Cập nhật mới

Khác Tiểu thuyết Phong Thanh

Tiểu Thuyết Phong Thanh
CHƯƠNG MỘT


Gió đông khơi dậy gió tây, một trận khẩu chiến giữa hai bờ eo biển là điều tất yếu.

Sau khi từ Đài Bắc trở về, tôi luôn tìm cách tránh giáo sư Phan, không biết từ đâu mà ông hay tin tôi sang Đài Loan thăm bà Cố Tiểu Mộng, chỉ trong một thời gian ngắn đã lần lượt gửi cho tôi một bưu kiện, hai cuộc điện thoại và rất nhiều tin nhắn, hỏi về hành tung của tôi và nói rất muốn gặp tôi.

Tôi lấy cớ là đang ở quê vội viết bản thảo (thực tế đúng là như vậy, tôi đang viết phần hai của Phong Thanh là “Gió Tây”) để trì hoãn.

Hình như tôi cũng chịu ảnh hưởng của bà Cố, có chút ác cảm với ông ấy.

Thực ra là không phải thế, suy nghĩ của tôi rất đơn giản và thực tế, có thể nói là xuất phát từ tâm lý tự bảo vệ.

Có một số điều có thể tưởng tượng ra được, chúng tôi gặp nhau sẽ không tránh khỏi nói đến câu chuyện mà bà Cố đã kể cho tôi nghe, ông nghe rồi chắc chắn sẽ tổ chức lực lượng phản công.

Ông Phan có thể làm đại tướng trung phong đi đầu, ông Cận (tức Lão Hổ) và con trưởng của Lão K, Trần Kim Minh sẽ là trung phong hai bên tả hữu, con gái Vương Điền Hương, Vương Mẫn và lính canh A sẽ làm hậu vệ, còn có một bộ phận nhân viên nghiên cứu lịch sử Đảng làm đội quân cổ vũ cũng rất phù hợp.

Một năm trước, chính ký ức và kết quả nghiên cứu của họ đã giúp tôi hoàn thành phần một của Phong Thanh là “Gió Đông”, giờ đây có người muốn tiến hành xóa bỏ ký ức và thành quả nghiên cứu của họ, làm sao họ có thể khoanh tay đứng nhìn?

Nhất định sẽ phản công tập thể.

Nếu phản công không đủ sức mà sụp đổ cũng thế, sẽ đều ảnh hưởng nghiêm trọng tới nhiệt huyết viết “Gió Tây” của tôi.

Viết tiểu thuyết cũng như chuyện yêu đương, mơ màng là cảm giác tốt nhất, đợi khi anh hiểu rõ hết mọi ngóc ngách cơ thể và tâm tư sâu thẳm của đối phương rồi thì e rằng không còn là tình yêu nữa, mà là chuyện nhân sinh rồi.

Cảm giác của nhân sinh chính là một cái nghiến răng: Một cảm giác khiến người ta thấy chán ghét.

Tôi không muốn với tâm trạng chán ghét, nghiến răng để hoàn thành câu chuyện theo lời kể của bà Cố, cách tốt nhất là cố thoát khỏi sự truy tìm của giáo sư Phan, tránh không gặp.

Tôi đã sớm nghĩ rồi, viết xong đã rồi tính tiếp, viết xong đưa cho họ xem, nghe họ nói.

Họ nói thế nào cũng được, tôi sẽ vẫn làm thế, công bố cho mọi người.

Tóm lại, tôi sẽ không phiến diện chỉ nghe hay tin một phía, tôi sẽ làm một cái máy truyền thanh thông minh, tranh thủ khơi gợi hai bên trận khẩu chiến thời thượng, khiến họ nói thật, nói dối hết ra những điều muốn nói và điều không muốn nói, để người đời bình phẩm phán xét.

Tôi không tin cách nói cá ‐ rồng lẫn lộn, tôi tin cá là cá và rồng là rồng, nhưng có cá ‐ rồng lẫn lộn mới có thể tách rời cá ra cá, rồng ra rồng.

* * *

Làng quê là nơi để người ta thong dong nhàn hạ.

Giống như người đàn bà tròn trịa không phải là mỹ nhân hiện đại, lười biếng chậm trễ không phải là mốt của thời đại ngày nay.

Thời đại ngày nay tôn sùng tốc độ và tốc độ nhanh hơn, đi tàu sang New York chỉ chứng tỏ thần kinh anh có vấn đề hoặc là nghèo kiết xác mà thôi, nam nữ gặp nhau và lên giường cũng không còn gì là trào lưu mới mẻ, càng không phải là vấn đề, mà chỉ là một phương thức sống, cho nên chẳng có gì phải ngạc nhiên.

Trái lại, đến nay tôi vẫn còn dùng chiếc điện thoại mua từ mười năm trước, điều này đã trở thành câu chuyện và vấn đề khiến người ta hiếu kỳ và ngạc nhiên hơn cả, vì thế tôi đã nhận đủ những lời khen ngợi và chế giễu hoặc thiện ý hoặc ác ý.

Thiện ý và ác ý, khen ngợi và chế giễu, đều là do tôi đã để mất đi tốc độ.

Tốc độ, và thách thức tốc độ nhanh hơn.

Tốc độ, và đáp ứng tốc độ nhanh hơn.

Tốc độ, món quà một đám người thông minh tặng, một con quái vật do kẻ điên làm ra, một con thuyền đã bước lên là không thể xuống.

Không còn nghi ngờ, ngày nay anh muốn có một chiếc điện thoại còn dễ hơn cả không có, anh muốn có một chiếc điện thoại mới cũng dễ hơn dùng chiếc điện thoại cũ.

Đây là sức hút của thời đại tốc độ, cũng là vấn đề, tốc độ như quắp lấy chúng ta mang về phía trước, chúng ta không thể chậm lại được, nếu chậm lại tức là đi ngược dòng, điều đó đòi hỏi chúng ta phải bỏ ra gấp đôi công sức và sự nỗ lực.

Thực ra, tôi chọn về quê để sáng tác cũng là vì tốc độ, ở đây tôi trở thành một tù nhân tự do, không thân thích, không thị phi, mặt trời lên thì làm việc, mặt trời lặn thì nghỉ ngơi, sức lực và tinh thần đều tiêu tốn trong ký ức chầm chậm và sự chờ đợi.

Chờ đợi cũng là hướng tới tốc độ.

Nói một cách khác, chủ quan và khách quan đều tăng nhanh tốc độ cho sáng tác của tôi, cho nên tôi có lý do để tự hào viết trên bưu kiện gửi cho giáo sư Phan rằng: Tôi tin tôi sẽ hoàn thành bản thảo với tốc độ nhanh nhất, hy vọng ông xem xong nhanh chóng hồi âm…

Là tôi cố gắng nói nhanh: Một từ mang theo tốc độ, mỗi một nét phẩy nét mác đều như đôi cánh, đưa câu từ bay vụt qua trước mắt chúng ta, reo lên âm thanh xé gió.

* * *

Hồi âm của giáo sư Phan đến chậm, hơn nữa nếu nói nghiêm túc, không phải là hồi âm, mà là báo tang: Cụ Phan đã tạ thế, hy vọng tôi có thể đến tham dự lễ viếng.

Bỗng nhiên tôi thấy sợ hãi, lo sợ bản thảo của tôi ‐ câu chuyện do bà Cố kể lại ‐ khiến cụ tức mà chết.

Lại nói thêm, nếu quả thực là vậy thì tôi càng nên đến tham dự lễ viếng.

Tôi không có lựa chọn nào khác, chỉ biết đem theo tâm trạng lo âu mà đi.

Quả nhiên, giáo sư Phan bảo tôi, cha ông đúng là đang xem bản thảo của tôi thì bùng phát căn bệnh nhồi máu cơ tim, rời bỏ thế gian.

Giáo sư Phan vẫn với giọng nói quen thuộc ấy, câu từ nho nhã pha chút suy tư nói với tôi:

“Không nghi ngờ gì nữa, bản thảo tác phẩm của anh đúng là nguyên nhân dẫn tới cái chết của cha tôi, nhưng không nhất định là do ông tức quá mà chết, nói theo góc độ lý luận thì cũng có thể là do xấu hổ mà chết.

Tôi cho rằng, nếu những gì anh viết trong ấy là thật thì cha tôi tuổi cao thế này rồi vẫn liên tiếp dối gạt lừa đời, thật là… biết nói thế nào nhỉ?

Khiến người ta hổ thẹn.

Cha tôi nằm trong bệnh viện bảy ngày, trong thời gian ấy đã nhiều lần ông muốn nói điều gì đó, nhưng cuối cùng không nói được lời nào, cho nên chúng tôi thật khó xác định rốt cuộc là vì sao mà ông chết ‐ điều này cũng hợp với con người ông, quyết mang theo bí mật rời bỏ chúng tôi.”

Tôi cảm thấy không có chỗ dung thân, như mình đã hại chết một đứa trẻ, thật không biết nên tạ tội thế nào cho phải.

Giáo sư Phan lại khác, không những không trách móc, trái lại chủ động an ủi tôi, vẫn bằng giọng điệu và văn phong sách vở: “Đối với một người già tuổi đã ngoài chín mươi như cha tôi, chết là vấn đề phải đối mặt hàng ngày, thậm chí chỉ một cơn ho bất chợt cũng có thể mang ông đi.

Tác động của anh chẳng qua cũng chỉ như là một cơn ho bất chợt mà thôi, cho nên không cần phải cắn rứt lương tâm.

Tôi là con trai độc nhất của ông, ông mất rồi thì tôi có thể thay cha hứa với anh, người nhà họ Phan chúng tôi sẽ không truy cứu anh làm gì.

Nếu cần tôi sẽ viết biên bản làm chứng.”

Những lời vừa thấu tình đạt lý, vừa hữu hảo ấy khiến tôi cảm kích đến rơi nước mắt.

Tôi trộm nghĩ, sự khoan dung và ưu ái của giáo sư Phan dành cho tôi chắc chắn sẽ trở thành “quả cân” để ông yêu cầu tôi nghiêng về cụ Phan ‐ cha ông mà gây sức ép với bà Cố.

Nói cách khác, giáo sư Phan tốt với tôi như thế là có dụng ý, ông đã có tính toán trong đầu, bỏ con săn sắt bắt con cá rô.

So với việc ông tự đi bắt chi bằng chủ động đưa ra trước vẫn hơn.

Nghĩ vậy nên tôi chủ động bày tỏ lấy lòng: Bà Cố nói có chỗ nào không đúng ông cứ chỉ thẳng ra, tôi sẽ cố gắng tôn trọng ý kiến của ông, nếu cần sẽ hủy cả bản thảo.

Sai!

Không hề có chuyện ấy!

Hoàn toàn không có.

Giáo sư Phan nói rõ với tôi cha ông đã mất, ông không muốn nói gì thêm.

“Không nói không phải là không có gì để nói, mà là không cần phải nói.”

Giáo sư Phan chậm rãi nói với tôi: “Tôi tin công lao của cha tôi, tổ chức sẽ tự có phán định, cá nhân tôi có nói thế nào cũng đều là vô ích, không có ý nghĩa gì”.

Đúng là vì thế mà giáo sư Phan vô cùng coi trọng điếu văn của tổ chức viết cho cha mình, nhiều lần đưa ra ý kiến sửa chữa, thận trọng đến từng câu từng chữ, so bì từng li từng tý.

Xem xét cẩn thận không có nghĩa là đã hài lòng, từ việc giáo sư Phan không đồng ý cho tôi công khai bài điếu văn, tôi có lý do hoài nghi ông không hài lòng với bản điếu văn cuối cùng, dù đã được sửa chữa.

* * *

Là người tạ thế cuối cùng của lớp người năm ấy, lễ viếng cụ Phan diễn ra hết sức long trọng, đơn vị đặc biệt 701 mà cụ Phan công tác lúc sinh thời còn lập một ban lễ tang riêng, trên báo đăng cáo phó, người đến viếng không những đông, mà còn có ba vị lãnh đạo cấp cao, khiến cho quy mô và nghi thức lễ viếng bỗng chốc được mở rộng và nâng tầm cao hơn.

Lễ viếng kéo dài ba ngày.

Ngày thứ nhất đến viếng là người thân, bà con cùng quê của người đã mất, lễ viếng ngập tràn tiếng khóc thê lương.

Ngày thứ hai, đến viếng đều là các chiến hữu, đồng nghiệp của cụ Phan lúc còn sống và lãnh đạo đương nhiệm cùng đại diện các ban ngành của đơn vị 701, người nào trong họ cũng trang trọng, nghiêm túc và kính cẩn, buổi lễ lặng im gần như không có tiếng động.

Ngày thứ ba, chủ yếu là lãnh đạo các ban ngành địa phương và một số ít những người muốn viếng nhưng hai hôm trước chưa đến viếng được, còn cá biệt có những người không được mời nhưng vẫn đến viếng.

Tất nhiên, người nhà của Lão Cận (Lão Hổ), con trưởng của Lão K, Trần Kim Minh, con gái của Vương Điền Hương, Vương Mẫn và lính canh A đều có mặt.

Những người đến viếng đều dâng vòng hoa, rốt cuộc vòng hoa nhiều đến mức chất đầy bốn xe tải vẫn còn thừa.

Ngay tối hôm lễ viếng kết thúc, giáo sư Phan có tới khách sạn gặp tôi, mang đến cho tôi hai thứ: Một là bản thảo của tôi, một là đĩa CD.

Bản thảo là tôi gửi qua mạng cho ông ấy, thực ra không cần phải trả lại tôi (vốn là do ông ấy in ra), ông ấy cố ý trả lại tôi, tôi lý giải điều này chứng tỏ ông có tâm trạng, có lẽ mang hơi hướng của cái gọi là mắt không nhìn thấy thì coi như không có.

Tôi nhận lại tập bản thảo, hỏi ông:

“Lẽ nào ông thực sự không muốn đưa ra ý kiến gì về bản thảo của tôi?”.

Ông lắc đầu, một lần nữa bày tỏ: Cha ông đã chết rồi, ông không muốn nói gì cả.

Thực ra tôi hy vọng ông ấy nói, im lặng có chút cảm giác như nhận lỗi, dường như chân lý nằm trong tay bà Cố.

Được tôi khuyên và khích lệ nhiều lần, giáo sư Phan chợt quay sang lạnh lùng hỏi tôi: “Chẳng biết anh có để ý không, ngày viếng thứ hai, đơn vị 701 của cha tôi, nhiều người đến viếng như vậy, có người nào khóc không?

Không có ai khóc cả, cũng không có một ai rơi một giọt lệ nào.

Vì sao?

Bởi vì họ là những người không tin vào nước mắt”.

Tôi không hiểu ý của giáo sư Phan liền hỏi: “Anh muốn nói với tôi điều gì?”.

Giáo sư Phan nói: “Trong bản thảo của anh chẳng phải đã viết: Bà Cố cuối cùng đồng ý giúp cô tôi[1] chuyển tin tình báo ra bên ngoài là do nước mắt của cô tôi đã cảm động bà ấy, anh nghĩ điều này có thể tin được không?

Anh nên biết rằng, đây là những người đặc biệt, họ không tin vào nước mắt.

Nói thật, là con trai của cha tôi, tôi đã nói rồi, tôi không muốn nói điều gì cả, nhưng đứng ở góc độ độc giả mà nói, một độc giả hiểu rõ đặc tính của nhóm người này, tôi cho rằng chi tiết ấy… rất đáng phải suy nghĩ lại, anh đặt một tình tiết chủ chốt ở điểm khả nghi như vậy, điều này có lẽ không thích hợp”.

[1] Chỉ Lý Ninh Ngọc.

Tôi linh cảm, cuộc phản công đã bắt đầu, nhưng chỉ trong chốc lát đã kết thúc.

Ngoài việc đề nghị tôi sửa lại tình tiết chủ chốt ấy, giáo sư Phan không có ý kiến gì khác, không nói thêm một lời nào.

Nhìn sự việc nhìn hình dáng, nghe âm nghe điệu, rõ ràng tôi cảm thấy ông ấy có điều muốn nói, nhưng không chịu nói ra.

Tại sao?

Tôi hỏi ông ấy: “Sự im lặng của anh khiến tôi cảm thấy kỳ lạ, vì sao anh lại cứ phải giữ im lặng như vậy?”.

Ông ấy im lặng bước đi, kiên quyết không nói thêm một lời nào.

Bốn tiếng sau, tôi bất ngờ nhận được một tin nhắn từ ông ấy, thời gian gửi tin nhắn (ba giờ sáng) và nội dung tin nhắn, cho thấy ông đang bị mất ngủ hành hạ.

Tôi hình dung, chắc chắn là mất ngủ đã đạp đổ ý chí của ông ấy, khiến tôi có may mắn nhận được mẩu tin nhắn này:

Tại sao tôi lại im lặng?

Bởi vì bà ấy (bà Cố) là mẹ tôi.

Họ cũng giống như nguyên tử đã được làm giàu, chịu sức ép từ bên ngoài nên phân tách mạnh mẽ…

Hãy để họ tự nói ra, anh có thể nói gì trước sự tranh chấp của cha mẹ?

Ngoài im lặng ra, không còn sự lựa chọn nào khác.

Đọc mà giật mình, lòng tôi bồn chồn không sao ngủ tiếp được.

Hai tiếng sau, trong cơn phấn chấn mất ngủ, tôi lại nhận được tin nhắn của giáo sư Phan:

Xin đừng dò hỏi người khác về chuyện của cha mẹ tôi, tôi muốn tất cả mọi chuyện dừng lại ở đây, ngày mai tôi sẽ cho người tiễn anh về.

* * *

Tôi không đi.

Tôi cảm thấy tất cả mới chỉ bắt đầu.

Tôi mượn cớ vẫn còn chuyện khác, chuyển sang ở khách sạn khác, tự đi tìm những người như lão Cận (Lão Hổ).

Hiển nhiên, giáo sư Phan đã đi trước tôi một bước, lặng lẽ dặn bọn họ, không tiếp tôi.

Khi tôi tìm đến họ, không một ai vui vẻ tiếp tôi, miễn cưỡng gặp rồi đều giở giọng hách dịch với tôi: “Rồi rồi, đừng hỏi nữa, những gì đáng nói tôi đều đã nói rồi…

Chuyện này tôi đâu có biết, anh đi mà hỏi giáo sư Phan ấy, đây là chuyện gia đình họ…”.

Cứ như là trước sự tra khảo của kẻ thù năm xưa vậy: miệng kín như bưng.

Cuối cùng vẫn là con trai trưởng của Vương Điền Hương, anh trai của Vương Mẫn, Vương Hán Dân tiết lộ bí mật cho tôi.

Bốn năm trước, anh bị tai biến, liệt nửa người, một thời gian dài nằm viện, ít tiếp xúc với bên ngoài, có lẽ giáo sư Phan không nghĩ tôi sẽ tìm gặp Vương Hán Dân, nên không dặn trước, cũng có thể là do ở bệnh viện lâu ngày, cô đơn, Vương Hán Dân đặc biệt nhiệt tình với tôi, tôi hỏi là trả lời ngay.

Vương Hán Dân bảo tôi, vì nguyên nhân ấy (xin lỗi, tôi phải tôn trọng bà Cố, giữ bí mật này cho bà mãi mãi), Cố Tiểu Mộng không chịu kết hôn, đến khi kháng chiến kết thúc mới kết hôn với cụ Phan lúc này đã bỏ Cộng sản theo Quốc dân đảng.

Thực ra, chuyện cụ Phan bỏ Cộng sản theo Quốc dân đảng là giả, lừa gạt để chiếm lòng tin của Cố Tiểu Mộng, xâm nhập vào nội bộ Quốc dân đảng mới là thật.

Sau khi kết hôn, dựa vào quan hệ của cha Cố Tiểu Mộng, hai người tới Nam Kinh, Cố Tiểu Mộng vào làm việc tại Cục Bảo mật của Quốc dân đảng, cụ Phan làm tổ trưởng phụ trách khâu tổ chức, thuộc Sở Chính vụ thuộc Khu Cảnh bị Nam Kinh.

Một năm sau, Cố Tiểu Mộng sinh hạ đứa con đầu lòng, chính là giáo sư Phan.

Trước khi Nam Kinh giải phóng một tháng, Cố Tiểu Mộng lại mang thai đứa con thứ hai, trên tổ chức xem xét đến vấn đề an toàn của gia đình họ, đồng ý để cụ Phan đưa gia đình rời Nam Kinh về vùng giải phóng.

Cụ Phan lừa Cố Tiểu Mộng cùng đi, đi thẳng đến Bắc Bình.

Khi ấy, Nam Kinh đã giải phóng, cụ Phan cho rằng sự việc đã đến nước này, bà Cố cũng không thể làm gì được nên đánh bài ngửa nói rõ sự việc với bà Cố.

