Cập nhật mới

Khác TIẾNG VỌNG CỦA CÂY DƯƠNG CẦM - Das Echo des Klaviers [SP]

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
397077790-256-k550639.jpg

Tiếng Vọng Của Cây Dương Cầm - Das Echo Des Klaviers [Sp]
Tác giả: _giaivu_
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Hoàn thành


Giới thiệu truyện:

'Nở rộ trên đồng cỏ kia một bông hoa nhỏ,
và tên nó là Erika.' ❀ ❀ ❀

Bối cảnh: Đức, Đệ Nhị Thế chiến.

Thể loại: Spanking stories, family, hư cấu, cảm hứng lịch sử.

Vui lòng lưu ý.

Bìa: Татьяна Лившиц / Tatiana Livshits
Source: shishkin-gallery.ru (Đã cin)



ww2​
 
Tiếng Vọng Của Cây Dương Cầm - Das Echo Des Klaviers [Sp]
(1)


Cảnh báo: Bối cảnh dảk, ít chữa lành, đề tài toxic, father-son relationship toxic vừa phải, kết GE, tác giả không cổ xuý chủ nghĩa thượng đẳng, chủ nghĩa Quốc Xã hay Đệ Tam Đế chế, tác giả là ☭ thuần tuý.

Thể loại spanking stories - family, nội dung baolucgiadinh, cờ ring vl ae đu tag #ww2 đi vào đây vui lòng cẩn thận. =)))))

***

Hôm ấy, trong tiết học tiếng Đức phần văn học cổ điển, chúng tôi phải làm một bảng và trả lời các câu hỏi về một số văn bản mà giáo viên đã yêu cầu đọc trước ở nhà.

Nó nằm từ trang hai mươi mốt đến trang hai mươi lăm, nhưng không hiểu tại sao tôi lại nhớ nhầm.

Tối hôm trước, tôi chỉ đọc từ trang hai mươi mốt đến trang hai mươi ba.

Bình thường tôi vẫn luôn học bài cẩn thận và không cố ý về việc đó.

Thật kém may mắn, những câu hỏi chủ yếu rơi vào trang hai mươi tư và hai mươi lăm, rốt cuộc thì tôi đã bỏ trắng ba câu hỏi về văn bản cuối cùng.

Cả tiết học, tôi không thể nghe lọt tai bất cứ chữ nào vì trong đầu tôi chỉ toàn những suy nghĩ xem mình sẽ được bao nhiêu điểm.

Trong nỗi sợ hãi khủng khiếp, tôi đã gặp giáo viên trong giờ giải lao.

Tôi bỏ qua tất cả sự xấu hổ để giải thích với giáo viên, dĩ nhiên tôi biết đó là lỗi của mình, nhưng tôi quá sợ hãi với những trận đòn.

"Thưa cô Krause, em xin lỗi.

Em hứa sẽ chú ý và chăm chỉ hơn.

Làm ơn, em chưa từng bị điểm kém...

Cha em nói nếu trong nhật ký học tập có điểm kém thì ông ấy sẽ cho em một trận, và em sẽ phải nghỉ học ít nhất ba ngày."

Cô Krause tỏ ra kinh ngạc.

Đó là giáo viên chủ nhiệm và cũng là giáo viên phụ trách môn tiếng Đức, tiếng Latinh và Lịch sử của chúng tôi.

Một phụ nữ trẻ ân cần.

Tôi luôn là một trong những học sinh giỏi thuộc nhóm đầu của lớp, vì vậy các giáo viên thường có thiện cảm với tôi.

Cuộc nói chuyện đó đã làm tôi xấu hổ đến mức phát khóc, cô Krause xoa đầu tôi, nói rằng mọi chuyện sẽ ổn, và hứa sẽ không cho tôi điểm kém.

Cô an ủi tôi rằng trẻ em không nên bị đánh đòn, chúng nên được nuôi dưỡng bằng lời nói.

Tôi cũng ước gì cha tôi suy nghĩ được như thế.

Khi tôi trở về nhà, vào phòng làm việc của cha tôi, ông lại kiểm tra nhật ký học tập của tôi như thường lệ.

Tôi đã được chấm điểm 3 ngày hôm đó.

Tôi biết, đáng lẽ tôi chỉ được 5 hoặc 6 điểm với ba câu bỏ trắng, cô Krause đã giữ lời và không cho tôi điểm kém.

Nhưng kể cả với điểm số này, cha tôi cũng không hài lòng.

Tôi vẫn luôn bị đánh mỗi khi không đạt được điểm xuất sắc hoặc điểm tốt.

Bị điểm 3 - mức khá tức là tôi đã cẩu thả, điểm 4 - mức trung bình là tôi đã lười biếng, điểm 5 trở xuống thì không còn gì để nói nữa, một sự ngu xuẩn và yếu kém không thể chấp nhận được.

Cha tôi nói rằng anh trai tôi chưa bao giờ nhận được điểm nào ngoài điểm tuyệt đối và điểm tốt.

Tôi đứng trước mặt cha, đôi chân run lên từng hồi, tay tôi siết chặt lấy áo đồng phục.

Cha tôi gấp cuốn sổ lại, để sang một bên và đứng dậy.

Ánh đèn bàn phản chiếu vào quân phục, làm cho huy hiệu thập tự sắt ở cổ áo loé lên.

Một màu kim loại lạnh lẽo y hệt gương mặt của ông khi đó.

Cha tôi bắt đầu rút thắt lưng ra, chậm rãi và có chủ đích.

Ông không bao giờ hỏi tôi lý do vì sao điểm số của tôi như vậy, cũng không lớn tiếng thét lên hay chửi mắng, ông ấy chỉ im lặng.

Nhưng ai có thể hiểu sự im lặng ấy đáng sợ đến thế nào, nó bóp nghẹt lấy tim tôi, làm tôi không thở nổi.

Tôi tháo thắt lưng của mình, nhưng rồi, tôi quay lại nhìn cha tôi và cố tìm kiếm một hi vọng nào đó: "Dù sao nó cũng không phải điểm kém mà..."

Tôi bắt đầu gấp gáp và tuyệt vọng: "Lần sau con sẽ cố gắng hơn."

Cha tôi không có chút dao động nào cả, chỉ đứng ở đó và chờ đợi.

Tôi cảm giác thế giới đã bắt đầu sụp đổ, cuối cùng, tôi cũng cởi được cái quần shorts cotton thô ra, chân tôi khuỵu xuống nền gỗ lạnh lẽo.

Ngay sau đó, cú đánh đầu tiên giáng xuống.

Tôi hét lên một tiếng, cả người co rúm lại theo phản xạ.

"Con sẽ không làm cha thất vọng nữa!

Làm ơn, sẽ không có lần sau nữa."

Cha tôi vẫn im lặng, cứ như là ông ấy ghét tôi đến nỗi lười mở miệng để nói với tôi bất cứ điều gì.

Chỉ có những cú đánh chính xác, lạnh lùng.

Chúng gần như không sai lệch, chỉ tác động vào cùng một vị trí.

Nước mắt tôi đã rơi đầy hai bàn tay.

"A!"

Tôi căng cứng cơ thể chỉ để ngăn mình rời khỏi vị trí, chắc hẳn nhìn tôi bây giờ thật tệ hại và buồn cười.

Nó quá đau, và điều tệ hơn là tôi không biết lúc nào sẽ là kết thúc.

"Con sẽ cố gắng, con hứa..."

Những cái thắt lưng nối tiếp nhau không ngừng nghỉ, không có âm thanh gì ngoài tiếng rên rỉ và những lời độc thoại của tôi.

"Không có ai ở đây cần những lời hứa vô nghĩa.

Vì thế, chỉ cần ngậm miệng lại là được rồi."

Cha tôi nói câu đầu tiên kể từ khi tôi bước chân vào phòng.

Sau đó là năm thắt lưng nữa nhắm vào vùng đùi dưới của tôi.

"Đứng dậy, Armin."

Cuối cùng thì cha tôi cũng dừng lại, sau khoảng hơn hai mươi đòn.

Tôi không đếm được chính xác nhưng hình như là vậy.

Nếu trong cuốn sổ là điểm kém, hôm nay tôi đã có kết cục tệ hơn.

Tôi rùng mình khi cố mặc lại đồ và đứng dậy, đau đến mức tôi tưởng mình sắp ngã gục xuống.

"Ra ngoài đi, biến khỏi mắt tao."

Cha tôi chỉnh lại cổ áo, ngồi vào bàn và cầm cái thước đo toạ độ lên, như thể vừa rồi chẳng có bất cứ chuyện gì xảy ra ở đây.

Ông ấy cũng không nhìn tôi.

"Vâng, thưa ngài."

Tôi khó khăn di chuyển ra khỏi căn phòng đáng ghét ấy, hai tay bám vào tường của tôi trắng bệch.

Và tôi thực sự đã ngã xuống.

Mẹ tôi đang trong bếp, bà vội vàng chạy đến và ôm tôi, "Chúa ơi.

Armin, con tôi."

Tôi đã cố giấu đi những giọt nước mắt, nhưng không thể, trong đầu tôi tràn ngập nỗi đau đớn và nhục nhã.

Mẹ tôi đã mang tôi về phòng, bà cố gắng an ủi tôi, hôn vào trán tôi và nói rằng: "Cha con chỉ muốn con tốt hơn thôi."

Tôi nghẹn lại.

Nếu như vậy thì tôi chẳng cần điều đó.

"Cha ghét con...

Con hiểu hết.

Cha ghét con vì con không bằng anh Heinrich.

Ông ấy không cần một đứa con trai như con."

Mẹ tôi lại khóc, giống như mọi lần, bà lúc nào cũng chỉ khóc.

Mẹ hiểu rõ cha tôi ghét tôi như thế nào, ông ấy nói rằng tôi y như một đứa con gái Áo - Hung chứ không phải một đứa con trai Phổ.

Bà chỉ muốn đánh lừa tôi, đánh lừa cả chính bản thân mình.

***

Khi tôi ngủ dậy vào buổi chiều tối, người giúp việc đã ở trong phòng và đang tranh thủ dọn dẹp.

Người giúp việc là một chị người Ba Lan, tên là Paula.

Chị ấy nói tiếng Đức rất trôi chảy, mẹ tôi đã cứu chị ấy ra khỏi một trại tập trung.

Họ mang hàng chục ngàn người như thế về Đức, trong số đó có nhiều trẻ em, từ Ba Lan, hay Tiệp Khắc.

Mẹ tôi nói, những đứa trẻ đó sẽ được đưa đến những trường cải tạo để trở thành người Đức nếu là người Aryan.

Nếu không, họ sẽ làm việc ở các trang trại, nhà máy hoặc phục vụ những gia đình người Đức.

Cha tôi là một sĩ quan tham mưu làm việc tại OKH (Bộ Tổng Tư lệnh Lục quân), gia đình tôi cũng có thể tìm người giúp việc trong số đó, nhưng ông ấy không cần nhiều lắm.

Ở đây, những người giúp việc đến từ phía Đông bị coi như những đồ vật, thuộc sở hữu của các gia đình Đức.

Còn có một người quản sự, cũng thuộc biên chế quân đội Đức.

Đó là một gã thô lỗ.

Anh ta luôn cố gắng nhồi nhét vào đầu tôi ý tưởng về việc ngược đãi những người giúp việc.

Anh ta nói rằng điều đó giúp tôi trở nên mạnh mẽ hơn, để tôn vinh dòng máu Aryan của mình.

Nhưng tôi không bao giờ làm thế.

Mẹ tôi là một người tốt, một phụ nữ Hungary tốt bụng.

Mẹ tôi không phải là người theo học thuyết 'chủng tộc thượng đẳng'.

Bà chỉ là một người Hungary thuần túy, bà yêu Hungary bằng cả tâm hồn, tôn sùng Đế quốc Áo - Hung đã chìm vào quá khứ của cha ông bà.

Nhưng mẹ không dạy tôi khoe khoang mình là hậu duệ của Đế chế La Mã Thần thánh như những bà mẹ Đức.

Mẹ nói với tôi rằng: 'Mọi người trên thế giới đều giống nhau, tất cả chúng ta đều có trái tim màu đỏ và nước mắt thì như những viên pha lê.' Mẹ tôi từng là y tá, trái tim bà có đến một nửa là lòng cảm thông và tính đạo đức, nửa còn lại là gia đình của bà.

Trước khi chuyển đến Zossen Wunsdorf, chúng tôi đã chuyển nhà nhiều lần, do cha tôi làm trong quân đội.

Mãi cho đến khi ông được bổ nhiệm vào một chức vụ Tham mưu ở OKH, chúng tôi mới dừng chân lại vùng ngoại ô Berlin, sống ở điền trang nơi mà cha tôi sinh ra dưới thời Phổ.

Có lẽ cũng vì thế, tôi không có đủ thời gian để kết bạn.

Nhưng kể cả bây giờ, tôi vẫn sống như vậy.

Tôi không được phép đến và ở lại bất cứ đâu sau giờ học, mỗi khi tan học, tôi đi thẳng về nhà.

Cha tôi nói, nếu tôi muốn chơi với bạn, vậy thì hãy đưa bạn bè đến nhà, và tôi sẽ bị giám sát.

Thử hỏi ai muốn tới nhà tôi để chơi như vậy?

Cha tôi từng nói với mẹ tôi rằng: "Con trai của một sĩ quan nên được nuôi dạy với chiếc thắt lưng của sĩ quan."

Ông ấy luôn đánh tôi rất mạnh, cho đến khi mà giọng tôi khàn đặc.

Ông ấy sẽ nói: "Đừng có hét lên như thế, đàn ông thì không hét."

Ai mà chịu được, tôi cứ hét lên, thế là ông ấy lại đánh mạnh hơn.

Đó là cách chúng tôi sống với nhau.

Cuối cùng thì tôi vẫn chẳng bao giờ sống được theo cách mà ông ấy muốn.

Dòng máu quân nhân không thể tự nhiên chảy trong huyết quản của tôi chỉ bằng cách nuôi dạy.

Bất kể ông ấy bắt tôi dậy từ sáu giờ và chạy chục vòng quanh sân, hay luyện tập mỗi buổi sáng ông ấy ở nhà, thì thể lực của tôi vẫn như vậy, vóc dáng của tôi thấp bé, mặt thì 'trắng đến nhợt nhạt' theo lời cha tôi nói.

Cha tôi thường xuyên rời nhà, anh trai tôi, Heinrich thì vừa nhập học tại một Trường Sĩ quan Chính trị Kriegsschule ở Postdam.

Sau khi tốt nghiệp, anh ấy sẽ trở thành sĩ quan Lục quân, gia đình tôi rất tự hào về điều đó.

Tôi không muốn cha tôi ở nhà, vì ông luôn khó chịu khi nhìn thấy tôi.

Hầu như mỗi khi ông trở về nhà, giữa chúng tôi chỉ có những trận đòn roi, tới mức mà tôi bị ám ảnh đến phát khiếp mỗi khi nhìn thấy cái thắt lưng có hình chữ vạn.

Vì tôi không đạt yêu cầu của ông ấy trong học tập, vì tôi nói chuyện lớn tiếng, vô lý hơn là vì tôi chơi đàn quá nhiều, thậm chí chỉ vì cái bản mặt tôi làm cho ông ấy ngứa mắt.

Có lẽ vì tôi không giống cha tôi chút nào cả, còn anh Heinrich thì hệt như một bản sao của cha tôi, nhưng vui tính hơn.

Anh ấy mạnh mẽ, tài năng, là niềm tự hào của cha mẹ, ngược lại, tôi mang tất cả những đặc điểm mà cha tôi ghét nhất.

Tôi ở giữa căn nhà của chính mình, nhưng lạc lối trong sự cô đơn vô tận.

Những đứa trẻ khác ở trường cũng không chơi với tôi, chúng thường chế nhạo tôi là một tên nhát gan, một kẻ yếu đuối và không xứng đáng với cái tên của mình.

Dần dần, tôi khép kín và không muốn qua lại với những đứa trẻ cùng tuổi.

Ở trường, tôi chỉ ngồi một chỗ hoặc là khoá mình trong thư viện, không tham gia tất cả các trận bóng bầu dục hay cầu lông mà đám con trai chơi mỗi giờ nghỉ giải lao.

Cuộc sống của tôi chỉ gói gọn trong những thứ đó.

Những quyển sách giúp tôi quên đi thế giới tàn khốc, và tiếng thì thầm của cây dương cầm cũ, nơi tôi gửi gắm cả linh hồn của mình, thứ đã sớm cộng hưởng cùng những nỗi buồn thầm lặng.

Âm nhạc đến với tôi không phải qua trường lớp, mà là qua bàn tay của mẹ.

Mẹ tôi sinh ra trong gia đình có truyền thống âm nhạc từ thời Áo - Hung.

Bà đã dạy tôi nhận biết những nốt nhạc đầu tiên, nắm tay tôi đặt trên những phím trắng.

Mẹ tôi nói: "Không cần phải giỏi, Armin, chỉ cần cảm thấy nó là của con thôi."

Nhưng cha tôi chỉ muốn tôi trở thành một quân nhân.

Cha tôi bảo thủ và khá ghét việc tôi chơi nhạc, thậm chí đã từng định phá hủy cây dương cầm yêu thích của mẹ tôi.

Cuối cùng, mẹ tôi cố gắng lý luận rằng, ngay cả Quốc trưởng cũng thích nhạc sĩ Richard Wagner.

Vì vậy, cha tôi đã không ngăn cấm tôi, dù vậy thì ông luôn nhắc nhở rằng đó không phải là tương lai của tôi.

Nhưng từ năm sáu tuổi, lần đầu tiên trong cuộc đời, tôi đã nghe thấy tiếng vọng từ chính trái tim mình, không phải âm thanh của sự sợ hãi, đó là âm thanh của linh hồn.

...

——————

But ae yên tâm, toi nghĩ toi sẽ không viết quả father chơi hệ dietchung, thamsat hay lò hơi ngạt tập thể đâu, tôi thích hệ quystoc hơn.( ಠ_ಠ ) Lấy chút cảm hứng từ một tự thuật trong "Мемуары старого мальчика".

Edit 1 bộ Liên Xô rồi, quẩy luôn Đức cho cân kèo. :c

Toi nghĩ sẽ up mấy thước phim có cảnh sp mà toi lụm được trong phim phương Tây lên đây luôn.

Có mấy scene ngon lắm.

Mà hơi sợ bị gõ

Góc lạm quyền: Duma lâu vô coi lại thấy bộ này view tăng như tên lửa và ae bỏ vào danh sách đọc nhiều vleu nhưng méo ai thèm vote cho toi zị?

Hmu hmu ( ಥ_ಥ )

À tiện thể cái tóp tóp up lịch sử của toi mới lập 3 tháng rưỡi, cũng 2.7tr view, 117k tim nhưng follow éo lết nổi 1k5, how wtf?? =)))) Ae đi qua cho cin 1 follow nhe: @pasha_0311
 
Tiếng Vọng Của Cây Dương Cầm - Das Echo Des Klaviers [Sp]
(2)


Cuối tuần, cha tôi nhận được lời mời đến thăm nhà của một sĩ quan cấp cao nào đó và nói với mẹ tôi rằng muốn dẫn tôi theo.

Tôi không hiểu vì sao mẹ tôi lại đột nhiên tỏ ra gay gắt với chuyện này, bà nói: "Đừng có mang thằng bé đến đó, Friedrich.

Lạy Chúa tôi!

Anh nghĩ xem nó sẽ nhìn thấy những gì?"

Tôi không biết việc đến thăm nhà người khác có gì nghiêm trọng như vậy, cha tôi chỉ nói: "Hắn ta muốn tôi mang theo nó...

Em biết mà, tôi đâu thể từ chối?"

Mẹ tôi cứ lắc đầu và lẩm bẩm: "Chúa ơi...

Các người là những con quái vật..."

Tôi kinh ngạc, không nói gì mà chỉ cúi đầu ăn.

Tôi chẳng muốn đi đâu lúc này, khi mà việc rời khỏi giường đã là một cực hình.

Hơn nữa vì sao cha tôi không thể từ chối, trong khi ông tỏ ra khó chịu đến như vậy?

Bình thường ông ấy không bao giờ muốn mang tôi theo khi đến thăm nhà ai đó mà chỉ mang theo anh Heinrich.

Có lẽ ông ấy sợ tôi làm ông ấy xấu hổ.

Tôi cũng chẳng mặn mà gì cả, chỉ thấy phiền.

"Otto Schwarz là ai hả mẹ?"

Tôi nghiêng người và thì thầm với mẹ tôi.

"Ông ta là một chỉ huy ở trại Großbeeren, con trai."

Mẹ tôi trả lời trong khi đưa mắt nhìn cha tôi.

Nhưng cha tôi không để ý đến bà, gương mặt ông lại trở lại bình thường, không có thái độ gì hết.

Nhiều lúc, tôi chẳng bao giờ đoán được suy nghĩ và thái độ của ông ấy.

Tôi không biết gì về trại Großbeeren, nhưng nó gần hơn tưởng tượng của tôi, nằm ở hướng nam Berlin.

Cha tôi im lặng suốt quá trình chiếc xe di chuyển, khi bánh xe dừng lại trước một bảng chỉ dẫn lớn ghi 'Trại lao động Schutzstaffel Großbeeren', ông mới nói với tôi rằng: "Dù bất cứ chuyện gì xảy ra, hãy cố cư xử tốt, hiểu chưa?"

"Vâng."

Tôi trả lời, không kìm được sự tò mò và quan sát.

Thì ra, căn hộ của sĩ quan cấp cao đó nằm ngay gần trại lao động, chỉ cách khoảng chục bước chân.

Có một chiếc Mercedes màu đen trước cổng, trên nắp capo, biểu tượng đại bàng Reichsadler ngẩng cao đầu, móng vuốt siết lấy vòng nguyệt quế.

Tôi quay sang hỏi cha tôi: "Tấm bảng đó ghi là Schutzstaffel?"

Nhưng ông ấy không thèm trả lời.

Schutzstaffel hay SS, là tổ chức bán quân sự trực thuộc Đảng Quốc Xã, lực lượng trung thành bậc nhất với Quốc trưởng.

Tôi biết họ là những người được tin tưởng nhất, có quyền lực chính trị cao trong bộ máy nhà nước.

Cha tôi không gia nhập Đảng Quốc Xã.

Người ta gọi những người như cha tôi là 'phái bảo thủ'.

Đó là những người thuộc biên chế quân đội thời Cộng hoà Weimar, hay những người xuất thân từ tầng lớp quý tộc cũ của Vương quốc Phổ trước Thế chiến thứ nhất, đa số họ không gia nhập Đảng Quốc Xã.

Họ có sẵn nền tảng và địa vị, cho mình là giới tinh hoa truyền thống với danh dự, học thức và văn hoá quân sự mà họ được nuôi dạy, họ coi những người phải gia nhập SS để tìm con đường thăng tiến là những kẻ thô lỗ và thấp kém.

Họ không thích những tư tưởng cũng như chính sách đôi khi quá độc đoán của Đảng Quốc Xã, nhưng vẫn phục vụ quân đội trên tinh thần phụng sự nước Đức.

Anh Heinrich nói với tôi như vậy.

Có thể gọi họ là những quân nhân thuần tuý.

Kiểu thuần tuý như Thống chế Rommel, người mà anh trai tôi coi là hình mẫu lý tưởng nhất.

Tôi đã được nhìn thấy Otto Schwarz, áo da thẳng tắp, găng tay màu đen, với phù hiệu SS loé lên một ánh sáng u ám.

Ông ta bắt tay cha tôi, vui vẻ như hai người bạn thân thiết lâu ngày mới gặp lại.

"Vinh dự làm sao, Friedrich."

"Đại tá Schwarz."

Cha tôi lịch sự chào hỏi, trong khi Otto Schwarz gọi thẳng tên ông ấy.

Otto nhìn tôi, ánh mắt của ông ta làm tôi sợ hơn cả cha tôi, không hiểu sao nhưng tôi có cảm giác như vậy, bất an và không thoải mái.

"Còn đây hẳn là cậu thứ hai nhà von Hartenfels?

Cháu tên là gì?"

"Armin Wilhelm von Hartenfels."

"Cái tên nghe cao quý thật đấy.

Cháu bao nhiêu tuổi?"

"Cháu mười một tuổi."

Tôi đáp.

Ông ta cười và đưa tay xoa đầu tôi, việc đó làm tôi khó chịu.

Sau đó nói với cha tôi rằng: "Chà, thằng bé nhìn giống y hệt anh vậy, Friedrich."

Đây là lần đầu tiên có người nói tôi giống cha tôi, ngay cả tôi còn cảm thấy nó thật phi lý.

Không cần nói đến cử chỉ hay điệu bộ, chỉ cần nói đến vẻ bề ngoài, mặt tôi mang hầu hết đặc điểm của mẹ, mắt màu hạt dẻ, tóc nâu và xoăn, trong khi anh Heinrich thì có tóc màu vàng tro sáng và mắt xám giống cha tôi.

Tôi chẳng có bất cứ điểm nào giống ông ấy trừ quai hàm.

Có những cái thực tế đến mức ai nhìn vào cũng thấy được.

Chúng tôi được mời thăm nhà.

Nó rộng ngoài sức tưởng tượng của tôi.

Phía sau biệt thự có khoảng sân vườn trải dài, ở hành lang, những chiếc đèn chùm tinh xảo làm tôi hoa mắt.

Vậy mà tôi cứ nghĩ mấy cái đèn chùm nhà mình đã là xa xỉ.

Điều làm tôi kinh ngạc nhất là trong nhà ông ta có quá nhiều người giúp việc.

Những người mặc đồ sọc, trên cánh tay để lộ những con số màu đen.

Khi tôi đi dọc theo hành lang, tôi thấy họ ở khắp nơi và đang làm việc, xung quanh nhà cũng có những tên lính mặc quân phục SS làm nhiệm vụ canh gác, chúng cầm trên tay những chiếc roi bằng da.

Tôi sợ hãi, liên tục ngẩng đầu nhìn cha tôi và siết chặt ống tay áo ông ấy, nhưng ông ấy không hề để ý đến những gì xảy ra xung quanh.

Cha tôi và Otto Schwarz chỉ tập trung vào cuộc đối thoại của họ, tất cả đều là công việc, chính trị, những thứ mà tôi không hiểu gì cả.

Sau khi dùng bữa trưa, Otto Schwarz mời chúng tôi đến phòng trà.

Nó nằm ở tầng hai, hướng thẳng ra hàng rào thép gai của trại lao động.

Bây giờ tôi mới có thể nhìn toàn cảnh trại Großbeeren từ trên cao.

Đó là một cảnh tượng kinh hoàng mà tôi ước mình không bao giờ nhìn thấy.

Những dãy trại lợp mái rỉ sét nằm im lìm dưới cái nắng gắt mùa hạ, trong khoảng sân trống, những hàng người đứng bất động, đôi khi có người ngã xuống và ngất đi dưới những cái gậy sắt của lính SS.

Phía xa có nhiều người đang lao động trong trang trại, hoặc đang đào những cái hố lớn.

Tôi nhìn thấy cái xe kéo chất đầy thi thể, có những thi thể mới, hoặc đang trong trạng thái phân hủy, họ đổ những thi thể đó xuống ngay những cái hố vừa đào.

"Armin von Hartenfels, cháu không uống trà à?"

Tôi bừng tỉnh, vội vàng nhìn xuống tách trà trên bàn, cố nuốt cảm giác buồn nôn vào trong.

Hai tay tôi run rẩy bưng tách trà lên, rồi ngay lập tức làm nó rơi xuống đất, nước bắn tung toé.

Tôi sợ hãi nhìn cha tôi, người giúp việc ngay lập tức chuẩn bị một tách trà khác và thu dọn đống bừa bộn ấy.

Otto Schwarz lại nhìn tôi, "Tôi nhớ là đứa lớn đã vào học ở một trường Kriegsschule đúng không?

Quả là một môi trường tốt.

Vậy còn đứa nhỏ sau này thì sao?"

Bây giờ cha tôi mới liếc nhìn tôi, nhưng ông chỉ chậm rãi uống trà mà không trả lời câu hỏi.

Otto Schwarz cũng không chờ đợi, ông ta nói với tôi rằng: "Cháu cũng có thể vào Trường sĩ quan SS Junkerschule đấy."

Cha tôi ngay lập tức đáp lời: "Nếu nó không thể thi đậu vào Kriegsschule, tôi sẽ gửi nó đến Trường Kĩ thuật Quân sự ở Dresden."

Otto Schwarz bắt đầu cười nghiêng ngả: "SS Junkerschule có thể biến nó thành thép thật sự.

Không phải loại sĩ quan ngồi sau bàn gỗ đánh dấu đỏ vào bản đồ.

Nói gì nhỉ, ngài von Hartenfels, tôi có xuất phát điểm thấp hơn anh, nhưng hiện tại cấp bậc của tôi cao hơn anh, dòng máu không giúp người ta leo cao, chỉ có sự trung thành và tận tuỵ."

Lúc này tôi mới chắc chắn mối quan hệ giữa họ dường như không có thiện ý.

Họ nói chuyện với nhau như thể là bạn, thực tế lại là đối lập gay gắt.

Cha tôi nhíu mày, điều hiếm hoi mà tôi nhìn thấy, bây giờ thì tôi chỉ nghĩ được rằng khi trở về nhà, có thể ông ấy sẽ trút giận lên tôi,

"Schutzstaffel và Đảng Quốc Xã mới có thể nắm được quyền lực chính trị.

Con trai anh sẽ học gì ở Kriegsschule?

Rồi nó sẽ thổi kèn đồng ở lễ duyệt binh à?

Nếu anh đề nghị, tôi có thể sẽ giúp cậu bé vào SS Junkerschule."

"Cảm ơn vì ý tốt.

Tôi chưa nghĩ đến vấn đề đó."

Cha tôi vẫn cố gắng tỏ ra lịch sự.

Lúc đó, tôi lại nhìn đi hướng khác, và mắt tôi lại chạm đến trại lao động, những tiếng khóc hay la hét, thậm chí có nhiều đứa trẻ trạc tuổi tôi hoặc nhỏ hơn tôi, đó là một địa ngục giữa đời thực.

Một tiếng súng từ phía xa vọng lại, tên lính SS đó đã bắn một người phụ nữ ở gần hàng rào thép gai.

Tôi không biết tại sao hắn làm thế, có thể hắn cho rằng cô ta định bỏ trốn, hoặc đơn giản là hắn thích thế.

Người phụ nữ dường như chưa chết, tôi thấy chân cô ấy hơi co lên và tay còn cử động.

Tôi hốt hoảng há miệng muốn nói gì đó, nhưng không thể.

Cha tôi nhìn tôi với ánh mắt như thể ông ấy sắp giết chết tôi.

Một trong số những tên lính SS đã rút dao găm trong túi ra, hắn ngồi xổm xuống, kề lưỡi dao ngang cổ người phụ nữ.

Thế là hết.

Cơ thể người phụ nữ giật mạnh khoảng vài giây, rồi hoàn toàn bất động, máu phun ra xối xả ở cổ.

Tôi vội vàng dùng tay ôm lấy miệng mình để không nôn ra ngay bây giờ, người tôi lạnh run, tôi cũng chẳng còn nghĩ được đến cách cư xử mà cha tôi nói nữa.

Cuối cùng tôi vẫn không nhịn được và nôn thốc nôn tháo xuống sàn nhà.

Vậy đấy, tôi tự hỏi có bao nhiêu người bỏ mạng như thế, thật rẻ mạt làm sao?

Một lũ ác quỷ ăn diện lịch lãm, bóng bẩy.

Otto Schwarz cười và nói: "Một sĩ quan tương lai sợ máu ư?

Thật uỷ mị."

"Thành thật xin lỗi, thưa Đại tá Schwars.

Thằng bé không quen với những chuyện này."

Cha tôi nói.

"Ngài thấy đấy, nó làm sao có khả năng trở thành một sĩ quan SS?"

Otto Schwarz đã gọi người đến dọn dẹp bãi hỗn độn mà tôi vừa gây ra, và bảo một người khác dẫn tôi đi rửa mặt.

Khi tôi quay lại đó cũng là lúc ba giờ chiều, cha tôi nhìn đồng hồ và kéo tôi dậy.

Ông nói với Otto Schwarz: "Tôi phải về rồi.

Cảm ơn vì bữa trưa và trà chiều."

Tôi thở phào, cuối cùng thì tôi cũng thoát khỏi cái chỗ ma quỷ này.

Otto Schwarz không buông tha cho tôi.

Ông ta giữ tôi lại và nói: "Khoan đã, đây là lần đầu tiên tôi gặp thằng bé, hãy để tôi tặng nó một món quà nhé."

Tôi nghĩ là chẳng phải thứ gì tốt đẹp, rồi ông ta nói muốn tặng cho tôi vài người trong trại lao động.

Đúng là tên khốn.

Cha tôi không phản đối, vậy là Otto đã đem đến cho tôi vài người hầu trong nhà ông ta, họ đều là những tù nhân trong trại lao động.

Tôi nói với cha tôi: "Con không cần."

"Vậy thì chọn một đi."

Cha tôi mất kiên nhẫn.

Trong sự ghê tởm và khổ sở, tôi nhìn những người trước mặt mình, thiếu sức sống và u ám.

Có thể ngày mai, tuần sau, tháng sau hoặc năm sau, họ cũng bị giết như người phụ nữ kia.

Nếu không, họ cũng chẳng biết tương lai của mình là gì.

Tôi chỉ tay vào một trong số đó, một đứa trẻ cao hơn tôi một chút, có vết sẹo dài ở trán.

Otto Schwarz cười, kéo tay và nhìn dòng chữ màu đen trên cánh tay cậu ta, "Một đứa người Nga.

Trùng hợp thật, cũng mười một tuổi.

Bây giờ nó là đồ của cháu đấy, cậu von Hartenfels."

Khi chúng tôi chuẩn bị rời khỏi cửa, tôi nghe thấy Otto Schwarz nói bằng giọng điệu cợt nhả: "Thì ra đó chính là cốt cách kiêu ngạo của một quý tộc Phổ.

Giấc mơ mà anh bám lấy, danh dự, học thức, tất cả những thứ đó đều đã chết cùng Hiệp ước Versailles."

Về đến nhà, cha tôi ngay lập tức túm cổ tôi và lôi vào phòng làm việc, còn mẹ tôi chỉ biết chạy theo và liên tục hỏi: "Có chuyện gì vậy, Friedrich?"

Cha tôi đẩy bà ra khỏi phòng và đóng cửa lại, như tôi đã nghĩ, ông ấy vừa mới cho tôi một trận tơi tả vài ngày trước, và bây giờ lại chuẩn bị lôi tôi ra làm bao cát.

Dù sao, hôm nay ông ấy đã bị sỉ nhục mà chỉ có thể nhẫn nhịn.

Gã Otto Schwarz thâm độc ấy lại lấy tôi ra làm công cụ gián tiếp để khiêu khích cha tôi.

Thế giới này thật tàn nhẫn.

Dù là tôi hay những đứa trẻ trong trại tập trung, và cả những đứa trẻ của nước Đức, tất cả bị cuốn vào một vòng xoáy của sự độc đoán, lòng tham, hay đố kỵ, căm thù mà người lớn đã tạo ra trong khi chúng tôi không hề muốn.
 
Tiếng Vọng Của Cây Dương Cầm - Das Echo Des Klaviers [Sp]
(3)


Tôi bị ấn vào bàn làm việc, trong tầm mắt của tôi là tấm bản đồ tuyến phòng thủ vùng phía Đông màu vàng ngà, trải rộng trên mặt bàn gỗ sồi, trên bản đồ ngổn ngang la bàn, compa bằng thép không gỉ, bút chì, tẩy cùng đủ thể loại thước chia tỉ lệ với thước đo toạ độ.

Đột nhiên tôi lại nhớ đến câu nói đó: "Không phải là loại sĩ quan ngồi sau bàn gỗ đánh dấu đỏ vào bản đồ."

Trên bàn có một cái gậy Zeigestab chỉ bản đồ, có một số khớp gập để dễ bỏ vào túi, chiều dài khoảng 60cm, đường kính rất mảnh, chỉ khoảng 0.5cm.

Khi cha tôi cầm nó lên, tất cả những nỗi sợ hãi trong tôi bùng nổ.

Mặc dù tôi đã cố tỏ ra ngoan ngoãn và khuất phục, nhưng điều đó thật khó khăn, thà rằng ông ấy cứ rút thắt lưng ra.

"Không...

đừng làm thế..."

Tôi xoay người và ngẩng đầu nhìn cha tôi, trong khi lưng đang áp vào cạnh bàn.

