Cập nhật mới

Khác Tình Mình Hoà Trong Tiếng Thở Của Non Sông

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
400222049-256-k600611.jpg

Tình Mình Hoà Trong Tiếng Thở Của Non Sông
Tác giả: vyngutruoc11htoi
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Thể loại: Ngôn tình, cảm hứng lịch sử, kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Tác giả: Vy

Mô tả: Trong chương 1 nhé



khangchienchongmycuunuoc​
 
Tình Mình Hoà Trong Tiếng Thở Của Non Sông
Chương 1: Tuổi Thơ.


Trong biển lửa mịt mù của chiến tranh, Hạ, cô quân y với trái tim khắc khoải khát vọng trở về, đã dũng cảm chạy về phía đồng bào, tìm lại cội nguồn máu thịt của mình.

Giữa vùng đất rực cháy, nơi từng tấc đất thấm đẫm mồ hôi và máu, cô gặp Trung, chàng lính trận mạc với đôi mắt sáng ngời như sao, nụ cười trong veo như chưa từng vướng khói bom đạn lửa.

Anh thuộc về lớp người ra đi trong buổi bình minh của Tổ quốc, mang theo trái tim rực rỡ niềm tin và tuổi trẻ.

Giữa khói lửa chiến trường, họ vẫn tin vào ngày mai, khi bầu trời thôi mù khói, cánh đồng lại xanh, và những giấc mơ được tiếp tục bằng hòa bình.

Giữa tiếng bom dội vọng đến tận chân trời, giữa khói lửa mịt mùng phủ kín những triền đất hoang, tình yêu của họ âm thầm nảy nở, lặng lẽ nhưng kiên cường.

Không cần những lời hẹn ước, chỉ một ánh nhìn đã thành lời thề.

Đó không chỉ là tình yêu của đôi lứa, mà còn là khúc nguyện thề hòa vào đất nước: cùng sống, cùng yêu, cùng hiến dâng cho Tổ quốc.

Từ những câu nói đùa hồn nhiên giữa giờ nghỉ hiếm hoi nơi chiến hào, đến những phút kề vai dìu nhau qua cơn mưa đạn, họ đã biến tình cảm riêng thành ngọn lửa âm ỉ, soi đường để mỗi bước ra trận không còn đơn độc.

Nhưng chiến tranh nào cho họ quyền được bình yên.

Đất chưa yên, non sông còn giằng xé, họ buộc phải gác lại tình riêng, để giữ trọn nghĩa lớn.

Như hai vì sao trôi dạt giữa bầu trời rực lửa, một người trên tiền tuyến, một người ở hậu phương, dẫu xa ngàn dặm lòng vẫn tìm nhau.

Tình yêu ấy chảy qua từng trang thư, qua tiếng gọi thầm trong giấc ngủ, dịu dàng mà day dứt, như mạch nguồn không bao giờ cạn.

Sau bao mùa chinh chiến, khi khói lửa đã lùi vào dĩ vãng, đất nước đứng dậy trong dáng hình thống nhất, non sông liền một dải, đất nước vẹn tròn như chính ước nguyện mà cả hai từng hằng ôm giữ.

Người ta ngỡ rằng sau những năm tháng mất mát, họ sẽ được nắm tay nhau dưới bầu trời tự do.

Nhưng định mệnh khắc nghiệt đã không cho họ kịp trọn một tình yêu.

Kết thúc của họ không tròn, để lại cho người ở lại nỗi đau thăm thẳm không ngày nguôi.

Vậy mà khi ngoái nhìn, nỗi buồn ấy không còn là dang dở.

Bởi chính trong những tháng ngày bão tố, họ đã yêu nhau bằng tất cả thanh xuân, tình riêng và lý tưởng đã vượt khỏi thân phận thường tình của hai con người để hòa vào nghĩa nước non, tình đồng đội, hóa thành bất tử.

Giữa máu và hoa, giữa mất mát và hy sinh, mối tình của họ bừng sáng như một khúc tình ca bi tráng, ngân vang trong bản hùng ca của dân tộc.

Ở đó có tình yêu đôi lứa hòa vào tình yêu Tổ quốc, có nước mắt hòa cùng hào quang, có cái riêng tan vào cái chung để làm nên một ánh sáng không bao giờ tắt.

Tác giả: Vy

Lưu ý: Truyện lấy cảm hứng và tham khảo từ những sự kiện, nhân vật có thật trong lịch sử tuy nhiên các tình tiết trong truyện đều là hư cấu, là sản phẩm của trí tưởng tượng, không có giá trị tham khảo.

Vui lòng tìm hiểu ở những nguồn sách uy tín. (Lần đầu viết sẽ có những sai lầm không cố ý, hãy góp ý với tác giả để tác giả kịp thời sửa chữa, cảm ơn quý độc giả và chúc các bạn được truyện vui vẻ)

-------------------

Nhiều năm rồi, hòa bình đã về, mùa Xuân cuối cùng cũng trở lại trên mảnh đất Việt Nam dịu dàng như lòng mẹ, mảnh đất đã qua mùa lửa đạn mà vẫn thơm mùi rơm mới, ngọt tiếng chim ban sớm, vẫn ôm trọn bước chân của những người con trở về với quê hương.

Tôi đã già, mắt mờ, tóc bạc, chân tay chẳng còn nhanh nhẹn như xưa, mà con đường trước ngõ vẫn cứ trống trơn.

Mỗi khi có bóng người từ xa, tôi lại ngẩng đầu nhìn, dõi mắt theo con đường đất đỏ ngoằn ngoèo giữa hàng tre.

Chỉ để... chờ những đứa con của tôi.

Chúng nó đi lâu quá rồi.

Mấy mùa lúa đã gặt, mấy lượt bầy chim sẻ đến rồi bay, mà tôi vẫn chưa thấy bóng dáng nào trở về.

Ba chúng nó, ba đứa con trai lớn, rồi cả đứa con dâu, tất cả đã nằm lại đâu đó ngoài chiến trường.

Người ta bảo tôi thôi, đừng mong nữa... nhưng sao được.

Lòng mẹ mà, thương con thì chẳng thể bảo thôi là thôi.

Tôi đã góp cho kháng chiến cả một đời, không tiếc, không hối hận.

Nhưng giữa cái tự hào lặng lẽ ấy, tôi vẫn ước giá như còn một đứa nào đó về với tôi, để tôi nghe tiếng gọi "má ơi" thêm lần nữa.

Ngồi tựa cửa, tôi thấy thằng Tí hàng xóm lon ton chạy ngang, cái quần đùi đỏ cũn cỡn, tóc cháy nắng vàng hoe, cái miệng sún cười toe, hai bắp chân tròn vo lấm lem bùn đất.

Bất giác, tôi lại thấy thấp thoáng bóng thằng Trung hồi mới bốn tuổi , cũng cái dáng nhỏ xíu, chạy líu ríu như chim sẻ, mắt đen láy lúc nào cũng long lanh như đang cười.

Ký ức như sợi dây mảnh buộc vào tim, chỉ cần khẽ kéo, cả một trời ngày xưa lại ùa về, rộn ràng, ấm áp... rồi se sắt đau như mới hôm qua.

...

Năm 1941, đất nước còn quằn quại trong xiềng xích, miền Bắc như một cánh đồng úa vàng dưới gót giày thực dân, bóng cờ tam tài của bọn Pháp phấp phới trên những đồn lính, những phố chợ, như một thứ ám ảnh lạnh lùng.

Ba của Trung, ông Lê Thành, rời khói bếp quê nhà, rời cái ôm nghẹn ngào của người vợ bụng mang dạ chửa, ông khoác súng lên đường theo đoàn quân kháng chiến.

Giặc Pháp bủa vây, đồn bốt mọc như nấm, cuộc sống chẳng còn yên.

Rồi giữa những ngày giặc giã, bà gạt nước mắt, ôm bụng bầu, rời làng quê ngoài Bắc, xuôi tàu xe vào Nam nương nhờ quê mẹ đẻ, như một cánh chim lạc tổ tìm nơi nương náu.

Đứa nhỏ trong bụng bà vừa gánh nặng và cũng là hy vọng.

Đến năm 1945, khi đất trời chuyển mình trong cơn bão lịch sử, Trung cất tiếng khóc chào đời ngày nào, nay đã tròn bốn tuổi.

Hai người anh trai nối chí ba, bỏ lại mái nhà đơn sơ nơi có má và đứa em út, đi vào ngút ngàn kháng chiến.

Đứa bé ấy trở thành tất cả những gì còn sót lại của người đàn bà ấy sau ngần cuộc chia lìa.

Không nhà cao cửa rộng, không họ hàng gần gũi, chỉ có má với con, nương vào nhau mà sống, như hai nhánh lúa nhỏ cố trụ vững trong gió chướng, nuôi nhau bằng hơi ấm và niềm chờ đợi mịt mờ nơi biên ải xa xôi.

Trưa mùa khô.

Nắng đặc quánh như mật, dội thẳng xuống mái ngói rêu phong rồi vỡ ra thành những vệt sáng vàng ong rót đầy sân đất.

Trời cao vời vợi, trong veo.

Gió lùa qua hàng tre kẽo kẹt, như tiếng thì thầm kể lại chuyện xưa.

Trong cái nhà cũ, ở làng nhỏ ven con sông đục phù sa, thằng Trung mới bốn tuổi, tóc nó xù như ổ quạ, dựng ngược hết lên, đôi mắt còn lèm nhèm ghèn, trên má hằn nguyên vệt gối.

Nó bật ngồi dậy, ngơ ngác như kẻ vừa bị kéo khỏi một giấc mơ ngọt ngào ban trưa.

Nó ngồi thừ ra, lắng nghe tiếng gió thổi qua mái tranh, mùi khói bếp thoảng vào từ cửa sổ.

Rồi ngáp một cái dài, cái miệng há to đến nỗi lúm đồng tiền cũng bị kéo ra thành một vết lõm dễ thương.

Má Lành vừa nhóm bếp vừa ngoái nhìn, môi mỉm cười: "Lève-toi, mon petit."

Má Lành khẽ nói, giọng pha chút đùa.

Thằng nhỏ chớp mắt mấy cái, rồi lí nhí đáp lại, cái miệng móm mém kéo dài chữ "bonjour" như cố khoe vốn tiếng Pháp lận lưng: "Bonjour, má!"

Má lườm yêu nó: "Giỏi ha, mới bốn tuổi mà nói tiếng Tây sỏi quá."

Chỉ là mấy câu má dạy.

Trung chẳng biết học để làm gì, bởi quanh đây đâu ai nói thứ tiếng đó ngoài má.

Nhưng nó thích, thích lắm.

Vì cứ mỗi lần thốt ra, lại thấy má cười, đôi bàn tay chai sần khẽ xoa đầu nó, dịu dàng như đang nâng niu một viên ngọc nhỏ.

Nó lồm cồm tụt xuống khỏi cái chõng tre ọp ẹp, cái quần đùi buộc hai đùm hai bên mà vẫn lỏng lẻo tụt khỏi rốn, để lộ cái bụng sữa tròn vo, trắng nõn như quả trứng gà vừa luộc.

Hai chân ngắn cũn chạy lạch bạch trên nền đất, cái dáng hối hả chẳng khác gì con vịt con vừa mới nhảy xuống ao.

Nó lao đến góc nhà, lục cái rương gỗ nhỏ đã mòn dẹt cạnh vì bao năm mở ra đóng vào.

Nó hì hục kéo nắp rương lên, đôi bàn tay bé xíu sờ soạng, lục lọi như đang tìm một bí mật lớn.

Và rồi, ở tận đáy, hiện ra một chiếc mũ vãi bạc màu, đó là nón của ba nó, người lính ngoài mặt trận miền Bắc xa tít mù mà hình dáng trong trí nhớ thằng bé chỉ được ghép từ vài tấm ảnh ố vàng, được gửi sau một chuyến công tác, ba còn gửi kèm một quyển sổ tay nhỏ, mép sổ cột bằng sợi dây dù xanh sẫm.

