Khác Sherlock Holmes Toàn Tập

  • Người khởi tạo Người khởi tạo [BOT] Wattpad
  • Ngày bắt đầu Ngày bắt đầu

[BOT] Wattpad

Administrator
25/9/25
59,383
0
0
142513158-256-k579978.jpg

Sherlock Holmes Toàn Tập
Tác giả: user60726136
Thể loại: Bí ẩn
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Sherlock Holmes của Conan Doyle



shinkwang​
 
Có thể bạn cũng thích
  • Những cuộc phiêu lưu của Sherlock Holmes
    • Người khởi tạo Người khởi tạo [BOT] Wattpad
    • Ngày bắt đầu Ngày bắt đầu
  • Học Trò Của Sherlock Holmes(Trinh Thám)
    • Người khởi tạo Người khởi tạo [BOT] Wattpad
    • Ngày bắt đầu Ngày bắt đầu
  • Sherlock Holmes toàn tập ( Full) - Conan Doyle
    • Người khởi tạo Người khởi tạo [BOT] Wattpad
    • Ngày bắt đầu Ngày bắt đầu
  • Sherlock Holmes Toàn Tập
    Những Chuyện Lý Thú Về Conan Doyle Và Thám Tử Sherlock Holmes


    Bạn đọc yêu thích truyện trinh thám thế giới có lẽ không ai là không biết đến tên tuổi của nhà văn Conan Doyle (1859 – 1930), "cha đẻ" của nhân vật thám tử lừng lẫy Sherlock Holmes.

    Tuy nhiên, không phải ai cũng biết rằng xung quanh việc ra đời những tác phẩm liên quan đến nhà thám tử tài ba này, bản thân tác giả của nó đã từng có những hành động hết sức ly kỳ, hấp dẫn không kém những gì mà thám tử Sherlock Holmes từng phô diễn.

    Nguồn gốc tên gọi Sherlock Holmes:

    Trước đây người ta đã dựa theo một nguồn tư liệu để khẳng định rằng: Sherlock là tên của một người chơi Cricket danh tiếng (vào những năm 70 của thế kỷ XIX).

    Người này có quen biết với Conan Doyle.

    Tuy nhiên, Sherlock mới chỉ là tên riêng, còn họ của nhân vật?

    Nhà báo Anh tên là Bill West đã vận dung tới nhiều nguồn tư liệu để khẳng địng rằng: Có một người tên là Edwin Holmes, từng phát minh ra hệ thống báo động chống kẻ trộm khiến Doyle rất khâm phục.

    Và để bày tỏ sự hâm mộ của mình, nhà văn đã không ngần ngại dùng họ của nhà phát minh đó làm tên họ cho nhân vật của mình.

    Vậy là, tên của một cầu thủ Cricket và họ của một nhà phát minh sáng chế đã kết hợp thành tên Sherlock holmes.

    Conan Doyle đã từng "thủ tiêu" nhân vật yêu quý của mình.

    Nhờ những câu chuyện phá án vô cùng ly kỳ, hấp dẫn của nhân vật thám tử tài trí sherlock holmes mà Conan Doyle đã có được một nguồn thu nhập dồi dào giúp ông nuôi sống được cả gia đình, và hơn thế còn trở nên một nhà văn giàu có.

    Tuy nhiên, bởi mất quá nhiều thời gian và công sức với loại truyện trinh thám này, mệt mỏi căng thẳng vì phải theo đuổi những pha truy bắt đầy kịch tính của nhân vật, đã có lúc Conan Doyle nghĩ đến "thủ tiêu" nhân vật, để cho sherlock holmes chết là kết thúc câu chuyện phải ngày đêm nắn bóp theo đơn đặt hàng của báo chí.

    Ý đồ của ông đã bị mẹ ông kịch liệt phản đối: "Con không được giết anh ta!

    Con không có quyền!".

    Khi một tờ tạp chí nọ đặt Conan Doyle viết tiếp một loạt truyện nữa về sherlock holmes, nhà văn đã tìm cách đặt giá cao, cốt để họ rút lại lời đề nghị.

    Không ngờ họ chấp nhận ngay lời đề nghị này không một lời bàn cãi.

    Thế là Conan Doyle không làm sao thực hiện được mong muốn của mình.

    Nhưng rồi một ngày nọ, bởi quá mệt mỏi, Conan Doyle đã kiên quyết chấm dứt cuộc đời của sherlock holmes.

    Trong một truyện ngắn, ông để cho anh ta bất cẩn tiến đến mép của một tảng đá và rơi xuống thác nước Reichenbach.

    Ngay lập tức, công chúng Anh quốc đã gửi thư bày tỏ sự phẫn nộ đối với tác giả.

    Áp lực của dư luận đối với nhà văn là hết sức nặng nề!

    Đến năm 1902, gần mười năm sau kể từ ngày sherlock holmes bị "chết mất xác", đột nhiên Conan Doyle cho xuất hiện trở lại nhân vật thám tử sherlock holmes.

    Chỉ có điều câu chuyện tác giả để xảy ra vào thời gian trước khi sherlock holmes chết.

    Công chúng lấy làm tiếc và tới tấp gửi thư đề nghị tác giả hãy làm cách nào cho sherlock holmes sống lại.

    Chủ một tờ báo cũng đề nghị trả nhà văn năm nghìn đô la trường hợp ông nghĩ ra cách để sherlock holmes sống lại.

    Thể theo nguyện vọng của đông đảo bạn đọc, Conan Doyle đã đặt bút viết tiếp truyện "Ngày trở về của sherlock holmes" và một loạt truyện nữa.

    Ông đã mở đầu câu chuyện: "Mọi chuyện đã xảy ra đúng như chúng ta nghĩ.

    Sherlock holmes đâu có chết khi rơi xuống vực.

    Thật ra, anh ta không rơi xuống vực mà đã tìm cách bò dọc theo tảng đá để thoát khỏi tay kẻ thù".

    "Thám tử" Conan Doyle tham gia phá án.

    Chúng ta đều biết, giữa cuộc đời và trang sách nhiều khi là cả một khoảng cách.

    Bởi vậy, việc nhân vật của Conan Doyle thành công trong việc phá án là một chuyện, việc Conan Doyle trực tiếp tham gia phá án và đã thành công (trong thực tế) lại là một chuyện khác.

    Nó đặc biệt có ý nghĩa.

    Chẳng là, vào năm 1903, tại làng Great Wyrley ở gần Birmingham đã xảy ra một vụ án lạ lùng.

    Hàng loạt ngựa, bò, cừu lăn ra chết.

    Qua khảo sát, người ta thấy ở bụng và cổ họng của những con vật ấy có những vết thương lớn.

    Căn cứ vào những lá thư nặc danh, người ta xác định thủ phạm là George Edalji (con trai ông mục sư Ấn Độ và một phụ nữ Anh).

    Thời ấy, tinh thần kì thị chủng tộc rất mạnh ở các địa phương của nước Anh, thành ra cảnh sát đã thu thập chứng cứ một cách sơ sài và người ta chẳng băn khoăn gì mà không điệu chàng trai ra toà và kết án chàng với mức bảy năm tù khổ sai.

    Sau khi bị giam cầm ít lâu, chàng trai bèn viết thư nhờ Conan Doyle minh oan cho.

    Với bằng chứng xác đáng về việc chàng trai bị cận thị nặng, không thể nào di chuyển ngoài đồng trong đêm tối để hạ sát hàng loạt con vật như vậy được, Conan Doyle đã buộc các cơ quan hành pháp và tư pháp phải lưu ý, xem xét lại vụ việc này.

    Quả nhiên, qua điều tra về sau, người ta xác định được thủ phạm là kẻ khác, và chàng trai người Ấn lai ấy đã được trả tự do và danh dự.

    Cả tác giả và nhân vật đều bất tử.

    Sự bất tử của sherlock holmes thể hiện ở chỗ: hơn một trăm năm nay, bạn đọc khắp thế giới vẫn luôn tỏ ra yêu mến và quyến luyến với nhân vật này.

    Nhớ ngày Conan Doyle cho sherlock holmes "tạm từ giã cõi đời", tại Luân Đôn đã liên tiếp nổ ra các cuộc biểu tình quanh trụ sở của mấy toà báo.

    Thậm chí, có một nhóm thanh niên mặc tang phục, đeo bảng đề tên sherlock holmes diễu hành trên đường phố.

    Hiện ở một số nơi, người ta còn ngưỡng mộ đến độ thành lập cả "bảo tàng sherlock holmes" cũng như thành lập các đội đặc nhiệm mang tên nhân vật thám tử tài ba nói trên.

    Còn về Conan Doyle thì khỏi phải nói sức "tái sinh" kỳ diệu của ông: Có ai tính được biết bao lần sách của ông được tái bản ở khắp nơi trên trái đất này?

    Lại nhớ, khi Conan Doyle qua một cơn đau tim đột ngột từ giã cõi đời, thể theo nguyện vọng của ông, bà vợ Jean Leckie của ông không để tang (vì Conan Doyle tin tưởng rằng sau khi chết đi, ông vẫn còn liên lạc được với bà).

    Nếu nói nhà văn tồn tại bằng tác phẩm, thì có nghĩa là Conan Doyle còn tồn tại mãi mãi.
     
    Sherlock Holmes Toàn Tập
    CUỘC ĐIỀU TRA MÀU ĐỎ (A STUDY IN SCARLET,1887)


    PHẦN I

    HỒI ỨC CỦA BÁC SĨ JOHN H.

    WATSON1.

    Sherlock Holmes

    Tôi lấy bằng bác sĩ ở Đại học London vào năm 1878 rồi chuyển đến Netley để theo khóa đào tạo chỉ định cho bác sĩ ngoại khoa trong quân đội.

    Học ở đây xong, tôi được chính thức điều về Trung đoàn 5 Bộ binh Northumberland làm quân y phó.

    Lúc đó trung đoàn này đóng ở Ấn Độ, và tôi chưa kịp trình diện thì cuộc chiến tranh Afghanistan lần hai đã nổ ra.

    Khi xuống tàu ở Bombay, tôi hay tin quân đoàn của mình đã vượt đèo đi trước và hiện đã tiến sâu vào lãnh thổ của quân địch.

    Tôi cùng với nhiều sĩ quan khác đồng cảnh ngộ liền đi theo và rồi cũng an toàn tới được Kandahar, nơi tôi tìm được trung đoàn của mình và lập tức bắt đầu nhiệm vụ mới.

    Chiến dịch này mang lại công trạng và sự thăng tiến cho nhiều người, nhưng với tôi nó chẳng mang lại gì ngoài rủi ro và tai họa.

    Tôi phải rời lữ đoàn để gia nhập Trung đoàn Berkshire và tôi đã cùng họ tham gia trận chiến sống mái ở Maiwand.

    Ở trận này tôi bị một viên đạn hỏa mai bắn trúng vai, làm vỡ xương và sượt qua động mạch dưới đòn.

    Lẽ ra tôi đã sa vào tay quân Ghazi tàn bạo nếu không nhờ lòng tận tụy và can trường của Murray, phụ tá của tôi.

    Anh ta đã quẳng tôi lên lưng một con ngựa thồ rồi đưa tôi an toàn về đến phòng tuyến quân Anh.

    Sức cùng lực kiệt vì đau đớn và vì những gian khổ kéo dài đã kinh qua, tôi được chuyển về bệnh viện hậu cứ ở Peshawar cùng với một đoàn thương binh đông đảo.

    Tại đây, khi tôi hồi phục dần và đã khá tới mức có thể đi lại quanh bệnh xá, thậm chí còn ra được tới hàng hiên sưởi nắng chút ít, thì lại bị quật ngã vì sốt thương hàn - tai ương của thuộc địa Ấn.

    Suốt mấy tháng, tôi sống trong tuyệt vọng, và cuối cùng khi đã bình tâm và bắt đầu dưỡng bệnh, thì tôi ốm yếu, hốc hác đến nỗi một hội đồng y khoa phải quyết định cho tôi về Anh quốc ngay, không được chậm trễ một ngày nào.

    Vì thế, tôi được gửi theo tàu chở quân Orontes, và một tháng sau tôi đã bước chân xuống cảng Portsmouth với sức khỏe suy sụp không thể cứu vãn, bù lại tôi được chính quyền mẫu quốc cho phép nghỉ luôn chín tháng để phục hồi.

    Tôi chẳng có họ hàng thân thích gì ở Anh quốc cho nên tự do như gió trời - hay tự do trong giới hạn mà mức thu nhập mười một đồng shilling và sáu xu một ngày cho phép.

    Trong hoàn cảnh như thế, tôi đương nhiên phải đi tới London, cái hầm cầu vĩ đại mà mọi kẻ lười nhác và ăn không ngồi rồi khắp cả nước này đều bị hút vào không sao cưỡng lại được.

    Ở đây, tôi trọ một thời gian tại một khách sạn trên phố Strand, sống một cuộc sống thiếu tiện nghi, vô nghĩa, và vung tay tiêu xài số tiền mình có mà lẽ ra phải dè sẻn hơn nhiều.

    Tình trạng tài chính đã trở nên đáng ngại tới mức tôi sớm nhận ra rằng: Hoặc là tôi phải bỏ chốn đô thành này mà rút về sống đâu đó ở vùng quê, hoặc là phải thay đổi hoàn toàn lối sống của mình.

    Chọn cách thứ hai, tôi bắt đầu bằng cách quyết tâm sẽ rời khách sạn, và tá túc ở một chỗ nào đó bớt phô trương và đỡ tốn kém hơn.

    Vào đúng cái ngày đi đến quyết định này, tôi đang đứng ở quán rượu Criterion thì có người vỗ nhẹ vào vai.

    Quay lại, tôi nhận ra anh chàng Stamford trẻ tuổi, người từng phụ mổ cho tôi ở trường Barts.

    Nhìn thấy một gương mặt quen ở giữa London rộng lớn xa lạ này quả là điều vui sướng đối với một kẻ cô đơn.

    Thời trước, Stamford với tôi chẳng thân thiết gì lắm, nhưng bây giờ tôi chào đón anh nhiệt tình, và đáp lại, anh ta hình như cũng vui mừng tái ngộ.

    Đang phấn chấn, tôi mời anh ta đến khu Holborn ăn trưa và cả hai đón một chiếc xe ngựa nhỏ cùng đi.

    "Lâu nay anh làm gì, Watson?"

    Anh ta hỏi với vẻ ngạc nhiên không che giấu trong lúc cỗ xe lọc cọc đưa chúng tôi băng qua phố phường London đông đúc.

    "Trông anh gầy đét và đen thui."

    Tôi kể sơ lược cho anh ta hay những chuyện mạo hiểm đi qua, và tới khi cỗ xe đưa chúng tôi đến nơi thì tôi cũng vừa kịp kể xong.

    "Quỷ thần ơi!"

    Anh ta thốt lên với vẻ thương xót sau khi nghe những rủi ro của tôi.

    "Thế bây giờ anh tính sao?"

    "Tìm chỗ trọ", tôi đáp.

    "Đang cố làm sao tìm được phòng ở tiện nghi mà giá cả phải chăng."

    "Lạ thật", anh bạn tôi nhận xét, "hôm nay anh là người thứ hai nói với tôi y hệt những lời đó."

    "Thế người thứ nhất là ai?"

    Tôi hỏi.

    "Một anh chàng đang làm việc ở phòng thí nghiệm hóa học trên bệnh viện.

    Sáng nay anh ta cứ than thở vì không biết kiếm ai cùng chia đôi tiền để thuê mấy phòng tốt mới tìm được, chỗ đó thì lại vượt quá túi tiền của anh ta."

    "Trời đất!"

    Tôi kêu to.

    "Nếu đúng là anh ta cần người ở chung và chia tiền trọ thì tôi quả thích hợp đây.

    Tôi lại thích có bạn cùng trọ hơn là ở một mình."

    Ánh mắt anh chàng Stamford nhìn tôi có vẻ hơi khác lạ.

    Anh ta nói, "Anh chưa biết Sherlock Holmes đâu, chưa chắc anh đã muốn làm bạn lâu dài với anh ta."

    "Thế anh ta có gì mà phải đề phòng chứ?"

    "Ồ, tôi có nói anh phải đề phòng gì đâu.

    Anh ta có nhiều ý tưởng hơi kì quặc, một kẻ say mê nhiều lĩnh vực khoa học.

    Theo như tôi biết thì đó là một anh chàng khá đàng hoàng."

    "Sinh viên y khoa chứ gì?"

    Tôi đoán.

    "Không, tôi thật chẳng hiểu nổi anh ta muốn theo đuổi cái gì.

    Tôi tin là anh ta rất am tường môn giải phẫu, và là một nhà hóa học thượng thặng; nhưng theo những gì tôi biết được, anh ta không hề theo một lớp y khoa nào cho có hệ thống.

    Việc học của anh ta tuy rất lộn xộn và khác người nhưng anh ta lại tích lũy được nhiều kiến thức ngoài luồng đủ khiến nhiều giáo sư phải kinh ngạc."

    "Thế anh không bao giờ hỏi xem anh ta đang theo đuổi cái gì sao?"

    Tôi hỏi.

    "Không, anh ta không phải là kẻ dễ bộc lộ đâu, mặc dù khi nổi hứng lên thì cũng khá là cởi mở."

    "Tôi thật tình muốn gặp", tôi nói.

    "Nếu tôi phải ở trọ chung với ai thì tôi thích một người tính khí siêng năng, trầm tĩnh.

    Tôi chưa được khỏe nên không chịu nổi sự ồn ào hay kích động quá mức.

    Cả hai thứ đó ở Afghanistan tôi đã phải chịu đựng đủ ngán ngẩm cho tới hết đời rồi.

    Làm sao tôi gặp được người bạn của anh đây?"

    "Chắc chắn là anh ta đang ở phòng thí nghiệm", anh bạn tôi đáp.

    "Hoặc là anh ta tránh xa chỗ ấy suốt nhiều tuần liền, hoặc là làm việc ở đó từ sáng đến tối.

    Nếu anh thích, ăn trưa xong chúng ta sẽ đảo qua đó."

    "Tất nhiên rồi", tôi đáp, và cuộc trò chuyện chuyển sang những đề tài khác.

    Trên đường đến bệnh viện sau khi chúng tôi rời khỏi khu Holborn, Stamford cho tôi biết thêm vài chi tiết về người mà tôi đề nghị làm bạn cùng thuê trọ.

    "Nếu anh không hòa hợp được với anh ta thì đừng có trách tôi đó", anh nói.

    "Tôi chẳng biết gì hơn ngoài cảm nhận qua đôi lần tiếp xúc trong phòng thí nghiệm."

    "Nếu không hòa hợp thì đường ai nấy đi cũng dễ thôi mà", tôi đáp.

    "Stamford này", tôi nhìn chằm chằm vào anh bạn rồi nói tiếp, "hình như anh có lí do nào đó nên không muốn dính dáng vào chuyện này thì phải.

    Tính khí người này kinh khủng lắm hay là sao?

    Đừng có quanh co vòng vo nữa."

    "Chuyện khó nói thì biết nói sao đây", anh vừa trả lời vừa cười.

    "Theo gu của tôi thì Holmes là người hơi quá khoa học, khoa học tới mức lạnh lùng.

    Tôi có thể tưởng tượng là anh ta dám lấy cả bạn mình ra để thí nghiệm một hợp chất alkaloid thực vật mới phát hiện, không phải vì ác ý đâu, anh biết đó, mà chỉ đơn thuần là vì muốn tìm hiểu chính xác những tác dụng phát sinh.

    Công bằng mà nói, tôi nghĩ anh ta cũng sẵn sàng lấy ngay bản thân ra mà thí nghiệm như thế.

    Anh ta hình như luôn say sưa với những kiến thức chính xác và rõ ràng."

    "Thế là đúng chứ sao!"

    "Phải, nhưng có thể đâm ra thái quá.

    Đến mức lấy gậy đánh đập mấy cái xác trong phòng mổ tử thi thì rõ ràng là kì dị."

    "Đánh đập xác chết!"

    "Đúng vậy, để xác minh xem sau khi chết, xác có thể bị bầm dập đến mức nào.

    Chính mắt tôi thấy anh ta làm thế."

    "Thế mà anh nói anh ta không phải sinh viên y khoa?"

    "Không phải.

    Có trời mới biết anh ta học để làm gì.

    Nhưng tới nơi rồi, cứ gặp anh ta rồi anh tự mình cảm nhận lấy."

    Trong lúc Stamford nói thì chúng tôi đã rẽ xuống một lối hẹp rồi đi qua một cửa phụ nhỏ dẫn vào một khu nhà của bệnh viện đồ sộ này.

    Đây là chốn quen thuộc nên tôi chẳng cần hướng dẫn khi cả hai bước lên cầu thang đá vắng vẻ và đi thẳng theo dãy hành lang hun hút chỉ có bức tường vôi trắng chạy dài và những cánh cửa xỉn màu.

    Gần phía cuối hành lang là một lối đi vòm thấp rẽ sang hướng khác, dẫn tới phòng thí nghiệm hóa học.

    Đó là một gian phòng trần cao vút với vô số chai lọ, cái thì xếp ngay ngắn, cái thì bày bừa bãi.

    Đây đó là những chiếc bàn rộng, thấp, bên trên để lố nhố ống nghiệm, bình cổ cong, và những chiếc đèn Bunsen lập lòe ánh lửa xanh.

    Trong phòng chỉ có một sinh viên đang lom khom ở cái bàn đằng xa miệt mài làm việc.

    Nghe tiếng bước chân chúng tôi, anh ta đảo mắt một vòng rồi đứng bật dậy kêu to thích thú.

    "Tìm ra rồi!

    Tìm ra rồi!"

    Anh ta vừa hò hét với bạn tôi vừa chạy đến, trên tay cầm một ống nghiệm.

    "Tôi vừa tìm ra một loại thuốc thử chỉ kết tủa khi gặp huyết sắc tố."

    Nếu như anh ta có phát hiện ra mỏ vàng thì vẻ mặt cũng chỉ bộc lộ vui mừng đến thế là cùng.

    "Đây là bác sĩ Watson, đây là Sherlock Holmes", Stamford giới thiệu hai chúng tôi.

    "Bác sĩ khỏe không?"

    Anh ta vừa chào thân ái vừa bắt tay tôi với một lực mà tôi không hề muốn khen ngợi chút nào.

    "Anh vừa ở Afghanistan về, tôi biết."

    "Làm sao anh biết chuyện đó hở trời?"

    Tôi sửng sốt.

    "Đừng bận tâm", anh ta vừa nói vừa cười thích thú một mình.

    "Chuyện đáng nói lúc này chính là huyết sắc tố.

    Chắc chắn là anh thấy được tầm quan trọng của phát hiện vừa rồi chứ?"

    "Đúng là đáng quan tâm, về mặt hóa học, chắc chắn rồi", tôi đáp, "nhưng thực tiễn thì..."

    "Ồ, nào, đây là phát hiện pháp y thiết thực nhất trong nhiều năm qua đấy.

    Anh không thấy là nó sẽ cho ta một phép thử không thể sai để nhận biết vết máu à?

    Lại đằng này đi!"

    Anh ta hăm hở nắm lấy tay áo khoác của tôi, và kéo tôi lại chiếc bàn nãy giờ anh ta đang làm việc.

    "Ta phải có ít máu tươi", anh vừa nói vừa chích một cây kim dài vào ngón tay mình, rồi trút giọt máu vào một ống nhỏ dung dịch thí nghiệm.

    "Bây giờ, tôi cho lượng máu nhỏ này vào một lít nước.

    Anh thấy kết quả là hỗn hợp này trông giống như nước tinh khiết, tỉ lệ máu trong nước không thể vượt quá một phần triệu.

    Tuy nhiên, tôi tin chắc rằng chúng ta vẫn có thể thu được những phản ứng đặc trưng."

    Không ngừng lời, anh thảy vào bình chứa vài hạt tinh thể màu trắng, rồi cho thêm vào mấy giọt chất lỏng trong suốt.

    Ngay lập tức, hỗn hợp đổi sang màu đỏ xỉn đục rồi một chất bột nâu nâu lắng xuống đáy bình thủy tinh.

    "Ha ha!"

    Anh vỗ tay cười to, trông sung sướng như một đứa trẻ có món đồ chơi mới.

    "Anh thấy thế nào?"

    "Coi bộ đây là một phép thử rất nhạy", tôi nhận xét.

    "Tuyệt vời!

    Tuyệt vời!

    Phép thử Guaiacum kiểu cũ rất thô vụng và không chắc chắn.

    Cách kiểm tra bằng kính hiển vi để tìm huyết cầu cũng thế.

    Kính hiển vi cũng vô dụng nếu máu đã khô trước đó vài tiếng đồng hồ.

    Đấy, cách này lại tỏ ra hữu hiệu cho dù vết máu cũ hay mới.

    Nếu như phép thử này được phát minh ra sớm hơn thì hàng trăm kẻ đang sống thong dong đã phải đền tội từ lâu."

    "Thực vậy!"

    Tôi lẩm bẩm.

    "Đó là điểm mấu chốt trong nhiều vụ án hình sự.

    Có khi một người bị tình nghi phạm tội nhiều tháng sau khi tội ác đã xảy ra.

    Người ta sẽ khám xét quần áo hay chăn nệm của y, và phát hiện ra những vết nâu nâu ở đó.

    Là máu, bùn, vết gỉ sét, vết trái cây, hay là cái gì?

    Đó là câu hỏi luôn khiến nhiều chuyên gia bối rối lâu nay, và tại sao thế?

    Bởi vì không có phép thử nào đáng tin cậy.

    Bây giờ ta đã có phép thử Sherlock Holmes, và sẽ không còn gì khó khăn nữa cả."

    Đôi mắt anh ta sáng rực lên trong khi nói, rồi anh đặt một bàn tay lên ngực và cúi chào cứ như có một đám đông tán thưởng từ trong tưởng tượng vụt hiện ra.

    "Xin chúc mừng anh", tôi nói, lòng ngạc nhiên không ít trước sự hăng hái của anh ta.

    "Năm ngoái đã có vụ Von Bischoff ở Frankfurt.

    Nếu lúc đó mà có phép thử này thì nhất định hắn phải bị treo cổ rồi.

    Rồi còn vụ Mason ở Bradford, vụ Muller khét tiếng, vụ Lefevre ở Montpellier, và vụ Samson ở New Orleans.

    Tôi có thể kể ra cả chục vụ mà lẽ ra đã có thể định đoạt bằng cách này."

    "Anh cứ như một cuốn lịch sống về hình sự vậy," Stamford bật cười nhận xét.

    "Anh có thể ra một tờ báo chuyên về lĩnh vực này đó.

    Hãy gọi nó là tờ Tin hình sự thời dĩ vãng."

    "Nội dung có thể rất hấp dẫn đấy", Sherlock Holmes vừa nói vừa dán một mẩu băng dính nhỏ trên vết chích ở ngón tay.

    "Tôi phải cẩn thận", anh ta quay sang tôi, tươi cười nói tiếp, "vì tôi hay đụng vào chất độc lắm."

    Anh ta chìa bàn tay ra và tôi để ý thấy cả bàn tay đều lốm đốm những mẩu băng dính tương tự và bệch bạc vì các thứ axít mạnh.

    "Chúng tôi đến đây có việc", Stamford ngồi xuống một chiếc ghế cao ba chân rồi lấy chân đẩy một chiếc ghế khác về phía tôi.

    "Anh bạn tôi đây muốn tìm chỗ nương thân, vì tôi nghe anh cứ than phiền là không tìm ra ai chia đôi tiền trọ, tôi nghĩ tốt nhất nên cho hai người gặp nhau."

    Coi bộ Sherlock Holmes vui mừng với ý tưởng ở trọ chung với tôi.

    "Tôi có để mắt tới một căn hộ trên phố Baker", anh nói, "chỗ này hoàn toàn phù hợp với chúng ta.

    Hi vọng là anh không phiền lòng với mùi thuốc lá nặng đấy chứ?"

    "Tôi cũng bập phà luôn đấy mà", tôi đáp.

    "Thế thì hay.

    Tôi thường để hóa chất lung tung và thỉnh thoảng có làm thí nghiệm.

    Việc này có phiền anh không?"

    "Hoàn toàn không."

    "Để xem... tôi còn thiếu sót gì khác không.

    Có lúc tôi cũng khó ở và suốt mấy ngày liền không mở miệng.

    Khi tôi như thế thì anh đừng nghĩ tôi cau có, khó chịu.

    Cứ để mặc tôi rồi tôi sẽ bình thường lại thôi.

    Bây giờ anh có gì thú tội không?

    Tốt nhất là trước khi ở chung, hai người nên biết những thói hư tật xấu của nhau."

    Tôi bật cười trước trò đối chất này.

    "Tôi có một chú bun đấy.

    Và tôi ghét ồn ào vì thần kinh tôi không vững.

    Tôi hay thức dậy vào những giờ giấc bất tiện và hết sức lười biếng.

    Tôi còn nhiều thói xấu khác nữa khi tôi mạnh khỏe, nhưng hiện thời thì bấy nhiêu là chủ yếu," tôi nói.

    "Chơi vĩ cầm có được tính vào cái phạm trù ồn ào của anh không đấy?"

    Anh ta có vẻ lo lắng.

    "Còn tùy vào người chơi", tôi đáp.

    "Vĩ cầm mà chơi hay thì thần thánh cũng phải mê, còn chơi dở thì..."

    "Ồ, thế thì ổn cả", anh vừa kêu lên vừa bật cười vui vẻ.

    "Tôi nghĩ việc này coi như xong, tức là nếu như chỗ ở đó hợp ý anh."

    "Vậy khi nào chúng ta đi xem nhà đây?"

    "Gặp tôi ở đấy trưa ngày mai, rồi chúng ta sẽ cùng đi và dàn xếp mọi thứ", anh đáp.

    "Được rồi, đúng trưa mai", tôi bắt tay cáo từ.

    Sherlock Holmes ở lại cặm cụi với mớ hóa chất, còn hai chúng tôi cùng tản bộ về hướng khách sạn tôi ở.

    "À này", tôi đột ngột dừng bước, quay sang hỏi Stamford, "làm sao anh ta biết tôi từ Afghanistan về hở trời?"

    Anh bạn tôi nở một nụ cười bí ẩn.

    Anh nói, "Đó chính là điểm kì quặc của anh ta đấy.

    Rất nhiều người muốn biết anh ta làm cách nào mà tìm hiểu ra nhiều chuyện thế."

    "Ồ!

    Bí ẩn nhỉ?"

    Tôi kêu lên, hai bàn tay xoa vào nhau.

    "Đúng là gây tò mò hết sức!

    Rất cảm ơn anh đã đưa tôi gặp anh ta.

    Đối tượng nghiên cứu thích đáng của loài người là chính con người, anh biết mà."

    "Vậy thì anh cố mà nghiên cứu anh ta nhé", Stamford nói lúc chào tạm biệt tôi.

    "Nhưng anh sẽ thấy anh ta là một bài toán nan giải.

    Tôi dám đánh cuộc là anh ta biết về anh còn nhiều hơn anh biết về anh ta đấy.

    Tạm biệt."

    "Tạm biệt", tôi đáp lại rồi tiếp tục tản bộ về khách sạn, trong lòng đầy hiếu kì về người mới quen.

    2.

    Khoa học suy luận

    Hôm sau chúng tôi gặp nhau như đã hẹn, rồi cùng đi xem phòng ở số 221B phố Baker mà anh đã nhắc đến lần trước.

    Có hai phòng ngủ tiện nghi và một phòng khách rộng thoáng, có sẵn đồ đạc trông vui mắt và sáng sủa nhờ hai cửa sổ lớn.

    Căn hộ này thật đáng ao ước về mọi mặt và giá thuê hóa ra lại dễ chịu tới mức nếu chúng tôi chia đôi tiền thì quá hời.

    Thế là chúng tôi thuê luôn.

    Ngay chiều hôm đó, tôi chuyển đồ đạc từ khách sạn qua, và sáng hôm sau tới lượt Sherlock Holmes dọn đến với nhiều rương hòm lỉnh kỉnh.

    Chúng tôi mất một hai ngày bận rộn tháo dỡ và bày biện các vật dụng riêng sao cho thuận tiện nhất.

    Xong việc này, chúng tôi mới dần dần bắt đầu ổn định và thích ứng với môi trường mới.

    Holmes chắc chắn không phải là người khó sống chung.

    Anh có tính trầm lặng và thói quen điều độ.

    Hiếm khi anh ngủ muộn sau 10 giờ đêm và lúc nào cũng dùng điểm tâm và ra khỏi nhà trước khi tôi thức giấc vào buổi sáng.

    Có lúc anh miệt mài cả ngày ở phòng thí nghiệm hóa học, có lúc ở phòng mổ tử thi, và đôi khi tản bộ rất xa, những chuyến đi này hình như đưa anh đến tận những khu vực bần cùng nhất của London.

    Một khi đã nổi hứng làm việc thì không có chuyện gì là quá sức anh; nhưng thỉnh thoảng bị một cơn ức chế và suốt mấy ngày anh cứ nằm dài trên trường kỉ trong phòng khách, từ sáng đến tối không nói không rằng mà cũng không cục cựa mảy may.

    Những lần như thế, tôi để ý thấy ánh mắt anh có vẻ mơ màng, lờ đờ tới mức tôi nghi ngờ là anh nghiện một loại ma túy nào đó, mặc dù sự điều độ và tươm tất trong toàn bộ cuộc sống của anh không cho phép tôi nghĩ như thế.

    Mấy tuần lễ đã trôi qua, mối quan tâm và tò mò về con người lẫn mục đích sống của anh ngày càng sâu và lớn thêm trong lòng tôi.

    Ngay chính dáng dấp và diện mạo của anh đã khiến một người quan sát hờ hững nhất cũng phải chú ý rồi.

    Anh cao hơn sáu foot và gầy quá mức nên trông lại càng cao hơn.

    Đôi mắt anh luôn có cái nhìn sắc bén ngoại trừ những lúc đờ đẫn như tôi đã nói; sống mũi khoằm, thanh mảnh làm cho cả gương mặt toát ra vẻ lanh lợi và quả quyết.

    Cả cái cằm vuông vức, nhô ra trước cũng cho thấy rõ anh là một con người kiên định.

    Hai bàn tay lúc nào cũng dính dấu mực và vết bẩn hóa chất nhưng lại khéo léo lạ thường - như tôi thường có dịp chứng kiến khi quan sát anh thao tác với những dụng cụ khoa học mỏng manh.

    Độc giả có thể cho tôi là kẻ nhiều chuyện hết thuốc chữa khi tôi thú nhận rằng con người này đã khuấy động lòng hiếu kì của tôi biết bao, và đã không ít lần tôi cố gắng phá vỡ sự kín đáo cố hữu của anh trong mọi việc liên quan đến bản thân anh.

    Nhưng trước khi đưa ra phán xét, xin hãy nhớ cho, cuộc sống của tôi có mục đích gì đâu và hầu như chẳng có gì khiến tôi chú tâm cả.

    Sức khỏe không cho phép tôi đánh liều đi ra đường, trừ phi thời tiết hết sức dễ chịu, và tôi chẳng hề có bạn bè nào ghé thăm để phá tan nhịp sống đơn điệu thường nhật.

    Trong hoàn cảnh này, tôi hăm hở đón nhận sự bí ẩn nho nhỏ bao trùm người trọ cùng tôi và dành phần lớn thời gian để cố làm sáng tỏ điều đó.

    Anh không theo học ngành y.

    Trong một lần trả lời thắc mắc, chính anh đã xác nhận ý kiến của Stamford về điểm này.

    Anh không đọc sách theo đường hướng nào thích hợp với một bằng cấp khoa học, hay một ngưỡng cửa chính thống nào khác để bước vào thế giới học thuật.

    Thế nhưng nhiệt huyết anh dành cho một số ngành nghiên cứu lại rất đáng nể, và trong những lĩnh vực kì cục này thì hiểu biết của anh lại phong phú và cặn kẽ lạ thường, tới mức nhiều nhận xét của anh khiến tôi phải sửng sốt.

    Chắc chắn là không ai làm việc nỗ lực hay có được những thông tin chính xác đến thế mà lại không đặt ra một mục đích rõ ràng.

    Kiến thức của người đọc sách tùy hứng hiếm khi nào có được sự chính xác đáng kể.

    Chẳng ai bận tâm tới những vấn đề nhỏ nhặt trừ phi họ có lí do chính đáng để làm như thế.

    Sự thiếu hiểu biết của anh cũng thật đáng nể như kiến thức của anh vậy.

    Về chính trị, triết học và văn chương đương thời, anh hầu như chẳng biết gì cả.

    Nghe tôi trích dẫn Thomas Carlyle, anh hỏi ngây thơ hết sức rằng người đó là ai và đã làm gì.

    Tuy vậy, nỗi ngạc nhiên của tôi chỉ lên tới đỉnh điểm khi tình cờ tôi phát hiện ra anh không hề biết thuyết Copernicus và cấu trúc Thái Dương hệ.

    Ở thế kỉ mười chín này mà có chuyện một con người văn minh lại không biết trái đất chuyển động quanh mặt trời, đối với tôi quả là dị thường không thể nào hiểu nổi.

    "Trông anh ngạc nhiên kìa", anh vừa nói vừa cười trước vẻ mặt sửng sốt của tôi.

    "Bây giờ đã biết điều đó rồi thì tôi sẽ cố hết sức để quên nó luôn!"

    "Quên luôn!"

    "Vậy đó", anh giải thích, "tôi xem bộ óc con người ban đầu cũng giống như một cái gác xép trống nhỏ bé, và ta phải trang bị cho nó những thứ đồ đạc có chọn lọc.

    Một kẻ xuẩn ngốc sẽ chất đầy vào đủ thứ linh tinh mà hắn gặp đâu vơ đấy, cho nên những kiến thức có thể hữu ích cho hắn sẽ bị loại ra ngoài, hoặc cùng lắm thì lẫn lộn với nhiều thứ khác, cho nên khi hắn cần tới thì chẳng biết chúng nằm ở đâu.

    Trong khi một người thợ giỏi lại rất kĩ lưỡng với những gì anh ta cho vào cái gác xép bộ óc kia.

    Anh ta sẽ chỉ chọn toàn những dụng cụ có thể giúp ích cho công việc của mình, nhưng với những thứ này anh ta lại có một bộ sưu tập lớn và tất cả đều được sắp xếp theo trật tự hoàn hảo nhất.

    Đừng tưởng cái buồng nhỏ bé đó có những bức vách đàn hồi, muốn nhồi nhét bao nhiêu cũng được.

    Cứ tin như thế, sẽ đến lúc mỗi lần ta bổ sung thêm một kiến thức thì ta lại quên mất một điều đã biết.

    Cho nên, quan trọng nhất là đừng để những thông tin vô dụng tống khứ những thông tin hữu ích ra ngoài."

    "Nhưng còn Thái Dương hệ!"

    Tôi phản bác.

    "Thì nghĩa lí quái gì với tôi chứ?"

    Anh sốt ruột ngắt lời.

    "Anh nói chúng ta quay quanh mặt trời chứ gì?

    Nếu có quay quanh mặt trăng đi nữa thì cũng chẳng ảnh hưởng một chút nào đến tôi hay công việc của tôi."

    Tôi đã định hỏi xem công việc của anh là gì nhưng với thái độ của anh như thế thì tôi thấy câu hỏi này sẽ không được hoan nghênh.

    Tuy vậy, tôi cứ ngẫm nghĩ về cuộc chuyện trò ngắn ngủi ấy và cố rút ra những suy luận riêng.

    Anh bảo là không muốn thu thập bất kì kiến thức nào không liên quan đến mục đích của mình.

    Như thế mọi kiến thức Holmes có được hẳn là rất hữu ích đối với anh.

    Tôi thầm liệt kê trong đầu đủ các lĩnh vực mà anh đã cho tôi thấy rằng anh hết sức am tường.

    Thậm chí tôi còn lấy bút chì ghi ra giấy.

    Tôi không thể không bật cười trước tờ giấy tôi vừa viết.

    Nó như thế này:

    Sherlock Holmes - phạm vi trình độ

    1.

    Kiến thức văn học - Không.

    2.

    Kiến thức triết học - Không.

    3.

    Kiến thức thiên văn học - Không.

    4.

    Kiến thức chính trị - Yếu.

    5.

    Kiến thức thực vật học - Không đều.

    Rất giỏi về các loại cà độc dược, thuốc phiện, và các loài có chất độc nói chung.

    Không biết gì về trồng trọt.

    6.

    Kiến thức địa chất học - Thực tế, nhưng hạn hẹp.

    Chỉ nhìn qua là phân biệt được ngay các loại đất.

    Sau những chuyến tản bộ đã cho tôi xem những vết đất bẩn trên quần anh ta, và qua màu sắc cùng độ sệt của các vết này cho biết loại đất nào thuộc khu vực nào của London.

    7.

    Kiến thức hóa học - Uyên thâm.

    8.

    Kiến thức giải phẫu học - Chính xác, nhưng không hệ thống.

    9.

    Kiến thức về chuyện giật gân - Mênh mông.

    Dường như biết đến từng chi tiết mọi chuyện kinh hoàng đã xảy ra trong thế kỉ này.

    10.

    Chơi vĩ cầm rất hay.

    11.

    Là một tay kiếm, quyền Anh và côn lão luyện.

    12.

    Am hiểu thực tế về luật pháp Anh quốc.

    Khi liệt kê danh mục này tới đây, tôi tuyệt vọng ném luôn vào lò sưởi.

    "Làm sao kết hợp các khả năng này lại, và tìm cho được nghề nào cần đến tất cả những yếu tố đó thì họa may mới biết anh chàng đang theo đuổi cái gì," tôi tự nhủ.

    "Tốt nhất nên từ bỏ ngay ý định này cho rồi."

    Tôi thấy là ở trên tôi có nhắc đến tài chơi vĩ cầm của anh ta.

    Mặt này rất xuất sắc nhưng cũng quái lạ như mọi tài nghệ khác của anh.

    Chuyện anh ta chơi được nhiều bài, và nhiều bài khó, thì tôi biết rõ, vì anh đã từng chơi theo yêu cầu của tôi một số tấu khúc Mendelssohn cùng nhiều bài tôi thích.

    Tuy nhiên, nếu cứ để cho anh ta tùy ý thì hiếm khi anh đàn theo bài hay tạo ra bất cứ âm thanh nào có thể gọi là nhạc điệu.

    Cả buổi tối ngồi ngả lưng ra ghế bành, anh thường nhắm mắt và lơ đãng cọ chiếc vĩ vào cây đàn đặt trên đầu gối.

    Những hòa âm ấy có lúc ngân rền và sầu muộn, lúc khác lại dị thường và vui tươi.

    Rõ ràng những âm thanh đó phản ánh dòng suy nghĩ đang chi phối anh ta, nhưng tôi không thể nào biết chắc là thứ âm nhạc ấy đang hỗ trợ cho dòng suy tư hay việc kéo đàn chỉ đơn thuần là kết quả của sự ngẫu hứng hoặc ý muốn nhất thời.

    Lẽ ra tôi đã chống đối những màn độc tấu khó chịu kiểu đó nếu như anh ta không kết thúc bằng cách chơi liên tiếp một loạt bài mà tôi ưa thích như đền bù qua loa vì đã thường xuyên thử thách sự nhẫn nại của tôi.

    Trong khoảng tuần lễ đầu tiên, chúng tôi không có khách nào đến nhà và tôi bắt đầu cho rằng anh bạn này cũng là một kẻ không có bạn bè giống như tôi.

    Nhưng liền sau đó tôi thấy anh có nhiều người quen biết, và họ thuộc những tầng lớp xã hội không thể đa dạng hơn.

    Có một gã mắt đen, mặt chuột, da vàng bủng, người thấp bé, mà tôi nghe giới thiệu là ông Lestrade, đã tới đây ba hay bốn lần chỉ trong một tuần.

    Một buổi sáng, có một cô gái ăn mặc thời thượng ghé đến và nán lại đâu chừng nửa giờ.

    Ngay chiều hôm đó lại xuất hiện một vị khách tóc hoa râm, vẻ tiều tụy, trông như một người Do Thái bán rong, nhưng tôi thấy người này hình như đang mất bình tĩnh lắm.

    Ông này vừa đi thì tới lượt một phụ nữ đứng tuổi phục sức tồi tàn.

    Vào dịp khác có một ông già quý phái tóc bạc đến gặp riêng anh bạn tôi; và có lần khách đến lại là một người phu khuân vác mặc đồng phục vải nhung của ngành hỏa xa.

    Cứ mỗi lần có một nhân vật khó xác định như thế xuất hiện, Sherlock Holmes lại xin sử dụng phòng khách và tôi thường lui về phòng ngủ của mình.

    Anh luôn xin lỗi vì khiến tôi phải chịu sự bất tiện này.

    "Tôi phải dùng phòng này làm nơi hành nghề", anh nói, "và những người này là thân chủ của tôi."

    Một lần nữa tôi lại có cơ hội hỏi thẳng anh ta, và một lần nữa phép tế nhị lại ngăn tôi ép buộc người khác phải thổ lộ với mình.

    Lúc đó tôi cứ cho là anh ta hẳn phải có lí do rõ rệt để không nhắc đến nghề nghiệp, nhưng chẳng bao lâu sau anh đã xua tan ý nghĩ đó khi chính anh chủ động đề cập đến chuyện này.

    Hôm đó là ngày 4 tháng 3.

    Tôi có lí do chính đáng để ghi nhớ vì hôm đó tôi thức giấc sớm hơn lệ thường và thấy Sherlock Holmes vẫn chưa dùng điểm tâm xong.

    Bà chủ nhà đã quen với thói dậy muộn của tôi nên chưa dọn điểm tâm và pha cà phê cho tôi.

    Với lối hờn dỗi vô lí của loài người, tôi rung chuông và thông báo cộc lốc rằng tôi đã sẵn sàng.

    Rồi tôi cầm tờ tạp chí trên bàn lên và thử dùng nó giải khuây cho qua thời gian trong khi anh bạn tôi cứ lặng lẽ nhai miếng bánh mì nướng.

    Một bài báo có vết bút chì đánh dấu ngay đầu đề, và đương nhiên tôi đọc lướt qua bài báo đó.

    Với cái tít có phần tham vọng là Cuốn sách cuộc đời, bài báo cố chứng minh rằng một người tinh ý có thể biết được bao điều nếu chịu xem xét chính xác và có hệ thống mọi thứ anh ta bắt gặp.

    Tôi có cảm tưởng như bài báo này là một sự pha trộn đáng nể những ý tưởng thông minh lẫn ngớ ngẩn.

    Lập luận rất chặt chẽ và mạnh mẽ nhưng các suy diễn thì tôi thấy quá viển vông và cường điệu.

    Tác giả khẳng định là chỉ cần một nét mặt thoáng qua, một cơ bắp máy động hay một cái liếc mắt, cũng đủ để tìm hiểu được những ý nghĩ sâu kín của người ta.

    Theo tác giả này thì không thể nào lừa dối được một người đã thành thạo khả năng quan sát và phân tích.

    Kết luận của anh ta chắc như đinh đóng cột chẳng khác gì những tiên đề của Euclid.

    Với những ai không am hiểu thì những kết quả phán đoán của người này sẽ gây sửng sốt tới mức, nếu họ không biết được tiến trình suy luận của người đó, họ sẽ cho anh ta là phù thủy.

    Tác giả viết:

    Từ một giọt nước, người giỏi suy luận có thể suy ra cả một đại dương hay một dòng thác mà không cần phải nhìn hay nghe tận nơi.

    Bởi toàn bộ cuộc sống là một chuỗi liên kết vĩ đại, chỉ cần thấy được một mắt xích là ta sẽ biết được bản chất của cả chuỗi.

    Như mọi nghệ thuật khác, Khoa học Suy luận và Phân tích là thứ chỉ có thể thu nạp được bằng cách học tập bền bỉ và kiên trì, mà cuộc đời thì quá ngắn ngủi để người phàm có thể đạt tới trình độ cao nhất.

    Trước khi chuyển sang những khía cạnh trí tuệ hay luân lí của vấn đề, vốn đặt ra những thách thức lớn nhất, người điều tra hãy bắt đầu bằng cách rèn giũa những vấn đề sơ đẳng hơn.

    Sao cho khi gặp một người khác, anh ta nhận biết được lai lịch, nghề nghiệp hay chuyên môn của kẻ đó chỉ bằng một cái liếc nhìn.

    Dù đó có vẻ là một cách luyện tập tầm thường, nhưng nó lại giúp khả năng quan sát thêm nhạy bén, dạy cho ta biết phải nhìn ở đâu và tìm kiếm cái gì.

    Móng tay, ống tay áo, đôi ghệt, hai đầu gối ống quần, những vết chai sần ở ngón cái và ngón trỏ, nét mặt, cổ tay áo... nghề nghiệp của một người phơi bày hiển hiện qua từng yếu tố này.

    Nếu tập hợp tất cả những chi tiết ấy lại mà điều tra viên giỏi vẫn không làm sáng tỏ được điều này thì quả là không thể tưởng tượng nổi.

    "Bá láp không chịu được!"

    Tôi kêu to, đập mạnh tờ tạp chí xuống bàn.

    "Trong đời tôi chưa bao giờ đọc cái gì nhảm nhí như thế này!"

    "Cái gì thế?"

    Sherlock Holmes hỏi.

    "Ồ, bài báo này", tôi lấy cái thìa ăn trứng chỉ vào trang báo trong lúc ngồi vào bàn điểm tâm.

    "Tôi biết anh đọc rồi vì anh đã đánh dấu vào đó.

    Không phủ nhận là bài này viết sắc sảo.

    Nhưng mà đọc vẫn bực mình.

    Đây rõ ràng là lí thuyết của một kẻ rỗi hơi ngồi nhà ẩn mình trong thư phòng rồi bịa ra đủ thứ chuyện ngược đời tủn mủn vụn vặt như thế này.

    Đúng là phi thực tế.

    Tôi muốn tống gã này vào một toa hạng ba ở hệ thống đường sắt ngầm rồi yêu cầu gã đoán nghề nghiệp của hết thảy mọi người trong toa xem sao.

    Tôi dám cá một ngàn ăn một là hắn thua."

    "Anh sẽ mất tiền mà thôi", Sherlock Holmes bình thản lên tiếng.

    "Còn bài báo đó là chính tôi viết đấy."

    "Anh sao?"

    "Đúng, tôi có năng khiếu cả về quan sát lẫn suy luận.

    Những lí thuyết mà tôi trình bày ở đây, những điều mà anh cho là hão huyền đó, thực ra lại cực kì thực tế, thực tế tới mức nhờ chúng mà tôi kiếm sống qua ngày".

    "Bằng cách nào chứ?"

    Tôi buột miệng hỏi.

    "À, tôi có nghề nghiệp riêng.

    Tôi tin mình là người duy nhất trên đời làm nghề này.

    Tôi là thám tử cố vấn, chắc anh chẳng hiểu là gì, ở London này chúng ta có rất nhiều thám tử nhà nước và thám tử tư.

    Khi những người này mắc phải sai lầm thì họ lại tìm đến tôi, và tôi cố gắng giúp họ điều tra đúng hướng.

    Họ trưng hết chứng cứ cho tôi xem, và nhờ kiến thức của tôi về lịch sử hình sự, tôi có thể đưa ra chỉ dẫn chung để nắn họ đúng hướng.

    Những hành vi phạm tội thường có mối dây tương đồng mạnh mẽ, và nếu như ta đã nắm trong lòng bàn tay mọi chi tiết của một ngàn vụ mà không làm sáng tỏ được vụ thứ một ngàn lẻ một thì đúng là kì quặc.

    Lestrade là một thanh tra nổi tiếng đấy.

    Gần đây ông ta lâm vào ngõ cụt với một vụ giả mạo, và chính vì thế mà ông ta đã tới đây."

    "Thế còn mấy người kia?"

    "Họ chủ yếu là do các hãng điều tra tư phái tới.

    Họ toàn là những người đang gặp rắc rối gì đó, và muốn được khai sáng chút ít.

    Tôi lắng nghe chuyện của họ, họ lắng nghe những ý kiến của tôi, rồi tôi bỏ túi tiền thù lao."

    "Nhưng ý anh cho rằng", tôi nói, "không cần rời khỏi căn phòng này anh vẫn có thể gỡ rối một gút mắc nào đó mà những người kia phải bó tay, mặc dù chính họ đã biết rõ mọi chi tiết à?"

    "Đúng thế.

    Tôi có khả năng trực giác kiểu như vậy.

    Cũng có khi xảy ra một vụ gì đó phức tạp hơn một chút.

    Khi đó tôi phải chạy tới chạy lui đích thân xem xét mọi thứ.

    Anh biết là tôi có nhiều kiến thức đặc biệt mà tôi vận dụng vào những chuyện khó khăn và làm cho nhiều việc trở nên thuận lợi vô cùng.

    Những quy tắc suy luận nêu ra trong bài báo mà anh khinh rẻ đó lại hết sức quý báu với tôi trong công việc thực tế.

    Với tôi, quan sát là bản năng thứ hai.

    Lúc gặp nhau lần đầu, anh đã tỏ ra ngạc nhiên khi nghe tôi nói là anh từ Afghanistan về đấy thôi."

    "Nhất định là anh đã nghe ai nói rồi."

    "Làm gì có chuyện đó.

    Tôi biết anh từ Afghanistan về.

    Do thói quen từ lâu, một chuỗi suy luận đã lướt qua tâm trí tôi nhanh tới mức tôi đi đến kết luận mà không để ý đến những bước trung gian.

    Tuy nhiên vẫn có những bước như thế.

    Chuỗi suy luận đó như sau: Đây là một quý ông thuộc ngành y nhưng có phong thái nhà binh.

    Vậy rõ ràng là bác sĩ quân y.

    Anh ta mới về từ vùng nhiệt đới, vì da mặt rám đen, và đó không phải là màu da tự nhiên vì da ở hai cổ tay lại trắng.

    Anh ta đã kinh qua gian khổ và bệnh tật, bởi gương mặt hốc hác đã nói rõ điều đó.

    Cánh tay trái của anh ta đã bị thương tích.

    Tư thế cánh tay ấy cứng nhắc và không tự nhiên.

    Vậy đâu là vùng nhiệt đới nơi một bác sĩ quân y Anh quốc phải gặp nhiều gian khổ và bị thương nơi cánh tay?

    Rõ ràng là Afghanistan rồi.

    Toàn bộ chuỗi suy luận ấy lướt qua không đầy một giây.

    Sau đó tôi nhận xét là anh ở Afghanistan về và anh đã sửng sốt."

    "Anh giải thích thì nghe thật đơn giản", tôi vừa nói vừa cười.

    "Anh làm tôi nhớ tới nhân vật Dupin của Edgar Allan Poe.

    Tôi thật không ngờ những nhân vật như thế lại tồn tại bên ngoài trang sách."

    Sherlock Holmes đứng dậy châm tẩu thuốc.

    "Chắc chắn anh cho là anh đang khen ngợi tôi khi so sánh tôi với Dupin," anh nhận xét.

    "Này, theo tôi thì Dupin là một tay rất xoàng xĩnh.

    Hắn hay làm cái trò chen ngang vào ý nghĩ của bạn bè bằng một lời bình luận đúng lúc sau cả mười lăm phút im lặng, trò ấy quá ư phô trương và nông cạn.

    Hắn có chút thiên tư phân tích đấy, hẳn rồi, nhưng hoàn toàn chẳng phải là một hiện tượng gì ghê gớm như Poe đã tưởng tượng ra cả."

    "Thế anh đã đọc các tác phẩm của Gaboriau chưa?"

    Tôi hỏi.

    "Lecoq có đạt tới trình độ một thám tử như anh nghĩ không nào?"

    Sherlock Holmes khịt mũi khinh thường.

    Anh đổi giọng giận dữ, "Lecoq là một tên vụng về thảm hại.

    Hắn chỉ có một thứ duy nhất đáng khen chính là sức lực của hắn.

    Đọc truyện Gaboriau tôi muốn bệnh luôn.

    Vấn đề là làm cách nào xác định được một tù nhân chưa biết.

    Tôi có thể giải quyết chuyện đó trong vòng hai mươi bốn giờ.

    Còn tay Lecoq kia mất khoảng sáu tháng mới xong.

    Thứ tác phẩm đó có thể làm giáo trình cho thám tử để dạy họ những điều nên tránh."

    Tôi khá phẫn nộ khi thấy hai nhân vật mà mình hâm mộ lại bị khinh thường như thế.

    Tôi đi tới cửa sổ và đứng nhìn ra con đường nhộn nhịp bên ngoài.

    Tôi nghĩ thầm, "Gã này thông minh tới đâu chưa biết, nhưng chắc chắn là rất tự cao tự đại."

    "Thời buổi này không có tội ác nào mà cũng chẳng có tội phạm nào cả", anh nói tiếp, giọng ta thán.

    "Trong nghề nghiệp của chúng tôi thì trí óc dùng để làm gì?

    Tôi biết rõ trí óc mình thừa sức làm cho tôi nổi tiếng.

    Từ trước đến nay chưa hề có một người nào vừa tìm tòi nhiều lại vừa có tài năng thiên bẩm như tôi, áp dụng vào việc phát hiện tội ác như tôi đã làm.

    Và kết quả là gì?

    Chẳng còn tội ác nào để điều tra, hay cùng lắm chỉ còn mấy hành vi thủ ác vụng về với động cơ rõ ràng tới mức ngay cả một viên chức ở Sở Cảnh sát London cũng có thể thấy rõ bản chất."

    Tôi vẫn còn bực mình vì cái lối nói chuyện tự phụ của Sherlock Holmes.

    Tôi nghĩ tốt nhất nên đổi đề tài.

    "Tôi thắc mắc không biết anh chàng kia đang tìm kiếm cái gì?"

    Tôi vừa hỏi vừa chỉ tay về phía một người lực lưỡng, ăn mặc đơn giản, đang chậm rãi tản bộ ven đường bên kia, mắt lo lắng nhìn từng số nhà.

    Anh ta cầm trong tay một phong bì xanh khổ lớn, và rõ ràng là một người đưa tin.

    "Anh muốn nói tới anh chàng trung sĩ thủy quân lục chiến đã phục viên đấy à", Sherlock Holmes nói.

    Tôi thầm nghĩ, "Đúng là đồ ba hoa khoác lác!

    Gã thừa biết là mình không thể kiểm chứng được những phỏng đoán của gã mà."

    Ý nghĩ đó mới lóe lên trong tâm trí thì người chúng tôi quan sát nãy giờ đã tìm ra số nhà trên cánh cửa căn hộ của chúng tôi, và chạy thật nhanh băng qua đường.

    Chúng tôi nghe thấy một tiếng gõ cửa mạnh, một giọng nói trầm trầm ở dưới nhà, rồi tiếng bước chân nặng nề đi lên cầu thang.

    "Gửi cho ông Sherlock Holmes", người ấy vừa nói vừa bước vào phòng và đưa phong thư cho anh bạn tôi.

    Đây là cơ hội để đập tan thói tự phụ của Sherlock Holmes.

    Hẳn anh chẳng nghĩ đến chuyện này khi đưa ra lời nhận xét hú họa ban nãy.

    "Này, chàng trai, tôi hỏi khí không phải", tôi nói với người đưa tin bằng giọng ôn tồn nhất, "anh làm nghề gì vậy?"

    "Thưa, liên lạc viên", anh ta đáp gọn ghẽ.

    "Đồng phục đã đem đi sửa."

    "Thế còn trước đây?"

    Tôi hỏi, kèm theo cái liếc mắt hơi thâm hiểm về phía anh bạn tôi.

    "Thưa, trung sĩ, thưa, khinh binh thủy quân lục chiến hoàng gia.

    Không hồi âm?

    Thưa, vâng."

    Anh chàng đập hai gót chân vào nhau, đưa tay chào kiểu nhà binh, rồi biến mất.

    3.

    Bí ẩn Lauriston Gardens

    Thú thật là tôi giật bắn người trước cái bằng chứng mới mẻ này về tính thực tiễn trong các lí thuyết của Sherlock Holmes.

    Lòng kính nể của tôi dành cho tài phân tích của anh đã tăng lên bội phần.

    Tuy nhiên, tâm trí tôi vẫn còn gợn chút hồ nghi rằng toàn bộ chuyện này là một tình tiết đã được dàn cảnh để lòe tôi, mặc dù anh ta muốn lừa tôi nhằm mục đích quái quỷ gì thì tôi không tài nào hiểu được.

    Khi tôi nhìn sang thì anh đã đọc xong bức thư, và trong đôi mắt anh lại là biểu hiện xa vắng, đờ đẫn của một trí óc lơ đãng.

    "Làm thế nào anh suy luận ra được hở trời?"

    Tôi hỏi.

    "Suy luận chuyện gì?"

    Anh cáu kỉnh hỏi lại.

    "Ồ, chuyện anh ta là trung sĩ thủy quân lục chiến giải ngũ đó."

    "Tôi không có thời gian cho những chuyện vặt vãnh", anh trả lời giọng cộc cằn, rồi lại mỉm cười.

    "Xin lỗi vì đã thô lỗ.

    Anh cắt đứt dòng suy nghĩ của tôi, nhưng có lẽ thế cũng tốt thôi.

    Hóa ra anh không nhận biết được người đó là trung sĩ thủy quân lục chiến sao?"

    "Thực tình là không."

    "Biết thì dễ, chứ giải thích tại sao tôi biết còn khó hơn.

    Nếu ai bắt anh chứng minh hai cộng hai là bốn, chắc anh sẽ có phần lúng túng, thế nhưng anh lại rất đinh ninh điều đó.

    Ngay từ khi anh chàng đó còn ở bên kia đường, tôi đã nhìn thấy trên mu bàn tay anh ta hình xăm một mỏ neo lớn màu xanh.

    Dấu hiệu đó có liên quan đến biển.

    Tuy nhiên, người này có dáng đi nhà binh, và có tóc mai dài hai bên đúng quy chuẩn.

    Ta suy ra được thủy quân lục chiến.

    Người này có chút gì đó ra vẻ quan trọng và có phong thái quyền uy nhất định.

    Chắc hẳn anh đã nhận thấy cách anh ta ngẩng cao đầu và vung cây gậy.

    Nhìn qua đã thấy đây là một người trung niên khả kính và vững vàng - tất cả những yếu tố đó khiến tôi tin rằng người này đã từng là một trung sĩ."

    "Tuyệt vời!"

    Tôi buột miệng.

    "Tầm thường thôi", Holmes nói vậy nhưng qua nét mặt của anh, tôi nghĩ anh hài lòng trước sự ngạc nhiên và thán phục rành rành của tôi.

    "Mới hồi nãy tôi nói là chẳng hề có tội phạm nào.

    Hình như tôi đã lầm...

    Anh nhìn này!"

    Anh thảy cho tôi bức thư mà người liên lạc đã mang đến.

    "Ôi", tôi kêu to khi đảo mắt qua bức thư, "kinh khủng quá!"

    "Coi bộ hơi khác thường đó", anh bình tĩnh nhận xét.

    "Phiền anh đọc to lên giúp tôi đi?"

    Đây là bức thư tôi đọc cho anh nghe:

    ÔNG SHERLOCK HOLMES QUÝ MẾN,

    Đêm qua đã có chuyện dữ ở số 3 Lauriston Gardens, phía đường Brixton rẽ sang.

    Nhân viên của chúng tôi khi tuần tra đã thấy ánh đèn ở đó vào khoảng 2 giờ sáng, và vì đó là một căn nhà bỏ không nên hồ nghi có chuyện bất thường.

    Nhân viên thấy cửa chính mở ngỏ, và trong tiền phòng không hề có đồ đạc gì, đã phát hiện xác chết của một người quý phái, ăn mặc sang trọng, trong túi có những tấm thiếp mang tên Enoch J Drebber, Cleveland, Ohio, USA.

    Không hề có dấu hiệu trộm cướp mà cũng không hề có chứng cứ cho biết người này đã chết như thế nào.

    Có nhiều vết máu trong căn phòng nhưng không hề có vết thương trên thân thể người chết.

    Chúng tôi lúng túng không rõ làm sao ông ta lại vào căn nhà bỏ không này; thực tế thì toàn bộ vụ việc là một vấn đề nan giải.

    Nếu như ông có thể quá bộ đến căn nhà ấy vào bất cứ lúc nào trước 12 giờ trưa, ông sẽ gặp tôi ở đó.

    Tôi đã để mọi thứ như 'in statu quo' chờ đến khi được nghe ý kiến của ông.

    Nếu như ông không đến được, tôi sẽ cung cấp những chi tiết đầy đủ hơn, và sẽ hết sức cảm kích nếu như ông có thể giúp cho tôi ý kiến.

    Kính thư,

    TOBIAS GREGSON

    "Gregson là người tài trí nhất ở Sở Cảnh sát London đấy", anh bạn tôi lên tiếng.

    "Trong một đám tệ hại thì ông ta và Lestrade ưu tú nhất.

    Cả hai đều nhanh nhẹn và năng động, nhưng theo lối cũ... cực kì cũ.

    Hai người này lại chẳng ai ưa ai.

    Họ cứ đố kị nhau như hai mĩ nhân của giới thượng lưu.

    Vụ này sẽ thú vị đấy nếu như cả hai cùng vào cuộc điều tra."

    Tôi hết sức ngạc nhiên với cách nói đều đều bình thản của anh.

    Tôi kêu lên, "Nhất định là không được chậm trễ một phút nào.

    Tôi đi gọi xe cho anh nhé?"

    "Tôi không chắc là có cần đi hay không.

    Tôi là con quỷ lười biếng hết thuốc chữa nhất trần đời xưa nay...

    ý tôi là khi tôi lên cơn lười, bởi vì nhiều lúc tôi cũng nhanh nhẹn lắm."

    "Ồ, đây chính là cái cơ hội mà anh vẫn mong chờ đấy thôi."

    "Anh bạn thân mến ơi, việc này thì quan trọng gì với tôi chứ.

    Giả sử là tôi làm sáng tỏ được toàn bộ vấn đề đi, anh có thể tin chắc rằng Gregson, Lestrade và cả đám kia sẽ hưởng hết mọi công lao.

    Tất cả chỉ vì tôi không có danh chính ngôn thuận."

    "Nhưng ông ta đã xin anh giúp đỡ."

    "Đúng, ông ta biết là tôi giỏi hơn và đã thừa nhận điều đó với tôi, nhưng ông ta thà cắn đứt lưỡi còn hơn thừa nhận điều đó với một kẻ thứ ba.

    Dù sao chúng ta cũng nên thử tới xem qua một cái.

    Tôi nghĩ tôi sẽ tự mình giải quyết.

    Nếu không được cái gì thì tôi cũng có thể cười nhạo họ.

    Đi nào!"

    Anh hấp tấp mặc áo khoác, và lăng xăng tới lui với điệu bộ cho thấy một cơn hứng khởi mạnh mẽ đã thế chỗ cho trạng thái thờ ơ.

    "Lấy mũ đi chứ", anh nói.

    "Anh muốn tôi đi cùng ư?"

    "Đúng vậy, nếu như anh không có việc gì hay ho hơn."

    Một phút sau cả hai chúng tôi đã đón một chiếc xe ngựa nhỏ, phóng nước đại tới đường Brixton.

    Đó là một buổi sáng mây mù, u ám.

    Một màn sương nâu xám bao trùm các mái nhà, trông như hình ảnh phản chiếu của những con đường màu bùn bên dưới.

    Anh bạn tôi đang cao hứng tột độ và cứ nói thao thao về những cây vĩ cầm Cremona, về sự khác biệt giữa đàn Stradivarius và đàn Amati.

    Về phần mình, tôi im lặng bởi cái thời tiết ảm đạm và công việc bi thương mà chúng tôi can dự vào đã khiến tôi sa sút tinh thần.

    "Coi bộ anh chẳng bận tâm gì mấy đến vấn đề đang cấp thiết."

    Cuối cùng tôi lên tiếng, cắt ngang bài giảng giải âm nhạc của Holmes.

    "Đã có dữ kiện nào đâu", anh đáp.

    "Chưa có đủ hết chứng cứ mà đã đặt ra giả thuyết là một sai lầm nghiêm trọng đấy."

    "Dữ kiện thì anh sẽ có ngay thôi", tôi vừa nói vừa chỉ tay.

    "Nếu như tôi không lầm thì đây là đường Brixton, còn kia là căn nhà đó."

    "Chứ còn gì nữa.

    Dừng lại, bác xà ích ơi, dừng!"

    Chúng tôi còn cách căn nhà chừng trăm yard nhưng anh khăng khăng đòi xuống, và chúng tôi đi bộ hết đoạn đường còn lại.

    Vẻ đe dọa và điềm dữ bao trùm nhà số 3 Lauriston Gardens.

    Đó là một trong bốn căn nhà nằm lùi xa đường cái một chút, hai căn có người ở còn hai căn bỏ trống.

    Hai căn bỏ trống hướng mặt ra đường với ba hàng cửa sổ sầu não, trống trơ và ảm đạm, ngoại trừ đây đó một tấm bảng "Cho Thuê" hiện ra như một vết ố trên những tấm kính xỉn đục.

    Mỗi căn nhà cách đường cái một khu vườn nhỏ điểm xuyết những bụi cây còi cọc nhô lên lộn xộn.

    Cắt ngang khu vườn là một đường đi hẹp, màu vàng ệch, rõ ràng là một hỗn hợp của đất sét và sỏi.

    Toàn bộ chốn này đầy những vũng nước đọng lại từ cơn mưa đổ xuống đêm qua.

    Khu vườn được bao bọc bằng một bức tường gạch cao ba foot, bên trên là hàng rào bằng những cọc gỗ.

    Đang dựa lưng vào bức tường là một anh cảnh binh vạm vỡ và bu quanh anh ta là một đám người rảnh công rỗi việc đang rướn cổ, căng mắt với hi vọng hão huyền là sẽ thấy được chuyện gì đó đang diễn ra bên trong.

    Tôi cứ hình dung Sherlock Holmes sẽ lập tức ào vào căn nhà và bắt tay vào cuộc điều tra bí ẩn này ngay.

    Ý đồ của anh hoàn toàn không hề giống như tôi tưởng tượng.

    Anh cứ tha thẩn đi tới đi lui trên vỉa hè, ánh mắt xa xăm nhìn trời, nhìn đất, nhìn những căn nhà đối diện và nhìn dãy cọc gỗ hàng rào, với một vẻ phớt tỉnh mà trong tình huống như thế này tôi cho là làm bộ làm tịch.

    Hết nhìn ngó, anh lại từ từ đi tiếp dọc theo con đường nhỏ, hay nói đúng hơn là đi men theo rìa cỏ mọc bên lối đi, mắt cắm xuống đất.

    Có hai lần anh dừng bước, và một lần tôi thấy anh mỉm cười rồi nghe anh thốt lên một tiếng hài lòng.

    Trên mặt đất ướt nhão có nhiều dấu chân, nhưng vì cảnh sát đã qua lại giẫm nát chỗ này, tôi không thể nào biết anh bạn mình làm sao còn hi vọng tìm hiểu được gì ở đấy.

    Dù vậy, tôi đã có bằng chứng phi thường về những khả năng nhận biết nhanh nhạy của anh nên tôi tin chắc anh có thể thấy rất nhiều điều mà tôi không tài nào nhìn ra.

    Ra đón chúng tôi ở cửa chính căn nhà là một người cao lớn, mặt trắng, tóc vàng, tay cầm cuốn sổ.

    Ông ta chạy ào tới và siết chặt bàn tay anh bạn tôi đầy cảm kích.

    "Ông đến đây thật quý hóa quá", ông ta nói.

    "Tôi đã để nguyên mọi thứ không động vào."

    "Trừ chỗ kia!"

    Anh bạn tôi vừa đáp lời vừa chỉ tay ra con đường nhỏ.

    "Một đàn trâu mà băng qua đây cũng không thể nào giẫm đạp bầy hầy hơn được.

    Nhưng chắc chắn là ông đã tự rút ra kết luận trước khi ông cho phép như thế, ông Gregson nhỉ?"

    "Tôi có quá nhiều việc phải làm ở trong nhà", viên thanh tra nói chống chế.

    "Đồng sự của tôi, ông Lestrade, cũng ở đây.

    Tôi phải nhờ cậy ông ấy trông nom phía ngoài này."

    Holmes liếc nhìn tôi và nhướng mày ra vẻ mỉa mai.

    Anh nói, "Đã có hai vị như ông đây và Lestrade ở hiện trường thì có còn gì cho kẻ thứ ba phát hiện nữa đâu."

    Gregson xoa hai bàn tay vào nhau một cách tự mãn.

    "Tôi nghĩ chúng tôi đã làm hết những gì có thể làm.

    Dẫu sao đây cũng là một vụ lạ lùng, và tôi biết những vụ như thế này đúng với sở thích của ông."

    "Ông tới đây không phải bằng xe ngựa đấy chứ?"

    Sherlock Holmes hỏi.

    "Đúng đó, thưa ông."

    "Lestrade cũng thế à?"

    "Cũng vậy, thưa ông."

    "Vậy thì chúng ta vào xem qua căn phòng đi."

    Với câu nói vu vơ ấy, anh sải bước đi vào nhà, theo sau là Gregson với nét mặt lộ rõ ngạc nhiên.

    Một hành lang ngắn, sàn lát ván không trải thảm và đầy bụi bặm, dẫn vào nhà bếp và các phòng làm việc.

    Hai cánh cửa mở ra hai bên hành lang.

    Một cánh cửa rõ ràng đã đóng kín suốt nhiều tuần lễ.

    Cửa kia dẫn vào phòng ăn và đó chính là căn phòng đã xảy ra sự việc bí ẩn.

    Holmes bước vào, và tôi đi theo anh với cảm giác u uất trong lòng khi phải chứng kiến cảnh chết chóc.

    Đó là một căn phòng lớn hình vuông, chẳng có đồ đạc gì nên trông càng rộng lớn hơn.

    Bốn bức tường trang trí bằng giấy dán tường lòe loẹt tầm thường nhưng nhiều chỗ đã hoen ố vì mốc meo.

    Rải rác nhiều chỗ, giấy dán tường đã bong ra và rũ thõng xuống, phơi trần lớp vữa vàng phía sau.

    Đối diện cánh cửa này là một lò sưởi kiểu cách phô trương, mặt bệ bên trên làm giả đá cẩm thạch trắng.

    Ở một góc bệ lò sưởi còn dính một cây nến sáp đỏ chỉ còn trơ phần gốc.

    Khung cửa sổ độc nhất bẩn thỉu tới mức ánh sáng rọi qua mờ đi và cứ chập chờn nhuộm xám mọi vật trong phòng.

    Cái sắc xám ấy lại càng thêm xỉn đục vì những lớp bụi dày phủ kín toàn bộ căn phòng.

    Mọi chi tiết đó lúc sau tôi mới quan sát kĩ.

    Còn lúc này sự chú ý của tôi chỉ tập trung vào một hình thù bất động thảm thương nằm dài trên những tấm ván sàn, đôi mắt vô hồn trừng trừng nhìn lên trần nhà ố màu.

    Đó là một người đàn ông tuổi trạc bốn mươi ba hay bốn mươi bốn, tầm vóc trung bình, bờ vai rộng, mái tóc đen xoăn tít, để râu quai nón lởm chởm.

    Ông ta mặc áo choàng bằng vải len dày, áo gilet, quần màu sáng, cổ áo và hai cổ tay áo sạch bong.

    Nằm trên sàn nhà cạnh ông ta là chiếc mũ chóp cao được chải chuốt tươm tất.

    Hai bàn tay người này nắm chặt, hai cánh tay dang rộng, còn hai chân lại quắp vào nhau như thể đã chống chọi khổ sở với cái chết.

    Trên gương mặt cứng đờ in hằn nét kinh hoàng và một vẻ căm hờn mà tôi chưa từng thấy biểu lộ trên diện mạo con người.

    Nét mặt rúm ró kinh khủng và hiểm ác này, kết hợp với vầng trán thấp, cái mũi tẹt, và quai hàm chìa ra phía trước khiến cho người chết trông giống khỉ đến lạ lùng, và càng giống khỉ hơn nữa bởi cái tư thế quằn quại lạ thường.

    Đã từng thấy sự chết chóc dưới nhiều hình thức, nhưng chưa bao giờ tôi thấy cái chết nào lại khiến mình ghê sợ như trong căn phòng bẩn thỉu tối tăm hướng ra trục lộ chính của khu ngoại ô London này.

    Lestrade, gầy còm và bé choắt như con chồn, đứng ở ngưỡng cửa từ hồi nào, cất tiếng chào hai chúng tôi.

    "Vụ này sẽ gây xôn xao đó, quý vị", ông ta nói.

    "Nó kì lạ hơn bất cứ vụ nào tôi đã gặp, mà tôi thì đâu phải hạng gà mờ."

    "Không có manh mối gì à?"

    Gregson hỏi.

    "Chẳng có gì hết", Lestrade đáp.

    Sherlock Holmes tiến lại gần xác chết rồi quỳ xuống kiểm tra chăm chú.

    "Các ông có chắc là không có vết thương nào không?"

    Anh vừa hỏi vừa chỉ những vết máu vương vãi chung quanh.

    "Chắc chắn!"

    Cả hai thanh tra đồng thanh lên tiếng.

    "Như vậy hẳn nhiên máu này là của kẻ thứ hai, đoán chừng là kẻ sát nhân, nếu như đây đúng là vụ giết người.

    Vụ này khiến tôi nhớ lại tình huống liên quan đến cái chết của Van Jansen ở Utrecht vào năm 1834.

    ông còn nhớ vụ đó không, Gregson?"

    "Không, thưa ông."

    "Hãy đọc nhiều vào, nên đọc đi.

    Chẳng có điều gì mới ở dưới mặt trời.

    Mọi chuyện đã từng xảy ra trước kia rồi."

    Trong lúc nói chuyện, những ngón tay lanh lẹ của anh di chuyển thoăn thoắt khắp mọi nơi, lúc đè mạnh, lúc mở khuy áo, lúc nắn bóp, trong khi đôi mắt anh lại hiện rõ chính cái vẻ xa xăm, đờ đẫn mà tôi từng đề cập đến.

    Cuộc khám xét được tiến hành mau lẹ tới mức không ai có thể đoán được nó tỉ mỉ đến mức nào.

    Cuối cùng, anh ngửi đôi môi của cái xác, rồi nhìn xuống đế đôi ghệt da bóng của người chết.

    "Người này không hề bị dời chỗ đấy chứ?"

    Anh hỏi.

    "Vẫn nguyên đấy, chúng tôi chỉ động vào để kiểm tra thôi."

    "Giờ thì các ông đưa người này vào nhà xác được rồi", anh nói.

    "Chẳng còn gì cần tìm hiểu thêm nữa."

    Gregson đã có sẵn cáng và bốn người khiêng cáng.

    Nghe ông gọi, họ đi vào căn phòng và kẻ xa lạ kia được nhấc lên đưa ra ngoài.

    Lúc họ đỡ người chết lên, một chiếc nhẫn rơi xuống kêu lanh canh rồi lăn tròn trên sàn nhà.

    Lestrade tóm lấy và đưa lên nhìn chòng chọc với ánh mắt hoang mang.

    "Đã có một người đàn bà ở đây", ông ta kêu lên.

    "Đây là cái nhẫn cưới của phụ nữ."

    Vừa nói ông ta chìa chiếc nhẫn trên lòng bàn tay ra.

    Tất cả chúng tôi bu quanh Lestrade nhìn chăm chú.

    Không thể hồ nghi gì nữa, chiếc nhẫn vàng trơn này đã từng tô điểm ngón tay của một cô dâu.

    "Cái này làm vấn đề phức tạp thêm", Gregson nói.

    "Có trời chứng giám, không có nó thì mọi thứ đã đủ phức tạp lắm rồi."

    "Ông chắc là nó không đơn giản hóa mọi chuyện đấy chứ?"

    Holmes nhận xét.

    "Cứ nhìn chằm chằm vào nó thì cũng chẳng biết được gì.

    Ông đã tìm thấy gì trong các túi áo túi quần người chết?"

    "Chúng tôi còn giữ hết đây này", Gregson chỉ về phía một mớ đồ lộn xộn nằm trên mấy bậc thang dưới cùng.

    "Một đồng hồ vàng, số 97163, do nhà Barraud ở London sản xuất.

    Một dây đeo đồng hồ, rất nặng và bằng vàng ròng.

    Một nhẫn vàng có chạm huy hiệu hội Tam Điểm.

    Một ghim cài cà vạt bằng vàng, có hình đầu chó với hai con mắt bằng hồng ngọc.

    Một hộp danh thiếp bằng da Nga, với những tấm thiếp in tên Enoch J.

    Drebber ở Cleveland, tương ứng với mấy chữ tắt E.J.D thêu trên áo.

    Không có ví tiền nhưng có một số tiền lẻ tổng cộng là bảy bảng mười ba shilling.

    Một ấn bản bỏ túi cuốn Decameron của Boccaccio, trên trang lót có ghi tên Joseph Stangerson.

    Hai lá thư, một lá gửi cho E.J.

    Drebber và một lá cho Joseph Stangerson."

    "Ở địa chỉ nào?"

    "Sở Hối đoái Hoa Kì, phố Strand, người nhận sẽ đến lấy.

    Cả hai lá thư đều gửi từ hãng tàu thủy Guion và đều nói về lịch tàu rời cảng Liverpool.

    Rõ ràng là kẻ xấu số này đã định quay về New York."

    "Ông đã điều tra gì về gã Stangerson này chưa?"

    "Tôi đã làm ngay việc đó rồi", Gregson nói.

    "Tôi đã cho gửi bố cáo đến mọi nhật báo, và một người của tôi đã tới Sở Hối đoái Hoa Kì nhưng vẫn chưa về."

    "Ông có gửi sang Cleveland không?"

    "Sáng nay tôi gửi điện tín rồi."

    "Thế ông viết các yêu cầu ra làm sao?"

    "Chúng tôi chỉ kể rõ các tình huống, và nói sẽ rất cảm kích với bất kì thông tin nào có thể giúp ích chúng tôi."

    "Thế ông không hỏi chi tiết về bất kì điểm nào mà ông thấy quan trọng sao?"

    "Tôi có hỏi về Stangerson."

    "Thế thôi à?

    Không hề có tình huống nào làm mấu chốt cho toàn bộ vụ này sao?

    Ông sẽ không gửi thêm điện tín ư?"

    "Tôi đã nói hết những gì cần nói", Gregson nói, giọng ra chiều phật ý.

    Sherlock Holmes nén cười rồi định nói gì đó thì Lestrade lại xuất hiện.

    Nãy giờ Lestrade vẫn ở trong tiền phòng, trong khi chúng tôi nói chuyện ở hành lang, bây giờ ông ta đi ra, hai bàn tay xoa vào nhau với điệu bộ dương dương tự đắc.

    "Ông Gregson", ông ta nói, "tôi vừa phát hiện một chi tiết cực kì quan trọng, mà chắc sẽ bị bỏ sót nếu như không có tôi đây kiểm tra kĩ các bức tường."

    Người đàn ông thấp bé này miệng nói mà ánh mắt cứ sáng rực lên; rõ ràng là ông ta đang cố kiềm chế sự đắc chí vì đã thắng được đồng nghiệp một điểm.

    "Tới đây", ông ta vừa nói vừa lăng xăng quay lại căn phòng, không khí bên trong dường như sáng sủa hơn từ khi cái xác kia được chuyển đi.

    "Đấy, cứ đứng ở đó!"

    Ông ta quẹt một que diêm vào chiếc ghệt rồi đưa ánh lửa lên sát bức tường.

    "Nhìn đây này!"

    Lestrade đắc thắng reo lên.

    Lúc trước tôi đã nói là các tấm giấy dán tường đã bong tróc nhiều chỗ.

    Ở ngay góc phòng này, một miếng giấy lớn đã được lột ra, phơi ra một mảng vôi vữa màu vàng hình vuông.

    Vắt ngang qua khoảng trống này là những mẫu tự màu đỏ máu nguệch ngoạc thành một từ duy nhất: RACHE.

    "Quý vị thấy sao?"

    Viên thanh tra thốt lên với giọng điệu của một ông bầu gánh xiếc đang quảng cáo chương trình.

    "Chi tiết này bị bỏ sót vì nó nằm trong góc tối nhất của căn phòng, và không người nào nghĩ đến chuyện nhìn ngó ở đây.

    Kẻ sát nhân đã viết bằng chính máu của y hay của ả.

    Hãy xem chỗ nhòe vì máu chảy giọt xuống tường đây này!

    Nó đã đập tan giả thuyết đây là vụ tự sát.

    Tại sao lại chọn cái góc đó mà viết?

    Tôi nói cho quý vị rõ.

    Hãy nhìn cây nến trên bệ lò sưởi kia.

    Nó được thắp sáng vào lúc đó, và nếu nến thắp sáng thì góc này chính là nơi sáng sủa nhất chứ không phải mảng tường tăm tối nhất."

    "Giờ ông đã tìm thấy rồi, nó có ý nghĩa gì vậy?"

    Gregson hỏi với giọng khinh thường.

    "Ý nghĩa?

    À, nó có nghĩa là người viết đã định viết chữ Rachel một cái tên của phụ nữ, nhưng đã bị gián đoạn trước khi y hay ả kịp viết xong.

    Hãy nhớ lời tôi đi, khi vụ này đã sáng tỏ, quý vị sẽ thấy có một phụ nữ tên Rachel dính líu vào đây.

    Ông cứ việc cười cho thỏa mãn đi, thưa ông Sherlock Holmes.

    Ông có thể rất nhanh trí và thông minh, nhưng xét về mọi mặt thì con chó săn già vẫn là cừ khôi nhất."

    "Tôi thật lòng xin lỗi ông".

    Anh bạn tôi lên tiếng sau khi đã khiến con người thấp bé kia mếch lòng vì một tràng cười ầm ĩ.

    "Chắc chắn ông được ghi công là người đầu tiên trong chúng ta phát hiện ra điều này, và như ông nói, mọi dấu vết đều cho thấy những mẫu tự này được viết bởi một kẻ khác đã tham gia vào vụ án bí ẩn đêm qua.

    Tôi chưa có thời gian để kiểm tra căn phòng, nhưng xin phép ông bây giờ tôi sẽ kiểm tra."

    Vừa nói anh vừa rút trong túi ra một cái thước dây và một chiếc kính lúp tròn cỡ lớn.

    Với hai dụng cụ này, anh thong thả đi khắp phòng mà không hề gây ra tiếng động nào, lúc thì dừng bước, lúc thì quỳ xuống, và có lần anh nằm dài úp mặt xuống sàn.

    Anh mê mải với công việc này tới mức dường như quên mất sự hiện diện của chúng tôi, bởi anh cứ liên tục lẩm bẩm một mình, cứ không ngừng thốt ra hết những tràng cảm thán, rên rỉ rồi huýt sáo và những tiếng kêu khẽ hàm ý khích lệ hay hi vọng.

    Quan sát anh, tôi không khỏi liên tưởng đến một con chó săn cáo thuần chủng được huấn luyện kĩ đang sục sạo trong lùm cây, rít ư ử đầy hăm hở, cho đến khi đánh hơi được con mồi lạc dấu.

    Suốt hai mươi phút hoặc hơn, anh cứ tiếp tục vừa săm soi vừa cẩn trọng đo đạc sao cho chính xác nhất khoảng cách giữa các điểm mốc, vốn hoàn toàn vô hình đối với tôi, và thỉnh thoảng lại đưa thước dây áp vào mấy bức tường với cùng một cung cách hoàn toàn khó hiểu đó.

    Ở một vị trí, anh rất cẩn thận gom một dúm bụi xám trên sàn rồi cho vào một phong bì cất đi.

    Anh dùng kính lúp kiểm tra chữ viết trên tường xem xét từng mẫu tự với sự chính xác chi li nhất.

    Kiểm tra xong, có vẻ như anh hài lòng, vì anh cất thước dây và kính lúp vào túi.

    "Người ta thường nói rằng thiên tài là khả năng chịu khó vô biên", anh vừa nói vừa cười.

    "Đó là một định nghĩa tầm bậy, nhưng lại đúng với công việc điều tra."

    Với nhiều hiếu kì và có phần khinh miệt, Gregson và Lestrade đã theo dõi ông bạn nghiệp dư thao diễn nãy giờ.

    Hiển nhiên họ không hiểu được cái điều mà tôi đã bắt đầu nhận biết, là mọi hành động nhỏ nhặt nhất của Sherlock Holmes đều hướng tới một mục tiêu thực tế và xác định nào đó.

    "Ông thấy thế nào?"

    Cả hai cùng hỏi.

    "Nếu tôi mạo muội giúp hai ông thì chẳng khác nào tôi cướp mất công trạng của các ông trong vụ này", anh bạn tôi nói.

    "Các ông đã làm giỏi quá rồi thì thật tội nghiệp cho kẻ nào muốn can thiệp vào."

    Trong giọng điệu anh là cả một biển trời châm biếm.

    "Nếu như các ông cho tôi biết diễn tiến điều tra của các ông", anh nói tiếp, "thì tôi sẽ rất vui được giúp sức nếu có thể.

    Còn lúc này tôi muốn nói chuyện với người cảnh binh đã phát hiện ra xác chết.

    Cho tôi xin tên và địa chỉ của người này được không?"

    Lestrade liếc qua sổ tay rồi nói, "John Rance.

    Bây giờ anh ta hết phiên trực rồi.

    ông tới số 46, khu Audley, công viên Kennington, thì sẽ gặp anh ta."

    Holmes ghi lại địa chỉ.

    "Đi thôi, bác sĩ", anh nói, "chúng ta sẽ đi tìm người này."

    Rồi anh quay sang hai thanh tra nói tiếp, "Tôi cho các ông hay một điều có thể giúp ích cho vụ này.

    Án mạng đã xảy ra và kẻ sát nhân là đàn ông.

    Y cao hơn sáu foot, đang ở độ tuổi sung mãn nhất của cuộc đời, có hai bàn chân nhỏ so với chiều cao, đi đôi ghệt tồi tàn mũi vuông, và hút xì gà Trichinopoly.

    Y tới đây cùng với nạn nhân trên một chiếc xe ngựa bốn bánh, con ngựa kéo xe đóng ba móng sắt cũ và một móng mới ở chân trước bên phải.

    Rất có thể kẻ sát nhân có gương mặt đỏ ửng và những móng tay trên bàn tay phải của y rất dài.

    Đây chỉ là vài dấu hiệu nhưng chúng có thể giúp ích cho các ông."

    Lestrade và Gregson nhìn nhau với nụ cười hoài nghi.

    Lestrade hỏi, "Nếu người này bị sát hại thì sát hại bằng cách nào chứ?"

    "Độc dược", Sherlock Holmes nói cộc lốc rồi sải bước đi.

    Ra đến cửa, anh quay lại nói thêm.

    "Còn điều này nữa, Lestrade, Rache là tiếng Đức có nghĩa là Báo thù, cho nên ông đừng có mất công tìm kiếm cô Rachel nào đó làm chi."

    Sau lời nhận xét đanh thép cuối cùng này, anh đi luôn, để lại sau lưng hai đối thủ há hốc mồm sửng sốt.

    4.

    Những gì John Rance kể

    Khi chúng tôi rời khỏi nhà số 3 Lauriston Gardens thì đã 1 giờ trưa.

    Sherlock Holmes đưa tôi đến phòng điện tín gần nhất và ở đó anh gửi đi một bức điện dài.

    Rồi anh gọi xe ngựa và bảo người xà ích đưa chúng tôi đến địa chỉ mà Lestrade đã cung cấp.

    "Không có gì bằng nhân chứng trực tiếp", anh nhận xét.

    "Thực ra mà nói, tôi đã hoàn toàn kết luận được vụ này nhưng dẫu sao chúng ta cũng nên biết tất cả những gì cần phải biết."

    "Anh khiến tôi kinh ngạc đó, Holmes", tôi nói.

    "Anh cứ làm bộ như biết chắc mọi chi tiết mà anh cung cấp chứ thật ra trong bụng anh đâu có chắc chắn vậy."

    "Không có chỗ cho sai lầm đâu" anh đáp.

    "Điều đầu tiên tôi quan sát khi đến đó chính là một cỗ xe ngựa đã tạo ra hai vết bánh xe lún phía gần lề đường.

    Mà trước tối hôm qua thì cả tuần rồi làm gì có mưa, cho nên bánh xe nào mà để lại vết hằn sâu như thế chắc chắn phải đến đó trong đêm qua.

    Còn các dấu móng ngựa nữa; đường viền của một dấu lại sắc nét hơn ba dấu móng còn lại nhiều cho thấy rằng có một móng ngựa mới.

    Vì cỗ xe đến đó sau khi trận mưa đã bắt đầu, và không hề xuất hiện ở đó suốt buổi sáng, điều này thì tôi tin lời Gregson, do đó nó phải đến trong đêm và vì thế, nó chính là cỗ xe đưa hai người tới căn nhà đó."

    "Nghe có vẻ đơn giản quá", tôi nói, "nhưng làm sao biết được chiều cao của người kia chứ?"

    "À, chín trong mười trường hợp, ta có thể đoán biết chiều cao của một người dựa vào độ dài bước chân.

    Đó là một phép tính khá đơn giản, nhưng làm anh phát chán vì những con số thì có gì hay.

    Tôi thấy bước chân của kẻ này in trên lớp đất sét ngoài vườn và trên lớp bụi trong nhà.

    Rồi tôi có cách nữa để kiểm chứng các phép toán của tôi.

    Khi người ta viết lên tường thì theo bản năng ai cũng tự khắc viết ngang tầm mắt mình.

    Chữ viết ấy cách sàn nhà hơn sáu foot một chút.

    Trò trẻ con thôi mà."

    "Thế còn tuổi tác của hắn ta?"

    Tôi hỏi.

    "Nếu một người có thể bước đi với sải chân dài hơn bốn foot rưỡi không chút khó khăn nào, nhất định hắn ta không thể ở tuổi xế chiều.

    Đó cũng chính là chiều rộng của vũng nước trên lối đi trong vườn mà hắn ta rõ ràng đã bước qua.

    Người đi đôi ghệt da bóng thì đi vòng quanh mà tránh, còn kẻ mang đôi ghệt mũi vuông lại nhảy qua.

    Chẳng có gì bí ẩn cả.

    Tôi chỉ đơn thuần áp dụng vào thực tế một số nguyên tắc quan sát và suy luận mà tôi đã cổ xúy trong bài báo đó.

    Anh còn thắc mắc gì nữa không?"

    "Móng tay và xì gà Trichinopoly", tôi gợi ý.

    "Chữ trên tường được viết bằng ngón trỏ của một người đàn ông nhúng vào máu.

    Kính lúp cho phép tôi thấy rõ là lớp vữa trát đã bị sướt nhẹ khi chữ được viết lên, điều này không thể nào xảy ra nếu móng tay của người đó đã được cắt gọn.

    Tôi đã gom một ít tàn tro vương vãi trên sàn nhà.

    Tro này sậm màu và có dạng vảy mỏng; kiểu tàn tro như thế thì chỉ có xì gà Trichinopoly mà thôi.

    Tôi từng thực hiện một nghiên cứu chuyên sâu về các loại tàn tro xì gà; thực ra tôi đã viết một chuyên khảo về đề tài này.

    Tôi tự hào rằng tôi chỉ cần nhìn qua là nhận biết ngay tàn tro của bất kì nhãn hiệu xì gà hay thuốc lá nào.

    Chính nhờ những chi tiết như thế mà một thám tử lành nghề khác biệt với đám Gregson và Lestrade chứ."

    "Thế còn gương mặt đỏ ửng?"

    Tôi hỏi.

    "À, nhận xét đó liều lĩnh hơn, mặc dù tôi tin chắc là mình đúng, ở giai đoạn này thì đừng có hỏi tôi chuyện đó."

    Tôi đưa tay xoa trán.

    "Đầu óc tôi đang quay cuồng đây này", tôi nói, "càng suy nghĩ càng thấy bí ẩn.

    Tại sao hai gã đó, nếu quả thật có hai người đàn ông, lại đi vào một căn nhà bỏ trống?

    Còn người xà ích đưa họ tới ra sao rồi?

    Làm sao người này có thể ép buộc người kia uống độc dược?

    Còn máu ở đâu ra?

    Mục tiêu của kẻ sát nhân là gì, bởi vì vụ này không liên quan gì đến cướp bóc cả?

    Còn cái nhẫn của phụ nữ làm sao lại ở đó?

    Đặc biệt là tại sao kẻ thứ hai lại viết ra cái từ RACHE bằng tiếng Đức trước khi tẩu thoát chứ?

    Thú thật là tôi không tài nào xâu kết hết các chi tiết này cho hợp lí được."

    Anh bạn tôi mỉm cười đồng tình.

    "Anh đã đúc kết rất hay và súc tích những gút mắc của vấn đề.

    Còn khá nhiều điều vẫn chưa sáng tỏ, mặc dù tôi đã hoàn toàn xác định được các yếu tố chính.

    Còn với phát hiện của gã Lestrade tội nghiệp kia, đó chỉ là hỏa mù nhằm đánh lạc hướng cảnh sát, bằng cách ám chỉ các tổ chức bí mật và phe Xã hội.

    Vụ này không phải do người Đức nào làm đâu.

    Nếu anh để ý chữ 'A' đó được viết có phần giống kiểu viết của Đức.

    Đấy, nhưng người Đức chính cống lại luôn viết theo kiểu chữ La tinh, do đó ta có thể nói mà không sợ sai là chữ đó không phải do người Đức viết mà do một kẻ bắt chước vụng về đã làm quá lố.

    Tôi sẽ không nói nhiều hơn nữa về chuyện này đâu, bác sĩ.

    Anh biết mà, một ảo thuật gia giải thích hết bí quyết của mình thì đâu còn ai khen nữa chứ, và nếu tôi cho anh biết quá nhiều về phương pháp làm việc của tôi thì sẽ dẫn anh tới kết luận rằng rốt cuộc tôi cũng chỉ là một kẻ rất tầm thường."

    "Tôi không hề nghĩ thế đâu", tôi đáp, "chưa ai có thể đưa ngành điều tra đạt gần tới tầm của một khoa học chính xác như anh."

    Mặt anh bạn tôi hồng lên sung sướng trước lời khen này và cách bộc lộ sốt sắng của tôi.

    Tôi đã để ý là anh ta nhạy cảm với những lời tâng bốc về tài nghệ của mình chẳng kém mọi cô gái đều thích được ca tụng về nhan sắc.

    "Để tôi cho anh biết thêm chuyện nữa", anh nói.

    "Ghệt da bóng và Ghệt mũi vuông cùng đến trên một cỗ xe ngựa, và họ cùng nhau đi bộ theo con đường nhỏ hết sức thân thiện, rất có thể là khoác tay nhau đi.

    Khi đã vào trong, họ đi tới đi lui khắp căn phòng đó; hay đúng hơn, Ghệt da bóng đứng một chỗ trong khi Ghệt mũi vuông đi tới đi lui.

    Tôi có thể thấy mọi chi tiết đó trong lớp bụi, và tôi có thể thấy là hắn ta càng đi thì càng thêm kích động.

    Điều này biểu lộ qua độ dài tăng dần của sải chân hắn ta.

    Suốt thời gian đó, hắn nói liên tục và chắc chắn là càng lúc càng nóng giận tới mức điên tiết.

    Rồi bi kịch xảy ra.

    Tôi đã kể anh nghe hết những gì hiện giờ chính tôi biết chắc, những gì còn lại chỉ là giả định và phỏng đoán.

    Tuy nhiên, chúng ta đang có một cơ sở thực tế thuận lợi để bắt đầu công việc.

    Chúng ta phải nhanh lên vì chiều nay tôi muốn đến buổi hòa nhạc của dàn giao hưởng Hallé nghe Norman Nerudatrình diễn."

    Cuộc trò chuyện diễn ra trong lúc xe ngựa của chúng tôi luồn lách qua hết con phố bẩn thỉu này lại tới đường rẽ vòng vèo khác.

    Tới một trong những con đường bẩn thỉu và tồi tàn nhất, bác xà ích đột ngột dừng xe.

    "Khu Audley ở trong đó", bác ta vừa nói vừa chỉ vào một ngách hẹp trong dãy tường gạch xỉn màu.

    "Tôi chờ xe ở đây đến khi quý ông quay lại."

    Khu Audley chẳng phải là nơi hấp dẫn.

    Con đường hẹp dẫn chúng tôi vào một sân trong lát đá phiến và bốn bề là những căn nhà dơ dáy.

    Chúng tôi lần bước len qua mấy đám trẻ con bẩn thỉu, chui qua mấy hàng dây phơi mớ quần áo bạc màu, cho đến khi tìm tới nhà số 46, trên cánh cửa có trang trí một miếng đồng nhỏ khắc tên Rance.

    Dò hỏi, chúng tôi biết viên cảnh binh này còn đang ngủ, và chúng tôi được đưa vào một phòng khách nhỏ phía trước chờ ông ta.

    Ngay sau đó ông ta xuất hiện, vẻ mặt hơi bực mình vì bị phá rối giấc ngủ.

    Ông ta nói, "Tôi đã báo cáo hết trên Sở rồi."

    Holmes lấy trong túi ra một đồng tiền nửa sovereign rồi ra vẻ trầm ngâm mân mê trên tay.

    "Chúng tôi nghĩ là nghe mọi việc trực tiếp từ ông thì hay hơn", anh nói.

    "Tôi rất sẵn lòng kể lại với ông mọi điều tôi biết", viên cảnh binh trả lời, đôi mắt dán chặt vào cái vật tròn tròn bằng vàng nho nhỏ kia.

    "Cứ tự nhiên kể hết đầu đuôi mọi việc cho chúng tôi nghe đi."

    Rance ngồi xuống chiếc trường kỉ bọc da ngựa, và nhíu mày như thể quyết tâm không bỏ sót một chi tiết nào của câu chuyện.

    "Tôi sẽ kể lại từ đầu", ông ta nói.

    "Phiên trực của tôi là từ 10 giờ đêm đến 6 giờ sáng.

    Lúc 11 giờ có đánh lộn ở quán rượu White Hart nhưng trừ chuyện đó ra thì mọi thứ đều yên ổn trong khu tôi đi tuần.

    Đến 1 giờ trời bắt đầu mưa, và tôi gặp anh Harry Murcher, người tuần tra khu Holland Grove, và bọn tôi đứng nói chuyện ở góc đường Henrietta.

    Rồi sau đó, đâu khoảng 2 giờ hoặc hơn một tí, tôi nghĩ hay là đi thử một vòng xem dọc đường Brixton có yên ổn không.

    Con đường đó dơ dáy và vắng phát khiếp được.

    Tôi đi hết con đường mà chẳng gặp ma nào cả, mặc dù có một hay hai xe ngựa phóng vèo qua.

    Tôi cứ thả bộ theo con đường, trong bụng nghĩ giờ này mà có xị rượu nóng thì quá đã, thì bất thình lình tôi thấy có ánh sáng sau cửa sổ của nhà đó.

    Tôi biết ở Lauriston Gardens có hai căn nhà không người ở do lão chủ mấy cái nhà đó chẳng chịu sửa sang cống rãnh gì cả, mặc dù người thuê trọ cuối cùng trong một căn nhà đã chết vì sốt thương hàn.

    Thấy ánh sáng ở cái cửa sổ đó tôi sửng sốt và nghi là có chuyện gì không bình thường rồi.

    Khi tôi tới cửa chính..."

    "Ông đã dừng lại, rồi đi ngược trở ra cổng vườn", anh bạn tôi ngắt lời.

    "Sao ông lại làm thế?"

    Rance nhảy bật dậy, nhìn Sherlock Holmes trừng trừng với vẻ kinh ngạc cực độ trên nét mặt.

    "Ồ, đúng vậy đó, thưa ông", ông ta nói, "mặc dù có trời mới biết làm sao ông biết rõ thế.

    Vậy đó, khi tôi tới cửa chính, bốn bề vắng lặng như tờ khiến tôi nghĩ chắc mình nên kiếm người đi cùng thì hơn.

    Chưa bước chân xuống mồ thì tôi đếch sợ thứ gì trên đời này, nhưng tôi nghĩ không chừng thằng cha đã chết vì thương hàn đang đi xem xét mấy cái cống đã làm hắn chết.

    Ý nghĩ đó khiến tôi chột dạ nên tôi quay ra cổng xem có thấy ánh đèn của anh Murcher không, nhưng chẳng hề thấy bóng dáng anh ta hay bất kì ai cả."

    "Ngoài đường chẳng có ai sao?"

    "Không có ma nào hết, thưa ông, cả chó cũng chẳng thấy.

    Rồi tôi trấn tĩnh và đi vòng lại rồi đẩy cửa mở ra.

    Bên trong hoàn toàn im ắng nên tôi đi vào căn phòng đó nơi vẫn đang có ánh sáng.

    Có một ngọn nến lập lờ trên bệ lò sưởi, một cây nến sáp đỏ, và qua ánh nến tôi thấy..."

    "Vâng, tôi biết hết những gì ông đã thấy.

    Ông đi vòng quanh căn phòng nhiều lần, rồi ông quỳ xuống bên xác chết, rồi đi ra và thử mở cửa nhà bếp, và rồi..."

    John Rance đứng phắt lên với nét mặt kinh hãi và ánh mắt ngờ vực.

    "Ông nấp ở đâu mà thấy hết cả những chuyện đó chứ?"

    ông ta kêu to.

    "Tôi e là ông biết nhiều hơn mức cần biết đấy."

    Holmes cười ầm lên và thảy tấm danh thiếp của anh qua mặt bàn về phía viên cảnh binh.

    Anh nói, "Đừng có bắt tôi vì tội sát nhân đấy.

    Tôi cũng thuộc bầy chó săn chứ không phải chó sói đâu; ông Gregson hay ông Lestrade sẽ bảo đảm cho tôi.

    Tiếp đi chứ.

    Rồi sau đó ông làm gì?"

    Rance lại ngồi vào chỗ cũ, mặc dù vẻ mặt hoang mang vẫn còn nguyên.

    "Tôi quay lại cổng vào và thổi tu huýt báo động.

    Nghe tiếng, Murcher và hai cảnh binh nữa liền tới hiện trường."

    "Đường phố lúc đó vắng người chứ?"

    "À, vắng tanh, nếu như chỉ tính những kẻ đàng hoàng thì chẳng có ma nào."

    "Ý ông là sao?"

    Nét mặt viên cảnh binh căng rộng thành một cái cười toe toét, ông ta nói, "Trên đời tôi gặp nhiều thằng say rồi nhưng chưa gặp ai say bét nhè như thằng cha đó.

    Khi đi ra, tôi thấy hắn đứng ở cổng, dựa lưng vào hàng rào, và hát rống hết cỡ bài gì đó, hình như là Columbine's New fangled Banner hay đại loại như thế.

    Hắn ta đứng hết nổi rồi, chỉ càng thêm vô dụng."

    "Gã đó thuộc loại người như thế nào?"

    Sherlock Holmes hỏi.

    John Rance tỏ ra hơi cáu kỉnh với câu hỏi lạc đề này.

    "Thuộc loại say quắc cần câu chứ thế nào", ông ta nói.

    "Nếu chúng tôi không bận vụ này thì đã lôi hắn về đồn cảnh sát rồi."

    "Diện mạo hắn, quần áo hắn, ông có để ý không?"

    Holmes nôn nóng ngắt lời.

    "Tôi nghĩ là tôi có để ý đấy, bởi vì tôi phải đỡ hắn lên, tôi với Murcher hai người hai bên xốc hắn ta dậy.

    Thằng cha đó cao lớn, mặt đỏ, nửa mặt dưới quấn kín trong..."

    "Vậy được rồi", Holmes thốt lên.

    "Rồi hắn ra sao?"

    "Bọn tôi có rảnh đâu mà để ý tới hắn ta chứ", viên cảnh binh nói, giọng trách cứ.

    "Tôi dám cá là hắn ta cũng mò được về nhà thôi."

    "Hắn ăn mặc thế nào?"

    "Mặc áo khoác màu nâu."

    "Tay hắn có cầm roi da không?"

    "Roi à, không có."

    "Nhất định hắn ta đã bỏ cái roi lại", anh bạn tôi lẩm bẩm.

    "Sau đó ông có tình cờ nhìn thấy hay nghe thấy tiếng xe ngựa không?"

    "Không."

    "Đồng nửa sovereign này là của ông đó", anh bạn tôi vừa nói vừa đứng dậy và với lấy mũ.

    "Ông Rance, tôi e là ông sẽ chẳng bao giờ thăng tiến trong ngành này được đâu.

    Cái đầu của ông không chỉ để trang trí mà còn phải sử dụng nữa chứ.

    Lẽ ra đêm qua ông đã có thể lên lon hạ sĩ rồi.

    Cái gã mà ông đã giữ trong tay chính là kẻ nắm đầu mối của bí ẩn này, và chính là kẻ chúng tôi đang bỏ công tìm.

    Bây giờ mà tranh cãi cũng chẳng có ích gì, tôi chỉ nói cho ông biết vậy thôi.

    Đi nào, bác sĩ."

    Chúng tôi cùng cất bước đi ra chỗ xe ngựa, bỏ mặc người cung cấp thông tin còn mải nghi hoặc và hiển nhiên là bực bội.

    "Ngu ngốc không thể tả!"

    Holmes chua chát thốt lên trên chuyến xe quay về nhà trọ của chúng tôi.

    "Nghĩ mà coi, hắn có được cơ may không gì bằng, vậy mà không biết tận dụng."

    "Tôi vẫn còn chưa hiểu.

    Quả thực là mô tả của ông ta ăn khớp với ý kiến của anh về kẻ thứ hai trong vụ bí ẩn này.

    Nhưng tại sao kẻ này đã rời khỏi căn nhà rồi mà còn quay lại làm gì?

    Đó đâu phải cung cách của bọn phạm tội."

    "Cái nhẫn, anh bạn ơi, cái nhẫn; vì nó mà hắn ta quay lại đấy.

    Nếu không có cách nào khác bắt được hắn thì ta vẫn có thể dùng cái nhẫn làm mồi câu.

    Tôi sẽ bắt được tên này, bác sĩ ạ, cá với anh hai ăn một là tôi sẽ bắt được hắn.

    Tôi phải cảm ơn anh vì mọi chuyện.

    Không có anh thì tôi chắc đã không đi rồi, và thế là bỏ lỡ một cuộc điều tra hay ho nhất mà tôi từng gặp.

    Cuộc điều tra màu đỏ, phải không?

    Sao chúng ta không dùng ngôn ngữ nghệ thuật một chút nhỉ?

    Vụ án mạng này là một sợi chỉ màu đỏ tươi luồn trong cuộn chỉ không màu của cuộc sống, và trách nhiệm của chúng ta là phải tháo gỡ nó, cô lập nó, phơi bày nó ra tất tần tật.

    Bây giờ thì đi ăn trưa nào, rồi đi nghe Norman Neruda.

    Cách chạm dây và kéo vĩ của cô ta mới tuyệt vời làm sao!

    Cái đoản khúc đó của Chopin, cô ta chơi sao mà tuyệt diệu thế không biết.

    Tra la la lira lira lay..."

    Ngả người trong xe ngựa, anh chàng chó săn tài tử này cứ hát líu lo như chim trong khi tôi mãi trầm tư về tính chất đa diện của tâm trí con người.

    5.

    Mẩu tin của chúng tôi mang đến một vị khách

    Những việc lao lực trong buổi sáng đã quá mức chịu đựng đối với sức khỏe yếu của tôi và đến buổi chiều thì tôi mệt nhoài.

    Sau khi Holmes đi nghe hòa nhạc, tôi nằm dài trên trường kỉ và cố làm sao ngủ được vài giờ.

    Một cố gắng vô ích.

    Tâm trí tôi quá kích động bởi mọi chuyện đã xảy ra và tràn ngập trong đầu tôi là những phỏng đoán và tưởng tượng kì lạ nhất.

    Cứ mỗi lần nhắm mắt, tôi lại thấy ngay trước mặt mình cái diện mạo như con khỉ đầu chó của kẻ bị sát hại.

    Gương mặt ấy đã gây cho tôi một ấn tượng hãi hùng tới mức tôi khó mà có cảm giác gì khác hơn là sự hàm ơn dành cho kẻ đã trừ khử chủ nhân diện mạo ấy khỏi cuộc đời này.

    Nếu hỏi nét mặt ai toát ra vẻ đồi bại một cách hiểm ác nhất thì chắc chắn đó là nét mặt của Enoch J.

    Drebber ở Cleveland.

    Thế nhưng tôi thừa nhận rằng công lí phải được thực thi và tính chất đồi bại của nạn nhân không phải là cái cớ để bỏ qua tội ác trong con mắt pháp luật.

    Càng ngẫm nghĩ tôi thấy cái giả thuyết của anh bạn tôi lại càng lạ thường khi cho rằng kẻ này bị đầu độc.

    Tôi còn nhớ cảnh anh đã ngửi đôi môi xác chết ra sao và tôi tin chắc anh đã phát hiện điều gì đấy khiến ý tưởng đó nảy sinh.

    Tuy nhiên, nếu không phải độc dược, thì cái gì đã gây ra cái chết của kẻ này, bởi vì không có vết thương hay dấu vết siết cổ nào cả?

    Nhưng mặt khác, máu của ai mà lại chảy thành vũng trên sàn nhà?

    Không hề có dấu hiệu vật lộn nào, nạn nhân cũng chẳng có bất kì vũ khí gì để có thể gây thương tích cho địch thủ.

    Chừng nào tất cả những câu hỏi này chưa giải đáp được thì tôi thấy, cả Holmes lẫn chính tôi, chẳng thể ngủ yên.

    Phong thái tự tin trầm lặng của anh khiến tôi tin rằng anh đã có sẵn một giả thuyết có thể giải thích hết các dữ kiện, mặc dù tôi không thể đoán ra được giả thuyết ấy là gì vào ngay lúc này.

    Holmes về nhà rất muộn, thực ra là quá muộn vì tôi biết chắc buổi hòa nhạc không thể giữ chân anh lâu đến thế.

    Bữa ăn tối đã dọn ra bàn trước khi anh xuất hiện.

    "Thật tuyệt vời", anh vừa nói vừa ngồi vào bàn.

    "Anh còn nhớ Darwin nói gì về âm nhạc không?

    Ông ta cho rằng khả năng sáng tạo và thưởng thức âm nhạc đã tồn tại ở loài người từ lâu trước khi khả năng nói hình thành.

    Có lẽ đó là lí do chúng ta bị âm nhạc chi phối một cách tinh tế nhường ấy.

    Trong linh hồn chúng ta vẫn còn các kí ức mơ hồ về những thế kỉ mịt mù khi thế giới này còn non trẻ."

    "Ý tưởng đó hơi bao quát đấy", tôi nhận xét.

    "Khi muốn diễn giải Tự Nhiên thì ý tưởng của người ta cũng phải bao quát như Tự Nhiên mới được", anh đáp.

    "Có chuyện gì thế?

    Trông anh không được bình thường.

    Vụ án đường Brixton làm anh rối trí chứ gì?"

    "Thú thật là đúng vậy đó", tôi nói.

    "Lẽ ra sau những gì đã trải qua ở Afghanistan, tôi phải chai lì hơn mới đúng.

    Tôi đã từng thấy đồng đội bị chém đứt lìa nhiều khúc ở Maiwand mà không mất tinh thần."

    "Tôi hiểu.

    Cái bí ẩn bao trùm vụ án kích thích óc tưởng tượng; ở đâu không có tưởng tượng thì ở đó không có khiếp sợ.

    Anh đã đọc báo buổi chiều chưa?"

    "Chưa."

    "Báo tường thuật vụ này khá chi tiết, nhưng không đề cập đến chuyện khi đỡ xác chết lên thì có một chiếc nhẫn cưới của phụ nữ rơi xuống sàn.

    Thế lại hóa hay."

    "Tại sao?"

    "Xem mẩu tin này đi", anh trả lời.

    "Tôi đã cho gửi đến mọi tờ báo sáng nay ngay sau khi rời hiện trường."

    Anh thảy tờ báo sang cho tôi và tôi liếc mắt qua chỗ mà anh nói tới.

    Đó là tin đầu tiên trong mục "Của rơi".

    Báo đăng: Nhặt được sáng nay một chiếc nhẫn cưới bằng vàng trơn ở đường Brixton đoạn giữa quán rượu White Hart và Holland Grove.

    Gặp bác sĩ Watson ở 221B phố Baker, từ 8 đến 9 giờ tối nay.

    "Xin lỗi vì đã mượn tên anh", Holmes nói.

    "Nếu tôi dùng tên tôi thì mấy kẻ ngu độn kia sẽ nhận ra và sẽ muốn chõ mũi vào chuyện này".

    "Được thôi", tôi đáp.

    "Nhưng giả dụ có người tới gặp thì tôi có cái nhẫn nào đâu."

    "Ồ, có chứ", anh vừa nói vừa đưa cho tôi một cái nhẫn.

    "Cái này là ổn!

    Nó giống y hệt ấy chứ."

    "Thế anh chờ đợi ai sẽ đáp lại thông báo này?"

    "À, người mặc áo choàng nâu, anh bạn mặt đỏ đi ghệt mũi vuông của chúng ta đó.

    Nếu không đích thân đến thì hắn sẽ phái đồng lõa đến."

    "Chẳng lẽ hắn không thấy việc này quá nguy hiểm sao?"

    "Không hề.

    Nếu suy đoán của tôi về vụ này chính xác thì tôi có đủ lí do để tin như thế; hắn ta thà chấp nhận mọi rủi ro hơn là mất chiếc nhẫn đó.

    Tôi cho là hắn đã đánh rơi chiếc nhẫn khi lom khom trên cái xác của Drebber, và lúc đó hắn không để ý.

    Sau khi rời khỏi căn nhà hắn mới phát hiện là đã mất nên hấp tấp quay lại, nhưng rồi thấy người cảnh binh đã vào khám nhà, do hắn đã ngu ngốc để nến cháy sáng.

    Hắn phải giả bộ say rượu để xua tan những ngờ vực có thể nảy sinh vì hắn xuất hiện ngay cổng vào.

    Bây giờ anh thử đặt mình trong trường hợp của hắn xem.

    Suy đi nghĩ lại, hắn chắc phải nghĩ đến khả năng là mình đã đánh rơi chiếc nhẫn trên đường sau khi rời căn nhà đó.

    Vậy hắn sẽ làm gì nào?

    Hắn sẽ nôn nóng tìm đọc các tờ báo buổi chiều với hi vọng thấy ai đó đăng tin nhặt được.

    Đương nhiên, mắt hắn sẽ sáng rỡ lên khi đọc tin này.

    Hắn sẽ mừng khôn xiết.

    Cớ gì hắn phải sợ sa bẫy chứ?

    Trong suy nghĩ của hắn ta, không có lí do gì việc tìm thấy chiếc nhẫn lại có liên quan đến vụ giết người đó.

    Hắn sẽ đến.

    Trong vòng một giờ nữa anh sẽ gặp hắn."

    "Rồi sau đó?"

    Tôi hỏi.

    "Ồ, sau đó anh cứ để mặc tôi đối phó với hắn.

    Anh có vũ khí gì không?"

    "Tôi còn khẩu súng lục từ thời ở quân đội và mấy viên đạn."

    "Tốt nhất anh nên lau súng và nạp đạn vào.

    Hắn sẽ liều lĩnh lắm đấy, và mặc dù tôi sẽ làm cho hắn bất ngờ, anh nên sẵn sàng cho bất cứ chuyện gì xảy ra vẫn hơn."

    Tôi vào phòng ngủ và làm theo lời khuyên của anh.

    Khi tôi quay lại với khẩu súng, bàn ăn đã được dọn sạch và Holmes đang chuyên tâm vào công việc ưa thích của anh là kéo cọt kẹt cây vĩ cầm.

    "Vụ này ngày càng phức tạp", anh lên tiếng lúc tôi bước vào.

    "Tôi vừa có một hồi đáp cho bức điện tôi gửi sang Mỹ.

    Giả thuyết của tôi về vụ này quả là chính xác."

    "Tức là sao?"

    Tôi háo hức hỏi.

    "Cây vĩ cầm của tôi nên thay dây mới thì hơn", anh nói vu vơ.

    "Anh cất súng lục vào túi đi.

    Khi tên đó tới, cứ nói chuyện với hắn theo cung cách bình thường.

    Phần còn lại để tôi lo.

    Đừng có nhìn chằm chằm vào hắn làm hắn sợ."

    "Bây giờ 8 giờ rồi", tôi vừa nói vừa nhìn đồng hồ.

    "Đúng.

    Chắc vài phút nữa là hắn đến đây thôi.

    Mở hở cánh cửa ra.

    Vậy được rồi.

    Bây giờ cắm chìa khóa ở bên trong.

    Cảm ơn anh!

    Đây là cuốn sách xưa kì lạ tôi chọn được ở quầy sách hôm qua, Bàn về luật giữa các dân tộc xuất bản bằng tiếng La tinh ở Liege xứ Hà Lan năm 1642.

    Lúc pho sách màu nâu này in ra thì đầu vua Charles vẫn còn nguyên trên cổ."

    "Nhà nào in thế?"

    "Philippe de Croy, chẳng biết là ai.

    Trên trang đầu sách có dấu mực rất mờ viết là: Ex libris Gulielmi Whyte.

    Tôi tự hỏi ông William Whyte này là ai.

    Tôi đoán là một luật sư nào đó ở thế kỉ mười bảy.

    Chữ viết của người này có nét lắt léo của dân luật.

    Khách của ta đến rồi đây, chắc thế."

    Anh vừa dứt lời thì một tiếng chuông reo lanh lảnh.

    Sherlock Holmes nhẹ nhàng đứng dậy và dời ghế của anh về phía cánh cửa.

    Chúng tôi nghe tiếng người hầu đi dọc theo hành lang rồi tiếng then cài lách cách khi cô ta mở cửa.

    "Bác sĩ Watson ở đây phải không?"

    Giọng hỏi rõ ràng nhưng hơi khàn khàn.

    Chúng tôi không nghe được câu trả lời của cô hầu nhưng nghe tiếng cửa đóng lại và rồi tiếng ai đó bắt đầu đi lên cầu thang.

    Tiếng bước chân ngập ngừng và kéo lê.

    Một vẻ ngạc nhiên thoáng qua gương mặt của anh bạn tôi trong khi anh lắng nghe.

    Tiếng chân từ từ đi theo hành lang, rồi một tiếng gõ khe khẽ ở cửa.

    "Mời vào", tôi cao giọng.

    Nghe tôi gọi, thay vì người đàn ông bạo lực mà chúng tôi chờ đợi, một bà lão nhăn nheo khập khiễng bước vào căn phòng.

    Bà ta dường như lóa mắt vì nguồn sáng đột ngột và sau khi nhún gối cúi chào, bà cứ đứng nhìn chúng tôi, đôi mắt mờ cứ nhấp nháy và mấy ngón tay run rẩy, bồn chồn cứ lóng ngóng tìm gì đó trong túi.

    Tôi liếc nhìn anh bạn tôi và gương mặt anh cũng lộ rõ vẻ thất vọng tới mức tôi không thể làm gì khác hơn là cố giữ cho mình thái độ bình tĩnh.

    Bà lão rút ra tờ báo buổi chiều rồi chỉ vào thông báo của chúng tôi.

    "Tôi tới đây vì cái này, thưa quý ông", bà vừa nói vừa nhún gối cúi chào lần nữa.

    "Cái nhẫn cưới bằng vàng ở đường Brixton.

    Nó là của đứa con gái Sally của tôi, nó lấy chồng tới nay đúng mười hai tháng rồi, còn chồng nó làm bồi trên tàu Union.

    Nếu thằng chồng nó về nhà mà không thấy con gái tôi đeo cái nhẫn đó thì thật tình tôi không biết nó sẽ nói gì.

    Thằng chồng nó lúc nào cũng cộc cằn, lúc có rượu vào lại càng cục súc.

    Chả giấu gì các ông, tối qua con gái tôi đi xem xiếc cùng với..."

    "Có phải cái nhẫn của con gái bà đây không?"

    Tôi hỏi.

    "Tạ ơn Chúa!"

    Bà già kêu lên.

    "Tối nay Sally hẳn phải mừng hết cỡ.

    Đúng cái nhẫn đó."

    "Thế địa chỉ của bà ở đâu?"

    Miệng hỏi, tay tôi cầm cây bút chì lên.

    "Số 13 phố Duncan, khu Houndsditch.

    Cách đây xa lắm ạ."

    "Đường Brixton đâu có nằm giữa rạp xiếc nào với khu Houndsditch đâu", Sherlock Holmes đột ngột lên tiếng hỏi.

    Bà già quay mặt lại và hướng đôi mắt nhỏ có vành mi đỏ chăm chăm về phía anh.

    Bà ta nói, "Quý ông đây hỏi địa chỉ của tôi mà.

    Còn Sally, nó trọ ở số 3 Mayheld Place, khu Peckham."

    "Thế bà tên là...?"

    "Tôi là Sawyer, còn con gái tôi là Dennis, nó theo họ chồng vì lấy thằng Tom Dennis.

    Thằng chồng nó cũng bảnh bao, tươm tất lắm, miễn là nó cứ ở trên tàu; thật chẳng có thằng bồi nào ở hãng tàu thủy ngon lành hơn nó.

    Nhưng một khi nó đặt chân lên bờ, với đám đàn bà và mấy quán rượu thì..."

    "Cái nhẫn đây, bà Sawyer", làm theo dấu hiệu của anh bạn, tôi ngắt lời bà già.

    "Đúng là của con gái bà rồi, và tôi mừng là có thể trả lại cho chính chủ nhân của nó."

    Với một tràng lẩm bẩm những lời chúc phúc và cảm ơn trịnh trọng, bà lão cất chiếc nhẫn vào túi rồi lê chân xuống cầu thang.

    Sherlock Holmes đứng phắt dậy ngay khi bà vừa đi khuất và phóng ngay về phòng của anh.

    Mấy giây sau anh quay lại, người quấn trong cái áo choàng dài và khăn quàng kín cổ.

    Anh nói hấp tấp, "Tôi sẽ đi theo bà ta.

    Nhất định bà này phải là đồng lõa, và sẽ dẫn tôi tới chỗ tên kia.

    Anh cứ thức chờ tôi."

    Cánh cửa dưới sảnh chưa kịp đóng sầm sau lưng vị khách của chúng tôi thì Holmes đã xuống cầu thang.

    Nhìn qua cửa sổ, tôi có thể thấy bóng bà lão đang bước đi nặng nhọc bên kia đường trong khi kẻ săn đuổi bám theo sau cách bà ta một khoảng ngắn.

    Tôi nghĩ thầm, "Hoặc là toàn bộ giả thuyết này đều sai, hoặc là anh ấy sẽ được dẫn đến mấu chốt của bí ẩn."

    Chẳng cần anh phải bảo tôi thức khuya chờ, vì tôi biết mình làm sao ngủ được khi còn chưa rõ kết cục của chuyến mạo hiểm này ra sao.

    Khi anh ra đi thì đã gần 9 giờ.

    Không thể biết anh sẽ đi lâu hay mau, tôi cứ ngồi ì đó vừa bập phà tẩu thuốc vừa đọc nhảy cóc cuốn Vie de Bohème của Henri Murger.

    Quá 10 giờ, tôi nghe tiếng chân của những người hầu gái khi họ lao xao đi ngủ.

    11 giờ, bước chân trịnh trọng hơn của bà chủ nhà lướt ngang qua cửa phòng tôi, cũng đi về hướng giường ngủ.

    Mãi gần đến 12 giờ tôi mới nghe tiếng anh mở chốt cửa lách cách.

    Anh vừa vào phòng thì nhìn nét mặt là tôi biết ngay anh đã không thành công.

    Ở anh dường như có sự giao tranh giữa niềm thích thú và nỗi thất vọng, cuối cùng cảm giác thích thú đột nhiên chiến thắng và anh bật lên một tràng cười vui vẻ.

    "Tôi sẽ không đời nào để cho bọn người bên Sở Cảnh sát biết chuyện này", anh vừa thốt lên vừa ngồi phịch xuống ghế.

    "Tôi đã chế giễu bọn họ quá nhiều rồi nên nếu biết chuyện họ sẽ lải nhải mãi không thôi.

    Tôi còn cười được vì tôi biết sau cùng thể nào tôi cũng trả đũa được."

    "Mà chuyện gì thế chứ?"

    Tôi hỏi.

    "À, tôi không ngại kể về thất bại của mình đâu.

    Mụ ấy đi được một đoạn ngắn thì bắt đầu cà nhắc và lộ rõ mọi dấu hiệu là bị đau chân.

    Liền sau đó, mụ ta dừng lại và vẫy một cỗ xe ngựa bốn bánh đang chạy ngang qua.

    Tôi cố xoay xở tới gần mụ hơn để nghe được địa chỉ nhưng thật ra tôi chẳng cần phải lo âu như thế, bởi mụ ta nói to đến ở bên kia đường cũng nghe.

    Mụ ta nói: 'Tới số 13 phố Duncan, khu Houndsditch'.

    Chuyện này coi bộ là thật đây, tôi nghĩ thầm, rồi khi thấy mụ đã vào trong xe yên ổn rồi tôi liền đu theo đằng sau cỗ xe.

    Đó là một tài khéo mà mọi thám tử đều phải thành thạo.

    Thế là xe cứ lọc cọc đưa chúng tôi đi và không hề dừng cương cho tới khi đến số nhà cần đến.

    Tôi nhảy xuống trước khi xe đến cửa nhà và tản bộ trên đường với vẻ thong dong.

    Tôi thấy xe ngựa dừng lại.

    Bác xà ích nhảy xuống mở cửa xe và đứng chờ.

    Nhưng chẳng có ma nào bước ra.

    Khi tôi tới chỗ bác ta thì bác đang mò mẫm loạn xạ trong cỗ xe trống rỗng và miệng tuôn ra rả đủ câu nguyền rủa hay ho nhất mà tôi từng nghe thấy.

    Không hề có dấu vết nào của người hành khách và tôi e là còn lâu bác ta mới lấy được tiền xe.

    Khi hỏi nhà số 13, chúng tôi mới biết nhà đó là của một ông thợ chuyên dán giấy dán tường khả kính tên là Keswick, và ở đó chẳng có ai nghe đến tên bà Sawyer hay cô Dennis bao giờ."

    Tôi kêu lên kinh ngạc, "Chẳng lẽ ý anh là bà già hom hem, lụ khụ đó lại có thể ra khỏi cỗ xe trong khi xe đang chạy mà cả anh lẫn bác xà ích đều không hay biết sao?"

    "Tiên sư mụ già!"

    Tiếng Sherlock Holmes gay gắt.

    "Bị lừa như thế thì chúng ta đây mới là những mụ già.