Cho đến tận khi đó, tôi vẫn không biết mình đã làm sai điều gì, tôi chỉ là người xui xẻo phải nghe cuộc đối thoại của họ mà thôi.

Cha tôi túm lấy tóc sau gáy của tôi, kéo tôi đến gần, khi ông cúi đầu, đôi mắt trực tiếp nhìn thẳng vào mắt tôi: "Sao mày lại tỏ ra hoảng sợ đến như thế khi ở đó?

Tao đã dặn mày thế nào rồi?"

"Thổi kèn đồng ở lễ duyệt binh, mày có hiểu không?

Ý hắn ta là nhìn mày yếu ớt như bọn quân nhạc."

Cha tôi buông tay ra khỏi đầu tôi, "Cúi xuống, Armin."

"Con xin lỗi.

Đừng làm thế."

Tôi run rẩy đứng ở đó, không biết phải nói gì khác.

Tất nhiên là nó chẳng bao giờ có tác dụng cả.

Nhưng ở thời điểm mà sự sợ hãi che lấp hết đầu óc, tôi vẫn luôn thốt ra những câu vô nghĩa.

Vậy là cha tôi vung cây gậy lên và đánh vào bất cứ chỗ nào trên người tôi, với một lực khá mạnh.

Tôi đã cố gắng dùng tay che chắn nhưng vô ích, ông ấy chỉ dừng lại khi tôi hét lên rằng tôi sẽ cúi xuống bàn ngay bây giờ.

Tôi vội vàng xoay người lại, tháo thắt lưng và kéo quần xuống đến mắt cá chân, sau đó khuỷu tay đặt trên mặt bàn, và cơ thể từ từ hạ xuống.

Khi cây gậy kim loại đặt ngang hông, tôi nhắm chặt mắt lại và nghiến răng.

Cú đánh mạnh đến mức tôi cảm thấy nó xé tan lớp vải và sau đó xé rách cơ thể của mình.

"A..."

Tôi vặn vẹo thắt lưng, cố hết sức để không dịch chuyển quá nhiều, nhưng không thể.

Trận đòn mấy ngày trước vẫn còn làm tôi đau.

"Đau quá!"

Tôi hét lên trong khi khuỷu tay vẫn tì mạnh vào mặt bàn.

"Con biết lỗi rồi, đừng đánh nữa!

Nó đau!"

Như mọi lần, tôi càng hét thì cha tôi càng đánh mạnh.

Và tất cả đều nhằm vào đúng một vị trí, gần như không sai lệch, khiến cho tôi đau đến chết điếng người.

Cha tôi nói bằng giọng điệu thản nhiên: "Im đi.

Không ai quan tâm mày biết lỗi hay không.

Tao chỉ biết rằng bây giờ tao rất bực mình, và tao sẽ cho mày một trận, Armin."

Đến đòn thứ hai mươi hai, tôi không thể chịu đựng được nữa.

Tôi ngồi sụp xuống ngay dưới chân cha tôi, liên tục gào lên và gọi mẹ.

Trên thực tế, mẹ tôi chẳng bao giờ can ngăn những trận đòn, bà chỉ biết trốn tránh trong phòng, trốn tránh hiện thực và dối lừa rằng tất cả đều là điều nên làm.

Điển hình của những bà mẹ thời Quốc Xã.

Lúc mà tôi nghĩ rằng mình sắp chết, tiếng gõ cửa phòng làm cha tôi ngừng lại.

"Thưa cha.

Con vào trong nhé?"

Tôi tìm thấy một tia hi vọng, ngay lập tức tôi hét lên: "Anh Heinrich!"

Anh ấy thậm chí không chờ cha tôi trả lời, mở cánh cửa đi thẳng vào trong và chậc lưỡi khi nhìn thấy tôi: "Chúa ơi, ai lại có thể làm điều này với một đứa trẻ đáng yêu như thế chứ?"

Cha tôi luôn nhượng bộ với những gì mà anh tôi nói, hay bất cứ yêu cầu gì của anh ấy.

Đôi khi là do ông ấy chán ngán khi phải nghe anh ấy nói quá nhiều.

Có lẽ là một sự may mắn cho tôi, vì hôm nay anh ấy về nhà.

Cha tôi đã gấp cái gậy chỉ bản đồ lại, ném nó lên bàn và bỏ ra ngoài, còn tôi vẫn ngồi ở đó khóc.

"Được rồi, đừng khóc nữa, ngoan nhé."

Heinrich bế tôi lên, anh ấy thực sự rất khoẻ, nhấc tôi dậy dễ dàng như nhấc một con ếch và mang tôi về phòng.

Tôi cứ ôm chặt lấy cổ anh cho đến khi mẹ tôi và chị Paula kéo tôi ra khỏi người anh ấy.

Cả buổi chiều, mẹ tôi ngồi ở bên cạnh giường và liên tục kiểm tra xem tôi có bị sốt không, đến tối thì tôi phát sốt và nhất quyết không chịu ăn gì cả.

Mẹ tôi buồn bã, bà đặt tay lên má tôi và hỏi: "Đã xảy ra chuyện gì, Armin?"

Tôi chỉ muốn ngủ, nhưng mẹ cứ hỏi mãi, cuối cùng tôi khóc và trả lời: "Con không làm gì cả mẹ ạ.

Con nhìn thấy trại tập trung... có những hố chôn tập thể, con thấy chúng bắn một phụ nữ và dùng dao cắt cổ cô ấy, con đã nôn mửa...

Otto Schwarz chứng kiến tất cả, gã còn tặng con một đứa trẻ Nga ở trại lao động mẹ ạ."

Tôi thành thật kể lại mọi chuyện, cả cuộc đối thoại của cha tôi và Otto Schwarz, tôi liên tục nói rằng tôi đã cư xử tốt.

"Mẹ ơi, mẹ nói với con rằng mọi người trên thế giới đều giống nhau...

Vậy tại sao những người đó không có quyền được sống và hạnh phúc?"

"Đừng nói về điều đó nữa, nó không được phép, Armin."

Nhưng rồi mẹ tôi đau khổ, bà nắm chặt tay tôi và rơi nước mắt, "Mẹ hiểu, con là một đứa trẻ có lòng vị tha, con yêu."

Giọng nói của bà tuyệt vọng và đầy sợ hãi: "Đó là một tội ác, rồi một ngày tất cả chúng ta sẽ phải trả giá."

Tôi hỏi mẹ rằng tại sao Otto Schwarz lại khiêu khích cha tôi.

Bức màn quá khứ được vén lên, cuối cùng thì tôi hiểu ra tất cả.

Ông ta là con của một người làm việc tại điền trang thuộc sở hữu của nhà von Hartenfels.

Sau Thế chiến thứ nhất, Đế quốc Đức và Vương quốc Phổ sụp đổ, Cộng hoà Weimar đã xoá bỏ chế độ quý tộc trên pháp lý.

Nhưng quyền sở hữu tài sản trước Thế chiến thứ nhất vẫn được giữ nguyên.

Otto Schwarz không được nhận vào học tại trường dành cho con em quý tộc cũ, ông ta chọn con đường thăng tiến nhờ Đảng Quốc Xã.

Cha tôi từng nói rằng, ông coi thường Otto Schwarz từ khi còn nhỏ, và kể cả đến bây giờ, điều đó không thay đổi.

"Nhưng dù sao, con cũng không làm gì sai, mẹ ạ."

Tôi ủ rũ vùi mặt vào gối, hình như mẹ tôi đã cho hoa oải hương vào trong đó.

Tôi phải nghỉ học vài ngày vì sốt cao, chiều ngày thứ hai, tôi đã cảm thấy đỡ hơn nhiều, vì thế tôi bắt đầu tìm đến cây đàn của mình.

Mẹ tôi có mang theo một cái rương chứa rất nhiều bản nhạc và đĩa nhạc của bà từ khi còn ở Hungary, đa số là của Rachmaninov và Beethoven.

Nhưng sau này, cha tôi phản ứng gay gắt với chuyện tôi chơi dương cầm, mẹ tôi cũng không còn động vào đàn nhiều nữa.

Khi ấy, tôi không chắc chắn về lý do cha tôi bài xích những gì liên quan đến niềm yêu thích âm nhạc của mẹ tôi, nhưng tôi nghĩ một phần nào đó liên quan đến cuộc hôn nhân không được chào đón của họ.

Sau này, mẹ tôi cũng đã kể rằng, bà gặp cha tôi ở bệnh xá trường Sĩ quan Chính trị Kaiserliche Kriegsschule.

Bà là một y tá điều dưỡng thực tập, do thành thạo tiếng Đức, bà được cử đi trao đổi theo chương trình hợp tác y tế Đức - Áo - Hungary, nằm trong quá trình tái thiết hệ thống y tế dân sự từ sau Thế chiến thứ nhất.

Lúc đó cha tôi bị chấn thương do ngã ngựa và phải nằm bệnh xá một tuần.

Họ hẹn hò hơn một năm, đến khi chương trình trao đổi kết thúc và mẹ tôi phải trở về Hungary.

Họ hứa hẹn sẽ sớm gặp lại sau khi cha tôi tốt nghiệp.

Nhưng khi trở về Hungary, mẹ tôi phát hiện mình đã mang thai, đó hẳn là một cú sốc lớn vì mẹ tôi còn quá trẻ, cha tôi cũng vậy.

Một sĩ quan quý tộc cũ thường không kết hôn sớm, họ chỉ kết hôn khi đã có sự nghiệp ổn định và lựa chọn được một đối tượng phù hợp với gia tộc.

Khi đó cha tôi mới mười chín tuổi, chỉ là một học viên, và ông ấy phải nói với gia đình mình về việc sẽ kết hôn với một phụ nữ xuất thân từ gia đình truyền thống âm nhạc, còn là người Hungary chứ không phải Đức.

Không cần phải nói cũng biết nhà von Hartenfels đã phản ứng dữ dội như thế nào.

Ông tôi gọi đây là một sự sỉ nhục khủng khiếp, một hành động phá vỡ truyền thống gia tộc, coi gia đình của mẹ tôi là thấp kém, dù trên thực tế thì họ cũng là tầng lớp trung lưu trí thức của Áo - Hung.

Một ngày đông tuyết dày đặc, cha tôi bị tống cổ khỏi nhà, xoá tên khỏi danh sách thừa kế và cắt mọi khoản chu cấp, ông ấy không có gì trong tay.

Mẹ tôi nói rằng bà nhớ mãi cái buổi chiều lạnh cắt da thịt, bà vẫn còn trong cơn sốt hậu sản và phải đi bộ hai cây số theo cha tôi đến nhà một người bạn.

Cha tôi bế anh Heinrich mới sinh chưa đầy một tuần, quấn trong cái áo khoác trường quân sự.

Người bạn của cha tôi đã lái xe và đưa họ đi tìm phòng ở một khu gần trường.

Mẹ tôi và anh Heinrich đã sống trong phòng trọ cũ giá rẻ với cái lò sưởi không hoạt động, mọi chi phí sinh hoạt chi trả bằng số tiền gửi từ Hungary, trợ cấp của trường quân sự mà cha tôi dành dụm, vài đồng bạc vay mượn khắp nơi, hay tiền bán trang sức mà bà tôi lén gửi đến.

Cuối tuần, cha tôi đi bộ từ trường đến phòng trọ để đưa tiền cho mẹ tôi.

Có một buổi tối mẹ tôi ốm vật vã trên giường.

Bà khóc lóc, nói rằng mình ghét nước Đức, ghét cha tôi và đòi về Hungary.

Mẹ tôi không bao giờ tưởng tượng được điều chờ đợi bà ở Đức lại là cuộc sống như thế.

Anh Heinrich ngủ say trong cái nôi cũ xin lại của người ta.

Còn cha tôi ngồi đếm đi đếm lại từng đồng bạc, nhưng vẫn không đủ để trả tiền trọ và mua đồ trẻ sơ sinh.

Đó là lần duy nhất mẹ tôi nhìn thấy ông ấy ôm mặt khóc.

Một năm sau, cha tôi tốt nghiệp Kriegsschule, còn người ông quý tộc cũ của tôi thì đã suy nghĩ lại và nhận ra rằng không thể vứt thằng con trai duy nhất của mình ra đường.

Nhưng mẹ tôi nói rằng hẳn là cha tôi không bao giờ quên được quãng thời gian khó khăn ấy.

Khi mà ông ấy phải vứt hết tự trọng để đi mượn tiền bạn bè, họ thậm chí nói rằng không cần trả lại tiền, có lẽ họ thấy chẳng còn gì tệ hại hơn một thằng nhóc quý tộc cũ giờ phải đi xin thuốc hạ sốt và vitamin ở chỗ giáo viên quân y, bán cả đồng hồ đeo tay để mua sữa bột.

Dường như mỗi khi nhìn thấy những bản nhạc hay những cây dương cầm và vĩ cầm, cha tôi lại nhớ đến xuất thân của mẹ tôi, thứ đã gây ra khoảng thời gian tăm tối nhất cho ông ấy trong quá khứ, và nó gợi nhớ đến cả mối quan hệ tệ hại giữa ông ấy và cha của mình.

Tôi rút ra bản Appassionta và bắt đầu ngồi vào chiếc dương cầm.

Khi chơi đàn, tôi thường không chú ý mọi thứ xung quanh, tôi chỉ muốn để âm thanh chạm vào khoảng lặng, đánh thức những rung cảm mỏng manh của mình.

Chiếc dương cầm ở cạnh cửa sổ phòng, tay tôi ngưng lại khi phát hiện có người nhìn mình từ phía sân vườn.

Tôi đứng dậy và nhìn xuống dưới, đó là đứa trẻ Nga mà tôi mang về từ chỗ Otto Schwarz.

Cậu ta đứng cạnh chuồng ngựa, hình như cậu ta đã ở đó quan sát tôi một lúc, khi tôi bắt gặp, cậu ta vội vàng quay đi và tiếp tục làm việc.

Căn nhà của tôi nằm trong khuôn viên điền trang mà cha tôi được thừa kế từ ông tôi, Đại công cuối cùng xứ Brandenburg.

Mặc dù khuôn viên không rộng như dinh thự của Otto Schwarz, nhưng cũng có một trang trại và đồng cỏ.

Cha tôi thậm chí không buồn quan tâm đến những thứ đó, tất cả mọi việc được giao cho quản sự và những người giúp việc.

Tính tò mò thôi thúc, tôi đã chạy xuống nhà và đi về phía chuồng ngựa.

Đứa trẻ người Nga đó đang định kéo mấy bó cỏ lớn vào máng để cho ngựa ăn, tôi đến gần, cậu ta cúi đầu xuống và đứng im bất động, y hệt hàng người trong trại tập trung hôm ấy.

Tôi hỏi: "Cậu biết tiếng Đức không?"

Cậu ta trả lời: "Tôi chỉ biết một chút."

"Cậu tên là gì?"

"Tôi không có tên.

Tôi là số 106."

Tôi sững sờ đứng ở đó, quan sát cậu ta từ trên xuống dưới, một bên mắt và gò má cậu ta bầm tím, khi ở chỗ Otto Schwarz, tôi không hề nhìn thấy dấu vết đó, tức là nó xuất hiện từ khi cậu ta đến đây.

Tôi nói: "Ai cũng có tên, nói cho tớ biết tên đi."

Nhưng cậu ta nói rằng không hiểu tôi nói gì, tôi cũng không biết tiếng Nga.

Tôi nghĩ đến Paula, thế là tôi hỏi: "Cậu biết tiếng Ba Lan không?"

Cậu ta tỏ ra không hiểu.

Tôi nhấn mạnh: "Tiếng Ba Lan ấy, hoặc tiếng Latinh?"

Tôi bắt đầu bất lực với gương mặt ngơ ngác của cậu ta.

Nghe có vẻ câu hỏi hơi ngu ngốc, nhưng tôi đã hỏi: "Tiếng Anh?"

Vậy mà cậu ta lại gật đầu.

Tôi vui mừng và kinh ngạc, ngay cả ở Đức cũng không có nhiều người nói tiếng Anh, thậm chí nó bị coi thường, chỉ những trường học mang tính truyền thống dành cho con em quý tộc thành lập từ thời Vương quốc Phổ, ở đó họ mới dạy tiếng Anh như môn tự chọn.

Tôi chọn nó vì nó có quan hệ gần gũi với tiếng Latin của La Mã cổ đại, và hơn hết là vì ngày xưa cha và anh tôi cũng học tiếng Anh, trước khi nó bị hạn chế ở Đệ Tam Đế chế.

"Ai cũng có tên.

Vì thế hãy cho tớ biết tên đi."

Tôi nói bằng tiếng Anh.

Cậu ta tỏ ra sợ hãi và chần trừ, tôi bèn nói: "Tớ sẽ không cho ai biết đâu.

Hứa đấy."

"Stepan...

Kozachenko."

"Còn tớ là Armin, Armin Wilhehm von Hartenfels."

Tôi đưa tay ra, Stepan lại chần trừ, tôi vẫn chờ đợi, cuối cùng thì cậu ta cũng bắt tay tôi.

Khi đối diện với cậu ta, tôi bỗng cảm nhận được một sự đồng cảm mãnh liệt vô hình mà tôi chưa từng cảm thấy trước đây.

Có lẽ vì nhìn chúng tôi trạc tuổi nhau, có lẽ dù trong hoàn cảnh khác nhau, chúng tôi đều phải chịu đựng những nỗi buồn mà không thể trải lòng, cuối cùng, chúng tôi chỉ là những đứa trẻ.

Đó là lần đầu tiên tôi chủ động làm quen với người khác.
 
Tiếng Vọng Của Cây Dương Cầm - Das Echo Des Klaviers [Sp]
(4)


Khoảng đầu những năm 1943 là thời gian mà ngoài mặt trận đang đỏ lửa, còn chúng tôi thì vẫn chưa cảm nhận được mùi thuốc súng và bom đạn đang đến gần.

Mọi người vẫn khiêu vũ ở quảng trường, mẹ tôi còn mang theo tôi vào nội thành để dạo chơi và mua đồ.

Thời điểm đó, trên loa phát thanh và radio nhắc về trận Stalingrad là 'Một biểu tượng của lòng quả cảm'.

Tôi còn nhớ mọi người trên đường phố Berlin cầm những tờ báo trên tay, loa phát thanh truyền tin: 'Trận Stalingrad đã kết thúc.

Quân đội Đức đã chiến đấu anh dũng và hi sinh cho Tổ quốc.'

"Chúng ta thắng hả mẹ?"

Tôi hỏi.

Mẹ tôi không trả lời, bà trầm ngâm nhìn ra ngoài cửa xe ô tô.

Trời đã gần tối, những vệt sáng cuối cùng màu vàng cam cũng đang dần dần mất hút.

Tôi nhớ đài phát thanh gọi sự hi sinh của quân đội Đức là 'một Hy Lạp mới'.

Họ ví trận đánh Stalingrad như Thermopylae, một trận đánh mang tính biểu tượng nhất lịch sử cổ đại, cuộc tử chiến bi tráng, thảm khốc của các chiến binh Hy Lạp trước quân Ba Tư.

Tôi biết, điều đó có nghĩa là tình hình không hề tốt đẹp.

Tôi nhớ khoảng thời gian đó, có những ngày cha tôi không về nhà nhiều ngày, hoặc những ngày ở nhà, ông nhốt mình trong phòng làm việc gần mười tiếng đồng hồ.

Có nhiều đêm, khi tôi về phòng đi ngủ, phòng làm việc của cha tôi vẫn sáng đèn.

Tôi cố gắng không ở gần cha nhất có thể, luôn tìm cách tránh mặt hoặc giữ khoảng cách thật xa với ông ấy.

Một buổi chiều, tôi buồn chán ngồi ở sân đọc sách, trong khi mẹ tôi đang ở trong bếp làm bánh cùng với chị Paula.

Tôi cảm thấy, bà coi Paula như một người thân của mình thay vì người giúp việc.

Mẹ tôi may cho chị ấy những cái váy dài bằng nhung, và cũng dạy chị ấy chơi đàn vào những ngày mà cha tôi không ở nhà.

Mẹ tôi nói khi tình hình ổn định, bà sẽ tìm cách đưa chị đến Hungary để nhờ cậy những người họ hàng của mẹ, từ Hungary, có lẽ chị ấy có thể quay về Ba Lan.

Nhưng hiện tại, tất cả mọi thứ đều thật mù mịt và tăm tối.

Tôi nhặt mấy hòn đá cuội trên thảm cỏ, nheo mắt và ném về phía cổng trong lúc buồn chán.

Có vài viên đá va vào cổng, phát ra tiếng kim loại hơi ghê tai.

Cha tôi về nhà đúng lúc đó, một viên đá cuội của tôi ném trúng đầu xe của ông ấy.

Có một vết lõm xuất hiện ở chỗ đó.

Cha tôi bước xuống xe, quay đầu nhìn tôi, lúc đó chân tôi run mất kiểm soát.

Cha tôi đi đến gần và tát tôi một bạt tai, tôi cứ nghĩ là ông ấy sắp cho tôi một trận, nhưng không có gì xảy ra sau đó, ông ấy chỉ mắng tôi mấy câu rồi đi vào nhà.

Cha tôi có vẻ mệt mỏi, tôi thấy sắc mặt ông khá tệ, quầng thâm mắt trở nên rõ ràng hơn.

Vậy là những ngày tháng đó, tôi được thoải mái, cha tôi cũng không có thời gian để quan tâm đến tôi nữa.

Những buổi chiều trước khi vào hè, tôi lại tìm đến gốc cây sơn trà gần đồng cỏ và chuồng ngựa.

Tôi luôn đợi Stepan ở đó.

Tôi nói rằng tôi sẽ dạy cậu ấy tiếng Đức vào buổi chiều sau khi tôi đi học về.

"Này, tại sao cậu lại biết tiếng Anh?

Sao trẻ em Nga lại học tiếng Anh?"

Tôi hỏi với một sự tò mò.

"Nhà tớ ở thành phố Rivne, năm 1940 chúng tớ mới chuyển đến Lviv, sau khi đất nước của tớ sáp nhập Lviv từ Ba Lan.

Mẹ tớ từng là một giáo viên tiếng Anh tại một trường tư thục ở Rivne, vì thế bà ấy đã dạy tớ tiếng Anh từ khi còn nhỏ."

Stepan đáp, tay cậu ta cứ mân mê ngọn cỏ lau.

"Mẹ tớ bảo tớ học tiếng Hungary, vì mẹ tớ là người Hungary.

Nhưng ở trường, tớ phải học tiếng Latin và Hy Lạp, tớ chọn môn tự chọn tiếng Anh vì nó khá dễ, nếu học tiếng Hungary nữa thì tớ sẽ chết vì bội thực ngôn ngữ."

Stepan và tôi đều cười phá lên.

Thật kì lạ, cậu ta là người đầu tiên chịu chơi với tôi, nhưng chúng tôi lại giao tiếp với nhau bằng một thứ tiếng không phải tiếng mẹ đẻ.

Tôi bắt đầu tò mò hơn, tôi hỏi: "Vậy mẹ cậu đâu rồi?

Bà ấy cũng bị đưa đến Đức à?"

"Không, mẹ tớ đã mất vào tháng 3 năm 1941.

Lviv bị chiếm vào tháng 7, mọi thứ diễn ra quá nhanh, lúc đó ở nhà chỉ có một mình tớ bởi vì cha tớ đi làm ở Leningrad, anh tớ đang chiến đấu ở tuyến đầu còn chị tớ thì đang học ở Kazan..."

Stepan cúi đầu, cậu ấy bắt đầu lau nước mắt.

Tôi hối hận vì đã hỏi những chuyện đó, trong khi nỗi đau của cậu ấy là do dân tộc của tôi gây ra.

Tôi hỏi Stepan rằng: "Tại sao cậu lại bị thương ở mặt thế?

Lúc ở nhà của gã Otto Schwarz, cậu không bị thương ở mặt."

Cậu ấy nói với tôi rằng đó là do bị ngã.

Nhưng tôi đã ngay lập tức bác bỏ: "Những vết sẹo đó là những vết thắt lưng."

"Tớ đã nói là bị ngã mà."

Cậu ấy cố lảng tránh, nhưng tôi đã ngay lập tức xắn tay áo của mình lên.

"Nhìn này, tớ cũng có, tớ không bao giờ nhầm lẫn được đâu."

Cánh tay và chân tôi đầy những vết sẹo, nhưng nó sẽ không xuất hiện ở những vị trí nguy hiểm.

Ít nhất thì cha tôi sẽ không đánh vào đầu.

Stepan im lặng, anh chàng có vẻ bị sốc, đến mức mắt cậu ấy mở to như hai quả hạnh, cậu ấy hỏi tôi: "Vì sao thế?"

"Vì cha tớ rất ghét tớ.

Ông ấy khá đáng sợ, nhưng không kinh khủng bằng gã Otto."

Trước giờ tôi không bao giờ kể với người khác những chuyện như thế.

Stepan quay lưng lại, kéo cái cổ áo xuống sâu, cho tôi nhìn thấy những vết thương ở sau lưng.

Trong đó có vài vết tích giống như là mới xuất hiện gần đây.

Cậu ấy nói: "Đôi khi tên quản sự sẽ gọi chúng tớ đến, và hắn sẽ làm thế này.

Ở đây, chúng tớ chỉ là những con vật."

"Vì tớ không hiểu hắn nói gì.

Tớ chỉ biết vài câu giao tiếp cơ bản của Tiếng Đức lúc ở trại lao động.

Hơn nữa, hắn ghét người Liên Xô hơn người Ba Lan..."

"Có một nữ giúp việc người Ba Lan biết tiếng Đức, cô ấy thường truyền đạt lại cho mọi người vì họ đa số là người Ba Lan.

Nhưng cô ấy chỉ tới đây những lúc đưa đồ ăn hoặc những lúc rảnh rỗi để giúp mọi người một số công việc."

Tôi nói: "Chị Paula đấy.

Chị ấy rất tốt bụng.

Mẹ tớ kể, hồi đó bà gặp Paula khi chị ấy mới mười lăm tuổi, khi mẹ tớ theo cha tớ đến thăm một trại tập trung.

Lúc đó mấy tên lính SS sắp hãm hiếp chị ấy, mẹ tớ đã nói với viên Đại tá quản lý trại rằng bà muốn xin chị ấy về làm giúp việc.

Thế là mẹ tớ đã cứu được chị ấy."

Stepan gật gù, cậu ấy nói với tôi: "Mọi người nói rằng lúc đầu khẩu phần ăn chỉ có súp loãng và bánh mì đen.

Cô ấy đã mang thêm bánh mì và bơ cho mọi người."

"Nhưng cậu không biết tiếng Ba Lan mà?"

Tôi hỏi.

Stepan trả lời: "Chúng tớ ở Tây Ukraina.

Phương ngữ của chúng tớ có nhiều từ giống tiếng Ba Lan.

Tớ có thể hiểu được đôi chút, nhưng không biết nói."

Trong lúc chúng tôi nói chuyện, có tiếng chuông báo, và có tiếng chửi rủa ở phía trang trại.

Stepan nói: "Tớ phải đi đây.

Hắn sẽ lại kiếm chuyện với mọi người."

Sự phẫn nộ trong lòng tôi dâng lên như một cơn sóng.

Tôi im lặng rất lâu, chìm trong những suy nghĩ và bất mãn, gã quản sự đó là một kẻ khát máu giống như Otto Schwarz.

Hắn luôn coi việc hành hạ người khác là thú vui của mình, tôi nhớ đến vài đứa bạn ở trường, có đứa trong số chúng đã từng nói: "Mỗi khi thấy bực tức trong lòng, tôi lại tìm mấy đứa tù nhân Tiệp Khắc trong nhà để giải toả tâm trạng.

Chúng thậm chí không có quyền con người."

Lúc đó, tôi chưa bao giờ chú tâm đến câu nói đó, chỉ đến bây giờ, nó lại đột ngột xuất hiện trong những dòng suy nghĩ.

"Tớ sẽ đi tìm hắn."

Tôi quả quyết.

"Vô ích thôi."

Stepan nói: "Hắn là một binh sĩ Đức.

Hắn nói với tất cả mọi người rằng hắn được quyền làm vậy.

Vì thế nên chẳng ai muốn phản kháng.

Mọi việc không giúp ích gì, có thể tớ sẽ bị đẩy đi chỗ khác, tệ hơn nữa là cha cậu sẽ bắn tớ.

Đó là luật."

Đêm hôm đó, tôi không thể ngủ được.

Những lời nói của Stepan cứ quanh quẩn trong đầu tôi.

Thực tế thì cha tôi chưa từng hành quyết tù nhân, cũng không có hứng thú với các cuộc thảm sát người Do Thái, trong đầu ông ấy chỉ có chiến lược và kế hoạch, quân sự và quân sự, chỉ thế thôi.

Nhưng tôi biết ông ấy sẽ không bao giờ quan tâm hay giải quyết những việc ngớ ngẩn thế này.

Tôi cũng không bao giờ muốn chọc tức ông ấy vào những thời điểm nhạy cảm như bây giờ.
 
Tiếng Vọng Của Cây Dương Cầm - Das Echo Des Klaviers [Sp]
(5)


Sinh nhật thứ mười hai của tôi, Heinrich đã mua cho tôi một cái máy ảnh phim, cùng với một cuốn sổ có thể nhét ảnh vào trong đó và viết ghi chú bên cạnh.

Anh ấy vừa kết thúc khoá huấn luyện mùa hè, vì thế anh ấy đã xin trường cho phép về nhà ba ngày.

Nhưng cha tôi đã mắng anh ấy một trận vì chuyện đó: "Kaiserliche không phải cái trại hè, đừng vô kỉ luật như thế nữa.

Hơn nữa, kể cả con về nhà thì cũng phải mang theo sách chứ?"

"Con đã đứng nhất đợt huấn luyện rồi mà."

Anh Heinrich đáp.

"Điều đó không có nghĩa là con có thể lười biếng và chủ quan."

Heinrich vẫn tỏ ra không quan tâm đối với những lời nói của cha tôi, anh ấy cười và hỏi mẹ tôi rằng: "Con tự hỏi sao mẹ có thể thích một người hay cằn nhằn và nóng nảy như cha nhỉ?

Con chỉ mới về nhà được nửa ngày và đầu con sắp vỡ ra rồi.

Mẹ đã chịu đựng thế nào trong mười bảy năm thế?"

Mẹ tôi chỉ lén nhìn cha tôi và không nói gì cả.

Cha tôi dường như đã quen với những gì phát ra từ miệng anh Heinrich, ông ấy chỉ cau mày và không phản bác.

Sau khi uống hết tách cà phê, ông ấy đã đứng dậy khỏi sofa và đi vào phòng làm việc.

Lúc đó mẹ tôi mới tỏ ra chán nản và nói rằng: "Hồi ấy cha con không như thế, chỉ viết những bức thư với những lời hoa mỹ.

Mỗi buổi tối thứ bảy lại đến bệnh xá để đưa cho mẹ một bức thư với một nhành hoa thạch nam kẹp trong đó.

Lúc nào cũng giả bộ dịu dàng và ân cần."

"Mẹ đã bị lừa, con trai ạ.

Dù sao hồi ấy mẹ cũng chỉ trạc tuổi con và không thông minh bằng con."

Mẹ tôi thở dài và lắc đầu.

Anh Heinrich bắt đầu hát 'Erika' và trêu chọc mẹ tôi:

"Nơi quê nhà kia có một thiếu nữ nọ,

Và tên nàng là Erika!

Nàng là người tình chung thủy của ta,

Và là niềm vui của ta, Erika!

Khi cây thạch nam kia nở sắc đỏ tím,

Ta cất khúc ca này để chào đón nàng.

Nở rộ trên đồng cỏ kia một bông hoa nhỏ,

Và tên nó là Erika!"

Giọng hát của anh ấy lớn đến mức vang vọng khắp tầng một và tôi đã nghe thấy cha tôi gầm lên trong phòng làm việc: "Im ngay, Heinrich!

Đừng có làm ồn nữa!"

Mẹ tôi đánh nhẹ một cái vào vai Heinrich.

Anh ấy bò ra ghế sofa và cười nghiêng ngả: "Tội nghiệp cho mẹ.

Mẹ lấy phải một gã tệ thật.

Nhưng Chúa đã bù đắp cho mẹ bằng hai đứa con trai tuyệt vời."

Anh khoác tay qua vai và kéo tôi vào sát người, véo nhẹ vào má tôi và nói: "Sinh nhật vui vẻ.

Chúc mọi điều tốt đẹp, Armin."

Anh ấy vẫn luôn tốt với tôi như thế, trước khi đi học ở Kriegsschule, anh ấy thường cùng tôi chơi cờ và đi bơi ở một con sông hẹp gần nhà.

Sau khi anh ấy đi học, tôi đã cất cái bàn cờ đi và cũng hiếm khi đi ra con sông đó.

Còn cha tôi thì lại cho rằng tôi lười vận động vì không lúc nào chịu ra khỏi nhà trừ khi đi học.

Tôi đã cho Stepan xem cái máy ảnh cùng bức ảnh tôi chụp cây sơn trà, và chúng tôi chụp chung vài bức ảnh với nhau bằng chế độ hẹn giờ cơ học.

Phải khá vất vả để chụp được bức ảnh ưng ý vì tôi không thể cầm máy.

Tôi viết vào khoảng trống bên cạnh: "Đây là nơi tôi dạy tiếng Đức cho người bạn mà tôi mới làm quen, người bạn tốt đầu tiên trong đời tôi, cậu ấy tên là Stepan Kozachenko."

Tôi đưa cuốn sổ cho Stepan và bảo: "Viết cái gì vào đây đi.

Viết tên cậu, và viết xin chào nữa."

"Tớ phải viết tiếng Đức à?"

"Viết tiếng Anh cũng được.

Tớ đang viết bằng tiếng Anh và Latin.

Ờm... thực ra tớ học ngoại ngữ bằng cách cố gắng ghi chép bằng hai ngôn ngữ."

Từ hôm ấy, tôi luôn đem theo cuốn sổ bên mình, và dùng cái máy ảnh đó để chụp lại những cái gì đó hay ho mà tôi thấy.

Nhưng chỉ những tấm ảnh đẹp nhất, tôi mới nhét vào cuốn sổ và ghi chú lại.

Tôi có một tấm ảnh chụp với anh Heinrich, một tấm ảnh chụp với mẹ, tôi chỉ dám chụp cha tôi từ xa và cũng ghi chú lại.

Còn có cả chị Paula nữa.

Đến mùa thu, tôi đã viết được khoảng 1/3 cuốn sổ đó.

Đó cũng là khi lá cây sơn trà chuyển sang màu cam nâu.

Buổi chiều mùa thu, trời có gió, tôi theo thói quen đi đến gốc cây sơn trà và ngồi xuống chờ đợi.

Nhưng khi những ánh nắng cũng đã tắt dần trên ngọn đồi đằng xa, Stepan vẫn không đến.

Mẹ tôi đã dặn tôi không được bước chân qua hàng rào ngăn cách khu nhà ở và khu trang trại, vì thế tôi không thể vào đó tìm cậu ấy.

Nhưng tôi nghĩ rằng có thể hôm nay cậu ấy phải làm việc gì đó, hoặc tên quản sự vẫn ở đó.

Nhưng đến ngày thứ hai, tôi vẫn không thấy cậu ấy đến chỗ đã hẹn.

Tôi đã định ngày mai sau khi thức dậy, tôi sẽ xin phép mẹ và sẽ đến gặp Stepan.

Tối hôm đó, bầu trời nổi gió, những cơn gió cứ đập vào cửa sổ làm chúng rung lên.

Cha tôi đã không về nhà ba đêm liền.

Tôi leo lên giường khi chỉ mới 9 giờ, mẹ tôi cũng đã về phòng và đi ngủ sớm.

Tôi cố gắng ngủ, nhưng đột nhiên có tiếng cửa phòng mở, ánh sáng lờ mờ của chiếc đèn dầu cầm tay phủ lên tường, tôi giật mình bật dậy và kinh ngạc khi nhìn thấy Paula.

Chị ấy vội vã đến gần giường của tôi và nói nhỏ: "Armin, tôi cần cậu giúp."

"Sao thế, Paula?"

Chị ấy cúi xuống và nói với tôi rằng: "Có vài người giúp việc bị thương, trong đó có một đứa trẻ bị thương khá nặng.

Tôi nên làm gì đây?"

"Tại sao thế?"

"Tôi đã đi đưa bánh mì vào lúc 6 giờ, họ nói rằng có một đứa trẻ bị thương nặng và nó đang bất tỉnh.

Tôi nghĩ nó đã bị đánh đập dã man.

Những người Ba Lan ở đó nói, gã quản sự cảnh cáo họ, rằng nếu ai đó chăm sóc đứa trẻ hay lén đưa thuốc cho nó thì cũng sẽ có kết cục giống như vậy.

