Cập nhật mới

Khác Triều Nguyễn Đổi thay

Triều Nguyễn Đổi Thay
Lương bổng


Ngày 20 tháng 1 năm 1822.

Sau khi đã phân định rõ ràng tước vị hoàng tộc và soạn Hoàng Triều Tôn Phổ, hôm nay ta sẽ tiếp tục quy định chặt chẽ về lương bổng và đãi ngộ của các quan lại, hoàng thân, hoàng tử và công chúa chưa có tước vị.

Lâu nay, việc cấp bổng lộc trong triều đình không đồng nhất, nhiều người hưởng bổng lộc không tương xứng với chức vụ, gây ra bất công và hao hụt ngân khố.

Một số hoàng thân còn ỷ vào huyết thống hoàng tộc để đòi hỏi bổng lộc cao hơn thực tế, làm mất cân bằng tài chính quốc gia.

Từ nay, mọi người trong triều, từ quan lại đến hoàng thân, đều sẽ có chế độ lương bổng rõ ràng, không ai được phép vượt quá quy định.

Khi bá quan đã tập trung đầy đủ trong Điện Cần Chánh, ta chậm rãi cất giọng: "Từ xưa đến nay, chế độ lương bổng của triều đình chưa có quy tắc chặt chẽ, dẫn đến nhiều bất cập.

Có kẻ chức nhỏ mà hưởng lộc cao, có người chức cao lại không được đãi ngộ xứng đáng.

Bổng lộc của hoàng thân cũng chưa được quy định cụ thể, khiến tài chính quốc gia thất thoát.

Nay trẫm sẽ ban bố chế độ lương bổng mới, đảm bảo công bằng, hợp lý, phù hợp với chức vị của từng người.

Các khanh hãy nghe và góp ý!"

Lời ta vừa dứt, Trương Đăng Quế bước ra tâu: "Bệ hạ anh minh!

Quả thực, nhiều năm qua, bổng lộc của triều đình có nhiều bất hợp lý.

Nếu có quy định rõ ràng, triều cương sẽ thêm vững mạnh!"

Lê Văn Duyệt cũng tán thành: "Một quốc gia thịnh trị phải có chế độ đãi ngộ minh bạch.

Thần xin bệ hạ ban bố cụ thể quy tắc lương bổng để mọi người tuân theo."

Ta gật đầu, ra lệnh cho Nội các đọc bản "Quy chế lương bổng triều đình" mà ta đã soạn thảo.

Từ nay, lương bổng của quan lại được phân chia thành 9 bậc chính, tương ứng với 9 phẩm quan, mỗi bậc có quy định cụ thể về bổng lộc, ruộng đất, chế độ đãi ngộ.

Phẩm Trật: Nhất phẩm

Chức Quan: Thượng thư, Tổng đốc

Lương Thực Phẩm (Thạch/Năm): 500 thạch

Bạc (Quan/Năm): 300 quan

Ruộng Công (Mẫu): 100 mẫu

Phẩm Trật: Nhị phẩm

Chức Quan: Tuần phủ, Tham tri

Lương Thực Phẩm (Thạch/Năm): 400 thạch

Bạc (Quan/Năm): 250 quan

Ruộng Công (Mẫu): 80 mẫu

Phẩm Trật: Tam phẩm

Chức Quan: Án sát, Bố chánh

Lương Thực Phẩm (Thạch/Năm): 350 thạch

Bạc (Quan/Năm): 200 quan

Ruộng Công (Mẫu): 60 mẫu

Phẩm Trật: Tứ phẩm

Chức Quan: Tri phủ, Tri huyện lớn

Lương Thực Phẩm (Thạch/Năm): 300 thạch

Bạc (Quan/Năm): 150 quan

Ruộng Công (Mẫu): 50 mẫu

Phẩm Trật: Ngũ phẩm

Chức Quan: Tri huyện nhỏ, Thị lang

Lương Thực Phẩm (Thạch/Năm): 250 thạch

Bạc (Quan/Năm): 120 quan

Ruộng Công (Mẫu): 40 mẫu

Phẩm Trật: Lục phẩm

Chức Quan: Huyện thừa, Chủ sự

Lương Thực Phẩm (Thạch/Năm): 200 thạch

Bạc (Quan/Năm): 100 quan

Ruộng Công (Mẫu): 30 mẫu

Phẩm Trật: Thất phẩm

Chức Quan: Huyện úy, Lang trung

Lương Thực Phẩm (Thạch/Năm): 150 thạch

Bạc (Quan/Năm): 80 quan

Ruộng Công (Mẫu): 20 mẫu

Phẩm Trật: Bát phẩm

Chức Quan: Lại viên, Biện lại

Lương Thực Phẩm (Thạch/Năm): 100 thạch

Bạc (Quan/Năm): 60 quan

Ruộng Công (Mẫu): 10 mẫu

Phẩm Trật: Cửu phẩm

Chức Quan: Thông lại, Thủ lại

Lương Thực Phẩm (Thạch/Năm): 80 thạch

Bạc (Quan/Năm): 40 quan

Ruộng Công (Mẫu): 5 mẫu

Lưu ý: Lương bổng được cấp bằng thóc gạo (thạch) và bạc (quan).

Ngoài lương bổng, quan lại còn được cấp ruộng công để canh tác.

Nếu phạm tội hoặc không hoàn thành nhiệm vụ, lương bổng sẽ bị cắt giảm hoặc thu hồi.

Trương Đăng Quế nghe xong thì tâu: "Chế độ này rất công bằng!

Quan càng cao, trách nhiệm càng lớn, bổng lộc càng nhiều.

Như vậy ai cũng phải lo làm việc, không thể lười biếng hưởng lộc".

Trước đây, nhiều hoàng thân không có chức vụ nhưng vẫn hưởng lộc cao, khiến ngân khố hao hụt.

Từ nay, hoàng thân chỉ được hưởng bổng lộc theo quy định, không thể tùy tiện đòi hỏi.

