Quân Sự Thịnh Thế Diên Ninh

Xin chào bạn!

Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm diễn đàn, vui lòng bạn đăng ký tài khoản để có thể sử dụng đầy đủ chức năng diễn đàn và tham gia thảo luận, trò chuyện cùng với cac thành viên khác.

Đăng ký!

[BOT] Dịch

Quản Trị Viên
Tham gia
24/9/25
Bài viết
1,277,418
Phản ứng
0
VNĐ
361,707
ADCreHcClbevI9Fo8OXQ1zAokjmwXwlHFAgBvcQTq6pd5p9DUy33pQRtZ5jOnwojKrzMMv_fucINC_3Ra1yfGGJAasTQW-r6iL72NJXLmVG1T1da8zhwMzGeAlo2hIYNVfsaloBmrNXTYyIu8odXpOJsNV1B=w215-h322-s-no

Thịnh Thế Diên Ninh
Tác giả: Hàm Ngư
Thể loại: Quân Sự, Lịch Sử
Trạng thái:


Giới thiệu truyện:

Văn án: Dương Ninh xui xẻo bị Ngưu đầu Mã diện bắt nhầm. Hắn chưa tới số nhưng lại không thể trở về dương gian. Để che đậy tội lỗi, hai vị này cấu kết Phán quan để cho hắn trọng sinh lần nữa để chữa cháy. Kết quả 8 lần trọng sinh hắn đều chết bất đắc kỳ tử đều không sống quá năm năm: làm kỹ sư nông nghiệp bị ngộ độc thực phẩm chết; làm kỹ sư quân khí nhà máy bị nổ chết; xuyên qua Lộc Đỉnh Ký làm thuộc hạ Đa Long cũng bị Vi Tiểu Bảo hố chết, thậm chí trở về làm con của Hưng Đạo vương cũng hi sinh luôn trong kháng chiến chống Nguyên rồi...thật mẹ nó ta phải chết đến mấy lần nữa đây?
Phán quan: "con người có cửu mệnh, ngươi chết đã chín lần. Ta chỉ có thể giúp ngươi lần này nữa".
Ngưu đầu: "Ninh đại ca, đây là lần cuối rồi, xin ngươi cố gắng giữ mệnh".
Mã diện: "Đồng ý x2".
Dương Ninh vô cùng phiền muộn. Hắn cũng rất muốn sống mà.

=====

Để tránh trường hợp hiểu lầm, ta xin nói trước tất cả những nhân vật, đất nước, tôn giáo trong truyện đều là hư cấu, nếu có giống nhau hoặc tương tự thì chỉ là ngẫu nhiên. Tất cả nhân vật, sự kiện trong truyện hoàn toàn hư cấu, không phản ánh sự thật lịch sử.​
 
Có thể bạn cũng thích !
Thịnh Thế Diên Ninh
Chương 1: Cửu kiếp luân hồi


Đại Việt, Thái Hoà năm thứ 2, vụ án Lệ Chi Viên đã qua được hai năm, thế nhưng dân tâm lúc này cũng chưa hết bàng hoàng. Từ khi Thái Tổ lên ngôi, lần lượt các vị công thần từ Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, Lưu Nhân Chú, Lê Sát cho đến Nguyễn Trãi, mỗi lần có công thần khai quốc bị trảm không chỉ làm cho triều đình rúng động mà đến dân tâm cũng hoảng sợ.

Trăm họ sau 20 năm Minh thuộc chỉ muốn yên ổn, an cư lập nghiệp, mà điều đó cần một triều đình vững mạnh, ổn định. Thế nhưng mười mấy năm nay, dân chúng vừa được nghỉ ngơi dưỡng sức thì triều đình lại liên tục xảy ra những vụ xử trảm công thần, vua Thái Tông lên ngôi trị vì 9 năm, dân chúng yên vui, bốn bề an ổn, dù hay có các cuộc nổi loạn ở vùng cao thế nhưng cũng nhanh chóng bị vua đích thân xuất chinh bình định, nhân dân ca tụng đó thực là phong thái của một đấng minh quân. Thế nhưng trời lại ghen ghét anh hùng, vua giữa lúc tráng niên lại bỗng nhiên chết tức tưởi tại Lệ Chi viên, sau đó cả nhà Nguyễn Trãi bị chém tam tộc khiến cho dân chúng đau xót.

Tiên đế qua đời, Thái tử Bang Cơ lên nối ngôi đặt niên hiệu là Thái Hoà, được Thái hậu cùng các vị đại thần nhiếp chính, thế nhưng trong mấy năm này thiên tai, sâu bệnh liên tục nổ ra, trên phố tung lên lời đồn Thái tử Bang Cơ không phải là con trai của Tiên đế nên không theo thiên mệnh sở quy, ông trời liền giáng xuống tai ương lên đầu con dân Đại Việt khiến cho trong dân chúng không khỏi dấy lên dư luận không yên.

Đến tháng 5, vua Chiêm Thành là Bí Cai xua quân cướp phá vùng châu Hoá, Thái hậu liền phái Thái Bảo Lê Bôi và Tổng quản Lê Khả (Trịnh Khả) mang 10 vạn quân đi đánh dẹp. Đến tháng 7 lại bắt giam Thái phó Lê Liệt càng khiến cho triều đình bất ổn.

Thế nhưng đỉnh điểm phải là tháng 10 lại xảy ra động đất, hơn nữa lại xảy ra nhật thực. Bầu trời bỗng nhiên tối sầm lại, mặt trăng như nuốt trọn mặt trời khiến dân chúng hoảng sợ, càng tin rằng chính vì thượng tầng triều đình rối ren, hoàng đế không phải chính danh nên mới dẫn đến những hiện tương tai dị như vậy.

Hiện tại Thần Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Anh đang buông rèm nhiếp chính. Lúc Tiên đế còn sống, Nguyễn Thị Anh vô cùng được sủng ái đặc biệt được phong là Thần phi. Phải biết rằng ở hậu cung được phong chữ “Thần” cũng không phải là điều tầm thường, bởi chữ “Thần” mang ý nghĩa là “nơi ở của hoàng đế”, có thể hiểu chính là hậu cung, do đó người mang tước vị có chữ “Thần” nghĩa là người cai quản, trông coi hậu cung. Nhìn lại lịch sử trước Nguyễn Thị Anh cũng chỉ có Ỷ Lan phu nhân được phong làm Thần phi sau khi sinh ra hoàng tử Lý Càn Đức được vua Lý Thánh Tông phong làm Thần phi; nhìn sang Trung Hoa Võ Tắc Thiên cũng được Đường Cao tông Lý Trị phong cho chữ “Thần”.

Thần phi Hoàng Thái hậu không yên lòng liền cho triệu Thái sử Bùi Thì Hanh vào hỏi chuyện. Bên trong triều đình Thái Sử viện chính là nơi đoán việc âm dương tai dị, xem chiêm tinh, tiên đoán tương lai, cơ quan này cũng không khác chiêm tinh các là mấy. Những quan lại bên trong Thái sử viện đều là những người nổi tiếng trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, lại giỏi xem chuyển động của ngôi sao, hiểu rộng về lịch pháp nên khá được coi trọng.

- Thần Bùi Thì Hanh, bái kiến Thái hậu!

Bùi Thì Hanh đi vào cung lập tức làm lễ quỳ bái. Thái hậu ngồi sau tấm rèm rất khoan thai nói:

- Miễn lễ.

Giọng nói của Nguyễn Thị Anh rất nhẹ nhàng, nhưng lại mang trong đó khí thế uy nghi, nàng vô cùng trẻ tuổi, năm nay cũng mới chỉ đôi mươi mà thôi, thế nhưng khi buông rèm nhiếp chính nàng lại có khí chất mẫu nghi thiên hạ. Dù nàng không phải quá tài giỏi sáng suốt trong chính trị, thế nhưng trong tay nắm đại quyền, nàng rất thẳng tay trừ khử những phần tử được xem là nguy hiểm đến hoàng vị của Bang Cơ, nhìn cách nàng trực tiếp hạ Lê Liệt vào ngục chính là lời răn đe sắt thép đến những người có ý định thấy vua nhỏ tuổi mà muốn chuyên quyền. Nguyễn Thị Anh nói:

- Ngày hôm nay giữa trưa lại có nhật thực, khiến lòng dân không yên. Liệu có phải là do con vượn đen tác quái hay không? Ai gia muốn nghe khanh giải thích cho rõ.

Nguyễn Thị Anh dù hiền dịu nhưng trong lời nói rất có sức sát thương cùng uy h**p, Bùi Thì Hanh không khỏi toát mồ hôi lạnh. 10 năm trước, Thiệu Bình năm thứ nhất, khi đó Văn hoàng đế (Thái tông) tiến hành thăng chức, ban thưởng cho các quan, khi đó nội quan tuyên đọc từ sáng cho đến trưa mà vẫn chưa hết. Bùi Thì Hanh nóng lòng muốn được ban thưởng liền bí mật nói với Tư đồ Lê Sát rằng: “Ngày 1 tháng 5 sẽ có tinh khí con vượn đen ăn mặt trời nên sẽ có nhật thực, mà nhật thực thì nhất định trong nước sẽ có tai biến. Nếu bắt được con vượn sống đem về giết để trấn yểm thì mới tai qua nạn khỏi”.

Lê Sát là kẻ hữu dũng nhưng ít học, nghe Bùi Thì Hanh nói liền tin, lập tức tâu lên Văn hoàng đế sai quan các trấn Thái Nguyên, Tuyên Quang đốc thúc dân chúng lên núi bắt vượn. Kết quả huyên náo cả vùng Kinh Bắc, dân chúng bị thúc ép phải vào rừng bắt đến hàng ngàn con vượn, khỉ đủ các loại, đóng củi chở về kinh thành hao phí sức người, sức của không biết bao nhiêu mà kể. Sau đó Bùi Thì Hanh cùng Lễ bộ thị lang Trịnh Toàn Dương vốn là một đạo sĩ cùng làm phép. Sau đó cả hai đều được thưởng rất hậu.

Đến năm Thiệu Bình thứ 2, tháng 11 Bùi Thì Hanh lại lần nữa tâu lên sẽ có nhật thực, dùng cách cũ để trấn áp, khỉ, vượn hai vùng lần nữa gặp tai ương còn Bùi Thì Hanh lại được thưởng 50 quan. Có thể nói cả đời Bùi Thì Hanh chính là đạp trên xác khỉ, vượn mà bước lên, ăn cơm nhờ vào mặt trăng mặt trời.

Đến nay lại có nhật thực nhưng Bùi Thì Hanh không thể tính ra báo trước, làm dân tâm khủng hoảng, điều này làm cho Nguyễn Thị Anh rất bất mãn. Bùi Thì Hanh trên trán toát mồ hôi lạnh nói:

- Bẩm Thái hậu, lần nhật thực này không phải là do vượn tinh gây ra. Thần không bẩm tâu bởi vì tính ra đây chính là điềm lành. Mặt trời bị che khuất cũng không phải là chỉ đến bệ hạ mà là đến từ phương Bắc.

Nói đến đây Bùi Thì Hanh lại ra vẻ bí mật nhỏ giọng nói:

- Ý chỉ rằng nhà Minh sắp gặp tai ương. Mà Đại Việt ta sẽ đón hồi thịnh trị.

- Có thật vậy chăng?

Nguyễn Thị Anh bán tín bán nghi, thực tế nàng cũng không quá tin tưởng vào phán đoán của Thái sử viện. Nếu giỏi như vậy vì sao những lần bão lũ, mưa lớn, dịch bệnh tai ương lại không báo trước, suốt ngày đi đoán nhật thưc, nguyệt thực, bách quan trăm phương ngàn kế đi “cứu” mặt trăng, mặt trời làm cho bách tính phải lao khổ.

Nghe giọng điệu của Thái hậu tỏ ý nghi ngờ, Bùi Thì Hanh liền nói:

- Chỉ cần Thái sử viện chỉnh sửa một chút tung tin này ra thì dân chúng hẳn sẽ được trấn an.

Bùi Thì Hanh làm quan đã lâu, giỏi xem sắc mặt mà đoán ý. Hắn đương nhiên biết Thái hậu gọi hắn vào không phải bàn việc “cứu mặt trời” hay “bắt vượn tinh” mà là làm sao để tránh được điều tiếng ở bên trong kinh thành. Phải biết từ lúc bệ hạ lên ngôi đến nay lời đồn đã toả ra không ít. Điều này khiến cho Thái hậu khá lo lắng. Sở dĩ trước khi tung tin ra bên ngoài cần phải chỉnh sửa lại vì nếu ám chỉ tai hoạ ở phía Bắc chỉ sợ Bùi Thì Hanh có 9 cái đầu cũng không đủ cho Chính Thống hoàng đế (Minh Anh Tông) đem ra chặt.

Quả nhiên Thái hậu nghe được trong lòng liền vui mừng nói:

- Được, vậy việc này Ai gia giao cho khanh cùng Thái sử viện sắp xếp.

Cả thế giới này không hề hay biết rằng lúc này tại một ngọn núi gần huyện Cổ Lôi, một sản phụ lúc này đã tự mình hạ sinh một đứa bé. Sản phụ trìu mến nhìn đứa bé đỏ hỏn trong tay, đứa nhỏ này lúc mới sinh vậy mà chỉ khóc có hai tiếng, sau đó lại có thể mở mắt trân trân mà nhìn nàng, ánh mắt vô cùng kỳ lạ, nó rất sáng tràn đầy sự hiếu kỳ với thế giới, nhưng đồng thời cũng dường như vô cùng già dặn chứ không phải trong sáng như những đứa trẻ khác. Trong lòng vui mừng nhưng nàng đồng thời cũng lo lắng vì biểu hiện của đứa trẻ, nghĩ một chút sản phụ liền nói:

- Từ nay, tên của con chính là Vô Niệm. Nguyễn Vô Niệm.

Dương Ninh xui xẻo bị Ngưu đầu Mã diện bắt nhầm. Hắn chưa tới số nhưng lại không thể trở về dương gian. Để che đậy tội lỗi, hai vị này cấu kết Phán quan để cho hắn trọng sinh lần nữa để chữa cháy. Kết quả 8 lần trọng sinh hắn đều chết bất đắc kỳ tử đều không sống quá năm năm: làm kỹ sư nông nghiệp bị ngộ độc thực phẩm chết; làm kỹ sư quân khí nhà máy bị nổ chết; xuyên qua Lộc Đỉnh Ký làm thuộc hạ Đa Long cũng bị Vi Tiểu Bảo hố chết, thậm chí trở về làm con của Hưng Đạo vương cũng hi sinh luôn trong kháng chiến chống Nguyên rồi...thật mẹ nó ta phải chết đến mấy lần nữa đây? Nhìn cái cổng luân hồi quen thuộc trước mặt, Dương Ninh nói.

- Đây là lần cuối chứ?

Phán quan đối với trường hợp này trong nhiệm kỳ của hắn cũng vô cùng đau đầu, hắn chỉ còn 100 năm nữa là hết nhiệm kỳ thôi lại gặp phải trường hợp này. Phán quan nói:

- Con người có cửu mệnh, ngươi chết đã chín lần. Ta chỉ có thể giúp ngươi lần này nữa thôi.
Đầu Trâu vội vàng gật đầu nói.

- Ninh đại ca, đây là lần cuối rồi, xin ngươi cố gắng giữ mệnh. Ta tin ngươi sẽ làm được. Cố lên.

Mã Diện cũng gật gù đầu ngựa.

- Đồng ý x2.

Dương Ninh cũng chán chường vô cùng đưa tay lau mặt nói:

- Ta cũng muốn sống, các ngươi nghĩ cảm giác chết đến 8 lần là như thế nào? Ta bây giờ cũng tê liệt dây thần kinh rồi, đối với cái chết cũng quen thuộc, số lần ta đi qua Quỷ môn quan còn nhiều hơn ba người các ngươi cộng lại đấy.

Phán quan suy nghĩ một chút liền nói:

- Lần này là lần cuối cùng, ngươi cũng không thể tiếp tục chết oan như vậy được. Lần này bọn ta sẽ hết sức giúp ngươi. Thế này đi. Cứ 5 năm một lần, ta sẽ đến thăm ngươi xem, có thể mang cho ngươi một cái gì đó. Đúng, cứ như vậy, tới giờ rồi, mau vào cổng luân hồi đi.

- Uy, có thể một năm một lần không, các ngươi quá…Á!

Dương Ninh còn chưa lải nhải xong thì Phán quan đã đạp hắn một cước ngã vào bên trong, trước khi bị biến mất vào bên trong hắn chỉ nghe Ngưu đầu Mã diện hô lớn:

- Ninh đại ca, nếu muốn gọi bọn ta chỉ cần đọc thần chú: Ba rô ba cơ, ba rô ba cơ ba chuồn, ba rô ba cơ, ba rô ba cơ ba bích.

- Bích mẹ ngươi! AAAAA!

main cực kỳ bá đạo, phong cách cơ bắp dùng lực phục người, tay xé hằng tinh
 
Thịnh Thế Diên Ninh
Chương 2: Diên Ninh hoàng đế


Dương Ninh hơi ngơ ngác nhìn nữ nhân trước mặt, một gương mặt trái xoan đẹp đẽ, đôi mi thanh tú, dù gương mặt nhợt nhạt vì mới sinh nở, hàm răng đen tuyền không phù hợp với mỹ quan của người hiện đại, thế nhưng sự gắn kết từ tình mẫu tử huyết mạch vẫn khiến Dương Ninh trong lòng có cảm xúc ấm áp. Luân hồi 9 kiếp, những lần trước hắn đều luân hồi trở về theo dạng trọng sinh, sống vài năm lại bất ngờ tử nạn, đây lại là lần đầu tiên hắn trở về dưới hình hài trẻ con như thế này.

- A, a, a, nha…

Dương Ninh muốn nói, thế nhưng trong cổ họng cũng chỉ phát ra được những tiếng a, a, mẹ hắn nhìn bộ dáng của hắn liền hỏi:

- Bảo bối đã đói rồi sao? Chờ một chút, mẹ cho con uống sữa.

Nói rồi nàng liền vạch yếm ra đưa nh.ũ hoa đến trước miệng của Dương Ninh, dù đã có tâm hồn của người trưởng thành thế nhưng cơ thể hắn lại hành động theo bản năng, mùi hương của sữa mẹ lập tức cuốn hút bản năng của trẻ sơ sinh trong hắn, miệng lập tức cắn vào nh.ũ hoa không ngừng nút để những tia sữa chảy vào bên trong miệng.

Người mẹ ánh mắt cưng chìu nhìn con trai bé bỏng đang bú sữa, giữa vùng núi rừng này cũng chỉ có mẹ con nàng mà thôi. Một lát sau Dương Ninh sau khi no sữa liền ngủ thiếp đi, nàng liền dọn dẹp một chút, mang theo tay nãi tiếp tục rời đi.

Năm 1454, vua tròn 12 tuổi đã bắt đầu trông coi chính sự, Thần phi hoàng thái hậu Nguyễn Thị Anh lui về cung cấm. Hoàng đế đặt niên hiệu là Diên Ninh, cho đại xá thiên hạ, lần lượt qua các năm bắt đầu hạ chiếu ân xá cho các công thần trước đó bị xử tội, đồng thời ban cấp ruộng cho con cháu của bọn hắn. Người người xưng tụng vua là một đấng minh quân, có tài.

Thế nhưng dường như ông trời đang trêu đùa số phận, dù vua hiền, anh minh, thế nhưng trong suốt những năm này quốc gia liên tục gặp tai dị, thiên tai, lúc thì lũ lụt, khi thì hạn hán, nhất là các trấn ở phía Bắc và đạo Hải Tây là những nơi hay gặp phải thiên tai.

Diên Ninh năm thứ 3 (1456), tháng 2, Diên Ninh hoàng đế ngự về Lam Kinh, đoàn tuỳ tùng theo vua rất đông, có đến hàng ngàn người, quan lại đạo Hải Tây đều đi theo tuỳ giá về Lam kinh.

Nói đến thời Lê sơ có đến 2 kinh, Lam kinh hay còn được gọi là Tây kinh do Lê Thái Tổ xây dựng nên tại vùng quê cha đất tổ sau khi lên ngôi, vị trí rất đắc địa, đằng sau phía Bắc gối vào núi Dầu, trước mặt hướng ra sông Chu ở phía Nam, xa là núi Chùa, bên trái là rừng Phú Lâm, bên phải là núi Hương, có thể nói bốn bề non xanh nước biết, là nơi trấn yểm long mạch vô cùng tốt.

Ngoài Tây kinh thì đóng vai trò là kinh thành của Đại Việt là Đông kinh, chính là vùng đất Thăng Long, sau khi nhà Hồ dời đô về Tây đô thì đổi tên thành Đông đô, lúc Minh thuộc thì gọi là Đông Quan, đến khi Thái tổ lên ngôi đổi lại thành là Đông kinh.

Mỗi lần vua về tế lễ tại Lam kinh đều được tổ chức rất hoành tráng, dù ngày vua đến ở Lam kinh ban đêm lại có mưa đá khiến không ít người lo sợ cho an nguy của vua. Thế nhưng đến ngày 15 Lê Bang Cơ vẫn quyết định đi bái yết Sơn lăng. Tế lễ dùng 4 trâu, đánh trống đồng, binh sĩ reo hò hưởng hứng.

- Lê Bí, đây là lần đầu tiên Trẫm ngự về Lam kinh sau khi chấp chính nhỉ?

Lê Bang Cơ hỏi Đại tư đồ Lê Bí, Lê Bí vốn là Đỗ Bí, sau khi khởi nghĩa Lam Sơn thành công thì được ban quốc tính, lúc này Đại Tư Đồ là một quan chức có thể xem tương đương với chức vụ Thừa tướng, cũng là một trong tam công. Lê Bí gật đầu tâu:

- Đúng vậy bệ hạ, lần trước bệ hạ về Lam kinh đã là 8 năm trước, khi đó Đại tư đồ vẫn là Lê Thận đại nhân thủ ở kinh thành đây.

Đại Việt lúc này xưng thần với nhà Minh, Lê Bang Cơ được phong làm An Nam quốc vương, đáng ra bá quan phải gọi là điện hạ theo quy chế của nhà Minh. Thế nhưng Đại Việt bên trong xưng đế bên ngoài xưng vương, do đó quần thần cứ gọi là bệ hạ, còn vua thì cứ mặc hoàng bào đi nhởn nhơ khắp nơi.

Lê Bang Cơ gật đầu, một đứa nhóc chỉ mới 15 tuổi thì chuyện của 8 năm trước thực sự khó nhớ, dù Lê Bang Cơ là người trưởng thành sớm, dưới áp lực của một quân vương bắt buộc hắn phải thông tuệ, phải nhanh chóng trưởng thành, vì vậy nhìn bộ dáng như ông cụ non. Lê Bang Cơ nói:

- Trẫm lần trước đi đến Hải Tây đạo không có ấn tượng mấy, lần này Trẫm đến Lam kinh liền muốn đi thăm thú dân tình ở Hải Tây đạo ra sao, khanh sắp xếp một vài người sau đó đi theo Trẫm.

Nghe hoàng đế muốn đi vi hành Lê Bí không khỏi kinh hãi liền nói:

- Bệ hạ, nơi đây không phải kinh thành, nếu ngài đi vi hành mang theo ít người sẽ rất nguy hiểm.

Thực tế là dù ở kinh thành đi chăng nữa thì việc vua đi vi hành ra ngoài cũng sẽ bị ngăn cản như vậy. Lê Bang Cơ mới 15 tuổi, nghé con không sợ cọp liền nói:

- Dưới gầm trời này đâu không phải là đất của vua, trên mặt đất này ai không phải là dân của vua. Trẫm là Thiên tử chẳng lẽ lại còn sợ con dân của mình mưu hại. Huống chi đây là quê cha đất tổ, chẳng lẽ Trẫm còn không tin tưởng được.

Bệ hạ nhỏ tuổi, thế nhưng từ nhỏ đã thông minh, 12 tuổi chấp chính sắp xếp công việc đâu ra đấy, Lê Bang Cơ lời lẽ sắc bén, Lê Bí không thể cãi được chỉ đành có thể tuân theo. Lê Bí lập tức điểm Lê Thái vốn là Tả thị lang đồng tri Hải Tây đạo, Hàn Lâm trực học sĩ Nguyễn Như Đổ dẫn theo vài tên cận vệ Cấm quân đi vi hành.

Vùng đất này nguyên trước là đất Tượng quận, thời Tần, Hán hay Bắc thuộc nói chung đều gọi là Cửu Chân, chỉ có thời nhà Lương, Đường đặt là Châu Ái, các thời Lý, Trần cũng tương tự. Đến đời nhà Hồ đổi thành phủ Thiên Xương bao gồm cả Cửu Chân và Ái Châu gọi là kinh kỳ Tam phụ (Kinh thành Tây Đô), đến thời nhà Minh thì gọi là phủ Thanh Hoá và phủ Ái châu.

Có thể nói vùng đất này là nơi địa linh nhân kiệt, những nhân tài kiệt xuất của đất nước chỉ sợ có hơn một nửa là phát tích từ đây, nên nói đây là vùng đất thiêng, địa linh nhân kiệt cũng không sai. Huống chi bây giờ còn là nơi phát tích của Lê triều khiến vùng đất này càng thêm được trọng vọng.

Bởi giao thông hạn chế, Lê Bang Cơ cũng không muốn đi xa mà chỉ ghé đến huyện Lôi Dương (nay thuộc Thọ Xuân) gần đó để vi hành. Huyện Lôi Dương cũng chính là quê hương của Cung từ Hoàng Thái hậu Phạm thị (vợ vua Thái tổ, mẹ vua Thái Tông).

Huyện Lôi Dương cũng xem như là một huyện lớn với 63 xã, 30 châu, sở, trang các loại, dân chúng lấy nông nghiệp làm chủ đạo. Lê Bang Cơ cũng không có đi về phía huyện thành, mà hướng về các châu, xã. Đi qua mấy làng mạc Lê Bang Cơ tương đối hài lòng, từ khi hắn chấp chính đến nay cả nước cũng không còn chịu quá nhiều thiên tai như trước, huống chi vùng Lam kinh dù sao cũng là kinh đô thứ hai của triều đình, vì vậy mà các quan lại cũng không dám lơ là.

Phải nói rằng đạo Hải Tây đối với triều đình là vô cùng quan trọng, ở đây đất rộng người đông, không chỉ là nguồn thu thuế mà còn là nguồn mộ lính chất lượng của triều đình. Phải biết rằng năm xưa nếu không có Nguyễn Chích hiến kế đánh chiếm Nghệ An để có thể chiếm được vùng Thanh – Nghệ rộng lớn này, khởi nghĩa Lam Sơn chỉ sợ đã bị sớm bóp hết ở núi Chí Linh.

Hống!

Lúc này trên sạn đạo gần vùng núi bỗng nhiên vang lên một tiếng gầm lớn khiến cho tất cả mọi người không khỏi giật mình. Lúc này loài người cũng chưa đông đến mức chiếm trọn chỗ ở của muông loài, do đó giữa các làng, xã với nhau đều phải đi qua những con đường nằm gần rừng núi hoang vu như thế, mà khi các động vật còn chưa được đưa vào sách đỏ thì những nơi này là nơi sống ưa thích của những loài hung thú hoang dã mà đáng ngại nhất chính là hổ. Vừa rồi chính là tiếng gầm lớn của nó.

- Chuẩn bị hộ giá.

Đô chỉ huy sứ Lê Đắc Ninh quát lớn. Các hộ vệ lập tức rút gươm bên hông bảo bọc Lê Bang Cơ và hai vị đại thần vào giữa. Đối với người thời đại này hổ là một sinh vật thực sự đáng sợ, dù bọn hắn đều là những binh sĩ tinh nhuệ, thế nhưng khi biết chuẩn bị phải đối mặt với hổ bọn hắn liền có một áp lực vô hình.

Hống!

Quả nhiên chỉ mấy giây sau từ bìa rừng đã phóng ra một con hổ hung hãn xông về phía bọn hắn. Lê Đắc Ninh trong tay cầm gươm không khỏi toát mồ hôi lạnh, bởi vì con hổ này dài chừng gần hai mét, toàn thân vằn vệt, đôi mắt hung bạo, cái miệng lúc này đang nhe ra bộ hàm sắc nhọn của nó. Đối diện với chúa tể sơn lâm bọn hắn hoàn toàn không tự tin rằng mình có thể đối chọi lại dù bọn hắn có đao kiếm đi chăng nữa.

Lê Bí ngược lại rất bình tĩnh, người sống chui ra từ bãi xác chết như hắn đối với việc này hoàn toàn không đáng sợ dù rằng lúc này hắn đã ở tuổi thất thập cổ lai hi. Lê Bí liền nói:

- Lê Thái, chuẩn bị ta cùng cấm quân sẽ chặn hậu con hổ, ngươi hộ giá bệ hạ nhanh chóng chạy về Lam kinh.

Cũng tương tự như các binh sĩ, Lê Bí không hề tin tưởng rằng bọn hắn có thể chống lại được con hung thú này, chỉ còn cách lấy thân mình ra làm mồi để chặn lại con hung thú kia.

Lê Bang Cơ lúc này nhìn thấy con hổ trong lòng cũng không khỏi sợ hãi, thế nhưng hắn cũng trấn định nói:

- Trẫm là thiên tử há lại sợ một con súc sinh, để các binh sĩ kết trận, Trẫm cùng bọn hắn chống lại con súc sinh kia.

Lê Bang Cơ từ nhỏ cũng luyện văn võ, thân thể phát d.ục rất tốt có thể tương đương với một thanh niên 18 tuổi, huống chi gen của nhà họ Lê thực sự rất tốt khiến hắn tuy nói không thể vũ dũng như các chiến tướng, thế nhưng cũng không phải là thư sinh trói gà không chặt.

- Bệ hạ, súc sinh kia hung bạo, chúng thần liều chết bảo vệ bệ hạ, xin bệ hạ chuẩn bị lùi giá.

Lê Bí cầu xin nói. Lê Bang Cơ liếc mắt quát lớn:

- Không cần nói nữa, nó chuẩn bị đến.

Lê Đắc Ninh hô:

- Chuẩn bị chiến đấu!

- Hô!

Các binh sĩ gầm lớn tạo thành một hàng phòng ngự phía trước, chân chùn xuống chuẩn bị liều chết dùng thân mình để giết con hổ. Bỗng nhiên lúc này có tiếng quát lớn.

- Tiểu vằn vằn, hoá ra ngươi ở đây.