Hắn muốn nó chết."

Paula nói.

Linh cảm của tôi đã cho tôi biết đứa trẻ đó là ai.

Tôi nhảy xuống giường, chạy xuống cầu thang và lao vào phòng ngủ của mẹ tôi.

Tôi khóc và lay mẹ tôi dậy, bà ngạc nhiên và chỉ sờ vào má tôi: "Con gặp ác mộng à, con trai?"

"Còn hơn cả ác mộng mẹ ạ.

Ở trang trại có một đứa trẻ sắp chết, gã quản sự đó muốn hành hạ cậu ấy đến chết, mẹ ơi hãy làm gì đó đi!"

Mẹ tôi không hiểu gì cả, bà ngồi dậy và nghiêm túc nhìn tôi: "Làm sao con biết được?

Có phải con mơ ngủ không?"

Tôi hét lên: "Không!

Chị Paula đã đến đó và thấy tất cả.

Hắn không cho cậu ấy chữa trị, cậu ấy sẽ sớm chết, đó là đứa trẻ Nga mà con đã mang về, mẹ ơi làm gì đó đi."

"Mẹ không thể...

Hắn là binh sĩ của quân đội, cha con không có ở nhà, mẹ không thể can thiệp được."

Tôi tức giận hét lên với mẹ tôi: "Mẹ là chủ nhà, tại sao mẹ không làm gì hết?

Mẹ là người Hungary cơ mà!

Chính mẹ nói với con là người Hungary luôn mạnh mẽ.

Sao mẹ lúc nào cũng như thế?

Nếu mẹ không cứu đứa trẻ đó thì con sẽ không bao giờ tha thứ cho mẹ!"

Mẹ tôi run lên, bà quay mặt đi và không trả lời tôi.

Lúc mà tôi tuyệt vọng rời khỏi phòng, mẹ tôi đột nhiên đứng dậy và đi ra ngoài.

Mẹ tôi nói: "Paula, hãy gọi bác sĩ đến nhé."

Bà nói với tôi rằng: "Mẹ sẽ thử, con yêu ạ."

Tôi dẫn mẹ tôi đến trang trại, đó là lần đầu tiên tôi bước qua hàng rào, và tôi nhìn thấy họ, những người được gọi là 'Ostvolk'.

Tất cả họ đều sống trong những gian nhà kho chật chội, giống như những cái lán tạm bợ, không có giường ngủ, chỉ có những đống cỏ khô và vài cái chăn mỏng, nó giống như là những cái chuồng gia súc.

Tôi tự hỏi làm sao họ có thể sống được trong hoàn cảnh như vậy?

Gã quản sự đang ở trong phòng trực của hắn và uống cà phê, hắn tỏ ra ngạc nhiên khi thấy mẹ tôi, người đàn bà vợ của ngài Trung tá lại trực tiếp đi vào khu vực Ostvolk.

Mẹ tôi hỏi: "Có một đứa trẻ bị thương à?

Nó đâu?"

Gã quản sự trả lời: "Không cần quan tâm đến nó, thưa bà."

Mẹ tôi nói: "Chồng tôi chưa bao giờ nói với cậu à, tất cả những người Ostvolk này đều là tài sản của chúng tôi.

Cậu không được làm tổn hại tài sản của chủ nhà, đặc biệt là của cấp trên.

Tôi cần những người quen việc, tôi rất ghét phải tìm người giúp việc mới, vì thế ngay bây giờ, đứa trẻ đó phải được chữa trị để duy trì sức lao động."

Hắn không thể phản bác lời của mẹ tôi, thế là hắn đã chỉ cho chúng tôi vào một nhà kho ở sau chuồng ngựa.

Tôi nhìn thấy, đó quả thực là Stepan, cậu ấy nằm trên một đống cỏ khô trong góc, xung quanh có vài người khác đang ăn những cái bánh mì đen không.

Mẹ tôi đến gần, tôi định đến xem tình trạng người bạn của mình, mẹ tôi túm lấy tôi và nói nhỏ: "Con không được động vào, Armin."

Bà nói với mấy người khác: "Giúp tôi mang đứa trẻ đó đến khu nhà chính nhé, bác sĩ đang đợi."

Khi đi qua gã quản sự, mẹ tôi đã nhắc lại: "

Sau này, nếu cậu làm tổn hại tài sản của tôi thêm một lần nữa, cậu sẽ phải bồi thường đấy."

Họ đã để Stepan xuống sàn nhà, ở trong một phòng để đồ cũ bên ngoài nhà của chúng tôi.

Những người giúp việc không được ở cùng nhà, ăn cùng bàn, dùng cùng nhà tắm với người Đức, điều đó được quy định trong luật.

Giống như ngay cả khi mẹ tôi rất thương chị Paula, bà vẫn phải để chị ấy ngủ trong phòng giặt đồ.

Đó là điều tốt nhất bà có thể làm được.

Ngọn đèn dầu hắt xuống cái bàn thấp trải vải lanh cũ, bác sĩ đeo găng tay, mở hộp thiếc cũ, lấy ra một lọ thuốc sát trùng.

Tôi nhìn gương mặt sạm đi của Stepan, áo của cậu ấy dính đầy máu và bùn đất.

Khi vị bác sĩ già vén áo của cậu ấy lên, tôi nhìn thấy từng đốt sống lưng lộ rõ, cậu ấy gầy như một cây củi khô, những vết bầm tím dài chạy dọc xương sườn, bác sĩ bắt đầu lau máu khô ở miệng và trán cậu ấy.

"Sống mũi bị gãy, không tổn thương mắt, đa chấn thương, chảy máu do tổn thương mô mềm."

Bác sĩ nói như vậy.

Mẹ tôi thở dài, bà dặn Paula lấy một cái chăn cũ trong kho và đem vào đó.

Mẹ dẫn tôi ra ngoài và ngồi xuống trước mặt tôi, bà nhìn vào mắt tôi và nói: "Armin, con không được đến gần đứa trẻ đó.

Cũng đừng để cha con biết, mẹ không dám tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra, con trai ạ."

"Mẹ biết con đã làm việc tốt.

Nhưng đừng để ai biết rằng con đã làm việc tốt.

Mẹ đang xin con đấy, Armin."

———
 
Tiếng Vọng Của Cây Dương Cầm - Das Echo Des Klaviers [Sp]
(6)


Hôm đó, trong lúc mẹ tôi không để ý, tôi đã lén đến chỗ Stepan.

Cậu ấy vẫn ngủ say và không biết rằng tôi đang đứng ngay bên cạnh.

Tôi nghe thấy mẹ tôi bảo rằng, bác sĩ đã nói cậu ấy chỉ cần nghỉ ngơi thì sẽ bình phục.

Lúc này, tôi bắt đầu quan sát và để ý thấy cậu ấy là một người có vóc dáng vạm vỡ dù hiện tại rất gầy, nước da sạm đi, mũi cao và thẳng.

Stepan luôn quấn một cái khăn vải quanh đầu, bất kể là mùa đông hay mùa hè.

Cậu ấy nói với tôi rằng mùa đông là để giữ ấm, mùa hè là để tránh cái nắng gay gắt.

Tôi đưa tay và tháo cái khăn xuống khỏi đầu Stepan, để lộ ra mái tóc gợn sóng màu nâu sáng.

Tôi chỉ muốn cậu ấy thoải mái hơn trong lúc nghỉ ngơi.

Khi tay tôi chạm vào gần vùng gáy, tôi phát hiện có thứ gì đó cứng, nó đâm vào tay tôi, chỉ có cảm giác nhói một cái, lành lạnh.

Tôi khựng lại, đó không phải vết thương, cũng không phải những sợi tóc kết vào nhau, tóc cậu ấy hơi dài, quá tai khoảng 4cm.

Tôi nhận ra những lọn tóc xoăn được bện vào nhau rất chặt, quấn quanh một thứ gì đó khá nhỏ, có một sợi chỉ đen cố định chúng lại.

Tôi không thể lấy nó ra, và thế là tôi nhìn xung quanh, ở đó vẫn còn hộp thiếc và cây kéo người bác sĩ để lại.

Những đoạn tóc rơi xuống lòng bàn tay tôi, cuối cùng là cái thứ nhỏ bé kia.

Tôi bàng hoàng và ôm chặt lấy miệng mình để không kêu lên.

Một ngôi sao David.

Đó là một mặt dây chuyền không có dây, ngôi sao 6 cánh bằng kim loại gì đó, có thể là bạc, nó đã hơi xỉn màu nhưng không rỉ sét.

Tôi run rẩy và sững người ở đó rất lâu, Stepan vẫn không tỉnh dậy.

Tâm trạng của tôi ngổn ngang những dòng suy nghĩ và những câu hỏi, tôi siết chặt ngôi sao trong lòng bàn tay, vội vã chạy vào nhà, lao thẳng lên phòng ngủ của mình.

"Sao con vội vã thế, Armin?"

Mẹ tôi hỏi vọng lên từ dưới nhà.

Tôi không trả lời bà, chỉ đóng cửa lại và ngồi trên giường, hai tay vòng qua chân và cằm của tôi thì tựa lên đầu gối.

Từ hôm đó, tôi không đến chỗ Stepan nữa.

Tôi sợ phải đối mặt với cậu ấy và sợ tất cả mọi thứ xoay quanh cậu ấy.

Ngày thứ tư kể từ buổi ngày hôm đó, Paula mang bữa chiều cho tôi, bánh ngọt và một cốc sữa nóng.

Tôi không muốn ăn mà chỉ tập trung chơi đàn.

Paula nói nhỏ vào tai tôi: "Thằng bé đó đã tỉnh rồi.

Nhưng nó có vẻ rất hoảng sợ điều gì đó.

Hoặc do tôi nhạy cảm."

Dĩ nhiên là tôi biết rõ cậu ta đang hoảng sợ vì điều gì.

Đó là một bí mật mà cậu ta đã che giấu trong một thời gian dài, tinh vi và thông minh.

Stepan ngồi trên cái nệm cũ mà trước đó chúng tôi đã vứt vào trong cái góc ấy.

Cậu ấy ngồi dậy, lưng tựa vào tường, và khi tôi đi vào trong, cậu ấy nhìn tôi chằm chằm, với ánh mắt rất khó hiểu, không phải giận dữ, chỉ là ánh mắt trống rỗng: "Armin."

Tôi đứng trước mặt Stepan, chỉ nói: "Có vẻ cậu đã khoẻ lại."

"Cậu đã cứu tớ, Armin.

Cảm ơn vì điều đó."

Rồi cậu ấy cúi xuống, không nhìn tôi, tay cậu ấy khẽ đan vào nhau và không khó để nhận ra nó run rẩy.

Tôi vẫn im lặng.

Sau cùng, tôi hỏi: "Cậu định hỏi tớ về sự biến mất của cái khăn vải trên đầu cậu à?"

Cậu ấy vẫn không trả lời, tôi đưa tay ra trước mặt cậu ấy và từ từ mở lòng bàn tay: "Cả cái này nữa."

Stepan nhìn thấy thứ trong tay tôi và mặt cậu ta chỉ trắng bệnh, một nỗi sợ hãi lớn đến mức nó có thể biến thành âm thanh tiếng trái tim trong lồng ngực cậu ta đang đập dữ dội.

Tôi nói nhỏ, âm thanh chỉ vừa đủ để hai chúng tôi nghe thấy: "Cậu là người Do Thái.

Cậu đã lừa gạt tớ."

"Tớ không lừa gạt cậu!"

Stepan hốt hoảng rướn người về phía trước và ngẩng đầu nhìn tôi: "Tớ chỉ không nói ra thôi.

Tớ chưa từng nói sai sự thật điều gì.

Nhưng tớ không thể nói chuyện đó, vì nó liên quan đến mạng sống của tớ!"

"Tớ phải sống sót để trở về Ukraina, tớ chỉ muốn gặp lại cha tớ, anh và chị của tớ."

Tôi hỏi: "Vì sao cậu lại mang nó bên mình, cậu không sợ nó sẽ đem lại nguy hiểm à?"

Stepan lắc đầu: "Tớ biết là nguy hiểm, nhưng đó là kỉ vật duy nhất của mẹ tớ.

Tớ không thể vứt nó đi, tớ chôn nó ở một vị trí trong trại lao động trước khi bị khám xét, cố gắng ghi nhớ vị trí, sau khi qua đợt khám xét, tớ đã cố giấu nó trên đầu."

Tôi chỉ có thể đứng bất động ở đó, nhìn những giọt nước mắt tuyệt vọng trên gò má cậu ấy.

Tôi hỏi: "Tớ biết lính Đức luôn kiểm tra kĩ lưỡng, lùng soát để tìm ra những người Do Thái đang ẩn nấp.

Tại sao họ không phát hiện ra cậu?"

"Tớ là con lai.

Mẹ tớ là người Do Thái, cha tớ là người Cossack, nhìn tớ giống người Cossack, không giống người Do Thái.

Người Do Thái theo mẫu hệ, dù cha tớ là người dân tộc khác, tớ vẫn được công nhận là người Do Thái.

Giấy tờ của tớ chỉ ghi là Ukrainian, lính Đức bắt được tớ khi chúng tớ đang cố di chuyển từ Lviv về Moskva, họ chỉ nghĩ tớ là một người Cossack."

Stepan xin tôi trả lại ngôi sao David cho cậu ấy, và cầu xin tôi: "Làm ơn, Armin, đừng nói với người khác.

Tớ chỉ muốn được sống và được về nhà.

Cậu biết không Armin, tớ đã từng gặp nhiều đứa trẻ Do Thái khác, có những đứa vẫn đang ở các trại tập trung, có những đứa bị treo cổ trên mấy cái xà ngang gần hàng rào thép gai, số khác thì bị đưa vào những phòng hơi ngạt và tớ không bao giờ thấy chúng trở ra nữa."

Tôi bắt đầu suy nghĩ.

Sẽ thế nào nếu cha tôi biết tôi đang che giấu thân phận của một người Do Thái?

Cho dù ông ấy không bao giờ quan tâm đến chính sách bài Do Thái của Đảng Quốc Xã, ông ấy cũng sẽ không bao giờ tha cho tôi nếu biết tôi dính líu tới người Do Thái.

Có thể cha tôi sẽ bắn tôi chết luôn để không ảnh hưởng đến ông ấy và anh Heinrich.

Nhưng rồi tôi đã hạ quyết tâm.

Tôi không cần biết cậu ấy là người Slav, người Cossack hay người Do Thái, tôi cóc thèm quan tâm cái gọi là chủng tộc hạ đẳng mà bọn họ nói.

Vì cũng chính đám người đó đã gọi tôi là đứa con trai tạp chủng chứ không phải con trai của chủng tộc Đức thượng đẳng.

Mặc dù cha tôi đã tạo cho mẹ tôi một hồ sơ ghi rằng bà thuộc chủng tộc người Đức ở khu vực Áo - Hung, nhưng mẹ tôi là một người Hungary gốc Uralic.

Người Hungary không bị xếp vào nhóm chủng tộc hạ đẳng như Do Thái hay Slav, nhưng vẫn bị xếp thấp hơn Aryan.

Chúng chỉ cần biết tôi tóc xoăn và nâu, mắt màu hạt dẻ, nhìn chẳng giống người Đức.

Đám học sinh ở trường luôn miệt thị và gọi tôi là 'thằng nhãi Hungary', chúng nhắc đến mẹ tôi bằng cụm từ như 'người đàn bà Hungary', hay 'người đàn bà công dân hạng hai đó'.

Chúng nói với tôi rằng, cha tôi thật kì lạ, ông ấy là sĩ quan mang dòng máu quý tộc Phổ, và rồi ông ấy kết hôn với một người phụ nữ Hungary, còn chẳng phải quý tộc, để sinh ra một đứa con trai thất bại và hạ đẳng giống như tôi.

Có lần Erich nói với tôi rằng: "Biết đâu cha mày ghét mày vì mày giống mẹ mày?

Nhỉ?

Và hẳn là ông ấy cũng đánh mẹ mày đúng không?

Vì bà ta là một người đàn bà thấp kém."

Tôi đã phản bác quyết liệt.

Tôi chưa bao giờ thấy cha đánh mẹ, ông ấy cũng không chửi mắng mẹ, đó là điều hiếm hoi khiến tôi cảm thấy ông cũng có một điểm tốt.

Nhưng đám con trai đó không tin.

Chúng nói rằng tôi nói dối.

Thằng Erdmann von Neumann, con trai của lão Trường ban Tài chính quận đã làm như thể hào hứng và kể rằng ngay cả cha nó cũng đánh mẹ nó, một người đàn bà Đức, huống hồ là một người đàn bà Hungary như mẹ tôi.

Tôi chỉ nói với nó rằng: "Vậy thì... cha mày còn tệ hơn cả cha tao.

Và mẹ mày thì thật xui xẻo vì có đứa con trai như mày."

Vì thế chúng đã đánh tôi, tất nhiên là tôi không thể thắng được.

Về sau, khi tôi kể với Heinrich về chuyện đó trong nước mắt, anh chỉ sững sờ đến chết lặng.

Tôi hỏi anh rằng, có phải anh cũng bị bạn bè ở trường miệt thị như thế không.

Anh im lặng, rồi anh khẽ lắc đầu.

Thì ra bọn họ không miệt thị Heinrich như tôi.

Tôi dường như đã hiểu được lý do.

Họ cũng biết anh có mẹ là người Hungary, nhưng chẳng sao cả.

Anh có tóc vàng tro sáng màu và mắt xám, tuy không có mắt xanh dương và tóc vàng óng lý tưởng như tuyên truyền của Đế chế về chủng tộc, nhưng anh vẫn y hệt một người Đức thuần chủng, anh có dáng vẻ toát ra khí chất của tầng lớp thượng lưu.

Họ chỉ cho rằng dòng máu Aryan thuần chủng và dòng máu quý tộc trong anh đã lấn át hết cái dòng máu Hungary thấp kém.

Anh cao lớn, điển trai, anh mạnh mẽ và xuất sắc, thế thì anh chính là đứa con trai Aryan ưu tú và vượt trội của Đệ Tam Đế chế.

Chứ không phải thứ rác rưởi giống như tôi.

Tôi đã nghĩ, cha tôi không ghét mẹ, cũng không ghét cái gọi là dòng máu Hungary.

Ông ấy chỉ đơn giản là ghét tôi, ghét đứa con trai vô tích sự và ngu ngốc như tôi mà thôi.

Tôi lặng lẽ nhìn ngôi sao David trong lòng bàn tay mình, và tôi lại nhớ đến mẹ tôi.

Dù cho lũ người đáng ghét ấy miệt thị tôi bằng những lời tàn nhẫn thế nào, tôi cũng chưa từng ghét mẹ tôi.

Tôi tự hào vì thừa hưởng mái tóc nâu và mắt hạt dẻ.

Tôi tự hào vì tôi có một người mẹ Hungary, nói trôi chảy tiếng Đức, tiếng Latin, chơi thành thạo dương cầm, vĩ cầm và cả cello.

Đối với tôi, mẹ tôi là người phụ nữ đẹp nhất trên đời.

Tôi thu tay về và nói: "Tớ sẽ không bao giờ nói với ai.

Nhưng tớ sẽ giữ ngôi sao này cho đến khi cậu tự do, khi đó tớ sẽ trả nó cho cậu."

"Không!

Nó rất nguy hiểm, Armin."

"Tớ có rất nhiều chỗ để giấu nó, nhà tớ rộng lắm, thật đấy.

Không ai có thể tìm ra được đâu.

Nếu nó ở trên người cậu thì sẽ nguy hiểm hơn.

Stepan, nếu cậu muốn sống...

Tớ sẽ giữ nó cẩn thận như những món quà của mẹ tớ đã cho tớ vậy, tớ hứa đấy."

Tôi đã mang ngôi sao David về phòng, nắp gỗ trên cùng của cây đàn dương cầm, tôi có để một hộp nhạc kiểu Thuỵ Sĩ, nó là hộp nhạc mẹ tôi tặng tôi vào sinh nhật 6 tuổi.

Bên trong vẫn còn nguyên lớp lót nhung và những bánh răng bằng đồng mạ vẫn chuyển động trơn tru.

Tôi lật lớp lót nhung lên, dùng móng tay ấn cái gờ nhỏ sâu bên dưới, mở cái nắp gỗ lên, để lộ ra một khoảng trống hẹp dưới những bánh răng, tôi đặt ngôi sao David vào trong đó, xoay nắp gỗ về vị trí cũ và đậy tấm lót nhung lên.

Đó là nơi tôi để một cái đồng hồ bỏ túi kiểu Phổ có dây bạc, trên đó có khắc tên và ngày sinh của tôi, với dòng chữ nhỏ 'Ehre und Pflicht' - 'Danh dự và bổn phận'.

Cha tôi đã lấy nó làm quà mừng đầy tháng cho tôi, có lẽ hồi tôi mới sinh ra, cha tôi vẫn chưa ghét tôi như bây giờ.

Ngoài ra trong hộp nhạc còn có một mặt dây chuyền đóng kín do bà của tôi, nữ Tử tước xứ Blauenfels tặng.

'Hôm nay tôi và Stepan có một bí mật, chỉ hai chúng tôi, và tôi đã hứa sẽ giữ kín bí mật đó bằng mọi giá.

Đó không phải là một thoả thuận, chỉ là một lời hứa.'
 
Tiếng Vọng Của Cây Dương Cầm - Das Echo Des Klaviers [Sp]
Spank film scene (1)


Mấy chap này đang ăn chay, up tạm ít scene nè. 💁🏻‍♀️

[Phim Italia - Unbroken 2014]

[Tại đây có đăng tải GIF hoặc video.

Hãy cập nhật ứng dụng ngay bây giờ để hiển thị.]

[Phim Australia - My Brother, Jack 2001]

Scene 1

🥹 Ê tôi up được nó lên rồi nè.

Má nó bị YouTube gõ 3 lần, dù để chế độ không công khai.

( Cái này tôi nhặt trên bilibili.)

[Tại đây có đăng tải GIF hoặc video.

Hãy cập nhật ứng dụng ngay bây giờ để hiển thị.]

Scene 2

[Tại đây có đăng tải GIF hoặc video.

Hãy cập nhật ứng dụng ngay bây giờ để hiển thị.]

[Phim Thuỵ Điển 2001, quên mịa tên rồi]

[Tại đây có đăng tải GIF hoặc video.

Hãy cập nhật ứng dụng ngay bây giờ để hiển thị.]

[Phim Đức, Deutschstunde 1971]

[Tại đây có đăng tải GIF hoặc video.

Hãy cập nhật ứng dụng ngay bây giờ để hiển thị.]

Còn vài cái nữa sẽ up sau khi end truyện.
 
Tiếng Vọng Của Cây Dương Cầm - Das Echo Des Klaviers [Sp]
(7)


Khi mùa đông đến, tuyết đã phủ trắng xóa mấy cây thông trong vườn, mẹ tôi lại mua cho tôi một cái áo khoác lông mới.

Tôi đã nói rằng tôi không cần thêm nữa, chúng đã chật cả tủ đựng đồ rồi, nhưng mẹ tôi không bao giờ quan tâm.

Tôi hỏi mẹ: "Những người Ostvolk có bị lạnh cóng không hả mẹ?"

Mẹ dùng tay bịt miệng tôi, bà vội vàng quay lại nhìn cha tôi, ông vẫn đang ngồi trên ghế đọc báo và uống cà phê buổi sáng.

Cha gấp tờ báo lại, nhìn tôi và nói bằng giọng cảnh cáo: "Đừng có nhắc đến Ostvolk."

Tôi ngước mắt lên và nhìn mẹ, bà chỉ vỗ nhẹ vào vai tôi và lắc đầu.

Sau khi cha tôi rời khỏi nhà, tôi lại hỏi mẹ tôi: "Con có thể mang áo khoác cũ của con cho họ được không?"

"Không, không được đâu con trai.

Nhưng mẹ sẽ thử nói chuyện với cha con, được chứ?

Bây giờ con cần phải đến trường."

Trường Gymnasium của tôi là một trường hàn lâm truyền thống của Phổ, nơi vẫn còn giữ giáo trình cũ dạy tiếng Latinh, Hy Lạp, triết học hay âm nhạc cổ điển.

Khác với những trường Thiếu sinh quân, chúng tôi không phải học giáo trình liên quan đến quân sự hay Chủ nghĩa Quốc xã, tuy nhiên vẫn phải tham gia những buổi huấn luyện Hitlerjugend bắt buộc vào chiều thứ ba và thứ sáu của một tuần nào đó trong tháng.

Chúng tôi phải mặc đồng phục Đoàn Thanh niên Hitler, mang theo đồ để dựng lều cắm trại và vật dụng cần thiết, tập hành quân, tập ném lựu đạn giả và các kĩ năng quân sự.

Tôi ghét những buổi huấn luyện sau giờ học, ghét những cuộc hành quân vào rừng làm chân tôi muốn gãy, và ghét việc họ hét vào tai tôi 'Heil Hitler!', 'Heil Führer!' mỗi khi tôi không thể đứng thẳng dưới cái nắng gay gắt.

Những đứa đáng ghét đến từ Đoàn Thanh niên, chúng kiêu căng như thể nghĩ mình là những nhà lãnh đạo thực sự.

Tất nhiên, có nhiều bạn học cùng lớp của tôi thích những buổi huấn luyện, thậm chí một vài đứa còn quyết tâm rằng sau này sẽ vào học ở những trường đào tạo sĩ quan SS, thề trung thành với Đảng và Quốc trưởng.

Bây giờ là mùa đông, tuyết ngập đến mắt cá chân, gió thì thổi từng cơn buốt giá, tôi đứng dưới sân tập cùng những học sinh khác, trong bài tập nhảy qua xà ngang, tôi thậm chí không bật qua được mà khiến xà ngang rơi xuống đất.

Mấy đứa trong lớp lại bắt đầu cười nhạo: "Sao mày yếu đuối thế?

Tiểu thư von Hartenfels."

"Armin, nếu mày là con gái thì chắc là tao cũng thích mày đấy."

Erich Keller nói như thế khi tôi quay về vị trí, sau đó nó cười phá lên.

Thằng đó có cha là Thẩm phán toà án Wunsdorf.

Tôi huých vào vai nó và đi về cuối hàng, Erich không buông tha cho tôi: "Mày có định về nhà mách cha mày không?"

Sau khi ký điểm danh, tôi đứng dậy và biến mất khỏi hàng.

Đó là cách mà tôi vẫn làm để trốn vài buổi huấn luyện.

Không có ai chơi với tôi, vì vậy cũng chẳng ai quan tâm đến việc có một đứa như tôi tồn tại trong đoàn hay không.

Mấy đứa lớn tuổi hơn chúng tôi thuộc Đoàn Thanh niên thì không bao giờ có thể quản lý được hết nhiều học sinh như vậy và chúng cũng không bao giờ chú ý đến những hàng cuối, Có nhiều lúc sau khi di chuyển đến vị trí dựng trại, mắt cá chân tôi sưng lên, mùa hè thì say nắng, mùa đông thì bị cóng, thỉnh thoảng bị ốm và phải nghỉ học vài ngày.

Mẹ tôi luôn phàn nàn rằng thể trạng của tôi quá yếu mà lại có quá nhiều buổi huấn luyện.

Nhưng dù sao cũng không có cách nào khác.

Tôi đi thẳng đến phòng tập đàn ở cuối hành lang toà nhà cuối trường, lại như thường lệ ngồi vào cây dương cầm đối diện bức tượng bán thân của Mozart.

Với một người nhạy cảm và tự cô lập khỏi xã hội như tôi, nơi này có vẻ là một nơi trú ẩn tuyệt vời, vì nó nằm ở nơi vắng người qua lại.

Giáo viên dạy âm nhạc cổ điển rất yêu quý tôi, đó là một cựu binh Thế chiến thứ nhất, thầy thậm chí đã cho tôi mượn chìa khóa dự phòng để có thể vào trong mỗi khi tôi muốn tự tập đàn.

Mọi thứ cứ trôi đi như vậy.

Tôi thích trường Gymnasium quá.

Ở khía cạnh lựa chọn môi trường học tập, tôi biết ơn cha tôi vì đã gửi tôi đến đó, nơi mà tôi không quá bị gò ép trong những lý tưởng của Quốc xã.

Mặc dù tôi hiểu rằng cha tôi không nghĩ đến vấn đề đó và cũng không phải là vì tôi, ông đơn giản là bảo thủ và cố chấp với lý tưởng của chính bản thân mình.

***

Mùa đông, cây sơn trà đã rụng hết sạch lá, trơ lại cành cây khô khốc với những lớp tuyết đọng trên từng nhánh gai, có lớp băng mỏng trên vài quả đỏ còn sót lại từ cuối mùa thu.

Stepan đã nói chuyện với tôi bằng một số câu tiếng Đức dài hơn, nhưng chúng tôi vẫn chủ yếu nói tiếng Anh.

Tôi hỏi cậu ấy rằng: "Gần đây tên quản sự có đánh mọi người không?"

"Có, nhưng ít."

Stepan trả lời, nhún vai một cái.

"Nhiều khi hắn tức lắm, mà tớ cũng không còn sợ hắn nữa."

"Tớ đã bảo với mẹ tớ rằng những người làm sẽ bị lạnh, thế là bà ấy đã nói chuyện với cha tớ, cha tớ nói 'sao cũng được', ha ha.

Mẹ tớ rất tốt bụng đúng không?"

Tôi cười và nói.

"Đúng thế, cậu rất may mắn, Armin.

Thế còn anh trai cậu thì sao?"

Stepan hỏi.

Tôi nghĩ một lúc rồi nói: "Anh tớ à?

Anh ấy tên là Heinrich, anh ấy giỏi lắm, lúc nào cũng đứng đầu các kì thi, sau này anh ấy sẽ làm sĩ quan đấy."

Tôi thấy sắc mặt Stepan tối sầm đi, tôi vội vàng nói: "Nhưng anh ấy không phải người xấu.

Anh luôn vui tính và tốt với tớ.

Tớ nhớ anh ấy từng tức giận khi nghe một bản tin nói về việc hành quyết người Do Thái.

Anh ấy nói, chỉ có kẻ hèn mới giết những người không có sức phản kháng."

Anh tôi vẫn luôn như thế, anh là người theo chủ nghĩa anh hùng.

Khi còn nhỏ, anh vẫn luôn nói với tôi rằng, giá như anh có thể đánh bại quái thú như trong những câu truyện cổ tích, cưỡi ngựa trắng băng qua khu rừng hay đồng cỏ xanh, mang nàng công chúa trở về lâu dài của mình.

Rồi khi lớn hơn một chút, anh mơ ước trở thành người lính.

Anh tin rằng mình sẽ chiến đấu để bảo vệ quê hương, bảo vệ những đứa trẻ như tôi trong giảng đường, bảo vệ những người phụ nữ như mẹ chúng tôi, và cả những bông hoa Erika khoe sắc tím đỏ dưới ánh chiều tà.

Anh sẽ phụng sự Đế chế, trả thù những bất công và nỗi nhục nhã mà nước Đức phải gánh chịu sau Thế chiến thứ nhất, giành lại những gì thuộc về các hậu duệ của Đế chế La Mã Thần thánh và Đế quốc Đức.

Nhưng rồi, chính tôi lại nhìn thấy anh ngồi bên cửa sổ, đăm chiêu nhìn bình hoa thạch nam màu đỏ tím mà mẹ tôi vừa cắm, anh hỏi cha tôi rằng: "Có anh hùng nào lại đẩy những đứa trẻ con vào những căn phòng đóng kín, để cho chúng chết vì khí độc, hay đẩy chúng xuống những cái hố đào sâu ba mét, nã một loạt đạn súng trường rồi vùi chôn chúng ngay tại nơi chúng bị giết?"

Tôi nhớ, khi đó cha tôi không tức giận hay mắng chửi anh, điều mà tôi nghĩ rằng hẳn là ông ấy sẽ làm.

Cha tôi chỉ hút thuốc, và ông ấy bình thản nói rằng: "Bổn phận của con là trở thành một sĩ quan.

Thế thôi.

Cũng đừng mơ mộng nữa, con chẳng thể cứu thế giới được đâu.

Điều duy nhất giúp con tránh khỏi việc phải làm những chuyện đó là trở thành một sĩ quan của Bộ Tổng tham mưu.

Còn lại thì cha sẽ để con tự quyết định và cha sẽ không can thiệp."

Tôi không nghĩ đến chuyện ấy nữa, những chuyện khiến cho tâm trạng của tôi nặng nề và mệt mỏi.

Tôi nhắm mắt lại một lúc, đột nhiên nghĩ đến một chuyện thú vị, tôi nói với Stepan rằng: "Thời Phổ, nhà von Hartenfels của chúng tớ là tầng lớp quý tộc đấy.

Cậu thấy không, họ của tớ có 'von'.

Đó là đặc điểm của các gia tộc quyền quý.

Anh tớ và cha tớ đều được nuôi dạy bằng văn hóa quân sự Phổ, vì thế họ sẽ không giết dân thường, đàn bà và trẻ con đâu.

Anh tớ nói với tớ như vậy."

"Từ 'von' đó có nghĩa là gì?"

Stepan hỏi tôi.

Tôi giải thích: "Một tiền tố quý tộc.

Nó có nghĩa là 'đến từ' hoặc 'của'.

Họ của chúng tớ thường là tên lãnh địa đầu tiên của tổ tiên.

Tổ tiên của tớ ban đầu từng trị vì Hartenfels.

Nếu như vẫn còn Phổ, có thể cha tớ sẽ là một Công tước, khi đó tên của ông ấy có thể hiểu là Công tước Johann Alfred Karl Friedrich Reinhard từ lãnh địa Hartenfels."

Tôi lại suy nghĩ và bắt đầu cười.

"Còn tớ sẽ là Bá tước Hardrian Theodor Armin Wilhelm đến từ lãnh địa Hartenfels."

"Sao chúng dài thế?

Và tên cậu thì không phải cái ở đầu tiên sao, Armin?"

Tôi giải thích: "Tớ không biết, nhưng có vẻ quý tộc cũ thường có tên dài.

Tên chính có thể đặt ở bất cứ đâu, không nhất thiết phải ở đầu.

Vì thế trên giấy tờ, chúng tớ phải gạch chân dưới tên chính để phân biệt.

Nó phiền phức lắm."

Sau đó, tôi cười phá lên và nói: "Tên anh tớ còn dài hơn cả tên tớ, tên anh ấy là Paulus Wolfgang Maximilian Heinrich Ludwig Klaus von Hartenfels.

Anh ấy phát điên vì cái tên, lý do là khi làm bài thi, chúng tớ phải ghi đầy đủ họ và tên.

Anh ấy cứ suốt ngày kêu lên rằng, 'Chúa ơi!

Quý tộc cái quỷ quái gì chứ?'"

Stepan nói: "Gia đình cậu rất may mắn đấy.

Ở Nga, sau cuộc cách mạng, họ đã xử bắn Nikolai II và nhiều thành viên vương tộc."

Tôi hỏi: "Stalin xử bắn họ à?"

Cậu ta cười phá lên và nói: "Hồi đó chưa phải Stalin, đồ ngốc.

Đó là Lenin, nhưng ông không biết việc ấy, những người bolshevik đã tự ý hành động và ông ấy khá buồn sau khi biết chuyện.

Hồi đó đất nước của tớ rất hỗn loạn."

Tôi bật cười, vì cậu ta gọi tôi là 'đồ ngốc'.

Ngoài cha tôi ra, mọi người đều nói tôi thông minh.

"Armin!"

Tôi quay đầu lại, Paula đứng ngay phía sau chúng tôi, vẻ mặt như là có chuyện gì đó.

Chị ấy nói: "Cha cậu vừa về nhà đấy.

Đừng có ở đây nữa."

Tôi vội vàng đứng dậy, ôm cuốn sổ và chạy về trước khi để cha tôi biết tôi chơi ở chỗ này.

"Tớ sẽ gặp lại cậu sau nhé!"

Tôi bước vào trong nhà, đứng ở lối vào phủi phủi lớp tuyết dính trên quần áo.

Chị Paula lấy một cái khăn, ngay lập tức cúi xuống và lau sạch mũi giày cho tôi.

Cha tôi lúc nào cũng yêu cầu chúng tôi phải giữ khuy áo ngay ngắn, mũi giày thì phải sạch đến mức soi gương được.

Ông ấy sẽ phát rồ mỗi khi nhìn thấy quần áo hay giày của chúng tôi bị bẩn.

Đó thực sự là một căn bệnh.

Cha và mẹ tôi đang ở phòng khách, cha tôi ngồi ở ghế sofa, ngay dưới một tấm bản đồ quân sự thời Phổ đóng khung trên tường.

Mẹ tôi thì ngồi ở cái ghế bập bênh cạnh lò sưởi.

