Cập nhật mới

Khác Thiên Hinh | Cảm hứng lịch sử - Lý Chiêu Hoàng

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
393529759-256-k702208.jpg

Thiên Hinh | Cảm Hứng Lịch Sử - Lý Chiêu Hoàng
Tác giả: teaxt_
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Hoàn thành


Giới thiệu truyện:

Tác phẩm: Thiên Hinh

Thể loại: Cảm hứng lịch sử (Triều Trần - Lý Chiêu Hoàng)

Tác giả: Tự Trà

Cả một giang sơn non nước biển trời, dẫu có lung lay thì cũng là gấm vóc, triệu người dòm ngó, vạn kẻ tranh giành, thì làm gì có chuyện thay triều đổi đại không sóng gió, không đau thương?

Chẳng qua chỉ là, tất cả đau thương và sóng gió của cuộc chuyển giao ấy đều đã có một người đứng ra gánh vác cả rồi.

Chiêu Hoàng đế không thể tự tay mang lại thịnh thế, nhưng nàng đã dùng cả cuộc đời mình để đổi về thịnh thế cho Đại Việt.

-

Cảm ơn "Mộng xưa chưa tàn" đã giúp mình có động lực cho dòng cảm nghĩ đơn độc từ gần hai năm trước một câu chuyện.

Và cảm ơn mọi người đã dành thời gian đọc.



trieutran​
 
Thiên Hinh | Cảm Hứng Lịch Sử - Lý Chiêu Hoàng
Dòng sự kiện


Kiến Gia thứ tám, Trùng Dương, con gái thứ hai của vua Kiến Gia được hạ sinh ở kinh thành Thăng Long, lấy tên Lý Phật Kim, tước phong Chiêu Thánh công chúa.

Kiến Gia thứ mười bốn, Công chúa Chiêu Thánh nhận chiếu chỉ sắc lập Thái tử, đổi tên [1], lấy hiệu Chiêu Hoàng lên ngôi, niên hiệu Thiên Chương Hữu Đạo.

Thiên Chương Hữu Đạo thứ nhất, nữ đế họ Lý kết tóc với con trai thứ của Thái uý Phụ chính Trần Thừa, Trần Cảnh.

Thiên Chương Hữu Đạo thứ hai, nữ đế họ Lý thoái vị, nhường ngôi cho chồng, giang sơn Đại Việt đổi triều, hoàng đế họ Trần xưng hai tiếng Thiện Hoàng, niên hiệu Kiến Trung.

Thiên Ứng Chính Bình thứ sáu, Thuận Thiên công chúa được sắc lập hoàng hậu, Chiêu Thánh hoàng hậu bị giáng xuống hàng ngoại mệnh phụ Công chúa, Thiện Hoàng đổi hiệu xưng thành Văn Hoàng [2].

Nguyên Phong thứ tám, Văn Hoàng gả Công chúa Chiêu Thánh cho Ngự sử Trung tướng Bảo Văn Hầu.

Không lâu sau, vua thoái vị, nhường ngôi cho Thái tử Hoảng.

Văn Hoàng lui về Cung Thánh Từ làm Thái Thượng hoàng, tứ Thánh Thọ Thái Thượng hoàng đế.

Bảo Phù thứ năm, cuối xuân, Thái Thượng hoàng qua đời tại Điện Vạn Thọ.

Bảo Phù thứ sáu, cuối xuân, Công chúa Chiêu Thánh qua đời tại phủ Bảo Văn hầu.

Giữa đông, Trừ cung Giáo thụ Thiếu sư Lê Phụ Trần qua đời tại phủ [3].

[1] Sử sách chỉ ghi thông tin Lý Chiêu Hoàng ban đầu có tên là Lý Phật Kim, sau đổi tên huý, không rõ năm thay đổi, mình mạn phép sử dụng.

[2] Sử sách chỉ ghi thông tin "Trần Cảnh lên ngôi vua, tự xưng là Thiện Hoàng, sau đổi thành Văn Hoàng", không rõ năm thay đổi, mình mạn phép sử dụng.

[3] Chính sử không có ghi chép về cuộc đời của Bảo Văn Hầu sau khi Công chúa Chiêu Thánh qua đời, mình mạn phép sử dụng.
 
Thiên Hinh | Cảm Hứng Lịch Sử - Lý Chiêu Hoàng
Thiện Hoàng


Bảo Phù thứ tư, Trung Thu, hoàng cung tổ chức Yến Trung Thu cùng gia quyến và cận thần.

Trừ cung Giáo thụ, công thần suốt hai đời vua, nay còn đang dạy dỗ Thái tử, vốn nên cùng Thượng hoàng và Hoàng đế uống rượu ngắm trăng, chơi cờ đàm đạo, ở lại trong cung đến khuya.

Song, điều "vốn nên" ấy lại không phải lẽ thường, bởi gần hai mươi mùa Trung Thu, chỉ cần không có công vụ trọng yếu, Thiếu sư nếu ở xa sẽ nhanh chóng thúc ngựa về, nếu dự yến thì lấy trà thay rượu, cốt là để kịp về phủ cùng phu nhân đi lễ chùa.

