đáng lý tôi phải làm.

Tôi rút bút bi trong túi áo và mở nắp.

Thủy Triều vươn dài thành thanh kiếm hai lưỡi sáng loáng.

Bà yêu quái khựng lại.

Cô Dodds từng nếm trải mùi lợi hại của Thủy Triều nên không thích lần "tái ngộ" này.

Mụ rít lên:

- Nộp ngay ra đây.

Nếu không, ngươi sẽ bị hành hạ đến muôn đời.

Tôi khích bác:

- Ta không sợ đâu.

Annabeth thét:

- Percy, coi chừng!

Cô Dodds vung roi quấn quanh kiếm Thủy Triều, còn hai bà em hai bên cùng lúc nhào vào tôi.

Tay nóng rẫy như bị nhúng vào chì nấu lỏng nhưng tôi quyết không buông kiếm quý.

Tôi thúc chuôi kiếm sang trái khiến yêu quái ngã chổng kềnh trên ghế, sau đó chém sang phải.

Ngay khi kiếm chạm vào cổ, yêu quái nổ tung, biến thành bụi.

Annabeth vật ngửa cô Dodds còn Grover thừa cơ xông vào tước roi da.

Nó kêu oai oái:

- Ối!

Nóng...

Nóng quá.

Yêu quái bị tôi đánh bằng cán kiếm lại xông đến nhưng tôi đã vung kiếm chém xuống xẻ đôi người mụ.

Cô Dodds ráng vung khỏi vòng tay Annabeth siết từ phía sau.

Bà ta vừa đấm đá, vừa cào cấu và rít lên kinh khiếp.

Nhưng Annabeth không chịu buông tay, còn Grover dùng ngay roi trói chân bà ta.

Xong xuôi, cả hai xô bà ta ngã sõng soài giữa lối đi.

Bà ta cố gượng dậy nhưng lối đi hẹp không giang cánh được nên đành nằm vật xuống.

Bà ta rủa xả:

- Thần Dớt sẽ hủy diệt ngươi.

Hades sẽ bắt linh hồn ngươi cho xem.

Tôi hét lên bằng tiếng Latinh dù không biết mình học những từ ấy khi nào:

- Họ đừng hòng làm gì tôi.

Sấm vang rền làm rung chuyển xe buýt.

Tôi nổi da gà, tóc dựng ngược.

Annabeth gào to:

- Ra ngoài!

Mau!

Không cần nhắc, tôi cũng hết muốn ở trong này.

Ba chúng tôi vội nhao ra cửa và thấy hành khách, người thì sợ hãi đi tới đi lui, người thì cãi cọ với bác tài.

Có người bấn loạn chạy quanh, miệng gào lên:

- Thế này thì chết thôi, sống làm sao được.

Trước khi tôi kịp đậy nắp bút, một hành khách mặc áo sơ mi hoa sặc sỡ giơ máy chụp hình về phía tôi bắn lia lịa.

Grover nhắc:

- Hành lý!

Tụi mình quên trên...

ĐÙNG!

Xe buýt phát nổ, lửa phụt từ cửa sổ vỡ hết kính.

Hành khách chạy tứ tán tìm nơi ẩn nấp.

Sét đánh trúng nóc xe, nhưng tiếng rên căm tức từ trong xe phát ra cho thấy cô Dodds chưa chết.

Annabeth bảo:

- Chạy thôi.

Bà ta gọi cứu viện.

Mình đi ngay mới kịp.

Ba đứa lao thẳng vào rừng dưới trời mưa tầm tã.

Sau lưng xe buýt cháy rừng rực nhưng phía trước trời tối như bưng lấy mắt.

11.

Cửa Hàng Bán Tượng

Đôi khi, biết trên đỉnh Olympia có mười hai vị thần cũng tốt vì khi gặp chuyện xui xẻo, cứ việc đổ lỗi cho họ và sẽ thấy dễ chịu hơn nhiều.

Ví dụ, lúc bỏ xa chiếc xe buýt bị phù thủy tấn công và bị sét đánh bốc lửa dưới màn mưa dày đặc mịt mù, ai cũng bảo họ gặp vận rủi.

Tuy nhiên, nếu là con lai, ta biết chắc có thế lực siêu nhiên bám theo ta quậy phá.

Với suy nghĩ đó, Annabeth, Grover và tôi lủi thủi xuyên cánh rừng rậm thuộc miền duyên hải Jersey, bỏ lại sau lưng đô thị New York sáng đèn và nhịn thở để không phải ngửi mùi hôi thối bốc lên từ dòng Hudson ô nhiễm nặng.

Grover run bần bật, miệng rên be be.

Nỗi kinh hoàng làm đồng tử trong đôi mắt dê của nó co lại thành đường kẻ nhỏ:

- Ba Nữ thần Báo Thù.

Cả ba đến cùng lúc.

Chính tôi cũng hoảng sợ không kém, tai chưa hết lùng bùng do tiếng nổ xe buýt vừa rồi.

Nhưng Annabeth kéo tay chúng tôi, giục giã:

- Nhanh lên!

Càng đi xa càng tốt.

Tôi nhắc bạn:

- Có bao nhiêu tiền ta để cả trên xe.

Cả quần áo, thức ăn nữa.

Ta mất hết rồi.

- Thế sao?

Nếu cậu không nhào tới đánh nhau thì đâu đến nỗi...

- Thế muốn tớ làm gì đây?

Đứng nhìn chúng giết các cậu chắc?

- Percy, cậu không cần bảo vệ tớ.

Tớ có sao đâu.

Grover chen ngang:

- Nếu không có cậu, chắc chắn yêu tinh xắt mỏng tụi tớ làm bánh kẹp.

Dù thế, tụi tớ vẫn ổn.

Annabeth quát:

- Dê con, im đi!

Grover be lên tiếc rẻ:

- Vỏ lon nhôm...

Đầy túi lon rỗng giờ mất hết.

Ba đứa lội bì bõm trong bùn đặc quánh, xuyên qua rặng cây vặn vẹo bẩn nhơ nhớp có mùi chua như quần áo đẫm mồ hôi chờ giặt.

Mấy phút sau, Annabeth đi sát bên tôi, ngập ngừng:

- Này, tớ... cảm kích vụ cậu quay lại vì chúng tớ.

Cậu dũng cảm thật đấy.

- Chúng ta cùng hội cùng thuyền mà.

Annabeth đi thêm mấy bước trong im lặng:

- Có điều, nếu cậu thiệt mạng... không những mình cậu hẩm hiu mà nhiệm vụ cũng không hoàn thành.

Cậu nên nhớ rất có thể đây là cơ hội ra đời cuối cùng của tớ.

Cuối cùng, sấm cũng thôi ì ầm.

Ánh đèn thành phố lùi xa, mờ dần chỉ còn lại chúng tôi với đêm tối.

Nhìn Annabeth, tôi chỉ thấy mái tóc vàng óng.

Ngoài ra, không thấy gì khác.

- Từ hồi lên bảy đến giờ, cậu chưa rời Trại Con Lai ư?

- Chưa... trừ vài lần tham quan ngắn ngủi.

Cha tớ...

- À, giáo sư môn lịch sử.

- Phải.

Tớ không ở nhà với cha được.

Trại Con Lai mới là nhà tớ. – Annabeth nói nhanh như sợ ai cướp lời. – Trại cho học quanh năm suốt tháng.

Thế cũng vui, nói chung gì cũng thích.

Nhưng ngoài đời thực mới có quái vật.

Chỉ đến lúc ra đời, ta mới được thử sức.

Chỉ có lúc ấy, ta mới biết khả năng của mình đên đâu.

Nếu không biết Annabeth từ trước, tôi sẽ tưởng cô bé chỉ nói miệng, trong bụng cũng sợ chết đi được.

- Cậu múa dao điêu luyện ghê.

- Thật không?

- Tớ phục lăn mấy người dám cưỡi lên lưng Nữ thần Báo Thù.

Tôi đoán Annabeth mỉm cười trong bóng tối.

- Để tớ kể cho nghe... lúc trên xe buýt buồn cười lắm cơ...

Chẳng biết chuyện bạn ấy định kể buồn cười cỡ nào, nhưng Annabeth buộc phải im lặng vì có tiếng kêu 'tút tút' vang lên nghe như tiếng chim cú bị đánh đau.

Grover kêu lên:

- Các cậu ơi, bộ sáo của tớ còn dùng được.

Chỉ cần nhớ bài "Tìm đường đi", ta sẽ thoát khỏi khu rừng này.

Nó thổi vài nốt, nhưng giai điệu kỳ khôi lắm.

Đã không tìm được đường ra, tôi thình lình va đầu vào gốc cây, trán nổi cục u to tướng.

Vậy nên thêm một dòng vào danh sách những khả năng siêu nhiên tôi không hề có: tài nhìn xuyên qua bóng tối.

Sau bao lần ngã vùi ngã dập, tôi vừa chửi rủa vừa đi thêm khoảng hai cây số trong tâm trạng buồn khổ chán ngán trước khi thấy ánh đèn phía trước.

Đèn màu từ biển quảng cáo hẳn hoi.

Mùi thơm bay đến.

Đâu đó có đồ ăn chiên béo ngậy, thơm lừng.

Từ khi đến Trại Con Lai, tôi chưa được ăn mấy món bác sĩ khuyên không nên dùng.

Hai tuần ở đó, tôi sống lay lắt bằng nho, bánh mỳ, phô mai và thịt nướng khô xác vì mỡ béo đã bị các đầu bếp Nữ Thần Cây lọc hết.

Tôi đang thèm bánh hamburger phô mai nhiều thịt gấp đôi bánh thường.

Chúng tôi đi tiếp thì gặp con đường nhỏ hai làn xe trống trải chạy giữa rừng.

Bên kia đường có trạm xăng đóng cửa, biển quảng cáo cỡ lớn rách bươm quảng bá cho một bộ phim chiếu từ thập niên 90 của thế kỷ trước và một cửa hiệu còn sáng đèn.

Chính nó phát ra mùi thơm và ánh đèn màu mời gọi.

Đó không phải quán thức ăn nhanh như tôi hình dung.

Nó giống mấy cửa hàng ven đường chuyên bán tượng lạ mắt dùng bài trí trong vườn hay bãi cỏ trước nhà, chẳng hạn cây xén tỉa thành hình hồng hạc, tượng người da đỏ bằng gỗ, hay tượng gấu xám bằng xi măng v.v...

Nhà chính dài, thấp giống nhà kho nằm giữa vài sào đất bày tượng mẫu.

Tôi không đọc nổi chữ uốn bằng đèn neon trên biển hiệu.

Vì tôi bị bệnh khó đọc nên chữ thường đã làm tôi khốn đốn, huống hồ dòng chữ bằng đèn màu nhấp nháy này lại viết hoa rất cầu kỳ.

Với tôi, trông nó như sau: ATYU MES GDERAN GOMEN MEPROUM.

Tôi bối rối:

- Chữ quái gì kia?

Annabeth lắc đầu:

- Tớ không biết.

Thấy Annabeth cực kỳ chăm đọc sách, tôi quên bạn ấy cũng mắc chứng khó đọc với chữ thường.

Grover dịch:

- CÔ E.M CHUYÊN BÁN TƯỢNG TRANG TRÍ VƯỜN

Như minh chứng cho biển quảng cáo, cạnh cửa ra vào bày hai tượng chú lùn giữ cửa bằng xi măng.

Họ xấu xí, lùn tịt, râu xồm xoàm, vừa cười vừa vẫy tay như sắp chụp hình.

Bị mùi bánh hamburger dẫn dụ, tôi nhanh nhẩu sang đường.

Grover cảnh giác:

- Hượm đã...

Annabeth quan sát:

- Bên trong có đèn, chắc còn mở cửa.

Tôi thèm thuồng:

- Có đồ ăn.

Annabeth đồng tình:

- Ừ, ăn chút cho đỡ đói.

Grover cực lực phản đối:

- Hai cậu điên à?

Nhìn chỗ này xem, ớn chết đi được.

Chúng tôi bỏ ngoài tai.

Tượng xi măng chen chúc trên khoảnh sân phía trước: nào chim thú, nào trẻ con... thậm chí có cả tượng thần rừng thổi sáo.

Grover mới nhìn đã sởn da gà.

Nó kêu be be:

- Be... be... be...

Giống cậu Ferdinand nhà tớ quá!

Đến cửa nhà chính, chúng tôi dừng lại.

Grover van vỉ:

- Đừng vào!

Tớ ngửi thấy mùi yêu quái.

Annabeth gắt:

- Cậu nghẹt mũi từ lúc ngửi mùi Nữ thần Báo Thù rồi.

Tớ chỉ thấy mùi bánh thôi.

Thế cậu không đói à?

Grover khinh thị:

- Toàn mùi thịt.

Tớ ăn chay mà.

Tôi nhắc:

- Chay gì đâu.

Tớ toàn thấy cậu ăn phô mai enchiladas và lon rỗng.

- Không sát sinh là chay rồi.

Thôi nào các cậu, ta biến khỏi đây đi.

Mắt mấy bức tượng này... cứ nhìn tớ chằm chằm.

Rồi cánh cửa được mở ra.

Trước mặt chúng tôi là một phụ nữ cao ráo người Trung Đông.

Tôi đoán thế vì bà ta mặc váy đen dài từ đầu đến chân chỉ chừa hai bàn tay, tấm mạng lớn trùm kín cả đầu lẫn mặt.

Mắt bà lấp lánh sau làn vải mỏng.

Hai bàn tay da bánh mật của bà trông già nua nhưng được làm móng rất kỹ và sơn màu trang nhã.

Từ đó tôi đoán chắc bà là hoa khôi một thời.

Giọng nói bà chủ mang chút âm hưởng của người Trung Đông.

- Trời khuya thế này, sao các cháu còn tự ý ra ngoài?

Cha mẹ các cháu đâu?

Annabeth mở lời:

- À...

Cha mẹ chúng cháu...

Tôi đỡ lời:

- Chúng cháu mồ côi ạ.

Bà ta lấy làm ngạc nhiên lắm:

- Mồ côi ư?

Trời ơi, không thể nào!

- Tụi cháu tách ra khỏi đoàn.

Chúng cháu làm cho gánh xiếc mà.

Ông chú dặn nếu đi lạc, cứ đến cây xăng này, ông sẽ đợi.

Nhưng chắc ông ấy quên, hoặc dặn trạm xăng khác nhưng cháu hiều lầm.

Dù ông ấy có nói gì thì giờ chúng cháu bị lạc rồi.

Có phải mùi thức ăn không ạ?

- Ôi, cháu tôi!

Tội nghiệp quá, nhất định các cháu phải đi vào nhà ta nghỉ chân đã.

Cứ gọi ta là cô Em.

Giờ đi thẳng ra sau nhà nhé.

Phòng ăn ở đó đấy.

Chúng tôi cảm ơn rồi vào cửa.

Annabeth thì thào:

- Cậu làm cho gánh xiếc khi nào vậy?

- Thì cũng phải nghĩ ra thứ gì chứ.

- Đầu cậu nhồi tảo bẹ hay sao thế?

Trong nhà chất thêm nhiều tượng nữa.

Tượng người ở đây có nhiều tư thế và trang phục, còn nét mặc bộc lộ đủ loại cảm xúc.

Tượng chỉ hợp với vườn cực rộng vì chúng toàn to bằng người thật.

Nhưng đầu óc tôi chỉ chăm chăm nghĩ đến ăn.

Đúng là ngớ ngẩn mới vào nhà lạ chỉ vì đói, nhưng quả thực tính tôi hay nhanh nhẩu đoảng.

Với lại, mùi bánh nhà cô Em thơm quá thể.

Mùi ấy giống hơi thuốc mê ở phòng nha: nó khiến bệnh nhân quên hết sự đời.

Tôi mê mụ đến nỗi không nghe Grover rên rỉ, không để ý mắt tượng như dõi theo mình và không biết khách vừa vào, cô Em đã vội khóa chặt cửa.

Tôi chỉ rốt ráo tìm phòng ăn.

Đúng như chủ nhà giới thiệu, nó nằm sau nhà kho dài.

Ở đó có quầy thức ăn nhanh cùng lò nướng thịt, máy pha sô đa, dụng cụ nướng bánh quy xoắn và máy chế biến khoai tây chiên pho mát... nói chung đầy đủ như tiệm bán thức ăn nhanh bình thường.

Còn nữa, phía trước có kê vài bàn gấp bằng kim loại.

Chủ nhà mời mọc:

- Các cháu ngồi tự nhiên đi.

Tôi trầm trồ:

- Thích quá.

Grover ngại ngần:

- Nhưng... tụi cháu không có tiền.

Vừa định thúc khuỷu tay vào sườn, bắt nó im lặng, tôi đã nghe cô Em ngọt ngào:

- Không, các cháu đừng ngại.

Cô không lấy tiền.

Đây là trường hợp đặc biết, đúng không?

Cô mời.

Các cháu mồ côi mà ngoan ngoãn quá đi thôi.

Annabeth cảm động:

- Cháu cảm ơn cô ạ.

Cô Em bất ngờ đứng im phắc như thể bạn tôi vừa làm gì sai.

Nhưng ngay sau đó, bà ta cười xòa như không có chuyện gì xảy ra khiến tôi tưởng mình lầm.

- Annabeth ngoan lắm.

Mắt cháu tôi màu xám đẹp quá nhỉ?

Mãi sau này tôi mới tự hỏi sao bà ta biết tên Annabeth, vì từ lúc vào chúng tôi chưa tự giới thiệu lần nào.

Chủ nhà biến ra sau quầy nấu nướng.

Nháy mắt sau, bà ta bưng ra ba khay nhựa tú hụ bánh hamburger, sữa hương vani và ly đựng khoai tây chiên cỡ lớn nhất.

Tôi ngấu nghiến ăn bánh đến độ không kịp thở.

Annabeth mê mải uống sữa.

Grover tay bốc khoai tây chiên, mắt liếc tờ giấy nền lót khay như muốn ăn tươi nuốt sống nó.

Chỉ tội nét mặt cậu ấy sợ sệt thế nào.

Grover hỏi:

- Cái gì kêu xì xì vậy?

Tôi lắng nghe nhưng không thấy gì.

Annabeth lắc đầu.

Cô Em vội nói:

- Chắc tiếng mỡ sôi xèo xèo đấy mà.

Tai cháu thính quá.

- Cháu uống nhiều loại vitamin trợ giúp thính lực mà.

Chủ nhà khen:

- Chịu khó chưa?

Mới bé đã biết tự chăm sóc sức khỏe rồi.

Yên tâm đi cháu, không có gì đâu.

Cô Em không ăn cũng không bỏ khăn trùm đầu và mặt ngay cả khi nấu nướng.

Cô ngồi bên bàn, lồng các ngón tay vào nhau nhìn chúng tôi ăn.

Nhai nhồm nhoàm khi có người ngó mình lom lom thật ngại quá, nhất là khi chúng tôi không nhìn rõ mặt cô.

Tuy nhiên, ăn xong cái bánh to tướng, tôi thấy mãn nguyện, hơi buồn ngủ và nghĩ đến chuyện hỏi thăm chủ nhà vài câu cho phải phép.

Tôi tỏ vẻ quan tâm:

- Hình như cô bán... tượng thì phải?

- Phải, phải.

Tượng người, tượng thú vật... nói chung cô có đủ loại tượng trang trí vườn.

Tượng theo đơn đặt hàng cũng có.

Hồi này tượng bán chạy lắm.

- Dọc đường nhỏ này có nhiều hàng quán không ạ?

- Không nhiều lắm.

Từ hồi họ làm đường cao tốc ngoài kia... hầu như xe cộ không đi ngả này nữa.

Cô phải chiều khách lắm mới trụ lại được đấy.

Gáy tôi ngứa ngáy, hình như có người đang nhìn từ phía sau.

Ngoái đầu trông, tôi thấy tượng một bạn gái xách giỏ trứng Phục sinh.

Chi tiết của tượng hoàn hảo, không giống tượng trang trí vườn thông thường.

Nhưng nghệ nhân tạc khuôn mặt bị lỗi thì phải.

Trông bạn ấy như đang giật mình, hoặc kinh hoàng.

Cô Em buồn xo:

- Chắc cháu cũng thấy vài tác phẩm của cô không đẹp.

Khá nhiều tượng lỗi.

Hàng phế phẩm cô không bán.

Khuôn mặt là phần khó nhất cháu ạ.

- Tự tay cô tạc tượng ư?

- Ừ.

Ngày xưa cô có hai em gái giúp kinh doanh, nhưng họ vắng số nên cô đành sống cô quạnh.

Giờ cô chỉ biết lấy tượng làm vui.

Chính vì vậy cô làm tượng.

Có tượng như có bạn trong nhà.

Giọng nói nghe thế lương sầu thảm đến nỗi tôi thấy thương cô ta.

Tôi không hình dung nổi cảnh sống một mình giữa những bức tượng kỳ quái này.

Annabeth ngừng ăn, chăm chú hỏi:

- Cô có hai em gái?

- Chuyện khủng khiếp lắm, trẻ con không nên nghe.

Annabeth biết không, cách đây lâu lắm rồi, ngày cô còn trẻ, có người đàn bà xấu bụng ghen tức cô.

Cô có... người yêu, còn con mụ xấu bụng kia định chia duyên rẽ thúy.

Mụ bày ra vụ tai nạn khủng khiếp.

Hai em gái quyết ở bên cô lúc hoạn nạn nhưng cuối cùng họ phải chết.

Nói đúng hơn là biến mất.

Mình cô sống sót, nhưng phải trả giá quá đắt cho sự sống còn của mình.

Dù không hiểu cặn lẽ câu chuyện của chủ nhà, tôi vẫn thương bà ta.

Ăn uống no nê xong, mi mắt tôi nặng dần, đúng là "căng da bụng, chùng da mặt".

Tội nghiệp hai cô em.

Ai nỡ hại những người tốt như vậy chứ?

Annabeth giật tay gọi tôi tỉnh lại:

- Percy, chắc mình đi thôi.

Tớ e ông chủ gánh xiếc đang đợi.

Giọng bạn ấy căng thẳng.

Tôi không hiểu tại sao.

Grover nhai giấy lót khay ngon lành.

Không hiểu cô Em có thấy lạ không, chỉ biết cô im lặng coi như không biết.

Chủ nhà lại khen:

- Mắt xám đẹp mê hồn.

Lâu lắm rồi cô mới gặp người mắt xám đẹp giống cháu.

Bà ta vươn tay định vuốt má Annabeth nhưng bạn ấy đứng vụt dậy:

- Chúng mình không nên ở đây.

Grover nuốt chửng miếng giấy nến, đứng lên:

- Ông chủ đang đợi.

Đúng rồi.

Tôi không muốn đi.

Tôi no nê, dễ chịu.

Cô Em rất dịu dàng, tử tế.

Tôi muốn ở lại chơi thêm chút nữa.

Cô Em van nài:

- Đừng mà, các cháu.

Hiếm khi cô có khách trẻ con đến chơi nhà.

Trước khi đi, các cháu ngồi yên cho cô chụp tấm hình nhé?

Annabeth cảnh giác:

- Hình gì ạ?

- Chỉ một tấm thôi.

Ta dùng ảnh các cháu để nặn bộ tượng mới.

Tượng trẻ con bán đắt như tôm tươi.

Ai cũng thích con nít mà.

Annabeth thấy bất an:

- Chắc không được đâu ạ.

Percy, đi thôi...

Tôi khó chịu vì Annabeth giục hoài và không chiều lòng bà chủ tiệm vừa đãi chúng tôi một bữa không lấy tiền.

- Được cô ạ.

Annabeth này, chỉ đứng cho cô chụp hình, có hại gì đâu?

Bà chủ hùa theo:

- Bạn cháu nói phải.

Có hại gì đâu nào.

Tôi biết trong bụng Annabeth thầm phản đối, nhưng bạn ấy vẫn để cô Em dẫn cả ba ra sân bày tượng trước nhà.

Cô bảo chúng tôi ngồi xuống ghế đá cạnh tượng thần rừng bằng đá.

- Để cô sắp đặt vị trí sao cho đẹp.

Cháu gái đứng giữa đi, hai thanh niên đứng hai bên.

Tôi nhận xét:

- Trời tối thế sao chụp được ạ?

- Đủ sáng đấy chứ.

Cô vẫn nhìn rõ mặt các cháu đấy thôi.

Grover hỏi:

- Máy chụp hình đâu ạ?

Cô Em lùi lại, ngắm nghía:

- Khuôn mặt bao giờ cũng khó nhất.

Các cháu cười lên nhé!

Cười tươi nào.

Liếc bức tượng thần rừng bên cạnh, Grover lẩm bẩm:

- Giống cậu Ferdinand quá đi mất.

Cô Em nạt nộ:

- Grover, quay ra đây!

Cô vẫn chưa cầm máy chụp hình.

Annabeth thì thầm:

- Percy...

Linh tính bảo tôi nên nghe lời Annabeth.

Nhưng tôi còn mải gắng sức xua cảm giác buồn ngủ.

Mắt tôi díp lại vì ăn no và vì giọng nói êm dịu, du dương của chủ nhà.

Cô Em bảo:

- Xong ngay đây.

Bực mình mạng che mặt này ghê, làm ta nhìn không rõ...

Annabeth khăng khăng:

- Percy, không ổn rồi.

Cô Em sắp lật tấm mạng mỏng trùm kín cả đầu lẫn mặt:

- Không sao đâu cháu.

Tối nay rồng đến nhà tôm, thật tuyệt cú mèo.

Có gì đâu mà không ổn?

Grover thở hổn hển:

- Đúng là cậu Ferdinand rồi.

- Ngoảnh mặt đi, đừng nhìn bà ta!

Annabeth hét lên, đội ngay mũ lưỡi trai của đội bóng chày New York lên đầu.

Hai cánh tay tàng hình của bạn ấy cùng lúc xô tôi và Grover ngã nhào.

Tôi dán mặt xuống đất nhìn đôi chân đi xăng đan của cô Em.

Tai có tiếng Grover và Annabeth mỗi người bò sang một hướng, nhưng tôi quá mê mụ, đờ đẫn đến độ không thể nhúc nhích.

Có âm thanh xì xì, sột soạt lạ tai ngay phía trên chỗ tôi nằm.

Tôi lần lần nhìn lên hai bàn tay cô Em tự nhiên biến thành xương xẩu, sần sùi.

Móng tay thay bằng vuốt bằng đồng sắc nhọn tự lúc nào.

Ánh mắt tôi sắp tiến lên, cao hơn nữa thì Annabeth thét lên:

- Đừng!

Chớ có nhìn!

Tôi lại nghe tiếng sột soạt... tiếng của cả bầy rắn bé xíu ngay phái trên đầu tôi... nó phát ra từ chỗ đáng lẽ phải là đầu cô Em.

- Chạy đi!

Grover kêu lên.

Tôi nghe tiếng nó vừa chạy ngang bãi cỏ vừa niệm bùa chú: "Maia!"

để khởi động đôi giày.

Tôi bất động.

Nhìn trừng trừng bàn tay xương xẩu của cô Em, tôi cố thoát khỏi trạng thái thôi miên mà cô ta đã lôi tôi vào.

Mụ nói êm như ru:

- Phải hủy hoại khuôn mặt đẹp như tượng này thật uổng phí.

Hãy ở lại với ta, Percy.

Chỉ cần ngươi ngước nhìn lên là xong.

Tôi cưỡng lại ý muốn vâng lời.

Thay vì nhìn mụ, tôi dán mắt vào quả cầu pha lê, loại người ta hay bày trong vườn để bói cầu.

Bóng đen của "cô Em" hiện trên mặt thủy tinh màu cam.

Đầu mụ biến mất, mặt mờ đi thành hình cầu nhợt nhạt.

Tóc mụ là bùi nhùi rắn uốn éo, lắc lư.

Cô Em.

Có nghĩa là cô "M".

Sao tôi đần độn thế không biết.

Tôi thầm nhủ: "Nhớ lại đi.

Trong cổ tích, Medusa chết như thế nào?"

Dù đầu óc mê mụ, ký ức mách bảo tôi rằng: Trong cổ tích, Medusa bị Perseus tấn công lúc ngủ say.

Nhưng giờ mụ tỉnh như sáo.

Nếu muốn, mụ ta đủ sức dùng móng vuốt cào rách mặt tôi.

Giọng Medusa cất lên nghe không giống phù thủy.

Giọng mụ mời mọc tôi hãy ngẩng lên nhìn, hãy thương hại một bà già tội nghiệp:

- Percy ơi, tại ả Mắt Xám cả đấy.

Mẹ Annabeth, mụ Athena chết giẫm biến ta từ cô gái xinh đẹp thành thứ gớm guốc này.

Annabeth núp trong rừng tượng, nói với ra:

- Đừng nghe lời mụ.

Chạy đi, Percy!

Medusa gầm gừ:

- Câm miệng! – Giọng mụ lập tức mượt như nhung.

- Percy, ngươi cũng hiểu tại sao ta phải hủy hoại con nhóc ấy.

Nó là con kẻ thù của ta.

Ta sẽ nghiền nát tượng nó thành cát bụi.

Nhưng Percy yêu quý, riêng ngươi không tội tình gì phải làm thế.

Tôi thều thào, cố động đậy đôi chân:

- Đừng.

- Nói thực đi, ngươi có muốn giúp các thần không?

Ngươi có biết làm nhiệm vụ ngu xuẩn này, cái gì đang chờ ngươi phía trước không?

Có biết ngươi sẽ ra sao khi đến được địa ngục không?

Đừng làm con tốt đen trên bàn cờ của đỉnh Olympia, ngốc ạ.

Làm tượng sướng hơn nhiều.

Ít đau đớn hơn nhiều.

Thật đấy.

- Percy, tớ đây!

Tôi nghe tiếng vè vè quái đản trên đầu.

Hình như có con chim ruồi to đùng, nặng cả trăm ký sắp lao chúi xuống.

- Cúi xuống!

Tôi ngoái đầu nhìn.

Grover bay giữa trời đêm, cánh trắng mọc từ gót giày chấp chới.

Tay nó lăm lăm cành cây dài bằng gậy vụt bóng chày.

Mắt nhắm tịt, Grover hết nghiêng đầu sang trái lại sang phải như thể nó đoán đường bay chỉ bằng mũi và tai.

Nó lại hét inh ỏi:

- Cúi xuống!

Tớ sẽ hạ mụ ta!

Nghe vậy, tôi quyết định phải hành động ngay.

Tôi biết Grover lắm mà: Thể nào nó cũng vụt trượt Medusa và phang gậy trúng đầu tôi.

Hoảng hồn, tôi lăn người tránh.

RẮC!

Nếu không nghe Medusa gầm lên tức tối, tôi đã tưởng Grover đập trúng gốc cây.

Mụ gầm gừ:

- Đồ thần rừng hèn mọn, tao sẽ thêm mày vào bộ sưu tập của tao.

Grover hét lên đáp trả:

- Ta đánh mụ để trả thù cho cậu Ferndinand.

Tôi lồm cồm bò ra xa, nấp sau bức tượng.

Vừa lúc Grover xà xuống phang tiếp.

- Ái!

Medusa la lối, bộ tóc rắn xì xì, nhổ tứ tung.

Tiếng Annabeth vang lên ngay bên tôi:

- Percy!

Giật bắn mình, tôi nhảy dựng lên suýt đá đổ tượng thần lùn giữ của.

- Trời đất!

Đừng thế chứ.

Annabeth cởi mũ, hiện ra trước mặt tôi:

- Cậu phải chặt đứt đầu mụ.

- Cái gì?

Cậu điên à?

Ta đi ngay thôi.

- Medusa rất độc ác, tàn bạo.

Tớ muốn tự tay lấy mạng mụ... nhưng... – Cô bé nuốt khan như thể sắp thú nhận một chuyện khó khăn - ... nhưng vũ khí của cậu lợi hại hơn.

Với lại, nếu tớ đến gần sẽ bị mụ băm vằm vì thù mẹ tớ.

Cậu... dễ tiếp cận hơn.

Giờ là cơ hội của cậu đấy.

- Sao cơ?

Tớ không thể...

- Này, thế cậu muốn mụ biến người vô tội thành tượng ư?

Annabeth chỉ tượng đôi tình nhân đang ôm nhau, nạn nhân bị yêu quái biến thành đá.

Annabeth nói đúng.

Thậm chí nếu Medusa không chết hẳn, tôi vẫn có khả năng làm mụ dừng bàn tay tội ác ít lâu, cứu mạng vài người vô tội, bắt mụ rời xứ New Jersey, nơi người dân đã quá khổ vì tệ nạn.

Annabeth lấy quả cầu thủy tinh màu xanh lá cây bày trên bệ gần đó.

Cô bé nhìn kỹ trái cầu:

- Dùng vật che chắn bề mặt bóng là tốt nhất.

Tuy nhiên, mặt cong sẽ làm hình méo mó.

Độ chênh lệch sẽ không còn nếu có yếu tố...

- Này, cậu có biết nói tiếng người không thế?

Annabeth ném cho tôi trái cầu:

- Đừng đùa nữa.

Cứ nhìn bóng mụ hiện trên mặt thủy tinh.

Đừng bao giờ nhìn trực diện.

Grover hét toáng lúc bay lơ lửng trên đầu chúng tôi:

- Các cậu ơi!

Mụ ấy bị ngất.

Medusa gầm lên:

- Chúng mày chết chắc rồi!

Grover nói chữa:

- À, chưa ngất.

Nói xong, nó bay đi thực hiện thêm cú vụt nữa.

Annabeth giục:

- Cậu đi ngay đi.

Mũi Grover thính thật, nhưng thế nào cũng có lúc lao nhầm chỗ.

Tôi lấy bút mở nắp.

Lưỡi kiếm đồng dài ra trên tay tôi.

Tôi nhằm hướng có tiếng sột soạt và tiếng rắn nhổ phì phì trên đầu phù thủy Medusa lao tới.

Tôi căng mắt nhìn trái cầu thủy tinh vì bóng Medusa rất mờ, khó hơn nhìn thẳng mụ.

Kia rồi, tôi đã thấy hình phù thủy phản chiến trên mặt thủy tinh màu xanh lục.

Grover quay lại chiến đấu tiếp, nhưng lần này nó bay hơi thấp.

Thừa cơ, Medusa lôi đầu gập của Grover, khiến nó lao đảo.

Nó lộn nhào trên không, va chạm mạnh và ngã lăn vào vòng tay gấu bị hóa đá.

Đau quá, nó kêu la:

- Úi da!

Thấy Medusa định nhào tới chỗ nó, tôi kêu lên:

- Này!

Mụ quay lại nhìn thẳng vào tôi.

Tôi khó nhọc tiến đến, vì một tay xách thanh kiếm dài, tay kia cầm trái cầu dễ vỡ.

Nếu mụ tấn công, tôi không dễ gì chống đỡ.

Nhưng mụ phù thủy mặc tôi rút ngắn khoảng cách: hai mươi bước rồi mười bước.

Đến đây, tôi nhìn rõ mặt mụ in trên quả cầu xanh.

Nói đúng ra, mụ không xấu lắm.

Chỉ tại mặt cong của quả cầu làm mặt mụ dị dạng, xấu xí hơn.

Mụ ngọt ngào:

- Percy ơi, người tốt ai nỡ hại bà già.

Ta biết cháu tốt bụng, không bao giờ làm thế.

Tôi chần chừ, ngây thộn nhìn khuôn mặt quái di trên mặt thủy tinh.

Hai con mắt như có lửa rực cháy khiến hai tay tôi mềm nhũn.

Vẫn nằm trong tay tượng gấu, Grover rên rỉ:

- Percy, chớ nghe lời mụ.

Medusa đắc thắng:

- Quá muộn rồi.

Mụ giơ móng vuốt lao thẳng vào tôi.

Vung kiếm phạt ngang, tôi nghe tiếng XOẠT! rợn người, kèm theo âm thanh nghe như tiếng gió hút vào lòng hang đá sâu thẳm: tiếng thân xác yêu quái tan dần.

Trên mặt đất có cái gì đó lăn lông lốc chạm vào chân tôi.

Tôi phải gồng mình, gắng sức kiềm chế để không nhìn xuống.

Tôi đứng yên, mặc thứ chất lỏng ấm ộc ra vào vớ dưới chân, mặc mấy đầu rắn tí xíu rỉa dây giày.

Grover rùng mình:

- Ôi ghê quá!

Ớn không chịu được.

Mắt nó vẫn nhắm tịt nhưng tôi đoán nó nghe tiếng ồng ộc, xèo xèo.

Annabeth vừa ngửa cổ nhìn trời, vừa lần từng bước đến chỗ tôi.

Nó sờ soạng, nắm tấm màn che mặt của Medusa:

- Đứng yên.

Cực kỳ cẩn trọng, mắt vẫn không nhìn xuống, nó gói đầu yêu quái bằng miếng vải đen rồi nhặt lên.

Thứ chất nhờn xanh lè vẫn nhỏ giọt từ thủ cấp.

Bạn ấy hỏi tôi mà giọng run run:

- Cậu không sao chứ?

Tôi sắp nôn hết bánh hamburger đại tướng nằm trong bụng:

- Ừ.

Sao cái đầu... không "bốc hơi" như mụ?

- Giờ nó là chiến lợi phẩm cho ai chặt rời nó lìa khỏi xác.

Cũng giống sừng quỷ đầu bò thôi.

Nhưng chớ mở lớp vải bọc.

Nó vẫn làm người ta hóa đá được đấy.

Grover vừa rên rỉ, vừa leo xuống tượng gấu.

Trán nó sưng vều ra.

Cái mũ nhỏ màu xanh lá xộc xệnh trên đầu, phô ra một bên sừng bé tí.

Hai bàn chân giả tuột khỏi móng guốc.

Đôi giày thần bay lơ lửng trên đầu nó.

- Lần này cậu là người hùng.

Tớ phục cậu sát đất.

Grover cười bẽn lẽn:

- Trò này không vui lắm.

Lúc thẳng tay phang yêu quái thì thích.

Nhưng va vào tượng gấu thì... bầm dập lắm.

Grover với tay giật đôi giày bay xuống.

Tôi đậy nắp, cất kiếm đi.

Cả ba chúng tôi bước thấp bước cao quay vào nhà kho.

Tìm được mấy bịch nhựa, loại hay đựng thực phẩm, đã cũ tôi bọc kín đầu Medusa.

Quẳng bọc giấy xuống bàn lúc nãy cả ba còn ngồi mê mải ăn, chúng tôi kéo ghế ngồi, mệt đến độ nói không ra hơi.

Mãi sau tôi bảo:

- Thế ra tại thần Athena, bọn ta sém bị phù thủy này hại chết?

Annabeth khó chịu lườm tôi:

- Tai cha cậu thì có.

Cậu không nhớ à?

Medusa từng là tình nhân của thần biển Poseidon.

Họ hẹn hò nhau ở đền thờ mẹ tớ.

Chính vì thế, thần Athena mới biến mụ thành yêu quái.

Cả ba chị em, Medusa và hai mụ em định giúp chị thoát khỏi đền thờ, đều bị hóa thành nữ thần tóc rắn.

Đó là lý do Medusa muốn băm vằm tớ, nhưng giữ cậu làm tượng.

Mụ vẫn còn tơ tưởng đến cha cậu.

Có khi nhìn cậu, mụ càng nhớ thần biển hơn.

Tôi tức đỏ mặt:

- Cãi qua cãi lại hóa ra vì tớ nên ta gặp Medusa sao?

Annabeth ngồi thẳng dậy, giả giọng tôi:

- "Annabeth này, chỉ chụp hình thôi, có hại gì đâu."

- Thôi không nói nữa.

Tớ hết chịu nổi cậu rồi.

- Còn cậu thì hiền lắm đấy!

Quá quắt vừa thôi.

- Cậu...

Grover cắt ngang:

- Này, thần rừng không bao giờ bị nhức đầu.

Vậy mà nghe hai cậu cãi nhau, đầu tớ đang nhức như búa bổ đây.

Bây giờ nói xem: Các cậu định xử lý đầu yêu quái thế nào?

Tôi nhìn chiến lợi phẩm kinh khiếp trên bàn.

Một con rắn nhỏ chui qua lỗi thủng của vỏ bọc bò ngoe nguẩy.

Trên túi giấy có dòng chữ: "Chúng tôi đánh giá cao kết quả công việc của bà."

Máu trong huyết quản tôi sôi sục: không chỉ bực Athena, Annabeth mà còn giận tất cả các thần.

Vì họ, tôi phải thực hiện cuộc truy tìm này, xe bị nổ tung trên đường đi và vừa đến trại đã đánh nhau hai trận kinh hoàng.

Nếu ngày nào cũng thế này, chúng tôi chưa chắc toàn mạng đến được Los Angeles, huống hồ đến đó trước ngày Hạ chí.

Lúc nãy, Medusa nói gì với tôi nhỉ?

"Đừng làm con tốt đen trên bàn cờ của đỉnh Olympia, ngốc ạ.

Làm tượng sướng hơn nhiều."

Tôi đứng bật dậy:

- Tớ ra đây một lát?

Annabeth gọi với theo:

- Percy, cậu định...

Tôi lùng sục tìm phòng làm việc của Medusa.

Sổ sách kế toán của mụ cho thấy sáu lần chuyển hàng gần nhất đều xuống m phủ, trang trí cho vườn của Hades và Persephone.

Trong một hóa đơn vận chuyển có ghi địa chỉ thanh toán của địa ngục là DOA Recording Studios, West Hollywood, California.

Tôi gấp mẩu giấy cất vào túi áo.

Ở máy tính tiền có hai mươi đô la, vài đồng vàng drachma và mấy hóa đơn vận chuyển gửi cho Công Ty Chuyển Phát Nhanh Hermes, mỗi tờ kèm một túi da đựng tiền xu.

Tôi lục tung văn phòng, tìm chiếc hộp vừa ý.

Trở lại bàn ăn, tôi đóng hộp đầu Medusa, điền hóa đơn vận chuyển như sau:

Gửi các thần

Đỉnh Olympia

Tầng thứ 600, Tòa nhà Empire States, New York, NY

Cùng những lời chúc tốt đẹp nhất

PERCY JACKSON.

Grover nhắc:

- Họ sẽ cáu tiết và bảo cậu láo xược cho xem.

Tôi rót vài đồng drachma vào túi nhỏ.

Vừa thắt miệng túi, tôi nghe tiếng lạch xạch như máy tính tiền hoạt động.

Kiện hàng bay lên không và biến mất kèm theo tiếng 'BỤP'.

- Tớ cố tình khiến họ nghĩ thế mà.

Tôi nhìn Annabeth như muốn thách bạn ấy lên tiếng chỉ trích này nọ.

Nhưng Annabeth chỉ làm thinh.

Có lẽ bạn ấy ngán biệt tài chọc giận các thần của tôi.

Annabeth làu bàu:

- Đi thôi.

Ta cần lên kế hoạch khác..

12.

Lời Khuyên Của Chó Xù

Đêm ấy thật khốn khổ.

Chúng tôi ngủ trong rừng, cách đường chính chừng ba mươi mét, tại một bãi đất trống lầy lội.

Thoạt nhìn, ta biết ngay bọn trẻ quanh vùng hay đàn đúm ở đây: mặt đất đầy vỏ lon nước ngọt bẹp dúm và giấy gói đồ ăn nhanh.

Chúng tôi mang theo đồ ăn và mấy tấm mền lấy từ nhà "cô Em" nhưng không dám đốt lửa trại hong quần áo ướt.

Một ngày đối phó với cả Nữ thần Báo Thù và Medusa khiến chúng tôi mệt lử nên không muốn mời gọi thêm rắc rối.

Ba đứa dự định thay nhau ngủ.

Tôi tình nguyện thức ca đầu.

Vừa đặt mình xuống, Annabeth đã cuộn tròn trong chăn ngáy pho pho.

Grover đi giày có cánh bay lên chạc ba thấp nhất của cái cây gần đó, ngồi dựa lưng ngắm bầu trời đêm.

Tôi giục nó:

- Cứ yên tâm ngủ đi.

Có chuyện gì tớ sẽ gọi.

Nó gật đầu nhưng không nhắm mắt.

- Tôi buồn quá đi mất.

- Sao... hối hận vì đi chuyến này rồi ư?

Nó chỉ xuống vào đống rác ở dưới đất:

- Không phải.

Dưới kia kìa.

Cả trên trời nữa.

Đâu còn ngắm sao được nữa.

Cả bầu trời cũng bị ô nhiễm.

Thời này làm thần rừng khổ nhất.

- Ra thế.

Bạn tôi là người bảo vệ môi trường cơ đấy.

Nó lườm tôi:

- Trên đời chỉ mỗi con người không bảo vệ môi trường.

Chẳng mấy lúc giống loài nhà cậu làm thế giới chết ngạt...

Thôi, tớ chẳng buồn nói nữa đâu.

Nói phải nói quấy với loài người phỏng ích gì chứ.

Cứ đà này, tớ hết tìm nổi thần Pan.

- Pan là gì?

Có phải kem xịt bánh không?

Grover hét toáng lên:

- Pan cũng không biết à?

Là thần đồng quê đó.

Thế theo cậu, tớ cần giấy phép truy tìm làm gì?

Một cơn gió lạnh xào xạc thổi qua bãi trống, làm át mùi hôi thôi của rác rến và bùn lấy.

Gió mang theo hương dâu chín trộn lẫn hương hoa đồng nội và mùi nước mưa ngọt mát... những thứ trước đây từng có trong rừng.

Thốt nhiên, cảm giác tiếc nuối man mác dâng ngập lòng tôi, nhưng nếu có ai hỏi tôi tôi không biết trả lời sao.

- Kể tớ nghe vụ truy tìm đi.

Grover nhìn tôi cảnh giác như thể sợ tôi chế giễu:

- Hai ngàn năm trước, Thần Cả Chốn Hoang Sơ biến mất.

Một thủy thủ dong buồm ngoài khơi Ephesos nghe tiếng kêu bí ẩn từ bờ biển vọng tới: "Hãy loan tin thần Pan vĩ đại đã qua đời!"

Hung tin lan nhanh trong loài người và họ tin ngay.

Kể từ đó, họ tàn phá xứ sở của thần Pan.

Đối với thần rừng, thần Pan là vua, là chúa tể.

Thần bảo vệ chúng tớ và thế giới hoang dã còn sót lại trên trái đất.

Thế hệ nào cũng có thần rừng thề tìm cho được thần Pan, dù chết cũng cam lòng.

Họ tìm kiếm khắp nơi, lùng sục những miền hoang sơ, hy vọng tìm nơi thần ở ẩn và đánh thức thần từ giấc ngủ dài.

- Có phải cậu cũng muốn đi tìm?

- Suốt đời tớ chỉ ấp ủ giấc mơ ấy.

Trước đây, cha tớ cũng đi tìm.

Cậu Ferdinand noi gương cha... giờ thành bức tượng cậu thấy đằng kia...

- Tớ nhớ rồi.

Xin chia buồn với cậu.

Grover lắc đầu:

- Cậu Ferdinand biết trước việc mình làm rất mạo hiểm.

Cha tớ cũng thế.

Nhưng tớ sẽ thành công.

Tớ sẽ là thần rừng đầu tiên còn sống trở về.

- Gượm đã... cậu nói đầu tiên còn sống là sao?

Nó rút cây sáo sậy trong túi:

- Người đi tìm thần Pan chưa ai trở về.

Hễ đi là mất luôn.

Không ai còn nhìn thấy họ sống sót ở bất cứ đâu.

- Từ hai ngàn năm trước đên giờ ư?

- Ừ.

- Nói riêng về cha cậu, cậu không biết ông ấy gặp chuyện gì ư?

- Không.

Tôi kinh ngạc:

- Sao cậu vẫn muốn đi?

Chẳng lẽ cậu tin chắc sẽ tìm được thần Pan?

- Tớ bắt buộc phải tin.

Ai đi tìm thần cũng vậy.

Chỉ có cách đó thần rừng mới không tuyệt vọng khi hàng ngày chứng kiến con người hủy hoại trái đất này.

Tớ phải tin thần Pan còn thức tỉnh.

Tôi đăm đăm nhìn không trung phủ lớp sương màu da cam.

Không thể hiểu tại sao Grover lại theo đuổi giấc mơ khó thành hiện thực đến vậy.

Ngẫm lại mình, tôi có khác gì nó đâu.

Tôi hỏi:

- Ta vào cửa địa ngục bằng cách nào đây?

Tớ muốn hỏi khi đấu tranh với thần thánh, liệu ta có cơ hội thắng không?

Grover thú nhận:

- Tớ không biết.

Nhưng khi nãy ở nhà Medusa, lúc cậu đi tìm văn phòng của Medusa, Annabeth bảo...

- À phải, mình quên.

Annabeth nhìn xa trông rộng mà.

- Đừng khắt khe với bạn ấy quá.

Dù từ nhỏ đến lớn phải vật lộn với nghịch cảnh, nhưng Annabeth là người tốt.

Với lại bạn ấy tha thứ cho tớ chuyện...

Grover nghẹn lại:

- Sao cơ?

Annabeth tha thứ chuyện gì?

Grover thốt nhiên quá chăm chú đến cây sáo.

Tôi nhớ lại:

- Khoan nhé.

Cách đây năm năm, cậu nhận nhiệm vụ trông nom lần đầu.

Annabeth ở trại hè vừa đúng năm năm.

Bạn ấy không... tớ nhớ là nhiệm vụ lần đầu của cậu không thành...

Môi Grover run run.

Nếu tôi gặng hỏi, chắn chắn nó sẽ òa lên khóc:

- Tớ không nói chuyện ấy được đâu.

Quay lại vụ ở nhà Medusa khi nãy, Annabeth và tớ đều cho rằng vụ điều tra này rất lạ.

Nhất định có uẩn khúc gì đây.

- Còn gì lạ hơn việc tớ bị chụp mũ tội ăn cắp tia chớp trong khi thủ phạm là Hades.

- Tớ không nói chuyện đó.

Thực tế là ba Nữ thần Báo Thù... ba "Người Tử Tế" không thẳng tay với cậu.

Nhớ cô Doods hôm ở bảo tàng không?

Sao cô ta phải chờ đến lúc ấy mới giết cậu?

Lúc trên xe buýt cũng thế.

Ba người họ không hung hăng như mọi khi.

- Vậy thế nào mới gọi là "hung hăng"?

Tớ còn ớn đến tận xương tủy đây này.

Grover lắc đầu:

- Họ cứ gào mãi: "Thứ đó đâu?

Ở chỗ nào?

- Họ hỏi tớ mà.

- Có thể cậu đúng... nhưng Annabeth và tớ đều cho rằng họ không tìm cá nhân nào.

"Thứ đó đâu?" có nghĩa họ đòi một món đồ gì mà mình không biết.

- Vô lý.

- Ừ.

Nhưng nếu quả thực ta hiểu sai mục đích nhiệm vụ trong khi chỉ có chín ngày tìm tia chớp thì...

Nó nhìn tôi hy vọng có lời giải nhưng tôi mù tịt.

Tôi nhớ Medusa bảo: Tôi bị các thần lợi dụng.

Tôi đang dấn thân vào chốn kinh hoàng đến độ so với nó, bị hóa đá là hồng phúc.

Tôi thành thật:

- Tớ chưa nói hết với cậu.

Tia chớp ra sao, tớ cũng mặc.

Tớ xuống địa ngục cốt để cứu mẹ mà thôi.

Grover vi vu thổi sáo:

- Tớ biết chứ.

Nhưng cậu có chắc đó là lý do duy nhất.

- Dù gì cũng không phải giúp cha tớ.

Ông không đếm xỉa gì đến tớ.

Vậy việc gì tớ phải nghĩ đến cha.

Từ cành cây cao, Grover nhìn xuống tôi:

- Percy này, tớ không thông minh, sắc sảo bằng Annabeth, cũng không can đảm bằng cậu.

Nhưng về mặt nhận diện cảm xúc, tớ có biết đôi chút.

Cậu mừng vì cha mình còn sống.

Cậu sung sướng vì ông công khai nhận con.

Có phần nào cậu muốn làm ông tự hào vì mình.

Chính vì thế cậu gửi thủ cấp Medusa lên đỉnh Olympia.

Cậu muốn trình làng bằng chứng cho thấy con trai ông cũng giỏi như ai.

- Không có đâu.

Rõ là cảm xúc của thần rừng khác người phàm nên cậu đoán sai bét.

Ông ấy nghĩ gì tớ cũng mặc.

Grover gác chân lên:

- Thôi được rồi, Percy.

Sao cũng được mà.

- Với lại, tớ có nên công nên trạng gì đâu mà khoe.

Nhìn xem, mới đi khỏi New York ta đã kẹt ở đây.

Không một xu dính túi, không biết đến hướng tây bằng đường nào.

Grover đăm đăm nhìn trời đêm như thể suy nghĩ rất lung về vấn đề tôi vừa nêu:

- Thôi để tớ gác lượt đầu cho.

Cậu ngủ cho lại sức.

Tôi vừa định cãi, nó đã thổi sáo nhạc Mozart dìu dặt và ngọt ngào.

Tôi trở mình, mắt cay xè.

Mới nghe đoạn ngắn từ bản Concert số 12, tôi đã ngủ thiếp đi.

Tôi mơ thấy mình đứng trong hang tối, trước mặt là hố sâu thăm thẳm.

Những sinh vật nhỏ xíu màu xám bay thành bức màn dày kín quanh tôi.

Không hiểu sao tôi biết những mảng khói phát ra âm thanh rì rầm ấy là linh hồn của người chết.

Họ níu quần áo, cố lôi tôi lại nhưng tôi chỉ nóng lòng tiến lên sát mép vực sâu.

Tôi chóng mặt khi nhìn xuống dưới.

Miệng vực rông hoác, tối đen, rõ là không đáy.

Thế nhưng tôi cảm giác có con gì cố trèo lên miệng vực.

Nó to lớn và rất độc ác.

Một giọng nói vang lên từ bóng đêm sâu thẳm bên dưới.

- Anh hùng bé nhỏ, cậu quá yếu ớt, quá trẻ, nhưng có thể cậu sẽ làm được.

Giọng nói nghe xa xôi, lạnh lùng và chở nặng hận thù.

Tiếng nói ấy vây lấy tôi như bức tượng dày bằng chì, xám xịt và nặng trĩu.

- Thằng nhóc kia, bọn chúng làm ngươi mê mụ rồi.

Hãy bỏ chúng, theo ta.

Ta sẽ cho ngươi thứ ngươi muốn.

Một hình bóng mờ ảo bay lơ lửng giữa lòng vực trống trải: mẹ tôi đứng sững trong tư thế lúc bị biến thành cơn mưa vàng.

Mặt mẹ nhăn nhó vì đau như thể quỷ đầu bò vẫn còn siết cổ mẹ.

Mắt mẹ nhìn tôi như van lơn: "Chạy đi con!".

Tôi cố kêu nhưng không thành tiếng.

Tiếng cười lạnh lẽo từ dưới lòng vực.

Có một lực vô hình đẩy tôi lên trước.

Nếu tôi không bấu chặt chân xuống đất, nó đã lôi tôi xuống dưới.

Giọng nói càng thống thiết hơn:

- Đưa tia chớp cho ta.

Tấn công bọn thần bất trung bất nghĩa.

Linh hồn người chết vây quanh thì thào:

- Đừng!

Tỉnh lại đi!

Hình ảnh mẹ tôi mờ dần.

Quái vật dưới vực siết chặt lực vô hình quanh người tôi.

Đến lúc này tôi mới biết nó không định lôi tôi xuống.

Nó muốn tôi níu lấy tôi mà leo lên.

Nó lào khào:

- Tốt!

Tốt lắm!

Linh hồn khe khẽ giục:

- Dậy đi!

Thức tỉnh đi.

Có người lay tôi dậy.

Tôi choàng tỉnh.

Trời sáng bảnh mắt từ lúc nào.

Annabeth trêu chọc:

- Rồi, thây ma sống lại kìa.

Giấc mơ làm tôi run khắp người.

Tôi như thấy quái thú dưới vực còn siết chặt ngực mình:

- Tớ ngủ bao lâu rồi?

Annabeth ném sang bịch bánh khoai chiên giòn lấy từ nhà "cô Em" đêm qua:

- Lâu.

Tớ chuẩn bị xong bữa sáng rồi đây.

Còn Grover thăm thú xung quanh xong.

Nhìn này, cậu ấy tìm được bạn.

Mắt tôi cay xè, chưa tập trung được.

Grover ngồi xếp bằng trên tấm mền.

Có con gì lông xù nằm gọn trong lòng nó: Một con thú nhồi bông màu hồng kỳ dị bẩn lem nhem.

Không, không phải thú nhồi bông.

Nó là chó xù màu hồng.

Thấy tôi, nó cảnh giác sủa ăng ẳng.

Grover thản nhiên:

- Không, cậu ấy không thế.

Tôi chớp mắt lia lịa:

- Cậu... nói chuyện với chó à?

Chú khuyển gầm gừ.

Grover đe:

- Cậu nói nghe có vẻ coi thường.

Nói cho biết nhé: Chú cún này là tấm vé giúp chúng ta đi về hướng tây đấy.

Lịch sự với người ta một tí.

- Cậu biết nói tiếng thú à?

Grover giả điếc:

- Giới thiệu với Percy, đây là Gladiola.

Gladiola này, đây là Percy.

Tôi trợn mắt nhìn Annabeth, hy vọng bạn ấy quát Grover thôi đùa dai với tôi.

Nhưng Annabeth cực kỳ nghiêm túc.

Tôi nguây nguẩy:

- Ai lại chào chó!

Quên đi, tớ không chào.

Annabeth khăng khăng:

- Percy này.

Tớ vừa chào Glodiola xong.

Giờ đến lượt cậu.

Gladiola lại gầm gừ.

Tôi đành miễn cưỡng chào nó.

Grover kể nó gặp Glodiola trong rừng, bèn bắt chuyện làm quen.

Chú cún lông xù này chạy trốn gia đình chủ giàu có.

Họ treo giải thưởng hai trăm đô la cho ai bắt được nó.

Dù không muốn quay lại nhà đó, nhưng muốn giúp Grover, nó xin sẵn lòng.

Tôi hỏi:

- Sao Glodiola biết có giải thưởng?

- Thì đọc tờ rơi.

Có thế cũng hỏi.

- Ờ nhỉ!

Tớ ngốc thật.

Ra chó cũng biết đọc cơ đấy.

Annabeth ôn tồn trình bày kế hoạnh:

- Vậy ta sẽ trả Gladiola về nhà, lấy tiền mua vé đi Los Angeles.

Thế là xong.

Tôi nhớ giấc mơ hồi tối: Những linh hồn thì thầm, quái thú dưới vực, khuôn mặt mẹ đúng lúc bị biến thành cơn mưa vàng.

Có thể tất cả đều đang ở hướng Tây chờ tôi.

Tôi nói trước:

- Không đi xe buýt đâu đấy.

Annabeth đồng tình:

- Ừ, quên vụ xe buýt đi.

Bạn ấy chỉ tay xuống chân đồi, nơi có đường ray xe lửa chạy qua.

Đêm qua tôi không nhìn thấy trời tối.

- Ga xe lửa Amtrak cách đây một cây số.

Gladiola bảo trưa nay tàu đi hướng tây sẽ khởi hành.

13.

Tôi Lao Đầu Vào Chỗ Chết

Hai ngày liền, chúng tôi trên tàu Amtrack chạy thẳng về hướng tây, băng qua bao núi đồi, sông suối và những cánh đồng lúa mì gợn sóng màu hổ phách.

Dù không bị tấn công lần nào, tôi vẫn không thoải mái.

Tôi cảm giác cả ba chạy vòng quanh hộp đồ chơi.

Nhiều cặp mắt theo dõi chúng tôi từ bên trên và bên dưới, như thể có người đang chờ lúc thuận lợi là ra tay.

Tôi cố gắng ẩn mình, càng ít người thấy càng tốt vì ảnh tôi theo nhiều tờ báo đi khắp miền duyên hải phía đông.

Tờ Trenton Register News đăng tấm hình khách du lịch chụp tôi vừa chạy từ xe buýt Greyhound.

Tôi không tin ở mắt mình: bóng thanh kiếm Thủy triều mờ mờ, trông như tôi đang cầm gậy vụt bóng chày.

Ghi chú dưới bức hình có nội dung sau:

"Percy Jackson, mười hai tuổi, đang bị cảnh sát truy lùng nhằm làm rõ nguyên nhân mất tích của mẹ cậu bé[15] cách đây hai tuần, lộ diện khi chạy trốn khỏi xe buýt, nơi cậu bé bắt chuyện với mấy cụ già là hành khách trên xe.

Jackson vừa xuống, chiếc xe nổ tung trên đường lộ vắng vẻ miền New Jersey.

Dựa theo lời kể của nhiều nhân chứng, Jackson có hai kẻ tòng phạm luôn theo sát cậu bé.

Ông Gabe Ugliano, bố dượng cậu bé, treo giải thưởng bằng tiền mặt cho ai bắt được cậu bé."

Annabeth trấn an:

"Đừng lo.

Cảnh sát người phàm không bắt được chúng ta đâu."[16]

Nhưng nghe giọng nói, tôi biết chính Annabeth cũng không dám chắc.

Suốt ngày hôm đó, tôi như ngồi trên chảo lửa.

Nếu không đi tới đi lui hết chiều dài con tàu, tôi lại đứng nhìn cửa kính.

Một lần, tôi thấy cả gia đình nhân mã đeo cung tên săn bữa trưa đang phi nước kiệu qua đồng lúa mì.

Thấy tôi nhìn, cậu con trai trạc tuổi học trò lớp hai dính trên mình ngựa con giơ tay vẫy.

Tôi nhìn hành khách trong khoang nhưng hình như không ai thấy.

Người lớn đi tàu, thường vùi mặt vào tạp chí hoặc chăm chú ngó màn hình máy tính xách tay.

Lần khác, lúc sẩm tối, có con gì to lớn chạy xuyên cánh rừng ven đường.

Tôi tin chắc mình nhìn thấy sư tử, chỉ có điều ở Mỹ không có sư tử.

Hơn nữa con này cực kỳ to lớn.

Lông nó vàng óng trong ánh hoàng hôn.

Lát sau, nó chạy sâu vào rừng cây rậm rạp và biến mất.

Tiền thưởng tìm Gladiola trả cho bọn tôi[17] chỉ đủ mua vé đến Denver.

Không thể chơi sang mua vé nằm, bọn tôi đành gà gật trên khoang tàu ngồi.

Cổ và gáy tôi tê cứng.

Vì Annabeth ngồi ngay bên cạnh, nên tôi cố không nhểu dãi.

Grover vừa ngủ, vừa ngáy, vừa nói mơ khiến tôi thức suốt.

Có lần nó đạp mạnh khiến hai bàn chân giả rụng ra.

Tôi và Annabeth cuống cuồng hắn lại vì sợ lộ tẩy.

Annabeth xỏ giày vào chân Grover:

- Nói nghe xem, ai nhờ cậy giúp thế?

- Sao cậu hỏi vậy?

- Lúc cậu ngủ, cậu nói mơ :"Ta không giúp ngươi đâu."

Cậu mơ thấy ai thế?

Tôi không định kể nhưng đã hai lần tôi mơ thấy giọng nói của quỷ dưới vực.

Nhưng vì lo quá nên cuối cùng tôi tâm sự hết.

Annabeth im lặng rất lâu.

- Nghe ra thì không phải Hades.

Bao giờ ông ta cũng xuất hiện trên ngai vàng màu đen và không bao giờ cười thành tiếng.

- Vật ấy đem mẹ tớ ra trao đổi.

Không Hades thì ai vào đây?

- Theo tớ thì... có thể ông ta bảo: "Giúp ta rời Địa ngục", nếu ông ta muốn cư dân đỉnh Olympia tiêu diệt nhau.

Nhưng nếu đã có Tia Chớp trong tay, tại sao ông ta đòi cậu giao nó?

Tôi lắc đầu.

Giá tôi biết câu trả lời thì hay quá.

Tôi nhớ Grover từng bảo hình như ba Nữ Thần Báo Thù đang tìm kiếm thứ gì đó trên xe buýt.

Nó ở đâu?

Ở đâu?

Hình như cảm xúc của tôi ảnh hưởng đến Grover.

Nó khụt khịt, lẩm bẩm câu gì đó về rau cỏ rồi lật đầu sang bên kia ngủ tiếp.

Annabeth chỉnh mũ, che sừng cho Grover:

- Percy này, chớ đổi chắc với Hades.

Chắc cậu thừa biết ông ta xảo trá, nhẫn tâm và tham lam vô độ.

Lần này, dù ba "Người Tử Tê" ông ta cử lên trần gian không hung hăng, tớ cũng không mắc lừa...

- Nói thế có nghĩa trước đây cậu gặp họ rồi ư ?

Annabeth chạm tay vào vòng đeo cổ, chỉ năm viên sứ lưu niệm, viên màu trắng có vẽ hình cây thông.

- Cứ cho là tớ không ưa gì thần cai quản địa ngục.Cậu đừng như cá cắn câu, mắc mưu ông ta vì muốn cứu mẹ.

- Giả sử ở địa vị tớ và Hades lấy cha cậu làm mồi nhử, cậu sẽ làm gì?

- Dễ ợt.

Tớ mặc ông ấy cho quạ rỉa.

- Nói thật hay đùa đấy ?

Cặp mắt xám nhìn tôi không chớp.

Mặt lạnh lùng y như lúc ở trại hè Annabeth rút kiếm định chém con chó địa ngục.

- Cậu không biết chứ cha tớ ghét tớ từ lúc tớ mới lọt lòng mẹ.

Ông chưa hề muốn có con bao giờ.

Nghe tin có tớ, ông bảo thần Athena mang tớ lên đỉnh Olympia mà nuôi.

Ông ấy bận, không chăm sóc được.

Nghe vậy mẹ buồn lắm.

Mẹ bảo các anh hùng phải do cha hoặc mẹ người phàm nuôi dạy dưới trần.

- Nhưng... mẹ cậu không thể đến nhà bảo sanh, đúng không?

- Thần Gió Tây Zephyr mang nôi vàng trong đó có tớ thả trước cửa nhà cha.

Chắc chắn cha tớ phải biết đó là phép màu.

Cũng như người phàm chụp ảnh kỹ thuật số vậy.

Nhưng lúc nào ông cũng ca thán rằng tớ là mối phiền toái lớn nhất đời ông.

Tớ mới lên năm, ông đã cưới vợ khác, quên hẳn mẹ tớ.

Có vợ người phàm và hai đứa con hoàn toàn bình thường, ông ta cố giả vờ như không hề có tớ trên đời.

Tôi ngó mông lung ngoài cửa kính.

Ánh đèn vàng vọt của thị trấn đang say ngủ trôi dần qua.

Tôi muốn an ủi bạn, nhưng không biết ăn nói thế nào.

- Mẹ tớ lấy một gã vô cùng đê tiện.

Grover bảo mẹ bảo vệ tớ... bằng cách dùng khung cảnh gia đình phàm trần làm bình phong che chắn cho con.

Chắc cha cậu cũng theo cách ấy.

Annabeth mân mê vòng cổ không rời.

Cô bé nắm chặt nhẫn vàng đeo cùng năm hạt sứ, loại nhẫn sinh viên tốt nghiệp trường quân sự West Point hay đeo.

Tôi đoán chắc nhẫn của cha Annabeth.

Nếu giận cha, sao Annabeth còn đeo nó?

- Cha bỏ bê, còn dì ghẻ chê tớ quái đản.

Bà ly gián, không cho tớ chơi với em cùng cha khác mẹ.

Mỗi khi có tình huống nguy hiểm, chẳng hạn yêu quái tấn công, cả hai đều tức tối dồn mắt vào tớ như muốn nói: "Sao ngươi dám bắt người thân cùng chịu nguy hiểm?"

Sau này, tớ hiểu cha và mẹ kế không muốn chứa chấp đứa con bất bình thường.

Thế nên, tớ bỏ nhà đi luôn.

- Năm ấy cậu mấy tuổi?

- Bảy tuổi.

Cùng năm tớ đến Trại Con Lai.

- Nhưng... cậu không thể đi một mình đến trại hè được.

- Đúng vậy.

Chẳng ai làm thế một mình cả.

Vì luôn dõi theo con nên mẹ hướng dẫn tớ tìm người giúp.

Tớ bất ngờ quen hai người bạn sau này giúp tớ rất nhiều... nhưng mọi chuyện kết thúc quá chóng váng.

Tôi muốn hỏi sau đó xảy ra chuyện gì.

Nhưng hình như Annabeth đắm mình với chuỗi kỷ niệm buồn, quên hết xung quanh.

Tôi biết gặng hỏi chỉ làm bạn ấy buồn thêm.

Trong lúc tàu lao nhanh đến Ohio, tôi đành vừa chịu trận tiếng ngáy như kéo gỗ của Grover, vừa ngắm những cánh đồng trải dài tít tắp trong đêm khuya thanh vắng.

Đi tàu hết gần hai ngày, tức cuối ngày mười ba tháng Sáu, tám ngày trước Hạ chí, chúng tôi theo tàu đi qua dãy đồi rợp nắng vàng, qua cầu bắt ngang sông Mississippi, tiến vào địa phậm St.Louis.

Annabeth say mê ngắm Gateway Arch, cửa ô xây hình vòm ngay lối vào thành.

Tôi thấy nó giống quai túi giấy móc bên hông đô thị sầm uất.

Cô bạn trầm trồ:

- Tớ thích giống họ.

- Cái gì?

- Xây một cái giống thế.

Cậu thấy đền Parthenon chưa, Percy?

- Chỉ có trong ảnh thôi.

Annabeth nhìn xa xăm:

- Sẽ có ngày chính mắt tớ thấy công trình vĩ đại như thế.

Tớ sẽ xây dựng tượng đài lớn nhất lịch sử cho các thần.

Một kỳ quan sau hàng chục thế kỷ vẫn sừng sững giữa trời.

Tôi bật cười:

- Cậu á?

Định làm kiến trúc sư à?

Không hiểu sao tôi thấy tức cười.

Thật khó hình dung Annabeth ngồi yên cả ngày kẻ kẻ, vẽ vẽ.

Hai má bạn tôi đỏ như quả bồ quân.

- Ừ, kiến trúc sư thì sao nào?

Mẹ Annabeth kỳ vọng con mình kiến tạo, không đập phá như cái ông thần chuyên gây động đất kia.

Tôi im lặng nhìn con sông Mississippi chở nặng phù sa, cuồn cuộn nổi sóng.

Annabeth vội nói:

- Xin lỗi.

Tớ quá lời.

Tôi năn nỉ:

- Chúng ta hợp tác một chút có được không vậy?

Chẳng lẽ cha Poseidon và mẹ Athena chưa từng bắt tay làm chung dự án nào ư?

Annabeth phải bình tâm ngẫm nghĩ mới nhớ ra:

- Chắc có chứ... cỗ xe cho thần mặt trời chẳng hạn.

Sáng kiến của mẹ tớ, nhưng thần Poseidon biến sóng biển thành đàn bạch mã kéo xe.

Sau đó, họ cùng chung tay hoàn tất nó.

- Vậy nếu muốn, ta làm chung được mà.

Đoàn tàu lao nhanh đến trung tâm thành phố.

Annabeth ngắm mãi cho đến khi cửa ô mái vòm khuất sau tòa nhà khách sạn cao ngất.

Mãi sau, bạn ấy mới bảo:

- Ừ.

Tàu dừng trong nhà ga Amtrack tọa lạc giữa lòng thành phố.

Loa trên toa thông báo tàu nghỉ hai tiếng trước khi khởi hành đến Denver.

Grover vươn vai.

Chưa mở mắt, nó đã kêu:

- Ăn!

Annabeth giục :

- Dậy đi, dê con.

Ta đi ngắm cảnh thôi.

- Ngắm gì?

- Gateway Arch.

Chắc đây là cơ hội duy nhất leo lên mái cổng vòm của tớ.

Cậu có đi không thì nói?

Grover và tôi đưa mắt nhìn nhau.

Tôi định từ chối: "Không đi đâu", nhưng tốt hơn hết chớ nên để Annabeth đi đâu một mình.

Grover nhún vai:

- Miễn là quán ăn ở đó không có yêu quái.

Gateway Arch[18] cách nhà ga vài dãy nhà.

Giờ đã là cuối ngày.

Dòng người xếp hành lên đỉnh tham quan đã vãn.Chúng tôi băng qua viện bảo tàng dưới lòng đất, xem xe đẩy và thuyền mành của người da đỏ có từ đầu thế kỷ mười bảy.

Tuy không thú vị lắm nhưng nghe Annabeth nhiệt tình thuyết minh về tiến trình xây cổng vòm, được Grover liên tục giúi kẹo vào tay nên tôi cũng thấy hay hay.

Tuy nhiên, tôi luôn cảnh giác quan sát đoàn người xếp hàng xem có gì khác thường chăng.

Tôi ghé tai Grover hỏi nhỏ:

- Cậu ngửi thấy gì không?

Nó nhăn mặt bảo:

- Không khí dưới lòng đất luôn có mùi yêu quái.

Chắc không có gì đáng ngại đâu.

Nhưng tôi thấy bất an, bụng bảo dạ đáng lẽ cả ba không nên đến đây.

- Này, các cậu biết biểu tượng sức mạnh thần thánh là gì không?

Đang đọc về thiết bị xây dựng dùng xây cổng vòm, Annabeth ngẩng lên hỏi:

- Là gì?

- À, là Hades...

Grover đằng hắng:

- Ta đang ở giữa chốn đông người... cậu vừa nhắc đến ông bạn "dưới lầu" phải không?

- Ừ, tít tận dưới đó.

Có phải ông ta cũng có mũ giống mũ Annabeth?

Annabeth đáp:

- À, mũ sắt của thần bóng tối.

Phải, biểu tượng quyền uy đấy.

Hôm các thần họp cuối năm, tức ngày Đông chí, tớ thấy mũ đặt cạnh ghế của Hades.

- Ông ta cũng đến à?

Annabeth gật đầu:

- Ngày tối trời nhất trong năm, ngày duy nhất Hades lên đỉnh Olympia.

Nhưng theo tớ biết, mũ của Hades công năng kỳ diệu hơn mũ tàng hình này nhiều...

Grover công nhận:

- Nhờ nó, Hades tan vào bóng tối, đi xuyên tường.

Không ai chạm tới, nhìn hoặc nghe tiếng ông ta.

Đồng thời, Hades biết cách gây nên cơn hoảng loạn ghê gớm đến mức làm người ta phát điên hoặc đứng tim.

Thử nghĩ xem, sao có người cực kỳ duy lý vẫn sợ bóng tối?

- Nhưng... giả sử lúc này ông ta đội mũ tàng hình có mặt ngay đây, sao ta biết được?

Annabeth và Grover lo lắng nhìn nhau:

- Không ai biết cả.

- Chà, đa tạ.

Giờ tớ ăn không ngon ngủ không yên rồi đây.

Còn kẹo dẻo không?

Vừa thấy thang máy bé xíu chạy lên đỉnh mái vòm, tôi giật thót mình.

Linh tính mách bảo tôi sắp gay go to.

Tôi ghét không gian hẹp lắm.

Nếu bị ép vào đó, đầu óc tôi sẽ bấn loạn mất.

Chúng tôi bị nhồi vào thang máy có sẵn bà béo ục ịch dắt con chó dữ giống Chihuahua, đeo cổ gắn kim cương giả.

Tôi tưởng ở đây cấm chó nhưng khổ nỗi thấy nó, không nhân viên nào kêu ca một tiếng.

Chúng tôi bắt đầu đi lên.

Chưa bao giờ đi thang máy theo đường vòng cung thế này nên tôi hơi buồn nôn.

Bà béo hỏi trống không:

- Bố mẹ không đi cùng à?

Mắt bà ta tròn xoe, răng nhọn và đen như nghiện cà phê.

Bà này đội mũ vải jeans, mặc váy may cùng chất liệu chật cứng, ngấn thịt nổi từng cuộn khiến bà ta trông giống quả khinh khí cầu bọc vải.

Annabeth đáp:

- Họ ở dưới.

Sợ độ cao mà.

- Ôi,tội nghiệp chưa.

Chú khuyển Chihuahua gầm gừ.

Bà chủ nhắc:

- Thôi nào Sonny, ngoan nào.

Mắt chó tròn xoe như mắt chủ: vừa hằn học, vừa như nhìn thấu mọi vật.

Tôi hỏi:

- Tên nó là Sonny ư?

- Không.

Đáp xong, bà ta cười như thể tôi có nghĩa vụ hiểu cho tường tận.

Lên đỉnh mái vòm, gian nhà dành cho khách tham quan đứng ngắm cảnh gọi cho tôi hình ảnh trại giam bé xíu trải thảm đỏ.

Bên tường này là dãy cửa sổ tí tẹo nhìn xuống thành phố.

Cửa sổ tường bên kia nhìn xuống sông.

Tuy phong cảnh đẹp nhưng với tôi, thứ đáng ghét hơn không gian hẹp là một không gian đã hẹp còn lơ lửng giữa trời, cách mặt đất gần ba trăm thước.

Tôi chỉ muốn về ngay.

Kéo Annabeth và Grover ra cửa, đẩy hai đứa vào xe điện, tôi định chui vào cùng nhưng phát hiện trong xe có sẵn hai người khác.

Không còn chỗ cho tôi nữa rồi.

Bảo vệ nhắc:

- Cậu này đi xe sau.

Annabeth kêu lên:

- Vậy tụi tôi cũng ra.

Chúng tớ cùng đợi với cậu.

Biết làm thế phiền mọi người và tốn thời gian, tôi bảo:

- Không cần đâu.

Đợi tớ ở dưới được rồi.

Cả Grover và Annabeth đều lo lắng, nhưng họ đành buông tay để cánh cửa xe xập lại.

Xe điện mất hút dưới bờ dốc.

Giờ trên khu ngắm cảnh chỉ còn tôi, một cậu bé đi chung với bố mẹ, nhân viên an ninh và bà béo dắt chú khuyển Chihuahua.

Tôi ngượng ngập cười xã giao với bà béo.

Lúc bà ta cười đáp lễ, đầu lưỡi chẻ đôi lấp ló sau hai hàm răng.

Gượm đã.

Lưỡi bà ta chẻ đôi.

Trước khi tôi kịp kiểm tra lại xem mình có nhìn lầm chăng, con chó dữ đã nhảy xổ về phía tôi sủa ông ổng.

Bà béo vỗ về nó:

- Chưa đâu, cưng.

Giờ chưa phải lúc.

Người vô can còn đứng ở đây mà.

Cậu bé kêu lên:

- Chó!

Chó kìa.

Bố mẹ cậu bèn kéo con lùi lại.

Con Chihuahua nhe nanh dọa tôi, bọt mép trào ra, dính đầy đôi môi thâm xì.

Bà béo thở dài:

- Thôi được rồi, con trai.

Mày thích thì tao chiều.

Tôi lạnh cả người:

- Bà vừa gọi con Chihuahua này là con trai ư?

Bà ta sửa gáy:

- Chimera[19], không phải Chihuahua.

Dễ nhầm quá phải không?

Mụ ta xắn tay áo, để lộ cẳng tay đóng vảy xanh lè.

Lúc mụ cười, răng biến thành nanh hết.

Hai tròng mắt mụ chạy sang hai bên thái dương, giống mắt bò sát.

Con chó sủa to hơn.

Sau mỗi tiếng sủa, nó phình to ra.

Lúc đầu to bằng người, sau to bằng sư tử.

Tiếng sủa lớn như hổ rống.

Cậu bé hét lên.

Bố mẹ cậu lôi tuột con ra cửa, thẳng tới chỗ nhân viên an ninh đang đứng chết sững, kinh hoàng nhìn quái thú.

Con Chimera cao đến độ lưng nó chạm nóc nhà.

Quái thú đầu sư tử có bờm bết máu khô, mình và bốn chân móng guốc như dê, đuôi là con rắn độc ngoe nguẩy.

Con rắn to như con trăn dài ba thước vươn dài từ sau cặp mông lông lá.

Vòng cổ đính kim cương giả vẫn trên cổ nó, bảng tên ghi rõ: "CHIMERA, HUNG DỮ, KHẠC RA LỬA, RĂNG CÓ NỌC ĐỘC.

NẾU AI TÌM THẤY XIN GỌI ĐẾN TARTARUS, số nội bộ 954."

Tôi nhận ra tôi chưa mở nắp cây kiếm.

Hai bàn tay tê dại.

Chỉ cách bụng dính máu khô của Chimera mười bước chân, tôi biết nếu thấy động nó sẽ lao ngay đến.

Bà rắn cười phì phì như tiếng hổ mang bành.

- Percy Jackson, hẳn ngươi tự hào lắm.

Hiếm khi Dớt cho phép ta mang con trai ta đi tỉ thí với anh hùng.

Nhớ lấy.

Ta là phù thuỷ Echidna, mẹ của bầy quái thú.

Tôi trố mắt nhìn mụ,buột miệng:

- Tưởng Echidna là thú ăn kiến chứ?

Mụ rống lên, mặt tím bầm giận dữ:

- Hễ nghe nói vậy, ta bừng bừng lửa hận.

Ta ghét dân châu Úc, đem tên ta đặt cho loài cầm thú quái dị đó.

Ngươi dám xúc phạm ta, con trai ta sẽ xé xác ngươi.

Chimera xông tới, nhe hàm răng sư tử nhọn hoắt.

Tôi nhanh nhẹn nhảy sang bên tránh cú đớp khủng khiếp.

Cú nhảy đưa tôi đến cạnh gia đình cậu bé và nhân viên an ninh.

Bốn người họ đều kêu cứu inh ỏi, cố mở cửa lối thoát hiểm.

Tôi không thể khoanh tay nhìn họ bị hại.

Mở nắp bút, tôi chạy sang mé bên kia phòng, miệng hét tướng;

- Này, Chihuahua!

Quái thú Chimera quay ngoắt, nhanh hơn tôi tưởng.

Trước khi tôi kịp vung kiếm, nó há hoác miệng.

Sau hơi thở khét lẹt mùi thịt cháy như khói từ lò nướng thịt khổng lồ, một luồng lửa đỏ phụt thẳng vào tôi.

Tôi nằm bẹp xuống tránh.

Kế đến là khói mù mịt, thảm bốc cháy và hơi nóng thiêu rụi lông mày tôi.

Ngay chỗ tôi đứng khi nãy là lỗ hổng toang toác bên sườn cổng vòm.

Khói từ kim loại nóng chảy bốc quanh miệng hố.

Tôi nhủ thầm: "Chết thật.

Mình vừa góp tay phóng hỏa công trình tầm cỡ quốc gia."

Kiếm Thủy triều hiện nguyên hình trên tay tôi.

Chờ Chimera quay lại, tôi nhắm cổ nó đâm lên.

Thật là sai lầm chết người.

Lưỡi kiếm đâm trúng vòng cổ,toé lửa.

Con vật không hề hấn gì.

Tôi loạng choạng cố đứng vững.

Nhưng mải tránh miệng sư tử hung hăng, tôi mất cảnh giác với đuôi rắn.

Con rắn độc vút đến, cắn phập nanh vào bắp chân tôi.

Toàn thân tôi như có lửa thiêu.

Tôi cố đâm mũi kiếm vào miệng Chimera nhưng bị đuôi rắn quấn quanh cổ chân, lôi tôi ngã nhào.

Kiếm tuột khỏi tay văng đến lỗ thủng khi nãy và rơi xuống dòng Mississippi.

Cố đứng dậy được như tôi biết mình thua.

Tôi không có vũ khí trong lúc nọc rắn theo máu chạy lên tận ngực.

Tôi nhớ bác Chiron bảo kiếm luôn quay về với chủ nhưng túi tôi hiện giờ không có bút.

Có lẽ nó rơi quá xa.

Có lẽ nó chỉ trở về dưới dạng bút thường.

Tôi không biết về nó, chỉ biết tôi không còn sống đến lúc đoán ra.

Tôi lùi trở lại lỗ thủng.

Chimera gầm gừ tiến đến, miệng thở khói cuồn cuộn.

Phủ thủy rắn Echidna đắc thắng:

- Thời nay anh hùng sao bì được thời xưa, phải không con trai?

Quái thú tru lên.

Thấy tôi tơi tả, nó nóng lòng muốn kết liễu tôi cho xong.

Liếc nhìn nhân viên an ninh và gia đình cậu bé, tôi thấy cậu ta núp sau chân bố.

Tôi phải bảo vệ họ, chết bây giờ... không phải lúc!

Tôi cố nghĩ cách nhưng toàn thân nóng rực.

Đầu óc quay cuồng.

Tôi không có gươm.

Trước mặt tôi là quái thú khạc ra lửa và phù thuỷ mẹ nó.

Còn tôi đang run sợ.

Không còn chỗ để lùi thêm nữa, tôi đã tiến sát miệng hố.

Tít phía dưới kia là dòng sông lóng lánh ánh bạc.

Nếu tôi chết, mẹ con quái thú có bỏ đi không?

Chúng có tha những người vô tội kia không?

Echidna rít lên:

- Nếu đúng con thần Poseidon, ngươi đâu sợ nước.

Ta thách ngươi nhảy xuống sông đấy.

Nếu không chứng minh được nước không làm hại ngươi, ngươi chẳng là cái thá gì cả.

Nhảy xuống vớt gươm lên xem nào.

Thế mà cứ huênh hoang ta đây con dòng cháu giống.

Tôi nghĩ thầm: "Đúng rồi."

Tôi nhớ có sách dạy rằng nhảy từ trên cao, khoảng cách bằng toà nhà hai tầng xuống nước, giống như lao thẳng xuống nền nhựa đường.

Còn từ độ cao này, da thịt tôi sẽ nát nhừ.

Miệng con Chimera đỏ rực, chuẩn bị khạc lửa.

Mụ Echidna bảo tôi:

- Ngươi không có lòng tin.

Không tin tưởng các thần trên trời.

Ta không trách nhóc con hèn nhát.

Ngươi có sống cũng chẳng làm nên trò trống gì.

Thần thánh không giúp gì được ngươi.

Nọc độc sắp chạy vào tim rồi.

Mụ nói không sai.

Tôi sắp chết rồi, hơi thở yếu dần.

Không ai cứu nổi tôi, kể cả các thần trên đỉnh Olympia.

Tôi lùi tiếp và quan sát dòng sông bên dưới.

Tôi nhớ vầng hào quang ấm áp từ nụ cười của cha.

Chắc chắn ông đã nhìn mặt tôi.

Lúc tôi còn nằm nôi, cha đã ghé thăm tôi rồi.

Tôi nhớ cây đinh ba quay tròn trên đầu đêm hội cướp cờ, dấu hiện cho thấy thần Poseidon đã nhận con.

Nhưng dưới kia không phải biển, chỉ là sông Mississippi nằm giữa địa phận Hoa Kỳ.

Thần biển không có ở đó.

- Kẻ mất lòng tin như ngươi đáng chết.

Echidna lải nhải, Chimera khạc cột lửa thẳng tới mặt tôi.

Tôi cầu xin:

- Cha ơi, cứu con.

Tôi quay người lao xuống sông trong lúc quần áo bắt lửa và độc tố theo máu đi khắp cơ thể.

14.

Kẻ Bị Truy Nã

Tôi thích tự nhận rằng khi cắm đầu lao xuống, tôi ngộ ra chân lý cuộc đời, rằng cái chết không còn đáng sợ v.v..và v.v...

Bạn muốn biết sự thật?

Tôi kêu không thành tiếng:

-AAAAAAAGGGGGGGHHHHHHHH!!!

Tôi lao xuống mặt nước với vận tốc xe tải.

Gió thổi bạt hơi khiến tôi tưởng hai lá phổi đều nổ tung.

Trong mắt tôi, nhà cửa, đồi núi, tàu bè đều lộn phộc, xiên xéo.

TÙM!

Bọt nước trắng xóa.

Khi chúi xuống vùng nước tối, tôi tưởng đâu mình sắp lao đầu qua ba chục mét nước pha bùn và mãi mãi bị chôn vùi dưới đáy sông.

Nhưng lúc va chạm với mặt nước tôi không đau.

Giờ tốc độ chìm đang chậm lại, bọt nước luồn qua kẽ tay tôi nhồn nhột.

Tôi không gây tiếng động lúc chạm xuống đáy.

Một con cá da trơn nhầy nhụa to bằng bố dượng tôi ngoe ngoẩy bơi về phía ánh sáng mờ mờ.

Phù sa sông Mississippi trộn lẫn cả đống rác rến kinh tởm: nào chai bia rỗng, giày cũ và bịch ni lông.

Lúc ấy, tôi nhận ra vài điều.

Thứ nhất: Người tôi không dẹp lép như bánh xếp.

May mà trước khi nhảy, tôi chưa thành thịt nướng.

Nọc độc của Chimera không còn sục sôi trong mạch máu nữa.

Tôi còn sống, thế là tốt rồi.

Thứ hai: Tôi không ướt.

Tuy chân thấy mát lạnh, lửa cháy trên quần áo bị dập tắt nhưng lúc tôi sờ vạt áo, nó vẫn khô.

Trong số rác trôi lơ lửng, tôi lấy hộp quẹt ga và nhủ thầm: "Để xem nào."

Tôi bật lửa.

Tia lửa bắn ra.

Một ngọn lửa tí xíu xuất hiện ngay dưới lòng sông Mississippi.

Tôi quờ tay vơ mảnh giấy gói hamburger thấm đẫm nước trôi giữa dòng.

Lập tức giấy khô cong.

Khi dí nó vào lửa, giấy cháy dễ dàng.

Tôi vừa buông tay, lửa tắt lịm.

Mảnh giấy lại thành mẩu rác nhầy nhụa.

Quái đản thật.

Nhưng đến lúc đó, tôi để ý thấy điều gì lạ nhất.

Tôi vẫn thở.

Đang ở đáy sông, tôi vẫn thở bình thường như trên mặt đất.

Tôi đứng dậy thấy bùn ngập ngang đầu gối.

Đầu gối mềm nhũn, hai tay run rẩy.

Đáng lẽ giờ tôi chỉ là một thây ma.

Nhưng tôi vẫn sống như thể có... phép lạ.

Hình như tôi nghe tiếng phụ nữ.

Giọng người này hơi giống mẹ tôi.

- Percy, cậu nói gì vậy?

Sâu dưới nước, giọng tôi vang vang như trong phòng thu âm và ồm ồm như giọng người lớn:

- À... cảm ơn.

Con cảm ơn... cha.

Không lời đáp.

Xung quanh chỉ có rác nối nhau trôi theo dòng, một con cá da trơn to khổng tượng lướt qua và ánh nắng lúc hoàng hôn tít trên cao xuyên qua làn nước chở nặng phù sa biến tất cả thành màu kẹo bơ caremen.

Sao cha Poseidon cứu tôi?

Càng nghĩ sâu sa, tôi càng hổ thẹn.

Tất nhiên, từ nhỏ đến lớn tôi gặp may vài lần.

Nhưng đối mặt với Chimera... không thể có cơ hội sống.

Chắc giờ bốn người dân lành trên cổng vòm đã bị nướng thành than.

Không bảo vệ được họ, sao đáng mặt anh hùng chứ?

Nhục nhã quá.

Người như tôi chắc nên ở dưới này làm bạn với cá, gia nhập cư dân kiếp ăn ở tầng nước đáy.

Rạt, rạt!

Một chiếc xuồng máy đi qua phía trên đầu tôi, chân vịt khuấy nước phù sa đục ngầu.

Cách tôi chưa đầy hai mét là thanh Thuỷ triều, cán cắm sâu xuống bùn.

Tiếng phụ nữ êm ái lại cất lên:

- Percy, cầm kiếm đi.

Cha cậu đặt lòng tin vào cậu đấy.

Lần này, tôi biết rõ tiếng nói không vang trong đầu tôi.

Tôi không tự tưởng tượng ra nó.

Giọng nói âm vang khắp nơi, truyền vào nước như sóng siêu âm của cá heo.

- Ai vậy?

Đúng lúc ấy, qua ánh sáng mờ mờ, tôi thấy một người phụ nữ và trang phục mang màu của nước trông như bóng ma bập bềnh trôi qua phía trên thanh kiếm.

Tóc cô ấy bồng bềnh.

Nhìn kỹ tôi thấy mắt cô ấy có màu xanh lục, giống mắt tôi.

Tôi nghẹn ngào:

- Mẹ đấy ư?

- Tuy ta không phải mẹ cháu nhưng số phận mẹ cháu chưa tuyệt vọng như cháu nghĩ đâu.

Ta chỉ là sứ giả truyền tin mà thôi.

Hãy đến bãi biển Santa Monica.

- Sao cơ ạ?

- Cha cháu nhắn thế.

Trước khi xuống địa ngục, hãy tới bãi biển Santa Monica.

Hãy nhớ kỹ, Percy.

Ta không thể ở đây lâu.

Vì nước quá bẩn nên ta phải đi ngay.

Tôi tin chắc đó là mẹ tôi, hay ít nhất là cái bóng của bà.

- Nhưng... cô là ai...

Sao cô lại...

Dù muốn hỏi dồn nhưng lời lẽ tắc nghẹn trong cổ họng tôi.

Cô ấy với tay về phía tôi.

Lập tức làn nước lướt qua mặt tôi như cái vuốt má trìu mến.

- Hỡi cậu bé dũng cảm,giờ ta phải đi.

Cháu nhất định phải đến Santa Monica.

Còn nữa, quà tặng không đáng tin.

Giọng cô nhỏ dần:

- Quà nào ạ?

Khoan đã.....

Cô định nói thêm nhưng không thành tiếng.

Bóng cô tan vào nước.

Nếu đó là mẹ, tôi vừa mất bà lần nữa.

Tôi chỉ muốn trầm mình, bỏ xác dưới sông.

Nhưng khổ nỗi: tôi không có khả năng chết đuối!

Cô ấy bảo: "Cha cậu đặt lòng tin vào cậu đấy."

Cô còn khen tôi dũng cảm... trừ phi cô định dành câu ấy cho con cá đang bơi gần tôi.

Tôi lội đến bên nắm lấy cán kiếm.

Có thể Chimera và phù thuỷ rắn còn ở trên kia, chờ kết liễu đời tôi.

Chắc chắn giờ cảnh sát tràn ngập nơi đó.

Họ cố đoán xem ai làm thủng đỉnh mái vòm.Nếu thấy tôi, họ sẽ tạm giữ để thẩm vấn.

Tôi đậy nắp, cất bút bi vào túi áo.

Tôi thì thầm với dòng sông đen ngòm lần cuối:

- Cảm ơn cha.

Dứt lời, tôi đạp bùn ngoi lên mặt nước.

***

Tôi ngoi đầu khỏi mặt nước, ngay cạnh vỏ hộp bánh McDonald bập bềnh trôi gần bờ.

Cách đó một dãy nhà, tất cả xe cứu thương của thành phố St.Louis nhỏ bé tập trung quanh Gateway Arch.

Trực thăng cảnh sát đảo trên đầu.

Đám đông hiếu kỳ gợi tôi nhớ Quảng trướng Thời đại trước thời khắc đón chào năm mới.

Một cô bé gọi mẹ:

- Mẹ ơi!

Anh kia từ sông đi lên.

Người mẹ nghểnh cổ xem xe cứu thương, lơ đãng trả lời:

- Ừ, hay nhỉ.

- Nhưng quần áo anh ấy khô.

- Ừ ừ, mẹ biết rồi.

Có nữ phóng viên nói trước ống kính:

- Theo chúng tôi được biết, đây có lẽ không phải là một vụ khủng bố.

Tuy nhiên, các nhà chức trách mới trong giai đoạn đầu của cuộc điều tra.

Như quý vị thấy, tổn hại là rất nghiêm trọng.

Chúng tôi đang cố gắng tiếp cận nhóm người sống sót.

Họ chứng kiến tận mắt có người ngã từ đỉnh Gateway Arch.

Người sống sót!

Tôi nhẹ cả người.

Chắc nhân viên an ninh và gia đình cậu bé thoát nạn.

Hi vọng Annabeth và Grover không sao.

Tôi len đám đông để xem sau dãy cảnh sát xếp hàng có gì.

Một phóng viên khác tường thuật:

- ...

Một nam thiếu niên.

Kênh Năm được biết máy quay an ninh ghi được cảnh cậu bé phát điên ngay trên khu vực dành cho khách tham quan và gây ra vụ nổ lạ lùng.

Thật khó tin nhưng theo nguồn tin đáng tin cậy, sự thật đúng như thế.

Xin nhắc lại, không có con số thương vong...

Tôi lùi lại, đầu cúi gằm.

Tôi đi vòng quanh hành rào cảnh sát rất lâu.

Đâu đâu cũng thấy cảnh sát mặc thường phục và phóng viên.

Sắp tuyệt vọng vì không thấy Annabeth và Grover, tôi bỗng nghe giọng thân quen:

- Perrr-cy!

Tôi quay lưng lại và nghẹt thở trong vòng tay Grover:

- Tụi tớ tưởng cậu tìm đường khác để đến chỗ Hades rồi.

Đứng sau Grover, Annabeth làm mặt giận nhưng chắc chắn thấy tôi, bạn ấy cũng bớt lo.

- Vừa rời tụi này năm phút là có chuyện!

Có chuyện gì trên ấy thế?

- Đại khái là tớ ngã.

- Từ độ cao gần hai trăm mét ư?

Có ông cảnh sát đứng sau lưng:

- Tránh đường!

Đám đông rẽ ra.

Hai nhân viên y tế đẩy băng ca khẩn trương chạy ra.

Tôi nhận ra ngay mẹ cậu bé nọ.

Bà ta kể:

- Sau đó, một con chó khổng lồ, con Chihuahua rất to khạc ra lửa....

Nhân viên y tế bảo:

- Tôi nghe rồi.

Bà cứ bình tĩnh.

Chồng con bà bình yên vô sự rồi nhé.

Thuốc thần kinh bắt đầu có tác dụng đấy.

- Tôi không điên!

Cậu ra nhảy xuống hố và con quái thú biến mất.

- Bà ta nhìn thấy tôi.

-Kìa, người kia đúng là cậu ấy!

Tôi quay ngoắt đi, đoạn kéo hai bạn theo cùng.

Chúng tôi lẩn vào đám đông.

Annabeth hỏi dồn:

- Chuyện thế nào?

Có phải bà ta nhắc đến con Chihuahua trong thang máy không?

Tôi kể hết từ đầu chí cuối: nào con Chimera, nào phù thủy Echidna, nào màn trình diễn nhảy từ trên cao của tôi và thông điệp của người phụ nữ dưới đáy sông.

- Chà chà, ta sẽ đi Santa Monica!

Cha cậu gọi, cậu không thể né được đâu nhá!

Annabeth chưa kịp phản ứng thì đúng lúc chúng tôi đi ngang qua một phóng viên truyền hình trực tiếp.

Tôi chết sững khi nghe ông ta bảo:

- Percy Jackson.

Đúng vậy.

Kênh Mười Hai được biết nhận dạng thiếu niên gây ra vụ nổ vừa qua trùng khớp mô tả một người trẻ tuổi đang bị giới chức New Jersey truy nã sau vụ tai nạn xe buýt nghiêm trọng ở New Jersey cách đây ba ngày.

Người ta tin rằng cậu ta đi về miền Tây.

Xin giới thiệu với khán giả hiện ngồi trước màn hình tấm ảnh Percy Jackson.

Ba chúng tôi cúi lom khom vòng ra sau xe của đài truyền hình và chạy vào hẻm.

Grover bảo:

- Việc cần làm ngay.

Đi khỏi thành phố.

May thay, chúng tôi tới được ga Amtrak mà không bị phát hiện.

Cả ba lên tàu trước khi xe lửa chuyển bánh đi Denver.

Màn đêm buông xuống, bao phủ con tàu chạy về hướng miền Tây.

Chúng tôi bỏ lại phía sau rừng đèn xe cảnh sát sáng rực bầu trời.

15.

Thần Tốt Bụng Đãi Bánh

Chiều hôm sau, ngày mười bốn tháng Sáu, bảy ngày trước Hạ chí, tàu vào ga Denver.

Từ đêm qua, lúc tàu còn ở Kansas tới giờ, ba đứa chưa ăn.

Từ lúc rời Trại Con Lai tới giờ: chưa tắm.

Chắc chắn trông chúng tôi giống bụi đời.

Annabeth gợi ý :

- Tìm cách liên lạc với bác Chiron đi.

Tớ muốn báo vụ cậu nói chuyện với thần sông.

- Ta đâu dùng điện thoại được.

- Có ai bảo dùng điện thoại đâu.

Suốt nửa tiếng đồng hồ, ba đứa lang thang ở trung tâm thành phố dù tôi không biết Annabeth tìm gì.

Ở đây khô và nóng, còn St.Louis thì ẩm ướt.

Rặng Rocky vây quanh Denver, sừng sững như ngọn sóng thần sắp ập xuống thành phố.

Cuối cùng, chúng tôi tìm được trạm rửa xe tự động vắng khách.

Vừa vòng ra sau tránh xa đường lộ[20] , chúng tôi vừa quan sát xem có xe cảnh sát đi tuần không.

Nếu thấy ba thiếu niên tay không lảng vảng gần trạm rửa xe hơi, cảnh sát hạng bét cũng sẽ đoán chúng tôi có ý đồ bất lương.

Thấy Grover cầm vòi xịt, tôi hỏi:

- Chính xác thì chùng ta đang làm gì đây?

Nó làu bàu:

- Những bảy mươi lăm xu.

Tớ chỉ còn hai đồng hai mươi lăm xu.

Annabeth có không?

Annabeth đáp:

- Đừng nhìn tớ.

Nhà ăn đêm qua vét sạch túi tới rồi.

Tôi khoắng túi lấy hai mươi lăm xu, đồng tiền lẻ cuối cùng.

Như vậy trong túi tôi còn lại hai đô la và một đồng vàng drachma lấy ở chỗ Medusa.

- Tuyệt vời.

Theo cách này, tớ không phải bơm nước mỏi rã cả tay.

- Tớ không hiểu.

Nó bỏ xu vào máy, vặn núm "phun sương".

Tôi hỏi Annabeth:

- Grover đang làm gì vậy?

- Gửi thông điệp Iris.

Nữ thần cầu vong Iris sẽ mang thông điệp tới các thần.

Nếu biết nói khéo nhờ thần giúp và nếu thần không bận, nữ thần Iris sẽ giúp cả con lai.

- Gọi thần bằng vòi xịt nước ư?

Grover chỉ vòi lên trời.

Màn sương trắng dày đặc phụt ra:

- Trừ khi cậu biết cách tạo cầu vồng nhanh hơn.

Đúng như Grover nói, nắng xuyên qua sương nhanh chóng biến thành cầu vòng bảy sắc.

Annabeth chìa tay:

- Đưa tớ đồng drachma.

Tôi ngoan ngoãn nghe lời.

Bạn tôi giơ đồng tiền vàng cao quá đầu:

- Xin thần nhận chút lòng thành.

Cô bé tung đồng tiền vào cầu vồng.

Sau khi tan vào ánh sáng vàng, nó biến mất.

Annabeth kêu lên:

- Đồi Con Lai.

Chả thấy gì.

Giây lát sau, sau màn sương hiện lên ruộng dâu, eo biển Long Island phía xa như thể chúng tôi đang đứng trên thềm Nhà Lớn vậy.

Cạnh lan can quanh thềm, quay lưng lại phía tôi là một thanh niên tóc vàng mặc quần soóc và áo thun da cam.

Tay cầm kiếm đồng, anh ra chăm chú quan sát cánh đồng cỏ.

Tôi gọi:

- Luke!

Anh ngạc nhiên quay lại.

Luke chỉ cách tôi ba thước chân và màn sương mỏng.

Chỉ có điều tôi chỉ nhìn thấy phần cơ thể hiện trên cầu vồng.

Nụ cười tươi tắn hiện trên khuôn mặt sẹo:

- Percy!

Kia có phải là Annabeth không?

Ơn trời....các em không sao chứ?

Annabeth lắp bắp:

- À, ừm... không sao.

Cô bé vuốt vuốt vạt áo dính bẩn, hất lọn tóc xõa xuống trán :

- Em tưởng bác Chiron...

Nụ cười của Luke tắt ngấm :

- Bác ấy xuống dãy nhà có việc.

Mấy em dưới đó gặp chuyện.

Nhưng mà này, các em bình an không?

Grover vẫn khoẻ chứ?

Grover giơ vòi nước lên cao nghiêng người để Luke nhìn thấy:

- Em đây.

Ở trại xảy ra chuyện gì thế?

Đúng lúc ấy, một chiếc xe hơi Lincoln Continental tạt vào trạm.

Tiếng nhạc hip-hop mở hết cỡ phát ra từ đầu máy stereo.

Xe chạy vào ngăn bên cạnh, âm bass từ loa trầm rung chuyển mặt đường.

Luke hét lên:

- Bác Chiron thì phải... sao ồn thế?

Annabeth mừng vì có cớ tránh mặt:

- Để em lo.

Grover, đi thôi.

- Cái gì?

Nhưng....

- Đưa vòi cho Percy rồi ra đây.

Grover lẩm bẩm câu gì đó đại loại là con gái khó hiểu hơn cả gấu trúc Tasmanian.

Nó đưa vòi cho tôi và đi theo Annabeth.

Tôi chỉnh vòi nước sao cho vừa giữ được cầu vòng,vừa nhìn thấy Luke.

Luke hét to át tiếng nhạc:

- Bác Chiron vừa can một vụ đánh nhau.

Tình hình trại khá căng thẳng.

Tin mật Dớt và Poseidon bất hòa bị tiết lộ.

Ban quản lý trại chưa dám chắc ai loan tin gây hoang mang, nhưng anh đoán cũng tên cặn bã gọi chó địa ngục bữa trước.

Giờ anh em trong trại chia bè phái.

Hệt như cuộc chiến thành Troy xưa: các thần Aphrodite và Apollo ủng hộ Poseidon.

Athena ủng hộ thần Dớt.

Tôi rùng mình khi nghĩ đến khả năng nhà Clarisse ủng hộ cha tôi, dù chỉ là việc nhỏ.

Tiếng nhạc ở ngăn bên nhỏ hẳn.

Tôi nghe Annabeth và gã trai nào đó cãi nhau bằng ngôn ngữ lạ.

Chắc là tiếng Tây Ban Nha.

Luke hỏi:

- Tình hình em thế nào?

Bác Chiron nhớ em lắm đấy.

Tôi kể anh nghe gần như mọi chuyện, kể cả giấc mơ của tôi.

Gặp anh tôi mừng quá nói luyên thuyên, cảm giác như được về trại hè ít phút.

Không biết tôi thao thao bất tuyệt bao lâu nhưng mãi khi máy phun sương kêu "bíp bíp", tôi mới nhớ máy sẽ dừng trong hơn phút nữa.

Luke bảo:

- Giá anh được đi với chú nhỉ?

Ở đây, tụi anh không giúp gì được nhiều.

Nhưng nghe này, chắc chắn Hades lấy tia chớp.

Đông chí vừa rồi ông ta có lên đỉnh Olympia.

Anh giám sát một chuyến tham quan và tụi anh thấy ông ấy.

- Nhưng bác Chiron bảo các thần không có khả năng tự tay lấy dụng cụ có phép thần của nhau.

Luke bối rối ra mặt:

- Đúng, đúng.

Nhưng...

Hades có mũ sắt tàng hình.

Ai dám vào phòng đặt ngai vàng của Dớt lấy trộm tia chớp chứ?

Phải tàng hình mới vào được.

Cả hai im lặng.

Luke như sực nhớ nói chữa:

- Này, anh không ám chỉ Annabeth đâu nhé.

Anh quen cô bé lâu nên hiểu tính.

Annabeth không bao giờ...

Nói thực là anh coi Annabeth như em gái.

Tôi e Annabeth không thích thế.

Tiếng nhạc ở ngăn bên tắt hẳn.

Có tiếng đàn ông hoảng hốt la to, tiếng cửa đóng sập và chiếc Lincoln lủi ra khỏi trạm rửa xe.

- Chú thử ra xem chuyện gì.

À này, còn mang giày anh đưa chú không?

Nếu nó giúp được chú, anh cũng mừng.

Tôi thấy mình có tội khi phải nói dối:

- À...có.

Tiện lắm anh ạ.

Nước tắt ngấm.

Sương bắt đầu tan.

Luke nói vội, giọng anh nhỏ dần:

- Ở Denver nhớ cẩn thận đấy.

Nhắn Grover đừng lo, lần này sẽ suôn sẻ hơn lần trước.

Sẽ không ai bị biến thành cây thông đâu.

Chỉ cần nó...

Màn sương tan hết.

Hình ảnh Luke biến mất.

Chỉ mình tôi trơ trọi giữa ngăn rửa xe ướt át.

Annabeth và Grover về tới.

Họ cười nói hỉ hả.

Grover đi lộp cộp bằng móng guốc, tay cầm đôi giày mọc cánh.

Nó nhại:

- El Diablo !

El Diablo!

Annabeth này, lúc nãy cậu nói gì với họ thế?

- Lát nữa tớ nói cho nghe.

Thấy tôi, bạn ấy đứng sững.

Nụ cười tắt ngấm:

- Percy, cậu sao thế?

Anh Luke nói gì vậy?

Tôi nói dối mà trong lòng buồn và trống trải lạ thường:

- Chẳng có gì.Thôi mình đi tìm cái gì ăn trước đã.

***

Mấy phút sau, ba chúng tôi vào quán ăn có ánh đèn vàng vọt chọn một ngăn.

Quanh chúng tôi có mấy gia đình vừa ăn hamburger, uống sô-đa và tráng miệng với đồ ngọt.

Mãi lâu sau người phục vụ bàn mới đi tới.

Chị ấy nghi ngờ nhướn mày hỏi:

- Các em là....?

Tôi ấp úng:

- Chúng em...

định gọi món.

- Các em có đủ tiền không đã?

Môi Grover run run.

Tôi chỉ sợ nó kêu be be, hoặc tệ hơn...

ăn vải sơn lót nhà.

Còn Annabeth trông như sắp ngất xỉu vì đói.

Tôi cố nghĩ câu chuyện mủi lòng đem kể với chị phục vụ bàn.

Thình lình cả toàn nhà rung chuyển.

Tôi tưởng mình đói quá nên chóng mặt.

Bên ngoài, có chiếc mô tô to bằng voi con thắng gấp bên lề đường.

Quán ăn im phăng phắc.

Đèn pha xe đỏ rực.

Bình xăng xe sơn ngọn lửa cháy, hai bên đeo hai bao súng, nòng súng lấp ló miệng bao.

Yên xe bọc da, nhưng da này giống da người đem thuộc.

Người ngồi trên xe có thể khiến cả chục đô vật vừa chạy vừa gọi mẹ.

Ông ta mặc áo thun bó sát, quần jean đen, áo khoác da đen, cạnh đùi dắt con dao găm dài.

Sau cặp kính mát màu đỏ to tướng là khuôn mặt hung ác, dữ tợn nhất tôi từng thấy: đẹp trai nhưng quỷ quyệt.

Mái tóc đen vuốt sáp bóng mượt và hai má chằng chịt sẹo từ vô số lần đánh nhau.

Có điều lạ là tôi thấy ông ta trông quen quen.

Ông ta vừa bước vào, một cơn gió khô nóng xộc vào mọi ngõ ngách trong quán.

Thực khách như bị thôi miên đứng cả dậy.

Nhưng sau cái phẩy tay của ông ta, họ lại ngồi xuống.

Mọi người trong quán trò chuyện xôn xao.

Chị phục vụ bàn chớp mắt, như thể có người nhấn nút tua lại trong não chị:

- Các em có đủ tiền không đã?

Tay đua xe lên tiếng:

- Tôi đãi.

Ông ta vào ngăn chúng tôi.

Không gian quá hẹp so với thân hình kềnh càng của ông nên Annabeth phải ngồi nép bên cửa sổ.

Ông nhìn chị phục vụ ngạc nhiên nhìn mình:

- Cô vẫn còn ở đây sao?

Ông chỉ tay, chị ta cứng đờ như khúc gỗ rồi xoay lung, đi xuống bếp.

Ông ta quay sang tôi.

Dù không nhìn thấy mắt ông sau cặp kình màu đỏ, nhưng trong tôi sôi sục những cảm giác khó chịu.

Giận dữ, tức tối, cay đắng.

Tôi muốn đấm vào tường, muốn ra ngoài gây sự đánh nhau.

Gã này tưởng mình là ai chứ?

Ông ta cười nhếch mép:

- Ra đây là con lão già Tảo biển?

Đáng lẽ tôi phải ngạc nhiên hoặc sợ hãi.

Đằng này, cảm giác của tôi giống lúc đối mặt Gabe Cóc Chết.

Tôi chỉ muốn vặt đầu gã cho hả giận.

- Ông là cái thá gì chứ?

Annabeth lườm tôi:

- Percy, ăn nói cẩn thận.

Ông đây là...

Ông ta giơ tay can ngăn:

- Không sao đâu.

Ta thích người có cá tính.

Miễn là phải biết trên biết dưới.

Này em họ, biết ta là ai không?

Giờ tôi biết vì sao ông ta trông quen quen.

Gã có kiểu bĩu môi giống hệt mấy đứa ở nhà số Năm, Trại Con Lai.

- Ông là cha của Clarisse.

Thần chiến tranh Ares.

Thần Ares cười nham nhở, đoạn tháo kính mát.

Chỗ của cặp mắt chỉ toàn lửa.

Hai hốc mắt bốc cháy như có những vụ nổ hạt nhân bé xíu liên tiếp nối nhau.

- Thằng ranh, mày đoán đúng rồi đó.

Tao nghe nói mày bẻ giáo của Clarisse.

- Nó muốn thế mà.

- Chắc vậy.

Mày cũng được đấy.

Chuyện trẻ con đánh nhau, tao không dính vào.

Tao đến đây vì... vì nghe nói mày ghé Denver chơi.

Tao định gợi ý mày một chuyện.

Chị nhân viên quay lại, bưng theo ba khay đầy bánh hamburger phô mai, khoai tây chiên, hành tây, và sữa sô cô la.

Ares đưa chị mấy đồng vàng drachma.

Chị sợ hãi nhìn:

- Nhưng tiền này không...

Ares rút con dao to tướng tẩn mẩn cạo móng tay:

- Sao thế, cô em?

Hết hồn, chị cầm tiền vàng đi ra.

Tôi bảo:

- Ông không được đem dao dọa người.

Ares cười hô hố:

- Mày giỡn chắc?

Tao thích xứ này.

Kể từ thời Sparta, Mỹ là nơi tuyệt vời nhất.

Ranh con, mày cũng mang vũ khí đấy thôi.

Thế giới ngoài kia đầy hiểm hoạ.

Nói đến đây ta mới nhớ vụ gợi ý.

Mày phải giúp tao một việc.

- Tôi tài hèn sức mọn, sao giúp được thần thánh?

- Có chứ, giúp ta đỡ phí thời gian vì đôi ba thứ nhỏ nhặt.

Tao quên mất tấm khiên ở công viên nước bỏ hoang dưới trung tâm.

Chẳng là tao đang vui vẻ với... nhân tình thì bị phá ngang.

Ta bỏ lại khiên ở đó.

Giờ mày lấy nó về cho tao.

- Sao ông không tự đi mà lấy?

Lửa trong mắt ông ta bốc cao hơn:

- Cũng cùng lý do tao không biến mày thành chó rồi cán chết bằng chiếc Harley kia.

Bởi vì tao không thích.

Này Percy Jackson, thần thánh đang cho mày cơ hội khoe mẽ.

Hay mày biến thành thằng hèn rồi?

- Ông ra ghé sát lại.

- Hay mày chỉ hung hăng khi có dòng sông đỡ bên dưới, để cha mày còn ra tay cứu mày?

Tôi muốn đấm vào mặt gã nhưng không hiểu sao tôi biết gã chỉ chờ có thế.

Thần Ares rất biết chọc giận tôi.

Nếu tôi nổi khùng xông vào, gã sẽ đắc ý.

Tôi quyết không cho gã hả hê.

- Tụi tôi không quan tâm vì còn có việc phải làm.

Cặp mắt dữ dội của Ares bắt tôi nhìn những thứ tôi không muốn nhìn: nào máu chảy, khói lửa, xác người la liệt khắp chiến trường...

- Tao biết việc gì rồi.

Lúc mới mất bảo bối, Dớt cử toàn người giỏi nhất đi tìm: Apollo, Athena, Artemis và tao, tất nhiên.

Nếu tao không tìm ra món đồ lợi hại đó...

- Ares liếm môi như thể ông ta khao khát khi nghĩ tới tia chớp.

-Nếu tao không tìm được, mày đừng có mong.

Tuy nhiên, tao cho mày cớ để nghi ngờ đây.

Nói cho biết, chính tao rỉ tai Poseidon, khiến cha mày nghi ngờ lão Mồm Thối suốt ngày loanh quanh với xác chết.

- Ông vảo cha tôi rằng Hades lấy tia chớp ư?

- Còn ai vào đây nữa.

Chỉ thoáng nhìn tao biết ngay Hades ném đá giấu tay, khiến Dớt tuyên chiến với Poseidon.

Xét theo một khía cạnh nào đó, mày phải cảm ơn tao.

Nhờ tao, mày mới được giao việc này.

Tôi làu bàu:

- Cảm ơn.

- Này, tao hào phóng lắm.

Chạy giúp tao việc vặt kia, tao sẽ giúp lộ phí cho mày.

Tao sẽ dàn xếp, tìm xe cho chúng mày đi về miền Tây.

- Chúng tôi tự lo được.

- Phải, chúng mày giỏi.

Không tiền, không xe, không biết đối thủ của mình là ai mà đòi tự lo.

Thôi giúp tao đi, biết đâu tao sẽ có thông tin mày cần.

Về mẹ mày ấy.

- Mẹ tôi sao?

Gã cười nhăn nhở:

- Giờ chịu nghe rồi phải không?

Công viên nước cách Delancy chừng hai cây số về phía Tây.

Dễ tìm lắm.

Nhớ đến Đường Hầm Tình Yêu nhé.

Tôi hỏi kháy:

- Cái gì khiến ông bỏ cuộc vui giữa chừng.

Nó làm ông sợ mất mật phải không?

Thần Ares nhe nanh với tôi, nhưng tôi biết trò dọa nạt qua Clarisse rồi.

Toàn làm bộ làm tịch, như thể họ che giấu nỗi lo sợ nào đó.

- Nhãi con, may mà gặp tao đấy.

Vào tay thần khác thì đừng hòng.

Không ai khoan dung thói hỗn xược bằng tao đâu.

Xong việc nhớ quay lại đây gặp tao.

Đừng làm tao thất vọng, nghe chưa?

Sau đó, chắc tôi ngất hay bị thôi miên vì khi mở mắt, trong ngăn không còn ai ngoài ba chúng tôi.

Tôi tưởng cuộc nói chuyện vừa rồi chỉ có trong mơ nhưng nét mặt Annabeth và Grover cho thấy điều ngược lại.

Grover bảo:

- Không hay rồi Percy.

Thần Ares tìm cậu không phải điềm lành đâu.

Tôi ngó cửa sổ.

Chiếc xe biến mất.

Có thật thần Ares biết thông tin về mẹ hay chỉ đùa cợt trên sự đau khổ của tôi?

Giờ ông ta ra đi, cơn giận trong tôi tan biến.

Chắc chắn ông này thích làm cảm xúc con người ta rối như mớ bòng bong.

Biệt tài của thần Ares là thế: Làm cảm xúc đối phương rối rắm, quay cuồng khiến họ không còn suy nghĩ sáng suốt.

- Chắc chỉ là trò chơi khăm.

Kệ ông ta.

Mình đi thôi.

Annabeth cãi:

- Không được.

Tớ chẳng ưa gì thần Ares, nhưng ta không thể phớt lờ thần thánh trừ phi muốn rước đại họa vào thân.

Ông ta dư sức biến cậu thành loại gặm nhắm.

Tôi nhìn bánh hamberger trên bàn.

Thốt nhiên, nó không thơm ngậy như tôi tưởng:

- Sao ông ta cần chúng mình nhỉ?

- Chắc vì năng lực suy tưởng thôi.

Thần Ares có sức mạnh.

Nhưng chỉ có thế không hơn.

Đôi khi sức mạnh cũng phải cúi đầu trước sự thông thái.

- Nhưng công viên nước này...

điệu bộ ông ta có vẻ sợ sệt.

Cái gì khiến thần chiến tranh phải bỏ chạy như thế?

Annabeth và Grover hồi hộp nhìn nhau.

Annabeth bảo:

- E rằng ta phải tự tìm hiểu lấy.

***

Khi ba chúng tôi tìm thấy công viên nước, mặt trời đã xuống núi.

Nhìn biển báo, tôi đoán nơi này từng có tên WATERLAND, nhưng giờ vài chữ đã rách nát, chỉ còn lại chữ WAT R A D.

Cửa chính khóa, trên cùng chăng dây kẽm gai.

Bên trong, chỗ nào cũng thấy cầu trượt chưa bơm nước, ống trượt lớn nhỏ xoắn vặn nối với mấy bể bơi rỗng và khô.

Vé cũ và tờ rơi vương vãi khắp mặt đường nhựa.

Màn đêm dần buông khiến nơi này trông buồn thảm và rờn rợn.

Tôi nhìn mạng dây kẽm gai chằng chịt bên trên.

- Nghe nói Ares đưa bạn gái đến đây du hí.

Chắc cô ta cũng thuộc loại "thứ dữ".

Annabeth gắt:

- Percy, tỏ ra tôn trọng chút đi.

- Sao gắt tớ?

Tớ tưởng cậu cũng ghét Ares.

- Dù gì ông ta cũng là thần.

Với lại, tình nhân của ông ấy nóng tính lắm.

Grover đế thêm:

- Đố ai dám chê diện mạo của bà ta.

- Ai mà ghê thế?

Echidna chắc?

- Không, là Arphrodite, nữ thần tình yêu.

- Tớ tưởng bà ta lấy người khác rồi.

Nhớ rồi, Hephaestus.

- Cậu nói thế làm gì?

Thốt nhiên tôi muốn đổi đề tài:

- À, ta vào bằng cách nào đây?

- Maia!

Giày Grover mọc cánh.

Bay qua hàng rào, lộn một vòng trên không trung, Grover loạng choạng tiếp đất bên kia cánh cửa.

Nó thản nhiên phủi bụi quần như thể đã tính toán cú nhảy từ trước.

- Sao, mấy cậu có vào không đây?

Annabeth và tôi phải leo cổng theo cách bình thường.

Hai đứa thay phiên giữ dây kẽm gai cho nhau tiến từng bước.

Bóng tối dần thẫm lại, mênh mông hơn trong lúc chúng tôi tiến sâu vào công viên, xem xét các tụ điểm.

Ở đây có đảo "Coi Chừng Bị Cắn Chân", khu vui chơi "Khéo Đụng Đầu" và góc "Đồ Bơi Của Tôi Rơi Đâu Rồi?"

Không thấy yêu quái rình mò.

Xung quanh im lặng như tờ.

Chúng tôi đến quầy lưu niệm cửa mở toang.

Hàng hóa vẫn chất đầy trên kệ: quả cầu tuyết, bút chì, bưu thiếp và dãy móc treo....

Annabeth reo lên:

- Quần áo sạch.

Tôi nhắc:

- Phải.

Nhưng cậu không được...

- Thế ư?

Nhìn đây.

Ôm hết quần áo trên dãy móc dài, Annabeth biến mất trong phòng thay đồ.

Mấy phút sau, bạn ấy trở ra với quần soóc in hoa, áo thun đỏ in chữ Waterland và đôi giày thể thao mang tên khu vui chơi.

Annabeth đeo trên vai ba lô căng phồng in logo của công viên nước.

Rõ ràng bên trong còn rất nhiều quần áo khác.

Grover bảo tôi:

- Thoải mái đi.

Lát sau, cả ba đều ăn mặc như dụng cụ quảng cáo biết đi cho công viên bị xóa sổ từ lâu.

Chúng tôi tiếp tục tìm Đường Hầm Tình Yêu.

Tôi có cảm giác cả công viên đang nín thở.

Cố quên bóng tối ngày càng quánh lại, tôi gợi chuyện:

- Vậy...

Ares và Aphrodite có quan hệ với nhau?

Annabeth đáp:

- Nghe đồn thế.

Từ ba ngàn năm trước cơ.

- Thế còn chồng Aphrodite?

- Cậu biết rồi, thần Hephaestus là thợ rèn.

Mới lọt lòng chưa được bao lâu đã bị thần Dớt quẳng từ đỉnh Olympia xuống nên bị tật nguyền, què quặt.

Vậy không thể gọi là đẹp trai được.

Tuy ông ấy khéo tay nhưng Aphrodite không thích thú gì trí thông minh và tài năng hết.

- Bà ấy thích dân đua mô tô.

- Đại khái thế.

- Hephaestus biết chuyện không?

- Biết chứ.

Một lần ông dùng lưới vàng bắt cả hai, sau đó mời các thần tới chứng kiến nhằm bêu rếu cặp tình nhân.

Từ trước đến giờ, Hephaestus luôn nghĩ cách làm họ xấu hổ.

Thế nên muốn gặp nhau họ phải tìm nơi kín đáo, như...

Annabeth dừng phắt lại, nhìn thẳng phía trước.

- Như chỗ kia kìa.

Trước mặt chúng tôi là hồ cạn khô.

Chắc lúc trước là sân trượt băng rất đẹp.

Nó hình tròn, đường kính ít nhất năm chục mét.

Xung quanh sân trượt bài trí hơn chục tượng thần tình yêu Cupid có cánh bằng đồng giương sẵn cung tên.

Đối diện chỗ chúng tôi đứng là đường hầm hun hút, có lẽ là chỗ tháo nước khi hồ đầy.

Bảng phía trên đề: HÀNH TRÌNH LY KỲ CỦA TÌNH YÊU - đây KHÔNG phải Đường hầm Tình yêu của cha mẹ bạn.

Grover rón rén đến gần mép hồ:

- Nhìn kìa.

Dưới đáy hồ cạn khô có chiếc thuyền nhỏ sơn màu hồng và trắng.

Mui thuyền có dù che.

Khắp thuyền vẽ đầy trái tim xinh xinh.

Trên ghế trái có một vật tròn bằng đồng sáng mờ do phải chiếu ánh sáng lúc trời nhập nhoạng: khiên của thần Ares.

- Sao dễ thế?

Chỉ cần xuống lấy là xong.

Annabeth rà đầu ngón tay lên bệ tượng Cupid gần nhất.

- Ở đây có khắc chữ Hy Lạp: Êta.

Không hiểu....

Tôi hỏi:

- Grover này, cậu có ngửi thấy mùi yêu quái không?

Grover hít hà:

- Không.

- Lúc ở Gateway Arch, cậu cũng bảo không có yêu quái.

Lần này thì sao?

Grover tự ái:

- Tớ đã bảo đó là chó địa ngục mà.

Tôi lấy can đảm:

- Thôi, xin lỗi nhé.

Để tớ xuống.

- Tớ đi với cậu.

Nói thế nhưng Grover có vẻ không hào hứng lắm.

Tôi đoán Grover cố xí xoá

vụ bỏ tôi lại một mình trên Gateway Arch.

- Không, tớ muốn cậu tận dụng tối đa giày bay.

Tớ cần cậu hỗ trợ, nhất là lúc có sự cố.

Grover ưỡn ngực:

- Có tớ đây.

Nhưng sự cố nào chứ?

- Tớ không biết, chỉ linh tính thế thôi.

Annabeth đi với tớ...

- Cậu điên à?

Cô bạn nhìn tôi từ đầu đến chân như thể tôi vừa ở cung trăng rơi xuống.

Hai má Annabeth đỏ bừng.

Tôi quạu:

- Sao thế?

- Tớ đi với cậu vào Đường Hầm Tình Yêu ư?

Ngượng chết được.

Nhỡ ai nhìn thấy thì sao?

- Làm gì có ai?

Nói thế chứ tôi cũng ngượng chín mặt.

Sao con gái hay rắc rối thế nhỉ?

Tôi bảo Annabeth:

- Được rồi.

Tớ tự làm lấy.

Nhưng thấy tôi bước xuống hồ, bạn ấy cũng đi theo, miệng lẩm bẩm rằng con trai chỉ lắm chuyện lằng nhằng.

Chúng tôi đến bên thuyền.

Chiếc khiên dựng trên một ghế.

Bên kia có khăn quàng cổ bằng lụa.

Tôi tưởng tượng thần Ares và Aphrodite trong khung cảnh này: Hai vị thần gặp nhau trong công viên nước bỏ hoang.

Tại sao phải thế?

Vừa lúc đó tôi nhận thấy chi tiết mà lúc đứng phía trên tôi không thấy: quanh hồ gắn đầy gương.

Tất cả đều chiếu thẳng vào thuyền.

Dù nhìn đi đâu, tôi cũng soi gương được.

Ra vậy.

Trong lúc ân ái mặn nồng, Ares và Aphrodite vẫn ngắm người yêu qua gương.

Tôi cầm khăn quàng cổ lên xem.

Chất liệu vải mỏng, hồng nhạt thơm mùi hoa hồng hoặc cây nguyệt quế mọc trên núi.

Tôi mơ màng cười nụ, suýt áp khăn lên má.

Annabeth giật vội,nhét khăn vào túi:

- Chớ!

Đừng động vào bảo bối tình yêu chứ!

- Cái gì?

- Đồ óc tảo biển, lấy khiên rồi đi thôi.

Tay vừa chạm khiên, tôi biết ngay có sự chẳng lành.

Bàn tay tôi vừa xuyên qua một thứ nối khiên với bảng điều khiển của xuồng máy.

Tôi tưởng mạng nhện, nhưng khi giơ tay lên nhìn kỹ, hóa ra đó là dây kim loại rất mảnh, mắt thường gần như không nhìn thấy được.

Một đoạn dây bẫy.

Annabeth ngăn:

- Khoan đã.

- Không kịp rồi.

- Mạn xuồng có chữ Êta, giống như kia.

Ta mắc bẫy rồi.

Thình lình, bao âm thanh nhất loạt vang lên như thể có hàng ngàn bộ phận đồng thời khởi động.

Cả hồ nước biến thành cỗ máy khổng lồ.

Grover hét:

- Các cậu ơi, coi chừng!

Quanh thành hồ hình tròn, tượng Cupid giơ cung ngắm bán.

Tôi chưa kịp kêu Annabeth tìm chỗ nấp, họ đã nhả tên.

Nhưng họ không bắn chúng thôi mà bắn lẫn nhau: Tượng bên này bắn sang thành hồ đối diện.

Những sợi dây kim loại mảnh theo mũi tên găm sang bờ bên kia tạo thành hình hoa thị bằng vàng.

Sau đó, những sợi chỉ kim loại nhỏ xíu tự đan vào nhau dệt nên tấm lưới khổng lồ.

Tôi phát hoảng:

- Ta phải thoát ra.