Mười vạn năm trước, Kiếp tộc phủ xuống. Cổ Thiên Đình chỉ còn lưu lại di chỉ, Tây Phương Linh Sơn đã sớm đổ nát hoang tàn, Cổ Ma Uyên lùi về trong tĩnh mịch. Hoang Cổ Thánh Vực bị đánh vỡ tan tành, trở thành Tứ Hoang Nhất Hải.
Mười vạn năm sau, Đông Hoang Việt quốc, một gã Chân Nhân cao thủ tuổi già thọ cạn, bỗng nhiên tuyệt địa phùng sinh, quét ngang võ giới.
Mời đọc:
 
Thịnh Thế Diên Ninh
Chương 3: Thiếu niên trong núi


Tiểu vằn vằn? Tất cả mọi người không khỏi giật mình, đây không phải là gọi con hổ kia chứ? Mọi người nhìn về phía bìa rừng thì đã thấy một thiếu niên nhìn chừng mười lăm, mười sáu tuổi, mặc trang phục vô cùng kỳ lạ. Người Việt thời này hay mặc áo trực lĩnh bất kể đàn ông hay đàn bà, hoặc còn có cả áo giao lĩnh, người nho nhã, giàu có thì mặc vạt áo dài chấm đất, còn người nhà nông vì để tiện cho việc làm ruộng thì vạt áo ngắn đi, hoặc là trực tiếp đóng khổ c** tr*n ở vùng làng quê cũng không phải là hiếm. Thế nhưng thanh niên trước mặt cắt một đầu tóc ngắn, mặc kiểu áo gì ngắn tay rất lạ mắt, ở giữa có hàng khuy cúc, bên dưới thân lại mặc một cái quần hai ống dài đến mắt cá, dưới chân mang một đội giày da vô cùng kỳ lạ.

Thế nhưng điều làm mọi người kinh ngạc hơn chính là khi vừa nghe được tiếng nói của thiếu niên con hổ vừa rồi còn hung hãn xông về phía mọi người lại đột nhiên phanh gấm, sau đó chuyển hướng sang một bên mà bỏ chạy.

- Uy, đứng lại, hôm nay ta tìm ngươi để chơi đây.

Thiếu niên lần nữa la lớn, thế nhưng “tiểu Vằn Vằn” chạy càng nhanh hơn, rất nhanh cũng chỉ còn lại một làn khói trắng. Tất cả mọi người đều sửng sốt, đây là chúa tể sơn lâm sao? Vì một câu nói của một thiếu niên lại có thể quay đầu bỏ chạy như con cún con rồi. Trong lúc đó thiếu niên lại hậm hực nói:

- Thật là, có vẻ như mấy ngày trước đánh nó nặng quá chăng. Ngày hôm sau lại tìm vậy.

Nói rồi thiếu niên liền dọc theo sơn đạo mà rời đi. Lê Bang Cơ lúc này mới tỉnh hồn lại, cảnh tượng vừa rồi quá mức rúng động, cứ tưởng lần này không chết thì cũng bị lột mất một lớp da, thế nhưng tình thế nguy cấp bỗng chốc lại được hoá giải bởi một câu nói của một thiếu niên kỳ quái. Nhất thời Lê Bang Cơ còn không thể chấp nhận được. Đến lúc thiếu niên không để ý bọn hắn quay người rời đi thì Lê Bang Cơ mới giật mình gọi lớn:

- Tráng sĩ, xin dừng bước.

Nghe có người gọi, thiếu niên cũng quay lại, tay chỉ về mặt mình hỏi.

- Ngươi gọi ta? Ta không phải tráng sĩ, ta chỉ là một người bình thường đi ngang qua đây thôi.

Câu làm màu nhất của những bậc anh hùng chính là xưng mình là người bình thường đi qua đường, thế nhưng ai thèm tin đây, doạ hổ chạy còn nói là người bình thường. Lê Bang Cơ nho nhã nói:

- Lần này may mắn được tráng sĩ cứu giúp, không biết trang sĩ tôn tính đại danh là gì?

- Cứu các ngươi? À, hoá ra tiểu vằn vằn hù doạ các ngươi sao. Yên tâm, nó trước giờ chưa ăn qua thịt người bao giờ.

Nhìn thấy bệ hạ hỏi người thiếu niên trước mặt không chịu trả lời, Hàn Lâm trực học sĩ Nguyễn Như Đổ quát lớn:

- Lớn mật, tại sao bệ…thiếu gia hỏi ngươi lại không trả lời?

Thiếu niên không thèm nếm xỉa gì đến đáp:

- Hừ, thiếu gia của ngươi cũng chẳng phải đương kim thánh thượng, ta vì sao phải trả lời.

- Hỗn láo!

Lê Đắc Ninh quát lớn xông lên, hắn vừa rồi đối mặt với hổ sợ muốn chết, thế nhưng lúc này đứng đối diện với thiếu niên chỉ đứng đến cổ mình hắn lại muốn thể hiện mình một chút, nếu không mặt mũi tuyệt đối mất hết.

Lê Đắc Ninh xông đến quyền đổi thành trảo muốn chộp lấy bên vai của thiếu niên, hắn dù gì cũng là Cấm quân chỉ huy sứ, võ nghệ không phải hạng thường, vừa vung trảo tiếng rít gió vang lên nhanh như chớp chộp vào vai thiếu niên. Dám vô lễ với bệ hạ, hắn thực sự muốn cho thiếu niên này biết thế nào là trời cao đất rộng.

Lê Bang Cơ dù thấy vậy cũng không vội ngăn cản, hắn muốn thử xem thiếu niên này có tài cán gì lại có thể hù doạ đến hổ cũng phải chạy đi. Phải biết rằng vừa rồi các Cấm quân cũng suýt nữa tè ra quần rồi.

Chỉ là không ngờ thiếu niên phản ứng cũng không chậm, thân hình lầm tức né ra sau đó vung quyền thẳng đến mặt của Lê Đắc Ninh. Đánh người không nên đánh mặt, Lê Đắc Ninh lập tức tránh né, sau đó cánh tay khẽ vung lên chộp được cổ tay của thiếu niên lật sang bên trái. Lê Đắc Ninh ỷ rằng trước mặt mình chỉ là một thiếu niên phát triển chưa thành thục, sức mạnh còn chưa thể bằng người tráng niên như hắn liền dùng thân thể áp đến.

Quả nhiên thân thể thiếu niên bị lộn ra sau, Lê Đắc Ninh một tay luồng qua nách trái bàn tay bóp chặt cổ của thiếu niên, tay kia khoá tay phải của thiếu niên, bàn tay cùng đồng thời ghì chặt cổ của thiếu niên xuống gây ra nghẹt thở.

- Bệ hạ, mau gọi bọn hắn dừng tay, nếu không sẽ xảy ra chết người mất.

Lê Thái bên kia lo lắng rằng sẽ có án mạng xảy ra, dù sao thiếu niên cũng được xem là ân nhân của bọn hắn, làm như vậy thực sự không hay cho lắm. Lê Bang Cơ mỉm cười nói:

- Không sao, thiếu niên kia vẫn chưa đến đường cùng.

Quả thực như vậy, thiếu niên dù bị khoá lại, không thở được nhưng gương mặt lại rất thản nhiên, hắn còn cố gắn quay đầu hỏi.

- Uy, đây là khoá tay theo kiểu Nhật Bổn hả?

Lê Đắc Ninh không hiểu Nhật Bổn là cái gì, mặt mày đỏ bừng dùng sức ghì xuống nói.

- Đây là khoá vật lộn, ngươi nói gì đến Nhật Bổn.

- Ây, khứa nào lồng tiếng cho phim Tinh gia sai lầm mất rồi. Tuy nhiên cũng có thể học theo một chút.

Thiếu niên nói một tràng lời nói mà Lê Đắc Ninh không hiểu gì cả, chỉ thấy lúc này hắn chìa hai ngón tay trái ra, hướng góc 45 độ đâm thẳng về phía sau. Lê Đắc Ninh không khỏi biến sắc, ở góc độ này hai ngón tay sẽ chọc trúng mắt của hắn mất. Lê Đắc Ninh liền hơi ngửa đầu ra sau để tránh né.

- Ui da!

Không ngờ tốc độ của thiếu niên cực nhanh, Lê Đắc Ninh thành công tránh né được gặp mắt nhưng hai ngón tay lại chọc trúng cái lỗ mũi khiến Lê Đắc Ninh hét thảm. Càng quá đáng hơn chính là hai ngón tay này lại không ngừng móc như muốn lấy hết không khí từ mũi ra vậy. Phải biết trên gương mặt mũi chính là vị trí yếu ớt chỉ đứng sau mắt mà thôi. Cảm giác đau đớn từ khoang mũi truyền đến khiến Lê Đắc Ninh chịu không được phải buông thiếu niên ra.

- Bệ hạ, dường như Ninh chỉ huy sứ lỗ mũi bị thương rồi.

Lê Thái kinh ngạc nói. Chỉ thấy lúc này lỗ mũi của Lê Đắc Ninh đã sưng tấy lên đỏ hỏn nhìn không khác gì một chú hề, hoặc có thể tưởng tượng là cái mông của khỉ đỏ đít cũng không thành vấn đề.

Thiếu niên lúc này cười nói.

- Đã ngươi khoá ta một lần thì ta cũng sẽ khoá ngươi một lần như vậy mới hoà được.

Dứt lời thiếu niên lập tức xông đến, lợi dụng lúc Lê Đắc Ninh còn đang choáng váng vì khoang mũi đau đớn, hai cánh tay như trường xà muốn khoá lại đại thủ của hắn. Lê Đắc Ninh cũng không chậm lập tức phản kháng dùng sức thoát khỏi sự ràng buộc của thiếu niên. Thế nhưng nào ngờ đây chỉ là hư chiêu, phía dưới thiếu niên lập tức dùng thế cài chân, dùng bả vai làm điểm tựa, dùng trọng lượng thân thể Lê Đắc Ninh làm đối trọng lập tức vật xuống.

Lê Đắc Ninh hạ bàn không vững lập tức mất trọng tâm mà ngã sấp xuống, hắn bị thiếu niên bắt lấy cánh tay mà vật xuống một tay kẹp chặt cánh tay của Lê Đắc Ninh, một tay vòng ra trước cổ bóp chặt. Thiếu niên thân hình như con khỉ ngồi tót trên lưng của Lê Đắc Ninh, vừa khoá tay, vừa bóp cổ, 2 chân bị bắt chéo vào nhau bị cẳng chân của thiếu niên đè lại, hai bàn tay bị quặt ra sau lưng bị đầu gối thiếu niên đè chặt xuống dùng lực lên xương sống khiến Lê Đắc Ninh toàn thân đau đớn nhưng lại không thể dùng lực.

- Thế nào, chiêu này gọi là bích ních truy hồn hoả chuyên trị những kẻ như ngươi vậy đó.

Thiếu niên cười lên khanh khách như không hề tốn một chút sức lực nào để khoá lại Lê Đắc Ninh vậy. Thực chất nếu xét về sức mạnh, Lê Đắc Ninh tuyệt đối hơn thiếu niên một bậc, thế nhưng thiếu niên không dùng sức mà dùng kỹ xảo, vận dụng đúng một chữ “khoá” để khoá lại toàn bộ các khớp có thể dụng lực, lại dùng chính trọng lượng thân thể mình làm mặt trận để phong ấn lại toàn bộ cơ thể của Lê Đắc Ninh, đó chính là bích ních truy hồn hoả. Để hoá giải chiêu này chỉ có thể dùng cách duy nhất là chiêu “hầu tử thâu đào”, thế nhưng trong lúc nghẹt thở đến nơi Lê Đắc Ninh cũng không thể nghĩ đến được. Hắn nghẹt giọng nói:

- Thua rồi…ta chịu thua rồi.

Lúc này Lê Bang Cơ cũng biết không thể tiếp tục như vậy nữa liền gọi.

- Tráng sĩ xin dừng tay, hắn đã biết lỗi rồi.

Thiếu niên liếc mắt, lại nhìn sắc mặt Lê Đắc Ninh đã bắt đầu chuyển sang tím, hắn chỉ muốn dạy tên võ phu này một trận thôi, cũng không muốn giết người, phải biết pháp luật lúc này rất nghiêm. Thiếu niên hừ lạnh nói.

- Được rồi, hôm nay tha cho ngươi.

Hô! Hô!

Thiếu niên vừa dời bước, Lê Đắc Ninh lập tức lăn ra thở gấp. Lê Bang Cơ để cho hai cấm quân đỡ lấy hắn đứng dậy, còn bản thân mình lại đi lên trước lễ phép nói.

- Gia nô quản giáo không nghiêm là lỗi của chủ nhân. Ta thay mặt hắn xin lỗi tráng sĩ. Vừa rồi bọn ta bị hổ tấn công, may mắn gặp được tráng sĩ. Xin tráng sĩ cho biết cao danh quý tánh để bọn ta có thể thuận tiện báo đáp cũng như xưng hô.

Thiếu niên cảm thấy nói chuyện với những người văn nhã như thế này thật phiền phức, nhìn thiếu niên này ăn mặc chắc chắn là đại phú đại quý, hơn nữa hộ vệ còn được đem theo cả vũ khí thì chắc chắn là con nhà quý tộc, quan lại. Phải biết rằng đầu năm nay người thường ra ngoài mang vũ khí chính là phạm pháp, dù hộ viện của địa chủ đi ra ngoài cùng lắm là cầm theo gậy gộc mà thôi. Thiếu niên nói:

- Được rồi, ta tên là Nguyễn Vô Niệm, cũng không phải tráng sĩ gì, chỉ là người đi qua đường mà thôi. Ta vừa rồi chỉ là đi tìm tiểu vằn vằn để chơi, cũng không phải cứu gì các ngươi. Chúng ta không nợ gì nhau. Như vậy đi, ta trở về ăn cơm.

Vô Niệm nói rồi định rời đi, chợt lại quay lại nói:

- Ta khuyên các ngươi nên đi chừng một dặm nữa đến ngôi làng phía trước nghỉ ngơi đi. Con đường này về đêm dã thú tương đối nhiều. Có thể lần sau lại không may mắn như vậy.

main cực kỳ bá đạo, phong cách cơ bắp dùng lực phục người, tay xé hằng tinh
 
Thịnh Thế Diên Ninh
Chương 4: Đại Việt sinh khí


Nói xong Nguyễn Vô Niệm liền đi thẳng. Nguyễn Vô Niệm cũng không phải là người không nói lý lẽ, không vì Lê Đắc Ninh vô lễ mà giận chó đánh mèo với Lê Bang Cơ, hắn cảm thấy thiếu niên này dù ăn nói giông dài, thế nhưng vẫn có thể xem là người lễ độ, Nguyễn Vô Niệm cũng không để bụng, thuận tiện liền nhắc nhở bọn hắn một chút. Vùng rừng núi này hắn rất quen, ban ngày còn dễ nói, ban đêm dã thú đặc biệt nhiều. Tiểu vằn vằn kia chính là một trong số đó. Thực tế hắn mới quen Tiểu vằn vằn được hai năm, từ lúc Tiểu vằn vằn mới lạc mẹ gặp Nguyễn Vô Niệm lúc đó liền bị đánh một trận, về sau mỗi lần hắn vào rừng gặp Tiểu vằn vằn một lần liền đánh một lần, đến mức hiện tại chúa tể sơn lâm gặp Nguyễn Vô Niệm ám ảnh tâm lý khiến nó sợ hãi nhân loại này.

Nhìn Nguyễn Vô Niệm tiêu sái rời đi, Lê Bang Cơ lại đứng yên đó hơi nheo mắt nhìn theo. Lê Thái hỏi.

- Bệ hạ, ngài không cản hắn lại sao?

Lê Bang Cơ cười nói:

- Không cần, hắn đã chỉ đường rõ ràng như vậy thì ắt hẳn hắn sẽ ở gần đây, người trong làng chắc chắn sẽ biết sự tồn tại của hắn.

Chỉ cần là người thì sẽ có nhu cầu giao tiếp với xã hội, thiếu niên vừa nhìn ăn mặc không giống người bình thường, hẳn hắn sẽ sống tách biệt với làng mạc, thế nhưng không có nghĩa là hắn sẽ không có sự giao lưu. Do đó chắc chắn dân làng sẽ biết đến Nguyễn Vô Niệm. Nhìn thấy bệ hạ có vẻ có hứng thú với người này, định tiếp cận Nguyễn Vô Niệm, Hàn lâm trực học sĩ Nguyễn Như Đổ nhíu mày nói:

- Bệ hạ, người này ăn mặc kỳ lạ, không hiểu lễ nghĩa, răng trắng như răng chó nhìn không phải là đứng đắng.

Người Việt có tục nhuộm răng đen, vì vậy một hàm răng đen chính là một tiêu chuẩn của cái đẹp, kể cả nam và nữ đều nhuộm răng đen. Không phải tự nhiên lại có những câu ca dao ca ngợi một hàm răng đen đẹp đẽ như:

“Răng đen nhoẻn miệng em cười
Dẫu trời nóng nực cũng nguôi cơn nồng”.

Hay câu:

“Năm quan mua lấy miệng cười
Mười quan chẳng tiếc, miệng người răng đen”.

Do đó với thẩm mỹ của người Việt hiện tại người có hàm răng đen là một người đẹp, răng càng đen bóng thì lại càng đẹp. Nên cái răng cái tóc là góc con người, những người răng đen được xem là quân tử, chân thật, còn người răng trắng thì được ví như là răng trắng như răng chó, là kẻ tiểu nhân.

Nghe Nguyễn Như Đổ nói Lê Bang Cơ lại không hài lòng.

- Khanh gia thân là Hàn lâm trực học sĩ chẳng lẽ chưa nghe cầu nhìn người không nên đánh giá qua vẻ bề ngoài. Nguyễn Vô Niệm dù không có nhuộm răng, thế nhưng từ cách nói chuyện, hành động đi đứng Trẫm cảm thấy đều rất ổn, dù có đánh nhau thì ra tay với Lê Đắc Ninh cũng không nặng, nên Trẫm thấy hắn dù còn trẻ nhưng lại khá chín chắn già dặn. Đại tư đồ, khanh cảm thấy như thế nào?

Lê Bí nãy giờ dường như đang suy nghĩ điều gì đó lúc này mới hơi tỉnh hồn lại đáp.

- Bệ hạ nói không sai, thần cũng nghĩ như vậy.

Bệ hạ cùng Đại tư đồ đã nói như vậy Nguyễn Như Đổ cũng không thể phản bác, dù sao hắn là Hàn lâm trực học sĩ chứ cũng không phải là ngôn quan mà ngu ngốc đi cãi lại bệ hạ. Nguyễn Như Đổ trong lòng âm thầm ghi Nguyễn Vô Niệm một điểm hận, bên ngoài lại nói.

- Bệ hạ dạy phải, là thần ngu muội.

Lê Bang Cơ hứng thú bừng bừng nói.

- Được rồi, cũng đừng đứng đây nói chuyện, trời sắp tối rồi, không nghe Nguyễn Vô Niệm nói hay sao, tìm chỗ nghỉ trước khi thú dữ lại xuất hiện.

Lê Đắc Ninh cùng đám cận vệ nghĩ đến chuyện vừa rồi liền sởn tóc gáy vội vàng hộ giá tiếp tục đi theo đường mòn. Quả nhiên không mất bao lâu bọn hắn liền tìm thấy được một toà thôn trang, ngôi làng này chưa đến 100 nóc nhà. Đã buổi chiều tối là lúc người dân đi làm đồng trở về, ở phía ngoài cổng làng có thể thấy được luỹ tre đặc trưng của những ngôi làng ở Đại Việt, mấy đứa trẻ con mặc quần xà lỏn chạy nhảy ở bên ngoài nô đùa mang đến cho ngôi làng này bừng bừng sinh khí.

- Nếu không đi ra khỏi kinh thành Trẫm thực sự rất khó thấy được những cảnh vật mới mẻ này.

Lê Bang Cơ cảm khái nói, Đại Việt trải qua 20 năm Minh thuộc đã bị triều Minh vắt kiệt kể nhân lực và tài lực. Kinh tế bị thiệt hại một cách nặng nề, dân số sụt giảm đến gần một nửa. Đến nay chiến tranh đã qua đi gần 30 năm, Đại Việt cuối cùng cũng khôi phục lại sinh cơ, bừng bừng tươi sống lên một lần nữa.

- Trưởng làng, trưởng làng, có khách tới!

Nhìn thấy đoàn người đi đến mấy đứa trẻ lại không có chút nào sợ hãi chạy vào bên bên trong làng í a í ới gọi. Lê Bang Cơ cũng không tự tiện đi vào bên trong làng mà đứng ở trước cổng làng đợi. Làng mạc có tính tự trị rất mạnh, ngươi chưa được phép mà đã đi vào trong ấy là thất lễ, không được chào đón.

Phép vua thua lệ làng ấy chính là nói đến tính tự trị của làng xã song hành với sự cai trị của nhà vua. Mối quan hệ giữa làng xã và triều đình trung ương là một mối quan hệ vừa hợp tác nhưng cũng vừa đối đầu. Làng xã thần phục chấp nhận sự cai trị của nhà vua, thế nhưng luôn muốn giữ lại tính tự trị của làng xã, ngược lại nhà vua một mặt chấp nhận sự tự trị đó nhưng một mặt cũng luôn muốn thò tay tận đến vùng đất này để cai trị. Không chỉ là vua nước Việt mà khi người Hán xâm lược cũng đã mấy lần muốn thò tay vào củ khoai lang nóng này, kết quả bị phỏng tay phải rút trở về.

Không mất bao lâu trưởng làng là một cụ già tuổi lục tuần đi ra bên ngoài, với tuổi thọ trung bình của người Việt hiện tại già như hắn đã là hiếm có rồi. Trưởng làng chỉ cần nhìn thấy mấy người Lê Bang Cơ đi giày thôi đã biết là bậc đại phú đại quý, thậm chí có thể là quan lại rồi. Dù sao người Việt phổ biến vẫn là đi chân đất, người có tiền cũng có thể đi dép, còn đi giày cũng rất hiếm, cũng chỉ có quan lại mới thỉnh thoảng đi, có nhiều người còn trực tiếp đi chân đất cho tiện. Hắn sống đã lâu, con mắt nhìn tinh đời liền thấy được trung tâm của đoàn người chính là vị thanh niên đứng giữa, trưởng làng vội vàng đi đến cung kính nói.

- Chào cậu lớn, chào các ông lớn, mời các ông, các cậu vào bên trong.

Hắn cũng không dám hỏi những vị đại nhân đây đến làng hắn làm gì, thân phận quá cách biệt. Lê Bang Cơ mỉm cười hiền hoà nói.

- Trưởng làng không cần phải kinh sợ, bọn ta chỉ là đi ngang qua, nghe nói quanh đây buổi tối có thú dữ liền đi đến làng muốn xin tá túc một đêm.

Trưởng làng thấy Lê Bang Cơ sắc mặt hiền từ, nói năng nhã nhặn lòng kinh sợ cũng giảm xuống bớt một chút liền nói.

- Cậu lớn nói đúng, quanh đây gần rừng, buổi tối dã thú hay đi ra ngoài kiếm ăn. Có người ngoại lai không biết thường hay bị hổ bắt đi, chết cũng có mấy người. Đừng đứng đây nữa, mời cậu lớn vào trong.

Trưởng làng lập tức dẫn mọi người vào bên trong làng. Lúc này trời đã sắp tối, mấy người đàn ông thì bắt đầu tụ tập lại nói chuyện trời trăng, làm đồng, trẻ con thì hiếu kỳ chạy nhảy bên mấy cái góc nhà quan sát đám người ngoại lai đi vào làng, phụ nữ trong nhà đang tất bật nấu cơm nên cũng có thể nhìn thấy được khói bếp toả ra ở đằng sau sân nhà, có khói bếp nổi lên chứng tỏ cuộc sống vẫn khá tốt. Người Việt thời này ăn cũng chỉ có một ngày hai bữa, một bữa trưa và một bữa tối, có bữa cơm ba bát đã xem như sung túc, còn không thì luộc củ khoai ăn cho qua bữa là được.

Trưởng làng đi nói chuyện một chút liền tìm được một căn nhà có vẻ sạch sẽ tốt nhất ở bên trong làng. Đầu năm nay trong cái làng nhỏ này thực sự muốn tìm một địa chủ cũng khó, dù sao đây thuộc vùng trung du, ruộng phân chia cũng ít, người cũng ít, năng suất lúa lại không cao, mỗi bữa có thể ăn no cũng là phước đức lắm rồi.

Nhà ở trong làng xây dựng lại chủ yếu là nhà sàn vừa để phòng mưa lớn gây lũ, lại vừa có thể chống thú dữ, con trâu duy nhất trong làng bị neo ở ngay bên dưới sàn nhà. Như sợ dơ bẩn ảnh hưởng đến Lê Bang Cơ, trưởng làng liền bảo người dời đi. Một làng này đều có quan hệ thân thuộc, trưởng làng nói chuyện vẫn rất có uy tín. Ngôi nhà này là của một đôi vợ chồng trẻ cũng đã có với nhau hai đứa con, cha mẹ nghe trưởng làng nói đợt bão lũ mấy năm trước bị đất lở chết rồi. Ông chồng thỉnh thoảng lại đi đến huyện để trao đổi vài thứ mang trở về bán nên cũng coi là giàu có nhất làng rồi. Trưởng làng thoả thuận một chút liền để Lê Bang Cơ ngủ tại đây, còn vợ chồng cùng mấy đứa trẻ thì buổi tối sang nhà khác ngủ nhờ.

Trong khi đó Nguyễn Vô Niệm cũng đi theo đường mòn một đoạn liền rẽ một hướng khác đi vào trong núi. Đi vào không quá xa, chỉ cách bìa rừng bốn năm trăm mét thôi, nơi đây có một ngôi nhà gỗ dựng lên trên một mặt đất tương đối bằng phẳng, cây cối xung quanh bị chặt đi tạo ra một bãi đất trống, bên trái ngôi nhà là một cây liễu rũ cành xuống gần sát đất, bên phải là một chuồng gà, cách ngôi nhà chừng hai mươi mét là một dòng suối nhỏ, bên kia dòng suối lại có mấy mẫu đất một bên trồng lúa một bên lại trồng mấy loại hoa màu.

Uông, uông, uông!

Nguyễn Vô Niệm vừa đi đến cổng thì từ bên trong nhà có một con chó cỏ lông đen xen với vàng chạy ra quẩy đuôi chào đón. Nguyễn Vô Niệm v**t v* đầu nó nói:

- Được rồi, hôm nay giữ nhà tốt không? Đi canh chuồng gà đi, lát nữa ta cho ăn.

Con chó như thông tuệ liền chạy đi về phía chuồng gà nằm xuống ngẩng cao đầu nhìn xung quanh như đang cảnh giới. Nguyễn Vô Niệm mặc kệ nó làm trò. Hắn đi vào bên trong nhà mở cửa ra nói:

- Mẹ, con về rồi.

Thế nhưng bên trong căn nhà làm gì có người, bên cạnh giường, ghế, bàn, tủ, chỉ có một cái bàn thờ, bên trên có một bài vị ghi chữ: Nguyễn Thị Hoa.

Mười vạn năm trước, Kiếp tộc phủ xuống. Cổ Thiên Đình chỉ còn lưu lại di chỉ, Tây Phương Linh Sơn đã sớm đổ nát hoang tàn, Cổ Ma Uyên lùi về trong tĩnh mịch. Hoang Cổ Thánh Vực bị đánh vỡ tan tành, trở thành Tứ Hoang Nhất Hải.
Mười vạn năm sau, Đông Hoang Việt quốc, một gã Chân Nhân cao thủ tuổi già thọ cạn, bỗng nhiên tuyệt địa phùng sinh, quét ngang võ giới.
Mời đọc:
 
Thịnh Thế Diên Ninh
Chương 5: Nguyễn Vô Niệm


Thái Hoà năm thứ 7, tháng 9 trở đi là mùa mưa bão đối với Đại Việt nói chung và cả người dân của đạo Hải Tây nói riêng. Tuy bão hay đi vào vùng lộ Nghệ An, Tân Bình, thế nhưng lộ Thanh Hoá cũng chịu đựng không ít cơn bão lớn. Tháng 9 năm đó vô tình một cơn bão lớn ập vào. Huyện Lôi Dương ở vùng trung du, gần đồng bằng thế nhưng cũng phải gánh chịu những trận mưa và cuồng phong tàn phá.

Năm đó nước sông Chu dâng cao, đê bị vỡ nước lũ tràn ngập hàng trăm dặm, tàn phá hoa màu vô số kể, cơn đại hồng thuỷ kéo theo vô số gia súc cùng người, cảnh tượng nhà cửa đổ sụp khắp nơi, đâu đâu cũng thấy. Dù nha môn có vận động dân chúng đi đắp đê ngăn lũ thế nhưng sức người lại không thể chống lại được sức trời.

Ở vùng núi huyện Lôi Dương, mùa hè trời nắng nóng làm mặt đất khô cằn, vừa mới nắng xong tháng chín lại gặp mưa lớn, kết cấu của mặt đất bị đứt gãy, những trận sụp lỡ, lũ ống, lũ quét liên tiếp xảy ra trong mấy ngày liền. Một trong số đó đã trực tiếp vùi lấp ngôi làng ở dưới chân núi tại Lôi Dương. Dân làng bỏ nhà mà chạy đi, mặc kệ tài sản, gia súc bị vùi lấp xuống dưới mặt đất đầy bùn.

Năm đó Nguyễn Vô Niệm mới chỉ 5 tuổi, đối diện với cơn cuồng phong bão lũ hắn thực sự bất lực, hắn cảm thấy bản thân mình nhỏ bé vô cùng. Căn nhà gỗ đơn sơ nhỏ bé làm sao có thể chống chọi lại được với thiên nhiên, chẳng mấy chốc đã đổ sụp xuống, Nguyễn Vô Niệm chỉ có thể trợn trừng mắt nhìn vách tường đổ xuống.

- Vô Niệm!

Nguyễn Vô Niệm cả thân thể bỗng nhiên được ôm chặt lại, một thân thể gầy yếu nhưng tràn đầy ấm áp đã bảo bọc hắn, vách tường gỗ đổ sụp xuống thân thể nàng khiến thân thể nàng đổ gục xuống, thế nhưng vòng tay nàng vẫn chắc nịch ôm lấy Nguyễn Vô Niệm. Trời quá tối, Nguyễn Vô Niệm không thể nhìn thấy được gương mặt của mẹ hắn là như thế nào, thế nhưng vầng hào quang thánh khiết đó vẫn toả sáng ngời ngời như lúc nàng vừa sinh hắn chào đời vậy.

- Mẹ, mẹ không sao chứ?

Nguyễn Vô Niệm bất giác sợ hãi hô lên. Hắn không sợ cái chết, với một người chín kiếp luân hồi như hắn chết chẳng qua cũng là lại đi qua cầu Nại Hà một lần nữa mà thôi, thế nhưng hắn thực sự sợ hãi mất đi người thân duy nhất của hắn trên thế giới này. Những kiếp trước hắn đều là nhập xác trọng sinh, duy chỉ có lần này hắn thực sự được sinh ra, hắn có sự kết nối máu mủ với người phụ nữ thiện lương này. Năm năm, nếu là đứa trẻ bình thường nhận thức sẽ rất ít ỏi, thế nhưng tâm trí hắn là người trưởng thành, hắn cảm nhận được sự yêu thương, tình mẫu tử của nàng dành cho hắn, hắn chứng kiến được trong suốt năm năm nàng đã phải vất vả như thế nào để có thể nuôi dưỡng hắn trong suốt 5 năm qua. Nguyễn Vô Niệm còn muốn lớn thêm chút nữa để có thể phụ giúp nàng nhiều việc, lớn thêm chút nữa là có thể thay nàng làm việc, để cho nàng trải qua cuộc sống sung sướng, người phụ nữ này cả cuộc đời hai mươi mấy năm đã phải chịu quá nhiều đau khổ rồi.