Tước Vị: Thân Vương

Lương Thực Phẩm (Thạch/Năm): 800 thạch

Bạc (Quan/Năm): 500 quan

Ruộng Công (Mẫu): 150 mẫu

Tước Vị: Quận Vương

Lương Thực Phẩm (Thạch/Năm): 600 thạch

Bạc (Quan/Năm): 400 quan

Ruộng Công (Mẫu): 120 mẫu

Tước Vị: Công

Lương Thực Phẩm (Thạch/Năm): 500 thạch

Bạc (Quan/Năm): 300 quan

Ruộng Công (Mẫu): 100 mẫu

Tước Vị: Hầu

Lương Thực Phẩm (Thạch/Năm): 400 thạch

Bạc (Quan/Năm): 250 quan

Ruộng Công (Mẫu): 80 mẫu

Tước Vị: Hoàng tử chưa phong tước

Lương Thực Phẩm (Thạch/Năm): 300 thạch

Bạc (Quan/Năm): 200 quan

Ruộng Công (Mẫu): 50 mẫu

Tước Vị: Công chúa chưa phong tước

Lương Thực Phẩm (Thạch/Năm): 250 thạch

Bạc (Quan/Năm): 150 quan

Ruộng Công (Mẫu): 40 mẫu

Quy định mới:

1.

Hoàng thân phải có chức vụ mới được hưởng bổng lộc cao.

Nếu không có chức vụ, bổng lộc sẽ giảm dần theo thời gian.

2.

Hoàng tử, công chúa chưa có tước vị sẽ được hưởng bổng lộc vừa phải, không thể sống xa hoa.

3.

Tôn Nhân Phủ sẽ giám sát việc cấp phát bổng lộc, tránh lãng phí ngân khố.

Lê Văn Duyệt gật đầu tán thành: "Lâu nay, nhiều hoàng thân không làm gì vẫn hưởng bổng lộc lớn.

Nay có quy định chặt chẽ, ai cũng phải cống hiến mới được hưởng lộc."

Sau khi công bố, triều đình có nhiều phản ứng: Các đại thần ủng hộ mạnh mẽ, vì chế độ mới giúp triều đình công bằng hơn.

Một số hoàng thân không hài lòng, vì từ nay không thể hưởng lộc quá cao nếu không có công trạng.

Thái hậu đồng tình, nhưng nhắc nhở ta phải đảm bảo an sinh cho hoàng tộc, tránh để họ bị khó khăn.

Ta đáp: "Trẫm không bạc đãi hoàng thân, nhưng cũng không thể để họ lười biếng mà hưởng lộc lớn.

Từ nay, ai có công thì sẽ được trọng thưởng, ai không làm gì thì không thể tiêu xài xa hoa bằng tiền của quốc gia".

Buổi thượng triều hôm nay đánh dấu một cải cách lớn về chế độ lương bổng: Quan lại hưởng lộc theo phẩm trật, không ai có thể vượt quy định.

Hoàng thân chỉ được hưởng lộc theo tước vị, không thể tự ý yêu cầu thêm.

Ngân khố quốc gia sẽ không còn bị lãng phí vô ích.

Từ nay, mọi người trong triều đều có chế độ đãi ngộ công bằng, không ai được hưởng đặc quyền quá mức.

Đây là một bước quan trọng để xây dựng một triều đình vững mạnh và minh bạch
 
Triều Nguyễn Đổi Thay
Hôn nhân, tư thuộc và dịch lại


Ngày 24 tháng 1 năm 1822.

Triều đình Đại Nam vốn dựa vào các lệ cũ của thời Lê – Nguyễn để định đoạt hôn nhân và quan hệ tư thuộc, nhưng những quy định này đã lỗi thời, thiếu công bằng, gây ra nhiều bất cập trong xã hội.

Hôn nhân vẫn còn chịu ảnh hưởng quá nặng từ lễ giáo phong kiến, khiến nhiều người bị ép gả, không có quyền quyết định số phận mình.

Nhiều phụ nữ bị ràng buộc bởi các quy tắc hà khắc, trong khi nam giới lại có quá nhiều đặc quyền.

Ngoài ra, chế độ tư thuộc (nô tỳ, tá điền, tôi tớ) cũng chưa có quy định rõ ràng, nhiều người bị bóc lột quá mức.

Hôm nay, ta quyết định ban hành luật mới về hôn nhân và tư thuộc, nhằm đảm bảo công bằng, nhân đạo và phù hợp với thời đại mới.

Khi bá quan đã tề tựu đầy đủ trong Điện Cần Chánh, ta chậm rãi lên tiếng:

"Từ xưa, hôn nhân của con dân Đại Nam chủ yếu do cha mẹ định đoạt, nhiều người bị ép gả mà không có quyền lựa chọn.

Đàn ông có thể lấy nhiều vợ, nhưng phụ nữ lại không được bảo vệ nếu chồng bạc đãi.

Còn những kẻ nghèo khó, nếu rơi vào cảnh tư thuộc, thì không có cách nào thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn.

Những bất công ấy cần được sửa đổi.

Từ nay, hôn nhân phải dựa trên sự đồng thuận của cả hai bên, không ai bị ép buộc.

Tư thuộc cũng phải có quy định rõ ràng, không thể để người nghèo bị bóc lột mãi mãi.

Trẫm đã cho soạn luật mới về hôn nhân và tư thuộc, hôm nay sẽ công bố!"

Trương Đăng Quế bước ra, cung kính nói: "Bệ hạ anh minh!

Quả thật, nhiều vụ ép hôn khiến gia đình tan vỡ, nhiều người nghèo khổ bị giam cầm suốt đời.

Nếu có luật mới, dân tình sẽ bớt khổ".

Lê Văn Duyệt cũng lên tiếng: "Nhưng nếu để nam nữ tự do lựa chọn, liệu có làm loạn luân thường đạo lý không?

Liệu con cái có còn nghe lời cha mẹ không?"

Ta nhìn xuống, chậm rãi đáp: "Tự do không có nghĩa là bừa bãi!

Hôn nhân vẫn cần sự chấp thuận của gia đình, nhưng quyền quyết định cuối cùng thuộc về đôi bên.

Cha mẹ không được ép gả con cái theo ý mình".

Bá quan bắt đầu xôn xao.

Một số người tán đồng, một số lại lo lắng về sự thay đổi quá lớn trong xã hội.

Ta ra lệnh cho Nội các đọc bộ "Luật Hôn Nhân Đại Nam" mà ta đã soạn thảo.

1.

Hôn nhân phải có sự đồng thuận của cả hai bên

• Nam nữ từ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn.

• Hôn nhân phải có sự chấp thuận của cả hai người, không ai bị ép buộc.