Annabeth đáp:

- Không được.

Chộp lấy cái khiên, tôi và Annabeth bỏ chạy.

Nhưng chạy lên thành hồ dốc và trơn khó hơn đi xuống.

Grover giục:

- Nhanh lên!

Nó cố vạch lưới chừa lỗ hổng cho chúng tôi chui ra, nhưng những sợi chỉ vàng tự động quấn lấy bàn tay nó.

Đầu các Cupid mở ra.Máy ghi hình từ đó nhô lên.

Quanh hồ, đèn pha mọc lên làm chúng tôi lóa mắt.Tiếng loa oang oang:

- Truyền hình trực tiếp lên đỉnh Olympia sau một phút... năm mươi chín giây... năm mươi tám....

- Hephaestus!

Tớ ngố quá đi.

Êta là chữ H.

Thần làm bẫy này để bắt quả tang vợ và thần Ares.

Giờ máy quay sắp truyền hình trực tiếp tớ với cậu lên đỉnh Olympia.

Mình thành lũ hề mất rồi.

Chúng tôi sắp lên đến miệng hồ.

Bất ngờ, những tấm gương mở lên như cửa cống.

Hàng ngàn con gì bằng kim loại nhỏ xíu tràn vào.

Annabeth hét toáng lên.

Dòng chảy của những con vật ghê rợn tuồn vào mãi: mình bằng đồng, tám chân khẳng khiu và miệng nhỏ ngáp liên tục.

Chúng vây quanh Annabeth và tôi tạo nên âm thanh loảng xoảng.

Annabeth kêu la:

- Nhện!

A...a...a

Tôi chưa từng thấy Annabeth hoảng loạn như thế.

Cô bé kinh hoàng ngã ngửa, suýt bị lũ nhện rôbốt chôn vùi nếu tôi không nhanh tay kéo lên và lôi về phía thuyền.

Lũ nhện tràn ra từ quanh miệng hồ.

Hàng triệu con bò lổm ngổm tới giữa hồ, vây kín chúng tôi.

Tôi tìm cách trấn tĩnh bằng cách tự nhủ rẳng: Người ta không lập trình lũ nhện với mục đích giết người.

Chúng chỉ vây hãm, cắn đớp và biến chúng tôi thành lũ ngốc.

Một lần nữa, chúng tôi sa bẫy chuyên dành cho các thần.

Rủi thay, Annabeth và tôi không phải thần thánh.

Chúng tôi leo lên xuồng.

Tôi vung chân đuổi lũ nhện bắt đầu tràn vào lòng xuồng.

Tôi gào thét kêu Annabeth giúp đỡ nhưng bạn tôi quá hoảng loạn, ngoài gào thét ra không biết làm gì hơn.

Loa lại tiếp tục đếm ngược:

- Ba mươi, hai chín....

Lũ nhện nhả tơ kim loại, trói chặt chúng tôi.

Sợi tơ rất mảnh, lúc đầu giật dứt dễ dàng.

Nhưng sau quá nhiều dây bện lại, đồng thời lũ nhện vẫn tiếp tục tuôn đến.

Tôi đá một con bò lên chân Annabeth.

Nó quay lại cái một miếng giày thể thao mới tinh của tôi.

Đôi giày thần đưa Grover bay là là trên hồ.

Nó cố kéo cho lưới nới lỏng ra, nhưng không ăn thua.

Tôi tự nhủ: "Nghĩ cách đi chứ!"

Lối vào Đường Hầm Tình Yêu dưới tấm lưới.

Nó là lối thoát nếu không có hàng triệu con nhện máy cản đường.

Loa vẫn đếm:

- Mười lăm,mười bốn....

Tôi tự hỏi: "Nước.

Nước chảy vào đường hầm này đâu?"

Và rồi tôi đã thấy.

Mấy ống nước khổng lồ sau hàng gương.

Nhện tuôn ra từ đó.

Trên tấm lưới, cạnh một tượng thần Cupid là buồng nhỏ gắn cửa sổ kính.

Chắc chắn bảng điều khiển trong đó.

Tôi gọi lớn:

- Grover!

Vào buồng đi.

Tìm nút ON.

- Nhưng....

- Làm đi.

Hy vọng ấy thật ngông cuồng nhưng là cơ hội duy nhất.

Annabeth vẫn điên cuồng gào thét.Tôi phải tìm cách thoát cho cả hai.

Grover vào buồng điều khiển thử vài nút nhấn.

- Năm, bốn....

Grover ngẩng lên tuyệt vọng nhìn tôi, giơ cả hai tay.

Tôi biết nó đã thử mọi nút nhưng vô vọng.

Nhắm mắt, tôi mường tượng cảnh sóng nước, dòng chảy siết, sông Mississippi.

Cảm giác rất đỗi thân quen tràn về.

Tôi hình dung mình lôi cả đại dương đến với Denver.

- Hai, một, ZERO!

Nước xối ào ào từ miệng ống nước.

Dòng chảy ào ạt đổ vào bể nhanh chưa từng thấy, cuốn trôi lũ nhện như quét sạch bụi li ti.

Lôi Annabeth lên ghế bên cạnh, tôi vừa thắt dây an toàn cho bạn xong, sóng lớn đã xô mạnh xuồng, hất lũ nhện ra ngoài, làm chúng tôi ướt hết nhưng xuồng không lật.

Chiếc xuồng quay đầu, theo nước dâng lên xoay tròn giữa hồ nước xoáy.

Dưới nước nhung nhúc lũ nhện máy hỏng.

Nhiều con bị sóng đánh vào tường xi măng mạnh đến nỗi chúng vỡ tan tành.

Đèn pha tập trung vào hai đứa tôi.

Mấy máy ghi hình kêu xè xè, truyền hình trực tiếp lên đỉnh Olympia.

Nhưng đầu óc tôi dồn cả vào việc lái xuồng.

Tôi muốn nó trôi theo dòng và không va vào tường.

Chắc chắn do trí tưởng tượng quá phong phú nên tôi thấy xuồng làm theo ý tôi.

Ít nhất cả người lẫn xuồng không bị dập nát thành triệu mảnh.

Xuồng xoay vòng lần cuối, lực nước đủ cao đưa chúng tôi xuyên thủng mạng nhện kim loại.

Sau đó xuồng quay hướng về đường hầm, đưa chúng tôi lao vút vút vào bóng tối.

Annabeth và tôi hét thất thanh, ôm chặt nhau những lúc xuồng đến khúc cua gắt, góc hẹp và lao từ độ dốc bốn mươi lăm độ, băng qua hình vẽ Romeo và Juliet cùng đủ loại tranh ảnh tình tứ khác.

Ra khỏi đường hầm, gió đêm thổi bạt tóc chúng tôi.

Chiếc xuồng phóng thẳng đến lối ra.

Đúng ra, xuồng sẽ xuống đoạn dốc giữa hai Cánh Cửa Tình Yêu rồi dừng an toàn ở hồ nước cuối chặng gần lối ra.

Nhưng chúng tôi không gặp may.

Cánh Cổng Tình Yêu có khóa dây xích.

Trước đó có hai xuồng cũng bị chặn lại sau khi rời đường hầm.

Giờ chúng thành chướng ngại vật: một chiếc đầy nước, chiếc kia bể làm đôi.

Tôi thét bảo Annabeth:

- Tháo dây an toàn đi!

- Cậu điên à?

Tôi lồng khiên của thần Ares vào cánh tay:

- Cậu muốn chết tan xác không?

Ta sẽ nhảy khỏi xuồng.

Sáng kiến của tôi đơn giản mà ngông cuồng: Khi xuồng đụng vật cản, chúng tôi sẽ dùng nó làm lò xo nhảy qua cổng.

Tôi nghe nói nhiều người gặp tai nạn xe mà thoát chết nhờ cách đó.

Họ văng xa cách chỗ xảy ra tai nạn cả mười, mười lăm thước.

Nếu may mắn, chúng tôi sẽ ngã vào bể nước.

Hình như Annabeth hiểu ý tôi.

Khi xuồng đến gần cổng, cô bạn nắm chặt tay tôi.

Tôi dặn:

- Cứ làm theo tớ!

- Không!

Cậu trông tớ mà làm!

- Cái gì?

- Kiến thức vật lý đơn giản!

Theo đường đạn đạo thì...

- Rồi!

Theo cách của cậu đi.

Annabeth ngập ngừng, kềm chế rồi hét lên:

- Nhảy!

RẮC!

Annabeth tính đúng.

Nếu nhảy theo ý tôi, cả hai sẽ văng mạnh vào cánh cửa.

Annabeth tính lực tối đa cho cú nhảy của cả hai.

Rủi thay, lực hơi lớn hơn cần thiết một chút.

Xuồng chúng tôi đâm sầm vào đống xuồng vỡ.

Annabeth và tôi bay giữa trời: qua cánh cổng, qua hồ nước và lao xuống mặt đường nhựa.

Con gì túm sau áo tôi.

Annabeth la:

- Úi!

Grover!

Lơ lửng giữa trời, một tay nó nắm áo tôi, tay kia lôi cánh tay Annabeth cố không để chúng tôi ngã xuống đường nhưng lực quán tính của chúng tôi quá lớn.

Grover than:

- Hai người nặng quá.

Ta ngã mất.

Chúng tôi cùng lao xuống đất.

Grover cố hết sức làm giảm lực va chạm từ cú tiếp đất.

Ba đứa đâm thủng tấm bìa cứng tạo cảnh chụp hình.

Đầu Grover xuyên qua lỗ có cảnh trong phim Noo-Noo và Cá Voi Thân Thiện.

Annabeth và tôi nằm sóng soài dưới đất, bị đau nhưng còn sống.

Khiên của thần Ares vẫn dính cánh tay tôi.

Cách đó chừng ba mươi mét, tại hồ nước cạnh cổng vào, máy quay của thần Cupid vẫn hoạt động.

Tôi quay lại nhìn.

Sóng ở Đường Hầm Tình Yêu đã dịu lại.

Xuồng chúng tôi vỡ tan, bập bềnh gần cổng sắt.

Tôi hét lên:

- Chương trình đến đây kết thúc.

Cám ơn quý vị xem đài!

Chúc ngủ ngon!

Hơn chục tượng thần tình yêu Cupid về tư thế ban đầu.

Đèn tắt ngóm.

Công viên lại im ắng và tối tăm, ngoại trừ tiếng nước nhỏ giọt tong tong ở hồ gần lối ra.

Tôi bâng quơ tự hỏi truyền hình trên đỉnh Olympia có nghĩ quảng cáo hay chuẩn bị bình chọn cho show diễn vừa rồi.

Tôi ghét bị trêu chọc.

Tôi ghét bị lừa bịp.

Tôi có cả kho kinh nghiệm đối phó với những tay chuyên đi bắt nạt dám giở những trò đó với tôi.

Giơ cao tấm khiên trên cánh tay, tôi quay sang bảo bạn:

- Mình có chút chuyện cần nói với thần Ares.

16.

Đưa Ngựa Vằn Đến Vegas

Thần chiến tranh đợi chúng tôi ngoài bãi xe của tiệm ăn hôm trước.

- Chà chà, mấy đứa chưa chết à?

Tôi chỉ trích:

- Ông biết đó là bẫy mà còn bảo chúng tôi vào.

Thần Ares cười khoái trá:

- Chắc lão thợ rèn chưng hửng vì mất công giăng lưới bẫy hai nhóc tì ngu xuẩn.

Trên TV, hai đứa trông xinh ra phết.

Tôi giúi khiên vào người ông ta:

- Đồ đểu!

Annabeth và Grover sợ tái mặt.

Chộp ngay tấm khiên, thần Ares xoay nó trên không như miếng bột bánh pizza, biến nó thành áo chống đạn.

Ông ta khoác áo lên vai.

Thần Ares chỉ chiếc xe tải hạng nặng bên kia đường, đối diện quán ăn:

- Thấy xe kia không?

Mấy đứa sẽ lên xe đó.

Xe chạy thẳng đến Los Angeles, chỉ nghỉ một lần khi đến Vegas.

Tấm bảng sau xe có dòng chữ: TỔ CHỨC NHN ĐẠO QUỐC TẾ: PHƯƠNG TIỆN VẬN CHUYỂN CỦA SỞ THÚ NHẬN ĐẠO.

LƯU Ý: THÚ HOANG CÒN SỐNG.

Tôi bực mình:

- Ông giỡn đấy ư?

Thần Ares búng tay, then cửa sau xe rơi ra.

- Đi xe miễn phí nhé.

Nhãi con đừng ca cẩm nữa.

Cầm lấy, trả công cho vụ vừa rồi đây.

Ông ta lấy ba lô bằng vải nylon móc trên tay ga ném cho tôi.

Bên trong có mấy bộ quần áo sạch, 20 đô la tiền mặt, túi nhỏ đựng tiền drachma và bịch bánh ngọt Oreos.

Tôi cau có:

- Đây không thèm mấy thứ vớ vẩn...

Grover đỡ lời, đồng thời lừ mắt nhìn tôi đi kèm sắc mặt dữ tợn nhất có thể.

- Cảm ơn Ngài.

Cảm ơn lắm lắm.

Tôi nghiến răng trèo trẹo.

Hành động từ chối quà thần ban là sự xúc phạm ghê gớm nhưng tôi căm ghét mọi thứ Ares chạm tay vào.

Miễn cưỡng, tôi khoác ba lô lên vai.

Dù biết hễ nhìn thầm Ares rồi nổi cáu là vô lí, nhưng tôi vẫn ngứa ngáy chân tay, chỉ muốn thoi ông ta một quả vào giữa mặt cho bõ tức.

Ông ta nhắc tôi nhớ mọi kẻ từng bắt nạt tôi: Nancy Bobofit, Clarisse, Gabe Cóc Chết, các giáo viên hay mỉa mai và mọi tên đốn mạt ngày đi học dám bảo tôi ngu hoặc cười hô hố lúc tôi bị đuổi học.

Ngoái đầu nhìn, tôi thấy trong quán ăn chỉ còn vài thực khách.

Chị phục vụ hôm trước mang bánh cho chúng tôi giờ đứng sát cửa sổ lo lắng quan sát.

Hình như chị sợ thần Ares ra tay với ba đứa chúng tôi.

Chị rủ cả đầu bếp ra xem.

Chị vừa rỉ tai ông ta.

Đầu bếp gật đầu, lấy máy ảnh chụp cho chúng tôi một kiểu.

Tôi nghĩ thầm: "Chán thật, mai ba đứa lại lên báo"

Dòng tít tưởng tượng chạy trong đầu tôi: TỘI PHẠM 12 TUỔI ĐÁNH ĐẬP DÃ MAN TAY ĐUA MÔ TÔ KHÔNG PHÒNG VỆ.

Tôi cố giữ giọng bình tĩnh:

- Ông nợ tôi một chuyện.

Lúc trước ông có hứa cho biết tin về mẹ tôi.

Ông ta khởi động xe:

- Có chắc mày chịu nổi hung tin không?

Mẹ mày chưa chết.

Đất dưới chân tôi quay cuồng:

- Nghĩa là sao?

- Nghĩa là khi bà ấy sắp chết, có người đưa bà ấy thoát khỏi tay quỷ đầu bò.

Mẹ mày biến thành cơn mưa vàng, đúng chưa?

Vậy linh hồn có rời đi chỗ khác.

Chưa chết, chỉ bị bắt giữ thôi.

- Sao mẹ tôi bị bắt?

- Đúng là vắt mũi chưa sạch mà.

Phải học binh pháp chứ.

Đây là "chiêu" dùng con tin.

Bắt người này để khống chế người khác.

- Đừng hòng ai khống chế được tôi.

Ông ta cười khả ố:

- Ghê quá nhỉ?

Thôi, ta còn gặp nhau nhiều.

Tôi nắm chặt hai tay:

- Còn ông chớ tự mãn.

Mới thấy tượng Cupid mặc bỉm nghịch cung tên đã quay đầu bỏ chạy.

Vậy mà cũng tự xưng là thần chiến tranh.

Lửa bốc cháy sau cặp kính mát.

Gió nóng thổi bạt hơi tôi, như thể tôi đang đứng từ xa quan sát vụ thử tên lửa hạt nhân:

- Percy Jackson, tao chưa xong chuyện với mày đâu.

Khi nào đánh nhau nhớ cẩn thận đấy.

Ông ta rồ máy, chiếc Harley gầm gào vọt xuống cuối đường.

Annabeth nhận xét:

- Thế là không ngoan đâu.

- Mặc kệ.

- Chẳng ai muốn gây thù chuốc oán với thần thánh, với thần Ares thì càng không.

Grover chêm vào:

- Các cậu ơi, dù không thích ngắt lời, nhưng tớ phải...

Nó chỉ quán ăn.

Tại quầy thanh toán, hai thực khách cuối cùng đang trả tiền, hai ông mặc áo liền quần có logo trắng giống như logo trên xe tải Tổ chức nhân đạo quốc tế.

- Nếu muốn nhờ xe trên sở thú, ta phải nhanh chân lên mới kịp.

Dù không thích, nhưng tôi biết ba đứa tôi không còn cách nào khác.

Với lại, vãn cảnh Vender thế là đủ lắm rồi.

Chúng tôi chạy sang đường, trèo lên cửa sau của xe và đóng chặt cửa.

Mùi thối làm tôi bật ngửa: xe này có mùi của ổ mèo con lớn nhất thế giới.

Trong xe tối mù.

Tôi mở nắp bút, dùng ánh sáng từ kiếm Thủy triều quan sát khung cảnh não nề.

Ba chuồng sắt bẩn thỉu xếp thành dãy nhốt ba con thú hoang trông sầu thảm chưa từng thấy: một ngựa vằn, một sư tử đực lông trắng và một con thuộc loài linh dương trông rất lạ.

Chuồng sư tử có bao củ cải.

Chắc chắn nó không thích ăn thứ đó.

Chuồng linh dương và ngựa vằn đều có khay nhôm đựng thịt bò xay.

Bờm ngựa vằn dính bết bã kẹo cao su, giống như có người tiêu khiển bằng cách nhai kẹo rồi nhổ bã lên người nó.

Sừng linh dương treo bóng bay mừng sinh nhật có dòng chữ ngớ ngẩn: HAY ĂN CHÓNG LỚN.

Tất nhiên, không ai muốn đến gần làm sư tử khó chịu.

Con vật tội nghiệp cuồng chân trong không gian nhỏ xíu, đi tới đi lui trên miếng vải lót chuồng bẩn thỉu, thở hổn hển bởi không khí ngột ngạt trong xe.

Ruồi bu quanh cặp mắt đỏ lè, xương sườn nhô ra dưới lớp lông trắng toát.

Grover phẫn nộ:

- Nhân đạo là thế này ư?

Nó định nhào ra ngoài, túm cổ lái xe dùng sáo bằng cây sậy vụt hắn nhừ tử .

Tôi sẵn sàng tiếp tay cho nó.

Rủi thay, xe nổ máy ầm ầm, thùng xe rung chuyển.

Nếu chúng tôi không ngồi thể nào cũng ngã.

Ba đứa nép trong góc, ngồi trên mấy bao tải đựng thức ăn gia súc mốc xanh mốc đỏ, cố quên mùi thối, ruồi nhặng và cái nóng kinh người.

Grover kêu be be bắt chuyện với 3 con thú, nhưng chúng chỉ im lặng buồn bã nhìn nó.

Annabeth nóng ruột, định phá chuồng thả thú hoang nhưng tôi phân tích rằng nên chờ xe đến trạm nghỉ đã.

Thêm vào đó, chắc chắn sư tử thấy ba chúng tôi ngon lành hơn củ cải.

Tìm được hũ nước, tôi đổ đầy cho chúng, sau đó dùng kiếm đồng khều đồ ăn bỏ nhầm chuồng ra ngoài.

Tôi cho sư tử ăn thịt, ngựa vằn và linh dương ăn củ cải.

Grover dỗ dành linh dương để Annabeth lấy dao cắt bóng bay.

Bạn ấy muốn xén lông bờm dính bã kẹo cao su nhưng chúng tôi khuyên chớ nên làm thế vì xe xóc này rất nguy hiểm.

Sau khi bảo Grover hứa với chúng sáng mai sẽ giúp, chúng tôi dọn chỗ đi ngủ.

Grover nằm co ro trên bao củ cải.

Annabeth mở bịch bánh Oreos nhai trệu trạo.

Tôi tự ủy tạo tinh thần bằng cách tự nhủ ba đứa đã đi được nửa đường.

Hôm nay mới ngày 14 tháng 6, trước ngày Hạ chí – 21/6 những một tuần.

Thời gian đang ủng hộ chúng tôi.

Mặt khác, tôi không biết cái gì đang đợi mình ở phía trước.

Các thần thay nhau đùa bỡn tôi.

Ít nhất thần Hephaestus không lén lút: ngang nhiên ghi hình tôi để giải trí.

Giờ ống kính ngừng hoạt động, tôi vẫn cảm giác họ theo dõi từng đường đi nước bước của ba chúng tôi.

Hóa ra tôi là thằng hề mua vui cho các thần.

Annabeth thì thào:

- Này, xin lỗi cậu.

Chỉ tại lúc ở công viên nước, tớ sợ quá.

- Không sao.

Cô bạn rùng mình:

- Chỉ tại... lũ nhện.

- Trong chuyện nữ thần Arachne chứ gì?

Bà ấy biến thành nhện thách mẹ cậu thi dệt vải, đúng không?

Annabeth gật đầu:

- Kể từ đó con thần Arachne tìm con thần Athena trả thù.

Mới cách 2 cây số, nhện đã đánh hơi thấy tớ rồi.

Tớ ghét cay ghét đắng mấy sinh vật bé xíu, ghê rợn đó.

Mà thôi, tớ nợ cậu lần này.

- Tụi mình hoạn nạn có nhau mà.

Với lại Grover cũng bay đến cứu chứ bộ.

Tưởng nó ngủ, ai dè Grover nằm trong góc góp chuyện:

- Tớ bay giỏi ra trò, nhỉ?

Annabeth và tôi bật cười.

Cô bạn lấy bánh bẻ cho tôi một nửa:

- À... lúc nói chuyện qua cầu vồng... anh Luck bảo gì cậu thế?

Vờ mải ăn, tôi nghĩ cách trả lời sao cho khéo.

Từ tối đến giờ, tôi băn khoăn mãi về chuyện ấy:

- Luke kể chuyện cậu và anh ấy hồi đó.

Anh ấy còn nhắn... lần này Grover không thất bại như lần trước.

Không ai bị biến thành cây thông cả.

Ánh sáng mờ của cây kiếm không thể soi tỏ mặt người..

Grover kêu be não nề, giọng nó run run:

- Đáng nhẽ ngay từ đầu tớ nên kể hết với cậu.

Tớ sợ... nếu biết tớ từng thất bại, cậu sẽ không cho tớ đi cùng.

- Cậu là thần rừng từng gắng cứu Thalia, con gái thần Dớt?

Nó gật đầu, mặt buồn hiu:

Tôi quay sang Annnabeth:

- Còn hai bạn của Thalia đến trại Con Lai an toàn là cậu và anh Luke, đúng không?

Cô bé buông miếng bánh ăn dở:

- Như tớ đã nói, con lai mới 17 tuổi đầu không thể đi xa một mình.

Mẹ Athena chỉ đường cho tớ tìm người giúp.

Lúc ấy Thalia 12, Luke 14.

Họ cũng bỏ nhà đi giống tớ.

Hai anh chị vui vẻ cho tớ đi cùng.

Dù chưa được huấn luyện, Thaila và Luke chống trả yêu quái rất tài tình.

Từ Virginia, ba anh em lên phương Bắc mà không có kế hoạch gì rõ ràng.

Suốt hai tuần, chúng tớ vừa đi vừa tránh yêu quái cho đến khi Grover tìm được tụi tớ.

Grover sụt sịt:

- Đáng lẽ tớ phải đưa Thaila về trại an toàn.

Chỉ mình Thalia thôi.

Lệnh của bác Chiron ngặt nghèo lắm: không được để bất cứ chuyện gì làm chậm tiến trình giải cứu.

Nhưng dù biết Hades ráo riết săn lùng Thalia, chị ấy và tớ không thể bỏ mặc Annabeth và Luke.

Lúc đầu tớ tưởng mình có khả năng đưa cả ba về trại an toàn.

Chính tớ khiến bọn người tử tế đuổi kịp cả nhóm.

Tớ sợ quá.

Lúc sắp đến trại, tớ quên đường nên cả nhóm đi lạc.

Chỉ cần tớ nhanh chân hơn một chút thì...

Annabeth mắng:

- Thôi đi.

Có ai trách cậu đâu nào.

Thalia cũng không trách cậu.

Grover thống thiết:

- Thalia hi sinh thân mình bảo vệ bọn tớ.

Tại tớ nên cô ấy mới chết.

Chính hội đồng kết luận thế mà.

- Chỉ vì cậu không bỏ mặc hai người khác?

Thật bất công quá!

Annabeth thêm vào:

- Percy nói đúng.

Không có cậu, tớ không còn sống đến hôm nay.

Cả anh Luke nữa.

Hội Đồng nói gì kệ họ.

Grover chưa thôi sụt sịt trong góc tối:

- Số tớ cũng may.

Thần rừng kém cỏi nhất trần đời tìm được Thalia và Percy, hai con lai hùng mạnh nhất trong vòng 100 năm trở lại đây.

Annabeth giữ nguyên chính kiến:

- Cậu không kém cỏi.

Tớ chưa từng thấy thần rừng nào dũng cảm như cậu.

Thử hỏi có thần rừng nào dám xuống địa ngục chưa?

Tớ chắc chắn Percy mừng vì có cậu đi cùng.

Không cần Annabeth gợi ý, tôi nói rất thành thực:

- Phải đấy.

Cậu gặp Thalia và tớ không phải nhờ vận may.

Cậu là thần rừng tốt bụng nhất.

Cậu có tài tìm kiếm bẩm sinh.

Chính vì thế cậu sẽ tìm được thần Pan.

Có tiếng thở phào nhẹ nhõm từ chỗ Grover nằm.

Tôi chờ xem nó định nói gì nhưng chỉ thấy nghe tiếng thở sâu và đều hơn.

Lát sau, tiếng thở trở thành tiếng ngáy.

Nó đã ngủ say.

Tôi trầm trồ:

- Sao Grover làm được như thế?

Annabeth đáp:

- Tớ không biết.

Nhưng những gì cậu nói với Grover có tác dụng tốt đấy.

- Tớ thật lòng mà.

Trong lúc xe đi thêm, vài dặm nữa, chúng tôi ngồi lắc lư theo mấy bao thức ăn gia súc.

Ngựa vằn nhai củ cải rào rào.

Sư tử ăn hết thịt bò xay, liếm môi nhìn tôi hi vọng.

Annabeth vuốt dây đeo cổ như đang suy nghĩ về kế hoạch sắp tới.

Tôi hỏi:

- Hạt sứ có hình cây thông tượng trưng cho năm đầu phải không?

Annabeth ngước lên:

- Ừ.

Mỗi năm, cứ đến tháng 8, các nhân viên tư vấn của trại chọn một sự kiện quan trọng nhất của mùa hè để vẽ hạt sứ.

Tớ có hình cây thông của Thalia, tàu chiến cổ ba tầng chèo bốc cháy, nhân mã mặc váy dạ hội... mùa hè này lạ nhất...

- Còn nhẫn kia của cha cậu?

- Không phải chuyện của...

- Annabeth dừng lại - À, phải.

Của cha tớ.

- Nếu cậu không muốn kể cũng không sao.

Hơi thở Annebeth run rẩy:

- Không...

được mà.

Hai năm trước, cha tớ gửi nó kèm một bức thư.

Chiếc nhẫn giống... vật lưu niệm cha giữ để nhớ đến mẹ.

Không có bà, ông không thể hoàn tất chương trình tiến sĩ ở Havard...

Chuyện dài lắm.

Tóm lại.

Cha muốn tớ giữ nhẫn.

Ông xin lỗi vì lúc trước không lo cho tớ vẹn toàn.

Ông còn nói ông rất thương con và nhớ con.

Ông muốn tớ quay về sống với ông.

- Nếu vậy cha cậu không đến nỗi tệ.

- Ừ thì...

Rắc rối ở chỗ tớ tin và làm theo lời cha.

Đầu năm học, tớ cố gắng về sống ở nhà.

Nhưng dì ghẻ không thay đổi.

BÀ không muốn con ruột bị vạ lây bởi sống chung với đứa quái dị.

Thế rồi yêu quái tấn công.

Cả nhà to tiếng.

Tớ không ở nổi đến kì nghỉ đông.

Tớ liên lạc với bác Chiron và quay lại Trại Con Lai ngay lập tức.

- Cậu sẽ không bao giờ cố gắng sống bên cha ruột nữa sao?

Annabeth tránh nhìn mắt tôi:

- Thôi đừng nhắc nữa.

Tớ không muốn tự dằn vặt.

- Đừng bó tay, phó mặc.

Hãy viết thư tay tìm cách liên lạc với cha.

Annabeth lạnh lùng:

- Cám ơn cậu đã khuyên.

Nhưng cha tớ muốn sống với ai là quyền của ông.

Và ông đã chọn rồi.

Chúng tôi lại im lặng thêm vài dặm nữa.

Tôi gợi chuyện:

- Nếu có biến trên đỉnh Olympia, mọi thứ sẽ rạch ròi như cuộc chiến thành Troy.

Thần Athena sẽ chống lại thần Poisendon à?

Annabeth nhắm mắt, gối đầu lên balo thần Ares cho chúng tôi hồi tối:

- Chẳng biết mẹ tớ sẽ làm gì.

Chỉ biết tớ sẽ sát cánh bên cậu.

- Tại sao?

- Vì cậu là bạn tớ, ngố ạ.

Còn câu nào ngộ nghĩnh hơn đem ra hỏi nốt đi?

Tôi im bặt.

May thay, Annabeth không vặn vẹo thêm và ngủ thiếp đi.

Muốn theo gương Annabeth không dễ.

Xung quanh tôi có tiếng Grover ngáy vang và ánh mắt thèm khát của sư tử trắng.

Nhưng cuối cũng, tôi cũng nhắm mắt nằm yên.

Mới đầu, ác mộng đêm đó giống vô số cơn ác mộng trước: tôi bị bắt làm bài kiểm tra trong lúc mặc áo trói người điên.

Các bạn làm xong đã ra chơi hết.

Cô giáo luôn miệng nhắc: "Trò Percy sao thế?

Em có trì độn đến mức không làm được tí gì, phải không?

Cầm bút lên đi chứ!"

Từ lúc đó, giấc mơ khác với bình thường.

Tôi nhìn sang bàn nên thấy một bạn gái cũng mặc áo trói.

Cô bé bằng tuổi tôi, để tóc giống ca sĩ nhạc rock, cặp mắt xanh biển dữ dội kẻ viền thật đậm và mũi lấm tấm tàn nhang.

Tự nhiên, tôi biết tên bạn ấy là Thalia, con gái thần Dớt.

Vừa tìm cách gỡ áo trói, Thalia vừa lườm tôi gắt gỏng:

- Làm gì đi chứ, óc tảo biển?

Một trong hai ta phải ra khỏi đây.

Phiên bản của tôi trong cơn mơ thầm nghĩ: "Bạn ấy nói đúng.

Tôi phải trở lại hang, cho Hades thấy tôi cũng thông minh như ai."

Áo trói trên người tôi tan chảy và biến mất.

Tôi ngã vật xuống nền lớp học.

Giọng cô giá thay đổi, lạnh lùng và độc ác, vọng từ đáy vực sâu: "Percy Jackson, cuộc đổi chác suôn sẻ quá đấy"

Tôi trở lại hang tối.

Linh hồn người chết vây quanh tôi.

Dưới hố sâu vẫn có giọng yêu quái.

Nhưng lần này nó không nói với tôi.

Tiếng ghê rợn làm người ta bủn rủn chân tay ấy nhắm vào nơi khác.

- Nó không nghi ngờ gì sao?

Có tiếng nói rất quen vang sau lưng tôi: "Không hề, thưa chúa tể.

Hắn cũng ngu dốt như bao đứa khác"

Tôi quay đầu nhìn nhưng hình như người vừa nói tàng hình.

Sinh vật dưới hố nói vọng lên:

- Lừa dối chồng chất lừa dối.

Khá lắm.

- Thưa chúa tể, chính người mới xứng danh đệ nhất quỷ quyệt.

Nhưng làm thế có cần thiết không ạ?

Tôi có thể dâng người thứ tôi lấy ngay trước mắt...

Sinh vật kia khinh bỉ:

- Ngươi ư?

Ngươi đã chứng tỏ mình kém cỏi thế nào rồi.

Nếu ta không can thiệp, ngươi đã làm hỏng chuyện của ta.

- Nhưng...

- Bình tĩnh đi, kẻ bầy tôi hèn mọn.

Sáu tháng qua, ta thắng lợi lớn.

Dớt ngày càng tức tối.

Poisendon phải chơi nước cờ tuyệt vọng.

Giờ ta sẽ dùng gậy ông đập lưng ông.

Ngươi sẽ sớm thỏa nguyện: trả thù đích đáng.

Ngay khi hai bảo bối về tay ta...

Khoan đã.

Hắn đang ở đây.

Giọng tên nô tài tàng hình chợt căng thẳng:

- Cái gì?

Ngài gọi hắn lên ư?

Lực ép mạnh mẽ của quái vật vây chặt tôi:

- Không.

Nhưng hắn giống cha: hay thay đổi, rất khó lường.

Thằng ranh ấy tự vào đây.

Tên nô tài kêu lên:

- Không thể thế được?

Giọng nói hằm hè:

- Phải, nhưng chỉ đối với kẻ yếu đuối như ngươi thôi.

Rồi nó lạnh lùng quay sang tôi:

- Thằng con lai kia, ngươi muốn kết thúc nhiệm vụ này chứ gì?

Để ta gia ơn cho.

Cảnh trong mơ thay đổi.

Tôi đứng trong căn phòng có ngai vàng.

Tường nhà bằng đá hoa cương đen.

Nền nhà bằng đồng.

Chiếc ngai khủng khiếp không có người ngồi ghép bằng xương người.

Mẹ tôi đứng dưới bục.

Bất động trong ánh sáng mờ ảo.

Hai tay bà dang rộng.

Tôi cố đến gần nhưng không nhấc nổi chân.

Những bộ xương mặc giáp trụ của lính Hy Lạp vây quanh tôi.

Chúng choàng áo bào gấm bó chặt người tôi, đội vòng nguyệt quế tẩm nọc độc của Chimera làm đầu tôi bỏng rát.

Giọng nham hiểm khi nãy cười sằng sặc: "Chào mừng anh hùng bách chiến bách thắng"

Tôi giật mình tỉnh giấc.

Grover lay vai tôi:

- Xe dừng rồi.

Hình như họ sắp lên kiểm tra thú hoang.

Annabeth nói nhỏ:

- Trốn thôi!

Bạn ấy thì dễ rồi. chỉ cần đội mũ tàng hình và biến mất.

Grover và tôi phải trốn sau đống bao thức ăn gia súc, hy vọng mình trông giống củ cải để không bị phát hiện!

Cửa xe kẹt mở.

Ánh nắng chói chang và khí nóng ùa vào.

Tài xế phẩy tay trước cái mũ xấu xí:

- Trời, kinh quá!

Giá mình nhận chở máy móc có phải hơn không.

Hắn leo vào trong, rót nước vào 3 đĩa trong 3 chuồng.

- Nóng không con?

Ông ta hắt nước còn trong xô vào mặt sư tử.

Chúa sơn lâm gầm lên giận giữ.

- Gầm này!

Gầm nữa đi!

Núp dưới bao củ cải cạnh tôi, Grover căng thẳng, mặt mày dữ tợn.

Gã tài xế ném cho linh lương bao tải đựng cái gì giống bí xanh.

Hắn bĩu môi nhìn ngựa vằn:

- Khỏe không, đồ vằn vện?

Ít nhất ta cũng tống khứ ngươi ở trạm dừng này.

Ngươi thích sân khấu ảo thuật không?

Màn diễn sắp tới tuyệt vời.

Người ta sẽ cưa ngươi thành 2 khúc.

Ngựa vằn trợn mắt sợ hãi nhìn thẳng vào tôi.

Không có tiếng nói, nhưng rõ ràng tôi nghe nó bảo: "Cầu xin chúa tể thả con ra"

Tôi sững sờ.

Có tiếng gõ ngoài thành xe: Cạch!

Cạch!

Cạch!

Tài xế trong thùng xe với chúng tôi la lên:

- Eddie, mày muốn gì đây?

Giọng bên này - chắc chắn là Eddie - quát nạt:

- Maurice, mày vừa nói gì?

- Mày gõ làm gì thế?

CẠCH!

CẠCH!

CẠCH!

Bên ngoài, Eddie gắt:

- Tao gõ lúc nào?

Gã Maurice chán nản trở ra, miệng lầm bầm chửi Eddie dở hơi.

Một giây sau, Annabeth xuất hiện ngay cạnh tôi.

Chắc cô bạn vừa gõ để kéo Maurice ra ngoài.

Annabeth bảo:

- Doanh nghiệp vận tải này chắc chắn làm ăn phi pháp.

Grover góp chuyện:

- Rõ rồi - nó dừng lại như lắng nghe - sư tử vừa mách hai gã này buôn lậu thú quý hiếm.

Tiếng ngựa vằn vang lên trong đầu tôi:

- Đúng vậy đấy.

Grover kiên quyết:

- Ta phải thả chúng thôi.

Nó và Annabeth nhìn tôi chờ đợi.

Tôi chỉ nghe tiếng ngựa, còn sư tử thì không.

Tại sao thế?

Thêm một thứ tôi không biết...

Sao tôi chỉ hiểu ngựa vằn?

Tôi hoàn toàn mù tịt khi nghe tiếng động vật nói chung... chỉ hiểu mỗi loài da hai màu đen trắng.

Tôi chợt nhớ: Ngựa.

Annabeth từng bảo thần Poisendon tạo ra giống ngựa.

Ngựa vằn cùng là ngựa.

Có phải vì thế nên tôi hiểu tiếng chúng?

Ngựa vằn nói tiêp:

- Xin chúa tể mở cửa chuồng cho tôi.

Sau đó, tôi sẽ tự lo.

Bên ngoài, Eddie và Maurice quát nhau ầm ĩ.

Thể nào cãi nhau xong, chúng cũng vào đây hành hạ ba con thú.

Tôi dùng kiếm Thủy Triều chém ổ khóa chuồng ngựa vằn.

Ngựa xồ ra.

Nó quay sang tôi, cúi đầu:

- Đa tạ chúa tể.

Grover giơ tay ngăn lại, nói gì đó với ngựa.

Hình như nó vừa chúc thượng lộ bình an.

Vừa lúc đó Maurice thấy ồn nên ló đầu vào.

Ngụa vằn nhảy qua đầu hắn xuống đường.

Nghe tiếng người hét, tiếng còi xe inh ỏi, chúng tôi chạy ra của vừa kịp thấy ngựa phi nước kiệu giữa đại lộ rộng thênh, hai bên đường toàn khách sạn, sòng bài và biển quảng cáo neon đủ màu.

Chúng tôi vùa thả con ngựa vằn vào giữa đường phố Las Vegas.

Maurice và Eddie chạy theo ngựa, kéo theo nhóm cảnh sát chạy theo chúng.

Cảnh sát quát:

- Này!

Hai anh phải trình giấy phép nuôi thú quý hiếm.

Annabeth bảo:

- Giờ ta đi là tiện nhất.

Grover đáp:

- Thả hai con còn lại trước đã.

Tôi chém nốt hai ổ khóa kia.

Grover giơ tay, lặp lại câu chúc khi nãy.

Tôi bảo hai con vật tội nghiệp:

- Chúc may mắn đấy.

Linh dương và sư tử ra khỏi chuồng cùng nhảy xuống đường.

Vài du khách kêu ré.

Có người lùi lại chụp hình lia lịa.

Chăc họ nghĩ mấy sòng bài thuê thú về làm xiếc để quảng cáo.

Tôi hỏi Grover:

- Liệu chúng có sao không?

Thú rừng ngoài sa mạc thì sao nhỉ?

- Đừng lo.

Tớ vừa cho chúng bùa hộ mệnh của thần rừng.

- Nghĩa là sao?

- Nghĩa là chúng sẽ về rừng an toàn.

Chúng sẽ tìm được nước uống, thức ăn, ... bất cứ thứ gì chúng cần cho tới khi về được chỗ cũ.

- Sao không cho bọn tớ bùa ấy?

- Bùa chỉ linh nghiệm với thú hoang dã.

Annabeth trêu chọc:

- Vậy hợp với một mình Percy.

Tôi giãy nảy:

- Nói gì thế?

Cô bạn cười xòa:

- Đùa đấy.

Ta đi thôi, tớ hết chịu nổi mùi thối này rồi.

Ba đứa bước thấp bước cao đi giữa chiều sa mạc nóng cháy.

Nhiệt độ lên đến 37, 38 độ C.

Chắc chắn trông chúng tôi giống trẻ bụi đời, nhưng vì ai cũng quay sang nhìn thú hoang nên không để ý đến bộ ba nhem nhuốc, bơ phờ.

Ba đứa đi qua trường quay của hãng phim Monte Carlo và MGM.

Ở đây có Kim Tự Tháp, tàu cướp biển và tượng nữ thần tự do.

Tuy tất cả chỉ là mô hình thu nhỏ nhưng cũng khiến tôi nhớ nhà vô cùng.

Ba đứa không biết mình tìm gì.

Thực ra, chúng tôi chỉ mong có chỗ trốn cái nóng chừng vài phút, tìm bánh kẹp và nước chanh và cùng bàn kế hoạch đi tiếp về phương Tây.

Lát sau, chúng tôi lạc đến ngõ cụt và đứng ngẩn ngơ trước Khách Sạn & Sòng Bài Hoa Sen.

Lối vào là bông hoa khổng lồ viền đèn ống.

Cánh hoa trang trí đèn nhấp nháy.

Không thấy người ta ra vào tấp nập nhưng cửa nhôm bên trong có mở.

Hơi từ máy lạnh tỏa ra mang theo mùi hoa thơm ngát: chắc mùi hoa sen nở.

Vì chưa thưởng thức hương hoa sen bao giờ nên tôi không dám khẳng định.

Thấy chúng tôi, người gác cổng mỉm cười:

- Cháo các cháu.

Sao trông mệt mỏi thế?

Muốn vào trong ngồi nghỉ không?

Một tuần trở lại đây, tôi trở nên hay nghi ngờ.

Giờ hễ thấy bất cứ ai, tôi lại nghĩ nếu không phải yêu quái, chắc chắn là thần thánh.

Ai biết đâu được.

Nhưng trông người này bình thường.

Mới nhìn, tôi dám khẳng định ngay.

Còn nữa, biết có người cảm thông với mình, tôi nhẹ nhõm đôi chút.

Vậy nên, tôi gật đầu bảo đồng ý.

Qua cửa vào bên trong, chúng tôi nhìn quanh.

Grover trầm trồ:

- Ôi chao!

Tiền sảnh là phòng chơi rộng lớn, thiết bị hiện đại, không phải trò Pacman hay bỏ xu tầm thường.

Nơi đây có cầu trượt nước trong nhà uốn lượn quanh thang máy bằng kính lên cao ít nhất 40 tầng.

Một bên tòa nhà có tường tập leo núi và cầu nhảy Bungee thiết kế trong nhà.

Sảnh có nhiều bộ quần áo kèm súng laze cho trò chơi thực tế ảo.

Nơi đây bài trí hàng trăm máy video game kèm màn hình cỡ lớn.

Nói chung là, trên đời có trò chơi gì, ở đây có hết.

Lác đác vài thiếu niên vào chơi.

Nơi này không nhộn nhịp như ở chỗ khác.

Không ai phải chờ đợi cả.

Nơi đây có đội phục vụ bàn và nhiều quầy ăn nhẹ phục vụ nhiều món ngon.

- Xin chào!

Người trực tầng (tôi đoán thế) niềm nở.

Ông ta mặc áo sơ mi hoa sặc sỡ in logo của khách sạn Hoa Sen, diện quần sooc và đi dép lê:

- Chào mừng quý vị đến sòng bài Hoa Sen.

Chìa khóa phòng đây ạ.

Tôi lắp bắp:

- Nhưng mà...

Ông ta cười xòa:

- Đừng lo.

Có người thanh toán mọi khoản rồi.

Ở đây không thu phụ phí, không đòi tiền boa.

Cứ lên phòng trên cùng, phòng 4001.

Nếu cần bất cứ thứ gì, chẳng hạn thêm dầu tạo bọt cho bồn tắm nước nóng hay đạn đất sét tập bắn chim câu, cứ việc gọi tiếp tân.

Đây là thẻ tín dụng LotusCash dùng trong nhà hàng, các máy chơi game và mọi phương tiện đi lại.

Ông ta đưa cho mỗi đứa một thẻ tín dụng màu xanh lá cây.

Tôi biết chắc có nhầm lẫn ở đây.

Ông này tưởng ba đứa tôi là cậu ấm cô chiêu nhà tỉ phú chắc?

Tuy nhiên tôi vẫn nhận thẻ:

- Phòng ở đây giá bao nhiêu?

Ông ta cau mày:

- Ý cháu là sao?

- Là... ngộ nhỡ thẻ hết tiền.

Ông ta cười vui vẻ:

- Cháu cứ đùa.

Vui tính ghê.

Thôi, chúc vui vẻ nhé.

Chúng tôi theo thang máy lên trên phòng.

Đó là căn hộ biệt lập trên tầng thượng, có 3 phòng ngủ, một quầy bar chất đầy bánh kẹo, nước ngọt và Bim Bim.

Có đường dây nóng gọi phục vụ.

Có khăn tắm mềm xốp, nệm nước và gối êm.

Có tivi màn hình rộng nối vệ tinh cùng Internet tốc độ cao.

Có ban công gắn với bồn tắm nước nóng riêng, và tất nhiên có máy bắn chim câu và súng săn.

Người chơi chỉ việc bắn chim bằng đất sét lên bầu trời Las Vegas, sau đó bắn bể chim bằng súng săn.

Trò ấy không thể gọi là hợp pháp nhưng khá thú vị.

Phong cảnh nhìn từ đây rất đẹp, có thể ngắm sa mạc phía xa.

Tuy nhiên, ở phòng này chẳng ai có thời gian đứng ngắm cảnh nữa.

Annabeth kêu lên:

- Trời ơi!

Chỗ này...

Grover đỡ lời:

- Tuyệt vời.

Thích cực kì.

Trong tủ có sẵn quần áo vừa người tôi.

Tôi cau mày thấy lạ.

Nếu họ nhầm tôi với người khác, sao quần áo có cùng cỡ với tôi?

Tôi ném ba lô của thần Ares vào sọt rác.

Không cần thứ này nữa.

Khi nào đi, tôi sẽ mua ba lô mới trong cửa hàng của khách sạn.

Tôi đi tắm.

Sau một tuần bụi bặm được tắm sạch sẽ sảng khoái biết bao.

Mặc quần áo xong, tôi ăn hết gói Bim Bim, uống ba lon nước ngọt Coke.

Lâu lắm rồi, tôi mới được dễ chịu thế này.

Sâu thẳm trong tâm khảm, tôi day dứt không yên.

Có phải đây là một giấc mơ...

Nên đi gặp hai bạn bàn cho ra ngô ra khoai.

Thôi, cứ tận hưởng thêm chút nữa, bàn bạc sau cũng không muộn.

Ra ngoài phòng ngủ, tôi thấy Annabeth và Grover cũng vừa tắm và thay đồ mới.

Grover ăn khoai tây chiên, còn Annabeth mải mê xem kênh truyền hình National Geographic.

Tôi bảo:

- Bao nhiêu kênh hay không xem, lại đi xem kênh này?

Cậu có bị sao không vậy?

- Kênh này hay quá trời.

Grover gật gù:

- Dễ chịu quá.

Tớ thích chỗ này.

Nó phởn chí đến nỗi không biết giày tự mọc cánh, nâng bổng hai bàn chân lên không rồi hạ xuống như cũ.

Annabeth hỏi:

- Giờ ta làm gì đây?

Đi ngủ à?

Grover và tôi nhìn nhau cười, cùng móc túi lấy thẻ LotusCash.

- Đi chơi thôi.

Tôi chưa bao giờ vui đến thế.

Sinh ra trong nghèo khó, với tôi, phung phí tiền bạc có nghĩa đến nhà hàng KFC hay McDonald ăn hamburger và thuê băng video về xem.

Làm gì dám mơ đến khách sạn năm sao ở Las Vegas.

Tôi nhảy bungee dưới sảnh năm, sáu lần, trượt nước một lần, chơi game trượt tuyết trên sườn núi và chơi trò thực tế ảo bắn súng tay đôi với tay bắn tỉa FBI.

Tôi thấy Grover mấy lần chuyển trò chơi.

Nó thích nhất trò đi săn ngược: hươu nai săn người lỗ mãng.

Annabeth thích trò đấu trí và trò chơi giành cho con gái.

Ở đây có màn hình 3-D dùng chơi trò kiến thiết cả thành phố.

Các tòa nhà chọc trời đua nhau mọc lên trông như thật.

Tôi không thích trò đó lắm nhưng Annabeth thực sự mê mẩn.

Bất ngờ, tôi phát hiện ra có chuyện không ổn.

Có lẽ do anh chàng đúng cạnh tôi, cũng chơi trò đấu súng.

Tôi đoán người này bằng tuổi tôi, nhưng quần áo rất lạ lùng.

Có lẽ cậu ta là con trai một người thích bắt chước Elvis.

Cậu ta mặc quần jeans ống loe, áo thun đỏ, tóc uốn xoăn trông giống con gái xứ New Jersey chuẩn bị đi dạ hội.

Lúc cùng chơi bắn tỉa, cậu ta bảo tôi:

- Này công tử, tớ ở đây hai tuần, chơi mãi trò này vẫn thấy hay.

Lập tức, tôi thầm thắc mắc: "công tử là từ xưa lắm rồi".

Lát sau, tôi lỡ miệng nói tiếng lóng, bảo cậu ta "tinh tướng".

Cậu ta giật mình nhìn tôi như chưa hề nghe tiếng đó bao giờ.

Cậu ta tự giới thiệu mình tên là Darrin.

Nhưng thấy tôi hỏi nhiều quá, Darrin đâm chán, quay lại chơi tiếp.

Tôi gọi:

- Darrin này.

- Gì?

- Giờ là năm mấy?

Cậu ta nhíu mày:

- Năm trong trò chơi à?

- Không.

Năm ngoài đời thực.

Darrin phải nghĩ giây lát:

- 1977.

Tôi bắt đầu sợ:

- Đừng đùa.

Tớ hỏi thật đấy.

- Cái cậu này, làm tớ phân tâm quá.

Tớ đang chơi dở.

Sau đó cậu ta quên hẳn tôi.

Tôi trò chuyện với vài người nữa.

Cảm giác bất an lớn dần.

Họ dán mắt vào màn hình tivi, dính với máy chơi game, hoặc đồ ăn...

Tôi gặp một bạn bảo với tôi giờ là năm 1985.

Người khác bảo 1993.

Nhưng ai cũng bảo họ chỉ ở đây mấy ngày.

Tối đa là vài tuần.

Họ không biết chính xác và cũng không quan tâm.

Tôi giật mình tự hỏi: vậy tôi ở đây bao lâu?

Theo tôi nhớ thì chỉ có vài tiếng đồng hồ.

Nhưng thực tế có đúng vậy không?

Tôi cố nhớ lí do đến đây.

Chúng tôi đang trên đường đến Los Angeles.

Nhiệm vụ là tìm lối vào địa ngục.

Mẹ tôi... trong một thoáng, tôi hoảng hốt vì không nhớ tên bà.

Là Sally.

Sally Jackson.

Tôi phải tìm mẹ.

Tôi phải chặn tay Hades trước khi ông ta châm ngòi cho Thế Chiến thứ Ba.

Khi tôi tìm thấy Annabeth, cô ấy vẫn mải miết xây nhà.

Tôi giục:

- Đứng lên đi.

Ta đi khỏi đây ngay.

Không trả lời.

Tôi lay vai cô ấy:

- Annabeth!

Cô ấy khó chịu nhìn tôi:

- Gì?

- Ta phải đi.

- Đi là thế nào?

Cậu nói linh tinh gì thế?

Người ta đang xây tháp...

- Nơi này là bẫy đấy.

Cô bạn không trả lời.

Tôi lay lần nữa.

Annabeth gắt lên:

- Cậu làm gì thế hả?

- Nghe kĩ đây: Địa ngục.

Nhiệm vụ chưa hoàn thành.

- Tôi mà, Percy.

Mấy phút nữa thôi.

- Này Annabeth, có người từ năm 1977 vẫn ở đây.

Họ là trẻ con, mãi không không lớn thành người.

Nếu ai trót bước chân vào, sẽ phải ở lại suốt đời.

- Thế đã sao?

Cậu có mơ cũng không có đâu bằng ở đây.

Tôi chộp tay bạn, lôi cô khỏi trò chơi.

- Này này.

Annabeth la lối, đánh tôi túi bụi nhưng xung quanh không ai buồn ngó đến.

Họ đắm mình vào thú vui riêng, quên hết sự đời.

Tôi xoay mặt Annabeth nhìn thẳng mặt tôi:

- Nhện.

Lũ nhện khổng lồ, lông lá.

Cô bé hơi hoảng và dẫn tỉnh táo lại:

- Chết rồi, ta ở đây lâu chưa?

- Tớ không biết.

Nhưng phải tìm Grover ngay.

Hai đứa tìm mãi.

Cuối cùng thấy nó đang chơi trò săn hươu ảo.

Hai đứa cùng thất thanh:

- Grover!

Nó nghiến răng:

- Chết này!

Chết này!

Đồ con người ngốc nghếch chuyên gây ô nhiễm!

- Grover!

Nó chĩa khẩu súng nhựa về phía tôi lên đạn, làm như tôi là nhận vật trong trò chơi không bằng.

Tôi đưa mắt nhìn Annabeth.

Cả hai đồng loạt xông vào xốc nách mang nó đi.

Lập tức, tôi giày bay mọc cánh lôi chân nó ra phía sau:

- Đừng!

Tớ mới lên màn cao hơn!

Thả tớ ra!

Người trực tầng sòng bài Hoa Sen vội đuổi theo:

- Quý khách đến nhận thẻ bạch kim ạ?

Tôi kiên quyết:

- Chúng tôi đi đây.

Giọng tha thiết của ông ta làm tôi tin rằng, nếu chúng tôi đi, ông ta sẽ cực kì đau khổ:

- Tiếc quá.

Chúng tôi mới xây thêm lầu toàn trò chơi dành cho khách có thẻ bạch kim.

Ông ta chìa thẻ và tôi muốn cầm lấy ngay.

Nếu lấy thẻ, tôi sẽ không bao giờ đi được.

Tôi sẽ sống phủ phê trong khách sạn, chơi game suốt đời, vui vẻ suốt đời.

Chẳng bao lâu, tôi sẽ quên mẹ, quên nhiệm vụ, thậm chí quên cả tên mình.

Tôi sẽ chơi bắn tỉa với công tử Darrin mãi mãi.

Grover chìa tay định lấy, nhưng Annabeth cầm tay nó giật lại:

- Cảm ơn, nhưng không lấy đâu.

Trên đường ra cửa, mùi thức ăn và âm thanh vui tươi từ trò chơi quyến luyến bước chân tôi.

Hay là ta cứ ở lại đêm nay... ngủ trên giường cho ra giường, dù chỉ một lần.

Lát sau, ba đứa đẩy cửa sòng bài Hoa Sen, hoảng hốt chạy dọc con phố.

Bên ngoài là buổi chiều, tầm giờ lúc vào khách sạn.

Nhưng thực ra không phải.

Hôm nay thời tiết u ám, chớp rạch ngang bầu trời ngoài sa mạc.

Balo của thần Ares lủng lẳng sau lưng tôi.

Lạ thật, tôi vứt nó vào thùng rác phòng 4001 rồi cơ mà.

Tuy nhiên, đầu óc tôi mải nghĩ chuyện khác.

Tôi chạy đến quầy báo gần nhất và nhìn năm trước.

Ơn trời, vẫn cùng năm cũ.

Sau đó nhìn sang ngày, tôi đọc, ngày 27/6.

Chúng tôi đã sống tại sòng bài Lotus trọn 5 ngày.

Chỉ còn một ngày nữa là đến Hạ chí.

Trong vòng 1 ngày nữa, chúng tôi phải làm cho xong việc được giao.

17.

Chọn Đệm Nước Thật Khó Lắm Thay

Annabeth có ý tưởng táo bạo.

Cô bạn đẩy hai thằng tôi lên taxi Vegas, làm như hầu bao tụi tôi rủng rỉnh đầy tiền vậy.

Bạn ấy lệnh cho tài xế:

- Xin cho đến Los Angeles.

Bác tài vừa nhai đầu điếu xì gà, vừa thăm dò:

- Gần sáu trăm cây số cơ đấy.

Khách đi xa phải trả tiền trước.

Annabeth hỏi:

- Chú có nhận thẻ tín dụng của sòng bài không ạ?

Bác ta nhún vai:

- Tùy sòng bài.

Nói chung cũng giống thẻ tín dụng thông thường.

Nhưng tôi phải quét thẻ trước đã.

Annabeth đưa cho bác thẻ Lotuscash của mình.

Bác ta nhìn thẻ nghi ngờ.

Annabeth mời:

- Bác cứ quét đi ạ.

Bác tài làm ngay.

Máy tính tiền kêu lạch xạch.

Đèn bật sáng.

Lát sau, dấu vô cực hiện lên cạnh dấu $.

Điếu xì gà rớt khỏi miệng bác tài.

Ông ngạc nhiên nhìn chúng tôi:

- Đến địa điểm nào ở Los Angeles, thưa...

Quý Cô?

Annabeth ưỡn thẳng lưng.

Chỉ nhìn mặt cũng biết bạn ấy thích được gọi là quý cô:

- Bác chạy nhanh vào nhé.

Vả lại, cứ giữ tiền thừa.

Tôi tiếc quá.

Đãng lẽ Annabeth đừng nói câu đó.

Từ đó đến sa mạc Mojave, đồng hồ chỉ tốc độ của xe taxi không bao giờ tụt xuống dưới 170 km/h.

***

Trên đường đi, chúng tôi tha hồ bàn bạc.

Tôi kể hai bạn nghe về giấc mơ gần nhất.

Nhưng tôi càng cố nhớ, các chi tiết càng mờ nhạt.

Hình như sòng bài Hoa Sen làm bộ nhớ của tôi chập mạch mất rồi.

Tôi không nhớ giọng tên nô tài dấu mặt ra sao, chỉ biết đó là giọng một người quen.

Hắn gọi yêu quái dưới hang là "Chúa tể" gì gì đó... một cách xưng hô hay tên gọi khá đặc biệt.

Annabeth gợi ý:

- Chúa Tể Thầm Lặng hay Chúa Tể Thịnh Vượng?

Cả 2 đều là biệt danh của Hades.

Tôi không thấy thuận tai, nhưng chỉ ậm ừ:

- Chắc thế...

Grover góp lời:

- Nghe tả chiếc ngai giống ngai của Hades.

Ấy là tớ cũng nghe nói thế.

Tôi lắc đầu:

- Có điểm không ổn.

Căn phòng có chiếc ngai không phải phần chính của giấc mơ.

Còn nữa, giọng nói dưới hố... tớ không biết nói thế nào.

Chỉ biết nó không giống giọng thần thánh.

Annabeth trợn mắt.

Tôi hỏi:

- Sao thế?

- À, không có gì.

Tớ chỉ...

Không, nhất định là Hades, thần cai quản địa ngục.

Có thể ông ta sai tên trộm, tức tên nô tài giấu mặt, lấy tia chớp.

Sau đó, có trục trặc...

- Trục trặc gì?

- Tớ... tớ không biết.

Nhưng nếu hắn lấy quyền trượng của thần Dớt từ đỉnh Olympia sau đó các thần thay nhau săn lùng hắn...

Trong tình huống đó, thiếu gì chuyện có thể xảy ra.

Gặp trở ngại là không thể tránh khỏi.

Nếu vậy, tên trộm phải giấu tia chớp hoặc biết đâu đánh mất nó không chừng.

Dù gì thì hắn cũng không mang đến trao cho Hades được.

Giọng nói trong mơ của cậu nói vậy, đúng không?

Nô tài làm hỏng chuyện.

Do đó giờ ta đã biết bà Nữ Thần Báo Thù tìm vật gì lúc theo chúng ta lên xe bus.

Có lẽ họ tưởng ta đã lấy lại được tia chớp.

Tôi không biết bạn mình làm sao nữa: Mặt Annabeth tự nhiên trắng bệch

- Giả sử theo họ, tớ lấy được tia chớp.

Vậy thì còn xuống địa ngục làm gì?

Grover giả định:

- Để đe dọa Hades.

Hoặc để hối lộ hay gởi tối hậu thư đòi trả mẹ cậu về dương gian.

Tôi huýt gió:

- Sao Dê có đầu óc đen tối thế?

Tính đến cả khả năng ấy cơ à?

- Thì có sao?

Cảm ơn cậu quá khen.

Tôi thấy chưa thỏa đáng:

- Nhưng giọng nói dưới hang bảo nó đợi 2 bảo bối.

Nếu một trong hai có tia chớp, vậy chứ còn lại là gì?

Grover mít đặc.

Nó lắc đầu.

Nhìn tôi như thể bạn ấy biết câu tôi định hỏi, Annabeth im lặng như bảo tôi đừng nói.

Tôi hỏi:

- Cậu biết thứ dưới vực, trong trường hợp không phải Hades, đúng không?

- Percy, đừng đả động đến nó.

Bởi vì nếu không phải Hades...

Không, nhất định phải là Hades.

Xe đi qua công viên nước, rồi cột mốc có đề: Bang California 20km.

Tôi cảm giác mình bỏ qua một thông tin đơn giản mà quan trọng, giống lúc bệnh khó đọc tái phát, tôi nhìn một từ hay gặp nhưng không hiểu nghĩa vì một hoặc hai chữ cái trong đó bay đâu mất.

Càng suy nghĩ kĩ về nhiệm vụ lần này, tôi càng chắc chắn việc đối mặt với Hades không phải là giải pháp.

Hiện còn 1 việc nữa đang diễn ra, một việc còn nguy hiểm hơn nhiều.

Rủi thay, chúng tôi đang lao với tốc độ 170 km/h, bụng chắc chắn rằng Hades trộm tia chớp.

Nếu đến đó rồi phát hiện mình sai, 3 đứa không kịp sửa lỗi nữa.

Ngày Hạ chí sẽ trôi qua, cuộc chiến tranh lớn sẽ bùng nổ.

Annabeth an ủi tôi:

- Chắc chắn xuống âm phủ là đúng.

Trong mơ cậu thấy linh hồn người chết, phải không nào?

Chỉ một nơi có linh hồn người chết.

Ta đi đúng đường rồi

Annabeth cố làm 2 thằng tôi vui lên bằng cách trình bày những kế hoạch khôn khéo nhằm đến được vương quốc của thần Chết, nhưng tôi không còn lòng dạ đâu để nghe.

Còn quá nhiều yếu tố chưa rõ ràng.

Giống học trò lao đầu ôn thi nhưng không biết mình thi môn gì.

Tin tôi đi, tôi bị thế nhiều lần rồi.

Xe taxi phóng vun vút về hướng Tây.

Mỗi cơn gió thổi qua Thung Lũng chết như một linh hồn người quá cố vừa lướt qua.

Mỗi lần thắng xe rít lên, tôi lại nhớ tiếng rắn của phù thủy Echidna.

Lúc hoàng hôn, bác tài thả chúng tôi ở bãi biển Santa Monica.

Nơi này giống hệt cảnh biển Los Angeles trong phim ảnh, có điều mùi hôi bốc lên rất khó chịu.

Cửa tiệm mọc lên gần cầu tàu, hàng cọ nối nhau dọc vỉa hè, bụi đời ngủ vạ vật sau đụn cát và dân chơi lướt sóng nướng thịt bằng lửa đốt trong thùng rác.

Grover, Annabeth và tôi đi xuống mép nước.

Annabeth hỏi:

- Giờ ta làm gì đây?

Trong ánh hoàng hôn, mặt biển Thái Bình Dương sóng sánh như vàng lỏng.

Tôi chạnh nhớ những ngày vui xa xưa lắm, tôi cũng đứng hàng giờ trên bãi tắm Montauk ở đầu kia nước Mỹ, lặng ngắm biển Đại Tây Dương.

Chẳng lẽ trên đời lại có một vị thần đủ uy lực kiểm soát đại dương mênh mông này?

Ngày đi học, cô giáo dạy 2/3 bề mặt trái đất bao phủ bởi nước.

Sao tôi được làm con của nhân vật quyền uy nhường ấy?

Tôi bước xuống nước.

Annabeth ngạc nhiên:

- Percy, cậu làm gì thế?

Tôi cứ đi tiếp, nước dâng đến bụng rồi ngực tôi.

Bạn ấy nói với:

- Cậu không thấy nước ô nhiễm nặng?

Dưới đó bao nhiêu chất độc...

Nghe đến đó, đầu tôi ngụp xuống nước.

Lúc đầu tôi nhịn thở.

Nói chung ai cũng sợ sặc nước, không riêng gì tôi.

Cuối cùng, tôi không nhịn được nữa bèn há miệng thở.

Tất nhiên, tôi thở bình thường như trên mặt đất.

Nhưng các bạn đọc chớ thử làm giống tôi nhé.

Tôi đi xuống tiếp.

Trong ánh sáng mờ mờ, tôi vẫn biết xung quanh mình có gì.

Tôi cảm giác được chuyển động dưới đáy biển.

Thậm chí tôi nhìn rõ dòng chảy nóng và lạnh quyện vào nhau.

Có con gì quấn chân tôi.

Nhìn xuống, tôi suýt nữa vọt lên mặt nước với tốc độ của một quả tên lửa.

Trườn cạnh tôi là con cá mập Makhông dài hai mét rưỡi.

Nhưng con vật không cắn, nó rúc mõm nép vào tôi như con chó nhà.

Tôi rụt rè chạm vây lưng cá.

Nó vui vẻ quẫy nhẹ, khuyến khích tôi nắm chặt hơn.

Tôi giữ vây cá bằng cả hai tay.

Nó bơi vút đi, kéo tôi theo.

Nếu độc giả chưa bao giờ cưỡi cá mập, cũng đừng tự tìm cách thử...

Tuy nhiên, phải công nhận cảm giác ấy tuyệt vời hơn bất kì buổi tập trượt băng nào.

Cá mập đưa tôi vào vùng nước tối.

Nó thả tôi ngay chỗ cát dưới đáy biển sụt xuống thành vực sâu thẳm.

Tôi như đứng trên miệng hẻm núi vĩ đại Grand Canyon giữa đêm hôm khuya khoắt.

Dù không nhìn rõ lắm nhưng vẫn biết có khoảng trống mênh mông, sâu hun hút dưới kia.

Mặt nước sáng mờ mờ cách nơi đây khoảng sáu bảy chục mét.

Đáng lẽ tôi đã chết vì sức ép của nước.

Nhưng lần này tôi cũng thở bình thường.

Tôi bâng quơ tự hỏi liệu sức mình lặn sâu được chùng nào.

Chắc tôi có khả năng xuống thẳng đáy biển Thái Bình Dương.

Đúng lúc ấy, có thứ gì sáng trắng dưới hố sâu.

Càng dâng lên, nó càng sáng hơn.

Một giọng nói giống hệt giọng mẹ tôi vang lên:

- Percy Jackson!

Càng đến gần, hình dáng cô càng rõ hơn.

Tôi thấy rõ mái tóc đen bồng bềnh và váy lụa màu xanh lam.

Người cô lung linh tỏa sáng, đôi mắt đẹp tuyệt vời hút hồn tôi đến độ tôi không nhìn thấy cô đang ngồi trên lưng cá ngựa.

Cô tiên bước xuống.

Cá ngựa và cá mập bơi ra xa cùng chơi trò đuổi bắt.

Cô tiên mỉm cười với tôi:

- Cháu đến được tận đây rồi ư?

Giỏi quá.

Tôi không biết hành xử ra sao, chỉ biết cúi đầu cung kính:

- Cô có đến sông Misissippi phải không ạ?

- Đúng rồi.

Ta là Hải Tinh.

Nữ thần biển bơi ngược lên sông rất khó khăn nhưng chị em họ ta là nữ Thủy thần tiếp sức cho ta đến gặp cháu.

Dù không phục vụ trong triều đình chúa tể Poiseidon, họ vẫn phục vụ vì tôn kính ông..

- Vậy ra, cô là người của triều đình Poseidon?

Nữ thần biển gật đầu:

- Đã mười mấy năm trôi qua kể từ khi con trai thần biển chào đời.

Chúng ta háo hức quan sát từng giai đoạn trưởng thành của cháu

Thốt nhiên tôi nhớ ngày bé rong chơi trên bãi biển Montauk, tôi từng nhìn thấy gương mặt phụ nữ mỉm cười in trên sóng nước, như thể có nhóm con gái rủ nhau soi bóng xuống mặt biển.

Trước nay tôi không chú ý lắm đến hiện tượng ấy, cũng như nhiều hiện tượng lạ lùng khác từng xảy đến với tôi từ lúc mới lọt lòng.

- Nếu rất chăm lo cho cháu, đáng lẽ cha cháu phải đến đây chứ?

Sao cha không trực tiếp dặn dò bảo ban cháu?

Một dòng biển lạnh buốt từ đáy biển dâng lên.

- Đừng quá khắc nghiệt với Thần Biển.

Ông đang bị đẩy đến bên bờ vực của cuộc chiến tranh phi nghĩa.

Thêm vào đó, ông không được phép trực tiếp giúp đỡ cháu.

Thần thánh không bày tỏ sự thiên vị trong tình cảm.

- Con ruột cũng không ngoại lệ ư?

- Với con ruột lại càng không.

Ảnh hưởng của các thần chỉ có thể là gián tiếp.

Chính vì thế ta mới đến đây mang theo lời cảnh báo và một món quà.

Nữ thần biển chìa tay.

Ba hạt ngọc trai hiện ra trong lòng bàn tay.

- Cháu sắp vào lãnh địa của Hades.

Người trần đến đó và sống sót trở về chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Chẳng hạn Orpheus giỏi đàn ca hát xướng, Hercules khỏe phi thường, Houdini mưu trí vượt ngục từ nhà tù Tartarus nằm dưới tầng cuối cùng của địa ngục.

Cháu có tài như họ không?

- Dạ... không ạ.

- Nhưng cháu có thứ khác.

Tài năng của cháu mới bắt đầu hé lộ.

Lời Sấm Truyền tiên đoán cháu có tương lai huy hoàng nhưng cũng lắm chông gai, miễn là cháu còn sống đến lúc trưởng thành.

Chắc chắn thần Poseidon không khoanh tay mặc con mình chết yểu.

Vì thế, hãy nhận 3 viên ngọc này.

Khi gặp nguy khốn, hãy ném một viên xuống đất.

- Sau đó thì thế nào ạ?

- Tùy thuộc từng hoàn cảnh.

Nhưng hãy nhớ: Cái gì của biển phải trả lại cho biển.

- Còn lời cảnh báo là gì ạ?

Cặp mắt xanh lục của nữ thần Biển lấp lánh:

- Sự nghi ngờ và tuyệt vọng giúp Hades có thêm sức mạnh.

Ông ta chỉ chờ dịp lừa dối cháu, khiến cháu mất sáng suốt.

Khi cháu trong lãnh địa của ông ta, Hades không bao giờ buông tha cho cháu trở về.

Hãy vững tin, cháu nhé.

Hãy làm theo con tim mách bảo, nếu không cháu sẽ mất hết.

Chúc may mắn, Percy Jackson.

Nữ thần cưỡi cá ngựa, trở về đáy vực.

Tôi nói với theo:

- Hượm đã.

Lúc còn ở sông, cô nói chớ tin vào quà cáp.

Quà nào thế?

Giọng nữ thần biển nhỏ dần:

- Giã biệt.

Cháu phải lắng nghe con tim mình.

Tôi chỉ muốn theo cô xuống vực tối xem cung điện của thần Poseidon.

Nhưng khi nhìn lên, tôi thấy hoàng hôn gần tắt.

Bạn bè tôi đang đợi.

Thời gian còn lại quá ít ỏi...

Tôi đạp nước, bơi lên.

Vừa lên bãi cát, quần áo tôi lập tức khô ráo.

Kể Grover và Annabeth nghe xong, tôi cho hai bạn xem các hạt ngọc.

Annabeth nhăn mặt:

- Cái gì cũng có giá của nó.

- Cô ấy cho tớ mà.

Cô bạn tôi lắc đầu:

- Ý tớ không phải thế.

Quà tặng luôn có mặt trái.

Rồi cậu xem.

Trong tâm trạng lo âu, chúng tôi quay lưng lại với biển.

Với mấy đồng bạc lẻ trong ba lô của thần Ares, ba đứa đi xe buýt lên khu tây Hollywood.

Chúng tôi đưa bác tài xem mẩu giấy ghi địa chỉ Địa ngục lấy trong phòng "cô Em", nhưng bác tài bảo chưa từng nghe tên Phòng thu âm DOA bao giờ.

Ông ta bảo tôi:

- Hình như ta thấy cháu trên TV rồi thì phải.

Cháu đóng phim à?

- Dạ... cháu đóng thế ạ...

đóng thế cho nhiều diễn viên nhí.

- Thảo nào.

Chúng tôi cảm ơn ông và xuống xe ngay bến sau.

Ba đứa vừa đi bộ cả mấy cây số vừa hỏi đường đến DOA.

Chẳng ai biết nó ở đâu.

Ngay cả trong danh bạ điện thoại cũng không có.

Trên đường đi, chúng tôi phải chạy vào ngõ hẻm trốn xe cảnh sát đến 2 lần.

Tôi chết sững trước cửa hàng bán đồ điện khi thấy trên TV chiếu buổi phỏng vấn một gương mặt quen thuộc: cha ghẻ Gabe Cóc Chết.

Đích thân Barbara Walters phỏng vấn ông ta.

Chắc giờ cha ghẻ tôi nổi tiếng lắm.

Phóng viên lừng danh nói chuyện với ông ngay trong căn hộ của mẹ, giữa lúc ván bài dang dở.

Một phụ nữ trẻ măng tóc bạch kim ngồi cạnh, vỗ vỗ bàn tay ông.

Giọt nước mắt cá sấu lăn dài trên má ông ta:

- Thưa cô Walters, nói thực nếu không có bác sĩ tâm lí Sugar đây, tôi đã suy sụp vì đau khổ.

Đứa con riêng của vợ đã lấy đi mọi thứ quý giá đối với tôi.

Vợ tôi... xe camaro... xin... lỗi.

Cứ nhắc đến nó, tôi không cầm lòng được.

Barbara Walters quay sang ống kính:

- Trước mắt quý vị là một người đang tan nát cõi lòng.

Không thể ngờ một thiếu niên lại gây nên tai họa nhường này.

Một lần nữa, chúng tôi đưa lên đây tấm hình mới nhất của kẻ đào tẩu, chụp ở Denver cách đây 1 tuần.

Màn hình hiện lên tấm ảnh chụp tôi, Grover và Annabeth nói chuyện với Ares ngoài quán ăn Colorado.

Barbara Walters hào hứng:

- Hai thiếu niên kia là ai?

Người đang nói chuyện với chúng là ai?

Percy Jackson là ai: kẻ sống ngoài vòng pháp luật, tên khủng bố hay nạn nhân bị tẩy não bởi một giáo phái mới?

Sau phần quảng cáo, mời quý vị cùng chúng tôi trò chuyện với nhóm chuyên gia tâm lí trẻ em hàng đầu Hoa Kỳ.

Grover kéo tôi xềnh xệch.

Nếu còn đứng đó, chắc tôi đấm vỡ kính của tiệm đồ điện mất.

- Ta đi thôi cậu.

Trời chạng vạng tối.

Những tay anh chị mặt mày bặm trợn bắt đầu xuống phố tìm thú tiêu khiển.

Không sao.

Tôi vốn sinh ra và lớn lên ở New York nên không gì hù dọa được tôi.

Khổ nỗi, Los Angeles khác hẳn New York.

Ở quê nhà, mọi thứ đều gần gũi.

Dù thành phố rộng mênh mông, tôi không bao giờ lạc.

Đường xá, tàu diện ngầm rất quy củ, chỉ cần nắm nguyên tắc toàn bộ hệ thống là đủ.

Chỉ cần không quá đần độn, trẻ con cũng có thể đi lại an toàn..

LA không giống vậy.

Đô thị này vươn ra tứ phía, cảnh vật nhốn nháo, tôi không biết nên đi ngả nào.

Nó nhắc tôi nhớ thần Ares: không xứng tầm nhưng thích tỏ ra vĩ đại, muốn được coi là "ngầu" bằng cách phách lối, cư xử quái đản và thích làm khó dễ người khác.

Ngày mai đã là Hạ Chí, tìm lối vào địa ngục bằng cách nào đây?

Ngoài đường, lũ bụi đời, đại bàng đường phố và vô công rồi nghề nhìn chúng tôi từ đầu đến chân tìm thứ đáng công ăn cướp.

Lúc đi ngang qua đầu con hẻm nhỏ, tôi nghe tiếng gọi từ bóng tối:

- Này, đứng lại.

Tôi ngớ ngẩn làm theo.

Ngay lập tức, ba đứa bị bao vây.

Một băng nhóm thiếu niên vây lấy chúng tôi.

Chúng có 6 tên tất cả: da trắng, quần áo đắt tiền và dáng điệu ngông nghênh.

Giống hệt lũ học trò viện Yancy: Con nhà giàu ưa quậy phá.

Theo bản năng tự vệ, tôi rút thanh Thủy Triều.

Không biết thanh gươm từ đâu ra, bọn du côn lùi cả lại.

Riêng tên đầu sỏ, hoặc cực kì đần độn hoặc gan to bằng trời, cầm dao bấm xông đến chỗ tôi.

Sai lầm của tôi là vung kiếm chém nó.

Thằng lưu manh rú lên.

Nhưng vì là người phàm "thứ thiệt", nên dù bị lưỡi kiếm xuyên qua ngực, nó không hề hấn gì.

Nó cúi xuống:

- Sao lại...

Tôi đoán từ ngạc nhiên chuyển sang giận dữ chỉ mất 3 giây nên bảo Grover và Annabeth:

- Chạy mau!

Dẩy hai đứa tránh trước mặt văng ra xa, chúng tôi vắt chân lên cổ liều chạy dọc con phố, không biết đích đến là đâu.

Đến ngã tư, chúng tôi cùng rẽ.

Annabeth la lên:

- Ra đằng kia!

Cả dãy nhà chỉ còn một tiệm còn mở, đèn sáng rực cửa kính.

Trên cửa ra vào có biển đề: CRTUY'S WRTREBDE ALPACE

ĐỆM NƯỚC CRTUYS.

Grover đoán:

- Đệm nước Crusty ư?

Nếu không gặp nguy khốn, tôi không bao giờ vào đây.

Lúc này chính xác là tình huống nguy khốn.

Chúng tôi chạy ùa vào, nấp sau một cái giường trải nệm nước.

Chưa đầy một giây sau, nhóm du côn chạy băng qua cửa.

Grover thở hổn hển:

- Chúng mắc lừa ta rồi.

Giọng ồm ồm vang lên ngay sau chúng tôi:

- "Chúng" nào?

Ba đứa giật nảy mình, quay phắt lại.

Sau lưng chúng tôi là một gã hung dữ, tuy ăn mặc bình thường.

Hắn cao hai mét mốt, đầu trọc lóc.

Da hắn xám xịt, thô ráp, nụ cười lờ đờ và lạnh như nước đá.

Dù thấy hắn lừ đừ tiến đến, nhưng tôi có cảm giác hắn cực kì nhanh nhẹn khi cần.

Bộ vét thời trang thập niên 70 của hắn chắc lấy từ sòng bài Hoa Sen!

Hắn mặc áo sơ mi hoa mở phanh khoe khuôn ngực trụi lông.

Hai ve áo khoác nhung rộng bản, to như đường băng cho máy bay hạ cánh.

Tôi không thể đếm nổi quanh cổ hắn có bao nhiêu sợi dây chuyền bạc.

Hắn cười lộ hàm răng vàng khè:

- Ta là Crusty.

Tôi ép mình không bật ra câu Tên nghe cũng như người vậy.

Tôi phân trần:

- Xin lỗi đã vào đây.

Chúng cháu chỉ định đi ngang qua.

Hắn làu bàu:

- Trốn bọn lưu manh chứ gì?

Tối nào chúng cũng lảng vảng ở đây.

Nhờ có chúng, cửa hàng của ta có người ra vào.

Này, muốn xem đệm nước không?

Tôi chưa kịp nói "Không, cảm ơn", hắn đã đặt bàn tay hộ pháp, móng dài cáu bẩn lên vai đẩy tôi vào phòng trưng bày hàng.

Ở đây có đủ mọi loại giường mọi cỡ với đủ mọi chất liệu, từ gỗ đến vải vóc.

Có cả loại giường từ lớn đến cực kì lớn.

- Ta thích nhất mẫu hàng này.

Bán chạy lắm nhé.

Crusty hãnh diện vuốt vuốt mặt giường phủ sa tanh đen, đầu giường gắn sẵn đèn nham thạch.

Tấm nệm rung bần bật, trông như miếng thạch đên khổng lồ núng nính.

Crusty quảng cáo:

- Dễ chịu như ngàn bàn tay xoa bóp.

Mấy đứa thử xem.

Đừng ngại, lên nằm một giấc cho thoải mái.

Ta không phiền đâu mà.

Với lại, hôm nay ta nghỉ bán.

Tôi ấp úng:

- Dạ... chắc tụi cháu không...

Grover nằm ngay:

- Giường mát xa tự động đấy.

Thích quá!

Crusty xoa xoa cái cằm sần sùi:

- Gần đúng, gần đúng.

Tôi thắc mắc:

- Sao lại gần đúng?

Hắn quay sang Annabeth:

- Cháu gái, giúp ta xem thử giường kia, chắc vừa đấy.

Cô bạn tôi phản đối:

- Nhưng...

Hắn vỗ vai, đẩy cô bé đến bên giường hiệu Safari Deluxe: thành giường chạm nổi hình sư tử, chăn in hình báo gấm.

Khi Annabeth không chịu nằm, hắn xô mạnh cô bé.

Bạn tôi cự nự:

- Này!

Làm gì thế?

Crusty búng tay, niệm chú:

- Ergo!

Từ hai thành giường, dây thừng lao vút ra trói Annabeth xuống mặt nệm.

Grover định ngồi lên, dây thừng từ mặt giường sa tanh dên trói chặt nó xuống nệm.

Giọng Grover run bần bật vì máy mát xa:

- Không thích!

Không thích nữa rồi.

Gã khổng lồ quay sang tôi cười nham nhở:

- Đã bảo gần đúng rồi mà lại.

Tôi định chạy nhưng bàn tay hộ pháp đã túm gáy tôi:

- Chà chà, thằng này nhanh thật.

Không sao.

Tao sẽ tìm ra ngay giường vừa với mày.

- Thả bạn tôi ra!

- Thả chứ!

Nhưng trước hết phải chỉnh cho vừa đã

- Nghĩa là sao?

- Giường nào cũng dài 2m.

Bạn mày lùn quá.

Làm chúng vừa với giường là việc nên làm.

Annabeth và Grover oằn mình cố tìm cách thoát.

Crusty lẩm bẩm:

- Số đo không chuẩn khó chịu lắm.

Ergo!

Từ hai đầu giường, dây thừng lại mọc.

Chúng quần chặt cổ chân và hai nách bạn tôi, kéo căng họ ra.

Crusty bảo tôi:

- Đừng lo.

Chỉ kéo dài thôi mà.

Xương sống dài thêm khoảng 6 phân nữa là chuẩn.

Tỉ lệ sống sót là một trên vài triệu.

Thấy chưa, thậm chí chúng có khả năng sống là khác.

Sao giờ ta không tìm giường cho mày nhỉ?

Grover gào to:

- Percy!

Tôi tính toán thật nhanh.

Mình tôi đấu với gã chủ tiệm khác nào trứng chọi đá.

Hắn sẽ bẻ gãy cổ tôi trước khi tôi kịp rút kiếm.

Tôi gợi chuyện:

- Crusty không phải tên thật của ông nhỉ?

Hắn thừa nhận:

- Đúng ra ta là gã Procrustes.

- Procrustes có nghĩa là "kéo dài".

- Phải, nhưng nếu khách hàng vất vả đánh vần chữ Procrustes, buôn bán sẽ không thuận lợi.

Crusty dễ đọc hơn

- Chí lí, tên nghe rất kêu.

Mắt hắn sáng rỡ:

- Thật không?

- Thật quá đi chứ!

Tài năng thiết kế giường cũng tuyệt đỉnh.

Dù cười ngoác mang tai, hắn vẫn nắm chặt gáy tôi:

- Hễ có dịp, ta lại bảo khách thế, nhưng chẳng ai tán dương tài năng của tao cả.

Mày đã thấy ai gắn cố định đèn nham thạch vào đầu giường như tao chưa?

- Ồ, độc đáo lắm.

- Phải, đúng thế.

Annabeth quát tôi:

- Percy, cậu làm gì vậy?

Tôi bảo Procrustes:

- Đừng để ý.

Nhỏ đó quá quắt lắm.

Gã khổng lồ cười ha hả:

- Khách hàng nào chẳng thế.

Chưa thấy ai cao đúng 2m, không sai một ly.

Đúng là không biết chăm sóc chiều cao.

Đã vậy còn kêu ca giường không vừa.

- Thế nhỡ có người cao hơn 2m thì sao?

- Thiếu gì kẻ đó.

Càng dễ chỉnh chứ sao.

Bàn tay to bè bè buông gáy tôi.

Nhưng tôi chưa kịp động thủ, hắn đã thò tay xuống gầm bàn tính tiền lấy cây rìu lớn:

- Chỉ cần phần giữa vừa với giường.

Đầu với chân chỗ nào thừa chặt phăng hết.

Tôi nuốt khan:

- Ra vậy.

Rất có óc thẩm mĩ.

- Gặp khách hàng thông minh như mày khoái thật.

Lực kéo dây thừng mạnh lắm rồi.

Annabeth tím tái vì đau.

Còn Grover kêu ằng ặc như ngỗng bị bóp cổ.

Nhìn thẻ bán hàng trên giường Trăng mật Đặc biệt, tôi cố bình tĩnh hỏi:

- Giường này cũng có máy rung phải không?

- Chính xác.

Thử nằm xem

- Thử ngay đây.

Chỉ có điều nếu ai to cao bằng ông... chắc máy yếu không rung nổi chứ gì?

- Đảm bảo có.

- Ông cứ đùa.

- Không, thật mà.

- Tôi không tin

Hắn ngồi lên mép giường, vỗ vỗ nệm:

- Thấy chưa?

Tôi búng tay:

- Ergo!

Quanh người Crusty, dây thừng vươn ra, trói chặt hắn

Hắn hét lên:

- Làm gì thế hả?

Tôi bảo dây thừng:

- Chỉnh hắn vào giữa.

Dây tự chỉnh theo lệnh tôi.

Cả đầu Crusty thò ra khỏi đầu giường này, chân thò ra đầu giường kia.

Hắn kêu:

- Đừng!

Ta chỉ làm thử cho ngươi xem thôi mà.

Tôi rút kiếm:

- Không điều chỉnh không xong.

Tôi không ngại ra tay.

Nếu Crusty là người, không đời nào tôi hại hắn.

Nhưng nếu là yêu quái, hắn phải biến thành bụi ít lâu là đáng đời.

Hắn bảo tôi:

- Này, đang có đợt khuyến mãi đấy.

Mọi kiểu giường thấp đều hạ giá 30%.

Tôi giơ kiếm lên:

- Xử lí đầu trước nhé?

- Không cần trả tiền trước.

Tiền nợ 6 tháng sau không tình lãi.

Tôi vung gươm, tiếng mặc cả của Crosty ngưng bặt.

Quay sang giường hai bạn, tôi cắt hết dây thừng.

Annabeth và Grover đứng dậy.

Kêu than, nhăn nhó và bực mình mắng tôi không tiếc lời.

Tôi trêu:

- Hai cậu cao hơn rồi đấy.

Annabeth cau có:

- Đùa thế có ngày chết người ta.

Lần sau mau lên nghe chưa?

Bảng thông báo sau bàn làm việc của Crusty có mẩu quảng cáo cho dịch vụ Phát Chuyển Nhanh Hermes và phần quảng cáo khác cho niên giám điện thoại mới của riêng giới yêu quái trong khu vực Los Angeles.

"Niên giám những trang vàng của giới yêu quái đầy đủ thông tin nhất".

Dưới đó có tờ rơi màu vàng của phòng thu âm DOA hứa có thưởng cho ai giao nộp linh hồn con lai.

"Chúng tôi luôn tìm kiếm tài năng trẻ!"

Ngay dưới là địa chỉ DOA, kèm theo sơ đồ chỉ dẫn đường tới đó.

Tôi giục các bạn:

- Ta đi thôi.

Grover phàn nàn:

- Cho nghỉ chút đi.

Cậu quên tụi này vừa bị tra tấn?

- Xuống địa ngục còn thú vị hơn.

Cửa vào đó chỉ cách đây một dãy nhà.

18.

Annabeth Huấn Luyện Chú Khuyển Ba Đầu

Ba đứa nấp trong bóng tối trên đại lội Valencia, đọc dòng chữ vàng khắc trên mặt đá hoa cương đen:

PHÒNG THU M DOA

Dưới đó có chữ in dán trên cửa kính.

KHÔNG LUẬT SƯ.

KHÔNG CHẬM TRỄ.

KHÔNG CƠ HỘI SỐNG.

Giờ đã sắp nửa đêm nhưng tiền sảnh sáng đèn và đông đúc.

Sau bàn bảo vệ là nhân viên an ninh gốc Phi trông dữ tợn, đeo kính đen và xỏ lỗ tai.

Tôi dặn hai bạn:

Các cậu nhớ kế hoạch chưa?

Grover hồi hộp:

Rồi.

Kế hoạch hay lắm.

Annabeth thắc mắc:

Nếu kế hoạch ấy không thành thì sao?

Cậu đừng lo quá.

Sắp vào địa ngục, tớ không lo sao được?

Tôi lấy ba hạt ngọc trai trong túi: ba viên tròn trắng ngà nhận từ tay Nữ thần biển ở Santa Monica.

Khi nguy khốn, cúu cánh của tôi là ba hạt nhỏ xíu này ư?

Annabeth chạm vai tôi:

Percy, tớ xin lỗi.

Cậu nói đúng.

Ba đứa mình làm được mà.

Không sao đâu.

Cô bạn huých Grover.

Nó gật lia lịa:

Phải đấy.

Ta có khả năng đến tận đây cơ mà.

Giờ chỉ cần lấy lại tia chớp, cứu mẹ cậu là xong.

Dễ thôi.

Tôi biết ơn hai đứa vô cùng.

Vừa ít phút trước, vì tôi họ suýt bị tra tấn đến chết, giờ lại động viên và can đảm vì tôi.

Tôi cất ngọc trai vào túi:

Ta vào địa ngục kiếm ít chiến lợi phẩm đi nào.

Cả ba kề vai tiến vào phòng chờ của DOA.

Tiếng sáo dìu dặt phát ra từ nhiều loa giấu trong tường.

Thảm và tường ở đây đều màu xám lạnh lẽo.

Mấy chậu cây xương rồng kiểng nhọn hoắt trang trí góc phòng trông như xương bàn tay.

Đồ nội thất bọc da đen, mọi ghế đều có người ngồi.

Trong phòng đầy kẻ đứng người ngồi, có người đứng sát cửa sổ nhìn ra ngòai, người khác chờ thang máy.

Họ không đi lại hay nói chuyện, cũng không cử động gì nhiều.

Tôi có liếc trộm vài người, thấy họ đều bình thường.

Nhưng nếu nhìn lâu, cơ thể họ bắt đầu trong suốt.

Tôi có thể nhìn xuyên qua họ.

Bàn bảo vệ kê trên bục cao khiến chúng tôi phải ngước lên nói chuyện.

Nhân viên an ninh sau bàn cao và lịch lãm.

Da ông ta màu socola, tóc nhuộm bạch kim cắt sát đến da đầu.

Cặp kính râm ông đeo gọng đồi mồi rất hợp với bộ vét lụa thời trang Ý tiệp màu tóc.

Trên ve áo ông cài hoa hồng đen ngay dưới bảng tên bằng bạc.

Nhìn bảng tên, tôi phát hoảng:

Chú là Chiron ư?

Ông ta nhòai người lên bàn.

Nhìn mắt kính, tôi không thấy gì ngòai bóng của chính mình.

Nụ cười của người này vừa ngọt ngào vừa lạnh lẽo, giống phù thủy mãng xà cười trước khi nuốt chửng con mồi.

Ông ta ngói giọng Anh rất lạ, giống người xứ khác học tiếng Anh cố bắt chước cho giống người bản xứ:

Cậu này trông thông minh sáng láng ra phết.

Vậy mà...

Nói xem, trông ta có giống nhân mã không?

Kh... không ại.

Ông ta ngọt xớt:

"Thưa ngài, không ạ" chứ?

Thưa ngài, không ạ.

Một tay nắm bảng tên, ngón trò bàn tay kia của ông ta chỉ từng chữ:

Đọc to lên xem nào, C-H-A-R-O-N.

Giờ nói theo ta nào: Charon.

Charon.

Nhóc này siêu quá ta!

Nói tiếp ta xem: Ngài Charon.

Ngài Charon.

Giỏi lắm!

Đừng nhầm ta với thứ nửa người nửa ngựa đó nữa, kẻo ta phát điên lên đấy.

Giờ nói xem, hồn ma ba nhóc tỳ kia muốn gì đây?

Bị gọi là hồn ma, tôi choáng bèn nhìn Annabeth cầu cứu.

Annabeth dõng dạc:

Chúng cháu muốn xuống địa ngục.

Charon chu môi:

Nghe hay đấy!

Ông nói sao ạ?

Thẳng thắn và thật lòng.

Không la oai oái.

Cũng không ăn nói ngây ngô, đại loại như: "Thưa ngài Charon, Ngài có nhầm không vậy?".

Nhưng sao mấy đứa chết thế?

Tôi thích khuỷu tay vào sườn Grover.

Nó lắp bắp:

Dạ... chết đuối... trong bồn tắm ạ.

Cả ba ư?

Chúng tôi đồng loạt gật đầu.

Charon thờ ơ:

Bồn tắm to nhỉ?

Vậy chắc tụi bay không có hai đồng bạc để lên mắt làm lộ phí xuống âm phủ rồi.

Trong trường hợp đó, nếu là người lớn, ta nhận thẻ tín dụng hoặc thêm tiền tàu bè qua sông mê vào hóa đơn truyền hình cáp mới.

Nhưng trẻ con... chẳng đứa nào chuẩn bị chết cho cẩn thận cả.

Nếu vậy, mấy đứa sẽ phải chờ ít nhất vài trăm năm.

Nhưng chúng cháu có tiền vàng.

Tôi xỉa ba đồng drachma lên bàn.

Chẳng là tôi tìm thấy của nả bằng hiện kim giấu dưới bàn làm việc của Crusty.

Ba đồng tiền ấy chỉ là số lẻ.

Charon liếm môi:

Chà chà... tiền drachma thật đây mà.

Vàng thật hẳn hoi nhé.

Lâu lắm rồi ta chưa nhìn thấy...

Bàn tay hau háu của hắn định vơ tiền bỏ túi.

Sắp thành công rồi.

Thình lình Charon nhìn tôi chằm chằm.

Tia nhìn lạnh lẽo thấu qua mắt kính như muốn khoan thủng ngực tôi.

Nhưng mà này, lúc nảy mày đọc sai tên tao.

Có phải do chứng khó đọc không?

Không.

Tại chết rồi nên mắt bị quáng.

Charon nhòai người tới, hít hít:

Mày chưa chết.

Đáng lẽ tao phải biết trước mới phải.

Mày không phải người phàm.

Thế là thần à?

Tôi khăng khăng:

Chúng cháu phải xuống địa ngục.

Charon gầm gừ.

Ngay lập tức, đám đông trong phòng cử động, người đi tới đi lui vẻ khó chịu, người châm thuốc.

Đằng này có người vuốt tóc, người đằng kia sốt ruột xem đồng hồ đeo tay.

Charon bảo:

Biến đi trước khi ta đổi ý.

Ta sẽ lấy tiền vàng và quên đã gặp các ngươi...

Hắn thèm thuồng dán mắt vào tiền nhưng chúng tôi nhanh tay chộp lấy.

Tôi nói cứng:

Không phục vụ, không có tiền boa.

Charon gầm lên nghe lạnh cả người.

Mọi linh hồn trong phòng vội đổ xô về phía thang máy.

Tôi thở dài:

Tiếc quá, tụi này định cho thêm.

Tôi giơ túi đựng đầy tiền của Crusty.

Vốc một nắm, tôi để mặc tiền vàng rơi qua kẻ tay.

Tiếng gầm biến thành tiếng sư tử rên:

Tiểu thần linh kia, tưởng mua chuộc được ta chắc?

Nhân tiện nói xem trong túi có bao nhiêu tiền?

Nhiều.

Đảm bảo nhiều hơn khoản tiền mọn Hades đổi lấy mồ hôi nước mắt của ông.

Nói mồ hôi nước mắt còn nhẹ đấy.

Ngươi cứ tưởng tượng đi, phục vụ đám hồn ma kia cả ngày khổ cỡ nào.

Chúng suốt ngày ỉ ôi: "Lạy ông, tôi chưa muốn chết." với lại "Tôi không có tiền.

Cho tôi đi đò miễn phí nhé."

Đã vậy suốt ba ngàn năm qua, ta chưa được lên lương lần nào.

Mi tưởng mấy bộ vét này rẻ lắm sao?

Tôi hưởng ứng:

Ông xứng đáng nhiều hơn thế.

Bằng khen.

Sự tôn trọng.

Lương hậu nữa.

Nói xong một từ, tôi lại xỉa một đồng vàng.

Charon nhìn bộ vét mốt thời thượng đang mặc, như thể đang hình dung mình mặc bộ khác đẹp hơn.

Chiến hữu này, cậu càng nói càng có lý.

Tôi rắc thêm vài đồng vàng:

Khi nào gặp Hades, ta sẽ đề nghị tăng lương cho ông.

Hắn thở dài:

Nhưng mà đò sắp hết chỗ rồi.

Mi tử tế với ta, ta sẽ đưa cả ba lên rồi khởi hành luôn.

Hắn vơ tiền đứng dậy:

Theo ta.

Lúc chúng tôi chen qua đám đông hồn ma ăn chực nằm chờ, họ níu áo ba đứa, miệng thều thào tiếng gì nghe không rõ.

Charon làu bàu xua đuổi họ:

Tránh ra, lũ ăn bám.

Hắn đưa chúng tôi đến thang máy đầy chật hành khách cầm sẵn vé màu xanh lá cây.

Charon lôi hai linh hồn định vào cùng chúng tôi, đẩy họ về phòng đợi.

Hắn oang oang nói với cả phòng:

Ai hỏi ta đi đâu, cấm đứa nào nói.

Kẻ nào hé môi sẽ phải chờ thêm một ngàn năm nữa.

Nhớ chưa?

Charon đóng cửa, đưa thẻ khóa vào bảng điều khiển.

Thang máy bắt đầu đi xuống.

Annabeth hỏi:

Số phận linh hồn ngoài phòng đợi ra sao?

Không đi đâu hết?

Họ phải chờ bao lâu?

Lâu hay chóng tùy thuộc vào lòng hảo tâm của ta.

Mà tính ta chặt chẽ lắm.

Ồ... thế cũng công bằng... nhỉ?

Charon nhướng mày:

Cô nghe ai nói thần chết công bằng bao giờ chưa?

Đến lượt cô khắc biết.

Cứ đi lang thang vào những chỗ thế này, đảm bảo cô chết sớm.

Tôi khẳng định:

Tụi này sẽ an toàn ra khỏi đây.

Vậy sao?

Tự nhiên tôi chóng mặt.

Hình như thang máy không đi xuống nữa.

Nó đi ngang.

Không khí biến thành sương mù.

Linh hồn quanh tôi thay đổi hình dạng.

Quần áo mốt này nọ tan dần, biến thành áo choàng xám có mũ.

Nền thang máy chao đảo.

Tôi chớp mắt lia lịa.

Khi định thầnh lại, tôi thấy bộ vét màu kem của Charon đã biến thành áo choàng đen.

Kính đồi mồi biến mất.

Chỗ đáng lẽ phải là mắt giờ chỉ là hai hốc sâu thẳm, giống mắt thần Ares, chỉ có điều mắt Charon tối đen, chất chứa sự tối tăm, chết chóc và tuyệt vọng.

Thấy tôi ngó trân trân, ông ta cấm cảu:

Nhìn gì mà nhìn?

Đâu có.

Tôi tưởng hắn cười, hóa ra không phải.

Da thịt hắn trong suốt, khiến tôi nhìn thấu xương đầu lâu.

Nền thang máy vẫn nghiêng ngả.

Grover than vãn:

Chắc tớ bị say sóng.

Sau lần chớp mắt thứ hai của tôi, thang máy biến thành thuyền gỗ.

Charon đang chèo thuyền đua chúng tôi đi trên mặt sông sóng sánh, đen ngòm pha lẫn xương trắng, cá chết và lạ nhất là dưới sông có cả búp bê nhựa, hoa cẩm chướng nát ủng và cặp táp góc mạ vàng sủng nước.

Annabeth lẩm bẩm:

Sông Mê Styx cũng bị...

Charon đỡ lời:

Ô nhiễm.

Suốt mấy ngàn năm, con người đã vứt bỏ mọi thứ tốt đẹp xuống đây: hy vọng, ước mơ, và tâm nguyện bất thành.

Đúng là đồ vô trách nhiệm hay vứt rác bừa bãi.

Sương bảng lảng trên mặt sông dơ dáy.

Cao tít phía trên là vòm hang đầy nhủ đá.

Trước mặt, mơi bến bờ xa tắp tỏa ánh sáng xanh lục, màu của chất độc.

Cơn hoảng loạn bóp nghẹt cổ tôi.

Sao tôi lại xuống đây?

Sao quanh tôi toàn... người chết.

Annabeth nắm tay tôi.

Bình thường chắc tôi ngượng chết được.

Nhưng lúc này tôi hiểu ý bạn.

Annabeth cần giữ vững niềm tin rằng trên thuyền còn có người chưa chết.

Một cách vô thức, tôi lẩm nhẩm cầu xin dù không biết mình cầu xin ai.

Dưới này chỉ có một thần có uy quyền, nhưng nhiệm vụ của tôi lại là đấu tranh với ông ấy.

Bến bờ địa ngục hiện ra.

Đá lởm chởm và cát tư núi lửa đen sì trải dài từ mép nước đến chân tường đá cao ngất, rộng vô cùng.

Đâu đó rất gần vang lên âm thanh dội vào vách đá.

Tiếng hú của con gì đó rất to.

Charon cười bảo:

Chó ba đầu đói bụng.

Ba tiểu thần linh không gặp may rồi.

Đáy thuyền trượt trên nền cát đen.

Hồn ma lần lượt lên bờ.

Một cô dắt tay con gái nhỏ.

Hai ông bà già khoác tay bước thấp bước cao.

Một thằng bé đúng bằng tuổi tôi khoác áo xám đi lầm lũi.

Charon từ biệt:

Chúc may mắn đấy, chỉ có điều may mắn không có dưới âm phủ.

Đừng quên nhắc ông chủ tăng lương cho ta.

Đếm tiền vàng trong túi xong, lão ta cầm chèo lên.

Vừa hát khe khẽ, Charon vừa chèo thuyền trống nhắm bờ bên kia thẳng tiến.

Ba chúng tôi theo linh hồn đi trên con đường mòn ghập ghềnh.

Tôi không biết sắp tới sẽ là gì: cổng ngọc trai hay cổng lưới sắt?

Nhưng lối vào địa ngục giống đoạn đường nói giữa cổng an ninh sân bay với trạm thu phí Jersey.

Dưới mái vòm đen lớn có ba cửa.

Trên mái vòm có dòng chữ: Đường đến Erebos.

Mỗi cửa có máy dò kim loại và nhiều máy quay an ninh.

Phía dưới là ngục thất có ma cà rồng giống Charon mặc áo choàng đen canh gác.

Đến đây, tiếng gầm đói khác của thú vật nghe rõ mồn một, nhưng tôi không biết nó phát ra từ đâu.

Chúng tôi không thấy Cerberus, chó ba đầu gác cửa nhà thần Hades, đâu cả.

Linh hồn xếp thành ba hàng.

Hai hàng có chữ SẴN SÀNG PHỤC VỤ, một hàng ghi EZ DEATH.

Hàng EZ DEATH tiến rất nhanh.

Hai hàng kia cực kỳ chậm.

Tôi hỏi Annabeth:

Cậu biết gì về ba hàng này không?

Hàng tiến nhanh chắc chắn đến thẳng chỗ Asphodel.

Họ không phản đối gì.

Họ không muốn chịu rủi ro khi đến hầu tòa vì rất có thể tòa sẽ có bằng chứng chống lại họ.

Người chết có tòa án à?

Có chứ.

Ba quan tòa toàn người nổi tiếng như Vua Minos, tổng thống Thomas Jefferson và đại thi hào Shakespeare...sẽ thay nhau chủ trì.

Họ phân tích một đời người, sau đó thi thoảng quyết định nên khen tặng, tức là lên thiên đường, hay nên trừng phạt.

Còn nói chung ai sống đời bình dị, không đặc biêt, không xấu mà cũng không tốt sẽ đến chỗ Asphodel.

Đến đó làm gì?

Grover ví von:

Cứ hình dung cậu đứng giữa đồng lúa mỳ mênh mang ở Kansas.

Cố đi những vẫn như đứng một chỗ.

Khổ thế cơ à?

Thế đã thấm gì.

Trông kia kìa.

Hai ma cà rồng áo đen vừa lôi một linh hồn ra cấu xé ngay cạnh bàn bảo vệ.

Ông này trông rất quen.

Grover hỏi tôi:

Ông ấy là nhà thuyết giáo từng lên truyền hình, nhớ không?

Ừ, đúng là ông ấy.

Tôi từng thấy ông ta vài lần trên tivi của kỳ túc xá Học viện Yancy.

Ông tự xưng là nhà hảo tâm quyên góp hàng triệu đô la cho trẻ em mồ côi, sau đó bị bắt quả tang dùng tiền ấy mua dinh thự, sắm toa lét cẩn vàng và xây sân gôn trong nhà.

Bị cảnh sát truy đuổi, ông ta chết khi lao chiếc Lamborghini cực xịn xuống vực.

Tôi hỏi:

Họ định làm gì ông ta?

Grover đoán:

Hình phạt đặc biệt do Hades tự nghĩ ra.

Người cực kỳ xấu xa sẽ được canh phòng cẩn thận ngay khi mới đến. sau đó các Nữ thần Báo Thù sẽ hành hạ họ đến muôn đời.

Nhắc đến Nữ thần Báo Thù làm tôi rùng cả mình.

Họ sẽ còn kinh khiếp hơn khi được tung hoành ngay trên "Sân nhà".

Cô Dodds chắc đang háo hức ăn tươi nuốt sống cô.

Nhưng ông này theo tôn giáo khác.

Nhỡ ông ấy không tin có địa ngục thì sao?

Grover nhún vai:

Ông ta không nhìn noi này theo lăng kính của tớ và cậu.

Con người chỉ thấy những gì họ muốn thấy.

Sao cậu không chịu hiểu điều đó?

Ba đứa tiến đến gần cửa.

Dù tiến chó tru rung chuyển mặt đất nhưng tôi không biết nó phát ra từ đâu.

Cách chúng tôi chừng hai mươi mét, màn sương xanh lè nhạt dần.

Đầu đường mòn đoạn nối với ba cửa có con quái vật khổng lồ, đen đúa.

Lúc đầu tôi không thấy nó bởi nó gần trong suốt giống người chết.

Những lúc không chuyển động, nó chìm vào khung cảnh xung quanh, chỉ có mất và răng là thật.

Lúc này nó nhìn tôi chằm chằm.

Tôi ngạc nhiên quá đỗi.

Tôi chỉ kịp nhận xét:

Chó giống Rottweller sao?

Theo trí tưởng tượng của tôi, Cerberus phải là chó đen thuộc giống chó lớn tai cụp.

Nhưng nó đúng là chó Rottweller thuần chủng, chỉ có điều to gấp đôi với mamut, tàng hình gần hết và có ba đầu.

Người chết không hề sợ hãi tiến thẳng đến chỗ nó.

Dòng người ở hai hàng SẴN SÀNG PHỤC VỤ đi sát hai bên cạnh nó.

Còn hàng EZ DEATH đi giữa hai chân vuốt dài nhọn, chui dưới bụng nó mà không cần khom người.

Tôi lẩm bẩm:

Tớ nhìn chó rõ hơn khi nãy.

Sao thế nhỉ?

Annabeth hơi mất tinh thần:

Chắc tại ta đang tiến gần hơn đến trạng thái chết rồi.

Cái đầu ở giữa vươn đến gần chúng tôi.

Con chó đánh hơi, gầm gừ.

Nó ngửi thấy mùi người sống.

Giọng Grover run bắn:

Nhưng không sao.

Ta tính trước rồi mà.

Annabeth lí nhí:

Phải.

Làm theo kế hoạch đi.

Ba đứa đến gần quái thú.

Cái đầu ở giữa như nanh, sủa to đến nỗi mắt tôi long sòng sọc.

Tôi hỏi Grover:

Hiểu nó nói gì không?

Hiểu.

Nó nói gì?

"Giết tụi bay".

Tôi lấy cây gậy lớn trong ba lô.

Thực ra đó là chân giường Safari Deluxe của Crusty.

Vừa giơ gậy, tôi vừa cố tìm cách liên tưởng Cerberus với những y tưởng vui vẻ về chó: chẳng hạn những mẫu quảng cáo thức ăn cho chó, cún con xinh xắn hoặc vòi nước cứu hỏa.

Gượng cười, tôi cố quên rằng mình sắp chết.

Tôi gọi to:

Này anh bạn to cao, chắc mày ít khi được chơi thỏa thích, phải không?

GU!

Tôi hụt hơi:

Giỏi lắm.

Thấy tôi hua hua cây gây, cái đầu chính giữa nhìn theo.

Hai đầu còn lại vươn ra chỗ tôi, quên hẳn linh hồn phía dưới.

Vậy là cả ba đầu chỉ chú y một mình tôi.

Tôi không biết thế là may hay rủi nữa.

Nhặt về đi!

Tôi ráng hết sức ném gậy thật xa vào sương mù.

Tiếng TÕM vọng lại: gậy vừa rơi xuống sông Mê Styx/

Cerberus không thèm đê y, chỉ trừng mắt nhìn tôi.

Mắt nó lạnh lùng, khiến tôi hết hi vọng.

Kế hoạch thất bại thảm hại.

Grover rụt rè:

Percy này.

Gì?

Tớ mới nảy ra ‎ này.

Nói đi.

Con Cerberus vừa bảo tụi mình có mười giây gọi thần thánh nào mình muốn. sau đó....nó đang đói mà.

Annabeth lục túi bảo:

Đừng vội.

Tôi lầm bầm: "Uh-Oh"

Grover giục:

Năm giây rồi. chạy được chưa nhỉ?

Annabeth lấy trái banh cao su bằng quả cam to, trên có dòng chữ: Công viên nước Waterlan, Denver.

Tôi chưa kịp ngăn, cô bạn tôi đã giơ cao banh đi thẳng đến trước mặt chó ba đâu.

Annabeth hét lên:

Thấy trái banh không?

Muốn tao cho chứ gì?

Vậy, ngồi xuống!

Cerberus và hai thằng tôi ngờ người.

Ba đầu nó ngoẹo sang bên, lỗ mũi phập phồng.

Annabeth lại quát:

Ngồi mau!

Chắc chắn trong mắt Cerberus, Annabeth giống bánh bích qui Milkbone nhãn hiệu khuyển tin dùng lớn nhất thế giới.

Lạ thay, ba đầu Cerberus cùng liếm môi.

Cerberus ngồi vội xuống đè bẹp ít nhất mười hồn ma chui dưới bụng, làm họ tan rã kèm tiếng xì xì như ruột xe thủng.

Annabeth khen:

Giỏi lắm!

Cô bé ném trái banh cho Cerberus.

Miệng giữa đớp banh rất gọn.

Nó nhai ngon lành quả bánh cao su nằm gọn trong miệng.

Hai đầu hai bên quay sang đầu giữa cắn đớp đòi món đồ chơi mới.

Annabeth ra lệnh:

Nhè ra!

Ba đầu ngưng đánh nhau, quay ra nhìn cô bé.

Quả bóng dính giữa hai hàm trông như bã kẹo cao su.

Nó rên rỉ nghe nhức đầu, chói tai rồi nhè trái banh xẹp lép, bị nhai nát một nửa ngay dưới chân Annabeth.

Giỏi lắm.

Bạn tôi nhặt banh lên, mặc kệ dãi con vật dính đầy trên đó.

Annabeth quay sang chúng tôi.

Chạy đi.

Sang hàng EZ DEATH.

Đường đó nhanh hơn.

Tôi cà lăm:

Nhưng...

Cô bạn ra lệnh đúng bằng giọng vừa thét bảo Cerberus:

Nhanh lên!

Grover và tôi rón rén tiến lên.

Thấy vậy, Cerberus gầm gừ.

Annabeth quát chó:

- ĐỨNG YÊN!

Muốn có bóng thì đứng yên.

Cerberus rên ư ử, đứng nguyên tại chỗ.

Lúc đi ngang qua chỗ Annabeth, tôi hỏi:

Còn cậu thì sao?

Cô ấy thì thào:

Tôi biết phải làm gì.

Ít nhất tớ tin chắc...

Grover và tôi đi giữa bốn chân con vật.

Tôi khấn thầm: "Cầu Annabeth đừng bảo nso ngồi thêm lần nữa."

Hai đứa đi thoát, nhìn từ phía sau, Cerberus không đến nỗi đang sợ như đằng trước.

Annabeth khen:

Chó ngoan!

Lúc giơ cao trái banh đỏ te tua, chắc Annabeth cũng nghĩ như tôi: "Nếu cho Cerberus, vòng chơi sau sẽ hết đồ chơi quà tặng."

Nhưng cô bé vẫn ném banh.

Miệng trái con chó đớp xong lập tức bị đầu giữa cấu xé, còn đầu phải rên rỉ rải.

Lúc con chó bị đánh lạc hướng, Annabeth chạy nhanh dưới bụng nó và gặp chúng tôi đứng chờ phía sau, cạnh máy dò kim loại.

Tôi trầm trồ:

Sao cậu làm được thế?

Annabeth nghẹn ngào, nước mắt rưng rưng.

Tôi không hiểu sao bạn ấy khóc.

Bài vỡ lòng để dạy chó ấy mà.

Hồi bé, tớ ở nhà cha.

Nhà có con cún Doberman...

Grover kéo áo tôi:

Không có thời gian chuyện gẫu đâu.

Phải nhanh lên mới kịp!

Chúng tôi định nhãy vào hàng EZ DEATH đúng lúc ba đầu Cerberus cùng rên rỉ nghe rất tội nghiệp.

Annabeth đứng ngay lại.

Ba đầu chó quay 180 nhìn chúng tôi.

Annabeth nhìn thẳng nó.

Cerberus hồi hộp chờ đợi.

Quả bóng nhỏ xíu ngập trong đống dãi dưới chân nó.

Annabeth buồn bã, giọng ỉu xìu:

Chó ngoan.

Quái thú nghiêng dần như lo lắng cho bạn tôi.

Annabeth thì thầm hứa:

Tao đi lấy bóng mới cho mày.

Thích không?

Chó rên ư ử.

Không cần hiểu ngôn ngữ của loài chó, tôi cũng biết Cerberus thích trái bóng mới.

Giỏi lắm. tao sẽ còn ghé thăm mày.

Tao hứa đấy- Cô bé quay sang chúng tôi – Mình đi.

Lúc tôi và Grover bị đẩy qua máy kiểm ra kim loại, đèn đỏ lập tức lóe lên.

Loa kêu thất thanh:

CÓ XM NHẬP TRÁI PHÉP!

TÌM THẤY VẬT DỤNG MA THUẬT.

Cerberus sủa dữ dội.

Chúng tôi nhảy qua cổng EZ DEATH và chạy thẳng vào địa ngục, bỏ lại đằng sau thêm nhiều đèn nhấp nháy.

Mấy phút sau, khi ma cà rồng chạy rầm rập gọi Nữ thần Báo Thù đến cứu viện, chúng tôi nín thở trốn trong thân cây to mục ruỗng.

Grover lúng búng:

Percy này, ta vừa rút được bài học kinh nghiệm nào?

Chó ba đầu thích bóng cao su đỏ hơn gậy gộc.

Không phải.

Bài học kinh nghiệm là kế hoạch của hai cậu dở ẹt!

Tôi không nghĩ thế.

Cả Annabeth và tôi đều làm đúng.

Ngay cả dưới địa ngục này, người và vật đều thích được quan tâm, chăm sóc.

Trong lúc chờ ma cà rồng đi khuất, tôi rất thấm thía điều đó.

Tôi vờ không nhìn thấy Annabeth lau nước mắt, lắng nghe tiếng Cerberus than vãn, nhớ thương người bạn mới.

19.

Tiến Gần Chân Lý

Hãy hình dung sân khấu ca nhạc lớn nhất hành tinh hoặc sân vận động khổng lồ đầy chật khán giả hâm mộ.

Giờ tiếp tục nghĩ đến một sân bóng lớn gấp triệu lần như thế và đầy chật người xem.

Sau đó hình dung điện phụt tắt.

Tất cả im phăng phắc, không đèn, không tiếng reo hò.

Bi kịch xảy đến trong hậu trường.

Tỉ thỉ người thì thào lầm lũi đi trong bóng tối, chờ đợi ban nhạc không bao giờ tới.

Nếu hình dung được thế, bạn se có chút khái niệm về những cánh đồng của Asphodel.

Cỏ đen đập nát dưới hằng hà sa số lượt chân người chết.

Một cơn gió nồm thổi qua nghe như đầm lầy vừa thở dài.

Đâu đó còn sót lại vài bụi cây đen đủi.

Trần hang lớn quá cao.

Nếu không có nhũ đá nhọn hoắt tua tủa đâm xuống, nó sẽ giống đám mấy đen khổng lồ.

Tôi xua đi viễn cảnh đá nhọn sẽ rơi bất cứ lúc nào, dù đâu đó trên cánh đồng, nhiều linh hồn bị nhũ đá găm chặt xuống nền cỏ.

Hình như người chết không buồn quan tâm đến việc vị nhũ đá cỡ quả tên lửa đè nghiến.

Annabeth, Grover và tôi vừa ngó chừng lính gác ma cà rồng, vừa trà trộn vào đám đông.

Tôi muốn tìm người quen trong số người chết nhưng giờ khó nhận dạng quá.

Khuôn mặt họ mờ đi.

Ai cũng có vẻ bực tức hay hoang mang.

Có người đến bắt chuyện nhưng giọng họ líu ríu, nghe như tiếng dơi lít chít.

Thấy ba đứa tôi ngỡ người không hiểu, họ nhíu mày bỏ đi.

Người chết không đáng sợ.

Trông họ buồn buồn thế nào.

Chúng tôi theo đoàn người mới đến nhích dần từng bước đến cổng chính của nhà rạp dựng bằng vải bạt đen, phía trên có bảng rôn viết:

XÉT THƯỞNG (LÊN THIÊN ĐÀNG)

VÀ PHẠT (Ở ĐỊA NGỤC ĐỜI ĐỜI)

Chào mừng người mới đến!

Hai hàng đi ra từ sau lều vắng hơn phía trước nhiều.

Bên trái, lính gác ma cà rồng áp giải linh hồn xuống con đường lổn nhổn đã đến Cánh Đồng Trừng Phạt sáng trắng và tỏa khói phía xa xa.

Đó là hoang mạc rộng lớn, khô cằn nứt nẻ, có sông nham thạch ngoằn ngoèo, có bãi mìn mênh mông và nhiều cây số hàng rào dây thép gai ngăn cách các khu vực tra tấn khác nhau.

Dù đứng tít đằng này, tôi thấy rõ người thì bị chó địa ngục săn đuổi, người thì bị trói vào cọc và thiêu sống; có người còn bị ép cởi hết quần áo chạy giữa vườn xương rồng, hoặc tệ hơn, bị bắt nghe nhạc opera.

Ở đó có ngọn đồi nhỏ xíu dành cho Sisyphus nhỏ bằng con kiến trần lưng khiêng đá tảng lên đỉnh đồi.

Tất nhiên còn nhiều trò tra tấn kinh khủng hơn thế, nhưng tôi không muốn kể ra đây.

Hàng người bên phải lều rạp đỡ khổ hơn nhiều.

Người a dẫn họ xuống thung lũng nhỏ có tường bao quanh.

Một cộng đồng biệt lập, nơi duy nhất có hạnh phúc dưới âm phủ.

Bên kia cổng có lính gác là nhiều quần thể nhà đẹp, đại diện cho mọi lối kiến trúc từng có trong lịch sử: biệt thự kiểu La Mã, lâu đài kiểu trung cổ hoặc dinh thự kiểu Victoria.

Hoa bằng vàng và bạc nở rộ trên bãi cỏ có màu của cầu vòng bảy sắc.

Tiếng cười văng vẳng và mùi thịt nướng ngoài trời thơm nức.

Đó là xứ Elysium ( thiên đường theo thần thoại Hy Lạp)

Giữa thung lũng ấy có hồ nước xanh biếc, lấp lánh.

Giữa hồ nổi lên ba hòn đảo nhỏ, giống khu nghỉ dưỡng của quý tộc phương Đông.

Quần Đảo Hạnh Phúc ấy dành cho người đức độ đến mức có ba kiếp được đầu thai và cả ba đều xứng đáng đến thiên đường.

Chỉ cần thoáng nhìn, tôi đã khao khát được đến đó sau khi chết.

Hình như Annabeth đọc được suy nghĩ của tôi:

- Chỗ ấy dành cho các anh hùng.

Tuy nhiên, nếu so với Cánh Đồng Trừng Phạt của Asphodel, Elysium sao nhỏ bé quá.

Thế chứng tỏ trên trần gian hiếm người sống lương thiện.

Sự thật ấy thật đáng buồn.

Rời lều phán xét, chúng tôi tiến sâu hơn vào lãnh địa của Asphodel.

Xung quanh tối sầm.

Màu sắc trên quần áo ba đứa tôi phai nhanh.

Đám đông linh hồn xì xào bàn tán thưa hẳn đi.

Đi thêm vài cây số nữa, tiếng rú rít quen thuộc đã vang đến tai ba đứa.

Tít chân trời xa là lâu đài lấp lánh xây bằng đá thạch anh đen.

Ba sinh vật giống ba con dơi khổng lồ bay vòng quanh phía trên tường rào chắn: ba Nữ thần Báo Thù.

Tôi có linh cảm họ đang đợi chúng tôi.

Grover nuối tiếc:

- Giờ quay lại hơi muộn nhỉ?

Tôi cố tỏ ra tự tin:

- Họ không làm gì được ta đâu.

Grover đề nghị:

- Hay ta thăm thú vài nơi trước đã.

Như khu Elysium chẳng hạn...

Annabeth nắm tay nó lôi xềnh xệch:

- Đi thôi, dê con.

Grover tự ái kêu lên.

Đôi giày thể thao mọc cánh lôi chân nó ngược phía có Annabeth.

Grover ngã ngửa trên bãi cỏ.

Annabeth rầy la:

- Grover, đừng phá rối nữa.

- Nhưng tớ không chủ ý...

Nó lại kêu oai oái.

Hai đôi cánh của giày vẫy như điên dại và bay bổng ngược hướng chúng tôi, lôi theo Grover.

- Maia!

Grover niệm thần chú nhưng không linh nghiệm:

- Chết rồi!

Cấp cứu!

Cứu tớ với!

Tôi choàng tỉnh, nắm lấy tay Grover nhưng quá muộn.

Nó lao nhanh xuống sườn đồi như xe trượt tuyết vậy.

Hai đứa tôi chạy theo nó.

Annabeth hét:

- Cởi dây giày đi!

Sáng kiến tuyệt vời!

Nhưng tháo dây giày trong lúc hai chân bị lôi giật ra sau với tốc độ chóng mặt không dễ dàng gì.

Grover cố gượng lên tư thế ngồi nhưng tay không với tới đôi giày.

Chúng tôi chạy theo, cố không rời mắt khỏi nó trong lúc nó liên tục bay chui qua háng các linh hồn.

Họ khó chịu, ríu rít mắng nó.

Tôi những tưởng Grover sẽ tông thẳng vào cổng lâu đài của Hades, nhưng đôi giày cố tình bay về hướng ngược lại.

Sườn đồi dốc đứng.

Grover bay nhanh hơn.

Annabeth và tôi vắt chân lên cổ chạy theo.

Tường hai bân thành hang hẹp dần lại.

Hóa ra chúng tôi đang chui vào hầm tối.

Ở đây không có cây cỏ đen sì: chỉ có nền đá dưới chân và nhũ đá trên đầu.

Tiếng tôi hét dội vào vách đá:

- Grover!

Nắm bất cứ thứ gì trên đường.

- Thứ gì?

Nó vồ đá dăm bên dưới nhưng đá không lớn đến mức giữ nó lại được.

Đường hầm ngày càng tối và lạnh hơn.

Tôi sởn gai ốc.

Dưới này có mùi của ma quỷ.

Nó gợi nhớ đến những thứ tôi không nên nghĩ tới: máu lênh láng trên mặt bàn thờ đá thời xa xưa và mùi hơi thở hôi thối của kẻ sát nhân.

Lúc thấy thứ ngay trước mặt, tôi dừng phắt lại.

Đường hầm nở rộng thành hang tối rộng hoác.

Giữa hang là miệng vực to bằng cả dãy nhà cao tầng.

Grover bay thẳng đến miệng vực.

Annabeth giật cổ tay tôi:

- Kìa, Percy!

- Nhưng đó là...

Cô bạn tôi hét lanh lảnh:

- Biết rồi.

Giống cậu tả trong mơ!

Nhưng ta không đỡ, Grover rơi xuống mất.

Tất nhiên, Annabeth đúng trăm phần trăm.

Thấy mạng sống của bạn như ngàn cân treo sợi tóc, tôi chạy đến cứu ngay.

Grover la lối, cào mặt đất nhưng đôi giày nhất định lôi nó xuống vực.

Chúng tôi tuyệt vọng vì muốn cứu cũng không kịp nữa.

Nhờ bộ móng guốc, Grover thoát nạn.

Bình thường Grover phải vất vả vì đôi giày có cánh rất lỏng lẻo cứ tuột hoài.

Bây giờ, Grover vấp mạnh chân vào đá khiến giày trái tuột khỏi chân.

Nó lao vun vút xuống lòng hang thăm thẳm.

Giày phải tiếp tục lôi chân nó, nhưng không nhanh bằng lúc nãy.

Grover đã có thể ôm lấy tảng đá, cưỡng lại sức lôi của chiếc giày.

Khi Grover chỉ còn cách miệng vực mười bước, chúng tôi đến kịp lôi nó ngược trở lên đoạn đường dốc.

Chiếc giày phải tự giải thoát bằng cách vùng vẫy mạnh và rời chân Grover.

Nó tức tối bay vòng quanh chúng tôi, húc mạnh mũi giày vào đầu ba đứa tôi trước khi bay xuống hang tìm anh em sinh đôi.

Ba đứa mệt đức hơi, khuyu xuống mặt đất đầy đá dăm.

Hai chân tôi nặng như chì.

Ba lô trên vai bất ngờ nặng chịch như có ai vừa nhét đá cục đầy đến miệng.

Lúc nãy, Grover cào cấu ghê quá.

Giờ tay nó chảy máu.

Đồng tử mắt nó thu nhỏ như mắt dê lúc sợ hãi.

Nó thở hào hển:

- Tớ thấy khó hiểu quá.

Lúc nãy, tớ không cố tình...

Tôi vội ngăn:

- Để lát nữa.

Giờ nghe xem.

Tôi nghe tiếng gì... như tiếng thì thào rất trầm vọng lên từ vực tối.

Mấy giây sau, âm thanh ấy lặp lại.

Annabeth bảo:

- Percy, chỗ này là...

Tôi đứng dậy:

- Xuỵt!

Tiếng ồm ồm lớn thêm.

Chắc chắn giọng ma quái ấy cách chúng tôi rất xa.

Tít dưới vực thẳm.

Grover ngồi bật dậy:

- T.... iếng gì thế?

Annabeth cũng nghe thấy.

Mắt cô bé mở to sợ hãi:

- Tartarus.

Lối vào nhà ngục Tartarus.

Tôi rút kiếm Thủy triều.

Lưỡi gươm dài ra, lấp lánh sáng trong bóng tối.

Giọng nói dưới kia hơi lạc đi, nhưng chỉ lát sau đã rền rĩ như cũ.

Tôi gần như nghe rõ từng từ.

Ngôn ngữ này rất cổ, cổ xưa hơn cả tiếng Hy Lạp cổ.

Nghe như là...

- Phép ma thuật.

Tôi nói nốt suy nghĩ thành lời.

Annabeth giục:

-Ta đi khỏi đây thôi.

Annabeth và tôi, mỗi người xốc một bên nách Grover, giúp nó đứng dậy.

Chân tôi tê dại, chậm chạp.

Ba lô nặng níu tôi khuỵu xuống.

Giọng nói kia lớn thêm nghe như tức giận.

Ba đứa bảo nhau guồng chân chạy.

Quả là quyết định kịp thời.

Một cơn gió lạnh kéo chúng tôi lùi lại như thể miệng hang lớn vừa hít vào thật mạnh.

Trong lúc hoảng loạn, tôi trượt chân dài trên nền sỏi đá.

Nếu đứng gần miệng vực thêm chút nữa, chắc chắn ba đứa bị hút xuống.

Chúng tôi vất vả gò lưng tiến tới và cuối cùng đến được miệng đường hầm trông ra cánh đồng của Asphodel.

Gió lạnh hun hút khi nãy ngừng thổi.

Tiếng rên phẫn nộ vang vọng trong đường hầm dài.

Biết chúng tôi thoát, thứ dưới vực chắc chắn không vui.

Grover thở hổn hển, ngồi phịch xuống gốc bụi dương đen xì:

-Cái gì thế nhỉ?

Thú cưng nhà Hades chắc?