Không ngờ bà Cố kiên quyết, bỏ đi đứa con trong bụng, bỏ chồng từ con một mình ra đi, lần hồi tới tận Đài Loan.

Là một điệp viên đã qua nhiều thử thách, không phải là người đàn bà yếu đuối, một mình đi hàng nghìn dặm, với bà Cố cũng chẳng có gì khó khăn.

Tôi nghe mà cảm thấy thật đáng tiếc.

Là tôi nói, những chuyện như thế này mà để một người ngoài nói với tôi thì quả thật đáng tiếc, nếu như là giáo sư Phan nói ra…

Nhưng đây là điều không thể.

Mỗi người đều có hạn chế và những sợ hãi riêng.

Tôi cảm nhận sâu sắc giáo sư Phan đã vô cùng hối hận vì quen biết tôi, ông ấy bảo là ông ấy đã giúp tôi mở chiếc hộp Pandora[2]…

[2] Chiếc hộp thần bí trong thần thoại Hy Lạp.
 
Tiểu Thuyết Phong Thanh
CHƯƠNG HAI


Lúc này tôi đang ở Cầu trang.

Cầu trang trước kia nay là bảo tàng Nghệ thuật Trà của Chiết Giang, bên trong có một nhà khách mini, với tiện nghi theo kiểu những năm tám mươi thế kỷ trước, dùng chung nhà vệ sinh và phòng tắm, muốn dùng nước sôi tự xách phích xuống phòng đun nước để lấy.

Phòng khách có hai loại phòng ba người và phòng hai người.

Tôi thuê một phòng hai người, mỗi đêm một trăm đồng.

Đây là lần thứ năm tôi đến Cầu trang, trước đây chỉ là tới ngắm, còn thuê phòng để ở thì mới lần đầu tiên.

Như được Tây Hồ che chở, Cầu trang đã tránh được bom đạn chiến tranh và những lần phá bỏ qua các thời kỳ khác nhau, đến nay cơ bản vẫn còn giữ được nguyên khuôn viên và cấu trúc ban đầu, mang kiến trúc của thời Minh Thanh, những cây cổ thụ cao vút, những phiến đá lát đường, những khóm bương xanh tươi thoang thoảng mùi hương, những cây thủy sam vươn lên thẳng tắp…

Chỉ có điểm khác trước là những bức tường cao bao quanh đã được thay thế bằng hàng rào sắt thoáng hơn.

Đi vòng quanh theo hàng rào, bạn sẽ phải ngưỡng mộ vị trí đắc địa tuyệt vời của Cầu trang, phía Tây giáp miếu Nhạc Phi, phía Đông gần cầu Tây Linh, dựa lưng vào Sơn, mặt trước là Hồ, khiến cho người ta có cảm giác vừa như ở vùng núi xa xôi, vừa như trên mặt hồ mờ sương, vừa lấy hết vẻ đẹp thanh bình của sông núi, vừa lánh xa sự ồn ào náo nhiệt của đô thị…

Có thể hình dung, những người sống trong khuôn viên hào hoa sang trọng như vậy, hiển nhiên là những người kiệt xuất.

Nhưng chưa hẳn đã là vậy.

Nghe nói, ông chủ cũ của Cầu trang trước đây vốn là một tên thổ phỉ dựa vào vùng núi hiểm trở để cướp bóc.

Đầu thế kỷ trước, khi chiến tranh bùng nổ ở vùng Giang Tô và Chiết Giang, thành Hàng Châu loạn lạc do chiến tranh, lão thừa cơ xuống núi, cướp của mua đất, dựng lên cái ổ đáng giá ngàn vàng này.

Người có khả năng dựng lên được một khu trang viên như vậy, không cớ gì không mua được một chức quan?

Chuyện vặt.

Thế là lão “lắc thân hô biến”, đội lên đầu chiếc mũ quan.

Trên danh nghĩa là quan, ăn lương làm quan, những lão vẫn ngấm ngầm câu kết với bọn xã hội đen thuộc Thanh bang, giết người cướp của, trộm cướp tài sản.

Thổ phỉ vẫn là thổ phỉ, sao có thể thay đổi được bản chất xấu xa của bọn người này.

Cứ như vậy, công khai và ngấm ngầm cùng kết hợp, trắng đen cùng câu kết, chẳng mấy chốc lão trở thành một tên ác bá giàu có trong thành Hàng Châu, sống một cuộc sống vô cùng sa đọa và tàn nhẫn độc ác.

Sa đọa cũng chẳng là gì, tiền của lão nhiều vô kể, sau khi làm quan ăn trắng ăn đen khỏi cần nói, chỉ cần tiền mà lão xuống núi cướp bóc được cũng đủ cho tám đời nhà lão ăn chơi sa đọa.

Nhưng độc ác tàn nhẫn thì khác, những người tàn nhẫn độc ác chưa hẳn muốn là có thứ ấy.

Quả đúng như vậy.

Một đêm đầu mùa đông năm 1933, lão cùng vợ, con nhỏ và người hầu, tất cả bốn người đi xem kịch Mai Lan Phương từ Thượng Hải trở về, trên đường lão và cả nhà bị bọn áo đen bịt mặt giết chết hết trong toa xe đã bao riêng, gây kinh động một vùng, các tờ báo của Hàng Châu và Thượng Hải đều đăng tin này trên trang nhất.

Nhưng công tác điều tra vụ này, Cục cảnh sát Hàng Châu và Thượng Hải lại đùn đẩy cho nhau, khiến cho hung thủ vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật.

Sinh thời chắc chắn lão đã gây ra nhiều vụ giết người dã man, đây có thể coi là sự báo ứng với lão.

Nói là lão chứ thực ra vẫn chưa già, khi bị giết lão mới khoảng năm mươi tuổi, con cái đều còn bé.

Lão có tất cả sáu đứa con, ngoài đứa con nhỏ gặp họa, lão vẫn còn lại ba con trai và hai con gái.

Con gái lớn đầu lòng, đã lấy chồng, trước khi xảy ra đại họa đã vừa theo chồng sang Nhật Bản, muốn về lo liệu hậu sự cho cha mẹ cũng đành chịu.

Con trai cả của lão hai mươi ba tuổi, dáng cao ráo và rất có phong cách đàn ông, nhưng lại thiếu từng trải và kinh nghiệm trường đời, quan hệ còn chưa có, mọi ngóc ngách công việc còn lạ lẫm, xảy ra chuyện lớn như vậy đúng là không lo liệu nổi.

Đứa con trai thứ hai là thằng đần ngu dốt, mười hai tuổi rồi mà vẫn không biết đếm trứng gà, không thể trông cậy được gì.

Vì vậy, sau vụ này Cầu trang loạn hết cả lên, đám lâu la trong nhà mọc ra hai tên nghịch tặc, chôm hết những bức họa tự và đồ châu báu đáng giá trong nhà bỏ trốn.

May mà lão quản gia là người trung thành, giúp đỡ đứa con cả gánh vác việc nhà, ổn định gia cảnh.

Nhưng vấn đề đau đầu của ông chủ Cầu trang mới hiện nay là cha ông ta không gửi một xu nào trong ngân hàng.

Là thổ phỉ, tiền trong mắt hắn là vàng bạc của cải, châu báu đá quý, không phải là tiền giấy.

Lão thường nói với mọi người, tiền giấy thời loạn không gọi là tiền, mà gọi là giấy, một mồi lửa là cháy sạch, thành tro bụi bay khắp nơi, không còn nguyên xác.

Đây là kiến thức của bọn thổ phỉ, cũng không phải là không có lý.

Cho nên, khi còn sống, lão tìm mọi cách đổi tiền giấy thành vàng bạc châu báu.

Những người xung quanh lão, là người thân hay người làm, đều từng nhiều lần nhìn thấy lão mang vàng thỏi bạc nén về nhà.

Nhưng cuối cùng những thứ này lão cất giấu ở chỗ nào thì chẳng ai biết, những người biết thì chết cả rồi, không kịp để lại bất kỳ lời dặn dò nào.

Làm thế nào?

Chỉ còn cách phải tìm!

Đương nhiên, tìm được thì tốt.

Ngay cả thằng hai đần độn cũng biết rằng, chỉ cần tìm được nơi cất giấu vàng của cha, bọn chúng vẫn là những người giàu có trong thành Hàng Châu.

Hay nói cách khác, thế hệ mới của gia đình họ Cầu muốn quay trở lại sống cuộc sống xa hoa ngày xưa, không có cách gì bằng việc tìm thấy kho báu của cha.

Thằng lớn đang suy nghĩ như vậy, trong đầu chỉ ngập tràn suy nghĩ tìm kho báu.

Tìm ngày, tìm đêm, tự mình tìm, mời người đến tìm, vậy mà đã mấy năm trôi qua, vẫn chẳng tìm được gì.

Từ trong cả đống tài liệu và những câu chuyện trong dân gian, tôi dễ dàng đưa ra kết luận: Thằng lớn quả thật là không có phúc.

Nó có học và có cả mớ kiến thức, nhưng không gặp may và có phúc phận.

Nó là nhân vật kiểu bi kịch, tìm kiếm kho báu đã làm lỡ mất cuộc đời của nó.

Nhưng cho đến khi giặc Nhật đến chiếm Hàng Châu, chiếm Cầu trang, nó cũng chẳng tìm ra được manh mối gì.

Đúng là dã tràng xe cát, của cải vẫn nằm trong bí mật, ở phương xa, trong tưởng tượng, ở phía sau nguyện vọng, ở phía bên kia tấm kính, ở trong không khí mà những con mắt khát khao muốn nhìn thấy…

* * *

Tháng 12 năm 1937, quân Nhật đánh chiếm Hàng Châu.

Trước đó, lực lượng phòng thủ đã rút hết, cả thành Hàng Châu được dâng cho giặc.

Chiến tranh Thượng Hải đã khiến Tưởng Giới Thạch đau lòng, binh hao tướng tổn, nguyên khí tổn thương, Tưởng Giới Thạch đã không còn dám giáp mặt chống trả nữa.

Thế là tìm mọi cách rút lui.

Rút lui.

Để rút lui thành công, chính quyền quân Tưởng thậm chí không tiếc cho nổ cây cầu lớn bắc qua sông Tiền Đường vừa mới được xây dựng xong chưa lâu.

Ầm!

Ầm!

Ầm!!!

Đây là tiếng nổ duy nhất nghe thấy kể từ khi giặc Nhật đánh chiếm thành Hàng Châu.

Trước khi giặc vào thành, nhiều chuyện không rõ ràng, do cẩn thận và sợ hãi, những người có tiền nắm được tình hình đều đã bỏ đi.

Sau này, những người này “thuận gió chèo thuyền” trở về.

Họ rất nhanh nhạy với thông tin, tay chân cũng rất nhanh nhẹn, cần đi sẽ đi, nên về là về.

Cho dù chủ nhân không về được, ít nhất cũng sẽ có đầy tớ về, thay chủ nhân trông coi gia sản, tránh tình trạng người đi vườn không nhà trống, bị giặc Nhật bá chiếm.

Cầu trang chính là như vậy, khi mấy anh em nó về thì thấy trang viên đã bị bọn giặc Nhật chiếm rồi!

Kỳ thực, khi đó xung quanh Tây Hồ có rất nhiều khuôn viên nhà giàu, nếu nói đến danh phận và hào khí, như Lưu trang, Quách trang, Uông trang, Dương Công quán, Khúc viện, Liễu viên đều trên Cầu trang.

Ngay cả Du lầu ở sát bên cạnh, mặc dù không đồ sộ bằng, nhưng nó là khu nghỉ ngơi trong những năm cuối đời của Du Việt, một đại học sĩ cuối đời nhà Thanh, so với Khúc viên ở Tô Châu, có giá trị văn hóa lịch sử hơn, tài sản vô hình lớn hơn.

Những hào môn đại viện này, nhờ vào linh khí của trời đất Tây Hồ mà đều tránh được những đợt oanh tạc của máy bay giặc Nhật.

Giờ đây, nhiều trang viên đẹp như vậy, tại sao giặc Nhật không chiếm, mà chỉ bá chiếm mỗi Cầu trang?

Tưởng như không thể hình dung nổi.

Kỳ thực vấn đề là ở chỗ Cầu trang có báu vật, của cải chưa tìm thấy.

Kho báu bị chôn vùi đã lâu, những người trong nhà tham gia tìm kiếm kho báu ngày càng đông, tin tức từ đó mà dần lan rộng.

Một đồn mười, mười đồn trăm, sau đó người hơi có chút quen biết dường như cũng biết.

Nhiều người biết như vậy, thì làm gì có chuyện bọn giặc Nhật không biết?

Có giặc Nhật là có Hán gian, Hán gian tìm cách lấy lòng giặc Nhật.

Dù chỉ là lấy lòng, tránh sao được thêm mắm dặm muối, khiến giặc Nhật ngỡ rằng Cầu trang là một mỏ vàng, ngay lập tức phong tỏa Cầu trang.

Nói trắng ra, giặc Nhật bá chiếm Cầu trang, chính là muốn tìm kho báu.

Có họa cùng gánh thì đã đành, đằng này lại chỉ ức hiếp mình nhà ta thì chịu sao nổi.

Nuốt không nổi cục tức này.

Ức hiếp người quá đáng!

Thằng lớn bỏ đi, đi tìm chính quyền lâm thời do giặc Nhật dựng lên (Duy trì Hội) để tố cáo.

Kết quả, không những tố cáo không thành, còn bị người ta bóc mẽ, khiến nó phải nhục nhã ra về.

Bên cạnh bọn giặc Nhật có biết bao nhiêu là Hán gian, lật tẩy bao chuyện thâm cung bí sử của nhà họ Cầu, sau đó hùng hồn đưa ra hai lý do bá chiếm: Một là ông chủ cũ của Cầu trang xuất thân là thổ phỉ, dựa vào cướp bóc để dựng lên Cầu trang, tịch thu là xứng đáng, điều này là theo cái lý cướp của dân phải trả về cho dân; hai là ông chủ mới của Cầu trang không theo con đường chân chính, kinh doanh phi pháp, bại hoại thuần phong mỹ tục của dân, hậu họa khôn lường, cần phải thay thế.

Nói đúng thực tế, không thể bác bỏ.

Nhất là điểm thứ hai, người Hàng Châu hồi đó đều biết, phố lớn ngõ nhỏ đều bàn tán xôn xao: Cầu trang đang bán thịt.

Có nghĩa là làm nhà chứa.

Mang danh nhà chứa là rất ô uế, nhưng công bằng mà nói, Cầu trang không đáng phải chịu tội danh này.

Cầu trang thực sự tiếp quản nhà chứa cũng chỉ được vài tháng, trái lại nhà chứa đã được mở nhiều năm nay rồi.

Chuyện là như thế này, trong Cầu trang có một quán trà quán rượu, gọi là Trà Tứ tửu lầu, ở sân trước.

Ban đầu ông chủ Cầu trang mở quán này với ý đồ không phải bán rượu, mà để trá hình cho lão hành sự phi pháp.

Lão lấy đó làm chỗ tụ tập bạn bè, lôi bang kết phái, ám sát những kẻ chống lại mình, giết người cướp của.

Trà Tứ tửu lầu chẳng qua chỉ là danh nghĩa, thực chất là nơi chứa chấp bọn cướp.

Nhưng dù gì cũng đã rêu rao nhiều năm rồi, bên ngoài biết tiếng, lại nằm ở mặt đường ven hồ, nếu chuyên tâm kinh doanh cũng có thể kiếm ra tiền.

Khốn nỗi hai tên người hầu nghịch tặc làm loạn, cuỗm đi không ít đồ, muốn làm ăn trở lại thì phải sắm sửa đồ đạc bổ sung.

Tìm kiếm kho báu thất bại, lấy đâu ra tiền nhàn rỗi mà làm ăn?

Thêm vào đó là ông chủ mới đã quá mệt mỏi với chuyện tìm kho báu, cũng không còn tâm trí đâu gây dựng lại, đành bỏ mặc đấy.

Có người muốn thuê lại, ban đầu trang chủ mới không chịu, vì khi ấy nó còn ôm mộng tìm thấy kho báu.

Đương nhiên, chỉ cần tìm thấy được kho báu, người nhà họ Cầu màng chi đến chút ít tiền nhỏ mọn ấy, mất mặt lắm!

Sau đó, kho báu vẫn biệt vô âm tín, tài chính trong Cầu trang ngày dần cạn kiệt, thậm chí phải bán cả đồ đạc trong nhà để qua cơn túng thiếu, trang chủ mới chẳng cần giữ thể diện nữa, đồng ý cho người thuê Trà Tứ tửu lầu.

Người thuê họ Tô, cũng là kẻ khố rách, từ nhỏ đã mồ côi cả cha lẫn mẹ, được ông ngoại là đầu bếp ở khách sạn Lầu Ngoại Lầu nuôi dưỡng.

Khi mười tuổi còn đang mặc quần xẻ đũng đã chạy đi chạy lại giữa những khu thắng cảnh Tây Hồ, chuyên lừa bịp mà thành ra nổi tiếng, người trong vùng gọi hắn là Tô Tam Bì.

Có nghĩa là thằng lưu manh.

Tô Tam Bì không thể làm được công việc kinh doanh chân chính, chẳng mấy chốc đã biến Trà Tứ tửu lầu thành một nhà chứa nhộn nhịp, các tầng lớp quan khách lũ lượt kéo về, làm cho đầu đường cuối phố không ai không biết đến.

Còn thu hút sự chú ý hơn cả Tô Tiểu Tiểu nằm dưới nấm mồ gần đó!

Hồi đó, dân Hàng Châu bảo những người trong đó không gọi là người, vậy gọi là gì?

Nữ thì gọi là gà hoang, nam thì gọi là dâm tặc.

Một lũ đầu trâu mặt ngựa, nhậu nhẹt chơi bời, chẳng bằng loài cầm thú, khiến Cầu trang đảo lộn, tiếng xấu đồn xa, tiếng xấu đồn càng xa thì người đến càng đông.

Kẻ khố rách Tô Tam Bì thấy chuyện làm ăn mỗi ngày phát đạt hơn, bắt đầu để ria, mặc đồ Tây sang trọng, con người thay đổi, khiến mọi người không còn nhớ bộ dạng lưu manh của hắn ngày xưa.

Điều khiến mọi người càng không ngờ đến là, mấy năm nay, Tô Tam Bì bắt đầu nghĩ đến chuyện mua lại cả trang viên ‐ có lẽ cũng muốn tìm kho báu, có thể thấy hắn đã kiếm được bao nhiêu tiền rồi.

Việc này trái lại làm cho người nhà họ Cầu tỉnh ra: Tại sao không tự mình mở quán?

Liền muốn thu hồi giấy tờ cho thuê.

Đâu có thể thu hồi được?

Như bây giờ, Tô Tam Bì có tiền có thế, làm sao chịu để cho mấy tên mất hồn các ngươi sai khiến?

Nằm mơ!

Không cho thuê vẫn cứ thuê, có gan thì đến mà đuổi ta đi!

Thằng cả có gan, nhưng sau khi dò la, đưa ra quyết định là không động đến.

Thằng hai thì khỏi phải nói, chỉ là đồ bỏ đi, chẳng được tích sự gì cả.

Thằng nhỏ thứ ba thì cũng không trông mong được gì, thằng con trai giả được ma nữ đầu thai, da mềm đến mức có thể véo ra nước, nhát gan đến ngay cả một con gà cũng không dám giết, bảo nó đi đấu với Tô Tam Bì thì cũng chẳng khác gì thằng hai ‐ toàn thứ bỏ đi.

Đấy chính là cái thế của thằng cả, hai thằng em, một thằng thì đần độn, một thằng thì như hàng mã.

Xét về thời thế, kinh tế trong nhà liên tiếp trong tình trạng nguy cấp, chỉ dựa vào bán đồ đạc trong nhà mới có thể giữ được thể diện, lấy đâu ra tiền mà đi lôi bè kéo cánh để tạo thế.

Trong hoàn cảnh hòa thế mà nguy cơ rình rập bốn phía ấy, thằng cả đã học được cách nhẫn nhịn và chịu nhục, ngay cả khi đứng trước mặt những kẻ lưu manh vô lại, ánh mắt như ngọn đuốc của nó cũng khó có thể phóng ra tia lửa căm phẫn.

Đâu có biết, thằng ba oắt con lại nghiến răng, mặt đỏ phừng phừng nói với thằng lớn: “Anh à!

Chúng ta phải đuổi hắn đi!”.

* * *

Trong gia đình họ Cầu, thằng ba là một đứa lạ lùng.

Biến giống.

Độc ác.

Nghe nói, trên thằng ba vốn còn có một chị hai, lúc ba tuổi mắc bệnh chết.

