Cập nhật mới

Khác Thập Nhị Sứ Quân Loạn Ký

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
311247092-256-k123013.jpg

Thập Nhị Sứ Quân Loạn Ký
Tác giả: PhcLiTrn6
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Chuyện kể về thời Ngô, thiên hạ trở nên hỗn loạn không lâu kể từ khi Ngô Quyền dẹp phản tặc Kiều Công Tiễn, đánh tan đại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng rồi lên ngôi vương, định đất khai mở nền độc lập tự chủ sau hơn một ngàn năm Bắc thuộc.

Năm Giáp Thìn [944], Ngô Quyền qua đời, để lại triều chính và ngai vàng cho con cả Ngô Xương Ngập nhưng lại bị bộ tướng dưới quyền Dương Tam Kha cướp mất.

Sau đó xảy ra hàng loạt bất mãn với triều đình mà các bộ tướng cũ nhà Ngô, các hào trưởng, thủ lĩnh địa phương nổi dậy chiếm cứ đất đai, xây thành rèn binh luyện kiếm ngày đêm, chờ ngày đại loạn thiên hạ.

Thiên hạ rơi vào cảnh loạn ly, giặc dã nổi lên, kẻ mạnh cát cứ xưng là Sứ quân, cùng với triều đình Cổ Loa tranh hùng xưng bá.

Thảo xem thiên hạ này sẽ thuộc về tay ai?

Mời các bạn cùng đón đọc!



lichsu​
 
Thập Nhị Sứ Quân Loạn Ký
Ngô Vương mất, Tĩnh Hải quân dậy sóng loạn ly


Chuyện kể về thời Ngô, thiên hạ trở nên hỗn loạn không lâu kể từ khi Ngô Quyền dẹp phản loạn Kiều Công Tiễn, đánh tan đại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng.

Ngô Quyền lên ngôi vương, định đất khai mở nền độc lập tự chủ sau hơn một ngàn năm Bắc thuộc khốn cùng.

Tháng Chạp năm Giáp Thìn [944], Ngô Vương qua đời để lại di chúc định rằng ngôi báu sẽ truyền cho con cả Ngô Xương Ngập, giao bộ tướng Dương Tam Kha theo phò tá.

Nhân cơ hội đó Dương Tam Kha làm trái di chúc, ngoài mặt trung trinh phò trợ nhà Ngô, nhưng hắn lại xét thấy Xương Ngập hèn kém, bèn tôn lập Ngô Xương Văn làm thừa tự, nhận làm con nuôi.

Y cướp ngôi của cháu mình một cách trắng trợn, tự lập mình làm vua, rồi xưng là Dương Bình Vương liền chiếu cáo khắp thiên hạ hòng dọa nạt, kêu gọi chúng quân các châu quy thuận triều đình mới.

Lại còn khép tội phản loạn cho Ngô Xương Ngập, liên tục tróc nã bắt giết.

Ngập biết thế nguy, chạy trốn nhiều phen sau cùng chạy về Nam Sách nương nhờ Phạm Lệnh Công, một bộ tướng cũ của Ngô Vương.

Chúng quân khắp nơi đều bất bình trước hành động bất trung bất nghĩa, trái thiên nghịch địa của Dương Tam Kha nhưng đều phải ngậm tức mà nhịn.

Ngoài mặt là quy thuận vì tự biết sức lực không bằng, tính chính danh ngôn thuận cũng không đọ lại cái danh "triều đình".

Nhưng bên trong lại không ngừng rục rịch mộ binh, tích trữ lương thảo, rèn đúc khí giới, đắp thành dựng lũy ráo riết.

Vì lẽ đó mà khắp nơi nổi lên nạn tham nhũng, quan lại các địa phương thi nhau đục khoét, hành hạ trăm dân, nhà nhà sống trong cảnh nghèo đói khổ cực, giặc cướp theo thời mà nổi lên như cỏ.

Lại nói đến triều đình Cổ Loa không dốc sức vì dân chúng mà lại vô cùng dốc sức vì túi riêng của mình, triều chính nát bét.

Tình cảnh thê thảm vô cùng!

Lúc bấy giờ, ở phương Bắc đang có chiến loạn thập quốc kéo dài mấy mươi năm qua vẫn chưa kết thúc.

Thập quốc mãi mê chiến sự, tiêu diệt lẫn nhau nào có thiết tha, ngó ngàng gì đến Tĩnh Hải quân ở phương Nam này.

Bởi đó cũng là cái thời cơ để Tĩnh Hải quân xảy ra chuyện, nội bộ chia năm xẻ bảy, hào trưởng khắp nơi nổi dậy nắm quyền.