- Mẹ không sao, Vô Niệm đừng sợ, có mẹ đây rồi.

Giọng nói nàng yếu ớt nhưng ẩn chứa trong đó là tình mẫu tử thiêng liêng vô bờ bến. Thế nhưng Nguyễn Vô Niệm nghe được từ giọng nói nàng thật sự không ổn, bởi vì hơi thở của nàng đã mang tiếng khò khè, chứng tỏ phổi đã bị tổn thương rồi.

Ầm!

- Núi lở, núi lở rồi!

Lúc này bên ngoài chỉ nghe được tiếng nổ lớn, sau đó là tiếng người la hét thất thanh, ngôi nhà vốn đã đổ sụp nay lại bị đụng thêm một cái nữa, cũng vì vậy mà bức tường đổ bị thổi bay đi, thế nhưng cùng với đó là cơn lũ bùn đất cũng cuốn luôn hai mẹ con Vô Niệm.

- Mẹ, mẹ, người mau tỉnh la…phù…

Vô Niệm cố gắng hô, thế nhưng bùn đất lập tức muốn lấp kín miệng hắn, đứng trước cơn thịnh nộ của thiên nhiên, con người thực sự rất nhỏ bé, dù hắn là người trọng sinh, dù luân hồi chín hay mười kiếp đi chăng nữa cũng phải bó tay.

Lúc này ở trên bầu trời cao không ai có thể thấy được ba người đang đứng giữa không trung, không ai khác ngoài Phán quan cùng đầu Trâu mặt Ngựa. Phán quan thở dài nói.

- Thực sự là nghiệp chướng, mấy trăm năm nhiệm kỳ ta chưa từng thấy kẻ nào như thế này, cứ mỗi lần trọng sinh năm năm lại phải chết, ta cứ nghĩ rằng lần này luân hồi như đi đầu thai ít ra hắn phải sống được 20 năm, không ngờ mới 5 năm lại đến kiếp nạn.

Đầu Trâu mặt Ngựa cũng vô cùng buồn rầu, nếu không phải bọn hắn thất trách thì mọi việc cũng sẽ không đến bước này. Đầu Trâu hỏi.

- Phán quan, nếu bây giờ hắn chết thì không còn cách nào nữa sao?

Phán quan lắc đầu nói.

- Người có chín mệnh, hắn luân hồi đã cửu kiếp rồi, nếu lần này vẫn chết sớm như vậy e rằng ba chúng ta cũng không thể giấu được nữa, đến lúc đó cũng chỉ có thể chịu tội với Diêm vương thôi. Nhưng nếu lần này hắn có thể thoát nạn, ngược lại có thể thọ khá lâu đấy. Nhưng mà…thiên đạo này thực sự…con người có thể chống lại được sao?

Nhìn hai mẹ con đang bị dòng lũ cuốn đi Phán quan trực tiếp tuyên cho Nguyễn Vô Niệm án tử. Con người quá nhỏ bé để có thể đối chọi lại với thiên nhiên. Mặt Ngựa đột nhiên nói.

- Cũng chưa chắc đâu, Phán quan đại nhân nhìn kìa.

Nguyễn Vô Niệm lúc này đã bị cơn lũ bùn nhấn xuống, một đứa trẻ năm tuổi thì có thể làm được gì đây. Hắn đã muốn buông xuôi, cùng lắm lại đi gặp ba vị kia một lần nữa thôi. Thế nhưng bỗng nhiên lúc này vòng tay ôm hắn bỗng nhiên siết chặt lại, sau đó thân thể hắn từ từ được nâng lên cao. Bùn đất làm hạn chế tầm nhìn, nhưng rất nhanh hắn đã nhìn thấy được cảnh tượng phía trước, hoá ra lúc này mẹ hắn đã dùng hai tay để nâng hắn lên cao, không để bị cơn lũ ảnh hưởng, sắc mặt nàng trắng bệch, tái xanh đi không biết vì mệt hay vì lạnh. Nhìn thấy con trai bị dòng lũ nhấn chìm, sức mạnh của người mẹ bỗng nhiên bộc phát, nàng không biết lấy từ đâu ra lực lượng lại có thể níu được con mình lên phía trên. Thế nhưng cũng chỉ như vậy mà thôi, nâng được con trai lên trên, bản thân nàng lại chìm xuống dưới dòng lũ bùn đất.

- Mẹ, mẹ đừng bỏ cuộc. Mẹ...khọc…!

Trong nháy mắt cả hai đều chìm xuống dưới dòng lũ đặc quánh, Nguyễn Vô Niệm cảm thấy mình không thể thở được, tay chân cũng không thể cử động được. May mắn chính là chỉ chưa đến nửa phút sau, cơn lũ như đã mất đi động lực đã dừng lại, mà Nguyễn Vô Niệm thì theo quán tính bị vất lăn lóc ra ngoài, tránh khỏi một kiếp bị chôn vùi. Thế nhưng trên người hắn cũng bị đè một tầng bùn lớn chỉ lò được mỗi cái đầu ra ngoài. Hắn ngoái nhìn về phía lớp bùn đất đã chôn vùi không biết bao nhiêu người, kể cả mẹ hắn ở bên trong đó. Hắn muốn đào lớp bùn kia ra để cứu mẹ, thế nhưng hắn bất lực, hắn vô dụng, hắn không thể cứu được mẹ của mình. Nguyễn Vô Niệm khóc nấc lên thành tiếng, hắn không biết đã bao nhiêu lâu rồi chưa khóc, tâm hắn như tan nát ra thành vạn mảnh, thân thể kiệt sức rã rời, đôi mắt hắn từ từ nhắm lại, nếu hắn chết cũng là một điều tốt.

Ba ngày sau trận sạt lở, những người dân còn sống sót của làng cũng đã đào móc mặt đất bùn để tìm ra thi thể của người thân. Nguyễn Vô Niệm không chết, mẹ hắn đã hi sinh tính mạng để bảo vệ hắn, sau khi ngất đi đến buổi sáng, mưa tan hắn cũng được người dân cứu thoát khỏi lớp bùn đè chặt trên người.

Nguyễn Vô Niệm lúc này quỳ trước một ngôi mộ được đắp sơ sài, đằng trước chỉ có một tấm gỗ nhỏ khắc mấy chữ Nguyễn Thị Hoa chi mộ làm bia. Lúc tìm được thi thể của mẹ, mẹ nằm cách hắn không xa, chỉ hai mươi mét thôi, nhưng đó chính là ranh giới sinh tử, một người sống, một người đã chết. Nguyễn Vô Niệm tâm như tan nát, năm năm qua chính là năm năm hắn thực sự hạnh phúc, thoải mái khi bên mẹ, đáng tiếc, cuộc vui lại chóng tàn như vậy.

- Ninh ca con người sống chết có số, ngươi cũng đừng quá đau lòng.

Đầu Trâu, mặt Ngựa lúc này đứng sau lưng của Nguyễn Vô Niệm an ủi hắn. Cũng nhờ có đầu Trâu mặt Ngựa chỉ điểm mà Nguyễn Vô Niệm mới có thể tìm được mẹ nhanh như vậy. Nguyễn Vô Niệm nói.

- Đừng gọi ta là Ninh ca. Dương Ninh đã chết từ tám kiếp trước, ở đây cũng chỉ có Nguyễn Vô Niệm mà thôi.

Đầu Trâu mặt Ngựa liền im lặng. Mấy kiếp trước Dương Ninh dù luân hồi thế nhưng hắn như một đầu cá ướp muối chỉ muốn ăn no chờ chết, cũng không quên mình là Dương Ninh, thế nhưng bây giờ hắn nói như vậy cũng có nghĩa rằng Dương Ninh đã chấp nhận thân phận mới của mình – Nguyễn Vô Niệm. Nguyễn Vô Niệm chợt nói.

- Đầu Trâu mặt Ngựa, ta có chuyện muốn nhờ.

Đầu Trâu liền vỗ ngực nói.

- Ninh…à không, Niệm ca muốn gì cứ việc nói, bọn ta tuyệt đối sẽ không chối từ.

Mặt Ngựa nhìn đầu Trâu như nhìn thằng ngu, uy, là ngươi không chối từ chứ không phải là ta. Nguyễn Vô Niệm nói.

- Xin hãy để cho ta có thể nói chuyện với mẹ ta một lần cuối. Ta biết âm hồn con người có thể tồn tại ở dương gian 49 ngày nếu chưa muốn đi qua Quỷ môn quan. Mẹ ta chắc chắn còn tại dương thế.

Đầu Trâu mặt Ngựa không khỏi nhìn nhau, kẻ này chết quá nhiều lần rồi đến luật của âm phủ cũng hiểu thấu triệt như vậy. Mặt Ngựa thở dài nói.

- Niệm ca, thực ra…mẹ của ngươi lúc nào cũng đứng ở bên cạnh ngươi.

Hắn vẩy tay một cái, một đoàn ánh sáng hiện ra bên cạnh Nguyễn Vô Niệm, bên cạnh Nguyễn Vô Niệm, mẹ hắn vẫn đứng đó, gương mặt vừa xinh đẹp, dịu dàng nhưng lúc này lại mang theo một tia lo lắng. Nàng như cố gắng muốn nói gì đó thế nhưng âm hồn thì không thể nói chuyện được với người dương thế, nếu không phải có mặt Ngựa làm phép, đến nhìn Nguyễn Vô Niệm cũng không thấy được.

Tuy không nghe được giọng nói quen thuộc của mẹ, nhưng chỉ cần nhìn thôi hắn đều hiểu mẹ hắn muốn nói gì. Nguyễn Vô Niệm giang đôi tay ôm lấy mẹ mình, dù chỉ là hư vô âm hồn, nhưng không hiểu sao hắn lại có thể cảm nhận được từng tia ấm áp quen thuộc đó. Nguyễn Vô Niệm nói.

- Mẹ yên tâm, con sẽ sống thật tốt, sẽ ăn cơm đúng bữa nhưng sẽ không béo phì đâu, con sẽ tắm đúng giờ sẽ không để bệnh đâu. Con cũng sẽ không một mình, bên con còn có dân làng, còn có cả đầu Trâu mặt Ngựa nữa, mẹ thấy chứ.

Âm hồn của Nguyễn Thị Hoa lúc này đã thấm đẫm nước mắt, nàng thương tiếc cho đứa bé mới chỉ năm tuổi lại phải hiểu chuyện đến vậy, nàng tiếc nuối vì không thể bên cạnh con trai nhiều hơn nữa. Nguyễn Vô Niệm ngẩng đầu lên nhìn mẹ nói.

- Con sẽ sống thật tốt, nên mẹ hãy ra đi thanh thản và đừng lo lắng gì về con nhé. Mẹ xứng đáng có một cuộc sống tốt hơn.

Hai mẹ con âm dương cách biệt, bốn mắt nhìn nhau, có vạn lời muốn nói nhưng chỉ có thể dằn lại ở trong tim. Lúc này một luồng ánh sáng chiếu vào Nguyễn Thị Hoa, nàng đưa tay lên khẽ xoa đầu hắn, nàng khẽ gật đầu như đồng ý với điều Nguyễn Vô Niệm nói. Thân thể nàng từ từ bay lên cao, sau đó hoá thành muôn ngàn tia sáng tan vào bên trong không khí.

- Nàng đã đi qua Quỷ môn quan rồi.

Đầu Trâu nói. Mặt Ngựa cũng góp lời.

- Phán quan đã xem qua, nàng kiếp này là người tốt, kiếp sau sẽ được sung sướng.

Nguyễn Vô Niệm gật đầu nói.

- Được rồi, các ngươi cũng không cần phải an ủi ta. Ta đã hứa với mẹ sẽ sống cho ra sống. Phải để cho thế giới này biết đến tên Nguyễn Vô Niệm, con trai của Nguyễn Thị Hoa.

Mười vạn năm trước, Kiếp tộc phủ xuống. Cổ Thiên Đình chỉ còn lưu lại di chỉ, Tây Phương Linh Sơn đã sớm đổ nát hoang tàn, Cổ Ma Uyên lùi về trong tĩnh mịch. Hoang Cổ Thánh Vực bị đánh vỡ tan tành, trở thành Tứ Hoang Nhất Hải.
Mười vạn năm sau, Đông Hoang Việt quốc, một gã Chân Nhân cao thủ tuổi già thọ cạn, bỗng nhiên tuyệt địa phùng sinh, quét ngang võ giới.
Mời đọc:
 
Thịnh Thế Diên Ninh
Chương 6: Giống lúa mới


- Ta đã từng nghe phủ Thanh Hoá năm đó gặp phải bão lớn, chỉ là không ngờ nơi đây lại gặp phải thảm cảnh như vậy.

Nghe trưởng làng kể về vụ lở đất năm đó Lê Bang Cơ cũng không khỏi than thở. Năm đó hắn cũng mới có bảy tuổi mà thôi, Thái hậu còn đang buông rèm chấp chính, khi đó nghe đến bão lũ chính bản thân hắn là hoàng đế cũng không thể mường tượng được nó là như thế nào. Lúc này nghe được trưởng làng kể lại hắn mới không khỏi thấm thía.

Theo lời của trưởng làng, làng năm đó cũng xem như rất lớn, có đến hơn 200 hộ gia đình. Thế nhưng theo trận lở đất ập xuống trực tiếp chôn vùi hơn 100 hộ, người chết lên đến gần một ngàn người kéo theo là hàng trăm súc vật. Cứ như thế qua gần mười năm hiện tại làng mới khôi phục được nguyên khí được chừng 100 hộ. Chính cha mẹ của vợ chồng chủ nhà cũng bị bùn đất vùi lấp trong trận bão năm đó.

- Mời cậu lớn, các ông lớn dùng cơm.

Lúc này vợ của chủ nhà mang lên trên chõng một cái mâm lớn, thức ăn cũng đơn giản, mấy bát cơm, một đĩa rau luộc, một con gà luộc, 3 cái trứng gà và 1 chén muối. Đây là một bữa cơm đã vô cùng thịnh soạn đối với bọn hắn, cả một đời người cho đến khi lên bàn thờ có lẽ đến ngày giỗ may ra mới có được một bữa cơm như thế này.

Ở trong nhà có một cái chõng lớn, người lớn đều ngồi cả trên đó, ăn cơm cũng là ăn phía trên tấm chõng này. Trưởng làng nói.

- Vậy cậu lớn cùng các ông lớn dùng cơm. Lão trở về nhà trước, có việc gì thì cứ gọi lão.

Xã hội phong kiến tôn ti trật tự giai cấp vô cùng sâm nghiêm, trưởng làng dù là chủ cũng không dám làm phiền những quan lớn đây. Lê Bang Cơ lập tức nói.

- Trưởng làng đừng vội, đến đây cũng dùng bữa với ta. Ta còn có chuyện muốn hỏi thăm trưởng làng.

- Cậu lớn là bậc bề trên, lão làm sao dám…

Trưởng làng vội vã từ chối thì Lê Bang Cơ đã nói.

- Người xưa có câu kính lão đắc thọ. Trưởng làng là người sống lâu, hiểu biết rộng rãi. Ta phải kính trưởng làng mới phải. Đừng ngại, lên đây cùng dùng bữa với bọn ta. Còn các ngươi nữa, cũng đến cùng dùng bữa đi.

Lê Bang Cơ bản tính nhân hậu, không nề hà việc dùng bữa với trưởng làng, thế nhưng những vị quan lớn lại ngại, Lê Bang Cơ liếc mắt một cái khiến bọn hắn phải cụp mi xuống. Lê Bí lúc này thấy vậy cũng cười lớn nói.

- Trưởng làng cũng đừng ngại. Năm xưa Thái tổ khởi binh đánh giặc chẳng phải cùng cùng một chỗ dùng bữa với quân lính, với dân chúng hay sao. Thái tổ không không chê thân phận cao thấp, làm sao chúng ta dám nói đến chuyện sang hèn.

Quả thực đây chính là đất cũ Lam Sơn, Lê Lợi năm xưa nằm gai nếm mật sống hoà mình với dân chúng mới nhận được sự ủng hộ của nhân dân mà dấy binh khởi nghĩa. Lê Bí đã lấy Lê Lợi ra làm bia đỡ, trưởng làng cũng không nói gì thêm vội vàng phủi chân thật sạch sẽ để ngồi lên phía ngoài chõng. Viên hoạn quan muốn thử đồ ăn trước thì Lê Bang Cơ hừ một tiếng làm hắn phải rụt lại đứng đó nhìn mọi người ăn uống. Lê Bang Cơ nói.

- Ngươi không cần lo cho ta, xuống ăn cùng với các hộ vệ đi.

Lúc này các hộ vệ cũng có bữa ăn ở phía sàn ngoài của ngôi nhà, bọn hắn trực tiếp ngồi trên sàn ăn. Hoạn quan nghe vậy lập tức tuân lệnh mà đi. Lê Bang Cơ rất tự nhiên cầm một cái đùi gà ăn, sau đó lại hỏi.

- Trưởng làng, ngươi có biết một thiếu niên sống gần đây, tóc ngắn, răng trắng, ăn mặc rất kỳ quái, lại có thể doạ được hổ hay không? Hắn có phải là người làng này không?

Trưởng làng nghe vậy lập tức để bát cơm xuống nói.

- Có lẽ cậu lớn đang nói nên thằng bé Niệm. Thằng bé cũng không phải người ở trong làng. Nó sống ở căn nhà gỗ ở phía trong núi cách đây cũng không xa.

Đặc điểm của Vô Niệm rất riêng biệt, thực sự rất dễ nhìn ra. Trưởng làng chép chép miệng nói.

- Thằng bé cũng là số khổ, lão nhớ năm đó mẹ nó đi đến làng thì thằng bé mới sơ sinh đỏ hỏn. Dân làng nhìn thương nên để mẹ con sống ở căn nhà phía ngoài bìa làng, bởi là dân ngụ cư nên cũng không được phân ruộng, không có ruộng cày cấy mẹ thằng bé liền đi nhận dệt may, giặt đồ cho người trong huyện, thỉnh thoảng còn lên núi hái thuốc đem xuống chợ huyện bán. Phải nói là chuyện gì cũng làm, tuy vất vả nhưng mẹ con sống yên ổn. Thằng Niệm từ nhỏ đã hiểu chuyện, không khóc, không nháo phiền mẹ, mới vài tháng đã biết nói chuyện như ông cụ non, ai cũng nghĩ thằng bé là thần đồng. Đáng tiếc cũng trong trận bão năm đó, mẹ con cũng bị bùn đất vùi lấp, thằng bé may mắn thoát chết. Nhìn cảnh một đứa trẻ năm tuổi một tay lo tang sự cho mẹ, ây…thật sự quá đau lòng.

Nghe trưởng làng nói vậy Lê Bang Cơ không khỏi trầm mặc, hoá ra thiếu niên kia cũng là người có quá khứ đau thương. Lê Bang Cơ thực sự tò mò không biết Nguyễn Vô Niệm sẽ sống sót ra sao liền hỏi.

- Một đứa trẻ năm tuổi làm sao sống sót được, là làng nuôi hắn sao?

Trưởng làng lắc đầu nói.

- Năm đó làng bị tàn phá nặng nề, tài sản đều mất trắng làm sao có ai dám nhận nuôi thêm một đứa bé cơ chứ. Nhưng thằng bé trưởng thành sớm, cũng không phiền mọi người. Nó chỉ xin dựng tạm cho nó một ngôi nhà nhỏ ở ngoài làng, ngay vị trí nhà cũ để làm bàn thờ mẹ nó. Sau đó hằng ngày đi vào rừng bẫy chim kiếm sống. Ấy vậy mà nó thực tài, ngày nào cũng kiếm được bộn lớn. Hơn nữa còn đem những thứ dư thừa cho bà con trong làng, nên ai cũng quý, muốn nó vào làng ở, nhưng thằng bé từ chối. Đến năm thằng bé bảy tuổi không biết kiếm đâu ra được tiền lại nhờ người lớn trong làng đi vào dựng cho nó một ngôi nhà gỗ phía trong núi. Hiện tại ở đó đến tận giờ.

Trưởng làng lại nói.

- Nhắc mới nhớ lại thằng bé Vô Niệm này thực sự không tầm thường đâu. Từ nhỏ đã có sức khoẻ phi thường, giết dã thú cũng không ít. Trước kia làng hay bị dã thú quấy nhiễu, gần đây dã thú đều bị thằng bé đánh sợ, không dám bén mảng đến gần nữa.

Trưởng làng kể chuyện rất cuốn hút, thậm chí lúc này Lê Bí, Lê Thái đều dỏng tai lên nghe, nếu những điều trưởng làng kể là sự thật thì đúng là thiếu niên này không tầm thường chút nào. Lê Bí lúc này ăn vào một miếng cơm lại không khỏi trừng mắt nói.

- Trưởng làng, các ngươi trồng lúa gì lại nấu ra cơm ngon đến vậy. Ta ở kinh đô ăn cơm cũng không ngon bằng.

Bọn hắn lúc này mới nhìn ra trong chén cơm từng hạt cơm lại vừa to, vừa trắng, dẻo, không hề giống với cơm được nấu bằng gạo tẻ bình thường. Trưởng làng nghe vậy liền tủm tỉm cười nói.

- À, đây cũng không phải là gạo tẻ bình thường đâu. Một năm trước thằng bé Vô Niệm đem vào làng một mớ lúa giống đủ trồng cho 10 mẫu ruộng. Nó nói rằng giống lúa này trồng cao sản, không những vậy thời gian thu hoạch rất nhanh, cây giống khoẻ mạnh, chịu hạn tốt hơn so với các giống lúa thông thường. Khi đó không ai tin một thằng nhóc mới 11 tuổi lại có thể làm ra được thứ gì. Chỉ có vài nhà thử trồng. Kết quả thực đúng như vậy, cây lúa lớn lên rất nhanh, ra hạt chắc khoẻ, không những vậy còn chịu hạn rất tốt, cho năng suất cao.

Nghe trưởng làng nói tất cả mọi người bất kể vua quan đều không khỏi sửng sốt. Lê Bang Cơ thậm chí còn lắp bắp nói.

- Thật…là thật sao? Năng suất cao bao nhiêu?

Giọng Lê Bang Cơ hơi run, việc này chính là liên quan đến quốc gia đại sự. Trưởng làng lại thản nhiên đáp.

- Năng suất đạt chừng 1000 đến 1200 cân một mẫu, còn tuỳ theo là ruộng tốt hay ruộng xấu nữa.

Oanh!

Lê Bang Cơ chỉ thấy trong đầu mình nổ tung, hắn quay sang hỏi Lê Thái.

- Hiện tại giống lúa nước ta trồng năng suất đạt bao nhiêu?

Lê Thái thần là Tả thị lang đồng tri Hải Tây đạo quân dân bạ tịch, đối với việc này cũng có chút hiểu rõ liền nói.

- Bẩm cậu lớn, hiện tại nước ta năng suất lúa đạt chừng 720 cân một mẫu.

Nếu tính sơ qua, một mẫu là mười sào đất tương đương với 3600 mét vuông, một cân là 0.6 ký, tức là từ giống lúa cũ chỉ đạt chừng 430 ký một mẫu đất thì năng suất đã tăng lên gần gấp đôi với giống lúa mới là 720 ký một mẫu. Hơn nữa theo lời của trưởng làng nói là giống lúa này sức chịu đựng còn tốt hơn cả giống lúa cũ. (Ở đây tính theo hệ đo lường nhà Tống)

Phải biết dân số Đại Việt hiện tại là khoảng 6 triệu người, còn tương đối khiêm tốn, điều này không chỉ đến từ 20 năm Minh thuộc đã làm suy giảm lượng lớn dân số Đại Việt, mà còn đến từ việc năng suất lúa thấp dân chúng không đủ ăn nên tỷ lệ tử rất cao dẫn đến tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên thấp. Nếu dân chúng có đầy đủ ăn, thậm chí dư thừa, tin tưởng sẽ k*ch th*ch việc sinh đẻ cũng như giảm khả năng chết đói của trẻ nhỏ. Lê Bang Cơ nhìn chằm chằm vào chén cơm trắng trong tay mình, lúc này nó đã biến thành bảo vật từ lúc nào. Lê Bang Cơ nói.

- Trưởng làng, ngươi có còn giữ lúa giống này không?

Trưởng làng lắc đầu nói:

- Mùa đông năm ngoái đều gieo cả rồi, dân làng thấy giống lúa tốt như vậy không nỡ ăn. Chỉ xay ra một ít để ăn thử. Hôm nay thấy có khách quý đến mới mang ra chiêu đãi.

Lê Bang Cơ có chút thất vọng, nhưng rất nhanh tâm trạng liền bình tĩnh lại. Chỉ cần biết nơi này có giống lúa tốt, chờ đến lúc hoạch hắn trực tiếp hạ lệnh trưng thu toàn bộ là được. Trưởng làng lại nói.

- Nếu cậu lớn muốn tìm sao không thử tìm đến chính chủ. Vô Niệm hẳn là còn lúa giống.

Lê Bang Cơ vỗ đùi cái đét, làm sao hắn không nghĩ ra đây, rõ ràng là người phát minh ra giống lúa này còn ở đây cơ mà.

Mười vạn năm trước, Kiếp tộc phủ xuống. Cổ Thiên Đình chỉ còn lưu lại di chỉ, Tây Phương Linh Sơn đã sớm đổ nát hoang tàn, Cổ Ma Uyên lùi về trong tĩnh mịch. Hoang Cổ Thánh Vực bị đánh vỡ tan tành, trở thành Tứ Hoang Nhất Hải.
Mười vạn năm sau, Đông Hoang Việt quốc, một gã Chân Nhân cao thủ tuổi già thọ cạn, bỗng nhiên tuyệt địa phùng sinh, quét ngang võ giới.
Mời đọc:
 
Thịnh Thế Diên Ninh
Chương 7: Mắng


Ban đêm, cả làng đều đi ngủ sớm, ngôi làng nằm gần nơi hoang dã lại vô cùng tối tăm. Đèn cầy quá đắt, không phải ai cũng có thể mua được, dù là ở trong huyện thành đi chăng nữa thì cũng chỉ có nhà giàu mới có đèn cầy. Người nhà nông ban đêm thường sẽ đi ngủ sớm, buổi sáng trước khi gà gáy thì đã ra đồng rồi.

Lê Bang Cơ ở bên trong nhà sàn, các hộ vệ chia phiên ra gác ở xung quanh. Dân làng mang đến mấy cái chõng để cho mấy vị đại quan cùng ở.

Ban đêm tĩnh lặng, chỉ có tiếng dế kêu rét rét vào tai khá khó chịu, trên bầu trời thỉnh thoảng lại có vài cái bóng của con dơi đi kiếm ăn ban đêm bay vút qua. Lê Bí chợt nhìn thấy bệ hạ ngồi trước bậc thềm không khỏi đi đến nói.

- Bệ hạ vẫn còn suy nghĩ về việc giống lúa mới sao?

Nhìn vị quân vương trẻ tuổi Lê Bí trong lòng lại có sự thương tiếc. Vua lên ngôi còn quá trẻ, lại bị người đồn đoạt đích của Lạng Sơn vương Lê Nghi Dân, hơn nữa còn có tiếng đồn rằng vua không phải con của tiên đế. Lên ngôi mấy năm đầu đất nước lại thiên tai triền miên đến mức Thái hậu phải thay bệ hạ hạ chiếu tự trách bản thân mình vì khiếm khuyết nên dẫn đến ông trời làm hạn, tự mình tu chỉnh. Lê Bí nhìn Lê Bang Cơ từng bước trưởng thành, từng bước nắm lấy chính quyền liền rõ ràng sự lựa chọn của tiên đế không sai, Lê Bang Cơ thực sự là một vị vua anh minh, lại nhân hậu. Vua đối với dân chúng thì khoan hoà, đối với anh em mình cũng rất hiền hoà khoan dung. Không chỉ ban tước Lạng Sơn vương cho Lê Nghi Dân còn ban tước cả cho anh trai thứ là Lê Khắc Xương làm Tân Bình vương, còn có cả em trai là Tư Thành làm Bình Nguyên vương. Lê Bang Cơ hay mời các anh em vào cung uống rượu bàn chuyện quốc sự, không hề nghi ngờ các anh em một chút nào. Một vị vua như vậy xưa nay là rất hiếm có.

Nghe Lê Bí gọi Lê Bang Cơ liền cười nói.

- Hoá ra là Đại tư đồ, Trẫm đang nghĩ đến thiếu niên kia. Nếu có thể mời chào hắn nhập triều thực sự sẽ là một năng thần của quốc gia.

Lê Bí lại nói.

- Nếu hắn tài giỏi thì việc mời hắn nhập triều cũng không có vấn đề. Nhưng bệ hạ, người muốn làm quan ngoài tài năng còn phải có đức, chúng ta tiếp xúc còn chưa nhiều, không biết tâm tính hắn như thế nào.

Hiện tại triều đình tồn tại 2 chế độ là tiến cử và thi cử để tuyển chọn quan lại. Lê Bang Cơ nhìn Nguyễn Vô Niệm mất mẹ từ nhỏ, lại sinh hoạt ở nơi hoang vu, xem chừng không có ai dạy học chỉ sợ rằng hắn không biết chữ, thi cử xem như vô vọng nên Lê Bang Cơ dự định sẽ đưa Nguyễn Vô Niệm ra làm quan dưới chế độ tiến cử. Lê Bang Cơ nói.

- Đại tư đồ vừa rồi nghe trưởng làng kể chuyện cảm thấy người này như thế nào?

Lê Bí có chút suy nghĩ nói.

- Nếu trưởng làng nói đúng thì kẻ này thực sự là thần đồng hiếm gặp. Hơn nữa hắn không vì mẹ mất sớm không có giáo dục mà trở thành kẻ bối bạc, ngược lại còn biết trả ơn dân làng. Kiếm được giống lúa tốt như vậy lại cam lòng đem trở về cho dân làng gieo trồng để trả ơn, còn giúp dân làng khu trục thú dữ, thực sự là người có tâm tính thiện lương.

Nghe Lê Bí đánh giá Nguyễn Vô Niệm cao như vậy chính Lê Bang Cơ cũng không ngờ đến. Hắn dù là hoàng đế nhưng dù sao vẫn còn nhỏ tuổi, còn phải lắng nghe ý kiến của các quần thần. Huống chi Lê Bí là người sống lâu, nhìn người chắc chắn sẽ chuẩn hơn hắn rất nhiều. Lê Bang Cơ nói.

- Ngày mai Trẫm sẽ đi vào trong núi tìm gặp hắn một chuyến là có thể biết rõ. Ngày mai cấm vệ quân giảm xuống một nửa, dẫn người quá nhiều đến nhà người khác lại không tiện.

Như chợt nhớ đến điều gì Lê Bang Cơ lại nói.

- Buổi chiều nhìn khanh có điều ưu tư, có việc gì sao?

Lê Bí cũng cười nói.

- Cũng không phải việc gì quá quan trọng, chỉ là nhìn Nguyễn Vô Niệm thần lại bỗng nhiên nhớ đến một cố nhân. Có vẻ như nhìn hắn rất giống.

Nghe vậy Lê Bang Cơ cũng gật đầu nói.

- Không biết sao Trẫm đối với hắn cũng có cảm giác rất thân thuộc, tựa như hắn trên người có một nét gì đó giống với người Trẫm biết.