    Chắc hẳn kẻ đó phải là một thanh niên, lại thuộc loại nhanh nhẹn nữa, chưa kể đó là một kẻ đóng kịch vô song.

    Kiểu cách đó không thể nào bắt chước được.

    Nhất định hắn ta biết mình đã bị theo dõi và dùng kế này để lẩn trốn tôi.

    Rõ ràng kẻ mà chúng ta đang tìm kiếm không phải chỉ có một mình như tôi tưởng, mà còn có nhiều bạn bè sẵn sàng liều mình vì hắn.

    Này, bác sĩ, trông anh kiệt sức rồi kìa.

    Nghe lời tôi mà đi ngủ đi."

    Hẳn nhiên là tôi đã mệt lử cho nên tôi nghe theo huấn thị của anh bạn.

    Tôi để Holmes ngồi lại trước lò sưởi cháy âm ỉ và rất lâu sau đó, mấy lần thức tỉnh trong đêm, tôi vẫn còn nghe tiếng vĩ cầm của anh trầm buồn than vãn.

    Tôi biết anh vẫn đang suy nghĩ miệt mài về vụ án kì lạ mà anh đã tự buộc mình phải giải quyết.

    6.

    Tobias Gregson cho thấy ông ta làm được gì

    Các nhật báo hôm sau đăng toàn là "Vụ bí ẩn Brixton", báo chí đặt tên như thế.

    Tờ nào cũng có bài tường thuật dài về sự việc, mấy tờ còn có thêm cả bài xã luận đi kèm.

    Có một số thông tin trên báo rất mới lạ đối với tôi.

    Tôi vẫn còn giữ trong sổ lưu trữ của mình nhiều bài cắt trong báo ra và những trích đoạn có liên quan đến vụ này.

    Sau đây là tóm lược vài mẩu:

    Tờ Daily Telegraph bình luận: Rằng trong lịch sử tội ác hiếm khi có một bi kịch nào lại cho thấy những điểm lạ lùng hơn.

    Cái tên Đức của nạn nhân, không thấy có động cơ khác, và chữ viết độc địa trên tường, tất cả đều chỉ rõ đây là một hành động do nhóm tị nạn chính trị và cách mạng gây ra.

    Những người theo chủ nghĩa xã hội có nhiều chi nhánh ở Mỹ và người quá cố chắc chắn đã vi phạm những điều luật bất thành văn của họ và đã bị họ theo dõi.

    Sau khi hời hợt điểm qua tòa án bí mật Vehm bên Đức, độc dược thạch tín, các hội kín Carbonari bên Ý, vụ án nữ hầu tước Brinvilliers bên Pháp, học thuyết Darwin, các nguyên lý của Malthus, các vụ án mạng trên đường Ratcliff, bài báo kết thúc bằng việc chỉ trích chính phủ và cổ xúy việc giám sát chặt hơn người ngoại quốc ở Anh.

    Tờ Standard nhận định: Những vụ vi phạm luật pháp trắng trợn kiểu này luôn xảy ra khi 'đảng Tự do' cầm quyền.

    Chúng nảy sinh từ tâm trạng bất ổn của quần chúng và sự suy yếu có tính hệ quả của cả chính phủ.

    Kẻ quá cố là một người Mỹ thượng lưu đã cư trú được mấy tuần lễ ở thủ đô.

    Ông ta trọ tại nhà của quý bà Charpentier ở khu Torquay Terrace, quận Camberwell.

    Cùng đi với ông ta trong những chuyến du hành là người thư kí riêng, ông Joseph Stangerson.

    Hai người đã cáo biệt bà chủ nhà hôm thứ ba, ngày 4 tháng này, và đến ga Euston với ý định không giấu giếm là đón chuyến tàu tốc hành đi Liverpool.

    Sau đó người ta đã nhìn thấy cả hai cùng có mặt ở sân ga.

    Không ai biết gì hơn về họ cho đến khi thi thể của ông Drebber, theo hồ sơ, được phát hiện trong một căn nhà không người trên đường Brixton, cách Euston nhiều dặm.

    Ông ta đến đó bằng cách nào, hay đã bị sát hại ra sao là những câu hỏi vẫn còn trong vòng bí ẩn.

    Không ai hay biết gì về tung tích của Stangerson.

    Bổn báo hoan hỉ được biết là cả hai ông Lestrade và Gregson của Sở Cảnh sát London đều tham gia điều tra và có thể tiên đoán một cách tự tin rằng hai sĩ quan danh tiếng này sẽ nhanh chóng làm sáng tỏ vấn đề.

    Tờ Daily News lưu ý: Rằng tội ác này chắc chắn mang tính chính trị.

    Sự chuyên quyền và lòng căm ghét của chủ nghĩa tự do vốn gây xáo động ở các chính phủ Âu châu lục địa, đã xô đẩy đến bờ biển Anh quốc nhiều con người lẽ ra đã thành các công dân ưu tú nếu như họ không bị biến chất do nhớ lại những chuyện đã trải qua.

    Giữa những con người này có một quy tắc danh dự nghiêm ngặt, bất kì vi phạm nào sẽ bị trừng phạt bằng cái chết.

    Người ta sẽ nỗ lực bằng mọi cách để tìm cho ra viên thư kí Stangerson và xác định một số chi tiết về nhân thân của người quá cố.

    Khám phá ra địa chỉ của căn nhà mà người này đã ở trọ là một bước tiến quan trọng vừa đạt được - kết quả này đạt được hoàn toàn nhờ vào sự nhạy bén và năng lực của ông Gregson của Sở Cảnh sát London.

    Sherlock Holmes và tôi cùng nhau đọc những ý kiến này trong bữa điểm tâm và chúng dường như đã khiến anh rất thích thú.

    "Tôi đã nói với anh rồi mà, đằng nào thì Lestrade và Gregson cũng sẽ hưởng công hết."

    "Còn tùy xem kết cục ra sao nữa chứ."

    "Ôi, tội nghiệp anh, chẳng quan trọng chút nào hết.

    Nếu kẻ đó bị bắt thì đó là nhờ những nỗ lực của bọn họ; nếu kẻ đó tẩu thoát thì đó là bất chấp những nỗ lực của họ.

    Dù chuyện gì xảy ra họ cũng được ghi công cả.

    Họ có làm gì thì cũng có người ủng hộ.

    Un sot trouve toujours un plus sot qui l'admire."

    "Có chuyện quái gì thế này?"

    Tôi thốt lên, vì đúng lúc đó dưới sảnh rồi trên cầu thang bỗng lộp cộp vang lên tiếng những bước chân, kèm theo những lời lẽ phẫn nộ thấy rõ của bà chủ nhà.

    "Lực lượng thanh tra cảnh sát khu vực phố Baker đấy", anh bạn tôi nghiêm nghị nói và anh chưa dứt lời thì sáu đứa trẻ bụi đời rách rưới và bẩn thỉu nhất mà tôi từng thấy ùa vào phòng.

    "Nghiêm!"

    Holmes hô to, giọng lanh lảnh và sáu đứa ôn con bẩn thỉu kia đứng thành hàng một như những pho tượng bất hảo.

    "Về sau tụi bay chỉ cần để mỗi thằng Wiggins lên báo cáo thôi, còn cả lũ phải chờ dưới đường.

    Mi tìm ra chưa, Wiggins?"

    "Dạ chưa, thưa ông", một đứa trong bọn lên tiếng.

    "Ta cũng không nghĩ là tụi bay tìm được.

    Nhưng phải tiếp tục tìm cho ra.

    Tiền công của tụi bay đây."

    Anh đưa cho mỗi đứa một đồng shilling.

    "Rồi, giờ thì biến đi và lần tới tụi bay quay lại đây thì phải báo cáo tốt hơn đấy."

    Anh khoát tay và lũ trẻ chạy láo nháo xuống cầu thang như một đàn chuột và chỉ một thoáng sau chúng tôi đã nghe thấy tiếng chúng nó ầm ĩ dưới đường.

    "Một đứa trong đám trẻ ăn mày đó còn làm được nhiều việc hơn cả tá cảnh sát đấy", Holmes nói.

    "Chỉ cần thấy một người có vẻ là người của chính quyền thì ai cũng miệng kín như bưng.

    Nhưng lũ trẻ này đi khắp nơi và nghe ngóng mọi chuyện.

    Chúng rất thông minh và nhanh trí nữa, chỉ thiếu tổ chức mà thôi."

    "Anh huy động chúng nó vào vụ Brixton này đấy à?"

    Tôi hỏi.

    "Đúng vậy, có một chuyện tôi muốn tìm hiểu chắc chắn.

    Chỉ là vấn đề thời gian thôi.

    A ha!

    Giờ thì chúng ta sẽ nghe vài tin tức vượt ngoài mong đợi!

    Gregson kia kìa, ông ta đang đi dưới đường với vẻ vui mừng lồ lộ trên mặt.

    Nhất định là đi tới chỗ chúng ta.

    Đó, ông ta dừng lại rồi.

    Quả không sai!"

    Một hồi chuông gắt gỏng vang lên và mấy giây sau viên thanh tra tóc vàng đi lên cầu thang, nhảy ba bậc một, và lao vào phòng khách của chúng tôi.

    "Bạn thân mến ơi", ông ta vừa hò hét vừa siết chặt bàn tay lãnh đạm của Holmes.

    "Chúc mừng tôi đi!

    Tôi đã làm mọi chuyện sáng tỏ như ban ngày."

    Nét mặt biểu cảm của anh bạn tôi hình như thoáng vẻ lo lắng.

    "Ý ông nói là ông đã tìm ra đúng hướng?"

    Anh hỏi.

    "Đúng hướng ư?

    A ha, thưa ông, chúng tôi đã bắt giam luôn hắn ta rồi!"

    "Thế hắn ta là ai?"

    "Arthur Charpentier, trung úy Hải quân Hoàng gia", Gregson cao giọng đầy tự đắc, hai bàn tay múp míp xoa vào nhau, ngực ưỡn ra trước.

    Sherlock Holmes thở phào nhẹ nhõm rồi thoải mái nở một nụ cười: "Mời ông ngồi và hút thử loại xì gà này", anh nói.

    "Chúng tôi nôn nóng muốn biết làm sao ông giải quyết được, ông dùng chút rượu nhạt nhé?"

    "Uống chút cũng không sao", viên thanh tra đáp.

    "Những nỗ lực khủng khiếp mà tôi phải chịu suốt một hai ngày vừa rồi đã vắt kiệt tôi, ông biết mà, nỗ lực thể chất chưa chắc đã làm căng thẳng bằng trí óc.

    Ông hiểu rõ điều ấy, ông Sherlock Holmes, vì chúng ta đều là người làm việc bằng trí óc."

    "Ông làm tôi hãnh diện quá chừng", Holmes nghiêm trang nói.

    "Hãy cho chúng tôi biết làm sao ông đạt được kết quả hết sức phấn khởi này đi."

    Viên thanh tra thả người vào ghế bành và thoải mái bập phà điếu xì gà.

    Rồi bất thình lình ông ta vỗ đùi một phát đầy khoái chí.

    Ông ta nói to, "Chuyện vui nhất là gã ngố Lestrade đó, gã cứ tự cho là gã giỏi, thế mà lại điều tra trật lất hết trơn.

    Gã cứ truy tìm tay thư kí Stangerson, người chẳng có liên quan gì đến tội ác, vô can chẳng khác gì em bé chưa lọt lòng mẹ.

    Tôi tin chắc là đến lúc này gã đã bắt được Stangerson rồi."

    Ý nghĩ đó khiến Gregson khoái trá tới mức cười ầm đến phát sặc.

    "Thế làm sao ông tìm ra manh mối?"

    "À, để tôi kể hết cho các ông nghe.

    Bác sĩ Watson này, tất nhiên chuyện này chỉ riêng chúng ta biết thôi nhé.

    Khó khăn đầu tiên chúng tôi phải vượt qua chính là tìm cho ra lai lịch của tay người Mỹ đó, nhiều người sẽ chờ cho đến khi bố cáo của họ được hồi đáp, hay cho đến khi có bên nào đó ra trình diện và tự giác cung cấp thông tin.

    Đó không phải cách làm việc của Tobias Gregson này.

    Các ông còn nhớ cái mũ nằm cạnh người chết không?"

    "Nhớ chứ", Holmes nói.

    "Do nhà John Underwood ở số 129 đường Camberwell làm ra."

    Gregson thộn mặt ra tiu nghỉu.

    "Thật không dè là ông để ý tới nó", ông ta nói.

    "Ông tới đó chưa?"

    "Chưa."

    "À!"

    Gregson thốt lên, giọng nhẹ nhõm hẳn.

    "Ông đừng bao giờ bỏ lỡ cơ hội nào, cho dù có vẻ là nhỏ nhặt."

    "Với một bộ óc lớn lao thì chẳng có gì nhỏ bé cả", Holmes lên giọng dạy dỗ.

    "Đấy, tôi đã đến nhà Underwood và hỏi ông ta xem có bán cái mũ nào cỡ đó, kiểu đó, cho ai không, ông ta xem lại sổ sách và tìm ra ngay, ông ta đã cho mang cái mũ đến giao cho ông Drebber nào đó ở nhà trọ của bà Charpentier, ở khu Torquay Terrace.

    Nhờ vậy tôi có được địa chỉ."

    "Tài, tài lắm!"

    Sherlock Holmes lẩm bẩm.

    "Sau đó tôi tới nhà bà Charpentier", viên thám tử kể tiếp.

    "Tôi thấy bà ta tái nhợt và khổ sở.

    Con gái bà cũng có mặt trong phòng, một cô gái đẹp khác thường, cô ta cứ ửng đỏ mặt và môi cứ run run khi tôi hỏi chuyện.

    Tôi để ý thấy ngay.

    Tôi sinh nghi có gì dối trá ở đây.

    Ông biết cảm giác đó mà, ông Sherlock Holmes, khi ông đánh hơi ra chuyện thì tự nhiên có cảm giác hồi hộp liền.

    Tôi hỏi: 'Bà có nghe nói về cái chết bí ẩn của ông Enoch J.

    Drebber ở Cleveland, người thuê trọ nhà bà không?'

    Bà mẹ gật đầu.

    Bà ta coi bộ nói không nổi lời nào.

    Cô con gái thì òa khóc.

    Tôi càng thấy rõ là những người này biết chuyện gì đó liên quan đến vụ việc.

    Tôi hỏi: 'Thế ông Drebber rời nhà bà để ra ga lúc mấy giờ?'

    'Lúc 8 giờ,' bà ta nói mà cứ nuốt nước bọt liên tục để giữ bình tĩnh, 'ông Stangerson thư kí của ông ấy bảo là có hai chuyến tàu, một chuyến 9 giờ 15 và một chuyến 11 giờ.

    Ông ta sẽ đón chuyến đầu tiên.'

    'Đó là lần chót bà nhìn thấy ông ta phải không?'

    Khi tôi hỏi câu đó thì sắc mặt bà ta thay đổi dữ lắm.

    Mặt bà ta tái nhợt hẳn đi.

    Phải mất mấy giây bà ta mới 'Dạ' được một tiếng, mà cái tiếng 'Dạ' đó khi thốt ra cũng khản đặc khác thường.

    Im lặng một hồi lâu thì tới lượt cô con gái lên tiếng, giọng rõ ràng, bình tĩnh: 'Cứ nói dối mãi chẳng ích gì đâu, mẹ ơi.

    Ta cứ nói thật hết với quý ông này đi.

    Đúng là chúng tôi có gặp lại ông Drebber sau đó.'

    'Cầu Chúa xá tội!' Bà Charpentier kêu to, hai tay vung lên trời rồi bà ta ngồi phịch xuống ghế.

    'Mày giết anh mày rồi, con ơi.'

    'Anh Arthur cũng sẽ muốn chúng ta nói sự thật mà thôi,' cô gái đáp lại, giọng kiên quyết.

    'Tốt nhất là các người cứ kể hết cho tôi nghe luôn đi,' tôi nói.

    'Cứ nửa tin nửa ngờ thì còn tệ hơn là không tin tưởng nhau.

    Hơn nữa, các người làm sao biết chúng tôi đã biết rõ chuyện này tới đâu chứ.'

    'Mọi chuyện là do mày hết đó nghe, Alice!' Bà mẹ kêu lên rồi quay sang tôi.

    'Thưa ông, tôi sẽ kể hết.

    Ông đừng tưởng chuyện tôi lo lắng vì con trai tôi là do tôi sợ nó có nhúng tay vào cái việc khủng khiếp này.

    Con tôi hoàn toàn vô tội.

    Nhưng tôi sợ là ông và những người khác lại cho rằng con trai tôi có thể gây hại.

    Không thể nào có chuyện đó.

    Tư cách của nó, nghề nghiệp của nó, lai lịch của nó, hoàn toàn không cho phép nó làm bậy được.'

    'Tốt nhất là bà cứ khai báo hết mọi chuyện đi,' tôi nói.

    'Theo lời khai này, nếu con trai bà vô tội thì anh ta sẽ không bị tổn hại gì đâu.'

    'Này Alice, chắc là con nên ra ngoài cho người lớn nói chuyện,' bà mẹ nói và cô con gái rút lui.

    'Đấy, thưa ông,' bà ta nói tiếp, 'thật sự là tôi không muốn nói hết với ông đâu nhưng do đứa con gái tội nghiệp của tôi đã bộc lộ rồi thì tôi không còn cách nào khác.

    Một khi đã quyết định nói, tôi sẽ cho ông biết không sót chi tiết nào.'

    'Đó là cách xử sự khôn ngoan nhất đấy thưa bà,' tôi nói.

    'Ông Drebber ở trọ nhà chúng tôi gần ba tuần, ông ta và viên thư kí Stangerson đang du hành Âu châu.

    Tôi có thấy trên mỗi rương hành lí của họ đều có dán nhãn Copenhagen, rõ ràng đó là điểm dừng chân sau chót của họ.

    Stangerson là người trầm lặng, kín đáo, nhưng ông chủ của anh ta, tôi xin lỗi, phải nói là hoàn toàn trái ngược, ông ta tính tình thì lỗ mãng còn cư xử thì hung tợn.

    Ngay đêm ông ta tới đây thì ông ta còn tồi tệ hơn vì đã say rượu, và thực tình là đến 12 giờ trưa hôm sau ông ta vẫn còn say chưa tỉnh.

    Cách xử sự của ông ta với mấy đứa hầu gái thật là buông tuồng và suồng sã thấy ghét.

    Tệ hại nhất là ông ta nhanh chóng giở cái thái độ đó với con gái tôi, con Alice, và đã nhiều lần nói chuyện với con gái tôi theo cái kiểu mà may sao con gái tôi ngây thơ quá nên không hiểu.

    Có một lần ông ta quả thực đã ôm ghì lấy con gái tôi trong vòng tay, một sự xúc phạm khiến cho viên thư kí của ông ta phải lên tiếng trách cứ cái hành vi phi quân tử đó.'

    'Nhưng sao bà lại cam chịu mọi chuyện thế chứ?' Tôi hỏi.

    'Tôi nghĩ nếu bà muốn thì bà có quyền tống khứ những người ở trọ đi.'

    Câu hỏi thẳng thừng của tôi làm bà Charpentier đỏ mặt.

    'Có Chúa chứng giám là ngay ngày đầu tiên ông ta đến ở thì tôi đã đòi đuổi đi rồi,' bà ta nói.

    'Nhưng tiền cứ đâm vào mắt.

    Họ trả mỗi người một bảng Anh một ngày, vị chi mười bốn bảng một tuần, và mùa này lại ít khách trọ.

    Tôi thì góa chồng, con trai ở trong hải quân cũng làm tôi tốn nhiều tiền.

    Tôi không cam lòng mất số tiền đó.

    Tôi cố xoay xở cho khéo.

    Nhưng đến lần vừa rồi tôi hết chịu nổi, và vì chuyện đó tôi không cho ông ta trọ nữa.

    Đó là lí do ông ta phải đi.'

    'Rồi sao?'

    'Lòng tôi nhẹ nhõm hẳn khi thấy ông ta lên xe đi.

    Con trai tôi lúc đó cũng vừa nghỉ phép nhưng tôi không cho nó biết gì hết vì tính nó dữ lắm mà nó lại rất thương em gái.

    Họ đi rồi, tôi đóng cửa lại và thấy như tròng lòng trút được gánh nặng.

    Than ôi, không đầy một tiếng đồng hồ sau thì có tiếng chuông cửa, và tôi biết là ông Drebber đã quay lại.

    Ông ta hết sức nóng nảy, rõ ràng là càng kích động hơn vì đã say.

    Ông ta xô cửa vào phòng, nơi tôi đang ngồi với con gái, và ông ta cứ nói chẳng ra đầu ra đũa gì cả về chuyện nhỡ tàu.

    Rồi ông ta quay sang Alice, và ngay trước mặt tôi, đề nghị con gái tôi nên bỏ nhà trốn đi cùng ông ta.

    Ông ta nói: 'Em đã trưởng thành rồi, chẳng có luật lệ nào cấm cản em.

    Tiền thì tôi có đầy.

    Đừng có bận tâm đến mụ già này, đi theo tôi ngay đi.

    Em sẽ sống như bà hoàng.' Tội nghiệp con Alice sợ quá cứ rúm người tránh né, nhưng ông ta đã chộp lấy cổ tay nó và toan lôi nó ra cửa.

    Tôi thét lên và ngay lúc đó thằng Arthur con tôi đi vào.

    Những gì xảy ra sau đó thì tôi không rõ.

    Tôi nghe tiếng chửi thề và tiếng ẩu đả hỗn loạn.

    Tôi sợ quá đâu dám ngẩng đầu lên.

    Lúc nhìn lên tôi thấy thằng Arthur đứng ở ngưỡng cửa cười to, tay cầm cái gậy.

    Nó nói: 'Con nghĩ là cha nội đó sẽ không dám quấy phá nhà ta nữa đâu.

    Để con đi theo xem hắn ta làm gì cho hết thời gian.' Nói xong, nó đội mũ và đi ra phố.

    Sáng hôm sau chúng tôi biết tin cái chết bí ẩn của ông Drebber.'

    Lời khai đó do chính miệng bà Charpentier nói ra giữa những tiếng thở dốc và những chỗ ngập ngừng.

    Có lúc bà ta nói nhỏ tới mức tôi hầu như không nghe được.

    Nhưng tôi đã ghi tốc kí hết những gì bà ta nói cho nên không thể nào sai sót gì được."

    "Lí thú quá", Sherlock Holmes nói rồi ngáp dài.

    "Sau đó thì sao?"

    "Khi bà Charpentier ngừng lời", viên thanh tra kể tiếp, "tôi thấy toàn bộ vụ này xoay quanh một điểm mấu chốt.

    Tôi nhìn chằm chằm vào bà ta với ánh mắt mà tôi luôn thấy hiệu quả đối với phụ nữ, tôi hỏi bà ta mấy giờ thì con trai bà quay về.

    'Tôi không biết,' bà ta đáp.

    'Không biết?'

    'Không, nó có chìa khóa riêng và tự mở cửa vào.'

    'Sau khi bà đã đi ngủ à?'

    'Dạ.'

    'Thế bà đi ngủ khi nào?'

    'Khoảng 11 giờ.'

    'Vậy là con trai bà bỏ đi ít nhất là hai tiếng?'

    'Dạ.'

    'Có thể là bốn hay năm tiếng?'

    'Dạ.'

    'Thế trong khoảng thời gian đó anh ta làm gì?'

    'Tôi đâu có biết,' bà ta trả lời mà đôi môi cứ trắng nhợt ra.

    Tất nhiên sau đó chẳng còn gì để hỏi nữa.

    Tôi đã tìm ra trung úy Charpentier ở đâu, tôi gọi thêm hai sĩ quan nữa đi cùng tôi và bắt giữ hắn.

    Khi tôi vỗ vai hắn và khuyên hắn phải ngoan ngoãn đi theo chúng tôi, hắn trâng tráo đáp lại: 'Chắc mấy ông bắt tôi vì liên quan đến cái chết của tên vô lại Drebber chứ gì.' Chúng tôi đâu có nói gì với hắn về chuyện đó, cho nên việc hắn tự nói ra lại là điểm đáng nghi ngờ nhất."

    "Nghi lắm", Holmes nói.

    "Hắn ta vẫn còn mang theo cây gậy to mà theo lời bà mẹ là hắn đã mang bên người khi đi theo Drebber.

    Một cây gậy ngắn bằng gỗ sồi rất chắc."

    "Như vậy ông đưa ra giả thuyết gì?"

    "À, giả thuyết của tôi là hắn ta đã đi theo Drebber đến tận đường Brixton.

    Khi tới đó, giữa hai người lại nảy ra cãi vã, và trong khi xô xát Drebber lãnh một gậy, có lẽ là ngay giữa bụng, khiến hắn chết mà không để lại dấu vết gì.

    Đêm mưa ướt át nên chung quanh không có ai, thế là Charpentier kéo xác nạn nhân vào căn nhà bỏ không đó.

    Còn cây nến, và vũng máu, và chữ viết trên tường, và cái nhẫn, đó toàn là những mánh lới để đánh lạc hướng cảnh sát thôi."

    "Quá hay!"

    Holmes nói với giọng khích lệ.

    "Quả thực ông đã xoay xở tốt quá, ông Gregson.

    Chúng tôi thật không biết khen ngợi ông sao cho xứng đây."

    "Tôi tự hào mình đã giải quyết chuyện này khá nhanh gọn", viên thanh tra kiêu hãnh trả lời.

    "Gã thanh niên đó đã tự giác khai báo, hắn khai là sau khi đi theo Drebber được một lúc thì Drebber nhận ra hắn nên đón xe ngựa đi để trốn tránh.

    Trên đường về nhà, hắn gặp một bạn cùng tàu ngày trước, và đi tản bộ rất lâu với người này.

    Khi hỏi bạn cũ sống ở đâu thì hắn ta lại không thể đưa ra câu trả lời nào thỏa đáng.

    Tôi nghĩ toàn bộ vụ này ăn khớp với nhau lạ lùng.

    Chuyện làm tôi thích thú là nghĩ đến Lestrade, gã đánh hơi sai hướng rồi.

    Tôi e là chẳng được trò trống gì.

    Ôi trời, thiêng thật, mới nhắc đến đã ló mặt ra rồi!"

    Quả đúng là Lestrade.

    Ông ta lên cầu thang trong lúc chúng tôi nói chuyện và giờ bước vào phòng.

    Tuy nhiên, vẻ ung dung tự mãn thường lộ rõ trong thái độ và cách phục sức của ông ta bây giờ đã đi đâu mất.

    Vẻ mặt Lestrade bối rối và bồn chồn trong khi áo quần lại xộc xệch lôi thôi.

    Rõ ràng là Lestrade đến đây với ý đồ nhờ Sherlock Holmes tư vấn, và khi thấy đồng nghiệp của mình cũng có mặt, ông ta đâm ra lúng túng và bực bội.

    Ông ta đứng ngay giữa phòng, tay lóng ngóng mân mê chiếc mũ mà không biết phải làm gì.

    "Đây là vụ lạ lùng nhất", cuối cùng ông thốt lên, "một vụ khó hiểu nhất."

    "A, ông cũng thấy vậy à, ông Lestrade!"

    Gregson đắc thắng lên tiếng.

    "Tôi biết thế nào ông cũng kết luận như thế.

    Thế ông đã tìm ra viên thư kí, ông Joseph Stangerson chưa?"

    "Viên thư kí Joseph Stangerson", giọng Lestrade nghiêm trọng, "đã bị giết chết ở khách sạn Halliday lúc 6 giờ sáng nay."

    7.

    Ánh sáng trong bóng tối

    Lestrade đã chào chúng tôi bằng một tin tức hết sức nghiêm trọng, hết sức bất ngờ khiến cả ba chúng tôi bàng hoàng sửng sốt.

    Gregson nhảy bật khỏi ghế làm đổ cả cốc rượu chưa uống hết.

    Tôi nín lặng trân trối nhìn Sherlock Holmes.

    Anh mím chặt môi và cau mày lại.

    "Stangerson nữa!"

    Anh lẩm bẩm.

    "Vụ này ngày càng phức tạp."

    "Làm như chưa đủ phức tạp không bằng", Lestrade vừa càu nhàu vừa kéo một cái ghế.

    "Hình như tôi đã tình cờ chen vào một hội nghị khẩn cấp thì phải."

    "Ông có chắc chắn...

    ông có chắc chắn về thông tin này không?"

    Gregson ấp úng.

    "Thì tôi vừa từ chỗ Stangerson tới đây mà", Lestrade nói.

    "Tôi là người đầu tiên phát hiện sự việc vừa rồi."

    "Chúng tôi đang nghe ý kiến của Gregson về vụ này", Holmes lên tiếng.

    "Phiền ông cho chúng tôi biết những gì ông đã chứng kiến và hành động?"

    "Rất sẵn lòng", Lestrade đáp và ngồi xuống.

    "Không giấu gì các ông, tôi vốn cho rằng Stangerson liên quan đến cái chết của Drebber.

    Tình huống mới nhất này đã chứng tỏ là tôi hoàn toàn sai lầm.

    Cứ chăm chăm theo một giả thuyết, tôi đi điều tra xem chuyện gì xảy đến cho viên thư kí đó.

    Người ta đã thấy họ cùng đứng ở ga Euston khoảng 8 giờ rưỡi tối hôm đó.

    Đến 2 giờ sáng thì phát hiện ra Drebber ở đường Brixton.

    Vấn đề tôi phải đương đầu là làm sao biết được Stangerson đã làm gì từ 8 giờ rưỡi cho đến lúc xảy ra án mạng, và chuyện gì xảy đến với ông ta sau đó.

    Tôi đánh điện đến Liverpool, mô tả nhân dạng người này, và nhờ người ở đó theo dõi những chuyến tàu trở về Mỹ.

    Sau đó tôi bắt đầu ghé đến mọi khách sạn và nhà trọ ở những khu lân cận Euston.

    Các ông thấy đấy, tôi lập luận rằng nếu Drebber và người đồng hành đã mỗi người mỗi hướng thì đương nhiên Stangerson tìm chỗ trú ngụ qua đêm ở đâu gần đó, để sáng hôm sau lại lảng vảng ở nhà ga."

    "Rất có khả năng họ đã bàn bạc trước về một điểm hẹn nào đó", Holmes nói.

    "Quả đúng như thế.

    Tôi bỏ cả buổi tối hôm qua đi dò hỏi mãi mà chẳng có kết quả gì.

    Sáng nay tôi bắt đầu rất sớm và đến 8 giờ thì tôi tới khách sạn Halliday ở phố Little George.

    Nghe tôi hỏi có ông nào là Stangerson ở đây không thì người ta trả lời ngay là có.

    Họ nói: 'Nhất định quý ông đây là người mà ông ấy đang trông đợi.

    Ông ấy đã chờ một quý ông nào đó cả hai ngày nay rồi.'

    Tôi hỏi: 'Thế bây giờ ông ấy ở đâu?'

    'Ông ấy còn đang ngủ trên lầu.

    Ông ấy đã dặn đánh thức lúc 9 giờ.'

    Tôi nói: 'Để tôi lên lầu gặp ông ấy ngay!'

    Tôi nghĩ rằng có thể sự xuất hiện đột ngột của tôi sẽ khiến Stangerson mất bình tĩnh và khinh suất nói ra nhiều chuyện.

    Thằng bồi khách sạn tình nguyện đưa tôi đi, phòng đó ở trên tầng ba và có một hành lang nhỏ dẫn tới.

    Thằng bồi chỉ cho tôi thấy cửa phòng và định quay xuống cầu thang thì tôi thấy một thứ làm tôi muốn phát nôn, bất kể hai mươi năm kinh nghiệm của tôi.

    Từ dưới cánh cửa một dòng máu đỏ tràn qua hành lang và đọng thành một vũng nhỏ dọc theo gờ tường bên kia.

    Tôi kêu lên khiến thằng bồi quay lại.

    Thấy vũng máu nó suýt ngất xỉu.

    Cánh cửa đã khóa bên trong, nhưng cả hai chúng tôi cùng đưa vai tống mạnh và cửa bật ra.

    Cửa sổ trong phòng mở toang, và bên cạnh cửa sổ, xác một người đàn ông còn mặc đồ ngủ nằm co lại.

    Ông ta chết ngắc, và chết từ lâu, vì tay chân đã lạnh cứng.

    Khi chúng tôi lật cái xác lại thì thằng bồi nhận ra ngay quý ông đã thuê phòng với cái tên Joseph Stangerson.

    Ông ta chết vì một cú đâm sâu phía bên trái, hẳn là đâm thấu tim.

    Và bây giờ mới tới phần lạ lùng nhất của chuyện này.

    Phía bên trên người bị giết ấy là cái gì, các ông thử đoán xem?"

    Tôi thấy cả người sởn gai ốc và linh cảm một điều khủng khiếp sẽ đến, trước cả khi Sherlock Holmes đáp lời.

    Anh nói, "Chữ RACHE, với những mẫu tự viết bằng máu."

    "Chính là thế", Lestrade thốt lên, giọng sợ hãi và tất cả chúng tôi đều im lặng hồi lâu.

    Hành vi của kẻ sát nhân bí ẩn này vừa rất có hệ thống, vừa không thể hiểu nổi, khiến cho tội ác của hắn càng thêm phần rùng rợn.

    Thần kinh của tôi, vốn đã khá vững vàng trên chiến trường, giờ lại bủn rủn khi nghĩ đến chuyện này.

    "Có người đã thấy thủ phạm", Lestrade kể tiếp.

    "Một thằng nhỏ bán sữa trên đường đi đến nhà máy lấy sữa đã tình cờ đi theo con đường nhỏ của dãy nhà đằng sau khách sạn.

    Nó để ý thấy một cái thang mọi khi vẫn nằm ở đó lại được dựng lên, tựa vào một cửa sổ mở toang trên tầng ba.

    Sau khi đi qua, thằng nhỏ ngoái lại và thấy một người đàn ông leo xuống thang.

    Hắn ta leo xuống bình thản và ngang nhiên tới mức thằng nhỏ tưởng đâu là thợ mộc đang làm việc ở khách sạn.

    Nó chẳng chú tâm gì mấy đến người đó, không hề nghĩ rằng giờ ấy mà đã làm việc thì quá sớm.

    Nó còn nhớ rõ người đó cao lớn, mặt đỏ ửng, và mặc áo khoác dài màu nâu.

    Thủ phạm hẳn phải nán lại trong căn phòng một lúc sau khi giết người, vì chúng tôi thấy nước trong bồn rửa mặt vấy máu, nơi hắn đã rửa tay, và nhiều dấu máu trên các lớp chăn trải giường nơi hắn đã cố tình lau sạch con dao."

    Tôi liếc nhìn Holmes trong lúc nghe mô tả về kẻ sát nhân, giống y những gì anh đã nói với tôi.

    Tuy nhiên, nét mặt anh không hề có dấu hiệu gì là hoan hỉ hay hài lòng.

    Anh hỏi, "Trong phòng đó ông có tìm thấy cái gì có thể cung cấp manh mối về kẻ sát nhân không?"

    "Chẳng có gì.

    Trong túi Stangerson có cái ví của Drebber nhưng điều này có vẻ bình thường thôi vì viên thư kí lo hết mọi chuyện thanh toán.

    Trong ví có hơn tám mươi bảng Anh nhưng không mất đồng nào.

    Cho dù động cơ của những tội ác lạ lùng này là gì đi nữa thì nhất định không phải là cướp bóc.

    Trong túi của người bị giết cũng không hề có giấy tờ hay ghi chép gì, ngoại trừ một bức điện tín gửi từ Cleveland đề ngày cách đây một tháng rồi, và chỉ có mấy chữ: J.

    H đang ở Âu châu.

    Bức điện này không hề có tên người gửi."

    "Không còn gì khác sao?"

    Holmes hỏi.

    "Chẳng có gì quan trọng cả.

    Cuốn tiểu thuyết mà Stangerson đọc cho dễ ngủ vẫn còn nằm trên giường, tẩu thuốc của ông ta vẫn còn trên cái ghế bên cạnh.

    Trên bàn có một cốc nước và trên bệ cửa sổ có một hộp thuốc nhỏ xíu, bên trong có hai viên thuốc."

    Sherlock Holmes đứng bật dậy khỏi ghế, kêu lên mừng rỡ, "Mắt xích cuối cùng!

    Giả thuyết của tôi đã trọn vẹn!"

    Hai viên thanh tra ngạc nhiên nhìn anh chằm chằm.

    Anh bạn tôi nói rất tự tin, "Bây giờ tôi đã có trong tay đủ hết những manh mối hợp thành cái mớ bòng bong này.

    Tất nhiên còn thiếu những chi tiết nhưng tôi đã xác định được hết các yếu tố chính, từ lúc Drebber chia tay viên thư kí Stangerson ở nhà ga cho tới khi phát hiện ra xác viên thư kí, cứ như là chính mắt mình đã chứng kiến.

    Rồi tôi sẽ cho các ông thấy những gì tôi biết.

    Thế ông có giữ mấy viên thuốc đó trong tay không?"

    "Có đây", Lestrade vừa nói vừa chìa một hộp nhỏ màu trắng ra.

    "Tôi lấy cùng với cái ví và bức điện tín, tính mang về sở cảnh sát cất hết vào một chỗ an toàn.

    Chỉ tình cờ tôi mới lấy luôn mấy viên thuốc này, chứ phải nói là tôi chẳng thấy thứ đó quan trọng gì."

    "Đưa chúng cho tôi", Holmes nói rồi quay sang tôi.

    "Này bác sĩ, đây có phải thuốc thường không?"

    Chắc chắn là không.

    Đó là những viên tròn nhỏ, màu xám ngọc trai, và giơ lên ánh sáng thì gần như trong suốt.

    "Theo độ nhẹ và độ trong suốt này, tôi nghĩ là chúng tan trong nước", tôi nhận xét.

    "Chính xác là thế", Holmes đáp lời.

    "Bây giờ phiền anh xuống nhà mang con chó tội nghiệp lên đây, bấy lâu nay nó đã quặt quẹo tới mức hôm qua bà chủ nhà đã muốn anh giúp nó thoát khỏi đau đớn."

    Tôi xuống nhà ôm con chó trong tay rồi quay lên.

    Hơi thở nặng nhọc và ánh mắt đờ đẫn của con vật cho thấy nó chẳng còn sống được bao lâu nữa.

    Quả thực, cái mõm trắng phếch cho thấy rõ nó đã quá già so với tuổi thọ bình thường của loài khuyển.

    Tôi đặt con chó lên một chiếc đệm để trên thảm.

    "Bây giờ tôi sẽ cắt viên thuốc này làm đôi", Holmes nói và rút dao nhíp ra rồi nói tới đâu làm tới đó.

    "Một nửa tôi sẽ bỏ lại vào hộp để dành về sau.

    Nửa kia tôi sẽ bỏ vào cái li này, trong li có sẵn một thìa nước.

    Các ông thấy là anh bạn bác sĩ của tôi nói đúng, thuốc này tan rất nhanh."

    "Chuyện này có thể hay ho đấy", Lestrade nói với giọng tự ái của một kẻ nghi ngờ rằng mình đang bị nhạo báng, "nhưng tôi không thấy nó có liên quan gì đến cái chết của Joseph Stangerson."

    "Kiên nhẫn nào, ông bạn ơi, kiên nhẫn!

    Cứ từ từ rồi ông sẽ thấy rằng nó hoàn toàn có liên quan.

    Bây giờ tôi cho thêm tí sữa để làm cho cái hỗn hợp này ngon lành và khi đưa cho con chó thì ta sẽ thấy nó chịu liếm sạch."

    Vừa nói anh vừa đổ thứ trong li ra một cái đĩa rồi đặt đĩa trước con chó.

    Nó mau chóng liếm sạch.

    Thái độ của Sherlock Holmes nãy giờ đã thuyết phục chúng tôi nên tất cả đều ngồi im lặng chăm chú theo dõi con vật kia và chờ đợi một phản ứng bất ngờ nào đó.

    Tuy nhiên chẳng có gì xảy ra.

    Con chó tiếp tục nằm duỗi ra trên đệm, thở khò khè, nhưng rõ ràng là chuyện uống thuốc vừa rồi chẳng có tác dụng gì với nó cả.

    Holmes lấy đồng hồ ra xem và phút này tiếp nối phút kia mà không thấy kết quả gì, nét mặt anh lộ rõ vẻ chán nản và thất vọng hết sức.

    Hết mím môi, anh lại gõ mấy ngón tay lên bàn, và bộc lộ hết mọi dấu hiệu sốt ruột cực độ.

    Cảm xúc của anh căng thẳng tới mức tôi thật sự thấy thương hại cho anh, trong khi hai viên thanh tra cười chế giễu, hoàn toàn không thấy khó chịu gì với cái trở ngại mà anh gặp phải.

    "Không thể nào là trùng hợp ngẫu nhiên được", cuối cùng anh thốt lên, nhảy phắt khỏi ghế và đi tới đi lui trong phòng như phát cuồng.

    "Nhất định không thể nào chỉ là chuyện trùng hợp.

    Chính những viên thuốc tôi đã nghi ngờ từ vụ Drebber bây giờ đã được tìm thấy sau cái chết của Stangerson.

    Thế mà chúng chẳng có tác dụng gì.

    Vậy là sao chứ?

    Chắc chắn là toàn bộ chuỗi suy luận của tôi không thể sai.

    Không thể nào!

    Vậy mà con chó khốn khổ này cứ trơ trơ.

    A, tôi biết rồi!

    Tôi biết rồi!"

    Hét lên một tiếng vui sướng, anh lao tới hộp thuốc, cắt viên thuốc còn lại làm đôi, hòa tan, thêm sữa, rồi lại đưa cho con chó.

    Con vật bất hạnh dường như còn chưa kịp nhúng lưỡi vào đó thì đã rùng mình co giật cả bốn chân rồi nằm chết cứng đờ như thể vừa bị sét đánh.

    Sherlock Holmes hít một hơi dài và lau vầng trán đẫm mồ hôi.

    "Lẽ ra tôi phải vững tin hơn", anh nói.

    "Lẽ ra tới lúc này tôi phải biết là khi một dữ kiện có vẻ mâu thuẫn với cả chuỗi dài suy luận thì hẳn phải có thể giải thích theo cách khác.

    Hai viên thuốc trong hộp có một viên là độc dược giết người cực mạnh, còn viên kia hoàn toàn vô hại.

    Lẽ ra tôi phải biết từ trước khi nhìn thấy cái hộp mới đúng."

    Câu nói sau cùng của anh khiến tôi sửng sốt tới mức tôi khó mà tin nổi là anh đang hoàn toàn tỉnh táo.

    Thế nhưng một con chó đã phải chết để chứng minh rằng các phỏng đoán của anh chính xác.

    Tôi thấy dường như màn sương mù che phủ tâm trí mình đang dần dần tan biến, và tôi bắt đầu lờ mờ nhận ra sự thật.

    "Mọi chuyện này có vẻ kì lạ đối với các ông", Holmes nói tiếp, "bởi ngay từ đầu cuộc điều tra, các ông đã không thấu hiểu tầm quan trọng của manh mối đích thực duy nhất nằm ngay trước mắt.

    Rất may là tôi đã chộp được manh mối đó và mọi chuyện xảy ra về sau đều xác minh điều tôi giả định ngay từ đầu, và đúng như thế, mọi chuyện về sau chỉ là một chuỗi logic của giả định đó.

    Vì thế, nhiều điều khiến các ông lúng túng và làm cho sự việc thêm khó hiểu thì chúng lại khai sáng cho tôi và củng cố những kết luận của tôi.

    Thật sai lầm khi nhầm lẫn sự lạ thường với sự bí ẩn.

    Tội ác bình thường nhất nhiều khi lại chính là tội ác bí ẩn nhất bởi vì nó không có yếu tố gì mới mẻ hay đặc biệt để làm cơ sở suy luận.

    Vụ giết người này lẽ ra sẽ khó làm sáng tỏ hơn gấp bội phần nếu như xác của nạn nhân chỉ được phát hiện nằm trên đường lộ mà không hề có những yếu tố đi kèm gây xúc động thái quá, những yếu tố khiến nó khác thường.

    Những chi tiết lạ lùng này hoàn toàn không làm cho sự việc thêm khó hiểu mà thực ra lại có tác dụng ngược lại."

    Gregson nãy giờ nghe bài diễn văn này với vẻ sốt ruột thấy rõ, tới lúc này thì ông ta không chịu nổi nữa.

    "Này, ông Sherlock Holmes", ông ta thốt lên, "ai trong chúng tôi cũng sẵn sàng thừa nhận ông là người thông minh và ông có phương pháp làm việc riêng.

    Nhưng chúng tôi lúc này cần những thứ khác hơn là chỉ toàn lí thuyết với rao giảng.

    Đây là chuyện tìm cho ra thủ phạm.

    Tôi đã điều tra theo hướng của mình và coi bộ tôi đã sai lầm.

    Anh chàng Charpentier kia không thể nào dính dáng vào vụ giết người thứ hai.

    Lestrade truy tìm mục tiêu của ông ta là Stangerson và hóa ra ông ta cũng sai lầm luôn.

    Còn ông thì cứ ra rả hết lời khuyên này đến lời khuyên khác, và tỏ ra hiểu biết nhiều hơn chúng tôi, nhưng đã tới lúc chúng tôi thấy là mình có quyền hỏi thẳng xem ông hiểu biết về vụ này đến đâu.

    Ông có biết được danh tính thủ phạm không nào?"

    "Cũng phải nói là tôi thấy Gregson có lí đó, ông à", Lestrade lên tiếng.

    "Cả hai chúng tôi đều đã cố gắng và đều thất bại.

    Từ khi tôi bước vào căn phòng này thì đã hơn một lần ông nói là ông đã có đủ chứng cứ cần thiết.

    Nhất định là ông sẽ không giữ kín chứng cứ lâu hơn nữa đâu."

    "Càng chậm trễ bắt tên sát nhân thì hắn càng có thời gian gây ra thêm những tội ác mới", tôi cũng góp lời.

    Bị cả ba chúng tôi thúc ép như thế, Holmes tỏ ra có phần lưỡng lự.

    Anh tiếp tục đi tới đi lui khắp phòng, đầu cúi gằm, chân mày cau lại, như thói quen mỗi khi suy tư.

    "Sẽ không có vụ giết người nào nữa đâu", cuối cùng anh đột ngột dừng lại và quay sang nhìn chúng tôi.

    "Quý vị có thể bỏ qua mối quan tâm đó đi.

    Quý vị hỏi tôi có biết tên kẻ ám sát đó không ư?

    Tôi biết.

    Nhưng việc biết danh tính hắn ta chỉ là chuyện nhỏ nhặt so với khả năng tóm cổ được hắn.

    Tôi nghĩ chuyện đó cũng sắp thôi.

    Tôi rất hi vọng sẽ bắt được hắn ta bằng những cách tôi đã chuẩn bị, song đây là việc cần phải xử lí thật khéo vì chúng ta đương đầu với một kẻ vừa xảo quyệt vừa liều lĩnh, một kẻ mà tôi đã có cơ hội xác minh là được hỗ trợ bởi một người nữa cũng khôn ngoan không kém.

    Chừng nào kẻ này còn chưa biết là người ta đã có manh mối thì còn có cơ hội bắt được hắn, nhưng chỉ cần hắn nghi ngờ một chút thôi thì hắn sẽ thay tên đổi họ và biến mất ngay giữa bốn triệu cư dân trong thành phố to lớn này.

    Không hề cố ý làm các ông tự ái nhưng phải nói là tôi thấy lực lượng cảnh sát không phải là đối thủ tương xứng với những kẻ này, và đó là lí do tôi đã không nhờ các ông giúp sức.

    Nếu thất bại, tất nhiên tôi sẽ lãnh hết trách nhiệm vì sự khinh suất này, nhưng tôi đã sẵn sàng gánh chịu rồi.

    Còn hiện tại, tôi chỉ hứa là ngay khi nào có thể thông báo với các ông mà không gây nguy hại cho những gì tôi đã sắp xếp, thì tôi sẽ nói."

    Gregson và Lestrade có vẻ chẳng lấy gì làm thỏa mãn với cam kết này, hoặc với lời ám chỉ đầy khinh thường giới cảnh sát điều tra.

    Mặt Gregson đỏ bừng đến tận chân tóc còn ánh mắt Lestrade thì long lên, vừa uất ức vừa hiếu kì.

    Nhưng chưa ai kịp lên tiếng thì đã có tiếng gõ cửa và kẻ đại diện cho đám trẻ bụi đời, thằng nhóc Wiggins, đã chường cái bộ dạng khó ưa ra.

    "Xin mời ông", nó vừa nói vừa vuốt lọn tóc trước trán.

    "Cháu đã gọi sẵn xe ngựa chờ dưới nhà."

    "Giỏi đó, nhóc con", Holmes ôn tồn nói.

    "Sao các ông không đưa kiểu mẫu này vào sử dụng ở Sở Cảnh sát London nhỉ?"

    Anh lấy trong ngăn kéo ra một đôi còng tay bằng thép và nói tiếp.

    "Thấy chưa, cái lò xo này hoạt động mới tuyệt vời chứ!

    Bóp một cái là siết chặt liền."

    "Kiểu cũ xài cũng tốt chán", Lestrade lên tiếng, "chúng tôi chỉ cần tìm người cho tay vào còng thôi."

    "Đúng lắm, đúng lắm", Holmes vừa nói vừa cười.

    "Bác xà ích mà khênh giúp tôi mấy cái rương thì hay quá.

    Wiggins, bảo bác ấy lên đây đi."

    Tôi ngạc nhiên thấy anh bạn mình nói năng cứ như sắp lên đường đi một chuyến xa vì anh đã không hề nói gì với tôi về chuyện này.

    Trong phòng có một vali quần áo nhỏ, anh lôi nó ra và bắt đầu ràng dây.

    Anh đang loay hoay làm thì người xà ích đi vào phòng.

    "Giúp tôi một tay cài khóa lại với, bác xà ích ơi", vẫn quỳ bên chiếc vali, anh nói mà không quay đầu lại.

    Với vẻ mặt ngang ngạnh và có phần cau có, người xà ích đi tới và đưa tay ra phụ giúp.

    Liền ngay đó là một tiếng cách khô đanh, tiếng kim khí lanh canh, và Sherlock Holmes đứng phắt lên.

    "Thưa quý vị", anh nói to, mắt bừng sáng, "xin giới thiệu với quý vị ông Jefferson Hope, người đã sát hại Enoch Drebber và Joseph Stangerson."

    Mọi chuyện xảy ra chớp nhoáng, nhanh tới mức không kịp hiểu rõ.

    Tôi nhớ mồn một cái khoảnh khắc đó, nhớ vẻ mặt đắc thắng của Holmes và giọng nói sang sảng của anh, nhớ bộ mặt hung tợn đầy sửng sốt của người xà ích khi ông ta nhìn đôi còng bóng loáng hiện ra trên hai cườm tay như trò ảo thuật.

    Chúng tôi cứ đứng sững như tượng suốt một hay hai giây.

    Rồi với một tiếng gầm thịnh nộ không thành lời, tên bị bắt giữ ấy vùng thoát khỏi đôi tay đang ghì chặt của Holmes và lao mình qua cửa sổ.

    Gỗ và kính gãy vỡ khi bị xô vào nhưng ông ta chưa kịp thoát qua cửa sổ thì Gregson, Lestrade, và Holmes đã xông tới như đàn chó săn vồ mồi.

    Người xà ích bị lôi ngược trở lại vào phòng bèn chống trả quyết liệt, ông ta có sức giãy giụa cực mạnh như một kẻ đang lên cơn động kinh.

    Bộ mặt và hai bàn tay ông ta bị rạch nát khi tông vỡ kính nhưng máu tuôn giàn giụa chẳng hề làm suy giảm sức kháng cự.

    Mãi đến khi Lestrade luồn được bàn tay vào trong cổ áo của người xà ích và chẹt cổ ông ta thì chúng tôi mới buộc được người này nhận ra rằng có chống cự cũng vô ích; và mãi tới khi trói chặt được cả chân lẫn tay người xà ích, chúng tôi mới thấy an toàn.

    Xong xuôi chúng tôi đứng lên thở hổn hển như muốn đứt hơi.

    "Chúng ta có sẵn xe ngựa của ông ta", Sherlock Holmes nói.

    "Lấy xe đó đưa ông ta đến Sở Cảnh sát là vừa.

    Và bây giờ, thưa quý vị", anh nói tiếp và nở nụ cười nhã nhặn, "chúng ta đã đi tới đoạn kết của vụ việc bí ẩn nho nhỏ này.

    Giờ thì quý vị có thể hỏi tôi bất kì câu hỏi nào mà không cần phải lo ngại là tôi sẽ từ chối trả lời."

    PHẦN II

    XỨ SỞ CÁC THÁNH HỮU8.

    Trên đại bình nguyên đất mặn

    Nằm ở miền trung đại lục Bắc Mỹ bao la là một sa mạc khô cằn và hẻo lánh, suốt nhiều năm dài trở thành một chướng ngại cản trở bước tiến văn minh.

    Từ rặng núi Sierra Nevada cho tới Nebraska, từ sông Yellowstone phía bắc xuống Colorado phía nam, là cả một vùng quạnh hiu vắng lặng.

    Khắp khu vực đầy đe dọa này, thiên nhiên không phải lúc nào cũng giữ nguyên một trạng thái.

    Ở đây có cả những ngọn núi sừng sững đỉnh phủ tuyết lẫn những thung lũng mịt mù đìu hiu.

    Có những dòng sông chảy xiết lao mình qua những hẻm núi lởm chởm, và có những bình nguyên mênh mông mùa đông trắng tuyết còn mùa hè xám màu đất mặn.

    Thế nhưng tất cả đều có đặc điểm chung là cằn cỗi, khắc nghiệt và nghèo nàn.

    Không có cư dân nào trên vùng đất tuyệt vọng này.

    Cũng có khi một toán dân da đỏ thuộc bộ lạc Pawnee hay Blackfeet đi ngang qua đây trên đường đến vùng săn bắt khác.

    Nhưng ngay cả những kẻ dày dạn nhất trong toán người can trường ấy cũng hoan hỉ khi thấy mình đặt chân trở về những đồng cỏ quen thuộc, bỏ lại sau lưng vùng bình nguyên kinh khủng đó.

    Sói đồng hoang lẩn khuất giữa những bụi rậm, chim ó phành phạch vỗ cánh trên không, và gấu xám vụng về lê bước qua những khe núi, cố sức kiếm tìm trong đá chút thức ăn nuôi sống.

    Đó là những cư dân hiếm hoi ở chốn hoang vu này.

    Trong toàn bộ thế giới đó, không có cảnh tượng nào thê lương bằng triền núi phía bắc của rặng Sierra Blanco.

    Một bình nguyên bằng phẳng mênh mông trải dài xa tít tầm mắt, nằm phủ lấp dưới những lớp đất muối và được phân cắt bằng những lùm cây gai còi cọc lè tè.

    Nằm ở tận cùng chân trời là một dãy nhiều ngọn núi liên tiếp nhau, vươn cao những đỉnh nhọn lốm đốm tuyết.

    Ở vùng đất bao la này không hề có dấu hiệu của sự sống, hay bất cứ gì liên quan đến sự sống.

    Không có bóng chim nào trên bầu trời biếc xanh, không có chuyển động gì trên mặt đất xám xịt, tựu trung chỉ có sự im lặng tuyệt đối.

    Có nghe ngóng mấy cũng chẳng nhận ra một tiếng động nào khắp cõi hoang vu phi thường này, chẳng có gì ngoài sự im lặng - sự im lặng hoàn toàn ngột ngạt.

    Ở trên vừa nói là chẳng có gì liên quan đến sự sống trên bình nguyên rộng lớn này.

    Điều đó cũng không đúng hẳn.

    Từ trên núi Sierra Blanco nhìn xuống, ta sẽ thấy xuyên qua hoang mạc này là một đường mòn chạy dài quanh co rồi mất hút nơi ngút ngàn xa.

    Con đường đã in hằn bao dấu bánh xe và bước chân phiêu lưu.

    Vương vãi đây đó là những vật thể màu trắng lấp lánh trong nắng và nổi bật trên màu xám xịt của những lớp đất muối.

    Hãy đến gần mà xem!

    Đó là xương cốt - cái thì lớn và thô, cái thì mỏng manh.

    Xương lớn là của những con bò kéo xe còn xương nhỏ là của người.

    Suốt năm trăm dặm, ta có thể lần theo lộ trình lữ hành rùng rợn này qua những tàn tích còn vương vãi của các sinh mạng đã gục ngã.

    Vào ngày 4 tháng 5 năm 1847, một người lữ hành cô độc đứng nhìn xuống cảnh tượng đó.

    Dung mạo ông ta trông cứ như là quỷ thần của vùng này.

    Trông thật khó đoán được người này tuổi trạc bốn mươi hay là sáu mươi.

    Gương mặt gầy gò, phờ phạc, lớp da nâu sạm như da thuộc kéo căng trên bộ xương lồi lõm, mái tóc và bộ râu dài màu hung đều đã lốm đốm bạc cả, đôi mắt trũng sâu như lún vào hộp sọ nhưng lại sáng rực lạ thường, còn bàn tay đang ghì chặt khẩu súng trường lại gầy trơ xương.

    Mặc dù phải đứng tì cả thân người cho khẩu súng chống đỡ, thân hình và vóc dáng cao lớn của ông ta vẫn cho thấy một thể chất vốn dẻo dai đầy sinh lực.

    Tuy nhiên, gương mặt hốc hác và trang phục rộng lùng thùng trên thân hình khô đét lại phơi bày cái nguyên nhân làm ông ta mang tướng mạo tiều tụy, già nua như thế.

    Người này sắp chết - chết vì đói khát.

    Ông ta đã khổ công tốn sức lần mò xuống khe núi và leo lên mỏm đá cao này với hi vọng hão huyền sẽ tìm thấy dấu hiệu nào đó của nước.

    Giờ đây trải dài trước mắt ông là một bình nguyên đất mặn không hề có bóng cây cối để cho thấy sự hiện diện của nước.

    Khắp quang cảnh bao la kia không lóe lên tia hi vọng nào.

    Ánh mắt ngỡ ngàng cuồng dại của ông nhìn khắp phương bắc, phương đông, phương tây và rồi nhận ra rằng đường lang bạt của ông đã kết thúc, và ngay tại đây, trên vách đá khô cằn này, ông sắp chết.

    "Chết ở đây hay trên giường êm nệm ấm hai mươi năm nữa có khác gì nhau?"

    ông lẩm bẩm và tìm chỗ ngồi dưới bóng một tảng đá.

    Trước khi ngồi, ông đặt xuống đít khẩu súng vô dụng cùng với một bọc lớn buộc trong chiếc khăn choàng màu xám mà ông đang đeo trên vai bên phải.

    Dường như cái bọc ấy có phần quá nặng so với sức lực của ông, bởi khi ông hạ cái bọc xuống thì nó rơi phịch ngay xuống đất.

    Ngay lập tức từ trong cái gói màu xám ấy phát ra một tiếng rên rỉ khe khẽ, rồi ló ra một gương mặt bé nhỏ sợ hãi với đôi mắt nâu sáng và hai nắm tay nhỏ nhắn gầy guộc lem luốc.

    "Bác làm cháu đau!"

    Một giọng trẻ con lên tiếng trách móc.

    "Bác lỡ tay mà", người đàn ông đáp lại, giọng hối lỗi.

    "Bác đâu có cố ý làm thế."

    Vừa nói ông ta vừa tháo chiếc khăn choàng xám và kéo ra khỏi bọc một bé gái xinh xắn chừng năm tuổi.

    Nhìn đôi giày điệu đàng và chiếc váy hồng thanh nhã có tấm vải yếm nhỏ của cô bé là biết rõ sự chăm sóc của người mẹ.

    Đứa bé xanh tái và mệt mỏi nhưng đôi tay, đôi chân còn khỏe mạnh cho thấy rõ cô bé ít phải chịu cực khổ như người bạn đồng hành.

    "Giờ thì sao rồi?"

    Ông ta lo lắng hỏi vì cô bé vẫn còn vò mấy lọn tóc vàng sau gáy.

    "Hôn vào đây cho hết đau đi nào", cô bé vừa nói hết sức nghiêm trang vừa chìa phần bị đau về phía ông.

    "Mẹ vẫn thường làm thế đấy.

    Mẹ đâu rồi bác?"

    "Mẹ cháu đi rồi.

    Chắc là cháu sẽ sớm gặp mẹ thôi."

    "Đi rồi à?"

    Cô bé thốt lên.

    "Ngộ ghê, đi mà không nói năng gì cả, mẹ vẫn luôn tạm biệt mỗi khi sang nhà dì uống trà, còn bây giờ thì mẹ đi cả ba ngày nay rồi.

    Ồ, ở đây sao khô cằn quá vậy bác?

    Không có nước, không có gì ăn ư?"

    "Ừ, chẳng có gì hết, cháu à.

    Cháu phải chịu khó một tí rồi sẽ ổn cả thôi mà.

    Ngẩng đầu lên tựa vào bác như thế này đi, rồi cháu sẽ thấy dễ chịu hơn.

    Môi cháu khô ran thế này thì nói chuyện cũng khó lắm, nhưng bác nghĩ là nên nói thật với cháu thì hơn.

    Thế cháu có cái gì thế?"

    "Mấy thứ dễ thương lắm!

    Đẹp lắm!"

    Bé gái hăng hái vừa thốt lên vừa chìa ra hai mảnh mika óng ánh.

    "Khi về tới nhà cháu sẽ cho anh Bob."

    "Rồi cháu sẽ thấy ngay nhiều thứ còn dễ thương hơn", người đàn ông nói với giọng tự tin.

    "Cứ chờ thêm chút nữa.

    Rồi bác sẽ nói cháu biết...

    À, cháu còn nhớ lúc chúng ta rời khỏi con sông đó không?"

    "À, nhớ."

    "Đấy, lúc đó chúng ta tưởng là mình sẽ mau gặp một con sông khác thôi, cháu nhớ chứ.

    Nhưng rồi có chuyện trục trặc, do la bàn hay bản đồ hay cái gì đó, và chẳng thấy sông đâu.

    Nước hết sạch.

    Chỉ còn mấy giọt cho những đứa trẻ con như cháu và... và..."

    "Và bác thì không tắm được", cô bé nghiêm nghị ngắt lời người bạn đường, mắt nhìn chăm chăm vào bộ dạng bẩn thỉu của người đàn ông.

    "Không tắm, mà cũng không uống.

    Còn ông Bender, ông ấy là người đầu tiên chết, rồi tới anh da đỏ Pete, rồi tới lượt bà McGregor, rồi Johnny Hones, cháu à, rồi tới mẹ cháu."

    "Vậy mẹ cháu cũng chết rồi sao?"

    Bé gái kêu lên rồi gục mặt vào tấm vải yếm khóc thổn thức.

    "Ừ, chết hết chỉ còn bác với cháu.

    Sau đó bác nghĩ là đi theo hướng này thì có cơ may tìm được nước, nên bác địu cháu trên vai mang đi cùng.

    Dường như hoàn cảnh chúng ta cũng chẳng khá gì hơn.

    Cơ may cho chúng ta bây giờ hết sức nhỏ nhoi!"

    "Ý bác là chúng ta cũng sắp chết luôn à?"

    Đứa trẻ cố nén tiếng nấc, vừa hỏi vừa ngước gương mặt đầm đìa nước mắt lên nhìn.

    "Đúng là vậy đó cháu."

    "Sao nãy giờ bác không nói chứ?"

    Cô bé bật cười vui sướng.

    "Bác làm cháu sợ quá.

    À, đúng rồi, chừng nào chết thì chúng ta lại gặp mẹ thôi!"

    "Ừ, cháu sẽ gặp mẹ, cháu à."

    "Cả bác nữa.

    Cháu sẽ kể mẹ nghe là bác tốt bụng vô cùng.

    Nhất định là mẹ sẽ đón chúng ta ở cửa Thiên Đàng với một bình nước thật to, và thật nhiều bánh kiều mạch nóng hổi, nướng cả hai mặt, giống như anh Bob và cháu thích ăn.

    Nhưng mà còn lâu nữa không bác?"

    "Bác không biết... chắc không lâu lắm đâu."

    Ánh mắt người đàn ông đăm đăm nhìn về chân trời phía bắc.

    Dưới vòm trời xanh xuất hiện ba chấm nhỏ càng lúc càng lớn dần và lao rất nhanh về phía họ.

    Mấy cái chấm ấy nhanh chóng hiện hình thành ba con chim lớn màu nâu, lượn vòng trên đầu hai kẻ lạc lối ấy, rồi đáp xuống mấy mỏm đá bên trên chỗ họ ngồi.

    Đó là lũ chim ó, loài kền kền của miền Tây, hiện thân của cái chết đã được báo trước.

    "Ồ, gà kìa", bé gái hân hoan vừa kêu vừa chỉ về phía những hình hài báo điềm dữ kia, rồi vỗ tay để xua chúng bay đi.

    "À, có phải Chúa tạo ra xứ sở này không?"

    "Tất nhiên rồi", người bạn đường của cô bé thoáng giật mình vì câu hỏi đột ngột này.

    "Chúa đã tạo ra xứ sở tận Illinois, rồi Chúa tạo ra Missouri", bé gái nói tiếp.

    "Cháu nghĩ người khác chứ không phải Chúa tạo ra xứ sở này đâu.

    Ở đây đâu có đầy đủ mọi thứ.

    Còn thiếu nước và thiếu cây cối thế kia."

    "Thế cháu nghĩ sao nếu bây giờ chúng ta cầu nguyện?"

    Người đàn ông rụt rè hỏi.

    "Chưa tới buổi tối mà bác?"

    Cô bé thắc mắc.

    "Không sao cả.

    Đâu cần phải cầu đúng giờ, Chúa không bắt buộc vậy đâu cháu.

    Cháu hãy đọc lại những lời cầu nguyện mà hồi chúng ta còn đi trên vùng thảo nguyên, đêm nào ở trên xe ngựa cháu cũng đọc đấy."

    "Sao bác không tự đọc lấy đi?"

    Đứa trẻ hỏi với ánh mắt ngạc nhiên.

    "Bác quên hết rồi", ông ta đáp.

    "Bác đã không cầu nguyện từ khi bác chỉ cao bằng nửa khẩu súng này.

    Nhưng bác nghĩ dù muộn còn hơn không.

    Cháu cứ đọc to lên, bác sẽ đứng cạnh bên và đọc theo."

    "Thế thì bác phải quỳ xuống, cháu cũng quỳ nữa", cô bé vừa nói vừa trải chiếc khăn choàng ra trên mặt đất chuẩn bị.

    "Bác phải đưa hai bàn tay lên như thế này.

    Làm vậy bác sẽ thấy thoải mái đấy."

    Nếu không phải lũ chim ó thì ai nhìn thấy cảnh này đều phải lấy làm lạ.

    Quỳ cạnh nhau trên tấm khăn choàng chật hẹp là hai người lạc lối, một đứa trẻ ngây ngô và một lãng tử bạt mạng, dạn dày.

    Gương mặt mũm mĩm của cô bé lẫn diện mạo xương xẩu, hốc hác của người đàn ông đều ngước lên cao hướng về bầu trời không mây, thành tâm cầu khẩn với loài sinh vật đáng sợ mà họ đang đối mặt, trong khi hai giọng nói - một trong trẻo, một trầm khàn - cùng nài xin được khoan dung và tha thứ.

    Cầu nguyện xong, họ lại quay về ngồi dưới bóng tảng đá cho đến khi đứa trẻ ngủ thiếp đi, nép mình vào lồng ngực rộng của người che chở.

    Người đàn ông trông chừng cho cô bé ngủ được một lúc nhưng rồi không kháng cự nổi sức mạnh của thiên nhiên.

    Suốt ba ngày ba đêm rồi ông ta đã không cho phép mình được nghỉ ngơi hay chợp mắt.

    Từ từ đôi mi rũ xuống trên hai con mắt mệt mỏi, và cái đầu cứ cúi thấp dần thấp dần xuống ngực, cho đến khi bộ râu hoa râm của ông lẫn vào những lọn tóc vàng của người bạn đường, và cả hai cùng ngủ một giấc say không mộng mị.

    Nếu như kẻ lang thang này thức tỉnh được thêm chừng nửa giờ nữa thì một cảnh tượng lạ lùng sẽ hiện ra trước mắt ông.

    Từ xa tít tận cùng bình nguyên đất mặn này bốc lên một làn bụi nhỏ, lúc đầu rất mờ nhạt và khó phân biệt với màn sương mù xa xa, nhưng rồi dần dần dâng cao và lan rộng cho tới khi hình thành rõ nét một đám mây mù mịt.

    Đám mây ấy tiếp tục bành trướng kích thước đến lúc ta thấy rõ là phải có một đám sinh vật rất đông đang di chuyển thì mới có thể tạo ra màn bụi lớn như thế.

    Ở những vùng đất màu mỡ hơn, người quan sát có thể đi tới kết luận rằng đó là một đàn bò rừng thường ăn cỏ trên thảo nguyên đang đi đến gần.

    Điều đó hiển nhiên không thể xảy ra ở miền đất hoang vu khô cằn này.

    Khi cơn lốc bụi tiến gần hơn về hướng vách núi hiu quạnh, nơi hai kẻ bơ vơ kia đang ngủ thiếp trên đỉnh, những mui phủ vải bạt của đoàn xe ngựa và hình bóng những người cưỡi ngựa có vũ khí bắt đầu hiện ra trong màn bụi mù, và những bóng ma ấy hiện hình là một đoàn lữ hành vĩ đại đang trên đường đi tới miền Viễn Tây.

    Đoàn lữ hành ấy sao mà đông ghê gớm.

    Khi đầu đoàn đã đến chân rặng núi này thì đuôi đoàn vẫn chưa ló dạng khỏi chân trời.

    Kéo dài từ đầu này sang đầu kia bình nguyên bao la là một đoàn hỗn hợp nào xe ngựa xe kéo, nào người đi bộ, nào người trên yên.

    Rất nhiều phụ nữ oằn lưng gồng gánh loạng choạng đi theo, và lũ trẻ con đứa thì bước tập tễnh bên các cỗ xe đứa thì ngồi trong xe phủ bạt màu trắng ghé mắt nhìn ra.

    Rõ ràng đây không phải là đoàn di dân bình thường mà giống một bộ tộc digan nào đó, do hoàn cảnh bắt buộc đã phải ra đi kiếm tìm một quê hương mới.

    Khuấy động bầu trời quang đãng là những tiếng nói ồn ào, râm ran hỗn độn của đoàn người đông đảo, cùng với tiếng bánh xe cọt kẹt và tiếng ngựa hí vang.

    Ầm ĩ đến thế mà sự huyên náo ấy cũng không đánh thức được hai kẻ lữ hành mệt mỏi đang ngủ trên cao.

    Đi đầu đạo quân này là hơn hai mươi người cưỡi ngựa mặt lạnh như tiền, khoác những trang phục đơn giản sậm màu, tay lăm lăm súng trường.

    Khi đến chân vách núi, họ dừng ngựa và xúm lại hội ý nhanh.

    "Phía bên phải có nhiều giếng nước đấy, các huynh đệ à", lời một người đàn ông tóc hoa râm, râu cạo nhẵn, môi khô cứng.

    "Đi sang bên phải rặng Sierra Blanco này, chúng ta sẽ tới sông Rio Grande", lời một người khác.

    "Không phải sợ thiếu nước", người thứ ba nói to.

    "Người đã có thể lấy nước ra từ đá sẽ không bao giờ từ bỏ dân tộc mà Người đã chọn."

    "Amen!

    Amen!"

    Cả nhóm đồng thanh phụ họa.

    Họ định tiếp tục cuộc hành trình thì một người trong số trẻ tuổi nhất và tinh mắt nhất bỗng hô hoán và chỉ tay về phía vách đá lởm chởm trên đầu họ.

    Từ mỏm đá ấy lộ ra một mảnh nhỏ màu hồng đang máy động, nổi rõ mồn một trên nền đá xám đằng sau.

    Thấy thế, tất cả đồng loạt ghì cương và tháo súng khỏi vai trong khi một toán cưỡi ngựa khác phi nước đại đến chi viện cho toán đi tiên phong.

    Tất thảy họ lan truyền nơi cửa miệng, "Quân da đỏ".

    "Ở đây làm sao có bọn mọi ấy được", tiếng của một người lớn tuổi có vẻ là người chỉ huy.

    "Chúng ta đã băng qua đất của bộ lạc Pawnee rồi, và từ đây cho tới khi vượt qua mấy ngọn núi lớn này thì không còn bộ lạc nào khác."

    "Để tôi đi tới đó xem thử nhé, huynh Stangerson", một người trong bọn đề nghị.

    "Tôi nữa!

    Tôi nữa!"

    Cả chục người khác cùng lên tiếng.

    "Để ngựa dưới này, chúng tôi sẽ chờ các người ở đây", người lớn tuổi đáp.

    Trong chớp nhoáng, những người trẻ tuổi đã xuống ngựa, buộc cương, rồi leo lên vách đá dốc ngược dẫn tới thứ đã khiến họ tò mò.

    Họ đi tới rất nhanh không gây tiếng động, với sự tự tin và khéo léo của những tay trinh sát lành nghề.

    Những người đứng dưới bình nguyên nhìn lên có thể thấy toán trinh sát di chuyển thoăn thoắt từ tảng đá này sang tảng đá khác cho đến khi bóng họ hiện rõ trên nền trời.

    Chàng trai đã báo động đầu tiên giờ đang dẫn đầu.

    Đột ngột, những người theo sau thấy anh ta vung hai tay lên trời như thể ngạc nhiên quá sức, và khi lên tới chỗ anh này thì cả toán cũng sửng sốt tương tự trước cảnh tượng bày ra trước mắt họ.

    Trên khoảnh đất nhỏ bằng phẳng ở đỉnh núi trọc này chỉ có độc một tảng đá khổng lồ, và tựa vào tảng đá này là một người đàn ông cao lớn, râu dài, nét mặt phong trần nhưng lại cực kì gầy ốm, vẻ mặt bình an và hơi thở đều đều của người này cho thấy ông ta đang ngủ say.

    Bên cạnh ông là một cô bé, hai cánh tay trắng tròn ôm vòng qua cần cổ gân guốc nâu sạm của người đàn ông, và mái tóc vàng của đứa trẻ tựa vào ngực áo nhung rộng thùng thình của ông ta.

    Đôi môi hồng của bé gái hơi hé mở, để lộ hàm răng đều đặn trắng tinh bên trong, và trên gương mặt trẻ thơ còn in một nụ cười tinh nghịch.

    Đôi chân trắng muốt nhỏ nhắn và tròn trĩnh của cô bé luồn trong đôi vớ trắng và đôi giày trang nhã có khóa cài sáng loáng, trông thật tương phản lạ lùng với hai ống chân dài gầy đét của người bạn đường.

    Trên rìa vách đá phía bên trên hai con người lạ lùng này là ba con chim ó đáng sợ; thấy có toán người mới đến chúng rít lên một tràng khàn khàn đầy thất vọng rồi bực bội vỗ cánh bay mất.

    Tiếng rú rít của lũ chim kinh tởm khiến hai kẻ đang say ngủ tỉnh giấc, mở to mắt nhìn quanh hoang mang.

    Người đàn ông loạng choạng đứng dậy nhìn xuống phía bình nguyên vốn hoang vu khi giấc ngủ chế ngự ông, nhưng giờ lại có một đoàn người và súc vật đông khôn tả đi ngang qua.

    Mắt nhìn trân trối mà vẻ mặt lộ rõ hoài nghi, ông đưa bàn tay xương xẩu lên che ngang mày.

    "Chắc mình mê sảng đấy thôi", ông lẩm bẩm.

    Đứa bé đứng cạnh bên, níu lấy vạt áo choàng của ông, không nói gì mà chỉ nhìn quanh với ánh mắt ngỡ ngàng của trẻ thơ.

    Toán người giải cứu nhanh chóng chứng tỏ cho hai kẻ lạc loài kia biết rằng sự xuất hiện của họ không hề là ảo giác.

    Một người ôm lấy bé gái và nhấc bổng lên vai trong khi hai người khác vừa đỡ vừa dìu người bạn đường hốc hác của cô bé đi xuống chỗ đoàn xe đang dừng.

    "Tôi là John Ferrier", kẻ lạc đường giải thích.

    "Tôi và cháu bé đó là hai người còn sót lại của một đoàn hai mươi mốt người.

    Những người kia đều chết vì đói khát từ khi còn ở dưới phía nam."

    "Con bé đó là con ông à?"

    Ai đó hỏi.

    "Kể từ bây giờ chắc là thế" người đàn ông nói to, giọng ngang ngạnh.

    "Nó là con tôi vì tôi đã cứu nó.

    Không ai được chia lìa nó với tôi.

    Từ ngày hôm nay, nó mang tên Lucy Ferrier.

    Nhưng các người là ai?"

    Ông ta hỏi tiếp, mắt tò mò nhìn những người lực lưỡng, phong trần đã giải cứu mình.

    "Các người đi đâu mà sao đông quá vậy?"

    "Gần chục ngàn người đó", một thanh niên trong bọn lên tiếng.

    "Chúng tôi là những đứa con bị ngược đãi của Chúa, những người đã được thiên sứ Moronichọn lựa."

    "Chưa hề nghe bao giờ", người lạc đường nói.

    "Coi bộ thiên thần này chọn lựa quá nhiều đấy."

    "Đừng nhạo báng những điều thiêng liêng", một người khác nghiêm nghị lên tiếng.

    "Chúng tôi là những người tin vào các thánh thư khắc bằng chữ Ai Cập trên những tấm vàng mà thiên sứ đã trao cho đấng tiên tri Joseph Smith ở Palmyra.

    Chúng tôi xuất phát từ Nauvoo ở bang Illinois, nơi chúng tôi đã lập giáo đường.

    Chúng tôi phải đi tìm nơi trú ẩn, tránh xa những kẻ tàn bạo và vô thần, cho dù phải ở giữa sa mạc cũng cam lòng."

    Cái tên Nauvoo rõ ràng đã khiến John Ferrier nhớ ra.

    "À, biết rồi", ông nói.

    "Các ông là những người theo đạo Mormon."

    "Chúng tôi là giáo dân Mormon đây", những người kia đồng thanh đáp lại.

    "Thế các ông đang đi đâu?"

    "Chúng tôi không biết.

    Bàn tay của Chúa sẽ dẫn dắt chúng tôi qua hiện thân của Đấng Tiên Tri.

    Ông phải đến gặp Đấng Tiên Tri của chúng tôi.

    Ngài sẽ phán xử về chuyện cha con ông."

    Lúc này họ đã xuống tới chân núi và đám người lữ hành đông đảo kia bu quanh họ - những phụ nữ mặt nhợt nhạt nhưng trông nhu mì, lũ trẻ con cười đùa ầm ĩ, và những người đàn ông ánh mắt nghiêm nghị, vẻ mặt lo âu.

    Nhiều người không kìm được những tiếng kêu ngạc nhiên và xót xa khi nhận ra đứa bé vừa được giải cứu và sự cùng cực của người đàn ông xa lạ kia.

    Nhưng toán giải cứu vẫn không dừng lại mà cứ đi tiếp, theo sau là một đám đông đảo những người Mormon, cho đến khi cả đoàn tới một cỗ xe nổi bật vì cả kích thước to lớn lẫn hình thức sang trọng và cầu kì.

    Ách vào cỗ xe này là sáu con ngựa trong khi các cỗ xe khác chỉ có hai, hay cùng lắm là bốn con thôi.

    Ngồi cạnh người xà ích là một người đàn ông tuổi không quá ba mươi nhưng cái đầu thật lớn và vẻ mặt cương nghị cho thấy rõ đây là thủ lĩnh.

    Người này đang đọc một cuốn sách gáy nâu nhưng khi đám đông kéo tới thì anh ta bỏ sách qua một bên, và chăm chú lắng nghe câu chuyện được kể lại.

    Sau đó anh ta quay sang hai kẻ lạc loài kia.

    "Nếu ta cho ngươi đi cùng", anh ta nói bằng những lời lẽ trịnh trọng, "thì ngươi phải là tín đồ cùng chung tín ngưỡng.

    Trong đàn chiên của ta không thể có con chó sói nào cả.

    Thà để xương cốt của ngươi phơi trắng trong chốn hoang vu này còn hơn là ngươi lại hóa ra một đốm mục rữa mà về sau làm băng hoại hết trái quả lành.

    Ngươi có bằng lòng đi theo ta với điều kiện đó không?"

    "Điều kiện gì thì tôi cũng theo", Ferrier nói với giọng nhấn mạnh tới mức những vị trưởng tế nghiêm trang cũng không khỏi bật cười.

    Chỉ riêng vị thủ lĩnh vẫn giữ vẻ mặt uy nghi, lạnh lùng.

    "Đưa ông ta đi, huynh Stangerson", vị thủ lĩnh nói, "cho ông ta đồ ăn thức uống, và lo cho đứa trẻ nữa.

    Nhiệm vụ của thầy cũng là dạy cho ông ta tín điều linh thiêng của bổn đạo.

    Chúng ta đã chậm trễ quá rồi đó.

    Tiến lên!

    Đi nào, về miền Đất Hứa!"

    "Đi nào, về miền Đất Hứa!"

    Đám đông Mormon cùng cất lời và câu nói ấy cứ rập rờn lan tỏa khắp đoàn lữ hành, từ miệng người này sang miệng người kia cho tới khi lịm dần thành một tiếng rầm rì mơ hồ ngoài xa tít.

    Tiếng roi quất ngựa đen đét, tiếng bánh xe kẽo kẹt vang lên và những cỗ xe to lớn bắt đầu dịch chuyển, rồi chẳng mấy chốc cả đoàn lữ hành lại rồng rắn lên đường.

    Huynh trưởng đã được ủy thác chăm lo cho hai kẻ lạc loài kia đưa họ về cỗ xe của ông ta, nơi một bữa ăn đã được bày sẵn.

    "Hai người cứ ở đây", huynh trưởng nói.

    "Vài ngày nữa hai người sẽ khỏe lại thôi.

    Còn lúc này, hãy nhớ là hai người sẽ mãi mãi theo đạo của chúng tôi.

    Brigham Young đã nói rồi và ngài đã nói bằng lời của Joseph Smith, mà đó lại chính là lời Chúa."

    9.

    Đóa hoa xứ Utah

    Đây không phải là chỗ tưởng niệm những thử thách và gian khổ mà đoàn dân Mormon di cư đã kinh qua trước khi đến được nơi trú ẩn cuối cùng.

    Từ những bến bờ trên dòng Mississippi cho tới những dốc núi phía tây rặng Rocky, họ đã nỗ lực ra đi với lòng kiên trì vô song trong lịch sử.

    Ác nhân, ác thú, đói, khát, lao khổ, bệnh tật - mọi chướng ngại mà thiên nhiên có thể cản đường, hết thảy đều bị đánh bại bằng ý chí ngoan cường của dòng máu Anglo Saxon bền bỉ.

    Tuy vậy, cuộc hành trình dằng dặc và bao nỗi kinh hoàng chồng chất đã làm nản lòng cả những kẻ can trường nhất trong đoàn người.

    Không một người nào mà không phủ phục xuống đất thành tâm cầu nguyện khi họ nhìn thấy vùng châu thổ Utah bao la rợp nắng dưới chân mình, và nghe từ miệng người thủ lĩnh rằng đấy chính là miền Đất Hứa, và vùng đất trinh nguyên này sẽ thuộc về họ đời đời.

    Young nhanh chóng chứng tỏ ông ta vừa là nhà điều hành tài ba vừa là một lãnh đạo cương quyết, ông ta cho vẽ địa đồ, phác thảo bản đồ của một thành phố tương lai.

    Tất cả trang trại chung quanh được phân lô và chia phần theo tỉ lệ tương xứng với địa vị của từng cá nhân.

    Thương nhân được sắp xếp theo ngành nghề còn thợ thủ công theo chuyên môn.

    Trong khu thị tứ, đường sá và khu phố mọc lên như có phép màu.

    Ở vùng nông thôn, mọi người đào mương rãnh, dựng bờ giậu, trồng trọt, phát quang, cho đến mùa hè kế tiếp thì cả vùng này vàng rực vụ mùa lúa mì đầu tiên.

    Mọi thứ đều phát đạt trong khu định cư lạ lùng này.

    Đặc biệt nhất, ngôi đại giáo đường họ xây dựng ngay giữa thành phố cứ ngày càng vươn cao thêm và to lớn hơn.

    Từ ánh hừng đông đầu tiên cho đến phút chạng vạng cuối cùng, tiếng búa cồm cộp với tiếng lưỡi cưa xoèn xoẹt không bao giờ im ắng ở công trình mà đoàn di dân xây lên để tôn vinh Chúa, người đã dẫn dắt họ an toàn qua bao nguy khó.

    Hai kẻ lạc loài, John Ferrier và bé gái chung số phận, giờ trở thành con nuôi của ông, đã đi cùng đoàn người Mormon cho tới khi cuộc di cư vĩ đại kết thúc.

    Bé Lucy Ferrier được rong ruổi khá thoải mái trong cỗ xe của huynh trưởng Stangerson, nơi cô bé ở chung với ba người vợ cùng đứa con trai của người Mormon ấy, một thằng bé mười hai tuổi cứng đầu, tự phụ.

    Với tính dễ quên của trẻ thơ, khi đã bình tâm sau chấn động về cái chết của mẹ, cô bé chẳng mấy chốc đã trở thành con cưng của mấy phụ nữ, và thích ứng với ngôi nhà di động phủ vải bạt này.

    Trong lúc đó, Ferrier dần lấy lại sức sau những ngày gian khổ và chứng tỏ ông là một người dẫn đường đắc lực, một tay thợ săn không biết mệt mỏi.

    Ferrier giành được sự kính trọng của những người bạn đồng hành mới nhanh chóng tới mức, khi họ đã đi đến chặng cuối hành trình lang bạt này thì tất cả đều đồng lòng cho rằng ông phải được chia phần một vùng đất phì nhiêu và rộng lớn như bất kì người định cư nào - tất nhiên là không thể so với chính Young cùng bốn vị trưởng tế là Stangerson, Kemball, Johnston, và Drebber.

    Trên trang trại được chia phần như vậy, John Ferrier tự làm cho mình một ngôi nhà gỗ bề thế và ngôi nhà trong những năm sau đó được tiếp tục xây dựng cho đến khi trở thành một dinh thự rộng rãi.

    Ông là người có óc thực tế, nhiệt tình trong cách cư xử và khéo léo với những việc tay chân.

    Nhờ thể chất sắt đá, ông có thể làm lụng từ sáng đến tối lo vun bón, cày bừa đất đai của mình.

    Trang trại và những gì thuộc quyền sở hữu của ông vì thế mà rất phát đạt.

    Sau ba năm, ông phong lưu hơn hẳn xóm giềng, sau sáu năm ông đã sung túc, tới chín năm thì ông giàu có và tới năm thứ mười hai thì cả Salt Lake City này thì chỉ có chừng dăm người là sánh được với ông.

    Từ vùng biển nội địa rộng lớn cho tới miền núi Wahsatch xa xăm, không có cái tên nào nổi tiếng hơn John Ferrier.

    Chỉ có một điều và là điều duy nhất mà ông gây khó chịu cho những người đồng đạo.

    Không có lí lẽ hay khuyến dụ nào có thể thuyết phục ông tạo dựng một hậu cung theo lề thói của bằng hữu.

    Ông không bao giờ đưa ra lí do cho sự từ khước kiên trì này mà chỉ cương quyết và dứt khoát tuân theo quyết định của mình.

    Có người buộc tội ông là không sốt sắng theo đạo, kẻ khác lại cho đó là lòng tham của cải và không muốn gánh thêm chi phí.

    Cũng có người nói đến một mối tình xa xưa nào đó, đến một cô gái tóc vàng đã chết vì mong đợi mỏi mòn trên bờ biển Đại Tây Dương.

    Dù vì lí do gì, Ferrier vẫn sống hoàn toàn độc thân.

    Trong mọi khía cạnh khác, ông đều tuân theo tín ngưỡng của khu định cư mới và nổi danh là người phải đạo và chính trực.

    Lucy Ferrier lớn lên trong ngôi nhà gỗ ấy và phụ giúp cha nuôi trong mọi công việc của ông.

    Với cô bé, khí rét của miền núi và mùi nhựa thơm của rừng thông đã thay thế vai trò bà vú và người mẹ.

    Năm tháng trôi qua, cô bé ngày càng cao lớn và khỏe mạnh, má hồng thắm hơn, và bước chân thêm uyển chuyển.

    Nhiều lữ khách trên con đường cái chạy ngang qua trang trại Ferrier thấy lòng hồi sinh những cảm tưởng đã quên lãng từ lâu khi họ ngắm bóng dáng thiếu nữ yểu điệu của cô gái đi thoăn thoắt qua những đồng lúa mì, hay bắt gặp cô cưỡi trên lưng con ngựa của cha và điều khiển với tất cả sự thoải mái và duyên dáng như một đứa con của miền Tây chính hiệu.

    Nụ cứ nở thành hoa như thế, và vào năm cha cô trở thành người giàu có nhất trong số những chủ trại ấy thì cô cũng trở thành một thiếu nữ xinh đẹp điển hình kiểu Mỹ không thua bất kì ai ở khắp miền sườn dốc nhìn ra Thái Bình Dương này.

    Tuy nhiên, đâu phải cha là người đầu tiên biết được con gái mình đã nảy nở thành phụ nữ.

    Hiếm khi nào có chuyện đó.

    Sự đổi thay huyền bí đó xảy ra hết sức tinh vi và từ tốn nên không thể đo lường bằng ngày tháng.

    Bản thân thiếu nữ ấy lại càng không hề hay biết cho đến khi một giọng nói hay một cái nắm tay khiến trái tim cô run rẩy trong lồng ngực, và cô biết, với cảm xúc pha trộn lòng hãnh diện và lo sợ, rằng một sức sống mới mạnh mẽ hơn đã bừng tỉnh trong cô.

    Hiếm có ai hồi tưởng được cái ngày ấy và nhớ rõ chính sự việc nhỏ nhoi đã báo hiệu bình minh của một cuộc sống mới.

    Trong trường hợp Lucy Ferrier, bản thân sự việc ấy khá nghiêm trọng, chưa kể nó còn ảnh hưởng đến số phận tương lai của cô và nhiều người khác nữa.

    Hôm đó là một sáng tháng 6, các giáo dân Thánh hữu Ngày sau đang bận rộn như những con ong; họ vốn đã chọn hình tổ ong làm biểu tượng.

    Trên những cánh đồng và khắp phố xá đều vang tiếng râm ran của những con người cần cù.

    Đi thành hàng dọc trên con đường cái bụi bặm là một đoàn dài những con la thồ nặng, tất cả đều hướng về miền Tây vì cơn sốt đi tìm vàng đã bùng phát ở California, và tuyến đường xuyên bang lại băng qua thành phố của những người Chúa chọn này.

    Gia nhập vào đó là những đàn cừu và bò thiến từ những vùng đồng cỏ xa xôi, cùng với hàng đoàn dân di cư mệt mỏi, cả người lẫn ngựa đều chán chường cuộc hành trình bất tận này như nhau.

    Với tài nghệ của một kị mã thành thạo, Lucy Ferrier phi nước đại len lỏi qua đám hỗn độn ấy, gương mặt xinh đẹp của cô đỏ bừng vì gắng sức và mái tóc dài màu hạt dẻ bay bồng bềnh sau lưng.

    Cha cô đã giao một việc trong thành phố, và như đã từng làm nhiều lần trước, cô phóng ngựa đi với tất cả sự mạnh dạn của tuổi trẻ, chỉ nghĩ tới phận sự và làm sao thực hiện cho tròn.

    Những kẻ lãng du lấm bụi đường trố mắt nhìn cô kinh ngạc, ngay cả những người da đỏ lãnh đạm, mặc cả bộ lông thú trên đường viễn du, cũng thả lỏng nét gan lì cố hữu của họ vì ngỡ ngàng trước nhan sắc của người thiếu nữ da trắng này.

    Cô vừa tới vùng phụ cận thành phố thì thấy đường đã bị tắc vì một đàn bò đông đảo đang được sáu người chăn bò mặt mày man rợ từ vùng thảo nguyên lùa đi.

    Trong cơn nóng vội, cô đánh liều vượt qua chướng ngại bằng cách thúc ngựa chen qua một chỗ có vẻ trống trải.

    Nhưng cô chưa kịp băng qua thì lũ súc vật đã ùa vào và cô thấy mình bị bao vây hoàn toàn giữa đàn bò thiến sừng dài, mắt hung tợn, đang tràn đi như thác.

    Đã quen đương đầu với lũ gia súc, cô không hốt hoảng trước hoàn cảnh mà lại tận dụng mọi cơ hội để thúc ngựa đi tiếp với hi vọng sẽ chen qua khỏi đàn bò lũ lượt này.

    Rủi thay, không rõ vô tình hay có chủ đích, sừng của một con bò trong đàn húc mạnh vào sườn con ngựa của cô khiến nó phát cuồng.

    Con ngựa liền lồng lên, đứng trên hai chân sau rồi với một tiếng thở phì phì thịnh nộ, nó cứ nhảy dựng và quăng quật tới mức chỉ có người cưỡi giỏi lắm mới không bị hất văng khỏi yên.

    Cứ mỗi cú giãy giụa, con ngựa bị kích động lại va mạng sườn vào những chiếc sừng bò và mỗi cú chọc mạnh ấy lại khiến nó cuồng lên lần nữa.

    Điều duy nhất cô gái có thể xoay xở là giữ cho người bám chặt trên yên ngựa, nhưng chỉ cần trượt ngã một lần là chết nát thây dưới rừng móng của đàn súc vật đang hoảng sợ và khó kiểm soát này.

    Không quen với những tình huống nguy cấp đột ngột, cô gái bắt đầu thấy choáng váng và lơi lỏng bàn tay ghì cương.

    Ngạt thở vì màn mây bụi bốc lên và cơn thịnh nộ của đám súc vật đang chống chọi, lẽ ra cô đã buông xuôi trong tuyệt vọng thì một giọng nói ân cần dưới khuỷu tay cô đề nghị trợ giúp.

    Cùng lúc đó, một bàn tay nâu sạm tóm lấy sợi dây cương dưới hàm con ngựa khiếp đảm rồi dấn tới mở đường xuyên qua đàn bò đang lùa đi, và một loáng sau đã đưa cô ra ngoài.

    "Hi vọng là cô không hề hấn gì chứ, thưa cô", người bảo vệ cô nói kính cẩn.

    Cô ngước nhìn gương mặt ngăm đen, dữ dằn của anh ta và bật cười giòn tan.

    "Tôi sợ khiếp đi được", cô gái ngây thơ nói.

    "Ai mà ngờ là con ngựa Poncho của tôi lại hoảng hồn khi gặp quá nhiều bò như thế chứ?"

    "Tạ ơn Chúa là cô đã ngồi vững trên yên", người kia sốt sắng đáp.

    Đó là một chàng trai cao lớn, mặt mày trông hung hãn, cưỡi một con ngựa đốm lang dũng mãnh, người khoác bộ đồ thợ săn thô kệch, trên vai đeo một khẩu súng trường nòng dài.

    "Chắc cô là ái nữ của ông John Ferrier", anh ta nói tiếp.

    "Tôi đã thấy cô từ nhà ông ấy phi ngựa ra.

    Khi nào gặp ông ấy, cô hỏi xem ông có còn nhớ nhà Jefferson Hope ở St.

    Louis không.

    Nếu đúng là ông Ferrier đó thì cha tôi và ông ấy khá là thân thiết."

    "Anh đến mà tự hỏi lấy không phải hay hơn sao?"

    Cô gái dè dặt nói.

    Chàng trai có vẻ hài lòng trước đề nghị này, đôi mắt đen của anh ta bừng sáng vì thích thú.

    Anh đáp, "Tôi sẽ đến.

    Chúng tôi đã ở trong vùng núi suốt hai tháng rồi, chưa thu xếp được và hiện giờ cũng không tiện thăm viếng, ông ấy nên miễn thứ cho hoàn cảnh của chúng tôi."

    "Cha tôi còn phải cảm ơn anh nhiều đấy, và cả tôi cũng thế", cô gái đáp lời.

    "Ông ấy thương tôi kinh khủng.

    Nếu đàn bò ấy mà giày xéo lên tôi thì ông ấy sẽ không bao giờ chịu đựng nổi đâu."

    "Tôi cũng vậy", người đồng hành với cô gái nói.

    "Anh!

    Chà, tôi thấy chuyện này có quan trọng gì với anh đâu.

    Thậm chí anh còn chưa là bạn bè của cha con tôi cơ mà."

    Gương mặt sạm đen của chàng thợ săn trẻ sầm hẳn xuống khi nghe lời nói đó, tới mức Lucy Ferrier phải cười ầm lên.

    "Này, tôi không cố ý nói thế đâu", cô nói, "tất nhiên bây giờ anh đã là bạn bè rồi.

    Nhất định anh phải đến thăm cha con tôi.

    Bây giờ tôi phải đi thôi kẻo cha tôi lại không tin tưởng giao việc cho tôi làm nữa.

    Tạm biệt!"

    "Tạm biệt", chàng trai đáp, tay giơ cao chiếc mũ sombrero rộng vành rồi khom người hôn vào bàn tay nhỏ nhắn của cô gái.

    Lucy Ferrier giật cương cho con ngựa quay vòng lại, quất cho nó một roi và phóng như bay xuống con đường lớn trong màn bụi cuồn cuộn.

    U sầu và lầm lì, chàng trai Jefferson Hope cưỡi ngựa đi tiếp cùng với những bạn đường.

    Nhóm của anh lâu nay đã sống trong vùng núi Nevada thăm dò mỏ bạc và họ đang quay lại Salt Lake City với hi vọng gom góp đủ tiền để khai thác mấy mạch mỏ mà họ đã phát hiện được.

    Anh hết mực say sưa với công việc này không kém bất kì người nào trong bọn họ, cho đến khi biến cố bất ngờ vừa qua đã thu hút suy nghĩ của anh sang hướng khác.

    Hình bóng của cô gái xinh đẹp kia, một thiếu nữ bộc trực và lành như những làn gió núi, đã khuấy động tận đáy trái tim hoang dã, dữ dội của anh.

    Khi cô gái đã khuất tầm mắt, anh nhận ra một cơn khủng hoảng đã xảy đến cho cuộc đời mình, và cả những trò đầu cơ mỏ bạc lẫn mọi chuyện khác đều không quan trọng bằng cái cảm xúc mới mẻ đang xâm chiếm cả tâm hồn anh.

    Tình yêu thương nảy sinh trong tim anh không phải là sự mê thích bất chợt, dễ đổi thay của một thiếu niên mà là tình cảm mãnh liệt, cuồng si của một người đàn ông có ý chí mạnh mẽ và tính khí ngang tàng.

    Anh vốn đã quen thành công với mọi chuyện anh quyết làm.

    Anh thề với lòng là sẽ không được thất bại trong chuyện này, nếu như nỗ lực và lòng kiên trì của con người có thể giúp anh toại nguyện.

    Tối hôm đó anh ghé thăm John Ferrier và còn tới nhà nhiều lần nữa cho đến khi gương mặt anh trở thành quen thuộc ở trang viên ấy.

    Sống ru rú trong thung lũng này và miệt mài với công việc, John ít có dịp biết tin tức về thế giới bên ngoài suốt mười hai năm qua.

    Tất cả những chuyện đó Jefferson Hope đều có thể kể cho ông nghe, theo một cách gây thích thú cho cả Lucy lẫn cha cô.

    Anh từng là người tiên phong khai phá vùng California và có thể thuật lại nhiều câu chuyện lạ kì về những màn được tiền mất của vào cái thời thanh bình, tự do ấy.

    Anh cũng đã từng làm nghề dẫn đường, bẫy thú, nghề tìm mỏ và chăn bò.

    Bất kì nơi nào có chuyện phiêu lưu hào hứng, Jefferson Hope đều tìm tới dự phần.

    Anh nhanh chóng được ông chủ trại yêu mến, ông già thường hùng hồn khen ngợi những đức tính của anh.

    Những lần như thế, Lucy chỉ im lặng nhưng đôi má ửng hồng và đôi mắt vui sướng, rạng ngời kia cho thấy rành rành là trái tim non nớt của cô không còn là của riêng cô nữa.

    Người cha thật thà của cô có thể đã không nhận ra những dấu hiệu này, nhưng chắc chắn những biểu hiện ấy không phải là vô nghĩa đối với chàng trai đã chinh phục cảm tình của cô.

    Hôm đó là một chiều mùa hè, khi anh phi nước đại xuống con đường và ghì cương ngựa dừng ngay cổng.

    Cô đang ở ngưỡng cửa và ra đón anh.

    Anh ném dây cương qua hàng rào rồi sải bước trên lối đi nhỏ vào nhà.

    "Anh phải đi, Lucy à", anh vừa nói vừa đưa tay nắm lấy hai bàn tay cô và dịu dàng nhìn cô không dứt.

    "Anh không xin em đi cùng anh bây giờ đâu, nhưng khi anh quay lại lần sau thì em sẵn sàng theo anh chứ?"

    "Vậy lần sau là bao giờ?"

    Cô hỏi, vừa bẽn lẽn vừa cười.

    "Chừng hai tháng nữa là cùng.

    Lúc đó anh sẽ đến đón em nhé, em yêu.

    Không ai có thể ngăn trở chúng ta được."

    "Thế còn cha thì sao?"

    Cô gái hỏi.

    "Cha đã ưng thuận rồi, miễn là bọn anh phải làm cho mấy cái mỏ ấy hoạt động ổn thỏa.

    Anh không lo ngại gì chuyện đó."

    "Ôi, vậy thì hẳn rồi, nếu anh và cha đã lo liệu cả thì còn gì để nói nữa đâu", cô thì thầm khi tựa má vào lồng ngực vạm vỡ của anh

    "Tạ ơn Chúa!"

    Chàng trai thốt lên, giọng khàn đục, và cúi xuống hôn cô gái.

    "Vậy là đã quyết định rồi nhé.

    Anh càng nán lại lâu thì càng khó lòng ra đi.

    Họ đang chờ anh ở hẻm núi.

    Tạm biệt, em yêu của anh, tạm biệt, hai tháng nữa em sẽ gặp lại anh."

    Vừa nói anh vừa đẩy nàng ra xa rồi lao lên lưng ngựa, phi nước đại phóng đi như điên dại, thậm chí không hề ngoái lại như thể lo sợ rằng chỉ cần một cái liếc nhìn về sau lưng thì quyết tâm của anh sẽ rơi rụng.

    Cô gái đứng ở cổng, dõi mắt nhìn theo cho đến khi anh khuất dạng.

    Rồi cô tản bộ vào nhà, cô gái hạnh phúc nhất ở khắp xứ Utah này.

    10.

    John Ferrier trò chuyện với Đấng Tiên Tri

    Ba tuần đã trôi qua từ khi Jefferson Hope và các bạn rời khỏi Salt Lake City.

    John Ferrier xót xa cả cõi lòng khi ông nghĩ đến chuyện chàng trai ấy sẽ quay lại và ông sắp mất đứa con nuôi.

    Thế nhưng gương mặt hạnh phúc rạng ngời của cô gái lại khiến ông thấy hài lòng với sự sắp xếp này hơn bất kì lí lẽ nào.

    Từ tận đáy lòng, John Ferrier luôn quả quyết rằng không gì có thể xui khiến ông gả con gái cho một người Mormon.

    Một cuộc hôn nhân như thế với ông hoàn toàn không phải là hôn nhân mà chỉ là một niềm tủi hổ ê chề.

    Dù ông có hiểu các giáo thuyết Mormon theo cách nào đi nữa, thì đây cũng là điều ông không chịu khoan nhượng.

    Tuy nhiên, ông không hé răng về vấn đề này, bởi vì thời ấy ở xứ sở của các Thánh hữu, việc bộc lộ một quan điểm không chính thống là điều nguy hiểm.

    Đúng, nguy hiểm - nguy hiểm tới mức ngay cả những kẻ thánh thiện nhất cũng chỉ dám thầm thì những quan điểm tín ngưỡng trong sự hồi hộp, e rằng một lời đã lỡ thốt ra có thể bị hiểu sai và họ sẽ nhanh chóng chuốc lấy một hình phạt.

    Những nạn nhân ngày nào bị khủng bố bây giờ lại trở thành những kẻ khủng bố, và lại thuộc hạng khủng bố kinh khiếp nhất.

    Ngay cả Tòa án Dị giáo ở Seville, tòa án bí mật Vehm bên Đức, hay các hội kín của Ý đều không thể nào vận hành một bộ máy ghê gớm hơn bộ máy đang đe dọa khắp Utah này.

    Tính chất vô hình của bộ máy, cộng thêm sự bí mật gắn liền với nó, khiến cho tổ chức này ghê gớm gấp đôi.

    Xem ra tổ chức này biết hết mọi chuyện và có quyền lực vô hạn, thế nhưng chẳng ai nghe thấy hay nhìn thấy nó.

    Kẻ nào chống lại Giáo hội sẽ biến mất và không một ai hay biết người ấy đã đi đâu hoặc chuyện gì đã xảy đến với kẻ đó.

    Vợ con người ấy ở nhà mong chờ, nhưng sẽ không có chuyện người cha trở về kể lại ông ta đã xoay xở làm sao dưới bàn tay của những quan tòa bí mật.

    Một lời nói bất cẩn hay một hành vi khinh suất sẽ kéo theo sự thủ tiêu, vậy mà chẳng ai biết được đâu là bản chất của cái quyền lực kinh khủng đang lơ lửng trên đầu họ.

    Thảo nào ai nấy cũng hành xử trong run sợ, và ngay ở giữa chốn hoang vu này họ cũng chẳng dám thì thầm về những nỗi nghi ngại đang đè nặng trong lòng.

    Ban đầu, cái quyền lực kinh khủng mà mơ hồ này chỉ áp dụng với những kẻ nào ngoan cố, sau khi đã theo tín ngưỡng Mormon lại muốn thay đổi hay bỏ đạo.

    Nhưng chẳng bao lâu sau, nó được thực thi ở một phạm vi rộng lớn hơn.

    Số phụ nữ trưởng thành đang thiếu hụt dần, và chế độ đa thê mà không có một nhân số phụ nữ để củng cố thì quả thật cũng chẳng tồn tại bền lâu.

    Người ta bắt đầu kháo nhau những tin đồn lạ lùng, nghe đâu có nhiều người dân di cư bị sát hại và nhiều lán trại bị bắn phá ở những khu vực mà trước giờ không hề thấy bóng dáng mọi da đỏ.

    Nhiều phụ nữ lạ mặt mới xuất hiện trong hậu cung của các trưởng tế - những người đàn bà mỏi mòn và sướt mướt, trên nét mặt còn in hằn dấu vết của một nỗi kinh hoàng khôn nguôi.

    Những kẻ lang thang muộn màng trên núi kể về những toán người có vũ khí, đeo mặt nạ, lén lút, đi không gây tiếng động, mà họ tình cờ gặp khi toán ấy di chuyển ngang qua.

    Những chuyện kể và tin đồn này ngày càng vững chắc và được chứng thực hết lần này đến lần khác cho tới khi hình thành một danh tính cụ thể.

    Cho tới giờ này, trong những nông trại lẻ loi ở miền Tây, cái tên của tổ chức Danite hay Phục Hận Thiên Thần báo điềm dữ đầy sát khí.

    Càng hiểu biết đầy đủ hơn về tổ chức đã gây ra những hậu quả khủng khiếp như vậy, nỗi kinh hoàng nó đã gieo rắc trong tâm trí mọi người càng tăng thêm.

    Chẳng ai biết ai là người của cái hội đoàn tàn bạo này.

    Tên tuổi của những người tham gia các hành vi đẫm máu và bạo lực nhân danh tôn giáo được giữ kín kẽ.

    Chính người bạn mà ta thổ lộ những hoài nghi về Đấng Tiên Tri và sứ mệnh của ngài có thể là người ban đêm sẽ cầm súng cầm dao đến đòi ở ta một món chuộc tội khủng khiếp.

    Do đó ai ai cũng e dè xóm giềng của mình, và không người nào nói ra những gì chôn giấu trong lòng.

    Một sáng đẹp trời, John Ferrier định đi ra đồng lúa mì thì nghe tiếng then cổng lách cách.

    Nhìn qua cửa sổ, ông thấy một người trung niên mập mạp, tóc màu hung đang theo lối đi dẫn tới nhà.

    Tim ông muốn nhảy khỏi lồng ngực bởi người đó không ai khác hơn là ngài Brigham Young.

    Đầy lo lắng vì ông biết một cuộc thăm viếng thế này chẳng báo trước điều gì tốt đẹp, Ferrier chạy ra cửa đón người lãnh đạo dân Mormon.

    Thế nhưng Brigham Young chỉ hờ hững đón nhận những lời chào hỏi, và với vẻ mặt lạnh lùng Young theo Ferrier vào phòng khách.

    "Này huynh Ferrier", ông ta vừa nói vừa kéo ghế ngồi và nhìn người chủ trại với đôi mắt sắc sảo dưới hàng lông mi nhạt màu, "những tín đồ chân chính lâu nay đã là bằng hữu tốt đẹp với ông.

    Chúng tôi đã cứu vớt ông khi ông sắp chết đói trên sa mạc, chúng tôi chia sẻ thực phẩm cho ông, đưa ông an toàn tới Thung lũng Chúa chọn này, chia phần đất đai hậu hĩ cho ông, và cho phép ông làm giàu dưới sự bảo vệ của chúng tôi.

    Có phải thế không?"

    "Đúng thế ạ", John Ferrier đáp.

    "Để đổi lại tất cả những thứ đó, chúng tôi chỉ yêu cầu có một điều kiện.

    Đó là ông phải đi theo tín ngưỡng đích thực này, và tuân thủ mọi bề theo các đạo tục ông đã hứa sẽ làm theo, và nếu như lời đồn đãi khắp nơi đúng, thì đây chính là điều ông sao nhãng."

    "Làm sao mà tôi sao nhãng được chứ?"

    Ferrier vừa vặn hỏi vừa vung tay phân bua.

    "Tôi quên đóng góp vào quỹ chung sao?

    Tôi không đi lễ ở giáo đường sao?

    Tôi không..."

    "Các bà vợ của ông đâu?"

    Young vừa hỏi vừa nhìn quanh.

    "Hãy gọi các bà vào đây cho tôi chào họ đi."

    "Thật tình là tôi chưa lập gia đình", Ferrier đáp.

    "Nhưng phụ nữ thì ít mà lại có nhiều người xứng đáng lấy vợ hơn là tôi.

    Tôi cũng đâu có cô đơn, có con gái tôi chăm lo cho tôi rồi."

    "Chính con gái ông mới là chuyện tôi muốn nói", người lãnh đạo dân Mormon nói.

    "Con bé đã trở thành một bông hoa xứ Utah rồi, và trông nó đã vừa mắt đẹp lòng với nhiều người quyền cao chức trọng xứ này?"

    John Ferrier than thầm trong bụng.

    "Có nhiều chuyện về con bé mà tôi sẵn sàng không tin, nghe đồn là con bé đã được đính ước với một kẻ ngoại đạo nào đó.

    Nhất định đây là chuyện ngồi lê đôi mách của những cái mồm rỗi hơi.

    Điều mười ba trong giới luật của đấng Joseph Smith thánh linh là gì?

    Hãy để cho mọi trinh nữ của chính giáo kết hôn với những người đã được chọn lựa, bởi lấy một người dị giáo tức là phạm trọng tội.

    Nếu như thế thì không thể nào mà ông, người tuyên xưng thánh tín, lại cam chịu cho con gái mình vi phạm đức tin."

    John Ferrier không nói không rằng mà chỉ bồn chồn mân mê cây roi quất ngựa.

    "Toàn bộ đức tin của ông sẽ được thử thách chỉ với một điều này thôi, Tứ Trụ Thánh Hội đã quyết định như thế.

    Con bé còn nhỏ nên chúng tôi cũng không muốn gả nó cho những người lớn tuổi, và chúng tôi cũng không muốn tước bỏ quyền lựa chọn của nó.

    Các trưởng tế chúng tôi đã có nhiều vợ trẻ rồi, nhưng con cái chúng tôi cũng phải được đáp ứng.

    Stangerson có một con trai, Drebber cũng có một, và cả hai đều hoan hỉ chào đón con gái ông vào gia đình họ.

    Hãy để con bé lựa chọn giữa hai nhà này.

    Cả hai đều trẻ và giàu, và đều thuộc chính giáo cả.

    Ý ông thế nào đây?"

    Ferrier vẫn im lặng một hồi, đôi mày cau lại.

    Cuối cùng ông lên tiếng, "Xin ngài cho chúng tôi thời gian.

    Con gái tôi còn nhỏ, nó còn chưa đến tuổi cập kê mà."

    "Nó có một tháng để chọn lựa", Young vừa nói vừa đứng dậy.

    "Hết thời gian đó thì nó phải có câu trả lời."

    Đi ra tới cửa thì Young quay lại, mặt đỏ bừng và quắc mắt nói như quát, "Này John Ferrier, thà ông và con bé bấy giờ nằm phơi xương trắng trên dãy Sierra Blanco còn hơn là các người đem lòng bất kính ra mà chống lại lệnh của Tứ Trụ."

    Với một cái khoát tay đe dọa, ông ta quay lưng ra đi và Ferrier nghe tiếng bước chân nặng nề của Young lạo xạo trên lối đi rải đá cuội.

    Ông vẫn ngồi yên một chỗ, hai khuỷu tay chống trên đầu gối, phân vân không biết phải mở lời ra sao với con gái về chuyện này thì một bàn tay mềm mại nắm lấy bàn tay ông.

    Ngẩng lên, ông đã thấy con gái đứng cạnh bên.

    Chỉ cần nhìn qua gương mặt hoảng sợ, tái nhợt của cô gái là ông biết con ông đã nghe hết những gì vừa trao đổi.

    "Con không cố ý nghe lỏm", cô đáp lại ánh mắt dò hỏi của cha.

    "Ông ta nói oang oang khắp nhà đều nghe, ôi, cha ơi, làm sao đây cha?"

    "Con đừng hoảng sợ", ông vừa nói vừa kéo cô lại gần và đưa bàn tay thô ráp, to lớn vuốt ve mái tóc màu hạt dẻ của con gái.

    "Rồi chúng ta sẽ thu xếp bằng cách này hay cách khác.

    Chắc là cảm tình con dành cho anh ta đâu có suy giảm phải không?"

    Câu trả lời của cô gái chỉ là một tiếng nấc và một cái siết chặt tay cha.

    "Ừ, hẳn thế rồi.

    Con mà có hết cảm tình với nó thì ta cũng mặc kệ con.

    Thằng đó được đấy, nó lại là dân đạo Cơ Đốc, thế lại càng hơn cái đám ở đây bất kể những gì chúng nguyện cầu hay rao giảng.

    Ngày mai sẽ có một đoàn lên đường đi Nevada, ta sẽ tìm cách báo tin cho nó biết tình thế khó xử của cha con ta.

    Ta còn lạ gì anh chàng đó chứ, nó sẽ chạy bay về đây ngay, còn nhanh hơn cả điện tín nữa đấy."

    Mắt hoen lệ mà Lucy vẫn không nén được cười trước lời ví von của cha.

    "Khi quay lại đây anh ấy sẽ chỉ cho cha con ta cách gì tốt nhất.

    Nhưng con chỉ lo sợ cho cha mà thôi, cha à.

    Ai cũng nghe đồn... nghe đồn nhiều chuyện ghê gớm về những kẻ chống đối Đấng Tiên Tri, họ luôn gặp chuyện kinh khủng."

    "Nhưng chúng ta đâu có chống đối ông ấy", người cha đáp.

    "Khi nào cần đề phòng nguy hiểm thì hãy đề phòng.

    Chúng ta còn cả một tháng nữa mà, tới lúc đó chắc là chúng ta đã rời khỏi xứ Utah này rồi con."

    "Rời khỏi Utah!"

    "Đúng là vậy đó con."

    "Thế còn trang trại này?"

    "Chúng ta sẽ gom góp tiền càng nhiều càng tốt, còn bỏ hết mọi thứ khác.

    Nói thật với con đó, Lucy, đây không phải là lần đầu ta nghĩ tới chuyện này đâu.

    Ta không đời nào chịu khuất phục bất kì ai, không như lũ người kia cam chịu trước Đấng Tiên Tri đáng nguyền rủa của họ.

    Ta là một người Mỹ tự do từ lúc lọt lòng, và chưa bao giờ gặp chuyện như thế này cả.

    Chắc ta đã quá già để học những thứ mới.

    Nếu hắn ta tới lảng vảng quanh trang trại này thì không khéo hắn phải đối đầu với một phát đạn bay ngược chiều đó."

    "Nhưng họ sẽ không cho chúng ta bỏ đi đâu", cô con gái phản đối.

    "Cứ chờ đến khi Jefferson quay lại, rồi chúng ta sẽ thu xếp ngay.

    Còn trong lúc này thì đừng có buồn phiền nghe, con yêu, và đừng có khóc sưng mắt lên đó, kẻo hắn thấy thì hắn lại nhảy xổ tới cha đây.

    Không có gì phải sợ hãi cả, và không có gì nguy hiểm cả."

    John Ferrier thốt ra những lời trấn an ấy bằng một giọng điệu rất tự tin, nhưng cô gái dù không để ý cũng thấy cha mình cài chặt cửa nẻo kĩ lưỡng khác thường vào ban đêm, và thấy cha cẩn thận lau chùi rồi nạp đạn cho khẩu súng săn gỉ sét treo trên vách phòng ngủ của ông.

    11.

    Cuộc đào thoát sinh tử

    Vào buổi sáng sau hôm hội kiến với Đấng Tiên Tri Mormon, John Ferrier đi vào Salt Lake City.

    Khi tìm được người quen sắp lên đường tới vùng núi Nevada, ông nhờ gửi thư riêng cho Jefferson Hope.

    Trong thư ông thuật lại với chàng trai về nguy cơ đang chực chờ đe dọa họ và bảo anh cần phải cấp bách quay lại.

    Xong việc này ông thấy tâm trí thoải mái hơn và nhẹ lòng trở về nhà.

    Về tới trang trại, ông ngạc nhiên thấy mỗi trụ cổng lại buộc một con ngựa.

    Ông còn ngạc nhiên hơn nữa khi vào nhà lại thấy có hai gã thanh niên đang chiếm ngự phòng khách.

    Một gã có khuôn mặt dài nhợt nhạt đã ngả lưng ra chiếc ghế đu, hai chân gác lên lò sưởi.

    Gã kia là một thanh niên cổ to bạnh, mặt mày húp híp thô lỗ, đang đứng trước cửa sổ, hai tay cho vào túi, mồm huýt sáo một điệu nhạc thời thượng.

    Cả hai gật đầu chào Ferrier khi ông bước vào, và gã ngồi trên ghế đu bắt đầu câu chuyện.

    "Chắc là ông không biết chúng tôi", gã ta nói.

    "Đây là con trai của trưởng tế Drebber, còn tôi là Joseph Stangerson, người đã rong ruổi cùng ông trên sa mạc khi Thiên Chúa dang tay đón ông vào đàn chiên chân chính này."

    "Như là Người sẽ dang tay đón nhận mọi dân tộc khi đến lúc Người chọn lựa", gã kia nói với giọng the thé.

    "Người sàng lọc chậm nhưng rất tinh, cực kì ít ỏi."

    John Ferrier lạnh lùng cúi chào, ông đã biết những vị khách này là ai.

    Stangerson nói tiếp, "Thể theo lời khuyên của thân phụ, chúng tôi đến xin cưới ái nữ của ông vì trong cả hai chúng tôi, ai cũng đều có thể hợp ý ông và ý cô ấy.

    Do tôi chỉ có bốn vợ còn huynh Drebber đây có tới bảy, xem ra quyền đính ước của tôi có nhiều triển vọng hơn."

    "Không được, không được đâu, huynh Stangerson", gã kia kêu to, "vấn đề không phải là chúng ta có bao nhiêu vợ mà là chúng ta có thể nuôi được mấy người.

    Cha tôi vừa mới cho tôi mấy nhà máy xay lúa của ông rồi, vậy tôi giàu có hơn anh."

    "Nhưng tương lai tôi xán lạn hơn", Stangerson sôi nổi đáp trả.

    "Khi nào Thiên Chúa đón cha tôi đi thì tôi sẽ có xưởng thuộc da với nhà máy làm đồ da của ông ấy.

    Khi đó tôi lại là trưởng tế của anh, và có địa vị cao hơn anh trong Giáo hội."

    "Quyền quyết định là của cô gái", Drebber vừa cãi lại vừa cười tự mãn với bóng mình trong gương.

    "Chúng ta cứ để mọi chuyện cho cô gái định đoạt."

    Trong lúc hai gã đối đáp, John Ferrier đứng ở ngưỡng cửa giận sôi gan nhưng cố sức kiềm chế để khỏi quật cái roi ngựa vào lưng hai vị khách.

    Cuối cùng, ông vừa sải bước đi tới vừa lên tiếng, "Nghe đây, khi nào con gái tao gọi tụi bay thì hãy tới, từ giờ đến đó tao không muốn thấy mặt tụi bay nữa."

    Hai gã thanh niên Mormon sửng sốt nhìn ông chằm chằm.

    Trong mắt họ, chuyện tranh đua xin cưới cô gái là vinh dự cao quý nhất dành cho cả hai cha con nhà này.

    "Có hai cách để ra khỏi căn phòng này", Ferrier to tiếng, "một là ra bằng cửa chính, hai là ra bằng cửa sổ.

    Tụi bay muốn ra cách nào đây?"

    Gương mặt nâu sạm của ông trông hết sức hung dữ và hai bàn tay gân guốc đầy đe dọa khiến hai vị khách đứng phắt lên hấp tấp rút lui.

    Ông già theo chúng ra tận cửa.

    "Khi nào tụi bay đã xác định được đứa nào cưới con tao thì nói tao biết", ông nói với giọng nhạo báng.

    "Rồi ông sẽ phải lãnh hậu quả vì chuyện này!"

    Stangerson giận tái mặt kêu lên.

    "Ông đã chống lại Đấng Tiên Tri và Tứ Trụ Thánh Hội.

    Ông sẽ ăn năn suốt đời cho coi."

    "Thiên Chúa sẽ nặng tay với ông", gã Drebber cũng la to.

    "Người sẽ hiển linh và trừng phạt ông."

    "Vậy thì tao sẽ trừng phạt trước", Ferrier điên tiết quát và đã toan phóng lên lầu lấy khẩu súng nếu như Lucy không tóm lấy cánh tay ông ngăn cản.

    Ông chưa kịp giằng tay ra thì tiếng vó ngựa rầm rập đã cho thấy các vị khách đã cao chạy xa bay.

    "Đồ lưu manh đạo đức giả!"

    Ông vừa la ầm ĩ vừa lau mồ hôi trên trán.

    "Ta thà thấy con nằm dưới mồ còn hơn thấy con làm vợ một trong hai thằng đó, con à."

    "Con cũng thà chết còn hơn, cha à", cô gái hăng hái đáp lời, "nhưng rồi anh Jefferson sẽ chóng quay lại thôi."

    "Ừ, không lâu nữa đâu.

    Càng sớm càng tốt bởi cha con ta không thể biết chúng nó sẽ làm gì kế tiếp đây."

    Quả thực, đây chính là lúc ông già gan lì và cô con nuôi của ông cần sự hỗ trợ của ai đó có khả năng đưa ra lời khuyên và giúp sức.

    Trong toàn bộ lịch sử của khu định cư này, chưa hề có trường hợp nào bất phục tùng quyền uy của các trưởng tế rành rành như vậy.

    Nếu như các lỗi lầm nhỏ nhặt đã bị trừng trị hà khắc đến thế thì không biết số phận của kẻ chống đối tày trời này sẽ ra sao.

    Ferrier thừa biết tài sản và địa vị của ông cũng chẳng giúp ích được gì.

    Trước đây, nhiều người khác cũng danh giá và giàu có như ông đã mất tích và của cải của họ bị sung công quỹ Giáo hội.

    Là người can trường vậy mà ông cũng rùng mình trước những chuyện kinh hoàng mơ hồ, khó hiểu đang chực chờ.

    Bất kì mối nguy hiểm nào ông đều dám cắn răng đối đầu nhưng tình trạng chờ đợi này quả là đáng sợ.

    Tuy nhiên, ông cố giấu nỗi lo sợ trước mặt con gái, và giả vờ như xem thường mọi chuyện, mặc dù Lucy, với con mắt sắc sảo của lòng hiếu kính, đã thấy rõ là ông bất an.

    Ông chờ đợi sẽ nhận được thông điệp hay khiển trách nào đó từ Young về hành động của mình, và ông không lầm, mặc dù lời nhắn đó xuất hiện dưới một hình thức nằm ngoài mọi trù tính.

    Khi thức dậy sáng hôm sau, ông ngạc nhiên nhìn thấy một mảnh giấy nhỏ vuông vắn ghim vào tấm chăn đắp ngay phía trên ngực ông.

    Trên mảnh giấy ghi một dòng chữ đậm không ngay hàng thẳng lối:

    CÒN HAI MƯƠI CHÍN NGÀY NỮA ĐỂ MI HỐI CẢI,

    VÀ SAU ĐÓ...

    Cái dấu ba chấm ấy còn đáng sợ hơn bất kì lời đe dọa nào.

    Làm sao lời cảnh cáo này xuất hiện được ở phòng ông thì thật tình John Ferrier nghĩ mãi không ra, bởi các gia nhân ngủ ở gian ngoài, mọi cửa ra vào và cửa sổ đều đóng chặt.

    Ông vò nát mẩu giấy và không nói gì với con gái, nhưng sự việc này khiến ông ớn lạnh thấu tim.

    Hai mươi chín ngày nữa chính là lúc hết thời hạn một tháng mà Young đã hẹn.

    Sức mạnh hay lòng can trường nào có thể giúp chống lại một kẻ thù được trang bị những quyền năng bí ẩn như thế?

    Cái bàn tay đã ghim chiếc kim giữ chặt mảnh giấy ấy lẽ ra đã có thể đâm thấu tim ông mà ông không thể nào biết được ai hạ sát mình.

    Buổi sáng kế tiếp ông còn run sợ hơn.

    Hai cha con vừa ngồi vào bàn điểm tâm thì Lucy ngạc nhiên kêu lên rồi chỉ tay lên trần.

    Viết nguệch ngoạc - hình như bằng một que củi cháy - ngay giữa trần nhà là con số 28.

    Với cô con gái thì dấu hiệu này không thể hiểu nổi và người cha thì không muốn giải thích.

    Đêm đó ông ôm súng thức canh chừng và đề phòng, ông không nghe thấy gì cả, thế nhưng sáng ra một số 27 to tướng lại được sơn ngay bên ngoài cửa phòng ông.

    Ngày cứ nối tiếp ngày như thế, và cứ mỗi sáng ông lại thấy những kẻ thù vô hình tiếp tục đánh số, và ở một vị trí dễ nhìn thấy nào đó là số ngày còn lại của một tháng ân huệ dành cho ông.

    Có lúc những chữ số định mệnh ấy xuất hiện trên vách tường, có lúc trên sàn nhà, thỉnh thoảng lại được đề trên những tấm bìa nhỏ cắm trên cổng vườn hay trên hàng rào.

    Cảnh giác hết sức vậy mà John Ferrier vẫn không thể phát hiện được những lời cảnh cáo hằng ngày ấy phát xuất từ đâu.

    Cứ nhìn thấy chúng là ông lại thấy một nỗi kinh sợ gần như mê tín dị đoan, ông trở nên phờ phạc, bồn chồn, và đôi mắt nhuốm vẻ lo lắng của một kẻ bị săn lùng.

    Bây giờ ông chỉ còn mỗi một hi vọng duy nhất trong đời, đó là sự xuất hiện của chàng thợ săn từ Nevada.

    Ngày thứ hai mươi đã chuyển qua mười lăm, rồi mười lăm còn mười, người đi xa vẫn bặt vô âm tín.

    Từng ngày một, những con số cứ nhỏ dần mà vẫn không thấy tăm hơi anh ta.

    Hễ có tiếng vó câu của tay kị mã nào lọc cọc trên đường, hay có tiếng xà ích quát tháo lũ ngựa thì ông già lại hối hả chạy ra cổng, lòng khấp khởi rằng rốt cuộc cứu tinh đã đến.

    Cuối cùng, khi ông thấy năm ngày chỉ còn bốn rồi lại chỉ còn ba thì ông thối chí và từ bỏ mọi hi vọng thoát thân.

    Thân cô thế cô, lại chẳng am tường vùng núi bao quanh khu định cư này, ông biết chắc là mình bất lực.

    Những con đường thường lui tới đều được canh gác chặt chẽ, và không một ai có thể đi qua mà không có lệnh của Thánh Hội.

    Xem ra ông có đi bốn phương tám hướng cũng không tránh khỏi mối hiểm họa đang lơ lửng trên đầu.

    Thế nhưng ông già vẫn kiên quyết, thà từ bỏ sinh mạng chứ không cam lòng để con gái mình sa vào hoàn cảnh mà ông cho là ô nhục.

    Một buổi tối, ông ngồi một mình nghiền ngẫm trong lòng bao nỗi lo và tìm kiếm tuyệt vọng một lối thoát nào đó.

    Sáng hôm ấy trên vách nhà ông đã hiện ra con số 2và ngày hôm sau sẽ là ngày cuối cùng của hạn định.

    Chuyện gì sẽ xảy ra sau đó?

    Tràn ngập trí tưởng tượng của ông là bao hình ảnh kinh khủng mông lung.

    Rồi con gái ông, chuyện gì sẽ xảy đến cho nó sau khi ông đã lìa đời?

    Không có cách gì trốn thoát được cái mạng lưới vô hình đang siết chặt chung quanh họ sao?

    Ông gục đầu xuống bàn và thổn thức khi nghĩ tới sự bất lực của chính mình.

    Cái gì thế?

    Trong tĩnh lặng ông nghe có tiếng sột soạt khe khẽ rất nhỏ, nhưng rõ mồn một trong đêm tĩnh mịch.

    Tiếng động phát ra từ cửa chính ngôi nhà.

    Ferrier rón rén đi vào sảnh và lắng nghe chăm chú.

    Im được một lúc thì những âm thanh khe khẽ quỷ quyệt đó lại tái diễn.

    Rõ ràng có ai đang gõ gõ rất nhẹ vào mấy ô cửa.

    Phải chăng đó là một kẻ ám sát lúc nửa đêm thừa hành những mệnh lệnh giết người của phiên tòa bí mật?