Phu nhân Bảo Văn Hầu từng nương cửa Phật, bao lâu nay lễ tết yến tiệc trong cung đều chỉ có Bảo Văn Hầu một mình tham dự, nếu đại lễ quan trọng, cũng là Công chúa Ứng Thuỵ được ân chuẩn lấy lễ ngoại mệnh phụ thay mẹ tham dự.

Những ngày đầu còn có người bàn tán, sau nhiều lần Thái Thượng hoàng, Hoàng thượng và Thái tử đều không tỏ ý bất mãn, nên cũng chẳng còn ai nói năng gì.

Dẫu sao, nếu không phải là phu nhân của Trừ cung Giáo thụ Thiếu sư Bảo Văn Hầu, có mấy triều thần quan tâm một vị công chúa tiền triều.

Trước khi cáo biệt, Thái tử tự tay gửi cho thầy một phần lộc, cũng chỉ là đôi món ăn dân dã cổ truyền, Bảo Văn Hầu vừa nhận lấy vừa nhắc nhở Thái tử đón Trung Thu cũng không được lơ là luyện võ ôn văn, sau đó bái lễ rồi cáo lui.

Trống canh sang giờ Tuất, xe ngựa phủ hầu đi qua cổng lớn kinh thành, trở về phủ Bảo Văn Hầu.

Ước chừng cũng đã đến nơi, Lê Tần đánh dấu nước cờ đang đánh dở, chuẩn bị cất quân cờ vào hộp thì xe ngựa đột nhiên dừng lại.

Bảo Văn Hầu đỡ phu nhân ngồi vững, tay đã theo thói quen mà đặt lên chuôi kiếm, hỏi vọng ra:

- Chuyện gì thế?

- Dạ... thưa... thưa... thưa Ông...

- Có gì mà lắp ba lắp bắp thế hả?

- Dạ... có... có...

- Thiếu sư oai phong như thế, người hầu cận sao lại nhát gan thế này?

- Từ bên ngoài vọng vào một giọng nói trầm thấp đĩnh đạc quen thuộc - Nhỡ gặp kẻ ác, chẳng phải là phiền phức một phen hay sao?

Kiếm đã đặt xuống, phu nhân cũng bình tĩnh ngồi vững lại rồi, Lê Tần mới vén rèm, vừa bước xuống xe vừa cười nói:

- Thượng hoàng chặn xe hầu phủ chẳng báo một lời, ai lại không sợ phạm thượng.

Trước cửa phủ Bảo Văn Hầu, Thái Thái Thượng hoàng Trần Cảnh mặc thường phục, tay lần tràng hạt lâu nay đã thành thói quen, mà dường như cũng là vừa lễ Phật trở về.

Ngài đã cùng Lê Tần trải qua không đếm xiết vào sinh ra tử, sớm chẳng còn quá câu nệ, nghe vậy cũng cười đáp:

- Thiếu sư có vẻ không sợ lắm.

- Nếu Bệ hạ truy cứu, - Bảo Văn Hầu cố ý giơ tay ra bấm đốt ngón tay mà đếm - e là thần cũng mất được tới cái đầu thứ chín rồi.

- Nếu có truy cứu thật, ta cũng phải trồng được trên cổ Thiếu sư được mười tám cái đầu mới truy hết công tội.

- Thái Thượng hoàng vừa cười nói vừa để thái giám đưa sang một phần lộc chay Trung Thu.

Nhìn vẻ mặt Lê Tần hiện rõ câu hỏi "Bệ hạ chắc không tới tận cửa hầu phủ chỉ để đưa lộc thôi đấy chứ?", ngài cũng không vòng vo, nói thẳng:

- Đây là hối lộ Thiếu sư, nhờ Thiếu sư ghé tai phu nhân, mong hầu phủ Trùng Dương sắp tới làm mâm cơm nhà có thể sắp thêm một bộ bát đũa.

Lê Tần vẫn giữ nguyên biểu cảm, câu hỏi ẩn mà hiện trên mặt không thay đổi, ngay cả tư thế cũng chẳng hề xê xịch nửa ly, cứ như thể sau khi Thái Thượng hoàng bắt đầu đáp lại câu hỏi chưa thành tiếng ấy, thời gian của ông đã đột nhiên ngừng lại.

Đôi lát sau, rèm xe mới được vén lên.

Lúc này, Lê Tần nhận thấy được động tĩnh, cho lui tì nữ, tự tay đỡ phu nhân xuống xe, bước tới trước mặt Trần Cảnh.

Ngài ngăn vị Nhất đẳng Phu nhân định hành lễ, đang chuẩn bị lên tiếng, thì đã nghe nàng đáp lại lời "hối lộ" vừa rồi:

- Đón tiếp Thiện Hoàng là vinh hạnh của hầu phủ.

Thái Thượng hoàng nghe vậy liền bật cười:

- Chiêu Thánh đã quá lời.

Nói xong, ngài không nán lại thêm nữa, chào một tiếng rồi trở lại xe ngựa.

Trần Cảnh về tới Cung Thánh Từ đã sang giữa giờ Hợi, bên cạnh là nội quan suốt cả một đường nói không ngừng không nghỉ, hết lấy lời Ngự y ra khuyên nhủ lại cầu xin rằng Quan gia lỡ mà biết sẽ trách phạt kẻ hầu, thảm thiết đến mức nếu dân chúng không rõ sự tình nghe được thì e rằng sẽ sớm truyền ra thành hoàng thất ngược đãi người hầu kẻ hạ.