- Có thể là cảm giác mà thôi, trên đời nhiều người như vậy, có đôi nét giống nhau cũng không phải là không thể.

Lê Bí liền đáp, Lê Bang Cơ gật đầu cũng không tiếp tục suy nghĩ, hắn vươn vai một cái khớp xương liền kêu cái rắc, sau đó đứng lên nói.

- Được rồi, đi nghỉ ngơi đi, ngày mai chúng ta còn lên đường sớm.

Sáng sớm ngày hôm sau, mới giờ dần tiếng gà đã gáy vang, lúc này người nông dân trong làng liền lui cui uống một miếng nước lạnh, sau đó liền vác cuốc ra đồng. Lê Bang Cơ cũng tỉnh dậy, bình thường thiết triều cũng dậy sớm, hắn ngược lại khá quen thuộc với kiểu giờ này.

Rửa mặt, súc miệng bằng nước muối xong Lê Bang Cơ liền điểm mấy hộ vệ hộ tống quân thần đi vào bên trong núi, trưởng làng để một thanh niên dẫn theo đoàn người đi vào trong. Dù sao đây là khu núi rừng, cũng không có đường sá gì, tất cả đều là lối mòn, đi vào còn cần phải có người dẫn đường.

Đi không quá một cây số đường mòn, bọn hắn cuối cùng cũng đi đến một căn nhà gỗ, bên cạnh còn có cây liễu, gần đó còn có một dòng suối, buổi sáng còn có thể nghe chim hót, ánh nắng sớm chang hoà cực kỳ dễ chịu. Lê Bang Cơ nói.

- Nơi này cũng có thể xem như là thế ngoại đào nguyên đây.

Gâu gâu!

Vừa thấy có người đến, con Ki lập tức chạy ra phía ngoài cổng sủa lên mấy tiếng, đuôi hạ xuống đề phòng những người mới đến. Thanh niên lập tức hô lên.

- Ki Ki, là ta đây, đừng sủa. c* Niệm có ở nhà không?

Mấy người Lê Bang Cơ nhìn thấy kẻ này nói chuyện với chó cũng thật thú vị. Không ngờ con chó cỏ kia lại thông tuệ không ngừng gật đầu còn sủa thêm hai tiếng nữa như xác nhận. Lúc này từ trong nhà Nguyễn Vô Niệm bước ra, vừa nhìn thấy đám người đứng trước cổng nhà mình hắn lại không khỏi hơi nhíu mày. Thanh niên liền nói.

- Vô Niệm, trưởng làng bảo ta dẫn mấy vị này đến gặp ngươi, nói rằng là khách quý, mong ngươi tiếp đón cẩn thận.

Nguyễn Vô Niệm nghe vậy liền gật đầu nói:

- Được rồi, các ngươi vào trong đi, đừng đứng phía ngoài này.

Thanh niên liền quay sang Lê Bang Cơ nói:

- Cậu lớn, các vị quan lớn, ta dẫn các vị đến đây thôi.

Lê Bang Cơ rất lễ phép nói.

- Được rồi, cảm ơn ngươi, lúc về bọn ta có thể tự về.

Thanh niên vái chào một cái liền theo đường cũ trở về, Nguyễn Vô Niệm thì đi thẳng vào trong nhà. Lê Bang Cơ quay sang Lê Bí nói.

- Coi bộ nếu hôm nay không có trưởng làng giới thiệu chỉ sợ chúng ta sẽ bị cự tuyệt ở ngoài cửa mất.

Nói rồi liền cười một tiếng bước vào trong. Chỉ có sau lưng Hàn lâm trực học sĩ Nguyễn Như Đổ lại nhíu mày tỏ vẻ không thích.

Lê Bang Cơ đi vào bên trong ngó quanh một vòng căn nhà, nhà gỗ tuy nhỏ nhưng lại rất sáng sủa, tràn ngập ánh sáng, gian giữa nhà đặt bàn thờ, bên hông có tấm phản bằng gỗ, giữa nhà còn có đặt một bộ bàn ghế vuông, phía dưới là gian bếp, vừa nhìn liền có thể thấy Vô Niệm sinh hoạt rất đầy đủ, thậm chí có thể nói là giàu có. Nếu ở huyện hắn có thể xem như là một tiểu địa chủ rồi.

- Ngồi đi. Bình thường ở đây không có khách tới nên ta cũng không có trà, chỉ có nước ấm, các ngươi uống tạm.

Nguyễn Vô Niệm nói, lấy từ bên trong vỏ dừa khô trên bàn ra một bình nước rót cho bọn hắn mỗi người một chén. Lê Bang Cơ tiếp lấy chén trà cười nói:

- Tạ ơn.

Nguyễn Vô Niệm cũng không ngồi xuống mà nói:

- Đã các ngươi đến rồi thì chờ một chút ăn sáng cùng ta. Chờ một chút là xong.

- Ăn sáng?

Đám người giật mình, bọn hắn cũng không có khái niệm này. Nguyễn Vô Niệm lại nói:

- Một ngày nên ăn ba bữa, bữa sáng là quan trọng nhất. Ngủ một đêm thức ăn đều tiêu hoá hết sạch, mang cái bụng rỗng làm sao có thể lao động, các ngươi không thấy đói sao?

Mấy người nhìn nhau, bọn hắn buổi sáng đương nhiên cũng đói bụng, thế nhưng lâu dài cũng dần thành thói quen. Nhìn biểu lộ của bọn hắn Nguyễn Vô Niệm liền hiểu, hắn lắc đầu bất lực nói.

- Được rồi, chỉ cần các ngươi biết rằng không ăn sáng rất dễ dẫn đến đau dạ dày là được.

Nói xong liền mặc kệ bọn hắn có hiểu hay không liền đi xuống bếp nổi lửa bắt đầu nấu nướng. Lê Bang Cơ nhìn Lê Bí cười nói.

- Cuối cùng là chúng ta đi công vụ hay đi ăn chực đây?

Lê Bí cười nói.

- Cũng như nhau, nhưng thần cũng rất trông đợi, nghe mùi vị tựa hồ rất thơm.

Lúc này mùi mỡ lợn bốc lên khiến người ta không khỏi nuốt nước bọt, bụng sôi lên ùng ục. Nguyễn Như Đổ tuy bụng cũng sôi lên, thế nhưng lại nói.

- Chủ tử, Mạnh tử nói quân tử tránh xa nhà bếp, kẻ này lại suốt ngày lui cui trong bếp, làm sao đáng để chúng ta mời chào đây.

Phần đầu tiên thì nói to lên như muốn Nguyễn Vô Niệm nghe. Quả nhiên lúc này bên dưới bếp Nguyễn Vô Niệm lập tức đáp trả.

- Mạnh tử nói quân tử rời xa nhà bếp ý tứ nói là người quân tử nên tránh những nơi sát sinh, thực tế là để nhấn mạnh người quân tử không nên có âm mưu đối với một sự vật sinh tồn khác ngay cả là động vật, chứ nào bảo quân tử không được nấu ăn. Không biết là ai dạy ngươi như thế nữa, thật sự mất mặt.

Mười vạn năm trước, Kiếp tộc phủ xuống. Cổ Thiên Đình chỉ còn lưu lại di chỉ, Tây Phương Linh Sơn đã sớm đổ nát hoang tàn, Cổ Ma Uyên lùi về trong tĩnh mịch. Hoang Cổ Thánh Vực bị đánh vỡ tan tành, trở thành Tứ Hoang Nhất Hải.
Mười vạn năm sau, Đông Hoang Việt quốc, một gã Chân Nhân cao thủ tuổi già thọ cạn, bỗng nhiên tuyệt địa phùng sinh, quét ngang võ giới.
Mời đọc:
 
Thịnh Thế Diên Ninh
Chương 8: Hạt tiêu


Câu nói của Nguyễn Vô Niệm làm cho Nguyễn Như Đổ gương mặt bỏng rát, hắn chỉ muốn công kích Nguyễn Vô Niệm, không ngờ lại bị thiếu niên này đánh mặt như vậy. Nguyễn Như Đổ dù là Hàn lâm trực học sĩ nhưng tính cách lại có phần gian ngoan cùng hẹp hỏi, thù này hắn ghi lại, Nguyễn Như Đổ lúc này chỉ hừ lạnh một tiếng nói.

- Một kẻ phàm phu tục tử biết cái gì mà nói chuyện Thánh nhân.

Lúc này Lê Thái bỗng nhiên nhìn thấy ở bên trên tường treo một bức tranh chữ, bên trong bức tranh là một ông già ngồi câu cá, bên dưới có đề thơ, hắn liền nói.

- Chủ tử, người xem bài thơ trên bức tranh này.

Lê bang Cơ lúc này cũng chú ý đến bức tranh, vừa này hắn bị cuộc tranh cãi của Nguyễn Như Đổ và Nguyễn Vô Niệm kéo sự chú ý lại không để ý đến bức tranh treo trên tường này. Bút pháp của bức tranh rất lạ mắt, vẽ sự vật lại cực kỳ rõ ràng từng đường nét bút mà không phải nét vẽ tranh thời bấy giờ. Bên dưới còn đề một bài thơ.

“Một hữu đông hàn tiều tuỵ cảnh
Tương vô xuân noãn đích huy hoàng
Tai ương bả ngã lai đoàn luyện
Sử ngã tinh thần cánh khẩn trương”.

(Ví không cảnh tiêu điều tiết đông rét buốt
Đâu có cảnh ngày xuân huy hoàng ấm áp
Tai ương đem ta ra mà rèn luyện
Khiến tinh thần ta lại càng khẩn trương).

Dưới bài thơ không đề tên tác giả. Nguyễn Như Đổ không khỏi thở phào một hơi, nếu như ký tên là Nguyễn Vô Niệm thì hắn tuyệt đối sẽ bị đánh mặt lần nữa. Lê Bang Cơ lúc này lại hơi cảm thán nói.

- Lời thơ không hoa mỹ nhưng lại cho người ta cảm giác ý chí của một con người đang sục sôi. Một người có thể dùng ngôn từ đơn giản để thể hiện ý cảnh trực tiếp như thế này thực sự không phải bình thường.

Những người làm thơ lúc này thường dùng những câu từ hoa mỹ để ám chỉ điều muốn nói, người bình thường không thể hiểu được, và bọn hắn dựa vào đó để tỏ ra mình thực sự đẳng cấp hơn những người khác, còn biểu đạt trực tiếp thì bị coi là “kém văn” hoặc “th.ô tục” bởi vì từ ngữ không đủ uyển chuyển, cũng như không thể thể hiện được đầy đủ ý thơ trong đó.

Tuy nhiên bài thơ này lại khác, không chỉ từ ngữ dùng đơn giản, chỉ cần người biết chữ, không cần học rộng hiểu sâu cũng có thể nhìn hiểu, hơn nữa trong từng câu chữ lại biểu hiện lên ý chí của một người không khuất phục bởi số phận, tai ương mà nản chí, ngược lại hắn không ngừng tu chỉnh, đoán luyện chính mình để trở thành một người tốt hơn, không chỉ vậy quá trình này càng phải kiên cường, càng phải khẩn trương. Lê Bí cũng gật đầu nói.

- Qua lối thơ lại có thể thấy người này có cái nhìn thực sự thấu triệt về cuộc sống, dù từ ngữ đơn giản, thế nhưng bên trong dường như lại có ẩn sâu triết lý cuộc sống nào đó. Nhưng đáng ra người này phải có dánh tiếng mới phải.

Bọn hắn ưa thích suy diễn ý thơ của tác giả. Giống như các giáo viên văn thời hiện đại cứ ưa thích phân tích bài văn của tác giả sao cho thật hoa mỹ, thật nghệ thuật, đến mức nhà văn cũng không biết là họ có thể viết ý cảnh cao siêu đến vậy luôn.

Lê Bang Cơ nghe Lê Bí nói liền quay sang Lê Thái hỏi.

- Lê Thái, ngươi có từng nghe đến ở vùng Hải Tây hiện có người nào có phong cách thơ văn như vậy không?

Lê Thái cười khổ nói.

- Chủ tử, người trong thiên hạ ở đâu ta không biết, nhưng ở Hải Tây đạo tuyệt đối không có người này. Lát nữa ngài thử hỏi Nguyễn Vô Niệm xem sao. Dù sao bức tranh là của hắn.

Lúc này Lê Bang Cơ mới để ý đến một chi tiết mà mình bỏ quên. Bức tranh cùng kiểu chữ viết này vô cùng khác lạ, khác hẳn với phong cách tranh hoạ cũng như thư pháp hiện tại, do đó trên thị trường tuyệt đối không có bán bức tranh chữ này, như vậy thì bức tranh này hoặc là do một người nào khác viết và vẽ, hoặc là chính Nguyễn Vô Niệm là người vẽ và viết bài thơ nên bức tranh này.

Nếu là giả thuyết thứ hai nói như vậy Nguyễn Vô Niệm thực sự biết chữ, nghĩ đến một đứa trẻ mồ côi tử lúc 5 tuổi, lớn lên lại có tài hoa như vậy, lại nghĩ đến ý cảnh trong bài thơ, số phận của Nguyễn Vô Niệm chẳng phải cũng tràn đầy tai ương, thế nhưng hắn không ngừng vươn lên đấy sao, đến đây Lê Bang Cơ tự hỏi nếu đặt mình vào trong hoàn cảnh của Nguyễn Vô Niệm liệu mình có thể sinh tồn được hay không? Dù tiên đến mất khi hắn còn nhỏ, thế nhưng sau lưng hắn còn có Thái hậu cùng các vị đại thần chống đỡ, lúc 5 tuổi hắn còn đang mơ màng chơi với dế thì lúc này Nguyễn Vô Niệm đã vật lộn với cuộc sống rồi. Đột nhiên hắn lại vì Nguyễn Vô Niệm mà thương tiếc, thiên tài như vậy nếu nhận được sự giáo dục từ nhỏ đến nơi đến chốn thì sẽ phát triển được đến mức nào.

Lúc này từ dưới bếp, một mùi hương đã toả ra lên phía nhà trên, đó là mùi của gạo, trứng, còn thật nhiều thứ hương liệu khác mà bọn hắn cũng không đoán ra được. Lát sau Nguyễn Vô Niệm liền mang lên 6 đĩa cơm chiên trứng cùng một đĩa thịt xông khói, bên cạnh đó là một đĩa rau. Mùi thơm từ những món ăn toả ra ngào ngạt khiến bọn hắn không khỏi nuốt nước bọn, đến mức những hộ vệ bên ngoài cũng phải hơi ngoái đầu lại nhìn, đáng tiếc không có phần của bọn hắn.

- Không biết có người đến nên lượng cơm ta chuẩn bị hơi ít, các ngươi dùng tạm.

Nghe Nguyễn Vô Niệm nói tất cả mọi người không khỏi trợn trừng mắt, bây nhiêu cơm lại còn hơi ít? Dù mỗi đĩa cơm chỉ có lượng chừng một chén cơm, thế nhưng số lượng thịt xông khói còn không ít.

Thực tế đây chính là một ngày ăn của Nguyễn Vô Niệm, trở về thời đại y tế yếu kém này Nguyễn Vô Niệm hiểu rõ được tầm quan trọng của sức mạnh thể chất, nếu không không may cảm cúm một cái thôi cũng đủ làm ngươi đi gặp ông bà, dù Nguyễn Vô Niệm rất thân với đầu Trâu mặt Ngựa, thế nhưng hắn thực sự không muốn gặp bọn hắn lần nữa ở Quỷ môn quan. Hơn nữa Nguyễn Vô Niệm ý thức được rằng hắn đang tuổi ăn tuổi lớn, lại sinh hoạt bên trong núi do đó cần lượng lớn dinh dưỡng để phát triển thể chất, do đó lượng thịt mà Nguyễn Vô Niệm tiêu thụ khá lớn. Bình thường thịt đến từ việc hắn bẫy được, về sau sau khi quen biết tiểu vằn vằn thì Nguyễn Vô Niệm trực tiếp đi tìm nó mà lấy thịt. Tiểu vằn vằn bị đánh sợ, cứ vài ngày lại mang đến một con mồi coi như quà hối lộ để khỏi bị đánh. Nên có thêm xem tiểu vằn vằn như khách quen nhà hắn vậy.

- Đến, cứ ăn tự nhiên đi, ở nhà ta không cần câu nệ tiểu tiết.

Nghe Nguyễn Vô Niệm ăn nói hào sảng như vậy Lê Bang Cơ càng ưa thích, hắn dẫn đầu ngồi xuống cầm lấy chén đũa mà ăn. Hạt cơm vừa vào trong miệng đầu tiêng vị giác của hắn lập tức bị một vị hơi cay kíc.h thích, tiếp theo đó là hương thơm ngào ngạt của cơm, trứng và gia vị lan toả bên trong miệng. Sự tấn công bằng vị giác và khứu giác như thế này khiến Lê Bang Cơ không khỏi kinh ngạc mà hô lên.

- Làm sao có thể ngon như vậy, đến ngự…đầu bếp nhà ta cũng không làm ra được cơm ngon như vậy.

Quá phấn khích suýt nữa thì Lê Bang Cơ nhắc đến ngự trù. Các vị đại thần ăn cơm cũng thấy vô cùng ngạc nhiên, bọn hắn chưa bao giờ ăn được một thứ cơm ngon đến vậy. Nguyễn Vô Niệm gắp nhanh một miếng thịt bỏ vào mồm nói.

- Cũng không có gì, chỉ là thêm vào một chút tiêu để thêm nồng, đường mật để thêm ngọt cùng một chút muối mà thôi.

- Ngươi cũng thật là giàu có, còn có thể mua đường ăn. Còn tiêu là thứ gì?

Nấu đường Đại Việt có nấu, thế nhưng là quy mô nhỏ, nấu đường cũng khá đắt đỏ do đó người bình thường cũng ít mua đường ăn. Hiện tại người Việt nấu ra chủ yếu là đường nâu, mật đường, khi thương cảng Hội An chưa xuất hiện thì ngành thủ công nghiệp nấu đường này cũng chưa phát triển. Còn hạt tiêu tại Đại Việt cũng không có trồng quy mô lớn mà chủ yếu thu được từ các cây tiêu hoang dại nên cũng không phổ biến cho đến thế kỷ 16 và sau đó là khi thực dân Pháp xâm lược lập ra các đồn điền trồng tiêu.

Nguyễn Vô Niệm luân hồi mấy kiếp rất rõ ràng điều này, hắn bảo mọi người chờ một chút, đi xuống dưới bếp lấy ít hạt tiêu đặt lên trên bàn, hắn nói.

- Hạt tiêu thứ này tại Đại Việt hiện tại không nhiều, chủ yếu mọc hoang dại, nhưng ở Thiên Trúc lại rất nhiều. Thậm chí ở châu Âu lục địa thứ này có giá trị như vàng vậy.

Lê Bang Cơ vừa cầm lên hạt tiêu vừa nghe Nguyễn Vô Niệm nói xong lập tức hít một ngụm khí lạnh.

- Thứ này lại có thể xem như vàng? Đắt như vậy?

Hắn không khỏi sợ hãi than, chẳng lẽ vừa rồi bọn hắn là đang “ăn vàng” sao? Thực tế Nguyễn Vô Niệm nói không hề sai chút nào. Từ thời cổ đại, sau khi đế quốc La Mã thôn tính Ai Cập bọn hắn đã biết đến hạt tiêu nhập từ Ấn Độ. Khi đó các giới quý tộc phương tây lập tức bị chinh phục bởi thứ gia vị đặc biệt này, thời gian đó khi tiền kim loại còn hiếm, hạt tiêu thậm chí còn được xem như là một thứ tiền tệ để trao đổi cực kỳ có giá trị. Về sau, dưới bàn tay truyền thông của người Ả Rập thổi vào trong hạt tiêu những câu chuyện huyền bí, giá cả hạt tiêu ngày càng đẩy cao, nhờ tiếp giáp với Ấn Độ, người Ả Rập mặc nhiên thao túng thứ hàng hoá một vốn mốn lời này, ở thế kỷ 13, 1 pound (0,45 kg) đã có giá 4 sillings tương đương với 12 ngày làm việc cật lực của 1 thợ thủ công lành nghề tại phương Tây. Nhờ nguồn tiền thu lại được từ nguồn lợi lớn từ gia vị những người Ả Rập nhanh chóng lớn mạnh xây dựng một đế quốc Hồi giáo hùng mạnh điển hình chính là Ottoman.

main cực kỳ bá đạo, phong cách cơ bắp dùng lực phục người, tay xé hằng tinh
 
Thịnh Thế Diên Ninh
Chương 9: Vị trí của Đại Việt


Chương 9: Vị trí của Đại Việt

- Châu Âu? Châu Âu là nơi nào?

Lê Thái lúc này lại để ý đến một chi tiết lại hỏi. Lúc này Nguyễn Vô Niệm mới chợt vỗ đầu, đúng rồi, lúc này châu Âu còn chưa có mở ra cuộc phát kiến địa lý, nên nơi bọn hắn tiến xa nhất cũng chỉ mới đến vùng Nam Á, còn người Trung Quốc thì con đường tơ lụa của bọn họ chỉ đi đến thế giới của người Ả Rập, còn chưa hề bước qua phương Tây. Vì vậy mà đối với người Đông Á thời này khái niệm châu Âu còn chưa có tồn tại. Nguyễn Vô Niệm lúc này mới quyết định mở ra một lớp bổ túc lịch sử cho bọn hắn. Hắn trực tiếp lấy tay chấm nước mà vẽ lên bàn nói.

- Đây là thế giới của chúng ta, có năm châu bốn bể, mảnh đất lớn này gọi là Châu Á đây là nhà Minh, cái móng chân đây, đúng rồi, đó là Đại Việt, phía dưới này là các quốc đảo vùng Đông Nam Á, còn vùng Thiên Trúc bên này là Nam Á, còn có cả vùng Trung Á của người Lỗ Mễ (Ottoman). Bên này là châu Phi, phía trên châu Phi chính là châu Âu, còn mảnh lục địa lớn kia là châu Mỹ còn chưa ai khai phá, mỏm đất phía dưới này là châu Đại Dương, còn phía cuối là châu Nam Cực. Bao quanh 5 châu chính là 4 bể, bốn đại dương lớn, đại khái là như vậy.

Nguyễn Vô Niệm còn chẳng thèm giải thích trái đất quay quanh mặt trời gì đó, giải thích tương đối phiền phức, bọn hắn cứ nghĩ bầu trời hình tròn, trái đất hình vuông thì cứ để bọn hắn nghĩ như vậy đi. Thế nhưng trong lúc Lê Bang Cơ cũng những người khác còn đang muốn tiêu hoá những kiến thức mới đưa vào thì Nguyễn Như Đồ vốn nhìn Nguyễn Vô Niệm không ưa mắt lập tức nói.

- Nói hươu nói vượn, ngươi mới chỉ là một đứa nhóc 12 tuổi chân còn bước ra khỏi huyện lại dám nói chuyện thế giới.

Lúc này bọn hắn mới tỉnh lại, đúng vậy, vì sao bọn hắn lại tin một thiếu niên lại hiểu chuyện thế giới cơ chứ. Lê Bang Cơ không nói trực tiếp như vậy mà hỏi.

- Làm sao ngươi biết được những điều này?

Nguyễn Vô Niệm đã sớm có chuẩn bị từ trước, hắn không bối rối chút nào mà nói.

- Ta chưa từng đi qua, thế nhưng thầy ta đã từng đi rồi.

Nghe hắn nhắc đến thầy Lê Bang Cơ tự động động não nói.

- Chẳng lẽ là người viết bài thơ trên kia?

Nguyễn Vô Niệm không ngờ tên này lại động não nhanh đến vậy, hắn cũng không giải thích quá nhiều liền nói.

- Không phải, tác giả của bài thơ kia là một người ta vôn cùng tôn kính, còn thầy ta 21 tuổi đã bắt đầu đi viễn dương về phía Tây, trong 30 năm đi qua hàng chục quốc gia trên khắp thế giới, không ngõ ngách nào là không đi, không có việc gì là không chứng kiến, vì vậy thầy ta không gì là không biết cả. Các ngươi hẳn là biết đến con đường tơ lụa chứ?

Tất cả mọi người không khỏi gật đầu, con đường tơ lụa của Thiên triều thực sự quá nổi tiếng, đem lại nguồn tài phú cho không biết bao nhiêu người. Nguyễn Vô Niệm nói tiếp.

- Năm ngoái thầy ta trở về nói với ta rằng ba năm trước đế quốc Lỗ Mê quốc (“Lumi guo” tức Ottoman) đã tiêu diệt đế quốc Đông La Mã, đồng thời cũng đã kiểm soát luôn con đường này để đi sang châu Âu. Do đó giá cả gia vị bên đó lần nữa tăng cao, tiêu, ớt các loại hương liệu ở bên đó đều có thể tính bằng đấu vàng đấy.

Thực tế Nguyễn Vô Niệm không nói dối, người Ottoman khống chế lại con đường tơ lụa đã khiến cho giá cả các loại gia vị tăng cao, bởi qua mấy trăm năm giới nhà giàu của phương Tây đã “nghiện” những loại gia vị trồng ở nhiệt đời này. Cũng chính vì con đường tơ lụa bị chắn đứng nên cuộc phát kiến địa lý trong mấy chục năm nữa sẽ bắt đầu để các quốc gia phương Tây phá thế độc quyền của người Ả Rập.

Nghe Nguyễn Vô Niệm nói về “thầy” của hắn, Lê Bang Cơ liền không khỏi hỏi.

- Không biết bây giờ sư thừa đang ở nơi nào?

Nguyễn Vô Niệm lắc đầu tỏ vẻ tiếc nuối nói.

- Lúc còn trẻ gặp buổi chiến loạn, thầy ta đã đi ngao du tứ hải đã quen, chỉ thỉnh thoảng trở về thăm ta một chuyến, dạy ta vài điều, sau đó liền tiếp tục đi, đến ta cũng không biết thầy đang ở nơi nào.

Nghe Nguyễn Vô Niệm nói Lê Bang Cơ đám người tự suy diễn, cho rằng “thầy” của Nguyễn Vô Niệm đã ra hải ngoại lúc thời còn Minh thuộc, thảo nào Lê Thái lại không nghe đến danh tiếng người này cũng đúng.

- Ăn đi, đừng để nguội lại mất ngon.

Nguyễn Vô Niệm nói tiếp tục vùi đầu vào sự nghiệp bổ sung dinh dưỡng cho cơ thể. Lê Bang Cơ thấy vậy cũng không tiện tiếp tục hỏi, chỉ có thể dằn xuống cơn tò mò trong lòng. Trong bữa cơm cũng giới thiệu qua loa qua. Lê Bang Cơ tự xưng tên là Lê Quốc là con trai của một địa chủ xứ kinh kỳ, cha mất sớm, hắn phải gánh vác lên cả gia nghiệp. Lê Bí là quản gia, Lê Thái, Nguyễn Như Đổ là chủ cửa hàng ở Đông Kinh.

Phải mất đến nửa giờ bọn hắn xem như mới ăn xong bữa cơm. Nói chuyện một lúc Nguyễn Vô Niệm cũng cảm thấy Lê Quốc kẻ này không tệ, hoặc có thể nói cả hai đều mồ côi từ nhỏ nên cũng đồng bệnh tương liên, nhất là khi nhắc đến phụ mẫu, hai người mặt mày cũng không khỏi cảm xúc, chỉ thiếu điều xưng huynh gọi đệ. Lúc này Lê Bang Cơ lại nói.

- Sư thừa là người bất phàm, ngươi tuổi nhỏ nhưng thông tuệ, cũng không là kẻ tầm thường, nơi rừng núi hoang sơ này không phải là nơi để ngươi có thể triển khai quyền cước. Nếu không ngươi đi theo ta đến kinh thành, nơi đó mới là nơi để ngươi vùng vẫy.

Nguyễn Vô Niệm ánh mắt có chút nghi ngờ nhìn Lê Bang Cơ, kẻ này không phải là dân buông người đi dụ trẻ nhỏ chứ. Bất quá Nguyễn Vô Niệm vẫn thản nhiên đáp.

- Tương lai ta tất nhiên sẽ đến kinh thành, thế nhưng hiện tại không phải lúc. Ta muốn đi làm ăn, nhưng hiện tại chưa phải lúc.

Thực tế lúc này Nguyễn Vô Niệm cũng đã bắt đầu làm ăn, nếu không làm sao hắn có thể sống thoải mái như thế này được, hắn có lương thực, thế nhưng thực tế thu nhập chủ yếu của Nguyễn Vô Niệm đến từ hai nguồn đó là bán các sản phẩm da lông thú và nấu đường để bán. Đây là hai thứ có thể mang đến một món tiền đơn giản đối với một thiếu niên như hắn. Thân thể nhỏ bé thực tế đã làm hạn chế đi rất nhiều cơ hội của Nguyễn Vô Niệm, phải chờ đến năm hắn 15 tuổi coi như đã trưởng thành thì lúc đó mới có thể thoả sức mà vùng vẫy.

Trong thời gian này thu được tiền tài Nguyễn Vô Niệm bắt đầu đầu tư vào nghiên cứu giống lúa mới, đồng thời thuê người đi tìm các loại giống cây mọc hoang dã nhưng ít người biết đến đặc biệt là hương liệu, hắn muốn chuẩn bị tất cả cho sự nghiệp tương lai.

Đây là thời kỳ cuộc phát kiến địa lý chưa bắt đầu trong khi con đường tơ lụa đã bị người Ottoman chặn đứng, đây đồng thời là cơ hội nhưng cũng là một thách thức. Cơ hội là hắn có thể nắm được tiên cơ để phát triển ra bên ngoài, nhưng thách thức chính là đi viễn dương là một chuyện cực kỳ khó khăn.

Thực thế vị trí địa lý của Đại Việt dù ở thời kỳ hiện đại nói là vị trí địa lý đắc địa, nằm trên con đường giao thương của thế giới, trung tâm của Đông Nam Á bla, bla…thế nhưng thực tế trong thời kỳ phong kiến lại cực kỳ khó khăn trong việc bành trướng ra bên ngoài. Hiện tại lãnh thổ của Đại Việt cũng chỉ kéo dài đến vùng Ái châu tức vùng Bắc Quảng Nam, phía Bắc là anh bạn to lớn không hề dễ chọc, bên phía Tây là Lan Xang, nhưng va chạm thường xuyên với Đại Việt là các bộ tộc người Lào ở sườn Tây dãy Trường Sơn, lúc này dãy Trường Sơn như một bức tường thành ngăn cách tự nhiên giữa hai quốc gia, quân Đại Việt thường mang quân trừng phạt những sách, động ở dãy Trường Sơn, thế nhưng không thể đóng giữ bởi hậu cần quá khó khăn, quân đồn trú lại bị những người bản địa quấy phá liên tục. Do đó Đại Việt chỉ có thể đi về phía Nam đánh Champa, sau đó là tiến sang Chân Lạp, nhưng đến đó cũng sẽ đụng với Xiêm La cũng là một đế chế không hề yếu nhược. Còn phía biển thì quên đi, thời phong kiến Đại Việt cũng không có chú trọng đến biển.