"Hôm thứ ba mày đã tham gia huấn luyện phải không, Armin?"

Tôi nhìn cha tôi và trả lời: "Vâng."

"Ổn chứ?"

"Mọi thứ đều ổn."

Tôi đáp mà không nhìn thẳng cha tôi.

Nhưng tôi nghĩ ông chỉ đơn giản là hỏi chuyện ở trường như mọi lần, hơn nữa tôi đã điểm danh đầy đủ.

Rồi cha tôi bỗng nhiên mỉm cười, ông ấy không bao giờ cười một cách khó hiểu như thế.

"Đọc đi."

Cha tôi đưa cho tôi một tờ giấy.

Đó là một bức thư do Đoàn Thanh niên Hitler gửi đến, với thông báo rằng tôi không tham gia buổi huấn luyện một vài lần.

Tôi run rẩy cầm tờ giấy trên tay, tôi chỉ nói: "Con đã điểm danh đầy đủ."

"Sau khi kí điểm danh thì sao?"

Cha tôi nhìn tôi, còn nụ cười của ông thì khô khốc và cứng đờ, "Có người đã báo cáo với Đoàn Thanh niên.

Đừng nói dối, Armin."

Lời nói của cha tôi làm đầu tôi choáng váng, tôi chỉ đứng và im lặng.

Sau đó tôi nhìn mẹ, nhưng bà chỉ lặng lẽ cúi đầu và không nhìn tôi.

"Con bị thương ở mắt cá chân sau khi thực hiện bài tập xà ngang, cho nên con đã vắng mặt hôm thứ ba."

Cha tôi nói với mẹ tôi: "Gọi bác sĩ đi, Julianna, chúng ta sẽ để bác sĩ kiểm tra thử xem."

Mẹ tôi định đứng dậy, lúc đó tôi biết tất cả những lời nói của mình sẽ chỉ làm câu chuyện càng đi vào ngõ cụt và cuối cùng sẽ chỉ biến thành một chuỗi rắc rối, tôi hốt hoảng nói: "Không, đừng gọi bác sĩ, thưa mẹ."

Và thế là mẹ tôi thở dài chán nản, bà lại ngồi xuống chỗ cũ, "Thế thì nói cho mẹ biết đi.

Con đã ở đâu vậy?"

"Con đến phòng âm nhạc.

Hôm đó con thực sự hơi mệt một chút."

Tôi cúi đầu, nhìn xuống mũi giày của mình, một cảm giác trống rỗng bao phủ lấy tim tôi, cứ như thể bị ngã vào lớp tuyết dày và cứ thế chìm vào trong đó, không thể cử động vì quá lạnh, chỉ có sự bất lực và sợ hãi.

Đó là hồi tôi 8 tuổi, một số đứa bạn bắt nạt tôi trên đường đi học về, chúng đẩy ngã tôi vào một cái hố tuyết.

Heinrich đã kéo tôi ra khỏi đống tuyết khi mà tôi sắp mất ý thức, và ngày hôm sau thì tôi bị ốm nặng.

Anh tôi đã đến tìm từng đứa đã bắt nạt tôi hôm đó và đấm chúng một trận.

"Chỉ một buổi thôi à?

Hãy suy nghĩ kĩ rồi trả lời, Armin."

Giọng nói khàn khàn của cha tôi kéo tôi về với thực tại.

Tôi không có chút dũng khí nào cả, tôi biết rõ mặt và tai mình đã đỏ đến mức nào, thế là tôi khóc và trả lời: "Vài buổi ạ."

"Bao nhiêu buổi?"

"Có lẽ là bốn... hoặc năm."

Mẹ tôi nhắm mắt lại, tay siết chặt cái mặt dây chuyền hình thập tự ở ngực và bắt đầu lẩm bẩm như là cầu nguyện.

Cha tôi đứng dậy, nhìn mẹ tôi và nói: "Julianna, ngày mai tôi sẽ bị kỉ luật, nhờ đứa con trai yêu quý của em.

Có lẽ em nên cầu nguyện rằng chồng mình không bị cách chức hoặc tệ hơn là bị giáng chức và điều chuyển công tác vì chuyện vớ vẩn này.

Giờ thì lấy nó ra đi."

Gương mặt của mẹ tôi đầy suy sụp và buồn bã, bà đứng dậy mở cái tủ ngay bên cạnh lò sưởi và lấy cái roi mây ra.

Mẹ tôi đưa cho cha tôi và quay lưng đi về phòng của mình.

Tiếng cánh cửa đóng lại, như thể một nhát đinh đóng vào lồng ngực của tôi.
 
Tiếng Vọng Của Cây Dương Cầm - Das Echo Des Klaviers [Sp]
(8)


Bụng tôi đói cồn cào, tôi đã chuẩn bị tinh thần cho bữa tối chứ không phải cho một cuộc hành quyết với cái bụng rỗng.

Đồng hồ chỉ đúng 6 giờ 30 phút, tôi không biết là thời gian đã trôi qua nhanh như thế.

Thế rồi, khi tôi định tháo khuy áo, lại có một cuộc điện thoại gọi tới.

Cha tôi đã đi nghe điện thoại, dựa vào những gì cha tôi nói với người ở đầu dây bên kia, tôi biết họ nói về chuyện gì.

Cha tôi đặt ống nghe của chiếc điện thoại bàn xuống, một tiếng 'cạch' phát ra.

Ông đứng bất động ở đó một lúc, rồi rút tẩu thuốc bằng gỗ trong túi áo ở ngực ra.

Từng động tác chậm rãi, mùi thuốc Virginia nhẹ nhàng lan toả, cha tôi rít một hơi thật sâu, rồi nhả ra một làn khói màu xám nhạt.

Ông bắt đầu nói chuyện với tôi, nhưng lại giống như đang độc thoại, giọng nói xa xăm và trầm thấp như thể nó phát ra từ dưới lòng đất.

"Thằng chỉ huy mang hàm Thiếu tá của Đoàn Thanh niên đã hỏi rằng: 'Ngài có chắc con trai ngài trung thành tuyệt đối với Đế chế?

Và cả chính bản thân ngài?'" Cha tôi nhếch môi: "Tao thậm chí đã bắt đầu phục vụ quân đội Đức từ thời Cộng hoà, khi mày còn chưa được sinh ra.

Và bây giờ chúng chất vấn tao như thế."

Nước mắt tôi tuôn rơi như mưa, và tay tôi vội vã cởi từng cái khuy áo dạ bên ngoài ra.

"Cả áo len và áo sơ mi.

Không cần lãng phí thời gian vào việc nói chuyện nữa, mọi chuyện đã rõ ràng rồi."

Cha tôi nói, trong khi đặt cái roi mây xuống bàn.

Có vẻ ông ấy không định dùng nó, vì ông ấy đã lấy cái thắt lưng trên tường xuống.

Trong lúc cha tôi nắm lấy cái khóa thắt lưng và cuốn nó một vòng qua nắm tay, tôi đã cởi xong giày và cái quần dài ra, chỉ còn lại một cái quần mỏng bên trong.

Cha tôi vẫn chờ đợi, còn bàn tay tôi thì đã run đến mức không hành động theo ý mình được nữa.

Tôi ngẩng đầu lên và nói trong tiếng nức nở: "Con không muốn tham gia huấn luyện... vì họ luôn bắt con phải nói những thứ mà con không hiểu."

"Không ai cần mày hiểu."

Cha tôi cắt ngang lời nói của tôi, "Mày chỉ cần học được việc tuân lệnh, đó là việc đầu tiên mà một người mang họ von Hartenfels cần phải học, và đừng bao giờ làm ảnh hưởng đến cha hay anh trai của mày."

Tôi nằm xuống ghế sofa, tay duỗi về phía trước và bám chặt lấy mép ghế cong lên, áp mặt vào lớp đệm lót mà hiện tại tôi cảm thấy nó cứng đờ như một tảng đá.

Sau lưng tôi là một khoảng lặng, tôi cứ chờ đợi trong nỗi tuyệt vọng đó.

Rồi có một âm thanh dội lại, cái thắt lưng đó như một ngọn lửa liếm vào lưng tôi.

Cảm giác đau chưa xuất hiện ngay, nó bắt đầu nóng lên, và cuối cùng giống như bị bỏng.

Cái thắt lưng thứ hai làm cho tôi hét lên, rồi cái thứ ba, thứ tư,... không quá nhanh cũng không quá chậm, đều đặn và mạnh.

Tôi ép chặt người vào tấm đệm như thể sắp hoà làm một với cái ghế sofa.

"Con xin lỗi, con hứa sẽ không bao giờ làm như thế nữa đâu..."

Tôi không biết phải làm gì hơn, có lẽ không chỉ mẹ tôi, chính tôi cũng cầu nguyện rằng họ sẽ không kỉ luật nghiêm trọng đối với cha tôi.

Nếu ông ấy bị điều chuyển công tác thì mọi chuyện của hôm nay chưa kết thúc và đời tôi coi như hết.

Tôi không ngờ rằng mọi thứ lại trở nên như thế này.

"Những lời hứa của mày làm tao phát ốm, Armin.

Mày chỉ xin lỗi khi bị phát hiện thôi, mày đã có ba, hoặc bốn cơ hội sửa sai sau lần đầu tiên, và mày lãng phí tất cả."

Lực đánh dường như tăng lên, tôi vật vã trên cái ghế có chiều rộng chỉ hơn cơ thể một chút đó.

Đến khi cha tôi nói 'hai mươi', tôi đã ngã khỏi ghế và co người trên tấm thảm Ba Tư, cảm nhận được mùi len và hơi ẩm từ sàn gỗ bên dưới.

Tôi ngước mắt lên nhìn cha, và thấy ông cầm cây roi mây ban đầu lên.

Hoá ra, không phải ông ấy lo lắng cho tôi nên không dùng đến nó, chỉ là chưa đến lúc.

"Không!

Con không chịu được nữa.

Làm ơn."

Tôi khóc oà lên trong sợ hãi, mọi thứ cứ im lặng đến khó chịu, cánh cửa phòng mẹ tôi vẫn đóng chặt, chỉ còn lại một mình tôi trong cái không gian u ám này.

Cha tôi nhấc tôi dậy và đặt tôi nằm lại lên ghế, sau đó ông dùng đầu của cây roi gõ nhẹ vào bàn tay đang che phía sau của tôi.

"Đếm đến ba mươi đi.

Nếu mày còn dùng tay để chắn một lần nữa thì chúng ta sẽ bắt đầu lại từ đầu."

Tôi nghĩ là mình không thể đếm nổi đến mười.

Dù sao thì tôi chịu đau rất kém.

Cha tôi bắt đầu, tôi nghe thấy một tiếng 'vút' cắt vào không khí, và sau đó là cắt vào bên dưới đùi của tôi.

Một thứ âm thanh sắc bén như một lưỡi dao.

Tôi bật người lên, miệng há hốc ra, khi tôi chưa kịp hít thở thì cha tôi nói: "Đếm đi."

Thế là tôi bắt đầu đếm trong tiếng nấc, thậm chí tôi không nghe rõ những con số phát ra từ chính miệng của mình.

Nước mắt thì trào ra mất kiểm soát.

"Sáu."

"Bảy!"

"Aaa!"

Tôi giãy lên như một con cá, và vô thức đưa một tay ra sau.

Tôi đã hành động trước cả suy nghĩ, cơn đau đó lớn đến mức lấn át tinh thần của tôi.

Không khí chùng xuống, tôi không dám quay đầu lại, rồi cha tôi chỉ nói: "Được rồi, bắt đầu lại."

"Không!"

Tôi bật dậy và gào lên trong nước mắt.

"Con xin lỗi!

Đừng bắt đầu lại."

Nhưng sau đó tôi lại phải nằm xuống, chẳng có sự nhân nhượng nào ở đây cả.

Cứ mỗi một roi giáng xuống, cả người tôi lại khẽ giật lên.

Tôi đã khóc, la hét, rên rỉ và van xin, nhưng dần dần giọng nói của tôi bị những tiếng roi lấn át và cũng không có câu trả lời nào.

Lần này, tôi không còn đưa tay ra chắn nữa, để mặc cho vùng mông và đùi hứng chịu tất cả.

Đến roi thứ tám, tôi gần như không còn khóc được thành tiếng, chỉ thở hổn hển, mồ hôi ước đẫm trán và dưới cổ, cảm giác nhớp nháp làm tôi khó chịu.

Tôi chẳng còn sức mà đếm nữa.

Cha tôi cũng không thèm nhắc tôi vì chuyện đó.

Đến roi thứ hai mươi, tôi nằm im, đầu tôi dường như chỉ còn lại cơn đau và một khoảng trắng, cánh tay buông thõng khỏi ghế.

Qua đi một lúc, tôi mới nhận ra những ngọn roi không rơi xuống nữa, mặc dù chưa đến con số ba mươi.

Rồi trong đầu tôi hiện ra một loạt những chuyện trong quá khứ, dồn dập và lộn xộn.

Tôi nhớ từ khi còn rất nhỏ, trên người tôi đã có bao nhiêu vết sẹo, hình như hồi ấy tôi chỉ mới vài tuổi mà thôi.

Khi tôi khoảng năm tuổi, cha tôi tát thẳng vào mặt tôi ngay trên bàn ăn chỉ vì tôi nói rằng không thể ăn hết đồ ăn trên đĩa.

Tôi oà khóc, ông ấy túm lấy cổ áo, nhấc tôi khỏi bàn và tát tôi vài cái nữa, cho đến khi tôi im bặt, ngồi vào bàn và cố nhét từng miếng khoai tây, thịt nguội vào cổ họng đắng ngắt.

Mẹ tôi cúi gằm mặt, còn anh Heinrich chỉ sợ hãi nhìn tôi rồi tiếp tục ăn, trong khi tay cầm dao và nĩa của anh run rẩy như thể sắp đánh rơi chúng xuống đất.

Có thể là vì trước kia anh ấy chưa từng bị đối xử như thế.

Có những lần bàn tay tôi bị đánh đến mức sưng tấy vì không cầm dao nĩa đúng cách, không được ăn tối chỉ vì ngồi không đúng tư thế.

Cha tôi từng lấy gáy quyển sách dày cộp đập mạnh vào tay tôi vì viết chữ không đủ đẹp, làm ngón tay suýt trật khớp.

Tôi nhớ cả cái lần ông ấy dùng sợi dây da đánh đến mức lưng và đùi tôi ứa máu, năm tám tuổi.

Lần đó, ông ấy đã mắng tôi thậm tệ vì không thể học thuộc từ vựng tiếng Latin nhanh như anh Heinrich, và nói rằng bộ óc ngu ngốc của tôi không bao giờ tập trung vào việc học hành.

Tôi chỉ nói duy nhất một câu: "Con không phải anh Heinrich, mỗi người có một khả năng khác nhau nên đừng so sánh con với anh ấy."

Thế là cha tôi đánh tôi nhừ tử, vì cái tội cãi lời và dám hỗn láo với ông ấy.

Tôi lăn lộn dưới sàn nhà la khóc và van xin tha thứ, rồi ôm lấy chân mẹ, cầu xin bà cứu lấy con trai bà.

Tất cả những gì tôi nhận lại là những giọt nước mắt và sự im lặng của mẹ, còn trận đòn thì càng dữ dội hơn.

Anh tôi đã ôm chặt tôi trong lòng, dùng cơ thể mình che chắn và hứng chịu những cú đánh thay tôi, khi ấy cha tôi mới ngừng lại.

Khi cha dạy tôi cưỡi ngựa năm tôi chín tuổi, ông ấy thường đe doạ sẽ đánh tôi bằng một cái roi gân bò hay thứ gì đó đại loại như thế.

Ông ấy phát điên vì tay chân tôi cứ run bần bật mỗi khi ngồi lên yên ngựa và không thể nào khắc phục được.

Cha tôi kể với với tôi chuyện ông đến nhà Đại tá Muller và nhìn thấy ông ta đánh thằng con trai ngất xỉu, cái lưng anh ta bị xé nát, như thể đó chẳng còn là cơ thể con người.

Anh ta là một học viên SS Junkerchule, và anh ta chỉ sơ ý ngã ngựa trong lúc huấn luyện.

Cuối cùng, may mắn là cha tôi chỉ đánh tôi bằng một cành cây dẻ gai.

Về sau, khi mẹ tôi khóc lóc về việc đó, cha tôi chỉ nói rằng đừng làm quá vấn đề, ông ấy là một quý tộc Phổ, vì thế ông ấy không ngu mà làm theo gã Muller, và không muốn tốn cơm để nuôi một thằng con trai tàn tật.

Nhưng tôi đã bị doạ khiếp sợ đến mãi sau này vì lời đe doạ kinh khủng đó, nó ám ảnh tôi ngay cả trong từng giấc ngủ.

Tôi vẫn nằm trên ghế và rên rỉ.

Cha tôi đã ném cây roi sang một bên.

Ông ngồi xuống, một cách chậm rãi, bắt đầu lấy một ít thuốc trong túi da và nhét vào tẩu thuốc, sau đó châm lửa bằng cái bật lửa hộp vuông.

Khói thuốc lại cuộn lên dưới ánh đèn trần màu cam.

Sau khi rít vài hơi, cha tôi gõ nhẹ tẩu thuốc lên gạt tàn, dập dắt những tàn tro cháy dở, rút một cái khăn trong túi áo ra và lau cái tẩu thuốc cẩn thận.

Cuối cùng, ông đứng dậy và bước về phía phòng ngủ của mẹ tôi, gõ vào cửa hai cái và nói bằng giọng thản nhiên, "Julianna, xong rồi.

Làm gì đó đi."
 
Tiếng Vọng Của Cây Dương Cầm - Das Echo Des Klaviers [Sp]
(9)


Tôi ngủ suốt một ngày vì quá mệt.

Khi thức dậy, tôi đã không còn nhìn thấy cây dương cầm của tôi nữa.

Cha tôi đã ném đàn của tôi đi đâu đó, ông cũng nói rằng sẽ không cho tôi tham gia bất cứ buổi học âm nhạc cổ điển nào ở trường.

Mẹ tôi đã không nói gì, không một lời phản đối, bà hoàn toàn giữ im lặng như một bức tượng biết chuyển động.

Tôi đã khóc suốt cả chiều hôm ấy, không ăn và không chịu uống thuốc, tôi liên tục ấm ức với mẹ rằng: "Con chỉ cần cái đàn của con thôi."

Mẹ tôi không nói chuyện với tôi, bà cứ ngồi trên ghế, đôi khi nhìn tôi và lại lặng lẽ.

Có lẽ tôi lại bị sốt, hiếm khi mà tôi không phát sốt sau mỗi trận đòn.

Tôi cảm thấy cơ thể nóng bừng, đổ mồ hôi liên tục đến nỗi mẹ tôi phải thay khoảng sáu cái khăn lau mặt, nhưng mẹ cứ đắp chăn cho tôi.

Đôi khi, những vết thương lại nhói lên, nó đau nhức và rát kinh khủng mặc dù đã bôi thuốc.

Đến tối, tôi vẫn không chịu ăn gì, mẹ tôi đã nói câu đầu tiên với tôi kể từ buổi tối ngày hôm trước: "Đó là do con thôi, Armin."

Ngay cả mẹ tôi, người chưa bao giờ trách tôi vì bất cứ chuyện gì, bây giờ cũng nói rằng đó là lỗi của tôi.

Tôi sẽ chịu trách nhiệm cho hành động của mình, nhưng ít nhất không phải là đánh đổi bằng cây dương cầm đó.

Cha tôi đã trở về từ OKH vào khoảng thời gian nào đó mà trời đã tối, việc đầu tiên ông làm là bước vào phòng tôi khi vẫn còn mặc quân phục, giơ một tờ giấy ra trước mặt mẹ tôi.

Từ lúc nghe thấy tiếng giày da ở ngoài hành lang, tôi đã co rúm người trong chăn, giả vờ như đang ngủ.

Mẹ tôi hỏi: "Có nghiêm trọng không, Friedrich?"

"Bị kỉ luật khiển trách và đình chỉ chức vụ tạm thời."

Cha tôi đáp.

Mẹ tôi bật dậy khỏi ghế, tôi chỉ hé mắt nên không thể nhìn rõ gương mặt của bà, nhưng tôi biết bà đang hoang mang và lo lắng tột độ.

Còn cha tôi vẫn giữ thái độ bình tĩnh, "Chỉ hai tuần thôi, Julianna, và cũng sẽ không ảnh hưởng gì đến quân hàm."

Cha tôi tháo bao tay ra, ngồi xuống cái ghế cạnh cửa sổ, ông dường như đang thở dài, "Việc quan trọng nhất đây.

Thằng con yêu quý của em đã vi phạm kỉ luật nghiêm trọng.

Nó sẽ không có bất cứ cơ hội nào để vào các trường Napola hay Kriegsschulen.

Thậm chí ngay cả khi muốn vào học tại Trường Kĩ thuật Quân sự kiểu như Waffenschule Dresen, sẽ phải trải qua điều kiện xét tuyển khó khăn."

"Bây giờ thì tôi đã hết hi vọng với nó rồi.

Tôi chỉ mong mọi chuyện sẽ không ảnh hưởng đến con trai tôi, Heinrich."

Mẹ tôi kêu lên: "Đừng nói như thế, Armin cũng là con trai của anh!"

Bà đi đến bên giường, lúc đó tôi nhắm chặt mắt lại, lồng ngực của tôi đập dữ dội.

Cha tôi vẫn ngồi ở ghế và bắt đầu cằn nhằn: "Không, nó chẳng giống tôi điểm nào cả.

Nó giống hệt mẹ nó vậy, nhưng vấn đề ở đây là nó không phải một đứa con gái.

Và tôi không cần một đứa con trai như thế."

Cha tôi vẫn luôn gọi anh Heinrich là con trai của ông ấy, và gọi tôi là đứa con trai của mẹ tôi.

Đặc biệt là trong những cuộc tranh cãi.

Như thể ông ấy không muốn một đứa như tôi có chút dính dáng nào đến họ von Hartenfels của mình.

"Bây giờ anh đang đổ lỗi cho em à?"

"Tôi không đổ lỗi, Julianna, tôi chỉ đang nói sự thật thôi.

Đừng quy chụp như thế."

Cha tôi nói.

"Friedrich, em từng muốn đặt tên nó là Theodor, món quà vô giá mà Chúa đã trao cho em.

Nhưng chính anh đã bác bỏ và đặt tên nó là Armin.

Ngay từ đầu nó đã không thích hợp để sống cuộc sống này, cái tên đó đã trói buộc nó.

Rồi bây giờ anh lại ruồng bỏ nó như thế à, đồ tồi?"

Giọng mẹ tôi nghẹn ngào.

Bà chưa bao giờ tranh cãi với cha tôi một cách gay gắt đến vậy.

Từ trước đến giờ, bà vẫn luôn là một người phụ nữ điển hình của gia đình, dịu dàng và im lặng.

Đó là đức tính mà người ta nói rằng một người phụ nữ Aryan cần phải có.

Vì thế trong mỗi cuộc tranh cãi, hầu như mẹ tôi chỉ nói không quá hai câu và sau đó bà sẽ im lặng.

Cha tôi trả lời một cách chán nản: "Xin lỗi Julianna, có lẽ em đúng.

Tôi đã sai khi đặt tên nó như thế.

Thật đáng xấu hổ.

Tôi thậm chí không dám ngẩng đầu khi ra ngoài đường."

Tôi không thể kìm nén được, và thế là tôi khóc nức nở, đến mức mũi của tôi bị nghẹt.

Nước mắt tuôn ra như một dòng nước, không cách nào ngăn nó lại.

Mẹ tôi vội vàng đến bên cạnh và lấy khăn tay lau nước mắt cho tôi, "Armin, con thức dậy từ khi nào vậy?

Nghe mẹ này, cha con chỉ tức giận quá thôi."

"Không, bây giờ tôi đang rất bình tĩnh."

Cha tôi bác bỏ lời của mẹ tôi ngay lập tức, sau đó đứng dậy và bỏ ra ngoài, ông ấy thậm chí còn không thèm liếc mắt về phía tôi kể từ khi ông ấy bước chân vào trong phòng.

Nỗi tủi thân dâng lên trong lòng tôi như những cơn sóng, tôi không muốn làm người Đức, cũng không muốn làm người Phổ nữa.

Tôi nhớ mùa hè mà tôi đến Hungary hồi bảy tuổi, không ai đánh tôi vì tôi không ngồi thẳng lưng, không ai bắt tôi dậy từ năm giờ sáng, ngay cả đất ở Budapest cũng có mùi dễ chịu, không phải mùi ẩm của gỗ và cái cảm giác mùa hè cũng lạnh trong căn biệt thự bằng đá vôi

Họ không hiểu tôi nói, tôi cũng không hiểu họ nói, mọi cuộc nói chuyện của tôi và ông bà ngoại đều thông qua mẹ.

Dù vậy, chỉ cần nhìn vào ánh mắt trìu mến của bà tôi, không cần lời nói, không cần sự thấu hiểu ngôn ngữ, tôi có thể cảm nhận được một sự ấm áp khó diễn tả bằng lời.

Tôi nhớ hũ sữa chua trắng dịu, bên trên có mứt anh đào, và cả cái bánh pogacsa nóng hổi, những thứ chẳng bao giờ có ở Berlin, nơi mà tôi đã ngán với xúc xích hay beefsteak.

Người Hungary yêu nghệ thuật và âm nhạc, mẹ tôi nói người Hungary mạnh mẽ từ trong máu, chẳng ai dạy hay ép họ phải trở thành thép, phóng khoáng và tự do là một phần linh hồn.

Hungary không cứng như sắt đá, mà như mạch nước ngầm, càng bị chôn vùi càng biết tìm đường chảy.

Tôi đã phải nằm một chỗ trong ba ngày, khi cơn sốt vừa mới hạ xuống, cha tôi đã yêu cầu tôi viết một bản kiểm điểm theo yêu cầu của Đoàn Thanh niên Hitler.

Ông ấy thậm chí đã chuẩn bị cho tôi một tờ giấy khám sức khỏe của bệnh viện và trên đó ghi rằng tôi có thể lực yếu, không thể tham gia các hoạt động thể chất quá nhiều.

Hẳn là ông ấy đã yêu cầu bệnh viện làm giả.

Đó là lý do mà ông ấy muốn tôi viết vào trong bản kiểm điểm, một lý do mà nếu là người khác thì họ sẽ không bao giờ cho con trai họ viết vào, vì nó đồng nghĩa với việc cắt đứt mọi con đường liên quan đến quân đội.

Tất nhiên là chẳng ai nghĩ đến việc cần làm giả một lý do như thế.

Trong lòng tôi thoáng vui mừng vì chuyện đó.

Nhưng tôi cũng hiểu rằng, điều này chứng tỏ cha tôi đã chán ngán với tôi.

Cha tôi kéo cái ghế ra, rút trong xấp giấy ra một tờ giấy và đặt nó ngay ngắn trên bàn.

Tôi cố gắng đứng dậy một cách khó khăn, sau đó tôi chần trừ khi nhìn vào cái ghế gỗ cứng.

Ngay khi vừa ngồi xuống, tôi đã nghiến răng và đứng dậy, sống mũi tôi cay xè, tay bám vào lưng ghế.

Chỉ cần lớp vải chạm vào vết thương cũng đủ để khiến tôi đau đến mức nghiến răng.

"Con sẽ đứng viết."

"Ngồi xuống."

Cha tôi chỉ nói hai chữ, trên tay ông ấy lại là cái gậy chỉ bản đồ mà hầu như lúc nào cũng đem theo bên người.

Lúc này thì nó vẫn đang được gấp đôi lại.

Tôi sợ hãi và cắn chặt môi, từ từ hạ mình xuống, cả cơ thể tôi run bần bật, đầu gối co lại, tay bám vào mép bàn.

Một cơn đau sắc lạnh truyền thẳng lên đỉnh đầu, mắt tôi tối sầm lại, tay phải cầm cây bút lên.

Mồ hơi bắt đầu chảy xuống trên trán, tôi không thể nào tập trung khi trong đầu chỉ nghĩ đến việc giữ cho cơ thể thăng bằng và không ngồi hẳn xuống ghế.

Những dòng chữ đầu tiên nguệch ngoạc, cha tôi rút tờ giấy khỏi tay tôi và ngay lập tức xé bỏ.

Ông lấy một tờ giấy khác và đặt nó lên bàn, "Viết lại đi."

Tôi vừa viết vừa lấy tay lau nước mắt nhưng chúng cứ liên tục rơi xuống, rồi những nét bút mực cũng nhoè đi.

Cha tôi lại xé tờ giấy đó và lấy tờ khác.

Tôi bắt đầu run rẩy mất kiểm soát vì tôi sợ ông ấy sẽ vung cái gậy chỉ bản đồ lên, nhưng ông ấy không làm gì cả, chỉ dùng nó để chỉ vào tờ giấy và hướng dẫn tôi cần viết những gì.

Khi tôi viết lại lần thứ bảy, cha tôi hài lòng, lấy tờ giấy khám sức khỏe mà ông ấy đã chuẩn bị sẵn, dùng một cái ghim kẹp để ghim hai tờ giấy lại với nhau.

Trước khi rời đi, ông ấy nói rằng sẽ trực tiếp đưa cho Đoàn Thanh niên.

Tôi không nghĩ được gì nhiều cả, mắt tôi chỉ nhìn về phía khoảng trống gần cửa sổ, trong lòng tôi cũng như thể mất đi một mảnh ghép nào đó.

Tôi đi học lại vào tuần sau đó.

Cô Krause không nhắc gì đến chuyện của tôi, nhưng tôi không thể thoát khỏi những ánh mắt soi xét của đám con trai trong lớp.

Không khí nặng nề như thể tôi đang mang một vết nhơ nào đó.

Giờ giải lao, tôi ngồi ở vị trí quen thuộc trong góc lớp của mình, cố gắng mặc kệ những ánh mắt thiếu thiện ý hay những lời trêu chọc.

Erich Keller đi đến chỗ của tôi, ngồi lên mặt bàn, nó chống một tay và cười hỏi: "Sao mày nghỉ học lâu vậy, Armin?

Mày lại bị cha mày đánh à?"

"Có phải Đoàn Thanh Niên đã gửi giấy báo không?"

Tôi đã biết ai là người đã báo cáo với Đoàn Thanh niên mà cha tôi nhắc đến hôm đó.

Rõ ràng, tôi luôn cố gắng tránh xa và không gây ảnh hưởng đến chúng, tôi thậm chí không bao giờ phản bác lại trước những lời nói xấu xa của chúng.

Nhưng chúng ghét tôi, một khi chúng ghét tôi, mọi cố gắng cũng không có tác dụng gì.

Moritz Bauer cười và nói với mấy đứa xung quanh rằng: "Ở nhà đôi khi cha tao cũng đánh tao, nhưng ông ấy không bao giờ đánh chị tao và em gái tao."

Rồi nó cúi xuống nhìn tôi và nói: "Armin, sao cha mày lại đánh con gái chứ?"

"Nghe nói mày sẽ không tham gia huấn luyện nữa, vì vấn đề sức khỏe.

Thay vì thế, sao mày không đăng ký vào đội múa của trường đi?"

Erich Keller nói với ai đó: "Ai mà tin được nó lại là em trai của Heinrich Ludwig von Hartenfels?"

Tôi cúi gằm mặt, chỉ nghe thấy giọng của Paul Kruger, đứa mới chuyển đến học kỳ trước: "Anh của nó ư?"

Erich Keller trả lời: "Mày không biết anh ta đâu.

Nhưng rồi sẽ nghe thôi, vì các giáo viên luôn nhắc tên anh ta, niềm tự hào của trường Aureum Gymnasium.

Anh ta là một trong những học viên trẻ nhất được nhận vào học tại trường Sĩ quan Chính trị khi mới mười sáu tuổi."

Lúc này, tôi như một con thỏ đang co rúm lại trước sự bao vây của một đàn sói.

Paul Kruger tỏ ra ngạc nhiên và hỏi: "Khoan đã, không phải tuổi tiêu chuẩn của mấy trường Chính trị là mười bảy hoặc mười tám à?"

"Đúng thế.

Nhưng tao nghe nói anh ta luôn đứng đầu toàn khoá môn Latin, Lịch sử quân sự và Địa lý chiến lược.

Huy chương Vàng Deutsches Jungvolk về thể lực toàn diện và bắn súng.

Quán quân đua ngựa cấp Liên bang,...

Khi anh ta còn chưa tốt nghiệp Gymnasium, đã có 4 trường Kriegsschulen và còn cả SS Junkerschule gửi thư mời, anh ta đã từ chối SS Junkerschule và vào học tại Kaiserliche Kriegsschule ở Postdam."

"Cha tao cũng từng khen ngợi anh ta, ông ấy nói rằng đứa lớn nhà von Hartenfels quá xuất sắc, nhưng đứa thứ hai là đồ bỏ đi.

Cũng dễ hiểu tại sao cha nó đánh nó nhiều như thế, tao đã từng nghe lén được thằng hèn đó xin cô Krause đừng cho điểm kém vì sợ bị đánh."

"Sao giờ mày mới kể, Erich?"

"Tao quên mất."

Tôi gục xuống bàn và khóc òa lên vì xấu hổ.

Từng tiếng nức nở bật ra, ngực tôi co thắt lại, tôi biết mình đang phơi bày cái bộ dạng yếu đuối đến đáng khinh thường y như lời chúng nói.

Có những tiếng xì xào bàn tán trong lớp, một vài bạn nữ nào đó đã nói rằng: "Chúng mày thật quá đáng", "Để cậu ấy yên đi lũ xấu xa."

Tôi cứ khóc đến khi cổ họng tôi rát buốt, tiếng cười khẩy và giọng nói của Erich vang lên bên tai tôi: "Ở Đệ Tam Đế chế, không có chỗ cho bọn yếu đuối."

"Chuyện gì đang xảy ra vậy!"

Tôi ngẩng đầu, cô Krause đang ôm theo một cuốn sách và đi thẳng đến chỗ ngồi của tôi.

Erich nhảy xuống khỏi bàn, nó nhún vai và nói: "Chúng em chỉ đùa một chút thôi, thưa cô Krause."

Cô Krause nghiêm khắc nhìn đám Erich và nói: "Về chỗ của mình đi.

Và hãy dừng những hành động đáng xấu hổ như thế lại."

Khi tất cả đã giải tán và quay về vị trí, cô Krause cúi xuống và nói khẽ vào tai tôi rằng: "Armin, cô lấy làm tiếc."
 
Tiếng Vọng Của Cây Dương Cầm - Das Echo Des Klaviers [Sp]
(10)


Hôm nay sau giờ học, khi đi dọc hành lang, tôi lại đưa mắt nhìn lối đi dẫn đến phòng học âm nhạc cổ điển.

Có cái gì đó cứ thôi thúc, kéo tôi bước đi dưới hành lang vòm bằng đá xám, tôi nghe tiếng chim hót vọng lại từ trên những rặng cây dẻ gai.

"Armin?"

Tôi đứng trước cửa phòng học, giáo viên dạy âm nhạc cổ điển đang sắp xếp lại những cuốn sách và có vẻ đang định ra về.

Tôi bối rối vì cuộc chạm mặt không chuẩn bị trước này, tôi hơi cúi đầu và ngập ngừng nói: "Chào thầy Vogel.

Em chỉ...

đi ngang qua."

Thầy giáo nhìn tôi một lúc, cái nhìn đó làm đầu gối tôi cứ run lên, thế là tôi quay lưng và định bụng sẽ biến khỏi đó thật nhanh.

"Armin.

Em có muốn chơi đàn một chút không?"

Tôi quay đầu lại, nhìn cây đàn đối diện bục giảng và bức tượng bán thân Mozart, sau đó tôi lại nhìn thầy Vogel.

Nhưng tôi chỉ lắc đầu và nói: "Em không thể về nhà muộn."

Thầy Vogel chỉ mỉm cười và nói với tôi rằng: "Bất cứ khi nào, nếu muốn thì hãy đến đây nhé.

Thầy sẽ không nói với ai đâu."

Mắt tôi cay xè, rồi tôi lại nhìn cây đàn đang im lìm nằm ở đó, buồn bã nói: "Thưa thầy Vogel, em xin lỗi."

Dù sao, cũng vì tôi nên thầy đã bị nhà trường khiển trách vì giao chìa khóa phòng học cho học sinh.

Mặc dù việc đó chỉ là hình thức, để không bị Đoàn Thanh Niên làm khó.

"Em không có lỗi gì đâu, Armin."

Tôi đứng ở cửa lớp, nước mắt rơi lã chã, y hệt như cái lúc bọn Erich bắt nạt tôi mấy ngày trước.