Mà tất cả những ngôn từ ấy, chỉ bởi vì người nhận được cả hành lễ của hoàng đế này, vốn đang ngồi yên vị trong xe ngựa, lại đột nhiên muốn xuống xe tản bộ về giữa tiết trời thu.

Thái Thượng hoàng nghe cả một đường, vào đến tận trong giường vẫn còn nghe, sắp nhức hết cả tai thì mới lấy lại được yên tĩnh khi nến đèn được thổi tắt.

Trước khi chìm vào giấc ngủ, ngài chợt nghĩ, nếu không phải trong lòng đang bận tâm hai tiếng đó thì ba đứa vừa nói nhiều nhất chắc chắn sẽ bị ngài đạp cho mỗi đứa ba cái rồi.

Hai tiếng đó...

Thiện Hoàng.

Trần Cảnh khe khẽ thì thầm trong thời khắc cuối cùng trước khi yên ắng say ngủ.

Thiện Hoàng, tự xưng, cũng là tự nhắc nhở, dẫu là hoàng đế thì trong tâm vẫn phải khắc ghi chữ "thiện".

Thiện Hoàng, lại đổi thành Văn Hoàng, bởi rằng, buông bỏ người vợ kết tóc, đoạt lấy chị dâu làm thê, lại gả vợ cũ cho cận thần, có điều nào không chối bỏ địa chi phán xét phải trái, có điều nào không hai lời đổi trắng thay đen.

Tề gia trị quốc bình thiên hạ, nhưng ngày Chiêu Thánh mang lại tước vị thuở ban đầu, Trần Cảnh đã không còn "gia" nữa, chỉ còn một hậu cung, một hoàng hậu cũng mang họ Lý, không ở cạnh bên để cho ngài một gia đình, mà ở sau lưng để cho giang sơn và hậu duệ họ Trần một sự danh chính ngôn thuận.

Trần Cảnh gánh được cả giang sơn đang nghiêng ngả, nhưng lại không gánh nổi một chữ "Thiện" trong lòng.

Thế nhân có thể lượng thứ, lương tâm ngài lại không thể dung tha.

Yên Tử ngày đó, Trần Cảnh muốn vẹn lòng nghĩa tình, nhưng phía trước có Thái sư kéo, phía sau có Chiêu Thánh đẩy.

Cuối cùng, Thuận Thiên công chúa trở thành Thuận Thiên hoàng hậu, Chiêu Thánh hoàng hậu trở thành Chiêu Thánh công chúa.

Và Thiện Hoàng trở thành Văn Hoàng.

Đại Việt không có lệ đón Trùng Dương, vậy nên như mọi ngày, Thái Thượng hoàng cùng Hoàng thượng và Thái tử Khâm xử lý xong quốc vụ đã đến giờ cơm chiều.

Vua vốn định gọi ngự thiện, song chưa kịp lên tiếng đã thấy cha đứng dậy.

Trần Cảnh cũng không nói gì nhiều, chỉ bảo rằng hôm nay không ăn cùng con cháu, sau đó thay thường phục và bước lên xe ngựa mà nội quan đã chuẩn bị sẵn.

Xe ngựa từ hoàng cung tới phủ Bảo Văn Hầu chẳng mất bao lâu, vậy nhưng bữa cơm nhà cũng đã bắt đầu được gần hai khắc.

Bảo Văn Hầu và Công chúa Chiêu Thánh tuổi đã cao, nếu không có việc gì trọng yếu thì ăn ngủ đều rất đúng giờ, Thượng Vị Hầu và Công chúa Ứng Thụy về nhà ăn cơm muộn còn phải chờ cha mẹ ăn xong mới được sắp mâm mới.

Nhưng quân thần dẫu thân cận muôn phần thì vẫn là quân thần, Bảo Văn Hầu có thể không câu nệ, Công chúa Chiêu Thánh có thể không phản ứng, còn cả phủ Bảo Văn Hầu thì chẳng ai dám không bày bát sắp ghế đón vị còn cao hơn cả hoàng đế này.

Thân thích họ Lý sớm đã chẳng còn, mâm cơm nhà lâu nay chỉ có Lê Tần, con trai con gái, con dâu con rể, hiếm khi được sắp thêm một chiếc đôn.

Trần Cảnh từ chối vị trí chủ vị, song Thái Thượng hoàng ở đây, vị trí đó nếu ngài không ngồi thì chẳng ai dám ngồi.

May thay, phủ Bảo Văn Hầu mỗi bữa cơm nhà đều ít người, cho nên một chiếc bàn tròn không phân rõ chủ khách chính phụ, thêm một chiếc đôn, thêm một bộ bát đũa, cha của hoàng đế ngồi đó cũng chỉ như một người bạn cũ lâu năm ghé nhà.

Nếu có gì khác chăng, ngoài gọi quân xưng thần, thì chỉ có một khoảng nhỏ nơi vị trí dành cho chủ nhà bị khuyết, vô tình lại như cố ý tôn lên tấm biểu lụa ngang dưới bức hoành phi.

