Hoàng cung – chính điện Cần Chính – năm Hồng Đức thứ 10( Vua Lê Thánh Tông trị vì).
Sương sớm giăng như tấm màn bạc trước sân rồng.
Ánh dương đầu ngày chưa đủ xua đi hơi lạnh thấm qua tầng áo gấm.
Trong điện Cần Chính, tiếng guốc ngọc của nội giám vang nhẹ trước khi hô lớn:
– Tri huyện Phạm Chi Vũ, khấu kiến!
Một người trẻ tuổi bước vào.
Dáng thẳng, mắt sáng, thần sắc nghiêm túc.
Chàng cúi rạp người, trán chạm nền ngọc.
– Thần, Phạm Chi Vũ, khấu kiến Hoàng Thượng.
Trên ngai vàng, vua Lê Thánh Tông khoác hoàng bào tía, ánh mắt như soi thấu lòng người.
Ông im lặng một lúc lâu, đoạn lên tiếng, giọng trầm tĩnh:
– Khanh tuổi trẻ học rộng, thi đậu cao, lại có lòng chính trực, chẳng cầu vinh thân.
Trẫm vốn định giữ khanh ở Kinh để làm trợ thủ, nhưng có một nơi... cần người như khanh.
Chi Vũ ngẩng đầu, mắt không tránh né:
– Xin Bệ hạ chỉ dạy.
Dẫu là nơi cùng cốc hoang vu, thần cũng xin tận tâm tận lực.
– Nơi ấy tên gọi Thạch Giang.
Là vùng núi giáp ranh tứ trấn, đất nghèo, dân thưa, phong tục cổ xưa pha lẫn dị đoan.
Quan lại tiền nhiệm đều không trụ nổi lâu... có kẻ còn chết bí ẩn.
Chi Vũ thoáng chau mày:
– Chẳng hay triều đình đã điều tra?
Lê Thánh Tông khẽ gật đầu, ánh mắt chợt sâu xa:
– Có điều tra.
Nhưng... báo cáo gửi về đều nửa thật nửa giả.
Gần đây, lại xảy ra chuyện xác người chết quỳ gối trước miếu Tà Thần.
Mắt bị móc, tay ôm thư tuyệt mệnh.
Người dân ở đây gọi là “quỷ phạt”.
Ngươi nghĩ sao?
Phạm Chi Vũ siết tay, ngữ khí kiên định:
– Hoặc là mê tín dẫn lối, hoặc có kẻ lợi dụng u mê mà che giấu điều khuất tất.
Thần nguyện đến đó.
Dù là quỷ, cũng sẽ tìm ra.
Nếu là người... thì càng không thể tha.
Lê Thánh Tông nhìn thẳng chàng trai trẻ.
Một thoáng im lặng như cả gian điện ngưng thở.
Rồi nhà vua gật đầu, nói chậm rãi:
– Tốt.
Trẫm cần một người như thế.
Nhưng nhớ kỹ, Chi Vũ Ngươi điều tra án, nhưng chớ để mình thành con cờ trong ván cờ đã bày ra từ lâu...
– Thần đã rõ.
Vua không đáp, chỉ phất nhẹ tay áo.
Gió từ sân ngoài thổi vào mang theo mùi ngai ngái của gỗ mục và cỏ ẩm giống như một điềm báo...
Trời về chiều gió xào xạc bên hiên, từng nhành liễu lay động như thì thầm những lời báo mộng.
Trong phòng, Thanh Nhiên ngồi lặng trước khung cửa sổ mở, váy lụa màu thiên thanh lặng lẽ đung đưa theo gió.
Nàng đã ngồi như thế rất lâu kể từ khi nghe tin.
Cánh cửa kẽo kẹt mở ra.
Chi Vũ bước vào, nhẹ nhàng khép lại sau lưng.
–Thanh Nhiên!
Nàng không quay đầu.
Giọng bình lặng nhưng cất giấu cả trăm mối tơ lòng:
–Chàng được điều đến Thạch Giang?
Chàng nhẹ nhàng đáp:
–Ừm, là thánh chỉ.
–Chàng… có thể từ chối mà.
Chẳng phải bao người cũng từng làm vậy?
Đó là nơi…
Nàng ngừng lại, như không dám thốt ra.