Bây giờ là ở đây, tôi chỉ cảm thấy xấu hổ và cảm thấy mình đã khiến thầy Vogel thất vọng.

"Đó là lỗi của em, vì em đã vi phạm kỉ luật."

Thầy Vogel đã đi đến trước mặt tôi, khi tôi ngẩng đầu, tôi nhìn thấy những ánh nắng nhạt của mùa đông phủ lên mái tóc hoa râm và cái gọng kính kim loại cũ.

Thầy giáo đặt tay lên đầu tôi và nhẹ nhàng nói rằng: "Họ áp đặt những thứ gọi là kỉ luật đó lên những đứa trẻ, chỉ để tạo ra những con rối vô cảm phục vụ lợi ích của mình.

Đừng giống như thế, Armin."

"Cũng đừng bao giờ từ bỏ giấc mơ của mình."

Tôi ủ rũ vào trong nhà, khi đó mẹ tôi đang cắm hoa bên cửa sổ.

Vẫn là hoa thạch nam mà mẹ tôi yêu thích.

Dường như mẹ cũng nhận ra tâm trạng của tôi rất tệ, bà đứng dậy và đi đến trước mặt tôi.

Mẹ tôi hỏi: "Ở trường có chuyện gì à, con trai?"

"Không mẹ ạ."

Tôi lảng tránh và muốn đi lên cầu thang.

Nhưng khi vừa bước lên được một bậc thang, tôi lại chạm mặt cha tôi khi ông ấy đi ra từ trong phòng làm việc.

"Trễ 20 phút rồi đấy, Armin."

Cha tôi nhìn đồng hồ treo tường và nói với tôi như vậy.

Trong lúc tôi còn đang bị cha tôi làm cho sợ đến mức bất động ở cầu thang, thì ông ấy đã lướt qua người tôi và đi xuống dưới nhà.

"Này nhóc, sao nhìn em ủ rũ thế?"

Tôi ngạc nhiên khi thấy Heinrich cũng đi ra từ phòng làm việc của cha chúng tôi.

Anh ấy mặc áo len cổ cao màu xám, tóc vuốt ngược ra sau bằng sáp bóng loáng.

Tôi chỉ nói: "Chào anh, Heinrich."

Sau đó tôi đi lướt qua anh ấy và vào phòng ngủ.

Tôi nghe thấy tiếng anh ấy hỏi mẹ tôi vọng lên từ dưới nhà: "Nó làm sao thế hả mẹ?"

Mẹ tôi trả lời: "Hãy hỏi cha con ấy."

Thế là anh ấy không hỏi thêm gì nữa.

Tôi đã nằm trên giường và nhìn trần nhà suốt hai giờ đồng hồ mà không làm gì cả, ngay cả việc đến gặp Stepan tôi cũng quên mất, khi tôi nhớ ra thì trời đã tối.

Hơn một tuần trôi qua, chúng tôi không gặp nhau, cũng không có thêm bức ảnh nào được chụp và được nhét vào trong cuốn sổ ghi chép.

Trái tim của tôi trống trải như thể hiện tại nó chỉ còn là một cái vỏ rỗng.

Thầy giáo bảo tôi đừng từ bỏ giấc mơ của mình, nhưng tôi không có đủ dũng khí để theo đuổi nó.

Tôi chỉ là một kẻ bất lực và vô dụng.

Rồi tôi lại nằm đó khóc, một khi đã khóc là không ngừng lại được, chính tôi cũng ghét tính cách của chính mình.

"Em không định ăn tối à nhóc?"

Tôi giật mình và bật dậy, Heinrich đứng ở cửa phòng tôi, im lặng, không tiếng động, tôi thậm chí không phát hiện ra tiếng bước chân của anh ấy.

Heinrich đưa tay bật đèn phòng lên, anh ấy cau mày khi nhìn tôi.

Lúc đó tôi mới nhớ ra và vội vàng lau nước mắt giàn giụa trên mặt.

Heinrich đi đến gần và ngồi xuống giường ngủ của tôi, anh ấy cúi sát đầu và thì thầm với tôi rằng: "Đợi đến Giáng Sinh, khi nhận được học bổng và trợ cấp, anh sẽ mua cho em một cái đàn khác."

"Em chỉ muốn cái đàn cũ thôi."

Tôi vẫn liên tục lau nước mắt bằng tay áo, quanh mắt bắt đầu hơi rát và có cảm giác sưng lên.

"Anh sẽ mua cho em một cái y hệt như thế."

Tôi ngẩng đầu lên, nhưng lại nhanh chóng lắc đầu và nói: "Trợ cấp của anh không đủ để mua nó đâu."

Anh Heinrich cười và nói: "Em đang coi thường anh à?

Anh đang có một khoản tiết kiệm khoảng 1200 Reichsmark đấy.

Để xem nào, anh vừa hỏi mẹ, một cây đàn giống như thế khoảng 700 Reichsmark thôi."

Đương nhiên tôi biết điều đó, bình thường anh ấy nhận được trợ cấp của trường và học bổng cho những học viên xuất sắc, anh ấy nói rằng chưa bao giờ tiêu hết được số tiền đó.

Nhưng cha tôi vẫn luôn chu cấp cho anh ấy 100 Reichsmark mỗi tháng.

"Nó đắt quá.

Đó là khoản tiết kiệm suốt một năm của anh...

Hơn nữa, nếu anh làm vậy thì em sẽ bị đánh đấy."

Tôi buồn bã, ánh mắt tôi hướng đến chỗ cái hộc bàn đang đóng lại.

Trong đó có một hộp đựng chiếc bút máy Montblanc Meisterstück 1936 bản khắc tay ngòi vàng 14K.

Tôi nhớ tôi đã mua nó khi tôi chín tuổi.

Tôi nói với Heinrich rằng tôi muốn có một cây bút Montblanc giống của chị họ tôi Clara, sau cái lần chúng tôi đến Munich thăm nhà họ hàng.

Lúc đó anh trai tôi đang học trung học, không có trợ cấp như bây giờ mà chỉ có một khoản tiết kiệm với số tiền mà anh ấy thu được sau khi đạt thành tích đứng đầu các cuộc thi ở trường, hoặc đoạt giải thi đấu thể thao và đua ngựa.

Anh ấy không do dự, ngay lập tức lấy 80 Reichsmark đưa cho tôi.

Với suy nghĩ của một đứa trẻ chín tuổi, tôi chỉ đơn giản là vui mừng vì có được thứ mình thích.

Nhưng khi cha tôi biết chuyện, ông ấy đã gọi tôi là một đứa không biết điều vì đã dùng tiền tiết kiệm của anh trai, và cũng mắng anh Heinrich vì thiếu suy nghĩ và hoang phí.

Nhưng cuối cùng chỉ có một mình tôi bị trừng phạt.

Ông ấy bắt tôi đứng giữa nhà và đánh tôi ngay trước mặt Heinrich, anh ấy chỉ biết đứng đó nhìn trong sự hoảng sợ, còn mẹ tôi thì vẫn im lặng như mọi lần.

Tôi đã không dùng cây bút đó kể từ sau ngày hôm ấy.

"Cha ghét em vì em không bao giờ giỏi như anh.

Em chỉ là một đứa thất bại, chúng nó bảo em, chỉ biết chơi đàn thì là đứa thất bại.

Em không muốn chơi đàn nữa đâu, Heinrich, em không muốn, rồi cha sẽ lại đánh em...

Ước gì em cũng giỏi cưỡi ngựa và bắn súng, ước gì em giỏi giống như anh, thế thì cha không ghét em và không đánh em nữa."

Nước mắt lại tuôn ra và tôi chẳng buồn lau chúng đi, tôi chẳng muốn giấu giếm cảm xúc của mình trước mặt Heinrich.

Tôi biết rằng anh thương tôi, anh rất tốt với tôi, nhưng tôi vẫn có những lúc ghét anh.

Tôi luôn ăn năn vì việc đó, tại sao tôi lại có thể ghét anh trong khi anh yêu thương tôi như thế?

Nhưng biết làm sao được, tôi không thể kiểm soát cảm xúc và suy nghĩ của chính mình.

Tôi ghen tị với anh, tại sao anh lại hoàn hảo như thế để tất cả mọi người cứ so sánh tôi với anh, rồi miệt thị và chà đạp tôi?

Tại sao anh lúc nào cũng ngẩng cao đầu với nụ cười kiêu hãnh trên môi, còn tôi lúc nào cũng phải cúi đầu, khoé môi mặn chát vì nước mắt.

"Heinrich, cha thương anh và lúc nào cũng chỉ quan tâm đến anh.

Còn em?

Có lẽ cha cũng ước gì em không được sinh ra và không làm cho ông phải xấu hổ."

Sinh nhật của Heinrich mỗi năm, cha đều tặng anh một món quà đắt tiền nào đó, hôn vào trán anh và chúc anh bằng những lời tốt đẹp nhất.

Còn tôi, ngoại trừ cái đồng hồ bỏ túi bằng bạc đó, mười mấy năm qua tôi thậm chí chưa từng nhận được một nụ hôn vào trán chứ đừng nói đến những món quà sinh nhật đắt tiền.

Không phải tôi chưa từng đòi hỏi.

Khi tôi lên sáu, tôi khóc lóc và hét lên với cha rằng tôi cũng muốn nhận được quà như anh Heinrich, hỏi rằng tại sao ông lại bất công như thế.

Cha tôi đã nói gì nhỉ?

Ông ấy nói rằng tôi không xứng đáng, một thằng kém cỏi như tôi thì không xứng đáng.

Sinh nhật năm sáu tuổi của tôi toàn là nước mắt.

Cha tôi đã cho tôi một trận đòn đau đớn vào ngày tôi bước sang tuổi mới.

Sinh nhật của tôi chẳng quan trọng bằng việc tôi đã dám lớn tiếng với ông ấy.

Mẹ tôi đã khóc và van xin cha tôi đừng làm thế, ít nhất là không phải vào cái ngày ấy, ngày mà đáng ra tôi phải được hạnh phúc chứ không phải bị đánh đập tàn nhẫn, bởi chính cha mình.

Mẹ đã tặng tôi một món quà từ trước đó, nhưng bà lại đem cái hộp nhạc quý giá mà bà yêu thích nhất cho tôi, mẹ nói đó là hộp nhạc mà bà mang từ Hungary đến Đức, và mẹ giữ gìn nó như báu vật.

Sau này, mỗi một sinh nhật mẹ tôi đều cho tôi hai món quà.

Nhưng vậy thì sao chứ, cuối cùng thì tôi vẫn chỉ là một đứa trẻ đáng bị ruồng bỏ.

"Em xin lỗi, nhưng em ghen tị với anh nhiều lắm, anh biết không?

Em xin lỗi, có những lúc em thậm chí nghĩ rằng em ghét anh..."

Heinrich nhìn tôi, ánh mắt của anh xa lạ, nó u ám, lạnh lẽo và đột nhiên tôi run sợ.

Có phải tôi đã làm anh giận không?

Anh không mỉm cười với tôi, khoé môi anh hơi cong xuống còn lông mày thì nhíu chặt lại.

Tôi run lên và hoảng loạn, vì nhìn gương mặt anh khi đó giống y hệt gương mặt cha tôi.

"Em ghen tị với anh lắm sao?

Vì anh luôn cười và luôn vui vẻ hả, Armin?"

Anh hỏi tôi như thế, tay anh siết chặt cổ tay tôi, làm cho tôi khẽ rùng mình vì đau, nhưng tôi cảm nhận được tay anh cũng đang run rẩy.

"Em có biết..."

Heinrich định nói gì đó, nhưng anh ấy không nói tiếp, anh ấy trầm ngâm một lúc rất lâu.

Anh buông tay tôi ra, ánh mắt không còn xa lạ như thế nữa, chỉ trong một nháy mắt.

Anh nhìn tôi và nói với tôi rằng: "Mỗi người đều có một năng lực khác nhau, Armin.

Em không kém cỏi, em vẫn luôn học tốt, đúng không?

Những đứa ở trường đó thậm chí còn chẳng bằng em, chúng đơn giản là ghen tị với em thôi."

"Sao em lại dễ dàng buông bỏ giấc mơ của mình như thế?

Em biết không, từ nhỏ anh đã thấy mẹ chơi nhạc, anh ước mình có thể chơi nhạc giống như mẹ.

Vì khi mẹ chơi nhạc là khi anh thấy bà đẹp nhất.

Nhưng anh không thể, anh không hiểu gì cả, cũng chẳng bao giờ đánh được một bản nhạc hoàn chỉnh.

Và mẹ thì cũng không muốn dạy anh vì anh không thể tiếp thu được.

Armin, anh đã ngưỡng mộ em biết mấy."

Tôi ngạc nhiên và sững sờ, Heinrich sờ nhẹ vào má tôi và nói rằng: "Mẹ hạnh phúc vì âm nhạc, âm nhạc có thể đưa mẹ trở về nhà, về với Hungary mà bà yêu đến chết đi.

Anh luôn nghĩ mẹ đã phải đến đây vì anh, chính anh đã trói buộc mẹ với nước Đức.

Lúc nào anh cũng ước rằng mình có thể an ủi mẹ, làm cho mẹ vui bằng âm thanh của dương cầm hay vĩ cầm.

Nhưng anh không thể."

Mắt anh hơi đỏ lên, và tôi ngạc nhiên vì điều đó.

Heinrich nhìn tôi như thể tôi cũng là một niềm hi vọng nào đó của anh vậy.

"Hẳn là mẹ hạnh phúc biết mấy khi có em, Armin.

Khi đó, anh năm tuổi, anh thấy mẹ bế em và mẹ khóc.

Mẹ nói rằng em có tóc nâu và mắt màu hạt dẻ giống mẹ, cuối cùng thì mẹ cũng có một đứa trẻ của riêng mình.

Có lẽ đối với mẹ, anh chỉ là đứa trẻ của nhà von Hartenfels và nước Đức mà thôi.

Mẹ muốn đặt tên em là món quà của Chúa, món quà quý giá nhất đời bà.

Đúng thế, lẽ ra tên em phải là Theodor..."

Tôi cứ ngơ ngác ngồi ở đó mà không biết nói gì, cũng chẳng nhận ra mình đã ngừng khóc từ khi nào.

Đột nhiên tôi lại muốn nói gì đó, giống như để an ủi Heinrich.

Tôi cứ ấp úng mà không biết phải làm gì, cuối cùng thì tôi nói với anh rằng: "Heinrich, nhưng... mẹ cũng yêu anh nhiều lắm..."

"Anh biết."

Heinrich khẽ cười và hít thở sâu một hơi: "Anh biết.

Anh không cảm thấy buồn đâu nhóc ạ, anh luôn vui vì điều đó.

Anh mừng cho mẹ, và hi vọng tất cả những gì tốt đẹp nhất cho em."

Tôi nghĩ đến mẹ tôi, mái tóc màu nâu mềm mại như một dòng nước, tay mẹ tôi lướt trên phím đàn, và chẳng lúc nào tôi thấy bà mỉm cười một cách hạnh phúc đến vậy.

Như thể đó là điều đẹp đẽ nhất đời bà.

Tiếng dương cầm đã ôm lấy tôi từ khi tôi còn nhỏ, lớn lên cùng tôi suốt cả tuổi thơ, và xoa dịu những vết thương trong trái tim nứt vỡ.

"Em muốn chơi đàn, Heinrich...

Em chỉ muốn sống như thế thôi, em không muốn làm người lính hay người cai trị, em không cần những điều đó..."

Tôi cụp mắt xuống và buồn bã nói với anh rằng: "Nhưng dù sao, cha cũng sẽ không cho phép đâu.

Em không thể."

Heinrich mỉm cười và xoa đầu tôi, anh nhìn thẳng vào mắt tôi, nói một cách kiên quyết rằng: "Rồi anh sẽ lo chuyện này.

Anh hứa đấy, hứa bằng danh dự.

Giờ thì đừng khóc lóc nữa, xuống nhà đi."

Tôi ngay lập tức ôm chầm lấy Heinrich, dụi đầu vào cái áo len của anh và nói: "Cảm ơn, Heinrich."
 
Tiếng Vọng Của Cây Dương Cầm - Das Echo Des Klaviers [Sp]
(11)


Mẹ tôi là một tín đồ của Công giáo La Mã, bà có một bức tượng Đức Mẹ Maria ở trong phòng ngủ, mặc dù điều đó là không được phép ở Đức.

Còn cha tôi là một người theo Tin Lành, nhưng ông không sùng đạo mà chỉ đơn giản coi đó là một truyền thống của gia đình, với thân phận một sĩ quan Wehrmacht, cha tôi phải thể hiện việc tôn thờ đối với đức tin German, và cũng không được thể hiện những niềm tin tôn giáo công khai.

Giấy tờ của tôi và anh trai tôi đều ghi tôn giáo là Tin Lành, nhưng mẹ tôi luôn cố gắng thuyết phục chúng tôi thực hiện những nghi lễ của Công giáo La Mã, bất chấp sự phản đối của cha tôi.

Mỗi năm, gia đình chúng tôi vẫn tổ chức một buổi lễ Giáng Sinh kiểu truyền thống đơn giản.

Chỉ có những ngày như thế, mẹ tôi mới vào bếp và nấu những món Hungary kiểu như Sült kacsa, Halászlé.

Và đúng vào tối ngày hôm ấy, người ta đã vận chuyển cây dương cầm đến.

Đó là một cây đàn của Bluthner màu nâu đỏ, làm bằng gỗ anh đào vân nổi, nó gần như giống hệt cái đàn cũ của tôi.

Nhưng tôi vẫn cảm thấy buồn, vì cây đàn cũ là của mẹ cho tôi.

"Con cứ tự ý làm như vậy mà không hỏi ý kiến của người lớn sao, Heinrich?"

Cha tôi có vẻ rất bực mình vì chuyện này.

Đã gần hai tháng trôi qua nhưng ông ấy vẫn còn tức giận với tôi.

Anh Heinrich nhún vai: "Con đã nói với mẹ rồi."

Cha tôi nhìn tôi bằng ánh mắt khinh thường, ông ấy cầm cốc bia lên uống một hơi.

Và ông ấy nói rằng: "Thay vì dạy thằng em yếu đuối của con về bổn phận và lý trí, thì con lại dạy nó cách phụ thuộc vào người khác?

Nhìn xem, đó là tinh thần của một người Phổ sao?"

Tôi cúi gằm mặt xuống, tay đang đặt trên phím đàn hạ xuống, tôi sợ mình sẽ không kiềm chế được cảm xúc và lại khóc ngay ở đây.

Anh Heinrich ngồi xuống ghế, cười và nói: "Lần trước trong buổi huấn luyện ở Postdam, con đã trò chuyện với Trung tá Becker, ông ấy từng công tác dưới quyền ngài Rommel lúc ở Bắc Phi.

Ông ấy kể với con rằng ngài Rommel là một tay chơi dương cầm khá đấy.

Có quý tộc Phổ nào mà không học dương cầm hay vỹ cầm chứ?

Lúc nhỏ hẳn là cha học âm nhạc cổ điển kém lắm nhỉ?

Có lẽ vì con giống cha nên chơi đàn mới tệ như thế."

Mẹ tôi bật cười và quay đầu đi chỗ khác, còn mặt cha tôi thì tối sầm, ông ấy chỉ thấp giọng: "Im đi, Heinrich."

"Cha đã nói lời xin lỗi vì ném cây đàn của mẹ đi chưa hả mẹ?

Nếu là con thì con sẽ ly dị và về Hungary ngay."

Anh ấy quay sang nói mẹ tôi như vậy.

Mẹ tôi thở dài và nói: "Mẹ là một người đàn bà khốn khổ, con trai ạ."

"Đủ rồi đấy."

Cha tôi liếc mắt nhìn anh Heinrich.

Anh ấy lại nhún vai: "Hôm nay là một buổi tối vui vẻ.

Sao chúng ta cứ phải cãi nhau vì một cây đàn nhỉ?"

Cha tôi không thèm nói gì nữa, gần như ngó lơ sự tồn tại của hai anh em tôi.

Trong khi đó, anh trai tôi vẫn không thể ngừng cười nghiêng ngả, anh ấy kéo tôi vào lòng, tay vòng qua cổ tôi và nói nhỏ vào tai tôi rằng: "Thấy chưa?

Anh đã nói là sẽ lo được vụ này mà."

Tôi cảm thấy mình thật nhỏ bé khi ngồi gọn trong vòng tay vững chắc của anh ấy, nó cho tôi một cảm giác an toàn, ấm áp và được bảo vệ, thứ mà tôi không thể cảm nhận được khi ở cạnh cha.

Anh tôi nói với tôi rằng: "Bây giờ hãy hứa với anh rằng em sẽ nỗ lực và cố gắng hơn bao giờ hết, rồi em sẽ trở thành một nghệ sĩ nổi tiếng, được không?"

Tôi cười và nói: "Vâng, em hứa."

***

Năm 1944, chúng tôi đã bị phản công dữ dội ở mặt trận phía Đông, đối mặt với cả sức ép ở mặt trận phía Tây.

Quân đội mất thế chủ động hoàn toàn, chuyển từ thế tiến công sang rút lui quy mô lớn.

Các áp phích trên đường phố hay trường học gọi đó là 'tái tổ chức' và 'rút lui chiến lược'.

Nhưng chính tai tôi đã nghe cha tôi nói chuyện điện thoại ở trong phòng với một ai đó, ông đã gọi điều đó là: "Tệ hơn bao giờ hết."

Tôi nằm dưới gốc cây sơn trà, đầu gác lên cánh tay, bầu trời trong tầm mắt tôi thật đẹp, nó trong veo như mặt nước ở hồ Eibsee.

Tôi kể cho Stepan về tình hình chiến sự mà tôi nghe được, tôi không rõ cảm xúc trong tôi là gì, dù sao tôi cũng không thể nào vui vẻ được, vì tôi là người Đức, và đất nước của tôi đang bước vào tình cảnh khó khăn.

"Cậu có biết ngày mà tớ tự do, nó có nghĩa là gì không, Armin?"

Stepan ngồi dựa lưng vào gốc cây, một tay đặt trên đầu gối, lúc tôi ngửa cổ nhìn cậu ấy, tôi thấy cậu ấy đang nhìn về đằng xa.

"Chiến tranh kết thúc.

Có lẽ thế."

Tôi trả lời.

Cậu ấy nhìn tôi, "Và cũng là ngày đất nước của cậu bại trận."

Câu nói đó đã làm tôi bừng tỉnh khỏi những suy nghĩ mơ hồ.

Nước Đức thua ư?

Không đâu, chúng tôi rất mạnh, Đệ Tam Đế chế rất mạnh, nó không thể thua được.

Nếu nước Đức bại trận thì chúng tôi sẽ phải vào trại tập trung giống như những người Do Thái ở Đức phải không?

Bao nhiêu câu hỏi bật ra trong đầu tôi.

Tôi muốn Stepan được tự do, muốn những người Do Thái và người Ostvolk tự do, và họ được trở về quê hương của mình, nhưng tôi không bao giờ muốn nước Đức trở thành bên thua cuộc.

Đó là một thảm họa đối với tôi, với gia đình tôi, và với toàn thể người dân Đức.

"Không...

Đức sẽ không thua đâu."

Stepan vẫn nhìn tôi bằng ánh mắt kì lạ đó, nó không giống như cậu ta lúc bình thường.

Trầm ngâm và im lặng.

Rồi Stepan nói với tôi rằng: "Đất nước của cậu đã phạm phải tội ác chống lại nhân loại, vì thế nó sẽ không thể chiến thắng đâu.

Rồi anh trai tớ sẽ đến đây, tiêu diệt những tên lính Đức, trả thù cho chị của tớ."

Tôi ngẩn người, im bặt đi một lúc mới hỏi lại: "Chị của cậu?

Không phải cậu nói, cậu muốn về Ukraina để gặp lại cha, anh trai và chị gái sao?"

"Tớ có hai người chị gái.

Chị thứ hai của tớ tên là Mira, một nữ liên lạc viên thuộc lực lượng du kích dân tộc chủ nghĩa Ukraina.

Chúng đã treo cổ chị ấy ở Galicia.

Đồng đội của chị ấy đã gửi một bức thư báo tin như vậy.

Chúng tớ chưa bao giờ tìm và đưa được thi thể của chị về nhà, vì ngay sau đó Lviv đã thất thủ."

Cậu ấy kể bằng một giọng điệu nhàn nhạt, không cảm xúc, bình tĩnh như thể chỉ là đang kể lại một câu chuyện nào đó đọc qua trong sách.

Tôi bàng hoàng, sau đó là cảm giác hổ thẹn xen lẫn bất lực, nhưng rõ ràng tôi cũng không làm gì sai cả, tôi không muốn mình phải trả giá vì những việc làm của người khác.

Rồi cậu ấy nói với tôi rằng: "Tớ xin lỗi, tớ không có ý trách cậu đâu, Armin...

Nhưng, tất cả là một bi kịch, rồi cái gì đến cũng sẽ đến."

Tháng 6, quân Đồng minh mở cuộc đổ bộ lớn nhất lên bờ biển Normandy của Pháp.

Cha tôi là Trung tá Tham mưu phó của Tổng cục phụ trách những vấn đề chiến lược ở mặt trận phía Đông, nhưng ông vẫn luôn mở radio để nghe tin tức chiến sự ở mặt trận phía Tây mỗi buổi tối.

Hôm ấy, mẹ tôi lại bảo tôi mang một tách cà phê lên phòng làm việc.

Lúc tôi vào trong, cha tôi đang ngồi trên ghế, xoay lưng lại, nhìn chằm chằm vào bức bản đồ chiến thuật ở khu vực Tiệp Khắc dán trên tường.

Cái radio trên bàn vẫn đang phát, tôi nghe thấy họ nói: 'Quân đội chúng ta gặp khó khăn ở mặt trận Normandy.

Nhưng liên quân Mỹ Anh đã tổn thất nặng nề.

Chúng ta sẽ sớm phản công."

Cha tôi ngay lập tức tắt cái radio, ném văng cái gậy chỉ bản đồ xuống đất.

Tôi đặt tách cà phê lên bàn, ngay lập tức chạy khỏi phòng trong lúc cha tôi đang vò đầu và liên tục thở dài.

Mẹ tôi đã dặn nên tránh xa cha tôi những ngày này.

Nhưng không phải lúc nào mọi chuyện cũng như ý muốn.

Có một buổi chiều sau giờ học, tôi bị bọn con trai ở lớp bắt nạt, chúng đá chiếc giày bên phải của tôi qua lại cho nhau, rồi đem đi đâu đó.

Chúng nói là đã ném nó ở sau khu lớp học, sau đó kéo nhau bỏ đi.

Tôi đã trốn trong lớp chờ cho đám học sinh ra về hết mới đi tìm lại chiếc giày.

Bọn chúng đã giấu chiếc giày trong bồn cây tùng thấp sau lớp học.

Tôi đã ngồi một mình ở đó khóc rất lâu, trước khi lủi thủi đi bộ về nhà.

Khi tôi về đến nhà thì đồng hồ đã chỉ 2 giờ 35 phút chiều.

Ngoài trời cũng đang nổi một cơn giông, mây kéo đến đen đặc và gió thổi tung lớp lá cây trong sân lên không trung.

Mẹ tôi đã rất lo lắng, dường như bà đã khóc, tôi thấy mắt của mẹ đỏ hoe.

Tôi chỉ nói: "Mấy đứa con trai ở lớp lại giấu giày của con..."

Lúc đó, xe ô tô của cha tôi phóng vào trong sân và dừng ngay trước cửa nhà, vừa nhìn thấy tôi, ông đã đi đến và túm lấy cổ áo của tôi.

Hình như ông ấy vừa lái xe đến trường tìm tôi.

Mẹ tôi nói: "Thằng bé bị đám bạn bắt nạt.

Nó không cố ý đâu!"

Cha tôi hỏi: "Thế thì tại sao nó lại để bị bắt nạt?"

Mẹ tôi không nói gì, cha tôi kéo tôi vào trong nhà, chỉ tay vào đồng hồ và nói: "Có đứa trẻ nào vô kỷ luật đến mức lêu lổng ở bên ngoài gần 2 tiếng đồng hồ không về nhà?"

Cha tôi lấy cái thắt lưng và ấn tôi vào tay vịn của sofa.

Ông ấy không đánh tôi quá nhiều, chỉ mười cái, nhưng khá mạnh.

Đủ để tôi phải rướn người, bật ra vài tiếng rên rỉ và mắt tôi thì cay xè, sống mũi như có cái gì xộc thẳng lên.

Tôi bám vào ghế một lúc mới có thể đứng dậy, lúc đó, trời cũng bắt đầu đổ mưa.

Không có sấm chớp, nhưng mưa khá nặng hạt, tiếng rào rào mỗi lúc một lớn hơn.

Cha tôi đẩy tôi ra ngoài sân và bảo tôi đứng ở đó, mẹ tôi chỉ khuyên can một vài câu nhưng không có tác dụng gì cả.

Tôi đứng như một bức tượng ở ngoài sân, từng giọt nước trượt xuống cổ áo, tóc tôi ướt sũng, bết vào trán.

Nước mưa xối xả táp vào mặt, như những viên đá nhọn nhỏ li ti, da mặt tôi bắt đầu tê dại.

Tôi không biết mình đã đứng bao lâu, chân hơi run lên, và tôi bắt đầu thấy lạnh, cái lạnh len lỏi vào da thịt, thấm vào các khớp ngón tay và đầu gối.

Tôi nghe mẹ tôi nói ở trong nhà: "Nó sẽ bị cảm mất!"

Nhưng tôi không nghe thấy cha tôi trả lời.

Đột nhiên có tiếng động cơ ô tô ở sau lưng vang lên, tôi quay đầu lại, dưới làn nước mưa là một chiếc Mercedes màu xám ghi.

Cánh cửa xe mở, người trong xe bung chiếc dù ra trước khi ra khỏi cửa xe.

Tôi thấy một người mặc quân phục màu xám gần giống cha tôi, mũ sĩ quan chóp tròn có biểu tượng đại bàng Reichsadler bằng kim loại.

Nghiêm nghị và mạnh mẽ.

"Trời mưa to quá."

Viên sĩ quan đó che dù cho tôi, nhìn tôi một lúc và cười: "Đây chắc là Armin nhỉ?

Tôi đã gặp anh trai cháu vài lần rồi, nhưng đây là lần đầu chúng ta gặp nhau đấy.

Rất vui vì được gặp cháu."

Ai mà vui được với cuộc gặp gỡ đầu tiên diễn ra trong cảnh tượng này chứ?

Tôi chưa kịp trả lời, cha tôi đã đi ra cửa, có vẻ hơi ngạc nhiên trước sự xuất hiện của vị khách này.

Hẳn là ông ấy không hẹn trước.

"Đại tá von Stauffenberg."

Phiền phức thật, lại là một viên Đại tá, tôi đã nghĩ như thế, lần trước tôi khá xui xẻo vì gặp lão Otto Schwarz, nên bây giờ tôi rất sợ việc gặp gỡ mấy viên sĩ quan quen biết cha tôi, vì lo rằng mình sẽ lại làm gì khiến ông ấy khó chịu.

"Tôi đường đột quá, hình như không đúng lúc."

Đại tá von Stauffenberg nói với cha tôi.

Đối với người này, tôi cũng chưa hiểu rõ thái độ của cha tôi và mối quan hệ của họ, chỉ biết rằng họ ăn mặc khá giống nhau, có thể là đồng sự cùng cơ quan.

Cha tôi nói: "Mời vào trong, thưa ngài."

"Đừng xa cách như thế, anh bạn, chúng ta có phải đang ở cơ quan đâu?"

Viên Đại tá đó quay lại nhìn tôi và nói: "Này, đừng để thằng bé dầm mưa nữa, sẽ bị bệnh đấy."

Thế là cha tôi nói: "Armin, vào nhà đi."

"Vâng."

Tôi đáp, ngay lập tức đi vào nhà, vì sợ làm ướt nhà, tôi cứ đứng ở ngưỡng cửa cho đến khi mẹ tôi kéo tôi vào bếp, lấy cái một khăn lớn chùm lên người tôi.

Mẹ lau tóc cho tôi, sau đó bảo tôi quấn cái khăn một lúc cho thấm nước, và bảo tôi lên lầu thay quần áo.

Lúc tôi đi lên cầu thang, Đại tá von Stauffenberg đã vào trong nhà, ngồi xuống ghế sofa và cũng quan sát tôi.

Ông ấy cười nhẹ một cái, còn tôi thì vội vàng chạy vào trong phòng ngay.
 
Tiếng Vọng Của Cây Dương Cầm - Das Echo Des Klaviers [Sp]
(12)


Tôi quấn một cái chăn và ngồi ở dưới sàn, trong lúc mẹ tôi mở cái lò sưởi sắt hình trụ ở góc phòng ra để bỏ than nâu vào trong đó.

Bình thường tôi chỉ dùng nó vào mùa đông.

"Ngồi gần vào, Armin.

Nếu không đêm nay con sẽ cảm lạnh cho mà xem."

Mẹ tôi đẩy tôi vào gần lò sưởi, lấy một cái khăn khác và liên tục lau khô tóc cho tôi.

Bà nói với tôi rằng: "Một lúc nữa, con hãy xuống dưới nhà nhé."

Tôi hỏi mẹ rằng: "Người đó có giống Otto Schwarz không hả mẹ?"

Mẹ tôi cười và nói: "Đừng sợ, con trai.

Đó là Tham mưu trưởng của OKH, Albrecht Dietrich von Stauffenberg, cấp trên của cha con, và là một người tử tế."

Ba mươi phút sau, tôi đi xuống dưới nhà, lúc này tâm trạng của tôi đã ổn hơn một chút, và cũng không còn cảm thấy quá áp lực nữa.

Cha tôi và cấp trên vẫn đang nói chuyện của họ ở cơ quan, tôi không hiểu gì cả, chỉ nghe thấy Đại tá von Stauffenberg nói với cha tôi rằng: "Vậy đấy, làm sao tôi có thể chịu được việc nhìn nước Đức tan nát thêm lần nữa?"

Ông ấy không nói chuyện về chính trị nữa, bắt đầu chuyển sự chú ý sang tôi.

Và tôi cũng quan sát ông ấy kĩ hơn.

Ngài von Stauffenberg có một cái băng bịt mắt đen ở bên phải, nhưng dù như thế thì nhìn ông ấy cũng không đáng sợ như Otto Schwarz.

Có thể nói nhìn ông ấy rất đẹp, còn hơn cả cha tôi.

Tóc vàng bạch kim và mắt xanh dương, đúng như tiêu chuẩn vẻ đẹp lý tưởng của chủng tộc Aryan thượng đẳng mà họ đã dạy chúng tôi.

Vóc dáng cao lớn, lưng thẳng, gương mặt góc cạnh và tạo một cảm giác kì lạ.

Không phải kiểu khô khốc và lạnh lùng như cha tôi, cũng không phải kiểu u ám và đen tối như Schwarz, ông ấy có một khí chất nghiêm nghị nhưng không làm người ta áp lực, lịch thiệp và có giọng nói trầm ấm.

Đại tá von Stauffenberg đã hỏi tôi khá nhiều chuyện trong buổi chiều hôm ấy.

Nhưng tôi chỉ nhớ rõ việc ông ấy hỏi tôi thích làm gì lúc rảnh.

Tôi đã không hề suy nghĩ mà trả lời rằng tôi thích chơi đàn.

Cha tôi đã cau mày nhìn tôi, nhưng Đại tá von Stauffenberg nói với tôi rằng: "Khá đấy, Armin.

Chúng ta có điểm chung rồi, tôi cũng thích chơi đàn lúc rảnh.

Nhưng dạo này thì không có nhiều thời gian rảnh nữa."

Ông ấy khoác tay lên vai tôi, cúi sát đầu và hỏi tôi: "Vậy cháu muốn sau này làm gì?

Cháu có muốn làm sĩ quan Wehrmacht không?"

Sao họ thích hỏi mấy chuyện này thế nhỉ?

Tôi không trả lời mà nhìn cha tôi, sau đó cúi đầu xuống.

Cha tôi hỏi Đại tá: "Anh không nhớ tôi đã bị kỷ luật vì vụ gì à?"

Rồi ông ấy nói: "Nó đã bị cấm thi vào Kriegsschulen và Napola.

Tôi từ bỏ hi vọng rồi.

Hơn nữa, nó yếu như một con sên vậy, kể cả vào đó cũng bị đuổi học sớm thôi."

Tôi xấu hổ cúi gằm mặt, tai tôi nóng rực lên, Đại tá von Stauffenberg im lặng một chút, rồi ông ấy hỏi tôi rằng: "Nhưng cháu cũng không thích nó, phải không?"

"Vâng..."

Tôi đáp.

"Thế thì có gì phải buồn đâu?"