Tờ giấy trắng chép Kinh Địa Tạng và bức hoạ vẽ thiếu nữ cài đoá Phật Âm bên hồ cùng bồi chung biểu lụa vàng vân hoa, con dấu Bảo Văn Hầu đỏ tươi, một nửa nằm trên giấy dó lụa, một nửa nằm trên giấy mật hương, ở góc bức tranh là một dòng lạc khoản.

Lễ Trùng Dương, Bảo Phù thứ sáu, Vũ Hoà [4] kính thương mừng sinh nhật phu nhân Phật Kim lục thập hoa giáp.

Phật Kim.

Trần Cảnh vẫn nhớ rất lâu khi trước ngài từng hỏi, Lý triều vốn trọng Phật giáo, hoàng bào lại thêu kim long, cớ sao năm đó vua Kiến Gia lại đổi tên huý của Công chúa khi sắc lập Thái tử.

Giờ đây, đã ngồi qua ngôi cửu ngũ, có cả hoàng tử và công chúa, ngài bỗng thấy có lẽ mình đã hiểu lòng vị tiên đế tiền triều ấy phần nào.

Đổi tên huý, chia ra hai phần đời.

Nếu quốc vong, vậy thì vẫn còn một cái tên trong sạch trên gia phả, vẫn còn một phần đời được hạnh phúc như thuở ban sơ.

Lê Tần, thật may, đã không để ước nguyện của người cha dành cho cái tên Phật Kim ấy trôi vào dĩ vãng.

Nghĩ đến cái tên mà trước giờ ngài chưa từng gọi, cũng chưa từng viết đó, Thái Thượng hoàng bất chợt mỉm cười, cất tờ thiếp chúc chẳng đề tên người gửi người nhận vào hộc tủ mỗi năm chỉ mở có một lần, ánh mắt ngừng lại trên tấm gỗ dựng đứng.

Ngang, sổ, phẩy, mác, ngang móc, cong móc, ngang.

Ngang, ngang, phẩy, mác.

Ngang, sổ, ngang, ngang gập, sổ, ngang, phẩy, phẩy, ngang gập cong móc, ngang phẩy, mác, phẩy, ngang, sổ, phẩy, mác, sổ, ngang gập móc, ngang, ngang [5].

Con gái Lý thị, tiếng thơm lưu truyền hậu thế, vang xa tới ngàn mây cao.

Chiêu Thánh trao nó cho Trần Cảnh, đổi lấy một buổi giao thời bình yên, không máu, không loạn.

Ngài nhìn tấm bài vị sơ sài cũ kỹ, những nét xước khắc bằng đầu trâm trên lát gỗ mỏng, góc bên dưới còn đề hai hàng chữ gần như chìm vào màu gỗ nâu, chẳng rõ là máu hay mực.

Yên Tử, mồng mười tháng bốn, Thiên Ứng Chính Bình thứ sáu.

Chiêu Thánh lập bia.

[4] Không tìm hiểu được thông tin về tên chữ của Bảo Văn Hầu, ở đây mình mạn phép tự đặt.

[5] Cách viết chữ Lý (李), Thiên (天 - Trời) và Hinh (馨 - Hương thơm bay xa, tiếng tốt lưu truyền), dưới sự giúp đỡ của ứng dụng Lantern Dict và các thông tin về nét trong tiếng Trung.
 
Thiên Hinh | Cảm Hứng Lịch Sử - Lý Chiêu Hoàng
Chiêu Thánh


Thiên Ứng Chính Bình thứ sáu, Hoàng hậu Chiêu Thánh giáng làm công chúa.

Suốt thời gian dài tĩnh tu ở Chùa Linh Tiên, công chúa Lý thị ngày ngày chép kinh, chép xong lại hoá, lửa liếm lên giấy, đốt vụn lạc khoản lúc nào cũng chỉ vỏn vẹn hai chữ Chiêu Thánh.

Chiêu Thánh.

Nàng đã từng ghét hai chữ đấy biết bao.

Mẫu hậu nàng gọi chị Thuận Thiên là Ngọc Oanh, nhưng gọi nàng luôn bằng hai tiếng Chiêu Thánh, dù là khi công chúa, thái tử, nữ đế hay hoàng hậu.

Cho nên, không rõ có phải là tuổi nhỏ bướng bỉnh hay không, người thân từ phụ hoàng đến chị gái, sau này là phu quân, Chiêu Thánh không cho ai gọi mình bằng tên hiệu, phải gọi tên huý.

Vậy mà sau chuyện phế lập hoàng hậu, Hoàng hậu Thuận Thiên nhân ngày Phật Đản, lấy cớ lễ Phật tới Chùa Linh Tiên thăm em gái, tên huý mới ra khỏi miệng một âm, Chiêu Thánh đã sửa:

- Trong "Thuận Thiên" mới có chữ Thiên, trong "Chiêu Thánh" thì không có.

Ngọc Oanh ngỡ rằng em gái hãy còn giận dỗi, như có lần năm xưa nàng nghe lời mẫu hậu quở trách mà gọi em là Chiêu Thánh, là Thái tử.

Song, cùng tước vị Công chúa Chiêu Thánh, nhưng nào có còn là đứa trẻ, dỗ ngọt ít bánh ít kẹo ít lời vừa tai là được.