Tôi và Annabeth đưa mắt nhìn nhau.

Tôi biết cô bạn vẫn ấp ủ một ý tưởng từ lúc lên xe taxi đến Los Angeles.

Nhưng Annabeth sợ đến nỗi không dám nói ra.

Giờ chính tôi cũng kinh hoàng.

Đậy nắp thanh kiếm, tôi cất bút vào túi, rồi quay sang bảo Grover:

-Thôi mình đi tiếp.

Cậu đi bộ được không?

-Được chứ.

Nhân tiện tớ nói luôn.

Chưa bao giờ tớ thích đôi giày ấy.

Grover cố ra vẻ anh hào, nhưng nó cũng run như rẽ, giống tôi và Annabeth.

Dưới hang chẳng phải thú cưng của nhà ai cả.

Nó là thứ cổ xưa và hùng mạnh vô song.

Ngay cả khi đối mặt Echidna, tôi cũng không sợ như bây giờ.

Bỏ lại đường hầm sau lưng, nhắm cung điện của Hades thẳng tiến, có thể nói tôi nhẹ cả người.

Nhưng phía trước còn nhiều mối nguy khác

***

Ba chị em Nữ thần Báo Thù bay quanh tường chắn sừng sững giữa không gian u ám.

Mặt tường ngoài đen nhánh của pháo đài sáng lấp lánh.

Hai cánh cổng cao bằng tòa nhà hai tầng rộng mở.

Đến gần hơn, tôi nhận thấy trên cổng khắc chạm toàn cảnh chết chóc.

Có cảnh thời hiện đại, như bom nguyên tử thổi bay cả thành phố, sông ngòi đầy xác lính đeo mặt nạ chống độc, đoàn người Phi châu sắp chết đói cầm tô xếp hàng chờ phát chẩn...

Mọi cảnh minh họa đều cổ kính, nhất định được khắc lên đó cả ngàn năm rồi.

Chúng là lời tiên tri của nhiều ngàn năm trước giờ trở thành hiện thực.

Trong sân chầu có khu vườn rất lạ.

Nấm các loại màu sặc sỡ, cây thuốc độc trồng thành bụ sum suê và nhiều cây phát sáng quái đản phát triển không cần nắng.

Đá quý chế tác cầu kỳ gắn lên cây thay cho hoa, chẳng hạn chùm hoa hồng ngọc, viên nào viên nấy to bằng năm tay tôi hay kim cương thô kết thành bụi cây rậm rạp.

Đứng rải rác trong vườn là tượng khách dự tiệc lấy từ nhà Medusa: Trẻ con, thần rừng và nhân mã hóa đá với nụ cười méo xẹo.

Giữa vườn có quần thể cây lựu, quả chín vàng phát sáng như đèn neon.

Annabeth giải thích:

-Vườn của Persenphone[21].

Cứ đi tiếp nhé.

Tôi biết lý do khiến Annabeth bỏ đi.

Mùi lựu chín thơm ngon quá.

Chính tôi cũng bị quyến rũ, chỉ muốn ăn ngay.

Nhưng câu chuyện về Persephone bắt tôi phải nghĩ lại.

Một khi đã ăn thực phẩm của địa ngục, không ai có thể về dương gian được nữa.

Tôi kéo Grover đi đúng lúc nó giơ tay định hái quả chín mọng.

Lên bậc tam cấp của cung điện xây giữa hai hàng cột đá đen, qua mái cổng lợp đá hoa cương đen, ba chúng tôi bước vào nhà Hades.

Nền nhà đại sảnh trước bằng đồng đánh sáng bóng.

Ánh đuốc chiếu xuống khiến mặt kim loại khiến tôi nhầm, tưởng đồng đang sôi sùng sục.

Ở đây không có trần nhà, chỉ có nóc hang cao vòi vọi.

Cư dân dưới này chắc không bao giờ sợ mưa.

Mọi cửa phụ của sảnh đều có mấy bộ xương mặc quân phục đứng gác.

Nhóm này mặc áo giáp kiểu Hy Lạp cổ đại, nhóm kia mặc quân phục của lính Anh, nhóm khác mặc đồ rằn ri, khoác cờ Mỹ rách tả tơi trên vai.

Người cầm giáo, kẻ mang súng hỏa mai.

Có người vác súng máy M-16.

Không ai cản đường hay làm phiền chúng tôi.

Tuy nhiên, hốc mắt họ dõi theo chúng tôi đi qua sảnh, đến bên hai cánh cửa lớn trên tường trong cùng.

Hai bộ xương mặc đồ lính thủy đánh bộ Mỹ canh cửa này.

Thấy tôi họ nhăn nhở cười, tay vẫn ghì súng phóng lựu đạn trước ngực.

Grover lẩm bẩm:

-Chắc Hades không bao giờ bị bọn người bán hàng dạo làm phiền.

Ba lô trên vai tôi nặng như đeo đá.

Tôi nghĩ mãi nhưng không biết vì đâu.

Tôi muốn mở ra xem liệu trong lúc lơ đãng, tôi có nhặt bóng bowling bỏ vào đó không.

Tuy nhiên, giờ không phải lúc.

-Hai cậu ơi, ta có nên gõ cửa không nhỉ?

Một cơn gió nóng thổi dọc hành lang.

Cửa bật mở.

Hai lính gác tránh đường.

Annabeth đoán:

-Các dấu hiệu đều cho thấy chủ nhà muốn bảo: kính mời thượng khách.

Căn phòng bên trong giống hệt lúc tôi mơ, ngoại trừ ngai có người ngồi.

Hades là vị thần thứ ba tôi được diện kiến.

Nét thần thánh ở ông khiến tôi cực kỳ ấn tượng.

Trước hết, Hades cao hơn ba mét.

Ông ta khoác áo chùng bằng lụa đen, đội vương miện tết bằng những sợi vàng.

Da ông trắng bệch, tóc đen óng xõa ngang vai.

Tuy nhiên cơ bắp cuồn cuộn như thần Ares, nhưng ở ông toát lên quyền uy to lớn.

Ngồi trên ngai làm bằng xương người, trông ông uyển chuyển, dẻo dai và nguy hiểm như loài báo sư tử.

Lập tức, mọi ý chí của tôi bị bẻ gãy.

Tôi có ngay cảm giác phải tuân lệnh, phải coi ông như sư phụ và tin chắc rằng ông khôn ngoan hơn, hiểu biết rộng hơn mình.

Quả là thói quen xấu cần bỏ ngay.

Phong thái của thần cai quản địa ngục ảnh hưởng mạnh mẽ đến tôi, hệt như thần Ares.

Chúa tể lãnh địa của chết chóc làm tôi nhớ đến Adolph Hitler, Napoleon hoặc những tên trùm khủng bố xui người ta đánh bom liều chết.

Họ có ánh mắt của Hades: nó thôi miên, hấp dẫn, thôi thúc người đối diện mù quáng làm điều ác.

Giọng ông ta mượt như nhung:

-Nhóc con nhà Poseidon to gan.

Quậy ta điên đảo xong còn dám vác mặt đến đây.

Nếu không thế, chắc chắn mi là kẻ ngông cuồng, xuẩn ngốc.

Mọi khớp xương tê dại, tôi mê mụ, chỉ muốn nằm cuộn tròn dưới chân Hades ngủ như chú cún con dễ bảo.

Cưỡng lại cảm giác ấy, tôi bước lên đề đạt yêu cầu:

-Thưa chú đồng thời là Chúa tể âm ty rộng lớn, cháu đến đây muốn xin chú hai điều.

Hades ngạc nhiên nhướng mày.

Ông ta đổi tư thế, chăm chú lắng nghe.

Từ vô số nếp áo choàng đen khoác trên người ông lấp ló nhiều khuôn mặt tăm tối của các linh hồn nhăn nhúm vì đau đớn.

Hình như vải áo được may bằng những linh hồn bị giam cầm trong Nhà tù Trừng Phạt đang cố sức thoát ra.

Bệnh thiếu tập trung và hiếu động thái quá của tôi lại tái phát khiến tôi bâng quơ nghĩ có phải trọn bộ áo quần trên người ông đều may theo cách đó.

Ai phạm những tội tày đình gì khiến khi chết, linh hồn bị mang dệt thành đồ lót của Hades?

-Những hai cơ à?

Muốn vuốt râu hùm hả con?

Mi làm ta thất điên bát đảo còn chưa đủ sao?

Nói nghe xem nào/ Đã muốn đập ngươi nát bét nhưng ta hơi hiếu kỳ, muốn xem hết màn kịch hay này đã.

Nuốt khan xong, tôi sợ quá chỉ biết nhìn chằm chằm chiếc ngai nhỏ hơn, đặt ngay cạnh ngai của Hades.

Nó có hình bông hoa đen cách điệu và dát vàng lộng lẫy.

Chắc đó là chỗ của hoàng hậu Persephone.

Theo truyền thuyết, bà có tài xoa dịu chồng mỗi khi Hades có tâm trạng không vui.

Nhưng giờ là mùa hè.

Nữ thần mùa xuân Persephone đã về nhà mẹ là nữ thần Demeter.

Bốn mùa tồn tại không phải do trục trái đất nghiêng mà do thần Demeter.

Annabeth bồn chồn, hắng giọng nhắc.

Cô bạn thúc đầu ngón tay trỏ vào lưng tôi.

-Thưa thần Hades, chắc ngài cũng biết không thể có giao tranh giữa các thần.

Hậu quả sẽ khủng khiếp lắm ạ.

Grover đế thêm làm tôi thêm vững dạ:

-Vâng, khủng khiếp lắm lắm.

Tôi nói tiếp:

-Xin ngài trả lại tia chớp của thần Dớt và cho phép cháu mang nó lên đỉnh Olympia.

Thần quắc mắt làm hồn vía tôi lên mây cả:

-Sau bao trò láu cá, khá khen cho ngươi khéo giả vờ.

Tôi ngoái nhìn hai bạn cầu cứu.

Họ cũng ngạc nhiên không kém gì tôi.

-Thưa...chú, nãy giờ ngài nói như thể cháu đắc tội gì ghê gớm lắm.

Thực tình, cháu có làm gì đâu.ạ.

Căn phòng rung chuyển như thể sắp làm cả Los Angeles phía trên đổ sụp.

Gạch đá từ trần hang rơi như mưa.

Mọi cửa chính phụ ở bốn bức tường bật mở.

Hàng trăm bộ xương lính canh mặc quân phục của mọi quốc gia thuộc nền văn minh phương tây rầm rập bước vào.

Họ đứng thành hàng quây quanh phòng, chắn mọi lối ra.

Hades gầm lên:

-Rang con, mi tưởng ta thích chiến tranh ư?

Tôi định cãi: "Ý ông là sao?

Muốn tôi khen đội quân này là yêu chuộng hòa bình chắc?"

Tuy nhiên, tôi không nói ra vì chưa muốn chết.

Tôi cân nhắc từng chữ:

-Với tư cách là Chúa tể của sự chết chóc, chắc ngài biết rõ chiến tranh sẽ giúp ngài mở rộng lãnh thổ.

-Sao giống mấy ông anh quý hóa của ta thế không biết.

Mi tưởng ta cần thêm thần dân ư?

Mi không thấy người ta chen chúc nhau ở Asphodel à?

-Dạ, nhưng...

-Chỉ tính riêng thế kỷ vừa qua, mi có biết vương quốc của ta phình to cỡ nào không?

Có biết ta phải ký sắc lệnh mở thêm bao nhiêu tỉnh thành không?

Tôi chưa kịp trả lời, Hades thao thao nói tiếp:

-Nào tuyển thêm ma cà rồng giữ trật tự, nào xử lý tắc nghẽn giao thông trước lều Phán Xét.

Lại còn trả lương làm thêm giờ cho nhân viên nữa.

Trước đây ta giàu sụ.

Mọi mỏ kim loại quý dưới lòng đất đều của ta mà.

Nhưng giờ thâm hụt ngân sách đã lên con số khổng lồ.

- Ấy, nhân tiện Charon nhờ con xin lên lương.

Vừa nhớ ra, tôi buột miệng luôn.

Nói xong, tôi hối hận thầm ước giá lúc nãy dán băng keo kín miệng thì giờ không mang họa.

Hades quát tháo:

- Đừng nhắc gã đó với ta!

Từ hồi đua đòi theo mốt comple Ý, hắn càng lúc càng quá đáng.

Ngoài ra, thiên hạ nhìn đâu cũng thấy sai phạm và ta phải đích thân xử lý.

Nội giao thông từ cung điện đến cổng thành cũng là ta phát điên.

Vậy mà ngày nào cũng có người mới chết.

Nhãi con kia, âm phủ đất chật người đông lắm rồi.

Ta không muốn dân số địa ngục tăng thêm nữa.

Ta không muốn chiến tranh đâu.

- Nhưng ngài lấy tia chớp của thần Dớt.

- Nói láo.

Phòng lại rung chuyển.

Hades đứng thẳng dậy, trông cao lêu đêu như cột cờ:

- Thần Dớt tin cha mi phỉnh phờ, nhưng ta không dại đâu.

Ta thừa biết mưu mô của Poseidon.

- Cha cháu làm sao?

- Chính mi là kẻ ăn trộm vào hôm Đông Chí.

Lợi dụng việc chưa ai biết danh tánh mi, Poseidon biến con mình thành vũ khí bí mật.

Hắn xui mi vào phòng đặt ngai vàng của Dớt.

Mi lấy tia chớp, lấy cả mũ tàng hình của ta.

Nếu ta không cử Nữ thần Báo Thù đến Học viện Yancy lột trần bộ mặt thật của mi, có lẽ mưu đồ reo rắc chiến tranh của Poseidon không bại lộ.

Nhưng giờ đây, mi buộc phải lộ diện.

Chẳng bao lâu nữa, cả thiên hạ sẽ biết mi là tên trộm dưới trướng Poseidon và mũ tàng hình sẽ trở về với ta.

Tôi đoán đầu óc Annabeth đang tính toán nhanh như máy tính điện tử.

Cô bạn đỡ lời cho tôi:

- Vậy ra mũ tàng hình của ngài cũng bị mất rồi ư, thưa thần Hades?

- Con bé kia, đừng vờ ngây thơ nữa.

Thằng oắt con lai này cậy có cha Poseidon dám vào đây đe dọa ta.

Ngươi và thần rừng kia tiếp tay cho nó mang tối hậu thư đến.

Poseidon tưởng muốn ta ủng hộ hắn, chỉ cần sai người đến tống tiền là xong ư?

- Không đời nào!

Cha cháu không...thần Poseidon không hề...

Hades gầm gừ:

- Ta không hé môi chuyện mất mũ vì ta không ảo tưởng bất kỳ ai trên đỉnh Olympia sẽ đối xử công bằng với ta, dù chỉ một chút.

Họ sẽ không động móng tay để giúp ta tìm bảo bối.

Ngược lại, nếu biết vũ khí gây kinh hoàng hữu hiệu nhất của ta bị mất cắp, không thiếu kẻ sẽ nhân cơ hội đó hại ta.

Thế nên, ta âm thầm tìm cách giành lại báu vật.

Lúc nãy, dù biết mi đến đe dọa ta, nhưng ta không can ngăn, cứ để yên xem mi định thế nào.

- Ngài biết chúng cháu đến nhưng không cản đường ư?

Nhưng...

Hades đe dọa:

- Trả ngay mũ đây, nếu không mi sẽ chết.

Ta sẽ mở lối lên mặt đất, xua âm binh trở lại dương gian.

Ta sẽ biến trái đất của mi thành cơn ác mộng.

Percy Jackson, chính mi sẽ là bộ xương nhất nhất nghe lệnh ta và dẫn đầu đội quân âm binh phá hoại.

Tất cả các bộ xương trong phòng đều bước lên, dương súng sẵn sàng nhả đạn.

Lúc đấy, đáng lẽ tôi phải sợ mới phải.

Nhưng lạ thay, tôi chỉ cảm thấy bị xúc phạm.

Bị chụp mũ một tội mình không làm đẩy cơn giận của tôi lên đến đỉnh điểm.

Phải chịu tiếng oan nhiều lần nên tôi biết mình sắp biến thành hỏa diệm sơn.

- Thần Dớt đã tệ bạc, ông còn tệ hơn.

Ông tưởng tôi ăn cắp đồ của ông ư?

Có phải vì thế ông sai Nữ thần Báo Thù hãm hại tôi?

- Chứ còn gì nữa.

- Yêu quái hại tôi cũng do ông ư?

Hades bĩu môi:

- Ta không liên quan đến chúng.

Mi không xứng được chết chóng vánh.

Ta muốn bắt sống mi về đây để mi phải chịu nhục hình trong nhà tù Trừng Phạt.

Ta để mi thơi thới vào lãnh địa của ta là có chủ đích cả đấy.

- Thơi thới ư?

- Mau trả đồ đây!

- Nhưng cháu không lấy mũ của ngài.

Cháu đến xin lại tia chớp.

Hades hét lớn:

- Mi đang cầm đấy thôi.

Mi mang tia chớp đến tưởng đe dọa được ta chắc?

- Đâu có!

- Mở ba lô của mi ra.

Cơn hoảng loan chụp xuống người tôi.

Sở dĩ ba lô của tôi nặng như đeo đá vì...

Hạ ba lô trên vai xuống, tôi mở khóa kéo.

Bên trong là thanh kim loại hình trụ nhọn hai đầu và dài hơn nửa mét, kêu ù ù vì nguồn năng lượng to lớn nén trong nó.

Annabeth kêu lên:

- Percy, sao cậu lại...

- Tớ... có biết gì đâu.

Sao lại thế này?

- Con lai các người đều giống nhau ở chỗ quá ngông cuồng.

Tưởng đem vĩ khí đến là dọa được ta ư?

Ta không đòi tia chớp của Dớt, là do mi tự mang mỡ dâng miệng mèo.

Đưa ngay đây.

Tia chớp này sẽ giúp ta điều đình với Dớt.

Giờ đến mũ tàng hình.

Mi giấu nó ở đâu?

Tôi kinh hãi, không thể nói được gì.

Tôi không có mũ và không biết trong ba lô của mình có tia chớp.

Giá Hades gây ra chuyện này, tôi khỏi mệt đầu suy tính.

Ông ta vốn chẳng tốt lành gì.

Nhưng sự thực không thế.

Cả thế giới sụp đổ quanh tôi.

Hóa ra ngay từ đầu tôi đã bị lừa.

Có kẻ thứ tư đứng ngoài xúc xiểm khiến Dớt, Poseidon và Hades xông vào cắn xé lẫn nhau.

Tia chớp xuất hiện trong ba lô và người cho tôi ba lô ấy là...

- Khoan đã, có nhần lẫn ạ.

Hades gầm lên:

- Cái gì?

m binh trong phòng lên đạn.

Trên cao có tiếng dơi đập cánh.

Ba Nữ thần Báo Thù đậu xuống sau lưng Hades.

Yêu tinh có khuôn mặt giống Dodds háo hức quất roi đen đét.

Hades phán:

- Đừng bày trò.

Ta biết tại sao mi đến đây.

Nguyên nhân sâu xa khiến mi mang theo tia chớp là để đổi mạng mẹ ngươi.

Hades xòe tay.

Quả cầu rực lửa phát nổ cách chân tôi chừng vài bước.

Mẹ Sally giữa cơn mưa vàng hiện ra trong dáng vẻ đau đớn như trước lúc bị quỷ đầu bò bóp cổ cổ chết.

Tôi nghẹn ngào.

Tôi vươn tay định chạm vào mẹ nhưng lửa nóng rực làm tay tôi bỏng rát.

Hades khoái trá:

- Phải, ta bắt mẹ mi.

Ta biết sẽ có ngày mi đến điều đình với ta hầu mong chuộc mẹ về.

Cứ trả mũ đi, ta sẽ cân nhắc đến chuyện thả Sally Jackson.

Chắc mi biết bà ta chưa chết.

Nhưng nếu không làm ta hài lòng, ta sẽ đổi ý.

Sực nhớ mấy viên ngọc trai trong túi, tôi mong chúng sẽ giúp thoát khỏi tình thế này.

Nếu chỉ giải phóng cho mẹ, chắc là được...

Mới nghe tiếng Hades, máu trong người tôi đông lại:

- Ôi dào, lại ngọc trai.

Anh ta chỉ giỏi ba trò vặt vãnh.

Mi lấy ra ta xem.

Dù tôi không muốn nhưng hai tay vẫn lục túi lấy ngọc.

- Có ba viên thôi à?

Khổ thân mi.

Mỗi viên chỉ bảo vệ được một người.

Cứu mẹ xong, mi định để đứa bạn nào ở đây với ta đời đời kiếp kiếp?

Nói xem, mi chọn ai?

Ta đã nói rồi, thượng sách là đưa ba lô đây, chấp nhận mọi điều kiện của ta rồi cuốn xéo.

Tôi nhìn Annabeth và Grover mặt cắt không còn một hột máu:

- Tụi mình bị lừa.

Họ đút cổ ta vào tròng mất rồi.

Annabeth hỏi:

- Nhưng tại sao mới được?

Giọng nói dưới vực...

- Tớ chưa biết, đang định hỏi đây.

Hades sốt ruột:

- Giờ muốn thế nào, nói mau!

Grover đặt tay lên vai tôi:

- Percy, đừng nộp tia chớp.

- Tớ biết rồi.

Grover tình nguyện:

- Tớ ở lại cho.

Dùng viên ngọc cuối cùng cứu mẹ cậu đi.

- Không!

- Tớ là thần rừng, không có linh hồn giống người.

Ông ta có thể hành hạ tớ đến thịt nát xương tan nhưng tớ không chết hẳn.

Tớ sẽ đầu thai thành bông hoa, cỏ lá gì đó.

Tốt nhất cậu hãy nghe lời tớ.

Annabeth rút dao bằng đồng:

- Tớ không đồng ý.

Hai cậu cứ đi tiếp đi.

Grover nhớ bảo vệ Percy đấy.

Với lại, cậu phải thuyết phục các thần cho phép cậu đi tìm thần Pan.

Percy đưa mẹ cậu đi ngay đi.

Tớ sẽ yểm hộ cho.

Tớ đã quyết chiến đấu đến cùng.

Grover cãi:

- Không đời nào!

Tớ ở lại cơ mà.

Annabeth mắng:

- Dê con, biết một mà không biết mười.

Tôi can:

- Hai người có thôi đi không?

Tôi nghe như tim mình bị xé làm hai.

Hai bạn đã bao phen cùng tôi vào sinh ra tử: nào Grover liều mạng tấn công Medusa trong tiệm bán tượng, nào Annabeth cứu thoát cả ba thoát khỏi chó ba đầu Cerberus...

Chúng tôi sát cánh bên nhau, dù ở công viên nước, Gateway Arch hay Sòng bài Hoa Sen.

Tôi vượt mấy ngàn dặm đường, lòng dạ ngổn ngang lo bị bạn bè phản bội, nhưng hai người bạn trước mặt tôi đây không bao giờ làm thế.

Họ cứu mạng tôi hết lần này đến lần khác, giờ còn muốn hi sinh bản thân vì mẹ tôi.

- Tớ quyết định rồi.

Hai cậu cầm đi.

Tôi đưa cho mỗi bạn một viên ngọc.

Annabeth lắp bắp:

- Percy, nhưng mà...

Tôi quay sang mẹ.

Dù rất muốn đổi mạng cho bà nhưng tôi biết mẹ không bao giờ cho phép tôi làm thế.

Tôi phải mang tia chớp trở lại đỉnh Olympia, gặp thần Dớt nói rõ ngọn ngành.

Tôi phải chặn đứng chiến tranh.

Mẹ không đời nào muốn tôi buông xuôi tất cả để cứu bà.

Tôi nhớ Lời Sấm Truyền ở Trại Con Lai: "Cuối cùng, ngươi sẽ không cứu nổi người quan trọng nhất của đời mình."

Tôi thầm hứa:

- Con xin lỗi.

Con sẽ quay lại tìm mẹ.

Nhất định phải có cách.

Hades hết dương dương tự đắc:

- Kìa nhóc...

- Cháu sẽ tìm mũ mang về cho chú.

Chú đừng quên lên lương cho Charon.

- Chớ thách thức ta, mang họa đấy...

- Với lại, thi thoảng chơi với chó Cerberus một tí có chết chóc gì đâu.

Nhớ là nó thích bóng cao su màu đỏ.

- Percy Jackson, mi dẹp đi...

Tôi hô lớn:

- Ta đi thôi, các cậu.

Ba đứa ném ngọc trai và chờ.

Chẳng thấy gì!

Hades thét lác:

- Giết hết chúng cho ta.

m binh rầm rập tiến lên, kẻ rút súng, người chỉnh vũ khí về chế độ tự động.

Ba Nữ thần Báo Thù lao vút tới, roi da bốc lửa rừng rực.

Đúng lúc âm binh đồng loạt bóp cò, ngọc trai nổ giòn, bùng lên ánh sáng xanh lục đi kèm cơn gió biển trong lành.

Tôi bơi trong hình cầu trắng như sữa dần nổi lên mặt đất.

Annabeth và Grover theo sát phía sau.

Trong lúc ba đứa từ từ bay lên, gươm giáo, đạn bay tứ phía không vào được trong bong bóng màu ngọc trai.

Hades gầm gào khiến cả cung điện dưới lòng đất rung chuyển.

Chắc chắn Los Angeles phía trên gặp phen náo loạn.

Grover hét lên:

- Nhìn lên đi!

Coi chừng có va chạm!

Đúng vậy.

Ba chúng tôi đang bay gần trần hang đầy nhũ đá.

Chúng sắp chọc thủng bong bóng, xiên chúng tôi như người ta xiên thịt chuẩn bị nướng.

Annabeth hỏi:

- Cậu biết điều khiển thứ này không?

- Không.

Đúng lúc bong bóng đụng trần hang, ba đứa la hét như cháy nhà và rồi... bóng tối bao trùm.

Chúng tôi chết rồi sao?

Thốt nhiên, tôi có cảm giác mình đang lao nhanh vùn vụt.

Ba bong bóng khổng lồ xuyên qua tầng đất cứng như bóng nổi dưới nước.

Phép thần thông của ngọc này là thế.

Tôi nhớ câu Nữ thần biển từng nói: "Cái gì của biển sẽ phải trả về cho biển."

Trong vài giây, tôi không thể nhìn thấy gì ngoài vách bong bóng.

Thế rồi, bong bóng của tôi xuyên thủng lớp đá cứng dưới đáy biển.

Hai bong bóng trắng đục của Annabeth và Grover theo sát tôi.

Ba đứa lao nhanh như gió lên mặt nước.

Và rồi BÙM!

Ba chúng tôi phụt mạnh lên mặt vịnh Los Angeles, húc ngã một tay lướt sóng khiến anh ta bực tức la lối:

- Mấy người làm gì thế?

Tôi túm Grover, lôi nó đến gần phao cứu sinh, nhân tiện dìu luôn Annabeth theo.

Một chú cá mập trắng dài ba thước rưỡi hiếu kỳ bơi đến xem.

Tôi quát:

- Biến!

Nó quay đầu bơi đi mất.

Vận động viên lướt sóng sợ hãi, lẩm bẩm thề sẽ cai thuốc gây ảo giác trước khi hối hả bơi đi.

Tự nhiên tôi có khả năng biết thời gian, không cần xem đồng hồ.

Giờ là sáng sớm ngày Hạ Chí, hai mươi mốt tháng Sáu.

Xa xa, thành Los Angeles bốc cháy ngùn ngụt, nhiều cột khói phun lên nền trời báo hiệu có động đất lớn.

Hades gây nên thảm họa này.

Chắc ông ta cũng sai âm binh truy sát tôi.

Nhưng còn nhiều thứ ghê gớm hơn địa ngục.

Giờ tôi phải lên bờ, trả tia chớp về đỉnh Olympia.

Tuy nhiên, quan trọng nhất là tôi phải nói vài lời với vị thần đã lừa tôi vào tròng.

20.

Ẩu Đả Với Người Bà Con Xấu Tính

Tàu tuần dương đưa ba đứa lên bờ nhưng họ không hơi đâu bận tâm hơn nữa đến ba đứa trẻ nghịch dại, ăn mặc như bụi đời dám bơi ra giữa vịnh.

Cả thành phố nhốn nháo giải quyết hậu quả từ thảm họa thiên nhiên vừa qua.

Tiếng bộ đàm báo tin nguy cấp réo liên tục trên thuyền.

Quấn khăn tắm cho cả ba, cho mỗi đứa mấy chai nước, họ thả chúng tôi lên cầu tàu Santa Monica rồi rú ga phóng đi cứu người bị nạn.

Quần áo chúng tôi ướt sũng, tôi cũng không ngoại lệ.

Lúc tàu tuần dương phóng tới, tôi thầm cầu trời để quần áo tôi cũng ướt nếu không sẽ rắc rối to.

May quá, phép thần thông khiến quần áo khô ngay cả khi dưới nước tạm thời hết linh nghiệm,

Tôi đi chân đất, cho Grover mượn giày.

Đội tuần dương sẽ thắc mắc nếu thấy cặp móng guốc của nó.

Tàu cập bến, chúng tôi bước thấp bước cao nhìn thành phố bốc cháy rừng rực trong nắng sớm.

Tôi cảm giác mình như vừa từ cõi chết trở về.

Tia chớp của Dớt đè nặng trên lưng.

Nỗi đau không cứu được mẹ đè nặng trong ngực.

Annabeth phẫn nộ:

- Thật không thể tưởng tượng được.

Ba đứa vất vả ngược xuôi để rồi...

Tôi trêu:

- Trò gian manh này dễ sợ thật.

Qua mặt cả con gái thần Athena.

Annabeth nhăn nhó:

- Coi chừng tớ đấy.

- Cậu hiểu đầu đuôi chưa?

Annabeth ỉu xìu:

- Ừ.

Grover phàn nàn:

- Nhưng tớ chưa hiểu.

Hai cậu...

Annabeth buồn bã:

- Percy, tớ rất tiếc chuyện mẹ cậu.

Tôi cắn răng im lặng.

Chỉ cần nói một câu về mẹ, tôi sẽ khóc òa như con nít.

Tôi phân trần:

- Lời Sấm Truyền rất đúng.

"Người sẽ đi theo hướng Tây, gặp vị thần tráo trở."

Chỉ có điều đó không phải Hades.

Ông ta không muốn Bộ Tam Vĩ Đại bất hòa.

Thủ phạm là người khác rất giỏi nghề "đạo chích": hắn vừa trộm tia chớp của Dớt, mũ tàng hình của Hades rồi đổ vấy tội lên đầu con trai thần Poseidon.

Cha tớ bị cả anh và em trai nghi ngờ.

Chiều nay, cả ba bên sẽ đánh nhau tơi bời.

Trong mắt mọi người, tớ là nguyên nhân gây hấn.

Grover lắc đầu:

- Nhưng ai nham hiểm quá như vậy?

Ai thèm nhìn máu đổ nhiều như thế?

Tôi đứng sững, nhìn ra biển:

- Từ từ để tớ đoán.

Kia rồi, ông ta đang đợi chúng tôi với chiếc áo da và kính mát phủ bụi.

Ông ta vác gậy bóng chày bằng nhôm trên vai.

Sau lưng ông là chiếc mô tô nổ máy kêu bình bịch.

Đèn pha biến cát trắng thành đỏ.

Hình như thấy tôi, ông ta mừng thật sự:

- Chào nhóc.

Tưởng ngươi chết lâu rồi chứ?

- Ông cài bẫy tôi.

Chính ông lấy cắp cả tia chớp lẫn mũ tàng hình.

Thần Ares cười nhăn nhở:

- Chớ nói thế.

Đích thân ta thì không.

Có bao giờ thần này đụng vào bảo bối của thần kia được.

Nhưng đâu phải trên đời chỉ mình ngươi làm việc vặt cho ta.

- Ông mượn tay ai?

Clarisse chắc?

Hóa ra hôm Đông Chí, nó cũng lên đỉnh Olympia à?

Thần Ares cười cợt:

- Thôi bỏ đi.

Vấn đề là mày chọc gậy bánh xe, cố tình ngăn chặn chiến tranh.

Này nhé, nếu mày chết dưới địa ngục, ông già mày sẽ thù Hades giết con.

Hades chiếm tia chớp.

Dớt sẽ thù Hades.

Trong lúc đó, Hades sẽ tìm cái này ...

Ông ta lấy mũ lưỡi trai trong túi móc lên tay ga của xe mô tô.

đây là loại mũ trùm kín mặt, chỉ chừa hai mắt bọn cướp ngân hàng thường đội.

Nó lập tức biến thành mũ đồng trang trí cầu kỳ của lính Hy Lạp cổ.

Grover hốt hoảng:

- Mũ tàng hình của thần Hades.

- Phải.

Ta đang nói đến đâu rồi nhỉ?

Vì nghi hai anh lấy mũ, Hades thù cả Dớt lẫn Poseidon.

Chẳng bao lâu, cuộc chiến tay ba bùng nổ.

Thiên hạ tha hồ xem.

Annabeth bất bình:

- Nhưng họ đều là máu mủ ruột rà của ông kia mà?

Ares nhún vai:

- Người nhà đánh nhau mới hay chứ.

Cuộc chiến huynh đệ tương tàn bao giờ cũng đẫm máu nhất.

Nhìn anh em ruột choảng nhau thích không thể tả.

- Ông đưa tôi ba lô ở Denver.

Hóa ra tia chớp có ở trong ba lô từ lúc ấy.

- Nói thế vừa đúng vừa không đúng.

Chuyện đời phức tạp, mày không hiểu được đâu.

Để tao gợi ý cho: ba lô là bao của tia chớp.

Tia chớp luôn đi đôi với nó giống thanh kiếm luôn trở về túi áo mày.

Đúng là thần chiến tranh có khác, rành mọi loại vũ khí trên đời.

- Tao đã chỉnh sửa tí chút sao cho mày xuống địa ngục, tia chớp mới tìm được vỏ.

Mày thành nhân viên bưu điện mang đồ cho Hades.

Còn nếu mày chết dọc đường, tao chẳng thiệt hại gì.

Tia chớp vẫn thuộc về ta.

- Nhưng sao ông không giữ tia chớp mà gửi cho Hades?

Thần Ares nghiến răng.

Trong một thoáng hình như ông ta suy nghĩ đâu đâu:

- À... phải... ta giữ vũ khí lợi hại ấy cũng được mà...

Ông ta thẫn thờ đến hai ba giây rồi bừng tỉnh:

- Ta không muốn chuốc họa vào thân.

Với lại để thiên hạ bắt quả tang mày cầm thứ đó mới vui.

- Nói dối.

Đưa tia chớp xuống địa ngục không phải ý của ông.

- Phải mà.

Kính ông ta bốc khói, như thể sắp bốc cháy đến nơi.

- Ông không ra lệnh ăn trộm.

Người khác cử con lai "xoáy" cả hai thứ.

Khi Dớt phái ông đi săn kẻ trộm, ông bắt được tay đạo chích.

Nhưng ông không giao nộp hắn cho Dớt.

Không hiểu vì lẽ gì ông tha cho hắn.

Ông giữ hai bảo bối, chờ một con lai khác giao hàng theo ý ông.

Ông răm rắp nghe yêu quái dưới vực.

- Thần chiến tranh không làm tôi cho ai hết.

Ta cũng chẳng mộng mị như ngươi!

Tôi hỏi vặn:

- Tôi có kể chuyện gặp ác mộng cho ông đâu nhỉ?

Ares lúng túng, nhưng bĩu môi đánh trống lảng:

- Quay lại chuyện đang bàn dở đi nào.

Mày còn sống là không ổn.

Tao không thể khoanh tay để mày đem tia chớp lên đỉnh Olympia được.

Mấy gã to đầu trên đó tin lời mày thì nguy.

Thế nên, tao buộc phải giết mày thôi.

Thực lòng, tao không thù hằn gì mày hết.

Hắn búng tay.

Cát dưới chân hắn nổ tung, một con lợn lòi xông tới.

Con này to hơn, xấu mã hơn con bị treo đầu trước cửa nhà Số Bảy.

Quái thú bới cát, mắt long sòng sọc, răng nanh nhọn hoắt chĩa về phía tôi chờ lệnh chủ.

Tôi bước xuống mép nước:

- Ông không dám một chọi một với tôi ư?

Ông ta cười nhạt, có vẻ sợ sệt.

- Trong ba mươi sáu chước, mày thích chước "chuồn" nhất phải không?

Thấy Chimera cũng quay đầu bỏ chạy, xuống địa ngục cũng chạy bán sống bán chết.

Sao không đương đầu giành lấy những gì thuộc về mày ấy?

- Ông sợ chứ gì?

- Mày đừng có mơ. – Cặp kính sắp bị lửa sau mắt nấu chảy. – Tuy nhiên, tao không để tay nhúng chàm.

Rất tiếc, nhưng tao không thèm đánh nhau với đồ nhãi nhép.

Annabeth kêu thét:

- Percy, chạy đi!

Con lợn lòi xông tới.

Nhưng tôi chán phải chạy trốn lắm rồi.

Từ giờ trở đi tôi sẽ đối mặt với tất cả.

Dù là lợn lòi, là Ares, là Hades hay bất cứ ai.

Tôi rút gươm tránh đường quái thú hung dữ.

Lúc thanh gươm dài hết cỡ, tôi chém mạnh xuống.

Răng nanh con vật rơi xuống chân tôi.

Mất phương hướng, quái thú chạy thẳng ra biển.

Tôi ra lệnh:

- Nổi sóng lên!

Lập tức sóng lớn trùm lên người yêu quái, quấn lấy nó như tấm chăn.

Quái thú giãy đành đạch trước khi biến mất.

Tôi quay sang Ares:

- Giờ ta đấu tay đôi hay ông quyết định núp sau mông con lợn khác?

Ares giận tím mặt:

- Ăn nói cẩn thận kẻo tao biến mày thành...

- Thành con gián hay sâu đo, miễn sao ông không bị đét đít.

Tôi nói đúng không nào?

Lửa nhảy múa trên kính Ares:

- Mày cầu xin tao xay mày thành cháo đấy à?

- Nếu thua, tôi biếu ông tia chớp.

Ông thích biến tôi thành gì cũng được.

Nhưng nếu ông thua, cả tia chớp lẫn mũ tàng hình đều của tôi.

Còn ông đi đường ông, cấm làm phiền nhau nữa.

Ares gầm gừ.

Hắn vác gậy bóng chày lên vai:

- Mày muốn chơi nhau kiểu cổ điển hay hiện đại?

Tôi vung kiếm.

- Hay lắm.

Vậy cổ điển nhé.

Gậy bóng chày biến thành gươm hai lưỡi cỡ lớn.

Chuôi kiếm bạc hình đầu lâu ngậm hồng ngọc lấp lánh.

Annabeth can:

- Percy, bỏ đi.

Ta không đấu lại với thần đâu.

- Nhưng hắn hèn lắm...

Cô bạn tôi nuốt khan:

- Vậy đeo cái này đi.

Chúc may mắn đấy.

Annabeth gỡ dây đeo bằng da đeo vào cổ tôi.

- Cùng hợp sức nào, Posseidon và Athena sát cánh lần này.

Tôi cười ngượng:

- Cảm ơn cậu.

- Cầm cái này nữa.

Grover đưa tôi vỏ hộp thiếc bẹp gí.

Hình như nó mang theo từ lúc khởi hành từ Trại Con Lai.

- Mọi thần rừng đều ủng hộ cậu.

- Grover... không biết cảm ơn cậu sao cho đủ.

Nó vỗ vai tôi.

Tôi loay hoay cất vỏ hộp vào ba lô.

Ares đến gần, vạt áo da mở phanh bay phần phật, kiếm tuốt trần bắt nắng sớm như sắp bốc lửa:

- Chúng mày vĩnh biệt nhau xong chưa?

Ta bất tử, sức lực không bao giờ cạn.

Mày có tài gì nào?

Tôi thầm nghĩ: "Tôi không ngạo mạn như ông", nhưng không nói ra.

Vẫn dầm chân dưới nước ngập đến mắt cá, tôi nhớ lời Annabeth trong quán ăn hôm nào: Ares có sức mạnh hơn người nhưng chỉ thế mà thôi.

Đôi khi sức mạnh phải thua trí thông minh.

Kiếm thần Ares chém mạnh xuống đầu tôi nhưng tôi không còn đứng chỗ cũ.

Cơ thể tôi tự tính toán mau lẹ.

Nước hất tôi lên cao còn tôi lao về phía về Ares vung kiếm nhưng hắn nhanh nhẹn tránh được.

Ares vặn người khiến kiếm tôi đáng lẽ chém trúng sống lưng đối thủ thì giờ chỉ làm chệch cán kiếm của Ares.

Hắn nhăn nhở:

- Khá lắm.

Kiếm của hắn phạt ngang, buộc tôi phải nhảy lên bờ.

Tôi cố nhảy sang bên, trở lại mép nước nhưng hình như Ares đoán được suy nghĩ của tôi.

Hắn xông tới áp đảo, tấn công dồn dập khiến tôi cố hết sức chống đỡ và càng lúc càng xa mép nước.

Tôi chờ mãi nhưng Ares không sơ hở.

Hơn nữa, kiếm của hắn dài hơn Thủy triều.

Tôi nhớ hồi học kiếm thuật, Luke thường bảo:

- Nếu kiếm của chú ngắn hơn đối thủ, hãy tìm cách rút ngắn khoảng cách.

Tôi xấn tới, xỉa thẳng mũi kiếm.

Ares chỉ chờ có thế.

Hắn hất kiếm khỏi tay tôi, đoạn co chân đạp mạnh ngực tôi.

Tôi bay lên, cách mặt đất gần mười mét.

Nếu không rơi trúng đụn cát, có lẽ tôi đã gãy xương sống rồi.

Annabeth hét to:

- Percy, cảnh sát tới.

Nhìn một thành hai, ngực đau ê ẩm nhưng tôi gượng đứng dậy.

Nếu ngoái đầu nhìn, chắc chắn Ares xé đôi người tôi ngay.

Tôi liếc ngang thấy ngoài lộ đèn đỏ loang loáng.

Có tiếng sập cửa xe rầm rầm.

Có tiếng la lối:

- Cảnh sát!

Có đánh nhau đằng kia kìa.

Giọng bực bội:

- Giống thằng bé trên tivi ... cái gì thế này...

Nhân viên cảnh sát đi cùng bảo:

- Hắn có vũ khí.

Gọi cứu viện đi.

Tôi lăn người.

Kiếm của Ares rạch xuống cát.

Vùng dậy chạy đến bên kiếm, tôi nhặt lên vung tay phạt ngang mặt thần Ares, nhưng bị trượt.

Hình như hắn biết đón ý trước khi tôi kịp ra tay.

Tôi lùi xuống nước, buộc hắn xuống theo.

Ares đắc thắng:

- Thú nhận đi, bé con.

Ngươi chỉ là món đồ chơi trong tay ta.

Đừng hy vọng thoát.

Mọi giác quan hoạt động hết tốc lực, tôi nhớ Annabeth từng nói chứng mất tập trung, hiếu động thái quá khiến tôi sung sức khi giao tranh.

Lúc này, tôi tỉnh táo lạ thường, không bỏ sót chi tiết nào.

Trước mặt tôi, Ares thật sự căng thẳng.

Tôi biết trước hắn sẽ ra đòn gì.

Đồng thời, tôi thấy Annabeth và Grover cách tôi mười thước.

Xe cảnh sát thứ hai thắng két, còi rú inh ỏi.

Dân chúng hiếu kỳ rủ nhau kéo tới, trong đó vài người tập tễnh giống thần rừng cải trang.

Thấp thoáng đây đó bóng dáng các linh hồn như thể âm binh từ địa ngục đến xem tận mắt cuộc giao tranh.

Tiếng roi da vun vút lướt qua trên đầu.

Lại thêm còi xe cảnh sát.

Tôi tiến xa hơn xuống nước nhưng Ares nhanh như cắt.

Mũi kiếm nhọn sắt của hắn đâm toạt tay áo, sượt qua da tôi.

Cảnh sát gí miệng vào loa:

- Hai người hạ ngay vũ khí.

Thả súng xuống đất.

Nhanh lên!

Súng nào?

Vũ khí trên tay Ares biến hình liên tục, hết thành súng ngắn lại biến thành kiếm hai lưỡi.

Dù người thường thấy gì trong tay tôi thì thứ ấy cu4nng không làm cho họ yêu mến tôi hơn.

Ares trừng mắt nhìn đám đông, khiến tôi có thời gian kịp trấn tĩnh.

Giờ đã có năm xe cảnh sát quây xunh quanh và sĩ quan đứng thành hàng sau xe, súng ngắn chĩa thẳng vào chúng tôi.

Ares gầm lên:

- Biến đi!

Cho người trong nhà giải quyết việc riêng.

Hắn vung tay.

Lửa đỏ chạy trên dãy xe cảnh sát.

Nhóm sĩ quan chỉ kịp lao đầu tránh trước khi xe nổ như bom.

Đám đông la hét, bỏ chạy tán loạn.

Ares cười rống lên.

- Nào nào, vị anh hùng bé nhỏ.

Ta sẽ cho cậu tham dự vào món thịt nướng nhé.

Hắn xốc kiếm thẳng tới.

Tôi kịp thời chặn ngay và tiến sát, đủ ra đòn chí mạng nhưng một lần nữa, Ares tránh được.

Nước đến ngang lưng tôi, nhưng chỉ đến đùi Ares.

Hắn đang lội theo tôi.

Sóng biển vỗ nhịp nhàng, càng vào bờ sóng càng lớn.

Tôi nảy ra một ý.

Sóng nhỏ.

Nước triều đang rút.

Tôi dùng ý chí giữ sóng lại nhưng sức ép tăng mãi, như khí gas dưới nút chai nước ngọt.

Ares vừa cười đắc ý vừa sấn tới.

Tôi hạ kiếm như thể đã mệt nhoài không thể chiến đấu tiếp.

Tôi khẽ nói với biển: Ráng chờ thêm chút nữa.

Sức ép của nước nâng tôi lên dần.

Thần Ares vung kiếm.

Tôi thả sóng, nhảy lên.

Con sóng đưa tôi vút lên cao bay qua đầu thần Ares.

Bức tường nước cao gần hai mét vỗ thẳng vào mặt hắn.

Ares chửi bới, nhổ phì phì rong rêu vừa tạt vào miệng mình.

Tôi tiếp đất sau lưng hắn và làm động tác giả như lúc nãy khiến hắn tưởng tôi định chém đầu mình.

Ares xoay người giơ kiếm đỡ nhưng lần này hắn mất phương hướng vì không đoán được ý tôi.

Tôi đổi hướng, vung gươm chém xuống nước.

Mũi kiếm xuyên qua gót chân Ares.

Tiếng gầm của hắn khiến động đất trở thành chuyện nhỏ.

Con sóng khi nãy rút ra xa, để lại hố cát rộng đường kính hơn mười lăm mét.

Ichor, máu vàng của thần thánh, chảy từ gót chân bị thương thấm qua giày thần chiến tranh.

Gương mặt hắn méo xẹo bởi bao cảm xúc giằng xé: uất hận, đau đớn, ngạc nhiên tột cùng vì Ares không ngờ tôi có thể đâm hắn bị thương.

Đi cà nhắc về phía tôi, Ares lầm bầm chửi bằng ngôn ngữ cổ.

Nhưng không hiểu sao hắn sững lại.

Lúc đầu tôi tưởng mây che mặt trời nhưng không phải.

Ánh sáng nhạt dần. m thanh, màu sắc kém hẳn.

Có cái gì nặng nề, lạnh lẽo phủ trên bờ cát.

Thời gian như ngừng trôi, nhiệt độ tụt xuống điểm đóng băng khiến tôi tràn ngập cảm giác đời tuyệt vọng, ý chí đấu tranh bị bẻ gãy.

Bóng tối ngập tràn.

Ares sững sờ.

Quanh hai chúng tôi, xe cảnh sát cháy rừng rực.

Đám đông hiếu kỳ tan rã.

Annabeth và Grover tròn mắt nhìn nước dâng trở lại quanh chân thần Ares và nước biển pha loãng dòng máu như vàng lỏng chảy từ chân hắn.

Ares hạ kiếm:

- Nhãi con dám gây thù chuốc oán với ta.

Vậy thì đời ngươi coi như tàn rồi.

Từ nay trở đi, mỗi lần vung kiếm giao tranh, mỗi lần hy vọng chiến thắng ngươi sẽ nếm mùi lời nguyền rủa của ta.

Percy Jackson, nhớ mặt ta nhé.

Toàn thân hắn sáng rực.

Annabeth la to:

- Percy, đừng nhìn hắn.

Tôi quay mặt đi đúng lúc thần Ares hiện nguyên hình.

Linh tính mách bảo rằng nếu tò mò nhìn, tôi sẽ biến thành tro bụi.

Ánh sáng tắt lịm.

Quay đầu lại, tôi thấy Ares biến mất.

Nước triều rút, mũ tàng hình của Hades hiện ra.

Cúi xuống lấy mũ, tôi ra chỗ các bạn.

Trước khi đến đích, tôi nghe tiếng đập cánh.

Ba bà già đội mũ viền đăng ten, mặt mày hắc ám xách roi từ trên trời bay đến trước mặt tôi.

Nữ thần Báo Thù đứng giữa giống cô Dodds tiến đến.

Bà ta nhe nanh nhưng trông thất vọng, không hung dữ như mọi ngày.

Như thể bà ta sắp ăn sống nuốt tươi tôi nhưng hóa ra tôi làm bà ta khó tiêu, sinh bụng.

Bà ta rít lên:

- Ta chứng kiến từ đầu đến cuối.

Vậy... thủ phạm không phải là ngươi ư?

Tôi ném trả mũ tàng hình.

Bà ta thẫn thờ đón lấy.

- Trả cái này cho thần Hades.

Nói thật hết mọi chuyện.

Bảo ông ta rút lại lời tuyên chiến.

Bà ta ngần ngừ, đưa đầu lưỡi chẻ hai liếm cặp môi nhăn nheo.

- Percy Jackson, ngươi phải giỏi giang hơn người đấy.

Sống như anh hùng đích thực.

Bởi nếu không... ngươi sẽ rơi vào nanh vuốt của ta.

Bà ta cười khùng khục như thế tự tán thưởng câu nói thâm thúy vừa rồi.

Sau đó, bà ta dang cánh bay lên bầu trời mịt mờ tối và khuất dạng.

Tôi đến bên Grover và Annabeth đang ngạc nhiên đứng nhìn.

Grover tán dương:

- Percy, cậu thật là...

Annabeth buột miệng:

- Đáng sợ.

Grover chữa lại:

- Siêu đẳng chứ.

Tôi không sợ, cũng chẳng thấy mình siêu đẳng gì.

Tôi chỉ mệt, đau khắp mình mẩy và gần như kiệt sức.

Tôi hỏi:

- Các cậu có thấy chuyện vừa rồi không?

Cả hai đều sợ sệt gật đầu.

Grover bảo:

- Chắc Ares thấy ba Nữ Thần Báo Thù bay đến.

Nhưng tôi không nghĩ thế.

Ares định giết tôi nhưng phải dừng tay.

Thế lực buộc hắn làm thế phải mạnh hơn Nữ Thần Báo Thù rất nhiều.

Tôi nhìn Annabeth.

Hai đứa gật gù tâm đắc.

Giờ tôi đã biết thứ dưới vực, lối vào nhà ngục Tartarus, nói vọng lên là gì rồi.

Lấy lại ba lô từ tay Grover, tôi mở ra xem.

Tia chớp vẫn còn đó.

Cục sắt nhỏ ấy suýt gây nên Đại Chiến Thế Giới Lần Thứ Ba.

- Trước khi trời tối, ta phải có mặt ở New York.

Annabeth cãi:

- Không thể được, trừ phi...

- Ta phải bay thôi.

Annabeth ngạc nhiên:

- Ý cậu là đi máy bay ư?

Đừng quên ai cũng bảo cậu chớ nên di chuyển bằng đường hàng không vì thần Dớt sẽ giết cậu dễ dàng.

Còn nữa, cậu đang mang theo thứ vũ khí mạnh hơn bom nguyên tử.

- Ừ.

Chính vì thế mình mới bay.

Ta đi thôi.

21.

Tôi Đã Biết Kiềm Chế

Con người thật lạ.

Họ biết "đẽo gọt" suy nghĩ cho vừa nhận thức của mình về thực tại.

Tôi nghe báo Chiron nói thế từ ngày xửa ngày xưa nhưng cũng như bao chuyện khác, mãi sau này tôi mới thấm thía và trân trọng sự thông thái của bác.

Theo giới truyền thông Los Angeles, thủ phạm vụ nổ ở Santa Monica là tội phạm chuyên bắt cóc tống tiền điên loạn bắn xe cảnh sát.

Viên đạn tình cờ bay trúng ống dẫn xăng bị bể sau vụ động đất.

Tên bắt cóc điên loạn (ý nói thần Ares) cũng chính là người đã bắt tôi và hai thiếu niên khác ở New York, sau đó chủ mưu tổ chức hành trình xuyên nước Mỹ trong vòng mười ngày đầy ắp các sự kiện kinh hoàng.

Té ra cậu bé Percy Jackson tội nghiệp không phải tội phạm quốc tế.

Cậu ta gây nên cảnh hỗn loạn trên xe buýt ở New Jersey cốt để chạy trốn kẻ bắt cóc mất hết nhân tính. (Gần đây, một số người thề sống thề chết đã thấy gã mặc áo da trên xe buýt!

"Sao lúc trước tôi không nhớ ra nhỉ?") Gã cuồng loạn này cũng gây nên vụ nổ Gateway Arch.

Suy cho cùng, trẻ con nào gây tội tày đình ấy được?

Một nữ phục vụ bàn ở Denver chứng kiến gã bắt cóc đe dọa các em nhỏ, cô gái nhờ bạn chụp hình và báo cảnh sát.

Cuối cùng, cậu bé Percy Jackson dũng cảm lấy trộm súng của tên bắt cóc ở Los Angeles, dẫn đến vụ đấu súng trên bãi biển Santa Monica.

Cảnh sát kịp thời có mặt, nhưng do vụ nổ xe kinh hoàng, năm xe cảnh sát phát nổ và tội phạm thừa cơ trốn thoát.

Hiện chưa có con số thương vong.

Percy Jackson và hai bạn được cảnh sát bảo vệ nên tuyệt đối an toàn.

Các nhà báo bịa chuyện giùm.

Chúng tôi chỉ cần làm ra vẻ buồn tủi, mệt mỏi (trong thời điểm này đóng kịch thế không khó lắm) và đóng vai trẻ em gặp nạn trước ống kính là xong.

Tôi vờ nghẹn ngào trước máy quay:

Cháu chỉ muốn gặp lại cha dượng kính yêu.

Mỗi khi thấy dượng trên truyền hình gọi cháu là tên tội phạm cặn bã, không hiểu sao... cháu vẫn thấy... sẽ có ngày hai cha con lại quấn quít với nhau.

Dượng tâm sự với cháu, bảo sẽ tặng mọi khách hàng đến từ thành Los Angeles hoa lệ ba món hàng hiện có bán trong tiệm do dượng quản lý.

Mọi chi tiết xin liên hệ số điện thoại sau.

Cảnh sát và cánh nhà báo cảm động tận đáy lòng, bèn đứng ra quyên góp tiền mua ba vé cho ba bạn nhỏ lên chuyến bay sớm nhất về New York.

Tôi biết chỉ còn mỗi cách đi máy bay.

Hy vọng thần Dớt xét hoàn cảnh khó khăn hiện tại thương tình không nỡ xuống tay.

Việc cất cánh thật là kinh khủng.

Mỗi một chuyển động của máy bay đều đáng sợ hơn một quái vật thời Hy Lạp cổ đại.

Suốt dọc đường tôi bấu chặt tay lên thành ghế.

Chỉ khi con chim sắt hạ cánh an toàn xuống sân bay La Guardia, tôi mới thở phào nhẹ nhõm.

Báo giới địa phương chờ sẵn ngoài cổng, nhưng Annabeth giúp chúng tôi tránh họ dễ dàng bằng cách dùng mũ tàng hình.

Cô bạn hô hoán: "Ba đứa đang ăn sữa chua trong quán đằng kia.

Đến đó đi, nhanh lên!"

Xong xuôi, cô bé đến bằng chuyền lấy hành lý cùng tôi và Grover.

Chúng tôi chia tay nhau ngoài bãi xe taxi.

Tôi bảo Annabeth và Grover về Trại Con Lai trước để báo cho bác Chiron biết tình hình.

Cả hai không chịu, nói đã đi với nhau thì đi đến cùng.

Nhưng tôi biết phần cuối nhiệm vụ này, tôi phải làm một mình.

Nếu kế hoạch đổ bể, nếu các thần không tin tôi... tôi muốn Annabeth và Grover sống sót trở về kể cho bác Chiron biết toàn bộ sự thật.

Tôi lên taxi đến Manhattan.

***

Ba mươi phút sau, tôi qua ngưỡng cửa tòa nhà Empire State.

Trông tôi không khác thằng ăn mày: quần áo tả tơi, mặt mày bầm tím, phờ phạc bởi trong vòng ít nhất hai mươi tư tiếng đồng hồ qua, tôi chưa hề chợp mắt.

Tôi đến thẳng chỗ nhân viên an ninh sau bàn bảo vệ:

Cho lên tầng sáu trăm.

Anh ta đang đọc quyển sách to tướng in hình phù thủy ngoài bìa.

Sách chắc phải hay lắm vì mãi sau, anh ta mới ngẩng đầu lên:

Nhóc ơi, làm gì có tầng ấy.

Em muốn yết kiến thần Dớt.

Anh ta cười ngây ngô:

Gì cơ?

Anh nghe rồi còn hỏi.

Cho rằng anh này người phàm, tôi định quay đầu bỏ chạy vì sợ anh ta gọi cảnh sát còng tay tôi lại.

Nhưng anh ta bảo:

Muốn yết kiến phải hẹn trước chứ.

Thần Dớt không tiếp ai cứ thích là đến xin vào gặp.

Tôi gỡ ba lô, mở khóa cho anh ta xem bên trong.

Chắc ông sẽ công nhận em là trường hợp đặc biệt.

Thoạt nhìn, anh bảo vệ chưa nhận ra.

Giây lát sau, anh tái mặt:

Có phải...

Vâng, chính nó đấy.

Hay anh muốn em mang ra phố để...

Ấy, đừng!

Luống cuống thẻ có mã khóa, anh trao cho tôi:

Đưa cái này qua khe khóa điện tử.

Nhớ đi thang máy một mình thôi nhé.

Tôi răm rắp nghe lời.

Cửa thang máy vừa đóng, tôi đút thẻ vào khe.

Thẻ biến mất, bảng điều khiển hiện thêm một nút màu đỏ có chững Tầng 600.

Tôi nhấn nút rồi chờ mãi.

Tiếng nhạc Muzak êm dịu vang lên: Mưa sao còn rơi mãi xuống đầu tôi

BOONG!

Cửa mở, tôi bước ra và suýt ngất xỉu.

Dưới chân tôi chỉ có hòn đá nhỏ lơ lửng giữa trời.

Manhattan phía dưới cách tôi một khoảng bằng từ chiều cao của máy bay xuống mặt đất.

Trước mặt tôi, đá hoa cương xếp trên viền đám mây xốp, dẫn lên trời.

Mắt tôi lần theo từng bậc thang, đến chỗ não bộ không chịu chấp nhận.

Bộ não ra lệnh:

Nhìn lại đi.

Hai mặt khăng khăng cãi:

Thì đang nhìn đây.

Nó kia kìa.

Chóp đám mây bồng bềnh có quả núi cụt ngọn.

Đỉnh của nó phủ tuyết trắng xóa.

Sườn núi nhiều cung điện, mỗi cung điện một kiểu dáng và độ cao thấp khác nhau.

Đó là một thành phố toàn dinh thự.

Nhà nào cũng có cột trắng, thềm dát vàng và lò than nhảy múa hàng ngàn tia lửa sưởi ấm.

Đường xá ngoằn ngoèo rối mắt và đều chạy lên cung điện nguy nga nhất trên đỉnh nổi bật trên nền tuyết trắng.

Quanh cung điện thấp thoảng vườn tược trồng cây ô liu sum suê và hoa hồng rực nở.

Từ đây, tôi nhìn kỹ thấy khu chợ nhiều lều bạt sặc sỡ, nhà hát hình vòng trên sườn núi, rạp ca múa nhạc và một đại hý trường La Mã.

Nó là thành phố Hy Lạp cổ, chỉ có điều mọi thứ đều mới tinh khôi.

Thành phố này sạch sẽ, sống động đầy màu sắc giống thành Athens cách nay hai ngàn năm trăm năm.

Tôi không chịu tin: "Không thể như thế được."

Chẳng lẽ nó treo lơ lửng trên thành phố New York như tiểu hành tinh nặng cả ngàn tấn?

Đỉnh Olympia đậu ngay trên nóc tòa nhà Empire State nhưng mười bốn triệu dân New York không hề thấy bao giờ?

Nhưng nó ngay trước mắt tôi.

Còn tôi đang đứng ngay trong lòng nó.

Tôi mê mẩn vào thành.

Các Nữ Thần Cây cười khúc khích, ném quả ôliu vào người tôi.

Người bán hàng rong trong chờ mời tôi mua thức ăn nhanh của thần thánh, khiên mới và quần áo dát vàng tuyệt đẹp.

Chín nữ thần thơ ca chỉnh nhạc cụ chuẩn bị cho buổi hòa nhạc sắp bắt đầu giữa công viên.

Khoảng hơn chục người xúm lại thành đám khán giả: họ gồm thần rừng, Nữ thủy thần và một nhóm thiếu niên, trai khôi ngô tuấn tú, gái xinh đẹp mỹ miều.

Tôi đoán họ là con các thần.

Hình như không ai quan tâm đến cuộc nội chiến sắp bùng nổ.

Ngược lại, ai cũng hớn hở như đi trảy hội.

Thấy tôi, vài ba người nhìn chằm chằm rồi quay sang rỉ tai nhau.

Tôi lên đường chính nhắm cung điện trên đỉnh núi thẳng tiến.

Cung điện này là bản sao cung điện dưới địa ngục, chỉ có điều dưới đó xây bằng chất liệu đá đen và đồng, trên bằng đá trắng và bạc.

Chắc chắn khi xây cung điện cho mình, Hades cố tình bắt chước nơi này.

Vì không được lên đây ngoại trừ ngày Đông Chí, nên Hades tự xây cung điện Olympia của mình dưới địa ngục.

Dù lần giáp mặt nhau không có kết thúc tốt đẹp, tôi vẫn thương thay cho Hades.

Không được nơi này chào đón quả là buồn tủi.

Ai vào địa vị Hades chẳng cay đắng trong lòng.

Bậc đá dẫn lên sân chầu.

Cuối sân là phòng bày ngai.

Gọi là phòng không hẳn đúng.

So với nó, nhà ga trung tâm New York giống tủ cất chổi và giẻ lau nhà.

Cột lớn vươn tận mái vòm điểm xuyến bằng những chòm sao.

Mười hai chiếc ngai to bằng ngai của Hades xem theo hình chữ U lộn ngược, giống mười hai nhà ở Trại Con Lai.

Lò sưởi khổng lồ ở giữa cháy rừng rực.

Mọi ghế đều trống ngoại trừ hai ghế đầu hai hàng trái phải.

Không cần nói tôi cũng biết ai đang ngồi đằng kia, chờ tôi tới.

Trên đường đi, hai đầu gối tôi run lập cập.

Giống Hades, hai vị thần này đều có bộ dạng giống người phàm.

Nhưng mỗi khi liếc trộm họ, người tôi giần giật như thể sắp bốc cháy.

Thần Dớt, chúa tể các vị thần mặc vét xanh sẫm, sọc nhuyễn.

Ông ta ngồi trên ngai đúc bằng bạch kim kiểu dáng đơn giản.

Râu quai nón của ông màu xám sẫm cắt tỉa cẩn thận, trông như màu mây đen.

Nét mặt ông cương nghị, đẹp và nghiêm trang đi kèm đôi mắt xám nhật!

Càng đến gần ông, không khí quanh tôi cuàng khô hanh, lạnh lẽo.

Chắc chắn vị thần bên cạnh là em thần Dớt.

Tuy nhiên, trang phục của ông ta không hợp với người cao ba mét và đầy quyền uy.

Quần áo ông giống khách nghỉ mát trên biển Key West.

Ông đi xăng đan, mặc quần soóc kaki và áo sơ mi may bằng vải in hình cây dừa và vẹt.

Ngoài nước da bánh mật, hai bàn tay ông sứt sẹo như ngư dân thuở xưa.

Tóc ông đen, giống tóc tôi.

Khuôn mặt ông trầm ngâm, mắt xanh lá cây giống mắt tôi.

Chùm chân chim quanh mắt ông mách tôi rằng chủ nhân của nó rất hay cười.

Ngai của ông giống ghế ngư ông, loại ghế quay giản dị bọc da đen gắn sẵn vào bao da cho cần câu cá.

Chiếm chỗ cần câu là cây đinh ba bằng đồng, mấy đầu nhọn phát quang màu xanh lục.

Dù hai thần ngồi im không nói, nhưng bầu không khí rất căng thẳng như thể họ vừa cãi nhau to.

Đến gần ghế ngư ông, tôi quỳ mọp:

Con chào cha.

Tôi không dám nhìn lên, tim đập thình thịch.

Từ hai thần toát ra nguồn năng lượng mạnh mẽ.

Nếu tôi ăn nói luống cuống, chắc chắn họ sẽ nghiền tôi thành bụi.

Thần Dớt bên trái tôi thắc mắc:

Chào chủ hộ trước mới phải phép chứ.

Tôi cúi gầm chờ bị quở trách.

Lát sau, thần Poseidon nói đỡ.

Giọng nói của ông nhắc tôi nhớ những kỷ niệm xa xưa nhất: vầng hào quang ấm áp xuất hiện khi tôi còn nằm nôi và cảm giác có bàn tay thần biển đặt trên trán.

Bình tĩnh đi anh.

Con kính trọng cha là điều nên làm mà.

Thần Dớt nóng nảy:

Em vẫn khăng đòi nhận nó à?

Em phá vỡ lời nguyền thiêng liêng giữa anh em ta, cho ra đời thứ nghiệt chủng này, giờ còn công khai nhận nó thì còn ra thể thống gì nữa.

Em đã nhận lỗi rồi còn gì.

Giờ để cháu kể đầu đuôi xem thế nào.

Lỗi ư?

Tôi nghẹn ngào.

Hóa ra tôi chỉ là hậu quả của một vị thần trót một lần sa ngã?

Thần Dớt càu nhàu:

Này, tôi tha cho con chú một lần thôi đấy.

Dám bay vào lãnh địa của ta, to gan!

Đáng lẽ anh đã cho nó nổ tung giữa trời, cho tiệt nọc thói hỗn xược.

Thần Poseidon điềm đạm:

Anh sợ mất tia chớp thì có.

Thôi để yên cho cháu nó kể.

Thần Dớt còn càu nhàu mãi một lúc nữa mới thôi.

Ông ta dõng dạc:

Được, ta sẽ nghe trước khi quẳng nhãi con này từ đỉnh Olympia xuống New York.

Thần Poseidon gọi:

Percy, nhìn cha đây.

Tôi làm theo để rồi thất vọng.

Gương mặt ông không hề biểu lộ tình yêu thương trìu mến hay hài lòng.

Không thể nói tôi tự tin hơn trong lần đầu được ở bên cha.

Nó giống mặt biển vào những ngày lặng gió, không ai biết đại dương sẽ biến đổi ra sao.

Hầu như nó luôn bí ẩn và khó hiểu.

Lạ thay, tôi mừng vì thần Poseidon tỏ ra cách biệt.

Mọi lời xin lỗi, bày tỏ tình cảm hoặc thậm chí một nụ cười cũng bị coi là giả tạo.

Giống các ông bố người phàm hợp thức hóa chuyện bỏ bê vợ con bằng vài lý do ngớ ngẩn.

Không sao, tôi chịu được.

Suy cho cùng, tôi không hiểu lắm về con người ông.

Cha bảo tôi:

Quay sang thần Dớt và kể những gì con biết.

Tôi kể chân thực từ đầu đến cuối cho thần Dớt nghe.

Tôi lấy thanh thép hình trụ đặt dưới chân ông.

Thấy mặt chủ nhân nó lấp lánh sáng.

Sau đó là quãng im lặng dài, chỉ có tiếng than nỏ lép bép trong lò.

Thần Dớt xòe tay.

Tia chớp bay lên bàn tay ông.

Khi tay ông nắm chặt, thanh kim loại tóe lửa biến thành quyền trượng dài sáu mét.

Diện phát ra từ đó làm tóc tôi dựng ngược.

Thần Dớt lẩm bẩm:

Có vẻ như thằng bé này nói thật.

Nhưng lần này thần Ares hành xử lạ quá... không giống tính cách bình thường của hắn chút nào.

Thần Poseidon đáp:

Ares bốc đồng và kiêu ngạo.

Con cái nhà ấy vẫn thế mà.

Tôi lên tiếng:

Cho con thưa một chuyện.

Cả hai đồng thanh:

Chuyện gì?

Thần Ares không manh động, một mình gây hấn.

Có người, hoặc yêu quái nào đó chủ mưu.

Tôi mô tả lại giấc mơ, và những gì mắt thấy tai nghe trên bãi biển: khoảnh khắc đáng sợ trong đó trái đất như ngừng quay khiến thần Ares đang định giết tôi cũng phải dừng tay.

Nhiều khi cháu mơ thấy giọng nói dưới vực xui cháu mang tia chớp đến địa ngục.

Ares một lần lỡ lời, tiết lộ thần cũng gặp ác mộng tương tự.

Cháu nghĩ thần và cháu đều bị lợi dụng cho ý đồ khởi xướng chiến tranh.

Thần Dớt bảo:

Có phải ngươi nghi cho Hades?

Không ạ.

Từng yết kiến thần Hades nên cháu biết.

Cảm giác trên bờ biển không giống lúc cháu gặp thần ấy.

Nó giống lúc cháu đứng trên miệng vực, lối vào ngục Tartarus.

Bên dưới có thứ gì độc ác đang trăn trở... thứ gì ra đời trước cả thần thánh.

Hai thần nhìn nhau và căng thẳng trao đổi mấy câu bằng tiếng Hy Lạp cổ.

Tôi chỉ nghe kịp một từ: Cha.

Thần Biển đề đạt ý kiến nhưng thần Dớt gạt đi.

Thần Poseidon cố thuyết phục nhưng thần Dớt giận giữ giơ tay tỏ ý không muốn nghe.

Thần Dớt bảo:

Ta không bàn chuyện này nữa.

Giờ ta phải đích thân tẩy uế cho tia chớp bằng nước từ Lemnos, xóa hết dấu vết của người phàm dính trên này.

Ông đứng lên và nhìn tôi.

Nét mặt ông dịu xuống một chút:

Cháu vừa chạy công được việc cho ta.

Hiếm anh hùng nào có khả năng làm được thế.

Cháu được hai bạn là Grover Underwood và Annabeth Chase giúp...

Để trả công, ta tha mạng cho ngươi.

Perscus Jackson, ta không tin ngươi.

Nội sự có mặt của ngươi trên đời cũng ảnh hưởng xấu đến tương lai đỉnh Olympia và tất nhiên, ta không thích.

Nhưng vì muốn gia đình hòa thuận, ta cho ngươi sống.

Dạ...

đa tạ ngài.

Đừng dại dột đi máy bay lần nữa.

Lát nữa ta về, đừng để ta còn thấy mặt ngươi.

Nếu trái ý, ngươi sẽ được nếm mùi lợi hại của tia chớp này... và đó sẽ là cảm giác cuối cùng của ngươi đấy.

Tiếng sấm làm rung chuyển cung điện.

Thần Dớt biến mất sau ánh chớp lòe.

Trong phòng chỉ còn lại mình tôi và cha.

Thần Biển thở dài:

Bác con thiệt tình!

Đi thì cứ đi, gây ồn ào gì không biết.

Dớt làm thần bảo trợ cho gánh hát chắc hợp hơn.

Một thoáng im lặng ngượng ngùng.

Thưa cha, dưới vực có gì thế?

Con không đoán được yư?

Là Kronos, Chúa tể các Titan.

Ngay cả cung điện Olympia, rất xa Tartarus, cái tên Kronos đủ khiến phòng tối sầm, lò sưởi lớn không đủ xua đi cái lạnh thấu xương.

Thần Biển nắm chặc cán đinh ba:

Trong cuộc chiến tranh thứ nhất tính từ khi khai thiên lập địa, thần Dớt băm vằm cha thành ngàn mảnh, giống hệt chúa tể Kronos từng làm thế với cha mình là Ouranos.

Thầnh Dớt rải những mảnh ấy xuống vực sâu nhất ở ngục Tartarus.

Các Titan chạy mọi ngả, pháo đài của họ trên núi Etna bị phá hủy, yêu quái đồng minh của họ bị đẩy đến những góc xa xôi nhất của quả đất.

Nhưng cũng như thần thánh, các Titan bất tử.

Những gì còn lại của thân xác Kronos vẫn sống dưới hình thức ghê tởm.

Chúng vật vã trong cơn đau vĩnh hằng và chưa hết thèm khát quyền lực.

Vết thương của Kronos đang lành.

Ông ta sẽ trở về.

Thần biển lắc đầu:

Thi thoảng, Kronos có quậy phá.

Ông ta xâm nhập giấc mơ người phàm, thổi vào đó những ý tưởng độc ác.

Ông đánh thức những yêu quái không chịu khuất phục.

Nhưng khả năng ông ta trỗi dậy từ vực sâu khó xảy ra.

Nhưng...

Tôi im bặt.

Cãi cha là không tốt.

Tôi không muốn chọc giận vị thần duy nhất ủng hộ mình.

Con xin nghe lời cha.

Nụ cười phớt qua môi ông:

Con mới biết tuân phục, có phải không?

Vâng...

Tính xấu ấy một phần thừa hưởng từ cha.

Biển cả không thích bị kiềm chế.

Ông đứng lên cầm đinh ba.

Vóc dáng cao sừng sững mờ đi, nhỏ lại bằng người thường, đứng ngay trước mặt tôi.

Con đi ngay đi.

Nhưng trước hết, nên biết mẹ con đã về.

Tôi ngạc nhiên quá đỗi:

Mẹ con sao?

Con sẽ gặp mẹ ở nhà.

Hades trả mẹ con về lúc nhận mũ tàng hình.

Ngay cả thần cõi âm cũng biết sòng phẳng, nhỉ?

Tim tôi đập dồn, không tin rằng giờ phút tôi chờ đợi bấy lâu đã đến:

Thưa... cha có...

Tôi muốn hỏi thần Poseidon có cùng tôi về thăm mẹ không, nhưng e hỏi vậy ngớ ngẩn quá.

Trên đời đã ai thấy Thần biển vẫy taxi lên khu thượng Manhattan chưa?

Nếu muốn, mười mấy năm qua ông đã tìm gặp mẹ Sally rồi.

Với lại, không thể không lường trước phản ứng của Gabe Cóc Chết.

Mắt thần Poseidon thoáng buồn:

Percy con, về đến nhà con có việc quan trọng cần quyết định ngay.

Có bưu kiện đang chờ sẵn trong phòng con đấy.

Bưu kiện gì ạ?

Khi thấy con sẽ biết ngay.

Không ai chọn đường đời cho con được đâu.

Tự con phải quyết định thôi.

Dù không hiểu cha nói gì, tôi vẫn gật đầu.

Thần biển buồn rầu:

Mẹ con là nữ hoàng của thế giới phái đẹp dưới trần.

Cả ngàn năm qua, ta chưa từng gặp ai tuyệt vời đến thế.

Thế nhưng... ta vẫn xin lỗi vì đưa con đến thế giới này.

Vì ta, con phải mang phận anh hùng.

Số phận anh hùng không bao giờ vui vẻ hạnh phúc.

Người anh hùng luôn phải đón đợi bị kịch đến với đời mình.

Tôi cố ngăn cảm giác chua xót.

Cha tôi vừa xin lỗi vì trót sanh tôi ra đời!

Con vui vẻ chấp nhận mà.

Giờ thì thế, nhưng sau này con sẽ hận cha.

Có thể là sai lầm không thể tha thứ của cha.

Tôi ngượng ngập cúi chào:

Con xin từ biệt và không bao giờ làm phiền cha nữa.

Tôi đi chừng năm bước đã nghe tiếng ông gọi lại:

Percy!

Tôi quay lại.

Mắt ông lấp lánh niềm tự hào:

Con cha giỏi lắm.

Đừng hiểu lầm ý cha.

Từ nay trở đi, hễ làm việc gì hãy luôn nhớ ta là cha của con.

Con đích thực là con trai Thần Biển.

Thấy tôi bước đi trên con phố vắt ngang thành trì của các thần, những ai đang nói đều dừng lời.

Chín nữ thần thơ ca ngừng chơi đàn.

Các tiểu thần linh, thần rừng và Nữ thủy thần đều kính cẩn quay về phía tôi với thái độ biết ơn.

Tôi vừa qua trước mặt, họ đã quỳ xuống như thể tôi là người hùng của họ.

-0-

Mười lăm phút sau tôi trở lại phố phường Manhattan đông đúc, cảm giác bàng hoàng chưa tan hết.

Tôi đón taxi về nhà mẹ và nhấn chuông cửa.

Mẹ tôi xinh đẹp hiện ra.

Quần áo mẹ thơm mùi kẹo bạc hà và cam thảo.

Thấy tôi, bao lo âu mệt mỏi trên gương mặt mẹ tan biến.

Percy!

Cảm ơn trời.

Con mẹ về đây rồi.

Tôi ngạt thở trong vòng tay mẹ.

Hai mẹ con đứng ngoài hành lang, mẹ vừa vuốt tóc tôi vừa khóc.

Thú thật, mắt tôi cũng mờ đi.

Thấy mẹ, tôi nhẹ cả người, cảm động đến mức đứng không vững.

Mẹ kể bà mới hiện về nhà sáng nay làm Gabe Cóc Chết sợ hết hồn.

Sau vụ gặp quỷ đầu bò, mẹ không nhớ gì thêm.

Bà không tin khi nghe cha ghẻ tôi kể rằng tôi là tội phạm bị truy nã hiện đi khắp nước Mỹ phá hủy tượng đài.

Suốt ngày qua, tin thời sự làm mẹ lo cháy lòng.

Gabe Cóc Chết ép mẹ đi làm, nói rằng mẹ nợ lương cả tháng, giờ phải trả nợ.

Tôi cố nuốt giận kể đầu đuôi chuyện mình.

Cố làm các tình tiết không đến nỗi đáng sợ chẳng dễ dàng gì.

Mới kể đến trận ẩu đả với thần Ares, tôi nghe tiếng Gabe Cóc Chết từ phòng khách vọng ra:

Sally đâu?

Thịt nướng chín chưa vậy?

Mẹ mệt mỏi nhắm mắt:

Thấy con, ông ấy tức cho xem.

Hôm nay, cửa hàng ông ấy tới tấp nhận điện thoại từ Los Angeles hỏi quà tặng miễn phí.

Ừ nhỉ.

Chuyện đó thì...

Mẹ gượng cười:

Đừng làm ông ấy giận thêm.

Vào nhà đi.

Sau một tháng tôi vắng nhà, căn hộ biến thành thế giới riêng của Gabe Cóc Chết.

Rác ngập đến mắt cá chân.

Lon bia rỗng phủ kín mặt ghế sofa.

Tất và đồ lót bẩn vứt bừa lên chụp đèn.

Cha ghẻ tôi đánh bạc cùng ba chiến hữu mặt mày bặm trợn và cao lớn như gấu ngựa.

Thấy tôi, điếu xì gà từ khóe miệng hắn rớt xuống đất.

Mặt hắn đỏ lựng:

Nhái con, tao tưởng mày không bao giờ dám vác mặt về đây.

Tưởng cảnh sát...

Mẹ tôi ngắt lời:

Hóa ra Percy không bị truy nã hay đào tẩu gì cả.

Tốt quá rồi, phải không anh Gabe?

Gabe Cóc Chết hết nhìn mẹ, lại nhìn tôi.

Rõ ràng, hắn không thích tôi về.

Hắn gầm lên:

Phải trả lại tiền bảo hiểm nhân thọ của cô, tôi chưa đủ mệt ư?

Cô đưa điện thoại đây.

Tôi sẽ gọi cảnh sát.

Anh Gabe, đừng!

Hắn nhướng lông mày:

Cô vừa cản tôi đấy à?

Cô tưởng tôi sẽ lại cắn răng chịu đựng cái thằng oắt con này sao?

Tôi còn chuyện để kiện: nó làm hỏng chiếc Camaro của tôi.

Nhưng...

Hắn vung tay.

Mẹ tôi co người tránh.

Tôi chợt hiểu.

Hắn từng đánh mẹ tôi.

Tôi không biết khi nào và hắn ra đòn nặng hay nhẹ, nhưng chắc chắn hắn có thượng cẳng chân, hạ cẳng tay với mẹ.

Cụ thể chuyện ấy diễn ra nhiều năm rồi, những lúc tôi không có nhà.

Cơn thịnh nộ bùng phát, làm ngực tôi nhói đau.

Tôi đến bên hắn và quen tay rút cây bút trong túi áo.

Gabe Cóc Chết bật cười:

Gì thế?

Định viết thư cho tao à?

Chỉ cần đụng đến sợi lông chân của tao, mày đi tù mọt xương, con ạ.

Eddie bạn hắn can:

Kìa Gabe.

Nó chỉ là trẻ con thôi mà.

Ông ta quay lại quắc mắc, giả giọng the thé nhại:

Chỉ là trẻ con thôi mà.

Hai gã còn lại cười ồ lên ngớ ngẩn.

Gabe Cóc Chết cười mỉa, nhe hàm răng ám khói thuốc lá:

Lần này tao tha.

Cho mày năm phút lấy quần áo cuốn xéo khỏi đây.

Đến phút thứ sáu là tao gọi cảnh sát đấy.

Mẹ tôi van vỉ:

Em xin anh!

Gabe quay sang bà:

Nó là tội phạm.

Để nó biến luôn.

Dính vào chỉ mang họa.

Tôi chỉ muốn mở nắm Thủy triều.

Nhưng gươm không hại người thường, mà Gabe là người thường theo nghĩa hèn mọn nhất.

Mẹ kéo tay tôi:

Percy, đi với mẹ.

Ta vào phòng con, nhanh lên.

Tôi để mặc mẹ lôi xềnh xệch, hai tay run lên vì giận.

Phòng bừan bộn đồ dùng của Gabe Cóc Chết.

Góc này là đống bình điện hỏng, góc kia có bó hoa héo quắt hắn mang về sau buổi phỏng vấn của Barbara Walters.

Con à, dượng chỉ giận quá mất khôn thôi.

Từ từ để mẹ nói cho.

Rồi mọi chuyện sẽ ổn thỏa.

Mẹ!

Không bao giờ ổn cả đâu.

Còn dượng Gabe thì còn khổ mãi.

Vậy... nghỉ hè con theo mẹ đến chỗ làm.

Đầu năm, để mẹ tìm trường nội trú...

Kìa mẹ.

Bà nhìn xuống:

Mẹ đang cố.

Chỉ cần... con cho mẹ ít thời gian.

Một kiện hàng hiện trên giường tôi.

Ít nhất tôi còn tỉnh táo để thề một giây trước nó chưa có ở đó.

Hộp bìa cứng cũ nát ấy đựng vừa trái bóng rổ.

Địa chỉ người nhận bên ngòai do chính tay tôi viết:

Gửi các thần

Đỉnh Olympia

Tầng thứ 600, tòa nhà Empire State

New York, NY

Cùng những lời chúc tốt đẹp nhất

PERCY JACKSON

Nắp hộp có chữ bút dạ đen ghi địa chỉ nhà mẹ Sally, kèm mấy chữ: TRẢ CHO NGƯỜI GỬI

Tôi hiểu ngay ý cha tôi nói lúc ở Olympia.

Một bưu kiện.

Một quyết định.

Cho dù con có làm bất cứ điều gì, hãy nhớ rằng con là con của cha.

Con là con trai của Thần Biển.

Tôi nhìn mẹ:

Mẹ có muốn dượng Gabe đi luôn không?

Không dễ đâu con.

Mẹ...

Chỉ cần mẹ nói một tiếng.

Gã đểu cáng ấy dám đánh mẹ.

Giờ mẹ muốn hắn đi luôn không?

Mẹ ngần ngừ, thoáng gật đầu:

Có.

Mẹ sẽ nói chuyện thẳng thắn với dượng.

Nhưng con không làm thay mẹ được.

Để mẹ tự giải quyết.

Tôi nhìn chiếc hộp.

Tôi muốn làm thay mẹ, đem hộp ra bàn lấy thứ bên trong ra.

Tôi sẽ có bộ tượng đẹp trang trí cho phòng khách.

Tôi nghĩ thầm: "Các anh hùng trong thần thoại Hy Lạp toàn làm thế.

Gabe Cóc Chết đáng bị xử nghiêm khắc."

Nhưng chuyện các anh hùng toàn kết thúc bi thảm.

Cha mới dạy tôi thế.

Hình ảnh địa ngục hiện về trong tôi.

Tôi tưởng tượng cảnh hồn ma Gabe lê bước đời đời trên cánh đồng Asphodel, hoặc bị tra tấn sau hàng rào dây kẽm gai của ngục thất Trừng Phạt, hoặc chơi bài suốt đời trong vạc dầu sôi ngập đến thắt lưng đồng thời phải nghe cả nhạc opera.

Tôi lấy quyền gì bắt người ta phải chịu khổ như vậy, ngay cả người đó là Gabe?

Nếu trước đây một tháng, tôi sẽ không chùn tay.

Nhưng giờ khác rồi.

Tôi bảo mẹ:

Con làm thay mẹ được.

Chỉ cần nhìn vào hộp này, ông ta sẽ không bao giờ làm phiền mẹ nữa.

Liếc qua kiện hàng, mẹ hiểu ngay.

Bà lùi lại:

Percy!

Con không được làm thế.

Thần Poseidon tôn mẹ là nữ hoàng.

Cha nói người như mẹ tìm cả ngàn năm không thấy.

Mẹ tôi đỏ mặt:

Con đừng...

Đáng lẽ mẹ không phải khổ như vầy.

Mẹ nên đi học cho có bằng cấp.

Sau đó làm nhà văn, lấy người tốt bụng, có nhà cửa đàng hoàng.

Đừng chỉ vì bảo vệ con mà phải sống với Gabe.

Giờ con tự lo được.

Đừng thèm ông ta nữa.

Mẹ lau nước mắt.

Khẩu khí con tôi giống cha y hệt.

Có lần ông còn định ngăn thủy triều lên vì mẹ.

Ông đòi xây cung điện dưới đáy biển tặng mẹ.

Cha con tưởng chỉ cần ông vẫy tay, mọi rắc rối của mẹ sẽ tan biến.

Thế có gì sai đâu?

Mẹ nhìn tôi đăm đăm:

Mẹ tưởng con hiểu biết hơn thế.

Nửa dòng máu mẹ chảy trong con, chắc con hiểu mẹ.

Cuộc đời mẹ chỉ có ý nghĩa nếu mẹ được quyết định cuộc sống của riêng mình.

Mẹ không thể để thần thánh, thậm chí con trai quyết định thay.

Mẹ phải có can đảm... sống độc lập.

Việc con làm vửa rồi nhắc mẹ nhớ điều đó.

Chúng tôi im lặng nghe tiếng quật bài, chửi thề và bình luận thể thao trên kênh ESPN ngòai phòng khách.

Vậy con để hộp lại.

Nếu hắn dám bắt nạt mẹ thì...

Mẹ tái mặt nhưng gật đầu:

Con định đi đâu?

Trại Con Lai.

Chỉ nghỉ hè... hay ở luôn?

Tùy tình hình, mẹ ạ.

Nhìn thẳng mắt nhau, hai mẹ con cùng đồng thuận chờ đến cuối hè sẽ quyết định.

Mẹ hôn trán tôi:

Người hùng của mẹ.

Con cừ nhất đấy.

Nhìn quanh phòng lần cuối, tôi linh cảm sẽ không bao giờ quay lại nơi này.

Lát sau tôi theo mẹ ra cửa.

Gabe Cóc Chết nói với theo:

Chuồn lẹ hả mày?

Cút đi cho rảnh nợ.

Tôi không cam lòng.

Chẳng lẽ tôi bỏ qua cơ hội trả thù duy nhất này ư?

Tôi lại bỏ đi, không cứu mẹ khỏi địa ngục trần gian này ư?

Hắn quát nạt:

Sally, sao lâu thế?

Thịt nướng đâu hả?

Mắt mẹ lóe lên tia giận dữ.

Tôi nhẹ lòng: biết đâu mẹ xử lý tốt hơn tôi.

Để tự bà quyết định vẫn hơn.

Có thịt nướng ngay đây.

Ngon đến mức kinh ngạc.

Mẹ nháy mắt với tôi.

Trước khi cửa khép lại, tôi kịp thấy mẹ chăm chú ngắm xới bạc như thể chọn tư thế đúng cho tượng Gabe Cóc Chết trong vườn.

22.

Lời Tiên Tri Thành Hiện Thực

Sau Luke, Annabeth và tôi là hai con lai đầu tiên hoàn thành nhiệm vụ và còn sống trở về.

Khỏi phải nói, mọi người trầm trồ thán phục như thể hai đứa vừa thắng cuộc thi khó trên truyền hình.

Theo truyền thống của trại, chúng tôi đeo vòng nguyệt quế dự tiệc chiêu đãi để tôn vinh hai đứa.

Sau đó là lễ đốt vải liệm các bạn may sẵn trong lúc chúng tôi đi vắng.

Vải liệm của Annabeth rất đẹp may bằng lụa xám thêu cả đàn cú.

Tôi đùa, bảo nếu được liệm bằng vải ấy, Annabeth chết cũng không tiếc.

Cô bạn đấm tôi thùm thụp, bảo tôi im miệng đừng nói gở.

Con Thần Biển không có bạn chung phòng nên các con thần Ares tình nguyện may vải liệm cho tôi.

Họ lấy vải trải giường cũ sờn, sơn mặt cười viền quanh và viết chữ ĐỒ THẢM HẠI chính giữa.

Đốt xong nó, tôi mừng húm.

Trong lúc nhà thần Apollo hát nhép say mệ, các bạn cùng phòng cũ nhà thần Hermes, nhà then của Annabeth và các bạn thần rừng của Grover vây quanh.

Họ ăn mừng Grover vừa nhận giấy chứng nhận mới toanh từ tay Hội Đồng xét duyệt.

Các thành viên hội đồng nhận xét trong nhiệm vụ vừa rồi, Grover "can đảm đến mức không thể hiểu nổi... cứng rắn hơn bất kỳ thần rừng nào..."

Trong buổi liên hoan, chỉ mình nhà thần Ares không vui.

Chúng gườm gườm nhìn tôi như muốn nói sẽ không bao giờ tha thứ tội làm nhục cha chúng.

Không vì thế mà tôi kém vui.

Ngay cả bài diễn văn chào mừng nhóm tôi về trại an toàn của ông quản lý Dionysus cũng không làm tôi nản chí.

À, phải.

Gã thiếu niên hư đốn này chưa chết.

Đầu hắn lúc trước đã to, giờ còn to hơn.

Chúc mừng đầu to.

Chuyển sang tin tức khác.

Cuộc đua xuồng máy Chủ nhật này phải hoãn vì...

Dù về lại nhà Số Ba, tôi không còn cô đơn.

Tôi gặp bạn lúc huấn luyện.

Đêm đêm nghe tiếng sóng xô bờ, tôi biết có cha tôi ở đó.

Có thể chưa hiểu hết về tôi, có thể lấy làm tiếc vì có tôi trên đời nhưng ông vẫn dõi theo từng bước tôi đi.

Cho đến giờ, cha tự hào về tôi.

Riêng phần mẹ, bà có cơ hội làm lại cuộc đời.

Một tuần sau khi về trại, tôi nhận được thư mẹ.

Thư kể Gabe Cóc Chết biến mất một cách đầy bí ẩn khỏi tinh cầu.

Dù báo cảnh sát chuyện hắn mất tích nhưng không hiểu sao bà có linh cảm họ sẽ không tìm thấy hắn.

Chuyển sang chuyện khác, mẹ bảo bà vừa bán quần thể tượng đầu tay to bằng người thật cho phòng trưng bày ở Soho.

Tác phẩm của mẹ có tên: Xới bạc.

Tiền thù lao nhiều đến nổi mẹ đủ tiền mua căn hộ mới và đóng tiền học năm đầu tại đại học New York.

Phòng trưng bày Soho nài nỉ mẹ tạc thêm tượng mới.

Mẹ viết cho tôi: "Con đừng lo.

Mẹ không thích điêu khắc nữa.

Mẹ vứt hộp dụng cụ con để lại cho mẹ rồi.

Từ nay trở đi, mẹ sẽ viết văn.

"Tái bút: Mẹ đã tìm được trường tư thục danh tiếng trong thành phố.

Mẹ đã ghi danh, giữ chỗ cho con.

Hãy về học lớp bảy và ở với mẹ.

Nhưng nếu con muốn ở hẳn Trại Con Lai, mẹ hoàn toàn đồng ý."

Tôi gấp thư cẩn thận, để ngay ngắn trên mặt bàn cạnh giường.

Mỗi tối trước khi đi ngủ, tôi đọc lại thư và suy ngẫm xem nên trả lời mẹ thế nào.

Lễ quốc khánh, cả trại tập trung ngoài bãi biển xem màn pháo hoa do nhà Số Chín biểu diễn.

Là con thần Hephaestus, họ cho rằng nếu pháo chỉ có ba màu xanh, đỏ và trắng sẽ rất chán.

Họ chèo thuyền rồng, mang pháo to bằng tên lửa ra khơi bắn vào bờ.

Annabeth kể những năm trước, nhà Hephaestus bắn liên tục tạo hình các nhân vật hoạt hình giữa bầu trời.

Màn cuối là hai trăm chiến binh Sparta múa may giữa trời, chiến đấu anh dũng trước khi nổ tung thành muôn nghìn chấm sáng đủ màu.

Lúc Annabeth và tôi đang trải khăn ngồi cắm trại ngoài trời, Grover đến chào từ biệt.

Dù vẫn mặc quần jeans, áo thun và giày thể thao, Grover chững chạc hẳn chỉ sau vài tuần.

Chòm râu dê dày cứng hơn.

Grover béo ra.

Sừng nó mọc thêm ít nhất hai phân.

Grover không bao giờ rời mũ vải mềm giúp ngụy trang giống người phàm.

Tớ sắp lên đường, nên qua báo hai cậu...

Tôi cố làm mặt vui để động viên Grover.

Thần rừng được trại cho phép đi tìm thần Pan chỉ có mình nó.

Nhưng phải chia tay nó, tôi buồn vô kể.

Tuy mới quen Grover một năm, nhưng trước nó, tôi chưa chơi với lâu như thế.

Annabeth ôm hôn Grover, dặn nó đừng để chân giả tuột ra.

Tôi hỏi nó định tìm thần Pan ở địa điểm nào trước.

Grover ngượng ngập:

Bí mật.

Giá có hai cậu đi cùng thì vui, nhưng người với thần Pan không hợp...

Annabeth bảo:

Chúng tớ hiểu mà.

Cậu có vỏ hộp thiết đủ dùng làm lương khô ăn chưa?

Rồi.

Cầm theo sáo sậy chưa?

Grover càu nhàu:

Rồi.

Annabeth này, cậu như mẹ dê lắm lời vậy.

Nói thế chứ thực lòng.

Grover không khó chịu.

Một tay chống gậy, khoác ba lô trên vai.

Trông nó giống người đi dã ngoại thường thấy trên mọi nẻo đường nước Mỹ.

Cậu bé còi cọc hay bị bắt nạt ở Học viện Yanoy không còn nữa.

Hai cậu chúc tớ may mắn đi.

Sau khi ôm Annabeth lần nữa, nó vỗ vai tôi và quay lại con đường qua đụn cát.

Pháo hoa rực rỡ bầu trời: nào Hercules giết sư tử Nemean, Artemis săn lợn rừng.

Tổng thống George Washington (vốn là con thần Athena) đang vượt qua sông Delawar.

Tôi gọi với:

Này Grover

Nó đã đến bìa rừng và ngoái đầu lại.

Đi đâu thì đi cũng phải ráng ăn uống đầy đủ nhé.

Nó cười, biến mất sau rặng cây.

Annabeth bảo:

Tụi mình còn gặp Grover nhiều.

Tôi cố tin và gạt di suy nghĩ hai ngàn năm qua, chưa ai tìm thần Pan mà sống trở về.

Grover sẽ là người đầu tiên.

Chắc chắn thế.

Tháng Bảy chậm chạp trôi qua.

Mấy ngày liền, tôi vạch chiến lược chơi cướp cờ cho phe đồng minh giành cờ danh dự từ tay nhà Ares.

Lần đầu tiên, tôi trèo lên nóc tường và không bị bỏng vì nham thạch.

Thỉ thoảng qua Nhà Lớn, tôi nhìn lên cửa sổ gác xép, nhớ Nhà Tiên Tri và muốn tin mọi chi tiết của Lời Sấm Truyền đều đã thành hiện thực.

Ngươi sẽ đi theo hướng Tây gặp vị thần tráo trở.

Phần này xong.

Tuy nhiên, thần tráo trở là Ares không phải Hades.

Ngươi sẽ tìm được vật bị đánh cắp và trả nguyên vẹn cho khổ chủ.

Xong luôn.

Tia chớp đã được trả cho thần Dớt.

Mũ tàn hình trở về mái đầu bóng lưỡng của thân Hades.

Ngươi sẽ bị phản bội bởi người tự xưng là bạn.

Tôi thắc mắc câu này.

Chắc Lời Sấm Truyền ám chỉ thần Ares.

Lúc đầu ông ta vờ thân thiên, sau đó phản bội tôi.

Cuối cùng, ngươi sẽ không cứu nổi người quan trọng nhất của đời mình.

Tôi không cứu được mẹ, nhưng tôi để bà tự quyết định và biết mình làm đúng.

Vậy còn băn khoăn nỗi gì?

Đêm chia tay cuối hè đến quá nhanh.

Các thành viên trong trại dùng bữa tối cuối cùng bên nhau.

Chúng tôi đốt thức ăn cúng thần.

Sau đó, các anh chị nhân viên tư vấn trao hạt sứ, quà kỷ niệm cuối hè cho trại viên.

Tôi đeo dây da có hạt sứ kỷ niệm đầu tiên ở trại.

May có lửa đỏ, nếu không mọi người sẽ thấy mặt tôi nóng bừng.

Hình trên hạt sứ màu đen là cây đinh ba màu xanh lá cây.

Luke tuyên bố:

Hạt sứ này ghi nhớ lần đầu tiên con trai Thần Biển đến trại và hoàn thành nhiệm vụ đến địa nguc, ngăn chặn chiến tranh.

Cả trại đứng dậy hò reo.

Ngay cả con thần Ares cũng miễn cưỡng đứng lên.

Nhà thần Athena đẩy Annabeth đến cạnh tôi cùng nhận lời chúc tụng.

Lúc ấy, tôi không biết mình buồn hay vui.

Tôi vừa tìm được gia đình quan tâm đến mình đồng thời ủng hộ tôi làm việc tốt.

Thế nhưng sáng mai, gần hết trại viên sẽ về chuẩn bị cho năm học mới.

Sáng hôm sau, có lá thư trên bàn cạnh giường tôi.

Nhất định thần Dionysus điền mẫu thư này: ông ta cố tình viết sai tên tôi.

Peter Jackson thân mến,

Nếu định ở trại quanh năm, bạn phải báo cáo cho Nhà Lớn trước mười hai giờ trưa nay.

Nếu không báo, chúng tôi sẽ cho rằng bạn đã rời nhà hoặc chết bi thảm.

Khi mặt trời lặn, nhóm yêu quái mình người cánh chim có nhiệm vụ dọn dẹp và sẽ bắt đầu công việc đó.

Họ có quyền ăn thịt trại viên chưa đăng ký.

Mọi vật dụng cá nhân bỏ quên sẽ bị hỏa táng ở hố nham thạch.

Chúc ngày tốt lành!

Ngài D. (tức Dionysus)

Trưởng ban quản lý trại.

Thành viên thứ mười hai của hội đồng Olympia.

Bệnh mất tập trung, hiếu động thái quá khiến tôi toàn đợi nước đến chân mới nhãy.

Hết hè rồi, tôi vẫn chưa trả lời dứt khoát cho mẹ và trại việc đi hay ở.

Giờ tôi chỉ còn vài giờ suy nghĩ trước khi quyết định.

Đáng lẽ việc chọn giữa chính tháng huấn kuyeenj cung kiếm với chín tháng ngồi yên trong lớp học rất dễ dàng.

Nhưng còn mẹ tôi thì sao?

Lần đầu tiên, tôi được ở bên mẹ quanh năm, không bị Gabe Cóc Chết quấy rầy.

Tôi được ở nhà mình, khi rảnh tha hồ lang thang ngoài phố.

Tôi nhớ Annabeth từng bảo: "Thế giới ngoài kia có yêu quái.

Nhờ chúng, anh hùng biết tài mình cao hay thấp."

Số phận Thalia, con gái thần Dớt làm tôi phải suy nghĩ.

Có bao nhiêu yêu quái đang chờ tôi rời Trại Con Lai?

Trong một chuyến đi từ đầu này đến đầu kia nước Mỹ, tôi suýt chết năm, sáu lần.

Nên suốt năm học, tôi chỉ ở một chỗ, không có bác Chiron và bạn bè giúp đỡ, liệu hai mẹ con tôi có sống được đến hè sau?

Đó là chưa kể mấy cuộc thi đánh vần và tập làm văn.

Có khi tôi chết trước khi yêu quái kịp tìm đến.

Tôi bèn xuống sân tập khua vài đường kiếm.

Có lẽ tập xong, tôi sẽ tỉnh táo hơn.

Sân chơi vắng hoe dưới nắng tháng Tám nóng như rang.

Các trại viên, người thu dọn đồ đạc, người cầm chổi và giẻ lau nhà quét dọn đồng thời tìm đồ đạc bị mất lần cuối.

Anh Argus giúp con thần Aphrodite xách đống vali Gucci và túi trang điểm lên đồi.

Xe buýt đưa chúng ra sân bay đợi ở đó.

Tôi tự nhủ: "Đừng nghĩ chuyên đi với Cứ luyện tập xong đã."

Đến phòng tập kiếm, tôi thấy Luke có chung suy nghĩ với mình.

Túi đựng quần áo tập của Luke nằm trơ trọi cạnh bục.

Anh tập một mình bằng cách đấm dãy hình nộm bằng cây kiếm lạ.

Nó giống kiếm thường ở chỗ chém đứt đầu hình nộm hoặc đâm xuyên bụng nhồi rơm của chúng dễ dàng.

Áo thun màu cam trên người Luke ướt mồ hôi.

Mặt anh căng thẳng như thể gặp nguy hiểm đến tính mạng.

Tôi ngẫm và thầm thán phục anh moi ruột cả dãy bù nhìn bằng rơm, chém rời chân tay chúng, biến chúng thành đống rơm và áo giáp sắt.

Tuy nạn nhân chỉ là bù nhìn, nhưng tôi ngưỡng mộ các đường kiếm điêu luyện của Luke.

Anh đúng là chiến binh cừ.

Cũng như bao lần khác, tôi bâng quơ tự hỏi sao anh không hoàn thành nhiệm vụ lần trước.

Mãi sau thấy tôi, anh dừng tay kiếm:

Percy đấy à?

Ngượng quá, tôi lắp bắp:

Xin lỗi, em chỉ....

Anh hạ kiếm:

Không sao.

Anh sắp nghĩ rồi.

Bọn bù nhìn bị hạ hết rồi.

Luke nhún vai:

Hè nào trại cũng thay bù nhìn mới.

Giờ Luke không vung kiếm loang loáng, tôi mới thấy kiếm hai lưỡi này làm bằng hai kim loại khác nhau: một lưỡi bằng đồng, lưỡi kia bằng thép.

Thấy tôi nhìn, Luke bảo:

À, đồ chơi mới ấy mà.

Anh gọi nó là Kẻ Xấu Bụng.

Sao anh gọi thế?

Luke lật thanh kiếm:

Một lưỡi bằng đồng có phép thần.

Một lưỡi bằng thép cứng.

Tác dụng với cả thần thánh lẫn người phàm.

Tôi nhớ bác Chiron từng nói anh hùng không hại người phàm trừ tình huống khẩn cấp.

Họ cũng làm loại kiếm này ư?

Không ai làm cả.

Kiếm như Kẻ Xấu Bụng trên đời chỉ có một.

Anh cười nụ, tra kiếm vào vỏ:

Anh đang đinh tìm chú, vừa hay chú đến.

Ta vào rừng lần cuối, xem có trò vui gì không đi!

Tự nhiên tôi ngần ngừ.

Đáng lẽ tôi nên mừng vì thái độ Luke rất vui vẻ.

Từ lúc tôi về trại đến giờ Luke toàn tránh mặt.

Tôi chỉ e anh bực mình vì giờ mọi người chú ý tôi nhiều hơn.

Có nên không anh?

Ý em là....

Đi đi mà.

Anh chuẩn bị sẵn nước mời chú đấy.

Anh lục túi lấy lố sáu lon nước ngọt Coke.

Tôi ngạc nhiên, không biết anh mua thứ ấy ở đâu.

Cửa hàng của trại không bán đồ uống bên ngoài.

Không ai có hàng lậu, trừ phi nhờ thần rừng mua giùm.

Tất nhiên, ly đồ uống trên bàn ăn tối giúp trại viên thưởng thức bất cứ thứ gì họ muốn nhưng vị của chúng không giống rót từ lon thế này.

Tôi thèm đường và caffeine nên xiêu lòng ngay.

Ừ.

Mình đi.

Hai anh em vào rừng tìm yêu quái luyện vài đường kiếm nhưng trời nóng quá.

Yêu quái chắc ngủ trong hang mát mẻ cả rồi.

Chúng tôi chỉ thấy con hươu vàng vút qua bụi cây nhưng tốt nhất đừng đuổi nó.

Hươu trong rừng này đều là tài sản của thần Artemis.

Luke kể người cuối cùng săn hươu bị chặt đầu cắm trên cây cúp bàn ở bệ lò sưởi trong nhà Số Tám

Chúng tôi tìm tán cây cạnh suối nước, đúng chỗ tôi bè giáo của Clarisse hôm trước.

Hai anh em ngồi trên tảng đá to, uống nước ngọt ngắm hoàng hôn trong rừng.

Hai đứa chuyện phiếm về chiêu thức giành cờ danh dự và nhiều thứ linh tinh khác.

Lát sau Luke nói:

Chú thích chuyến đi vừa rồi không?

Thích gì nổi.

Đi chưa được ba bước đã gặp yêu quái rồi.

Luke nhướn mày.

Tôi thú nhận:

Có thích.

Còn anh?

Mặt Luke tối sầm.

Tôi hay nghe bọn con gái khen Luke đẹp trai.

Nhưng lúc này, trông anh dữ tợn, cau có, chẳng đẹp trai tí nào.

Nắng chiều biến tóc anh từ vàng thành xám.

Vết sẹo trên mặt anh hằn sâu thêm.

Luke già hẳn đi.

Từ lúc mười bốn tuổi đến giờ, anh sống quanh năm trong trại.

Sau vụ Thalia... chắc chú biết rồi.

Anh chỉ biết ăn và luyện tập.

Chưa bao giờ anh biết thế giới thực ra sao.

Vậy mà lần ấy họ bắt anh làm nhiệm vụ.

Lúc anh về, thái độ họ như muốn bảo: "Trò vui hết rồi.

Từ nay cứ sống mòn đến hết đời."

Luke bóp bẹp lon rỗng.

Trước sự ngạc nhiên của tôi, anh ném thẳng xuống suối.

Quy tắc đầu tiên cần nhớ khi đến Trại Con Lai là: Cấm xả rác.

Nếu không Nữ thủy thần và Nữ Thần Cây sẽ trả thù.

Tối đến giường kẻ xả rác dính đầy bùn và rết bò lổm ngổm.

Thêm vào mấy vòng nguyệt quế.

Sau này anh sẽ không thành đồ lưu niệm quẳng trên gác xếp Nhà Lớn đâu.

Nghe như anh sắp rời trại vậy.

Luke nhếch môi:

Phải.

Bởi thế tao đưa mày đến đây để từ biêt.

Luke búng tay.

Đốm lửa nhỏ xuất hiện cạnh chân tôi.

Từ đó một con vật đen trũi, dài bằng bàn tay bò ra.

Bò Cạp.

Tôi thò tay lấy bút.

Luke gằn giọng:

Nếu là mày, tao sẽ không làm thế.

Nếu thấy động, Bò Cạp địa ngục có thể nhảy cao năm mét.

Vòi nó xuyên thủng quần áo.

Mày sẽ chết chỉ sau sáu mươi giây.

Luke, sao anh....

Con vật leo lên tôi.

"Ngươi sẽ bị phản bội bởi người tự xưng là bạn.

Tôi phẫn uất"

Ra là mày.

Hắn bình tĩnh đứng lên, phủi quần.

Còn bò cạp không sợ.

Nó co vòi bò lên giày tôi.

Luke nghiến răng:

Tao hiểu đời hơn mày.

Bóng tối dày thêm, quái vật mạnh hơn bao giờ.

Mày không tiếc công sức đổ sông đổ biển ư?

Anh hùng mấy cũng chỉ là tốt đen trên bàn cờ các thần.

Nếu không nhờ các con lai, họ đã bị lật đổ từ mấy ngàn năm trước rồi.

Tôi không tin vào tai mình:

Luke, họ là đấng sinh thành nên chúng ta.

Hắn cười nhạt:

Chỉ vì thế mà tao phải yêu quý họ ư?

Thứ họ coi trọng là Nền Văn mình Phương Tây chỉ là bệnh dịch.

Nó đang giết dần giết mòn nhân loại.

Thượng sách là thiêu rụi nó, xây dựng thứ gì mới mẻ, trung thực hơn.

Anh điên rồ không kém thần Ares.

Mắt Luke lóe lên giận dữ:

Ares là thằng ngu.

Hắn là chó không biết chọn chủ.

Nếu mày còn thời gian, tao nói kỹ cho nghe.

Tiếc rằng, mày sắp chêt.

Bò cạp bò lên chân tôi.

Phải có cách thoát.

Chỉ cần tập trung suy nghĩ.

Anh là tay sai chúa tể Kronos.

Không khí chợt lạnh buốt.

Luke cảnh báo:

Chớ gọi tên bừa bãi.

Kronos sai anh ăn cắp tia chớp và mũ tàng hình.

Hắn xâm nhập vào giấc mơ của anh.

Luke nháy mắt:

Ông ấy cũng thuyết phục cả mày.

Đáng lẽ mày nên vâng lời.

Hắn tẩy não anh rồi.

Nhầm to.

Ông ấy chỉ ra rằng ta đang phí hoài tài năng của mình.

Mày có nhớ nhiệm vụ của tao hai năm trước không?

Cha tao, thần Hermes, sai tao ăn cắp táo vàng trong vườn Hesperides trả về Olympia.

Tao tập luyện ngàyđêm chỉ để làm việcấy.

Việc ấy không dễ.

Chỉ Hercules làm được.

Chính thế.

Lặp lại việc người khác từng làm có gì vinh quang đâu.

Các thần chỉ biếtôn lại quá khứ.

Vì không thích nhiệm vụ nên tao lơđãng, bị con rồng canh vườn cào rách mặt.

Về đến nơi, tao chỉ nhận lòng thương hại.

Ngay lúcấy, tao chỉ muốn phá tan tành cung điện Olympia nhưng đành nhịn nhục, chờ thời cơ chín muồi.

Tao bắt đầu mơ thấy Kronos.

Ông bảo tao ăn cắp thứ gìđáng công, thứ chưa anh hùng nào dámđụng tới.

NgàyĐông Chí lên Olympia tham quan, tao lừa lúc cả đoàn ngủ say lên đến phòng thiết triều lấy tia chớp dưới ghế thần Dớt, cả mũ tàng hình của Hades nữa.

Dễ lắm, mày không tưởng tượng đượcđâu.

Cư dân Olympia quá ngạo mạn, không ngờ có kẻ lấy cắp đồ của họ.

An ninh lỏng lẻo lắm.

Lúc gần đến New Jersey, nghe bão nổi tao biết họ phát hiện mất đồ.

Bò đến đầu gối tôi, bò cạp dừng lại giương mắt nhìn.

Tôi giữ giọng bình thản:

Sao anh lại không đem bảo bối giao cho Kronos?

Nụ cười của Luke tắt ngấm:

Tao tự tin quá.

Thần Dớt sai các con tìm tia chớp: Artermis, Apollo và cha ta thần Hermes.

Nhưng chỉ thần Ares bắt được ta.

Đáng lẽ hắn nằm liệt bởi tay tao, nhưng tao bất cẩn.

Ares cướp khí giới, lấy bảo bối dọa trả chúng về Olympia và thiêu sống tao.

Đúng lúcđó, giọng Kronos mớm lời cho tao.

Tao bàn với Aresýđịnh xúc xiểm để các vị thầnđánh nhau.

Hắn chỉ cần giấu bảo bối, chờ các vị thần xâu xé lẫn nhau.

Mắt Ares sáng lên.

Tao biết hắn sập bẫy.

Ares thả tù binh.

Tao quay lại Olympia trước khi họ phát hiện ta vắng mặt.

Sau đó, Kronos trừng phạt ta bằngác mộng.

Ta thề không làm hỏng chuyện nữa.

Trở lại Trại Con Lai, giấc mơ bảo ta sẽ có anh hùng mới đến.

Người này sẽ bị lừa mang bảo bối hộ Ares xuống tận Tartarus.

Chính ngươi gọi chóđịa ngục đến trại?

Chiron phải tin rằng mày không an toàn khi ở Trại Con Lai.

Có thể hắn mới giao nhiệmvụ cho mày.

Hắn phải tin Hades tìm mày lấy mạng.

Thực tế tốt hơn cả mong đợi.

Giày bay bị niệm chú.

Nóđịnh lôi tao xuống Tartarus.

Nếu mày chịuđi giày.

Nhưng mày tặng thần rừng, tráiý bọn tao, Grover làm hỏng chuyện từ đầu đến cuối.

Luke nhìn bò cạp bò trên đùi tôi:

Đáng lẽ màyđã bỏ xác dưới vực Tartarus.

Nhưng không sao.

Anh bạn nhỏđây sẽ thu xếpổn thỏa cho mày.

Tôi nghiến răng:

Chị Thalia chết thay cho mày.

Giờ mày trả công thế này sao?

Luke gào lên:

Cấm mày nhắc đến Thalia!

Các thần để mặc côấy chết.

Giờ họ sắp phải đền tội.

Mày bị lợi dụng.

Cả Ares nữa.

Đừng nghe lời Kronos.

Luke the thé:

Tao bị lợi dụng ư?

Nhìn lại mìnhđi.

Ông già cho mày cái gì chưa?

Kronos sẽ hồi sinh.

Mày chỉ làm chậm kế hoạch củaông ấy thôi.

Kronos sẽđày dẫn Olympia xuống Tartarus, đưa nhân loại về thời kì đồđá.

Cả thiên hạ sẽ về tay nhóm mạnh nhất, những người từng trung thành với Kronos.

Bảo con bọ tránh ra.

Nếu khỏe, sao không đấu tay đôi với tao?

Luke cười nham hiểm:

Đừng láu cá.

Tao không giống Ares.

Đừng phỉnh phờ mất công.

Chúa tểđang đợi sẵn sàng giao việc trọngđại cho ta.

Kìa Luke...

Vĩnh biệt.

Thờiđại hoàng kim sắp đến.

Chỉ tiếc mà không được thấy nó.

Hắn biến mất vào màn tối.

Bò cạp quăng mình.

Tôi đập nó bằng tay trần và mở nắp kiếm.

Bò cạp nhảy lên cao nhưng bị tôi chém làm đôi.

Chưa kịp mừng, tôi nhìn xuống bàn tay sưng tấy.

Nước vàng ộc ra, bốc khói.

Bò cạpđã chích tôi rồi.

Tai ù đặc như có cối xay bên trong, mắt tôi mờđi.

"Nước.

Lúc trước, nước chữa lành vết thương cho tôi."

Tôi lảođảo xuống suối, nhung tay xuống nước nhưng không tác dụng.

Nọc bò cạp quá độc.

Mànđen kéo đến che hai mắt.

Tôi cố gượng dậy.

Sáu mươi giây.

Tôi phải về trại.

Nếu gục ngãởđây, xác tôi sẽ thành mồi ngon cho yêu quái.

Sẽ không ai biết có thảm họa này.

Hai chân nặng như chì.

Đầu nóng bừng bừng.

Trên đường lết về trại, tôi thấy Nữ Thần từ cây đi ra.

Tôi kêu yếuớt:

Cứu!

Xin hãy cứu tôi...

Hai Nữ Thần Cây xốc nách tôi.

Tôi chỉ nhớ họ mang tôi đến bãi trống, nhân viên trại hô hoán, và nhân mã thổi tù và.

Bóng tối chụp xuống.

Tỉnh dậy, tôi thấy mìnhđang ngậmống hút.

Nước này như bánh quy sôcôla lỏng.

Là rượu thần.

Tôi mở mắt.

Tôi nằm trên giường bệnh trong Nhà Lớn.

Tay phải băng bó như khúc củi.

Anh Argus canh góc nhà.

Annabeth ngồi cạnh, tay cầm ly rượu, tay kia cầm khăn lau miệng cho tôi.

Giống hôm đầu tiên quá.

Thấy tôi tỉnh lại, Annabeth mừng rỡ.

Cậu khờ quá di.

Lúc tụi tớ đến nơi, cậu tím tái toàn thân rồi.

Nếu bác Chiron không cứu thì...

Bác Chiron xoa dịu:

Thôi nào.

Khen ngườiốm mấy câu cho mau khỏe.

Bác ngồi dưới chân giường tôi trong dáng vẻ người thường nên tôi chưa kịp nhận ra.

Phép màu nén phần dưới cơ thể bác vào xe lăn, nửa trên mặc complêđeo cà vạt.

Tuy mỉm cười nhưng nét mặtông thầy giáo môn Latinh cũ mệt mỏi, bơ phờ như vừa thứcđêm chấm bài.

Cháu thấy trong người thế nào?

Hình như lục phủ ngũ tạng cháu vừa mang từ tủ đông đến lò vi ba.

À, tại nọc bò cạpđịa ngục đấy.

Nếu thấy khỏe cháu kể đầuđuôi ta nghe.

Vừa uống rượu tiên, tôi vừa kể chi tiết.

Căn phòng im lặng rất lâu.

Annabeth vừa buồn vừa giận:

Không ngờ Luke lại...

À, tớ biết thừa.

Sau lần được giao việc, anh ấy khác hẳn.

Hình như các thần đều không ưa hắn.

Bác Chiron khẽ khàng:

Phải báo Olympia ngay.

Bácđi luôn đây.

Tôi nhắc:

Luke đang nhởn nhơ ngoài kia.

Cháu phảiđuổi theo hắn.

Bác Chiron lắc đầu:

Đừng, Percy.

Các thần...

Tôi cãi:

Không cho nhắc đến Kronos chứ gì.

Thần Dớt gạt phắt, không nghe ai bàn đến.

Percy, bác không muốn làm khó cháu.

Nhưng cháu không được vội trả thù.

Cháu chưa sẵn sàngđâu.

Dù không muốn chấp nhận, nhưng tôi tin bác Chiron nóiđúng.

Chỉ cần nhìn bàn tay, tôi biết còn lâu mới cầm kiếm được.

Bác Chiron... có phải bác nghe lời sấm truyền nhắc đến Kronos không?

Nhà tiên tri có nhắc đến cháu và Annabeth không?

Bác ngập ngừng ngó trần nhà:

Percy, bác không có thẩm quyền...

Các thần không cho bác kể với cháuà?

Bác nhìn tôi thông cảm, nhưng ánh mắt buồn buồn:

Cháu sẽ là anh hùng vĩđại.

Nhiệm vụ của bác là dốc sức huấn luyện chuẩn bị cho cháu.

Nhưng nếu bácđoánđúng, đường đời cháu sau này...

Sấm nổ vang.

Của sổ rung bần bật.

Bác Chiron hét to:

Biết rồi!

Khổ lắm.

Bác thở dài:

Không phải ngẫu nhiên các thần giấu cháu.

Biết nhiều quá về tương lai không tốtđâu.

Nhưng bác cháu ta không thể chống mắt ngồi nhìn.

Tất nhiên là không.

Nhưng cháu phải dốc hết sức cẩn thận.

Kronos muốn làm cháu rối trí.

Hắn muốn phá hoại đời cháu, muốn cháu mờ mắt vì sợ và vì giận.

Đừng làm hắn thỏa mãn.

Kiên trì luyện tập.

Thời cơ sẽ đến tìm cháu.

Chỉ sợ chưa đến ngàyđó, cháuđã chết khô rồi.

Bác vỗ vỗ cổ chân tôi:

...nhưng cháu phải quyếtđịnhở hẳn Trại Con Lai hay về học lớp bảy trường thường, chỉ về trại lúc nghỉ hè.

Suy nghĩ cho kỹ.

Bác cần câu trả lời ngay khi từ Olympia trở về.

Tôi muốn cãi và hỏi thêm nhiềuđiều.

Nhưng nét mặt bác cho thấy cuộc nói chuyện nên chấm dứtởđây.

Bác chỉ có thể nói với tôi đến thế.

Xong việc bác sẽ về ngay.

Argusđây sẽ bảo vệ cháu.

Bác nhìn Annabeth:

Với lại... khi nào cháu sẵn sàng, họ sẽ đến ngay.

Ai đếnạ?

Không ai trả lời.

Xe lăn của bác Chiron chạy khỏi phòng.

Tôi nghe tiếng bánh xe của bác lách cách dè dặt xuống từng bậc tam cấp.

Thấy Annabeth nhìnđăm đăm chiếc ly trong tay mình, tôi hỏi:

Cậu sao thế?

Cô bạn mang ly ra bàn cho tôi:

Chẳng sao.

Chỉ là tớ sắp làm theo lời cậu khuyên.

Cậu... cần tớ giúp gì không?

Có.

Giúp tớ đứng với.

Tớ muốn ra ngoài.

Chưa đượcđâu Percy.

Tôi thò chân xuống giường.

Nếu Annabeth không đỡ, tôi sẽ ngã chổng kềnh.

Cơn chóng mặt làm tôi tối tăm mặt mũi.

Annabeth la rầy:

Người ta nói thì không nghe...

Tôi khăng khăng:

Tớ không sao mà.

Tôi không muốn nằm dài như kẻ tàn phế trong khi Luke nhởn nhơ tìm cách phá hoại thế giới.

Tôi cố lê bước, nhưng phảiđu cả người vào vai Annabeth.

Anh Argusđi theo, nhưng cách một quãng.

Ra tới thềm, tôi toát mồ hôi hột, bụng quặn thắt.

Nhưng tôi vẫn cố lết ra lan can.

Trời xẩm tối.

Toàn trại vắng lặng.

Các nhà tối đèn.

Sân bóng chuyền im ắng.

Không xuồng máy rẽ nước mặt hồ.

Ngoài cánh rừng và ruộng dâu, eo biển Long Island lấp lánh nhờánh nắng cuối cùng.

Annabeth hỏi:

Sau này cậu tính thế nào?

Tớ không biết.

Tôi tâm sự rằng tôi không muốn nghe bác Chiron ở hẳn trại cho tiện việc tập tành.

Tuy nhiên, tôi không muốn bỏ Annabeth ở lại cùng Clarisse.

Annabeth mím môi khẽ nói:

Tớ sẽ về nhàđi học.

Tôi ngạc nhiên:

Vềở với cha cậuư?

Cô bé chỉ lên sườn đồi.

Cạnh cây thông Thalia, ngay hàng rào trại có hai đứa bé đứng cùng với một bà và mộtông rất cao tóc bạch kim.

Hình như họ đợi ai đó.

Ông tóc bạch kim cầm ba lô giống ba lô Annabeth mang từ công viên nước Denver về.

Vừa về trại, tớ viết thư cho cha ngay.

Giống như cậu khuyên ấy.

Tớ... mong cha tha thứ.

Nếu cha còn muốn tớ về, đầu năm học tớ sẽ sống với cả nhà.

Cha hồiâm ngay.

Hai cha con quyếtđịnh... sẽ làm lại từ đầu.

Câụ can đảm thật.

Annabeth sắp mếu:

Chín thángởđây, cậu phải cẩn thận nghe chưa?

Nhớ... gửi thư cho tớ.

Tôi cười méo xẹo:

Thường thì rắc rối tự tìm đến, tớ không cần mời.

Hè sang năm tớ quay lại, chúng mình cùng tìm Luke hỏi tội.

Tất nhiên mình xin phép, nhưng nếu bị cấm, mình cứ lẻn ra tựđi tìm.

Đồngý không?

Thế mới xứng là con thần Athena chứ.

Cô bạn chìa tay.

Tôi nắm lấy.

Bảo trọng nhé.

Nhớ cẩn thận.

Cậu cũng vậy.

Tôi trông theo Annabeth lên đồi gặp người thân.

Ngượng ngập đến bên cha, Annabeth quay lại nhìn xuống thung lũng lần cuối.

Bạn tôi vuốt nhẹ cây Thalia rồi theo gia đình dấn thân vào thế giới người phàm.

Lần đầu tiên ở trại tôi thấy côđơn vô cùng.

Tôi ngắm eo biển Long Island, lời cha tâm sự như vang bên tai: "Biển cả không thích bị kiềm chế."

Tôi quyết định ngay lúcđó.

Nếu cha đang dõi theo, ông sẽ nghĩ sao khi biết suy nghĩ này?

Tôi hứa với cha:

Hè tới con sẽ về trại.

Con sẽ sống khỏe suốt chín tháng, cha đừng lo.

Suy cho cùng, con là con trai Thần Biển kia mà.

Tôi nhờ anh Argus dìu xuống nhà Số Ba để thu xếp hành trang chuẩn bị lên đường.

๑۩۞۩๑---THE END--- ๑۩۞۩๑

* * *

[1] Nguyên văn sách dịch là "...cho dù tôi đã sáu lần "đúp" lớp Sáu và rất chắc chắn lần này cũng sẽ bị đuổi học" trong khi đoạn văn bản gốc tương ứng là "...even if this was my sixth school in six years and I was probably going to be kicked out again" nên mình thấy không hợp lý lắm.Mà dịch thành "...cho dù tôi đã chuyển đến sáu ngôi trường trong vòng sáu năm và chắc hẳn lần này cũng sẽ bị đuổi học nữa cho coi" thì có vẻ đúng hơn, nên mình mạn phép sửa như vậy nhé.

[2] Chiron: Vua của các nhân mã, và cũng là một nhân vật uyên bác, thầy đạy của anh hùng Hercules.

[3] Charon: người lái đò sông Mê, đưa các linh hồn vào vương quốc tối tăm của Hades.

[4] Polydictes: là người đứng đầu đảo Seriphos, con trai Magnes và một nữ thủy thần vô danh.

[5] Polyphemus: thủ lĩnh của Khổng lồ một mắt, có sức mạnh vô song.

Con trai của thần biển Poseidon.

[6] Thần rừng: là thần rừng nửa người nửa dê.

[7] Ares: con trai của thần Dớt và Hera.

Là thần của chiến tranh.

[8] Aphrodite là nữ thần của tình yêu, sắc đẹp và sự sinh nở; và cũng là thần hộ mệnh của thủy thủ.

[9] Demeter là chị gái của thần Dớt, bà là nữ thần của nông nghiệp, thiên nhiên, mùa màng và sự sung túc.

[10] Bản tiếng Anh là "I've been here longer than most of the counselors, and they're all in college."

Ở đây có chữ "counselor", theo từ điển Oxford ALD 7th thì từ này có một nghĩa là "a person who is in charge of young people at a summer camp", đại loại là người quản lý lũ trẻ trong trại hè.

Trong trường hợp này thì có thể hiểu đó là những người như Luke, huynh trưởng của mỗi Nhà, quản lý trại sinh trong Nhà đó, tổ chức tập luyện cho đàn em, chứ không thể hiểu là Ngài D. hay bác Chiron được hay các thần rừng được.

Do đó, dịch từ này là "nhân viên tư vấn" như trong sách thì mình thấy không ổn, mà nên là "huynh trưởng".

Nên xin được tạm sửa lại câu trên thành "Tớ đã ở trại này lâu hơn hầu hết trại sinh, kể cả các đàn anh đàn chị của các Nhà.

Mấy anh chị ấy giờ vào vào đại học cả rồi."

(Xin nói thêm là khi đọc đến chỗ "ở trại này lâu hơn mọi nhân viên tư vấn" khiến mình cảm thấy chỗ này có vấn đề vì từ đầu truyện có thể đoán là Luke và Annabeth vào trại cùng đợt với Thalia, vậy mà Annabeth dám tuyên bố ở trại lâu hơn Luke thì...

Ban đầu mình nghĩ là truyện không chặt chẽ nên tính thêm một dấu (-) cho truyện nhưng khi dò lại thì mới biết là lần này mình đã nghĩ oan cho tác giả, nên dấu (-) này chuyển sang cho dịch giả vậy, kaka).

[11] Câu này trong sách in thiếu, mình bổ sung theo bản tiếng Anh: "You've been to Olympus?"

[12] Bản tiếng Anh là "we" nên dịch thành "họ" như trong sách là sai.

Ý Annabeth là "Dù cho cậu có là con ai đi nữa, mẹ tớ vốn đã hòa thuận với rất nhiều thần nên tớ và cậu rất có khả năng hợp tác ăn ý với nhau".

[13] Hephaestus là con trai của thần Dớt và Hera.

Thần cai quản lửa và nghề thủ công.

[14] Hestia: vị thần của bếp lửa, sự quây quần của mọi thành viên trong gia đình, sức khỏe gia đình và nội trợ...

[15] Trong sách sử dụng từ "hắn" dành cho Percy, mình thấy không thích hợp.

Percy chỉ mới mười hai tuổi, sử dụng từ "cậu bé" sẽ thích hợp hơn.

[16] Trong sách chỉ sử dụng một chữ "ta" cho cả ba người, mình cũng thấy không thích hợp nên mạo muội đổi thành chữ "chúng ta".

[17] Tương tự, mình thay chữ "bọn tôi" cho chữ "chủ" thì thấy thích hợp hơn.

[18] Gateway Arch: hay còn gọi là Gateway to the West, tọa lạc tại thành phố St.Louis Missouri, là một phần thêm ra của đài tưởng niệm Jefferson National Expansion Memorial, có hình mái vòm, và được xem là biểu tượng của thành phố này.