Mọi người đều nói trông nó rất giống người chị hai đã chết, từ nhỏ đã yếu ớt nhiều bệnh, tính tình quái đản, không thích gần gũi với người nhà, suốt ngày thích ở cùng với bọn người hầu, rất thân thiết.

Căn bệnh khiến đứa chị chết chính là lây bệnh lao từ một người hầu mắc bệnh.

Thằng ba đi theo vết xe đổ của chị nó, thậm chí còn tệ hơn, đến mức sữa của mẹ đẻ nó cũng không thèm bú.

Nó không bú sữa mẹ được, bú được chút nào, nôn ngay chút ấy, giống như uống thuốc độc vậy.

Vì thế, còn suýt nữa bị chết ‐ chết bởi sữa mẹ!

May mà chỉ là thiếu chút nữa, chứ nếu không lại thành chuyện trong thiên hạ.

Bất đắc dĩ, chỉ còn cách mời một bà vú nuôi, chuyên cho nó bú.

Lại thêm chuyện lạ đời nữa, nó bú sữa của vú nuôi không cai được, làm thế nào cũng không cai được.

Xoa ớt lên đầu vú, cay đến mức làm cho mặt nó đỏ như hòn than, lưỡi sưng vù, nó vẫn không chịu cai sữa; vẽ lên hai vú của vú nuôi hình ma mặt quỷ rùng rợn, nó sợ kêu ầm lên, mơ thấy ác mộng, nhưng đói bụng rồi thì vẫn cứ phải bú, cứ như là nước sôi lửa bỏng nó cũng không ngại.

Ép nó cai sữa, cai một lần, đổ bệnh một lần, hễ đổ bệnh là như muốn chết, sốt cao, nổi mẩn, nôn ra mật vàng.

Cứ như vậy, không thể cai sữa cho nó được, đến tận sáu, bảy tuổi rồi vẫn phải cho nó bú hàng ngày.

Nó lớn lên rồi, vú nuôi không bế nổi nữa thì nó đứng bú, kéo đôi bầu vú trắng như hoa của vú nuôi dài ra như cái túi đeo trước ngực, ai nhìn thấy cũng đều phì cười.

Tám tuổi nó vào thành học, lại trốn về nhà, vì không rời được vú nuôi.

Gần như nó không học tiểu học, sau đó nhảy lên học trung học cơ sở, thành tích tất cả các môn nó đều đội sổ ở trường.

Chỉ có vẽ tranh (đây không phải là môn chính thức trong trường), thì lại giỏi hơn hẳn.

Phàm những người nhìn thấy nó vẽ, đều nói nó có tố chất họa sĩ bẩm sinh.

Thế là nó đi học trường Mỹ thuật.

Lúc đó cha nó vẫn còn sống, nghĩ đến chuyện hậu thế của lão có nhà nghệ sĩ vẩy mực vẽ tranh, vẫn thường cười nghiêng ngả.

Lão coi thằng ba như một đứa con gái, chẳng hy vọng gì.

Có ý là nuôi nó công toi, không nên cơm cháo gì cả.

Vì là nhờ một tay vú nuôi nuôi lớn, nó không thân thiết với người nhà, ngay cả đám người hầu cũng có phân biệt đối xử với nó.

Nếu không, sao không gọi là Tam thiếu gia, mà lại gọi là thằng ba chứ?

Là có nguyên cớ cả.

Khi cha mẹ nó chết, cả nhà ai cũng khóc muốn chết đi sống lại, duy chỉ có nó, mới mười sáu tuổi, nhưng lại tuyệt tình giống như ông già sáu mươi mốt tuổi, không hề rơi một giọt nước mắt nào.

Nói là nó hận song thân bạc đãi nó, nhưng vì thế nó lại mọc tóc, mà là mọc tóc thông minh, như là rất thương nhớ song thân.

Tóm lại, không thể hiểu nó là như thế nào nữa.

Hơn thế, vốn dĩ nó thiếu sự mạnh mẽ của con trai, mọc tóc, chẳng ra nam chẳng ra nữ, càng mọc càng lộ rõ kiểu người chẳng âm mà cũng chẳng dương.

Thế nhưng lại rất giống một nhà nghệ sĩ, mái tóc dài bồng bềnh, đôi mắt mơ màng, đeo giá vẽ, luôn hút theo ánh mắt mơ màng các cô gái hiện đại.

Thằng anh cả không muốn thấy bộ dạng nghệ thuật gia của nó, nhìn nó lại thấy phiền lòng, mỗi lần thấy nó là lại trào dịch vị đến tận cổ.

Hắn thường nhìn hai thằng em vô tích sự rồi tự than thân trách phận, lại gặp phải con chó chầy bửa Tô Tam Bì, cũng đành tự than thân trách phận, không còn cách nào khác.

Hổ lạc đồng bằng, không còn cách nào khác, đành phải chấp nhận.

Đâu ngờ tới, thằng ba lại không chấp nhận, đến gây sự với Tô Tam Bì, muốn đuổi hắn đi, cứ như nó xách trên tay không phải là giá vẽ, mà là một khẩu súng máy.

Thằng anh cả cảm thấy nực cười, nhìn thằng em, không thèm đếm xỉa gì đến nó và bỏ đi.

Nói gì bây giờ chứ?

Có nói thì cũng chẳng ích gì.

Thằng ba bước lên lên chặn anh lại, nghiến răng: “Anh!

Chúng ta nhất định phải đuổi hắn đi!”.

Thằng anh cả cố gắng kiềm chế tâm trạng chán ghét, nhẹ nhàng nói: “Đuổi thế nào?

Mày vẽ một con hổ giấy đuổi hắn đi nhé?”.

Thằng ba bảo: “Em sẽ đi lính”.

Thằng anh nhìn mái tóc dài chấm vai gió thổi rối bời của em nó, cuối cùng không nhịn được nữa nổi giận hét lên: “Mày đừng làm phiền tao nữa có được không hả!”.

Dứt lời phủi áo bỏ đi.

Đi được một đoạn xa, ngoảnh lại muốn văng thêm ra một câu khó nghe nữa, nhưng nghĩ thế nào lại thôi không nói gì, cứ thế bước đi.

Cách vài hôm sau, một buổi tối, thằng anh cả gặp thằng ba, bỗng giật thót mình, như gặp ma vậy.

Thằng ba đi lính thật, chỉ trong một đêm mái tóc đen dài của nó đã cạo trọc, trên đầu đội mũ vải bạt vành cứng, vũ trang quanh người, hai con người khác nhau hoàn toàn: là người mà cũng là ma.

Giống như con ma nửa âm nửa dương!

Một mặt là đầu đội trời, có chút khí phách của bọn thổ phỉ và sự hăm hở của tà ma.

Mặt khác là đôi mắt ướt át, ánh mắt luôn mơ màng, giống như kẻ tội nghiệp cô đơn bị đẩy tới đường cùng.

Càng nguy hiểm hơn là, có lẽ là do hồi còn nhỏ nó ăn quá nhiều sữa, nên da vừa nhẵn vừa trắng, luôn khiến người ta có cảm giác như một thư sinh trắng trẻo.

Cảm giác yếu đuối.

Cảm giác sẽ hoảng sợ trước cơn nguy.

Một người như vậy, cho dù có súng giắt ngang lưng thì thằng anh cả cũng không cảm thấy có một chút sức mạnh và an ủi nào.

Hắn chỉ thấy tức giận!

Cơn giận đang bốc cháy hừng hực!

Cơn giận tưởng gan phổi đang bị nứt ra!

Bởi vì mấy năm nay, nhà nó dựa vào bán đồ trang sức châu báu để cho nó ăn học, đến lúc sắp được mở mày mở mặt rồi, tốt nghiệp rồi, là thằng anh cả, hắn đã nhờ người, bỏ tiền, đã kiếm cho nó một công việc, cứ nghĩ như thế cuối cùng đã có thể giải quyết xong được một việc, không ngờ…

đúng là loạn!

Đồ phá gia chi tử!

Đồ bất hiếu!

Trong cơn thịnh nộ, thằng anh cả tát thằng em một cái bạt tai, mắng: “

Sau này chuyện của mày tao mặc kệ!”.

Tiếng thét vang vọng trong đêm, kinh sợ như đã xảy ra án mạng.

* * *

Phải nói là đi lính rồi, được chu cấp, ăn mặc chẳng phải lo gì nữa, cũng chẳng cần ai trông nom nữa.

Chỉ có điều đã làm cho thằng anh cả đau lòng, làm mất hết cả thể diện của người nhà Cầu trang.

Người của Cầu trang sao lại đi lính cơ chứ?

Nếu muốn thì phải làm sĩ quan ấy.

Đừng sốt ruột, thằng ba đã học xong cao đẳng, có cơ hội và vận may thì làm sĩquan không thành vấn đề.

Hơn nữa, còn có thằng anh cả, miệng nó mắng là mặc kệ vậy thôi, chứ nào có kệ cho được.

Thằng ba trong lực lượng của Tiền Hổ Dực (Sư đoàn dự bị phòng thủ Chiết Giang thuộc Quân Cách mạng Quốc dân) đã lên đến chức Tiểu đội trưởng.

Chức quan bé như hạt vừng, nhưng dù gì cũng là quan, đó cái ngưỡng buộc phải bước qua để sau này có thể lên làm đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng, trung đoàn trưởng.

Nếu là trước đây, làm đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng hay trung đoàn trưởng gì đi chăng nữa, chỉ vài nén vàng hay vài đồng tiền vàng là có thể giải quyết được ngay.

Hồi đầu, khi lão thổ phỉ xuống núi, làm quan đã nhận ngay chức Sở trưởng Sở điều tra (tương đương với chức Cục trưởng Cục Công an ngày nay).

Nhưng bây giờ không phải là ngày xưa, giờ đây thằng ba muốn có chức quan to hơn một chút, vẫn chẳng có cách gì khả thi, bất đắc dĩ cuối cùng nó đành dùng hạ sách: Giới thiệu đứa cháu gái xinh đẹp của lão quản gia trung thành với Tiền Hổ Dực, làm người đàn bà của Tiền Hổ Dực, mà đổi lại cũng chỉ là chức Đại đội trưởng không hơn, đúng là nghiệt ngã.

Nói tóm lại, mấy việc thằng ba làm đều là mất hết thể diện, khiến người ta cảm thấy gia đình họ Cầu thế là đã hết, mưu đã cùng, kế đã cạn.

Duy chỉ có thằng khốn đuổi không đi Tô Tam Bì là đang ngấm ngầm cảm thấy một loạt những hành động bất thường, khác biệt của thằng ba như bỏ học đi lính, dâng gái cho cấp trên… là mối nguy cơ hắn sẽ bị đuổi đi.

Quả đúng như vậy, một buổi chiều, thằng ba xuất hiện trước mặt Tô Tam Bì với vũ khí trên người, nói dăm ba câu rồi đi thẳng vào vấn đề, muốn lấy lại quyền thuê Trà Tứ tửu lầu.

Tô Tam Bì lúc này đã mua được thế lực của Tiền Hổ Dực, làm gì có chuyện sợ một thằng Đại đội trưởng nhãi nhép?

Hắn nói với giọng điệu quái đản: “Thằng nhãi ranh này, nếu muốn xin ít tiền lẻ tiêu vặt thì không hề gì, còn muốn đòi nhà thì đừng hòng.

Không tin mày cứ về hỏi ông anh Hổ Dực của chúng ông xem, ông ấy đồng ý hay không đồng ý?

Này, mày mới chỉ dâng cho ông ấy được một con đàn bà, ông đây dâng lên cả tá rồi, đủ mười hai thứ, trắng đen gầy béo có đủ, mày nói xem ông ấy liệu có đồng ý không?”.

Hắn gọi Sư trưởng Tiền là ông anh Hổ Dực, thế mà hay, khiến cho bản chất lưu manh của Tô Tam Bì thêm uyển chuyển hơn.

Tô Tam Bì hôm nay, có tiền có thể sai ma khiến quỷ, không chỉ có thể gọi huynh xưng đệ với Sư trưởng, ăn nói cợt nhả, còn ra chiều văn vẻ.

Tô Tam Bì là một tên nham hiểm, hắn cười mà bung đầy dao, không ngờ thằng ba rút dao ra thật, là một con dao găm hình trăng non.

Con dao lôi ra từ đáy cái túi vũ trang đeo sát ngực, thân dao ngắn, sống dao dày, hơi cong giống như ngón tay cái chĩa ra.

Thằng ba múa con dao găm trong tay một cách điêu luyện, cuối cùng mũi dao găm với ánh sắc lạnh chĩa về phía Tô Tam Bì.

Tô Tam Bì thấy thế lùi lại một bước, quát: “Mày định làm gì!”.

Thằng ba lạnh lùng nói: “Tôi chỉ muốn sự công bằng, trả lại nhà của chúng tôi cho chúng tôi”.

Tô Tam Bì hạ giọng chọn một câu dễ nghe nói: “Trả à?

Ai cướp của mày đâu!

Chẳng phải là tao thuê đó sao?

Thuê hết thời hạn, tao khắc trả lại mày”.

Thằng ba bảo: “Tôi muốn ông trả ngay bây giờ”.

Tô Tam Bì nói: “Nếu không thì sao?”.

Thằng ba vung con dao lên: “Vậy thì chỉ còn cách tôi buộc ông phải trả”.

Tô Tam Bì nghĩ là thằng ba ra tay thật, vội vàng vớ lấy một cái ghế, chuẩn bị chống đỡ.

Thằng ba lại cười bảo hắn không cần phải căng thẳng như thế: “Ông sợ gì chứ?

Tôi không làm hại ông đâu.

Giờ ông là anh em với Sư trưởng Tiền của chúng tôi, làm sao tôi dám làm hại ông?

Ông bị hại rồi, bộ quân phục tôi đang mặc trên người đây chẳng lẽ không bị cởi bỏ sao.

Hơn nữa”, thằng ba vỗ bao súng, “nếu tôi muốn hại ông thì cần gì phải dùng đến dao, dùng súng nhanh gọn hơn nhiều, rút súng ra, bóp cò một cái, đoàng!

Ông sẽ biến ngay thành con mèo chết, dù có vài cái mạng thì cũng phải đi gặp Diêm Vương thôi”.

“Mày dám!”

Nói đến Tiền Hổ Dực, Tô Tam Bì thấy vững tâm hơn, giọng điệu cũng cứng rắn hơn.

“Không dám!”

Thằng ba thản nhiên thừa nhận nó không dám.

Thế nhưng, tiếp đó nó nói thêm: “Cũng không phải là không dám, chủ yếu không đáng, không đáng phải như vậy”.

Nó nghiêm túc giải thích với Tô Tam Bì: “Ông nghĩ xem, nếu như tôi giết chết ông, tôi sẽ mang tội giết người, sẽ bị bắn chết, như vậy chẳng phải là cùng ông đi đến chỗ chết hay sao, có đáng không?

Chỉ vì một chuyện nhỏ, lấy đi mạng sống của hai người, nói thế nào thì cũng không đáng”.

Nói đoạn, thằng ba đưa tay trái ra, thu lại mấy ngón tay ngay trước mặt một cách điệu nghệ, chỉ chừa lại một ngón tay út, nheo mắt nhằm vào ngón tay út nói: “Chuyện vặt vãnh như vậy, đáng lắm cũng chỉ bằng ngón tay út, mà là bằng ngón tay út của tôi, chứ không phải ngón út của ông”.

Nó thừa nhận cái gì của Tô Tam Bì bây giờ cũng quý giá hơn của nó, ngay cả bãi đờm khạc ra cũng thơm hơn nó, giống như vậy ngón tay út của Tô Tam Bì cũng đáng giá hơn ngón tay út của nó rất nhiều, chuyện vặt vãnh mà nó đến bàn bạc với Tô Tam Bì hôm nay chỉ đáng bằng đầu ngón tay út của nó thôi.

Ngón tay út của nó cô độc vênh mãi lên, để mũi dao nhọn chỉ tới chỉ lui, với bộ dạng châm chọc.

Nhưng chẳng ai ngờ rằng, thằng ba lại xử tàn nhẫn với ngón tay út của nó như thế ‐ nó kê ngón tay út của mình lên mép bàn, dùng con dao găm chỉ to như ngón tay cái, gại gại lưỡi dao rồi giống như thái một ngọn măng, chặt đứt một phần ba ngón tay út.

Đoạn ngón tay út bị cắt rời ra của nó không hề co giật giống như một số người nói, mà giống như ngọn măng, không hề động đậy, máu cũng chảy rất ít.

Thằng ba hình như hơi thất vọng, ánh mắt chán ghét nhìn đoạn ngón tay bị chặt đứt, dùng mũi dao khẽ gẩy đoạn ngón tay như mẩu thuốc lá về phía Tô Tam Bì.

Tô Tam Bì cúi người xuống tránh được.

Sắc mặt hắn tái nhợt lộ vẻ sợ hãi, giọng điệu cũng không giữ được bình tĩnh.

Hắn kinh sợ hét lên, như một mụ đàn bà đanh đá bị một tên lưu manh bóp vú: “Người đâu!

Người đâu mau ra đây!”.

Đám người làm rầm rầm chạy lên tầng, nhưng bị thằng ba chặn lại trước, nó giơ ngón tay vừa bị cắt be bét máu lên, nghiêm giọng quát: “Mau mang rượu ra đây!”.

Lũ người làm thấy vậy, chẳng biết thế nào, cứ nghĩ là ông chủ của chúng gọi “người đâu” là vì việc này, vội vàng quay ngược xuống lầu, mang lên một bát rượu trắng cực mạnh.

Thằng ba nhúng nửa ngón tay đầy máu vào bát rượu, giống như nhúng tay vào chảo dầu sôi, có thể tưởng tượng được đau đớn đến mức nào, trán nó lập tức rịn đầy mồ hôi.

Nhưng chỉ có vậy, không còn phản ứng nào khác, không nghiến răng, không kêu đau, không trợn mắt, không nhíu mày, còn cười hì hì trêu bọn người làm: “Tôi muốn cùng với ông chủ Tô các người cắt máu uống rượu kết bạn”.

Đám người làm ngu ngốc tin đấy là thật, liền thi nhau chúc mừng ông chủ, khiến Tô Tam Bì tức muốn chết, quay sang mắng lũ người làm: “Cút”, hắn cũng cất bước, chuẩn bị chuồn.

Thằng ba để cho đám người làm đi rồi chặn ông chủ của bọn chúng lại: “Ông cứ thế mà đi à, vậy thì ngón tay của tôi bị cắt đứt một cách vô nghĩa sao.

Lẽ nào ông thực sự nghĩ rằng tôi chỉ biết cắt đứt ngón tay của mình thôi sao?”.

Tô Tam Bì không chấp, lách qua tìm đường chuồn.

Thằng ba liền rút súng ra, nhanh như tên tiến lên một bước, tỳ họng súng vào gáy hắn nghiêm khắc cảnh cáo: “Nếu mày dám bước ra khỏi cánh cửa này, ông đây sẽ bắn què cái chân chó của mày, sau đó khoét đôi con ngươi chó của mày, khiến quãng đời còn lại của mày sống chẳng bằng chết!

Không tin mày cứ thử xem!”.

Đến đây thì đúng là không thể thử được, hắn đã gặp một thằng điên thật rồi, người điên còn khó đối phó hơn cả chó dại.

Tô Tam Bì khựng lại, không dám dấn thêm bước nào về phía trước nữa.

Hắn khuyên thằng ba bỏ súng xuống, có gì thì nói chuyện tử tế với nhau.

Đợi khi thằng ba bỏ súng xuống thật, thì hắn lại không hề tử tế chút nào, một mực yêu cầu, thuê thêm một thời gian nữa, một năm không được thì nửa năm, nửa năm không được thì ba tháng, ba tháng không được thì một tháng.

Thằng ba nhận định chuyện này để lâu đêm dài lắm mộng, cần phải đánh nhanh thắng nhanh, cho nên nói dứt khoát: Hôm nay phải đi, không đi thì sẽ chết!

Năm nay, thằng ba mười tám tuổi, với người ngoài, dáng nó không cao to, khỏe mạnh, lời nói không có trọng lượng, làm việc cũng chẳng ra làm sao, còn đôi mắt thì lúc nào cũng mơ màng mông lung, giống như một đứa con gái không màng thế sự, lấy đâu ra bản tính ác độc thế này?

Không thể, nói thế nào thì cũng không thể.

Thế nhưng, lúc này đây, thời khắc này đây, Tô Tam Bì nhìn vào họng súng đen ngòm trên tay của thằng ba, trong lúc hoảng hồn ngỡ rằng lão chủ cũ của Cầu trang đã sống lại.

Bọn lưu manh có thể coi công danh là những thứ rác rưởi, nhưng lại vô cùng coi trọng mạng sống.