Chính vì vị trí bị khống chế như vậy nên thực tế tiềm lực quốc gia của Đại Việt không thể so được với những đế chế hùng mạnh trong khu vực và cả châu lục. Nếu duy trì một nền kinh tế trọng nông ức thương Đại Việt tuy có thể đạt đến thời đỉnh cao như thời Hồng Đức thế nhưng sau đó sẽ là một chuỗi trượt dài suy tàn giống như trong lịch sử vậy.

Do đó Nguyễn Vô Niệm phương hướng chính là hắn cần làm một sự thay đổi cho Đại Việt, hắn phương hướng chính là phát triển ra biển, khống chế được vùng Đông Nam Á, sau đó mới có thể hướng đến phương Tây, từ đó tạo ra tiềm lực để đối chọi lại với nhà Minh cùng Xiêm La. Nguyễn Vô Niệm không biết rằng mình có thể thay đổi được bao nhiêu, thế nhưng nếu không cố gắng làm sao biết mình làm không được đây.

main cực kỳ bá đạo, phong cách cơ bắp dùng lực phục người, tay xé hằng tinh
 
Thịnh Thế Diên Ninh
Chương 10: Kết nghĩa huynh đệ


Nghe Nguyễn Vô Niệm vậy mà muốn đi làm ăn Lê Bang Cơ không khỏi sửng sốt hỏi.

- Ngươi không có ý định thi cử làm quan sao? Sư thừa là người tài giỏi như vậy, chẳng lẽ cố công dạy ngươi ngươi lại phí hoài tài năng như thế?

Nguyễn Vô Niệm lắc đầu nói.

- Thầy đúng là dạy ta nhiều điều, nhưng không dạy nhiều về tứ thư ngũ kinh, thay vì đó thầy dạy ta triết học, vật lý, hoá học, khoa học kỹ thuật. Ngươi xem những thứ đó thi ra làm quan sao?

Lê Bang Cơ trầm mặc, quả thực những môn này không nằm trong kỳ thi, huống chi bây giờ thi cử vẫn còn hạn chế, muốn làm quan con đường tốt nhất vẫn là được tiến cử. Lê Bang Cơ tỏ vẻ tiếc nuối khi Nguyễn Vô Niệm không thể đi thi, Nguyễn Như Đổ lại khinh thường, hắn thực sự không muốn cãi nhau với một kẻ “không có học thức”. Lê Bang Cơ lúc này mới nhớ ra mục đích đến đây liền nói.

- Vô Niệm, lần này ta đến đây là muốn cảm ơn ngươi đã cứu mạng. Ngoài ra còn có một việc muốn nhờ ngươi giúp đỡ.

Nguyễn Vô Niệm gật đầu không vội đồng ý mà là ý bảo Lê Bang Cơ nói ra yêu cầu, dù sao không lại tự nhiên đồng ý khi còn chưa rõ đối phương muốn điều gì. Lê Bang Cơ nói:

- Ở dưới làng ta được biết rằng ngươi có cải tiến ra được một giống lúa mới, không chỉ sức chống chịu cao hơn mà còn cho ra năng suất lớn hơn. Ngươi cũng biết ta là địa chủ nhưng thực chất ta còn có một ông chú làm ở Dân bộ (Hộ bộ), nếu có thể đưa giống lúa này ra phát triển cho toàn thiên hạ thì quốc lực Đại Việt ta sẽ tăng lên một số lớn. Đây là việc đại nghĩa đối với quốc gia, vì vậy ta muốn xin ngươi có thể trao cho ta giống lúa đó để cấp lên triều đình được không?

Nhiều người cho rằng đầu triều Lê sơ còn chưa có 6 bộ mà chỉ có 2 bộ (Lại, Lễ), thế nhưng thực tế lục bộ đã có từ thời đại Lý – Trần kéo dài cho đến hiện tại, chỉ là vai trò của 6 bộ trong triều đình rất mờ nhạt, đứng đầu triều vẫn là tam Thái, tam Thiếu và tam Tư đóng vai trò quan trọng. Đến khi Lê Nghi Dân giết Lê Bang Cơ lên làm vua thì đã cắt đặt các sáu bộ tại các lộ, châu, sau Lê Tư Thành lại cụ thể hoá 6 bộ, sắp đặt chức quan, lại thêm sáu khoa, sáu tự. Nghe Lê Bang Cơ nói xong Nguyễn Vô Niệm lại nói.

- Ngươi cũng rõ ràng lợi ích do giống lúa mới mang lại. Nếu việc này dâng lên cho hoàng đế chính là một cái công to.

Phải biết rằng hiện nay kinh tế của Đại Việt hoàn toàn phụ thuộc vào nông nghiệp, dĩ nông vi bản, nông nghiệp phát triển thì quốc gia mới cường thịnh. Nay một giống lúa có thể nâng sản lượng lên gần gấp đôi, lại có thể chống chịu hạn tốt hơn, với công lao này hoàn toàn có thể đạt được tước vị chứ không phải chơi.

Lê Bang Cơ trong lòng buồn rầu, hoàng đế đang ngồi trước mặt ngươi đây này, chỉ là lúc này hắn lại không tiện lộ ra thân phận. Lê Bang Cơ nói.

- Đúng vậy, nếu tính theo công lao này ngươi thậm chí có thể đạt được một tước vị huyện bá.

Vương, công, hầu, bá, tử, nam, 6 loại tước vị trong đó vương cũng chỉ dành cho hoàng thân quốc thích, nên có thể nói công tước là tối đa, bá tước là ở trung đẳng. Thế nhưng thời Lê lúc này có bao nhiêu người được phong đến bá tước? Những khai quốc công thần theo Lê Lợi dựng nước cũng chỉ được phong đến hầu tước mà thôi. Vì vậy nên mới thấy tầm quan trọng của hạt lúa này là như thế nào. Lê Bang Cơ nói tiếp.

- Thế nhưng không có người dẫn tiến, ngươi muốn ngóc đầu lên cũng không được, hoặc có thể mang hoạ sát thân.

Nguyễn Vô Niệm rất rõ ràng, đó chính là thiếu hụt của chế độ tiến cử, phải có “người giới thiệu” may ra hắn mới gặp được người dẫn tiến vào trong cung, còn gặp được vua hay không vẫn còn rất hên xui. Hơn nữa đúng như Lê Bang Cơ nói, thất phu vô tội, hoài bích kỳ tội, một cái công lớn như thế ai lại không muốn. Dù Nguyễn Vô Niệm không ngán ai đến, thế nhưng lại rất phiền phức, hơn nữa hắn cũng không thể hai tư trên bảy đề phòng được. Nguyễn Vô Niệm nói.

- Nếu như ta chia sẻ giống lúa này cho ngươi ngươi sẽ làm được gì cho ta?

Coi như đây chính là một việc làm ăn sòng phẳng, người người tư lợi, Nguyễn Vô Niệm đương nhiên sẽ không cho ai miễn phí cái gì, quốc gia đại sự tuy quan trọng, thế nhưng không phải phát minh là miễn phí, để tạo ra giống lúa này hắn cũng đã tiêu hao rất nhiều tiền bạc.

Lê Bang Cơ trong đầu cấp tốc suy nghĩ rất nhanh, hắn không dám nói với Nguyễn Vô Niệm là hắn không tư lợi, như vậy sẽ bị nghi ngờ, vì vậy Lê Bang Cơ nói.

- Như thế này đi, dù sao ngươi cũng không muốn làm quan, nhưng ta lại muốn. Công lao này báo lên ít ra ta cũng đổi được một cái quan chức, đồng thời coi như giống lúa này là do ta và ngươi hợp tác, triều đình cũng sẽ kể công đến cho ngươi. Tương lai không phải ngươi muốn đến kinh thành làm ăn sao. Ta ở kinh thành cũng coi như có thế lực, có ta giúp đỡ, ngươi tuyệt đối sẽ thuận buồm xuôi gió.

Hắn ở kinh thành nào chỉ là có thế lực, ở Đông kinh Lê Bang Cơ chính là đại ca, nói cái gì ai dám làm trái sao. Thế nhưng Nguyễn Vô Niệm không biết điều đó, tuy nhiên đối với lời nói của Lê Bang Cơ hắn cũng đã có chút tin tưởng, hắn sống qua tám đời, tuy nói không phải có mắt nhìn người tinh tường nhưng cũng có cảm giác đánh giá con người, hắn đánh giá Lê Bang Cơ này thực sự rất không tệ, làm người nhân nghĩa, có thể đáng tín nhiệm. Hơn nữa Lê Bang Cơ biết việc này là từ dân làng, hắn thực sự có rất nhiều cách để có thể từ dân làng lấy được giống lúa chứ không phải là đến tìm Nguyễn Vô Niệm để xin giống lúa. Điều này có nghĩa Lê Bang Cơ đối với hắn khá tôn trọng.

Tuy vậy Nguyễn Vô Niệm vẫn nói.

- Làm sao ta tin được ngươi đây? Phải biết đây là Tây kinh, cách Đông kinh rất xa, ta không thể nào tin được liệu ngươi có giữ lời hứa hay không.

Lê Bang Cơ suy nghĩ một chút liền nói.

- Nếu không như thế này, ngươi cho ta thời gian một tháng, sau khi trở lại kinh thành bẩm tấu việc này lên, phía trên triều đình nhất định sẽ cho người đến xác nhận, khi đó ngươi chỉ cần phối hợp một chút là được.

Lúc này Nguyễn Vô Niệm vậy mà mỉm cười nói.

- Được rồi, không cần thiết, ta tin tưởng, ta sẽ giao giống lúa cho ngươi.

Khi Lê Bang Cơ đưa ra hứa hẹn như vậy giống như hắn đã tự đưa mình vào thế yếu hơn, nếu triều đình cử khâm sai đến xác nhận, Nguyễn Vô Niệm hoàn toàn có thể ẵm trọn công lao mà không cần chia sẻ cho Lê Bang Cơ. Như vậy điều này chứng tỏ thực tế Lê Bang Cơ nói muốn làm quan là lời nói dối, hắn là vì đại nghĩa. Lê Bang Cơ nghĩ rằng ngồi trước mặt hắn là một đứa bé dễ lừa gạt, thế nhưng không biết rằng ngồi trước mặt hắn chính là một người đã cửu kiếp luân hồi. Cũng vì hiểu rõ như vậy, Nguyễn Vô Niệm đã tin tưởng Lê Bang Cơ.

Ngược lại, Lê Bang Cơ bất ngờ hỏi.

- Ngươi thực sự tin ta?

Nguyễn Vô Niệm gật đầu nói.

- Ta cảm giác được ngươi là người đáng tin tưởng, hơn nữa… ta cũng muốn giống lúa này có thể phát dương quang đại trên chính những đồng ruộng của Đại Việt, càng nhiều người có thể ăn được bữa no.

Lê Bang Cơ xúc động đứng lên cung kính vái hắn một cái nói.

- Ta thay mặt cho lê dâng bách tính cảm tạ đại nghĩa của ngươi.

Nguyễn Vô Niệm vội vàng né sang một bên tránh lễ, hắn ghét nhất là lễ tiết phiền phức như vậy. Lê Bí cùng Lê Thái nhìn bệ hạ bái Nguyễn Vô Niệm không khỏi sửng sốt, thế nhưng nhìn thấy hành động của Nguyễn Vô Niệm lại không khỏi gật đầu hài lòng. Nguyễn Vô Niệm nói.

- Được rồi, đừng bái, chẳng phải ngươi cũng là vì đại nghĩa hay sao.

Lê Bang Cơ lúc này vỗ vai Nguyễn Vô Niệm nói.

- Đúng vậy, chúng ta đều là vì đại nghĩa. Nói thật vừa nhìn thấy ngươi ta đã cảm thấy chúng ta thật hợp tính. Nếu ở đây có rượu ta thực sự muốn cắt máu ăn thề, kết nghĩa huynh đệ với ngươi.

- Rượu? Thứ này ta có.

Là nam nhân trong nhà làm sao không có rượu được đây, Nguyễn Vô Niệm liền đi xuống bên dưới bếp lấy rượu. Trên này Nguyễn Như Đổ nói nhỏ.

- Bệ hạ, chẳng lẽ ngài thực sự muốn kết nghĩa huynh đệ với hắn? Hắn cũng chỉ là một dân đen bình thường, làm sao có thể…

Nguyễn Như Đổ nói chưa xong thì Lê Bí đã nói.

- Ý của trực học sĩ đại nhân chính là năm xưa chúng ta cũng không có tư cách kết nghĩa với tiên đế sao?

Nguyễn Như Đổ khẽ giật mình một cái. Năm xưa Thái tổ thân là một hào trưởng phất cờ khởi nghĩa, hào kiệt các nơi tề tựu về, Thái tổ thu mua nhân tâm, cùng ăn, cùng uống, coi nhau như huynh đệ cùng các tướng, khi đó các tướng cũng chỉ là phường áo vải mà thôi. Lê Bang Cơ cũng nói.

- Trẫm thấy kẻ này cũng là người biết vì đại nghĩa, xứng đáng để Trẫm kết giao nâng đỡ, biết đâu lại có thêm một kỳ tài cho quốc gia. Còn nếu không thì Trẫm cũng không lỗ lã gì.

Lê Bí gật đầu đồng ý. Hắn bắt đầu có cảm giác bệ hạ có hình dáng của tiên đế, bình thường làm người hiền hoà, nhân hậu, thế nhưng khi cần cũng rất quyết đoán, bệ hạ tự có chính kiến riêng của mình, một khi đã quyết định thì rất khó để có thể kéo lại được. Còn Nguyễn Như Đổ thì đơn thuần là không dám nói thêm, hắn dám cãi lại bệ hạ và Đại tư đồ sao.

main cực kỳ bá đạo, phong cách cơ bắp dùng lực phục người, tay xé hằng tinh
 
Thịnh Thế Diên Ninh
Chương 11: Hiệu ứng hàng biên


Từ dưới bếp Nguyễn Vô Niệm mang lên một bình rượu cùng hai cái chén cho hắn và Lê Bang Cơ, còn những người khác thì cũng không cần, dù sao Nguyễn Vô Niệm kết nghĩa là với chủ tử, còn hạ nhân thì để sang một bên đi. Hắn không có tư tưởng muốn giải phóng giai cấp, giải phóng con người, hắn rất rõ ràng một việc chế độ nào, giai cấp đó, quan hệ sản xuất chỉ thay đổi khi lực lượng sản xuất có sự thay đổi về chất. Nguyễn Vô Niệm nếu cố gắng đi ngược lại với quy luật phát triển của xã hội sẽ trở thành dị biệt và bị cái bánh xe lịch sử nghiền nát.

Hắn đặt hai cái chén xuống, sau đó mở nút rượu rót đầy. Hương rượu toả ra hương thơm ngào ngạt của men nếp khiến người ta say mê. Ở mấy kiếp trước hắn nghe nói xuyên không trở về nấu rượu độ cao làm giàu dễ lắm, nhưng thực ra không phải vậy, tại Đại Việt lúc này sau 20 năm Minh thuộc cũng đã tiếp thu được những cách làm rượu mới, nâng số độ của rượu lên, những làng chuyên nấu rượu. Nấu rượu đã xuất hiện ở đất Việt chừng trước thế kỷ I trước Công Nguyên, truyền thống nấu rượu đó phát triển qua ngàn năm, lại tiếp thu nhiều tinh hoa nghề nấu rượu từ các triều đại phương Bắc kỹ nghệ tuyệt đối không phải nói chơi, đặc biệt là rượu nếp của người Dao luôn là một cống phẩm luôn phải có cho triều đại phương Bắc.

Rượu này của hắn lấy từ huyện Thuần Hựu (Hậu Lộc) trở về, ở đây có 2 thứ quan trọng nhất của rượu là bánh men và nguồn nước, tại xứ Thanh Hoá này không có nơi nào bằng, do đó rượu sản xuất ở đây cũng rất ngon. Bình thường Nguyễn Vô Niệm chỉ dùng rượu vào ngày giỗ mẹ, một nửa cất giữ, một nửa lại lần nữa chiết xuất thành rượu cao độ để sát khuẩn. Hắn bình thường hay vào rừng, bị thương không ít, do đó cần thứ này. Hôm nay vui vẻ hắn mới mang lên một bình.

- Rượu Thuần Hựu sao?

Lê Bang Cơ vừa ngửi mùi liền nói, phải biết đây chính là đất tổ của họ Lê, làm sao hắn không biết được. Nguyễn Vô Niệm cười nói.

- Coi như ngươi biết hàng. Đến, chúng ta tại đây có trời đất cùng mẹ ta chứng giám cùng kết thành huynh đệ.

Lê Bang Cơ cũng hứng chí, từ khi hắn lên ngôi đến bây giờ chưa có kẻ nào có thể nói chuyện với hắn tự nhiên đến như vậy, xung quanh đều là bề tôi cung cung kính kính, Nguyễn Vô Niệm lại làm hắn thấy mới lạ. Lê Bang Cơ rút kiếm ra nói.

- Đến đây, chúng ta cắt máu ăn thề.

Uy!

Lê Bang Cơ vừa mới định cắt thì đã thấy một cái lư hương đặt trước mặt hắn, Nguyễn Vô Niệm đã cầm trên tay hai nén hương lúc nào không biết. Lê Bang Cơ trợn mắt ngạc nhiên.

- Không cần cắt máu ăn thề hả?

Nguyễn Vô Niệm đưa một nén hương đã châm lửa cho hắn nói.

- Ta nghĩ có hương là đủ rồi, y tế thời này đụng tí là nhiễm trùng sinh mủ, ta vẫn thấy không cắt máu vẫn tốt hơn, ai biết ngươi có bị viêm gan B gì hay không?

Đối với lời nói loạn thất bát tao của Nguyễn Vô Niệm Lê Bang Cơ có nhiều chỗ thật không hiểu, thế nhưng cũng âm thầm cảm thấy may mắn một chút, không mất máu là tốt, sẽ rất đau. Hai con hàng kết bái thực sự không biết làm người ta nên khóc hay nên cười nữa. Nguyễn Vô Niệm đặt lư hương trên bàn, hai người quay hướng ra ngoài. Lê Bang Cơ nói rằng hắn lớn tuổi hơn vì vậy để hắn khấn trước. Lê Bang Cơ nói lớn.

- Ta, Lê Quốc.

- Ta, Nguyễn Vô Niệm.

- Tại đây có thiên địa chứng giám, từ nay trở thành huynh đệ kết bái, có phúc cùng hưởng, có hoạ cùng chia.

Nguyễn Vô Niệm suýt nữa nói luôn có gái cùng chơi, có nạn ta chạy trước, may mắn hắn dừng lại kịp. Lê Bang Cơ cầm lên chén rượu nói.

- Vô Niệm, uống hết chén rượu này chúng ta là anh em một nhà.

- Được, cạn!

Nguyễn Vô Niệm quát lớn, hai người rất nhanh uống hết chén rượu, độ rượu không quá cao nhưng cũng xông lên ngợp mũi, may mắn Nguyễn Vô Niệm đã phòng trước nên rót cũng ít. Uống cạn xong Lê Bang Cơ nói lớn.

- Nhị đệ!

- Huynh trưởng!

Nguyễn Vô Niệm cũng đáp lại, người có học thường dùng những từ Hán – Việt để xưng hô với nhau như vậy, Nguyễn Vô Niệm cũng biết chữ, cũng xem như là nửa cái người có học. Nguyễn Như Đổ nhìn Nguyễn Vô Niệm không vừa mắt, thế nhưng cũng không có cách nào. Vẫn may mắn là bệ hạ còn chưa có ý định tiết lộ thân phận với kẻ này.

- Huynh trưởng đi theo ta, nếu huynh trưởng đã có người quen trong Dân bộ thì thứ này sẽ có tác dụng lớn cho con đường thăng tiến sau này.

Nguyễn Vô Niệm nói. Hắn nếu khó ra làm quan được thì ngược lại hắn cần có một người có địa vị trong triều đình, hắn nhìn Lê Bang Cơ có thể là người đáng tin cậy liền muốn nâng đỡ Lê Bang Cơ một chút. Nếu Nguyễn Vô Niệm biết được đứng trước mặt hắn là đại boss của cả quốc gia thì không biết cảm tưởng của hắn sẽ như thế nào.

Lê Bang Cơ tò mò không biết Nguyễn Vô Niệm trong hồ lô có bán thuốc gì. Đoàn người đi theo Nguyễn Vô Niệm đến bờ suối, đi qua một cây cầu gỗ, phía bên đó là đồng ruộng, lúc này là tháng giêng, lúa xanh mơn mởn. Lê Thái nhìn qua không khỏi ồ lên một tiếng nói.

- Làm sao có thể, lúa ở đây vậy mà còn tốt hơn cả lúa ở Đông kinh.

Đồng bằng Bắc bộ chính là vựa lúa của cả nước, với đồng bằng sông Hồng phù sa màu mỡ cùng với hệ thống thuỷ lợi trải khắp đồng bằng cung cấp đầy đủ nguồn nước, do đó dù những năm hạn nhất thì đồng bằng sông Hồng vẫn là nơi có sản lượng lúa cao nhất, lúa tốt nhất. Thế nhưng nhìn những cây lúa chắc khoẻ vươn mình trước mắt Lê Thái như không thể tin vào mắt mình, xứ Thanh Hoá này làm sao có thể bồi dưỡng lên được những cây lúa tốt đến như vậy.

Lê Bang Cơ dù không hiểu biết quá nhiều về nông nghiệp, nhưng Lê Thái chính là làm ở Dân bộ, điều hắn nói ra tuyệt đối đáng tin, Lê Bang Cơ quay sang Nguyễn Vô Niệm hỏi.

- Vô Niệm, chẳng lẽ đây chính là giống lúa mới sao?

Nguyễn Vô Niệm gật đầu nói.

- Đúng vậy, đây chính là giống lúa mới, tuy nhiên cây lúa lớn lên khoẻ mạnh như vậy cũng không không hẳn là nhờ giống lúa mà là nhờ phương pháp trồng.

- Phương pháp trồng?

Lê Bang Cơ đối với cái này hiển nhiên không hiểu, ngược lại Lê Bí cùng Lê Thái lại rất hứng thú không ngừng nghiên cứu, rất nhanh Lê Thái nói.

- Những cây lúa này được trồng thẳng tắp với nhau.

Nguyễn Vô Niệm gật đầu nói.

- Đúng vậy, hiện tại nông dân cấy lúa theo phương pháp truyền thống trồng khá loạn, không chỉ tốn kém nhiều phân mà còn xảy ra tình trạng những khóm lúa ở phía ngoài biên bởi vì được hưởng ánh sáng mặt trời nhiều hơn, quang hợp tốt hơn do đó sinh trưởng tốt, cho năng suất tối đa, trong khi những khóm lúa ở giữa ruộng vì trồng mật độ dày đặc, ít nhận được ánh sáng mặt trời cũng như không nhận đủ dinh dưỡng, do đó năng suất thấp hơn so với ở ngoài biên.

Lê Thái gật đầu, dân bộ mỗi vụ đều có người đến giám sát tình hình gieo trồng ở địa phương, do đó không quá khó để thấy trường hợp này. Chỉ là hắn không hiểu được quang hợp có nghĩa là gì nhưng hắn biết cây cối muốn sinh trưởng cần có ánh nắng mặt trời, cần có nước, cần có phân, châm ngôn của người nông dân Đại Việt là nước, phân, cần, giống vì vậy mà điều Nguyễn Vô Niệm nói cũng không hẳn là không có lý.

Nguyễn Vô Niệm nói tiếp.

- Vì vậy ở đây ta đã nghĩ ra một phương pháp cấy lúa mới gọi là phương pháp “hiệu ứng hàng biên” hay gọi là cấy lúa hàng rộng – hàng hẹp cũng được, ở đây cấy lúa theo hàng theo hướng Đông – Tây, mỗi hàng sông hẹp trồng cách nhau chừng 15 đến 20 phân, hàng sông lớn cách nhau chừng 45 phân, khi cấy đảm bảo cấy nông tay, hai đến ba rãnh một khóm, các khóm giữa các hàng lại trồng so le nhau. Như vậy vừa có thể đảm bảo được mỗi khóm lúa đều có thể nhận đầy đủ ánh sáng, đủ nước, đủ chất dinh dưỡng mà còn có thể tiết kiệm được phân bón nhờ chỉ cần bón theo từng hàng sông con mà không cần bón theo hàng sông lớn, tiết kiệm được rất nhiều phân bón so với bón phân toàn đồng ruộng.

Phân bón xếp hàng thứ tư trong châm ngôn đã chứng tỏ tầm quan trọng của nó, thế nhưng lúc này nông dân sử dụng chủ yếu là phân xanh (thực vật), phân chuồng (động vật), hai loại phân này không đủ cung ứng cho đồng ruộng bọn hắn trực tiếp lấy cả phân người để đi bón cho cây. Do đó tiết kiệm được phân bón đồng nghĩa với việc càng có nhiều đồng ruộng nhận được sự chăm bón của phân hơn. Nguyễn Vô Niệm nói tiếp.

- Nếu làm đúng theo phương pháp này, thuận lợi mà nói năng suất của giống lúa này thậm chí có thể đạt 1250 đến 1300 cân một mẫu, thậm chí còn cao hơn nữa nếu đất đai màu mỡ.

- Mẹ nó, 1300 cân?

Lê Bang Cơ vậy mà không nhịn được phun ra một câu nói tục, hắn cứ tưởng rằng 100 đến 120 cân như lời trưởng làng nói đã là rất cao, không ngờ qua phương pháp của Nguyễn Vô Niệm lại có thể tăng trưởng như vậy. Nếu năng suất lúa Đại Việt có thể tăng lên như vậy thì chẳng mấy chốc Đại Việt lúa sẽ đầy kho đây?

Mười vạn năm trước, Kiếp tộc phủ xuống. Cổ Thiên Đình chỉ còn lưu lại di chỉ, Tây Phương Linh Sơn đã sớm đổ nát hoang tàn, Cổ Ma Uyên lùi về trong tĩnh mịch. Hoang Cổ Thánh Vực bị đánh vỡ tan tành, trở thành Tứ Hoang Nhất Hải.
Mười vạn năm sau, Đông Hoang Việt quốc, một gã Chân Nhân cao thủ tuổi già thọ cạn, bỗng nhiên tuyệt địa phùng sinh, quét ngang võ giới.
Mời đọc:
 
Thịnh Thế Diên Ninh
Chương 12: Bán đường


Hiện tại Đại Việt trồng lúa vẫn là giá đỡ chính cho ngành nông nghiệp cũng như kinh tế của quốc gia. Với 1 năm 2 vụ, năng suất tuỳ theo vùng, Đại Việt tuy không nói rằng là đói kém, nhưng không quá dư thừa lương thực, chỉ cần một năm mất mùa thì tình hình lương thực lập tức căng thẳng, hoàn toàn không có đủ lương thực cất giữ để đem buôn bán. Do đó mặt hàng lương thực nằm trong danh mục cấm xuất khẩu cùng với đó là đồng, sắt, muối, đều là các vật tư mang tính chiến lược của quốc gia.

“Dân dĩ thực vi thiên”, các triều đại phong kiến đều thấm nhuần điều này, vì vậy bọn hắn luôn luôn cố gắng kiểm soát lấy ruộng đất công, nhờ đó vừa đảm bảo được nông dân có ruộng cày, dân chúng có cái ăn, triều đình có nguồn thu tô thuế, triều đại khi nào còn kiểm soát được ruộng đất công thì khi đó sẽ thịnh vượng, ngược lại khi ruộng đất công của triều đình bị thu hẹp thì cũng có nghĩa là đến lúc đó triều đại sẽ bị diệt vong.

Thế nhưng lúc này Nguyễn Vô Niệm lại lấy ra được một giống lúa có thể nâng cao gấp đôi năng suất, điều này có nghĩa là triều đình đang được gấp đôi nguồn thu, dân chúng có gấp đôi cái ăn, đối với một nền kinh tế còn thiếu ổn định như dưới thời Diên Ninh hiện tại mà nói chẳng khác nào một liều thuốc trợ tim.

- Bất quá phương pháp này hiện tại còn chưa thể giao cho huynh trưởng.

Nghe Nguyễn Vô Niệm nói Lê Bang Cơ liền rõ ràng Nguyễn Vô Niệm chính là đang chờ việc có kết quả thì mới tiết lộ phần tiếp theo. Lê Bang Cơ vỗ ngực nói.

- Hiền đệ cứ yên tâm vào ngu huynh, rất nhanh thôi sẽ có tin tức đến.

Hai người nói chuyện một hồi lâu, đoàn người Lê Bang Cơ liền viện cớ trở về. Lê Bang Cơ vốn dĩ phải trở về Lam kinh từ ngày hôm qua, thế nhưng bởi vì Nguyễn Vô Niệm lại phải chậm lại một ngày. Hoàng đế trăm công nghìn việc, vắng mặt ở kinh đô một ngày đã là chuyện tương đối lớn, chưa kể Đại tư đồ cũng ở đây. Nhân tiện hắn còn mang theo cả mấy bao lúa giống để cho cận vệ vác trở về.

Nguyễn Vô Niệm đưa tiễn bọn hắn rời đi xong cũng bắt đầu suy tính đến một số việc. Xem chừng hắn cũng phải nhanh chóng đẩy nhanh kế hoạch một chút. Huỷ bỏ công việc ngày hôm nay, Nguyễn Vô Niệm đi vào trong nhà cầm lấy một cây gậy gỗ bịt đồng, hắn muốn đi xuống dưới huyện một chuyến, lần này đi có thể đến chiều mới đến nơi, trên đường nguy hiểm tuyệt đối không nói chơi. Đại Việt xưa nay lại cấm người đi đường mang theo vũ khí, Nguyễn Vô Niệm phải mang theo gậy để phòng thân.

Chuẩn bị xong vũ khí, đồ ăn, thức uống, Nguyễn Vô Niệm lại thắp lên một nén hương nói.

- Thưa mẹ, con đi!

Nói xong liền đội lên mũ rộng vành đi ra ngoài, dặn dò con chó giữ nhà cẩn thận xong hắn liền xuống núi đi xuống huyện. Đường đi xuống huyện Nguyễn Vô Niệm đã khá quen thuộc, xe nhẹ đường quen. Chỉ riêng ruộng đất của hắn cũng đều là thuê người dưới huyện làm chứ không phải hắn đích thân làm, làm một người trải qua nhiều kiếp, hắn cũng không muốn phải đi lao động chân tay. Thay vì làm ruộng hắn sẽ dành thời gian đi làm những chuyện khác.

May mắn hắn đi nhanh, đến chừng ba giờ chiều, trước khi huyện thành đóng cổng thì đã vào được bên trong thành. Huyện Lôi Dương diện tích cũng không phải quá lớn, nhưng được cái là nhân khẩu đông đảo. Dù sao cũng là nằm cận vùng Lam Kinh, xung quanh làng mạc nhiều, do đó người tương đối nhiều.