Ai nấy cũng đều bất mãn với triều đình mới, hiểu rõ tình hình nên vội vã dốc sức chuẩn bị binh mã, dựng thành đắp lũy, tổ chức quân đội kỹ lưỡng chỉ chờ ngày đón quân triều đình "ghé thăm".

Nổi bật là Ngô Nhật Khánh, giận chuyện cướp ngôi của Dương Tam Kha mà kéo quân về Đường Lâm cát cứ chiếm giữ, tỏ rõ thái độ chống đối triều đình.

Cùng với đó là Nguyễn Khoan, cũng dứt áo về thôn Nguyễn Gia Loan, chiếm giữ một vùng Tam Đái rộng lớn, màu mỡ.

Nguyễn Khoan đặt cứ địa ở gò Biện Sơn, đóng đồn ở gò Đồng Đậu, chiêu mộ và huấn luyện dân binh, xây dựng lực lượng quân sự vô cùng khí thế.

Ở Tây Bắc, ngay ngã ba sông Bạch Hạc lại giáp với Phong Châu đương do Thứ sử Kiều Công Hãn nắm quyền.

Trong khi đó phía Nam có Đằng Châu do Phạm Bạch Hổ chiếm giữ.

Dưới Đông Nam Đằng Châu là Bố Hải Khẩu do Trần Lãm đóng quân.

Cái thế loạn dần dần hiện rõ, Dương Bình Vương cũng không dám vội động binh tiến đánh.

Thế là suốt 6 năm từ Giáp Thìn [944] đến Canh Tuất [950] triều đình Cổ Loa án binh, chấn chỉnh nội bộ.

Dương Bình Vương ngoài việc nhiều lần sai quân xuống Nam tìm bắt Ngô Xương Ngập nhưng đều thất bại, thì chỉ còn biết ra sức chuẩn bị cho chiến tranh, không còn thiết tha đến chăm lo đời sống của người dân bá tánh, đẩy họ đến cảnh khốn cùng phải rời bỏ kinh đô, hoặc trở thành trộm cướp hoặc đầu quân cho các hào trưởng, sứ quân khắp nơi.

Các sứ quân cũng tranh thủ thời gian đó mà làm giàu mạnh lực lượng, có người phô trương thanh thế, có kẻ lẳng lặng mà bàn mưu ủ sự hòng chờ thời.

Năm Canh Tuất [950], triều đình Cổ Loa nóng lòng, không còn đủ kiên nhẫn nữa khi nhận thấy ở Tây Bắc quân của Nguyễn Khoan ngày một lớn mạnh, lương thảo dồi dào nhờ vùng đất Tam Đái màu mỡ, đông dân.

Chếch xuống phía Nam Tam Đái, hữu ngạn sông Bạch Hạc là địa bàn của Ngô Nhật Khánh cũng mạnh lên không kém với lực lượng thủy quân hùng hậu.

Dương Bình Vương tức tối suốt ngày chỉ muốn tiêu diệt sớm hai sứ quân này.

Cuối cùng, phải mở nghị sự, lệnh cho Ngô Xương Văn dẫn binh tiến đánh Đường Lâm và Nguyễn Gia Loan, hòng thị uy các sứ quân, các hào trưởng khác đang có ý chống đối và làm loạn.

Đó cũng là việc mở trận cho màn mưa máu gió tanh sau này.

Thiên hạ loạn ly, giặc dã nổi lên, kẻ mạnh cát cứ xưng là Sứ quân, cùng với triều đình Cổ Loa tranh hùng xưng bá.

Thảo xem thiên hạ này sẽ thuộc về tay ai?
 
Thập Nhị Sứ Quân Loạn Ký
Triều đình bàn việc đánh hai thôn Đường - Nguyễn


Một buổi chầu triều sớm đầu hạ năm Canh Tuất [950], chúng quan lại tướng lĩnh triều đình Cổ Loa đang lao xao bàn luận cục diện hiện tại ở Tĩnh Hải quân.

- Bẩm Bình Vương, hiện nay ở phương Bắc chiến loạn thập quốc vẫn chưa đến hạ hồi, là thời cơ thuận lợi cho ta ở đây ổn định tình hình.

Nhân cơ hội đó mà lần này ta ra tay quét sạch sẽ loạn đảng, thâu lại binh quyền, nhanh chóng thiết lập lại hệ thống phòng tuyến thủ chắc ở phía Đông và phía Bắc biên thùy nước ta.

Một viên quan cho ý kiến, khắp nghị đường liền trở nên sôi nổi, ai cũng đều gật gù cho là phải.

Bình Vương ra hiệu im lặng, giọng ồn ồn hỏi lại:

- Thế theo ý chúng quan, ta nên có kế sách thế nào là phải?

Cả hội liền ú ớ nhìn nhau, đá mắt cầu cạnh viên quan khi nãy phát biểu tiếp lời, rồi cũng im bặt, nín thinh như thể bị căm.