Thằng ba cắt một ngón tay đặt cược với tính mạng của hắn, Tô Tam Bì nghĩ mà cảm thấy sợ.

Lưu manh dù gì cũng vẫn là lưu manh, gây rối làm loạn thì chẳng biết sợ chi hết, đến khi thực sự đùa với mạng sống thì lại vô cùng nhát gan.

Tối hôm ấy, hắn thu dọn tài sản, ôm theo nỗi nhục, ném lại một rổ những lời khó nghe, ra đi.

Hắn đi tìm người anh em Sư trưởng Tiền, cứ ngỡ sẽ có thể quay trở lại được, không ngờ người anh em Sư trưởng Tiền chẳng thèm tiếp.

Nói cho cùng, hạng người như Tô Tam Bì là đồ đốn mạt, không ai chấp nhận được, huống hồ bên cạnh Sư trưởng Tiền còn có đứa cháu gái ruột của lão quản gia, dù gì cũng có vai trò nhất định.

Đây là chuyện xảy ra vào tháng Chạp mùa đông năm 1936.

Vài cây mai đứng sừng sững trên sườn núi phía sau Cầu trang, trong làn gió lạnh mùa đông, tỏa mùi hương thơm thoang thoảng đắm say lòng người đón mùa xuân mới, và dường như còn mang chút ý nghĩa chúc mừng vì Tô Tam Bì cuối cùng đã thất bại.

Sau khi mùa xuân qua đi, cũng là thời kỳ ế ẩm nhất của nghề kinh doanh dịch vụ mua vui, cũng may, người nhà họ Cầu sử dụng thời gian nhàn rỗi này để chuẩn bị cho việc khai trương Trà Tứ tửu lầu.

Chờ tới mùa xuân ấm áp, khắp nơi hoa nở, mọi việc đã sẵn sàng, thiên thời địa lợi nhân hòa, tửu quán bên ngoài sẽ lại chăng đèn đỏ, rượu trong, nhộn nhịp khách vào ra, tuy kinh doanh không được tấp nập bằng như hồi Tô Tam Bì còn đấy, nhưng cũng có thể thấy nó đang “nóng” dần sau mỗi đêm, đến mùa hè, độ “nóng” của nó cũng chẳng kém thời của Tô Tam Bì là mấy.

Có thể hình dung, cứ đà này, một Cầu trang suy yếu chắc chắn sẽ được vực dậy ngay thôi.

Nhưng cảnh tượng tốt đẹp chẳng kéo dài được bao lâu, khoảng tháng Tám, giặc Nhật tới oanh tạc, ai nấy đều hồn bay phách lạc, làm gì có ma nào dám mò tới nhà chứa mua vui?

Chết tiệt!

Đến cuối năm, bọn giặc Nhật tiến vào thành, như đã nói ở trên, Cầu trang liền bị giặc Nhật chiếm, mất địa bàn, thì còn gì để nói nữa.

Như vậy, thằng ba cắt ngón tay, trên thực tế chỉ đổi lại được có vài tháng tốt đẹp đáng thương, còn nhiều hơn là sự nhục nhã: chịu nhục thay người khác, mất nhà mất cửa, lại còn bị người đời cười chê… nỗi nhục rửa không sạch, nói không hết, khổ sở như thằng câm ngậm bồ hòn.

Quả đúng như người đời vẫn nói: Thời vận không đến, dù là hào kiệt cũng chỉ trở thành chó má mà thôi.

Tóm lại, thằng ba cắt ngón tay là uổng công vô ích.

* * *

Sau khi giặc Nhật chiếm Cầu trang, chúng treo cờ của hãng cao dược màu đỏ đến chói mắt, cổng có lính da vàng canh gác.

Nhưng trong khuôn viên Cầu trang rộng lớn là vậy lại không có lực lượng nào đóng quân, cũng không có yếu nhân quyền quý nào vào ở.

Sống trong đó chỉ có một đôi vợ chồng quyền quý cao sang tuổi trung niên, đem theo vài người hầu hạ.

Chủ tớ cộng lại cũng chưa đến mười người, thêm cả lính canh cũng chỉ mười mấy người.

Họ sống bên trong và ít giao du với bên ngoài, phần đông số họ hầu như chưa bước ra khỏi cổng, duy chỉ có ông chủ thỉnh thoảng dẫn vợ ra ngoài đi dạo, ngắm cảnh quanh Tây Hồ.

Ông chủ khoảng hơn ba mươi tuổi, đeo kính, luôn cầm quạt trên tay, mày thanh mắt tú, khiến mọi người thấy thật nho nhã, gặp ai hắn cũng tỏ ra rất lịch sự, gặp thơ có thể ngâm, thấy hoa có thể bình.

Hắn thường đứng trước những câu đối, những bức tranh say mê ngắm, ra chiều thích thú.

Có khi tức cảnh sinh tình, đứng bên hồ ngâm thơ thả tình, dáng vẻ thanh cảnh, nghiêm trang rất có phong cách của người xưa, có thể nhìn, có thể ngắm.

So sánh một chút, cô vợ trẻ của hắn có phần tác quái, trên đầu luôn đội một chiếc mũ rộng vành, tay dắt con chó hung dữ to gần bằng con lừa, thường lườm người đi đường một cách vô cớ, mũi có vẻ khinh bỉ, đúng là kiểu cách của quân giặc cướp nước, rõ là chẳng có gì tốt đẹp về mụ.

Cặp vợ chồng này từ đâu đến, thân phận thế nào, đến ở đây để làm gì ‐ vô vàn những câu hỏi, mà không ai biết, cũng rất khó để tìm hiểu.

Bởi vì, người bên ngoài không thể vào được bên trong, bên trong thì lúc nào cũng yên tĩnh, cứ như chưa từng xảy ra chuyện gì, khiến người ta không thể đoán biết được điều gì.

Kỳ thực, trong cái yên tĩnh bề ngoài ấy, Cầu trang đã bị xới tung lên, nhất là khu phía sau, hai căn nhà kiểu Tây đã bị đào bới lung tung.

Họ làm gì vậy?

Đương nhiên là tìm kho báu rồi!

Sở dĩ bọn giặc Nhật chiếm Cầu trang, mục đích cũng là tìm kho báu, có điều chúng cử tên sinh đến làm việc này, là để mọi người không thể ngờ đến.

Có lẽ cũng là để bịt tai che mắt mọi người.

Thư sinh ‐ tìm kho báu, phu thê ân ái ‐ chồng đạo vợ tặc, yên ắng thanh bình ‐ gà kêu chó sủa: những từ này có vẻ không ăn nhập với nhau, không có khoảng cách nhất định.

Nhưng thứ bọn giặc Nhật cần chính là khoảng cách này, để anh không nhìn thấy, không nói được gì.

Dù gì thì chuyện Cầu trang có kho báu ai cũng biết, bọn giặc Nhật nếu ngang nhiên ăn cướp, sẽ không có lợi cho cái gọi là chiêu bài thiết lập vành đai Đại Đông Á cùng phồn vinh của chúng.

Vậy mà, ngày lại ngày, tháng qua tháng, chẳng mấy chốc mà đã mấy tháng trôi qua, nhưng những nơi cần tìm đều tìm hết cả rồi, đào sâu ba thước để kiếm, vắt óc ra để tìm, những chỗ có thể đào đều đã đào, những chỗ có thể khoét cũng đều đã khoét: trên dưới mặt đất, trong nhà ngoài sân, giếng này rãnh kia, chân tường gốc cây, trong hang trong khe… chẳng có xó xỉnh nào chưa tìm kiếm, thế mà một sợi lông cũng không tìm thấy.

Hình như lão già đã mang theo cả của cải châu báu xuống địa ngục rồi, thậm chí sau đó còn đưa cả mụ vợ đáng ghét của lão cùng xuống địa ngục.

Đó là chuyện sau Tết Đoan Ngọ[1] năm sau, là thời điểm nóng bức nhất, hai vợ chồng hắn thường cơm tối xong là dắt chó đi dạo quanh Tây Hồ, mặt trời lặn thì đi, mặt trăng mọc thì về.

Buổi tối hôm ấy, trời nóng nực vô cùng, họ đi hóng gió, đi tới bờ sông Tiền Đường.

Trên đường trở về, trời đã tối đen như mực.

Đi đến một chỗ, bỗng từ một chiếc thuyền mui đen đang đậu ven hồ bốn tên sát thủ cầm đao xông ra, giơ dao chém liên tiếp về phía hai vợ chồng.

Mụ vợ và con chó không kịp kêu đã ngã xuống đất, nhanh chóng trở thành oan hồn dưới lưỡi đao.

Không ngờ người chồng, tướng mạo thư sinh nho nhã lịch thiệp, vậy mà với chiếc quạt giấy trên tay, đỡ trái chắn phải, khiến bốn lưỡi đao không thể chém vào thân, rõ ràng là người có võ công.

Hắn vừa cố gắng chống đỡ, vừa kêu cứu, khiến cho bốn lưỡi dao càng hoảng không thể chém được hắn.

Sau đó, hắn lùi dần đến mép hồ, cơ hội đã đến, hắn tung người lặn mất trong hồ, cuối cùng nhờ đêm tối, hắn đã thoát nạn.

[1] Tết mùng năm tháng năm âm lịch, ngày Tết truyền thống của Trung Quốc.

Sau đó phát hiện, vàng bạc nữ trang đeo trên người mụ vợ không mất thứ gì, chứng tỏ kẻ giết người không phải vì mục đích cướp của.

Khám xét điều tra hiện trường, hình như trước khi tẩu thoát hung thủ đã kịp thu dọn hiện trường, không để lại dấu vết gì, chỉ tìm được một mảng da của hung thủ trong miệng con chó đã chết, có thể là ngay cả hung thủ cũng không ngờ tới.

Nhưng mảng da không tên không họ, không thông linh tính, vừa không biết nói cũng không biết nghe, làm sao mà phá án được chứ?

Không thể nào!

Không phá được án, giống như đang còn nuôi sát thủ, biết đâu sau này sát thủ dùng súng truy sát thì sao?

Cho dù là có võ công số một thiên hạ cũng khó thoát thân…

Nghĩ vậy, chịu sao nổi, cho dù là biết rõ sẽ tìm thấy khó báu, anh cũng không dám đem tính mạng ra đánh cuộc.

Huống hồ mạng sống cũng vừa mới may mắn giữ lại được, nỗi kinh hoàng còn chưa hết, đâu dám thờ ơ.

Bỏ!

Bỏ!

Bỏ!

Việc tìm kho báu như vậy đã kết thúc, đám người lặng lẽ rời đi, giống như hồi đầu âm thầm tới.

Sau đó, Cầu trang chỉ còn là nơi nuôi ngựa.

Ban đầu khi đám người đến, Cầu trang vẫn còn nào nhà nào vườn, chỗ nào cũng vương vấn hương thơm, còn giờ thì trong nhà ngoài vườn, chỗ nào cũng thấy đào khoét, thương tích đầy mình.

Vì thế, tuy giặc Nhật đã bỏ đi rồi, cũng không thấy có người nào đến chiếm Cầu trang.

Nhưng người đến xem thì rất đông, toàn là hạng quyền quý trong chính quyền ngụy và giặc Nhật.

Nhưng nhìn thấy cảnh hoang tàn như vậy, chẳng ai có hứng thú chiếm Cầu trang làm của riêng cho mình nữa.

Cuối cùng, chỉ có mười mấy con ngựa giống của Đại đội kỵ binh được lợi, chúng được sinh con đẻ cái trong một nơi hào hoa phú quý phái như vậy, dường như đồng nghĩa với việc thế hệ sau của chúng đã được định sẵn là phải ra chiến trường cống hiến xương máu.

Ngựa không tìm kho báu, nhưng phải ăn cỏ.

Chỉ vài tháng sau, ngựa gặm trụi hoa cỏ trong vườn, thải ra hàng đống phân hôi thối.

Từ đó, Cầu trang trở thành nơi ma chê quỷ hờn hôi thối nồng nặc, càng không có người để ý đến, chỉ thấy những chú ngựa đi ra đi vào, khiến người ta khó nhớ nổi sự vinh hoa phú quý của Cầu trang khi xưa.

* * *

Tháng 3 năm 1940, Uông Tinh Vệ thành lập Chính phủ ngụy Quốc dân tại Nam Kinh.

Trước đó vài tháng, Tiền Hổ Dực danh nổi như cồn, báo lớn báo nhỏ đều đăng tên và chức vụ của hắn: Tư lệnh Tổng đội tiễu phỉ Hoa Đông.

Có điều người Hàng Châu đều gọi hắn là Tiền Cẩu Vĩ.

Vì hắn bán nước, mang quân từ trên núi xuống làm chó săn cho bọn giặc Nhật.

Ai có thể nhịn được chứ thằng ba thì không.

Thằng ba làm phản, nó vừa ăn trộm vừa cho nổ kho đạn của gã Tư lệnh chó má, đem theo hơn chục thân tín trốn mất tăm.

Từng là cấp trên của thằng ba, lại là người anh em của Tô Tam Bì, Tiền Hổ Dực hay Tiền Cẩu Vĩ đương nhiên biết bí mật Cầu trang có cất giữ kho báu, và tự tin có thể tìm thấy, vì hắn còn có Tô Tam Bì.

Tiền Hổ Dực làm chó săn cho giặc Nhật, quan binh của hắn bỏ đi quá nửa, hắn dùng người cũng không quá cầu kỳ nữa, phàm là những ai tìm đến, hắn đều nhận hết, kể cả hạng khố rách áo ôm, trộm cắp thành nghề như Tô Tam Bì.

Huống hồ, Tô Tam Bì còn vỗ ngực hùng hồn thề với hắn: Nhất định sẽ tìm ra của cải châu báu mà người nhà họ Cầu bí mật cất giấu.

Cho nên, Tiền Hổ Dực nhậm chức không lâu liền phá bỏ sân nuôi ngựa, thu hồi Cầu trang về cho Tổng đội quân ngụy, bỏ tiền ra tu sửa, thực chất là để tìm kho báu: Vừa tu sửa vừa tìm kiếm, để tránh miệng lưỡi thế gian.

Kỳ thực, Tô Tam Bì chẳng biết cái chó gì cả, những lời thề thốt của hắn cũng chẳng có giá trị gì!

Kho báu mãi chẳng thấy đâu, vì thế công việc tu sửa ngày một mở rộng, sửa toàn diện, sửa triệt để, cuối cùng ngay cả ngói tráng men trên nóc nhà cũng từng viên, từng viên được dỡ xuống, thay hết, cây cối trong vườn cũng nhổ dần từng gốc, nhổ chỗ này trồng chỗ kia: Cây ở sân trước đem trồng ra phía sau, cây ở phía sau đem về sân trước.

Tu sửa mới lại hết rồi, không thể bỏ phí không sử dụng.

Đương nhiên là sử dụng, phía trước làm nhà khách cho đám sĩ quan của Tổng đội quân ngụy, quán trà quán rượu có đủ cả.

Hai căn lầu nhỏ phía sau, viên Tư lệnh quân ngụy chiếm làm của mình: Tây lầu làm nơi ở, cả nhà già trẻ lớn bé ở trong đó.

Còn căn phía Đông là sử dụng công tư kết hợp, tầng trên là nơi mấy tay phụ tá Tư lệnh ở, tầng dưới là nơi chúng họp bàn mưu sự cơ mật và hành ác.

Cái gọi là hành ác không ngoài chuyện lộng quyền chơi gái.

Lộng quyền rất phức tạp, vì thế phải nuôi phụ tá, còn chơi gái bây giờ là quá dễ dàng, thích lúc nào là được lúc ấy, vì gái sẵn ở nhà khách bên kia.

Trên thực tế, làm nhà khách đúng nơi từng là nhà chứa nổi tiếng một thời, chắc chắn là muốn khơi lại đống tro tàn.

Rất nhanh, nơi đây lại có biết bao gái đẹp, tửu sắc ngập ngụa, sự nhơ nhớp của ngày xưa lại quay về.

Điều khác với trước đây là hiện nay mang chút ý nghĩa nội bộ, khách làng chơi là những người mặc quân phục, súng giắt ngang lưng, người ngoài thường không dám bước vào, sợ tú tài gặp lính, nói lý lẽ không được ‐ có tiền cũng chẳng xong.

Cùng là mặc quân phục, mang theo súng, nhưng cũng chia ra thành hai loại sợ và được sợ: Súng dài sợ súng ngắn, quân ngụy sợ quân Nhật.

Quân Nhật thích tới đây, vào ra tấp nập, như vậy kể cả đem sự nhơ bẩn này báo tới tận Nam Kinh cũng chẳng sợ.

Thế là, từ một nơi nuôi ngựa hôi hám, bẩn thỉu, trong nháy mắt trở nên nhộn nhịp, tấp nập, trở thành nơi ăn chơi nhảy múa thác loạn.

Tiền Cẩu Vĩ thi thoảng cũng đi đi lại lại trong trang viên, ngắm nhìn, vẻ rất hài lòng.

Hắn thấy Cầu trang đã mở ra cho hắn tiền đồ hướng về phía trước, bây giờ đã khá lắm rồi, tương lai sao có thể kém đi được?

Không trách thiên, chẳng trách địa, mà chỉ trách gã họ Tiền mạng ngắn như chó, hạng người không có cốt cách, không giữ nổi cái lộc làm quan to, hưởng không hết cái phúc của tuổi thọ.

Ngày tháng dễ chịu của hắn vừa mới bắt đầu chưa lâu, nói chính xác là được một trăm hai mươi mốt ngày, cái kết của cuộc đời hắn đã tới tới trong một đêm tối đầy sát khí.

Vụ án xảy ra trong đêm tối tại Cầu trang ấy, rất nhiều tư liệu lịch sử của Hàng Châu đều có ghi chép, tôi đã thấy ít nhất là ở mười mấy nơi, nội dung giống nhau đến rợn người.

So sánh một chút, ghi chép trong Hàng Châu chí câu từ tinh tế, ngắn gọn mà ý sâu, không hổ danh tài cán của một nhà chép sử, xin trích một đoạn như sau:

Ngày 22 tháng giêng năm 1941, một đêm đông lạnh giá, không trăng không sao gió lạnh ghê người.

Phía sau Cầu trang, hai lầu Đông Tây đều bị đột nhập.

Chín người già trẻ gái trai nhà Tư lệnh Tiền Hổ Dực, cùng với hai tên phụ tá thân Nhật do Tiền bí mật nuôi dưỡng và ba ả gái điếm vừa được gọi đến phục vụ, tổng cộng mười bốn người, tất cả đều bị ám sát.

Máu của người chết chảy từ tầng trên xuống tầng dưới, chảy theo bậc thềm ra tận bên ngoài, thấm xuống đất, đến nỗi một thời gian dài sau đó, không khí phía sau Cầu trang vẫn còn phảng phất mùi máu tanh nồng hôi thối.

Ai đã gây ra chuyện này?

Trên tường còn có mấy dòng thơ viết bằng máu làm chứng:

Hàng Nhật cầu vinh phải chết Hoang dâm vô liêm sỉ phải chết Giết!

Giết!

Giết!

Rõ ràng là nhân sĩ chống Nhật phản ngụy thực hiện.

Mấy câu thơ viết trên tường phòng khách ở lầu Đông của viên Tư lệnh quân ngụy, dùng ngay chiếc bút lông trên bàn làm việc của tên Tư lệnh quân ngụy, lấy chính máu của Tư lệnh chó má này để viết.

Tường trắng chữ đỏ, nhìn thật bắt mắt.

Ngoài Tư lệnh ra, trong phòng còn có thi thể một người đàn bà trần truồng, có thể thấy, đêm ấy, Tư lệnh đang chơi gái ở đây.

Một đực, một cái, hai thi thể trần truồng nằm ở hai góc của gian phòng, nhưng máu chảy ra hòa lẫn với nhau, nhìn vào quả thật là có chút vô liêm sỉ.

Nếu so sánh, chính những dòng thơ viết bằng máu tươi lại khiến người ta kính nể, không chỉ nội dung chính trực, nét chữ ngay ngắn, thư pháp uyển chuyển, chắc chắn người viết không phải là một người thô tục.

Không biết là ai đã nhận ra, bảo đây là chữ của thằng ba.

Thằng ba từ nhỏ đã học vẽ, viết thư pháp đẹp cũng là hợp lý.

Thằng ba đã theo nghiệp vẽ tranh bao nhiêu năm nay, vẽ nhiều tranh như vậy, muốn tìm ra nét chữ của nó không phải là chuyện khó.

Thế là liền tìm nét chữ của thằng ba, tìm người trong nghề kiểm tra.

Người trong nghề xác nhận, đấy là chữ của thằng ba!

Bỗng chốc, thằng ba danh nổi như cồn, kể cả nghĩa cử ám sát đôi vợ chồng ngoại quốc bên bờ Tây Hồ hai năm trước, cũng được người ta ghi công cho nó.