• Nếu bị ép gả, có quyền tố cáo lên quan phủ để hủy hôn.

2.

Cấm kết hôn vì mua bán, trao đổi

• Không ai được bán con gái để gả chồng.

• Hủy bỏ tục "thách cưới" quá cao, chỉ được sính lễ đơn giản.

3.

Chế độ một vợ – một chồng

• Từ nay, đàn ông chỉ có một vợ chính thức, không được cưới nhiều vợ.

• Chỉ trong trường hợp hiếm muộn, nếu vợ cả đồng ý, mới được cưới thiếp.

• Phụ nữ không còn bị xem là tài sản của chồng, nếu bị bạo hành có quyền ly hôn.

4.

Quyền lợi của phụ nữ trong hôn nhân

• Nếu chồng chết, phụ nữ không bắt buộc phải thủ tiết, có thể tái giá.

• Nếu ly hôn, tài sản được chia đôi, con cái có thể theo mẹ hoặc cha.

Ta tiếp tục ban bố luật mới về tư thuộc, chấm dứt chế độ nô lệ lâu dài.

1.

Tư thuộc không phải là nô lệ suốt đời

• Người nghèo có thể làm tá điền, gia nhân, nhưng không thể bị bán như đồ vật.

• Mọi tư thuộc đều có quyền mua lại tự do sau một thời gian làm việc.

2.

Giới hạn thời gian làm tư thuộc

• Một người chỉ có thể làm tư thuộc tối đa 10 năm, sau đó sẽ được trả tự do.

• Con cái của tư thuộc không bắt buộc phải theo nghiệp cha mẹ, có quyền đi học, làm việc khác.

3.

Đối xử nhân đạo với tư thuộc

• Chủ nhân không được đánh đập, ngược đãi tôi tớ.

• Nếu tư thuộc bị đối xử tệ bạc, có quyền kiện lên quan phủ.

Khi nghe xong các quy định mới, bá quan có nhiều phản ứng trái chiều:

• Các quan tiến bộ như Trương Đăng Quế, Lê Văn Duyệt tán thành vì chế độ mới nhân đạo hơn, giúp dân bớt khổ.

• Các quan bảo thủ phản đối mạnh mẽ, cho rằng hôn nhân tự do sẽ làm loạn gia phong, tư thuộc có quyền sẽ làm suy yếu tầng lớp quý tộc.

• Hoàng thân cũng không hài lòng, vì từ nay không thể cưới nhiều vợ tùy ý, cũng không thể mua người hầu dễ dàng.

• Thái hậu có phần do dự, nhưng cuối cùng cũng đồng ý vì luật mới bảo vệ phụ nữ, tránh cảnh ép hôn khổ sở.

Ta nhìn xuống triều thần, giọng dứt khoát: "Hôn nhân không thể là sợi xích trói buộc con người.

Tư thuộc không thể là kẻ mãi mãi bị bóc lột.

Triều đình Đại Nam cần bước vào thời đại mới, nơi mọi người đều có quyền sống xứng đáng!

Nếu ai phản đối, hãy nói lý lẽ với trẫm".

Bá quan im lặng.

Họ biết ta đã quyết, không thể thay đổi.

Buổi thượng triều hôm nay đánh dấu sự thay đổi to lớn trong xã hội Đại Nam.

Hôn nhân từ nay sẽ dựa trên tình yêu và sự đồng thuận, không còn cảnh ép gả.

Phụ nữ được bảo vệ tốt hơn, có quyền ly hôn và tái giá và tư thuộc không còn bị coi là nô lệ suốt đời, có cơ hội thoát khỏi kiếp khổ cực.

Từ nay, Đại Nam không chỉ là một quốc gia hùng mạnh, mà còn là một đất nước nhân đạo và công bằng hơn!
 
Triều Nguyễn Đổi Thay
Đối diện với chính mình


Ngày 25 tháng 1 năm 1822.

Buổi triều hôm qua, ta đã chính thức ban bố bộ luật hôn nhân và tư thuộc mới, một sự thay đổi lớn lao cho Đại Nam.

Những quy tắc cũ về hôn nhân bị phá bỏ, quyền tự do của phụ nữ được công nhận, chế độ tư thuộc bị giới hạn, và quan trọng nhất, một vợ một chồng trở thành nguyên tắc cốt lõi của xã hội.

Hôm nay, ta phải đối mặt với một điều còn khó khăn hơn cả sự phản đối của triều thần đó là chính bản thân mình.

Ta ngồi trong thư phòng, ánh đèn dầu nhấp nháy phản chiếu trên bàn gỗ lim.

Trước mặt ta là bản thảo bộ luật mới.

Ngón tay ta lướt qua từng dòng chữ, nhưng tâm trí ta lại rối bời.

Ta đã ra lệnh cấm đàn ông có nhiều vợ, nhưng bản thân ta lại có hàng chục cung tần, mỹ nữ trong hậu cung.

Ta đã nói rằng phụ nữ có quyền ly hôn, nhưng đã bao giờ ta cho họ quyền đó chưa?

Ta nhớ lại những ngày đầu khi vừa kế vị, ta đã tiếp nhận cả hậu cung rộng lớn của vua cha.

Theo truyền thống, một vị hoàng đế không thể chỉ có một hoàng hậu, mà phải có hàng trăm cung tần để duy trì hoàng tộc.

Nhưng giờ đây, chính ta lại ban hành luật giới hạn chế độ đa thê.

Liệu ta có đang giả dối không?

Liệu ta có đang đòi hỏi thần dân tuân theo điều mà chính ta cũng không làm được?

Tim ta nặng trĩu.

Thái hậu triệu kiến ta vào nội cung.

Vừa bước vào, ta đã thấy bà ngồi im lặng, tay lần chuỗi tràng hạt, vẻ mặt không giận dữ nhưng lại đầy suy tư.

"Con đã ban luật hôn nhân rồi, nhưng con có nghĩ đến hậu cung chưa?"

Ta im lặng.

Thái hậu nói tiếp: "Con nói rằng từ nay đàn ông chỉ có thể có một vợ, nhưng chính con lại có hàng trăm cung phi.

Con muốn dân chúng chấp nhận luật mới, nhưng con có định thay đổi bản thân không?"