Quyển sổ ấy với thằng bé chẳng khác nào kho báu.

Giấy bên trong đã ngả màu, dày những trang chữ viết tay, nghiêng nghiêng mà cứng cáp.

Thơm ngai ngái mùi cũ kỹ, lại phảng phất thêm mùi khói thuốc, mùi mồ hôi mặn của người đàn ông xa xôi như chắt lọc hơi thở của người lính nơi chiến trường gửi về.

Ba nghe má khoe trong thư rằng thằng Trung đã biết đọc chữ, nên mới gửi cả quyển nhật ký về, vừa để con tập đánh vần, vừa như một cách thủ thỉ với vợ và con qua từng trang giấy.

Nó bế quyển sổ lên bằng hai tay, nâng niu như ôm cả một gia tài.

Đôi mắt sáng rực, nó chạy lon ton ra bậu cửa, ngồi thụp xuống, mở quyển sổ đặt ngay ngắn lên đầu gối, ngón tay trỏ di theo hàng chữ, nghiêng đầu đánh vần từng chữ, giọng ê a: "H...hôm nay, đơn vị... anh hành... quân... qua... cánh rừng già.

Anh em... mệt lả, nhưng... vui lắm..."

Đọc đến đó, nó nhíu mày, cái trán nhăn lại thành mấy đường ngang ngắn ngủn.

Thằng nhỏ ngước lên, gọi với vào trong bếp, giọng còn dính mùi ngái ngủ: "Má ơi, hành quân là đi đâu?

Sao đi mệt mà cũng vui?"

Trong bếp, tiếng rơm lách tách cháy.

Bàn tay đang cầm nhúm rơm của má Lành khựng lại.

Một thoáng, đôi mắt thoáng đượm xa xăm, nhưng khi quay sang nhìn con, giọng đã trở về dịu dàng, nhẹ như khói bếp lan qua cửa sổ: "Là đi bộ nhiều ngày, mang súng trên vai.

Đi để giữ đất, giữ quê.

Vất vả lắm chớ, nhưng có bạn bè đi cùng, thấy bóng nhau trên đường, người lính vẫn thấy vui."

"Bộ đi xa lắm hả má?

Sao ba cứ đi hoài mà không về?"

Má Lành khựng tay đang đảo nồi cơm độn khoai, làn khói bốc lên cay mắt.

Đôi con ngươi thoáng sẫm lại như kéo bóng chiều về sớm.

Giọng bà vang lên, mềm như khói nhưng ẩn nỗi nghẹn ngào:

"Ừ... ba con đi xa lắm.

Nhưng đi để cho các con được ngủ yên, ăn no, được đến trường.

Ở đâu có giặc, ở đó có ba con."

Trung gật gù, làm ra vẻ đã hiểu, rồi lại cúi xuống đọc tiếp.

Môi nhỏ run run, từng chữ bật ra như ngọn gió non chưa kịp cứng cáp: "...Hôm nay...

Bác Hồ...

đến thăm đơn vị.

Người hỏi có mệt không...

Người nắm tay từng chiến sĩ...

động viên, dặn dò...

Rồi lấy kẹo lạc, thuốc lá... làm quà cho anh em..."

Nó dừng bặt.

Đôi mắt mở to tròn xoe, long lanh ánh sáng.

Trong trí tưởng tượng trẻ thơ, hiện lên một ông cụ hiền lành, chòm râu bạc phất phơ, đứng giữa hàng quân, bàn tay ấm áp siết lấy tay ba nó.

Hình ảnh ấy bừng sáng trong tâm trí thằng bé như đốm lửa thắp giữa đêm rừng sâu.

Nó ngẩng phắt lên, đôi mắt tròn xoe: "Má ơi, Bác Hồ là ai?

Sao Bác lại đi cho kẹo các chú vậy ạ?"

Giọng bà dịu dàng mà chậm rãi: "Bác Hồ là Bác của cả nước mình, thương lính như thương con.

Bác là người soi đường, dẫn lối cho dân mình."

"Vậy mai mốt con gặp Bác, Bác cũng cho con kẹo hả má?"

"Có chứ, Bác Hồ thương các cháu thiếu nhi lắm."

Trung lại lật sang trang khác.

Lần này chữ viết đậm hơn, rõ hơn, nặng hơn, như thấm cả một đêm dài thao thức: "...Đêm nay nằm võng nghe mưa rừng, mưa dội vào lá rừng nghe như tiếng ai thở dài.

Thấy nhớ quá, nhớ nhà, nhớ tiếng con gọi "ba" quá, Lành ạ.

Nhớ cả cái lúm đồng tiền của thằng nhỏ..."

Đọc đến đây, Trung ngẩn ngơ, ngón tay khựng lại trên trang giấy: "Má ơi, lúm đồng tiền là gì vậy?"

Má Lành đang cời nắp nồi cơm độn khoai, nghe con hỏi thì buông cái nắp nồi xuống khe khẽ, bà ra bậu cửa, ngồi xuống cạnh con, đưa ngón tay gầy gò khẽ chạm vào má nó, nơi cái lúm nhỏ xinh hiện ra khi nó cười: "Đây nè, cái này nè... ba nhớ cái này đó.

Giống y như của má hồi còn con gái."

Bà cũng đưa tay chỉ lên má mình.

Trung tròn mắt nhìn, chợt phát hiện trên đôi má sạm gió của má cũng có hai cái lúm giống hệt, nó cười toe, nụ cười làm lúm má nó hằn sâu, sáng như một giọt nắng trên gương mặt non tơ.

Nó hớn hở như vừa tìm thấy một bí mật kỳ diệu.

Nhưng má thì quay đi, bàn tay run run nắm lấy vạt áo nâu.

Nỗi nhớ chồng, nỗi lo chiến trận, nỗi thương con dồn cả trong khoảnh khắc ấy, mà bà chỉ có thể kìm lại bằng cách đặt tay lên đầu con, thì thầm như gửi cả một trời yêu thương: "Con nhớ, ba con đi đâu cũng vì má con mình, vì đồng bào mình.

Đừng buồn ba nghen, con."

Trung đáp liền, giọng lanh lảnh mà trong veo như con chim chào mào: "Con bỗng có buồn đâu, má!"

Nói xong, nó lại cắm cúi vào mấy dòng chữ, mặt mày nghiêm trang như đang đọc kinh sách.

Có nhiều chữ nó không tài nào hiểu nổi, nhưng nó vẫn đánh vần, rồi chắp nối bằng trí tưởng tượng trẻ thơ, cái đầu óc bé con đã tưởng tượng ra nào là ba bắn giặc oang oang như trong truyện tranh, nào là ba cùng đoàn quân lẩn khuất dưới bóng rừng rậm, nào những người lính vai mang ba lô hát vang khúc ca giữa đêm hành quân...

Trong cái đầu mới bốn tuổi, chiến tranh nghe vừa đáng sợ vừa lạ lẫm, mọi hình ảnh chập chờn như khói, nhưng riêng cái bóng dáng của ba thì oai hùng, sáng lòa hơn cả.

Đến đoạn: "Nhớ Lành với thằng nhỏ lắm.

Dặn nó ngoan, học chữ, đừng quấy.

Lành cũng nhớ giữ sức khỏe, đừng lo nghĩ chi cho anh.

Gửi ngàn cái hôn về cho em và con..."

Cặp mắt Trung tròn xoe như hai hòn bi ve, vành tai đỏ bừng như trái ớt chín.

Trái tim thằng bé thì nhảy tưng tưng trong lồng ngực, chẳng khác nào con cá lóc mắc cạn đập loạn xạ.

Trong đầu nó cứ văng vẳng mấy chữ "ba hôn má... ba nhớ con..." nghe vừa lạ, vừa ngọt, lại vừa... sến muốn chết!

"Ngàn... cái... hôn?

Ba hôn gì dữ vậy trời?

Hôn con thiệt hả?

Hôn má nữa?

Ủa mà... ba ở xa, hôn sao tới được?"

Nó vừa hỏi vừa đưa tay che má, mặt đỏ gay mà ngây ngô đến thương.

Má Lành không nhịn được, cười bật ra mà nước mắt cứ dâng lên.

Bà gạt vội đi, như sợ thằng nhỏ thấy mình khóc, nhưng bàn tay vẫn run run vuốt tóc con: "Ừ, ba con hôn từ xa đó.

Con cứ tin đi, ba thương con, thương má hơn hết thảy.

Thắng trận ba về nhà với mình."

Nó lại hỏi: "Ba nhớ má, vậy má nhớ ba không?"

Giọng nó trong veo, hỏi mà chẳng hiểu câu hỏi đó như mũi dao xoáy vào tim người đàn bà đang đứng trước mặt.

Má Lành cười gượng: "Có, má nhớ chớ con.

Nhớ từng bữa... từng ngày."

Trung gật gù, đôi mắt long lanh như bắt được một ý nghĩ mới.

Nó ngẩng mặt, giọng ngây thơ vang ra giữa căn nhà vắng:

"Vậy... khi nào ba về, má cho con theo ba đi với Bác Hồ nghen.

Trong này ba viết là ba gặp Bác rồi... con cũng muốn coi thử Bác cười có đẹp như nắng ngoài sân hông."

Má Lành khựng lại.

Lời con thốt ra hồn nhiên, mà sao như một lời gửi gắm từ miền binh lửa mịt mùng, nghe vào tim người mẹ lại nặng như đá, dội lên một linh cảm mơ hồ.

Nó chẳng giống một đứa trẻ chỉ tò mò về người vĩ nhân ấy, mà như thể con trai bà đã ngỏ ý muốn rời vòng tay mẹ, muốn bước vào cái cõi binh đao ngoài kia.

Ba nó theo cách mạng, hai đứa lớn cũng đã lần lượt khoác súng lên vai, nối nước ba nó mà đi.

Con đường họ đi mịt mờ khói súng, chẳng biết ngày trở lại.

Một thoáng, bà thấy gai lạnh chạy dọc sống lưng, bà sợ lắm... sợ một ngày nào đó, chiến tranh, lửa đạn ngoài kia cũng sẽ giằng mất đứa con thơ bé cuối cùng này, để rồi bà chẳng còn gì để ôm ghì trong những đêm dài mong mỏi.

Bàn tay bà đang xoa đầu con khẽ run, trái tim thắt lại.

Ngoài kia gió hun hút thổi qua vườn chuối, kéo theo tiếng ve ran như nỗi khát khô mùa hạn.

Giữa cái mênh mông ấy, bà bỗng thấy mình nhỏ bé, như thể chẳng đủ sức che chở cho ánh mắt trong veo kia khỏi cơn bão dâu bể.

Bà hít sâu, để giọng mình đừng lạc đi: "Ừ... mai mốt con lớn, biết đâu cũng được gặp Bác.

Lúc đó, con sẽ thấy... nụ cười của Người sáng như mặt trời, soi rọi cả đất trời quê hương mình."

Nghe thế, mắt Trung bỗng sáng rực.

Nó gật đầu liên hồi, miệng cười ngoan ngoãn:

"Dạ!

Mai mốt con lớn, con sẽ gặp Bác... con sẽ kể lại cho má nghe nha!"

Nói xong, nó vỗ tay cái "bốp" nhún người như muốn bật dậy ngay tức khắc, nhưng rồi lại rụt vào lòng má, cười khúc khích, hai bàn chân nhỏ cứ đung đưa trên nền đất như đếm từng nhịp mong chờ.

Má Lành chỉ cười không đáp, xoa đầu con rồi quay vào bếp, cặm cụi bên bếp rạ lo cơm nước.

Còn Trung, mắt cứ dán chặt vào cuốn sổ, say mê đọc từng dòng nhật ký của ba, kể về những câu chuyện, những đoạn đời mà nó chưa hiểu hết, khiến nó được chạm tới hơi thở của một thế giới vừa xa lạ vừa thân quen, trong từng câu chữ, nó nghe như có giọng ba vọng về: kể chuyện ngoài rừng, chuyện đồng đội, chuyện những ước mơ chưa thành... và trên tất cả, là một niềm tin cháy bỏng mà ba nhắc đi nhắc lại.