Đường đi vào thành là đường đất cũng tạm gọi là quan đạo, rộng ước chừng có sáu mét, hai bên lại là đồng ruộng. Đi qua cổng thành cũng không phải là nhà cửa sang sát như trong phim ảnh vậy mà là mấy cái hàng quán rong để phục vụ cho đám lính canh, đi thêm một đoạn nữa cũng không thấy được nhà cửa mà lại là đồng ruộng. Không sai, vẫn là đồng ruộng. Đặc điểm của thành thị phương Đông và phương Tây chính là tại phương Đông thành thị mang tính chất là một cứ điểm quân sự nhiều hơn là một trung tâm kinh tế, vì vậy tại phương Đông là “thành” – “thị”, còn tại phương Tây là “thị” – “thành”. Chính vì tính chất đó mà thành thị của phương Đông không thể phát triển được như các quốc gia phương Tây. Đồng thời thành thị phương Tây phát triển kinh tế chủ yếu là thủ công thương nghiệp thì ở các thành thị phương Đông có từ 4 đến 6 phần người sống bằng hoạt động kinh tế nông nghiệp. Do đó ở Đại Việt cũng như các quốc gia phương Đông khác đương thời, bên trong cách thành trì không chỉ có các khu dân cư, khu chợ mà còn có một lượng lớn diện tích là đất nông nghiệp, chăn nuôi, điều này chính là một sự phổ biển của một nền kinh tế tự cung tự cấp và hạn chế về thương nghiệp.

Vô Niệm quen đường, rất nhanh tìm đến một cửa hàng chỉ có một chữ “Điềm” (甜: ngọt), nhân viên vừa thấy Vô Niệm đi đến lập tức chạy đến cúi đầu chào nói.

- Ông chủ, hôm nay ngài lại đến kiểm tra sổ sách sao?

Đúng vậy, đây chính là cửa hàng của Nguyễn Vô Niệm. Từ năm 10 tuổi hắn đã thành lập nên cửa hàng này tại huyện thành Lôi Dương để kiếm đồng tiền lớn. Phi thương bất phú, hắn không thể làm nông được, như vậy cực kỳ mất mặt người trọng sinh. Thế nhưng phải mua bán thứ gì để làm giàu mới được. Nhiều kiếp trước đọc được thấy đám người trọng sinh trở về quá khứ liền mở quán ăn, Nguyễn Vô Niệm trực tiếp bỏ qua, làm quán ăn thì phải có thị trường, trong khi Đại Việt mới chiến loạn xong, tầng lớp trung lưu trở lên còn ít ỏi, dân chúng đa số rất nghèo, làm sao có thể xa hoa lãng phí vào quán ăn. Tiếp đó liền nghĩ đến phát triển thủ công nghiệp, phát minh máy dệt gì đó Vô Niệm cũng trực tiếp tạm gác lại, những thứ này hắn cũng biết, nhưng mấy thứ này cần số tiền quá lớn, mà hắn một nghèo, hai túng, không thể nào chơi được con đường này.

Suy tính kỹ, Nguyễn Vô Niệm cần một mặt hàng trên thị trường ít có, giá vốn rẻ, lãi cao, lại tốn ít công sức phù hợp với lứa tuổi của hắn, cuối cùng Nguyễn Vô Niệm liền để ý đến gia vị. Hiện tại gia vị của Đại Việt cũng khá phong phú, nhưng lại rất quý, bởi không có lượng lớn trồng trọt cây gia vị, cũng như thủ công nghiệp sản xuất gia vị không phát triển, do đó sản lượng ít, theo quy luật của thị trường khi cung thấp hơn cầu thì giá cả sẽ tăng, riêng muối được sản xuất nhiều, giá cả rẻ hơn nhưng cũng bị quản lý chặt chẽ, thương nhân ăn lời nhờ thị trường lớn, mà những thương nhân này đa số là có chỗ dựa trong triều đình, Nguyễn Vô Niệm không chen vào được.

Vì vậy mà trong vòng 3 năm, Vô Niệm cố gắng tiết kiệm tiền, sau đó bắt đầu mua trồng mía, tạo đường. Trước khi đường xuất hiện, người ta nấu ăn muốn tạo vị ngọt sẽ dùng đến mật ong, tuy nhiên mật ong sản lượng ít, khó thu thập và bảo quản, do đó con người cần một loại gia vị khác để thay thế mật ong, và cuối cùng người ta tìm đến mía.

Tại Đại Việt hiện tại không có các khu vực trồng mía lớn để cung cấp nguyên liệu nấu đường, đồng thời kỹ thuật nấu đường cũng không phát triển, sản phẩm làm ra duy nhất lại là mật đường. Phải đến những năm của thế kỷ 17 trở đi khi các khu vực Quảng Ngãi, Quảng Nam phát triển trồng mía, kỹ thuật nấu đường phát triển được đến mức tạo được đường nâu, đường phèn, đường tán, đường phổi thì Đại Việt mới tạo ra được lượng đường dồi dào để tiêu dùng và cũng để cung cấp cho cảng Hội An xuất khẩu, vào thế kỷ 17 – 18 Đại Việt chính là một trong những cường quốc về xuất khẩu đường ra thế giới bên cạnh Ấn Độ, thương nhân phương Tây cũng tìm đến cảng Hội An cốt để săn tìm cho được những loại đường này.

Nấu đường tuy tốn sức một chút, thế nhưng bởi vì chưa ai phát triển kỹ thuật, giá thành cây mía rẻ, nên khá phù hợp với tình hình của Nguyễn Vô Niệm. Hắn quyết định đầu tiên là nấu ra đường nâu. Không phải là tự mình mua mía sản xuất mà là mua lại các bánh đường mật, sau đó lần nữa tách đường ra, tạo thành những hạt nhỏ màu nâu khô ráo, vô cùng đẹp mắt.

Đường là một thứ gia vị có thể nói là xa sỉ, đương nhiên Nguyễn Vô Niệm sẽ không dại gì mà ở tại chỗ để bán, hắn chủ ý liền đem xuống huyện Lôi Dương để bán. Dù sao ở huyện Lôi Dương người giàu cùng lớp trung lưu nhiều, còn có một số quán rượu đều cần những loại đường này.

Đường mật rất ngọt, nhưng nhớp và dính, nhìn rất xấu, khó bảo quản, nếu so sánh với đường nâu của Nguyễn Vô Niệm, hơn nữa việc các hạt đường được tách rời ra cũng dễ dàng hơn trong việc nấu ăn, vị ngọt của đường nâu cũng dịu và thanh hơn đường mật nhiều, do đó rất nhanh được chào đón. Nguyễn Vô Niệm đương nhiên biết rõ muốn đánh thị trường thì cần phải dạy cho thị trường cách sử dụng thứ mặt hàng đó, Nguyễn Vô Niệm không chỉ cung cấp một phần cho khách hàng dùng thử, đối với những quán ăn hắn còn cung cấp cả một số bí kíp nấu ăn dùng đến đường nâu này như sườn nướng, cánh gà nướng, bánh rán đường nâu.

Những món ăn mới lạ vừa ra lò lập tức được khách hàng vô cùng khen ngợi, doanh thu của các cửa hàng này cứ như thế tăng lên, bọn hắn đều cam kết với Nguyễn Vô Niệm sẽ mua đường duy nhất từ hắn. Đồng thời Nguyễn Vô Niệm cũng tạo dựng được mối quan hệ tốt đẹp với các ông chủ cửa hàng tại huyện thành Lôi Dương.

main cực kỳ bá đạo, phong cách cơ bắp dùng lực phục người, tay xé hằng tinh
 
Thịnh Thế Diên Ninh
Chương 13: Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa


Hiện tại đường nâu của Nguyễn Vô Niệm tại Lôi Dương rất được chào đón dù giá cao gấp đôi đường mật. Cứ so sánh với giá gạo hiện thời 1 hộc (10 thưng, 1 thưng tương đương hơn 0,6 ký) gạo có giá 3 tiền đủ cho 1 người ăn trong một tháng. Năm 1439 triều đình quy định cứ 1 quan thì ăn 10 tiền, 1 tiền thì ăn 60 đồng, do đó 1 người trong 1 tháng chỉ ăn cơm không thì cũng đã phải tốn 180 đồng. Trong khi đó đường mật có giá 1 tiền 1 cân, đường nâu Nguyễn Vô Niệm trực tiếp nâng lên 1 cân 2 tiền. Nếu khấu trừ ra chi phí mua bánh mật, tiền công làm thì 1 cân đường nâu bán ra Nguyễn Vô Niệm lời được 40 đồng. Tuy không dám nói là một vốn bốn lời, thế nhưng cũng giúp hắn thu được nguồn lợi lớn.

Sau khi có được tiền Nguyễn Vô Niệm lại bắt đầu mày mò mua đất, thuê người trồng mía. Hắn chọn những mảnh đất ở vùng trung du, không quá màu mỡ, đối với kinh tế trồng lúa mà nói ít ai thèm chọn, chủ yếu là để bọn hắn trồng khoai. Cũng nhờ quen biết nhiều người trong huyện, Nguyễn Vô Niệm rất nhanh mua được mười mẫu đất, với 20 mẫu đất Nguyễn Vô Niệm thuê 1 người quản lý, xây dựng nên đồn điền, lại thuê 3 tá điền trồng mía. Thời đại này địa chủ chủ yếu cho tá điện cày cấy trên ruộng sau đó tiến hành thu tô. Tô cũng rất nặng thấp nhất cũng là một nửa sản phẩm thu được. Tuy vậy chế độ địa tô ở phương Đông cũng xem như nhẹ nhàng rồi, tại phương Tây đặc biệt như Pháp thì người nông nô cũng chỉ giữ lại được 15% sản phẩm mà bọn họ làm ra mà thôi. Do đó đối với việc Nguyễn Vô Niệm thuê chiếm lấy 100% sản phẩm, nhưng một tháng trả lương cho mỗi nhân công 1 tiền, bọn hắn ngược lại vẫn có thể trồng trọt ruộng lúa nhà mình, vừa có thể kiếm thêm thu nhập đương nhiên nguyện ý làm.

Sau khi trồng được mía, Vô Niệm tiếp tục thuê người mở ra xưởng làm mật mía, nhân công có chừng 24 người chia làm 3 ca làm việc liên tục 24/7. Thay vì nấu đường theo từng mẻ, Nguyễn Vô Niệm lại áp dụng phương pháp nấu đường của phương Tây mà hắn đã đọc được ở thư viện toà thánh Vatican trước đó. Phải nói rằng thư viện của Vatican cực kỳ đồ sộ, trong đó chứa đựng gần như là cả một kho tàng tri thức của nhân loại. Túc trực ở Vatican 5 năm, Nguyễn Vô Niệm vì sợ chết lần nữa nên chỉ ru rú ở trong thư viện đọc sách, không biết có phải địa phủ cho hắn bàn tay vàng hay không nhưng Nguyễn Vô Niệm có được khả năng thứ gì đọc qua sẽ không quên. Do đó 5 năm hắn liên tục đọc sách bổ sung kiến thức, thế nhưng vẫn chưa được 1 phần 10 đầu sách của thư viện toà thánh, kết quả đến năm thứ năm, một giá sách đã cũ trực tiếp đổ sập đè chết Nguyễn Vô Niệm ở bên dưới đống sách kia kết thúc một kiếp đầy nhàm chán.

Tuy vậy sức mạnh của tri thức lúc này đã phát huy giá trị, nếu phương pháp nấu đường truyền thống là nấu theo mẻ thì Nguyễn Vô Niệm áp dụng phương pháp sử dụng nhiều chảo khác nhau. Theo đó vẫn như phương pháp truyền thống, nước mía ép thu được đem nấu lên sẽ tạo thành dung dịch đặc gọi là syrup đường, để nguội sẽ đông thành khối, hiện tại thủ công nghiệp nấu đường chỉ dừng lại ở đây gọi là tạo ra mật đường, trên khối sẽ có các hạt đường nhỏ li ti, sau khi thấy Nguyễn Vô Niệm bán đường cát với giá cao, bọn hắn cũng cạo ra những lớp đường cát này để đem bán. Đây chính là đường chưa qua tinh chế. Sau khi cô đặc được dung dịch đường thì bọn hắn lại nấu mẻ mới.

Thế nhưng tại xưởng của Nguyễn Vô Niệm, hắn không dùng nồi lớn để nấu đường mà dùng chảo, như vậy thể tích khối syrup sử dụng là nhỏ nhất mà bề mặt tạo ra đường cát là lớn nhất. Nguyễn Vô Niệm lại sử dụng rất nhiều chảo nấu syrup đun liên tục, khi syrup tại chảo đầu tiên được nấu đến nồng độ nhất định thì sẽ được dẫn sang chảo tiếp theo, trong khi chảo đầu tiên lại tiếp tục châm syrup mới vào, tiết kiệm được thời gian cô đặc đường cũng như tạo ra được đường cát nhiều hơn. Phần đường cát Nguyễn Vô Niệm thu lại, còn khối mật đường lại đem đi tinh chế ra thành đường nâu, từ đó bán ra thị trường.

Với việc tự chủ được nguồn nguyên liệu, sản xuất liên tục tạo ra sản lượng lớn, thời gian tạo đường giảm xuống, nếu trước kia để tạo ra một cân đường nâu Nguyễn Vô Niệm mất 80 đồng thì lúc này giảm xuống chỉ cần 50 đồng một cân. Nguyễn Vô Niệm lại mở ra tiệm “Điềm” chuyên bán đường, nhờ cái tên đơn giản, dễ hiểu cửa tiệm gây được sự chú ý rất lớn. Sau khi giảm được giá đường nâu chế xuất, Nguyễn Vô Niệm trực tiếp bán ra giảm giá đường xuống còn 80 đồng, chỉ hơn những người khác bán mật đường 20 đồng. Nhưng với chất lượng đường của Nguyễn Vô Niệm thì người ta liền nguyện ý mua đắt hơn một chút, hơn nữa còn mua nhiều hơn vì giá rẻ, thậm chí một vài gia đình nghèo khi có người ốm cũng dành dụm ra mà mua một cân đường. Từ đó đường mật tại huyện Lôi Dương buôn bán ngày càng khó khăn.

Tiếp đó Nguyễn Vô Niệm lại tiến hành chiến dịch quảng cáo, hắn thuê những thầy lang bắt đầu tuyên truyền những lợi ích của đường nâu mang lại như đẹp da, ngừa mụn, giảm đau bụng kinh, bổ tì phế các loại, những lời đồn nửa thật nửa giả càng khiến cho danh tiếng của tiệm càng tăng cao, người mua cũng càng nhiều. Trong khi đó đường mật lại ế ẩm, Nguyễn Vô Niệm dùng phương thức kinh doanh tư bản chủ nghĩa cạnh tranh trực tiếp chơi chết những nhà làm mật đường này. Kết quả bọn hắn phá sản, lại được Nguyễn Vô Niệm thuê vào làm trong xưởng và tiệm của mình. Thành thử chỉ sau một năm rưỡi, Nguyễn Vô Niệm đã độc quyền buôn bán đường tại huyện thành Lôi Dương, sau đó lại mở chi nhanh phát triển ra thêm các huyện khác, mở rộng diện tích đồn điền, diện tích xưởng.

Sau hai năm Nguyễn Vô Niệm đã có 2 đồn điền với 100 mẫu đất cùng 1 toà xưởng, nhân công dưới tay lên đến hơn 60 người, bọn hắn từ nửa nông dân nửa công nhân hiện tại đã hoàn toàn bỏ nghề làm ruộng, chuyên chăm sóc cho đồn điền và lao động trong nhà xưởng. Nguyễn Vô Niệm còn mở ra cả một lò gốm, chuyên để sản xuất các bình gốm nhỏ đựng đường, bên trên in lên nhãn hiệu của cửa hàng. Nhờ có bình gốm này, nhận diện thương hiệu của Nguyễn Vô Niệm cực kỳ dễ dàng, hơn nữa có thêm bình gốm nên giá mua lần nữa tăng lên, so về lợi nhuận chỉ nhiều hơn chứ tuyệt đối không ít, dù sao những bình gốm này làm cũng không quá tốn công sức, chất lượng kém tốn không bao nhiêu tiền, quan trọng là vẻ ngoài đẹp, bắt mắt nên người ta muốn nhìn, muốn mua.

Tiệm “Điềm” của Nguyễn Vô Niệm độc bá cả thị trường ở phủ Thanh Hoá. Một tháng riêng lợi nhuận thu về cho Nguyễn Vô Niệm đã đến 40 quan tiền. Nhìn vậy thôi chứ 40 quan tiền tại Đại Việt hiện tại đã là rất lớn, vàng bạc thì không cần nhắc đến bởi vì rất hạn chế trong lưu thông, ít nhất là 15 năm sống tại thế giới này Nguyễn Vô Niệm chưa từng thấy qua đỉnh bạc nào dù chỉ là bạc vụn.

- Ông chủ, ngài cho gọi tiểu nhân. Tiểu nhân sẽ mang sổ sách đến cho ngài xem.

Rất nhanh nhân viên liền gọi quản lý tiệm đến gặp Nguyễn Vô Niệm, đây là một người đàn ông trung niên chừng 40 tuổi tên là Mạc Khoa, con trai của một Hương cống thời Hồ, về sau thế sự loạn lạc lại không tiếp tục đi thi mà đi buôn, thế nhưng bị quân Minh cướp bóc cuối cùng cũng không gượng dậy được. Nguyễn Vô Niệm chọn hắn bởi vì hắn biết chữ, thời này kiếm người biết chữ đã rất khó, Mạc Khoa may mắn có cha biết chữ nên biết rõ chữ viết, Nguyễn Vô Niệm lại dạy cho hắn làm kế toán, quản lý cửa hàng. Nguyễn Vô Niệm lắc đầu nói.

- Không cần, lần này ta đến cũng không phải là để xem sổ sách, mà cần có chuyện nói với ngươi. Ngồi xuống đi.

Mạc Khoa nghe vậy liền lập tức ngồi xuống, đối với ông chủ trẻ tuổi này Mạc Khoa cực kỳ khâm phục, không chỉ đầu óc linh hoạt, biết làm ăn mà một tay học thức, toán số cũng cực kỳ giỏi, Mạc Khoa học được từ Nguyễn Vô Niệm suốt một năm, cũng mới học được chút da lông nhưng lại có thể giải quyết những con số tính toán trước kia một cách cực kỳ trôi chảy.

Ngược lại Vô Niệm đối với Mạc Khoa cũng rất hài lòng, kẻ này tuy lớn tuổi nhưng hiếu học, cũng thừa hưởng được cái mũi thính nhạy thương nhân của cha hắn, nên cửa hàng mọi việc đều quản lý đâu ra đấy, không cần Vô Niệm phải quá bận tâm. Lúc này Vô Niệm mới nói.

- Mấy ngày sắp đến chúng ta có thể sẽ phải chuyển dời đến kinh đô phát triển.

Nghe vậy Mạc Khoa không khỏi sửng sốt hỏi.

- Ông chủ, không phải ngài nói đợi thêm ba năm nữa mới đi sao.

Mạc Khoa đương nhiên biết rõ ông chủ muốn dời đi Đông kinh, theo lời ông chủ nói thì đó là thị trường lớn, còn những thứ kiếm được ở Lôi Dương cũng chỉ là muỗi mà thôi. Vô Niệm sở dĩ định ra ba năm sau mới đi Đông kinh là vì lúc này hắn còn nhỏ yếu, tuy tài sản của hắn đã có lên đến hàng trăm quan nhưng hắn cùng lắm cũng chỉ là hộ khá giả ở nông thôn, đến xứ kinh kỳ hắn chẳng là cái đinh gì cả. Thứ hai chính là vì hắn biết rõ 3 năm sau sẽ có một sự biến cố lớn dẫn đến thay đổi thế cục của Đại Việt, do đó hắn muốn ba năm đó đi Đông kinh để tìm vận may.

- Hiện tại tình hình có một chút đổi khác, ta trong triều đã có chỗ dựa, đi đến Đông kinh càng chắc chắn hơn. Vì vậy ngươi chuẩn bị một số người đi theo ta đến Đông Kinh trước, tiệm giao lại cho Lai Phúc, còn nữa, đồn điền bên kia dặn dò Võ Thanh phải tiếp tục mở rộng, sắp đến cử người đi châu Ái mua đất mua được bao nhiêu liền mua.

Đất đai ở vùng núi vốn rẻ, nhưng có thể trồng mía được, quan phủ còn cầu cho có ai khai hoang vùng đó để cuối năm báo thành tích lên trên để được khen thưởng đây, vì vậy Nguyễn Vô Niệm mua đất vẫn tương đối dễ, đút lót một chút là được. Hắn sau hai năm bên người cũng có mấy người tâm phúc, giờ nếu ra Đông kinh cũng xem như là có một đoàn đội hỗ trợ.

main cực kỳ bá đạo, phong cách cơ bắp dùng lực phục người, tay xé hằng tinh
 
Thịnh Thế Diên Ninh
Chương 14: Về kinh


Nguyễn Vô Niệm bắt đầu sắp xếp bố trí lại công việc sao cho phù hợp để chuẩn bị đi Đông Kinh. Huyện Lôi Dương là căn cơ của hắn, hắn không thể bỏ được. Chỉ là lúc này thay vì độc quyền buôn bán lẻ thì tiệm “Điềm” sẽ chuyển sang nửa bán lẻ nữa làm nơi cung cấp, tức mở rộng thị trường ra các lộ, huyện phía ngoài. Nguyễn Vô Niệm rất rõ ràng rằng miếng bánh lớn thì phải chia ăn, không thể nuốt một mình được, khi hắn mở rộng gắn kết lợi ích với những người ở nơi khác, điều đó đồng nghĩa với việc “quan hệ” của hắn được mở rộng. Mà người làm ăn chính là cần ở 2 điểm “quan hệ” và “uy tín”. Kỹ thuật làm đường nâu không quá khó để mày mò ra, hắn tin tưởng chỉ cần thêm mấy năm sẽ có người học theo làm đường ăn, chỉ là quy mô và kỹ thuật làm không thể bằng được đường của Nguyễn Vô Niệm, do đó bọn hắn không thể cạnh tranh được về giá, thay vì tự sản xuất thì bọn hắn sẽ mua đường trực tiếp từ Nguyễn Vô Niệm đi bán sẽ càng có lời hơn.

Vô Niệm không hề biết rằng Lê Bang Cơ lúc này cũng đang đau đầu vì hắn. Lê Bang Cơ sau khi trở về Lam Kinh cũng phải gấp rút để trở về Đông Kinh, đã trễ mất một ngày, vì vậy mà buổi tiệc cùng các vương cũng huỷ bỏ. Trên đường Lê Bang Cơ gọi Lê Bí vào bên trong xe ngựa, hắn sầu mi khổ kiếm nói.

- Vị huynh đệ này của ta cái gì cũng tốt, thế nhưng lại muốn đi làm thương nhân thấp kém kia. Thực sự là quá lệch. Không được, ta phải kéo hắn ra trước khi quá muộn.

Lê Bang Cơ là một hoàng đế sùng nho, đối với tư tưởng của nho giáo được giáo dục từ nhỏ Lê Bang Cơ luôn nghĩ rằng thương nhân là kẻ thấp kém trục lợi, ở dưới đáy tận cùng sĩ nông công thương, làm sao hắn có thể để huynh đệ tài hoa của mình như thế bị huỷ thanh danh, bị gọi là con buôn đây. Lê Bí nhìn hoàng đế trẻ tuổi trước mắt không khỏi cười nói.

- Bệ hạ, nếu không thì ngài đưa hắn vào diện tiến cử, như vậy hắn cũng có thể ra làm quan thôi.

Lê Bang Cơ lắc đầu nói.

- Hắn mới 12 tuổi, đưa ra làm quan diện tiến cử bọn nạp ngôn Nguyễn Mộng Tuân lại can ngăn Trẫm. Hơn nữa Vô Niệm không rõ nho giáo, rất khó sống chốn quan trường, huống chi dù hắn có tài đi chăn nữa thì đi vào với chế độ tiến cử thành tựu lại không cao.

Giữa tiến cử và thi cử có chênh lệch rất lớn, tiến cử thường chỉ được bổ nhiệm vào những vị trí văn thư không quan trọng, về sau cất nhắc lên chức rất hạn chế, thậm chí trong triều có có tình trạng quan thông qua thi cử rất khinh bỉ những người được tiến cử. Đó là quy tắc ngầm trong triều, Lê Bang Cơ dù là hoàng đế cũng quản không được.

Lại thêm một vấn đề nữa chính là tước vị, Vô Niệm lập công lớn, đáng lẽ phải ban tước, thế nhưng chắc chắn đám quần thần sẽ ngăn cản, Lê Bang Cơ lại không muốn để lộ Nguyễn Vô Niệm quá sớm, nếu không sẽ rất dễ cây to đón gió. Lê Bí nói.

- Bệ hạ, nếu văn đã không được thì có thể đi bên võ mà. Theo thần thấy kẻ này không tầm thường, trên người có võ nghệ, lại là người xứ Lam kinh, hoàn toàn có thể tuyển vào Cấm quân được.

Hiện tại tổ chức quân đội của triều đình được chia làm 3 cấp: Quân trong kinh, quân 5 đạo và quân ở các lộ, trấn. Trong đó quân trong kinh còn gọi là Cấm quân được tổ chức thành 5 quân Thiết đột và 6 quân Ngự tiền gồm Ngự tiền Võ sĩ, Ngự tiền trung, tiền, hậu, tả, hữu, Thánh dực quân, Phủng Thánh quân, Chấn Lôi quân và Bảo Ứng quân, ngoài ra còn có cả Ngự tiền Vũ đội, tổng cộng 16 quân, mỗi quân lại có quân số từ hai ngàn đến hai ngàn bốn trăm người, tổng số Cấm quân có chừng 35 ngàn quân. Tính rộng ra cả nước quân năm đạo trên dưới 4 vạn, quân các lộ trấn trên dưới 25 ngàn cộng lại vừa vặn 10 vạn quân luôn thường trực trong biên chế của Đại Việt.

Cũng giống như các triều đại trước, triều đình cũng thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông”, để cho binh lính tại 5 đạo và quân lộ, trấn chia phiên đề về quê sản xuất. Thế nhưng đến đời của Lê Bang Cơ mấy năm liên tục gặp thiên tai, nghèo đói, thậm chí triều đình còn không đủ lương bổng để cấp dưỡng cho Cấm quân, Lê Bang Cơ quyết định chia phiên cả Ngự Tiền vũ đội làm 3 phiên, cứ 1 phiên trực thì 2 phiên kia về quê sản xuất. Phải nói rằng hoàng đế như hắn lại là một trong những người đáng ra phải được cấp sổ hộ nghèo mới đúng.

- Nhưng hắn vẫn còn chưa đủ tuổi nữa đây, làm sao có thể tuyển vào Cấm quân được.

Nguyễn Vô Niệm mới chỉ 12 tuổi, trong khi tuổi tòng quân của Đại Việt là 15, ít ra cũng phải có 3 năm nữa mới có thể sung quân, Lê Bang Cơ lại sợ Nguyễn Vô Niệm đi lạc mất. Phải nói rằng vì người anh em kết nghĩa này mà Lê Bang Cơ vẫn rất nguyện ý hao tâm tốn sức. Lê Bí mỉm cười nói.

- Bệ hạ không cần quá lo lắng, Vô Niệm thân thể ph.át dục rất tốt, 12 tuổi nhưng nhìn đã cao lớn không kém gì 15, thậm chí tâm tính còn lão luyện không thua gì người thành niên. Bệ hạ chỉ cần chỉ đạo xuống cho Tây đạo quân dân bạ hộ tịch sửa đổi một thoáng năm sinh, như vậy chẳng phải là hắn đã đủ tuổi tòng quân rồi sao.

Lê Bang Cơ hơi ngẩng người ra, sau đó liền vỗ đùi cái đét cười lớn nói.

- Ha ha, đúng vậy, sao Trẫm lại không thể nghĩ ra nhỉ. Lần này Trẫm ghi khanh một công.

- Bệ hạ định sắp xếp hắn vào Ngự tiền vệ đội hay sao?

Lê Bí lại hỏi. Ngự tiền vệ đội hay còn gọi là quân Túc vệ là một quân đội đặc biệt, cấu thành một quân này không phải là các binh lính bình thường mà là các tướng hiệu bị kỷ luật sung vào, sức chiến đấu mạnh mẽ thường hay tuỳ giá theo vua, bên cạnh Lê Bang Cơ lúc này cận vệ thực ra cũng là từ Ngự tiền vệ đội. Nhóm này thân cận với vua, số lượng ít nhưng tiền lương cao, do đó Lê Bang Cơ chủ trương để bọn hắn chia làm 3 phiên để giảm lương là vì vậy, bình thường túc trực Ngự tiền vệ đội cũng không có quá sáu trăm người. Lê Bang Cơ lắc đầu nói.

- Ngự tiền vệ đội tuy nói thân cận Trẫm, nhưng con đường thăng tiến không xa, huống chi Trẫm còn chưa có ý định để hắn biết thân phận sớm như vậy, trước tiên để hắn ở trong quân ngũ lịch luyện một thời gian đã. Như vậy liền để hắn gia nhập vào Ngự tiền vũ sĩ, bình thường không có việc gì thì đi canh gác hoàng cung đi, quen thuộc môi trường quân đội trước đi.

Rất nhanh đoàn người liền đã trở về Lam Kinh, mấy ngày sau Lê Bang Cơ ban yến cho các quan đi theo hầu, các quan nhậm chức ở ngoài và các quan trí sĩ ở Lam Kinh. Ngày hôm sau lại lệnh cho các đại thần đặt hiệu cho các miếu điện ở sơn lăng Lam Sơn, chính điện gọi là điện Quang Đức, điện Sùng Hiếu, hậu điện gọi là điện Diễn Khánh. Sau lại ghi lại để Hành Khiển Hải Tây Đạo sai quân lộ Thanh Hoá làm tẩm cung thờ Thái hoàng Thái phi ở sau điện lăng Lam Sơn.

Xong hết việc Lê Bang Cơ vội vã chạy về Đông kinh đã là trưa ngày 30, mặt trời có sắc cầu vồng như đang ôm mặt trời, dị tượng làm dân chúng Đông kinh đều cho rằng đó là dấu hiệu của Thiên tử trở về với kinh đô, Thái sử viện lại ra sức tuyên truyền khiến chuyện này trở thành chủ đề bàn tán cho quần chúng ăn rau dưa bên trong thành.

Lê Bang Cơ mới không thèm để ý bọn hắn nghĩ gì, sau khi tắm rửa liền đi đến điện Cần Chính, cho người đi gọi Đại tư đồ Lê Bí, Thái Bảo Lê Liệt cùng Thượng thư dân bộ Nguyễn Cư Pháp vào cung diện kiến Thánh nhân.

Ba người vừa ăn cơm trưa xong không dám chậm trễ lập tức vào cung, đi vào trong điện đã thấy Lê Bang Cơ đang xem tấu chương liền làm lễ quỳ bái. Chờ ba người bái xong Lê Bang Cơ mới nói.

- Ban cho ngồi!

Nội quan lập tức mang đến mấy cái ghế để cho ba người ngồi hai bên tả hữu, dù sao Lê Bí cùng với Lê Bí cũng đã rất lớn tuổi, đứng lâu không được mấy. Lê Liệt cũng đã 56 tuổi lại có thời gian bị giam dưới hầm suốt 4 năm khiến để lại không ít di chứng. Lê Bang Cơ nói.

- Lần này Trẫm gọi các khanh đến đây là có một việc quan trọng, lần này Trẫm trở về Lam kinh lại gặp một kỳ nhân, hắn vậy mà phát minh ra được một giống lúa có thể đạt được 130 cân một mẫu, không những vậy còn có sức chống chịu hạn tốt, hạt thóc xay ra được hạt gạo trắng tinh.