Ta hít một hơi sâu, rồi thẳng thắn đáp: "Mẫu hậu, con hiểu mâu thuẫn đó.

Nhưng luật này không phải để áp đặt ngay tức khắc lên hoàng tộc, mà là để từng bước thay đổi xã hội.

Nếu Đại Nam không cải cách, chúng ta sẽ mãi mãi bị ràng buộc bởi những luật lệ lạc hậu.

Hậu cung cũng vậy, cần có sự cải tổ dần dần."

Thái hậu nhìn ta thật lâu, rồi gật đầu chậm rãi.

"Vậy con định làm thế nào với các cung phi?"

Sau khi rời khỏi cung thái hậu, ta triệu tập Lê Văn Duyệt và Trương Đăng Quế để bàn bạc về việc cải tổ hậu cung.

Ta quyết định:

1.

Bãi bỏ chế độ tuyển cung nữ hàng loạt – Từ nay, chỉ khi hoàng đế muốn, mới được tuyển cung phi, không còn cảnh bắt ép con gái vào cung.

2.

Hậu cung không còn là nhà tù – Nếu cung nữ hoặc phi tần không muốn tiếp tục ở lại, họ có quyền xin xuất cung và được ban thưởng để rời đi.

3.

Giảm số lượng cung tần – Hậu cung hiện tại quá đông, ta sẽ giữ lại số lượng hợp lý, còn lại sẽ ban hôn, cho xuất cung hoặc ban đất phong để họ sống độc lập.

4.

Cung nữ không còn là tư thuộc – Họ sẽ được trả lương, có quyền lựa chọn ở lại hoặc rời đi sau một thời gian phục vụ.

Đây là bước đầu tiên trong việc cải tổ hậu cung, giúp hậu cung tiến gần hơn với một xã hội văn minh, nơi phụ nữ có quyền tự quyết về cuộc đời họ.

Buổi tối, ta triệu tập các phi tần cao cấp trong hậu cung vào điện Khôn Thái.

Không khí trong phòng nặng nề, ai cũng biết rằng sự thay đổi đã đến.

Ta cất giọng trầm ổn: "Trẫm đã ban hành luật hôn nhân mới.

Từ nay, phụ nữ không còn bị ép buộc, không ai phải chịu cảnh hôn nhân không tình yêu.

Nhưng hậu cung không thể nằm ngoài sự thay đổi ấy.

Tất cả các nàng đều là người, không ai là tài sản của trẫm.

Nếu ai muốn rời đi, trẫm sẽ ban thưởng và để các nàng ra ngoài, tự do chọn cuộc sống mới."

Các phi tần nhìn nhau, có người bất ngờ, có người cảm động, nhưng cũng có người hoang mang.

"Bệ hạ... có thật sự để chúng thần thiếp rời đi không?"

Một phi tần hỏi.

"Trẫm không nói suông.

Nếu các nàng muốn, trẫm sẽ ra chiếu chỉ ban đất, ban tiền, giúp các nàng tự lập".

Một vài phi tần khóc.

Họ vốn tưởng đời này phải gắn chặt với hoàng cung, không còn đường thoát.

Giờ đây, một cánh cửa đã mở ra trước mắt họ.

Dĩ nhiên, vẫn còn nhiều người chọn ở lại.

Nhưng ít nhất, họ đã có quyền lựa chọn.

Khi ta trở về thư phòng, trời đã khuya.

Một cảm giác nhẹ nhõm tràn ngập trong tâm hồn ta.

Ta đã đối diện với chính mình, ta đã bắt đầu thay đổi.

Từ một hoàng đế có hậu cung trăm người, ta đã dám cho họ quyền tự do, dám thay đổi chính mình theo luật mà ta đặt ra.

Luật hôn nhân mới không còn là một mệnh lệnh đơn thuần, mà là một tuyên ngôn về sự thay đổi, từ trong triều đình đến tận cùng xã hội.

Đại Nam đang bước vào một kỷ nguyên mới.

Và ta, với tư cách hoàng đế, phải là người đi đầu trong sự thay đổi ấy.

Sau khi cải cách luật hôn nhân và tư thuộc, ta biết rằng việc thay đổi hậu cung không thể chỉ dừng lại ở bản thân ta.

Nếu muốn xã hội thực sự thay đổi, các thế hệ hoàng đế và quan lại sau này cũng phải tuân theo nguyên tắc công bằng trong hôn nhân.

Vì thế, ta quyết định ban một chiếu chỉ đặc biệt, không chỉ giới hạn việc tuyển cung phi của hoàng đế, mà còn áp dụng với toàn bộ tôn thất và quan lại cao cấp.

Sau khi bàn bạc với các đại thần thân cận như Lê Văn Duyệt, Trương Đăng Quế và Nguyễn Công Trứ, ta soạn thảo chiếu chỉ về hậu cung và quy định tuyển cung phi, nội dung cụ thể như sau:

1.

Quy định đối với Hoàng đế:

a/ Hoàng đế đời thứ 2 (tức con trai của ta) và Hoàng đế đời thứ 3:

• Chỉ khi có nhu cầu, mới được tuyển cung phi.

• Tuyển cung phi phải tự nguyện, không được ép buộc.

b/ Hoàng đế đời thứ 4 trở đi:

• Chỉ được tuyển cung phi khi có sự đồng ý của Hoàng hậu (Chính thất).

• Nếu Chính thất không đồng ý, Hoàng đế chỉ có thể có một vợ duy nhất.

2.

Quy định đối với Tôn thất:

a/ Tôn thất đời thứ 1 và 2 (con trai và cháu nội của ta):

• Chỉ khi có nhu cầu, mới được tuyển thiếp.

• Thiếp phải tự nguyện, không ép buộc.

b/ Tôn thất đời thứ 3 trở đi: Không được phép lấy thiếp nếu không có sự đồng ý của Chính thất.

3.

Quy định đối với quan lại:

a/ Quan lại đời thứ 1 và 2 (tức quan từ thời ta và con trai ta):

• Chỉ khi có nhu cầu, mới được lấy thiếp.

• Không được lấy nhiều hơn một thiếp.

b/ Quan lại đời thứ 3 trở đi: Không được phép lấy thiếp nếu không có sự đồng ý của Chính thất.

4.