    Hay đó là tên mật phái nào đang đánh dấu ngày ân huệ cuối cùng?

    John Ferrier thấy thà chết ngay lập tức còn hơn là cứ căng thẳng thần kinh, khiếp đảm tâm can thế này.

    Lao vọt tới, ông rút then cài và mở toang cửa.

    Bên ngoài hoàn toàn tĩnh lặng.

    Đêm trong trẻo và những vì sao sáng lấp lánh trên cao.

    Mảnh vườn nhỏ đầu nhà ngay trước mắt ông được bao bọc bằng cổng và hàng rào, nhưng cả trong vườn lẫn ngoài ngõ đều không một bóng người.

    Thở hắt một tiếng an lòng, Ferrier nhìn sang bên trái rồi bên phải, cho đến khi tình cờ nhìn xuống chân mình ông mới sửng sốt nhận ra một người đang nằm dài úp mặt xuống đất, tay chân dang rộng.

    Ông hoảng hồn trước cảnh tượng ấy tới mức phải tựa vào tường, tay đưa lên chặn ngang cuống họng mình để bóp nghẹt một tiếng la chực vọt ra.

    Ban đầu ông nghĩ rằng thân hình sóng soài ấy là một kẻ bị thương hay hấp hối, nhưng rồi nhìn kĩ ông thấy hình thù đó uốn éo trên mặt đất và trườn vào sảnh nhanh và êm như một con rắn.

    Khi đã vào trong nhà, người đó đứng phắt dậy, đóng cửa, trước mắt ông chủ trại sửng sốt hiện ra gương mặt dữ dội và cương quyết của Jefferson Hope.

    "Lạy Chúa!"

    John Ferrier thảng thốt.

    "Con làm ta sợ hết vía!

    Sao lại đi vào nhà kiểu đó chứ!"

    "Cho con ăn đi", người kia lên tiếng, giọng khàn đục.

    "Con không có thời gian ăn uống gì suốt hai ngày qua."

    Anh sà vào mở bành mì và thịt nguội lạnh còn lại trên bàn sau bữa ăn tối của chủ nhà.

    Khi đã nguôi ngoai cơn đói, anh mới nói tiếp.

    "Lucy có chịu đựng được không?"

    "Được.

    Nó đâu biết nguy cơ này", người cha đáp.

    "Vậy thì tốt.

    Nhà này đã bị canh gác bốn bề.

    Thành ra con phải lẻn bò vào như vậy.

    Chúng nó có thể rất tinh ranh nhưng chưa đủ để bắt nổi thợ săn xứ Washoe này đâu."

    Khi nhận ra mình đã có một đồng minh tận tụy thì John Ferrier trở thành con người khác, ông chộp lấy bàn tay gân guốc của chàng trai và siết chặt rất chân thành.

    "Ta thật tự hào vì con", ông nói.

    "Không có mấy người dám cùng chịu nguy khó với cha con ta đâu."

    "Bác nói đúng đấy", chàng thợ săn đáp.

    "Con kính trọng bác, nhưng nếu trong chuyện này chỉ có mình bác thôi thì con sẽ suy nghĩ hai lần trước khi đâm đầu vào tổ ong bầu hung hiểm như thế.

    Chính vì Lucy con mới về đây, và nếu chúng nó muốn đụng tới cô ấy thì phải lấy mạng một người nhà họ Hope ở Utah trước đã."

    "Chúng ta phải làm gì đây?"

    "Mai là ngày cuối cùng rồi, nếu không hành động ngay đêm nay thì chết chắc.

    Con có một con lừa với hai con ngựa đang chờ ở khe núi Eagle.

    Bác hiện có bao nhiêu tiền?"

    "Hai ngàn đôla tiền vàng và năm ngàn tiền giấy."

    "Vậy cũng đủ.

    Con sẽ góp thêm vào khoảng chừng đó.

    Chúng ta phải băng núi, cố tới được thành phố Carson.

    Bác nên đánh thức Lucy dậy đi.

    Cũng may là gia nhân không ngủ ở trong nhà."

    Trong lúc Ferrier rời phòng thu xếp cho con gái chuẩn bị lên đường, Jefferson Hope gom hết mọi thức ăn có thể tìm được vào một gói nhỏ rồi đổ đầy nước vào một bình gốm, vì theo kinh nghiệm của anh thì rất ít giếng nước ở vùng này và chúng cách nhau rất xa.

    Anh vừa thu xếp xong thì ông già đã quay lại cùng cô con gái, nai nịt sẵn sàng để lên đường.

    Hai kẻ đang yêu chào đón nhau thắm thiết nhưng chóng vánh bởi từng phút từng giây bây giờ đều quý báu và còn nhiều việc phải làm.

    "Chúng ta phải lên đường ngay", Jefferson Hope thì thầm bằng giọng cương quyết như một người đã nhận biết rõ tính nghiêm trọng của hiểm họa và dốc lòng đối phó.

    "Cổng trước và sau đều bị canh gác rồi, nhưng nếu cẩn thận thì chúng ta có thể tẩu thoát qua đường cửa sổ bên hông nhà và băng qua cánh đồng.

    Khi ra tới đường chúng ta chỉ còn hai dặm nữa là tới khe núi nơi ngựa đang chờ.

    Tới hừng sáng thì chúng đã đi được nửa đường xuyên núi."

    "Nếu ta bị chặn lại thì sao?"

    Ferrier hỏi.

    Hope vỗ vào báng súng ngắn thò ra phía trước áo choàng.

    "Nếu chúng nó đông quá thì ta cũng hạ được vài ba mạng rồi mới chết", anh nói với một nụ cười đầy sát khí.

    Mọi đèn đóm trong nhà đều tắt hết, và từ khung cửa sổ tối đen Ferrier ghé mắt nhìn ra những cánh đồng đã từng thuộc về ông và bây giờ ông sắp từ bỏ chúng vĩnh viễn.

    Tuy nhiên, ông đã chuẩn bị tinh thần cho sự hi sinh này, ý muốn bảo vệ danh dự và hạnh phúc cho con gái đã lấn át mọi luyến tiếc về chuyện tiêu tan sản nghiệp.

    Mọi thứ đều có vẻ yên vui, cây lá xào xạc và ruộng lúa trải dài êm ả, khó mà nhận ra ám chướng sát nhân đang lẩn khuất quanh đây.

    Thế nhưng gương mặt trắng bệch, nghiêm nghị của chàng thợ săn cho biết những gì anh thấy trên đường đến ngôi nhà đủ để khẳng định nguy cơ ấy.

    Ferrier mang túi tiền vàng và giấy bạc, Jefferson Hope giữ phần lương thực và nước, còn Lucy xách một bọc nhỏ chứa vài món tư trang giá trị của cô.

    Thận trọng và chậm rãi, họ mở cửa sổ và chờ đến khi một đám mây đen che lấp bớt bầu trời đêm, rồi từng người một leo qua khung cửa mở ra khoảnh vườn con.

    Hồi hộp, họ khom người dò bước băng qua vườn và nấp vào hàng giậu rồi cứ men theo đó mà đi tới khi gặp một chỗ trống thông ra những cánh đồng ngô.

    Họ vừa tới khoảng trống này thì chàng trai đã tóm lấy hai người đồng hành lôi họ vào bóng tối rồi cả ba nằm im lo sợ.

    May mà sự tôi rèn trên đồng cỏ đã cho Jefferson Hope đôi tai thính nhạy như loài linh miêu.

    Anh và hai cha con Ferrier vừa nằm mọp xuống thì tiếng rúc ai oán của một con cú núi đã vang lên chỉ cách họ vài yard, và lập tức được hồi đáp bằng một tiếng rúc khác cách đó một quãng ngắn.

    Cùng lúc đó một bóng người lờ mờ hiện ra ngay khoảng trống mà họ định đi qua.

    Bóng đen lại rúc lên một ám hiệu thê lương, và nghe hiệu, một người thứ hai liền từ trong bóng tối hiện ra.

    "Ngày mai lúc nửa đêm", tiếng kẻ đầu tiên, có vẻ là người có thẩm quyền.

    "Khi nghe ba tiếng cú kêu."

    "Rõ", người kia đáp.

    "Có báo với huynh Drebber không?"

    "Báo đi, và huynh ấy sẽ báo những người khác.

    Chín còn bảy!"

    "Bảy còn năm!"

    Người kia đáp rồi hai bóng đen nhẹ nhàng ra đi theo hai hướng khác nhau.

    Hai câu đối đáp sau cùng của họ rõ ràng là một mật hiệu và khẩu lệnh thông hành.

    Ngay khi tiếng bước chân đã lặng tắt phía xa, Jefferson Hope nhảy phắt dậy và giúp hai người đồng hành đi qua khoảng trống.

    Anh dẫn đường băng qua mấy cánh đồng và chạy hết tốc lực, vừa chạy vừa dìu vừa bế Lucy khi cô gái muốn kiệt sức.

    "Mau lên!

    Mau lên!"

    Thỉnh thoảng anh hổn hển thúc giục.

    "Chúng ta đang qua tuyến canh phòng đó.

    Chạy nhanh thì thoát.

    Mau lên!"

    Khi ra được tới đường cái họ đi nhanh hơn.

    Chỉ có một lần họ gặp người lạ nhưng nhờ cố lẻn được vào ruộng lúa nên tránh bị nhận dạng.

    Tới gần thành phố, tay thợ săn chạy rẽ vào một đường mòn chật hẹp, gồ ghề dẫn ra vùng núi.

    Hai ngọn núi lởm chởm, đen đúa sừng sững vươn lên trong bóng tối và hẻm núi trước mặt họ chính là khe núi Eagle nơi ngựa đang chờ sẵn.

    Với bản năng không thể sai lầm, Jefferson Hope chọn lối đi giữa các tảng đá lớn và men theo một kênh lạch đã cạn khô cho tới khi đến một góc khuất có đá che chắn, ở đây những con vật trung thành đã được buộc cương.

    Cô gái được bế lên lưng lừa, già Ferrier leo lên một con ngựa cùng với túi tiền trong khi Jefferson Hope dẫn đầu trên một con ngựa khác đi theo con đường mòn dốc ngược cheo leo.

    Đó là một lộ trình bàng hoàng với bất kì ai không quen đối mặt với những trạng thái hoang dã nhất của tự nhiên.

    Một bên là vách núi khổng lồ vươn chót vót hàng trăm thước hơn, đen ngòm, lạnh lùng, và đe dọa, trên bề mặt lởm chởm nhô cao những cột đá ngất ngưởng trông như xương sườn của một con quái thú hóa thạch.

    Một bên là cõi hỗn mang của đá mòn và sỏi vụn chặn đứng mọi bước tiến.

    Ở giữa là một đường mòn bất định, nhiều chỗ hẹp tới mức cả ba phải đi thành hàng một, và lởm chởm tới mức chỉ có những tay kị mã lành nghề mới đủ sức băng qua.

    Nhưng bất chấp mọi nguy nan, trái tim của những kẻ đào tẩu càng lúc càng lâng lâng vì cứ mỗi bước chân thì khoảng cách giữa họ và cái ách chuyên quyền kinh khủng mà họ đang trốn chạy kia càng xa thêm.

    Tuy nhiên, họ liền có ngay bằng chứng là mình vẫn còn nằm trong vòng sinh sát của các Thánh hữu.

    Họ vừa đến đoạn đèo hoang vu và hẻo lánh nhất thì cô gái giật mình kêu lên và chỉ tay lên cao.

    Trên một tảng đá nhìn xuống con đường này, in mồn một trên nền trời là bóng đen của một tên tuần canh cô độc.

    Hắn nhìn thấy họ ngay khi họ nhận ra hắn và tiếng hô như quân lệnh: "Ai đi đó?" của hắn rung rền trong hẻm núi tĩnh mịch.

    "Lữ khách đi tới Nevada", Jefferson Hope đáp, bàn tay nắm lấy khẩu súng trường mang bên yên ngựa.

    Họ có thể thấy tên tuần canh cô độc kia rê ngón tay lên khẩu súng của hắn, và cúi xuống nhìn họ chăm chú như thể không hài lòng với câu trả lời

    "Ai cho phép?"

    Hắn ta hỏi

    "Tứ Trụ Thánh Hội", Ferrier đáp.

    Kinh nghiệm đạo giáo Mormon đã cho ông biết đó là thẩm quyền cao nhất mà ông có thể viện dẫn.

    "Chín còn bảy!"

    Tên tuần canh hô to.

    "Bảy còn năm!"

    Jefferson Hope đáp lại ngay theo khẩu lệnh mà anh nhớ được lúc nghe ở trong vườn nhà.

    "Cho qua!

    Thiên Chúa đi cùng các người!"

    Tiếng nói trên cao vang lên.

    Vượt qua trạm canh gác này là con đường mở rộng dần và những con ngựa đã có thể chuyển sang phi nước kiệu.

    Ngoái nhìn lại, họ còn thấy tên tuần canh cô độc kia tì người trên khẩu súng.

    Họ biết mình đã vượt qua trạm gác xa nhất của những người được Chúa chọn, tự do đang ở phía trước.

    12.

    Phục Hận Thiên Thần

    Suốt đêm họ băng núi vượt qua bao khe đá hiểm trở và đường mòn gập ghềnh bất định.

    Hơn một lần họ đã đi lạc nhưng sự am tường của Hope về địa hình miền núi này lại giúp họ tìm đúng hướng.

    Khi trời hừng sáng, một khung cảnh vừa tuyệt mĩ vừa hoang dã trải dài trước mắt.

    Bao quanh họ bốn bề là những ngọn núi hùng vĩ đỉnh phủ tuyết, ngọn này kế tiếp ngọn khác cho đến mút tầm mắt.

    Những sườn đá hai bên núi dốc đứng tới mức những hàng thông dường như đang treo lơ lửng trên đầu họ và chỉ cần một ngọn gió là chúng sẽ ào ào lao tuột xuống phía ba người.

    Nỗi sợ đó không hẳn là ảo giác đâu, bởi thung lũng cằn cỗi này phủ dày đặc cây cối và đá tảng đã rơi đổ theo cách tương tự.

    Ngay khi họ đi qua, một tảng đá lớn rơi ầm xuống với một tràng va đập rào rào vang dội khắp các khe núi im lìm khiến những con ngựa kiệt sức của họ giật mình lồng lên phi nước đại.

    Lúc mặt trời từ từ dâng cao trên chân trời phía đông, đỉnh tuyết của các ngọn núi khổng lồ lần lượt bừng sáng như những lồng đèn lễ hội, cho đến khi tất cả đều hồng rực lên.

    Cảnh tượng lộng lẫy đó làm nức lòng ba kẻ đào tẩu và tiếp thêm sinh lực cho họ.

    Đến một dòng nước từ trong khe núi tuôn trào ra, họ tạm thời nghỉ chân và cho lũ ngựa uống nước trong khi họ ăn vội bữa điểm tâm hối hả.

    Lucy và cha cô muốn nghỉ ngơi lâu hơn nhưng Jefferson Hope nhất định không nhượng bộ.

    "Tới lúc này thì chúng chắc chắn đang theo dấu truy tìm", anh nói.

    "Tất cả tùy thuộc vào tốc độ của chúng ta.

    Khi đã tới Carson an toàn, chúng ta tha hồ nghỉ ngơi đến hết đời."

    Suốt cả ngày hôm đó họ vượt qua những hẻm núi đầy gian truân, và đến chiều họ ước tính đã cách xa kẻ thù được hơn ba mươi dặm.

    Đến tối, họ tìm chỗ trú ở chân một vách đá cheo leo nơi đá tảng sẽ che chắn cho họ tránh bớt những luồng gió lạnh, và ở cạnh nhau cho ấm, họ tận hưởng được vài giờ ngủ yên.

    Tuy nhiên, trời chưa hừng đông là họ đã thức dậy tiếp tục lên đường.

    Họ không nhìn thấy dấu hiệu nào của những kẻ truy đuổi và Jefferson Hope bắt đầu tin rằng họ đã đi khá xa tầm với của cái tổ chức kinh khủng khiến họ phải cam chịu oán cừu.

    Anh không thể biết rằng cái quyền lực sắt đá ấy có thể vươn xa đến đâu hay chừng nào nó sẽ thít chặt lấy họ và nghiền nát.

    Đến khoảng giữa ngày thứ hai của cuộc đào tẩu thì nguồn lương thực dự trữ ít ỏi của họ bắt đầu cạn.

    Nhưng chàng thợ săn không mấy lo lắng chuyện này vì vùng núi có nhiều thú rừng và trước đây anh đã nhiều lần phải nhờ cậy đến khẩu súng trường để kiếm thức ăn.

    Chọn một góc khuất trú chân, anh chất mấy cành cây khô và nhóm một đống lửa cho những người bạn đường có thể sưởi ấm bởi lúc này họ đang ở trên độ cao gần năm ngàn foot so với mặt biển và khí trời rét buốt căm căm.

    Buộc ngựa xong và chào từ biệt Lucy, anh khoác súng lên vai rồi lên đường tìm kiếm những gì cơ may có thể mang tới.

    Ngoái lại, anh thấy ông già và cô gái lom khom bên đống lửa cháy rực trong khi ba con ngựa, lừa đứng bất động phía sau.

    Rồi những tảng đá chắn đường che khuất họ khỏi tầm mắt.

    Anh lội bộ chừng mấy dặm, qua hết hẻm núi này đến hẻm núi khác mà không săn được gì, mặc dù những dấu vết còn lưu lại trên vỏ cây và nhiều biểu hiện khác đã khiến anh phán đoán là có nhiều gấu ở quanh đây.

    Cuối cùng, sau hai hay ba giờ tìm kiếm bất thành, anh đã tính đến chuyện quay về trong tuyệt vọng thì ngước mắt nhìn lên anh phát hiện một cảnh tượng khiến lòng mừng khấp khởi.

    Trên rìa một mỏm núi chìa ra, phía trên đầu anh chừng ba hay bốn trăm foot là một con thú trông giống cừu nhưng lại có cặp sừng vĩ đại.

    Con cừu núi sừng lớn này có lẽ đang canh gác bảo vệ cho một đàn cừu nào đó mà Hope không nhìn thấy, nhưng may thay nó đang đi theo hướng ngược lại và không nhận ra người thợ săn này.

    Nằm sấp người xuống, anh tì khẩu súng trên một tảng đá, nhắm thật kĩ trước khi bóp cò.

    Con thú giật bắn lên không, loạng choạng một chút bên rìa vách núi rồi đâm sầm xuống thung lũng phía dưới.

    Con thú quá lớn không thể khiêng đi nên người thợ săn đành cắt một tảng thịt hông và một phần mạn sườn.

    Vác chiến lợi phẩm này trên vai, anh hấp tấp quay về vì màn đêm đang buông xuống.

    Nhưng vừa lên đường là anh nhận ra ngay nỗi gian nan đang chờ chực.

    Trong lúc hăm hở, anh đã lang thang quá xa những hẻm núi quen thuộc của mình và bây giờ không dễ gì tìm lại con đường cũ.

    Cái thung lũng bao quanh anh bị phân cắt chằng chịt thành nhiều hẻm núi, trông giống hệt nhau nên không thể nào phân biệt tách bạch.

    Anh đi theo một hẻm núi chừng hơn một dặm thì gặp một con suối lớn trong núi mà anh chắc chắn chưa bao giờ nhìn thấy.

    Tin là mình đã lầm đường, anh thử theo hướng khác nhưng kết cục vẫn như trước.

    Đêm đang xuống nhanh, và cuối cùng khi anh nhận ra mình đang ở trong một khe đá quen thuộc thì trời đã gần tối đen.

    Ngay cả lúc này cũng khó mà tìm cho đúng hướng đi bởi trăng chưa mọc và những vách núi cao hai bên càng làm bốn bề tăm tối cùng cực.

    Vác nặng oằn vai, kiệt quệ vì lao lực, anh lảo đảo đi tiếp, lòng tự khích lệ mình với ý nghĩ rằng cứ mỗi bước chân anh lại gần Lucy thêm một chút, và số thịt cừu anh đang mang trên vai sẽ bảo đảm cho họ no đủ suốt chặng hành trình còn lại.

    Lúc này anh đã tới ngay miệng hẻm núi nơi anh đã từ biệt cha con Ferrier.

    Thậm chí trong bóng tối anh cũng có thể nhận ra đường nét của những vách đá bao quanh.

    Anh nghĩ chắc họ phải chờ đợi lo lắng lắm vì anh đã vắng mặt gần năm giờ rồi.

    Lòng hoan hỉ, anh đưa tay lên miệng hú một tiếng lớn vang dội cả khe núi để báo hiệu anh sắp tới.

    Anh dừng bước và lắng nghe hồi đáp.

    Không có tiếng trả lời nào.

    Chỉ có tiếng hú của anh dội vang qua những hẻm núi tĩnh mịch thê lương và đưa đến tai anh vô vàn hồi vọng.

    Anh hú lên lần nữa, thậm chí to hơn trước, và cũng như trước không một tiếng thì thầm nào vẳng ra từ phía những người bạn mà anh đã từ biệt chưa bao lâu.

    Một nỗi sợ hãi không tên mơ hồ xâm chiếm anh, và anh lao như điên loạn về phía trước, vứt bỏ luôn cả số thực phẩm quý báu trong cơn lo lắng.

    Khi rẽ qua góc núi ấy anh thấy rõ toàn bộ vị trí nơi anh đã nhóm lửa.

    Một mớ củi tàn vẫn còn âm ỉ cháy ở đó, nhưng rõ ràng đã không được châm thêm lửa từ khi anh ra đi.

    Ngự trị bốn bề vẫn là sự im lặng chết chóc ấy.

    Nỗi lo sợ đã hoàn toàn biến thành điều xác tín, anh lao tới.

    Không có một sinh vật nào gần kề đống lửa tàn: Ngựa, lừa, ông già, cô gái.

    Tất cả đều biến mất.

    Rõ ràng là một tai họa kinh khủng bất ngờ đã xảy ra khi anh vắng mặt - một tai họa giáng xuống không chừa một ai nhưng không hề để lại dấu vết nào.

    Bàng hoàng sửng sốt trước tai họa này, Jefferson Hope thấy đầu óc quay cuồng, anh phải tì người lên khẩu súng trường cho khỏi té ngã.

    Tuy nhiên, với bản chất là một người hành động, anh nhanh chóng vượt qua sự bất lực nhất thời của mình.

    Tóm lấy một thanh củi cháy dở trong đống lửa âm ỉ, anh thổi cho cháy bùng lên và bắt đầu kiểm tra chỗ đóng trại nhỏ bé này.

    Mặt đất bị giẫm nát bởi dấu móng ngựa cho thấy một đám đông kị mã đã đuổi kịp những người đào tẩu, và hướng di chuyển của dấu ngựa chứng tỏ toán người này sau đó đã quay lại Salt Lake City.

    Chúng có mang theo hai người bạn đồng hành của anh không?

    Jefferson Hope gần như đã tự thuyết phục mình tin là thế thì ánh mắt anh tình cờ nhìn thấy một vật khiến mọi thần kinh trong cơ thể đều chộn rộn.

    Kế bên chỗ cắm trại là một đống đất đỏ thâm thấp, chắc chắn là trước đó không hề tồn tại.

    Không thể nào lầm lẫn được, đó là một nấm mồ mới đắp.

    Khi chàng thợ săn đến gần, anh nhận ra một chiếc cọc đã được cắm trên gò đất, ngay vết chẻ đôi trên đầu cọc có cắm một mảnh giấy.

    Những dòng chữ ghi trên giấy vắn tắt nhưng cụ thể:

    JOHN FERRIER,

    NGUYÊN CƯ DÂN SALT LAKE CITY

    Tạ thế ngày 4 tháng 8 năm 1860

    Ông già cường tráng ấy, người mà anh vừa mới từ biệt chưa bao lâu, giờ đã lìa trần và đây chính là mộ chí của ông.

    Jefferson Hope cuống cuồng nhìn quanh tìm kiếm nấm mồ thứ hai nhưng không hề thấy dấu vết nào.

    Lucy đã bị những kẻ truy đuổi khủng khiếp kia bắt về để quy phục định mệnh nguyên thủy của cô, trở thành một hầu thiếp trong hậu cung của con trai huynh trưởng nào đó.

    Khi chàng trai đã biết chắc số phận của cô gái và sự bất lực của mình thì chính anh cũng muốn nằm chung với ông già trong chỗ yên nghỉ câm lặng cuối cùng này.

    Nhưng một lần nữa, ý thức chủ động của anh lại giũ bỏ hết những ý nghĩ đớn hèn nảy sinh từ tuyệt vọng.

    Nếu như anh không còn gì để mất thì ít nhất anh có thể dành cả đời mình để rửa hận.

    Ngoài lòng nhẫn nại và kiên trì, Jefferson Hope còn sở hữu sức mạnh của lòng căm thù khôn nguôi, có lẽ anh đã học được từ những người da đỏ anh từng sống chung.

    Đứng bên đống lửa tan hoang, anh nhận ra rằng điều duy nhất giúp anh nguôi ngoai nỗi đau này là chính tay anh phải bắt kẻ thù trả hết, trả sạch oán cừu.

    Anh quyết dốc hết dũng khí và sinh lực cho mục đích này.

    Mặt tái nhợt đầy sát khí, anh đi ngược lại chỗ đã vứt bỏ thực phẩm rồi quay về khơi bừng đống lửa tàn, nấu chín thành thức ăn đủ cho vài ngày đường.

    Anh gói hết thức ăn vào một bọc, và dù kiệt quệ đến thế, anh vẫn buộc mình phải vượt núi ngược về đường cũ theo dấu lũ âm binh Phục Hận Thiên Thần.

    Suốt năm ngày ròng rã anh lê bước mỏi mòn qua các hẻm núi mà trước kia anh đã cưỡi ngựa qua.

    Đêm xuống anh nằm vật giữa các tảng đá, tranh thủ ngủ vài giờ cho lại sức nhưng ngày chưa kịp rạng thì anh đã lên đường từ lâu.

    Đến ngày thứ sáu, anh tới hẻm núi Eagle, nơi bắt đầu cuộc đào tẩu bất hạnh của anh và cha con Ferrier.

    Từ đây anh có thể nhìn xuống xứ sở của các Thánh hữu.

    Cạn kiệt sức lực, anh tì người lên khẩu súng trường và vung bàn tay gân guốc một cách hung bạo về phía thành phố im lìm trải rộng dưới chân anh.

    Trong lúc quan sát, anh nhận thấy ở một số đường phố chính có treo cờ xí, và những dấu hiệu hội hè khác.

    Anh vẫn còn đang phán đoán xem những dấu hiệu đó có ý nghĩa gì thì nghe tiếng vó câu lọc cọc rồi thấy một người cưỡi ngựa đi về hướng mình.

    Khi kẻ đó đến gần, anh nhận ra đó là một giáo dân Mormon tên là Cowper, người mà anh đã đôi ba lần giúp đỡ công việc.

    Anh đến bắt chuyện khi Cowper đi tới, mục đích là tìm hiểu xem số phận Lucy Ferrier giờ ra sao.

    "Tôi là Jefferson Hope đây", anh nói.

    "Ông nhớ tôi chứ?"

    Người Mormon kia nhìn anh với vẻ kinh ngạc không che giấu - thực tình khó mà nhận ra kẻ lang thang rách rưới lôi thôi, mặt mày trắng nhợt như thây ma, đôi mắt hung tợn dữ dằn này lại chính là chàng thợ săn lịch lãm dạo nào.

    Nhưng rốt cuộc, sau khi đã nhận ra người quen thì nỗi kinh ngạc của Cowper lại biến thành kinh hãi.

    "Anh đúng là điên mới mò về đây", ông ta thốt lên.

    "Người ta mà thấy tôi trò chuyện với anh cũng đủ mất mạng tôi rồi.

    Tứ Trụ Thánh Hội đã có lệnh trừ khử anh vì tội giúp nhà Ferrier chạy trốn đó."

    "Tôi không sợ họ hay lệnh của họ", Hope khẩn khoản nói.

    "Nhất định là ông phải biết chút ít chuyện này, ông Cowper.

    Tôi xin ông hãy vì những gì ông yêu mến mà trả lời giúp tôi đôi điều.

    Chúng ta lâu nay vẫn luôn là bằng hữu.

    Hãy vì Chúa mà trả lời tôi đi."

    "Mà chuyện gì mới được?"

    Người Mormon kia bồn chồn hỏi.

    "Nói mau đi.

    Ở đây tai vách mạch rừng."

    "Cô Lucy Ferrier giờ ra sao rồi?"

    "Hôm qua cô ta đã thành hôn cùng con trai nhà Drebber...

    Đứng vững nào, anh bạn, đứng cho vững, anh không còn chút sinh lực nào!"

    "Đừng bận tâm", Hope nói không ra hơi.

    Mặt anh trắng bệch đến tận môi và người anh cứ trượt xuống tảng đá mà anh đang tựa lưng.

    "Thành hôn, ông nói sao?"

    "Đám cưới hôm qua, vì thế mà có mấy lá cờ cắm trên Thiên Hôn Đường.

    Có cãi cọ qua lại giữa hai cậu nhà Drebber và nhà Stangerson về chuyên ai được quyền lấy cô gái.

    Cả hai đều có mặt trong toán người truy đuổi cha con Ferrier và chính Stangerson đã bắn chết ông già, chuyện này có vẻ như cho cậu ta quyền ưu tiên hơn; nhưng khi tranh cãi trước Thánh hội thì phe cánh nhà Drebber đông hơn nên Đấng Tiên Tri gả cô gái cho con nhà Drebber.

    Nhưng chẳng ai giữ được cô gái lâu đâu, vì hôm qua tôi đã thấy cái chết hiển hiện trên gương mặt cô ta.

    Cô ta trông như một hồn ma chứ chẳng phải một phụ nữ...

    Ủa, anh lại đi à?"

    "Ừ, tôi đi đây", Jefferson Hope nói, anh đã gượng đứng lên.

    Gương mặt anh cứ như được đẽo ra từ một khối cẩm thạch, nét mặt lạnh lùng chai đá trong khi đôi mắt đằng đằng sát khí.

    "Thế anh đi đâu?"

    "Đừng bận tâm."

    Anh đáp, rồi quàng súng lên vai, bước nhanh xuống khe núi và đi sâu vào vùng thâm sơn cùng cốc nơi thú dữ thường lai vãng.

    Không có con thú nào tàn bạo và nguy hiểm bằng anh.

    Người Mormon kia tiên đoán quả không sai mảy may.

    Dù là do cái chết kinh hoàng của người cha hay là do tác động của cuộc hôn nhân cưỡng bức đáng ghét này, nàng Lucy tội nghiệp không bao giờ chịu đựng được nữa mà cứ héo hon rồi chết trong vòng một tháng.

    Người chồng say sưa bí tỉ của cô, kẻ lấy cô chủ yếu chỉ vì tài sản của ông John Ferrier, không bày tỏ chút tiếc thương nào trước mất mát này; nhưng những bà vợ khác của hắn than khóc cho cô gái, và theo tập tục Mormon họ thức trắng đêm bên xác cô trước ngày mai táng.

    Họ đang túm tụm quanh cỗ quan tài khi trời chưa rạng sáng thì trước sự kinh ngạc và sợ hãi khôn tả, cánh cửa bật mở toang, và một người đàn ông dày dạn phong sương, mặt mày man rợ, áo quần tả tơi, sải bước vào phòng.

    Không buồn nhìn hay nói một lời với đám phụ nữ đang co rúm, anh ta đi thẳng tới cái hình thù câm nín màu trắng đã từng chứa đựng linh hồn trinh bạch của Lucy Ferrier.

    Nghiêng người trên quan tài, anh kề đôi môi vào vầng trán lạnh của cô gái, và rồi chộp lấy bàn tay cô, tháo chiếc nhẫn cưới trên ngón tay người chết ra.

    "Không được chôn cô ấy cùng chiếc nhẫn này!"

    Anh gầm lên đầy hung tợn và chưa ai kịp báo động thì anh đã nhảy vọt xuống thang lẩn mất dạng.

    Sự việc quá nhanh và quá lạ lùng tới mức chính những người thức canh cũng khó mà tin được hay thuyết phục kẻ khác cùng tin, nếu như không có sự thật rành rành là chiếc nhẫn vàng, cho biết cô đã từng là cô dâu, đã biến mất.

    Suốt mấy tháng trời, Jefferson Hope cứ nấn ná trong vùng núi, sống một đời hoang dã lạ thường, trong lòng nung nấu khát vọng báo thù mãnh liệt vẫn không ngừng ám ảnh.

    Trong thành phố người ta đồn đãi nhiều về chuyện bắt gặp một bóng người huyền bí rình mò quanh ngoại ô, và lảng vảng ở những hẻm núi quạnh hiu.

    Có lần một viên đạn bay vèo qua cửa sổ nhà Stangerson và cắm bẹp gí trên tường chỉ cách hắn ta trong gang tấc.

    Một lần khác, khi Drebber vừa đi ngang dưới một vách núi thì một tảng đá khổng lồ rơi ầm xuống, và tên này chỉ thoát chết nhờ kịp thời lao mình nằm sấp mặt xuống.

    Hai gã Mormon chẳng bao lâu đã phát hiện ra người chủ mưu những lần mưu toan lấy mạng đó và nhiều lần đưa các toán thám sát vào vùng núi với hi vọng bắt hay giết được cừu địch mà chẳng bao giờ thành công.

    Sau đó họ buộc phải đề phòng bằng cách không bao giờ ra ngoài một mình hay sau khi trời tối, và cho người canh gác quanh nhà.

    Được một thời gian, họ bắt đầu lơi lỏng các biện pháp này vì không hề thấy hay nghe gì về địch thủ của mình nữa, và hi vọng thời gian sẽ làm nguôi ngoai lòng hận thù của anh ta.

    Hận thù không nguôi ngoai mà thậm chí còn tăng theo thời gian.

    Tâm trí của người thợ săn kia quyết không suy suyển, và ham muốn báo thù tột bực đã chiếm hữu anh hoàn toàn tới mức không còn chỗ cho cảm xúc nào khác.

    Tuy nhiên, trên hết, anh vẫn là người có óc thực tế.

    Anh nhanh chóng nhận ra rằng ngay cả thể chất sắt đá của mình cũng không thể kham nổi sự căng thẳng thường trực mà anh bắt nó phải chịu.

    Cảnh thiếu ăn thiếu mặc đang bào mòn sức lực của anh.

    Nếu anh chết như một con chó giữa vùng núi này thì cuộc báo thù của anh sẽ ra sao?

    Và nếu anh cứ cố chấp thì chắc chắn cái chết sẽ gọi anh trước.

    Anh thấy mình phải chơi theo luật của kẻ thù, cho nên anh miễn cưỡng trở lại vùng mỏ Nevada, ở đó phục hồi sức khỏe và gom góp đủ tiền để đeo đuổi mục tiêu mà không phải lo thiếu thốn.

    Ý định của anh là vắng mặt cùng lắm chỉ một năm thôi nhưng bao nhiêu tình thế không lường trước đã giữ Hope ở vùng mỏ tới gần năm năm.

    Thế nhưng hết thời gian đó, kí ức về những mất mát của mình và lòng khao khát báo thù vẫn mãnh liệt như cái đêm không thể quên khi anh đứng bên nấm mồ John Ferrier.

    Hóa trang và lấy một cái tên giả, anh trở về Salt Lake City, bất kể mạng sống của mình ra sao, miễn anh giành được cái mà anh quen gọi là công lí.

    Về đến nơi thì tin dữ đang chờ anh.

    Vài tháng trước đó đã có chuyện li khai giữa những người được Chúa chọn, một số thành viên trẻ của Giáo hội này đã nổi loạn chống lại uy quyền của các huynh trưởng và kết quả là một số kẻ bất mãn đã bỏ đạo, rời khỏi Utah và trở thành dân dị giáo.

    Trong số này có Drebber và Stangerson, và chẳng ai biết họ đi đâu.

    Người ta đồn rằng Drebber đã xoay xở chuyển được phần lớn tài sản thành tiền và ra đi như một kẻ giàu có, trong khi người đồng hành với hắn, Stangerson, lại khá bần cùng.

    Nhưng tuyệt nhiên không có manh mối gì về nơi ở của hai người này.

    Cho dù hận thù cách mấy thì nhiều người hẳn phải từ bỏ ý định rửa hờn khi gặp phải những khó khăn như vậy, nhưng Jefferson Hope lại không nao núng một phút giây nào.

    Với vốn liếng nhỏ đủ sống sẵn có, được bổ khuyết bằng những công ăn việc làm ngẫu nhiên, anh đi từ thành phố này sang thành phố khác trên khắp nước Mỹ truy lùng kẻ thù.

    Năm nối tiếp năm, mái tóc đen đã thành hoa râm mà Hope vẫn cứ lang thang, một con chó săn mang hình người, cả tâm trí chỉ nhắm vào một mục tiêu duy nhất mà ông cống hiến cả cuộc đời.

    Lòng kiên trì của ông rốt cuộc cũng được đền đáp.

    Chỉ nhìn thoáng qua một gương mặt trong khung cửa sổ, cũng đủ cho ông biết thành phố Cleveland ở Ohio đang chứa chấp những kẻ mà ông đang săn đuổi, ông quay về nhà trọ tồi tàn của mình với một kế hoạch báo thù sắp đặt sẵn.

    Nhưng cũng tình cờ là Drebber, đứng trong cửa sổ nhìn ra, cũng nhận ra kẻ lang thang ngoài đường kia và thấy được ánh mắt hừng hực ý định giết người của đối phương.

    Cùng với Stangerson giờ trở thành thư kí riêng của hắn, Drebber hấp tấp tìm gặp viên thẩm phán trị an và trình báo là họ đang gặp mối nguy liên quan đến tính mạng vì lòng ghen tuông và thù ghét của một kình địch cũ.

    Chiều hôm đó Jefferson Hope bị tống giam và do không tìm được người bảo lãnh, phải ngồi tù tới mấy tuần lễ.

    Rốt cuộc khi được trả tự do, Hope chỉ thấy nhà của Drebber bỏ trống, hắn ta và tên thư kí đã sang Âu châu.

    Một lần nữa, người báo thù bị ngăn chặn, và một lần nữa lòng căm hận tích tụ thúc giục ông tiếp tục truy lùng.

    Thế nhưng tiền bạc lại thiếu hụt và ông phải mất một thời gian làm lụng trở lại, tiết kiệm từng đồng cho cuộc hành trình sắp đến.

    Cuối cùng, khi đã đủ tiền để sinh sống, ông sang Âu châu rồi vừa theo dấu kẻ thù từ thành phố này sang thành phố khác, vừa kiếm tiền trang trải bằng mọi công việc tay chân, nhưng chẳng bao giờ đuổi kịp hai kẻ đào tẩu kia.

    Khi ông tới St.

    Petersburg thì họ đã lên đường sang Paris và khi ông theo tới nơi thì được biết họ vừa khởi hành đi Copenhagen.

    Đến thủ đô Đan Mạch, một lần nữa ông lại chậm mất vài ngày, bởi họ đã tiếp tục hành trình sang London, nơi sau cùng ông cũng truy tìm được hai kẻ cựu thù.

    Về những gì xảy ra ở đây, tốt nhất là chúng tôi trích dẫn lời tường trình của chính người thợ săn già đó.

    Tường trình này được ghi lại đầy đủ trong nhật kí của bác sĩ Watson mà chúng tôi đã sử dụng từ trước.

    13.

    Đăng tiếp hồi kí của bác sĩ John Watson

    Cuộc chống cự dữ dội của phạm nhân này hình như không hàm chứa ác cảm nào dành cho chúng tôi, bởi vì khi thấy mình bất lực, ông ta mỉm cười một cách nhã nhặn và bày tỏ hi vọng là đã không gây thương tích cho ai trong cuộc ẩu đả.

    "Chắc là anh sẽ đưa tôi đến đồn cảnh sát", ông ta nói với Sherlock Holmes.

    "Xe ngựa của tôi có sẵn dưới nhà đó.

    Nếu anh đừng trói chân tôi thì tôi sẽ tự đi xuống.

    Tôi bây giờ nặng nề khó khiêng lắm chứ không nhẹ cân như ngày xưa đâu."

    Gregson và Lestrade nhìn nhau như thể đây là một lời đề nghị trơ tráo, nhưng Holmes lập tức tin lời phạm nhân và tháo bỏ chiếc khăn tắm mà chúng tôi đã dùng để buộc hai cổ chân người này.

    Ông ta đứng dậy và co duỗi chân cẳng cứ như muốn tự bảo đảm rằng không còn gì trói buộc nữa.

    Tôi còn nhớ khi quan sát ông ta, tôi đã nghĩ thầm trong bụng rằng hiếm khi gặp được ai có vóc dáng lực lưỡng hơn người này, và gương mặt sạm nắng ngăm đen ấy toát ra vẻ quả quyết và một nghị lực cũng khủng khiếp như sức mạnh thể chất vậy.

    "Nếu chức vụ cảnh sát trưởng còn trống thì tôi nghĩ là phải dành cho anh đấy", ông ta vừa nói vừa nhìn anh bạn cùng trọ với tôi bằng ánh mắt thán phục không che giấu.

    "Cái cách anh lần theo dấu vết của tôi quả là cẩn trọng."

    "Các ông đi cùng tôi thì tốt hơn", Holmes nói với hai viên thanh tra.

    "Tôi có thể đánh xe chở các ông", Lestrade nói

    "Tốt quá!

    Vậy Gregson ngồi trong xe với tôi.

    Cả anh nữa, bác sĩ, anh đã quan tâm đến vụ này thì cũng nên đi theo chúng tôi luôn."

    Tôi hứng thú tán thành, rồi tất cả cùng đi xuống.

    Phạm nhân của chúng tôi không hề có ý chạy trốn mà lại bình thản bước vào cỗ xe vốn là của y, rồi chúng tôi cùng lên theo.

    Lestrade trèo lên ngồi trên ghế xà ích bên ngoài, vung roi quất ngựa, và trong chớp nhoáng đã đưa chúng tôi đến đích.

    Chúng tôi được đưa vào một phòng nhỏ, ở đó một viên sĩ quan cảnh sát ghi vào sổ danh tính của cả phạm nhân lẫn những người mà y bị buộc tội đã sát hại.

    Viên chức này là một gã mặt trắng lãnh đạm, cứ thi hành bổn phận một cách máy móc và ngu độn.

    "Phạm nhân sẽ phải hầu tòa nội trong tuần này", gã ta nói.

    "Còn trong lúc này, ông Jefferson Hope, ông có muốn nói điều gì không?

    Tôi phải cảnh báo trước là mọi lời ông nói sẽ được ghi lại và có thể dùng làm chứng cứ chống lại ông."

    "Tôi có nhiều chuyện muốn nói lắm", phạm nhân của chúng tôi từ tốn đáp.

    "Tôi muốn kể hết mọi chuyện với quý ông."

    "Để đến khi xét xử hãy nói không phải tốt hơn sao ông?"

    Viên thanh tra hỏi.

    "Có thể tôi sẽ không bao giờ ra tòa", Jefferson Hope nói.

    "Quý ông không cần phải sửng sốt vậy.

    Tôi không có ý định tự sát đâu.

    Ông là bác sĩ phải không?"

    Ông ta hướng đôi mắt đen hung tợn về phía tôi khi hỏi câu sau cùng.

    "Đúng thế!"

    Tôi đáp.

    "Vậy thì xin ông đặt tay lên đây", Hope vừa nói vừa cười, đưa hai cổ tay bị còng chỉ về phía lồng ngực của ông ta.

    Tôi làm theo và lập tức nhận ra một nhịp đập chấn động lạ thường bên trong.

    Lồng ngực ông ta dường như đang rung chuyển chẳng khác gì một tòa nhà ọp ẹp rung lên khi có một cỗ máy mạnh nào đó đang chạy.

    Trong căn phòng yên lặng này tôi có thể nghe được một âm thanh rì rầm mơ hồ phát ra cũng ngay từ đó.

    "Ôi", tôi kêu lên, "ông bị chứng phình động mạch chủ!"

    "Người ta bảo thế đó", ông ta điềm tĩnh nói.

    "Tuần trước tôi đã đi bác sĩ và ông ấy bảo tôi rằng chỉ vài ngày nữa thôi là nó vỡ.

    Chứng này mỗi năm mỗi tồi tệ hơn.

    Tôi bị như thế là do những ngày đói rách trong vùng núi Salt Lake.

    Tôi đã làm xong công việc của mình rồi và tôi không màng đến chuyện ra đi lúc nào nữa, nhưng tôi muốn để lại một lời giải thích về chuyện này sau khi chết.

    Tôi không muốn mọi người nhớ đến tôi như là nhớ một tên giết người tầm thường."

    Viên sĩ quan và hai thanh tra hấp tấp bàn luận nhanh về việc có nên cho phép ông ta kể lại câu chuyện không.

    Viên sĩ quan hỏi tôi, "Thưa bác sĩ, theo ông thì có nguy hiểm cấp bách gì không?"

    "Hẳn là có rồi", tôi đáp.

    "Trong trường hợp này thì rõ ràng bổn phận của chúng tôi, vì lợi ích công lí, là phải ghi lời khai của ông ấy", viên sĩ quan nói rồi quay sang Hope.

    "Ông được tự do giải trình nhưng tôi báo trước một lần nữa là những gì ông nói ra đều được ghi lại."

    "Xin cho phép tôi ngồi xuống", phạm nhân vừa nói vừa làm.

    "Chứng phình mạch khiến tôi mau mệt, và cuộc ẩu đả nửa giờ trước đây hẳn là chẳng giúp bệnh khá hơn.

    Tôi sắp chết tới nơi rồi nên tôi không đời nào nói dối các ông.

    Mọi lời tôi nói ra hoàn toàn là sự thật, còn các ông sử dụng lời tôi nói như thế nào không còn quan trọng đối với tôi nữa."

    Dứt câu nói, Jefferson Hope ngả lưng ra ghế và bắt đầu phần tường thuật lạ thường tiếp theo đây.

    Ông ta nói một cách bình tĩnh và đâu vào đấy, cứ như những biến cố mà ông kể lại là chuyện bình thường.

    Tôi cam đoan câu chuyện ghi lại là chính xác vì tôi đã xem được sổ tay của Lestrade, trong đó từng lời của phạm nhân đều được ghi chép lại đúng như đã nói.

    Ông ta kể:

    "Nguyên do tôi căm ghét những kẻ đó không phải là chuyện quan trọng đối với các ông, chỉ cần biết là chúng có tội với cái chết của hai người, người cha và cô con gái, và do đó chúng phải trả giá bằng chính mạng sống của chúng.

    Sau một khoảng thời gian trôi qua kể từ khi chúng gây tội ác, tôi không có cách gì buộc tội chúng ở bất kì tòa án nào.

    Tuy nhiên tôi biết chúng có tội và tôi nhất định mình sẽ vừa là thẩm phán, vừa là bồi thẩm và kiêm luôn đao phủ.

    Các ông cũng sẽ làm thế nếu như các ông ở vào vị trí của tôi, nếu như các ông còn đáng gọi là trang nam tử.

    Cô gái mà tôi nói ở trên hai mươi năm trước đã sắp thành hôn với tôi.

    Cô ấy bị ép phải lấy chính tên Drebber đó, và vì thế mà cô tan nát cõi lòng.

    Tôi đã lấy cái nhẫn cưới từ ngón tay cô khi cô đã chết và tôi thề rằng đôi mắt hấp hối của thằng Drebber phải nhìn thấy đúng cái nhẫn đó, và những ý nghĩ cuối cùng của hắn là phải nghĩ đến cái tội ác khiến hắn bị trừng phạt.

    Tôi giữ cái nhẫn ấy bên người, theo đuổi hắn ta và tên thư kí của hắn qua hai lục địa cho đến khi tóm được chúng.

    Chúng tưởng là sẽ làm cho tôi kiệt sức, nhưng chúng đâu có làm nổi.

    Nếu ngày mai tôi chết, có thể lắm chứ, thì tôi sẽ chết mà biết công việc của tôi trên cõi đời này đã được làm xong và thực thi rất tốt.

    Chúng đã bỏ mạng dưới bàn tay tôi.

    Chẳng còn gì để tôi hi vọng hay mong muốn nữa cả.

    Chúng nó giàu, còn tôi nghèo, cho nên tôi theo đuổi chúng đâu có dễ.

    Khi tới London thì tôi đã gần cạn túi và phải bấu víu vào một việc gì đó kiếm sống.

    Đánh xe và cưỡi ngựa là chuyện tự nhiên đối với tôi giống như là đi đứng vậy cho nên tôi tới một hãng xe ngựa xin việc và được nhận vào làm ngay.

    Mỗi tuần tôi nạp cho ông chủ một số tiền nhất định, còn dôi ra bao nhiêu tôi giữ lại cho mình.

    Hiếm khi được nhiều tiền dôi ra nhưng tôi cũng đắp đổi qua ngày được.

    Việc khó khăn nhất là phải thông thạo đường sá vì tôi thấy trong mọi thứ mê cung mà người ta từng thiết kế ra, cái thành phố này là lộn xộn nhất.

    Dù vậy, tôi mang theo bản đồ và một khi xác định được những khách sạn và nhà ga chính thì tôi xoay xở khá tốt.

    Phải mất một thời gian tôi mới biết được hai tên nhà giàu kia sống ở đâu; tôi cứ dò hỏi, dò hỏi cho tới khi rốt cuộc tôi cũng bắt gặp chúng.

    Chúng sống ở một nhà trọ quận Camberwell, mãi phía bên kia sông.

    Tìm ra chúng rồi thì tôi biết chúng nằm trong quyền sinh sát của tôi.

    Tôi đã để râu nên không đời nào chúng nhận dạng được tôi.

    Tôi cứ bám theo chúng và chờ cơ hội.

    Tôi quyết lần này không để cho chúng trốn thoát được nữa.

    Nói vậy chứ suýt nữa là chúng trốn mất.

    Chúng có đi đâu khắp London này tôi đều bám theo bén gót.

    Có khi tôi đánh xe ngựa đi theo, có khi tôi đi bộ, nhưng theo dõi bằng xe ngựa là tốt nhất vì như thế chúng khó mà lẩn tránh được tôi.

    Chỉ có sáng sớm hay tối khuya tôi mới đánh xe kiếm tiền cho nên tôi bắt đầu trễ hạn nộp tiền cho ông chủ.

    Nhưng tôi mặc kệ, miễn sao tôi tóm được chúng nó.

    Nhưng chúng rất ranh ma.

    Chắc hẳn chúng cũng đã nghĩ đến chuyện có thể bị theo dõi, bởi vì chúng không bao giờ ra ngoài một mình, và cũng không đi đâu sau khi trời tối.

    Suốt hai tuần ngày nào tôi cũng đánh xe theo sau chúng mà không một lần nào thấy chúng tách rời nhau.

    Thằng Drebber một ngày đã say bét nhè hết nửa ngày, nhưng thằng Stangerson không lúc nào lơ đễnh.

    Tôi cứ theo chúng hết sáng lại chiều nhưng không sao tìm ra cơ hội; nhưng tôi không nản lòng đâu, vì linh tính cho tôi biết giờ phút quyết định đã gần kề.

    Tôi chỉ sợ mỗi một điều là cái động mạch trong ngực tôi có thể vỡ ra hơi sớm một chút khiến công việc bất thành.

    Cuối cùng, một buổi chiều, khi tôi đang đánh xe qua lại trên con đường mà người ta gọi là khu Torquay Terrace, nơi chúng ở trọ, thì tôi thấy một xe ngựa tới dừng ngay cửa nhà.

    Liền sau đó hành lí được mang ra rồi một chặp sau Drebber và Stangerson cùng lên xe đi.

    Tôi quất ngựa chạy nhanh hơn để giữ chúng trong tầm quan sát, trong lòng bồn chồn vì tôi lo chúng đổi chỗ cư ngụ.

    Tới ga Euston chúng xuống xe, tôi giao cho một thằng nhỏ giữ xe ngựa rồi đi theo chúng vào sân ga.

    Tôi nghe chúng hỏi thăm chuyến tàu đi Liverpool, nghe người trực ga trả lời là có một chuyến vừa mới đi và phải mấy giờ nữa mới có chuyến khác.

    Stangerson dường như bực bội vì chuyện này nhưng Drebber coi bộ lại hài lòng.

    Trong cảnh ồn ào, tôi tới gần sát chúng nó, gần tới mức nghe được từng lời qua lại giữa hai tên đó.

    Drebber bảo hắn có một việc riêng lặt vặt gì đó cần làm và nếu Stangerson chịu chờ đợi thì hắn sẽ sớm quay lại cùng đi.

    Tên kia phản đối và nhắc nhở Drebber là cả hai đã nhất quyết không tách rời.

    Drebber đáp lại rằng đây là chuyện tế nhị nên hắn phải đi một mình.

    Tôi không nghe được Stangerson nói gì sau đó nhưng nghe Drebber chửi thề toáng lên, nhắc nhở tên kia rằng thân phận hắn chỉ là người hầu ăn lương và không được cả gan ra lệnh cho Drebber.

    Nghe thế tên thư kí không buồn cãi lại nữa và chỉ thỏa thuận là nếu Drebber bỏ lỡ chuyến tàu sau thì đến khách sạn Halliday mà tìm.

    Drebber trả lời là sẽ quay lại sân ga trước mười một giờ rồi đi ra khỏi nhà ga.

    Rốt cuộc, giây phút mà tôi chờ đợi suốt bấy lâu đã đến.

    Kẻ thù giờ nằm trong quyền sinh sát của tôi.

    Chúng có thể bảo vệ lẫn nhau khi đi chung, chứ tách rời ra thì sống chết là do tôi.

    Tuy nhiên, tôi không ra tay vội vàng mà không cân nhắc.

    Kế hoạch của tôi đã hoạch định rồi.

    Muốn trả thù cho thỏa mãn thì kẻ phạm tội phải có thời gian biết rõ ai đã tấn công hắn và tại sao hắn phải chịu sự trừng phạt này.

    Tôi đã sắp đặt để buộc kẻ mưu hại phải hiểu rằng tội lỗi ngày xưa đã đeo đuổi hắn.

    Tình cờ là mấy ngày trước đó, một quý ông có hẹn đi xem qua mấy căn nhà ở đường Brixton và đánh rơi chìa khóa của một nhà trong xe tôi.

    Đến buổi chiều thì chủ nhân báo mất và chìa khóa được trả lại, nhưng trước đó tôi đã lấy khuôn và cho đánh một chìa khóa y hệt.

    Nhờ vậy tôi có thể tới được ít nhất một địa điểm trong thành phố rộng lớn này mà tin rằng không bị điều gì ngăn trở.

    Làm sao đưa Drebber đến căn nhà đó lại là bài toán khó mà bây giờ tôi phải giải.

    Hắn ta đi bộ dọc theo đường cái rồi đi vào một hay hai quán rượu, ở quán cuối cùng hắn nấn ná trong đó khoảng nửa tiếng.

    Khi đi ra hắn đã lảo đảo và rõ ràng là say khướt.

    Phía trước tôi là một cỗ xe ngựa nhỏ và hắn ta gọi xe này.

    Suốt đoạn đường, tôi đánh xe theo sát tới mức mũi của con ngựa xe tôi chỉ cách lưng người xà ích xe trước có một yard.

    Chúng tôi cứ lọc cọc băng qua cầu Waterloo và đi hàng dặm đường cho đến khi tôi kinh ngạc nhận ra xe đã quay lai khu Torquay Terrace ngay nơi hắn đã thuê trọ.

    Tôi không tài nào hiểu nổi hắn ta quay lại đây làm gì, nhưng tôi cứ đi tiếp và dừng xe cách nhà đó chừng trăm yard.

    Hắn đi vào nhà còn xe ngựa thì đi luôn...

    Xin ông cho tôi cốc nước.

    Tôi nói khô cả họng rồi."

    Tôi đưa cho Jefferson Hope cốc nước và ông ta uống cạn.

    "Dễ chịu rồi đó", ông ta nói.

    "Chà, tôi chờ đâu chừng mười lăm phút hoặc hơn thì thình lình có tiếng ồn ào giống như trong nhà có người vật lộn.

    Ngay sau đó cửa chính mở toang và hai người xuất hiện, một người là Drebber, người kia là một thanh niên tôi chưa gặp bao giờ.

    Anh chàng này nắm cổ áo Drebber và khi tới đầu bậc tam cấp thì anh ta xô Drebber xuống rồi đạp cho một phát văng ra tận giữa đường.

    'Đồ đê tiện', anh ta vừa quát tháo vừa vung cây gậy về phía Drebber, 'tao sẽ cho mày một bài học cho chừa cái tật xúc phạm con gái nhà lành!' Anh chàng này nóng giận đến mức tôi cứ tưởng anh ta sẽ vung gậy mà nện Drebber, nhưng thằng vô lại ở dưới đường đã loạng choạng bỏ chạy bán sống bán chết.

    Hắn chạy thật nhanh đến góc phố rồi thấy xe ngựa của tôi, hắn gọi xe và nhảy tót vào trong.

    Hắn nói: 'Cho tôi đến khách sạn Halliday.' Khi hắn đã vào trong xe tôi rồi thì lòng tôi mừng rỡ, chẳng còn lo sợ là vào phút cuối cùng này động mạch của tôi có thể sinh chuyện.

    Tôi cứ từ từ đánh xe đi, trong đầu cân nhắc những gì đáng làm nhất.

    Tôi có thể đưa hắn ta đi thẳng ra vùng quê và tìm một con đường vắng vẻ nào đó cho hắn hội kiến tôi lần cuối.

    Tôi gần như đã quyết định như thế thì hắn đã giải quyết vấn đề giúp tôi.

    Hắn lại lên cơn thèm rượu và ra lệnh cho tôi dừng xe ngoài một quán rượu sang trọng.

    Hắn vào trong nhưng bảo tôi cứ chờ bên ngoài.

    Hắn ở đó cho đến giờ đóng cửa, và khi đi ra hắn đã say không còn biết trời trăng gì nữa; tôi biết con mồi giờ đã nằm gọn trong bàn tay mình.

    Đừng có nghĩ là tôi định giết hắn ta một cách lạnh lùng thản nhiên.

    Nếu tôi làm thế thì đó chỉ là công lí cứng nhắc; tôi không chịu như thế.

    Từ lâu tôi đã quyết định là sẽ cho hắn một cơ may sống sót nếu như hắn muốn tận dụng điều đó.

    Trong rất nhiều công ăn việc làm tôi đã thử qua ở Hoa Kì trong suốt cuộc đời lang thang của mình, tôi đã từng làm lao công quét dọn phòng thí nghiệm ở Đại học York.

    Một ngày nọ có một giáo sư giảng giải về các loại độc dược, và ông ấy cho sinh viên xem một thứ hóa chất mà ông gọi là "alkaloid", được ông trích ra từ loại chất độc nào đó thường tẩm vào mũi tên của thổ dân Nam Mỹ; và thứ này cực độc, chỉ cần một lượng chút xíu thôi cũng đủ gây chết tức thì.

    Tôi phát hiện ra chai chứa chất pha chế này và khi mọi người ra về hết tôi lén lấy một ít độc chất đó.

    Tôi cũng là người khá giỏi chuyện bào chế nên tôi chế biến chất alkaloid đó thành những viên nhỏ, hòa tan trong nước, và mỗi viên tôi cho vào một chiếc hộp, bỏ chung với một viên giống hệt nhưng không có độc chất.

    Khi đó tôi đã quyết định rằng khi nào tôi có cơ hội thì sẽ cho kẻ kia chọn lấy một viên trong hộp, còn tôi sẽ nuốt viên còn lại.

    Chết như thế là chết chắc, chết tươi, và chẳng hề ồn ào như là ăn một phát đạn bắn xuyên chiếc khăn tay bịt nòng súng để hãm thanh.

    Từ ngày hôm ấy, tôi luôn mang mấy hộp thuốc viên đó trong người, và giờ đã đến lúc tôi đem ra sử dụng.

    Lúc đó đã quá 12 giờ, gần 1 giờ rồi, và trời đêm thì vần vũ, hoang vắng, mưa gió đùng đùng.

    Ngoài trời u ám nhưng trong lòng tôi lại sung sướng, sướng tới mức tôi có thể hét toáng lên chỉ vì đắc chí.

    Nếu như quý vị có ai đã từng mỏi mòn trông mong hay ao ước điều gì suốt hai mươi năm ròng rã và sau đó bất ngờ thấy điều đó nằm trong tầm tay mình thì quý vị sẽ hiểu được cảm xúc của tôi.

    Tôi châm một điếu xì gà rồi bập phà cho trấn tĩnh, nhưng hai bàn tay tôi thì run lẩy bẩy còn hai thái dương cứ phập phồng vì phấn khích.

    Trong lúc đánh xe, tôi có thể nhìn thấy trong bóng tối già John Ferrier và nàng Lucy nhìn tôi, mỉm cười với tôi, rõ ràng như là tôi nhìn thấy các ông trong phòng này.

    Suốt đường đi, hai cha con cứ ở trước mặt tôi, mỗi người đu một bên hông ngựa, cho đến khi tôi dừng xe trước căn nhà ở đường Brixton.

    Không thấy một bóng người hay một âm thanh nào ngoại trừ tiếng mưa rơi rả rích.

    Nhìn qua cửa xe, tôi thấy tên Drebber đã nằm rúm thành một đống say mèm ngủ tự hồi nào.

    Tôi nắm cánh tay hắn lay dậy.

    Tôi nói: 'Tới lúc rời xe rồi!' Hắn nói: 'Ra ngay đây, bác xà ích.'

    Tôi đoán hắn tưởng xe đã tới cái khách sạn mà hắn nói tên, nên hắn bước ra mà không nói gì nữa, rồi đi theo tôi vào trong khu vườn.

    Tôi phải đi kèm bên cạnh để giữ cho hắn khỏi vấp ngã bởi vì hắn vẫn đi không vững, đầu nặng hơn chân.

    Khi tới cửa chính, tôi mở khóa và dẫn hắn vào phòng ngoài.

    Tôi thề danh dự với các ông là từ vườn vào nhà, người cha và cô con gái luôn đi trước mặt chúng tôi.

    'Tối đen như hũ nút,' hắn ta vừa nói vừa bước thình thịch quanh phòng.

    'Sẽ có ánh sáng ngay thôi,' tôi nói và đánh diêm châm lửa vào một cây nến tôi đã mang theo.

    'Nghe đây, Enoch Drebber,' tôi quay lại nói tiếp, đưa ngọn nến lên soi mặt mình, 'mày biết tao là ai không?'

    Hắn ta nhìn tôi với đôi mắt đờ đẫn của người say một hồi lâu, và rồi tôi nhìn thấy một nỗi kinh hoàng vụt hiện trong đôi mắt đó và cả gương mặt co giật, rõ ràng hắn đã nhận ra tôi.

    Hắn lảo đảo lùi lại, mặt mày tím tái, và tôi thấy mồ hôi rịn ra trên mày hắn trong khi hai hàm răng hắn đập vào nhau lập cập.

    Thấy cảnh tượng đó, tôi tựa lưng vào cửa phòng và bật cười, cười rõ to và rõ lâu.

    Tôi luôn biết rằng cảm giác báo thù sẽ rất tuyệt vời, nhưng không hề hi vọng là cả linh hồn tôi được mãn nguyện trọn vẹn đến thế này.

    'Đồ chó!' Tôi lớn tiếng.

    'Tao đã săn lùng mày từ Salt Lake City tới St.

    Petersburg mà mày luôn thoát được.

    Bây giờ, rốt cuộc mày cũng hết chạy rông, bởi vì hoặc là mày, hoặc là tao, sẽ không bao giờ nhìn thấy mặt trời mọc ngày mai nữa.' Nghe tôi nói hắn càng né xa hơn và qua nét mặt hắn, tôi đoán hắn cho là tôi đã phát điên.

    Lúc đó quả là tôi điên thực.

    Mạch máu trên hai thái dương của tôi cứ đập đùng đùng như búa tạ, và tôi nghĩ là tôi lẽ ra đã lên cơn điên hay gì đó nếu như máu không tuôn ra đằng mũi để giải tỏa bớt.

    'Bây giờ mày nghĩ gì đến Lucy Ferrier hả?' Tôi vừa quát vừa khóa cửa rồi lắc chìa khóa trước mặt hắn.

    'Sự trừng phạt có chậm trễ đó, nhưng rốt cuộc nó cũng đuổi kịp mày.'

    Tôi thấy đôi môi hèn nhát của hắn run rẩy khi nghe tôi nói.

    Hắn sẵn sàng van xin tha mạng nhưng hắn biết thừa điều đó là vô ích.

    Hắn lắp bắp: 'Ông sẽ giết tôi ư?'

    'Làm gì có chuyện giết người,' tôi đáp.

    'Ai thèm giết một con chó dại chứ?

    Thế mày thương xót gì người yêu tội nghiệp của tao khi mày lôi cô ấy khỏi người cha đã bị sát hại và mang về cái hậu cung ô nhục, đáng nguyền rủa của mày?'

    'Đâu phải tôi giết cha cô ấy', hắn kêu lên.

    'Nhưng chính mày làm cô ấy tan nát cõi lòng,' tôi thét lên, chìa hộp thuốc ra trước mặt hắn.

    'Hãy để Chúa trên cao phán xét tao và mày.

    Chọn một viên rồi nuốt đi.

    Một viên sống, một viên chết đó.

    Mày chọn xong tao sẽ lấy viên còn lại.

    Để xem trên đời này có còn công lí không, hay là tất cả đều bị điều khiển theo luật may rủi.'

    Hắn rúm người lại tránh né, mồm tru tréo vừa than khóc vừa cầu nguyện xin tha thứ, nhưng tôi rút dao gí vào cổ họng hắn cho đến khi hắn phải chịu tuân phục.

    Sau đó tôi nuốt viên thuốc kia rồi hai chúng tôi đứng đối diện nhau im lặng chừng một phút hơn, chờ xem ai sống ai chết.

    Làm sao mà tôi quên được vẻ mặt chợt thay đổi của hắn khi những đợt nhói đau đầu tiên báo hiệu rằng độc dược đã ngấm vào cơ thể hắn kia chứ?

    Tôi cười ầm lên khi thấy những biểu hiện đó và tôi chìa chiếc nhẫn cưới của Lucy ngay trước mắt hắn.

    Chỉ một thoáng thôi vì loại alkaloid này phát tác rất nhanh.

    Một cơn co thắt đau đớn đã bóp méo cả bộ mặt hắn; hắn vung hai bàn tay ra phía trước, loạng choạng, kêu ằng ặc lên một tiếng, rồi ngã ầm xuống sàn nhà.

    Tôi lấy chân lật người hắn lại và đặt tay lên ngực hắn.

    Không còn nhịp tim.

    Hắn chết ngắc!

    Máu từ mũi tôi nãy giờ tuôn ra giàn giụa mà tôi không hề để ý.

    Tôi không biết điều gì đã xui khiến tôi lấy máu đó viết trên tường.

    Có lẽ là một ý tưởng ranh mãnh nào đó để đánh lạc hướng cảnh sát chăng, bởi tôi vui sướng và đắc chí quá.

    Tôi nhớ ra chuyện ở New York, người ta tìm thấy xác một người Đức với chữ RACHE viết bên trên xác chết, và lúc đó các nhật báo bàn tán là vụ này do các hội kín gây ra.

    Tôi nghĩ chuyện đã đánh đố dân New York ắt cũng đánh đố dân London, thế là tôi nhúng ngón tay vào máu của mình và viết cái chữ đó vào một chỗ thuận tiện trên vách tường.

    Sau đó tôi đi ra chỗ xe ngựa và không thấy ai chung quanh, và đêm vẫn còn mưa gió lắm.

    Tôi đánh xe được một đoạn thì sờ trong túi, nơi tôi cất chiếc nhẫn của Lucy, thì thấy chiếc nhẫn đâu mất rồi.

    Tôi như bị sét đánh ngang tai vì đó là kỉ vật duy nhất của cô ấy mà tôi có được.

    Nghĩ là mình có lẽ đã đánh rơi khi lúi húi trên xác Drebber, tôi đánh xe quay lại và để xe ở một đường phụ, tôi mạnh dạn đi tới căn nhà đó; tôi sẵn sàng liều mọi chuyện chứ không chịu mất chiếc nhẫn.

    Tới nơi, tôi chạm trán ngay một viên cảnh binh đang đi ra, và chỉ có cách giả vờ say bét nhè tôi mới xua tan được nghi ngờ của ông ta.

    Enoch Drebber đã kết thúc cuộc đời như thế.

    Vậy những gì tôi phải làm là cũng phải bắt Stangerson chết để trả món nợ cho già John Ferrier.

    Tôi biết tên này đang ở khách sạn Halliday, và tôi lảng vảng cả ngày ở đó nhưng hắn chẳng hề ló mặt ra.

    Tôi đoán là hắn nghi ngờ gì đó khi không thấy Drebber xuất hiện.

    Hắn ranh ma lắm, thằng Stangerson đó, và lúc nào cũng đề phòng.

    Nếu hắn tưởng cứ ở lì trong phòng là tránh được tôi thì hắn đã lầm to.

    Tôi liền tìm ra đâu là cửa sổ phòng ngủ của hắn và sáng sớm hôm sau, tôi lợi dụng mấy cái thang nằm sẵn trên con đường nhỏ sau khách sạn đó và bắc thang trèo lên phòng hắn lúc trời chưa hừng đông.

    Tôi đánh thức hắn dậy báo cho biết rằng giờ đã điểm và hắn phải đền tội cho cái sinh mạng mà hắn đã tước đoạt từ ngày xa xưa.

    Tôi kể cho hắn nghe cái chết của Drebber và cũng cho hắn chọn lựa những viên thuốc giống như thế.

    Thay vì chộp lấy cơ may sống sót mà tôi đã cho hắn, tên này nhảy bật ra khỏi giường nhào đến bóp cổ tôi.

    Để tự vệ, tôi phải đâm vào tim hắn.

    Đằng nào hắn cũng phải chết, bởi Thượng Đế thể nào cũng khiến cho bàn tay tội lỗi của hắn chọn đúng thứ độc dược.

    Tôi còn chút chuyện nữa muốn nói, và thà nói luôn vì tôi sắp kiệt sức rồi.

    Tôi tiếp tục đánh xe được đâu chừng một ngày nữa, định là cứ làm tiếp công việc này cho đến khi dành dụm đủ tiền quay về Hoa Kì.

    Tôi đang đứng trong sân nhà thì có một thằng bé rách rưới tới hỏi ở đây có người xà ích nào tên Jefferson Hope không, rồi bảo có một quý ông ở số 221B phố Baker cần gọi xe ngựa.

    Tôi vòng xe lại, không hề nghi ngờ chuyện gì nguy hiểm, chưa kịp gì hết thì quý ông đây đã siết còng vào tay tôi, màn còng tay nhanh gọn nhất mà tôi từng thấy trong đời.

    Đó là toàn bộ câu chuyện của tôi đó, thưa quý vị.

    Các ông có thể cho tôi là kẻ sát nhân, nhưng tôi lại cho rằng tôi cũng là người thi hành công lí như các ông vậy."

    Tường thuật của Jefferson Hope thật li kì và phong thái của ông ta cũng đầy ấn tượng tới mức chúng tôi ai cũng ngồi yên nghe mê mải.

    Ngay cả những thanh tra chuyện nghiệp, những người vốn dửng dưng trước mọi tiểu tiết của tội ác, cũng tỏ ra quan tâm sâu sắc đến câu chuyện của người này.

    Khi ông ta nói xong, chúng tôi còn ngồi yên hồi lâu trong căn phòng tĩnh lặng, chỉ có tiếng bút chì của Lestrade sột soạt khi viên thanh tra này kết thúc những dòng tốc kí cuối cùng ghi lại lời khai.

    Rốt cuộc, Sherlock Holmes là người lên tiếng, "Chỉ còn một điểm mà tôi muốn được biết thêm.

    Ai là người đồng lõa với ông đến lấy cái nhẫn mà tôi đã đăng thông báo?"

    Phạm nhân nháy mắt với anh bạn tôi một cách hài hước.

    "Tôi có thể kể hết những bí mật của tôi", ông ta nói, "nhưng tôi không thể gây rắc rối cho người khác.

    Tôi đã đọc thông báo của anh và tôi nghĩ đây có thể là gài bẫy mà cũng có thể đúng là chiếc nhẫn tôi cần.

    Bạn tôi đã tình nguyện tới gặp.

    Chắc anh cũng thấy là anh ta xử trí rất khéo."

    "Không hề hồ nghi điều đó", Holmes vui vẻ đáp.

    "Này, thưa quý vị", viên sĩ quan long trọng lên tiếng, "các thủ tục luật pháp phải được tuân thủ.

    Vào ngày thứ năm, phạm nhân này sẽ phải ra hầu tòa sơ thẩm, và yêu cầu quý vị tham dự.

    Từ giờ đến đó, tôi sẽ chịu trách nhiệm về người này."

    Gã vừa nói vừa rung chuông.

    Mấy người giám ngục vào đưa Jefferson Hope đi, trong lúc anh bạn tôi và tôi rời đồn cảnh sát và đón xe ngựa trở về phố Baker.

    14.

    Chung cuộc

    Tất cả chúng tôi đều đã được báo trước là phải có mặt ở tòa vào thứ năm, nhưng đến thứ năm thì không có cơ hội nào cho chúng tôi ra tòa làm chứng.

    Một quan tòa cao hơn đã đảm trách vấn đề này và Jefferson Hope đã được triệu tới một pháp đình nơi công lí khắt khe sẽ được ban phát.

    Ngay đêm sau khi bị bắt giữ, động mạch của ông ta đã bục vỡ và sáng hôm sau người ta thấy ông nằm sõng soài trên sàn nhà giam, trên môi là một nụ cười bình yên như thể trong những giây phút hấp hối ông đã có thể hồi tưởng lại một cuộc đời hữu ích và công việc đã làm tròn.

    "Gregson và Lestrade sẽ sướng điên với cái chết này", Holmes nhận xét khi chúng tôi tán gẫu về chuyện này vào tối hôm sau.

    "Bố cáo hoành tráng của họ bây giờ sẽ đăng đâu đây."

    "Tôi thấy họ có liên quan gì đến chuyện bắt được Hope đâu", tôi đáp.

    "Chuyện anh làm gì trên đời này chẳng hề quan trọng", anh bạn tôi chua chát nói, "quan trọng ở chỗ anh có thể làm cho người ta tin là anh đã làm được chuyện gì.

    Không hề chi", anh nói tiếp, giọng đã vui vẻ hơn sau một lúc tạm ngừng.

    "Tôi không muốn bỏ lỡ vụ điều tra này với bất cứ giá nào.

    Trong hồi ức của tôi không có vụ nào hay hơn vụ này đâu.

    Đơn giản vậy chứ lại có nhiều điểm đáng học hỏi nhất."

    "Đơn giản!"

    Tôi thốt lên.

    "Chứ còn gì nữa, không thể mô tả cách nào khác hơn", Sherlock Holmes vừa nói vừa cười trước sự ngạc nhiên của tôi.

    "Bằng chứng của sự đơn giản từ trong bản chất của vụ này là tôi không cần ai giúp sức, chỉ bằng vài suy luận rất thông thường tôi cũng bắt được tội phạm trong vòng ba ngày."

    "Điều đó thì đúng", tôi nói.

    "Tôi đã giải thích với anh rằng, cái gì lạ lùng thì thường là chỉ dẫn chứ không phải trở ngại.

    Để giải một bài toán loại này, điều quan trọng nhất là khả năng suy luận ngược.

    Đó là một tài vặt hữu dụng mà lại rất dễ, nhưng người ta không rèn luyện nhiều.

    Trong công việc hằng ngày, cách suy luận xuôi đắc dụng hơn nên người ta thường bỏ bê cách suy luận ngược.

    Cứ năm mươi người suy luận theo kiểu tổng hợp thì chỉ có một người suy luận theo kiểu phân tích mà thôi."

    "Thú thật là tôi chưa hiểu rõ ý anh", tôi nói.

    "Tôi cũng không nghĩ là anh hiểu đâu.

    Để xem tôi có thể nói rõ hơn không.

    Hầu hết mọi người, nếu anh mô tả với họ một chuỗi sự kiện, họ sẽ cho anh biết kết quả sẽ là gì.

    Họ có thể xâu kết các sự kiện đó trong tâm trí và từ đó suy ra chuyện gì sẽ xảy ra.

    Tuy nhiên, ít có ai sau khi anh cho họ biết kết quả, lại có thể suy từ trong ý thức sâu kín của chính họ ra được các bước dẫn tới kết quả đó.

    Khả năng này là điều tôi muốn nói khi bàn về chuyện suy luận ngược, hay suy luận phân tích."

    "Tôi hiểu rồi", tôi nói.

    "Đấy, vụ này là trường hợp anh được biết kết quả và tự tìm ra mọi thứ khác.

    Bây giờ để tôi thử trình bày cho anh thấy các bước khác nhau trong cách suy luận của tôi.

    Từ đầu nhé.

    Anh biết rồi đó, tôi đi đến căn nhà đó bằng cách đi bộ, đầu óc hoàn toàn không bị ấn tượng nào chi phối.

    Tất nhiên tôi bắt đầu bằng cách xem xét đường đi, và ở đây, như tôi đã giải thích với anh rồi, tôi thấy rõ các dấu vết của một chiếc xe ngựa, tôi dò hỏi và biết chắc cái xe này phải đến đây trong đêm.

    Tôi tự biết đó là xe ngựa chở khách chứ không phải xe riêng qua khoảng cách hẹp giữa các bánh xe.

    Kiểu xe ngựa bốn bánh chở khách bình thường của London hẹp hơn nhiều so với kiểu xe nhà.

    Đó là điều đầu tiên thu thập được.

    Rồi tôi tản bộ từ từ theo lối đi nhỏ trong vườn, tình cờ con đường này có pha đất sét, rất dễ in dấu chân.

    Chắc chắn đối với anh nó chỉ là một lối đi bùn sình bị giẫm nát nhưng với con mắt nhà nghề của tôi thì mọi dấu vết trên mặt đường đều có ý nghĩa.

    Không có ngành khoa học điều tra nào hết sức quan trọng nhưng lại ít được chú ý bằng kĩ thuật dò tìm dấu chân.

    May sao tôi lại luôn hết sức coi trọng chuyện này và nhờ rèn luyện nhiều nên nó trở thành bản năng thứ hai của tôi.

    Tôi thấy những dấu chân nặng nề của toán cảnh binh, nhưng thấy cả dấu chân của hai người đã băng qua khu vườn này đầu tiên.

    Rất dễ biết là hai kẻ này đã đến đây trước những người khác bởi vì ở nhiều chỗ, dấu chân của họ đã bị những dấu chân khác giẫm chồng lên trên xóa sạch.

    Nhờ vậy tôi xác định được mắt xích thứ hai là những vị khách trong đêm có hai người, một người rất cao vì tôi đã đo chiều dài sải chân của y, còn người kia ăn mặc thời thượng, phán đoán theo dấu hằn nhỏ nhắn và thanh nhã do đôi ghệt của người này còn in lại.

    Khi vào trong nhà thì suy luận vừa rồi đã được chứng thực.

    Người mang ghệt sang trọng của tôi nằm ngay trước mặt.

    Vậy thì người cao lớn kia đã gây án mạng, nếu như đúng là có án mạng.

    Trên xác chết không hề có vết thương nào nhưng vẻ kinh động còn in trên gương mặt y khiến tôi tin chắc là y đã thấy trước số phận sẽ xảy đến với mình.

    Những người chết vì bệnh tim, hay bất kì nguyên nhân tự nhiên nào, không bao giờ có cơ hội bộc lộ vẻ kinh động trên nét mặt.

    Khi ngửi đôi môi xác chết, tôi phát hiện ra một mùi hơi chua chua và tôi đi tới kết luận là y bị ép buộc phải uống độc dược.

    Một lần nữa, tôi lí giải chuyện ép buộc này căn cứ theo vẻ mặt căm hờn và kinh hãi của y.

    Bằng phương pháp loại suy, tôi đã đi đến kết quả này, vì không có một giả thuyết nào khác có thể phù hợp với các dữ kiện.

    Đừng có nghĩ đó là một ý tưởng chưa từng có nhé.

    Chuyện ép buộc uống độc dược hoàn toàn không phải mới mẻ gì trong lịch sử tội phạm cả.

    Bất kì chuyên gia độc dược nào cũng có thể nghĩ ngay đến những trường hợp như vụ Dolsky ở Odessa và vụ Leturier ở Montpellier.

    Và bây giờ câu hỏi lớn nhất nảy sinh là lí do tại sao.

    Cướp bóc không phải mục đích của vụ án mạng này vì không hề có gì mất mát.

    Vậy là chuyện chính trị hay vì một người phụ nữ?

    Đó là câu hỏi mà tôi phải trả lời.

    Tôi nghiêng theo giả thuyết sau hơn giả thuyết trước.

    Những kẻ sát nhân vì chính trị chỉ toàn là muốn làm xong việc cho nhanh rồi biến mất.

    Vụ án mạng này thì trái lại, được thực hiện một cách có chủ tâm và thủ phạm để lại dấu vết khắp phòng, cho thấy y đã ở trong phòng suốt khoảng thời gian đó.

    Nhất định đây không phải chuyện chính trị mà là chuyện tư thù mới cần tới một cách trả thù có hệ thống như thế.

    Khi phát hiện ra những chữ viết trên tường tôi lại càng thấy quan điểm của mình có lí.

    Chữ viết đó chỉ là hỏa mù, chuyện quá hiển nhiên.

    Tuy nhiên đến khi tìm thấy chiếc nhẫn thì vấn đề mới được xác định.

    Rõ ràng kẻ sát nhân đã dùng cái nhẫn để nhắc cho nạn nhân của y nhớ tới một phụ nữ nào đó đã chết hay vắng mặt.

    Tới lúc đó tôi hỏi Gregson xem khi ông ta đánh điện sang Cleveland có hỏi điều gì đặc biệt về quá khứ của ông Drebber không.

    Anh còn nhớ đó, câu trả lời của ông ta là không.

    Sau đó tôi bắt đầu xem xét kĩ lưỡng căn phòng, và qua đó chứng thực quan điểm của tôi về chiều cao của kẻ sát nhân và cho tôi thêm nhiều chi tiết bổ sung như xì gà Trichinopoly và độ dài móng tay của y.

    Vì không hề có dấu hiệu giằng co ẩu đả, tôi đi đến kết luận rằng máu chảy trên sàn nhà chính là máu mũi của kẻ giết người tràn ra trong cơn kích động.

    Tôi có thể thấy dấu máu trùng với dấu chân của y.

    Hiếm có người nào, trừ phi khí huyết phương cương, lại thình lình phun máu mũi như thế khi quá xúc động, nên tôi đánh bạo đưa ra ý kiến rằng tội phạm có thể là người mặt mày hồng hào và thân thể tráng kiện.

    Các sự kiện đã chứng tỏ là tôi phán đoán chính xác.

    Khi rời khỏi căn nhà đó, tôi tiến hành làm cái việc mà Gregson đã bỏ sót.

    Tôi đánh điện cho cảnh sát trưởng ở Cleveland, giới hạn những câu hỏi của tôi trong các tình huống liên quan đến chuyện hôn nhân của Enoch Drebber.

    Câu trả lời có tính quyết định.

    Họ cho tôi biết Drebber đã xin pháp luật bảo vệ y trước một tình địch cũ tên là Jefferson Hope, và chính người tên Hope đó đang ở Âu châu.

    Lúc đó tôi biết tôi đã tìm manh mối của vụ bí ẩn này trong tay rồi, những gì còn lại chỉ là tóm cổ tên sát nhân.

    Trong đầu tôi đã quả quyết rằng người cùng đi với Drebber vào căn nhà đó cũng chính là người đã đánh xe ngựa.

    Những dấu vết trên đường cho tôi thấy con ngựa đó đã đi tha thẩn, chuyện này không thể nào xảy ra nếu như trên xe có người điều khiển.

    Vậy người xà ích ở đâu mới được chứ, nếu như hắn ta không ở trong căn nhà kia?

    Lại nữa, thật là phi lí nếu như cho rằng một kẻ tỉnh trí lại có thể cố tình gây tội ác khi có kẻ thứ ba chứng kiến, một người chắc chắn sẽ đi tố cáo thủ phạm.

    Cuối cùng, giả sử một người muốn bám theo người khác khắp London thì còn cách nào hay hơn là trở thành người xà ích chở khách.

    Bao nhiêu điều suy xét đó đưa tôi đến một kết luận không thể nào khác là phải tìm Jefferson Hope trong giới xà ích của thành phố này.

    Nếu như y là một người trong giới xà ích thì không có lí do gì mà cho rằng y đã bỏ việc.

    Trái lại, theo quan điểm của y, mọi thay đổi đột ngột chỉ càng gây thêm chú ý.

    Jefferson Hope phải tiếp tục làm công việc đánh xe, có lẽ ít nhất là một thời gian nữa.

    Cũng không có lí do gì mà Jefferson Hope hoạt động dưới một cái tên giả.

    Tại sao phải thay tên đổi họ ở một xứ sở mà chẳng ai biết gốc tích của mình chứ?

    Do đó tôi tập hợp đám trẻ thám tử bụi đời của tôi, rồi sai chúng tuần tự đến mọi hãng xe ngựa chở khách ở London dò hỏi cho đến khi săn lùng ra kẻ mà tôi cần tìm.

    Bọn trẻ đã làm việc giỏi như thế nào và tôi tận dụng điều đó mau lẹ ra sao là chuyện mới đây thôi, làm sao anh quên được.

    Cái chết của Stangerson là một biến cố hoàn toàn không mong đợi, nhưng dù sao cũng không thể nào ngăn chặn được.

    Như anh đã rõ, qua biến cố đó tôi mới có được mấy viên thuốc mà từ trước tôi đã ngờ ngợ đoán biết sự tồn tại của chúng.

    Anh thấy đó, toàn bộ vụ việc là một chuỗi sự kiện hợp lí không hề đứt đoạn hay sai sót."

    "Thật tuyệt vời!"

    Tôi thốt lên.

    "Công lao của anh phải được mọi người công nhận.

    Anh nên công bố một tường trình về vụ này.

    Nếu anh không làm thì để tôi làm cho."

    "Anh thích thì cứ việc, bác sĩ ơi", anh đáp.

    "Xem đây này!"

    Anh vừa nói tiếp vừa đưa cho tôi một tờ báo.

    "Đọc chỗ này đi!"

    Đó là tờ Echo ngày hôm nay, và chỗ anh chỉ cho tôi xem là một đoạn nói về vụ án đang bàn.

    Tờ báo đăng:

    Công chúng vừa lỡ mất một cơ hội biết chuyện gay cấn vì cái chết đột ngột của người tên Hope, người bị tình nghi đã giết hại ông Enoch Drebber và ông Joseph Stangerson.

    Giờ đây nhiều chi tiết của vụ án này có lẽ sẽ không bao giờ sáng tỏ, mặc dù theo nguồn tin của chúng tôi từ giới chức trách, tội ác này là kết quả của một mối cừu hận tình ái đã tồn tại từ lâu và có dính dáng đến tình yêu và đạo Mormon.

    Có vẻ như cả hai nạn nhân, khi còn trai trẻ, đều thuộc Giáo hội Các Thánh hữu Ngày sau, và Hope, phạm nhân đã qua đời, cũng từ Salt Lake City đến.

    Nếu vụ án này không còn hiệu lực nữa thì ít ra nó cũng minh chứng một cách ấn tượng nhất năng lực của lực lượng thanh tra cảnh sát nước ta, và sẽ là một bài học dành cho tất cả ngoại kiều rằng nếu họ khôn ngoan thì nên giải quyết hận thù ở quê nhà chứ đừng mang đến đất Anh.

    Điều bí mật được hé lộ là thành tích của vụ bắt giữ tài tình này hoàn toàn thuộc về các viên chức Sở Cảnh sát London danh tiếng, ngài Lestrade và ngài Gregson.

    Được biết phạm nhân đã bị bắt trong nhà của một người tên Sherlock Holmes, một thám tử nghiệp dư nhưng cũng bộc lộ năng lực nhất định trong lĩnh vực điều tra, và với những người dìu dắt như thế, ông ta có thể hi vọng sẽ dần dà đạt được phần nào tài nghệ của những bậc thầy kia.

    Mọi người trông chờ một hình thức khen thưởng sẽ được dành cho hai vị sĩ quan để công nhận xứng đáng những cống hiến của họ.

    "Ngay từ đầu tôi đã chẳng bảo anh rồi còn gì?"

    Sherlock Holmes thốt lên và bật cười.

    "Toàn bộ Cuộc điều tra màu đỏ của chúng ta sẽ đưa đến kết quả là bọn họ được khen thưởng!"

    "Không sao đâu", tôi đáp, "tôi đã ghi hết các dữ kiện vào nhật kí của tôi rồi, và công chúng sẽ biết chuyện.

    Còn tạm thời anh cứ tự bằng lòng vì biết mình đã thành công đi, giống như người La Mã hà tiện này...

    Populus me sibilat, at mihi plaudo, Ipse domi simul ac nummos contemplar in arca."
     
    Sherlock Holmes Toàn Tập
    DẤU BỘ TỨ (THE SIGN OF THE FOUR, 1890)


    1.

    Khoa học suy luận

    Sherlock Holmes lấy cái lọ của mình ở góc bệ lò sưởi rồi mở chiếc hộp bọc da tinh xảo lấy ống tiêm.

    Những ngón tay dài, trắng bệch, bồn chồn của anh điều chỉnh mũi kim nhỏ và xắn ống tay áo bên trái lên.

    Anh trầm tư một thoáng, không rời mắt khỏi cườm tay và cẳng tay gân guốc chi chít toàn đốm và sẹo của vô số dấu chích.

    Cuối cùng anh đâm mũi kim nhọn vào thật sâu, ấn mạnh cái piston bé tí, rồi ngả lưng buông thõng người trong chiếc ghế bành bọc nhung, phả ra một hơi thở dài thỏa mãn.

    Mỗi ngày ba lần, suốt nhiều tháng liền tôi đã chứng kiến màn diễn đó, nhưng việc thấy thường xuyên vẫn không làm cho tôi chấp nhận được.

    Trái lại, càng ngày tôi càng bực mình hơn trước cảnh tượng ấy, và đêm đêm lương tâm tôi cứ dằn vặt với ý nghĩ rằng mình đã không đủ dũng khí để phản kháng.

    Bao lần tôi thề là sẽ nói cho rốt ráo chuyện này nhưng rồi trong dáng vẻ lạnh lùng, thờ ơ của anh bạn tôi có gì đó khiến người khác tuyệt không muốn tự tiện dây vào dù chỉ một mảy may.

    Tài năng, phong thái quyền uy, và những gì tôi đã biết về nhiều phẩm chất phi thường của anh, tất cả đã khiến tôi rụt rè, ngần ngại không dám can ngăn.

    Thế nhưng chiều hôm đó, không biết là do loại rượu Beaune tôi đã uống khi ăn trưa hay do bị chọc giận thêm vì cái kiểu cách khoan thai quá mức của anh, tôi đột nhiên cảm thấy mình không thể chịu đựng được hơn nữa.

    "Hôm nay là thứ gì đây?"

    Tôi hỏi, "Morphine hay cocaine?"

    Anh uể oải ngước mắt lên khỏi pho sách cổ bìa da màu đen mà anh vừa mở ra đọc.

    "Cocaine", anh nói, "nồng độ 7%.

    Anh có muốn thử không?"

    "Không thử", tôi đáp, giọng cộc cằn.

    "Sức khỏe của tôi vẫn chưa hồi phục sau chiến dịch Afghanistan.

    Tôi không muốn bắt cơ thể mình phải gánh chịu thêm bất kì áp lực nào khác."

    Anh mỉm cười trước sự gay gắt của tôi.

    "Có lẽ anh đúng đấy, Watson", anh nói.

    "Tôi nghĩ là tác động của nó đối với thể chất là không tốt.

    Tuy vậy tôi thấy nó kích thích và làm cho tâm trí sáng suốt tột bậc tới mức tác dụng phụ kia không còn quan trọng gì mấy"

    "Nhưng nghĩ lại đi!"

    Tôi nói nghiêm túc.

    "Tổn hại lắm!

    Nó có thể làm đầu óc hưng phấn, như anh nói; nhưng đó là một hoạt động không lành mạnh và chỉ tổ khiến anh chuốc bệnh vào thân, nó làm tăng sự biến đổi mô và cuối cùng có thể để lại sự suy yếu vĩnh viễn.

    Anh cũng biết đấy, anh mà mất trí thì đúng là tai họa.

    Cái trò này chắc chắn là không đáng một xu.

    Tại sao chỉ vì một thú vui nhất thời mà anh lại liều đánh mất bao tài năng thiên phú của mình chứ?

    Hãy nhớ tôi nói với anh không chỉ với tư cách một người bạn, mà còn là bác sĩ nói với một người mà anh ta ít nhiều phải chịu trách nhiệm vì thể trạng."

    Có vẻ như anh không bực mình.

    Trái lại, anh chụm các đầu ngón tay vào nhau và tì khuỷu lên hai tay vịn của ghế bành, giống như một người đang hứng thú trò chuyện.

    "Đầu óc tôi không chịu được sự ù lì", anh nói.

    "Hãy cho tôi những vấn đề nan giải, hãy cho tôi việc làm, cho tôi thứ tài liệu viết bằng mật mã khó hiểu nhất hay nhiệm vụ phân tích phức tạp nhất, là tôi lập tức trở về phong độ đích thực của mình.

    Lúc đó tôi không cần tới những thứ kích thích giả tạo nữa.

    Nhưng tôi căm ghét trạng thái tồn tại đều đều tẻ nhạt.

    Tôi thèm khát sự thăng hoa trí tuệ.

    Đó là lí do tôi chọn cái nghề đặc biệt này; hay nói đúng hơn, tôi đã tự tạo ra nó, vì trên toàn thế giới cũng chỉ có mình tôi làm nghề ấy."

    "Thám tử không chính thức độc nhất ư?"

    Tôi nhướng mày nói.

    "Thám tử cố vấn không chính thức độc nhất", anh đáp.

    "Tôi chính là tòa phúc thẩm cuối cùng và cao nhất trong nghề điều tra.

    Khi đám Gregson hay Lestrade, Athelney Jones bó tay chào thua - cũng phải nói là chuyện ấy xảy ra hoài - thì họ lại mang vụ án đến hỏi ý tôi.

    Tôi nghiên cứu các dữ kiện như một chuyên gia và đưa ra ý kiến của một chuyên gia.

    Tôi làm những vụ như thế chẳng hề vì danh lợi, nên tôi không xuất hiện trên một tờ báo nào.

    Bản thân công việc, niềm vui thú tìm ra một lĩnh vực để sử dụng những tài năng đặc biệt của mình, chính là sự tưởng thưởng cao nhất dành cho tôi.

    Nhưng mà chính anh cũng đã biết phần nào về phương pháp làm việc của tôi qua vụ Jefferson Hope rồi đó."

    "Thực tình là vậy", tôi đổi giọng thân thiện.

    "Trong đời chưa có chuyện gì khiến cho tôi kinh ngạc nhường ấy.

    Thậm chí tôi còn viết lại chuyện đó thành một cuốn sách nhỏ với nhan đề có phần bay bướm là 'Cuộc điều tra màu đỏ'."

    Anh lắc đầu buồn bã.

    "Tôi có đọc qua rồi", anh nói.

    "Thật tình tôi không thể tán dương anh vì cuốn sách đó.

    Việc điều tra là, hay lẽ ra phải là, một môn khoa học chính xác, và phải được phản ánh với cùng một cung cách thản nhiên và vô cảm như thế.

    Anh lại muốn nó nhuốm màu sắc chủ nghĩa lãng mạn, hiệu ứng tạo ra chẳng khác gì khi anh nhào nặn một chuyện tình hay chuyện bỏ nhà theo trai thành tiên đề thứ năm của Euclid."

    "Nhưng bản thân chuyện đó li kì mà", tôi cãi lại.

    "Tôi đâu thể bịa đặt các tình tiết thực."

    "Một số tình tiết thực lẽ ra nên loại bỏ, hoặc chí ít thì khi đề cập tới cũng phải để ý sao cho có cảm giác tương xứng.

    Điểm duy nhất đáng nói trong vụ đó là quá trình suy luận mang tính phân tích cặn kẽ từ nguyên nhân đến kết quả mà nhờ đó tôi đã phá án thành công."

    Tôi phiền lòng khi bị chỉ trích vì một công trình tôi viết chỉ để làm vui lòng anh.

    Cũng phải thú thật là tôi bực mình vì cái thói độc tôn dường như cứ đòi hỏi câu nào trong cuốn sách của tôi cũng phải viết về những việc làm của riêng mình anh.

    Đã hơn một lần trong những năm tháng sống cùng anh ở phố Baker này, tôi nhìn ra tính phù phiếm vặt vãnh đó ẩn giấu dưới phong thái trầm tĩnh và mô phạm của anh bạn tôi.

    Dù vậy, tôi chẳng hề đáp trả mà chỉ ngồi chăm sóc cái chân bị thương.

    Trước đây tôi đã bị một viên đạn Jezail bắn vào chân và tuy không cản trở việc đi lại nhưng mỗi khi chuyển mùa nó lại gây đau nhức khó chịu.

    "Phạm vi hành nghề của tôi gần đây lại mở rộng sang Âu châu lục địa", Holmes nói tiếp sau một hồi im lặng nhồi thuốc vào cái tẩu cũ làm bằng rễ thạch nam.

    "Tuần rồi một người cần tôi tư vấn là ông Francois Le Villard, chắc anh biết ông ta là người mới nổi trong ngành điều tra ở Pháp, ông ta có đầy đủ trực giác nhạy bén của người Celt nhưng lại thiếu kiến thức ở nhiều lĩnh vực cần thiết để nâng tầm chuyên môn.

    Vụ này liên quan đến một di chúc và có nhiều điểm thú vị.

    Tôi gợi ý cho ông ta hai vụ tương tự, một ở Riga năm 1857 và một ở St.

    Louis năm 1871, nhờ đó mà ông ta đã tìm ra lời giải đúng đắn.

    Đây là lá thư cảm ơn tôi nhận được sáng nay".

    Anh vừa nói vừa thảy lá thư sang chỗ tôi, một tờ giấy thuộc loại giấy viết thư của ngoại quốc, đã nhàu nhĩ.

    Tôi xem qua và thấy nội dung đầy rẫy lời ca tụng, với những từ: Magnifiques, coup de maitres và tours de force., tất cả đều biểu lộ lòng ngưỡng mộ sâu sắc của người Pháp kia.

    "Ông này viết cứ như trò nói với thầy", tôi nói.

    "Ồ, ông ta đánh giá quá cao sự trợ giúp của tôi", Sherlock Holmes dửng dưng nói.

    "Bản thân ông ta cũng có nhiều tài đáng kể.

    Trong ba phẩm chất cần thiết của một điều tra viên lí tưởng thì ông ta có được hai rồi.

    Đó là khả năng quan sát và khả năng suy luận, ông ta chỉ thiếu kiến thức thôi và món đó thì có thể tích lũy theo thời gian.

    Hiện nay ông ta đang dịch những tác phẩm nho nhỏ của tôi sang tiếng Pháp đấy."

    "Tác phẩm của anh?"

    "Ồ, anh không biết à?"

    Anh vừa nói vừa cười.

    "Đúng vậy, tôi là thủ phạm đã viết ra một vài công trình khảo cứu.

    Toàn là những đề tài nặng nề về kĩ thuật.

    Chẳng hạn đây là bài 'Phân biệt tàn tro của các loại thuốc lá, trong đó tôi liệt kê một trăm bốn mươi dạng xì gà, thuốc lá và thuốc hút tẩu, kèm theo minh họa màu sự khác nhau giữa các loại tàn thuốc.

    Đây là một chi tiết liên tục xuất hiện trong các vụ án hình sự, và có khi lại là một manh mối cực kì quan trọng.

    Chẳng hạn, nếu như anh có thể tuyên bố dứt khoát là một vụ án mạng nào đó do một người hút xì gà lunkah của Ấn Độ gây ra thì hiển nhiên phạm vi truy tìm của anh sẽ thu hẹp lại.

    Dưới con mắt nhà nghề, tro màu đen của xì gà Trichinopoly và tàn xốp màu trắng của thuốc lá Birds Eye khác nhau rành rành như cải bắp khác khoai tây vậy."

    "Anh đúng là có kì tài về tiểu tiết", tôi bình luận.

    "Tôi đánh giá cao tầm quan trọng của chúng.

    Còn đây là khảo cứu của tôi về kĩ thuật điều tra dấu chân, với một số ý kiến về việc sử dụng vữa thạch cao để đổ khuôn lưu dấu vết.

    Còn nữa, cái này là một công trình nho nhỏ bàn tỉ mỉ về ảnh hưởng của nghề nghiệp đối với hình dạng bàn tay, có hình in thạch bản đủ kiểu bàn tay của thợ lợp ngói, thủy thủ, thợ làm nút bấc, thợ sắp chữ, thợ dệt đến thợ mài kim cương.

    Đây là vấn đề có lợi ích to lớn trong thực tiễn công việc điều tra khoa học, nhất là trong những trường hợp xác chết vô thừa nhận hay khi khám phá lai lịch tội phạm.

    Nhưng tôi sẽ làm anh phát chán vì thú vui của tôi mất."

    "Không hề chán", tôi hăng hai đáp lời.

    "Đây lại là một trong những điều tôi thấy hấp dẫn nhất, đặc biệt là vì tôi đã có dịp quan sát anh áp dụng vào thực tế.

    Nhưng anh vừa nói đến quan sát và suy luận.

    Rõ ràng hai từ này ít nhiều bao hàm lẫn nhau."

    "Ồ, không hẳn đâu", anh giảng giải trong lúc ngả lưng thoải mái vào ghế bành và phả ra những làn khói lam mù mịt từ tẩu thuốc.

    "Ví dụ nhé, khả năng quan sát cho tôi biết sáng nay anh đã tới bưu điện ở phố Wigmore, nhưng khả năng suy luận lại cho tôi biết khi ở đó anh đã gửi một bức điện tín."

    "Đúng rồi!"

    Tôi thốt lên.

    "Cả hai đều đúng!

    Nhưng thú thật là tôi không hiểu làm sao anh kết luận được như thế.

    Tôi ra bưu điện là do ý muốn bất thần, và tôi cũng không hề nói chuyện này với ai cả."

    "Bản thân việc này đơn giản thôi", anh vừa nói vừa cười khúc khích trước sự ngạc nhiên của tôi, "đơn giản một cách phi lí, tới mức có giải thích cũng bằng thừa; thế nhưng nó lại rất phù hợp để phân định các giới hạn của quan sát và suy luận.

    Quan sát cho tôi biết anh có một mảng đất màu đỏ dính trên mũi giày.

    Ngay đối diện bưu điện ở phố Wigmore, người ta vừa đào vỉa hè lên và bới đất vương vãi cho nên nếu anh muốn vào bưu điện, anh không thể không giẫm lên đám bùn đất này.

    Loại đất ở đó lại có màu đo đỏ đặc biệt, theo như tôi biết thì không nơi nào khác trong vùng đó có loại đất như vậy.

    Quan sát đến thế là hết.

    Còn lại toàn là suy luận."

    "Vậy làm sao anh suy ra tôi gửi điện tín chứ?"

    "À, tất nhiên tôi biết là trước đó anh đâu có viết lá thư nào, bởi cả buổi sáng tôi ngồi trước mặt anh mà.

    Tôi cũng thấy trên bàn giấy trống trải của anh đã có một tệp tem thư và cả một xấp dày bưu thiếp.

    Vậy anh ra bưu điện làm gì nếu không phải gửi điện tín?

    Loại trừ mọi khả năng khác thì khả năng còn lại phải là sự thực."

    "Trong trường hợp này thì chắc chắn là thế rồi", tôi đáp sau một lúc suy nghĩ.

    "Nhưng như anh nói đấy, đây là chuyện hết sức đơn giản.

    Nếu tôi muốn kiểm tra các lí thuyết của anh bằng một thử thách khó hơn thì anh có cho là bất nhã không?"

    "Ngược lại", anh trả lời, "như vậy tôi sẽ khỏi tiêm thêm một liều cocaine thứ hai.

    Tôi sẽ rất vui nếu như anh có thể đưa ra bất kì vấn đề nào cho tôi xem xét."

    "Tôi từng nghe anh nói là bất kì vật dụng hằng ngày nào của một người cũng khó tránh khỏi lưu lại dấu vết cá nhân mà dựa vào đó một người quan sát thành thạo có thể nhận biết những điểm cá biệt ấy.

    Đây này, tôi có một chiếc đồng hồ quả quýt mới thuộc sở hữu của tôi.

    Xin anh vui lòng cho biết ý kiến về cá tính hay thói quen của chủ nhân trước được không?"

    Tôi đưa cho anh chiếc đồng hồ mà trong lòng khấp khởi mừng thầm, bởi câu hỏi này, theo tôi nghĩ, là không thể giải đáp và tôi muốn dùng một bài học để đáp trả cái giọng điệu có phần võ đoán mà thỉnh thoảng anh để lộ ra.

    Anh giữ chiếc đồng hồ thăng bằng trên bàn tay, nhìn chăm chú vào mặt số, mở nắp đáy ra xem máy móc bên trong, lúc đầu bằng mắt thường rồi sau đó soi qua một thấu kính lồi có độ khuếch đại lớn.

    Sau cùng anh đóng nắp, trả lại đồng hồ cho tôi và tôi không sao nén được nụ cười trước bộ dạng ỉu xìu của anh.

    "Hầu như chẳng có chi tiết gì", anh nhận xét.

    "Chiếc đồng hồ này mới được lau chùi gần đây nên tôi không tìm được những chi tiết nhiều ngụ ý nhất."

    "Anh nói đúng!"

    Tôi đáp.

    "Nó đã được lau chùi trước khi gửi cho tôi."

    Trong thâm tâm tôi buộc tội bạn mình đã đưa ra một lí do hết sức không thỏa đáng và kém thuyết phục để bào chữa cho thất bại của anh.

    Anh mong đợi tìm thấy gì ở một chiếc đồng hồ chưa lau chùi chứ?

    "Tuy không thỏa mãn nhưng việc xem xét của tôi không phải là không có kết quả", anh lên tiếng, ánh mắt mơ màng, đờ đẫn hướng lên trần nhà.

    "Nếu sai thì anh sửa nhé, tôi đoán chiếc đồng hồ này là của anh trai anh, anh ấy lại thừa hưởng nó từ cụ thân sinh ra anh."

    "Anh đoán được từ chữ tắt H.

    W khắc ở lưng đồng hồ chứ gì?"

    "Đúng vậy.

    Chữ W gợi đến họ của anh.

    Năm sản xuất khắc trên đồng hồ là gần năm mươi năm trước, và những chữ tắt đó cũng cũ kĩ như chiếc đồng hồ, cho nên nó được làm cho người của thế hệ trước.

    Những đồ tư trang như vậy thường trao cho con trai cả kế thừa, và anh này rất có thể mang tên trùng với tên cha.

    Nếu tôi nhớ không lầm thì cụ thân sinh ra anh đã mất nhiều năm rồi.

    Do đó, chiếc đồng hồ này thuộc về người anh cả của anh."

    "Đến đây thì đúng", tôi nói.

    "Còn gì nữa không?"

    "Anh này quen thói bừa bãi... rất bừa bãi và cẩu thả.

    Anh ta từng có tiền đồ do đời trước để lại nhưng đi phung phí cơ hội, sống một thời gian trong cảnh bần hàn, xen kẽ với đôi lúc sung túc ngắn ngủi, và sau cùng, vì nghiện rượu mà chết.

    Đó là tất cả những gì tôi có thể suy ra được."

    Tôi nhảy bật khỏi ghế và nóng nảy đi khập khiễng quanh phòng, lòng tràn trề cay đắng.

    "Holmes, anh thật quá tệ!"

    Tôi nói.

    "Tôi thật không ngờ anh lại hèn hạ tới mức này.

    Anh đã dò la về người anh bất hạnh của tôi, rồi bây giờ anh lại vờ vĩnh làm như là suy đoán ra được một cách thần kì lắm.

    Anh đừng mong tôi tin là anh đọc được mọi thứ từ chiếc đồng hồ cũ của anh ấy!

    Làm thế không hay ho đâu, và nói thẳng ra luôn, chẳng khác gì trò bịp bợm."

    "Bác sĩ thân mến ơi", anh nói ân cần, "tôi thật có lỗi với anh quá.

    Xem chuyện này như một vấn đề trừu tượng, tôi đã quên mất là đối với anh nó có thể rất riêng tư và đau đớn.

    Thế nhưng xin cam đoan với anh là trước khi anh đưa chiếc đồng hồ ra, tôi thậm chí còn không hề biết là anh có một người anh nữa kia."

    "Thế thì tài tình làm sao khi anh biết được những chuyện này!

    Chính xác đến từng chi tiết."

    "Ồ, may mắn thôi.

    Tôi chỉ có thể nói dựa trên xác suất.

    Tôi không ngờ là lại chính xác đến thế."

    "Nhưng không phải là đoán mò đấy chứ?"

    "Không, không, tôi không hề đoán mò.

    Đó là một thói quen rất xấu, phá hoại khả năng suy luận.

    Anh thấy lạ lùng chỉ vì anh không đi theo chuỗi tư duy của tôi hoặc không quan sát được những chi tiết nhỏ vốn là cơ sở cho những kết luận lớn.

    Chẳng hạn, đầu tiên tôi nói rằng anh trai anh là người cẩu thả.

    Khi quan sát mặt đáy chiếc đồng hồ, anh sẽ thấy không chỉ có hai vết hằn lõm mà nó còn bị trầy xước khắp nơi vì thói quen bỏ đồng hồ cùng với các vật cứng khác, như tiền xu hay chìa khóa, vào chung một túi.

    Từ đó là chuyện vặt khi suy ra rằng, người nào không biết giữ gìn một chiếc đồng hồ trị giá năm mươi guinea như thế thì hẳn phải là kẻ cẩu thả.

    Và ta không cần phải vắt óc mới suy ra được người thừa hưởng một vật có giá trị như thế hẳn cũng phải có điều kiện tốt ở nhiều phương diện khác."

    Tôi gật đầu cho thấy mình vẫn theo kịp lập luận của anh.

    "Khi nhận đồng hồ, các chủ hiệu cầm đồ ở Anh quốc có thông lệ là dùng một đầu kim nhọn vạch số phiếu cầm đồ vào mặt trong nắp.

    Vạch như thế tiện hơn là dán nhãn và không sợ gặp rủi ro là số hiệu sẽ bị mất hay xê dịch.

    Nhìn qua thấu kính, tôi thấy rõ mặt trong nắp này có ít nhất bốn số như thế.

    Suy ra anh trai anh thường xuyên túng quẫn.

    Suy luận tiếp theo, anh ấy cũng có lúc phất lên, nếu không thì làm sao anh ấy chuộc lại vật thế chấp này được.

    Cuối cùng, tôi muốn anh nhìn tấm lắc phía trong, chỗ có lỗ tra chìa khóa lên dây cót đấy.

    Hãy nhìn hàng ngàn vết trầy trụa quanh cái lỗ đó, những dấu vết cho thấy chìa khóa bị trượt ra ngoài.

    Có ai tỉnh táo mà lại làm trầy xước được như thế chăng?

    Nhưng đồng hồ của người nghiện rượu bao giờ cũng có những vết xước này.

    Anh ấy lên dây cót đồng hồ vào buổi tối và bàn tay run rẩy của anh ấy đã lưu lại những dấu vết như vậy.

    Chuyện này có gì bí ẩn đâu?"

    "Rõ như ban ngày", tôi đáp.

    "Tôi rất tiếc đã bất công với anh.

    Lẽ ra tôi phải tin tưởng vào tài năng phi thường của anh mới đúng.

    Cho phép tôi hỏi dạo này anh có tản bộ ra ngoài điều tra gì không?"

    "Không hề.

    Cho nên mới dùng cocaine.

    Tôi không thể sống mà không động não được.

    Sống để làm gì cơ chứ?

    Lại cửa sổ này mà xem.

    Thế giới có bao giờ lại ảm đạm, buồn nản, vô vị như thế này không?

    Hãy xem màn sương vàng vọt đang quay vần dưới phố và là đà trên những ngôi nhà xỉn màu kia đi.

    Còn gì trần tục và buồn tẻ cùng cực hơn không?

    Bác sĩ à, tài năng có ích gì khi ta không có đất để thi thố chứ?

    Tội phạm tầm thường, cuộc sống cũng tầm thường, và chẳng hề có gì khác ngoại trừ những thú tầm thường đang vận hành trên cõi đời này."

    Tôi vừa mở miệng định đáp lại tràng đả kích thì một tiếng gõ cửa bỗng vang lên rồi bà chủ nhà đi vào, tay cầm chiếc khay bằng đồng, bên trên có một tấm danh thiếp.

    "Một quý cô muốn gặp ông đấy, thưa ông", bà nói với anh bạn của tôi.

    "Cô Mary Morstan", anh đọc tấm thiếp, "Hừm!

    Tôi không hề biết đến cái tên này.

    Mời quý cô ấy lên đây đi, bà Hudson.

    Đừng đi, bác sĩ.

    Tôi muốn anh ở lại."

    2.

    Tường trình vụ việc

    Cô Morstan vào phòng, bước chân tự tin và phong thái điềm tĩnh.

    Đó là một tiểu thư tóc vàng, vóc người nhỏ nhắn thanh tú, đôi tay mang găng dài và có lối ăn mặc tinh tế hết mực.

    Tuy vậy, trang phục của cô vẫn toát ra một vẻ bình dị cho thấy điều kiện tài chính có hạn.

    Chiếc váy vải len màu xám u buồn, không nếp không viền, còn chiếc khăn xếp nhỏ trên đầu cũng mang màu sắc ảm đạm như thế, chỉ tươi sáng lên được một chút nhờ chiếc lông trắng giắt một bên.

    Gương mặt cô không cân đối về đường nét và da dẻ cũng không đẹp, nhưng lộ vẻ dịu dàng đáng yêu, đôi mắt to xanh biếc đầy cảm thông và thánh thiện khác thường.

    Với kinh nghiệm về phụ nữ trải rộng trên nhiều quốc gia và ba lục địa khác nhau, tôi chưa hề thấy một dung nhan nào lại hứa hẹn một bản tính nhạy cảm và tinh tế rõ rệt nhường ấy.

    Tôi không thể không để ý thấy khi cô đón chiếc ghế mà Sherlock Holmes đưa ra mời ngồi, đôi môi cô mấp máy, bàn tay run run, và cô bộc lộ mọi dấu hiệu của một tâm trạng lo âu cực độ.

    "Thưa ông Holmes", cô nói, "tôi đến tìm ông vì ông đã từng giúp bà chủ của tôi, bà Cecil Forrester, giải quyết một chuyện rắc rối nhỏ trong gia đình.

    Bà ấy đã rất cảm kích trước tài năng và lòng tốt của ông."

    "Bà Cecil Forrester?"

    Anh nhắc lại với vẻ trầm ngâm.

    "Tôi nghĩ là tôi đã từng giúp bà ấy chút việc.

    Nhưng theo như tôi nhớ, vụ việc của bà ấy rất đơn giản."

    "Bà ấy không nghĩ thế đâu ạ.

    Nhưng ít ra ông không thể nói như vậy về vụ việc của tôi.

    Tôi không sao tưởng tượng nổi lại có chuyện gì kì lạ hơn, khó hiểu hơn cái tình huống mà tôi gặp phải."

    Holmes xoa hai bàn tay vào nhau, đôi mắt sáng bừng.

    Ngồi trên ghế, anh chồm người tới trước với vẻ tập trung lạ thường trên gương mặt góc cạnh, sắc sảo.

    "Cô trình bày cảnh ngộ đi."

    Anh nói với giọng hoạt bát nhà nghề.

    Tôi thấy vai trò của mình đâm ra thừa thãi.

    "Chắc là tôi phải xin phép hai người", tôi vừa nói vừa nhổm người khỏi ghế.

    Thật ngạc nhiên, cô gái trẻ đưa bàn tay đeo găng lên ngăn tôi lại.

    Cô nói, "Nếu người bạn của ông vui lòng ngồi lại, ông ấy sẽ giúp ích cho tôi không sao kể xiết."

    Tôi đành ngồi lại xuống ghế.

    "Nói vắn tắt, sự việc là thế này ạ", cô ta nói tiếp.

    "Cha tôi là sĩ quan trong một trung đoàn thường trú ở Ấn Độ, và ông đã gửi tôi về nước khi tôi còn bé xíu.

    Mẹ tôi mất sớm và tôi không có họ hàng nào ở Anh quốc.

    Tuy vậy, tôi được gửi vào một trường nội trú có điều kiện tiện nghi ở Edinburgh và tôi cứ ở đó đến năm mười bảy tuổi.

    Vào năm 1878, cha tôi lúc đó là đại úy và được nghỉ phép mười hai tháng nên trở về nước.

    Từ London ông đánh điện cho tôi báo tin đã đến nơi an toàn, và dặn dò tôi phải đến gặp ngay theo địa chỉ của ông là khách sạn Langham.

    Tôi còn nhớ, bức điện của ông đầy ắp ân cần và yêu thương.

    Khi tới London, tôi đón xe về Langham và được báo là đại úy Morstan đang ngụ ở đó nhưng đã ra ngoài từ đêm hôm trước vẫn chưa quay về.

    Tôi chờ ở đó suốt cả ngày mà không hề nghe tin gì của cha.

    Tối hôm đó, theo lời khuyên của ông giám đốc khách sạn, tôi báo cảnh sát, và sáng hôm sau chúng tôi đăng tin trên tất cả các báo.

    Mọi dò hỏi của chúng tôi đều không có kết quả, và từ ngày đó người ta không bao giờ còn nghe một tin tức gì về người cha bất hạnh của tôi nữa.

    Cha tôi về nước lòng tràn trề hi vọng, muốn tìm chút bình an, chút thư nhàn, thế mà..."

    Cô đưa tay lên cổ vì một tiếng nấc nghẹn cắt ngang câu nói.

    "Thời gian?"

    Holmes vừa hỏi vừa mở sổ tay.

    "Cha tôi mất tích ngày 3 tháng 12 năm 1878, gần mười năm rồi."

    "Còn hành lí?"

    "Để lại khách sạn.

    Trong đó chẳng có gì có thể gợi ra manh mối: Ít quần áo, mấy cuốn sách, và rất nhiều đồ sưu tập kì lạ từ quần đảo Andaman.

    Cha tôi là một trong những sĩ quan đảm trách việc canh giữ tù nhân ở đó."

    "Ông ấy có bạn bè nào ở thủ đô không?"

    "Chúng tôi chỉ biết có mỗi một người thôi, thiếu tá Sholto cùng trung đoàn với cha tôi, Trung đoàn 34 Bộ binh Bombay.

    Ngài thiếu tá đã về hưu trước đó một thời gian và sống ở khu Thượng Norwood.

    Tất nhiên chúng tôi có liên lạc với ông ấy nhưng ông ấy còn không biết là chiến hữu của mình đi về tới Anh quốc."

    "Một vụ lạ thường", Holmes nhận xét.

    "Tôi vẫn chưa kể ông nghe phần lạ thường nhất đâu.

    Chừng sáu năm trước, chính xác là ngày 4 tháng 5 năm 1882, một tin nhắn đăng trên tờ Times rao tìm địa chỉ của cô Mary Morstan và nói rằng hãy vì lợi ích bản thân mà hồi đáp.

    Không có danh tính hay địa chỉ nào đăng kèm cả.

    Lúc đó tôi vừa mới về sống cùng gia đình bà Cecil Forrester làm công việc gia sư.

    Theo lời khuyên của bà ấy, tôi cho đăng địa chỉ của tôi.

    Ngay trong ngày hôm đó bưu điện mang đến một chiếc hộp bằng giấy bồi gửi cho tôi, và tôi thấy bên trong là một viên ngọc trai rực rỡ rất lớn.

    Không hề có thư từ gì kèm theo.

    Kể từ đó, hàng năm cứ đúng vào ngày tháng đó lại xuất hiện một chiếc hộp tương tự, đựng một viên ngọc trai tương tự, mà không hề có manh mối gì về người gửi.

    Một chuyên gia đã xác nhận là các viên ngọc trai này thuộc loại hiếm và có giá trị đáng kể.

    Quý ông có thể tự mình xem để thấy chúng rất đẹp."

    Vừa nói cô vừa mở một chiếc hộp dẹt ra và cho chúng tôi xem sáu viên ngọc trai tuyệt mĩ nhất mà tôi từng thấy trước giờ.

    "Lời kể của cô hết sức kì thú", Sherlock Holmes nói.

    "Còn chuyện gì khác xảy đến với cô không?"

    "Có ạ, mới hôm nay chứ đâu.

    Chính vì thế tôi mới đến gặp ông.

    Sáng nay tôi nhận được bức thư này, có lẽ ông sẽ muốn đích thân đọc lấy."

    "Cảm ơn cô", Holmes nói.

    "Xin cho tôi xem phong bì luôn.

    Dấu bưu điện London, khu Tây Nam.

    Ngày gửi 7 tháng 7.

    Hừm!

    Có dấu ngón cái của một người đàn ông trên góc phong bì, có lẽ là người phát thư.

    Loại giấy hảo hạng.

    Phong bì loại sáu xu một tệp.

    Một người cầu kì trong việc dùng văn phòng phẩm.

    Không đề địa chỉ người gửi.

    Hãy đứng ở cột thứ ba từ trái sang bên ngoài hí viện Lyceum vào lúc 7 giờ tối nay.

    Nếu cô ngờ vực, hãy đi cùng hai người bạn.

    Cô là một người bị hại và có quyền đòi công bằng.

    Đừng đi với cảnh sát.

    Nếu không, tất cả đều vô ích.

    Người bạn vô danh của cô.

    Chà, quả thực chuyện này là một bí ẩn nho nhỏ rất hay ho đây.

    Thế cô định làm gì, cô Morstan?"

    "Đó chính là điều tôi muốn hỏi ông."

    "Vậy thì chúng ta nhất định phải đi rồi.

    Cô và tôi và...

    ờ, đúng rồi, bác sĩ Watson đây chứ ai nữa.

    Người viết thư cho cô nói là hai người bạn.

    Anh ấy và tôi đã từng hợp tác trước đây."

    "Nhưng ông ấy có chịu đi không?"

    Cô hỏi với giọng điệu và nét mặt có phần van nài.

    "Tôi sẽ lấy làm hân hạnh nếu như có thể giúp ích được gì", tôi sốt sắng nói.

    "Hai ông thật tử tế", cô đáp.

    "Tôi sống khép kín và không hề có bằng hữu nào để nhờ cậy cả.

    Tôi quay lại đây lúc 6 giờ được chứ?"

    "Cô đừng đến muộn hơn đó", Holmes nói.

    "Tuy nhiên, còn một điểm nữa.

    Kiểu chữ viết tay này có giống chữ viết trên địa chỉ của hộp đựng ngọc không?"

    "Tôi có mang theo hết đây này", cô vừa đáp vừa đưa ra sáu mảnh giấy.

    "Cô đúng là một thân chủ mẫu mực.

    Cô có trực giác chính xác đấy.

    Bây giờ, chúng ta hãy xem nào."

    Anh trải các mảnh giấy ra bàn, đảo mắt thật nhanh từ mảnh này sang mảnh khác rồi nhận xét ngay.

    "Trừ bức thư ra thì đều là kiểu chữ viết cố tình ngụy tạo.

    Hãy xem nét bắt đầu đột ngột của chữ ε kiểu Hi Lạp rành rành này, và xem nét xoắn của chữ s cuối cùng này.

    Không nghi ngờ gì nữa, tất cả đều do một người viết.

    Tôi thật không muốn gợi ra những hi vọng hão huyền đâu, cô Morstan, nhưng chữ viết này và chữ viết của cha cô có điểm nào giống nhau không?"

    "Chẳng hề giống nhau một chút nào."

    "Tôi cũng đoán cô sẽ nói thế.

    Vậy thì chúng tôi sẽ đợi cô lúc 6 giờ.

    Xin cho phép tôi giữ mấy mảnh giấy nhé.

    Từ giờ tới đó tôi có thể kiểm tra chuyện này.

    Giờ chỉ mới 3 giờ rưỡi.

    Au revoir!"

    "Au revoir!," vị khách của chúng tôi đáp lại, rồi lần lượt đưa mắt nhìn từng người chúng tôi với ánh mắt chân thành, rạng rỡ, cô cất lại hộp ngọc vào ngực áo và hối hả ra đi.

    Đứng ở cửa sổ, tôi dõi theo bước chân thoăn thoắt của cô dưới phố cho đến khi chiếc khăn xếp và cái lông vũ trắng chỉ còn là một chấm nhỏ trong đám đông u ám.

    "Một phụ nữ duyên dáng quá chừng!"

    Tôi quay lại thốt lên với anh bạn.

    Anh đã đốt tẩu thuốc nữa và đang ngả lưng ra ghế, mí mắt cụp xuống.

    "Vậy sao?"

    Anh uể oải nói.

    "Tôi không để ý."

    "Anh đúng là một cỗ máy, một cái máy chỉ biết tính toán!"

    Tôi cao giọng.

    "Trong anh nhiều khi có cái gì đó rất ư là phi nhân."

    Anh cười nhẹ nhàng rồi nói, "Một trong những điều quan trọng hàng đầu là đừng để khả năng phán đoán của anh bị thiên lệch theo những đặc tính cá nhân.

    Một thân chủ đối với tôi chỉ là một đơn vị, một nhân tố trong bài toán.

    Các yếu tố cảm xúc đối nghịch với việc suy luận minh bạch.

    Tôi cam đoan với anh là người phụ nữ quyến rũ nhất tôi từng biết đã bị treo cổ vì đầu độc chết ba đứa con nhỏ để lấy tiền bảo hiểm, và người đàn ông khó ưa nhất mà tôi biết lại là một nhà từ thiện đã bỏ ra gần hai trăm năm mươi nghìn bảng Anh đem cho dân nghèo London đấy!"

    "Thế nhưng trong trường hợp này thì..."

    "Tôi không bao giờ đặt ra ngoại lệ.

    Ngoại lệ sẽ phủ định quy tắc.

    Có bao giờ anh thử nghiên cứu cá tính qua chữ viết tay chưa?

    Chữ viết tháu của người này khiến anh nghĩ gì nào?"

    "Đều và dễ đọc", tôi trả lời.

    "Một người có thói quen quy củ và cá tính có phần mạnh mẽ."

    Holmes lắc đầu.

    "Hãy nhìn những chữ cao mà xem", anh nói.

    "Chúng hầu như không nhô lên khỏi hàng chữ thấp.

    Viết chữ d mà cứ như chữ a, còn chữ l thì y hệt chữ e.

    Những người có cá tính luôn luôn viết những chữ cao khác biệt rõ rệt, cho dù họ có viết tháu đến đâu đi nữa.

    Những chữ k của người này có sự do dự còn chữ viết hoa cho thấy niềm tự trọng.

    Bây giờ tôi ra ngoài đây.

    Tôi cần phải đi tham khảo vài nơi.

    Để tôi giới thiệu anh cuốn sách này, một trong những cuốn xuất sắc nhất xưa nay Nỗi thống khổ của con người của Winwood Reade.

    Một giờ nữa tôi sẽ quay về."

    Tôi ngồi bên cửa sổ với pho sách trong tay nhưng tâm trí lại không đặt vào những lí luận táo bạo của tác giả.

    Đầu óc tôi cứ suy nghĩ miên man về người khách vừa rồi - nghĩ về những nụ cười, về giọng nói trầm trầm êm ái, về tấm màn bí mật lạ thường bao phủ cuộc đời cô.

    Nếu cô ấy mười bảy tuổi vào lúc cha cô mất tích thì bây giờ cô đã hai mươi bảy tuổi - cái tuổi ngọt ngào khi độ thanh xuân đã mất đi tính e ấp và kinh nghiệm đã cho thêm phần chín chắn.

    Tôi cứ ngồi đó mơ màng cho đến lúc trong đầu nảy sinh những ý nghĩ nguy hiểm, tới mức tôi phải hấp tấp chạy tới bàn làm việc và điên cuồng cắm đầu vào chuyên luận bệnh lí học mới nhất.

    Tôi là gì cơ chứ, một bác sĩ quân y với cẳng chân yếu và một tài khoản nhà băng còn yếu kém hơn, vậy mà còn dám nghĩ tới những chuyện như thế sao?

    Cô ấy chỉ là một đơn vị, một nhân tố - chỉ có thế.

    Nếu tương lai tăm tối thì hẳn là tôi nên đương đầu như một trang nam tử hơn là toan tính thắp sáng nó chỉ bằng những ảo ảnh tưởng tượng.

    3.

    Đi tìm lời giải

    Mãi đến 4 giờ rưỡi Holmes mới quay về.

    Trông anh hớn hở, hăng hái và tinh thần hết sức phấn chấn - một trạng thái thường xen kẽ với những cơn chán nản u ám nhất của anh.

    "Chuyện này chẳng có bí ẩn gì ghê gớm", anh vừa nói vừa cầm tách trà tôi rót cho anh.

    "Các dữ kiện hóa ra chỉ khớp với một cách giải thích duy nhất"

    "Sao?

    Anh đã làm sáng tỏ được rồi à?"

    "À, nói như vậy là quá đáng.

    Tôi vừa phát hiện được một dữ kiện có ý nghĩa, chỉ thế thôi.

    Nhưng mà rất ý nghĩa.

    Còn phải bổ sung thêm nhiều chi tiết nữa.

    Khi tham khảo hồ sơ lưu trữ nhật báo Times, tôi mới phát hiện ra thiếu tá Sholto, ở khu Thượng Norwood, trước ở Trung đoàn 34 Bộ binh Bombay, đã qua đời vào ngày 28 tháng 4 năm 1882."

    "Có lẽ tôi quá đần độn đấy, Holmes.

    Nhưng tôi chẳng thấy chuyện này có ý nghĩa gì."

    "Không à?

    Anh làm tôi ngạc nhiên đó.

    Vậy thì hãy nhìn vấn đề theo cách này.

    Đại úy Morstan biến mất.

    Người duy nhất ở London ông ta có thể đã viếng thăm chính là thiếu tá Sholto.

    Thiếu tá Sholto lại phủ nhận không biết ông đại úy đã về London.

    Bốn năm sau Sholto chết.

    Chỉ trong vòng một tuần sau khi ông thiếu tá qua đời, cô con gái của Morstan đã nhận được một món quà quý giá, và cứ đều đặn như thế hết năm này qua năm khác, và bây giờ đỉnh điểm lại là một lá thư bảo cô ta là người bị hại.