Chi Vũ đến bên, đặt tay lên vai nàng, dịu giọng:
– Là nơi nhiều lời đồn kỳ quái, anh biết.
Nhưng càng nhiều bóng tối, càng cần người soi sáng.
Không lẽ ta vì sợ mà để dân phải sống trong hủ tục, oan hồn không siêu thoát.
Thanh Nhiên xoay người lại, mắt long lanh:
– Nhưng còn thiếp?
Còn chàng?
Có bao nhiêu người đã vào Thạch Giang rồi... không trở ra nữa?
Có kẻ treo cổ giữa rừng, có kẻ hóa điên, có người nửa đêm la hét.
Thiếp sợ, Chi Vũ à.
Chàng siết tay nàng:
– Ta không phải kẻ liều mình, cũng không phải kẻ ngu ngốc.
Ta chỉ tin rằng nếu có người gài nên ván cờ máu, thì phải có người đủ tỉnh táo để phá giải nó.
Nhưng... ta không ép nàng phải đi.
Kinh thành vẫn an toàn, nàng ở lại sẽ bình yên hơn.
Thanh Nhiên cúi đầu.
Một hồi lâu mới cất giọng nhỏ như gió thoảng:
– Bình yên... nếu không có chàng, thì với thiếp cũng chỉ là chiếc lồng trống.
Dù là quỷ hay người thiếp cũng sẽ đi cùng chàng.
Chi Vũ nhìn nàng, ánh mắt dịu dàng xen lẫn lo lắng.
– Nơi đó... không giống bất kỳ nơi nào ta từng đi qua, Thanh Nhiên.
Một bước vào là cuốn theo cả đời...
– Thiếp biết nhưng nếu để chàng đi 1 mình thì thiếp không yên tâm, vậy nên thiếp sẽ đi cùng chàng nếu sống thì cùng sống sót trở về nếu chết thì cùng chết.
Chi Vũ bước đến, nắm tay nàng.
Rất lâu.
Không nói gì.
Gió ngoài sân quét qua hàng cột gỗ, vang lên một tiếng kẽo kẹt dài đầy u tối...
Sáng hôm sau, trời chưa quá giờ Thìn, sương còn đọng trên cỏ, cổng huyện đường đã vang tiếng vó ngựa gõ nhịp đều.
Tiểu Lục cưỡi ngựa đi đầu, quay lại vẫy tay:
– Thưa Tri huyện, đường qua bến Đông đã thông, kịp giờ ngọ sẽ đến Thạch Giang!
Phạm Chi Vũ khoác áo lam đại triều, ánh mắt sáng như kiếm, cất giọng dứt khoát:
– Đi thôi.
Đã là quan, thì có đường hiểm cũng phải bước.
Dân kêu oan thì quan không thể chậm chân.
Bên cạnh, Thanh Nhiên mặc áo tứ thân lụa trắng, vấn tóc bằng dải lụa tím than.
Tay nàng ôm một tráp gỗ, trong đặt sổ sách và hương liệu.
Nàng nhẹ nhàng nói:
– Chàng từng nói: ‘Quan là để trị bất công, không phải để giữ ghế.’ Thạch Giang, nghe nói có ma, nhưng thiếp nghĩ điều đáng sợ hơn là người sống.
Chi Vũ khẽ gật.
Lên Ngựa.
Đoàn người rời cổng phủ, cờ hiệu Tri Huyện bay phấp phới.
Trên đường, sương vẫn dày, nhưng trước mắt là Thạch Giang là nơi những cái chết biết cười, và bóng quỷ đội lốt người đang chờ được vạch trần.
Sương mù Thạch Giang còn chưa tan, Phạm Chi Vũ cùng Thanh Nhiên và Tiểu Lục đến hiện trường.
Chi Vũ ra lệnh: Niêm phong hiện trường.
Cấm đụng vào thi thể.
Gọi Ty Án đến lập biên bản.
Ai loan tin 'quỷ phạt' sẽ bị tạm giam tra hỏi.
Miếu Tà Thần nằm giữa rừng tre rậm rạp, lâu năm không ai tu sửa.
Nơi xác chết quỳ chính giữa bậc thềm, dưới mái ngói rêu phủ đen sì.
Mùi máu tanh vẫn còn vương, lũ ruồi kêu vo ve.
– Tiểu Lục rùng mình.