Khi về đến cung, Ngọc Oanh đã kể lại chuyện này, Hoàng thượng chỉ nói:

- Chẳng phải trẫm đã nhắc vài lần rồi hay sao?

Từ khi bỏ lên Yên Tử quay về, Trần Cảnh luôn gọi Công chúa Chiêu Thánh bằng tôn hiệu, kể cả những lúc riêng tư, Hoàng hậu Thuận Thiên quen miệng gọi tên em gái cũng sẽ bị nhắc.

Gọi phong hiệu vốn chẳng phải điều gì lạ thường, nhưng Ngọc Oanh không thể không thắc mắc, kể cả khi trước, những lúc người nhà hàn huyên, Trần Cảnh vẫn thường gọi anh trai và chị dâu bằng tên, vậy mà bây giờ cớ sao lại xa lạ với người từng cùng lớn lên cũng từng chung chăn gối như thế?

Bảo Phù thứ năm, Trùng Dương, phủ Bảo Văn Hầu chăng đèn kết hoa, mừng Công chúa Chiêu Thánh lục thập hoa giáp.

Nửa năm sau, Đại Việt quốc tang.

Mùng bốn tháng mười cùng năm, triều đình làm lễ mai táng tại Chiêu Lăng, dâng miếu hiệu Thái Tông.

Suốt khoảng thời gian đó, Chiêu Thánh vẫn như cũ, hiếm khi rời khỏi phủ, trước sống ra sao, nay sống như vậy.

Không dự tang, cũng không để tang, có chăng chỉ là mỗi ngày lễ Phật thêm mấy nén nhang, chép kinh thêm mấy tờ giấy.

Như lúc này đây, nàng ngồi bên cửa sổ, đoạn kinh đã đến hồi kết, tay vẫn vững vàng, chữ vẫn đĩnh đạc.

Một cuốn kinh có thể thong thả viết xong trong đôi tháng, nàng viết mất nửa năm.

Đến trước ngày tiếng chuông Chiêu Lăng vang vọng, lạc khoản mới đề.

Hôm đó trời bắt đầu trở lạnh, Lê Tần bận việc chuẩn bị lễ mai táng nên vắng nhà từ sớm, sáng chỉ kịp mang mấy chậu than sưởi tới rồi vội vàng chạy đi, Chiêu Thánh chép kinh xong thì đặt bút xuống, nhìn qua lớp giấy dầu mỏng, loáng thoáng thấy bên ngoài âm u lất phất mưa, chậm rãi niệm một đoạn kinh Phật.

Niệm xong, nàng cầm xấp kinh văn xếp ngay ngắn trên bàn, mang tới bên chậu than bạc, thả chúng xuống.

"Lâu rồi mới gặp, vậy mà lại chẳng thể uống với Chiêu Thánh một chén, đành xin khất tới lần sau vậy."

"Thiện Hoàng thân thể quý giá, xin chớ câu nệ."

"Ta sẽ bày một bàn rượu ở bờ sông Thạch Hà, một chén chúc hôn sự, một chén mừng hoa giáp, người sẽ đến chứ..."

Lửa bùng lên, lập tức liếm lên vải lụa và giấy dó, thiêu rụi dòng lạc khoản vỏn vẹn hai chữ người đời đã lâu không thấy xếp chung.

Chiêu Thánh ngồi lại bên bàn, rót một tách trà, nhìn ra bên ngoài, nói một câu:

- Nếu ngài có thể chờ, Trần Cảnh.
 
Thiên Hinh | Cảm Hứng Lịch Sử - Lý Chiêu Hoàng
Trần Cảnh


Trần Cảnh đi không thay tên, ngồi không đổi họ, trước nay chỉ có một tên huý.

Song, dẫu chưa từng thay đổi, ngài cũng lâu rồi chẳng còn nghe ai gọi tên mình.

Hoàng đế mà, đến viết còn kỵ huý, ai lại dám nói thành tiếng.

Ấy vậy nên, khi Chúa thạch Hà gọi hai tiếng "Trần Cảnh", ngài suýt chút nữa đã không phản ứng lại.

- Trần Cảnh, ta nghe nói ngài muốn bày một bàn rượu ở đây?

Bảo Phù thứ sáu, Xuân phân, Phu nhân Bảo Văn Hầu, Công chúa Chiêu Thánh qua đời.

Bốn mươi chín ngày sau, Chúa Thạch Hà đứng bên cửa sông đón hương linh Chiêu Thánh.

Quan Vô thường ghixong bát tự sinh và bát tự tử vào sổ linh hồn liền cáo lui, Chúa lại vẫn đứng đó, hỏi:

- Bước qua cửa sông rồi thì không được rời khỏi Âm gian nữa, nàng có còn gì muốn làm không?

Chiêu Thánh chẳng ngờ lại được hỏi như vậy, buột miệng:

- Chẳng phải bốn mươi chín ngày...?

- Những người từng gánh giang sơn trên vai, vậy thì nên nhìn hết giang sơn thêm lần cuối chứ?

- Chúa Thạch Hà mỉm cười - Dẫu ngồi nơi đó chỉ đôi năm, nhưng giang sơn gấm vóc nhường này, cũng đổi mất cả đời nàng rồi.