    Ngoài chuyện mất tích của cha cô thì còn chuyện phương hại nào nữa?

    Và tại sao những món quà ấy xuất hiện ngay sau cái chết của Sholto, trừ phi người thừa kế của Sholto biết chuyện bí mật gì đó và có ý muốn bù đắp?

    Anh còn giả thuyết nào khác đáp ứng được các dữ kiện này không?"

    "Nhưng quả là một sự bù đắp lạ lùng!

    Và cách bù đắp cũng lạ lùng chẳng kém!

    Mà tại sao người đó sáu năm trước không viết thư đi để tới giờ mới viết?

    Chưa hết, lá thư còn nói đến chuyện đem lại công bằng cho cô gái.

    Công bằng gì cơ chứ?

    Việc cha cô ấy còn sống là điều không thể.

    Trong trường hợp cô ấy thì chẳng hề có chuyện bất công nào khác."

    "Còn nhiều chuyện nan giải, chắc chắn là nhiều nan giải", Sherlock Holmes trầm ngâm nói.

    "Nhưng chuyến đi tối nay của chúng ta sẽ làm sáng tỏ hết.

    Kìa, có chiếc xe ngựa bốn bánh tới kia, cô Morstan ngồi trong xe.

    Anh sẵn sàng chưa?

    Vậy thì ta xuống đi, vì đã hơi quá giờ rồi đó."

    Tôi cầm mũ và cây gậy chống to nhất của mình, nhưng tôi để ý thấy Holmes lấy trong ngăn kéo của anh ra khẩu súng lục và luồn vào trong túi.

    Rõ ràng anh cho rằng công việc đêm nay của chúng tôi có thể là việc nghiêm trọng.

    Cô Morstan trùm kín người trong chiếc áo choàng màu sậm, và gương mặt biểu cảm của cô tỏ ra bình tĩnh, nhưng hơi tái nhợt.

    Nếu không cảm thấy lo lắng ít nhiều về cuộc mạo hiểm kì lạ mà chúng tôi đang dấn thân thì cô ấy không phải là phụ nữ, tuy vậy cô tự kiềm chế rất giỏi và sẵn sàng trả lời mấy thắc mắc mà Sherlock Holmes đặt ra thêm.

    "Thiếu tá Sholto là một người bạn rất đặc biệt của cha tôi", cô nói.

    "Cha tôi khi viết thư cứ nhắc đến ngài thiếu tá.

    Ông ấy và cha tôi đều chỉ huy binh sĩ ở quần đảo Andaman nên họ thường tụ họp với nhau lắm.

    Tiện thể nói ông nghe, tại bàn của cha tôi có một tờ giấy kì lạ mà chẳng ai hiểu gì hết.

    Tôi không thấy nó có gì hệ trọng cả nhưng tôi nghĩ biết đâu ông muốn xem cho nên tôi mang theo đây.

    Đây này."

    Holmes cẩn thận mở tờ giấy ra và đặt trên đầu gối vuốt cho phẳng.

    Sau đó anh xem xét mọi chi tiết rất kĩ lưỡng qua kính lúp.

    "Đây là loại giấy bản xứ của Ấn Độ", anh nhận xét "Có một thời gian tờ giấy này được ghim trên một tấm bảng.

    Sơ đồ trên đó hình như là bản vẽ một phần tòa nhà lớn có rất nhiều hành lang, lối đi và những đường thông nhau.

    Ở một chỗ, có một chữ thập nhỏ đánh dấu bằng mực đỏ và bên trên ghi '3.37 từ trái sang' bằng nét bút chì đã phai mờ.

    Ở góc bên tay trái là những kí hiệu kì lạ trông giống bốn chữ thập thẳng hàng với các nét gạch ngang dính vào nhau.

    Bên cạnh, ghi bằng những chữ viết rất thô kệch cẩu thả, là câu 'Dấu bộ tứ - Jonathan Small, Mahomet Singh, Abdullah Khan, Dost Akbar.' Thú thật là tôi không hiểu nó có liên quan như thế nào đến chuyện này.

    Nhưng đây rõ ràng là một tài liệu quan trọng.

    Nó được cất giữ cẩn thận trong một cái ví, bởi vì cả hai mặt giấy đều sạch sẽ như nhau."

    "Đúng là chúng tôi tìm ra nó ở trong ví của cha tôi."

    "Vậy thì cô phải giữ gìn cho kĩ, cô Morstan, biết đâu nó có thể có ích cho chúng ta.

    Tôi đâm ra nghi ngờ là chuyện này có thể trở nên sâu xa và tinh vi hơn lúc đầu tôi tưởng nhiều.

    Tôi phải xem xét lại các nhận định của mình."

    Anh ngả người trong xe; nhìn đôi mày chau và ánh mắt mông lung kia, tôi biết anh đang tập trung suy nghĩ.

    Cô Morstan và tôi hạ giọng tán gẫu về chuyến đi hiện thời và những khả năng có thể xảy ra, còn anh bạn của tôi cứ giữ vẻ kín đáo khó hiểu cho đến cuối hành trình.

    Hôm ấy là một tối tháng 9, chưa đến 7 giờ mà trời đã ảm đạm thê lương, và màn sương mù cùng mưa bụi dày đặc bao trùm thành phố to lớn này.

    Những đám mây màu bùn buồn bã giăng mắc trên phố xá mịt mờ.

    Dọc theo phố Strand, đèn đường chỉ còn là những đốm khuếch tán tù mù hắt xuống vỉa hè nhầy nhụa những quầng sáng chập chờn leo lét.

    Ánh vàng rực từ các cửa sổ hàng quán rọi vào bầu không khí mù mịt hơi nước và hắt một quầng sáng đùng đục, bất định ra đường phố đông người.

    Trong tâm trí tôi, cái dòng chảy bất tận của những mặt người chuyển dịch băng qua các ô cửa sáng chật hẹp kia - những gương mặt buồn, vui, phờ phạc và thích thú - sao có vẻ gì đó ma quái đáng sợ.

    Như mọi con người, họ hết dịch chuyển từ vùng tối sang vùng sáng rồi lại quay về vùng tối một lần nữa.

    Tôi vốn không bị hút vào những ấn tượng bên ngoài nhưng cái buổi tối u ám, nặng nề này cộng với sự việc lạ thường mà chúng tôi can dự vào, đã khiến tôi đâm ra lo ngại và chán chường.

    Qua thái độ của của cô Morstan, tôi thấy được cô cũng đang có cùng tâm trạng khó tả như tôi.

    Chỉ có mình Holmes mới có thể vượt lên trên những tác động tầm thường này.

    Anh giữ cuốn sổ tay mở rộng trên đầu gối, chốc chốc lại viết vội vào đó mấy con số và những dòng ghi nhớ dưới ánh sáng của chiếc đèn bỏ túi.

    Ở hí viện Lyceum, lối vào hai bên hông đã đông nghẹt.

    Phía trước là một dòng xe ngựa hai bánh và bốn bánh không ngớt lóc cóc chạy tới, tuôn ra đấy những người là người, đàn ông phô ngực áo trắng và đàn bà choàng khăn, đeo kim cương.

    Chúng tôi chưa tới cột thứ ba là điểm hẹn của mình thì một người đàn ông da ngăm, vóc người thấp bé, dáng nhanh nhẹn, mặc đồ của phường xà ích đã xáp đến gần.

    "Quý vị là nhóm đi cùng cô Morstan phải không?"

    Anh ta hỏi.

    "Tôi là Morstan đây, còn hai quý ông đây là bạn tôi", cô gái đáp.

    Anh ta hướng đôi mắt đầy nghi ngờ và thấu suốt về phía chúng tôi và hỏi với thái độ có phần ngang ngạnh, "Xin cô thứ lỗi, thưa cô, nhưng tôi muốn cô phải bảo đảm với tôi là hai người đồng hành với cô không có ai là cảnh sát."

    "Xin bảo đảm với ông", cô gái đáp.

    Anh ta rút còi huýt lên một tiếng, nghe tiếng còi một thằng nhóc bụi đời từ bên kia đường dẫn một cỗ xe ngựa bốn bánh sang và mở cửa.

    Người vừa bắt chuyện leo lên ghế xà ích trong khi chúng tôi vào ngồi trong xe, Chúng tôi chưa kịp yên vị thì người xà ích đã quất ngựa và cỗ xe lao điên cuồng qua những đường phố mù sương.

    Tình huống này đúng là kì cục.

    Chúng tôi đang đi tới một địa điểm vô danh với một mục đích không biết trước.

    Thế nhưng lời mời này hoặc là một vố lừa hoàn hảo - giả thuyết này khó có thể hiểu được - hoặc là chúng tôi có lí do để nghi rằng nhiều chuyện quan trọng có thể đang phụ thuộc vào chuyến đi này.

    Thái độ của cô Morstan vẫn cương quyết và bình tĩnh như trước.

    Tôi cố khích lệ và làm cho cô khuây khỏa bằng cách kể lại chuyện phiêu lưu của tôi ở Afghanistan, nhưng phải nói thật, chính tôi đây cũng bồn chồn về tình hình của cả nhóm và tò mò về cái đích sắp đến nên chẳng để tâm mấy vào những câu chuyện.

    Sau này cô bảo là tôi đã kể lại một chuyện hấp dẫn về một con hổ con đã thò đầu vào lều của tôi giữa đêm khuya và tôi vớ lấy khẩu súng hai nòng bắn nó như thế nào, nhưng tôi lại lúng túng nói ngược thành... bắn con hổ vào khẩu súng!

    Lúc đầu tôi còn nhận biết được phương hướng trên đường đi, nhưng với tốc độ và sương mù như thế này cùng hiểu biết hạn hẹp của tôi về London, chẳng mấy chốc tôi không định hướng được nữa và không biết gì hơn ngoài việc chuyến đi này có vẻ như sẽ rất xa.

    Tuy nhiên, Sherlock Holmes lại không hề hoang mang và anh cứ lẩm bẩm từng địa danh trong lúc cỗ xe lao qua các khu phố và luồn lách qua những con đường vắng ngoằn ngoèo.

    "Phố Rochester Row đây", anh nói.

    "Bây giờ là quảng trường Vincent.

    Bây giờ chúng ta đi ra đường Cầu Vauxhall.

    Hình như chúng ta đang đi về phía Surrey.

    Đúng rồi, tôi nghĩ vậy.

    Chúng ta đang ở trên cầu rồi.

    Hai người có thể thấy dòng sông lờ mờ ngoài kia."

    Quả thực chúng tôi thoáng thấy một đoạn sông Thames có những ngọn đèn soi sáng mặt nước lững lờ, mênh mông; nhưng cỗ xe cứ lao đi, và liền sau đó bị cuốn hút vào mê cung phố xá bên kia sông.

    "Đường Wordsworth", anh bạn tôi nói.

    "Đường Priory.

    Ngõ Lark Hall.

    Quảng trường Stockwell.

    Phố Robert.

    Ngõ Coldharbour.

    Cuộc truy tìm lời giải coi bộ sẽ không đưa ta đến những khu vực sang trọng mấy."

    Đúng là chúng tôi đã tới một khu vực trông gớm guốc và đáng ngờ.

    Những dãy dài nhà gạch ảm đạm chỉ dễ chịu lên được một chút nhờ ánh sáng chói gắt và vẻ rực rỡ phô trương của những tửu điếm ở góc đường.

    Rồi tới mấy dãy nhà biệt lập hai tầng, nhà nào cũng có một vườn nhỏ phía trước, và rồi đập vào mắt lại là những dãy nhà gạch bất tận khác - những xúc tu quái vật mà thành phố khổng lồ này quăng về vùng nông thôn.

    Cuối cùng, xe dừng lại ở căn nhà thứ ba của một khu nhà liền kề mới.

    Mọi căn nhà khác đều không có người ở, và nơi chúng tôi ghé đến cũng tăm tối như những căn lân cận, ngoại trừ một nguồn sáng le lói độc nhất trong cửa sổ nhà bếp.

    Tuy nhiên, ngay khi chúng tôi gõ cửa thì cửa chính lập tức mở ra, người mở cửa là một gia nhân Ấn Độ đội khăn xếp màu vàng, mặc trang phục rộng lùng thùng, và quấn một dải khăn vàng ở thắt lưng.

    Hình ảnh con người Đông phương này đứng trước ngưỡng cửa một căn nhà ngoại ô hạng ba có cái vẻ gì đó kì quặc.

    "Sahib đang chờ quý vị", ông ta nói, và ngay lúc đó một giọng lanh lảnh cũng cất lên từ phòng nào đó bên trong.

    "Đưa họ vào gặp tôi, khitmutgar", tiếng nói hối thúc.

    "Đưa họ gặp tôi ngay."

    4.

    Câu chuyện của người hói đầu

    Chúng tôi theo người Ấn Độ ấy đi qua một hành lang nhớp nhúa, tối tăm và nội thất tồi tàn, tới một cánh cửa phía bên phải thì ông ta mở cửa ra.

    Một luồng sáng vàng chói ùa ra bao phủ chúng tôi, và đứng ngay giữa ánh lóa đó là một người đàn ông thấp bé có vầng trán cao, mớ tóc rễ tre đỏ hung trên đầu và một mảng da bóng loáng không tóc ngay chính giữa trông như một mỏm núi nhô cao trên rừng linh sam.

    Người này đứng mà hai bàn tay cứ vặn vẹo vào nhau và nét mặt không ngừng co giật - lúc mỉm cười, lúc cau có, nhưng không lúc nào ngừng nghỉ.

    Tự nhiên đã ban cho y đôi môi trề ra và hàm răng vàng khè, khấp khểnh quá lộ liễu khiến y cứ liên tục đưa bàn tay phất qua phần dưới khuôn mặt, cố che giấu nhưng vô ích.

    Bất kể cái đầu hói chướng mắt, trông người này có vẻ còn trẻ.

    Thực tế thì ông ta mới qua tuổi ba mươi.

    "Hân hạnh, thưa cô Morstan", ông ta cứ lặp đi lặp lại bằng một giọng khe khẽ, the thé.

    "Hân hạnh, thưa quý ông.

    Xin mời bước vào biệt phòng của tôi.

    Một nơi nhỏ bé nhưng trang hoàng theo đúng sở thích riêng.

    Một ốc đảo nghệ thuật giữa sa mạc buồn thảm phía nam London."

    Chúng tôi hết thảy đều sửng sốt trước hình thức của gian phòng ông ta mời chúng tôi vào.

    Trong căn nhà xoàng xĩnh này, gian phòng trông lạc điệu như một viên kim cương nước một giữa một mớ đồng thau.

    Những tấm mành và thảm thêu lộng lẫy và hào nhoáng nhất trang trí các bức tường, đôi chỗ được vén lên để lộ một bức tranh đóng khung sang trọng hay một chiếc bình Đông phương.

    Tấm thảm trải sàn hai màu đen và hổ phách, êm và dày tới mức bàn chân ngập lún thoải mái cứ như giẫm lên một thảm rêu.

    Hai bộ da hổ to tướng trải chéo góc trên thảm cùng với một bình thuốc tẩu hookah đồ sộ đặt trên một tấm đệm trong góc nhà càng làm tăng thêm ấn tượng Đông phương xa hoa.

    Ngay chính giữa phòng là một chiếc đèn hình chim bồ câu bằng bạc treo trên một sợi dây bằng vàng mảnh tới mức hầu như không nhìn thấy được.

    Vừa tỏa sáng, chiếc đèn vừa phả khắp không gian một hương thơm phảng phất.

    "Tôi là Thaddeus Sholto", người thấp bé kia nói, mặt vẫn co giật và tươi cười.

    "Cô tất nhiên là cô Morstan rồi.

    Còn quý ông đây..."

    "Đây là ông Sherlock Holmes, còn đây là bác sĩ Watson."

    "Bác sĩ ư?"

    Ông ta kêu to, phấn khích hẳn lên.

    "Ông có mang ống nghe đấy không?

    Cho phép tôi hỏi... chắc ông không phiền chứ?

    Tôi hết sức nghi ngờ về cái van tim của mình, xin ông bỏ quá cho.

    Tôi có thể tin cậy cái động mạch chủ nhưng nếu ông có ý kiến về cái van hai lá thì thật quý hóa quá."

    Theo yêu cầu, tôi nghe tim nhưng không thấy điều gì khác thường ngoại trừ việc người này đang trong trạng thái lo sợ quá mức, bởi ông ta cứ run cầm cập từ đầu đến chân.

    "Tim xem ra bình thường mà", tôi nói.

    "Không có nguyên cớ gì mà ông phải lo lắng cả."

    "Xin thứ lỗi cho nỗi lo của tôi nhé, cô Morstan", ông ta thốt lên, giọng hòa nhã.

    "Tôi cứ đau ốm miết và từ lâu tôi đã nghi ngờ về cái van tim đó.

    Thì thật mừng khi biết rằng nghi ngờ của tôi là không xác đáng.

    Thưa cô Morstan, giá như cha cô không bị lên cơn đau tim thì bây giờ lẽ ra ông ấy vẫn còn sống đó."

    Tôi nổi nóng với lời đề cập quá sức thản nhiên và nhẫn tâm về một chuyện tế nhị như thế, tới mức tôi chỉ muốn đấm vào mặt ông ta.

    Cô Morstan ngồi xuống, mặt mày tái nhợt.

    "Trong thâm tâm tôi biết cha mình đã chết", cô nói.

    "Tôi có thể cho cô biết hết mọi chuyện", ông ta nói, "và hơn nữa, tôi có thể đòi lại công bằng cho cô, mà tôi cũng muốn thế, mặc kệ anh Bartholomew nói gì thì nói.

    Tôi cũng mừng có những người bạn của cô ở đây, không chỉ tháp tùng cô mà còn là nhân chứng cho những gì tôi sắp nói và làm.

    Ba chúng ta ở đây có thể đương đầu với anh Bartholomew.

    Nhưng không được có bất kì người ngoài cuộc nào, không có cảnh sát hay viên chức.

    Giữa chúng ta có thể dàn xếp ổn thỏa mọi việc, không cần ai phải can thiệp.

    Không có gì khiến anh Bartholomew tức giận cho bằng chuyện bị thiên hạ biết đến."

    Ông ta ngồi xuống chiếc trường kỉ thấp và hướng đôi mắt xanh nhợt nhạt về phía chúng tôi, hấp háy với vẻ dò hỏi.

    "Về phần tôi," Holmes lên tiếng, "bất cứ điều gì ông muốn nói ra đều được giữ kín."

    Tôi gật đầu biểu lộ đồng tình.

    "Thế thì tốt!

    Thế thì tốt!"

    Ông ta nói "Xin phép mời cô một cốc vang Chianti nhé, cô Morstan?

    Hay là rượu Tokay?

    Tôi chỉ có hai loại đó.

    Tôi khui một chai nhé?

    Không à?

    Ồ, vậy thì tôi chắc là cô không phản đối việc hút thuốc, không khó chịu với mùi thơm dịu của thuốc lá Đông phương.

    Tôi hơi căng thẳng và tôi thấy bình thuốc hookah của tôi là thứ an thần vô giá."

    Ông ta gí tim nến vào cái nỏ thuốc lớn, và khói thuốc sủi bọt ùng ục vui tai khi rít qua bình nước hoa hồng.

    Cả ba chúng tôi ngồi thành hình bán nguyệt, đầu vươn ra trước, cằm kê trên hai bàn tay, trong khi kẻ nhỏ con kì lạ kia, với vầng trán cao sáng bóng, ngồi chính giữa bứt rứt bập phà tẩu thuốc.

    "Khi tôi quyết định hẹn gặp cô lần đầu tiên", ông ta nói, "lẽ ra tôi phải cho cô biết địa chỉ của tôi, nhưng tôi lo là cô có thể bất chấp yêu cầu của tôi và đưa những người khó chịu theo cùng.

    Cho nên tôi mạn phép thu xếp cuộc hẹn sao cho người của tôi là Williams có thể gặp cô trước.

    Tôi hoàn toàn tin tưởng vào sự thận trọng của anh ta và anh ta đã được lệnh là nếu thấy không thỏa đáng thì không xúc tiến chuyện này nữa.

    Xin cô thứ lỗi cho những biện pháp phòng xa này, nhưng tôi là người sống có phần kín đáo, và thậm chí có thể nói tôi là người có học thức, tinh tế; và với tôi thì không có gì mất thẩm mĩ cho bằng một gã cảnh sát.

    Bản tính tôi là luôn xa lánh mọi hình thức duy vật chủ nghĩa sống sượng.

    Tôi hiếm khi tiếp xúc với đám đông lỗ mãng.

    Như cô thấy đó, tôi sống trong một môi trường ít nhiều có phần tao nhã bao quanh.

    Tôi có thể tự xem mình là một nhà bảo trợ nghệ thuật.

    Đó là nhược điểm của tôi.

    Bức phong cảnh này là tranh Corot chính hiệu đó, và tuy một người mộ điệu có thể hồ nghi về bức Salvator Rosa kia nhưng nhất định họ sẽ không chút thắc mắc về bức Bouguereau ở đây.

    Tôi thiên về trường phái hiện đại Pháp."

    "Xin thứ lỗi, thưa ông Sholto", cô Morstan lên tiếng, "nhưng tôi đến đây theo yêu cầu của ông để biết đôi điều ông muốn kể lại.

    Giờ đã muộn rồi và tôi mong là cuộc hội kiến này càng ngắn gọn càng tốt."

    "Chí ít cũng phải mất thêm một khoảng thời gian", ông ta đáp, "vì chúng ta chắc chắn còn phải tới Norwood gặp anh Bartholomew nữa.

    Tất cả chúng ta sẽ cùng đi và thử xem chúng ta có thuyết phục được anh Bartholomew chăng.

    Anh ấy rất tức giận vì tôi đã làm theo cách mà tôi thấy chính đáng.

    Đêm qua tôi đã to tiếng với anh ấy.

    Quý vị không thể tưởng tượng nổi khi tức giận thì anh ấy ghê gớm như thế nào đâu."

    "Nếu phải đi tới Norwood thì có lẽ chúng ta nên khởi hành ngay thì hơn", tôi đánh bạo đề nghị.

    Ông Thaddeus Sholto cười ầm đến đỏ mặt tía tai.

    "Thế không được đâu", ông ta cao giọng.

    "Tôi không biết anh ấy sẽ nói gì nếu như tôi đưa quý vị đến bất thình lình như vậy.

    Không, tôi phải chuẩn bị bằng cách cho quý vị thấy tất cả chúng ta có liên quan lẫn nhau ra sao.

    Trước hết, tôi phải nói là chính tôi cũng không hiểu nhiều điểm trong câu chuyện này.

    Tôi chỉ có thể trình bày với quý vị những sự việc mà chính tôi biết thôi.

    Như quý vị đã đoán biết, cha tôi là thiếu tá John Sholto, từng ở trong quân đội Ấn Độ.

    Ông ấy về hưu khoảng mười một năm trước, và sống ở biệt trang Pondicherry vùng Thượng Norwood.

    Cha tôi đã phất lên ở Ấn Độ và mang về đây một số tiền đáng kể, một bộ sưu tập nhiều vật lạ quý giá, và một toán gia nhân bản xứ.

    Với những lợi thế đó, cha tôi mua cho mình một ngôi nhà và sống hết sức xa hoa.

    Ông chỉ có hai người con là người anh sinh đôi Bartholomew và tôi.

    Tôi còn nhớ rõ cơn chấn động nảy sinh từ vụ đại úy Morstan mất tích.

    Chúng tôi đọc các tường trình trên báo chí và biết người đó là bạn của cha tôi, chúng tôi vô tư bàn tán về vụ này ngay trước mặt cha.

    Cha tôi cũng tham gia những cuộc phỏng đoán của chúng tôi vì chuyện gì có thể đã xảy ra.

    Không một lúc nào chúng tôi hồ nghi rằng cha mình giấu kín trong lòng toàn bộ bí mật, là chỉ có mỗi mình ông biết rõ số phận của Arthur Morstan.

    Thế nhưng chúng tôi biết chắc là một bí mật nào đó, một nguy cơ có thực, đang đe dọa cha mình, ông rất sợ đi ra ngoài một mình, và ông luôn luôn sử dụng hai võ sĩ quyền Anh làm người gác cổng ở biệt trang Pondicherry.

    Một trong hai võ sĩ chính là Williams, người đánh xe cho quý vị tối nay.

    Anh ta từng là vô địch quyền Anh hạng nhẹ toàn quốc.

    Cha chúng tôi không bao giờ cho biết ông lo sợ điều gì, nhưng đặc biệt ông rất ác cảm đối với người nào có chân gỗ.

    Có một lần ông đã lấy súng lục bắn vào một người có chân gỗ nhưng hóa ra đó lại là một thương nhân vô hại đang đi huy động đơn đặt hàng.

    Chúng tôi phải chi một khoản tiền lớn để bưng bít vụ này.

    Anh tôi và tôi thường nghĩ đó chỉ là một thói hoang tưởng của cha mình nhưng nhiều chuyện xảy ra đã khiến chúng tôi thay đổi ý kiến.

    Khoảng đầu năm 1882 cha tôi nhận được một lá thư gửi từ Ấn Độ khiến ông hết sức kinh hãi.

    Ông suýt ngất xỉu ngay bàn điểm tâm khi mở thư ra đọc và từ hôm đó ông ngã bệnh luôn cho tới khi chết.

    Trong thư viết gì chúng tôi chẳng bao giờ được biết nhưng khi cha tôi cầm thư trong tay thì tôi có thể nhìn thấy đó là một bức thư ngắn viết bằng nét chữ nguệch ngoạc.

    Cha tôi đã đau ốm nhiều năm vì chứng phù lá lách nhưng kể từ đó sức khỏe của ông suy sụp rất nhanh, và cho đến cuối tháng 4 chúng tôi được báo là cha tôi đã hết mọi hi vọng, và ông muốn gặp chúng tôi lần cuối.

    Khi chúng tôi bước vào phòng cha thì ông đang ngồi giữa mớ gối đỡ và thở nặng nhọc.

    Ông khẩn khoản bảo chúng tôi khóa trái cửa lại và đứng hai bên giường của ông.

    Rồi nắm chặt tay chúng tôi, ông thuật lại một câu chuyện chấn động, bằng giọng nói đứt quãng vì cảm xúc lẫn đau đớn.

    Tôi sẽ cố thuật lại cho quý vị nghe bằng chính lời lẽ của cha tôi.

    Ông nói: 'Ta chỉ có một chuyện canh cánh trong lòng vào giây phút sau cùng này.

    Đó là cách ta đối xử với đứa con gái mồ côi tội nghiệp của Morstan.

    Lòng tham đáng nguyền rủa vốn là tội lỗi ám ảnh suốt đời ta đã khiến ta chiếm đoạt phần kho báu của con bé; ít nhất một nửa kho báu ấy lẽ ra phải thuộc về nó.

    Ấy thế mà chính bản thân ta lại chẳng hề sử dụng đến phần của cải ấy, cái thói tham lam đúng là mù quáng và ngu xuẩn biết bao.

    Chỉ riêng cảm giác được sở hữu nó thôi đã khiến ta không đành lòng chia sẻ với ai khác.

    Hãy nhìn chuỗi ngọc trai nặng trĩu ở đằng sau chai thuốc kí ninh kia.

    Thậm chí ta cũng không cam tâm rời xa nó được, mặc dù ta đã lấy nó ra với ý đồ sẽ gửi cho con bé.

    Con trai của ta, hai con sẽ phải chia cho con bé ấy một phần thỏa đáng của kho báu Agra.

    Nhưng chừng nào ta chưa chết thì khoan gửi cho nó cái gì cả, ngay cả chuỗi hạt kia.

    Xét cho cùng thì nhiều kẻ bệnh tật nặng như thế này cũng bình phục được mà.'

    'Ta sẽ cho các con biết Morstan đã chết như thế nào.' Cha tôi kể tiếp.

    'Morstan đã bị đau tim suốt nhiều năm nhưng giấu không cho ai hay.

    Chỉ mình ta biết mà thôi.

    Lúc còn ở Ấn Độ, ông ấy và ta, qua hàng loạt sự việc lạ thường, đã sở hữu được một kho báu lớn.

    Ta đã mang hết về Anh quốc, và vào cái đêm Morstan về tới nơi thì ông ấy đi thẳng tới đây để đòi lại phần của mình, ông ấy đi bộ từ nhà ga đến và được gia nhân trung thành Lal Chowdar của ta đưa vào; Lal Chowdar giờ đã chết rồi.

    Morstan và ta bất đồng ý kiến về chuyện chia phần kho báu và hai bên bắt đầu lời qua tiếng lại nóng nảy.

    Trong cơn tức giận bột phát, Morstan nhảy bật khỏi ghế rồi đột ngột ép chặt bàn tay vào bên hông, mặt bỗng tím tái, rồi ông ấy ngã ngửa ra sau, va đầu vào góc rương châu báu.

    Khi ta khom người xuống xem xét thì kinh hãi thay, ta thấy ông ấy đã chết.

    Suốt một hồi lâu ta cứ ngồi bần thần, không biết phải làm gì.

    Động lực đầu tiên của ta tất nhiên là định hô hoán cầu cứu, nhưng ta không thể không nhận thấy rằng mọi sự đều quy cho ta tội giết ông ấy.

    Cái chết của Morstan trong lúc cãi vã, vết cắt sâu trên đầu ông ấy, đều rành rành chống lại ta.

    Thêm nữa, không thể có một cuộc điều tra chính thức nào mà lại không khơi ra vài chi tiết về chuyện kho báu, chuyện mà ta hết lòng muốn giữ bí mật.

    Morstan đã bảo ta là không một người nào biết ông ấy đi đâu.

    Có lẽ bây giờ lại càng không cần thiết cho bất kì ai biết chuyện.

    Ta vẫn còn đang nghĩ ngợi thì ngước nhìn lên, ta thấy tên gia nhân Lal Chowdar đứng ngay ngưỡng cửa.

    Nó kín đáo vào phòng và chốt cánh cửa lại sau lưng.

    Nó nói: 'Đừng sợ, thưa sahib.

    Không ai biết là ngài đã giết ông ấy đâu.

    Hãy giấu nhẹm xác ông ấy đi thì ai mà biết được?' Ta nói: 'Ta không giết ông ấy'.

    Lal Chowdar lắc đầu và mỉm cười bảo: 'Con nghe hai người cãi nhau, và con nghe tiếng cú đánh.

    Nhưng con kín miệng lắm.

    Mọi người trong nhà đã ngủ hết rồi.

    Ngài và con hãy cùng nhau đưa ông ấy đi.' Thế là đủ cho ta quyết định.

    Ngay cả gia nhân của ta mà còn không tin ta vô tội thì làm sao ta còn hi vọng điều gì tốt đẹp khi ra hầu tòa trước mười hai gã lái buôn ngu ngốc ngồi ở ghế bồi thẩm đoàn chứ?

    Lal Chowdar và ta tống khứ cái xác chết trong đêm đó, và chỉ vài ngày sau các nhật báo London đã đăng toàn chuyện mất tích bí ẩn của đại úy Morstan.

    Qua những gì ta kể, hai con sẽ thấy là ta không có lỗi gì trong chuyện này.

    Ta chỉ có lỗi là đã giấu nhẹm không chỉ xác chết mà còn cả kho báu này, và ta đã chiếm giữ cả phần chia của Morstan lẫn phần của ta.

    Cho nên ta muốn hai con phải bồi hoàn.

    Hãy ghé tai vào miệng ta.

    Kho báu được cất giấu ở...!'

    Đúng lúc đó sắc mặt cha tôi biến đổi đầy kinh hãi, hai mắt trợn trừng dại hẳn đi, mồm há hốc, và ông hét lên bằng một giọng mà tôi không thể nào quên: 'Đuổi hắn đi!

    Hãy vì Chúa mà đuổi hắn đi!' Cả hai anh em tôi quay lại nhìn chăm chăm vào khung cửa sổ phía sau lưng nơi ánh mắt cha tôi đang dán chặt.

    Từ trong bóng tối một khuôn mặt đang nhìn về phía chúng tôi.

    Chúng tôi thấy rõ cái mũi trắng bệch ngay nơi nó tì sát vào ô kính.

    Đó là một bộ mặt râu tóc bờm xờm với đôi mắt man dại tàn bạo và bộc lộ dã tâm tột cùng.

    Anh tôi và tôi lao tới cửa sổ nhưng kẻ đó đã biến mất.

    Khi chúng tôi quay lại, đầu cha tôi đã gục xuống và mạch đã ngừng đập.

    Đêm ấy chúng tôi lục soát khu vườn nhưng không thấy dấu vết gì của kẻ đột nhập, ngoại trừ một dấu chân duy nhất trong bồn hoa ngay dưới khung cửa sổ.

    Nếu không có dấu vết đó thì chúng tôi đã cho rằng trí tưởng tượng của mình đã vẽ ra cái bản mặt hung tợn, man rợ kia.

    Tuy nhiên, liền sau đó chúng tôi lại có thêm bằng chứng khác và đáng chú ý hơn về chuyện có nhiều kẻ bí mật đang ngấm ngầm hoạt động quanh chúng tôi.

    Sáng ra chúng tôi thấy cửa phòng cha mở toang, tủ kệ và rương hòm bị lục tung, trên ngực cha ghim một mảnh giấy ghi dòng chữ 'Dấu bộ tứ'viết nguệch ngoạc.

    Chúng tôi không hề biết mấy chữ đó có ý nghĩa gì, cũng như ai là kẻ thăm viếng bí mật đó.

    Trong khả năng phán đoán của chúng tôi, thực tế không có tài sản nào của cha bị đánh cắp dù mọi thứ đều bị đảo lộn.

    Tất nhiên hai anh em tôi cho rằng cái biến cố kì quặc này có liên quan đến nỗi sợ đã ám ảnh cha suốt cuộc đời, nhưng tất cả đối với anh em tôi vẫn hoàn toàn là một bí ẩn."

    Người thấp bé kia ngừng lời để châm lại tẩu thuốc hookah rồi trầm ngâm bập phà một lúc.

    Cả ba chúng tôi nãy giờ ngồi chăm chú lắng nghe câu chuyện dị thường của ông ta.

    Nghe tới đoạn tường thuật vắn tắt về cái chết của cha mình, cô Morstan mặt tái nhợt như xác chết và có lúc tôi e là cô sẽ ngất đi.

    Tuy nhiên cô trấn tĩnh lại khi uống cốc nước tôi đã lặng lẽ rót cho cô từ chiếc bình pha lê Venice trên cái bàn con.

    Sherlock Holmes ngả lưng ra ghế, vẻ mặt lơ đãng và hai mi mắt khép hờ trên đôi mắt lim dim.

    Nhìn anh, tôi không thể không nhớ lại rằng đúng vào ngày hôm ấy anh đã chua chát ta thán về sự tầm thường của cuộc sống ra sao, ít nhất đây cũng là một vấn đề sẽ buộc anh phải vắt óc đến kiệt cùng.

    Còn ông Thaddeus Sholto nhìn từng người trong bọn chúng tôi với vẻ kiêu hãnh thấy rõ trước tác động mà câu chuyện của ông đã tạo ra, và tiếp tục nói xen kẽ giữa những hơi thuốc phả ra từ cái tẩu to quá khổ.

    "Như quý vị có thể hình dung", ông ta nói, "anh em tôi hết sức phấn khích về kho báu mà cha tôi đã nhắc đến.

    Suốt nhiều tuần rồi nhiều tháng trời, chúng tôi đào bới khắp vườn không chừa chỗ nào nhưng chẳng phát hiện ra manh mối gì.

    Thật tức điên khi nghĩ rằng cha mình chưa kịp thốt ra chỗ cất giấu ấy thì đã chết.

    Chúng tôi có thể đoán chừng kho báu ấy lớn đến mức nào qua chuỗi hạt mà cha đã lấy ra.

    Còn với chuỗi hạt thì anh Bartholomew và tôi đã có bàn luận sơ qua.

    Những viên ngọc này rõ ràng có giá trị lớn và anh tôi không muốn từ bỏ bởi vì, nói thật tình, anh tôi có phần nhiễm cái tật xấu của cha.

    Anh tôi còn e rằng nếu chúng tôi từ bỏ chuỗi hạt này thì có thể gây ra nhiều đồn đãi và cuối cùng khiến chúng tôi rắc rối.

    Tôi chỉ làm được mỗi một chuyện là thuyết phục anh mình cho tôi tìm địa chỉ cô Morstan và cứ cách một khoảng thời gian nhất định lại gửi cho cô từng viên ngọc rời, như thế ít ra cô ấy cũng không bao giờ cảm thấy nghèo túng."

    "Thực là tử tế", cô bạn đồng hành của chúng tôi sốt sắng nói.

    "Ông thật tốt quá."

    "Chúng tôi là người nhận ủy quyền của cô", người thấp bé kia khoát tay tỏ vẻ phản đối.

    "Đó là quan điểm của tôi mặc dù anh Bartholomew có thể không hoàn toàn cùng suy nghĩ đó.

    Bản thân chúng tôi đã có thừa tiền rồi.

    Tôi đâu có khao khát gì nữa.

    Ngoài ra, đối xử với một quý cô theo kiểu cách đáng khinh như thế thì đúng là thiếu thẩm mĩ.

    Le mauvais goût mène au crime.

    Người Pháp có cách diễn đạt điều này rất tuyệt.

    Sự khác biệt quan điểm của anh em tôi trong chuyện này đi xa tới mức tôi nghĩ tốt nhất là phải tìm chỗ ở riêng.

    Thế là tôi rời khỏi biệt trang Pondicherry, đưa ông lão Khitmutgar và Williams đi cùng.

    Thế nhưng hôm qua tôi hay tin một chuyện cực kì quan trọng: Tìm được kho báu rồi.

    Tôi lập tức liên lạc với cô Morstan và chuyện còn lại chỉ là chúng ta đi tới Norwood đòi phần chia.

    Đêm qua tôi đã nói rõ quan điểm của mình với anh Bartholomew rồi, cho nên chúng ta sẽ là những vị khách nếu không được hoan nghênh thì cũng được chờ đợi."

    Ông Thaddeus Sholto ngừng lời và ngồi xoay trở trên chiếc trường kỉ sang trọng.

    Ba chúng tôi vẫn im lặng ngẫm nghĩ về đường hướng mới mà sự việc bí hiểm này đưa đẩy tới.

    Holmes là người đầu tiên đứng lên.

    "Ông đã xử sự rất hay, thưa ông, hay từ đầu đến cuối", anh nói.

    "Hi vọng chúng tôi có thể đền đáp đôi chút cho ông bằng cách làm sáng tỏ những gì ông còn chưa am tường.

    Nhưng như cô Morstan đã nói, lúc này đã muộn rồi và chúng ta tốt nhất nên tiến hành việc này ngay không chần chờ nữa."

    Người bạn mới quen của chúng tôi rất khoan thai cuộn tròn cái ống của bình thuốc tẩu hookah lại, rồi lấy từ sau bức mành một chiếc áo bành tô dài cài khuy bằng dây tua với cổ áo và cổ tay viền lông cừu.

    Ông ta cài chặt từng khuy một bất kể không khí cực kì ngột ngạt của đêm ấy và hoàn tất việc phục sức bằng cách đội lên đầu một chiếc mũ da thỏ có hai miếng phủ lòng thòng che tai.

    Thế là không có phần cơ thể nào của ông ta ở ngoài cả ngoại trừ bộ mặt tiều tụy luôn biến sắc.

    "Thể trạng của tôi hơi yếu", ông ta vừa nói vừa dẫn đường đi qua hành lang.

    "Tôi lúc nào cũng phải lo lắng về bệnh tật."

    Xe ngựa đang chờ sẵn bên ngoài và chương trình của chúng tôi rõ ràng đã được bố trí từ trước bởi người xà ích khởi hành ngay lập tức với tốc độ rất nhanh.

    Thaddeus Sholto nói không ngừng, giọng át cả tiếng bánh xe khua vang trên đường.

    "Bartholomew là người thông minh", ông ta nói.

    "Quý vị nghĩ anh tôi tìm ra kho báu bằng cách nào?

    Anh ấy đi tới kết luận là nó phải ở đâu đó trong nhà; thế là anh ấy tính toán từng khối vuông trong ngôi nhà, đo lường mọi nơi, không bỏ sót một li một tí nào mà không soi xét.

    Nhờ đo đạc đủ thứ, anh tôi biết được chiều cao của cả tòa nhà là bảy mươi tư foot, nhưng cộng gộp hết lại chiều cao của từng căn phòng, tính toán cả khoảng giữa mà anh tôi đã khoan để xác định, thì tổng cộng chiều cao cũng không ngoài bảy mươi foot được.

    Vậy là có bốn foot không thể giải thích.

    Khoảng cách này chỉ có thể ở trên nóc nhà.

    Thế là anh tôi đục thủng một lỗ xuyên qua lớp vữa và ván trần của căn phòng cao nhất, và quả không sai, anh tôi tìm ra một gác xép nhỏ nữa ở bên trên, lâu nay được bít kín mà không ai hay biết.

    Ngay chính giữa gác xép này là một chiếc rương đặt trên hai xà ngang.

    Anh tôi hạ chiếc rương xuống qua lỗ thủng trần nhà và đó chính là kho báu.

    Anh ấy tính toán trị giá của số châu báu đó là không dưới nửa triệu bảng Anh."

    Nghe tới số tiền khổng lồ đó, chúng tôi trố mắt nhìn nhau.

    Nếu như chúng tôi có thể bảo vệ được quyền lợi cho cô Morstan thì cô ấy sẽ từ một gia sư nghèo túng biến thành một người thừa kế giàu có nhất Anh quốc.

    Rõ ràng đây là cơ hội để một người bạn trung thành tỏ ra hoan hỉ trước một tin tức như thế, song tôi phải xấu hổ mà nói rằng tính ích kỉ đã chế ngự cả tâm hồn và lòng tôi trĩu nặng như chì.

    Tôi lắp bắp mấy lời chúc mừng ngập ngừng rồi chán nản ngồi cúi gằm mặt xuống, không buồn nghe những lời lải nhải của người bạn mới quen nữa.

    Ông ta rõ ràng là một kẻ bị bệnh tưởng kinh niên, và tôi cứ lơ mơ nghe ông ta xổ ra liên tu bất tận đủ loại triệu chứng, nài nỉ hỏi han về thành phần và tác dụng của vô vàn thứ thuốc lang băm, ông ta còn mang theo một vài thứ thuốc đó trong chiếc hộp da bỏ trong túi.

    Tôi chắc chắn rằng ông ta có lẽ không nhớ được một câu trả lời nào của tôi vào đêm hôm đó.

    Còn Holmes tuyên bố rằng anh đã nghe lỏm được tôi cảnh báo Thaddeus Sholto về mối nguy hiểm vô cùng nếu uống nhiều hơn hai giọt dầu thầu dầu, nhưng lại khuyên uống mã tiền liều cao hơn để giúp giảm đau.

    Dù sao đi nữa tôi thấy dễ chịu hẳn khi cỗ xe dừng phắt lại và người xà ích nhảy xuống mở cửa.

    "Thưa cô Morstan, đây là biệt trang Pondicherry", ông Thaddeus Sholto vừa nói vừa đưa tay đón cô xuống xe.

    5.

    Thảm kịch ở biệt trang Pondicherry

    Khi chúng tôi tới chặng cuối của cuộc phiêu lưu trong đêm thì đã gần 11 giờ.

    Chúng tôi đã bỏ lại sương mù ẩm ướt của đô thành sau lưng và màn đêm lúc này khá quang đãng.

    Một làn gió ấm thổi từ hướng tây, những tầng mây nặng trĩu chầm chậm dịch chuyển ngang trời và thỉnh thoảng nửa vầng trăng ghé mặt qua những kẽ mây.

    Màn đêm quang đãng nên tầm nhìn cũng được một quãng xa nhưng Thaddeus Sholto vẫn tháo chiếc đèn bên hông xe ngựa xuống để soi cho chúng tôi rõ đường đi hơn.

    Biệt trang Pondicherry đứng tách biệt giữa khu đất bao quanh là tường đá rất cao, bên trên có gắn mảnh thủy tinh.

    Chỉ có một cánh cửa nhỏ hẹp nẹp đai sắt là lối vào độc nhất.

    Người dẫn đường của chúng tôi gõ cộc cộc lên cánh cửa nghe lạ tai như kiểu gõ của bưu tá.

    "Ai đó?"

    Một giọng nói cộc cằn từ bên trong vang lên.

    "Tôi đây, McMurdo.

    Tới giờ thì anh hẳn phải nhận ra cách gõ cửa của tôi chứ."

    Có tiếng lẩm bẩm rồi tiếng chìa khóa lách cách khua vang.

    Cánh cửa nặng nề xoay vào phía trong và một người thâm thấp, ngực nở nang, đứng chặn ngay khoảng trống hé ra, ánh đèn vàng soi sáng bộ mặt vẩu và đôi mắt hấp háy ngờ vực.

    "Cậu đấy ư, cậu Thaddeus?

    Nhưng mấy người kia là ai?

    Tôi không có lệnh nào của cậu chủ liên quan tới họ cả."

    "Không có à, McMurdo?

    Anh làm tôi ngạc nhiên đó!

    Tối qua tôi đã bảo với anh tôi là tôi sẽ đưa mấy người bạn đến."

    "Cả ngày hôm nay cậu chủ không hề ra khỏi phòng, cậu Thaddeus à, và tôi không nghe dặn dò gì.

    Cậu biết rất rõ là tôi phải tuân theo các quy định.

    Tôi để cậu vào được nhưng bạn của cậu phải đứng lại đây thôi."

    Đây là một trở ngại bất ngờ.

    Thaddeus Sholto nhìn quanh với vẻ bất lực và bối rối.

    Ông nói, "Anh thật tệ quá, McMurdo!

    Chỉ cần tôi bảo đảm cho họ là được rồi.

    Còn quý cô đây nữa.

    Đâu thể để cho cô ấy chờ ngoài đường lộ vào giờ này được."

    "Rất tiếc, thưa cậu Thaddeus", người gác cổng không lay chuyển mảy may.

    "Mấy người đó có thể là bạn cậu nhưng lại không phải là bạn của cậu chủ.

    Cậu ấy trả lương tôi hậu hĩnh để tôi làm phận sự và việc của tôi thì tôi phải làm.

    Tôi không biết ai trong mấy người bạn của cậu hết."

    "Ồ, anh có biết đấy chứ, McMurdo", Sherlock Holmes lên tiếng, giọng thân thiện.

    "Tôi không nghĩ là anh lại có thể quên tôi được.

    Anh không nhớ gã tay mơ đã đấu với anh ba hiệp liền ở nhà Alison vào cái đêm thượng đài lạc quyên của anh cách đây bốn năm sao?"

    "Sherlock Holmes đấy sao!"

    Gã võ sĩ kia gầm lên.

    "Chúa ơi!

    Sao tôi lại không nhận ra anh chứ?

    Thay vì cứ im lìm đứng đó, nếu anh bước lên và đấm một cú vào dưới hàm tôi thì tôi biết là anh ngay khỏi cần thắc mắc.

    Chà, anh đúng là đã bỏ phí tài năng, tiếc cho anh!

    Nếu hồi đó mà anh gia nhập giới chuyên nghiệp thì có lẽ đã tiến xa rồi."

    "Thấy chưa, Watson", Holmes vừa nói vừa cười, "nếu mọi chuyện khác thất bại thì tôi vẫn còn một nghề rất ư là hợp với mình.

    Tôi chắc anh bạn đây bây giờ sẽ không để cho chúng ta đứng ngoài trời lạnh đâu."

    "Mời vào, thưa cậu, mời vào, cả cậu và bạn cậu", người gác cửa đáp lời.

    "Hết sức xin lỗi cậu, cậu Thaddeus, nhưng lệnh rất nghiêm ngặt.

    Phải biết chắc bạn bè của cậu tôi mới cho vào được."

    Bên trong, một lối đi rải sỏi ngoằn ngoèo qua những khu vườn tiêu điều dẫn tới một khối nhà đồ sộ, vuông vức và buồn tẻ; toàn bộ chìm trong bóng tối ngoại trừ nơi ánh trăng rọi chiếu vào một góc nhà và thắp sáng một ô cửa sổ gác xép.

    Kích thước rộng lớn của tòa nhà cùng với vẻ âm u và sự im lặng chét chóc của nó làm ớn lạnh tâm can.

    Ngay cả Thaddeus Sholto cũng có vẻ bất an và chiếc đèn cứ run rẩy, chao đảo trong tay ông ta.

    "Sao kì lạ quá", ông nói.

    "Phải có nhầm lẫn gì đây.

    Rõ ràng tôi đã bảo Bartholomew là chúng ta sẽ đến đây, thế mà cửa sổ phòng anh ấy lại chẳng có đèn đóm gì cả.

    Tôi không biết sao lại thế này."

    "Ông ấy lúc nào cũng canh gác cơ ngơi như thế à?"

    Holmes hỏi.

    "Đúng vậy, anh ấy làm theo lệ của cha tôi.

    Anh ấy là con cưng mà, ông biết rồi đó, và lắm lúc tôi cho rằng cha có thể đã nói cho anh tôi nhiều điều mà tôi không biết.

    Cửa sổ trên cao, chỗ ánh trăng chiếu vào chính là phòng của Bartholomew đó.

    Phòng khá sáng sủa nhưng bên trong không hề thắp đèn, tôi nghĩ vậy."

    "Không sai", Holmes nói.

    "Nhưng tôi thấy có ánh sáng ở ô cửa sổ nhỏ bên cạnh cửa chính."

    "À, đó là phòng quản gia.

    Bà lão Bernstone ngủ ở đó.

    Bà ta có thể cho chúng ta biết rõ mọi chuyện.

    Nhưng có lẽ quý vị cảm phiền chờ ở đây một vài phút nhé, vì nếu tất cả chúng ta cùng vào một lượt mà bà ta không hề biết trước thì bà sẽ phát hoảng lên đó.

    Suỵt!

    Cái gì thế?"

    Ông ta run rẩy giơ cao đèn, cho đến khi những quầng sáng lập lòe, chập chờn tứ phía bao quanh chúng tôi.

    Cô Morstan nắm chặt cổ tay tôi và cả bọn chúng tôi đứng im, tim đập dồn, căng tai nghe ngóng.

    Từ ngôi nhà đen đúa to lớn kia vẳng ra những âm thanh buồn bã và ai oán nhất phá vỡ màn đêm tĩnh mịch - tiếng khóc rên the thé, nấc nghẹn của một người đàn bà đang khiếp đảm.

    "Đó là tiếng bà Bernstone", Thaddeus Sholto nói.

    "Trong nhà chỉ có mỗi bà ấy là phụ nữ.

    Chờ ở đây.

    Tôi sẽ quay lại ngay."

    Ông hấp tấp chạy tới cánh cửa và gõ theo cách đặc biệt của mình.

    Chúng tôi nhận ra bóng một bà già cao gầy ra đón và mừng cuống quýt khi thấy mặt ông ta.

    "Ôi, cậu Thaddeus, thưa cậu, có cậu đến tôi mừng quá!

    Có cậu đến tôi mừng quá, cậu Thaddeus ơi!"

    Bà già cứ lặp đi lặp lại những lời hân hoan ấy cho đến khi cánh cửa khép lại và tiếng nói của bà bị bóp nghẹn thành một âm thanh đều đều rồi tắt lịm dần.

    Người dẫn đường đã để lại đèn cho chúng tôi.

    Holmes từ từ giơ đèn lên soi một vòng rồi chăm chú quan sát ngôi nhà và những đống rác vĩ đại chất ngổn ngang khắp vườn tược.

    Cô Morstan và tôi đứng bên nhau, bàn tay cô nằm trong bàn tay tôi.

    Tình yêu là một xúc cảm huyền ảo thần kì xiết bao, vì trước hôm đó, chúng tôi vốn chưa hề gặp mặt nhau, chưa hề trao gửi một lời hay thậm chí một cái nhìn cảm mến, ấy vậy mà trong giờ khắc tai biến này những bàn tay lại bất giác kiếm tìm nhau.

    Tôi cứ lấy làm lạ về điều ấy cho tới tận bây giờ, nhưng vào lúc đó dường như việc tự nhiên nhất là tôi cứ bộc lộ như thế, và như cô sau này vẫn thường nói với tôi, bản năng cũng thôi thúc cô nương tựa vào tôi để được chở che và an ủi.

    Như hai đứa trẻ, chúng tôi cứ đứng nắm tay nhau như thế và thấy lòng bình an bất chấp mọi thứ đen tối bao quanh.

    "Quả là một chỗ kì lạ!"

    Cô vừa nói vừa nhìn quanh.

    "Trông cứ như tất cả chuột chũi của Anh quốc đã được thả rông ở đây.

    Tôi từng thấy một cảnh tương tự ở một sườn đồi gần Ballarat nơi những người đi tìm vàng đã đào bới."

    "Thì cùng mục đích mà", Holmes nói.

    "Đây là dấu vết của những kẻ đi tìm kho báu.

    Hai người phải nhớ là họ đã tìm kiếm suốt sáu năm nay.

    Thảo nào mà vườn tược trông cứ như hầm mỏ thế này."

    Ngay lúc đó, cửa chính căn nhà bật mở toang và Thaddeus Sholto chạy ra, hai bàn tay vung về phía trước, đôi mắt đầy kinh hoàng.

    "Bartholomew gặp chuyện chẳng lành rồi!"

    Ông ta kêu to.

    "Tôi sợ quá!

    Thần kinh tôi không chịu nổi!"

    Quả thực ông ta đã khóc muốn sưng mắt vì sợ, bộ mặt yếu đuối rúm ró nhô ra từ cái cổ áo lông cừu vĩ đại kia lồ lộ vẻ cầu khẩn bất lực của một đứa bé kinh hãi.

    "Vào nhà đi", Holmes nói với giọng dứt khoát, kiên quyết.

    "Vâng, ngay cho!"

    Thaddeus Sholto nài xin.

    "Tôi thực sự không biết phải làm gì nữa."

    Tất cả chúng tôi theo ông ta vào phòng của bà quản gia ở bên tay trái của hành lang chính.

    Bà già đang quýnh quáng đi tới đi lui với vẻ mặt sợ hãi vì những ngón tay vặn xoắn run rẩy, nhưng sự xuất hiện của cô Morstan dường như có tác dụng khiến bà bình tâm hơn.

    "Chúa ban phước cho gương mặt dịu dàng, bình hòa của cô!"

    Bà thốt lên, kèm một tiếng nức nở hoảng hốt.

    "Gặp cô tôi nhẹ cả người.

    Ôi, khổ thân tôi cả ngày hôm nay!"

    Cô bạn của chúng tôi vỗ về bàn tay gầy guộc, lam lũ của bà và thì thầm mấy lời an ủi ân cần của phụ nữ khiến hai gò má tái nhợt cắt không còn giọt máu của bà hồng hào trở lại.

    "Cậu chủ cứ tự giam mình trong phòng và không chịu trả lời tôi", bà giải thích.

    "Tôi đã chờ suốt ngày để nghe cậu chủ gọi vì cậu thường thích ở một mình, nhưng một giờ trước tôi sợ có chuyện gì chẳng lành nên tôi tới nhìn qua lỗ khóa.

    Cậu phải lên trên đó đi, cậu Thaddeus, cậu phải lên mà xem tận mắt đi.

    Tôi đã từng biết cậu Bartholomew Sholto vui buồn ra sao suốt mười năm nay nhưng tôi chưa hề thấy cậu chủ lại có vẻ mặt như thế bao giờ."

    Sherlock Holmes đón lấy ngọn đèn và đi trước dẫn đường vì Thaddeus Sholto đã phát hoảng tới mức người run cầm cập, hai hàm răng đánh vào nhau lập cập không ngừng.

    Khi lên cầu thang, tôi phải luồn tay xốc nách người thấp bé kia vì hai đầu gối ông ta run lẩy bẩy muốn ngã quỵ.

    Có hai lần trong khi đi lên, Holmes móc chiếc kính lúp trong túi ra vẻ cẩn thận xem xét những dấu vết mà đối với tôi chẳng khác gì những vết bụi không hình thù trên tấm thảm xơ dừa trải cầu thang.

    Anh cứ bước thong thả từng bậc một, tay soi đèn, ánh mắt sắc sảo quan sát hai bên.

    Cô Morstan ở lại với bà quản gia hốt hoảng.

    Cầu thang thứ ba kết thúc ở một lối đi thẳng khá dài, phía bên phải là tấm thảm tranh lớn của Ấn Độ còn bên trái là ba cánh cửa.

    Holmes đi theo đường ấy cũng với cung cách từ tốn và cẩn thận ban nãy, trong khi chúng tôi bám sát gót anh, bóng đen của chúng tôi đổ dài xuống hành lang sau lưng.

    Cánh cửa thứ ba là nơi chúng tôi cần đến.

    Holmes gõ cửa mà không thấy ai trả lời, rồi anh xoay tay nắm thử đẩy mạnh.

    Nhưng cửa đã khóa trái ở bên trong.

    Khi tì sát ngọn đèn vào ổ chúng tôi thấy cửa được khóa bởi một cái chốt rất to và chắc.

    Tuy nhiên, chìa đã được vặn sang một bên và lỗ khóa không hoàn toàn bị bịt kín.

    Sherlock Holmes khom người ghé mắt qua lỗ khóa rồi đứng bật dậy ngay lập tức, hít mạnh một hơi.

    "Trong này có gì đó khủng khiếp lắm, Watson", anh nói, vẻ xúc động hơn hẳn những lần tôi đã từng thấy anh bộc lộ.

    "Theo anh thì sao?"

    Tôi khom xuống lỗ khóa rồi kinh hoàng thoái lui.

    Ánh trăng đang chiếu vào căn phòng đó, và bên trong ngập tràn một ánh sáng lờ mờ, ma mị.

    Nhìn thẳng về phía tôi là một bộ mặt trông như lơ lửng vì toàn bộ phía dưới đều chìm trong bóng tối - bộ mặt của chính ông bạn Thaddeus.

    Cũng vầng trán cao bóng loáng ấy, cũng mớ tóc hung đỏ bờm xờm ấy, cũng sắc mặt tái nhợt ấy.

    Thế nhưng nét mặt lại cứng đơ thành một diệu cười kinh dị, một bộ dạng cười nhe răng bất động và phi tự nhiên mà trong căn phòng tĩnh mịch dưới ánh trăng này nó khiến thần kinh rúng động hơn bất kì vẻ mặt cau có hay méo xệch nào.

    Gương mặt ấy giống hệt anh bạn thấp bé của chúng tôi tới mức tôi phải ngoảnh nhìn lại để chắc chắn là ông ta thực sự đang ở cùng chúng tôi.

    Sau đó tôi mới nhớ lại ông ta đã từng cho chúng tôi biết là mình có một người anh song sinh.

    "Kinh khủng quá!"

    Tôi bảo Holmes.

    "Phải làm gì đây?"

    "Phải phá cửa vào trong", anh đáp và xô người vào cánh cửa, vận hết sức lực dồn về phía ổ khóa.

    Cánh cửa rên rỉ, kèn kẹt, nhưng không nhượng bộ.

    Cả hai chúng tôi cùng xô người tới một lần nữa và lần này cánh cửa đột ngột bật ra, và chúng tôi thấy mình đang ở bên trong căn phòng của Bartholomew Sholto.

    Có vẻ như phòng này đã được trang bị để làm một phòng thí nghiệm hóa học.

    Hai hàng chai lọ có nút đậy bằng thủy tinh xếp dài trên bức tường đối diện cánh cửa, và trên cái bàn bừa bộn đủ thứ đèn Bunsen, ống nghiệm và bình cổ cong.

    Ở các góc phòng là những bình lớn có vỏ bọc đặt trong các giỏ đan bằng cây liễu gai.

    Một bình có lẽ đã rò rỉ hay bị vỡ bởi vì một chất lỏng màu thâm đen đã từ đó chảy ra thành vũng nhỏ, và bầu không khí nồng một mùi hăng hăng đặc biệt giống như mùi hắc ín.

    Ở một phía gian phòng là chiếc thang dựng giữa đống thạch cao và gỗ lát trần vung vãi, bên trên là một lỗ hổng đục thủng trần nhà đủ rộng cho một người chui qua.

    Dưới chân thang vứt bừa một cuộn dây thừng dài.

    Cạnh cái bàn là một ghế bành bằng gỗ, chủ nhân của ngôi nhà ngồi bất động trên ghế, đầu gục sang vai trái và trên mặt là nụ cười ma quái bí hiểm đó.

    Người ông ta lạnh cứng và rõ ràng đã chết từ nhiều giờ trước.

    Tôi thấy hình như không chỉ nét mặt mà cả tay chân của ông ta đều vặn vẹo, co quắp hết sức dị thường.

    Trên mặt bàn, cạnh bàn tay người chết là một đồ vật kì lạ - một cái chày vồ nhẵn bóng màu nâu, ở đầu là viên đá giống như đầu búa, được buộc vào bằng dây bện thô sơ.

    Bên cạnh là mảnh giấy được xé từ tờ giấy viết thư, ghi nguệch ngoạc mấy chữ.

    Holmes nhìn qua rồi đưa mảnh giấy cho tôi.

    "Anh xem đi", anh nói và nhướng mày đầy ý nghĩa.

    Dưới ánh sáng ngọn đèn xách tay, tôi đọc và rùng mình kinh hãi - "Dấu bộ tứ"."

    Nhân danh Chúa, chuyện này có nghĩa gì chứ?"

    Tôi hỏi.

    "Có nghĩa là án mạng đấy", anh vừa nói vừa khom người bên xác chết.

    "À, đúng như tôi nghĩ.

    Nhìn này!"

    Anh chỉ cho tôi thấy một vật giống như một cái gai dài, thâm đen, cắm vào da ngay phía trên tai.

    "Trông như cái gai", tôi nói

    "Đúng vậy.

    Anh có thể nhổ nó ra.

    Nhưng cẩn thận đấy, vì gai đã tẩm độc."

    Tôi đưa ngón cái và ngón trỏ nhón lấy cái gai.

    Nó rút khỏi lớp da dễ dàng tới mức hầu như không để lại dấu vết gì.

    Chỉ có một đốm máu nhỏ xíu cho thấy nơi đã bị đâm.

    "Chuyện này lại càng bí ẩn không thể hiểu nổi đối với tôi", tôi nói.

    "Mọi thứ càng thêm mù mịt thay vì sáng tỏ thêm."

    "Ngược lại", anh đáp, "sự việc càng lúc càng rõ ràng.

    Tôi chỉ cần vài mắt xích còn thiếu nữa là xâu kết được toàn bộ sự việc."

    Chúng tôi cơ hồ quên mất sự hiện diện của người bạn đồng hành kể từ lúc chúng tôi đi vào căn phòng này.

    Thaddeus vẫn còn đứng ở ngưỡng cửa, hoàn toàn kinh hãi, hai bàn tay vặn vẹo vào nhau và ông ta cứ rên rỉ một mình.

    Nhưng bất thình lình, ông ta bật ra một tiếng hét lanh lảnh đầy tức tối.

    "Mất kho báu rồi!"

    Ông la lên.

    "Chúng nó cướp kho báu của anh tôi rồi!

    Đó là cái lỗ mà chúng tôi đã hạ cái rương xuống.

    Tôi đã giúp anh tôi làm mà!

    Tôi là người cuối cùng gặp anh tôi!

    Tôi đã để anh tôi ở lại đây đêm qua, và tôi còn nghe anh ấy khóa cửa khi tôi đi xuống cầu thang."

    "Lúc đó là mấy giờ?"

    "10 giờ.

    Bây giờ anh tôi chết rồi, cảnh sát sẽ tới đây, và tôi sẽ bị tình nghi nhúng tay vào vụ này.

    Ôi, đúng thế, tôi biết chắc mà.

    Nhưng quý vị không nghĩ vậy phải không?

    Nhất định là các ông không nghi là tôi làm đấy chứ?

    Nếu tôi làm thì sao tôi lại có thể đưa các ông đến đây?

    Ôi chao!

    Ôi chao!

    Tôi sắp phát điên tới nơi rồi!"

    Thaddeus cứ co giật hai cánh tay và giậm chân thình thịch trong một cơn mê loạn như động kinh.

    "Ông không việc gì phải sợ hãi, ông Sholto", Holmes lên tiếng và ân cần đặt tay lên vai ông ta.

    "Hãy nghe lời tôi, đánh xe xuống đồn báo cảnh sát đi.

    Hãy đề nghị giúp đỡ họ bằng mọi cách.

    Chúng tôi sẽ chờ ở đây cho đến khi ông quay lại."

    Người thấp bé kia làm theo trong trạng thái gần như u mê, và trong bóng tối chúng tôi nghe tiếng ông trượt chân suýt ngã dưới cầu thang.

    6.

    Sherlock Holmes diễn giảng

    "Này, Watson", Holmes vừa nói vừa xoa bàn tay vào nhau, "chúng ta được nửa giờ tự do đấy.

    Hãy tận dụng đi.

    Như tôi đã nói với anh, vụ này đối với tôi hầu như đã đầy đủ dữ kiện, nhưng chúng ta không được sai lầm vì quá tự tin.

    Bây giờ vụ này đã có vẻ đơn giản nhưng có thể còn ẩn chứa điều gì đó sâu xa hơn."

    "Đơn giản?"

    Tôi thốt lên.

    "Đúng", anh nói với giọng điệu của một vị giáo sư lãnh đạm đang giảng bài trước lớp học.

    "Anh cứ ngồi ở góc phòng đó nhé, để dấu chân của anh khỏi làm phức tạp vấn đề.

    Bây giờ làm việc!

    Trước hết, chúng đến bằng cách nào và chúng đi bằng cách nào?

    Cửa ra vào từ đêm qua đã không hề mở ra.

    Còn cửa sổ thì sao?"

    Anh cầm đèn đi tới cửa sổ, miệng lẩm bẩm nêu ra những kết quả quan sát nhưng anh nói với chính mình hơn là nói với tôi.

    "Cửa sổ cài chốt phía trong.

    Khung cửa chắc chắn.

    Cạnh cửa không có bản lề.

    Ta thử mở ra xem, gần đấy không có ống nước nào.

    Mái nhà xa ngoài tầm với.

    Tuy vậy có kẻ đã leo qua cửa sổ.

    Đêm qua trời mưa nhỏ.

    Đây này, trên bệ cửa sổ còn dính đất của một dấu chân.

    Còn đây là một dấu bùn đất hình tròn, rồi trên sàn nhà đây này, rồi cạnh cái bàn cũng có nữa.

    Nhìn đi, Watson!

    Quả là một chứng cứ rất tuyệt."

    Tôi nhìn những dấu bùn đất hình tròn rõ nét.

    "Đây đâu phải dấu chân."

    Tôi nói.

    "Dấu ấy có giá trị đối với chúng ta hơn là dấu chân nhiều lắm.

    Đấy là dấu của một cái chân gỗ.

    Anh xem đây, trên bệ cửa này là dấu giày, một chiếc ghệt lớn đóng gót kim loại to bản, và bên cạnh là dấu tròn của cái chân gỗ."

    "Chính là người có chân gỗ."

    "Đúng thế.

    Nhưng còn một kẻ khác nữa, một kẻ tòng phạm rất lành nghề và đắc dụng.

    Anh có thể leo trên bức tường đó được không, bác sĩ?"

    Tôi nhìn qua cánh cửa sổ mở.

    Vầng trăng vẫn soi sáng ngôi nhà theo hướng cũ.

    Chúng tôi đang đứng cách mặt đất sáu mươi foot và từ chỗ tôi đứng tôi không nhìn thấy một chỗ nào có thể bám chân hay một khe hở nào trên bức tường gạch này.

    "Chắc chắn không thể nào leo được", tôi đáp.

    "Nếu không có trợ giúp thì đúng là thế.

    Nhưng giả sử anh có một người bạn ở trên này thả xuống cho anh sợi dây thừng to chắc mà tôi thấy trong góc phòng, buộc chặt một đầu dây vào cái móc lớn ở trên tường này.

    Đấy, tôi nghĩ nếu anh là người nhanh nhẹn thì anh vẫn có thể leo lên được, dù có chân gỗ hay chân gì đi nữa.

    Tất nhiên anh cũng phải ra đi theo cách đó, và đồng minh của anh sẽ kéo dây lên, tháo khỏi móc, đóng cửa sổ, chốt lại bên trong, rồi tẩu thoát theo ngả hắn ta đã đi vào lúc đầu.

    Có một chi tiết tuy nhỏ nhưng cũng cần lưu ý", anh vừa nói tiếp vừa mân mê sợi dây thừng, "đó là người bạn chân gỗ của chúng ta cho dù giỏi leo trèo nhưng lại không phải là thủy thủ chuyên nghiệp.

    Hai bàn tay hắn ta không hề chai sần.

    Kính lúp của tôi cho thấy nhiều dấu máu, nhất là về phía cuối sợi dây, từ đó tôi kết luận là hắn ta đã tuột xuống nhanh đến độ tróc cả một mảng da bàn tay."

    "Tất cả đều hợp lí", tôi nói, "nhưng có một điều lại càng khó hiểu hơn bao giờ hết.

    Tên đồng lõa bí ẩn này thì sao?

    Làm sao hắn vào phòng này được chứ?"

    "Đúng, tên đồng lõa!"

    Holmes lập lại với vẻ trầm ngâm.

    "Tên này có nhiều chi tiết thú vị.

    Chính hắn đã khiến vụ này vượt xa trình độ tầm thường.

    Tôi cho rằng hắn đã tạo ra bước tiến lớn trong biên niên sử tội phạm ở nước ta, mặc dù có thể liên tưởng đến nhiều vụ tương tự ở Ấn Độ, và nếu như tôi nhớ không lầm, thì cả từ Senegambia nữa."

    "Thế thì hắn vào bằng ngả nào chứ?"

    Tôi lặp lại.

    "Cửa phòng khóa, cửa sổ không thể trèo lên.

    Không lẽ chui qua ống khói ư?"

    "Vì lò sưởi quá nhỏ", anh đáp.

    "Tôi đã cân nhắc khả năng đó rồi."

    "Vậy thì bằng cách nào?"

    Tôi vẫn khăng khăng.

    "Anh không chịu áp dụng những quy tắc của tôi", anh lắc đầu nói.

    "Tôi thường bảo anh là khi đã loại trừ hết những điều bất khả, thì điều gì còn lại, cho dù phi lí tới đâu, nhất định phải là sự thật!

    Chúng ta biết là kẻ này không đi qua cửa chính, cửa sổ hay ống khói.

    Chúng ta cũng biết là hắn không thể nào ẩn nấp trong phòng này, bởi không có chỗ nào khả dĩ ẩn nấp được.

    Nếu vậy thì hắn từ đâu đến?"

    "Hắn đi qua cái lỗ thủng trên mái nhà?"

    Tôi kêu lên.

    "Đương nhiên là thế.

    Hắn ta hẳn phải theo ngả đó.

    Nếu anh vui lòng cầm cái đèn giúp tôi, chúng ta sẽ mở rộng phạm vi điều tra sang căn phòng bên trên, căn phòng bí mật nơi cất giấu kho báu."

    Anh trèo lên thang rồi mỗi tay bám lấy một xà nhà, anh đu người lên căn gác xép áp mái.

    Sau đó, anh nằm sấp xuống đưa tay đón lấy ngọn đèn và cầm đèn cho tôi trèo lên theo.

    Căn phòng này dài chừng mười foot, còn chiều kia khoảng sáu foot.

    Sàn phòng chính là những xà nhà ở giữa lát ván trần, trét thạch cao, cho nên khi đi ta phải bước từ xà này sang xà kia.

    Mái dựng thành chóp nhọn và rõ ràng là mặt trong mái nhà.

    Không hề có đồ đạc gì cả và bụi bặm tích tụ theo tháng năm đóng dày trên mặt sàn.

    "Đây này, anh thấy chưa", Sherlock Holmes vừa nói vừa đặt tay vào một vách nghiêng.

    "Đây là cửa sập thông ra mái nhà.

    Tôi có thể đẩy cửa ra, và kia chính là mái nhà nghiêng theo một góc thoải.

    Vậy thì đây chính là ngả mà tên Số Một đi vào.

    Hãy xem thử chúng ta có tìm được dấu vết cá biệt nào khác của hắn không."

    Anh đặt đèn xuống sàn và lần thứ hai trong đêm hôm đó tôi nhìn thấy vẻ ngạc nhiên, sửng sốt hiện trên nét mặt anh.

    Về phần mình, khi dõi theo cái nhìn của anh, tôi phát ớn lạnh dù mặc quần áo ấm.

    Trên sàn đầy dấu vết một bàn chân trần - rõ ràng, sắc nét, hình dạng hoàn hảo, nhưng kích thước chưa tới phân nửa dấu chân của một người bình thường.

    "Holmes", tôi thì thào, "một đứa nhỏ đã làm chuyện kinh khủng này."

    Anh đã trấn tĩnh lại trong chớp nhoáng.

    Anh nói, "Tôi đã sửng sốt mất một lúc nhưng chuyện này cũng tự nhiên thôi.

    Tôi đã không nhớ hết các chi tiết, nếu không thì tôi đã tiên liệu được rồi.

    Ở đây chẳng còn gì để tìm hiểu nữa.

    Chúng ta leo xuống đi."

    "Thế thì giả thuyết của anh về những dấu chân đó là thế nào?"

    Tôi hăm hở hỏi khi cả hai đã trở lại căn phòng phía dưới.

    "Anh Watson thân mến ơi, thử tự mình phân tích một chút xem", anh nói, vẻ hơi mất kiên nhẫn.

    "Anh biết phương pháp của tôi mà.

    Cứ áp dụng đi, nó sẽ dẫn đường cho anh khi đối chiếu các kết quả."

    "Tôi không nghĩ ra được kết luận nào có thể khớp với mọi dữ kiện", tôi đáp.

    "Rồi anh sẽ thấy rõ ngay thôi", anh nói với vẻ hờ hững.

    "Chắc là không còn gì quan trọng ở đây nữa, nhưng để tôi xem lại."

    Anh móc kính lúp và thước dây ra, rồi bò trên đầu gối lăng xăng khắp phòng, lúc đo đạc, lúc đối chiếu, xem xét, cái mũi dài và thanh mảnh của anh chỉ cách mặt ván sàn chừng vài inch, còn đôi mắt nhỏ sáng rực và hốc mắt sâu như mắt của loài chim.

    Những động tác của anh hết sức mau lẹ, khẽ khàng và bí ẩn chẳng khác gì một con chó săn lão luyện đang đánh hơi, khiến tôi không khỏi nghĩ rằng anh hẳn sẽ là một tên tội phạm khủng khiếp biết nhường nào nếu như dồn hết sức lực và trí tuệ để chống lại chứ không phải để bảo vệ luật pháp.

    Trong lúc lùng sục khắp nơi, anh cứ nói lẩm bẩm một mình, và cuối cùng anh bật ra một tiếng kêu to đắc chí.

    "Đúng là chúng ta gặp may rồi", anh nói.

    "Bây giờ chúng ta không còn nhiều khó khăn nữa.

    Số Một đã xui xẻo giẫm chân vào vũng dầu creosote này.

    Anh có thể thấy đường nét cạnh bàn chân nhỏ nhắn của hắn ta ở đây, kế bên vũng hôi nồng này.

    Bình chứa bị nứt.

    Thấy chưa, chất lỏng bên trong đã chảy ra."

    "Thế thì sao?"

    Tôi hỏi.

    "Ồ, chúng ta đã tóm được hắn, thế thôi", anh nói.

    "Tôi biết chắc một con chó sẽ đánh hơi ra cái mùi đó đến tận cùng thế giới.

    Nếu một đàn chó có thể bám theo con mồi bị săn đuổi khắp cả vùng rộng lớn, thì một con chó săn được huấn luyện đặc biệt có thể dò theo cái mùi hăng nồng như thế này được bao xa?

    Nghe có vẻ như một phép tính theo quy tắc tam suất.

    Đáp số sẽ cho ta biết.

    A ha!

    Các đại diện chính thức của pháp luật đến rồi kìa."

    Tiếng bước chân nặng nề và tiếng người nói huyên náo từ bên dưới vẳng lên và tiếng cửa chính đóng sầm một cái inh tai.

    Holmes bảo tôi, "Trước khi họ lên đây, anh hãy đặt tay lên cánh tay của kẻ xấu số này, rồi đặt ở đây trên chân ông ta nữa.

    Anh cảm thấy gì nào?"

    "Các cơ bắp cứng ngắc như tấm phản", tôi đáp.

    "Đúng thế!

    Các cơ bắp ở trong tình trạng co rút cực độ, vượt xa trạng thái rigor mortis thông thường.

    Cộng với nét mặt biến dạng méo mó, với hai má căng cơ thành kiểu cười mà các y văn cổ gọi là trạng thái risus sardonicus.

    Vậy thì anh nghĩ ra kết luận gì nào?"

    "Một chất độc rất mạnh có nguồn gốc thực vật", tôi nói, "một chất nào đó giống như mã tiền có khả năng làm co cơ."

    "Đó chính là ý tưởng nảy ra trong đầu ngay khi tôi nhìn thấy các cơ căng cứng trên khuôn mặt này.

    Khi bước vào phòng, tôi liền tìm hiểu xem độc chất đã xâm nhập cơ thể bằng phương tiện gì.

    Như anh đã thấy, tôi phát hiện ra một cái gai được đâm hay bắn vào da đầu hết sức nhẹ nhàng.

    Anh để ý xem, nếu người này ngồi thẳng trên ghế thì chỗ bị bắn gai vào sẽ hướng về phía lỗ thủng trên trần nhà.

    Bây giờ hãy kiểm tra cái gai."

    Tôi thận trọng nhón cái gai lên và đưa ra dưới ánh đèn.

    Chiếc gai dài, bén, và thâm đen, phía gần đầu nhọn có vẻ bóng loáng như thể một chất keo gì đó đã được phết lên đó và để cho khô.

    Đầu gai còn lại đã được gọt tròn bằng dao.

    "Có phải loại cây gai nào đó của Anh quốc không?"

    "Không phải, chắc chắn là không.

    Với tất cả dữ kiện này anh đã có thể rút ra một số kết luận chính xác.

    Nhưng quân chính quy đã đến kìa, vậy thì lực lượng hỗ trợ có thể rút quân được rồi."

    Trong lúc anh nói, những bước chân đang đi tới vang động khắp hành lang, rồi một người đàn ông đẫy đà, to béo mặc bộ đồ màu xám sấn bước thình thịch vào phòng.

    Đó là một người mặt đỏ hồng, trông sung mãn và dư thừa quá mức, đôi mắt ti hí hấp háy với ánh nhìn sắc sảo lọt thỏm giữa hai túi thịt căng phồng húp híp.

    Theo sát ông ta là một viên thanh tra khác mặc cảnh phục và Thaddeus Sholto, người vẫn còn run lẩy bẩy.

    "Công việc đây rồi!"

    Ông ta thốt lên bằng một giọng khàn khàn, nghèn nghẹn.

    "Công việc quan trọng đây rồi!

    Nhưng mấy người này là ai?

    Ối chà, căn nhà này coi bộ đông nghẹt như hang thỏ!"

    "Chắc là ông phải nhớ tôi chứ, ông Athelney Jones", Holmes khẽ lên tiếng.

    "Ồ, tất nhiên là nhớ", ông ta nói khò khè.

    "Đây là ông Sherlock Holmes, lí thuyết gia.

    Nhớ rõ nữa kìa!

    Tôi không hề quên ông đã thuyết giảng cho cả bọn chúng tôi nghe về những nguyên nhân, suy luận và hệ quả trong vụ hộp đựng nữ trang Bishopgate.

    Quả đúng là ông đã giúp chúng tôi điều tra đúng hướng, nhưng bây giờ chắc ông phải thừa nhận rằng lần đó ông gặp vận may hơn là phán đoán tốt."

    "Vụ đó suy luận rất đơn giản mà."

    "Ồ, thôi nào, bỏ qua!

    Chẳng có gì phải xấu hổ khi thừa nhận cả.

    Nhưng chuyện gì thế này?

    Chuyện dữ!

    Chuyện dữ!

    Toàn là dữ liệu thực tế đấy, không có chỗ cho giả thuyết đâu.

    May mà tôi tình cờ đến Norwood vì một vụ khác!

    Khi tin báo đến nơi thì tôi đang ở đồn cảnh sát.

    Theo ông thì người này vì sao chết?"

    "Ồ, vụ này chưa cần tôi đưa ra giả thuyết", Holmes lạnh lùng nói.

    "Không, không.

    Dù sao chúng tôi cũng không phủ nhận là có lúc ông đoán trúng phóc.

    Ôi trời!

    Cửa phòng đã khóa, tôi hiểu rồi.

    Số châu báu trị giá nửa triệu biến mất.

    Còn cửa sổ thì sao?"

    "Khóa chặt, nhưng có dấu chân trên bệ cửa."

    "Đó, đó, nếu cửa khóa chặt thì dấu chân chẳng có liên quan gì đến chuyện này.

    Ai mà không biết chứ.

    Người này có thể đã chết trong cơn đau tim, nhưng rồi châu báu biến mất.

    A!

    Tôi có giả thuyết đây.

    Nhiều khi tôi cũng tỏa sáng đấy chứ...

    Hãy bước ra ngoài đi, anh hạ sĩ.

    Và ông nữa, ông Sholto.

    Bạn của ông có thể ở lại...

    ông nghĩ sao, ông Holmes?

    Theo lời khai của chính Sholto thì đêm qua hắn ta đã ở đây với anh hắn.

    Anh hắn đau tim chết, thế là Sholto ôm kho báu bỏ đi.

    Ông thấy sao?"

    "Thế là người chết này rất ý tứ đứng dậy và khóa cửa phòng từ bên trong."

    "Hừm!

    Có sai lầm ở đây.

    Ta hãy thử áp dụng óc phán đoán thực tế xem nào.

    Tên Thaddeus Sholto này đã ở cùng anh hắn, đã có cãi cọ, chúng ta đã biết quá rõ.

    Người anh chết còn châu báu thì mất.

    Chúng ta cũng đã biết quá rõ.

    Không một ai nhìn thấy người anh kể từ lúc Thaddeus ra đi.

    Giường ngủ của người anh không có ai nằm.

    Thaddeus rõ ràng ở trong tâm trạng hết sức bất an.

    Diện mạo của hắn thì...

    ừ, chẳng ai ưa nhìn.

    Ông thấy là tôi đang dệt tấm lưới bao quanh Thaddeus.

    Màn lưới bắt đầu trùm lên hắn."

    "Ông vẫn chưa có đủ các dữ kiện mà", Holmes nói.

    "Dằm gỗ này đã cắm vào da đầu của người chết ở chỗ ông thấy dấu vết đó, tôi có đủ lí do để tin rằng dằm gỗ tẩm độc.

    Còn tấm thiếp này, ông thấy có ghi chữ đó, nằm trên bàn, và bên cạnh là một đồ vật kì lạ có đầu bằng đá.

    Làm sao khớp được tất cả vào giả thuyết của ông?"

    "Xác đáng trong mọi phương diện", viên thanh tra mập béo nói với vẻ khoa trương.

    "Nhà này đầy những vật lạ ở Ấn Độ.

    Thaddeus đã bày chúng ra, và nếu dằm gỗ này tẩm độc thì Thaddeus có khả năng đã sử dụng nó với ý đồ sát nhân như bất kì ai. tấm thiếp này chỉ là trò bịp, một thứ hỏa mù, rất có thể như thế.

    Câu hỏi duy nhất là hắn đi ra bằng cách nào?

    À, tất nhiên rồi, có cái lỗ trên mái nhà."

    Với sự nhanh nhẹn tuyệt vời nếu xét đến tấm thân kềnh càng của ông ta, viên thanh tra nhảy vọt lên chiếc thang, nhét người chui vào căn gác xép, và liền sau đó chúng tôi nghe tiếng nói hớn hở của ông ta tuyên bố đã phát hiện ra cánh cửa sập.

    "Gã cũng tìm được cái gì đó", Holmes vừa nói vừa nhún vai.

    "Thỉnh thoảng gã cũng biết suy luận đấy!

    Il n'y a pas des sots si incommodes que ceux qui ont de l'esprit!"

    "Thấy chưa!"

    Athelney Jones lại xuất hiện và vừa nói vừa trèo xuống thang.

    "Dẫu sao thực tế vẫn hay hơn giả thuyết.

    Quan điểm của tôi về vụ này đã được xác thực.

    Có một cửa sập thông ra mái nhà và đã mở hé."

    "Chính tôi mở ra đó."

    "Ồ, vậy à!

    Hóa ra ông đã thấy rồi sao?"

    Ông ta có vẻ hơi thất vọng khi biết chuyện này.

    "Chà, cho dù ai thấy đi nữa thì nó cũng cho biết ngài quý tộc của chúng ta đã tẩu thoát bằng cách nào.

    Thanh tra đâu?"

    "Có tôi, thưa ông", tiếng nói từ hành lang vọng vào.

    "Yêu cầu ông Sholto bước vào đây...

    Này ông Sholto, bổn phận của tôi là thông báo với ông rằng bất cứ điều gì ông nói ra có thể được dùng làm chứng cứ buộc tội ông.

    Nhân danh nữ hoàng, tôi bắt giữ ông vì có dính líu đến cái chết của anh ông."

    "Đấy, biết mà!

    Tôi đã bảo các ông rồi!"

    Kẻ thấp bé tội nghiệp kia kêu lên, hai bàn tay vung ra, mắt hết nhìn từ Holmes lại chuyển sang nhìn tôi.

    "Đừng có lo chuyện này, ông Sholto", Holmes nói.

    "Tôi nghĩ là tôi có thể can thiệp để minh oan cho ông."

    "Đừng hứa hẹn quá nhiều, ngài Lí Thuyết Gia ơi, đừng hứa hẹn quá nhiều!"

    Viên thanh tra ngắt lời.

    "Ông sẽ thấy vụ này khó khăn hơn ông tưởng đấy."

    "Ông Jones, không những tôi sẽ minh oan cho ông ấy mà tôi còn tặng ông một món quà miễn phí là tên và nhân dạng của một trong hai kẻ đã có mặt trong phòng này đêm hôm qua.

    Tôi có đủ lí do để tin rằng tên hắn là Jonathan Small.

    Hắn là một kẻ ít học, nhỏ con, nhanh nhẹn, chân phải bị cụt và mang một chân gỗ mà mặt trong đã mòn vẹt.

    Chiếc ghệt trái của hắn đế đã tồi tàn, mũi vuông, gót bọc sắt.

    Mấy dấu hiệu này có thể có ích cho ông đấy, cộng thêm dữ kiện là một mảng da lớn trong lòng bàn tay hắn đã bị tróc mất.

    Còn kẻ thứ hai..."

    "Á à!

    Còn người khác nữa ư?"

    Athelney Jones hỏi với giọng giễu cợt nhưng, như tôi thấy rõ, ông ta vẫn bị phong cách tỉ mỉ chính xác của Holmes gây ấn tượng.

    "Là một kẻ khá quái dị", Sherlock Holmes vừa nói vừa quay gót.

    "Hi vọng là chẳng bao lâu nữa tôi có thể giới thiệu cả hai người này với ông...

    Watson này, nói riêng với anh một chút."

    Anh kéo tôi ra đầu cầu thang rồi nói, "Sự cố bất ngờ này đã khiến chúng ta quên mất mục tiêu ban đầu của chuyến đi."

    "Tôi cũng đang nghĩ như vậy đó", tôi đáp.

    "Cứ để cô Morstan ở lại trong ngôi nhà tai họa này là không nên."

    "Đúng.

    Anh phải đưa cô ấy về nhà.

    Cô ấy ở nhà bà Cecil Forrester, khu Hạ Camberwell, nên cũng không xa lắm.

    Tôi sẽ đợi anh ở đây cho đến khi anh đón xe quay trở lại.

    Hay là anh cũng quá mệt rồi?"

    "Hoàn toàn không.

    Tôi e là tôi không thể nào ngơi nghỉ chừng nào chưa hiểu rõ hơn sự việc kì quái này.

    Tôi đã chứng kiến nhiều chuyện ghê gớm trong đời nhưng nói thật với anh, hàng loạt chuyện kinh ngạc lạ lùng liên tiếp xảy ra đêm nay đã khiến tôi hết sức căng thẳng.

    Tuy vậy, đã theo anh đến tận bây giờ rồi thì tôi vẫn muốn biết tường tận sự việc."

    "Sự có mặt của anh giúp ích cho tôi nhiều lắm đấy", anh đáp.

    "Chúng ta sẽ độc lập giải quyết vụ này và để cho gã ngốc Jones hả hê với bất kì phát hiện ảo tưởng nào mà gã muốn dựng ra.

    Khi anh đã đưa cô Morstan về nhà, tôi muốn anh đi tiếp tới số 3 ngõ Pinchin, mé gần bờ sông phía Lambeth.

    Nhà thứ ba bên tay phải là của một người chuyên làm thú nhồi rơm tên là Sherman.

    Anh sẽ thấy ở cửa sổ có một con chồn đang ôm một con thỏ con.

    Gõ cửa gọi già Sherman dậy và bảo ông ấy tôi nhắn là tôi cần Toby gấp.

    Rồi anh đưa Toby lên xe ngựa đi cùng."

    "Một con chó à?"

    "Đúng, một con chó lai kì lạ có khả năng đánh hơi hết sức tuyệt vời.

    Tôi thà nhờ con Toby giúp sức còn hơn trông cậy vào toàn bộ lực lượng thanh tra cảnh sát London."

    "Vậy thì tôi sẽ đưa nó đến", tôi nói.

    "Đã 1 giờ rồi.

    Chắc phải trước 3 giờ tôi mới quay lại được, nếu như tìm được con ngựa khỏe."

    "Về phần mình", Holmes nói, "để tôi xem có thể biết được gì thêm từ bà Bernstone và người gia nhân Ấn Độ không, ông Thaddeus bảo tôi là người này ngủ ở căn gác xép áp mái kế bên.

    Sau đó tôi sẽ học hỏi các phương pháp của ngài Jones vĩ đại và lắng nghe những lời châm biếm không mấy tế nhị của hắn ta.

    Wir sind gewohnt dass die Menschen verhöhnen was sie nicht verstehen, Goethe lúc nào cũng thật súc tích."

    7.

    Truy lùng dấu vết

    Cảnh sát đã đến đây bằng xe ngựa và tôi hộ tống cô Morstan lên cỗ xe ấy đưa về nhà.

    Với cung cách thiên thần của nữ giới, cô đã chịu đựng chuyện kinh khủng này với thái độ điềm tĩnh trong chừng mực có ai đó yếu đuối hơn để cô giúp đỡ, và tôi đã thấy cô tươi tỉnh, bình thản khi ở bên cạnh bà quản gia khiếp đảm kia.

    Tuy nhiên, khi vào trong xe cô lại hóa ra yếu mềm và òa khóc nức nở - cuộc phiêu lưu đêm nay đã khiến cô khổ sở biết bao.

    Sau này cô bảo tôi rằng trong chuyến đi ấy cô cứ tưởng tôi là kẻ lạnh lùng và thờ ơ.

    Cô nào biết nỗi giày vò trong lòng tôi, hay nỗ lực tự kiềm chế đã ràng buộc tôi.

    Bao cảm thông và thương mến tôi đã dành hết cho cô, thậm chí ngay cả bàn tay tôi nắm lấy tay cô khi ở trong khu vườn ấy cũng dạt dào xúc động.

    Tôi cảm thấy bao nhiêu năm tháng sống theo lệ thường cũng không giúp tôi hiểu được bản tính vừa can trường vừa dịu dàng của cô cho bằng chỉ một ngày đầy kinh nghiệm lạ lùng này.

    Thế nhưng có hai điều khóa chặt những lời yêu thương trên môi tôi.

    Cô yếu đuối và bất lực, còn tinh thần lại căng thẳng bất an.

    Bắt cô phải đón nhận tình cảm của tôi vào thời điểm như thế quả là chẳng có ích gì.

    Tệ hơn nữa, cô lại giàu có.

    Nếu việc điều tra của Holmes thành công thì cô sẽ là người thừa kế cả một gia tài.

    Có công bằng chăng, có xứng đáng chăng, khi một bác sĩ quân y đang hưởng lương phụ cấp lại lợi dụng một sự thân tình do ngẫu nhiên đưa tới?

    Không khéo cô ấy lại xem tôi chẳng khác gì một kẻ đào mỏ ti tiện ấy chứ?

    Tôi không thể đánh liều để cho ý nghĩ đó nảy sinh trong tâm tư cô.

    Cái kho báu Agra này đã chắn giữa hai chúng tôi như một chướng ngại vật không thể vượt qua.

    Lúc chúng tôi đến nhà bà Cecil Forrester thì đã gần 2 giờ sáng.

    Đám gia nhân đã đi ngủ từ lâu nhưng bà Forrester quá quan tâm đến bức thư kì lạ gửi cho cô Morstan tới mức bà cứ ngồi thức mong ngóng cô về.

    Đích thân bà ra mở cửa, một phụ nữ trung niên duyên dáng, và tôi hoan hỉ khi thấy cánh tay bà ôm vòng qua eo cô gái trìu mến xiết bao và tiếng bà chào đón cô cũng tràn trề tình mẫu tử.

    Rõ ràng cô gái không phải là người lệ thuộc vì đồng lương mà là một người bạn được quý trọng.

    Cô giới thiệu tôi và bà Forrester sốt sắng mời tôi vào nhà để thuật lại chuyến phiêu lưu vừa qua.

    Dù vậy, tôi phải nói rõ mục đích quan trọng của mình và thành thực hứa với bà là sẽ đến và tường thuật mọi tiến triển sắp tới của vụ này.

    Khi xe đã chạy, ngoái nhìn lại tôi vẫn thấy hai bóng người ấy đứng trên bậc thềm, hai phụ nữ duyên dáng đang ôm lấy nhau; thấy cánh cửa mở lưng chừng, ánh đèn tiền sảnh soi sáng qua lớp kính màu; thấy chiếc phong vũ biểu và những thanh sắt bóng loáng chặn thảm cầu thang.

    Thật dễ chịu khi nhìn thấy dù chỉ thoáng qua cảnh một gia đình Anh quốc bình yên ngay giữa lúc vụ án đen tối, man rợ này đang cuốn hút chúng tôi.

    Và càng nghĩ tới những gì đã xảy ra, tôi thấy mọi chuyện càng đen tối và man rợ thêm.

    Tôi điểm lại toàn bộ trình tự dị thường của các sự kiện trong lúc cỗ xe lọc cọc lăn bánh trên đường phố tĩnh lặng dưới ánh đèn khí đốt.

    Ít ra vấn đề ban đầu bây giờ đã rõ ràng.

    Cái chết của đại úy Morstan, việc gửi những viên ngọc, mẩu tin nhắn, bức thư, tất cả những sự kiện ấy đều đã sáng tỏ.

    Thế nhưng chúng chỉ đưa chúng tôi đến một bí ẩn càng sâu thẳm và bi đát hơn nhiều.

    Kho báu từ Ấn Độ, bức họa đồ khó hiểu tìm thấy trong hành lí của ông Morstan, cảnh tượng lạ lùng lúc thiếu tá Sholto qua đời, kho báu vừa được phát hiện thì lập tức người phát hiện lại bị sát hại, những chi tiết vô cùng kì quặc kèm theo tội ác, những dấu chân, vũ khí khác thường, dòng chữ trên mẩu giấy tương ứng với những lời ghi trên tấm bản đồ của đại úy Morstan - quả thực đây là một mê cung mà người nào không có tư chất thiên phú phi thường như anh bạn trọ cùng nhà với tôi hẳn sẽ phải tuyệt vọng vì không thể nào tìm ra manh mối.

    Ngõ Pinchin là một dãy nhà gạch hai tầng tồi tàn nằm tại khu vực dân nghèo ở quận Lambeth.

    Tôi phải gõ cửa nhà số 3 một hồi lâu mới gây được chú ý.

    Cuối cùng thì sau tấm rèm cũng có ánh nến lóe sáng và từ ô cửa sổ tầng trên, một gương mặt nhìn ra.

    "Cút đi, quân bét rượu kia", gương mặt ấy lên tiếng.

    "Nếu mày làm ồn một lần nữa là tao mở chuồng cho bốn mươi ba con chó vồ lấy mày đó."

    "Chỉ cần ông thả ra một con thôi, tôi đến chính vì chuyện đó đấy", tôi nói.

    "Cút đi!"

    Giọng nói ấy quát to.

    "Thề có Chúa, tao có sẵn cây chổi lau nhà ngay đây, mày không cuốn xéo thì tao ném xuống đầu mày đó."

    "Nhưng tôi cần một con chó", tôi kêu lên.

    "Đừng có cãi với tao!"

    Ông Sherman quát tháo.

    "Tránh xa ngay, nếu không tao đếm đến ba là mày lãnh đủ cái chổi lau nhà."

    "Ông Sherlock Holmes..."

    Tôi mới bắt đầu nói, nhưng cái tên ấy có tác động hết sức màu nhiệm vì cánh cửa sổ lập tức đóng sập xuống và chỉ trong một phút cửa chính đã được tháo chốt và mở toang, ông Sherman là một ông già gầy còm, cao lêu nghêu với hai bờ vai xuôi, cần cổ gân guốc, và đeo mắt kính ánh xanh.

    "Bạn của ông Sherlock Holmes luôn được đón tiếp", ông già nói.

    "Vào đi, thưa ông.

    Tránh xa con chồn lửng này kẻo nó cắn đó.

    À, đồ hư, đồ hư, bộ mày muốn cắn quý ông này à?"

    Ông nói với con triết trắng đang thò cái đầu hung dữ và đôi mắt đỏ giữa những chấn song chuồng thú.

    "Mặc kệ nó, ông ạ, đây chỉ là một con rắn thủy tinh.

    Nó không có răng nanh nào cả nên tôi thả rông nó trong phòng này để nó diệt bớt sâu bọ đó mà.

    Ông đừng phiền là lúc đầu tôi có hơi cộc cằn với ông nhé, vì tôi cứ toàn bị tụi nhỏ chọc ghẹo, và có nhiều đứa cứ hay vào đường này gõ cửa phá giấc ngủ của tôi.

    Mà ông Sherlock Holmes cần gì vậy, thưa ông?"

    "Anh ấy cần một con chó của ông."

    "A!

    Vậy chắc là con Toby."

    "Đúng rồi, tên con chó là Toby."

    "Toby ở chuồng số 7 phía bên trái đó."

    Ông từ từ cầm cây nến đi tới giữa gia đình thú vật lạ lùng được ông gom về chung một nhà.

    Trong ánh sáng chập chờn, lờ mờ ấy tôi mơ hồ nhận ra nhiều đôi mắt lấp loáng đang nhìn ngó chúng tôi từ mọi ngóc ngách.

    Ngay cả những xà nhà trên đầu chúng tôi cũng sắp hàng dài đầy những loài chim bệ vệ nào đó, chúng uể oải chuyển trọng tâm thân hình từ chân này sang chân kia khi bị tiếng nói của chúng tôi quấy rối giấc điệp.

    Hóa ra Toby là một con chó xấu xí, lông dài, tai cụp, lai giữa hai giống chó săn Tây Ban Nha và Ireland, màu lông vừa nâu vừa trắng, và có dáng đi lạch bạch trông rất vụng về.

    Sau một lúc ngần ngừ, nó đón nhận viên đường mà nhà tự nhiên học cao niên kia đưa cho tôi, và sau khi xác lập tính đồng minh bằng cách đó, nó theo tôi ra xe ngựa mà không hề gây khó khăn gì.

    Chuông đồng hồ trên tháp Big Ben vừa gióng ba tiếng thì tôi thấy mình một lần nữa đã trở lại biệt trang Pondicherry.

    Tôi hay tin chàng cựu võ sĩ McMurdo đã bị bắt giữ như một kẻ tòng phạm, và cả anh ta lẫn ông Sholto đều đã bị giải về đồn cảnh sát.

    Hai cảnh binh đang canh gác cái cổng hẹp nhưng họ để tôi cùng con chó đi qua khi tôi nêu tên viên thám tử.

    Holmes đang đứng ở ngưỡng cửa, hai tay cho vào túi, miệng ngậm tẩu thuốc.

    "À, anh mang nó tới rồi!"

    Anh nói.

    "Nào, chó ngoan!

    Athelney Jones đi rồi.

    Sau khi anh đi thì gã phô trương năng lực quá chừng.

    Không những bắt giữ Thaddeus mà hắn còn bắt luôn cả anh gác cổng, bà quản gia và người hầu Ấn Độ.

    Chỗ này hoàn toàn thuộc về chúng ta, chỉ có một hạ sĩ ở trên lầu thôi.

    Để con chó ở đây, lên lầu đi."

    Chúng tôi buộc Toby vào cái bàn dưới sảnh rồi lại lên cầu thang.

    Căn phòng vẫn y nguyên như lúc chúng tôi ra ngoài, ngoại trừ một tấm chăn bây giờ đã được phủ lên nhân vật chính.

    Viên hạ sĩ cảnh sát mặt mày bơ phờ đang tựa lưng vào góc tường.

    "Cho tôi mượn cái đèn xách tay đi, hạ sĩ ơi", anh bạn tôi nói.

    "Bây giờ anh buộc cái đèn này quanh cổ tôi đi, cho nó thòng ra phía trước nhé.

    Cảm ơn anh.

    Giờ tôi phải tháo hết giày vớ đã...

    Anh xuống thì mang theo giùm tôi với, Watson.

    Tôi sẽ phải leo trèo chút ít.

    Và nhúng cái khăn tay của tôi vào vũng dầu creosote kia.

    Thế được rồi.

    Bây giờ anh với tôi lên trên gác xép một lúc."

    Chúng tôi chui qua lỗ hổng và trèo lên.

    Holmes lại bật đèn soi vào những dấu chân trên lớp bụi.

    "Tôi mong là anh đặc biệt chú ý đến các dấu chân này", anh nói.

    "Anh có thấy gì đáng lưu ý không?"

    "Đây là dấu chân của một đứa trẻ", tôi nói, "hay của một phụ nữ rất nhỏ bé."

    "Nhưng ngoài kích thước ra thì còn gì nữa không?"

    "Trông cũng giống các dấu chân khác thôi mà."

    "Hoàn toàn không.

    Xem này!

    Đây là dấu của bàn chân phải trên lớp bụi.

    Bây giờ tôi lấy bàn chân không của tôi in một dấu bên cạnh.

    Đâu là điểm khác biệt chính yếu nào?"

    "Các ngón chân của anh chụm lại.

    Còn dấu chân kia lại có các ngón tẽ ra rất rõ."

    "Đúng thế.

    Đó là vấn đề.

    Hãy ghi nhớ.

    Bây giờ, phiền anh bước về phía cánh cửa sập kia và ngửi cạnh cửa nhé.

    Tôi sẽ ở đây vì tôi đang cầm cái khăn tay này."

    Tôi làm theo chỉ dẫn của anh, và lập tức nhận ra mùi hăng nồng của dầu creosote.

    "Đó là nơi kẻ đó đặt chân để trèo ra.

    Nếu anh ngửi thấy được dấu vết của hắn thì tôi nghĩ chẳng có khó khăn gì đối với con Toby.

    Bây giờ anh xuống nhà, thả con chó ra, và đi tìm kẻ đu dây kia đi."

    Lúc tôi ra ngoài vườn thì Sherlock Holmes đã ở trên mái nhà rồi, và tôi có thể nhìn thấy anh đang bò rất chậm dọc theo gờ nóc nhà như một con bọ phát sáng khổng lồ.

    Anh khuất dạng sau cụm ống khói nhưng rồi lại xuất hiện và biến mất một lần nữa ở phía bên kia.

    Khi tôi đi vòng qua bên ấy thì thấy anh đã ngồi trên một góc mái nhà nhô ra.

    "Anh đấy hả, Watson?"

    Anh lên tiếng.

    "Ừ!"

    "Đúng là chỗ này.

    Cái gì đen đen ở dưới đó vậy?"

    "Một thùng tônô chứa nước."

    "Có nắp đậy không?"

    "Có."

    "Có dấu vết của cái thang nào không?"

    "Không."

    "Tên này thật ghê gớm!

    Chỗ này té gãy cổ như chơi.

    Tôi phải mò xuống đúng ngay chỗ hắn ta trèo lên mới được.

    Cái ống nước này coi bộ chắc chắn.

    Leo đại xuống vậy!"

    Có tiếng chuyển động loạt xoạt và chiếc đèn bắt đầu từ từ hạ thấp độ cao theo bức tường, rồi phóc một cái, anh đã đứng trên thùng tônô, và từ đó nhảy xuống đất.

    "Theo dấu tên này cũng dễ", anh vừa nói vừa xỏ lại giày vớ vào chân.

    "Các tấm ngói lợp đã long ra suốt dọc lối thoát của hắn, và trong lúc hấp tấp hắn đã đánh rơi vật này.

    Nói như bác sĩ các anh, nó đã xác minh các chẩn đoán của tôi."

    Anh giơ lên cho tôi xem một chiếc túi nhỏ dệt bằng cói nhuộm màu, chung quanh có đính vài hạt trang trí rẻ tiền.

    Hình dạng và kích thước chiếc túi này ngang cỡ một hộp đựng thuốc lá.

    Bên trong là chừng nửa tá mũi nhọn bằng gỗ đen, một đầu sắc bén một đầu vót tròn giống như cái gai đã bắn vào Bartholomew Sholto.

    "Thứ này kinh khủng lắm đó", anh nói.

    "Cẩn thận đừng để chích vào người anh đấy.

    Tóm được cái túi này tôi thật mừng vì rất có thể đây là toàn bộ số mũi gai độc của hắn.

    Vậy thì bớt đi mối lo là anh và tôi sẽ sớm nhận một phát bắn vào người.

    Tôi thà đương đầu với đạn còn hơn.

    Anh có đủ sức để lội bộ sáu dặm không, Watson?"

    "Chắc chắn là đủ", tôi đáp.

    "Chân anh chịu nổi không?"

    "Nổi chứ."

    "Đây này, chó già!

    Toby ngoan nào!

    Ngửi đi, Toby, ngửi đi!"

    Anh gí chiếc khăn tay tẩm dầu creosote vào dưới mũi con chó trong lúc con vật đứng giạng hết bốn cẳng chân đầy lông mịn, đầu vẹo sang một bên hết sức khôi hài, trông cứ như một tay sành điệu đang khịt mũi ngửi một hương rượu xưa danh tiếng.

    Sau đó Holmes quẳng chiếc khăn ra xa, buộc một đoạn dây thừng chắc chắn vào vòng cổ của con chó lai, rồi dắt nó đến ngay chân thùng nước.

    Con vật lập tức bật ra một tràng sủa ăng ẳng rồi gí mũi sát đất, chổng đuôi lên trời, nó nhanh nhảu phóng theo dấu vết ấy, kéo căng hết dây buộc và khiến chúng tôi phải ráng chạy nhanh hết cỡ.

    Trời phía đông đang dần hửng sáng, bây giờ chúng tôi đã có thể nhìn được một quãng xa trong ánh sáng âm u, lạnh lẽo.

    Ngôi nhà vuông vức, đồ sộ với những ô cửa sổ đen trống trơn, những bức tường cao trần trụi, sừng sững u sầu và hoang vắng sau lưng tôi.

    Chúng tôi băng qua khu đất, len lỏi qua những hầm hố, hào rãnh rạch nát đất đai.

    Với những đống đất bừa bộn và bụi cây còi cọc, toàn bộ chốn này có vẻ gì đó đầy tai ương và đe dọa, rất phù hợp với tấn thảm kịch đen tối đang bao trùm nơi này.

    Tới chỗ bức tường bao, Toby vừa chạy men theo tường vừa hăm hở kêu ư ử dưới bóng tối và cuối cùng dừng lại ở một góc có cây sồi non che chắn.

    Chỗ hai bức tường giao nhau, nhiều viên gạch đã bị bươi ra và phần dưới của những hốc lõm còn lại đã mòn nhẵn như thể chúng thường xuyên được dùng làm thang leo.

    Holmes trèo lên, đón lấy con chó từ tay tôi rồi thả nó qua phía bên kia.

    "Có dấu vết của tên chân gỗ đây này", anh nói khi tôi trèo lên ngồi bên cạnh.

    "Anh nhìn vết máu mờ mờ dây trên lớp vữa trắng đây này.

    Thật may là từ hôm qua đến giờ không có mưa to!

    Mùi dầu creosote kia vẫn sẽ còn vương trên đường bất kể chúng đã đi trước ta hai mươi tám giờ."

    Thú thật là bản thân tôi hoài nghi điều đó khi nghĩ tới biết bao xe cộ đã chạy qua cung đường London này trong khoảng thời gian đó.

    Tuy nhiên, mối lo ngại của tôi nhanh chóng nguôi đi.

    Toby không hề do dự hay đột ngột chuyển hướng mà cứ lắc lư lao tới theo kiểu đi nghiêng ngả kì cục của nó.

    Rõ ràng là mùi hăng nồng của dầu creosote trội hơn mọi mùi khác.

    Holmes nói, "Anh đừng tưởng tôi phó thác hết thành bại của vụ này cho một cơ may duy nhất là những tên này đã giẫm chân vào vũng hóa chất đó.

    Bây giờ tôi đã có nhiều thông tin có thể giúp tôi dò ra chúng theo nhiều cách khác nhau rồi.

    Nhưng đây là cách dễ dàng nhất và vì vận may đã mang nó cho chúng ta, nên nếu tôi lờ đi thì quả đáng trách.

    Tuy vậy, cách đó lại khiến cho vụ này không còn là một vấn đề trí tuệ hay ho như lúc đầu đã hứa hẹn.

    Nếu không có cái manh mối quá rõ ràng này thì việc phá án mới gọi là có tí chút công lao."

    "Công lao thì hẳn rồi, Holmes", tôi nói.

    "Bảo đảm với anh là tôi kinh ngạc với cách thức thu thập kết quả của anh trong vụ này đấy, thậm chí còn kinh ngạc hơn cả vụ giết người của Jefferson Hope.

    Vụ này đối với tôi dường như càng lúc càng bí ẩn và không thể giải thích được.

    Chẳng hạn, làm sao anh có thể mô tả một cách tự tin như vậy về tên chân gỗ kia?"

    "Chà, chuyện vặt thôi, anh bạn thân mến ơi.

    Tôi không muốn làm bộ làm tịch đâu.

    Mọi thứ rành rành ra đó cả.

    Hai sĩ quan chỉ huy đội lính canh giữ tù nhân đã biết được bí mật quan trọng về một kho báu được chôn giấu.

    Một người Anh tên là Jonathan Small đã vẽ cho họ một sơ đồ.

    Chắc anh còn nhớ là chúng ta đã thấy cái tên đó trên bản họa đồ thuộc sở hữu của đại úy Morstan.

    Người Anh đó đã kí tên nhân danh chính mình và các đồng bọn bằng dấu hiệu mà hắn ta gọi bằng cái tên khá kêu là 'Dấu bộ tứ'.

    Nhờ bản họa đồ này, hai viên sĩ quan, hoặc là một trong hai người này, đã lấy được kho báu và mang về Anh quốc, nhưng chúng ta có thể giả định rằng họ không thực hiện những điều kiện đã hứa hẹn khi nhận bản họa đồ.

    Đấy, thế thì tại sao gã Jonathan Small kia không tự mình đi lấy kho báu chứ?

    Câu trả lời rất hiển nhiên.

    Họa đồ ấy được vẽ ra vào thời gian Morstan sống cận kề với đám tù nhân.

    Jonathan Small không thể đi lấy kho báu bởi vì hắn và đồng bọn chính là những tù nhân và không thể thoát thân."

    "Nhưng đó chỉ là suy đoán thôi", tôi nói

    "Hơn thế.

    Đó là giả thuyết duy nhất đáp ứng hết các dữ kiện.

    Chúng ta hãy xem nó phù hợp với những diễn biến về sau ra sao.

    Thiếu tá Sholto sống yên ổn được vài năm, sung sướng sở hữu kho báu.

    Rồi ông ta nhận được một lá thư từ Ấn Độ khiến ông ta thất kinh hồn vía.

    Vậy là sao?"

    "Lá thư cho biết những kẻ mà ông ta từng gây thiệt hại giờ đã được trả tự do."

    "Hoặc đã trốn thoát.

    Khả năng này cao hơn nhiều, bởi vì ông ta chắc chắn phải biết thời hạn án tù của họ.

    Như vậy nếu họ được thả thì ông ta không thể nào ngạc nhiên.

    Thế sau đó ông ta làm gì?

    Tự bảo vệ mình trước một người có chân gỗ - một người da trắng, anh nhớ cho - vì ông ta đã nhìn lầm một thương nhân da trắng thành ra người kia, và thực tế đã rút súng lục ra bắn.

    Đấy, trong bản họa đồ chỉ có tên một người da trắng.

    Các tên còn lại đều là tên của người Hindu hay người Hồi.

    Không có người da trắng nào khác.

    Vì thế chúng ta có thể tuyên bố quả quyết rằng người chân gỗ kia với tên Jonathan Small chỉ là một.

    Anh thấy lập luận này có sai chỗ nào không?"

    "Không, rất rõ ràng và súc tích."

    "Thế đấy, bây giờ ta hãy tự đặt mình vào vị trí Jonathan Small.

    Ta hãy nhìn sự việc theo quan điểm của hắn.

    Hắn đến Anh quốc với hai ý đồ: Lấy lại những gì hắn xem là quyền lợi của hắn và trả thù kẻ đã khiến hắn chịu thiệt hại.

    Hắn tìm ra chỗ ở của Sholto, và rất có khả năng là hắn đã thiết lập được quan hệ với ai đó ở trong nhà này.

    Nhà có ông quản gia Lal Rao mà chúng ta chưa gặp.

    Theo bà Bernstone thì khó có thể coi ông ta là người tốt.

    Tuy nhiên, Small không thể tìm ra được chỗ giấu kho báu vì chẳng ai biết cả, ngoại trừ ông thiếu tá và một gia nhân trung thành đã chết.

    Bất ngờ Small hay tin ông thiếu tá đang hấp hối.

    Trong cơn điên cuồng vì sợ kho báu sẽ mất luôn theo người chết, hắn ta liều mạng vượt qua mọi canh phòng, tìm đường đến tận cửa sổ phòng của người hấp hối kia, và bị ngăn chặn không vào được chỉ vì hai người con trai đang có mặt ở đó.

    Thế nhưng, cuồng điên vì lòng căm hận đối với người chết, đêm ấy hắn vào trong phòng, lục lọi giấy tờ riêng tư của người kia với hi vọng phát hiện được một bản ghi nhớ nào đó có liên quan đến kho báu, và cuối cùng hắn để lại một lời nhắc nhở về cuộc viếng thăm của hắn qua mấy chữ vắn tắt ghi trên tấm thiếp.

    Chắc chắn hắn ta đã dự tính trước là nếu sát hại ông thiếu tá thì hắn sẽ lưu lại một dấu ấn nào đó trên xác chết như một dấu hiệu cho biết đó không phải là vụ giết người thông thường mà là một hành động có tính chất như thực thi công lí trên quan điểm của cả nhóm bốn tên đồng bọn.

    Những ý tưởng kì quái, ngông cuồng như thế khá phổ biến trong lịch sử tội ác và thường gợi mở nhiều dấu hiệu giá trị về kẻ phạm tội.

    Anh hiểu hết mọi chuyện này chứ?"

    "Rất rõ ràng."

    "Vậy thì bây giờ Jonathan Small có thể làm gì đây?

    Hắn chỉ có thể tiếp tục bí mật theo dõi những nỗ lực tìm kiếm kho báu.

    Có khả năng hắn nhiều lần rời khỏi Anh quốc rồi quay lại sau một khoảng thời gian, rồi xảy ra chuyện phát hiện căn gác xép, và hắn được báo tin ngay lập tức.

    Một lần nữa, chúng ta lại thấy sự hiện diện của một kẻ đồng lõa nào đó trong nhà này.

    Với cái chân gỗ, Jonathan không có cách gì lên được căn phòng cao chót vót của Bartholomew Sholto.

    Thế nhưng đi cùng hắn ta là một tên đồng bọn khá quái dị, kẻ này giúp hắn giải quyết khó khăn đó, nhưng lại giẫm một bàn chân trần của y vào vũng dầu creosote, vì thế mới cần tới con Toby, và một sĩ quan ăn lương phụ cấp bị tổn thương gân gót chân phải lết bộ sáu dặm đường."

    "Nhưng không phải Jonathan mà chính kẻ đồng lõa đã gây ra tội ác."

    "Đúng thế.

    Và khiến Jonathan tức giận không ít, xét theo cách hắn nện bước đi quanh khi đã vào trong phòng.

    Hắn ta đâu có thù oán gì với Bartholomew Sholto, và lẽ ra chỉ muốn trói và nhét giẻ vào miệng người này mà thôi.

    Hắn nào có muốn cho cổ vào thòng lọng đâu.

    Nhưng không thể cứu vãn được nữa, bản năng man rợ của kẻ đồng lõa kia đã bột phát và chất độc phát huy tác dụng.

    Thế là Jonathan Small để lại dấu hiệu, hạ hòm châu báu xuống đất, và chấp nhận ra sao thì ra.

    Đó là chuỗi sự kiện trong khả năng giải mã của tôi.

    Còn về nhân dạng của hắn ta, tất nhiên hắn phải ở tuổi trung niên và da dẻ phải sạm đen sau khi lĩnh án ở một nơi nóng như hỏa lò là quần đảo Andaman.

    Chiều cao dễ dàng tính toán được nếu căn cứ theo độ dài của bước chân, và chúng ta biết là hắn có râu mà.

    Râu tóc bờm xờm chính là đặc điểm khiến Thaddeus Sholto có ấn tượng mạnh khi nhìn thấy hắn ở cửa sổ.

    Tôi không biết có còn chi tiết nào nữa không."

    "Tên đồng bọn?"

    "Ái chà, chuyện đó chẳng có gì bí ẩn ghê gớm cả.

    Không lâu nữa anh sẽ biết rõ hết thôi mà.

    Khí trời ban mai mới dễ chịu làm sao!

    Hãy xem đám mây lẻ loi kia cứ bồng bềnh như một chiếc lông màu hồng của một con hồng hạc khổng lồ.

    Bây giờ vầng dương đỏ rực đã vươn mình khỏi làn mây mù xa xa của London.

    Mặt trời soi sáng cho biết bao người nhưng tôi dám cá rằng không có ai đeo đuổi một mục đích lạ lùng như anh và tôi.

    So với sức mạnh nguyên sơ vĩ đại của tự nhiên, chúng ta thấy mình mới nhỏ bé làm sao với những tham vọng và nỗ lực vặt vãnh này!

    Anh có rành về Jean Paul không?"

    "Cũng kha khá.

    Tôi đã tìm đọc thêm nhà văn này từ bản dịch của Carlyle."

    "Vậy cũng giống như lần theo con suối, tìm ngược lại hồ nước cội nguồn.

    Ông ta có một nhận định lạ lùng nhưng sâu sắc.

    Ông ta bảo minh chứng hàng đầu cho sự vĩ đại của con người nằm trong cách họ cảm nhận về sự nhỏ bé của chính mình.

    Anh thấy đó, ông ta cho rằng bản thân năng lực đối chiếu và nhận thức chính là bằng chứng cho phẩm chất cao quý.

    Đọc Richter có nhiều điều đáng suy ngẫm lắm.

    Anh không mang súng lục theo phải không?"

    "Tôi có cái gậy đây."

    "Nhiều khả năng phải cần tới những thứ như thế nếu chúng ta tìm tới tận hang ổ bọn chúng.

    Tôi để tên Jonathan cho anh lo liệu, còn tên kia nếu làm càn thì tôi sẽ hạ hắn luôn."

    Vừa nói anh vừa rút khẩu súng lục ra, nạp hai viên đạn vào ổ quay, rồi cất trở lại vào túi áo khoác bên phải.

    Nãy giờ theo sự dẫn dắt của con Toby, chúng tôi đã băng qua những trang viên nằm rải rác hai bên các con lộ ngoại ô dẫn tới đô thành.

    Nhưng giờ đây chúng tôi đã sắp tới những khu phố nhà cửa san sát, nơi đám công nhân và phu bến tàu đã thức giấc còn đám đàn bà nhếch nhác đang mở cửa quét thềm.

    Ở góc phố đầu quảng trường, các tửu quán đã bắt đầu kinh doanh, và những gã tướng tá bặm trợn vừa đi ra vừa lấy ống tay áo chùi bộ râu sau khi làm mấy li rượu đầu ngày.

    Mấy con chó lạ tha thẩn tới gần, ngạc nhiên nhìn ngó khi chúng tôi đi qua, nhưng con Toby vô song không hề nhìn ngang liếc dọc mà cứ lon ton thẳng tiến, mũi gí sát đất và chốc chốc lại kêu ư ử đầy háo hức như muốn cho biết là dấu vết vẫn rõ mồn một.

    Chúng tôi băng qua Streatham, Brixton, Cambemell, và bây giờ thấy mình ở ngõ Kennington sau khi đã chuyển hướng qua các đường phụ dẫn tới phía đông khu Oval, những kẻ mà chúng tôi truy tìm hình như đã đi theo một đường chữ chi kì quặc, có thể là với ý đồ tránh bị theo dõi.

    Chúng không bao giờ đi theo đường chính nếu có một đường phụ song song cho chúng rẽ vào.

    Ở cuối ngõ Kennington, chúng đã men theo bên trái qua phố Bond và phố Miles.

    Tới chỗ phố Miles rẽ sang Knight's Place, con Toby không tiến tới nữa mà bắt đầu chạy tới chạy lui, một tai vểnh lên, một tai cụp xuống, đích thị là biểu hiện sự do dự của loài chó, rồi nó lắc lư chạy quanh nhiều vòng, thỉnh thoảng lại ngước lên nhìn chúng tôi như thể muốn được cảm thông cho sự bối rối của nó.

    "Con chó này mắc cái chứng quái quỷ gì thế?"

    Holmes càu nhàu.

    "Nhất định là bọn chúng không thể nào đón xe ngựa hay đu khinh khí cầu biến mất."

    "Có thể là bọn chúng đã đứng ở đây một lúc", tôi gợi ý.

    "A!

    Ổn rồi.

    Nó lại đi tiếp", anh bạn tôi thốt lên với giọng nhẹ nhõm.

    Quả đúng như thế, bởi vì sau khi khịt mũi ngửi vòng quanh một lần nữa, nó đột ngột quyết định và phóng tới với sức lực và quyết tâm mạnh mẽ chưa từng thấy.

    Cái mùi ấy hẳn là nồng hơn trước, vì con chó không còn gí mũi xuống đất nữa mà giật mạnh dây buộc và cố chạy hết tốc lực.

    Nhìn ánh mắt đầy hi vọng của Holmes, tôi có thể biết anh đang nghĩ rằng cuộc hành trình của chúng tôi đã gần kết thúc.

    Bây giờ chúng tôi chạy xuống quận Nine Elms cho đến khi tới xưởng cưa lớn của Công ty Broderick & Nelson, ngay chỗ qua khỏi lữ quán Đại Bàng Trắng.

    Tới đây con chó mừng cuống quýt rẽ qua cổng phụ vào trong khuôn viên nơi các thợ cưa đang làm việc.

    Toby chạy băng băng qua mớ mùn cưa và dăm bào, vào một đường hẻm, vòng qua một hành lang giữa hai hàng gỗ xẻ chất đống, và cuối cùng sủa lên một tiếng đắc thắng, nó nhảy phóc lên một thùng tônô lớn dựng trên một chiếc xe đẩy tay mà ai đó đã đưa đến.

    Lưỡi thè dài, mắt hấp háy, Toby đứng trên thùng, hết nhìn tôi lại quay sang Holmes chờ một lời khen.

    Các thanh ván thùng tônô và hai bánh xe đẩy dính đầy một chất lỏng đen đúa và cả bầu không khí nồng nặc mùi dầu creosote.

    Sherlock Holmes và tôi nhìn nhau trân trối, rồi cùng bật ra một tràng cười không sao nén nổi.

    8.

    Đội quân bụi đời phố Baker

    "Giờ thì sao?"

    Tôi hỏi.

    "Toby không còn phát huy được sự chuẩn xác như mọi khi nữa rồi."

    "Nó hành động theo trí khôn của nó thôi", Holmes vừa nói vừa nhấc con chó trên thùng tônô xuống và dắt nó ra khỏi xưởng cưa.

    "Anh thử nghĩ xem, một ngày có biết bao thùng dầu creosote được vận chuyển đi khắp London, bảo sao dấu vết của chúng ta không bị chồng chéo lên chứ.

    Người ta bây giờ dùng dầu creosote nhiều lắm, nhất là để bảo quản gỗ.

    Không phải lỗi tại con Toby tội nghiệp."

    "Chắc là chúng ta phải dò lại theo dấu vết chính."

    "Đúng vậy.

    Và may là ta không còn phải đi xa nữa.

    Rõ ràng điều khiến con chó do dự ở góc quảng trường Knight's Place chính là có hai dấu vết đi theo hai hướng ngược chiều nhau.

    Chúng ta đã chọn sai hướng.

    Giờ chỉ cần đi theo hướng kia."

    Đi theo hướng kia thì chẳng có gì khó.

    Khi đưa Toby tới chỗ nó đã phạm sai lầm, con chó đánh hơi tìm kiếm trong một vòng tròn lớn rồi cuối cùng phóng đi theo đường khác.

    Tôi nhắc nhở, "Bây giờ coi chừng nó lại đưa chúng ta đến nơi phát xuất của cái thùng tônô hồi nãy đấy."

    "Tôi đã nghĩ tới chuyện đó rồi, nhưng để ý là nó chỉ đi trên vỉa hè, trong khi thùng tônô kia được đẩy đi trên đường cái.

    Không đâu, bây giờ chúng ta theo đúng dấu vết rồi."

    Con chó đi xuôi theo hướng bờ sông, chạy băng qua Belmont Place và phố Prince.

    Đến cuối phố Broad nó đâm thẳng ra bờ nước, chỗ có một cầu tàu nhỏ bằng gỗ.

    Toby dẫn chúng tôi ra ngay tận mép cầu tàu rồi đứng đó, vừa rên ư ử vừa nhìn ra dòng nước mịt mờ.

    "Không may rồi", Holmes nói.

    "Bọn chúng đã lên thuyền ở đây!"

    Vài chiếc xuồng và thuyền nhỏ đậu rải rác trên mặt nước sông và bên mép cầu tàu.

    Chúng tôi đưa Toby vòng qua từng con thuyền, nhưng dù tận tình đánh hơi không sót một chiếc, nó vẫn không tìm ra dấu vết nào.

    Gần bến đỗ thô sơ đó là một ngôi nhà gạch nhỏ, với tấm biển gỗ máng bên ngoài ô cửa sổ thứ hai in bằng chữ lớn trên tấm biển là tên "Mordecai Smith" và phía dưới đề: Cho thuê tàu thuyền theo giờ hoặc theo ngày.

    Câu thứ hai đề trên cửa chính cho chúng tôi biết một chiếc tàu thủy hơi nước đã có khách thuê - thông báo này được xác thực bằng một đống than cốc trên cầu tàu.

    Sherlock Holmes từ từ nhìn quanh và nét mặt lộ rõ vẻ lo ngại.

    "Tệ thật đấy", anh nói.

    "Mấy tên này ranh ma hơn tôi tưởng.

    Có vẻ như chúng đã lấp hết dấu vết.

    Tôi e là đã có một mưu mô sắp đặt sẵn từ trước ở đây."

    Anh đang đi tới cửa chính ngôi nhà thì cửa bật mở và một chú nhóc tóc xoăn chừng sáu tuổi chạy ào ra, theo sau là một phụ nữ phốp pháp, mặt đỏ bừng, tay cầm một miếng bọt biển.

    "Quay về tắm nào, Jack", bà quát tháo.

    "Về ngay, thằng ranh con, cha mày về mà thấy mày như thế thì biết tay ông ấy!"

    "Này nhóc!"

    Holmes thốt lên có ý đồ.

    "Thằng bé này sao mà hai má hồng hào thế!

    Này, Jack, cháu thích được ai cho cái gì không nào?"

    Chú bé ngẫm nghĩ một lúc rồi nói, "Cháu thích có một đồng shilling."

    "Chỉ thích thế thôi sao?"

    "Được hai shilling thì thích hơn", chú nhóc tài lanh này trả lời sau một lúc suy nghĩ.

    "Đây, cho cháu đó!

    Chụp lấy!...

    Thằng nhỏ thật dễ thương đó, bà Smith!"

    "Chúa phù hộ ông, thưa ông, nó thế đấy, cứ xấc xược vậy đó.

    Tôi thiếu điều hết chịu nổi nó, nhất là khi ông nhà tôi vắng nhà mấy ngày liền."

    "Ông nhà đang đi xa à?"

    Holmes nói, giọng ra vẻ thất vọng.

    "Tiếc thật, tôi đang cần nói chuyện với ông Smith đây."

    "Ông ấy đi từ sáng hôm qua rồi, thưa ông, và nói thật là tôi bắt đầu thấy lo cho ông nhà tôi.

    Nhưng nếu là chuyện thuyền bè thì tôi cũng có thể hầu ông được, thưa ông."

    "Tôi muốn thuê chiếc tàu thủy hơi nước của ông nhà."

    "Ôi, rủi quá, thưa ông, chính cái tàu đó là chiếc ông nhà tôi lấy đi mất.

    Tôi thiệt không hiểu nổi, vì tôi biết nó chỉ có đủ than để chạy tới Woolwich rồi quay về thôi.

    Nếu đi xa bằng chiếc sà lan thì thôi không nói làm chi, vì nhiều lần ông ấy có việc đi tới tận Gravesend, và nếu ở đó có nhiều công chuyện thì có thể nấn ná ở lại.

    Nhưng tàu thủy hơi nước mà không có than thì có ích gì chứ?"

    "Biết đâu ông ấy có thể mua ít than ở bến nào đó miệt dưới."

    "Có thể mua, thưa ông, nhưng đó không phải kiểu của ông ấy, nhiều lần tôi đã nghe ông ấy la lối về giá tiền họ tính cho mấy bao than lẻ.

    Hơn nữa, tôi không ưa cái tên chân gỗ kia, mặt mày xấu xí, nói năng thì kì cục.

    Hắn ta muốn gì mà cứ tới đây luẩn quẩn miết vậy chứ?"

    "Một người có chân gỗ à?"

    Holmes thốt lên với vẻ ngạc nhiên chiếu lệ.

    "Dạ đúng, thưa ông, một thằng cha mặt như khỉ, da ngăm, tới tìm ông chồng tôi nhiều lần rồi.

    Chính hắn ta lôi ông nhà tôi dậy tối hôm trước, chưa hết đâu, ông nhà tôi biết trước hắn ta sẽ đến nên đã cho máy hơi nước trong thuyền chạy sẵn.