Thế nhưng, không ai biết, thằng ba hiện giờ thân chỗ nào, chí ở đâu.

Có người nói, nó đã theo cha nó, lên núi, làm phỉ, vừa nhiễu dân vừa chống Nhật, việc xấu tốt làm hết, mang chút ý nghĩa hỗn thế ma vương.

Có người nói, nó kéo theo vài người, lên vùng núi phía Tây tỉnh Chiết Giang làm du kích, chuyên đánh giặc Nhật và quân ngụy ‐ hình tượng của anh hùng hảo hán.

Cũng có người nói, nó gia nhập đội quân áo lam của Quốc dân đảng, thường mặc đồng phục màu lam, xuất quỷ nhập thần trên tuyến Hàng Châu ‐ Thượng Hải, chuyên ám sát giặc Nhật và Hán gian ‐ hình tượng của một điệp viên.

Lại còn có người nói, nó đã gia nhập tổ chức ngầm của Đảng Cộng sản Trung Quốc…

Tóm lại, mỗi người nói một kiểu, không ai giống ai, có chăng chỉ là một thằng ba thần bí tiếng tăm lẫy lừng.

* * *

Tôi úp úp mở mở, đâu phải đã cao tay, bạn đọc thông minh hay tinh ý chắc đã đoán ra, thằng ba chính là đồng chí Lão Hổ, nếu không tôi viết về ông ấy nhiều như vậy làm gì?

Đúng vậy, thằng ba chính là đồng chí Lão Hổ, cũng chính là ông Cận hôm nay, từng là người lãnh đạo tổ chức bí mật ở Hàng Châu của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Có người thắc mắc, tôi đã để vị lãnh đạo đáng kính của Lý Ninh Ngọc mờ nhạt như một cái bóng, ngay cả khuôn mặt cũng không lộ rõ, như vậy thật không thỏa đáng, không khéo sẽ khiến người ta hiểu nhầm, cho rằng tôi muốn bôi nhọ vai trò của lãnh đạo.

Làm gì có chuyện như vậy, chẳng qua tôi chỉ muốn để cốt truyện chặt chẽ, nên phần sau mới nói mà thôi.

Còn Vương Điền Hương nữa, thực ra chính là Tô Tam Bì.

Hai người ấy sau này đều thay tên đổi họ, thằng ba đổi tên là để bảo vệ chính mình và cũng là do yêu cầu của công việc hoạt động bí mật.

Tô Tam Bì đổi tên là vì muốn cắt bỏ cái tiếng lưu manh, để người khác quên đi quá khứ nghiệp chướng của hắn, còn đổi thành Vương Điền Hương là vì cái tên này nghe có vẻ giống tên của người Nhật.

Hạng người này quả thực là thứ bỏ đi, mất mặt là điều nhãn tiền, hắn không biết rằng cắt bỏ cái đuôi lưu manh, nhưng sau đó lại mọc ra cái đuôi khác còn thậm tệ hơn.

Cũng may là hậu thế của hắn thì khác, tôi có cảm giác sống trong bùn mà không hôi tanh mùi bùn, nhân phẩm, lòng yêu nước là điều ai cũng biết.

Con gái của hắn, Vương Mẫn nói với tôi, trong nhà cô đến nay vẫn không có thứ đồ Nhật nào cả, sở dĩ làm như vậy (có phần cực đoan) là muốn thay cha trả nợ.

Tôi hỏi cô bé tại sao không đổi lại thành họ Tô, cô bảo chính là muốn khắc sâu nỗi nhục của cha, làm một người Trung Quốc thực thụ.

Anh trai của cô lấy tên là Vương Hán Dân, tấm thịnh tình này càng rõ ràng hơn.

Năm 1947, Vương Điền Hương bị xử tử vì tội làm Hán gian, nỗi nhục của hắn thực ra không chỉ là của con cái hắn, mà còn là nỗi nhục của tất thảy người Trung Quốc.

Thiết nghĩ độc giả thông minh và tinh ý cũng đã đoán được, cháu gái lão quản gia trung thành của Cầu trang, thật ra chính là đồng chí Lão Hán.

Đúng vậy, không sai, có Lão Cận làm chứng, tuyệt đối không thể sai.

Năm tháng đã biến một chàng thư sinh với khuôn mặt trắng trẻo, người gầy gò, mái tóc dài bồng bềnh thành một ông già béo, trên đầu không còn một sợi tóc, nhưng ký ức của ông về Lão Hán không rơi rụng chút nào.

Ông Cận bảo với tôi, Lão Hán được gả cho Tiền Hổ Dực căn bản không phải là ý của ông và lão quản gia, mà chính là Lão Hán tự quyết định, hồi ấy cô đã là đảng viên bí mật của Đảng Cộng sản Trung Quốc rồi, cô được giáo viên trong trường bồi dưỡng và phát triển.

Hồi ấy, lực lượng của Tiền Hổ Dực đang vây quét Hồng quân tại vùng rừng núi giáp ranh giữa Chiết Giang và Giang Tây, tình hình hết sức cam go, trên tổ chức rất cần người xâm nhập vào lực lượng của Tiền Hổ Dực, thu thập tin tức tình báo.

Trong bối cảnh không tìm được người thích hợp, đồng chí Lão Hán đã tình nguyện xin đi, dùng phương pháp đặc biệt xâm nhập lực lượng của Tiền Hổ Dực, sau này lập kỳ công giúp Hồng quân phá vây, di chuyển thành công.

Dựa vào quan hệ của lão quản gia, Lão Hán tiếp xúc với ông Cận khá nhiều, từng có lần động viên lão Cận gia nhập Đảng Cộng sản, nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau nên không thể toại nguyện.

Ông Cận bảo rằng, sau khi quân Nhật chiếm Hàng Châu, Tiền Hổ Dực dẫn quân trốn về vùng núi phía Tây Chiết Giang, chiêu binh mãi mã, nói là cần chuẩn bị đợi thời cơ phản kích.

Lúc đó ông Cận chỉ nghĩ chiếm lại Hàng Châu, lấy lại gia sản, cho rằng gia nhập Đảng Cộng sản với ông không có ý nghĩa gì cả, cho nên mãi không gia nhập.

Không ngờ sau này, Tiền Hổ Dực mang quân đầu hàng chính quyền ngụy của giặc Nhật, ông Cận liền khởi nghĩa, cùng với thân tín của mình bí mật trở về Hàng Châu, lập thành đội quân trừ gian, không đảng phái, một mình một thuyền, chuyên giết Hán gian và giặc Nhật.

Đến tận sau khi ông Cận dẫn quân ám sát cả nhà Tiền Hổ Dực, một ngày nọ, Lão Hán tìm ông, sau một hồi bàn việc, đã nhập đội quân của ông vào lực lượng Tân Tứ quân, đồng thời cử ông Cận làm người phụ trách công tác bí mật trong thành Hàng Châu.

Nói đến Lão Hán, ông Cận không khỏi xúc động, cho rằng bà là Lý Ninh Ngọc thứ hai, hai người đều rất trung thành với Đảng, công tác tận tụy, giác ngộ cao, có niềm tin kiên định, không vì lợi riêng, là những tấm gương để những người làm công tác tình báo học tập.

Đương nhiên, Lão Hán là mật danh công tác bí mật của bà, tên thật của bà là Lâm Nghinh Xuân, người Phú Dương tỉnh Chiết Giang, sinh năm 1920, lúc hy sinh mới hai mươi hai tuổi.

Ông Cận năm nay tám mươi chín tuổi rồi, trong suốt cuộc đời ông dùng không biết bao nhiêu là tên, tên ông hiện nay được đặt sau khi kháng chiến thắng lợi, tên đầy đủ là Cận Xuân Sinh.

Ông bảo, đây là cái tên được đặt để kỷ niệm đồng chí Lão Hán, ông dùng cách này để mách bảo mọi người, mách bảo chính mình, cuộc đời vinh quang của ông là Lão Hán ban cho.

Còn về của cải châu báu mà cha ông cất giấu, ông Cận bảo đến giờ vẫn chưa tìm thấy.

Ông cho rằng, của cải châu báu chắc chắn là có thật, chỉ có điều không biết đã cất giấu ở đâu ‐ điều duy nhất có thể biết bây giờ là chắc chắn của cải châu báu không cất giấu trong Cầu trang, còn cất giấu ở chỗ nào bên ngoài thì chỉ có ông trời mới biết.
 
Tiểu Thuyết Phong Thanh
CHƯƠNG BA


Chương này chỉ nói về Kawa Hihara, quá khứ của hắn, gia đình hắn và dư luận về hắn…

Tôi muốn kể đơn giản một chút, nhưng lại có linh cảm cho dù có viết đơn giản đi chăng nữa, cũng có thể vẫn là trường giang đại hải.

Bởi vì hắn quá phức tạp, còn phức tạp hơn cả tưởng tượng và cảm nhận của tôi.

Nói thật, cảm nhận của tôi hồi đầu về hắn và ấn tượng về hắn sau này có sự khác biệt rất lớn, đến cuối cùng, thậm chí tôi còn cảm thấy sợ và hận hắn.

Bởi vì, toàn bị giễu cợt.

Phải thừa nhận, tiếp cận hắn, tôi có cảm giác giống như đi vào một mê cung, khắp nơi toàn là ngả rẽ và những ảo ảnh ma quái, kiến thức và trí lực của tôi luôn bị thách thức, thử thách và giễu cợt.

Sử sách ghi về Kawa Hihara rất nhiều, bao nhiêu nhân vật trong câu chuyện gom lại cũng không nhiều bằng hắn.

Hắn giống như một danh nhân trong lịch sử hiện đại của Trung Quốc và Nhật Bản, đến bảo tàng lịch sử hiện đại Trung Quốc tìm kiếm lật giở, tư liệu liên quan đến cuộc đời của hắn chỗ nào cũng có.

Thật ra, Kawa Hihara chính là tên giặc Nhật mấy năm trước đến Cầu trang tìm kho báu, kho báu đâu chẳng thấy, trái lại còn gặp họa mất vợ.

Lại nói về trước nữa, hai mươi năm trước, Kawa Hihara là phóng viên của tờ Tin tức hàng ngày của Osaka thường trú tại Thượng Hải, hắn đã từng lấy bút danh Nakahara viết hàng loạt bài ghi chép, bài thông tấn giới thiệu văn hóa, phong cảnh, đất nước, con người Trung Quốc, rất có ảnh hưởng trong giới trí thức Nhật Bản.

Trở về trước nữa, nói cho cùng, bốn mươi năm trước, Kawa Hihara sinh ra trong một gia tộc võ sĩ ở Kyoto, Nhật Bản có quan hệ hơn ba trăm năm với Trung Quốc thời cổ, ngọn nguồn là từ danh sĩ Chu Thuấn Thủy cuối thời Minh phản Thanh.

Sau khi tham gia các hoạt động phản Thanh phục Minh thất bại, Chu chạy trốn sang Nhật Bản, dạy học kiếm sống.

Năm 1682, chết nơi đất khách quê người tại Mito, một thành phố phía Đông đảo Honshu, Nhật Bản.

Thượng tổ của Kawa Hihara là một dòng họ thịnh vượng ở Mito, những năm cuối đời Chu Thuấn Thủy có quan hệ rất mật thiết với cụ tổ của Kawa Hihara.

Cụ tổ của Kawa Hihara thì đam mê học vấn, tư tưởng và thư pháp của Chu Thuấn Thủy, còn Chu Thuấn Thủy là vì kế sinh nhai.

Cuối cùng Chu Thuấn Thủy ở nhờ nhà cụ tổ của Kawa Hihara, đàm cổ luận đạo, dạy người nhà làm thơ Trung Quốc, có phần giống với gia sư hiện nay.

Sau khi Chu Thuấn Thủy chết, học vấn, tư tưởng, tình cảm, sách vở, kể cả lời ăn tiếng nói dường như thấm sâu vào máu cụ tổ của Kawa Hihara và tồn tại mãi mãi.

Mấy thế kỷ đã trôi qua, sau khi Thượng tổ của Kawa Hihara cũng đã vài đời, sinh rồi chết, chết rồi lại sinh, con người đâu phải đồ vật, nhưng niềm đam mê văn hóa nho nhã Hoa Hạ vẫn đời đời truyền kể.

Đến thời cụ nội của Kawa Hihara, trong gia đình liên tục có người sang thăm Trung Quốc, tận mắt thưởng ngoạn cảnh đẹp của Trung Quốc, khi về mang theo hàng thuyền thư họa và các tác phẩm nghệ thuật của Trung Quốc, và mở một học đường truyền bá văn minh Trung Hoa.

Bỗng chốc, cả gia tộc trở thành gia tộc am hiểu Trung Quốc nổi tiếng khắp Nhật Bản.

Ông nội Kawa Hihara sinh thời đã từng ba lần du ngoạn Trung Quốc, là nhân vật quyền uy tuyệt đối của Nhật Bản về nghiên cứu thơ Đường Trung Quốc, từng có các tác phẩm nổi tiếng như Thơ ngắn Nhật Bản và thơ tứ tuyệt Trung Quốc, Thi sơn từ hải, Đường thi Tống từ, v.v… là những tài liệu dạy học không thể thiếu của giới văn học Nhật Bản khi nghiên cứu học tập về thơ từ Trung Quốc.

Năm 1914, ông nội Kawa Hihara đáp thuyền từ Hạ Môn tới Đài Loan, khi chuẩn bị từ Đài Loan trở về thì thuyền chìm, người chết, thân táng nơi biển cả.

Vài người bạn thân và đồng hương của ông đang làm ăn ở vùng tô giới Thượng Hải sau khi biết tin đã mua ba thước đất trong nghĩa trang tô giới, đắp một ngôi mộ chôn quần áo cùng di vật, và dựng cho ông một tấm bia mộ.

Năm sau, cha Kawa Hihara đưa Kawa Hihara tới Thượng Hải, tảo mộ nhập hồn cho người chết.

Cha Kawa Hihara đem theo vong hồn phiêu dạt của ông nội về Nhật Bản, nhưng để lại đứa con trẻ dại của mình bên sông Hoàng Phố, làm bạn với vong linh của ông nội.

Năm ấy, Kawa Hihara mới mười ba tuổi, vẫn là một học sinh trung học cơ sở còn chưa biết gì.

Kawa Hihara sống nhờ trong nhà một người bạn thân của ông nội, học tiếng Hán, nói tiếng Hán, mặc quần áo thời Đường, đọc thơ Đường, vịnh thơ Tống, Hán hóa tới mức còn Hán hơn cả người Hán, đến mức bạn thân của ông nội Kawa Hihara cảm thấy Kawa Hihara hình như không phải là người Nhật Bản cùng tổ cùng tông, mà là một người Trung Quốc trở về từ Nhật Bản.

Mùa xuân năm 1921, khi Kawa Hihara chuẩn bị tốt nghiệp chương trình học tập tại Viện Sư phạm Khoa học Xã hội và Nhân văn Phúc Đán, nhà văn nổi tiếng của Nhật Bản Ryunosuke Akutagawa xuất hiện ở Thượng Hải với thân phận là phóng viên của tờ Tin tức hàng ngày Osaka, Kawa Hihara ngưỡng mộ đến thăm.

Lúc ấy, mười năm trước, Nhật Bản là nước chiến thắng trong cuộc chiến Nhật ‐ Nga, tại vùng Đông Bắc có được quyền lực và tự do nhất định không thể kháng cự.

Mười năm sau, Nhật Bản biến Trường Xuân thành quốc gia ngụy Mãn Châu.

Tóm lại, kể từ khi bước vào sau thế kỷ hai mươi, lòng ham muốn Tây quốc Hoa Hạ của Nhật Bản đang lớn dần từng ngày là điều ai cũng biết.

Đến những năm hai mươi, thế lực cực hữu của quốc đảo Nhật Bản vô cùng lớn mạnh, trong triều ngoài dân, trong chính phủ ngoài dân gian đều mãnh liệt lên tiếng, xây dựng các đảo thành một đế quốc, mở rộng quân sự chuẩn chiến tranh, hòng sáp nhập các nước Trung Quốc, Triều Tiên vào Nhật Bản, xây dựng vành đai Đại Đông Á cùng phồn vinh.

Kawa Hihara đã kịch liệt đả kích chủ trương này, khiến Ryunosuke Akutagawa hết lời ngợi khen.

Hai người vừa gặp mà như đã quen từ lâu.

Ryunosuke Akutagawa cần có một phiên dịch đưa ông đi tham quan ngắm cảnh, lấy đâu ra người thích hợp hơn Kawa Hihara.

Vậy là, hai người như hình với bóng, lượn khắp khu tô giới, ngắm bãi ngoài, thăm dân chúng.

Ít ngày sau, hai người hẹn nhau rời khỏi Thượng Hải đi thăm thú các nơi như Tô Châu, Hàng Châu.

Đi cùng nhau, biết rõ về nhau, hiểu nhau hơn.

Sau khi trở về Nhật Bản, Ryunosuke Akutagawa viết một loạt bài tản văn về chuyến đi như Thượng Hải du ký, Giang Nam du ký, Trường Giang du ký.

Trong đó, bài Thượng Hải du ký có đoạn nói riêng về Kawa Hihara:

Cậu ta mới chỉ hai mươi tuổi, nhưng kinh nghiệm và trí tuệ là của một người từng trải.

Bản tính của cậu có lẽ là người ôn hòa, thêm đó là sự hiểu biết và thấu tình đạt lý, sự lễ phép của cậu đủ để khiến người khác cảm thấy vừa phải.

Nhưng trong lúc quốc dân nhiệt tình bàn tán về mưu lược quân sự đại Nhật Bản, sự phẫn nộ của cậu khiến người ta nghĩ cậu không phải là cậu.

Với tuổi của cậu, sự phẫn nộ thường chỉ là biểu hiện của lòng nhiệt tình, sự bồng bột, nói thẳng không úp mở, không chú trọng ăn nói thế nào cho dễ nghe, cũng chẳng để ý, cũng chưa đến tuổi nghĩ đến trách nhiệm mỗi khi nói.

Nhưng chàng trai trẻ ngồi trước mặt tôi, hành động bằng ý chí, nói năng theo lý lẽ, hợp tình hợp lý.

Cậu đọc sách nhiều nên ăn nói đâu ra đấy, có dẫn chứng cụ thể, rất đáng tin cậy.

Cậu hùng biện như đăng đàn, nói năng lưu loát, đầy biểu cảm.

Chỉ có điều, quốc dân nghe thấy sẽ nguyền rủa cậu là mọc chí nô lệ, mất đi linh hồn của Đại Hòa[1].

Cứ như cậu đang sống trong thời Đường cổ, hễ mở miệng nói là tràn đầy ước vọng hướng tới và sự cao cả của nền văn minh Hoa Hạ.

Còn ý tứ trong cách ăn nói vô cùng chặt chẽ, thấu tình đạt lý.

Ít nhất, tôi nghe là như thế.

Thực sự là tôi kinh ngạc về sự hiểu biết rộng rãi của cậu, tư duy của cậu cũng như sự độc đáo về kiến thức của cậu!

Cậu tung hoành giữa tri và thức, giữa trí và tuệ, giữa tư và tưởng, giống như dệt vải thêu hoa, có lên có xuống, có ẩn có hiện.

Từ chỗ lên đến chỗ xuống, dung hợp hòa quyện.

Từ ẩn đến hiện, vận dụng thần kỳ.

Như thế, quốc dân có thể nguyền rủa cậu, nhưng tuyệt nhiên không thể giễu cợt được cậu.

Bởi vì, cậu không chỉ có lòng nhiệt tình, mà còn có lý, có chứng cứ…

[1] Yamato, một triều đại Nhật Bản cổ.

Đại khái là như vậy, tiếp sau câu chuyện còn rất dài, ví như nói rất cụ thể, trình bày đầy hứng khởi.

Có tới đầy trang cả nghìn chữ, ca ngợi Kawa Hihara có thể coi là không tiếc giấy mực.

Người có hứng thú viết ra những dòng này, đương nhiên cũng là người thích làm thầy.

Sau khi Ryunosuke Akutagawa về nước không lâu, Kawa Hihara nhận được thư mời thếp vàng của tòa soạn Tin tức hàng ngày (Osaka).

Thật đúng lúc!

Vì cũng là lúc Kawa Hihara chuẩn bị tốt nghiệp, đang muốn tìm một công việc ổn định để lập nghiệp.

Akutagawa tặng cho Kawa Hihara món quà tốt nghiệp đúng lúc nhất, cũng là thực tế nhất, khiến Kawa Hihara cả đời không quên.

Mấy năm sau, ngày 24 tháng 7 năm 1927, Akutagawa đã uống thuốc ngủ tự vẫn tại nhà riêng, Kawa Hihara đã về nước chia buồn.