Chiêu Thánh trầm ngâm một lát, sau đó chắp tay:

- Theo ý Chúa Thạch Hà.

Bảo Phù thứ sáu, Trùng Dương, Chiêu Thánh quay lại Thăng long.

Bảo Văn Hầu vẫn bận rộn công vụ cả một ngày, Chiêu Thánh chờ trong phủ đến nửa đêm mới thấy người về.

Bấy giờ đã sắp sang canh ba, Lê Tần vừa xuống kiệu thì sải bước đi ngay vào tẩm phòng, ngồi xuống bên bàn, mài mực, lần thứ hai mươi trong cả cuộc đời, vẽ một bức tranh, đề hai lạc khoản:

Kính thương mừng sinh nhật phu nhân Phật Kim.

Vũ Hoà đang chỉnh lý hành trang, mong phu nhân chớ vội đi trước.

Ngày mùng bốn tháng mười, Trừ cung Giáo thụ Thiếu sư Lê Phụ Trần cùng Thái tử, các Thân vương và Hoàng tử đứng ngay sau Hoàng thượng, lần cuối bái lạy trước khi Thánh Thọ Thái Thượng hoàng đế được mai táng.

Ngày hai mươi hai tháng mười, Hoàng thượng nhường ngôi cho Thái tử Khâm, lui về Cung Thánh Từ làm Thái Thượng hoàng.

Ngày hai mươi ba tháng mười, Sương giáng, phủ Bảo Văn Hầu phát tang.

Chúa Thạch Hà nói cho Chiêu Thánh, Lê Tần trước khi qua đời đã xin trừ bỏ bốn mươi chín ngày hưởng nhang khói thăm viếng, cho nên Quan Vô thường đã gọi hồn ông về cửa sông luôn.

- Nàng có mong muốn gì cho sau này không?

- Chúa Thạch Hà chợt hỏi - Sau khi bước qua cửa sông Thạch Hà, sau khi bước vào Giếng Siêu Sinh?

- Đã bước vào Siêu Sinh mà còn có "sau này"?

- Với một số người thì còn.

Nàng hy sinh duyên phận vận mệnh vì thời thế, thời thế cũng không thể tiếc nàng thêm một kiếp người.

Mối duyên nàng nuối tiếc, Địa Phủ chỉ có thể mai táng, nhưng Thiên Phủ sẽ giúp nàng nối lại.

- Vậy thì đợi về tới sông Thạch Hà, tôi sẽ hỏi Vũ Hoà thử xem.

Chúa Thạch Hà không hiểu lắm.

Sao tự nhiên lại nhắc đến Bảo Văn Hầu?

Dường như Chiêu Thánh phần nào hiểu suy nghĩ của Chúa, bèn nói:

- Tôi đã là phu nhân của Bảo Văn Hầu rồi, sau này nếu có duyên nợ, cũng chỉ còn duyên nợ với Bảo Văn Hầu.

Chiêu Thánh là phận đàn bà, chính vì "phận đàn bà" mà năm đó nàng không có bất cứ vũ khí nào để giữ lại hoàng vị.

Song, Chiêu Hoàng đế tại vị hai năm, dẫu chỉ là tâm trí trẻ con, cũng có những điều buộc phải biết, phải học.

Chẳng hạn như,

Duyên đã cắt, có thể đau, có thể buồn, nhưng không thể tiếc.

Trước khi quay lại Âm gian Địa Phủ, Chiêu Thánh ngỏ ý muốn về quê cha đất tổ lần cuối, bái lạy anh linh tiền nhân.

Chúa Thạch Hà cũng như mọi lần, chẳng hề từ chối, song người lại vừa đi vừa phân vân có nên nói với nàng rằng, nếu muốn bái lạy tổ tiên, chẳng bằng đợi về đến sông Thạch Hà, nhờ một chuyến đò ghé Thiên Phủ đôi lát.

Dù không gặp được tất cả, cũng hơn vài bức tượng vô hồn hay mấy tấm bài vị vô tri.

Đương lúc Chúa Thạch Hà định mở lời, bước chân đã dừng lại bên thềm chính điện.

Đền Cổ Pháp hơn hai trăm năm tuổi nguy nga ấy, ban thờ trong điện có tám bức tượng, tấm hoành phi trên cửa ghi năm chữ vàng:

Điện thờ Lý Bát Đế.

Chẳng cần đến con mắt của thần thánh, Chúa Thạch Hà cũng nhìn ra được tám bức tượng trong điện thờ đều là nam đế, còn hương linh vị nữ đế nhỏ nhắn như vóc dáng khi trước đang quỳ trên bồ đoàn, trân trọng mà bái từng lạy, từng lạy.

Chúa Thạch Hà đột nhiên thấy cõi lòng tĩnh lặng không biết đã bao lâu ấy vậy mà chợt dậy lên đôi chút thương xót.

Vậy nên, khi Chiêu Thánh vừa bước ra khỏi chính điện, Chúa liền hỏi:

- Nếu ta xin được cho nàng một lần thay đổi số mệnh của nàng và duyên nợ với Thánh Thọ thì nàng có thay đổi không?

- Không.