Dương Bình Vương nhìn một lượt nghị đường rồi thở dài, lộ vẻ bất lực, "hừ" lên một tiếng rõ là bực tức.

- Bẩm đại vương, theo ngu kiến của của con thấy hiện nay ở nước ta cát cứ phía Nam Giao Châu là Phạm Bạch Hổ, hắn tự xưng là Phạm Phòng Át, mấy năm qua nắm giữ vững chắc Đằng Châu, lại không ngừng luyện binh tích trữ lương thảo, quân trong tay hắn cũng phải 6000 - 7000.

Lại nói chếch về phía Đông Đằng Châu là Nam Sách, địa bàn của Phạm Lệnh Công cũng là cha của Phòng Át.

Bao nhiêu năm qua ta đưa quân xuống đấy mấy lần bắt...Xương Ngập nhưng đều bất thành là vì bọn chúng dựa thế núi non hiểm trở, binh lực mạnh mẽ mà phòng ngự.

Xa xuống phía Nam Đằng Châu là Trần Lãm, hắn tự xưng là Trần Minh Công nắm giữ vùng Bố Hải Khẩu, thế mạnh là thủy binh, cũng chừng hơn 5000 quân.

Ngược về Tây và Bắc Giao Châu, lại thấy một vùng Tam Đái rộng lớn từ ngã ba Bạch Hạc trở xuống ven tả ngạn sông Nhị Hà, đất đai phì nhiêu màu mỡ, người đông đất bằng lại nằm trong tay Nguyễn Khoan.

Binh lực đếm hơn 5000 quân, địa thế cũng không hẳn là hiểm trở khó công.

Trong khi đó ở hữu ngạn sông Nhị Hà lại là địa bàn Đường Lâm của Ngô Nhật Khánh chiếm đóng.

Thế mạnh của hắn là thủy quân, chuyên đánh trên sông, chứ bộ binh kỳ thực không lấy làm sợ hãi.

Bởi đó, con nghĩ ta nên đánh hai thôn Đường và Nguyễn trước, lấy được vùng này, ta tiến gần hơn đất Phong Châu, vừa uy hiếp được Kiều Công Hãn lại vừa có trong tay vùng đất đai rộng lớn, không sợ thiếu lương hụt binh.

Lại nói ta nắm trong tay hai vùng đất đó, không lo sợ Phong Châu đánh úp.

Tranh thủ thời cơ đó ta ra tay đánh xuống phía Nam, diệt Đằng Châu, đến Nam Sách bắt Xương Ngập.

Có như vậy đại vương đã nắm trong tay cái thế vững chắc, từ từ chiêu dụ Trần Lãm, Kiều Công Hãn, đánh dẹp bọn giặc cỏ hiện đang nổi lên khắp nơi ở phía Nam.

Đại cuộc sẽ sớm yên ổn.

Chúng quan võ tướng nghe xong đều cười niềm nở, cho là Ngô Xương Văn nói chí phải, cả thảy đều hùa theo ca ngợi tán thành.

Bình Vương nghe thế chỉ khẽ nhíu mày, đôi mắt sắc lẹm, già dặn nhìn Xương Văn chăm chú như đang suy tính điều gì.

Hồi lâu mới ngồi thẳng dậy, khẽ phất tay áo rồi nghiêm nghị nói:

- Binh triều của ta hơn một vạn, khí giới, ngựa chiến, lương thảo không thiếu.

Nay nói xuất binh đánh hai thôn Đường, Nguyễn e là khó nếu chỉ xuất quân một nửa, mà cho đi hết thì lại thành dại dột, khác gì mở cửa đón giặc ở Nam tràn vào.

Vẫn là nên theo kế sách chiêu hàng Tam Đái trước.

- Đại vương, thời cơ này chỉ có một, đương vào đầu hạ, tranh thủ lúc nước sông chưa đầy, ta phải ra quân đánh Đường Lâm thật nhanh, sau đó tận dụng thủy quân vượt sông tràn vào Tam Đái.

Nếu kéo dài đến mùa mưa, nước sông Nhị Hà dâng cao, thuyền bè rất khó vượt sông.

Khi đó chưa kịp bỏ mạng vì mưa tên của Nguyễn Khoan, lại phải chết vì nước sông nhấn chìm mất.

Chúng quan võ tướng đều cho là chí phải, đứng ra chấp tay bẩm tấu, tán thành với ý kiến của Ngô Xương Văn.

Bình Vương lại dùng ánh mắt dò xét Xương Văn, hỏi:

Vậy theo ngươi, binh mã bao nhiêu là đánh được?

Có vẻ Dương Bình Vương đang lo sợ điều gì đó, tỏ vẻ chần chừ mãi nhưng lòng vẫn muốn hiểu thấu hơn.