Với chiều cao 192 mét, đây là đài tưởng niệm cao nhất tại Hoa Kỳ.

[19] Chimera: có xuất xứ từ vùng Châu Á, là con của quái vật Typhon và Echidna, có họ hàng với chó ba đầu Cerberus và quái vật Hydra.

Chimera có khả năng thở ra lửa.

[20] Chỗ này mình thấy thay thế cụm từ: "vòng ra sau tránh xa đường lộ" thì hợp hơn là cụm từ: "vòng ra ngăn xa đường nhất", nên đã tự ý chỉnh sửa.

[21] Persephone: Nữ hoàng của thế giới âm phủ, thần của mùa xuân và chết choc.
 
Truyện Phương Tây Huyền Bí Sưu Tầm
Peter Pan - James Matthew Barrie


Peter pan

Tên Ebook: Peter Pan

Tác Giả: James Matthew Barrie

Thể Loại: Tiểu thuyết, Kỳ ảo, Sách Thiếu Nhi, Văn học phương Tây

Dịch Giả:

Nguồn: vnthuquan.net

Ebook: daotieuvu.blogspot.com

Ebook được blog Đào Tiểu Vũ hoàn thành với mục đích phi thương mại, nhằm chia sẻ với những bạn ở xa hoặc không có điều kiện mua sách, khi sao lưu xin ghi rõ nguồn.

Trong điều kiện có thể bạn hãy mua sách để ủng hộ nhà xuất bản và tác giả.

Mục lục:

Giới thiệu:

Tác Giả:

Chương 1

Chương 2

Chương 3

Chương 4

Chương 5

Chương 6

Chương 7

Chương 8

Chương 9

Chương 10

Chương 11

Chương 12

Chương 13

Chương 14

Chương 15

Chương 16

Chương 17

Giới thiệu:

Chú bé kỳ lạ Peter Pan một đêm đã mò đến phòng trẻ của nhà Darling gồm Wendy, John và Micheal.

Chú đã dạy chúng bay, và mang chúng qua bầu trời tới Neverland, xứ sở thần thoại có những người Da đỏ, sói, Tiên cá và... lũ cướp biển.

Cầm đầu lũ cướp là Thuyền trưởng Hook nham hiểm.

Một tay hắn đã bị đớp mất bởi một con cá sấu, con vật mà, như Hook giải thích, "đã thích tay tao đến mức nó cứ bám riết lấy tao từ đó, thèm thuồng muốn liếm nốt cái phần còn lại".

Sau rất nhiều biến cố, câu chuyện đã đạt tới đỉnh điểm khi Peter, Wendy và lũ trẻ phải đối mặt trong trận chiến với Hook và lũ kẻ cướp.

"Peter Pan, một chú bé tự yêu mình, một đứa trẻ mãi mãi chẳng chịu lớn, đã trở thành nguyên mẫu của tất cả những người chỉ thích ở mãi trong tuổi thơ mà không muốn chấp nhận những trách nhiệm của người lớn.

Câu chuyện của J.M.Barrie, như các tác phẩm kinh điển vĩ đại khác, đã bao hàm cả bóng tối và ánh sáng, cả thiện và ác.

Tuy vậy, từ khi hãng Disney làm phim về Peter Pan, câu chuyện, bị cắt xén, đã trở nên lãng mạn hơn và cũng tầm thường hơn.

Vì thế tôi khuyên mọi người, người lớn và trẻ em đã đủ lớn, hãy đọc lại nguyên tác để có thể thưởng thức được các sắc thái và ngôn ngữ kỳ tài của truyện."

Kathy Egner, Children's Literature

"Một tác phẩm được xếp trong số những cột mốc của văn học thiếu nhi và luôn được tái bản cho mỗi thế hệ."

Publisher's Weekly

"Tất cả trẻ con, trừ một đứa, đều lớn lên".

Đã bắt đầu như vậy áng văn cổ điển của văn học thiếu nhi mà tất cả chúng ta giờ đây đều biết là kỳ diệu...

Richard Farr, Amazon.com

"Trẻ em thuộc mọi lứa tuổi sẽ sung sướng với câu chuyện đầy hài hước về cậu chàng Peter Pan này."

AudioFile

Tác Giả:

James Matthew Barrie sinh ở Scotland vào năm 1860.

Xuất thân khiêm tốn, ông theo học tại Glasgow, ở Dumfries, rồi trường Đại học Tổng hợp Édimbourg, trước khi khởi nghiệp báo chí tại Nottingham, rồi London.

Đó là khi ông bắt đầu cho xuất bản những tiểu thuyết và vở kịch mà ngay lập tức đạt thành công vang dội.

Peter Pan là tác phẩm nối tiếng nhất trong số đó.

Một câu chuyện với trí tưởng tượng mãnh liệt không thể không gợi ta nhớ tới Alice ở xứ sở diệu kỳ của Lewis Carroll.

James Matthew Barrie mất năm 1937

Chương 1

CUỘC VIẾNG THĂM CỦA PETER

Tất cả trẻ em, trừ một đứa, đều lớn lên.

Và chúng biết rõ điều đó từ rất sớm.

Wendy khám phá ra sự thật như thế này: hồi lên hai, một hôm bé đang chơi trong vườn, bé hái một đóa hoa và chạy ù vào tặng mẹ, chắc lúc đó nom bé rạng rỡ và đáng yêu lắm vì mẹ bé, bà Darling đã xúc động đưa tay ôm ngực thốt lên : "Ôi, ước gì con cứ như thế này mãi !"

Mẹ chẳng nói gì thêm nữa nhưng Wendy hiểu ngay rằng bé sẽ phải lớn lên.

Mọi đứa trẻ hai tuổi đều biết điều này.

Hai tuổi là khởi đầu của con đường đi tới sự kết thúc.

Gia đình Darling sống ở số nhà 14 và cho tới khi Wendy ra đời, bà Darling là nữ chủ nhân tuyệt đối trong nhà.

Bà là một thiếu phụ duyên dáng, tâm hồn lãng mạn với một nét nhăn hơi giễu cợt nơi khóe miệng.

Tâm hồn bà cũng tựa như các loại hộp đồ chơi phương Đông bí ẩn đối với chúng ta - bạn cứ thử mở một hộp, thế là lại thấy ngay một chiếc hộp bé hơn nằm trong.

Và trên khóe môi hơi giễu cợt của mẹ phảng phất một nụ hôn mà Wendy chẳng bao giờ hái được, dù nó vẫn đậu chếch trên khóe miệng phải.

Còn ông Darling đã chinh phục bà Darling bằng cách như sau : lúc bà còn là một thiếu nữ, tất cả các chàng thanh niên đồng thời phát hiện rằng mình mê côgái và đều bổ nháo bổ nhào đến xin cưới nàng làm vợ.

Riêng ông Darling nhanh chân hơn hết thảy, đã nhảy lên một chiếc xe ngựa và chiếm chỗ đầu tiên.

Chàng được nàng trao cả trái tim, trừ chiếc hộp nhỏ nhất và nụ hôn.

Về chuyện chiếc hộp thì ông không bao giờ đoán ra, còn về nụ hôn thì mãi rồi ông cũng đành thôi không cố thử nữa.

Wendy cho rằng nếu ba là hoàng đế Napoleon thì mẹ sẽ xiêu lòng nhưng tôi có thể tưởng tượng ra là kể cả ông vua đó, cứ cố mãi cuối cùng cũng phát cáu, bỏ cuộc ra đi sau khi sập cửa cái rầm.

Ông Darling sẵn lòng giải thích trước mặt Wendy rằng không những mẹ yêu ba mà còn tôn trọng ba.

Ông là một nhà thông thái rất rành về sự tăng giảm trên thị trường chứng khoán.

Tất nhiên chẳng ai hiểu gì nhiều về những vấn đề tài chính đó cả nhưng ông thì tỏ ra đặc biệt sành sỏi và cái cách ông tuyên bố rằng cổ phiếu này đang lên hoặc trái phiếu kia đang sụt giá khiến phụ nữ kính trọng vô cùng.

Ngày cưới bà Darling vận đồ trắng và sau khi cưới, bà thích thú lập và theo dõi sổ chi tiêu gia đình một cách thật hoàn hảo, coi như một trò chơi, đến một cây cải Bruých-xen bé xíu cũng không lọt khỏi sổ.

Nhưng rồi chẳng bao lâu sau, bảng chi tiêu bỏ qua cả từng cây súplơ to đùng và được thay bằng hình vẽ các em bé không có mặt.

Đáng ra phải cộng các khoản chi, bà Darling lại ngồi vẽ.

Điều này cũng hợp với một số hy vọng của bà.

Wendy sinh ra đầu tiên, rồi đến John, và sau cùng là Michael.

Một hoặc hai tuần lễ sau ngày sinh Wendy, ba mẹ bé tự hỏi không biết liệu họ có nuôi nổi bé không vì gia đình này thêm một miệng ăn.

Ông Darling rất tự hào về cô con gái mới sinh, nhưng là người trọng danh dự, ông ngồi bên giường vợ, cầm tay bà và bắt đầu tính toán các khoản chi tương lai trong khi bà nhìn ông với ánh mắt khẩn khoản.

Bà quyết tâm gánh chịu mọi rủi ro nhưng dường như ông không cùng quan điểm với bà.

Tay giấy tay bút, ông liệt kê ra các con tính và mỗi khi bà ngắt lời ông, ông lại phải bắt đầu từ đầu.

- Em ơi, em đừng có làm anh rối ruột – Ông xin.

Đây anh có một livrơ mười bảy xu và còn hai livrơ sáu xu ở văn phòng nữa ; anh có thể bỏ bữa café sáng, coi như bớt được mười siling, thế là ra hai livrơ chín siling và sáu xu, em còn mười tám siling và ba xu, vị chi là còn ba livrơ chín siling.

Con cựa quậy kìa.

Rồi...

Tám livrơ, chín siling bảy, phẩy và anh nhớ bảy.

Xin em, em yêu, rồi còn một livrơ em cho cái anh chàng đến xin nhà ta nữa, này, bé ơi, phẩy và anh nhớ bé sang...

Này em làm anh nhầm loạn lên rồi.

Anh bảo gì nhỉ, chín, chín, bảy ?

Xong rồi, vấn đề là ở chỗ liệu ta có thể sống một năm với chín livrơ, chín siling và bảy xu không?

- Được chứ kìa Georges – Bà thốt lên, bụng thầm biết rằng bà quá yêu Wendy nên chẳng thể nào khách quan được.

- Em phải nhớ là còn bệnh quai bị nữa, ông bật ra.

Quai bị : một livrơ, anh ghi thế thôi chứ thực ra có khi đến gần ba mươi siling đấy, em đừng cãi, sởi, một livrơ năm xu, bạch hầu, mười siling sáu xu, là ra hai livrơ mười lăm siling sáu xu, em đừng có giơ ngón tay lên thế !

Còn ho gà, coi như là mười lăm siling đi.

Danh sách ngày càng dài ra và tổng số chẳng lúc nào giống nhau.

Cuối cùng, Wendy may mắn thoát nhờ giảm chi phí quai bị xuống còn mười hai siling sáu và hai căn bệnh lây lan kia được quy hết về một bệnh mà thôi.

Lúc John ra đời, một cuộc tranh luận tương tự cũng diễn ra còn Micheal cũng thoát trong gang tấc.

Cả ba chị em đều được giữ lại nuôi và chẳng mấy chốc các bạn có thể gặp cả ba đứa nhỏ nối hàng đến vườn trẻ nhà cô Fulsom, đi cùng nhũ mẫu.

Bà Darling rất tôn trọng hình thức và ông Darling cương quyết không để mình khác gì so với hàng xóm láng giềng ; vậy nên họ có nhũ mẫu cho trẻ.

Và vì họ nghèo, bọn trẻ uống nhiều sữa quá, họ bèn chọn một cô chó giống tecnơp khá trịnh trọng vốn chẳng thuộc về ai cả trước khi được nhà Darling tuyển vào.

Cô chó này tuy vậy rất yêu trẻ nhỏ và nhà Darling làm quen với cô ta tại vườn Kenshington nơi cô ta suốt ngày nhìn ngắm lũ trẻ nằm trong nôi đến đó chơi.

Các chị bảo mẫu hay lơ đễnh với trẻ nhỏ không ưa cô chó này lắm vì cô ta có thể theo họ đến tận nhà để phàn nàn với gia chủ.

Trong vai trò mới là làm bảo mẫu, Nana tỏ ra thật xuất sắc.

Nhắc trẻ đi tắm rất đúng giờ, hơi có tiếng trong oe là Nana nhảy bổ đến ngay bất kể vào giờ nào trong đêm.

Và tất nhiên, chuồng của Nana cũng đặt trong buồng trẻ em.

Nana rất tài trong việc phân biệt đâu là tiếng ho gió đâu là viêm họng cần cho trẻ quấn thêm một chiếc tất len quanh cổ.

Nó tin tưởng vào các phương thuốc cổ truyền như lá cây bạc hà chua để chữa ho và lầu nhầu khinh miệt mỗi khi nghe nói đến các học thuyết thời thượng về vi trùng, vi khuẩn hoặc các trò dớ dẩn tương tự.

Khi đưa bọn trẻ đi học, Nana quả là một mẫu mực về cư xử, bước đi đều đặn bên chúng khi chúng ngoan và la rầy mỗi khi bọn trẻ cãi cọ nhau trên đường.

Những ngày John chơi bóng đá, Nana không bao giờ quên áo len của John và nó luôn luôn ngậm theo một cái ô đề phòng trời mưa.

Cô Fulsom đã cho sửa sang tầng hầm thành một phòng đợi dành riêng cho các cô bảo mẫu.

Họ đều ngồi trên ghế dài còn Nana nằm dưới đất, sự khác biệt chỉ có thế.

Tuy nhiên các cô bảo mẫu đều ra bộ coi thường Nana như một kẻ thuộc tầng lớp thấp kém còn Nana thì chả coi cái trò bi be tán gẫu của họ ra gì.

Nana rất không thích việc các bạn của bà Darling thăm phòng trẻ nhưng nếu có khách đến thăm, nó nhanh chóng tháo chiếc tạp dề thường ra để choàng cho Michael chiếc tạp dề có thêu hoa xanh, chỉnh đốn lại áo quần cho Wendy và chải sơ lại đầu tóc cho John.

Chẳng đâu có phòng trẻ gọn gàng ngăn nắp như ở nhà Darling và ông Darling biết rõ điều này, tuy ông vẫn hơi áy náy khi nghĩ tới những lời đàm tiếu của hàng xóm.

Vì dù sao ông cũng cần phải giữ thể diện của mình.

Ông còn ngần ngại với Nana vì một lý do khác nữa.

Đôi khi ông cảm thấy Nana hơi coi thường ông.

"Em biết là nó rất khâm phục anh mà, George", bà Darling cam đoan và bà ra hiệu cho bọn trẻ con phải tỏ ra đặc biệt dễ thương với ba.

Thế là sau đó các màn nhảy múa diễn ra tưng bừng trong nhà và đôi khi người ở duy nhất còn lại, Liza, cũng được phép tham gia.

Với chiếc váy dài thậm thượt và chiếc mũ trùm, Liza nom hệt như một người lùn, tuy cô ta thề sống thề chết với nhà chủ là đã quá mười tuổi rồi.

Ôi!

Thời kỳ đó mới vui sao!

Và vui nhất là khi bà Darling xoay tròn xoay tròn một cách cuồng nhiệt đến nỗi người ta chỉ còn nhìn thấy nụ hôn thấp thoáng của bà và nếu bạn nhảy bổ tới đúng lúc, có thể bạn đã với được tới nụ hôn.

Chưa bao giờ có gia đình nào đơn giản và vui vẻ đến thế cho tới lúc Peter xuất hiện.

Bà Darling nghe nhắc tới Peter lần đầu tiên trong khi bà đang cố gắng sắp xếp lại đầu óc bọn trẻ cho có trật tự một chút.

Các bà mẹ có thói quen hay sắp xếp lại đầu óc của trẻ thơ sau khi chúng đi ngủ, xếp gọn gàng vào chỗ biết bao nhiêu là đồ đạc lẫn lộn lung tung trong suốt cả ngày.

Nếu bạn còn có thể thức được, điều này cố nhiên là không rồi, bạn sẽ thấy bà mẹ của mình đang dọn dẹp và bạn có thể sẽ rất thích thú thấy bà như vậy.

Cũng giống như xếp dọn đồ đạc trong ngăn tủ vậy thôi.

Bạn sẽ thấy bà quỳ xuống và mỉm cười nhìn tất cả những gì bạn đã tích cóp được, lòng thầm hỏi làm sao mà bạn có thể nảy ra cái ý đó, và bà đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, không phải ngạc nhiên nào cũng là dễ chịu, bà ôm chặt lấy ý nghĩ này như ôm một chú mèo con, xua đuổi ý nghĩ kia ra khỏi tầm nhìn của bà.

Khi bạn ngủ dậy, cái ác và những ham thích xấu cùng bạn vào giường tối hôm trước đã được xếp gọn và cất kỹ tận đáy tâm tư của bạn, và bên trên là các ý tưởng xinh xắn, dễ thương, được mẹ phơi phóng cho thơm khô và bày ra sẵn sàng cho bạn khoác lên.

Tôi không biết đã bao giờ các bạn nhìn thấy bản đồ trí tuệ của một con người chưa.

Các thầy thuốc đôi khi vẽ nên sơ đồ các bộ phận khác của cơ thể bạn, việc này có thể cũng rất hay, nhưng bạn cứ thử nhìn họ vẽ bản đồ ý nghĩ của một đứa trẻ không những rối tinh rối mù mà còn thường xuyên lượn lờ ngoài đồng mà xem!

Bạn sẽ thấy vô số các đường chữ chi, giống như biểu đồ nhiệt độ của bạn ở bệnh viện vậy và chắc đó chính là các con đường nhỏ chạy ngang dọc hòn đảo với các vệt màu đây đó tuyệt đẹp, các rặng san hô, ngoài khơi có những con tàu cướp biển, các hang hốc hoang dại và đơn độc, các chú lùn (đa số là thợ may), các hang động với sông ngầm chảy qua, một căn lều sập sệ và một bà cụ già lụ khụ mũi khoằm.

Nếu chỉ có thế thôi thì tấm bản đồ này còn gọi là tương đối dễ vẽ.

Thế nhưng còn phải tính đến ngày đi học đầu tiên, tôn giáo và các đức cha, bồn nước tròn, tập đan thêu, các vụ án mạng, các vụ treo cổ, động từ bất quy tắc, ngày nào mẹ làm bánh socola, ngày đeo nịt bít tất đầu tiên, coi như là ba mươi ba, sáu xu nếu ta tự nhổ răng cho mình, và v.v...

Tất cả các yếu tố đó là một phần của đảo trừ phi lại còn một tấm bản đồ nữa chạy đè ngang qua làm ta chẳng còn hiểu gì nữa cả, chưa kể là cả cái mớ hổ lốn này lại luôn biến đổi.

Tất nhiên, xứ Neverland với mỗi người một khác.

Trong hòn đảo của John chẳng hạn, ta thấy có một cái đầm nhỏ với các con hồng hạc bay ngang và John hạ chúng bằng súng cạc bin trong khi Michael bé hơn nên cũng có một con hồng hạc nằm dưới nhiều đầm nước đang bay.

John sống trong vỏ một con tàu bị lật úp trên cát còn Michael trong một cái lều của thổ dân Da đỏ, Wendy thì trong một ngôi nhà bằng lá dính vào nhau một cách khéo léo.

John không có bạn.

Michael đến tối mới có và Wendy chăm nom một bé sói con bị bố mẹ bỏ rơi.

Nhưng đại thể các xứ sở Neverland có một nét gì đấy giông giống nhau.

Nếu các bạn xếp chúng nằm kề nhau, các bạn có thể nói rằng chúng có mũi giống nhau, có cái nhìn giống nhau, v.v...

Bên các dòng sông thần diệu đó, đám trẻ chơi đùa không biết mệt với các con tàu tết bằng dương liễu.

Chúng ta cũng đã từng chơi ở đó và còn giữ trong mình dư âm tiếng ồn của sóng dội vào ghềnh đá trên đảo, dù ta biết chẳng bao giờ cập được bến bờ đó nữa.

Trong tất cả các hòn đảo tuyệt thú đó, xứ sở Neverland là vùng êm ái nhất và đầy rẫy sự kiện nhất, chẳng cần kéo dài khoảng cách vô vị giữa hai cuộc phiêu lưu mà tất cả đều cuốn vào nhau.

Khi bạn chơi lúc ban ngày với chăn và ghế, nó chẳng có gì đáng sợ cả, nhưng khi chỉ còn hai phút nữa là ta chìm vào giấc ngủ, xứ sở đó trở nên rất thật.

Chính vì thế mà người ta phải có đèn ngủ đấy.

Đôi khi trong lúc đi qua các ý nghĩ của các con, bà Darling tìm ra những thứ thật khó hiểu.

Và cái đáng ngại nhất là Peter.

Bà không quen ai tên là Peter thế mà nó hiện diện trong đầu John, Michael và cũng bắt đầu nhấp nhô trong tâm tưởng của Wendy.

Cái tên này in dấu đậm nét hơn nhiều tên khác và bà Darling, càng nhìn vào cái tên đó càng thấy nó có vẻ vênh váo.

- Đúng, cậu ấy khá là tự phụ đấy, Wendy hơi nuối tiếc thừa nhận.

Mẹ hỏi:

- Nhưng đó là ai hả bé cưng?

- Peter Pan mà mẹ, mẹ biết thừa rồi.

Mới đầu, bà Darling không hiểu nhưng sau khi ngược trở lại thời thơ ấu của chính mình, bà nhớ ra một chú Peter Pan nào đó mà người ta bảo sống cùng với các nàng tiên.

Nhiều chuyện kỳ dị được kể về Peter Pan, chẳng hạn như khi trẻ em bị chết, Peter Pan đi cùng với chúng một quãng đường để chúng đỡ sợ.

Thời nhỏ bà đã tin rằng có Peter nhưng nay bà đã có gia đình và là người đứng đắn, bà chẳng tin lắm vào sự tồn tại của Peter.

- Với lại, từ đó tới nay thì Peter phải lớn lên rồi chứ, bà Darling bảo con.

- Ôi không mẹ ơi, cậu ấy có lớn lên đâu, cậu ấy chỉ to bằng con thôi.

Wendy muốn nói rằng Peter cũng trạc như cô cả về vóc dáng lẫn tinh thần.

Cô không biết tại sao nhưng rõ là phải như vậy.

Bà Darling hỏi ý kiến ông Darling nhưng ông chỉ mỉm cười coi thường:

- Em ơi, tin anh đi, đó chỉ là những câu chuyện dấm dớ mà Nana lại nhồi vào đầu bọn trẻ con thôi.

Thật đúng là ý kiến của loài cầy.

Em đừng để tâm, rồi mọi chuyện sẽ ổn cả thôi.

Nhưng mọi chuyện không ổn cả và chẳng bao lâu sau, chú Peter hiếu động sẽ khiến bà Darling phải sốc.

Bọn trẻ trải qua những cuộc phiêu lưu kỳ lạ nhất mà không hề thấy xáo động.

Chẳng hạn chúng có thể nhớ lại một tuần sau rằng chúng gặp ba đã chết và chơi với ba trong rừng.

Cũng vô tình như thế mà Wendy một hôm để lộ ra sự thật đáng lo ngại.

Trong phòng trẻ con có vài chiếc lá rơi rụng mà rõ là tối hôm trước lúc bọn trẻ đi ngủ chưa hề có.

Bà Darling sững người khi Wendy vừa nói vừa mỉm cười độ lượng:

- Lại Peter đấy mà!

- Wendy, con nói gì vậy?

- Cậu ấy không quét đi thì là hư mẹ nhỉ, Wendy mỉm cười nhận xét, cô là một cô bé ngăn nắp.

Cô bình thản giải thích rằng đôi khi Peter đến chơi phòng trẻ em ban đêm và ngồi ở đầu giường Wendy mà thổi sáo.

Không may là Wendy chẳng bao giờ thức giấc nên không hiểu tại sao cô biết chắc đến vậy nhưng rõ ràng là như thế.

- Cưng ơi, con nói linh tinh rồi.

Chẳng ai vào nhà lại không gõ cửa cả.

- Con nghĩ cậu ấy đi bằng đường cửa sổ.

- Phòng mình tầng hai cơ mà con.

- Mẹ ơi, thế mọi khi làm gì có lá trước cửa sổ đâu.

- Đúng vậy, có một đống lá gom lại ngay dưới cửa sổ.

Bà Darling chẳng biết nghĩ sao nữa.

Bí ẩn này dường như lại rất đỗi bình thường đối với Wendy nên bà chẳng thể cho qua với lý do rằng Wendy mơ ngủ.

- Tại sao con không nói cho mẹ biết sớm hơn?

- Con quên mất, Wendy hồn nhiên đáp, vì cô đang rất vội đi ăn sáng.

Chắc là Wendy nằm mơ rồi.

Thế nhưng mặt khác, đống lá vẫn còn đó.

Bà Darling xem xét kỹ đống lá: đó là những cái lá khô, có khi chỉ còn trơ gân lá thôi, nhưng bà tin chắc đó không phải lá của bất cứ loại cây nào mọc được trên đất Anh.

Bà bò toài ra trên sàn, soi cả nến để tìm dấu chân lạ.

Bà lấy que cời lửa ngoáy trong lò sưởi, dộng lên tường.

Bà thử thả một sợi ruy băng từ cửa sổ xuống đất.

Tường cao phải đến mười mét và chẳng có chút góc cạnh nào cho người dễ trèo leo.

Chắc chắn là Wendy mơ ngủ.

Nhưng Wendy thực ra đâu có mơ, như những sự kiện đêm sau sẽ chứng minh, mà từ đó bắt đầu cuộc phiêu lưu thần kỳ của lũ trẻ.

Buổi tối mà chúng tôi vừa kể, bọn trẻ đi ngủ như thường lệ.

Hôm đó là ngày Nana nghỉ và bà Darling đã cho các con tắm và hát ru chúng cho tới khi lần lượt từng đứa một buông tay mẹ ra và chìm dần vào giấc ngủ.

Các con trông bình yên và tin cậy đến độ bà cười thầm về mối lo ngại của mình và ra ngồi cạnh lò sưởi khâu áo.

Bà may áo cho Michael vì bé sắp đến tuổi mặc chiếc áo sơ mi đầu tiên.

Tuy vậy, lò sưởi ấm cúng, ánh đèn phòng trẻ chỉ sáng mờ mờ với ba ngọn đèn ngủ, mọi thứ khiến cho mảnh vải tụt khỏi tay bà Darling và tuột xuống đầu gối.

Rồi mái đầu bà nhẹ nhàng gục sang bên: bà Darling cũng ngủ.

Các bạn thử nhìn xem cả bốn người, Wendy và Michael ở đằng kia, John ở góc này và bà mẹ ngồi gần bên lò sưởi.

Lẽ ra phải có một ngọn đèn thứ tư mới phải chứ.

Trong giấc ngủ, bà Darling mơ thấy mình đang tới gần xứ sở Neverland và có một cậu bé kỳ dị từ đó ló ra.

Bà không thấy sợ cậu bé đó vì bà nghĩ đã từng nhìn thấy nó trên gương mặt của biết bao phụ nữ không con.

Cũng có thể người ta còn gặp cậu trên nét mặt của vài bà mẹ nữa.

Nhưng trong giấc mơ của mình, bà thấy cậu vạch tấm màn che xứ sở Neverland và Wendy, John, Michael đang tò mò nhìn qua chỗ vén lên.

Giấc mơ này tự nó chẳng có chuyện gì, nhưng trong khi bà Darling đang mơ, cửa phòng trẻ con tự nhiên bật tung ra và một chú bé con nhảy xuống sàn.

Một vầng sáng kỳ lạ, to chẳng hơn nắm tay mấy tí, bay theo chú loạn lên trong phòng như mọt sinh vật sống.

Và chắc là chính vầng sáng này đã đánh thức bà Darling, bà ngồi bật dậy và thét lên một tiếng, nhìn thấy chú bé con và hiểu ngay đó là Peter Pan.

Nếu bạn hoặc tôi hoặc Wendy có mặt lúc đó, chắc chúng ta sẽ thấy ngay rằng chú bé rất giống với nụ hôn của bà Darling.

Chú thật xinh xắn, mặc quần áo bằng lá cây đính lại bằng nhựa cây.

Nhưng xinh nhất hẳn là những chiếc răng sữa của chú, chẳng mất chiếc nào.

Khi thấy trước mặt mình là một người lớn, cả bộ răng trắng nõn như ngô non nghiến lên kèn kẹt.

Chương 2

CÁI BÓNG

Bà Darling hét lên một tiếng và để đáp lời bà, như khi ta giật chuông gọi người giúp việc, cửa mở và Nana vừa đi nghỉ về, chạy vào phòng.

Nó gầm gừ và lao bổ vào đứa trẻ.

Chú ta nhẹ nhàng nhảy vọt qua cửa sổ.

Bà Darling lại kêu lên, hoảng sợ vì lo thằng bé ngã chết mất.

Bà chạy vội xuống cầu thang tìm chú nhưng chẳng thấy dấu vết gì.

Bà ngẩng đầu lên nhưng cũng chẳng thấy gì trên bầu trời đêm ngoài một cái gì tựa vệt sao băng.

Bà quay vào phòng trẻ con và thấy Nana ngậm trong mồm thứ gì đó.

Nhìn gần, hóa ra là cái bóng của chú bé.

Khi chú ta nhảy qua cửa sổ, Nana vội khép cửa thật nhanh nhưng đã muộn, chỉ bắt được cái bóng của chú không theo kịp chủ.

Bà Darling xem xét kỹ lưỡng cái bóng này nhưng không thấy có gì đặc biệt.

Nana rõ là đã có cách xử lý với chiếc bóng.

Nó treo bóng ngoài cửa sổ với ý nghĩ rằng: Chú bé sẽ quay trở lại tìm bóng, ta cứ thu xếp để chú ta lấy lại bóng của mình mà không làm phiền đến bọn trẻ.

Nhưng không may là bà Darling không thể để cái bóng treo như thế được, trông cứ như đồ lót đem phơi vậy và gia đình sẽ mang tiếng với hàng xóm láng giềng.

Bà định đem cho ông Darling xem cái bóng mới bắt được nhưng ông đang bận cộng giá tiền của áo măng tô mới của John và Michael, đầu quấn một chiếc khăn ướt cho tỉnh táo và nếu làm phiền ông lúc này hẳn sẽ chẳng hay.

Vả chăng, bà biết trước ông sẽ nói gì: "Đấy, có chó làm bảo mẫu thì sẽ phải như thế thôi".

Bà quyết định cuộn cái bóng lại và xếp vào tủ chờ đến lúc nào thuận lợi hơn mới báo cho chồng.

Cơ hội này đến vào tuần sau, vào cái ngày thứ sáu sẽ trở thành vô cùng đáng nhớ trong gia đình.

Mà hiển nhiên là nó phải xảy ra vào ngày thứ sáu rồi.

- Lẽ ra em phải cẩn thận hơn vào ngày thứ sáu mới phải, bà thường nhắc lại nhiều lần với chồng trong khi Nana đứng cạnh đỡ tay bà.

- Không, không, bao giờ ông Darling cũng trả lời.

Anh mới là người có lỗi.

Lỗi tại anh, George Darling.

Mea culpa, mea culpa.

(Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng - tiếng Latin trong nguyên bản)

Các bạn thấy đấy, ông là người được giáo dục theo kiểu cổ điển.

Hàng đêm, họ nhớ về ngày thứ sáu bất hạnh với từng chi tiết nhỏ, được khắc sâu trong tâm khảm họ đến đỗi có cơ hằn lên như một đồng xu đúc kém.

- Giá như em không nhận lời đi ăn tối với nhà 27, bà Darling bảo.

- Còn anh, giá như anh đừng đổ thuốc của anh vào bát của Nana, ông Darling thừa nhận.

- Giá như tôi cứ giả vờ thích món thuốc ấy, đôi mắt hoen lệ của Nana như nói vậy.

- Lỗi tại em cứ sính mấy cái trò giao tế, George ạ.

- Không, tại anh đùa chẳng đúng lúc tí nào.

- Tại tôi cứ động lòng mấy cái việc nhỏ nhặt, ông bà chủ ạ.

Lần lượt hoặc đôi khi cùng nhau, họ ứa nước mắt một cách chua xót và Nana tự nhủ trong tuyệt vọng: "Đúng vậy, lẽ ra nhà chủ không nên lấy chó làm bảo mẫu mới phải".

Và cũng nhiều lần, ông Darling lấy khăn mùi xoa lau nước mắt cho nó.

"Cái tên quỷ sứ ấy!"

Ông Darling rên rỉ và Nana sủa phụ họa theo.

Nhưng không bao giờ bà Darling nghĩ đến chuyện trách móc Peter, có một cái gì đó ở góc môi bên phải của bà, ngăn không cho bà nói xấu chú.

Và trong phòng trẻ em vắng lạnh, họ ngồi nhớ lại từng chi tiết một của cái buổi tối kinh hoàng kia.

Một buổi tối bắt đầu rất bình yên như bao tối khác.

Nana đi ra đi vào để chuẩn bị tắm cho Michael và cõng Michael đến tận bồn.

- Con không đi ngủ đâu!

Michael kêu lên như thể nó có tiếng nói nào đó trong vấn đề này.

Không, Nana, ứ ừ, mới chưa đến sáu giờ.

Ôi, Nana hư, không yêu Nana.

Con bảo là con không tắm cơ mà.

Không đâu, không đâu nào.

Lúc đó bà Darling bước vào phòng, mặc áo dài màu trắng để đi dự cơm tối bên ngoài.

Bà bận đồ sớm để chiều Wendy vì em muốn thấy mẹ ăn bận đẹp, đeo vòng cổ ba mua tặng mẹ.

Bà đeo nơi tay chiếc vòng Wendy cho mượn vì Wendy rất thích cho mẹ mượn vòng.

Hai đứa lớn đang chơi trò làm bố mẹ ngày Wendy ra đời và John bảo:

- Tôi vui mừng thông báo để bà biết rằng bà đã làm mẹ, giọng nó bắt chước giống hệt giọng ông Darling nhân dịp trọng đại.

Wendy vui mừng nhảy múa, cũng giống như bà Darling thật đã làm vậy.

Rồi đến lượt John ra đời, với những sự trang trọng đặc biệt theo ý nó dành cho sự chào đời của một người đàn ông, và Michael vừa ra khỏi bồn tắm cũng xin được ra đời nhưng John thô bạo tuyên bố rằng nó không muốn có thêm con đến nỗi Michael gần khóc.

- Chẳng ai muốn có con cả, Michael bảo.

Dĩ nhiên là thiếu phụ xinh đẹp bận đồ trắng không thể cầm lòng được.

- Có chứ, tôi đang rất muốn có thêm con đây này.

- Con gái hay con trai?

Michael nghi ngờ hỏi.

- Con trai.

Thế là Michael nhỏ bé ôm chầm lấy mẹ.

Đó quả là một kỷ niệm rất nhỏ bé mà ông bà Darling và Nana cùng gợi lại.

Nghĩ cho cùng thì chi tiết này cũng chẳng bé vì đó là đêm cuối cùng Michael ngủ trong phòng trẻ em.

Họ lại tiếp tục gợi lại những kỷ niệm.

- Đúng lúc đó, anh lao vào phòng như một cơn lốc vậy - ông Darling nói với giọng tự giễu.

Quả là lúc đó, ông lao vào phòng như một cơn lốc.

Có thể là ông cũng có lý do: ông cũng diện bảnh để đi dự cơm tối và mọi thứ đối với ông đều ổn cho tới lúc ông thắt cà vạt.

Lạ ghê lắm nhưng phải thừa nhận là một quý ngài giỏi giang như vậy trên thị trường chứng khoán lại xoay xở chẳng ra sao với chiếc cà vạt của mình.

Đôi khi, cái cà vạt cũng ngoan ngoãn tuân lệnh nhưng thường thì tốt nhất cho mọi người là ông nên dằn tự ái của mình xuống và đeo một chiếc cà vạt vẽ còn hơn!

Tối hôm đó cũng vậy.

Ông đột ngột bước vào phòng trẻ với chiếc cà vạt đáng nguyền rủa nhàu nhĩ trong lòng bàn tay.

- Chúa ơi, ba làm sao vậy?

- Ba làm sao ấy à!

- Ông gầm lên - Cái cà vạt tội nợ này chẳng sao thắt được - Ông chua chát gằn giọng - Lúc thắt quanh cọc giường thì được, ba đã thắt mấy chục lần quanh cọc giường rồi!

Nhưng đến lúc thắt quanh cổ thì không ra gì.

Ôi thật xin lỗi em!

Ông nghĩ thế chưa đủ để gây ấn tượng với bà Darling và nghiêm giọng nói tiếp:

- Mẹ nó này, anh báo cho em biết là nếu cái cà vạt này không chịu nghe lời anh mà chịu thắt quanh cổ, tối nay chúng mình không đi ăn nữa, và nếu tối nay chúng mình không đi ăn nữa, anh sẽ không bao giờ đến văn phòng nữa, có nghĩa là chúng mình sẽ chết đói còn các con sẽ ra đường.

Bà Darling vẫn bình tĩnh:

- Nào anh để em thử xem nào.

Và quả thực ông cũng chỉ mong có thế.

Những ngón tay thon mát dịu của bà thắt chiếc cà vạt chẳng khó khăn gì và lũ trẻ đứng quanh xem mẹ định đoạt số phận của nó.

Cóvài ông có khi phát tức vì vợ khéo léo đến vậy nhưng ông Darling được cái không phải người nhỏ nhen.

Ông cảm ơn vợ một cách qua loa, quên ngay là mình vừa cáu và chỉ lát sau đã nhảy múa quanh phòng cùng với Michael trên vai.

- Chúng mình hồi ấy mới vui làm sao!

- Bà Darling nhớ lại.

- Đấy là lần cuối cùng - ông Darling than.

- George, anh có nhớ lúc Michael đột nhiên hỏi em "Mẹ ơi, sao mẹ lại quen con" không?

- Anh nhớ chứ.

- Các con mình dễ thương quá!

- Hồi đó các con là của chúng mình, bây giờ chúng đã đi mất rồi!

Cuộc vui dừng lại lúc Nana bước vào phòng.

Không may là ông Darling va phải Nana khiến quần ông đầy lông.

Không những đó là một chiếc quần mới mà còn là chiếc đầu tiên có dải viền và ông phải mím môi mới khỏi bật khóc vì tức.

Tất nhiên là bà Darling lại chải quần cho ông, nhưng ông lại nhân dịp làu nhàu về nỗi sai lầm đã lấy chó vào làm bảo mẫu.

- George, Nana là của quý đấy.

- Rõ rồi, tuy nhiên, đôi khi anh cứ nghĩ là nó coi con mình cũng là chó con luôn.

- Không đâu anh, em tin chắc là nó biết rằng bọn trẻ là con người, có linh hồn.

- Anh cũng đang tự hỏi về chuyện đó đây - ông Darling hơi trầm xuống.

Bà Darling thấy đã đến lúc nói về cậu bé bí ẩn.

Thoạt tiên, ông chẳng giấu vẻ giễu cợt nhưng khi bà vợ cho ông xem cái bóng, ông trở nên nghĩ ngợi.

- Không phải trong số những người anh quen - ông vừa nói vừa xem xét kỹ cái bóng - Trông nó có vẻ du đãng.

- Chúng mình vẫn đang nói dở - ông Darling bảo - đúng lúc Nana bước vào với liều thuốc nước của Michael.

Nana, không bao giờ được mang thuốc của em trong mõm như vậy nữa nhé, lỗi tại tôi đây mà.

Dù cương quyết đến đâu, ông cũng xử sự một cách ngốc nghếch đối với chỗ thuốc ấy.

Điều ông hay khoe nhất đó là uống thuốc không bao giờ nhăn nhó.

Trong khi Michael đẩy cái thìa về phía Nana, ông nghiêm giọng chê trách:

- Michael, đàn ông con trai thì phải thế nào chứ!

- Con không muốn uống!

- Michael nũng nịu kêu.

Bà Darling đi tìm một thỏi socola và ông Darling cho rằng bà quá chiều con:

- Mẹ nó ạ, đừng chiều con quá như thế.

Michael, hồi bố bằng con, bố uống thuốc như không.

Bố còn bảo: "Cám ơn bố mẹ cho con uống các thứ thuốc nước này để chữa bệnh cho con!"

Thế cơ mà.

Ông tin rằng đã nói lên sự thật và Wendy, trong bộ đồ ngủ, cũng tin vậy vì để động viên Michael, em khuyên:

- Ba ơi, thuốc mà ba thỉnh thoảng phải uống ấy, còn đắng hơn nhiều đúng không ba?

- Rất đắng, và nếu ba không đánh mất chai thuốc thì ba đã uống ngay cho con xem, Michael!

Chính xác ra là ông không đánh mất chai thuốc.

Nửa đêm hôm trước, ông đã trèo lên một chiếc ghế cao để giấu nó trên tít nóc tủ.

Ông không biết là cô bé giúp việc Liza đã tìm ra nó và lại để nó trên giá rửa mặt.

- Ba ơi, con biết nó ở đâu rồi - Wendy vốn luôn thích giúp đỡ mọi người - để con đi tìm cho.

Và cô bé biến đi trước khi ông Darling kịp giữ con gái lại.

Ngay lập tức tinh thần ông Darling sa sút trông thấy.

- John - ông rùng mình nói - chất nước ấy là một thứ kinh tởm, hôi rình, nhờn nhờn, gớm chết lên được.

- Ba ơi, ực một cái là xong thôi mà - John vui vẻ khuyên.

Vừa mới nói xong thì Wendy chạy ào vào phòng, tay cầm thuốc rót sẵn trong cốc.

- Con cố chạy nhanh nhất đấy - cô hổn hển nói.

- Thật chẳng thể nào nhanh hơn!

- Ông bố nói với vẻ lịch sự mà Wendy không thể nhận ra cái ý chán chường - Nào Michael uống trước đi.

- Ba uống trước - Michael nói, với bản tính hay nghi ngờ.

- Con biết là nếu ba uống ba sẽ phát ốm lên mà - ông Darling đe.

- Nào ba ơi, dũng cảm lên - John kêu gọi.

- Con ngậm cái mồm con lại - ông bố quát.

Wendy hết sức kinh ngạc:

- Con tưởng ba uống thuốc dễ lắm mà...

- Vấn đề không phải ở chỗ đó.

Cái khác là có nhiều thuốc trong cốc của ba hơn trong cái thìa của Michael.

Trái tim cao quý của ông gần vỡ tung.

- Thật không công bằng, có chết ba cũng vẫn phải nói là không công bằng.

- Ba, con đang chờ đây - Michael lạnh lùng nói.

- Con nói hay đấy, ba cũng đang chờ đây.

- Ba sợ nhé.

- Con sợ đấy chứ.

- Con không sợ.

- Ba cũng không.

- Thế thì ba uống đi.

- Con uống trước.

Đột nhiên Wendy nảy ra sáng kiến:

- Hay cả ba và Michael cùng uống một lúc?

- Đồng ý - ông Darling phán - Con sẵn sàng chưa Michael?

Wendy hô một, hai, ba và Michael nuốt xong phần thuốc.

Nhưng ông Darling giấu cốc thuốc của ông sau lưng.

Michael hét lên vì tức còn Wendy thốt lên:

- Kìa ba!

- Con định bảo Kìa ba cái gì?

- Ông Darling hỏi - thôi ngay đi Michael.

Ba cũng đang định uống nhưng... nhưng bị trượt tay.

Cả ba đứa trẻ nhìn ông với ánh mắt dữ dội, dường như chúng từ bỏ tất cả niềm thán phục nơi ba chúng.

- Nghe này các con – ông Darling nói với giọng ngọt ngào trong khi Nana biến vào phòng tắm – Ta sẽ đùa vui một chút.

Ba sẽ đổ chỗ thuốc này vào bát của Nana, nó sẽ tưởng là sữa và sẽ uống đấy.

Thuốc có màu sữa thật, nhưng bọn trẻ chẳng thấy ý tưởng này của ba chúng hài hước tẹo nào và nhìn ba trách móc trong lúc ông Darling trút thuốc vào bát của Nana.

- Buồn cười nhỉ? – Ông Darling nói không chắc chắn lắm.

Và bọn trẻ cũng không dám lên tiếng tố cáo khi bà Darling và Nana quay trở vào phòng.

- Nana, cún cưng – ông Darling vừa nói vừa vuốt ve đầu con chó – ba cho ít sữa vào bát của Nana đấy.

Nana vẫy đuôi, lon xon chạy đến chỗ bát ăn của nó và tớp tớp.

Rồi nó nhìn ông Darling: Ôi, một cái nhìn không hề tức giận mà lại lấp lánh một giọt nước mắt to đùng khiến trái tim chúng ta tan nát mỗi khi chúng ta thấy các người bạn bốn chân chịu đau khổ.

Rồi nó trốn vào trong chuồng.

Ông Darling cảm thấy vô cùng xấu hổ nhưng ông không muốn để lộ điều đó.

Trong im lặng nặng nề, bà Darling ngửi cái bát:

- Ồ George, thuốc của anh đây mà!

- Anh đùa đấy mà – ông lầm bầm trong khi bà cố an ủi bọn trẻ con.

Wendy ra ôm lấy cổ Nana.

- Thật bõ công tôi mua vui cho các người đấy nhỉ! – Ông Darling chua chát nói.

Wendy vẫn ôm lấy cổ con chó.

- Rõ rồi, cứ âu yếm nó đi!

Còn tôi thì ai thương đây.

Thôi cũng chẳng sao.

Tôi chỉ là người đi kiếm cơm nuôi cái nhà này thôi.

Việc gì mà ai phải thương tôi.

Cần quái gì phải thế cơ chứ!

- George, đừng nói to thế, kẻo kẻ ăn người ở nghe thấy đấy – Bà Darling nhắc chồng.

Cũng chẳng biết tại sao họ lại chuyển Liza thành "kẻ ăn người ở".

- Tôi không cần – ông tức quá vặc lại – Cho cả thiên hạ nghe thấy cũng được nhưng con chó này sẽ không tự tung tự tác một giờ nào nữa trong phòng trẻ nhà tôi!

- George, kìa anh George – bà Darling thì thầm – anh có nhớ em nói gì với anh về cậu bé kia không?

Thật không may, ông Darling quyết cho thiên hạ biết ai mới là chủ nhà, ông chẳng thèm nghe bà Darling nói và khi thấy Nana không chịu chui ra khỏi chuồng theo lơi ông ra lệnh, ông bèn ngọt ngào dụ nó rồi thô bạo túm lấy nó lôi ra khỏi phòng trẻ con, dù ông xấu hổ về hành động của mình, vì bản chất quá tình cảm cứ muốn được ngưỡng mộ.

Sau khi buộc Nana ngoài sân, người cha bất hạnh ngồi im lìm trong hành lang, nắm tay che mắt.

Trong lúc đó, bà Darling đã cho bọn trẻ đi ngủ trong sự im lặng hiếm thấy và thắp các ngọn đèn ngủ lên.

Người ta nghe rõ tiếng Nana sủa trong sân và John buồn rầu nói:

- Đó là vì ba xích nó lại đấy.

Nhưng Wendy tỏ ra khôn hơn:

- Khi nào mà Nana sủa như vậy – cô bé nhận xét mặc dầu cô chẳng hề tưởng tượng ra chuyện gì sắp tới – Đó chẳng phải vì Nana khổ, mà là vì nó cảm thấy nguy hiểm đấy.

- Nguy hiểm à?

Con chắc không Wendy?

- Chắc mà!

Bà Darling rùng mình và đến gần cửa sổ.

Cửa đóng chặt.

Bà nhìn ra bên ngoài: đêm đen, rải rác có nhiều vì sao dường như đang tò mò tụ tập quanh nhà để xem những gì sắp xảy ra.

Nhưng bà Darling không nhận thấy điều đó.

Và bà cũng không thấy có hai hoặc ba vì sao bé nhất nháy mắt với bà.

Tuy nhiên, một nỗi sợ khó giải thích bóp nghẹt trái tim, khiến bà ứa nước mắt.

- Ôi, mình ước gì không phải đi tối nay!

Đã gần ngủ đến nơi nhưng Michael vẫn nhận ra nỗi lo lắng của bà và hỏi mẹ:

- Mẹ ơi, khi đã thắp đèn ngủ rồi thì có gì sợ nữa không hả mẹ?

- Không con, đèn ngủ là mắt của mẹ để lại để canh cho các con mà.

Bà đi từng giường một, miệng khẽ hát những lời cầu bình yên và bé Michael vòng tay ôm cổ mẹ.

- Mẹ ơi, có mẹ ở đây con thích lắm.

Đó là những lời cuối cùng bà nghe Michael nói trước thời gian chia cách đó.

Nhà số 27 chỉ cách có vài bước chân nhưng tuyết đã rơi nhẹ và ông bà Darling phải đi rất cẩn thận để không làm bẩn giầy.

Họ là những người duy nhất đi trong phố và các ngôi sao chăm chú theo dõi họ.

Sao rất đẹp nhưng chúng chẳng tham dự vào những điều diễn ra trên Trái Đất, hành tinh mà chúng cứ phải nhìn mãi mãi.

Đó là sự trừng phạt dành cho chúng vì những lỗi lầm phạm phải trong một quá khứ xa xôi đến mức chúng cũng chẳng còn nhớ nữa.

Cũng vì thế mà các ngôi sao già nhất sáng một cách nhợt nhạt và ít khi nói (chúng chỉ bày tỏ bằng cách nhấp nháy); duy các ngôi sao nhỏ thì vẫn còn ngây ngất trước từng sự kiện bé xíu.

Chúng cũng không đặc biệt có cảm tình với Peter vốn hay chơi khăm bằng cách luồn sau lưng chúng rồi thổi chúng đi.

Tuy nhiên, các ngôi sao thích được đùa vui đến độ tối đó chúng đều về hùa với Peter và chỉ mong người lớn đi cho nhanh.

Vì vậy, ngay lúc cửa nhà 27 vừa đóng lại sau lưng khi ông bà Darling bước vào, trên bầu trời xôn xao náo động rồi ngôi sao bé nhất trong tất cả các sao trên dải Ngân hà kêu lên :

- Vào đi kìa, Peter!

Chương 3

ĐI THÔI, ĐI THÔI!

Đèn ngủ vẫn sáng trong phòng trẻ một lát lâu sau khi ông bà Darling đi.

Đó là những chiếc đèn con xinh xắn và giá mà chúng thức được để xem Peter nhỉ, thế nhưng chiếc đèn của Wendy nhấp nháy rồi ngáp dài đến nỗi hai chiếc đèn kia cũng ngáp theo, rồi chúng chưa kịp khép miệng thì cả ba đều tắt lịm.

Có một làn ánh sáng khác lấp lánh trong phòng trẻ con, ngàn lần sáng hơn các ngọn đèn ngủ và chỉ trong nháy mắt, đã lục hết các ngăn tủ, lục từ trên xuống dưới và lật tung các túi để tìm bóng của Peter.

Đó cũng không hẳn là một cái đèn mà là một nguồn phát ra các tia sáng liên tục và trong một thoáng, cho ta thấy đó là một cô tiên, không lớn hơn bàn tay và vẫn còn trẻ con.

Tên cô ta là Tinker Bell và cô mặc một chiếc váy bằng lá cây rất lộng lẫy, cổ vuông hở rộng làm nổi bật thân hình mũm mĩm xinh xắn của cô.

Cô tiên vừa xuất hiện thì cửa sổ mở tung do các ngôi sao cùng thổi và Peter Pan nhảy vào phòng.

Chú ta đã mang Tinker Bell suốt một đoạn đường và tay chú còn dính đầy bụi thần.

- Tinker Bell – Chú khẽ gọi sau khi tin chắc lũ trẻ đã ngủ - Tinker Bell, cậu đâu rồi ?

Cô tiên đã chui vào trong một cái côc to và tỏ ra rất thích ở trong đó; chưa bao giờ cô ta thám hiểm một cái cốc to.

- Nghe này, cậu ra khỏi cái cốc đi và trả lời tớ ngay!

Cậu có biết họ đã làm gì cái bóng của tớ không.

Có tiếng chuông khẽ thánh thót đáp lại câu hỏi của Peter.

Đó là tiếng nói của loài tiên.

Các bạn trẻ con bình thường sẽ không bao giờ nghe thấy tiếng đó nhưng nghe rồi thì các bạn sẽ nhận ra đã từng nghe đâu đó rồi.

Tinker Bell đáp rằng bóng nằm trong cái hộp lớn.

Đó là cô ta định nói tới cái tủ và Peter nhảy bổ tới các ngăn tủ, thò hai tay lôi mọi thứ trong đó vứt tung xuống đất, cũng tựa như các ông vua vứt tiền vàng xuống cho thần dân vậy.

Chú nhanh chóng tìm thấy lại bóng của mình và vui quá chú quên mất rằng mình đã nhốt Tinker Bell trong ngăn tủ.

Vì chú vẫn nghĩ, giả sử là chú ta biết nghĩ – tôi chưa chắc lắm về điểm này, rằng chỉ cần đặt cạnh nhau, bóng và người chú sẽ gắn lại như hai giọt nước lăn vào nhau, thì nay chú hoảng sợ thực sự khi thấy bóng chẳng chịu gắn vào người.

Chú thử lấy bọt xà phòng gắn mà không xong.

Peter rùng mình, và ngồi xệp xuống đất, chú khóc.

Tiếng nức nở của Peter làm Wendy thức giấc và cô ngồi dậy.

Việc có người lạ khóc trong phòng trẻ chẳng làm cô e sợ chút nào, cô chỉ thấy tò mò.

- Chú bé này - Wendy lịch sựhỏi - tại sao chú khóc?

Peter cũng chứng tỏ mình là người vô cùng lịch sự vì chú đã học cách cư xử thượng lưu qua các buổi tiệc của các cô tiên.

Chú đứng dậy và nghiêng mình duyên dáng cúi chào Wendy.

Wendy rất thích thú và cũng đáp lễ lại Peter với phong thái thật thoải mái.

- Cậu tên là gì?

- Peter hỏi.

- Wendy Moira Angela Darling - Wendy đáp thoải mái – Còn cậu?

- Peter Pan.

Wendy đã biết ngay rằng đó là Peter nhưng tên chú bé dường như có phần ngắn ngủi đối với cô.

- Thế thôi sao?

- Đúng vậy - Peter hơi lạnh lùng trả lời.

Lần đầu tiên trong đời, chú nhận ra sự cụt lủn của tên mình.

- Xin lỗi cậu - Wendy Moira Angela chữa.

- Không sao - Peter nói mà họng như khô lại.

Wendy lại hỏi nhà cậu ở đâu.

- Ngã tư thứ hai rẽ phải, sau đó đi thẳng tới bình minh.

- Địa chỉ lạ nhỉ!

Peter cảm thấy hơi cú.

Lần đầu tiên chú nhận thấy địa chỉ nhà mình kỳ quặc.

- Không, có gì lạ đâu – chú vặc lại.

- Tớ định nói là - Wendy chợt nhớ ra Peter là khách và nói với giọng mềm mỏng - có phải bác đưa thư bỏ thư ở đó cho cậu không?

Chẳng hiểu tại sao cô lại nói tới chuyện này.

- Tớ không nhận thư - Peter khinh khỉnh đáp.

- Nhưng mẹ cậu phải nhận thư chứ?

- Tớ không có mẹ.

Không những chú không có mẹ mà chú chẳng hề muốn có mẹ chút nào.

Những người kiểu như mẹ đối với chú quả là không thích hợp.

Wendy cảm nhận ngay lập tức một bi kịch ở đâu đây.

- Ô Peter, hóa ra vì thế mà cậu khóc phải không?

Và cô rời khỏi giường để chạy đến với Peter.

- Nếu tớ khóc, đó chẳng phải vì việc gì dính dáng đến mẹ cả - Peter tực nghẹn lên đáp - Tớ khóc bởi vì tớ không buộc lại được cái bóng của tớ...

Với lại tớ có khóc đâu.

- Bóng của cậu bị tuột ra à?

- Ừ.

Lúc bấy giờ Wendy mới nhìn thấy cái bóng nằm trên sàn nhà trông thật tội nghiệp và cô cảm thấy thương Peter vô cùng.

- Thật kinh khủng – cô công nhận.

Nhưng cô không thể nín cười khi thấy Peter đã định dán lại bóng bằng bọt xà phòng.

Bọn con trai có những thứ suy nghĩ buồn cười thật!

May quá, cô nghĩ ngay ra cách giải quyết vấn đề.

- Phải khâu lại thôi – cô nói với giọng ra bề kẻ cả.

- Khâu lại á?

Khâu lại là gì?

- Sao cậu chẳng biết gì hết thế nhỉ!

- Tớ ấy à?

Làm gì có chuyện!

Nhưng cái sự dốt nát ấy lại càng khiến Wendy thích thú.

- Cậu bé ơi, tớ sẽ khâu lại cho cậu – Dù Peter cũng bằng lứa Wendy, cô cứ nói vậy.

Cô đi lấy đồ may và bắt đầu khâu cái bóng vào chân Peter.

- Có lẽ hơi đau một tí đấy - Wendy báo trước.

- Ồ, tớ chẳng khóc đâu - Peter giờ hoàn toàn tin chắc rằng cả đời mình chưa khóc bao giờ.

Chú nghiến răng lại, không khóc và chẳng bao lâu sau, bóng của chú đã lại di động được bình thường mặc dù nó còn hơi nhăn nhúm.

- Hay tớ là nó đi một tí - Wendy nghĩ ngợi rồi nói.

Nhưng Peter tỏ ra là đấng nam nhi không thèm đếm xỉa gì đến hình thức bên ngoài, bắt đầu nhảy múa mừng vui.

Than ôi, chú đã quên mất rằng niềm vui của chú trở lại là nhờ có Wendy.

Chú tưởng như tự chú đã gắn lại bóng cho mình.

- Tớ khéo chưa! – Chú hân hoan - Về mặt khéo tay, chẳng ai sánh kịp tớ!

Cũng khá là xấu hổ khi phải thừa nhận rằng sự huênh hoang mù quáng này lại là một trong những phẩm chất đáng kinh ngạc nhất của Peter.

Nói thẳng tuột ra là trên đời này chưa có ai huênh hoang hơn chú.

Nhưng Wendy lại hết sức bất bình.

- Đồ khoác lác – cô giễu cợt nói - Thế ra tớ chẳng làm gì đấy chắc.

- Ồ, tí tẹo ấy mà - Peter vô tư đáp.

Và chú lại tiếp tục nhảy nhót.

- Cái gì, tí tẹo thôi sao - Wendy kiêu kỳ nói - Nếu tớ không giúp gì được cậu, tớ lại đi ngủ đây.

Với vẻ tự trọng bị tổn thương, cô quay về giường, trùm chăn kín đầu.

Để lôi Wendy ra khỏi chăn, Peter giả vờ bỏ đi rồi thấy chẳng ăn thua gì, chú bèn đến ngồi bên giường Wendy và lấy chân khẽ đá đá vào cô bé.

- Này Wendy, đừng bỏ đi.

Tớ không thể kìm khỏi huyênh hoang khi tớ đang vui.

Dù Wendy đang lắng nghe rất chăm chú, cô chẳng cựa quậy tí nào.

- Này Wendy - Peter nói tiếp bằng cái giọng mà không người phụ nữ nào cưỡng lại nổi - Wendy này, một cô bé còn bằng hai chục lần bọn con trai đấy.

Đột nhiên Wendy tự cảm thấy mình là con gái từ đầu tới chân và cô he hé mắt qua một góc chăn.

- Peter, cậu có tin lời cậu vừa nói không đấy?

- Trăm phần trăm ấy chứ.

- Thế thì cậu thật dễ thương - Wendy tuyên bố - Và vì vậy, tớ dậy.

Và cô đến ngồi cạnh Peter.

Cô cũng nói rằng cô có thể sẽ trao cho Peter một cái hôn nếu chú thích nhưng Peter không hiểu gì cả.

Chú chìa tay ra.

- Thế ít nhất cậu cũng biết hôn là gì chứ?

- Wendy ngạc nhiên hỏi.

- Tớ sẽ biết ngay khi nào cậu đưa nó cho tớ - Peter đáp giọng cộc lốc.

Để cậu ta khỏi bị hẫng, Wendy đưa cho Peter một cái đê khâu.

- Thế là bây giờ tớ sẽ trao cho cậu một cái hôn nhé - Peter bảo.

Wendy nhanh nhẹn đáp:

- Nếu cậu thích.

Và cô bé chìa má ra một cách trơ tráo nhưng Peter chỉ đặt một cái cúc hình bầu dục vào lòng bàn tay cô.

Wendy hạ má xuống và nói rằng cô sẽ mang nụ hôn của chú ở sợi dây chuyền trên cổ.

Điều đó thật may mắn vậy vì cái cúc này sau đây sẽ cứu tính mạng cô.

Khi những người thuộc cái giới chúng ta làm quen với nhau, họ thường hay hỏi tuổi nhau.

Wendy vẫn quen phong tục, bèn đi hỏi tuổi Peter, nhưng câu hỏi tỏ ra không ổn.

Không ổn y như kiểu bạn bị quay về môn ngữ pháp trong khi bạn cứ tưởng là thầy giáo sắp hỏi mình về lịch sử các triều đại nước nhà.

- Tớ không biết - Peter lúng túng trả lời - nhưng tớ còn rất trẻ.

Thật ra là chú chỉ hiểu biết lờ mờ về lĩnh vực này nên chú nói đại:

- Wendy à, tớ trốn khỏi nhà ngay khi tớ vừa mới đẻ.

Wendy vừa ngạc nhiên vừa tò mò và vén một bên chiếc áo ngủ một cách duyên dáng để cho Peter ngồi gần hơn.

- Ấy là vì tớ nghe bố mẹ tớ nói chuyện với nhau về việc tớ phải làm gì khi thành người lớn - Peter thì thầm giải thích.

Và chú đột nhiên xúc động:

- Tớ không muốn trở thành người lớn, không bao giờ - chú hùng hồn nói - Tớ muốn là trẻ con mãi để được chơi.

Thế là tớ trốn khỏi Vườn trẻ Kenshington và sống với các cô tiên.

Wendy khâm phục nhìn Peter.

"Chắc có lẽ là vì mình trốn nhà", Peter nghĩ chứ không đoán ra rằng việc thân cận với tiên mới là lý do khiến Wendy khâm phục.

Ở nhà chẳng có nhiều chuyện khác thường nên chẳng có gì khiến Wendy mê bằng việc quen biết các cô tiên.

Cô bèn ra sức hỏi Peter về tiên, điều này khiến chú ngạc nhiên vì chú thấy tiên tính cũng hơi chán vời cái kiểu họ cứ hay xen vào chuyện của người khác nên đôi khi chú cũng phải cho họ một bài học.

Tuy vậy về tổng thể chú cũng vẫn yêu quý họ và chú kể cho Wendy biết họ từ đâu tới.

- Cậu biết không Wendy, khi nào đứa trẻ ra đời cười lần đầu tiên, các mảnh tiếng cười bay tứ tung thế là hình thành ra các cô tiên.

Thật là một lời nói vớ vẩn nhưng đối với Wendy cả đời ở nhà thì nó mới thú vị làm sao!

- Thế là – Peter hứng chí nói tiếp - Mỗi một cậu bé hoặc mỗi một cô bé lẽ ra đều có một cô tiên.

- Thế sao lại lẽ ra, phải có một cô tiên chứ?

- Vì là cậu có biết không, bây giờ trẻ con biết nhiều thứ quá nên chẳng mấy chốc mà chúng chẳng tin gì vào tiên nữa cả, mỗi khi có một đứa trẻ bảo: "Con không tin có tiên", thế là một cô tiên ở đâu đó ngã lăn ra chết.

Đối với Peter, nói về tiên như vậy là quá đủ và đột nhiên chú tự hỏi sao Tinker Bell không thấy ồn ào như mọi khi.

- Cô ta đâu rồi nhỉ? – Chú vừa hỏi vừa đứng dậy.

Chú gọi tên Tinker Bell còn Wendy trống ngực đập thình thịch.

- Peter, chẳng lẽ lại có một cô tiên trong phòng này à?

- Wendy túm cánh tay Peter hỏi dồn.

- Ban nãy cô ấy ở đây, thế cậu không nghe thấy cô ấy sao?

- Peter sốt ruột đáp.

Cả hai đều vểnh tai nghe ngóng.

- Tớ chỉ nghe có tiếng chuông kêu đinh linh đinh linh.

- Tinker Bell đấy, cô ấy nói bằng ngôn ngữ của tiên mà, mà tớ cũng nghe thấy đây này.

Tiếng chuông vang lên từ phía tủ và Peter vui vẻ nhăn mặt.

Chẳng ai tươi vui hơn chú và tiếng cười trẻ thơ của chú vang lên lanh lảnh.

- Ôi Wendy, hình như tớ nhốt cô ấy trong ngăn tủ rồi - Peter vui thích kêu lên.

Cậu mở tủ cho Tinker Bell và cô ta bắt đầu bay lượn trong phòng, vừa bay vừa mắng mỏ rầm rĩ.

- Tinker Bell, cậu không được nói như thế.

Tớ rất ân hận nhưng làm sao tớ biết rằng cậu lại ở trong tủ kia chứ.

Wendy không nghe Peter nói.

- Ôi Peter, ước gì cô ấy dừng lại để tớ ngắm cô ấy một tí nhỉ.

- Các cô tiên ít khi đứng yên lắm, cậu biết đấy!

Nhưng Wendy thấy Tinker Bell dừng trong phút chốc trên chiếc đồng hồ treo tường.

- Ôi xinh quá – cô thốt lên ngây ngất mặc dù mặt Tinker Bell đang cau lại vì tức giận.

- Tinker Bell - Peter nhẹ nhàng nói – cô bé này rất mong cậu sẽ là tiên của cô ấy.

Tinker Bell hỗn xược vặc lại.

- Cô ta bảo gì Peter?

Buộc phải dịch, Peter đáp:

- Cô ta không lịch sự lắm, cô ta bảo rằng cậu là một con bé xấu xí to tướng và cô ta là tiên của tớ.

Nhưng Peter cũng cố thương lượng với Tinker Bell:

- Cậu biết rằng cậu không làm tiên của tớ được, tớ là con trai còn cậu là con gái cơ mà.

Tinker Bell bật lại:

- Đồ ngốc!

Và cô ta biến mất trong phòng tắm.

- Tiên này rất bình thường thôi - Peter ra điều xin lỗi – Người ta đặt tên cho cô ta là Tinker Bell vì cô ta mạ kẽm cho các nồi niêu siêu chảo ấm đun nước.

Cả hai nay đã ngồi gọn trong chiếc ghế bành to và Wendy không ngừng đặt câu hỏi.

- Thế là bây giờ cậu không còn ở Vườn trẻ Kenshington nữa...

- Đôi khi như vậy đấy.

- Thế bình thường thì cậu sống ở đâu?

- Tớ sống với bọn trẻ lạc.

- Trẻ lạc là như thế nào?

- Đó là bọn trẻ con bị rơi ra khỏi xe đẩy vì các cô bảo mẫu mải nhìn chỗ khác.

Nếu không ai xin lại chúng trong vòng bảy ngày thì chúng được gửi đến xứ Neverland để tiết kiệm chi phí.

Tớ là chỉ huy của bọn đó.

- Ô vui quá nhỉ!

- Đúng vậy, nhưng chúng tớ cũng hơi cô đơn, chỗ chúng tớ chẳng có bọn con gái.

- Thế không có con gái trong đoàn à?

- Không, cậu hiểu không, bọn con gái khôn lắm nên không rơi khỏi xe được.

Wendy thấy rất tự hào:

- Tớ thấy cậu kể rất hay về bọn con gái đấy, thằng John nhà tớ toàn coi thường bọn con gái thôi, nó kia kìa.

Thay vì trả lời, Peter đứng dậy và chỉ bằng một cú đá đã tống luôn John và cả đống chăn ra khỏi giường.

Wendy thấy cách cư xử như vậy có hơi quá đáng trong lần gặp đầu tiên và cáu kỉnh nhắc nhở Peter rằng trong nhà Wendy, Peter không phải là người chỉ huy.

Tuy nhiên, John vẫn tiếp tục ngủ say sưa trên sàn nhà và Wendy cũng không muốn làm phiền em trai.

- Tớ biết cậu làm vậy vì tử tế nên tớ cho phép cậu trao cho tớ một cái hôn - Wendy nói, đã dịu lại.

Wendy quên mất nỗi dốt nát của Peter về mặt hôn hít.

- Biết ngay là cậu lại đòi hôn mà - Peter chua chát nói.

Và giơ cái đê khâu ra giả lại Wendy.

- Ái chà - Wendy độ lượng nói - tớ quên, tớ không định bảo là cái hôn mà là cái đê khâu.

- Nó là cái gì?

- Là thế này này.

Và cô ôm hôn Peter.

- Ngộ nhỉ - Peter nghiêm trang nói - thế bây giờ tớ lại cho cậu một cái đê khâu được không?

- Nếu cậu thích - Wendy ngẩng đầu nói.

Peter ôm hôn Wendy còn cô bé thì hét lên chói lói.

- Sao vậy, Wendy?

- Tớ thấy có ai rứt tóc tớ.

- Chắc là Tinker Bell, tớ không ngờ cô ta lại xấu tính thế.

Đúng là Tinker Bell thật, cô tiên đang bay dích dắc và nguyền rủa lung tung.

- Cô ấy bảo là cứ khi nào tớ cho cậu một cái đê khâu cô ấy lại sẽ rứt tóc cậu đấy.

- Tại sao vậy nhỉ?

- Ừ, tại sao hả Tinker Bell?

Tinker Bell lại rủa "Đồ ngốc!".

Peter chẳng hiểu rõ lắm về nghĩa của câu này nhưng Wendy hiểu ngay.

Tuy nhiên cô còn đang thất vọng vì nghe Peter tuyên bố rằng chú bé đến cửa sổ phòng trẻ không phải để gặp cô mà chính là để nghe kể chuyện.

- Tớ không biết chuyện nào hết cậu hiểu không?

Ở chỗ chúng tớ, chẳng ai biết câu chuyện nào cả.

- Eo ơi, chán thế - Wendy nhận xét.

- Thế cậu có biết tại sao chim én lại làm tổ ở dưới mái nhà chỗ ống máng không?

Không phải để thoát nước đâu, để nghe kể chuyện đấy.

Mà Wendy này, mẹ cậu có kể cho cậu nghe một chuyện rất hay.

- Chuyện nào?

- Chuyện chàng hoàng tử không tìm được cô thiếu nữ mang đôi giày da hươu ấy.

- Peter, đấy là chuyện Lọ Lem mà, cuối cùng hoàng tử đã tìm thấy nàng và cả hai người sống rất hạnh phúc.

Peter cũng cảm thấy hạnh phúc đến nỗi chú bay lên khỏi mặt đất nơi cả hai đang ngồi và bay đến ngang cửa sổ.

- Cậu đi đâu đấy?

- Wendy lo lắng gọi.

- Tớ đi kể chuyện cho bọn con trai đây.

- Ở đây đã Peter - Wendy khẩn khoản - tớ còn biết nhiều chuyện nữa cơ mà.

Wendy đã nói vậy.

Cho nên sau này chúng ta cũng chẳng thể chối rằng cô là người gây ra mọi chuyện trước tiên.

Peter quay trở lại, nhìn Wendy với ánh mắt tham lam mà lẽ ra Wendy phải nhận thấy ngay nhưng cô lại không để ý.

- Ô, tớ có ối chuyện để kể cho bọn con trai - Wendy nói và Peter bèn nắm tay cô lôi ra phía cửa sổ.

- Thả tớ ra chứ!

- Wendy ra lệnh.

- Wendy, đi cùng tớ về để kể chuyện cho bọn kia đi.

Được cầu cạnh như vậy kể ra cũng thích nhưng Wendy đáp:

- Chúa ơi, tớ không thể!

Cậu nghĩ sao, còn mẹ nữa chứ, với lại tớ không biết bay.

- Tớ dạy cậu bay.

- Ôi, bay được thì thích quá!

- Nào, tớ sẽ dạy cậu nhảy lên lưng gió rồi chúng mình cùng bay.

- Ôi, ôi, ôi - Wendy ngây ngất.

- Này Wendy, thay vì ngủ trong cái giường dở hơi này, cậu lẽ ra có thể bay cùng với tớ và nói chuyện với lũ sao.

- Thật à?

- Cậu biết không, còn bọn tiên cá nữa chứ.

- Tiên cá à, có đuôi không?

- Có đuôi dài như thế này này.

- Ôi thích quá, tớ muốn xem tiên cá!

Peter ngày càng mưu đồ:

- Wendy, chúng tớ sẽ kính trọng cậu ghê lắm.

Wendy bứt rứt khổ sở như thể cô đang cố gắng để không bay khỏi mặt sàn nhà.

Peter chẳng tha:

- Wendy, cậu cũng có thể dém chăn cho chúng tớ tối nay.

- Ôi!

- Bọn tớ chưa đứa nào được ai dém chăn cho bao giờ.

- Ôi, ôi, ôi - Wendy giơ tay về phía Peter.

- Cậu cũng có thể vá lại quần áo cho chúng tớ, may thêm túi, chúng tớ chưa bao giờ có túi cả.

Làm sao mà cưỡng lại được cơ chứ!

- Thôi được, tuyệt quá đi mất!

Peter, cậu có thể dạy cả cho John và Michael bay được không?

- Nếu cậu thích thế cũng được!

- Peter thản nhiên đáp.

Wendy chạy tới lay John và Michael dậy.

- Dậy nào các em ơi!

Peter Pan đang ở đây và cậu ấy sẽ dạy chúng mình bay!

John dụi mắt:

- Thế thì em dậy đây – các bạn chớ quên là John đang nằm dưới đất – em dậy rồi này.

Michael cũng dậy, mặt đã tươi tỉnh ngay được nhưng Peter gạt tay yêu cầu im lặng.

Chúng có cái vẻ chăm chú như của lũ trẻ con đang rình nghe chuyện người lớn.

Trong phòng im lặng đến ruồi bay cũng nghe thấy tiếng.

Mọi việc đều ổn.

Không, các bạn nhầm, chẳng ổn tí nào, Nana vốn không ngừng sủa một cách lo lắng, nay cũng im bặt.

Chính là chúng nghe thấy sự im tiếng của Nana.

- Tắt đèn đi!

Nhanh, trốn đi – John nắm ngay quyền chỉ huy trong tay.

Vậy là khi Liza bước vào phòng cùng Nana, phòng trẻ tối tăm lại mang dáng vẻ bình thường quen thuộc,dường như có thể nghe thấy tiếng thở yên bình của ba đứa trẻ đang say giấc.

Chúng đang giả vờ thở một cách tài tình, tuy đang nấp sau riđô.

Liza đang bực mình vì trong khi cô đang chuẩn bị món bánh pút đinh cho lễ Noel trong bếp, mặt còn dính nho khô, cô ta đã bị nỗi nghi ngờ của Nana lôi ra khỏi công việc.

Muốn được yên thân chỉ có cách đi cùng với Nana vào phòng ngủ nhưng vẫn phải giữ dây buộc Nana.

- Thấy chưa, đồ ngốc nghếch – Liza mừng thầm vì thấy Nana nhầm - mọi việc bình thường mà.

Bọn trẻ đang ngủ say.

Nghe mà xem chúng thở có đều không kìa.

Nghe thấy vậy, Michael sung sướng quá thở mạnh đến nỗi suýt nữa cả bọn bị lộ.

Vì Nana không hề bị lừa bởi cái kiểu thở như vậy, cố giằng tay Liza nhưng cô này cương quyết:

- Đủ rồi Nana – Liza nghiêm khắc nói và kéo con chó ra khỏi phòng – Tao báo trước cho mày biết là nếu mày còn sủa nữa, tao sẽ đi gọi ông bà chủ đang dự cơm tối gần đây, tao sẽ gọi họ về và mày thể nào cũng sẽ bị đòn cho mà xem.

Cô bèn lôi Nana đi, nhưng các bạn cho rằng con chó tội nghiệp chịu ngưng sủa hay sao?

Gọi ông bà chủ về chính là điều nó muốn.

Nó đâu có cần biết sẽ bị đòn hay không, miễn là bọn trẻ được bình yên.

Không may thay, Liza lại quay về với bánh pút đinh và Nana thấy cô ta chẳng giúp được gì, bèn kéo mạnh đến mức dây trói bị đứt.

Vài phút sau đó, nó chạy bổ vào phòng ăn nhà số 27, đứng dựng lên, hai chân trước vươn lên trời, đó là cách biểu đạt tình huống hùng hồn nhất của nó.

Ông bà Darling hiểu ngay có chuyện đang xảy ra tại phòng trẻ và chẳng kịp chào gia chủ, họ chạy lao về.

Nhưng mười phút đã trôi qua từ khi bọn nhóc chơi trò giả ngủ và trong mười phút, Peter Pan đã làm được nhiều chuyện!...

Ta hãy quay trở lại phòng trẻ.

- Ổn rồi – John vừa nói vừa chui ra khỏi chỗ nấp – này Peter, cậu biết bay thật đấy à?

Chẳng thèm trả lời, Peter nâng mình trên không và bay quanh phòng, sượt qua bệ lò sưởi.

- Hết ý! – John và Michael cùng kêu lên.

- Tuyệt!

- Wendy thán phục.

- Đúng, tớ là tuyệt!

Tuyệt!

- Peter cũng kêu to vì chú lại quên là phải ứng xử ra sao.

Bay nom có vẻ như trò trẻ và lũ trẻ thử tập từ dưới đất trước, rồi từ trên giường.

Nhưng lần nào chúng cũng rơi bịch xuống chứ không nâng người trên không được.

- Này, cậu làm như thế nào ấy nhỉ? – John vừa hỏi vừa cọ cọ đầu gối - Cậu quả là một chàng trai có đầu óc thực tiễn.

- Chỉ cần nghĩ tới những điều kỳ diệu và thế là các cậu sẽ bay bổng lên thôi - Peter giải thích.

Chú lại trình diễn thêm lần nữa.

- Cậu làm nhanh quá – John phê phán - cậu thử làm chậm chậm hơn xem nào.

Peter làm theo, một lần nhanh, một lần chậm.

- Xong rồi, Wendy, em hiểu rồi.

Nhưng rồi nó hiểu ngay là nó nhầm.

Không ai trong số ba chị em lại có thể bay lên được dù chỉ một centimet.

Cố nhiên là Peter chế giễu chúng vì chẳng ai có thể tự nhiên bay được nếu không rắc phấn thần lên người trước đã.

May mắn thay, như chúng tôi đã nói, một tay Peter vẫn còn đầy vệt phấn và chú ta bắt đầu thổi lên tay, hướng về phía bọn trẻ.

Kết quả thật phi thường.

- Bây giờ, lắc vai như thế này và bay nào.

Cả ba đều đang đứng trên giường và Michael bay đầu tiên.

Nó không quả quyết lắm nhưng vừa phềnh lên được trong không khí là nó bay ngay quanh phòng.

- Em bay, em bay đây này – nó kêu tướng lên từ góc trần.

John cũng bay được lên và đụng phải Wendy gần phòng tắm.

- Tuyệt chưa!

- Quá siêu!

- Nhìn này!

- Nhìn này!

- Nhìn này!

Chúng không nhẹ nhàng như Peter và vẫn còn đâm sầm vào nhau, đầu chạm vào trần.

Nhưng còn niềm vui nào hơn thế?

Peter mới đầu còn cầm tay hướng dẫn cho Wendy nhưng sau đành thôi vì Tinker Bell giận điên lên.

Cả bọn bay lên, lượn xuống, xoay tròn, quay giật lùi.

- Hết ý!

Thật là hết ý!

- Này, hay là chúng mình ra khỉo đây đi? – John rủ.

Tất nhiên đó là điều Peter muốn.

Michael đã sẵn sàng: nó muốn biết phải mất bao nhiêu lâu mới đi hết qua một tỉ km, nhưng Wendy còn do dự.

- Này, có cả tiên cá đấy!

- Peter nhắc nhở.

- Ái chà...

- Có cả bọn cướp biển nữa.

- Cướp biển à? – John vừa la vừa nhặt chiếc mũ đội ngày chủ nhật – Đi ngay đi thôi!

Đúng lúc ấy, ông bà Darling chạy ra khỏi số nhà 27 cùng với Nana.

Họ chạy bổ ra giữa đường để nhìn lên cửa sổ phòng trẻ.

Cửa sổ vẫn đóng nhưng có ánh sáng chói lọi trong phòng và kinh hãi thay, họ nhìn thấy in trên ri đô cửa sổ là ba hình bóng bé nhỏ mặc đồ ngủ bay lượn trong phòng.

Mà không, không phải ba mà là bốn!

Run lên vì sợ, họ mở cửa ra vào.

Ông Darling muốn lao lên tầng trên luôn nhưng bà Darling ra hiệu để ông đi chậm lại.

Và cũng cố gắng giữ cho trống ngực khỏi đập mạnh quá.

Liệu họ có đến kịp phòng trẻ không?

Nếu kịp thì thật là hạnh phúc vô bờ đối với họ và cả chúng ta nữa.

Chắc các bạn sẽ như tôi, thở hắt ra nhẹ nhõm.

Nhưng nếu thế thì còn chuyện gì nữa.

Mặt khác, nếu họ về muộn quá, tôi xin trịnh trọng hứa rằng mọi việc vẫn sẽ diễn ra tốt đẹp.

Lẽ ra họ cũng đã kịp lên đến phòng trẻ nếu như các ngôi sao không nhìn thấy họ trước.

Lại một lần nữa, bọn sao này lại phồng hơi thổi, mở tung cửa sổ và ngôi sao nhỏ nhất kêu lên :

- Peter, cẩn thận kìa!

Thế là Peter biết không thể chần chừ gì được nữa.

- Đi thôi! – Chú ra lệnh.

Chú lao lên bầu trời đêm, theo sau là John, Michael và Wendy.

Ông bà Darling cùng Nana vào phòng trẻ muộn mất rồi.

Đàn chim đã bay đi.

Chương 4

CHUYẾN BAY

Ngã tư thứ hai rẽ phải, rồi đi thẳng tới bình minh.

Đấy là đường tới xứ sở Neverland, theo như Peter giải thích cho Wendy.

Nhưng giải thích như thế thì cả lũ chim cho dù có mang theo bản đồ và dừng lại ở mỗi ngã tư nơi gió giao nhau cũng chẳng thể nào tìm ra đường được.

Các bạn thấy đấy, Peter nói năng quả là linh tinh.

Trước hết phải nói là các bạn của Peter hoàn toàn tin tưởng nơi chú và vì quá say mê với niềm vui được bay nên chúng mất khá nhiều thời gian bay quanh các gác chuông hoặc những tòa nhà cao vút tương tự mà chúng gặp trên đường đi.

Rồi John và Michael bắt đầu thi bay và Michael bay trước.

Chúng dè bỉu nhớ lại rằng cách đây chưa lâu, chúng đã từng coi việc bay quanh phòng như một kỳ tích.

Cách đây chưa lâu à ?

Nhưng đó là lúc nào mới được chứ?

Chúng đang bay quanh biển thì ý nghĩ này bắt đầu khiến Wendy quan tâm một cách thực sự.

John cho rằng đó là lúc chúng bay qua biển thứ hai vào đêm thứ hai.

Trời lúc thì tối, lúc thì sáng.

Lúc thì chúng lạnh, lúc lại bị nóng.

Không biết bọn trẻ có thực sự bị đói không là chúng chỉ giả vờ đói bụng thôi vì Peter có cách tiếp tế lương thực thật ngộ nghĩnh.

Chú đuổi theo các con chim đang mang trong mỏ những thứ gì ăn được và cướp của chúng, thế là lũ chim lại ra sức đuổi theo giành lại.

Và cả bọn rúc rích bay đuổi theo nhau trong không trung để rồi cuối cùng chia tay không oán giận gì cả.

Wendy hơi lo khi thấy Peter không tỏ ra e ngại gì trong cách ăn uống như vậy và dường như chú cũng không nghĩ ra cách kiếm ăn nào khác.

Quả tình lũ trẻ không giả vờ buồn ngủ mà là chúng buồn ngủ thực sự và điều này rất nguy hiểm, cứ hơi thiu thiu chợp mắt là chúng lại bị rơi.

Tệ hơn cả là Peter thấy chuyện này thật ngộ nghĩnh.

- Đấy, nó lại ngủ kìa !

- Peter khoái chí kêu lên khi thấy Michael bắt đầu rơi như một hòn đá.

- Cứu nó đi Peter - Wendy hét lên kinh hoảng vì biển nằm ngay phía dưới.

Peter đợi một chút rồi thực hiện một cú bay bổ nhào xuống và hớt ngay được Michael đúng lúc chú ta sắp chạm vào các con sóng.

Nhưng bao giờ chú cũng chờ đến phút cuối và ta hiểu ra rằng chú chỉ quan tâm đến sự khéo léo của chú thôi chứ chẳng để ý gì đến việc cứu mạng ai.

Hơn nữa, chú lại khá là đồng bóng nên trò chơi này lúc này có thể khiến chú thích thúthì chỉ một lát sau đã khiến chú chán.

Lúc đó thì nếu bạn lại rơi nữa thì có thể chú sẽ chẳng động tay động chân.

Chú lại có thể ngủ ngay trong không trung mà chẳng rơi, chỉ cần nằm ngửa người ra thôi.

Nhưng lợi thế này của Peter là nhờ chú rất nhẹ, nếu bạn đi sau chú mà thổi vào người chú thì chú lại bay nhanh hơn.

- Lễ phép với cậu ta nhé - Wendy thì thầm bảo John trong khi chúng đang chơi trò "Theo chân người chỉ huy".

- Thế chị bảo hắn cứ bớt huyênh hoang đi! – John vặc lại.

Trong trò "Theo chân người chỉ huy", Peter bay sát mặt nước và vuốt sượt qua đám vây của lũ cá mập, cũng giống như bạn vừa chạy vừa đưa tay quệt ngang các thanh sắt ở hàng rào các ngôi nhà trong phố.

Ba chị em tránh không bắt chước Peter làm các trò nguy hiểm đó dù chú cũng tỏ ra tử tế quay lại xem chúng có vuốt trượt cái nào trong khi bay theo chú.

- Tử tế với cậu ta nhé - Wendy nhắc lại - chứ nếu hắn bỏ rơi chúng mình thì sẽ ra sao.

- Thì chúng mình lại bay về nhà - Michael bảo.

- Không có hắn thì mình không tìm được đường đâu.

- Hay là không tìm được đường thì chúng mình lại bay tiếp – John đề nghị.

- Thế mới chết đấy John.

Phải tiếp tục bay vì chúng mình đã học cách dừng lại đâu.

Quả là Peter quên không bảo chúng cách đỗ lại như thế nào.

John tuyên bố tệ nhất thì chúng cũng chỉ cần bay thẳng vì ai chẳng biết Trái Đất tròn và chắc là bay mãi thì cũng phải tìm lại được cửa sổ nhà mình.

- John, thế mình ăn bằng gì?

- Wendy, ban nãy em vừa ăn cái gì ngon lắm cướp được của con chim ưng.

- Em phải thử hai chục lần mới cướp được một miếng ấy đấy, còn chưa kể nếu ăn được kiểu ấy, mình phải cộc đầu bao nhiêu lần vào các đám mây nếu Peter không có ở đây để giúp mình.

Vì thực tế là bọn trẻ vẫn cứ vấp liên tục.

Bây giờ chúng bay tương đối nhanh rồi nhưng chúng vẫn còn có những cú đạp chân vô ích và nếu đột nhiên có một đám mây hiện ra trước mặt, chúng càng cố tránh thì lại càng dễ đâm vào.

Nếu có Nana ở đây, nó chắc đã buộc băng đô quanh đầu Michael từ lâu.

Peter tạm thời bay xa khỏi ba chị em và chúng cảm thấy bơ vơ vô cùng, như bị bỏ rơi vậy.

Peter bay nhanh hơn chúng nhiều, đôi khi chú lao vèo đi như một mũi tên và biến mất trong những trò nghịch ngợm của chú mà chẳng cần ba chị em tham gia.

Rồi chú lại bay về, cười rũ rượi vì các trò đùa cợt với một ngôi sao mà chú đã quên ngay, hoặc lại bay lên mà người vẫn còn dính vẩy tiên cá nhưng cũng không kể lại chuyện gì vừa xảy ra.

Đối với bọn trẻ chưa bao giờ được nhìn thấy tiên cá, điều này thật là tệ.

- Đấy hắn quên nhanh vậy đấy - Wendy nhận xét – làm sao mình có thể mong hắn nhớ ra chúng mình được?

Quả là đôi khi, Peter không nhớ ra ba chị em hoặc chỉ láng máng.

Wendy chắc chắn thế.

Peter bay sượt qua trước mũi bọn trẻ nhiều lần mà suýt không nhận ra chúng và một hôm, Wendy thậm chí còn phải nhắc chú biết tên cô là gì.

Peter tỏ ra ân hận thực sự.

- Wendy này, khi nào cậu thấy tớ quên mất tên cậu, cậu cứ nhắc tớ "Wendy đây", thế là tớ nhớ được ngay.

Lơ mơ như vậy chẳng ổn chút nào.

Tuy nhiên, để bọn trẻ bỏ qua lỗi của chú, Peter dạy chúng cách nằm dài trên một ngọn gió đi cùng hướng.

Ba chị em thích đến độ chúng thử nhiều lần và phát hiện rằng chúng có thể tranh thủ ngủ một cách an toàn.

Lẽ ra chúng có thể ngủ được nhiều hơn nhưng Peter nhanh chóng chán trò ngủ và lại hô lên với giọng chỉ huy:

- Dừng lại!

Vừa chành chọe nhau, vừa đùa nghịch như quỷ sứ, chúng dần tiến đến gần xứ sở Neverland.

Sau nhiều tháng, chúng cuối cùng đã đến nơi chẳng phải nhờ Peter hay Tinker Bell để khỏi bay lạc hướng mà vì xứ ấy cũng đi tìm chúng.

Đó là dịp may duy nhất để đến được bến bờ thần tiên này thôi.

- Đảo kia rồi - Peter bình thản nói.

- Đâu, đâu?

- Kia, chỗ các mũi tên ấy.

Quả là có đến hàng triệu mũi tên chỉ vào đảo, do bác mặt trời bạn chúng phóng ra trước khi đi ngủ, bác sợ chúng lạc.

Wendy, John và Michael kiễng chân trong không trung để nhìn lên đảo.

Lạ nhất là chúng đều nhận ra đảo ngay và cho tới lúc nỗi sợ xâm chiếm, chúng rối rít chào hòn đảo không chỉ như một giấc mơ nay thành hiện thực mà còn như một người bạn thân thiết gặp lại trong kỳ nghỉ hè.

- John kìa, đầm nước mặn ven biển kìa.

- Wendy, xem bọn rùa đang chôn trứng trong cát kìa.

- Này John, chị thấy con hồng hạc gãy chân của John đấy.

- Michael, cái hang của em kìa.

- John, có cái gì trong cái đống lùng nhùng kia?

- Có con chó sói mẹ với bọn sói con.

Wendy, hình như là con sói con của chị đấy.

- Đây là thuyền của chị, hai bên nó bị thủng rồi.

- Đâu mà, thuyền của chị chúng mình đã đốt rồi cơ mà.

- Đã bảo là đúng thuyền của chị mà lại.

Này John, chị còn thấy có khói phía trên trại của người Da đỏ nữa cơ.

- Đâu, đâu, chỉ em xem.

Em sẽ bảo cho mà biết khói bay kiểu nào là sẽ có chiến tranh.

- Kia, đúng phía trên suối Bí ẩn ấy.

- Em thấy rồi, đúng là chúng chuẩn bị chiến tranh.

Peter hơi tức vì lũ trẻ biết quá nhiều nhưng nếu chú muốn dẹp bớt chuyện lép xépcủa ba chị em thì cũng chẳng cần phải cố gắng mấy hồi nữa...

Tôi đã chẳng bảo các bạn là nỗi sợ sẽ xâm chiếm bọn trẻ là gì?

Sợ hãi đã ập đến khi lũ tên vàng bỏ đi, để lại hòn đảo chìm trong bóng tối.

Trước đây khi còn ở nhà, xứ sở Neverland luôn bắt đầu trở nên tối dần và đầy đe dọa khi bọn trẻ con phải lên giường.

Lúc đó, cả một xứ hoang dại bung ra xung quanh chúng, các bóng đen cử động, các tiếng gầm của súc vật trở nên khác đi và nhất là ta chẳng còn tin chắc sẽ thắng được kẻ thù nữa.

Thật nhẹ cả người khi mẹ thắp đèn ngủ ban đêm lên!

Và thật dễ chịu khi nghe Nana bảo rằng cái mà ta nhìn thấy chỉ là bệ lò sưởi và xứ sở Neverland chỉ là chuyện huyễn hoặc.

Tất nhiên, lúc đó thì xứ sở Neverland là chuyện huyễn hoặc, còn giờ đây nó mới thật làm sao; chẳng có đèn ngủ, đêm càng tối hơn và...

Nana đâu rồi nhỉ?

Cho tới lúc đó ba chị em bay tách nhau; nhưng giờ chúng túm tịm lại gần bên Peter.

Peter dường như cũng thôi không tỏ ra vô lo nữa, mắt chú lóe lên và mỗi khi một đứa trẻ sượt qua người chú, chúng cảm thấy như có điện giật.

Chúng đang bay qua hòn đảo đáng gờm, bay thấp đến nỗi đôi khi một ngọn cây chạm cả vào mặt chúng.

Không có mối nguy hiểm nào trong không trung vậy mà chúng chỉ tiến lên một cách rất khó khăn như thể chúng phải chiến đấu với các thế lực thù nghịch bí ẩn.

Có lúc bọn trẻ bay treo lơ lửng tại chỗ chờ cho Peter giúp chúng mở đường bằng cách đấm tay vào không khí.

- Chúng không muốn cho chúng mình hạ cánh - Peter giải thích.

- Chúng là ai vậy?

- Wendy rùng mình hỏi.

Peter không thể, hoặc không muốn trả lời.

Tinker Bell ngủ trên vai chú, và chú đánh thức Tinker Bell dậy, tung cô ta ra phía trước.

Đôi khi, Peter dừng lại trên không trung, vòng tay lên tai nghe ngóng.

Có khi chú lại quắc mắt nhìn xuống phía dưới như thể muốn chọc thủng mặt đất ra.

Rồi chú lại bay tiếp, chú tỏ ra dũng cảm phi thường.

- Cậu bé muốn có chuyện ngay lập tức hay muốn uống trà trước?

- Peter hờ hững hỏi John.

- Uống trà trước - Wendy vội vàng đáp.

Michael siết tay chị đầy vẻ biết ơn, còn John can đảm hơn, ngập ngừng hỏi:

- Có chuyện là chuyện gì cơ?

- Có một tên kẻ cướp đang ngủ trong cánh đồng cỏ, ngay phía dưới chúng ta.

Nếu các cậu thích, mình xuống giết chết nó đi.

- Tớ đâu có thấy nó – John im lặng hồi lâu rồi nói.

- Tớ thấy đấy.

- Thế... thế nếu chúng mình thức nó dậy? – John nghẹn giọng hỏi.

Peter bực mình vặn lại :

- Các cậu không nghĩ rằng tớ có thể giết nó trong khi nó đang ngủ đấy chứ?

Trước hết, tớ phải đánh thức nó dậy đã rồi mới giết nó.

Tớ chưa bao giờ làm khác.

- Thế... cậu đã giết được nhiều chưa?

- Vô khối.

John tuyên bố: "Tuyệt nhỉ!"

Rồi quay sang xin bắt đầu bằng việc uống trà.

Nó hỏi xem bây giờ có nhiều cướp biển trên đảo không và Peter cho biết chú chưa bao giờ nhìn thấy nhiều đến thế.

- Ai là chỉ huy bọn đó?

- Hook - mặt chú lạnh tanh khi nói đến cái tên đáng sợ đó.

- Jack Hook ấy à?

- Chính thế.

Michael bật khóc còn chính John cũng nghẹn họng vì cả hai đều biết tiếng Hook.

- Đó là tên cầm đầu của băng Râu Đen – John thì thầm.

Tên độc ác nhất.

Người duy nhất mà cả Barbecue cũng phải sợ.

- Chính hắn đấy - Peter thêm.

- Trông lão như thế nào, có to lớn không?

- Không lớn như hồi trước nữa.

- Sao vậy?

- Tớ cắt bớt lão đi rồi.

- Cậu ấy à?

- Đúng, tớ đấy - Peter đai giọng nói.

- Tớ không có ý nghi ngờ cậu đâu.

- Thôi được, bỏ qua đi.

- Nhưng mà này, cậu cắt bớt cái gì của lão ấy?

- Bàn tay phải.

- Thế thì lão ta chắc không đánh nhau được nữa nhỉ?

- Đánh tốt ấy chứ lại!

- Thế lão thuận tay trái à?

- Lão ta có một cái móc sắt thay cho tay phải, lão mócdc đủ mọi thứ đấy.

- Móc à?

- Này John...

- Peter nói.

- Sao cơ?

- Phải nói là, vâng, thưa chỉ huy.

- Vâng, thưa chỉ huy.

- Có một điều mà tất cả bọn con trai dưới quyền tớ phải hứa.

Và cậu cũng thế.

John tái mặt.

- Như thế này: nếu chúng ta gặp phải Hook trên đất liền, cậu phải để tớ một mình đánh nhau với lão.

- Tớ hứa – John chân thành thề.

Chúng tạm thời cảm thấy đỡ sợ vì Tinker Bell bay cùng chúng và ánh sáng từ cô ta cho chúng nhìn thấy nhau.

Không may là cô ta không thể bay chậm như chúng và buộc phải bay vòng xung quanh và tạo nên những vầng sáng rộng quanh cả bọn.

Wendy thích mê đi cho tới khi Peter giảng cho cô biết cái hại của vầng sáng:

- Tinker Bell bảo tớ là bọn cướp biển đã phát hiện ra chúng mình từ trước khi trời tối và chúng đã chuẩn bị cho khẩu Long Tom rồi.

- Khẩu đại bác Long Tom ấy à?

- Ừ, và dĩ nhiên là chúng nó đã nhìn thấy ánh sáng của Tinker Bell.

Nếu chúng nghĩ rằng Tinker Bell đang đi cùng chúng mình, chắc chắn là chúng sẽ bắn ngay đấy.

- Wendy ơi!

- John!

- Michael!

- Peter ơi, cậu bảo cô ấy đi đi - Cả ba đứa trẻ đồng thanh kêu lên.

Nhưng Peter từ chối.

- Cô ấy cho rằng chúng ta bị lạc đường nên cô ấy hơi sợ - Peter vặc lại – Các cậu không nghĩ là tớ có thể xua cô ấy đi khi cô ấy đang sợ chứ?

Vòng sáng ngưng lại trong giây lát và Peter cảm thấy có ai cấu chú một cách thân tình.

- Thế hay cậu bảo cô ấy tắt bớt ánh sáng đi vậy - Wendy khẩn khoản.

- Cô ấy không thể tắt chứ.

Đấy có lẽ là điều duy nhất các tiên không làm được.

Ánh sáng chỉ tắt khi họ ngủ thôi, như các ngôi sao ấy.

- Thế thì bảo cô ấy ngủ ngay đi – John nói giọng như ra lệnh.

- Cô ấy không thể ngủ vì không buồn ngủ.

Đó cũng là một điều nữa mà các cô tiên không thể làm.

- Rõ là hai điều đáng làm nhất thì lại không thể - John càu nhàu.

Đến lượt nó bị cấu, nhưng chẳng có gì là thân ái cả.

- Nếu ai trong chúng mình có túi thì có thể cho cô ta vào đó.

Nhưng chúng ra đi nhanh quá nên chẳng đứa nào nghĩ đến việc mang túi theo.

Peter chợt nảy ra một ý tuyệt vời: cái mũ của John!

Tinker Bell chấp nhận tiếp tục bay trong mũ của John nếu có ai cầm mũ trong tay.

John nhận nhiệm vụ tuy cô ta thích được Peter cầm mũ hơn.

Rồi đến lượt Wendy phải cầm mũ vì John kêu rằng mũ làm vướng chân nó trong khi bay.

Quả là một quyết định rất không ra gì vì như chúng ta sẽ thấy: riêng cái việc phải nhờ vả Wendy đã khiến Tinker Bell ghét rồi.

Nằm trong đáy chiếc mũ đen, ánh sáng của Tinker Bell hoàn toàn không nhìn thấy được và tụi trẻ bay một lúc trong im lặng.

Đó là sự im lặng hoàn toàn mà chúng chưa bao giờ biết, chỉ thỉnh thoảng có tiếng tớp tớp từ xa vọng tới - Peter giải thích đó là tiếng các con thú hoang uống nước nơi con suối bìa rừng – và lúc lúc lại có tiếng gì như tiếng cành cây sột soạt mà thực ra đó là tiếng của thổ dân Da đỏ đang mài dao.

Rồi những tiếng động này cũng tắt dần.

Michael cảm thấy bơ vơ vô cùng.

- Giá mà có tiếng gì nữa nhỉ! – Nó thốt lên.

Cầu được ước thấy, không gian đột nhiên vang lên tiếng ầm ầm dễ sợ.

Bọn cướp biển bắn vào chúng bằng khẩu Long Tom.

Tiếng nổ vang trong núi và dường như dội lại một cách hung tợn: "Chúng đâu?

Chúng đâu?

Chúng đâu?"

Ba chị em kinh hoàng thấy rõ sự khác biệt giữa một hòn đảo tưởng tượng và một hòn đảo có thật là như thế nào.

Khi yên tĩnh trở lại, Michael và John bay trong bóng tối hoàn toàn.

John đạp chân trong không khí theo quán tính còn Michael vẫn bay mà không biết làm sao mình bay được.

- Michael có bị trúng đạn không? – John run run hỏi.

- Em không biết - Michael cũng thì thầm đáp lại.

Chúng ta giờ đã biết rằng không ai bị thương.

Tuy nhiên, Peter đã bị hơi thuốc súng thổi ra xa ngoài khơi còn Wendy bị cuốn lên cao cùng với Tinker Bell.

Lúc đó, Wendy lại vô ý để rơi tuột mất cái mũ.

Tôi không biết tự nhiên Tinker Bell nảy ra ý đồ hay cô ta đã âm mưu từ lâu, chỉ biết là đột nhiên Tinker Bell nhảy ra khỏi mũ và bắt đầu lôi kéo Wendy vào chỗ chết.

Tinker Bell không phải là quá độc ác, mặc dù lúc này cô ta quả là ghê gớm, nhưng cô ta cũng có thể tỏ ra là người rất tốt.

Tiên đều hoặc tốt hoặc tồi như vậy bởi vì họ bé quá nên chỉ có một loại tình cảm.

Họ có thể thay đổi nhưng là thay đổi hoàn toàn luôn.

Lúc này, Tinker Bell đang ghen ghê gớm với Wendy.

Wendy dĩ nhiên là không hiểu gì trong tiếng đinh linh êm áivà tôi cho rằng trong cả đống những lời nguyền rủa được nói ra với giọng rất dễ thương của Tinker Bell.

Tinker Bell đã vừa bay quanh Wendy vừa nói: "Theo tớ rồi mọi việc sẽ ổn cả thôi."

Wendy còn biết làm sao được?

Cô gọi Peter, John và Michael nhưng chỉ nghe có tiếng vọng lại như giễu cợt.

Cô còn không biết rằng Tinker Bell ghét mình như một người lớn có thể ghét.

Hoang mang, vạ vật bay, Wendy đành phó thác số phận mình cho Tinker Bell.

Chương 5

HÒN ĐẢO THẬT

Nhờ cảm thấy rằng Peter đang quay về, xứ sở Neverland đang dần sống lại.

Trong lúc Peter đi vắng, cuộc sống trên đảo rất bình yên: buổi sáng, các cô tiên dậy muộn hơn một tiếng đồng hồ, các con vật chăm lo cho lũ con.

Người Da đỏ yến tiệc phè phỡn liên tục sáu ngày sáu đêm liền và khi lũ cướp biển và bọn trẻ lạc đánh nhau thì chúng chỉ tung ra những lời thách thức.

Nhưng Peter là người vốn ghét sự trì trệ, khi chú về mọi người lại trở nên hoạt bát hơn: nếu bạn ghé tai xuống đất mà nghe, bạn sẽ thấy cuộc sống đang sôi động trên cả hòn đảo.

Tối hôm đó, các lực lượng chính của đảo đang được bố trí như sau: bọn con trai bị lạc đang đi tìm Peter, bọn cướp biển đang đi tìm lũ trẻ lạc, người Da đỏ đang đi tìm cướp biển và lũ dã thú đang đi tìm người Da đỏ.

Chúng chạy đi tìm nhau vòng quanh như vậy trên đảo nhưng chẳng bao giờ gặp nhau vì cả bọn đều chạy nhanh như nhau.

Tất cả đều rất khát máu ngoại trừ duy nhất lần này bọn trẻ lạc đang nhăm nhăm tìm cho được thủ lĩnh của chúng.

Số lượng chúng thay đổi rất nhiều trên đảo tùy theo chúng có bị giết hay không.

Mỗi khi chúng bắt đầu lớn lên, và việc này là sai quy định, Peter liền tiêu diệt chúng không thương xót.

Tối hôm đó, có sáu đứa trẻ lạc, kể cả hai anh em sinh đôi.

Ta cứ giả vờ nằm dài ra trong vườn mía mà nhìn chúng cầm dao nối đuôi nhau mà xem.

Peter đã cấm chúng không được tìm cách giống thủ lĩnh và chúng mặc những tấm da gấu do chúng giết.

Trong da gấu, trông chúng tròn trịa và mịn màng lông lá đến nỗi nếu chúng ngã chắc chắn chúng sẽ lăn lông lốc.

Bởi vậy, chúng đặt bước chân cho thật chắc chắn.

Đi đầu lúc này là Tootles, không phải vì nó dát nhất mà vì nó là đứa không may nhất trong số bọn trẻ đầu óc điên rồ này.

Nó không biết nhiều cuộc chiến phiêu lưu như những đứa khác vì các sự kiện quan trọng đều diễn ra trong lúc nó vắng mặt.

Tỉ như khi nó thấy mọi việc đều yên tĩnh, nó đi kiếm củi đốt lửa và lúc quay về thì các bạn đã đang chùi máu vấy bẩn rồi.

Sự không may đó khiến nó có vẻ u sầu và đáng ra phải tức tối cảu rảu thì tính cách nó lại mềm yếu đi và nó trở thành thằng dễ tính nhất trong cả bọn.

Tội nghiệp Tootles, tối nay cậu đang gặp nguy hiểm đấy.

Cuộc phiêu lưu đang rình rập cậu có khi lại khiến cậu đau buồn vô hạn.

Cẩn thận, Tootles, tối nay Tinker Bell đang bị nỗi độc ác ám ảnh, đang tìm kiếm trả thù và nghĩ rằng Tootles sẽ là cậu bé dễ bị lừa nhất trong cả bọn.

Hãy cẩn thận với Tinker Bell!

Ước gì chúng nghe thấy nhỉ, nhưng chúng ta có đang ở trên đảo đâu và Tootles tiếp tục vừa đi vừa gặm móng tay.

Sau đó đến Nibs, vui tươi và mũm mĩm, theo sau là Slightly, người gọt còi từ các cành cây, và nhảy múa say sưa theo các điệu nhạc của riêng mình.

Slightly cao ngạo nhất trong bọn trẻ lạc.

Nó cứ tưởng rằng nó nhớ được những gì xảy ra hồi nó chưa bị lạc, phong tục xứ sở của nó, và sự hoang tưởng này khiến mũi nó đã hếch lại càng hớt lên trời.

Curly đi thứ tư và nó hay phải tự nhận tội mỗi khi Peter oai phong ra lệnh: "Kẻ nào chịu trách nhiệm về việc này, hay việc kia, hãy bước ra khỏi hàng!"

Đến nỗi mà bây giờ nó liền máy móc bước ra cho nhanh ngay khi được lệnh.

Cuối cùng là đến hai đứa sinh đôi, chẳng thể nào tả được chúng vì chính chúng cũng còn nhầm.

Peter không bao giờ biết bọn sinh đôi là như thế nào và toàn băng đảng không được phép biết điều mà thủ lĩnh không biết, hai đứa sinh đôi đành chịu sự mơ hồ về nhân thân của chúng và luôn cố gắng làm cho mọi người hài lòng bằng cách luôn ở cạnh nhau, như thể để xin lỗi vì cái nỗi quá giống nhau.

Bọn trẻ lạc biến đi trong bóng đêm và sau đó một lúc, một lúc ngắn ngủi thôi vì mọi việc diễn ra rất nhanh chóng trên hòn đảo này, đến lượt hiện ra bọn cướp biển đang đuổi theo trẻ lạc.

Chúng ta nghe thấy tiếng chúng trước khi nhìn thấy và bao giờ chúng cũng hát bài hát đó:

Chuẩn bị thả neo nào!

Gỡ cuộn dây neo!

Cướp biển sau lưng nào!

Tấn công tàu chiến!

Và nếu chúng ta bị dính

Bởi loạt đạn súng trường

Chúng ta sẽ về chầu Diêm vương

Chưa bao giờ ta lại thấy lủng lẳng trên giá treo cổ một đám người đáng khinh hơn thế.

Đi vượt lên phía trước là gã Cecco đẹp trai người Ý, hơi động tĩnh gì là lại ghé tai xuống đất để lắng nghe, đôi tay to lớn để trần, tai đeo hoa tai hình số tám.

Hắn ta đã từng khắc tên mình bằng máu trên lưng quan thống đốc nhà tù thành Goa.

Tiếp sau là tên da đen khổng lồ có rất nhiều tên từ khi hắn từ bỏ cái tên mà các bà mẹ da đen đặt cho để dọa bọn trẻ sống dọc bờ sông Guidjo-Mo.

Rồi đến Bill Jukes, khắp người không chỗ nào không xăm, cũng là gã đã được nhận sáu lần mười hai roi chín dải từ tay Flint trước khi buông rơi túi tiền.

Và rồi là Cookson, được coi là anh em với Murphy Đen (điều chưa bao giờ được chứng minh), và đến Startkey, trước kia là gác cổng trường học và bao giờ cũng giết người với phương pháp hết sức tinh tế.

Rồi là Skylights (Skylights của Morgan), rồi Smee, viên quản lý người Ai-rơ-len, một gã vui tính sẵn sàng giết kẻ đối đầu mà chẳng thù oán gì và là tên duy nhất không có tính ba phải trong đội của Hook, và gã nhà quê Noodler có tay gắn trên lưng, và Robulus Mullins, Alf Mason và còn nhiều tên cướp khác nổi tiếng và được nể vì trong toàn vùng biển Caribe.

Giữa đám cướp đó là con người đen tối nhất và cũng đáng sợ nhất, James Hook, hay như chính hắn đã tự viết, Jas.

Hook, kẻ duy nhất mà See-Cook sợ.

Ngồi chễm chệ trong một chiếc xe thô kệch do quân của hắn kéo, Hook mang một chiếc móc sắt thay cho tay phải và thỉnh thoảng dùng móc đó để thúc quân kéo xe đi nhanh hơn.

Tên kẻ cướp đáng sợ này xử sự với lính như với một bầy chó và chúng cũng tuân lệnh hắn như bầy chó.

Về hình dáng bên ngoài, hắn gầy, da ngăm ngăm, mớ tóc dài đen nom xa trông như một chuỗi nến đen khiến cho nét mặt đều đặn của hắn đầy vẻ đe dọa.

Mắt hắn màu tím nhạt và mang nét ưu phiền, trừ khi hắn ngoắc cái móc vào thân thể bạn.

Khi đó, trong ánh mắt hắn lóe lên hai ngọn lửa hung bạo.

Hắn tỏ ra quý phái kiểu cách như một nhà quý tộc, kể cả lúc hắn mổ bụng bạn ra, và có người cam đoan với tôi hắn quả là một tay kể chuyện có hạng.

Hắn tỏ ra khủng khiếp nhất khi hắn thể hiện sự lịch sự tinh tế, là dấu hiệu rõ nét nhất của sự quý phái.

Ngôn từ tao nhã, kể cả khi hắn đang nguyền rủa, làm nổi bật rõ sự khác biệt về tầng lớp xã hội giữa hắn và bầy đoàn của hắn.

Là người rất dũng cảm, hắn chỉ sợ có mỗi việc nhìn thấy máu của chính mình vốn rất đặc và có màu khác thường.

Hắn ăn mặc theo kiểu của Saclơ đệ nhị vì trong cuộc đời cướp biển của hắn, có người đã bảo trông hắn có nét giống những người trong dòng họ Stuart với số phận bi thảm.

Mồm hắn ngậm một thứ dụng cụ kỳ quặc do chính hắn tự phát minh ra cho phép hắn hút được hai điếu xì gà một lúc.

Nhưng rõ rành như hai với hai là bốn, nổi bật nhất trên con người hắn vẫn là cái móc sắt.

Bây giờ ta hãy cho một tên cướp biển chết đi để minh họa cho phương pháp của Hook.

Bớt Skylights đi chẳng hạn.

Trong lúc toàn đoàn đang tiến lên, Skylights vụng về vấp phải chủ tướng, làm xô lệch cổ áo viền đăng ten của Hook, thế là cái móc sắt loáng lên như tia chớp, có tiếng rít lên ngắn gọn, tiếng kêu thét, rồi xác Skylights bị vứt sang bên và bọn cướp đi qua.

Hook thậm chí còn không bỏ xì gà ra khỏi miệng.

Đó chính là con người đáng sợ mà Peter phải đối đầu.

Ai sẽ thắng đây?

Im lìm bám theo sau bọn cướp biển trên con đường chiến tranh, là người Da đỏ với ánh mắt nhìn cảnh giác, ai không tinh thì không nhìn thấy họ.

Họ mang rìu của dân Da đỏ và dao quắm, thân thể để trần của họ vẽ sơn nhằng nhịt và bôi dầu.

Ngang lưng treo những bộ da đầu của cả bọn trẻ lạc lẫn bọn cướp biển vì đây chính là người Da đỏ thuộc bộ lạc Negrito, chớ nên nhầm họ với bộ lạc Delaware đầy lòng nhân hậu hoặc với người Huron.

Đi tiên phong trinh sát trong tư thế bò là Báo Nhỏ Lớn, một chiến binh có nhiều tấm da đầu treo ngang thân đến nỗi việc bò của anh ta gặp khá nhiều khó khăn.

Đi cuối đoàn là Hoa Huệ Vằn, dáng đi kiêu hãnh đúng như một công chúa đích thực phải như vậy.

Đó là cô gái xinh đẹp nhất trong các cô sơn nữ da màu đồng và là người được các chiến binh Negrito yêu quý nhất.

Tâm tính nàng lúc thì điệu đà, lúc thì kiêu hãnh xa cách, khi thì lại si tình.

Không một người chiến binh nào lại không mơ có nàng làm vợ, nhưng nàng có cách sử dụng lưỡi rìu để tránh bị đưa tới làm lễ cưới trước ban thờ.

Hãy nhìn xem họ tiến lên trên những cành cây mà không gây ra một tiếng động nhỏ nào.

Người ta may lắm cũng chỉ nghe thấy tiếng thở hơi dồn dập của họ.

Thực tế là họ có hơi mập ra do ăn uống phè phỡn, nhưng rồi họ sẽ thon gọn lại ngay thôi và lúc này đó chính là mối nguy duy nhất đang đe dọa họ.

Người Da đỏ biến nhanh như khi họ tới, như những hình bóng.

Tiếp sau đó là các loài dã thú trong đội hình vừa lộn xộn vừa dàn trải nào hổ, nào sư tử, nào gấu và vô vàn những con vật khác bé hơn đang chạy trốn vì dã thú, nhất là những loài ăn thịt người, sống cạnh nhau trên hòn đảo được ưu đãi này.

Chúng chạy, lưỡi thè lè ra.

Đêm nay, chúng đang đói.

Khi cả bầy đã đi qua, hiện lên một con cuối cùng, một con cá sấu to kinh dị.

Chúng ta sẽ biết nó đuổi theo ai.

Cá sấu qua xong rồi lại đến bọn con trai vì cuộc đuổi bắt phải tiếp tục mãi cho đến khi nào một trong số các tốp này dừng lại hoặc thay đổi tốc độ.

Khi đó chúng sẽ nhanh chóng va vào nhau.

Nay thì tốp nào cũng đang chăm chăm nhìn về phía trước mà chẳng mảy may bận tâm đến mối hiểm nguy có thể xuất hiện từ phía sau.

Đó là thực tế trên đảo.

Những kẻ đầu tiên tách ra khỏi cái vòng quay đèn cù này là đám trẻ lạc.

Chúng lăn vào đám cỏ cao gần nơi chúng ở dưới đất.

"Giá mà Peter trở về nhỉ", chúng lo lắng nghĩ vậy, mặc dù tất cả đều to lớn hơn thủ lĩnh.

- Tớ là đứa duy nhất không sợ bọn cướp biển – Slightly nói với cái giọng khiến nhiều đứa khác phát chán.

Chắc có tiếng gì đấy từ nơi xa vọng về khiến nó lo ngại nên nó vội thêm:

- Nhưng tớ rất mong Peter về và cho chúng mình biết thêm tin tức về Lọ Lem.

Cả bọn bắt đầu kể về Lọ Lem và Tootles cam đoan rằng mẹ nó rất giống Lọ Lem.

Chỉ khi nào Peter đi vắng, bọn trẻ mới dám nói chuyện về mẹ chúng, một chủ đề mà Peter không bao giờ cho phép động tới.

- Kỷ niệm duy nhất của tớ về mẹ tớ là mẹ tớ rất hay bảo bố tớ: « Ước gì em có tài khoản riêng nhỉ! » Tớ không biết tài khoản là cái gì nhưng tớ cũng rất thích nếu được mẹ cho một cái.

Trong khi chúng nói chuyện, có tiếng gì từ xa vọng tới.

Bạn cũng như tôi không quen với đời sống hoang dã chắc chẳng thể nào nghe được gì, nhưng tai bọn trẻ rất thính đã bắt được bài hát này:

Yô hô, đời cướp biển là đây

Xương sọ, xương ống chân lủng lẳng treo đầy!

Rượu ngon, nhắm tốt, dây thừng dẻo

Hát lên nào Davy Johns, hoan hô!

Ngay tức thì, bọn trẻ lạc... nhưng chúng đâu rồi nhỉ?

Chúng đã biến mất, nhanh hơn thỏ.

Tôi sẽ bảo cho các bạn biết chúng ở đâu.

Trừ Nibs đang đi trinh thám, cả bọn đã chui vào trong nhà ngầm dưới đất, một nơi ở đầy thú vị.

Nhưng chúng làm thế nào mà được như thế?

Vì chẳng thấy lối vào ở đâu, dù cho ta có dọn đi một đống bụi cây, ta cũng chỉ thấy có lối vào một cái hang mà thôi.

Tuy vậy, bạn thử nhìn kỹ hơn mà xem, có khi bạn sẽ thấy trên bảy thân cây to mà rỗng, có những lỗ khoét vừa với thân hình một đứa trẻ.

Đó chính là bảy lối vào của nơi ẩn náu dưới đất mà Hook đã vô vọng tìm kiếm bao đêm trăng.

Liệu đêm nay hắn có tìm thấy không?

Trong lúc bọn cướp biển đang tiến lên, đôi mắt tinh tường của Startkey thoáng thấy Nibs đang lẩn lướt đằng sau các gốc cây và ngay tức thì, hắn chĩa súng ngắn vào cậu bé.

Nhưng một cái móc sắt đã cào lên vai hắn.

- Thủ lĩnh, thả tôi ra - hắn vặn người vì đau kêu lên.

Và thế là lần đầu tiên ta được nghe giọng của Hook.

Giọng tên cướp rắn đanh.

- Dẹp súng của mày đi đã - hắn đe dọa nói.

- Nhưng đó là một thằng ranh con mà thủ lĩnh căm thù ghê gớm cơ mà, tôi đang định hạ nó đây.

- Để bọn Da đỏ nghe thấy tiếng súng ấy hả.

Mày có định để chúng lột da đầu hay không đấy?

- Thủ lĩnh, hay để tôi đuổi theo nó? – Smee đề nghị - tôi sẽ dùng máy khoan Johnny ngoáy cho nó một cái?

Smee luôn nghĩ ra các loại tên gọi đủ kiểu cho mọi thứ, và con dao dài của hắn tên là máy khoan Johnny vì hắn có thói quen dùng lưỡi dao ngoáy trong vết thương.

Ta còn có thể nêu những điểm hay ho khác của Smee.

Chẳng hạn như sau khi giết người, không phải hắn chùi vũ khí mà hắn lau kính.

- Johnny làm việc không gây tiếng động - hắn nhắc Hook.

- Bây giờ không phải lúc, Smee – Hook hầm hừ - Thằng này chỉ có một mình và ta muốn tóm được cả bảy đứa.

Nào, tản ra và tìm bằng được lũ chúng cho ta.

Bọn cướp biển tan vào bóng đêm và chỉ còn lại tên thủ lĩnh cùng Smee.

Hook thở dài, tôi cũng không hiểu tại sao hắn lại như vậy, có thể là vì buổi tối quá trong lành.

Và thế là hắn bèn tâm sự với tên phụ trách trung thành.

Hắn nói rất lâu, giọng đầy xúc động, nhưng Smee vốn đơn giản và thiển cận, chẳng hiểu gì.

Tuy vậy, hắn chỉ nghe được có tên Peter:

- Trước nhất, là ta cần phải tóm được thằng thủ lĩnh của chúng, Peter Pan – Hook hung dữ nói – chính nó đã cắt cụt tay ta.

Hắn giơ cái móc sắt lên đe dọa.

- Từ lâu ta đã chờ được bắt tay nó với cái móc sắt này!

Ta sẽ băm nhỏ nó ra!

- Nhưng tôi đã nghe thủ lĩnh bảo là cái móc sắt này lợi hại bằng mười hai lần bàn tay trong việc chải đầu và một lô các công dụng khác cơ mà.

- Đúng thế, nếu ta là đàn bà, ta sẽ ước gì đẻ ra được lũ con với cái móc kiểu này thay cho tay.

Hắn tự hào ngắm nhìn móc sắt và khinh thị nhìn sang bàn tay lành lặn.

Rồi hắn lại cau mày.

- Peter đã ném tay ta cho con cá sấu qua đường lúc đó - hắn nghiến răng nói.

- Tôi cũng nhận thấy thủ lĩnh sợ cá sấu quá thể - Smee nhận xét.

- Không phải ta sợ cá sấu, ta chỉ sợ có một con cá sấu ấy thôi.

Hắn hạ giọng.

- Smee, tay ta quá ngon đối với nó, cho nên từ đó nó bèn cứ nhằng nhẵng đuổi theo ta, trên đất liền, trên biển, vừa đi vừa liếm mép khi nghĩ tới lúc nó được xơi nốt phần còn lại.

- Nói cho cùng thì đấy cũng là nó khen thủ lĩnh.

- Tao chẳng cần khen kiểu đấy – Hook gào lên – tao muốn giết cái thằng Peter Pan đã dám cho con quái vật ấy bén mùi thịt tao.

Hắn ngồi xuống một cây nấm lớn và run lên :

- Smee, con quái sấu ấy đáng ra đã bắt được ta và xơi tái từ lâu rồi nhưng do vận may không ngờ, nó lại ăn phải một cái đồng hồ cứ kêu tích tắc trong bụng nó, thế là cứ khi nào nó tới gần, ta đều nghe thấy trước và ta chạy thoát.

Hắn cười nhưng tiếng cười không có gì là vui.

- Có ngày đồng hồ chết và nó sẽ bắt được thủ lĩnh – Smee tiên đoán.

Hook liếm đôi môi khô:

- Đúng vậy, chính thế mà nỗi sợ cứ đeo bám theo ta.

Từ khi hắn ngồi xuống, cảm giác nóng kỳ lạ dính vào hắn:

- Smee, chỗ ta ngồi nóng bỏng lên này!

Hắn nhảy dựng dậy :

- Smee, quỷ tha ma bắt, đít ta cháy rồi.

Chúng xem xét kỹ cái nấm.

Đó là một cây nấm có kích cỡ chắc chắn chưa từng thấy trên đảo.

Chúng túm lấy rìa nấm và giật ra dễ dàng vì nấm không có chân.

Lạ hơn nữa là có khói bốc ra từ lỗ thân nấm.

Hai tên cướp nhìn nhau :

- Ống khói ! – Chúng cùng kêu lên.

Quả là chúng đã phát hiện ra ống khói của ngôi nhà dưới đất.

Mỗi khi kẻ thù tới gần, tụi trẻ lạc thường hay lấy một cây nấm che ống khói lại.

Không những có khói bay lên từ đó mà người ta còn nghe thấy cả giọng trẻ con vì lũ trẻ cảm thấy an toàn trong nơi ẩn nấp nên tán gẫu và cười đùa một cách vô tư.

Bọn cướp căng thẳng lắng nghe một hồi, rồi chúng đặt cây nấm vào chỗ cũ.

Sau đó, chúng tìm kiếm xung quanh và chẳng mấy chốc đã tìm ra bảy lỗ trổ trên bảy cái cây.

- Thủ lĩnh có nghe thấy chúng bảo nhau là Peter không có nhà hay không? – Smee vừa thì thầm hỏi vừa mân mê máy khoan Johnny.

Hook gật đầu.

Hắn trầm tư suy tính một lúc rồi nở một nụ cười lạnh lẽo trên gương mặt sạm nắng.

Smee đành chờ phản ứng của sếp.

- Thủ lĩnh tính sao đây ?

- Hắn săn đón hỏi.

- Quay trở về tàu – Hook nghiến răng chậm rãi trả lời – Ta làm một chiếc bánh thật to rồi đổ đường xanh lên trên.

Chắc đây chỉ có một phòng, vì chỉ có một ống khói.

Cái lũ chuột chũi ngu xuẩn ấy không biết rằng chúng chẳng việc gì lại cần phải có mỗi thằng một cửa ra vào.

Chứng tỏ rằng chúng không có mẹ.

Ta sẽ để chiếc bánh trên bờ hồ Tiên cá.

Bọn này hay ra đấy bơi và chơi với lũ tiên cá.

Chúng sẽ thấy cái bánh và sẽ xơi kỳ hết thì thôi.

Vì chúng không có mẹ nên không thể biết rằng ăn một cái bánh quá bổ và quá béo là nguy hiểm như thế nào.

Hắn phá lên cười, lần này thì hắn cười thật thoải mái.

- Ha ha ha !

Và thế là chúng sẽ chết !

Smee càng nghe càng phục.

- Thật là mánh khóe khôn ngoan và gian nhất mà tôi được biết!

Trong cơn vui sướng, chúng nhảy múa và hát:

Áp sát mạn tàu khi ta xuất hiện

Cả lũ bay đều run sợ trong quần

Xương thì dày còn da lại mỏng

Móc sắt vào là thiệt đến thân

Chúng vừa cất lời thì chợt có tiếng động.

Tiếng kêu ken két khẽ đến nỗi lá rơi cũng có thể làm át đi, rồi tiếng động rõ nét hơn:

Tích!

Tích!

Tích!

Tích!...

Hook đứng sững người, rùng mình, một chân co lên.

- Con cá sấu ấy đấy - hắn nói như nghẹn đi.

Rồi hắn chuồn lẹ, theo sau là tên quản lý.

Đó quả là con cá sấu thật.

Nó đã vượt qua được toán Da đỏ đang đi truy lùng bọn cướp biển còn nó thì đuổi theo Hook.

Lại một lần nữa, bọn con trai trồi lên mặt đất nhưng những mối hiểm nguy trong đêm tối chưa tan hết vì Nibs hiện ra giữa đám, thở không ra hơi, kéo theo một bầy chó sói lưỡi thè lè đang hú lên những tiếng kêu ghê rợn.

- Cứu tớ với !

Cứu tớ với – Nibs vừa kêu vừa ngã vật xuống đất.

- Chúng tớ phải làm gì ?

Làm gì ?

Đối với Peter thì quả là sung sướng khi biết rằng trong những phút giây nguy hiểm, mọi người đều nghĩ đến cậu.

- Nếu Peter ở đây thì cậu ấy làm gì nhỉ ?

- Cả bọn đều kêu lên.

Gần như đồng thời, chúng cùng nói :

- Có khi Peter sẽ nhìn chúng qua hai cẳng chân.

Rồi chúng cùng tiếp :

- Chúng mình cùng làm như Peter đi.

Quả là không có cách nào tốt hơn để rũ bỏ được lũ sói.

Và cả bọn cùng chổng mông lên trời, cúi nhìn lũ chó sói qua hai chân dang rộng.

Vài giây dài tưởng chừng như thế kỷ trôi qua rồi chiến thắng đã rõ ràng.

Khi tụi trẻ tiến lên trong tư thế đáng sợ đó, lũ chó sói đột nhiên quay ngoắt lại và bỏ chạy cúp cả đuôi.

Nibs bấy giờ mới đứng dậy đượcvà bọn trẻ tự nhủ rằng mắt thằng bé này vẫn còn như đang nhìn thấy chó sói mà lại không phải là chó sói.

- Tớ nhìn thấy một thứ tuyệt vời trên cả tuyệt vời – nó kể trong lúc bọn trẻ vây quanh nó – Có một con chim trắng, bay ở phía này này.

- Là chim gì ?

- Tớ không biết – Nibs thích thú kể - nhưng nó có vẻ mệt mỏi.

Với lại nó vừa bay vừa kêu "Khổ thân Wendy!"

- Khổ thân Wendy à ?

- Tớ nhớ là có những loài chim tên là chim Wendy – Slightly vội kêu.

- Nhìn kìa, nó đấy ! – Curly vừa la vừa giơ tay chỉ về phía Wendy trên không trung.

Wendy giờ đây gần như bay ngay phía trên đầu tụi trẻ và chúng nghe thấy tiếng cô rên rỉ.

Nhưng còn rõ hơn nữa là tiếng Tinker Bell.

Cô tiên ghen tức đã buông rơi tất cả những dấu hiệu giả danh tình bạn và ra sức nhào vào Wendy, cấu xé cô này thật tàn nhẫn.

- Chào Tinker Bell!

- Bọn trẻ ngạc nhiên kêu lên.

Tinker Bell lanh lảnh kêu lên:

- Peter muốn các cậu bắn vào con Wendy này đấy.

Bọn trẻ không có thói quen cãi lại lệnh của Peter.

- Tuân lệnh sếp – chúng ngây thơ kêu – nhanh nhanh, chúng mình lấy cung tên ra thôi.