Câu trả lời ngay lập tức, giọng điệu bình tĩnh nhưng dứt khoát, khiến Quan Vô thường nghi hoặc hỏi lại:

- Không làm gì?

- Lúc vừa nương cửa chùa, tôi cũng nghĩ rất nhiều.

- Chiêu Thánh thành thật nói - Nhưng bấy giờ, vua là đương kim hoàng đế họ Trần, hậu là hoàng đế tiền triều họ Lý, giang sơn mới đổi họ chẳng bao lâu, lê dân còn chưa rõ mình họ gì, vậy thì nếu tôi sinh ra Thái tử, vậy trữ quân rốt cuộc là của họ Trần, hay họ Lý?

Chúa Thạch Hà nhanh chóng hiểu ý.

Điều họ Trần bận lòng, không chỉ là một Thái tử mang cả huyết mạch họ Lý và họ Trần, mà cả vị Thái tử đó và những hoàng tử đầu tiên của họ Trần đều không thể gọi hoàng đế tiền triều là "mẫu hậu".

Thay triều đổi đại, nói là bình yên, nhưng chưa qua bao năm, nào biết có ai muốn nhân danh họ Lý hay không.

Hiểu là vậy, nhưng Chúa vẫn hỏi:

- Trước đó thì sao?

- Chúa muốn hỏi "trước" đến mức nào?

- Chiêu Thánh mỉm cười, đôi mắt nhìn về hướng Thăng Long, chất giọng rất đỗi bình đạm - Trước khi tôi truyền ngôi sao?

Nhưng kể cả nếu như năm đó nữ đế họ Lý có thể chống lại tất cả họ Trần để giữ vững hoàng vị, thì một vị vua sáu bảy tuổi phía trước đối mặt với quyền thần, sau lưng gánh vác giang sơn nghiêng ngả, làm sao giữ được bờ cõi trước miệng ác long?

- Hay trước khi tôi trở thành Thái tử?

Nhưng nếu như năm đó Công chúa Chiêu Thánh không trở thành Thái tử, không lên ngôi, thì Trần Cảnh sẽ được đưa đến bên nàng hay sao?

- Hay trước khi chị Thuận Thiên được gả đi?

Nhưng nếu như năm đó Trưởng Công chúa Thuận Thiên không được gả cho trưởng nam Trần Liễu, thì nhà họ Trần có án binh bất động lâu như thế, thậm chí là... có để hai nàng công chúa của vua Lý khoẻ mạnh bình an mà lớn lên?

- Hay trước khi giang sơn Đại Việt bị kéo ngả đẩy nghiêng, để nhà họ Trần đừng lớn mạnh đến thế?

Nhưng nếu như năm đó giang sơn Đại Việt không đổ ngả đổ nghiêng, nếu vua Kiến Gia không cần phải e dè một nhà họ Trần công cao chấn thủ, thì liệu Công chúa Chiêu Thánh có còn ở trong bờ cõi nước Nam sau tuổi cập kê, liệu có đến lượt một thứ nam được theo hầu?

- Hay là, trước cả khi Thái Tổ lập quốc?

Chúa Thạch Hà thoáng ngẩn người đôi lát.

- Chúa à, thay đổi sử sách không phải chỉ là vài con chữ của Quan Ngự Sử, không phải chỉ là vài sự kiện vì một ý niệm nhỏ bé của bản thân.

Chúa sống vạn năm, chẳng cần bận lòng vài thoáng nhân gian, nhưng với chúng tôi, đó là hàng đời phải lay chuyển, không chỉ đổi bằng mạng của mình, mà còn là biết bao máu xương của lê dân.

Vị thánh dựng Địa Phủ, lập Âm gian, dĩ nhiên sẽ dễ dàng nhìn lại cả cuộc đời Chiêu Thánh, mà Chúa Thạch Hà đi cùng nàng ngắm nghía non sông một thời gian, cũng phần nào cũng hiểu tính cách của nàng.

Thời gian và hương khói cửa Phật đã mài nhẵn những góc cạnh tính tình của vị nữ đế năm xưa, nàng của nửa đời sau ấy, ôn hoà, bình đạm, an yên, không bận lòng thế thái.

Một vị mệnh phụ phu nhân hoàn mỹ, một nàng công chúa hoàn mỹ, một vị hoàng đế tiền triều quá mềm yếu để là một hoàng đế.

Thế nhưng, nghe những lời này, Chúa Thạch Hà chợt có suy nghĩ khác.

Một Công chúa Chiêu Thánh có thể nghĩ sự vụ của mình trong thế sự ngay cả khi cõi lòng đã quy y, thì nếu hoàng triều họ Lý năm đó không suy tàn đến vậy, nàng thực sự có thể là một hoàng đế có tài, có tâm, có đức.

- Cuộc đời của tôi truân chuyên, tôi cũng buồn, cũng căm, nhưng tôi không hối hận.

Dẫu sao, giang sơn tổ tiên từng bảo vệ cũng không vì sự ích kỷ của tôi và chút hơi tàn của họ Lý mà rơi vào miệng ác long.

Công chúa Chiêu Thánh là con cháu nhà họ Lý, nàng không thể không mang oán kẻ đã đoạt giang sơn khỏi tay họ Lý, khiến nàng trở thành kẻ tội đồ trước anh linh tám đời hoàng đế.