Đây là lần về nước đầu tiên sau hơn mười năm xa cách, mấy năm trước, bà nội mất Kawa Hihara không về, có thể thấy Akutagawa có vị trí cao như thế nào trong Kawa Hihara.

Thế nhưng, Kawa Hihara lúc ấy đã thay đổi rất nhiều so với Kawa Hihara khi Akutagawa gặp.

Đến khi Kawa Hihara một lần nữa rời xa Nhật Bản, đi về phía Tây (chỉ Trung Quốc), Kawa Hihara càng thay đổi nhiều hơn, sâu sắc hơn.

Là sự thay đổi kinh thiên động địa, thay đổi toàn diện, khác lạ toàn diện.

Dường như thật khó tin, nhưng sự là như vậy, khi Kawa Hihara một lần nữa tới Trung Quốc, thân phận thật của Kawa Hihara không còn là phóng viên gì nữa, mà là một điệp viên cao cấp do lực lượng Lục quân Nhật Bản phái tới Trung Quốc, có tổ chức nghiêm ngặt, kỷ luật nghiêm minh và nhiệm vụ rõ ràng: Thu thập tin tức tình báo quân sự của Trung Quốc, dọn đường trên bộ cho lực lượng Lục quân Đại Hòa đế quốc (chỉ Nhật Bản), người làm việc này phải thật dũng cảm, mưu trí và hiểu biết.

Quả là một trung thần Đế quốc!

Cũng may là Akutagawa đã qua đời, chứ nếu không sự phản bội này của Kawa Hihara có thể sẽ khiến cho Akutagawa chết thêm một lần nữa.

Kawa Hihara của quá khứ và hiện tại, sự thay đổi quá lớn, cũng chẳng khác gì Akutagawa từ cuộc sống tìm đến cái chết.

* * *

Akutagawa từ cuộc sống tìm đến cái chết, là câu chuyện thay đổi quan niệm, chỉ bằng mấy chục viên thuốc ngủ.

Còn Kawa Hihara của quá khứ và hiện tại, là một quá trình thay đổi dần dần, nói theo một ý nghĩa nào đó, là dựa vào tấm thẻ nhà báo mà Akutagawa đã tặng cho hắn.

Kawa Hihara vốn sống trong biển sách, trong đoạn nói về Kawa Hihara, Akutagawa từng viết:

Cậu có kế hoạch nhân sinh chi tiết lấy sách làm bạn: Trước năm hai mươi lăm tuổi đọc đủ một nghìn cuốn sách tiếng Hán, sau đó chọn những tinh hoa từ trong đó, dùng khoảng năm năm thời gian đọc, nghiên cứu, sửa chữa, sau năm ba mươi tuổi bắt tay vào dịch, viết sách, xuất bản sách…

Thư trung tự hữu hoàng kim ốc.

Thư trung tự hữu nhan như ngọc.[2]

[2] Tạm dịch: Trong sách có nhà nguy nga.

Trong sách có ngọc lung linh.

Đó là nhân sinh tâm đắc của Kawa Hihara, cũng là thứ Akutagawa ca ngợi.

Nhưng giờ đây, chỉ một tấm thẻ nhà báo nhỏ bé mà đã làm thay đổi hắn, khiến hắn bước ra khỏi biển sách, bước vào cuộc sống thực tại.

Trong mấy năm, Kawa Hihara đã lấy Thượng Hải làm đại bản doanh, đi khắp mọi nơi, phía Bắc có Bạng Phụ, Từ Châu, Tế Nam, Thanh Đảo, Thạch Gia Trang, Thiên Tân, Bắc Kinh, Cẩm Châu, Thẩm Dương, Trường Xuân…; phía Nam có Hàng Châu, Thượng Nhiêu, Phù Châu, Giang Tây, Ưng Đàm, Nam Bình, Phúc Châu, Hạ Môn, Chương Châu và Quảng Châu; phía Tây có Vũ Hán, Trường Sa, Nghi Xương, Trùng Khánh, Quý Dương…

Đi tới mỗi nơi, ngắn là hơn một ngày, dài là vài ngày, vài tháng, Kawa Hihara làm quen, tiếp xúc, giao lưu với các ngành, các nghề và mọi tầng lớp xã hội, khảo sát sâu rộng các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, địa lý, phong tục, tình hình nhân dân, văn hóa nghệ thuật và học thuật… của Trung Quốc thời đó, ghi chép nhiều và cũng đã viết nhiều bài báo về Trung Quốc.

Bên cạnh việc viết tin nhanh thời sự, Kawa Hihara mỗi tháng còn viết hai bài cho chuyên mục Vòng quanh Trung Quốc trên phụ san bán nguyệt của tờ Tin tức hàng ngày.

Đúng là hắn đã đi khắp quá nửa Trung Quốc, phỏng vấn không biết bao nhiêu người, trải qua biết bao nhiêu là chuyện, nghe thấy nhìn thấy biết bao điều: Đất nước con người, thiên tai nhân họa, bi hoan li hợp, sinh tử âm dương, nam đạo nữ quyền, yêu ma quỷ quái, anh hùng hào kiệt… không chuyện gì là chưa thấy, không chuyện gì là không có.

Đây là một quyển sách khác, một quyển sách lớn.

Lớn đến nỗi khiến Kawa Hihara bị suy nhược cơ thể và cảm thấy lo lắng vì không biết làm cách nào để có một kế hoạch đọc và nắm vững nội dung, triển vọng của sách.

Hắn không biết bắt đầu từ đâu, cũng khó tự thoát ra, đành dựa vào đôi chân, đi một cách không biết mệt mỏi, xem, nghĩ và viết.

Không ngừng đi.

Không ngừng xem.

Không ngừng nghĩ.

Không ngừng viết.

Không ngừng lại được.

Không làm sao ngừng lại được.

Ngừng lại chỉ là tờ báo ngừng mà thôi.

Không, thực ra tờ báo cũng không thể ngừng lại được, chỉ là đổi tên, từ Tin tức hàng ngày (Mainichi) đổi thành Tin tức buổi sáng (Asahi), rồi thành Vạn triều báo, sau đó là Dân báo, Sáng tạo báo, Nhật xuất đông phương báo, cuối cùng là Thời sự tân báo.

Chính là nói, ngừng lại là tiếp tục: bên này ngừng lại, bên kia để tiếp tục.

Tóm lại, chuyên mục Vòng quanh Trung Quốc không ngừng lại, giống như một cây gậy tiếp sức, thay đổi từ tờ báo này sang tờ báo khác, chuyển giao, anh lên tôi xuống, anh xuống tôi lên.

Mỗi lần xuống là từ biệt.

Từ biệt tờ báo cũ, từ biệt độc giả cũ.

Càng là sự từ biệt của Kawa Hihara mới với Kawa Hihara cũ.

Tờ báo cũ, độc giả cũ, Kawa Hihara cũ đều theo cánh tả ‐ tờ Tin tức hàng ngày cũ ban đầu là tả nhất.

Đại diện cho cánh hữu ‐ tờ Thời sự tân báo mới là Hữu, vào những năm hai mươi của thế kỷ trước, nó giống ma quỷ cổ vũ quốc dân Nhật Bản xâm lược Trung Quốc.

Chính vì thế, mỗi lần từ biệt của Kawa Hihara với tờ báo và độc giả, là bỏ cũ thay mới, thực tế là mỗi lần chuyển dần sang hữu.

Đến thời kỳ cuối, những người quen biết Kawa Hihara trước đây đều không còn nhận ra hắn nữa.

Ngay cả chính hắn cũng không còn nhận ra mình.

Mỗi lần xuất hiện trên tờ Thời sự tân báo, là y như rằng hắn viết một cách ngang ngược:

Đấy là một dân tộc không có triển vọng, hay là vì trước đây họ đã quá có triển vọng rồi.

Trung Quốc ngày nay, thật giống với con hổ lạc về đồng bằng, chim phượng gẫy cánh, chỉ còn hư danh.

Thực chất là yếu ớt và mê muội, bị thuần phục và đáng thương, yêu cũng không được, hận cũng không xong, tiêu diệt thì không đáng một trận.

Chỉ có tiêu diệt Trung Quốc, thiết lập vành đai Đại Đông Á cùng phồn vinh, mới có thể khiến Trung Quốc hồi sinh, cũng không uổng là hậu nhân của năm nghìn năm lịch sử…

So với mấy năm trước, luận điệu trên chuyên mục Vòng quanh Trung Quốc của Kawa Hihara ban đầu khởi xướng trên tờ Tin tức hàng ngày đã hoàn toàn khác.

Không dính dáng gì tới nhau.

Không liên quan gì tới nhau.

Khác nhau một trời một vực.

Thời đó, cho dù chỉ là trong một bài ghi chép đơn giản về phong cảnh sơn thủy, hắn cũng không thể kìm nén được sự sùng kính đối với Đại Trung Hoa và sự hiềm khích đối với quốc đảo Nhật Bản:

Qua mỏm Bành Lãng là đến huyện Bành Trạch.

Nơi đây thuộc bờ Nam sông Trường, mỏm đá lởm chởm, nguy hiểm dữ tợn.

Giữa núi và sông, hoa lau bạt ngàn, phóng hết tầm mắt, phong cảnh thật tuyệt vời.

Dọc theo đường đi, men bên bờ sông, trên những cồn cát, lau mọc ngút ngàn, mênh mông đến hàng chục dặm.

Khi giữa mùa đông, lá rụng hoa bay, như sương như tuyết, mênh mông hết tầm mắt; hoặc là cây cao chọc trời, cây và mây cùng hòa quện; hoặc là mây nước cùng một sắc, trời đất như nối liền… cảnh đẹp hùng vĩ này duy chỉ có thể thưởng ngoạn ở Trung Quốc, như tôi đã quá quen với thắng cảnh nơi đây, quả thực vẫn khó có thể tưởng tượng, chỉ có thể trầm trồ thán phục cùng trời đất…

Nói một cách ngắn gọn, cảnh đẹp của Trung Quốc là ở chỗ mông lung mịt mù, hùng vĩ, mạnh mẽ, triền miên, khúc khuỷu, xa xăm, thưởng ngoạn cho ta cảm giác ngọt ngào như mía đường; còn cảnh đẹp của ngã bang (nước tôi, chỉ Nhật Bản) tươi đẹp, tú lệ, thanh nhã, mặn mà, thưởng ngoạn cho ta cảm giác ngọt lịm như đường mật.

Song tôi thấy, đường mật quá ngọt, ngắm mãi cũng nhàm chán.

Một người bưng ly thưởng mật lâu ngày, cho dù là có thanh tao đến mấy, cũng luôn cảm thấy thiếu cái hồn và cảm hứng của thiên nhiên…

Giờ đây, sau vài năm, Kawa Hihara đã trở lại Trung Quốc, nhưng dưới ngòi bút của hắn, con người và sự vật đều đã khác:

Phóng tầm mắt nhìn, sông núi tan hoang, lều lán nhà tạm khắp nơi, đến đâu cũng thấy cảnh hoang tàn…

Suốt dọc đường, từng đoàn dân tị nạn, ăn mày thành từng nhóm… trên mỗi khuôn mặt đều hiện lên vẻ bi ai cùng cực, như thủa hồng hoang giáng thế.

Còn bên trong bức tường cao, trong thâm viện, thê thiếp từng bầy, tì nữ như mây, chó mèo được chiều, của ngon vật lạ từng đống, chuột nhà từng đàn, len lỏi qua những chú mèo.

Đáng ghê tởm hơn nữa là lũ quan lại, chỉ biết mưu cầu thăng quan tiến chức, không biết mưu cầu việc công, trên dưới câu kết với nhau, tả hữu đấu đá tranh giành, tham ô hối lộ không coi pháp luật ra gì; trong quan quân, nuôi lính không để bảo vệ đất nước, nuôi chó không phải để giữ nhà, cát cứ xưng hùng, nội chiến triền miên, cậy thế hiếp yếu, như một lũ lưu manh trộm cắp.

Càng bi thảm hơn là văn nhân học sĩ, có tri mà không có thức, thấy lợi trước mắt là quên hết nghĩa khí, lương tri của những kẻ tri thức hiển nhiên không tồn tại…

Nhìn chung, Trung Quốc cổ đại với sức sống mãnh liệt thời Hán, Đường xưa kia, do không biết đường cải tiến, tự kìm hãm mình, chẳng phải ngạo mạn, cũng chẳng phải tự ti, rặt một điều mê muội với phong tục cổ xưa, tham lam hưởng lạc, trăm nghìn năm sau vẫn không thay đổi, nghìn năm không có gì khác, vạn năm cũng vẫn vậy.

Là nguyên nhân khiến sức sống ngày một lụi tàn, tham nhũng ngày càng thịnh hành, kết cục là vũng bùn lầy, bãi cát hoang…

Có người nghi ngờ phản bác Kawa Hihara tự mãn, hắn luôn có những biện hộ qua loa:

Trước đây, tôi là một thư sinh, ngày ngày vùi đầu vào đống sách, chuyện gì cũng đều lấy sách ra để phán đoán, từ văn chương sinh ra nghĩa khí.

Nhưng, trong sách và bên ngoài là hai thế giới khác nhau, là thế giới cõi âm và thế giới cõi dương, là sự khác nhau giữa trắng và đen…

Đến nay, tôi hối hận đã ra khỏi biển sách, tận mắt thấy được thực tế.

Không thấy, không biết thực tế, mơ màng trong biển sách hun đúc tinh thần, chắt lọc tinh hoa, tự lấy đó làm vui, có gì không được?

Đúng vậy, đó là thượng sách.

Có điều, hận cho một tấm thẻ nhà báo đã đưa tôi đến khắp mọi nơi, thấy được thực tế.

Ván đã đóng thuyền, làm sao có thể quay đầu được nữa?

Không thể.

Sự thật đã thấy, khắc sâu tâm cốt, sao có thể nghe thấy mà làm ngơ, nhìn thấy mà bỏ qua được?

Không thể!

Không không thể!

Trong tôi đã có linh hồn của Đại Hòa, lẽ nào như vậy được…

Ý tứ rất rõ ràng, chính là trước đây sở dĩ Kawa Hihara si mê Trung Quốc, là do chuyên tâm học hành, hai tai không nghe những gì xảy ra ngoài cửa sổ, nên đã bị lừa gạt.

Giờ đây, bước ra khỏi thư phòng, cuộc sống rộng mở chào đón, nhưng lại vô cùng đau lòng, không cam chịu bị che mắt nữa.

Như vậy, đây cũng chỉ có thể là hắn tự nói ra.

Đúng như Akutagawa nói, Kawa Hihara là một người có tài ăn nói, giỏi hùng biện, huống hồ đây là hùng biện cho chính mình, làm sao không thể hoàn hảo được?

Hoàn hảo rồi.

Không hố chút nào.

Tròn trĩnh như ban đầu, hoàn chỉnh như trời sinh.

Cho nên, ý tứ trong đó là không cần phải nghi ngờ, hơn thế giá trị ngày càng cao, rất có hơi hướng của “kẻ chơi bời lêu lổng khi đã ăn năn hối lỗi thì còn quý hơn vàng”.

Lực lượng Lục quân sau khi nghiên cứu hàng loạt các bài viết “chuyển sang cánh hữu” của hắn, nhận định hắn là sự lựa chọn tin cậy, mới giao cho hắn những nhiệm vụ quan trọng.

Thế là, cái chết của ân sư chính là thời cơ Kawa Hihara gia nhập tổ chức bí mật.

Điệp viên của lực lượng Lục quân đã tìm gặp ra hắn trong lễ tang của Akutagawa, giao nhiệm vụ quan trọng cho hắn.

Hắn không từ chối, cảm giác của hắn là khách đến để khách như được về nhà (ý nói hắn làm vừa lòng khách).

Trời sinh ta có tài tất sẽ dùng đến.

Anh hùng đã có đất dụng võ.

Hắn ngoài hoan hỉ ra vẫn là hoan hỉ.

Như vậy, hắn không chút đau khổ biến mình từ con người công khai thành gián điệp hoạt động bí mật, giống như Akutagawa đã dùng thuốc ngủ để bình thản, lặng lẽ từ cõi dương chui xuống cõi âm mà không hề đau đớn.

Có một điểm không thể xem nhẹ, Akutagawa đã coi Kawa Hihara như chính bản thân mình, nhưng rồi trên thực tế chính Akutagawa đã đẩy Kawa Hihara sang phía đối diện với mình: Thẻ nhà báo, mở chuyên mục, cơ hội gia nhập vào tổ chức bí mật, v.v… tất cả đều do Akutagawa hoặc vô tình hoặc hữu ý gây ra.

Thế giới là hoang đường vậy đấy, chết cũng đã chết rồi, chẳng có gì đáng để lại làm kỷ niệm cả.

Cho nên, sau này cũng có người gắn sự tuyệt vọng của Akutagawa và sự tuyệt tình của Kawa Hihara lại với nhau.

Nhưng đó chỉ là đồn đại, không đủ làm căn cứ.

Nói một cách công bằng, Kawa Hihara không tuyệt tình với Akutagawa, mà chỉ là tuyệt giao.

Chí bất đồng, đường không chung, ai đi đường nấy.

Là thầy của Kawa Hihara, sinh thời Akutagawa luôn quan tâm chuyên mục Vòng quanh Trung Quốc của Kawa Hihara, Akutagawa đã theo sát và đọc rất nhiều bài viết của hắn trên chuyên mục này, và thường nhắc đến những bài viết này mỗi khi trả lời phỏng vấn của phóng viên: Ban đầu là thưởng thức, sau là chán ghét.

Trước khi chết nửa tháng, khi trả lời phỏng vấn của phóng viên tờ Thời sự tân báo, Akutagawa đã nói về chủ đề này.

So với những lần trả lời phỏng vấn trước đây, lần ấy, Akutagawa trả lời phỏng vấn có rất nhiều lời bộc bạch thẳng thắn, rõ ràng là đang có tâm trạng.

Không biết là do Akutagawa đã sớm nghĩ đến cái chết của của mình, hay là do nguyên nhân Akutagawa đã quá tâm trạng với tờ Thời sự tân báo cực hữu này.

Đoạn đối thoại của hai người như sau:

Akutagawa: Nửa năm về trước tôi đã biết sẽ có ngày hôm nay.

Phóng viên: Xin lỗi, tôi không hiểu ông nói đến “hôm nay” là chỉ điều gì?

Akutagawa: Chính là hôm nay, ngay lúc này, tình cảnh chúng ta đang nhìn thấy lúc này đây, “Vòng quanh Trung Quốc” sẽ “vòng” tới tờ báo của các anh, còn anh, hoặc là một con người khác của anh, sẽ đến phỏng vấn tôi, hỏi tôi câu hỏi anh vừa hỏi tôi.

Phóng viên: Vậy ông có thể nói đôi điều được không?

Tôi nghĩ rằng, chắc ông cũng có điều muốn nói.

Akutagawa: Những điều tôi muốn nói đã sớm nói rồi.

Anh phóng viên, anh đến phỏng vấn tôi, cần quan tâm đến tôi, thực tế là vài ngày trước tôi đã trả lời phỏng vấn một nữ phóng viên nữ của quý báo về vấn đề tương tự rồi.

Phóng viên: Tôi rất quan tâm đến ông, tôi đã xem bài phỏng vấn ấy rồi, ông bảo, có người đi lên thiên đường, có người đi xuống địa ngục.

Tôi muốn hỏi là, theo ông, Kawa Hihara đã đi theo hướng nào?

Lên thiên đường hay xuống địa ngục?

Akutagawa: Đương nhiên là xuống địa ngục.

Tôi cho rằng, tờ báo của các anh là một địa ngục, chỉ có những người sống trong bóng tối không biết đâu là đáy, những người sống trong địa ngục, mới có thể viết những bài như vậy cho tờ báo của các anh.

Tôi biết, hắn bây giờ rất phù hợp với các anh.

Phóng viên: Cũng là cho số đông người.

Tờ báo của chúng tôi đại diện cho đại đa số người Nhật Bản.

Akutagawa: Vậy thì tôi nằm trong số ít rồi.

Phóng viên: Kawa Hihara trước đây cũng là một người nằm trong số đó ít, đây cũng là nguyên nhân ông ngưỡng mộ Kawa Hihara.

Ông nghĩ, liệu ông có giống như Kawa Hihara hay không?

Sẽ rời bỏ số ít và gia nhập vào số đông người Nhật Bản?

Akutagawa: Không đời nào.

Không đời nào.

Hơn nữa tôi cũng không cho rằng tôi đại diện cho số ít.

Anh nên biết rằng số lượng phát hành tờ Tin tức hàng ngày của chúng tôi không hề thua kém gì tờ Thời sự tân báo của các anh.