Cấm lợi dụng quyền lực để ép buộc hôn nhân: dù là hoàng đế, tôn thất hay quan lại, tuyệt đối không được ép buộc phụ nữ vào hậu cung.

Nếu có ai tố cáo việc lợi dụng quyền lực để ép gả, người phạm tội sẽ bị giáng chức hoặc bị tước tước vị.

Khi chiếu chỉ được tuyên đọc trong triều, cả triều đình xôn xao.

Nhiều quan lại và tôn thất phản đối vì đây là lần đầu tiên một vị vua giới hạn quyền lực của chính hoàng đế và hoàng tộc.

Một số đại thần bảo thủ lên tiếng:

"Bệ hạ, Hoàng đế là thiên tử, sao lại cần có sự đồng ý của hoàng hậu mới được tuyển cung phi?"

"Bệ hạ, tôn thất và quan lại từ trước đến nay vẫn có quyền lấy thiếp, cớ sao nay lại bị giới hạn?"

Ta điềm tĩnh đáp: "Nếu trẫm có thể cải cách chính mình, tại sao các khanh lại không thể thay đổi?

Nếu chúng ta cứ giữ thói quen cũ, thì Đại Nam làm sao có thể tiến bộ?

Nếu một người đàn ông đã có vợ chính thất mà vẫn muốn lấy thêm vợ lẽ, chẳng phải nên tôn trọng ý kiến của người vợ cả sao?

Nếu các khanh thật sự nghĩ đến đạo lý, tại sao lại muốn giữ quyền lấy nhiều thiếp mà không nghĩ đến cảm giác của người phụ nữ?"

Lời nói của ta khiến cả triều đình lặng im.

Nhiều người không thể phản bác.

Tuy nhiên, một số đại thần tiến bộ như Nguyễn Công Trứ, Trương Đăng Quế và Lê Văn Duyệt đã lên tiếng ủng hộ:

"Bệ hạ nói rất đúng!

Nếu muốn cải cách xã hội, thì chính hoàng tộc và quan lại phải làm gương trước.

Từ lâu nay, phụ nữ vẫn luôn chịu thiệt thòi trong hôn nhân.

Quy định này không những không làm suy yếu hoàng tộc, mà còn giúp gia đình trong triều đình và xã hội trở nên công bằng hơn"

Dù còn nhiều phản đối, nhưng cuối cùng, chiếu chỉ vẫn được ban hành.

Sau buổi triều, Thái hậu triệu ta đến cung Càn Thành.

Ta biết rằng bà cũng có suy nghĩ riêng về việc này.

Khi ta đến, bà không trách mắng, chỉ nhìn ta thật lâu rồi nhẹ nhàng nói: "Trẫm không ngờ con dám đi xa đến vậy.

Con không chỉ thay đổi chính mình mà còn thay đổi cả những thế hệ sau."

Ta đáp: "Mẫu hậu, nếu không thay đổi từ bây giờ, hậu cung sẽ mãi là một nơi không công bằng.

Nếu không giới hạn quyền lực của hoàng đế và quan lại trong hôn nhân, thì luật mới cũng chỉ là một mớ giấy vô nghĩa."

Thái hậu thở dài, nhưng trong mắt bà không có vẻ giận dữ, mà chỉ có sự suy tư sâu xa.

Cuối cùng, bà nói: "Nếu con đã quyết, ta sẽ không cản.

Chỉ mong con có thể giữ vững quyết tâm của mình."
 
Triều Nguyễn Đổi Thay
Tác động lâu dài


Khi luật hôn nhân mới và chiếu chỉ về hậu cung được ban hành, dân chúng khắp Đại Nam nhanh chóng bày tỏ phản ứng.

Khác với những biến động trong triều đình, các tầng lớp nhân dân có phản ứng đa chiều, phụ thuộc vào địa vị xã hội, phong tục và nhận thức của từng nhóm người.

Đa số dân chúng, đặc biệt là tầng lớp nông dân và thợ thủ công, hoan nghênh luật hôn nhân mới.

Trước đây, phụ nữ trong xã hội phải chịu cảnh chồng có nhiều vợ, không có quyền quyết định trong hôn nhân.

Với quy định giới hạn số lượng thê thiếp của tôn thất, quan lại và cả hoàng đế, nhiều người cảm thấy công bằng hơn và xã hội văn minh hơn.

Nhiều phụ nữ trẻ vui mừng khi biết họ sẽ không còn bị ép làm thiếp, và các cuộc hôn nhân trong tương lai sẽ đặt nặng sự tự nguyện.

Những người mẹ có con gái cũng thở phào nhẹ nhõm, vì từ nay con gái họ sẽ không bị các nhà quyền quý ép cưới làm thiếp mà không có sự lựa chọn.

Một số bà vợ trong gia đình nông dân còn nói với nhau: "Trước giờ đàn ông toàn lấy cớ nhà quyền quý thì được phép có nhiều vợ, còn nhà nghèo như mình chỉ có một vợ một chồng.

Giờ thì công bằng rồi!"

Tuy nhiên, cũng có những người đàn ông bất mãn, vì từ lâu họ đã quen với tư tưởng "nam năm thê bảy thiếp".

Những kẻ theo tư tưởng cũ thì chê trách: "Luật này đi ngược lại truyền thống!

Nam nhân từ xưa đến nay vẫn lấy nhiều vợ, tại sao giờ lại phải chịu sự kiểm soát như vậy?"

Nhưng đa phần họ chỉ có thể than vãn, vì luật đã được thi hành.

Những địa chủ, thương nhân giàu có, quan lại địa phương – vốn quen với việc cưới nhiều vợ lẽ – tỏ ra bất mãn nhất.

Họ lo rằng luật này sẽ hạn chế quyền lực của họ trong gia đình và xã hội.

Nhiều các ông lớn trong làng, những nhà giàu có vốn hay lấy thiếp, đã lên tiếng phản đối trong các buổi bàn chuyện ở đình làng:

"Bây giờ đến cả quan trong triều cũng bị cấm lấy nhiều vợ, chẳng lẽ bọn ta cũng thế?

Nếu cứ theo luật này, xã hội rồi sẽ đảo lộn hết mất!"

Nhưng họ cũng không thể làm gì, vì luật đã có hiệu lực trên toàn quốc.

Một số vẫn cố gắng lách luật bằng cách mua thiếp lén lút, nhưng các quan lại cấp dưới giờ đã bị kiểm soát chặt chẽ, nên việc này dần trở nên khó khăn hơn.