Tất cả đều chạy về lỗ cây của mình trừ Tootles.

Nó đã mang sẵn cung tên trong tay.

Tinker Bell nhìn thấy và xoa tay.

- Nhanh lên, Tootles, nhanh.

Peter sẽ vui lắm đấy.

Tootles luống cuống chỉnh mũi tên.

- Tránh ra, Tinker Bell.

Rồi nó thả dây cung và Wendy rơi phịch xuống đất, mũi tên cắm trên ngực.

Chương 6

TÚP LỀU NHỎ

Khi bọn trẻ lao ra cùng với cung tên, tên ngố Tootles đứng ưỡn ngực như kẻ chiến thắng.

- Các cậu đến muộn quá – nó tự hào nói - Tớ đã hạ con Wendy rồi.

Peter chắc sẽ thích lắm đây.

Tinker Bell bay phía trên nó kêu "Đồ ngốc!"

Rồi lỉnh đi ngay.

Những đứa khác không nghe thấy Tinker Bell nói.

Chúng vây quanh Wendy và im lặng nặng nề.

Nếu trái tim Wendy còn đập chắc người ta cũng phải nghe thấy tiếng.

Slightly mở miệng đầu tiên:

- Có phải là chim đâu - nó sợ sệt nói - Tớ nghĩ rằng đây là một phụ nữ.

- Một phụ nữ à? – Tootles hỏi lại rồi ngã vật xuống đất, chân tay run bần bật.

- Chúng mình giết bà ta rồi – Nibs nghẹn giọng nói.

Và chúng cùng bỏ mũ.

- Bây giờ tớ hiểu rồi - Curly bảo - Chắc là Peter mang bà ấy cho chúng mình đây mà.

Nó cũng tuyệt vọng lăn xuống đất.

- Bà ấy sẽ chăm sóc chúng mình...

- một trong hai đứa sinh đôi nói - thế mà chúng mình giết mất bà ấy rồi.

Cả bọn đều thương Tootles cũng như cho chính chúng, nhưng khi Tootles bước về phía chúng, chúng quay mặt đi.

Tootles mặt tái nhợt nhưng tỏ ra đầy tự trọng như người ta chưa bao giờ thấy ở nó.

- Đúng, tớ giết bà ta rồi – nó trầm ngâm nói – Khi tớ mơ thấy các phụ nữ, tớ hay gọi "Mẹ ơi, mẹ ơi!"

Thế mà nay một phụ nữ xuất hiện, tớ lại giết mất bà rồi...

Nó chậm rãi bước đi.

- Cậu đi đâu - cả bọn thương cảm kêu lên.

- Tớ phải đi thôi - Tootles nói, chân tay run lập cập - tớ sợ Peter lắm.

Đúng lúc đó, chúng nghe có tiếng động khiến cả bọn thắt lòng.

Chúng đều nhận ra tiếng kêu chiến thắng của Peter.

- Peter về kìa!

- Bọn trẻ kêu - bao giờ cậu ấy cũng kêu như thế để báo hiệu.

- Dấu bà này đi - bọn trẻ thì thầm.

Và chúng đứng che lấy Wendy nhưng Tootles tách riêng ra.

Rồi tiếng kêu lảnh lói lại vang lên và Peter hiện ra cạnh chúng.

- Chào các cậu!

Chúng chào lại Peter một cách máy móc, rồi lại yên lặng.

Peter cau mày:

- Tớ về đây rồi - chú tức tối nói - Thế các cậu không hoan hô tớ à?

Bọn trẻ mở miệng nhưng những tiếng hoan hô như tắc lại trong cổ.

Vì vội thông báo tin vui, Peter bỏ qua sự lạnh nhạt bất thường này.

- Tin mới đây, các cậu, tớ đem về cho chúng mình một người mẹ.

Chẳng ai nói gì, trừ có tiếng Tootles ngã quỵ xuống đất.

- Các cậu có thấy cô ấy không? – Peter hơi hơi lo hỏi – Cô ấy bay về phía này mà.

- Ôi, có chuyện không may - một đứa thốt lên.

- Thật là một ngày đáng buồn!

- Đứa khác rên lên.

Tootles đứng dậy.

- Peter - nó bình tĩnh nói - để tớ chỉ cô ấy cho cậu.

Và vì bọn trẻ đang cố che Wendy, nó yêu cầu:

- Các cậu tránh ra, hai đứa sinh đôi kia, thì Peter mới xem được chứ.

Cả bọn liền lùi lại và Peter sau khi nhìn kỹ thân hình bất động của Wendy, không biết làm gì nữa.

- Cô ấy chết rồi – chú nói ngập ngừng – có lẽ cô ấy sợ phải chết lắm đấy.

Chú định nhảy ra xa, cho đến khi không nhìn thấy Wendy nữa cũng như không bao giờ quay lại cái nơi bi thảm này nữa.

Bọn trẻ sẽ rất vui lòng được đi theo nếu chú định làm vậy.

Nhưng còn mũi tên, chú nhổ mũi tên khỏi ngực Wendy và quay về phía các bạn.

- Tên của ai đây? – chú lạnh lùng hỏi.

- Của tớ, Peter ạ - Tootles vẫn quỳ, đáp lại.

- Đồ sát nhân khốn kiếp! – Peter cầm mũi tên như cầm một con dao.

Tootles dũng cảm vươn ngực ra.

- Peter, cậu đâm tớ đi, đâm đi – Tootles cứng cỏi nói.

Hai lần, Peter giơ mũi tên lên, hai lần chú hạ tay xuống.

- Không thể được, có cái gì giữ tay tớ lại.

Bọn trẻ đều ngạc nhiên nhìn nó, trừ Nibs lúc ấy may thay, lại nhìn Wendy.

- Nó đấy, con chim wendy, các cậu nhìn kìa, tay nó kìa!

May mắn thay, Wendy quả đã giơ tay lên.

Nibs nghiêng người về phía cô bé và mê mải lắng nghe:

- Tớ thấy hình như nó bảo "Tội nghiệp Tootles" – Nibs thì thầm.

- Thế thì Wendy còn sống – Peter cũng thì thầm.

- Con wendy này còn sống! – Slightly kêu lên.

Và Peter ngồi xuống cạnh Wendy, nhìn thấy cái cúc áo chú tặng cho cô bé trước đây.

Các bạn có nhớ là Wendy buộc nó vào một sợi dây chuyền ở cổ không?

- Các cậu có thấy là mũi tên đã bị cái hôn mà tớ trao cho cô ấy chặn lại không?

Nhờ thế mà cô ấy thoát chết đấy.

- Tớ có biết về những cái hôn – Slightly vội vàng nói – cho tớ xem xem nào...

Ơ, đúng là một cái hôn thật.

Peter không nghe nó nói.

Chú đang khẩn khoản xin Wendy chóng khỏi để còn cho xem tiên cá.

Tất nhiên là đương quá sợ nên cô không thể trả lời Peter được.

Đúng lúc ấy phía trên đầu bọn trẻ có tiếng rên rỉ.

- Nghe Tinker Bell kìa – Curly bảo – cô ta khóc vì Wendy còn sống.

Bọn trẻ đành kể lại Peter nghe tội của Tinker Bell và chắc chưa bao giờ chúng phải thấy một gương mặt nghiêm khắc đến vậy.

- Tinker Bell – Peter hét lên – không còn bạn bè gì với cô nữa, tôi không bao giờ muốn thấy cô nữa.

Tinker Bell đậu xuống vai Peter để phân trần nhưng Peter hất cô ta ra.

Tuy nhiên, Wendy lại giơ tay lên và chú hơi dịu lại.

- Ơ thì, khi tớ bảo là không bao giờ,...

ít nhất cũng phải một tuần.

Các bạn tưởng là Tinker Bell sẽ biết ơn Wendy đã giơ tay ư?

Không hề nhé.

Chưa bao giờ cô ta lại muốn cấu Wendy hơn thế.

Tiên quả là một giống kỳ lạ và Peter tuy hiểu rõ họ, vẫn hay phải quất cho họ một trận.

Nhưng biết làm gì với Wendy trong tình trạng thế này bây giờ?

- Cho cô ấy xuống nhà chúng mình – Curly gợi ý.

- Được đấy, người ta vẫn hay làm thế với phụ nữ - Slightly tán thành.

- Không được – Peter bảo – không được chạm vào người cô, như thế là thiếu tôn trọng cô ấy.

- Ờ thì tớ cũng thấy vậy – Slightly thừa nhận.

- Nhưng nếu để ở đây thì cô sẽ chết mất – Tootles nói.

- Đúng vậy cô ấy sẽ chết mất, nhưng biết làm thế nào bây giờ.

- Có cách rồi – Peter kêu lên – mình xây một cái lều quanh người cô ấy.

Cả bọn sướng quá.

- Nhanh lên nào – Peter ra lệnh – Mang cho tớ những thứ các cậu thấy được nhất.

Dỡ đồ trong nhà chúng mình ra và nhanh chân lên tí.

Ngay tức thì cả bọn náo nhiệt hẳn lên, bận rộn như các bác thợ may trước ngày cưới của một người quan trọng vậy.

Đứa thì lo dựng giường, đứa thì lo kiếm củi đốt.

Trong khi chúng đang tíu tít thì ai đến thế nhỉ?

John và Michael!

Chúng vừa đặt chân xuống đất là đã nhắm nghiền mắt ngủ ngay, mở mắt ra, bước một bước rồi lại ngủ tiếp.

- John này, John - Michael gọi - dậy đi.

Mẹ Nana đâu rồi, John đâu rồi?

Và John vừa dụi mắt vừa lẩm bẩm:

- Phải rồi, chúng mình đã bay mà.

Phải nói rằng chúng nhẹ cả người khi nhìn thấy Peter.

- Chào Peter.

- Chào – Peter tử tế đáp, mặc dù chú đã quên hẳn cả hai đứa.

Chú đang bận đo độ dài của Wendy bằng chân để tính toán kích cỡ chiếc lều.

Tất nhiên là chú có ý định để ra một khoảng không vừa đủ để đặt bàn và ghế.

John và Michael không rời mắt khỏi chú.

- Wendy ngủ à? – Chúng hỏi.

- Ừ.

- John - Michael đề nghị - hay chúng mình đánh thức chị ấy dậy để chị ấy nấu cơm cho chúng mình ăn.

Nhưng nó vừa mở mồm thì nhiều đứa đã khiêng cành cây trở về để làm lều.

- Nhìn chúng kìa! – Michael kêu lên.

- Curly – Peter trịch thượng nói – trông chừng để mấy đứa này cũng phải tham gia vào việc xây lều.

- Thưa sếp, vâng.

- Xây lều à? – John ngạc nhiên hỏi.

- Để cho chim wendy – Curly giải thích.

- Cho Wendy à? – John kinh ngạc hỏi – Wendy chỉ là một cô bé con thôi mà.

- Chính vì vậy mà chúng ta phải phục vụ cô ấy – Curly chỉnh đốn.

- Cái gì?

Các cậu là người phục vụ của Wendy à?

- Ừ - Peter bảo - các cậu cũng thế.

Nào, vào việc đi.

Hai anh em quá sức ngạc nhiên, bị bọn trẻ lôi đi chặt cây, cưa cây, kéo cây.

- Trước hết làm ghế và lò sưởi đã – Peter ra lệnh – sau đó ta sẽ xây lều xung quanh.

- Đúng đấy - Slightly có ý kiến - tớ nhớ ra rồi.

Xây nhà là phải xây như thế.

Peter còn nghĩ ra đủ thứ, chú ra lệnh:

- Slightly, đi tìm bác sĩ đi.

- Tuân lệnh, thưa thủ lĩnh.

Và nó chuồn đi, vừa đi vừa gãi đầu.

Nó biết là phải tuân lệnh Peter và một lúc sau nó về, vẻ mặt trịnh trọng, đội mũ ống cao của John trên đầu.

- Cám ơn, thưa ông, ông là bác sĩ ạ? – Peter tiến lại gần và hỏi.

Có một điểm khiến Peter khác hẳn bọn con trai khác trong những tình huống tương tự, đó là bọn khác biết ngay đây chỉ là giả vờ còn Peter chẳng thấy có gì khác biệt giữa thật và giả cả.

Điều này khiến bọn trẻ đôi khi cũng hoang mang, chẳng hạn khi chúng phải giả vờ là đã ăn tối, nếu chúng dừng không giả vờ nữa, Peter sẽ đánh vào tay chúng.

- Vâng, ông bạn thân mến, tôi là bác sĩ – Slightly lo lắng nói.

Tay nó vẫn còn đau.

- Xin bác sĩ giúp cho, có một quý bà đang rất ốm ở nhà chúng tôi.

Wendy nằm dưới chân chúng nhưng Slightly giả vờ như không nhìn thấy.

- Chậc, chậc, bà ta nằm đâu rồi ạ?

- Trong chỗ rừng thưa kia.

- Tôi sẽ cho đặt một ống thủy tinh vào mồm bà ta – Slightly cho biết.

Và nó giả vờ làm như thật trong khi Peter chờ đợi.

Một khoảnh khắc hồi hộp lúc bác sĩ rút cái ống ra.

- Tình hình thế nào, thưa bác sĩ? – Peter hỏi.

- Chậc, chậc, bà ta khỏi rồi.

- Tốt quá – Peter kêu lên.

- Tối tôi sẽ lại thăm bệnh nhân một lần nữa – Slightly căn dặn – Ông cho bà ta uống nước thịt hầm bỏ vào trong một cái cốc nhé.

Sau khi giả mũ cho John, Slightly thở hắt ra một hơi dài giống như mỗi lần nó may mắn thoát được hiểm nguy nào đó.

Trong lúc đó, tiếng rìu chặt cây vang khắp khu rừng, bao nhiêu gỗ cần thiết để xây một căn nhà tiện nghi cho Wendy dã được chất dưới chân cô.

- Giá chúng mình biết được Wendy thích loại nhà như thế nào nhỉ?

- Một đứa kêu lên.

- Peter, cô ấy cựa quậy trong khi đang ngủ kìa.

- Cô ấy mở miệng rồi - một đứa khác kính cẩn cúi xuống cô bé - Ôi, nàng mới xinh đẹp làm sao.

- Hay có khi cô ấy sắp hát trong giấc ngủ chăng?

- Peter bảo - Wendy, hát cho chúng tớ nghe cái bài về ngôi nhà cậu thích đi.

Tức thì, không mở mắt, Wendy ngâm nga:

Tôi muốn có ngôi nhà

nhỏ tí xíu xìu xiu

tường phủ sơn màu đỏ

Mái lợp dầy đầy rêu.

Bọn trẻ mừng húm vì may quá, các cành cây chúng chặt còn ròng ròng nhựa nâu hồng và đất rừng phủ đầy rêu xanh ánh vàng.

Trong khi tụi trẻ bắt đầu dựng lều, chúng cũng đồng thanh hát:

Chúng tôi đã xây tường xây mái

Chúng tôi đã xây cửa xong rồi

Mẹ Wendy, mẹ Wendy hỡi,

Mẹ còn muốn xây nữa hay thôi.

Tiếp theo là Wendy hát một bài hát tham lam:

Xin hãy làm thêm,

Thật nhiều cửa sổ

hoa hồng thắm đỏ

treo đầy trên cao

bao nhiêu em bé

ra ban công chào

Chỉ cần đấm vài quả vào đúng chỗ, thế là đã trổ thêm được bao nhiêu là cửa sổ.

Chúng lại còn treo những tấm lá vàng to, thế là thành ri đô, nhưng hoa hồng thì hơi bị khó.

- Tìm hoa hồng đi – Peter cương quyết phán.

Chúng nhanh chóng giả vờ trang trí vách tường bằng hoa hồng.

- Còn các em bé thì sao bây giờ?

Để tránh việc Peter có thể yêu cầu đi tìm các em bé, bọn trẻ vội vàng hát:

Nhà đầy hoa hồng đỏ,

Bé hát sau cánh cửa

Chẳng bé lắm nữa đâu

Vì sinh ra đã lâu

Peter có vẻ khoái cái ý mới này và tuyên bố mình là bố của lũ trẻ "em bé" đó.

Lều rất được và chắc chắn là Wendy sẽ cảm thấy thoải mái khi ở trong đó, tuy rằng bây giờ bọn trẻ không nhìn thấy cô nữa.

Peter đi kiểm tra bốn phía lều, chỉ ra những chỗ cần hoàn thiện.

Chẳng có gì thoát khỏi cặp mắt cú vọ của chú.

Đúng lúc công việc dường như đã xong, bỗng chú lại bảo:

- Này, chưa có búa gõ cổng nhé.

Cả bọn cảm thấy ngượng, nhưng Tootles tặng luôn cái đế giày của nó, dùng làm vật gõ cổng rất tốt.

- Bây giờ chắc xong - bọn trẻ tự nhủ.

- Làm gì mà dễ thế!

- Không có ống khói à?

- Peter phán - Phải có ống khói chứ.

- Không thể không có ống khói được – John nói với vẻ quan trọng.

Peter nảy ra sáng kiến ngay.

Chú lấy cái mũ ống của John, phá thủng đáy mũ và đặt luôn mũ lên nóc nhà.

Cái lều tỏ ra rất hài lòng vì có một cái ống khói tầm cỡ đến thế nên nó ngỏ lời cám ơn bằng cách xì khói qua đáy mũ thủng.

- Lần này thì không quên gì nữa.

Chỉ còn mỗi việc gõ cửa vào mà thôi.

- Thái độ cho nó đàng hoàng tử tế nhé - Peter cảnh cáo - lần đầu gặp mặt là quan trọng lắm đấy.

May mà không có ai hỏi chú lần đầu gặp mặt nghĩa là sao vì cả bọn đều muốn tỏ ra đàng hoàng.

Peter lịch sự gõ cửa, xung quanh chú, khu rừng im lặng như tờ.

Chỉ nghe tiếng Tinker Bell đỗ trên cành cao đang cố tình cười nhạo thành tiếng.

"Ai sẽ mở cửa nhỉ?

Bọn trẻ tự hỏi.

Nếu là một quý bà, bà ta nom sẽ ra sao đây ?"

Cửa mở và một quý bà bước ra.

Đó là Wendy.

Bọn trẻ đều bỏ mũ.

Wendy tỏ ra ngạc nhiên và vẻ mặt của cô thật thích hợp với điều bọn trẻ mong đợi.

- Tôi đang ở đâu thế này ? – Cô hỏi.

Dĩ nhiên, Slightly phải là đứa đầu tiên mở mồm :

- Thưa quý bà, chúng tôi đã xây ngôi nhà này cho quý bà.

- Xin bà hãy cho biết bà có hài lòng không – Nibs thốt lên.

- Ngôi nhà quả là tuyệt đẹp, rất xinh – Wendy cho biết.

Cô nói đúng cái điều mà bọn con trai muốn được nghe.

- Và chúng tôi là con của bà – hai đứa sinh đôi kêu lên.

Cả bọn bèn quỳ xuống giơ tay lên trời, cùng thốt lên :

- Thưa bà Wendy, xin hãy nhận làm mẹ chúng tôi.

- Các anh nghĩ thế à ?

- Wendy khoái chí hỏi lại - Nếu được như thế thì tuyệt quá nhưng các anh thấy đấy, tôi chỉ mới là một cô bé thôi, tôi chưa có kinh nghiệm.

- Không sao – Peter nói cứ như thể cậu ấy là duy nhất trong cả đám biết rõ vấn đề trong khi chính cậu mới là không biết gì – Chúng tôi chỉ muốn có một người dễ thương và yêu quý chúng tôi thôi.

- Ồ, đúng tôi là người như thế đấy.

- Đúng thế, chúng tôi cũng thấy ngay mà.

- Rất tốt, thế thì tôi sẽ cố gắng – Wendy đáp – vào nhà ngay, bọn trẻ hư đốn kia.

Ta biết ngay là thế nào các người cũng lại để chân ngấm nước rồi.

Trước khi đi ngủ, ta chỉ còn đủ thời gian để kể nốt truyện Lọ Lem thôi.

Cả bọn tuân lời Wendy.

Làm sao mà lại đủ chỗ cho ngần ấy đứa thì tôi không biết, nhưng ở cái xứ sở Neverland này, người ta có thể co người lại đến thành bé tí.

Thế là bắt đầu buổi tối đầu tiên trong chuỗi ngày chúng sống cùng Wendy.

Sau đó, Wendy đi dém chăn cẩn thận cho cả bọn trên chiếc giường lớn trong ngôi nhà dưới đất, nhưng Wendy thì đêm đó ngủ ở lều và Peter đứng gác bên ngoài, kiếm cầm tay vì người ta nghe có tiếng bọn cướp biển nhậu nhẹt và tiếng chó sói lượn quanh.

Trong bóng đêm, chiếc lều trông có vẻ an toàn và tiện nghi, với ống khói phun phì phì và Peter làm lính gác.

Nhưng chỉ một lúc sau, Peter lăn quay ra ngủ và một vài cô tiên, sau khi đánh chén buổi tối trở về, chân lảo đảo đã phải bước qua người chú để về nhà.

Đứa nào khác trong bọn trẻ mà dám nằm cản đường tiên chắc sẽ gặp rắc rối to nhưng vì là Peter nên chú chỉ ăn một cái véo mũi khi các cô bước qua mà thôi.

Chương 7

NGÔI NHÀ DƯỚI LÒNG ĐẤT

Sáng hôm sau, trước tiên là Peter đo người Wendy, John và Michael để chọn cho chúng một cây rỗng ruột.

Các bạn có còn nhớ là Hook đã chế giễu bọn trẻ con vì đã phải trổ riêng mỗi đứa một lối vào một căn phòng chung duy nhất.

Hắn thật kém hiểu biết!

Vì phải vừa khớp với từng lòng cây mới có thể trèo lên trèo xuống được.

Nếu không thì cực khó.

Mà kích cỡ của bọn con trai thì làm gì có đứa nào giống nhau.

Sau khi đã tìm được một thân cây rỗng ruột rồi, chỉ cần nín thở rồi tụt xuống là muốn nhanh muốn chậm gì đều được cả, còn khi trèo lên thì phải thở ra rồi lại hít vào mà nhích lên dần dần.

Tất nhiên, sau khi đã nắm được kỹ thuật này rồi thì bạn có thể thực hành mà chẳng cần nghĩ ngợi và leo lên leo xuống nhẹ nhàng như không.

Nhưng phải vừa với lòng cây và vì thế nên Peter phải đo người cẩn thận như thợ may đo quần áo vậy.

Chỉ khác mỗi tội là quần áo thì phải vừa với người bạn trong khi ở đây, người bạn lại phải thích nghi cho vừa với thân cây.

Nói chung thì việc thích nghi này không khó lắm.

Chỉ cần tăng hoặc giảm độ dày của quần áo của mình là xong.

Nhưng nếu thân hình bạn lại có những chỗ lồi ra thụt vào vô lý, hoặc cây bị cong queo thì thôi rồi, Peter sẽ bắt bạn chịu những sửa chữa cần thiết.

Rồi sau khi sửa chữa đã xong, phải chịu khó mà giữ cho được những chỗ sửa ấy.

Wendy vui mừng khám phá ra rằng điều này cho phép cả một gia đình giữ mình thon nhỏ như thế nào.

Wendy và Michael vừa với thân cây của chúng ngay lần thử đầu tiên, John phải sửa người một chút.

Sau vài ngày luyện tập, chúng đã lên xuống thân cây nhanh nhẹn như sóc.

Và chúng yêu quý ngôi nhà dưới lòng đất vô cùng !

Nhất là Wendy.

Nhà này gồm có một phòng lớn giống như mọi ngôi nhà được thiết kế đúng đắn, với nền đất nơi ta có thể đào lên nếu ta muốn đi câu.

Từ đất lại mọc lên nhiều cây nấm to màu mè dễ thương dùng làm ghế ngồi.

Có một cái cây đang cố mọc lên giữa phòng nhưng sáng nào bọn trẻ cũng cưa nó sát đất.

Đến giờ uống trà chiều, nó đã lại cao chừng sáu mươi xăng ti mét và bọn trẻ đặt lên đó một tấm cửa để thay mặt bàn.

Sau khi uống trà xong, chúng lại cưa tiếp để có chỗ chơi.

Quanh phòng chỗ nào mà bạn muốn đốt lửa đều có một cái cửa lò sưởi to đùng và trước cửa lò sưởi Wendy treo các sợi dây leo rừng làm dây phơi quần áo.

Ban ngày giường được gập lên tường và đến 6h30 lại hạ xuống, khi đó nó chiếm đến một nửa gian phòng, và tất cả bọn con trai trừ Michael đều ngủ trên giường, lèn sát vào nhau như lèn cá hộp.

Quy định rất chặt chẽ : đó là không ai được trở mình trước khi có đứa đưa ra hiệu lệnh và tất cả phải trở mình cùng một lúc.

Michael cũng thích ngủ trên giường, nhưng Wendy muốn có một đứa con để chăm sóc và vì Michael bé nhất nên phải sang chỗ Wendy.

Các bạn biết là các bà rách việc như thế nào rồi, và thế là Michael phải ngủ treo trong một cái nôi.

Nơi ở thật hoang sơ và giống với hang của một gia đình gấu con sống dưới lòng đất.

Trên tường còn có một cái ổ chẳng to hơn cái lồng chim mấy tí, đó chính là chỗ riêng của Tinker Bell.

Nơi đó tách khỏi sinh hoạt chung của cả nhà nhờ một cái ri đô bé tí xíu.

Tinker Bell tính hay thẹn nên bao giờ cũng kéo ri đô che phòng mỗi khi thay quần áo.

Chẳng một phụ nữ nào, dù có lớn đến mấy, lại có được một phòng trang điểm kèm phòng ngủ bài trí tinh tế đến như vậy.

Chỗ ngủ theo cách gọi của Tinker Bell, dựa theo đúng kiểu nữ hoàng Mab với các chân giường quay ra phía ngoài, và vải phủ giường thay đổi theo màu hoa quả trong mùa.

Tấm gương chạm trổ có xuất xứ từ truyện Chú mèo đi hia mà trong giới tiên buôn đồ cổ, người ta nói chỉ còn có ba mẫu nguyên vẹn.

Bàn chải đầu bằng đá cẩm thạch có vân với một chiếc chậu rửa lật xuống được.

Tủ theo kiểu Hoàng tử Đáng yêu thứ VI, thảm rải chân giường và thảm rải sàn phòng làm theo giai đoạn đầu (giai đoạn đẹp nhất) của truyện Margery và Robin.

Tinker Bell đã chọn một ngọn đèn trần kiểu Tiddlywinks vì nó quá đẹp nhưng bản thân cô ta đã tự soi sáng được cho vương quốc của mình rồi.

Tinker Bell coi khinh tất cả những phần còn lại của căn nhà, điều đó là khó tránh khỏi, và phòng riêng của cô, dù có đẹp đến mấy, vẫn mang vẻ gì đó quá gọn gàng cẩn thận và thường xuyên có nét kiêu kỳ.

Tất cả mọi điều chắc hẳn đều làm Wendy thích thú vì các cậu trai hiếu động khiến cô bận rộn vô cùng.

Hàng tuần lễ liền cô không ra ngoài được, trừ phi vào buổi tối, và kể cả lúc đó, vẫn phải cầm theo một chiếc bít tất để mạng lại.

Còn công việc bếp núc, thì xin thưa với các bạn là chiếm rất nhiều thời gian của cô bé.

Thực đơn căn bản gồm có quả cây bánh mì, củ từ, dừa, thịt lợn kho dừa, rau leo, chuối, đồ uống có từng bình đầy.

Nhưng ta không bao giờ bsdc là ta đang ăn thật hay ăn giả vờ, tất cả còn phụ thuộc vào tính khí của Peter.

Chú có thể ăn, ăn thật sự nếu như đó là một phần của trò chơi, nhưng chú lại không thể nào đánh chén thực sự, vốn là điều khiến bao trẻ em ưa thích, để rồi sau đó sẽ được kể về các món đã ăn.

"Giả vờ như..."

đối với chú thật đến mức mà trong một bữa ăn giả vờ, ta có thể thấy chú béo hẳn lên.

Thật là khó khăn nhưng dầu sao vẫn phải tuân theo các trò hoang tưởng của Peter thôi.

Tuy nhiên, nếu bạn chứng minh được rằng bạn đang gầy đi so với thân cây của bạn, chú rốt cuộc cũng sẽ để bạn ăn một bữa thực sự.

Wendy chỉ thích giở đồ khâu sau khi tất cả bọn trẻ đã đi nằm.

Lúc bấy giờ thì theo cô nói, cô mới có thời gian để thở ; và cô tranh thủ khâu cho bọn trẻ quần áo mới, vá lại đầu gối quần vì chỗ đó mòn nhanh ghê gớm.

Mỗi khi cô ngồi trước một giỏ đầy bít tất thủng gót, cô lại giơ tay lên trời than vãn : "Trời ơi, đôi khi tôi cứ tự bảo thà làm gái già còn hơn!"

Và mặt cô rạng lên một nụ cười âu yếm.

Các bạn còn nhớ con sói con mà cô nhận làm con không?

Con này sau khi biết mẹ Wendy đã đi ra đảo, bèn tìm đi theo và cả hai ôm chầm lấy nhau lúc gặp lại.

Để rồi sau đó sói con ta không rời mẹ nữa.

Ngày lại ngày qua đi, liệu Wendy có nhớ gì đến ba mẹ không?

Câu hỏi thật khó trả lời vì không ai biết thời gian trên đảo Neverland này trôi qua như thế nào, nó được tính bằng các lần mặt trời mặt trăng lặn mọc mà nơi đây chúng lại lặn mọc nhanh hơn trên lục địa rất nhiều.

Tôi e rằng Wendy chẳng nghĩ mấy đến ba mẹ ; cô tin rằng ba mẹ vẫn luôn mở cửa sổ chờ chô trở về, ý nghĩ này khiến đầu óc cô hoàn toàn thảnh thơi.

Điều khiến đôi khi cô hơi lo đó là John chỉ còn giữ một ký ức rất mờ nhạt về ba mẹ còn Michael thì sẵn lòng coi cô như mẹ thật của mình.

Tính đãng trí cũng như sự nhầm lẫn này khiến Wendy hơi sợ và do cô luôn quan tâm đến việc hoàn thành trách nhiệm, cô cố gắng giữ cho trong đầu cả hai đứa còn nguyên khái niệm về quá khứ bằng cách bắt chúng làm các bài tập viết như ở trường.

Bọn con trai còn lại thấy cái trò đó thật hay và xin mãi để Wendy cũng cho chúng tham gia và tay cầm bảng phấn, chúng ngồi quanh bàn, viết và suy nghĩ về các câu hỏi mằd đã ghi trên một tấm bảng khác rồi chuyển cho bọn chúng.

Các câu hỏi này hết sức tầm thường "Mắt mẹ đã có màu gì ?

Ai cao hơn, mẹ hay bố ?

Tóc mẹ màu vàng hay màu nâu ?

Hãy trả lời cả ba câu hỏi này nếu có thể."

"Hãy viết một bài luận ít nhất bốn mươi từ để kể về kỳ nghỉ hè gần đây nhất hoặc so sánh tính cách của ba và mẹ.

Chỉ làm một trong hai đề trên."

Hoặc nữa "1.

Hãy miêu tả tiếng cười của mẹ.

2.

Hãy miêu tả tiếng cười của ba.

3.

Hãy miêu tả chiếc váy dạ hội của mẹ.

4.

Hãy miêu tả cái chuồng chó và chủ nhân của nó."

Các câu hỏi này quả là rất đơn giản và nếu như bạn không trả lời được, cô giáo sẽ yêu cầu bạn đánh dấu chữ thập.

Thật đáng buồn khi thấy John có biết bao nhiêu là chữ thập.

Còn tất nhiên, người trả lời hết tất cả các câu hỏi là Slightly, và hơn ai hết, nó rất mong được điểm tốt nhất, nhưng các câu trả lời của nó ngớ ngẩn đến nỗi nó lúc nào cũng đứng thứ bét.

Ôi, tội nghiệp Slightly !

Peter không tham gia và các trò chơi này.

Trước hết, chú rất coi thường các bà mẹ, trừ mỗi Wendy và sau đó là vì chú là thằng bé duy nhất trên đảo không biết đọc biết viết.

Chẳng biết một chữ nào cả.

Chú đứng trên hẳn những trò vớ vẩn đó.

Nhân đây, phải nói rõ là tất cả các câu hỏi của Wendy đều để ở dạng quá khứ tiếp diễn.

Màu mắt của mẹ đã là màu gì, và vân vân.

Các bạn thấy đấy, Wendy cũng đãng trí lắm.

Tất nhiên như chúng ta sẽ thấy, ngày nào chúng cũng có các cuộc phiêu lưu mới, nhưng vào thời điểm đó, Peter, với sự giúp đỡ của Wendy, phát minh ra một trò chơi mới và say mê đến tận ngày mà chú đột nhiên phát chán thì thôi.

Điều này các bạn cũng biết là chẳng chóng thì chầy sẽ đến.

Trò chơi này là giả vờ chẳng có cuộc phiêu lưu nào cả, là sống như John và Michael vẫn sống trước đây: ngồi trên ghế, tung bóng lên trần, xô đẩy nhau, đi dạo chơi và quay về mà chẳng giết ai cả, kể cả giết một con gấu xám cũng không.

A, được nhìn thấy Peter ngồi không làm gì mới lạ làm sao: chú chẳng thể nào không tỏ ra trịnh trọng vì ý tưởng ngồi không không làm gì đối với chú mới thật là hài hước.

Chú khoe khoang là đi dạo nhiều cho khỏe.

Trong nhiều kỳ mặt trời mọc liền, chơi như thế đối với chú quả là khác đời hết mức, và John và Michael cũng phải giả vờ thích thú nếu không có lẽ chú đã cho hai đứa một bài.

Đôi khi, chú đi một mình và khi chú về thì không thể nào biết được là chú có gặp phải chuyện gì hay không.

Có lẽ chú đã quên phứt nên cũng chẳng kể gì và nếu bạn cũng ra khỏi nhà để đi dạo, bạn sẽ vấp phải một cái xác trên đường.

Mặt khác, chú có thể kể rất chi tiết nhưng tìm mãi cũng chẳng thấy cái xác nào cả.

Có khi chú về nhà mà đầu quấn băng, và Wendy lại dỗ dành chú và cho chú tắm nước ấm trong khi chú kể ra những chuyện chán ngắt.

Nhưng Wendy bao giờ cũng biết sự thực ra sao.

Một vài chuyện là có thật và Wendy tin chắc vì chính cô cũng tham gia, một vài chuyện chỉ thật có một phần vì bọn con trai cũng có tham gia và khoa trương lên là trăm phần trăm chính xác.

Để kể lại những chuyện đó có khi phải mất cả một quyển sách dày bằng quyển từ điển Anh Việt kèm Việt Anh.

Cách tốt nhất mà chúng tôi có thể đề nghị với quý bạn là sống thử một giờ trên đảo.

Cái khó là chọn giờ nào.

Có nên kể lại chuyện đánh nhau với người Da đỏ trong thung lũng của Slightly?

Đó là một câu chuyện đẫm máu, cũng có cái hay là cho thấy tính khí kỳ quặc của Peter, đến độ giữa trận đánh nhau chú lại nhảy sang phe kia.

Trong lúc đứng dưới khe núi, còn chưa biết phe nào sắp thắng, bỗng dưng chú phán:

- Hôm nay, tớ làm Da đỏ, cậu làm gì, Tootles?

- Tớ làm Da đỏ.

- Còn Nibs?

- Tớ cũng Da đỏ.

- Còn hai đứa sinh đôi?

Và cứ thế lần lượt.

Cuối cùng, cả lũ đều tuyên bố mình làm Da đỏ.

Trận đấu lẽ ra có thể đã kết thúc rồi nếu như phe Da đỏ, mê lên vì cái kiểu đổi cờ của Peter, chuyển sang xưng là bọn trẻ bị lạc, và trận đánh lại tiếp tục hăng hơn bao giờ hết.

Kết quả phi thường của chiến cuộc này là...

À như chúng tôi còn chưa rõ có kể chi tiết cho các bạn nghe hay không.

Có lẽ hay hơn nếu chúng ta kể về vụ tấn công ban đêm của bọn Da đỏ vào ngôi nhà dưới lòng đất, và thế là nhiều tên Da đỏ bị kẹt trong các thân cây rỗng khiến người ta phải lôi chúng ra như rút nút chai.

Trừ phi là để chúng tôi kể chuyện Peter đã cứu Hoa Huệ Vằn trong Đầm Tiên cá như thế nào và từ đó Hoa Huệ Vằn đã trở thành đồng minh với phe trẻ lạc.

Chúng tôi cũng có thể nói lại chuyện chiếc bánh do bọn cướp biển chuẩn bị để giết phe trẻ lạc.

Chúng đã đặt bánh ở một số nơi được chọn lựa kỹ càng nhưng bao giờ Wendy cũng xuất hiện đúng lúc để giằng lấy bánh từ trong tay bọn trẻ.

Dần dần, bánh mất ngon, trở nên rắn như đá và được sử dụng như đạn.

Một hôm, Hook bị trúng phải đạn bánh trong đêm mạnh đến nỗi hắn ngã xoài ra.

Còn có chuyện các loài chim bạn của Peter và đặc biệt là con chim Neverland làm tổ trong một cái cây cao chót vót, từ đó nhìn thấy toàn bộ đầm nước ven biển.

Một hôm, tổ chim rơi xuống mà nó vẫn còn đang ấp trứng, và thế là Peter ra lệnh để nó được yên.

Câu chuyện thật cảm động và kết cục làm nổi bật lòng biết ơn của chim nhưng nếu chúng tôi kề cà kể ra, chúng tôi cũng sẽ phải kể chuyện về đầm nước mặn để rồi rốt cuộc là sẽ kể hai chứ không phải một chuyện.

Chuyện ngắn hơn mà cũng chẳng kém phần ly kỳ đó là cố gắng của Tinker Bell cộng với sự giúp đỡ của một vài tiên đường phố, định tống về đại lục cô nàng Wendy lúc đang ngủ trên một chiếc lá to nổi trên mặt nước.

May là chiếc lá chìm xuống, Wendy tỉnh dậy cứ tưởng đó là giờ đi tắm và bơi về đảo.

Còn chuyện Peter thách thức bọn sư tử bằng cách vạch một vòng tròn quanh chỗ chú đứng và thách bọn hoang thú kia dám bước vào.

Peter đợi hàng tiếng đồng hồ cùng với bọn con trai còn Wendy hồi hộp ôm cây ngồi xem, chẳng con sư tử nào dám vượt qua chướng ngại ấy.

Biết chọn chuyện nào để kể cho bạn bây giờ?

Tốt nhất cứ để cho may rủi tự quyết, và thế là chuyện về đầm nước mặn đã thắng.

Quyết xong rồi có lẽ bạn sẽ tự nhủ biết thế nghe chuyện về thung lũng, hay chuyện về cái bánh hoặc là về cái lá nổi lềnh phềnh.

Dĩ nhiên là tôi có thể cho rút thăm lại để chọn ra chuyện hay nhất trong ba câu chuyện đó nhưng có lẽ đúng đắn hơn hết là cứ kể chuyện về đầm nước mặn.

Chương 8

ĐẦM TIÊN CÁ

Nếu may mắn thì khi nhắm mắt, đôi khi các bạn có thể thấy một hình thù mờ ảo màu nhạt và hài hòa hiện ra lập lờ trong bóng tối; nếu các bạn lại nhắm nghiền mắt lại, các đường viền của hình này sẽ rõ nét hơn và màu sắc trở nên chói gắt đến nỗi nếu ép thêm một chút nữa lên mắt sẽ làm cho sắc màu bốc cháy; và đúng lúc mà chúng bắt lửa thì bạn sẽ nhìn thấy đầm nước.

Khi còn ở trên lục địa, bạn chỉ có thể tiến sát lại đầm lầy vào đúng cái phút giây thoảng qua này thôi.

Và thêm một tẹo tèo teo là bạn đã có thể nhìn sóng đập vào ghềnh đá và nghe tiên cá hát.

Mùa hè bọn trẻ bì bõm bơi lội suốt cả ngày trong đầm, chơi các trò của tiên cá dưới nước.

Chớ nên tin rằng tiên cá thân với bọn trẻ, ngược lại đằng khác.

Wendy tiếc nhất là từ khi cô lên đảo, cô chưa bao giờ được nói một lời tử tế với đám tiên cá.

Khi khẽ khàng cẩn thận tiến bên bờ đầm, cô thấy hàng chục cô tiên cá, nhất là trên mỏm đá ngầm Đánh đắm, nơi cả bọn nằm ườn phơi nắng hoặc uể oải chải mớ tóc với vẻ ơ hờ đến lộn ruột.

Wendy cũng có thể đến gần tiên cá bằng cách bơi rón rén, nếu ta có thể dùng từ như vậy, nhưng hễ tiên cá thoáng thấy Wendy là nhảy ùm xuống nước và còn cố tình vẫy đuôi cho bắn hết nước lên người cô bé.

Tiên cá đối xử với bọn con trai cũng chẳng hơn gì.

Tất nhiên là trừ Peter.

Peter có thể tán gẫu hàng giờ với tiên cá trên mỏm Đánh đắm và ngồi lên đuôi cô nào tỏ ra láo xược.

Chú lại còn cho Wendy một cái lược của tiên cá nữa cơ đấy.

Giờ thích hợp nhất để xem tiên cá là giờ trăng lên khi tiên cá hú lên những tiếng kêu than kỳ quái.

Đầm nước mặn lúc đó trở nên nguy hiểm đối với người trần mắt thịt chúng ta và cho tới tận buổi tối mà tôi sắp kể ra đây, Wendy chưa bao giờ nhìn thấy đầm lầy dưới ánh trăng "không phải vì sợ, Peter chắc sẽ sẵn lòng tháp tùng cô" mà là vì cô cho rằng việc lên giường lúc 7h là tối ư quan trọng đối với lũ trẻ.

Tuy nhiên, cô hay ra đầm nước mặn khi mặt trời lấp lánh sau cơn mưa và đám tiên cá đông vô biên trên đầm để chơi với các quả bong bóng vô số sắc màu hái được từ cầu vồng.

Bọn họ dùng đuôi tung bóng lên cao và cố giữ bóng lại trên cầu vồng cho tới khi các quả bong bóng vỡ tan.

Hai đầu cầu vồng được tính là đầu gôn và chỉ có các nữ thủ thành là được dùng tay bắt bong bóng.

Đôi khi có hàng trăm tiên cá cùng chơi trong đầm và cảnh tượng đó mê hoặc lòng người làm sao.

Nhưng hễ khi nào tụi trẻ định xuống chơi cùng là tiên cá biến ngay lập tức.

Tuy nhiên chúng tôi có bằng chứng chắc chắn là các cô ấy vẫn bí mật quan sát bọn phá đám và học ngay các ý tưởng mới.

John vừa nghĩ ra một cách đập bong bóng bằng đầu và thế là các cô tiên cá thủ môn cũng chẳng ngại ngần gì mà không bắt chước.

Đó cũng là dấu ấn duy nhất John còn để lại xứ sở Neverland này.

Xem bọn trẻ nghỉ ngơi trên mỏm đá chừng nửa tiếng đồng hồ sau khi ăn trưa cũng thật thú vị.

Wendy khăng khăng bắt phải ngủ thực sự trong khi bữa ăn chỉ là giả tưởng.

Thế là cả bọn nằm trên mỏm đá thân hình bóng nhẫy dưới ánh mặt trời trong khi Wendy trông nom bọn chúng với vẻ thật nghiêm túc.

Chuyện xảy ra vào một ngày đẹp trời lúc cả bọn đang nghỉ ngơi trên mỏm Đánh đắm.

Mỏm đá chẳng lớn gì hơn chiếc giường to nhà chúng nhưng chúng đã quá quen với việc chỉ được nằm một chỗ bé xíu rồi.

Cả bọn gà gật, hoặc ít ra là nằm nhắm mắt và thỉnh thoảng lại cấu chí nhau mỗi khi chúng biết là Wendy không nhìn chúng.

Wendy đang rất bận khâu vá.

Trong lúc Wendy đang khâu, bỗng trên đầm có sự thay đổi.

Có tiếng gió nhẹ lướt qua đầm, mặt trời mờ đi và bóng tối lan dần trên mặt nước, nước lạnh đi trông thấy.

Wendy không còn nhìn rõ để xâu kim và khi cô ngẩng đầu lên, đầm nước lúc nãy còn tươi vui biết mấy đã trở nên hầm hè đáng sợ.

Không phải là trời đã tối,Wendy biết thế, nhưng có cái gì đó tối tăm như trời đêm.

Thậm chí còn tệ hơn thế.

Cái gì đáng sợ đó chưa đến nhưng một cơn rùng mình lan tỏa khắp mặt nước báo hiệu rằng nó đang đến.

Cái gì thế nhỉ?

Wendy nhớ lại tất cả những chuyện cô đã được nghe về mỏm Đánh đắm, có tên như vậy là vì nhiều thuyền trưởng độc ác đã bỏ các thủy thủ của mình trên mỏm, mặc cho họ chết đuối.

Họ chết đuối là phải thôi vì khi thủy triều lên, mỏm đá này bị chìm dưới nước.

Tất nhiên là Wendy có thể đánh thức bọn trẻ dậy không phải là vì nỗi hiểm nguy gần kề, mà bởi vì ngủ trên đá lạnh không tốt cho sức khỏe.

Tuy nhiên, cô vẫn còn là một bà mẹ trẻ không mấy cẩn thận.

Cô chỉ nghĩ đơn giản tới nguyên tắc bất di bất dịch là phải ngủ đủ nửa tiếng đồng hồ sau bữa cơm trưa.

Dù rất sợ và muốn được nghe tiếng bọn con trai đến mấy, cô vẫn cố không đánh thức chúng dậy.

Và ngay cả khi cô nghe tiếng vây cá vỗ nước rất khẽ, cô cũng không nhúc nhích, quyết tâm để bọn con trai ngủ cho đẫy giấc.

Quả là một cô bé can đảm phải không các bạn?

May cho bọn con trai là một người trong bọn chúng có khả năng cảm nhận hiểm nguy cả khi đang ngủ.

Peter bật dậy nhanh như cắt và hú lên để báo động cho cả bọn.

Rồi chú đứng im, bắc tay lên tai nghe ngóng.

- Cướp biển!

Bọn trẻ túm tụm lại quanh chú.

Peter nở một nụ cười kỳ dị khiến Wendy lúc đó đang nhìn chú phải rùng mình.

Khi chú cười như vậy, không ai dám nói với chú điều gì, cả bọn chỉ còn biết sẵn sàng tuân lệnh.

Và mệnh lệnh tung ra rõ ràng, sắc bén:

- Xuống nước!

Các cẳng chân tung lên và chỉ trong chớp mắt, đầm nước trở nên hoang vắng.

Mỏm Đánh đắm đứng sừng sững cô độc giữa vùng nước tăm tối tưởng chừng như nó cũng bị bỏ rơi.

Chiếc thuyền tiến lại gần.

Đó là chiếc ca nô của bọn cướp biển với ba kẻ ngồi trên: Smee, Startkey và người thứ ba là một tù binh, chẳng phải ai khác ngoài Hoa Huệ Vằn.

Cô bị trói cả tay lẫn chân và biết rõ số phận dành cho mình.

Chúng sẽ để cho cô chết trên mỏm đá này và đối với một người mang dòng giống Da đỏ, điều này còn tệ hơn chết thiêu hay chết vì nhục hình.

Quyển sách lớn của bộ lạc đã nói rằng chẳng con đường dưới nước nào lại có thể đưa ta đến vườn sân của các bậc thánh thần.

Tuy vậy, Hoa Huệ Vằn vẫn tỏ ra kiên cường.

Cô là con gái của thủ lĩnh và phải chết như con gái thủ lĩnh, thế là đủ.

Hoa Huệ Vằn bị bắt lúc đang ngậm dao leo lên boong tàu của bọn cướp biển.

Tàu không có người gác.

Hook cho rằng tên của hắn cũng đủ khiến kẻ thù lùi xa một dặm.

Hôm nay, cái chết của Hoa Huệ Vằn sẽ làm cho niềm tin đó càng trở nên chắc chắn.

Lại thêm một lời than tiếc sẽ được gió đem đi đêm nay.

Trong bóng đêm, hai tên cướp chỉ nhìn thấy mỏm đá khi chúng chạm vào nó.

- Kìa bát chèo đi, đồ hậu đậu - Smee rít lên - Chúng mình đến mỏm đá rồi, chỉ còn việc thả cái con mọi da đỏ này lên để nó chết đuối thôi.

Khiêng người đẹp kiêu hãnh lên đảo chỉ thoáng cái là xong.

Nữ thủ lĩnh chẳng thèm kháng cự vô ích làm gì.

Gần ngay mỏm đá nhưng không để nhìn thấy, có hai cái đầu nhấp nhô sát mặt nước, đó là Peter và Wendy.

Wendy khóc vì đây là lần đầu tiên cô được chứng kiến một chuyện buồn.

Peter đã gặp nhiều chuyện nhưng chú đã quên hết.

Chú không xúc động bằng Wendy về số phận của Hoa Huệ Vằn, điều khiến chú tức giận là vì bọn kia phải những hai nam nhi để hành hạ một phụ nữ, và chú quyết sẽ cứu Hoa Huệ Vằn.

Đơn giản nhất lẽ ra là chờ cho bọn cướp biển bỏ đi, nhưng đã bao giờ Peter chọn giải pháp đơn giản nhất đâu.

Và vì chú có trăm nghìn mưu kế trong đầu, Peter bèn giả giọng Hook:

- Ê này, mấy thằng thầy tu nửa mùa trên thuyền kia!

Bắt chước mới tuyệt làm sao.

- Thuyền trưởng - cả hai tên cướp biển cùng ngạc nhiên thốt lên.

- Chắc ông ấy bơi đến đây - Startkey nói sau khi cả hai đứa nhìn quanh mặt nước.

- Chúng tôi đã mang đứa con gái Da đỏ lên mỏm đá - Startkey báo cáo.

- Cởi trói cho nó!

- Cởi trói cho nó à?

- Hai tên cướp biển ngạc nhiên kêu lên.

- Cởi đi và thả nó ra.

- Nhưng thưa thuyền trưởng...

- Tuân lệnh ngay, rõ chưa?

- Peter quát - Nếu không, ta sẽ lấy móc sắt moi ruột chúng bay.

- Lạ thật - Smee thì thầm.

- Thôi thôi, nghe lệnh thuyền trưởng thôi - Startkey sốt ruột kêu.

- Tuân lệnh, thưa thuyền trưởng - Smee báo cáo.

Và hắn cắt dây trói cho Hoa Huệ Vằn.

Ngay lập tức, Hoa Huệ Vằn lách qua chân Startkey và lao xuống nước nhanh như một con lươn.

Tất nhiên Wendy nhẹ cả người vì mánh khóe của Peter nhưng cô cũng biết rằng Peter cũng sướng và dễ để lộ bằng cách hú lên tiếng kêu chiến thắng theo kiểu của chú.

Wendy giơ tay chực bịt mồm Peter, cùng lúc đó, cô nghe thấy tiếng Hook vọng trên mặt đầm: "Này thuyền kia".

Lần này thì Peter chưa mở miệng.

Peter chắc hẳn sắp kêu vang chiến thắng nhưng chú đành nhăn mặt vì ngạc nhiên.

- Này thuyền kia!

- Vẫn giọng Hook vang lên.

Bây giờ thì Wendy đã hiểu, thuyền trưởng Hook thật đang ở trên đầm.

Quả là hắn đang bơi về phía thuyền và vì bọn tay chân soi đèn cho hắn nên hắn nhanh chóng bám được lên thuyền.

Trong ánh sáng đèn, Wendy thấy cái móc sắt ngoắc vào mạn thuyền, rồi cả gương mặt bất lương ròng ròng nước của Hook nhô lên.

Wendy sởn cả gai ốc và muốn bơi trốn đi vô cùng, nhưng Peter vẫn im lìm.

Trông chú đầy náo nức cũng như cao ngạo.

- Tớ có tuyệt không?

Hơi bị được đấy nhỉ?

- Peter thì thầm vào tai Wendy.

Wendy cũng nhất trí nhưng cô tự nhủ may là chỉ có mình cô nghe thấy Peter, nếu không thì hợm hĩnh như thế thì còn gì là danh tiếng.

Peter ra hiệu cho cô lắng tai nghe ngóng.

Hai tên cướp biển đang rất tò mò không hiểu vì sao thuyền trưởng lại mò ra thuyền.

Còn Hook ngồi tì cằm lên móc sắt, nom thật rầu rĩ.

- Thuyền trưởng, ổn chứ?

- Hai tên cướp rụt rè hỏi.

Chỉ có tiếng thở dài đáp lại.

- Ấy, ông ấy thở dài - Smee nhận xét.

- Ông ấy lại thở dài nữa kìa - Startkey thêm.

Lại nữa.

- Thưa thuyền trưởng, có chuyện gì không hay chăng?

Rốt cuộc, Hook cũng gầm gừ trả lời:

- Toi rồi, bọn trẻ con đã tìm ra được một bà mẹ rồi - hắn kể.

Dù đang sợ chết khiếp, Wendy cũng cảm thấy vô cùng tự hào.

- Ôi thật là bất hạnh - Startkey thốt lên.

- Mẹ là gì?

- Smee ngu ngốc hỏi.

Wendy bất bình đến độ thốt lên "Thế mà cũng không biết" rồi cô nghĩ rằng nếu cô phải chọn một người nào cô thích trong đám cướp biển, đó có lẽ là Smee.

Peter vội lôi tuột cô xuống nước trong khi Hook đột nhiên tĩnh trí, quát lên:

- Cái gì thế?

- Tôi chẳng nghe thấy gì cả - Startkey vừa giơ đèn lên cao vừa nói.

Đúng lúc đó bọn cướp biển nhìn thấy một thứ kỳ dị: đó chính là cái tổ chim mà tôi vừa nói tới lúc nãy, đang dập dềnh trên mặt đầm, con chim Neverland đậu trên tổ.

- Nhìn kìa - Hook kêu lên thay câu trả lời cho Smee - Mẹ là thế kia kìa.

Thật là một bài học rõ ràng!

Tổ rơi xuống nước nhưng mẹ chim có bỏ trứng bay đi đâu?

Nó vẫn bám theo tổ và trứng.

Hắn nghẹn giọng, dường như nhớ tới một thời thơ ấu vô tư, nhưng rồi nhanh chóng gạt phút giây mềm yếu sang bên và huơ huơ cái móc sắt.

Smee khâm phục nhìn con chim đang trôi qua theo dòng nước, nhưng Startkey không tin tưởng lắm bèn bảo:

- Nếu đây là một bà mẹ, có lẽ là bà ta đang quanh quẩn ở đây để giúp Peter chăng?

- Ờ, tao cũng đang sợ thế đây - hắn nhăn mặt đáp.

Tiếng Smee sôi nổi lôi hắn ra khỏi nỗi chán chường:

- Thuyền trưởng, hay bọn mình bắt cóc mẹ của bọn trẻ con để đem về làm mẹ chúng mình?

- Tuyệt vời!

- Hook kêu lên.

Và gợi ý này tức thì nảy nở trong đầu óc gian xảo của hắn:

- Chúng mình sẽ bắt bọn trẻ con đem lên tàu, vứt chúng xuống nước và Wendy sẽ trở thành mẹ chúng mình.

Wendy lại quên và kêu lên:

- Không đời nào!

Rồi cô lủi luôn xuống nước.

- Cái gì thế nhỉ?

Nhưng bọn cướp chẳng nhìn thấy gì hết và cho rằng đó là tiếng lá rung trong gió.

- Này chúng mày, nhất trí chưa?

- Hook hỏi.

- Bắt tay nào!

- Cả bọn cùng kêu.

- Móc sắt của ta đây, thề đi.

Chúng cùng thề.

Cả ba đều đứng trên mỏm đá ngầm.

Hook chợt nhớ tới Hoa Huệ Vằn.

- Con bé Da đỏ đâu rồi?

- Hắn đột ngột hỏi.

Hắn đôi khi cũng đùa và hai tên tay chân tưởng hắn đang giỡn:

- Ổn rồi thưa thuyền trưởng - Smee phấn khởi đáp - chúng tôi đã thả nó ra rồi.

- Thả ra là thế nào?

- Lúc nãy, thuyền trưởng bảo chúng tôi thả nó mà - Startkey nói rõ.

- Quái vật, chúng mày đùa đấy à?

Mặt hắn trắng bệch vì tức giận, nhưng khi thấy hai thằng đồng bọn tỏ ra rất thật thà, cơn tức giận biến thành kinh ngạc:

- Này hai đứa - giọng hắn run lên - ta chưa bao giờ ra lệnh như vậy.

- Thế thì quá kinh!

- Smee thốt lên.

Chúng nhao nhác lên, lúng túng.

Hook cao giọng nhưng giọng hắn vẫn không chắc chắn.

- Linh hồn đang lang thang đêm nay trên đầm nước, ngươi có nghe thấy ta không?

Rõ là Peter nên im lặng thì hơn nhưng chú chẳng làm vậy.

Chú nhại đúng giọng của Hook và lên tiếng trả lời:

- Thề có một nghìn thằng cướp biển chết toi, ta có nghe thấy mi!

Trong phút giây kinh hoàng đó Hook không nao núng nhưng Smee và Startkey thì run lên vì sợ.

- Ngươi là ai?

- Ta là James Hook - giọng nói đáp - thuyền trưởng tàu Jolly Roger.

- Ngươi nói dối - Hook khàn giọng.

- Phù thủy và địa ngục!!!

Ngươi dám nhắc lại xem và ta sẽ móc da ngươi ra!

Hook thử tìm cách khác:

- Ngươi mà là Hook thì ta là ai?

- Hắn ra giọng nhún nhường.

- Một con cá mòi, chỉ là một con cá mòi mà thôi.

- Một con cá mòi!

- Hook lặp lại.

Và chỉ khi đó lòng kiêu hãnh của hắn tan ra thành mây khói.

Hắn thấy bọn tay chân hắn lùi lại.

- Hóa ra suốt thời gian qua chúng mình bị một con cá mòi cầm đầu à?

Thật xấu hổ!

Tay chân của hắn đang gầm ghè với hắn nhưng Hook đang hoảng loạn nên chẳng hề để ý.

Trước những bằng chứng quá hiển nhiên như vậy, hắn cần phải tin ở chính mình trước khi nghĩ đến việc khiến người khác tin mình, và hắn cảm thấy toàn bộ cơ thể hắn như đang tan ra.

- Thân ta ơi, đừng bỏ ta - Hook lẩm bẩm.

Nhưng trong tâm hồn đen như bồ hóng của hắn cũng như của nhiều tên cướp biển tên tuổi khác, vẫn có một nét trực giác như của giống cái.

Và hắn thử trò đố.

- Hook, mi có một giọng khác không?

Peter chẳng bao giờ bỏ được tính thích được đùa, vui tươi trả lời bằng giọng thật:

- Có chứ.

- Có tên khác không?

- Có.

- Là cây à?

- Không.

- Là đá à?

- Không.

- Là súc vật à?

- Không.

- Là người lớn à?

- Không!

Có chút gì khinh miệt trong lời phủ định của Peter.

- Là con trai à?

- Đúng rồi.

- Con trai bình thường à?

- Không.

- Có phép thần à?

Wendy vô cùng ngạc nhiên khi nghe Peter trả lời.

- Đúng.

- Mi ở nước Anh à?

- Không.

- Mi ở đây à?

- Đúng.

Hook hoàn toàn mất phương hướng.

- Chúng mày đặt câu hỏi cho nó đi - hắn vừa sai vừa lau trán.

Smee suy nghĩ rồi tiếc rẻ nói:

- Tôi không có gì để hỏi.

- Nó không nghĩ ra gì để hỏi!

- Peter khoái chí la to - Chúng bay chịu thua rồi.

Vì quá tự kiêu nên chú hơi quá đà và bọn cướp cảm thấy rằng phải tranh thủ thời cơ này.

- Đúng thế!

Chúng tôi chịu - lũ cướp trả lời.

- Thế à?

Thế thì ta là Peter Pan!

Chỉ giây lát, Hook lấy lại bình tĩnh còn bọn tay chân lại trở nên trung thành.

- Chúng ta bắt được nó rồi!

Smee, nhảy xuống nước đi, Startkey, giữ lấy thuyền, bắt nó cho ta dù sống hay đã chết.

Vừa ra lệnh, Hook vừa lao xuống đầm nước.

Đồng thời giọng nói tươi vui của Peter vang lên.

- Các cậu sẵn sàng chưa?

Có tiếng "Xong rồi, được rồi" vang lên từ bốn phía đầm.

- Nào, đuổi theo bọn cướp biển!

Cuộc chiến bùng ra dữ dội trong một khoảng thời gian rất ngắn.

Người đầu tiên đổ máu là John đã rất dũng cảm leo lên thuyền đánh nhau với Startkey.

Chúng vật nhau và con dao quắm của tên cướp biển bị giằng mất.

Hắn nhảy qua mạn thuyền và John lao theo.

Chiếc thuyền trôi lềnh bềnh không có người lái.

Những cái đầu nhô lên chỗ này chỗ khác trên đầm và ta có thể thấy lóe lên một ánh lưỡi dao, nghe thấy một tiếng kêu của kẻ hấp hối hoặc tiếng gào chiến thắng.

Trong cơn hăng máu lộn xộn, có đứa còn đánh lộn cả người cùng phe.

Mũi khoan của Smee chạm vào Nibs chỗ xương sườn thứ tư nhưng Smee lại cũng bị Curly đánh.

Bơi cách xa mỏm đá, Startkey đang tấn công Slightly và hai đứa sinh đôi một cách dữ dội.

Peter đâu?

Chú đang tìm con mồi to nhất.

Bọn con trai đều là các chiến binh dũng cảm và cũng không nên trách cứ chúng nếu chúng lùi bước trước tên thủ lĩnh bọn cướp biển.

Cái móc sắt của hắn vung lên một đường chết chóc quanh người và các địch thủ đành chạy trốn như bầy cá hoảng loạn.

Nhưng có một người không sợ hắn.

Một người sẵn sàng nhảy vào vòng móc sắt đó.

Lạ là cả hai không đánh nhau dưới nước.

Hook đang leo lên mỏm đá để lấy hơi còn Peter cùng lúc cũng trèo lên ở phía đối diện.

Mỏm đá trơn trượt như xà phòng và hai kẻ thù gần như phải bò rạp chứ không phải là trèo lên.

Cả hai đều không biết rằng chúng sắp gặp nhau.

Trong khi mò tìm chỗ bám, chúng bám vào tay nhau và cùng ngạc nhiên ngẩng đầu lên: mặt chúng gần như chạm nhau.

Một số những anh hùng nổi tiếng nhất trong lịch sử đã thừa nhận rằng trước khi lao vào hành động thường họ cũng có những phút giây ngần ngại.

Peter lúc này có như thế không?

Tôi sẵn lòng cho rằng có.

Dù sao thì Peter cũng đang phải đương đầu với người duy nhất trên đời mà Sea-Cook e sợ.

Ấy vậy mà Peter chẳng hề do dự, chú chỉ cảm thấy vui mừng tột độ, đến mức nghiến cả răng lại.

Nhanh như chớp, chú giằng ngay lấy con dao đeo ở thắt lưng Hook và lúc chuẩn bị băm nhỏ kẻ thù thì chú chợt nhận ra mình đang đứng cao hơn hắn trên vách đá.

Đánh nhau như vậy là không công bằng và chú cao thượng chìa tay ra cho tên cướp biển để giúp hắn trèo lên.

Đúng lúc đó, Hook cắn Peter.

Sự phản phúc của Hook chứ không phải là vết đau làm Peter ngây ra, không phản ứng gì.

Nó khiến chú bất lực, chỉ đứng nhìn, vô cùng kinh tởm.

Đứa trẻ nào cũng nghệt ra như vậy khi lần đầu bị người ta đối xử bất công.

Khi đến với bạn, ấy là nó cho rằng nó có quyền hơn ai hết yêu cầu công lý.

Nếu bạn lại tỏ ra không công bằng với nó, nó vẫn yêu bạn nhưng đó không phải là đứa trẻ vô tư như trước nữa.

Chẳng ai quên được nỗi bất công đầu tiên, chẳng ai, trừ Peter.

Chú rất hay bị đối xử bất công nhưng lại quên ngay.

Tôi cho rằng sự khác biệt chính giữa Peter và mọi đứa trẻ khác là ở chỗ đó.

Vậy là lúc Peter đang là nạn nhân của sự bất công cuộc đời trên chóp mỏm đá ngầm, chú cứ ngẩn người ra, mắt trợn tròn vì tức tối.

Móc sắt đã quệt vào chú hai lần.

Nhưng vài phút sau, bọn con trai lại thấy Hook đang bơi cuồng loạn về phía tàu của hắn, nét mặt đầy vẻ kinh hoàng vì con cá sấu ngoan cố lao theo.

Bình thường thì bọn trẻ con đã bơi cùng cả hai, vừa bơi vừa cổ vũ; nhưng lúc này chúng lạc mất Peter với Wendy và đang bơi tìm cả hai loạn xị trong đầm.

Chúng tìm thấy ca nô và vừa đưa ca nô vào bờ vừa gọi Peter với Wendy.

Nhưng chỉ có tiếng cười chế giễu của các tiên cá đáp lời.

"Chắc họ vào bờ hoặc bay về rồi", bọn trẻ kết luận.

Chúng không phải lo lắng quá nhiều vì chúng rất tin tưởng Peter.

Và chúng lại còn cười thầm vì đã muộn mất giờ lên giường, và đó là lỗi của mẹ Wendy!

Khi tiếng vọng của bọn trẻ con vừa lắng bớt trên mặt đầm, trong không gian vừa yên tĩnh trở lại có tiếng kêu yếu ớt dội lên:

- Cứu với, cứu với!

Hai cái bóng bé nhỏ bị sóng nhồi lên dội vào mỏm đá.

Wendy đã ngất đi còn Peter đang đỡ cô trong tay.

Trong một cố gắng tuyệt vọng, chú đẩy được cô bé lên mỏm đá rồi ngã phịch ngay xuống cạnh Wendy.

Chú vừa ngất đi vừa cảm nhận rằng nước đang lên dần và cả hai sẽ chết đuối, nhưng chú không làm gì được nữa rồi.

Hai đứa trẻ đang nằm cạnh nhau thì một cô tiên cá túm lấy chân Wendy và bắt đầu kéo dần cô bé xuống nước.

Peter cảm thấy Wendy đang từ từ trượt xuống bên cạnh mình, giật mình tỉnh dậy và kịp túm lấy cô.

Wendy mở mắt ra và Peter quyết định nói rõ cho cô bé biết sự thật.

- Wendy, chúng mình đang ở trên mỏm đá ngầm.

Phần nổi đang ngày càng bé lại, chẳng mấy lúc nữa là nó bị nước biển ngập tràn thôi.

Wendy nghe mà chẳng hiểu gì.

- Vậy chúng mình đi thôi - cô giục.

- Ừ - Peter yếu ớt đáp.

- Bơi vào bờ hay bay, Peter?

- Wendy, cậu nghĩ là cậu có thể bơi hoặc bay mà không cần tớ giúp được không?

Wendy nhận ra rằng cô cũng kiệt sức.

Peter rên lên.

- Có chuyện gì không ổn chăng?

- Wendy đột nhiên lo lắng.

- Tớ không thể giúp cậu được Wendy.

Hook đánh tớ bị thương rồi.

Tớ không thể bơi hay bay được.

- Cậu định bảo là cả hai chúng mình sắp chết đuối à?

- Cậu nhìn xem nước lên nhanh thế nào.

Chúng đưa tay che mắt để khỏi nhìn thấy nước.

"Rồi chúng mình sẽ chết", chúng nghĩ.

Trong khi hai đứa trẻ đờ đẫn chờ đợi, ai đó vuốt nhẹ trên má Peter tựa như một cái hôn và khẽ cọ cọ vào da chú như muốn hỏi "Tớgiúp gì cho cậu bây giờ?"

Đó là đuôi một con diều Michael làm vài ngày trước đó.

Diều đứt dây và bay theo chiều gió.

- Diều của Michael - Peter thờ ơ nói.

Nhưng giây lát sau, chú túm lấy đuôi diều và kéo về phía mình.

- Nó đã nhấc được cả Michael, sao nó lại không nhấc được chúng mình nhỉ?

- Peter kêu lên.

- Cả hai đứa chúng mình ấy à?

- Nó không nhấc được cả hai đứa đâu, Michael và Curly đã thử rồi.

- Thế thì chúng mình rút thăm đi - Wendy dũng cảm đề nghị.

- Tớ không thể làm thế với một phụ nữ được.

Peter đã buộc đuôi diều quanh người Wendy.

Còn Wendy bám chặt vào người cậu bé, quyết không chịu đi một mình.

Nhưng Peter chỉ nói "Tạm biệt nhé" rồi đẩy Wendy ra khỏi vách đá.

Vài phút sau, cô bé lượn lờ trong không trung và biến dần khỏi tầm nhìn của Peter.

Chỉ còn lại mình chú bé trên đầm lầy.

Mỏm đá thu lại còn bé tí.

Chẳng mấy chốc, nước sẽ ngập lên chú.

Có những vệt sáng nhợt nhạt phảng phất trên mặt nước, như những bước chân sói.

Thỉnh thoảng rơi rớt vài tiếng hát êm ái và u buồn: đó là tiên cá đang gọi trăng lên.

Peter dĩ nhiên là không giống những cậu bé khác nhưng nỗi sợ hãi cũng ngấm dần lên chú.

Toàn thân chú run lên như một gợn gió lan trên mặt biển tuy rằng trên mặt biển thì các làn gió nối tiếp nhau hàng ngàn hàng vạn trong khi đó thì Peter chỉ cảm thấy có một đợt rùng mình duy nhất.

Một giây sau, chú đứng thẳng người trên ngọn đá, mỉm cười rạng rỡ và trống ngực đập thình thịch.

Tiếng trống ấy nói rằng: "Cái chết sẽ là một cuộc phiêu lưu lớn đây."

Chương 9

CON CHIM NEVERLAND

Trước khi còn lại một mình trong yên lặng, Peter nghe tiếng lũ tiên cá đang từng người từng người một quay về phòng ngủ dưới đáy đại dương.

Nó ở xa quá nên không nghe được tiếng cửa đóng lại nhưng trên mỗi cánh cửa trong các hang động san hô nơi tiên cá sống, có một chiếc chuông cửa nhỏ xíu kêu lanh canh mỗi khi tiên cá đóng hay mở cửa (giống như ở những ngôi nhà xinh đẹp trên lục địa).

Chú nghe thấy tiếng chuông cửa đó.

Dần dần, nước lên láp táp vào chân Peter và để cho qua thời giờ trước khi bị nước nuốt chửng, Peter chăm chú ngắm một vật duy nhất còn di động trên mặt đầm nước mặn.

Chú cứ tưởng đó là một mảnh giấy đang trôi, có khi là một mảnh diều còn sót lại,và chú lơ đễnh tự hỏi phải mất bao lâu mảnh giấy ấy mới dạt vào được đến bờ.

Rồi chú nhận thấy rằng cái vật đó có ý đồ hẳn hoi vì nó đang đấu tranh chống lại thủy triều và đôi khi lại còn bơi ngược thủy triều.

Và khi nó tiến lên ngược với thủy triều thì Peter lại vỗ tay vì chú luôn bênh vực kẻ yếu hơn.

Đó quả là một mảnh giấy dũng cảm.

Thật ra đó đâu phải là một mảnh giấy, đó là con chim Neverland đang cố gắng một cách tuyệt vọng để đến được với Peter trên cái tổ trôi nổi của nó.

Vừa vỗ cánh như thể nó mới học được sau khi tổ nó rơi xuống nước, nó chập choạng lái chiếc thuyền kỳ quặc của mình.

Khi Peter nhận ra con chim thì nó cũng đã gần kiệt sức.

Nó đến cứu Peter và để cho Peter sử dụng tổ ủa nó dù vẫn còn trứng ở trong.

Tôi rất khâm phục con chim này vì nếu Peter thường tỏ ra dễ thương với nó thì chú cũng rất hay trêu chọc chim.

Tôi chỉ cho rằng cũng giống như bà Darling và nhiều người khác, con chim chẳng cưỡng lại được sức quyến rũ của bộ răng sữa mang màu ngọc trai của Peter.

Con chim kêu to cho Peter biết tại sao nó lại đến và chú cho chim biết vận xúi của mình.

Nhưng tất nhiên là chẳng ai hiểu được ngôn ngữ của ai.

Trong tất cả các truyện thần thoại khác, người thoải mái nói chuyện với chim chóc và tôi rất muốn được tin rằng đó là đặc quyền đặc lợi của các nhân vật và Peter đã có thể trả lời một cách rất rõ ràng cho con chim Neverland.

Nhưng chẳng có gì đáng giá bằng sự thật và tôi buộc phải kể đúng những gì xảy ra.

Không những chúng không hiểu nhau mà cả hai nhân vật đều quên mất tác phong lịch sự của mình.

- Tớ-muốn-cậu-lên-tổ, và-trôi-về-bờ - con chim cố nói càng chậm càng rõ - Nhưng-tớ-mệt-quá, không-đến-gần-hơn-được-nữa, cậu-phải-cố-bơi-ra-đây.

- Cậu loét xoét cái gì thế?

- Peter vặc lại - Sao cậu không để cái tổ của cậu trôi đi một cách bình thường?

- Tớ-muốn-cậu - con chim nói.

Và nó lặp lại cả câu dài.

Thế là Peter cũng nói theo kiểu chậm rãi rõ ràng.

- Cậu-loét-xoét-cái-gì-thế?

- Và cứ thế tiếp tục.

Con chim Neverland tức giận (chúng rất hay cáu):

- Đồ ngốc nghếch!

- Nó rít lên - tại sao cậu không làm theo lời tớ?

Peter cảm thấy rằng đối tác đang chỉ trích mình và quặc lại bằng cái giọng tương tự:

- Đồ gà mờ!

Và lạ nhất là đến đó thì cả hai cùng lẳng vào mặt nhau:

- Ngậm cái mồm cậu lại!

- Ngậm cái mồm cậu lại!

Tuy nhiên, con chim quyết tâm cứu Peter cho bằng được khi còn có thể và trong một cố gắng cuối cùng, nó lao cả người cả tổ vào vách đá.

Rồi nó đập cánh bay đi như để tỏ rõ ý chí của mình.

Cuối cùng, Peter đã hiểu.

Chú túm lấy cái tổ và vung tay cám ơn con chim đang lượn trên đầu.

Không phải chim ta đang chờ cảm ơn, hoặc đang muốn xem Peter sử dụng tổ như thế nào, đơn giản là nó chỉ muốn xem Peter sắp làm gì với lũ trứng.

Có hai quả trứng vừa to vừa trắng, Peter nhấc nhấc chúng trong lòng bàn tay, suy nghĩ.

Con chim xòe cánh che mặt để khỏi nhìn thấy trứng bị vứt đi nhưng nó không nén được, vẫn nhìn qua kẽ cánh.

Không biết tôi đã kể cho các bạn nghe là có một tên cướp biển đã cắm một cây gậy trên vách đá để đánh dấu nơi có kho vàng.

Bọn trẻ đã tìm ra kho tiền lấp lánh và mỗi khi chúng đùa cợt, chúng tung ra từng nắm tiền vàng, kim cương, ngọc trai và nhiều đồng tiền khác cho lũ hải âu.

Bọn này cứ tưởng đấy là mồi, bay lao xuống rồi lại vụt lên, tức tối vì bị lừa.

Cái gậy vẫn còn đấy và Startkey đã ngoắc mũ của hắn vào đó, một thứ mũ làm bằng vải sơn dầu, không thấm nước và có vành rộng.

Peter cho hai quả trứng vào trong chiếc mũ rồi thả nó trên đầm.

Nó nổi lềnh bềnh.

Con chim Neverland hiểu ngay ý đồ của Peter và kêu lên thán phục.

Nhưng Peter cũng đã tự khen mình một cách thật ồn ào.

Rồi chú trèo lên tổ chim, cắm cái gậy lên đó thay cho cột buồm, buộc áo của chú thay cho cánh buồm.

Cùng lúc đó, con chim sà xuống trên cái mũ và đậu lên ổ trứng để ấp.

Vừa tỏ lời khen ngợi lẫn nhau, cả hai cùng trôi đi theo các hướng khác nhau.

Tất nhiên là khi Peter trôi vào đến bờ, chú lôi cái bè của chú vào một chỗ mà con chim có thể dễ dàng tìm được.

Nhưng mũ vải sơn dầu quá tuyệt và con chim từ bỏ hẳn chiếc tổ của mình.

Tổ chim trôi theo dòng nước cho đến khi tan dần ra.

Đôi khi Startkey đến bên đầm chua xót ngắm nhìn con chim đang ngụ trên mũ của mình.

Vì chúng ta sẽ không gặp lại nó nữa trong câu chuyện này nên chúng tôi thấy cần phải thông báo để các bạn rõ rằng từ đó trở đi, tất cả các con chim Neverland đều xây tổ phỏng theo hình cái mũ rộng vành trên đó bọn chim con có thể tập tễnh những bước đầu tiên.

Cuộc vui thật tưng bừng khi Peter quay trở về nhà, gần như cùng lúc với Wendy được chiếc diều đưa về.

Đứa nào cũng có chuyện để kể nhưng việc chúng đi ngủ muộn nhiều tiếng đồng hồ có lẽ là chuyện đáng nói nhất.

Chúng phấn khích đến độ bịa ra nhiều thứ chuyện để có thể thức lâu hơn nữa chẳng hạn như đòi được băng bó.

Nhưng Wendy vừa mừng là đã tìm lại được lũ con không sứt mẻ gì, vừa tức giận vì giờ đã muộn, hét lên: "Đi ngủ!

Đi ngủ thôi!".

Chẳng đứa nào dám cãi.

Tuy nhiên hôm sau, cô tỏ ra đặc biệt dịu dàng và băng bó cho từng đứa một.

Và chúng lại chơi cho đến tận giờ đi ngủ cái trò khập khiễng từng bước một hoặc treo tay như là bó bột.

Chương 10

NGÔI NHÀ HẠNH PHÚC

Trận chiến trên đầm khiến dân Da đỏ và bọn trẻ con trở thành bạn bè.

Peter đã cứu Hoa Huệ Vằn thoát khỏi một cái chết kinh khủng và kể từ nay, cô ta cùng bộ lạc sẵn sàng nhảy vào lửa vì chú.

Đêm đêm, đám Da đỏ đứng gác phía trên căn nhà dưới mặt đất, chờ cuộc đại tấn công mà bọn cướp biển chắc chắn sẽ tung ra, có thể là ngay trong ngày.

Bọn này đứng chờ tại chỗ, miệng phì phèo tẩu thuốc hòa bình, chẳng khác chi đang chờ được phát kẹo.

Chúng gọi Peter là Người Cha Da trắng Vĩ đại và quỳ phủ phục trước mặt chú, còn Peter thì khoái chí vô cùng với cái vụ thần phục mới này, quả là hợp với tính cách của chú.

- Người Cha Da trắng Vĩ đại rất vui mừng thấy các chiến binh Negrito bảo vệ lều của Người khỏi bọn cướp biển xâm phạm - Peter trịnh trọng nói trước các chiến binh đang quỳ rạp.

- Tôi, Hoa Huệ Vằn - cô gái xinh đẹp đáp lời - Peter Pan cứu tôi.

Tôi, bạn Peter Pan mãi mãi.

Tôi, không cho cướp biển chạm vào Peter Pan.

Người đẹp như Hoa Huệ Vằn quả là không thể hạ mình quá đáng như tụi chiến binh được và Peter Pan cũng độ lượng cho qua.

- Ờ được, được, Peter đã nói.

Khi chú đã phán "Peter Pan đã nói" có nghĩa là tụi Negrito phải ngậm miệng và chúng cũng nhún mình chấp thuận bị đối xử như vậy.

Nhưng còn lâu các chiến binh mới khiêm nhường như thế với bọn trai kia, những kẻ mà chúng chỉ coi như những tay chân dũng cảm không hơn.

Chúng hỏi thăm chiếu lệ: "Các cậu khỏe không?

Khỏe không?"

Hoặc những lời hỏi han tào lao tương tự.

Và bọn con trai rất ức khi thấy Peter coi đó là bình thường.

Trong lòng hẳn Wendy cũng thấy bọn trẻ có lý nhưng cô đóng vai chủ gia đình ưu tú nên chẳng thể để cho con cái phàn nàn về bố mẹ.

"Bố biết nhiều hơn các con" - cô thường bảo vậy cho dù ý kiến cá nhân của cô có thể khác.

Và ý kiến cá nhân của cô có nghĩa là đáng ra bọn Da đỏ không nên gọi cô là squaw, vợ người Da đỏ.

Đã đến cái buổi tối mà tụi trẻ con coi là đáng ghi nhớ nhất trong những cuộc phiêu lưu mang đầy tính hậu quả.

Ngày trôi qua bình yên như để chuẩn bị sức lực cho các sự cố.

Và giờ đây, người Da đỏ cuộn mình trong các tấm chăn đang canh gác trên mặt đất còn bọn trẻ đang ăn tối.

Cả bọn đều ở nhà trừ Peter đang đi xem giờ.

Ở trên đảo, muốn biết giờ giấc phải đi tìm con cá sấu, đứng cạnh nó cho đến khi cái đồng hồ trong bụng nó điểm giờ.

Bữa tối hôm đó là một bữa trà tưởng tượng và cả bọn đều ngồi quanh bàn, tham lam suỵp soạp, và sự thực là trò chuyện rôm rả ồn ĩ đến điếc cả tai theo như lời Wendy nói.

Cô thừa sức chịu được ồn nhưng không chấp nhận việc đứa này đứa khác thó thứ này thứ nọ, rồi lại bịa ra những lý do vớ vẩn: "Nibs đẩy tay con".

Theo một quy định ngặt nghèo, không bao giờ được đánh lại khi đang ăn, phải lễ phép giơ tay xin Wendy phân xử và thưa: "Đứa này, hay đứa nọ đánh con."

Nhưng nói chung, tụi trẻ thường quên không theo luật định hoặc lại cố tình lạm dụng.

- Trật tự!

- Có đến hai chục lần Wendy quát lên vì cô bảo bọn trẻ không được nói cùng lúc - Slightly, bình nước của con hết rồi à?

- Vẫn còn một ít mẹ ạ - Slightly giả vờ nhìn một cái lọ tưởng tượng rồi nói.

- Nó vẫn chưa uống sữa mẹ ơi - Nibs mách.

Quả là đồ hớt lẻo và Slightly tranh thủ trả đũa:

- Con xin mách tội Nibs.

Nhưng John đã giơ tay trước nó.

- Sao, John?

- Con xin ngồi vào chỗ của Peter được không, vì cậu ấy không có đây mà?

- Ngồi vào chỗ của bố à John?

Rõ là không được!

- Wendy tức giận bảo.

- Không hẳn Peter là bố của chúng con - John phản đối - Cậu ấy không biết cách làm bố, con phải bảo thì cậu mới biết đấy.

Đó quả là một lời trách móc.

- Chúng con xin mách tội John - hai đứa sinh đôi cùng kêu.

Đến lượt Tootles giơ tay.

Nó bao giờ cũng nhường nhịn những đứa khác, vả lại trong cả bọn thì chỉ có nó biết nhường nhịn, nên Wendy thường đặc biệt lưu tâm đến nó hơn.

- Con nghĩ rằng con có thể làm bố được - Tootles ngập ngừng nói.

- Không được, Tootles.

Nhưng một khi mà Tootles đã mở mồm thì nó có cái kiểu dai dẳng rất khó chịu:

- Nếu tớ không làm bố được thì có lẽ cậu sẽ cho tớ làm em bé thay cậu phải không Michael?

- Không, làm gì có chuyện!

- Michael cắt luôn.

- Thế nếu tớ không được làm em bé, tớ làm một đứa sinh đôi có được không?

- Không là không nhé - cả hai đứa sinh đôi vội trả lời - làm sinh đôi khó lắm đấy.

- Tớ chẳng được làm gì quan trọng cả.

Thế tớ chỉ cho các cậu xem trò này có được không?

- Không - cả bọn đáp.

Cuối cùng thì Tootles cũng đành bỏ cuộc.

- Thực ra thì tớ cũng biết là chẳng có hy vọng gì.

Và những lời tố cáo lại tiếp tục:

- Slightly nhổ lên bàn mẹ ơi.

- Hai đứa sinh đôi ăn trước.

- Curly vừa ăn dừa vừa ăn củ từ mẹ ơi.

- Nibs đầy mồm cơm mà vẫn nói chuyện.

- Con xin mách tội bọn sinh đôi.

- Con xin mách tội thằng Curly.

- Con xin mách tội Nibs.

- Chúa ơi, đôi khi tôi cứ nghĩ là bọn trẻ con chẳng bõ cái công mình chăm nom chúng.

Cô bắt bọn trẻ dọn bàn và thu xếp ngồi cạnh giỏ đồ may: còn cả đống tất rách và đầu gối quần bị thủng phải vá lại.

- Wendy, em lớn thế này còn phải nằm nôi à - Michael phản đối.

- Cũng phải có đứa nằm nôi chứ, em là đứa bé nhất trong cả bọn mà - Wendy cứng rắn giải thích - Trong nhà có cái nôi nó mới đầm ấm.

Cô lại tiếp tục khâu và bọn trẻ bắt đầu chơi đùa quanh cô.

Những gương mặt rạng rỡ và các bóng hình nhảy múa kia quả là bức tranh đẹp nhất bên ngọn lửa thật là lãng mạn, một cảnh thường thấy trong ngôi nhà ngầm dưới đất.

Nhưng đây sẽ là lần cuối cùng chúng ta được thấy cảnh này.

Đột nhiên, có tiếng chân vọng trên đầu chúng và Wendy chắc chắn là người đầu tiên nghe thấy.

- Các con ơi, mẹ nghe thấy có tiếng bố về.

Bố sẽ rất thích có các con ra đón đấy.

Trên mặt đất, bọn Da đỏ đang ngồi xổm trước mặt Peter.

- Hãy nhìn cho kỹ các chiến binh dũng cảm, ta đã nói.

Thế là như mọi khi, bọn trẻ vui sướng lôi chú vào theo thân cây.

Vẫn như mọi khi, nhưng đây sẽ là lần cuối chúng được làm như vậy.

Peter mang quả hạt dẻ về cho bọn con trai và báo giờ chính xác cho Wendy.

- Peter, Peter chiều bọn trẻ quá đấy - Wendy phàn nàn.

- Vâng, thưa bà - Peter vừa nói vừa treo súng lên vách.

- Tớ phải bảo cậu ta gọi mẹ là "thưa bà" đấy - Michael thì thầm vào tai Curly.

- Con xin mách tội thằng Michael - Curly hét lên ngay.

Đứa lớn hơn trong hai đứa sinh đôi đến gần Peter:

- Chúng con muốn nhảy múa.

- Nhảy đi, nhảy đi, con yêu của bố - Peter đang vui nói.

- Nhưng chúng con muốn bố nhảy cơ.

Peter quả thật là người nhảy giỏi nhất đám, nhưng chú giả vờ bực bội:

- Bố ấy à?

Long hết cả xương cốt rồi còn nhảy với nhót gì?

- Cả mẹ cũng nhảy.

- Ôi, làm mẹ của cả một lũ sẻ con như thế này thì nhảy làm sao được.

- Tối nay là tối thứ bảy mà - Slightly nì nèo.

Không biết hôm ấy có phải là tối thứ bảy không nhỉ?

Chắc vậy, vì chúng cũng đã quên không tính thứ ngày từ lâu, nhưng mỗi khi chúng muốn vui vầy một chút khác với thường lệ, chúng đều nói nay là ngày thứ bảy.

- Ừ đúng hôm nay là thứ bảy - Wendy độ lượng nói.

- Chúng mình nhảy múa trong gia đình ấy mà.

- Đúng vậy, đúng vậy.

Vậy là bọn trẻ được phép nhảy múa nhưng với điều kiện là sau khi đã mặc áo ngủ.

- A, mẹ nó ơi - Peter vừa sưởi vừa nhìn cô bé đang khám xét một cái gót tất - Chẳng gì tuyệt bằng được ngồi sưởi bên mẹ nó và các con sau một ngày làm việc mệt nhọc.

- Thật hạnh phúc phải không Peter?

- Wendy ngây ngất vì cảm động - Peter, em nghĩ là Curly có cái mũi giống anh.

- Michael giống em như lột còn gì.

Wendy đến gần Peter, đặt tay lên vai chú:

- Peter thân yêu, gia đình mình lớn như thế này, em chắc chẳng còn trẻ trung gì nữa, anh không bỏ em vì người khác đấy chứ.

- Không đâu, Wendy.

Chắc hẳn chú chẳng có nghĩ đến chuyện bội bạc với Wendy nhưng chú nhìn cô bé với vẻ không thoải mái, mắt chớp chớp như thể tự hỏi mình đang thức hay đang ngủ.

- Peter, có chuyện gì vậy?

- Tớ đang nghĩ tí - Peter hơi lo lo hỏi - Wendy này, tớ không phải là bố thật của chúng chứ nhỉ?

- Không mà - Wendy trấn an.

- Cậu hiểu không - chú nói như thể xin lỗi - tớ mà là bố thật của chúng nó thì già quá rồi còn gì.

- Nhưng chúng là con của cả cậu và tớ mà.

- Không phải là con thật chứ Wendy?

- Peter lo lắng hỏi.

- Không phải là thật nếu cậu không muốn.

Peter thở phào nhẹ nhõm.

Thế là Wendy bèn gắng ra giọng quả quyết hỏi:

- Peter, tình cảm của cậu đối với tớ như thế nào?

- Tớ là một đứa con hiếu thảo.

- Biết ngay mà.

Và cô ra tận góc phòng đầu kia ngồi.

- Cậu thật kỳ quặc - Peter hoang mang nói - Thật chẳng khác gì Hoa Huệ Vằn.

Cô ta muốn là gì của tớ, nhưng lại không muốn làm mẹ tớ.

- Rõ là cô ta không muốn rồi - Wendy tuyên bố giọng đầy ý nghĩa.

Bây giờ chúng ta đã hiểu tại sao cô thành kiến với đám Da đỏ đến thế.

- Thế cô ta muốn gì?

- Chẳng một tiểu thư nào lại nói cho cậu biết.

- Thế à - Peter tức tối nói - Thế Tinker Bell, cô ấy sẽ nói cho tớ biết đấy.

- Ơi xời, cái cô Tinker Bell hư đốn ấy sẽ cho cậu biết ngay...

- Wendy coi thường đai lại.

Tinker Bell đang chơi trong phòng khách của mình, luôn vểnh tai nghe ngóng và tuôn ra một tràng láo xược.

- Cô ấy bảo là cô ấy thích được làm một con bé hư đốn - Peter dịch.

Bỗng chú chợt nghĩ ra:

- Hay là Tinker Bell muốn làm mẹ tớ?

- Đồ ngu!

- Tinker Bell hung hăng quát.

Câu nói này của Tinker Bell được sử dụng thường xuyên đến mức Wendy chẳng cần dịch.

- Tớ cũng đồng ý với cô ta đấy - Wendy đanh đá chêm vào.

Nghĩ mà xem, một Wendy mà lại đanh đá!

Nhưng quả là hôm đó cô phải chịu đựng quá nhiều và đang tự hỏi không biết còn trò gì nữa từ nay cho đến hết đêm đây.

Nếu cô biết chắc hẳn cô chẳng tỏ ra cáu kỉnh đến thế.

Quả là chẳng ai biết gì.

Mà có lẽ như thế lại hay.

Chúng lại được hưởng thêm một giờ hạnh phúc nữa, một tiếng đồng hồ cuối cùng của chúng ở trên đảo, ta hãy cứ mừng là sẽ được thêm sáu mươi phút nữa.

Cả bọn bèn nhảy múa và ca hát trong bộ quần áo ngủ.

Chúng hát một bài hát rùng rợn và giả vờ sợ hãi cả bóng của mình trên tường.

Chúng chẳng hề biết rằng chẳng bao lâu nữa, các hình bóng đó sẽ nuốt chửng chúng và chúng sẽ đắm mình trong nỗi kinh hoàng tột độ.

Chúng nhảy múa nhiệt tình, xô đẩy nhau, chen nhau trên giường xuống đất.

Không phải là múa may nhảy nhót gì nữa mà là một trận chiến bằng gối ôm và khi trận chiến kết thúc, gối chăn cũng bay vèo vèo như để chào tạm biệt.

Và chúng kể cho nhau biết bao nhiêu chuyện trước khi Wendy ru chúng ngủ bằng câu chuyện của cô.

Slightly tối hôm đó cũng muốn kể một chuyện nhưng mở đầu quá chán đến mức nó cũng thấy hoảng và thiểu não tuyên bố:

- Ơ... mở đầu chán quá nhỉ.

Hay thôi coi như kể xong rồi nhé.

Rốt cuộc thì cả bọn cũng vào giường để nghe chuyện của Wendy, câu chuyện chúng thích nhất và Peter ghét nhất.

Nói chung, khi Wendy bắt đầu kể chuyện, Peter bèn rời phòng hoặc bịt tai lại.

Có lẽ là nếu chú làm như thường lệ thì cả bọn vẫn còn trên đảo.

Nhưng đúng cái tối hôm đó, chú lại ngồi nguyên trên ghế.

Và chúng ta sẽ biết những gì sẽ xảy ra.

Chương 11

CHUYỆN KỂ CỦA WENDY

- Nào, bắt đầu nhé - Wendy nói với Michael nằm dưới chân và bảy cậu trai nằm trên giường - Ngày xửa ngày xưa có một ông...

- Con thích là một bà hơn - Curly ngắt lời.

- Con thích là một con chuột trắng - Nibs đề nghị.

- Im nào - bà mẹ trẻ nghiêm giọng - Cũng ngày xửa ngày xưa, có một bà và...

- Mẹ ơi - đứa sinh đôi thứ nhất nói - Thế có đúng là cũng có một bà không, thế bà ấy không chết chứ?

- Không đâu.

- Con rất thích là bà ấy không chết - Nibs bảo - Cậu có nghĩ thế không John?

- Có chứ.

- Nibs thì sao?

- Cũng thích.

- Còn các cậu sinh đôi, các cậu có hài lòng không?

- Sao lại không?

- Ôi lạy Chúa - Wendy thở dài.

- Ồn vừa thôi nào - Peter can thiệp, chú không muốn Wendy bị ngắt lời dù chuyện của Wendy có làm chú chán đến mấy.

- Ông ta tên là ông Darling và bà ta tên là bà Darling - Wendy tiếp.

- Tớ biết ông bà ấy đấy - John lại ngắt lời để làm cho tụi kia tức.

- Tớ nghĩ là tớ cũng biết đấy - Michael nói không chắc chắn lắm.

- Họ cưới nhau và các con có biết là họ có gì không?

Theo các con thì thế nào?

- Có chuột bạch phải không ạ?

- Nibs bất thần kêu lên.

- Không phải.

- Rắc rối quá nhỉ!

- Tootles thuộc lòng câu chuyện, vẫn giả bộ than.

- Im đi, Tootles, họ có ba người nối dõi.

- Nối dõi là gì ạ?

- Thế này nhé, Anh sinh đôi, con chính là một người nối dõi.

- John, cậu nghe ra chưa, tớ là một người nối dõi.

- Người nối dõi chỉ là trẻ con thôi - John giải thích.

- Lạy Chúa - Wendy thở dài - Thế là, ba đứa trẻ có một bảo mẫu trung thành tên là Nana, nhưng một hôm, ông Darling giận Nana và buộc nó ngoài sân, thế là tất cả bọn trẻ con đều bay đi mất.

- Chuyện hay quá - Nibs nhiệt tình khen.

- Chúng bay đi đến Xứ sở Neverland, nơi có bọn trẻ lạc.

-Tớ biết ngay mà - Curly hăng hái chêm vào - Chẳng biết tại sao tớ biết ngay là như thế.

- Ơ này mẹ Wendy, có phải là có một đứa trong bọn trẻ lạc tên là Tootles không?

- Đúng thế.

- Tớ có trong chuyện đấy.

Thấy chưa, Nibs, tớ có trong chuyện đấy.

- Suỵt, bây giờ các con thử nghĩ về tình cảnh của cha mẹ khi tất cả các con bỏ đi.

- Ôi, ôi, ôi - cả bọn đồng thanh kêu lên, tuy trong lòng chẳng mảy may để tâm đến tình cảm của các bậc cha mẹ đáng thương đó.

- Các con hãy nghĩ đến những chiếc giường trẻ con trống trơn!

- Ôi, ôi.

- Buồn quá nhỉ - Anh sinh đôi vui vẻ kêu lên.

- Tớ thấy chuyện này chắc kết thúc buồn lắm - Em sinh đôi tán đồng - cậu thấy sao Nibs?

- Tớ thấy buồn đến phát ốm lên được.

- Nếu các con biết lòng mẹ bao la độ lượng đến chừng nào các con sẽ không phải lo ngại gì - Wendy thích chí nói.

Câu chuyện đang đến đoạn Peter ghét nhất.

- Con rất thích tình yêu của mẹ - Tootles vừa ném gối vào Nibs vừa nói - còn cậu, Nibs, cậu có quý tình yêu của mẹ không?

- Rõ quá đi chứ - Nibs vừa ném trả vừa đáp.

- Thế là - Wendy bình tĩnh tiếp - nhân vật của chúng ta biết chắc rằng mẹ bao giờ cũng để mở cửa sổ để chờ đón các con trở về.

Chúng đi xa nhiều năm ròng rã và vui chơi thỏa thích.

- Họ không trở về nữa à?

- Giờ ta hãy thử nhìn về tương lai chút nhé - Wendy cố tập trung để gây ấn tượng.

Thế là cả bọn đều ra vẻ trầm lắng nhằm tạo điều kiện cho việc nhìn vào tương lai.

- Nhiều năm trôi qua...

Nhưng kìa có một quý bà ăn bận tao nhã đang bước xuống sân ga London.

- Ai vậy, mẹ Wendy?

- Nibs kích động hỏi, cứ như thể nó chưa biết gì.

- Ồ, phải chăng là... xem nào...

đúng rồi... chính là Wendy xinh đẹp.

- Ô!

- Thế còn hai nhà quý tộc đang đi cùng vị phu nhân đó là ai, giờ đây họ đã là những quý ông trưởng thành rồi.

Phải chăng đó là John và Michael?

Ồ, chính họ!

- Ô!

- Các bạn thấy không - Wendy hướng tay về phía trước - cửa sổ vẫn luôn rộng mở.

Và giờ đây chúng ta được bù đắp bởi niềm tin vào mẹ...

Thế là, những đứa con liền bay về phía mẹ và ba của chúng, và không bút nào tả xiết một cảnh tượng hạnh phúc tuyệt vời đến thế và chúng ta đành phải phủ bớt cảnh đó lại thôi.

Chuyện thật là hay và tụi trẻ cũng như cô bé dẫn chuyện xinh đẹp đều sướng mê ly.

Chẳng thể nào mơ được câu chuyện hay hơn.

Ta bỏ nhà đi, chẳng đếm xỉa gì đến mọi người khác: tất cả trẻ con đều như vậy, nhưng chúng cũng đáng yêu biết bao!

Và ta cảm thấy một niềm thích thú thực là ích kỷ; rồi khi ta lại cần tới tình âu yếm, ta lại trở về bên mẹ để đòi hỏi, lòng biết chắc rằng ta sẽ được ân cần ôm ấp chứ không hề bị hắt hủi.

Thực sự là niềm tin vào tình yêu của mẹ mạnh đến nỗi ta thường tự cho mình cái quyền làm ngơ trước tiếng gọi của trái tim lâu hơn mức cần thiết.

Nhưng có một đứa biết nhiều hơn những đứa khác và khi Wendy vừa kể xong, chú rên lên một tiếng trầm trầm.

- Sao vậy Peter - Wendy vội chạy ngay tới vì tưởng chú bị ốm.

Cô ân cần xoa ngực Peter.

- Cậu bị đau ở đâu?

- Không phải đau kiểu ấy - Peter gầm gừ đáp.

- Đau kiểu nào, nói đi.

- Wendy, cậu nhầm về các bà mẹ rồi.

Cả bọn xúm quanh Peter đầy sợ hãi vì trông chú thật đáng thương.

Peter ngây thơ kể lại những điều chú vẫn giấu kín lâu nay.

- Cách đây đã lâu rồi, tớ cũng tưởng như các cậu là mẹ tớ cũng sẽ giữ cửa sổ để ngỏ để chờ tớ về.

Tớ đi chơi dài trong nhiều năm tháng, thế nhưng đến khi tớ trở về, cửa sổ đã bị đóng, mẹ tớ đã quên tớ, còn trong giường tớ có một thằng bé khác ngủ vào thay chỗ tớ.

Chưa chắc Peter đã nói đúng nhưng chú cứ tin tưởng như vậy và bọn trẻ con kia bắt đầu sợ.

- Cậu tin chắc là các mẹ đều như thế cả à?

- Chắc đấy.

Về các bà mẹ, như vậy là cậu ta không nhầm rồi.

Thật là những người đáng sợ.

Với lại, có lẽ cũng phải thận trọng một tí.

Chẳng ai tài hơn bọn trẻ con khi biết phải cài số lùi như thế nào.

- Wendy, hay là chúng mình về nhà đi - John và Michael cùng kêu lên.

- Được rồi, các em ạ.

- Chưa về ngay tối nay chứ?

- Bọn trẻ lạc ngạc nhiên hỏi.

Trong thâm tâm, chúng tự biết rằng người ta có thể không cần có mẹ và chỉ có các bà mẹ mới nghĩ ngược lại mà thôi.

- Về ngay bây giờ thôi - Wendy quả quyết nói vì cô chợt nghĩ ra một ý tưởng kinh khủng: Thế nhỡ mẹ chúng tớ tưởng là chúng tớ chết rồi thì sao?

Ý nghĩ này làm cô quên mất tình cảm của Peter và cô nói luôn, chẳng rào đón gì:

- Peter, cậu có thể thu xếp mọi thứ cần thiết được không?

- Tùy cậu - Peter hờ hững trả lời cứ như thể Wendy nhờ chú đưa hộ nắm hạt dẻ.

Chẳng có vẻ gì là luyến tiếc sợ phải xa nhau!

Nếu Wendy thấy xa nhau cũng chẳng làm sao thì Peter cũng sẵn sàng tỏ cho thấy là chú cóc cần.

Nhưng Peter nào có cóc cần, và chú quá tức giận bọn người lớn cứ luôn luôn làm hỏng mọi việc đến độ lúc chú vào trong cây, chú ra sức thở phì phò, đến năm lần một giây.

Đó là vì có một ngạn ngữ của xứ sở Neverland rằng mỗi khi anh thở sẽ có một người lớn bị chết.

Và Peter làm chết người lớn một cách tàn bạo và nhanh hết mức mà chú có thể.

Sau khi ra các chỉ thị cần thiết cho bọn Da đỏ, Peter trở về căn nhà dưới đất.

Trong khi chú đi vắng, đã xảy ra một cảnh không đẹp mắt.

Vì quá sợ phải mất Wendy, bọn trẻ lạc đã vây lấy cô, đầy đe dọa.

- Sẽ tồi tệ hơn cả trước khi cô ấy đến - Chúng la lên.

- Không để cho cô ấy đi.

- Giữ cô ấy lại.

- Đúng thế, xích cô ấy lại.

Trong tình huống hiểm nghèo đó, linh tính cho Wendy biết phải trông cậy vào ai.

- Tootles, cứu tớ với.

Thế có lạ không: Wendy lại trông chờ vào đứa ngốc nhất trong cả bọn.

Tuy nhiên, kỳ diệu thay, Tootles đến bên Wendy, và nghiêm trang nói, chẳng ngốc tí nào:

- Tớ chỉ là Tootles thôi, chẳng ai cần đến tớ, nhưng đứa nào cư xử không tốt với Wendy, tớ moi ruột nó ra.

Nó rút dao găm ra và trong phút chốc trông nó thật oai hung.

Cả bọn lúng túng lùi lại.

Ngay lúc đó, Peter trở về và bọn trẻ lạc hiểu ngay rằng chẳng thể trông chờ gì ở Peter.

Không bao giờ Peter giữ một cô bé tại xứ sở Neverland mà không được cô ta đồng ý.

- Wendy - Peter vừa xoạc cẳng đi đi lại lại vừa nói - tớ đã yêu cầu bọn Dador đưa cậu ra khỏi rừng vì bay nhiều thì cậu sẽ mệt.

- Cám ơn Peter.

- Sau đó, Tinker Bell sẽ dẫn cậu qua bờ biển bên kia - Chú nói bằng giọng thủ lĩnh quen được tuân lời - Đánh thức Tinker Bell dậy đi, Nibs.

Dù Tinker Bell đã dậy vểnh tai nghe từ lúc nãy tới giờ, Nibs vẫn phải gõ hai lần cô ta mới trả lời.

- Cậu là ai?

Tại sao cậu lại dám gọi tớ dậy?

Cút đi!

-Dậy đi Tinker Bell, dậy đưa Wendy về nhà.

Hiển nhiên là Tinker Bell vô cùng vui sướng trước việc Wendy ra đi, nhưng cô ta đã quyết không làm người dẫn đường cho Wendy và phát biểu chính kiến của mình bằng thứ ngôn từ sống sượng nhất.

Rồi cô ta lại giả vờ ngủ.

- Cô ấy bảo là cô ấy không đi đâu!

- Nibs kinh hoảng trước một sự bất tuân thượng lệnh đến mức đó.

Peter bèn đi thẳng đến trước khu phòng của cô tiên bé nhỏ.

- Tinker Bell - chú gằn giọng - nếu cậu không dậy ngay lập tức để thay đồ, tớ sẽ mở rèm ra và cả bọn sẽ nhìn thấy cậu bận đồ trong nhà đấy.

Tinker Bell nhảy vội xuống chân giường.

- Có ai bảo là tôi không chịu dậy đâu nào.

Trong khi đó, bọn trẻ ngơ ngác nhìn Wendy đang chuẩn bị ra đi cùng với John và Michael.

Chúng buồn không chỉ vì chúng sắp mất Wendy mà buồn nhất là vì chúng cảm thấy rằng khi trở về nhà, Wendy sẽ có một niềm hạnh phúc mà chúng không thể nào có được.

Chúng lại mơ đến điều mới mẻ như thường lệ.

Tưởng rằng lũ trẻ đang ân hận, cô mềm lòng đề nghị:

- Các bạn thân mến, hay là tất cả các cậu đi cùng tớ, tớ tin chắc rằng ba mẹ tớ sẽ nhận nuôi các cậu.

Lời mời này đặc biệt nhắm vào Peter nhưng mỗi cậu trai đều cho rằng đó là vì mình và chúng nhảy nhót reo mừng.

- Nhưng thế nhỡ ba mẹ thấy chúng tớ quá ồn ào đông đúc thì sao?

- Nibs vừa nhảy vừa hỏi.

- Ồ không đâu - Wendy đáp.

Sau khi suy nghĩ một chút, cô thêm:

- Chỉ cần thêm vài cái giường vào phòng khách.

Ta có thể giấu chúng đằng sau các tấm bình phong vào những ngày thứ năm đầu tháng.

- Peter, bọn mình đi theo các cậu ấy có được không?

- Cả bọn yêu cầu.

Đối với chúng thì mọi thứ thật hiển nhiên: nếu chúng đi, Peter cũng đi theo, nhưng thực ra chúng cũng chẳng hề bận tâm lắm.

Bọn trẻ là như vậy: luôn luôn sẵn sàng từ bỏ gia đình thân yêu ngay khi gặp cái gì mới.

- Đồng ý - Peter mỉm cười chua chát đáp.

Thế là cả bọn vội chạy đi thu xếp đồ đạc.

- Bây giờ, Peter, cậu phải uống thuốc trước khi chúng ta lên đường - Wendy cứ nghĩ mọi việc bình thường nên yêu cầu.

Cô rất thích bắt mọi người uống thuốc và chắc là cũng có tăng liều lượng lên một chút.

Tất nhiên, đó chỉ là nước trắng đổ vào trong một chiếc bầu đựng nước.

Wendy lắc bầu và đếm từng giọt một, điều đó khiến cho mọi việc nom có vẻ y tế ghê lắm.

Nhưng ít ra là vào lúc này, cô không thể cho Peter uống thuốc được vì cô vừa chuẩn bị thuốc xong thì chợt thấy trong mắt Peter một vẻ gì đó khiến cô đau thắt trong lòng.

- Đi chuẩn bị đồ đạc đi Peter - Wendy run run nói.

- Không, tớ không đi cùng cậu đâu Wendy - Peter cố giữ vẻ bình thản nói.

- Có chứ, Peter, cậu sẽ đi.

- Không.

Để chứng tỏ rằng việc Wendy ra đi chẳng có kí lô gì với chú, Peter sải bước ngang phòng, vui vẻ huýt sáo.

Dù Wendy thấy thái độ đó thật không hay nhưng cô vẫn đành chạy theo Peter.

- Đi tìm lại mẹ cậu mà - Wendy cố thuyết phục.

Nếu Peter đã từng có mẹ, chắc chú đã hết nhớ mẹ từ lâu rồi.

Chú hoàn toàn có thể lờ phắt cái bà mẹ đó đi.

Tệ hơn nữa là lúc này đây, chú chỉ nghĩ ra toàn những điều xấu về mẹ:

- Không nhé - chú cương quyết bảo Wendy - Chắc rồi bà ấy sẽ lại bảo là tớ đã lớn rồi, còn tớ lại chỉ muốn còn bé và vui chơi mãi thôi.

- Nhưng kìa, Peter...

- Không là không.

Thế là phải báo lại cho bọn trẻ con.

- Peter không đi đâu.

Peter không đi.

Bọn trẻ nhìn chú mà không hiểu, chúng đã sẵn sàng với bọc quần áo lủng lẳng nơi đầu gậy.

Thoạt tiên, chúng nghĩ rằng Peter không đi và cũng sẽ ngăn không cho chúng theo Wendy.

Nhưng Peter quá nhiều tự ái nên chẳng thể nào làm vậy.

- Nếu các cậu tìm thấy mẹ các cậu - chú chua xót nói - tớ mong các cậu sẽ được hài lòng về mẹ.

Sự hoài nghi ẩn trong câu nói này khiến cả bọn ngần ngại và trên gương mặt bọn con trai, hiện rõ vẻ ngập ngừng.

Dường như chúng thấy rằng quyết định ra đi cũng hơi ngu ngốc.

- Nào, bây giờ thì không nỉ non sướt mướt nữa.

Chào Wendy - Peter kêu lên.

Và chú hăm hở chìa tay ra, cứ như thể chúng phải chia tay nhau ngay lập tức, cứ như thể còn nhưng việc quan trọng khác đang chờ chú.

Wendy buộc lòng phải nắm tay chú vì chẳng có gì cho thấy là chú thích có một cái đê khâu hơn.

- Peter, cậu không được quên thay áo gi-lê nỉ đấy nhé - Wendy lần lữa để nhìn Peter.

Cô bao giờ cũng rất lưu ý việc này.

- Được rồi.

- Cậu nhớ uống thuốc đấy nhé.

- Cứ yên chí.

Thế là hết, im lặng thật nặng nề.

Nhưng Peter đâu phải là người dễ mủi lòng trước mặt kẻ khác.

- Tinker Bell xong chưa?

- Rồi, rồi đây.

- Thế thì ra chỉ đường đi.

Tinker Bell bay lên ngọn cây gần nhất nhưng chẳng ai theo cô ta vì đúng lúc đó bọn cướp biển bắt đầu cuộc tấn công khủng khiếp chống lại người Da đỏ.

Trên mặt đất cho tới lúc đó vẫn vô cùng yên tĩnh, tiếng rú, tiếng hét, tiếng binh khí sắc bén chạm nhau khiến không gian tràn ngập sự kinh hoàng.

Còn trong ngôi nhà dưới lòng đất, chỉ có sự im lặng chết chóc.

Mọi người đều há hốc mồm kinh hoàng.

Wendy ngã khuỵu xuống tay hướng về phía Peter.

Tất cả mọi cánh tay đều giơ về phía Peter như cỏ hướng theo làn gió.

Chúng im lặng khẩn cầu Peter đừng bỏ chúng.

Còn Peter nắm chặt tay kiếm, với thanh kiếm mà chú nghĩ là đã dùng để giết Barbecue, và trong ánh mắt bừng lên nỗi khát khao chiến trận.

Chương 12

BỊ BẮT

Cuộc tấn công của bọn cướp biển đã khiến tất cả mọi người bất ngờ: đó là bằng chứng hùng hồn về việc tên gian trá Hook đã tấn công không tôn trọng luật lệ.

Nói chung, bất ngờ tấn công bọn Da đỏ không phải là thói quen của người Da trắng.

Theo tất cả các tập tục bất thành văn của cuộc chiến tranh nơi hoang dã, bao giờ quân Da đỏ cũng tấn công trước và với tính quỷ quyệt của dòng giống Da đỏ.

Chúng thường tấn công vào sáng sớm, khi biết thừa là lòng dũng cảm của người Da trắng đang ở mức thấp nhất.

Trong khi đó, quân Da trắng đã dựng lên một hàng rào sơ sài trên đỉnh quả đồi, dưới chân đồi có một dòng suối nhỏ.

Vì rõ là lập trại xa nguồn nước quá sẽ dẫn đến thất bại hiển nhiên.

Và ở đó, họ chờ cuộc tấn công định mệnh: lính mới thì xiết chặt tay súng còn cựu binh thì bình thản ngủ cho tới sáng bạch.

Suốt đêm ròng, lính trinh sát Da đỏ bò như rắn trong cỏ mà chẳng hề làm cỏ rung rinh mảy may.

Bụi rậm khép lại sau họ êm ái như thể chuột chũi rẽ đất.

Chẳng ai nghe thấy tiếng động gì trừ khi họ bắt chước một cách tuyệt vời tiếng kêu của con sói đồng cỏ.

Các chiến binh khác đáp lại lời nhắn nhủ và trong trò chơi này thì một vài chiến binh lại còn giỏi hơn cả các lũ sói đồng cỏ, lũ này, nói chung cũng thường thôi.

Giờ khắc lạnh lẽo ban đêm dần qua đi và việc chờ đợi dài đằng đẵng này quả là thử thách ghê gớm đối với những người mặt tái mới nhập cuộc.

Nhưng đối với những cựu binh dạn dày, những tiếng gọi khủng khiếp trong đêm cùng các phút giây yên tĩnh không kém phần khủng khiếp chỉ là từng mốc, từng mốc đánh dấu đêm dài dần qua đi.

Hook quá kinh nghiệm về chuyện đó nên ta không thể cho rằng hắn vi phạm nguyên tắc vì kém hiểu biết.

Các chàng Negrito quá tin tưởng vào sự trung thực của Hook và các hành vi, cử động trong đêm của họ đều trái ngược hẳn với Hook.

Họ chẳng bỏ qua điều gì để bảo vệ danh tiếng bộ lạc của họ.

Với các giác quan thính nhậy khiến các dân tộc văn minh phải khâm phục và e ngại, người Da đỏ đã biết có bọn cướp biển trên đảo ngay từ khi tên cướp đầu tiên dẫm chân lên một nhành cỏ.

Ngay tức thì, tiếng sói đồng cỏ oang oác vang lên.

Mỗi một tấc đất, từ chỗ Hook đổ bộ và ngôi nhà dưới gốc cây đã được quân Da đỏ đi giày đế bằng ngược gót kiểm tra kỹ càng.

Chúng chỉ tìm thấy có một đồi đất nhỏ với một dòng suối tẻo teo chảy qua dưới chân đồi; Hook chắc chẳng còn sự chọn lựa nào khác ngoài việc lập trại trên quả đồi đó và chờ khi trời sáng.

Mọi việc đã được dự liệu một cách tài tình đến mức tinh quái.

Quân Da đỏ cuộn mình trong các tấm chăn và với sự thản nhiên lạnh lùng vốn được coi là biểu hiện ưu tú nhất của đấng nam nhi, chúng ngồi xổm trên ngôi nhà của bọn trẻ, chờ đợi thời khắc lạnh giá mà chúng sẽ reo rắc cái chết.

Chính trong lúc dù có cảnh giác nhưng vẫn mơ màng đến những cực hình mà chúng sẽ bắt quân cướp biển phải chịu, quân Da đỏ quá tin người này đã bị tên phản trắc Hook tấn công.

Theo những gì mà lính trinh sát sống sót sau cuộc tấn công đẫm máu kể lại, thì Hook thậm chí còn không thèm dừng lại trước cái quả đồi con con đó, dù trong ánh sáng mờ nhạt của bình minh, hắn chắc hẳn phải nhìn thấy nó.

Và dường như ý tưởng chờ kẻ thù tấn công cũng không hề lướt qua đầu óc tinh vi của hắn.

Lao thẳng vào kẻ thù, đó là mục tiêu duy nhất của Hook.

Thế là các lính trinh sát Da đỏ ta, dù là bậc thầy trong nghệ thuật chiến tranh trừ cái vụ đánh úp lần này - chẳng biết làm gì khác hơn là bất lực chạy theo sau cướp biển, khiến cho ai ai cũng nhìn thấy mình, miệng liên tục tuôn ra những tiếng kêu lâm ly của bọn sói.

Khoảng một tá các chiến binh anh dũng nhất đang vây quanh Hoa Huệ Vằn dũng cảm và đột nhiên họ thấy lũ cướp biển phản trắc lao về phía họ.

Thế là bức màn họ vẫn hình dung chiến thắng đột nhiên rách tan.

Họ sẽ chẳng trói ai trên đài nhục hình được nữa; các rừng săn thiên giới đang chờ đón họ, họ biết rõ điều đó nhưng là các chiến binh xứng đáng với tổ tiên, họ biết chết trong danh dự.

Ngay cả lúc này đây, lẽ ra họ đã có thể tạo thành đội hình chiến đấu vững chắc nếu họ đứng dậy thật nhanh.

Nhưng truyền thống của giống nòi không cho phép họ làm vậy.

Đã thành lệ là một nhà quý tộc Da đỏ không bao giờ được phép tỏ ra kinh ngạc trước mặt người Da trắng.

Và dù cho việc quân cướp biển lao tới có đáng sợ đến độ nào, họ vẫn bình thản yên lặng, không hề cử động một cơ bắp nhỏ, cứ như thể kẻ thù đến đây là do được mời.

Rồi sau khi đã tỏ ra tôn trọng truyền thống; họ bèn nắm lấy binh khí và không gian vang vọng tiếng hú chiến đấu oai hùng của họ.

Nhưng đã quá muộn mất rồi.

Chúng tôi không thấy có nhiệm vụ phải tường thuật lại một cuộc tàn sát chứ không phải là một cuộc chiến.

Và hầu hết các chiến binh Negrito ưu tú nhất đã tử trận.

Tất nhiên, nhiều người chết đi và vẫn rửa được hận vì Sói Gầy chết và cũng đã giết được Alf Mason, kẻ không còn quấy nhiễu được miền biển Caribê.

Nhiều tên khác cũng đã bỏ thây như Geo.Scourie, Chas.Turley và tên Alsatian Foggerty khủng khiếp.

Turley ngã xuống dưới lưỡi hái của Con Báo, người chiến binh đã thành công trong việc vạch một đường máu vượt qua hàng ngũ cướp biển cùng với Hoa Huệ Vằn và một nhóm nhỏ chiến binh của bộ lạc.

Hook đáng bị nguyền rủa đến mức nào trong chiến thuật đáng ngờ này?

Các sử gia sẽ là người quyết định.

Nếu hắn ta chờ đợi đến thời khắc phù hợp trên đỉnh đồi, cả hắn lẫn quân chắc sẽ bị nghiền nát, liệu ta có nên trách hắn về tội nhìn quá rõ khả năng này hay không?

Có lẽ hắn nên báo trước cho đối phương là hắn sẽ sử dụng một phương pháp mới: nhưng làm vậy sẽ giảm bớt hiệu quả của yếu tố bất ngờ, và làm hỏng hoàn toàn chiến lược của hắn.

Vấn đề quả là khó.

Ít ra ta cũng không thể không thán phục, dù là có đôi chút ngại ngần, bộ óc sản sinh ra một dự án táo bạo và được thực hiện với một thiên tài.

Không biết hắn nghĩ gì vào giờ chiến thắng?

Bọn cướp biển cũng muốn biết điều này ghê lắm.

Chúng vừa thở hổn hển, vừa lau những lưỡi dao đẫm máu, chúng kính cẩn đứng cách xa cái móc sắt của Hook và đưa cặp mắt đỏ ngầu ngắm nhìn con người phi thường ấy.

Chắc hẳn trong lòng hắn rộn lên niềm kiêu hãnh nhưng hắn chẳng để lộ ra ngoài tí nào.

Hắn đứng tách riêng khỏi đám quân của mình, nghĩa đen cũng như nghĩa bóng, hắn quả là một nỗi bí ẩn cô đơn và tăm tối.

Nhưng nhiệm vụ ban đêm vẫn chưa hoàn tất vì có phải hắn nhằm tấn công tiêu diệt quân Da đỏ đâu.

Quân Da đỏ chỉ là bầy ong mà hắn phải đốt khói xua đi trước khi với tới mật ong.

Hắn muốn bắt được Peter Pan: Pan, Wendy, và tất cả bọn trẻ.

Nhưng hắn muốn nhất vẫn là Pan.

Peter là một cậu bé quá bé nên ta có thể ngạc nhiên về nỗi căm hận mà chú đã gây ra cho Hook.

Đúng là Peter đã quẳng bàn tay của Hook cho cá sấu ăn nhưng sự cố này và cuộc sống nguy hiểm của Hook do việc con cá sấu dai dẳng bám theo cũng không đủ để giải thích nổi nỗi khao khát trả thù không gì dập tắt nổi nơi hắn.

Thực ra là một nét đặc biệt của Peter khiến nỗi căm hận giết người của tên trùm cướp biển không thể nào nguôi.

Không phải là lòng dũng cảm cũng không phải là vẻ ngoài đáng yêu của chú bé...

Thôi, cũng chẳng cần phải vòng vo làm gì, vì chúng tôi biết rõ tại áo và chúng tôi phải nói ra.

Đó chính là tính trâng tráo của Peter.

Sự trâng tráo này của Peter khiến thần kinh Hook lúc nào cũng như muốn nổ tung lên, khiến cho cái móc sắt của hắn ngứa ngáy, nhất là vào ban đêm.

Chừng nào Peter còn sống, tên cướp biển bị ma ám này còn cảm thấy như một con hổ trong cũi sắt nhìn thấy có con chim sẻ rơi vào trong cũi.

Và bây giờ phải tìm cách chui và trong các thân cây và đưa bọn cướp biển xuống.

Hắn nhìn cả bọn, mong tìm được những tên gày nhất.

Cả bọn cướp đều cảm thấy lúng túng vì chúng biết rằng Hook chẳng ngại ngần gì mà không dùng gậy ấn chúng vào lòng cây.

Còn bọn trẻ thì sao?

Khi nghe tiếng vũ khí chạm nhau lần đầu tiên, chúng ta đã thấy chúng cứng người vì sợ, tay đưa về phía Peter.

Giờ đây chúng đã im thít, tay buông xuôi theo người.Tiếng ồn ào trên đầu chúng dừng lại cũng đột ngột như khi bắt đầu.

Tiếng ồn qua đi như một ngọn gió nhưng bọn trẻ biết rằng số phận của chúng đang được quyết định.

- Ai thắng?

Bọn cướp biển căng tai nghe ngóng trên các thân cây rỗng, nghe được câu hỏi của từng đứa trẻ.

Thương thay, chúng nghe được cả câu trả lời của Peter:

- Nếu người Da đỏ thắng, họ sẽ đánh trống, họ thường vẫn báo hiệu chiến thắng như thế mà.

Smee đã vớ được đúng một chiếc trống tam tam và hắn đang ngồi lên trống.

- Chúng mày chẳng bao giờ được nghe tiếng trống nữa đâu - hắn lầm bầm vì Hook đã bắt chúng phải tuyệt đối im lặng.

Hắn ngạc nhiên khi thấy tên thủ lĩnh ra hiệu cho hắn đánh trống và dần dần, Smee hiểu ra sự xảo quyệt khủng khiếp trong mệnh lệnh mà hắn vừa nhận được.

Chưa bao giờ, tên cướp biển đầu óc đơn giản này lại khâm phục thủ lĩnh đến thế.

Smee gõ trống hai lần rồi dừng lại háo hức nghe ngóng dưới mặt đất.

- Trống!

Trống!

Da đỏ thắng rồi!

Quân tráo trở đã nhận ra giọng Peter.

Bọn trẻ bị số phận lừa đảo, hò hét vang trời, khiến quân khốn kiếp hởi lòng hởi dạ.

Rồi chúng chào Peter để ra đi.

Bọn cướp biển ngạc nhiên mất một lúc nhưng rồi các tình cảm khác của chúng đều mờ đi trước niềm vui đen tối khi thấy kẻ thù sắp trèo lên qua các thân cây rỗng.

Chúng nhìn nhau mỉm cười dữ tợn và xoa tay vui sướng. m thầm không tiếng động, Hook ra lệnh: mỗi cây một tên cướp còn các tên khác đứng thành hàng cách xa hai mét.

Chương 13

CÁC BẠN CÓ TIN VÀO TIÊN KHÔNG?

Chúng ta càng sớm kết thúc với những chuyện kinh khủng này càng tốt.

Người đầu tiên ra khỏi cây là Curly.

Nó vừa nhô ra thì đã bị Cecco túm lấy và chuyển cho Smee, rồi lại bị chuyển cho Startkey, rồi đến Bill L''Escarpe, rồi đến Noodler; bị ném từ tên này qua tên khác, nó rốt cuộc cũng rơi xuống chân thủ lĩnh đáng sợ.

Các cậu bé khác cũng bị tóm gọn khi ra khỏi thân cây và nhiều đứa bị ném lên cùng một lúc tựa như các gói hàng bị người ta tung chuyền tay.

Wendy ra khỏi cây sau cùng được đối xử khá hơn.

Với vẻ lịch sự mỉa mai, Hook giở mũ chào và đưa tay cho Wendy khoác để áp tải cô bé tới chỗ những đứa trẻ khác đang bị nhét giẻ vào miệng.

Hắn tỏ ra đầy nghi thức và kiêu kỳ đến độ cô bé cảm thấy quá mê hoặc nên không kịp khóc.

Dù sao Wendy cũng chỉ là một cô bé mà thôi.

Có lẽ là hơi thọc mạch khi nói rằng có một lúc Wendy đã bị ảnh hưởng bởi sức quyến rũ của Hook, và chúng tôi nêu lên điều này vì việc đó đem lại những hậu quả kỳ lạ.

Nếu Wendy đối xử với Hook một cách kiêu kỳ hơn (và chúng tôi sẽ rất vui mừng nếu được nói vậy), chắc cô bé sẽ bị ném lên không trung như những đứa trẻ khác và Hook chắc sẽ không đứng xem việc trói tay chân lũ trẻ.

Mà nếu hắn không đứng đó, chắc hắn sẽ không phát hiện ra điều bí mật của Slightly.

Và nếu không có điều bí mật đó, hắn đã không thể tấn công vào Peter một cách gian ngoan được.

Bọn trẻ bị trói để ngăn không cho chúng bay đi được.

Chúng bị trói gô, đầu gối sát lên tai và để có thể trói chúng lại như gà, tên cướp đen đã cắt một đoạn dây ra làm chín phần bằng nhau.

Mọi việc diễn ra suôn sẻ cho tới khi bọn cướp phát hiện ra rằng Slightly tròn xoe như một cái bị, buộc mãi buộc mãi vẫn không biết thắt nút vào đâu cho chắc.

Trong cơn tức giận, bọn cướp đạp lấy đạp để vào người Slightly cũng giống như khi ta xử lý các bị hàng tương tự (lẽ ra phải giày vò các sợi dây thì đúng hơn).

Và dù cho điều đó có đáng ngạc nhiên đến đâu, chính Hook lại là người chấm dứt các trò thô bạo ấy.

Hắn nở một nụ cười đắc thắng nơi khóe miệng.

Trong khi lũ lâu la ra sức trói cậu bé khốn khổ mà không được vì các sợi dây cứ trượt đi sang bên cạnh mỗi khi chúng trói được bên này thì hỏng bên kia.

Đầu óc siêu việt của Hook, chẳng mảy may để ý nhiều đến vẻ ngoài của Slightly, đã nghĩ đến nguyên nhân hơn là hậu quả và vẻ mặt tươi rói của hắn chứng tỏ hắn đã giải quyết xong vấn đề.

Slightly, mặt tái nhợt, hiểu ngay là Hook đã biết rõ bí mật của mình: đó là không đứa trẻ nào béo tròn xoay như nó lại có thể lên xuống trong một thân cây mà người lớn bình thường phải được đẩy mới đi lọt.

Slightly tội nghiệp cứ đờ người ra vì khiếp hãi khi nghĩ đến Peter, và nó xót xa ân hận những điều nó đã làm.

Trời cứ hơi nóng lên là nó uống nước như thùng ton nô và béo lên một cách đáng lo ngại, và đáng ra phải ăn kiêng cho thon lại và vừa với thân cây của mình, nó đã giấu những đứa khác và nới rộng bụng cây ra.

Hook nay đã biết rõ rằng Peter đang nằm trong tầm tay của hắn.

Nhưng hắn không hé một lời nào về dự định đen tối của mình: hắn chỉ vẫy tay ra lệnh đưa tù nhân về thuyền và cho biết hắn muốn được ở một mình.

Làm sao đưa được lũ trẻ đi?

Vì cả bọn bị trói gô cả rồi, lăn chúng đi dọc đường dốc như lăn các thùng ton nô còn có thể được, nhưng còn vướng một cái đầm lớn ngang đường.

Một lần nữa, thiên tài của Hook lại giúp vượt qua khó khăn này.

Hắn ra lệnh sử dụng ngôi nhà nhỏ như công cụ vận chuyển.

Bọn trẻ được chất chồng chất đống trong nhà và bốn người lực lưỡng nhấc nhà lên, khiêng trên vai, các tên khác đi theo chúng, vừa đi vừa hát bài ca đáng gờm của bọn cướp biển, cả đoàn rước kỳ dị này đi xuyên qua rừng.

Tôi không biết liệu có một vài đứa trẻ nào khóc không nhưng dù sao thì tiếng gào rú của bọn cướp biển cũng làm át mất tiếng nức nở của chúng.

Nhưng trong khi túp lều dần khuất trong bóng lá rừng, một ngọn khói mảnh mai nhưng kiên cường bốc lên từ ống khói ngôi nhà ngầm như để thách thức Hook.