Đọc được một lúc, thấy trang cuối đã gần kề, Trung giật thót, vội vàng gập cuốn sổ lại, hai bàn tay bé xíu giữ chặt như giữ một kho báu.

Con nít thường hay tò mò, đọc được bao nhiêu thì đọc cho đã, vậy mà nó lại sợ.

Sợ nếu đọc hết, cái giọng của ba trong đầu nó sẽ lặng đi, rồi chẳng còn gì để nó nghe, để nó nhớ mỗi ngày.

Thư từ, quà cáp ba gửi về hiếm hoi lắm, có khi nửa năm, có khi trọn cả năm trời.

Mỗi con chữ trong cuốn sổ, với Trung, chẳng khác nào hơi ấm ba còn sót lại, lấp lánh giữa những ngày dài vắng bóng.

Nó lấy cái mảnh vải con má cho ngày trước, cái mảnh vải bạc màu như khúc trời cũ, quấn quanh cuốn sổ, xong nhét lại chỗ cũ trong chiếc hòm gỗ ọp ẹp.

Động tác của nó rón rén y như giấu một bí mật lớn, cái thứ nó tin là chỉ nó và má mới hiểu.

Nghĩ vậy, lòng nó vừa chùng xuống, vừa nao nao.

Nhưng chỉ thoáng thôi, cái tính trẻ con nhanh như lửa rơm đã lại bùng lên.

Mắt ngó ra ngoài hiên.

Nắng trưa đã dịu đi, rớt xuống mảnh sân mấy vệt vàng hoe.

Nó ngẫm nghĩ rồi đứng phắt dậy, chạy lại cái chỗ cái bậu cửa nãy ngồi, lấy cái nón vải cũ đã sờn chỉ.

Chiếc nón màu cỏ úa, sờn mép, lâu ngày méo mó, một bên vành đã tóp xuống, có chỗ bạc trắng ra lổ những vết sờn như vết chém của thời gian.

Má nói, nón này ba hay đội khi ở chiến khu.

Mỗi lần đội lên, Trung thấy như mình lớn thêm cả chục tuổi, cái nón vải cũ không khác gì một báu vật, vừa đội vừa ngẩng mặt tự hào.

Trung đội cái nón chụp lên đầu mình, cái nón to quá, nó lọt thỏm dưới cái vành rộng, tụt xuống tận mí mắt, che lấp đôi tai nhỏ, vành nón chạm lưng.

Nó cười hí hí, hai lúm đồng tiền lặn tít trên má, nhón chân chạy ra chái bếp.

Cái nón lắc lư trên đầu nó rộng thùng thình, to gần bằng nửa người, làm nó chạy mà cứ chao qua chao lại như gà con đội rổ, vừa chạy nó vừa phải hất lên cho khỏi che mắt, suýt vấp vô cái bậc cửa nhưng vẫn không chịu bỏ nón ra.

Trung chạy ùa vào, như cơn gió nhỏ, chui tọt vào lòng má, giọng reo lên đầy háo hức: "Má ơi, cho con ra sân chơi nghe má?

Nghe mà!!!"

Cái miệng nó toe toét, cười đến rạng rỡ, tưởng chừng nụ cười kia có thể làm dịu đi cả nắng trưa đang changchangngoài ngõ.

Má liếc ra sân.

Nắng như rót lửa xuống sân, con đường trước ngõ vắng không một bóng người, chỉ có bụi đỏ lơ lửng trong không khí.

Bà khẽ lắc đầu: "Thôi, chơi trong nhà đi út.

Nắng vậy, bệnh lại thì khổ, hôm trước sốt uống thuốc đắng không nhớ hả?"

Thằng nhỏ bật dậy ngay, đôi mắt long lanh phản chiếu ánh sáng trưa hè:

"Con không bệnh đâu má, con chơi chỗ... chỗ không nắng mà... thiệt đó!!!"

Nó vừa nói vừa nhảy nhót, một tay giữ nón, một tay túm vạt áo má kéo kéo.

Tiếng cười con nít vang giòn trong gian bếp vách đất, át cả tiếng nước sôi ục ục từ nồi cơm đang sôi trên bếp rạ.

Mặt nó đỏ bừng vì vừa chạy vừa cười, mắt long lanh như háo hức muốn thử ngay cái trò vui vừa nảy ra trong đầu mình.

Cái nón của ba thì cứ trễ xuống gần chạm lông mày, làm nó phải ngẩng cổ thật cao để nhìn má.

Nhìn nó lúc ấy, vừa ngây ngô vừa đáng yêu, má Lành cười khẽ.

Bà thấy con mình đội cái nón cũ kia mà bồi hồi, tim chùng lại.

Tấm nón từng theo chồng đi kháng chiến, giờ lại ngả nghiêng trên đầu thằng nhỏ mới bốn tuổi, y như có một sợi dây vô hình nối hai cha con lại, nối liền hai thế hệ.

Trong khoảnh khắc ấy, má thấy ba nó đang đứng trong hình dáng của con trai mình, cái tinh nghịch trẻ thơ hòa lẫn với cái bóng dáng người đàn ông xa vắng.

Má Lành không đáp vội.

Bà chỉ đưa tay khẽ lau giọt mồ hôi lăn trên má con, rồi gật đầu, giọng vừa ấm vừa trầm như một tiếng ru: "Ừ, ra sân chơi đi... nhưng trời nắng gắt lắm, đừng chạy ngoài nắng nhiều, nhớ đừng nghịch cát nghe con."

Nói vậy, nhưng bà vẫn chưa để nó đi.

Bà kéo nó vào lòng, ôm ghì, bàn tay run run áp lên tấm lưng nhỏ, như thể chỉ cần buông ra thì đứa bé sẽ lọt thỏm vào khoảng không rộng lớn, nơi đầy rẫy những nghiệt ngã ngoài kia.

Trung cười khì, không hiểu sao má ôm riết như vậy, chỉ thấy ngột ngạt nên vùng ra, lon ton chạy ra sân, cái nón rộng vành lắc lư theo từng bước, rung rinh như đôi cánh nhỏ, khiến nó trông hệt một con sẻ non đang tập bay trong nắng.

Vừa chạy nó vừa la to, giọng trong veo vang cả xóm: "Bộ đội, hàng một, đi đều!

Một! hai! một! hai!"

Má Lành ngồi lại trong gian nhà vách đất, nhìn theo bóng dáng con nhảy nhót giữa nắng.

Trong lòng bà dâng lên một nỗi vừa buồn vừa kiêu hãnh, thứ cảm xúc chẳng thể gọi thành lời, như có gai nhọn chạm vào tim, mà cũng như có ngọn lửa thắp sáng ở đó.

Cái sân nhà Trung chẳng rộng gì cho cam, chỉ là một khoảnh đất nện trơ, nhưng từ ngày theo má vào Nam, nơi này đã thành chốn trú ngụ mới, thành một thế giới nhỏ vừa khép kín mà lại bao la trong mắt thằng bé.

Mùa này, đất khô nứt toác, từng vết nẻ ngoằn ngoèo như bàn tay ai vô tình vạch xuống mặt sân.

Nắng trải xuống từng khoảnh, chỗ sáng thì vàng rực như mật ong vừa rót, chỗ râm thì mát rượi như giọt nước thấm vào da.

Chiều về, gió từ cánh đồng xa lùa lại, mang theo mùi rơm rạ khô, mùi cỏ cháy nắng, lẫn cái hương ngai ngái từ đống rạ chất góc sân, nghe như mùi của ký ức còn sót lại đâu đó trong đất.

Trước ngõ, con đường đất phơi mình trong nắng, bụi đỏ lấp lánh như có ai vừa tung một nắm muối vào không trung.

Trên mặt đường, dấu chân gà chen lẫn dấu dép của mấy bà hàng xóm, in hằn lên cái màu đất mùa khô.

Ở góc sân, cái lu nước to bằng nửa người Trung lặng lẽ nằm đó, mặt nước sáng long lanh như tấm gương, con chuồn chuồn cứ chập chờn đáp xuống lại vụt bay lên, như thử soi bóng mình mà chẳng bao giờ đủ kiên nhẫn.

Đầu vườn, mấy bụi chuối xoè lá rộng như những chiếc quạt khổng lồ, gió thổi qua nghe phành phạch, vui tai như tiếng trống nhỏ.

Bên hè, cây mận già oằn mình, thả xuống sân những vệt sáng lấp lánh, loang loáng như trăm ngàn con đom đóm bay giữa ban ngày.

Con chó vàng nằm dài dưới hiên, cái bụng phập phồng theo nhịp thở, chốc chốc ngóc đầu sủa vu vơ vài tiếng rồi lại ụp xuống, thở phì phò như cũng mệt nắng.

Trung lon ton chạy ra sân, bắt gặp một bầy gà con chíu chít quấn quanh chân gà mẹ.

Con nào con nấy tròn vo, vàng ươm như những cục bông biết đi, lạch bạch nối đuôi nhau, cái mỏ bé xíu chấm chấm xuống đất tìm mấy hạt thóc vương.

Thằng nhỏ khoái chí cười rộ, hai tay chắp lại thành cánh, lom khom làm dáng con diều hâu rình mồi, rồi bất thần "quạc" một tiếng thật to.

Cả đàn gà cuống cuồng tán loạn, cánh bay loạt xoạt, gà mẹ lập tức xù lông, xòe cánh lao tới bảo vệ con.

Nó thì vừa chạy vừa ngặt nghẽo cười, đôi dép rơm mòn gót văng ra một bên, chẳng thèm nhặt, cứ chân đất mà phóng, đất cát bám vào kẽ chân đỏ au.

Chạy được một quãng, nó lại nghêu ngao hát, chẳng ra giai điệu nào, chỉ toàn mấy tiếng ư ử vô tư.

Thấy mảnh gỗ khô vương bên bờ rào, nó nhặt lên làm gươm, làm súng, vừa múa may vừa "đoàng đoàng" vào khoảng không, tưởng tượng mình là ba , người lính oai phong , đang bắn giặc, đang đi giải phóng quê hương.

Xa xa, khói lam chiều bắt đầu bay lên từ những mái nhà xóm dưới, quyện cùng tiếng trâu gọi nghé, tiếng mõ trâu lốc cốc... tạo thành một bản nhạc quê nhà vừa yên bình vừa ấm áp.

Ngoài ngõ, tiếng bọn trẻ hàng xóm í ới gọi nhau: "Ê, đi ra bờ mương bắt cào cào hông!"

"Đi, đi lẹ!"

Cả đám ù té chạy, chân trần quẫy bụi, tiếng cười vang lảnh lót, để lại khoảng sân yên ắng.

Trung đứng nhìn theo, cái bóng nhỏ của nó in dài trên sân nắng.

Nhưng khi một đứa quay lại thấy Trung, nó chỉ liếc hờ, rồi cả bọn lại chạy đi, không đứa nào gọi nó, cũng chẳng đứa nào rủ.

Trung đứng sững một chút, bàn tay khựng lại trên cánh gà con vừa chụp.

Nỗi tủi thân len lén như mũi kim châm nhẹ vào ngực: nó cũng muốn đi, cũng muốn có bè bạn, nhưng quen rồi, từ lâu, người ta ít muốn chơi với thằng nhỏ nhà có ba đi đâu chẳng ai rõ, anh cả cũng đi biệt tăm.

Từ nhỏ đến giờ, Trung thường chỉ tự chơi với mình, với gà, với đất, với cỏ dại ngoài vườn, nó thấy vậy cũng vui, chẳng tủi thân gì, nhưng tận sâu bên trong, có một vệt buồn mỏng manh mà chính nó cũng không gọi tên được.

Thế là nó cúi xuống, lại chúi mũi vào đàn gà.

Lũ gà chẳng bao giờ chê nó cả, chỉ cần có bàn tay nhỏ bé lùa nhẹ, chúng chạy tán loạn rồi quay lại ríu rít như cười với nó.

Trung ngồi thụp xuống đất, lấy que vạch vạch lên mấy vết nứt trên sân, tưởng tượng đó là đường hào, là con sông, là biên giới.