– Người ta nói... ai nhìn vào hốc mắt bị móc của xác chết này sẽ thấy hình bóng của chính mình bị trói nơi âm phủ.
Phạm Chi Vũ đáp, giọng lạnh lẽo.
– Ta không cần thấy quỷ.
Ta muốn thấy sự thật.
Ngay lập tức, Phạm Chi Vũ ra lệnh cho Ty Án bắt đầu thực hiện nhiệm vụ của mình.
Lão Hồ bắt tay vào khám nghiệm phát hiện.
Dấu vết cắt sắc, tròn đều.
Vết khô không loang rõ ràng là bị cắt sau khi chết.
Lưỡi bị cắt sát gốc, vết sắc bén, không phải do cắn.
Da cổ còn vết dây siết, dưới cằm có vết bầm nghẹt thở trước khi chết.
Không phải tự tử.
Không thể vừa siết cổ, vừa móc mắt, vừa tự viết thư máu rồi quỳ chết.
Cô Dung tra cứu sổ dân đinh, phát hiện trước đây Trình Dậu từng bị kiện vì phá ranh đất nhưng vụ án bị dẹp lặng.
A Ký lần theo vết bùn dính trên thềm miếu.
Có dấu chân lẫn với vết kéo lê.
Sau miếu có vết dọn đất, dọn lá, như thể ai đó cố che dấu.
Một đoạn dây gai dính máu bị vứt dưới gốc cây cách miếu bốn trượng.
Thi thể bị kéo từ sau miếu ra.
Không phải chết tại chỗ.
Bị dựng tư thế sau khi đã chết.
Tiểu Lục kiểm tra nét chữ rồi đến nhà nạn nhân đối chiếu sổ thuế cũ.
Chữ viết khác hẳn nét chữ của nạn nhân khi viết đơn thuế năm ngoái.
Có nét do người quen giả nét run, nhưng không quen tay.
Người viết không phải nạn nhân.
Giả chữ, cố tình bôi máu vào.
Đây là thư dựng lên để đổ tội cho thần linh.
Nạn nhân tên Trương Đông từng làm trương tuần, vài năm nay lui về làm ruộng.
Khi hỏi vợ nạn nhân:
– Ông nhà có ai thù oán?
– Không... không...
ông ấy ngoan đạo, tháng nào cũng cúng miếu Tà Thần…
Nhưng Thanh Nhiên tinh ý nhắc:
– Nếu ông ấy sợ Tà Thần đến vậy, sao lại dám phạm lời hứa với quỷ như lời thư viết?
Tiểu Lục đối chiếu thêm:
Vợ hắn khai rằng đêm đó chồng về muộn.
Hàng xóm lại bảo “thấy ông ra ngoài vào giờ Tuất”.
Đứa con nhỏ thì lén thều thào: “Con thấy cha bị ai đó gọi ra sân rồi đi mất…”
Phạm Chi Vũ họp ngay trong huyện đường, vẽ sơ đồ hiện trường.
–Xác bị dàn dựng để trông giống quỷ phạt.
Mắt móc, lưỡi cắt, thư máu vậy nên những điều này đều phục vụ cho một mục đích: dọa người.
Thanh Nhiên bất ngờ nói:
Doạ người?
Hắn dùng bút đỏ khoanh ba điểm bất hợp lý:
Thứ nhất hông có dấu tay của nạn nhân trên thư tuyệt mệnh.
Thứ hai dấu chân bị dọn sạch cho thấy thủ phạm lo lắng bị phát hiện.
Thứ ba làng không ai dám đến miếu, nhưng hung thủ không chỉ đến mà còn dựng xác chết giữa đêm.
Vậy nên vụ án này nhất định là do người làm họ muốn che giấu điều gì đó.
Trong phủ, Phạm Chi Vũ khoanh tay bước tới lui, mắt không rời sơ đồ hiện trường được vẽ chi tiết trên lụa.
Hắn chỉ vào ba điểm then chốt:
1.
Miếu Tà Thần – nơi dựng xác.
2.
Gốc đa sau miếu – nơi phát hiện sợi dây gai dính máu.
3.
Nhà nạn nhân Trình Dậu.
– Từ nhà đến miếu là ba dặm.
Đường núi, tối, trơn.
Nạn nhân hơn năm mươi, không thể tự đi đến đó giữa đêm.
Càng không thể quỳ gối chết như thế được...