Ông mỉm cười và nói với tôi: "Nếu cháu có thế mạnh và đam mê thì hãy theo đuổi nó, đôi khi ép buộc bản thân gắn bó với công việc mà mình không thích cũng không phải điều tốt đâu."

Ông ấy quay sang nói với cha tôi: "Đứa thứ hai nhà tôi cũng vừa nói với tôi rằng sẽ đăng ký ngành Kiến trúc ở Đại học Technische.

Nó cứ hỏi tôi là 'cha có buồn vì con không theo quân đội không?', tôi chỉ nói là 'con học vì bản thân mình, chứ không phải vì cha hay người khác, và tất nhiên là cha chẳng có gì phải buồn vì điều đó.' Giờ thì thằng bé vẫn đang chuẩn bị cho kì thi."

Lông mày của cha tôi đã giãn ra khá nhiều, ông ấy cầm tách cà phê lên, và vẻ mặt dường như đang ngẫm nghĩ điều gì đó.

Sau đó, Đại tá von Stauffenberg nói rằng muốn nói chuyện riêng với cha tôi, vì thế họ đi vào trong phòng làm việc.

Tôi cũng về phòng của mình.

Khoảng gần một tiếng sau, khi mà trời đã tạnh mưa, mẹ tôi lên phòng gọi tôi và bảo: "Armin, hãy đi xuống và chào ngài von Stauffenberg đi.

Ngài ấy chuẩn bị về rồi."

Tôi chạy xuống nhà, lúc tôi đứng ở cầu thang, tôi thấy cha tôi và cấp trên của ông đứng đối diện nhau ở gần cửa, dựa trên sắc mặt của họ, tôi nghĩ là đã có chuyện gì đó, cả hai đều có vẻ không vui.

Đại tá von Stauffenberg vỗ vai cha tôi và nói: "Tôi sẽ không ép buộc cậu đâu, Friedrich.

Tôi hiểu chúng ta đều có những con đường của riêng mình.

Tôi cũng sẽ không từ bỏ, tôi phải làm nó cho nước Đức.

Cuộc nói chuyện hôm nay..."

"Chúng ta không có cuộc nói chuyện nào hôm nay cả.

Tôi sẽ không mở miệng, cho tới khi xuống mồ."

Cha tôi nói.

Đại tá von Stauffenberg mỉm cười với cha tôi, và họ chào nhau bằng điều lệnh.

Ông ấy nhìn thấy tôi, vẫn bằng ánh mắt điềm tĩnh và ấm áp, ông ấy cười rạng rỡ: "Nếu có dịp, tôi muốn nghe cháu chơi một bản nhạc, Armin."

Tôi cũng mỉm cười và trả lời: "Vâng, hẹn gặp lại, thưa ngài."

Lúc Đại tá von Stauffenberg chuẩn bị lên xe ô tô, tôi dường như nghe thấy cha tôi thở dài, cha tôi trầm ngâm và nói: "Chúc bình an, Albrecht."

Sau cuộc gặp ngày hôm ấy, tôi đã thông suốt nhiều điều.

Mà cha tôi cũng không còn tỏ ra khó chịu và cằn nhằn khi tôi chơi đàn nữa.

Tôi nghĩ, quan hệ của họ khá tốt, và cha tôi tôn trọng ông ấy.

***

Tháng bảy, những cơn giông thường xuyên kéo đến hơn, đôi khi còn có sấm chớp.

Anh trai tôi về nhà nghỉ hai tuần trước khi vào đợt huấn luyện mới.

Hôm đó, vẫn là một buổi tối như bình thường, gia đình chúng tôi ăn tối trong tiếng nhạc phát ra từ máy quay đĩa than, và cả tin tức từ chiếc radio.

Đài phát thanh quốc gia đang phát một bản tin mới nhất.

Ban đầu tôi không chú ý đến nó, nhưng những âm thanh lọt vào tai tôi, tiếng dao nĩa dường như ngừng lại.

"Quốc trưởng vĩ đại của chúng ta đã may mắn sống sót, mạnh khoẻ, và sẽ tiếp tục lãnh đạo Đế chế vĩ đại.

Cuộc ám sát và âm mưu đảo chính của nhóm sĩ quan phản bội đã bị dập tắt.

Âm mưu đó đã thất bại trước lòng trung thành của những người lính Đức chân chính.

Muôn năm cho Quốc trưởng!

Muôn năm cho Đế chế!"

Ám sát Quốc trưởng ư?

Thật kinh khủng.

Chúng tôi luôn được dạy ở trường về lòng trung thành tuyệt đối với Quốc trưởng, và nếu có kẻ nào chống lại lãnh đạo tối cao, kẻ đó sẽ phải đánh đổi bằng kết cục thê thảm.

Tôi nhìn cha tôi, tay ông đang siết chặt dao và nĩa, nhưng ngay lập tức trở lại trạng thái bình thường và tiếp tục ăn tối.

Anh Heinrich hỏi: "Chuyện này thật nghiêm trọng.

Sao họ không nói tên người chủ mưu?

Cha có biết thông tin gì không?"

"Đừng hỏi nữa, Heinrich!"

Ngay sau đó, tiếng điện thoại bàn ở phòng khách và cả ở phòng làm việc của cha tôi đổ chuông liên tục.

Cha tôi đi nghe điện thoại, vừa kết thúc một cuộc gọi thì tiếng chuông khác lại reo.

Thế là ông ấy lại nhốt mình trong phòng làm việc mà không kịp ăn xong.

Anh Heinrich cứ đi đi lại lại ở phòng khách, còn mẹ tôi thì yêu cầu tôi về phòng và đi ngủ ngay sau bữa tối.

Những ngày sau đó, rất nhiều sĩ quan đến nhà tôi để trao đổi, họ đều là những người ăn mặc giống cha tôi, vì thế tôi đoán họ là sĩ quan Wehrmarcht thuộc OKH.

Những lúc đó, cha tôi đều yêu cầu tôi về phòng hoặc ra khỏi nhà.

Không khí căng thẳng bao trùm lên rất cả mọi thứ.

Ở trường học, đám học sinh cũng bàn tán, đến mức giáo viên phải ngăn cấm bất cứ ai đề cập đến chuyện này, và ai vi phạm sẽ bị đình chỉ học.

Cho đến một tuần sau, một ngày tôi đi học về vào cuối tuần, tôi đã nhìn thấy một vị khách đến thăm nhà tôi, một vị khách mà tôi không bao giờ muốn gặp lại.

Đó chính là Otto Schwarz.

Tôi vĩnh viễn không thể quên được cái ánh mắt băng giá và nụ cười độc ác của ông ta vào cái ngày mà chúng tôi gặp nhau lần đầu.

Lúc đó cũng là lúc ông ta chào hỏi cha tôi và chuẩn bị ra về.

Tôi đứng lại sau rặng cây tùng, nghe thấy ông ta cười lớn, nói với cha tôi rằng: "Đúng là một cơ hội tuyệt vời.

Hẳn là anh đang vui mừng lắm, ngài Đại tá von Hartenfels."

"Nhưng tương lai thì không biết được khi nào cơn giông đổ xuống."

Họ vẫn còn đứng đó nói chuyện với nhau một lúc, vì tôi không muốn chạm mặt Otto nên đã đi vòng ra phía hàng rào thấp và trèo vào trong.

Tôi đã chạy thẳng đến phía trang trại, tôi phải ngồi chờ Stepan 20 phút, cậu ta xuất hiện với bộ dạng lấm tấm mồ hôi trên mặt.

Tôi kể rằng có một âm mưu ám sát nào đó của một đám sĩ quan nhắm vào Quốc trưởng.

Và hình như cha tôi thì sắp được thăng hàm hoặc gì đó.

Tôi không có ý kiến hay bình luận gì về vụ này, chỉ cảm thấy đó là một việc điên rồ.

Chúng tôi đã chơi với nhau đến khi sắc trời chuyển sang màu tím sẫm.

Stepan cũng không nói với tôi nhiều về chuyện chính trị nữa, cậu ấy chỉ kể với tôi những chuyện trong trường học cũ của cậu ở Lviv.

Những lúc này, cậu ấy nói rằng không muốn làm tôi căng thẳng, chỉ nên nói những chuyện vui vẻ mà thôi.

"Armin!"

Tôi nghe thấy giọng nói quen thuộc phát ra từ sau lưng tôi, khi quay đầu lại, tôi cứng đờ người khi thấy cha tôi đứng cách chúng tôi khoảng sáu bước chân.

Tôi đứng dậy, khi tôi còn ngơ ngác thì ông ấy đã tiến đến gần, túm lấy Stepan và hất văng cậu ấy ra xa, cả hai chúng tôi đều chưa kịp phản ứng gì cả.

"Sao mày dám nói chuyện với con trai tao, thằng Slavic hạ đẳng?"

Vì cây sơn trà nằm trên một khoảng đất cao hơn xung quanh, Stepan đã ngã lăn xuống dưới, cậu ấy ôm lấy cánh tay và tỏ ra khá đau đớn.

Cậu ấy sợ hãi nhìn tôi, và sau đó nhìn cha tôi đang tiến lại gần.

Ông ấy dùng đế giày da của mình đạp mạnh vào vai Stepan, tôi nghe thấy cậu ấy hét lên và sau đó là thở hổn hển.

"Đó là bạn của con!

Đừng làm thế, thưa cha!"

Tôi cố giữ lấy cánh tay cha tôi, ông ấy nhìn tôi chằm chằm: "Bạn ư?

Mày điên à?

Mày làm bạn với một thằng Slavic?

Mày muốn chết hả, Armin!?"

Cha tôi vẫn luôn giữ bình tĩnh ngay cả những khi tức giận nhất, tôi chưa bao giờ thấy ông ấy trở nên nóng nảy và điên cuồng như hiện tại.

Tôi có thể lường trước việc ông ấy tức giận, đó là lý do tôi luôn đến đây một cách lén lút, nhưng tôi không hiểu vì sao ông ấy lại phản ứng dữ dội đến vậy.

Cha tôi rút khẩu Luger trong bao súng đeo ở thắt lưng ra và lên đạn.

Tôi bàng hoàng và vội vàng giữ lấy tay phải cầm súng của ông ấy, tôi hét lên: "Không!"

"Đó là lỗi của con.

Đừng giết cậu ấy!

Cậu ấy là người bạn duy nhất của con!"

Tôi gào lên trong nỗi tuyệt vọng khủng khiếp: "Ở trường không có ai chơi với con, chúng chỉ chà đạp và bắt nạt con.

Con chỉ có một mình cậu ấy là bạn!

Làm ơn... làm ơn..."

Cha tôi dùng một tay để gỡ tay tôi ra và đẩy ngã tôi trên thảm cỏ, tay phải ông ấy vẫn tiếp tục giương họng súng nhắm thẳng vào đầu Stepan.

Tôi không nhớ gì cả, cũng không nhìn thấy bất cứ điều gì cả, tôi chỉ biết là mình đã ngất đi ngay khi tiếng súng vang lên bên tai.

______🌸_____

Xin phép lấy cảm hứng từ nhân vật lịch sử.

Nhân vật Albrecht Stauffenberg lấy cảm hứng từ Đại tá quý tộc Claus Stauffenberg, và nhân vật Rommel thì chính là người đàn ông toi yêu, Cáo sa mạc - Thống chế Erwin Rommel 🌝
 
Tiếng Vọng Của Cây Dương Cầm - Das Echo Des Klaviers [Sp]
(13)


Tôi mở mắt, mọi thứ trong tầm nhìn cứ nhoè đi, vỡ vụn, không có những ánh nắng xuyên qua rèm cửa, ngực của tôi như bị đè nén bởi một nỗi sợ kinh khủng.

Tôi sợ những chuyện xảy ra là sự thật chứ không phải một giấc mơ.

Mẹ tôi đã ngồi ở đó, lúc nào cũng vậy, mỗi khi tôi bị bệnh hay gì đó, người đầu tiên xuất hiện trong tầm mắt tôi luôn là mẹ.

Tôi ôm lấy mẹ và oà khóc, giọng nói của tôi run rẩy và tôi không cách nào nói rõ ràng từng câu chữ, "Người bạn của con... cha đã bắn cậu ấy... mẹ ơi, cha đã bắn chết cậu ấy."

"Bạn của con ư?

Con đang nói ai vậy?"

Tôi chỉ khóc mà không trả lời.

Chị Paula đã nói với mẹ tôi rằng: "Có lẽ là đứa trẻ người Nga đó."

Tôi gật đầu.

Mẹ tôi đứng dậy và định đi ra ngoài, có lẽ cha tôi đã không nói gì với bà về chuyện đó, khi bà đi đến cửa phòng, cha tôi đã đứng ở cửa, chắn ngay trước mặt mẹ.

Tôi vẫn ngồi ở giường khóc, trong khi mẹ tôi chất vấn cha tôi rằng: "Anh đã giết đứa trẻ à?"

Cha tôi đứng ở đó, thẳng tắp như một cái cột dựng ở cửa phòng, không đội mũ, hai tay đút trong túi quần, có lẽ do ngược sáng, màu xám của bộ quân phục như hoà vào bóng tối, tôi cũng không thể nhìn rõ mặt ông ấy.

Chỉ có viền bạc ở cầu vai hơi sáng lên vì ánh đèn vàng mờ mờ ở hành lang.

"Không."

"Tôi đã bắn sượt qua tay, hoặc vai gì đó.

Nếu tôi không bắn một phát thì có thể kẻ bị xử bắn sẽ là tôi."

Tôi ngừng khóc, và im lặng để chắc chắn rằng mình đã không nghe nhầm.

Mẹ tôi quay lại nhìn tôi, rồi bà hỏi cha tôi rằng: "Thật không, Friedrich?

Thằng bé đã rất hoảng sợ..."

"Tôi làm việc có nguyên tắc, Julianna.

Tôi không giết phụ nữ và trẻ con."

Cha tôi lạnh lùng đáp lại, trong khi cơ thể ông ấy dường như không có chút chuyển động nào.

Khi tôi còn chưa kịp vui mừng, ông ấy nói tiếp: "Nó nên hoảng sợ.

Vì ngay bây giờ, tôi sẽ lột một lớp da của nó xuống."

Cha tôi bước từng bước lại gần giường, tiếng đế giày da trên sàn gỗ ấy luôn làm tôi có một cảm giác bức bối.

Tôi rụt người vào góc, trong khi mẹ tôi vội vàng đứng chắn trước tôi.

"Thử nghĩ xem, nếu một kẻ nào đó nhìn thấy con trai tôi nói chuyện và chơi đùa với một đứa lao động cưỡng bức, chuyện gì sẽ chờ đợi tôi ở phía sau?"

"Vi phạm luật bảo vệ chủng tộc?

Có quan hệ mờ ám với nhóm chủng tộc hạ đẳng?

Hay là... tội phản quốc?

Rồi một kẻ bị ám ảnh bởi chủng tộc học như gã Himmler sẽ làm gì chúng ta?"

Mẹ tôi vẫn che chắn cho tôi phía sau lưng, bà chỉ lắc đầu và nói: "Nó chỉ là trẻ con thôi.

Làm sao nó hiểu được?"

Cha tôi đã quát vào mặt mẹ tôi, điều mà ông ấy chưa bao giờ làm trước đây, "Nó đã mười ba tuổi rồi!

Nó đã được học, được cảnh báo về điều đó, đừng có biện minh rằng nó chỉ là trẻ con nữa!

Sẽ có ngày nó kéo nhà von Hartenfels xuống mồ."

"Hôm nay Otto Schwarz đã đến gặp tôi.

Hắn đã nói với tôi rằng, tương lai không biết khi nào cơn giông đổ xuống.

Cô làm sao hiểu được bọn khốn đó có thể chôn vùi tất cả như thế nào?

Tôi không muốn bị xử bắn một cách lãng nhách vì thằng con ngu ngốc của nhà Kantor."

Cha tôi đẩy mẹ tôi ra, túm lấy tay tôi và kéo tôi khỏi giường, ông ấy xách cổ áo và lôi tôi xuống lầu như một miếng giẻ, dẫn tôi đến gần cánh cửa ở cuối hành lang.

"Mày không biết mày đang đẩy tao vào tình huống như thế nào đâu.

Đồ đầu đất!"

Cánh cửa lặng im rỉ sét dẫn xuống tầng hầm, nó hầu như không bao giờ được mở ra.

Từ khi tôi có nhận thức về ngôi nhà này, tôi chưa bao giờ biết có gì ở đó, có thể là một tầng hầm trữ rượu hay vũ khí thời Phổ, bây giờ thì cha tôi có một phòng để rượu ở trong nhà, ông ấy không sử dụng tầng hầm vì đơn giản là không cần thiết.

Kí ức duy nhất của tôi về nó chỉ là những mảnh ghép rời rạc.

Anh trai tôi vẫn sống như một bá tước từ khi còn nhỏ, anh ấy luôn là trung tâm, mọi thứ đều xoay quanh anh ấy, cha tôi sẵn sàng đồng ý với bất cứ điều gì mà anh muốn.

Ông ấy luôn dành cho Heinrich những thứ tốt nhất nằm trong khả năng của mình.

Cha tôi rất hiếm khi tỏ ra bạo lực với anh, nhưng không phải là nó không xảy ra.

Lần cuối cùng mà tôi nhớ, khi đó tôi khoảng bảy tuổi còn anh ấy mười hai tuổi, tôi không cao đến vai anh ấy.

Cha tôi đã bảo anh ấy xuống tầng hầm trong một buổi tối mùa đông.

Tôi không bao giờ biết được lý do, cũng không bao giờ biết chuyện gì đã xảy ra.

Hồi đó tôi và anh ấy vẫn còn ngủ cùng phòng với nhau, tôi đã rất lo lắng và đứng ở bên ngoài, áp tai vào cánh cửa và cố gắng lắng nghe.

Tất cả những gì tôi nghe thấy là tiếng la hét, sau đó âm thanh nhỏ dần và cuối cùng là sự im lặng.

Khi cha tôi ra ngoài và nhìn thấy tôi, ông ấy đã gọi mẹ tôi đến với vẻ tức giận và yêu cầu bà mang tôi về phòng, hoặc là ông ấy sẽ ném tôi xuống tầng hầm luôn.

Vậy là hôm ấy tôi phải ngủ một mình.

Tôi vẫn luôn tò mò và nhiều lần hỏi mẹ tôi về chuyện đó nhưng bà không bao giờ trả lời.

Thậm chí là bắt tôi phải ngủ ở phòng khác và không được vào gặp anh Heinrich.

Có một hôm tôi cố ý lẻn vào trong phòng khi mẹ tôi không để ý và chạy nhanh đến bên giường.

Tôi nhìn thấy anh trai tôi, người mà ngày thường luôn bước qua hành lang với bộ dạng thẳng lưng, đầu ngẩng cao, áo quần ủi phẳng, mái tóc vuốt sáp bóng mượt và nụ cười kiêu hãnh.

Anh ấy nằm ở đó và đang ngủ, tóc rũ xuống, môi rách toạc như thể anh ấy đã cắn rất chặt, mẹ tôi vội vàng kéo chăn che kín người anh ấy và kéo tôi ra ngoài.

Mẹ tôi ít khi nổi giận với tôi nhưng hôm đó bà đã gắt lên với tôi.

Mẹ nói rằng anh Heinrich bị cảm và sẽ lây cho tôi.

Nhưng chính mắt tôi nhìn thấy máu thấm ra tấm khăn lót trên ga trải giường.

Về sau, không ai nhắc đến chuyện đó nữa, cha tôi đối với Heinrich cũng như thể chưa từng có chuyện gì xảy ra, vẫn xoa đầu, vẫn khen ngợi, vẫn gọi anh là 'đứa con trai của Phổ'.

Nhưng tôi sẽ không bao giờ quên bộ dạng mất hồn như một con rối của anh ấy những ngày sau đó.

Cha tôi mở chốt khoá cửa, kéo tôi bước xuống những bậc thang, hơi lạnh từ tầng hầm phả vào người tôi, một mùi ẩm của rượu và thuốc súng, mùi của thời gian.

Cái đèn trần treo lủng lẳng đã vỡ một nửa và hỏng từ lâu, chỉ còn ánh sáng chập chờn của những ngọn nến chiếu vào bức tường đá, trần thấp và gạch ngấm nước.

Tôi nhìn thấy mấy cái ghế cũ, móc treo trên tường gỉ sắt có những sợi dây, roi da và cây baton ngắn đầu kim loại.

Chân tôi ngay lập tức nhũn ra, tôi đã cố gắng bám chặt lấy tay vịn cầu thang và không chịu buông ra, giằng tay ra khỏi bàn tay cha tôi rồi cố gắng chạy lên cầu thang.

Nhưng tôi nhận ra cánh cửa đã bị cài chốt và nó cao hơn tầm tay của mình.

Tôi tuyệt vọng ngồi xuống ngay sát cánh cửa và gào lên: "Mẹ ơi, làm ơn, cứu con ra khỏi đây!"

Cha tôi không vội vã, đi đến giữa phòng kéo lấy một cái ghế và ngồi xuống, ông ấy nói với tôi rằng: "Đây là chuyện giữa hai chúng ta."

Tôi lắc đầu, tay ôm lấy đầu gối và nghẹn ngào: "Con không biết... con không nghĩ mọi chuyện nghiêm trọng như vậy.

Con thấy mẹ vẫn có thể nói chuyện với chị Paula..."

Cha tôi hơi nghiêng đầu, "Mày đã bao giờ thấy mẹ mày nói chuyện với nó ở ngoài căn nhà chưa?"

Tôi ngẩn ra, rồi cha tôi hỏi lại: "Có không?"

Tôi không trả lời, ông ấy nói: "Ở đây không có ai ngu ngốc đến mức làm bạn với một đứa Slavic công khai như mày đâu.

Ngay trong một cái khuôn viên có đến hàng chục binh sĩ canh gác.

Thật may vì chưa có tên SS nào nhìn thấy và tố cáo rằng nhà von Hartenfels có quan hệ mờ ám với Slavic."

Tôi lại sợ hãi nhìn căn phòng và những thứ như thuộc về thời Trung cổ, tim tôi muốn ngừng đập, chưa bao giờ mà tôi cảm thấy mình sẽ chết như lúc này.

Cha tôi chỉ khẽ cười và nói bằng giọng điệu bình thản đến rợn người: "Mẹ mày luôn nói rằng tao khắc nghiệt với mày.

Mẹ mày chẳng hiểu gì cả.

Thực ra thì tao đã đối xử với mày quá nhẹ nhàng, đến mức não của mày không biết cách hoạt động."

"Nhìn này, một đứa con trai của Phổ sẽ lớn lên trong tầng hầm như thế này đấy."

Ông ấy nhếch miệng, giọng nói thì hơi trầm xuống: "Đôi khi nó quen thuộc còn hơn phòng ngủ nữa...

Nhưng tao chưa bao giờ làm thế với mày, phải không Armin?"

"Anh trai mày thì có một lần.

Nhưng nó thông minh hơn, ít nhất là nó không cần người ta phải dạy nhiều lần.

Vài lần là đủ rồi."

Cha tôi cứ độc thoại, với dáng vẻ như kể lại một câu chuyện thú vị gì đó trong quá khứ, điều đó làm tôi sợ hãi.

Ông ấy im lặng một lúc, rồi chỉ nói cụt ngủn: "Lại đây."

Tôi không nhúc nhích, cơ thể lùi sát vào cánh cửa, tim đập dồn dập.

Cha tôi vẫn ngồi vắt chéo chân trên chiếc ghế gỗ, ông ấy ngoắc tay và lặp lại thêm một lần nữa, giọng nói có vẻ mất kiên nhẫn hơn: "Lại đây, Armin.

Nhanh lên, thằng khốn!"

Rõ ràng, cha tôi chẳng bao giờ quan tâm đến cái gọi là nuôi dạy hay giáo dục con cái, điều mà ông ấy vẫn luôn thốt ra.

Thứ ông ấy cần đơn giản là một thứ gì đó để trút cơn bực tức cuồng nộ của mình, thoả mãn cái tâm lý vặn vẹo điên rồ hằn sâu từ trong tiềm thức, thậm chí còn chẳng phải là do Chủ nghĩa Quốc xã hay chế độ gây ra.

——🌭——

Thật khó để lột tả hết vibe của mấy tay lính Duck.

Nhưng quả là vibe phản diện ở khắp mọi nơi. @hanphan90

[Tại đây có đăng tải GIF hoặc video.

Hãy cập nhật ứng dụng ngay bây giờ để hiển thị.]

(Klaus Jager - Film: T-34)

Năng suất gõ phím để phấn đấu hoàn truyện không quá 15 chương.

Và toi sẽ lên núi ở ẩn tiếp.
 
Tiếng Vọng Của Cây Dương Cầm - Das Echo Des Klaviers [Sp]
(14)


Cha tôi lại bắt đầu hút thuốc trong im lặng, cứ như muốn xem thử hai chúng tôi ai sẽ kiên trì hơn.

Tôi đứng dậy, chậm chạp đi đến trước mặt ông ấy, hai chân run đến mức suýt ngã mấy lần dù khoảng cách không đến ba mét.

Tôi nhìn thấy phía sau, ở góc tường có một cái xô đầy nước với khoảng năm hay sáu cành cây liễu gai, và một cuộn dây dưới sàn, thế là tôi lại bắt đầu khóc nấc lên.

Còn cha tôi thì vẫn ngồi ở đó hút thuốc trong khoảng vài phút.

Sau đó ông ấy đứng dậy, đá cái ghế tựa sang một bên và kéo một băng ghế dài ở trong góc ra, bề mặt của nó đã mòn và bị xước khá nhiều, chân ghế cố định những dây đai bằng da hay gì đó.

"Nằm xuống đi."

Tôi vội vàng cởi áo ngoài và bắt đầu tháo thắt lưng của mình ra như một phản xạ.

Nhưng khi chạm vào khuy quần shorts, tay tôi khựng lại như bị đóng băng, tôi ngước lên nhìn cha tôi.

Ngay cả anh Heinrich cũng khóc, tôi yếu hơn anh ấy rất nhiều, tôi cứ nhớ mãi vẻ mặt thản nhiên, cái đầu ngẩng cao của anh ấy lúc đi xuống tầng hầm, và rồi cả cái cách anh ấy im lặng cúi đầu suốt những ngày sau đó.

Sự kiêu hãnh và tự tin của anh đã bị đập vỡ tan nát chỉ sau một đêm.

"Nhanh lên."

Cha tôi thúc giục.

"Đừng làm như thế với con.

Đừng làm với con như với anh Heinrich..."

Cha tôi khuỵu một bên gối và ngồi xuống trước mặt tôi, ông ấy nắm vai tôi và kéo tôi lại gần, chỉ tay vào bức tường gạch loang lổ những vết vôi vỡ, nơi treo những cái roi da và nói rằng: "Nếu tao định làm thế thì tao sẽ dùng cái đó, và khi đó thì mày chết chắc, hiểu không?

Vì thế nhanh lên, đừng làm mất thời gian nữa."

Ông ấy vẫn quan sát trong lúc tôi cố gắng tháo cái khuy quần bằng đôi tay gần như mất điều khiển, so với khoảng sáu năm trước, gương mặt ông ấy không thay đổi quá nhiều, nhưng đôi mắt màu xám trở nên tối hơn, những biểu cảm trên gương mặt cũng đơ cứng hơn, hoặc có thể do tôi không nhớ được rõ.

Tôi nghiêng đầu về bên trái, má phải chạm vào mặt gỗ lạnh ngắt đầy bụi, hai tay nắm vào chân ghế, rồi tôi lại ngẩng đầu nhìn cha tôi.

Ông ấy khoanh tay đứng đó, nheo mắt nhìn tôi một lúc, ngón cái tay phải đỡ dưới cằm, ngón trỏ áp nhẹ vào môi dưới, giống đang suy nghĩ và cân nhắc cái gì đó.

Thế rồi cha tôi cúi xuống, buộc cổ tay tôi bằng sợi dây da được cố định ở chân ghế.

Thì ra ông ấy chỉ đang đánh giá khả năng chịu đựng của tôi, y như dáng vẻ đánh giá cái bản đồ chiến lược.

Cha tôi rút một cành liễu khỏi xô nước, gần như đã chuyển sang màu đen vì ngâm nước quá lâu, nó cong xuống, tôi có thể nghe được tiếng nước nhỏ giọt trên sàn đá.

Ông ấy lấy một cái khăn màu xám gấp làm bốn trong túi áo ra và bắt đầu lau một cách chậm rãi.

Cha tôi luôn mang theo một đống khăn tay trong người, mẹ tôi nói là do ông ấy bị mắc bệnh sạch sẽ, tôi đã nhìn thấy ông ấy đút khăn tay vào cả túi áo ở ngực và túi áo bên sườn mỗi khi chuẩn bị đi làm, một cái khăn lau mặt, một cái khăn lau tay, với một cái khăn lau tẩu thuốc, bây giờ thì ông ấy lại lấy ra một cái khác.

Tôi nhắm chặt mắt lại, gần như nín thở, đế ủng da gõ từng tiếng xuống sàn đá và dừng lại ở sau lưng tôi.

Một tiếng 'vút' cắt ngang không khí và ngay sau đó là cảm giác mọi giác quan nổ tung, cơ thể tôi giật mạnh như một phản xạ, tiếng hét bật ra khỏi cổ họng, tôi sợ hãi khi âm thanh đó vọng lại vào tai mình.

Giờ thì tôi đã hiểu vì sao ông ấy phải cố định cổ tay tôi lại.

Cha tôi đặt ngang cành cây liễu trên thắt lưng tôi, nó lạnh và hơi ẩm, và nó cắt vào người tôi vài lần nữa.

Tôi bắt đầu giãy giụa, đá chân, sợi da siết chặt vào cổ tay làm tay tôi tê buốt.

Nhưng khi tôi còn chưa kịp hít thở thì ngọn roi lại đặt lên người tôi, những cú đánh liên tiếp gần như không có khoảng cách giữa chúng.

"Không!

Con không thể!

Nó đau."

Tôi rú lên, tầm nhìn của tôi chẳng còn gì ngoài nước mắt, có một cảm giác ướt át nào đó, mà tôi nghĩ là có thể đã bị chảy máu, hoặc mồ hôi, hoặc cả hai.

Cha tôi dịch chuyển ngọn roi xuống dưới và lặp lại y hệt như vậy.

Tôi mới nhận ra trước kia ông ấy dường như chưa bao giờ dùng hết sức lực, rồi bàng hoàng nhận ra mình đang bị xé nát từng chút một như thế nào.

Cảm giác xót và rát len lỏi vào từng lớp da, xuyên sâu vào trong xương tuỷ, tôi nhìn cái xô nước trong góc tối, giờ thì tôi biết nó không chỉ là nước.

"Đây là một bài học, mà mấy đứa ngu ngốc như mày sẽ cần phải ghi nhớ nó mãi mãi."

"Tháng bảy, những sĩ quan tạo phản và cả những người bị nghi ngờ có quan hệ ngầm với tù nhân Ostvolk hoặc Do Thái đã bị xử bắn, hoặc đưa lên giá treo cổ..."

Cha tôi bước đến trước mặt tôi, tay trái đưa ra sau lưng, giữ hờ khuỷu tay phải đang cầm cành liễu và đi qua đi lại vài bước, giống như tư thế tản bộ.

"Con trai của họ bị đưa vào trại cải tạo của SS, bị tước đoạt danh tính và không ai biết chúng sẽ ra sao.

Thống chế tối cao của SS, Himmler đã nói trong cuộc hành quyết, những kẻ phản bội nên bị tiêu diệt đến thế hệ thứ ba."

"Otto Schwarz hẳn là đang mong chờ cái ngày mà hắn đưa tao lên giá treo cổ lắm.

Vì tao đã từng gọi hắn là một con chó săn.

Buồn cười thật, một con chó săn sợ người khác gọi mình là một con chó săn."

"Chỉ một tuần nữa thôi, tao cũng sẽ trở thành một Đại tá Wermacht, nhưng bọn SS thì có thể bắt giam và treo cổ một Đại tá OKH như tao mà không cần thông qua bất cứ toà án nào, chỉ cần chúng đánh hơi được gì đó để cáo buộc."

Trước đây, cha tôi không bao giờ nói với tôi nhiều như vậy, ông ấy luôn thể hiện rõ sự khinh thường và không muốn tốn nhiều thời gian cho việc nói chuyện với tôi.

Trong khi ông ấy có thể ở trong phòng làm việc và nói chuyện hàng giờ đồng hồ với anh Heinrich về một vấn đề nào đó.

Ông ấy lại bước ra phía sau lưng tôi, chỉ có tiếng rít gào của ngọn roi trong không gian tĩnh lặng và tiếng thét của tôi trong tuyệt vọng.

"Làm ơn... dừng lại đi!

Nó đau quá, con không thể, làm ơn."

Có một tiếng 'rắc', ngay sau một cú đánh mạnh vào dưới đùi của tôi, ngay cả khi nước làm tăng độ bền và độ dẻo dai, cành liễu vẫn bị gãy.

Tôi bật ra một tiếng hét khàn khàn, cổ họng đau rát, cơ thể như bị chia làm mấy phần và bị thiêu cháy.

Cha tôi rút một cành khác ra và lại bắt đầu lau nó bằng khăn.

Đầu tôi nặng như chì, bất lực và yếu ớt nghiêng sang một bên, lớp áo vải lanh dính bết vào sống lưng tôi vì mồ hôi lạnh liên tục thấm ra.

Tôi không có sức để đếm xem đã bao nhiêu roi trôi qua, nhưng khá nhiều, đến mức tôi gần như hoàn toàn kiệt sức và nằm ở ghế như một con cá chết.

Những cú đánh tiếp theo lại giáng xuống mà không báo trước, tôi thấy cổ tay mình đã bị siết đến mức tím lại, tiếng hét của tôi khàn đi, những lời nói cũng không rõ ràng nữa.

Tôi nghe thấy tiếng đập cửa và tiếng mẹ tôi ở bên ngoài cánh cửa sắt, bà đang khóc, "Friedrich, thằng bé rất yếu, đừng làm như vậy với nó!

Nó không phải Heinrich, nó sẽ chết!"

Cha tôi không thèm quan tâm đến những lời nói của mẹ tôi, ông ấy chỉ lạnh lùng tiếp tục như để hoàn thành một nhiệm vụ.

Tôi gục đầu xuống, không khí trong tầng hầm ngột ngạt, tôi choáng váng và bắt đầu cảm thấy mắt mờ đi.

Tôi nghĩ mình sắp ngất, và tôi cũng mong là thế.

"Armin."

Tôi không thể ngẩng đầu lên, chỉ nghe thoáng qua hình như cha tôi gọi tên tôi, ông ấy nắm lấy vai tôi và lay một cái, mặc dù tôi chưa hoàn toàn bất tỉnh nhưng không còn sức để phản ứng.

Mọi thứ lặng đi một lúc, đột nhiên cằm của tôi bị bàn tay cứng ngắc nắm chặt lấy và buộc tôi ngẩng đầu lên, khi tôi còn chưa kịp nhìn rõ mọi thứ trước mắt, một cái gì đó ẩm và lạnh dí thẳng vào dưới mũi tôi.

Mùi hăng và nồng của cồn xộc thẳng lên đến tận não, tôi giật bắn người, ho sặc sụa, tim đập dồn dập và thở gấp, thứ đó kéo tôi về với hiện thực.

Đầu óc của tôi tỉnh táo hoàn toàn, tôi nhìn thấy cha tôi gấp lại cái khăn và bỏ vào túi áo cùng với một lọ thuỷ tinh đựng dung dịch màu trắng đục.

"Đừng bất tỉnh sớm như thế.

Chưa xong đâu."

Cha tôi nói.

Tôi lạnh sống lưng, không phải vì đau mà vì cái hành động rùng rợn đó của ông ấy.

Cha tôi đứng chờ một lúc, cho tôi thời gian hô hấp và lấy lại tinh thần trước khi ông ấy quay lại vị trí cũ.

Tôi lắc đầu, thều thào trong tiếng nấc: "Đừng..."

Tôi đã phải chịu đựng sự kinh hoàng sau đó với cái đầu hoàn toàn tỉnh táo.

Ngay cả việc mất đi nhận thức cũng xa vời, điều duy nhất tôi có thể làm là lắng nghe âm thanh trong cổ họng mình đang vỡ ra.

Tiếng mẹ tôi đập tay vào cửa yếu dần, bà khóc nức nở và kêu lên: "Friedrich, anh là một kẻ tâm thần!

Ai đó làm ơn cứu con trai tôi..."

Khi cả người tôi đã ướt đẫm mồ hôi và có lẽ cả máu, cha tôi đã dừng lại, ông ấy tháo sợi dây siết chặt cổ tay của tôi ra rồi bảo tôi mặc đồ vào.