Rồi lượm mấy hòn sỏi tròn, xếp thành hàng ngay ngắn như lính đi trận, rồi dùng que tre chỉ huy: "Nghiêm!

Nghỉ!

Tiến lên!"

Giọng ngây thơ mà oai phong ra trò.

Nắng chiều hắt lên đôi má trắng nõn, mắt nó cười híp lại, ngây ngô mà rạng rỡ.

Nhưng cái buổi chiều hiền lành ấy bị xé ra làm đôi bởi tiếng dép lẹp xẹp và cái giọng the thé lạ tai:

"Ối chà!

Thằng Trung nay lớn nhỉ?"

Người nói là bà Bảy bán dầu ở đầu chợ, cái miệng mỏng lét đỏ quạch trầu lúc nào cũng tươi cười nhưng nói toàn lời khiến người ta gai sống lưng.

Bà chống nạnh, đảo mắt một vòng như tìm chuyện, rồi như tiện miệng hỏi, nửa cười nửa xoáy:

"Mấy tháng nay... người ta đồn hoài, không biết thiệt hông nghen.

Hồi còn ở Bắc, nghe bảo anh hai Hoàng của mày... nghe là cán bộ, là Đảng viên gì ghê gớm lắm, rứa mà lại đầu hàng bọn Tây, vậy nên mới không thấy mặt mũi gì ở đây đúng không?

Ngoài Bắc chắc dị nghị quá nên má con mày chạy vô đây ở à?"

Bà chưa dừng lại, còn hạ giọng, nhếch mép: "Mà... dạo ni, chiều chiều tao thấy bọn Tây, bọn lính lê dương tới nhà má mày.

Bộ họ cho cái chi hả?

Ba mày có biết chuyện không Trung?

Ổng đi làm xa gì đó sao biết má mày ban đêm cho đàn ông vô nhà.

Hay ba mày đi thật luôn với ai rồi nên má mày vậy mới không về."

Nó nhớ lại mấy lần trong đêm, quả thật có mấy ông Tây cao to tới nhà hạch hỏi, má ra tiếp, nhưng gương mặt căng thẳng, rồi má xua họ đi.

Nhưng nó chỉ nhớ ánh mắt má khi đóng cửa lại, đỏ hoe, chứ chẳng hiểu gì hơn.

Nó ngơ ngác, lắp bắp: "Dạ... con hông biết"

Bà Bảy lại hất cằm, giọng sắc như dao: "Mày thì không biết gì, nhưng người lớn tụi tao nghe hết.

Má mày lại biết tiếng Tây, chắc làm cho tụi quan Tây cũng không chừng!"

Những chữ độc địa rơi xuống ngay trước mặt đứa trẻ mới bốn tuổi.

Trung đứng ngẩn ra, tay nắm chặt cành tre, hai mắt tròn xoe, chẳng hiểu "làm cho tụi quan Tây" nghĩa là gì, chỉ nghe thấy tên anh hai và nhắc đến má thì tim bé xíu đập mạnh.

Nó chưa kịp mở miệng thì từ trong bếp, "Chị Bảy!"

Tếng má Lành vang lên, dằn từng chữ.

Má Lành đã bước vội ra, trên tay còn dính tro bếp.

"Chị Bảy, nói cái chi kỳ cục rứa?"

Giọng má đanh lại, mắt nhìn xoáy vào bà Bảy.

Bà Bảy cười khành khạch, vội xua tay:

"Ối giời, tui có nói chi mô.

Chỉ nghe người ta đồn rồi hỏi thử cho biết."

Má Lành nhìn thẳng vào mặt bà.

Cái giận sôi lên tới cổ, nhưng bà nuốt xuống.

Rồi bà quay sang, nắm lấy tay con: "Trung, vô nhà đi con."

Thằng nhỏ ngập ngừng, tay vẫn ôm chặt cành tre, nhưng thấy mắt má nghiêm quá, nó lặng lẽ đi vào, nhưng đôi mắt vẫn cố ngoái lại, vừa lo cho má, vừa muốn nghe hết.

Ngoài sân, bà Bảy vẫn cười giả lả, vặn vẹo: "Tui nói rứa chớ có ý chi đâu nghen.

Tôi... tôi tính qua coi chị có ít gạo dư cho tôi xin, ông nhà tôi mới ốm dậy.

Nghèo khổ mà, chị thương thì cho..."

Má Lành mím môi.

Bà biết thừa cái tính lặt vặt của người đàn bà này: vay gạo mấy lần chưa trả, thậm chí còn lén hái trái trong vườn.

Nhưng thôi, đã ở cái xóm chạy loạn với nhau, cái nghèo khiến con người ta thành ra như thế, bà chẳng nỡ làm to chuyện.

"Đợi đó đi."

Má quay vô, bới một lon gạo đưa ra, kèm theo giọng lạnh như nước giếng: "Lần trước còn chưa trả đó.

Nhà tôi cũng nghèo, gạo có phải từ trên trời rơi xuống đâu.

Chị khó khăn thì tôi thương tình, nhưng ăn nói cho phải lẽ."

Bà Bảy lảng đi, cười cười, rồi ôm gạo ra cổng, bà Bảy vẫn nheo nhẻo:

"Thiệt tình, ai cũng nói chứ tui đâu có bịa... làm như oan lắm không bằng."

Má Lành đứng thêm một chốc ngoài hiên, mắt dõi theo cái dáng gầy của bà kia lủi thủi đi xa dần trên con đường đất, đôi vai còn run nhẹ như con chim vừa giãy ra khỏi nan tay ai bóp chặt.

Cơn tức chưa kịp nguôi thì trong lòng lại dâng lên một nỗi chùng chình khó gọi tên.

Giận thì có giận, nhưng cái cách người đàn bà ấy vừa nhắc đến chuyện bom đạn, nhắc đến cảnh đàn ông đi biền biệt ngoài trận mạc... khiến má nghe như có cả ngàn vết gai đâm vào trong tim, rút ra thì đau, mà để đó thì nhức nhối.

Cái câu nói chát chúa vừa rồi vẫn còn đọng lại trong tai, dẫu bà cố gạt đi, vẫn như còn sót lại âm vang, lởn vởn trong đầu làm bà tức nghẹn nhưng đồng thời cũng chát đắng tận tim.

Má cắn môi, bàn tay nắm lại, rồi thở ra, dặn lòng phải vững, má còn Trung, nhà này, dẫu thiếu vắng đàn ông, vẫn không thiếu cái điều cao hơn chính là lòng tin và nghĩa khí.

Lau vội khóe mắt, má xoay người vô nhà, định bụng sẽ tìm thằng Trung.

Chẳng ai trong xóm này được quyền gieo vô lòng nó một hạt giống nghi ngờ nào với người thân ruột thịt của nó cả.

Mà nó đâu rồi?

Vừa nãy còn loanh quanh ngoài sân kia mà.

Ra đến gian bếp, má khựng lại.

Trong cái khoảng tối mát rượi mùi khói bếp, má gọi khe khẽ: "Trung, con ơi."

Trung đang ngồi chồm hổm trước nồi cơm đang sôi ùng ục, hơi nước trắng xóa bốc lên đỏ cả mặt.

Thằng nhỏ mới bốn tuổi, chân tay lách chách như con mèo con, cứ lom lom, đôi mắt tròn đen nhánh nghiêng nghiêng nhìn cho bằng được cái nồi như sợ nó trào ra ngoài, xem cái nắp nồi nhảy lách tách như chơi trò ú tim.

Được một lát, nó tò mò, thò tay định nhấc hé nắp ngó thử cơm chín tới đâu, hơi nước phà ra làm bỏng rát cả bàn tay.

"Ái da!"

Nó giật nảy, kêu nhỏ, rụt vội tay lại.

Cái môi nó mím chặt, không khóc, không la, như sợ má mà nghe thấy thì buồn.

Nó quen rồi, ba đi rồi, cái gì cũng ráng làm cho má để má đỡ cực.

Trung xoa xoa vào vạt áo, nhanh trí dúi vội bàn tay đỏ ửng vào giữa bụng và đùi, lấy cái vạt áo che lại, như thể chỉ cần giấu kỹ thì má sẽ không biết, làm bộ như không có chuyện gì.

Má bước vào, thấy nó lom khom như ông cụ non bên nồi cơm, liền hỏi: "Con làm gì đó Trung?"

"Con... con coi cơm cho má nè, không thì khê mất!

Nó sôi vui lắm má, nó hát "bụp bụp bụp" nè!"

Nó cười hì hì, giấu bàn tay đỏ ửng ra sau lưng, mắt long lanh như không có gì.

Bà vừa nhìn là biết hết. liếc xuống vạt áo nó còn dính vệt nước sôi, lòng thắt lại.

Bà ngồi xuống bên con.

Lòng vừa tủi vừa thương.

Tủi cho phận mình, thương cho thằng con trai còn nhỏ xíu đã phải nghe những lời như dao cứa.

Lại vừa nghẹn, cái thằng này, nhỏ xíu mà cứ như người lớn.

Bà ngồi xuống bên cạnh, đưa tay kéo nó lại.

"Nóng thì để đó cho má, con ráng giữ làm chi mà phỏng tay vậy hả?

Đau không con?"

"Dạ... hổng có.

Con lớn rồi mà."

Trung giấu bàn tay ra sau lưng, mắt vẫn nhìn nồi cơm, làm như bận lắm.

Bà khẽ thở dài, bàn tay vuốt nhè nhẹ lưng con như dỗ một giấc mơ chập chờn.

Một lát, đôi mắt thoáng ngập ngừng, bà cắn môi rồi cất giọng dè dặt, run run như sợ chính lời mình: "Trung nè... ngoài kia, người ta có nói gì với con không?

Con có nghe, có tin chi không?

Con có nghĩ... ba con, với anh hai con... lại như lời người ta đồn đại hông?"

Trung xoay xoay ngón tay vừa bị bỏng, đôi mắt tròn xoe, trong vắt như giọt nước giếng làng, ngây ngô mà sáng rực lạ thường.

Nó ngồi lặng một chốc, mặt mày như đang ôm cả một mớ nghĩ ngợi vụn vặt trong đầu bé con.

Rồi bất thần, nó lắc đầu cái rụp, mái tóc tơ rối bù tung bay loạn xạ.

Chẳng hiểu giận hờn gì, thằng nhỏ bỗng chống nạnh, môi mím lại như cố nuốt cục tức, và ngay sau đó bật ra một tràng dài liến thoắng, quên bẵng luôn cái tật ngọng líu ngọng lô thường ngày.

"Con hổng tin đâu!

Ba con đi xa có việc mà.

Con đọc nhật ký của ba rồi, ba viết ba nhớ má, nhớ con lắm...

Ba còn biểu má ráng ăn cơm cho khoẻ, chớ ốm riết má bệnh thì ba buồn.

Người mà bỏ đi thì làm chi còn nhớ, làm chi còn dặn dò như rứa?

Ba còn hứa mai mốt ba về sẽ bồng con chạy thi với tụi bạn nữa kìa.

Ai mà nói bậy, con hổng chịu mô!

Còn anh hai... anh ở ngoài Bắc học giỏi, anh bận việc lớn, nên mới chưa viết thư về cho má với con thôi!"

Vừa nói, nó vừa đưa tay vẽ vẽ mấy vòng trên không như muốn viết lại lời của ba, vừa nhảy cẫng một cái như đang chạy thi thật.

Giọng non nớt mà chắc nịch, tỉnh queo, chân chất như thể đó là một lẽ hiển nhiên không thể bàn cãi.

Nghe tiếng con trẻ hồn nhiên mà má thấy nghèn nghẹn.

Một thằng nhỏ mới tí tuổi đầu, cái đúng sai chưa thành hình, nhưng qua những dòng chữ nghiêng nghiêng của ba, nó đã tin tưởng vào điều ngay thẳng bằng cả tấm lòng non nớt.

Bà nhớ như in cái đêm ông trở về rồi đi ngay trong vội vã.