Ngược lại, những quan lại trẻ và tiến bộ lại ủng hộ, họ nhận ra rằng nếu bớt có vợ lẽ, gia đình sẽ ít tranh chấp hơn, con cái sẽ được giáo dục tốt hơn, và họ có thể tập trung vào sự nghiệp thay vì chuyện vợ con.

Tôn thất ở các vùng như Huế, Gia Định, Hà Nội tỏ ra khá bối rối và chia rẽ trước chiếu chỉ mới.

• Những người trẻ tuổi, tôn thất thế hệ thứ 3 trở đi, cảm thấy luật này không ảnh hưởng đến họ nhiều, thậm chí có thể giúp họ bớt gánh nặng trong việc phải lấy nhiều vợ theo phong tục cũ.

• Những người lớn tuổi, đặc biệt là các ông hoàng đã có nhiều thê thiếp, tỏ ra khó chịu, vì họ cảm thấy quyền lực của hoàng tộc đang bị giới hạn.

Một số ông hoàng lớn tuổi ở Huế than phiền: "Thời xưa, vua nào chẳng có hậu cung trăm người?

Sao bây giờ lại có cái luật kỳ lạ này?"

Nhưng cũng có một số vị hoàng thân tiến bộ, nhận ra rằng luật mới giúp hoàng gia ít mâu thuẫn hơn.

Một số hoàng tử trẻ còn tỏ ra vui mừng, vì họ không còn bị ép buộc phải cưới nhiều vợ chỉ để giữ thể diện hoàng tộc.

Tầng lớp nho sĩ và trí thức cũng có hai luồng ý kiến trái chiều.

Những người theo tư tưởng bảo thủ cho rằng: "Luật này làm suy yếu quyền uy của nam giới!

Phong kiến đã tồn tại hàng ngàn năm, sao có thể thay đổi chỉ sau một đạo luật?"

Những sĩ phu có tư tưởng tiến bộ thì hoan nghênh: "Đây là bước tiến lớn của Đại Nam!

Nếu hôn nhân công bằng, thì gia đình sẽ bớt bất hòa, phụ nữ sẽ có địa vị tốt hơn, và xã hội sẽ ổn định hơn."

Nhiều nho sĩ trẻ tuổi ở Quốc Tử Giám còn bàn luận sôi nổi về luật này và so sánh với luật hôn nhân của các nước phương Tây.

Các thương nhân Hoa kiều và người nước ngoài ở Hội An, Gia Định, Hải Phòng cũng bàn tán về đạo luật này.

Một số người Hoa truyền thống vẫn theo tư tưởng cũ, nên họ có phần không ủng hộ.

Tuy nhiên, vì vẫn được phép duy trì phong tục của mình trong cộng đồng người Hoa, nên họ không phản đối công khai.

Các thương nhân phương Tây lại tỏ ra ngạc nhiên, vì luật này tiến bộ hơn cả một số quốc gia châu Á khác.

Một số thương nhân Hà Lan, Anh, Pháp còn nói với nhau: "Thật kỳ lạ!

Một đất nước phong kiến lại ban hành luật hôn nhân tiến bộ như vậy."

Nhiều thương nhân phương Tây còn bày tỏ thiện cảm với Đại Nam, vì thấy đất nước này đang có dấu hiệu hiện đại hóa nhanh chóng.

Luật hôn nhân, tư thuộc và chiếu chỉ về tuyển cung phi đã gây chấn động khắp Đại Nam.

Dân thường ủng hộ, đặc biệt là phụ nữ và những người trẻ tuổi.

Quan lại và địa chủ bảo thủ phản đối, nhưng không thể thay đổi luật.

Hoàng tộc chia rẽ, nhưng thế hệ trẻ dần chấp nhận.

Sĩ phu có hai luồng ý kiến, nhưng tư tưởng tiến bộ dần chiếm ưu thế.

Người Hoa kiều bảo lưu phong tục riêng, nhưng không phản đối mạnh.

Thương nhân phương Tây đánh giá cao sự tiến bộ của Đại Nam.

Dù gặp nhiều phản ứng trái chiều, nhưng luật hôn nhân và chiếu chỉ mới đã đặt nền móng cho một xã hội công bằng hơn, góp phần giúp Đại Nam tiến nhanh trên con đường hiện đại hóa.

Với chiếu chỉ này, một hệ thống hôn nhân công bằng hơn được thiết lập.

Các hoàng đế, tôn thất và quan lại không còn có thể lấy vợ lẽ tùy tiện.

Phụ nữ có quyền quyết định cuộc đời mình.

Dần dần, những gia đình quyền quý bắt đầu thay đổi, xã hội bước vào thời kỳ mới.

Những người vợ không còn bị coi là "tài sản", mà trở thành những người bạn đời bình đẳng.

Và ta biết rằng, dù con đường cải cách còn nhiều chông gai, nhưng đây là bước đi cần thiết để Đại Nam trở thành một quốc gia văn minh và tiến bộ.
 
Triều Nguyễn Đổi Thay
Lễ tang và triều phục


Sau những cải cách lớn về hành chính, luật pháp và hôn nhân, ta nhận ra rằng triều phục và nghi lễ tang ma vẫn mang nhiều yếu tố rườm rà, thiếu thống nhất và chưa phản ánh được một triều đình hiện đại.

Vì vậy, trong buổi thượng triều ngày 27/1/1820, ta quyết định tiến hành cải cách hệ thống triều phục của từng tước vị và lễ tang của hoàng tộc, quan lại, để đảm bảo tính tôn nghiêm, tiết kiệm, thực dụng nhưng vẫn giữ gìn nét truyền thống.

Buổi thượng triều hôm đó, triều đình lặng đi khi ta tuyên bố sẽ cải cách triều phục và lễ tang.

Các quan đại thần, hoàng thân và cả thái hậu đều tập trung lắng nghe, bởi đây là những vấn đề liên quan đến danh dự, thể diện và truyền thống của cả triều đình.

Cải cách triều phục

1.

Hoàng đế

Ta quyết định đơn giản hóa nhưng vẫn giữ nét uy nghiêm của hoàng bào:

• Triều phục chính thức của Hoàng đế: Gọi là "Đế bào" (帝袍), màu vàng đậm, thêu chín con rồng tượng trưng cho quyền lực tối thượng.