    Nói thiệt tình với ông đó, thưa ông, chuyện này khiến tôi cứ bồn chồn sao sao ấy."

    "Này, bà Smith ơi", Holmes vừa nói vừa nhún vai, "bà cứ lo chuyện không đâu.

    Làm sao bà biết được người đến gọi trong đêm là tên chân gỗ được chứ?

    Tôi không hiểu sao bà có thể dám chắc như thế."

    "Giọng nói hắn ta, thưa ông.

    Tôi biết giọng nói đó, nó khàn khàn khó nghe.

    Hắn ta gõ vào trục tời, đâu khoảng 3 giờ sáng.

    Hắn nói: 'Chường mặt ra đi bồ, tới phiên canh rồi', ông nhà tôi đánh thức thằng Jim, thằng cả nhà tôi đó, rồi họ đi, chẳng nói với tôi một tiếng nào.

    Tôi còn nghe tiếng cái chân gỗ lọc cọc trên đường đá mà."

    "Thế tên chân gỗ này tới đấy một mình à?"

    "Tôi chịu, thưa ông.

    Nhưng chắc chắn là tôi không nghe tiếng ai khác."

    "Thật tiếc, bà Smith, vì tôi cần một chiếc tàu thủy hơi nước và tôi nghe người ta nói tốt về...

    Để xem, tôi quên mất con thuyền tên gì rồi?"

    "Aurora, thưa ông."

    "À!

    Có phải con tàu thủy cũ màu xanh lá cây có một sọc vàng, thân tàu rất rộng không đấy?"

    "Không phải đâu.

    Thuyền nhà tôi cũng thuôn mảnh nhỏ nhắn như mọi tàu thủy khác trên sông này.

    Nó mới sơn lại, màu đen có hai sọc đỏ."

    "Cảm ơn bà.

    Mong là bà sẽ sớm hay tin ông Smith.

    Tôi sẽ đi xuống miệt dưới, và nếu tôi gặp thuyền nào giống chiếc Aurora thì tôi sẽ báo cho ông ấy biết là bà đang lo lắng, ống khói màu đen, phải không bà?"

    "Không phải, thưa ông.

    Màu đen với một đường kẻ trắng."

    "A, hẳn thế rồi.

    Hai bên hông thuyền mới màu đen.

    Chào bà Smith nhé...

    Watson này, có một người chèo thuyền chở khách ở đây này.

    Chúng ta sẽ đón thuyền qua bên kia sông."

    "Điều cốt yếu với những người như thế", Holmes nói khi chúng tôi đã ngồi trong mớ dây lèo của thuyền, "là đừng bao giờ để họ nghĩ rằng thông tin của họ có thể quan trọng ít nhiều đối với anh.

    Nếu anh để họ biết thì họ sẽ lập tức câm như hến.

    Nếu anh lắng nghe họ với vẻ miễn cưỡng thì rất có khả năng anh sẽ có được điều mình muốn."

    "Chiều hướng có vẻ khá rõ ràng rồi", tôi nói.

    "Như vậy anh sẽ làm gì nào?"

    "Tôi sẽ thuê một chiếc tàu thủy và đi xuôi dòng sông theo dấu chiếc Aurora."

    "Anh bạn thân mến ơi, đó là một việc quá tốn công.

    Con thuyền ấy có thể cập vào bất kì cầu tàu nào ở hai bên bờ sông từ đây đến Greenwich.

    Phía dưới cây cầu kia là một mê cung toàn là những bến đậu kéo dài nhiều dặm.

    Ghé cho hết các bến đó thì phải mất bao nhiêu ngày mới xong, nếu như anh làm việc đó một mình."

    "Vậy thì huy động cảnh sát."

    "Không.

    Có khả năng tôi sẽ gọi Athelney Jones vào phút chót.

    Gã không phải là người tồi, và tôi không muốn làm chuyện gì có thể phương hại cho gã về mặt nghề nghiệp.

    Nhưng bây giờ chúng ta đã đeo đuổi tới đây rồi thì tôi thích tự mình giải quyết hết."

    "Vậy chúng ta có thể đăng báo hỏi tin tức từ các chủ bến tàu được không?"

    "Càng tệ hại hơn!

    Bọn kia sẽ biết ngay chúng đang bị truy đuổi sát gót và chúng có thể rời khỏi xứ này.

    Tình hình thế này cũng đủ cho chúng ra đi rồi, nhưng chừng nào chúng còn tin là chắc chắn an toàn thì chúng sẽ không vội vàng.

    Sự tích cực của Jones sẽ có ích cho chúng ta trong chuyện này, vì quan điểm của hắn về vụ này nhất định là tương mọi thứ lên nhật trình và những kẻ đào tẩu kia sẽ tưởng rằng ai cũng đều đuổi theo dấu vết giả mạo."

    "Vậy chúng ta phải làm gì?"

    Tôi hỏi khi thuyền cập bến gần nhà tù Millbank.

    "Đón chiếc xe ngựa này, về nhà, ăn điểm tâm chút ít, rồi ngủ chừng một tiếng.

    Theo chương trình rất có thể đêm nay chúng ta lại lội bộ đó...

    Dừng ở bưu điện nào đi, bác xà ích ơi!

    Chúng ta sẽ giữ con Toby, vì có thể sẽ cần tới nó đấy."

    Chúng tôi dừng lại ở phố Great Peter và Holmes gửi đi một bức điện tín.

    Lúc tiếp tục hành trình, anh hỏi tôi, "Theo anh thì tôi gửi cho ai?"

    "Chắc chắn là tôi không biết."

    "Anh còn nhớ biệt đội thám tử phố Baker mà tôi đã huy động trong vụ Jefferson Hope không?"

    "Ra thế", tôi bật cười.

    "Lũ nhóc có thể đóng vai trò vô giá trong vụ này.

    Nếu chúng thất bại, tôi còn các phương án khác, nhưng tôi muốn thử dùng chúng trước.

    Bức điện đó tôi gửi cho Wiggins, chú nhóc phụ tá lem luốc của tôi, và tôi cho rằng chúng ta chưa ăn xong bữa sáng thì nó đã kéo đồng bọn đến rồi."

    Bây giờ đã 8 rưỡi và tôi nhận ra tác động rõ rệt sau một đêm không ngừng kích động.

    Tôi mệt đừ, đi hết nổi, đầu óc mụ mị và thể xác kiệt quệ.

    Tôi không có động lực là niềm hăng say nghề nghiệp như anh bạn của mình, mà tôi cũng không xem sự việc này là một vấn đề trí óc hoàn toàn trừu tượng.

    Về cái chết của Bartholomew Sholto, tôi chẳng nghe chuyện gì tốt đẹp về con người đó và cũng chẳng thấy ác cảm ghê gớm gì đối với những kẻ sát nhân kia.

    Tuy nhiên, kho báu lại là chuyện khác.

    Nó, hay một phần của nó, chính đáng thuộc về cô Morstan.

    Chừng nào còn cơ may để lấy lại kho báu thì tôi sẵn sàng hiến cả đời mình cho mỗi một mục đích ấy.

    Đúng là nếu tôi tìm được thì có lẽ nó sẽ đẩy cô vượt ngoài tầm với của tôi mãi mãi.

    Nhưng tình yêu của tôi sẽ lại tầm thường và ích kỉ nếu bị chi phối bởi những ý nghĩ như thế.

    Nếu như Holmes có thể ráng sức tìm cho ra những tên tội phạm thì tôi còn có lí do mạnh mẽ hơn gấp chục lần, buộc tôi kiếm tìm kho báu đó.

    Về đến phố Baker tắm rửa và thay bộ áo quần mới đã giúp tôi tươi tỉnh lên một cách kì diệu.

    Khi tôi ra phòng khách thì thấy bữa điểm tâm đã được bày sẵn và Holmes đang rót cà phê.

    "Đây này", anh vừa nói vừa cười, tay chỉ vào tờ báo đang mở, "Gã Jones đầy năng lực và đám phóng viên có mặt khắp nơi đã dàn xếp với nhau.

    Nhưng anh biết thừa vụ này rồi.

    Tốt nhất nên ăn món giăm bông với trứng trước đã."

    Tôi đón lấy tờ báo từ tay anh và đọc mẩu tin ngắn có dòng tít "Bí ẩn ở Thượng Norwood".

    Tờ Standard viết:

    Vào hồi 12 giờ đêm qua, người ta phát hiện ông Bartholomew Sholto, ngụ tại biệt trang Pondicherry, Thượng Norwood, đã chết trong phòng riêng, và hoàn cảnh xảy ra sự việc này cho thấy dấu hiệu của một hành vi phạm pháp.

    Theo thông tin đã biết, trên thi thể ông Sholto không có dấu hiệu bị hành hung, song một bộ sưu tập đá quý Ấn Độ rất giá trị mà người chết được thừa hưởng từ cha đã bị lấy đi.

    Ông Sherlock Holmes và bác sĩ Watson là những người đầu tiên phát hiện vụ việc này khi đến tòa biệt trang cùng ông Thaddeus Sholto, em trai của người quá cố.

    Điều cực kì may mắn là ông Athelney Jones, một thanh tra danh tiếng thuộc lực lượng cảnh sát điều tra, lại tình cờ có mặt ở đồn cảnh sát Norwood và đã đến hiện trường chỉ trong vòng nửa giờ sau khi nhận được tin cấp báo.

    Ông lập tức dốc hết tài trí và kinh nghiệm vào việc điều tra phát hiện tội phạm, kết quả đáng mừng là em trai nạn nhân, Thaddeus Sholto, đã bị bắt giữ cùng bà quản gia Bernstone, một người hầu Ấn Độ tên là Lal Rao, và người gác cổng McMurdo.

    Rõ ràng kẻ trộm, dù là một hay nhiều tên, chắc chắn là người thông thuộc ngồi nhà này, bởi lẽ dựa trên sự am tường về chuyên môn và năng lực quan sát tinh vi, ông Jones đã chứng minh một cách thuyết phục rằng thủ phạm chắc chắn không thể vào nhà bằng cửa chính hay cửa sổ, mà đã đột nhập từ mái nhà qua một cửa sập dẫn vào một căn phòng ăn thông với phòng đã phát hiện tử thi.

    Dữ kiện này đã được chứng minh hết sức rõ ràng, từ đó đưa đến kết luận rằng đây không đơn thuần chỉ là một vụ trộm ngẫu nhiên.

    Hành động quyết liệt và mau lẹ của lực lượng thi hành pháp luật đã chứng tỏ lợi ích lớn lao mà một bộ óc năng nổ và quyết đoán có thể đem lại trong những tình huống như thế này.

    Thiết nghĩ sự kiện này đã góp phần củng cố thêm quan điểm cho rằng lực lượng cảnh sát điều tra của chúng ta cần được phân quyền nhiều hơn nữa để họ có thể tiếp cận những vụ án thuộc phận sự điều tra của mình một cách sát sao và hiệu quả hơn.

    "Hoành tráng nhỉ?"

    Holmes nói mà miệng cười toe toét, tay vẫn cầm cốc cà phê.

    "Anh nghĩ gì về chuyện này?"

    "Tôi nghĩ may mà chúng ta không bị bắt giữ vì tội ác này."

    "Tôi cũng nghĩ vậy.

    Bây giờ tôi không dám đảm bảo chúng ta được an toàn đâu nếu như gã bỗng lên cơn tích cực một lần nữa."

    Đúng lúc đó chúng tôi nghe tiếng chuông cửa ầm ĩ, rồi có tiếng bà Hudson, bà chủ nhà của chúng tôi, cao giọng la lối một tràng vừa mắng nhiếc vừa khiếp đảm.

    "Trời đất", tôi vừa nói vừa dợm đứng dậy.

    "Holmes này, tôi cho là họ truy bắt chúng ta thật rồi."

    "Không đâu, không đến nỗi tệ thế đâu.

    Đó là lực lượng phi chính quy, đội quân bụi đời phố Baker."

    Anh nói chưa dứt lời thì đã có tiếng chân trần chạy rầm rập trên cầu thang, tiếng huyên thuyên của nhiều giọng nói lảnh lót, rồi một tá nhóc con bụi đời rách rưới, bẩn thỉu ùa vào.

    Tuy đi vào lộn xộn như thế, chúng cũng thể hiện đôi chút kỉ cương, vì cả bọn lập tức đứng thành hàng lối và nhìn chúng tôi với vẻ mặt chờ đợi.

    Một đứa trong bọn, cao và lớn tuổi hơn cả, đứng đằng trước với điệu bộ bề trên trông rất buồn cười so với thân hình nhỏ con rách rưới bất hảo của nó.

    "Đã nhận được điện tín, thưa ông", thằng nhóc nói, "và kéo cả bọn tới luôn.

    Mất ba shilling với sáu xu tiền xe."

    "Tiền đây", Holmes vừa nói vừa đưa mấy đồng bạc ra.

    "Về sau chúng nó sẽ báo cáo với mi nhé, Wiggins, rồi mi báo lại cho ta.

    Ta không thể để tụi bay xông vào nhà này như thế được.

    Nhưng tất cả bọn bay ở đây cùng nghe chỉ dẫn cũng tốt.

    Ta muốn tìm cho ra nơi nào có chiếc tàu thủy hơi nước tên là Aurora, chủ thuyền là Mordecai Smith, thuyền màu đen có hai sọc đỏ, ống khói đen có một đường kẻ trắng.

    Nó ở đâu đó phía miệt dưới con sông này.

    Ta muốn một đứa có mặt ở bến thuyền nhà Mordecai Smith, đối diện Millbank, xem thử con thuyền đó đã quay về chưa.

    Tụi bay phải tự chia nhau ra, tìm cho kĩ cả hai bên bờ sông.

    Có tin gì thì báo ngay cho ta.

    Tất cả rõ chưa?"

    "Rõ, thưa thủ lĩnh", Wiggins đáp.

    "Mức tiền công như cũ, và một đồng guinea thưởng cho đứa nào tìm thấy con thuyền đó.

    Đây ta ứng trước một ngày tiền công.

    Rồi, giải tán!"

    Anh đưa cho mỗi đứa một shilling và cả bọn lao nhao chạy xuống cầu thang, rồi chỉ một thoáng sau tôi đã thấy chúng tràn ra đường.

    "Nếu con tàu đó còn nổi trên mặt nước thì chúng nó sẽ tìm ra", Holmes nói khi anh rời khỏi bàn, châm một tẩu thuốc.

    "Chúng có thể đi mọi nơi, thấy mọi thứ, nghe lỏm mọi chuyện.

    Tôi hi vọng trước buổi tối sẽ hay tin chúng đã tìm ra con tàu.

    Còn trong lúc này, chúng ta không thể làm gì hơn là chờ kết quả.

    Chúng ta không thể lần theo dấu vết đã gián đoạn cho đến khi nào tìm ra hoặc là chiếc Aurora hoặc là ông Mordecai Smith."

    "Con Toby có thể ăn mấy đồ thừa này, tôi chắc vậy.

    Anh có đi ngủ không, Holmes?"

    "Không, tôi không mệt.

    Tạng người tôi lạ kì thế đấy.

    Tôi không bao giờ thấy mệt vì công việc, nhưng lại hoàn toàn kiệt quệ khi ăn không ngồi rồi.

    Tôi sẽ hút thuốc và suy nghĩ về công việc dị thường mà cô thân chủ xinh đẹp kia đã đưa đến cho chúng ta.

    Còn nhiệm vụ nào dễ dàng hơn nhiệm vụ của chúng ta.

    Những người có chân gỗ đã là hiếm gặp, nhưng tên còn lại, tôi phải nói là có một không hai."

    "Lại là tên đó!"

    "Tôi không hề muốn giấu bí mật về tên này với anh.

    Nhưng anh phải tự xây dựng giả thuyết của mình đi.

    Này nhé, hãy xem xét các dữ kiện.

    Những dấu chân bé nhỏ, các ngón chân chưa bao giờ bị gò bó trong ghệt, bàn chân trần, cái chùy bằng gỗ đầu đá, sự nhanh nhẹn cực độ, những mũi tên nhỏ tẩm độc.

    Tất cả những yếu tố đó khiến anh suy ra điều gì nào?"

    "Thổ dân!"

    Tôi kêu lên.

    "Có lẽ là một trong những tên Ấn Độ đồng bọn với Jonathan Small."

    "Không phải", anh nói.

    "Lúc đầu nhìn thấy dấu hiệu những thứ vũ khí lạ lùng, tôi cũng suy nghĩ theo hướng đó, nhưng đặc điểm khác thường của các dấu chân đã khiến tôi phải xem lại quan điểm của mình.

    Một số cư dân ở vùng bán đảo Ấn Độ có vóc người nhỏ bé nhưng không một ai có thể để lại những dấu vết như thế được.

    Người Hindu chính cống có bàn chân dài và hẹp.

    Người Hồi giáo có ngón chân cái tẽ hẳn ra so với các ngón khác do họ đi dép xỏ ngón.

    Những mũi tên nhỏ kia nữa, chỉ có thể bắn bằng một cách.

    Chúng được phóng từ một ống xì đồng.

    Đấy, vậy thì chúng ta phải tìm tên thổ dân này ở đâu?"

    "Mỹ", tôi đánh bạo nói.

    Anh với tay lên kệ lấy xuống một pho sách dày cộp.

    "Đây là tập đầu tiên của một bộ từ điển địa lí đang được phát hành.

    Có thể xem đây là nguồn tư liệu tin cậy mới nhất.

    Trong này viết gì nào?

    Quần đảo Andaman, nằm cách Sumatra 340 dặm về phía bắc, trong vịnh Bengal.

    Hừm, hừm!

    Sao mà đủ thứ?

    Khí hậu ẩm ướt, vành đai san hô, cá mập, thủ phủ Port Blair, trại tù, đảo Rutland, cây dương...

    A, đây rồi!

    Thổ dân quần đảo Andaman có đặc điểm là chủng tộc nhỏ bé nhất thế giới, mặc dù một số nhà nhân chủng học lại quy đặc điểm này cho người Bushmen ở Phi châu, người da đỏ đào đất ở Mỹ châu, và các bộ tộc ở Tierra del Fuego.

    Chiều cao trung bình dưới bốn foot, mặc dù nhiều người trưởng thành phát triển đầy đủ còn thấp bé hơn thế nhiều.

    Bản tính hung bạo, lầm lì và bất phục tùng, tuy nhiên họ cũng có khả năng xây dựng những mối thân tình tận tụy nhất một khi họ đã có được sự tin cậy.

    Lưu ý điều đó, Watson.

    Bây giờ nghe chỗ này nhé!

    Nhân hình tự nhiên trông dễ sợ: Đầu to, dị dạng, đôi mắt nhỏ và dữ tợn, diện mạo rúm ró.

    Bàn chân và bàn tay của họ lại đặc biệt nhỏ nhắn.

    Họ hung bạo và ngoan cố tới mức mọi nỗ lực của viên chức Anh quốc đều không thể thu phục được họ ở bất kì mức độ nào.

    Họ luôn là nỗi kinh hoàng của những thủy thủ bị đắm tàu; họ dùng những chày vồ đầu đá đập vỡ sọ những thủy thủ sống sót, hay bắn chết những người này bằng tên tẩm độc.

    Những cuộc thảm sát này luôn kết thúc bằng một bữa tiệc thịt người.

    Thật là những người dễ thương, thân thiện, Watson!

    Nếu như kẻ này mà được tự tung tự tác thì sự việc sẽ có những diễn biến thậm chí còn rùng rợn hơn.

    Tuy vậy, tôi vẫn cho rằng nếu có thể thì chính Jonathan Small đã cố gắng tránh huy động tới tên mọi này bằng mọi giá."

    "Nhưng làm sao hắn ta lại có một đồng bọn đặc biệt đến thế chứ?"

    "À, chuyện này nằm ngoài khả năng hiểu biết của tôi.

    Nhưng vì chúng ta đã xác định rằng Small từ Andaman tới nên không có gì ngạc nhiên khi tên thổ dân quần đảo ấy đi cùng với hắn.

    Nhất định rồi có lúc chúng ta sẽ biết rõ mọi chuyện thôi.

    Này, Watson, trông anh không còn chút hơi sức nào kia.

    Cứ nằm trên trường kỉ đi, để xem tôi ru anh ngủ được không?"

    Anh lấy cây vĩ cầm trong góc phòng ra, và trong lúc tôi nằm duỗi thẳng người, anh bắt đầu chơi một giai điệu du dương, mơ màng, chậm rãi - chắc chắn là tác phẩm của anh vì anh có tài ứng tác xuất sắc.

    Tâm trí tôi lờ mờ ghi nhận vóc dáng gầy gò của Holmes, nét mặt say sưa, và chuyển động lên xuống của cây vĩ.

    Sau đó tôi dường như trôi êm đềm giữa một biển âm thanh dịu dàng cho đến khi thấy mình cập vào bến mơ, và gương mặt yêu kiều của nàng Mary Morstan đang cúi nhìn tôi.

    9.

    Mắt xích gián đoạn

    Mãi đến xế trưa tôi mới thức giấc, trong người khỏe khoắn và sảng khoái.

    Sherlock Holmes vẫn ngồi đúng ngay chỗ cũ, chỉ khác là anh đã bỏ cây vĩ cầm sang một bên và đang chăm chú vào một cuốn sách.

    Lúc tôi cựa quậy, anh nhìn sang và tôi thấy vẻ mặt anh u ám và lo lắng.

    "Anh ngủ ngon lắm", Holmes nói.

    "Tôi cứ lo anh sẽ mất giấc vì chúng tôi nói chuyện."

    "Tôi chẳng nghe gì cả", tôi đáp.

    "Vậy anh có tin gì mới à?"

    "Rất tiếc là không.

    Phải thú nhận là tôi ngạc nhiên và thất vọng.

    Tôi dự kiến là đến lúc này phải có tin tức chính xác rồi.

    Wiggins đã lên đây báo cáo.

    Nó nói không thấy tăm hơi chiếc tàu thủy.

    Đó là một trở ngại trớ trêu, vì từng giờ trôi qua đều quan trọng."

    "Tôi có giúp được gì không?

    Giờ tôi đã hoàn toàn khỏe khoắn, và sẵn sàng ra ngoài một đêm nữa."

    "Không, chúng ta không thể làm gì cả.

    Chỉ có thể chờ đợi.

    Nếu chúng ta đi mà điện tín đến khi không ai ở nhà thì lại càng thêm trễ.

    Anh muốn làm gì thì làm nhưng tôi phải túc trực ở đây."

    "Vậy thì tôi sẽ chạy sang khu Camberwell ghé nhà bà Cecil Forrester.

    Hôm qua bà ấy đã mời tôi."

    "Thăm bà Cecil Forrester à?"

    Holmes hỏi, trong mắt ánh lên một nụ cười.

    "À, tất nhiên là cả cô Morstan nữa.

    Họ nôn nóng muốn biết những gì đã xảy ra."

    "Nếu là tôi thì tôi sẽ không cho họ biết quá nhiều", Holmes nói.

    "Không bao giờ có thể tin cậy hoàn toàn vào phụ nữ, kể cả những người khá khẩm nhất."

    Tôi không buồn tranh cãi về nhận định cay nghiệt ấy.

    Tôi nói, "Tôi sẽ quay về trong một hay hai giờ nữa."

    "Không sao!

    Chúc may mắn!

    À mà này, nếu có sang bên kia sông thì anh mang trả con Toby luôn thể, vì bây giờ tôi nghĩ là không cần dùng nó nữa đâu."

    Tôi đưa con chó lai đi theo và để nó lại, với nửa đồng sovereign ở chỗ nhà tự nhiên học cao niên ngõ Pinchin.

    Đến Camberwell, tôi thấy cô Morstan dù mệt mỏi đôi chút sau những biến cố đêm trước nhưng vẫn háo hức nghe chuyện.

    Bà Forrester nữa, cũng đầy hiếu kì.

    Tôi kể họ nghe mọi chuyện chúng tôi đã làm, nhưng giấu nhẹm những chi tiết kinh khủng hơn của thảm kịch này.

    Vì thế, tuy tôi có nhắc đến cái chết của ông Sholto, tôi chẳng hề nói gì đến đặc điểm thi thể và cách thức gây án.

    Tuy đã lược bỏ như thế, câu chuyện vẫn đủ khiến họ giật mình thảng thốt.

    "Đúng là như tiểu thuyết!"

    Bà Forrester kêu lên.

    "Thay vì một bá tước hung ác hay một con rồng tàn bạo theo lối cổ thì ở đây là một cô nương bị hại, nửa triệu bảng trong kho báu, một tên mọi đen ăn thịt người, và một tên côn đồ chân gỗ."

    "Và hai chàng hào hiệp đến giải cứu", cô Morstan nói thêm với một cái nhìn rạng rỡ dành cho tôi.

    "Ồ, Mary, gia tài của cô tùy thuộc vào kết quả của cuộc tìm kiếm này.

    Tôi tưởng cô phải phấn khích hơn nhiều chứ.

    Cứ tưởng tượng xem!

    Trở nên giàu có, cả thế giới đặt dưới chân mình, thì sẽ như thế nào nhỉ?"

    Tôi thầm hoan hỉ trong lòng khi để ý thấy cô không tỏ vẻ gì mừng vui trước viễn cảnh ấy.

    Trái lại, vầng trán kiêu hãnh của cô chỉ khẽ lắc một cái, cứ như đó chỉ là một chuyện vặt cô chẳng mấy chú ý.

    "Chính ông Thaddeus Sholto mới khiến tôi quan tâm", cô nói.

    "Mọi chuyện đều chưa có kết quả nhưng tôi nghĩ rằng ông ấy từ đầu đến cuối đều xử sự rất tử tế và đáng kính trọng.

    Trách nhiệm của chúng ta là phải làm cho ông ấy khỏi bị hàm oan vì sự buộc tội khủng khiếp vô căn cứ đó."

    ***

    Mãi đến xế chiều tôi mới rời khu Camberwell và lúc về đến nhà thì trời đã tối.

    Cuốn sách và tẩu thuốc của anh bạn tôi nằm cạnh ghế ngồi của anh, nhưng anh đã biến mất.

    Tôi nhìn quanh mong thấy một lời nhắn nào đó nhưng chẳng có gì cả.

    "Chắc là Sherlock Holmes đã đi ra ngoài rồi", tôi nói với bà Hudson khi bà lên phòng hạ các mành cửa xuống.

    "Không đâu.

    Ông ấy vào trong phòng riêng rồi, ông à."

    Rồi bà hạ giọng xuống thành một lời thì thầm xúc động.

    "Tôi lo ông ấy không được khỏe."

    "Sao thế, bà Hudson?"

    "Ôi, ông ấy kì cục lắm, thưa ông.

    Sau khi ông đi thì ông Holmes cứ đi tới đi lui, mãi cho đến lúc tôi phát mệt vì tiếng chân của ông ấy.

    Sau đó tôi nghe ông ấy cứ lẩm bẩm một mình, và hễ có chuông reo thì lại ra đầu cầu thang hỏi: 'Cái gì thế, bà Hudson?' Bây giờ ông ấy đã vào trong phòng đóng sầm cửa lại rồi nhưng tôi vẫn nghe tiếng ông ấy bước tới lui y như trước.

    Tôi mong là ông Holmes không đau bệnh gì, ông à.

    Lúc nãy tôi có đánh liều bảo ông ấy mấy câu về chuyện uống thuốc an thần, ông ấy quay sang tôi nhìn như muốn ăn tươi nuốt sống khiến tôi cũng thất kinh hồn vía luôn."

    "Tôi nghĩ bà không việc gì phải lo lắng cả, bà Hudson ơi", tôi đáp.

    "Tôi đã từng thấy anh ấy như thế rồi.

    Anh ấy có vài chuyện nhỏ cần phải suy nghĩ cho nên đâm ra bồn chồn ấy mà."

    Tôi cố trấn an bà chủ nhà đáng kính, nhưng bản thân tôi cũng đâm lo khi suốt đêm dài thỉnh thoảng tôi vẫn nghe tiếng bước chân đều đều của Holmes và biết tinh thần hăng say của anh đang nóng nảy vì sự đình trệ ngoài ý muốn này.

    Đến giờ điểm tâm trông anh hốc hác và tiều tụy, hai má ửng hai đốm đỏ như bị sốt.

    "Anh đang hủy hoại sức khỏe của mình đấy, anh bạn", tôi nói.

    "Tôi nghe anh cứ đi lại quanh phòng cả đêm."

    "Không, tôi không ngủ được", anh đáp.

    "Cái vấn đề quỷ quái này cứ ám ảnh tôi.

    Thật không chịu nổi khi bị ách tắc chỉ vì một chướng ngại vặt vãnh này, khi mọi thứ khác đều đã khắc phục được.

    Tôi biết bọn chúng, con tàu, mọi thứ, thế mà vẫn không có tin tức gì.

    Tôi đã huy động các lực lượng trung gian khác, sử dụng hết mọi phương cách có trong tay.

    Hai bên bờ sông đã được lùng sục hết, nhưng chẳng có tin tức, mà bà Smith cũng không hay tin gì của ông chồng.

    Chẳng mấy mà tôi sẽ phải đi đến kết luận rằng bọn chúng đã đánh đắm con tàu.

    Nhưng có nhiều lập luận phản bác lại giả thuyết này."

    "Hay là bà Smith đã đánh lạc hướng chúng ta."

    "Không đâu, tôi nghĩ có thể bỏ qua chuyện đó.

    Tôi đã cho điều tra và đúng là có một chiếc tàu thủy đúng như mô tả."

    "Hay là thuyền đã đi ngược dòng sông?"

    "Tôi cũng đã cân nhắc tới khả năng đó, và đã có một nhóm tìm kiếm lùng sục đến tận Richmond.

    Nếu hôm nay không có tin tức gì khác thì ngày mai chính tôi sẽ lên đường, và sẽ đi tìm người chứ không tìm tàu nữa.

    Nhưng nhất định, nhất định là chúng ta sẽ phải có tin gì đó."

    Thế nhưng chẳng có gì cả.

    Không một lời nào từ thằng nhóc Wiggins hay từ các nguồn khác.

    Hết thảy các tờ báo đều có bài đăng tin về tấn thảm kịch ở Norwood.

    Tất cả đều tỏ thái độ công kích đối với ông Thaddeus Sholto bất hạnh.

    Tuy vậy, không có bài báo nào cho thấy chi tiết gì mới mẻ, ngoại trừ chuyện một cuộc điều tra chính thức sẽ được tiến hành vào hôm sau.

    Tôi đi bộ sang khu Camberwell vào buổi chiều để thuật lại những thất bại của chúng tôi cho hai phụ nữ kia biết, và khi quay về tôi thấy Holmes chán chường và bực bội.

    Anh chẳng buồn trả lời những câu hỏi của tôi, loay hoay cả buổi tối với một phân tích hóa học khó hiểu bằng cách đun nóng nhiều bình cổ cong và chưng cất hóa chất thành hơi, cuối cùng bốc ra thứ mùi khiến tôi chỉ muốn chạy ra khỏi nhà.

    Nửa đêm về sáng tôi còn nghe tiếng ống nghiệm của Holmes kêu lanh canh cho biết anh vẫn còn bận bịu với cái thí nghiệm nặng mùi ấy.

    Đến sáng sớm tôi giật mình tỉnh giấc và ngạc nhiên thấy anh đứng bên giường tôi, người khoác bộ đồ thủy thủ đơn sơ với một chiếc áo khoác và một khăn choàng đỏ vải thô quấn quanh cổ.

    "Tôi đi xuôi xuống phía cuối sông đây, Watson", anh nói.

    "Tôi đã suy nghĩ mãi trong đầu và thấy chỉ còn mỗi một cách giải quyết.

    Với mọi khả năng có thể xảy ra thì cũng đáng thử xem sao."

    "Chắc là tôi phải đi cùng anh chứ?"

    Tôi hỏi.

    "Không, anh sẽ có ích hơn nếu như ở lại đây làm đại diện cho tôi.

    Tôi chẳng muốn đi vì theo dự tính rất có thể trong ngày hôm nay sẽ có tin nhắn tới, mặc dù thằng Wiggins tối qua đã nản lòng rồi.

    Tôi cần anh mở ra đọc hết các thư báo và điện tín, và hành động theo phán đoán của anh nếu như có tin tức gì.

    Tôi có thể nhờ cậy anh chứ?"

    "Hẳn thế rồi."

    "Tôi e là anh sẽ không thể gửi điện cho tôi được vì chính tôi cũng không biết được mình sẽ ở đâu.

    Nhưng nếu may mắn thì tôi sẽ không đi quá lâu.

    Trước khi về tôi phải có thông tin gì đó mới được."

    Cho đến giờ điểm tâm tôi vẫn không hay tin gì từ anh.

    Tuy nhiên, mở tờ báo Standard ra, tôi lại thấy có một diễn biến mới về vụ này.

    Tờ báo viết:

    Liên quan tới thảm kịch ở Thượng Norwood, chúng tôi có lí do để tin rằng sự việc hứa hẹn sẽ còn phức tạp và bí hiểm hơn giả định ban đầu.

    Chứng cứ mới đã cho thấy rằng ông Thaddeus Sholto khó có thể liên can đến vụ này theo bất kì phương thức nào.

    Ông và bà quản gia Bernstone đã được trả tự do chiều hôm qua.

    Tuy nhiên, chúng tôi tin rằng cảnh sát đã có manh mối về những thủ phạm thực sự và ông Athelney Jones thuộc Sở Cảnh sát London đang tiếp tục điều tra bằng tất cả tài trí và sự năng nổ.

    Bất kì lúc nào cũng có thể có những vụ bắt giữ khác.

    Tôi nghĩ như vậy cũng là thỏa đáng.

    Dẫu sao ông bạn Sholto cũng được an toàn rồi.

    Không biết manh mối mới ở đây là gì mặc dù có vẻ như đó là kiểu nói rập khuôn mỗi khi cảnh sát phạm phải sai lầm ngớ ngẩn.

    Tôi thảy tờ báo xuống bàn, nhưng ngay lúc đó mắt tôi bắt gặp mẩu thông báo ở mục nhắn tin.

    Nó như thế này:

    Tìm người.

    Tìm ông Mordecai Smith, phu thuyền, cùng con trai Jim, rời bến Smith's Wharf vào khoảng 3 giờ sáng trên chiếc tàu thủy hơi nước Aurora, màu đen hai sọc đỏ, ống khói đen kẻ trắng.

    Thưởng năm bảng Anh cho bất kì ai báo tin cho bà Smith ở bến Smith's Wharf, hay ở 221B phố Baker, về tung tích của ông Mordecai Smith và chiếc tàu Aurora nói trên.

    Rõ ràng đây là việc làm của Holmes.

    Địa chỉ phố Baker đủ chứng minh điều đó.

    Tôi thấy quả là ý tưởng tài tình, bởi vì cho dù bọn đào tẩu kia có đọc thì cũng chỉ thấy đó là nỗi lo lắng tự nhiên của một bà vợ vì chồng vắng nhà.

    Một ngày thật dài.

    Mỗi lần có tiếng gõ cửa hay tiếng chân nện mạnh băng qua dưới đường, tôi lại hình dung hoặc là Holmes trở về hoặc là có người hồi đáp tin nhắn của anh, tôi cố đọc sách nhưng đầu óc cứ nghĩ lan man về cuộc kiếm tìm kì lạ của chúng tôi và hai kẻ ác ôn côn đồ mà chúng tôi đang truy lùng.

    Tôi tự hỏi lẽ nào trong suy luận của anh bạn tôi lại có một sai lầm cơ bản nào đó.

    Biết đâu anh lại đang gánh chịu hậu quả do sự ngộ nhận nào đó?

    Không lẽ bộ óc suy đoán nhạy bén của anh lại xây dựng giả thuyết điên rồ này trên những tiền đề sai lầm ư?

    Tôi chưa bao giờ thấy anh ấy sai lầm, thế nhưng ngay cả nhà suy luận sắc sảo bậc nhất cũng có khi bị đánh lừa.

    Tôi nghĩ anh có khả năng phạm sai sót vì quá tinh vi trong lí luận của mình - anh thích chọn cách lí giải kì quái và lắt léo tuy đã có sẵn một cách khác dễ hiểu hơn và bình thường hơn.

    Nhưng mặt khác, chính tôi đã thấy chứng cứ và tôi đã biết nhiều lí lẽ trong cách suy luận của anh.

    Khi tôi nhớ lại một chuỗi dài những tình huống lạ lùng - nhiều lúc bản thân chúng có vẻ vụn vặt - nhưng tất cả đều theo cùng một hướng, tôi không thể không thấy rằng ngay cả nếu cách lí giải của Holmes không chính xác thì chân lí sau cùng nhất định cũng không kém phần kì quái và khó tin.

    Đến 3 giờ chiều thì có một hồi chuông cửa inh ỏi, một giọng nói uy quyền ở dưới sảnh, và ngạc nhiên thay, chính ông Athelney Jones chứ không ai khác xuất hiện ngay trước mặt tôi.

    Tuy nhiên, ông ta khác hẳn kẻ trịch thượng, lỗ mãng đã rao giảng về óc suy xét và tiếp quản vụ ở Thượng Norwood hết sức tự tin.

    Vẻ mặt của ông đầy chán chường còn thái độ lại nhún nhường và thậm chí có vẻ hối lỗi nữa.

    "Xin chào ông, xin chào", ông ta nói.

    "Tôi được biết là ông Sherlock Holmes đi vắng rồi phải không?"

    "Vâng, và tôi không biết chắc khi nào anh ấy quay về.

    Nhưng có lẽ ông cũng muốn chờ gặp.

    Mời ông ngồi vào ghế kia và hút thử loại xì gà này nhé."

    "Cảm ơn ông, tôi chờ bao lâu cũng được", ông ta vừa nói vừa lau mặt bằng chiếc khăn tay to bản sặc sỡ.

    "Dùng chút rượu mạnh pha soda nhé?"

    "À, cho tôi nửa li.

    Mùa này trời nóng bức quá, mà tôi thì gặp đủ thứ chuyện lo lắng và trở ngại, ông có biết giả thuyết của tôi về vụ Norwood không?"

    "Tôi nhớ là ông có nêu ra rồi."

    "À, tôi buộc phải xem xét lại giả thuyết đó.

    Tôi đã tung lưới siết chặt quanh ông Sholto, thưa ông, thì đùng một cái ông ta lọt qua lỗ thủng ngay giữa lưới, ông ta đưa ra được chứng cứ ngoại phạm mà không ai có thể bác bỏ.

    Từ lúc rời phòng của người anh, ông ta luôn luôn ở tròng tầm mắt một ai đó.

    Cho nên ông ta không thể là kẻ trèo lên mái nhà và chui qua cửa sập được.

    Đây là một vụ rất khó hiểu và uy tín nghề nghiệp của tôi đang lâm nguy.

    Tôi rất vui nếu được hỗ trợ tí chút."

    "Ai trong chúng ta cũng có lúc cần được giúp đỡ mà", tôi nói,

    "Ông bạn Sherlock Holmes của ông là một người tuyệt vời, thưa ông", ông ta nói bằng giọng khàn khàn ra vẻ bí mật.

    "Ông ấy là người bất bại.

    Tôi từng biết con người trẻ tuổi đó đã tham gia rất nhiều vụ nhưng tôi chưa hề thấy có vụ nào mà ông ấy lại không làm sáng tỏ được, ông ấy có những phương pháp trái quy tắc và có lẽ là hơi nhanh nhảu khi lao theo những giả thuyết, nhưng nói chung, tôi nghĩ ông ấy lẽ ra đã trở thành một sĩ quan đầy triển vọng, và tôi dám nói như thế.

    Sáng nay tôi nhận được điện tín của ông Holmes, theo đó tôi biết là ông ấy đã có manh mối gì đó về vụ Sholto.

    Bức điện đây này."

    Ông ta lấy bức điện trong túi ra đưa cho tôi.

    Điện gửi từ Poplar lúc 12 giờ.

    Bức điện ghi: Tới phố Baker ngay.

    Nếu tôi chưa về, hãy đợi tôi.

    Tôi đang bám theo dấu vết của vụ Sholto.

    Ông có thể đi cùng chúng tôi đêm nay nếu như ông muốn tham gia vào đoạn kết.

    "Coi bộ khả quan.

    Rõ ràng là anh ấy đã tìm lại được dấu vết đã mất", tôi nói.

    "À, hóa ra ông ấy cũng có lúc phạm sai lầm", Jones thốt lên với vẻ hài lòng lộ rõ.

    "Ngay cả những người tài giỏi nhất của chúng tôi cũng có lúc bị nhầm lẫn.

    Tất nhiên đây có thể là một báo động giả, nhưng trách nhiệm của tôi trong vai trò người thực thi pháp luật lại không cho phép bỏ lỡ một cơ hội nào.

    Nhưng có ai ở cửa thì phải.

    Có lẽ ông ấy về."

    Có tiếng bước chân nặng nề đang lên cầu thang kèm theo tiếng thở khò khè, dồn dập giống một người đang gắng sức tới mức hụt hơi.

    Một hai lần người đó dừng lại như thể việc leo cầu thang là quá sức, nhưng rồi cuối cùng cũng lần mò được tới cửa phòng chúng tôi và đi vào.

    Diện mạo của ông ta tương ứng với những âm thanh đã nghe thấy.

    Đó là một người đàn ông đứng tuổi, mặc đồ theo kiểu dân đi biển với chiếc áo khoác thủy thủ cài khuy tận cằm.

    Lưng ông ta còng, hai đầu gối run rẩy, và hơi thở cứ như đau đớn vì hen suyễn.

    Khi ông ta tì người lên cây gậy to bằng gỗ sồi, hai bờ vai nhô cao gắng sức hít đầy hơi vào hai buồng phổi.

    Một chiếc khăn quàng cổ màu mè che kín phần dưới khuôn mặt ông ta và tôi chỉ nhìn thấy một đôi mắt đen sắc sảo nằm khuất dưới đôi mày rậm bạc trắng và mớ tóc mai dài hoa râm hai bên má.

    Tất cả hợp lại khiến tôi nghĩ rằng ông ta là một thuyền trưởng tàu buôn đã lâm vào cảnh già yếu bần cùng.

    "Có việc gì thế ông?"

    Tôi hỏi.

    Ông già chậm chạp đảo mắt nhìn quanh theo kiểu người già.

    "Có ông Sherlock Holmes ở đây không?"

    Ông ta nói.

    "Không ạ, nhưng tôi đại diện cho anh ấy.

    Ông có thể nói với tôi bất kì tin tức nào cần nhắn với anh ấy."

    "Tôi chỉ nói với chính ông ta thôi", ông già đáp.

    "Nhưng tôi đã bảo là tôi đại diện cho anh ấy.

    Có phải về chuyện chiếc tàu của Mordecai Smith không?"

    "Đúng vậy.

    Tôi biết rõ nó ở đâu.

    Và tôi biết những kẻ ông ta đang truy tìm ở đâu.

    Và tôi biết kho báu ở đâu.

    Tôi biết tuốt."

    "À, vậy thì ông phải chờ anh ấy về."

    "Không được, không được, tôi không mất toi cả ngày để chiều lòng ai đâu.

    Nếu ông Holmes không có ở đây thì ông Holmes phải tự đi mà tìm lấy.

    Tôi mặc kệ các người là ai và tôi nhất định không nói gì hết."

    Ông già lê bước ra cửa nhưng Athelney Jones đã phóng tới chặn đường.

    "Khoan đã, ông bạn", Jones nói.

    "Ông có tin tức quan trọng, ông không được bỏ đi.

    Chúng tôi sẽ giữ ông lại, dù ông thích hay không, cho đến khi người bạn của chúng ta trở về."

    Ông già dợm chạy ra cửa nhưng thấy Athelney Jones đã đưa cái lưng to lớn của mình chận ngang cánh cửa, đành chấp nhận là có kháng cự cũng vô ích.

    Ông ta vừa nện cây gậy xuống sàn nhà vừa la lối, "Cư xử kiểu gì thế này!

    Tôi đến đây gặp một quý ông, thế mà hai kẻ tôi chưa từng thấy trong đời lại bắt giữ tôi, cư xử với tôi thế đấy!"

    "Không ai làm gì ông đâu", tôi nói.

    "Chúng tôi sẽ bồi hoàn cho việc làm tốn thời giờ của ông.

    Ngồi ở trường kỉ kia đi, ông sẽ không phải chờ đợi lâu đâu."

    Ông già đi sang bên đó, mặt mày sưng sỉa, và ngồi xuống, tay chống cằm.

    Jones và tôi tiếp tục nói chuyện và hút xì gà.

    Nhưng bất thình lình, giọng Holmes vang lên chen vào giữa cuộc trò chuyện.

    "Tôi nghĩ là các ông có thể mời tôi xì gà nữa."

    Jones và tôi giật bắn người trên ghế.

    Chính Holmes đang ngồi sát bên với vẻ thích thú lặng thầm.

    "Holmes!"

    Tôi kêu lên.

    "Anh đây rồi!

    Nhưng ông già đâu?"

    "Ông già đây này", anh vừa nói vừa chìa ra một đống tóc trắng, "ông ta đây, bộ tóc giả, tóc mai, lông mày, đủ thứ.

    Tôi nghĩ là mình cải trang khá tốt, nhưng hoàn toàn không mong qua được thử thách này."

    "Ái chà, đồ đểu!"

    Jones kêu lên, hết sức hoan hỉ.

    "Ông đúng là một kịch sĩ thuộc loại hiếm có, ông ho đúng hệt kiểu trại tế bần, và hai cái cẳng run rẩy kia đáng lĩnh trợ cấp mười bảng Anh một tuần.

    Nhưng tôi nghĩ là tôi nhận ra ánh mắt của ông.

    Ông không qua mặt được chúng tôi dễ dàng vậy đâu.

    Thật đấy!"

    "Tôi đã làm việc cả ngày trong cái lốt ấy", anh vừa nói vừa châm điếu xì gà.

    "Ông biết mà, bây giờ rất nhiều tên trong tầng lớp tội phạm đã biết tới tôi, nhất là từ khi anh bạn tôi đây bắt đầu cho đăng tải vài vụ án của tôi.

    Cho nên tôi chỉ có thể xung trận với một vỏ ngụy trang đơn giản như thế.

    Ông có nhận điện tín của tôi chứ?"

    "Có, vì thế tôi mới tới đây."

    "Vụ của ông tiến triển thế nào rồi?"

    "Mọi việc chẳng đi tới đâu.

    Tôi phải trả tự do cho hai trong số những người bị bắt giam, và không có bằng chứng nào chống lại hai người còn lại."

    "Không sao.

    Chúng tôi sẽ cho ông hai người khác thế chỗ.

    Nhưng ông phải làm theo ý tôi.

    Ông được hưởng hết mọi công lao, nhưng ông phải hành động theo đường hướng tôi vạch ra.

    Đồng ý không nào?"

    "Hoàn toàn đồng ý, nếu ông giúp tôi tóm được chúng."

    "Tốt, vậy thì trước hết tôi sẽ cần một chiếc tàu cao tốc của cảnh sát, một tàu thủy hơi nước, sẵn sàng ở bến Westminster lúc 7 giờ."

    "Chuyện đó dễ thu xếp thôi.

    Lúc nào cũng có một chiếc ở quanh đó, nhưng tôi có thể băng qua đường gọi điện thoại cho chắc chắn."

    "Thế thì tôi sẽ cần hai người tin cẩn, đề phòng có kháng cự."

    "Sẽ có hai hoặc ba người dưới tàu.

    Còn gì nữa?"

    "Khi tóm được bọn chúng, chúng ta sẽ lấy được kho báu.

    Tôi nghĩ rằng anh bạn tôi sẽ lấy làm hân hạnh được mang cái rương đến chỗ quý cô là người có quyền sở hữu chính đáng phần nửa tài sản đó.

    Hãy để cô ấy là người đầu tiên mở nó ra...

    Thế nào, Watson?"

    "Quả là vinh dự lớn lao cho tôi."

    "Phương thức đó hơi trái quy tắc đấy", Jones vừa nói vừa lắc đầu.

    "Dù vậy, toàn bộ chuyện này đều không theo quy tắc nào cả, và tôi chắc là chúng ta cứ làm lơ như không có đi.

    Nhưng sau đó kho báu ấy phải được giao lại cho cơ quan có thẩm quyền cho đến khi kết thúc việc điều tra chính thức."

    "Hẳn rồi.

    Chuyện này dễ thu xếp thôi.

    Một điểm nữa.

    Tôi rất muốn nghe vài chi tiết về vụ này từ chính miệng Jonathan Small.

    Ông biết là tôi thích làm rõ chi tiết các vụ án của mình.

    Nếu tôi muốn thẩm vấn không chính thức hắn ta, ở đây trong căn hộ của tôi hay ở đâu đó, miễn là hắn ta được canh giữ bảo đảm, thì ông không phản đối chứ?"

    "Chà, ông làm chủ tình huống mà.

    Tới giờ tôi vẫn chưa có chứng cứ gì về sự tồn tại của tên Jonathan Small này.

    Nhưng nếu ông bắt được hắn thì làm sao tôi có thể khước từ cho ông thẩm vấn hắn được chứ."

    "Vậy thì rõ ràng hết rồi phải không?"

    "Rõ hết.

    Không còn gì nữa sao?"

    "Chỉ còn một chuyện là tôi nhất định mời ông ăn tối cùng chúng tôi.

    Thức ăn sẽ sẵn sàng trong nửa giờ nữa.

    Tôi có hàu và một cặp gà gô, cùng ít loại rượu vang trắng để lựa chọn...

    Watson này, anh chưa biết giá trị của tôi trong vai trò quản gia đâu đấy nhé."

    10.

    Kết liễu tên thổ dân

    Bữa ăn của chúng tôi rất vui vẻ.

    Holmes có thể nói chuyện cực kì cuốn hút khi anh muốn và tối hôm đó anh quả thực có hứng.

    Có vẻ như anh đang trong trạng thái hưng phấn tinh thần.

    Tôi chưa bao giờ thấy anh thông thái đến thế.

    Anh nói liên tục hàng loạt đề tài - nào kịch thần bí, nào đồ gốm Trung Hoa cổ, nào vĩ cầm Stradivarius, nào Phật giáo xứ Tích Lan, và cả những chiến hạm của tương lai - như thể anh đã nghiên cứu chuyên sâu tất cả.

    Sự hóm hỉnh tươi vui của anh thật khác hẳn vẻ trầm uất u ám của mấy ngày trước.

    Athelney Jones hóa ra cũng là người dễ hòa đồng vào những lúc thoải mái và ông ta dùng bữa tối với phong thái của một người lịch lãm.

    Riêng tôi lại thấy phấn chấn với ý nghĩ rằng công việc của chúng tôi đã gần đến đích, và tôi cũng lây theo sự vui vẻ của Holmes.

    Suốt bữa ăn không ai nhắc tới nguyên do đã đưa đẩy chúng tôi lại với nhau.

    Khi bàn ăn đã dọn sạch, Holmes liếc nhìn đồng hồ và rót đầy ba li rượu Porto.

    "Cạn li", anh nói, "chúc cho cuộc viễn chinh nho nhỏ của chúng ta thành công tốt đẹp.

    Bây giờ đã đến lúc lên đường.

    Anh có súng phải không, Watson?"

    "Tôi còn cất trong bàn giấy khẩu súng lục từ thời còn tại ngũ."

    "Vậy tốt nhất anh nên mang theo đi.

    Có sẵn vẫn hơn.

    Tôi thấy xe ngựa đang chờ ngoài cửa.

    Tôi đã dặn xe đến từ 6 giờ rưỡi."

    Lúc chúng tôi đến bến Westminster thì đã quá 7 giờ một chút và thấy chiếc tàu thủy của mình đã chờ sẵn.

    Holmes nhìn chiếc tàu với vẻ xét nét.

    "Có dấu hiệu gì cho biết đó là tàu của cảnh sát không?"

    "Có, đèn xanh bên hông tàu."

    "Vậy thì tháo nó ra đi."

    Làm xong thay đổi nhỏ, chúng tôi lên tàu và dây thừng được tháo.

    Jones, Holmes và tôi ngồi ở đằng đuôi.

    Có một người điều khiển bánh lái, một thợ máy, và hai thanh tra cảnh sát lực lưỡng ở đằng mũi.

    "Đi đâu?"

    Jones hỏi.

    "Theo hướng Tháp.

    Bảo họ dừng đối diện công xưởng Jacobson."

    Chiếc tàu của chúng tôi đúng là chạy rất nhanh.

    Chúng tôi lao vọt qua những hàng dài sà lan nặng nề cứ như thể chúng đứng yên một chỗ.

    Holmes mỉm cười hài lòng khi chúng tôi vượt qua một chiếc tàu hơi nước đường sông và bỏ nó lại sau lưng.

    "Chúng ta có thể đuổi kịp bất cứ thứ gì trên sông này", anh nói.

    "Chưa chắc.

    Nhưng không có nhiều chiếc chạy nhanh hơn tàu này đâu."

    "Chúng ta sẽ phải đuổi kịp chiếc Aurora, và nó nổi tiếng là một con tàu thần tốc.

    Tôi sẽ kể anh nghe sự tình, Watson.

    Anh còn nhớ tôi đã bực bội ra sao khi bị cản trở bởi một chuyện vụn vặt như thế không?"

    "Nhớ!"

    "Đấy, tôi để cho đầu óc nghỉ ngơi hoàn toàn bằng cách lao vào làm một phân tích hóa học.

    Một trong những chính khách lừng lẫy nhất của chúng ta đã nói rằng cách nghỉ ngơi tốt nhất là thay đổi công việc.

    Đúng là thế.

    Khi đã hòa tan thành công chất hydrocarbon mà tôi đang xử lí, tôi quay lại vấn đề nhà Sholto, và ngẫm nghĩ lại toàn bộ sự việc một lần nữa.

    Bọn nhóc của tôi đã đi xuôi ngược cả dòng sông mà không có kết quả gì.

    Chiếc tàu ấy không có ở bến cảng hay cầu tàu nào, mà cũng không thấy quay về.

    Nhưng không thể nào người ta lại đánh đắm nó để che giấu tung tích, mặc dù điều này vẫn luôn là một giả thuyết có thể xảy ra nếu như mọi giả thuyết khác đều thất bại.

    Tôi biết đầu óc tay Small này cũng có chút xảo quyệt ở tầm thấp đấy nhưng tôi không nghĩ là hắn ta có thể có những mánh khóe tinh vi như thế.

    Đó thường là sản phẩm của kẻ có học thức cao.

    Sau đó tôi ngẫm nghĩ về chuyện hắn chắc chắn đã ở London một thời gian, vì chúng ta có bằng chứng là hắn liên tục canh chừng biệt trang Pondicherry; nếu như vậy hắn không thể nào ra đi ngay lập tức mà không cần thu xếp, chuẩn bị trước, dù chỉ là một ngày.

    Dù sao đi nữa đây cũng là khả năng có xác suất cao nhất."

    "Coi bộ lập luận này không vững chắc", tôi nói.

    "Rất có thể hắn ta đã sắp xếp mọi việc từ trước khi hắn bắt đầu cuộc viễn du này."

    "Không, tôi không nghĩ thế.

    Khi cần thiết, sào huyệt của hắn sẽ là nơi ẩn náu hết sức quý giá, cho nên hắn không thể nào từ bỏ nó chừng nào còn chưa chắc chắn là không cần tới nữa.

    Nhưng tôi cũng nảy ra một ý tưởng thứ hai.

    Jonathan Small chắc hẳn phải nhận thấy rằng, cho dù hắn có thể trùm kín đầu tên bạn đồng hành thì diện mạo quái dị ấy cũng sẽ gây ra nhiều đồn đãi và có khả năng sẽ bị liên hệ đến thảm kịch ở Norwood.

    Hắn ta đủ khôn ngoan để thấy điều đó.

    Chúng đã xuất phát từ sào huyệt giữa đêm hôm và chắc chắn hắn muốn quay lại trước khi trời sáng rõ.

    Đấy, theo bà Smith thì chúng lên tàu khi đã quá 3 giờ.

    Chậm một giờ nữa thì trời đã hừng sáng và lắm người qua lại.

    Do đó tôi lập luận rằng bọn chúng sẽ không đi đâu xa lắm.

    Chúng trả cho ông Smith nhiều tiền để câm miệng, giữ lại chiếc tàu thủy của ông ta cho chuyến tẩu thoát cuối cùng, và hấp tấp về nơi trú ngụ của chúng cùng với rương châu báu.

    Vài đêm sau đó, khi chúng đã có thời gian xem báo chí bàn tán gì và xem thử có ai nghi ngờ gì không, chúng mới tranh thủ ban đêm lần mò tới một chiếc tàu lớn nào đó ở Gravesend hay ở miệt dưới, nơi chắc chắn chúng đã thu xếp sẵn một chuyến đi sang Mỹ châu hay sang các thuộc địa."

    "Nhưng còn chiếc tàu thủy?

    Chúng đâu có thể đưa nó về nơi trú ẩn được."

    "Hẳn thế rồi.

    Tôi lập luận rằng chiếc tàu ấy nhất định phải ở đâu đó gần đấy, cho dù nó có tàng hình đi nữa.

    Rồi tôi đặt mình vào địa vị của Small, và xem xét vấn đề theo khả năng của hắn.

    Hắn có thể nghĩ rằng, việc trả tàu về hay giữ lại ở một bến nào đó chỉ làm cho việc truy đuổi thêm dễ dàng nếu cảnh sát tình cờ lần được dấu vết hắn.

    Như vậy làm sao hắn có thể vừa giấu chiếc tàu mà vừa có ngay khi cần?

    Tôi đã tự hỏi mình phải làm gì nếu ở trong hoàn cảnh của hắn.

    Tôi chỉ có thể nghĩ ra một cách duy nhất.

    Tôi có thể cho chiếc tàu cập vào một xưởng sửa chữa hay đóng tàu nào đó, với yêu cầu điều chỉnh lặt vặt.

    Như vậy chiếc tàu có thể được đưa vào xưởng, và được giấu kín rất hữu hiệu, đồng thời tôi chỉ cần báo trước vài giờ là có thể có được ngay chiếc tàu."

    "Nghe khá là đơn giản."

    "Chính những điều rất đơn giản như thế lại cực kì dễ bị bỏ sót.

    Dù sao tôi cũng quyết định hành động theo ý tưởng đó.

    Tôi cải trang ngay thành lão thủy thủ vô hại và đi dò la khắp các xưởng tàu dọc dòng sông.

    Tôi chẳng tìm được tin tức gì suốt mười lăm xưởng nhưng đến cái thứ mười sáu, công xưởng Jacobson, thì tôi được biết một người chân gỗ đã giao chiếc Aurora cho xưởng này cách đây hai ngày, với yêu cầu điều chỉnh lặt vặt chỗ bánh lái, ông cai xưởng nói: 'Bánh lái đó có gì trục trặc đâu.

    Chiếc tàu kia kìa, có mấy sọc đỏ đấy.' Ngay lúc đó chính Mordecai Smith, tay chủ tàu mất tích mò tới, ông ta đã say khướt.

    Tất nhiên trước giờ tôi có biết Smith là ai đâu, nhưng ông ta cứ rống oang oang tên mình và tên chiếc tàu.

    Ông ta nói: 'Tôi cần nó tối nay lúc 8 giờ, 8 giờ đúng đó, ông nhớ cho, vì tôi còn hai quý ông không muốn mất công chờ đợi.' Rõ ràng là chúng đã trả công cho ông ta hậu hĩnh, vì ông ta có rất nhiều tiền, và quăng ra nhiều đồng shilling cho đám thợ.

    Tôi đi theo Smith một quãng nhưng rồi ông ta sà vào một quán bia nên tôi quay lại xưởng tàu, và trên đường đi tình cờ gặp được một đứa trong đám nhóc con của tôi.

    Tôi bố trí nó đứng canh chừng chiếc tàu thủy.

    Nó phải đứng ngay bờ nước và vẫy khăn tay báo hiệu cho chúng ta khi bọn chúng khởi hành.

    Chúng ta sẽ án binh bất động chờ ngoài sông, nếu không tóm được cả người lẫn kho báu thì mới lạ đấy!"

    "Ông đã vạch kế hoạch đâu vào đấy cả, cho dù bọn chúng có đúng là thủ phạm hay không", Jones nói.

    "Nhưng nếu chuyện này thuộc thẩm quyền của tôi thì tôi đã cho cả đội cảnh sát phục sẵn ở xưởng tàu Jacobson và tóm cổ khi chúng mò tới đó."

    "Điều đó sẽ không bao giờ xảy ra.

    Tên Small này ranh ma lắm đấy.

    Hắn sẽ cho một tên do thám đi trước, và nếu có chuyện gì khiến hắn nghi ngờ thì hắn sẽ nằm im cả tuần nữa."

    "Nhưng anh có thể bám theo Mordecai Smith và nhờ đó tìm tới nơi trú ẩn của bọn chúng", tôi nói.

    "Trong trường hợp này tôi sẽ phí phạm mất cả ngày của mình.

    Và tôi dám cá một trăm ăn một là Smith không hề biết bọn chúng đang ở đâu.

    Chừng nào còn có rượu uống và tiền công hậu hĩnh thì cớ gì mà ông ta thắc mắc chứ?

    Chúng sẽ nhắn tin bảo ông ta những gì cần làm.

    Không, tôi đã suy tính hết mọi đường hướng có thể xảy ra, và đây là cách tốt nhất."

    Trong lúc cuộc trò chuyện tiếp diễn, chúng tôi vượt qua hàng loạt cây cầu bắc ngang sông Thames.

    Lúc chúng tôi băng ngang thành phố, những tia nắng cuối cùng đang nhuộm vàng cây thánh giá trên đỉnh tháp giáo đường St.

    Paul.

    Lúc đến tháp London thì trời đã chạng vạng.

    "Xưởng tàu Jacobson kia kìa", Holmes vừa nói vừa chỉ về đám cột buồm tua tủa bên phía Surrey.

    "Hãy chạy từ từ qua lại chỗ này, trong tầm che chắn của dãy sà lan chở hàng kia."

    Anh lấy ra một chiếc ống nhòm chuyên quan sát ban đêm và nhìn chằm chằm một hồi về phía bờ sông.

    Anh nói, "Tôi thấy người canh gác của tôi rồi, nhưng chưa thấy dấu hiệu của chiếc khăn tay."

    "Giả sử chúng ta đi xuôi dòng một đoạn ngắn nữa rồi mai phục bọn chúng thì sao?"

    Jones hăm hở lên tiếng.

    Đến lúc này tất cả chúng tôi đều háo hức, ngay cả mấy viên cảnh sát và người phụ máy vốn chẳng hề biết rõ chuyện gì sắp xảy ra.

    "Chúng ta không có quyền coi bất cứ chuyện gì là đương nhiên cả", Holmes nói.

    "Chín mươi phần trăm chúng sẽ đi xuôi dòng, nhưng không thể đoán chắc.

    Từ điểm này chúng ta có thể thấy được cổng vào xưởng tàu trong khi chúng không thể nhìn thấy ta.

    Đêm nay trời trong và nhiều ánh sáng.

    Chúng ta phải ở yên đây thôi.

    Hãy xem người ta kéo đi cả đám đằng xa dưới ánh đèn khí đốt kia kìa."

    "Họ từ xưởng tàu tan tầm ra về."

    "Những kẻ lôi thôi lếch thếch, nhưng tôi cho là bất cứ ai cũng ẩn chứa một tia sáng nhỏ nhoi bất diệt nào đó.

    Nhìn họ thì anh không nghĩ thế đâu.

    Không có một xác suất tiên nghiệm nào trong chuyện này cả.

    Con người là một điều bí ẩn lạ lùng!"

    "Có người lại nói con người là một linh hồn được che giấu bên trong một con thú", tôi gợi ý.

    "Winwood Reade rất giỏi về đề tài này", Holmes nói.

    "Ông ấy nhận định rằng, dù mỗi cá nhân là một câu đố không có lời giải, nhưng nhìn tổng thể thì con người lại trở thành đại lượng xác định về toán học.

    Chẳng hạn, anh chẳng bao giờ có thể biết trước bất kì ai sẽ làm chuyện gì, nhưng anh có thể nói chính xác một số người bình quân sẽ toan tính điều gì.

    Cá thể biến thiên nhưng tỉ lệ thì bất biến.

    Chuyên gia thống kê nói thế.

    Nhưng hình như có dấu hiệu khăn tay kìa?

    Rõ ràng có cái gì trăng trắng vung vẩy ở xa xa."

    "Phải rồi, chính thằng nhóc của anh đó", tôi kêu lên.

    "Tôi thấy nó rõ lắm."

    "Và kia là chiếc Aurora" Holmes kêu lên, "nó phóng nhanh như quỷ sứ!

    Chạy hết tốc lực đi, anh thợ máy.

    Đuổi theo chiếc tàu có cái đèn vàng đó.

    Nói có Chúa, tôi sẽ không bao giờ tha thứ cho chính mình nếu như chiếc tàu đó chạy nhanh hơn chúng ta!"

    Chiếc Aurora đã chạy qua cổng xưởng tàu mà không ai hay biết và đã lướt đi đằng sau hai hay ba chiếc tàu nhỏ cho nên khi chúng tôi nhìn thấy thì nó đã phóng ngon trớn rồi.

    Lúc này nó đang lao như bay xuôi dòng nước, phía gần bờ, với tốc độ kinh hồn.

    Jones lo ngại nhìn chiếc tàu rồi lắc đầu.

    "Nó chạy nhanh quá", ông ta nói.

    "Tôi không chắc chúng ta đuổi kịp."

    "Chúng ta phải đuổi kịp!"

    Holmes nghiến răng thốt lên.

    "Chất đầy than vào đi anh thợ máy.

    Cho máy chạy hết mức đi!

    Phải bắt được chúng dù có cháy con tàu này!"

    Chúng tôi đã ở khá gần chiếc Aurora.

    Các lò hơi gầm lên và các động cơ mạnh mẽ rú rít như một trái tim kim khí khổng lồ.

    Mũi tàu nhọn hoắt xé nước, rẽ sóng thành hai làn cuồn cuộn hai bên mạn.

    Theo từng nhịp của động cơ, con tàu của chúng tôi nhún nhảy, rung lắc như một sinh vật.

    Một ngọn đèn vàng to tướng ở đầu tàu hắt ra phía trước một luồng sáng dài, lập lòe tỏa rộng.

    Ngay trước mặt, một đốm mờ đen đúa trên mặt nước cho biết vị trí của chiếc Aurora, và đám bọt trắng cuộn xoáy đằng sau đuôi cho biết tốc độ con tàu này đang lao tới.

    Chúng tôi chạy vụt qua biết bao sà lan, tàu khách, thương thuyền, hết vào trong lại ra ngoài, hết chạy sau chiếc này lại vòng qua chiếc khác.

    Từ trong bóng tối vẳng ra nhiều tiếng người réo gọi chúng tôi nhưng Aurora vẫn cứ phóng ào ào và chúng tôi vẫn bám sát theo đường đi của nó.

    "Thêm than vào, các bạn, thêm than vào!"

    Holmes vừa la vừa nhìn vào buồng máy trong khi ánh lửa nóng rực từ bên dưới táp vào gương mặt hăng hái của anh.

    "Cho hơi nước xả hết cỡ đi."

    "Tôi nghĩ chúng ta đã gần hơn một chút", Jones nói, mắt dán vào chiếc Aurora.

    "Tôi chắc chắn là thế", tôi nói.

    "Chỉ vài phút nữa là chúng ta đuổi kịp nó."

    Thế nhưng ngay lúc đó, xui khiến sao lại có một chiếc tàu kéo một dãy ba sà lan chen ngang giữa chúng tôi và chiếc Aurora.

    Phải bẻ ngoặt bánh lái tối đa mới tránh được va chạm, và khi chúng tôi có thể chạy vòng qua đoàn tàu kéo này để theo đường cũ thì Aurora đã bỏ xa chừng hai trăm yard.

    Tuy vậy nó vẫn còn trong tầm mắt và ánh hoàng hôn nhập nhoạng âm u đang chuyển dần sang một đêm trời quang sao sáng.

    Mấy nồi hơi trên tàu đã sôi sục muốn nổ tung và lớp vỏ mỏng manh của chúng phập phồng, cọt kẹt theo động cơ mãnh liệt đang đẩy chúng tôi vọt tới.

    Chúng tôi băng ngang khu cảng Pool, phóng qua bến tàu West India, xuôi theo đoạn kênh dài Deptford, rồi lại lao ngược lên sau khi đã vòng qua cù lao Dogs.

    Cái đốm mờ đục trước mặt giờ đã dần hiện rõ nét thành chiếc Aurora kiêu kì.

    Jones hướng ngọn đèn pha về phía con tàu đó để chúng tôi có thể nhìn thấy rõ những bóng người trên boong.

    Một tên ngồi ở đuôi tàu, đang lom khom với vật gì màu đen giữa hai đầu gối hắn.

    Bên cạnh hắn ta là một đống sậm màu trông như một con chó giống Newfoundland.

    Một thằng nhóc đang giữ tay đòn bánh lái trong lúc một bóng người hiện rõ trong ánh lửa đỏ của lò hơi; tôi có thể đoán là ông Smith, áo tuột khỏi lưng, đang xúc than hì hục.

    Thoạt tiên họ không chắc là chúng tôi đang đuổi theo nhưng bây giờ, khi thấy chúng tôi bám theo mọi khúc quanh ngã rẽ thì họ không còn hồ nghi gì nữa.

    Ở Greenwich chúng tôi cách chiếc Aurora chừng ba trăm sải.

    Đến Blackwall chúng tôi còn cách chưa đến hai trăm rưỡi sải.

    Tôi đã săn đuổi nhiều con mồi ở nhiều xứ sở trong suốt binh nghiệp thăng trầm của mình, nhưng chưa bao giờ trò cút bắt lại kích thích tôi dữ dội như cuộc săn người điên cuồng vùn vụt trên sông Thames này.

    Chúng tôi rút ngắn khoảng cách từng chút một.

    Trong đêm tĩnh mịch, chúng tôi nghe được cả tiếng máy tàu hồng hộc, lạch cạch trên chiếc Aurora.

    Người ngồi ở đuôi tàu vẫn lom khom trên boong, và hai cánh tay hắn hoạt động như thể đang bận rộn việc gì đó, trong khi chốc chốc hắn lại đưa mắt đo lường khoảng cách giữa hai chiếc tàu.

    Chúng tôi càng lúc càng gần hơn, gần hơn.

    Jones quát to ra lệnh cho chiếc Aurora dừng lại.

    Cả hai đều đang phóng như bay với tốc độ kinh hoàng, và chỉ còn cách nhau một khoảng bằng độ dài của bốn chiếc tàu nối đuôi nhau.

    Đây là một khúc sông trống trải, một bên là khu đất bằng Barking còn một bên là khu đầm lầy Plumstead.

    Nghe tiếng quát tháo, người ở đuôi tàu Aurora đứng phắt dậy, vừa vung hai nắm tay siết chặt về hướng chúng tôi vừa nguyền rủa một hồi bằng giọng the thé, khàn khàn.

    Gã đó có tầm vóc cao lớn, lực lưỡng, và khi hắn đứng giạng chân để giữ thăng bằng tôi nhận ra chân phải của hắn từ phần bắp đùi trở xuống chỉ là một khúc gỗ.

    Nghe tiếng la hét tức tối the thé kia, cái đống lù lù nằm trên boong bỗng nhúc nhích.

    Nó vươn thẳng lên và hiện hình thành một người da đen nhỏ bé - người nhỏ bé nhất mà tôi từng thấy - với một cái đầu dị dạng và một mớ tóc bù xù, rối bời.

    Holmes đã rút khẩu súng lục của mình ra, tôi cũng rút súng ngay khi thấy kẻ man rợ kì dị này.

    Hắn trùm kín người bằng một tấm chăn hay một chiếc áo choàng gì đó, chỉ lộ xa khuôn mặt, song bộ mặt ấy đủ khiến người ta mất ngủ cả đêm.

    Chưa bao giờ tôi lại thấy nét mặt nào hằn sâu sự hung bạo và thú tính nhường ấy.

    Đôi mắt nhỏ tí kia hừng hực một thứ ánh sáng âm u còn đôi môi dày vén lên để lộ hàm răng đang nhe ra và rú rít với chúng tôi một tràng thịnh nộ như tiếng thú vật.

    "Nó giơ tay lên là bắn liền", Holmes khẽ nói.

    Lúc này chúng tôi chỉ còn cách chiếc Aurora bằng độ dài một con thuyền, và hầu như sắp chạm tới con mồi.

    Tôi bây giờ đã thấy rõ hai tên đó khi chúng đứng lên, người da trắng đứng giạng chân chửi rống và tên quỷ lùn có bộ mặt gớm guốc và bộ răng vàng khè chắc đang nghiến chặt ra vẻ hăm dọa dưới ánh đèn của chúng tôi.

    Cũng may mà chúng tôi nhìn rõ hắn.

    Trong lúc chúng tôi còn đứng nhìn, hắn đã rút phắt ra từ dưới tấm áo choàng một khúc gỗ tròn, ngắn, trông như cây thước kẻ, và đưa lên môi.

    Holmes và tôi nổ súng cùng một lúc.

    Hắn quay ngược một vòng, hai cánh tay vung lên trời, khạc ra một tiếng nấc nghẹn, hắn ngã sang một bên rồi rơi xuống sông.

    Tôi thoáng nhìn thấy đôi mắt hiểm ác, đầy đe dọa của hắn giữa dòng nước cuộn xoáy.

    Ngay khi đó, tên chân gỗ lao người lên tay đòn bánh lái bẻ ngoặt cho chiếc Aurora phóng thẳng vào bờ phía nam trong lúc chúng tôi lao vọt qua đuôi tàu của hắn, chỉ cách chừng vài foot.

    Chúng tôi lập tức quay vòng tàu lại đuổi theo nhưng chiếc Aurora đã tiến gần bờ.

    Khúc sông đó hoang vắng, ánh trăng mờ chiếu trên một dải đầm lầy rộng lớn toàn những vũng nước tù đọng và thảm thực vật đang thối rữa.

    Uỵch một cái, chiếc tàu thủy đã lao lên bờ đất sình, mũi chĩa lên trời còn đuôi nằm ngang mặt nước.

    Kẻ đào tẩu nhảy phắt xuống nhưng cái chân gỗ của hắn lập tức cắm ngập xuống lớp đất nhão.

    Hắn vùng vẫy, chống chọi vô ích.

    Hắn không thể dịch chuyển tới lui dù chỉ một bước.

    Thịnh nộ vì bất lực, hắn rống lên và đạp loạn xạ chân còn lại xuống mặt bùn nhưng những nỗ lực ấy chỉ khiến cái chân gỗ cắm sâu thêm vào bờ sông sình lầy.

    Khi chiếc tàu cảnh sát cập vào kế bên thì hắn đã bị lún trong sình lầy tới mức phải thảy một đầu dây thừng qua vai hắn chúng tôi mới có thể lôi hắn lên và kéo hắn như kéo một con cá dữ về phía mình.

    Hai cha con nhà Smith mặt mày sưng sỉa ngồi trên chiếc tàu thủy của họ nhưng rồi cũng ngoan ngoãn nghe lệnh đi lên boong tàu chúng tôi.

    Chiếc tàu cảnh sát kéo dây lôi chiếc Aurora ra khỏi bờ sình và buộc chặt phía sau đuôi.

    Trên boong Aurora là một cái rương sắt chắc chắn do thợ thủ công người Ấn chế tác.

    Không nghi ngờ gì nữa, đây chính là cái rương chứa đựng kho báu mang vận gở của nhà Sholto.

    Không thấy chìa khóa đâu, nhưng cái rương khá nặng nên chúng tôi cẩn thận chuyển nó sang cabin nhỏ trên tàu cảnh sát.

    Lúc tàu nổ máy chầm chậm đi ngược dòng trở lại, chúng tôi soi đèn pha về mọi hướng nhưng không thấy dấu vết nào của tên thổ dân.

    Ở đâu đó trong lớp bùn đen dưới đáy sông Thames là xương cốt của du khách kì dị đã đến xứ này.

    "Nhìn đi", Holmes vừa nói vừa chỉ vào tấm cửa gỗ buồng tàu.

    "Suýt chút nữa là chúng ta bắn không kịp."

    Đúng như thế.

    Vì tấm gỗ ngay phía sau chỗ chúng tôi đứng lúc nãy có găm một mũi tên chết người mà chúng tôi đã biết quá rõ.

    Mũi tên ấy hẳn đã bay vèo qua giữa Holmes và tôi ngay lúc cả hai nổ súng.

    Holmes nhìn mũi tên mỉm cười rồi nhún vai theo kiểu ung dung của anh, nhưng thú thật tôi ớn lạnh khi nghĩ tới cái chết kinh hoàng đã cận kề chúng tôi đêm đó.

    11.

    Kho báu Agra

    Kẻ bị bắt giữ ngồi trong cabin đối diện với chiếc rương sắt mà hắn đã làm hết sức và chờ đợi quá lâu mới lấy được.

    Hắn có làn da sạm nắng, ánh mắt khinh bạc, trên gương mặt nâu sẫm hằn chi chít nếp nhăn cho thấy cả một đời cơ cực dãi dầu.

    Cái cằm để râu dài chìa ra trước làm nổi bật cá tính của một kẻ không dễ dàng từ bỏ mục đích.

    Hắn ta hẳn phải trạc tuổi năm mươi bởi mái tóc xoăn đen đã lốm đốm bạc.

    Khi thư thái, gương mặt ấy không đến nỗi khó ưa, mặc dù cặp mày rậm và cái cằm khiêu khích kia tạo cho hắn một biểu hiện đáng sợ khi nổi cơn thịnh nộ - như tôi đã vừa chứng kiến.

    Bây giờ hắn ta ngồi đó, hai tay bị còng đặt lên đùi, đầu cúi gằm xuống ngực trong khi đôi mắt sắc sảo hấp háy nhìn chiếc rương vốn là nguyên nhân của những điều tai ác hắn đã gây ra.

    Tôi thấy nét mặt kiềm chế, cứng rắn ấy dường như lộ vẻ buồn rầu hơn là tức giận.

    Có một lần hắn ngước nhìn tôi với ánh mắt có phần hóm hỉnh.

    "Chào, ông Jonathan Small," Holmes lên tiếng, tay châm điếu xì gà, "tôi tiếc là kết cục lại như thế này."

    "Tôi cũng tiếc, thưa ông", ông ta trả lời thành thật.

    "Tôi không nghĩ là mình có thể xoay chuyển tình thế.

    Xin thề danh dự với ông là tôi không hề ra tay sát hại cậu Sholto.

    Chính tên Tonga quỷ sứ loắt choắt kia đã bắn mũi tên đáng nguyền rủa ấy vào cậu ta.

    Tôi không can dự vào chuyện đó, thưa ông.

    Tôi cũng đau lòng chẳng khác gì người thân thuộc của mình bị giết.

    Tôi đã lấy đầu dây thừng quất thằng quỷ đó, nhưng chuyện đã rồi và tôi không thể làm cho cậu Sholto sống lại được."

    "Mời ông điếu xì gà", Holmes nói, "và tốt nhất ông nên làm một ngụm rượu trong chai này đi, vì ông ướt sũng rồi.

    Làm sao ông có thể mong đợi một tên nhỏ bé và yếu ớt như tên da đen kia chế ngự được ông Sholto và giữ chặt Sholto trong khi ông đu dây trèo lên chứ?"

    "Coi bộ ông biết rõ ràng như là đã có mặt ở đó vậy, thưa ông.

    Sự thật là tôi đã hi vọng căn phòng ấy không có ai.

    Tôi biết khá rõ lề thói trong nhà ấy, và đó là giờ cậu Sholto thường xuống nhà dùng bữa tối.

    Tôi sẽ không giấu gì hết.

    Cách bào chữa tốt nhất mà tôi có thể làm chỉ là nói lên sự thật.

    Đấy, nếu như đó là lão già thiếu tá thì tôi đã sung sướng nhảy xổ tới.

    Tôi sẽ đâm lão ta mà chẳng hề bận tâm, chẳng khác gì hút điếu xì gà này.

    Nhưng trời xui đất khiến tôi lại bị bắt vì cậu cả nhà Sholto, người mà tôi không hề có hiềm khích gì hết."

    "Bây giờ ông thuộc trách nhiệm của ông Athelney Jones, người của Sở Cảnh sát London.

    Ông ấy sẽ đưa ông về nhà tôi và tôi sẽ yêu cầu ông kể thành thật hết sự việc này.

    Ông phải khai hết vì tôi hi vọng như thế là có ích cho ông.

    Tôi nghĩ tôi có thể chứng minh rằng chất độc tác dụng quá nhanh đến nỗi nạn nhân đã chết trước khi ông vào tới căn phòng đó."

    "Đúng vậy đó, thưa ông.

    Trong đời tôi chưa bao giờ phát hoảng như thế khi tôi thấy cậu ấy đầu ngoẹo sang một bên, ngoác miệng nhìn tôi khi tôi trèo qua cửa sổ phòng.

    Tôi thật bất bình, thưa ông.

    Suýt nữa tôi đã giết chết thằng Tonga nếu như nó không chạy trốn.

    Vì thế nó mới bỏ lại cái chùy của nó, với mấy mũi tên, theo như nó kể lại, tôi dám chắc là mấy thứ đó đã giúp ông lần theo dấu bọn tôi; mặc dù làm sao mà ông theo được thì tôi chịu thua, không biết.

    Tôi không hề thấy ác cảm gì với ông vì chuyện truy đuổi.

    Nhưng nghĩ cũng lạ thật", hắn nói tiếp với một nụ cười cay đắng, "tôi đây, kẻ có quyền chính đáng hưởng số tiền nửa triệu bảng, lại mất nửa cuộc đời xây đê chắn sóng ở Andaman, và có lẽ phải mất nửa cuộc đời còn lại đào cống rãnh ở Dartmoor.

    Cái ngày đầu tiên tôi để mắt tới tay lái buôn Achmet và phải dính dáng vào cái kho báu Agra, thứ chẳng đem lại gì ngoại trừ tai ương cho kẻ nào sở hữu nó, thật là tai họa.

    Với Achmet nó lấy đi mạng sống, với thiếu tá Sholto nó mang tới sợ hãi và tội lỗi, còn với tôi nghĩa là đày đọa chung thân."

    Đúng lúc đó Athelney Jones thò bản mặt to bè và đôi vai cục mịch vào trong cabin chật hẹp.

    Ông ta thốt lên, "Đúng là một bữa tiệc gia đình.

    Chắc tôi cũng phải uống một hớp rượu đó, Holmes.

    Chà chà, tôi nghĩ là tất cả chúng ta có thể chúc mừng nhau.

    Tiếc là không bắt sống được tên kia, nhưng không còn cách nào khác.

    Này Holmes, anh phải công nhận rằng suýt chút nữa là hỏng.

    Tôi cố hết sức cũng chỉ đuổi chiếc tàu kia được thế thôi."

    "Mọi chuyện kết thúc tốt đẹp là hay rồi", Holmes nói.

    "Nhưng thực sự tôi không ngờ chiếc Aurora chạy nhanh đến thế."

    "Smith nói đó là chiếc tàu thủy nhanh nhất trên sông này, và bảo nếu có thêm một thợ máy giúp hắn thì chúng ta không thể nào đuổi kịp đâu.

    Hắn ta thề là không hay biết gì về vụ Norwood."

    "Ông ta không biết đâu", tù nhân của chúng tôi kêu lên, "không biết gì hết.

    Tôi chọn tàu của ông ta vì nghe nói chiếc đó chạy thần tốc.

    Chúng tôi không hề nói gì với ông ta mà chỉ trả công hậu hĩnh và ông ta sẽ được bộn tiền nếu chúng tôi tới được tàu Esmeralda neo ở Gravesend, chờ lên đường sang Brazil."

    "À, nếu hắn ta không làm gì sai trái thì chúng tôi sẽ lo liệu để hắn không phải gánh chịu thiệt hại gì.

    Chúng tôi bắt người thì nhanh chứ xử tội họ thì chậm lắm."

    Thật thú vị khi nhận ra ngài Jones tự phụ đã bắt đầu lên mặt dương oai về vụ bắt bớ này.

    Nhìn nụ cười ruồi thoáng qua trên nét mặt Sherlock Holmes, tôi biết anh cũng đã để ý đến câu nói ấy.

    "Chúng ta sắp đến cầu Vauxhall rồi, bác sĩ Watson", Jones nói, "và sẽ cho ông lên bờ cùng với cái rương.

    Tôi khỏi cần phải nói là chính tôi đây sẽ phải chịu trách nhiệm rất nặng nề về chuyện này.

    Làm thế là trái nguyên tắc nhưng tất nhiên, đã thỏa thuận thì phải làm.

    Tuy vậy, vì bổn phận, tôi phải cho một thanh tra viên đi cùng ông, vì ông đang giữ một tang chứng hết sức giá trị.

    Chắc ông phải bắt xe ngựa chứ?"

    "Vâng, tôi sẽ gọi xe."

    "Tiếc là không có chìa khóa nào để chúng tôi có thể kiểm kê trước, ông sẽ phải cạy nắp ra thôi.

    Chia khóa ở đâu, ông bạn?"

    "Dưới đáy sông", Small nói cộc lốc.

    "Hừm!

    Ông gây rắc rối không cần thiết như vậy cũng chẳng ích gì.

    Với các ông chúng tôi cũng có quá nhiều việc rồi.

    Mà này, bác sĩ ơi, tôi không nhắc thì ông cũng phải cẩn thận đấy.

    Hãy mang theo cái rương về phố Baker.

    Chúng tôi sẽ ở đó chờ, trên đường đến đồn cảnh sát."

    Họ cho tôi lên bờ ở Vauxhall cùng với cái rương sắt nặng nề và một viên thanh tra vui tính, chất phác tháp tùng.

    Sau mười lăm phút xe đưa chúng tôi đến nhà bà Cecil Forrester.

    Cô hầu gái có vẻ ngạc nhiên khi thấy có khách tới muộn.

    Cô cho biết bà Forrester tối nay đã ra ngoài và có thể đến khuya mới về, tuy nhiên vẫn có cô Morstan ở trong phòng khách.

    Thế là tôi đi thẳng vào phòng khách, tay ôm chiếc rương, để mặc viên thanh tra theo kèm ngồi chờ trong xe ngựa.

    Cô Morstan mặc một bộ đồ vải trắng trong mờ điểm xuyết chút màu đỏ tươi ở cổ áo và eo đang ngồi bên cánh cửa sổ mở.

    Cô ngả người trên ghế mây dưới ánh sáng dịu của chiếc đèn chụp, ánh sáng mơn man trên gương mặt dịu dàng, đoan trang, và nhuộm những lọn tóc xoăn dày trong ánh bạc lấp loáng mơ hồ.

    Một cánh tay và bàn tay trắng muốt buông thõng bên thành ghế và dáng ngồi của cô toát lên một nỗi buồn da diết.

    Nhưng nghe tiếng chân tôi, cô đứng bật dậy, hai má ửng hồng trong một cảm xúc vừa ngạc nhiên vừa hân hoan.

    "Tôi có nghe tiếng xe ngựa dừng bánh", cô gái nói.

    "Tôi cứ tưởng là bà Forrester về nhà sớm nhưng thật không ngờ lại là ông.

    Ông mang tin tức gì đến cho tôi ư?"

    "Tôi mang một thứ còn hay hơn cả tin tức", tôi đặt chiếc rương xuống bàn và nói năng sôi nổi, vui tươi, mặc dù trong lòng nặng trĩu.

    "Tôi mang cho cô một thứ xứng đáng hơn mọi tin tức trên đời.

    Tôi mang cho cô một gia sản."

    Cô nhìn chiếc rương sắt rồi hỏi thản nhiên, "Vậy kho báu đó sao?"

    "Đúng, đó là kho báu Agra.

    Phân nửa số đó thuộc về cô còn phân nửa thuộc về Thaddeus Sholto.

    Mỗi người sẽ được hơn hai trăm nghìn bảng Anh.

    Nghĩ coi!

    Ở Anh quốc này chẳng có mấy quý cô giàu có hơn đâu.

    Huy hoàng quá còn gì?"

    Chắc hẳn tôi đã quá cường điệu vẻ vui sướng của mình, và cô đã nhận ra giọng giả dối trong những lời chúc mừng của tôi, bởi vì cô hơi nhướng mày rồi nhìn tôi đầy tò mò.

    "Tôi mà có được là nhờ ông cả", cô nói.

    "Không đâu, không đâu", tôi đáp, "không phải tôi mà là anh bạn Sherlock Holmes.

    Vụ này thì đến tài phân tích của anh ấy còn gặp khó khăn huống chi là tôi.

    Thực tế là suýt nữa chúng tôi đã thua cuộc vào phút chót."

    "Xin ngồi xuống kể chuyện tôi nghe đi, bác sĩ Watson", cô nói.

    Tôi tường thuật vắn tắt những gì đã diễn ra từ khi tôi gặp cô lần trước - phương cách điều tra mới của Holmes, việc tìm ra chiếc tàu Aurora, sự xuất hiện của Athelney Jones, chuyến viễn du chiều nay và cuộc rượt đuổi điên cuồng trên sông Thames.

    Cô lắng nghe, đôi môi hé mở và ánh mắt long lanh khi tôi kể lại những cuộc phiêu lưu ấy.

    Khi nghe tới đoạn mũi tên độc đã bắn hụt chúng tôi trong gang tấc, mặt cô tái nhợt và tôi lo là cô sẽ ngất mất.

    "Không sao đâu", cô lên tiếng khi tôi hấp tấp rót cho cô ít nước.

    "Tôi đã khỏe lại rồi.

    Thật kinh hoàng khi biết tôi đã đưa những người bạn của mình vào một hoàn cảnh nguy nan như thế."

    "Mọi chuyện đã qua rồi", tôi nói.

    "Không sao cả.

    Tôi sẽ không kể cô nghe một chi tiết nào u ám hơn nữa đâu.

    Hãy chuyển sang chuyện khác tươi sáng hơn.

    Kho báu đấy.

    Còn gì tươi sáng hơn chứ?

    Tôi được phép mang nó đến đây, nghĩ rằng cô sẽ thích là người đầu tiên nhìn thấy nó."

    "Tôi thật thích thú không gì bằng", cô nói, thế nhưng giọng lại chẳng có chút gì là háo hức.

    Rõ ràng cô thấy rằng nếu tỏ ra dửng dưng trước một phần thưởng mà phải tốn quá nhiều công sức mới lấy được thì hóa ra mình là kẻ vô ơn.

    "Chiếc rương đẹp quá!"

    Cô vừa nói vừa cúi nhìn.

    "Chắc đây là đồ thủ công Ấn Độ?"

    "Đúng, đó là đồ kim khí xứ Benares."

    "Nặng quá chừng!"

    Cô kêu lên khi cố nhấc thử chiếc rương.

    "Chỉ riêng cái rương không thôi đã có giá trị rồi.

    Còn chìa khóa đâu?"

    "Small đã ném xuống sông Thames rồi", tôi đáp.

    "Tôi phải mượn thanh cời lửa của bà Forrester mà mở ra thôi."

    Ở mặt trước rương là một bản lề rộng và dày, chế tác thành hình một ông Phật đang ngồi.

    Tôi thọc một đầu thanh cời lửa vào dưới cái bản lề này và nạy ngược ra ngoài.

    Cái bản lề bật tung kêu cạch một tiếng.

    Với những ngón tay run rẩy, tôi lật nắp rương ra sau.

    Cả hai chúng tôi đứng trố mắt kinh ngạc: Cái rương rỗng!

    Thảo nào rương nặng thế.

    Cái hòm sắt này cả sáu mặt đều dày gần một inch.

    Nó to lớn, chắc chắn và được chế tạo công phu như một cái rương chuyên chứa những đồ có giá trị lớn, nhưng bên trong không hề có một mảnh vụn kim hoàn hay châu báu nào.

    Nó hoàn toàn trống không.

    "Kho báu mất rồi", cô Morstan điềm tĩnh lên tiếng.

    Khi lắng nghe những lời ấy và nhận ra hàm ý của chúng, lòng tôi như được xua tan một bóng tối mênh mông.

    Cho đến tận bây giờ, khi số châu báu ấy cuối cùng đã mất đi, tôi mới nhận ra cái kho báu Agra này đã đè nặng tâm hồn tôi đến dường nào.

    Chắc chắn như thế là ích kỉ, là không trung nghĩa, là sai trái, nhưng tôi không thể nhận ra điều gì khác hơn là cái chướng ngại bằng tài sản chắn giữa hai chúng tôi đã biến mất.

    "Tạ ơn Chúa!"

    Tôi thốt lên một lời tự đáy lòng.

    Cô nhìn tôi với một nụ cười thắc mắc thoáng nhanh.

    "Sao ông lại nói thế?"

    Cô hỏi.

    "Bởi vì em giờ lại trong tầm với của tôi", tôi vừa nói vừa nắm lấy bàn tay Morstan.

    Cô không rút tay về.

    "Bởi vì tôi yêu em, Mary, yêu chân thành như một người đàn ông có thể yêu thương một phụ nữ.

    Chính vì cái kho báu này, của cải này, mà tôi không dám mở lời.

    Bây giờ khi chúng đã mất hết thì tôi có thể nói là tôi yêu em biết bao.

    Chính vì thế tôi mới nói: Tạ ơn Chúa!"

    "Vậy thì em cũng nói: Tạ ơn Chúa!"

    Cô thì thầm khi tôi kéo cô lại gần mình.

    Dẫu có ai mất mát tài sản, tôi biết đêm ấy tôi đã có được một kho báu.

    12.

    Câu chuyện kì lạ của Jonathan Small

    Viên thanh tra ở trong xe ngựa quả là người rất nhẫn nại, bởi vì anh ta phải chờ mỏi mòn tôi mới quay lại.

    Mặt anh sa sẩm khi tôi cho xem chiếc rương trống trơn.

    "Mất toi tiền thưởng rồi!"

    Anh ủ rũ nói.

    "Không có tiền thì trả bằng gì.

    Nếu có kho báu thì công việc đêm nay của tôi và Sam Brown đáng thưởng công mỗi đứa mười bảng."

    "Ông Thaddeus Sholto là người giàu có", tôi nói.

    "Ông ấy sẽ lo liệu để anh được thưởng công, dù có kho báu hay không."

    Viên thanh tra vẫn lắc đầu chán nản.

    "Công việc tệ hại", anh ta lặp lại, "và ông Athelney Jones cũng sẽ nghĩ như vậy?"

    Dự đoán của anh này hóa ra chính xác vì khi tôi tới phố Baker và cho Jones xem cái rương rỗng không, viên thanh tra hầu như không lộ cảm xúc gì.

    Holmes, tù nhân, và ông ta chỉ vừa mới tới đó vì họ đã đổi kế hoạch, ghé một đồn cảnh sát nào đó trên đường đi để báo cáo.

    Anh bạn tôi ngồi ườn trong chiếc ghế bành với vẻ bơ phờ thường lệ, trong lúc Small ngồi dửng dưng phía đối diện với cái chân gỗ vắt ngang chân lành.

    Khi tôi cho xem cái rương rỗng, y ngả lưng ra ghế cười ầm lên.

    "Đây là trò của ông chứ gì, Small!"

    Athelney Jones kêu lên giận dữ.

    "Đúng, tôi đã cất ở chỗ mà các người sẽ không bao giờ chạm tay tới được", Small nói to, giọng hớn hở.

    "Đó là kho báu của tôi, và nếu tôi không có được số của cải đó thì tôi sẽ phải tính thật kĩ sao cho không một ai lấy được.

    Nói cho mấy ông biết, không một con người nào có quyền gì với nó, ngoại trừ ba người ở trại tù Andaman và tôi đây.

    Giờ tôi biết chắc là mình không thể sử dụng nó được, và họ cũng thế.

    Tôi đã hành động hoàn toàn vì họ cũng như vì chính mình.

    Chúng tôi lúc nào cũng là Dấu bộ tứ.

    À, tôi biết chắc họ cũng sẽ bảo tôi làm đúng như điều tôi đã làm, và thà quẳng kho báu đó xuống sông Thames chứ không để lại cho thân quyến nhà Sholto hay Morstan.

    Những người đó không có quyền hưởng lợi vì những gì chúng tôi đã làm đối với Achmet.

    Các ông cứ tìm đi, kho báu nằm chung một chỗ với chìa khóa, chung một chỗ với thằng oắt Tonga.

    Khi tôi thấy tàu của các ông thể nào cũng đuổi kịp, tôi đã cho số của cải ấy vào nơi an toàn rồi.

    Chuyến đi của các ông chẳng được một đồng rupee nào đâu."

    "Ông định lừa gạt chúng tôi đấy à, Small", giọng Athelney Jones lạnh lùng.

    "Nếu ông muốn ném kho báu ấy xuống sông Thames thì ném cả cái rương đi không dễ hơn sao?"

    "Tôi dễ ném thì các người cũng dễ tìm lại", hắn ta đáp lại với cái liếc mắt tinh ranh.

    "Ai đủ khôn ngoan để săn lùng ra tôi thì cũng đủ khôn ngoan để lấy cái hòm sắt từ dưới đáy sông lên.

    Khi số của cải ấy đã vương vãi suốt cả năm dặm đường rồi thì khó tìm hơn nhiều.

    Nhưng tôi thật sự đau lòng khi phải làm thế.

    Tôi đã phát khùng lên khi các ông đuổi theo.

    Nhưng có tiếc than mấy cũng vô nghĩa.

    Đời tôi lắm thăng trầm và tôi đã biết cách không kêu ca vì những chuyện đã rồi."

    "Chuyện rất nghiêm trọng đấy, Small", viên thanh tra nói.

    "Nếu ông hỗ trợ công lí thay vì cản trở như thế thì ông đã có cơ hội được khoan hồng khi xét xử rồi."

    "Công lí!"

    Tên cựu tù nhân gắt lên.

    "Công lí hay ho nhỉ!

    Tài sản đó là của ai chứ, nếu như không thuộc về chúng tôi?

    Công lí ở đâu nếu tôi phải nhường số của cải đó cho những kẻ chẳng hề mất gì vì nó chứ?

    Hãy xem tôi đã trả giá như thế nào!

    Hai mươi năm dài trong cái đầm lầy bị sốt rét hoành hành đó, suốt ngày lao lực dưới những rặng đước, suốt đêm bị gông cùm trong những nhà tù bẩn thỉu, bị muỗi đốt, bị hành hạ vì những cơn sốt run người, bị bọn cảnh binh da đen khốn kiếp ngược đãi cho thỏa sở thích hành hạ người da trắng.

    Tôi đã trả giá cho kho báu Agra như thế đó, còn ông thì nói đến công lí bởi vì tôi không thể chấp nhận rằng mình đã phải trả giá như thế chỉ để cho kẻ khác hưởng!

    Tôi thà bị treo cổ cả chục lần, hay lãnh một mũi tên của thằng Tonga vào người, còn hơn phải sống trong ngục tù và biết rằng kẻ khác đang sống thoải mái trong một lâu đài nào đó bằng tài sản lẽ ra phải thuộc về tôi."

    Small đã vứt bỏ cái mặt nạ dửng dưng và mọi cảm xúc bùng phát theo một cơn lốc ngôn từ dữ tợn, trong khi ánh mắt bừng bừng và hai chiếc còng cứ va loảng xoảng vào nhau theo chuyển động sôi nổi của hai bàn tay.

    Chứng kiến cơn thịnh nộ và kích động của hắn, tôi có thể hiểu được nỗi kinh hoàng lạ lùng và không phải là vô căn cứ đã xâm chiếm thiếu tá Sholto khi lần đầu tiên hay tin người tù này đang truy tìm mình.

    "Ông quên là chúng tôi đâu hề biết mấy chuyện đó", Holmes nhẹ nhàng nói.

    "Chúng tôi chưa nghe câu chuyện của ông, và làm sao chúng tôi biết được là công lí ngay từ đầu có đứng về phía ông hay không."

    "À, thưa ông, nãy giờ ông nói chuyện rất đàng hoàng với tôi, mặc dù tôi biết mình phải cho tay vào hai cái vòng này là nhờ ơn ông.

    Quả thực là tôi không hề oán hận gì ông cả.

    Đây toàn chuyện thẳng thắn và thực tình.

    Nếu ông muốn biết chuyện của tôi thì tôi chẳng giấu làm chi.

    Những gì tôi nói với ông là sự thật tuyệt đối, không sai một lời.

    Cảm ơn ông, nhờ ông để cái li cạnh tôi đi, nếu khô cổ họng thì tôi uống.

    Tôi đây là dân Worcestershire, tôi sinh ra gần Pershore.

    Tôi dám nói là ông sẽ thấy cả đống người nhà họ Small hiện nay đang sống ở đó nếu ông chịu khó để ý.

    Tôi thường nghĩ đến chuyện về đó đi tìm một vòng, nhưng sự thực là tôi chẳng có uy tín mấy đối với dòng họ, chắc gì người ta vui mừng khi gặp lại tôi.

    Họ toàn là dân đứng đắn, chăm đi nhà thờ; toàn điền chủ nhỏ, ở nhà quê ai cũng biết và tôn trọng, trong khi tôi lại có chút máu giang hồ.

    Nhưng rốt cuộc, khi đâu chừng mười tám tuổi thì tôi không gây khó xử cho họ nữa vì tôi dính vô chuyện rắc rối về một cô gái, và chỉ có thể thoát nạn bằng cách đi lính và gia nhập Trung đoàn 3 Bộ binh lúc đó chuẩn bị sang Ấn Độ.

    Nhưng trời có cho tôi làm lính được bao lâu đâu.

    Tôi vừa mới học xong cách đi duyệt binh, mới biết cầm súng hỏa mai, thì tôi lại ngu ngốc mà xuống sông Hằng bơi lội.

    May cho tôi là anh John Holder, trung sĩ đại đội, ngay lúc đó cũng ở dưới sông, và anh ta là một trong những người bơi tài nhất trong binh chủng.

    Đúng ngay lúc tôi bơi tới giữa sông thì một con cá sấu táp lìa chân phải của tôi ngay trên đầu gối, ngọt xớt như bác sĩ cưa chân vậy.

    Hoảng kinh và mất máu, tôi ngất luôn, và lẽ ra chết chìm rồi nếu anh Holder không giữ chặt tôi và lội vào bờ.

    Tôi nằm nhà thương mất năm tháng vì chuyện này và sau cùng, khi tôi có thể cà nhắc đi ra với cái cẳng gỗ buộc vào cái chân cụt thì tôi thấy mình đã bị cho giải ngũ vì tàn phế và không phù hợp với bất kì công việc tại ngũ nào.

    Như ông có thể hình dung, lúc đó tôi khá xui xẻo vì chưa tới hai mươi tuổi mà đã thành một thằng què vô dụng.

    Tuy vậy, cái xui của tôi hóa ra lại là một may mắn trá hình.

    Có một người tên là Abelwhite lập đồn điền trồng chàm, ông ta cần một đốc công trông coi bọn culi và bắt chúng làm việc.

    Tình cờ ông ta lại là bạn ông đại tá của chúng tôi, mà ông đại tá lại quan tâm tới tôi từ vụ tai nạn.

    Nói luôn cho gọn, ông đại tá hết lòng tiến cử tôi cho công việc đó, và do công việc chủ yếu chỉ ngồi trên lưng ngựa nên chân cẳng tôi không thành vấn đề lớn, tôi vẫn còn có thể kẹp chặt yên ngựa giữa hai chân.

    Việc tôi phải làm là cưỡi ngựa đi khắp đồn điền, để mắt đến đám lao công và báo cáo đứa nào lười biếng.

    Tiền lương cũng khá, tôi có chỗ ăn ở thoải mái, và nói chung tôi đã bằng lòng sống hết phần đời còn lại ở đồn điền chàm này.

    Ông Abelwhite là người tử tế, và ông thường ghé qua cái nhà xập xệ của tôi làm một tẩu thuốc, bởi vì người da trắng ở bên đó luôn cảm thấy thân tình với nhau chứ không như ở quê nhà bên này.

    Ối chao, tôi đâu được may mắn lâu.

    Đùng một cái, khắp nơi bạo loạn chống lại chúng tôi.

    Mới tháng trước Ấn Độ còn bình yên, lặng lẽ, nhìn bề ngoài chẳng khác gì Surrey hay Kent bên này, thì ngay tháng sau đã có hai trăm nghìn tên quỷ đen xồ ra và cả nước thành địa ngục cùng khắp.

    Tất nhiên các ông biết hết chuyện đó mà, thưa quý ông, có thể còn biết nhiều hơn tôi nữa vì hạng như tôi đâu có đọc sách.

    Tôi chỉ biết những gì chính mắt mình thấy.

    Đồn điền của chúng tôi ở một nơi gọi là Muttra, gần giáp ranh mấy tỉnh ở tây bắc.

    Đêm đêm cả bầu trời sáng rực vì những ngôi nhà gỗ bị đốt cháy, và ngày ngày những toán người Âu châu dắt díu vợ con băng qua điền trang của chúng tôi trên đường tới Agra, nơi có quân đội trú đóng gần nhất, ông Abelwhite là người gan lì, ông ta tin rằng chuyện này bị thổi phồng quá sự thật và rồi sẽ qua đi đột ngột như lúc nó bùng phát, ông cứ ngồi trên hàng hiên nhà mình, uống rượu whisky, hút xì gà, trong khi cả xứ sở chung quanh bốc lửa.

    Tất nhiên là bọn tôi phải ở cùng ông, tôi và Dawson; anh này cùng với cô vợ thường lo chuyện sổ sách và quản lí.

    Đấy, rồi một ngày đẹp trời tai họa ập tới.

    Lúc đó tôi đi làm ở một đồn điền xa và đang từ từ cưỡi ngựa về nhà vào buổi chiều thì mắt tôi nhìn thấy đám gì đó lộn xộn túm tụm dưới chân một hẻm núi dốc đứng.

    Tôi phi ngựa xuống xem thử và ớn lạnh thấu tim khi nhận ra cô vợ của Dawson, thi thể bị băm vằm và đã bị lũ chó rừng lẫn chó nhà ăn mất nửa xác.

    Đi lên một chút phía đường cái là chính Dawson đang nằm sấp, chết ngắc, trong tay còn cầm khẩu súng lục đã hết đạn và phía trước anh ta là xác bốn tên lính Ấn phiến loạn nằm vắt lên nhau.

    Tôi ghì cương ngựa không biết phải làm sao thì ngay lúc đó tôi thấy khói bốc lên dày đặc từ căn nhà gỗ của Abelwhite và lửa bắt đầu bùng lên mái.

    Thấy thế tôi hiểu ngay là nếu tôi can thiệp vào chuyện này thì chẳng thể giúp được gì cho ông chủ mà chỉ hủy hoại sinh mạng mình.

    Từ chỗ tôi đứng, tôi nhìn thấy hàng trăm tên quỷ sứ da đen, trên người còn khoác áo đỏ, đang nhảy nhót, hú hét quanh ngôi nhà phừng cháy.

    Có mấy tên chỉ về phía tôi rồi vài viên đạn bay sượt ngang đầu tôi, thế là tôi chạy băng qua đồng lúa bỏ trốn và đến khuya hôm đó thì đã an toàn trong thành phố Agra.

    Thế nhưng hóa ra ở đó cũng chẳng yên.

    Toàn bộ xứ sở này hỗn loạn như một đàn ong vỡ tổ.

    Ở chỗ nào người Anh có thể tập hợp thành nhóm nhỏ thì họ cố thủ trong phạm vi súng đạn của họ kiểm soát được.

    Ở mọi chỗ khác, họ trở thành những kẻ trốn chạy tuyệt vọng.

    Đó là cuộc chiến của hàng triệu người chống lại hàng trăm người, và cái phần tàn nhẫn nhất của chuyện này là những kẻ mà người Anh chúng ta đang chống cự - bằng bộ binh, kị binh lẫn pháo binh - lại chính là những người lính do ta tuyển mộ, những kẻ đã được ta dạy dỗ và huấn luyện, sử dụng vũ khí của ta và thổi những hiệu kèn của ta.

    Ở Agra có Trung đoàn 3 Bộ binh Bengal, một số lính người Sikh, hai đơn vị kị binh và một khẩu đội pháo.

    Một lực lượng tình nguyện gồm viên chức và thương nhân đã được thành lập, và tôi gia nhập đội quân này, dù cẳng gỗ cũng mặc.

    Chúng tôi đã ra ngoài đương đầu với quân phiến loạn ở Shahgunge vào đầu tháng 7, và chống trả chúng được một thời gian nhưng rồi cạn hết đạn dược và rút lui trở lại vào trong thành phố.

    Từ khắp nơi chúng tôi chỉ nghe được toàn tin xấu, cũng chẳng có gì lạ, bởi vì nếu các ông xem bản đồ thì sẽ thấy chúng tôi nằm ngay tâm điểm của bạo loạn.

    Lucknow cách chỗ chúng tôi hơn trăm dặm về phía đông, còn Cawnpore ở phía nam cũng cách xa chừng đó.

    Bốn phương tám hướng đều chỉ toàn chuyện tra khảo, giết hại và lăng nhục.

    Thành phố Agra là một nơi rộng lớn, đầy những kẻ cuồng tín và đủ loại người thờ cúng ma quỷ hung tợn.

    Nhóm người ít ỏi chúng tôi lạc lối giữa những con đường hẹp quanh co.

    Do đó, người chỉ huy của chúng tôi chuyển sang bên kia sông và quyết định đóng ở pháo đài cổ Agra.

    Tôi không biết có ai trong số quý ông đã từng đọc hay nghe gì về cổ thành đó chưa.

    Đó là một chỗ kì quặc, chỗ kì quặc nhất tôi từng ở, mặc dù tôi đã ở nhiều chỗ lạ lùng rồi.

    Đầu tiên là nó rộng mênh mông.

    Bên trong hẳn phải rộng tới nhiều mẫu.

    Có một khu mới xây sau này có nhiều chỗ trống, nơi chứa hết bọn lính đồn trú chúng tôi, đàn bà, trẻ con, hàng hóa, và đủ thứ khác.

    Nhưng khu này chẳng nghĩa lí gì so với phần từ xưa còn lại, nơi chẳng ai lui tới, và bỏ mặc cho lũ bọ cạp, rắn rết.

    Khu đó đầy những đại sảnh bỏ hoang, những lối quanh co, và những hành lang dài hun hút, chạy ngoằn ngoèo, nên vào đó rất dễ bị lạc.

    Vì thế ít có ai tới khu ấy, mặc dù thỉnh thoảng cũng có một nhóm cầm đuốc đi thám hiểm cho biết.

    Con sông chạy dọc theo mặt trước pháo đài cổ và bảo vệ hướng đó, nhưng hai bên và phía sau có rất nhiều cửa nên phải canh gác, tất nhiên là phải canh gác cả khu vực ngày xưa lẫn khu vực mà đám binh lính chúng tôi chiếm ngụ.

    Thiếu hụt quân số, chúng tôi đâu có đủ người để bố trí ở mọi chốt canh và lo đạn dược.

    Do đó, với vô số cổng vào thì làm sao bố trí cho đủ mỗi cổng một đội canh gác được.

    Chúng tôi chỉ có thể tổ chức một trạm gác trung tâm ở ngay giữa thành, giao cho một người da trắng và hai hay ba dân bản xứ phụ trách một cổng vào.

    Tôi được phân công trực một số giờ trong đêm ở một cửa nhỏ biệt lập nhìn ra hướng thành tây nam.

    Có hai tên lính người Sikh dưới quyền chỉ huy của tôi và tôi được lệnh nếu có gì bất ổn thì cứ bắn súng hỏa mai là có thể trông cậy vào sự chi viện từ trạm gác ở trung tâm.

    Thế nhưng, trạm này lại cách xa tới hai trăm sải và khoảng cách giữa hai nơi bị chia cắt thành một mê cung hành lang và ngõ ngách.

    Tôi không dám chắc là họ có thể đến kịp thời để hành động hữu hiệu trong trường hợp có đột kích thật sự.

    Chà, tôi cũng hãnh diện khi được cho chút quyền chỉ huy chứ, bởi vì tôi là một thằng tân binh non nớt, lại chân cẳng như thế.

    Suốt hai đêm, tôi canh gác với hai tên lính Ấn xứ Punjab.

    Đó là Mahomet Singh và Abdullah Khan, hai đứa cao lớn, dữ dằn, đều là chiến binh kì cựu đã từng cầm súng chống lại phe ta ở trận Chillianwallah.

    Tụi nó nói tiếng Anh khá tốt nhưng tôi chẳng nghe được gì mấy.

    Chúng thích đứng riêng với nhau và nói ra rả cả đêm bằng thứ tiếng Sikh lạ lùng.

    Còn tôi thường đứng phía ngoài cổng vào, nhìn xuống dòng sông rộng uốn lượn và ánh sáng nhấp nháy của thành phố to lớn kia.

    Tiếng trống cái thì thùng, tiếng trống con lạch xạch, tiếng la hét của bọn phiến quân say sưa vì thuốc phiện và chiến thắng đủ nhắc cho chúng tôi nhớ suốt đêm về những người láng giềng nguy hiểm bên kia sông.

    Cứ hai giờ một lần, viên sĩ quan trực đêm thường đi một vòng quanh các điểm gác để bảo đảm mọi chuyện đều tốt đẹp.

    Đêm gác thứ ba của tôi tối đen và nhớp nháp vì một cơn mưa đâm rát mặt.

    Đứng gác ở cổng hết giờ này sang giờ khác trong thời tiết thế này đúng là một công việc buồn nản, nhiều lần tôi cố bắt chuyện với hai tên lính người Sikh nhưng chẳng thành công.

    Đến 2 giờ sáng thì đổi phiên canh và nỗi chán chường trong đêm tạm thời gác lại.

    Thấy không thể trò chuyện với hai đồng bọn, tôi lấy tẩu thuốc ra, bỏ súng hỏa mai xuống để đánh diêm.

    Lập tức hai tên Sikh nhảy xổ vào tôi.

    Một tên giật phắt khẩu súng của tôi rồi gí súng vào đầu tôi trong lúc tên kia kề một con dao to bản ngay cổ tôi và nghiến răng thề rằng tôi mà cục cựa là hắn thọc luôn vào cuống họng.

    Ý nghĩ đầu tiên của tôi là mấy tên này cùng phe với bọn phiến quân và vậy là bắt đầu có đột kích rồi.

    Nếu lối vào này rơi vào tay bọn lính Ấn nổi loạn thì cổ thành chắc chắn thất thủ, và đám đàn bà với con nít sẽ bị đối xử như những người ở bên Cawnpore.

    Chắc các quý ông nghĩ rằng tôi chỉ bịa chuyện để tự bào chữa, nhưng thề danh dự với các ông rằng dù biết dao nhọn kề ngay cổ nhưng tôi vẫn mở miệng định thét to lên, cho dù là tiếng thét cuối cùng thì cũng có thể báo động cho nhóm gác chính.

    Cái tên đang giữ chặt tôi dường như biết tôi nghĩ gì, vì ngay khi tôi vận sức chuẩn bị thì hắn thì thào: 'Đừng làm ầm.

    Thành này vẫn an toàn.

    Phía bên này sông không có bọn chó phiến quân đâu.' Giọng điệu hắn thành thật và tôi biết mình lên tiếng là chết liền.

    Tôi thấy sự thật đó trong đôi mắt nâu của tên kia.

    Thế là tôi im lặng chờ xem chúng muốn gì ở tôi.

    Abdullah Khan, tên cao to hơn và hung tợn hơn trong hai tên, nói: 'Hãy nghe tôi, thưa sahib, hoặc là ông phải về phe chúng tôi bây giờ hoặc là ông sẽ im lặng mãi mãi.

    Điều này hết sức quan trọng nên chúng tôi không do dự đâu.

    Hoặc là ông thề với thánh giá của người Thiên Chúa phải hết lòng hết dạ đi theo chúng tôi, hoặc là đêm nay xác của ông sẽ bị ném xuống mương và chúng tôi sẽ qua sông nhập bọn với số anh em trong đội quân phiến loạn.

    Không có con đường khác.

    Chọn cái nào, sống hay chết?

    Chúng tôi chỉ có thể cho ông ba phút để quyết định, vì thời gian gấp rút lắm, và mọi việc phải xong trước khi đổi phiên gác.'

    Tôi nói: 'Làm sao tao quyết định được?

    Tao đâu có biết tụi bay cần gì ở tao.

    Nhưng tao có thể nói ngay là nếu điều đó gây nguy hiểm cho thành Agra thì tao không can dự vào, như vậy tụi bay cứ việc cắt cổ tao đi cho xong.'

    'Điều này không nguy hại gì cho thành Agra cả,' hắn nói.

    'Chúng tôi chỉ muốn ông làm đúng điều mà những đồng hương của ông đã mưu cầu ở đất nước này.

    Chúng tôi muốn ông giàu có.

    Nếu đêm nay ông trở thành người của chúng tôi thì chúng tôi thề trên lưỡi dao này bằng lời thề thiêng liêng của người Sikh rằng ông sẽ được chia đồng đều số của cải đó.

    Một phần tư kho báu sẽ thuộc về ông.

    Không có gì công bằng hơn thế.'

    Tôi hỏi: 'Nhưng kho báu gì vậy?

    Tao cũng muốn giàu có như tụi bay nếu tụi bay cho tao biết làm cách nào.'

    Hắn nói: 'Vậy thì ông phải thề trên xương cốt của cha ông, trên tiết hạnh của mẹ ông, trên thánh giá của tôn giáo ông, là từ nay về sau không làm gì hay nói gì chống lại chúng tôi.'

    'Tao sẽ thề, miễn là thành Agra không lâm nguy,' tôi đáp.

    'Như vậy bạn tôi đây và tôi cũng sẽ thề là sẽ chia kho báu đồng đều làm bốn phần và ông sẽ được một phần.'

    'Có ba người thôi mà,' tôi nói.

    'Không, Dost Akbar phải có phần của anh ta.

    Chúng tôi sẽ cho ông biết chuyện khi chờ họ tới.

    Mahomet Singh, anh canh ở cổng và báo hiệu khi họ tới.

    Chuyện như thế này, thưa sahib, tôi kể ông nghe vì tôi biết người Âu châu các ông coi trọng lời thề và vì chúng tôi tin cậy ông.

    Nếu ông mà là một tên Hindu xảo trá thì cho dù ông có đem hết thần thánh trong những miếu đền giả dối của chúng ra mà thề, máu ông cũng thấm đẫm vào lưỡi dao này và xác ông cũng nằm dưới đáy nước kia mà thôi.

    Nhưng người Sikh hiểu người Anh và người Anh hiểu người Sikh.

    Vậy thì hãy nghe tôi kể đây:

    Ở miền bắc, có một tiểu vương rất giàu dù đất đai không nhiều, ông ta được thừa kế nhiều của cải từ người cha, và còn giàu thêm lên nhờ dành dụm vì ông này có tính nhỏ mọn, thích tích trữ vàng bạc hơn là tiêu xài.

    Khi loạn lạc bùng nổ, ông ta đánh bạn với cả hổ lẫn sư tử, cả lính Ấn lẫn người Anh cai trị.

    Thế nhưng sau đó, dường như ông ta thấy rằng thời của người da trắng đã sắp hết vì đi tới đâu cũng chỉ nghe toàn chuyện người da trắng bị giết chết và lật đổ.

    Nhưng là người kĩ tính, ông ta đã vạch ra một kế hoạch là dù thời cuộc thế nào, ít nhất ông ta cũng còn giữ được phân nửa tài sản.

    Đó là số vàng bạc do chính ông ta cất giấu trong những căn hầm ở dinh thự của mình, còn những món ngọc ngà, châu báu quý giá nhất được ông ta cất trong một hòm sắt và giao cho một gia nhân thân tín.

    Người này dưới lốt một thương nhân sẽ mang nó đến thành Agra này và giấu kín ở đó chờ đến ngày đất nước bình yên.

    Như thế, nếu bên phiến loạn thắng thì ông ta vẫn sẽ có tiền bạc, còn nếu bên người Anh dẹp được loạn thì số châu báu của ông cũng được bảo toàn.

    Khi phân chia của dành dụm như vậy xong, ông ta đi theo ủng hộ bọn lính Ấn phiến loạn, bởi vì chúng rất mạnh ở khu vực lãnh địa của ông ta.

    Xin nhớ cho, thưa sahib, làm như thế thì tài sản của ông ta vẫn thuộc quyền của những ai trung thành.

    Thương nhân giả dạng này lấy tên giả là Achmet, hiện đang ở trong thành phố Agra và muốn tìm cách vào trong cổ thành.

    Đi cùng với hắn là Dost Akbar, anh nuôi của tôi, người biết chuyện bí mật này.

    Dost Akbar đã hứa đêm nay đưa Achmet đến một ngõ vào kín đáo bên hông thành, và đã chọn chỗ này cho mục đích đó.

    Chốc nữa anh ấy sẽ đến và sẽ thấy tôi với Mahomet Singh chờ sẵn.

    Nơi này vắng vẻ và chẳng ai biết chuyện anh ấy đến.

    Thế giới sẽ không còn nghe đến tên thương nhân Achmet nữa, còn kho báu lớn của vị tiểu vương kia sẽ được chia đều cho chúng ta.

    Ông thấy thế nào, thưa sahib?'

    Ở Worcestershire sinh mạng con người có vẻ là điều cao cả và thiêng liêng, nhưng ở đây khi bốn bề toàn là máu lửa và người ta đi đâu cũng gặp chết chóc thì mọi chuyện khác hẳn.

    Tên lái buôn Achmet kia có sống hay chết cũng chẳng nghĩa lí gì với tôi nhưng câu chuyện về kho báu ấy khiến tôi ham muốn, và tôi nghĩ tới chuyện mình sẽ làm gì với số tiền đó khi quay lại quê xưa, tới chuyện bà con sẽ trố mắt khi họ thấy cái thằng bần cùng này trở về với tiền vàng đầy trong túi.

    Vậy là lòng tôi đã quyết.

    Nhưng Abdullah Khan nghĩ là tôi lưỡng lự nên càng hối thúc hơn.

    Hắn nói: 'Nghĩ kĩ đi, thưa sahib, nếu tên này bị sĩ quan chỉ huy bắt thì hắn cũng sẽ bị bắn hay treo cổ mà thôi, chính phủ sẽ lấy châu báu, thế thì chẳng ai được thêm một đồng rupee nào hết.

    Đấy, vì chúng ta sẽ hạ sát hắn, tại sao không làm nốt phần còn lại luôn?

    Thà rằng số của cải ấy thuộc về chúng ta còn hơn là nằm trong ngân khố của chính quyền.

    Của cải đó thừa sức mang cho chúng ta vinh hoa phú quý.

    Sẽ không ai biết chuyện này, vì ở đây chỉ có chúng ta mà thôi.

    Còn cơ hội nào tốt hơn nữa đâu?

    Nói đi nào, thưa sahib, ông theo chúng tôi hay là chúng tôi phải xem ông như kẻ thù?'

    'Tao một lòng theo tụi bay,' tôi nói.

    'Vậy thì tốt,' hắn đáp lời rồi trả lại khẩu súng cho tôi.

    'Ông thấy là chúng tôi tin cậy ông, bởi vì lời của ông, cũng như lời của chúng tôi, đã nói ra thì không thay đổi.

    Giờ chỉ còn chờ anh tôi và tên thương gia kia tới.'

    'Thế anh mày có biết những chuyện tụi bay định làm không?'

    'Đây là kế hoạch của anh tôi.

    Anh ấy đã vạch ra hết.

    Chúng ta sẽ ra cổng và canh chừng cùng với Mahomet Singh.'

    Mưa vẫn rơi đều vì thời điểm đó đã là đầu mùa mưa.

    Những đám mây đen nặng trĩu trôi ngang trời, và tầm mắt không thể nhìn xa.

    Một cái hào sâu nằm ngay trước cổng nơi chúng tôi đứng nhưng dưới hào nhiều chỗ nước đã gần cạn kiệt và dễ dàng băng qua.

    Tôi có cảm giác thật lạ lùng khi thấy mình đứng đây cùng hai tên Punjab hung tợn chờ đợi một người sắp đi vào cõi chết.

    Đột nhiên tôi nhìn thấy ánh sáng của một ngọn đèn che bóng ở phía bên kia hào nước.

    Ánh đèn biến mất sau những gò đất rồi lại hiện ra, từ từ hướng về phía chúng tôi.

    Tôi kêu lên: 'Họ tới kìa!'

    'Ông phải hô đứng lại, thưa sahib, như thông lệ vậy,' Abdullah nói khẽ.

    'Đừng làm hắn sợ hãi.

    Cho hắn vào gặp chúng tôi, và chúng tôi sẽ lo việc còn lại trong lúc ông đứng canh ở đây.

    Cầm sẵn đèn và nhớ tháo chụp đèn ra để chúng tôi biết chắc là đúng người đó.'

    Ánh đèn ấy cứ lập lòe di chuyển, lúc thì ngừng lúc thì đi tiếp, cho đến khi tôi nhìn ra hai bóng người ở bờ hào bên kia.

    Tôi để cho họ trượt xuống bờ dốc, lội qua vũng bùn, và trèo lên được nửa đường dẫn tới cổng vào, tôi mới lên tiếng chặn lại với giọng cố kiềm chế: 'Ai đi đó?'

    'Bạn bè cả,' có tiếng đáp lại.

    Tôi tháo chụp đèn ra và hắt một luồng sáng về phía họ.

    Đầu tiên là một gã người Sikh cao to lừng lững, có bộ râu đen dài gần tới thắt lưng.

    Ngoài ở gánh xiếc ra, tôi chưa bao giờ thấy ai cao lớn như thế.

    Tên kia là một lão mập tròn, thấp bé, đầu đội khăn vàng, tay ôm một gói gì đó bọc kín trong chiếc khăn choàng.

    Lão ta dường như đang run lẩy bẩy vì sợ, hai bàn tay giật giật như lên cơn sốt rét, đầu hết quay sang trái lại quay sang phải với đôi mắt nhỏ lóe sáng, trông cứ như một con chuột đang đánh bạo chui ra khỏi hang.

    Nghĩ tới chuyện phải giết lão, tôi phát rùng mình, nhưng nghĩ tới kho báu thì lòng tôi lại sắt đá.

    Thấy gương mặt người da trắng của tôi, lão ta kêu ríu rít mừng rỡ rồi chạy đến.

    'Xin được bảo vệ, thưa sahib', lão nói hổn hển, 'xin ngài bảo vệ lái buôn Achmet khốn khổ này.

    Tôi đã đi xuyên qua vùng Rajputana với hi vọng được nương thân ở thành Agra này.

    Tôi đã bị cướp bóc, đánh đập và ngược đãi chỉ vì tôi là bạn của những người Anh cai trị.

    Quả là phúc lành đêm nay khi tôi và chút của cải nghèo nàn của mình lại được an toàn một lần nữa.'

    Tôi hỏi: 'Ông mang gì trong bọc đó?'

    Lão ta đáp: 'Một cái rương sắt, chỉ chứa mấy món lặt vặt của gia đình, chúng chẳng có giá trị gì với người ngoài nhưng tôi lại tiếc không muốn mất.

    Nhưng tôi không phải là kẻ ăn xin đâu, thưa sahib, tôi sẽ đền đáp cho ngài và cho cả ngài thống sứ nữa nếu như ông ta cho tôi được nương nhờ ở đây.'

    Cuộc trò chuyện mà kéo dài thêm thì tôi không còn tin tưởng vào bản thân nữa.

    Càng nhìn cái gương mặt mập béo, sợ hãi của Achmet thì dường như chúng tôi càng khó lòng mà nhẫn tâm giết lão.

    Tốt nhất là kết thúc cho xong.

    'Đưa ông này tới trạm gác chính,' tôi nói.

    Lúc cả bọn đi về phía cổng vào âm u, hai tên lính người Sikh kè kè hai bên ông ta, còn tên khổng lồ kia đi phía sau.

    Bị cái chết bao vây như thế chắc trên đời chẳng có ai.

    Tôi vẫn ở lại cổng với ngọn đèn trên tay.

    Tôi nghe tiếng bước chân nặng nề thận trọng của họ vang vang trong những ngõ ngách vắng vẻ.

    Đột nhiên tiếng chân im bặt, rồi tôi nghe thấy tiếng nói, tiếng ẩu đả và nhiều cú đấm đá.

    Một thoáng sau, tôi thất kinh nghe tiếng bước chân lại ào ào hướng về chỗ mình đứng với tiếng thở hổn hển của một người đang chạy.

    Tôi quay ngọn đèn sang phía hành lang dài đâm thẳng ra ngoài cổ thành, thấy lão mập kia chạy như bay, mặt vấy máu, và bám sát gót lão như một con hổ đang xông tới vồ mồi là tên người Sikh to lớn râu đen, tay lăm lăm một lưỡi dao sáng lóe.

    Tôi chưa hề thấy ai chạy nhanh như lão lái buôn nhỏ bé đó.

    Achmet đang bỏ xa tên người Sikh, và tôi thấy nếu lão mà chạy vụt qua tôi và ra tới đồng trống thì lão sẽ thoát thân.

    Tôi thấy thương hại cho Achmet nhưng một lần nữa ý nghĩ về kho báu kia lại khiến tôi thêm chai đá.

    Tôi quẳng khẩu súng ngay giữa hai chân Achmet khi lão phóng ngang qua và lão lộn hai vòng như một con thỏ trúng đạn.

    Trước khi lão lái buôn kịp gượng đứng dậy, tên râu đen kia đã nhảy xổ tới đâm hai nhát vào mạng sườn lão.

    Achmet không hề kêu một tiếng hay nhúc nhích gì cả mà chỉ nằm yên ngay nơi đã ngã xuống.

    Tôi nghĩ thầm chắc lão đã té gãy cổ chết tươi.

    Vậy đấy, thưa quý ông, thế là tôi đã giữ lời hứa.

    Tôi kể các ông nghe mọi việc đúng như đã xảy ra, cho dù những chuyện đó có lợi cho tôi hay không."

    Small ngừng lời và chìa đôi tay bị còng ra đón li whisky pha loãng mà Holmes đã pha cho.

    Về phần tôi, phải thú thật là bây giờ tôi xem Small là hạng người đáng sợ nhất trên đời, không chỉ vì cái việc nhẫn tâm mà hắn can dự vào mà chính vì cách kể chuyện thản nhiên, bất cần của hắn.

    Dù cho hắn nhận bất cứ hình phạt nào, tôi cũng chẳng thấy chút thương hại nào đối với con người này.

    Sherlock Holmes và Jones ngồi hai tay để trên đầu gối, hết sức chú tâm vào câu chuyện nhưng trên mặt họ lộ rõ một biểu hiện ghê tởm giống như cảm nhận của tôi.

    Có lẽ Small đáng bị như thế, bởi vì giọng điệu và thái độ của hắn có phần thách thức khi tiếp tục kể.

