Bảo Phù thứ tư, Trung Thu, hoàng cung tổ chức Yến Trung Thu cùng gia quyến và cận thần.
Trừ cung Giáo thụ, công thần suốt hai đời vua, nay còn đang dạy dỗ Thái tử, vốn nên cùng Thượng hoàng và Hoàng đế uống rượu ngắm trăng, chơi cờ đàm đạo, ở lại trong cung đến khuya.
Song, điều "vốn nên" ấy lại không phải lẽ thường, bởi gần hai mươi mùa Trung Thu, chỉ cần không có công vụ trọng yếu, Thiếu sư nếu ở xa sẽ nhanh chóng thúc ngựa về, nếu dự yến thì lấy trà thay rượu, cốt là để kịp về phủ cùng phu nhân đi lễ chùa.
Phu nhân Bảo Văn Hầu từng nương cửa Phật, bao lâu nay lễ tết yến tiệc trong cung đều chỉ có Bảo Văn Hầu một mình tham dự, nếu đại lễ quan trọng, cũng là Công chúa Ứng Thuỵ được ân chuẩn lấy lễ ngoại mệnh phụ thay mẹ tham dự.
Những ngày đầu còn có người bàn tán, sau nhiều lần Thái Thượng hoàng, Hoàng thượng và Thái tử đều không tỏ ý bất mãn, nên cũng chẳng còn ai nói năng gì.
Dẫu sao, nếu không phải là phu nhân của Trừ cung Giáo thụ Thiếu sư Bảo Văn Hầu, có mấy triều thần quan tâm một vị công chúa tiền triều.
Trước khi cáo biệt, Thái tử tự tay gửi cho thầy một phần lộc, cũng chỉ là đôi món ăn dân dã cổ truyền, Bảo Văn Hầu vừa nhận lấy vừa nhắc nhở Thái tử đón Trung Thu cũng không được lơ là luyện võ ôn văn, sau đó bái lễ rồi cáo lui.
Trống canh sang giờ Tuất, xe ngựa phủ hầu đi qua cổng lớn kinh thành, trở về phủ Bảo Văn Hầu.
Ước chừng cũng đã đến nơi, Lê Tần đánh dấu nước cờ đang đánh dở, chuẩn bị cất quân cờ vào hộp thì xe ngựa đột nhiên dừng lại.
Bảo Văn Hầu đỡ phu nhân ngồi vững, tay đã theo thói quen mà đặt lên chuôi kiếm, hỏi vọng ra:
- Chuyện gì thế?
- Dạ... thưa... thưa... thưa Ông...
- Có gì mà lắp ba lắp bắp thế hả?
- Dạ... có... có...
- Thiếu sư oai phong như thế, người hầu cận sao lại nhát gan thế này?
- Từ bên ngoài vọng vào một giọng nói trầm thấp đĩnh đạc quen thuộc - Nhỡ gặp kẻ ác, chẳng phải là phiền phức một phen hay sao?
Kiếm đã đặt xuống, phu nhân cũng bình tĩnh ngồi vững lại rồi, Lê Tần mới vén rèm, vừa bước xuống xe vừa cười nói:
- Thượng hoàng chặn xe hầu phủ chẳng báo một lời, ai lại không sợ phạm thượng.
Trước cửa phủ Bảo Văn Hầu, Thái Thái Thượng hoàng Trần Cảnh mặc thường phục, tay lần tràng hạt lâu nay đã thành thói quen, mà dường như cũng là vừa lễ Phật trở về.
Ngài đã cùng Lê Tần trải qua không đếm xiết vào sinh ra tử, sớm chẳng còn quá câu nệ, nghe vậy cũng cười đáp:
- Thiếu sư có vẻ không sợ lắm.
- Nếu Bệ hạ truy cứu, - Bảo Văn Hầu cố ý giơ tay ra bấm đốt ngón tay mà đếm - e là thần cũng mất được tới cái đầu thứ chín rồi.
- Nếu có truy cứu thật, ta cũng phải trồng được trên cổ Thiếu sư được mười tám cái đầu mới truy hết công tội.
- Thái Thượng hoàng vừa cười nói vừa để thái giám đưa sang một phần lộc chay Trung Thu.
Nhìn vẻ mặt Lê Tần hiện rõ câu hỏi "Bệ hạ chắc không tới tận cửa hầu phủ chỉ để đưa lộc thôi đấy chứ?", ngài cũng không vòng vo, nói thẳng:
- Đây là hối lộ Thiếu sư, nhờ Thiếu sư ghé tai phu nhân, mong hầu phủ Trùng Dương sắp tới làm mâm cơm nhà có thể sắp thêm một bộ bát đũa.
Lê Tần vẫn giữ nguyên biểu cảm, câu hỏi ẩn mà hiện trên mặt không thay đổi, ngay cả tư thế cũng chẳng hề xê xịch nửa ly, cứ như thể sau khi Thái Thượng hoàng bắt đầu đáp lại câu hỏi chưa thành tiếng ấy, thời gian của ông đã đột nhiên ngừng lại.