Ông ôm ghì lấy bà, những cái hôn vội vàng xen trong lời trách móc và nước mắt nghẹn.

Vai áo ông ướt đẫm, vai áo ướt đẫm như trĩu cả gió ngàn và mồ hôi đường xa và cả giọt nước mắt bà tuôn ra trong cơn run rẩy.

Cuộc gặp gấp gáp, ngắn ngủi đến nao lòng, như ngọn lửa chợt bùng rồi vụt tắt, vậy mà từng câu ông thốt ra khi ấy vẫn còn nguyên hơi ấm, ngấm vào tim bà, đằm thắm, thiết tha tới tận bây giờ.

Ông chẳng kể gì nhiều về tình hình cách mạng, cũng chẳng nói mình sẽ đi đâu. chỉ nhìn bà thật lâu rồi dặn: "Anh đi đánh giặc, để mai sau con mình không còn phải sống kiếp nô lệ.

Nhưng trong từng bước chân anh đi, anh vẫn nhớ em, nhớ con.

Em ở lại, bền lòng vững dạ... chờ ngày thắng lợi.

Trả xong nợ nước, anh sẽ trở về với mẹ con mình."

Nghĩ lại, bà vẫn thấy buồn cười.

Ông vốn vụng về, ăn nói quê mùa, lắm khi sến sẩm như chàng trai mới lớn.

Vậy mà hôm ấy lại cất được lời thiết tha đến thế.

Chính những câu chữ mộc mạc ấy đã cho bà chỗ dựa để tin, để bám víu mà sống qua những tháng ngày dài đằng đẵng.

Tin rằng, một ngày nào đó, trong khúc khải hoàn của chiến thắng, ông sẽ trở về, mở cánh cửa tre ọp ẹp này, lại gọi tên bà, tên con, như chưa từng có khoảng cách nào ngăn trở.

Trung thì vẫn hồn nhiên, túm lấy bàn tay má, đặt lên đầu mình, giọng líu lo: "Đợi ba về, con sẽ la to cho cả làng biết ba con đi làm việc lớn, đi với Bác Hồ!

Oách ơi là oách!"

Má Lành bật cười, mà nước mắt lăn nóng rát.

Thằng nhỏ ngây ngô quá, vô tư quá, nhưng cái vô tư ấy lại quặn xoắn tim bà hơn bất cứ lời người lớn nào.

Nó chưa biết thế nào là một lời hẹn xa xôi, chưa biết ước mơ đôi khi tan như khói.

Nó chỉ có một niềm tin trong vắt, tin ba nó, tin các anh nó, những người đàn ông trong đời nó, dù đi xa đến đâu, vẫn thương nó.

Bà kéo nó vào lòng, để đôi bàn tay bé bỏng nóng rực ấy áp lên gương mặt mình.

Giây phút ấy, bà vừa nhẹ nhõm, vừa nghẹn ngào.

Nhẹ vì con bà chưa vẩn đục, tin vào ba, tin vào các anh nó bằng tất cả sự hồn nhiên tuyệt đối.

Đau vì bà biết, chính niềm tin trong sáng ấy một ngày nào đó cũng có thể bị chiến tranh quăng quật, thử thách, làm rạn nứt.

Trung áp vào ngực má, nghe tim bà đập thình thịch, trong lòng thấy yên.

Rồi như có cái y tưởng nào đó nảy ra, nó hớn hở ngẩng đầu, thì thầm khoe: "Má, mai con kể cho tụi ngoài sân đình nghe ba con cũng có thư gửi cho má với con nha?"

Má giật mình, vội đặt ngón tay lên môi con, lắc đầu khẽ khàng nhưng dứt khoát: "Không được, con.

Nhớ lời má dặn không?

Ra ngoài, ai hỏi thì chỉ nói ba đi làm xa, anh đi học xa.

Không được nói chuyện khác, nghe chưa?"

Đôi mắt Trung thoáng xịu xuống.

Nó muốn lắm, muốn cho cả làng biết ba nó không hề bỏ đi, rằng ba vẫn đang làm chuyện lớn, vẫn thương mẹ con nó tha thiết.

Nhưng nghe lời má, nó chỉ im lặng gật đầu.

Trong ánh mắt nó, cái ngoan ngoãn sớm già dặn kia như vệt nắng cuối chiều: đẹp đến xót xa.

Nó ngẩng nhìn má thật lâu.

Trong ánh chiều hắt nghiêng qua mái rạ, gương mặt má hiện ra rõ mồn một: những nếp nhăn mảnh như sợi chỉ, đôi mắt đượm một nỗi buồn âm thầm chẳng bao giờ nguôi, như thể lúc nào cũng dõi về một nơi xa thẳm.

Trung bỗng thấy má mình vừa quen thuộc vừa lạ lẫm, như một ngọn núi đã hằn vết mưa gió, lặng lẽ che chở mà cũng mỏi mòn.

Thằng nhỏ hiểu chuyện lắm, ngoan ngoãn như thể trong thân xác bé con ấy đã cất giữ tâm hồn của một người lớn.

Nhưng sâu trong đầu nó, chợt bật lên một câu hỏi ngây ngô mà nó không dám thốt thành lời:

"Nhà mình có làm chi đâu... sao người ta lại ghét nhà mình đến vậy?"

Nỗi thắc mắc nhỏ bé ấy như nhát dao mỏng, cắt vào bóng hình má trong mắt Trung.

Từ giây phút ấy, hình bóng người mẹ hiền không chỉ là chỗ dựa dịu dàng, mà còn là một dáng hình chịu đựng, gánh hết phong ba cho cả nhà.

Nó mới bốn tuổi, không sao hiểu được.

Nó chỉ thấy, ngoài kia, gió thổi, lũ gà vẫn chạy quanh sân.

Còn trong lòng nó, có cái gì ngổn ngang, vừa ngờ ngợ, vừa nhoi nhói.
 
Tình Mình Hoà Trong Tiếng Thở Của Non Sông
Chương 2: Tuổi thơ (2).


Tháng tư năm Ất Dậu, Nam Kỳ như một ván cờ vừa bị hất tung.

Chỉ mới hơn một tháng trước, ngày mồng Chín tháng Ba, Nhật đã bất ngờ lật đổ Pháp trong một đêm, súng nổ dồn dập từ Sài Gòn ra tận các tỉnh lỵ.

Mấy ông Tây mà dân xứ này vốn quen gọi bằng "quan lớn" vốn nghênh ngang gần cả trăm năm bỗng chốc cúi đầu, kẻ thì bị bắt giam, kẻ thì lủi thủi gom đồ tháo chạy, kẻ vớt vát binh lính chờ thời.

Người ta kể có nơi, lính Nhật dẫn cả toán Tây đi giữa đường như kẻ bại trận, khiến dân chúng đứng bên đường vừa hả hê, vừa lo sợ.

Pháp sụp đổ, kéo theo cả một trật tự cũ đổ rạp.

Thằng Nhật lại chễm chệ ngồi lên, nghiễm nhiên làm chủ đất này.

Chúng nghênh ngang chiếm đóng, cờ tam sắc bị hạ xuống thay bằng cờ mặt trời đỏ trên dinh thự, đồn bót, ép dân cúi đầu chào, ép trường học, cơ quan treo ảnh Thiên hoàng.

Nhật vừa thắng, nhưng chẳng được lòng dân.

Chúng khoe khoang rằng đến để "giải phóng châu Á", dựng lên cái chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim ở Huế, song ở Nam Kỳ, người dân chỉ thấy thêm một lớp xiềng mới.

Người ta gọi đó là "Đế quốc Việt Nam" cho kêu, nhưng ai cũng biết sau lưng vẫn là bóng quân phiệt Nhật.

Lính Nhật tràn ra các phố, súng ống sáng loáng, tiếng giày đinh giẫm rầm rập trên phố.

Chúng dựng thêm trại, lập thêm đồn, hăm he khắp nơi, ai cũng sợ, bởi lính Nhật hung hăng, một cái nhìn ngược thôi cũng đủ lãnh báng súng vào sườn.

Thành thị như sống dưới lớp mặt nạ yên ổn: quán xá vẫn mở, xe kéo vẫn chạy.

Nhưng ở Sài Gòn, lính Nhật chiếm đóng các công sở, nhà ga, bến cảng; quân tuần tra giăng khắp đường phố, nghiêm ngặt còn hơn cả Pháp.

Chợ Bến Thành, chợ Lớn, người mua bán vẫn tấp nập, nhưng không khí như có sợi dây vô hình siết lại, nói năng gì cũng phải dè chừng, chỉ sợ lỡ miệng, bị bắt đi chẳng biết ngày về.

Những vùng lân cận.

Các bang hội, bọn tay sai cơ hội, kẻ thì tìm cách nịnh Nhật, kẻ thì âm thầm gom góp của cải.

Người dân thì hoang mang, kẻ vui mừng tưởng thoát được Pháp, người lại lo sợ rồi đây có khi còn khổ hơn dưới tay Nhật.

Cái cảm giác mất gốc, bơ vơ, ai cũng thấy: hôm qua còn phải cúi đầu trước lính lê dương, hôm nay lại phải sợ lính Nhật, mai kia chưa biết sẽ cúi đầu trước ai nữa.

Người Nhật thì tỏ vẻ khéo léo hơn Pháp.

Ngoài mặt, chúng ra vẻ ban phát, rao giảng về "Đại Đông Á", về "giải phóng dân Á khỏi xiềng xích Âu Tây", hứa hẹn cho người Việt tự lo việc nước.

Họ dựng trường dạy chữ Quốc ngữ, treo cờ vàng quẻ ly khắp các công sở.

Nhưng dân Nam Kỳ rất nhanh nhận ra cái bụng thật của chúng chẳng khác chi Tây: cũng sưu, cũng thuế, dân nghèo vẫn bị bắt nhổ lúa trồng đay, trồng thầu dầu, cũng bắt lúa gạo, ép nông dân bán lúa rẻ mạt, nhà nào thiếu, lập tức bị hạch hỏi, bị đánh đập.

Vơ vét bằng sạch rồi chở ra cảng, tích cho quân đội Nhật đem đi phục vụ chiến tranh.

Những thửa ruộng vốn vàng óng mùa gặt nay tiêu điều, người dân vùng Gia Định, Thủ Đức, Nhà Bè... thiếu trước hụt sau, có nhà đến bữa cơm phải ăn độn khoai, độn củ mì qua ngày, có nhà chỉ còn cháo loãng cầm hơi.

Đói kém lan từ Bắc vào Nam, người chết đói, xác quấn chiếu đem chôn vội ven đường, cái chết, cái mùi, cái cảnh tượng mà báo chí chẳng bao giờ dám đăng.

Người ta căm hận, nhưng nén trong lòng, chỉ dám nhìn nhau bằng những ánh mắt lặng lẽ.

Bọn phiệt Nhật trong mắt dân đen, chẳng còn là uy thế mà chỉ còn lại sự căm hờn lặng lẽ.

Đêm đêm, cả xóm im lìm, nhưng trong cái im ấy là thì thầm chuyện nước, chuyện kháng Nhật, chuyện Việt Minh, những tin đồn về ông Nguyễn Ái Quốc, về kháng chiến ở ngoài Bắc.

Người ta bắt đầu truyền tay nhau những tờ truyền đơn mỏng tang, chữ in còn nhòe, nhưng đọc lên ai cũng thấy tim đập mạnh.

Trong cái chộn rộn ấy, dân Nam Kỳ hiểu ra một điều: Pháp hay Nhật thì cũng là ngoại xâm, cũng là kẻ cướp nước.

Lòng người không còn yên phận như mấy năm trước.

Người trai lén bỏ ruộng theo du kích, người đàn bà chôn lúa, giấu gạo không cho chúng vét sạch, trẻ con đi chăn trâu cũng hát vu vơ mấy câu vè chửi Nhật.

Không khí như đang chờ một cơn giông lớn.

Riêng vùng quê ven rừng Sác, không khí càng lúc càng nặng nề như có một bàn tay vô hình đè xuống.