    "Mọi chuyện chẳng hay ho gì, hẳn rồi", hắn lên tiếng.

    "Tôi muốn biết có bao nhiêu người ở vào hoàn cảnh của tôi lại có thể từ chối phần chia của cải này và trả giá bằng mũi dao kề cổ.

    Hơn nữa, một khi lão ta đã vào trong thành rồi thì hoặc là mạng tôi, hoặc là mạng lão mà thôi.

    Nếu lão thoát, toàn bộ sự việc được đưa ra ánh sáng, tôi sẽ bị đưa ra tòa án binh và bắn bỏ như không, vì vào thời điểm như thế chẳng ai buồn khoan dung cả."

    "Cứ kể tiếp đi", Holmes nói cộc lốc.

    "Đấy, ba người chúng tôi - Abdullah, Akbar và tôi - khiêng xác lão vào trong.

    Lão nhỏ bé như thế chứ nặng cân lắm.

    Mahomet Singh ở lại canh cổng.

    Chúng tôi đưa lão tới chỗ mấy tên Sikh kia đã dọn sẵn.

    Chỗ đó xa khuất, nơi mấy hành lang ngoằn ngoèo dẫn tới một đại sảnh bỏ hoang, mấy bức tường gạch ở đó đã đổ nát hết.

    Sàn đất có một chỗ đã lún xuống, tạo thành một cái huyệt tự nhiên, thế là chúng tôi đặt Achmet xuống đó rồi lấp gạch vụn lên.

    Làm xong cả bọn quay lại với kho báu.

    Kho báu vẫn ở chỗ lão đã đánh rơi khi bị tấn công lần đầu.

    Chính là cái rương đang nằm trên bàn các ông đó.

    Trên nắp rương có một cái quai xách, chìa khóa được buộc vào quai bằng một dải lụa.

    Chúng tôi mở ra, và ánh đèn soi rọi vào một đống ngọc ngà châu báu giống như tôi đã đọc và tưởng tượng lúc còn nhỏ ở Pershore.

    Nhìn muốn lóa mắt.

    Sau khi đã nhìn ngắm chán chê, chúng tôi lấy hết ra lập một bảng liệt kê.

    Có một trăm bốn mươi ba viên kim cương nước một, bao gồm một viên tôi tin được mệnh danh là 'Đại Mogul' và nghe đâu nó là viên kim cương lớn thứ hai thế giới.

    Có chín mươi bảy viên ngọc lục bảo hảo hạng, một trăm bảy mươi viên hồng ngọc nhưng trong số này có những viên rất nhỏ.

    Có bốn mươi viên ngọc hồng lựu, hai trăm mười viên ngọc bích, sáu mươi mốt viên mã não, cùng rất nhiều ngọc thạch, ngọc mắt mèo, ngọc lam và nhiều loại khác mà lúc đó tôi không biết tên, mặc dù về sau tôi đã am hiểu các loại đá quý hơn.

    Ngoài ra còn có gần ba trăm viên ngọc trai hảo hạng, trong số này có mười hai viên được nạm vào một chiếc mũ miện bằng vàng.

    Nhân tiện nói luôn là những món cuối cùng này đã bị lấy đi mất và không còn trong đó khi tôi giành lại được cái rương.

    Sau khi đã đếm kho báu, chúng tôi cho lại hết vào trong rương và mang ra ngoài cổng cho Mahomet Singh xem.

    Rồi chúng tôi trang nghiêm lập lại lời thề trung thành với nhau và trung thành với bí mật này.

    Chúng tôi đồng lòng giấu kín số của cải đó ở một nơi an toàn cho đến khi xứ sở này bình yên trở lại, rồi sau đó sẽ chia đều cho tất cả.

    Chia của ngay lúc đó chẳng ích lợi gì vì nếu người ta thấy chúng tôi có những thứ châu báu giá trị như thế thì sẽ chỉ sinh nghi, và trong cổ thành này hay bất kì đâu chúng tôi chẳng có chỗ nào kín đáo riêng tư để giấu cả.

    Thế là chúng tôi lại mang cái rương vào ngay đại sảnh đã chôn xác chết, đào một cái hốc dưới bức tường còn vững chãi nhất rồi chôn kho báu trong đó.

    Chúng tôi cẩn thận ghi dấu vị trí và ngày hôm sau tôi vẽ bốn bức họa đồ, mỗi người giữ một bức, và bên dưới bức nào cũng ghi Dấu bộ tứ, bởi chúng tôi đã thề rằng một người sẽ luôn hành động vì cả bốn người, để không ai được mưu lợi riêng.

    Đó là lời thề tôi có thể đặt tay lên ngực mà tuyên bố rằng tôi chưa bao giờ phá bỏ.

    Chà, có kể cho quý ông nghe về kết cục của cuộc Bạo loạn Ấn Độ đó cũng chẳng ích gì.

    Sau khi Wilson chiếm Delhi và ngài Colin giải vây Lucknow, hậu cứ của phe phiến loạn bị đánh tan tác.

    Quân tiếp viện liên tục đổ vào và Nana Sahib lánh mặt khỏi biên thùy.

    Một đạo quân cơ động dưới trướng đại tá Greathed tiến tới Agra và dẹp tan phiến quân ở đây.

    Hòa bình có vẻ sắp tái lập trên xứ sở này và bốn chúng tôi bắt đầu hi vọng là sắp có thể an toàn lên đường với phần chia số của cải cướp được.

    Nhưng chẳng mấy chốc, hi vọng của chúng tôi tan tành, cả bọn bị bắt giam vì tội sát hại Achmet.

    Đầu đuôi thế này.

    Khi tiểu vương kia phó thác số châu báu của mình cho Achmet, ông ta làm thế vì biết lão mập là người tin cẩn.

    Nhưng ở Đông phương người ta đa nghi lắm, cho nên tiểu vương kia sẽ làm gì nếu không chọn một gia nhân thứ hai thậm chí còn tin cẩn hơn, rồi phái người này đi do thám người kia?

    Tên thứ hai được lệnh không bao giờ rời mắt khỏi Achmet và hắn ta bám theo lão mập như cái bóng.

    Hắn đã đi theo Achmet đêm đó và đã thấy lão mập đi vào cổng.

    Tất nhiên hắn nghĩ là lão mập đã vào nương náu trong cổ thành nên ngày hôm sau cũng xin vào, song chẳng tìm ra dấu vết nào của Achmet.

    Thấy lạ lùng quá nên hắn thưa chuyện này với một trung sĩ thám báo, người này lại nói với sĩ quan chỉ huy.

    Một cuộc tìm kiếm nhanh chóng được tổ chức và người ta tìm ra cái xác.

    Thế là ngay vào lúc chúng tôi tưởng mọi chuyện đã an toàn thì cả bốn bị bắt hết và đưa ra xét xử về tội sát nhân; ba đứa chúng tôi bị bắt vì đã canh cổng đó đêm hôm ấy, còn tên thứ tư vì người ta biết hắn đã đi cùng với người bị giết.

    Trong phiên xử, không ai nói lời nào về số châu báu bởi vì tiểu vương đó đã bị truất phế và phải bỏ chạy khỏi Ấn Độ nên chẳng ai quan tâm đến ông ta nữa.

    Nhưng vụ án mạng đựợc xét xử tới nơi và rành rành là cả bốn tên chúng tôi đều dính líu.

    Ba tên người Sikh lãnh án khổ sai chung thân còn tôi bị kết án tử hình, nhưng sau đó tôi được giảm tội và lĩnh án như ba tên kia.

    Sau đó chúng tôi sa vào một cảnh ngộ mới kì quặc lắm thay.

    Cả bốn tên đều bị xiềng chân, không biết bao giờ mới có cơ may thoát được ra ngoài như trước, trong khi mỗi đứa chúng tôi đều nắm giữ một bí mật có thể khiến đứa nào cũng được giàu sang nếu như biết lợi dụng.

    Thật không còn gì đau khổ hơn cho chúng tôi khi phải chịu đựng những cú đấm đá của mọi tên sai nha hạ cấp, phải ăn cơm khô uống nước lã, trong khi cơ đồ huy hoàng kia đã sẵn sàng ở bên ngoài, chỉ chờ chúng tôi nắm lấy.

    Điều đó hẳn đã khiến tôi phát điên, nhưng tôi lúc nào cùng là một thằng khá lì lợm nên cứ cam chịu chờ thời.

    Cuối cùng coi bộ thời cơ cũng đến với mình.

    Tôi được chuyển từ Agra sang Madras, rồi từ đó sang đảo Blair trong quần đảo Andaman.

    Ở xứ thuộc địa này có rất ít tù nhân da trắng, và nhờ tôi đã có hạnh kiểm tốt ngay từ đầu nên chẳng bao lâu sau tôi thấy mình được hưởng đặc ân.

    Tôi được cấp cho một túp lều riêng ở Hope Town, một chỗ ở nhỏ xíu trên dốc núi Harriet, và gần như người ta để mặc tôi.

    Đó là một nơi buồn thảm, bị bệnh sốt rét hoành hành, và bên ngoài ranh giới khu trại nhỏ của chúng tôi đầy bọn thổ dân ăn thịt người, những kẻ sẵn sàng thổi một mũi tên độc giết chúng tôi nếu có dịp.

    Chúng tôi bận túi bụi, suốt ngày đào đất, vét mương, trồng khoai từ, và cả chục công việc khác, mặc dù buổi tối vẫn được một chút thời gian riêng tư.

    Ngoài những công việc đó, tôi học cách pha chế thuốc men cho ông bác sĩ quân y và học lõm bõm chuyên môn của ông ta.

    Lúc nào tôi cũng chờ chực cơ hội trốn thoát, nhưng đảo cách xa mọi bến bờ hàng trăm dặm và vùng biển này rất lặng gió.

    Trốn thoát được là chuyện vô cùng khó khăn.

    Ông Somerton, bác sĩ quân y, là một thanh niên nhanh nhẹn, thích ganh đua, và các sĩ quan trẻ khác thường tụ tập ở nhà ông đánh bài vào buổi tối.

    Phòng khám, nơi tôi thường pha chế thuốc, nằm cạnh phòng khách của ông và có một cửa sổ nhỏ nhìn thông sang.

    Thường những lúc thấy cô đơn, tôi hay bật đèn trong phòng khám và đứng đó nghe họ trò chuyện, xem họ chơi bài.

    Tôi cũng thích cầm lá bài và xem người khác chơi cũng thích thú chẳng kém gì chính mình đánh vậy.

    Người chơi thường là các sĩ quan chỉ huy đám binh lính bản xứ là thiếu tá Sholto, đại úy Morstan và trung úy Bromley Brown, và chính ông bác sĩ.

    Thêm hai hay ba tay viên chức bên trại tù nữa, đó là những tên lão luyện, lắm mánh khóe luôn chơi theo kiểu láu cá chắc ăn.

    Họ họp thành một nhóm bù khú thân tình.

    Chà, chẳng bao lâu tôi nhận ra ngay một điều là đám quân nhân luôn thua còn đám dân sự luôn thắng.

    Ồ, tôi không nói là có trò gian lận gì ở đây, nhưng sự thực là thế.

    Mấy thằng cha bên trại tù kể từ khi họ có mặt ở Andaman chẳng làm việc gì khác ngoài đánh bài, và họ biết tường tận cách chơi của nhau, trong khi mấy người kia chỉ chơi cho qua thời giờ và thảy mấy quân bài một cách hú họa.

    Đêm đêm, hễ mấy quân nhân đứng dậy là họ lại nghèo thêm một chút, và càng nghèo họ lại càng máu chơi.

    Thiếu tá Sholto là người thua nặng nhất.

    Lúc đầu ông ta còn đặt cược bằng giấy bạc với tiền vàng, nhưng rồi chẳng mấy chốc lại cược những số tiền lớn bằng giấy nợ viết tay.

    Có lúc ông ta thắng được vài ván, chỉ đủ để phấn chấn, nhưng rồi vận đen lại khiến ông ta thua đậm hơn trước.

    Suốt cả ngày ông ta cứ đi tha thẩn, cáu kỉnh bực tức, và bắt đầu sa vào rượu chè quá độ.

    Một đêm nọ, ông ta thậm chí còn thua đau hơn bình thường.

    Tôi đang ở trong lều của mình thì ông ta và đại úy Morstan loạng choạng đi ngang qua trên đường về doanh trại.

    Họ là bạn chí cốt, hai người chẳng bao giờ rời nhau, ông thiếu tá đang nổi khùng vì chuyện thua bạc.

    Ông ta nói khi đi ngang qua túp lều của tôi: 'Thua sạch bách, Morstan ơi.

    Tôi phải thanh toán hết giấy nợ.

    Tiêu đời tôi rồi.' Người kia vừa đáp lại vừa vỗ vai bạn mình: 'Nói bá láp, ông bạn.

    Tôi cũng đen đủi chứ, nhưng...' Tôi chỉ nghe được chừng đó nhưng cũng đủ để tôi phải suy nghĩ.

    Vài ngày sau đó khi thiếu tá Sholto đang tản bộ trên bãi biển, tôi nhân cơ hội nói chuyện với ông ta.

    'Mong ông cho tôi lời khuyên, thưa ngài thiếu tá,' tôi nói.

    'À, Small hả, chuyện gì?' Ông lấy điếu xì gà trên môi ra.

    'Thưa ngài, tôi muốn hỏi xem ai là người thích hợp để giao nộp một kho báu đang chôn giấu.

    Tôi biết chỗ đang giấu nửa triệu bảng Anh, và bản thân tôi không thể sử dụng được, tôi nghĩ có lẽ cách tốt nhất tôi có thể làm là giao nó cho nhà chức trách thích hợp, và biết đâu nhờ đó mà họ giảm bớt án tù cho tôi.'

    'Nửa triệu bảng à, Small?' Ông ta sửng sốt, nhìn tôi chằm chằm xem thử tôi có nói thật không.

    'Đúng vậy, thưa ngài, bằng ngọc ngà châu báu.

    Nó nằm sẵn đó cho bất kì ai.

    Và điều lạ lùng trong chuyện này là chủ nhân đích thực của nó đã bị đặt ngoài vòng pháp luật và không còn quyền sở hữu cho nên ai tới trước thì làm chủ.'

    'Nộp cho chính phủ, Small,' ông ta lắp bắp, '... cho chính phủ.' Nhưng vị thiếu tá này lại nói ngắc ngứ và tôi thầm biết là mình đã nắm được tẩy của ông ta.

    Tôi nói khẽ: 'Vậy theo ngài tôi nên bẩm báo cho quan toàn quyền à?'

    'Ồ, ồ, đừng có làm gì hấp tấp, kẻo ân hận đấy.

    Kể ta nghe đầu đuôi đi, Small.

    Cho ta biết sự thật.'

    Tôi kể lại toàn bộ câu chuyện, thay đổi đôi chút để ông ta không xác định được các nơi chốn.

    Khi tôi kể xong, ông ta đứng bất động suy nghĩ dữ lắm.

    Nhìn đôi môi run run kia tôi biết trong lòng vị thiếu tá đang giằng xé.

    Mãi một hồi ông ta mới nói: 'Chuyện này hệ trọng đấy, Small.

    Anh không được hé răng với bất kì ai nghe chưa, rồi ta sẽ sớm gặp lại anh.'

    Hai đêm sau, ông ta cùng người bạn đại úy Morstan cầm đèn tới túp lều của tôi ngay giữa khuya, ông thiếu tá nói: 'Ta muốn chính miệng anh kể lại cho đại úy Morstan nghe chuyện đó, Small.'

    Tôi lặp lại giống như đã kể lần trước.

    'Có vẻ là thật, phải không?' Ông ta nói với ông đại úy.

    'Có đáng để tiến hành không?'

    Đại úy Morstan gật đầu.

    'Nghe đây, Small, viên thiếu tá nói.

    'Ông bạn này với tôi đã bàn bạc qua rồi, và cả hai đã đi đến kết luận là bí mật của anh nói cho cùng hoàn toàn chẳng phải chuyện của chính quyền mà là chuyện riêng của anh, dù tất nhiên anh có quyền quyết định theo cách nào anh thấy tốt nhất.

    Đó, vấn đề là anh muốn giá nào?

    Chúng tôi có thể chấp nhận gánh vác chuyện này, hay chí ít cũng tìm cách lo liệu, nếu thấy giá đó thỏa đáng.' Ông ta cố ra giọng bình thản, bất cần, nhưng ánh mắt lại sáng rực niềm hưng phấn và ham hố.

    Tôi cố tỏ ra điềm tĩnh nhưng trong lòng cũng háo hức như ông ta.

    Tôi đáp: 'Ồ, thưa các ngài, về chuyện đó thì một người trong hoàn cảnh như tôi chỉ có thể có một điều kiện duy nhất.

    Tôi muốn các ngài giúp tôi được tự do, và giúp ba người bạn của tôi cũng vậy.

    Sau đó chúng tôi sẽ cùng các ngài chung hưởng, các ngài sẽ được một phần năm số của cải đó để tự phân chia với nhau.'

    'Hừm!' Morstan thốt lên.

    'Một phần năm!

    Nghe chẳng hấp dẫn mấy!'

    'Như vậy mỗi người cũng được tới năm chục ngàn bảng Anh,' tôi nói.

    'Nhưng làm sao bọn ta giúp các anh tự do được?

    Anh biết thừa là anh yêu cầu một chuyện bất khả thi.'

    'Hoàn toàn không,' tôi đáp.

    'Tôi đã tính toán cặn kẽ đến từng chi tiết rồi.

    Cản trở duy nhất khiến chúng tôi chưa tẩu thoát được là không có thuyền phù hợp cho chuyến đi, và không có lương thực dự trữ đủ dùng một thời gian dài.

    Ở Calcutta hay Madras có rất nhiều thuyền buồm cỡ nhỏ phù hợp với mục đích của chúng tôi.

    Các ngài mang về đây một chiếc.

    Chúng tôi sẽ xoay xở lên thuyền vào ban đêm và nếu các ngài thả chúng tôi xuống bất kì chỗ nào ven biển Ấn Độ thì coi như đã hoàn thành giao kèo.'

    'Giá như chỉ có một người thôi,' Morstan nói.

    'Cả bốn hoặc không ai hết,' tôi đáp.

    'Chúng tôi đã thề rồi.

    Cả bốn chúng tôi mỗi người phải luôn hành động vì tất cả.'

    'Thấy chưa, Morstan,' Sholto lên tiếng.

    'Small là người trọng lời hứa.

    Đã vì bạn bè thì anh ta không hề nao núng đâu.

    Tôi nghĩ chúng ta phải tin anh ta thôi.'

    'Đây là chuyện sai trái,' Morstan nói.

    'Nhưng như anh nói đó, số tiền này sẽ rửa tội cho chúng ta ngon lành.'

    'Này, Small,' vị thiếu tá quay sang tôi, 'chắc là bọn ta phải đáp ứng đòi hỏi của anh vậy.

    Tất nhiên, trước hết bọn ta phải thử xem câu chuyện của anh thật đến đâu.

    Nói xem cái rương ấy giấu ở đâu đi, ta sẽ xin nghỉ phép và theo tàu tiếp tế hằng tháng quay lại Ấn Độ để tìm hiểu vụ này.'

    'Đâu có nhanh vậy,' tôi đáp.

    Sholto càng nóng máu thì tôi càng lạnh lùng.

    'Tôi phải được ba người bạn của tôi ưng thuận cái đã.

    Tôi đã nói với ngài là cả bốn chúng tôi hoặc không ai hết.'

    'Vớ vẩn!' Sholto ngắt lời.

    'Ba thằng da đen kia thì liên quan gì với thỏa thuận của chúng ta.'

    'Da đen da đỏ gì cũng thế,' tôi nói.

    'Họ với tôi là một và tất cả chúng tôi cùng đi với nhau.'

    Thế đấy, việc này kết thúc ở cuộc gặp sau với sự có mặt đầy đủ của Mahomet Singh, Abdullah Khan và Dost Akbar.

    Chúng tôi đã bàn bạc lại và cuối cùng đi đến thỏa thuận.

    Chúng tôi sẽ giao cho cả hai sĩ quan đó các bức họa đồ của khu vực cổ thành Agra và đánh dấu chỗ chôn kho báu trong bức tường.

    Thiếu tá Sholto sẽ đi Ấn Độ để kiểm chứng câu chuyện của chúng tôi.

    Nếu tìm thấy cái rương, ông ta phải để yên đó, rồi phái một chiếc thuyền buồm đầy đủ lương thực cho một chuyến hành trình chờ sẵn ngoài đảo Rutland.

    Chúng tôi sẽ tìm đường tới đó, còn Sholto quay lại nhiệm sở.

    Lúc đó đại úy Morstan sẽ xin nghỉ phép và gặp chúng tôi ở Agra, và ở đấy cả bọn sẽ phân chia của cải dứt khoát, ông đại úy sẽ nhận luôn phần mình lẫn phần của ông thiếu tá.

    Tất cả đều được chúng tôi cam kết bằng những lời thề thiêng liêng nhất mà trí óc có thể nghĩ ra hay miệng lưỡi có thể thốt lên.

    Tôi thức trắng suốt đêm với giấy mực và đến sáng tôi đã có hai họa đồ sẵn sàng, đều kí bằng Dấu bộ tứ, tức là Abdullah, Akbar, Mahomet và tôi đây.

    Chà, thưa quý ông, tôi làm các ông phát mệt vì câu chuyện lê thê này, và tôi biết ông Jones đây rất nóng lòng muốn tống tôi vào khám cho yên tâm.

    Tôi sẽ cố nói ngắn gọn hết sức.

    Thằng côn đồ Sholto đi về Ấn Độ nhưng không bao giờ quay lại.

    Không lâu sau đó, đại úy Morstan cho tôi xem tên hắn trong danh sách hành khách trên một con tàu bưu chính.

    Chú bác gì đó của hắn qua đời để lại cho hắn gia tài và hắn đã giải ngũ, thế mà hắn lại hèn hạ xử sự với cả năm chúng tôi như thế đấy.

    Morstan liền đi tới Agra và đúng như chúng tôi dự đoán, thấy kho báu đó đã biến mất thật rồi.

    Tên vô lại kia đã ăn cắp hết mà không hề thực hiện một điều kiện nào đã cam kết khi chúng tôi trao bí mật cho hắn.

    Từ ngày đó, tôi sống chỉ để trả thù.

    Ngày cũng như đêm tôi nung nấu nghĩ cách trả thù.

    Trả thù đã trở thành niềm say sưa mãnh liệt chế ngự tôi.

    Tôi bất chấp luật pháp, bất chấp giá treo cổ.

    Trốn thoát, lùng cho ra Sholto, bóp cổ hắn cho chết, tôi chỉ có mỗi một ý nghĩ đó.

    Ngay cả kho báu Agra kia cũng dần trở nên ít quan trọng hơn trong tâm trí tôi so với chuyện giết Sholto trả thù.

    Chà, trong đời này tôi đã quyết tâm làm nhiều chuyện và không có chuyện nào mà không thành.

    Nhưng phải mất nhiều năm tháng mỏi mòn thì thời cơ mới đến.

    Tôi đã nói với các ông là tôi có học chút ít nghề thuốc.

    Một ngày nọ khi bác sĩ Somerton nằm bẹp vì sốt, có một tù nhân bắt được một tên thổ dân Andaman nhỏ xíu ở trong rừng.

    Nó bệnh gần chết và đã tìm nơi vắng vẻ để chết.

    Tôi đem nó về nuôi, dù nó hiểm độc như con rắn vậy, và sau mấy tháng tôi đã làm cho nó khỏe lại và có thể đi đứng.

    Sau đó nó đâm ra quyến luyến tôi và không muốn quay về rừng nữa mà chỉ lảng vảng quanh túp lều của tôi.

    Tôi học được chút ít ngôn ngữ của nó và càng khiến nó quý mến tôi hơn.

    Thằng Tonga, đó là tên nó, là tay chèo giỏi và có riêng một con thuyền to, rộng rãi.

    Khi tôi thấy nó tận tụy và sẵn sàng làm bất cứ chuyện gì vì tôi thì tôi nhận ra cơ hội trốn thoát của mình.

    Tôi nói chuyện đó với nó.

    Vào một đêm thuận lợi nó sẽ đưa thuyền tới một bến cũ chẳng hề có lính canh, và sẽ đón tôi ở đó.

    Tôi ra lệnh cho nó chuẩn bị sẵn nhiều bầu nước và thật nhiều quả dừa, khoai từ, và khoai lang.

    Thằng nhỏ Tonga đó thật là trung thành và đáng tin cậy.

    Chẳng ai trên đời này có được người tâm phúc hơn.

    Vào cái đêm đã xác định, nó đưa thuyền đến bến đó.

    Nhưng ngẫu nhiên sao, ở đó lại có một tên cai tù, thằng Pathan đê tiện vốn không bao giờ bỏ lỡ cơ hội nào để nhục mạ và hành hạ tôi.

    Tôi lâu nay vẫn luôn thề trả thù thì bây giờ đã tới lúc.

    Thật chẳng khác gì số phận đã run rủi cho hắn gặp tôi để tôi trả món nợ này trước khi rời đảo.

    Hắn đứng trên bờ, quay lưng lại tôi, vai khoác súng cạcbin.

    Tôi nhìn quanh tìm hòn đá để đập vỡ sọ hắn ra nhưng chẳng thấy.

    Rồi một ý nghĩ kì cục nảy ra trong đầu và cho tôi biết có thể tìm vũ khí ở đâu.

    Tôi ngồi trong bóng tối và tháo cái cẳng gỗ ra.

    Nhảy phóc ba bước dài, tôi ào tới chỗ thằng Pathan.

    Hắn đưa súng cạcbin lên vai nhưng tôi giáng cho hắn một cú hết sức bình sinh, đập móp luôn nguyên phần sọ phía trước.

    Các ông có thể nhìn thấy chỗ gỗ nứt nơi tôi quật cái cẳng này vào đầu hắn.

    Cả hai đều té xuống vì tôi không giữ được thăng bằng, nhưng khi đứng lên tôi thấy hắn vẫn nằm ngay đơ.

    Tôi lần mò xuống con thuyền và một giờ sau chúng tôi đã ở ngoài biển xa.

    Tonga đã mang theo hết mọi tài sản trên đời của nó, cả vũ khí lẫn thần linh.

    Trong số đồ đạc của nó có một cây giáo dài bằng tre, mấy tấm chiếu bằng xơ dừa Andaman mà tôi dùng làm buồm.

    Suốt mười ngày chúng tôi cứ lênh đênh, phó thác cho may rủi, và đến ngày thứ mười một chúng tôi đón được một chiếc tàu buôn trên đường từ Singapore đến Jeddah chở toàn dân Mã Lai hành hương.

    Đó là một đám người kì cục và tôi với thằng Tonga liền xoay xở tìm chỗ ổn định ở chung với họ.

    Họ có một tính rất tốt là họ mặc kệ anh và không thắc mắc gì.

    Ối chà, nếu tôi kể hết với các ông những chuyện phiêu lưu mà thằng bạn nhỏ kia và tôi đã trải qua thì các ông sẽ chẳng cảm ơn tôi đâu, tôi sẽ giữ các ông ở đây cho đến khi mặt trời sáng rực mất thôi.

    Chúng tôi cứ trôi dạt đó đây khắp thế giới, lúc nào cũng có chuyện ngăn trở không cho tôi quay về London.

    Tuy vậy, tôi không hề lãng quên mục đích của mình một chút nào.

    Đêm nào tôi cũng nằm mơ thấy Sholto.

    Cả trăm lần tôi đã giết hắn trong mơ.

    Rồi sau cùng, đâu khoảng ba hay bốn năm trước, chúng tôi cũng tới được Anh quốc.

    Tôi dễ dàng tìm ra nơi sinh sống của Sholto, và bắt tay vào tìm hiểu xem hắn đã bán hết kho báu ấy chưa hay vẫn còn giữ.

    Tôi kết thân với ai có thể giúp đỡ mình, tôi không nói tên người nào đâu vì tôi không muốn gây khó dễ cho ai hết, và rồi biết được Sholto vẫn còn giữ số châu báu đó.

    Sau đó tôi cố đến gần hắn bằng nhiều cách nhưng hắn rất quỷ quyệt, ngoài hai người con trai và tên Khitmutgar lúc nào hắn ta cũng có hai võ sĩ túc trực bảo vệ.

    Nhưng rồi một ngày kia, tôi hay tin hắn ta đang hấp hối.

    Tôi hấp tấp đến khu vườn đó ngay, phát khùng lên vì không ngờ hắn lại thoát khỏi tay tôi như thế.

    Nhìn qua cửa sổ, tôi thấy hắn đang nằm trên giường với hai người con trai ở hai bên.

    Tôi đã mò đến tận nơi và đánh liều với cả ba người đó, nhưng đúng ngay lúc tôi nhìn Sholto thì mồm hắn há hốc ra, và tôi biết hắn đã đi đời.

    Dù vậy, đêm đó tôi vẫn lẻn vào phòng hắn lục lọi giấy tờ xem hắn có để lại ghi chép gì về nơi cất giấu châu báu không.

    Thế nhưng không có lấy một chữ nào; thế là tôi bỏ đi, cay đắng và tức tối không sao kể xiết.

    Trước khi rời chỗ đó, tôi sực nghĩ là nếu như tôi còn có dịp gặp lại mấy người bạn Sikh kia thì họ cũng thỏa mãn khi biết rằng tôi đã để lại ít dấu vết tỏ lòng căm thù của cả bọn.

    Thế là tôi ghi nguệch ngoạc chữ 'Dấu bộ tứ', giống như trên tấm họa đồ, và ghim lên ngực áo Sholto.

    Thật không thể chịu nổi nếu hắn ta đi xuống mồ mà không mang theo một kỉ vật của những kẻ đã bị hắn cướp và lừa gạt.

    Vào lúc đó chúng tôi kiếm sống bằng cách trình diễn thằng Tonga tội nghiệp như một tên mọi đen ăn thịt người ở các hội chợ và các nơi tương tự.

    Nó phải ăn thịt sống và nhảy nhót điệu múa chiến thắng kiểu thổ dân để chúng tôi kiếm được số tiền xu đầy một cái nón sau mỗi ngày làm việc.

    Tôi vẫn biết mọi tin tức từ biệt trang Pondicherry, và suốt mấy năm chẳng có tin gì ngoại trừ chuyện người ở đó vẫn đang truy tìm kho báu.

    Rồi cuối cùng cũng biết cái tin mà chúng tôi đã chờ đợi quá lâu.

    Đã tìm ra kho báu.

    Nó nằm trên nóc nhà, trong phòng thí nghiệm hóa chất của cậu Bartholomew Sholto.

    Tôi liền tới ngay và xem qua chỗ đó, nhưng không biết làm cách nào leo lên đó được với cái cẳng gỗ này.

    Tuy nhiên, tôi biết có một cửa sập trên mái và cũng biết giờ giấc ăn tối của cậu Bartholomew Sholto.

    Tôi thấy có lẽ chuyện này sẽ dễ dàng nếu tôi nhờ Tonga giúp sức.

    Tôi đưa nó tới đó với một sợi dây thừng dài quấn quanh bụng nó.

    Nó leo trèo giỏi như mèo và trong chớp nhoáng đã chui qua mái nhà, nhưng rủi sao cậu cả Sholto vẫn còn trong phòng, và phải mất mạng.

    Tonga nghĩ nó đã làm một chuyện rất hay ho khi giết cậu Sholto, bởi vì khi tôi đu dây thừng lên thì thấy nó đang đi khệnh khạng quanh phòng ra vẻ hãnh diện lắm.

    Nó mới sửng sốt làm sao khi tôi lấy đầu dây thừng quất nó, vừa đánh vừa nguyền rủa cái thằng tiểu yêu khát máu đó.

    Tôi lấy cái rương châu báu, thòng dây hạ xuống, rồi tôi cũng tuột xuống theo, sau khi để lại thiệp Dấu bộ tứ trên bàn để cho biết kho báu cuối cùng đã quay lại với người có quyền sở hữu chính đáng nhất.

    Sau đó Tonga kéo dây lên, đóng cửa sổ, rồi thoát ra theo ngả nó đã chui vào.

    Tôi không biết còn gì để kể với các ông nữa không.

    Tôi có nghe một người lái đò nói về tốc độ của chiếc tàu thủy Aurora nhà ông Smith, nên tôi nghĩ chiếc tàu đó có thể thuận tiện cho việc tẩu thoát của mình.

    Tôi thuê ông Smith và hứa sẽ cho một số tiền lớn nếu ông ta đưa chúng tôi an toàn đến chiếc tàu khách.

    Chắc chắn ông ta biết là có chuyện ám muội gì ở đây nhưng ông ta không can dự vào những bí mật của chúng tôi.

    Toàn bộ đều là sự thực, và tôi kể hết ra, thưa quý ông, không phải là để cho các ông thích thú đâu, vì các ông chẳng làm điều gì tốt đẹp cho tôi cả, mà là vì tôi nghĩ rằng cách tốt nhất để bào chữa cho mình là không giấu giếm gì, cứ để cho cả thế giới này biết thiếu tá Sholto đã đối xử tệ bạc với tôi như thế nào, và tôi vô tội ra sao trong chuyện con trai ông ta chết."

    "Một câu chuyện rất lạ thường", Sherlock Holmes nói.

    "Một kết thúc phù hợp với một vụ án cực kì lí thú.

    Phần sau câu chuyện của ông chẳng có gì mới mẻ đối với tôi cả, trừ việc ông tự mang dây thừng theo.

    Tôi không biết điều đó.

    Nhân tiện cũng phải nói là tôi cứ tưởng Tonga đã mất hết các mũi tên, thế mà hắn lại xoay xở thổi được một mũi tên nữa về phía chúng tôi khi còn ở trên tàu."

    "Nó đã mất hết, thưa ông, chỉ trừ một mũi tên còn nằm trong ống xì đồng của nó vào lúc đó."

    "À, ra thế!"

    Holmes nói.

    "Tôi đã không nghĩ ra điều đó."

    "Còn điều gì ông muốn hỏi nữa không?"

    Người tù kia niềm nở hỏi.

    "Tôi nghĩ là không, cảm ơn ông", anh bạn tôi đáp.

    "Này, Holmes", Athelney Jones lên tiếng, "ông đúng là người muốn gì được nấy, và chúng tôi đều biết ông rất sành sỏi về tội ác, nhưng nhiệm vụ là nhiệm vụ, và tôi đã đi xa tới mức làm theo những gì ông và bạn ông yêu cầu.

    Tôi sẽ cảm thấy thoải mái hơn khi người kể chuyện của chúng ta đã an toàn sau song sắt.

    Xe ngựa vẫn còn chờ, và dưới nhà còn có hai thanh tra cảnh sát.

    Tôi hết sức cảm ơn hai ông đã trợ giúp.

    Tất nhiên khi xét xử hai ông cũng phải có mặt.

    Tạm biệt nhé."

    "Xin tạm biệt cả hai ông", Jonathan Small nói.

    "Ông đi trước đi, Small", ông Jones cẩn trọng lên tiếng khi hai người rời phòng.

    "Tôi phải hết sức cẩn thận để ông đừng có tháo chân gỗ ra quật vào tôi, giống như những gì ông đã làm với quý ông kia ở quần đảo Andaman."

    "Chà, tuồng kịch nhỏ của chúng ta đã tới hồi kết", tôi lên tiếng sau một lúc cả hai ngồi im lặng hút thuốc.

    "Tôi e rằng đây có thể là cuộc điều tra cuối cùng mà tôi có cơ hội nghiên cứu các phương pháp của anh đó.

    Cô Morstan đã ban cho tôi vinh dự được làm người chồng tương lai của cô ấy."

    Anh bật ra một tiếng rên cực kì buồn nản rồi nói, "Đúng cái điều tôi đã lo sợ.

    Thực tình tôi không muốn chúc mừng anh đâu."

    Hơi tự ái, tôi hỏi lại, "Thế anh có lí do gì để không hài lòng với lựa chọn của tôi chứ?"

    "Hoàn toàn không.

    Tôi nghĩ cô ấy là một trong những quý cô duyên dáng nhất tôi từng gặp, và có lẽ là người đắc lực nhất trong chính công việc chúng ta làm lâu nay.

    Rõ ràng cô ấy là người có thiên tư; cứ xem trong mớ giấy tờ đủ thứ của ông đại úy, cô ấy lại gìn giữ bức họa đồ Agra thì biết ngay.

    Nhưng tình yêu là chuyện cảm xúc, và bất cứ thứ gì có tính chất cảm xúc đều đối nghịch với lí trí lạnh lùng, chính xác mà tôi coi trọng hơn mọi thứ.

    Tôi đây sẽ không bao giờ lấy vợ, để khỏi có thiên kiến trong óc suy xét của mình."

    Tôi vừa nói vừa cười, "Tôi tin là óc suy xét của tôi sẽ vượt qua thử thách đó.

    Nhưng trông anh buồn chán kìa."

    "Vâng, tôi lại bị ức chế rồi.

    Tôi sẽ ủ rũ như miếng giẻ rách suốt cả tuần lễ cho mà xem."

    "Lạ thật đó", tôi nói, "anh có những giai đoạn mà nếu ở người khác tôi sẽ gọi là sự biếng nhác xen những đợt làm việc hết mình và tràn trề sinh lực."

    "Đúng", anh đáp, "trong tôi tồn tại những bản tính của một kẻ lười nhác nhất hạng lẫn một kẻ khoái hoạt vô biên.

    Tôi thường nghĩ đến mấy dòng thơ này của Goethe: Schade dass die Natur nur einen Mensch aus Dir schuf.

    Denn zum wurdigen Mann war und zum Schelmen der Stoff.

    À này, liên quan đến vụ Norwood, như tôi đã ước đoán, anh đã thấy là bọn họ có một tên đồng lõa ở trong nhà đó, không ai khác hơn là tên quản gia Lal Rao.

    Cho nên thực tế Jones đã có vinh dự trọn vẹn là bắt được một con cá trong mẻ lưới lớn của ông ta."

    "Sự phân chia này coi bộ không công bằng", tôi nói.

    "Trong vụ này anh đã làm hết mọi việc.

    Nhờ chuyện này mà tôi lấy được vợ, Jones được ghi công, thế còn lại gì cho anh nào?"

    "Phần của tôi thì vẫn còn chai cocaine đó."

    Sherlock Holmes nói và vươn bàn tay dài trắng xanh với lấy chai thuốc.
     
    Sherlock Holmes Toàn Tập
    VỤ TAI TIẾNG XỨ BOHEMIA (A Scandal in Bohemia, 1891)


    I.

    Đối với Sherlock Holmes, cô ta luôn là Người phụ nữ ấy.

    Tôi hiếm khi thấy anh nhắc đến cô ta bằng bất kì tên gọi nào khác.

    Trong mắt anh, cô ta nổi bật và làm lu mờ tất cả những người phụ nữ khác.

    Không phải anh có bất kì cảm xúc nào na ná tình yêu đối với Irene Adler.

    Mọi cảm xúc, nhất là tình yêu, đều bị bộ óc lạnh lùng, chính xác và cân bằng đến đáng ngưỡng mộ của anh căm ghét.

    Theo đánh giá của tôi, anh là cỗ máy quan sát và lập luận hoàn hảo nhất từ trước đến nay, nhưng lại không hợp với vai trò một người yêu.

    Anh chưa bao giờ nói về những xúc cảm ủy mị mà không kèm theo lời chế giễu và nụ cười khinh mạn.

    Đối với người quan sát, cảm xúc là công cụ hỗ trợ đắc lực, giúp vén tấm màn che giấu động cơ và hành động của con người.

    Nhưng với nhà suy luận sành sỏi thì việc để cho những yếu tố này thâm nhập vào tâm trí bén nhạy và cân chỉnh tinh vi của anh ta chỉ tổ gây sao nhãng và gieo mối hoài nghi lên toàn bộ kết quả tư duy.

    Một hạt sạn trong một thiết bị rất nhạy hay một vết nứt trên thấu kính hiển vi cũng không gây nhiễu loạn ghê gớm bằng một cảm xúc mãnh liệt nảy sinh ở một người có bản tính như anh.

    Nhưng với anh chỉ có một người phụ nữ, đó là người phụ nữ mang nhũ danh Irene Adler, trong kí ức mơ hồ, lãng đãng.

    Dạo gần đây tôi ít gặp Holmes.

    Từ khi tôi lấy vợ, chúng tôi sống mỗi người một ngả.

    Niềm hạnh phúc riêng tư trọn vẹn và những mối bận tâm đến việc nhà nảy sinh quanh người đàn ông lần đầu làm trụ cột gia đình đã chiếm trọn sự quan tâm của tôi.

    Còn Holmes, với tâm hồn phóng khoáng, căm ghét mọi hình thái giao tiếp, vẫn trọ ở căn nhà chúng tôi thuê trên đường Baker, vùi đầu vào đống sách cũ và hết tuần này sang tuần khác say trong cocaine hoặc trong ham muốn được sử dụng khả năng suy luận sắc sảo của mình.

    Anh vẫn bị cuốn vào việc nghiên cứu tội phạm, vẫn dồn trí óc nhạy bén cùng tài quan sát tinh tường để lần theo dấu vết và làm sáng tỏ những bí ẩn mà cảnh sát đã cúi đầu chào thua.

    Thỉnh thoảng tôi lại loáng thoáng nghe được một vài tin về anh: Tới Odessa phá vụ án tay sát nhân Trepoff, làm sáng tỏ tấn bi kịch của anh em nhà Atkinson ở Trincomalee và cuối cùng là hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ do hoàng gia Hà Lan giao phó.

    Nhưng ngoài ra, tôi chẳng biết gì thêm về người bạn và cộng sự cũ của mình.

    Tối ngày 20 tháng 3 năm 1888, trên đường thăm bệnh về nhà (dạo này tôi chuyển sang làm bác sĩ tư), tôi đi ngang qua phố Baker.

    Khi bước ngang qua cánh cửa quen thuộc gắn liền với thời gian tôi theo Holmes đi phá án và với những tình tiết đáng sợ của vụ Cuộc điều tra màu đỏ, tôi đột nhiên khao khát được gặp lại Holmes, được biết anh đang sử dụng năng lực phi thường của mình như thế nào.

    Phòng của anh vẫn sáng đèn và khi ngước nhìn lên, tôi thấy cái bóng cao gầy của anh bước qua lại hai lần in trên rèm cửa.

    Anh đang sải những bước nhanh nhẹn, hăm hở, đầu cúi gằm và tay chắp sau lưng.

    Đối với một người hiểu rõ tâm tính và thói quen của anh như tôi, tư thế và dáng vẻ của anh cho biết anh đang làm việc.

    Anh đã tỉnh lại sau những cơn mê do tác động của ma túy và giờ đang bừng bừng nhiệt huyết vì một vụ án mới.

    Tôi bấm chuông và được dẫn vào căn phòng mà trước kia mình sở hữu một phần.

    Thái độ của anh có vẻ không nồng nhiệt lắm.

    Anh vẫn thường tỏ ra như vậy, nhưng tôi nghĩ anh vui khi thấy tôi.

    Không nói lấy một lời nhưng với ánh mắt ân cần, anh vẫy tay ra chiều bảo tôi ngồi xuống ghế, ném cho tôi hộp xì gà và chỉ vào một két rượu mạnh và bình tạo soda nằm ở góc phòng.

    Đoạn, anh ra đứng trước lò sưởi và ngắm nghía tôi theo cách quan sát đánh giá kì quặc của mình.

    "Hôn nhân có lợi cho anh đấy", anh nhận xét.

    "Watson này, tôi cho là anh đã tăng gần bảy pound rưỡi so với lần gặp mặt trước."

    "Chỉ bảy pound thôi!"

    Tôi đáp.

    "Ồ, đáng ra tôi nên nghĩ kĩ hơn.

    Anh phải tăng nhiều hơn thế, Watson ạ.

    Và tôi nhận thấy anh đã hành nghề trở lại.

    Anh không hề cho tôi biết anh có ý định đó đấy nhé."

    "Sao anh biết?"

    "Tôi nhìn thấy, tôi suy luận.

    Nếu không sao tôi biết gần đây anh bị ướt như chuột lột và anh có một cô giúp việc vụng về cẩu thả nhất thiên hạ?"

    "Holmes thân mến", tôi nói.

    "Thật không tin nổi.

    Nếu anh sống cách đây vài thế kỉ, chắc chắn anh sẽ bị đưa lên giàn hỏa thiêu thôi.

    Quả đúng là hôm thứ năm vừa rồi, tôi đi dạo ở miền quê và về nhà trong bộ dạng nhếch nhác vô cùng, nhưng vì tôi đã thay quần áo nên tôi không tài nào tưởng tượng ra làm sao anh đoán được.

    Còn về Mary Jane, cô ta quả là quá cẩu thả, và vợ tôi đã cho cô ta nghỉ việc.

    Nhưng sao anh đoán ra?"

    Anh cười tủm tỉm và xoa hai bàn tay dài vào nhau.

    "Rất dễ dàng", anh nói, "đôi mắt bảo tôi rằng tại phần da má trong của chiếc giày bên trái của anh, ngay chỗ ánh lửa chiếu vào, có sáu vết xước gần như song song.

    Rõ ràng chúng là do ai đó bất cẩn khi chà bùn khô quanh mép gót giày gây ra.

    Như thế chứng tỏ anh vừa gặp thời tiết xấu vừa có một cô hầu gái chăm rạch giày chủ nhất London.

    Còn về chuyện hành nghề của anh thì, nếu một quý ông bước vào nhà tôi sực nức mùi iốt, có một chấm bạc nitrat trên ngón trỏ bàn tay phải và một chỗ phình ở bên phải cái mũ chóp cao - đó là nơi anh ta giấu ống nghe - thì tôi hẳn phải tối dạ lắm mới không biết anh ta là đồ đệ của Hippocrates."

    Tôi không thể nhịn cười trước cách Holmes giảng giải.

    "Khi tôi nghe các suy luận của anh", tôi nhận xét, "tôi luôn thấy sự việc quá ư đơn giản, ngay đến tôi cũng suy đoán được.

    Nhưng hễ anh đưa ra ví dụ mới, tôi lại mù tịt tới khi được nghe anh giảng giải.

    Tuy vậy, tôi vẫn cho là mắt tôi tốt chẳng kém gì mắt anh."

    "Quả vậy", anh đốt một điếu thuốc và buông mình ngồi xuống ghế.

    "Anh nhìn thấy, nhưng anh không quan sát.

    Đó là hai vấn đề hoàn toàn khác biệt.

    Ví dụ nhé, anh thường trông thấy những bậc thang dẫn từ tiền sảnh lên căn phòng này chứ?"

    "Thường xuyên."

    "Đến mức nào?"

    "À, có đến hàng trăm lần."

    "Thế có bao nhiêu bậc?"

    "Bao nhiêu à?

    Tôi không biết!"

    "Đó!

    Anh nhìn thấy nhưng anh không quan sát.

    Ý của tôi là vậy đấy.

    Về phần tôi, tôi biết có mười bảy bậc thang, bởi tôi vừa nhìn vừa quan sát.

    Nhân tiện, vì anh quan tâm đến những vấn đề nho nhỏ này và thường ghi chép một hai lần phá án lặt vặt của tôi nên có lẽ anh sẽ quan tâm đến cái này."

    Anh ném cho tôi một tờ giấy màu hồng dày dặn để mở sẵn trên bàn từ trước.

    "Nó vừa được đưa tới", anh nói.

    "Hãy đọc to lên."

    Mảnh giấy không đề ngày, và cũng chẳng có cả chữ kí hay địa chỉ:

    Sẽ đến gặp ông tối nay, vào lúc 8 giờ kém 15 phút.

    Một quý ông mong được ông tư vấn về một vấn đề vô cùng quan trọng.

    Lần gần đây nhất ông phục vụ cho một trong các hoàng gia Âu châu cho thấy ông là người đáng tin cậy để phó thác những vấn đề trọng đại khôn kể xiết.

    Thành tích này của ông chúng tôi đã từ khắp nơi nghe thấy.

    Vậy, hãy ở trong phòng của ông vào giờ đã hẹn, và đừng phật ý nếu vị khách của ông đeo mặt nạ.

    "Lá thư quả là bí hiểm", tôi nhận xét.

    "Theo anh, nó có ý nghĩa gì?"

    "Tôi chưa có dữ kiện.

    Đưa ra giả thuyết trước khi có dữ kiện là một lỗi vô cùng tai hại, khiến ta vô tình bóp méo sự việc cho phù hợp với giả thuyết, thay vì ngược lại.

    Nhưng anh có suy đoán gì về bản thân tờ giấy này không?"

    Tôi cẩn thận xem xét nét chữ rồi đến tờ giấy.

    "Có thể đoán người đàn ông viết lá thư này khá sung túc", tôi cố bắt chước cách suy luận của bạn mình.

    "Loại giấy này ít ra cũng phải nửa crown một xấp.

    Nó dày và cứng khác thường."

    "Khác thường... quả vậy", Holmes nói.

    "Hoàn toàn không phải là loại giấy sản xuất ở nước Anh.

    Anh thử giơ ra trước ánh sáng mà xem."

    Tôi làm theo và nhìn thấy một chữ E hoa cùng một chữ g thường, một chữ P và một chữ G hoa với một chữ t in chìm trong giấy.

    "Anh suy ra điều gì nào?"

    Holmes hỏi.

    "Chắc chắn đây là tên của nhà sản xuất, hay đúng hơn là chữ viết tắt tên ông ta."

    "Sai bét.

    Chữ G đi cùng chữ t là viết tắt của Gesellschaft - công ty trong tiếng Đức, giống như Co.

    ở nước mình.

    Còn chữ P tất nhiên là viết tắt của Papier.

    Bây giờ đến Eg.

    Ta hãy tra trong Từ điển địa lí Âu châu."

    Anh lấy từ trên kệ xuống một pho sách nặng trịch có bìa màu nâu.

    "Eglow, Eglonitz...

    à đây rồi, Egria.

    Đó là một vùng nói tiếng Đức ở xứ Bohemia. cách Carlsbad không xa.

    Nổi tiếng vì Wallenstein đã tạ thế tại đó, và nhờ có nhiều nhà máy sản xuất giấy và thủy tinh.

    Ha ha, anh bạn, anh có thấy gì không?"

    Mắt anh sáng lấp lánh và anh đắc thắng nhả một làn khói thuốc.

    "Vậy đây là loại giấy được sản xuất tại Bohemia", tôi nói.

    "Chính xác.

    Và người viết thư là người Đức.

    Anh để ý thấy cấu trúc kì lạ của câu: 'Thành tích này của ông chúng tôi đã từ khắp nơi nghe thấy' này chứ?

    Người Pháp hay người Nga sẽ không viết thế.

    Chỉ có người Đức mới dùng động từ ở cuối câu.

    Vậy chúng ta chỉ còn phải tìm hiểu xem cái ông người Đức sử dụng loại giấy xuất xứ Bohemia và thích đeo mặt nạ này muốn gì.

    Và nếu như tôi không lầm thì ông ta đã tới giải đáp mọi nghi vấn của chúng ta rồi."

    Như để minh chứng cho lời anh, tiếng vó ngựa lọc cọc, tiếng bánh xe nghiến trên đường, tiếng chuông lanh canh lần lượt vang lên.

    Holmes huýt sáo.

    "Xe song mã, nếu xét theo tiếng động", anh nói.

    "Đúng thế", anh nhìn ra ngoài cửa sổ rồi nói tiếp.

    "Một cỗ xe xinh xắn và một đôi ngựa đẹp.

    Phải tới một trăm năm mươi guinea mỗi con.

    Nếu không gặp trở ngại nào thì vụ này sẽ kiếm được khá tiền đây, Watson thân mến ạ."

    "Holmes, tôi nghĩ mình nên về."

    "Trái lại là khác.

    Bác sĩ cứ ngồi yên đó đã.

    Không có sự hỗ trợ của anh, tôi sẽ chẳng làm được gì.

    Và vụ này có vẻ thú vị đấy.

    Bỏ qua tiếc lắm."

    "Nhưng còn ông khách của anh..."

    "Đừng để ý đến ông ta.

    Có thể tôi, và có lẽ cả ông ta đều cần sự trợ giúp của anh.

    Ông ta đến rồi.

    Bác sĩ hãy ngồi vào cái ghế đó và tập trung nhé."

    Có tiếng bước chân chậm rãi và nặng nề vang lên trên cầu thang và trong hành lang rồi ngừng lại ngay ngoài cửa phòng.

    Sau đó chúng tôi nghe thấy một tiếng gõ cửa mạnh mẽ và uy quyền.

    "Mời vào!"

    Holmes nói.

    Người đàn ông bước vào dễ chừng cao không dưới sáu foot sáu, lồng ngực và tay chân lực lưỡng như Hercules, ông ta mặc trang phục diêm dúa đáng bị xem là kém thẩm mĩ ở Anh.

    Những dải viền lông ở hai tay áo và vạt trước của chiếc áo bành tô cài chéo, còn cái áo choàng không tay màu xanh thẫm khoác trên vai ông ta được viền lụa màu đỏ cam, cài lại tại cổ bằng ghim cài áo đính một viên ngọc beryl sáng chói.

    Đôi ghệt cao đến nửa bắp vế, viền lông thú màu nâu đắt tiền càng tăng thêm ấn tượng về sự hào nhoáng toát lên từ tổng thể ngoại hình của ông ta.

    Ông ta cầm cái mũ rộng vành trên tay và đeo chiếc mặt nạ đen che đến quá xương gò má.

    Có vẻ nó mới được chỉnh lại vì bàn tay ông ta hãy còn giơ lên khi bước vào phòng.

    Nửa dưới khuôn mặt khoe ra những đường nét mạnh mẽ, với đôi môi dày và cái cằm dài thẳng, cho thấy ông ta là người cương nghị tới mức hơi bướng bỉnh.

    "Ông nhận được thư của tôi rồi chứ?"

    Ông ta hỏi bằng giọng nói trầm khàn, thô ráp và đặc khẩu âm Đức.

    "Tôi đã báo trước sẽ ghé đến."

    Ông ta lần lượt nhìn hai chúng tôi và có vẻ không biết đối tượng nói chuyện của mình là ai.

    "Mời ông ngồi", Holmes nói.

    "Bác sĩ Watson đây là bạn và cũng là cộng sự của tôi.

    Anh ấy đôi khi cũng giúp đỡ tôi khá đắc lực trong một số vụ.

    Và tôi đang vinh hạnh được hầu chuyện ai đây?"

    "Ông cứ gọi tôi là bá tước von Kramm, quý tộc xứ Bohemia.

    Tôi hiểu rằng, vị này, bạn ông là một người đáng trọng, người tôi có thể tin cậy để nói ra một vấn đề cực kì trọng đại.

    Nếu không đúng như thế thì tôi muốn nói chuyện với một mình ông thôi."

    Tôi nhổm dậy định đi ra nhưng Holmes đã nắm lấy cổ tay tôi và đẩy tôi trở lại ghế.

    "Nói chuyện với cả hai, hoặc là không", anh nói.

    "Ông có thể nói trước mặt người này bất cứ điều gì ông muốn nói với tôi."

    Ông bá tước nhún đôi vai rộng.

    "Vậy trước hết", ông ta nói, "tôi buộc phải yêu cầu cả hai ông tuyệt đối giữ bí mật trong hai năm; sau thời gian đó, vấn đề sẽ không còn quan trọng.

    Còn hiện tại, nếu tôi nói nó có thể ảnh hưởng tới lịch sử của toàn Âu châu cũng không ngoa."

    "Tôi hứa", Holmes nói.

    "Tôi cũng vậy."

    "Xin cho tôi được mạn phép đeo chiếc mặt nạ này", vị khách kì lạ của chúng tôi tiếp tục.

    "Ông chủ uy nghi của tôi muốn kẻ tôi đòi là tôi đây phải giữ kín danh tính, và tôi cũng xin phép được thú thật, cái tước hiệu tôi vừa xưng ban nãy không hẳn là của tôi."

    "Tôi biết mà", Holmes đáp tỉnh bơ.

    "Tình huống vô cùng tế nhị, và tôi cần hết sức cẩn trọng để tránh biến vụ việc thành một vụ tai tiếng lớn đe dọa tới một trong các hoàng gia Âu châu.

    Nói trắng ra, vấn đề này có liên quan đến dòng họ Ormstein vĩ đại, những vị vua kế thừa xứ Bohemia."

    "Tôi cũng biết điều này rồi", Holmes nói nhỏ rồi buông mình ngồi xuống ghế và nhắm mắt lại.

    Vị khách của chúng tôi lộ vẻ kinh ngạc, vội liếc nhìn người có dáng điệu uể oải mà hẳn ông ta đã nghe nói là nhà suy luận sắc sảo nhất và là thám tử năng động nhất Âu châu.

    Holmes chậm rãi mở mắt và cau có nhìn thẳng vào ông khách cao lớn.

    "Bệ hạ phải hạ cố nói rõ vấn đề ra", anh nói, "có vậy thì tôi mới nêu ý kiến được."

    Người đàn ông bật khỏi ghế và sải bước đi lại trong phòng với vẻ bối rối không kiểm soát nổi.

    Rồi, ông ta buồn bực giật chiếc mặt nạ và ném mạnh xuống sàn nhà.

    "Ông nói đúng", ông ta hét lên.

    "Ta là vua kia mà.

    Sao ta phải giấu thân phận chứ?"

    "Đúng vậy, sao bệ hạ phải giấu chứ?"

    Holmes khẽ giọng.

    "Không cần bệ hạ nói, tôi cũng đoán được mình đang hầu chuyện ngài Wilhelm Gottsreich Sigisihond von Ormstein, đại công tước xứ Cassel Felstein và là vua kế vị xứ Bohemia."

    "Nhưng ông phải thông cảm cho", vị khách kì lạ của chúng tôi nói khi ngồi lại vào ghế và đặt tay lên trán, "ta không quen tự mình xử lí những việc thế này.

    Và vì vấn đề quá tế nhị nên ta không dám để ai thay ta ra mặt.

    Như vậy, ta sẽ giao an nguy của mình vào tay kẻ khác mất.

    Ta đã âm thầm đi từ Prague đến đây để nhờ ông tư vấn."

    "Vậy xin bệ hạ hãy nêu vấn đề", Holmes nói và lại nhắm mắt.

    "Sự việc chỉ đơn giản thế này!

    Khoảng năm năm trước, trong một chuyến viếng thăm Warsaw dài ngày, ta đã quen một gái bao hạng sang tên là Irene Adler.

    Hẳn cái tên này không xa lạ gì với ông."

    "Bác sĩ làm ơn tìm tên cô ta trong quyển danh mục", Holmes khẽ nói mà vẫn không buồn mở mắt.

    Từ nhiều năm nay, anh đã gây dựng một hệ thống ghi chép về người và việc, vì thế khó có sự việc hay nhân vật nào mà anh không thể cung cấp ngay tư liệu.

    Trong trường hợp này, tôi tìm thấy tiểu sử của cô ta nằm giữa phần tiểu sử của một học giả Do Thái và một vị sĩ quan tham mưu đã soạn một chuyên khảo về các loại cá biển sâu.

    "Đưa tôi xem nào", Holmes nói.

    "Hừm!

    Sinh ở New Jersey vào năm 1858.

    Giọng nữ trầm... hừm!

    Từng biểu diễn ở La Scala... hừm!... nữ ca sĩ chính của nhà hát opera Hoàng gia Warsaw... phải!

    Đã giã từ sân khấu... ha!

    Sống tại London... thế đấy!

    Thưa bệ hạ, theo như tôi hiểu thì ngài từng có thời yêu đương với cô gái này, từng viết cho cô ta những lá thư thề non hẹn biển, và giờ bệ hạ muốn lấy lại chúng."

    "Chính xác.

    Nhưng làm sao...?"

    "Hai người có bí mật kết hôn không?"

    "Không."

    "Không có giấy tờ pháp lí hay giấy chứng nhận nào chứ?"

    "Không."

    "Thế thì tôi không hiểu nổi, thưa bệ hạ.

    Nếu cô gái muốn dùng những lá thư đó để tống tiền hoặc cho những mục đích nào khác, làm sao cô ta có thể chứng minh tính xác thực của chúng?"

    "Có chữ viết của ta."

    "Chẳng sao!

    Giả mạo được."

    "Loại giấy viết thư của riêng ta."

    "Đánh cắp được."

    "Con dấu của riêng ta."

    "Bắt chước được."

    "Tấm hình của ta."

    "Mua được."

    "Nhưng đó là hình ta chụp chung với cô ta."

    "Ôi trời!

    Tệ rồi đây!

    Bệ hạ hớ hênh quá!"

    "Lúc đó ta quá cuồng si."

    "Bệ hạ làm hại mình trầm trọng rồi."

    "Lúc đó ta mới là thái tử.

    Hãy còn trẻ.

    Giờ ta đã ba mươi rồi!"

    "Phải lấy lại tấm hình đó."

    "Đã thử nhưng thất bại."

    "Vậy bệ hạ hãy bỏ tiền ra chuộc lại."

    "Cô ta sẽ không bán."

    "Vậy thì trộm."

    "Đã thử năm lần rồi.

    Hai lần ta thuê bọn trộm lục lọi nhà cô ta.

    Một lần nhân lúc cô ta đi du lịch, ta cho người thó hành lí của cô ta.

    Hai lần cô ta bị tấn công bất ngờ.

    Nhưng đều chẳng thu được gì."

    "Đều không thấy tăm hơi tấm hình đâu?"

    "Hoàn toàn không."

    Holmes cười phá lên.

    "Đây chỉ là một vấn đề nho nhỏ thôi mà", anh nói.

    "Nhưng lại là một vấn đề rất nghiêm trọng với ta", vị vua đáp lại vẻ trách móc.

    "Quả vậy.

    Và cô ta định làm gì với tấm hình đó?"

    "Hại ta."

    "Nhưng bằng cách nào?"

    "Ta sắp kết hôn."

    "Tôi có nghe nói!"

    "Ta sắp kết hôn cùng Clotilde Lothman von Saxe Meningen, con gái thứ hai của hoàng đế Scandinavia.

    Có lẽ ông đã biết về các phép tắc nghiêm ngặt của gia đình nàng.

    Bản thân nàng cũng rất nhạy cảm.

    Chỉ cần một chút nghi ngờ về tư cách đạo đức của ta cũng đủ đặt dấu chấm hết cho hôn sự này."

    "Thế còn Irene Adler?"

    "Đe dọa sẽ gửi tấm hình cho họ, và ta chắc chắn cô ta sẽ thực hiện, ông không biết cô ta, nhưng đó là một con người sắt đá.

    Cô ta có khuôn mặt của tuyệt sắc giai nhân nhưng lại sở hữu trí tuệ của trang nam nhi kiên định nhất.

    Cô ta luôn nói là làm.

    Vậy nên ta đừng hòng kết hôn với người khác, nếu không cô ta sẽ không từ thủ đoạn để ngăn cản."

    "Bệ hạ chắc là cô ta vẫn chưa gửi tấm hình chứ?"

    "Ta đoán chắc."

    "Tại sao?"

    "Vì cô ta đã nói sẽ gửi nó vào ngày tuyên bố hứa hôn.

    Đó là thứ hai tuần tới."

    "Ồ, vậy chúng ta còn ba ngày", Holmes vừa nói vừa ngáp.

    "Thật là may mắn vì lúc này tôi còn phải xem xét một vài vấn đề quan trọng nữa.

    Hẳn bệ hạ vẫn lưu lại London chứ?"

    "Chắc chắn rồi.

    Ta ở khách sạn Langham, dưới tên bá tước von Kramm."

    "Thế tôi sẽ nhắn bệ hạ vài chữ để ngài biết tiến trình công việc ra sao."

    "Làm vậy đi.

    Ta sẽ nóng ruột lắm đấy."

    "Vậy còn thù lao?"

    "Ông sẽ được một Carte blanche."

    "Chắc chắn chứ?"

    "Đảm bảo với ông, ta sẵn sàng mất một tỉnh lị của vương quốc để có tấm hình đó."

    "Còn chi phí trước mắt?"

    Nhà vua lấy từ dưới vạt áo choàng không tay ra một cái túi nặng làm bằng da sơn dương rồi đặt lên bàn.

    "Ở đây có ba trăm bảng tiền vàng và bảy trăm bảng tiền giấy", ông ta nói.

    Holmes viết vội biên nhận lên một tờ giấy trong cuốn sổ tay rồi trao cho ông ta.

    "Còn địa chỉ của cô nàng?"

    Anh hỏi.

    "Biệt thự Briony, đại lộ Serpentine, St.

    John's Wood."

    Holmes ghi lại địa chỉ.

    "Xin hỏi một câu nữa", anh nói.

    "Tấm hình cỡ 10x16 phải không?"

    "Đúng vậy."

    "Được rồi, xin chúc bệ hạ ngủ ngon và tôi sẽ sớm có tin tốt lành cho ngài."

    "Chúc ngủ ngon, Watson", anh nói thêm khi cỗ xe hoàng gia lăn bánh xuống phố.

    "Nếu 3 giờ chiều mai anh chịu khó ghé lại đây, tôi sẽ chuyện gẫu với anh về vấn đề nho nhỏ này."

    II.

    Đúng 3 giờ chiều, tôi có mặt ở phố Baker nhưng Holmes chưa về.

    Bà chủ nhà báo cho tôi hay sáng nay anh đã ra khỏi nhà vào lúc 8 giờ hơn.

    Tuy vậy, tôi vẫn ngồi đợi cạnh lò sưởi cho dù có lâu mấy đi nữa.

    Vụ điều tra này thu hút sự quan tâm của tôi, vì mặc dù nó không có yếu tố ghê rợn và lạ lùng như hai vụ án tôi từng ghi chép, nhưng tính chất của sự việc và địa vị cao quý của thân chủ lại tạo ra nét đặc sắc riêng.

    Hơn nữa, có gì đó trong cách nắm bắt tình huống tài tình và cách lập luận sôi nổi sắc bén của anh khiến tôi thích học hỏi cung cách làm việc, cũng như theo dõi các phương thức giúp anh giải quyết nhanh chóng và tinh tế những vụ bí ẩn hóc búa nhất.

    Vì tôi quá quen với những thành công chắc chắn của anh nên cái ý nghĩ rằng anh có thể thất bại đã không còn nảy sinh trọng đầu tôi nữa.

    Gần 4 giờ, cửa mở ra và một gã trông ngựa bộ dạng say xỉn, mặt đỏ lựng, tóc tai bù rối, để râu quai nón và ăn mặc lôi thôi lếch thếch bước vào.

    Dù đã quen với khả năng hóa trang tài tình của bạn mình, tôi vẫn phải nhìn đến ba lượt mới dám chắc người kia chính là anh.

    Gật đầu chào tôi xong, anh biến vào phòng ngủ, rồi chỉ năm phút sau lại từ đó bước ra, chỉnh tề với bộ quần áo bằng vải tuýt.

    Tay nhét vào túi áo, anh duỗi dài chân trước ngọn lửa và cười sảng khoái trong vài phút.

    "Ôi trời!"

    Anh kêu lên, cố nín rồi lại phá lên cười đến khi ngã vật ra ghế như không còn hơi sức.

    "Có chuyện gì thế?"

    "Khá là buồn cười.

    Tôi dám chắc là anh không bao giờ đoán được sáng nay tôi đã làm gì, hoặc kết cục ra sao đâu."

    "Tôi không tưởng tượng được.

    Tôi cho rằng anh đã quan sát các thói quen và có lẽ là xem xét căn nhà của cô Irene Adler."

    "Đúng thế, nhưng tiến trình có hơi khác thường.

    Tôi kể cho anh nghe đây.

    Sáng nay, khoảng 8 giờ hơn một chút, tôi ra khỏi nhà trong bộ dạng của một gã trông ngựa bị mất việc, bởi tôi biết cánh trông ngựa đoàn kết và đồng cảm với nhau lắm.

    Chỉ cần nhập bọn với họ là anh sẽ biết mọi điều cần thiết.

    Tôi nhanh chóng tìm ra biệt thự Briony.

    Đó là một căn biệt thự hai tầng nhỏ xinh có vườn sau, nhưng mặt tiền xây ra đến sát đường.

    Cửa chính dùng khóa Chubb.

    Phòng khách rộng rãi nằm bên phải trông khá sang trọng, các cửa sổ dài gần sát đất dùng loại chốt kiểu Anh ngớ ngẩn mà đến trẻ con cũng mở được, ở phía sau không có gì đáng chú ý, ngoại trừ cửa sổ ở hành lang mà anh có thể với tới từ nóc nhà để xe ngựa.

    Tôi đi vòng quanh và xem xét kĩ lưỡng từng góc độ, nhưng không ghi nhận được điều gì khác đáng quan tâm.

    Sau đó, tôi lang thang xuôi xuống phố và tìm thấy, đúng như tôi dự tính, một trại ngựa trong con hẻm kề sát tường bao của khu vườn.

    Tôi giúp mấy anh chàng trong đó chải lông cho bầy ngựa và được trả hai xu, một li rượu pha đến phân nửa nước, hai mồi thuốc lá sợi to cùng rất nhiều thông tin tôi muốn biết về cô Adler.

    Đó là chưa kể đến đống tin tức về mấy người hàng xóm sống quanh đó mà tôi chẳng chút quan tâm, nhưng buộc phải nghe."

    "Vậy Irene Adler là người thế nào?"

    Tôi hỏi.

    "Ồ, cô ta hút hết hồn vía của tất cả cánh đàn ông trong vùng.

    Mấy chàng trông ngựa ở Serpentine khen ngợi cô ta là người phụ nữ kiều diễm nhất đời.

    Cô ta sống khép kín, hát tại những buổi hòa nhạc, mỗi ngày đều ngồi xe ra ngoài lúc 5 giờ và trở về ăn tối lúc 7 giờ.

    Ít khi ra ngoài vào những giờ khác, trừ khi đi hát.

    Chỉ có một vị khách nam nhưng đến rất thường xuyên.

    Anh ta có nước da ngăm, đẹp trai và ăn mặc thời thượng.

    Ngày nào cũng đến ít nhất một lần, nhưng thường là hai lần.

    Anh ta là Godfrey Norton, luật sư bên Thánh Điện.

    Anh thấy lợi thế của một anh chàng được cánh trông ngựa coi là bạn thân tình rồi chứ?

    Họ đi đánh xe đưa anh ta từ trại ngựa Serpentine đi phải tới hàng chục lần và biết mọi điều về anh ta.

    Khi đã nghe đủ, tôi bắt đầu tha thẩn gần biệt thự Briony thêm lần nữa và cân nhắc kế hoạch hành động.

    Cái anh chàng Godfrey Norton này rõ ràng là có vai trò quan trọng trong vụ này.

    Anh ta là luật sư, điều này khá đáng ngại.

    Mối quan hệ của họ và mục đích của những lần tới thăm liên tục là gì?

    Cô ta là thân chủ, là bạn hay là người yêu của anh ta?

    Nếu là thân chủ, có lẽ cô ta giao tấm hình cho anh ta giữ.

    Nếu là bạn hoặc người yêu thì khả năng này ít xảy ra.

    Vấn đề này quyết định bước tiếp tôi có nên tiếp tục theo dõi biệt thự Briony hay chuyển sang tìm hiểu văn phòng làm việc ở khu Thánh Điện của anh chàng luật sư này.

    Tôi e là đang làm anh chán ngấy với mấy chi tiết nhỏ nhặt này, nhưng tôi cần cho anh thấy những rắc rối nho nhỏ của tôi để anh hiểu rõ tình hình."

    "Tôi đang chăm chú lắng nghe đây", tôi trả lời.

    "Tôi còn đang cân nhắc vấn đề thì một chiếc xe ngựa dừng lại ở biệt thự Briony và một quý ông nhảy xuống xe.

    Anh ta cực kì đẹp trai, da ngăm, mũi khoằm và để ria mép - đúng là người mà tôi đã nghe nói.

    Anh ta có vẻ rất vội, sau khi lớn tiếng bảo người xà ích đợi thì chạy vụt qua người hầu gái đang mở cửa với vẻ tự nhiên như ở nhà mình.

    Anh ta ở trong nhà độ nửa giờ, và qua các cửa sổ phòng khách, tôi có thể thoáng thấy anh ta đi tới đi lui, nói liến thoắng và vung tay.

    Còn về cô ta, tôi chẳng thấy gì cả.

    Một lúc sau, anh ta ra ngoài, trông còn vội hơn trước.

    Khi bước lên xe, anh ta móc chiếc đồng hồ vàng trong túi ra và chăm chú xem giờ.

    'Phóng hết tốc lực đi,' anh ta kêu to, 'trước tiên hãy đến Gross & Hankey ở phố Regent, rồi sau đó tới nhà thờ St.

    Monica ở đường Edgeware.

    Thưởng nửa guinea nếu anh đến đó trong vòng hai mươi phút!'

    Họ phóng ào đi, và khi tôi còn đang băn khoăn xem mình có nên đi theo họ không thì một chiếc xe ngựa bốn bánh mui gập xinh xắn phóng tới.

    Người xà ích mặc cái áo khoác mới cài cúc phân nửa, cà vạt thì vắt lên cổ, còn bộ yên ngựa cũng chưa đóng xong.

    Cỗ xe chưa kịp dừng thì cô Irene Adler đã chạy vụt ra từ cửa trước và chui vào xe.

    Chỉ kịp nhìn thoáng qua nhưng tôi cũng nhận thấy cô ta rất khả ái với khuôn mặt có thể khiến cánh đàn ông nguyện chết.

    'John, đến nhà thờ St.

    Monica,' cô ta kêu to.

    'Và tôi sẽ thưởng nửa sovereign nếu anh đến nơi trong hai mươi phút.'

    Đấy là một cơ hội không thể để lỡ, Watson ạ.

    Khi tôi còn đang phân vân không biết nên chạy theo hay bám vào sau xe thì một cỗ xe khác chạy qua.

    Người xà ích cứ nhìn đi nhìn lại ông khách ăn mặc xoàng xĩnh này, nhưng tôi đã nhảy lên xe trước khi anh ta kịp phản đối.

    'Nhà thờ St.

    Monica,' tôi nói, 'và sẽ thưởng cho anh nửa sovereign nếu anh kịp đến đó trong hai mươi phút.' Lúc đó là 12 giờ kém 20 và tôi cũng đoán được chuyện gì sắp đến.

    Người xà ích đánh xe như bay.

    Tôi không nghĩ là mình từng đi nhanh như thế, nhưng hai chiếc xe kia vẫn đến trước.

    Khi tôi đến nơi, hai chiếc xe ngựa cùng mấy con ngựa đang thở phì phì đã ở trước cửa.

    Tôi trả tiền cho người xà ích và vội vào nhà thờ.

    Bên trong chẳng có bóng ai ngoại trừ hai người kia và một tu sĩ mặc áo tế hình như đang trách móc họ.

    Cả ba đều đang đứng trước bàn thờ.

    Tôi đi thơ thẩn theo lối giữa các hàng ghế nguyện hệt như bất cứ gã nhàn rỗi nào tình cờ bước vào nhà thờ.

    Tôi ngạc nhiên khi đột nhiên cả ba người kia đều quay lại nhìn mình.

    Sau đó Godfrey Norton ba chân bốn cẳng chạy tới.

    'Tạ ơn Chúa,' anh ta kêu lên.

    'Có anh là được.

    Lại đây!

    Lại đây!'

    'Chuyện gì thế?' Tôi hỏi.

    'Lại đây nhanh nào anh bạn, chỉ còn có ba phút nữa thôi, kẻo không hợp pháp.'

    Tôi gần như bị kéo thẳng đến bàn thờ, và trước khi kịp nhận ra mình đang ở đâu, tôi đã lẩm bẩm nhắc lại những câu trả lời được người ta rỉ tai và xác nhận những chuyện mà tôi chẳng biết gì, nói chung là để hợp nhất Irene Adler chưa chồng với Godfrey Norton chưa vợ.

    Việc kết thúc chóng vánh và rồi anh chàng cảm ơn tôi từ phía này, cô nàng cảm ơn tôi từ bên kia, còn vị tu sĩ tươi cười với tôi phía trước.

    Đó là tình thế lố bịch nhất đời tôi và khiến tôi suýt phá lên cười.

    Có vẻ hôn lễ của họ có gì đó chưa đúng phép và vị tu sĩ không chịu làm lễ cưới mà không có người làm chứng.

    Và may nhờ có tôi xuất hiện mà chú rể không phải bổ nhào ra đường để tìm phù rể.

    Cô dâu biếu tôi một đồng sovereign và tôi định treo nó vào dây đeo đồng hồ để kỉ niệm dịp đặc biệt này."

    "Đây quả là một bước ngoặt bất ngờ", tôi nói, "rồi sao nữa?"

    "Tôi thấy rằng các kế hoạch của mình bị đe dọa nghiêm trọng.

    Có vẻ như là cả đôi sẽ ra đi ngay lập tức và tôi buộc phải nghĩ ra các biện pháp nhanh chóng và triệt để.

    Tuy vậy, họ lại chia tay nhau tại cửa nhà thờ, anh ta đi xe về khu Thánh Điện còn cô ta quay về nhà.

    Lúc chia tay, cô ta nói, 'Em sẽ ngồi xe ra công viên lúc 5 giờ như mọi khi'.

    Tôi không nghe được thêm gì nữa.

    Họ đi theo hai hướng và tôi cũng làm việc của mình."

    "Là gì?"

    "Vài miếng bít tết nguội và một cốc bia", anh trả lời và nhấn chuông.

    "Cả ngày nay tôi bận đến chẳng kịp ăn uống và tối nay sẽ còn bận hơn.

    Nhân tiện tôi muốn nhờ bác sĩ một tay."

    "Tôi rất sẵn lòng."

    "Anh không ngại làm việc phi pháp chứ?"

    "Hoàn toàn không."

    "Kể cả khi có thể bị bắt?"

    "Nếu vì một mục đích tốt."

    "Ồ, mục đích rất cao quý ấy chứ!"

    "Vậy anh cứ nói đi!"

    "Tôi biết chắc có thể tin cậy anh mà."

    "Nhưng anh sẽ cần gì ở tôi?"

    "Đợi bà Turner đem thức ăn vào rồi tôi sẽ giải thích rõ cho anh nghe.

    Giờ thì...", anh vừa nói vừa thèm thuồng nhìn món ăn đơn giản do bà chủ nhà vừa bưng lên, "tôi đành phải vừa ăn vừa bàn luận vì chẳng còn mấy thời gian.

    Đã gần đến 5 giờ rồi.

    Chúng ta phải có mặt ở hiện trường trong hai tiếng nữa.

    Cô Irene, hay đúng hơn là bà Irene, sẽ ngồi xe về nhà lúc 7 giờ.

    Chúng ta phải có mặt tại biệt thự Briony để gặp cô ta."

    "Rồi sao nữa?"

    "Sau đó là việc của tôi.

    Tôi đã sắp xếp đâu vào đấy rồi.

    Nhưng có điều này tôi nhất định phải nhắc anh.

    Anh không được can thiệp, dù có xảy ra chuyện gì đi nữa.

    Anh hiểu chứ?"

    "Vậy tôi giữ vai trò trung lập?"

    "Không làm bất cứ điều gì.

    Có thể sẽ có một vụ ẩu đả nho nhỏ.

    Đừng can dự vào.

    Nó sẽ kết thúc khi tôi được đưa vào trong nhà.

    Bốn hay năm phút sau, cửa sổ phòng khách sẽ mở.

    Anh phải đứng gần đó."

    "Được."

    "Anh phải quan sát tôi, vì tôi sẽ ở vị trí anh có thể nhìn thấy."

    "Đồng ý?"

    "Khi tôi giơ tay lên, anh sẽ ném vật mà tôi giao vào phòng và hô có cháy.

    Anh hiểu ý tôi chứ?"

    "Hoàn toàn rõ."

    "Vật này chẳng ghê gớm lắm", anh nói và lấy một cái ống dài trông như điếu xì gà từ trong túi ra.

    "Đây là thỏi pháo khói mà cánh thợ sửa ống nước thường dùng.

    Anh thảy thỏi pháo vào phòng.

    Khi anh hô hoán báo cháy, một số người khác sẽ hùa theo.

    Tới lúc đó, anh có thể bước đến cuối đường và mười phút sau tôi sẽ ra đấy gặp anh.

    Tôi hi vọng là mình trình bày rõ ràng rồi chứ?"

    "Tôi sẽ không can thiệp vào việc gì, chỉ lại gần cửa sổ để quan sát anh và đợi khi có dấu hiệu thì ném vật này, sau đó kêu cháy rồi đứng đợi anh ở góc đường."

    "Chính xác."

    "Vậy anh có thể tin tưởng hoàn toàn vào tôi."

    "Tuyệt quá.

    Có lẽ đã đến lúc tôi phải chuẩn bị nhập Rôle mới rồi."

    Anh biến mất vào phòng ngủ và trở lại sau vài phút trong vai một mục sư Thanh giáo chất phác, với cái mũ đen rộng vành, quần ống rộng lùng thùng, chiếc cà vạt trắng, nụ cười dễ mến và ánh nhìn độ lượng mà chỉ diễn viên John Hare mới sánh bằng.

    Holmes không đơn thuần chỉ thay quần áo.

    Cách thể hiện, cử chỉ và chính tâm hồn của anh dường như đều biến đổi theo từng vai diễn.

    Quả là sân khấu mất đi một diễn viên giỏi, khoa học mất một nhà tư duy tài ba khi anh trở thành chuyên gia về tội phạm.

    Chúng tôi rời phố Baker lúc 6 giờ 15 và đến đại lộ Serpentine sớm mười phút.

    Trời nhá nhem tối, phố vừa mới lên đèn khi chúng tôi thơ thẩn đi lại trước biệt thự Briony để chờ chủ nhân của ngôi nhà trở về.

    Nó giống hệt như tôi đã hình dung qua lời mô tả ngắn gọn của Holmes, nhưng nằm ở vị trí kém kín đáo hơn tôi nghĩ.

    So với một con phố nhỏ nằm trong khu vực yên tĩnh, nó lại cực kì nhộn nhịp.

    Dăm gã đàn ông ăn mặc xoàng xĩnh túm tụm hút thuốc và cười đùa tại một góc phố, một ông thợ mài kéo ngồi cạnh xe đồ nghề, hai anh vệ binh đang tán tỉnh một cô giữ trẻ, cùng vài anh chàng bảnh bao vừa ngậm điếu thuốc vừa đi đi lại lại.

    "Anh thấy đấy", Holmes nhận xét khi chúng tôi bước qua lại trước ngôi nhà, "đám cưới đã đơn giản hóa vấn đề.

    Giờ tấm hình trở thành con dao hai lưỡi.

    Nhiều khả năng là cô ta không muốn ông Godfrey Norton trông thấy tấm hình, cũng như thân chủ của chúng ta không thích nó lọt vào mắt nàng công chúa kia vậy.

    Vấn đề hiện giờ là, chúng ta sẽ tìm thấy tấm hình đó ở đâu."

    "Đúng vậy, ở đâu nhỉ?"

    "Cô ta khó có thể mang một tấm hình cỡ 10x16 theo người.

    Nó quá lớn nên không thể giấu trong váy áo của phụ nữ.

    Cô ta cũng biết nhà vua có thể chặn đường và soát người cô ta.

    Họ đã hai lần làm vậy rồi.

    Do đó, chúng ta có thể nhận định rằng cô ta không mang nó bên mình."

    "Vậy ở đâu?"

    "Ở chỗ ông chủ nhà băng hoặc luật sư của cô ta.

    Nhưng tôi không thiên về bất cứ khả năng nào.

    Bản chất của phụ nữ là hay giấu giếm và họ thích giữ bí mật cho riêng mình.

    Vì lí gì mà cô ta phải gửi gắm nó vào tay kẻ khác chứ?

    Cô ta có thể tin tưởng bản thân, nhưng không thể tin vào kẻ khác, nhất là những kẻ có thể sẽ giao nộp tấm hình khi phải chịu sức ép nào đó.

    Hơn nữa, hãy nhớ rằng cô ta định sẽ dùng đến tấm hình trong vài ngày tới.

    Nó phải ở nơi cô ta có thể chạm tới.

    Nó nhất định ở ngay trong nhà cô ta."

    "Nhưng trộm đã viếng nhà cô ta hai lần rồi."

    "Ôi dào!

    Chúng không biết cách tìm."

    "Vậy anh định tìm thế nào?"

    "Tôi không tìm."

    "Vậy thì...?"

    "Cô ta sẽ chỉ cho tôi."

    "Nhưng cô ta sẽ từ chối?"

    "Không đâu.

    Nhưng kìa, tôi nghe thấy tiếng bánh xe rồi.

    Đó là cỗ xe của cô ta.

    Nhớ chú ý thực hiện chính xác theo lời dặn của tôi nhé."

    Khi anh nói thì ánh đèn bên hông của một chiếc xe ngựa cũng xuất hiện ở khúc quanh của đại lộ.

    Một cỗ xe bốn bánh mui xếp xinh xắn, thanh nhã lọc cọc chạy tới trước cửa biệt thự Briony.

    Khi chiếc xe dừng lại, một trong những kẻ đang tha thẩn trong góc phố chạy nhào đến mở cửa, hi vọng kiếm được một đồng, nhưng hắn bị gã lang thang khác đang ào lại với cùng ý định, thúc cùi chỏ đến bắn văng ra.

    Thế là một vụ cãi cọ dữ dội nổ ra và càng thêm căng thẳng khi hai anh vệ binh xúm vào bênh vực cho một gã, còn ông thợ mài kéo hỗ trợ phe bên kia cũng nhiệt tình không kém.

    Một cú đấm tung ra, và chỉ trong chốc lát, người phụ nữ vừa bước xuống xe đã bị vây giữa đám đàn ông mặt mũi đỏ gay đang say sưa dùng nắm đấm và gậy gộc để giáng những đòn man rợ vào nhau.

    Holmes xông vào giữa đám đông để bảo vệ cô; nhưng vừa tới gần, anh đã kêu lên một tiếng và ngã gục xuống, máu chảy túa xuống mặt.

    Khi ấy, mấy gã vệ binh vội quay gót bỏ chạy về một hướng, đám lang thang chuồn theo hướng khác, còn nhóm người ăn mặc sạch sẽ hơn vốn chỉ đứng quan sát cuộc ẩu đả bèn xúm tới giúp người phụ nữ và chăm sóc kẻ bị thương.

    Cô Irene Adler, như tôi vẫn gọi, vội bước lên các bậc cấp, nhưng dừng lại ở bậc trên cùng.

    Đèn hành lang hắt tới, rọi chiếu gương mặt xinh đẹp đang quay lại nhìn cảnh tượng trên đường phố.

    "Quý ông tội nghiệp đó bị thương có nặng không?"

    Cô hỏi.

    "Ông ta chết rồi", vài người kêu thất thanh.

    "Không, không đúng, ông ta còn sống!"

    Một giọng khác hét lớn.

    "Nhưng ông ta sẽ chết trước khi đến bệnh viện mất!"

    "Ông ta thật dũng cảm", một người phụ nữ nói.

    "Nếu không có ông ta tới cứu, có lẽ bọn chúng đã cướp được ví tiền và đồng hồ của quý bà kia rồi.

    Bọn chúng là một băng cướp rất táo tợn.

    À, ông ta thở lại rồi!"

    "Không thể để ông ta nằm ngoài đường được.

    Chúng tôi có thể đưa ông ta vào nhà bà chứ?"

    "Tất nhiên rồi.

    Hãy đưa ông ta vào phòng khách.

    Ở đó có một cái trường kỉ.

    Mời đi lối này!"

    Anh được khiêng vào biệt thự Briony một cách nhẹ nhàng và cẩn thận rồi đặt nằm trong phòng khách, còn tôi quan sát diễn biến từ vị trí bên cửa sổ.

    Đèn đã rạng nhưng vì rèm chưa được kéo lên nên tôi chỉ lờ mờ thấy bóng dáng Holmes nằm trên trường kỉ.

    Tôi không biết anh có hối hận vì màn kịch anh đang diễn không, nhưng về phần tôi, lúc nhìn người phụ nữ xinh đẹp bị chúng tôi lừa gạt ân cần chăm sóc kẻ bị thương, tôi chưa bao giờ thấy xấu hổ tới vậy.

    Tuy nhiên, nếu tôi rút khỏi vai trò được anh tin tưởng giao phó, tôi sẽ là kẻ phản bội đáng khinh nhất đời.

    Tôi gắng cầm lòng và rút thỏi pháo khói từ bên dưới tấm áo bành tô của mình.

    Tôi nghĩ xét cho cùng, bọn tôi không hề hãm hại cô ta.

    Chúng tôi chỉ ngăn cô ta làm hại người khác.

    Holmes đã ngồi dậy trên trường kỉ và tôi thấy anh đang làm bộ bị ngộp.

    Một cô hầu gái vội chạy đi mở cửa sổ.

    Ngay lúc đó, tôi thấy anh giơ bàn tay lên cao và theo hiệu lệnh, tôi ném thỏi pháo khói vào phòng rồi la lớn: "Cháy!

    Cháy!"

    Chẳng mấy chốc, tiếng hô hoán đã lan từ miệng tôi sang toàn bộ đám đông đứng xem, từ nhóm người ăn mặc lịch sự đến những kẻ áo quần lôi thôi, từ mấy chàng trông ngựa tới tới dăm cô hầu gái.

    Tất cả đồng thanh la inh ỏi: "Cháy!

    Cháy!"

    Đám khói dày đặc mù mịt khắp phòng và tuôn ra ngoài qua cửa sổ để mở.

    Tôi thoáng thấy những bóng người vội vàng chạy tới và một giây sau, tiếng Holmes từ bên trong vang lên trấn an mọi người rằng đó chỉ là báo động nhầm.

    Len qua đám đông đang hò hét, tôi ra góc đường và mười phút sau, Holmes khoác tay tôi và chúng tôi cùng thoát ra khỏi cảnh huyên náo.

    Anh yên lặng rảo bước trong vài phút, cho đến khi chúng tôi quẹo xuống một con phố yên tĩnh dẫn tới đường Edgeware.

    "Bác sĩ làm rất tốt", anh nhận xét.

    "Mọi chuyện không thể nào tốt hơn.

    Tất cả đều ổn thỏa cả."

    "Anh lấy được tấm hình rồi sao?"

    "Tôi biết nó ở đâu."

    "Vậy anh làm thế nào để tìm ra chỗ đó?"

    "Như tôi đã nói, chính cô ta chỉ cho tôi."

    "Tôi vẫn chưa hiểu."

    "Tôi không định giữ kín bí mật", anh vừa nói vừa cười.

    "Vấn đề vô cùng đơn giản.

    Tất nhiên là anh cũng nhận thấy mọi người trên phố đều là người của tôi.

    Họ được trả tiền cho buổi tối nay."

    "Tôi cũng đoán vậy."

    "Thế rồi, khi vụ ẩu đả diễn ra, tôi đã có sẵn một ít thuốc đỏ trong lòng bàn tay.

    Tôi lao tới, ngã xuống, đập tay lên mặt và dựng nên một cảnh thảm thương.

    Một mánh cũ ấy mà."

    "Chuyện đó tôi cũng đoán được."

    "Rồi họ khiêng tôi vào.

    Cô ta buộc phải để tôi nằm trong nhà.

    Cô ta đâu còn cách nào khác chứ?

    Và họ đưa tôi vào phòng khách, chính là căn phòng tôi nghi ngờ.

    Tấm hình chỉ có thể nằm ở phòng ngủ hoặc phòng khách, và tôi phải xác định vị trí.

    Họ đặt tôi xuống trường kỉ, tôi ra hiệu bị ngộp, họ buộc phải mở cửa sổ, và thế là anh có cơ hội hành động."

    "Việc đó giúp được gì cho anh?"

    "Nhiều ấy chứ.

    Khi một người phụ nữ tưởng nhà bị cháy, bản năng tức thời sẽ bảo cô ta chạy tới nơi có thứ giá trị nhất với cô ta.

    Đó là một sự thôi thúc không cưỡng lại nổi và tôi đã hơn một lần lợi dụng điều này trong vụ Tai tiếng Darlington, và cả vụ Lâu đài Arnsworth nữa.

    Bà có chồng sẽ chạy tới ôm đứa con nhỏ, cô chưa chồng sẽ tìm đến hộp đựng nữ trang.

    Còn tôi thì thấy rõ cô nàng của chúng ta không để trong nhà vật gì quý hơn thứ chúng ta đang tìm kiếm.

    Cô ta sẽ chạy vội đến cứu nó.

    Vụ báo động cháy được thực hiện rất tốt.

    Khói và tiếng hô hoán đủ lớn để làm cho thần kinh thép cũng phải lung lay.

    Cô ta phản ứng rất tuyệt.

    Tấm hình được cất ở hốc tường nằm sau một tấm panô trượt ngay trên dây chuông bên phải.

    Chỉ trong chớp mắt, cô ta đã chạy đến đó và tôi thoáng thấy tấm hình khi cô ta kéo nó ra được nửa.

    Khi tôi kêu lên rằng đó chỉ là báo động nhầm, cô ta đặt nó trở lại, liếc qua thỏi pháo rồi chạy vội ra khỏi phòng.

    Kể từ đó, tôi không còn nhìn thấy cô ta nữa.

    Tôi ngồi dậy, và kiếm cớ chuồn ra khỏi nhà.

    Tôi còn đang tính xem có nên tìm cách chiếm ngay tấm hình không thì người xà ích đã bước vào và vì ông ta theo dõi tôi sít sao quá nên có vẻ chờ đợi sẽ an toàn hơn.

    Hấp tấp một chút là xôi hỏng bỏng không mất."

    "Giờ thì sao?"

    Tôi hỏi.

    "Cuộc truy tìm của chúng ta đã gần hoàn tất.

    Ngày mai tôi sẽ gặp nhà vua.

    Nếu muốn, anh có thể đi cùng chúng tôi.

    Chúng ta sẽ được đưa vào phòng khách để đợi cô chủ nhà, và có khả năng là khi cô ta xuất hiện, cả chúng ta lẫn tấm hình đều biến mất rồi.

    Có lẽ đức vua sẽ thỏa lòng nếu được tự tay lấy lại nó."

    "Vậy anh định gặp nhà vua lúc mấy giờ?"

    "8 giờ sáng mai.

    Cô ta hãy còn ngủ, như vậy chúng ta sẽ dễ hành động hơn.

    Ngoài ra, chúng ta phải làm nhanh vì biết đâu hôn lễ kia có thể làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời lẫn thói quen của cô ta.

    Tôi phải gửi điện cho nhà vua ngay thôi."

    Chúng tôi về đến phố Baker và dừng lại ở cửa.

    Khi anh đang lục túi tìm chìa khóa, bỗng có ai đó đi ngang qua và nói: "Chào ông Sherlock Holmes."

    Lúc đó có vài người đang đứng trên vỉa hè, nhưng hình như nói lời chào đến từ một chàng trai mảnh dẻ mặc áo bành tô vừa rảo bước qua.

    "Tôi từng nghe thấy giọng này rồi", Holmes chăm chăm nhìn con đường được chiếu sáng lờ mờ.

    "Không hiểu gã quái nào thế nhỉ?"

    III.

    Đêm đó tôi ngủ lại ở phố Baker và sáng hôm sau, khi chúng tôi đang dùng bánh mì với cà phê thì nhà vua xứ Bohemia chạy ào vào phòng.

    "Ông lấy lại tấm hình thật rồi sao?"

    Ông ta chộp lấy hai vai Sherlock Holmes, vừa háo hức nhìn anh vừa hét lớn.

    "Chưa đâu."

    "Nhưng ông đã có vài tia hi vọng?"

    "Tôi có hi vọng."

    "Vậy đi thôi.

    Ta đang nóng lòng muốn chết đây."

    "Chúng ta phải có một cỗ xe đã."

    "Không cần, chiếc xe độc mã của ta đang đợi."

    "Vấn đề đơn giản hơn rồi đấy."

    Chúng tôi đi xuống và một lần nữa trở lại biệt thự Briony.

    "Cô Irene Adler thành hôn rồi", Holmes thông báo.

    "Thành hôn ư!

    Khi nào?"

    "Mới hôm qua."

    "Nhưng với ai?"

    "Một luật sự người Anh tên là Norton."

    "Nhưng cô ta đâu thể nào yêu hắn."

    "Tôi lại hi vọng là có."

    "Tại sao?"

    "Vì nó sẽ tránh cho bệ hạ mọi rầy rà sau này.

    Nếu một người phụ nữ yêu chồng, cô ta sẽ không còn yêu bệ hạ nữa.

    Nếu cô ta không yêu bệ hạ, vậy cô ta sẽ chẳng còn lí do gì để tiếp tục can thiệp vào hôn sự của ngài."

    "Đúng.

    Nhưng mà...

    Giá mà ta có thể kết hôn cùng cô ta.

    Cô ta mà là hoàng hậu thì phải biết!"

    Ông ta im lặng ủ rũ cho tới khi chúng tôi dừng lại tại đại lộ Serpentine.

    Cửa biệt thự Briony để mở và một phụ nữ lớn tuổi đứng tại bậc cấp.

    Bà ta mỉa mai nhìn khi chúng tôi bước ra khỏi cỗ xe độc mã.

    "Ông là Sherlock Holmes?"

    Bà ta hỏi.

    "Vâng chính tôi", người bạn đồng hành của tôi trả lời.

    Anh chăm chú nhìn bà ta với vẻ dò hỏi, hay đúng hơn là sửng sốt.

    "Phải rồi!

    Cô chủ của tôi đã dặn lại rằng ông chắc chắn sẽ đến.

    Sáng nay, cô chủ đã cùng chồng mình lên chuyến tàu lúc 5 giờ 15 đi từ ga Charing Cross sang Âu châu lục địa."

    "Sao!"

    Sherlock Holmes loạng choạng lùi lại mấy bước, mặt mũi tái nhợt vì thất vọng pha lẫn ngạc nhiên.

    "Ý bà là cô ta đã rời nước Anh?"

    "Và không bao giờ trở lại."

    "Thế còn đống giấy tờ thì sao?"

    Nhà vua khàn giọng hỏi.

    "Ta sẽ không bao giờ có lại chúng nữa."

    "Chúng ta sẽ xem."

    Holmes chen qua bà kia và chạy vụt vào phòng khách, nhà vua và tôi theo sát gót.

    Đồ đạc tung tóe khắp nơi, kệ bị dỡ xuống và ngăn kéo thì mở tung như thể cô chủ nhà đã vội lục lọi trước khi bỏ đi.

    Holmes lao nhanh về phía sợi dây chuông, kéo mạnh cánh panô trượt nhỏ, thọc tay vào trong rồi lấy ra một tấm hình cùng một phong bì thư.

    Trong tấm hình là cô Irene Adler mặc váy dạ hội, còn phong thư đề: "Gửi ngài Sherlock Holmes".

    Anh bạn tôi mở phong bì và cả ba chúng tôi cùng đọc lá thư.

    Nó được viết lúc nửa đêm hôm qua với nội dung như sau:

    ÔNG SHERLOCK HOLMES THÂN MẾN!

    Ông hành động rất khéo léo, ông đã lừa được tôi.

    Tôi không hề nghi ngờ gì trước khi xảy ra vụ báo động cháy.

    Nhưng sau đó, lúc tôi phát hiện ra mình đã tự để lộ chân tướng, tôi bắt đầu suy ngẫm.

    Tôi được nghe cảnh báo về ông từ nhiều tháng trước.

    Người ta nói rằng nếu nhà vua thuê một thám tử thì người đó hẳn là ông.

    Và tôi cũng có địa chỉ của ông.

    Vậy mà ông vẫn khiến tôi phải để lộ ra điều ông muốn biết.

    Thế nhưng tôi vẫn khó lòng mà nghĩ xấu về ông mục sư già tử tế và dễ mến ngay cả khi đã bắt đầu nghi ngờ.

    Nhưng ông biết đấy, tôi được tôi luyện trong nghề diễn.

    Giả trai không phải việc xa lạ với tôi.

    Tôi vẫn thường dùng cách này để được sống thoải mái.

    Tôi đã nhờ John, người xà ích, canh chừng ông khi tôi lên lầu, mặc bộ quần áo dạo phố như tôi vẫn gọi, rồi chạy xuống vừa kịp lúc ông vừa đi khỏi.

    Thế rồi, tôi đi theo đến tận cửa nhà ông và nhờ đó biết chắc rằng mình chính là đối tượng theo dõi của thám tử Sherlock Holmes trứ danh.

    Sau đó, tôi đã hơi bất cẩn khi lên tiếng chào ông rồi tới khu Thánh Điện gặp chồng mình.

    Cả hai chúng tôi đều cho rằng một khi bị đối thủ ghê gớm như ông theo đuổi, tốt nhất chúng tôi nên ra đi, vì thế khi quay lại vào sáng mai, ông sẽ không còn thấy tôi nữa.

    Về phần tấm hình, thân chủ của ông có thể yên tâm.

    Tôi đang yêu và được yêu bởi một người tốt hơn ông ta.

    Nhà vua có thể làm điều gì ông ta muốn và cái người bị ông ta đối xử vô cùng bất công này sẽ không hề ngăn trở.

    Tôi giữ tấm hình chỉ để bảo vệ mình, và để có một món vũ khí tự vệ trước bất kì biện pháp nào mà ông ta có thể thi hành trong tương lai.

    Tôi để lại một tấm hình ông ta có thể muốn giữ.

    Xin chân thành chào ông,

    IRENE NORTON, nhũ danh ADLER

    "Thật là một phụ nữ tuyệt vời!

    Ôi, thật là phi thường!"

    Nhà vua xứ Bohemia kêu lên khi cả ba chúng tôi đọc xong bức thư.

    "Ta chẳng đã nói với ông là cô ta rất lanh lợi và cương quyết sao?

    Chẳng phải cô ta được sinh ra để làm một hoàng hậu tuyệt vời sao?

    Thật đáng tiếc khi cô ta không cùng đẳng cấp với ta."

    "Theo những gì tôi quan sát từ người phụ nữ này, có vẻ như cô ta ở một đẳng cấp rất khác bệ hạ thật", Holmes lạnh nhạt đáp.

    "Tôi rất tiếc vì không thể kết thúc nhiệm vụ thành công hơn."

    "Ngược lại đấy, quý ông thân mến ạ", nhà vua kêu to, "không gì có thể thành công hơn.

    Ta biết lời nói của cô ta chắc như đinh đóng cột.

    Giờ đây, tấm hình đã an toàn như thể nó đã bị thiêu."

    "Tôi rất mừng khi nghe bệ hạ nói thế."

    "Ta mang ơn ông hết sức.

    Xin vui lòng cho biết ta có thể đền ơn ông bằng cách nào.

    Chiếc nhẫn này nhé?"

    Ông ta tháo chiếc nhẫn hình con rắn làm bằng ngọc lục bảo ra rồi đặt vào lòng bàn tay.

    "Bệ hạ có một thứ mà tôi đánh giá cao hơn", Holmes nói.

    "Mời ông cứ nói."

    "Tấm hình này đây!"

    Nhà vua kinh ngạc nhìn chằm chằm vào Holmes.

    "Tấm hình của Irene Adler sao?"

    Ông ta kêu lên.

    "Dĩ nhiên rồi, nếu ông thích."

    "Xin cảm ơn bệ hạ.

    Vì chẳng còn gì để làm trong vụ này, tôi xin trân trọng kính chúc bệ hạ một buổi sáng tốt lành."

    Anh cúi chào rồi quay lưng đi, không buồn để ý đến bàn tay nhà vua đang chìa ra, và lên đường về nhà cùng tôi.

    Và đây là câu chuyện về vụ tai tiếng vô cùng nghiêm trọng, đe dọa sẽ ảnh hưởng đến vương quốc Bohemia và kế hoạch tuyệt vời nhất của Holmes bị tài trí của một phụ nữ đánh bại.

    Trước đây, anh thường chế nhạo trí thông minh của phái nữ, nhưng dạo gần đây tôi không còn nghe anh nói thế nữa.

    Và mỗi khi nói tới Irene Adler, hoặc đề cập tới tấm hình của cô, anh luôn dùng danh hiệu đầy kính trọng: Người phụ nữ ấy.
     
    Sherlock Holmes Toàn Tập
    HỘI TÓC ĐỎ (The Red Headed League, 1891)


    Vào một ngày mùa thu năm ngoái, tôi đến gặp Holmes theo yêu cầu của anh và thấy anh đang say sưa trò chuyện với một người đàn ông lớn tuổi, đậm người, có bộ mặt hồng hào và mái tóc đỏ như lửa.

    Tôi xin lỗi về sự đường đột của mình và sắp bước ra thì bất ngờ Holmes kéo tôi lại và đóng cánh cửa sau lưng tôi.

    "Anh đến thật đúng lúc, Watson thân mến", anh nói với vẻ chân thành.

    "Tôi ngại là anh đang bận."

    "Đúng vậy, tôi đang rất bận là khác."

    "Vậy tôi có thể đợi ở phòng kế bên."

    "Không cần đâu.

    Thưa ông Wilson, người này là cộng sự và cũng là trợ thủ của tôi trong nhiều vụ án thành công nhất, và tôi tin anh ta cũng sẽ rất hữu ích trong vụ việc của ông."

    Người đàn ông hơi nhổm người dậy khỏi chiếc ghế, khẽ cúi đầu chào với vẻ dò hỏi thoáng xuất hiện qua cái liếc từ đôi mắt ti hí giữa những bọng mỡ.

    "Mời anh ngồi", Holmes nói đoạn buông người trở lại chiếc ghế bành của mình và chụm các đầu ngón tay vào nhau, một thói quen cố hữu mỗi khi anh đang suy xét điều gì.

    "Watson thân mến, tôi biết anh và tôi có chung niềm ham thích tất cả những gì kì quái, những gì trái ngược với các quy tắc và thói quen buồn tẻ của cuộc sống hằng ngày.

    Sự hứng thú ấy tỏ rõ qua lòng nhiệt tình đã thúc đẩy anh ghi chép lại và phần nào thêm mắm dặm muối cho câu chuyện về những cuộc phiêu lưu nho nhỏ của tôi; mong anh lượng thứ cho những điều tôi vừa nói."

    "Đối với tôi thì những vụ án của anh quả thật hấp dẫn", tôi nhận xét.

    "Anh còn nhớ không, ngay trước khi chúng ta xem xét vụ việc cực kì đơn giản mà cô Mary Sutherland kể lại, tôi đã lưu ý rằng muốn gặp những hiện tượng lạ lùng và những sự kết hợp bất thường thì chúng ta phải tìm trong đời thực vốn luôn chứa đựng nhiều hành động mạo hiểm vượt xa cả trí tưởng tượng."

    "Một nhận định mà tôi có quyền nghi ngờ."

    "Anh có quyền nghi ngờ, nhưng dù sao thì anh cũng phải đồng ý với quan điểm của tôi, vì nếu không thì tôi sẽ cho anh thấy lần lượt từng bằng chứng một cho đến khi nào lí lẽ của anh bị chúng đè bẹp và phải thừa nhận rằng tôi đúng, ông Jabez Wilson đây đã có lòng tốt ghé thăm tôi sáng nay và kể một câu chuyện có vẻ là kì quặc nhất mà tôi từng được nghe.

    Anh đã từng nghe tôi nói rằng những sự việc lạ lùng và độc đáo nhất lại thường không dính đến những vụ án hình sự lớn mà là những vụ nhỏ đến nỗi đôi khi ta ngờ như còn chưa cấu thành tội phạm.

    Theo những gì tôi đã nghe thì thật khó nói vụ này có phải là một vụ án hình sự hay không, nhưng diễn biến các sự việc thì chắc chắn là thuộc loại lạ thường nhất mà tôi đã được nghe.

    Thưa ông Wilson, có lẽ xin ông vui lòng kể lại câu chuyện của mình.

    Tôi yêu cầu như thế không phải chỉ vì bạn tôi, bác sĩ Watson chưa được nghe câu chuyện từ đầu mà còn vì bản chất ki lạ của nó khiến cho tôi nóng lòng muốn được nghe ông kể lại từng chi tiết.

    Theo thói quen, khi tôi nghe kể về một số dấu hiệu nhỏ nhặt trong diễn biến sự việc, tôi có thể tự phán đoán qua hàng ngàn vụ tương tự trong trí nhớ.

    Theo những gì tôi biết tới giờ, tôi buộc phải thú nhận rằng các sự kiện của vụ này là độc nhất vô nhị."

    Vị thân chủ béo tốt ưỡn ngực với vẻ hơi tự hào và rút từ túi áo choàng một tờ báo lem luốc và nhàu nhĩ.

    Trong lúc ông ta nhìn liếc xuống cột rao vặt, đầu chúi về phía trước và trải tờ báo trên đầu gối, tôi chăm chú nhìn và cố nhận định các đặc điểm toát ra từ cách ăn mặc hoặc ngoại hình của ông ta theo cách của Holmes.

    Tuy nhiên, tôi cũng không thu được gì nhiều cho lắm qua quan sát của mình.

    Vị khách của chúng tôi có đủ mọi đặc điểm của một ông chủ cửa tiệm bình thường ở Anh quốc: béo phì, phô trương và chậm chạp, ông ta mặc quần màu xám sọc carô đen trắng rộng lùng thùng, một cái áo choàng dài tới gối màu đen không sạch sẽ gì mấy, không cài khuy ở phía trước, áo gilet màu xám xịt với sợi dây đeo đồng hồ kiểu Albert bằng đồng thau nặng trịch có xâu một mảnh kim loại đục lỗ hình vuông như một vật trang trí.

    Một cái mũ chóp cao đã sờn và một áo khoác ngoài màu nâu bạc phếch với cái cổ nhung nhăn nheo nằm vắt trên chiếc ghế bên cạnh.

    Nhìn chung, theo cách nhìn của tôi, dường như chẳng có gì đáng chú ý ở con người đó ngoại trừ mái tóc đỏ rực của ông ta cùng vẻ mặt hết sức thất vọng và bất mãn.

    Đôi mắt lanh lợi của Holmes bắt gặp sự chăm chú của tôi, anh lắc đầu cười khi nhìn thấy ánh mắt dò hỏi của tôi.

    "Ngoài những bằng chứng rõ ràng là ông ta đã từng lao động chân tay một thời gian, có dùng thuốc lá bột, là thành viên của hội Tam Điểm, từng sống ở Trung Hoa và gần đây có viết lách khá nhiều, thì tôi không còn suy luận thêm được gì nữa."

    Ông Jabez Wilson giật nẩy mình trên ghế, ngón tay trỏ vẫn đặt trên tờ báo nhưng hai mắt thì nhìn Holmes.

    "Lạy Chúa tôi, bằng cách nào mà ông biết được tất cả những chuyện ấy hả ông Holmes?"

    Ông ta hỏi.

    "Chẳng hạn như, làm thế nào mà ông biết được tôi đã từng lao động chân tay?

    Một sự thật không thể chối cãi, công việc đầu tiên của tôi là thợ đóng tàu."

    "Hai bàn tay của ông, thưa ông.

    Bàn tay phải của ông hơi lớn hơn bàn tay trái.

    Ông đã từng làm việc nhiều bằng bàn tay phải do vậy các cơ của bàn tay phải phát triển nhiều hơn."

    "Được, thế còn chuyện hút thuốc lá bột, và chuyện hội Tam Điểm nữa?"

    "Tôi không có ý xúc phạm đến trí thông minh của ông khi tiết lộ cách suy luận của mình, đặc biệt là vì bất kể những quy định nghiêm ngặt của hội, ông vẫn đeo ghim cài cà vạt mang biểu tượng compa và thước góc."

    "À, dĩ nhiên rồi, tôi quên đi mất.

    Nhưng còn chuyện viết lách?"

    "Tôi còn biết suy ra điều gì khác từ cổ tay áo bên phải bóng loáng khoảng năm inch còn bên tay trái thì có một mảng mòn nhẵn gần phía khuỷu tay chỗ ông tì lên bàn?"

    "Hay thật, còn chuyện sống ở Trung Hoa?"

    "Hình xăm con cá ngay phía trên cổ tay phải chỉ có thể xăm tại Trung Hoa.

    Tôi đã tiến hành một nghiên cứu nhỏ về các hình xăm và thậm chí còn đóng góp một bài viết về đề tài này nữa.

    Bí quyết xăm màu hồng nhạt cho các vảy cá này là đặc trưng của Trung Hoa.

    Thêm vào đó, khi tôi nhìn thấy một đồng xu Trung Hoa treo ở dây đeo đồng hồ của ông thì vấn đề lại càng đơn giản hơn."

    Ông Jabez Wilson cười rũ rượi.

    "Ôi chao!"

    Ông ta nói.

    "Lúc đầu tôi cứ tưởng là ông tài giỏi lắm, nhưng giờ thì tôi thấy rằng cũng chẳng có gì đặc biệt."

    "Watson này, tôi bắt đầu cho rằng", Holmes nói, "tôi đã mắc sai lầm khi giải thích.

    Omne ignotum pro magnifico.

    Anh biết đấy, và danh tiếng khiêm tốn của tôi sẽ bị sụp đổ hoàn toàn nếu tôi quá thật thà.

    Ông đã tìm ra mẩu rao vặt chưa, ông Wilson?"

    "Vâng, tôi đã tìm thấy nó", ông ta trả lời, ngón tay to mập hồng hào đặt ở phân nửa cột báo.

    "Nó đây.

    Đây là nguồn cơn của mọi câu chuyện.

    Xin ông tự đọc đi."

    Tôi đón lấy tờ báo từ ông ta và đọc mẩu rao vặt:

    GỬI HỘI TÓC ĐỎ

    Theo chúc thư của ông Ezekiah Hopkins, hạt Lebanon, Pennsylvania, Hoa Kì, hiện còn trống một vị trí dành cho thành viên của hội với mức lương là 4 bảng Anh mỗi tuần, và chỉ yêu cầu làm một vài việc vặt cho có.

    Mọi nam giới tóc đỏ có thể chất và tinh thần khỏe mạnh, trên hai mươi mốt tuổi đều đủ điều kiện ứng tuyển.

    Đề nghị các ứng viên đích thân đến dự tuyển vào thứ hai, lúc 11 giờ, gặp ông Duncan Ross tại các văn phòng của hội, số 7 hẻm Pope's Court, phố Fleet.

    "Chuyện kì quái này có ý gì cơ chứ?"

    Tôi buột miệng kêu lên sau khi đã đọc hai lần cái thông báo lạ đời này.

    Holmes cười tủm tỉm và ngọ nguậy người trong ghế, như thường lệ mỗi khi phấn chấn.

    "Hơi khác thường, có phải không?"

    Anh nói.

    "Và giờ thì, thưa ông Wilson, xin ông hãy nói lại từ đầu và kể cho chúng tôi biết tất cả về ông, gia đình ông và về tác động của mẩu rao vặt này đối với tài sản của ông.

    Trước hết anh hãy ghi lại tên của tờ báo và ngày phát hành, bác sĩ ạ."

    "Đó là tờ Morning Chronicle ra ngày 27 tháng 4 năm 1890.

    Chỉ mới hai tháng trước."

    "Rất tốt.

    Nào, xin mời ông Wilson?"

    "Đấy, như tôi vừa kể cho ông nghe, ông Sherlock Holmes", ông Jabez Wilson nói trong khi lau trán.

    "Tôi có một hiệu cầm đồ nhỏ ở quảng trường Coburg, gần khu City.

    Việc làm ăn chẳng to tát gì cho lắm và mấy năm nay nó chỉ giúp tôi vừa đủ sống.

    Trước đây tôi còn có thể thuê hai người phụ tá nhưng giờ chỉ còn có một; và tôi cũng không có đủ công việc để có tiền trả lương cho anh ta nhưng anh ta lại sẵn sàng chỉ nhận phân nửa lương để học nghề."

    "Anh chàng trẻ tuổi nhiệt tình ấy tên gì?"

    Sherlock Holmes hỏi.

    "Tên anh ta là Vincent Spaulding, và anh ta không còn trẻ cho lắm.

    Cũng khó mà xác định được tuổi của anh ta.

    Đó quả là một người phụ tá rất tháo vát, ông Holmes ạ, tôi biết khả năng của anh ta còn hơn thế và anh ta có thể kiếm được gấp đôi số tiền mà tôi có thể trả.

    Nhưng xét cho cùng thì nếu anh ta đã hài lòng thì tại sao tôi lại phải nhồi cái ý nghĩ ấy vào đầu anh ta chứ?"

    "Đúng vậy, cần gì phải thế?

    Có vẻ như ông là người vô cùng may mắn khi có được một employé chấp nhận mức lương dưới giá thị trường.

    Khó mà tìm được nhân công như vậy vào thời buổi này.

    Theo tôi thấy thì người phụ tá của ông không đặc biệt bằng mẩu rao vặt."

    "Ồ, anh ta cũng có khiếm khuyết đấy", ông Wilson nói.

    "Chẳng có ai say mê nhiếp ảnh như anh ta.

    Lẽ ra nên trau dồi trí tuệ thì anh ta lại cứ bấm máy ảnh tanh tách rồi chui xuống hầm như một con thỏ lẩn vào hang để rửa ảnh.

    Đó là khuyết điểm lớn nhất của anh ta, nhưng nhìn chung thì anh ta là một nhân viên tốt.

    Không có thói tật nào cả."

    "Tôi đoán là anh ta hẳn vẫn còn làm việc với ông?"

    "Vâng, đúng vậy.

    Anh ta và một cô bé mười bốn tuổi làm công việc nấu nướng và dọn dẹp nhà cửa - chỉ có bấy nhiêu người trong nhà vì tôi góa vợ và gia đình cũng không còn ai khác.

    Chúng tôi sống rất bình lặng, thưa ông, cả ba người; chúng tôi không làm gì ngoài việc giữ một mái nhà che nắng mưa và đủ tiền để thanh toán các khoản chi tiêu.

    Việc đầu tiên làm xáo trộn cuộc sống của chúng tôi là mẩu rao vặt đó.

    Cũng vào đúng ngày này cách đây tám tuần, Spaulding đi vào văn phòng, tay cầm chính tờ báo này và nói: 'Ông Wilson này, tôi ước giá mà Chúa tạo ra tôi là một người tóc đỏ.'

    'Tại sao?' Tôi hỏi.

    'Còn sao nữa', anh ta đáp, 'đây là một chỗ trống ở hội Tóc Đỏ.

    Nó đáng giá một gia tài nho nhỏ đối với bất cứ ai được chọn và tôi cho là không có bao nhiêu người tóc đỏ để ngồi vào vị trí đó, vì thế nên mấy người được ủy quyền thực hiện chúc thư đang bí không biết làm gì với số tiền.

    Giá mà tóc tôi đổi màu được thì cái cũi xinh xắn đó sẽ dành để tôi bước vào.'

    'Sao, chuyện gì thế?' Tôi hỏi.

    Như ông thấy, thưa ông Holmes, tôi là một người chỉ quen ru rú ở nhà và vì công việc của tôi cứ tự nó tìm đến chứ tôi không phải ra ngoài để tìm kiếm, có khi suốt mấy tuần liền tôi chẳng hề bước chân ra khỏi cửa.

    Vì vậy nên tôi không biết rõ lắm những gì đang xảy ra ở bên ngoài và tôi rất vui mỗi khi được thông báo tin tức mới.

    'Đã bao giờ ông nghe nói về hội Tóc Đỏ chưa?' Anh ta hỏi, mắt mở to.

    'Chưa hề.'

    'Sao lại thế, tôi ngạc nhiên đấy, vì ông đủ tư cách để nộp đơn vào một trong những chỗ làm đó.'

    'Lương trả cho những công việc đó là bao nhiêu?' Tôi hỏi.

    'Ồ, chỉ hai trăm bảng một năm thôi, nhưng công việc thì nhẹ nhàng và lại không ảnh hưởng nhiều đến những việc làm khác của mình.'

    Thế đấy, các ông có thể dễ dàng hiểu được là tôi đã vểnh tai lên khi nghe kể về điều đó, vì mấy năm gần đây công việc của tôi không được tốt cho lắm, và thêm được hai trăm bảng thì tốt biết chừng nào.

    'Anh hãy kể hết cho tôi nghe về công việc đó đi', tôi nói.

    'Thế này', anh ta nói lúc đưa cho tôi tờ rao vặt, 'ông có thể thấy rõ là Hội đang tuyển nhân viên và có cả địa chỉ liên lạc để hỏi thông tin cụ thể.

    Theo như tôi biết thì hội này được sáng lập bởi một triệu phú người Mỹ, ông Ezekiah Hopkins, một người có tính tình rất lập dị.

    Bản thân ông ta cũng có tóc đỏ và ông ta có cảm tình với tất cả những người tóc đỏ; vì thế trước khi chết, ông ta đã để lại khối gia sản khổng lồ cho những người được ủy quyền với chỉ thị là sử dụng tiền lời vào việc tạo ra các việc làm nhàn nhã cho những người tóc đỏ.

    Theo những gì tôi nghe được thì đó là một món tiền lương hậu hĩnh mà ông không phải làm việc nhiều.'

    'Nhưng', tôi nói, 'sẽ có đến hàng triệu người tóc đỏ muốn nộp đơn.'

    'Không nhiều như ông nghĩ đâu', anh ta trả lời.

    'Ông sẽ thấy thật ra thì công việc này dành riêng cho những người sống ở London và chỉ những người trưởng thành thôi, ông người Mỹ đấy vốn khởi nghiệp ở London khi còn trẻ và muốn thực hiện một nghĩa cử tốt đẹp cho thành phố thân quen này.

    Thêm nữa, tôi còn nghe nói là những người có tóc màu đỏ nhạt, đỏ sậm, hay bất cứ màu đỏ nào khác cũng không được xét mà phải là màu đỏ sáng, thật sự rực rỡ như màu lửa kia.

    Giờ thì, nếu ông muốn nộp đơn, ông Wilson ạ, ông chỉ cần đến đó; nhưng chắc là cũng không đáng để ông phải đi chỉ vì vài trăm bảng đâu nhỉ.'

    Đấy, đúng như các ông thấy, màu tóc của tôi quả là sáng và đỏ rực, vì thế nếu quả thật có một cuộc thi như thế thì tôi cũng có cơ may như bất cứ ai khác.

    Vincent Spaulding dường như có vẻ hiểu rõ về vấn đề này nên tôi nghĩ có thể là anh ta sẽ giúp đỡ được cho mình, thế là tôi bảo anh ta đóng cửa tiệm ngày hôm đó và đi ngay với tôi.

    Anh ta cũng muốn nghỉ một ngày, thế là chúng tôi ngừng công việc lại và đi đến địa chỉ được ghi trong mẩu rao vặt.

    Tôi chẳng bao giờ mong muốn nhìn lại quang cảnh đó nữa, ông Holmes ạ.

    Từ khắp các phương bắc, nam, đông và tây, người nào có sắc đỏ trên mái tóc đều lặn lội lên thành phố do tác động của mẩu rao vặt.

    Phố Fleet chật cứng những người tóc đỏ và hẻm Pope's Court thì giống như một chiếc xe đẩy chở cam của người bán hoa quả.

    Tôi không hề nghĩ rằng trong cả nước lại có nhiều người tóc đỏ như số người đã tập trung tại đây chỉ vì mẩu rao vặt kia.

    Tóc của họ có đủ sắc độ - vàng rơm, vàng chanh, cam, đỏ ngói, đỏ lông chó xù Ireland, đỏ bầm, đỏ đất sét; thế nhưng, đúng như lời của Spaulding, quả là không có nhiều người thực sự có được màu đỏ lửa chói lọi.

    Khi trông thấy số lượng người đông đảo đang đứng đợi, tôi đã thất vọng muốn bỏ cuộc, nhưng Spaulding không chịu.

    Tôi không thể tưởng nổi anh ta làm thế nào mà xô đẩy, kéo và chen lấn cho đến khi lôi được tôi qua đám đông, đến được các bậc thềm dẫn vào văn phòng.

    Trên cầu thang đã có hai hàng người, một số thì đi lên với niềm hi vọng, còn một số khác thì chán nản quay trở ra; nhưng chúng tôi vẫn lấy hết sức chen vào và chẳng mấy chốc đã có mặt trong văn phòng."

    "Kinh nghiệm của ông thật là thú vị", Holmes nhận xét khi thân chủ của anh dừng lời và hít một nhúm thuốc lá bột to tướng để nhớ lại.

    "Xin hãy tiếp tục câu chuyện rất hấp dẫn của ông."

    "Trong văn phòng không có gì ngoại trừ hai chiếc ghế gỗ và một cái bàn bằng gỗ thông, ngồi phía sau bàn là một người đàn ông thấp lùn với mái tóc thậm chí còn đỏ hơn cả màu tóc của tôi.

    Ông ta nói vài lời với từng ứng cử viên khi bước lại gần họ, và luôn cố bới ra vài nhược điểm để đánh trượt.

    Xét cho cùng thì được ngồi vào vị trí này cũng chẳng dễ dàng gì.

    Tuy nhiên, khi đến lượt chúng tôi thì cái ông nhỏ con lại có vẻ thích tôi hơn tất cả các ứng cử viên khác, và ông ta đóng cửa lại khi chúng tôi bước vào để có thể nói chuyện riêng.

    'Đây là ông Jabez Wilson', người phụ tá của tôi giới thiệu, 'và ông ta muốn dự tuyển vào vị trí còn trống của hội.'

    'Và ông ta thật là thích hợp với vị trí ấy', người đó trả lời.

    'Ông ta đáp ứng được mọi yêu cầu.

    Tôi không tài nào nhớ được là mình từng nhìn thấy một mái tóc nào hoàn hảo đến thế.' Ông ta lùi ra sau một bước, nghiêng đầu sang một bên và nhìn chăm chăm vào tóc tôi cho đến khi tôi phát ngượng.

    Rồi đột nhiên ông ta lao tới, siết chặt tay tôi và nồng nhiệt chúc mừng tôi đã trúng tuyển.

    'Nếu mà còn phân vân chưa quyết thì quả thật là không công bằng', ông ta nói.

    'Tuy nhiên, chắc là ông sẽ thông cảm nếu tôi tiến hành một biện pháp đề phòng'.

    Vừa nói xong ông ta đã túm lấy tóc tôi bằng cả hai tay và giật mạnh cho đến khi tôi phải kêu lên vì đau.

    'Ông đã ứa nước mắt', ông ta nhận xét khi buông tôi ra.

    'Tôi đã thấy mọi thứ đều là thật nhưng chúng tôi phải cẩn thận vì từng bị lừa hai lần, một lần là tóc giả và lần kia thì là tóc nhuộm.

    Tôi có thể kể ông nghe hàng đống chuyện về sáp phủ dây giày mà sau khi nghe xong ông sẽ thấy chán ngán bản tính của con người'.

    Ông ta bước lại gần cửa sổ, thò đầu ra và lấy hết sức hét to để thông báo là đã tìm được ứng viên thích hợp cho công việc.

    Tiếng phàn nàn thất vọng vang lên từ bên dưới và đám đông lũ lượt bỏ đi theo đủ mọi hướng cho đến khi chẳng còn nhìn thấy người tóc đỏ nào khác ngoại trừ tôi và ông quản lí.

    'Tên tôi là', ông ta nói, 'Duncan Ross và tôi là một trong những người được hưởng tiền trợ cấp từ quỹ do nhà hảo tâm của chúng ta để lại.

    Ông đã kết hôn rồi chứ, thưa ông Wilson?

    Ông có gia đình chứ?'

    Tôi trả lời là tôi không có.

    Mặt ông ta sầm xuống ngay tức thì.

    'Than ôi!' Ông ta nói với vẻ nghiêm trọng, 'đây là một vấn đề rất quan trọng!

    Tôi rất tiếc khi nghe ông nói thế.

    Tiền quỹ tất nhiên là để dành cho việc truyền bá, mở rộng và duy trì hội Tóc Đỏ.

    Thật vô cùng đáng tiếc là ông lại sống độc thân.'

    Nghe đến đó, mặt tôi nghệt ra, ông Holmes ạ, vì tôi nghĩ rằng rốt cuộc thì mình lại vuột mất công việc này; nhưng sau khi suy nghĩ lại trong vài phút, ông ta lại nói là việc này cũng ổn thỏa.

    'Nếu là một trường hợp khác', ông ta nói, 'thì chắc chắn chúng tôi phải từ chối, nhưng chúng tôi phải chiếu cố đến một người có mái tóc quá đặc biệt như ông.

    Khi nào thì ông có thể bắt đầu công việc mới?'

    'Vâng, cũng có đôi chút khó xử vì tôi đã có một công việc kinh doanh', tôi đáp.

    'Ồ, ông không phải lo về việc ấy đâu, ông Wilson ạ!' Vincent Spaulding xen vào.

    'Tôi có thể coi sóc cửa tiệm cho ông.'

    'Giờ giấc làm việc ra sao nhỉ?' Tôi hỏi.

    'Từ 10 giờ sáng đến 2 giờ chiều.'

    Vì công việc ở tiệm cầm đồ chủ yếu là vào buổi chiều, ông Holmes ạ, đặc biệt là vào chiều thứ năm và thứ sáu, ngay trước ngày lĩnh lương; vậy là nó rất thuận tiện cho tôi kiếm thêm một chút vào buổi sáng.

    Bên cạnh đó, tôi biết rằng người phụ tá của mình có năng lực và anh ta sẽ xử lí ổn thỏa nếu có vấn đề gì xảy ra.

    'Giờ đó rất phù hợp với tôi', tôi nói.

    'Thế tiền lương thì sao?'

    'Là 4 bảng mỗi tuần.'

    'Còn công việc?'

    'Công việc hầu như chẳng phải làm gì.'

    'Ý ông là thế nào khi nói rằng chẳng phải làm gì?'

    'Thế này, ông luôn phải có mặt trong văn phòng, hay ít ra là trong tòa nhà này.

    Nếu ông bỏ đi thì sẽ bị mất việc vĩnh viễn.

    Di chúc đã ghi rất rõ về điểm này.

    Nếu ông rời ra khỏi văn phòng thì xem như đã không tuân thủ các điều kiện.'

    'Chỉ có bốn giờ mỗi ngày thôi, tôi sẽ không nghĩ đến chuyện bỏ ra ngoài đâu', tôi nói.

    'Không chấp nhận bất cứ lí do nào', ông Duncan Ross nói, 'cả ốm đau lẫn bận rộn công việc hay vì bất cứ việc gì khác, ông phải có mặt ở văn phòng hoặc là mất việc.'

    'Còn công việc thì sao?'

    'Là chép lại cuốn Encyclopaedia Britannica.

    Tập đầu tiên của bộ bách khoa đó nằm trong tủ, ông phải tự lo mực, bút và giấy thấm nhưng chúng tôi sẽ cung cấp cho ông cái bàn này và ghế.

    Liệu ngày mai ông đã sẵn sàng làm việc được chưa?'