• Lễ phục đại triều: Mặc khi cử hành đại lễ tế trời, đại triều yết.

Dùng Hoàng Cẩm Bào (皇錦袍), hoa văn rồng cuộn mây, mặt trời, mặt trăng, núi, sóng nước tượng trưng cho vũ trụ.

• Thường phục hàng ngày: Dùng Hoàng Sam (黃衫), kiểu dáng đơn giản hơn nhưng vẫn mang họa tiết rồng.

Mũ miện:

• Miện Cửu Long (冕九龍): Chín con rồng uốn lượn, chỉ dành cho hoàng đế.

• Thường nhật: Mũ vàng thêu rồng năm móng.

2.

Hoàng thái hậu và Hoàng hậu

• Hoàng thái hậu: Phục sức màu tía nhạt, thêu phượng hoàng, biểu tượng cho mẫu nghi thiên hạ.

• Hoàng hậu: Triều phục màu đỏ sậm, thêu đôi phượng hoàng.

• Thường phục: Màu vàng nhạt, ít hoa văn, thể hiện sự trang trọng.

Mũ miện:

• Hoàng hậu: Được đội Phượng Quan Miện (鳳冠冕), cài chín chuỗi ngọc.

• Thái hậu: Đội Tôn Phượng Miện (尊鳳冕), uy nghi hơn Phượng Quan Miện.

3.

Hoàng tử, công chúa

a/ Hoàng tử:

• Hoàng thái tử: Mặc long bào màu vàng nhạt, có rồng bốn móng.

• Hoàng tử khác: Mặc áo xanh lam đậm, thêu lân hoặc hổ, tượng trưng cho dũng khí.

b/ Công chúa:

• Công chúa trưởng: Áo màu đỏ tím, thêu phượng.

• Công chúa nhỏ: Áo hồng nhạt, ít hoa văn hơn.

4.

Quan lại các cấp: Ta quyết định chuẩn hóa triều phục của quan lại theo phẩm hàm, dựa trên hệ thống quan phục đời trước nhưng cải tiến cho gọn gàng và dễ phân biệt hơn.

Phẩm hàm: Nhất phẩm

Màu áo: Đỏ

Hoa văn: Rồng bốn móng

Mũ đội: Mũ cánh chuồn mạ vàng

Phẩm hàm: Nhị phẩm

Màu áo: Đỏ tươi

Hoa văn: Hạc

Mũ đội: Mũ cánh chuồn bạc

Phẩm hàm: Tam phẩm

Màu áo: Tím than

Hoa văn: Hổ

Mũ đội: Mũ cánh chuồn đen

Phẩm hàm: Tứ phẩm

Màu áo: Xanh đậm

Hoa văn: Lân

Mũ đội: Mũ cánh chuồn đen

Phẩm hàm: Ngũ phẩm

Màu áo: Xanh lục

Hoa văn: Hươu

Mũ đội: Mũ tròn

Phẩm hàm: Lục phẩm

Màu áo: Xanh nhạt

Hoa văn: Công

Mũ đội: Mũ tròn

Phẩm hàm: Thất phẩm

Màu áo: Xanh da trời

Hoa văn: Uyên ương

Mũ đội: Mũ tròn

Phẩm hàm: Bát phẩm

Màu áo: Nâu nhạt

Hoa văn: Chim sẻ

Mũ đội: Mũ tròn

Phẩm hàm: Cửu phẩm

Màu áo: Xám

Hoa văn: Cá chép

Mũ đội: Mũ vải

Cải cách lễ tang

1.

Lễ tang Hoàng đế

• Thời gian để tang: 27 tháng (3 năm theo âm lịch).

• Trang phục tang lễ: Hoàng tộc mặc áo trắng có viền tím than, tượng trưng cho hoàng gia.

Quan lại mặc áo trắng có viền đen.

• Lễ an táng: Tối giản các nghi lễ rườm rà nhưng vẫn giữ lại các nghi thức quan trọng như phát tang, tế điện, lễ rước linh cữu.

2.

Lễ tang Hoàng hậu, Hoàng thái hậu

• Thời gian để tang: 18 tháng (2 năm theo âm lịch).

• Nghi lễ: Tang phục gần giống Hoàng đế nhưng đơn giản hơn.

Không tổ chức rình rang, chỉ tế điện trong hoàng cung.

3.

Lễ tang quan lại

• Từ nhất phẩm đến tam phẩm: Để tang 1 năm và tang lễ do triều đình tổ chức.

• Từ tứ phẩm đến cửu phẩm: Để tang 6 tháng và tang lễ do gia đình tổ chức, nhưng có sự chứng kiến của triều đình.

Sau khi ta tuyên bố cải cách triều phục và lễ tang, triều đình dậy sóng.

Các quan bảo thủ phản đối: "Bệ hạ, lễ nghi là thứ không thể thay đổi!

Đây là truyền thống từ đời trước, sao có thể bỏ đi?"

Những quan tiến bộ ủng hộ: "Bệ hạ có lý!

Cần đơn giản hóa nhưng vẫn giữ được sự trang nghiêm."

Thái hậu ban đầu có phần bối rối, nhưng sau khi nghe ta giải thích về tính hợp lý, bà cũng đồng ý.

Dân thường ủng hộ: "Triều phục giờ rõ ràng, dễ nhận biết, không còn rườm rà như trước!"

Các gia đình quan lại lớn thì chia rẽ: "Giờ quan thất phẩm cũng có lễ tang riêng, thế là tốt.

Nhưng bỏ bớt nghi lễ hoàng gia thì mất đi vẻ uy nghi quá..."

Dù có nhiều ý kiến trái chiều, nhưng cải cách triều phục và lễ tang giúp triều đình hiện đại hơn, tiết kiệm hơn và dễ áp dụng hơn.

Đây là một bước quan trọng để đưa Đại Nam tiến lên con đường văn minh, thoát khỏi những rườm rà không cần thiết.

Sau buổi thượng triều ngày 27/1/1820 về việc cải cách triều phục và lễ tang, ta cho triệu tập các em trai của mình gồm Nguyễn Phúc Đài, Nguyễn Phúc Bính, Nguyễn Phúc Tấn, Nguyễn Phúc Phổ, cùng một số hoàng thân thân cận để bàn bạc về những cải cách gần đây.