Tất nhiên là tôi không cách nào cử động được.

Ông ấy cúi xuống cầm cái quần shorts của tôi lên.

Lớp vải cotton chạm vào da làm tôi rên rỉ và vật vã, động tác nhanh và không có chút nhẹ nhàng nào, mọi việc chỉ diễn ra trong khoảng một phút.

Tôi chưa kịp cảm ơn Chúa vì chuyện này đã kết thúc thì cha tôi cầm cuộn dây thừng lên và kéo một cái ghế, đứng trên nó rồi luồn sợi dây vào cái móc trên trần nhà.

Sợi dây quấn vài vòng quanh hai cổ tay tôi và siết lại.

Rồi tôi bị kéo khỏi cái ghế, dễ dàng và gần như không tốn sức.

Cơ thể tôi nâng lên, hai tay bị kéo căng quá đầu, mũi chân từ từ nhấc khỏi sàn nhà, lưng và phần dưới cơ thể tôi bỏng rát như vẫn đang bị thiêu đốt.

Tôi nhìn thấy rõ những khớp xương ngón tay của mình trắng bệch.

"Không... không...

đừng đối xử với con như thế!

Con xin lỗi, con chỉ không biết..."

Lúc đầu tôi chỉ cảm thấy mỏi, nhưng chỉ vài phút sau, cổ tay tôi như sắp bị cắt đứt, khớp vai thì như bị tháo rời.

Tôi bắt đầu giãy giụa, đá chân và gào lên trong tuyệt vọng, nhưng điều đó chỉ làm cho sợi dây siết chặt vào cổ tay tôi hơn.

"Mẹ ơi!

Làm ơn, hãy làm gì đó...

Đây là thời Trung Cổ.

Tay của con đau quá!

Nó sẽ gãy mất!"

Sau vài phút giãy giụa, tôi dần kiệt sức, để mặc cơ thể đung đưa giữa không trung như một con rối đứt dây, nhưng đầu vẫn còn tỉnh táo đến đáng sợ.

Ngực tôi co thắt, cảm thấy máu dồn xuống mũi chân, tôi thở dốc và cố kêu lên bằng giọng khàn đặc: "Con không thở được."

"Friedrich, không!

Đồ tâm thần.

Tôi sẽ ly dị với anh, tôi sẽ mang con tôi về Hungary!"

Cha tôi đứng trước mặt tôi, khoanh hai tay trước ngực và quan sát như đánh giá một đồ vật.

Ông ấy liếc qua đồng hồ ở cổ tay phải và lại nhìn tôi, "Còn tỉnh à, Armin?"

Lúc này mắt tôi hơi mờ đi và hơi thở khò khè.

Cha tôi chậc lưỡi và nói: "Mười bảy phút, lâu hơn Heinrich.

Thằng nhóc đã ngất xỉu ở phút thứ mười ba."

Ông ấy đừng một chút rồi nói tiếp: "Có lẽ do tác dụng của Amoniac loãng."

Ông ấy quay lưng lại, đi lên cầu thang và mở cửa.

Mẹ tôi chạy vào trong, khi nhìn thấy tôi, bà ngã quỵ dưới sàn và hét toáng lên.

"Chúa ơi, con tôi!

Chết tiệt, bọn Đức Phổ khốn kiếp!"

Mẹ tôi lúc ấy dường như không phải một bà mẹ Đức nữa, bà chỉ là một người mẹ Hungary.

Mẹ tôi dùng tay túm lấy áo cha tôi và liên tục thét lên: "Thả con trai tôi xuống, thả nó xuống ngay!

Nó chỉ là một đứa trẻ!

Ôi Chúa ơi, hãy làm gì đó, anh ta đang giết con trai con!"

"Chúa chỉ có thể đón nó về với Người chứ không cứu nó khỏi trại cải tạo của SS được đâu."

Cha tôi gạt tay mẹ tôi ra và nói: "Hãy nghĩ tích cực một chút.

Trong trường hợp tôi và cô bị tử hình, thì đây có thể sẽ là một cuộc tập dượt giúp nó thích nghi với trại cải tạo."

Mẹ tôi ngơ ngác nhìn cha tôi, và bà nói: "Đồ điên."

"Albrecht chết rồi.

Anh ta bị xử bắn ngay trong sân Bộ Tư lệnh quân đội."

"Ai cơ?"

Mẹ tôi hơi sững lại, cha tôi vẫn đứng với tư thế khoanh tay và nói một cách thản nhiên: "Albrecht Dietrich von Stauffenberg.

Kẻ chủ mưu vụ ám sát tháng bảy chính là anh ta.

Thống chế von Witzleben, người dự kiến sẽ tiếp quản quyền chỉ huy tối cao của Wehrmacht sau đảo chính đã bị treo cổ.

Bốn Đại tướng, hơn hai mươi Đại tá, khoảng ba mươi lăm Trung tá, hàng trăm sĩ quan của OKH và OKW, bốn ngàn người liên quan hoặc bị cáo buộc bởi các vụ có quan hệ với chủng tộc thấp kém đều bị xử tử.

Đó là lý do mà tôi được thăng hàm vào tháng tới, một loạt vị trí sĩ quan OKH đang bị bỏ trống."

Tôi không bao giờ biết trước được cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa tôi và Đại tá von Stauffenberg cũng là cuộc gặp gỡ cuối cùng, với một lời hẹn dang dở.

Trong lòng tôi có cảm giác lạ, nó đau.

"Họ bị xử bắn hoặc treo cổ, những kẻ thi hành chính là SS.

Leopold của gia tộc von Hassel, Wernher của gia tộc von Steuben...

Tôi đã chứng kiến họ bị treo cổ trên dây đàn dương cầm, biểu tượng của văn hóa quý tộc Phổ.

Đó là một sự sỉ nhục, rằng chính văn hóa của họ đã siết lấy cổ họ."

"Otto Schwarz đã đến, có lẽ hắn muốn nói rằng, rồi một ngày tôi sẽ là quý tộc trên dây đàn dương cầm tiếp theo."

Cha tôi ngẩng đầu và nhìn tôi một cách chăm chú, "Tôi đã nghĩ Heinrich sẽ ra sao?

Nó là đứa trẻ được nuôi dạy để trở thành giới tinh hoa nước Đức.

Tôi không dám tưởng tượng việc nó bị đưa đến mặt trận trừng phạt với tỉ lệ sống sót không đến 50%.

Rồi tên khốn đó cho tôi xem ảnh con trai của các sĩ quan tạo phản trong trại cải tạo, có Anselm trong số đó.

Chúng tra tấn thằng bé, vì nó kiên quyết nói rằng mình mang họ von Stauffenberg.

Hắn hỏi tôi rằng, giả sử là đứa con trai uỷ mị của tôi thì sẽ trụ được bao lâu?"

Mẹ tôi im lặng như thể còn đang trong cú sốc.

Cha tôi bước ra phía sau tôi, một tay vòng qua thắt lưng, ôm chặt và nhấc tôi lên.

Khi trọng lực giảm đi, tôi cố gắng hô hấp.

Sợi dây bị cắt đứt và tôi đổ vào người cha tôi như một bao cát.

Cổ tay tôi đã biến thành màu đỏ sẫm và sưng lên như một quả mận, nó tím đen và rỉ máu.

Tôi không còn chút khả năng cử động nào, để mặc cho cái đầu gục xuống trên vai cha tôi.

Lời nói cuối cùng của ông ấy mà tôi nghe thấy lúc đó là: "Giờ thì tôi đã có câu trả lời cho câu hỏi của Otto Schwarz.

Thằng ngốc này sẽ chết sau nửa ngày."

Tôi đã ngất lịm đi ngay sau đó, và tỉnh lại ở ngày thứ tư, với hai cổ tay quấn băng trắng xoá.

Từ eo trở xuống cũng phải băng lại bằng một cuộn băng vải lanh.

Đầu tôi đau đến mức tôi chỉ muốn ngủ thiếp đi tiếp.

Người mà tôi nhìn thấy không phải mẹ mà là anh Heinrich.

Lúc đó anh ấy đang thay băng và gạc.

Tôi không nói gì cả, chỉ im lặng nhìn anh và hô hấp một cách khó khăn.

Anh ấy cũng im lặng, chóp mũi của anh hơi đỏ, và rồi cả mắt anh cũng đỏ.

Anh ấy chạm vào vải băng cổ tay tôi và trầm ngâm, bỗng dưng anh khóc, chỉ một giọt nước mắt chảy xuống và anh gạt nó đi ngay.

Heinrich đã ngồi ở đó với tôi rất lâu, không ai nói với ai điều gì cả.

Anh ấy chỉ thỉnh thoảng véo nhẹ vào má tôi hoặc cười với tôi một cách gượng gạo.

Giữa hai chúng tôi chỉ là một khoảng lặng, có thể anh đang thương hại tôi, còn tôi thì lại nghĩ về anh của quá khứ.

Người hoàn hảo như anh cũng không thể thoát ra khỏi cái lồng của tư tưởng cũ và tầng hầm của những đứa con trai Phổ.

Còn tôi thì không thể thoát khỏi những xiềng xích của chế độ trói buộc lấy linh hồn mình.

—————

Mới kiếm được cái vid quá đã, vibe khớp với tưởng tượng của toi về anh bé Heinrich qué ahuhu.

Mong là ngủ dậy không bị YT gõ bay video. =)))))

Học viên Trường Chính trị Napola - Albrecht Stein (Trong phim thì vai này là vai tốt ಠ_ಠ )

[Tại đây có đăng tải GIF hoặc video.

Hãy cập nhật ứng dụng ngay bây giờ để hiển thị.]
 
Tiếng Vọng Của Cây Dương Cầm - Das Echo Des Klaviers [Sp]
(15) - END


Tôi không thể chợp mắt được nữa, khi những cơn mưa rào và giông đổ về, tay tôi lại đau buốt.

Những dây thần kinh dường như bị kích thích và phản ứng với sự thay đổi của thời tiết.

Mẹ vuốt nhẹ tóc tôi trong lúc bác sĩ thay băng cổ tay, tôi thấy trên băng y tế dính máu.

Bác sĩ nói tôi bị phù nề và bong gân cổ tay, không thể hoạt động tay nhiều trong khoảng ba tuần đến một tháng.

Đây quả thật là kỳ nghỉ hè tệ hại nhất trong đời.

Bác sĩ thông báo tình trạng và liệt kê những việc cần làm, không nói gì ngoài phạm vi công việc.

Cha tôi cũng ở đó, không có vẻ lo lắng lắm, vẫn với tư thế khoanh tay và ánh mắt thờ ơ đánh giá tình hình.

Anh Heinrich đã gắt lên với cha tôi: "Chết tiệt thật.

Sao cha lại làm thế với thằng bé?

Nó không phải lính của cha!"

Cha tôi chỉ nói: "Đừng nói chuyện bằng cái giọng đó, Heinrich."

"Không cần nghiêm trọng hoá vấn đề đâu.

Chẳng qua chỉ là một cuộc thử nghiệm thôi...

Một cuộc thử nghiệm dành cho mấy thằng ngu."

Mẹ tôi không quan tâm đến những gì cha tôi nói, bà chỉ nói với tôi: "Khi con ổn hơn, chúng ta đến Hungary nhé."

Tôi thấy anh Heinrich ngơ ngác nhìn mẹ tôi và lại nhìn cha tôi.

Còn tôi chỉ nhìn bàn tay mẹ đang nắm lấy tay mình, trong lòng tôi như có một tia hi vọng về một tương lai tốt đẹp nào đó, tôi hỏi nhỏ: "Mẹ sẽ li dị thật à?"

"Đồ ngốc.

Rồi mày nghĩ toà án nào sẽ duyệt đơn li dị cho mẹ mày hả?"

Cha tôi mỉa mai và cười khẩy.

"Thậm chí kể cả điều đó xảy ra, thì mày và anh mày cũng không thể rời khỏi Đức được đâu nên hãy quên chuyện đó đi."

Mẹ tôi quay đầu, ánh mắt bà nhìn cha tôi như một lưỡi dao, và mẹ nói với tôi: "Không phải đâu, chỉ là mẹ sợ chúng ta sẽ gặp nguy hiểm."

Anh Heinrich vẫn không hiểu gì cả, anh ấy hỏi: "Chuyện gì vậy?"

Cha tôi thản nhiên nói rằng: "Muộn rồi, Julianna.

Những sĩ quan cấp cao của OKH và OKW đều đang trong tầm ngắm, em nghĩ họ sẽ để em xuất cảnh hay sẽ ngay lập tức bắt giam phục vụ điều tra?"

Mẹ tôi đứng dậy, "Cái gì?

Tôi có quốc tịch Hungary!"

"Giới lãnh đạo nghi ngờ chính phủ Horthy có ý định đàm phán với quân Đồng Minh, các lực lượng SS và Wehrmacht đã được điều động tới kiểm soát, phong toả toàn bộ Hungary từ tháng 3.

Nhưng dù sao, mọi thứ sẽ sớm sụp đổ.

Romania đã đầu hàng, theo phán đoán của tôi, sớm nhất là giữa tháng 9, muộn nhất là tháng 11, quân Liên Xô sẽ tiến vào Hungary."

Mẹ tôi bị sốc, anh Heinrich cũng vậy.

Mẹ tôi ngồi sụp xuống trên cái ghế sofa, và bà bắt đầu khóc.

Tôi biết mẹ tuyệt vọng như thế nào, vì những người thân của bà vẫn còn ở Hungary.

Lúc này, tôi đã cảm nhận một cách chân thực nhất, rằng nước Đức cũng trên bờ vực sụp đổ.

Chưa bao giờ tôi ốm nặng như thế, tôi bị sốt suốt cả tuần trong khi đã được tiêm và uống thuốc.

Căn phòng chìm trong ánh sáng mờ nhoè xuyên qua tấm rèm mỏng, tôi cảm thấy như đang trôi dạt.

Những vết thương âm ỉ và căng ra mỗi khi cử động nhẹ, tôi chẳng ăn được gì cả, vì mỗi lần có chút gì đó đi vào dạ dày là tôi lập tức nôn thốc.

Tôi mơ hồ nhìn cánh tay với cái ống dẫn truyền glucose cắm vào tĩnh mạch, và cái bình thuỷ tinh lơ lửng trên giá y tế cạnh giường.

Tôi bị tỉnh giấc vì nghe thấy một âm thanh chậm rãi, giai điệu trầm lắng len lỏi trong căn phòng im lặng.

Đó là chương thứ hai 'Adagio Cantabile' của bản nhạc Pathétique.

Tôi nhìn về phía cây đàn và thấy cha tôi ngồi ở đó, ông ấy không mặc quân phục mà chỉ khoác một cái sơ mi trắng, tay áo xắn và cổ áo mở lơi.

Tôi nghĩ là do tôi bị bệnh nên sinh ra chứng hoang tưởng.

Vì suốt thời thơ ấu cho đến hiện tại, tôi chưa từng thấy cha tôi chơi đàn, như anh Heinrich nói, tôi nghĩ ông ấy không biết chơi đàn.

Nhưng có vẻ là sự thật.

Vì kể cả hoang tưởng thì tôi cũng sẽ không tưởng tượng ra một tiếng đàn tầm thường như thế.

Tôi gọi nó là mức trung bình, không có gì nổi bật, nhưng không đến nỗi tệ, không hẳn là ông ấy học âm nhạc cổ điển ở mức kém.

Từ góc nhìn này, gương mặt ông ấy vẫn không có biểu cảm gì, hơi cúi xuống theo nhịp những ngón tay.

Cha tôi chơi đàn như thế khoảng mười phút, rồi ngồi ở đó trong im lặng.

Tôi nghe thấy ông ấy lẩm bẩm một mình: "Cuối cùng thì danh dự hay cốt cách cũng chỉ đến thế.

Lãng xẹt thật đấy, anh bạn."

Tôi vội vàng nhắm mắt lại và giả vờ ngủ khi thấy cha tôi đứng dậy.

Tiếng đế giày tiến lại gần giường ngủ làm tôi không dám nhúc nhích.

Mọi thứ lại im lặng, tôi tự hỏi ông ấy đứng im lặng trước giường tôi lâu như thế làm gì.

Rồi bước chân xa dần, cho đến khi tiếng cánh cửa phòng đóng lại, tôi mở mắt và cảm thấy mọi chuyện như một giấc mơ.

...

Giống như cha tôi dự đoán, quân Liên Xô đã tiến vào Hungary qua lãnh thổ Romania vào tháng 10 năm 1944.

Cũng ở thời điểm đó, Liên Xô đã chiếm lại hoàn toàn Ukraina, trước đó là Belarus.

Hướng Tây, quân Đồng Minh đã kiểm soát Pháp, Bỉ và Hà Lan.

Có mấy đứa con trai của các sĩ quan Wehrmacht trong lớp tôi đã nói chuyện với nhau, bắt đầu có những câu hỏi kiểu như, liệu quân Đồng Minh có tiến vào lãnh thổ Đế chế không?

Thống chế Rommel qua đời vào tháng 10, do vết thương từ cuộc chiến.

Đó là lần hiếm hoi mà anh Heinrich suy sụp.

Dù sao, đó là vị tướng mà anh tôn sùng nhất trong quân đội Đế chế.

Anh ấy khóc và nói với mẹ tôi rằng, anh thậm chí chưa có cơ hội được gặp gỡ trực tiếp và nói chuyện với ông ấy một lần.

Những ngày cuối năm 1944, cha tôi thường đi lại chậm rãi trong phòng khách, trước tấm cửa vòm bằng kính nhìn ra vườn.

Tôi không gặp lại Stepan, tôi biết cậu ấy an toàn, thế là đủ.

Anh Heinrich nói sẽ mang cậu ấy đến đây cho tôi, nhưng tôi không muốn gây thêm bất cứ rắc rối nào nữa, nhất là đối với anh.

Một đêm đông tuyết mù mịt, cuối tháng mười hai, cha tôi không về nhà còn mẹ tôi thì đã đi ngủ sớm vì đau đầu.

Anh Heinrich đã nói với tôi rằng sẽ ra ngoài một lúc.

Tôi ở trước lò sưởi, cuộn tròn trên sofa, khi nghe thấy tiếng cửa mở và tiếng gió rít qua khe cửa vào trong nhà, tôi ngoảnh đầu lại và nhìn Heinrich, tuyết phủ trắng vai áo khoác của anh.

Rồi anh cười với tôi: "Xem anh có gì cho em này."

Tôi kêu lên phấn khích khi anh ấy kéo Stepan từ sau lưng ra và đẩy về phía tôi.

Mặt cậu ấy tái mét và run rẩy.

Cậu ấy nhìn tôi và lại quay đầu nhìn anh Heinrich.

Anh tôi hỏi: "106, đúng không?

Nó không sõi tiếng Đức.

Làm thế nào mà em nói chuyện với nó vậy?"

"Bọn em nói tiếng Anh."

Tôi trả lời.

Tôi nói với Stepan rằng: "Tớ xin lỗi, vì chuyện hôm đó."

Cậu ấy không trả lời, chỉ khẽ lắc đầu một cái, môi mím chặt, tôi tưởng cậu ấy đang tức giận tôi, nhưng khi nhìn anh Heinrich, tôi chợt hiểu và nói: "Không sao, đó là anh trai tớ.

Anh ấy nói sẽ đưa cậu đến gặp tớ.

Cha tớ sẽ không về nhà đâu."

Cậu ấy nói với tôi rằng: "Tớ không trách cậu, Armin."

Anh Heinrich nói với tôi: "Anh đã nói với bọn lính canh rằng sẽ chọn một đứa Ostvolk và tặng cho người khác.

Kể cả nó không quay lại đó thì cũng không ai nghi ngờ đâu.

Bây giờ em có thể để nó ở đây."

Tôi hỏi: "Nhưng làm thế nào...?"

Anh ấy cười: "Ngày mai anh sẽ nói chuyện với cha vụ này.

Nhưng với điều kiện, nó không được ra khỏi căn nhà.

Giờ thì hãy nói rằng anh là anh trai tuyệt vời nhất trên đời."

Tôi ôm chặt lấy thắt lưng của anh và cười trong hạnh phúc: "Anh là anh trai tuyệt vời nhất trên đời."

Rồi cha tôi đồng ý chuyện này.

Không có bất cứ cuộc tranh luận nào, trong khi Heinrich đã chuẩn bị một bài diễn thuyết từ trước.

Anh ấy có vẻ khá thất vọng.

Cha tôi chỉ nói: "Sao cũng được."

Dạo này, ông ấy bận đến mức gần như không rảnh để nhìn mặt chúng tôi.

Chúng tôi đã cùng nhau trải qua mùa đông, cùng nhìn tuyết rơi qua cửa sổ và so sánh tuyết ở Đức lạnh hơn hay tuyết Viễn Đông lạnh hơn.

Tôi cũng nghĩ tuyết Viễn Đông lạnh hơn, cô Krause từng nói quân Napoleon đã phải rút lui vì lạnh khi tiến vào Moskau.

Tháng 2 năm 1945, Budapest thất thủ.

Mỗi ngày, mẹ tôi ngồi lặng bên cửa sổ hàng giờ đồng hồ, rồi bà lại gục xuống và khóc.

Mẹ tôi không thể liên lạc được với gia đình ở Hungary.

Bà luôn cầm mặt dây chuyền thập tự và lẩm bẩm một mình: "Xin Chúa, hãy cứu lấy chúng con."

Một buổi tối cuối tháng 3, cha tôi đứng bên lò sưởi và trầm tư.

Tôi ngồi cạnh mẹ trên ghế sofa, tôi nghe thấy bà hỏi cha tôi rằng: "Chúng ta có thể đến Thuỵ Sĩ?

Chúng ta sẽ liên lạc trước với cha mẹ của anh."

Ông bà tôi là những quý tộc cũ bảo thủ.

Sau Thế chiến thứ nhất, vương triều của nhà Hohenzoller sụp đổ ở Đức, nhà Habsburg sụp đổ ở Áo - Hung, thời Cộng hoà cũng chấm dứt vào năm 1933.

Khi bắt đầu thời kỳ Quốc Xã, họ đã chuyển đến Thuỵ Sĩ vì không chịu được việc trật tự cũ bị phá hủy trên mảnh đất của mình.

Cha tôi thì lại là người giữ một tư tưởng bảo thủ khác rằng người Đức thì phải được chôn ở Đức.

Dù sao quan hệ giữa cha tôi và ông tôi cũng khá tệ.

"Thư từ và các cuộc gọi luôn bị kiểm soát nghiêm ngặt."

Cha tôi nói.

Tình hình ngày càng hỗn loạn.

Nhưng tôi biết Stepan và Paula chính là những người vui mừng nhất lúc này.

Ngày mà họ trở về nhà đang gần đến.

Thời điểm quân Liên Xô tiến vào Đông Phổ, cũng là lúc diễn ra hàng loạt các cuộc tháo chạy, radio của cha tôi đưa những bản tin mật rằng nhiều sĩ quan SS hoặc Wehrmacht tháo chạy, cố gắng đầu hàng quân Mỹ - Anh ở hướng Tây hoặc trốn sang Argentina, Chile.

Mẹ tôi bắt đầu cãi vã với cha tôi về việc phải tẩu thoát trước khi quá muộn.

Bà lo lắng cho anh Heinrich, anh là học viên Trường Sĩ quan Chính trị, có thể sẽ bị đẩy ra chiến trường.

Trường học thông báo đóng cửa, yêu cầu các học sinh cả nội trú và bán trú phải về nhà.

Mọi người ráo riết di tản ra các vùng ngoại ô hoặc chạy ra nước ngoài.

Cô Krause nói rằng sẽ trở về quê nhà ở ngoại ô Sachsen và chúc tôi bình an.

Tôi đến phòng học âm nhạc cổ điển vào ngày cuối cùng trước khi Aureum Gymnasium đóng cửa.

Thầy Vogel vẫn ngồi trong phòng, ở vị trí quen thuộc của thầy, làm tôi có cảm giác thầy chưa bao giờ rời khỏi căn phòng đó.

"Thưa thầy, khi nào thì thầy sẽ di tản ạ?"

Thầy Vogel nhìn tôi, không trả lời câu hỏi của tôi mà chỉ đưa cho tôi một bản nhạc và bảo tôi hãy chơi bản Sonata số 16 cung Đô trưởng, K.545 của Mozart.

Tôi không thường chơi bản nhạc này vì nó quá dễ.

Tôi không hỏi gì thêm, chỉ ngồi xuống cây đàn và đặt tay lên phím trắng.

Chỉ có tiếng dương cầm, lặng lẽ, yên ả, trái ngược với thế giới ngoài kia.

Khi chơi xong bản nhạc, tôi nhìn thầy Vogel.

Thầy mỉm cười và đặt một tay lên phím đàn, giọng nói của thầy trầm ấm: "Năm 1914, đêm trước Lễ Giáng Sinh, chúng tôi đang ở mặt trận phía Tây, phía bên kia là quân Anh, có cả một số quân Pháp và Bỉ.

Chúng tôi băng qua chiến hào, dò dẫm trong đêm để thu thập thi thể đồng đội..."

"Rồi chúng tôi ngồi lại với nhau, cả phe Liên Minh và phe Hiệp Ước, binh sĩ và sĩ quan, chúng tôi cùng tổ chức Lễ Giáng Sinh.

Chúng tôi có xúc xích với giăm bông, người Anh mang sô cô la và trà.

Mọi người trao đổi cho nhau, kí vào những tấm thiệp chúc mừng.

Tôi nhớ lúc đó phe Hiệp Ước có một anh bạn người Scotland nào đó chơi đàn accordion, bản Sonata số 16 cung Đô trưởng."

Thầy vẫn kể bằng giọng điệu nhẹ nhàng, nhưng mắt thầy thì đã hơi đỏ lên: "Ngày hôm sau, cuộc chiến lại tiếp tục.

Chúng tôi bắn về phía nhau trong khi đêm trước còn là những người bạn...

Chiến tranh khốc liệt như thế đấy."

Thầy Vogel nói với tôi rằng thầy sẽ không di tản mà sẽ ở lại đây.

Tôi vẫn nhớ thầy nói rằng: "Bây giờ, tôi đã không còn sợ tiếng bom rơi nữa.

Rồi sau khi tiếng bom biến mất, âm nhạc sẽ lại cất lên."

Trước khi tôi ra về, thầy nói với tôi: "Chúc bình an, Armin."

"Chúc bình an, thầy Vogel."

Cuối tháng 4, Mussolini bị xử tử, Vương quốc Ý là cột mốc tiếp theo sụp đổ trên bản đồ phe Trục.

Quân Liên Xô tiến về hướng Berlin như những cơn sóng, tôi biết hồi kết đã đến gần.

Những đợt bom rung chuyển cả nước Đức.

Các binh sĩ làm làm việc trong khuôn viên nhà tôi tháo chạy, viên quản sự cũng vậy, lần cuối tôi thấy hắn là khi hắn cởi bỏ đồ lính, xách túi đồ và chạy trong đêm mưa.

Mẹ tôi bảo với những người Ostvolk rằng sẽ không ai ngăn cản họ chạy khỏi đây.

Họ hoài nghi, họ vui mừng, nhưng rồi cũng không biết mình sẽ đi đâu.

Chị Paula nói với mẹ tôi rằng: "Bây giờ chúng tôi sẽ chạy về hướng Đông."

Mẹ tôi buồn bã đứng đó, nói rằng họ có thể lấy đồ hộp hay bánh mì trong kho mang theo.

Lúc ấy, cha tôi đã lái xe về nhà từ Bộ Tổng tư lệnh.

Những người Ostvolk sợ hãi khi thấy cha tôi, họ đứng sát vào một chỗ với nhau, có lẽ họ sợ rằng cha tôi sẽ bắn họ.

Cha tôi chỉ nói với Paula rằng: "Đừng chạy về hướng trung tâm Berlin.

Quân SS đang kháng cự quyết liệt với quân Liên Xô.

Hãy chạy đến trại Großbeeren, SS đã rút khỏi đó sau khi Otto Schwarz tẩu thoát.

Trong khoảng vài ngày nữa, quân Liên Xô có thể sẽ đến đó."

Ông ấy đưa cho chị Paula một bản đồ, tôi nhìn qua, ở đó đánh dấu các tuyến đường có quân SS và ghi chú những tuyến đường có thể đi."

Paula chần trừ trước khi nhận lấy nó, và chị ấy vẫn nhìn cha tôi một cách cảnh giác.

Anh Heinrich thẫn thờ bước xuống từ ô tô, anh ấy nói với Paula: "Hãy sử dụng mấy chiếc xe đó, hãy đi đi, rời khỏi nơi khốn nạn này..."

"Chúc may mắn, bà von Hartenfels.

Tạm biệt, Armin."

Chị Paula nhìn mẹ và tôi, rồi vội vàng đi theo những người khác về phía nhà để xe.

Tôi kéo Stepan ra xa, ấn mặt dây chuyền ngôi sao David vào lòng bàn tay cậu ấy.

Cậu ấy nhanh chóng nhét vào túi áo ngực và nói với tôi: "Đưa cuốn sổ của cậu cho tớ."

Tôi không hiểu, nhưng vẫn đưa nó cho cậu ấy.

Stepan rút cây bút ra và ngồi xuống viết.

Tôi thấy cậu ấy lật trang cuối và viết bằng tiếng Anh: 'Stepan Petrovych Kozachenko, 14 tuổi, lao động cưỡng bức người Liên Xô.

Cha tôi là kĩ sư cơ khí Petro Mikhailovych Kozachenko, mẹ tôi Sara Ranevskaya, là người dân tộc Do Thái, chị gái tôi là liệt sĩ Mira Petrivna Kozachenko, chiến đấu trong Lực lượng Du kích Ukraina và hi sinh ở Galicia, anh trai tôi Kazimir Petrovych Kozachenko, là lính bắn tỉa của Hồng quân.

Nhà tôi ở Số 11 phố Valova, căn hộ số 3 gần nhà thờ Bernardine, thành phố Lviv, Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Ukraina.

Bạn của Armin Wilhelm von Hartenfels."

Cậu ấy còn viết thêm một đoạn mà tôi nhìn không hiểu, có lẽ vẫn là đoạn bên trên nhưng bằng tiếng Nga.

"Nếu cậu gặp quân Đồng Minh, hãy đưa cho họ đọc.

Cậu đã bảo vệ tớ, bây giờ tớ bảo vệ cậu."

Cậu ấy nhìn tôi một lúc, rồi vội vàng chạy theo những người Ostvolk.

Tôi đứng đó, nhìn theo cho đến khi cậu ấy leo lên chiếc xe bán tải và khuất dần sau rặng cây dẻ gai, những giọt nước mắt lăn dài.

"Đó sẽ là cơ hội cứu sống chúng ta."

Cha tôi nhìn theo họ và nói.

"Chúng ta sẽ đi về phía quân Anh, ngay bây giờ."

"Con sẽ không làm lính đào ngũ!

Bây giờ con sẽ quay lại Kriegsschulen và chiến đấu!"

Anh Heinrich nói.

Cha tôi ngay lập tức tát anh ấy một cái, "Đừng có ngu ngốc nữa.

Những đứa ở Napola và Kriegsschulen bị đẩy ra tuyến đầu rồi cũng chết thôi."

"Con không sợ chết.

Chính cha đã dạy con phải sống với tư cách một người lính Phổ.

Chứ không phải bỏ chạy hèn hạ như thế."

Anh ấy gay gắt, còn mẹ tôi chỉ biết khóc.

Cha tôi im lặng.

Khi anh định quay lưng ra khỏi cửa, cha tôi hỏi: "Heinrich, con chiến đấu vì Phổ hay vì Đảng Quốc Xã?

Con nghĩ rằng Rommel thực sự chết vì vết thương sao?"

Anh tôi sững lại, cha tôi đến trước mặt anh và nói với anh: "Chủ mưu vụ ám sát bị xử bắn ngày 20 tháng 7 chính là Đại tá von Stauffenberg, anh ấy không chịu được chính sách độc đoán đi ngược lại với văn hóa Phổ.

Giết những kẻ không có sức phản kháng là sự sỉ nhục đối với các nguyên tắc và tinh thần quân sự Phổ, đó là điều bọn SS làm.

Các sĩ quan dự định sẽ dựng chính quyền mới và thoả hiệp với Đồng Minh để cứu vãn nước Đức."

Anh Heinrich lùi lại và lắc đầu, mắt anh trợn trừng: "Không..."

"Rommel bị buộc phải tự sát, cũng liên quan đến một cuộc đảo chính.

Ông ta không trực tiếp tham gia, nhưng đám SS ghét ông ta.

Chúng đã thuyết phục được lãnh tụ.

Hitler đã ra một mật lệnh yêu cầu ông ta tự sát để gia đình không bị liên luỵ.

Đó là chính quyền mà con muốn phục vụ, một chính quyền không có chỗ cho những quân nhân thuần tuý."

Anh Heinrich ngã quỵ trên sàn và gào lên, tuyệt vọng, sụp đổ khi mà lý tưởng của anh tan vỡ.

Cha tôi ngồi xuống, ôm anh vào lòng và nói với anh rằng: "Chúng ta sẽ đầu hàng quân Anh.

Sẽ ổn thôi.

Con là một người xuất sắc, rồi con sẽ trở thành một sĩ quan, phục vụ một nước Đức khác.

Khi quân Anh thẩm vấn, con hãy thành thật và khai báo lý lịch rõ ràng, con là học viên Kaiserliche Kriegsschule, không liên quan đến SS, không tham gia bất cứ tội ác diệt chủng nào, chưa từng tham chiến, và con phụng sự dân tộc Đức ở bất cứ hình thái nào."

Anh trai tôi khóc nức nở như một đứa trẻ, và anh ấy gật đầu.

Cha tôi xoa đầu anh và nói: "Giỏi lắm, con trai."

Ông ấy như nhớ ra gì đó, vội vàng lên phòng làm việc.

Tôi cũng đi lên phòng của mình trong lúc cha mẹ tôi chuẩn bị, tôi chỉ lấy cái đồng hồ và mặt dây chuyền trong hộp nhạc rồi bỏ vào túi.

Sau đó ngồi nhìn cây đàn dương cầm mãi, rồi tôi gục xuống khóc trên phím đàn.

Cha tôi bước vào phòng tôi, đưa cho tôi hai tờ giấy và nói: "Khi quân Anh hỏi lý lịch, hãy đưa cái này cho họ."

Ông ấy thở dài: "Đôi khi là một việc tốt."

Tôi cầm lấy, đó chính là văn bản đình chỉ học vì vi phạm kỉ luật Đoàn Thanh Niên của tôi.

Và văn bản xin nghỉ các buổi huấn luyện vì vấn đề sức khỏe.

Cha tôi đẩy cái nắp đàn dương cầm lên.

Một tiếng kêu khô khốc, trầm và ngắn của bản lề gỗ, rồi nắp đàn từ từ hé mở, để lộ ra những sợi dây kim loại xếp thẳng tắp.

Trong ánh mắt ngơ ngác của tôi, cha tôi đưa tay chạm vào từng dây đàn và im lặng, ánh mắt đầy tâm trạng.

Sau đó ông ấy đóng lại nắp đàn và đi xuống nhà.

Chúng tôi lái xe tiến thẳng về hướng Tây, cha tôi cầm cái bản đồ trên tay trái, tay phải trên vô lăng.

Chúng tôi di chuyển không ngừng nghỉ trong suốt hai ngày, chỉ dừng lại khoảng 10 đến 15 phút xem bản đồ hoặc đổi hướng vì tuyến đường bị hư hại do bom.

Tôi ngủ gục trong xe ô tô, cho đến khi mẹ gọi tôi dậy và nói: "Trạm gác của quân Anh ở phía trước."

Cha tôi không che giấu thân phận sĩ quan Wehrmacht của mình trước quân Anh.

Những người lính Anh hướng nòng súng và bảo chúng tôi giơ tay lên, khi chắc chắn chúng tôi không mang theo vũ khí, họ đã để chúng tôi vào trong.

Mọi chuyện có vẻ dễ dàng hơn vì ba trong số bốn người chúng tôi biết tiếng Anh.

Người Anh thẩm vấn khá kĩ, cha tôi trả lời tất cả những câu hỏi của họ mà không che giấu điều gì.

Họ cũng đã hỏi tôi, trong lúc những người khác lục soát đồ đạc trong người.

Khi họ hỏi về việc có tham gia chế độ sử dụng lao động cưỡng bức hay không, tôi nói có.

Nhưng tôi nói rằng, tôi không bao giờ bạo lực với những người đó và đã cố gắng giúp đỡ, tôi có một người bạn trong số đó là người Do Thái.