    'Chắc chắn là được', tôi đáp.

    'Thế thì xin tạm biệt, ông Jabez Wilson, và một lần nữa xin chúc mừng ông đã may mắn có được vị trí quan trọng này.' Ông ta cúi đầu chào tiễn tôi ra khỏi văn phòng và tôi về nhà cùng với người phụ tá, không biết nên nói gì hay làm gì, tôi hết sức vui mừng với vận may của chính mình.

    Thế rồi, suốt cả ngày hôm đó tôi cứ suy nghĩ mãi về chuyện này, đến tối thì tôi lại xuống tinh thần; tôi đã tự thuyết phục mình là toàn bộ vụ việc này chắc hẳn phải là một trò chơi khăm hay lừa gạt, dù mục đích của nó có thể là gì đi nữa thì tôi vẫn chưa hình dung ra.

    Có vẻ như khó mà tin được là có ai đó đã lập ra một di chúc như thế, hoặc khó có thể tin nổi họ sẽ trả một số tiền như vậy cho một công việc đơn giản là chép lại cuốn Encyclopaedia Britannica.

    Vincent Spaulding làm đủ mọi trò để giúp tôi vui lên, nhưng đến khi đi ngủ thì tôi đã thuyết phục mình nên rút ra khỏi vụ này.

    Tuy nhiên, đến sáng thì tôi lại quyết định dù sao cũng nên nhìn qua để xem sự thể ra sao, thế là tôi mua một bình mực một xu, một cây bút lông ngỗng và bảy xấp giấy viết, sau đó tôi đi đến hẻm Pope's Court.

    Và, tôi rất đỗi ngạc nhiên và vui sướng khi nhận thấy mọi thứ đều rất thật.

    Cái bàn đã được dọn sẵn cho tôi và ông Duncan Ross đã có mặt ở đó để xem tôi đã chuẩn bị đầy đủ để làm việc hay chưa, ông ta nhìn tôi bắt đầu với mẫu tự A, rồi sau đó bỏ đi, nhưng thỉnh thoảng lại ghé qua để xem mọi việc có ổn hay không.

    Đến 2 giờ chiều thì ông ta chào tạm biệt, khen ngợi tôi về khối lượng công việc tôi đã làm, rồi khóa cửa văn phòng sau lưng tôi.

    Công việc cứ tiếp tục ngày qua ngày, ông Holmes ạ.

    Đến ngày thứ bảy thì người quản lí bước vào và đặt xuống bàn bốn đồng sovereign tiền công tuần đó của tôi.

    Tuần kế tiếp cũng xảy ra như thế, và cả tuần tiếp theo nữa.

    Sáng sáng tôi có mặt lúc 10 giờ và chiều chiều lại ra về lúc 2 giờ.

    Dần dần ông Duncan Ross chỉ còn ghé đến một lần vào buổi sáng và rồi sau một thời gian thì ông ta cũng không còn đến nữa.

    Tuy thế, tất nhiên là tôi không bao giờ dám rời khỏi phòng một giây phút nào vì tôi không biết lúc nào ông ta có thể ghé qua, và vì công việc quả là rất tốt và rất phù hợp với tôi nên tôi không dám liều để mất nó.

    Tám tuần trôi qua như thế và tôi đã chép được những từ Abbots rồi Archery, Armour, Architecture và Attica, tôi đã hi vọng là với sự chuyên tâm thì chẳng mấy chốc mà tôi có thể bước sang những từ của mẫu tự B.

    Tôi cũng đã chi ra một món tiền để mua giấy và những gì tôi chép đã xếp gần đầy một ngăn kéo.

    Thế rồi, toàn bộ công việc bất ngờ kết thúc."

    "Kết thúc?"

    "Phải, thưa ông.

    Mới sáng nay thôi.

    Tôi đến chỗ làm như mọi lần lúc 10 giờ sáng, thế nhưng cửa đóng và khóa kín, giữa cánh cửa có một miếng bìa cứng nhỏ được đóng bằng đinh mũ.

    Nó đây, ông có thể tự đọc."

    Ông ta đưa ra một miếng bìa cứng màu trắng kích thước cỡ một tờ giấy viết thư.

    Nội dung ghi như sau:

    Hội Tóc Đỏ đã giải tán

    Ngày 9 tháng 10 năm 1890

    Sherlock Holmes và tôi xem xét mẩu thông báo ngắn ngủn đó và nhìn bộ mặt buồn thảm phía sau tờ giấy, cho đến khi khía cạnh hài hước của vấn đề nổi lên che khuất tất cả các lí do khác khiến cho cả hai chúng tôi cùng cười phá lên.

    "Tôi không thấy bất cứ điều gì buồn cười trong chuyện này cả," vị khách của chúng tôi nói to, mặt mũi đỏ bừng lên đến tận mái tóc đỏ như lửa của ông ta.

    "Nếu các ông không làm được chuyện gì hay ho hơn là cười nhạo tôi, thì tôi sẽ đi nhờ người khác."

    "Không, không", Holmes kêu lên và đẩy ông ta ngồi trở lại chiếc ghế mà ông ta vừa từ đó nhổm nửa người lên.

    "Thật tình tôi không đời nào muốn bỏ qua vụ việc của ông.

    Nó bất thường một cách đặc biệt lí thú.

    Thế nhưng, nếu ông vui lòng bỏ qua, có điều gì đó hơi buồn cười trong đó.

    Xin vui lòng kể lại những gì ông đã làm khi nhìn thấy tấm bìa gắn trên cửa?"

    "Tôi rất bối rối, ông ạ.

    Tôi không biết mình phải làm gì.

    Sau đó tôi ghé vào các văn phòng xung quanh đó nhưng có vẻ như không ai hay biết gì chuyện này.

    Cuối cùng, tôi đến gặp ông chủ nhà, một kế toán sống ở tầng một và hỏi xem ông ta có thể cho tôi biết chuyện gì đã xảy ra với hội Tóc Đỏ.

    Ông ta bảo là chưa bao giờ nghe nói về một cái hội nào như thế.

    Rồi tôi hỏi ông ta có biết ông Duncan Ross không, ông ta nói rằng ông ta chưa nghe cái tên đó bao giờ.

    'Thế này', tôi nói, 'cái ông ở nhà số 4 ấy mà.'

    'Sao, cái người tóc đỏ phải không?'

    'Vâng.'

    'Ồ', ông ấy nói, 'tên ông ta là William Morris.

    Đó là một luật sư sử dụng tạm căn phòng của tôi cho đến khi văn phòng mới của ông ta sẵn sàng để sử dụng.

    Ông ta vừa mới dời đi hôm qua.'

    'Tôi có thể tìm gặp ông ta ở đâu?'

    'À, tại văn phòng mới của ông ta.

    Ông ta có cho tôi địa chỉ.

    Phải, số 17 phố King Edward, gần thánh đường St.

    Paul.'

    Thế là tôi đến đó, ông Holmes ạ, nhưng khi tôi đến địa chỉ đó thì hóa ra đó là một nhà máy sản xuất xương bánh chè nhân tạo, và cũng không ai trong đó từng nghe đến cái tên ông William Morris hay ông Duncan Ross."

    "Sau đó thì ông làm gì?"

    Holmes hỏi.

    "Tôi trở về nhà ở quảng trường Saxe Coburg và hỏi ý kiến của người phụ tá.

    Thế nhưng anh ta cũng không có cách nào giúp tôi được.

    Anh ta chỉ bảo rằng nếu tôi chịu khó đợi thì có lẽ sẽ nhận được thư qua đường bưu điện.

    Nhưng cách đó cũng không hay cho lắm, thưa ông Holmes.

    Tôi không muốn ngồi yên chịu mất một chỗ làm tốt như thế, vì thế mà khi tôi nghe nói là ông sẵn lòng đưa lời khuyên cho những người tội nghiệp đang cần đến nó, tôi liền đến gặp ông."

    "Ông làm thế là rất khôn ngoan", Holmes nói.

    "Trường hợp của ông rất là khác thường, và tôi sẽ lấy làm vui sướng được nghiên cứu nó.

    Từ những gì ông đã kể, tôi nghĩ hậu quả của nó có thể còn nghiêm trọng hơn vẻ bề ngoài khi ta mới nhìn qua."

    "Khá là nghiêm trọng đấy!"

    Ông Jabez Wilson nói.

    "Chứ sao, tôi đã mất đi bốn bảng mỗi tuần."

    "Về phần ông", Holmes nhận xét, "tôi thấy ông không có điều gì đáng phàn nàn về cái hội lạ thường này.

    Ngược lại, theo như tôi hiểu, ông đã kiếm thêm hơn ba mươi bảng, đó là chưa kể đến chút kiến thức mà ông đã thu nhận được về từng đề mục nằm trong mẫu tự A.

    Họ chẳng lấy đi thứ gì của ông cả."

    "Không đâu, thưa ông.

    Nhưng tôi muốn biết về họ, họ là ai, và mục đích của họ là gì trong vụ chơi khăm tôi - nếu đó quả thật là một trò chơi khăm.

    Vụ này cũng khá tốn kém đối với họ vì họ đã chi ra những ba mươi hai bảng."

    "Chúng tôi sẽ cố gắng làm sáng tỏ những điểm này cho ông.

    Và, trước tiên xin hỏi một vài câu, thưa ông Wilson.

    Người phụ tá của ông chính là người đầu tiên làm cho ông chú ý đến mẩu rao vặt - anh ta đã ở với ông được bao lâu?"

    "Đến lúc đó là khoảng một tháng."

    "Anh ta đã đến chỗ ông như thế nào?"

    "Theo mục cần người."

    "Có phải anh ta là ứng viên duy nhất không?"

    "Không phải, có khoảng hơn chục người."

    "Vậy tại sao ông lại chọn anh ta?"

    "Vì anh ta khéo léo và hài lòng với tiền công rẻ."

    "Thực tế là chỉ phân nửa mức lương?"

    "Đúng vậy."

    "Trông anh ta ra sao, cái anh chàng Vincent Spaulding ấy?"

    "Thấp người, to khỏe, rất nhanh nhẹn, không có râu dù anh ta không dưới ba mươi.

    Có một vệt trắng trên trán do axít."

    Holmes ngồi nhổm dậy trên ghế với vẻ phấn khích thấy rõ.

    "Tôi cũng nghĩ như vậy", anh nói tiếp.

    "Có bao giờ ông để ý thấy tai anh ta có lỗ để đeo khuyên tai không?"

    "Có, thưa ông.

    Anh ta bảo tôi là một người Digan đã xỏ lỗ tai cho anh ta lúc còn nhỏ."

    "Hừm!"

    Holmes nói rồi chìm lắng trong suy tư.

    "Anh ta hãy còn ở chỗ ông chứ?"

    "Ồ, vâng, thưa ông.

    Lúc tôi đi anh ta vẫn ở nhà."

    "Và công việc của ông vẫn được trông nom chu đáo trong khi ông vắng mặt chứ?"

    "Không có gì đáng phàn nàn, thưa ông.

    Vào buổi sáng bao giờ cũng ít việc."

    "Thế là đủ, ông Wilson.

    Tôi sẽ rất sung sướng báo cho ông biết kết quả vụ này trong một hoặc hai ngày nữa.

    Hôm nay là thứ bảy và tôi hi vọng đến thứ hai chúng ta có thể đưa ra kết luận."

    "Này, Watson", Holmes nói khi người khách đã ra về, "anh hiểu gì về chuyện này?"

    "Tôi chẳng hiểu gì cả", tôi thành thật trả lời.

    "Vụ này hết sức bí ẩn."

    "Theo lệ thường", Holmes nói, "sự việc càng kì dị thì lại càng ít bí ẩn.

    Chính những vụ án bình thường, không có nét gì đặc biệt mới thật sự là khó hiểu, giống như một khuôn mặt tầm thường thì càng khó nhận diện.

    Nhưng tôi phải tiến hành thật nhanh vụ này."

    "Vậy, anh định làm gì?"

    Tôi hỏi.

    "Hút thuốc", anh trả lời.

    "Đây là một vấn đề cần tới ba tẩu thuốc, và xin anh đừng nói gì với tôi trong năm mươi phút."

    Anh ngồi thu lu trên ghế, hai đầu gối gầy guộc nhô lên đến tận cái mũi diều hâu, mắt nhắm nghiền, cái tẩu bằng đất sét đen thò ra phía trước trông giống như cái mỏ của một loài chim kì lạ.

    Tôi ngỡ là anh đã ngủ thiếp đi và đến lượt mình, tôi cũng đang gà gật thì đột nhiên anh nhảy vọt ra khỏi ghế, vẻ như đã đi đến quyết định và đặt cái tẩu thuốc lên mặt lò sưởi.

    "Sarasate sẽ trình diễn ở nhà hát St.

    James chiều nay", anh bảo.

    "Anh nghĩ sao hả Watson?

    Liệu các bệnh nhân có thể để anh yên vài giờ chứ?"

    "Hôm nay tôi không phải làm gì cả.

    Công việc của tôi chẳng khi nào chiếm nhiều thời gian."

    "Thế thì đội mũ vào và đi thôi.

    Ta sẽ ra khu City trước và ăn trưa trên đường đi.

    Tôi thấy tờ chương trình thông báo là sẽ có nhiều tiết mục âm nhạc Đức vốn hợp với sở thích của tôi hơn là nhạc Ý hay Pháp.

    Loại nhạc này mang tính nội tâm và tôi đang muốn xem xét nội tâm đây.

    Lên đường thôi!"

    Chúng tôi đi xe điện ngầm đến tận Aldersgate; rồi đi bộ một quãng ngắn đến quảng trường Saxe Coburg nơi xảy ra câu chuyện kì lạ mà chúng tôi đã được nghe kể lúc sáng nay.

    Đó là một khu vực nhỏ hẹp, tồi tàn có vẻ đã sa sút nhiều với bốn dãy nhà gạch hai tầng xám xịt trông ra một đám đất nhỏ có hàng rào, trong đó có một bãi cỏ dại um tùm và vài lùm nguyệt quế tàn úa đang chống chọi với bầu không khí khô và sặc sụa khói.

    Ba quả bóng mạ vàng và một tấm biển màu nâu với hàng chữ Jabez Wilson màu trắng gắn lên một căn nhà nằm ở góc đường cho biết đây là nơi mà vị thân chủ tóc đỏ của chúng tôi điều hành công việc.

    Sherlock Holmes dừng lại trước nhà, nghiêng đầu sang một bên quan sát kĩ càng bằng đôi mắt sáng quắc nheo lại.

    Rồi anh chậm rãi bước lên đầu phố và đi trở xuống góc đường trong khi vẫn chăm chú nhìn vào những ngôi nhà.

    Cuối cùng thì anh quay trở lại cửa tiệm cầm đồ và sau khi dùng gậy gõ mạnh lên vỉa hè hai hoặc ba lần thì anh đi tới gõ cửa.

    Lập tức một chàng trai trẻ mặt mũi sáng sủa, râu cạo nhẵn ra mở cửa, anh ta mời Holmes bước vào.

    "Cảm ơn", Holmes nói, "nhưng tôi chỉ muốn hỏi đường từ đây đến Strand."

    "Rẽ phải ở ngã tư thứ ba, đến ngã tư thứ tư thì quẹo trái", người phụ tá nhanh chóng trả lời, rồi đóng cửa lại.

    "Một gã tinh khôn đây", Holmes nhận xét khi chúng tôi bước đi.

    "Theo đánh giá của tôi, hắn là người tinh ranh đứng vào hàng thứ tư ở London, còn về sự liều lĩnh thì tôi dám chắc là hắn phải đứng vào hàng thứ ba.

    Tôi có biết đôi chút về con người này."

    "Rõ là thế", tôi nói, "người phụ tá của ông Wilson đóng một vai trò quan trọng trong bí ẩn của hội Tóc Đỏ.

    Tôi dám chắc là việc hỏi đường chỉ là cái cớ để anh nhìn mặt gã."

    "Không phải nhìn mặt hắn ta."

    "Thế thì cái gì?"

    "Hai đầu gối quần của hắn."

    "Và anh đã nhìn thấy gì?"

    "Điều mà tôi mong đợi."

    "Thế tại sao anh lại gõ lên lề đường?"

    "Bác sĩ thân mến, giờ là lúc quan sát chứ không phải để nói chuyện.

    Chúng ta đang là những điệp viên trong lòng địch.

    Chúng ta đã biết đôi điều về quảng trường Saxe Coburg.

    Giờ hãy tìm hiểu có những gì phía sau nó."

    Con đường mà chúng tôi đến sau khi rẽ ngoặt lại ở góc khu quảng trường Saxe Coburg vắng lặng lại bày ra một sự tương phản to lớn như là mặt trước và sau của một bức tranh.

    Đó là một trong những nhánh giao thông chính nối khu City với khu vực phía bắc và phía tây.

    Lòng đường kín đặc bởi một dòng chuyển động khổng lồ đang chảy theo hai chiều vào và ra, còn lối đi bộ thì đen nghịt những đám khách bộ hành đang vội vã bước.

    Khó mà hình dung được con đường có những cửa hiệu đẹp đẽ và những tòa văn phòng uy nghi nơi chúng tôi đang nhìn thấy lại là mặt sau của cái quảng trưởng ảm đạm mà chúng tôi vừa mới rời khỏi.

    "Để tôi xem nào", Holmes nói khi đứng ở góc đường và nhìn dọc suốt con đường.

    "Tôi muốn ghi nhớ thứ tự những ngôi nhà ở đây.

    Hiểu biết chính xác về London là một thú vui của tôi.

    Đây là tiệm thuốc lá Mortimer, rồi sạp báo nhỏ, kế tiếp là chi nhánh Coburg của Nhà băng City & Suburban, một tiệm ăn chay và nhà kho của Công ty McFarlane.

    Chỗ đó dẫn chúng ta đến thẳng một khu nhà khác.

    Và giờ thì, bác sĩ ạ, chúng ta đã hoàn thành công việc, đến lúc vui vẻ một chút.

    Một miếng bánh sandwich và một cốc cà phê, rồi sau đó đi đến xứ sở vĩ cầm, nơi mọi thứ đều ngọt ngào, thanh tao và hài hòa, ở đó sẽ chẳng có ông khách tóc đỏ nào đến quấy rầy chúng ta với những câu đố hóc búa của họ."

    Bạn tôi là một người say mê âm nhạc, anh không chỉ chơi nhạc cụ rất giỏi mà còn có tài soạn nhạc không tầm thường.

    Suốt buổi chiều hôm đó anh ngồi ở hàng ghế gần sân khấu, chìm đắm trong niềm hạnh phúc trọn vẹn nhất, khẽ vẫy những ngón tay thon dài theo nhịp điệu, với khuôn mặt hơi mỉm cười và đôi mắt mơ màng khác một trời một vực với Holmes - kẻ đánh hơi tội phạm, Holmes là một chuyên gia hình sự bền bỉ, thông minh sắc sảo, luôn sẵn sàng ra tay.

    Trong tính cách khác thường của anh, bản chất hai mặt luân phiên bộc lộ, và tôi thường nghi tính chính xác cực độ cùng với sự sắc sảo tinh khôn của anh chính là phản ứng ngược của tâm trạng thi vị và thích suy tư đôi khi chiếm ưu thế trong con người anh.

    Những pha đảo chiều đưa anh đi từ trạng thái thiếu sinh khí sang mức tràn trề năng lượng, và tôi biết rất rõ, con người anh đáng gờm nhất là vào những thời điểm sau khi đã uể oải ngồi lì trên ghế bành giữa những khúc ngẫu hứng và những ấn bản chữ đen suốt nhiều ngày.

    Thế rồi, khao khát săn đuổi đột nhiên bừng lên trong anh và năng lực suy luận khác thường của anh tăng vọt lên thành trực giác, đến nỗi những ai vốn không quen với các phương thức của anh sẽ ngờ vực nhìn anh như một con người có hiểu biết phi phàm.

    Trong buổi chiều đó khi tôi nhìn anh đang tận hưởng âm nhạc trong nhà hát St.

    James, tôi cảm thấy những kẻ mà anh đã quyết tâm săn lùng sắp xui tận mạng rồi.

    "Chắc là anh muốn quay về nhà phải không, bác sĩ?"

    Anh nhận xét, khi chúng tôi bước ra.

    "Vâng, tôi cũng muốn về rồi."

    "Còn tôi thì lại có một số công việc cần làm, mất chừng vài giờ.

    Vụ quảng trường Coburg rất nghiêm trọng."

    "Sao lại nghiêm trọng?"

    "Có kẻ đang suy tính một tội ác tầm cỡ.

    Tôi có lí do để tin tưởng là chúng ta sẽ có mặt kịp thời để ngăn chặn nó.

    Nhưng vì đêm nay là thứ bảy nên sự việc trở nên rắc rối hơn.

    Tôi sẽ cần đến sự hỗ trợ của anh vào đêm nay."

    "Lúc mấy giờ?"

    "Khoảng 10 giờ là được."

    "Tôi sẽ có mặt ở phố Baker lúc 10 giờ."

    "Rất tốt.

    Tôi nói này, bác sĩ, có thể có đôi chút nguy hiểm đấy, vì thế hãy nhớ thủ sẵn khẩu súng lục của anh trong túi."

    Anh vẫy tay, quay gót đi và trong chớp mắt đã biến mất giữa đám đông.

    Tôi vẫn tin rằng mình không đến nỗi đần độn hơn những người khác, thế nhưng ý thức về sự ngu ngốc của mình cứ đè nặng lên tôi mỗi lần tiếp xúc với Sherlock Holmes.

    Tôi cũng nghe thấy những gì anh nghe, nhìn thấy những gì anh trông thấy, thế mà từ những gì anh nói ra thì hiển nhiên là anh đã thấy rõ không chỉ những gì đã xảy ra mà còn biết được điều gì sắp sửa xảy đến, trong khi đối với tôi thì toàn bộ sự việc hãy còn rối rắm và phi lí.

    Trên đường trở về nhà ở Kensington, tôi suy nghĩ mãi về toàn bộ sự việc, từ câu chuyện kì lạ về người tóc đỏ làm công việc sao chép bộ Encyclopaedia cho đến cuộc ghé thăm khu quảng trường Saxe Coburg và những lời cảnh báo mà anh đã nói khi giao nhiệm vụ cho tôi.

    Chuyến đi ban đêm này là gì, và tại sao tôi lại phải mang vũ khí?

    Chúng tôi sắp sửa đi đâu và sẽ làm gì?

    Tôi được Holmes gợi ý là gã phụ tá mặt mày nhẵn nhụi của ông chủ cửa hiệu cầm đồ là một kẻ ghê gớm - một kẻ có vai trò quan trọng trong trò chơi nguy hiểm này.

    Tôi cố gắng làm sáng tỏ vấn đề, nhưng đành phải bỏ cuộc trong tuyệt vọng và gạt nó sang một bên cho đến tận khi đêm tối sẽ đem lại một lời giải đáp.

    Vào lúc 10 giờ kém 15 phút, tôi ra khỏi nhà, băng qua công viên, ngang qua phố Oxford rồi đến phố Baker.

    Hai cỗ xe ngựa hai bánh đã đậu sẵn ở cửa và tôi nghe thấy nhiều tiếng nói vọng ra từ trên nhà khi bước vào hành lang.

    Bước chân vào phòng, tôi trông thấy Holmes đang trò chuyện sôi nổi với hai người đàn ông, tôi nhận ra một trong hai người đó là viên cảnh sát Athelney Jones còn người kia thì cao gầy, bộ mặt buồn bã đội cái mũ bóng loáng và khoác áo choàng nặng trĩu oai vệ.

    "Chà!

    Mọi người đã đến đông đủ rồi", Holmes vừa nói vừa mở cúc chiếc áo khoác dạ ngắn rồi lấy chiếc roi ngựa từ trên giá xuống.

    "Watson này, chắc anh đã biết ông Jones ở Sở Cảnh sát London chứ?

    Xin phép giới thiệu với anh ông Merryweather, người sẽ đồng hành cùng chúng ta trong cuộc mạo hiểm đêm nay."

    "Ông thấy đấy, bác sĩ, chúng ta lại đi săn theo cặp."

    Jones nói với vẻ tự đắc.

    "Ông bạn của chúng ta đây là một người tuyệt vời để bắt đầu cuộc săn.

    Tất cả những gì ông ta cần là một con chó già để giúp ông ta phát hiện con mồi."

    "Tôi hi vọng chúng ta không phải chỉ kiếm được có một con ngỗng trời vào cuối cuộc săn", ông Merryweather rầu rĩ nhận xét.

    "Ông có thể đặt hết lòng tin vào ông Holmes đây, thưa ông", viên cảnh sát trịch thượng nói.

    "Ông ấy có riêng vài phương pháp nho nhỏ, mà, nếu như ông ấy không chấp nhất, thì tôi xin nói rằng những phương thức đó hơi quá lí thuyết và lập dị, tuy nhiên, ông ấy có tố chất của một thám tử.

    Cũng không quá lời nếu nói rằng trong một vài lần, ví dụ như vụ sát hại cậu cả nhà Sholto và kho báu Agra thì ông ấy gần như chính xác hơn lực lượng cảnh sát."

    "Ồ, ông Jones ạ, nếu ông đã nói thế thì ổn thôi", người đàn ông lạ mặt nói xuôi theo.

    "Tuy vậy, tôi phải thú nhận là tôi đã thấy nhớ bộ bài.

    Hôm nay là tối thứ bảy đầu tiên trong suốt hai mươi bảy năm qua mà tôi không được chơi ván nào."

    "Tôi cho là ông sẽ nhận ra", Sherlock Holmes nói, "là tối nay ông sẽ đặt một mức cược cao nhất mà từ trước đến giờ ông chưa bao giờ đặt, và ván bài tối nay sẽ hứng thú hơn nhiều.

    Vì phần ông, thưa ông Merryweather, món cược sẽ là ba mươi ngàn bảng; còn với ông Jones, đó là kẻ mà ông vẫn hằng mong ước sẽ tóm được"

    "John Clay, tên giết người, trộm cắp, kẻ lưu hành tiền giả và giả mạo giấy tờ.

    Tuy hắn hãy còn trẻ, ông Merryweather ạ, nhưng đã là trùm trong nghề rồi, và tôi vẫn thích được tra còng vào tay hắn hơn bất kì tên tội phạm nào khác ở London.

    Hắn là một tay xuất chúng, cái gã trẻ John Clay ấy.

    Ông nội hắn là công tước, bản thân hắn thì đã từng học ở Eton và Oxford.

    Bộ óc của hắn cũng khéo léo như mấy ngón tay của hắn vậy, và dù cho chúng tôi đã từng phát hiện dấu vết của hắn ở khắp nơi nhưng vẫn chưa bao giờ biết được hắn đang ở đâu.

    Hắn vừa đào cửa khoét vách ở Scotland tuần trước thì tuần sau đã lại vận động quyên góp tiền để xây một trại mồ côi ở Cornwall.

    Tôi đã bám theo dấu vết của hắn suốt nhiều năm vậy mà vẫn chưa bao giờ tận mắt nhìn thấy hắn."

    "Tôi hi vọng là sẽ được hân hạnh giới thiệu hắn với ông tối nay.

    Tôi cũng từng gặp một, hai sự vụ nho nhỏ liên quan đến gã John Clay này và tôi đồng ý với ông rằng hắn quả là một cao thủ trong nghề.

    Bây giờ đã quá 10 giờ rồi, đã đến lúc chúng ta nên khởi hành.

    Nếu hai ông đi trên chiếc xe đầu tiên thì Watson và tôi sẽ đi theo trong chiếc xe còn lại."

    Sherlock Holmes không nói chuyện nhiều trong suốt chuyến đi, anh nằm ngả ra phía sau xe, miệng ngân nga những giai điệu đã nghe được lúc ban chiều.

    Xe ngựa đi qua một mê cung dài bất tận những con đường được thắp sáng bằng đèn khí đốt cho đến khi đi vào phố Farrington.

    "Chúng ta sắp đến nơi rồi."

    Bạn tôi nói.

    "Ông Merryweather là một giám đốc nhà băng, ông ta có lợi ích riêng dính dáng đến vụ này.

    Tôi nghĩ cũng nên có Jones đi cùng chúng ta.

    Hắn không phải người xấu tuy rằng về mặt chuyên môn thì đó là một tay khờ toàn diện.

    Hắn có một ưu điểm: gan dạ như một con chó bun và dai như đỉa một khi đã bám được vào đối tượng.

    Chúng ta đến nơi rồi, họ đang đợi ta."

    Chúng tôi ngừng xe ở đúng con phố đông đúc mà sáng nay chúng tôi đã đến.

    Những cỗ xe rời đi và với sự hướng dẫn của ông Merryweather, chúng tôi đi xuống một lối đi hẹp, qua một cửa phụ ông ta mở ra cho chúng tôi.

    Bên trong có một hành lang nhỏ, phía cuối là một cánh cửa sắt đồ sộ.

    Cánh cửa này được mở ra và chạy xuống dưới là một dãy bậc thang ngoằn ngoèo bằng đá, tận cùng là một cánh cổng to lớn khác.

    Ông Merryweather dừng lại để thắp một ngọn đèn rồi dẫn chúng tôi đi xuống một lối đi tối om, mùi đất ẩm nồng nặc, rồi cánh cửa thứ ba mở ra dẫn vào một khoang hầm khổng lồ chất đầy những thùng gỗ đóng thưa và hòm lớn.

    "Chỗ ông không đến nỗi dễ đột nhập từ phía bên trên", Holmes nhận xét khi anh giơ cao ngọn đèn và chăm chú nhìn khắp xung quanh.

    "Ngay cả bên dưới cũng thế", ông Merryweather đáp trong khi gõ chiếc gậy lên những phiến đá lót nền hầm.

    "Ối, trời đất ơi, nghe như có vẻ rỗng bên dưới!"

    Ông ta nhận xét, hai mắt ngước lên kinh ngạc.

    "Tôi buộc phải yêu cầu ông nói khẽ thôi!"

    Holmes nghiêm giọng nói.

    "Tất cả thành quả trong chuyến đi này của chúng ta có nguy cơ bị đổ sông đổ biển hết nếu ông nói to như vậy.

    Xin phép yêu cầu ông vui lòng ngồi lên một trong những cái thùng này, và đừng xen vào, được chứ?"

    Ông Merryweather nghiêm nghị ngồi tạm xuống một cái thùng gỗ thưa, với vẻ mặt vô cùng bất mãn, trong khi Holmes quỳ xuống nền hầm, dùng đèn và kính lúp khám xét kĩ lưỡng những vết nứt giữa các phiến đá.

    Chỉ vài giây anh đã mãn nguyện vì anh đứng phắt dậy và nhét cái kính lúp vào túi.

    "Chúng ta còn ít nhất một giờ nữa", anh nhận xét.

    "Bọn chúng khó mà hành động được trước khi ông chủ hiệu cầm đồ tốt bụng ngủ yên trên giường.

    Khi đó chúng sẽ không bỏ lỡ phút nào, vì chúng tiến hành càng sớm thì sẽ càng có nhiều thời gian để bỏ trốn.

    Bác sĩ này, tôi chắc là anh đã đoán ra, hiện giờ chúng ta đang ở trong hầm chi nhánh của một trong những nhà băng lớn của London tại khu City, ông Merryweather đây là chủ tịch hội đồng quản trị, và ông ta sẽ giải thích cho anh hiểu vì sao mà lúc này bọn tội phạm táo tợn nhất London lại rất quan tâm đến căn hầm này."

    "Đây là nơi dự trữ vàng được vay từ Pháp của chúng tôi", ông chủ tịch thì thầm.

    "Chúng tôi đã nhận được một số lời cảnh báo về mưu toan nhằm vào chỗ vàng này."

    "Vàng vay từ Pháp của các ông?"

    "Vàng.

    Vài tháng trước chúng tôi có cơ hội tăng cường nguồn dự phòng cho nhà băng do đó chúng tôi đã mượn thêm hai mươi ngàn đồng napoléon từ Nhà băng Pháp quốc.

    Người ta đã biết chúng tôi chưa có dịp mở những thùng tiền này ra, và chúng hãy còn nằm trong hầm.

    Trong cái thùng mà tôi đang ngồi lên có chứa hai ngàn đồng napoléon được gói trong những lá thép mỏng.

    Lúc này kho dự trữ vàng thỏi của chúng tôi trữ một lượng vàng nhiều hơn lượng bình thường tại một nhà băng chi nhánh rất nhiều và hội đồng quản trị rất lo âu về vấn đề này."

    "Nỗi lo đó rất có cơ sở", Holmes nhận xét.

    "Và giờ thì đã đến lúc phải chuẩn bị cho kế hoạch nho nhỏ của chúng ta.

    Tôi tin chắc chỉ trong vòng một giờ nữa là có biến.

    Từ giờ đến lúc đó, thưa ông Merryweather, chúng ta phải che kín ngọn đèn này lại."

    "Và ngồi trong bóng tối?"

    "Tôi e là phải thế thôi.

    Tôi vốn đem theo một bộ bài trong túi, và tôi đã nghĩ rằng, vì chúng ta có đủ một partie carrée, nên ông vẫn có thể chơi một ván.

    Nhưng xét thấy sự chuẩn bị của đối thủ cũng đã gần xong nên chúng ta không thể liều lĩnh để đèn sáng.

    Trước tiên, chúng ta phải chọn vị trí cho mỗi người.

    Bọn tội phạm này rất táo tợn và cho dù chúng ta sẽ chiếm trên cơ, chúng vẫn có thể gây tổn hại cho chúng ta nếu ta không cẩn thận.

    Tôi sẽ đứng ở phía sau cái thùng này, và các ông hãy nấp vào sau những hòm kia.

    Khi nào tôi chiếu đèn vào bọn chúng, hãy nhanh chóng xáp lại.

    Nếu bọn chúng nổ súng, Watson, đừng do dự gì mà hãy bắn gục chúng."

    Tôi đặt khẩu súng đã lên cò trên cái thùng gỗ mà tôi nấp phía sau.

    Holmes gạt tấm che ra trước ngọn đèn và bóng tối như mực trùm kín chúng tôi - tôi chưa từng ở trong cảnh tối tăm tuyệt đối như thế bao giờ.

    Mùi kim loại bị đốt nóng hãy còn vương vất như trấn an chúng tôi rằng ánh sáng hãy còn đây và sẵn sàng bừng lên trong phút chốc.

    Với các dây thần kinh ngóng đợi đang căng dần đến cực độ, tôi thấy bóng tối ảm đạm và bầu không khí lạnh lẽo ướt át của căn hầm có gì đó u ám và đáng nản.

    "Bọn chúng chỉ có một lối thoát duy nhất", Holmes thì thầm.

    "Đó là lui lại qua căn nhà ở quảng trường Saxe Coburg.

    Tôi hi vọng là ông đã thực hiện điều mà tôi yêu cầu chứ, ông Jones?"

    "Tôi đã phân công một viên thanh tra và hai cảnh sát đợi ở cửa trước."

    "Thế là chúng ta đã bít hết mọi khe hở.

    Và giờ thì chúng ta phải giữ yên lặng và chờ đợi."

    Thời gian trôi mới chậm chạp làm sao!

    Sau này tôi so sánh lại những ghi chép thì thấy khoảng thời gian đó chỉ mới có một giờ mười lăm phút, vậy mà tôi cứ ngỡ là đêm đã qua và trời sắp sửa rạng sáng ở phía bên trên.

    Hai chân tôi mỏi nhừ và cứng đờ vì không dám đổi tư thế; tuy vậy các dây thần kinh của tôi vẫn căng thẳng đến mức cao nhất, và thính giác thì nhạy bén đến nỗi không những tôi có thể nghe được tiếng thở nhẹ nhàng của những người bạn đồng hành, mà còn phân biệt được tiếng hô hấp sâu và nặng nề hơn của ông Jones to kềnh càng cùng với tiếng thở dài và mỏng của ông chủ tịch nhà băng.

    Từ vị trí của mình, tôi có thể nhìn qua nắp thùng về phía nền hầm.

    Đột nhiên, mắt tôi nhìn thấy một tia sáng.

    Lúc đầu đó chỉ là một đốm sáng nhợt nhạt ló ra trên nền đá.

    Dần dần nó kéo dài ra đến khi trở thành một vệt màu vàng, và rồi bất thình lình, không hề có một dấu hiệu hay tiếng động nào báo trước, một vết cắt mở ra và xuất hiện một bàn tay trắng trẻo, gần giống như tay phụ nữ, đang sờ soạng ở chính giữa vùng sáng hẹp.

    Trong khoảng một phút hay hơn, bàn tay đó chậm rãi cử động, thò ra khỏi sàn nhà.

    Rồi nó chợt rút về cũng đột ngột như khi xuất hiện, tất cả tối sầm trở lại, chỉ trừ đốm sáng nhợt nhạt đơn độc đánh dấu một khe hở giữa những viên đá.

    Tuy vậy, bàn tay chỉ biến mất trong thoáng chốc.

    Một tiếng động mạnh và sắc vang lên, một trong những tảng đá trắng to rộng bị lật sang bên để lộ ra một lỗ hình vuông, qua đó hắt lên ánh sáng của một ngọn đèn.

    Qua mép hố, một khuôn mặt sáng sủa và trẻ trung như một thiếu niên nhô lên, khuôn mặt đó quan sát chung quanh với cái nhìn sắc bén, rồi gã bám một bàn tay vào mép hố và tự nâng mình lên.

    Bắt đầu là hai vai và hông đến khi đặt được một đầu gối lên mép hố.

    Chỉ một khoảnh khắc hắn đã đứng lên bên miệng hố và kéo theo sau một đồng bọn, cũng mảnh mai và nhỏ nhắn giống như hắn, mặt nhợt nhạt và đầu tóc bù xù đỏ rực.

    "Ổn rồi", hắn thì thầm.

    "Mày có đem theo đục và mấy cái bao chứ?...

    Thôi rồi!

    Nhảy đi, Archie, nhảy đi và tao sẽ xoay xở ở đây."

    Sherlock Holmes nhảy vọt ra và nắm lấy cổ áo của gã vừa mới trồi lên.

    Tên kia thì đâm bổ xuống hố, tôi nghe tiếng vải bị xé rách khi Jones chộp lấy vạt áo của hắn.

    Ánh sáng làm lóe lên nòng của một khẩu súng nhưng roi ngựa của Holmes đã vụt xuống cổ tay hắn, khẩu súng rơi xuống, kêu leng keng trên nền đá.

    "Vô ích thôi, John Clay", Holmes ôn tồn nói.

    "Mi chẳng còn cơ may nào nữa."

    "Tôi cũng thấy vậy", gã kia vô cùng bình tĩnh đáp trả.

    "Tôi cho rằng bạn của tôi đã thoát rồi, cho dù ông đã chộp được vạt áo sau của hắn."

    "Còn có ba người đang đứng đợi hắn ở cửa", Holmes nói.

    "Ồ, thế à!

    Có vẻ các ông đã làm việc đâu ra đấy.

    Tôi phải chúc mừng ông mới được."

    "Ta cũng phải có lời khen ngợi mi", Holmes đáp.

    "Cái ý tưởng tóc đỏ của mi rất là mới mẻ và hiệu quả đấy."

    "Mi cũng sẽ sớm gặp lại thằng bạn đó thôi", Jones nói.

    "Hắn nhanh hơn ta về tài trèo xuống hố.

    Đưa hai tay ra để ta đeo còng cho."

    "Tôi xin ông đừng có chạm bàn tay dơ bẩn của ông vào người tôi", gã tù nhân của chúng tôi nói khi chiếc còng kêu lanh canh trên cổ tay hắn.

    "Có thể ông không biết là tôi xuất thân hoàng tộc.

    Ngoài ra, khi nói chuyện với tôi, xin các ông hãy luôn luôn dùng các từ 'thưa ngài' và 'xin vui lòng'."

    "Được thôi", Jones nói, mắt chăm chú nhìn hắn với một nụ cười khẩy.

    "Vâng, thưa ngài, xin vui lòng bước lên cầu thang, nơi mà chúng tôi có thể kiếm một cỗ xe để đưa ngài về đồn cảnh sát, có được không?"

    "Tốt hơn rồi đấy", John Clay long trọng đáp.

    Hắn nghiêng mình chào một vòng cả ba chúng tôi rồi lặng lẽ bước đi dưới sự canh giữ của viên thám tử.

    "Ông Holmes ạ", ông Merryweather nói khi chúng tôi đi theo họ ra khỏi căn hầm, "tôi không biết nhà băng có thể cảm ơn ông hoặc đền đáp ông như thế nào.

    Không còn nghi ngờ gì nữa, ông đã phát hiện ra và đánh bại triệt để một trong những âm mưu cướp nhà băng liều lĩnh nhất mà tôi từng gặp."

    "Chính tôi cũng có một vài món nợ nho nhỏ phải thanh toán với tên John Clay", Holmes nói.

    "Tôi đã chi tiêu một món tiền cho vụ này, hi vọng là nhà băng sẽ hoàn lại, nhưng ngoài việc đó ra thì tôi cũng đã được trả công dư dả khi thu được một kinh nghiệm độc đáo trên nhiều phương diện, và được nghe câu chuyện rất đặc biệt về hội Tóc Đỏ."

    ***

    "Anh thấy đấy, Watson", anh giải thích vào buổi sáng sớm khi chúng tôi ngồi nhâm nhi whisky pha soda trong ngôi nhà ở phố Baker, "ngay từ đầu đã có thể thấy rõ mục tiêu duy nhất của mẩu rao vặt kì quái, và công việc chép lại cuốn Encyclopaedia chính là kéo ông chủ cửa hiệu cầm đồ không được thông minh cho lắm ra khỏi nhà vài giờ mỗi ngày.

    Quả thật cách này khá là lạ lùng thế nhưng cũng khó mà đưa ra một biện pháp tốt hơn.

    Rõ ràng cách thức này là do đầu óc mưu trí của Clay nghĩ ra dựa vào màu tóc đỏ của tên đồng phạm của hắn.

    Món tiền bốn bảng mỗi tuần hẳn là một miếng mồi rất hấp dẫn với ông chủ hiệu cầm đồ và nó có đáng là bao đối với chúng, những kẻ đang lao vào canh bạc để thắng hàng ngàn?

    Chúng cho đăng quảng cáo, rồi một gã lừa đảo mở một văn phòng tạm, tên xỏ lá khác thì xúi giục ông chủ hiệu nộp đơn ứng tuyển, cả hai phối hợp với nhau để làm sao cho ông ta vắng mặt các buổi sáng trong tuần.

    Ngay từ lúc nghe kể rằng gã phụ tá chỉ nhận có nửa lương thì tôi đã thấy rõ rằng hắn phải có một động cơ mạnh mẽ để chiếm được vị trí đó."

    "Nhưng làm thế nào mà anh đoán ra động cơ đó là gì?"

    "Nếu như có phụ nữ ở trong nhà thì tôi đã ngờ rằng đó chỉ đơn thuần là chuyện dan díu tầm thường.

    Tuy nhiên, trường hợp này không phải thế.

    Cửa hiệu của ông ta cũng nhỏ và trong nhà lại không có thứ gì đáng giá để giải thích cho sự chuẩn bị kĩ lưỡng đến thế.

    Vậy thì động cơ đó là gì?

    Tôi nghĩ đến sự ưa thích nhiếp ảnh của tay phụ tá, và cái mánh lới biến mất vào trong hầm của hắn.

    Cái hầm!

    Đó là đầu mối của mớ rối rắm này.

    Thế rồi tôi tiến hành điều tra về gã phụ tá bí ẩn này và phát hiện ra là mình phải đối phó với một trong những tên tội phạm máu lạnh và liều lĩnh nhất London.

    Hắn đang làm chuyện gì đó tại căn hầm - một chuyện cần đến nhiều giờ mỗi ngày trong nhiều tháng liên tục.

    Lại thêm một câu hỏi nữa, đó là việc gì?

    Tôi không thể nghĩ ra được điều gì ngoại trừ việc hắn đang đào một đường hầm đến một tòa nhà khác.

    Tôi suy ra đến đó khi chúng ta đến xem hiện trường.

    Tôi khiến anh ngạc nhiên khi dùng gậy gõ lên lề đường.

    Tôi phải xác định xem căn hầm trổ ra phía trước hay phía sau căn nhà.

    Nó không trổ ra trước.

    Thế rồi tôi bấm chuông, đúng như tôi hi vọng, gã phụ tá ra mở cửa.

    Trước đó, chúng tôi đã đụng độ nhau mấy lần, nhưng cả hai đều chưa từng nhìn tận mặt nhau.

    Tôi hầu như không nhìn vào mặt hắn.

    Cái tôi cần quan sát chính là hai đầu gối của hắn.

    Chắc là anh trông thấy tận mắt đầu gối quần của hắn xơ mòn, nhăn nhúm và lấm bẩn như thế nào.

    Điều đó chứng minh công việc đào bới kéo dài hàng giờ.

    Điểm duy nhất còn lại là chúng đào như thế để làm gì.

    Tôi bước vòng qua góc đường và nhìn thấy chi nhánh Nhà băng City & Suburban giáp với căn nhà của ông bạn chúng ta, và cảm thấy là mình đã tìm được lời giải.

    Khi anh trở về nhà sau buổi hòa nhạc, tôi yêu cầu Sở Cảnh sát London hỗ trợ và mời ông chủ tịch hội đồng quản trị của nhà băng, và kết quả là như anh đã thấy."

    "Làm thế nào mà anh biết được là chúng sẽ tiến hành mưu toan của mình vào tối nay?"

    Tôi hỏi.

    "Ồ, khi chúng đóng cửa văn phòng hội thì đó là dấu hiệu cho biết chúng không còn quan tâm đến sự hiện diện của ông Jabez Wilson nữa - nói cách khác là chúng đã hoàn tất việc đào hầm.

    Nhưng điều chủ yếu là chúng phải sử dụng nó ngay, vì có thể sẽ bị phát hiện hoặc là những thỏi vàng sẽ được dời đi.

    Thứ bảy thì thích hợp hơn những ngày khác vì chúng sẽ có được hai ngày để tẩu tán.

    Với tất cả những lí do trên, tôi tin chắc rằng bọn chúng sẽ đến vào tối nay."

    "Anh suy luận mới tuyệt làm sao", tôi kêu lên với sự ngưỡng mộ chân thành.

    "Đó quả là một chuỗi mắt xích thật dài, thế mà từng mắt xích đều khớp với nhau vừa khít."

    "Chuyện này giúp tôi thoát khỏi sự nhàm chán", anh vừa trả lời vừa ngáp.

    "Chao ôi!

    Tôi lại đã cảm thấy sự tẻ nhạt đang kéo đến quanh mình.

    Cuộc đời của tôi đã dốc hết vào một chuỗi dài nỗ lực nhằm thoát ra khỏi sự tồn tại tầm thường.

    Những vụ nho nhỏ này giúp tôi làm được điều đó."

    "Và anh là một người làm phúc cho nhân loại", tôi nói.

    Anh nhún vai.

    "Ừ, có lẽ xét cho cùng thì việc đó cũng có chút giá trị", rồi nhận xét: L'homme c'est rien - l'oeuvre c'est tout, như Gustave Flaubert đã viết cho George Sand."
     
    Sherlock Holmes Toàn Tập
    MỘT VỤ XÁC ĐỊNH NHÂN DẠNG (A Case of Identity, 1891)


    "Bạn thân mến", Sherlock Holmes nói trong lúc chúng tôi đang ngồi ở hai bên lò sưởi trong căn hộ trên phố Baker, "cuộc sống lạ lùng hơn rất nhiều so với bất cứ điều gì mà trí tuệ con người có thể nghĩ ra.

    Chúng ta không dám tiếp nhận những thứ vốn dĩ là tầm thường của sự hiện hữu.

    Nếu chúng ta có thể nắm tay nhau bay ra ngoài cửa sổ, lượn lờ bên trên thành phố rộng lớn này, nhẹ nhàng dỡ các mái nhà và lén nhòm vào những chuyện kì quặc đang diễn ra, những sự trùng hợp lạ kì, những ý đồ, những mục đích chồng chéo, những chuỗi sự kiện đáng kinh ngạc, đã xảy ra qua nhiều thế hệ và dẫn đến các kết quả outré nhất, thì văn chương hư cấu với sự rập khuôn và những đoạn kết mà ta đã biết thừa từ trước hết thảy đều trở nên nhạt nhẽo và vô vị."

    "Thế nhưng tôi vẫn chưa đồng ý," tôi trả lời.

    "Thường thì những vụ án được làm sáng tỏ trên báo chí đều khá nhạt nhẽo và tầm thường.

    Trong các báo cáo của cảnh sát, thực tế vẫn bị đẩy đến những giới hạn tận cùng đấy thôi, tuy thế vẫn phải thừa nhận là kết quả không mấy hấp dẫn mà cũng chẳng có tính nghệ thuật."

    "Ta cần phải chọn lọc và suy xét kĩ lưỡng thì mới tạo ra được hiệu ứng đậm chất hiện thực", Holmes nhận xét.

    "Đó là điều còn thiếu trong các báo cáo của cảnh sát vốn nhấn mạnh vào các tuyên bố tẻ nhạt của thẩm phán hơn là các chi tiết mà người quan sát cho là chứa đựng yếu tố cốt lõi của toàn bộ vấn đề.

    Tin tôi đi, chính những sự việc tầm thường lại là thứ bất thường nhất đấy."

    Tôi mỉm cười và lắc đầu.

    "Tôi có thể hiểu được tại sao anh nghĩ thế", tôi nói.

    "Tất nhiên là ở vào vị trí của anh, một người tư vấn và giúp đỡ không chính thức bất cứ ai đang hoang mang, bối rối trên khắp ba châu lục, anh được tiếp xúc với tất cả những gì xa lạ và kì dị.

    Nhưng giờ thì..." tôi nhặt lấy tờ báo mới ra sáng nay đang nằm trên sàn nhà.

    "Chúng ta hãy kiểm nghiệm nó trong thực tế.

    Đây là cái tít đầu tiên mà tôi nhìn thấy: Sự tàn nhẫn của một người chồng đối với vợ mình, bài báo dài nửa cột nhưng khỏi cần đọc tôi cũng biết nội dung vì tất cả đều đã quá sức quen thuộc với tôi.

    Thể nào chẳng có chuyện ngoại tình, thói rượu chè, hành vi xô đẩy, đánh đập, nạn nhân bị bầm dập, người chị gái hay bà chủ nhà đầy thương cảm.

    Ngay cả nhà văn thô thiển nhất cũng không thể sáng tác ra thứ gì thô thiển đến thế."

    "Kì thực ví dụ anh đưa ra lại gây bất lợi cho lí lẽ của anh", Hotmes nói, cầm lấy tờ báo và liếc mắt qua.

    "Đây là vụ li thân của vợ chồng nhà Dundas và khi chuyện xảy ra thì tôi có tham gia làm sáng tỏ một vài điểm nhỏ có liên quan, ông chồng là người ghét rượu, cũng không hề có người phụ nữ nào khác xen vào và vấn đề đáng than phiền là ông ta có thói quen kết thúc mỗi bữa ăn bằng cách tháo hàm răng giả của mình ra và ném mạnh vào vợ, hẳn anh cũng phải đồng ý là ít có người kể chuyện bình thường nào có thể tưởng tượng ra được hành động này.

    Bác sĩ à, dùng một nhúm thuốc lá bột nhé, và hãy thừa nhận là tôi đã hạ được anh trong cái ví dụ do chính anh chọn."

    Anh chìa ra hộp thuốc lá cổ bằng vàng có gắn một viên thạch anh tím lớn ở giữa nắp, vẻ lộng lẫy của nó thật tương phản với cá tính xuề xòa và cuộc sống giản dị của anh, khiến tôi không khỏi thốt ra lời bình luận.

    "À", anh nói, "tôi quên mất là mấy tuần vừa rồi không gặp anh.

    Đây là món quà nhỏ từ nhà vua xứ Bohemia để đền đáp sự giúp đỡ của tôi trong vụ thư từ của Irene Adler."

    "Thế còn chiếc nhẫn thì sao?"

    Tôi hỏi, liếc nhìn vật lấp lánh khác thường đang tỏa sáng trên ngón tay anh.

    "Đó là do hoàng tộc Hà Lan ban thưởng, nhưng vụ việc mà tôi giúp đỡ họ vô cùng tế nhị khiến tôi không thể tiết lộ, ngay cả với anh, người đã tử tế ghi chép lại một vài vụ án của tôi."

    "Hiện giờ anh có đang xử lí vụ nào không?"

    Tôi hỏi với vẻ quan tâm.

    "Khoảng mười hay mười hai vụ gì đó, nhưng không vụ nào hấp dẫn cả.

    Các vụ đó đều quan trọng, như anh biết đấy, nhưng lại không lí thú.

    Thật thế, tôi đã rút ra một điều, thường thì những vụ án không quan trọng mới cho ta cơ hội được quan sát cũng như phân tích nhanh mối quan hệ nhân quả, chính điều đó khiến cho ta có hứng điều tra.

    Những vụ phạm tội lớn hơn có khuynh hướng đơn giản hơn vì theo lệ thường, tội ác càng lớn thì động cơ lại càng rõ ràng.

    Những vụ như thế chẳng có gì hay ho cả, ngoại trừ một vụ khá là phức tạp mà người ta chuyển đến cho tôi từ Marseille.

    Tuy vậy, cũng có thể chỉ vài phút nữa thôi tôi sẽ có việc hay ho hơn để làm, vì người kia sẽ là thân chủ của tôi nếu như tôi không nhầm."

    Anh đã nhổm dậy khỏi ghế và đang đứng giữa hai tấm rèm đã được vén lên, chăm chú nhìn xuống con phố xám mờ ảm đạm của thành phố London.

    Nhìn qua vai anh, tôi trông thấy một phụ nữ to béo đứng bên lề đường phía đối diện với chiếc khăn quàng lông thú dày nặng quấn quanh cổ và một chiếc lông chim lớn màu đỏ uốn quăn trên chiếc mũ rộng vành hơi nghiêng bên tai theo phong cách điệu đà của nữ công tước Devonshire.

    Từ bên dưới vành mũ rộng, cô ta liếc vội lên cánh cửa sổ nhà chúng tôi với vẻ lo lắng và do dự trong khi cứ dợm bước lại thôi, còn mấy ngón tay thì bồn chồn vân vê mấy cái cúc ở đôi găng.

    Đột nhiên, cô ta vội vã lao qua đường như thể một người bơi nhào từ trên bờ xuống nước, rồi chúng tôi nghe thấy tiếng chuông cửa vang lên lanh lảnh.

    "Tôi đã từng thấy những biểu hiện thế này rồi", Holmes vừa nói vừa ném mẩu thuốc lá vào lò sưởi.

    "Cứ do dự bước tới bước lui mãi trên lề đường luôn có nghĩa là có một Affaire de coeur.

    Cô ta muốn hỏi ý kiến nhưng lại ngại vấn đề quá tế nhị.

    Quan sát ngay từ chỗ này, chúng ta cũng nhận ra được.

    Khi một người phụ nữ bị tình nhân xử tệ hết mức thì cô ta sẽ không còn do dự nữa mà dấu hiệu thường thấy là sẽ làm đứt dây chuông.

    Còn trường hợp này thì chúng ta có thể đoán là cô gái có vấn đề về tình cảm nhưng không giận dữ mà lại bối rối và đau khổ.

    Nhưng kìa, cô ta đã lên đến nơi để làm rõ những mối nghi ngờ của chúng ta rồi."

    Khi anh nói đến đây thì có tiếng gõ cửa và cậu bé giúp việc bước vào, thông báo là có cô Mary Sutherland muốn gặp.

    Ngay lúc đó, từ phía sau thân hình nhỏ bé mặc bộ đồ đen của cậu, cô gái đã lù lù hiện ra như chiếc tàu buôn giương hết buồm theo sau một chiếc tàu hoa tiêu bé xíu.

    Sherlock Holmes đón tiếp cô ta với phong thái lịch sự, ung dung mà anh vốn thể hiện rất xuất sắc, sau khi đóng cửa lại và nghiêng người mời cô ta ngồi xuống ghế, anh quan sát cô ta trong một phút bằng phong thái lơ đãng đặc trưng.

    "Cô có thấy rằng", anh hỏi.

    "Với bệnh cận thị thì việc đánh máy nhiều như thế là vất vả quá không?"

    "Lúc đầu tôi cũng thấy khó khăn", cô ta trả lời, "nhưng giờ thì tôi đã biết vị trí của các con chữ mà không cần phải nhìn chúng nữa."

    Rồi, bất thình lình nhận ra ngụ ý sâu xa trong lời nói của anh, cô giật bắn người và ngước nhìn lên, khuôn mặt phúc hậu lộ rõ sự sợ hãi và ngạc nhiên.

    "Ông Holmes, hẳn ông đã nghe nói về tôi", cô kêu to, "nếu không, làm sao ông biết hết mọi chuyện?"

    "Cô đừng bận tâm", Holmes cười đáp, "công việc của tôi là phải biết tất cả.

    Có thể là do tôi đã tự rèn luyện để nhìn thấy những điều mà người khác không chú ý đến.

    Nếu không thế thì tại sao cô phải đến gặp tôi để hỏi ý kiến chứ?"

    "Thưa ông, tôi đến tìm ông vì biết đến ông qua lời kể của bà Etherege, ông đã dễ dàng tìm ra chồng bà ta trong khi cảnh sát và mọi người đều bỏ cuộc vì cho là ông ta đã chết.

    Ôi, ông Holmes, tôi ước gì ông cũng giúp được tôi như thế.

    Tôi không giàu có gì nhưng tôi được hưởng một trăm bảng mỗi năm, ngoài ra còn kiếm thêm chút ít từ công việc đánh máy, và tôi sẵn sàng chi đến đồng xu cuối cùng để biết được tin tức của anh Hosmer Angel."

    "Tại sao cô lại đến tìm tôi với vẻ vội vã đến thế?"

    Sherlock Holmes hỏi, mấy ngón tay chụm vào nhau và hai mắt ngước lên trần nhà.

    Một lần nữa, ánh mắt hốt hoảng lại hiện lên trên khuôn mặt có vẻ ngây ngô của cô Mary Sutherland.

    "Vâng, quả thật là tôi đã chạy ào ra khỏi nhà", cô cho biết, "vì tôi rất tức giận khi thấy vẻ dửng dưng của ông Windibank - cha tôi.

    Ông ta chẳng buồn đi báo cảnh sát mà cũng không đến gặp ông, rốt cuộc vì ông ta chẳng làm gì cả và cứ luôn miệng bảo rằng không có gì nguy hiểm nên tôi mới nổi điên lên và tự mình đi thẳng đến đây để gặp ông."

    "Cha cô?"

    Holmes hỏi.

    "Chắc là cha dượng của cô, vì ông ta mang họ khác."

    "Vâng, là cha dượng của tôi.

    Tôi gọi ông ta là cha, dẫu rằng nghe có vẻ hơi buồn cười, vì ông ta chỉ lớn hơn tôi có năm tuổi hai tháng."

    "Và mẹ cô hãy còn sống chứ?"

    "Ồ, vâng, mẹ tôi hãy còn sống và mạnh khỏe.

    Thưa ông Holmes, tôi không vừa lòng cho lắm khi bà tái giá quá sớm sau khi cha tôi mất và lấy một người trẻ hơn bà gần mười lăm tuổi.

    Cha tôi là thợ sửa ống nước ở đường Tottenham Court và ông để lại một cơ sở kinh doanh kha khá cho mẹ tôi quản lí cùng với ông Hardy, viên đốc công; thế nhưng khi ông Windibank xuất hiện thì ông ta buộc mẹ tôi phải bán cơ nghiệp đó đi vì ông ta rất độc đoán, dù ông ta chỉ là một nhân viên chào hàng rượu.

    Họ nhận được bốn ngàn bảy trăm bảng tiền giá trị thương hiệu và lợi nhuận, chẳng thấm vào đâu so với số tiền cha tôi có thể thu được nếu như ông còn sống."

    Tôi cứ nghĩ Sherlock Holmes sẽ tỏ ra sốt ruột với cái kiểu kể chuyện dông dài và vụn vặt của cô ta, nhưng ngược lại, anh lắng nghe hết sức chăm chú.

    "Món thu nhập khiêm tốn của cô", anh hỏi, "có phải là từ công việc kinh doanh đó không?"

    "Ồ, không đâu, thưa ông.

    Đó là một khoản thu riêng do ông chú Ned ở Auckland để lại cho tôi.

    Đó là các trái phiếu của New Zealand, cho lãi 4,5%.

    Số vốn là hai ngàn năm trăm bảng, nhưng tôi chỉ có thể nhận lãi thôi."

    "Câu chuyện của cô làm tôi hết sức thích thú", Holmes nói.

    "Và vì cô nhận được một số tiền lên đến cả trăm bảng mỗi năm, lại còn kiếm thêm được một khoản khác nữa, hẳn là đôi khi cô có đi du lịch và cho phép mình hưởng thụ về mọi mặt.

    Tôi tin rằng một phụ nữ độc thân có thể sống thoải mái với mức thu nhập khoảng sáu mươi bảng."

    "Tôi có thể sống với mức thấp hơn thế nhiều, ông Holmes ạ, nhưng ông cũng hiểu rằng khi tôi còn sống với gia đình thì tôi không muốn mình là gánh nặng cho họ, vì vậy họ có quyền sử dụng số tiền đó chừng nào tôi còn sống chung.

    Tất nhiên là chỉ trong thời gian này thôi.

    Mỗi quý, ông Windibank đều rút tiền lãi của tôi và đưa cho mẹ tôi, còn tôi thì có thể sống khá ổn với món tiền công đánh máy.

    Người ta trả tôi hai xu mỗi trang giấy và tôi có thể đánh được từ mười lăm đến hai mươi trang một ngày."

    "Cô đã mô tả cho tôi thấy rất rõ tình trạng của cô", Holmes nói.

    "Đây là người bạn của tôi, bác sĩ Watson, là người mà cô có thể nói chuyện thoải mái như với chính tôi vậy.

    Xin cô vui lòng kể cho chúng tôi nghe mối quan hệ giữa cô và anh Hosmer Angel."

    Một màu ửng đỏ len lén hiện lên trên khuôn mặt cô Sutherland, và cô bồn chồn kéo diềm áo vét.

    "Tôi gặp anh ấy lần đầu ở buổi khiêu vũ dành cho các công nhân của công ty khí đốt", cô kể.

    "Họ vẫn thường gửi vé mời đến cha tôi hồi ông còn sống, sau đó thì họ vẫn còn nhớ đến chúng tôi và gửi vé mời đến mẹ tôi.

    Ông Windibank không muốn chúng tôi đến dự.

    Ông ta chẳng bao giờ chịu để cho chúng tôi đi đâu cả.

    Ông ta thậm chí còn nổi điên nếu tôi tỏ ý muốn tham dự một buổi tiệc chiêu đãi của lớp giáo lí ngày chủ nhật.

    Nhưng lần này thì tôi nhất định phải đi dự, và tôi đi thật; vì ông ta có quyền gì mà ngăn cản tôi?

    Ông ta nói rằng những người ở đó không đáng để chúng tôi quen biết, dù ở đó toàn là bạn bè của cha tôi.

    Rồi ông ta lại nói là tôi chẳng có bộ quần áo nào coi được, trong khi bộ váy nhung tím của tôi chẳng mấy khi được mặc đến.

    Cuối cùng, khi không còn lí do nào nữa, ông ta đi Pháp vì việc của công ty, còn chúng tôi cứ đi dự buổi khiêu vũ, gồm có mẹ tôi, tôi và ông Hardy, người đốc công trước đây của chúng tôi, và chính ở nơi đó tôi đã gặp gỡ anh Hosmer Angel."

    "Tôi cho rằng", Holmes nói, "khi từ Pháp trở về, hẳn là ông Windibank rất bực bội vì cô đã đến dự buổi khiêu vũ."

    "Ồ, thật may là ông ta rất vui vẻ về chuyện đó.

    Ông ta cười, tôi còn nhớ rõ, và nhún vai rồi nói rằng khó mà cản trở một phụ nữ làm điều gì vì rốt cuộc cô ta sẽ tìm ra cách để có được cái mình muốn thôi."

    "Tôi hiểu.

    Vậy là trong buổi khiêu vũ dành cho nhân viên của công ty khí đốt, cô đã gặp, theo như tôi biết, một quý ông tên là Hosmer Angel."

    "Vâng, thưa ông.

    Tôi gặp anh ấy vào đêm đó và hôm sau thì anh ấy gọi điện để hỏi xem chúng tôi về nhà có được an toàn không, và sau đó thì chúng tôi gặp anh ấy - nói cách khác, ông Holmes ạ, tôi gặp anh ấy hai lần để đi dạo, nhưng sau đó thì cha tôi trở về và anh Hosmer Angel không đến nhà tôi nữa."

    "Anh ta không đến à?"

    "Vâng, thì ông cũng biết là cha tôi không thích những chuyện như thế mà.

    Nếu có thể tránh được thì ông ta sẽ chẳng mời khách khứa gì cả, và ông ta thường nói là phụ nữ nên hài lòng với cuộc sống trong phạm vi gia đình của mình.

    Nhưng mặt khác, như tôi vẫn thường nói với mẹ tôi, muốn thế thì phụ nữ phải có gia đình riêng đã chứ, thế mà đến giờ tôi vẫn chưa có."

    "Thế còn Hosmer Angel thì sao?

    Anh ta không tìm cách để gặp cô ư?"

    "Vâng, vì cha tôi sắp sửa đi Pháp lần nữa trong một tuần nên anh Hosmer gửi thư nói rằng đợi ông ta đi rồi chúng tôi hẵng gặp nhau thì an toàn và hay hơn.

    Hiện giờ thì chúng tôi vẫn có thể trao đổi thư từ và anh ấy thường viết cho tôi mỗi ngày.

    Tôi nhận thư vào buổi sáng, do đó cha tôi không biết."

    "Đến giờ thì cô đã hứa hôn với anh ta chưa?"

    "Ồ, có chứ, ông Holmes.

    Chúng tôi đã đính ước với nhau sau lần đi dạo thứ nhất.

    Hosmer - à, anh Angel là nhân viên thu ngân của một văn phòng nằm trên phố Leadenhall, và..."

    "Văn phòng gì vậy?"

    "Đó chính là điều tệ nhất, ông Holmes ạ, tôi không biết."

    "Thế, anh ta sống ở đâu?"

    "Anh ấy ngủ tại chỗ làm."

    "Và cô không biết địa chỉ của anh ta?"

    "Không, tôi chỉ biết nó nằm ở phố Leadenhall."

    "Thế thì cô ghi địa chỉ trên thư gửi đi như thế nào?"

    "Đến bưu điện phố Leadenhall, hộp thư lưu.

    Anh ấy bảo rằng nếu tôi gửi thư đến văn phòng thì anh ấy sẽ bị tất cả các nhân viên khác trêu chọc về việc nhận thư của phụ nữ, vì thế tôi đề nghị là sẽ đánh máy giống như các bức thư của anh ấy, thế nhưng anh ấy không chịu, anh ấy nói rằng khi tôi viết thư thì anh ấy mới có cảm giác là những lá thư đó đến từ chính tay tôi, còn nếu thư được đánh máy thì anh ấy luôn cảm thấy như có cái máy đánh chữ xen vào giữa hai chúng tôi.

    Chi tiết này cho ông thấy anh ấy yêu mến tôi như thế nào, ông Holmes nhỉ, và anh ấy luôn để ý đến từng chi tiết nhỏ."

    "Chi tiết đó mang rất nhiều ý nghĩa", Holmes nói.

    "Từ lâu tôi luôn tâm niệm rằng những điều vụn vặt là những điều vô cùng quan trọng.

    Cô còn nhớ những chi tiết vụn vặt nào khác về anh Hosmer Angel không?"

    "Anh ấy là một người rất rụt rè, ông Holmes ạ.

    Anh ấy thích đi dạo với tôi vào buổi chiều tối hơn là ban ngày vì anh ấy nói rằng anh ấy không thích bị để ý.

    Anh ấy nhút nhát và lịch sự.

    Ngay cả giọng nói của anh ấy cũng nhẹ nhàng.

    Hồi nhỏ, anh ấy bị viêm amidan, anh ấy bảo với tôi như thế, và di chứng để lại là cổ họng anh ấy bị yếu đi, giọng nói cứ thì thào vì ngập ngừng.

    Anh ấy luôn ăn mặc tươm tất, gọn gàng và đơn giản, nhưng mắt anh ấy cũng kém như mắt tôi và anh ấy đeo một cặp kính râm để không bị chói."

    "Được rồi, thế điều gì xảy ra khi ông Windibank, cha dượng của cô, quay lại Pháp?"

    "Anh Hosmer Angel lại đến nhà và đề nghị chúng tôi nên cưới trước khi cha tôi trở về.

    Anh ấy rất thành khẩn và yêu cầu tôi đặt tay lên quyển Kinh Thánh để thề rằng cho dù có xảy ra chuyện gì đi nữa thì tôi vẫn luôn chung thủy với anh ấy.

    Mẹ tôi bảo rằng anh ấy làm thế là đúng và đó là dấu hiệu cho thấy tình cảm của anh ấy nồng nàn thế nào.

    Mẹ tôi rất quý anh ấy ngay từ buổi đầu và thậm chí còn thương yêu anh ấy hơn cả tôi.

    Rồi, khi hai người họ bàn về chuyện làm đám cưới cho chúng tôi ngay trong tuần, tôi bắt đầu hỏi về cha tôi nhưng cả hai đều bảo không cần quan tâm đến ông ta, chỉ cần báo cho ông ta biết sau và mẹ tôi nói rằng bà sẽ giải quyết mọi chuyện êm đẹp với ông ta.

    Tôi không thích cách giải quyết này cho lắm, ông Holmes ạ.

    Có vẻ buồn cười nếu tôi cần phải xin phép ông ta vì ông ta chỉ lớn hơn tôi có vài tuổi; nhưng tôi không muốn lén lút làm bất cứ chuyện gì, thế là tôi viết thư tới Bordeaux cho cha tôi, đó là nơi công ty của ông ta đặt văn phòng tại Pháp, nhưng lá thư bị gửi trả về vào đúng buổi sáng hôm đám cưới."

    "Vậy là ông ta không nhận được lá thư đó?"

    "Vâng, thưa ông, vì ông ta đã về Anh ngay trước khi nó đến."

    "Chà!

    Thật không may.

    Vậy là hôn lễ của cô được dự định là sẽ cử hành vào ngày thứ sáu.

    Có tổ chức ở nhà thờ chứ?"

    "Vâng, thưa ông, nhưng rất đơn giản.

    Đám cưới diễn ra tại nhà thờ St.

    Saviour's, gần khu King's Cross, sau đó chúng tôi sẽ dùng bữa điểm tâm tại khách sạn St.

    Pancras.

    Anh Hosmer đến đón chúng tôi trong một cỗ xe ngựa hai bánh, nhưng vì không đủ chỗ nên anh để hai mẹ con tôi ngồi trong cỗ xe đó, còn anh thì bước sang một cỗ xe bốn bánh, tình cờ lại là cỗ xe duy nhất trên phố.

    Chúng tôi đến nhà thờ trước, và khi cỗ xe bốn bánh chạy đến, chúng tôi đợi anh ấy bước ra nhưng mãi chẳng thấy đâu, thế rồi người xà ích bước xuống tìm kiếm thì phát hiện trong xe không có ai cả!

    Người xà ích nói là ông ta không thể nào tưởng tượng được điều gì đã xảy ra với anh ấy vì chính mắt ông ta đã nhìn thấy anh ấy bước lên xe.

    Đó là hôm thứ sáu vừa rồi, thưa ông Holmes, và kể từ hôm đó đến nay thì tôi chẳng hề trông thấy hay nghe được tin gì về anh ấy."

    "Có vẻ như cô đã bị đối xử vô cùng tệ hại."

    Holmes nói.

    "Ồ, không đâu, thưa ông!

    Anh ấy quá tốt và tử tế nên sẽ không bỏ rơi tôi như vậy đâu.

    Tại sao ư?

    Suốt buổi sáng hôm đó, anh ấy cứ luôn miệng bảo tôi rằng, nếu có điều gì xảy ra thì tôi phải luôn chung thủy với anh ấy; và nếu có chuyện gì bất ngờ chia rẽ hai chúng tôi thì tôi hãy luôn nhớ rằng tôi đã thề nguyền với anh ấy, và trước sau gì anh ấy cũng sẽ cùng tôi thực hiện lời thề.

    Nói chuyện như thế vào buổi sáng ngày cưới thì có vẻ kì lạ quá, nhưng những gì xảy ra sau đó đã đem lại cho chuyện đó một vài ý nghĩa."

    "Tất nhiên rồi.

    Vậy, theo ý cô thì đã có một tai họa bất ngờ xảy đến với anh ta?"

    "Vâng, đúng thế.

    Tôi tin là anh ấy đã đoán trước được một chuyện nguy hiểm, nếu không thì anh ấy đã không thế.

    Và tôi cho rằng điều mà anh ấy dự đoán đã xảy ra thật."

    "Nhưng cô chẳng có ý niệm nào về điều đã xảy ra đó?"

    "Không hề."

    "Tôi muốn hỏi thêm một câu nữa.

    Mẹ cô đón nhận chuyện đó như thế nào?"

    "Bà rất giận dữ và bảo tôi đừng bao giờ nói đến chuyện này nữa."

    "Còn cha cô thì sao?

    Cô có kể cho ông ta nghe không?"

    "Có, và có vẻ như ông ta nghĩ rằng điều gì đó đã xảy ra, rồi tôi sẽ nhận được tin tức của Hosmer thôi.

    Vì như ông ta nói thì có ai được lợi lộc gì nếu đưa tôi đến trước cửa nhà thờ rồi bỏ mặc tôi ở đó?

    Nếu anh ấy vay mượn tiền của tôi, hoặc nếu anh ấy đã cưới tôi và chuyển tiền của tôi sang cho anh ấy thì còn có lí, đằng này anh Hosmer rất sung túc và không bao giờ nhìn ngó đến một đồng shilling của tôi.

    Tuy vậy, điều gì đã xảy ra?

    Tại sao anh ấy không viết thư cho tôi?

    Ồ, chuyện này làm tôi muốn điên lên mỗi khi nghĩ đến và tôi không thể nào chợp mắt được mỗi đêm."

    Cô ta lấy từ trong bao tay ra một chiếc khăn và bắt đầu khóc như mưa.

    "Tôi sẽ xem qua trường hợp này của cô", Holmes vừa nói vừa động đậy, "và tôi chắc chắn chúng ta sẽ đạt được một kết quả rõ ràng.

    Hãy để tôi gánh giùm cô vấn đề này và đừng để tâm trí cô đắm chìm mãi về nó nữa.

    Quan trọng hơn hết là cô hãy cố gắng xóa bỏ anh Hosmer Angel đó ra khỏi kí ức vì anh ta đã biến mất khỏi cuộc đời cô."

    "Vậy ông nghĩ rằng tôi sẽ không còn gặp lại anh ấy nữa sao?"

    "Tôi e rằng không."

    "Thế thì chuyện gì đã xảy ra với anh ấy?"

    "Hãy để tôi làm sáng tỏ câu hỏi đó cho cô.

    Tôi cần một bản miêu tả chính xác nhân dạng của anh ta và bất cứ bức thư nào của anh ta mà cô còn giữ."

    "Tôi đã cho đăng tìm kiếm anh ấy trên tờ Daily Chronicle ra hôm thứ bảy vừa rồi", cô ta đáp.

    "Đây là bản in nháp, còn đây là bốn bức thư của anh ấy."

    "Cảm ơn cô.

    Thế còn địa chỉ của cô?"

    "Số 31, quảng trường Lyon, Camberwell."

    "Và cô chưa bao giờ biết địa chỉ của anh Angel, tôi biết.

    Cha cô làm việc ở đâu?"

    "Ông ấy đi chào hàng cho Công ty Westhouse & Marbank, là hãng nhập khẩu rượu vang đỏ lớn ở phố Fenchurch."

    "Cảm ơn cô.

    Cô đã trình bày rất rõ ràng.

    Cô cứ để lại những giấy tờ này ở đây và hãy nhớ lời khuyên mà tôi đã đưa ra.

    Hãy để toàn bộ sự việc trở thành một cuốn sách bị phong kín và đừng để nó ảnh hưởng đến cuộc đời cô."

    "Ông tử tế quá, thưa ông Holmes, nhưng tôi không thể nào làm thế.

    Tôi sẽ chung thủy với anh Hosmer.

    Anh ấy sẽ thấy tôi luôn sẵn sàng khi nào anh ấy trở lại."

    Cho dù đội một chiếc mũ trông ngớ ngẩn và mang bộ mặt ngây ngô, vị khách của chúng tôi vẫn bộc lộ nét cao cả qua lời cam kết giản dị ấy khiến chúng tôi sinh lòng kính trọng.

    Cô ta để lại bó giấy nhỏ trên mặt bàn trước khi đi nhưng vẫn hứa sẽ quay lại ngay khi được mời.

    Sherlock Holmes ngồi lặng thinh đến vài phút, mấy ngón tay hãy còn chụm vào nhau, hai chân duỗi dài trước mặt và mắt nhìn chăm chú lên trần nhà.

    Rồi anh lấy từ trên giá xuống cái tẩu thuốc bằng gốm đen đã cũ và nhờn bóng mà anh coi là một nhà cố vấn, sau khi châm lửa, anh tựa người vào lưng ghế, đám khói xanh dày đặc cuộn tròn ở phía trước và một vẻ uể oải vô hạn hiện rõ trên mặt.

    "Cô gái này quả là một trường hợp nghiên cứu rất lí thú", anh nhận xét.

    "Tôi thấy bản thân cô ta còn thú vị hơn cái vấn đề nhỏ nhặt của cô ta, mà nhân đây tôi xin nói luôn là cái vấn đề đó đã cũ rích rồi.

    Anh sẽ thấy nhiều trường hợp tương tự nếu anh tra cứu trong cuốn danh mục của tôi, ở Andover vào năm 1877 và một chuyện kiểu như vậy ở thành phố Hague của Hà Lan hồi năm ngoái.

    Ý tưởng thì cũ lắm rồi, tuy nhiên vẫn có một vài chi tiết mới mẻ đối với tôi.

    Thế nhưng điều đáng học hỏi nhất chính là bản thân cô ta."

    "Có vẻ như anh đã đọc được khá nhiều điều từ cô ta trong khi tôi chẳng nhìn thấy gì cả," tôi nhận xét.

    "Không phải là không nhìn thấy mà là không để ý thấy, Watson ạ.

    Anh không biết nên nhìn vào đâu, vì thế mà anh bỏ sót tất cả những điều chính yếu.

    Tôi không thể làm cho anh nhận thức được tầm quan trọng của các tay áo, sự gợi ý của móng tay cái, hoặc những vấn đề lớn có thể treo lủng lẳng trên một sợi dây giày.

    Nào, anh đã thu thập được những gì từ vẻ bề ngoài của cô ta?

    Hãy mô tả cho tôi nghe xem."

    "Ừ, cô ta đội một chiếc mũ rộng vành màu xám đen có gắn một chiếc lông chim màu đỏ gạch.

    Chiếc áo vét của cô ta màu đen, đính những cườm đen và viền hạt trang trí nhỏ đen nhánh.

    Váy của cô ta màu nâu, hơi đậm hơn màu cà phê, cổ và hai cánh tay viền một ít nhung tím.

    Đôi găng của cô ta màu xám nhạt và bị sờn rách ở ngón trỏ tay phải.

    Tôi không quan sát đôi giày.

    Cô ta đeo đôi hoa tai tròn nhỏ bằng vàng và nhìn chung thì có vẻ khá giả nhưng kiểu cách ăn mặc hơi thiếu thẩm mĩ và xuề xòa."

    Sherlock Holmes vỗ nhẹ hai tay vào nhau và cười tủm tỉm.

    "Quả thật là anh đã tiến bộ đáng ngạc nhiên, Watson ạ.

    Thật vậy, anh đã quan sát rất tốt.

    Đúng là anh bỏ sót mọi thứ quan trọng nhưng đã nắm được phương pháp, và anh có con mắt tinh tường về màu sắc.

    Đừng bao giờ tin tưởng vào ấn tượng chung, anh bạn ạ, mà hãy tập trung vào các chi tiết.

    Nơi đầu tiên tôi chú ý ở một người phụ nữ luôn là tay áo.

    Còn ở đàn ông thì có lẽ tốt hơn là nên xem xét chỗ đầu gối quần trước.

    Như anh đã quan sát thấy, cô gái này có viền nhung ở hai cổ tay, đó là thứ chất liệu lưu lại dấu vết tốt nhất.

    Vết hằn ở phía trên hai cổ tay một chút, là chỗ mà người đánh máy tì vào bàn, hiển hiện rất rõ nét.

    May máy khi quay bằng tay, cũng để lại dấu vết tương tự nhưng chỉ ở bên tay trái và ở phía đối diện với ngón cái, chứ không nằm ngang phần cườm như trong trường hợp này.

    Sau đó, khi nhìn đến khuôn mặt và nhận thấy vết hằn của chiếc kính kẹp mũi ở hai bên mũi cô ta, tôi mới liều đưa ra nhận xét về chứng cận thị cũng như công việc đánh máy và có vẻ làm cho cô ta ngạc nhiên."

    "Tôi cũng ngạc nhiên."

    "Nhưng điều đó rõ rành rành mà.

    Thế rồi tôi rất ngạc nhiên và thích thú khi nhìn xuống và nhận thấy rằng, hai chiếc giày cô ta đang đi trông khá giống nhau nhưng lại cọc cạch; một chiếc có gắn một vật trang trí nhỏ ở mũi giày, còn chiếc kia là giày trơn.

    Một chiếc chỉ được cài ở hai nút dưới cùng, còn chiếc kia thì cài ở nút thứ nhất, thứ ba và thứ năm.

    Đấy, khi anh thấy một cô gái trẻ ăn mặc gọn gàng mà lại đi giày cọc cạch và chỉ cài nút phân nửa khi ra khỏi nhà thì chẳng cần suy luận to tát cũng khẳng định được là cô ta đã ra ngoài một cách vội vã."

    "Còn gì nữa không?"

    Tôi thích thú hỏi tiếp vì tôi luôn rất có hứng thú với suy luận sắc bén của bạn mình.

    "Tôi tình cờ nhận thấy là cô ta đã viết gì đó trước khi rời khỏi nhà nhưng là sau khi đã mặc quần áo chỉnh tề.

    Anh đã nhận ra chiếc găng tay bên phải của cô ta bị rách ở ngón trỏ, nhưng lại không để ý là cả chiếc găng lẫn ngón tay đều bị lấm mực tím.

    Cô ta đã viết vội vã và nhúng cây bút quá sâu, điều đó chắc chắn chỉ mới xảy ra vào sáng nay, nếu không thì vết mực đã chẳng hiện rõ trên ngón tay như thế.

    Tất cả những chi tiết này cũng khá thú vị, tuy là hơi sơ đẳng, nhưng tôi phải quay lại với công việc thôi, Watson.

    Anh vui lòng đọc bản mô tả anh Hosmer Angel trong mẩu tin tìm người được chứ?"

    Tôi đưa bản in thử bé xíu ra trước ánh sáng.

    "Một nam giới tên Hosmer Angel mất tích vào sáng ngày 14.

    Cao khoảng năm foot bảy; vóc dáng khỏe mạnh, nước da hơi tái, tóc đen rậm, hơi hói trên đỉnh đầu, có râu quai nón và ria mép đen, đeo kính râm, giọng nói hơi thều thào.

    Trước khi mất tích mặc áo choàng dài đến gối màu đen viền lụa, áo gilet đen với dây đồng hồ vàng kiểu Albert và quần len dày màu xám, chân đi ống bao mắt cá màu nâu bên ngoài đôi giày cao cổ có cạnh chun.

    Được biết đã từng làm việc cho một văn phòng ở phố Leadenhall.

    Ai biết xin thông báo..."

    "Thế đủ rồi", Holmes nói.

    "Về phần mấy lá thư," anh nói tiếp, mắt liếc sơ về phía chúng, "chúng rất bình thường.

    Chúng chẳng nói lên điều gì về anh Angel, ngoại trừ việc có một lần anh ta trích dẫn lời của Balzac.

    Tuy vậy, có một điểm rất đặc biệt mà hẳn là anh đã chú ý đến."

    "Chúng được đánh máy", tôi đưa ra nhận xét.

    "Không chỉ thế, mà chữ kí cũng được đánh máy luôn.

    Anh hãy nhìn vào hai chữ 'Hosmer Angel' rất rõ ràng ở cuối thư.

    Có cả ngày tháng, anh thấy chứ, nhưng không ghi địa chỉ cụ thể mà chỉ đề phố Leadenhall, rất là mơ hồ.

    Chi tiết về chữ kí cũng cho ta thấy được nhiều điều."

    "Vì cái gì?"

    "Anh bạn thân mến, lẽ nào anh lại không nhận ra tầm quan trọng của nó trong vụ này?"

    "Tôi chỉ đoán được rằng anh ta làm thế để có thể chối bỏ chữ kí của mình nếu như việc hủy bỏ hôn ước bị điều tra."

    "Không phải thế.

    Nhưng dù sao tôi cũng sẽ viết hai bức thư để giải quyết vấn đề.

    Một bức sẽ được gửi đến một công ty ở khu City, bức kia thì gửi đến ông bố dượng của cô gái - ông Windibank - để mời ông ta đến đây gặp chúng ta lúc 6 giờ tối mai.

    Chúng ta nên làm việc với đại diện nam giới là người nhà đương sự.

    Giờ thì, bác sĩ, chúng ta không thể làm gì thêm nữa cho đến khi nhận được hồi âm của hai lá thư trên, vậy thì, tạm thời ta có thể xếp vấn đề nhỏ bé này lên kệ."

    Tôi có rất nhiều lí do để tin tưởng vào khả năng suy luận tài tình và năng lực phi thường của bạn mình trong khi hành động, vậy nên tôi cảm thấy hẳn là anh phải có cơ sở vững chắc thì mới có được thái độ quả quyết và ung dung với vụ bí ẩn kì quặc mà anh được yêu cầu tìm hiểu này.

    Tôi biết anh chỉ thất bại một lần duy nhất trong vụ việc nhà vua xứ Bohemia và bức hình của cô Irene Adler; nhưng khi tôi xem lại vụ án kì quặc Dấu bộ tứ và những tình huống khác thường liên quan đến vụ Cuộc điều tra màu đỏ thì tôi lại thấy nếu có vụ nào anh không gỡ được thì đó hẳn phải là một vụ rối rắm kì lạ lắm.

    Thế rồi tôi rời đi, anh vẫn đang bập từng hơi thuốc từ cái tẩu gốm đen của mình, tôi tin chắc rằng khi tôi quay lại vào tối hôm sau thì sẽ thấy anh đã nắm trong tay mọi manh mối để tìm ra chú rể mất tích của cô Mary Sutherland.

    Một ca bệnh rất nặng đã chiếm trọn sự tập trung của tôi suốt ngày hôm đó và cả ngày hôm sau tôi phải trực bên giường của bệnh nhân.

    Mãi đến gần 6 giờ chiều tôi mới được tự do để nhảy lên một cỗ xe đến phố Baker, lòng lo lắng mình sẽ đến quá trễ và không thể tham dự vào dénouement của vụ bí ẩn nho nhỏ này.

    Tuy nhiên, tôi thấy chỉ có một mình Sherlock Holmes trong nhà, anh đang nửa thức nửa ngủ, thân hình cao gầy co lại trong lòng chiếc ghế bành.

    Một dãy dài chai lọ và ống nghiệm với mùi hăng nồng của axít clohidric cho tôi biết anh đã dành trọn ngày cho công việc nghiên cứu hóa học quen thuộc.

    "Sao, anh đã giải quyết xong rồi chứ?"

    Tôi hỏi khi bước vào nhà.

    "Rồi.

    Đó là chất barit bisulphat."

    "Không phải chuyện đó, vụ bí ẩn kìa!"

    Tôi kêu lên.

    "Ồ, chuyện đó à!

    Tôi lại nghĩ về chất muối mà tôi đang nghiên cứu.

    Vì vấn đề đó thì chẳng bao giờ có gì là bí ẩn cả, tuy vậy, như tôi đã nói hôm qua, có một số chi tiết lí thú.

    Tôi e rằng điều trở ngại duy nhất là không có cơ sở pháp lí để đụng đến tên vô lại đó."

    "Thế hắn là ai và hắn muốn gì khi bỏ rơi cô Sutherland?"

    Câu hỏi vừa mới thốt ra và Holmes còn chưa kịp trả lời thì chúng tôi nghe thấy tiếng bước chân nặng nề trong hành lang và tiếng gõ cửa.

    "Đó là cha dượng của cô gái, ông James Windibank", Holmes nói.

    "Ông ta đã trả lời tôi là sẽ đến đây lúc 6 giờ.

    Mời vào!"

    Người đàn ông bước vào có thân hình vạm vỡ, chiều cao trung bình, độ ngoài ba mươi tuổi, râu ria cạo nhẵn, nước da tai tái với cách nói chuyện nhẹ nhàng có vẻ giả dối và đôi mắt màu xám rất sắc bén.

    Ông ta liếc nhìn từng người chúng tôi vẻ dò hỏi rồi đặt cái mũ chóp cao bóng loáng lên mặt tủ, hơi nghiêng mình cúi chào rồi rụt rè ngồi xuống chiếc ghế gần nhất.

    "Xin chào, ông James Windibank", Holmes cất tiếng.

    "Tôi nghĩ rằng bức thư đánh máy này là do ông thảo ra với nội dung bằng lòng đến gặp tôi lúc 6 giờ?"

    "Vâng, thưa ông.

    Tôi e là mình đến hơi trễ, nhưng tôi không chủ động được, ông biết đấy.

    Tôi rất lấy làm tiếc về việc cô Sutherland đã làm phiền ông về cái việc vụn vặt này, tôi nghĩ rằng chuyện đó nên giải quyết trong nhà thì tốt hơn.

    Cô ta đến đây là chuyện ngoài ý muốn của tôi, thế nhưng đó là một cô gái bốc đồng và dễ bị kích động, có lẽ ông cũng nhận thấy thế, và không dễ gì mà ngăn cản một khi cô ta đã quyết làm.

    Tất nhiên là tôi không ngại ông lắm vì ông cũng không liên quan đến cảnh sát, nhưng cũng chẳng dễ chịu gì khi một chuyện không may trong gia đình bị đem lan truyền khắp nơi.

    Hơn nữa làm thế chỉ tổ phí công vô ích vì làm sao ông có thể tìm ra gã Hosmer Angel ấy được?"

    "Trái lại", Holmes nhẹ nhàng đáp, "tôi có đủ lí do để tin tưởng rằng mình sẽ thành công trong việc vạch trần anh Hosmer Angel."

    Windibank giật thót người và đánh rơi đôi găng tay.

    "Tôi rất mừng khi nghe thế."

    ông ta nói.

    "Điều lạ lùng là", Holmes nhận xét, "một cái máy đánh chữ cũng có những đặc điểm riêng không thua gì chữ viết tay.

    Trừ phi đó là một cái máy hoàn toàn mới, ngoài ra thì không có hai cái máy đánh chữ nào cho ra những chữ giống nhau tuyệt đối.

    Một số chữ bị mòn nhiều hơn những chữ khác, và một số chỉ bị mòn ở một bên.

    Đây, ông sẽ quan sát thấy trong bức thư này của ông, thưa ông Windibank, tất cả những chữ e đều hơi mờ trên tổng thể và những chữ r thì hơi khuyết một chút ở đuôi.

    Ngoài ra còn có mười bốn đặc điểm khác nữa nhưng hai đặc điểm trên là rõ rệt nhất."

    "Ở văn phòng, chúng tôi chỉ dùng cái máy đánh chữ này để thảo tất cả thư từ, và chắc chắn là nó đã hơi mòn", ông khách của chúng tôi trả lời, đồng thời liếc trộm về phía Holmes với đôi mắt nhỏ sáng rực.

    "Và giờ thì tôi sẽ cho ông thấy một nghiên cứu thật sự thú vị, thưa ông Windibank", Holmes nói tiếp.

    "Tôi tính sắp tới sẽ viết một chuyên khảo về máy đánh chữ và mối liên hệ của nó với tội phạm.

    Tôi khá lưu tâm đến đề tài này.

    Trong tay tôi hiện đang có bốn bức thư dường như do người mất tích thảo ra.

    Chúng đều được đánh máy.

    Trong mỗi lá thư, không chỉ có những chữ e bị mờ và chữ r bị mất đuôi mà như ông sẽ thấy, nếu ông dùng đến chiếc kính lúp của tôi, còn có cả mười bốn đặc điểm khác mà tôi đã nhận thấy."

    Windibank nhảy vọt ra khỏi ghế và chộp lấy cái mũ.

    "Ông Holmes, tôi không thể phí phạm thì giờ để nói mấy chuyện quái gở này", hắn nói.

    "Nếu ông có thể bắt được hắn thì cứ bắt và hãy báo cho tôi biết khi nào ông xong việc."

    "Chắc chắn rồi", Holmes vừa nói vừa sải bước và xoay chìa khóa cửa.

    "Thế thì tôi xin thông báo với ông là tôi đã bắt được hắn!"

    "Gì chứ?

    Ở đâu?"

    Windibank kêu to, đôi môi tái nhợt đi và cặp mắt láo liên nhìn xung quanh như một con chuột đang nằm trong bẫy.

    "Ồ, không được đâu, chắc chắn là không", Holmes ngọt ngào nói.

    "Không có cách nào thoát ra được đâu, ông Windibank.

    Chuyện đã quá rõ rồi, và ông đã đưa ra một lời khen tệ hại khi nói rằng tôi không thể giải đáp được một vấn đề đơn giản đến thế.

    Đúng vậy!

    Mời ông ngồi xuống và chúng ta sẽ cùng thảo luận đến nơi đến chốn."

    Người khách của chúng tôi đổ sụp xuống ghế, mặt nhợt nhạt như xác chết và mồ hôi rịn ra bóng loáng trên trán.

    "Chuyện này... không thưa kiện gì được đâu", hắn lắp bắp.

    "Tôi cũng e rằng pháp luật không giải quyết được.

    Nhưng giữa chúng ta với nhau, ông Windibank, đó là một trò gian trá tàn nhẫn, ích kỉ và hèn hạ nhất mà tôi từng thấy.

    Nào, hãy để tôi thuật lại diễn biến của sự việc và ông có thể bác bỏ nếu như tôi nói sai."

    Gã đàn ông ngồi ủ rũ trên ghế, đầu gục xuống trước ngực như người bị giáng một đòn trí mạng.

    Holmes gác hai chân lên một góc trên mặt lò sưởi và ngả người ra sau, hai tay đút túi, anh bắt đầu nói, như với chính mình chứ không phải là với chúng tôi.

    "Có một người đàn ông nọ cưới một người phụ nữ lớn tuổi hơn hắn rất nhiều chỉ vì tiền của bà ta", anh kể, "và hắn được sử dụng tiền của cô con gái chừng nào cô vẫn còn sống chung với họ.

    Đó là một món hời đáng kể đối với những người trong cuộc và việc mất đi số tiền đó sẽ là một sự thay đổi rất đáng sợ.

    Cần phải ra sức duy trì tình trạng đó.

    Cô con gái không những rất tốt bụng và tử tế mà còn giàu tình cảm và hay biểu lộ ra, vì thế dễ nhận thấy là với sự nết na cộng thêm món thu nhập nho nhỏ thì cô ta sẽ không ở vậy lâu.

    Tất nhiên, nếu cô ta kết hôn thì họ sẽ mất đi hàng trăm bảng mỗi năm, vậy người cha dượng phải làm gì để ngăn chặn điều đó?

    Ông ta chọn cách dễ thấy là giữ cô ta ở trong nhà và ngăn cấm cô ta tìm kiếm bạn bè cùng lứa tuổi.

    Nhưng rồi ông ta nhanh chóng nhận ra đó không phải là giải pháp lâu dài.

    Cô ta trở nên mạnh mẽ hơn, kiên quyết bảo vệ quyền lợi của mình và cuối cùng thì nói ra miệng ý định quả quyết sẽ tham dự một buổi khiêu vũ nào đó.

    Người cha dượng khôn ngoan của cô ta cần phải làm gì?

    Ông ta nghĩ ra một kế hoạch đáng khen về trí thông minh nhưng đáng trách về mặt tình cảm.

    Với sự đồng lõa và hỗ trợ của người vợ, ông ta tự cải trang, che giấu đôi mắt sắc bằng cặp kính râm, hóa trang khuôn mặt bằng một bộ ria và râu quai nón rậm rạp, hạ thấp giọng nói rõ ràng thành tiếng thì thào, cộng thêm một lợi thế an toàn là cô gái bị cận thị, ông ta đã xuất hiện dưới lốt chàng trai Hosmer Angel và gạt những chàng trai khác ra xa bằng cách tỏ tình với cô gái."

    "Lúc đầu thì đó chỉ là một trò đùa thôi", ông khách của chúng tôi rên rỉ.

    "Chúng tôi chẳng bao giờ nghĩ rằng cô ta lại say đắm đến thế."

    "Không hẳn vậy.

    Dù sao đi nữa, cô gái trẻ rõ ràng đã rất say đắm và vì cứ đinh ninh rằng người cha dượng đang ở Pháp nên cô ta chẳng mảy may nghi ngờ về sự lừa đảo.

    Cô ta bị xiêu lòng bởi sự quan tâm của chàng trai và còn bị tác động thêm bởi sự ngưỡng mộ được bà mẹ thể hiện rất nhiệt tình.

    Thế rồi anh Angel bắt đầu ghé chơi nhà, vì rõ ràng là cần phải đẩy việc này đi xa hết mức để tạo được hiệu quả thực sự.

    Những buổi hẹn hò, tiếp đến là hứa hôn, nhằm dứt khoát ngăn chặn cô gái trao tình cảm cho bất cứ chàng trai nào khác.

    Thế nhưng sự dối trá đó không thể duy trì lâu dài.

    Những chuyến đi Pháp giả vờ khá là bất tiện.

    Rất dễ nhận thấy là cần phải kết thúc sự việc một cách kịch tính nhằm lưu lại ấn tượng vĩnh viễn trong tâm hồn cô gái trẻ và ngăn cô ta nhìn ngó đến bất cứ đối tượng cầu hôn nào khác trong tương lai, vì thế mới có những lời thề chung thủy trên Kinh Thánh cũng như những lời bóng gió về một điều gì đó có thể xảy ra ngay trong buổi sáng hôm đám cưới.

    James Windibank mong muốn cô Sutherland sẽ ràng buộc mình với Hosmer Angel, và vì không biết điều gì đã xảy ra với anh ta, bất luận thế nào, trong vòng mười năm tới, cô sẽ không quan tâm đến bất cứ người đàn ông nào khác.

    Lúc đưa cô gái đến cửa nhà thờ, vì không thể để sự việc diễn tiến xa hơn nữa, hắn đã biến mất một cách dễ dàng bằng cái mánh lới xưa cũ là bước lên một cỗ xe bốn bánh bằng cửa này và thoát ra bằng cửa bên kia.

    Tôi nghĩ diễn biến các sự kiện là như thế đấy, ông Windibank!"

    Người khách của chúng tôi đã lấy lại chút tự tin trong lúc Holmes nói và ông ta nhổm dậy khỏi ghế với nụ cười nhếch mép trên khuôn mặt tai tái.

    "Có thể là như thế mà cũng có thể không phải vậy, ông Holmes ạ", hắn nói, "nhưng nếu ông sắc sảo đến thế thì hẳn là ông cũng đủ thông minh để biết rằng chính ông mới là người đang vi phạm pháp luật chứ không phải tôi.

    Ngay từ đầu tôi đã không làm điều gì khả dĩ bị kiện ra tòa, nhưng chừng nào ông còn khóa chặt cửa thì ông còn nguy cơ bị khởi tố vì tội tấn công và giam giữ người trái phép."

    "Như ông đã nói, luật pháp không thể đụng đến ông", Holmes nói, anh mở khóa và giật tung cánh cửa ra, "tuy nhiên, không có người nào xứng đáng bị trừng phạt hơn ông.

    Nếu cô gái đó có một người anh hoặc một người bạn trai thì hẳn người đó sẽ quất một roi vào vai ông.

    Ái chà!"

    Anh nói tiếp, mặt đỏ bừng lên vì nụ cười nhạo báng chua cay trên mặt hắn, "tuy đây không phải là bổn phận của tôi đối với khách hàng, nhưng sẵn tiện có một ngọn roi ở đây, tôi nghĩ rằng tôi sẽ tự cho phép mình..."

    Anh bước nhanh hai bước với lấy cái roi ngựa nhưng tiếng bước chân khua lộp cộp dữ dội trên mấy bậc thang, tiếng cánh cửa nặng nề đóng sầm lại và từ cửa sổ, chúng tôi nhìn thấy James Windibank đang vắt giò lên cổ chạy xuống đường.

    "Một tên vô lại máu lạnh!"

    Holmes nói rồi cười phá lên khi anh buông người trở lại chiếc ghế bành.

    "Hắn sẽ phạm tội ngày càng nghiêm trọng rồi thể nào cũng có ngày tội hắn đủ nặng và kết thúc ở giá treo cổ.

    Xét trên một số khía cạnh thì vụ này cũng không đến nỗi kém lí thú."

    "Tôi vẫn chưa thể nhìn ra tất cả các bước suy luận của anh", tôi bình luận.

    "À, tất nhiên rồi, điều dễ dàng nhận thấy ngay từ đầu là anh chàng Hosmer Angel hành động kì quặc như thế là có mục đích, và cũng rất rõ ràng là đối tượng duy nhất thực sự được hưởng lợi từ sự việc này, như chúng ta có thể thấy, chính là người cha dượng.

    Tiếp theo là đến chi tiết hai người đàn ông này chưa bao giờ xuất hiện cùng lúc, chính việc một người luôn luôn xuất hiện khi kẻ kia đi vắng đã nói lên rất nhiều điều.

    Cặp kính râm và giọng nói lạ lùng cũng thế, cả hai đều gợi ý đến một sự ngụy trang, cũng giống như bộ râu quai nón rậm rạp.

    Tất cả những mối nghi ngờ của tôi được khẳng định bởi hành động lập dị của hắn là dùng máy đánh chữ để kí tên, tất nhiên là từ đó mà tôi suy ra được rằng chữ viết của hắn phải rất quen thuộc với cô gái đến mức chỉ cần nhìn một vài chữ là cô ta có thể nhận ra ngay.

    Anh thấy đấy, tất cả các chi tiết riêng rẽ này, kết hợp với nhiều chi tiết nhỏ nhặt khác, đều chỉ về cùng một hướng."

    "Anh đã xác minh chúng ra sao?"

    "Một khi đã tìm ra gã đàn ông rồi thì việc kiểm chứng cũng trở nên dễ dàng.

    Tôi biết công ty hắn làm việc.

    Bản mô tả nhân dạng cũng đã có trong tay.

    Tôi bèn loại bỏ những thứ có thể ngụy trang - bộ râu quai nón, cặp kính, giọng nói - rồi gửi đến công ty hắn và hỏi họ bản mô tả này có khớp với nhân viên chào hàng nào của họ hay không.

    Tôi cũng đã lưu ý đến những đặc điểm riêng của cái máy đánh chữ, và tôi gửi tới địa chỉ công ty hắn một bức thư cho chính hắn, yêu cầu hắn đến đây.

    Quả như tôi dự đoán, thư hồi âm của hắn được đánh máy và để lộ những khiếm khuyết tuy không đáng kể nhưng lại rất đặc trưng.

    Tôi cũng nhận được một lá thư từ Westhouse & Marbank tại phố Fenchurch, xác nhận rằng bản mô tả khớp đến từng chi tiết với một trong các nhân viên của họ, James Windibank.

    Voilà tout."

    "Thế còn cô Sutherland thì sao?"

    "Nếu tôi kể cho cô ta nghe thì nhất định cô ta sẽ không tin.

    Hẳn là anh còn nhớ một câu châm ngôn Ba Tư: 'Bắt cọp con đã nguy hiểm, mà cướp đi ảo vọng của phụ nữ càng nguy hiểm.' Trong tác phẩm của Hafiz cũng như của Horace, hay trong kho tàng kiến thức của nhân loại, ta đều có thể tìm thấy những câu nói có ý nghĩa tương tự."
     
    Sherlock Holmes Toàn Tập
    VỤ BÍ ẨN Ở THUNG LŨNG BOSCOME (The Boscombe Valley Mystery, 1891)


    Một buổi sáng, khi hai vợ chồng tôi đang dùng điểm tâm thì cô hầu gái đem vào một bức điện tín.

    Bức điện do Sherlock Holmes gửi với nội dung như sau:

    Anh có rảnh vài ngày không?

    Vừa nhận điện tín từ miền Tây nước Anh về tấn thảm kịch ở thung lũng Boscombe.

    Rất vui nếu có anh đi cùng.

    Khí hậu và phong cảnh rất tuyệt.

    Sẽ rời Paddington lúc 11 giờ 15.

    "Ý anh thế nào, anh yêu?"

    Vợ tôi đưa mắt liếc nhìn tôi và hỏi.

    "Anh sẽ đi chứ?"

    "Anh thật sự chưa biết nên trả lời thế nào.

    Hiện tại anh đang có rất nhiều việc phải làm."

    "Ồ, Anstruther sẽ làm thay anh.

    Dạo gần đây trông anh xanh xao quá.

    Em nghĩ rằng việc thay đổi không khí sẽ có lợi cho anh, vì tại anh vẫn luôn rất hứng thú với những vụ án của Sherlock Holmes kia mà."

    "Nếu không nhận lời thì anh sẽ là kẻ vô ơn, bởi xét ra thì anh đã được hưởng lợi nhờ một trong những vụ đó," tôi trả lời.

    "Nhưng nếu đi thì anh phải chuẩn bị hành lí ngay lập tức vì chỉ còn có nửa giờ nữa thôi."

    Kinh nghiệm từ cuộc sống nay đây mai đó ở Afghanistan ít ra cũng giúp tôi thành một người luôn nhanh chóng và sẵn sàng cho những chuyến đi.

    Các nhu cầu của tôi không nhiều và cũng đơn giản, vì thế mà chưa đến giờ hẹn tôi và hành lí đã yên vị trong một cỗ xe lọc cọc chạy về hướng nhà ga Paddington.

    Sherlock Holmes đang đi tới đi lui trên sân ga, chiếc áo khoác du lịch xám dài với chiếc mũ vải ôm sát đầu càng làm cho dáng người của anh thêm cao gầy.

    "Anh đến thì thật tốt biết mấy, Watson ạ", anh nói.

    "Có được một người mà tôi hoàn toàn tin cậy đi cùng là quan trọng lắm.

    Lúc nào cũng thế, lực lượng hỗ trợ ở địa phương nếu không vô dụng thì cũng đầy thành kiến.

    Nếu anh vừa lòng với hai chỗ ngồi ở góc thì tôi đi lấy về đây."

    Chúng tôi có được một khoang riêng nhưng lại bị ngập trong hàng chồng báo mà Holmes mang theo.

    Anh lục lọi và đọc chúng, thỉnh thoảng lại ghi chép và trầm tư cho đến khi chúng tôi đi qua Reading.

    Đột nhiên anh vo tròn chúng lại thành một cuộn to tướng và ném lên giá.

    "Anh đã nghe tin gì về vụ này chưa?"

    Anh hỏi.

    "Chưa nghe gì cả.

    Mấy hôm nay tôi chẳng đọc tờ báo nào."

    "Báo chí London cũng không đưa tin đầy đủ cho lắm.

    Tôi vừa xem qua tất cả những tờ báo mới ra để nắm vững các chi tiết.

    Từ những gì tôi thu thập được thì có vẻ như đây là một trong những vụ án đơn giản nhưng lại vô cùng khó khăn."

    "Nghe có vẻ nghịch lí quá!"

    "Nhưng lại hết sức đúng đắn.

    Sự khác thường luôn là một đầu mối.

    Một tội ác càng tầm thường và không có gì đặc biệt thì lại càng khó hiểu.

    Tuy nhiên, trong vụ này thì người ta đã khởi tố một vụ án cực kì bất lợi cho con trai người bị sát hại."

    "Vậy đó là một vụ giết người à?"

    "Phải, người ta phỏng đoán thế.

    Tôi thì không bao giờ khẳng định điều gì trước khi có cơ hội đích thân xem xét sự việc.

    Tôi sẽ giải thích ngắn gọn tình hình cho anh nghe trong chừng mực mà tôi hiểu:

    Thung lũng Boscombe là một vùng quê nằm không xa thị trấn Ross của hạt Herefordshire.

    Điền chủ lớn nhất vùng đó là một ông có tên John Turner; ông ta đã kiếm được nhiều tiền ở Úc và mới trở về quê cũ được vài năm.

    Một trong những trang trại của ông ta, trại Hatherley, được ông Charles McCarthy thuê, ông này trước đây cũng từng sống ở Úc.

    Hai người quen biết nhau ở thuộc địa, vì thế chẳng lạ lùng gì khi trở về định cư họ vẫn giữ mối quan hệ rất thân thiết.

    Rõ ràng là ông Turner giàu có hơn, còn ông McCarthy chỉ là người thuê đất, nhưng cả hai vẫn có vẻ hoàn toàn bình đẳng với nhau vì họ thường đi chung với nhau.

    Ông McCarthy có một cậu con trai mười tám tuổi, còn ông Turner chỉ có một cô con gái duy nhất cũng trạc tuổi cậu ta, và cả hai ông đều góa vợ.

    Có vẻ như họ tránh giao du với những gia đình người Anh hàng xóm và sống ẩn dật, dù cả hai cha con McCarthy đều rất thích thể thao và thường xuất hiện ở những buổi đua ngựa trong vùng.

    Ông McCarthy có hai người giúp việc - một người đàn ông và một cô gái.

    Ông Turner thì có rất nhiều gia nhân, ít ra cũng phải nửa tá.

    Đó là những gì tôi có thể thu thập được về hai gia đình trên.

    Giờ thì nói về các sự việc.

    Vào ngày mồng 3 tháng 6, tức hôm thứ hai vừa rồi, ông McCarthy ra khỏi nhà ở Hatherley vào khoảng 3 giờ chiều và đi bộ đến hồ Boscombe, đó là một cái hồ nhỏ hình thành do sự mở rộng của một con suối chảy dọc thung lũng Boscombe.

    Trước đó, vào buổi sáng, ông ta đã ra thị trấn Ross cùng với ông giúp việc và nói với người này là ông ta phải đi gấp vì có một cái hẹn rất quan trọng lúc 3 giờ.

    Kể từ cuộc hẹn đó, không ai thấy ông ta còn sống trở về.

    Hồ Boscombe nằm cách trang trại Hatherley một phần tư dặm, và có hai người đã nhìn thấy ông ta băng qua khu đất này.

    Một người là một bà già không thấy nhắc đến tên tuổi, còn người kia là William Crowder - người coi khu săn bắn làm việc cho ông Turner.

    Cả hai nhân chứng đều khai là ông McCarthy đi một mình.

    Người coi khu săn bắn còn nói thêm là khoảng vài phút sau khi trông thấy ông McCarthy đi ngang qua thì anh ta nhìn thấy con trai của ông ta, anh James McCarthy, cũng đi đường ấy và kẹp một khẩu súng dưới nách.

    Theo sự khẳng định chắc nịch của người này, vào lúc đó, người cha vẫn còn trong tầm mắt, còn anh con trai thì đi theo ông ta.

    Nhân chứng cũng không nghĩ ngợi gì thêm về việc đó cho đến chiều tối hôm ấy, khi anh ta nghe kể về tấn bi kịch đã xảy ra.

    Sau khi hai cha con nhà McCarthy đi khuất tầm mắt của người gác khu săn bắn William Crowder, thì lại có người nhìn thấy họ.

    Quanh hồ Boscombe, cây cối mọc rậm rạp, chỉ có một vạt cỏ và lau sậy nhỏ hẹp ven mép hồ.

    Patience Moran, một bé gái mười bốn tuổi, là con gái người gác cổng của điền trang Thung lũng Boscombe, lúc đó đang hái hoa trong một khu rừng.

    Cô bé nói rằng khi ở đó đã nhìn thấy ông McCarthy và người con trai đứng ở bìa rừng, sát hồ nước, có vẻ như họ đang cãi nhau dữ dội.

    Cô bé nghe thấy tiếng người cha chì chiết con trai và cô nhìn thấy anh ta vung tay lên như muốn đánh cha mình.

    Sự hung bạo của họ khiến cô bé sợ hãi đến nỗi chạy ngay về nhà kể cho mẹ nghe chuyện hai cha con McCarthy đang cãi nhau bên hồ Boscombe và cô sợ là họ sẽ đánh nhau.

    Cô chưa kịp kể gì nhiều thì đã thấy anh con trai nhà McCarthy chạy đến chòi gác báo rằng anh ta thấy cha mình chết trong rừng và nhờ người gác cổng giúp đỡ.

    Anh ta rất hoảng loạn, không còn khẩu súng và chiếc mũ, bàn tay phải và ống tay áo dính vết máu hãy còn mới.

    Khi đi theo anh ta, người ta tìm thấy xác chết nằm sõng soài trên bãi cỏ cạnh hồ, đầu bị đập nhiều cú liên tiếp bằng một thứ vũ khí nặng và cùn.

    Những vết thương như vậy rất có thể là do báng súng của anh con trai gây ra, và cái báng súng đó được tìm thấy trên cỏ chỉ cách thi thể có vài bước chân.

    Trong hoàn cảnh đó, chàng trai trẻ bị bắt ngay lập tức và bị kết tội 'giết người có chủ đích', tại cuộc thẩm tra chính thức hôm thứ ba, đến hôm thứ tư thì anh ta bị đưa ra tòa sơ thẩm ở Ross và các thẩm phán đã chuyển vụ án này lên Tòa đại hình.

    Đó là những sự kiện chính trong vụ này khi nó được đưa ra trước Pháp y viên và tòa án vi cảnh."

    "Tôi khó mà hình dung ra một vụ án nào có bằng chứng rõ ràng đến thế", tôi nhận xét.

    "Chưa bao giờ các chứng cứ gián tiếp lại chỉ thẳng vào một thủ phạm như trong vụ này."

    "Chứng cứ gián tiếp là một thứ rất phức tạp", Holmes đáp với vẻ trầm tư.

    "Nó có thể chỉ thẳng đến một điều nào đó nhưng nếu anh thay đổi góc nhìn một chút anh có thể thấy nó lại hướng thẳng tới một điều hoàn toàn khác.

    Tuy vậy, cũng phải thừa nhận rằng các tình tiết trong vụ án này có vẻ rất bất lợi cho chàng trai trẻ, và rất có thể anh ta chính là thủ phạm.

    Thế nhưng có vài người sống quanh vùng, trong số đó có cô Turner, con gái ông chủ điền trang, lại tin tưởng rằng anh ta vô tội, và họ đã thuê ông Lestrade người mà anh có thể vẫn còn nhớ là có liên quan đến Cuộc điều tra màu đỏ để làm rõ vụ án.

    Ông Lestrade cảm thấy khó xử nên đã chuyển vụ này cho tôi, vì thế mới có hai quý ông trong độ tuổi trung niên phải lao về miền Tây với vận tốc năm mươi dặm một giờ, thay vì thanh thản nghỉ ngơi ở nhà mình sau bữa điểm tâm."

    "Tôi e rằng", tôi nói, "các dữ kiện đã quá rõ nên anh sẽ thấy khó mà thu được gì từ vụ này."

    "Không có gì dễ lừa gạt người ta bằng một dữ kiện rõ ràng", anh trả lời rồi cười phá lên.

    "Ngoài ra, biết đâu chúng ta lại có cơ may tìm ra những dữ kiện rõ ràng khác mà đối với ông Lestrade lại chẳng rõ ràng chút nào.

    Anh biết tôi quá rõ nên sẽ không nghĩ là tôi khoác lác khi nói rằng tôi sẽ xác nhận hoặc bác bỏ giả thuyết của ông ta bằng những cách thức mà ông ta không đủ khả năng sử dụng, hoặc thậm chí còn không hiểu nổi.

    Lấy ngay ví dụ đầu tiên nhé, tôi biết rất rõ là trong phòng ngủ của anh, cửa sổ nằm bên tay phải, tuy thế tôi vẫn nghi ngờ không biết ông Lestrade có nhận ra một điều hiển nhiên như thế hay không."

    "Làm sao mà..."

    "Bạn thân mến của tôi, tôi hiểu anh rất rõ.

    Tôi biết anh có tính gọn gàng, ngăn nắp kiểu nhà binh.

    Sáng nào anh cũng cạo râu, và vào mùa này thì anh cạo râu dưới ánh sáng mặt trời; nhưng vì càng về phía bên trái thì anh lại càng để sót nhiều chỗ, cho đến góc hàm thì khá là cẩu thả, cho nên rõ ràng phía đó không được chiếu sáng bằng bên này.

    Tôi không thể nào tưởng tượng ra một người như anh lại có thể vừa lòng với kết quả như thế khi ngắm mình trong gương với ánh sáng rọi đều khắp.

    Tôi chỉ lấy đó làm một ví dụ nhỏ về sự quan sát và suy luận.

    Đó là métier của tôi, và có thể nó cũng giúp được đôi chút trong việc điều tra trước mắt.

    Có một vài điểm nhỏ đã được làm sáng tỏ trong cuộc điều tra đáng để ta phải suy nghĩ."

    "Đó là những điểm nào?"

    "Có vẻ như việc bắt giữ anh ta không được thực hiện ngay mà là sau khi anh ta đã quay về trang trại Hatherley.

    Khi viên thanh tra của sở cảnh sát thông báo rằng anh ta bị bắt, chàng trai cho biết anh ta không ngạc nhiên khi nghe thế và anh ta đáng bị như vậy.

    Lời tuyên bố này của anh ta đã xóa đi chút nghi ngờ còn sót lại trong suy nghĩ của ban hội thẩm pháp y."

    "Đó là một lời thú tội", tôi thốt lên.

    "Không phải thế, tiếp sau đó là một lời tuyên bố vô tội."

    "Sau một chuỗi những sự kiện đáng nguyền rủa như thế ít ra đó cũng là một lời tuyên bố đáng ngờ."

    "Ngược lại là khác", Holmes nói, "đó là dấu vết sáng sủa nhất mà hiện giờ tôi có thể thấy được trong đám mây mù.

    Cho dù anh ta có vô tội đến đâu chăng nữa, anh ta cũng không thể ngu ngốc đến mức không nhận ra là hoàn cảnh đang rất bất lợi cho mình.

    Nếu anh ta tỏ ra ngạc nhiên hay giả vờ phẫn nộ khi bị bắt thì tôi sẽ coi đó là một chi tiết rất đáng ngờ bởi vì trong trường hợp này, sự ngạc nhiên hoặc giận dữ đều không tự nhiên mà lại có vẻ là lối hành xử làm bộ làm tịch của kẻ có mưu đồ.

    Việc anh ta thẳng thắn chấp nhận tình huống cho thấy anh ta hoặc là một người vô tội hoặc là một người rất tự chủ và kiên quyết.

    Anh ta nói mình đáng bị như thế cũng chẳng phải là bất thường nếu anh xem xét tình huống anh ta đứng bên thi thể của cha mình, và rõ ràng là vào chính ngày hôm đó anh ta đã quên mất bổn phận làm con khi nói chuyện với ông ta, thậm chí, theo lời kể của cô bé đã đưa ra bằng chứng rất quan trọng, anh ta lại còn vung tay lên như định đánh ông ta.

    Theo tôi, sự tự trách móc và ăn năn hối lỗi thể hiện trong tuyên bố của anh ta là những dấu hiệu của một tâm hồn trong sạch hơn là một lương tâm tội lỗi."

    Tôi lắc đầu.

    "Đã có nhiều người bị treo cổ với bằng chứng còn mong manh hơn thế", tôi nhận xét.

    "Đúng vậy.

    Và rất nhiều người đã bị treo cổ oan uổng."

    "Thế còn lời khai của chàng trai trẻ thì sao?"

    "Tôi e rằng nó không được lạc quan cho lắm đối với những người ủng hộ cậu ta, dù trong đó có một vài điểm gợi cho ta thấy đôi điều.

    Anh hãy xem ở đây và tự đọc đi."

    Anh lấy ra trong đống báo một tờ báo địa phương Herefordshire và sau khi lật tìm đến đúng trang, anh chỉ cho tôi đoạn chàng trai trẻ bất hạnh trình bày lại những gì đã xảy ra.

    Tôi ngồi xuống một góc toa tàu và cẩn thận đọc bài báo.

    Nội dung của nó như sau:

    James McCarthy, con trai duy nhất của người đã chết, được triệu tập và khai như sau: Tôi rời khỏi nhà trong ba ngày để đi Bristol và vừa trở về sáng hôm thứ hai vừa rồi, ngày mồng 3.

    Khi tôi về đến nhà thì cha tôi đi vắng và tôi được cô hầu gái cho biết là ông đã đi xe ngựa đến thị trấn Ross cùng với John Cobb, người quản ngựa.

    Chỉ một lát sau, tôi nghe tiếng bánh xe độc mã của ông vang lên trong sân, và qua cửa sổ phòng mình, tôi nhìn thấy ông bước xuống xe và vội vã rời sân dù tôi không biết là ông đi về hướng nào.

    Tôi bèn lấy súng và đi về phía hồ Boscombe với ý định thăm thú vùng đất có nhiều hang thỏ ở bờ bên kia.

    Trên đường đi, tôi gặp William Crowder, người coi khu săn bắn, như ông ta có nói trong lời khai của mình; nhưng ông ta lại lầm tưởng là tôi đi theo cha tôi.

    Tôi không hề hay biết là cha mình đang đi phía trước.

    Khi còn cách hồ khoảng một trăm yard, tôi nghe thấy tiếng kêu "Cooee", đó là tín hiệu thường dùng giữa hai cha con tôi, tôi bèn rảo bước về phía trước và thấy ông đang đứng bên hồ.

    Ông có vẻ rất ngạc nhiên khi thấy tôi và hỏi tôi với giọng hơi bực dọc là tôi làm gì ở đây.

    Cuộc đối thoại sau đó dần trở nên gay gắt và suýt nữa đến mức đánh nhau vì cha tôi là một người rất nóng nảy.

    Nhận thấy cơn giận dữ của ông trở nên không kiềm chế được, tôi bỏ ông lại đó và quay trở về trang trại Hatherley.

    Tuy nhiên, chưa đi được hơn một trăm năm mươi yard, tôi nghe thấy tiếng thét rất đáng sợ ở phía sau nên đã chạy ngược trở lại.

    Tôi nhìn thấy cha tôi nằm hấp hối trên mặt đất, đầu bị thương rất nặng.

    Tôi buông khẩu súng xuống và ôm lấy ông nhưng ông gần như đã chết.

    Tôi quỳ gối bên cạnh ông trong vài phút rồi chạy tới chỗ gần nhất là nhà của người gác cổng làm việc cho ông Turner để nhờ giúp đỡ.

    Khi quay lại, tôi không nhìn thấy ai ở gần cha tôi cả và tôi không hiểu làm thế nào mà ông bị thương.

    Cha tôi không phải người bình thường, ông có tính cách hơi lạnh lùng và có phần đáng sợ nhưng theo tôi được biết thì ông thực sự không có kẻ thù nào.

    Ngoài ra, tôi không còn biết gì thêm.

    PHÁP Y VIÊN: Trước khi chết, cha anh có nói gì với anh hay không?

    NGƯỜI KHAI: Ông lẩm bẩm một vài từ, nhưng tôi chỉ nghe được hình như là về một con chuột.

    PHÁP Y VIÊN: Anh hiểu gì về điều đó như thế nào?

    NGƯỜI KHAI: Nó chẳng có ý nghĩa gì đối với tôi.

    Tôi cho rằng lúc đó cha tôi đã mê sảng.

    PHÁP Y VIÊN: Nguyên nhân của lần cãi nhau cuối cùng giữa hai cha con anh là gì?

    NGƯỜI KHAI: Tôi không muốn trả lời câu hỏi này.

    PHÁP Y VIÊN: Tôi e rằng mình phải ép anh nói ra.

    NGƯỜI KHAI: Thực sự là tôi không nói cho ông biết được.

    Tôi có thể cam đoan với ông là điều đó chẳng liên quan gì đến tấn thảm kịch sau đó.

    PHÁP Y VIÊN: Điều này sẽ do tòa quyết định.

    Tôi không cần phải nhắc cho anh nhớ là việc anh từ chối trả lời sẽ rất bất lợi cho anh trong bất kì phiên tòa nào có thể sau này.

    NGƯỜI KHAI: Tôi vẫn phải từ chối.

    PHÁP Y VIÊN: Theo tôi hiểu thì tiếng kêu "Cooee" là một tín hiệu chung giữa anh và cha anh?

    NGƯỜI KHAI: Đúng vậy.

    PHÁP Y VIÊN: Thế thì, làm sao ông ta lại kêu lên trước khi nhìn thấy anh, thậm chí ông ta còn chưa biết là anh đã trở về từ Bristol?

    NGƯỜI KHAI (rất bối rối): Tôi không biết.

    MỘT THÀNH VIÊN BAN HỘI THẨM: Anh không nhận thấy điều gì đáng ngờ khi anh quay trở lại vì nghe thấy tiếng thét và nhìn thấy cha anh bị thương chí tử ư?

    NGƯỜI KHAI: Không có gì rõ ràng.

    PHÁP Y VIÊN: Ý anh là gì?

    NGƯỜI KHAI: Tôi quá bối rối và lo lắng khi chạy vào khoảng rừng trống nên không thể nghĩ đến điều gì khác ngoại trừ cha tôi.

    Tuy nhiên, tôi có một cảm giác mơ hồ là khi tôi chạy về phía trước thì có một vật gì đó nằm trên mặt đất phía bên trái.

    Tôi nhớ hình như vật đó màu xám, có vẻ là một cái áo khoác hoặc một cái áo choàng len kẻ ô.

    Khi tôi đứng dậy từ chỗ cha tôi nằm và nhìn quanh quất để tìm thì nó không còn ở đấy nữa.

    PHÁP Y VIÊN: Ý anh là nó đã biến mất trước khi anh đi tìm người giúp đỡ?

    NGƯỜI KHAI: Vâng, nó đã biến mất.

    PHÁP Y VIÊN: Anh không thể khẳng định vật đó là gì?

    NGƯỜI KHAI: Vâng, tôi chỉ cảm thấy ở đó có một vật gì đó.

    PHÁP Y VIÊN: Cách thi thể bao xa?

    NGƯỜI KHAI: Khoảng hơn mười yard.

    PHÁP Y VIÊN: Và cách bìa rừng bao xa?

    NGƯỜI KHAI: Cũng khoảng đó.

    PHÁP Y VIÊN: Vậy nếu nó được đem đi thì phải là trong khi anh đang đứng cách nó chỉ khoảng hơn mười yard?

    NGƯỜI KHAI: Vâng, nhưng khi đó tôi đang đứng quay lưng lại.

    Cuộc thẩm vấn kết thúc tại đây.

    "Tôi nhận thấy rằng", tôi nói khi Holmes nhìn xuống bài báo.

    "Trong phần kết luận của mình, pháp y viên đã nhận định khá nghiêm khắc về chàng trai McCarthy.

    Ông ta nhấn mạnh, và cũng có phần có lí vào sự vô lí trong việc cha anh ta dùng tín hiệu để gọi con trai mình trước khi trông thấy anh ta, và chuyện người con từ chối tiết lộ các chi tiết trong cuộc đối thoại với cha mình, và cả lời khai kì quặc về những lời cha anh ta nói trước khi chết.

    Như lời ông ta nhận xét, tất cả các chi tiết trên đều rất bất lợi cho người con trai."

    Holmes khẽ cười một mình và duỗi dài người trên chiếc ghế nệm.

    "Cả anh và pháp y viên đều cố gắng", anh nói, "chọn ra những điểm rõ ràng là bất lợi cho chàng trai nhất.

    Anh không thấy rằng lúc thì anh khen ngợi anh ta vì đã tưởng tượng quá nhiều, lúc thì lại chê là quá ít hay sao?

    Quá ít là khi anh ta không thể bịa ra một nguyên nhân cho cuộc cãi vả để giành được sự đồng cảm của bồi thẩm đoàn; còn quá nhiều là khi từ nhận thức nội tại anh ta phát biểu ra một điều gì đó outré như là nạn nhân lẩm bẩm về một con chuột trước khi chết và chi tiết mảnh vải biến mất.

    Không đâu, thưa quý ông, tôi sẽ tiếp cận vụ này từ quan điểm là những gì chàng trai trẻ nói đều là sự thật, và chúng ta sẽ thấy cái giả thuyết này sẽ dẫn chúng ta đến đâu.

    Giờ thì tôi sẽ đọc quyển thơ bỏ túi của Petrarch và sẽ không nói thêm một lời nào nữa về vụ án này cho đến khi chúng ta đến hiện trường.

    Chúng ta sẽ ăn trưa tại Swindon và tôi cho rằng chúng ta sẽ đến đó trong hai mươi phút nữa."

    Cuối cùng thì chúng tôi cũng đến thị trấn Ross nhỏ bé lúc gần 4 giờ, sau khi vượt qua thung lũng Stroud xinh đẹp và vùng quê Severn rộng rãi, sạch sẽ.

    Một người đàn ông gầy còm giống y như một con chồn với vẻ ranh mãnh và láu cá đang đứng đợi chúng tôi ở sân ga, cho dù chiếc áo khoác ngoài màu nâu nhạt và đôi xà cạp da ông ta đang đi hòa lẫn vào khung cảnh mộc mạc xung quanh, tôi vẫn dễ dàng nhận ra đó là Lestrade của Sở Cảnh sát London.

    Cùng với ông ta, hai chúng tôi đi xe ngựa đến khách sạn Hereford Arms nơi có một phòng đã được đặt sẵn cho chúng tôi.

    "Tôi đã thuê một cỗ xe", Lestrade nói khi chúng tôi đang nhâm nhi tách trà.

    "Tôi hiểu bản tính năng động của ông, và ông sẽ không cảm thấy thoải mái chừng nào còn chưa ra đến hiện trường."

    "Quả là một lời khen rất thú vị", Holmes đáp.

    "Vấn đề này hoàn toàn phụ thuộc vào áp suất khí quyển."

    Lestrade có vẻ giật mình.

    "Tôi không hiểu rõ", ông ta nói.

    "Hôm nay phong vũ biểu chỉ bao nhiêu?

    Tôi thấy là hai mươi chín.

    Trời lặng gió và cũng chẳng có một đám mây.

    Ở đây, tôi có một hộp thuốc lá đầy ắp đang cần người hút và một cái ghế dài vô cùng thoải mái so với một khách sạn nông thôn tầm thường.