Phóng viên: Ít nhất là thiếu một Kawa Hihara tiên sinh.

Akutagawa: Có thiếu cũng có thừa.

Mỗi người một chí hướng, điều này có gì lạ đâu.

Phóng viên: Như vậy, ông cũng thừa nhận, chí hướng của Kawa Hihara tiên sinh đã thay đổi?

Akutagawa: Không phải là thay đổi mà là tha hóa, biến chất.

Phóng viên: Cứ coi là tha hóa, nhưng ông đã nghĩ chưa, điều này là tại sao?

Akutagawa: Thời gian của tôi không nhiều, có rất nhiều vấn đề có giá trị hơn điều này để tôi suy nghĩ.

Phóng viên: Tôi thấy, đây là vấn đề rất có giá trị, cho nên đã suy nghĩ cẩn thận.

Tôi cho rằng, Kawa Hihara tiên sinh rõ ràng là đang đi trong địa ngục.

Tháng trước tôi mới từ Trung Quốc trở về, Kawa Hihara tiên sinh đã dẫn tôi suốt nửa tháng trời đi dọc theo bờ sông Hoàng Hà, nơi nuôi dưỡng nền văn minh Trung Hoa, cảm nhận của tôi trên suốt chặng đường là đang đi dưới địa ngục, những con người mà chúng tôi gặp trông thật đáng thương, họ ăn vận rách rưới, gày gò yếu đuối, ăn mày còn nhiều hơn cả người đi đường, khi thấy chúng tôi họ liền xếp thành hàng rồi quỳ xuống trước mặt chúng tôi xin tiền, xin đồ.

Tôi thấy, những điều mà Kawa Hihara tiên sinh viết đều là sự thực, những điều tiên sinh suy nghĩ và hành động cũng đều hợp tình hợp lý, đáng để chúng ta suy ngẫm nghiêm túc.

Akutagawa: Tôi cũng đã từng đến Trung Quốc, không chỉ một lần.

Tôi cũng đã từng đi cùng với Kawa Hihara, cùng nhìn thấy những cảnh tượng mà anh vừa nói đến.

Nhưng đây là chuyện của bọn họ, chẳng có liên quan gì đến chúng ta cả.

Phóng viên: Tôi nhớ có lần ông đã từng nói, nhà văn cần phải có chủ nghĩa nhân đạo, tại sao lại nói bọn họ chịu khổ chịu đói lại không liên quan gì đến chúng ta?

Akutagawa: Chẳng lẽ điều quân phát động chiến tranh thì là chủ nghĩa nhân đạo?

Phóng viên: Chiến tranh?

Đó là họ tự tàn sát lẫn nhau.

Theo tôi được biết, cho đến nay, quân đội đế quốc chúng ta chưa từng giao chiến với quân đội chính phủ Trung Quốc.

Akutagawa: Bây giờ không có, không có nghĩa là tương lai sẽ không có.

Anh còn trẻ, tôi nghĩ, cứ tình hình như thế này, nhất định anh sẽ được nhìn thấy ngày Nhật ‐ Trung giao chiến.

Phóng viên: Nếu thực sự có ngày ấy, Quân đội Nhật hoàng nhất định sẽ chiến thắng…

Ngày ấy nói đến là đến, đến liên tiếp.

Ngày 18 tháng 9 năm 1931, Đông Bắc thất thủ.

Ngày 28 tháng 1 năm 1932, chiến dịch Thượng Hải lần thứ Nhất bùng nổ, Thượng Hải thất thủ.

Ngày 7 tháng 7 năm 1937, quân Nhật tạo ra sự biến Lư Cầu Kiều (Bắc Kinh), bắt đầu tổng tấn công đánh chiếm Hoa Bắc (khu vực phía Bắc Trung Quốc).

Ngày 13 tháng 8 năm 1937, Chiến dịch Thượng Hải lần thứ Hai nổ ra, quân đội Trung Quốc trên dưới hợp lực, quân Nhật dồn ép, cuối cùng thất bại, Thượng Hải, Nam Kinh, Hàng Châu lần lượt thất thủ… những sự kiện như vậy rất nhiều, đâu chỉ có một.

Tóm lại, sau ngày 18 tháng 9 năm 1931, Trung Quốc có rất nhiều, rất nhiều ngày ấy.

Trong ngoài Trường Thành, khắp nơi Nam Bắc, trên dưới Thần Châu (chỉ Trung Quốc), khắp nơi nơi đều đang tái hiện ngày ấy.

Trong đó, phần lớn ngày ấy đều kết thúc bằng Quân đội Nhật Hoàng tất thắng ‐ đúng như chàng phóng viên đã nói, cũng ứng nghiệm với dự báo của Kawa Hihara: tiêu diệt thì không đáng một trận.

* * *

Tôi đã từng nói, ngày ấy rất nhiều, tháng 8 năm 1937, ngày ấy từ trên trời giáng xuống, giáng xuống Hàng Châu.

Ngày ấy, một trăm hai mươi bảy chiếc máy bay phản lực cất cánh cất cánh từ tàu sân bay Izumo neo đậu ở vùng biển cửa sông Tùng (Thượng Hải), bay thẳng đến Hàng Châu, bom đạn ném xuống nhiều vô kể.

Dưới những đợt oanh tạc liên tiếp của máy bay quân địch, Tây Hồ vô cùng nguy cấp.

Người Hàng Châu dù gì cũng được hưởng ân trạch của Tây Hồ, khi họ bỏ thành tháo chạy thoát thân, nghĩ đến Tây Hồ đang khó tránh khỏi tai vạ, trong lòng thấy quyến luyến không muốn rời xa, hoặc tiện đường, hoặc đi đường vòng, già trẻ nam nữ cứ nườm nượp kéo về tập trung bên bờ Tây Hồ, với lòng thành kính cầu xin thần linh che chở cho Tây Hồ.

Nếu như Tây Hồ là vàng bạc trang sức và gia bảo, có thể mang theo được, tôi nghĩ chắc chắn họ sẽ bỏ lại tài sản để mang Tây Hồ đi.

Chân tay không thể mang Tây Hồ đi, cũng sẽ dùng ánh mắt của mình để mang Tây Hồ đi theo.

Đây là lần ngắm cuối cùng, nói thế nào cũng là lần ngắm cuối cùng, chạy thoát cũng vậy, không chạy thoát cũng vậy.

Bởi vì, cứ cho là thoát chết, sống trở về, ai mà biết được Tây Hồ đã bị đạn bom tàn phá thế nào rồi?

Nhìn thấy một Tây Hồ tan hoang xơ xác, thà không nhìn còn hơn.

Thôi, thôi, thôi, Tây Hồ thế là hết rồi.

Thật không ngờ, khi các trận oanh tạc đã ngừng, Tây Hồ vẫn còn nguyên vẹn.

Bình yên vô sự.

Tám trăm mẫu diện tích mặt nước, hàng chục khu cảnh quan quanh hồ, từ đầu đến cuối, đều không thấy vết tích của bom đạn.

Dưới hồ, trên bờ, cảnh này, cảnh kia đều vẫn còn nguyên vẹn, nhà vẫn là nhà, vườn vẫn là vườn, cầu vẫn là cầu, đê vẫn là đê.

Ngay cả một gốc cây cũng không thiếu, một chậu hoa cũng không sứt mẻ.

Có thể nói không mất một sợi lông sợi tóc, cứ như là có thần linh che chở vậy.

Là thần linh phương nào đã ban cho ân điển lớn đến vậy?

Người Hàng Châu muốn biết rõ ngọn ngành, để còn báo đáp.

Nhưng thần linh nào thấy lại là ác quỷ, muốn báo đáp cũng không được.

Ác quỷ có tên có họ, là Iwane Matsui, hiện là Tổng Chỉ huy của quân Nhật tại chiến khu Thượng Hải, sau này sẽ được bổ nhiệm chức Tổng Tư lệnh lực lượng quân Nhật tại Thượng Hải.

Hắn không chỉ là một con ác quỷ, mà còn là một con ác quỷ dã man!

Mùa hè ấy, hắn ngồi trên tàu sân bay Izumo neo đậu ở vùng biển cửa sông Tùng, đằng đằng sát khí khởi động cỗ máy giết người, điên cuồng thảm sát hàng trăm nghìn quân dân Trung Quốc.

Vài tháng sau, chính là hắn dung túng gây ra vụ đại thảm sát đẫm máu tại Nam Kinh.

Có vẻ như rất khó tin, một con quỷ khát máu như vậy lại ban đặc ân cho Tây Hồ.

Nhưng sự thực là vậy.

Sử sách ghi chép lại, trước khi Iwane Matsui tập hợp hơn một trăm chiếc máy bay chuẩn bị oanh tạc thành Hàng Châu, một nhà báo Nhật Bản nổi tiếng hồi đó đã bất ngờ viếng thăm hắn.

Kết quả cuộc nói chuyện bí mật giữa người này và Iwane Matsui đã khiến Iwane Matsui lệnh cho không quân dùng bút đỏ khoanh một vùng cấm oanh tạc lên tấm bản đồ chiến khu Hàng Châu.

Vạch đỏ này chạy bao quanh bờ Tây Hồ, bên trong vạch đỏ là vùng hồ và những danh lam thắng cảnh xung quanh hồ.

Trong đó, Iwane Matsui còn lưu lại chỉ thị viết tay đầy uy lực:

Trong vùng xanh thẳm, có vưu vật đế quốc, cấm oanh tạc!

Kẻ trái lệnh sẽ bị xử theo quân pháp.

Chẳng cần biết người đến thăm Iwane Matsui là ai, tóm lại vạch đỏ vẫn là do Iwane Matsui vẽ, chỉ thị viết tay do chính hắn viết.

Chính vạch đỏ có kèm chỉ thị viết tay, giống như Tôn Hành Giả dùng gậy thiết bảng vẽ một vòng tròn bảo vệ sư phụ, đã cứu Tây Hồ.

Ồ, vạch đỏ!

Vạch đỏ ngoằn ngoèo, giống như một tấm bình phong do ông trời tạo nên, ngăn cách giữa thiên đường và địa ngục: bên ngoài đường vạch đỏ khói lửa ngút trời, thịt nát xương tan; bên trong vạch đỏ, bên trong đường vẽ sóng xanh dập dềnh, cá lượn nước nông.

Đây là một cảnh tượng đặc biệt của Hàng Châu vào tháng 8 năm 1937, có chút ý nghĩa như là ông trời hai mặt, có chút gì đó ngoài sức tưởng tượng, có chút gì đó như là có thể gặp mà không thể cầu, có chút gì đó… không thể nói rõ.

Thế nhưng, có một điểm có thể nói rõ được, chàng phóng viên nổi tiếng bất ngờ viếng thăm Iwane Matsui chính là Kawa Hihara.

Nói cách khác, suy cho cùng, người mà dân Hàng Châu muốn cảm ơn là Kawa Hihara, chính Kawa Hihara là người đã thuyết phục Iwane Matsui vẽ vạch đỏ đầy uy lực ấy.

Không cần phải nghi ngờ, chứng cứ rất rõ ràng.

Nói đúng sự thật, từ khi tháp tùng Akutagawa du ngoạn Hàng Châu, Kawa Hihara đã luôn nhớ đến Hàng Châu, tình cảm sâu đậm khó phai.

Nhất là với Tây Hồ non xanh nước biếc, càng là tình cảm đặc biệt.

Hắn từng viết bài ví Tây Hồ như là: Mặt trăng lạc xuống trần gian, tình đầy nước biếc…

đi khắp nơi nơi, đọc hết ngàn trang sách cũng chỉ uổng công, không tìm thấy được nơi nào như Tây Hồ.

Là một cảnh quan độc đáo, ngắm mãi không chán.

Từ sau khi trở thành gián điệp của lực lượng Lục quân, cứ đến mùa hè, hắn thường đưa người vợ trẻ của mình đến Hàng Châu, sống bên bờ Tây Hồ, thuê một căn nhà rồi ở đó cả mùa hè, vừa đọc sách vừa du ngoạn sơn thủy.

Du ngoạn sơn thủy cũng là thực hiện nhiệm vụ, những thứ nhìn thấy, nghe được cũng có thể là thông tin tình báo, có thể tận trung báo quốc, cũng có thể đổi lại được rất nhiều tiền, quả đúng là một gián điệp ngàn người mới có một.

Khi chiến dịch ngày 13 tháng 8 bùng nổ, Kawa Hihara đang cùng vợ ở bên bờ Tây Hồ nghỉ hè tránh nóng.

Bỗng một ngày, Kawa Hihara bất ngờ nhận được thông báo từ cấp trên, yêu cầu hắn nhanh chóng rời khỏi Hàng Châu.

Kawa Hihara lúc đó rất nhạy cảm, hắn rất nhanh đoán được Hàng Châu sắp có chiến sự.

Quả nhiên, sau khi Kawa Hihara về đến Thượng Hải, nhận được thông tin từ cấp trên ở Thượng Hải, tân Tư lệnh Iwane Matsui đã ra lệnh oanh tạc Hàng Châu.

Dự đoán đã được chứng thực, Kawa Hihara cảm thấy hụt hẫng, theo như hắn chỉ cần tấn công Thượng Hải, Hàng Châu sẽ chẳng cần đánh cũng chiếm được.

Trong “Báo cáo phân tích chiến lược” hàng tháng mà hắn gửi lên cấp trên, mấy lần đều đưa ra nhận định và dự báo như vậy.

Xem ra bây giờ, tân Tư lệnh Iwane Matsui đã không còn coi trọng dự báo và ý tốt của hắn.

Iwane Matsui cũng là một người am hiểu Trung Quốc, trước đây từng giữ chức Trưởng cơ quan đặc vụ Phụng Thiên ‐ Thẩm Dương, phó Tư lệnh lực lượng Quan Đông, sau này từng là Tùy viên quân sự Công sứ quán Nhật Bản tại Quảng Đông, Thượng Hải của Trung Quốc, thời gian ở Trung Quốc đến hơn mười năm, am hiểu về Trung Quốc chẳng kém gì Kawa Hihara.

Chính vì vậy, khi chiến dịch Thượng Hải nổ ra, Iwane Matsui tuy đã nghỉ hưu do tuổi cao lại được triệu hồi nhập ngũ, giữ chức Tư lệnh lực lượng điều động tới Thượng Hải.

Nhưng dù sao cũng đã hơn mười năm trôi qua, đối với tình hình mới, cục diện mới và quan hệ hiện tại giữa Thượng Hải và Hàng Châu, Kawa Hihara hiểu rõ hơn, sâu hơn, chính xác hơn nhiều so với Iwane Matsui.

Hắn tin vào phán đoán của mình, kiên quyết gặp Iwane Matsui để thuyết phục.

Thế là có câu chuyện như đã nói ở trên, cuộc gặp lịch sử giữa Kawa Hihara và Iwane Matsui trên tàu sân bay Izumo.

* * *

Câu chuyện sau đây phần nhiều là từ dân gian, không đủ làm bằng chứng.

Nghe nói, quá trình và kết quả cuộc gặp giữa Kawa Hihara và Iwane Matsui khá kịch tính.

Ban đầu, Iwane Matsui từ chối tiếp Kawa Hihara, bản thân hắn xuất thân cũng là gián điệp, đối với kiểu thích lý sự của gián điệp, trước tiên là thuộc làu làu như cháo chảy, thứ đến là không có gì ngạc nhiên.

Không quan tâm.

Không sợ hãi ngươi.

Iwane Matsui cau mày nói với viên Tham mưu, có tin tình báo gì thì bảo hắn viết thành báo cáo trình lên.

Cau mày chứng tỏ Iwane Matsui đối với Kawa Hihara không chỉ không quan tâm, mà còn là rất chán ghét.

Nhưng sau đó, nghe nói Kawa Hihara là tác giả của chuyên mục Vòng quanh Trung Quốc, Iwane Matsui lại tiếp đón Kawa Hihara như khách quý.

Thì ra, Iwane Matsui là một độc giả trung thành của một loạt bài hịch văn chiến đấu của Kawa Hihara trên tờ Thời sự tân báo sau này.

Một kẻ bảo vệ, một kẻ thực hiện.

Cả hai đều là kẻ cổ vũ hô hào cho thuyết “Tấn công Trung Quốc”.

Hai trái dưa trên cùng một dây leo.

Iwane Matsui từng nhiều lần thẳng thắn tuyên bố trước Quốc hội, chỉ cần Chính quyền Quốc dân[3] Nam Kinh tồn tại một ngày, cái gọi là sự biến Trung Quốc cũng chỉ là giấc mơ đẹp mà thôi, vành đai Đại Đông Á cùng phồn vinh sẽ mãi mãi không có ngày thực hiện.

Cuộc sống của tùy viên quân sự nhiều năm, khiến Iwane Matsui có những tiếp xúc và hiểu biết về chính quyền Nam Kinh mà người bình thường không thể có được, cũng khiến hắn có thêm nỗi đau và thù hận mà người bình thường không có, từ đó nảy sinh lòng thù hận vô cớ đối với thành phố Nam Kinh.

Không lâu sau, cũng chính một tay hắn đã gây ra vụ đại thảm sát Nam Kinh gây chấn động thế giới, bóc trần sự thù hận tột cùng của hắn đối với thành phố Nam Kinh.

[3] Chỉ Quốc Dân đảng.

Thù hận là quỷ sa tăng.

Thù hận đã khiến hắn trở thành quỷ sa tăng, ác ma, mất hết nhân tính.

Ngày 23 tháng 12 năm 1948, với tội danh tày trời là trực tiếp dung túng cho vụ đại thảm sát Nam Kinh, Iwane Matsui bị Tòa án quân sự Viễn Đông phán quyết phạm tội “tội ác chiến tranh loại A”, bị xử treo cổ.

Nhưng lúc ấy, mùa hè năm 1937, con người Iwane Matsui phát đi mệnh lệnh từ trên tàu sân bay Izumo ấy, mặc dù luôn có dự đoán siêu phàm về chiến sự, nhưng lại không có chút dự đoán cần có nào về kết cục của chính mình.

Không hề có linh cảm.

Iwane Matsui mời Kawa Hihara lên tàu, vui vẻ dẫn Kawa Hihara thả bộ trên boong tàu đón những làn gió biển sảng khoái, phân tích tình hình, nói chuyện về tương lai.

Hai người đều chung một cảm giác là hận vì gặp nhau quá muộn.

Chỉ có điều khi Kawa Hihara nói đến công việc cụ thể, Iwane Matsui chỉ cười với quan điểm tấn công Thượng Hải, Hàng Châu không cần đánh sẽ tự đầu hàng của Kawa Hihara.

Iwane Matsui đưa Kawa Hihara vào phòng làm việc, chỉ vào sa bàn tác chiến năm màu có các mô hình cụ thể, và một bản thống kê tình hình chiến sự treo trên tường đối diện với sa bàn rồi để Kawa Hihara tự mình quan sát.

Kawa Hihara quan sát hồi lâu, phát hiện tại sân bay Hiện Kiều đang có hơn ba trăm chiếc máy bay, liên tục cất cánh bay qua vịnh Hàng Châu, lao vào bầu trời đầy khói của cuộc chiến Thượng Hải, đã hạn chế rất nhiều uy lực hùng mạnh của lực lượng Không quân Nhật Bản.

Đấy là trên bầu trời.

Trên mặt đất, ba sư đoàn chủ lực chia làm hai hướng đánh thọc sườn, tấn công Thượng Hải, trong ngày có thể tham gia chiến đấu, ngoài ra còn có binh lực của chín sư đoàn khác có thể chia thành ba hướng tấn công Thượng Hải bất cứ lúc nào.

Nói như vậy, binh lực đồn trú ở Hàng Châu đã trở thành mầm họa lớn cho chiến thắng của quân Nhật trong cuộc chiến tranh này.

Mầm họa không loại bỏ, sao có thể tấn công Thượng Hải?

Vì vậy, không thể nói, tấn công Thượng Hải, Hàng Châu sẽ tự đầu hàng, mà phải nói ngược lại, muốn chiếm được Thượng Hải, thế tất phải san bằng Hàng Châu trước, diệt trừ mầm họa.

Kawa Hihara chợt bừng tỉnh, hiểu rõ kế sách của Iwane Matsui là cắt đứt tuyến chi viện từ hậu phương của quân đội Trung Quốc, vì vậy không nói không rằng, nuốt chửng kiến nghị ấp ủ trong lòng.

Chỉ có điều nghĩ đến Hàng Châu tươi đẹp, thiên đường Tây Hồ, nơi lý tưởng để hắn nghỉ ngơi, sắp bị tàn phá, trong lòng luôn cảm thấy như có gì đó không phải lẽ.

Đó là tâm trạng xót thương mù quáng, nuối tiếc.

Trong lòng tâm tư, không nói ra cũng hiện rõ trên nét mặt.