- Bẩm đại vương, con thiết nghĩ chỉ 4000 bộ binh và 500 thiết kỵ.

Ta tiến đánh Đường Lâm trước, xua 500 thiết kỵ tiên phong đánh thị uy với địch và chia 3000 bộ binh làm hai hướng Đông, Nam tiến công vây đánh, 1000 quân còn lại dùng thuyền ngược sông Nhị Hà đi lên phía Bắc Đường Lâm phòng khi quân Nguyễn Khoan tràn xuống giúp đỡ.

Đại vương ở Cổ Loa cắt cử thêm 1500 quân tiến lên phía Bắc đóng quân gần biên với Tam Đái, ngày đêm chuyển binh qua lại để dọa địch, buộc Khoan phải phòng thủ không dám chia quân xuống phía Nam giúp Khánh được.

Dương Bình Vương nghe Xương Văn bàn mưu như vậy lòng liền phấn khởi, nét vui hiện rõ ra trên mặt.

Mọi hiềm nghi cũng tự nhiên biến mất, không còn mảy may một chút nghi ngờ với Xương Văn.

- Hay!

Rất hợp ý của ta.

Nào, con hãy nói tiếp cho ta nghe, sau đó thì sao?

- Bẩm đại vương, theo tin tức của tế tác báo về, quân của Ngô Nhật Khánh chỉ chừng 4000, lại gần quá nửa là thủy binh, chỉ mạnh trên sông nước.

Ta dùng đại quân trấn áp địch ở trên bộ, chỉ cần bắt và diệt được đầu sỏ thì coi như ta đã thắng.

Ta thuyết phục ba quân chúng sĩ quy thuận triều đình, tự khắc trong tay đã có hơn 1000 thủy binh tinh nhuệ, thêm lính bộ ước chừng 2000 tên, hợp thành đại quân cũng đã lên 7000 người ngựa.

Ta tranh thủ vượt sông, ấy là có cái thế áp đảo Tam Đái.

Quân ta đông, địch nghe cũng đã rụng rời, chả mấy mà thắng nhanh chóng.

Dương Bình Vương cười vang như vừa thắng một trận lớn, chúng quan lại cũng cười hùa theo như được mùa.

Ai ai cũng vui mừng, như thể trận này đã thắng vậy.

Bình Vương liền nghiêm mặt, dõng dạc phán truyền:

- Lệnh cho Ngô Xương Văn làm thống soái, cùng với hai tướng Dương Cát Lợi, Đỗ Cảnh Thạc dẫn 4000 binh bộ và 500 thiết kỵ tiến đánh Đường Lâm.

Giao cho Trần Cao Tri dẫn 1500 lính kéo lên mạn Bắc Giao Châu, hạ trại thị uy với địch, không có lệnh thì không tự ý xuất quân xâm phạm Tam Đái, còn nếu chúng xâm phạm, giết không tha!

Nghe mệnh lệnh của đại vương, chúng tướng "Dạ" rang rồi lập tức lui ngay để chuẩn bị.

Chúng quan ở lại xì xào với nhau mấy lời rồi cũng bãi triều, ai về nhà nấy.

Lúc đó mặt trời đã lên cao gần đứng bóng, giờ Ngọ hai khắc.

Ngày hôm sau...

Tin tức triều đình Cổ Loa chuẩn bị tiến đánh Đường Lâm nhanh chóng vang xa, quân tế tác khắp nơi gửi tin báo về cho chủ tướng.

Ai ai cũng đều ngạc nhiên, triều đình lại chơi lớn đến vậy, việc quân sự nhưng dân chúng lại dễ dàng tường tận, bàn tán sôi nổi khắp đầu chợ cuối xóm.

Đường Lâm nằm cách Cổ Loa khoảng 30 dặm đường, ngựa phi một ngày đường là tới nơi.

Sứ quân Ngô Nhật Khánh hay tin liền bật cười khoái trá, cười mãi không ngớt khiến thủ hạ bên dưới ngạc nhiên, ngẩn người không dám nói lời nào.

- Coi bộ triều đình hết tướng tài rồi hay sao mà lại để thằng nhóc con này dẫn binh tiến lên đây đánh ta vậy?

Thật là buồn cười quá đi mất.

Nói rồi sứ quân lại cười.

Chúng tướng cũng không dám nói gì, im lặng đợi lệnh.

- Sao nào?

Ai đã có kế sách đối phó gì hay, mau mau nói cho ta cùng chúng tướng nghe xem.

Mọi người quay sang nhìn nhau xì xào bàn luận, bỗng một viên tướng người cao hơn bốn trượng, dáng vẻ uy nghiêm, to con sừng sững như cái cột nhà, y bước ra giữa nghị đường vòng tay cung kính mà tâu:

- Bẩm Sứ quân, Ngô Xương Văn là đứa trẻ khờ dại, vốn là con trai thứ hai của Ngô Vương.