Oanh!

Ngoại trừ Lê Bí đã biết từ trước, Lê Liệt và Nguyễn Cư Pháp đều sửng sốt, biểu lộ giống như lúc đám người Lê Bang Cơ mới biết tin vậy. Nguyễn Cư Pháp hơi run môi nói.

- Là thực sự sao bệ hạ? Trên đời lại có giống lúa tốt đến như thế?

Đại Minh bên kia là bậc đại quốc, trồng lúa năng suất còn thua kém cả Đại Việt, bọn hắn đều cho rằng giống lúa, thổ nhưỡng và nguồn nước của Đại Việt tạo ra được năng suất 72 cân một mẫu đã là rất lớn rồi, bây giờ lại nghe nói đến giống lúa đạt 120 cân một mẫu, nhất thời hắn chưa thể tiếp nhận nổi.

Nhìn bộ dáng của đại thần như thế Lê Bang Cơ lại cảm thấy thú vị, rất ít khi hắn thấy được các thần tử của mình có biểu lộ như vậy. Lê Bang Cơ nói.

- Làm vua đương nhiên không nói chơi, Đại tư đồ cũng đã chứng kiến.

Lê Liệt cùng Nguyễn Cư Pháp nhìn Lê Bí, chỉ thấy hắn gật đầu nói.

- Đúng vậy, dân cư nơi đó một làng đã trồng, năng suất không thể bằng được do người kia trồng nhưng lại có thể đạt được hơn 100 cân trở lên, thực tiễn đã chứng minh giống lúa đó rất tốt, cũng nhờ vậy mà dân làng đó có được cuộc sống tốt hơn.

main cực kỳ bá đạo, phong cách cơ bắp dùng lực phục người, tay xé hằng tinh
 
Thịnh Thế Diên Ninh
Chương 15: Định tước


Tin tức giống lúa cao sản đối với hai người Lê Liệt và Nguyễn Cư Pháp thực sự làm bọn hắn chấn động, rất nhanh Nguyễn Cư Pháp hiểu được vì sao bệ hạ giữa trưa lại triệu kiến gấp hắn vào trong cung như thế này. Việc trồng giống lúa mới là quốc gia đại sự, càng phải tiến hành càng nhanh càng tốt, việc này không đổ lên đầu Dân bộ thì còn ai vào đây nữa.

Quả nhiên Lê Bang Cơ nói.

- Lần này Trẫm đem về không ít hạt giống, thế nhưng số lượng này xa xa không đủ để đáp ứng được cho vụ gieo trồng năm sau. Những hạt giống quý giá này Trẫm giao cho khanh gìn giữ cẩn thận, lại ban cho khanh một phương pháp cấy lúa mới nhanh chóng phổ biến ra toàn thiên hạ.

Lê Bang Cơ có chút gấp gáp, Thái bảo Lê Liệt hơi lo lắng nói.

- Bệ hạ, kỹ thuật trồng lúa đã truyền từ ngàn đời nay, thay đổi bây giờ liệu có quá gấp gáp khi chúng ta còn chưa rõ ràng nó có hiệu quả hay không?

Lê Bang Cơ nghe vậy hơi thu liễm tâm tình nói.

- Trẫm đã chứng kiến vị kỳ nhân kia cấy lúa theo phương pháp mới, nhìn qua cây lúa phát triển thực sự rất tốt.

Lê Bí cũng gật đầu nói.

- Thái bảo có thể tin tưởng, ta cũng đã nhìn qua, nơi đó là đất vùng núi, ấy vậy mà cây lúa so với những mảnh ruộng ở đồng bằng còn tốt hơn, ta nghĩ có thể thử một lần. hiện tại hạt giống không đủ, chỉ có thể trồng được ước chừng năm trăm mẫu, chúng ta cứ thử theo phương pháp mới xem sao.

- Đại tư đồ đã nói như vậy thì thần cũng không có ý kiến gì thêm.

Lê Liệt nói, đều là những lão thần của Lam Sơn, Lê Bí cùng Lê Liệt cũng tương đối thân cận. Huống chi Lê Liệt cũng không quá được Lê Bang Cơ tín nhiệm, năm đó nếu không phải có Lê Khắc Phục và công chúa Ngọc Lan xin tha chỉ sợ bây giờ hắn đã đi theo Đinh Văn Xảo và Trần Nguyên Hãn nói chuyện ở dưới suối vàng rồi. Do đó bình thường Lê Liệt cũng không quá làm trái ý của Lê Bang Cơ.

- Bệ hạ, bậc kỳ nhân này không biết phải ban thưởng như thế nào đây? Nếu giống lúa này có hiệu quả thực sự như vậy thì quả thực hắn có công với xã tắc thiên thu.

Nguyễn Cư Pháp nói, hắn cũng rất tò mò cuối cùng là người nào tài giỏi lại có thể cải tiến ra được giống lúa mạnh đến như vậy. Lê Bang Cơ cười nói.

- Trẫm gọi các khanh đến cũng là muốn bàn về việc này. Kẻ này thực sự có tài hoa, thế nhưng hắn… mới chỉ 15 tuổi.

Theo lời của Lê Bí, Lê Bang Cơ quyết định nâng số tuổi của Nguyễn Vô Niệm lên, bí mật này hắn hi vọng càng ít người biết càng tốt, hắn đã giao cho Lê Thái đi thay đội bạ tịch của Nguyễn Vô Niệm, chờ qua một thời gian liền có thể hoàn thành. Thế nhưng chỉ nhiêu đây cũng làm Lê Liệt cùng Nguyễn Cư Pháp một lần nữa kinh sợ, ai lại có thể nghĩ ra người tìm ra được giống lúa mới này lại là một đứa trẻ đây. Lê Bang Cơ nói tiếp.

- Không chỉ tìm ra giống lúa mới kẻ này cũng có tài hoa, thế nhưng… ây da, nói sao đây, hắn lại không sử dụng cái trí thông minh đó của mình để học tứ thư ngũ kinh mà đều là những thứ tạp vấn, do đó để hắn vào làm quan trong triều cũng khó. Ban thưởng tước thì thì bên kia đám nạp ngôn sẽ lại lao nhao, Trẫm cũng không quá thích, huống chi hắn nhỏ tuổi lại được chức vụ cao, cây cao đón gió sẽ gãy, hắn là nhân tài của quốc gia, Trẫm không muốn lại như đom đóm chỉ sáng le lói rồi chợt tắt như vậy.

Cả hai người liền không khỏi gật đầu, bệ hạ rõ ràng đã suy tính rất kỹ, bọn hắn chỉ cần chờ nghe ý kiến của bệ hạ rồi tham mưu là được. Lê Bang Cơ nói.

- Nhưng được một chuyện chính là hắn võ nghệ rất cao, từng có công cứu giá khỏi hổ dữ, võ nghệ của hắn giỏi đến mức đánh bại cả Đô chỉ huy sứ Lê Đắc Ninh. Vì vậy ta muốn trước tiên ghi lại công lao của hắn, sau đó lại đưa hắn vào trong Cấm quân lịch luyện một thời gian, sau lại thăng chức, các khanh nghĩ như thế nào?

Lê Liệt không khỏi kinh hãi, Lê Đắc Ninh hắn cũng biết, võ nghệ rất giỏi, có thể xem là nhất lưu võ tướng, công huân cũng không ít nên mới có thể làm đến chức quan võ tam phẩm Đô chỉ huy sứ, thế nhưng lại bại bởi một thằng nhóc 15 tuổi? Lời này truyền ra chỉ sợ sẽ bị người ta cười đến rụng răng. Thế nhưng điều này lại hướng đến một việc khác chính là võ nghệ của của thằng bé này thực sự rất cao, bệ hạ chính là nhìn trúng điểm này của hắn. Lê Liệt nói.

- Bệ hạ cân nhắc rất đúng. Tuổi của hắn còn quá nhỏ, nếu vào triều chỉ sợ sống không được lâu, vào quân đội lại có thể là một sự lựa chọn tốt. Thế nhưng cấp hắn chức vụ nào mới hợp lý, dù sao công lao này… quá lớn.

Nhiều lúc công lao quá lớn đối với một người trẻ tuổi lại là một vấn đề, bởi vì hắn còn trẻ, đường thăng tiến còn dài, nếu như bây giờ phong cho hắn quá cao thì người dưới không phục, mặt khác sau này hắn lại lập công lao lại lấy gì thưởng cho hắn nữa đây? Huống chi quan trường thực sự quá nguy hiểm đối với người trẻ tuổi, ngay cả Lê Liệt như vậy còn bị vu hãm giam vào chiếu ngục suốt bốn năm, suýt nữa đã rơi đầu huống chi là một thiếu niên mới 15 tuổi, nếu quá nổi bật sẽ bị những kẻ khác biến thành bia ngắm.

Lê Bang Cơ lúc này im lặng nhìn bọn hắn tủm tỉm cười, ánh mắt như thể đang trông mong bọn hắn nói gì đó. Đám người không khỏi cười khổ, hoàng đế đang muốn bọn hắn cõng nồi, bệ hạ đương nhiên sẽ không để cử chức vụ cho người kia, bởi nếu như bọn nạp ngôn biết tuyệt đối sẽ kéo đến Cần Chính điện lảm nhàm phiền phức. Nhưng nếu là bọn hắn đề cử thì lại khác, hoàng đế sẽ đổ hết lỗi lên đầu bọn hắn, lúc đó phiền phức chính bọn hắn ôm còn hoàng đế có thể ăn no ngủ kỹ.

Hai người quay sang cầu cứu Lê Bí, Đại tư đồ là người đi cùng với bệ hạ từ Lam kinh về, chắc chắn trên đường hai người đã có bàn bạc qua, lúc này chỉ gọi bọn hắn đến xem tuồng mà thôi. Lê Bí cười cười nói.

- Bệ hạ, Nguyễn Vô Niệm tuổi còn nhỏ, khó có thể đảm nhiệm chức Vệ uý Ngự tiền vũ sĩ. Dù chỉ là một chức quan võ tòng bát phẩm nhưng mục đích cũng chỉ là lịch luyện, để hắn làm quen với quân đội mà thôi. Huống chi làm chức Vệ uý ở bên trong cung lại có thể sai phái nhiều việc. Để đền bù cho công lao liền phong cho hắn làm Bá tước, cấp cho lộc điền 200 mẫu. Tuy nói hắn công to nhưng từ một giới áo vải đi lên Bá tước bước vào hàng ngũ quý tộc đã là rất không tồi rồi.

Quả thực nếu Nguyễn Vô Niệm đã là quý tộc thì dễ nói, nhưng hắn chỉ là một bình dân áo vải, một cái công lớn này giúp hắn trải đường đã là rất tốt rồi. Hiện tại hệ thống tước vị của Đại Việt có 5 cấp không kể tước vương, nhưng đó là dành cho hoàng tộc, đối với quan lại đại thần, người có công có 4 bậc Quận công, Quốc công, Hầu tước và Bá tước. Thế nhưng Nguyễn Cư Pháp lại nói.

- Đại tư đồ nói đúng, thế nhưng ta sợ bọn nạp ngôn sẽ lại bàn ra bàn vào.

Nạp ngôn quan không được ai ưa thích kể cả vua và quan, bởi bọn hắn sẽ tìm những sơ hở của người mà dâng sớ lên hạch tội để kiếm về công trạng cho mình, nạp ngôn không đi soi mói thì không xứng danh là ngôn quan. Huống chi đã bao lâu rồi Đại Việt chưa phong tước hiệu? Từ khi Thái tổ dựng nước đến giờ phong tước cho các vị khai quốc công thần ra thì quả thực chưa phong tước cho ai nữa.

Lê Bí gật đầu nói.

- Đúng vậy, nên để đề phòng vấn đề này chúng ta cần lôi kéo thêm một người vào cuộc nữa.

- Ý Đại tư đồ muốn nhắc đến nạp ngôn Nguyễn Mộng Tuân?

Lê Liệt lập tức nghĩ đến nói, Nguyễn Mộng Tuân cũng là người nằm trong hàng ngũ nạp ngôn quan, nhưng kẻ này có thể xem là người thẳng thắng, có soi mói nhưng những lần hắn dâng tâu đều là chính xác vạch rõ điểm còn xấu của hàng ngũ quan lại, chứ không phải cứ cầm điểm râu ria cắn xé để thu lợi cho mình. Lê Bí gật đầu nói.

- Đúng vậy, tiếng nói của Nguyễn Mộng Tuân trong bè lũ nạp ngôn rất lớn, nếu có thể thuyết phục được hắn thì có thể chặn miệng được một số lớn nạp ngôn, sau lại để Bùi Cầm Hổ đi làm mũi nhọn để tấn công bọn chúng thì việc này ắt sẽ thành công.

Bùi Cẩm Hổ lại là người tính tình ngay thẳng, có chút hơi nóng nảy, bình thường trên triều cũng nhiều lần dũng cảm đứng ra nói những chuyện bất bình, do đó nếu hắn biết người mang lại giống lúa tốt cho quốc gia lại bị nạp ngôn công kích hắn tuyệt đối sẽ tấn công bọn hắn, từ đó nạp ngôn quan sẽ quay sang chỉ trích Bùi Cầm Hổ, cũng coi như là bậc thang cho bọn hắn xuống đài.

Quả thực Lê Bí tính toán rất kỹ càng, một khe hở cũng không để lọt, từ việc chặn miệng nạp ngôn cho đến việc tạo mục tiêu tấn công cho bọn chúng, giảm áp lực cho Nguyễn Vô Niệm đều tính toán vào hết, lần này không thành công lại hơi uổng phí.

main cực kỳ bá đạo, phong cách cơ bắp dùng lực phục người, tay xé hằng tinh
 
Thịnh Thế Diên Ninh
Chương 16: Triều đình tranh cãi


Việc coi như đã định xuống, lúc này Lê Liệt nói.

- Tâu bệ hạ, Cấm quân đã lâu không có người chấp chưởng, nay đưa vào hạt giống mới cũng nên có người tổ chức quy củ. Xưa Thái uý Lê Thụ chưởng quản Cấm quan đâu ra đấy, chỉ vì không may bị vạ lây mà lao ngục. Cũng đã qua 4 năm, thần nghe nói bên trong lao ngục ẩm thấp, Thái uý cũng đã lớn tuổi, sức khoẻ không tốt, xin bệ hạ nể tình Thái uý trước giờ xả thân vì nước, chưa hề phạm phải sai lầm mà tha tội.

Lê Thụ là một trong những khai quốc công thần của nhà Lê. Lúc Thái tổ lên ngôi phong tước vị cho các công thần có chín bậc thì Lê Thụ được phong Huyện hầu, tức là còn cao hơn cả Nguyễn Trãi một bậc. Sau vào triều làm quan có lúc thăng lúc giáng, thế nhưng trong lúc phò tá vua Bang Cơ vào Nam ra Bắc chưa hề phạm phải một sai lầm nào. Thế nhưng bốn năm trước con trai là Lê Thị bị nạp ngôn quan hặc tội là làm bùa yểm đất. Mấy năm đó Đại Việt liên tục bị thiên tai mất mùa liền có người đem tội đổ lên đầu hắn, kết quả Lê Thụ bị vạ lây, từ chức Thái uý lại bị giam vào lao ngục, đến bây giờ vẫn chưa được thả.

Lê Liệt cũng từng trải qua thời gian như vậy quả thực không hề dễ chịu gì, biết rõ trong triều nước đục, đặc biệt là khi vua còn chưa cầm được quyền lực trong tay, các đại thần chia thành phe phái để phân chia quyền hành, lại dùng thủ đoạn để vu hãm lẫn nhau, Lê Thụ xui xẻo lại dính vào vòng xoáy.

Lê Bang Cơ nghe xong không khỏi không vui, việc năm đó hắn cũng rõ ràng biết là Lê Thụ bị oan, nhưng quân vương ngồi trên ghế nhiều lúc cũng không thể theo ý mình, huống chi năm đó Thái hậu cùng các vị Thái bảo vẫn đang nhiếp chính, hắn có thể làm gì. Về sau lên ngôi lại phải trấn an các phái trong triều, nên việc này không nhắc lại, không ngờ bây giờ Lê Liệt lại đưa lên ý kiến. Chẳng lẽ hắn không biết từ thời Thái tông hoàng đế đã từng cân nhắc qua phương án hạn chế sử dụng công thần của Bùi Ư Đài rồi sao. Thế nhưng Lê Liệt đã nâng lên vấn đề thì Lê Bang Cơ cũng không thể bỏ ngoài tai, hoàng đế liền nói:

- Như vậy để Thẩm hình viện lật lại án sát. Nếu quả thực bị oan liền cho phục chức. Còn Cấm quân lại sai phái Lê Ngang nhậm chức tổ chức huấn luyện.

Thẩm hình viện là một trong Ngũ hình viện trong triều, phàm là các giấy tờ án ngục trước tiên chuyển sang Đại Lý tự xét xử, sau đó sẽ đưa về cho các Tri viện của Thẩm hình viện xem xét nghị thảo văn bản định tội rồi lại trình lên cho vua. Hiện tại hồ sơ vụ án của Lê Thị vẫn còn lưu tại Thẩm hình viện, giờ lại được lật ra xem xét lại. Lê Lễ rõ ràng hoàng đế đã làm ra nhượng bộ, tin tưởng không bao lâu nữa Lê thụ sẽ được thả ra.

Dù đã bàn xong với mấy vị đại thần, tuy nhiên Lê Bang Cơ cũng không vội công bố mà trước tiên để Lê Bí bắt liên lạc với Nguyễn Mộng Tuân, năm ngày sau thiết triều, tin tức hạt giống lúa mới được tung ra trước quần thần khiến cho quần thần không khỏi rúng động, thậm chí có mấy người liền hô lớn thượng thiên phù hộ cho Đại Việt. Thế nhưng khi Lê Bang Cơ đề nghị đến việc phong tước cho Nguyễn Vô Niệm thì bọn hắn lại im bặt khiến cho Lê Bang Cơ chút nữa là chửi mẹ th.ô tục, thậm chí mấy người dẫn đầu bởi Ngự sử trung thừa Hà Lật lại cho ý thưởng mấy chục lạng vàng coi như xong.

Bấy giờ mấy người Đại tư đồ Lê Bí, Thái Bảo Lê Lễ, Nhập nội đô đốc bình chương sự Lê Ê lên tiếng không thể khen thưởng qua loa, bọn ngôn quan Nguyễn Mộng Tuân lại đứng ra ủng hộ, Bùi Cầm Hổ nhịn không được liền đứng ra chỉ thẳng vào mặt Hà Lật mắng.

- Thái tổ định ra hệ thống tước vị chính là để khen thưởng cho những người có công. Nay người ta dù là một thảo dân áo vải, thế nhưng lại có thể tạo ra giống lúa tốt tạo phúc cho lê dân bá tánh, khen thưởng tước vị cũng không phải là quá lớn, nhưng các ngươi lại cứ cố tình gây phiền phức, chẳng phải là muốn làm nhụt chí các anh tài của quốc gia.

Bùi Cầm Hổ cùng Hà Lật trước đó sau sự kiện đi ra biên giới chờ sứ nhà Minh vốn đã nhìn nhau không vừa mắt, nay Hà Lật lại bị đánh mặt liền tức giận quát lớn.

- Ngươi đừng có ngậm máu phun người, ta chỉ là theo phép mà làm, một giới dân đen trên thân còn chưa có quan vị làm sao có thể lập tức thăng lên làm tước gia. Nếu sau này lại có người nhìn vào hắn ngu dốt mà nói rằng quốc gia ta một người không học thức cũng có thể làm tước gia thì làm sao bây giờ. Cách tốt nhất chính là dùng tiền tài ban thưởng cho hắn, như vậy cũng thể hiện được ơn vua như trời biển, lại càng không làm hổ thẹn quốc gia.

Ở trên điện, trước chỗ vua ngồi có bày ra một cái lư đốt trầm hương, khói toả ra ngăn cản tầm nhìn các quan không thể trực tiếp thấy long nhan, vì vậy mà Hà Lật không thể thấy được mặt mũi của của hoàng đế đã sớm đen thui. Huynh đệ của hắn, người anh em kết nghĩa của hắn trẻ tuổi, tài hoa như thế mà trong miệng Hà Lật chỉ là một dân đen không có học thức? Chỉ có Lê Bí đứng ở gần nhất qua lớp sương khói mới có thể nhìn thấy được Lê Bang Cơ lúc này.

- Uy, ngự sử trung thừa đại nhân nói thật hay, thế nhưng ngài còn chưa biết người kia là ai lại nói rằng hắn không có học thức sẽ làm xấu mặt quốc gia, ta có thể hặc tội ngài là phỉ báng không?

Lúc này Lang trung Ngũ hình viện Trình Công Đức liền đứng ra mỉa mai nói. Trong triều nếu 10 người căm ghét Hà Lật thì có đến 8 người là của Ngũ hình viện rồi. Mấy năm trước khi Trịnh Khả, Lê Khắc Phục còn quyền to Hà Lật mới được thăng lên làm Ngự sử trung thừa, vì muốn ra vẻ ta đây tỏ vẻ quyền lực liền nhắm vào Ngũ hình viện mà khai đao, tố rằng Ngũ hình viện làm việc chậm trễ để án kiện tồn đọng lại quá nhiều, kết quả một nhóm lớn người của Ngũ hình viện bị phạt, thậm chí là bãi chức, cả Trình Công Đức may mắn nhẹ nhàng nhất cũng đánh 50 roi. Thế nhưng trong lòng của bọn hắn đương nhiên không phục, tội lỗi phía trên không hoàn toàn là do bọn hắn mà là do Ngũ hình viện nhân số ít ỏi, án kiện lại quá nhiều, bọn hắn kham không nổi. Từ ngày đó cho đến nay Hà Lật như cái gai trong mắt của Ngũ hình viện, thế nhưng Hà Lật là ngôn quan, nhận được sự bảo hộ có thể danh chính ngôn thuận mà mắng chửi bọn hắn, nên bọn hắn mỗi khi có thể liền thừa cơ mỉa mai Hà Lật một trận, dù không làm Hà Lật mất cọng lông nào nhưng cũng làm cho hắn xấu mặt.

- Được rồi, đừng ồn ào như cái chợ vậy.

Lê Bang Cơ lúc này quát lớn một tiếng, quần thần lập tức khom người nói.

- Chúng thần có tội!

Đương nhiên nói thật hay không chỉ có bọn hắn biết. Lê Bang Cơ nói:

- Đại tư đồ nói xem, Trẫm muốn nghe ý kiến của khanh.

Lê Bí biết rõ lúc này đã đến lúc mình ra sân liền nói:

- Tâu bệ hạ, người này dù là thường dân nhưng có công tạo ra giống lúa tốt đó là điều có lợi cho xã tắc thiên thu, về tình về lý thì đều phải phong thưởng, thậm chí thân phận hắn là áo vải cũng không quan trọng, nhớ năm đó Thái tổ hai lần ban lệnh cầu người hiền lương phương chính, nào đâu kể đến xuất thân sang hèn. Nay ban thưởng ắt phải phong, qua mấy năm chờ đến khi có dịp khảo thí nếu có tài thì làm đem ra làm quan, giỏi võ thì trọng dụng làm tướng. Nếu không tài giỏi thì có mấy mẫu ruộng thế nghiệp có có thể cho dòng dõi yên ấm mấy đời, xem như là ghi nhớ công lao.

Lúc này đến lượt Nguyễn Mộng Tuân lại bước ra sân nói:

- Tâu bệ hạ, thần đồng ý với Đại tư đồ, người này nên phong thưởng hậu hĩnh, nhờ đó mà k*ch th*ch người tài trong quốc gia. Hôm nay chúng ta có giống lúa mới, nhờ vậy mà sau này lại có người dâng lên nhiều giống cây mới cao sản chẳng phải được lợi vẫn là quốc gia, là lê dân bá tánh sao. Đối với triều đình chỉ là một tước vị, nhưng đối với dân chúng chính là sự ấm no của cả đời người và cả thế hệ sau nữa.

Lời của Nguyễn Mộng Tuân nói ra liền nhận được không ít sự ủng hộ. Hà Lật biết mình thua, Nguyễn Mộng Tuân danh khí rất lớn, có sức ảnh hưởng bên trong giới đài quan không thua gì hắn, Hà Lật liếc nhìn sang Nguyễn Như Đổ, chỉ thấy Nguyễn Như Đổ lắc đầu hắn liền không nói thêm gì nữa. Lê Bang Cơ lúc này mới hài lòng nói:

-Tốt, như vậy người kia Trẫm liền phong làm La Hiên bá, ban thưởng thế nghiệp điền 200 mẫu ở La Hiên.

Quần thần vừa nghe đến 200 mẫu ruộng thế nghiệp liền đỏ mắt, thế nhưng nghe phong ở La Hiên tâm tình liền thoải mái. La Hiên nha, ở tận lộ Thái Nguyên, vùng núi đất đai xương xẩu, không có gì đáng tranh cãi. Ngược lại lúc này Lê Bang Cơ lại đưa ra lệnh để cho Thẩm hình viện lật lại án của Lê Thụ khiến cho đám đài quan kinh hãi, chính tay bọn hắn năm xưa đưa Thái uý Lê Thụ vào lao ngục, nếu bây giờ Lê Thụ ra khỏi… người chịu tai ương đầu tiên chắc chắn sẽ là bọn hắn.

Đó chính là cách đánh lạc hướng của Lê Bang Cơ, so với việc một bá tước ở vùng núi xa xăm còn không bằng một vị cựu thần quyền cao chức trọng sắp rời ngục. Cũng là sự thoả hiệp của hắn đối với các lão thần Lê Ê, Lê Liệt, Lê Ngang đổi lấy sự ủng hộ của bọn hắn đối với Nguyễn Vô Niệm. Huynh đệ, vì ngươi mà ta thao nát tâm.

main cực kỳ bá đạo, phong cách cơ bắp dùng lực phục người, tay xé hằng tinh
 
Thịnh Thế Diên Ninh
Chương 17: Mới đến Đông kinh


Chương 17: Mới đến Đông kinh

Nguyễn Vô Niệm không hề biết rằng lúc này ở trong triều Lê Bang Cơ đang vì hắn mà phấn chiến. Sau năm ngày sắp xếp xong công việc ở huyện Lôi Dương liền dẫn theo mấy người lên đường đi Đông Kinh. Đoàn đội không nhiều, chỉ có 6 người, thế nhưng đều là người thân tín của hắn do Mạc Khoa dẫn đầu làm chủ sự, đằng sau 5 người đều là những người trẻ tuổi, nhỏ nhất là Lê Hốt mới 14 tuổi, người lớn nhất là Nguyễn Lộc mới 20 tuổi. Còn lại bốn đứa trẻ lần lượt là Thái Sung, Hoàng Võ 16 tuổi, Nguyễn Trình. Bọn hắn đều được Nguyễn Vô Niệm nhận vào tiệm làm, dạy chữ, dạy toán, dạy cho cả cách làm ăn.

Nguyễn Vô Niệm rất rõ ràng một mình hắn không thể làm nên được trò trống gì mà cần phải có một đoàn đội hỗ trợ phía sau, cũng vì vậy mà hắn mới liên kết lại với Lê Quốc. Thời gian để Nguyễn Vô Niệm phát triển không còn nhiều, hiện tại đã là Diên Ninh nắm thứ 3, còn chưa đến ba năm nữa Lê Bang Cơ sẽ bị Lê Nghi Dân g**t ch*t, mấy tháng sau Lê Tư Thành lên ngôi hoàng đế, đến khi đó cũng chấm dứt luôn con đường làm giàu của Nguyễn Vô Niệm.

Lê Tư Thành cái gì cũng tốt, là một minh quân ngàn năm có một trong lịch sử Đại Việt đưa nền phong kiến Đại Việt l*n đ*nh phong, thế nhưng cũng chính hắn là người đặt ra nền móng cho sự lụi tàn kéo dài đến hàng trăm năm không thể ngóc đầu lên được của nước Việt. Vấn đề duy nhất chính là chính sách khuyến nông ức thương quá triệt để của Lê Tư Thành và sự độc tôn của Nho giáo bên trong quốc gia.

Việc trọng dụng Nho giáo chính là do hoàn cảnh lịch sử khi tư tưởng này là cần thiết để xây dựng một bộ máy chính quyền phong kiến trung ương tập quyền, thế nhưng việc hạn chế thương nghiệp đã khiến cho nền kinh tế của quốc gia chậm phát triển, không thể thoát ra được một nền kinh tế tự nhiên tự cung, tự cấp, nội thương phát triển chậm chạp trong khi ngoại thương hoàn toàn vắng bóng Đại Việt.

Phải biết trong lịch sử hai thời kỳ trước Lê Tư Thành và sau Lê Tư Thành nền ngoại thương của Đại Việt hoàn toàn khác nhau. Từ đời Bang Cơ trở về trước, Đại Việt là một mắc xích quan trong trong việc giao thương với các triều đại phương Bắc và các quốc gia Đông Nam Á hải đảo, trong đó cảng Vân Đồn nổi lên là một điểm cầu nối trung chuyển quan trọng giữa Trung Hoa đại lục và các quốc gia phía Nam Đại Việt. Sau lệnh “Hải cấm” của nhà Minh, đồ gốm của nhà Minh hoàn toàn không thể xuất khẩu ra bên ngoài, nhờ đó mà đồ gốm Đại Việt được dịp phát triển, các làng nghề gốm cũng xuất hiện từ đây, sản xuất hàng hoá phục vụ cho xuất khẩu đi các quốc gia phía Nam, lúc này là Vân Đồn mới là đô thị cảng sầm uất nhất của Đại Việt. Đây chính là thời cơ tốt nhất khi trên thị trường quốc tế lúc này nhu cầu cao về gốm sứ thương mại của thị trường Tây Á cũng như Hồi giáo ở các khu vực Phi Luật Tân và Nam Dương là rất cao, các loại gốm sứ men nâu và gốp sứ Chu Đậu được nước ngoại rất ưa chuộng.

Thế nhưng khi Lê Tư Thành lên ngôi lại không nhìn thấy điều đó, sau khi hắn lên ngôi được 7 năm, Vân Đồn từ một thương cảng sầm uất nhất trong khu vực đã lụi tàn biến mất khỏi dòng lịch sử, các sứ thần Xiêm, Nam Dương đến xin giao thương cũng bị khước từ. Kết quả thương nghiệp Đại Việt không phát triển, đến khi lượng lớn người Hoa tràn vào Đại Việt thì khi đó nền thương nghiệp của Đại Việt đã hoàn toàn nằm trong tay người Hoa. Chính cái chính sách sai lầm đó đã đặt nền móng cho những hệ luỵ kéo dài cho đến sau này.

Do đó Nguyễn Vô Niệm càng phải phấn đấu trong ba năm đến hắn phải tìm được chỗ đứng ở thị trường hải ngoại, nếu sau này Lê Tư Thành lên ngôi hạn chế ngoại thương thì khi đó hắn đã là một cự đầu có thể vớt vát được một chút trong vũng nước đục đó, hoặc chăng có thể trốn ra nước ngoài sinh sống.