Một binh sĩ người Anh đã tát vào mặt tôi hai cái, khiến tôi lảo đảo và ngã xuống đất, "Đừng có nói dối với tao, thằng phát xít nhỏ!"

Mẹ tôi chỉ có thể hét lên bằng tiếng Đức: "Đừng đánh thằng bé!"

Binh sĩ Anh đó tức giận và xách cổ áo tôi lên, nhưng một người lính khác đang kiểm tra giấy tờ và đồ đạc của chúng tôi đã nói: "Khoan đã, Kevin.

Có vẻ thằng bé không nói dối."

"Đây, nhìn cái này đi."

Người lính Anh đứng dậy khỏi bàn, mở cuốn sổ ghi chép của tôi ra và đưa cho binh sĩ tên Kevin.

Họ xem xét kĩ lưỡng và hỏi tôi rằng: "Cháu nói cậu bé là người Do Thái?"

Tôi trả lời: "Cháu không rõ lắm.

Cậu ấy nói cha cậu ấy là người Cossack và mẹ là người Do Thái, cậu ấy còn có một ngôi sao David, mang theo trong lúc chạy đến phía quân Liên Xô.

Trang cuối có thông tin cá nhân của cậu ấy."

"Người phụ nữ này là ai?"

Người lính Anh chỉ tay vào bức ảnh mà tôi chụp mẹ tôi và chị Paula.

Tôi nhìn và nói: "Chị ấy tên là Paula, một lao động người Ba Lan."

Tôi quay lại nhìn mẹ tôi, vì bà không hiểu tiếng Anh nên vẻ mặt bà vẫn vô cùng hoảng sợ.

Còn cha tôi thì nhìn tôi với ánh mắt đầy ngạc nhiên.

Sau đó họ tiếp tục thẩm vấn cha và anh trai tôi.

Cha tôi chỉ vào một tập hồ sơ mà họ chưa mở ra kiểm tra, ông ấy nói: "Trong đó là thông tin cá nhân của con cái những sĩ quan bị xử tử sau cuộc ám sát Hitler, tháng 7 năm 1944.

Tôi đã bí mật lưu giữ trước đó, chúng bị tước đoạt danh tính và đưa vào trại cải tạo, rất khó để xác định và trả lại danh tính sau chiến tranh.

Nhưng không phải tất cả, tôi chỉ lưu giữ được thông tin liên quan đến các sĩ quan OKH, chỉ có một số của OKW."

Người Anh nói rằng sẽ bàn giao hồ sơ lại cho lãnh đạo lực lượng Đồng Minh sau khi tiếp quản Berlin.

Những binh sĩ Anh tỏ ra nhẹ nhàng hơn với chúng tôi.

Họ đưa tôi sang một phòng khác để chờ, và đi lấy cho tôi một túi chườm đá.

Khoảng một giờ đồng hồ sau, họ cho tôi gặp cha mẹ và anh trai.

Mẹ tôi ôm lấy tôi và nói: "Con giỏi lắm, con trai.

Họ nói sẽ liên lạc với phía bên kia."

Cha tôi im lặng một lúc rồi đi đến trước mặt tôi, ông ấy cúi xuống, ôm tôi vào lòng và hôn vào trán tôi.

Đó là lần đầu tiên ông ấy làm như vậy với tôi, kể từ khi mà tôi bắt đầu có nhận thức về cuộc đời.

Ông ấy chỉ nói với tôi rằng: "Armin, cha xin lỗi.

Vì tất cả mọi chuyện."

Tôi không nói gì cả.

Tôi cảm thấy phần nào nhẹ nhõm, dù đó chỉ là một chút tình cảm hay dao động muộn màng.

Nhưng tôi biết sâu thẳm trong lòng mình, tôi không tha thứ cho cha, vì những nỗi đau mà chính ông ấy đã gây ra cho tôi suốt thời thơ ấu.

Ở trong khu vực quản lý của người Anh, tôi đã nghe được tin Hitler tự sát ngày 30 tháng 4, trong căn hầm làm việc ở Berlin.

Quân SS vẫn chống cự tới những phút cuối.

Tháng 5, Đức ký văn bản đầu hàng vô điều kiện, Đế chế hoàn toàn sụp đổ.

Vì phương tiện liên lạc khó khăn, phải đến hai tháng sau, người Anh mới hoàn tất liên lạc và xác nhận thông tin với phía Liên Xô.

Những người Ostvolk đó đã đến được trại tập trung và chờ quân Liên Xô vào giải phóng, họ đã làm chứng lời khai của chúng tôi.

Trong khoảng thời gian đó, tôi vẫn cùng mẹ ở trong trại của người Anh.

Tôi và mẹ trở về Berlin vào tháng 7.

Chúng tôi ở trong một bệnh xá cũ thuộc khu vực tập trung của dân thường Đức, mẹ tôi đã tham gia vào đội ngũ y tá chăm sóc dân thường bị thương, nhờ những kinh nghiệm của bà ngày trước.

Chúng tôi sống bằng viện trợ lương thực của quân Đồng Minh trước khi những giấy tờ sở hữu nhà được Toà án Amtsgericht phê duyệt.

Phải đến giữa năm 1946, họ mới hoàn tất xác minh tài sản thuộc sở hữu cá nhân từ thời Phổ và không bị trưng dụng bởi Hội đồng Kiểm soát Đồng Minh, chúng tôi mới có thể về nhà.

Nhưng mất quyền sở hữu một số tài sản nhà đất khác ở Potsdam.

Anh trai tôi bị đưa vào một trại cải tạo của quân Đồng Minh trong gần một năm và được thả vì không ghi nhận tội ác chiến tranh.

Anh sống trong tình trạng u uất, quân đội Đức đã bị giải thể, nhiều bạn học cũ ở Kriegsschule của anh đã chết trong trận Berlin vì bị đưa ra tuyến đầu.

Anh chỉ có thể giết thời gian trong trang trại với đàn cừu, hàng ngày vác cái xẻng, tìm cách trồng cây lại trên mảnh đất khô cằn của chúng tôi.

Cha tôi bị giam giữ ở Anh hơn bốn năm, vì phục vụ trong Lục quân Đức Quốc Xã và tham gia chế độ sử dụng lao động cưỡng bức.

Tôi đã đọc một tờ báo về Toà án Nuremberg.

Hàng loạt sĩ quan và binh sĩ SS bị xử tử, Otto Schwarz bị treo cổ vào tháng 12, bởi những tội ác kinh hoàng mà ông ta gây ra.

Số khác chạy thoát sang Argentina, nhưng một số bị các đặc vụ ám sát hay bắt cóc đưa về nước và xử tử.

Trên báo, người ta vinh danh những người như Đại tá von Stauffenberg, Thống chế Rommel, hay Thống chế von Witzleben là những người Đức quả cảm, họ chụp Anselm von Stauffenberg với bức ảnh của cha anh.

Anh không khóc, chỉ nói với một nụ cười: "Cha tôi đã sống và chiến đấu như một người lính Phổ chân chính."

Cha tôi trở về vào năm mà chính phủ mới ở Tây Đức được thành lập, năm 1949, khi ấy ông chỉ mới bước sang tuổi bốn mươi hai.

Ông được quân đội Anh thuộc Lực lượng Đồng Minh tuyển dụng với kinh nghiệm về các chiến thuật chiến tranh đô thị và hậu cần quân sự.

Ông ấy gọi đó là trò hề.

Dù vậy, ông cũng nói rằng đó là điều may mắn, với tư cách sĩ quan phụ trách các vấn đề mặt trận miền Đông, nếu bị Liên Xô bắt được thì ông ấy xong đời.

Cha tôi đã kịp chuyển một nửa tài sản sang Thuỵ Sĩ năm 1944, đứng tên bởi bà tôi và vẫn để ở đó ngay cả khi ông ấy về Đức.

Cha tôi nói bằng giọng vui mừng rằng nếu ở Đông Đức thì chúng tôi đã bị tịch thu và quốc hữu hoá toàn bộ tài sản.

Ông ấy vẫn luôn như thế, một kẻ thực dụng thuộc cái đám theo chủ nghĩa vị kỷ.

Trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh, bức tường Berlin chia cắt nước Đức.

Mâu thuẫn Đông - Tây giữa hai trục Yalta do Mỹ và Liên Xô đứng đầu mỗi trục trong trạng thái căng thẳng.

Cha tôi coi đó là một sự trừng phạt, ông ấy chưa bao giờ nguôi nỗi đau nước Đức bị xé làm đôi.

Tôi chẳng bao giờ tìm được thông tin về Stepan hay Paula nữa.

Thư cũng không được hồi đáp, có lẽ do kiểm soát khắt khe của Liên Xô ở Đông Âu.

Cha tôi bảo Heinrich đăng ký vào lực lượng Cảnh sát Polizei.

Trong nỗi chán nản và thất vọng vì hiện thực, anh ấy làm theo.

Rồi anh ấy cũng gọi đây là một trò hề.

Khi Lực lượng Biên phòng BGS thành lập năm 1951, anh ấy ngay lập tức nộp đơn và công tác trong lực lượng này do không chịu nổi việc làm trong Polizei.

Sau năm 1955, Lực lượng Vũ trang Cộng hoà Liên bang Đức Bundeswehr được thành lập, ngày mà anh tôi chờ đợi, ngày mà anh trở thành sĩ quan Lục quân cuối cùng cũng đến.

Còn cha tôi tiếp tục phục vụ quân đội Cộng hòa Liên bang Đức mười bảy năm, cho tới khi ông nghỉ hưu vào năm 1972 với hàm Chuẩn tướng Tham mưu.

....

Năm 1989, bức tường Berlin chia cắt Đông Đức, Tây Đức sụp đổ, chiến tranh lạnh sắp kết thúc và căng thẳng Đông Tây gần như sắp chấm dứt, tôi có một buổi biểu diễn tại Berlin Konzerthaus, trong một đại nhạc hội mừng nước Đức thống nhất.

Sau buổi biểu diễn, khi tôi định trở về khách sạn, thư ký đã nói với tôi rằng: "Có một nhà văn Đông Âu muốn gặp mặt, ông ấy nói rằng có hẹn với ngài."

Tôi ngạc nhiên và không nhớ được mình có cuộc hẹn nào.

Tôi hỏi: "Ông ấy có nói tên không?"

"Ở đây có danh thiếp."

Thư ký đưa cho tôi.

Khi tôi mở ra, tờ danh thiếp không ghi gì cả, chỉ có duy nhất một dòng chữ nổi.

'Kozachenko'

Những ký ức đã mờ nhoè bởi năm tháng bỗng ùa về.

Nó như đưa tôi trở lại thời thơ ấu, dưới gốc cây sơn trà, một buổi chiều thu năm 1943.

———END———

Do muốn kết ở chương 15 nên nó dài vcl.

Gõ muốn rời tay.

Có thể đây là bộ cuối mà toi viết, vì giờ toi cũng không còn cảm hứng sau khi đã viết qua nhiều bối cảnh mà mình thích.

Hơn nữa cũng áp lực vì sợ văn phong đã xuống dốc.

Hôm đăng chương đầu méo ai vote toi hoảng gần chet, tưởng mình viết tệ đến thế cơ.

Vì thế cảm ơn mọi người đã đến đây nha.

[Tại đây có đăng tải GIF hoặc video.

Hãy cập nhật ứng dụng ngay bây giờ để hiển thị.]

Nổi dậy tháng Bảy - Claus von Stauffenberg.
 
Tiếng Vọng Của Cây Dương Cầm - Das Echo Des Klaviers [Sp]
Spank film scene (2)


Ê biết là có mấy khứa vào đây follow và đọc truyện của tôi do cái tag ww2 chứ không phải là đu sp.

Sorry các ae vì những thứ dị giáo này.

( ಠ_ಠ )

Một lần nữa, đội ơn mấy anh Nga ngố trên VK vì đống scene phim mlem mlem vcl. =))))))

Phim Đức - Deutschstunde 2019

[Tại đây có đăng tải GIF hoặc video.

Hãy cập nhật ứng dụng ngay bây giờ để hiển thị.]

Phim Nga - Davay pozovom monstra 2017

[Tại đây có đăng tải GIF hoặc video.

Hãy cập nhật ứng dụng ngay bây giờ để hiển thị.]

Phim Anh - Another Country 1984

[Tại đây có đăng tải GIF hoặc video.

Hãy cập nhật ứng dụng ngay bây giờ để hiển thị.]

Phim Ireland - Amongst Women 1998

[Tại đây có đăng tải GIF hoặc video.

Hãy cập nhật ứng dụng ngay bây giờ để hiển thị.]

Phim Tiệp Khắc - Spravna trefa 1987

[Tại đây có đăng tải GIF hoặc video.

Hãy cập nhật ứng dụng ngay bây giờ để hiển thị.]

Phim Mỹ - John John in the sky 2001

[Tại đây có đăng tải GIF hoặc video.

Hãy cập nhật ứng dụng ngay bây giờ để hiển thị.]

Phim Mỹ - The Better Angels 2014

[Tại đây có đăng tải GIF hoặc video.

Hãy cập nhật ứng dụng ngay bây giờ để hiển thị.]

Phim Nga - Arje 2004

[Tại đây có đăng tải GIF hoặc video.

Hãy cập nhật ứng dụng ngay bây giờ để hiển thị.]

Phim Pháp - Astrakan 2022

[Tại đây có đăng tải GIF hoặc video.

Hãy cập nhật ứng dụng ngay bây giờ để hiển thị.]

Phim Mỹ - David Copperfield 1935

[Tại đây có đăng tải GIF hoặc video.

Hãy cập nhật ứng dụng ngay bây giờ để hiển thị.]

Phim Mỹ - Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên 1974

[Tại đây có đăng tải GIF hoặc video.

Hãy cập nhật ứng dụng ngay bây giờ để hiển thị.]

Phim Đức - Cũ quá không tìm được tên 🙂))

[Tại đây có đăng tải GIF hoặc video.

Hãy cập nhật ứng dụng ngay bây giờ để hiển thị.]

Hành tinh Nga trên VK hài vch.

Đọc được 1 cái cmt dưới cái scene phim Nga: "Sao người Nga chúng ta ngày xưa hay phải cởi quần khi bị đánh nhỉ?"

-> Rep: Thằng ngoo, người ở éo đâu chả thế? 😾
 
Tiếng Vọng Của Cây Dương Cầm - Das Echo Des Klaviers [Sp]
Ngoại truyện: Mặt nạ hoàn hảo


Do các người kêu gào đòi viết về anh iu toi quá nhiều, nên toi đã cố gõ phím nốt. umereich Hoagngnn trucvann_ Đây nhé, cảm ơn các đồng chí.

lieuha08 Mi_lliu4488 Yêu lắm mấy ní này, bám toi 4 năm lận, giờ lên núi tu luyện thật đây. =)))))

—————

***

"Một học sinh xuất sắc của Aureum Gymnasium gian lận thi cử và bị đình chỉ học, tuyệt vời thật.

Tôi đã phải xin nghỉ giữa chừng để đến đó, và phải cúi đầu trước hiệu trưởng để nhận cái văn bản này."

Người mẹ ôm mặt khóc trên ghế sofa, còn người cha vò nát tờ giấy và ném vào lò sưởi.

Heinrich đứng lặng giữa nhà, mặt tái nhợt và tay siết chặt.

Cậu không thể quên được những ánh mắt dồn về phía mình của những học sinh trong lớp, ngạc nhiên, khinh thường, thoả mãn hay hồi hộp.

Còn gì bất ngờ hơn một học sinh luôn đứng đầu khoá bị đình chỉ thi ngay lập tức vì gian lận?

"Con đã quên lịch thi, con không có đủ thời gian ôn tập.

Con sợ sẽ không thể đứng đầu..."

Friedrich chống tay vào bệ lò sưởi, đầu cúi thấp và bật cười đầy chán nản: "Vậy nên mày làm chuyện hèn hạ này, huỷ hoại danh dự của bản thân và gia đình như thế?

Không phải mày luôn kiêu ngạo vì năng lực của mình sao?

Mày không thấy nhục à, Heinrich?"

"Thằng bé chỉ quá áp lực thôi, đừng làm nó sợ nữa."

Người mẹ chỉ biết cố gắng làm bầu không khí dịu xuống.

"Ở Gymnasium, một môi trường hàn lâm đề cao danh dự cá nhân và tính trung thực học thuật, gian lận thi cử là tội danh lớn nhất.

Nếu không phải vì tôi thì nó đã bị đuổi học, và không có trường Sĩ quan Chính trị nào dám nhận một học viên như thế đâu."

Heinrich chỉ im lặng cúi đầu, ngón tay siết chặt lấy ống quần để ngăn bản thân run rẩy.

Đúng lúc đó, Armin đi xuống cầu thang và hỏi: "Mẹ ơi, sao anh Heinrich chưa lên phòng?

Con không ngủ được.

Bây giờ mới tám giờ mà."

"Xuống tầng hầm đi, Heinrich.

Ngay bây giờ."

"Còn mày, biến lên phòng ngay.

Đừng để tao phải bực mình thêm vì cái bản mặt của mày nữa, Armin."

Heinrich nhìn mẹ mình, nhưng bà chỉ ngồi yên trên ghế và lặng lẽ cúi đầu xuống.

Cậu bé hít thở sâu, thẳng lưng, cố giữ cái đầu ngẩng cao, cố tỏ ra bình tĩnh và bước thẳng về phía cuối hành lang.

Có lẽ mọi chuyện sẽ diễn ra nhanh thôi, và sẽ ổn thôi.

Nhưng rồi, Heinrich không bao giờ quên được cảm giác khủng khiếp khi ngọn roi sắc bén đó cắt vào người, từng đường hằn sâu từ thắt lưng đến đùi.

Nó khác với bất cứ thứ gì từng xuất hiện trước đây, như thước kẻ hay cái gậy trên bệ lò sưởi.

Lần đầu tiên mà Heinrich cảm thấy sức chịu đựng của mình cạn kiệt.

Cậu bé bắt đầu la hét và cố gắng vùng vẫy để thoát khỏi sợi dây đang trói chặt cơ thể vào băng ghế, nhưng tất cả chỉ là những hành động vô nghĩa.

"Con rất áp lực.

Con sợ sẽ làm cha mẹ thất vọng.

Con xin lỗi."

"Và bây giờ thì mày làm nhục cha mẹ, làm nhục nhà von Hartenfels như thế?"

"Con hứa sẽ không như vậy nữa đâu!

Con thề!"

Friedrich chậm rãi bước vài bước chân qua lại, và anh ta nói bằng giọng điệu giễu cợt: "Thề trên danh dự à?

Mày làm gì còn chút danh dự nào?

Mày luôn kiêu căng và tự phụ, đôi khi còn chẳng biết mình là ai, và không bao giờ chịu suy nghĩ trước khi làm bất cứ điều gì.

Ước gì Aureum Gymnasium vẫn còn giữ hệ thống quy tắc thời Phổ.

Họ cần phải lôi mấy thằng như mày ra giữa sân trường và đánh một trận."

Không biết mọi thứ đã trôi qua như thế nào.

Tất cả những gì còn sót lại trong tâm trí Heinrich là cái cổ tay bị dây thừng siết chặt như lưỡi dao cắt vào từng mạch máu, trong khi cơ thể lơ lửng giữa không trung.

Có lẽ cậu đã ngất đi ngay lúc ấy và tỉnh lại ở một khoảng thời gian không lâu sau đó, được đặt nằm trên ghế, và không còn sức để la hét hay làm bất cứ điều gì.

Tiếng đế giày quân đội bước xuống từng bậc thang, một vài lọ thuỷ tinh và hộp thiếc được đặt xuống mặt bàn trước mặt.

Nhiệt kế thuỷ ngân được đưa vào dưới cánh tay và giữ ở đó một lúc.

Friedrich rút nhiệt kế ra, nhìn qua và nói: "37.9 độ, không sốt cao lắm."

Anh ta lấy một gói điện giải dạng bột của quân đội, đổ vào ly nước và dùng thìa khuấy tan, sau đó kề vào miệng Heinrich và nói: "Uống đi."

Heinrich cố mở miệng và uống từng ngụm nhỏ, sau khi uống hết ly nước điện giải, cảm giác choáng đã giảm đi nhưng cơ thể vẫn rã rời và tim đập nhanh.

Nắp hộp thiếc được mở ra, những lọ iodine màu hổ phách xếp ngay ngắn, cạnh một ít băng gạc y tế và thuốc kháng sinh.

Heinrich rít lên đau đớn khi miếng bông thấm dung dịch ấn vào vết thương hở một cách dứt khoát.

Cuối cùng là một miếng gạc được đặt lên sau khi bôi thuốc kháng sinh, và quấn lại bằng băng y tế.

"Được rồi, đêm nay hãy ở đây và suy nghĩ nhé.

Rồi con sẽ nhớ trong ba tuần tới và cả khi đi học trở lại."

***

Heinrich nằm trên cái giường của mình, nhưng trong đầu chỉ nghĩ đến cái tầng hầm, tiếng đế giày quân đội bước trên sàn và mùi thuốc sát trùng buồn nôn.

Những hành động cứng ngắc như một cái máy, đo nhiệt độ, pha nước điện giải, sát trùng, cuối cùng là rời khỏi đó với cánh cửa đóng lại sau lưng.

Một đêm dài như một mùa đông.

Cậu bé nghĩ đến gương mặt đau khổ và hai mắt đẫm lệ của mẹ dưới ánh đèn phòng màu cam, khi đó Heinrich chỉ nói rằng: "Con rất sợ, suốt đêm con đã gọi mẹ...

Nhưng mẹ ơi, tại sao mẹ không làm gì cả?"

Nước mắt chậm rãi chảy ra từ đôi mắt đỏ bừng, miệng vẫn còn khô khốc và mặn chát vì nước điện giải.

Và giọng nói trầm thấp đó vẫn vang lên ở bên tai, "Ngẩng đầu lên, thằng ngu kiêu ngạo.

Đúng thế, như cách mày ngẩng cao đầu ngày thường ấy."

Ngay cả trong cơn mê, mọi thứ vẫn ám ảnh một cách rõ ràng.

Lớp băng lại được tháo ra, để lộ vùng da thịt loang lổ, những vết thương nứt toác ở thắt lưng, mông và đùi.

Chỉ sau vài giờ, băng gạc lại thấm máu và cần phải thay.

Heinrich run rẩy, thắt lưng hơi cong lên, cổ tay bị thương khẽ dịch chuyển.

Cậu bé thở hổn hển, âm thanh rên rỉ bật ra từ cổ họng đau rát, mồ hôi vã ra như tắm.

Friedrich quấn lại lớp vải băng và buộc cố định ở eo.

Mọi động tác của anh ta nhanh gọn và dứt khoát như cách xử lý vết thương cho một binh sĩ bị thương ở chiến trường mà anh ta từng được học ngày trước.

Bàn tay áp lên má Heinrich, nó nhẹ nhàng và chẳng giống như lúc ở tầng hầm chút nào.

Heinrich sợ hãi khi phải nhìn vào đôi mắt ấy, đó là một đôi mắt lạnh lẽo và xa xăm, ít khi biểu lộ cảm xúc dù là tức giận hay thất vọng.

"Đừng bao giờ như thế nữa.

Và cha sẽ không làm vậy với con nữa đâu.

Nhưng nếu con vẫn không học được, thì lần sau sẽ đau hơn đấy.

Hiểu không, Heinrich?"

Anh ta cúi xuống và hôn nhẹ lên trán Heinrich, nhưng cậu bé chỉ rụt người lại, ánh nhìn đầy hoảng sợ, dè chừng và nước mắt tuôn rơi lã chã.

Heinrich khẽ gật đầu và trả lời trong tiếng nấc: "Vâng...

Con hiểu hết rồi."

Vừa nhắm mắt lại, một buổi sáng mùa thu hiện ra trong tâm trí Heinrich.

Trời không mưa và cũng không có nắng, chỉ có một khung cảnh ảm đạm được tô điểm bằng màu đỏ của lá phong.

Khi đó Heinrich bảy tuổi, mới chuyển đến một căn nhà khác ở Postdam và học ở trường Grundschule.

Hồi trước, cậu không bao giờ dám mời bạn bè về nhà ở Wünsdorf vì sợ ông nội.

Người ông quý tộc cũ đó có vẻ ghét cha mẹ Heinrich và cả cậu bé.

Ông ấy luôn giận dữ với Heinrich trong khi cậu không làm gì cả, hoặc nổi điên vì mẹ không thể dỗ Armin ngừng khóc.

Khi chuyển đến Postdam được nửa năm và làm quen với bạn bè cùng lớp, Heinrich ngay lập tức muốn mời bạn về nhà chơi.

Hôm đó có Felix, Hans và Emil đã đến chơi, mẹ cũng rất vui và chuẩn bị khá nhiều đồ ngọt, dặn Heinrich hãy chơi cùng các bạn trong lúc bà lên phòng và trông chừng Armin đang bị ốm.

Mọi người chạy vòng quanh sân vườn, đá bóng và chơi đủ trò rồi ăn nhẹ đến quá giờ trưa.

"Cha cậu không có ở nhà à?"

Felix hỏi.

"Không, cha tớ vẫn phải đi trực cuối tuần.

Chỉ có mẹ và em Armin ở nhà thôi.

Nói nhỏ thôi nhé, bình thường mẹ tớ hiền lắm, nhưng nếu làm em Armin thức dậy là mẹ tớ sẽ giận."

Emil đang ngồi trên ghế sofa và ăn bánh ngọt, cậu ta đột nhiên nói: "Này, nếu cha cậu về, liệu ông ấy có mắng chúng ta vì đã làm bừa bộn như vậy không?"

"Không sao đâu."

Heinrich cười và lắc đầu.

Emil lại nói: "Lần trước tớ thấy cha cậu đón cậu ở trường rồi.

Nhìn giống y hệt cậu vậy.

Tớ đã nghĩ chắc ông ấy khá vui tính và dễ dãi.

Cha tớ thì lúc nào cũng quát ầm lên.

Cha cậu sẽ không quát ầm lên đâu nhỉ?"

"Ừ, không đâu."

Heinrich cười gượng với Emil, rồi sau đó thở dài.

Khi đồng hồ chỉ 2 giờ chiều, có tiếng đế giày nặng nề và cánh cửa chính đột nhiên mở ra, Heinrich ngẩng đầu, mọi người đều quay lại nhìn.

Người đàn ông có gương mặt khá trẻ, dáng người cao gầy trong quân phục kiểu Cộng hoà Weimar cũ màu xám, cổ áo dựng thẳng, ủng da bóng loáng và một tay cầm chiếc mũ quân đội.

Mái tóc màu vàng tro chải gọn, vuốt ngược ra sau bằng sáp và cắt ngắn ở sát mang tai, đôi mắt xám dường như đang quét qua căn phòng một lượt.

Felix nói nhỏ: "Giống Heinrich quá."

"Tớ đã nói rồi mà."

Emil nói.

"Heinrich."

Cha cậu bé gần như không buồn để tâm đến những đứa trẻ khác, không chào hỏi, chỉ đi đến trước mặt cậu.

Giọng nói không lớn, không nặng nề, chỉ trầm thấp.

Heinrich bỏ quân cờ trên tay xuống, chỉnh lại gấu áo và đứng dậy khỏi tấm thảm Ba Tư trải cạnh lò sưởi.

"Thưa cha."

"Con đã học xong từ vựng tiếng Latin chưa?"

Heinrich cắn khẽ vào môi, lúng túng trước ánh mắt của các bạn đang dồn vào mình, cậu bé ngẩng đầu và nói với giọng gấp gáp: "Con xin lỗi, con quên mất, thưa cha.

Bây giờ con sẽ lên phòng và học ngay."

"Cha đã nói với con rằng sau khi học xong mới được chơi, đúng không?"

Giọng nói vẫn không gay gắt, nhưng nó giống như một lưỡi dao.

Heinrich cứng đờ, sống lưng lạnh buốt.

Cả căn phòng chìm vào im lặng, những đứa trẻ nhìn nhau.

"Tựa vào tay vịn sofa."

Heinrich run rẩy và luống cuống, quay đầu nhìn các bạn đang ngơ ngác nhìn mình.

Cậu bé bắt đầu sợ hãi và nói: "Ở đây ạ?

Nhưng các bạn đang ở đây...

Con sẽ lên phòng ngay ạ."

"Cha không nhắc lại lần thứ hai đâu."

Mặt Heinrich đỏ bừng, đứng như chết lặng, cuối cùng chậm chạm bước đến gần ghế sofa, chống hai tay và cúi người xuống, cơ thể áp vào tay vịn ghế.

Cậu bé run rẩy khi thấy cha mình tháo bao tay ra và đặt lên bàn, rút cây gậy mảnh trên kệ lò sưởi xuống.

Emil há hốc miệng, hai mắt trợn tròn, cả ba đứa trẻ đều hoá đá ngay giây phút ấy.

Tiếng rít qua không khí im lặng, Heinrich bật khóc ngay sau cú đánh đầu tiên, mạnh và dứt khoát.

Những cú đánh tiếp theo cũng y hệt như vậy, như những nhát dao cứa vào lòng tự trọng.

Heinrich khóc nức nở, cúi đầu xuống để tránh khỏi những ánh mắt sợ hãi, kinh ngạc của những người bạn.

Emil vẫn tròn mắt, Hans và Felix thì bặm môi và vội vàng quay mặt đi.

Sau tám roi, Heinrich gục xuống ghế, phát ra tiếng nấc nghẹn và hai chân run bần bật.

Cậu bé cố gắng gượng dậy, đưa tay cầm lấy cây gậy mà cha cậu vừa bỏ xuống ghế, định đặt nó về chỗ cũ như một thói quen.

Nhưng lời nói của người cha đã khiến hai tay cậu cứng đờ lại, "Không cần cất đi đâu, vẫn còn dùng đến.

Lên phòng đi."

"Hôm nay Heinrich không chơi được nữa rồi.

Hôm khác hãy đến."

Đó là một lời phán quyết.

Từ đầu đến cuối, giọng điệu dường như không lên cao chút nào.

Emil nói đúng, ông ấy sẽ không quát ầm lên, nhưng như vậy có vẻ còn đáng sợ hơn.

Về sau, không ai nhắc lại chuyện đó nữa.

Hơn một năm sau, Heinrich cũng phải chuyển đến München vì cha chuyển công tác.

Rồi lại quay trở về ngôi nhà cũ ở Wünsdorf vào năm mười tuổi, và cũng không còn gặp lại những người bạn đó nữa.

Nhưng những ánh mắt thương hại non nớt ấy vẫn luôn là vết nứt sâu trong ký ức của một đứa trẻ bảy tuổi.

***

Heinrich bị kéo trở về thực tại bởi giọng nói nhẹ nhàng nhưng không khác gì một mệnh lệnh: "Khi con trở lại trường, cha muốn con làm tốt nhất có thể ở học kì tới, và cả các học kì tiếp theo nữa.

Vào thời điểm này của năm sau, cha hi vọng sẽ không còn ai nhớ đến một học sinh bị kỉ luật, họ sẽ chỉ nhớ đến tên con với tư cách là một học sinh xuất sắc nhất."

"Một Heinrich Ludwig von Hartenfels tốt hơn cả lúc trước.

Một học viên tương lai của Trường Sĩ quan Chính trị, hoàn hảo và không có bất cứ vết nhơ nào xuất hiện nữa.

Được chứ?"

"Nào, nhìn cha này, con trai.

Hứa với cha điều đó đi."

Heinrich áp một bên má vào gối, ánh mắt cậu bé chỉ nhìn vào những ngón tay chậm rãi gõ lên ga trải giường như đang chờ đợi một câu trả lời.

Cậu bé cụp đôi mắt xuống, nói khẽ: "Cha không cần một đứa con trai, cha chỉ cần một người thừa kế thôi."

"Một người thừa kế hoàn hảo."

Friedrich hơi nghiêng đầu, anh ta tỏ ra trầm ngâm, "Tất nhiên là cả đứa con trai hoàn hảo nữa.

Cha biết con sẽ làm được.

Con vẫn luôn là đứa trẻ thông minh và vượt trội, không giống đứa em vô dụng của con chút nào, Heinrich."

"Con không hiểu được cha yêu con đến thế nào đâu, con trai.

Cha không bao giờ quên năm mười chín tuổi, cái buổi chiều mùa đông bị đuổi khỏi nhà, cha đã cởi áo khoác trường quân sự để quấn lấy con, bế con trên tay và đi tìm người giúp đỡ.

Rồi những ngày tháng phải ngửa tay vay từng đồng bạc của bạn học, bán cả đồng hồ đeo tay nhưng vẫn không đủ trả tiền trọ và tiền mua sữa bột, mẹ con thì tuyệt vọng và đòi quay về Hungary.

Còn cha chỉ biết khóc."

Trước mắt Friedrich như hiện ra khung cảnh hành lang trường Kaiserliche Kriegsschule, Ernst Becker đưa cho anh ta mấy đồng bạc và nói: "Ở đây có 30RM.

Cậu cần gấp thì dùng đi.

Khi nào nhận được trợ cấp thì trả cũng được."

Rồi cả những buổi trưa ở trong nhà ăn học viện, anh ta không động đến một miếng bánh mì đen nào, lén lút gói lại bằng giấy báo và giấu trong lớp áo khoác đồng phục.

Sau này, bạn bè cùng phòng kí túc xá cũng biết chuyện, mọi người giúp đỡ nhưng chỉ ở mức độ nhất định, vì không ai có thu nhập ngoài trợ cấp của trường.

Sau một buổi huấn luyện, Friedrich đến chỗ giáo viên quân y, ngại ngùng nói rằng mình không có tiền mua thuốc và xin một ít thuốc hạ sốt cùng vitamin.

Anh ta đã rụt rè hỏi giáo viên rằng có thể dùng cho trẻ dưới một tuổi không.

Cảnh tượng đó đã bị Albetcht Dietrich von Stauffenberg bắt gặp.

Một đàn anh khoá trên đã tốt nghiệp, đang tham gia phụ trách những khoá huấn luyện ở trường.

Cha anh ta là Đại công xứ Eisenstein và mẹ là nữ Hầu tước của Silberhof.

Cả hai từng gặp nhau nhiều lần từ thời vẫn còn vương quốc Phổ và không ưa nhau.

Thậm chí từng ẩu đả hồi còn chung phòng kí túc xá ở Kaiserliche.

Friedrich luôn ghét anh ta vì bộ dạng ngạo mạn và tỏ ra rằng mình biết tất cả mọi vấn đề.

Sau khi tìm hiểu mọi chuyện, chính tên quý tộc cũ kiêu ngạo của nhà von Stauffenberg đó lại tìm đến và đút 200RM vào túi áo Friedrich rồi nói: "Không cần trả lại đâu."

Friedrich định trả lại, nhưng Albecht giữ cổ tay anh ta và nói: "Đừng sĩ diện nữa.

Đây là cho đứa trẻ.

Hãy cố gắng học đi."

Đó là một khoản tiền có thể không lớn với Albecht khi ấy, nhưng là rất lớn đối với Friedrich.

"Lúc đó cha đã nghĩ, khi trở thành một sĩ quan và tự chủ tài chính, cha sẽ cho con những gì tốt nhất có thể."

Anh ta dùng cái khăn lau đi nước mắt chảy dài trên gương mặt đứa con trai mười hai tuổi của mình, hành động có vẻ dịu dàng nhưng ánh mắt vẫn lạnh lẽo và gần như không hề có cảm xúc gì cả, "Bây giờ cha đã cho con mọi thứ cha có, con không thể khiến cha thất vọng.

Vì thế hãy nói rằng con sẽ làm được những điều đó."

Heinrich không cảm nhận được sự ấm áp của những đầu ngón tay đang chạm vào gò má của mình, chỉ cảm thấy cảm giác lạnh run chạy dọc sống lưng.

"Heinrich, cha ghét những thứ kém cỏi.

Cha không muốn nhìn thấy con khóc chút nào, nhưng cha sẽ làm những gì cần thiết."

"Con sẽ làm được mà, đúng không Heinrich?"

"Vâng... con sẽ làm được... con hứa."

Không gian trở nên nghẹt thở và gò bó đến lạ lùng.

Cậu bé nhìn thấy một nụ cười nhạt trên gương mặt cha mình, như thể tỏ vẻ hài lòng.

Ngay cả nụ cười cũng lạnh lẽo và sắt đá, tất cả chỉ giống như một cỗ máy vô cảm và được vận hành bằng những quy tắc.

Cuối cùng thì chẳng ai biết được sau cái mặt nạ của sự hoàn hảo đó là một tuổi thơ vụn vỡ.

——————

Lớn lên nhìn anh ta chill guy vậy thoi chứ từ đầu thiết lập nhân vật toi đã nghĩ quá khứ anh ta méo chill lắm rồi. =)))))
 
Back
Top Bottom