Tên thuyền trưởng cướp biển chẳng bỏ qua ngọn khói ấy và nó cũng làm hại Peter, chút thương hại còn sót lại trong tâm khảm vốn tàn nhẫn của Hook cũng bị bóp chết nốt.

Ngay khi còn lại một mình trong ánh chiều tà, Hook bèn rón rén tiến lại gần cây của Slightly và thử cho chắc rằng hắn có thể xuống được qua đường thân rỗng.

Sau đó, hắn ngồi suy nghĩ rất lâu, mũ ba sừng đặt trong cỏ còn tóc bay phất phơ trong gió.

Dù ý nghĩ của hắn tăm tối đến đâu, mắt hắn vẫn xanh biếc như màu hoa bìm xanh.

Hắn tập trung chú ý, tai vểnh lên nghe ngóng từng tiếng động nhỏ vọng lên từ dưới lòng đất, nhưng lòng đất sâu cũng im lặng như tờ như trên mặt đất vậy.

Ngôi nhà ngầm dưới đất có vẻ như bị bỏ hoang.

Peter đã ngủ hay đang lăm lăm tay dao chờ dưới gốc thân cây của Slightly?

Muốn biết thì phải trèo xuống.

Hook hất áo choàng rơi ra rồi cắn môi đến bật máu, hắn bắt đầu leo vào lòng cây rỗng.

Hắn là người can đảm nhưng cũng phải dừng lại một lúc để thấm mồ hôi trán đổ ra như suối.

Rồi hắn lặng lẽ trượt xuống chốn sâu bí ẩn.

Hắn xuống khỏi gốc thân cây không khó khăn gì và lại dừng lại một lúc để lấy lại hơi thở do nín quá lâu.

Trong lúc mắt hắn làm quen với bóng tối, hắn dần nhận biết đường viền quanh các đồ vật trong căn nhà.

Nhưng thứ duy nhất khiến hắn tìm mãi rồi cứ nhìn chằm chằm vào, đó là chiếc giường lớn.

Peter nằm dài trên giường, ngủ say sưa.

Chẳng biết gì về cuộc chiến diễn ra trên mặt đất, sau khi bọn trẻ ra đi, Peter vẫn tiếp tục vui vẻ thổi cây sáo sậy - đó cũng là ý đồ hơi đáng thương của cậu chàng nhằm tỏ ra ta đây chẳng màng gì chuyện ra đi của các người.

Sau đó, chú quyết định không uống thuốc,coi đó là một hành động chống lại Wendy.

Rồi chú nằm dài trên giường, không thèm đắp chăn, để làm Wendy tức thêm một tí, vì Wendy luôn luôn nhém chăn thật chặt cho tụi trẻ để tránh chúng bị lạnh trong đêm.

Sau đó, chú suýt khóc nhưng nghĩ lại chắc Wendy sẽ tức ghê lắm nếu thấy chú cười.

Thế là chú bèn cười váng cả nhà và rồi đột nhiên lăn ra ngủ thiếp đi.

Đôi khi, Peter nằm mơ, những giấc mơ khó chịu hơn những cậu bé khác.

Hàng giờ liền, chú không thể dứt ra khỏi được những giấc mơ đó và cứ rên rỉ trong mơ.

Chắc là các giấc mơ đó liên quan đến bí ẩn của cuộc đời...

Thường thì Wendy lôi chú ra khỏi giường, đặt chú ngồi lên lòng và dỗ dành chú theo các kiểu tự Wendy nghĩ ra, rồi khi, chú đã dịu đi, Wendy lại cho chú vào giường, còn dở thức dở ngủ, cho nên chú chẳng biết được Wendy đã hạ thấp giá trị của chú như thế nào.

Nhưng tối hôm đó, chú đột nhiên rơi vào một trạng thái ngủ không mơ mộng gì.

Một tay rơi ra khỏi giường, chân gập lại và nụ cười dở dang vẫn còn đọng nơi khóe miệng để lộ hàm răng xinh xắn.

Hook đã bắt gặp được Peter trong tình trạng không hề được bảo vệ.

Hắn đứng yên lặng dưới gốc cây, ngắm nhìn kẻ thù của mình ở phía bên kia phòng.

Phải chăng trong tâm khảm đen tối của hắn, hắn có cảm nhận một mối thương cảm nào đó?

Hắn không phải là người xấu hoàn toàn: hắn yêu hoa (người ta mách với tôi như vậy), và nhạc êm dịu (hắn chơi kèn cla-vơ-xanh rất hay); và cũng phải thừa nhận rằng, cảnh tượng trước mắt khiến hắn cảm động.

Nếu lòng tốt thắng thế, hắn chắc sẽ miễn cưỡng trèo lên cây trở lại, nhưng có một chi tiết cản hắn: vẻ láo xược của Peter ngay cả trong giấc ngủ.

Miệng mở, tay buông lơi, đầu gối gập lại, Peter là cả một sự hỗn hào, một sự thách thức sỗ sàng khiến Hook không tài nào chịu được, khiến trái tim hắn rắn lại.

Nếu trong cơn điên giận, hắn mà nổ tung ra thành trăm mảnh, chắc hẳn cả trăm đều sẽ nhảy bổ vào kẻ đang ngủ.

Chiếc giường được rọi sáng bởi ngọn đèn con duy nhất trong phòng còn Hook đứng trong bóng tối.

Khi hắn tiến lên một bước, hắn bỗng vấp phải cánh cửa cái cây của Slightly.

Cửa không cao bằng lỗ trổ và Hook nhìn được qua cửa.

Hắn đưa tay tìm chốt cửa và tức tối khi thấy chốt nằm quá thấp so với tầm tay hắn.

Đầu óc lộn xộn khiến hắn dường như thấy Peter còn giễu cợt hắn nhiều hơn và hắn điên cuồng xô cửa, định dùng vai phá cửa xông vào.

Liệu kẻ thù của hắn có trốn thoát được lần này?

Nhưng hắn nhìn thấy gì kia nhỉ?

Con mắt đỏ đọc của hắn đã thoáng thấy liều thuốc của Peter để trên chiếc giá gỗ gần tầm với của cậu bé.

Hook hiểu ngay công dụng của liều thuốc và đồng thời cũng biết ngay số phận cậu bé đang ngủ đã nằm trong tay hắn.

Do sợ bị bắt sống, Hook luôn mang theo người một thứ thuốc độc cực mạnh do hắn tự tay chế tạo từ tất cả các liều thuốc độc trong chiếc nhẫn mà hắn đã bắt được.

Hắn cho cô đặc thứ nước đó thành một loại chất lỏng màu vàng mà khoa học chẳng biết đặt tên là gì, và chắc hẳn đó phải là thứ thuốc độc mạnh nhất trên trái đất.

Hắn đổ năm giọt thuốc vào cốc của Peter.

Tay hắn run lên vì kích động chứ không phải vì hổ thẹn.

Vừa rót, hắn vừa tránh không nhìn đứa trẻ đang ngủ, không phải vì sợ sẽ mủi lòng thương mà vì sợ sẽ làm rơi thuốc độc ra ngoài.

Đôi mắt rực lửa của hắn cứ nhìn mãi và nạn nhân, rồi hắn khó nhọc quay trở lên mặt đất qua lòng thân cây rỗng.

Khi ra khỏi lỗ cây, trông hắn đúng là hiện thân của cái ác đang ra khỏi hang động của mình.

Hắn gập mũ trông cho có vẻ hiếu chiến và quấn mình trong chiếc áo choàng, xoay một góc áo ra trước mặt như để giấu mình khỏi bóng đêm trong khi chính mình lại là một thứ tăm tối nhất đời.

Hắn vừa lẩm bẩm những lời gì không ai hiểu rõ vừa rời xa dần trong bóng cây.

Peter vẫn ngủ.

Ngọn nến chập chờn rồi phụt tắt, để cả căn nhà ngập chìm trong bóng tối, nhưng Peter vẫn ngủ.

Rồi chắc là vào lúc mười giờ theo đồng hồ con cá sấu, đột nhiênp ngồi bật dậy, chẳng biết vì sao mà thức giấc nữa.

Thật ra đó là vì có các tiếng gõ nhẹ nhẹ, khẽ khàng vào thân cây của Peter.

Nhẹ và thận trọng, nhưng vì thế mà lại có vẻ gì đáng lo ngại.

Peter tìm con dao găm của mình và tay nắm chặt dao, chú hỏi:

- Ai đấy?

Im lặng một lúc rồi lại có tiếng gõ.

- Ai đấy?

Không có tiếng trả lời.

Peter cảm thấy kích thích bởi trí tò mò và chú thích thế.

Chỉ hai bước là chú đã nhảy tới bên cửa.

Khác với cửa của Slightly, cửa của cây Peter vừa khít với khuôn trổ đến mức mà chú không thể nào nhìn qua phía trên cửa được.

- Ta sẽ chỉ mở nếu ngươi chịu nói - Peter kêu lên.

Cuối cùng, khách mới chịu mở giọng, mà thật ra là một cô khách với giọng nói ngân lên như chuông bạc.

- Peter, mở cho tớ vào.

Đó là Tinker Bell.

Peter nhanh nhẹn mở chốt cửa.

Tinker Bell bay vòng vòng quanh phòng đầy vẻ kích động, mặt đỏ bừng bừng và váy lấm bùn.

- Có chuyện gì vậy?

- Cậu sẽ chẳng bao giờ đoán nổi đâu - Tinker Bell kêu lên.

Và cô ta đề nghị Peter đưa ra ba câu hỏi.

- A, thôi đi!

Kể đi nào!

Chỉ bằng một câu thôi, cấu trúc lủng củng, dài dằng dặc, Tinker Bell báo cho Peter biết là cả Wendy lẫn bọn trẻ lạc đều bị bắt.

Tim Peter nhảy lên như muốn vỡ ra.

Wendy đã bị bắt, mà lại đang bị cầm tù trên chiếc thuyền hải tặc!

Mà Wendy lại là người cẩn thận, lúc nào cũng muốn mọi sự đâu ra đấy!

- Tớ sẽ đi cứu cô ấy - Peter vừa reo vừa nhảy bổ về nơi để vũ khí.

Vừa nhảy nhót, chú vừa nghĩ làm gì thì Wendy thích nhất.

Hay uống thuốc chẳng hạn.

Tay chú đưa ra cầm lấy cốc thuốc tai họa.

- Không được - Tinker Bell hét lên, cô ta đã nghe được những lời Hook lầm rầm về trò hèn hạ của hắn khi hắn đi vào rừng.

- Tại sao?

- Vì thuốc bị tẩm thuốc độc rồi!

- Tẩm thuốc độc à?

Ai tẩm mới được chứ?

- Hook.

- Cậu ngốc thế.

Hook làm thế nào mà vào được đây chứ?

Không may là Tinker Bell không biết trả lời như thế nào vì chính cô ta cũng không biết bí mật của thân cây của Slightly.

Tuy nhiên, những lời lầm rầm của Hook mà Tinker Bell nghe được chẳng thể nào sai.

Cốc thuốc đã bị tẩm thuốc độc.

- Với lại - Peter quả quyết và chú cũng tin chắc là như thế - tớ có ngủ một phút nào đâu.

Và chú lại giơ cốc thuốc lên.

Chẳng còn kịp nói nữa.

Thoắt một cái, Tinker Bell len vào giữa môi Peter và chiếc cốc và hít một hơi hết sạch.

- Sao cậu lại dám uống thuốc của tớ?

Tinker Bell không trả lời.

Cô bắt đầu lảo đảo trong không khí.

- Cậu sao vậy?

- Peter đột nhiên phát hoảng kêu lên.

- Thuốc có chất độc, Peter à - Tinker Bell dịu dàng nói - Bây giờ tớ sắp chết đây.

- Ôi Tinker Bell, cậu uống thuốc để cứu tớ à?

- Đúng vậy.

- Tại sao thế hở Tinker Bell?

Đôi cánh gần như không đỡ nổi Tinker Bell nữa nhưng cô đậu xuống vai Peter và nhẹ nhàng cắn vào cằm chú bé và khẽ nói:

- Đồ ngốc.

Sau đó, cô lảo đảo bay về phòng mình và nằm dài xuống giường.

Peter tuyệt vọng quỳ xuống bên Tinker Bell, đầu chú to che gần thành cả bức tường của căn phòng tí xíu của Tinker Bell.

Ánh sáng của Tinker Bell ngày một yếu dần và Peter biết rằng khi nào ánh sáng tắt hẳn, Tinker Bell sẽ không còn tồn tại nữa.

Tinker Bell hạnh phúc vô cùng khi thấy Peter khóc và cô ta đưa mấy ngón tay thon nhỏ ra vuốt khẽ lên những giọt nước mắt của Peter.

Tinker Bell bắt đầu thì thầm rất khẽ, khẽ đến mức Peter không hiểu rõ những lời cô nói.

Tuy nhiên, chú hiểu là hình như Tinker Bell có thể qua khỏi nếu trẻ em tin là có tiên tồn tại trên đời.

Peter dang rộng đôi tay.

Trời đang đêm và quanh đó chẳng có lấy một đứa trẻ nào.

Tuy nhiên, chú gọi tất cả những đứa trẻ đang mơ về xứ sở Neverland và do vậy, ở gần chú hơn là các bạn tưởng.

Chú gọi tất cả các cô bé, cậu bé và những đứa còn cởi truồng nằm nôi treo trên các cành cây.

- Các cậu có tin vào tiên không?

Tinker Bell bật mình dậy với sức lực của kẻ đang muốn xem số phận mình rồi sẽ ra sao.

Cô ta dường như nghe thấy những tiếng trả lời có nhưng không chắc chắn lắm.

- Cậu bảo sao?

- Tinker Bell hỏi Peter.

- Nếu các cậu tin là có tiên, vỗ tay vào nhau đi, đừng để Tinker Bell phải chết.

Nhiều cô bé cậu bé nghe tiếng gọi đã vỗ tay.

Một số không vỗ tí nào.

Còn một số rất ít kẻ xấu xa lại còn huýt sáo.

Tiếng vỗ tay đột ngột ngưng bặt, dường như các bà mẹ đang vội chạy vào phòng trẻ con để xem có chuyện gì xảy ra.

Nhưng chỉ cần thế là đủ để cứu Tinker Bell rồi.

Giọng cô ta bớt run, rồi Tinker Bell nhẩy ra khỏi giường và bắt đầu tỏa sángo căn phòng một cách tươi vui và nhâng nháo hơn bao giờ hết.

Cô ta chẳng hề nghĩ tới việc phải cảm ơn những kẻ đã tin vào tiên, nhưng chắc cô ta sẽ rất hài lòng nếu tóm được những kẻ đã huýt gió.

- Nào, bây giờ thì đi cứu Wendy.

Trăng chập chờn trôi qua bầu trời đầy mây khi Peter ra khỏi thân cây, vũ trang tới tận răng và ăn bận rất sơ sài để đi thực thi nhiệm vụ nguy hiểm của mình.

Đêm nay chẳng hề thuận lợi cho dự định của Peter tí nào.

Chú định bay là là gần mặt đất để không gì có thể lọt qua được đôi mắt cú của chú, nhưng với ánh trăng chập chờn như thế này, bay thấp cũng làm cho bóng mình ẩn hiện trong đám lá cây, khiến bọn chim bị xao động và báo cho kẻ thù cảnh giác biết trước sự hiện diện của mình.

Bây giờ chú mới hối tiếc đã đặt cho lũ chim trên đảo những cái tên kỳ dị đến mức giờ đây chúng đã trở nên hoang dã và gần như không để cho ai đến gần.

Chỉ có mỗi một cách tiến lên: đó là đi theo kiểu mọi Da đỏ.

May là chú đã quen kiểu đi này từ lâu.

Nhưng đi theo hướng nào đây?

Chú không chắc rằng bọn trẻ cũng bị đưa lên thuyền.

Một lớp tuyết nhẹ đã xóa hết các dấu vết và sự im lặng chết chóc ngập tràn trên đảo tựa như thiên nhiên vẫn còn khiếp sợ trước trận chiến đẫm máu vừa qua.

Peter đã dạy cho bọn trẻ một số mánh khóe chú học được từ Hoa Huệ Vằn và Tinker Bell.

Chú biết chắc rằng trong những lúc nguy kịch như thế này, bọn trẻ sẽ nhớ đem ra sử dụng.

Nếu có thể thì Slightly sẽ đốt cây chẳng hạn.

Curly sẽ gieo hạt trên đường đi còn Wendy sẽ đánh rơi khăn tay ở những nơi trọng yếu.

Nhưng để có thể định hướng theo tất cả các dấu vết ấy, phải chờ tới lúc trời sáng mà đối với Peter, mỗi phút đều quý.

Thế giới này cần chú nhưng không giúp được gì cho chú cả.

Con cá sấu vượt qua Peter nhưng ngoài nó ra chẳng còn bóng dáng một sinh vật nào.

Không có một tiếng động, không có gì cựa quậy.

Vậy mà chú biết rằng cái chết bất ngờ có thể chờ chú ở cái cây phía trước hoặc đang rình rập từ phía sau.

Chú kêu lên một tiếng để khai chiến:

- Lần này, sẽ chỉ có ta và mi một sống một chết mà thôi, Hook!

Peter bắt đầu bò trườn như rắn.

Rồi chú lao như tên bắn qua một khoảng trống tràn ngập ánh trăng.

Một ngón tay trên môi còn tay kia lăm lăm con dao găm sẵn sàng chiến đấu, Peter cảm thấy hạnh phúc tột cùng.

Chương 14

CHIẾC THUYỀN HẢI TẶC

Một ngọn đèn xanh nhấp nháy trên lạch Kidd, ngay chỗ cửa sông của bọn cướp biển.

Ngọn đèn chỉ chỗ neo chiếc thuyền hai buồm Jolly Roger của thuyền trưởng Hook.

Ngấp nghé mặt nước, mũi thon dài, mạn thuyền cáu bẩn tựa như mặt đất lổng chổng những ngọn lông vũ tơi tả và bẩn thỉu, đáng ghét đến từng thớ thuyền một, đó chính là tên ăn thịt người trên biển và ngọn đèn báo hiệu rõ là thừa vì chỉ nguyên tiếng tăm đáng gờm của con thuyền cũng đã đủ để bảo vệ nó rồi.

Bóng đêm dày đặc bao bọc con thuyền, dường như chẳng tiếng kêu nào trên thuyền có thể vươn tới bờ được.

Trên thuyền chỉ nghe có tiếng xọc xạch của chiếc máy khâu với Smee đang chúi đầu trên đó, hắn vốn là tay sốt sắng, cần cù và lâm ly thống thiết.

Tại sao hắn lại mang vẻ lâm ly đến thế nhỉ?

Có lẽ là vì chính hắn cũng không ngờ tính mình lại như thế.

Kể cả những người rắn rỏi nhất nhiều khi cũng phải quay mắt tránh nhìn hắn và nhiều lần trong những tối mùa hè, hắn cũng làm Hook phải tuôn rơi nước mắt.

Về chuyện này cũng như về nhiều chuyện khác, Smee hoàn toàn không hề biết.

Một vài tên cướp tựa mình trên mạn tàu đang uống rượu và thở hít những làn hơi nồng nặc ban đêm.

Một vài tên khác ngồi vạ vật gần các thùng rượu, đang chơi bài.

Bốn tên đã khiêng ngôi nhà nhỏ của tụi trẻ nằm lăn trên boong tàu và ngay trong giấc ngủ chúng cũng khéo léolăn sang góc này, góc kia, tránh khỏi tầm tay của Hook để khỏi xơi một nhát móc nào đó khi hắn bước ngang qua.

Tên thuyền trưởng trầm tư sải bước trên boong tàu.

Quả là một con người khó dò!

Đây là giờ phút chiến thắng của hắn.

Hắn đã hoàn toàn loại Peter ra khỏi đường đi của mình và tất cả bọn con trai khác đều đã bị cầm tù trên tàu, sắp bị ném xuống biển.

Hắn vừa thực hiện hành vi độc ác nhất kể từ khi hắn chế ngự được Barbecue.

Chúng ta đều biết lòng dạ con người đều ngập tràn tính tự cao tự đại như thế nào nên chẳng ai ngạc nhiên gì khi thấy Hook đi đi lại lại trên boong tàu, đầu óc ngây ngất vì hương vị vinh quang.

Thế nhưng bước đi của hắn dường như thiếu hẳn niềm vui, cũng là từ những nỗi niềm đang gặm nhấm trái tim tăm tối của hắn.

Hook, thực ra đang suy sụp tinh thần ghê gớm.

Hắn thường hay bị như vậy khi hắn ở trên tàu trong sự tịch mịch của đêm tối, trong khi đang nghiền ngẫm về chính bản thân mình.

Vì hắn quả là một con người cô đơn khủng khiếp.

Và con người khó hiểu này lại càng cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết mỗi khi hắn ở giữa đám cướp biển vốn thuộc đẳng cấp xã hội thấp hơn hắn rất nhiều.

Hook không phải là tên thật.

Tiết lộ gốc gác của hắn có nghĩa là ta sẽ làm cho xứ sở bị đảo lộn nhưng như những kẻ tinh ý có thể nhận thấy, Hook xuất thân từ một ngôi trường công lập nổi tiếng và các truyền thống của trường vẫn còn đeo dính theo hắn như quần như áo vậy (và các truyền thống này cũng có dính líu cả tới việc ăn mặc nữa).

Do vậy, hắn cảm thấy không thể chấp nhận được việc lên một con tàu mà vẫn mặc cùng một bộ quần áo đã dùng trong khi chiến đấu để chinh phục con tàu đó.

Và trong dáng đi của hắn có bước điệu đà quý phái của học sinh ngôi trường nổi tiếng nói trên.

Nhưng mạnh hơn hết thảy, đó là niềm khao khát kiểu cách quý phái vẫn luôn sống động trong con người hắn.

Dù hắn rơi xuống thang bậc nào của xã hội, phong cách quý tộc đối với hắn vẫn là tất cả ý nghĩa trên đời.

Tận đáy lòng, hắn nghe như có tiếng rít lên ken két của một cánh cửa han rỉ, kèm theo có tiếng đập đều đều như thứ tiếng ta thường nghe thấy mỗi khi không ngủ được.

"Mày đã tuân thủ theo các nghi thức ứng xử chưa?"

Đó là câu hỏi thường xuyên.

- Vinh quang thuộc về ta, vinh quang!

Bả phù hoa!

- Hắn kêu lên.

- Thế xuất sắc về một điều gì đó có đáng gọi là quý phái không?

- Tiếng đập đều đều từ xưa vọng lại.

- Ta là người duy nhất khiến Barbecue run sợ - hắn tha thiết nói - Chính Flint cũng sợ Barbecue.

- Barbecue, Flint...

Thuộc phân đội nào?

Thật là một câu trả lời như quất vào mặt.

Hơn hết thảy, đó là một câu hỏi đầy trăn trở: cứ chăm chăm nghĩ đến quý phái thì có còn là quý phái?

Hắn cảm thấy bị dày vò bởi vấn đề này.

Dường như có một thứ móng vuốt cào hắn từ bên trong, sắc bén hơn cả cái móc sắt nơi tay hắn và trong khi nó đang vò xé hắn ra như vậy thì hắn đổ mồ hôi, từng giọt từng giọt lớn chảy ròng ròng trên tấm áo chẽn.

Lúc lúc, hắn lại thấm mồ hôi bằng cách đưa ống tay áo chùi mặt nhưng chẳng thể nào ngăn được mồ hôi chảy ròng ròng.

Các bạn ơi, thật chẳng nên ao ước được như Hook làm gì...

Đột nhiên, hắn như cảm thấy trước sự hủy diệt sắp tới gần.

Dường như tiếng vọng của lời nguyền kinh khủng khiếp của Peter đang vang lên trên boong tàu.

Và Hook cảm nhận thấy mối thèm khát được chào từ biệt cuộc đời, vì hắn quá sợ bị dòng thời gian làm lỡ dở.

- Ôi Hook!

Sao hắn lại không bớt tham vọng đi nhỉ?

- Hắn tự nhủ.

Vào những thời điểm gay go nhất, hắn thường nói về mình ở ngôi thứ ba.

- Không đứa trẻ nào yêu mình.

Mối quan tâm lạ đời này chưa bao giờ khiến hắn bận tâm, có thể đó là do chiếc máy khâu làm hắn nảy sinh ý nghĩ đó.

Hắn lẩm bẩm một mình rất lâu, vừa nói vừa nhìn Smee đang hát ư ử, lòng Smee tin chắc rằng bọn trẻ sợ mình ghê.

Sợ ư?

Hắn, Smee, mà lại được người ta sợ!

Ngay đêm đầu tiên lên chiếc thuyền hai buồm này, tất cả bọn trẻ đều thấy quý Smee.

Hắn nói với chúng những điều kinh dị, đánh chúng bằng lòng bàn tay chứ không tài gì vung nắm đấm ra được, nhưng cả bọn đều bám rịt lấy chân hắn.

Michael thậm chí còn lấy cả kính của Smee đeo thử.

Làm sao giải thích được cho Smee hiểu là bọn trẻ con yêu hắn!

Hook ngứa ngáy cả lưỡi, chỉ muốn nói phắt ngay ra, nhưng việc vén màn sự thật này có vẻ phũ phàng quá.

Hắn đành quay lại nghiền ngẫm điều bí ẩn này trong đầu: tại sao tụi trẻ lại yêu Smee?

Là người tinh ý, hắn đào sâu vào điều bí ẩn này.

Nếu chúng yêu Smee thì điều gì khiến chúng yêu như vậy?

Một câu trả lời, hùng hồn, đột nhiên ập tới: chính là phong cách quý phái chăng?

Có lẽ viên quản lý có phong thái quý phái mà không biết chăng, và điều này lại mới chính là điều cốt lõi nhất.

Hắn nhớ lại là cần phải chứng minh được phong cách tự nhiên mà có mới mong được kết nạp vào câu lạc bộ Siêu quý tộc của trường Etơn.

Hắn kêu lên một tiếng đầy tức giận và huơ cái móc sắt thay tay trên đầu Smee, nhưng rồi hắn lại kìm được.

Người ta sẽ nói sao về một người đi giết kẻ khác chỉ vì kẻ kia có phong cách lịch sự quý phái?

Chắc mọi người sẽ cho rằng kẻ giết người mới là kẻ hoàn toàn không có lịch sự lịch seo gì hết.

Hook bất hạnh cảm thấy bất lực và đẫm mồ hôi.

Hắn ngã bổ chửng về phía trước như một bông hoa bị cắt cuống.

Đồng bọn tưởng hắn bị choáng một lúc, kỷ luật lỏng lẻo hẳn ra và chúng lao vào nhảy múa trong một vũ điệu điên cuồng đến độ Hook nhảy dựng ngay dậy, mọi dấu hiệu yếu đuối biến mất, cứ như thể vừa được rửa toẹt đi.

- Im ngay, quân vô dụng, nếu không ta moi ruột chúng bay ra.

Tiếng ồn ào im bặt.

- Bọn trẻ đã bị trói chưa?

Chúng có thể bay được không?

- Thưa thuyền trưởng, đã trói rồi.

- Vậy lôi chúng lên boong tàu.

Bọn tù binh tội nghiệp trừ Wendy, bị kéo khỏi hầm tàu và dẫn tới xếp hàng trước mặt thuyền trưởng.

Hắn dường như quên mất sự có mặt của chúng trong giây lát.

Mặt tỉnh phớt, hắn khẽ hát lầm bầm vài đoạn của một bài hát dung tục, tay nghịch một bộ bài.

Lát lát, đầu điếu xì gà của hắn lại đỏ lên, chiếu một vệt màu lên gương mặt hắn.

- Nào, đồ ngu ngốc - hắn thô bạo nói - sáu người trong số chúng mày sẽ phải nhảy cầu tối nay.

Nhưng ta còn có chỗ cho hai lính thủy tập sự trên cabin.

Ai muốn xung phong nào?

- Chớ có làm hắn cáu vô ích - Wendy đã khuyên bọn trẻ lúc còn ở dưới khoang tàu.

Tootles lịch sự tiến lên.

Ý tưởng phải phục vụ một con người như vậy khiến nó kinh tởm nhưng linh cảm báo với nó rằng cẩn thận nhất sẽ là đổ trách nhiệm cho một người vắng mặt, và dù nó có hơi ngố, nó cũng biết rằng các bà mẹ luôn luôn sẵn sàng chịu hy sinh.

Tất cả bọn trẻ con đều biết điều đó và chính vì lẽ đó mà chúng coi thường các mẹ và không bao giờ bỏ lỡ việc tranh thủ các bà.

Tootles do vậy, giải thích một cách thận trọng:

- Thưa ông, tôi không nghĩ rằng mẹ tôi muốn tôi trở thành cướp biển.

Còn mẹ cậu sao, Slightly?

Nó nháy mắt với Slightly, và cậu này trả lời bằng giọng tuyệt vọng, cứ như thể nó những mong mẹ nó suy nghĩ khác đi:

- Tôi không nghĩ là mẹ tôi muốn vậy.

- Còn cậu, Anh Sinh đôi, mẹ cậu có muốn cho cậu trở thành cướp biển không?

- Tôi không nghĩ thế - Anh Sinh đôi nói - nó cũng khôn như bọn khác.

- Này Nibs, liệu...

- Dừng ngay cái trò khỉ ấy lại!

- Hook gầm lên.

Và những người phát ngôn hộ người khác bị đẩy lùi lại phía sau.

- Này cậu trai - hắn tiếp lời nói với John - trông cậu có vẻ can đảm đấy.

Nói cho ta hay, có bao giờ cậu có ý định trở thành cướp biển không?

Thực tế là đôi khi John cũng có ý đồ như vậy mỗi khi vào giờ toàn, và nó rất thích khi được Hook để ý.

- Có lần, tôi rất thích được gọi là Jack Bàn tay máu - John rụt rè nói.

- Tên hay thật!

Nếu cậu đến với bọn ta, ta sẽ gọi cậu bằng tên đó.

Cậu nghĩ sao Michael?

- Thế nếu tôi gia nhập thì tên tôi là gì?

- Joe Râu đen.

- John thấy thế nào?

- Michael vô cùng ấn tượng hỏi lại John.

Nó muốn John quyết định thay nó còn John lại muốn điều ngược lại.

- Thế mình có còn là thần dân trung thành của đức vua nữa không?

- John hỏi.

Hook nghiến răng đáp:

- Các ngươi phải thề: "Đả đảo nhà vua!"

Có thể là cho tới lúc đó, John không cư xử đúng mực cho lắm nhưng lúc này thì nó chợt dũng cảm vô cùng:

- Thế thì tôi từ chối!

- Nó kêu lên và đấm vào chiếc thùng ton nô trước mặt Hook.

- Tôi cũng từ chối - Michael tiếp lời.

- Nước Anh muôn năm!

- Curly cũng khẽ hô lên.

Bọn cướp biển tức tối đánh vào mặt Curly còn Hook thì gầm lên:

- Mày đã ký vào bản án tử hình của mày rồi đấy!

Dẫn mẹ của chúng nó ra đây.

Chuẩn bị cầu nhảy đi!

Không bút gì tả xiết nỗi kinh hoàng của Wendy đối với bọn cướp biển.

Bọn con trai còn thấy lũ cướp biển mang ánh hào quang của cuộc phiêu lưu nhưng Wendy thì chỉ thấy có một thứ: tình trạng bẩn thỉu kinh khủng của con tàu.

Các cửa sổ tròn trên mạn tàu đều dày bụi và ta có thể dễ dàng viết lên dòng chữ "Đồ lợn", Wendy đã viết rất nhiều dòng như thế.

Nhưng khi thấy bọn con trai túm lại quanh mình, Wendy chỉ còn một ý nghĩ duy nhất: làm sao để cứu được bọn trẻ.

- Thế nào, người đẹp - Hook nói ngọt nhạt - ngươi sẽ thấy các con ngươi làm bước lặn cuối cùng.

Dù hắn có tinh tế đến mấy trong mối hận của mình, Hook đã làm bẩn cổ áo vì toát mồ hôi quá nhiều và đột nhiên hắn nhận ra là Wendy nhìn hắn chằm chằm.

Hắn nhanh tay định giấu cổ áo đi nhưng đã quá muộn.

- Chúng sắp phải chết ư?

- Giọng Wendy vừa kinh hãi lại pha trộn với sự khinh miệt hiển nhiên đến nỗi tên cướp biển suýt xỉu.

- Đúng thế - Hook gầm gừ, mắt hắn như tóe lửa - Tất cả mọi người im lặng.

Hãy nghe những lời cuối cùng của bà mẹ nói với các con mình.

Và Wendy tỏ ra thật tuyệt vời:

- Các con yêu quý, đây là những lời cuối cùng của mẹ - cô bé rắn rỏi nói - Ta có lời nhắn từ các bà mẹ thật sự của các con.

Đó là "Chúng ta mong muốn các con trai của chúng ta sẽ chết như những thần dân xứng đáng của đức vua."

Bọn kẻ cướp cũng phải thán phục và Tootles phấn khích kêu lên:

- Tôi sẽ hành động như ước muốn của mẹ tôi.

Nibs, cậu tính sao?

- Như lời mẹ tớ muốn, còn cậu, Anh Sinh đôi?

- Như mẹ tớ mong muốn, còn cậu John?

Nhưng Hook đã lấy lại bình tĩnh và ra lệnh:

- Trói con kia lại!

Smee trói Wendy vào cột buồm.

- Này cô bé xinh đẹp - hắn thì thầm - nếu cô hứa làm mẹ tôi, tôi sẽ cứu cô.

Nhưng Wendy không thể hứa một điều như vậy ngay cả với Smee.

- Tôi thà là không có con còn hơn - Wendy kiêu hãnh trả lời.

Tuy nhiên cũng phải thừa nhận là không một cậu trai nào nhìn Wendy trong khi Smee trói cô bé vào cột buồm.

Cả bọn còn đang chằm chằm nhìn vào chiếc cầu ván, nơi chúng sẽ có một cuộc đi dạo ngắn ngủi cuối cùng.

Đầu óc như bị tê liệt, chúng chẳng còn sức lực để hy vọng là chúng sẽ hoàn tất cuộc dạo chơi một cách không sơ suất gì.

Chúng chỉ có thể nhìn và rùng mình.

Hook quan sát chúng với nụ cười nơi khóe miệng và hắn bước một bước về phía Wendy.

Hắn muốn ép Wendy phải ngoảnh mặt nhìn từng cậu bé bước đi đến tận cùng tấm ván.

Nhưng Hook không bao giờ đến được bên Wendy, không bao giờ hắn có thể được nghe tiếng kêu đau đớn mong đợi từ miệng cô bé.

Vì hắn đã nghe thấy một thứ tiếng kêu khác vọng đến bên tai.

Đó là tiếng tích tắc khủng khiếp của con cá sấu.

Tất cả mọi người đều nghe thấy tiếng đó: bọn cướp biển, lũ trẻ, Wendy; và ngay lập tức, mọi cái đầu đều quay về một phía - không phải về phía mặt nước nơi vọng lên tiếng kêu đó mà là về phía Hook.

Tất cả mọi người đều biết rằng chuyện sắp xảy ra chỉ liên quan đến Hook và đang sắp phải làm diễn viên trong hồi kịch, nay chúng sẽ trở thành khán giả.

Sự thay đổi mới nhanh làm sao.

Dường như mọi thớ thịt trong con người hắn đều tan rữa ra.

Và hắn đổ sập xuống, tựa một đống thịt không hình thù.

Tiếng động tới gần, và cùng với nó là sự thật mười mươi khủng khiếp: con cá sấu sẽ leo lên tàu.

Ngay cả cái móc sắt của Hook cũng bất động, như thể nó cũng biết rằng nó chẳng có gì phải sợ cái con vật kinh dị đó.

Trong tình huống nguy kịch này, không phương cứu trợ, nếu là kẻ khác chắc hẳn đã nhắm mắt chờ chết.

Nhưng với trí lực phi thường, hắn quỳ gối lê người trên boong tàu càng xa tiếng động càng hay.

Bọn cướp biển kính cẩn giãn ra trên đường hắn qua và chỉ khi tới được mạn chắn boong tàu, dựa lưng vào lớp ván gỗ, Hook mới nói được nên lời.

- Giấu ta đi - hắn khàn khàn bảo.

Quân cướp biển quây quanh Hook, mắt tránh nhìn vào con quái vật đang tiến lại gần.

Chúng không hề nghĩ tới việc chiến đấu chống lại cá sấu.

Đó là số phận đang an bài.

Ngay khi Hook vừa khuất mắt, trí tò mò của bọn trẻ con mới hoàn hồn lại được.

Chúng đổ xô nhau ra phía lan can tàu để xem con cá sấu lên tàu.

Khi đó, chúng vô cùng ngạc nhiên, nỗi ngạc nhiên lớn nhất của cái đêm đáng ghi nhớ này.

Không phải con cá sấu đang tới cứu chúng mà chính là Peter.

Peter ra hiệu cho tụi trẻ không được kêu lên kẻo làm lộ chuyện.

Và chú lại tiếp tục kêu tích tắc.

Chương 15

SẼ LÀ HOOK HOẶC TA PHẢI CHẾT

Trong cuộc đời, chúng ta có biết bao sự cố, biết bao cuộc phiêu lưu mà ta chỉ hoàn toàn ý thức đầy đủ về chúng sau khi đã trải qua.

Chẳng hạn đột nhiên ta phát hiện ra rằng ta bị điếc một bên tai từ bao giờ chẳng biết, có lẽ là từ nửa giờ đồng hồ nay.

Peter đêm đó cũng trải qua một tình huồng tương tự.

Lúc trước, khi chúng ta rời Peter, chú ta còn đang rón rén bước đi, ngón tay trên môi và dao găm sẵn sàng để chém giết.

Chú thấy con cá sấu đi qua mà không nhận thấy điều gì khác lạ rồi sau đó, chú mới tự nhủ rằng chẳng thấy tiếng tích tắc đâu cả.

Thoạt tiên, chú thấy lo nhưng rồi chú cho rằng có lẽ chiếc đồng hồ trong bụng cá sấu bị chết máy, đơn giản thế thôi.

Peter chẳng hề nghĩ tới tâm tình của con vật khi đột nhiên bị lấy mất một người bạn đồng hành gắn bó, chú chỉ nghĩ cách liệu chú có thể lợi dụng tình thế này.

Và chú quyết định tự kêu tích tắc để bọn thú hoang khác tưởng là cá sấu và không dám tấn công chú.

Peter bèn bắt chước tiếng tích tắc một cách tài tình nhưng kết quả thật bất ngờ: con cá sấu cũng nghe thấy tiếng Peter kêu và bèn đi theo chú, hoặc để thu hồi vật dụng đã mất, hoặc chẳng có thù nghịch gì mà chỉ tưởng là chính nó đang tích tắc.

Về việc này ta khó lòng phát biểu cho chính xác, vì cũng là như mọi nô lệ của một ý tưởng cố định, con vật này quả là rất ngu.

Peter đến bên bờ sông an toàn và tiếp tục đi không dừng lại, đôi chân trong nước tựa như trên cạn.

Nhiều con vật khác có thể chuyển từ đất liền xuống nước nhưng chẳng có con người nào làm được thế.

Vừa bơi, Peter vừa nghĩ: "Lần này, hoặc Hook, hoặc là ta, phải chết".

Chú vẫn kêu tích tắc từ một lúc lâu nên thậm chí chú còn chẳng để ý là mình đang kêu nữa.

Nếu chú tự biết mình đang kêu tích tắc, có lẽ chú đã đừng kêu rồi vì ý tưởng trèo lên boong tàu nhờ tiếng kêu tích tắc có hay ho đến mấy, cũng chẳng mảy may gợn qua đầu chú.

Ngược lại, chú đã nghĩ rằng mình trèo lên mạn tàu khẽ khàng như chuột và rất đỗi ngạc nhiên khi thấy bọn cướp biển lùi bước trước mặt chú, dưới chân chúng là Hook, nom thảm hại tựa như nghe phải tiếng con cá sấu vậy.

- Cá sấu à!

- Peter vừa mới nhớ ra con cá sấu thì đồng thời chú cũng nghe thấy tiếng tích tắc.

Mới đầu chú cứ tưởng là tiếng kêu phát ra từ bụng cá sấu và ngoái đầu nhìn lại.

Rồi chú chợt hiểu là chính chú phát ra tiếng kêu kia và chỉ trong nháy mắt đã hiểu ngay ra tình thế.

"Mình mới khôn làm sao chứ!"

- Peter tự nhủ và ra hiệu cho bọn trẻ chớ để lộ dấu hiệu mừng vui.

Đúng vào lúc đó, Ed Teynte, tay cướp lái tàu, rời khỏi cabin trước boong và đi về phía bọn trẻ trên boong.

Bây giờ, các bạn độc giả thân mến, hãy theo dõi kỹ từng phút diễn biến của sự việc.

Peter đánh rất mạnh và chính xác.

John đưa cả hai tay bịt mồm tên cướp biển không may để ngăn tiếng rên rỉ bật ra.

Tên này ngã nhoài ra phía trước và bốn đứa trẻ tóm vội ngang thân nó, hòng giảm bớt tiếng va đập vào sàn tàu.

Peter ra hiệu và xác tên cướp biển bị lẳng xuống nước.

Có tiếng tõm một cái rồi lại im lặng.

Không biết chúng làm vậy hết bao nhiêu lâu?

- Một đứa này!

- Slightly bắt đầu đếm.

Lát sau, Peter rón rén đi vào phía trong cabin.

Nhiều tên cướp biển, lấy hết can đảm, bắt đầu nhìn quanh.

Chúng nghe được tiếng hơi thở dồn dập khiếp hãi của chính mình., tiếng động kinh khủng nhất đối với chúng đã chấm dứt.

- Thưa thuyền trưởng, nó đi rồi, yên tĩnh lắm - Smee vừa báo cáo vừa lau mắt kính.

Hook chậm rãi ngóc đầu lên khỏi chiếc cổ áo xòe vấy bẩn của hắn và chăm chú nghe đến độ hắn có thể bắt được cả tiếng vọng của tiếng tích tắc, nhưng hắn không nghe thấy gì hết và hắn đứng thẳng người dậy.

- Nào!

Cho ván nhảy ra thôi!

- Hắn gầm lên với giọng man dại.

Mối căm hận của hắn đối với bọn trẻ lại càng nhân lên gấp bội kể từ lúc hắn để lộ sự hèn hạ của mình trước mặt chúng.

Và hắn bắt đầu hát bài ca ghê tởm:

Yô hô, yô hô, ván trượt sốt ruột rồi

Ta cho chúng đi thôi

Tới tận đầu mép nước

Mênh mông đại dương phía trước

Mời các cậu dạo chơi!

Để dọa thêm bọn trẻ, dù điều này có làm giảm tư cách của hắn, Hook bắt đầu giả bộ lảo đảo đi trên một tấm ván tưởng tượng, vừa nhăn mặt với bọn trẻ vừa hát.

Và khi hát xong, hắn kêu lên:

- Bọn bay có muốn thử roi chín dải trước khi đi lên đầu ván hay không?

Bọn trẻ quỳ xuống.

- Ôi không - chúng van xin, đáng thương đến độ cả lũ cướp biển đều mỉm cười.

- Này Escarpe, đem roi ra - Hook nói - roi ở trong cabin của ta ấy.

Thế mà Peter lại cũng đang ở trong cabin!

Bọn trẻ nhìn nhau.

- Thưa thuyền trưởng, có ngay!

- Escarpe vui vẻ đáp.

Hắn sải bước đi lên cabin.

Bọn trẻ đều nhìn theo hắn.

Chúng gần như không để ý rằng Hook lại lên giọng hát, lần này có cả bọn tùy tòng cùng họa theo:

Yô hô, yô hô, chiếc roi sắp reo lên

Chín đuôi dài yêu kiều ve vuốt

Trên lưng thon vạch những lằn đỏ chót...

Phần tiếp theo của bài ca là gì chúng ta cũng không bao giờ được biết vì bài hát của tụi cướp biển đột ngột bị gián đoạn bởi một tiếng thét kinh hoàng vọng lên từ cabin.

Tiếng thét vang lên từ đầu tới cuối con tàu rồi tắt ngầm.

Tiếp theo là một tiếng hú khác mà tất cả tụi trẻ đều nhận ra nhưng đối với bọn cướp biển thì còn đáng sợ hơn cả tiếng kêu trước.

- Có chuyện gì vậy?

- Hook thốt lên.

- Hai thằng - Slightly trịnh trọng đếm.

Gã người Ý Cecco ngập ngừng đôi chút rồi nhảy bổ lên cabin.

Hắn quay xuống, người lảo đảo, thất thần.

- Thằng Jukes đâu?

- Hook cộc lốc hỏi, thân hình hắn cao vượt trội hơn cả tên kia - Nó đâu, đồ chó?

- Nó... nó chết rồi... bị dao găm đâm - Cecco nghẹn giọng trả lời.

- Bill Jukes chết rồi!!!

- Bọn cướp biển kinh hãi kêu lên.

- Trong ấy tối lắm - Cecco gần như lúng búng - nhưng có cái gì kinh khủng lắm ở cuối phòng, phát ra tiếng hú đó.

Nỗi vui mừng của tụi trẻ cũng như vẻ mặt buồn rầu của bọn cướp không lọt khỏi mắt Hook.

- Cecco - hắn nói với giọng dứt khoát - đi tìm cho ta cái thằng to mồm ấy về đây.

Cecco, người hùng nhất trong những người hùng cướp biển, cúi đầu trước thủ lĩnh:

- Không, không, không đâu.

Nhưng Hook nhìn cái móc sắt và nhẹ nhàng hỏi đầy ngụ ý:

- Cecco, mày bảo là mày sẽ đi chứ?

Cecco đành tuân lời, giơ hai tay lên trong một vẻ tuyệt vọng.

Tiếng hát ngừng bặt.

Mọi người đều vểnh tai nghe ngóng và một lần nữa, lại có tiếng kêu chết chóc vang lên kèm theo tiếng hú chiến thắng.

- Là ba thằng - Slightly là người duy nhất cất tiếng.

Hook phất tay ra lệnh, triệu tập quân lại.

- Trời đất quỷ thần ơi!

Đứa nào đi lôi cổ cái thằng ấy ra cho ta?

- Chờ cho Cecco quay về đã chứ - Startkey càu nhàu.

Và những tên khác cũng đồng thanh hưởng ứng.

- Hình như ta thấy là mày định xung phong thì phải, Startkey?

- Hook ngọt ngào hỏi.

- Không, quỷ ạ, không đâu!

- Móc sắt của tao lại bảo rằng có chứ - Hook lập lại và vừa nói vừa tiến về phía Startkey - tao đang tự hỏi có nên theo lời khuyên của nó không đây.

- Tôi thà là chết treo lủng lẳng ở đầu dây còn hơn - Startkey ương bướng nói.

Một lần nữa, hắn lại được đồng bọn ủng hộ.

- Ra là nổi loạn đây?

- Hook lại càng ngọt ngào hơn bao giờ hết - Và thằng Startkey cầm đầu à?

- Xin thuyền trưởng rủ lòng thương!

- Startkey run lên.

- Startkey, chúng ta hãy bắt tay nhau nào - Hook vừa nói vừa chìa móc sắt ra.

Startkey nhìn quanh xem có ai giúp đỡ hắn không.

Vô ích.

Hắn càng lùi thì Hook càng tiến sát, mắt tóe lửa.

Và thế là, hét lên một tiếng kêu đầy tuyệt vọng, tên cướp biển nhảy qua khẩu Long Tom và lao xuống biển.

- Bốn rồi - Slightly đếm.

- Bây giờ thì có quý ông nào muốn nói chuyện nổi loạn nữa không?

- Hook lịch sự hỏi.

Hắn cầm một ngọn đèn và giơ bàn tay sắt lên đầy vẻ đe dọa.

- Ta sẽ đích thân đi tìm cái con họa mi đó - và hắn biến vào trong cabin.

- Năm đấy nhé - Slightly khoái trá nói.

Nó liếm môi để sẵn sàng đếm tiếp, nhưng lại thấy Hook ra khỏi đó, bước đi hơi ngập ngừng, tay không còn đèn.

- Có cái gì làm tắt đèn rồi - Hook nói không chắc chắn lắm.

- Có cái gì à?

- Mullins lặp lại.

- Thế còn Cecco?

- Le Noodler hỏi.

- Cũng chết như Jukes rồi - Hook đáp cụt lủn.

Mối e ngại phải đi vào cabin lần nữa của hắn mang lại ấn tượng xấu và một vài tiếng rì rầm phản kháng bắt đầu vang lên.

Tất cả bọn cướp biển đều mê tín và Cookson kêu lên:

- Hình như khi trên thuyền có một người thừa ra thì đó là con thuyền bị nguyền rủa.

- Người ta kể rằng bao giờ hắn cũng lên thuyền sau cùng, có phải vì hắn có đuôi chăng, thuyền trưởng?

- Mullins thêm.

- Người ta còn bảo rằng hắn là người độc ác nhất trên thuyền - một tên khác vừa nói vừa hằm hè liếc xéo Hook.

- Thuyền trưởng, phải chăng là hắn có một cái móc sắt - Cookson hỗn xược nói.

Lần lượt từng tên và rồi cả lũ cướp biển cùng nhắc lại:

- Thuyền chúng ta bị quỷ ám mất rồi!

Bọn trẻ con không kìm được bèn vỗ tay.

Hook gần như đã quên mất lũ tù binh của hắn nhưng rồi hắn quay về phía bọn trẻ, mặt rạng lên:

- Các cậu - hắn kêu lên với đồng bọn - bây giờ chúng ta làm thế này.

Mở cửa cabin ra và tống tất cả cái lũ khốn này vào trong đó cho chúng nó đánh nhau với cái thằng to mồm kia.

Nếu chúng giết được thằng kia thì quá ổn cho ta, nếu thằng kia giết chúng thì ta cũng chẳng sao.

Đây là lần cuối cùng, bọn thủy thủ thán phục Hook và chúng nhiệt tình thực thi mệnh lệnh hắn đưa ra.

Bọn trẻ giả vờ kháng cự nhưng vẫn để cho bị lôi đi nhét vào cabin.

Sau đó, cửa cabin bị chốt lại.

- Bây giờ nghe nhé - Hook kêu lên.

Cả bọn đều vểnh tai nghe ngóng, nhưng không tên nào dám nhìn thẳng vào cánh cửa.

Trừ Wendy vốn bị trói vào cột buồm trong suốt thời gian ấy.

Wendy không đợi tiếng reo tiếng hú nào cả mà cô chờ chính Peter xuất hiện.

Cô chẳng phải chờ lâu.

Trong cabin, Peter đã tìm ra cái cần tìm: chìa khóa xích tay của tụi trẻ, và giờ đây chúng chỉ cần nhẹ nhàng ra khỏi cabin với các loại vũ khí đủ hình đủ vẻ thu nhặt đó đây.

Peter ra hiệu cho chúng trước hết phải nấp đi, rồi chú đi cắt dây cho Wendy.

Lúc này đối với chúng, chẳng còn gì dễ hơn là bay đi, nhưng có một điều ngăn cản Peter, đó là lời thề: "Lần này, hoặc Hook, hoặc ta, phải chết."

Thế nên ngay sau khi giải thoát cho Wendy, chú thầm dặn cô đi nấp cùng tụi trẻ còn chú ra đứng thay thế Wendy bên cạnh cột buồm, quấn người trong chiếc áo khoác của Wendy để đánh lừa kẻ khác.

Và rồi chú hít hơi thật sâu trước khi hú lên một tiếng kêu giòn giã.

Đối với tụi cướp, tiếng kêu báo hiệu là tất cả bọn trẻ trong cabin đã bị tàn sát hết và chúng đờ người vì sợ hãi.

Hook cố khơi dậy lòng can đảm của bọn cướp nhưng do chúng đã trở thành như một lũ chó dưới tay hắn, nay chúng chỉ nhe nanh với chủ và Hook hiểu rằng chỉ cần hắn quay lưng lại là bọn này sẽ nhảy bổ vào hắn ngay.

- Các cậu nghe đây - hắn đã sẵn sàng dụ dỗ hoặc tung chưởng ngay mà không hề nao núng mảy may - ta đã nghĩ kỹ rồi, có một kẻ mang vận xúi trên tàu.

- Đúng vậy - bọn cướp hầm hè - Một tên có móc sắt.

- Không đâu, đó là đứa con gái.

Trên tàu cướp biển, phụ nữ bao giờ cũng đem lại xúi quẩy.

Mọi việc sẽ ổn hơn khi nó biến đi.

Một vài đứa nhớ lại là Flint cũng đã nói như thế.

- Thử một tí cũng đáng đấy - Chúng nói mà không tin tưởng lắm.

- Lẳng nó xuống nước - Hook hô.

Cả bọn nhảy bổ tới cái hình người quấn áo khoác.

- Lần này, chẳng ai cứu được tiểu thư nữa rồi - Mullins vui vẻ thốt lên.

- Có chứ, có một người - cái bóng dưới chân cột buồm đáp lời.

- Ai vậy kìa?

- Peter Pan, người báo thù.

Với câu trả lời khủng khiếp đó, Peter giật tung áo choàng và cả bọn hiểu ngay tức thì ai là người đã đánh chúng trong cabin.

Hai lần liền, Hook định lên lời nhưng không nói nổi.

Vào lúc đó, tôi cho rằng trái tim tàn bạo của hắn đã tan nát.

Rồi hắn cũng kêu lên được thành câu:

- Giết nó đi!

Nhưng hắn cũng không tin vào lời hắn nữa rồi.

- Nào, các cậu đâu, tấn công đi!

- Giọng Peter vang vang.

Lát sau, tiếng va đập của vũ khí chạm nhau vang lên khắp tàu.

Nếu bọn cướp đứng cụm lại với nhau, chắc chúng sẽ thắng, nhưng cuộc tấn công nổ ra đúng lúc chúng đang đầu óc lộn tùng phèo và chúng chạy lung tung, đánh đấm loạn xị, đứa nào cũng tưởng chỉ còn mình là sống sót trong toàn thủy thủ đoàn.

Nếu một chọi một vật nhau, chúng mạnh hơn nhưng vì chúng đang ở thế bị tấn công, lại không có tổ chức, nên bọn trẻ dễ dàng dùng chiến thuật hai đánh một và tự do lựa chọn con mồi.

Một vài tên nhảy xuống biển, một số khác trốn trong các góc tối, nhưng Slightly vốn không thể chiến đấu được nữa, cầm đèn chạy khắp nơi để tìm ra chúng.

Khi đó, bọn cướp bị chói mắt, bị ngã và trở thành những con mồi quá dễ dàng gục ngã dưới lưỡi gươm của các địch thủ trẻ.

Chỉ nghe có tiếng kinh coong của các lưỡi thép chạm nhau, thảng hoặc có tiếng kêu lên ngắn ngủi hoặc tiếng người rơi xuống nước và giọng đều đều của Slightly đếm, năm, sáu, bảy, tám, chín, mười, mười một...

Tôi cho rằng chẳng còn lại một tên cướp nào cho tới khi đám trẻ con vây Hook vào giữa.

Tên này quả là đáng gờm vì hắn khiến tụi trẻ đứng cách xa thành vòng như một vòng tròn lửa.

Chúng đã giết tay chân của hắn nhưng một mình Hook cũng đủ chơi được tất cả.

Chúng liên tục tấn công, hắn liên tục đẩy lùi lũ trẻ.

Hắn đã dùng móc sắt ngoắc được một đứa trẻ và giơ thằng bé ra như một tấm khiên.

Ngay lúc đó, một chú bé vừa đâm xuyên lưỡi kiếm của mình qua người gã Mullins, rồi lao lên phía trước.

- Các cậu, thu vũ khí về.

Thằng này là của tớ - kẻ mới tới hô lên.

Hai kẻ thù nhìn nhau thách thức rất lâu.

Đôi lúc Hook rùng mình và trên môi Peter nở nụ cười kỳ dị.

- Thế nào, Pan, mày đã gây ra tất cả trò này đó hả?

- Cuối cùng, Hook mở miệng.

- Đúng vậy, Hook, chính là tao đây - Peter nghiêm khắc đáp lời.

- Đồ nhãi nhép huênh hoang, giờ chết của mày đã tới rồi đó!

- Đồ khốn kiếp đen tối, thủ thế đi!

- Peter đáp lời.

Rồi chẳng đôi hồi gì nữa, chúng giao gươm và trong một lúc lâu, không ai thắng thế.

Peter là một tay kiếm cừ khôi, chặn được tất cả mọi cú đánh, nhanh như chớp, lát lát, chú lại ra đòn dứ và cũng lừa được đối thủ nhưng tay chú ngắn quá nên không chém được tận người Hook.

Tên này cũng là mọt tay kiếm lão luyện, không thua kém chút nào và nếu như cổ tay hắn có hơi thiếu dẻo dai, bù lại các cú đánh của hắn mạnh mẽ vô cùng.

Hắn hy vọng sẽ nhanh chóng kết thúc bằng cách giáng cho Peter một cú đánh mà Barbecue đã dạy hắn ở Riô nhưng vô cùng ngạc nhiên khi thấy Peter cũng biết miếng đó.

Hắn bèn tìm cách đánh gần và định sử dụng móc sắt, cho tới lúc đó vẫn chĩa lên trời như một con dao găm.

Tuy nhiên, Peter chui qua dưới tầm tay chém của Hook và dướn người đâm hắn vào mạng sườn.

Nhìn thấy máu mình, các bạn hãy nhớ lại là máu hắn có màu đặc biệt mà hắn không chịu được, Hook buông kiếm và thế là hoàn toàn bị Peter chế ngự.

- Giết hắn đi!

- Bọn trẻ đồng thanh kêu lên.

Nhưng Peter cao thượng khoát tay mời địch thủ nhặt lại kiếm.

Hook chẳng đợi mời lần thứ hai mặc dù hắn cảm thấy bị hạ gục bởi cử chỉ đầy quý phái này.

Cho tới lúc này, hắn nghĩ là mình đang chiến đấu với một thằng bé cầu bơ cầu bất nào đó và giờ đây, hắn cảm thấy rúng động vì những mối nghi hoặc hoang mang.

- Pan, mi là ai?

- Hook khàn giọng đi hỏi.

- Ta là tuổi trẻ, ta là niềm vui - Peter đáp ngay - Ta là một con chim non rơi khỏi tổ.

Rõ là những lời đó chả có ý nghĩa gì nhưng nó lại cho Hook khốn khổ thấy rằng Peter chẳng biết gì về mình cả, điều này có thể được coi như là tột đỉnh của kiểu cách quý tộc.

- Thủ thế đi!

- Hắn đau đớn kêu lên.

Và hắn vung kiếm thành vòng rộng trong không khí, tựa như một hung thần, mỗi nhát kiếm vung lên dường như có thể chặt đôi mọi kẻ đứng trong tầm kiếm, dù là trẻ con hay người lớn.

Nhưng Peter bay chập chờn quanh Hook như thể luồng gió do thanh kiếm của Hook tạo ra lại giữ cho Peter thoát khỏi tầm kiếm của hắn.

Và lúc lúc, Peter lại nhào về phía trước và đâm trúng địch thủ.

Hook giờ đây đánh mà không hy vọng.

Trái tim hắn, đập thình thịch mạnh mẽ và tăm tối, đã chán sống rồi.

Hắn chỉ còn mong mỗi một điều: trước khi chết, được nhìn thấy Peter bỏ rơi phong cách quý phái của mình.

Và đột nhiên hắn bỏ dở trận đấu, lao bổ xuống hầm tàu nơi đựng thuốc súng để châm lửa đốt.

- Hai phút nữa, tàu sẽ nổ tung!

- Hắn thét lên.

- Lần này thì đi đời phong thái quý tộc nhé - hắn tự nhủ.

Nhưng Peter cũng lao xuống hầm tàu và chui ra mang theo một viên đạn pháo đã châm ngòi và bình tĩnh ném nó xuống biển.

Còn Hook, thái độ của hắn ra sao?

Dù cho hắn có xấu xa đến đâu, chúng tôi phải thừa nhận và không vì thế mà tỏ ra có cảm tình với hắn tẹo nào, là hắn vẫn tỏ ra trung thành với truyền thống đẳng cấp của hắn.

Bọn trẻ bắt đầu xoay quanh hắn, khinh bỉ giễu cợt hắn và trong khi hắn loạng choạng bước trên boong tàu, đâm những nhát kiếm vô nghĩa trong không khí, đầu óc bắt đầu nghĩ lan man, nào những nơi hắn vui vẻ khi còn trẻ, những cuộc chơi đầy phấn khích trước bức tường Điện Jeu de Paume tại Pháp.

Và giày, và áo, quần tất, cổ áo xếp của hắn đều phẳng phiu sạch sẽ.

Thuyền trưởng Hook, người cũng mang trong mình chút khí chất anh hùng, xin chào!

Vì giờ đã đến những giây phút cuối cùng của Hook rồi.

Khi thấy Peter chầm chậm bước về phía mình, dao găm vung lên, hắn nhảy qua vách chắn boong tàu để lao mình xuống biển.

Hắn không ngờ rằng con cá sấu đang chờ hắn.

Chúng tôi đã cố tình cho dừng đồng hồ để tránh cho Hook khỏi nỗi khắc khoải này: đó cũng là sự tôn trọng cuối cùng dành cho viên thuyền trưởng cướp biển.

Hắn còn được một phút giây thắng thế cuối cùng nữa mà chúng tôi cũng không đành tước mất.

Trong khi hắn đang đứng bấp bênh trên lan can tàu, đầu ngoái về phía Peter đang bay quanh người hắn, hắn ra hiệu cho Peter dùng chân đẩy hắn xuống nước.

Và Peter, đáng ra phải đâm, lại duỗi chân ra đạp Hook khiến hắn ngã nhào xuống nước.

Thế là rốt cuộc, nguyện vọng cuối cùng của Hook đã được thực hiện.

- Thật là hạ cấp!

- Hắn vui mừng kêu lên và rơi thẳng vào mồm con cá sấu.

Thuyền trưởng Hook đã chết như thế đó.

- Mười bảy - Slightly làu bàu.

Nhưng nó đếm sai.

Mười lăm tên đã bỏ mạng đêm đó vì các tội ác của chúng nhưng hai tên bơi được đến bờ.

Startkey bị dân Da đỏ bắt làm người giữ trẻ cho bọn trẻ Da đỏ sơ sinh, thật là số phận hẩm hiu cho một tên cướp biển!

Còn Smee, hắn đi ngao du thiên hạ cùng cặp kính, sống một cuộc đời tạm bợ và luôn kể ở mọi nơi rằng hắn là người duy nhất khiến thuyền trưởng Hook e ngại.

Dĩ nhiên Wendy chẳng tham gia tí nào vào trận đánh nhưng cô theo dõi hết tất cả các chiến công của Peter, và giờ đây khi chiến cuộc chấm dứt, cô đòi lại các đặc quyền của mình.

Cô bèn khen ngợi tất cả và kìm cơn rùng mình khoái trá khi Michael chỉ cho cô xem chỗ Michael giết được một tên cướp biển.

Rồi cô bé đưa tất cả bọn trẻ vào cabin của thuyền trưởng Hook, chỉ cho chúng chiếc đồng hồ của viên thuyền trưởng treo trên đinh.

Đồng hồ chỉ một giờ ba mươi.

Giờ giấc muộn màng này khiến mọi thứ đều phải nhường cho quy củ.

Các bạn hãy tin chắc rằng Wendy đã nhanh chóng bắt tất cả bọn trẻ lên giường ngay trong các khoang nằm của cướp biển, tất cả, trừ Peter còn đi đi lại lại rất lâu trên boong tàu cho tới khi lăn quay ra ngủ bên cạnh khẩu thần công Long Tom.

Đêm đó, Peter mơ thấy lại một trong các giấc mơ của chú, và chú khóc rất lâu trong mơ khi Wendy ôm chặt chú vào lòng.

Chương 16

TRỞ VỀ

Sáng hôm đó, hai tiếng chuông vang lên báo hiệu sự rối tinh rối mù trên tàu.

Biển đã cả sóng lên và Nibs, trong vai thủy thủ trưởng, lượn lờ giữa đám con trai, tay cầm một đầu mẩu thuốc lá và mồm cũng nhai bỏm bẻm.

Cả bọn đều mặc đồ của bọn cướp biển, cắt gấu ngang đầu gối, đầu cạo trọc lốc và quần xắn lên, chúng đi đi lại lại, vai đung đưa cứ như những con sói biển thực thụ.

Chẳng cần phải nói ai là thuyền trưởng, Nibs và John giữ vai thuyền phó thứ nhất và thứ hai.

Chả là có một phụ nữ trên tàu mà.

Bọn khác đều là thuyền viên, phải làm các việc nặng và sinh hoạt trong cabin phía mũi thuyền.

Peter đã dính ngay vào tay lái và sau khi triệu tập toàn thủy thủ đoàn, chú đã ra một bài diễn văn ngắn gọn.

Chú cho biết rất mong muốn các thuyền viên sẽ cư xử cho xứng danh thủy thủ, mặc dù phải tự biết rằng chúng chỉ là hàng cuối so với tiêu chuẩn tại các cảng Riô và Bờ biển Vàng, và nếu có ngày nào chúng định nhe răng ra, Peter sẽ nghiền nát chúng không thương xót.

Những lời thô bạo huỵch toẹt này đã được các thủy thủ hoan hô không ngần ngại.

Rồi sau một số mệnh lệnh, chúng cho thuyền quay mũi hướng về đất liền.

Sau khi xem xét các bản đồ trên tàu, thuyền trưởng Peter tính rằng nếu thời tiết vẫn tốt, tàu sẽ có thể cập bến Axores trước ngày 21 tháng Sáu, sau đó, chúng sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian bằng cách bay.

Một vài thủy thủ muốn tàu được đăng ký vào ngạch hàng hải bình thường, một số khác cho rằng vẫn nên để là tàu cướp biển.

Nhưng thuyền trưởng đối xử với chúng thô lỗ, chúng không dám bày tỏ nguyện vọng, dù là dưới dạng thỉnh cầu.

Phải tuân lệnh ngay lập tức, đó là thái độ khôn ngoan nhất.

Slightly đã bị đánh mười hai cú roi dây vì đã tỏ ra ngạc nhiên khi được lệnh ném cái dò độ sâu xuống biển.

Theo ý kiến chung thì Peter tỏ ra không thiên vị là để làm yên lòng Wendy nhưng chắc chắn là thái độ của chú sẽ thay đổi khi bộ đồng phục mới mà Wendy đang cắt may, dù cô có không muốn, từ những mảnh đồ hắc ám của Hook hoàn thành.

Sau đó, theo một vài lời đồn đại giữa bọn trẻ với nhau, đêm đầu tiên khi chú mặc bộ đồng phục này, Peter đã nấn ná rất lâu trong cabin thuyền trưởng, miệng ngậm tẩu của Hook, một tay giang ra, bàn tay nắm lại trừ ngón trỏ gập xuống và chú cố tạo cho cái ngón trỏ đó hình dáng đáng sợ của cái móc sắt.

Thay vì ở lại trên thuyền, chúng ta sẽ lại phải quay về tổ ấm đau buồn, nơi ba trong số các nhân vật chính không có trái tim của chúng ta bay đi cách đây đã lâu.

Vì thật là không phải khi ta bỏ qua số nhà 14 lâu đến thế.

Tuy nhiên, chúng tôi có thể tin chắc rằng bà Darling không giận chúng tôi.

Nếu chúng tôi quay trở về đó sớm hơn và tỏ ra thương xót bà Darling, chắc bà ta sẽ kêu lên: "Này đừng có mà trẻ con thế, tôi không có gì đáng kể đâu.

Hãy quay lại ngay đằng kia và canh chừng cho lũ trẻ!"

Chừng nào mà các bà mẹ còn tỏ ra mềm yếu như vậy, bọn trẻ con vẫn còn lạm dụng tình thương của mẹ và các bà chỉ nên tự trách mình thôi.

Ngay lúc này đây, chúng ta trở về phòng ngủ trẻ con quen thuộc chỉ vì các chủ nhân đích thực của chúng đang trên đường trở về.

Chúng tôi đi trước chúng một lát là để xem giường chiếu có sạch sẽ, thoáng đãng không, ông bà Darling tối đó có nhà không.

Chúng tôi chỉ là người phục vụ mà thôi.

Nhưng việc gì mà phải giữ sạch giường chiếu khi mà bọn trẻ đó đã bỏ ra đi một cách vội vàng và ích kỷ đến thế?

Chúng đáng được biết rằng cha mẹ đi nghỉ cuối tuần tại nông thôn lúc chúng quay về.

Đó sẽ là một bài học xứng đáng nhất cho chúng từ khi chúng ta biết chúng đến giờ.

Nhưng nếu chúng tôi hướng sự việc theo cách này, chắc hẳn bà Darling sẽ không tha thứ cho chúng tôi.

Tôi sẽ vui sướng vô cùng nếu được báo trước cho bà Darling, như một số tác giả khác vẫn làm, rằng các con của bà sắp trở về vào thứ năm tuần sau.

Điều này sẽ làm hỏng hoàn toàn dự định gây ngạc nhiên của Wendy, John và Michael.

Chúng đã tính toán từ lúc ở trên tàu: nào là niềm vui của mẹ, tiếng kêu mừng rỡ của ba, nào là Nana sẽ nhảy cuống lên ra sao để ôm hôn chúng trước nhất, thế mà đáng lẽ ra chúng phải bị mắng mỏ mới phải chứ.

Thật thích nếu tôi được báo trước cho nhà Darling để khi bọn trẻ về với sự huyênh hoang, bà Darling thậm chí còn không thèm chìa môi về phía Wendy và ông Darling có thể cáu kỉnh kêu lên:

- Thật không may!

Lại cái bọn trẻ hư đốn này!

Tuy nhiên, làm thế tôi chẳng có lợi lộc gì.

Chúng tôi nay đã hiểu tính bà Darling rồi, chắc chắn là bà ta sẽ phê phán chúng tôi vì tội không để cho bọn trẻ có được niềm vui nho nhỏ đó.

Nhưng, thưa bà, vẫn còn phải chờ mươi ngày nữa mới tới thứ năm tuần sau.

Nếu chúng tôi báo trước cho bà, chúng tôi sẽ giúp được bà bớt đi mười ngày lo lắng.

Đúng, nhưng cái giá phải trả là gì?

Bọn trẻ sẽ mất đi mười phút hạnh phúc.

- Ồ, nếu bà lại nói kiểu ấy thì...

- Thế ông định bảo tôi phải xét sự việc thế nào?

Các bạn thấy đấy, cái bà này cũng thiếu cá tính nữa cơ.

Tôi đã có ý định khen ngợi bà nhưng thực lòng thì tôi coi thường bà và không khen bà ở một điểm nào hết.

Chẳng việc gì phải bảo bà chuẩn bị sẵn sàng vì tất cả đã được chuẩn bị rồi.

Giường đã sẵn sàng và bà không bao giờ rời khỏi nhà, cửa sổ luôn rộng mở.

Cách tốt nhất giúp bà Darling là quay về thuyền.

Tuy nhiên, vì chúng ta đang ở đây, cũng nên nhân tiện tham quan một chút, chỉ với tư cách là khán giả thôi.

Chẳng ai cần đến sự hiện diện của chúng tôi.

Vậy tốt nhất là nên nhìn và nói đôi lời châm biếm với hy vọng rằng có khi lại kết quả thì sao.

Thay đổi duy nhất trong phòng ngủ của bọn trẻ là sự biến mất của chiếc chuồng chó từ 9h sáng đến 6h chiều.

Ông Darling tự cảm thấy day dứt vì đã xích Nana lại và ông nay hiểu rằng Nana khôn hơn ông rất nhiều.

Tất nhiên chúng ta đã rõ rằng ông Darling là một người đơn giản, và thực ra nếu không có cái sự hói đầu thì ông gần như có thể được coi như một đứa trẻ.

Nhưng ông cũng có một ý thức rất cao quý về sự công bằng và lòng dũng cảm như loài sư tử để có thể làm được những điều ông thấy cần thiết và sau khi cân nhắc kỹ càng vấn đề bọn trẻ bay đi, ông bèn bò bốn chân và chui vào chuồng chó.

Dù bà Darling có van xin năn nỉ ông ra đến thế nào thì ông cũng chỉ đáp lại bằng một giọng buồn rầu nhưng cương quyết:

- Không em ạ, chỗ của anh là ở đây mới đúng.

Trong nỗi ân hận xót xa, ông đã thề rằng mình sẽ chỉ rời chuồng chó khi nào bọn trẻ quay về.

Cố nhiên đó là một quyết định đáng buồn, nhưng ông Darling là người cực đoan trong mọi hành động, hoặc ông sẽ từ bỏ ý định sau một thời gian ngắn.

Và chưa bao giờ ta lại thấy có ai khiêm nhường hơn cái ông George Darling đầy kiêu hãnh trước đây, nay lại chồm hỗm trong chuồng chó, nói chuyện với vợ về các con và về các cách thức yêu kiều của chúng.

Sự âu yếm của ông đối với Nana cũng thật là cảm động.

Ông không cho nó vào chuồng nhưng làm tất cả những điều nó muốn.

Mỗi sáng, cái chuồng chó, có ông Darling ở trong, được khiêng ra tới chỗ một chiếc xe ngựa để chở ông đến cơ quan và đến 6h chiều thì ông quay trở về nhà cũng trong đội hình như vậy.

Chúng ta hiểu rõ sức mạnh phi thường trong tính cách của ông khi nghĩ tới việc ông đã lo người ta đàm tiếu như thế nào.

Nay mỗi hành động của ông đều khiến mọi người chú ý pha lẫn kinh ngạc.

Chắc hẳn trong ông cũng tự cảm thấy như một cực hình nhưng ông vẫn giữ vẻ bề ngoài thản nhiên, kể cả khi bọn thanh niên chế giễu ông về ngôi nhà nhỏ bé của ông.

Và ông luôn lịch sự giở mũ chào khi có một quý bà nào nghiêng người ngó vào chuồng chó của ông.

Thái độ của ông Darling có thể được coi như là hơi mang tính Đông ki sốt một chút nhưng nó cũng có một ý nghĩa cao cả.

Và rồi, mọi người cũng hiểu ý nghĩa sâu sắc của hành động và thấy cảm động tự trái tim nhân hậu.

Từng đám đông đi theo cỗ xe ngựa và hoan hô trên đường xe qua.

Các thiếu nữ xinh đẹp chen nhau xin chữ ký của ông, nhiều bài phỏng vấn trên các tờ báo có tiếng nhất được đăng, ông được mời đến dự nhiều cuộc tiếp tân thời thượng và trên giấy mời ghi rõ: "Xin đến trong chiếc chuồng của ông."

Tối thứ năm đó có nhiều sự cố.

Bà Darling đang chờ chồng về trong phòng trẻ.

Đau buồn hiện rõ trên gương mặt bà.

Trong khi chúng ta nhìn gần vị phu nhân ấy và nhớ tới sự vui tươi trước đây của bà, sự vui tươi vốn đã ra đi cùng với các con thân yêu, tôi nghĩ rằng tôi sẽ không thể nói xấu gì bà được.

Nếu bà quá yêu các con hư đốn của bà, đó cũng không phải là lỗi của bà.

Hãy nhìn bà đang ngủ thiếp đi trong chiếc ghế phô-tơi: khóe môi của bà hằn xuống, đầu bà hơi gục xuống tựa như bà đang đau khổ.

Có độc giả thích Peter, có người lại thích Wendy, tôi lại thích nhân vật bà Darling.

Giả sử, để cho bà vui sướng, chúng ta lại thì thầm vào giấc mơ của bà là các con sắp trở về.

Sự thực là chúng đang bay thẳng cánh cách cửa sổ chưa đầy bốn cây số, nhưng chúng ta chỉ cần nói với bà Darling là chúng sẽ về nhà trong giây lát.

Nào, hãy nói đi.

Chúng ta làm vậy thật là sai, vì bà Darling liền giật mình thức giấc, gọi tên các con, mà trong phòng nào có ai ngoài Nana.

- Ôi Nana, ta lại mơ thấy các con yêu quý của ta trở về.

Mắt Nana đẫm lệ nhưng nó chỉ biết nhẹ nhàng đặt chân lên đầu gối chủ, cả hai ở bên nhau như vậy khi người ta đem chuồng chó trở về.

Trong khi ông Darling thò đầu ra để hôn vợ, chúng ta có thể thấy rằng nét mặt ông gầy đi nhưng có vẻ dịu dàng hơn.

Ông đưa mũ cho Lida.

Cô này cầm mũ một cách đầy vẻ coi thường vì cô ta không thể nào hiểu được những động cơ thúc đẩy một con người như vậy.

Bên ngoài, đám đông đã đi cùng chiếc xe vẫn còn vỗ tay và ông tất nhiên là cảm thấy xúc động.

- Nghe họ mà xem, thật cũng mát lòng mát dạ.

- Một đám con nít - Lida cười nhạt nói.

- Hôm nay có rất nhiều người lớn - ông Darling vừa đỏ mặt vừa đảm bảo.

Nhưng khi Lida hất đầu về phía sau, ông chẳng trách cứ gì cô ta cả.

Sự nổi tiếng của ông không làm ông xấu tính đi mà chỉ khiến ông trở nên dễ thông cảm hơn.

Ông ngồi trên ngưỡng cửa chuồng một lát nữa, nói chuyện với bà Darling về sự nổi tiếng mới mẻ này và trong khi bà nhắc nhở ông chớ nên quá say sưa với thành công, ông xiết tay bà như để làm bà yên tâm.

- Thế nhưng nếu anh là người yếu đuối!

Chúa ơi, nếu anh lại là

người yếu đuối thì sẽ ra sao!

- George - bà Darling rụt rè hỏi - anh vẫn rất ân hận phải không?

- n hận lắm em yêu ạ.

Em đã thấy hình phạt của anh rồi đó: sống trong một chiếc chuồng chó.

- Nhưng có đúng đấy là hình phạt không anh?

Anh có chắc là

anh không cảm thấy vui thú khi sống trong đó chứ?

- Ôi em yêu!

Sao lại thế được!

Các bạn hãy tin rằng thế là đủ để bà Darling xin lỗi ông Darling.

Rồi ông cảm thấy cơn buồn ngủ kéo đến, ông cuộn tròn mình lăn vào góc chuồng.

- Em có thể chơi một bài gì trên đàn piano để anh dễ ngủ được không - ông đề nghị.

Trong lúc bà đi qua phòng, ông lơ đễnh thêm:

- Với lại em đóng cửa sổ vào.

Anh cảm thấy có gió lùa đấy.

- George, đừng yêu cầu em làm điều ấy.

Cửa sổ luôn phải để

mở để cho các con trở về.

Luôn luôn phải như vậy.

Thế là đến lượt ông xin lỗi bà.

Rồi bà Darling ngồi vào đàn và chơi một bản nhạc.

Chẳng mấy chốc ông chìm vào trong giấc ngủ và trong khi ông ngủ, Wendy, John và Michael bay vào qua lối cửa sổ.

Ồ không!

Chúng tôi vừa mô tả như vậy vì đó là bức tranh dễ thương mà tụi trẻ tưởng tượng ra trong khi chúng rời khỏi tàu.

Nhưng còn có chuyện khác đã xảy ra, vì không phải là tụi trẻ mà chính là Peter và Tinker Bell bay vào phòng.

Những lời đầu tiên của Peter giải thích tất cả:

- Tinker Bell, nhanh lên, đóng cửa sổ lại, chốt vào.

Được, được rồi.

Cậu và tớ ra bằng lối cửa chính và khi nào Wendy bay về tới nơi, cô ấy sẽ nghĩ là mẹ không nhớ gì đến cô ấy nữa và buộc phải ra đi cùng với tớ.

Bây giờ tôi đã hiểu cái điều khiến tôi rất ngạc nhiên là tại sao sau khi giết hết bọn cướp biển, Peter lại không quay trở về đảo và để Tinker Bell đi cùng với tụi trẻ về đất liền.

Chú đã có mưu đồ bày sẵn từ lâu.

Đáng ra phải cảm thấy tội lỗi vì một hành động xấu, Peter lại nhẩy cẫng lên vui mừng.

Rồi chú nhìn quanh xem ai đang chơi đàn và thì thầm với Tinker Bell:

- Mẹ Wendy đấy.

Bà ấy xinh nhưng không xinh bằng mẹ tớ.

Miệng bà ấy có nhiều đê khâu lắm nhưng cũng không nhiều bằng mẹ tớ.

Tất nhiên là chú không biết gì về mẹ chú nhưng đôi khi lại cứ thích dựng đứng lên như vậy.

Chú không biết tên bài ca mà bà Darling đang chơi: "Ôi tổ ấm thân yêu" nhưng chú biết lời của điệp khúc là "Trở về đi Wendy, trở về với mẹ!" và chú phấn khích kêu lên:

- Không nhá, không bao giờ Wendy trở về với bà đâu nhé, cửa sổ đóng rồi!

Chú lại hé mắt xem sao nhạc đã ngừng, và thấy bà Darling gục xuống, đầu tì vào nắp đàn, hai giọt nước mắt ứa ra.

"Bà này muốn mình mở cửa sổ đây - Peter thầm nghĩ - Nhưng mình không mở, không đời nào."

Chú lại nhìn lần nữa.

Lại có hai giọt nước mắt rơi từ mắt bà Darling.

"Đúng là bà này yêu Wendy thật" - chú tự nhủ.

Chú thấy giận vì bà ta không chịu hiểu tại sao Wendy không thể quay về với bà được.

Lý do rất đơn giản: "Tôi cũng yêu cô ấy, không thể nào cả tôi và bà đều có cô ấy được, thưa bà."

Tuy nhiên cái bà này lại không nghe lọt tai cái điều như thế và Peter cảm thấy bất hạnh.

Chú ra sức không nhìn bà ta nhưng bà ta vẫn ám ảnh tâm trí chú.

Chú bắt đầu vung vẩy tay chân, nhăn nhó mặt mày, nhưng cứ hơi dừng là lại cảm thấy bà Darling ở bên trong người chú, dường như bà ta đánh chú để tìm lấy lối ra.

- Thôi được rồi - cuối cùng chú nói, cổ họng như nghẹn lại.

Rồi chú mở cửa sổ ra.

- Nào Tinker Bell, đi thôi - chú kêu lên và cười gằn trước các quy luật của tự nhiên - Cái giống mẹ này thật ngớ ngẩn, chúng ta không cần họ.

Và chú bay đi.

Thế là khi Wendy, John và Michael về đã thấy cửa sổ mở rộng, chúng thật chẳng xứng đáng với điều đó.

Chúng hạ cánh mà chẳng thấy xấu hổ gì cả.

Đứa bé nhất trong ba đứa đã quên cả nhà mình rồi.

- John này - nó vừa nói vừa nghi hoặc nhìn quanh - hình như em đến chỗ này rồi.

- Rõ quá, đồ ngốc, giường cũ của em kia kìa.

- Ờ nhỉ - Michael nói không tin chắc lắm.

- Nhìn kìa - John kêu lên - chuồng chó kìa.

Và nó chạy ngay tới xem bên trong.

- Có khi Nana ở trong ấy đấy - Wendy nói.

Nhưng John huýt sáo kinh ngạc.

- Này, có một ông ở trong.

- Ba đây mà!

- Wendy thốt lên.

- Cho em xem ba nào - Michael hăng hái nói và ngắm mãi ông bố - ba không to bằng tên cướp biển mà em giết đâu - nó nói tiếp với vẻ thất vọng.

May mà ông Darling đang ngủ, nếu không những lời đầu tiên mà ông nghe được từ cậu bé Michael yêu quý sẽ làm ông buồn xiết bao.

Wendy và John lại vô cùng ngỡ ngàng khi thấy ba trong chuồng chó.

- Xem nào, hồi xưa ba có bao giờ ngủ trong chuồng chó không?

- John hỏi như thể không tin lắm vào trí nhớ của mình.

- John - Wendy nói cũng không chắc chắn lắm - có khi chúng mình không nhớ rõ lắm về cuộc sống ngày trước như chúng mình tưởng đâu.

Một nỗi lo khắc khoải chợt xiết lấy chúng, mà chúng cũng đáng như vậy thôi.

- Mẹ không có mặt ở đây khi chúng mình về thật không phải - cái thằng John láo xược lại còn dám nói vậy.

Chính lúc đó, bà Darling lại tiếp tục chơi đàn.

- Mẹ kìa - Wendy vươn cổ ra.

- Ờ nhỉ - John đáp.

- Wendy, thế chị không phải là mẹ thật của bọn em à?

- Michael gà gật hỏi.

- Ôi lạy Chúa - Wendy cảm thấy chút ân hận đầu tiên - chúng ta đúng là đã đến lúc phải về nhà rồi.

- Chúng mình tiến lại thật khẽ rồi bịt mắt mẹ - John đề nghị.

Nhưng Wendy hiểu rằng phải thông báo tin tức một cách ít đột ngột lại có kế hoạch khác hay hơn.

- Chúng mình chui vào giường.

Khi mẹ đến bên giường thì chúng mình đã nằm rồi, cứ như thể chúng mình chưa đi khỏi nhà bao giờ.

Thế là khi bà Darling quay vào phòng trẻ để xem ông chồng đã ngủ chưa, các giường đều có người ngủ.

Bọn trẻ chờ đợi xem có tiếng kêu vui mừng không, chẳng có tiếng gì cả.

Bà Darling đã nhìn thấy chúng nhưng bà không tin là thật.

Biết bao lần bà đã mơ thấy chúng nằm trong giường nên lần này bà tưởng lại mơ một lần nữa.

Thế là bà đến ngồi bên ghế phô tơi gần lò sưởi nơi bà thường ru lũ trẻ ngày xưa.

Bọn trẻ không hiểu sao mẹ lại như vậy và một nỗi sợ hãi lạnh người choán lấy chúng.

- Mẹ!

- Wendy kêu lên.

- Wendy đấy - bà Darling nói, bà vẫn tưởng rằng mình đang mơ ngủ.

- Mẹ!

- John đấy!

- Mẹ!

Mẹ ơi!

- Michael nay đã nhận ra mẹ.

- Đây là Michael.

Và bà giang tay về phía ba đứa trẻ ích kỷ, lòng tưởng rằng chẳng bao giờ còn được thật sự ôm lấy chúng nữa.

Ấy thế mà trái lại, tay bà ôm vào Wendy, John và Michael, chúng đã trườn ra khỏi giường để lao vào lòng mẹ.

- George!

Anh George!

- Bà Darling kêu lên khi đã thốt được nên lời.

Ông Darling tỉnh dậy để chia sẻ niềm sung sướng của vợ và Nana cũng lao bổ vào phòng như cơn lốc.

Có lẽ chẳng thể nào có một cảnh tượng tuyệt vời hơn nhưng có ai để ngắm đâu, ngoại trừ một cậu bé kỳ dị đang ngó qua cửa sổ.

Chú đã có vô số những niềm hứng khởi mà những đứa trẻ khác có lẽ không khi nào có nhưng giờ lại phải ngắm nhìn qua ô cửa cái niềm vui mà mãi mãi chú chẳng bao giờ có được.

Chương 17

VÀ WENDY LỚN LÊN

Tôi hy vọng là các bạn sẽ muốn biết những gì xảy ra cho các cậu trẻ lạc khác.

Chúng chờ dưới nhà để Wendy có thời gian kể chuyện của chúng.

Sau khi đếm đến năm trăm, chúng lên gác.

Để tạo ấn tượng tốt theo, chúng lên theo cầu thang và đứng xếp thành hàng trước mặt bà Darling, tay cầm mũ, lòng bối rối vì trang phục của bọn cướp biển.

Chúng không nói gì nhưng ánh mắt chúng tha thiết khẩn cầu bà chủ thu nhận chúng.

Lẽ ra chúng cũng phải hỏi ý kiến ông Darling nữa nhưng điều này chúng không hề nghĩ tới.

Tất nhiên là bà Darling nói ngay là bà nhận chúng; còn ông Darling, ông tỏ ra đặc biệt suy sụp vì sáu đứa là con số không nhỏ.

- Phải thừa nhận là con không làm gì nửa vời - ông bảo Wendy.

Những lời không vui này khiến bọn Sinh đôi tưởng là nhắm vào chúng.

Anh Sinh đôi, hay tự ái hơn, liền đỏ mặt hỏi:

- Ông thấy là bọn chúng cháu đông quá chăng thưa ông, nếu vậy, chúng cháu có thể đi.

- Kìa ba!

- Wendy kêu lên.

Ông vẫn giữ vẻ mặt lầm lì tuy ông tự biết rằng như vậy là kém cỏi nhưng có cái gì đó thúc đẩy ông.

- Chúng cháu có thể ngủ co người lại cũng được mà - Nibs nói.

- Con cắt tóc cho các em ấy đấy - Wendy thêm.

- Kìa anh George - bà Darling buồn lòng khi thấy đức ông chồng yêu quý của mình lại tỏ ra hẹp hòi như vậy.

Tới đây thì ông Darling bật khóc và sự thực được phơi bày.

Ông cũng vui mừng như bà khi đón nhận bọn trẻ nhưng lẽ ra chúng phải hỏi ý kiến của ông nữa chứ, không được coi ông như một con số không trong nhà của chính ông thế.

- Cháu không nghĩ rằng ông là một con số không - Nibs kêu lên ngay - còn cậu Curly, cậu có nghĩ rằng ông là một con số không không?

- Đâu có, còn cậu Slightly, cậu có nghĩ thế không?

- Tất nhiên là không phải thế rồi.

Này, Sinh đôi, cậu nghĩ sao?

Đã rõ ra là chẳng ai coi ông Darling như một con số không.

Ông cảm thấy vui trở lại một cách tức cười và tuyên bố là đã tìm được chỗ cho chúng trong phòng khách nếu chúng chui vừa vào phòng khách.

- Chúng cháu sẽ chui vừa - bọn trẻ cam đoan.

- Thế thì đi theo hướng dẫn viên nhé!

- Ông Darling vui vẻ kêu to - Ta không chắc là nhà ta có một phòng khách nhưng chúng mình cứ giả vờ như là có và thế là sẽ có thôi.

Đi nào!

Ông vừa đi vừa nhảy trong nhà theo sau là lũ trẻ vừa nhảy múa vừa reo hò "Đi nào!

Đi tìm phòng khách!"

Tôi không biết chúng có tìm được phòng khách hay không nhưng dầu gì chúng cũng tìm ra đủ ngóc ngách để ở.

Còn Peter, chú gặp lại Wendy một lần nữa trước khi bay đi hẳn.

Chú không đến bên cửa sổ mà chỉ lướt qua để Wendy mở ra cho chú nếu cô bé muốn gọi.

Và Wendy làm đúng như vậy.

- Chào Wendy, tạm biệt nhé - Peter nói.

- Ôi, cậu đi à?

- Ừ.

- Peter - Wendy lạc giọng hỏi - cậu có định nói với ba mẹ tớ về một việc rất riêng tư không?

- Không.

- Về tớ mà, Peter.

- Không.

Bà Darling đến bên cửa sổ vì giờ đây bà quyết định phải theo sát sao con gái.

Bà nói với Peter là bà đã nhận nuôi tất cả các cậu bé kia và sẽ rất vui nếu được nhận nuôi cả Peter nữa.

- Rồi cô sẽ bắt cháu đi học chứ - Peter ngờ vực hỏi.

- Đúng thế.

- Rồi sẽ bắt cháu đi làm ở cơ quan chứ gì?

- Cô nghĩ rằng vậy.

- Thế rồi cháu sẽ thành người lớn à?

- Đúng vậy.

- Cháu không muốn đến trường để học những điều nghiêm túc - Peter hăng hái nói - cháu không muốn thành người lớn.

Cô là mẹ của Wendy, cháu sợ nhất là khi ngủ dậy thấy râu mọc trên cằm.

- Peter - Wendy nói giọng hòa giải - dù cậu có râu, tớ cũng vẫn yêu cậu.

Và bà Darling giang tay ra, nhưng Peter quay đi.

- Cô lùi lại đi, không ai có thể bắt được cháu để làm cháu thành người lớn đâu.

- Thế thì cháu sẽ sống ở đâu?

- Cháu sống với Tinker Bell trong chiếc lều mà chúng cháu làm cho Wendy.

Các cô tiên sẽ mang nó lên ngọn cây cao chỗ họ ngủ đêm.

- Tuyệt quá - Wendy mê tít kêu lên khiến bà Darling ôm lấy cô chặt hơn.

- Cô nghĩ rằng tiên chết hết cả rồi - bà Darling nói.

- Vẫn còn nhiều cô tiên trẻ - Wendy nay đã thành thạo về vấn đề này, bèn giải thích - Vì mẹ có biết không, khi có một em bé cười lần đầu tiên, thế là có một cô tiên sinh ra, và vì luôn luôn có các em bé mới sinh, luôn luôn cũng sẽ có các cô tiên mới.

Họ sống trong các tổ trên các ngọn cây.

Tiên tím là con trai, tiên trắng là con gái và tiên xanh là các đồ ngốc nghếch mà tự chúng cũng không biết chúng là gì nữa.

- Cháu sẽ vui chơi thỏa chí - Peter vừa nói vừa theo dõi Wendy.

- Có lẽ cậu sẽ thấy cô đơn lúc ngồi bên lửa buổi tối đấy - Wendy nhận xét.

- Tớ có Tinker Bell.

- Tinker Bell đầu óc như chim sẻ ấy mà - Wendy hơi ức đáp lại.

- Đồ gièm pha xấu xí!

- Tinker Bell nói từ một góc phòng.

- Chẳng sao - Peter đáp.

- Ôi Peter, cậu biết là chuyện đó quan trọng lắm chứ.

- Nếu thế thì cậu đi với tớ đến sống ở trong lều đi.

- Cho con đi được không mẹ?

- Chắc chắn là không được rồi.

Bây giờ con về nhà rồi, mẹ sẽ giữ con lại.

- Nhưng cậu ấy cũng cần có mẹ biết bao!

- Con cũng vậy, con yêu.

- Được, được rồi - Peter nói như thể chú đặt câu hỏi chỉ vì lịch sự mà thôi.

Nhưng bà Darling thấy bên khóe môi chú trễ xuống và bà bèn đưa ra một đề nghị rộng lượng: mỗi năm cho Wendy đến chỗ Peter ở một tuần để làm công việc dọn dẹp mùa xuân.

Wendy thích có một giải pháp lâu dài hơn và cô thấy dường như mùa xuân lâu đến quá, nhưng Peter an tâm ra đi với lời hứa đó.

Chú chẳng có khái niệm gì về thời gian và chú vốn là nhân vật chính của nhiều sự kiện đến độ những gì tôi kể về chú cho các bạn nghe chỉ là một giọt nước trong biển cả.

Có lẽ là Wendy cũng biết thế nên cô buồn buồn bảo:

- Từ nay cho tới lúc quét dọn mùa xuân, cậu đừng quên tớ nhé Peter.

Tất nhiên là Peter hứa, rồi chú bay đi.

Chú đem theo nụ hôn của bà Darling, cái hôn mà chẳng ai lấy được ấy.

Peter dễ dàng hái ngay được nụ hôn đó.

Thật là ngộ.

Nhưng bà tỏ ra hài lòng.

Tất nhiên là tất cả bọn trẻ đi học và phần lớn trong số chúng vào lớp sáu.

Slightly mới đầu được xếp vào lớp bảy, rồi lại được xếp vào lớp tám.

Mục đích là phải học đến lớp cuối cùng.

Chưa hết một tuần bọn trẻ đã hiểu ngay là rời bỏ đảo thật là ngu ngốc.

Tuy nhiên, giờ thì muộn quá rồi và chẳng bao lâu sau, chúng vào quy củ và trở nên cũng bình thường như bạn và tôi, như bất kỳ một người nào khác.

Đáng buồn là phải thêm rằng chúng dần dần mất khả năng bay.

Trước tiên Nana buộc chân chúng vào thành giường để ngăn không cho chúng bay lên vào ban đêm và một trong những trò giải trí ban ngày của chúng là giả vờ ngã từ trên xe buýt.

Nhưng dần rồi chúng cũng bớt giằng giật dây trói vào giường ban đêm và nhận thấy là mình bị thương khi nhảy từ trên xe buýt xuống.

Một thời gian sau, chúng thậm chí không thể nhấc mình lên khỏi mặt đất để đuổi theo mũ nữa.

Chúng tự nhủ là do thiếu thực hành nhưng thật ra là vì chúng không tin vào khả năng đó nữa mà thôi.

Michael giữ được niềm tin lâu hơn một chút, dù những đứa khác chế giễu nó.

Nó đứng cùng Wendy khi Peter đến đón cô bé vào cuối năm thức nhất.

Wendy bay đi cùng Peter, người mặc chiếc váy mà cô đã dệt bằng lá và quả cây của xứ sở Neverland.

Nỗi sợ duy nhất của Wendy là Peter thấy váy quá ngắn nhưng Peter chẳng nhận thấy gì hết, chú ta có quá nhiều chuyện để kể.

Wendy cứ hy vọng là chúng sẽ cùng nhau nhắc lại những kỷ niệm đã qua nhưng nhiều cuộc phiêu lưu mới đã xua tan chúng khỏi trí óc của Peter.

- Thuyền trưởng Hook là ai?

- Peter quan tâm hỏi khi Wendy nói về kẻ thù chung lớn nhất.

- Cậu không nhớ à?

- Wendy kinh ngạc hỏi - Cậu không nhớ đã giết hắn và cứu được cả bọn như thế nào à?

- Tớ giết xong chúng là quên ngay ấy mà - Peter vô tư đáp.

Khi Wendy ngập ngừng hy vọng là có khi Tinker Bell sẽ thích được gặp lại cô, Peter hỏi:

- Tinker Bell là ai?

- Ôi Peter - Wendy bất bình kêu lên.

Và dù cho Wendy có giải thích, Peter lại một lần nữa chẳng thể nào nhớ ra Tinker Bell.

- Có biết bao nhiêu là tiên, hay có khi cô ta không còn nữa thì sao.

Cũng có thể là Peter có lý bởi các tiên đâu có sống lâu, nhưng vì họ bé quá nên một khoảng thời gian ngắn ngủi cũng có vẻ như lâu.

Wendy buồn rầu thấy rằng Peter chẳng phân biệt gì giữa việc một năm đã trôi qua với những chuyện xảy ra ngày hôm qua.

Wendy cảm thấy chờ đợi mới lâu làm sao!

Nhưng Peter vẫn hấp dẫn như ngày nào và cả hai đã có một tuần quét dọn mùa xuân thật tuyệt diệu trong chiếc lều trên ngọn cây.

Năm sau, Peter không tới.

Wendy chờ đợi Peter trong một chiếc váy mới đơn giản vì cô không thể nào mặc chiếc váy cũ được nữa.

Nhưng chẳng thấy Peter đâu.

- Hay là anh ấy ốm - Michael gợi ý.

- Em biết là anh ấy không bao giờ ốm rồi đấy.

Michael đến sát bên Wendy và rùng mình thì thầm vào tai cô chị:

- Hay là anh ấy không có thật hở Wendy?

Nếu lúc ấy không phải là Michael đang khóc thì Wendy đã khóc rồi.

Peter lại xuất hiện khi đến mùa quét dọn năm sau, và lạ nhất là chú chẳng nhớ gì đến việc đã lỡ hẹn mất một năm.

Đó là lần cuối cùng Wendy bé con gặp Peter.

Trong một thời gian, Wendy cố gắng không buồn phiền về Peter và tự coi mình là không chung thủy với Peter khi được nhận giải nhất trong lớp.

Rồi năm tháng qua đi, chẳng bao giờ Peter quay lại nữa.

Khi họ gặp lại nhau, Wendy đã lấy chồng còn Peter đối với cô chỉ còn là một đám bụi trong chiếc hộp gỗ nơi cô xếp đồ chơi ngày bé.

Wendy đã trở thành người lớn rồi.

Các bạn cũng không cần phải thương cảm cô làm gì vì Wendy thuộc giống người chỉ thích lớn lên.

Và vì tự lòng cô đã muốn già đi như vậy nên cô đã trở thành phụ nữ sớm hơn các cô gái cùng tuổi khác.

Còn về phía các cậu trai, tất cả đều trở thành những người lớn hoàn hảo và có nền nếp; chẳng có gì nhiều để nói về họ cả.

Ta có thể gặp anh em Sinh đôi hoặc Nibs và Curly đi đến cơ quan tay cầm cặp da và ô.

Michael trở thành thợ máy xe lửa, Slightly lấy một tiểu thư quý tộc do đó anh ta trở thành huân tước.

Các bạn có thấy ông quan tòa mang tóc giả đang đi qua cánh cổng sắt kia không?

Ngày xưa tên ông ta là Tootles.

Và còn cái nhà ông râu ria rậm rì không thể nào kể được một câu chuyện cho ra hồn cho các con của ông ta ngày xưa tên là John đấy.

Wendy khi cưới bận đồ trắng với dây lưng hồng.

Thật lạ là Peter chẳng đột ngột xuất hiện trong nhà thờ để làm rối loạn hôn lễ.

Năm tháng tiếp tục qua đi và Wendy có một cô con gái.

Cô bé có tên là Jane và bao giờ cũng mang một cái nhìn soi mói một cách đáng kinh ngạc, cứ như thể ngay khi ra đời, bé đã có sẵn cả nghìn câu hỏi trong đầu.

Khi Jane đã hơi lớn để có thể đặt các câu hỏi đó, phần lớn chúng đều liên quan đến Peter Pan.

Jane rất thích nghe kể chuyện về Peter và Wendy kể tất cả những điều mà cô có thể nhớ được cũng ngay trong cái phòng ngủ mà xưa kia bọn trẻ đã thực hiện chuyến bay lịch sử.

Bây giờ đó lại là phòng ngủ của Jane vì ba Jane đã mua lại của bố vợ mình, người mà nay chẳng còn hứng thú leo thang gác chút nào nữa.

Bà Darling nay đã qua đời và chìm vào quên lãng.

Giờ đây chỉ còn có hai giường trong phòng trẻ: giường của Jane và của cô bảo mẫu, và chuồng chó cũng chẳng còn nữa vì Nana cũng chết từ lâu.

Nó chết vì già và về cuối đời nó trở nên khó chịu vì cứ muốn tỏ ra là chỉ có nó mới biết cách trông trẻ.

Mỗi tuần một lần, cô bảo mẫu của Jane lại được một buổi tối tự do và hôm đó Wendy phải tự cho Jane đi ngủ.

Đó chính là lúc kể chuyện.

Jane đã phát minh ra việc nâng tấm ga trải giường lên làm thành một chiếc lều trên đầu mẹ và đầu mình, sau đó, trong bóng tối đáng ngại cô bé mới thì thầm:

- Bây giờ ta thấy gì nào?

- Mẹ nghĩ rằng tối nay mình không thấy gì hết - Wendy trả lời, lòng cảm thấy rằng nếu có Nana ở đó, chắc nó sẽ cương quyết phản đối cái lối nói chuyện này.

- Có chứ mẹ, mẹ thấy lại ngày xưa mẹ là một cô bé chứ.

- Lâu lắm rồi thiên thần của mẹ ạ - Wendy đáp - Trời ơi, năm tháng trôi qua mới nhanh làm sao.

- Nó có trôi qua như mẹ bay hồi bé không?

- Con bé tinh ranh hỏi.

- Mẹ bay à?

Jane ạ, đôi khi mẹ cứ tự hỏi không biết mẹ có bay thật không.

- Có chứ mẹ, mẹ có bay thật mà.

- Ôi cái lúc mẹ biết bay ấy mới thú vị làm sao!

- Thế tại sao bây giờ mẹ lại không biết bay nữa hả mẹ?

- Vì mẹ thành người lớn rồi, con ạ.

Là người lớn rồi thì không còn biết cách bay như thế nào nữa.

- Tại sao người lớn lại quên bay?

- Vì họ không vui nữa, không ngây thơ và vô tâm nữa.

Chỉ có những người vui vẻ, ngây thơ và vô tâm mới bay được thôi.

- Thế những người vui vẻ, vô tâm và ngây thơ ấy là ai hả mẹ?

Con cũng muốn được như thế lắm...

Hoặc có khi lúc ấy Wendy lại thừa nhận là cô có thấy cái gì đó.

- Mẹ nghĩ là mẹ nhìn thấy phòng trẻ con.

- Con cũng thế, mẹ kể tiếp đi.

Thế là cả hai mẹ con bị lôi cuốn vào cuộc phiêu lưu của cái đêm mà Peter bay vào phòng để tìm cái bóng của chú.

- Cái cậu bé ngốc nghếch ấy lại cứ cố thử dán lại bóng bằng xà phòng và khi không dán được, chú bèn khóc; tiếng khóc làm mẹ thức dậy và mẹ khâu lại cho chú.

- Mẹ quên mất một đoạn - Jane giờ đây còn thuộc chuyện hơn cả mẹ bèn nhắc - khi mẹ nhìn thấy cậu ấy ngồi khóc dưới đất, mẹ bảo gì nào?

- Mẹ bèn ngồi dậy trên giường và hỏi: "Cậu bé thân mến, vì sao cậu khóc?"

- Đúng rồi đấy - Jane đồng tình thở ra thích thú.

- Thế rồi cậu ấy dạy mẹ và các cậu con bay và đưa tất cả mọi người đến xứ sở Neverland.

Có tiên, có cướp biển, có người Da đỏ, có đầm tiên cá, có ngôi nhà ngầm dưới đất và căn lều nhỏ.

- Ôi thích quá.

Thế mẹ thích cái gì nhất?

- Mẹ nghĩ rằng mẹ thích ngôi nhà ngầm dưới đất nhất.

- Con cũng thế.

Thế còn điều cuối cùng mà Peter nói với mẹ là gì?

- Điều cuối cùng mà Peter nói với mẹ là: "Phải luôn luôn chờ tớ và một đêm nào đó cậu sẽ nghe thấy tiếng tớ reo."

- Đúng rồi.

- Nhưng chán nhất là Peter đã quên mẹ rồi - Wendy mỉm cười nói, cô quả đã trở thành một người lớn rồi.

- Thế Peter reo như thế nào hả mẹ?

- Một tối Jane hỏi.

- Hơi giống như thế này này - Wendy cố bắt chước tiếng hú vui tươi của Peter.

- Không phải thế đây - Jane nghiêm trang nói - như thế này cơ mà.

Và cô bé bắt chước lại tiếng kêu của Peter giống hơn mẹ làm rất nhiều.

Wendy sững sờ.

- Bé cưng ơi, làm sao con biết?

- Con hay nghe thấy tiếng Peter khi con ngủ lắm.

- À ừ, nhiều em bé nghe thấy tiếng Peter khi đang ngủ, nhưng mẹ là người nghe thấy tiếng chú khi mẹ đang thức hẳn hoi.

- Mẹ may thật đấy.

Rồi một tối lại có chuyện xảy ra.

Đó là vào mùa xuân, Jane đã nghe chuyện xong vào buổi tối và giờ đang ngủ trong giường.

Wendy ngồi dưới đất gần ngọn lửa để nhìn rõ hơn đồ khâu vá của cô vì trong phòng không có đèn khác.

Trong khi đang khâu, cô nghe có tiếng hú lên kỳ lạ.

Cửa sổ mở tung y như ngày xưa và Peter hạ cánh xuống đất.

Peter chẳng thay đổi chút nào và Wendy nhận thấy chú vẫn có răng sữa.

Chú vẫn là một cậu bé con còn Wendy đã là một phụ nữ trưởng thành đầy đủ.

Ngồi nguyên tại lò sưởi, cô không dám cựa quậy, cô vừa có cảm giác lúng túng và có lỗi: nghĩ mà xem, cô nay đã thành người lớn.

- Chào Wendy - Peter chẳng nghĩ gì đến sự khác biệt vì chú chỉ để ý tới bản thân mình và trong ánh sáng lờ mờ, chiếc váy trắng của Wendy có thể bị coi là chiếc váy ngủ mà chú thấy cô mặc khi gặp nhau lần trước.

- Chào Peter - Wendy yếu ớt trả lời, cố thu người lại càng bé càng tốt.

Có tiếng nói tận đáy lòng bảo cô: "Ôi người đàn bà kia, hãy để cho ta ra đi..."

- Chào, John đâu rồi?

- Peter chợt nhận ra thiếu một chiếc giường bèn hỏi.

- John không ở đây nữa - Wendy nghẹn giọng trả lời.

- Michael đang ngủ à?

- Peter lơ đễnh nhìn Jane và hỏi.

- Ừ.

Wendy cảm thấy có lỗi với cả Jane và Peter.

- Đó không phải là Michael - cô hấp tấp nói, như sợ sấm sét sắp sửa giáng xuống.

Peter cúi đầu nhìn chiếc giường.

- Ai đây, một em bé mới à?

- Phải.

- Con trai hay con gái?

- Con gái.

Lần này chắc chú phải hiểu chứ, nhưng không, chú chẳng hề mảy may nghĩ tới sự thực.

- Peter - Wendy lắp bắp - cậu nghĩ rằng tôi sẽ bay cùng cậu à?

- Tất nhiên rồi, vì thế mà tớ mới đến chứ.

Và chú nói thêm giọng cụt lủn:

- Cậu quên là đây là kỳ quét dọn mùa xuân à?

Wendy hiểu rằng khó lòng có thể giải thích được cho Peter hiểu là biết bao kỳ quét dọn mùa xuân đã qua đi.

- Tôi không đi được đâu, Peter - Wendy buồn buồn nói - tôi không biết bay nữa rồi.

- Tớ sẽ dạy cậu, học lại nhanh thôi mà.

- Thôi Peter, đừng phí phạm bột tiên cho tôi.

Cô đứng dậy và lần đầu tiên nỗi sợ bóp nghẹt Peter.

- Có chuyện gì xảy ra vậy?

- Chú kêu lên.

- Để tôi bật đèn lên - Wendy nói - và cậu sẽ tự nhận thấy điều này.

Đây là lần duy nhất trong đời, theo chỗ tôi được biết, Peter sợ thực sự.

- Không, đừng bật đèn!

Wendy đưa tay vuốt tóc cậu bé đáng thương.

Wendy không còn là một cô bé đang tan nát cõi lòng vì chú mà đã là một bà chủ gia đình đang mỉm cười, nhưng nụ cười lấp lánh ánh nước mắt.

Rồi cô bật đèn, và nhìn thấy cô như vậy, Peter thốt lên một tiếng kêu đau đớn.

Khi người phụ nữ xinh đẹp và cao lớn đó cúi xuống để ôm Peter, chú hấp tấp lùi lại.

- Nhưng có chuyện gì xảy ra vậy?

- Peter nhắc lại.

- Peter, tôi già rồi.

Tôi hơn hai mươi tuổi rồi.

Tôi đã lớn lên từ lâu từ lâu rồi.

- Nhưng cậu đã hứa là...

- Tôi không thể nào làm gì được.

Nay tôi đã lấy chồng, Peter ạ.

- Không, không thể thế được.

- Đúng thế đấy, còn cô bé nằm trong giường kia là con tôi đấy.

- Không!

Nhưng rồi chú tự nhủ rằng cô bé đúng là con của Wendy và bước về phía Jane, dao găm giơ lên.

Dĩ nhiên là chú không định giết Jane.

Ngược lại, chú lăn xuống đất và bật khóc nức nở.

Wendy không biết làm cách nào để dỗ chú khi mà ngày trước cô dỗ Peter mới dễ làm sao.

Giờ đây cô chỉ là một phụ nữ như nhiều phụ nữ khác và cô chạy ra khỏi phòng để suy nghĩ.

Peter tiếp tục khóc và tiếng nức nở của chú đánh thức Jane dậy.

Cô bé ngồi lên và lập tức tỏ ra quan tâm.

- Cậu bé thân mến, tại sao cậu khóc?

Peter đứng dậy và nghiêng mình cúi chào còn Jane đứng trên giường cũng cúi chào đáp lễ.

- Chào - Peter nói.

- Chào cậu.

- Tên tớ là Peter Pan.

- Tớ biết rồi.

- Tớ đến đón mẹ tớ để đem đến xứ sở Neverland.

Khi Wendy quay lại, rất rụt rè thì đã thấy Peter đậu trên thành giường và kêu lên sung sướng trong khi bé Jane đang bay lượn lờ trong phòng, ngây ngất và trịnh trọng.

- Mẹ tớ đấy - Peter giải thích.

Jane hạ cánh đến đứng bên Peter với vẻ mặt mà Peter thích ngắm mỗi khi phụ nữ nhìn chú.

- Mẹ ơi, cậu ấy cần một bà mẹ lắm mẹ ạ - Jane bảo.

- Ừ, mẹ biết chứ - Wendy buồn buồn trả lời - chẳng ai biết hơn mẹ về điều này.

- Chào nhé - Peter nói với Wendy.

Và chú bay lên đồng thời Jane, chẳng ngượng ngùng gì cũng bay lên theo.

Đối với Jane bây giờ, bay lại là cách di chuyển dễ nhất.

Wendy chạy bổ ra phía cửa sổ.

- Không, không được!

- Chỉ để cho buổi quét dọn mùa xuân thôi mà mẹ - Jane giải thích - Peter muốn con dọn dẹp mùa xuân cho cậu ấy.

- Ôi giá mà mẹ có thể bay cùng với mọi người nhỉ - Wendy thở dài.

- Mẹ cũng thấy là mẹ đâu có biết bay - Jane đáp.

Rõ là cuối cùng Wendy cũng đành để chúng cùng nhau bay đi.

Đó là hình ảnh cuối cùng về Wendy của chúng ta: nghiêng người trên cửa sổ, cô nhìn theo bọn trẻ đang biến dần trên bầu trời cho tới khi lẫn vào những vì sao.

Giờ đây nếu các bạn nhìn kỹ Wendy, các bạn sẽ thấy tóc cô bắt đầu điểm bạc và thân hình dần dần gầy đi, vì tất cả các việc đó xảy ra nay đã lâu rồi.

Jane nay cũng đã thành người lớn và có một cô con gái tên là Margaret và mỗi khi đến kỳ quét dọn mùa xuân, trừ phi là chú quên, Peter lại quay về đón Margaret để đưa đến xứ sở Neverland.

Nơi đó, Margaret kể cho Peter nghe những chuyện về chính chú còn Peter lắng nghe như nuốt từng lời.

Khi nào Margaret lớn lên, cô cũng sẽ có một cô con gái và cô này cũng sẽ trở thành mẹ của Peter.

Các thế hệ sẽ còn nối tiếp nhau như thế chừng nào bọn trẻ con vẫn còn ngây thơ, vui tươi và vô tư lự.

END.

Mời vào blog daotieuvu.blogspot.com để tải nhiều truyện hơn!
 
Truyện Phương Tây Huyền Bí Sưu Tầm
Mery Popins - P.L.Travers


Thông tin ebook

Tên truyện: Mêry nhiều phép lạ

Nguyên tác: "Mery Popins"

Tác giả: P.L.Travers

Dịch giả: Huy Khánh

Thể loại: Văn học nước ngoài

-----------------------------------------------------

Đánh máy: Tamara

I.

GIÓ ĐÔNG

II.

NGÀY NGHỈ

III.

"HƠI CƯỜI"

IV.

ANDRIU, CON CÔ LẮC

V.

CON BÒ CÁI ƯA NHẢY MÚA.

VI.

NGÀY THỨ BA CHẲNG RA GÌ

VII.

BÀ MÁ "CHIM CÂU"

VIII.

BÀ CÔRY

IX.

TRUYỆN HAI EM BÉ SINH ĐÔI GIÔN VÀ BACBARA

X.

ĐÊM TRĂNG RẰM

XI.

GIÓ TÂY

I.

GIÓ ĐÔNG.

Nếu bạn muốn tìm ngõ Anh Đào, bạn chỉ cần hỏi anh cảnh sát đứng ở ngã tư.

Anh ta sẽ kéo lệch cái mũ về một bên, gãi gãi đầu, nghĩ một chút rồi chỉ ngón tay mang găng trắng to xù và nói: "Trước hết, bạn rẽ về tay phải, sau đó về bên trái rồi cứ đi thẳng là đến.

Xin chào!"

Và chắc chắn nếu bạn theo đúng lời chỉ dẫn của anh cảnh sát, bạn sẽ tới chính giữa ngõ Anh Đào, một bên là một dãy nhà, bên kia là công viên và ngay ở giữa đường có một hàng cây anh đào đang lay động trước gió.

Nếu bạn đi tìm số nhà 17 – và chắc đúng là như thế vì tập truyện này sẽ kể về những sự kiện về ngôi nhà đó - bạn sẽ tìm thấy ngay thôi.

Để mở đầu, phải nói đó là nhỏ nhất trong ngõ.

Ngoài ra, đó là ngôi nhà có vẻ tàn tạ nhất và cần phải quét vôi lại.

Ông Ben, chủ nhân ngôi nhà, trước kia đã hỏi ý kiến vợ ông là bà thích có một ngôi nhà đẹp đẽ, sạch sẽ, đủ tiện nghi hay là thích có bốn đứa con.

Nhưng nếu bà lại thích cả hai thì không được vì ông không đủ khả năng.

Bà Ben sau khi suy nghĩ kỹ đã đi đến một quyết định: bà đã có cô gái đầu lòng là Giên, kế đó là cậu Maicơn và sau nữa là một cặp sinh đôi một trai, một gái, Giôn và Bacbara – đó là những đứa con út.

Công việc gia đình đã thu xếp như vậy.

Gia đình ông Ben đã dọn đến ở ngôi nhà số 17 cùng một bà già nấu bếp là bà Brin, cô hầu gái Êlen phục vụ các bữa ăn và anh Rôbơcxơn chuyên làm các công việc xén bãi sân cỏ, mài dao, đánh giầy và như ông Ben vẫn hay phàn nàn: " Anh ta chỉ bỏ phí thì giờ và phí tiền của mình".

Ngoài những nhân vật trên dây, tất nhiên còn có cô bảo mẫu Kati, nhưng cô ta sẽ không đáng được nói tới trong truyện này vì trong lúc tôi đang kể đây thì cô ta vừa đi khỏi ngôi nhà số 17.

Bà Ben bảo:

- Cô ta thôi việc mà không xin phép ông, không một lời báo trước ư?

Bây giờ tôi làm thế nào đây?

Ông Ben vừa đi giầy vừa đáp:

- Bà đăng báo vào mục giao vặt "Cần người làm" chứ sao!

Tôi thì chỉ mong cái anh Rôbơcxơn cũng cứ lẳng lặng bỏ đi cho xong vì lần này nữa, anh ta chỉ đánh xi có một chiếc giầy của tôi, còn chiếc kia bẩn nguyên.

Tôi sẽ trông như bị lệch về một bên!

Bà Ben nói:

- Cái đó chẳng có gì là quan trọng cả.

Ông vẫn chưa nói xem tôi sẽ phải giải quyết vấn đề cô bảo mẫu Kati như thế nào!

Ông Ben đáp:

- Tôi không biết bà có thể làm gì nữa vì cô ấy đã "biến" mất rồi.

Nhưng nếu tôi ở đại vị bà – tôi nói là tôi ấy – tôi sẽ cho đăng trên tờ báo "Tin buổi sáng" rằng các em nhỏ Giên, Maicơn, Giôn và Bacbara (không nói gì tới bà mẹ chúng) hiện đang cần một cô bảo mẫu đẹp người, tốt nết với tiền lương ít nhất, và cần có ngay.

Thế rồi tôi sẽ ở nhà đợi các cô đến xin việc nối đuôi nhau xếp hàng ngoài cổng làm tắc nghẽn giao thông khiến tôi bực cả mình.

Thôi, bây giờ tôi phải đi đây.

Úi chà!

Trời lạnh như trên Bắc cực vậy.

Gió thổi theo hướng nào vậy?

Ông vừa nói vừa thò đầu ra ngoài cửa sổ và nhìn xuống phía cuối ngõ nơi có ngôi nhà ông đô đốc hải quân Bum ở góc đường.

Ngôi nhà ông ta to nhất ngõ này và dân trong ngõ rất tự hào về ngôi nhà đó vì nó xây giống hệt như một con tàu biển.

Trong vườn có một cây cột cờ và trên mái nhà có một cái chong chóng chỉ chiều gió, mạ vàng và trông giống như một cái kính thiên văn.

Ông vội thụt ngay dầu vào và kêu lên:

- À, kính thiên văn của ông đô đốc chỉ chiều gió Đông.

Tôi cúng nghĩ như vậy.

Lạnh thấu xương.

Tôi sẽ phải mặc hai cái áo khoác ngoài dây.

Nói xong, ông lơ đãng hôn lên một bên mũi bà vợ, vẫy vẫy tay chào các con rồi đi vào Thành phố.

Thành phố là nơi hàng ngày ông Ben vẫn tới, tất nhiên là trừ những ngày chủ nhật và trừ những ngày Ngân hang đóng cửa.

Tới sở, ông ngồi vào một cái ghế lớn ở trước một cái bàn giấy to tướng và bắt đầu làm việc.

Ông làm việc suốt cả ngày và đến chiều, ông bỏ tiền lương vào trong cái túi xách nhỏ màu đen và về nhà.

Đôi khi ông cho Giên và Maicơn mấy đồng tiền để bỏ ống nhưng hôm nào không có thì ông bảo: "Ngân hàng phá sản rồi" và các con ông biết là hôm ấy ông không có nhiều tiền.

Vậy là ông Ben đã xách cái túi ra khỏi nhà: và bà Ben thì đã vào phòng khách, ngồi suốt cả ngày trong đó, viết bao nhiêu bức thư dài gửi tới các báo nhờ họ kiếm giúp bà mấy cô bảo mẫu mà bà đang đợi.

Và ở trong phòng trẻ nhỏ trên gác, Giên và Maicơn đang ngó ra ngoài cửa sổ để xem có ai đi tới không.

Chúng cũng rất thích là cô Kati không còn ở đây nữa vì chúng không mến cô.

Cô ta đã nhiều tuổi, béo mập và người cô lúc nào cũng sự mùi nước thuốc nấu bằng lúa mạch.

Chúng cho rằng bất kỳ cô bảo mẫu nào cũng còn hơn cô Kati, hơn nhiều là đằng khác!

Khi trông ra công viên thấy buổi chiều đã tà, bà Brin và cô Elen đi lên phòng cho chúng ăn bữa tối và tắm rửa cho hai em bé sinh đôi.

Ăn xong, Giên và Maicơn ra ngồi bên của sổ đợi ông Ben về và nghe tiếng gió thổi quanh cành anh đào trụi lá ngoài ngõ.

Trong ánh chiều mờ mờ, đám cây lay động, bị gió thổi dạt về một phía, uốn cong hẳn xuống như sắp bật cả rễ lên...

Bỗng nhiên Maicơn chỉ tay vào một bóng người vừa đâm sầm vào cổng và kêu lên:

- Bố về kia rồi!

Và cô bé Giên cố nhìn vào khoảng tối sẫm dần.

Giên bảo:

- Không phải bố đâu.

Ai đấy không biết!

Thế rồi bong người đó thu mình lại, cúi xuống tránh luồng gió, mở then cổng và hai đứa trẻ lúc này đã nhận ra đó là một phụ nữ, một tay giữ mũ đội trên đầu và một tay xách cái túi.

Hai đứa trẻ đang chăm chú theo dõi, bỗng có một chuyện lạ lùng xảy tới.

Bóng người đó vừa vào tới bên trong cổng thì bị gío thổi bay lên trên không và đưa vào ngay cửa ra vào của ngôi nàh, cả người và túi xách nữa.

Khi bong người rơi xuống, cả ngôi nàh rung lên và hai đứa trẻ nghe thấy một tiếng "Ầm!" ghê gớm.

Maicơn bảo:

- Hay quá nhỉ!

Từ trước tới nay, em chưa thấy như thế bao giờ!

Giên nói:

- Chúng mình chạy ra xem đấy là ai nhé.

Em nắm tay Maicơn lôi đi khỏi chỗ cửa sổ đang đứng, đi qua phòng trẻ em và ra tới hành lang.

Đứng ở đó, chúng có thể nhìn rõ những gì đang diễn ra ở gian sảnh trước nhà.

Lúc này, chúng nhìn thấy bà mẹ từ trong phòng khách đi ra, có một người khách đi vào.

Giên và Maicơn thấy người phụ nữ mới tới này có mái tóc đen bong láng.

Giên nghĩ thầm:

- Giống như một con búp bê Hà Lan làm bằng gỗ ấy.

Cô ta vóc người mảnh mai, bàn chân bàn tay to và có cặp mắt nhỏ màu xanh.

Bà Ben đang nói:

- Rồi cô sẽ thấy các cháu rất ngoan!

Maicơn dung khuỷu tay hích mạnh vào cạnh sừơn Giên một cái.

Bà Ben lại nói tiếp:

- Và chúng nó cũng không quấy đảo gì đâu.

Nhưng nghe giọng bà thì dường như chính bà cúng không tin vào điều bà vừa nói.

Hai đứa bé nghe thấy cô khách "khịt khịt" mũi như thể cô cũng không tin là như thế.

Bà Ben lại nói:

- Nào, cô có giấy chứng nhận chứ?

Cô khách đáp:

- Ồ, em đi làm chẳng bao giờ có cái lệ phải có giấy chứng nhận cả!

Bà Ben trố mắt, bảo:

- Tôi nghĩ là thường phải có đấy chứ, tôi muốn nói là tôi thấy người ta vẫn làm như thế mà.

Giên và Maicơn lại nghe thấy giọng nói nghiêm nghị của cô kia:

- Em nghĩ ngày trước mới có kiểu đó, nay không còn kiểu đó nữa, hoàn toàn lạc hậu rồi, thưa bà!

Có một điều mà bà Ben rất e ngại, đó là tỏ ra mình là người lạc hậu.

Bà không chịu được nếu bị coi là không hợp thời.

Bà vôi đáp:

- Thế thì được lắm, ta sẽ không nhắc tới chuyện đó nữa.

Tôi chỉ hỏi là về phía cô, cô có cần đưa giấy tờ ra hay không thôi mà!

À, phòng bọn trẻ ở trên gác đấy!

Bà dẫn cô đi vào lối lên thang gác, vừa đi vừa nói luôn miệng.

Vì bà còn mải nói nên bà không biết chuyện gì đang diễn ra sau lưng nhưng Giên và Maicơn đứng ở trên gác nhìn xuống thấy rất rõ: cô khách này đang làm một việc rất khác thường.

Cô đi theo bà Ben lên gác nhưng không bước lên các bậc như ta thường đi.

Hai tay xách cái túi to, cô cưỡi lên tay vịn cầu thang gác, trượt lên rất nhẹ nhàng và lên tới hiên gác cùng một lúc với bà Ben.

Cưỡi lên tay vịn mà đi lên được, Giên và Maicơn thấy chưa có ai làm như thế bao giờ.

Tất nhiên cưỡi lên tay vịn mà trượt xuống thì được vì chúng thường làm luôn.

Nhưng trượt lên thì chưa bao giờ cả!

Chúng tò mò chăm chú nhìn cô khách lạ kì này.

- Thưa bà, thật là gọn gang, ngăn nắp quá!

Bà mẹ thở phào nhẹ nhõm.

Cô khách lại nói:

- Thật là tốt – Em rất thích.

- Vừa nói cô vừa chùi mũi bằng một cái mùi xoa trắng to tướng có sọc đỏ.

Bà Ben chợt trông thấy hai đứa bé:

- Này, các con, đứng làm gì ở đấy thế?

Đây là cô Mêry Pôppin, cô bảo mẫu mới của các con đấy!

Giên, Maicơn, các con chào cô đi nào! – Bà chỉ vào hai đứa nhỏ nằm trong nôi – Đây là hai cháu sinh đôi!

Cô Mêry nhìn chằm chằm hết đứa này đến đứa kia như thể suy nghĩ xem cô sẽ có yêu mến chúng hay không.

Maicơn cất tiếng hỏi:

- Cô thấy chúng cháu thế nào?

Bà mẹ nói:

- Này, Maicơn, chớ có hư nào!

Cô Mêry tiếp tục nhìn bốn đứa bé như để nghiên cứu.

Thế rồi cô khịt mũi một cái thật dài và thật kêu.

HÌnh như cô đã quyết định xong, cô nói:

- Vâng, em sẽ nhận trông các cháu.

Về sau, khi kể chuyện lại cho chồng nghe, bà Ben bảo: "Thật cứ như cô ta nhận làm là một điều vinh dự cho mình!"

Ông Ben đang đọc báo, ông nghếch cái mũi lên một chút rồi lại cúi xuống ngay và nói:

- Có lẽ thế thật đấy!

Khi bà Ben đã đi xuống dưới nhà, Giên và Maicơn tới bên cô Mêry.

Cô vẫn đứng yên như pho tượng, hai tay đan vào nhau trước bụng.

Giên hỏi:

- Cô tới đây bằng cách nào?

Hình như gió thổi cô tới đây phải không cô?

Cô Mêry đáp ngắn gọn:

- Đúng đấy!

Cô bắt đầu tháo khăn quàng cổ và mũ ra rồi khoác chúng lên cái cọc mắc màn.

Cô chẳng nói thêm câu gì nữa, tuy cô vẫn luôn khịt mũi, và Giên cũng chẳng hỏi nữa.

Nhưng khi cô cúi xuống để mở cái túi xách ra thì Giên và Maicơn đều ngạc nhiên vì thấy trong túi không có gì cả.

Giên nói:

- Ô hay, sao trong túi chẳng có cái gì cả?

Cô Mêry đáp:

- À, cháu thấy không có gì ư? – Cô đứng thẳng người lên, có vẻ như vừa bị xúc phạm. – Cháu bảo là trong đó không có gì à?

Nói đoạn, cô lấy ngay ra một cái tạp dề trắng có bột và quàng nó quanh mình.

Tiếp đó, cô lấy ra một bánh xà phòng to nhãn hiệu "Mặt trời", một cái bàn chải đánh răng, một gói cặp tóc, một lọ nước hoa, một cái ghế xếp và một hộp kẹo ngậm ho.

Giên và Maicơn trố mắt nhìn.

Maicơn thì thầm:

- Nhưng lúc nãy, em nhìn thấy túi rỗng không mà!

Giên kêu lên "Ô, này!" khi em nhìn thấy cô Mêry lấy ra một cái chai to có dán nhãn "Uống một thìa cà phê trước khi đi ngủ".

Ở cổ chai có cài một cái thìa nhỏ.

Cô Mêry rót ra một thìa nước màu đỏ.

Mai cơn tò mò hỏi:

- Đấy là thuốc của cô phải không?

Cô Mêry đáp:

- Không phải của cô mà là của cháu đấy!

Cô chìa cái thìa ra.

Maicơn trố mắt, nhăn mũi, chối đây đẩy:

- Cháu không uống đâu!

Cháu không cần uống thuốc mà!

Nhưng cô Mêry lừ mắt nhìn em và bỗng Maicơn thấy khó mà trái lời cô – Con người cô Mêry có một cái gì kỳ lạ, vừa đáng sợ, vừa hấp dẫn.