Buổi gặp diễn ra tại Tĩnh Tâm Đường trong hoàng cung, nơi mà Gia Long khi còn sống từng dùng để bàn việc với con cháu.

Khi mọi người đã an vị, ta mở lời trước: "Chư vị hoàng đệ, hoàng thân, những ngày qua trẫm đã liên tục tiến hành cải cách từ chính quyền, luật pháp, hôn nhân đến lễ nghi triều đình.

Nay mời các khanh đến đây để cùng bàn bạc, xem còn điều gì chưa ổn cần điều chỉnh hay không."

Căn phòng chìm vào một thoáng tĩnh lặng, ai nấy đều hiểu rằng những cải cách gần đây của ta đã gây chấn động không chỉ trong triều mà còn ngoài dân gian.

Nguyễn Phúc Đài, người có tính cẩn trọng, lên tiếng trước: "Hoàng huynh, các cải cách của huynh quả thực có lợi cho quốc gia, nhưng lại động chạm đến nhiều lợi ích cũ.

Đặc biệt là việc cải cách luật hôn nhân, tư thuộc và nay là lễ phục, lễ tang.

Trong hoàng tộc, có nhiều người lo lắng rằng những thay đổi này làm mất đi uy nghiêm của hoàng gia."

Nguyễn Phúc Bính, có tính thẳng thắn, liền bổ sung: "Đệ thì nghĩ những cải cách này hợp lý, nhưng có điều...

Huynh quá quyết liệt, không cho các quan thời gian thích ứng.

Điều này làm nhiều người hoang mang, nhất là những kẻ bảo thủ.

Nay lại thêm quy định hạn chế hoàng thân tuyển cung phi, chuyện này chắc chắn gây bất mãn."

Nguyễn Phúc Tấn, người trầm tính nhưng thông minh, nhấp chén trà rồi nói chậm rãi: "Bệ hạ, đệ ủng hộ cải cách.

Nhưng đệ thấy rằng cần có một số điều chỉnh để không gây phản ứng quá mạnh.

Ví dụ, trong hoàng tộc, có thể cho một số nhánh được giữ nghi thức tang lễ truyền thống nếu họ muốn, để tránh cảm giác bị mất đi quyền lợi.

Còn về triều phục, việc chuẩn hóa rõ ràng là cần thiết, nhưng có thể cho phép một số biến thể trong các dịp đặc biệt."

Nguyễn Phúc Phổ, nhỏ tuổi hơn nhưng cũng rất thông minh, suy nghĩ một lúc rồi mới lên tiếng: "Hoàng huynh đã đi một bước rất xa trên con đường cải cách, nhưng nếu chỉ nhìn vào phản ứng của các đại thần thì chưa đủ.

Đệ cho rằng huynh cần xem xét phản ứng của dân chúng nhiều hơn.

Nếu dân chúng ủng hộ, thì những kẻ chống đối trong triều cũng không thể làm gì hơn."

Sau khi nghe ý kiến của các em, ta gật đầu, chậm rãi đáp:

"Trẫm hiểu rõ những lo lắng của các khanh.

Nhưng nếu không làm ngay bây giờ, thì bao giờ mới làm?

Chúng ta không thể cứ mãi giữ những thứ cũ kỹ, rườm rà mà không phù hợp với thời đại nữa.

Cải cách là để phù hợp với hiện tại và tương lai, không phải để phá bỏ truyền thống một cách vô nghĩa."

Ta quay sang Nguyễn Phúc Tấn: "Những đề xuất của khanh rất hợp lý.

Về lễ tang, có thể cho phép những nhánh hoàng tộc nào muốn giữ truyền thống thì họ vẫn có thể thực hiện trong phạm vi gia đình, nhưng tang lễ hoàng gia chính thức thì phải theo quy chế mới.

Còn về triều phục, ta sẽ cân nhắc thêm một số chi tiết đặc biệt dành cho các dịp tế lễ lớn."

Ta nhìn về phía Nguyễn Phúc Bính và Nguyễn Phúc Đài: "Còn về hôn nhân và tư thuộc, đây là chuyện khó tránh khỏi sự phản đối.

Nhưng trẫm không thể để Đại Nam tiếp tục như cũ, nơi mà hoàng thân có thể tùy tiện lập thê thiếp mà không theo quy chuẩn nào.

Những quy định này là để giữ sự ổn định lâu dài, tránh tình trạng quyền lực bị phân tán quá mức trong hoàng tộc."

Sau đó, ta hướng mắt đến Nguyễn Phúc Phổ, người em trai nhỏ tuổi nhưng suy nghĩ thấu đáo: "Khanh nói đúng.

Trẫm sẽ cho các quan khảo sát thêm phản ứng của dân chúng.

Nhưng thực tế, từ sau cải cách, trẫm đã nhận được nhiều tấu sớ từ dân chúng ủng hộ.

Bọn họ mừng vì thuế giảm, chính quyền chặt chẽ hơn, và hôn nhân cũng rõ ràng hơn.

Điều đó chứng tỏ con đường của chúng ta là đúng đắn."

Sau cuộc trò chuyện kéo dài gần hai canh giờ, các hoàng đệ và hoàng thân dần hiểu ra quan điểm của ta.

Dù vẫn còn nhiều suy nghĩ riêng, nhưng ai nấy đều nhận ra rằng cải cách là tất yếu, chỉ có điều cần điều chỉnh cách thực hiện sao cho ít gây xáo trộn nhất.

Trước khi kết thúc, ta nói: "Cải cách không bao giờ là dễ dàng, nhưng nếu chúng ta không thay đổi, thì Đại Nam sẽ mãi trì trệ.

Trẫm mong chư vị hoàng đệ và hoàng thân hiểu rõ điều này, cùng trẫm gánh vác việc nước, để tạo nên một triều đại vững mạnh hơn."

Nguyễn Phúc Đài, Nguyễn Phúc Bính, Nguyễn Phúc Tấn và Nguyễn Phúc Phổ đều cúi đầu lĩnh mệnh.

Dù trong lòng mỗi người có những suy tính riêng, nhưng ít nhất, họ đã hiểu rằng con đường ta đi là con đường duy nhất để đưa Đại Nam tiến lên thời đại mới.
 
Back
Top Bottom