Còn việc thay đổi tư tưởng của Lê Tư Thành hắn càng không dám nghĩ, một nguyên nhân là Lê Tư Thành là một người cấp tiến, có chủ kiến, nhưng càng vì vậy mà hắn càng khó bị những tư tưởng mới của Nguyễn Vô Niệm thuyết phục, đơn giản vì hắn là một người sùng nho và cực kỳ bảo thủ trong vấn đề này. Nguyễn Vô Niệm không nghĩ rằng chỉ một mình hắn nếu không có sự ủng hộ của hoàng đế thì có thể làm nên được trò trống gì, thậm chí nếu bị hoàng đế xem là cái gai trong mắt chỉ sợ hắn sẽ bị trảm trước. Vì vậy trong khi chế độ thương nghiệp còn đang được Lê Bang Cơ thả lỏng, hắn phải phấn đấu để kiếm chác, tìm đường ra cho mình.

- Ông lão ơi, cho hỏi nơi đây là đã đến Đông kinh hay chưa?

Nguyễn Vô Niệm tìm gặp một lão nông đang làm ruộng ở bên quan đạo hỏi. Thời đại này cũng không có biển chỉ đường, bảy người kể cả Dương Vô Niệm lại chưa hề đi tới Đông kinh nên bọn hắn chỉ có thể vừa đi vừa hỏi đường mà thôi. Nhìn đội hình bảy người tuổi tác không đều, nhưng trên người đều mặc áo lụa, bên cạnh còn có 2 con ngựa để thồ hàng, dù chỉ là ngựa thồ già thế nhưng cũng đã rất không tệ, vừa nhìn liền biết là người có tiền. Ông lão liền nói:

- Đây đã là Đông kinh rồi, ngài đi thêm chừng 4 dặm đường nữa sẽ nhìn thấy được cổng thành.

- Cảm ơn lão!

Nói rồi Nguyễn Vô Niệm để cho Lê Hốt đưa cho ông lão một đồng tiền coi như ban thưởng rồi lên đường. Ông lão trong lòng không khỏi vui vẻ, xem ra chiều nay lại có thể uống xị rượu rồi. Đoàn người Vô Niệm đi dọc theo quan đạo, hai bên đều là đồng ruộng, đầu năm nay mưa thuận gió hoà, lúa lên tươi tốt, xem ra có thể được một mùa bội thu, nông dân cũng hăng say làm việc, mong đời cuối mùa có thể được ăn no.

Thời kỳ nào cũng vậy, dù đây là xứ kinh kỳ, thế nhưng không phải ai cũng có cuộc sống tốt đẹp, nơi kinh kỳ có số người giàu nhiều nhất, thế nhưng cũng là nơi có nhiều người bán mình làm nô nhất.

Đi không bao lâu Nguyễn Vô Niệm liền thấy được mấy đoạn luỹ đất được xây đắp trên đê. Đây chính là đoạn Thanh Trì, hai bên luỹ đất được Thái Tổ Lê Lợi xây khi vây hãm Đông quan, cũng có vài đoạn luỹ là do quân Minh đắp lên để kháng cự lại quân Lam Sơn. Luỹ đất rất lớn, được xây dựng trên đê kiêng cố, trên mặt phẳng rộng rãi, người ngựa có thể cùng lúc chạy trên luỹ mà không hề có vấn đề gì.

Lại mất thêm một giờ đi bộ, bọn hắn cuối cùng cũng thấy được tường thành ở phía xa. Đông kinh theo Nguyễn Vô Niệm biết có 3 lớp tường thành, 1 lớp ngoài cũng là Đại La thành xây trên nền móng cũ của La thành thời kỳ Lý – Trần, dựa theo địa thế xung quanh dọc địa hình mà đắp lên thành đất nên độ cao cũng không đồng đều, Đại La thành được xây phía Đông dọc theo đê sông Hồng lên đến hồ Tây, sau đó lại dọc theo tả ngạn sông Tô Lịch đến Ô Cầu Giấy xong đến Ô Chợ Dừa, Kim Biên sau đến Ô Đống Mác rồi về lại đê sông Hồng tạo thành một vòng khép kín. Do đó cũng không biết hình dung Đại La thành cuối cùng có hình dáng gì.

Các phố phường cũng được đặt ở bên trong kinh thành này. Vòng thứ hai là Hoàng thành, mãi đến thời kỳ Lê Sơ thì Thăng Long mới có Hoàng thành là nơi bao quanh một số cung điện, công trình quan trọng của triều đình như điện Giảng Võ, đền Khán Sơn… lớp cuối cùng là Phượng thành hay Cung thành, được xây dựng bên trong Phượng thành cũ thời Trần, bên trong là cung điện của hoàng đế.

Phía trước cổng thành có chốt binh lính canh gác kiểm tra người đi vào bên trong kinh thành, sau khi đóng xong phí một đoàn bảy người đi vào từ cửa Tây. Đi qua cổng thành vẫn là con đường đất, khắp nơi vẫn là đồng ruộng, thực sự không khác lúc chưa đi qua cổng thành là bao, khắp nơi vẫn là cảnh tượng người nông dân đang chăm chỉ làm việc. Đây chính là một đặc điểm của thành thị ở Đại Việt hay Đại Minh cũng không khác nhau là bao, thành chỉ mang tính là một căn cứ quân sự, vòng thành xây dựng dựa vào tự nhiên dọc theo các khu hiểm yếu, do đó có lượng lớn ruộng đất bên trong cũng không có gì lạ.

- Thật mẹ nó thối!

Lê Hốt che lại mũi nói, một mùi cứt heo xộc thẳng lên mũi bọn hắn. Nguyễn Vô Niệm lập tức phát hiện ra nguồn thúi này xuất phát từ hai con heo nái đang tắm dưới đống bùn. Nông dân vừa trồng trọt, vừa chăn nuôi cũng ít khi làm chuồng mà hay chăn thả tự do, do đó dọc đường có thể thấy không ít heo, dê được chăn thả, trên đường đi không chú ý tuyệt đối sẽ dẫm phải một đống phân, đối với đám người Mạc Khoa, Lê Hốt đi chân đất mà nói thực sự là thảm hoạ. Nguyễn Vô Niệm lúc này mới nhớ ra mình đi vào khu thành Tây, Nguyễn Vô Niệm từng hỏi thăm qua, đây chính là khu được quy hoạch để làm nông nghiệp, hắn muốn đi đến khu buôn bán thì phải vào kinh thành đi vào bên trong khu thành Đông, điều này có nghĩa là hắn đã đi vào nhầm cổng mất rồi. Nguyễn Vô Niệm buồn bực nói:

- Đi, đi nhanh thôi, ở lại nữa lỗ mũi của ta sẽ hỏng luôn mất.

Bọn hắn lập tức vắt chân lên cổ mà chạy, đám nhà quê lần đầu lên kinh thành ấn tượng đầu tiên vậy mà lại là kinh thành thật…thúi.

main cực kỳ bá đạo, phong cách cơ bắp dùng lực phục người, tay xé hằng tinh
 
Thịnh Thế Diên Ninh
Chương 18: Đông kinh đắt đỏ


Thật vất vả mới chạy thoát được khu vực có mấy “nhị sư huynh” kia, đi thêm chừng ba mươi phút nữa bọn hắn mới đến được vùng Hoàng thành, vậy mới thấy Đông kinh thực sự rộng lớn đến mức nào.

Hoàng thành là tuyến phòng ngự chủ yếu của Đông kinh chứ không phải là Đại La thành ở phía bên ngoài, do đó Hoàng thành cũng được xây vô cùng kiên cố, cả bốn mặt đều được xây bằng đá, chỉ có đoạn tường từ Đông môn đến góc vuông đông bắc là xây bằng gạch, trừ đoạn xây bằng gạch ra thì cả ba mặt còn lại ở trên tường thành đều xây tháp lâu làm nơi cung thủ, hoả thương thủ đứng bắn, còn có những nơi để đặt ụ pháo phòng thủ thành. Do đó vừa nhìn thì có vẻ hướng Đông môn là nơi yếu kém dễ công phá nhất. Nhưng thực ra không phải vậy, trái lại Đông môn mới là nơi an toàn nhất khi có hai lỵ sở Phụng Thiên và Thọ Xương đóng quân cách Hoàng thành không xa, đây cũng là hai tiền đồn bảo vệ cho Đông môn, nếu hai tiền đồn này bị phá nghĩa là Đông môn tan vỡ cũng kém không xa. Hoàng thành cũng chỉ mở 3 cửa: Đông môn, Nam môn và Bảo Khánh môn. Đoàn người của Vô Niệm lúc này đi vào cửa Nam.

- Cậu lớn, không biết ngài có cần người dẫn đường không?

Bọn hắn vừa đi vào thành lập tức có một thằng nhóc con chừng tám tuổi, trên đầu có ba chỏm tóc, mặc một cái áo sợi đay phanh cả bụng ra, bên dưới thân mặc độc một cái quần xà lỏn dùng dây chuối quấn lại làm đai lưng cột quanh bụng. Không hiểu sao Nguyễn Vô Niệm vừa nhìn thấy thằng nhóc liền liên tưởng đến hình tượng của thằng Bờm. Ánh mắt của thằng bé cũng vô cùng tinh tường, một đội bảy người lớn nhỏ không đồng đều, thế nhưng nó có thể nhận ra được người dẫn đầu chính là Nguyễn Vô Niệm, do đó liền chủ động đến chào hỏi hắn. Cũng đúng, sống ở kinh thành này không già dặn lọc lõi thì thực sự không thể kiếm ăn được. Nhìn thằng bé Nguyễn Vô Niệm có chút thưởng thức nói:

- Ngươi tên là gì? Có hiểu biết nhiều về Đông kinh không?

Thằng bé nghe hỏi đến liền vô cùng tự tin vỗ ngực nói:

- Bẩm cậu lớn, con tên là Tý, trong kinh thành này không chỗ nào là con không biết. Ngài chỉ cần cho con năm đồng, ngài cần đi đến đâu con sẽ dẫn đến tận nơi.

Có vẻ như thằng nhóc sinh năm 1448 (Mậu Tý), nên mẹ nó cũng lấy tên con giáp đặt cho nó, chuyện này cũng không hề hiếm chút nào. Nguyễn Vô Niệm để Mạc Khoa lấy ra 5 đồng ném cho nó, năm đồng đối với người nhà nông ở ngoại thành có vẻ lớn, thế nhưng tiêu pha trong kinh thành này 5 đồng cũng chỉ là muỗi mà thôi. Tý vui vẻ nhận lấy năm đồng, có năm đồng này hai ngày ăn cơm có thể không lo, mẹ cũng có thể đỡ vất vả hơn rồi. Tý hí hửng nói:

- Không biết cậu lớn muốn đi nơi nào?

Nguyễn Vô Niệm nói:

- Trước tiên dẫn ta đi tìm quán trọ, phải gần nơi có bán địa sản, ta muốn tại Đông kinh mở cửa hàng.

Tý suy nghĩ một chút như đang lục tìm trong trí nhớ của mình nơi nào phù hợp với yêu cầu của Vô Niệm, chừng một phút sau nó vỗ đùi một cái đét nói:

- A, con nhớ ra rồi, mời cậu lớn đi theo con.

Tý liền nhanh nhẩu đi trước dẫn đường, Nguyễn Vô Niệm đi theo sau, Nguyễn Lộc dắt theo hai con ngựa già chở hàng đi cuối cùng. Vừa đi Nguyễn Vô Niệm lại vừa tranh thủ hỏi “thổ địa” vùng này về Đông kinh. Kiếp trước hắn từng trọng sinh vào thời nhà Trần nhưng hai năm chủ yếu ở tại vùng Thiên Mạc, cũng chưa hề ghé qua Thăng Long bao giờ, nên Thăng Long đối với hắn lại khá lạ lẫm.

Tý đã làm công việc này được hai năm, cha của hắn đi lao dịch xây thành cho triều đình kết quả không may tử nạn, quan phủ đền bù cho mấy tiền liền xong, thời này tính mạng con người thực sự rất rẻ mạt, đặc biệt là hạng cố nông như nhà bọn hắn. Do đó Tý từ nhỏ đã phải ra ngoài bương chải, mẹ hắn bình thường ở nhà đi giặt đồ thuê cho người ta, hoặc ai thuê gì thì làm đó, Tý thì lên trên phố bắt đầu đi lân la khắp đường lớn ngõ nhỏ trong thành, nó nhận ra rằng ở Đông kinh có rất nhiều thương nhân đến nhưng không thông thuộc đường xá, do đó hằng ngày nó liền đứng trước cổng Hoàng thành chờ đợi, một khi thấy ai có vẻ lạ lẫm liền đi lên chào hàng, đám người Nguyễn Vô Niệm nhà quê lên tỉnh, bọn Lê Hốt ngơ ngơ ngác ngác liền bị Tý nhận ra.

Nguyễn Vô Niệm cũng phải công nhận rằng Tý rất thông minh, nhớ cũng rất dai, không dễ gì có thể thuộc được các phố phường cũng như những chi tiết nhỏ như địa sản, quán rượu các loại ở từng phường.

Tại Đông kinh hiện tại cũng không có đầy đủ 36 phố phường như thế kỷ 18 – 19, cũng có một số phố phường ít được nhắc tên trong thời kỳ hiện đại. c* Tý có giới thiệu qua một số phường như Thuỵ Chương, Nghi Tàm làm nghề dệt vải lụa; phường Tàng Kiếm làm kiệu, áo giáp, đồ đài, mâm võng, dù lọng; phường Tả Nhất làm quạt… hầu như mỗi phường lại gắn liền với mỗi làng nghề, mà mỗi làng nghề lại gắn liền với một vùng nông thôn ngoại thành, có thể nói đó là một đặc điểm riêng có của Đông kinh so với các thành thị khác khi có sự liên kết chặt chẽ giữa thành thị và nông thôn. Tuy vậy đó cũng là một yếu tố khiến cho Đông kinh mãi không thể dứt bỏ được yếu tố nông thôn mà tiến thẳng lên trở thành một thị thành kinh tế thực sự.

Rất nhanh Tý dẫn bọn hắn đến phường Tàng Kiếm chọn một nhà trọ ba lầu tương đối lớn. Tại nhà trọ này tầng dưới làm quán ăn, hai lầu trên dùng làm phòng trọ, mô hình của các nhà trọ lúc này đều là như thế bọn hắn gọi chung là “khách đ**m”. Nguyễn Vô Niệm có bảy người, thuê ba phòng trọ, bao cả cơm nước một ngày cũng hết mất 1 tiền, giá cả không hề rẻ một chút nào. Do đó Nguyễn Vô Niệm càng muốn nhanh chóng mua địa sản.

Nguyễn Vô Niệm để mấy người ở lại nhà trọ, chỉ dẫn theo Mạc Khoa cùng với Tý đi đến một nơi gọi là Bảo Tín địa sản. Nơi đây chính là một trong những nơi nhận làm trung gian để mua bán địa ốc bên trong kinh thành. Dù sao muốn bán ra sản nghiệp thì phải tiếp cận được khách hàng, mà Bảo Tín địa sản chính là một trong số những nơi đó, bọn hắn có tập trung rất nhiều địa sản để khách hàng có thể chọn lựa, đòng thời cũng bao làm thủ tục tại phủ nha.

- Chào cậu lớn, không biết cậu lớn muốn mua hay thuê địa ốc, ở đây bọn ta có rất nhiều địa sản ở các phường, cậu lớn có thể thoải mái lựa chọn.

Đón bọn hắn là một người trung niên có vẻ như là quản sự của cửa hàng, bên trong cũng chỉ có hai ba nhân viên trẻ tuổi hơn cũng đang mời chào khách, quả thực không đông đảo gì cho cam. Nguyễn Vô Niệm nói:

- Ta muốn thuê cửa hàng, nằm trong phường Thuỵ Chương, cửa hàng phải có cả phòng ngủ.

Ban đầu Nguyễn Vô Niệm muốn mua địa sản, thế nhưng sau khi tham khảo một chút hắn liền líu lưỡi, địa sản ở kinh đô thấp nhất cũng phải 50 quan là thấp nhất, các phường nhộn nhịp giá cả lại càng đắt. Cả tài sản của hắn cũng chỉ có 40 quan, sau khi để lại 10 quan để mở rộng thị trường cho tiệm Điềm ở Thanh Hoá, 5 quan cấp vốn lưu động, lại tốn 2 quan để đi đến Đông kinh, hiện tại trong tay hắn cũng chỉ còn không quá 22 quan, muốn mua nửa cái cửa hàng cũng không được.

Nghe Nguyễn Vô Niệm nói xong quản sự liền lập tức dẫn hắn đến bên cạnh một cái bàn lớn trải ra bản đồ của Đông kinh, thực tế nhìn vào cái bản đồ loằng ngoằng như giun Nguyễn Vô Niệm thực sự rất đau đầu, nếu không phải có một kiếp luân hồi về thời nhà Trần phải học đọc bản đồ để hành quân đánh trận hắn thực sự không thể nhìn ra được. Quản sự nói

- Tại phường Thuỵ Chương thực sự không có quá nhiều cửa hàng bán ra, dù sao đây cũng là một trong những phường đông đúc nhất của Đông kinh, cạnh tranh rất lớn. May mắn là tháng này có 3 cửa tiệm đóng cửa nên có đưa ra yêu cầu cho thuê đến đây. Trong đó một tiệm là bán hẳn, còn hai cửa tiệm là cho thuê tại đây. Một cửa tiệm mặt tiền rộng một trượng bốn thước (5,6 mét), sâu chừng một trượng năm thước sáu tấc (6,24 mét), có một lầu trên 2 phòng ngủ, giá thuê 12 quan một năm, giao tiền trước nửa năm. Một cửa tiệm khác cũng 2 lầu, nhưng mặt tiền rộng 2 trượng (8 mét), sâu một trượng sáu thước (6,4 mét), 3 phòng ngủ, lại nằm ở ngã tư hai mặt tiền, tiền thuê một năm 20 quan, giao trước nửa năm.

Nghe quản sự báo giá xong Nguyễn Vô Niệm thực sự sợ líu lưỡi. Dù hắn đã lường trước được giá cả ở Đông kinh không hề rẻ một chút nào thế nhưng cũng không ngờ lại đắt đến như vậy. Muốn thuê một cửa tiệm trong một năm đã muốn ngốn hết một nửa tích góp của hắn.

Thế nhưng phường Thuỵ Chương hắn không thể bỏ qua. Bởi nếu muốn mở tiệm bán đồ ngọt mục tiêu đương nhiên phải là hướng đến nữ nhân, móc tiền của nữ nhân so với nam nhân còn dễ hơn rất nhiều. Do đó phải chọn Thuỵ Chương hoặc Nghi Tàm là hai nơi buôn bán vải lụa, son phấn, hằng ngày sẽ có rất nhiều nữ nhân qua lại. Đông kinh đắt đỏ, nhưng cơ hội kiếm tiền càng lớn hơn nữa. Nguyễn Vô Niệm cắn răng nói:

- Được, ta thuê cửa tiệm đầu tiên, trả tiền thuê 6 quan trước nửa năm.

main cực kỳ bá đạo, phong cách cơ bắp dùng lực phục người, tay xé hằng tinh
 
Thịnh Thế Diên Ninh
Chương 19: Tính toán tương lai


Nhận hàng Nguyễn Vô Niệm cũng không vội thuê mà muốn đi xem cửa hàng trước. Quản sự gật đầu đồng ý lại sai một nhân viên rảnh rỗi dẫn Nguyễn Vô Niệm sang phường Thuỵ Chương. Đi mất chừng hai mươi phút mới đến được cửa hàng. Nhìn nơi này quả thực đúng như trong bản đồ vẽ, dù nằm trên phường Thuỵ Chương, nhưng lại nằm ở vị trí hơi hẻo lánh một chút, xung quanh các hàng lụa đủ màu sắc hoàn toàn che lấp cả căn nhà gỗ này, được cái phường Thuỵ Chương gần hồ Tây, lại là một trong những con phố sầm uất nhất của Đông kinh, do đó dù vị trí không thuận lợi lắm nhưng người qua lại so với những phường khác còn nhiều.

- Mời cậu lớn vào trong!

Nhân viên của Bảo Tín địa sản thuần thục lấy chìa khoá ra mở cửa, có vẻ như chủ tiệm đã giao chìa khoá cho Bảo Tín địa sản. Nguyễn Vô Niệm đi vào bên trong quan sát xung quanh, căn nhà được xây bằng gạch, bên trong kiến trúc lại bằng gỗ, nội thất có các kệ tủ dường như là để đựng vải, còn có cả bàn ghế, tuy có hơi lộ ra cũ kỹ, thế nhưng vẫn có thể dùng được. Mặt trước là cửa hàng, đằng sau có một nhà bếp, còn có cầu thang gỗ đi lên lầu hai, trên lầu có hai phòng ngủ, còn có cả ban công và mái hiên hướng ra bên ngoài đường. Nguyễn Vô Niệm đối với toà cửa hàng này tương đối hài lòng. Hắn hỏi:

- Chủ trước của nơi này bán lụa sao?

Nhân viên thật thà nói:

- Thực ra nơi đây đã cho thuê qua ba bốn người, mỗi người đều không trụ được quá hai năm, bọn hắn đều buôn vải, không biết làm ăn thế nào nhưng sau đó đều chuyển đi cả.

Nguyễn Vô Niệm đứng trên ban công nhìn xuống, căn nhà này không hiểu xây dựng thế nào lại lọt thỏm vào trong so với hai cửa hàng hai bên, do đó khi cửa hàng hai bên bày hàng ra, các dải lụa màu sắc lập tức che lấp cả cửa hàng bên này, như thế bọn hắn có thể kinh doanh có lời mới lạ, trụ được hai năm đã rất tốt rồi.

Mất cả một buổi chiều hai bên ký kết khế ước, sau đó lại phải lên phủ nha để đóng dấu xác nhận thuê, điểm chỉ. Mạc Khoa lòng đau như cắt lấy ra sáu quan thanh toán trước nửa năm tiền thuê cho chủ đất bọn hắn xem như mới hoàn thành xong công việc.

Trên đường trở về Nguyễn Vô Niệm một mực không vui, đến mức hắn mất cả tâm tư đi dạo phố. Về đến quán trọ Nguyễn Vô Niệm lại quay sang c* Tý hỏi.

- Nè nhóc, ngươi có muốn đến chỗ ta làm thuê hay không? Công việc nhẹ nhàng, một tháng 40 đồng

- Thật?

c* Tý sửng sốt, một tháng tiền công 1 tiền với một đứa bé tám tuổi như hắn thược sự quá lớn. Phải biết mẹ hắn đi làm công cho người ta cả ngày thì một tháng cũng chỉ được 1 tiền mà thôi. Hắn làm cái nghề này hai năm cũng là bữa đói bữa no, dù sao không phải hôm nào cũng bắt được khách sộp như Nguyễn Vô Niệm, huống chi trong nghề này cạnh tranh rất dữ dội, một tháng hắn kiếm được 15 đồng đã là kỳ tích rồi. Nguyễn Vô Niệm liếc mắt nói.

- Sao? Không muốn?

Tý sợ Nguyễn Vô Niệm đổi ý vội vàng gật đầu lia lịa nói.

- Đồng ý, con đương nhiên đồng ý.

Nguyễn Vô Niệm chợt nghiêm mặt nói.

- Ta còn chưa nói hết, muốn làm việc cho ta thì phải biết chữ, biết học số, biết toán học, do đó hằng ngày ngoại trừ làm việc ra thì còn phải học tập nữa.

- Còn có thể học chữ, học toán? Con đồng ý, dù có làm không công con cũng đồng ý.

c* Tý mừng rỡ như muốn hét lên gật đầu như gà mổ thóc, đối với những đứa trẻ nghèo như nó đối với việc học chữ gần như chỉ là chuyện xa vời, đơn giản là vì… không có tiền, không có tiền thì ai dạy cho đâu mà học, huống chi nó cả ngày phải chạy ngoài đường kiếm khách, càng không có thời gian để học. Bây giờ có người muốn dạy nó bảo sao nó không vui mừng sao được.

Cốp!

Nguyễn Vô Niệm vươn tay gõ lên đầu nó một cái nói.

- Được rồi, đừng có điên nữa, trở về nhà đi, cổng thành sắp đóng rồi kìa. Ngày mai lại đến đây tìm ta.

Nguyễn Vô Niệm biết nhà của Tý ở ngoại thành, muốn vào thành nó phải đi từ gà gáy, đến khi trời sáng rõ thì mới đến nơi, giờ phải tranh thủ trở về nếu không trời lại tối. c* Tý cũng hiểu rõ ý đồ của Nguyễn Vô Niệm liền lễ phép cúi đầu nói.

- Tạ cậu lớn, ngày mai con sẽ đến đúng giờ.

Nói rồi nó liền nhanh chân chạy thẳng, rất nhanh chỉ còn lại cái bóng. Nhìn thằng nhóc chạy đi Nguyễn Vô Niệm không khỏi mỉm cười, bấy giờ hắn mới thấy được Tý vẫn còn là một đứa trẻ, một đứa trẻ hiểu chuyện là một đứa trẻ đáng thương, bởi vì khi nó hiểu chuyện nó đã không còn là một đứa trẻ nữa. Mạc Khoa nhìn ông chủ của mình nở nụ cười liền hỏi.

- Ổng chủ, ngài muốn bồi dưỡng thằng bé sao?

Nguyễn Vô Niệm nhìn hắn nói.

- Đương nhiên, so với chúng ta đối với Đông kinh lạ lẫm thì thằng nhóc chính là thổ địa, sử dụng nó sẽ giúp chúng ta đỡ phiền phức hơn rất nhiều.

Còn một điều hắn không nói chính là sự trung thành, Tý là một thằng bé trưởng thành sớm, nhưng nó cũng biết tri ân đồ báo, Nguyễn Vô Niệm dạy cho nó chữ, chắc chắn nó sẽ mang ơn mà trung thành với hắn, hơn nữa hắn cũng nhìn thấy được thằng bé cơ linh, lanh lợi, là một nhân tài sau này cho đội ngũ của hắn.

Đi vào bên trong khách sạn, hắn chiếm một mình một phòng riêng, bố trí bên trong tương đối đơn giản, cũng chỉ có một cái giường, một bộ bàn ghế tre, chậu rửa mặt các loại. Nguyễn Vô Niệm gọi lên một bình trà, lại gọi đến Mạc Khoa nói.

- Ngày mai ta dẫn theo mấy người đi quét dọn trang hoàng lại tiệm, ngươi đi kiếm một ông thầy phong thuỷ xem thử ngày nào hợp khai trương cửa hàng. Lại sang bên phường Tàng Kiếm tìm một toà biệt phủ này gửi thiếp mời của ta cho chủ nhân nơi đó.

Toà biệt phủ kia chính là điểm hẹn mà Lê Bang Cơ để lại cho Nguyễn Vô Niệm, bảo rằng khi nào hắn đến kinh đô thì gửi thiếp mời đến đó, Lê Bang Cơ sẽ đến gặp hắn. Nguyễn Vô Niệm liền để cho Mạc Khoa đi làm.

Dù sao hiện tại tài chính của hắn khá túng thiếu, đối với một gia đình bình thường gần hai mươi quan đã là một món tiền lớn. Tuy nhiên với tham vọng của Nguyễn Vô Niệm thì chưa đủ, hắn thấy mình quá chậm, từ đây đến lúc Lê Tư Thành lên ngôi còn ba năm, đến khi ngoại thương bị hạn chế triệt để thì chừng mười năm, thế nhưng khoảng cách người Hoa tiến vào định cư ở Đại Việt sau lệnh Hải cấm thì cũng chỉ còn ngót nghét bốn năm năm mà thôi. Nhưng hiện tại tích luỹ tư sản còn quá ít.

Theo quy hoạch của Nguyễn Vô Niệm, hiện tại trước mắt vẫn là dùng đường để kiếm lợi. Nếu so với Lôi Dương thì rõ ràng thị trường ở Đông kinh lớn hơn rất nhiều, giá cả tại đây bán cũng sẽ cao hơn rất nhiều. Thế nhưng nếu so với Đông kinh thì thị trường ở nhà Minh lớn hơn còn gấp mấy lần. Hiện tại đường ở nhà Minh đều nhập từ Ấn Độ, đường xá xa xôi hiểm trở, giá cả cao vút, nếu hắn có thể nhảy vào miếng bánh béo bở này tuyệt đối sẽ kiếm lợi lớn. Thế nhưng rất rõ ràng hiện tại Nguyễn Vô Niệm còn chưa có năng lực như vậy, kể cả vận chuyển hải lục, chỉ bảy người bọn hắn chắc chắn sẽ không thể nào vận chuyển được đường sang phía nhà Minh, huống chi như vậy cũng sẽ rất mất thời gian. Do đó trước khi có năng lực vận chuyển ra ngoài hắn phải tìm đầu mối để bán sỉ, mà Đông kinh cùng Vân Đồn không thể nghi ngờ là hai nơi phù hợp nhất để bắt khách thương, lúc này Vân Đồn vẫn có vị trí quan trọng trong nền ngoại thương Đại Việt, đặc biệt là đối với các lái buôn nhà Minh, tàu thuyền của thương lái nhà Minh ở đây rất nhiều. Sau khi kiếm được tiền rồi hắn sẽ lần nữa tuyển nhân công để làm ngành nghề khác, mấy năm ở bên trong thư viện của toà thánh Vatican hắn đã học tập được rất nhiều thứ, đặc biệt là về thủ công nghiệp, nhờ có trí nhớ siêu phàm hắn không hề quên được những thứ đã nhìn qua, tuy nhiên hắn lại chỉ giỏi lý thuyết mà không giỏi thực hành, lúc này là lúc cần đến đám thợ thủ công phát huy ra sức mạnh của bọn hắn. Thợ thủ công của Đại Việt là những người cần cù, khéo léo nhất bên trong khu vực, chỉ là sự hạn chế về kiến thức cũng như sự hạn chế về điều kiện kinh tế và chế độ công tượng khiến bọn hắn bị bó buộc trong một khuôn khổ, không phát huy ra được sức sáng tạo của mình.

Sáng ngày hôm sau, chừng sáu giờ sáng Nguyễn Vô Niệm đã thức dậy, ở kinh thành cũng không giống như vùng nông thôn, gà gáy nông dân phải ra ruộng làm, ở thành thị sinh hoạt lại muộn hơn một chút, nhưng cũng không trễ như thời kỳ hiện đại, đơn cử chính là mới giờ này ngoài đường đã huyên náo khá lớn.

Mạc Khoa đã chờ sẵn ở bên ngoài nói.

- Ông chủ, bữa sáng đã chuẩn bị xong, mời ngài rửa mặt xong rồi xuống dưới lầu dùng điểm tâm.

- Được, gọi Lê Hốt đến đây giúp ta mặc quần áo một chút.

Mười vạn năm trước, Kiếp tộc phủ xuống. Cổ Thiên Đình chỉ còn lưu lại di chỉ, Tây Phương Linh Sơn đã sớm đổ nát hoang tàn, Cổ Ma Uyên lùi về trong tĩnh mịch. Hoang Cổ Thánh Vực bị đánh vỡ tan tành, trở thành Tứ Hoang Nhất Hải.
Mười vạn năm sau, Đông Hoang Việt quốc, một gã Chân Nhân cao thủ tuổi già thọ cạn, bỗng nhiên tuyệt địa phùng sinh, quét ngang võ giới.
Mời đọc:
 
Back
Top Bottom