Đôi lát sau, rèm xe mới được vén lên.
Lúc này, Lê Tần nhận thấy được động tĩnh, cho lui tì nữ, tự tay đỡ phu nhân xuống xe, bước tới trước mặt Trần Cảnh.
Ngài ngăn vị Nhất đẳng Phu nhân định hành lễ, đang chuẩn bị lên tiếng, thì đã nghe nàng đáp lại lời "hối lộ" vừa rồi:
- Đón tiếp Thiện Hoàng là vinh hạnh của hầu phủ.
Thái Thượng hoàng nghe vậy liền bật cười:
- Chiêu Thánh đã quá lời.
Nói xong, ngài không nán lại thêm nữa, chào một tiếng rồi trở lại xe ngựa.
Trần Cảnh về tới Cung Thánh Từ đã sang giữa giờ Hợi, bên cạnh là nội quan suốt cả một đường nói không ngừng không nghỉ, hết lấy lời Ngự y ra khuyên nhủ lại cầu xin rằng Quan gia lỡ mà biết sẽ trách phạt kẻ hầu, thảm thiết đến mức nếu dân chúng không rõ sự tình nghe được thì e rằng sẽ sớm truyền ra thành hoàng thất ngược đãi người hầu kẻ hạ.
Mà tất cả những ngôn từ ấy, chỉ bởi vì người nhận được cả hành lễ của hoàng đế này, vốn đang ngồi yên vị trong xe ngựa, lại đột nhiên muốn xuống xe tản bộ về giữa tiết trời thu.
Thái Thượng hoàng nghe cả một đường, vào đến tận trong giường vẫn còn nghe, sắp nhức hết cả tai thì mới lấy lại được yên tĩnh khi nến đèn được thổi tắt.
Trước khi chìm vào giấc ngủ, ngài chợt nghĩ, nếu không phải trong lòng đang bận tâm hai tiếng đó thì ba đứa vừa nói nhiều nhất chắc chắn sẽ bị ngài đạp cho mỗi đứa ba cái rồi.
Hai tiếng đó...
Thiện Hoàng.
Trần Cảnh khe khẽ thì thầm trong thời khắc cuối cùng trước khi yên ắng say ngủ.
Thiện Hoàng, tự xưng, cũng là tự nhắc nhở, dẫu là hoàng đế thì trong tâm vẫn phải khắc ghi chữ "thiện".
Thiện Hoàng, lại đổi thành Văn Hoàng, bởi rằng, buông bỏ người vợ kết tóc, đoạt lấy chị dâu làm thê, lại gả vợ cũ cho cận thần, có điều nào không chối bỏ địa chi phán xét phải trái, có điều nào không hai lời đổi trắng thay đen.
Tề gia trị quốc bình thiên hạ, nhưng ngày Chiêu Thánh mang lại tước vị thuở ban đầu, Trần Cảnh đã không còn "gia" nữa, chỉ còn một hậu cung, một hoàng hậu cũng mang họ Lý, không ở cạnh bên để cho ngài một gia đình, mà ở sau lưng để cho giang sơn và hậu duệ họ Trần một sự danh chính ngôn thuận.
Trần Cảnh gánh được cả giang sơn đang nghiêng ngả, nhưng lại không gánh nổi một chữ "Thiện" trong lòng.
Thế nhân có thể lượng thứ, lương tâm ngài lại không thể dung tha.
Yên Tử ngày đó, Trần Cảnh muốn vẹn lòng nghĩa tình, nhưng phía trước có Thái sư kéo, phía sau có Chiêu Thánh đẩy.
Cuối cùng, Thuận Thiên công chúa trở thành Thuận Thiên hoàng hậu, Chiêu Thánh hoàng hậu trở thành Chiêu Thánh công chúa.
Và Thiện Hoàng trở thành Văn Hoàng.
Đại Việt không có lệ đón Trùng Dương, vậy nên như mọi ngày, Thái Thượng hoàng cùng Hoàng thượng và Thái tử Khâm xử lý xong quốc vụ đã đến giờ cơm chiều.
Vua vốn định gọi ngự thiện, song chưa kịp lên tiếng đã thấy cha đứng dậy.
Trần Cảnh cũng không nói gì nhiều, chỉ bảo rằng hôm nay không ăn cùng con cháu, sau đó thay thường phục và bước lên xe ngựa mà nội quan đã chuẩn bị sẵn.
Xe ngựa từ hoàng cung tới phủ Bảo Văn Hầu chẳng mất bao lâu, vậy nhưng bữa cơm nhà cũng đã bắt đầu được gần hai khắc.