Nữ đế Chiêu Hoàng là hoàng đế của Đại Việt, nàng không thể không mang ơn kẻ đã chèo chống lại con thuyền giang sơn nghiêng ngả, để rồi nó đủ vững chắc trước những đợt giông tố tối trời, ác long gầm rú.

Thiệu Bảo thứ nhất, mùa đông, hoặc ít nhất thì trong sử sách sẽ lưu một dòng ngày tháng như thế, Trần Cảnh chờ được Chúa Thạch Hà dẫn Chiêu Thánh tới.

Nàng mặc triều phục của bậc ngoại mệnh phụ nhất phẩm, trên vai khoác chiếc bạch bào thêu kim long đã rất lâu rồi không ai thấy, và nửa bước phía sau là mối duyên hạ giá vốn là ép buộc lại thêu hạnh phúc cả nửa đời sau lên tấm áo bào đã từng nương cửa Phật.

- Dường như ngài không bất ngờ.

- Quan Vô thường hỏi - Chẳng phải ngài chỉ hẹn một người thôi sao?

Trần Cảnh cười, rót ba chén rượu:

- Rượu chúc trăm năm hạnh phúc, đương nhiên phải kính cả đôi.

Rượu mừng lục thập hoa giáp, đương nhiên có người kết tóc ở bên mới càng ý nghĩa.

Trước khi gả Công chúa Chiêu Thánh cho Bảo Văn hầu, Trần Cảnh đã từng nhân vài lúc tự do, né tránh quan nội hầu và thị nữ, hỏi Chiêu Thánh rằng nàng có căm hận ngài và nhà họ Trần không.

Hai mươi năm, hai mươi lần, không có lần nào câu trả lời không phải "Có, ta hận các ngài."

Thế nhưng, đã chừng đó năm rồi.

Người tin theo Phật, người nương cửa chùa, trong lòng dẫu từng nhiệt huyết sôi trào, hoài bão lấp bể dời non, thì qua năm tháng kính đức từ bi, đều đã tĩnh lặng.

Giống như...

- Người đến rồi,

Ái ân, dù bén thì cũng đã tàn.

Người sẽ đến chứ,

Tình thân, dù có thì cũng đã tan.

- Chiêu Hoàng.

Thù hận, dù mang thì cũng đã nhạt.

Chiêu Hoàng?
 
Thiên Hinh | Cảm Hứng Lịch Sử - Lý Chiêu Hoàng
Chiêu Hoàng


Rượu quá tam tuần, đến lúc bái biệt.

Chiêu Thánh cùng Bảo Văn hầu bước vào Giếng Siêu Sinh, bóng lưng người con gái kia khoác bạch bào dường như ngược dòng về hơn năm mươi năm, nhỏ bé, mong manh, nhưng thẳng tắp.

Trần Cảnh vô thức chắp tay, sau đó hơi sững lại, cuối cùng vẫn tiếp tục, khẽ cúi người bái chào:

- Thứ nam họ Trần xin bái biệt Chiêu Hoàng đế tại đây.

Chiêu Thánh.

Chiêu Hoàng.

Rồi lại Chiêu Thánh.

Không ai còn dám gọi nàng là "Chiêu Hoàng", không ai còn được gọi nàng là "Chiêu Hoàng".

Từ năm Kiến Trung thứ nhất, Đại Việt chỉ có Thiện Hoàng, không có Chiêu Hoàng.

Nhưng không ai cấm được Trần Cảnh.

Tất cả mọi người có thể lãng quên một vị nữ đế nhỏ bé thua cuộc trong ván cờ thời thế, nhưng Trần Cảnh không cho phép mình được quên.

Nàng là hoàng đế, cho nên ngài mới là hoàng đế.

Nàng là hoàng đế, cho nên Đại Việt mới chuyển giao yên bình, không loạn lạc, không sóng gió.

Nhưng liệu thế nhân sau này có nghĩ đến hay chăng, rằng cả một giang sơn non nước biển trời, dẫu có lung lay thì cũng là gấm vóc, triệu người dòm ngó, vạn kẻ tranh giành, thì làm gì có chuyện thay triều đổi đại không sóng gió, không đau thương?

Chẳng qua chỉ là, tất cả đau thương và sóng gió của cuộc chuyển giao ấy đều đã có một người đứng ra gánh vác cả rồi.

Chiêu Hoàng đế không thể tự tay mang lại thịnh thế, nhưng nàng đã dùng cả cuộc đời mình để đổi về thịnh thế cho Đại Việt.

Trần Cảnh không thể đền bù bất cứ điều gì cho người từng là quân, từng là thê, cũng từng là thần ấy, ngài chỉ có thể nhớ kỹ cả cuộc đời rằng, con gái thứ hai của vua Kiến Gia, Thái tử cuối cùng của hoàng triều họ Lý, cũng từng là hoàng đế.

Tiếng thơm lưu truyền hậu thế, vang xa tới ngàn mây cao, chiếu sáng vạn ngày xanh biếc, đạo trời soi tỏ lòng lành, sử sách ghi danh thiên cổ.

Niên hiệu Thiên Chương Hữu Đạo.

Lý Chiêu Hoàng.

- Hết -
 
Back
Top Bottom