Cái thìa đã đưa tới gần miệng.

Maicơn nín thở, nhắm mắt và hớp lấy. – Ôi, ngon quá! – Maicơn khau khua lưỡi trong miệng.

EM nuốt ực và cười khoái trá.

Em kêu lên thích thú: - Nước kem dâu đấy, cô cho em uống nữa đi...nữa...nữa...!

Nhưng cô Mêrt, với vẻ mặt vẫn nghiêm nghị như lúc trước, đã đang rót cho Giên một thìa.

Thứ nước gì xanh xanh, vàng vàng, long lánh ánh bạc.

Giên nếm một chút và thè lưỡi liếm môi, nói:

- À, thuốc bổ có vị chanh quả. – Nhưng khi em thấy cô Mêry cầm cái chai đi tới gần hai em bé sinh đôi thì em vội chạy tới.

- Ồ, không đâu!

Chúng nó còn bé, uống thứ đó không tốt đâu!

Cô đừng cho uống!

Nhưng cô Mêry chẳng để ý tới câu Giên vừa nói, đưa mắt lườm em để cảnh cáo và đưa cái thìa vào miệng bé Giôn – Bé mút mút ngon lành, có vài giọt rớt ra tren cái yếm dãi.

Giên và Maicơn nhìn thấy mới biết lần này là một thìa sữa.

Thế rồi Bacbara cũng được một thìa, em bé đã uống hết lại cờn liếm thìa hai lần.

Tiếp đó, cô Mêry lại rót ra một thìa nữa và trịnh trọng đưa lên miệng uống.

Cô nói:

- Nước "mơ" đấy!

Cô liếm môi rồi đậy nút chai lại.

Giên và Maicơn ngạc nhiên trố mắt nhìn nhưng chúng chẳng còn thì giờ đâu mà ngạc nhiên nữa vì cô Mêry đã đặt cái chai có phép lạ này lên mặt lò sưởi, rồi quay lại bảo:

- Nào, bây giờ, các cháu vào giường ngay lập tức.

Cô bắt đầu cởi bớt quần áo ngoài cho hai chị em.

Hai đứa bé nhận thấy mọi khi, cô Kati cởi khuy và các móc cài quần áo cho chúng, rất là vất vả, khó nhọc vậy mà với cô Mêry chỉ một thoáng là xong.

Chưa đầy một phút chúng đã nằm yên vị trên giường và dưới ánh đèn dêm lờ mờ, chúng ngó xem cô Mêry lấy nốt các thứ trong cái túi xách ra.

Cô lấy ra những bẩy cái áo ngủ bằng len mỏng, bốn cái áo ngủ vải sợi bong, một đôi giầy, một bộ bài đômimô, hai cái mũ bơi và một quyển an bum bưu ảnh.

Cuối cùng, là một cái giường gấp, có đầy đủ chăn đệm nhồi lông vịt, cô đặt cái giường đó vào khoảng giữa hai cái nôi của Giôn và Bacbara.

Giên và Maicơn ngồi nhổm lên để xem.

Chúng kinh ngạc quá đỗi nên không biết nói như thế nào nữa.

Nhưng cả hia chị em đều thấy rằng ở số nàh 17, ngõ Anh Đào này đã có những cái thật lạ lùng và kỳ diệu.

Cô Mêry trùm một cái áo ngủ lên đầu, bắt đầu cởi áo ngoài, như thể đứng trong một cái lều vây.

Maicơn rất thích thú về cô bảo mẫu mới này, không thể nhịn được nữa, em gọi cô:

- Cô Mêry ơi, cô ở mãi đây với chúng cháu nhé!

Từ bên trong cái áo ngủ, không có tiếng trả lời, Mai cơn sốt ruột lại gọi tiếp, vẻ lo lắng:

- Cô Mêry ơi, cô cứ ở đây mãi nhé!

Cô Mêry đã thò đầu qua cái áo ngủ.

Trông cô như đang cáu.

Cô nói doạ:

- Cô còn nghe thấy cháu nói một câu nào nữa, là cô gọi cảnh sát đấy!

Maicơn ngoan ngoãn nói:

- Cháu chỉ nói là chúng cháu mong cô đừng có đi đâu nữa thôi mà.

Em nằm im, cảm thấy như đang đỏ mặt xấu hổ.

Cô Mêry chằm chằm nhìn Maicơn rồi nhìn Giên, im lặng.

Rồi cô lại khịt mũi.

Cô nói ngắn gọn: "Cô sẽ ở đây cho tới khi nào gió đổi chiều", rồi cô thổi tắt ngọn nến và đi nằm.

Maicơn lẩm bẩm: "Như vậy thì hay quá!"

Nửa như tự nói với mình, nửa như nói với chị.

Nhưng Giên có nghe thấy đâu!

Cô bé còn đang suy nghĩ về mọi cái vừa diễn ra và vẫn còn chưa hết ngạc nhiên...

Thế là cô Mêry Pôpin đã đến ở ngôi nhà số 17 ngõ Anh Đào.

Mọi người trong nhà này, tuy đôi khi cũng mong được sống những ngày yên ổn, bình thường như khi cô bảo mẫu Kati còn trông nom công việc nội trợ nhưng cũng đều thấy thích thú có cô Mêry đến ở đây.

Ông Ben rất bằng lòng vì cô đã tự đến.

Bà Ben cũng hài lòng vì bà có thể khoe với mọi người là cô bảo mẫu của các con bà rất hiện đại, không cần đưa giấy chứng nhận.

Bà Brin và cô Êlen cũng vui vì họ có thể ngồi trong bếp uống nước chè đặc suốt ngày, không phải cho lũ trẻ ăn uống.

Anh Rôbơxơn cũng thích vì cô Mêry chỉ có một đôi giầy và cô tự đánh lấy giầy.

Nhưng không ai biết đuợc là cô Mêry Pôppin suy nghĩ những gì vì cô chẳng nói chuyện với ai bao giờ...

II.

NGÀY NGHỈ

Bà Bennói:

- Vào tuần thứ ba mỗi tháng cô được nghỉ chiều ngày thứ năm, từ hai giờ đến năm giờ.

Cô Mêry bướng bỉnh nhìn bà Ben và nói:

- Thưa bà, các nhà lịch sự khác người ta cho nghỉ vào nàgy thứ năm của tuần thứ hai trong tháng , từ một giờ trưa đến sáu giờ chiều.

Bà cũng nên cho em nghỉ như vây, nếu không thì...

- Cô Mêry ngừng lời và bà Ben hiểu ngay ý cô.

Cô muốn nói là nếu cô không được như ý, cô sẽ thôi việc.

Bà Ben vội đáp: "Được rồi, được rồi mà!", tuy bà mong rằng cô Mêry cũng không biết gì hơn bà về những nhà lịch sự.

Thế là cô Mêry đeo đôi găng tay trắng, cắp cái dù vào nách, không phải vì trời mưa mà vì dù của cô có cái cán rất đẹp nên cô không thể không mang theo.

Khi mà cán dù có hình đầu con vẹt thì làm sao có thể để lại ở nhà!

Hơn nữa, cô Mêry rất thích làm dáng và hay khoe nữa.

Thực thế chắc chắn đó là điều cô quan tâm hơn hết.

Bé Giên đang đứng ở cửa sổ phòng trẻ nhỏ vẫy tay gọi cô:

- Cô ơi, cô đi đâu thế?

Cô Mêry đáp:

-Cháu làm ơn đóng cửa sổ lại! – Và thế là bé Giên vội thụt ngay đầu vào.

Cô Mêry đi qua vườn và mở cổng.

Khi đã ra tới ngoài ngõ, cô rảo bước như sợ rằng nếu không đi nhanh thì hết mất cả buổi chiều.

Đến góc đường cô rẽ về bên phải rồi đi tiếp về bên trái, gật đầu chào anh cảnh sát.

Anh ta nói hôm nay thật đẹp trời và Mêry cảm thấy ngày nghỉ của cô bắt đầu từ lúc đó.

Cô dừng bước bên cạnh một cái xe ôtô, nhìn ngắm, vuốt ve váy áo và cặp chặt cái dù để cho mọi người ai cũng có thể nhìn thấy cái cán, hay nói đúng hơn là con vẹt.

Sauk hi đã chuẩn bị xong xuôi, cô đi thẳng tới chỗ anh chàng bán diêm.

Anh chàng bán diêm kiêm những hai nghề.

Anh ta không chỉ bán diêm như một người bán diêm bình thường nào đó mà lại còn vẽ tranh trên bờ hè nữa.

Tuỳ theo thời tiết mỗi ngày, anh làm việc này việc nọ.

Nếu trời mưa thì anh bán diêm vì nếu vẽ tranh trên bờ hè thì nước mưa sẽ xoá sạch mất.

Nếu trời nắng, anh ta suốt ngày bò xoài ra vẽ tranh bằng phấn màu và anh ta vẽ rất nhanh, nếu anh đã vẽ hét hè phố bên này thì khi mà bạn chưa đi tới góc phố,anh ta đã vẽ hết nốt bờ hè bên kia.

Ngày hôm đó, trời tạnh ráo nhưng khá lạnh, anh ta đang vẽ.

Anh đang vẽ thêm hai quả chuối, một quả táo và một cái đầu của nữ hoàng Êlidabet tiếp nối với một loạt hình vẽ khác, thì cô Mêry rón rén đi tới.

Mêry khẽ gọi:

- Này!

Anh!

Anh bán diêm đang vẽ them mấy vạch phấn màu nâu lên quả chuối và tô nâu búp tóc trên đầu nữ hoàng Êlidabet.

Cô Mêry đặng hắng như kiểu một bà quý phái.

Anh kêu lên: "Mêry!" và nghe giọng nói của anh, bạn có thể thấy cô Mêry là một nhân vật cực quan trọng trong cuộc đời anh.

Mêry nhìn xuống dưới chân và di di mũi giầy trên vỉa hè.

Sau đó cô lại còn mỉm cười với cái mũi giầy nhưng chắc mũi giầy cũng hiểu là nụ cười của cô không phải để tặng cho nó.

Cô nói:

- Hôm nay tôi được nghỉ, anh Béc ạ!

Anh không nhớ ư?

Béc là tên anh bán diêm.

Anh trả lời:

- Tất nhiên là nhớ chứ, Mêry!

Nhưng...

Anh ngừng lời và buồn bã nhìn vào trong cái mũ của nah.

Cái mũ nằm ngửa bên cạnh bức tranh anh vừa vẽ và trong mũ có hai đồng xu.

Anh nhặt hai đồng tiền lên và xóc xóc chúng trong lòng bàn tay.

Cô Mêry hỏi: "Anh Béc ơi, mới được có ngần ấy thôi à?" nhưng giọng nói vui vẻ của cô lại cho thấy cô chẳng hề thất vọng về chuyện đó.

Anh Béc đáp:

- Có vậy thôi!

Hôm nay chẳng kiếm được mấy.

Cô cho rằng ai cũng sẵn lòng trả tiền để xem tranh tôi vẽ phải không? – Anh vừa nói vừa hất đầu về phía bức vẽ nữ hoàng.

Anh thở dài. – Mêry ạ, công việc như vậy đấy!

Hôm nay anh sợ sẽ không thể đưa em đi uống trà được.

Mêry nhớ tới những cái bánh ngọt nhân mứt dâu mà hai người vẫn cùng đi ăn những hôm cô được nghỉ và khi cô sắp thở dài thì cô bỗng nhìn thấy vẻ mặt của Béc.

Thế là cô liền biến tiếng thở dài thành một nụ cười thật tươi trên hai khoé môi.

Cô nói:

- Được thôi, anh Béc ạ!

Chẳng có vấn đề gì, em chẳng muốn đi uống trà đâu!

Uống trà, ăn bánh ngọt mãi cũng chán rồi, thật đấy!

Và khi ta biết cô Mêry thích món bánh ngọt nhân mứt dâu đến thế nào thì ta thấy cô đã thật tế nhị.

Anh bán diêm hình như cũng tin như vậy.

Anh bán diêm hình như cũng tin như vậy.

Anh đưa tay ra nắm chặt bàn tay đeo găng trắng của cô Mêry.

Sau đó, đôi bạn đi dọc theo các bức tranh đã vẽ trên hè.

Anh bán diêm chỉ vào bức tranh vẽ một quả núi phủ tuyết trắng, trên sườn núi là những con châu chấu đậu trên những đoá hoa hồng to tướng, anh hỏi:

- Này, em chưa được xem một bức vẽ nào như thế này đâu nhỉ!

Lần này, Mêry có thể buông tiếng thở dài mà không sợ làm anh bạn e ngại.

Cô nói:

- Ồ, anh Béc, trông thật thích mắt!

Và liền đó, cô cũng nói là đáng lẽ bức tranh này phải được tro trong phòng triển lãm cảu Viện Hàn lâm Hoàng gia, nơi các hoạ sỹ thường mang trưng bày tranh của họ.

Công chúng tới xem và sau khi ngắm nhìn rất lâu, người nọ nói với người kia rằng: "Bạn thấy không, thật là độc đáo!"

Tiếp sau bức đó, đôi bạn đi tới trước một bức tranh đẹp hơn nữa.

Đây là cảnh đồng quê có cỏ và cây, phía xa là một mảng nhỏ biển xanh và phía sau có vẻ như là thị trấn Mácgêt thì phải.

Mêry kêu lên: "Đẹp thật!"

Và cô cúi xuống để xem cho rõ hơn.

- À, anh béc, cái gì vậy?

Lúc này, anh bán diêm đã nắm lấy bàn tay kia của cô và có vẻ đang xúc động.

Anh nói:

- Em Mêry!

Anh có một ý kiến mới lạ.

Ta sẽ đi dạo chơi trong cảnh đồng quê này.

Đi ngay bây giờ nhé!

Cả hai chúng ta sẽ cùng đi vào bức tranh, nào, em Mêry!

Và anh vẫn cầm cả hai tay cô, kéo cô đi ra khỏi đường phố, bỏ lại sau lưng các hàng rào sắt và các cột đèn, đi vào chính giữa bức tranh.

Vụt một cái, cả hai đã ở trong bức hoạ.

Cảnh vật tươi xanh và yên tĩnh quá, cỏ khe khẽ loạt soạt dưới chân.

Họ tưởng như không phải là thật nhưng có cả những cành cây xanh rủ xuống vưỡng vào mũ và họ đã phải cúi đầu xuống để tránh.

Trước mũi giầy họ là những nhánh hoa nhỏ bé đủ các màu.

Hai người nhìn nhau và người này thấy người kia đã khác hẳn.

Cô Mêry thấy như anh Béc đang mặc một bộ quần áo mới, áo khoác ngoài màu xanh lá cây, có sọc đỏ, quần len trắng và đẹp nhất là cái mũ rơm mới tinh.

Trông anh bảnh bao khác thường, như mới "đánh bong" vậy.

Cô cất tiếng khen:

- Chà!

Anh Béc, trông anh diện quá!

Béc đứng yên, không nói được câu gì vì miệng anh há hốc và mắt anh trợn tròn nhìn Mêry.

Sau đó, anh hít vào một hơi dài và kêu: "Trời!"

Anh chỉ nói một tiếng đó thôi.

Nhưng giọng anh có đầy vẻ thích thú và cứ nhìn cô chắm chú đến nỗi cô phải lấy cái gương nhỏ trong túi xách ra để soi xem mình như thế nào.

Cô phát hiện thấy mình cũng đã khác hẳn.

Vai cô khoác một cái khăn quàng bằng tơ nhân tạo, vân hoa long lánh, cô cảm thấy buồn buồn phía sau cổ và nhìn trong gương cô thấy một cái lông chim dài cài trên vành mũ.

Đôi giày đẹp lúc trước của cô cũng không còn nữa, hiện cô đang đi một đôi giày đẹp hơn, có những khuy cài bằng kim cương lấp lánh.

Cô vẫn đi đôi găng trắng và vẫn mang dù.

Cô kêu lên:

- Trời ơi!

Thực là ngày mình được nghỉ!

Thế là họ vừa ngắm nhìn nhau vừa đi dạo trong khu rừng nhỏ, tới một bãi cỏ tràn đầy ánh nắng.

Và kìa, có cả một cái bàn màu xanh trên bày các món trà bánh.

Giữa bàn, một chồng bánh ngọt nhân mứt dâu cao đến ngực cô Mêry và cạnh đó, ấm nước trà đang sôi.

Hay nhất là còn có hai đĩa ốc luộc và hai cái tram nhỏ để khêu ốc.

Mêry kêu lên:

- Ồ, thật thích mê người! – Khi nào thích thú điều gì, cô thường nói câu đó.

Anh bán diêm cũng kêu:

- Trời! – Đó cũng là câu anh hay nói nhất.

Bỗng có tiếng ai đó: "Xin mời quý bà ngồi vào bàn" Anh và cô quay lại nhìn thấy một người cao lớn mặc áo khoác màu đen, từ trong rừng đi ra, trên cánh tay vắt cái khăn.

Cô Mêry rất ngạc nhiên.

Cô ngồi phịch xuống một trong những cái ghế nhỏ màu xanh đặt xung quanh bàn.

Anh bán diêm cũng vừa lạ lùng nhìn, vừa ngồi xuống ghế.

Người áo đen giải thích:

- Thưa ông bà, tôi là người phục vụ ở đây.

Mêry nói:

- Ô!

Sao trong tranh vẽ tôi không trông thấy bác?

- À, tôi đứng sau cái cây đấy ạ.

Mêry lễ phép mời bác ngồi, bác đáp:

- Thưa bà, người phục vụ không bao giờ ngồi ạ.

Bác đưa một đĩa ốc về phía anh bán diêm:

- Xin mời ông.

Kim khêu đây ạ.

Bác lau kim và đưa cho anh bán diêm.

Hai người bắt đầu thưởng thức trà, bánh và người phục vụ đứng bên cạnh xem họ có cần gì nữa không.

Mêry cầm lấy cái bánh trên cùng và thì thầm:

- Thế là chúng ta lại ăn bánh này!

Anh bán diêm nói: "Trời!" và cầm lấy hai cái bánh lớn nhất.

Người phục vụ mời: "Xin mời dùng trà!" và cầm bình trà rót cho mỗi người một chén đầy.

Đôi bạn uống xong và còn uống thêm hai chén nữa.

Và để lấy may họ ăn hết cả đĩa bánh ngọt.

Họ đứng lên, phủi sạch những vụn bánh.

Trước khi họ gọi tính tiền, bác phục vụ đã nói:

- Thưa, không phải trả tiền đâu ạ, đây là món quà chiêu đãi.

Xin mời ông bà tới giải trí ở vòng đua ngựa ở phía đằng kia. – Bác chỉ tay vào một khe nhỏ giữa hai gốc cây.

Cô Mêry và anh Béc nhìn thấy một vòng ngựa gỗ đang quay.

Cô Mêry nói:

- Hay nhỉ, trên tranh cso vẽ vòng ngựa này đâu!

Anh bán diêm cũng không còn nhớ nữa, anh bảo:

- À có, ở phía sau đấy mà!

Khi đôi bạn đi tới thì vòng ngựa gỗ vừa ặn từ từ dừng lại.

Hai người trèo lên lưng ngựa, cô Mêry cưỡi một con ngựa trắng và anh Béc cưỡi một con ngựa xám.

Nhạc lại nổi lên, vòng ngựa gỗ bắt đầu quay và đôi bạn lên đường, đi tới thành phố Yocmao rồi lại quay trở về vì nơi này là nơi họ muốn xem kĩ.

Khi đôi bạn về tới nơi thì trời đã gần tối và bán phục vụ đang chờ họ về.

Bác lễ phép nói:

- Thưa ông bà, xin thứ lỗi nhưng đã gần bẩy giờ rồi.

Ông bà thông cảm cho, đó là nội quy phải thực hiện.

Tôi xin phép đưa ông bà tới cổng ra.

Đôi bạn gật đầu.

Bác ta phất tấm khăn trải bàn và đi trước, dẫn đường xuyên qua khu rừng.

Cô Mêry vịn vào cánh tay Béc, kéo sát cái áo choàng lên mình và nói:

- Anh Béc, bức tranh lần này thật tuyệt diệu!

Anh Béc khiêm tốn đáp:

- À, Mêry ạ, anh cũng đã cố gắng nhiều đó!

Nhưng bạn có thể thấy được thực sự, anh rất phấn khởi về lời khen của cô Mêry.

Đúng lúc đó, bác phục vụ dừng bước bên cạnh một cái cổng lớn màu trắng, trông như được vẽ bằng những nét phấn trắng xoá.

Bác bảo:

- Thưa ông bà, đây là cổng ra.

Mêry đáp:

- Xin cảm ơn và xin chào bác.

Cô bắt tay từ biệt bác phục vụ.

Bác đáp lễ, cúi chào đến mức đầu bác chạm vào đầu gối và nói:

- Xin kính chào bà!

Bác gật đầu chào Béc còn anh, thì ngoẹo đầu về một bên và nhắm một mắt lại, đó là kiểu chào tạm biệt của anh.

Sau đó, cô Mêry bước qua cái cổng màu trắng và anh Béc bước theo cô.

Đôi bạn vừa đi qua cổng thì cái lông chim trên mũ cô Mêry rơi xuống, cái áo khoác bằng lụa tuột khỏi vai cô và các hạt kim cương cũng rơi ra khỏi đôi giày của cô.

Bộ trang phục đẹp đẽ của Béc bỗng nhạt hết màu và cái mũ rơm lại trở thành cái mũ cũ nát.

Cô Mêry quay lại nhìn anh và cô hiểu ngay điều gì đã xảy ra.

Cô đứng trên lề đường đăm đăm nhìn anh hồi lâu rồi đưa mắt nhìn vào khu rừng cây phía sau anh để tìm bác phục vụ.

Nhưng giờ đây, họ không thấy bác đâu nữa.

Trong bức tranh không còn ai cả.

Cũng chẳng có vật gì lay động, cả vòng ngựa gỗ cũng đã biến mất.

Chỉ còn đám cây, bãi cỏ đứng lặng yên và mảng biển nhỏ phẳng lặng.

Nhưng cô Mêry và anh Béc nhìn nhau mỉm cười, chắc bạn cũng hiểu là cô và anh đều biết sau đám cây này có những gì...

Khi cô Mêry đi chơi hêta ngày nghỉ về nhà, Giên và Maicơn chạy ra đón cô.

Hai đứa bé hỏi cô:

- Cô đi chơi đâu thế?

Cô Mêry đáp:

- Cô tới xứ Thần tiên.

Giên hỏi:

- Thế cô có gặp cô bé Lọ lem không?

Cô Mêry khinh khỉnh đáp:

- Hừ!

Cô Lọ lem ấy à?

Không đâu!

Maicơn lại hỏi:

- Hay cô có gặp anh Rôbinxon Cờ rudô không?

Cô Mêry gắt lên:

- Rôbin xơn à!

Chẳng để ý!

- Vậy sao cô tới đó mà không gặp họ?

Nơi cô tới không phải là xứ Thần tiên của chúng cháu đâu!

Cô Mêry khịt mũi một cái rất oai vệ và nói:

- Các cháu cso bíêt không, mỗi người đều có một xứ Thần tiên của riêng mình!

Cô lại khịt mũi một cái nữa rồi đi lên gác để tháo đôi găng tay trắng ra và cất cái dù đi.

III.

"HƠI CƯỜI"

Khi cô Mêry cùng Giên và Maicơn vừa từ xe buýt bước xuống, Giên đã vội hỏi:

- Cô ơi, có chắc chắn là ông ấy có nhà hay không hả cô?

Cô Mêry nghe câu hỏi có vẻ bực mình lắm, cô nói:

- Nếu ông bác của cô có việc phải đi đâu thì ông ấy đac chẳng mời các cháu tới uống nước trà với ông!

Bữa nay, cô mặc áo vét màu xanh lơ có khuy bạc, đôi cái mũ cũng màu xanh lơ cho hợp với áo, và khi cô đã trưng diện mũ áo như vậy thì một chuyện lặt vặt nhất đời cũng làm cô phật ý.

Ba cô cháu hôm nay đi thăm ông bác của cô Mêry, ông Uych.

Giên và Maicơn chờ đợi chuyến đi này đã từ lâu nên chúng chỉ sợ rằng cuối cùng, khi tới thì ông lại không có nhà.

Maicơn rảo bước bên cô Mêry và hỏi cô:

- Cô ơi, tại sao lại gọi là ông Uých hả cô?

Có phải vì ông mang bộ tóc giả, phải không cô?

Cô Mêry đáp:

- Gọi là ông Uých vì tên ông ấy là Uých.

Ông ấy không mang tóc giả.

Ông ấy hói đầu.

Nếu cháu còn hỏi một câu nào nữa, cô sẽ cho đi về nhà cả đấy! – Và cô khịt mũi theo kiểu của cô để tỏ vẻ bực bội.

Giên và Maic ơn nhìn nhau, nhăn mặt, tức là chúng bảo với nhau: "Thôi, chị em ta đừng hỏi gì nữa kẻo sẽ không được đi nữa đâu!"

Đến cửa hàng bán thuốc lá ở góc phố, cô Mêry sửa lại mũ cho ngay ngắn.

Cửa hàng này có một cái tủ gương kỳ lạ, khi soi vào bạn sẽ thấy mình hoá thành ba mà không phỉa là một và bạn sẽ cảm thấy như không phải chính mình, mà có bao nhiêu người khác nữa.

Nhưng cô Mêry đã thở một hơi dài thích thú khi thấy trong gương có ba cô Mêry, cô nào cũng mặc áo vét xanh lưo khuy bạc, đội mũ xanh lơ hợp với màu áo.

Cô cho cảnh đó thật là mỹ miều nên cô ước ao giá có thể có một tá cô Mêry, thậm chí cả ba chục cô Mêry như thế.

Càng nhiều hình ảnh cảu Mêry càng hay.

Cô nghiêm nghị nói: "Đi nào!", như thể hai đứa bé đã bắt cô phải chờ chúng.

Ba cô cháu rẽ qua góc phố và tới ngôi nhà số 3, phố Rôbơcxơn, kéo chuông.

Giên và Maicơn nghe tiếng chuông văng vẳng từ phía xa trong nhà vọng lại và chúng biết chỉ sau một phút nữa, hoặc đến hai phút là cùng, chúng sẽ được ngồi uống trà với ông Uých, mà lần này chúng được gặp lần đầu tiên, Giên thì thầm với Máicơn:

- Chắc là ông ấy có nhà!

Vừa đúng lúc đó, cửa mở và một bà gầy gò, mặt mũi bủng beo xuất hiện.

Maicơn hỏi ngay:

- Ông ấy có nhà không?

Cô Mêry lườm Maicơn một cái và nói:

- Cô xin cháu đây!

Cháu hãy để cô nói chuyện nhé!

Bé Giên lễ phép hỏi:

- Bà Uých ơi, bà vẫn được khoẻ chứ?

Bà gầy đáp lại với một giọng còn "mảnh mai" hơn con người bà ta nữa:

- Bà Uých là cái gì?

Sao cháu lại dám gọi ta là bà Uých?

Không phải đâu nhé, cảm ơn cháu.

Ta chỉ là cô Pơcximơn mà thôi và ta rất tự hào về cái tên đó!

Hừ, ta đâu phải là bà Uých!

Trông bà ta có vẻ rất bực mình và hai đứa trẻ nghĩ rằng chắc ông Uých là một con người rất kì cục nên cô Pơcximơn này mới cho rằng mình rất may mắn không phải là vợ ông ấy.

Cô Pơcximơn nói:

- Cứ lên thẳng trên gác, cái cửa đầu hành lang là nhà ông ấy đấy!

Nói xong, cô ta vội đi trở vào, vừa đi vừa nói một mình với giọng the thé, bực dọc:

- Hừ, bà Uých à!

Giên và Maicơn theo cô Mêry lên gác.

Cô Mêry gõ cửa.

Từ trong nhà, một giọng nói vui vẻ lớn tiếng trả lời:

- Xin mời vào!

Xin mời vào!

Có lời chào mừng các bạn!

Giên cảm thấy tim mình đập rộn rã.

Em đưa mắt ra hiệu cho Maicơn: "Ông ấy có nhà!"

Cô Mêry mở cửa và đẩy hai đứa bé vào trước.

Trước mặt ba cô cháu, cảnh tượng trong phòng thật là vui vẻ.

Ở cuối phòng, lửa cháy trong lò sưởi và ở giữa phòng đã bày sẵn trên cái bàn lớn bốn cốc, bốn chén đặt trong đĩa, một chồng cao các thứ bánh mỳ, bánh nướng bơ, bánh dừa và một cái bánh gatô nhân mứt nho rất to, trên mặt có hoa lá bằng kem màu hồng.

Một giọng noi ồm ồm vang lên: "A, thật là một bữa liên hoan!"

Giên và Maicơn nhìn quanh phòng để tìm xem chủ nhân ở đâu.

Chẳng thấy ông đâu cả.

Trong phòng hình như không có ai.

Thế rồi, hai đứa nhỏ nghe tiếng cô Mêry nói, có vẻ không vừa ý:

- Ồ, bác Anbớc ơi!

Lại thế nữa ư?

Hôm nay là ngày sinh nhật của bác, có phải không ạ?

Cô vừa nói vừa ngước nhìn lên trần nhà, Giên và Maicơn cũng ngước mắt lên và rất ngạc nhiên khi thấy một ông béo tròn đầu hói đang lơ lửng trên không, chẳng bám víu vào cái gì cả.

Thật vậy, trông như ông đang ngồi trên không khí, hai chân bắt chéo và ông đặt tờ báo dang đọc xuống khi thấy mấy cô cháu bước vào.

Ông Uých cúi xuống cười với hai đứa trẻ và gật đầu nói với cô Mêry:

- Bác xin lỗi, có lẽ hôm nay là ngày sinh nhật của bác đấy!

Cô Mêry đành chỉ chậc lưỡi.

Ông Uých lại cúi xuống nhìn Giên và Maicơn, nói:

- Mãi tới đêm qua, mới nhớ ra là nếu gửi bưu thiếp hẹn các cháu một ngày khác thì không kịp.

Như vậy thật rắc rối, có phải không?

Bác thấy là các cháu có vẻ ngạc nhiên mà!

Quả là như vậy, hai đứa trẻ kinh ngạc, há miệng to tới mức nếu ông Uých bé nhỏ một chút thì có thể rơi tọt vào miệng một trong hai đứa.

Ông Uých lại bình tĩnh nói tiếp:

- Bác nghĩ là nên giải thích cho các cháu.

Các cháu đã thấy đấy, bác là người vui tính, lúc nào cũng thích cười đùa.

Chắc chẳng cháu nào biết những chuyện gì làm bác thấy buồn cười.

Bác có thể thấy gần như chuyện gì, cái gì cũng buồn cười cả!

Nói đoạn, ông Uých bắt đầu bay lên bay xuống, vừa bay vừa cười rung chuyển cả mình mẩy vì ông thấy tính hay đùa của ông cũng thật buồn cười.

Cô Mêry gọi: "Bác Anbớc!"

Thế là ông Uých giật mình, thôi không cười nữa.

Ông nói:

- À! xin lỗi các cháu yêu quý!

Bác đang ở đâu thế này?

À, đúng rồi, bác buồn cười vì một chuyện về chính bác đấy, cháu Mêry ạ.

Nếu bác nhịn được cười thì bác đã không cười.

Chuyện đó là nếu mỗi lần sinh nhật của bác đúng vào ngày thứ sáu thì bác không thể không buồn cười, hoàn toàn không thể nhịn cười được

Giên hỏi:

- Nhưng tại sao lại như thế,thưa ông?

Maicơn cũng hỏi:

- Nhưng tại sao lại như thế, thưa ông?

- Các cháu biết không, đúng vào ngày đặc biệt này mà ông cười sẽ hít hơi cười đầy bụng và không đứng trên mặt đất được nữa.

Ngay khi chỉ mỉm cười cũng vậy.

Ông chỉ mới nghĩ đến thôi là cũng bay ngay lên như một quả bóng bay và chỉ tới khi nào ông nghĩ tới một chuyện gì nghiêm túc thì mới xuống mặt đất được.

Thế là ông Uých lại bắt đầu cười cục cục như con gà mái nhưng khi nhìn thấy bộ mặt cô Mêry, ông thôi không cười nữa và nói tiếp:

- Tất nhiên, chuyện đó rắc rối nhưng kể cũng hay hay.

Ông chắc là các cháu không hề bị như vậy bao giờ, có phải không?

Giên và Maicơn cùnglắc đầu.

- Ông cũng tin như vậy.

Có lẽ đó chỉ là một thói quen đặc biệt của ông.

Một tối kia ông đi xem xiếc về, ông cười nhiều đến nỗi ngay hôm sau liệu các cháu có tin lời ông nói không? – Ông bay bổng lên suốt mười hai tiếng đồng hồ và đến khi đồng hồ đánh mười hai giờ đêm, ông mới xuống được mặt đất đấy!

Tất nhiên khi đó, ông đã bị rơi đánh "bịch" một cái vì hôm đó là thứ bảy và không phảilà sinh nhật cảu ông nữa rồi.

Thật là rắc rối, có phải không, mà lại còn tức cười nữa!

Và hôm nay lại là ngày thứ sáu, nàgy sinh nhật của ông, hai cháu cùng Mêry đã tới thăm ông.

Ôi, lạy chúa, xin chúa đừng bắt con phải cười!

Nhưng, tuy Giên và Maicơn không hề làm trò gì đáng cười mà chỉ ngạc nhiên trố mắt nhìn, ông Uých lại phá lên cười ầm ĩ và ông lại bay lên bay xuống trên không, tờ báo ở tay ông kêu lật phật, cặp kính đeo mắt chỉ còn bám một nửa vào sống mũi.

Trông ông thật buồn cười, giống như một qủa bóng bay to tướng hình người, đôi khi va đầu vào trần nhà, và có lúc lại va vào giá đỡ ống ga và hai đứa trẻ cố giữ lễ phép mà không thể nào nhịn được cười.

Chúng bật lên cười và cứ cười mãi.

Chúng mím chặt miệng cố giữ cho tiếng cười khỏi bật ra mà không được.

Và ngay sau đó chúng lăn ra sàn nhà, cười bò ra, cười lăn cười lộn.

Cô Mêry kêu lên:

- Đúng là kiều đùa dai!

Maicơn lăn gần tới tấm chắn lò sưởi, kêu lên:

- Cháu không nhịn được!

Cháu không sao nhịn được.

Buồn cười quá, phải không, chị Giên ơi!

Giên không trả lời vì em đang cảm thấy một sự lạ: khi cười em thấy mình cứ nhẹ dần như bị bơm đầy không khí vào trong người.

Đó là một cảm giác kì lạ và thú vị, làm cho em lại càng cười nhiều hơn.

Rồi bỗng nhiên, em vụt nẩy lên một cái lơ lửng trong không khí.

Maicơn kinh ngạc nhìn Giên bay trogn phòng.

Đầu Giên khẽ chạm vào trần nhà và em cứ nẩy dọc trần nhà tới chỗ ônh Uých.

Ông Uých cũng có vẻ rất ngạc nhiên, kêu lên:

- Thế nào?

Hôm nay cũng là ngày sinh nhật của cháu à?

Giên lắc đầu.

- Không phải ư?

Vậy thì cái hơi cười này lây lan từ người này sang người khác được đó!

Này, phải chú ý kẻo va vào lò sưởi.

Lúc này đến lượt Maicơn, cậu bé bỗng nhiên bay bổng lên, vừa bay vừa cười sằng sặc và lướt qua đám đồ trang trí bằng sứ bày trên mặt lò sưởi.

Em "hạ cánh" xuống đúng trên đầu gối ông Uých rồi nẩy nhẹ lên một cái.

Ông Uých nồng nhiệt bắt tay Maicơn nói:

- Chào cháu, cháu khoẻ chứ?

Ông thấy các cháu thực là ngoan đấy.

Ông không xuống được thì các cháu đã lên với ông, có phải không?

Thế rồi hai ông cháu ngó nhìn nhau, ngửa đầu ra phía sau và cùng cười ầm ĩ.

Ông Uých vừa dụi mắt vừa nói với Giên:

- Có lẽ các cháu sẽ cho ông là người kém lịch sự nhất đời đấy.

Đáng lẽ phải mời các cháu ngồi thì cháu vẫn cứ phải đứng.

Ông không mang ghế lên đây cho cháu ngồi được nhưng cháu cứ ngồi ngay trên không khí cũng rất thoải mái, dễ chịu.

Ông cũng ngồi như thế đấy!

Giên ngồi thử và thấy hoàn toàn thoải mái.

Em bỏ mũ ra đặt xuống bên cạnh và cái mũ cũng cứ lơ lửng như thế, không cần có cái gì đỡ giữ cả.

Ông Uých nói: "Hay lắm", rồi ông quay đầu nhìn xuống cô Mêry bên dưới.

- Này, cháu Mêry, mấy ông cháu đã ngồi trên này, bây giờ còn cô cháu yêu quý của bác nữa.

Thế nào đây?

Bác rất vui được cháu và hai cháu bé tới thăm bác hôm nay.

Nhưng bác trông cháu, cháu Mêry ạ, có vẻ cau có.

Có lẽ cháu không tán thành chuyện này phải không?

Ông chỉ vào Giên và Maicơn và nói một cách vội vàng:

- Cháu Mêry thân mến, bác xin lỗi cháu nhé.

Nhưng cháu đã biết tính bác rồi mà.

Bác cũng phải nói với cháu là bác không ngờ hai bạn nhỏ này lại có thể bị lây cái tính hay cười của bác.

Đáng lẽ bác phỉa bảo chúng tới vào ngày khác hoặc cố nghĩ tới một chuyện gì buồn chán hoặc một cái gì...

Cô Mêry trả lời, rất nghiêm trang:

- Thưa bác, cháu xin nói với bác là trong đời cháu, cháu chưa hề thấy một cảnh tượng như thế này.

Mà bác đã lớn tuổi rồi...

Maicơn ngắt lời cô:

- Cô Mêry ơi, cô Mêry!

Mời cô lên trên này.

Cô cứ nghĩ đến một chuyện gì buồn cười là lên được ngay đấy!

Giên cũng chìa tay về phía cô Mêry và gọi:

- Không có cô, chúng cháu thấy nhớ cô lắm!

Cô hãy nghĩ một chuyện gì vui vui đi.

Ông Uých thở dài và nói:

- À, Mêry cũng chẳng muốn lên đấy thôi.

Nếu cô thích lên đây thì chẳng cần phải cười cũng lên được, cô ấy cũng thừa biết điều đó.

Nói dứt lời, ông bí mật khẽ đưa mắt lẳng lặng nhìn cô Mêry đang ngồi trên tấm đệm trước lò sưởi.

Cô Mêry nói:

- Thôi, cái trò đùa này thật thiếu nghiem túc nhưng vì bác và các cháu bé đều đã ở trên đó và có lẽ chưa thể xuống được dưới này, thì cháu cũng sẽ phải lên thôi.

Nói đoạn, cô khuỳnh hai tay, đặt hai bàn tay vào hai bên sườn.

Giên và Maicơn rất ngạc nhiên khi nhìn thấy cô, mặt vẫn nghiêm nghị, không cười một tí nào, đã bay vụt lên ngồi bên cạnh Giên.

Cô nghiêm nét mặt, nói:

- Đã bao nhiêu lần cô dặn các cháu là khi đi vào trong một căn phòng ấm, phải cởi áo ngoài ra, mà các cháu không nhớ!

Thế là cô cởi khuy áo ngoài của Giên và đặt chiếc áo gọn ghẽ bên cái mũ.

Ông Uých vui vẻ nói:

- Hay lắm!

Cháu Mêry!

Hay lắm!

- Rồi ông cúi xuống, đặt cái kính xuống mặt lò sưởi. – Bây giờ, chúng ta ngồi đây đều dễ chịu cả.

Mêry khịt mũi, đáp:

- Vâng, dễ chịu cũng có kiểu này kiểu kia!

Ông Uých hình như không chú ý đến điều cô vừa nói, ông bảo:

- Bây giờ, chúng ta sẽ uống trà, ăn bánh nhé!

Nhưng vừa nói xong, ông bỗng giật mình nhớ ra, ông nói:

- Trời ơi!

Thật đáng buồn!

Bác sực nhớ ra là cái bàn trà dưới kia không thể nào bay lên đây được mà chúng ta thì ngồi ở trên này.

Vậy làm thế nào bây giờ?

Chúng ta ngồi trên này, bàn tiệc ở dưới ấy!

Ôi rắc rối!

Rắc rối quá!

Nhưng, ồ, bác thấy chuyện này hết sức buồn cười!

Thế là ông lấy ngay khăn mùi xoa che mặt và bật lên cười sằng sặc.

Giên và Maicơn tuy vẫn tiếc rẻ các món bánh nướng, bánh ngọt, cũng không nhịn được cười vì bệnh cười của ông Uých lan rất mau.

Ông Uých lấy mùi xoa chùi mắt, ông nói:

- Bây giờ chỉ còn có một cách là chúng ta phải nghĩ tới một chuyện gì nghiêm túc.

Một chuyện gì buồn chán, thật là buồn.

Thế thì chúng ta mới có thể xuống được.

Nào, một, hai, ba!

Các cáhu phải nhớ!

Chuyện thật là buồn!

Mấy bác cháu lấy tay đỡ cằm và suy nghĩ, nghĩ mãi....

Maicơn nghĩ đến trường học, sẽ có một ngày kia, em sẽ phải đi học.

Nhưng chính chuyện đó lại làm cho em thấy buồn cười.

Giên thì nghĩ: " Khoảng mười bốn năm nữa mình sẽ thành người lớn!"

Nhưng em cũng chẳng tthấy buồn mà lại còn thấy thích thú, vui vui nữa.

Em không thể không mỉm cười khi hình dung ra mình đã lớn, mặc váy dài, mang túi xách.

Ông Uých thì vừa suy nghĩ vừa nói:

- Bác nhớ đến bà cô Êmily đáng thương của bác.

Bà cụ bị xe tải cán chết.

Buồn quá.

Thật buồn hết sức!

Bà cô Êmily tội nghiệp!

Nhưng họ đã cứu được cái dù của bà cụ.

Thật kì lạ, phải không?

Và bỗng nhiên, ông chẳng hiểu vì sao nữa, ông nghĩ đến cái dù cảu bà cụ Êmily được bình yên vô sự, ông bật cười, nẩy cả người lên.

Ông hỉ mũi rồi nói:

- Chẳng có kết quả.

Bác bỏ cuộc thôi!

Và các bạn nhỏ hình như cũng chẳng có vẻ gì là buồn hơn bác.

Cháu Mêry, cháu có cách gì không?

Chúng ta phải được uống trà, ăn bánh chứ?

Cho đến bây giờ, Giên và Maicơn vẫn không hiểu là như thế nào.

Các em chỉ biết có một điều đã thấy rõ: đó là khi ông Uých hỏi cô Mêry có cách gì không thì bỗng thấy các chân bàn lay động.

Thế rồi cái bàn tiệc bay lượn trông thật đáng sợ, các thứ cốc chén, đồ sứ va vào nhau kêu lanh canh, bánh từ trong đĩa rơi ra nằm trên khăn trải bàn, cái bàn bay là là trong phòng, lượn vòng theo một đường cong thật đẹp rồi bay lên và dừng lại khi vừa tới chỗ ông Uých ngồi đúng ở đầu bàn.

Ông Uých tự hào mỉm cười với cô Mêry và khen:

- Cháu của bác giỏi quá!

Bác biết là cháu sẽ giải quyết được mà.

Mêry, cháu giữ lấy cái chân bàn và rót trà ra đi!

Và xin mời hai vị khách nhỏ tới ngồi hai bên ông.

Đúng như thế đó! – Ông nói – khi thấy bé Maicơn bay lăng xăng trên không và tới ngồi bên phải ông Giên tới ngồi bên trái ông.

- Thế là đông đủ mấy bác cháu ngồi hai bên bàn tiệc.

Ở bên dưới, không bỏ sót một cái bánh, một miếng đường nào.

Ông Uých rất hài lòng, mỉm cười.

Ông bảo với Giên và Maicơn:

- Ông nghĩ thông thường người ta ăn bánh mì với bơ trước, nhưng hôm nay sinh nhật ông, ta sẽ làm ngược lại, theo cách mà xưa nay ông vẫn cho là thuận, tức là ăn bánh gatô trước.

Nói rồi, ông cắt cho mỗi người một miếng to.

Ông hỏi Giên:

- Cháu uống trà nữa nhé?

Giên chưa kịp trả lời bỗng có tiếng người gõ cửa dồn dập.

Ông Uých đáp:

- Xin mời vào!

Cửa mở, cô Pơcximơn xuất hiện, tay bưng một cái khay, trên khay là một bình nước nóng.

Cô nhìn quanh trong phòng và nói:

- Ông Uých ạ, có lẽ ông cần nước nóng hơn đấy nhỉ!

Cô bỗng nhìn lên thấy mọi người đều ngồi quanh bàn, lơ lửng trên không, cô kêu lên:

- Ối, thật chưa bao giờ, chưa bao giờ tôi thấy những chuyện như thế này!

Từ bé đến giờ, chưa từng thấy!

Ông Uých ơi, tôi cũng biết là ông hơi kì cục một chút.

Nhưng tôi đã nhắm mắt bỏ qua vì ông trả tiền thuê nhà rất đều đặn.

Nhưng cái kiểu ông mời khách tới ngồi lơ lửng trên không mà uống trà, ăn bánh như thế này thì thưa ông, làm tôi phải kinh ngạc quá đỗi đấy, ông Uých ạ!

Đó là việc làm không nghiêm túc, nhất là ở địa vị một nhà quý tộc đã cao tuổi như ông.

Tôi không bao giờ làm...

Maicơn nói:

- Cô Pơcximơn ơi, có khi rồi cô cũng sẽ làm như vậy.

Cô Pơcximơn vênh mặt hỏi:

- Sẽ...sẽ cái gì?

Maicơn đáp:

- Sẽ hít phải thứ "hơi cười", cũng như chúng cháu ấy mà!

Cô Pơcxinmơn bướng bỉnh hất đầu về phía sau và đáp:

- Cô tin là không cậu bé ạ.

Cô tôn trọng bản thân cô nên không thể bay lơ lửng trên không như một quả bóng cao su đánh bằng một cái vợt.

Xin cảm ơn cậu, tôi phải đứng bằng hai chân tôi, nếu không tôi không còn là Emi Pơcximơn nữa.

Nhưng trời ơi!

Trời ơi!

Làm sao thế này?

Tôi không bước chân lên được nữa....

Tôi đang bị nhấc bổng lên...

Tôi...

Ôi!

Có ai cứu tôi với!

Khi đó, cô Pơcximơn dù không muốn, cũng đã rời khỏi mặt đất và đang lơ lửng trên không, lăn bên này bên kia như một cái thùng nhỏ, trong tay vẫn bưng cái khay đu đưa.

Khi bay tới bên bàn và đặt bình nước nóng lên bàn thì cô đã như đang khóc vì bực mình.

Cô Mêry nói bằng một giọng rất bình tĩnh, lễ phép:

- Xin cảm ơn cô!

Thế rồi cô Pơcximơn quay ra, từ từ rơi xuống, miệng lẩm bẩm: Thật là thiếu nghiêm túc.

Mình xưa nay vẫn là một phụ nữ nghiêm chỉnh, đoan trang, mình phải đi khám bác sĩ...

Khi xuống tới mặt đất, cô vội chạy khỏi phòng, vặn vẹo hai bàn tay nắm vào nahu và không hề quay đầu nhìn trở lại phía sau.

Khi cô đã đóng cửa phòng lại, mấy bác cháu nghe tiếng cô rền rĩ:

- Thật thiếu nghiêm túc!

Giên khẽ bảo với Maicơn:

- Cô ấy không đứng được trên hai chân của mình thì không còn là cô Pơcximơn nữa rồi!

Nhưng giờ đây, ông Uých đang nhìn cô Mêry với vẻ mặt vừa như tò mò, thích thí, vừa như quở trách:

- Cháu Mêry, đáng lẽ cháu không nên làm như vậy, cháu ạ.

Tấm thân già của cô ấy có lẽ không chịu nổi.

Nhưng, trời ơi, trông cô ta bay lượn trên không ngộ nghĩnh quá!

Thế là cả ông Uých và hai đứa trẻ lại bay lên lăn lộn trên không, ôm bụng cười sằng sặc khi hình dung lúc nãy cô Pơcximơn đã bay lượn như thế nào...

Maicơn kêu lên:

- Trời ơi!

Đừng làm em cười nữa!

Em không chịu nổi, đến vỡ bụng mất!

Giên đặt tay lên ngực, cố nín cười để thở và kêu lên:

- Ối!

Ối!

Ối!

Ông Uých kéo vạt áo chùi mắt vì không tìm thấy mùi xoa, gào lên:

- Ôi!

Trời ơi!...

Bỗng nghe tiếng cô Mêry sang sảng như kèn tơrompet, át hết tiếng mọi người cười nói:

- Đã đến giờ về nhà rồi!

Bỗng nhiên, độp một cái, ông Uých và hai đứa trẻ đều đột ngột rơi xuống nề nhà cùng một lúc.

Ý nghĩ phải về nhà là ý nghĩ buồn rầu nhất trong buổi chiều nay, và đúng lúc ý nghĩ này xuất hiện trong đầu mấy bác cháu thì "hơi cười" thoát ra hết.

Giên và Maicơn thở dài khi nhìn thấy cô Mêry từ từ lượn xuống, tay cầm áo và mũ của Giên.

Ông Uých cũng thở dài, một tiếng thở dài nặng nề kéo dài mãi.

Ông bình tĩnh nói:

- Thật đáng tiếc là các cháu phaỉ về nhà.

Chưa bao giờ bác có được một buổi chiều vui vẻ như chiều nay.

Các cháu có thấy như thế không?

Maicơn chán quá vì phải trở về mặt đất và thấy trong mình đã mất hết "hơi cười", đáp:

- Cháu cũng thấy như vậy!

Hai em lên xe buýt đi về nhà, mỗi em ngồi một bên cô Mêry.

Cả hai em yên lặng, mường tượng lại buổi chiều vui vẻ vừa rồi.

Thế rồi Maicơn hỏi cô Mêry với giọng buồn ngủ:

- Cô ơi, cú bao nhiêu lâu thì ông bác cô lại làm như thế một lần?

Cô Mêry có vẻ cáu như thể Maicơn đã hỏi một câu xúc phạm đến bản thân cô, cô gắt lên:

- Như thế là như thế nào?

- Vâng thưa cô, là bay lượn lên xuống trên không, vừa bay lượn vừa cười...

Cô Mêry cất cao giọng và có vẻ cáu kỉnh hỏi:

- Ở trên không?

Cháu hãy nói cho cô nghe, cháu muốn nói gì nữa?

Giên cố giải thích:

- Maicơn muốn nói là khi ông bác của cô có đầy "hơi cười" trong người, hay bay lên bay xuống đụng vào trần nhà và khi...

Cô Mêry khịt mũi có vẻ bực mình:

- Bay lên bay xuống!

Đụng vào trần nhà!

Thật là chuyện hão huyền!

Có lẽ các cháu sẽ nói với cô là sau đó, ông ấy biến thành một quả bóng bay!

Maicơn cãi:

- Nhưng mắt chúng cháu đã thấy ông ấy bay lượn rồi mà!

- Sao?

Bay lượn!

Các cháu dám nói vậy à?

Cô phải nói cho các cháu biết ông bác cô là một người rất mực thước, thật thà, chăm chỉ làm ăn và các cháu phải biết tôn trọng khi nói tới ông mới ngoan.

Và này, đừng có gặm nhấm cái vé xe buýt nữa.

Bay lượn!

Thật là chuyện hão huyền!

Maicơn và Giên ngồi hai bên cô Mêry liếc mắt nhìn nhau.

Chúng không nói gì nữa vì chúng đã biết rằng tốt hơn hết không nên tranh cãi với cô Mêry, dù có điều gì kì dị mức nào cũng vậy.

Nhưng chúng đưa mắt nhìn nhau có ý bảo với nhau.

Chúng không nói gì nữa vì chúng đã biết rằng tốt hơn hết không nên tranh cãi với cô Mêry, dù có điều gì kì dị mức nào cũng vậy.

Nhưng chúng đưa mắt nhìn nhau có ý bảo với nhau: "Có đúng như vậy không nhỉ?

Về chuyện ông Uých ấy!.

Cô Mêry nói đúng hay chúng mình nói đúng?"

Nhưng không có ai trả lời được câu hỏi đó của hai em nhỏ.

Xe buýt chuyển bánh, chạy long sòng sọc, nhẩy lên chồm chồm.

Cô Mêry ngồi giữa hai em nhỏ, có vẻ phật ý.

Cô ngồi yên lặng và giờ đây hai em nhỏ đã khá mệt, chúng nhích lại sát vào cô, dựa vào hai bên sườn cô và nhắm mắt ngủ, vẫn còn chưa hết thắc mắc.

IV.

ANDRIU, CON CÔ LẮC

Bên cạnh nhà ông Ben là nhà cô Lắc.

Trước khi kể câu chuyện này, tôi phải nói cho bạn đọc biết nhà bên cạnh đó là như thế nào.

Đó là một ngôi nhà đồ sộ, lớn nhất trong cái ngõ Anh Đào này.

Ngay cả đến ông đô đốc Bum cũng phải ghen tị với cô Lắc về ngôi nhà của cô, tuy rằng nhà ông đô đốc cũng có những ống khói lò sưởi làm theo hình dángống khói tàu thuỷ và ở vườn trước nhà ông, có một cột cờ.

Mỗi khi ông đi ngang qua ngôi nhà nguy nga của cô lắc thì những người trong ngõ lại nghe thấy ông nói: "Tức thật!

Cô ta cần gì phỉa có một ngôi nhà như vậy!"

Lý do khiến cho ông đô đốc phải ghen tị là nhà cô Lắc có những hai cái cổng.

Một cổng để cho cô Lắc và bè bạn, họ hàng ra vào, còn cổng kia dành cho các bác hàng thịt, bác đưa bánh mì và bác đưa sữa.

Có một hôm, bác đưa bánh mì vào nhầm cổng dành cho bè bạn, họ hàng, cô Lắc nổi giận đến mức tuyên bố là từ nay cô chẳng lấy bánh mì của bác nữa.

Nhưng cuối cùng, cô cũng tha lỗi cho bác vì trong cả khu này, chỉ có bác là người thợ bánh mì duy nhất làm được những ổ bánh mì dẹt xinh xinh, trên mặt có những đường vằn xoắn cong.

Tuy nhiên, từ ngày đó, cô Lắc thực sự không muốn nhìn mặt bác, vì vậy khi mang bánh tới, bác ta phải kéo cái mũ sụp xuống che đôi mắt để cô Lắc tưởng là người khác.

Nhưng cô Lắc thì không bao giờ tưởng như thế cả.

Giên và Maicơn luôn luôn biết được là cô Lắc đang ở trong vườn hay đã đi ra ngoài ngõ vì cô ta có rất nhiêug trâm cài tóc, đeo nhiều vòng cổ, hoa tia, đi đến đâu cũng phát tiếng kêu xủng xoẻng như một dàn trống đồng vậy.

Và mỗi lần gặp chúng, cô đều chỉ nói có một câu:

"Chúc buổi sáng (hoặc buổi chiều, nếu gặp sau bữa ăn trưa) tốt đẹp và hôm nay ta có khoẻ không?"

Giên và Maicơn nghe câu đó, không hiểu là cô hỏi về chúng hay hỏi về chính cô và Andriu của cô.

Vì vậy chúng chỉ trả lời: "Chúc buổi chiều (hoặc buổi sáng, nếu gặp trước bữa ăn trưa) tốt đẹp!"

Suốt cả ngày, dù hai em đang ở đâu. cũng đều nghe tiếng cô Lắc lớn tiếng gọi Andriu và bảo nó những câu đại khái như:

"Andriu, con ở đâu?" hay là:

"Andriu, com phải mặc áo rồi mới ra ngõ được?"

" Andriu, lại đây với mẹ nào?"

Nếu bạn biết, bạn sẽ tưởng Andriu là tên một đứa con trai, Giên cũng cho rằng cô Lắc nghĩ Andriu là cậu con trai nhỏ.

Nhưng không phải.

Đó là một con chó, một loại chó bé nhỏ, lông xù, trông giống như khăn quàng cổ, khi nào nó bắt đầu sủa mới biết là con chó.

Con chó Andriu có một cuộc sống rất cao sang.

Bạn có thể lầm tưởng nó là một ông vua nước Batư trá hình.

Nó nằm ngủ trên một cái gối lụa, trong phòng của cô Lắc; mỗi tuần, nó được đi xe hơi đến tiệm làm đầu để tắm nước thơm; bữa ăn nào nó cũng có món kem, và đôi khi cả các món trai ốc biển nữa.

Nó có bốn cái áo khoác kẻ sọc, kẻ ô màu khác nhau.

Hàng ngày, nó được hưởng bao nhiêu thứ mà đa số mọi người chỉ được hưởng trong ngày sinh nhật.

Và đến ngày sinh nhật của nó thì cứ mỗi tuổi cô Lắc thắp hai ngọn nến chứ không phải chỉ có một ngọn.

Kết quả là cả xóm này đều không ai ưa Andriu mà còn ghét nữa.

Khi thấy cô Lắc cho con chó Andriu ngồi ở ghế sau trong ôtô để đi tới tiệm làm đầu, mình nó mặc cái áo đẹp nhất, có một cái đệm lông đặt trên đầu gối, thì dân trong ngõ lại có một dịp cười thoải mái.

Có một hôm khi cô Lắc mua cho nó hai đôi giày da xinh xinh để dù nắng hay mưa, nó cũng đi ra công viên được, mọi người trong ngõ đều phải chạy ra cửa xem nó đi qua và lấy tay che miệng cười.

Lần ấy, Maicơn và Giên đứng bên này hàng rào ngăn cách giữa hai nhà.

Nhìn thấy con Andriu, Maicơn nói:

- Hừ, con chó đó là đồ ngu đần! – và cười nhạo con chó.

Cô Mêry bảo:

- Nó đâu phải là đồ ngu đần.

Con nào là con ấy thôi mà!

Cô Mêry nói rất đúng.

Rồi đây, bạn đọc sẽ thấy ngay rằng con chó đó không phải là đồ ngu đần...

Bạn không nên cho là nó không biết tôn trọng cô Lắc, chủ nó.

Có đấy!

Nó rất mến cô theo một cách rất hiền lành.

Nó không thể không có cảm tình với người đã rất quý nó từ khi nó còn là một con cún con, mặc dù cô Lắc hôn nó quá mức.

Nhưng có điều chắn chắn là cuộc sống như vậy đã làm cho nó chán ngán.

Giá mà nó có một gia sản thì nó sẽ dùng một nửa gia sản đó để đánh đổi lấy một miếng thịt sống đỏ tươi thay cho bữa ăn thường ngày của nó là lườn gà, trứng rán.

Trong thâm tâm, Andriu ao ước được là một con chó bình thường.

Mỗi lần nó đi ngang qua tấm giấy chứng nhận phả hệ của nó (treo trong phòng khách của cô Lắc) nó lại cảm thấy run lên vì hổ thẹn.

Và nó còn nhiều lần ao ước giá nó không có cha, không có ông hoặc cụ kị gì để cho cô Lắc có thể mang ra làm chuyện rắc rối như vậy.

Vì nó ao ước được là một con chó bình thường nên Andriu hay đánh bạn với các con chó loại đó.

Khi gặp dịp thuận tiện, nó chạy ra cổng ngồi đợi các bạn để trao đổi với nhau đôi điều nhận xét thông thường.

Nhưng nếu cô Lắc bắt gặp nó ngồi đó thì chắc chắn cô sẽ bảo nó: "Andriu, Andriu, đi vào đi, con!

Con phải tránh xa những quân Ả rập đáng sợ đó!"

Và tất nhiên là Andriu phải đi vào trong nhà, nên không, cô Lắc sẽ đi ra bế nó vào, làm cho nó phải xấu hổ.

Thế là nó thẹn đỏ cả mặt và nhảy vội qua các bậc cửa để các bạn nó không nghe thấy cô Lắ gọi nó là "cục cưng", "niềm vui", "cục đường xinh xắn" của cô.

Anh bạn đặc biệt nhất của Andriu là một chú chó còn quá bình thường nữa.

Đó là một con chó lai, bố mẹ nó là giống chó săn và nó giống bố mẹ nó ở những tính xấu nhất.

Khi có đám chó quần nhau ngoài ngõ thì chắc chắn nó có mặt giữa đám chó đó.

Nó luôn luôn gây sự với bác bưu tá hoặc anh cảnh sát và không có gì nó thích hơn việc hít ngửi các cống rãnh, cac thùng rác.

Nó là đầu đề câu chuyện bàn tán của dân trong ngõ và quá nhiều người đã thích thú nói rằng may nó không phải là con chó của mình.

Nhưng Andriu rất thích nó và luôn mong nó tới.

Đôi khi, chúng gặp nhau ở công viên chỉ kịp trao đổi với nhau một cái khịt mũi, nhưng cũng có những dịp may mắn hơn - rất hiếm có – chúng nói chuyện với nhau được khá lâu ở cổng.

Qua anh bạn này, Andriu biết được các chuyện linh tinh trong thị trấn và nếu bạn được thấy con chó đó vừa kể vừa cười hô hố như thế nào thì có thể đoán được đó không phải là những lời ca ngợi.

Chúng đang nói chuyện với nhau thì bỗng có tiếng cô Lắc từ cửa sổ gọi, thế là con chó kia đứng lên, quay về phía cô Lắc mà thè lưỡi ra, nháy mắt với Andriu và phóng đi, ngoáy cái mông để tỏ thái độ "bất cần".

Tất nhiên là Andriu không được phép đi ra khỏi cổng trừ khi được cô Lắc dắt đi dạo công viên, hoặc đi theo một cô hầu phòng khi cô ta đi sửa móng chân, móng tay.

Vậy mà, bạn hãy tưởng tượng xem Giên và Maicơn ngạc nhiên tới mức nào khi các em thấy chỉ có một mình con Andriu phóng vụt qua trước mặt các em trong công viên, hai tai cụp xuống, đuôi ngỏng lên như thể đang đuổi theo dấu vết một con hổ.

Cô Mêry vội vàng giữ lấy cái xe nôi, để đè phòng nhỡ nó phóng nhanh như vậy có thể va phải và làm lật xe trong đó có hai bé sinh đôi.

Khi nó phóng ngang qua, Giên và Maicơn hét lên gọi nó.

Maicơn bắt trước giọng the thé của cô Lắc, hỏi nó:

- Này Andriu, áo của con đâu rồi?

Giên quát:

- Andriu, con là đứa bé hư!

Giên là con gái nên giọng nó giống của cô Lắc hơn.

Nhưng con Andriu nhìn hai em với vẻ trịch thượng qồi quay về phía cô Mêry mà sủa ầm ĩ.

Con Andriu sủa liền mấy tiếng: "Gâu!

Gâu!"

Cô Mêry nói:

- Để ta xem nào.

Ngôi nhà đó là ngôi nhà thứ nhất ở bên tay phải của mày và ngôi nhà thứ hai ở bên tay trái.

Con Andriu lại sủa: "Gâu!

Gâu!" nhiều lần dồn dập.

- Không!

Không có vườn, chỉ có cái sân sau.

Cổng lúc nào cũng mở.

Con Andriu lại sủa nữa.

Cô Mêry đáp:

- Ta không chắc chắn lắm đâu!

Nhưng ta cho là như vậy.

Thường thường, nó về nhà vào giờ uống trà.

Con Andriu ngoái đầu về phía sau và lại phóng đi.

Giên và Maicơn kinh ngạc, mắt trợn to bằng những cái đĩa tách.

Hai đứa cùng hỏi:

- Cô ơi, nó nói gì thế?

Cô Mêry đáp:

- Chỉ chạy chơi cho qua ngày mà!

Cô chỉ nói vậy rồi mín chặt miệng như thể không muốn nói thêm lời nào nữa.

Cặp sinh đôi, Giôn và Bacbara ngồi trong cái xe nôi cũng đang bi bô.

Maicơn nói:

- Không phải là nó chạy chơi đâu!

Giên cũng nói:

- Nó chẳng chạy chơi như thế bao giờ!

Cô Mêry nghiêm nét mặt, bảo:

- Ừ, thế thì các cháu biết rõ hơn cô, thường là như vậy mà!

Maicơn nói:

- Chắc là nói hỏi cô về ai đó, ở cái nhà nào.

Cháu chắc rằng nó sẽ...

Cô Mêry lại khịt mũi và nói:

- Thôi, nếu cháu đã biết thì còn hỏi cô làm gì!

Cô không phải là một quyển từ điển.

Giên nói:

- Này, Maicơn, em nói với cô như thế thì chẳng bao giờ cô nói cho biết đâu.

Cô Mêry ơi, cô làm ơn cho cháu biết con Andriu nó bảo gì với cô thê!

Cô Mêry hất hất cái đầu về phía MAicơn và nói:

- Cháu cứ hỏi cậu bé này.

Cậu ấy là "người biết đủ mọi cái"

- Ồ, không đâu, thưa cô.

Cô Mêry ơi, xin cô nói đi

Cô Mêry đáp:

- Ba rưỡi chiều.

Giờ uống trà đây!

Nói xong, cô đẩy cái xe nôi đi à mím chặt miệng như thể đóng cửa miệng hầm.

Suốt dọc đường về nhà cô không nói một lời nào nữa.

Giên và Maicơn lẽo đẽo bước theo sau.

Giên bảo:

- Tại em đấy!

Thế là chịo em mình sẽ chẳng bao giờ biết được!

Maicơn đáp:

- Em không cần – và em đạp chân xuống đường để đẩy cái xe "lết chân" đi nhanh hơn – Em chẳng cần biết làm gì!

Nhưng thật ra, em rất nóng lòng muốn biết.

Sau đó không lâu, chưa đến giờ uống trà thì cả hai em nhỏ này và tất cả mọi người đều biết rõ sự việc.

Đúng vào lúc mấy cô cháu sắp đi sang đường để về nàh thì nghe thấy ở nhà bên cạnh có tiếng kêu la ầm ĩ và nhìn thấy một cảnh tượng kì lạ.

Hai cô hầu phòng của cô Lắc đang chạy nhớn nhác trong vườn, nhòm ngó vào các bụi cây, ngước nhìn lên các cây cao, như người đi tìm kiếm một vật quý giá nhất đã bị thất lạc.

Và còn có cả anh Rôbơcxơn ở nhà số 17 cũng sang, đang cầm cái chổi gạt gạt, chọc chọc trên lối đi trong vườn nhà cô Lắc như để tìm lại của báu bị lấp dưới sỏi.

Bản thân cô Lắc cũng đang chạy quanh vườn và gọi to: "Andriu!

Andriu!

Ôi!

Nó bị lạc mất rồi!

Tôi sẽ đi báo cảnh sát!

Tôi phải tới gặp ông Thủ tướng!

Andriu bị lạc rồi!

Trời ơi!

Trời đất ơi!"

Giên chạy vội qua đường và nói:

- Ôi!

Tội nghiệp cho cô Lắc!

Giên cũng cảm thấy buồn vì trông cô Lắc có vẻ hoảng hốt quá chừng.

Nhưng Maicơn đã làm cho cô Lắc yên tâm.

Đúng lúc Maicơn bước vào cổng nhà số 17, em nhìn ra đầu ngõ và đã thấy...

- Cô Lắc ơi, con Andriu kia kìa.

Cô nhìn ra đầu ngõ mà xem, đúng chỗ góc đường trước nhà ông đô đốc Bum ấy!

Cô Lắc nín thở và nhìn theo hướng Maicơn chỉ tay, nói:

- Đâu?

Đâu?

Chỉ cho cô xem nào!

Đúng rồi, con Andriu đang đi lững thững, bình thản như không để ý gì đến mọi cái trên đời và đi bên cạnh nó, là một con chó lai, nửa là chó săn, nửa là chó tha vật săn về và chỉ có những nét xấu xí nhất của bố mẹ.

Cô Lắc thở phào:

- Ôi!

Nhẹ cả người!

Đúng là trút đi được một gánh nặng!

Cô Mêry và mấy đứa trẻ đứng chờ ngoài ngõ, trước cổng nhà cô Lắc, còn cô Lắc cùng hai cô hầu phòngbám vào hàng rào cúi đầu ngó ra.

Anh Rôbơcxơn ngừng cày xới con đường sỏi, chống cái cán chổi đứng lên.

Tất cả mọi người đều im lặng đợi con Andriu quay về nàh.

Hai con chó ung dung bước tới gần đám người đứng đợi, phấn khởi ve vẩy đuôi, vểnh hai tai dựng đứng, và nếu bạn đọc nhìn vào mắt con Andriu, bạn sẽ hiểu nó muốn nói gì, nó muốn thương lượng một chuyện gì đó.

Cô Lắc nhìn con chó bạn của con Andriu và kêu thét lên:

- Con chó kia thật kinh tởm!

Xuỳ!

Xuỳ!

Cút đi!

Nhưng con chó ấy ngồi ngay bên bờ hè, lấy chân trước gãi tai và há miệng ngáp.

Cô Lắc giận dữ, khua hai tay để đuổi nó:

- Đi đi!

Cút đi!

Về nhà mày đi!

Xuỳ!...

Cô nói tiếp:

- Còn Andriu!

Con phải vào trong nhà ngay tức khắc!

Con đi ra đường một mình mà lại không mặc áo nữa.

Mẹ rất bực mình về con đấy.

Con Andriu uể oải sủa mấy tiếng nhưng vẫn ngồi yên.

Cô Lắc nói:

- Andriu, con muốn gì?

Vào trong nhà ngay lập tức!

Con Andriu lại sủa mấy tiếng.

Cô Mêry nói xen vào:

- Nó nói là nó không vào trong nhà đâu!

Cô Lắc quay lại vênh mặt nhìn cô Mêry:

- Sao cô biết nó nói những gì?

Tất nhiên rồi nó sẽ đi vào nhà thôi!

Cô Mêry nói:

- Nó không vào nhà đâu, trừ khi có cả bạn nó cùng vào.

Cô Lắc tức giận nói:

- Thật toàn chuyện vớ vẩn!

Nó đâu có nói như vậy!

Tôi đâu có thể cho một con chó lai to xác như nó bước vào cổng nhà tôi!

Con Andriu sủa ba bốn tiếng.

Cô Mêry nói:

- Nó nói là nó yêu cầu như thế và hơn nữa, nó sẽ bỏ nhà đi, sống cùng bạn nó cho tới khi bạn nó được phép tới sống cùng nó.

Cô Lắc gần như khóc, kêu lên:

- Ôi!

Nó nhất định bỏ đi.

Tôi nhìn thấy nó đang bỏ đi kia kìa! – Cô lấy mùi xoa bưng miệng khóc thút thít rồi hỉ mũi và nói – Thôi được, Andriu, mẹ bằng lòng đấy.

Con... con chó kia, mẹ cho nó ở lại nhà mình.

Tất nhiên với điều kiện là chỉ cho nó ngủ trong hầm chứa than.

Con Andriu sủa lên một tiếng.

Cô Mêry giải thích:

- Nó nói là như thế không được!

Bạn nó cũng phải có một cái nệm bằng lụa như của nó và cũng ngủ trong phòng cô.

Nếu không, nó sẽ xuống ngủ dưới hầm chứa than với bạn nó.

Cô Lắc rền rĩ:

- Andriu con ơi, sao con lại thế?

Mẹ không bao giờ đồng ý chuyện đó đâu!

Trông con Andriu như có vẻ sắp bỏ đi, bạn nó cũng vậy.

Cô Lắc thét lên:

- Ôi!

Con tôi bỏ tôi mà đi!

Thôi được Andriu, mẹ sẽ chiều ý con.

Sẽ cho nó ngủ trong phòng của mẹ.

Nhưng rồi đây, mẹ sẽ chẳng còn như ngày trước nữa, không bao giờ như trước nữa.

Con chó tầm thường như thế mà phải cho...

Cô lau nước mắt ròng ròng và tiếp tục:

- Andriu ơi, mẹ không ngờ con lại như thế.

Nhưng thôi, mẹ không nói gì nữa, dù trong bụng nghĩ như thế nào.

Và... cái con đó, mẹ sẽ gọi tên nó là con "Hoang" con "Lạc".

Nghe cô Lắc nói thế con chó kia trợn mắt nhìn cô và Andriu sủa ầm ĩ.

Cô Mêry noi:

- Chúng nó bảo phải gọi tên con chó đó là "Uynlơbi" và không được gọi bằng tên nào khác, vì tên nó là Uynlơbi.

Cô Lắc bực bội noi:

- Uynlơbi à?

Tên gì quái lạ thế!

Tậht là quá dở!

Andriu lại sủa nữa, cô Lắc hỏi:

- Nó nói gì vậy?

Cô Mêry nói:

- Nó nói nếu nó quay lại thì cô không được bắt nó mặc áo, hoặc đi tới tiệm làm đầu.

Đó là điều nó đã quyết định, không thể thay đổi.

Mấy phút yên lặng trôi qua.

Cuối cùng cô Lắc nói:

- Thôi được!

Nhưng này Andriu, mẹ bảo trước, nếu con bị cảm thì đừng có oán trách mẹ đấy!

Con Andriu quay đầu về phía con Uynlơbi, có vẻ như muốn nói: "Đi nào!" và hai con sóng đôi cùng nhau bước thong thả trên lối đi vào trong vườn, đuôi ve vẩy như lá cờ và đi theo cô Lắc vào trong nhà.

Khi hai chị em Giên cùng đi lên gác về phòng trẻ em uống trà, Giên noi:

- Em thấy không, nó đâu phải đồ ngu đần!

Maicơn đồng ý:

- Đúng đấy!

Nhưng làm sao mà cô Mêry lại biết nó muốn gì nhỉ?

Giên đáp:

- Chị không biết và cô Mêry cũng sẽ chắng bao giờ nói cho chị em ta biết vì sao đâu!

Chị chắc chắn là như vậy.

V.

CON BÒ CÁI ƯA NHẢY MÚA.

Giên bị đau tai, phải nằm yên trên giường, đầu em bịt cái khăn mùi xoa to, màu sặc sỡ của cô Mêry.

Maicơn muốn biết cảm giác đau tai ra sao, hỏi:

- Nó đau như thế nào hả chị?

Giên đáp:

- Cứ như là súng bắn ở trong đầu ấy!

- Súng đại bác à?

- Không, chỉ kêu tạch tạch như súng đồ chơi thôi.

Maicơn kêu: "A!

Hay nhỉ!" và có vẻ như cũng muốn đau tai vì có thể cũng thú vị đấy.

Em bảo:

- Em kể cho chị nghe một câu chuyện trong quyển sách kia nhé!

Giên đáp:

- Không, chị không chịu được đâu! – Và đưa tay bưng lấy tai.

Vậy thì em sẽ ra ngồi bên cửa sổ và nói cho chị nghe ngoài đường có những gì nhé!

Giên nói:

- Được, em kể đi!

Thế là cả buổi chiều hôm đó, Maicơn ngồi trên cái ghế bên cửa sổ và kể cho chị nghe mọi chuyện xảy ra ngoài ngõ.

Những chuyện Maicơn kể, có chuyện chẳng ra sao nhưng cũng có chuyện rất hay.

Em kêu lên:

- Ông đô đốc Bum kia kìa!

Ông ấy ra khỏi cổng và đang rảo bước đi ra cuối ngõ.

Ông ta đàn đi tới đây đấy!

Mũi ông ta vẫn đỏ như mọi ngày và đầu ông đội cái mũ chóp cao.

Bây giờ, ông ta đi tới nhà bên cạnh...

Giên hỏi:

- Ông ấy có kêu "tiếc cả cái bụng" không?

- Em không nghe thấy nhưng chắc là có.

Kìa, cô hầu phòng thứ hai của cô Lắc đang ở trong vườn.

Anh Rôbơcxơn cũng đang ở trong vườn nhà ta, vừa quét lá vừa ngó qua hàng rào cây xanh để nhìn cô kia.

Bây giờ anh đang ngồi nghỉ.

Giên bảo:

- Anh ấy bị yếu tim đấy!

- Sao chị biết?

- Anh ấy kể với chị như thế.

Anh ấy nói là bác sĩ bảo anh ấy chỉ nên làm việc rất ít thôi.

Chị còn nghe thấy ba có bảo nếu anh ấy làm theo lời bác sĩ thì ba sẽ cho anh ấy thôi việc.

Ối!

Sao mà nó cứ đập thình thich trong đầu. – Giên kêu lên rồi lại lấy hai tay bịt tai.

Maicơn ngó qua cửa sổ, kêu lên:

- Này, này!

Giên nhổm dậy, hỏi:

- Cái gì thế, nói cho chị nghe nào!

Maicơn nhảy chồm chồm trên ghế và nói:

- Thật kì lạ!

Ngoài ngoc có một con bò cái!

Giên kêu lên:

- Có con bò cái à?

Con bò cái thật sự à?

Mà ngay giữa thành phố!

Hay nhỉ!

Cô Mêry ơi, có con bò cái đi ngoài ngõ, Maicơn nó bẩo thế!

- Nó đang đi thong thả, đến cổng nhà ai cũng ngó vào và cứ nhìn quanh quẩn như đã đánh mất vật gì.

Giên buồn bã nói:

- Giá mà chị được ra xem nhỉ!

Cô Mêry đến bên cửa sổ.

Maicơn lấy tay chỉ xuống dưới đường và nói:

- Cô trông kìa!

Một con bò cái.

Buồn cười quá!

Cô Mêry đưa mắt liếc nhanh xuống dưới đường.Cô bỗng ngạc nhiên, giật mình.

Cô quay lại bảo hai đứa trẻ:

- Chẳng có gì là buồn cười cả!

Cô biết con bò cái ấy.

Nó là bạn thân của những con bò của mẹ cô và các cháu nên nói năng lễ phép với nó. – Cô vuốt cái tạp dề cho păhngr và nghiêm nghị nhìn hai chị em Giên.

Maicơn cất tiếng dịu dàng hỏi vì em mong rằng nếu nói năng đặc biệt lễ phép thì sẽ được biết một đôi điều về con bò này:

- Thưa cô, cô biết nó từ lâu phải không ạ?

Cô Mêry đáp:

- Từ trước khi nó tới gặp nhà vua.

Giên cũng lấy giọng, gợi chuyện:

- Thưa cô, nó gặp nhà vua khi nào ạ?

Cô Mêry đăm đăm nhìn vào khoảng không, đôi mắt cô chăm chú hướng vào một cái gì đó mà hai đứa trẻ không nhìn thấy.

Chúng nín thở chờ đợi.

Cô Mêry bắt đầu kể bằng giọng nói trầm tư của người kể chuyện:

- Đã lâu lắm rồi...

- Cô ngừng lời như thể đang nhớ lại những sự việc đã xảy ra hàng mấy trăm năm về trước.

Thế rồi cô lại tiếp tục kể, như trong giấc mơ, mắt vẫn hướng vào khoảng giữa căn phòng nhưng không nhìn vào đâu cả.

Con bò cái ấy tên là Bò Đỏ.

Mẹ cô kể lại rằng nó cũng có cương vị quan trọng và giàu có.

Con Bò Đỏ sống trong một cánh đồng tươi xanh, đẹp đẽ nhất trong vùng, một cánh đồng đầy những cây mao lương, hoa vàng rực to bằng cái đĩa chén và những cây bồ công anh to hơn cây chổi quét nhà, đứng thành hàng như những người lính.

Mỗi lần Bò Đỏ ngoạm một người lính thì lại có một anh khác mọc ra, mặc quân phục xanh lá cây và đôi mũ lông màu vàng óng.

Con Bò Đỏ ấy từ trước đến nay vẫn sống ở đó.

Nó nói với mẹ cô rằng nó không nhớ được thời kì trước khi nó chưa tới sống ở đó là như thế nào.

Thế giới của nó giới hạn trong các hàng rào cây xanh bao quanh và khoảng trời xanh trên đầu; nó không biết gì bên ngoài thế giới đó còn có những gì.

Con Bò Đỏ có lối sống nghiêm túc, đáng trọng, nó ứng xử như một nhà quý tộc thực sự và hiểu biết mọi điều.

Đối với nó, một vật chỉ có thể là màu đen hoặc màu trắng, không thể là màu xám hoặc màu hồng.

Con bò này nhận xét kẻ khác hoặc là tốt hoặc là xấu, không có mức trung gian.

Các cây bồ công anh thì hoặc là ngọt, hoặc là chua, không có mức vừa vừa, lưng chừng...

Cuộc sống của con Bò Đỏ rất bận rộn.

Buổi sang, nó phải dạy con gái là cô Bê Đỏ học; buổi chiều, nó dạy Bê Đỏ các quy tắc ứng xử, nói năng và mọi điều mà một con bê có giáo dục cần phải biết.

Sau đó hai mẹ con ăn bữa chiều: Bò Đỏ dạy Bê Đỏ phân biệt nhánh cỏ nào ngon, nhánh cỏ nào không ngon và ban đêm, khi bê con đã ngủ yên, Bê Đỏ nằm một chỗ, vừa nhai lại vừa trầm ngân suy tư...

Ngày nào cũng đúng in như vậy.

Rồi thì một cô Bê Đỏ dần lớn lên, ra đi và lại có một con Bê Đỏ khác thế chỗ...

Và tất nhiên con Bò Đỏ cảm thấy như cuộc sống của mình bao giờ cũng là như thế và thực sự, cũng không mong ước gì hơn là cứ như thế mãi cho đến trọn đời.

Nhưng đúng thời điểm mà Bò Đỏ đang suy tưởng, nghiền ngẫm những ý nghĩ đó thì – như sau này Bò Đỏ kể lại với mẹ cô - một sự việc li kì bỗng đã rình rập cuốn hút Bò.

Sự việc đó xảy ra trong một đêm kia, khi nhứng ngôi sao trên trời trông như những đoá bồ công anh và mặt trăng giống như một bông cúc vàng lớn đặt giữa những vì sao.

Đêm hôm đó, khi Bê Đỏ đã ngủ yên khá lâu, con Bò Đỏ bỗng đứng dậy và bắt đầu nhảy múa.

Bò nhảy múa say sưa, rất uyển chuyển và nhịp nhàng, tuy không có nhạc đệm.

Có lúc, bò nhảy điệu pônka, có lúc bò nhảy vũ điệu quay cuồng của dân vùng cao, và có lúc múa một điệu mà bò tự sang tác.

Và, sau mỗi tiết mục múa, Bò lại cúi chào và chạm cả đầu vào những bông hoa bồ công anh.

Khi bắt đầu vào điệu múa "Cây sáo trúc của chàng thuỷ thủ" thì Bò Đỏ chợt tự bảo: "Trời ơi!

Thật là kì lạ!

Từ xưa tới nay, mình vẫn cho rằng nhảy múa là một trò không đứng đắn, nhưng đúng ra không phải như thế, vì chính mình đang nhảy múa.

Vì mình là một cô bò gương mẫu cơ mà!"

Thế là Bò Đỏ cứ nhảy múa hoài, và cảm thấy rất thích thú.

Tuy nhiên, cuối cùng, Bò thấy mệt và quyết định là nhảy múa như thế đủ rồi, phải đi ngủ thôi

Nhưng Bò vô cùng ngạc nhiên khi thấy không thể ngừng lại được.

Khi Bò định nằm xuống bên cạnh con Bê Đỏ thì bốn chân của Bò vẫn cưs gõ đập, múa may và tất nhiên là than mình Bò cũng phải chuyển động theo.

Thế là Bò lại nhảy múa vòng quanh khu đồng cỏ, lúc theo điệu này, lúc theo điệu khác, lúc lại nhón bước đi trên đầu ngón chân.

Đôi lúc, Bò thì thầm với giọng nói như một nhà quý tộc: "Trời ơi!

Thật là kì dị!" nhưng vẫm không sao dừng lại được.

Trời đã sang mà Bò Đỏ vẫn còn nhảy múa dọc ngang rồi vòng quanh khu đồng cỏ, còn con Bê Đỏ đáng thương, vất vả chạy theo mẹ mà gọi: "Mê...ê!

Mê...

ê!"

Qua đêm thứ hai, Bò Đỏ vẫn nhảy múa, vẫn không dừng lại được và đã cảm thấy lo lắng quá chừng.

Sau một tuần lễ nhảy múa không ngừng, gần như là Bò Đỏ đã hết hơi, hết sức.

Bò quyết định: " Mình sẽ phải vào chầu Đức Vua để xin ý kiến về sự viêc này!"

Thế là Bò Đỏ hôn từ biệt Bê Đỏ để lên đường, dặn Bê Đỏ ở nhà phải ngoan.

Sau đó, Bò nhảy múa qua hết cánh đồng cỏ đi tới hoàng cung để gặp Đức Vua.

Suốt dọc đường, Bò Đỏ vẫn nhảy múa, khi đi qua các bụi cây xanh thì dứt vội vài ba nhánh lá và ai nấy nhìn thấy bò cũng đều trợn tròn mắt, kinh ngạc.

Nhưng không ai kinh ngạc bằng chính bản than Bò Đỏ.

Cuối cùng, Bò tới Cung điện nhà vua, nơi Đức Vua đang ngự.

Bod dung miệng giật dây chuông và khi cổng đã mở, Bò nhảy múa đi qua cổng, theo con đường lớn trong hoa viên dẫn tới những bậc cửu trùng, trên đó là ngai vàng của Đức Vua.

Đức Vua đang ngự trên ngai vàng, đang bận sạon thảo một bộ luật mới.

Quan Thư ký đang ghi những lời Đức Vua truyền phán vào trong một quyển sổ nhỏ màu đỏ, lần lượt từng điều khoản một.

Xung quanh là các triều thần và các vị phu nhân xin vào bệ kiến, ai nấy đều mặc trang phục lộng lẫy và đều cùng cất tiếng nói một lúc.

Đức Vua hỏi:

- Ngày hôm nay, ta đã soạn được bao nhiêu điều luật rồi?

Quan Thư ký đếm số điều luật đã ghi trong một quyển sổ nhỏ màu đỏ, sau đó cúi dập đầu và vẫn giữ cẩn thận cái bút lông ngỗng cho khỏi rơi, trình tâu:

- Tâu Đức Vua, được bảy mươi hai điều khoản!

Đức Vua phán:

- Chà!

Làm trong một giờ, được như vậy là khá lắm!

Trông Đức Vua có vẻ rất hài long về mình.

Đức Vua đứng dậy, sửa lại cái áo lông chồn trắng rất ưa nhìn và oai nghiêm phán bảo:

- Thôi, hôm nay làm đến đó thôi!

Hãy truyền mang kiệu tới.

Ta phải đi tiệm hớt tóc.

Lúc ấy, Đức Vua mới nhìn thấy con Bò Đỏ đang tới gần.

Đức Vua lại ngồi xuống ngai vàng và cầm cây vương trượng.

Khi thấy Bò Đỏ tới sát bệ cửu trung, Đức Vua hỏi:

- Này, cái gì đây thế?

Bò Đỏ trả lời ngắn gọn:

- Tâu Đức Vua, một con bò cái!

Đức Vua phán:

- Ta biết rồi.

Ta vẫn nhìn rõ mọi thứ!

Nhưng nhà ngươi cầu xin điều gì?

Nó nhanh lên!

Ta đã hẹn với người thợ cắt tóc là sẽ tới vào lúc mười giờ.Bác ta không thê chờ được quá giờ đó và ta thì nhất thiết phải cắt tóc hôm nay.

Này, nhà ngươi đừng có nhảy nhót lung tung như thế nữa!

- Đức Vua nổi giận, nói them. – Nhà ngươi làm ta chóng cả mặt!

Tất cả đám triều thần đều đồng thanh hô:

- Chóng cả mặt!

Con Bò Đỏ nhăn nhó tâu.

- Tâu Đức Vua, thần thiếp đã bị khổ sở chính vì chuyện đó!

Thần thiếp không thể dừng lại được.

Đức Vua giân dữ phán:

- Không dừng lại được à.

Dừng lại ngay!

Trẫm truyền lệnh: Dừng lại ngay!

Tất cả đám triều thần lại đồng thanh hô:

- Dừng lại ngay!

Bò Đỏ cố gắng hết sức để dừng lại.

Trên mình Bò, các cơ bắp, các dải xương sườn nổi lên cuồn cuộn như những dãy núi ở khắp mọi chỗ.

Nhưng không chút hiệu quả!

Bò Đỏ vẫn tiếp tục nhảy múa dưới chân bệ cửu trùng.

- Tâu Đức Vua trước đay thần thiếp cũng đã rang sức nhưng không thể được.

Thần thiếp đã nhảy máu suốt bảy ngày liền.

Thần thiếp không được ngủ.

Thần thiếp chỉ được ăn chút ít.

Một vài nhánh cỏ gai hoa trắng mà thôi.

Vì vậy, thần thiếp tới xin bệ hạ phán bảo.

Đức Vua gạt chiếc vương miện về một bên rồi gãi đầu và phán:

- Hừ!

Kì quái thật!

Các triều thần cũng đều gãi đầu và nói:

- Kì quái thật!

Đức Vua lại hỏi:

- Nhà ngươi thấy khi nhảy máu thì trong người thế nào?

Bò Đỏ tâu:

- Tâu Đức Vua, rất thích thú! – Bò Đỏ ngừng lời như đang lựa chon từ ngữ - Thần thiếp còn có cảm giác thực dễ chịu nữa.

Như là có một tiếng cười lan toả lâng lâng trong người vậy.

Đức Vua phán: "Kì quái thật!" rồi đưa tay đỡ lấy cằm và chăm chú nhìn Bò Đỏ, ngẫm nghĩ nên làm thế nào để giải quyết được vụ việc này cho thật ổn.

Bỗng nhiên Đức Vua đứng phắt dậy và kêu:

- Trời ơi!

Tất cả đám quần thần đều kêu lên:

- Tâu Đức Vua, có điều gì vậy?

Đức Vua phán:

- Điều gì ư?

Các khanh không thấy gì à?

- Đứuc Vua đang rất bị kích động, ngài quăng cây vương trượng và phán – Ta thật là ngu đần vì không nhìn thấy ngay từ trước.

Và các khanh cũng toàn là đồ ngu đần cả!

- Đức Vua giận dữ quay về phía đám triều thần – Các khanh không nhìn thấy có một ngôi sao rơi mắc vào sừng con bò à?

Quần thần bỗng như lúc ấy mới nhìn thấy ngôi sao và đồng thanh hô: "Đúng như vậy!".

Và khi càng nhìn, càng thấy ngôi sao sang hơn.

Đức Vua phán:

- Nguyên nhân sự việc là ở đó!

Bây giờ các khanh phải gỡ bỏ ngôi sao đó ra thì vị phu nhân này sẽ ngừng nhảy múa và có thể ăn điểm tâm một chút. – (Nói với Bò Đỏ) – Này, Bò Đỏ, ngôi sao đó đã làm nhà cho ngươi phải nhảy múa đấy!

Nào các khanh, tiến hành đi!

Đức Vua ra hiệu cho quan Tể tướng.

Tể tướng khẩn trương bước tới trước mặt Bò Đỏ và đưa tay ra nắm lấy ngôi sao.

Tể tướng không gỡ ra được.

Thế là các triều thần khác lần lượt từng vị tới trợ lực, người này ôm vòng lấy bụng người kia cuối cùng thành một dây dài như có một cuộc chơi kéo co đấu sức giữa đám triều thần và ngôi sao.

Bò Đỏ kêu lên:

- Xin quý vị chú ý giữ gìn cái đầu tôi!

Đức Vua hét lên:

- Kéo khoẻ lên nào!

Quần thần ra sức lôi kéo mạnh hơn.

Họ cố gắng kéo, mặt mũi đỏ rừ như gấc chin.

Họ kéo mãi, lôi mãi đến lúc đã hết cả hơi và đều ngã ngửa ra, người nọ đè lên người kia.

Ngôi sao vẫn không nhúc nhích, vẫn dính chặt vào sừng Bò Đỏ.

Đức Vua chặc lưỡi:

- Chà, chà!

Nào, quan thư kí đâu, hãy mở tập bách khoa toàn thư ra xem trong đó nói như thế nào về hiện tượng " bò cái có ngôi sao mắc vào sừng".

Quan thư ký quỳ gối, bò tới chui xuống dưới ngai vàng.

Quan chui ra, mang theo một cuốn sách to tướng màu xanh lá cây thường xuyên để ở đó để tra cứu khi Đức Vua cần biết về một vấn đề nào đó.

Ông ta mở sách ra, lật trang, tìm:

- Tâu Đức Vua, không có mục đó mà chỉ có truyện "Con Bò cái nhảy qua mặt trăng" mà thôi!

Truyện này thì ai cũng biết cả rồi!

Đức Vua xoa xoa cằm suy nghĩ.

Ngài bực bội thở dài và nhìn Bò Đỏ và phán:

- Ta cho rằng chỉ có một cách là nhà ngươi cũng thử làm như vậy xem sao!

Bò Đỏ tâu:

- Thử làm như thế nào, tâu Đức Vua?

- Ngươi phải nhảy qua mặt trăng.

Có thể sẽ có hiệu quả.

Dù sao cũng nên thử xem!

Bò Đỏ có vẻ bị xúc phạm, trừng mắt, kêu lên:

- Thần thiếp mà lại phải nhảy lung tung như vậy sao?

Đức Vua sốt ruột vì còn phải đi tới tiệm hớt tóc, phán:

- Phải, chính nhà ngươi chứ còn ai nữa!

Bò Đỏ tâu:

- Tâu thánh thượng, thần thiếp xin thánh thượng nhớ cho rằng thần thiếp là một con vật đứng đắn, nghiêm túc, từ nhỏ đã được cha mẹ dạy cho biết là một phụ nữ đứng đắn không được nhảy lung tung như vậy!

Đức Vua đứng ngay dậy, cầm cây vương trượng ném vào Bò Đỏ và phán:

- Nhà ngươi tới xin ý kiến ta và ta đã cho ý kiến như thế đó!

Nhà ngươi có muốn nhịn đói mãi mãi không?

Nhà ngươi muốn mất ngủ cả đời chăng?

Bò Đỏ nghĩ tới vị ngọt lịm của những bông hoa bồ công anh, nghĩ tới thảm cỏ xanh rờn, nằm lên thực êm ái.

Bò Đỏ nghĩ tới bốn chân lúc nào cũng dậm dật qua mệt, phải cho nghỉ một chút thì hơn.

Bò Đỏ tự bảo với mình: "CŨng cso thể thử, chỉ thử một lần này thôi mà không được để cho ai biết, ngoài Đức Vua".

Bò Đỏ vừa nhảy múa vừa nói to:

- Đức Vua cho là mặt trăng ở độ cao chừng nào?

Đức Vua ngẩng dầu nhìn mặt trăng và nói:

- Ít ra là một dặm, áng chừng như vậy.

Bò Đỏ gật gật đầu vì cũng ước lượng như thế.

Nó suy nghĩ hồi lâu rồi tâu:

- Thần thiếp chưa bao giờ nghĩ rằng lại phải đến nông nỗi này, tâu Đức Vua!

Phải nhảy – mà là nhảy qua mặt trăng vì chuyện đó!

Nhưng thần thiếp cũgn xin thử xem.

Đức Vua thấy như vậy là có thể tới đúng hẹn với bác thợ cắt tóc, vui vẻ phán:

- Hay lắm!

Vậy hãy đi theo ta!

Đức Vua, đi tới vườn Thượng uyển, Bò Đỏ và quần thần theo sau.

Khi tới sân cỏ rộng thoáng, Đức Vua phán:

- Bây giờ nhà ngươi hãy nghe đây, khi ta thổi còi thì nhảy nhé!

Đức Vua lấy trong túi áo ra một chiếc còi bằng vàng và khẽ thổi thử xem trong đó có vướng bụi bặm gì không.

Bò Đỏ dậm dật bốn chân và chú ý nghe.

Đức Vua hô:

- Nào!

Một!

Hai!

Ba!

Liền đó, Đức Vua thổi một hồi còi dài.

Bò Đỏ lấy hơi, nhún chân nhảy một cái mạnh kinh khủng và hất tung cả đất phía sau.

Bò Đỏ nhìn xuống thấy các gương mặt Đức Vua và quần thần nhỏ dần, nhỏ dần rồi không nhìn thấy nữa.

Bò Đỏ thấy mình vút lên cao trong bầu trời, các tinh tú chạy quanh mình như những cái đĩa bằng vàng và lúc này đây, cảm thấy ánh trăng lành lạnh chiếu rọi lên mình.

Khi bay vèo qua mặt trăng, Bò Đỏ đã phải nhắm mắt lại, luồng ánh sang chói loà đã ở phía sau và Bò Đỏ cúi đầu hướng về trái đất, cảm thấy ngôi sao trên sừng đã rơi ra, vang ầm cả bầu trời.

Bò Đỏ thấy ngôi sao như đã biến mất trong bong đêm vang lừng tiếng nhạc dội lại qua không gian.

Một phút sau, Bò Đỏ đã trở về mặt đất.

Bò Đỏ rất ngạc nhiên vì thấy nơi nó rơi xuống không phải là vườn Thượng uyển của Đức Vua mà lại chính là cánh đồng bồ công anh của mình.

Và giờ đây, Bò Đỏ đã thôi nhảy múa.

Bốn chân nó đứng vững như những cột bằng đá và nó đi lị ung dung như bất kì một con bò nghiêm túc nào.

Bò Đỏ lặng lẽ và thanh thản đi ngang qua cánh đồng hoa, vặt đầu những tên lính mũ vàng, đi tới chỗ con Bê Đỏ.

Bê Đỏ reo lên:

- Mẹ đã về, con mừng qua!

Mấy ngày qua, con chỉ có một mình, buồn lắm.

Bò Đỏ hôn con và bắt đầu gặm cỏ.

Cả một tuần nay mới được một bữa.

Bò Đỏ đã ngốn hết cả mấy trung đoàn (hoa bồ công anh) mới thấy no bụng.

Sau bữa ăn, Bò Đỏ đã trở lại với nếp sống đúng như trước kia...

Mới đầu, Bò Đỏ thấy rất vui mừng vì đã quay lại với những thói quen đều đặn, ổn định như xưa, có thể không phải vừa nhảy múa vừa ăn sang và được nằm trên thảm cỏ ngủ cả đêm mà không phải cúi chào mặt trăng cho tới sáng.

Nhưng ít lâu sau, Bò Đỏ cảm thấy bang khuâng và không thoả mãn.

Cánh đồng hoa bồ công anh và Bê Đỏ đều bình an vô sự nhưng Bò Đỏ còn thấy thèm muốn một cái gì mà chính Bò Đỏ cũng không biết nữa.

Cuối cùng, Bò Đỏ phát hiện ra là nó nhớ tiếc ngôi sao trên sừng ngày nào.

Bò đã quen nhảy múa, quen với cảm giác có ngôi sao trên đầu thật thích thú, Bò Đỏ mong ước lại được nhảy vũ khúc " Cây sáo trúc của chàng thuỷ thủ" và lại có một ngôi sao trên sừng...

Bò Đỏ gầy đi, kém ăn, tính tình trở nên hung dữ.

Nhiều khi Bò Đỏ vô cớ oà lên khóc.

Thế rồi Bò Đỏ tới gặp mẹ cô và hỏi ý kiến mẹ cô.

Mẹ cô bảo: "Trời ơi, cô bạn than mến!

Chắc cô cũng biết là trên trời, không chỉ có một ông sao đổi ngôi!

Trước kia, ông bà tôi bảo tôi là mỗi đêm, có hàng tỉ ngôi sao rơi, tức là sao đổi ngôi đấy!

Nhưng cái ngôi sao đó tất nhiên là rơi ở nhiều chỗ khác nhau.

Cả cuộc đời con người, cũng không thể thấy được hai ngôi sao rơi ở cùng một chỗ.

Bò Đỏ đáp, với ánh mắt thiết tha ước vọng:

- Như vậy, thưa bà, ý bà muốn nói là nếu em đi nơi này nơi nọ thì...?

Mẹ cô trả lời:

- Nếu tôi là cô, tôi sẽ đi tìm một ngôi sao.

Bò Đỏ vui vẻ nói:

- Vậy thì em sẽ đi... sẽ đi... thật đấy!

Cô Mêry ngừng kể.

Giên nhanh nhảu nói ngay:

- Cháu chắc là vì vậy mà Bò Đỏ đang đi trong ngõ Anh Đào này đấy!

Cô Mêry hơi giật mình một chút.

Trong mắt cô không còn ánh trầm tư và con người cô lại hoạt bát hẳn lên.

Cô lớn tiếng la:

- Này, xin cậu đừng trèo lên cửa sổ nũa, xuống ngay!

Cô đi bật đèn đây.

Cô bước nhanh ra hành lang, tới chỗ có cái công tắc điện.

Giên thận trọng khẽ bảo Maicơn:

- Em hãy ngó xem con bò còn ở đó không.

Maicơn vội vàng thò đầu ra ngó tìm trong bong chiều dẫn sẫm.

Giên dục:

- Nhanh lên!

Cô Mêry về ngay bây giờ đấy!

Em có thấy con bò không?

Maicơn vẫn chăm chú nhìn và nói:

- Kh...ô...ông !

Không có gì cả.

Nó đi mất rồi!

Giên đang hình dung con Bò Đỏ đi lang thang khắp thế gian tìm một ngôi sao để gắn lên sừng..., em nói:

- Chị hy vọng là nó sẽ tìm thấy!

Maicơn đáp:

- Em cũng thế! – và khi nghe tiếng chân bước của cô Mêry đang quay trờ lại, Maicơn vội vã kéo tấm rèm che cửa xuống.

VI.

NGÀY THỨ BACHẲNG RA GÌ

Một buổi sáng kia, Maicơn thức dạy được một lúc, bỗng cảm thấy trong người khang khác, là lạ nhưng em không biết rõ là cái gì.

Em tung chăn, đẩy ra xa và hỏi:

- Cô Mêry ơi, hôm nay là thứ mấy?

Cô Mêry trả lời:

- Hôm nay là thứ ba.

Cháu dậy đi và đi tắm nào!

Maicơn vẫn nằm yên không động cựa.

Em trở mình và kéo chăn lên trùm kín đầu, cái cảm giác khó chịu lại rõ rệt hơn lúc trước.

Cô Mêry lại nhắc với giọng nói mát mẻ, trong trẻo, thường là giọng cảnh cáo: " Này cô bảo cháu làm gì, nào!"

Maicơn không biết mình bị làm sao nữa!

Em biết là lúc này em sắp sửa "không ngoan".

Em nói chậm rãi, vọng ra từ trong chăn:

- Cháu không dậy đâu!

Cô Mêry giật cái chăn ra khỏi tay Maicơn và cúi xuống nhìn em.

- Cháu không dậy đâu!

Maicơn chờ xem cô sẽ làm những gì nữa và em ngạc nhiên thấy cô lẳng lặng bỏ đi vào buồng tắm và mở vòi nước.

Khi cô Mêry đã đi ra, em lấy khăn mặt và thong thả đi vào buồng tắm.

Và lần này là lần đầu tiên trong đời, Maicơn tự tắm lấy, hoàn toàn một mình.

Em biết như thế là em đã bị cô "ghét" và em cố ý không lau rửa hai tai.

Em hỏi vọng ra với giọng cáu kỉnh:

- Cháu có phải xả nước đi không ạ?

Không có tiếng trả lời.

Maicơn nói một mình: "Chà!

Mình không cần!" và cái khối nặng chịch trong người em lúc này lại phồng lên, nặng hơn.

Thế là em đi ra, tự mặc lấy quần áo.

Em mặc bộ quần áo đẹp nhất mà mọi khi chỉ mặc vào ngày chủ nhật.

Sau đó, em đi xuống thang gác, vừa đi vừa đá chân vào các chấn song tay vịn, tuy em biết không nên làm như thế, mọi người sẽ bị thức giấc.

Đang đi xuống thì em gặp cô giúp việc Êlen đang xách một bình nước nóng đi lên, em đá cho cái bình tuột khỏi tay cô Êlen.

Cô Êlen cúi xuống, vừa lau thấm chỗ nước đổ ra lênh láng, vừa nói:

- Ô hay!

Cậu đi đứng thế nào thế!

Đây là nước nóng tôi mang lên cho ba cậu cạo mặt đấy!

Maicơn bình tĩnh đáp:

- Tôi cố ý đạp cho nó đổ đấy!

Mặt cô Êlen đang đỏ bỗng trắng bệch ra vì kinh ngạc:

- Cố ý à?

Được, cậu cố ý làm như thế, thật là vô lễ.

Để tôi mach với má cậu, tôi sẽ...

- Được!

Cứ đi mà mach!

Maicơn vừa nói vừa chạy xuống thang.

Đúng, đó mới chỉ là bắt đầu.

Cả ngày hôm ấy, Maicơn thấy tất cả mọi cái đều không ra thế nào cả: Cái cảm giác nóng nóng bức, nặng nề trong người khiến em làm toàn những trò tinh quái nhất và mỗi khi làm xong một cú, em cảm thấy thích thú khác thường và lại nghĩ ra vài trò mới nữa.

Bà nấu bếp Brin đang làm bánh sữa trong bếp, thấy Maicơn đi tới, bà bảo:

- Này cậu, chưa được vét chậu đâu, đã làm xong đâu mà vét!

Nghe câu đó, Maicơn co cẳng đá mạnh vào ống chân bà Brin đến nỗi bà ta phải buông rơi cái trục cán bột va kêu toáng lên...

Một lát sau, mẹ Maicơn chạy tới, bảo em:

- Tại sao con lại đá vào chân bác ấy?

Mẹ xấu hổ vì con đấy!

Con phải lại xin lỗi bác bác ngay lập tức!

Maicơn!

Con hãy nói rằng con rất ân hận vì đã làm như vậy

Maicơn đáp:

- Con chẳng ân hận gì cả!

Chân bác ấy mập quá!

- Dứt lời, em chạy luôn ra ngoài vườn.

Mẹ em và bác Brin không kịp giữ em lại.

Ra vườn, Maicơn cố ý đâm sầm vào anh Rôbơcxơn đang ngủ say trên đệm cỏ.

Anh Rôbơcxơn nổi cáu, doạ:

- Tôi sẽ mach với ba cậu!

Maicơn đáp:

- Em cũng mach ba là sáng nay, anh chưa đánh giày cho ba em!

Nói xong, Maicơn ngạc nhiên là sao em lại nói thế vì xưa nay hai chị em Maicơn bao giờ cũng bênh anh Rôbơcxơn vì cac em rất mến anh và không muốn anh đi làm cho nhà khác.

Nhưng em không nghĩ ngợi lâu la gì vì em còn đang tìm một trò khác, và em đã tìm ra ngay tức thì.

Nhìn qua khe hàng rào, em thấy con chó Andriu của nhà cô Lắc đang thích thú hít hít cái gì đó trên bãi cỏ trước nàh bên ấy và đang chịn ăn những nhánh cỏ non nhất.

Maicơn khẽ gọi nó lại, móc túi áo lấy cho nó một cái bánh quy, và khi nó đang mải nhá cái bánh thì em lấy sợi dây buộc chặt đuôi nó vào cái cọc rào.

Sau đó, em bỏ chạy, mặc cho tiếng cô Lắc giận dữ quát tháo vẳng tới bên tai và em cảm thấy người em như sắp nổ tung ra vì cái khối kích động bên trong quá nặng nề.

Cửa phòng làm việc của ba mở toang: Cô Êlen dang quét bụi trên các giá sách.

Thế là Maicơn làm ngay một việc xưa nay vẫn bị cấm.

Em bước vào phòng, ngồi vào bàn làm việc của ba, cầm cái bút của ba và vẽ nguệch ngoạc lên tờ giấy thấm.

Bỗng khuỷu tay em chạm phải cái lọ mực làm mực đổ ộc ra.

Thế là bán, ghế, cái bút lông ngỗng và cả bộ quần áo đẹp của em đều đầy vết mực xanh loang lổ.

Trông thật là ghê gớm và Maicơn run sợ không biết rồi sẽ ra sao nữa...

Nhưng rồi em cũng thấy là "chẳng cần gì" và cũng chẳng áy náy chút nào.

Cô Êlen chợt quay lại, phát hiện ra em, liền mach với mẹ em câu chuyện rắc rối vừa xảy ra.

Bà Ben đến phòng làm việc của ông Ben bảo:

- Có lẽ thằng bé bị ốm đấy!

Này Maicơn, con phải đi uống nước sirô vả nhé!

- Không, con không ốm đâu.

Con còn khoẻ mạnh hơn mẹ đấy!

- Nếu vậy thì chỉ là con hư quá.

Con sẽ bị phạt!

Năm phút sau, Maicơn phải đứng quay mặt vào tường và đứng như vậy, trong phòng trẻ nhỏ với bộ quần áo giây mực.

Chị Giên chờ khi cô Mêry không để ý, tới hỏi chuyện Maicơn.

Em không buồn trả lời và còn thè lưỡi ra nhạo chị.

Giôn và Bácbara bò trên sàn, mỗi đứa túm láy một bên giày của Maicơn và nói bi bô.

Maicơn liền hất mạnh chúng ra xa và thích thú nhớ lại các trò hư, ôm khư khư cái tật tinh nghịch đó như một người bạn than và "không cần gì hết".

Buổi chiều, cô Mêry cùgn chị Giên đẩy xe nôi chở các em bé đi dạo ngoài công viên.

Maicơn lẽo đẽo theo sau.

Em nói to một mình: Mình ngoan mãi, chán rồi!

Cô Mêry ngoảnh lại nhìn em và bảo:

- Em đừng đi la cà như thế!

Nhưng Maicơn vẫn cứ đi vơ vẩn, đá giày vào các hòn gạch ở vỉa hè để làm xước mặt da giày.

Chợt cô Mêry quay lại nhìn thẳng vào em, một tay cô vẫn giữ tay nắm xe nôi, cô nói:

- Sáng nay, khi dậy, cháu bước từ trên giường xuống về phía bên dở phải không?

Maicơn đáp:

- Không đâu ạ.

Giường cháu nằm không có bên nào là bên dở!

Cô Mêry nghiêm nghị nói:

- Giường nào cũng có một bên hay, một bên dở.

- Giường của cháu không thể vì nó kê sát tường!

Cô Mêry nói đùa:

- Cũng chẳng có gì là khác.

Giường cháu vẫn có một bên mà!

- Vậy cô bảo bước xuống bên tay trái là dở hay bước xuống bên tay phải là dở?

Vì sáng hôm nay, cháu bước xuống bên tay phải thì sao lại là dở được?

- Sáng hôm nay, với cháu thì bên nào cũng là dở, cậu "Khùng" ạ!

Maicơn vẫn lí sự:

- Nhưng giường cháu chỉ xuống được có một bên và nếu cháu bước xuống về bên tay phải thì...

Cô Mêry cất giọng đe doạ một kiểu đặc biệt khiến cho Maicơn cảm thấy hơi bực mình:

- Cháu còn nói một lời nào nữa thì cô sẽ...

Cô không nói cô sẽ làm gì nhưng cô bước nhanh hơn.

Giên nói thầm với Maicơn:

- Em hãy bình tĩnh nào!

Maicơn đáp:

- Chị thôi đi! – Nhưng em nói rất khẽ để cô Mêry không nghe thấy.

Cô Mêry không nghe thấy.

Cô Mêry bảo em:

- Nào, "ông con", làm ơn đi lên đi!

Đi đằng trước cô!

Cô không cho cháu tha thẩn mãi nữa đâu!

Cô đẩy Maicơn lên phía trước.

Cô tiếp tục nói:

- À, nhìn đằng kia, trên mặt đường có vật gì sáng sáng, em chịu khó chạy lên nhặt lấy mang lạic ho cô xem nào.

Có lẽ đó là cái mũ đính ngọc quý của ai đánh rơi.

Maicơn không muốn vâng lời nhưng em không dám cưỡng lại.

Em nhìn về phía cô Mêry chỉ tay.

À, có vật gì sáng lấp lánh thật!

Nhìn từ đằng xa, có vẻ cũng là lạ, hay hay, và những tia sáng kia như đang vẫy gọi em.

Em bước tới, đi hơi rề rà một chút, chậm rãi như thể em thực sự không cần biết đó là cái gì.

Tới chỗ đó, em đứng lại, nhặt cái vật sáng lấp lánh lên.

Đó là một cái hộp tròn xinh xinh, mặt trên là kính và trên mặt kính có vẽ một mũi tên.

Bên trong có một cái đĩa tròn, trên có ghi đầy chữ và khi em lắc lắc cái hộp thì cái đĩa này khẽ quay một tí.

Giên chạy tới, ghé mắt nhìn và hỏi.

- Cái gì đấy hả em?

Tuy Maicơn không hiểu là cái gì nhưng em vẫn trả lời:

- Em không bảo chị đâu!

Cô Mêry đã đẩy xe nôi tới nơi.

Giên hỏi cô:

- Cô Mêry ơi, đó là cái gì thế?

Cô Mêry cầm lấy cái hộp trong tay Maicơn.

Maicơn không bằng long, nói:

- Của cháu chứ!

Cô Mêry bảo:

- Không!

Của cô đấy!

Cô trông thấy nó trước!

- Nhưng cháu nhặt được nó! – Maicơn định giằng lại nhưng thấy cô Mêry lừ mắt, em đành bỏ tay xuống.

Cô Mêry cầm cái hộp, xoay đi xoay lại và dưới ánh mặt trời, cái đĩa có chư bên trong quay loạn xạ.

Giên hỏi:

- Cái hộp này dung để làm gì hả cô?

Cô Mêry đáp:

- Dùng để đi vòng quanh thế giới!

Maicơn nói:

- Hầy!

Đâu có!

Vòng quanh thế giới phải đi bằng tàu thuỷ hay máy bay.

Cháu biết rồi.

Đi bằng cái hộp này thế nào được!

- Ờ, thực thế... thực không nào! – Cô Mêry nói với vẻ mặt hay hay của người "biết hơn cậu đấy" – Các cháu hãy nhìn xem nhé!

Cô cầm cái địa bàn, quay về phía lối vào công viên và hô một tiếng: "Bắc!"

Các chữ trên đĩa chạy loang loáng quanh cái mũi tên như nhảy múa đến chóng cả mặt.

Bỗng nhiên, trời trở lạnh đáng sợ, gío thổi giá buốt đến nỗi Giên và Maicơn phải nhắm nghiền mắt lại.

Khi các em mở mắt ra thì cả khu công viên đã biến đi đâu mất, chẳng còn cái cây nào, cái ghế sơn xanh, con đường trải nhựa cũng chẳng thấy đâu nữa.

Thay vào đó, các em thấy quanh mình là nhưng tảng băng lớn màu xanh lơ và dưới chân là lớp tuyết dày đặc, đông cứng...

Giên kinh ngạc và lạnh run rẩy cả người, chạy tới lấy cái nệm xe nôi đắp cho hai em bé sinh đôi.

Em kêu lên:

- Ối!

Ối!

Làm sao lại thế này?

Cô Mêry nhìn Maicơn như có ý nhắc em điều gì.

Nhưng cô chưa kịp trả lời thì ngay lúc đó, từ trong cái hang ở một tảng băng, một người Etkimô chui ra, khuôn mặt tròn, da màu nâu, đầu đội mũ lông màu trắng mình mặc một chiếc áo khoác dài bằng lông thú cũng màu trắng.

Ông ta cất tiếng:

- Xin chào đón cô Mêry Pôpin và các bạn tới thăm miền Bắc cực! – và kèm theo một nụ cười vui vẻ chào mừng.

Dứt lời, ông ta tiến lại gần và lần lượt cọ mũi ông vào mũi từng người, đó là dấu hiệu chào khách.

Tiếp đó, một phụ nữ Etkimô từ trong hang đi ra, bế em bé Etkimô ủ trong cái khăn quàng bằng da chó biển.

Bà ta nói:

- Ồ!

Cô Mêry, thực là một cuộc hội ngộ vui vẻ - nói rồi bà cũng lại cọ mũi với mấy cô cháu.

Bà nhìn thấy mấy cô cháu đều mặc quần áo mỏng, bà ngạc nhiên kêu lên:

- Chắc các bạn rét lắm!

Tôi sẽ tặng các bạn mấy cái áo lông.

Và các bạn yêu quý, xin mời các bạn nếm món xúp nóng nấu với mỡ cá voi nhé!

Cô Mểy nhanh nhẹn đỡ lời:

- Tôi e rằng đoàn chúng tôi không ở lai lâu được.

Chúng tôi đang đi vòng quanh thế giới và chỉ ghé thăm các bạn một lát.

Dù sao, cũng xin cám ơn các bạn và xin hẹn tới dịp khác.

Tay cô cầm địa bàn, nhẹ nhàng xoay một cái và hô: "Nam!".

Giên và Maicơn cảm thấy cả thế giới cũng quay như cái địa bàn còn các em đứng giữa vòng quay, giống như khi chú phụ trách vòng đua ngựa gỗ, ưu tiên cho các em được vào buồng máy ở giữa, nhìn thấy vòng ngựa gỗ quay quanh mình.

Thế giới quay quanh các em, các em cảm thấy ấm lên dần dần và khi nó quay chậm rồi dừng lại, các em thấy mình đang đứng dưới một cây cọ.

Mặt trời chiếu rọi như một cái áo ấm bao trùm các em và dưới chân các em là bãi cát vàng óng.

Dưới gốc cây cọ, có một người đàn ông và một người phụ nữ đang ngồi.

Da họ đen bong mầu mận chin, vóc người mập mạp và mặc rất ít quần áo.

Nhưng như để thay cho quần áo, họ đeo rất nhiều các thứ hạt.

Trên trán họ, phía dưới các vòng đội đầu bằng lông chim, có những hạt đeo lủng lẳng; tai họ cũng đeo hạt; trên mũi cũng gắn một hoặc hai hạt.

Cổ họ đeo những chuỗi hạt các màu và dây thắt lựng cũng bện bằng những chuỗi hạt.

Một em bé tí xíu da đen không mặc gì cả, ngồi trên đầu gối người phụ nữ.

Khi mẹ nó nói chuyện thì nó cười với Giên và Maicơn.

Mẹ nó nói:

- Cô Mêry Pôpin ơi, chúng tôi đã biết trước là cô sẽ tơi thăm chúng tôi.

Trời ơi, sao mà những đứa trẻ này xanh sao nhợt nhạt như vậy!

Cô đưa chúng từ nơi nào về thế?

Từ mặt trăng phải không?

- Bà ta nhìn hai chị em mà cười ngặt ngẽo, thích thú và đứng dậy định dẫn mấy cô cháu vào túp lều làm bằng lá cọ. – Xin mời vào và mời các bạn cùng ăn bữa trưa với chúng tôi.

Gặp các bạn, chúng tôi mừng như thấy ánh mặt trời.

Giên và Maicơn sắp sửa bước theo bà ta thì cô Mêry giữ các em lại.

Cô giải thích:

- Thật đáng tiếc, chúng tôi không thể nán lại được.

Chúng tôi đi qua đây, ghé thăm các bạn và còn phải đi vòng quanh thế giới.

Nghe vậy, hai người da đen kinh ngạc, vung tay lên trời.

Người đàn ông cọ cọ má vào đầu cây gậy gỗ to tướng đang cầm ở tay, cặp mắt đen của ông ta có vẻ hoài nghi:

- Cô Mêry ơi, xa lắm đấy!

Người phụ nữ kêu lên:

- Vòng quanh thế giới cơ à?

Biết bao nhiêu là đường đất!

Các bạn sẽ đi mòn hết cả giày đấy! – Bà ta lại cười vang như thể bà coi chuyện đó và mọi chuyện khác trên đời đều là một trò đùa to lớn và thích thú.

Trong khi bà ta dang cười, cô Mêry xoay cái địa bàn và hô to một tiếng dõng dạc: "Đông!"

Thế giới lai quay và chỉ sau vài ba giây, lũ trẻ ngạc nhiên không nhìn thấy cây cọ đâu nữa và khi ngừng quay, chúng thấy mình đang ở giữa một đường phố, hai bên có những ngôi nhà nhỏ xíu, hình thù kì lạ.

Các ngôi nàh này như là làm bằng giấy, mái nàh cong có treo những cái chuông nhỏ, gió nhẹ thổi qua kêu leng keng nghe rất vui tai.

Bên trên các nóc nhà, các cành mận, hạnh đào xoàe toả, trĩu nặng, người mặc quần hoa, áo hoa đang ung dung dạo bước.

Thật là một cảnh thanh bình, sung sướng.

Giên nói thầm với Maicơn:

- Có lẽ chúng mình đang ở Trung Quốc!

Đúng rồi!

Chắc chắn là như thế! – Em nói them vì hai chị em nhìn thấy một ông già đang bước ra từ một ngôi nhà nhỏ bằng giấy đó.

Ông già mặc bộ trang phục lạ mắt: áo kimono cứng nhắc bằng gấm màu vàng kim, quần lụa ống túm bằng một cái vòng vàng ở mắt cá chân.

Mũi giày của ông cong vút lên rất đẹp; trên đầu có một cái đuôi sam dài gần tới đầu gối và ông có một chum râu dài, xuống tới ngực.

Khi nhìn thấy cô Mêry và bọn trẻ, ông già quý tộc này vái chào, cúi đầu rõ thấp tới mức chạm đất.

Giên và Maicơn ngạc nhiên khi thấy cô Mêry cũng vái chào theo kiểu đó, các bông hoa cúc trên mũ cô quet đất.

Cô Mêry cứ giữ cái tư thế khác thường đó ngước nhìn hai chị em Giên và cất tiếng gắt:

- Các cháu quên cả chào hỏi rồi à?

- Giọng cô có vẻ giận dữ đến nỗi hai chị em thấy là cũng phải vái chào như vậy thì hơn, và hai đứa bé sinh đôi cũng cúi cho trán chạm vào thành xe nôi.

Ông già từ tốn đứng lên và cất tiếng nói:

- Thưa tiểu thư Mêry tôn quý cảu dòng đại gia Pôpin, xin tiểu thư mang ánh sáng đức độ chiếu rọi tới ngôi nhà bần hàn của tôi và xin tiểu thư dẫn bước các vị quý khách này vào trong tệ xá! – Ông ta lại chắp tay vái một lần nữa và đưa tay chỉ vào ngôi nhà.

Giên và Maicơn chưa bao giờ được nghe cách ăn nói kì lạ và hoa mỹ như vậy nên rất ngạc nhiên.

Nhưng chúng còn ngạc nhiên hơn nữa khi nghe chính cô Mêry cũng đáp lại lời mời khách với cùng nghhi thức kiểu cách như thế.

Cô nói.

- Thưa đại nhân, tiểu nhân rất lấy làm tiếc không được hân hạnh nhận lời mời trang trọng của đại nhân.

Con cừu non không muốn rời xa mẹ, con chim non không muốn lìa tổ, quyến luyến như thế nào thì khi chúng tôi phải cáo biệt đại nhân chúng tôi cũng quyến luyến như vậy.

Nhưng kính thưa đại nhân vô cùng tôn quý, chúng tôi còn đi chu du khắp thế gian và than ôi, chúng tôi chỉ có thể dừng chân nơi đô thành kì thú này trong khoảnh khắc.

Do đó, xin đại nhân cho tiểu nhân được vô phép giã biệt.

Vị quan đại thần này, vì thực sự ông già là một vị quan, cúi đầu chuẩn bị vái chào cung kính một lần nữa thì cô Mêry đã xoay nhanh chiếc địa bàn.

Cô hô dõng dạc: "Tây"

Thế giới lại quay, Giên và Maicơn chónh mặt lừ đừ.

Khi mọi cái đã dừng lại, hai em thấy mình đang cùng cô Mêry rảo bước đi qua những cánh rừng thông bao la, tới một khoảng rừng thưa, có nhiều lều trại dựng quanh một đống lửa to đang cháy.

Dưới ánh lửa bập bùng, thấp thoáng những người có gương mặt đen sạm, đầu đội còng kết bằng lông chim, mặc áo dài rộng lung thùng và quần bằng da nai có tua.

Một người cao lớn hơn cả từ đám người đó bước ra, tiến nhanh về phía cô Mêry và lũ trẻ.

Ông ta nói:

- Xin chào cô Mêry Sao Mai!

Ông ta nói xong cúi xuống, đưa trán chạm vào trán cô Mêry.

Sau đó ông đi về phía bốn đứa trẻ và cũng chạm trán như thế.

Ông ta nói bằng một giọng trầm trầm, than mật:

- Căn lều của tôi đang chờ đón các bạn.

Chúng tôi vừa quay chin một con nai để ăn bữa tối.

Cô Mêry đáp:

- Thưa thủ lĩnh " Mặt trời buổi trưa", chúng tôi chỉ ghé qua đây để có lời chào tạm biệt mà thôi.

Chúng tôi đã đi vòng quanh thế giới và nơi đây là nơi chúng tôi tới thăm sau cùng.

Vị thủ lĩnh có cẻ thích thú hỏi:

- Vậy ư?

Thưa cô, tôi cũng thường mong ước đựơc đi một chuyến như thế.

Nhưng chắc là các bạn có thể lưu lại nơi đây cùng chúng tôi ít lâu, dù chỉ đủ thời gian cho cậu bé này (chỉ tay vào Maicơn) có thể thử sức với đứa cháu chút chit của tôi là thằng "Nhanh như gió"!

- Vị thủ lĩnh vỗ hia tay vào nhau à gọi to: - Ý – ô – ê ề!

Và trong lều, một chú bé thổ dân Anhđiêng chạy tới.

Chú bé tới gần Maicơn, vỗ nhẹ vào vai em, rồi kêu lên:

- Đố bắt được tớ!

Maicơn nghe lời thách thức, không chịu được, em nhảy một cái, đuổi thao và Giên cũng chạy theo.

Cả ba đứa trẻ chạy theo nhau, luồn lách trong đám cây, chạy quanh một cây thong cổ thụ là luôn luôn cậu bé "Nhanh như gió" dẫn đầu, vừa cười vừa chạy, hai chị em Giên không túm được.

Giên rớt lại phía sau, bỏ cuộc nhưng Maicơn nổi hung, mắm môi mắm lợi vừa đuổi theo nhanh như gió vừa la hét, quyết tâm không chịu thua một chú bé Anhđiêng.

Em cố chạy cho nhanh hơn nữa và hô to:

- Tớ sẽ tóm được cậu!

Cô Mêry bỗng đột ngột hỏi:

- Các cháu làm cái gì thế?

Maicơn quay đầu lại nhìn cô và dừng chân chạy.

Sau đó, em lại co cẳng chạy tiếp nhưng lạ quá, không còn thấy tăm hơi cậu "Nhanh như gió" đâu cả.

Cả vị thủ lĩnh, những cái lều, đống lửa cũng đã biến đâu mất.

Chẳng còn một cây thong nào.

Chảng còn cái gì cả, chỉ có cái ghế băng và em nhìn thấy chị Giên, hai em bé sinh đôi và cô Mêry đứng ở giữa công viên.

Cô Mêry bảo:

- Các cháu cứ chạy quanh cái ghế băng này như thể phát điên.

Ngày hôm nay, các cháu chơi như thế thôi nhé, thế là đủ rồi!

Lại đây!

Maicơn hờn dỗi, dẩu môi ra.

Giên vui sướng nói:

- Đi vòng quanh thế giới và trở về nữa mà chỉ hết một phút!

Cái hộp này kì diệu thật!

Maicơn cáu kỉnh nói:

- Cô trả cháu cái địa bàn đi!

Cô Mêry đáp:

- Tôi, xin cháu!

Của cô chứ! – Nói xong, cô bỏ cái địa bàn vào túi áo.

Maicơn nhìn cô như thể muốn giết chết cô và thực sự, em cũng cảm thấy như thế.

Nhưng em chỉ nhún vai, bứt lên đi trước mọi người, có vẻ nghênh ngang và không nói với ai câu nào nữa.

Khi về đến số nhà 17, đi qua cổng rồi lên gác, em tự nói với mình: "Nhất định sẽ có bữa mình thắng được thằng bé đó!"

Măicn cảm thấy cái khối cháy bỏng vẫn nặng trĩu trong người.

Sau chuyện cái địa bàn, hình như cái khối đó còn nặng nề hơn và càng về chiều em càng quấy phá hơn.

Khi cô Mêry ngoảnh đi, em cấu véo hai em bé sinh đôi và khi chúng khóc ré lên, em còn vờ vịt dỗ chúng:

- Nào!

Các em cưng, các em làm sao thế?

Nhưng cô Mêry không mắc lừa, cô nói có ý đe em:

- Em phải biết là "sinh sự sự sinh" đấy!

Nhưng cái khối nóng bỏng trong người làm cho em không thể nhịn được.

Em chỉ nhún vai rồi giật tóc chị Giên.

Sau đó, em đi ra bàn ăn và đánh đổ món bánh mỳ ngâm sữa.

Cô Mêry bảo:

- Đến thế là cùng1!

Cô chưa từng thấy đứa bé nào cứ cố tình quấy phá như vậy.

Từ bé đến giờ cô chưa từng thấy.

Thôi này cháu!

Vào ngay giường mà nằm ngủ đi, không được nói một câu nào nữa!

Nhưng Maicơn vẫn " chẳng cần".

Em vào phòng ngủ và cởi quần áo ngoài.

Không, em "cóc cần".

Ừ thì em hư, và nếu người lớn không coi chừng, em sẽ còn hư hơn nữa.

Em "cóc cần"!

Em ghét tất cả mọi người.

Nếu người lớn không cẩn thận, em sẽ bỏ nhà đi theo một đoàn xiếc.

Này!

Đứt một cái khuy.

Càng tốt!

Sãng dậy đỡ phải cài nhiều khuy - Lại đứt cái nữa!

Càng hay!

Trên đời này, chẳng có cái gì làm em pahỉ áy náy.

Em sẽ cứ thế đi ngủ, không chải đầu, không đánh răng – và hẳn là không cầu kinh.

Em sắp vào giường nằm.Em đã bước một chân lên giường thì bỗng nhìn thấy cái địa bàn ở trên nóc tủ.

Em từ từ bỏ chân xuống và rón rén đi ngang qua phòng.

Em biết mình sẽ làm gì.

Em sẽ lấy cái đại bàn xuống, xoay nó để đi vòng quang thế giới.

Và rồi cả nhà sẽ không bao giờ tìm thấy em.

Như thế, người lớn sẽ biết tay em!

Em cố nhấc một cái ghế thật nhẹ, không gây tiếng động và dặt ghế áp vào thành tủ.

Em trèo lên ghế, cầm lấy cái đại bàn.

Em xoay địa bàn và nói nhanh: "Bắc, Nam, Đông, Tây!"

để có thẻ nhỡ có ai vào phòng thì em đã đi thật xa rồi.

Có tiếng động ở sau chiếc ghế làm em giật mình, em len lét quay đầu lại, tưởng sẽ thấy cô Mêry.