Thuyền bè của Nhật xuôi ngược trên những con rạch vốn yên bình, lưỡi lê sáng loáng soi bóng nước.

Từ bến bãi, đường đất, đến những xóm chài heo hút, lính tuần tra rải khắp nơi, mặt mũi lúc nào cũng lạnh ngắt như sắt.

Chúng biết rõ, giữa cái đất sình lầy này, Việt Minh đã bén rễ như cây đước bám bùn, ngấm ngầm vươn ra từng gốc dừa, từng mái nhà.

Người dân nơi đây vốn gan góc, nay lại càng gan hơn khi lặng lẽ che chở cho cán bộ, nuôi giấu du kích.

Bởi vậy, đêm xuống, Nhật dè chừng lắm.

Chúng càn quét bất kể giờ giấc, soi đuốc, tra hỏi, hạch tội.

Nhiều khi chỉ một dáng đi vội vã, một ngôi nhà có tiếng thì thầm khuya khoắt, cũng đủ để chúng xông vào lục soát, lôi người đi trong tiếng khóc xé ruột.

Nhưng cũng chính trong những đêm như thế, giữa mịt mùng sương rừng, người ta vẫn thoáng thấy những ánh đuốc lập loè trong lùm cây, nghe văng vẳng tiếng chân chạy rào rào trên lá khô, hay tiếng tre va nhau lách cách, du kích đang tập dượt, đang chuẩn bị.

Phát xít Nhật dẫu hung hăng, cũng không tài nào dập hết được bởi cơ sở cách mạng lúc ấy đã ăn sâu vào lòng dân như những sợi rễ cỏ tranh, càng nhổ càng lan.

Cái thế cuộc nửa sáng nửa tối ấy, ai cũng biết bão đang tích lại trong tầng mây, chỉ chờ một ngày cuồng phong nổi dậy.

Trong cơn chao đảo đó, người ta ngỡ bà Lành sẽ bị gạt ra rìa, bởi bấy lâu bà vốn chỉ là kẻ làm công cho Pháp, lo chuyện phiên dịch qua lại.

Nhưng nào ngờ, chính khi bộ máy cai trị của Nhật còn lóng ngóng, chưa rành thói đời xứ sở, họ lại càng cần đến những kẻ như bà: biết chữ, biết tiếng, biết lựa lời, mà dáng dấp lại đoan trang.

Họ muốn dựa vào bà để che mắt, để làm cái cầu nối dịu giọng giữa quan quân với dân quê.

Thế là bà không bị loại bỏ, mà lại được giữ lại, như một thứ công cụ khéo léo trong tay kẻ mạnh.

Từ đó, hằng ngày người ta vẫn thấy dáng bà ra vào công sở mới.

Áo bà ba sạch sẽ, ngực cài khuy ngay ngắn, tóc chải gọn, bước đi thẳng thớm.

Nụ cười của bà nhẹ như thoảng gió, chẳng ai đoán nổi là thật hay giả.

Nhìn vào, người ta thấy bà như một kẻ "ăn cơm trên", ngồi vào chỗ cao sang, còn dân ngoài ngõ thì cứ lời ra tiếng vào.

Người thì bảo bà khôn ngoan, biết co biết duỗi nên mới được trọng dụng; kẻ khác lại bóng gió cay nghiệt, rằng đàn bà có nhan sắc dễ gì không ngả theo cường quyền để lo thân.

.

.

.

Nắng xối xuống đầu, khô khốc cả hơi thở, hơi đất bốc lên như rang.

Sân đình xã Nhà Bè đông nghịt người.

Lính Nhật lăm lăm súng trường đứng vòng quanh, những cặp mắt xếch soi mói, sẵn sàng gầm lên nếu có tiếng xì xào.

Giữa cái nắng chang chang, dân làng tụ tập, mặt ai cũng sạm đen, đôi mắt vừa mệt mỏi vừa ngấm ngầm uất ức.

Mới tháng trước, chúng đã đến thu thóc, bắt bỏ kho, gạo trong nhà chẳng còn bao nhiêu.

Nhiều nhà, gạo hết, phải sẻn sẻn, chan khoai vào bụng mà sống, thế mà hôm nay lại còn phải nghe "lời răn" của quân Nhật.

Trên bục gỗ thấp, viên sĩ quan Nhật Yamamoto đứng sừng sững.

Dáng người tầm thước, khuôn mặt vuông vức như đẽo, dưới mũ sắt lấm tấm mồ hôi.

Hắn đưa tay chỉnh lại mép râu được tỉa nhọn, ánh thép từ thanh gươm bên hông lóe lên dưới nắng.

Tờ giấy khẽ rung trong tay khi hắn hắng giọng, rồi bất chợt xả ra một tràng tiếng Nhật, the thé và đanh gắt: "Từ nay, đất Nam Kỳ thuộc Đại Đông Á!

Nhờ Thiên hoàng, các người đã thoát ách Pháp.

Lúa gạo đều phải nộp đủ, kẻ nào giấu giếm sẽ bị trị tội!"

Mọi người ở dưới im phăng phắc, chẳng ai hiểu mô tê chi.

Hắn dừng, nhìn sang người đàn bà đứng kế bên.

Ấy là bà Lành.

Áo bà ba màu trắng tinh, tóc vấn gọn, khuôn mặt không son phấn mà vẫn sáng bừng giữa đám đông.

Yamamoto khẽ gật, nụ cười lạnh lẽo còn vương trên mép, như thể một con mèo vừa buông tay cho con chim sẻ tự do... nhưng vẫn chực vồ lại bất cứ lúc nào.

Bà Lành đứng trước sân đình, hít một hơi thật sâu, ngực phập phồng dưới tà áo trắng.

Bàn tay giấu trong vạt áo khẽ run, không phải vì sợ hãi, cái chết bà đã nghĩ đến từ lâu rồi, mà bởi từng con chữ bà sắp thốt ra đều như lưỡi dao kề cổ, chỉ cần sơ sẩy một tiếng là máu sẽ chảy.

Trước mắt bà là biển người đặc quánh oán hận.

Những ánh mắt dân quê nhìn bà không giấu giếm: có cái trừng trừng nghi ngờ, có cái rớm nước, có cái gằn chua chát như muốn hỏi thẳng "Rứa bà đứng bên mô?

Là người làng, hay là kẻ ăn cơm giặc?"

Bà nuốt khan.

Nếu nhắc nguyên văn lệnh Nhật, dân sẽ nổi sóng, sẽ có người gào lên phản đối, rồi súng nổ, máu đỏ loang ngay sân đình.

Và trong mắt dân, bà sẽ hóa thành con rắn độc, nối giáo cho kẻ thù.

Nhưng nếu bẻ lái quá đà, chỉ một chữ sai lệch thôi, Yamamoto và đám lính đứng sau lưng kia sẽ lạnh lùng dí súng vào gáy bà, bóp cò không chần chừ.

Môi bà mím chặt, mắt đảo qua Yamamoto rồi trở lại phía dân.

Bà đứng ở giữa, đơn độc, mà vai áo mỏng như đang gánh cả sự sống còn của làng.

Bà ngẩng mặt, giọng chậm rãi vang lên: "Quan lớn nói, từ nay dân mình thôi bị Tây cai trị.

Chính phủ Đại Đông Á ra lệnh... từ nay dân phải nộp thêm thóc dự trữ, để bảo đảm lương thực chung."

Cả đám đông bỗng xôn xao, rì rầm như ong vỡ tổ.

Vài tiếng thở dài bật ra nặng trĩu, như hơi thở cuối cùng sau nhiều ngày nhịn đói.

Những cái lườm sắc như dao lia thẳng lên bục, có bà già nghiến răng ken két, quai hàm nổi gân xanh; có chàng trai trẻ gân tay cuồn cuộn, nắm chặt như muốn bẻ gãy cả số phận khốn cùng này.

Rồi một bác nông dân cao gầy, mặt hốc hác vì đói, không kìm nổi, bất chợt thét lên thành tiếng, chát chúa giữa im lặng: "Thóc đâu nữa mà nộp?

Con nít trong nhà còn đói meo đây!"

Tiếng nói ấy như hòn đá ném xuống mặt nước phẳng.

Không khí chợt căng cứng, đặc quánh.

Một tên lính Nhật lập tức sấn tới, bàn tay rít lên báng súng, mắt vằn máu, chỉ chờ hiệu lệnh để nổ.

Đám đông hoảng hốt, nhiều người hít mạnh, chuẩn bị cho điều chẳng lành.

Cổ họng bà nghẹn đắng như bị một bàn tay vô hình siết lấy, tim đập dồn dập, nhưng trí óc xoay tít tìm đường thoát.

Tất cả bão tố dồn nén bên trong, vậy mà gương mặt vẫn giữ bình thản.

Bà ngẩng nhìn đám đông, giọng chậm rãi mà rành rọt: "Bà con cứ yên tâm, họ chỉ yêu cầu kê khai, chưa thu ngay.

Ai khó khăn thì sẽ được... xem xét.

Quan lớn muốn bà con hiểu: nếu ai chống đối sẽ bị xử phạt.

Nhưng ngài cũng nói, ai nghe theo thì sẽ được yên ổn làm ăn, không ai muốn gây máu đổ..."

Tên Yamamoto nheo mắt, không hiểu hết những lời xì xào.

Hắn nghi hoặc, quay sang bà Lành: "Chúng nói gì?

Có kẻ chống lại?"

Bà khẽ mím môi, nặn ra một nụ cười nhạt như sương tan, đáp bằng tiếng Nhật, giọng bà nhu mì mà chắc: "Không... họ chỉ nói sẽ nghe theo.

Nhưng trong bụng vẫn còn lo sợ, quan lớn ạ.

Bao năm bị Tây kìm kẹp, nay thời cuộc đảo chiều, ai cũng ngẩn ngơ, chưa yên lòng."

Giữa biển người im phăng phắc, đầu cúi rạp như bị sức nặng vô hình đè xuống, bất chợt vang lên một tiếng người, đanh gọn, chát chúa, xé toang màn im lặng như lưỡi dao rạch vào tấm vải dày: "Tây còn đó đã mất mùa, nay thêm Nhật, còn muốn vét sạch ruột gan dân này sao?"

Cả sân đình rung chuyển như vừa có tiếng trống trận giáng xuống.

Lời xì xào bật lên rào rào, bén lửa như đám rơm khô gặp tàn than.

Cái không khí vốn nặng nề vừa tạm lắng xuống, nay lại cuộn trào, bùng phừng dữ dội.

Ngay tức khắc, hàng lính Nhật như bầy chó săn chạm phải mùi máu.

Ba bốn tên gầm lên the thé, mắt trợn trừng.

Chúng đồng loạt giật súng trường khỏi vai, nòng súng đen ngòm chĩa thẳng xuống đám đông.

Ánh thép lưỡi lê loang loáng dưới nắng trưa như muốn rạch nát cả da thịt người ta.

Một tên cao lớn, mặt đỏ gay, bật bước về trước.

Hắn nện báng súng xuống nền đất rầm rập, bụi bay mù, âm thanh dội vào ngực dân làng như sấm sét.

Tiếng thé gằn đứt đoạn rít ra từ cổ họng: "Yamero!

Yamero!" (Im miệng!

Câm ngay!)

Tiếng quát khiến lũ trẻ trong đám đông òa khóc thất thanh, vài bà mẹ hốt hoảng lấy tay bịt miệng con, run rẩy kéo lùi lại.

Đám trai trẻ thì mặt căng cứng, quai hàm bạnh ra, bàn tay gân guốc nắm chặt thành quyền, đôi mắt tóe lửa như sẵn sàng lao vào bất cứ lúc nào.

Không khí dồn ép như có sợi dây thít quanh cổ

Viên sĩ quan Yamamoto đỏ gay mặt, gân cổ trồi lên, gào một tràng tiếng Nhật, bàn tay chỉ thẳng về phía người nông dân vừa lỡ lời.

Cặp mắt hắn hằn tia máu, như chỉ chực rút gươm bổ xuống.

Cả đám lính sẵn sàng siết cò.