Lên 9 tuổi đã phải chịu cảnh bức hiếp ép làm con nuôi, bị thằng giặc Dương Tam Kha cướp ngôi rồi đuổi anh trai là Xương Ngập chạy khỏi đất Giao Châu.

Nay lại phải theo lệnh thằng cha nuôi bất trung bất nghĩa mà dấn thân vào chốn chiến trận.

E cũng là ý đồ của Dương Tam Kha cả đấy.

Sứ quân gật gù ra vẻ tán thành ý bàn của Tổng quản Đỗ Nhất Bình.

- Thằng em họ này của ta quả thật là đáng thương hơn là đáng trách.

Trách là trách thằng Ngập bất tài, trốn chui trốn nhủi cái xó nào biệt tích sáu năm nay không thấy bóng dáng.

Cơ nghiệp của Ngô Vương cứ thế mà lại rơi vào tay họ Dương.

Cũng phải nói cái thế sự nói rối ren như tơ vò.

Ai nghĩ được xưa kia Ngô Vương đi theo Dương Đình Nghệ lập đại nghiệp, Giao Châu vào tay họ Dương, rồi lại bị Kiều Công Tiễn sát hại.

Ngô Vương mới đánh Tiễn trả thù cho Dương Tiết độ sứ, sẵn đà đá đít quân Nam Hán ở Bạch Đằng giang.

Giang sơn này mới từ đó mà về tay họ Ngô ta.

Nay lại rơi vào tay họ Dương một lần nữa.

Ai cũng biết Dương Tam Kha là con trai của Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ, bởi thế mà lòng người ba quân cũng cho là lẽ hợp tình mà theo vậy.

Nhưng đã làm phản cướp ngôi thì vẫn là phản tặc cướp ngôi mà thôi.

Tình với chả lý.

Sứ quân kể lể, giọng vừa tiếc thương lại vừa hậm hực.

Mọi người trong nghị đường cũng lặng thinh, hiểu rõ tình thế bây giờ.

Nhưng cái trước mắt vẫn là chống đỡ quân triều đình sắp sửa kéo đến thăm.
 
Thập Nhị Sứ Quân Loạn Ký
Đường Lâm nghị sự, phối hợp Tam Đái phòng thủ


Hay tin triều đình Cổ Loa chuẩn bị dẫn binh tiến đánh đất Đường Lâm, Sứ quân Ngô Nhật Khánh đã nhanh chóng triệu tập nghị sự bàn kế chống đỡ.

Mỗi người mỗi ý, có người bàn kế cầu hòa, cũng có kẻ nhất mực xin xông trận chống trả.

Cuộc tranh luận bắt đầu sôi nổi, chia làm hai phe chính.

Một bên là các văn sĩ chủ trương cầu hòa, bên còn lại là các tướng lĩnh tay quen chém giết miệng luôn đòi đánh.

Sứ quân ngồi thừ người trên ghế da hổ giữa nghị đường, tay chống cằm trông vẻ chán chường nhìn cái bọn ồn ào ở bên dưới.

Bỗng nhiên trong đám đông ồn ã vang lên một tràn cười dài, điệu cười sảng khoái mà lại tỏ vẻ tinh tướng lắm.

Cả thảy đều im lặng quay sang nhìn trong hàng mưu sĩ, có một kẻ đang ngồi cười vang như chốn không người, trông rõ là cười như ngây như dại.

- Sao ông lại cười, Tư Mạc?

Nghe thấy có người hỏi mình, Tư Mạc mới thôi cười, đứng dậy và tiến tới trước mặt sứ quân vòng tay cung kính.

Không đợi sứ quân hỏi, Tư Mạc liền thao thao bất tuyệt luận đàm.

- Ai ai cũng biết, lúc Ngô Vương mất để lại ngôi cho Xương Ngập, Xương Văn phận làm em, cũng chỉ mới 9 tuổi thì làm được cái gì?

Dương Tam Kha lợi dụng cái sự ấy rõ là quá tốt để cướp ngôi.

Nhưng mà cũng không đến nổi là tận diệt họ Ngô.

Nếu không thì Xương Văn, Nam Hưng, Càn Hưng đã sớm về với Ngô Vương rồi, có phải chăng?

Lại nói truy bắt Xương Ngập, âu cũng là bắt để phòng hậu họa mà thôi.

Cái thù cướp ngôi, đánh đuổi anh trai, bắt làm con nuôi mà không trả thì nhục này nước sông Nhị Hà cũng không rửa hết.

Hẳn là Xương Văn hận lắm, nhưng trong tay có cái gì để mà giành lại ngôi vương của cha đây?