Trong lòng tâm tư, bất chợt nói ra, cũng là bình thường.

Ngay lập tức, Iwane Matsui đã nhận ra nỗi buồn chia ly của Kawa Hihara trước kế hoạch oanh tạc Hàng Châu của mình, liền nói đùa rằng: phải chăng trong thành Hàng Châu có ngọc nữ thướt tha khiến Kawa Hihara tương tư không ngớt?

Đã là nói đùa, nên Kawa Hihara cũng cười đùa đáp rằng: ngày thì nhớ, đêm thì mong.

Iwane Matsui nghe xong liền lệnh cho viên Tham mưu đem tới một tấm bản đồ chiến khu Hàng Châu tỉ lệ 1:3000, rải xuống đất cho Kawa Hihara xem, rồi bảo Kawa Hihara chỉ rõ nơi ở của người trong mộng.

Iwane Matsui bảo, không quân của hắn là số một thế giới, được lắp đặt hệ thống định vị từ trên cao tiên tiến nhất thế giới, chỉ cần chỉ rõ nhà ngọc nữ ở đâu, nói rõ đường phố, ngõ ngách, số nhà, đến lúc đó hắn ra lệnh bổ sung, lấy địa chỉ nhà ngọc nữ làm trung tâm, nội trong vòng tròn bao nhiêu mét sẽ không bị tổn hại đến một sợi lông cọng tóc.

Nói rất khảng khái, thân thiện, hài hước và đại lượng.

Kawa Hihara nhanh trí, lấy giả thiết Tây Hồ là ngọc nữ, lấy bờ đê Tô làm đường kính, vẽ một vòng tròn tùy ý rồi nói: Đây là nhà ngọc nữ hắn yêu thương.

Cứ ngỡ Iwane Matsui nhất định sẽ nhận ra đây là trò đùa, lấy đùa vui để kết thúc.

Đâu ngờ, Iwane Matsui không nghĩ ngợi gì liền vớ lấy cây bút đánh dấu, vạch một vòng tròn đỏ đại khái theo nét vẽ của Kawa Hihara, rồi ghi vài chữ như đã nói ở trên bên trong vòng tròn đỏ.

Kawa Hihara từ đầu đến cuối đều không hiểu, Iwane Matsui hồ đồ thật hay chỉ là giả vờ hồ đồ.

Thật cũng tốt mà giả cũng chẳng sao, tóm lại trong dân gian Hàng Châu, không thiếu những truyền thuyết như: Tây Hồ đã tránh được bom đạn của máy bay quân Nhật như thế đấy.

Tôi nghĩ nếu đây là sự thật, quả tình có chút gì đó khiến người ta dở khóc dở cười.

Nhưng, cá nhân tôi thấy truyền thuyết này cũng giống như đa số truyền thuyết trong dân gian Trung Quốc, quá coi trọng vào sức tưởng tượng mà xem nhẹ khả năng tồn tại của nó.

Chính là có ý nói, cá nhân tôi xem nhẹ tin đồn về việc Kawa Hihara và Iwane Matsui gặp nhau ‐xem nhẹ sức tồn tại của tin đồn.

Thế nhưng, trước khi Iwane Matsui hạ lệnh oanh tạc Hàng Châu, Kawa Hihara đã kịp thời viếng thăm Iwane Matsui, mà Kawa Hihara lại rất ngưỡng mộ Tây Hồ, nên cuối cùng Tây Hồ tránh được kiếp nạn, tất cả những điều này thật không dễ nghi ngờ, trong Tây Hồ ký có ghi chép, chính Kawa Hihara trong bài viết có liên quan cũng nhắc tới:

Sức mạnh của Đế quốc (Nhật Bản), thế yếu của Trung Quốc, yếu đến nỗi gió thổi cũng ngã, chẳng chịu nổi một trận chiến.

Đã không chịu được một trận chiến, nên thỉnh thoảng nới tay, mở rộng cửa lưới, cũng có thể chấp nhận được.

Cũng giống như đàn ông đánh đàn bà, khi cần thương hoa tiếc ngọc thì lại không biết thương hoa tiếc ngọc.

Mấu chốt là có những thứ không thể đánh, ví dụ như Tây Hồ của thành Hàng Châu, nơi nguyệt lạc trần gian, cảnh đẹp kỳ ảo, phá hỏng rồi quả là đáng tiếc.

Để lại, sau này ta lại được thưởng thức, cũng là điều vui…

* * *

Từ sau lần gặp mặt đầu tiên ấy, Iwane Matsui trở thành một ân sư nữa của Kawa Hihara, tôn sùng hết mực.

Kawa Hihara dùng cây bút trong tay mình, viết điều tốt đẹp, tâng bốc lão tướng quân, ca công tụng đức, nối giáo cho giặc.

Một lần rồi hai lần qua lại, tình thân hai người trở nên sâu đậm.

Một hôm, khi Iwane Matsui đang đi du thuyền trên sông Hoàng Phố thì gặp Kawa Hihara.

Đúng lúc Quân đội Nhật Hoàng thắng lợi liên tiếp, hai người nâng cốc chúc mừng.

Trong bữa tiệc, Iwane Matsui lệnh cho viên Tham mưu trải ra một tấm bản đồ, Kawa Hihara nhận ra đó là tấm bản đồ du lịch Hàng Châu mà hắn quá đỗi quen thuộc.

Iwane Matsui bảo với Kawa Hihara, lực lượng của hắn đêm trước đã dễ dàng chiếm được khu vực này, hắn có thể du ngoạn nơi này bất cứ lúc nào, hẹn hò với ngọc nữ yêu kiều.

Hắn chỉ vào nơi mà trước đây đã vạch vòng tròn đỏ, khoe với Kawa Hihara: Mọi thứ bên trong khu vực này đều không bị hư hại chút nào, thiết nghĩ ngọc nữ thướt tha của cậu chắc chắn bình an vô sự, v.v…

Kawa Hihara cho rằng cuối cùng cũng đã đến lúc nói ra tất cả, trong lòng không khỏi thấp thỏm.

Dù gì thì đây cũng là sự dối trá tày đình, ai mà biết được sau khi sự thật phơi bày, Iwane Matsui sẽ phản ứng thế nào.

Không ngờ, Iwane Matsui lại không khoanh vùng vấn đề này, hình như hắn cố ý né tránh, chấm dứt cái gọi là ngọc nữ thướt tha ở đây, di đầu ngón tay dừng ở một chỗ trên đường Bắc Sơn ven Tây Hồ, giọng điệu nghiêm túc hơn, giới thiệu tình hình Cầu trang.

Cầu trang, một nơi “bán thịt” nổi tiếng, Kawa Hihara thường đến Tây Hồ, đương nhiên là biết rõ chuyện này.

Vài năm trước, hắn thậm chí còn hay tới đó uống trà thưởng nguyệt, hóng mát, cho tới khi lấy vợ rồi mới không lui tới nơi ấy.

Thế nhưng, tình hình mà sau này Iwane Matsui nói với hắn, hắn không hề biết.

Iwane Matsui bảo với hắn: Cầu trang đang cất giữ hàng vạn lượng vàng!

Iwane Matsui làm thế nào mà lại biết được chuyện này, không ai biết, dù sao thì lực lượng của hắn tiến tới đâu, ở đó mọc lên một lũ nô tỳ, chó săn vẫy đuôi đi theo hầu, làm mọi cách để lấy lòng hắn, có người hiến kế hiến sách, cũng có người hiến thân hiến của.

Có người dâng lên hắn nơi cất giữ châu báu ‐ miếng mồi mê hoặc con người, điều này cũng không có gì kỳ lạ.

Điều kỳ lạ là, Iwane Matsui tại sao không điều động lính công binh của mình đi đào kho báu, mà lại ra vẻ quan trọng nói với Kawa Hihara?

Đây chính là lòng dạ ma quỷ của Iwane Matsui: Hắn muốn ôm trọn hàng vạn lượng vàng!

Cùng với ai ôm vàng làm của riêng?

Hắn nghĩ đến Kawa Hihara.

Kawa Hihara là sự lựa chọn tốt nhất, có hai lý do: Một là, Kawa Hihara thường đi Hàng Châu, quen thuộc tình hình ở ấy; hai là, để Kawa Hihara đi tìm vàng, dễ dàng bịt tai che mắt người khác.

Ai có thể nghĩ, hắn lại phái một anh chàng thư sinh đi làm việc này?

Đây là công việc của bọn cướp, phái một anh chàng thư sinh đi, nói với bên ngoài là thu thập tư liệu văn vật Tây Hồ cho Quốc dân, trời biết đất biết, anh biết tôi biết, ai có thể biết được bí mật.

Sẽ không có ai nghĩ theo hướng này!

Việc thông thường dùng kỳ tài có thể nắm chắc phần thắng, giống như đánh trận vậy.

Chiến dịch Thượng Hải cò cưa kéo dài hơn ba tháng, hai bên thương vong gần triệu người, vẫn chưa thể thu dọn chiến trường, nhưng cuối cùng chỉ trong một đêm đã chấm dứt, chính là nhờ Iwane Matsui đã ra chiêu bất ngờ, điều động một phân đội, đi vòng qua Kim Sơn Vệ thuộc vịnh Hàng Châu bất ngờ đổ bộ tập kích.

Hướng chính đánh mãi không thắng, hai bên đều đã thương vong vô kể, mọi sự chú ý đều đổ dồn vào hướng chính, chẳng ai hơi đâu để ý đến vùng đất vô danh phía sau lưng.

Anh không đủ sức quan tâm, nhưng hắn có thừa khả năng, lặng lẽ ra tay, đâm một nhát dao chí mạng từ phía sau lưng nhằm trúng tim anh, lẽ nào anh còn sống nổi?

Trừ phi quả tim của anh không còn trong cơ thể.

Phái Kawa Hihara đi làm chuyện này, về lý là giống như vậy, hắn không phải là sự lựa chọn thông thường, nhưng hắn lại là sự lựa chọn lý tưởng nhất.

Cái gọi là lý tưởng, lại có hai mặt:

Một mặt không ai ngờ đến, có cái hay của việc không theo lẽ thường; mặt khác, thiết nghĩ hắn cũng không quá tham lam, là lao động giá rẻ.

Quả nhiên, Kawa Hihara không hề mở mồm ra giá, hắn nguyện làm không công.

Có nghĩa là, tất cả vàng bạc sau này sẽ đều là của Iwane hết ‐ không phải là tư chiếm mà là độc chiếm.

Kawa Hihara bày tỏ, nếu như có thể, sau khi công việc hoàn tất, chỉ cần thưởng cho hắn một chức vụ.

Hình như hắn đã chán ghét cảnh làm con chuột cống chui rúc dưới lòng đất rồi, hắn muốn chui lên mặt đất, danh chính ngôn thuận.

Điều này thì có khó khăn gì đâu?

Rất dễ!

Iwane Matsui vui vẻ nhận lời ngay, đồng thời cũng khẳng khái bày tỏ:

Sau này vàng bạc tìm được sẽ chia theo tỉ lệ tám trên hai.

Cảm nhận của mọi người trong chuyện này là cả hai đều quân tử khiêm nhường, bao dung rộng lượng.

Chỉ có điều bản thân sự việc đã là dơ bẩn, đen tối, thuộc loại trộm gà bắt chó, không thể công khai, gặp ánh sáng sẽ chết.

Như trên đã nói, công việc tìm kiếm kho báu đã uổng công vô ích.

Không chỉ uổng công mà còn trả giá cả mạng sống của vợ hắn.

Bắt cá trong chậu mà không bắt nổi, công việc này quả thực có gì đó hơi ma quái.

Nói thực ra, cũng may Kawa Hihara trả giá bằng mạng sống của vợ, không thì hắn đừng hòng rời khỏi nơi ấy, khi chưa tìm ra vạn lượng vàng.

Không tìm thấy cũng phải biến hóa ra.

Không tìm thấy màcũng không biến hóa ra được, hắn muốn đi, đi đâu?

Đi nổi không?

Hắn bảo không tìm thấy vàng, ai tin?

Iwane Matsui sẽ tin hắn chắc?

Trên thế gian, chuyện thấy lợi quên nghĩa nhiều vô kể, huống hồ đây lại là cả vạn lượng vàng.

Không mang được vàng về đây, thì cứ ở đó đi, Kawa Hihara.

Cho nên, từ một khía cạnh nào đó, khi bốn tên bịt mặt đang đêm tiễn người vợ yêu quý của Kawa Hihara xuống suối vàng, Kawa Hihara mới có cơ hội để đi khỏi nơi ấy.

Sau này nghĩ lại, chuyến đi Cầu trang, với Kawa Hihara chẳng khác gì một cơn ác mộng.

Ác mộng cuối cùng kết thúc bằng ác mộng, có chút kiểu như lấy độc trị độc.

Nói trắng ra, tất cả những gì mà Kawa Hihara có lúc này, công khai và tự do, chức vụ và quyền lực, đều đổi bằng mạng sống của vợ.

Chính vì vậy, Kawa Hihara sao có thể quên được cái chết của vợ?

Không thể quên được.

Hằn sâu trong lòng.

Như hình với bóng.

Ban ngày nhìn thấy vợ, đêm ngủ nằm mơ thấy vợ.

Mở mắt nhìn thấy vợ, nhắm mắt lại nghe tiếng vợ.

Lúc thì đến theo gió, lúc thì đội đất chui lên, lúc thì mượn vật gửi tình.

Lúc thì từ trên không đi xuống… nói gọn một câu là: âm hồn không rời.

Chuyện dưới cõi âm, không thể tìm thấy câu trả lời trong biển sách, quyền lực của ông thầy cao tay ấn cũng không giải quyết được.

Chỉ còn một cách, tìm người thông linh, nửa âm nửa dương, nửa người nửa ma.

Cuối cùng hắn tìm được một pháp sư thân Nhật trong chùa Kim Sơn, Thượng Hải, trung thành giúp hắn siêu thoát linh hồn của người đã chết, chỉ rõ con đường lầm lạc.

Pháp sư nói, thi thể và máu của người chết đã bị phân li, linh hồn không được yên ổn, nếu muốn yên ổn, hợp nhất thi thể và máu là thượng thượng sách.

Nhưng sự việc đã xảy ra cách đây hơn nửa năm rồi, xương cốt thi thể người chết đã sớm hóa thành tro bụi, đưa về nước an táng, làm sao còn có thượng thượng sách được nữa?

Không thể được, chuyện này còn khó hơn cả gọi người chết sống lại.

Nói cách khác, khi xương cốt người chết đã bị hóa thành tro bụi, thượng thượng sách thực ra cũng theo đó hóa thành tro bụi, rất khó thực hiện.

Thế là, đành thoái lui, dùng hạ sách.

Hạ sách khá đơn giản, dễ thực hiện, chỉ cần tìm đến hiện trường xảy ra án mạng, nhặt hết đất đá nơi máu người chết thấm xuống, lấy làm xương cốt xây một nấm mồ, để vong linh người chết đang lưu lạc có nơi an định.

Sau đó, quả nhiên Kawa Hihara đã làm đúng như vậy, trở lại hiện trường ngày nào, đào sâu ba thước, đắp một ngôi mộ mới, hàng năm đến Tết Thanh Minh và ngày rằm tháng Bảy, Kawa Hihara đều đến đây khấn bái.

Bình thường, Kawa Hihara đến thành Hàng Châu hoặc khu vực gần Hàng Châu công tác, cũng giống như về nhà, đều thăm viếng, thông báo đã đến, nhìn ngắm một hồi, vấn an, lễ bái.

Tối hôm Vương Điền Hương nhìn thấy chính là lúc Kawa Hihara tới thăm mộ vợ, Yoshiko là vợ hắn.

Vợ chết dưới lưỡi đao của người Trung Quốc, nói ra thật mất mặt, hắn đương nhiên không thông báo sự thật.

Tôi đang nghĩ, tại sao hồi đó Kawa Hihara lại tích cực đến Cầu trang “xử án” như vậy, buổi sáng nói, buổi chiều đã đến ngay, sao lại hứng thú đến vậy chứ.

Ngoài việc ái mộ Tây Hồ ra, còn kèm theo tình cảm thương nhớ khôn nguôi với người vợ đã mất của hắn.

Hắn muốn mượn việc công, làm việc riêng.

Hắn thường tìm mọi cơ hội đến thành Hàng Châu, ngắm cảnh Tây Hồ, thăm mộ vợ, như vậy quá tiện mà!

Khi Cố Tiểu Mộng đem bốn thỏi vàng ra để mua mạng sống của hắn, khỏi phải lo không có cơ hội.

* * *

Đây không phải là truyền thuyết, mà có đăng cả lên báo, có đăng kèm cả ảnh.

Theo ghi chép, đêm Trung Thu năm 1942, Kawa Hihara cùng với người vợ mới, đứa con gái nhỏ, người hầu gái ngồi trên một chiếc thuyền nhỏ, uống rượu ngắm trăng trên mặt Tây Hồ ngập tràn ánh trăng bàng bạc, nhưng rồi không bao giờ lên bờ được nữa.

Khi lên đến bờ, người đã thành ma, tắt thở hồn bay.

Chiếc thuyền cũng biến thành ma, chìm xuống đáy hồ, phải trục vớt.

Ánh trăng sáng bạc, cũng tiện cho công việc trục vớt con thuyền, nhưng cuối cùng chỉ trục vớt lên có ba thi thể: vợ, con gái và người hầu, không có Kawa Hihara.

Chờ khi trời sáng, người đi đường mới phát hiện, thi thể của Kawa Hihara đã bị chặt thành ba khúc, treo ở Nhạc miếu.

Điều khiến mọi người thấy lạ là cả bốn thi thể đều giống như thi thể chết oan của Võ Đại Lang trong tiểu thuyết, đen như than củi, có thể thấy bọn họ đã trúng độc rất nặng.

Sau khi trục vớt chiếc thuyền đưa lên bờ, nhân viên điều tra phát hiện, đáy thuyền đã bị đục thủng hai lỗ to bằng nắm tay, lỗ đục rất tinh xảo, công phu, chứng tỏ không thể đục dưới nước được.

Nhiều dấu hiệu cho thấy, đây rõ ràng là một vụ ám sát đã được lên kế hoạch tỉ mỉ và chuẩn bị kỹ lưỡng, sát thủ trước đó đã cho thuốc độc cực mạnh vào rượu, đồ ăn, bánh Trung Thu, bốn người ăn xong, kêu gào thảm thiết, sát thủ tận dụng trời tối lặn xuống nước, thong dong cậy bỏ nắp bịt lỗ đục sẵn dưới đáy thuyền, để thuyền chìm xuống đáy hồ.

Khả năng bơi lặn của sát thủ chắc chắn không kém gì anh em nhà họ Nguyễn trong truyện Thủy hử, bởi vì đánh đắm thuyền xuống đáy hồ không chỉ với mục đích xóa dấu vết, mà còn phải kéo xác của Kawa Hihara đi trong nước.

Theo nhân viên điều tra vụ án sau này kể, dưới đáy hồ có một đường vết chân người, dài hơn bảy mươi mét; vết chân hằn sâu xuống bùn, có thể nhận thấy có hai người kéo xác của Kawa Hihara đi trong nước, như đi trên cạn, đi thẳng về phía đường Bắc Sơn, đến gần bờ thì không còn vết chân nữa.

Nếu như vết chân còn lưu lại trên cạn, vụ án còn có khả năng phá được, nhưng vết chân để lại trên bùn, muốn phá án không dễ chút nào.

Công tác điều tra kết thúc mà không thu được kết quả gì, sát thủ là ai, tên họ là gì, tướng mạo thế nào, có lẽ chỉ Tây Hồ mới biết.

Tôi không biết, là một người có công với Tây Hồ, khi chứng kiến cảnh Kawa Hihara bị sát hại dã man, bị chặt thây như vậy thì Tây Hồ liệu có cảm thương, nhưng rốt cuộc tôi là người, Tây Hồ là vật, không thể nói chuyện được với nhau.

Nhưng mà tôi nghĩ, tôi muốn nói, người đã chết, vụ án không thể điều tra của Kawa Hihara là xứng đáng, lẽ nào những vụ chặt đầu do bàn tay tàn bạo hắn gây ra còn ít hay sao?

Không hề ít.

Lưới trời lồng lộng, pháp hải vô biên.

Tục ngữ có câu, ác giả ác báo, vạn vật có cả vạn kiểu logic thần bí, đúng như câu: Ngươi dùng tay phải móc mắt trái của người, người sẽ dùng tay trái để bóp nát mắt phải của ngươi.

Đời là vậy, chỉ có điều không trực tiếp, rõ ràng mà thôi, thật mông lung, có chút cảm giác như vụng trộm vậy.

Thị trấn cổ Phù Dung, Thành Đô, ngày 31/7/2007
 
Back
Top Bottom