Một tên khác thì không chờ lệnh.

Hắn hùng hổ lách người qua hàng ngang, giày đinh nghiến lạo xạo trên nền đất.

Nhanh như thú dữ vồ mồi, hắn lao thẳng đến chỗ người nông dân vừa dám bật lời.

Báng súng trong tay vung cao, ánh kim lạnh lẽo hắt lên khuôn mặt đỏ gay của hắn.

Cánh tay cuồn cuộn gân xanh, sẵn sàng giáng một cú như trời giáng xuống đầu kẻ kia.

Cả khoảng sân như bị dồn ép trong một cái lồng khổng lồ, không khí nặng trĩu đến nghẹt thở.

Nắng trưa hắt xuống, hun nóng mặt đất, hơi đất bốc lên hầm hập, hăng hắc như mùi sắt gỉ.

Đám đông bị kẹp chặt giữa vòng súng, từng hơi thở cũng run rẩy, dồn dập như sắp cạn kiệt.

Chỉ một cái gật đầu, một cái phất tay của viên sĩ quan kia thôi, cả nơi này sẽ vỡ tung, và nền đất đang rát bỏng dưới chân sẽ nhuộm đỏ máu người.

Mọi ánh mắt bên dưới dồn cả về bà Lành.

Bà nghe tim mình thót một nhịp, nhưng gương mặt vẫn giữ nguyên nụ cười mỏng tang.

Bàn tay khẽ siết lại, rồi bà chậm rãi bước nửa bước lên, giọng trong trẻo, nói bằng Nhật ngữ rành rọt:

"Ông ấy... không phản đối, chỉ hỏi bao giờ thì dân sẽ được cấp giống lúa mới để gieo kịp mùa tới.

Người dân ở đây muốn làm ăn chăm chỉ, mong được cống hiến nhiều hơn."

Lời bà rót ra, vừa đủ mềm, vừa đủ ngọt như dỗ dành.

Nhưng từng chữ như tấm lá chắn mỏng, chặn lại cơn thịnh nộ từ hai phía: vừa vỗ về lòng dân, vừa xoa dịu họng súng giặc.

Tên Yamamoto thoáng hài lòng, nghĩ bà đã dẹp yên được đám dân.

Hắn gật gù, ra hiệu hạ súng, mặt hắn giãn ra.

Hắn cười khẩy, quay lại nói vài câu với lính: "Người An Nam biết điều, muốn hợp tác.

Tốt."

Họng súng dần trượt xuống, từng âm thanh lách cách khô khốc của kim loại vang lên như hơi thở bật khỏi lồng ngực vốn đã căng cứng suốt bao phút nghẹt thở của cả trăm con người vừa trượt qua một lằn ranh tử sinh.

Vài gương mặt chau lại vì kinh ngạc, có kẻ còn khẽ bật cười, một tiếng cười chua gắt, đắng hơn cả khói thuốc súng.

Người nông dân lỡ miệng khi nãy vội cúi gập đầu, hai bàn tay thô ráp siết chặt vào nhau đến trắng bệch, biết mình vừa thoát một kiếp trong sợi tơ mỏng manh.

Nhưng chưa kịp thở ra, một cái bóng nặng nề đã trùm phủ lên vai bà Lành.

Gã sĩ quan Yamamoto bước đến, từng bước giày đinh nện xuống đất nghe cộc cộc như búa nện vào ngực.

Đôi mắt hẹp của hắn nheo lại, đồng tử đen ngòm lóe lên thứ ánh sáng sắc lạnh, như lưỡi dao vừa mới mài, chực khoét thẳng vào tim gan người đối diện.

Hắn cúi xuống, hơi thở hắc mùi thuốc lá và rượu đế phả thẳng vào sát gáy, giọng trầm khàn và khắc nghiệt, từng chữ nghiến chát chúa như dội từ kẽ răng sắt: "Sao lời ta vắn tắt thế, mà qua miệng bà lại dài dòng?

Bà có gan dám xuyên tạc mệnh lệnh của Thiên hoàng sao?"

Lời hắn vừa dứt, mấy tên lính quanh đó đồng loạt xoay người.

Tiếng giày đinh xoạt xoạt cọ trên nền đất, tiếng kim loại lách cách khi khóa súng bật chốt, rợn lên như tiếng xích trói.

Họng súng đen ngòm dần nâng cao, chực chỉ cần một hơi thở lệch nhịp, một tiếng nói trái ý cũng đủ để báng súng ghìm thẳng vào đầu bà, hoặc gắn cho bà cái nhãn Việt Minh phản loạn, rồi bị bắn thị uy.

Không khí đặc sệt, nặng như đổ chì, dồn ép đến mức tiếng nuốt nước bọt cũng vang rền.

Giữa cái nắng chói chang, tưởng chừng có ngọn lửa vô hình đang cuộn xoáy, liếm dần từng khuôn mặt, thiêu rụi cả những khoảng thở mong manh của đám đông.

Bà Lành khẽ cúi đầu sâu thêm một chút, khóe môi cong lên, hé nụ cười mềm mại, tưởng chừng mảnh tơ lụa phủ hờ trên lưỡi gươm: "Thưa quan lớn, dân quê vụng dại, đầu óc chậm hiểu.

Nếu tôi chỉ nói vắn tắt, họ sẽ thắc mắc mãi.

Tôi phải thêm vài lời dỗ dành, kẻo họ náo động."

Yamamoto nheo mắt, im lặng.

Bàn tay hắn như vô thức đặt lên chuôi gươm bên hông.

Một nhịp, hai nhịp...

Trái tim bà Lành dội thình thịch trong lồng ngực, nhưng gương mặt vẫn giữ vẻ an nhiên, đôi mắt sáng và trong vắt như sương mai.

Một khoảnh khắc nặng nề, căng như dây đàn sắp đứt.

Rồi bỗng hắn phá lên cười, tiếng cười khàn khàn mà rợn gáy.

Hắn quàng tay qua vai bà, vỗ mạnh, khen nức nở: "Bà Lành, hôm nay làm rất tốt.

Người dân tin lời bà hơn chúng tôi.

Tôi cần bà bên cạnh lâu dài."

Bà Lành cúi đầu như nhận ân sủng, nhẹ nhàng lùi xuống, dáng điệu ngoan phục, nhẹ nhàng lùi xuống.

Nhưng chỉ trong chớp mắt, nụ cười dịu dàng trên môi nhường chỗ cho một ánh nhìn cứng rắn, rực lửa.

Bà quét mắt ngang đám đông.

Những cái nhìn dửng dưng, khinh bỉ, có cả oán trách.

Nhưng phía cuối hàng, người đàn ông vừa được bà "dịch cứu" khẽ ngẩng lên.

Ánh mắt ông run rẩy mà biết ơn.

Hắn không biết, từng câu chữ bà Lành vừa nói đã trở thành sợi dây níu giữ lòng dân, không để họ nổi dậy lúc chưa có lực lượng, không để máu đổ oan uổng.

Yamamoto không phải quan cai trị từ triều đình Nhật, mà chỉ là một sĩ quan hạng vừa, từng chinh chiến ở nhiều nơi trong Đông Dương.

Hắn quen nhìn thấy máu, quen cảnh dân bản xứ quỳ rạp dưới họng súng, nhưng khi đến Nam kỳ, hắn lại vướng một trở ngại mới: dân ở đây câm lặng nhưng không khuất phục, ánh mắt nào cũng u uất, khó dò, khác hẳn với những xứ hắn từng đặt chân.

Hắn biết cầm súng thì dễ, nhưng để cai trị trăm nghìn con người lầm lì này lại là chuyện khác.

Trong đầu hắn, giải pháp lúc nào cũng chỉ có roi và súng.

Nhưng thượng cấp thì dặn: "Muốn lấy thóc, phải lấy lòng dân trước."

Thế nên, bà Lành, người đàn bà An Nam biết nói tiếng Pháp, biết lựa lời, lại có dáng vẻ dịu dàng dễ tạo tin tưởng, trở thành "cây cầu" bắt buộc phải có.

Hắn không ưa phụ nữ xen vào việc quân, nhưng lần nào bà Lành đứng ra dịch, đám đông lại bớt xôn xao, và hắn cảm nhận được hiệu quả mà súng đạn không làm nổi.

Trong thâm tâm, Yamamoto vừa coi thường, vừa phải cậy nhờ.

Khi buổi tập trung dân chúng kết thúc, tiếng trống lệnh khua rền, dân tản ra từng tốp, ai nấy đều lặng lẽ, chỉ dám thở dài.

Dân lục tục về theo lối nhỏ.

Có người cố tình lách qua bà, khẽ buông: "Theo giặc, rồi cũng có ngày trả giá thôi."

Lời kia buông ra, sắc buốt như lưỡi dao khứa vào da thịt.

Ngực bà thoáng nhói, nhưng khoé môi vẫn vẽ một nụ cười hiền lành, ánh mắt phẳng lặng như mặt ao không gợn sóng.

Dáng bà vẫn thẳng thớm, từng bước một vững chãi, như thể chẳng chút gì có thể chạm tới.

Nắng xế nhưng vẫn hầm hập, đường đất nóng bỏng gót chân.

Bà Lành bước ra tới cổng, guốc gõ nhịp chậm chạp.

Bàn chân bà rát bỏng vì cả buổi đứng dưới nắng trên bục gỗ, từng bước đi như ghim vào thịt.

Bà tháo chiếc nón lá ra quạt nhẹ, mặt trong đã sẫm một vòng mồ hôi.

Mùi thuốc lá Nhật vẫn bám quện trên vải áo, hăng hắc khó chịu như thể một lớp nhơ nhuốc mà bà không thể phủi ngay được.

Bà đến chỗ Đào, dâu cả của bà, đang đứng chờ bà, tay ôm chặt thằng Trung.

Thằng nhỏ nép trong lòng chị từ đầu buổi, khi súng lăm lăm chĩa xuống đám đông.

Nó không khóc thét như lũ trẻ khác mà mở tròn đôi mắt đen lay láy, dán chặt vào những họng súng loáng thép.

Cái đầu nhỏ cứ ghì vào ngực chị dâu, nhưng cổ lại ngoái ra, như thể muốn nuốt trọn từng cảnh tượng.

Có lúc, khi một tên lính Nhật quát vang, báng súng nện thình thình xuống đất, cả đất trời dội rền, Trung giật mình hét thảng thốt, đôi bàn tay nhỏ quờ quạng, ghì siết cổ áo chị Đào.

Cái thân thể bé bỏng run bần bật.

Nhưng ánh mắt nó lại vẫn tìm về bục gỗ, nơi má nó đang đứng.

Má nó mỉm cười, giọng vang đều, như chẳng hề hấn gì trước họng súng lạnh băng.

Trong đôi mắt non nớt ấy, nụ cười của bà Lành khác hẳn mọi ngày.

Nó không còn ấm áp, không còn mềm như khi bà ru con ngủ, mà cứng quá, nhạt quá, như một chiếc mặt nạ bằng sáp đã phơi lâu dưới nắng.

Trung chưa hiểu hết những lời má vừa nói trên bục, nhưng nó biết: nhờ tiếng má cất lên mà lũ lính thôi gào thét, thôi chĩa súng vào đám người run rẩy.

Chúng lùi lại.

Súng hạ xuống.

Trong đầu thằng bé lắp bắp một câu hỏi còn chưa gọi thành lời: "Má... thật sự đứng về phía họ sao?"

Bà Lành bước nhanh lại, guốc gõ trên nền đất nghe hối hả.

Tay bà run nhẹ khi tháo chiếc nón lá, treo vội vào cổ tay cho gọn, rồi cúi người, giọng khẽ nhưng dồn nén:

"Đưa em cho má coi nào."

Chị Đào lặng lẽ trao đứa bé sang.

Trung vẫn đang ngoái cổ nhìn về phía bọn lính Nhật vừa rút vào công sở, mắt mở to, không rời.

Vừa ôm con vào lòng, bà Lành thấy cơ thể nhỏ xíu kia căng cứng, hơi thở gấp gáp như vẫn còn nghe tiếng quát tháo, tiếng báng súng nện đất.