Nhưng không phải, mà là bốn người khổng lồ đang trừng mắt nhìn em; người Etkimô cầm ngọn giáo, bà da đen cầm cái gậy to tướng của ông chồng, ông quan đại thần cầm thanh gươm lớn, cong vút và người Anhđiêng da đỏ cầm một cái rìu Tômahốc.

Họ đã từ bốn góc phòng xông tới, vũ khí giơ cao trên đầu và không còn hiền từ, thân mật như khi gặp hồi chiều nay.

Giờ đây học ó vẻ hầm hầm đe doạ, đầy khí thế phục thù.

Họ đã gần như ở ngay trên đầu em và những bộ mặt to tướng, giận dữ, gớm ghiếc, đã mỗi lúc một gần hơn.

Em cảm thấy hơi thở của họ phà vào mặt em, nóng hổi và trông thấy các vũ khí rung lên trong tay họ.

Em ném cái địa bàn xuống, gaog to: "Cô Mêry, cô Mêry Pôpin, cứu cháu với!

Cứu cháu với!" rồi nhắm nghiền hai mắt lại.

Em cảm thấy có ai ủ em vào một cái gì mềm mềm, ấm ấm.

Cái gì đấy nhỉ?

Cái áo lông của người Etkimô, cái áo choàng của ông quan hay cái áo dài bằng da nai của người Anhđiêng da đỏ, hay các lông chim của người phụ nữ da đen?

Họ đã dung cái gì để bọc em mang đi?

Ôi, biết thế thì mình ngoan ngoãn có hơn không!

Biết thế thì...!

Em rên rỉ: "Cô Mêry ...

ơ ơi!" và em cảm thấy có ai bế bổng em lên rồi đặt em xuống một chỗ nào đó còn êm hơn nữa.

- Ồ, cô Mêry thân mến ơi!

Em nghe tiếng cô Mêry bình tĩnh nói:

- Được rồi!

Được rồi!

Cô không điếc đâu, cháu nói vừa nghe thôi.

Cô xin cháu đừng có hét lên!

Em mở một mắt ra.

Em chẳng còn thấy dấu vết gì của bốn người khổng lồ từ cái địa bàn chạy ra.

Em mở nốt mắt kia để chắc chắn là như thế.

Không, chẳng còn chút dấu vết cảu một người nào cả.

Em nhìn quanh phòng.

Chẳng có cái gì hết.

Lúc đó, em mới phát hiện ra là cái vật mềm mềm ủ bọc em chính là cái chăn cảu em, và cái vật êm êm em đang nằm lên trên là cái giường của mẹ.

Và ồ, hay thật, cái khối nóng bỏng, nặng trĩu trong người em suốt cả ngày hôm nay đã tan biến đi hết.

EM cảm thấy trong người thanh thản và sung sướng cứ như là em đang muốn tặng mỗi người thân quen một món quà sinh nhật.

Em lo lắng hỏi cô Mêry:

- Cô ơi, có chuyện gì đấy, cô?

- Cô đã bảo cháu là cái địa bàn ấy là của cô.

Cô xin cháu đừng có mó máy vào các thứ của cô.

Cô chỉ nói có thế rồi cúi xuống nhặt chiếc địa bàn bỏ vào túi.

Sau đó, cô bắt đầu gấp các quần áo mà khi nãy Maicơn đã quảng xuống dưới sàn.

Maicơn hỏi:

- Cháu có phải gấp quần áo không?

- Không, cám ơn cháu!

Maicơn nhìn thấy cô đi sang phòng bên và khi quay trở lại cô dăth vào tay em một vật gì ấm ấm.

Đó là một cốc sữa.

Maicơn nhấm nháp, lấy lưỡi nếm từng giọt nhiều lần cố uống dè cho lâu hết để cô Mêry đứng bên em rõ lâu.

Cô Mêry đứng đó, không nói một lời, cô nhìn cốc sữa cạn dần.

Maicơn ngửi thấy mùi cái tạp dề trắng sọt soạt và cái mùi thoang thoảng vị bánh mì nướng thường phảng phất quanh cô, rất dễ chịu.

Nhưng dù cố uống dè, em cũng không giữ được cho cốc sữa không bao giờ hết.

Em tiếc rả chìa cái cốc không ra cho cô và lách vào giường nằm.

EM cảm thấy như chưa bao giờ, em thoải máu trong người như lúc này.

EM cũng nghĩ rằng em nằm thế này thật là ấm áp.

Em cảm thấy sung sướng và hạnh phúc biết bao!

Nửa tỉnh, nửa mơ, em nói:

- Chuyện này chẳng hay ho gì, cô Mêry ạ.

Cả ngày hôm nay cháu đã rất hư và lúc này cháu cảm thấy là cháu rất ngoan.

Cô Mêry chỉ : "Hừ!" một tiếng, đặt cho em nằm ngay ngắn rồi đi ra rửa bát đĩa của bữa ăn tối vừa xong.

VII.

BÀ MÁ "CHIM CÂU"

Maicơn nói:

- Có lẽ bà ta không có ở đấy dâu!

Giên đáp:

- Có chư.

Bao giờ bà ta cũng ở đó mà!

Hai chị em đang đi lên sườn đồi Lútghết, trên đường tới chỗ ông Ben đang làm việc trong thành phố.

Sáng nay, ông Ben bảo với bà Ben:

- Này bà, nếu hôm nay trời không mưa và bà đồng ý thì bà cho Giên và Maicơn đến sở tôi làm nhé!

Hôm nay tôi được mời đi dự buổi tiệc trà có bánh ngọt đặc sản.

Mà tôi cũng ít khi được đi dự tiệc tùng.

Và bà Ben đã hứa là sẽ thu xếp chuyện này.

Nhưng suốt cả nàgy, tuy Maicơn và Giên cứ lo lắng thoe dõi bà, hình như bà đã quên hẳn chuyện đó.

Bà chỉ nhắc đến một số việc mà bà để tâm tới như trả tiền hoá đơn nhà thợ giặt và mua áo khoác mới cho Maicơn, hoặc đại chỉ của gì Phlôtxi ở đâu, và tại sao cái nàh bà Giăcxơn khốn khổ ấy lại mời bà tới bữa tiệc trà vào ngày thứ năm tuần thứ hai trong tháng, mà bà thì đã biết hôm ấy đúng là ngày ông Ben phải đi chữa răng.

Bỗng nhiên, khi hai chị em cho là bà đã quên hẳn vấn đề tiệc trà của ông Ben thì bà bảo chúng:

- Này các con, đừng có đứng đấy mà nhìn ngó mẹ như thế!

Các con mặc quần áo vào và đi vào thành phố dự tiệc trà với ba.

Các con quên rồi à?

Đời nào hai chị em lại quên!

Vì không những chỉ có chuyện trà bánh mà còn được gặp bà má "Chim câu", và riêng bà má này cũng là món lien hoan thú vị nhất.

Vì vây, hai chị em rất phấn khởi leo lên sườn đồi Lútghết.

Cô Mêry đi giữa hai đứa, cô đội chiếc mũ mới trông rất lịch sự.

Cứ một lúc cô lại nhìn vào tủ kính các cửa hàng để xem có còn mũ không và các bông hoa hồng cài trên mũ có biến thành những bông hoa tầm thường – như cúc vạn thọ chẳng hạn – không.

Mỗi lần cô đứng lại để nhìn cho yên tâm, hai chị em lại thở dài nhưng không dám nói gì vì sợ cô lại còn nhìn ngăm lâu hơn nữa và cứ sửa sang cái mũ mãi.

Nhưng cuối cùng, mấy cô cháu đã tới được nhà thờ thánh Pôn đã xây dựng từ lâu lắm do một nhà kiến trúc có tên trùng với tên loài chim hồng tước.

Tên ông ta là Ren, nhưng ông không có quan hệ gì với bà Gienny cả.

Vì vậy có rất nhiều chim đến làm tổ ở gần nhà thờ của ông Crittophơ Ren, mà nhà thờ này cũng thuộc về Thánh Pôn và vì thế mà bà má "Chim câu" cũng ở đó.

Bỗng Maicơn kêu lên: "Bà má kia kìa" và em thích thú nhảy cẫng lên.

Cô Mêry ngó vào tủ kính một cửa hàng bán các loại thảm, liếc nhìn lần cuối những bông hoa trên mũ.

Giên kêu lên:

- Bà má đang rao hàng!

Bà má đang rao hàng! – Em cố không reo nữa vì sợ rằng nếu thích quá người em sẽ bị tách làm hai.

Bà má "Chim câu" đang ở đó và đang rao hàng.

- Xin mời các bạn cho chim ăn, hai xu một túi!

Mời các bạn cho chim ăn, hai xu một túi!

Mời các bạn cho chim ăn, hai xu một túi. – Bà má cứ nhắc đi nhắc lại cùng một câu đó, bằng một giọng lên bổng xuống trầm nghe như hát.

Bà vừa rao vừa giơ lên những túi bánh mì vụn mời khách qua đường mua.

Bao nhiêu là chim bay quanh bà.

Chúng lượn vòng tròn, nhảy trên mặt đất, bổ nhào xuống và bay vụt lên.

Cô Mêry thường gọi chúng là "chim sẻ".

Cô kiêu hãnh nói rằng đối với cô, các giống chim đều như nhau cả.

Nhưng Giên và Maicơn biết rằng những con chim này không phải là chim sẻ mà là bồ câu.

Có những con chim câu lông xám hay nhiễu sự và nhiều lời, giống như các bà già, có những con màu nâu tiếng kêu khàn khàn như các ông chú, ông bác, có những con lông màu lục kêu "cục cục, tôi chẳng có tiền" giống các ông bố; và có những con ngờ nghệch, hay sợ, lông màu xanh dịu giống như các bà mẹ.

Tuy nhiên, đó là những điều mà Giên và Maicơn hình dung ra trong ý nghĩ.

Khi hai em tới gần lũ chim câu bay vòng quanh đầu bà má của chúng và sau đó như muốn trêu chọc bà, chúng đột nhiên bay vụt lên trời và đậu xuống nóc nhà thờ Thánh Pôn, vờ như không quen biết bà.

Đến lượt Maicơn mua một túi bánh mì vụn.

Lần trước, chị Giên đã mau một túi.

Maicơn bước lại gần bà má và xoè tay đưa bà bốn đồng nửa xu.

Bà má đưa túi bánh mỳ vụn cho em rồi, cầm lấy tiền nhét vào trong vạt áo màu đen rộng thùng thình của bà, miệng rao: " Mời cac bạn cho chim ăn nào!"

Maicơn hỏi bà:

- Tại sao bà không có thứ một xu một túi?

Nếu có cháu sẽ mua được những hai túi.

Bà má lại rao "Xin mời các bạn cho chim ăn, hai xu một túi!" và Maicơn hiểu rằng không nên hỏi bà them một câu nào nữa.

Giên và Maicơn đã thử hỏi nhiều lần nhưng bà chỉ nói có một câu đó và bà cũng chỉ nói được mỗi một câu đó.

Y như con chim cu, dù bà hỏi câu gì cũng chỉ kêu được "cúc cu" thôi.

Hai chị em cùng cô Mêry rắc các mẩu bánh mì vụn trong một vòng tròn trên mặt đất và thế là chim câu từ nóc nhà thờ bay xuống, lúc đầu từng con một và sau đó là từng tốp hai, ba con.

Có một con chim mổ một mẩu bánh vụn rồi lại để rơi xuống đất, cô Mêry khịt mũi và nó là "anh Đêvít khảnh ăn".

Những con chim khác thấy thức ăn, xúm xít lại, vừa chen lấn nhau vừa kêu.

Cuối cùng không còn xót lại một mẩu vụn nào vì đối với chim câu thì bỏ lại thức ăn trên đĩa là thiếu lễ độ.

Khi chúng thấy rõ rang là bữa ăn đã kết thúc chúng bay lên rào rào, lượn vòng quanh đầu bà má và nhại lời bà rao bằng tiếng riêng của chúng.

Có một con đậu vào mũ của bà, coi như một vật trang sức gắn vào vành mũ.

Một con khác tưởng lầm cái mũ mới của cô Mêry là một vườn hoa hồng nên đã mổ một bông tha đi.

Cô Mêry kêu lên: "Đồ chim sẻ!" và giơ cái dù lên doạ nó.

Con chim câu cáu lắm, bèn bay về phía bà má và để trêu tức cô Mêry, nó cài hoa vào dải băng trên mũ bà má.

Cô Mêry giận dữ bảo nó: "Phải băm mày ra làm nhân bánh!

Mày đáng phải nhồi trong bánh!".

Sau đó, cô gọi Giên và Maicơn.

Cô bảo đến giờ đi rồi và cô từ biệt con chim câu bằng cái lừ mắt giân dữ.

Nhưng con chim đó chỉ cười, vẫy cái đuôi và quay lưng về phía cô.

Maicơn chào bà má:

- Tạm biệt bác!

Bà má mỉm cười đáp:

- Xin mời các bạn cho chim ăn!

Giên chào:

- Tạm biệt bác!

Bà má vẫy tay nói:

- Hai xu một túi!

Hai đứa trẻ bước đi, mỗi đứa một bên cô Mêry.

Maicơn hỏi Giên:

- Khi mọi người đã đi cả, như chúng ta đây này, thì những con chim đó sẽ làm những gì nữa?

Em đã biết rất rõ sẽ như thế nào nhưng em vẫn cứ hỏi chị vì câu chuyện này chính là của Giên nghĩ ra.

Thế là Giên sẽ kể cho em nghe và em bổ sung những đoạn mà Giên quên không kể.

Giên bắt đầu kể:

- Đêm đêm, khi mọi người đã đi ngủ...

Maicơn tiếp lời:

- Và sao mọc trên trời...

- Đúng, nhưng cả những đê, không có sao, lũ chim sẽ từ trên nóc nhà thờ bay xuống và chạy khắp nơi trên mặt đất xem có còn mẩu vụn bánh nào không, và dọn sạch cho sáng ngày hôm sau...

Khi chúng đã dọn dẹp xong...

- Chị quên mất đoạn tắm rồi!

- À, phải, chúng tắm bẳng cách dung các móng vuốt để chải lông cánh.

Sau đó, chúng bay ba vòng quanh đầu bà má rồi đậu xuống.

- Chúng có đậu trên vai bà má không?

- Có, và đậu cả trên mũ của bà má nữa.

- Và cả trên cái làn đựng các túi bánh vụn...

- Phải, và có con còn đậu trên đầu gối bà má.

Khi đó, bà má lần lượt vuốt lông đầu từng con cho mượt và dặn chúng phải ngoan ngoãn...

- Bà ấy nói bằng tiếng của loài chim à?

- Phải.

Và khi lũ chim đã buồn ngủ, không muốn thức nữa thì bà má xoè vạt áo ra như con gà mái xoè hai cánh và các con chim sẽ tới, chui cả vào dưới vạt áo của bà.

Khi con chim cuối cùng đã vào, bà bỏ vạt áo xuống để ủ cho chúng và bà khẽ à ơ ru chúng ngủ cho đến sáng.

Maicơn sung sướng thở phào.

Em rất thích câu chuyện đó, nghe kể mãi mà không chán.

Em hỏi chị, lần nào em cũng hỏi như vậy:

- Thật thế hả chị?

Có thật không?

Cô Mêry nói: "Không!", cô bao giờ cũng chỉ nói không.

Còn Giên, em thường biết rõ đủ mọi thứ, em trả lời: "Thật đấy mà!"

VIII.

BÀ CÔRY

Cô Mêry bảo:

- Cho tôi một kilô xúc xích.

Thịt lơn loại một ấy!

Làm ơn nhanh tay một chút.

Chúng tôi đang vôi!

Ông hàng thịt người béo mập, trên ngực quàng một cái tạp dề rõ to màu trắng, có sọc xanh – Ông cũng tròn trĩnh và đỏ hồng như những khoanh xúc xích ông bán.

Ông nhìn ngắm cô Mêry rồi nháy mắt vui vẻ với hai chị em Giên.

Ông bảo cô Mêry:

- Đang vội à?

Ừ, nếu vội thì thật đáng tiếc – Giá không vội thì nán lại chuyện gẫu một lát.

Cô biết đấy, cánh hàng thịt chúng tôi rất thích có người trò chuyện và chẳng mấy khi được tiếp chuyện một tiểu thư xinh đẹp, duyên dáng như cô...

Ông ta bỗng im bắt vì vừa nhìn thấy vẻ mặt cô Mêry.

Nét mặt cô lúc này thực sự đáng sợ - Và ông hàng thịt ước gì dưới chân ông có một cái cửa hầm mở ra để ông tụt xuống.

Ông nói, lúc này mặt ông lại đỏ hồng hơn trước:

- À, vâng...

Đương nhiên là cô đang vội.

Cô lấy một kilo à?

Thịt loại một?

Đây, xin gửi cô.

Và ông ta vôi vàng đưa cái móc, lấy xuống một xâu dài xúc xích treo vắt ngang quầy hàng.

Ông cắt một đoạn chừng hơn nửa mét, khoanh lại như một vòng hoa, gói một lần giấy trắng và một lần giấy nâu nữa.

Ông đầy cái gói đó trên mặt bàn thái thịt.

Ông vẫn còn đỏ mặt và đón hỏi: "Thưa cô cần gì nữa không?"

Cô Mêry kiêu kì khịt mũi:

- Hết cái cần rồi!

Cô cầm lấy gói xúc xích,cho xe nôi quay ra và đẩy đi với một bộ điệu mà ông hàng thịt biết ngay rằng ông đã xúc phạm cô.

Nhưng cô còn đang vừa đi vừa ngó vào tủ kính để nhìn xem đôi giày mới của cô phản chiếu trong đó như thế nào.

Đôi giày này đóng bằng da bê non, có hai khuy cài trông rất lịch sự.

Hai chị em Giên lặng lẽ bước theo cô, đang tự hỏi cô đã mua hết các thứ ghi trong giấy chưa vì nhìn vẻ mặt cô, chúng không dám hỏi.

Cô Mêry có vẻ đang suy nghĩ.

Cô nhìn đường phố, nhìn xuôi, nhìn ngược và rồi bỗng cô quyết định điều gì đó, cô gắt lên: "Tới hàng bán cá!" và cô quay xe nôi vào cửa hàng bên cạnh hàng thịt vừa rồi.

Cô kể ngay các món hàng cần mua nhưng cô nói rất nhanh, ai nghe quen mới có thể hiểu cô nói những gì:

- Một con cá bơn Đôvơ, một cân rưỡi cá bơn Halibút, nửa cân tôm và một con tôm hùm.

Bác hàng cá, khác hẳn ông hàng thịt, cao mà gầy, gầy tới mức trông như bác ta không có chiều ngang mà chỉ có hai bên thôi.

Vẻ mặt bác ta buồn rầu trông tưởng như sắp khóc hay là vừa mới khóc xong.

Giên giải thích đó là do một nỗi buồn đã ám ảnh bác ta từ hồi còn nhỏ, còn Maicơn thì nghĩ rằng khi bác ta còn bé tí, mẹ bác chỉ cho bác ăn bánh mì, uống nước lã nên bác không bao giờ quên được chuyện đó.

Bác hàng cá hỏi: "Còn gì nữa không cô?" nhưng nghe giọng bác cũng thấy là bác biết chắc chắn cô chỉ mua có thế thôi.

Cô Mêry đáp:

- Hôm nay thì không!

Bác hàng cá buồn bã lắc đầu và có vẻ không ngạc nhiên chút nào.

Bác đã biết cô chỉ mua có vậy.

Bác khẽ khịt mũi, gói các thứ lại, buộc dây và đưa cho cô Mêry.

Bác đưa tay chùi mắt và nhận xét:

- Thời tiết xấu quá!

Cô có thấy mùa hè năm nay không như mùa hè những năm trước kia không.

Trông cô cũng kém tươi tỉnh, nhưng ai cũng thế cả!

Cô Mêry hất đầu, cáu kỉnh nói:

- Thôi, bác nói bác nghe! – Nói xong cô lao nhanh ra cửa, đẩy cái xe nôi mạnh tay đến nỗi đâm sầm vào một bao trai sò.

Giên và Maicơn thấy cô vừa nhìn xuống đôi giày vừa nói: "Thật dớ dẩn!", chúng hiểu là cô đang nghĩ cô đi đôi giày da bê non hai khuy mà lại không xinh tươi, thật dớ dẩn!

Ra đến hè phố, cô dừng lại, giở tờ giấy ghi các thứ cần mua và gạch xoá các thứ đã mua.

Maicơn đứng co một chân lên đùi, rồi lại đổi chân kia..., em bực bội hỏi:

- Cô Mêry ơi, chúng ta không về nhà à cô?

Cô Mêry quay lại, khinh khỉnh nhìn em, nói cộc lốc:

- Cái đó, cũng có thể đấy!

Maicơn khi đã thấy cô gấp tờ giấy lại, nghĩ bụng giá đừng nói như vậy thì hơn.

Cô Mêry nghiêm nghị nói:

- Nếu cháu thích về nhà thì cứ về!

Cô còn phải đi mua bánh gừng nữa.

Maicơn xìu mặt xuống.

Nếu đừng nói gì cả thì tốt hơn.

Em biết món bánh gừng là mục cuối cùng ghi trong tờ giấy.

Cô Mêry chỉ ngón tay về phía ngõ Anh Đào:

- Đây, cháu về lối này! – và sau khi nghĩ lại, cô nói them - Nếu cháu không đi lạc đường.

Maicơn kêu lên:

- Ôi, không đâu, cháu xin cô, cô Mêry.

Không cháu có định nói thế đâu, thật đấy – Cháu...

ôi, cô Mery, cháu xin cô...

Giên nói:

- Cô đừng để nó đi một mình, cô Mêry ơi, cháu sẽ đẩy xe nôi và cô đưa nó về...

Cô Mêry khịt mũi và hầm hầm bảo Maicơn:

- Nếu hôm nay không phải là ngày thứ sau thì chỉ tỏng một chớp mắt - một chớp thôi là đã ở nhà rồi.

Cô lại đẩy cái xe nôi trong đó có Giôn và Bacbara.

Giên và Maicơn biết rằng cô đã bớt giận.

Chúng bước đi theo cô và nghĩ không hiểu một chớp là như thế nào.

Bỗng Giên nhận thấy mấy cô cháu đã đi nhầm đường.

Em nói:

- Cô Mêry ơi, cô bảo mua bánh gừng nhưng đi lối này không phải là lối đến cửa hàng mà chúng ta vẫn hay mua...

Trông vẻ mặt cô Mêry, em thôi không nói nữa.

Cô Mêry hỏi:

- Vậy cô đi mua các thứ hay là cháu đi mua nào?

Giên lí nhí đáp:

- Thưa, cô ạ?

Cô Mêry cười nhạt và nói:

- À, thật vậy chăng?

Cô nghĩ là đi vòng lối này cũng được!

Cô lấy tay đẩy nhẹ xe nôi cho ngoặt vào một đường rẽ và đứng dừng lại.

Giên và Maicơn đứng sững ngay lại phía sau chiếc xe nôi, thấy trước mặt là một cửa hàng kì dị chưa từng thấy bao giờ.

Cửa hàng này rất nhỏ hẹp và rất bẩn.

Trên các tủ hàng treo long thong những vòng giấy màu đã phai nhạt, và trên các giá có bày những hộp nước ngọt trông như kém phẩm chất, các thỏi kẹo đã để lâu ngày và các xâu táo héo.

Giữa các tủ hàng, có một cái cửa ra vào tối om.

Cô Mêry đấy chiếc xe nôi đi vào, Giên và Maicơn bước theo sau.

Vào trong cửa hàng, hai chị em trông thấy lờ mờ ở ba phía có quầy hàng, mặt trên có kính.

Trong một ngăn, dưới tấm kính, có hàng dãy bánh sừng khô mầu sẫm, mỗi tấm bánh có dính những ngôi sao bằng giấy trang kim và hình như ánh sáng lờ mờ trong cửa hàng là do các ngôi sao đó toả ra.

Giên và Maicơn nhìn quanh quẩn để tìm người bán hàng và hai chị em rất ngạc nhiên khi nghe tiếng cô Mêry gọi to:

- Phanny, Anny!

Các cô ở đâu thế?

Tiếng cô gọi hình như vang dội lại từ các bức tường tới tai các em.

Cô Mêry vừa gọi xong thì có hai cô gái cao lớn lạ thường xuất hiện sau quầy hàng và bắt tay cô Mêry; Giên và Maicơn chưa từng thấy có ai cao lớn như vậy.

Hai cô gái khổng lồ này cúi xuống quầy hàng và hỏi:

- Các cháu có khoẻ không?

- tiếng các cô nói cũng to lớn như con người của các cô - rồi các cô bắt tay hai chị em Giên.

- Cô có khoẻ không ạ.

Cô ...

- Maicơn nói đến đó thì im bặt vì không biết cô nào là Phanny, cô nào là Anny.

Một cô nói:

- Tôi tên là Phanny.Bệnh tê thấp của tôi không đỡ mấy, cảm ơn cháu đã hỏi thăm! – Cô nói bằng một giọng buồn bã, như thể không quen với cách chào hỏi xã giao như vậy.

Giên lễ phép nói với cô kia:

- Thưa cô, hôm nay thật là đẹp trời!

Cô ta bèn giữ chặt bàn tay Giên trong nắm tay to tướng của cô ta lâu có đến một phút.

Cô ta nói cho mọi người biết:

- Tôi là Anny.

Và xinh đẹp cũng có đến như thế thôi!

Hai chị em Giên nghĩ bụng hai chị em cô này ăn nói thật kì cục, nhưng các em không có thì giờ ngạc nhiên lâu vì hai cô Phanny và Anny đã vươn những cánh tay dài ngoẵng tới cái xe nôi, và mỗi cô bắt tay một em bé sinh đôi là chúng kinh hãi, khóc thét lên.

"Này, này!

Cái gì vậy?

Cái gì vậy?"

- Một giọng nói nhỏ nhưng the thé vẳng ra từ cuối cửa hàng.

Nghe tiếng nói đó, vẻ mặt các cô Phanny và Anny đã đang buồn lại càng rầu rĩ hơn.

Hai cô có vẻ sợ hãi và lung túng.

Giên và Maicơn thấy chắc rừng hai cô khổng lồ này đều ước ao được nhỏ bé bớt đi, để làm người ta không chú ý.

Cai tiếng nói the thé đó tới gần hơn: "Có ai nói những chuyện gì vậy?"

Lúc này, ở bên trong góc quầy kính, chủ nhân tiếng nói đó xuất hiện.

Bà ta nhỏ bé như tiếng nói của bà và cũng có vẻ láu táu như thế.

Các em nhỏ thấy như bà như già cỗi, già hơn tất cả mọi thứ trên đời; mái tóc bà thưa thớt, hai ống chân như hai que củi, bộ mặt khô héo, nhăn nhúm.

Tuy vây, bà chạy về phía các em, nhanh nhẹn à nhí nhản như một thiếu nữ.

- Này, này, hay lắm, tôi xin nói như vậy!

Đây là cô Mêry Pôpin và cá cháu bé Giôn và Bacbara chứ gì?

Cả Giên và Maicơn nữa à?

Thật là một sự ngạc nhiên thú vị đối với tôi!

Hay lắm!

Tôi xin đảm bảo với các bạn là từ khi ông Critôphơ Côlômbô tìm ra châu Mỹ đến nay, tôi chưa bao giờ ngạc nhiên như thế này, thật đấy!

BÀ cười thích thú, lại bắt tay các em.

Chân đi đôi giày nhỏ xíu có chun, bà bước đi như nhảy múa.

Bà chạy tới bên cái xe nôi, đu đưa nhẹ nhàng và cong các ngón tay gầy guộc, vặn vẹo vỗ về hai em bé Giônv à Bácbara.

Chúng thôi khóc vầ bắt đầu cười.

Bà cười khúc khích và nói: "Thế có phải tốt hơn không?"

Sau đó, bà làm một việc thật kì quái: Bà bẻ gãy hai ngón tay của bà, cho Giôn và Bacbara, mỗi đứa một ngón.

Và kì quái nhất là hai ngón khác lại mọc ra ngay lập tức, Giên và Maicơn đều nhìn thấy rõ.

Bà bảo với cô Mêry:

- Đường phèn đấy mà!

Các cháu ăn không sao đâu!

Cô Mêry cũng lịch sự khác thường, trả lời:

- Bà cho các cháu cái gì cũng đều tốt cả!

Maicơn không nhịn được kêu lên:

- Đáng tiếc quá!

Giá mà các ngón tay ấy là các thanh kẹo bạc hà thì hay biết mấy!

Bà Côry, tên cảu bà già, hân hoan đáp: "Ừ!

Thỉnh thoảng cũng là kẹo bạc hà và ăn rất ngon.

Đôi khi không ngủ được, bà vẫn nhấm nháp đấy!

Rất tốt cho tiêu hoá".

Giên chăm chú nhìn các ngón tay của bà Côry và hỏi:

- Lần sau, các ngón tay sẽ hoá ra những gì nữa, thưa bà?

Bà Côry cười:

- A ha!

Bà cũng cchẳng biết ngày nào, ngày khác, chúng sẽ hoá thành những cái gì.

Cháu yêu quý ạ, bà cũng nói là "bà chỉ cầu may thôi", như lời vua Uyliêm trả lời bà mẹ ông khi mẹ ông khuyên ông không nên mang quân chinh phục nước Anh.

Giên thở dài có vẻ ghen tị:

- Thế thì bà đã già lắm rồi.

Và tự hỏi có bao giờ em nhớ được những điều mà bà Côry còn nhớ?

Bà Côry ngửa cái đầu nhỏ bé, thưa tóc ra phía sau cười khanh khách.

Bà nói:

- Già ư?

Này, so với bà nội của bà thì bà chỉ như gà con mới nở.

Các cháu coi bà là một bà già cũng được thôi.

Nhớ lại ngày trước, khi các vị đó tạo ra thế giới này thì bà mới vừa hết tuổi thiếu niên.

Bà bỗng ngừng lời và nhìn chăm chăm vào lũ trẻ.

Bà kêu lên:

- Trời ơi, tôi nói chuyện dông dài mãi, quên không phục vụ các bạn. – Bà quay về phía cô Mêry mà bà có vẻ quen thân lắm, bà bảo cô. – Cô muốn mua bánh gừng phải không?

Cô Mêry lễ phép trả lời:

- Thưa bà, vâng!

- Hay lắm!

Thế Phanny và Anny đã đưa bánh cho các cháu chưa?

Bà vừa nói vừa nhìn Giên và Maicơn.

Giên lắc đầu.

Từ sau quầy hàng, hai giọng nói thì thầm vọng lên.

Cô Phanny nói:

- Thưa mẹ, chưa ạ!

Cô Anny run sợ nói khẽ:

- Thưa mẹ, chúng con sắp đưa đấy ạ!

Bà Côry nghe thấy vậy bèn đứng thẳng người lên và quắc mắt nhìn hai cô con gái khổng lồ.

Rồi bà nói, với giọng bình tĩnh, nhẹ nhàng nhưng đáng sợ:

- Sắp đưa à?

Ừ thật vậy!

Thật hay ho quá chừng!

Này Anny, mẹ hoi, ai cho phép con đem cho không món bánh gừng của mẹ?

- Thưa mẹ không ạ.

Con có cho ai đâu!

Con chỉ nghĩ là...

- Con chỉ nghĩ là!

Con thật ngoan quá!

Nhưng mẹ xin con đừng có nghĩ gì cả!

Mọi việc cần nghĩ tới ở đây, mẹ có thể giải quyết được hết.

Bà Côry vẫn nói bằng cái giọng nhẹ nhàng nhưng đáng sợ.

Thế rồi bà bỗng phá lên cười khùng khục một hồi, Bà chỉ ngón tya nổi rõ đốt xương vào cô gái mà nói:

- Này các bạn nhìn cô ta đi!

Nhìn mà xem!

Hèn chưa!

Con nít khóc nhè!

Giên và Maicơn quay lai, thấy một giọt nước mắt to tướng lăn trên bộ mặt buồn to bè của cô Anny nhưng chúng không dám nói gì, vì tuy bà Côry thấp bé nhưng chúng cảm thấy chúng như là bé tí tẹo và chúng rất sợ bà.

Nhưng khibà Côry vừa quay đi, Giên nhân cơ hội đó, đưa cho cô Anny cái mùi xoa của em.

Giọt nước mắt to tướng thấm ướt đẫm mùi xoa và cô Anny, với ánh mắt cảm ơn, vắt khô khăn rồi mới trả cho Giên.

Tiếng nói the thé của bà Côry lúc này nhằm vào cô gái thứ hai:

- Và này, còn con, Phanny, con cũng nghĩ như Anny phải không?

Mẹ hoi con đấy!

Cô Phanny run sợ đáp:

- Thưa mẹ, không ạ!

- Hừ!

Thật may cho con đấy!

Hãy mở ngăn này ra!

Cô Phanny run rấy đưa bàn tay dò dẫm mở cái ngăn kính.

Bà Côry nói: "Nào, các cháu yêu quý" bằng một giọng khác hẳn.

Bà mỉm cười, nhẹ nhàng vẫy Giên và Maicơn đến gần và các em cảm thấy hổ thẹn vì lúc trước cứ cho là bà đáng sợ.

Lúc này chúng thấy là bà rất hiền hậu.

Bà bảo các em:

- Các cháu lại đây mà lấy bánh, các con cừu non của bà!

Mẻ bánh hôm nay làm theo công thưc đặc biệt mà bà đã chép của Anphơ rít đại vương đấy.

Nhà vua cũng là một nhà đầu bếp đại tài.

Bà vẫn còn nhớ, có lần nhà vua đã để cháy một mẻ bánh.

Các cháu lấy bao nhiêu cái?

Giên và Maicơn nhìn cô Mêry.

Cô nói:

- Mỗi cháu bốn cái.

Thế là mười hai cái - Một tá.

Bà Côry vui vẻ nói:

- Bà sẽ tính theo tá cảu thợ bánh mì, tức là mười ba cái.

Thế là Giên và Maicơn chon mười ba tấm bánh gừng, mỗi tấm có đính một ngôi sao bằng giấy.

Hai tay chúng chất đầy những tấm bánh ngon lành màu sẫm.

Maicơn không nhịn được, nhấm thử một góc bánh.

Bà Côry khẽ hỏi: "Có ngon không?" và khi em gật đầu thì bà vén áo, đi mấy bước theo điệu vũ của dân vùng cao cho vui.

Bà cất giọng the thé: "Hoan hô!

Hoan hô!

Tuyệt diệu!

Hoan hô!"

Sau đó bà trở về tư thế dừng lại và vẻ mặt bà lại nghiêm trang như lúc trước.

Bà nói:

- Nhưng các bạn phải nhớ tôi không biếu không mà phải trả tiền đấy!

Mỗi cháu phải trả ba xu!

Cô Mêry mở ví tiền, lấy ra ba đồng ba xu.

Cô đưa cho Giên và Maicơn mỗi em một đồng.

Bà Côry bảo:

- Nào, các cháu, đính tiền vào áo bà!

Tiền nào cũng cho vào đó cả!

Hai em ghé nhìn gần cái áo dài đen của bà , thấy trên áo đính đầy các đồng tiền ba xu, trong như cái áo ngoài hiệu may Côtxtơ có đính các khuy bằng ngọc trai vậy.

Bà Côry xoa tay chờ đợi và nhắc alị:

- Nào!

Các cháu!

Đính vào!

Các cháu sẽ thấy là nó không rơi ra đâu!

Cô Mêry bước lại gần và ép đồng ba xu của cô vào cổ áo bà Côry.

Giên và Maicơn ngạc nhiên thấy nó dính chặt.

Thế là các em mang tiền tới dính vào áo bà Côry.

Giên đính vào vai bên phải và Maicơn đính vào gấu vạt trước.

Các đồng tiền của các em cũng dính chặt vào áo..

Giên nói:

- Thật là kì lạ!

Bà Côry cười khúc khích và nói:

- Cháu yêu ơi, chẳng có gì là lạ!

Hoặc nói đúng hơn, cũng khong lạ bằng nhiều cái mà bà biết.

Nói rồi bà nháy mắt mãi với cô Mêry.

Cô Mêry nói:

- Bà Côry ơi, chúng cháu phải về thôi!

Ở nhà, còn món bánh trứng cần làm để ăn trưa, chúa phải về để kịp chuẩn bị.

Cái bà Brin ấy...

Bà Côry ngắt lời:

- Nấu ăn rất kém phải không?

Cô Mêry khinh khỉnh trả lời:

- Kém ư?

Nói thế cũng chưa đúng sự thật!

Bà Côry kêu "À" một tiếng rồi để tay lên sống mũi trông rất khôn ngoan.

Tiếp đó, bà nói:

- Hay lắm!

Cô Mêry thân mến ạ, cô đến thăm tôi thật là một dịp gặt gỡ vui vẻ và tôi chắc rằng các cháu gái nàh tôi cũng phân khởi như tôi.

- Rồi, mai kia cô cùng Giên va Maicơn, cả hai cháu bé nữa, sẽ lại đây nữa nhé!

Bà quay về phía Maicơn và Giên nói tiếp:

- Nào, bây giờ các cháu có mang được bánh về không?

Hai em gật đầu.

Bà Côry nhích lại gần các em với vẻ mặt lạ lung, quan tâm dò hỏi.

Bà nói, vẻ mặt như trong mơ:

-Bà hỏi các cháu sẽ dung ngôi sao bằng dấy này để làm gì?

Giên đáp:

- Ồ chúng cháu sẽ cất đi!

Bao giờ chúng cháu cũng làm như vậy.

Mắt bà Côry lim dim và nét mặt càng có vẻ dò hỏi hơn nữa:

- À, các cháu cất đi à?

Thế các chaus cất ở chỗ nào?

Giên đáp:

- Các ngôi sao của cháu, cháu để dưới xấp mùi xoa của cháu ở dưới ngăn kéo trên cùng, bên trái và..

Maicơn đáp:

- Cháu để trong cái hộp giày ở ngăn dưới cùng tủ áo!

Bà Côry trầm ngâm nhắc lại.

" Ngăn kéo trên cùng bên trái, hộp giày ở tủ áo", như thể bà muốn nhớ cho kĩ.

Thế rồi, bà liếc nhìn cô Mêry và khẽ gật gật đầu.

Cô Mêry cũng khẽ gật đầu lại.

Hình như hai người đã trao đổi với nhau một điều gì bí mật.

Bà Côry tươi cười, nói:

- Tốt lắm!

Các cháu không biết là bà rất vui lòng khi biết các cháu mang những ngôi sao đó cất đi.

Bà sẽ nhớ điều đó.

Các cháu thấy đấy, bà nhớ đủ mọi cái ngay cả những món mà Ghi-phốc vẫn ăn trong bữa trưa mỗi ngày chủ nhật thứ hai trong tháng.

Và bây giờ, tạm biẹt nhé!

Các cháu lại đây luôn nhé! ... luôn...luôn, nhé!

Tiếng bà Côry hình như nghe văng vẳng xa dần và lúc này, không hiểu vì sao, Giên và Maicơn thấy mình đang đứng trên vỉa hè, đằng sau cô Mêry, cô đang xem lại tờ giấy ghi các thứ cần mua.

Các em quay đầu lại nhìn về phía sau.

Maicơn ngạc nhiên nói:

- Chị Giên ơi!

Sao mà chẳng thấy cửa hàng ấy đâu cả!

Giên cũng nói:

- Chị cũng thấy như vậy!

Các em nói đúng.

Cửa hàng không còn ở đó.

Nó đã biến mất rồi.

Giên kêu:

- Kỳ quái!

Maicơn nói:

- Lạ lung thật, nhưng thứ bánh gừng này ăn ngon tuyệt!

Và hai em mải mê gặm các tấm bánh gừng thành các hình thù: thằng người, đoá hoa, cái ấm pha chè và các em cũng quên đi câu chuyện kì dị đó.

Tuy vậy, đến đêm, các em lại nhớ tới, khi mà trong nhà đã tắt hết đèn và người lớn tưởng cả hai em đều đã ngủ say.

Maicơn thì thầm gọi:

- Chị Giên ơi!

Chị Giên!

Em đang nghe như có ai đang đi rón rén lên cầu thang, chị nghe xem nào!

Giên lách người ra khỏi giường vì em cũng nghe tiếng chân bước, em khẽ nói: "Suỵt!"

Cửa bỗng mở, kêu "Cạnh" một cái rồi có ai đó bước vào trong phòng.

Đó là cô Mêry Pôpin, mặc áo ngoài, đội mũ như sắp đi đâu.

Cô nhẹ nhàng đi lại trong phòng, nhanh nhẹn và bí mật.

Hai chị em khẽ hé mắt, nằm im không động cựa, theo dõi xem cô làm gì.

Thoạt tiên cô đến cái tủ ngăn kéo, mở một ngăn và lát sau, đóng lại.

Sau đó cô rón rén đi tới tủ quần áo, mở tủ, cúi xuống bỏ cái gì vào đó (các em không thấy được).

Sập một cái, cửa tủ áo đã đóng lại và cô Mêry rảo bước ra khỏi phòng.

Maicơn ngồi nhổm dậy trên giường.

Em nói thầm với Giên:

- Cô ấy làm cái gì thế?

Giên nói:

- Chị đâu biết.

Có lẽ cô ấy để quên đôi găng hoặc đôi giày, hoặc là...

- Rồi em giật giọng. – Maicơn nghe xem này! – Maicơn lắng tai nghe.

Có vẻ như từ dưới vườn thì phải, các em nghe thấy có nhiều giọng nói thì thầm với nhau nghe rất sôi nổi.

Giên nhanh nhẹn nhảy ra khỏi giường và vẫy gọi Maicơn.

Hai em đi chân không bò ra cửa sổ và nhìn xuống.

Đằng xa, ngoài ngõ có một bong người bé nhỏ và hai bong người cao lớn cực kì.

Giên thì thầm:

- Bà Côry và hai cô Phanny, Anny đấy!

Và đúng vậy.

Đó là một tốp người kì dị.

Bà Côry đang nhòm qua các chấn song cổng nhà số 17, cô Phanny vác trên vai to tướng hai cái thang, trong khi đó cô Anny một tay xách cái thùng to trong đó có chất gì như là keo dán và một tay cầm cái chổi quét sơn to đùng.

Từ chỗ các em đứng, nấp sau rèm cửa sổ, Giên và Maicơn có thể nghe rõ họ nói với nhau.

Bà Côry có vẻ bực bội và có vẻ lo lắng, bà nói:

- Cô ấy chậm trễ quá!

Cô Phanny rụt rè cất tiếng nói và đặt lại hai cái thang trên vai cho chắc chắn hơn:

- Có lẽ có đứa bé nào bị ốm nên cô ta không thể...

Cô Anny cáu kỉnh nói tiếp:

- Đến đúng giờ được.

Bà Côry giận dữ nói: "Im đi nào!" và hai chị em Giên nghe rõ bà ta thì thầm câu gì như là "đồ hươu cao cổ to xác ăn hại!" và hai em biết là bà đang nói về hai cô con gái đáng thương của bà.

Bỗng bà Côry kêu: "Hầy!" và nghiêng đầu về một bên để lắng nghe, trông giống như một con chim nhỏ.

Đó là tiếng cánh cửa trước nhà mở ra nhè nhẹ rồi đóng lại ngay, và tiếng chân bước trên lối đi.

Bà Côry cười mỉm và đưa tay lên vẫy cô Mêry đang đi ra đón ba mẹ con bà.

Cô Mêry mang một cái thúng, trong đó có cái gì đó phát ra một thứ ánh sáng mờ mờ, bí ẩn.

Bà Côry nắm lấy cánh tay cô Mêry và giục:

- Nào, đi nào, chúng ta phải nhanh lên!

Chúng ta không có nhiều thì giờ đâu!

Cả hai chị kia nữa, nhanh nhẹn lên một chút!

Thế rồi bà cất bước, hai cô Phanny, Anny theo sau cũng cố hết sức bước nhanh nhưng vẫn không kịp.

Hai cô nặng nề lẽo đẽo theo bước bà mẹ và cô Mêry, còng cả người vì phải mang các thứ quá nặng.

Giên và Maicơn nhìn thấy bốn người đi về cuối ngõ Anh Đào rồi rẽ về phía bên trái, đi lên đồi.

KHi tới đỉnh đồi, nơi không có nhà cửa gì cả mà chỉ có cỏ dại và cỏ ba lá, họ dừng lại.

Cô Anny đặt cái thùng keo dán xuống, cô Phanny bỏ hai cái thang trên vai xuống và dựng cả hai cái đứng thẳng.

Sau đó mỗi cô giữ một cái thang.

Maicơn há hốc mồm kêu:

- Họ làm cái trò quái quỷ gì vậy?

Nhưng Giên không cần trả lời vì Maicơn nhìn thấy tận mắt những gì đang diễn ra.

Sau khi hai cô Phanny và Anny đã giữ chặt những cái thang trông như một đầu tựa xuống đất, một đầu tựa vào nền trời, bà Côry vén áo lên, một tay cầm cái chổi quét sơn và một tay xách thùng keo dán.

Sau đó, bà đặt chân lên gióng thang dưới cùng của một cái thang và cô Mêry mang thúng, trèo lên cái thang kia.

Thế rồi Giên và Maicơn được xem một cảnh thật lạ lung hấp dẫn.

Khi lên tới ngọn thang, bà Côry nhúng cái chổi quét sơn vào thùng keo và quét chất keo dính đó lên nền trời.

Cô Mêry chờ cho bà Cổry quét xong, lấy trong thúng ra một vật gì sáng lấp lánh và dán vào chỗ đã quét keo.

Khi cô Mêry bỏ tay ra, cá em thấy là cô đã dính những ngôi sao của các tấm bánh gừng lên trên bầu trời.

Mỗi ngôi sao đã dính xong bắt đầu sáng nhấp nháy dữ dội, toả ra những chùm tia sáng long lanh màu vàng kim.

Maicơn nín thở, nói:

- Những ngôi sao của chúng mình đấy!

Đó là những ngôi sao của chúng mình – Cô ấy ngỡ là chúng ta đã ngủ rồi và đã vào phòng lấy, mang đi!

Nhưng Giên yên lặng.

Em còn mải nhìn bà Côry quét keo lên nền trời, cô Mêry đính các ngôi sao lên và hai cô Phanny, Anny chuyển thang sang chỗ khác và dần dần trên bầu trời đầy những sao.

Cuối cùng, công việc đã xong.

Cô Mêry dốc ngược cái thúng để cho bà côry thấy là trong đó không còn sót lại cái gì.

Sau đó, họ trèo xuống và lại bắt đầu cuộc diễu hành từ đỉnh đồi xuống chân đồi, cô Phanny vác thang, cô Anny đung đưa cái thùng không.

Đến chỗ góc đường rẽ, cô Mêry bắt tay từng người và rảo bước đi vào trong ngõ.

Bà Côry nhảy múa giây lát trên đôi chân đi giày có chun và hai tay nhẹ nhàng vén áo, đi biến về hướng khác, theo sau là hai cô con gái khổng lồ bước lạch bạch theo bà.

Cánh cổng vườn kêu lạch cạch.

Có tiếng chân bước trên lối đi ra vườn.

Cửa ngoài nhà mở ra rồi đóng lại khẽ kêu lịch kịch.

Lúc này các em nghe tiếng chân cô Mêry bước lên thang gác, rón rén đi ngang qua phòng trẻ nhỏ và đi vào căn phòng nơi cô ngủ cùng với Giôn và Bacbara.

Khi không nghe tiếng chân cô nữa, Giên và Maicơn nhìn nhau.

Sau đó chúng cùng lặng im đi tới mở ngăn kéo phía trên bên trái và nhìn.

Trong ngăn kéo chỉ còn áo một xấp mùi xoa của Giên.

Tiếp đó hai em tới tủ quần áo và nhìn vào cái hộp đựng giầy.

Trong hộp rỗng không.

Maicơn ngồi trên mép giường va nhìn Giên, em hỏi:

- Thế là thế nào?

Sao lại thế nhỉ?

Giên không nói gì.

Em ngồi bó gối bên cạnh Maicơn và cứ suy nghĩ mãi.

Cuối cùng, em hất mái tóc ra phía sau và vươn vai, đứng lên.

Em nói:

- Chị chỉ muốn biết có một điều là: các ngôi sao có phải là giấy trang kim hay giấy trang kim là những ngôi sao?

Câu hỏi của Giên không có câu trả lời và em cũng không chờ Maicơn trả lời.

Em biết rằng chỉ có ai đó hiểu biết hơn Maicơn rất nhiều sẽ có thể nói cho em câu trả lời đúng.

IX.

TRUYỆN HAI EM BÉSINH ĐÔI GIÔN VÀ BACBARA

Giên và Maicơn cùng đi dự lien hoan.

Các em mặc những bộ quần áo đẹp nhất và có vẻ "đúng như trong tủ kính", cô giúp việc Elen khi nhìn thấy các em đã nói như vậy.

Cả buổi chiều, ngôi nhà vắng vẻ, yên tĩnh.

Dưới bếp, bà Brin đang đọc báo, cái kính chễm chệ trên sống mũi.

Anh Rôbơcxơn đang ở trong vườn, không làm gì cả.

Bà Ben nằm trên chiếc ghế sôpha trong phòng khách, gác chân lên ghế.

Trên gác, trong phòng trẻ nhỏ, cô Mêry đang hong quần áo bên cạnh lò sưởi.

Ánh nắng từ bên ngoài tràn qua cửa sổ, chiếu lung linh trên những bức tường trắng, nhảy múa trên hai cái nôi trong đó hai em bé đang nằm.

Giôn kêu to:

- Này, đi chỗ khác đi!

Cậu rọi vào đúng mắt tớ!

Ánh nắng đáp:

- À, xin lỗi!

Nhưng tớ làm thế nào được!

Dù sao, tớ cũng phải đi qua gian phòng này.

Lệnh là lệnh, phải thi hành chứ!

Hàng ngày tớ phải đi từ phía Đông sang phía Tây và đường tớ đi phải qua căn phòng này!

Xin lỗi nhé!

Cậu cứ nhắm mắt lại là không thấy tớ.

Chùm tia nắng vươn dài qua căn phòng.

Rõ rang là nó muốn đi cho nhanh, để bé Giôn được thoải mái.

Bé gái Bacbara giơ tay đón ánh nắng ấm áp sáng ngời.

Em nói:

- Nắng thực dịu, dễ chịu, tớ yêu nắng!

Ánh nắng đồng tình vui vẻ, vuốt ve, hỏi: "Bé có thích tớ không?" như thể muốn được khen.

Bácbara thở phào sung sướng: "Thi...ích quá!"

Bỗng ngoài cửa sổ có tiếng nói lanh lảnh: "Ríu Rít!

Ríu rít!

Ríu rít!

Tôi chưa thấy nơi nào hay ríu rít, líu lo như ở đây!

Luc nào cũng có tiếng ai đó chuyện trò!"

Giôn và Bacbara nhìn lên.

Đó là một con sáo, nó làm tổ trên ống khói lò sưởi.

Cô Mêry quay lại nói:

- Cô thích nói chuyện mà, còn chim ra sao?

Phải, cả ngày và có khi đến nửa đêm nữa, thơ thẩn trên các mái nhà, trên các cây cột điện báo.

Chim nói, chim kêu la, chim hót đến kiến trong lỗ phải bò ra.

Có khi còn tệ hơn lũ chim sẻ nữa, đó là sự thật.

Con sáo đáp:

- Đúng vậy.

Tôi có bao nhiêu công việc phải giải quyết: Tư vấn, thảo luận, tranh cãi, thương lượng, đủ mọi thứ.

Và tất nhiên công việc này đòi hỏi phải nói nhiều nhiều một chút...

Nhưng cũng sẽ sang thôi...

Giôn kêu lên:

- Sẽ sàng quá nhỉ! – Và em cười ngặt nghẽo.

Con sáo nhẩy lên bậc cửa sổ nói:

- Tôi không nói với cậu, cậu bé ạ!

Và còn cậu thì không đấy!

Chiều thứ bẩy tuần trước, tôi nghe tiếng cậu suốt mấy giờ liền.

Trời ơi, tôi tưởng không bao giờ cậu im.

Cậu làm tôi mất ngủ cả đêm.

Giôn đáp:

- Có phỉa tớ chuyện trò gì đâu!

Tớ bị đau đấy!

Con sáo hừ một tiếng rồi nhảy lên cái gọng nôi của Bacbara.

Nó lần đi dọc cái gọng cho tới phía đầu nôi.

Rồi nó nói với giọng êm dịu, ngọt ngào:

- Nào, Bacbara, có để phần cho anh bạn cũ chút gì không?

Bacbara nắm lấy một thanh gỗ ở thành nôi, ngồi dậy.

Em vừa chìa ra nắm tay tròn mũm mĩm vừa nói:

- Đây là một nửa cái bánh quy bột hoàng tinh của tớ!

Con sáo sà xuống, lấy mỏ quặp miếng bánh rồi bay ra bậc cửa sổ và bắt đầu rỉa ăn ngấu nghiến.

Cô Mêry nói "Cảm ơn!" có ý chê trách nó nhưng nó còn mải ăn nên không để ý đến lời quở trách của cô.

Cô Mêry nói to hơn một chút:

- Tôi xin cảm ơn!

Con sáo nhìn lên.

- Nào!

Làm sao?

Thôi xin cô, thôi đi.

Tôi không có thì giờ để nói những câu vớ vẩn, rườm rà...

Nói xong, nó chén nốt mẩu bánh quy cuối cùng.

Căn phòng yên tĩnh quá.

Bé Giôn lơ mơ gà gật trong ánh nắng, đưa các ngón chân phải lên miệng và cọ cọ vào chỗ cái răng vừa mới nhú.

Bácbara hoi, với giọng nói dịu dàng vui vẻ, lúc nào cũng như đang cười:

- Tại sao cậu làm mãi như thế mà không chán?

Có ai đứng đây xem đâu mà làm?

Giôn thổi một điệu kne bằng các ngón chân và đáp:

- Tớ biết thế nhưng tớ muốn luyện tập.

Người lớn thích cái trò này lắm.

Cậu không thấy là bác Phlôtxi hôm qua đã cười như điên khi xem tớ làm trò đó à?

Cậu không nghe thấy bác ấy gọi tên tớ bằng đủ mọi kiểu: "Cục cưng", "Bé khôn", "Bé tài", "Bé giỏi" à?

Thế rồi Giôn hất tung cái chân ra và phá lên cười vì em nghĩ đến bác Phlôtxi.

Bacbara cũng nói hùa theo Giôn:

- Bác ấy cũng thích cái trò của tớ.

Tớ kéo hết hai bít tất ra và bác ấy bảo là trông tớ ngon lành quá chỉ muốn cắn một miếng để ăn.

Buồn cười không!

Khi tớ nói tớ muốn ăn cái gì, là tớ ăn thật.

Như bánh quy, bánh xốp và cái núm giường, vân vân...

Tớ thấy hình như người lớn nói như thế nhưng không phải thật như thế.

Bác ấy thật sự đâu có muốn ăn thịt tơ, phải không?

Giôn bảo:

- Không đâu.

Đó chỉ là cách nói chuyện của họ mà thôi.

Tớ chắc tớ sẽ không bao giờ hiểu được người lớn.

Tớ thấy hình như họ ngớ ngẩn.

Ngay cả chị Giên và anh Maicơn đôi khi cũng ngớ ngẩn.

Bacbara kéo đôi tất ra rồi lại đi vào, đồng tình:

- Ừ...

Giôn tiếp tục:

- Chẳng hạn như chúng ta nói một điều đơn giản mà người lớn cũng chẳng hiểu được.

Tệ hơn nữa, họ còn chẳng hiểu những vật khác nói những gì – Này nhé, mới sáng hôm thứ hai vừa rồi, tớ nghe thấy chị Giên nói là chị ấy muốn biết gió nó nói thứ tiếng gì.

Bacbara nói:

- Tớ cũng thấy như vậy.

Thật đáng kinh ngạc.

Mà lúc đấy Maicơn còn nói thế này - cậu có nghe thấy không – Anh ấy nói là con sáo nó nói: "Hu...uýt...h...uýt...!"

Anh ấy như không biết, con chim nó có nói thế đâu mà nó nói thứ tiếng mà chúng ta vẫn nói với nhau.

Tất nhiên là chúng ta không mong ba và mẹ biết những điều đó, tuy ba và mẹ rất là đáng yêu quý nhưng cũng chẳng biết điều gì đâu.

Nhưng còn chị Giên và anh Maicơn thì không biết có...

Cô Mêry Pôpin đang gấp cái áo ngủ của Giên, nói:

- Các anh chị ấy cũng đã có thời kì biết đấy!

Giôn và Bacbara cũng rất ngạc nhiên, đồng thanh hỏi:

- Thật à cô?

Cô bảo là chị Giên, anh Maicơn cũng hiểu được con sáo, làn gió...

Cô Mêry đáp:

- Và cả cây cối nói những gì.

Họ hiểu cả tiếng nói của ánh nắng và các ngôi sao.

Tất nhiên là anh chị ấy hiểu chứ!

Nhưng trước kia cơ!

Giôn nhíu trán, cố mà hiểu.

Em hỏi:

- Cô ơi, thế sao bây giờ anh chị ấy đã quên hết cả ?

Con sáo đang nhặt những mẩu bánh quy vụn, ngẩng đầu lên nói có vẻ hiểu biết:

- A ha!

Các cậu có muốn biết vì sao không"

Cô Mêry giảng giải:

- Vì các anh chị ấy đã lớn rồi.

Này, Bácbara, xin cháu đi tất vào ngay lập tức nào!

Giôn nghiêm nghị nhìn cô và nói:

- Lý do đó thật là ngớ ngẩn!

Cô Mêry vừa buộc chặt bít tất của Bacbara vào quanh mắt cá chân, vừa nói:

- Đó là lí do đúng đấy cháu ạ!

Giôn tiếp tục nói:

- À, nếu vây thì chị Giên và anh Maicơn ngớ ngẩn.

Cháu thì cháu biết là dù có lớn lên, cháu cũng chẳng quên đâu!

Bacbara vừa vui vẻ mút ngón tay vừa nói:

- Cháu cũng thế!

Cô Mêry nói với giọng qủa quyết:

- Các cháu cũng sẽ quên!

Hai em bé sinh đôi ngồi dậy, nhìn cô.

Con sáo nghếch mắt nhìn hai em và nói:

- Hừ, xin các bạn nhìn hai cô cậu này!

Hai cô cậu tưởng mình là những kì quan của thế giới.

Là những nhân vật thần kì!

Tôi chẳng nghĩ như vậy đâu!

Tất nhiên là các cậu rồi cũng sẽ quên, như chị Giên và anh Maicơn ấy!

Hai trẻ sinh đôi nhìn con sáo như thể muốn giết ngay nó đi, kêu lên:

- Chúng tớ không quên!

Con sáo cười chế giễu và nói them:

- Tớ nói là các cậu sẽ quên mà!

Tất nhiên, không phải lỗi tại cậu. – Sáo nói them, nhẹ nhàng hơn. – Các cậu sẽ quên vì không thể nào khác được.

Chưa có một con người nào nhớ được những gì trước năm một tuổi và nhớ tới những gì từ lúc mới sinh, trừ có một người là cô đây. – Và con sáo quay đầu chỉ về phía cô Mêry.

Giôn hỏi:

- Nhưng tại sao cô ấy nhớ được mà chúng ta thì không?

Con sáo nhăn nhở cười. nhìn hai em, đáp:

- À, cô ấy khác – cô ấy là trường hợp đại ngoại lệ.

Không thể nào vượt nổi cô ấy!

Giôn và Bacbara ngồi yên lặng.

Con sáo tiếp tục giair thích:

- Cô ấy là một con người đặc biệt, các cậu thấy không!

Tất nhiên không phải nói về hình thức.

Con chim nhỏ mới nở được một ngày của tớ còn xinh đẹp hơn cô Mêry...

Cô Mêry nổi giận xông về phía con sáo và quật mạnh cái tạp dề. quát: "Này, đồ hỗn láo!".

Nhưng con sáo đã nhảy tránh ra một bên và bay ra cửa sổ, huýt sáo giễu cợt, vượt hẳn ra ngoài tầm tay của cô Mêry.

Con sáo lại cười nhạo và vẫy hai cánh về phía cô Mêry:

- Lần này, cô có thắng tôi chăng?

Cô Mêry khịt mũi...

Ánh nắng chiếu lướt qua phòng, kéo theo vệt nắng màu vàng óng.

Bên ngoài, một làn gió nhẹ thổi, khe khẽ thì thầm với những cây anh đào ngoài ngõ.

Giôn bảo:

- Xin hãy nghe gió đang trò chuyện.

Em nghiêng đầu về một bên để nghe. – Cô Mêry ơi, có phải cô bảo là khi lớn lên chúng cháu sẽ không thể nghe thấy được nữa, có thật không cô?

Cô Mêry đáp:

- Các cháu sẽ vẫn còn nghe thấy rõ nhưng sẽ không hiểu được nữa.

Nghe nói vậy, Bacbara thút thít khóc.

Giôn cũng ứa nước mắt.

Cô Mêry xúc động nói:

- Thôi, cũng chẳng làm thế nào được.

Sự đời là như vậy.

Con chim sáo cười nhạo:

- Hãy nhìn xem các cậu này xem!

Khóc thế thì chết mất!

Ồ, một con sáo còn nằm trong trứng cũng còn biết điều hơn!

Nhìn xem này!

Lúc này Giôn và Bacbara đang ở trong nôi khóc thảm thiết, những tiếng nức nở buồn khổ kéo dài...

Bỗng cửa phòng mở ra và bà Ben xuất hiện, bà hỏi:

- Hình như hai đứa bé khóc phỉa không? – Bà chạy tới gần hai trẻ. – Các con yêu, có chuyện gì thế?

Ôi, các kho báu, kẹo ngọt, các con chim non xinh yêu, có chuyện gì thế?

Cô Mêry ơi, tại sao các cháu khóc mãi thế?

Cả buổi chiều nay, các cháu rất ngoan, không khóc một tiếng.

Vậy có chuyện gì nào?

Cô Mêry cố ý không nhìn về phía con sáo.

- Thưa bà, có ạ!

Thưa bà, không có gì ạ.

Tôi cho là chúng đang nứt răng, thưa bà!

Bà Ben tươi cười nói:

- Ồ!

Đúng rồi!

Có thể là mọc răng đấy!

Bé Giôn trở mình trong nôi và rền rĩ:

- Con chẳng cần có răng nếu vì mọc răng mà sẽ quên các thứ con thích nhất.

Bacbara khóc, úp mặt xuống gối và bảo:

- Con cũng thế.

Bà Ben đi từ cái nôi nọ sang cái nôi kia, dỗ dành:

- Các con yêun, con quý tội nghiệp của mẹ!

Khi cái răng hư đốn ấy nó mọc ra rồi thì sẽ khỏi hết, các con ạ!

Giôn gào lên:

- Mẹ không hiểu, con chẳng cần có răng!

Bacbara cũng than thở với cái gối:

- Sẽ chẳng khỏi đâu mà còn quá tệ nữa!

Bà Ben âu yếm nói như hát ru:

- Ừ, ừ...

Nào, nào...

Mẹ biết mà.

Răng nó mọc ra, sẽ khỏi cả thôi, sẽ đâu vào đấy mà!

Có tiếng động nhẹ ở phía sau cửa sổ.

Đó là con sáo, nó đang cố nhịn cười.

Cô Mêry lườm nó một cái.

Nó liền hót nhộn nhạo và tiếp tục ngó nhìn mà không cười cợt chút nào nữa.

Bà Ben đang vỗ về hai đứa trẻ, lần lượt từng đứa, thì thầm dỗ cho chúng nín.

Bỗng nhiên, bé Giôn nín hẳn.

Em thường rất ngoan, em rất quý mẹ và biết rõ mẹ chăm sóc em như thế nào.

Em thấy thương mẹ, mẹ lại nói những cái không đúng nhưng không phải lỗi tại mẹ.

Em suy nghĩ thấy rằng mẹ không hiểu là phải.

Vì vậy em lại nằm ngửa lên và buồn bã khịt mũi cho hết nước mắt rồi dùng cả hai tay cầm lấy bàn chân phải và lia lia các ngón chân trong miệng.

Mẹ em thích thú khen:

- Khéo chưa này, ồ, khéo chưa này!

Giôn lặp lại cái trò đó và mẹ em rất khoái chí.

Thế rồi Bácbara cũng không chịu kém, không ấp mặt vào gối nữa và ngồi dậy, mắt vẫn còn ngấn lệ, lôi tuột hai cái bít tất ra.

Bà Ben kiêu hãnh nói: "Con bé cực giỏi!" rồi ôm hôn em.

Thế rồi bà nói như hát:

- Đấy, cô Mêry, cô thấy chưa.

Các cháu lại rất ngoan rồi.

Bao giờ tôi cũng dỗ được cho chúng ngoan.

Hay lắm!

Hay lắm!

Và cái răng sẽ mọc ngay mà!

Cô Mêry thản nhiên đáp: "Thưa bà, vâng!"

Rồi mỉm cười với hai đứa bé sinh đôi.

Bà Ben đi ra và đóng cửa phòng lại.

Khi bà đã đi khỏi, con sáo phá lên cười sằng sặc.

Nó nói:

- Xin thứ lỗi cho tôi và tôi đã cười.

Nhưng tôi không thể nhịn được, thật thế!

Thật là một màn kịch hay!

Một màn kịch hay!

Giôn không để ý đến con sáo.

Em ghé mặt vào khe của cái nôi và khẽ nói với Bacbara bằng một giọng nạt nộ:

- Mình sẽ không giống như các trẻ khác.

Mình nói với cậu là mình sẽ không như thế. – Em hất hàm chỉ con sáo và cô Mêry, nói tiếp. – Cá vị kia muốn nói gì thì nói, mình sẽ không bao giờ quên, không bao giờ!

Cô Mêry mỉm cười một mình, một nụ cười bí ẩn thể hiện ý "tôi còn hiểu rõ hơn anh"

Bacbara đáp:

- Mình cũng vậy!

Không bao giờ!

Con sáo kêu lên:

- Cầu ban phúc cho các lông đuôi của tôi.

Hãy nghe các cô cậu kia nói những gì nào! – Làm như các cậu có thể giữ được cho khỏi quên!

Này, chỉ sau đây một hoặc hai tháng, cùng lắm là ba tháng, chúng cũng chẳng còn nhớ tên là gì.

Nó lại cười một tràng nữa rồi xoè đôi cánh đốm , bay vụt qua cửa sổ...

Sau bữa đó không bao lâu, cũng như mọi cái răng khác, cái răng này cũng phải khó nhọc lắm mới mọc ra được...

Và hai trẻ sinh đôi đã đầy năm.

Sau bữa lien hoan ngày sinh nhật đầu tiên, con sáo đi nghỉ ở Bơcnơmao trở về ngôi nhà số 17, ngõ Anh Đào.

Nó vui vẻ kêu lên: "Này, này, này!

Tớ lại về đây rồi!" và sà xuống đậu ở bậc cửa sổ, hơi loạng choạng một chút.

Sáo ngoẹo cổ về một bên nhìn cô Mêry bằng đôi mắt sáng long lanh, nhấp nháy tinh nghịch và trâng tráo hỏi:

- Thế nào, cô có khoẻ không?

Cô Mêry hất đầu đáp:

- Chẳng cần mi hỏi thăm!

Con sáo cất tiếng cười:

- Cũng vẫn là cô Mêry trước kia.

Cô chẳng thay đổi chút nào!

Thế còn cô cậu kia thì thế nào! – Sáo nhìn vào cái nôi của Bacbara.

Sáo lại cất giọng ngọt ngào tán tỉnh:

- Nào, cô Bacbơrina, hôm nay có gì đãi anh bạn cũ không?

Bacbara vừa tiếp tục ăn cái bánh quy và hát ê a: "Bêla...Bêla...Bêla...a!"

Con sáo giật mình vì ngạc nhiên, nhảy nhảy lại gần hơn, nhắc lại rõ ràng hơn:

- Bacbi thân mến, hôm nay có gì đãi anh bạn cũ không?

Bacbara nuốt nốt mẩu bánh cuối cùng, nhìn lên trần nhà và hát khẽ: "Balu...Balú...

Balù..."

Con sáo nhìn em chòng chọc rồi bỗng kêu lên một tiếng "Ồ", nhìn cô Mêry như dò hỏi?

Ánh mắt của sáo gặp ánh mắt thản nhiên của cô khá lâu.

Thế rồi con sáo bay vụt tới cái nôi của bé Giôn và đậu trên thành nôi.

Bé Giôn đang ghì chặt một con cừu bằng bông trong vòng tay.

Con sáo kêu lên, giọng the thé lộ vẻ lo lắng:

- Tên tớ là gì nào?

Tên tớ là gì nào?

Bé Giôn đáp: "Ứ ừ!" rồi há miệng, cầm cái chân con cừu cho vào miệng.

Con sáo lắc đầu quay đi.

Nó thản nhiên nói với cô Mêry:

- Đấy quên rồi đấy!

Cô Mêry gật đầu.

Con sáo chán ngán nhìn hai đứa trẻ sinh đôi hồi lâi rồi nhún đôi vai lông lốm đốm.

- Ồ!

Đấy, tớ biết sẽ là như vậy mà!

Bao giờ tôi cũng bảo các cô cậu ấy như thế nhưng chúng không tin.

Con sáo lặng lẽ một lát, nhìn chằm chằm vào hai cái nôi.

Thế rồi nó lắc mình rất mạnh.

- Thôi, thôi, tôi phải đi đây!

Đi về cái ống khói lò sưởi của tôi.

Cần phải làm một đợt quét dọn vào mùa xuân.

Tôi sẽ mắc bận đấy!

Con sáo bay tới bậc cửa sổ, đậu ở đó và quay đầu nhìn lại. – Tuy vậy, Nếu không cso các em nhỏ này thì cũng buồn quá!

Mình bao giờ cũng thích trò chuyện với chúng.

Rồi đây mình sẽ nhớ chúng lắm đấy!

Sáo đưa cánh quệt ngang đôi mắt một cái rất mạnh.

Cô Mêry cười nhạo:

- Khóc đấy à?

Con sáo đứng thẳng lên, đáp:

- Khóc ư?

Không đâu!

Tôi hơi bị cảm trong chuyến bay về đây, có thế thôi.

Phải, hơi cảm lanh một chút thôi mà!

Không đáng ngại.

Sáo bay vút lên đâụ trên cánh cửa sổ, lấy mỏ rỉa lông và vui vẻ kêu lên: "Tạm biệt!" rồi xoè canhs, bay đi...

X.

ĐÊM TRĂNG RẰM

Suốt cả ngày, lúc nào cô Mêry cũng vội, mà khi nào vội cô cũng hay cáu gắt.

Giên làm cái gì cũng hỏng, Maicơn lại còn tệ hơn.

Cô Mêry gắt cả với hai đứa bé sinh đôi.

Giên và Maicơn cố tránh gặp mặt cô vì chúng hiểu rằng những hôm như thế này tốt hơn hết là đừng nói câu gì với cô, và cũng đừng để cô nói gì với mình.

Khi cô Mêry bảo với em là chỉ nhìn thấy em thôi thì bất kì một người nào biết tự trọng cũng khó chịu nổi, Maicơn nói:

- Ước gì em hoá thành người vô hình.

Giên bảo:

- Thôi chúng mình nấp đằng sau chiếc ghế Sôpha thì chẳng ai trông thấy nữa.

Chúng mình lấy ống tiền ra đếm xem có bao nhiêu và sau bữa chiều, chắc cô Mêry sẽ bớt nóng nẩy!

Thế là hia em vào chỗ đó ngồi.

Giên đếm và nhẩm tính nhanh:

- Sáu xu và bốn xu, thế là một hào, và nửa xu và ba xu là...

- Bốn xu và ba chinh...và ... chỉ được có thế thôi! – Maicơn thở dài, vun các đồng tiền lại thành một cụm nhỏ.

Cô Mêry ngó qua thành ghế khịt mũi, và nói:

- Thế là cũng đẻ góp vào quỹ cứu trợ người nghèo, tốt rồi!

Maicơn không bằng long, kêu lên:

- Ồ, không!

Cháu giữ cho cháu, tiền của cháu để dành.

Cô Mêry dằn giọng:

- Hừ!

Để mua máy bay tàu lượn phỉa không?

Maicơn đáp:

- Không, cháu sẽ mua một con voi, một con voi của riêng cháu, như con voi Lidi ở vườn bách thú ấy.

Cháu sẽ cho cô cưỡi voi đi dạo – Em nửa như nhìn cô Mêry, nửa như quay đi để xem thái độ của cô như thế nào.

Cô Mêry đáp:

- Hà!

Thật là một ý kiến hay!

Nhưng mà các em thấy là cô đã bớt cáu kỉnh hơn lúc trước.

Maicơn trầm ngân nói:

- Cháu nghĩ không hiểu khi mọi người đã ra về hết cả thì trong vườn thú ban đầu sẽ cso những chuyện gì nhỉ?

Cô Mêry gắt:

- NGhĩ ngợi lắm gầy người đấy, cháu ạ!

Maicơn cải chính:

- Cháu có nghĩ ngợi gì đâu, cháu chỉ hỏi thế thoi ạ.

Cô Mêry lúc này đang phủi các vụn bánh ở trên mặt bàn tay đưa nhanh thoăn thoắt gấp hai lúc bình thường.

Maicơn hỏi:

- Có những gì, cô có biết không?

Cô Mêry đáp:

- Cháu còn hỏi một câu nữa thì sẽ phải đi ngủ ngay tức khăc đấy!

Cô bắt đầu don dẹp trong phòng trẻ nhỏ, tay năm tay mười, trong cô như chỉ còn là cái mũ và cái tạp dề quay cuồng trong cơn gió xoáy, không rõ hình dáng con người nữa.

Giên bảo:

- Hỏi cô cũng chẳng ích gì.

Cô biết đủ mọi cái nhưng chẳng nói ra bao giờ!

Maicơn càu nhàu:

- Biết mà không nói cho ai cả thì biết mà làm gì? – Em cố nói thật khẽ để cô Mêry khôn nghe thấy...

Hai chị em GIên thấy chưa bao giờ các em phải đi ngủ sớm như hôm nay.

Cô Mêry đã thổi tắt ngon nến từ rất sớm và vội vã đi ra như thể tất cả các thứ gió trên đời này đều thổi vào sau lưng cô.

Chỉ vài giây sau, hai chị em Giên nghe như có tiếng ai gọi thì thầm ngoài cửa:

- Giên và Maicơn nhanh lên!

Mặc them cái gì vào và khẩn trương lên!

Các em nhảy ra khỏi giường, vừa ngạc nhiên vừa sợ.

GIên bảo:

- Này em, có chuyện gì rồi đấy! – Và em mò mẫm tìm quần áo trong bóng tối.

Tiếng nói đã lại giục:

- Mau lên!

Maicơn kêu:

- Trời ơi, em chỉ tìm thấy cái mũ lính thuỷ và một đôi găng! – Em chạy quanh phòng, kéo các ngăn kéo, sờ lần các ngăn tủ.

- Thế cũng được rồi.

Đội mũ đi găng vào.

Trời không lạnh đâu.

Đi noà!

Còn Giên cũng chỉ tìm được cái áo vét bé của Giôn nhưng em cũng cứ xỏ tay vào và mở cửa phòng.Bên ngoài chẳng có ai nhưng các em nghe hình như có người đi xuống cầu thang.

Hai em bước theo.

Không biết cái gì đó hoặc là ai đó, lúc nào cũng đi đằng trước các em.

Các em không trông thấy nhưng có cảm giác rõ rệt là có ai đó dẫn đường cho ccác em và vẫy gọi các em bước theo.

Lúc này, các em đã ra đến ngoài ngõ, các em kéo dép lê, kêu lệt xệt trên hè.

Gần tới chỗ rẽ, có tiếng nói vẳng ra, giục: "Nhanh lên!"

Nhưng khi đến nơi, các em không trông thấy ai cả.

Các em nắm tay nhau chạy, cứ theo tiếng nói mà chạy qua các đường phố, các lối đi, chui qua các cổng vòm, chạy ngang qua công viên và cuối cùng các em hết cả hơi, thở hổn hển.

Tiếng nói bảo:

- Các cháu đến nơi rồi!

Maicơn hỏi: "Đây là đâu?" nhưng không có tiếng trả lời.

Giên bước lại gần cái cửa quay, dắt tay Maicơn, em bảo:

- Em nhìn xem.

Em không biết đây là chỗ nào à?

Vườn thú đấy thôi!

Vầng trăng tròn sáng trên nền trời.

Dưới ánh trăng Maicơn đưa tay mân mê chấn song cửa và ngó qua các khe.

Đúng rồi!

Thế mà không nhận ra vườn thú thì thật ngớ ngẩn!

Em hỏi:

- Nhưng làm thế nào vào được!

Chúng mình không mang tiền!

Từ phía trong, một giọng nói trầm trầm, thô thiển vọng ra:

- Vào được đấy!

Các vị khách đặc biệt thì miễn phí!

Mời các ban quay các bánh xe!

Hai chị em đẩy cái cửa quay và chỉ một giây sau đã đi qua.

Giọng nói ồm ồm đó lại vang lên:

- Vé của các bạn đây!

Các em ngước nhìn lên thấy một bác gấu nâu khổng lồ, mặc chiếc áo có những chiếc khuy đồng, đội mũ chop nhọn.

Bác chìa tay đưa cho hai em hai cái vé màu hồng.

Bác Gấu mỉm cười bảo:

- Thường ngày thì như thế nhưng đêm nay các em được tặng vé, không phải mua.

Maicơn đã nhìn gần bác gấu.

Em nói:

- Cháu nhớ ra bác rồi.

Có lần cháu đã cho bác chai nước cam mà!

Bác gấu đáp:

- Ừ, cháu đã cho bác đấy nhưng cháu đã quên không mở nắp.

Cháu biết không, bác phải loay hoay hơn mười ngày mới mở được.

Từ nay cháu nên cẩn thận hơn.

Maicơn hỏi:

- Sao bác không ở trong chuồng?

Cứ ban đêm bác được ra ngoài à?

- Không đâu!

Chỉ được ra ngoài ngày sinh nhật đúng vào đêm trăng rằm!

Nhưng xin lỗi các cháu, bác phải ra trực ngoài cổng.

Bác Gấu đi ra, đẩy cần gác cửa, cái cửa quay.

Hai chị em cầm vé đi vào bên trong vườn.

Dưới ánh trăng rằm, các em trông thấy rõ cây cối, hoa lá và các chuồng thú...

Maicơn nhận xét:

- Hình như có vẻ đông vui lắm!

Thật vậy, trên các lối đi, các giống thú lăng xăng qua lại, có con đi một mình, có con đi cùng với các con chim.

Có hai con sóc đi qua mặt các em, sôi nổi trò chuyện với một con cò cao lênh khênh đang nhón chân với điệu bộ kiểu cách đi ở giữa hai con sói, và Maicơn nghe rõ những tiếng "sinh nhật" và "trăng rằm" mà chúng nói với nhau khi đi ngang qua.

Đằng xa, có ba con lạc đà đi thong dong bên nhau và ngay gần đó, một con chó biển và một con chim kền kền Châu Mỹ đang say sưa trò chuyện.

Các em thấy hình như các con thú đó đều bàn cãi về cùng một vấn đề.

Maicơn hỏi: "Không biết là sinh nhật ai đấy nhỉ?" nhưng chị Giên đã đi lên trước, chăm chú ngó nhìn một cảnh tượng kì dị.

Ngay cạnh chuồng voi, một ông già to béo đang bò bốn chân, bò qua bò lại và trên lưng ông có tám con khỉ con ngồi trên hai hàng ghế song song.

Giên kêu lên:

- Ồ, thật là chuyện ngược đời!

Ông già giận dữ lườm em khi em đi ngang qua.

Ông khịt mũi nói:

- Ngược đời à?

Ta ấy à?

Ngược đời!

Chắc chắn là không.

Thật là xúc phạm quá mức!

Tám con khỉ con cười lên hô hố.

Giên vội xin lỗi ông già và giải thích:

- À, xin bác, cháu có nói bác đâu!

Cháu nói chung chung ấy mà!

Thường thường thì con người cưỡi trên lưng các con thú, mà bây giờ các con thú lại cưỡi lên lưng con người!

Cháu chỉ muốn nói thế thôi.

Nhưng ông già đang thở hổn hển và cứ nói mãi là ông bị xúc phạm, và bò nhanh đi cùng các con khỉ con đang la hét trên lưng.

Giên thấy có đi theo ông nữa cũng vô ích, em bèn dắt tay Maicơn và tiếp tục đi.

Bỗng các em giật mình vì có tiếng ai gọi, như ngay ở dưới chân các em:

- Này, hai cậu lại đây!

Các cậu lại đây, các cậu hãy nhào xuống nước rồi sẽ được một cái vỏ cam mà các cậu chẳng thiết chút nào!

Giọng nói đó có vẻ bực tức, chua lanh lảnh và khi nhìn xuống các em thấy một con chó biển bé nhỏ đang ở dưới một hồ nước lấp lánh ánh trăng.

Nó nheo mắt nhìn các em.

Nó nói:

- Nào, lại đây đi, để các em xem các em sẽ thích cái trò đó tới mức nào!

Maicơn đáp:

- Nhưng... nhưng chúng mình không biết bơi

Chó biển nói:

- Chẳng làm thế nào được!

Có ai buồn hỏi tớ có biết bơi hay không đâu.

Ờ cái gì thế?

Có chuyện gì vây.

Câu vừa rồi là nó hỏi một con chó biển khác vừa ở dưới nước nhô lên và vừa thì thầm vào tai nó.

Nó hỏi:

- Ai thế?

Nói đi!

Con chó biển kia lại ghé tai nói nhỏ.

Giên chợt nghe mấy tiếng: "Khách đặc biệt, các bạn của..." và sau đó không nghe rõ nữa.

Con chó biển thứ nhất có vẻ chán ngán nhưng nó nói với hai em với giọng khá lễ phép:

- Ồ, xin lỗi các cậu.

Rất hân hạnh được gặp các cậu.

Xin lỗi các cậu! – Nói rồi, nó giơ cái vây ra để bắt tay hai em.

Bỗng nó kêu lên:

- Này, bác kia, phải chu ý, đi mà không nhìn à?

Có vật gì đâm sầm vào Giên.

Em vội quay lại và hơi giật mình khi thấy đó là một con sư tử to đùng.

Khi con sư tử trông thấy em, hai mắt nó sáng ngời lên, nó nói:

- Ồ, bác không biết là các em đấy!

Đêm nay ở đây đông đúc quá chừng, và bác đang vội đi cho đàn người ăn uống nên chẳng nhìn trước nhìn sau gì cả.

Các em đi cùng bác nhé!

Các em phải biết là rất hay, không nên bỏ qua!

Giên lễ phép nói:

- Có lẽ bác phải chỉ đường cho chúng cháu!

Giên hơi e ngại con sư tử nhưng nó có vẻ rất hiền.

Em nghĩ "Thế là đêm nay, toàn những chuyện ngược đời!"

Con sư tử đưa chan trước cho Giên vịn vào và lấy giọng kiểu cách, nói:

- Hân hạnh quá!

Giên vịn vào sư tử, nhưng để cho an toàn, em giắt tay Maicơn đi bên cạnh em.

Maicơn là một em bé béo tròn mập mạp và em nghĩ, dù sao, sư tử cũng vẫn là sư tử...

Khi cùng hai em cất bước đi, sư tử hỏi:

- Cái bờm của bác có đẹp không?

Nhân dịp này, bác đã uốn xoăn bờm đấy!

Giên nhìn cái bờm, thấy là đã được xức dầu thơm rất kĩ và chải thành từng búp nhỏ.

Em nói:

- Đẹp lắm!

Nhưng bác là sư tử mà lại quan tâm đến chuyện đó ư?

Cháu nghĩ là...

- Vậy thì sao!

Cô tiểu thư thân mến ơi, cô cũng biết đấy, sư tử là vua của các muông thú, phải luôn nghĩ tới cương vị cảu mình.

Riêng bản thân bác thì bác đâu có quên!

Bác cho rằng dù ở chốn nào, một con sư tử cũng phải giữ được tư thế uy nghi nhất.

Như thế này chẳng hạn.

Sư tử đưa chân trước ra với bộ điệu lịch sự chỉ về phía ngôi nhà mãnh thú và mời các em đi vào.

Khi hai chị em nhìn thấy quang cảnh trước mắt, các em phải nín thở.

Gian sảnh lớn chật ních những con thú.

Một số con đang tì vào thanh sắt dài chắn trước các chuồng, một số con đứng trên ghế đối diện với các chuồng có đủ các loài beo, báo, sói, hổ, hươu, nai, khỉ, nhím, chuột túi, dê rừng, hươu cao cổ và một đàn rất đông các loài chim: những con cú mèo và chim kền kền.

Sư tử kiêu hãnh nói:

- Các em thấy có tuyệt không?

Đúng như cảnh rừng xanh thân yêu ngày xưa.

Nhưng các em lại đây nào, cần kiếm được chỗ ngồi tốt.

Sư tử dẹp đám đông lấy lối đi, hô lớn: "Dẹp ra nào!

Dẹp ra nào!" và kéo hai chị em Giên đi theo mình.

Lúc này qua một khoảng trống nhỏ ở giữa sảnh, các em nhìn được vào các chuồng.

Maicơn há hốc miệng kêu:

- Ồ lạ quá!

Các chuồng toàn những người là người!

Và đúng như thế!

Trong một chuồng có hai ông trung niên cao lớn đội mũ chópcao, mặc quần kẻ đang tìm kiếm quanh quẩn, lo lắng ngó qua các khe chấn song như đang chờ đợi cái gì.

Trong một chuồng khác, có bao nhiêu là trẻ em lớn bé, từ các em bé tí mặc quần dài đang bò toài, xô đẩy nhau.

Các con thú bên ngoài nhìn xem thích thú, và một vài con còn thò chân hay thò đuôi qua các chấn song để làm các em đó cười lên.

Một con hươu cao cổ vươn dài cái cổ bên trên đầu các con thú khác và để cho một em bé mặc quần áo lính thuỷ mân mê cái mũi của nó.

Trong một chuồng thứ ba, nhốt ba bà đứng tuổi, mặc áo đi mưa, chân đi giày đế gỗ.

Một bà đang đan len còn hai bà kia đứng ngay gần các thanh chắn và cầm cái dù chọc vào các con thú.

Một bà thét lên:

- Đồ thú vật hư đốn.

Cút đi!

Ta muốn uống trà!

Nhiều con thú kêu lên: "Hay đấy nhỉ!" và cười ầm lên chế nhạo bà ta.

Maicơn chỉ tay vào một cái chuồng ở cuối dãy và bảo chị:

- Chị Giên ơi, trông kìa!

Có phải là...?

Giên nhìn theo và có vẻ rất ngạc nhiên kêu:

- Ông đô đốc Bum!

Và đúng là ông ta.

Ông ta đang lồng lộn chạy đi chạy lại, vừa ho vừa hỉ mũi và hét lên giận dữ.

- Tức cái bụng!

Mọi người đứng vào dàn máy bơm đi!

Đất liền kia rồi!

Kéo dây chão đi nào!

Tức cái bụng! – Ông luôn miệng hò hét.

Mỗi khi ông đi tới gần các chấn song, một con hổ lại lấy cái gậy chọc vào người ông khiến ông lại chửi thề ầm ĩ.

Giên hỏi con sư tử:

- Vì sao tất cả những người này lại ở đây?

Con sư tử đáp:

- Họ bị lạc, hoặc nói cho đúng hơn là bị rớt lại đằng sau.

Họ quá lề mề, khi vườn thú đã đóng cửa mà vẫn còn ở trong đó.

Cần phải cho họ vào một nơi nào đó, vì vậy chúng tôi nhốt họ vào đây.

Cái anh này rất là nguy hiểm!

Cách đây không lâu, chỉ thiếu chút nữa là anh ta giết mất con thú canh giữ anh ta.

Các em đừng lại gần hắn! – Nói xong con sư tử chỉ vào đô đốc Bum.

Giên và Maicơn chợt nghe thấy nhiều tiếng quát to:

- Lui cả ra, làm ơn lui ra nào!

Đừng có xô đẩy!

Làm ơn cho đi nào!

Sư tử nói:

- À, bây giờ họ sắp được ăn đấy! – Sư tử hăng hái xông lên chen vào đám đông. – Các bác canh giữ tới đây rồi!

Bốn con gấu naau đội mũ chóp nhọn đang đẩy những chiế xe nhỏ chở thức ăn dọc hành lang nhỏ ngăn cách các chuồng và đám thú.

Khi có một con thú bước vào hành lang, mấy con gấu kêu lên:

- Này, đứng lùi ra!

Sau đó, các bác gẩu mở cái cửa nhỏ của mỗi chuồng và dùng những cái dĩa nhọn đưa thức ăn vào.

Giên và Maicơn nhòm qua cái khe giữa một con báo hoa và một con chó rừng, thấy rất rõ quang cảnh lúc đó.

Các bác gấu ném cho các em bé trong chuồng những chai sữa, các em bé lấy tay nắm và giữ chặt.

Các em lớn hơn giật lấy những cái bánh xốp và bánh vòng xiên ở đầu cái nĩa ăn ngấu nghiến.

Các bà đi giày đế gỗ được nhận những khoanh bánh mỳ mỏng phết bơ để trên đĩa và các món bánh nướng thập cẩm, các ông đội mũ chóp cao được các món sườn cừu và món kem trứng đựng trong cốc.

Những ai đã nhận được thức ăn đều mang vào một góc, trải mùi xoa lên đầu gối cái quần kẻ sọc và bắt đầu ăn.

Lúc này, các bác gấu đi dọc đến cuối dãy chuồng, bỗng có tiếng huyên náo ầm ĩ.

- Tức cả ruột!

Thế này mà gọi là một bữa ăn à?

Có mỗi một khoanh thịt bò bé tẹo và hai cái bắp cải - Thế nào!

Không có bánh putding à?

Thật là quá tệ!

Nào kéo neo lên!

Bến đỗ của ta đâu?

Bến đỗ mà!

Kéo nó lại đây!

Dưới phía đằng kia!

Bến đỗ của đô đốc ở đâu?

Sư tử nói:

- Đấy, nghe anh ta nói mà xem!

Anh ta hoá thành cáu kỉnh.

Bác dặn các em đấy: anh ta rất nguy hiểm, anh này này!

Giên và Maicơn không cần hỏi xem ông đô đốc Bum muốn nói những gì.

Các em đã quá quen thuộc với cách ăn nói của ông ta.

Khi trong sảnh đã bớt ồn ào, sư tử nói:

- Có lẽ như đã kết thúc.

Và có lẽ, xin các em thứ lỗi, bác còn phải đi đằng này nữa.

Hẹn gặp lại các em tròn cuộc vui "Vòng tròn lớn".

Bác hy vọng như vậy.

Bác sẽ tìm gặp các em.

Sư tử dẫn hai em ra cửa, từ bịêt các em và bước đi.

Nó vừa đi vừa lúc lắc cái bờm xoăn và cái mình màu vàng thấp thoáng ánh trăng và bóng cây.

Giên gọi với theo:

- A, xin bác làm ơn...

- nhưng sư tử đã đi xa, không nghe thấy.

- Mình muốn hỏi bác ấy xem họ có được ra khỏi chuồng bao giờ không.

Ôi, những con người tội nghiệp!

Ừ, cũng có thể là Giên, Bácbara hoặc là một người nào đó trong số chúng ta bị như vậy. – Giên quay lại nói với Maicơn nhưng không thấy em ở bên mình nữa.

Maicơn đã rẽ vào một lối khác.

Giên chạy theo thấy em đang nói chuyện với một con chim cánh cụt đang cắp một quyển vở và cánh bên kia cầm một cái bút chì rất to.

Khi em đi tới, chim đang gặm cái bút chì và cso vẻ suy nghĩ mê mải.

Giên nghe tiếng Maicơn nói.

Hình như để trả lời một câu hỏi.

Chim cánh cụt quay về phía Giên, hỏi:

- Có lẽ cô có thể bảo cho tôi từ nào vần với từ Mêry?

Tôi không thể dùng từ "contrary" vì đã có lần dùng rồi và tôi muốn dùng từ thật độc đáo.

Nếu cô định bảo tôi dùng từ "fairy" thì cô chẳng cần phải nói.

Tôi đã nghĩ đến từ đó nhưng nói như vậy không giống cô Mêry chút nào, tức là không phù hợp.

Maicơn rất nhanh trí nói:

- Thế dùng từ "hairy"? (Có tóc có lông)

Chim cánh cụt nhận xét:

- Hừ!

Từ đó không được nên thơ lắm!

Giên bảo:

- Dùng từ "wary" có được không?

Chim cánh cụt có vẻ đang cân nhắc, trả lời:

- Được, nhưng không hay lắm, phải không?

Tôi e rằng sẽ pjải bỏ dở.

Các bạn ạ, tôi đang viết một bài thơ mừng ngày sinh nhật.

Tôi đã cho là nếu mở đầu bằng câu " Ôi Mêry Mêry..." thì rất hay nhưng không nghĩ tiếp được nữa.

Chán quá.Các bạn khác đều muốn học được ở tôi một cái gì và tôi không muốn làm cho họ thất vọng.

Thôi, thôi, tôi không đứng lâu ở đây với các bạn được, tôi còn phải tiếp tục làm cho xong. – Nói xong, chim cánh cụt rảo bước đi nơi khác, vừa đi vừa cắm cúi trên quyển vở và cắn cắn cái bút chì.

Giên nói:

- Thật khó hiểu, chẳng biết là ngày sinh nhật của ai thế?

Bỗng có tiếng ai nói phía sau, các em quay lại thấy bác gấu nâu đã tặng các em vé ở cổng vườn lúc trước.

Bác nói:

- Này, các cháu cũng phải tới để chúc mừng chứ, vì là ngày sinh nhật và còn nhiều mục khác nữa!

Giên đáp:

- Ồ, tất nhiên rồi! – Em nghĩ rằng nên trả lời như vậy là tốt nhất, nhưng em vẫn không biết được là chúc mừng ai.

Bác gấu nâu, mỗi tay quàng vai một em và đưa các em đi theo, Giên và Maicơn cảm thấy bộ lông ấm áp, rậm như bàn chải của bác gấu cọ vào mình và khi bác nói, các em nghe tiếng ù ù trong bụng bác.

Bác gấu nâu nói:

- Đây, đến nơi rồi!

Ba bác cháu dừng chân cạnh một ngôi nhà nhỏ, các cửa sổ có ánh sáng rực rỡ, nếu không phải là đêm trang thì bạn sẽ nghĩ đó là ánh mặt trời.

Bác Gấu mở cửa và nhẹ nhàng đẩy hai em nhỏ vào trong nhà.

Lúc đầu, ánh đèn làm các em chói mắt nhưng khi đã quen dần, các em nhận ra là đang trong nhà nuôi rắn.

Các chuồng đều mở, Các con rắn đều ra ngoài, một số con lười biếng nằm cuộn tròn thành những khoanh có vẩy, và số con khác đang nhanh nhẹn trườn mình trên mặt đất.

Và chính giữa đàn rắn này, cô Mêry Pôpin đang ngồi trên một khúc gỗ lớn.

Đúng là đã mang từ trong chuồng ra.

Giên và Maicơn không tin vào mắt mình nữa.

Bác gấu nâu trịnh trọng nói:

- Thưa bà, có hai vị khách tới dự sinh nhật.

Lũ rắn tò mò quay đầu về phía hai em.

Cô Mêry ngồi yên không nhúc nhích.

Nhưng khi nhìn thấy Maicơn, cô không ngạc nhiên.

Cô cáu kỉnh nói:

- Áo vét của cháu đâu mà không mặc?

Và cô quay vê phía Giên hoi:

- CÒn mũ và găng tay của cháu đâu?

Nhưng chưa em naò kịp trả lời thì ngôi nhà nuôi rắn bỗng có tiếng ồn ào.

Lũ rắn đều rít lên nhè nhẹ: "Xi...ịt!

Xi...ịt" cùng ngóc đầu đứng dựng cả lên và vái chào ai đó ở sau lưng Giên và Maicơn.

Bác Gấu nâu bỏ mũ ra và cô Mêry cũng thong thả đứng dậy.

Một giọng nói nhỏ nhẹ, rin rít vang lên:

- Chào cô em, cô em yêu quý của ta!

Từ cái chuồng lớn nhất, một con rắn mang bành chậm rãi, nhẹ nhàng, uốn éo trườn ra qua trước mặt lũ rắn và bác gấu nâu đang cúi đầu chào, di về phía cô Mêry.

Khi tới nơi, rắn dựng đứng hai thân trước màu vang óng, nhè nhẹ lần lượt hôn hai má cô Mêry.

Rắn nhẹ nhàng rít giọng nói:

- Hà!

Hay lắm!

Đã lâu lắm ngày sinh nhật cảu cô nương mới lại đúng vào đêm trăng rằm.

- Rắn mang bành quay đầu lại nói - Mời các bạn ngồi xuống! – và cũng cúi đầu chào lũ rắn với bộ điệu lịc sự.

Lũ rắn lại trườn xuống, cuộn mình lại, chăm chăm nhìn vào con rắn mang bành và cô Mêry.

Rắn mang bành quay về phía Giên và Maicơn, các em cũng hơi rung mình khi thấy bộ mặt của rắn nhỏ tí và rất nhăn nheo.

Hai chị em lùi lại một bước vì cặp mắt soi mói của rắn như nhìn như xoáy vào các em.

Cặp mắt của rắn nhỏ và dài, trông như buồn ngủ nhưng giữa con ngươi mắt vẫn loé lên một tia sáng tỉnh táo lấp lánh như hạt ngọc.

Bằng một giọng nhỏ nhẹ nhưng đáng sợ, rắn tò mò nhìn hai em và hỏi:

- Này, nói cho ta biết, đây là ai vậy?

Bác gấu nâu lung túng nói, như có vẻ sợ hãi:

- Đó là cô Giên Ben và cậu Maicơn Ben tới chầu ngài!

Các em là bạn của cô nương.

- À, bạn của cô nương, phải nhiệt liệt đón chào!

Các em thân mến, xin mời các em ngồi!

Giên và Maicơn cảm nhận được là đang đứng trước mặt một vị chúa tể, - lúc gặp sư tử các em không có cảm giác này - thấy khó tránh khỏi ánh mắt nghiêm nghị của rắn, các em nhìn quanh quẩn để tìm ghế ngồi.

Bác gấu nâu bèn ngồi xổm xuống, và cho mỗi em ngồi lên một bên đầu gối rậm lông.

Giên khẽ nói:

- Rắn ta nói cứ như là một vị chúa tể vậy!

Bác gấu nâu đáp:

- Đúng như vậy đấy!

Ngài là chúa tể của thế giới chúng tôi.

Ngài trí tuệ và đáng sợ hơn hết mọi giống.

- Giọng bác nhỏ nhẹ, đầy vẻ tôn kính.

Rắn mang bành mỉm cười lâu lâu, một nụ cười chậm rãi và bí hiểm rồi quay đầu về phía cô Mêry, cất tiếng rít nhè nhẹ:

- Cô em họ của ta ơi!

Maicơn thì thầm:

- Cô Mêry là em họ cảu rắn thật à?

Bác gấu nâu lấy chân che miệng, khẽ đáp:

- Tính ra là em họ rất gần về đằng mẹ, con dì, con già.

Nhưng các em hãy chú ý, Ngài sắp trao món qùa sinh nhật.

Rắn mang bành nhắc lại:

- Cô em họ của ta ơi!

Đã lâu nay ngày sinh nhẩt của cô mới lại đúng vào đêm trăng rằm và mới có thể tổ chức chào mừng sự kiện đó như đêm nay.

Do đó, ta cũng đã có đủ thì giờ để xem xét vấn đề nên tặng cô món quà gì và ta đã quyết định...- Rắn ngừng lời.

Trong ngôi nhà nuôi rắn hoàn toàn im lặng, mọi loài đều nín thở...

- Ta quyết định là không có gì bằng tặng cô bộ da ngoài của chính ta!

Cô Mêry lại lên tiếng:

- Thưa đại huynh, thực là đại huynh đã quá chiếu cố...

Nhưng rắn mang bành đã dựng đứng cái mào, ngắt lời:

- Không đâu!

Không đâu mà!

Cô nương cũng biết là ta lâu lâu lại lột xác một lần và dù them hay bớt đi một cái áo khoác ngoài thì cũng chẳng có ý nghĩa gì đối với ta, có phải không?

Rắn ngừng lời và nhìn quanh mình.

Tất cả lũ rắn đồng tình trả lời như thể mục hỏi đáp này là một phần trong một nghi lễ quen thuộc.

Rắn mang bành gật đầu, nói:

- Vậy cái gì đối với ta là quý thì đối với cô nương cũng quý.

Đó chỉ là một món quà nhỏ, cô nương thân mến ạ, nhưng có thể dùng làm thắt lưng hay đóng một đôi giày, hoặc làm cái băng trên mũ, cô biết đó, đều là những vật có công dụng tốt.

Nói đoạn, rắn mang bành nhè nhẹ đu đưa thân mình qua bên này, bên kia và Giên, Maicơn thấy hình như có những làn sóng nhỏ chạy lan dần từ đuôi lên đầu rắn.

Bỗng rắn mang bành vặn mình như cái mở nút chai, trườn lên bỏ lại bộ da ngoài màu vàng óng nằm trên mặt đất và lúc này rắn đã mang cái áo mới lấp lánh ánh bạc.

Cô Mêry cúi xuống để nhặt bộ da thì rắn ngăn lại:

- Xin hãy đợi ta ghi lời chúc mừng đã! – Và rắn lấy đuôi đưa nhanh trên lớp da vừa lột ra, nhanh nhẹn khoanh lại thành một vòng tròn và chui đầu qua, đưa lên trao tặng cô Mêry với điệu bộ lịch sự.

Cô Mêry cầm lấy và cúi đầu cảm tạ.

Cô nói:

-Tiểu muội xin tạ ơn đại huynh...

Cô ngừng lời.

Rõ ràng cô rất thích thú vì cô đang vuốt ve bộ da rắn, vuốt xuôi, vuốt ngược và ngắm nghía mãi.

Rắn mang bành nói:

- Cô nương đừng thử vội!

- rồi rít lên một tiếng suỵt và vươn cái mào ra như thể dùng mài để nghe. – Ta vừa nghe tín hiệu báo tiết mục "Vòng tròn lớn" sắp bắt đầu chăng?

Ai nấy đều lắng nghe.

Có tiếng chuông reo và một giọng nói trầm trầm, ồm ồm vang lên, mỗi lúc một gần.:

- Vòng tròn lớn, vòng tròn lớn!

Mọi người tới điểm trung tâm dự tiết mục vòng tròn lớn và bế mạc.

Lại mau, lại mau.

Chuẩn bị sẵn sàng tham gia vòng tròn lớn!

Rắn mang bành mỉm cười:

- Ta nghĩ thế này: Cô nương phải tới đó, họ đang đợi cô để ngồi vào chính giữa.

Thôi tạm biệt cô nương, hẹn gặp lại vào lần sinh nhật sau.

- Rắn vươn mình và nhẹ nhàng hôn cô Mêry để từ biệt.

Rắn hô to:

- Khẩn trương lên!

Tôi sẽ đi cùng hai bạn nhỏ này!

Giên và Maicơn cảm thấy bác gấu nâu đang cựa mình.

Hai em đứng lên và cảm thấy dưới chân các em, bao nhiêu giống rắn đang thi nhau trườn nhanh, chúng đang hối hả rời khỏi nhà nuôi rắn.

Cô Mêry trịnh trọng cúi đầu chào rắn mang bành và không hề quay lại nhìn hai em.

Cô cũng vội vã tới khu vườn hoa xanh tốt rộng bao la ở giữa vườn thú.

Rắn mang bành bảo bác gấu nâu:

- Ngươi có thể đi được rồi đấy!

Cho ngươi lui!

Bác gấu nâu cúi đầu chào khép nép, tay cầm mũ, vội chạy tới nơi các loài muông thú đang họp mặt chúc mừng cô Mêry.

Rắn mang bành thân mật bảo Giên và Maicơn:

- Các em sẽ đi cùng với ta nhé!

Và không đợi các em trả lời, rắn lách vào giữa hai em, dùng mào ra hiệu cho mỗi em đi một bên.

Rắn rít lên vì phấn khởi:

- Đã bắt đầu rồi đấy!

Nghe tiếng hò reo từ khu vườn xanh vọng lại, hai em đoán là tiết mục vòng tròn lớn đang được trình diễn.

Khi lại gần, các em nghe thấy các muông thú hò reo, hát vang và lúc này trước mặt các em là đủ các giống báo, sư tử, rái cá, lạc đà, gấu, hạc, hươu, nai cùng nhiều giống khác nữa đứng thành vòng tròn vây quanh cô Mêry.

Thế rồi các con thú múa may, lớn tiếng hát bài hát rừng xanh của từng loài, nhảy trên hai chân sau, đi vào, đi ra, nắm tay, nắm cánh nhau như những chàng kị sĩ cầm giáo múa điệu Vòng tròn lớn.

Một giọng hát nhỏ nhưng lanh lảnh vọng lên, át mọi tiếng động:

Ôi!

Mêry, Mêry!

Cô – người tôi yêu quý

Bạn thân mến trên đời!

Hai em thâấ con chim cánh cụt đang nhảy múa gần đó, vẫy vấy đôi cánh ngắn và vui vẻ hát.

Chim nhìn thấy hai em, cúi đầu chào rắn mang bành và nói:

- Tôi sáng tác đấy!

Tất nhiên là không được hay lắm!

Rất khó tìm được từ vần với từ Mêry nhưng thôi tạm thế đã.

Nói đoạn, chim nảy lò cò tới đưa cánh cho một con báo hoa vịn vào, cùng đi.

Giên và Maicơn đứng xem các con thú nhảy múa, Rắn mang bành kín đáo và yên lặng đứng giữa hai em.

Khi bạn sư tử của các em đang nhảy múa đi qua và cúi xuống nắm lấy cánh một con chim trĩ, Giên muốn phát biểu cảm tưởng, em cất tiếng:

- Thưa Đức vua, - em nghĩ... và ngừng lời, lung túng vì không biết có nên nói ra hay không.

Rắn mang bành bảo:

- Thì em cứ nói đi nào!

Em nghĩ thế nào?

- Vâng, em nghĩ rằng các giống sư tử, hổ và các con thú nhỏ...

Rắn mang bành gợi ý cho em:

- Em nghĩ là chúng vẫn là những kẻ thù của nhau, trời sinh ra như vậy, rằng sư tử gặp chim thì nhất định phải ăn thịt, hoặc con hổ phải ăn thịt con nhím, phải không nào?

Giên đỏ mặt, gật đầu.

Rắn mang bành tiếp:

- Em nghĩ như vậy cũng có thể là đúng.

Có thể như vậy.

Nhưng riêng ngày sinh nhật này thì không như thế!

Đêm nay các con thú nhỏ không sợ các con thú lớn và các con lớn bảo vệ con nhỏ.

Ngay như ta đây...

- Rắn ngừng lời và có vẻ suy nghĩ nhiều...

- Nếu đêm nay có gặp một con ngỗng Bacnơcơn thì cũng chẳng muốn ăn thịt - rắn vừa nói vừa thò thụt cái lưỡi xẽ đôi – và cuối cùng ăn thịt hay bị ăn thịt thì cũng như nhau cả mà thôi.

Ta suy nghĩ và đã nghiệm thấy có lẽ là như vậy.

Mọi loài đều cùng một chấy sinh ra, như chúng ta thì ở rừng, các em thì ở thành phố.

Mọi vật đều cùng một chất mà ra, hòn đá dưới chân ta, con chim, con thú, ngôi sao, tất cả đều là một và đều cùng đi tới một kết thúc như nhau.

Sau này, các em sẽ không nhớ tới ta nhưng nên nhớ điều đó, các em ạ!

Maicơn sửng sốt hỏi:

- Sao mà cái cây lại là hòn đá?

Con chim đâu phải là em!

Chị Giên không phải là con hổ!

Rắn mang bành nói giọng rin rít:

- Em nghĩ như vậy à?

Em hayx nhìn kìa!

- Rắn hất đầu về phía mọi loài đang qua lại trước mặt.

Các giống chim, giống thú lúc này đang cùng nhún nhảy quanh cô Mêry còn cô Mêry đang đung đưa người bên này, bên kia.

Đám chim muông sát cánh nhau cùng tiến vào, nhịp nhàng như quả lắc đồng hồ.

Ngay cả cái thân cây cũng ngả nghiêng nhịp nhàng và trên trời, mặt trăng cũng đang đu đưa như một con tàu trên mặt biển.

Rắn mang bành thì thầm:

- Chim và thú, hòn đá và ngôi sao, chúng ta đều do cùng một chất, tất cả là một...

- Nói rồi, rắn nhẹ nhàng rủ cái mào xuống và cũng đu đưa người giữa các em nhỏ.

Giọng nói: "Trẻ em và rắn, ngôi sao và hòn đá - tất cả là một." nhỏ dần.

Tiếng hò reo của các con thú đang nhịp nhàng đu đưa cũng văng vẳng như xa dần.

Giên và Maicơn cảm thấy như đang được nhẹ nhàng đu đưa hoặc như có ai đu đưa mình vậy.

Một làn ánh sáng dịu mờ chiếu vào mặt hai em.

Một giọng nói the thé: " Cả hai đứa đều đang ngủ và đang nằm mơ!"

Đấy là tiếng ai nói, con rắn mang bành hay là mẹ các em đang đẩy các em vào nằm cho ngay ngắn như mỗi đêm mẹ thường đi quanh phòng trẻ nhỏ một lượt?

" Tốt rồi!".

Đấy là tiếng bác gấu nâu đang nói ồm ồm hay là ông Ben?

Giên và Maicơn đang lơ mơ đung đưa không biết nữa... không biết...

Giên vừa đang rắc đường vào bát cháo điểm tâm vừa nói:

- Đêm hôm qua, chị nằm mơ thấy một chuyện kì lạ qua!

Chị mơ thấy chúng mình tới vườn thú, dự buổi sinh nhật của cô Mêry và trong các chuồng thấy toàn là người còn các con thú đều được ra ngoài cả...

Maicơn cso vẻ rất ngạc nhiên, em nói:

- Ồ, em cũng nằm mơ như thế, cũng đúng như thế.

Giên bảo:

- Em có chắc không?

Chúng ta không thể nào mơ thấy giống như nhau!

Em có nhớ bác sư tử có cái bờm uốn xoăn và con chó biển nó bảo chúng mình...

-...

Nhào xuống nước để được một cái vỏ cam chứ gì!

Tất nhiên em nhớ mà!

Và những đứa bé bị nhốt trong chuồng, con chim cánh cụt tìm vần thơ và con rắn mang bành...

Giên hùng hồn nói:

- Thế thì không phải là một giấc mơ, có thể là chuyện thật.

Mà nếu là chuyện thật...

- Em nhìn cô Mêry lúc đấy đang hâm sữa, có vẻ dò hỏi.

Em nói – Cô Mêry ơi, cháu và Maicơn có thể nào mơ thấy cùng một giấc mơ không ạ?

Cô Mêry khịt mũi:

- Các cháu toàn chuyện mơ với mộng!

Thôi xin các cháu ăn cháo đi, nếu không thì miễn các món bánh mỳ nướng phết bơ đấy.

Nhưng Giên không muốn bỏ dở câu chuyện.

Em phải hỏi cho biết:

- Cô Mêry ơi, - em nhìn chằm chằm vào cô – đêm qua cô có tới vườn thú không?

Cô Mêry trợn mắt:

- Tới vườn thú à?

Nửa đêm mà đi tới đó?

Cô là con người ưa yên tĩnh, ngăn nắp, chỉ biết một điều là đi ngủ sớm, dậy sớm sẽ làm cho người ta giữ được sức khoẻ, giàu có và khôn ngoan.

Giên cố hỏi:

- Nhưng đêm qua cô đi đâu?

Cô Mêry đáp với vẻ kiêu kỳ:

- Cô chẳng cần vườn thú, cảm ơn cháu, ở các phòng trẻ nhỏ cũng đủ các con thú rồi: đười ươi, sơn cẩu...

đủ cả.

Các cháu đứng lên ngay và thôi đừng có dớ dẩn nữa!

Giên rót sữa vào cốc của em và nói:

- Như vậy, có lẽ đó là một giấc mơ.

Nhưng Maicơn đang há hốc mồm nhìn cô Mêry lúc này đang nướng bánh mì trên lò.

Em khẽ goi:

- Chị Giên ơi!

Chị Giên!

Trông kìa! – Em chỉ ngón tay và Giên cũng nhìn ngay thấy cái mà Maicơn đang nhìn.

Cô Mêry đang thắt một cái thắt lưng bằng da rắn có cái vẩy màu vàng óng, trên đó có viết một dòng chữ ngoằn nghèo như rắn lội:

" Quà tặng của vườn thú"

XI.

GIÓ TÂY.

Hôm nay là ngày đầu tiên của mùa xuân.

Giên và Maicơn biết ngay là như thế, vì chúng nghe thấy ông Ben ngồi trong bồn tắm vừa hát và suốt cả năm, chỉ có một ngày là ông hát như vậy.

Chúng nhớ mãi buổi sáng đặc biệt ấy.

Thứ nhất, hôm ấy là lần đầu chúng được đi xuống dưới nhà để ăn sáng, và lí do thứ hai là ông Ben bị mất cái túi xách màu đen.

Thế là ngày hôm đó đã bắt đầu bằng hai sự kiện kì lạ.

Ông Ben kêu lên: " Cái túi của tôi đâu ấy nhỉ?" và cứ đi tìm quanh tìm quẩn như một chú chó đuổi theo cái đuôi của mình.

Thế là mọi người trong nhà cứ chạy loanh quanh.

Cô Êlen và bà Brin đã cố gắng đặc biệt để chạy vòng quanh nhà những hai lần.

Cuối cùng, ông Ben đã tìm ra được cái túi ở ngay trong phòng làm việc của ông.

Ông cầm lấy, chạy ra phòng ngoài và giơ nó lên cao.

- Này, - ông nói như đang thuyết giáo vậy – cái túi của tôi bao giờ cũng treo ở đúng một chỗ.

Đây này!

Trên giá mắc ô đấy. – Ông gào lên - Vậy thì ai đã mang nó vào trong phòng làm việc của tôi?

Bà Ben đáp:

- Chính mình chứ ai!

Tối qua, mình lấy các giấy tờ nột thuế thu nhập ở cái túi đó ra mà!

Ông Ben chỉ còn biết nói:

- Ờ nhỉ!

Ồ, ra thế đấy!

Ông lấy tay xoa mũi thật mạnh và lấy cái áo khoác trên mắc xuống.

Ông cầm chiếc áo đi ra cửa trước nhà.

Ông vui vẻ kêu lên:

- Các cây uất kim hương này đã nảy chồi rồi đấy! – Ông đi ra ngoài vườn và hít hít không khí.

- Hừ, có gió Tây đấy, chắc vậy! – Ông ngó về phía nhà ông đô đốc Bum thấy cái chong chóng chỉ chiều gió đang đu đưa.

Ông nói:

- Trời gió tây.

Nắng ấm.

Tôi không cần mặc áo khoác.

Nói xong, ông xách túi, đội cái mũ quả dưa lên đầu và đi rảo bước vào thành phố.

Maicơn nắm lấy cánh tay chị và hỏi:

- Chị cso nghe thấy ba nói gì không?

Cô chị gật đầu nói thong thả:

- Có gió tây mà!

Cả hai chị em đều không nói thêm câu nào nữa, nhưng trong bụng mỗi đứa đều nghĩ giá đừng đứng ở đó thì hơn.

Tuy thế, chúng cũng mau quên, và mọi cái cũng vẫn như mọi ngày.

Ánh nắng mùa xuân chiếu vào ngôi nhà trông sáng sủa, đẹp đẽ tới mức có thể quên là cần phải quét vôi lại và dán giấy phủ tường mới.

Trái lại, chúng đều cho rằng nhà mình đẹp nhất trong cái ngõ Anh Đào này.

Nhưng sau bữa trưa mới bắt đầu có chuyện.

Giên ra vườn đất cùng với anh Rôbơxơn.

Cô vừa nghe xong một luống cải củ thì nghe thấy trong buồng trẻ nhỏ có tiếng xôn xao huyên náo, và tiếng bước chân hấp tấp xuống cầu thang.

Cậu bá Maicơn xuất hiện, mặt đỏ dừ và thở hồng hộc.

Cậu kêu lên:

- Này chị Giên ơi!

Cậu chìa tay ra, trong tay cậu là cái địa bàn của cô Mêry, Cái đĩa tròn đó đang quay vòng quanh cái kim vì tay bé Maicơn cầm cái địa bàn đang run bần bật.

Giên nhìn em, hỏi:

- Cái địa bàn sao cơ?

Maicơn bỗng oà khóc.

- Cô ấy cho em đấy!

Cô ấy bảo cho riêng mình em thôi mà.

Ờ, có thể có chuyện gì đó!

Không biết thế nào?

Cô ấy có bao giờ cho em cái gì đâu!

Giên muốn cho em nín, bèn bảo:

" Có lẽ cô ấy muốn chiều em đấy thôi!",nhưng trong bụng cũng lo lo như Maicơn vậy.

Em biết rõ là cô Mêry không chiều theo ý trẻ con bao giờ, Và, thực là một điều lạ lung, cả buổi chiều hôm ấy, cô Mêry không hề gắt gỏng một tiếng nào.

Thật vậy, cô cũng chẳng nói một lời nào.

Cô có vẻ như suy nghĩ ghê lắm và khi chúng hỏi cô câu gì, cô trả lời với một giọng nói thật xa vắng.

Cuối cùng Maicơn không chịu được nữa.

- Cô Mêry ơi, cô đừng giận chúng cháu!

Cô có vậy bao giờ đâu!

Cô đừng giận chúng cháu nhé!

Cháu sợ lắm.

Và thực sự, cậu bé thấy trong lòng nặng trĩu khi nghĩ là có chuyện gì đó.

Cậu không đoán được là chuyện gì sắp xăy ra tại nhà số 17 ngõ Anh Đào này.

Cô Mêry đáp lại bằng giọng nói có vẻ cáu kỉnh như thường ngày:

- Cứ quấy mãi rồi sẽ rầy ra đấy!

Và Maicơn cảm thấy ngay lập tức là em đã dễ chịu hơn.

Em nói với Giên:

- Có lẽ chúng mình chỉ có cảm giác như vậy thôi.

Có thể là em chỉ tưởng tượng ra mọi cái thì đâu vào đấy cả.

Có phải không, chị Giên?

Giên thong thả nói: " Có thể".

Nhưng em cũng suy nghĩ rất lung, và tim em như thắt lại.

Về chiều, gió thổi mạnh hơn nhiều, thổi vào quanh nhà từng đợt ngắn.

Gió ùa vào và rít lên trong ống khói lò sưởi, len lách qua các khe dưới cửa sổ, thổi lật tung bốn góc của tấm thảm trải trong phòng trẻ nhỏ.

Cô Mêry cho các em ăn bữa chiều xong, don rửa, xếp các thứ lại gon gang ngăn nắp.

Sau đó, cô quét dọn phòng trẻ nhỏ và dặt cái nồi lên ngăn lò sưởi.

Cô nhìn quanh phòng xem đã gọn ghẽ cả chưa rồi đặt nhẹ bàn tay lên đầu Maicơn và tay kia lên vai Giên.

Cô nói:

- Bây giờ, cô mang giày xuống cho anh Rôbơxơn đánh xi.

Các cháu ngồi ngoan đợi cô trở lên nhé!

Cô đi ra và lặng lẽ đóng cửa lại.

Bỗng nhiên khi cô vừa đi ra, hai em nhỏ cảm thấy muốn chạy theo cô nhưng hình như có cái gì giữ lại.

Các em ngồi yên, chốnh khuỷu tay lên bàn, đợi cô trở về.

Các em đều muốn trấn an lẫn nhau nhưng đều không nói gì cả.

Lúc này, Giên mới nói:

- Chúng mình ngớ ngẩn quá!

Mọi thứ đều bình thường.

Nhưng em biết là em nói vậy cho Maicơn yên tâm, còn chính em lại không nghĩ như thế.

Cái đồng hồ trong phòng trẻ nhỏ treo trên lò sưởi kêu tích tắc rất to.

Lửa trong lò sưởi bùng lên, nổ lách tách rồi tắt.

Hai đứa trẻ vẫn ngồi ở bàn, chờ đợi.

Cuối cùng, Maicơn nhăn nhó nói:

- Cô ấy đi lâu quá nhỉ!

Quanh ngôi nhà gió thổi ù ù, rít lên như để trả lời.

Cái đồng hồ vẫn trịnh trọng nhắc lại hai tiếng tích tắc.

Bỗng nhiên sự im lặng bị phá vỡ bởi tiếng cửa trước của ngôi nhà đóng lại với một tiếng "Ầm" vang dội.

Giên đứng phắt dậy, gọi:

- Maicơn!

Maicơn, nét mặt lo lắng, trắng bệch đáp:

- Chị Giên!

Hai chị em lắng tai nghe ngóng rồi chạy vọi tới cửa sổ nhìn ra.

Ở bên dưới, cô Mêry đang đứng ngay bên ngoài cửa.

Cô mặc áo rét, đội mũ, một tay xách túi vải, một tay cầm cái dù.

Gió thổi ào ào xung quanh cô, lật các vạt áo, thổi lệch mũ về một bên.

Nhưng GIên và Maicơn thấy như cô chẳng cần chú ý gì vì cô mỉm cười, hình như cô và gió đã hiểu lẫn nhau.

Cô dừng chân một lát trên bậc cửa và quay lại nhìn cái cửa vào nhà.

Thế rồi cô nhanh nhẹn giương chiếc dù, tuy trời không mưa, cô đưa dù lên trên đầu.

Gió gào lên một tiếng dữ dội, luồn vào dưới cái dù, đẩy thốc dù lên như muốn giằng nó ra khỏi tay cô Mêry.

Nhưng cô nắm rất chắc và hình như gió cũng muốn cô nắm cho chặt, vì lúc này nó đưa cái dù và cả cô Mêry bay bổng lên.

Gió nhẹ nhàng đưa cô qua cổng, chân cô vừa vặn lướt chạm vào cái cổng rồi tiếp tục đưa cô lên cao tới những cành cây anh đào trong ngõ.

Maicơn khóc rền rĩ:

- Chị Giên ơi, cô ấy đi mất rồi!

Giên bảo:

- Nhanh lên, bế hai em bé ra cho chúng nhìn cô Mêry lần cuối!

Lúc này, em không còn nghi ngờ gì nữa, cô Mêry đã đi thực vì gió đã đổi chiều.

Mỗi em bế một em sinh đôi, chạy vội ra cửa sổ.

Lúc này, cô Mêry đã ở trên cao lắm, trên hẳn các ngon cây anh đào và các mái nhà.

Cô đang một tay xách túi, một tay giữ dù.

Hai em bé sinh đôi bắt đầu khóc thút thít.

Giên và Maicơn lấy tay bên không bế em mở cửa kính và cố gắng lần cuối mong giữ được cô Mêry ở lại.

Chúng gào lên:

- Cô Mêry Pôpin!

Cô Mêry Pôpin!

Trở về đi, cô ơi!

Nhưng hoặc là cô không nghe thấy hoặc là không để ý tới vì cô vẫn tiếp tục bay lên, lên cao trong khoảnh không đầy mây, đầy gió rít gào.

Cuối cùng cô đã bay quá bên kia quả đồi và hai em nhỏ chẳng còn nhìn thấy cô nữa, chỉ nhìn thấy những cây cối đang bị uốn rạp xuống và đang rên rỉ dưới ngọn gió tây hung dữ.

Giên thở dài và quay lại từ phía cửa sổ:

- Cô ấy đã làm đúng như cô ấy đã nói.

Cô chỉ ở lại đây cho tới khi gió đổi chiều.

Giên bế bé Giôn đặt vào nôi.

Maicơn không nói gì nhưng em bế Bacbara vào rồi đặt vào giường và buồn bã khịt mũi.

Giên bảo:

- Không biết có còn khi nào chúng mình gặp lại cô ấy không?

Bỗng hai em nhỏ nghe thấy tiếng nhiều người nói ở cầu thang.

Bà Ben từ ngoài cửa phòng đang mở, bước vào gọi:

- Các con đâu!

Các con đâu!

Mẹ rất bực mình.

Cô Mêry Pôpin đã bỏ đi rồi!

Giên và Maicơn đáp:

- Vâng, thưa mẹ!

Bà Ben khá ngạc nhiên, hỏi:

- Vậy ra các con biết rồi à?

Cô ấy có nói cô ấy đi đâu không?

Hai em nhỏ lắc đầu và bà Ben nói tiếp:

- Thật là quá quắt!

Phút ở, phút đi!

Không một lời xin lỗi.

Mà chỉ nói: "Em đi đây!"

Thế là đi liền.

Còn có ai ngược đời, vô ý, bất lịch sự đến như vậy không?

Sao, cái gì đấy hả, Maicơn? – Bà nổi cáu vì Maicơn đã túm áo bà mà giật giật. – Gì thế con?

Maicơn gào to:

- Cô ấy có nói là cô ấy sẽ trở về không, mẹ? – và lôi kéo gần như làm cho mẹ ngã ra - Mẹ nói đi, cô ấy có bảo thế không?

Bà Ben đáp:

- Maicơn con đừng sấn sổ như thế và bà gỡ tay em ra.

- Mẹ không nhớ cô ta có nói gì nữa ngoài câu nói cô ta đi.

Cô ta bỏ đi, mẹ chẳng có ai đỡ đần mà cũng chẳng báo trước gì cả!

Giên có vẻ trách mẹ, kêu:

- Ồ!

Mẹ ơi!

Maicơn vung nắm tay như muốn thụi bà mẹ, em bảo:

- Mẹ ác thế!

- Này các con, mẹ hổ thẹn về các con, thật đấy!

Các con cứ mong cô ấy quay trở về mà cô ấy đã đối xử quá tệ với mẹ, mẹ rất bực!

Giên oà lên khóc.

Maicơn nằm lăn ra sàn, rên rỉ:

- Chỉ có cô Mêry là người con quý nhất trên đời!

- Này các con, thật thế à?

Mẹ không hiểu được các con!

Mẹ xin các con, các con phải ngoan.

Đêm nay sẽ chẳng có ai chăm sóc các con.

Mẹ phải đi ăn cơm khách và cô Êlen thì nghỉ việc.

Mẹ sẽ phải bảo bà Brin lên trông các con.

Thế rồi bà lơ đãng hôn hai con và đi ra với một nếp hằn lo âu nho nhỏ trên trán.

Một lúc sau, bà Brin hối hả bước vào phòng trẻ nhỏ và chuẩn bị trông các em nhỏ.

Bà nói:

- Hà, bác sẽ chẳng như vậy!

Cô ta bỏ các cháu tội nghiệp rối tinh lên như thế này đây!

Thật là cô ấy có trái tim bằng đá!

Cô ấy là người như thế đấy, nếu không đừng gọi tôi là Cơlara Brin nữa.

Lúc nào cô ta cũng chỉ biết có riêng mình mà cũng chẳng để lại một cái mùi xoa, hay một cái trâm cài mũ để làm kỉ niệm.

Nào cậu Maicơn, xin cậu đứng lên nào! – Bà Brin tiếp tục nói, thở hổn hển. – Bác cũng chẳng hiểu sao nhà này lại chịu đựng được cô ta lâu như vậy mà cô ta thì bộ điệu, kiểu cách quá lắm.

Sao mà lắm khuy thế!

Cô Giên, đứng yên nào, để tôi cởi quần áo cho nào!

Cô ta cũng chẳng có gì là đáng ngắm nhìn.

Xét mọi mặt thì rút cục, chẳng có cô ta còn hơn.

Này, cô Giên, cái váy ngủ của cô đâu rồi, nào, cái gì ở dưới gối đây?

Bà Brib lấy ra dưới gối một cái gói nhỏ rất xinh xắn.

Giên xúc động run cả người, hỏi: "Cái gì đấy?" và em giằng ngay lấy cái gói trong tay bà Brin.

Maicơn lại đứng gần chị, nhìn chị cởi dây và xé lớp giấy bọc màu nâu.

BÀ Brin không đợi xem trong gói có gì, chạy ra với hai em bé sinh đôi.

Lớp giấy bọc cuối cùng đã rơi xuống sàn và Giên đang cầm cái vật đó trong tay.

Em thầm thì nói, ngó sát vào vật đó:

- Đây là tấm hình của cô ấy!

Tấm hình của cô Mêry đặt trong một cái khung nhỏ cong lượn và ở bên dưới có dòng chữ: "Mêry Pôpin do Béc vẽ".

Maicơn nói:

- Đây là chú bán diêm vẽ đấy! – Và em cầm lấy để xem cho rõ.

Bỗng Giên thấy có một lá thư dính vào cái khung.

Em mở ra đọc:

"Cháu Giên thân mến,

Cô tặng Maicơn cái địa bàn và cô tặng cháu tấm hình này.

Au revoir.

Mêry Pôpin"

Em đọc to lên, đến mấy chữ cuối , em không hiểu.

Em hỏi:

- Bác Brin ơi.

"Au revoir" nghĩa là gì?

Bác Brin đang ở phòng bên, đáp:

- Ô rơ voa à cháu?

Có phải có nghĩa là ...

để bác xem đã!

Bác không giỏi mấy thứ tiếng nước ngoài đó.

Hay có nghĩa là "Chúa ban phúc cho bạn".

Không, không phải – Cháu Giên thân mến, bác nghĩ là chữ đó muốn nói " Hẹn gặp lại!"

Giên và Maicơn nhìn nhau, mắt long lanh vì vui và vì đã hiểu được.

Các em biết cô Mêry muốn nói gì.

Maicơn thở phào nhẹ nhõm.

Em láu táu nói:

- Hay lắm!

Cô ấy bao giờ cũng làm đúng như lời cô đã nói. – Em ngoảnh mặt đi.

Giên hỏi:

- Em khóc đấy à?

Maicơn ngoẹo đầu và cố mỉm cười với chị:

- Không, chỉ có mắt em nó khóc đấy thôi!

Giên nhẹ nhàng dẫn Maicơn về giường của em và khi Maicơn đã nằm vào giường, em dúi tấm hình của cô Mêry vào tay em một cách vội vàng vì em sợ mình lại tiếc rẻ.

Giên thì thào:

- Em yêu quý, cho em giữ tấm hình này đêm nay nhé! – Rôid em đặt Maicơn nằm cho ngay ngắn, đúng như cô Mêry vẫn thường làm...
 
Back
Top Bottom