Nói đến đấy, Tư Mạc tặc lưỡi tỏ vẻ tiếc rẻ.

Dừng lại vài giây dò xét thái độ mọi người đang trong nghị đường.

Không ai nói gì, cũng không có thái độ gì khác ngoài việc bọn họ đang nhìn chăm chăm vào Tư Mạc, chờ y nói tiếp.

Chí phải, Tư Mạc chỉ chờ có thế.

- Xuất binh đánh Đường Lâm, rồi đánh luôn Nguyễn Gia Loan thì quả thật là chuyện nực cười xưa nay.

Chúng đánh nổi không?

- Đương nhiên là không rồi!

Chúng mà đến là tôi đánh hết, giết sạch sẽ bọn chúng để chúng biết sứ quân ta không phải là người dễ bị ức hiếp!

Một viên tướng đô con, áo giáp sáng loáng nhưng người thì đen sì đứng thét to lên.

Tư Mạc nhìn người này một lượt rồi lại cười.

- Cái uy vũ của tướng quân đây quả thực là làm địch phải khiếp sợ đấy.

Đúng thật là chúng ta sẽ đánh, thậm chí là đánh thắng nhưng không phải là lúc này.

- Mưu sĩ nói như vậy thế là ý gì?

- Sứ quân Ngô Nhật Khánh hỏi.

- Bẩm sứ quân, chớ nôn nóng.

Đánh thôn Đường, Nguyễn chỉ là cái cớ mà thôi.

Tôi nghe người ta nói bày trận này do một tay Xương Văn sắp xếp.

Nhất quyết xin Bình Vương cho xuất binh tiến đánh ta.

Không biết rõ là bao nhiêu binh, nhưng muốn đánh được ta thì ít nhất cũng phải 5000 quân.

Chưa kể nếu buộc phải đánh, ta đành xin Tam Đái giúp sức.

Khi đó triều đình muốn thắng thì chỉ còn cách dời luôn Cổ Loa lên đây mà thôi.

Chúng mưu sĩ, tướng lĩnh nghe thế đều bật cười như vừa được nghe kể chuyện cười trận mạc.

Đợi nghị đường im lặng, mưu sĩ Tư Mạc mới tiếp lời:

- Triều đình có hơn một vạn binh, nhưng nhìn thế hiện tại vây quanh Giao Châu có Đằng Châu, Nam Sách, Tam Đái, Đường Lâm ta, và một số vùng cát cứ khác.

Thử hỏi triều đình mà chia binh đánh ta, thì liệu có đủ sức chống đỡ các sứ quân khác hay không?

Trong khi đó Xương Ngập ở Nam Sách, chỉ cần một lời hiệu triệu là Phạm Lệnh Công đã xuất binh, hợp với Phạm Bạch Hổ là tiến thẳng vào Giao Châu dễ dàng rồi.

Vì vậy, tôi nghĩ rằng Xương Văn không thật sự muốn đánh Đường Lâm, mà chỉ là tạo thời cơ chia đôi binh triều, để phía nam Xương Ngập kéo quân trở về lấy lại ngôi vương mà thôi.

Mọi người "Ồ" lên vỡ lẽ.

Những lời bàn luận của Tư Mạc quả là chí lý chí tình, sắc sảo mà thấu đáo tường tận.

Nhưng mà cũng chỉ là ý nghĩ chủ quan, một số viên tướng không thấy thỏa đáng liền đứng ra tranh luận.

Điển hình là tay tướng to con đen sạm khi nãy, Trần Chiêu Ách.

- Đó cũng chỉ là lời phỏng đoán của ông, làm sao có thể chắc chắn như vậy được.

Nghe lời ông, chúng ta không phòng bị để khi binh triều ập đến thì đem ông ra tế sống chúng, được không?

Lại một tràn cười trêu ghẹo mưu sĩ Tư Mạc.

Tư Mạc điềm nhiên, miệng khẽ cười.

- Nếu tế sống tôi mà quân ta đẩy lui được binh triều thì tôi dốc hết lòng vậy, đỡ phải bỏ mạng những huynh đệ, binh lính Đường Lâm ta.

Sứ quân nghe thế khẽ gật gù nể phục, lại cảm khái cái tài luận bàn từ nãy giờ của Tư Mạc.

- Không ngờ ở Đường Lâm ta lại có nhân tài ẩn phục ngay bên trong nội quân.

Ta lấy làm vui lắm.

Ngô Nhật Khánh vừa nói vừa nhìn Tư Mạc một cách hãnh diện, đầy quý mến.

Rồi quay sang nhìn chúng tướng lĩnh mà khẽ lắt đầu ra hiệu.

Mọi người im lặng, đứng ngồi ngay ngắn lại rồi chăm chú nhìn về sứ quân.