Bảo Văn Hầu và Công chúa Chiêu Thánh tuổi đã cao, nếu không có việc gì trọng yếu thì ăn ngủ đều rất đúng giờ, Thượng Vị Hầu và Công chúa Ứng Thụy về nhà ăn cơm muộn còn phải chờ cha mẹ ăn xong mới được sắp mâm mới.
Nhưng quân thần dẫu thân cận muôn phần thì vẫn là quân thần, Bảo Văn Hầu có thể không câu nệ, Công chúa Chiêu Thánh có thể không phản ứng, còn cả phủ Bảo Văn Hầu thì chẳng ai dám không bày bát sắp ghế đón vị còn cao hơn cả hoàng đế này.
Thân thích họ Lý sớm đã chẳng còn, mâm cơm nhà lâu nay chỉ có Lê Tần, con trai con gái, con dâu con rể, hiếm khi được sắp thêm một chiếc đôn.
Trần Cảnh từ chối vị trí chủ vị, song Thái Thượng hoàng ở đây, vị trí đó nếu ngài không ngồi thì chẳng ai dám ngồi.
May thay, phủ Bảo Văn Hầu mỗi bữa cơm nhà đều ít người, cho nên một chiếc bàn tròn không phân rõ chủ khách chính phụ, thêm một chiếc đôn, thêm một bộ bát đũa, cha của hoàng đế ngồi đó cũng chỉ như một người bạn cũ lâu năm ghé nhà.
Nếu có gì khác chăng, ngoài gọi quân xưng thần, thì chỉ có một khoảng nhỏ nơi vị trí dành cho chủ nhà bị khuyết, vô tình lại như cố ý tôn lên tấm biểu lụa ngang dưới bức hoành phi.
Tờ giấy trắng chép Kinh Địa Tạng và bức hoạ vẽ thiếu nữ cài đoá Phật Âm bên hồ cùng bồi chung biểu lụa vàng vân hoa, con dấu Bảo Văn Hầu đỏ tươi, một nửa nằm trên giấy dó lụa, một nửa nằm trên giấy mật hương, ở góc bức tranh là một dòng lạc khoản.
Lễ Trùng Dương, Bảo Phù thứ sáu, Vũ Hoà [4] kính thương mừng sinh nhật phu nhân Phật Kim lục thập hoa giáp.
Phật Kim.
Trần Cảnh vẫn nhớ rất lâu khi trước ngài từng hỏi, Lý triều vốn trọng Phật giáo, hoàng bào lại thêu kim long, cớ sao năm đó vua Kiến Gia lại đổi tên huý của Công chúa khi sắc lập Thái tử.
Giờ đây, đã ngồi qua ngôi cửu ngũ, có cả hoàng tử và công chúa, ngài bỗng thấy có lẽ mình đã hiểu lòng vị tiên đế tiền triều ấy phần nào.
Đổi tên huý, chia ra hai phần đời.
Nếu quốc vong, vậy thì vẫn còn một cái tên trong sạch trên gia phả, vẫn còn một phần đời được hạnh phúc như thuở ban sơ.
Lê Tần, thật may, đã không để ước nguyện của người cha dành cho cái tên Phật Kim ấy trôi vào dĩ vãng.
Nghĩ đến cái tên mà trước giờ ngài chưa từng gọi, cũng chưa từng viết đó, Thái Thượng hoàng bất chợt mỉm cười, cất tờ thiếp chúc chẳng đề tên người gửi người nhận vào hộc tủ mỗi năm chỉ mở có một lần, ánh mắt ngừng lại trên tấm gỗ dựng đứng.
Ngang, sổ, phẩy, mác, ngang móc, cong móc, ngang.
Ngang, ngang, phẩy, mác.
Ngang, sổ, ngang, ngang gập, sổ, ngang, phẩy, phẩy, ngang gập cong móc, ngang phẩy, mác, phẩy, ngang, sổ, phẩy, mác, sổ, ngang gập móc, ngang, ngang [5].
Con gái Lý thị, tiếng thơm lưu truyền hậu thế, vang xa tới ngàn mây cao.
Chiêu Thánh trao nó cho Trần Cảnh, đổi lấy một buổi giao thời bình yên, không máu, không loạn.
Ngài nhìn tấm bài vị sơ sài cũ kỹ, những nét xước khắc bằng đầu trâm trên lát gỗ mỏng, góc bên dưới còn đề hai hàng chữ gần như chìm vào màu gỗ nâu, chẳng rõ là máu hay mực.
Yên Tử, mồng mười tháng bốn, Thiên Ứng Chính Bình thứ sáu.
Chiêu Thánh lập bia.
[4] Không tìm hiểu được thông tin về tên chữ của Bảo Văn Hầu, ở đây mình mạn phép tự đặt.
[5] Cách viết chữ Lý (李), Thiên (天 - Trời) và Hinh (馨 - Hương thơm bay xa, tiếng tốt lưu truyền), dưới sự giúp đỡ của ứng dụng Lantern Dict và các thông tin về nét trong tiếng Trung.