Mùi da thịt quen thuộc của con ập đến, nóng hổi và run rẩy.

Bà hôn lên má con, dịu giọng gọi nó: "Trung, con, má đây này, đừng nhìn nữa."

Người nó vẫn run khe khẽ, mồ hôi nhễ nhại dính bết tóc tơ.

Nó ngước nhìn bà, mắt ngân ngấn nước, môi mấp máy mà không thành tiếng.

Trong ánh nhìn đen láy kia, bà như thấy bóng mình đứng chơ vơ giữa lính Nhật, với nụ cười lạnh ngắt.

Bà Lành ghì con sát vào ngực, như muốn lấy cả tấm thân mình che khuất đi những lưỡi lê loáng chói, những nòng súng đen ngòm mà thằng nhỏ vừa chứng kiến.

Hơi thở bà run rẩy, giọng nghẹn lại nhưng cố dịu dàng như tiếng ru: "Má ở đây...

Má không để ai làm gì con đâu, đừng sợ..."

Nhưng đôi bàn tay bé xíu kia lại không chịu yên.

Chúng khẽ quờ ra phía sau lưng bà, như còn tìm kiếm cái bóng lính vừa gào nạt.

Trung rúc mặt vào vai má, nhưng giọng lí nhí, hổn hển như thể nuốt không trôi: "Sao má đứng chung... với tụi nó?

Còn anh, còn ba...

Má ơi..."

Bà Lành giật mình, câu hỏi rơi xuống như một nhát dao lạnh ngắt, rạch toạc trái tim bà.

Bà Lành sững người, đôi mắt mở lớn rồi khép lại, hàng mi rung bần bật.

Bà Lành siết chặt vòng tay, toàn thân bủn rủn, gối như muốn khuỵu xuống.

Nỗi đau quặn xoắn dâng lên tận cổ, nghẹn tức như có tảng đá đè nặng.

Bà dụi mặt vào mái tóc thơm mùi nắng và mồ hôi của con, để giấu đi những giọt nước mắt vừa trực trào.

Trong khoảng khắc, bà chỉ dám thì thầm, giọng vỡ ra thành từng mảnh: "Rồi... rồi con sẽ hiểu...

Má phải vậy thôi...

Má không còn đường nào khác..."

Giọng bà đứt quãng, vỡ òa thành một tiếng thì thầm run rẩy, vừa như lời hứa, vừa như một lời cầu xin tha thứ.

Những lời cuối cùng không chắc Trung có nghe rõ, hay chỉ là tiếng nức nở thầm vỡ ra nơi lồng ngực người mẹ.

Nhưng bà biết, đôi mắt con trẻ kia, trong veo mà quá đỗi tinh anh, đã khắc vào lòng nó một nỗi ngờ vực, một vết thương chẳng dễ gì xóa nhòa.

Nó đã nhìn thấy tất cả: dáng người mẹ cúi đầu trước quân thù, cái cảnh họng súng chực chờ coi mạng sống của dân lành rẻ hơn cỏ rác, và cả cái thời thế đảo điên mà người lớn còn run rẩy không gượng nổi.

Nó chưa đủ tuổi để hiểu, nhưng bóng dáng của nỗi ngờ vực đã cắm rễ trong ánh mắt nó.

Và chính nỗi ngờ vực ấy mới là vết thương khó lành nhất.

Bà không thể nói gì cũng chẳng thể giải thích.

Mỗi lời giải thích lúc này chẳng khác nào một sợi chỉ mỏng manh, chẳng đủ để khâu lại vết rách đã lỡ toạc ra.

Bước chân bà đã lỡ đặt, gánh nặng trên đôi vai gầy giờ không chỉ là thân mình, mà là cả sự an nguy của dân làng, của chính đứa con trong vòng tay này.

Điều khiến bà run sợ không phải họng súng lạnh lẽo, mà là ánh mắt trong veo của con, ánh mắt dường như soi thấu mọi lớp mặt nạ bà khoác lên.

Ánh mắt ấy có thể mang theo vết hằn suốt cả một đời, có thể biến tình thương thành vết sẹo âm ỉ trong tâm hồn nó.

Chiều buông, gió hun hút quét qua cánh đồng khô cằn, mang theo mùi khét của thuốc lá, mùi mồ hôi và da thịt hăng hắc còn vương lại từ bọn lính.

Bà Lành siết con chặt vào lòng, muốn xóa đi trong mắt nó cái hình ảnh vừa rồi.

Nhưng càng ôm, bà càng cảm thấy rõ rệt: vết hằn ấy đã in sâu, như dấu than đỏ trên tấm giấy trắng, không cách nào gỡ bỏ.

Chị Đào tiến lại gần, bàn tay khẽ vuốt xuống tà áo bà ba ướt đẫm mồ hôi của bà Lành.

Động tác nhỏ nhặt, giản đơn, nhưng đôi mắt chị không giấu nổi cái nhìn sâu thẳm, chứa chan biết bao thương xót.

Trong ánh mắt chị, lấp lánh sự lo lắng và cảm thông, nhưng ẩn sâu còn là một lời nhắc nhở không thể nói thành lời.

Chị nghiêng người, cúi sát, giọng hạ thấp nhưng cố tình ngân dài, đủ để bà Lành và thằng nhỏ nghe, và cũng để những kẻ lạ mặt ngang qua dễ bề tưởng rằng đây chỉ là tiếng dỗ dành thường tình: "Thôi, má nó đừng nghĩ nhiều.

Con nít mà, thấy cái chi cũng hỏi... rồi dăm bữa nửa tháng là quên hết.

Ờ thì... mình còn cơm cho nó ăn, còn áo cho nó mặc, đã hơn bao nhiêu nhà rồi.

Mấy chuyện khác... biết lo cũng đâu có lo được."

Nói đoạn, chị khẽ cười, khóe môi cong lên nhưng không hề có ánh sáng trong mắt.

Nụ cười ấy không hẳn là vui, cũng chẳng phải nhạt nhẽo, mà là nụ cười của kẻ đàn bà quen nhẫn nhịn, như tự ru lấy mình rằng thôi thì phận mình chỉ cần yên ổn, còn thế sự mặc ngoài kia.

Ngoài sân đình, tiếng giày đinh của lính Nhật vẫn gõ lóc cóc, giòn tan trên nền gạch, hòa lẫn tiếng quát tháo đâu đó.

Bóng chúng lượn qua, những chiếc bóng dài ngoằn đổ lên mặt đất, hệt như những vết dao cắt ngang làng xóm.

Trong mắt người ngoài, câu nói của chị nhuốm vẻ cầu an: đàn bà mà, miễn có hạt cơm cho con, miễn không bị đòn roi, thì thế nào cũng chịu được.

Họ sẽ nghĩ nhà này khéo giữ thân, biết nương nhờ "ân huệ" kẻ mạnh nên mới còn nguyên vẹn giữa đời xoay vần này.

Cái dáng cam chịu ấy làm người đời dễ khinh, nhưng đâu ai hiểu sau nó là cả một lưỡi dao kề sát cổ, chỉ cần sơ sẩy một lời, cả nhà, cả làng đều tan tác như tro bụi.

Ánh mắt chị Đào dịu xuống, khẽ cúi người áp bàn tay thô ráp vuốt nhẹ lên mái tóc ướt mồ hôi của Trung.

Giọng chị mềm như gió, cố tình lôi ánh nhìn non nớt kia về phía mình, che khuất cái bóng quân lính đang còn lởn vởn ngoài sân đình.

"Thằng nhỏ có phước, có má nó che chở.

Giữa lúc này, được yên thân... cũng đã là hơn bao nhiêu nhà khác rồi.

Có người còn chẳng giữ nổi một bát cơm cho con mình."

Lời nói nghe bề ngoài như lời an ủi, nhưng trong từng chữ lại lẩn sâu một mũi kim nhọn.

"Được yên thân", cái yên ấy mua bằng sự khúm núm, bằng nỗi nhục nhằn chính bà vừa nuốt vào trước mắt con mình.

Bà Lành nghe, máu trong người chợt nóng ran.

Vòng tay ôm con chặt hơn, như sợ chỉ một khe hở thôi là thằng nhỏ sẽ trượt ra, lọt thẳng vào miệng giặc, hoặc vào ánh nhìn khinh rẻ của dân làng.

Xung quanh, dân làng đi ngang, gương mặt khép kín như bức tường, nhưng ánh mắt thì không giấu được.

Có cái liếc xoi mói, có cái nhìn lạnh lùng dửng dưng, có khóe môi khẽ nhếch lên đầy mỉa mai.

Họ chẳng nghe hết câu chị Đào, nhưng chỉ cần bấy nhiêu cũng đủ để họ chắc mẩm: mẹ con bà Lành chỉ còn biết dựa bóng giặc mà tồn tại.

Bà Lành mím chặt môi, mắt nhìn xuống đứa con đang nép vào ngực.

Chị Đào không nói thêm nữa, chỉ chậm rãi cài lại chiếc nút áo nơi vai bà Lành vừa tuột.

Chị vẫn giữ nét mặt bình thản, thậm chí hơi cười nhạt như muốn làm dịu bớt không khí.

Nhưng ngón tay đặt trên vai Trung khẽ run, bóp nhẹ rồi buông ra, như một động tác vừa an ủi vừa cảnh tỉnh.

Trong tận đáy mắt chị, thấp thoáng lại là một vệt sáng buốt, như ngọn lửa nhỏ bập bùng bị vùi trong tro lặng lẽ lia sang bà Lành, không nói thêm lời nào, song trong ánh nhìn ấy, bà Lành nhận ra cả sự xót xa lẫn lời nhắc nhở: Đã đi vào con đường này thì phải gánh cho trọn, nếu sơ sẩy, chẳng những máu bà con, mà chính má con mình cũng không yên.

Ba mẹ con lầm lũi rẽ theo con đường đất dẫn về xóm.

Mặt trời đã ngả, ánh nắng đỏ quạch như thiêu đốt lưng người.

Dấu giày đinh của lính Nhật còn in loang lổ trên nền đường, xen lẫn vệt chân trần của dân làng vừa tản về, tất cả như một vết hằn loang lổ khó gột.

Trung ngồi gọn trong vòng tay má, thân hình nhỏ thó nhưng đôi mắt mở to, không chớp.

Nó chẳng òa khóc như đứa trẻ lên ba vẫn thường, chỉ im lặng dán mắt vào khoảng không phía sau, nơi mấy bóng lính vẫn còn vẳng lại tiếng cười hô hố và mùi thuốc lá nồng khét.

Đôi bàn tay bé tí thỉnh thoảng siết lấy cổ áo má, run khẽ, rồi lại buông ra, như đang cố hỏi một điều mà chưa nói thành lời.

Mỗi bước guốc của bà Lành nện xuống đất nghe nặng trĩu, hệt như dồn cả nỗi nhục vừa trải qua.

Chị Đào lặng lẽ đi kề bên, tay xách cái giỏ rỗng, mắt thỉnh thoảng liếc sang đứa nhỏ.

Chị thấy nó không khóc, không mè nheo, chỉ mím chặt môi, hai hàng lông mày non nớt cau lại, già dặn đến mức rợn người.

Nhìn vậy, tim chị quặn thắt: trẻ con đáng lẽ chỉ nên biết chạy nhảy, chứ không phải gánh cái hình ảnh súng gươm chĩa thẳng vào mặt mình.

Đến một khúc rẽ, gió từ cánh đồng ùa về, Trung rúc mặt vào ngực má, thì thầm nhỏ xíu, tưởng như chỉ gió mới nghe: "Má đừng sợ...

Con tin má mà, mình đuổi giặc đi..."

Bà Lành chết lặng, ôm con chặt thêm, môi mấp máy mà chẳng tìm nổi lời.

Trong mắt bà, đứa nhỏ không còn là một đứa trẻ ngây thơ nữa mà đã bị bắt buộc nhìn thấy sự thật nghiệt ngã của người lớn.
 
Back
Top Bottom