Đoạn sứ quân nói:

- Những lời mưu sĩ Tư Mạc đây nói không phải là không có lý.

Dẫu vậy ta cũng không chủ quan cho được.

Ắt phải phòng bị, cũng là dịp để kiểm tra, tổ chức lại nội quân của ta.

Phòng khi có giặc dù không phải là binh triều thì vẫn đương cự được.

Mọi người nhất loạt đồng thanh "Sứ quân nói phải", rồi tiếp tục nghe lệnh.

- Triều đình thật sự muốn đánh ta thì phải làm sao?

"Đánh!

Đánh!

Đánh!" lại là hàng tướng lĩnh hô vang.

Sứ quân nhìn ngao ngán, bực quá mới quát lên:

- Ta biết rồi, kẻ nào muốn đánh thì đứng ra.

Nói!

Đánh làm sao?

Cả bọn liền câm như hến.

Vừa nãy còn hùng hồn hô vang nhưng khi hỏi đánh làm sao thì lại nín thinh.

Sứ quân thở dài bất lực.

Đoạn lâu sứ quân mới bảo rằng:

- Binh triều đánh ta là chuyện sớm muộn, kẻ khác đánh ta cũng là chuyện nay mai.

Bao năm qua quân ta không ngừng rèn luyện, không thôi một khắc mạnh lên.

Nhưng yên bình lâu ngày sinh ra thói kiêu ngạo, chủ quan.

Nay gặp chuyện mà chỉ biết xông vào đánh nhau thì quả thực Khánh ta đây là kẻ bất tài hay sao?

Không ai nói với ai lời nào, thẹn đến nỗi không kịp giấu mặt đi.

Chỉ có Tư Mạc là ung dung ngồi thưởng trà, điệu bộ khoan thai, nhàn nhã lắm thay.

Chợt trong hàng tướng bước ra một vị người cao bốn thước, dáng người mảnh khảnh, nhưng nét mặt tuấn tú, ánh mắt toát lên vẻ thần thái anh dũng vô song.

Người này vái lạy sứ quân hết sức cung kính, rồi từ tốn thưa:

- Bẩm sứ quân, xin người hãy ra lệnh cho thuộc hạ ngay bây giờ được đem 1000 quân ra trấn giữ hữu ngạn sông Hát, ngày đêm tuần tra phòng địch.

Nếu địch đến, thuộc hạ xin dốc sức đánh cho địch không chết trôi trên sông thì cũng là chôn thây ở trên bờ.

- Được, ta lệnh cho Nguyễn Bích Kỳ chỉ huy 1000 lính, cấp 20 thuyền, làm Tiền quân trấn giữ và tuần tra ngày đêm dọc theo sông Hát.

Địch đến thì liệu tình hình mà đánh, sẽ có viện binh ở phía sau yểm trợ.

Địch không đến thì đợi lệnh mới rút về.

Bích Kỳ mừng rỡ cảm tạ sứ quân rồi đứng nép vào một bên, xem sứ quân tiếp tục phán lệnh.

- Phòng khi binh triều ngược sông Nhị Hà lên đây án ngữ giữa ta và Tam Đái, lệnh Tổng quản Đỗ Nhất Bình chấn chỉnh lại thủy quân, tuần tra canh phòng suốt một dải sông từ Đường Lâm đến Hát Môn giang.

Cũng là phòng khi kịp thời giúp sức cho Tiền quân của Bích Kỳ.

- Dạ rõ, thưa sứ quân.

Tôi đi chuẩn bị ngay!

Nói rồi Đỗ Nhất Bình dẫn theo Bích Kỳ rời nghị đường.

Sứ quân Ngô Nhật Khánh lại lệnh cho Tạ Chu Ý làm chỉ huy Trung quân, dẫn theo 1500 binh bộ đóng quân cách Tiền quân năm dặm về phía tây.

Vừa yểm trợ Tiền quân vừa phòng thủ cho Đường Lâm, lại dễ dàng kéo đến bờ sông Nhị Hà yểm trợ cho thủy quân.

- Bẩm sứ quân, nhất định là sẽ không phải đánh, nhưng không phòng bị cũng không ổn.

Để vững chắc hơn, thiết nghĩ người nên viết một bức thư gửi cho sứ quân Nguyễn Khoan, ngỏ ý hợp sức chống trả nếu chẳng may địch đến thật không chỉ ở phía đông mà còn ở phía tây nữa đấy!

- Ý mưu sĩ là Kiều Công Hãn chăng?

Tư Mạc khẽ gật đầu.

Sứ quân cùng mọi người mới vỡ lẽ mãi phòng bị phía đông mà bỏ quên ở phía tây đang vô cùng trống trải.

Liền vội sai người soạn thư, thúc ngựa lên Tam Đái.

Xong việc ai nấy cũng hối hả rời nghị đường mà chuẩn bị.

Tư Mạc được sứ quân giao trọng trách lên đường di dời dân ở những làng gần sông Hát tránh vùng giao tranh.

Có vẻ Đường Lâm đã liệu sự xong cả rồi đấy!

Lại nói ở Tam Đái, sứ quân Nguyễn Khoan từ khi nhận được thư của Ngô Nhật Khánh đã vội triệu tập chúng tướng hội bàn.

Trong thư sứ quân Ngô Nhật Khánh nói rằng "Gửi sứ quân Nguyễn Thái Bình.

Khánh mỗ xưa nay yêu chuộng sự yên ổn, không thích ồn ào đánh đấm chém giết, tranh giành gì với ai.

Nay hay tin binh triều xuất quân tiến đánh Đường Lâm, trong lòng có chút lo sợ.

Sợ sức mỗ không đương cự được, lại sợ sau khi đánh mỗ xong binh triều lại sẵn thế uy hiếp sứ quân vậy.

Mỗ này đành hết sức chống cự, chỉ mong sứ quân lấy việc này làm hệ trọng mà liệu việc.

Nay Khánh mỗ xin gửi sứ quân một chút quà mọn, thể hiện tấm lòng với tình giao hảo hai bên.

Cùng nhau giúp đỡ vượt qua cơn khốn nguy này."

- Binh triều tiến đánh Đường Lâm, ta đã sớm biết.

Đánh cả Tam Đái thì cũng là chuyện sớm muộn nếu Đường Lâm thất thủ.

Nay hắn gửi thư với lễ vật như thế này tức là cầu cạnh ta rồi còn gì?

Sứ quân Nguyễn Khoan bật cười.

Đoạn nói tiếp:

- Quân ta không ít ỏi gì, nhưng địa thế ba mặt đều là địch.

Chẳng may cùng lúc bị vây đánh thì chống làm sao?

Nay thêm một bạn bớt đi một kẻ thù, chẳng phải là điều hay đấy sao?

- Sứ quân nói chí phải.

Mấy năm nay Ngô Nhật Khánh yên vị, không làm điều gì trái quấy với ai.

Cũng xem như là y không có ý chống đối.

Nay họ có ý cầu cạnh ta, nên giúp mới là kế lâu dài.

- Một mưu sĩ góp lời.

- Ta nên giúp như thế nào đây?

Sứ quân Nguyễn Thái Bình hỏi, chúng tướng quay sang bàn bạc sôi nổi.

Có người bảo rằng chia binh viện trợ, có kẻ thì bác bỏ đi.

Không ai chịu nhường ai, ai cũng có lý lẽ đúng cả.

- Bẩm sứ quân, Đường Lâm viết thư có ý nhờ cậy ta, nhưng không nói rõ phải làm thế nào.

Chắc hắn cũng đã có kế sách vẹn toàn.

Hắn chỉ mong ta không lựa thời cơ mà động binh đánh chiếm Đường Lâm thôi.

Nay ta xung quân xuống Đường Lâm, e là không được.

Sứ quân gật gù cho là phải.

- Thời điểm nhạy cảm như thế này, mọi việc vẫn là nên cẩn trọng trong lẫn ngoài.

Tri Hựu có ý gì hay không?

- Bẩm sứ quân.

Tình thế hiện nay không chỉ có mỗi binh triều là điều khiến ta lo ngại mà còn có Kiều Công Hãn ở Phong Châu.

Nay binh triều tiến đánh Đường Lâm, rồi cũng sớm ngày ghé thăm Tam Đái ta, thì cũng là ngày Phong Châu mong đợi nhất.

Vì vậy tôi cho rằng, nên phòng thủ dọc sông Nhị Hà từ ngã ba Bạch Hạc đến Đường Lâm.

Vừa thủ cho ta cũng vừa thủ cho Đường Lâm nếu chẳng hay Phong Châu lén đưa quân theo sông xuôi xuống.

Lại nói phía đông Tam Đái ta, binh triều đang rục rịch ở biên giới.

Cũng nên phòng thủ và lập một dải trạm tế tác dọc sông Cà Lồ, ngày đêm chuyển tin tức về đây.

Ở phía Nam cho thủy quân kết hợp quân Đường Lâm giữ sông là được.

Lời của mưu sĩ Tri Hựu nghe lọt tai lắm, sứ quân Nguyễn Thái Bình cười đắc chí hết lời tán thưởng rồi sắp xếp ngay việc.

Như vậy cả Đường Lâm và Tam Đái đều sắp xếp phòng bị đâu ra đó cả.

Chỉ chờ ngày binh triều Cổ Loa kéo đến đánh một trận cho đã đời mà thôi!
 
Back
Top Bottom