    Tôi không nghĩ là mình cần đổi một cỗ xe ngựa vào tối nay."

    Lestrade cười với vẻ dễ dãi.

    "Chắc chắn là ông đã có kết luận riêng dựa vào các thông tin trên báo chí", ông ta nói.

    "Vụ này đã rõ như ban ngày, và ta càng xem xét thì nó lại càng rõ ràng hơn.

    Nhưng tất nhiên là ta không thể nào từ chối một phụ nữ, mà lại là một phụ nữ rất quả quyết chứ!

    Cô ta đã nghe nói về ông và muốn nghe ý kiến của ông, dù tôi đã nói đi nói lại với cô ta rằng ông còn có thể làm được điều gì nữa khi chẳng còn gì mà tôi chưa làm cả.

    Chao ôi!

    Xe của cô ta đã đến trước cửa rồi kìa."

    Ông ta còn chưa kịp dứt lời thì một thiếu nữ đáng yêu bậc nhất mà tôi từng thấy đã chạy ào vào.

    Đôi mắt tím của cô sáng ngời, đôi môi hơi hé mở, hai gò má nhuộm sắc hồng, mọi vẻ rụt rè theo lẽ thường tình đã bị sự kích động và lo lắng át đi.

    "Ôi, ông Sherlock Holmes!"

    Cô kêu lên, mắt lần lượt nhìn từ người này sang người khác trong nhóm chúng tôi, và rồi với trực giác nhanh nhạy của phụ nữ, cô chăm chú nhìn vào người bạn đồng hành của tôi.

    "Tôi rất mừng là ông đã đến.

    Tôi đánh xe xuống đây để nói với ông thế này.

    Tôi biết là James không làm chuyện đó.

    Tôi biết thế và tôi muốn ông cũng nghĩ như vậy khi bắt đầu công việc điều tra.

    Đừng bao giờ nghi ngờ điều đó.

    Chúng tôi đã quen biết nhau từ khi còn bé và tôi biết những khuyết điểm của anh ấy rõ hơn bất cứ ai khác; anh ấy nhân từ đến nỗi không nỡ làm đau một con ruồi.

    Một lời buộc tội như thế là rất vô lí đối với bất kì ai thật sự hiểu rõ anh ấy."

    "Tôi hi vọng chúng tôi sẽ minh oan được cho anh ta, thưa cô."

    Sherlock Holmes nói.

    "Cô có thể tin tưởng là tôi sẽ làm hết sức mình."

    "Nhưng hẳn là ông đã đọc lời khai rồi?

    Ông đã có kết luận nào chưa?

    Ông có nhìn thấy kẽ hở nào hay sơ sót nào không?

    Bản thân ông cũng tin là anh ấy vô tội chứ?"

    "Tôi nghĩ là rất có thể."

    "Đấy, đấy!"

    Cô kêu lên, nghênh mặt nhìn Lestrade với ý thách thức, "Ông đã nghe rồi chứ!

    Ông ấy đem lại cho tôi niềm hi vọng."

    Lestrade nhún vai.

    "Tôi e rằng người đồng nghiệp của tôi đã hơi vội vã khi đưa ra kết luận", ông ta nói.

    "Nhưng mà ông ấy nói đúng.

    Ôi, tôi biết là ông ấy có lí.

    Chẳng đời nào James làm thế.

    Còn về vụ cãi cọ của anh ấy với cha mình, tôi dám chắc lí do anh ấy không tiết lộ với pháp y viên là vì có liên quan đến tôi."

    "Như thế nào?"

    Holmes hỏi.

    "Bây giờ là lúc tôi phải kể hết ra.

    James và cha anh ấy có nhiều bất đồng về tôi.

    Ông McCarthy rất nóng lòng muốn chúng tôi lấy nhau.

    James và tôi cũng thương yêu nhau như hai anh em; nhưng tất nhiên là anh ấy hãy còn trẻ và chưa có nhiều kinh nghiệm sống, và... và... nghĩa là, anh ấy chưa muốn cưới vợ.

    Vì thế mà họ cãi nhau, và lần đó, tôi chắc cũng là vì nguyên nhân này."

    "Thế còn cha cô?"

    Holmes hỏi.

    "Ông ấy có tán thành một cuộc hôn nhân như thế không?"

    "Không, cha tôi cũng phản đối.

    Chỉ có mỗi ông McCarthy là ủng hộ."

    Một nét ửng đỏ lan nhanh trên khuôn mặt tươi trẻ của cô khi Holmes chiếu vào cô một ánh nhìn dò hỏi sắc bén.

    "Xin cảm ơn cô về thông tin này", anh nói.

    "Sáng mai tôi ghé qua nhà gặp cha cô được không?"

    "Tôi e là bác sĩ sẽ không đồng ý."

    "Bác sĩ ư?"

    "Vâng, thế ông chưa nghe gì sao?

    Người cha tội nghiệp của tôi cứ đau bệnh suốt mấy năm gần đây, nhưng chính sự việc vừa rồi đã làm ông hoàn toàn ngã quỵ.

    Ông phải nằm liệt giường, bác sĩ Willow nói rằng ông bị suy nhược và hệ thần kinh đã bị kiệt quệ.

    Ông McCarthy là người duy nhất từng quen biết cha tôi vào thời xa xưa ở Victoria."

    "Ha!

    Ở Victoria!

    Rất quan trọng đây."

    "Vâng, ở khu mỏ."

    "Đúng thế, ở những mỏ vàng, là nơi mà theo như tôi được biết, ông Turner đã trở nên giàu có."

    "Vâng, đúng vậy."

    "Cảm ơn cô, cô Turner.

    Cô giúp tôi nhiều quá!"

    "Sáng mai nếu có tin tức mới, xin ông vui lòng cho tôi biết.

    Chắc là ông sẽ đến nhà tù để gặp James.

    Ồ, nếu ông đến đó, xin hãy nói cho anh ấy biết rằng tôi tin anh ấy vô tội."

    "Tôi sẽ nói, thưa cô Turner."

    "Giờ thì tôi phải về nhà vì cha tôi rất yếu và ông sẽ nhớ tôi lắm nếu tôi không ở cạnh ông.

    Tạm biệt, cầu mong Thượng Đế phù hộ cho công việc của ông."

    Cô vội vã bước ra khỏi phòng cũng hấp tấp như khi bước vào và chúng tôi nghe tiếng bánh xe khua lọc cọc xuôi theo con đường.

    "Tôi thật xấu hổ vì ông đấy, Holmes", Lestrade nói với vẻ trịch thượng sau vài phút im lặng.

    "Tại sao ông lại nhen lên hi vọng trong khi lẽ ra phải dập tắt nó?

    Tôi không phải loại người mềm yếu nhưng tôi phải nói rằng làm như thế là tàn nhẫn."

    "Tôi nghĩ rằng tôi đã tìm ra cách để minh oan cho James McCarthy", Holmes nói.

    "Ông đã xin được lệnh để vào tù gặp anh ta rồi chứ?"

    "Có, nhưng chỉ dành cho ông và tôi thôi."

    "Vậy thì tôi phải xem lại ý định về việc ra ngoài.

    Chúng ta vẫn còn đủ thời gian để ngồi xe lửa đến Hereford và gặp anh ta vào tối nay chứ?"

    "Tha hồ."

    "Thế thì đi thôi.

    Watson này, tôi e rằng anh sẽ thấy rất buồn tẻ, nhưng tôi chỉ ra ngoài vài giờ thôi."

    Tôi đi cùng họ ra ga và sau đó lang thang qua những con đường của thị trấn nhỏ, cuối cùng thì trở về khách sạn, nằm lên một chiếc ghế dài và cố gắng giải khuây bằng cách đọc một cuốn tiểu thuyết rẻ tiền.

    Tuy nhiên, nội dung đơn giản của câu chuyện quả là nghèo nàn so với bí ẩn sâu xa mà chúng tôi đang dò dẫm, và tâm trí tôi cứ liên tục vẩn vơ từ diễn biến trong truyện đến sự kiện ngoài đời, thế là cuối cùng tôi quăng quyển sách vào góc phòng và tập trung hoàn toàn vào việc xem xét các sự việc đã xảy ra trong ngày.

    Giả sử câu chuyện của chàng trai trẻ bất hạnh hoàn toàn đúng sự thật thì sự việc khủng khiếp nào, cái tai họa bất ngờ và dị thường nào có thể đã xảy ra trong khoảng thời gian từ lúc anh ta đi khỏi chỗ cha mình đến khoảnh khắc anh ta bị tiếng thét của ông ta kéo trở lại nên đã vội vã lao về phía bãi lầy?

    Hẳn đó là một thứ gì rất kinh hoàng và chết chóc.

    Nó là cái gì?

    Có thể tình trạng của các vết thương sẽ tiết lộ đôi điều với bản năng y khoa của tôi chăng?

    Tôi bấm chuông và yêu cầu đem đến một tờ tuần báo của hạt có đăng nguyên văn bản báo cáo về cuộc điều tra.

    Trong phần kết luận của phẫu thuật viên có ghi rõ, một phần ba của xương đỉnh bên trái và nửa bên trái của xương chẩm đã bị vỡ nát bởi một cú đánh mạnh bằng một loại vũ khí cùn.

    Tôi đánh dấu vị trí đó trên đầu mình.

    Rõ ràng một cú đánh như thế phải được thực hiện từ phía sau.

    Điều này có lợi cho bị cáo trong chừng mực nào đó vì khi bị trông thấy đang cãi cọ thì anh ta đứng đối mặt với cha mình.

    Tuy vậy, chi tiết này cũng không được thuyết phục cho lắm vì có thể người cha đã quay lưng lại trước khi cú đánh giáng xuống.

    Nhưng dù sao cũng đáng để lưu ý Holmes về điểm này.

    Rồi còn tiếng lẩm bẩm lạ kì về con chuột trước khi ông ta chết, điều đó có thể có ý nghĩa gì?

    Không thể nào là một lời nói lung tung khi mê sảng.

    Một người sắp chết do bị đánh bất ngờ thì thường không mê sảng.

    Không phải thế, có lẽ là ông ta gắng giải thích mình bị mất mạng do đâu thì đúng hơn.

    Nhưng, nếu thế thì nó chỉ ra điều gì?

    Tôi cố vắt óc suy nghĩ những mong tìm ra một lời giải thích hợp lí.

    Lại còn tình tiết mảnh vải xám mà chàng trai McCarthy nhìn thấy.

    Nếu như đó là sự thật thì chắc hẳn trong lúc bỏ chạy, kẻ giết người đã làm rơi một thứ gì đó trong y phục của hắn, có lẽ là cái áo khoác ngoài, và đã bạo gan quay trở lại để đem nó đi vào khoảnh khắc người con trai đang quỳ xuống, quay lưng lại và chỉ cách đó chưa đầy hai chục bước chân.

    Quả là một chuỗi những điều bí ẩn và toàn bộ câu chuyện mới khó tin làm sao!

    Tôi không ngạc nhiên về ý kiến của Lestrade, tuy vậy, tôi rất tin tưởng vào sự sáng suốt của Sherlock Holmes nên không thể đánh mất hi vọng khi mỗi sự kiện mới phát hiện lại càng có vẻ củng cố lòng tin của anh rằng chàng trai McCarthy vô tội.

    ***

    Sherlock Holmes trở về lúc đã khuya.

    Anh về một mình vì Lestrade nghỉ lại trong căn phòng thuê ở thị trấn.

    "Phong vũ biểu hãy còn chỉ rất cao", anh nhận xét khi ngồi xuống.

    "Mong rằng trời đừng mưa trước khi chúng ta có thể đến được hiện trường.

    Nhưng mà một công việc hay ho như thế này thì ta nên thực hiện khi đang nhiệt tình, khỏe khoắn nhất, nên tôi không muốn làm khi hãy còn mệt nhoài sau một chuyến đi dài.

    Tôi đã gặp anh chàng McCarthy rồi."

    "Và anh có rút ra được điều gì từ anh ta không?"

    "Chẳng có gì."

    "Anh ta có nhen nhóm được chút ánh sáng nào không?"

    "Hoàn toàn không.

    Trước đó thì tôi còn nghĩ là anh ta biết ai là thủ phạm và đang bao che kẻ đó, nhưng giờ thì tôi tin rằng anh ta cũng bối rối như mọi người.

    Anh ta trông thì sáng sủa đấy nhưng không nhanh trí cho lắm và tôi nghĩ rằng anh ta là người có tâm địa tốt."

    "Tôi không thể nào khen ngợi khiếu thẩm mĩ của anh ta", tôi nhận xét, "nếu quả thật anh ta không muốn làm đám cưới với một cô gái duyên dáng như cô Turner."

    "À, về vấn đề đó thì lại có một câu chuyện khá đau lòng.

    Chàng trai này yêu cô ta điên cuồng, nhưng hai năm trước, khi anh ta hãy còn là một chú bé mới lớn và trước khi thực sự quen biết cô ta, vì cô ta đã đi học ở một trường nội trú suốt năm năm, không biết cậu ngốc đã làm gì mà bị rơi vào nanh vuốt của một cô ả phục vụ trong quán rượu ở Bristol và cưới cô ả tại một phòng đăng kí kết hôn.

    Không ai hay biết chút gì về việc này, nhưng anh có thể hình dung ra nỗi buồn bực của anh ta khi bị quở trách vì không làm điều mà chính anh ta hằng mong muốn dẫu có phải hi sinh cả đôi mắt mình, nhưng anh ta biết rằng việc đó là hoàn toàn bất khả thi.

    Sự cùng quẫn khiến anh ta vung tay lên trong lần gặp mặt cuối cùng của cha con họ khi người cha thúc giục anh ta cầu hôn cô Turner.

    Mặt khác, anh ta không tự trang trải được cuộc sống của mình, mà cha anh ta nghe đâu lại là một người rất cứng rắn, nếu biết sự thật thì chắc chắn ông ta sẽ từ con ngay.

    Anh ta đã sống cùng người vợ phục vụ quán rượu trong ba ngày ở Bristol vừa rồi và người cha không biết là anh ta đã đi đâu.

    Hãy ghi nhớ điểm này.

    Quan trọng đấy.

    Tuy vậy, trong cái rủi có cái may, vì qua báo chí, cô phục vụ đó biết được tin anh ta đang gặp rắc rối nghiêm trọng và có thể sẽ bị treo cổ, thế là cô ả dứt khoát bỏ anh ta và còn viết cho anh ta một lá thư nói rằng mình đã có một người chồng ở Bermuda Dockyard, vì thế giữa họ thật sự chẳng có gì ràng buộc nhau.

    Tôi nghĩ là mẩu tin nho nhỏ này hẳn sẽ an ủi được anh chàng McCarthy sau nhưng gì anh ta đã phải chịu đựng."

    "Nhưng nếu anh ta vô tội thì ai đã gây ra chuyện đó?"

    "À!

    Ai hả?

    Tôi sẽ đặc biệt lưu ý anh hai điểm.

    Một là người đã chết có một cuộc hẹn với ai đó ở bên hồ và người hẹn gặp đó không thể nào là con trai của ông ta được, vì anh con trai đang vắng nhà và ông ta càng không biết là đến khi nào anh ta mới trở về.

    Điểm thứ hai là nạn nhân có kêu lên 'Cooee!' trước khi ông ta nhận ra là con trai mình đã quay về.

    Đấy là hai điểm cốt yếu của vụ án này.

    Giờ thì chúng ta hãy bàn về George Meredith, nếu anh muốn, và chúng ta sẽ gác lại tất cả những vấn đề lặt vặt đến mai."

    Trời không mưa như Holmes đã dự đoán, và bình minh hiện ra rạng rỡ, không một gợn mây.

    Lúc 9 giờ, Lestrade đưa một cỗ xe đến và chúng tôi khởi hành tới trang trại Hatherley và hồ Boscombe.

    "Sáng nay có tin quan trọng", Lestrade thông báo.

    "Nghe nói là ông Turner ở dinh thự bị bệnh nặng đến nỗi không còn hi vọng cứu chữa."

    "Tôi đoán ông ấy hẳn đã già lắm?"

    Holmes nói.

    "Khoảng sáu mươi thôi, nhưng thể chất của ông ta đã bị kiệt quệ trong thời gian sống xa quê và lâu nay sức khỏe của ông ta cứ suy sụp dần.

    Vụ án mạng này đã ảnh hưởng xấu đến ông ta.

    Ông ta là bạn lưu niên của McCarthy và còn là một ân nhân nữa, vì tôi nghe nói ông ta đã miễn tiền thuê trang trại Hatherley cho McCarthy."

    "Thật vậy sao?

    Thật đáng quan tâm đây", Holmes nói.

    "Ồ, vâng!

    Ông ta còn giúp đỡ McCarthy bằng cả trăm cách khác nữa.

    Tất cả mọi người sống ở đây đều ca ngợi lòng tốt của ông ta đối với McCarthy."

    "Thật không đấy!

    Ông không thấy kì lạ khi McCarthy, người có vẻ chẳng khá giả gì cho lắm và còn chịu ơn ông Turner nhiều đến thế, lại dám nói đến chuyện xin cưới con gái của ông Turner, là người có thể sẽ thừa kế cả điền trang, cho con trai ông ta, lại còn có thái độ rất tự tin cứ như đó chỉ là một vụ cầu hôn bình thường và tất cả mọi người khác đều phải đồng ý?

    Chuyện này còn kì lạ hơn nữa vì chúng ta biết rằng bản thân ông Turner phản đối kế hoạch này.

    Cô con gái đã kể cho chúng ta nghe rất rõ ràng, ông không suy luận ra điều gì từ chuyện đó sao?"

    "Lại đến tiết mục suy luận rồi đây", Lestrade nói và nháy mắt với tôi.

    "Tôi thấy xử lí các dữ kiện thực tế không thôi đã là khó rồi, ông Holmes ạ, huống hồ lại còn bị cuốn theo mớ giả thuyết và các ý tưởng huyễn hoặc."

    "Ông nói đúng đấy", Holmes nói với vẻ từ tốn, "quả là ông khó mà xử lí được các dữ kiện thực tế."

    "Dù sao đi nữa, tôi đã hiểu được một thực tế mà có vẻ như ông coi là khó nắm bắt", Lestrade đáp lại với đôi chút kích động.

    "Đó là..."

    "Là McCarthy cha bị chính tay con trai mình giết và mọi giả thuyết trái ngược với điều đó chỉ là chút ánh trăng mờ nhạt."

    "Vâng, ánh trăng thì vẫn còn sáng hơn là sương mù", Holmes đáp lại rồi phá lên cười.

    "Nhưng này, nếu tôi không lầm thì có phải trang trại Hatherley ở đằng kia, phía bên tay trái không?"

    "Phải, đúng là nó."

    Đó là một tòa nhà hai tầng rộng lớn, ấm cúng, mái lợp đá phiến với những mảng địa y lớn màu vàng bám trên những bức tường xám.

    Tuy nhiên, những tấm rèm buông rủ và những ống khói im lìm khiến cho ngôi nhà có vẻ đau buồn như thể nỗi kinh hoàng hãy còn đè nặng lên nó.

    Chúng tôi gọi cửa và theo yêu cầu của Holmes, một người hầu gái đã cho chúng tôi xem đôi ghệt mà ông chủ của cô mang khi chết, và cả đôi ghệt của người con, dù đó không phải là đôi mà anh ta đã mang vào hôm đó.

    Sau khi đã đo hai đôi ghệt rất cẩn thận từ bảy hoặc tám điểm khác nhau, Holmes muốn được dẫn ra sân, rồi tất cả chúng tôi đi theo con đường mòn quanh co dẫn đến hồ Boscombe.

    Sherlock Holmes hoàn toàn thay đổi khi anh hăm hở đánh hơi con mồi trong những vụ như thế này.

    Những ai chỉ biết đến nhà suy luận và nhà tư duy trầm lặng ở phố Baker sẽ không thể nào nhận ra anh.

    Mặt anh đỏ bừng và sa sầm.

    Cặp lông mày nhíu lại thành hai đường đen nhánh, đôi mắt sáng quắc như ánh thép.

    Mặt anh cúi thấp, vai khom lại, đôi môi mím chặt và những mạch máu nổi lên như dây chão trên cái cổ dài gân guốc.

    Hai cánh mũi của anh như nở rộng ra với sự thèm khát giống hệt con thú đang say mồi.

    Và anh tập trung toàn bộ tinh thần vào vấn đề trước mặt đến nỗi không buồn nghe một câu hỏi hay một lời nhận xét nào đó, hoặc chỉ thốt ra một tiếng càu nhàu bực bội để đáp lại.

    Lặng lẽ và thoăn thoắt, anh tiến theo lối mòn, băng qua những đồng cỏ và cánh rừng dẫn đến hồ Boscombe.

    Mặt đất nơi đây lầy lội, ẩm ướt, giống như cả vùng này, và hãy còn lưu lại nhiều vết chân cả trên đường đi lẫn trong những đám cỏ thấp mọc ở hai bên vệ đường.

    Đôi lúc Holmes bước vội lên, có khi lại dừng hẳn lại, và có một lần anh còn đi chệch ra đồng cỏ một quãng.

    Lestrade và tôi theo sau anh, ông ta thì thờ ơ và có vẻ khinh khỉnh trong khi tôi quan sát bạn mình với sự thích thú xuất phát từ niềm tin chắc chắn rằng mỗi một hành động của anh đều hướng đến một mục đích rõ rệt.

    Hồ Boscombe là một vũng nhỏ, xung quanh mọc đầy lau sậy, đường kính khoảng năm mươi yard, nằm ở ranh giới giữa trang trại Hatherley và khu đất riêng thuộc về ông Turner giàu có.

    Cao vượt lên đám cây cối tiếp giáp với bờ hồ phía bên kia, chúng tôi có thể thấy những đỉnh tháp nhọn màu đỏ nhô lên đánh dấu lãnh địa của người chủ điền trang giàu có.

    Bên bờ hồ phía trang trại Hatherley cây cối mọc dày và có một dải cỏ hẹp ướt sũng nước bề ngang khoảng hai mươi sải chân nằm giữa bìa rừng và đám sậy viền quanh hồ.

    Lestrade chỉ cho chúng tôi vị trí chính xác nơi tử thi được tìm thấy, và vì đất chỗ đó rất ẩm nên tôi có thể thấy rõ những dấu vết cú ngã của nạn nhân còn để lại.

    Về phần Holmes thì từ khuôn mặt háo hức và đôi mắt chăm chú của anh, tôi thấy rằng anh còn nhận ra được rất nhiều những chi tiết khác nữa từ đám cỏ bị giẫm nát.

    Anh chạy quanh như một con chó đánh hơi được mùi của con mồi, rồi trở lại là người bạn đồng hành của tôi.

    "Ban nãy ông lội xuống hồ nước để làm gì thế, Lestrade?"

    Anh hỏi.

    "Tôi tìm kiếm với một cái cào.

    Tôi nghĩ rằng có thể có một thứ vũ khí hoặc là những dấu vết khác.

    Nhưng làm thế quái nào..."

    "Ồ!"

    Anh tặc lưỡi.

    "Tôi không có thời gian!

    Dấu chân trái của ông với những vòng xoắn hướng vào trong in đầy khắp nơi.

    Đến một con chuột chũi cũng có thể nhìn thấy, và đến đây thì nó biến mất trong đám sậy.

    Ồ, mọi chuyện lẽ ra sẽ rất đơn giản nếu tôi kịp có mặt ở đây trước khi cả đoàn người xô đến như một đàn bò rừng và giẫm nát khắp nơi.

    Đây là chỗ nhóm người cùng đi với người gác cổng đã đến, và họ đã làm mất tất cả dấu vết trong khoảng sáu đến tám foot rưỡi xung quanh tử thi.

    Nhưng chỗ này là ba vệt dấu giày của cùng một người."

    Anh rút ra một cái kính lúp rồi nằm lên tấm vải không thấm nước để quan sát rõ hơn, miệng không ngừng nói nhưng có vẻ như là nói với chính anh hơn là cho chúng tôi nghe.

    "Đây là những dấu chân của anh chàng McCarthy.

    Anh ta đi tốc độ thường hai lần còn một lần thì chạy nhanh vì thế mà phần đế giày in sâu hơn và vết gót giày thì gần như không nhìn thấy, điều này chứng thực cho lời khai của anh ta.

    Anh ta chạy đến khi nhìn thấy cha mình nằm gục trên mặt đất.

    Còn đây là dấu chân của người cha khi ông ta đi tới đi lui.

    Cái gì thế này?

    Đây là dấu vết đầu báng súng khi người con trai đứng lắng nghe.

    Còn đây nữa?

    Ha ha!

    Xem chúng ta tìm được gì nào?

    Vết nhón chân!

    Vết nhón chân!

    Mũi vuông, rất lạ, một đôi giày khá hiếm!

    Chúng đến, rồi đi, rồi quay trở lại - tất nhiên là vì chiếc áo khoác.

    Xem nào, chúng từ đâu đến nhỉ?"

    Anh chạy ngược chạy xuôi, đôi khi bị mất dấu, rồi lại thấy cho đến khi chúng tôi đi qua bìa rừng và đứng dưới bóng một cây sồi to cao, là cây lớn nhất trong vùng.

    Holmes lần theo đến phía bên kia thân cây và lại nằm sấp xuống rồi khẽ thốt lên một tiếng kêu hài lòng.

    Anh nằm đó suốt một lúc lâu, lật giở từng phiến lá và những nhánh cây khô, thu thập thứ gì đó mà tôi thấy hình như là bụi đất rồi cho vào một cái phong bì và dùng kính lúp săm soi không chỉ mặt đất mà thậm chí cả vỏ cây trong tầm với.

    Một hòn đá nhọn nằm trên đám rêu cũng bị anh xem xét rồi giữ lại.

    Sau đó, anh đi theo một lối mòn băng qua rừng cho đến khi ra đến đường cái, ở đây mọi dấu vết đều biến mất.

    "Đây là một vụ khá lí thú", anh nhận xét khi đã quay lại phong thái tự nhiên của mình.

    "Tôi đoán là căn nhà màu xám bên tay phải hẳn là nhà của người gác cổng.

    Tôi định vào đó nói chuyện vài câu với Moran và có thể sẽ ghi chép một chút.

    Sau khi xong việc thì chúng ta có thể đánh xe về để ăn trưa.

    Các ông cứ đi bộ ra xe trước và tôi sẽ đến ngay."

    Khoảng mười phút sau, chúng tôi lên xe ngựa và đi về thị trấn Ross, Holmes hãy còn cầm theo hòn đá mà anh đã nhặt trong rừng.

    "Có thể là ông sẽ quan tâm đến cái này, ông Lestrade", anh nhận xét khi chìa hòn đá ra.

    "Nó là hung khí sát nhân đấy."

    "Tôi không thấy dấu vết nào cả."

    "Không hề có."

    "Vậy làm sao ông biết được?"

    "Bên dưới nó có cỏ mọc.

    Nó mới ở đó có vài ngày thôi.

    Không có dấu hiệu chỉ rõ nó được nhặt lên từ đâu.

    Hòn đá này rất khớp với những vết thương.

    Không thấy dấu vết của bất kì loại vũ khí nào khác."

    "Vậy còn kẻ giết người?"

    "Đó là một người cao lớn, thuận tay trái, chân phải đi khập khiễng, đi ghệt săn đế dày và mặc áo khoác xám, hút xì gà Ấn Độ, có dùng ống đót và đem theo một con dao nhíp cùn trong túi.

    Còn vài dấu hiệu nữa nhưng bấy nhiêu cũng đủ để giúp chúng ta tìm ra hung thủ."

    Lestrade cười phá lên.

    "Tôi e rằng mình vẫn còn là người hay nghi ngờ", ông ta nói.

    "Giả thuyết nào chẳng hay nhưng chúng ta sẽ phải đối đầu với một hội đồng xét xử minh mẫn của nước Anh."

    "Nous verrons," Holmes bình tĩnh đáp.

    "Ông làm việc theo phương pháp của ông còn tôi cũng có cách riêng của mình.

    Chiều nay tôi sẽ bận rộn và có thể sẽ quay về London bằng chuyến tàu tối."

    "Và bỏ lửng vụ án của ông?"

    "Không, vụ này xong rồi."

    "Nhưng còn điều bí ẩn?"

    "Đã giải đáp."

    "Vậy ai là thủ phạm?"

    "Là người mà tôi đã mô tả."

    "Nhưng hắn là ai?"

    "Chắc chắn là việc tìm ra hắn chẳng khó khăn gì.

    Vùng này cũng không đông dân cho lắm."

    Lestrade nhún vai.

    "Tôi là một người thực tế", ông ta nói, "và tôi thật sự không thể đảm trách việc đi khắp vùng để tìm kiếm một người thuận tay trái và bị tật một bên chân.

    Tôi sẽ trở thành trò cười cho Sở Cảnh sát London."

    "Được thôi", Holmes điềm đạm nói.

    "Tôi đã cho ông cơ hội.

    Đã đến chỗ trọ của ông rồi đấy.

    Tạm biệt.

    Tôi sẽ gửi cho ông mấy dòng trước khi rời khỏi đây."

    Sau khi đưa Lestrade về nhà trọ, chúng tôi về khách sạn nơi bữa ăn trưa đã được dọn sẵn trên bàn.

    Holmes vẫn yên lặng và mải mê suy nghĩ, trên mặt hiện rõ nét đau buồn như một người đang trong tình huống khó xử.

    "Nghe này, Watson", anh nói khi bàn ăn đã được dọn sạch, "anh hãy ngồi vào cái ghế này và để tôi giải thích một chút.

    Tôi không biết mình nên làm gì và rất cần đến lời khuyên của anh.

    Hãy châm một điếu xì gà và để tôi trình bày chi tiết."

    "Xin anh cứ nói."

    "Thế này, khi xem xét vụ án thì có hai điều trong lời kể của McCarthy con gây ấn tượng ngay tức khắc cho cả hai chúng ta dù với tôi thì chúng có lợi cho anh ta còn với anh thì ngược lại.

    Điểm thứ nhất là theo lời kể của anh ta, người cha đã kêu 'Cooee!' trước khi nhìn thấy anh ta.

    Điểm còn lại là trước khi chết ông ta đã nói gì đó về một con chuột, ông ta lẩm bẩm vài tiếng, anh hiểu chứ, nhưng đó là những gì mà người con trai nghe được.

    Công việc tìm kiếm của chúng ta phải khởi phát từ hai điểm kể trên và chúng ta sẽ bắt đầu bằng cách xem như những gì chàng trai đó nói đều hoàn toàn đúng."

    "Thế thì cái tiếng kêu 'Cooee!

    đó có nghĩa là gì?"

    "Rõ ràng tiếng kêu đó không phải dành cho anh con trai.

    Người cha vẫn tưởng là anh con trai hãy còn ở Bristol.

    Anh ta chỉ tình cờ nghe thấy thôi, Tiếng kêu 'Cooee'là để gọi người mà ông ta đã hẹn gặp.

    Nhưng 'Cooee' là một tiếng kêu rất riêng của người Úc và được dùng giữa những người Úc với nhau.

    Vậy là ta có được điều giả định rất chắc chắn rằng người mà ông McCarthy đang đợi ở hồ Boscombe phải là một ai đó đã từng sống ở Úc."

    "Thế còn về con chuột thì sao?"

    Sherlock Holmes lấy từ trong túi ra một tờ giấy được gấp lại và trải nó lên mặt bàn.

    "Đây là bản đồ vùng thuộc địa Victoria". anh nói.

    "Tối qua tôi đã đánh điện tín đến Bristol yêu cầu họ gửi đến."

    Anh đè tay lên một phần tấm bản đồ.

    "Anh đọc thấy chữ gì?"

    "Arat", tôi đọc lên.

    "Còn chữ này?"

    Anh nhấc tay ra.

    "Ballarat."

    "Đúng thế.

    Đó là từ nạn nhân đã thốt ra mà con trai ông ta chỉ nghe được có hai âm cuối.

    Ông ta đã gắng sức nói ra tên của kẻ giết người gì gì đó, Ballarat."

    "Thật đáng kinh ngạc!"

    Tôi kêu lên.

    "Rõ ràng là thế.

    Và bây giờ, anh xem đây.

    Tôi đã giới hạn phạm vi đáng kể rồi nhé.

    Nếu ta cho rằng lời khai của người con là đúng thì việc xác định ai sở hữu chiếc áo khoác màu xám chắc chắn là điểm thứ ba.

    Giờ thì chúng ta đã vượt ra khỏi sự mù mờ để có ý niệm rõ ràng về một người Úc đến từ Ballarat với một cái áo khoác màu xám."

    "Chắc chắn rồi."

    "Và là một người sống ở vùng này vì chỉ có thể đến hồ bằng cách đi qua trang trại hoặc là từ điền trang, người từ nơi khác đến thì hiếm khi nào lang thang tới tận đó."

    "Đúng thế."

    "Tiếp theo là cuộc khám nghiệm của chúng ta hôm nay.

    Khi xem xét khu đất, tôi đã tìm thấy những chi tiết lặt vặt và đã nói cho gã ngốc Lestrade biết những nét ngoại hình đặc trưng của thủ phạm."

    "Nhưng làm thế nào mà anh thu thập được chúng?"

    "Anh đã biết phương pháp làm việc của tôi rồi đấy.

    Đó là dựa trên sự quan sát những điều vặt vãnh."

    "Về chiều cao của hắn, tôi biết anh có thể ước chừng dựa vào chiều dài của bước chân.

    Đôi ghệt của hắn nữa, cũng có thể đoán được từ các dấu chân."

    "Phải, đó là đôi ghệt rất lạ kì."

    "Nhưng còn chi tiết đi khập khiễng thì sao?"

    "Vết chân phải của hắn luôn mờ hơn vết chân trái.

    Hắn dồn ít trọng lượng hơn vào bên đó.

    Tại sao?

    Vì hắn đi khập khiễng, hắn bị thọt."

    "Thế còn việc thuận tay trái?"

    "Chính anh đã ngạc nhiên về tình trạng vết thương được phẫu thuật viên ghi chép lại tại cuộc điều tra.

    Cú đánh được giáng trực tiếp từ phía sau nhưng lại ở bên trái.

    Đấy, làm thế nào để thực hiện được trừ phi người ra đòn là một kẻ thuận tay trái?

    Hắn đã đứng sau gốc cây trong khi người cha nói chuyện vớí con trai.

    Thậm chí hắn còn hút thuốc ở đó nữa.

    Tôi tìm thấy tàn của một điếu xì gà, kiến thức đặc biệt về các loại tàn thuốc lá đã cho phép tôi khẳng định đó là một điếu xì gà Ấn Độ.

    Như anh biết đấy, tôi đã chú ý đến đề tài này và đã viết một chuyên khảo ngắn về tàn thuốc của một trăm bốn mươi loại tẩu, xì gà và thuốc lá.

    Sau khi tìm thấy tàn thuốc, tôi bèn nhìn xung quanh và phát hiện ra một mẩu thuốc mà hắn vứt lên đám rêu.

    Đó là một điếu xì gà Ấn Độ, loại được cuốn ở Rotterdam."

    "Còn về cái đót thì sao?"

    "Tôi có thể thấy là mẩu thuốc trước đó không bị ngậm trong miệng.

    Vậy là hắn có dùng đót, đầu mẩu thuốc bị cắt chứ không phải bị cắn rời, nhưng vết cắt không sắc gọn, từ đó tôi suy ra là hắn có một con dao đã cùn."

    "Holmes này", tôi nói, "anh đã chăng lưới xung quanh con người này và hắn sẽ không thể nào thoát ra được, anh cũng đã cứu mạng một người vô tội giống như đã cắt sợi dây đang treo cổ anh ta.

    Tôi đã thấy tất cả những điểm này đều chỉ về một hướng.

    Thủ phạm chính là..."

    ***

    "Ông John Turner", người phục vụ hô to khi mở cánh cửa phòng khách nơi chúng tôi đang ngồi và đưa một người khách vào.

    Người đàn ông vừa bước vào là một người lạ có vóc dáng rất ấn tượng.

    Bước chân chậm chạp, khập khiễng và vai còng tạo cho ông ta vẻ lọm khọm già yếu, tuy thế những đường nét thô cứng, hằn sâu vẻ lởm chởm trên khuôn mặt, hai cánh tay và đôi chân lực lưỡng cho thấy ông ta có một sức mạnh khác thường cả về thể chất lẫn tính cách.

    Bộ râu rối bù, mái tóc hoa râm và đôi lòng mày rậm rủ xuống tạo ra một vẻ oai vệ và quyền thế, vậy nhưng mặt ông ta xanh xao, còn đôi môi và hai cánh mũi thì lại có chút tím tái.

    Mới nhìn thôi tôi cũng biết là ông ta đang bị một căn bệnh kinh niên hết sức trầm trọng.

    "Xin mời ông ngồi xuống chiếc trường kỉ này", Holmes nhẹ nhàng nói.

    "Hẳn là ông đã nhận được bức thư của tôi?"

    "Phải, người gác cổng đã đem nó đến cho tôi.

    Ông nói rằng ông mong muốn gặp tôi ở đây để tránh tai tiếng."

    "Tôi nghĩ rằng thiên hạ sẽ bàn tán nếu như tôi đến gặp ông ở dinh thự."

    "Và tại sao ông lại muốn gặp tôi?"

    Ông ta nhìn bạn tôi, vẻ tuyệt vọng ánh lên trong đôi mắt mệt mỏi như thể câu hỏi của ông ta đã được trả lời.

    "Phải", Holmes nói như đáp lại ánh mắt chứ không phải câu hỏi của ông ta.

    "Vấn đề là thế đấy.

    Tôi đã biết hết mọi chuyện về McCarthy."

    Ông già úp mặt vào hai bàn tay.

    "Lạy Chúa cứu giúp!"

    Ông ta kêu lên.

    "Nhưng tôi sẽ không để cho chàng trai trẻ bị tổn hại.

    Tôi thề với ông là tôi sẽ nói ra hết nếu anh ta gặp bất lợi trong phiên tòa đại hình."

    "Tôi rất mừng khi nghe ông nói thế", Holmes nghiêm trang nói.

    "Nếu không vì đứa con gái yêu quý của tôi thì tôi đã nói ra hết rồi, điều ấy sẽ làm tan vỡ tim nó - nó sẽ đau khổ biết bao khi nghe tin tôi bị bắt."

    "Có thể cũng không đến nỗi đó đâu," Holmes nói.

    "Sao cơ?"

    "Tôi không phải người của chính quyền.

    Tôi hiểu rằng chính con gái ông yêu cầu tôi có mặt ở đây và tôi hành động vì quyền lợi của cô ấy.

    Tuy nhiên, chàng trai trẻ McCarthy cần được phóng thích."

    "Tôi nay cũng gần đất xa trời", ông Turner nói.

    "Tôi đã bị bệnh tiểu đường nhiều năm nay.

    Bác sĩ nói không biết tôi có qua được tháng này hay không.

    Dẫu sao tôi vẫn muốn chết dưới mái nhà của mình hơn là ở trong tù."

    Holmes đứng dậy và đến ngồi ở bàn, tay cầm bút và đặt một xấp giấy trước mặt.

    "Ông hãy nói hết sự thật cho chúng tôi nghe", anh bảo, "tôi sẽ ghi nhanh các sự kiện.

    Ông sẽ kí vào và ông Watson đây sẽ là người làm chứng.

    Sau đó, trong tình huống xấu nhất, tôi có thể đưa ra lời thú tội của ông để cứu chàng trai McCarthy.

    Tôi hứa là sẽ chỉ dùng đến nó khi tuyệt đối cần thiết."

    "Thế cũng được", ông già nói, "vấn đề là không biết tôi có sống được đến ngày xử án hay không, vì thế điều đó cũng chẳng quan trọng lắm với tôi, nhưng tôi muốn tránh cho Alice cú sốc.

    Giờ thì tôi sẽ nói rõ mọi chuyện cho ông nghe, sự việc diễn ra đã lâu nhưng tôi sẽ kể nhanh thôi.

    Ông không biết rõ người đã chết đâu, McCarthy ấy.

    Hắn là một con quỷ đội lốt người.

    Tôi khẳng định với ông điều đó.

    Cầu Chúa phù hộ cho ông đừng sa vào nanh vuốt của một kẻ như hắn.

    Hắn đã khống chế tôi suốt hai mươi năm và phá nát cuộc đời tôi.

    Trước hết, tôi sẽ kể cho ông nghe vì sao mà tôi rơi vào tay hắn.

    Chuyện xảy ra vào đầu những năm 1860 trong thời kì đào vàng.

    Lúc đó tôi hãy còn trẻ, nóng nảy và nông nổi, sẵn sàng bắt tay vào làm bất cứ điều gì; tôi cặp kè với đám bạn xấu, vùi đầu vào rượu chè, không gặp may với khu mỏ của mình, lẩn trốn nơi bờ bụi, nói tóm lại tôi đã trở thành thứ người mà ông có thể gọi là cướp đường.

    Bọn tôi có sáu người và chúng tôi sống hoang dại, phóng đãng, thỉnh thoảng cướp ở một nhà ga, hoặc là chặn các chuyến xe đang trên đường tới khu mỏ.

    Biệt danh của tôi là 'Black Jack vùng Ballarat' và băng đảng của chúng tôi đến nay vẫn còn được nhắc đến ở vùng thuộc địa với cái tên Băng cướp Ballarat.

    Một ngày nọ, một đoàn hộ tống xe chở vàng đi từ Ballarat đến Melbourne, chúng tôi phục kích và tấn công, có sáu kị binh và nhóm chúng tôi có sáu người, vì vậy tình thế rất gay go nhưng ngay từ loạt đạn đầu tiên chúng tôi đã bắn ngã bốn người trong số họ.

    Tuy vậy, ba đứa trong bọn tôi cũng bị chết trước khi chúng tôi cướp được số vàng.

    Tôi gí khẩu súng lục vào đầu của tên đánh xe, cũng chính là gã McCarthy ấy đấy.

    Giá mà ngày đó đức Chúa trời để cho tôi bắn chết hắn, nhưng tôi đã tha cho hắn dù tôi thấy đôi mắt ti hí độc ác của hắn chằm chằm nhìn vào mặt tôi như muốn ghi nhớ từng nét một.

    Chúng tôi trốn đi cùng với số vàng, trở thành những người giàu có và quay về Anh mà không bị nghi ngờ.

    Tại đây, tôi cắt đứt quan hệ với đám bạn cũ và quyết định sẽ sống một cuộc đời êm ả và đứng đắn.

    Tôi đã mua điền trang này đúng lúc nó đang được rao bán và quyết tâm bỏ tiền ra làm một số việc thiện để chuộc lại cái cách mà tôi đã kiếm được tiền.

    Sau đó tôi lập gia đình và dù vợ tôi mất sớm nhưng cũng kịp để lại cho tôi Alice, đứa con gái nhỏ đáng yêu.

    Ngay từ khi còn nhỏ, bàn tay bé xíu của nó đã dẫn dắt tôi vào con đường sáng như thể chưa từng có điều gì xấu xa.

    Tóm lại, tôi đã cải tà quy chính vì cố gắng hết sức để bù đắp lại những lỗi lầm trong quá khứ.

    Tất cả đều diễn ra tốt đẹp cho đến khi McCarthy bíu chặt lấy tôi.

    Một ngày nọ, tôi đi lên thị trấn để lo một vụ đầu tư và gặp hắn ở phố Regent trong tình trạng tả tơi, rách rưới.

    'Thế là ta lại gặp nhau, Jack', hắn nói và nắm lấy cánh tay tôi, 'chúng tôi sẽ thân thiết với anh như người một nhà.

    Chỉ có hai cha con tôi và anh có thể lo liệu cho chúng tôi.

    Nếu không thì anh cứ liệu chừng, Anh quốc là một đất nước tôn trọng pháp luật và đâu đâu cũng có cảnh sát.'

    Thế rồi, cha con hắn đi về miền Tây, chẳng còn cách nào để thoát khỏi bọn họ và ở đó, cả hai đã sống trên mảnh đất tốt nhất của tôi mà không phải trả một đồng tiền thuê đất suốt từ đấy đến nay.

    Tôi không thể nào yên tâm, thư thái, hay lãng quên được; quay đi đâu tôi cũng thấy bộ mặt nham hiểm với nụ cười nhăn nhở của hắn sát bên cạnh.

    Tình cảnh còn tệ hơn nữa khi Alice lớn lên, vì hắn nhanh chóng nhận biết điều mà tôi lo sợ hơn cả cảnh sát, đó chính là con bé biết được quá khứ của cha mình.

    Hắn muốn gì là phải được đáp ứng và bất kể thứ gì tôi cũng sẵn sàng cho hắn - đất đai, tiền bạc, nhà cửa - cho đến khi hắn đòi một thứ mà tôi không thể nào chấp nhận được.

    Hắn muốn Alice.

    Như ông thấy đấy, con trai hắn đã trưởng thành, con gái tôi cũng đã lớn khôn, và vì ai cũng biết sức khỏe của tôi không được tốt nên có vẻ như thượng sách đối với hắn là làm sao để thằng con trai hưởng trọn sản nghiệp của tôi.

    Nhưng về điểm này thì tôi rất cứng rắn.

    Tôi sẽ không để cho dòng máu đáng nguyền rủa của hắn hòa vào dòng máu của tôi, không phải vì tôi ghét bỏ gì đứa con trai mà vì dòng máu của cha nó trong người nó, thế đã là đủ lắm rồi.

    Tôi rất cương quyết.

    McCarthy đe dọa.

    Tôi chấp hắn làm điều tệ hại nhất.

    Chúng tôi hẹn gặp nhau tại hồ nước nằm giữa điền trang của tôi và trang trại của hắn để trao đổi mọi chuyện.

    Khi tôi đến đó thì thấy hắn đang nói chuyện với con hắn, vì thế tôi hút một điếu xì gà và đứng sau một thân cây, đợi đến khi hắn chỉ còn lại một mình.

    Nhưng khi tôi nghe thấy hắn nói chuyện thì mọi cảm giác kinh tởm và cay đắng dâng lên đến mức cực điểm.

    Hắn đang thúc giục con trai hắn hỏi cưới con gái tôi mà chẳng thèm bận tâm xem con bé nghĩ gì, như thể con tôi là một ả điếm ngoài đường vậy.

    Tôi giận đến phát điên khi nghĩ rằng tất cả mọi thứ tôi yêu quý đều sẽ rơi vào tay một gã như thế.

    Tôi có thể bẻ gãy tình trạng gông xiềng này hay không?

    Tôi đã gần đất xa trời rồi và cũng chẳng còn hi vọng.

    Dù đầu óc hãy còn minh mẫn và tay chân vẫn khá khỏe mạnh, tôi biết rằng số phận của mình đã bị định đoạt.

    Nhưng còn quá khứ và con gái của tôi!

    Cả hai sẽ được cứu thoát nếu tôi bịt được cái mõm dơ bẩn đó.

    Và tôi đã làm điều đó, ông Holmes ạ.

    Nếu có phải làm lại tôi cũng sẵn sàng.

    Tôi đã phạm sai lầm hết sức trầm trọng trong quá khứ và đã phải chuộc lại lỗi lầm đó bằng cả một đời bị đọa đày khổ sở.

    Nhưng ý nghĩ con gái mình cũng sẽ bị vướng vào những cạm bẫy như thế khiến tôi khó có thể chịu đựng.

    Tôi đánh gục hắn mà lòng không chút hối hận như thể vừa đập chết một con thú bẩn thỉu và độc ác.

    Tiếng thét của hắn vọng đến tai đứa con trai, nhưng tôi đã kịp lẩn vào rừng, rồi lại phải quay trở lại để nhặt cái áo khoác mà mình đã làm rơi trong lúc bỏ chạy.

    Thưa ông, đó là sự thật về tất cả những gì đã xảy ra."

    "Tôi không phải là người phán xét ông", Holmes nói khi ông già kí vào tờ khai đã được viết xong.

    "Tôi mong sao chúng tôi không bao giờ bị lâm vào một cảnh ngộ như thế."

    "Tôi cũng mong thế, thưa ông.

    Ông định làm gì nữa?"

    "Không làm gì cả.

    Trong tình hình sức khỏe của ông hiện nay, hẳn ông cũng nhận thức được là ông sẽ sớm phải trả lời về hành động của mình tại một tòa án cao hơn tòa đại hình.

    Tôi sẽ giữ tờ cung khai của ông và buộc phải dùng đến nó trong trường hợp McCarthy bị kết án.

    Nếu không, tờ giấy này sẽ chẳng bao giờ bị ai nhìn thấy, cho dù ông còn sống hoặc đã chết thì bí mật của ông vẫn được chúng tôi cất giữ an toàn."

    "Thế thì xin tạm biệt", ông già trịnh trọng nói.

    "Chiếc giường các ông nằm lúc lâm chung sẽ êm ái hơn khi các ông nghĩ về sự thanh thản mà các ông đã đem lại cho tôi."

    Cả thân hình to lớn lảo đảo và run rẩy, ông già lẩy bẩy, chậm chạp bước ra khỏi phòng.

    "Cầu Chúa phù hộ chúng ta!"

    Holmes nói sau một khoảng lặng dài.

    "Vì sao số phận cứ đùa cợt với những phận người nhỏ nhoi, đáng thương và vô phúc như thế?

    Tôi chưa bao giờ nghe kể về một vụ nào như vậy mà không nghĩ đến lời của Baxter và tự dặn mình thế này: Nếu không có ân đức của Chúa thì Sherlock Holmes cũng đi tong."

    Tại tòa đại hình, dưới sức thuyết phục của nhiều lời phản bác được Holmes đưa ra và trình lên luật sư bào chữa, James McCarthy được tuyên bố trắng án.

    Ông Turner còn sống được thêm bảy tháng nữa sau cuộc trò chuyện với chúng tôi, nhưng giờ ông ta đã qua đời; và có nhiều khả năng là chàng trai và cô gái có thể sống hạnh phúc bên nhau mà không hay biết gì về đám mây u ám từng lơ lửng trên quá khứ hai người cha của họ.
     
    Sherlock Holmes Toàn Tập
    NĂM HẠT CAM (The Five Orange Pips, 1891)


    Khi đọc lướt qua các ghi chép và hồ sơ của mình về những vụ mà Sherlock Holmes đã giải quyết từ năm 1882 đến năm 1890, tôi phải đối mặt với biết bao vụ án với những nét lạ lùng và lí thú đến nỗi thật không dễ quyết định nên kể vụ nào và không kể vụ nào.

    Tuy nhiên, một số vụ đã được công bố thông qua báo chí và một số khác thì lại không tạo được nhiều điều kiện cho bạn tôi bộc lộ những năng lực khác thường ở trình độ cao thủ của anh, mà mục đích của các câu chuyện tôi viết là nhằm nêu bật những phẩm chất ấy.

    Cũng có một số vụ lại thách thức kĩ năng phân tích của anh và nếu kể lại thì chẳng khác nào những câu chuyện chỉ có phần mở đầu mà không có phần kết, lại có những vụ khác mới được làm sáng tỏ một phần và chỉ được giải thích dựa trên sự phỏng đoán và giả định chứ chưa có bằng chứng hoàn toàn logic vốn được anh đề cao.

    Tuy vậy, một trong những vụ án thuộc loại sau cùng này lại có những chi tiết rất đặc biệt và kết quả rất đáng ngạc nhiên khiến tôi muốn kể đôi chút về nó mặc dù vẫn còn nhiều điểm liên quan đến nó chưa hề và có lẽ sẽ chẳng bao giờ được làm sáng tỏ.

    Năm 1887, chúng tôi gặp hàng loạt vụ án ít nhiều lí thú mà tôi đã ghi lại trong hồ sơ.

    Trong số những đề mục của mười hai tháng đó, tôi tìm thấy bản báo cáo về vụ Căn Phòng Paradol, vụ Hội Ăn Xin Nghiệp Dư, hội này tổ chức một câu lạc bộ rất xa hoa trong căn hầm của một nhà kho chứa đồ, những sự kiện liên quan đến vụ mất chiếc thuyền Sophy Anderson của Anh quốc, những chuyến phiêu lưu kì lạ của Grice Patersons ở hòn đảo Uffa và cuối cùng là vụ đầu độc ở Camberwell.

    Trong vụ này, có thể quý vị hãy còn nhớ, bằng cách lên dây cót chiếc đồng hồ của người chết, Sherlock Holmes đã chứng minh rằng nó đã được lên dây cót hai giờ trước đó, suy ra người chết đã đi ngủ trong khoảng thời gian này - một suy luận vô cùng quan trọng để làm sáng tỏ vụ án.

    Có thể sau này, đến một lúc nào đó, tôi sẽ tóm tắt lại tất cả những vụ việc ấy, nhưng không một vụ nào trong số đó có những chuỗi diễn biến lạ lùng mà lúc này tôi sắp mô tả.

    Đó là cuối tháng 9, những cơn bão tiết thu phân đang trong thời kì hoành hành dữ dội.

    Suốt cả ngày, gió cứ thét gào và thổi quất ràn rạt vào các cánh cửa sổ, vì thế, cho dù đang ở trung tâm của thành phố London vĩ đại, do con người xây cất, chúng tôi vẫn buộc phải tạm ngừng chú tâm vào nếp sống hàng ngày và nhận ra sự hiện diện của những thế lực tự nhiên to lớn đang thét gào với loài người qua những rào chắn của nền văn minh, như những con thú hung bạo bị nhốt trong chuồng.

    Đêm xuống, cơn bão càng mạnh lên và ồn ào hơn, gió rú rít và nức nở như một đứa trẻ trong ống khói.

    Sherlock Holmes ngồi đăm chiêu ở một bên lò sưởi và đang lập chỉ mục cho những sổ sách ghi án của anh.

    Trong khi ở phía bên kia, tôi đang đắm mình vào những câu chuyện lí thú viết về biển khơi của Clark Russell cho đến lúc tiếng gào rú của cơn bão từ bên ngoài như hòa lẫn vào câu chuyện và tiếng mưa rơi kéo dài thêm thành những tràng sóng biển vỗ ì ầm.

    Vợ tôi đã đi thăm mẹ đẻ và một lần nữa tôi lại tạm trú ở chốn cũ trên phố Baker trong vài ngày.

    "Này", tôi nhìn sang bạn mình và nói, "chắc chắn là có tiếng chuông.

    Ai đến vào lúc khuya khoắt thế này nhỉ?

    Hẳn là người bạn nào đó của anh?"

    "Ngoài anh ra thì tôi chẳng có người bạn nào", anh trả lời.

    "Tôi không hoan nghênh khách khứa."

    "Vậy thì một thân chủ chăng?"

    "Nếu thế thì đây là một vụ rất nghiêm trọng.

    Không thì chẳng ai lại ra khỏi nhà vào một ngày thế này và vào giờ này.

    Nhưng tôi nghĩ chắc là một người bạn chí thân của bà chủ nhà."

    Tuy nhiên, Sherlock Holmes đã đoán lầm vì có tiếng chân người trên hành lang và một tiếng gõ cửa vang lên.

    Anh vươn cánh tay dài để xoay ngọn đèn hướng từ phía mình sang chiếc ghế trống mà người khách mới đến sẽ ngồi vào.

    "Xin mời vào!"

    Anh lên tiếng.

    Chàng trai bước vào hãy còn trẻ, cùng lắm chỉ khoảng hai mươi hai, ăn mặc chỉnh tề và chải chuốt với phong thái tao nhã và lịch thiệp.

    Nước chảy thành dòng trên chiếc dù trong tay anh ta và tấm áo mưa dài loang loáng nước cho thấy anh ta vừa đi dưới thời tiết thật là khủng khiếp.

    Trong ánh sáng chói lòa của ngọn đèn, anh ta nhìn quanh với vẻ bồn chồn và tôi có thể trông thấy khuôn mặt xanh tái với đôi mắt đau buồn như một người đang bị đè nặng dưới một mối lo âu to lớn.

    "Tôi nợ các ông một lời xin lỗi", anh ta nói và nhấc cái kính kẹp mũi gọng vàng ra khỏi mắt.

    "Lẽ ra tôi không nên xông vào.

    Tôi e rằng tôi đã đem mưa bão vào căn phòng ấm áp của các ông."

    "Hãy đưa tôi chiếc áo khoác và cây dù của anh", Holmes nói.

    "Chúng có thể nằm yên trên cái móc này và sẽ sớm khô ráo thôi.

    Hẳn là anh đến từ vùng tây nam."

    "Vâng, từ Horsham."

    "Hỗn hợp đất sét và đá phấn mà tôi nhìn thấy trên mũi giày của anh khá đặc trưng."

    "Tôi đến để xin được tư vấn."

    "Điều đó dễ thôi."

    "Và mong cầu sự giúp đỡ."

    "Cái này thì không phải lúc nào cũng dễ."

    "Tôi vừa nghe nói về ông, thưa ông Holmes.

    Tôi đã nghe thiếu tá Prendergast kể là ông đã cứu ông ấy thoát khỏi vụ tai tiếng ở Câu lạc bộ Tankerville."

    "À, tất nhiên rồi.

    Ông ta đã bị buộc tội oan là chơi bài gian."

    "Ông ấy nói rằng ông có thể giải quyết bất cứ chuyện gì."

    "Ông ấy nói quá rồi."

    "Rằng ông chưa bao giờ thất bại."

    "Tôi đã bị đánh bại bốn lần - ba lần do đàn ông và một lần do phụ nữ."

    "Nhưng so với số lần thành công của ông thì số lần thất bại đó chẳng là gì?"

    "Đúng là nói chung thì tôi thường thành công."

    "Thế thì ông cũng sẽ thành công trong chuyện của tôi thôi."

    "Xin mời anh kéo ghế lại gần lò sưởi và vui lòng kể vài chi tiết về vụ của anh."

    "Nó không hề bình thường."

    "Những chuyện bình thường thì đã chẳng đến tay tôi.

    Tôi chính là 'tòa phúc thẩm' cuối cùng mà."

    "Tuy vậy tôi vẫn ngờ rằng, thưa ông, trong tất cả những trường hợp mà ông đã gặp, chắc ông chưa bao giờ nghe nói tới một chuỗi sự kiện bí ẩn và không thể giải thích được như những chuyện đã xảy ra trong gia tộc chúng tôi không."

    "Anh làm tôi tò mò hết sức", Holmes nói.

    "Xin hãy kể cho chúng tôi nghe những sự kiện chính ngay từ lúc bắt đầu và sau đó tôi có thể hỏi thêm về những chi tiết mà tôi thấy là quan trọng nhất."

    Chàng trai trẻ kéo chiếc ghế lên phía trước và giơ đôi chân ướt sũng về phía ngọn lửa.

    Anh ta nói, "Tôi tên là John Openshaw, thế nhưng theo như tôi nhận thấy, việc riêng của tôi lại chẳng liên quan nhiều lắm đến vụ việc kinh khủng kia.

    Đó là một vấn đề liên quan tới tài sản thừa kế, vì thế, để cho ông nắm được các sự kiện, tôi phải quay ngược trở lại từ đầu sự việc.

    Ông cần phải biết rằng ông nội tôi có hai người con trai - bác Elias và cha tôi tên Joseph.

    Cha tôi có một nhà máy nhỏ ở Coventry và ông đã mở rộng nó vào thời kì phát minh ra xe đạp.

    Ông đã được cấp bằng sáng chế cho loại lốp xe không rạn nứt hiệu Openshaw và công việc làm ăn của ông thành công rực rỡ đến nỗi ông có thể bán doanh nghiệp đi và về hưu với một món thu nhập đủ để sống sung túc.

    Bác Elias của tôi di cư sang Mỹ từ khi còn trẻ và trở thành một chủ đồn điền ở Florida, nghe nói công việc làm ăn của bác rất hanh thông.

    Khi chiến tranh xảy ra, bác chiến đấu trong quân đội của tướng Jackson và sau đó là quân của tướng Hood, và được lên lon đại tá.

    Khi tướng Lee đầu hàng, bác tôi trở về đồn điền của mình và ở đó khoảng ba hay bốn năm.

    Vào khoảng năm 1869 hay 1870 thì bác quay về Âu châu và mua một điền trang nhỏ ở Sussex, gần Horsham.

    Khi còn ở Mỹ, bác đã tạo được một cơ nghiệp rất đáng kể và nguyên nhân bác từ bỏ đất nước đó là do ác cảm với những người da đen và bất mãn với chính sách mở rộng quyền bầu cử cho người da đen của đảng Cộng hòa.

    Bác tôi là người lập dị, hung tợn và nóng tính, ăn nói rất thô lỗ mỗi khi nổi giận và thường xa lánh người khác.

    Trong suốt thời gian bác sống ở Horsham, tôi ngờ rằng bác chẳng khi nào đặt chân đến thị trấn.

    Bác có một mảnh vườn và hai, ba cánh đồng xung quanh nhà là nơi bác có thể vận động dù bác thường xuyên ở lì trong phòng suốt nhiều tuần.

    Bác uống khá nhiều rượu mạnh và hút thuốc liên tục, thế nhưng bác chẳng muốn giao du với ai, không cần kết bạn và thậm chí là không gặp em ruột.

    Bác không tỏ ra khó chịu với tôi; thật ra bác có phần quý mến tôi vì khi bác gặp tôi lần đầu thì tôi mới khoảng mười hai tuổi.

    Đó là năm 1878, khi bác đã ở Anh quốc được tám, chín năm.

    Bác nài nỉ cha tôi để tôi sống cùng bác và bác rất tử tế với tôi theo cách riêng của mình.

    Những lúc tỉnh táo, bác thường thích chơi cờ thỏ cáo và cờ đam với tôi, bác cũng hay nhờ tôi thay mặt tiếp xúc với các gia nhân và những người bán hàng, vì thế mà đến năm mười sáu tuổi, tôi đã gần như là ông chủ trong nhà.

    Tôi giữ tất cả chìa khóa và có thể đi đến bất cứ đâu mình thích, làm những gì mình muốn làm, miễn là tôi không quấy rầy sự riêng tư của bác.

    Tuy nhiên, có một ngoại lệ duy nhất: Bác có một căn phòng chứa những thứ đồ tập tàng ở tầng gác mái mà bác luôn khóa kín và không bao giờ cho phép tôi hay bất kì ai khác bước vào.

    Với sự tò mò của một cậu con trai, tôi đã nhìn trộm qua lỗ khóa nhưng không thể thấy gì hơn ngoài một đống rương cũ và những gói đồ mà ta thường thấy trong những căn buồng như thế.

    Một ngày kia, vào tháng 3 năm 1883 - một lá thư có dán tem nước ngoài nằm yên vị trên bàn, ngay trước đĩa của ông bác đại tá của tôi.

    Việc bác nhận được thư là chuyện lạ vì mọi hóa đơn đều được chi trả bằng tiền mặt và bác cũng chẳng có người bạn nào.

    'Thư từ Ấn Độ!' Bác nói thế khi cầm lên.

    'Dấu của bưu điện ở Pondicherry!

    Gì thế này?' Bác hối hả mở phong bì và năm hạt cam khô từ trong đó rơi xuống đĩa.

    Tôi suýt thì cười phá lên nhưng tiếng cười bị chặn lại trên môi ngay khi tôi nhìn thấy nét mặt của bác.

    Môi bác trễ xuống, hai mắt lồi ra, da tái nhợt như vôi và bác nhìn trừng trừng vào cái phong bì hãy còn nằm trong bàn tay run rẩy của mình.

    'KKK!' Bác hét lên và nói tiếp, 'Lạy Chúa lòng lành, tội lỗi của con đã ập lên đầu con!'

    'Có chuyện gì hả bác?' Tôi kêu lên.

    'Tử thần', bác đáp và đứng dậy rời khỏi bàn rồi rút về phòng mình, để lại tôi run rẩy khiếp sợ.

    Tôi nhặt cái phong bì lên và nhìn thấy chữ viết nguệch ngoạc bằng mực đỏ ở mép trên, ngay phía trên chỗ dán keo, đó là chữ K được lặp lại ba lần.

    Ngoài ra không còn gì khác ngoại trừ năm hạt cam khô.

    Điều gì có thể gây ra nỗi kinh hoàng đến tột độ của bác?

    Tôi rời khỏi bàn ăn và khi tôi bước lên cầu thang thì gặp bác đang đi xuống, một tay cầm chiếc chìa khóa cũ gỉ, chắc hẳn là của căn phòng ở tầng gác mái, còn tay kia bê một cái hộp nhỏ bằng đồng thau giống như một cái két bạc.

    'Tụi nó muốn làm gì thì làm nhưng ta vẫn sẽ phá được tụi nó', bác nói kèm theo một lời nguyền rủa.

    'Bảo Mary đến nhóm lò sưởi trong phòng bác và cho mời ông Fordham, luật sư ở Horsham.'

    Tôi làm theo và khi luật sư đến thì tôi được gọi lên phòng bác.

    Ngọn lửa đang cháy sáng rực và trong vỉ lò có một đống tro đen xốp có vẻ là tàn tích của mớ giấy tờ bị đốt, còn cái hộp bằng đồng thau để mở và trống trơn nằm bên cạnh.

    Liếc nhìn chiếc hộp, tôi giật nẩy người khi thấy trên nắp hộp có khắc ba chữ K mà tôi đã đọc được trên chiếc phong bì lúc sáng nay.

    Bác tôi nói, 'John, bác muốn cháu làm chứng cho di chúc của bác.

    Bác sẽ để lại điền trang của bác, tốt xấu gì cũng vậy, cho em trai bác, tức là cha cháu, vì không còn nghi ngờ gì nữa, nó sẽ được truyền lại cho cháu.

    Nếu cháu có thể yên ổn sử dụng nó thì tốt!

    Còn nếu cháu thấy mình không thể thì hãy làm theo lời bác khuyên, cháu trai ạ, hãy trao nó cho kẻ thù nguy hiểm nhất của cháu.

    Bác rất buồn vì đã để lại cho cháu một di sản chẳng khác gì con dao hai lưỡi, nhưng bác không thể nói trước sự việc sẽ diễn biến ra sao.

    Hãy kí tên vào tờ giấy ở chỗ mà ông Fordham sẽ chỉ cho cháu.'

    Tôi kí vào tờ giấy theo lời dặn và ông luật sư cầm nó đi.

    Sự việc kì lạ này, như ông có thể thấy, đã gây cho tôi một ấn tượng vô cùng sâu sắc và tôi cứ suy nghĩ, nghiền ngẫm đủ đường về nó mà vẫn không sao làm sáng tỏ được.

    Tôi cũng không thể nào giũ bỏ cảm giác sợ hãi mơ hồ mà nó để lại, dù rằng cái cảm giác đó mờ nhạt dần sau nhiều tuần trôi qua mà không có điều gì xáo trộn cuộc sống hằng ngày của bác cháu tôi.

    Tuy vậy, tôi có thể nhận thấy một sự thay đổi ở bác tôi.

    Bác uống rượu nhiều hơn và không muốn tiếp xúc với bất cứ ai.

    Hầu như bác chỉ ở lì trong phòng mình, khóa cửa bên trong, nhưng đôi khi bác xuất hiện trong cơn say bí tỉ, đùng đùng ra khỏi nhà và lồng lộn đi lại khắp vườn, tay cầm khẩu súng lục, miệng hét lên rằng bác chẳng sợ đứa nào cả và không ai dù là người hay quỷ dữ có thể giam chân bác nhốt như một con cừu trong bãi quây.

    Tuy nhiên, khi những cơn nóng giận đó nguôi ngoai thì bác lại cuống cuồng chạy vào phòng rồi chốt và khóa chặt cửa lại như một người không còn đủ sức đương đầu với nỗi sợ hãi kinh hoàng nằm sâu trong gốc rễ linh hồn của ông.

    Vào những lúc như thế, tôi thấy mặt bác bóng nhẫy mồ hôi dù trời lạnh, như thể bác vừa úp mặt vào chậu nước vậy.

    Thế đấy, xin được kết thúc câu chuyện, thưa ông Holmes, và tránh lạm dụng lòng kiên nhẫn của ông, một đêm nọ khi đã say mèm, bác tôi lại đi lang thang nhưng lần này thì bác chẳng bao giờ trở lại nữa.

    Khi bủa đi tìm kiếm bác thì chúng tôi thấy bác nằm sấp mặt trong một cái ao nhỏ nước đóng váng xanh lè ở cuối vườn.

    Không hề thấy bất cứ dấu vết tấn công nào và cái ao chỉ sâu có hơn hai foot, do đó sau khi xem xét tính tình kì quái của bác tôi, bồi thẩm đoàn đưa ra phán quyết rằng đây là một vụ tự tử.

    Nhưng tôi biết rõ rằng chỉ cần nghĩ đến cái chết thôi cũng đủ làm bác nhíu mày nhăn mặt nên tôi khó mà tự thuyết phục được mình rằng bác đã tự tìm đến cái chết.

    Tuy nhiên, mọi chuyện rồi cũng qua đi và cha tôi được sở hữu điền trang cùng với khoảng mười bốn ngàn bảng trong tài khoản nhà băng của bác tôi..."

    "Xin thứ lỗi", Holmes xen vào, "tôi đã đoán được câu chuyện anh đang kể sẽ là một trong những chuyện đặc biệt nhất mà tôi từng nghe.

    Xin cho biết ngày mà bác anh nhận được lá thư và ngày xảy ra cái chết của ông ấy mà người ta cho là một vụ tự tử."

    "Bức thư đến vào ngày mùng 10 tháng 3 năm 1883.

    Cái chết của bác tôi xảy ra sau đó bảy tuần, vào đêm mùng 2 tháng 5."

    "Cảm ơn anh.

    Xin vui lòng kể tiếp."

    "Khi cha tôi tiếp quản cơ ngơi ở Horsham, theo đề nghị của tôi, ông đã cho lục soát kĩ lưỡng căn phòng ở tầng gác mái vốn vẫn luôn được khóa kín.

    Chúng tôi tìm thấy cái hộp bằng đồng thau ở đó tuy những gì đựng bên trong đã bị tiêu hủy.

    Mặt trong của nắp đậy có dán một tấm nhãn bằng giấy với ba chữ K và bên dưới có hàng chữ ghi: 'Thư từ, ghi nhớ, biên lai và một cuốn sổ'.

    Chúng tôi đoán rằng hàng chữ này cho biết các loại giấy tờ đã bị đại tá Openshaw tiêu hủy là gì.

    Phần còn lại của tầng gác mái không có gì quan trọng ngoại trừ rất nhiều giấy tờ nằm vương vãi và những quyển sổ ghi chép về cuộc sống của bác tôi khi còn ở Mỹ.

    Một số kể về thời chiến cho thấy bác đã thi hành nhiệm vụ rất tốt và nổi danh là một chiến sĩ dũng cảm.

    Những ghi chép khác lại nói về thời kì tái thiết ở miền Nam và chủ yếu liên quan đến chính trị vì rõ ràng bác tôi đã tích cực tham gia vào việc chống đối những chính khách cơ hội đến từ miền Bắc.

    Đầu năm 1884, cha tôi đến sống tại Horsham và mọi chuyện diễn ra hết sức tốt đẹp với chúng tôi cho đến tháng 1 năm 1885.

    Vào ngày thứ tư sau lễ đón năm mới, khi chúng tôi đang ngồi với nhau tại bàn ăn sáng thì cha tôi đột ngột kêu lên kinh ngạc, ông ngồi đó, một tay cầm phong thư mới mở, tay kia xòe ra, trên lòng bàn tay là năm hạt cam khô.

    Ông vẫn luôn cười nhạo cái mà ông gọi là câu chuyện bịa đặt về đại tá, nhưng giờ thì trông ông rất kinh hoàng và bối rối khi chính mình nhận được một thứ như thế.

    'Sao, thứ này có nghĩa quái quỷ gì hả John?' Ông lắp bắp.

    Tim tôi chợt nặng trĩu.

    'Đó là KKK', tôi đáp.

    Cha tôi nhìn vào bên trong phong bì.

    'Đúng vậy', ông hét lên.

    'Ở đây cũng có ba chữ đó.

    Nhưng còn hàng chữ phía trên chúng viết gì vậy?'

    'Hãy để các tài liệu lên cái đồng hồ mặt trời', tôi liếc nhanh qua vai ông và đọc lên.

    'Tài liệu nào?

    Đồng hồ mặt trời nào?' Cha tôi hỏi.

    'Là cái đồng hồ mặt trời ở trong vườn.

    Không còn cái nào khác nữa', tôi nói, 'còn tài liệu thì hẳn là nói về những giấy tờ đã bị thiêu hủy.'

    'Úi chà!' Ông thốt lên, cố lấy can đảm.

    'Chúng ta đang sống trong một đất nước văn minh và ở đây không thể có những chuyện ngớ ngẩn như vậy được.

    Cái thứ này từ đâu đến?'

    'Từ Dundee', tôi đáp sau khi nhìn dấu bưu điện.

    'Một trò đùa ác ý, lố bịch', cha tôi nói.

    'Cha có liên quan gì tới những cái đồng hồ mặt trời và mớ giấy tờ chứ?

    Cha sẽ chẳng quan tâm đến thứ vớ vẩn này!'

    'Nếu là con thì con chắc chắn sẽ đi báo cảnh sát', tôi nói.

    'Và để họ cười vào mặt cha chứ gì.

    Không có chuyện đó đâu.'

    'Vậy thì để con đi.'

    'Không, cha cấm con đấy.

    Cha không muốn khua chiêng gióng trống về cái chuyện tầm phào này.'

    Có tranh luận với cha tôi cũng vô ích thôi, vì ông là người rất ngoan cố.

    Tuy vậy lòng tôi lúc nào cũng canh cánh về một điềm gở sắp sửa xảy ra.

    Vào ngày thứ ba sau khi nhận được lá thư, cha tôi ra khỏi nhà để đi thăm một người bạn cũ, thiếu tá Freebody đang chỉ huy một trong những đồn lính đóng trên đồi Portsdown.

    Tôi thấy mừng vì có vẻ như ông sẽ tránh xa được mối đe dọa tiềm ẩn khi không có mặt ở nhà.

    Thế nhưng tôi đã lầm.

    Cha tôi đi được hai ngày thì tôi nhận được một bức điện từ thiếu tá kêu tôi đến đồn gấp.

    Cha tôi bị ngã vào một hầm đá phấn sâu vốn có nhan nhản trong vùng, ông đang nằm hôn mê bất tỉnh, sọ bị dập vỡ.

    Tôi cuống cuống chạy đến nhưng cha tôi đã qua đời mà không hề tỉnh lại lấy một lần.

    Có vẻ như ông đang trên đường từ Fareham về lúc trời chạng vạng tối, vì ông không biết rõ vùng này mà hầm đá phấn lại chẳng được rào chắn nên bồi thẩm đoàn không chút do dự khi đưa ra nhận định cha tôi chết do tai nạn.

    Dù đã xem xét kĩ lưỡng từng chi tiết có liên quan đến cái chết của cha tôi song tôi vẫn không thể tìm ra bất cứ điều gì có thể gợi ý rằng đây là một vụ giết người.

    Không có dấu vết của bạo lực, không có dấu chân, không bị cướp, cũng không ghi nhận được có người lạ mặt xuất hiện trên đường.

    Tuy vậy, tôi cũng không cần phải nói với ông rằng đầu óc tôi cứ lo lắng mãi và tôi gần như chắc chắn có một âm mưu xấu xa đã được dàn xếp xung quanh cha tôi.

    Thế là đến lượt tôi được hưởng thừa kế sau tai ương ấy.

    Có lẽ ông sẽ hỏi tại sao tôi không tống khứ nó đi?

    Tôi sẽ trả lời rằng, vì tôi tin chắc những rắc rối của chúng tôi phụ thuộc vào một sự kiện nào đó trong cuộc đời của bác tôi theo một cách mà tôi chưa rõ và dù có ở nhà nào thì mối nguy hiểm vẫn sẽ đè nặng hệt như thế.

    Người cha xấu số của tôi qua đời vào tháng 1 năm 1885, hai năm tám tháng đã trôi qua kể từ ngày đó.

    Trong suốt thời gian này, tôi sống hạnh phúc tại Horsham và bắt đầu hi vọng rằng lời nguyền kia đã buông tha gia đình chúng tôi và nó đã khép lại ở thế hệ trước.

    Tuy nhiên, tôi đã an tâm quá sớm vì sáng hôm qua tai họa lại giáng xuống theo cách thức như đã xảy đến với cha tôi."

    Chàng trai trẻ lấy ra một cái phong bì đã nhàu nát từ áo gilet rồi quay về phía chiếc bàn, giũ năm hạt cam khô lên đó.

    "Đây là cái phong bì", anh nói tiếp.

    "Dấu bưu điện là ở London, khu vực phía đông.

    Bên trong cũng chính là những chữ đã viết cho cha tôi trong bức thư lần trước: 'KKK' và 'Hãy đặt các tài liệu lên cái đồng hồ mặt trời'."

    "Anh đã làm gì rồi?"

    Holmes hỏi.

    "Tôi chẳng làm gì cả."

    "Không làm gì cả?"

    "Nói thật với ông", chàng trai úp mặt vào hai bàn tay mảnh dẻ, trắng trẻo của mình, "tôi đã cảm thấy bất lực.

    Tôi thấy mình như một con thỏ tội nghiệp sắp sửa bị một con rắn tấn công.

    Tôi thấy mình như đã nằm trong nanh vuốt của một con quỷ sắt đá, vô phương kháng cự mà không sự tiên đoán hay biện pháp phòng ngừa nào ngăn chặn được."

    "Ấy chết!"

    Sherlock Holmes kêu lên rồi nói.

    "Anh phải hành động chứ, nếu không là tiêu đời đó.

    Chỉ có nghị lực mới cứu được anh.

    Giờ không phải là lúc để tuyệt vọng."

    "Tôi đã gặp cảnh sát."

    "À!"

    "Nhưng họ chỉ cười khi nghe câu chuyện của tôi.

    Tôi tin chắc viên thanh tra ấy cho rằng những bức thư này đều là trò chơi khăm, và những người thân của tôi chết là do tai nạn thực sự, như bồi thẩm đoàn đã nhận định và không hề dính líu gì đến mấy lời cảnh báo kia."

    Holmes vung nắm đấm vào không khí.

    "Ngu ngốc không thể tưởng!'' Anh kêu lên.

    "Tuy vậy, họ vẫn cắt cử cho tôi một viên cảnh sát, người này có thể ở trong nhà cùng tôi."

    "Tối nay anh ta có đi cùng anh đến đây không?"

    "Không.

    Anh ta được lệnh phải ở trong nhà."

    Một lần nữa, Holmes lại giận dữ đấm vào không khí.

    "Sao anh còn đến gặp tôi", anh hét lên, "mà đã thế tại sao không đến ngay lập tức?"

    "Tôi không biết gì về ông.

    Chỉ đến ngày hôm nay, khi thổ lộ với thiếu tá Prendergast về những điều lo lắng của mình thì tôi mới được ông ta khuyên nên đến gặp ông."

    "Hai ngày đã trôi qua kể từ khi anh nhận được lá thư.

    Lẽ ra chúng ta cần phải hành động từ trước.

    Tôi cho rằng ngoài những thứ mà anh đã cho chúng tôi xem thì anh không có thêm bằng chứng nào khác - không có chi tiết nào có thể giúp chúng tôi?"

    "Có một vật", John Openshaw đáp.

    Chàng trai lục lọi trong túi áo khoác và lấy ra một mảnh giấy màu xanh đã bạc màu, rồi đặt nó lên mặt bàn.

    "Tôi nhớ ra rằng", anh nói, "vào ngày bác tôi đốt mớ giấy tờ thì tôi thấy trong đám tro hãy còn lẫn vài mẩu giấy nhỏ chưa cháy hết cũng có màu này.

    Tôi tìm thấy mảnh giấy này trên sàn phòng bác tôi và tôi cho rằng nó nằm trong mớ giấy tờ kia và có lẽ đã bị thổi bay đi nên mới không bị thiêu hủy.

    Ngoài việc đề cập đến mấy hạt cam ra thì tôi không thấy mảnh giấy này giúp ích được gì cho chúng ta.

    Tôi tự cho rằng đó là một trang trong một cuốn nhật kí cá nhân.

    Rõ ràng nét chữ là của bác tôi."

    Holmes xoay ngọn đèn và cả hai chúng tôi cùng cúi nhìn mảnh giấy có phần lề lởm chởm cho thấy nó quả thật đã bị xé ra từ một cuốn sổ.

    Phần đầu trang có ghi: Tháng 3 năm 1869, và bên dưới là những dòng chữ bí ẩn như sau:

    Ngày 4: Hudson đến.

    Vẫn sân ga cũ.

    Ngày 7: Gửi hạt cam cho McCauley, Paramore và John Swain ở St.

    Augustine.

    Ngày 9: Đã thanh toán McCauley.

    Ngày 10: Đã thanh toán John Swain.

    Ngày 11: Đã đến chỗ Paramore.

    Mọi chuyện đều êm đẹp.

    "Xin cảm ơn!"

    Holmes nói, xếp tờ giấy lại rồi trả cho vị khách của chúng tôi.

    "Và giờ thì anh không được để mất thêm một phút giây nào vì bất kì lí do gì.

    Chúng ta không thể phí phạm thời gian dù là để bàn bạc về những gì mà anh đã kể cho tôi nghe.

    Anh phải đi về nhà và hành động ngay lập tức."

    "Tôi phải làm gì?"

    "Chỉ có mỗi một việc thôi.

    Nhưng phải thực hiện ngay.

    Anh phải đặt mảnh giấy mà anh đã đưa cho chúng tôi xem vào cái hộp bằng đồng thau mà anh đã mô tả.

    Anh cũng phải đặt vào đó một bức thư ngắn giải thích rằng tất cả những thứ giấy tờ khác đã bị bác anh đốt hết và mảnh giấy này là phần duy nhất còn sót lại.

    Anh phải khẳng định bằng những lời lẽ có thể tạo được lòng tin ở chúng.

    Xong đâu đấy, anh phải lập tức đặt cái hộp lên chiếc đồng hồ mặt trời như đã được yêu cầu.

    Anh hiểu rồi chứ?"

    "Tôi hoàn toàn hiểu rõ."

    "Đừng nghĩ đến việc trả thù hay bất cứ điều gì tương tự vào lúc này.

    Tôi nghĩ rằng ta có thể làm được điều đó nhờ pháp luật; nhưng chúng ta hãy còn phải giăng lưới trong khi lưới của chúng thì đã giăng xong rồi.

    Điều cần lưu tâm trước tiên là phải xóa bỏ mối nguy hiểm cấp bách đang đe dọa anh.

    Việc thứ hai là làm sáng tỏ vụ bí ẩn và trừng phạt bọn tội phạm."

    "Xin chân thành cảm ơn ông", chàng trai trẻ nói rồi đứng dậy và khoác chiếc áo bành tô lên người.

    "Ông đã đem lại cho tôi sinh khí và niềm hi vọng.

    Chắc chắn là tôi sẽ làm đúng như lời ông dặn."

    "Đừng bỏ phí một giây.

    Và điều quan trọng nhất là trong thời gian này anh cần phải tự bảo vệ mình vì không còn nghi ngờ gì nữa, anh đang bị một mối nguy rất thật và gần kề đe dọa.

    Anh về nhà bằng phương tiện gì?"

    "Tôi sẽ đi tàu từ ga Waterloo."

    "Còn chưa đến 9 giờ.

    Đường phố hãy còn đông đúc nên tôi tin rằng anh sẽ được an toàn.

    Tuy vậy thận trọng bao nhiêu cũng không thừa."

    "Tôi có đem theo vũ khí."

    "Thế thì tốt.

    Ngày mai tôi sẽ bắt tay vào vụ việc của anh."

    "Có lẽ tôi sẽ gặp lại ông ở Horsham chăng?"

    "Không, bí mật của anh đang ở London.

    Tôi sẽ săn tìm nó ngay tại đây."

    "Thế thì sau một hoặc hai ngày nữa tôi sẽ ghé lại báo tin về chiếc hộp và các giấy tờ.

    Tôi sẽ làm đúng từng li từng tí theo lời khuyên của ông."

    Anh ta bắt tay chúng tôi rồi cáo biệt ra về.

    Bên ngoài, gió vẫn cứ gào rú và mưa vẫn quất ràn rạt vào cửa sổ.

    Câu chuyện lạ lùng và man rợ này dường như đến với chúng tôi từ giữa cơn giông gió chẳng khác nào một nhánh rong biển bị cơn bão thổi tới rồi lại bị gió mưa bên ngoài cuốn phăng đi.

    Sherlock Holmes ngồi lặng yên mất một lúc, đầu anh cúi về phía trước và hai mắt hướng về ngọn lửa đỏ rực, rồi anh châm tẩu thuốc và tựa lưng vào ghế, mắt ngắm nhìn những vòng khói xanh đang nối đuôi nhau bay lên trần nhà.

    "Watson này, tôi nghĩ rằng", cuối cùng thì anh cũng lên tiếng, "trong tất cả những vụ mà chúng ta đã gặp thì không có vụ nào quái dị như câu chuyện này."

    "Có lẽ trừ vụ Dấu bộ tứ ra."

    "Ừ, phải đấy.

    Có lẽ ngoại trừ vụ đó.

    Tuy nhiên tôi cảm thấy có vẻ như so với cha con thiếu tá Sholto thì anh chàng John Openshaw này đang phải đối mặt với những mối nguy còn kinh khủng hơn nhiều."

    "Nhưng anh đã có nhận định gì cụ thể về những mối nguy hiểm đó chưa?"

    Tôi hỏi.

    "Không còn gì phải hoài nghi về bản chất của chúng", anh đáp.

    "Vậy những mối hiểm họa đó là gì?

    KKK là ai và vì sao hắn ta cứ đeo đuổi gia đình bất hạnh này?"

    Sherlock Holmes nhắm mắt lại và đặt hai khuỷu tay lên thành ghế, các đầu ngón tay chụm vào nhau.

    "Người suy luận giỏi", anh nhận xét, "thì chỉ cần nhìn thấy một dữ kiện duy nhất trong cả tổng thể là có thể suy luận được không những cả một chuỗi sự kiện dẫn tới dữ kiện đó mà còn thấy được tất cả các diễn biến sẽ xảy ra tiếp theo.

    Như Cuvier có thể mô tả chính xác một con vật khi xem xét một chiếc xương duy nhất, người quan sát một khi đã hiểu rõ một mắt xích trong cả chuỗi các biến cố sẽ chỉ ra được chính xác tất cả những mắt xích còn lại, cả trước lẫn sau.

    Chúng ta còn chưa nắm bắt được hết những thành quả có thể đạt được chỉ bằng suy luận thuần túy đâu.

    Có những vấn đề hóc búa mà nếu cứ chăm chăm dựa vào trực quan để tìm lời giải thì thất bại, song lại có thể giải quyết trong quá trình suy luận.

    Tuy vậy, để đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật này, nhà suy luận phải tận dụng được tất cả những dữ kiện mà anh ta đã biết; hẳn anh cũng dễ dàng nhận thấy, điều đó đồng nghĩa với việc anh ta phải sở hữu toàn bộ tri thức, ấy vậy mà ngay cả trong thời đại này, với nền giáo dục miễn phí và các pho bách khoa toàn thư, cũng chẳng mấy ai làm được điều này.

    Nhưng một người muốn sở hữu tất cả những kiến thức khả dĩ cần dùng trong công việc thì không khó đến mức ấy.

    Nếu tôi nhớ không lầm thì hồi chúng ta mới quen nhau, anh đã xác định rất chính xác phạm vi kiến thức của tôi."

    "Đúng thế", tôi đáp và cười phá lên.

    "Đó là một bản danh sách rất đặc biệt.

    Kiến thức triết học, thiên văn học và chính trị được tôi cho điểm 0, như tôi hãy còn nhớ.

    Kiến thức trong lĩnh vực thực vật học không đều, về địa chất học thì có hiểu biết rất sâu sắc về các vết bùn ở bất cứ vùng nào trong vòng bán kính năm mươi dặm xung quanh London; trong lĩnh vực hóa học thì chẳng giống ai, kiến thức về giải phẫu học thì không có hệ thống, về các chuyện giật gân và hồ sơ tội phạm thì vô địch, biết chơi vĩ cầm, quyền Anh, đấu kiếm, hiểu biết về luật và cũng là kẻ thích tự đầu độc mình bằng cocaine và thuốc lá.

    Tôi cho rằng những nhận xét này là những điểm chính trong bản phân tích của tôi."

    Holmes cười toe toét khi nghe tôi nói đến ý cuối cùng.

    "Hay đấy!"

    Anh nói, "giờ thì tôi lên tiếng đây, như lúc xưa tôi đã nói, con người cần phải trang bị cho căn phòng chứa trong bộ não của mình mọi đồ đạc mà anh ta thường dùng đến, còn lại thì anh ta chỉ việc tống hết vào tủ sách riêng để có thể lấy ra khi cần đến.

    Còn bây giờ, với vụ án mà vị khách đã trình bày với chúng ta tối nay thì chắc chắn ta cần phải huy động hết các nguồn thông tin của mình.

    Xin vui lòng lấy hộ tôi tập có chữ K của bộ Mỹ quốc toàn thư, nó nằm trên giá sách cạnh chỗ anh ngồi đấy.

    Cảm ơn!

    Giờ thì chúng ta sẽ xem xét tình huống này để xem có thể rút ra được điều gì.

    Trước hết, ta có thể bắt đầu với một giả định vững chắc rằng đại tá Openshaw rời bỏ nước Mỹ vì một lí do rất quan trọng.

    Đến tuổi ấy người ta không dễ gì thay đổi mọi thói quen hay sẵn sàng định đổi khí hậu tuyệt vời ở Florida để chọn cuộc sống cô độc tại một thị trấn quê mùa của nước Anh.

    Từ lúc về Anh, ông ta chỉ thích sống hiu quạnh đến độ cực đoan, từ đó có thể suy đoán rằng ông ta sợ ai đó hoặc điều gì đó, vì vậy ta có thể đặt ra một giả định tạm thời rằng chính nỗi sợ hãi ấy đã đẩy ông ta ra khỏi nước Mỹ.

    Còn ông ta sợ điều gì thì chúng ta chỉ có thể suy luận bằng cách xem xét những bức thư đáng sợ mà ông ta và những người thừa kế đã nhận được.

    Anh có để ý dấu bưu điện của những lá thư đó chứ?"

    "Bức thư thứ nhất được gửi đi từ Pondicherry, bức thứ hai thì từ Dundee, và bức thứ ba là từ London."

    "Từ khu Đông London.

    Anh rút ra điều gì từ đó?"

    "Tất cả đều là hải cảng.

    Người viết thư ở trên một con tàu."

    "Xuất sắc.

    Chúng ta đã có được một manh mối.

    Có khả năng, một khả năng lớn rằng người viết ra những bức thư đó ở trên một con tàu.

    Giờ thì ta xem xét đến một khía cạnh khác.

    Trong vụ Pondicherry thì khoảng thời gian từ khi nhận được lời đe dọa đến khi nó được thực hiện là bảy tuần, đến vụ Dundee thì chỉ còn ba hoặc bốn ngày.

    Những chi tiết này có gợi lên điều gì không?"

    "Phải đi xa hơn."

    "Nhưng lá thư cũng phải đi một chặng đường dài hơn."

    "Vậy thì tôi chưa nhìn ra vấn đề."

    "Chí ít có thể đặt ra giả định rằng con tàu chở kẻ đó hoặc đám người đó là thuyền buồm.

    Có vẻ như chúng luôn gửi đi lời đe dọa hay cái tín vật kì quặc kia trước khi bắt đầu thì hành nhiệm vụ.

    Anh có nhận thấy là khi được gửi đi từ Dundee thì hành động theo sau dấu hiệu nhanh chóng đến mức nào không?

    Nếu chúng đi từ Pondicherry trên một chiếc tàu thủy chạy hơi nước thì chúng đã đến nơi cùng lúc với lá thư rồi.

    Nhưng thực tế là chúng chậm mất bảy tuần.

    Tôi cho rằng bảy tuần này là độ chênh lệch về thời gian di chuyển giữa con tàu đưa thư đem lá thư đến và thuyền buồm chở kẻ viết thư."

    "Có lẽ vậy."

    "Còn hơn thế nữa, khả năng này rất cao.

    Và giờ thì anh đã thấy mức độ khẩn cấp đáng sợ trong vụ mới này và lí do tại sao tôi thúc giục anh chàng Openshaw phải đề phòng rồi đấy.

    Tai họa luôn giáng xuống khi kẻ gửi thư đã vượt qua hết quãng đường.

    Nhưng lần này thì lá thư được gửi đi ngay từ London, vì thế chúng ta không thể trông cậy vào khoảng thời gian chênh lệch nữa."

    "Lạy Chúa!"

    Tôi kêu lên.

    "Cuộc bức hại tàn nhẫn này có thể là vì mục đích gì đây?"

    "Những thứ giấy tờ mà đại tá Openshaw đem đi rõ ràng có tầm quan trọng sống còn đối với một hoặc nhiều người trên chiếc thuyền buồm.

    Tôi cho rằng cũng khá dễ thấy là thủ phạm không chỉ có một tên.

    Chỉ một người thì không thể thực hiện được hai vụ giết người một cách khéo léo đến nỗi che mắt được cả ban hội thẩm pháp y.

    Phải có đến vài tên và chắc chắn bọn chúng là những kẻ giết người rất lão luyện và táo bạo.

    Chúng muốn chiếm lại bằng được những thứ giấy tờ ấy bất kể là ai đang giữ.

    Qua đó thì anh có thể thấy cá nhân KKK không phải là chữ viết tắt tên của một cá nhân mà là tên viết tắt của một tổ chức."

    "Nhưng đó là tổ chức nào?"

    "Chẳng lẽ..."

    Sherlock Holmes nói, người cúi về phía trước và hạ giọng xuống, "...anh chưa bao giờ nghe nói đến Ku Klux Klan?"

    "Chưa hề."

    Holmes lật những trang giấy trong cuốn sách đang nằm trên đầu gối.

    "Đây rồi", anh lập tức đọc lên:

    Ku Klux Klan.

    Một cái tên bắt nguồn từ âm thanh phát ra khi lên nóng súng trường.

    Hội kín nguy hiểm này do một nhóm cựu chiến binh quân Liên minh miền Nam thành lập ở các bang miền Nam sau Nội chiến và nhanh chóng hình thành các chi hội địa phương ở những vùng khác, chủ yếu là Tennessee, Louisiana, cả hai bang Bắc và Nam Carolina, Georgia và Florida.

    Tổ chức này sử dụng quyền lực nhằm đạt được các mục đích chính trị, chủ yếu là khủng bố các cử tri da đen, ám sát và xua đuổi những người chống đối lại các quan điểm của hội ra khỏi lãnh thổ nước Mỹ.

    Những vụ tấn công của hội này thường bắt đầu bằng một lời đe dọa gửi đến cho nạn nhân dưới một hình thức kì quái nhưng thường là dễ nhận ra - ở một số nơi thì đó là một nhánh sồi còn nguyên lá, ở những vùng khác thì là vài hạt dưa hoặc hạt cam.

    Khi nhận được lời đe dọa này, nạn nhân có thể tuyên bố từ bỏ đường lối của mình hoặc đào thoát khỏi đất nước.

    Nếu anh ta bất chấp lời cảnh cáo thì chắc chắn cái chết sẽ giáng xuống, và thường được thực hiện bằng một cách thức kì lạ và bất ngờ.

    Hội này được tổ chức rất hoàn hảo và phương thức hoạt động rất có hệ thống cho nên hầu như không ghi nhận được trường hợp nào dám không đếm xỉa đến lời cảnh cáo mà thoát được sự trừng phạt hoặc có vụ tấn công nào truy tìm được thủ phạm.

    Tổ chức này phát triển mạnh mẽ trong vài năm, bất chấp nỗ lực của chính phủ Mỹ và các tầng lớp tiến bộ trong cộng đồng dân cư miền Nam.

    Cuối cùng phong trào đột nhiên sụp đổ vào năm 1869 dù sau đó hãy còn bùng phát vài vụ li ti có cùng tính chất.

    "Anh sẽ thấy rằng", Holmes nói khi đặt cuốn sách xuống, "sự tan vỡ bất ngờ của tổ chức này trùng hợp với thời điểm đại tá Openshaw biến mất khỏi nước Mỹ cùng với những tài liệu của chúng.

    Rất có thể đây là nguyên nhân và cũng là hậu quả.

    Cũng chẳng có gì lạ khi ông ta cùng với gia đình cứ bị những bóng ma kiên trì theo đuổi dấu vết.

    Anh có thể hiểu rằng cuốn sổ và quyển nhật kí này có thể chỉ ra những thành viên đầu tiên ở miền Nam và sẽ có nhiều người không thể ăn ngon ngủ yên chừng nào những ghi chép đó còn chưa được thu hồi."

    "Vậy tờ giấy mà chúng ta nhìn thấy..."

    "Nhiều khả năng nó đúng như những gì ta nghĩ.

    Nội dung của nó thế này, nếu như tôi còn nhớ chính xác: 'Đã gửi hạt cam đến A, B và C', nghĩa là đã gửi thông điệp cảnh báo của tổ chức đến những đối tượng này.

    Rồi sau đó những dòng kế tiếp là A và B đã bị thanh toán hoặc bỏ trốn khỏi đất nước, cuối cùng là C đã được ghé thăm và tôi e rằng C đã có một kết cục khủng khiếp.

    Bác sĩ à, tôi nghĩ rằng ta có thể soi rọi đôi chút ánh sáng vào vùng tối này và tôi tin rằng cơ hội duy nhất mà chàng trai Openshaw có được ngay lúc này là làm theo những gì tôi căn dặn.

    Tối nay thì chẳng còn gì để nói hay làm nữa, anh hãy lấy hộ tôi cây vĩ cầm và trong độ nửa giờ chúng ta hãy cố gắng quên đi cái thời tiết tệ hại này và những hành động còn tệ hại hơn của đồng loại chúng ta."

    Sáng hôm sau, bầu trời đã trở nên trong trẻo và mặt trời tỏa ra một làn ánh sáng dịu dàng xuyên qua bức màn che lờ mờ đang bao phủ thành phố rộng lớn này.

    Sherlock Holmes đã sẵn sàng cho bữa điểm tâm khi tôi đi xuống.

    "Mong anh thứ lỗi vì tôi đã không đợi", anh nói, "tôi dự kiến là mình sẽ có một ngày bận rộn khi phải xem xét trường hợp của chàng trai Openshaw."

    "Anh sẽ áp dụng những biện pháp nào?"

    Tôi hỏi.

    "Điều này phụ thuộc rất nhiều vào các kết quả điều tra ban đầu của tôi.

    Có thể là rốt cuộc tôi vẫn phải đi xuống Horsham."

    "Anh không định đến đó trước tiên sao?"

    "Không, tôi sẽ bắt đầu ngay tại khu City.

    Anh chỉ việc rung chuông và cô hầu gái sẽ đem cà phê lên cho anh."

    Trong khi chờ đợi, tôi cầm tờ báo hãy còn chưa mở để trên bàn lên và liếc mắt nhìn sơ qua.

    Mắt tôi dừng lại ở một dòng tít khiến tim tôi lạnh buốt.

    "Holmes", tôi kêu lên, "anh đã trễ quá rồi."

    "A!"

    Anh thốt lên và đặt cái tách xuống, "tôi đã lo ngại về điều này.

    Chuyện xảy ra như thế nào?"

    Anh điềm tĩnh nói, nhưng tôi có thể thấy anh đang xúc động mạnh.

    Cái tên Openshaw và dòng tít Thảm kịch gần cầu Waterloo đập vào mắt tôi.

    Đây, nội dung của nó như thế này:

    Khoảng 9 đến 10 giờ tối qua, trong lúc thi hành nhiệm vụ gần cầu Waterloo, viên cảnh binh Cook thuộc phân khu H đã nghe thấy một tiếng kêu cứu và tiếng nước bắn tung lên.

    Tuy nhiên, do trời tối đen như mực lại thêm mưa bão nên dù được một số khách qua đường giúp đỡ, việc cứu nguy vẫn không thể thực hiện được.

    Dù sao thì đã có báo động và nhờ sự hỗ trợ của cảnh sát đường sông, cuối cùng thi thể cũng được tìm thấy.

    Đó là xác của một thanh niên, tên của nạn nhân được ghi trên một phong bì tìm thấy trong túi áo của anh ta là John Openshaw, nhà ở gần Horsham.

    Người ta đoán rằng có lẽ do vội vã nhằm bắt kịp chuyến tàu cuối cùng ở ga Waterloo, lại thêm bóng đêm mịt mùng nên anh ta đã đi lạc đường và bước hụt chân ra ngoài mép của một bến đậu nhỏ dành cho tàu thủy đường sông.

    Không thấy dấu vết bạo lực nào trên thi thể nạn nhân, rõ ràng anh ta là nạn nhân của một tai nạn không may, điều này gióng lên lời kêu gọi chính quyền chú ý đến tình trạng của các bến tàu ven sông.

    Chúng tôi ngồi lặng yên mất một lúc, tôi chưa bao giờ thấy Holmes buồn phiền và sửng sốt như lúc này.

    "Lòng kiêu hãnh của tôi đã bị tổn thương, Watson ạ", cuối cùng anh cũng thốt lên.

    "Chắc chắn đây chỉ là một cơn xúc động nhỏ thôi, nhưng nó đã xúc phạm đến lòng kiêu hãnh của tôi.

    Đối với tôi thì câu chuyện này đã trở thành vấn đề cá nhân, và nếu Chúa ban cho tôi sức khỏe thì tôi sẽ không để yên cho cái băng đảng này.

    Anh ta đi đến tìm tôi để được giúp đỡ, vậy mà tôi lại bảo anh ấy cứ về đi và khiến anh ta sa vào chỗ chết...!"

    Anh bật dậy khỏi ghế và bước tới lui khắp phòng trong cơn kích động không kìm nén được, màu đỏ bừng tràn lên hai gò má tai tái của anh và những ngón tay dài nhẵng cứ siết chặt vào nhau rồi lại buông ra lộ vẻ bồn chồn.

    "Chúng hẳn là một lũ quỷ sứ xảo quyệt", sau cùng thì anh thốt lên.

    "Làm thế nào mà chúng dụ dỗ được anh ta đi xuống đó?

    Con đê đâu có nằm trên đường dẫn đến nhà ga.

    Chắc chắn chúng sẽ không thực hiện được mục đích khi ở trên cầu vì ở đó quá đông người cho dù là trong một đêm mưa bão như thế.

    Được, Watson này, chúng ta sẽ thấy cuối cùng thì ai mới là người thắng cuộc.

    Tôi đi ra ngoài đây!"

    "Anh đến đồn cảnh sát à?"

    "Không, tôi sẽ tự làm cảnh sát.

    Khi tôi đã giăng lưới xong xuôi thì họ cứ việc bắt lấy đám ruồi, nhưng trước đấy thì không được."

    Suốt cả ngày hôm đó, tôi bận rộn với công việc của mình và khi quay về phố Baker thì trời đã tối khuya.

    Sherlock Holmes vẫn chưa về.

    Đến lúc đồng hồ chỉ gần 10 giờ anh mới bước vào, mặt mũi tái nhợt vì mệt mỏi.

    Anh bước lại gần tủ buýp phê, véo một mẩu bánh mì rồi ăn ngấu nghiến, sau đó uống một ngụm nước lớn.

    "Anh có vẻ đói", tôi nhận xét.

    "Đói gần chết.

    Tôi quên cả ăn.

    Chẳng có chút gì vào bụng từ bữa điểm tâm đến giờ."

    "Không một chút gì sao?"

    "Không hề.

    Tôi không có thì giờ để nghĩ đến chuyện ăn uống."

    "Thành công chứ?"

    "Tốt đẹp."

    "Anh đã tìm ra manh mối?"

    "Tôi đã nắm được chúng trong lòng bàn tay.

    Chàng trai trẻ Openshaw sẽ sớm được báo thù.

    Nào, Watson, chúng ta hãy gắn chính cái dấu hiệu ma quỷ của chúng lên đầu chúng.

    Quả là ý hay!"

    "Ý anh là gì?"

    Anh lấy ra một quả cam trong tủ, bóc ra rồi vắt cho những hạt cam rơi lên mặt bàn.

    Anh nhặt ra năm hạt và nhét chúng vào một cái phong bì.

    Bên trong mép phong bì anh viết "SH gửi JC".

    Rồi anh dán kín phong bì lại và ghi địa chỉ là: "Gửi thuyền trưởng James Calhoun, tàu ba buồm Lone Star, Savannah, Georgia".

    "Lá thư này sẽ đợi sẵn khi tàu của hắn cập cảng", anh vừa nói vừa cười lặng lẽ.

    "Có thể hắn sẽ được một đêm thức trắng.

    Chắc chắn hắn sẽ coi nó là điềm báo tử cho chính mình như Openshaw đã từng cảm nhận."

    "Thuyền trưởng Calhoun là ai vậy?"

    "Trùm của băng đảng đó.

    Tôi sẽ lần đến những tên khác nữa, nhưng hắn là kẻ mở đầu."

    "Làm thế nào mà anh tìm ra chúng?"

    Anh lấy từ trong túi ra một tờ giấy cỡ lớn ghi chép đầy những ngày tháng và tên người.

    "Tôi đã bỏ ra cả ngày trời", anh kể, "bên đống sổ sách và hồ sơ cũ của Lloyd, theo dõi hành trình của từng con tàu cập bến ở Pondicherry vào tháng 1 và tháng 2 năm 1883.

    Theo báo cáo, có ba mươi sáu chiếc có trọng tải khá lớn đã đến đó vào thời gian này.

    Trong số này, có một chiếc, ngay lập tức thu hút sự chú ý của tôi là tàu Lone Star, mặc dù nó được báo cáo là rời bến từ ở London song cái tên đó lại là biệt danh của một tiểu bang ở Mỹ."

    "Tôi cho là Texas."

    "Bang nào thì tôi không chắc, nhưng tôi biết rằng con tàu đó phải có xuất xứ từ Mỹ."

    "Rồi sao nữa?"

    "Tôi lại tìm trong các hồ sơ về cảng Dundee và khi nhận thấy là tàu Lone Star có cập cảng đó vào tháng 1 năm 1885, mối nghi ngờ của tôi đã được khẳng định, tiếp theo tôi lại hỏi thăm về những con tàu đang đậu tại cảng London."

    "Rồi thì?"

    "Chiếc Lone Star đã đến đây tuần vừa rồi.

    Tôi đi xuống ụ tàu Albert và phát hiện nó đã ra sông theo con nước lúc sáng sớm nay để trở về Savannah.

    Tôi đánh điện đến Gravesend và được biết con tàu đã đi ngang qua đó được một lúc, vì gió đang thổi từ hướng Đông nên tôi đoán chắc là nó đã qua khỏi Goodwins và hiện giờ thì đang ở cách đảo Wight không bao xa."

    "Tiếp theo anh sẽ làm gì?"

    "Ồ, tôi đã nắm được hắn.

    Theo như tôi biết, trên tàu chỉ có hắn ta và hai thuyền phó là người Mỹ duy nhất trên tàu.

    Còn lại là người Phần Lan và người Đức.

    Tôi còn biết được là cả ba tên đã rời tàu vào đêm qua.

    Tôi nắm được thông tin đó từ người công nhân khuân vác đã chất hàng lên tàu của chúng.

    Khi con tàu đó cập cảng Savannah thì tàu đưa thư đã đem cái phong bì đến nơi rồi và bức điện tín xuyên đại dương cũng đã thông báo cho cảnh sát ở Savannah biết rằng ba quý ông này là những kẻ đang bị truy nã khẩn cấp vì bị cáo buộc về tội giết người."

    ***

    Tuy nhiên, con người tính toán có kĩ càng đến đâu thì vẫn luôn có sơ hở, và những tên sát nhân trong vụ John Openshaw chẳng bao giờ nhận được những hạt cam để thấy được rằng có một người cũng không kém phần mưu lược và kiên quyết đang bám theo chúng.

    Những trận bão thu phân năm đó thật dai dẳng và khốc liệt.

    Chúng tôi cứ chờ đợi tin tức của con tàu Lone Star từ cảng Savannah nhưng mãi chẳng nhận được gì.

    Mãi sau này chúng tôi mới hay tin là ở đâu đó trên Đại Tây Dương, người ta phát hiện thấy một mảnh sống đuôi tàu bị gãy trôi bập bềnh giữa những đợt sóng, bên trên có khắc mấy chữ viết tắt L.S.

    Bấy nhiêu đó là tất cả những gì chúng tôi biết được về số phận của con tàu Lone Star.
     
    Sherlock Holmes Toàn Tập
    GÃ ĐÀN ÔNG MÉO MIỆNG (The Man with the Twisted Lip, 1891)


    Isa Whitney, em ruột của Elias Whitney quá cố, tiến sĩ thần học, hiệu trưởng trường thần học St.

    George, là người nghiện thuốc phiện rất nặng.

    Theo tôi biết thì anh ta bị nhiễm thói hư này do một cơn bốc đồng ngu xuẩn hồi còn là sinh viên; chỉ vì đọc văn miêu tả của De Quincey về những giấc mơ và cảm giác của ông ta mà chàng sinh viên trẻ tuổi đã cố tình tẩm cồn thuốc phiện vào thuốc lá để tạo ra hiệu ứng tương tự.

    Cũng như bao người khác, anh ta nhận ra thói quen này dễ nhiễm chứ không dễ bỏ, và nhiều năm sau anh ta vẫn tiếp tục làm nô lệ cho ma túy, là đối tượng mà bạn bè và người thân vừa khiếp sợ vừa thương hại.

    Lúc này tôi vẫn có thể hình dung ra Whitney với bộ mặt vàng vọt, ốm yếu, hai mí mắt sụp xuống và đồng tử co lại như đầu kim, toàn thân co ro trên ghế, một phế nhân suy đồi đã có thời là người ưu tú.

    Vào một đêm tháng 6 năm 1889, chuông cửa nhà tôi rung lên vào cái giờ mà người ta bắt đầu ngáp và liếc nhìn đồng hồ.

    Tôi bật dậy khỏi ghế còn vợ tôi thì buông mớ đồ đang khâu vá dở xuống và hơi nhăn mặt vì khó chịu.

    "Lại có bệnh nhân!"

    Nàng nói.

    "Thế này thì anh lại sắp sửa phải đi rồi!"

    Tôi rên rỉ vì vừa mới trở về sau một ngày mệt nhọc.

    Chúng tôi nghe tiếng cánh cửa mở ra, tiếng người nói vội vã, rồi đến tiếng bước chân hối hả trên sàn nhà lót vải sơn.

    Cánh cửa phòng chúng tôi mở tung và một phụ nữ mặc y phục sẫm màu với tấm mạng che mặt màu đen bước vào.

    "Anh chị thứ lỗi cho tôi vì đến vào giờ muộn thế này", cô ta cất tiếng, rồi đột nhiên mất bình tĩnh mà chạy ào tới, choàng hai cánh tay quanh cổ vợ tôi và thổn thức khóc trên vai nàng, "Ôi, tôi đang gặp rắc rối to!"

    Cô ta nức nở nói, "tôi rất cần được cứu giúp."

    "Sao nào", vợ tôi nói và vén tấm mạng của cô ta lên.

    "Kate Whitney đây mà.

    Chị làm tôi giật mình đấy Kate!

    Tôi không nhận ra chị khi chị mới bước vào."

    "Tôi không biết mình phải làm gì, vì thế tôi chạy thẳng đến đây."

    Lúc nào cũng vậy, những người đang trong cơn hoạn nạn luôn tìm đến vợ tôi như những con chim lao về phía ngọn hải đăng.

    "Rất vui vì chị đã đến.

    Nào, chị phải uống ít rượu vang và nhấp chút nước rồi ngồi xuống thật thoải mái để kể hết cho vợ chồng tôi nghe.

    Hay là để anh James lên phòng ngủ đã?"

    "Ồ, không cần đâu!

    Tôi cũng cần đến lời khuyên về sự giúp đỡ của bác sĩ.

    Đó là chuyện về Isa.

    Anh ấy đã vắng nhà hai ngày nay.

    Tôi lo cho anh ấy quá!"

    Đây không phải là lần đầu tiên cô ta kể về những rắc rối của chồng mình cho tôi nghe với tư cách là bác sĩ, còn vợ tôi là bạn học cũ.

    Vợ chồng tôi an ủi và dỗ dành cô ta bằng mọi lời lẽ mà mình có thể nghĩ ra.

    Cô có biết chồng mình đang ở đâu không?

    Liệu chúng tôi có cách nào đưa anh ta về với cô?

    Có vẻ như là có.

    Theo nguồn tin chắc chắn nhất mà cô ta có được thì cách đây không lâu, khi lên cơn nghiện, anh ta đã tới một tiệm hút ở rìa phía đông của khu City.

    Trước giờ những cuộc vui trác táng của anh ta chỉ gói gọn trong một ngày và anh ta luôn trở về vào buổi tối trong tình trạng rúm ró và kiệt sức.

    Nhưng lần này thì cơn mê đã ám anh ta bốn mươi tám giờ rồi và chắc chắn là anh ta hãy còn nằm ở đó, giữa đám rác rưởi của các ụ tàu, hít thở bầu không khí ô nhiễm hoặc mê man ngủ cho đến khi thuốc hết tác dụng.

    Sẽ tìm thấy anh ta, cô ta đoán chắc, tại quán Bar of Gold trong con hẻm Upper Swandam.

    Nhưng cô ta sẽ làm gì?

    Một phụ nữ trẻ và nhút nhát sao có thể đi vào một nơi như thế và kéo chồng mình ra khỏi đám vô lại đang vây quanh anh ta?

    Tình hình là như thế, và tất nhiên chỉ có một cách giải quyết.

    Sao tôi có thể thoái thác việc hộ tống cô ta đến nơi đó chứ?

    Nhưng mà, nghĩ kĩ lại, cô ta có cần đến đó hay không?

    Tôi là bác sĩ tư vấn cho Isa Whitney và với tư cách đó thì tôi có sức ảnh hưởng đối với anh ta.

    Tôi cũng có thể xoay xở dễ dàng hơn nếu đến đó một mình.

    Thế là tôi hứa với cô ta rằng sẽ đưa anh ta về nhà bằng xe ngựa trong vòng hai giờ đồng hồ nếu như quả thật anh ta đang ở địa chỉ mà cô ta đưa cho tôi.

    Và mười phút sau tôi đã rời bỏ cái ghế bành cùng căn phòng khách ấm cúng của mình, lên một cỗ xe ngựa phóng nhanh về phía đông để làm một nhiệm vụ mà lúc đó tôi cho là kì lạ, nhưng phải đến sau này tôi mới thấy hết tính chất kì lạ của chuyến đi đó.

    Giai đoạn đầu của cuộc phiêu lưu chẳng có gì khó khăn.

    Hẻm Upper Swandam là một lối đi gớm ghiếc nằm khuất sau những cầu tàu cao dọc bờ bắc của con sông đến tận phía đông cầu London.

    Nằm giữa một cửa hàng bán quần áo may sẵn rẻ tiền và một tiệm rượu là dãy bậc thang dốc đứng dẫn xuống một khoảng trống tối đen trông như một miệng hang, đó chính là cái tiệm hút mà tôi cần tìm.

    Dặn xe đứng đợi xong, tôi bước xuống những bậc thềm đã mòn trũng ở chính giữa bởi bước chân qua lại liên tục của những con nghiện, và nhờ ánh sáng lập lòe của ngọn đèn dầu treo trên cửa mà tôi nhìn thấy cái then cài rồi lần bước vào một căn phòng dài và thấp, dày đặc khói thuốc phiện màu nâu với những chiếc giường gỗ kê trên thềm nhà giống như trong khoang của một chiếc tàu di dân.

    Xuyên qua bóng tối ảm đạm, có thể lờ mờ nhìn thấy những thân hình đang nằm trong các tư thế vô cùng kì dị, vai thõng xuống, chân co lên, đầu ngửa ra sau và cằm chĩa lên trên, đây đó một vài con mắt u ám lờ đờ hướng về phía người mới bước vào.

    Từ những cái bóng đen sẫm đó le lói một vài đốm sáng đỏ lúc tỏ lúc mờ khi thuốc phiện được đốt bùng lên hay lụi đi trong cái nõ của những chiếc ống điếu bằng kim loại.

    Hầu hết đều nằm yên không nói gì nhưng cũng có một số huyên thuyên một mình và một số khác thì nói chuyện với nhau bằng giọng nghe lạ lùng, trầm thấp và đều đều.

    Tiếng nói chuyện rộ lên từng đợt rồi đột nhiên nhỏ dần và lặng hẳn, mỗi người lẩm nhẩm theo ý riêng của mình và không mấy quan tâm đến lời của người kế bên.

    Ở đầu kia của căn phòng là một lò than nhỏ đang cháy đỏ, cạnh đó, trên chiếc ghế đẩu ba chân bằng gỗ, một ông già cao gầy đang ngồi chống cằm, mắt chăm chú nhìn vào lò lửa.

    Khi tôi bước vào, một người hầu Mã Lai có nước da vàng bủng vội vã đem đến cho tôi một chiếc ống điếu và một liều thuốc phiện rồi ra hiệu mời tôi đến một chiếc giường còn trống.

    "Cảm ơn.

    Tôi không ở lại đâu." tôi nói.

    "Có bạn tôi là ông Isa Whitney ở đây, tôi muốn nói chuyện với ông ta."

    Có tiếng người cử động và kêu lên ở phía bên phải.

    Cố nhìn xuyên qua bóng tối lờ mờ, tôi trông thấy Whitney mặt mày tái mét và phờ phạc, tóc tai rối bù đang chăm chú nhìn tôi.

    "Lạy Chúa!

    Watson đây mà", anh ta nói.

    Trông anh ta rất thảm hại trong tình trạng say thuốc, các dây thần kinh đều bị kích động.

    "Này Watson, mấy giờ rồi?"

    "Gần 11 giờ đêm."

    "Ngày nào?"

    "Thứ sáu, 19 tháng 6."

    "Trời đất ơi!

    Tôi cứ nghĩ mới là thứ tư chứ.

    Hôm nay là thứ tư mà.

    Anh hù dọa bạn bè như thế để làm gì?"

    Anh ta gục mặt lên hai cánh tay và bắt đầu rưng rức khóc nức nở.

    "Tôi đã nói với anh hôm nay là thứ sáu, anh bạn.

    Vợ anh đợi anh đã hai ngày rồi.

    Lẽ ra anh phải thấy xấu hổ về mình chứ!"

    "Tôi đang xấu hổ lắm.

    Nhưng anh nhầm rồi đấy Watson, vì tôi mới đến đây, vài giờ thôi, hút có ba, bốn tẩu - tôi quên mất là bao nhiêu rồi.

    Nhưng giờ thì tôi sẽ đi về nhà cùng anh.

    Tôi không muốn Kate phải lo lắng - Kate bé nhỏ tội nghiệp.

    Đưa tay cho tôi vịn nào.

    Anh có xe chứ?"

    "Có, đang đợi đấy."

    "Vậy thì chúng ta lên xe thôi.

    Nhưng hẳn là tôi còn nợ họ.

    Anh xem tôi còn nợ bao nhiêu Watson.

    Tôi thấy khó chịu quá.

    Tôi chẳng thể tự làm được gì cả."

    Tôi bước xuống lối đi hẹp giữa hai dãy giường, nín thở để tránh hít phải mùi khói thuốc phiện khó chịu làm cho đầu óc như bị trì độn đi và đưa mắt nhìn quanh để tìm chủ tiệm hút.

    Khi đi ngang qua người đàn ông cao gầy đang ngồi bên lò than, tôi bỗng cảm thấy vạt áo của mình bị giật một cái và một giọng trầm thì thào, "Cứ tiếp tục đi ngang qua tôi rồi hãy quay lại nhìn."

    Lời nói đó được rót vào tai tôi hết sức rõ ràng.

    Tôi liếc xuống.

    Nó chỉ có thể phát ra từ ông già đang ở gần tôi, thế nhưng ông ta vẫn đang ngồi yên với vẻ chăm chú, rất gầy gò, rất nhăn nheo, lưng còng xuống vì tuổi tác, một cái ống điếu để hút thuốc phiện đung đưa giữa hai đầu gối như thể mấy ngón tay mệt mỏi của ông ta vừa buông nó xuống.

    Tôi tiến lên hai bước và quay lại nhìn.

    Phải cố gắng lắm tôi mới ngăn mình không bật ra một tiếng kêu kinh ngạc.

    Ông ta đã quay lưng lại nên ngoài tôi ra chẳng ai có thể nhìn thấy.

    Gương mặt ông ta căng lên, những nếp nhăn biến mất, đôi mắt mờ đục đã lấy lại vẻ lấp lánh và kia, ngồi cạnh lò lửa và đang nhe răng cười trước vẻ ngạc nhiên của tôi chính là Sherlock Holmes chứ không phải ai khác.

    Anh khẽ ra hiệu bảo tôi lại gần và khi anh quay nửa mặt về phía những người khác thì ngay lập tức anh lại quay về bộ dạng một ông lão già yếu, lẩy bẩy, môi run run.

    "Holmes!"

    Tôi thì thầm, "anh đang làm trò khỉ gì trong cái tổ quỷ này thế?"

    "Nói khẽ thôi", anh đáp, "tai tôi thính vô cùng.

    Nếu anh vui lòng tống khứ cái gã bạn mê mụ của anh đi thì tôi sẽ rất vui được nói chuyện với anh một lát."

    "Tôi có một cỗ xe đang đợi bên ngoài."

    "Vậy thì vui lòng để hắn ta về nhà bằng cỗ xe đó.

    Anh có thể tin rằng hắn sẽ được an toàn vì với điệu bộ hết sức rũ rượi đó, hắn chẳng thể vướng vào rắc rối nào nữa đâu.

    Tôi cũng khuyên anh nhờ người xà ích nhắn vài chữ cho vợ anh để báo rằng anh đang ở cùng tôi.

    Nếu anh đợi ở bên ngoài thì năm phút nữa tôi sẽ gặp anh."

    Thật khó mà từ chối bất cứ yêu cầu nào của Sherlock Holmes vì lúc nào anh cũng nói năng dứt khoát với thái độ trầm tĩnh mà như ra lệnh.

    Dẫu sao, tôi cảm thấy một khi Whitney đã bị nhốt vào cỗ xe thì nhiệm vụ của tôi hầu như đã hoàn thành; vả lại, tôi thật không ao ước gì hơn là được hợp sức với người bạn của mình trong một chuyến phiêu lưu kì lạ vốn là điều bình thường trong cuộc sống của anh.

    Trong vài phút tôi đã viết xong bức thư, trả tiền cho Whitney, dìu anh ta ra xe và dõi theo chiếc xe đưa anh ta vào màn đêm.

    Chỉ một loáng sau, một thân hình lụ khụ bước ra từ tiệm hút và tôi cùng Sherlock Holmes đi xuôi con phố.

    Suốt quãng hai con phố đầu, anh còng lưng lê bước, chân cà nhắc.

    Thế rồi, sau khi liếc nhanh xung quanh, anh vươn thẳng người và bật ra một tràng cười ngặt nghẽo.

    "Watson này", anh nói, "hẳn là anh đã tưởng tượng rằng ngoài việc tiêm cocaine và đủ mọi tật xấu khác mà anh ban cho tôi dưới con mắt thầy thuốc tôi lại còn thêm tội hút thuốc phiện nữa."

    "Tất nhiên là tôi rất ngạc nhiên khi thấy anh ở tiệm hút."

    "Cũng không ngạc nhiên hơn tôi khi nhìn thấy anh."

    "Tôi đến đó để tìm một người bạn."

    "Còn tôi thì tìm một kẻ thù."

    "Một kẻ thù?"

    "Phải, một trong những kẻ thù tự nhiên của tôi, hoặc là, tôi nên nói thế này, con mồi tự nhiên của tôi.

    Watson này, nói ngắn gọn thì tôi đang tiến hành một cuộc điều tra rất khác thường, và tôi hi vọng sẽ tìm được manh mối trong những lời nói lan man, rời rạc của đám nghiện này như tôi đã từng tìm được trước đây.

    Nếu mà tôi bị phát hiện trong cái ổ chuột đó thì tính mạng chẳng còn kéo dài thêm được một giờ vì trước đây tôi từng lợi dụng nó vì mục đích riêng của mình và tên côn đồ người Ấn quản lí tiệm hút đã thề là sẽ trả thù tôi.

    Có một cái cửa sập ở phía sau căn nhà đó, gần góc Paul's Wharf, và nó có thể kể cho ta nghe những câu chuyện kì lạ về các thứ vẫn được chuyển qua đó vào những đêm không trăng."

    "Sao?

    Ý anh không phải là xác chết đấy chứ?"

    "Đấy, chính là những xác chết đấy, Watson à.

    Chúng ta sẽ giàu to nếu có một ngàn bảng tương ứng với một hồn ma tội nghiệp đã chết rũ trong cái tiệm hút đó.

    Đây là cái bẫy giết người gớm ghiếc nhất suốt đoạn bờ sông này và tôi e rằng Neville St.

    Clair đã bước vào đó rồi không bao giờ trở ra được nữa.

    Nhưng ta sẽ đặt bẫy ở đấy."

    Anh đưa hai ngón trỏ vào giữa hai hàm răng rồi huýt sáo lanh lảnh - tín hiệu này được đáp lại bằng một tiếng huýt sáo tương tự phát ra từ đằng xa, liền sau đó là tiếng bánh xe khua lạch cạch và tiếng vó ngựa gõ lóc cóc.

    "Này Watson", Holmes nói khi một cỗ xe độc mã xuyên qua bóng tối tiến tới chỗ chúng tôi, đèn hai bên xe rọi ra luồng ánh sáng vàng rực, "anh sẽ đi với tôi chứ?"

    "Nếu như tôi có thể giúp được gì."

    "Ồ, một cộng sự tin cẩn luôn luôn có giá trị, và một người ghi chép sự kiện lại càng hữu ích.

    Căn phòng của tôi tại biệt thự Tuyết Tùng là phòng giường đôi."

    "Biệt thự Tuyết Tùng?"

    "Phải, đó là nhà của ông St.

    Clair.

    Tôi ở đó trong khi tiến hành điều tra."

    "Thế nó nằm ở đâu?"

    "Gần làng Lee, ở hạt Kent.

    Ta còn phải ngồi xe thêm bảy dặm nữa."

    "Nhưng tôi vẫn còn chưa hiểu gì cả."

    "Tất nhiên rồi.

    Anh sẽ biết hết ngay thôi.

    Nhảy lên xe đi.

    Được rồi, John; chúng tôi sẽ không cần đến anh nữa.

    Đây là đồng nửa crown.

    Đến gặp tôi lúc 11 giờ ngày mai nhé!

    Buông đầu con ngựa ra đi.

    Chào anh nhé!"

    Anh vung roi vụt nhẹ vào con ngựa và chúng tôi lao đi qua những con đường âm u và hoang vắng dài vô tận, mở rộng dẫn ra cho đến khi chúng tôi phóng qua một cây cầu có hàng chấn song rộng bắc qua con sông nước đục lờ chảy chậm rì bên dưới.

    Ở bờ bên kia là những đống gạch và vôi vữa bỏ hoang trông thật ảm đạm, thỉnh thoảng mới có tiếng bước chân nặng nề và đều đặn của một cảnh sát hay tiếng hát và tiếng hò hét của vài đám nhậu khuya khuấy động sự yên tĩnh của chốn này.

    Một đám mây xám xịt lừ đừ trôi ngang qua bầu trời và đây đó một vài ngôi sao nhấp nháy lờ mờ hiện ra qua những khe hở giữa các đám mây.

    Holmes lặng lẽ đánh xe, đầu cúi gằm như đang chìm đắm trong suy nghĩ, còn tôi ngồi bên cạnh, lòng tò mò muốn biết cuộc truy lùng mới có vẻ rất khó khăn này là gì, tuy vậy tôi không dám cắt ngang dòng suy tưởng của anh.

    Chúng tôi đã đi được vài dặm và bắt đầu đến vành đai khu biệt thự ở ngoại ô thì anh bỗng lắc người, nhún vai và châm tẩu thuốc với dáng vẻ của một người đang hài lòng rằng mình đang làm điều khả dĩ nhất.

    "Anh có khả năng giữ yên lặng rất tuyệt vời đấy Watson", anh nói.

    "Chính vì vậy mà anh là một người bạn đồng hành vô giá.

    Nói thật đấy, có ai đó để cùng trò chuyện thật tuyệt biết mấy, vì những điều tôi ngẫm ngợi trong đầu, không được vui vẻ cho lắm.

    Tôi đang tự hỏi là tối nay nên nói gì với người phụ nữ nhỏ bé kia khi gặp bà ta ở cổng."

    "Anh quên mất là tôi chẳng biết tí gì về việc đó."

    "Tôi có vừa đủ thì giờ để kể cho anh nghe tình tiết của vụ này trước khi chúng ta đến Lee.

    Câu chuyện có vẻ cực kì đơn giản, tuy vậy không hiểu sao tôi chưa thể thu thập được gì.

    Chắc chắn là phải có một sợi chỉ xuyên suốt, thế nhưng tôi vẫn không thể nắm được đầu mối trong tay.

    Để tôi kể rõ ràng và gãy gọn cho anh nghe về vụ này, Watson, biết đâu anh có thể nhìn thấy một tia sáng trong khi đối với tôi mọi thứ hãy còn tôi mù."

    "Thế thì anh hãy kể đi!"

    "Vài năm trước đây, cụ thể hơn là vào tháng 5 năm 1884, một người có vẻ nhiều tiền tên là Neville St.

    Clair đã đến Lee.

    Ông ta mua một căn biệt thự to rộng, bài trí khu đất rất đẹp và sống một cuộc sống sung túc.

    Dần dà, ông ta kết thân với những người hàng xóm và đến năm 1887 thì kết hôn với con gái của một người ủ rượu bia trong vùng và nay đã có hai con.

    Ông ta không có nghề nghiệp cụ thể nhưng có lợi tức ở một số công ty và thường lên thành phố vào buổi sáng và về nhà trên chuyến tàu 5 giờ 14 phút chiều từ phố Cannon.

    Ông St.

    Clair năm nay ba mươi bảy tuổi, tính tình điềm đạm, là một người chồng tốt, một người cha rất thương con và được lòng tất cả những ai quen biết ông ta.

    Tôi có thể nói thêm rằng tổng số nợ của ông ta vào thời điểm này, theo như chúng tôi có thể xác định, là tám mươi tám bảng mười shilling, trong khi ông ta có số dư tài khoản ở nhà băng Capital & Counties là hai trăm hai mươi bảng.

    Vì thế mà chẳng có lí do gì để cho rằng ông ta phải băn khoăn lo nghĩ về tiền bạc.

    Hôm thứ hai vừa rồi, ông Neville St.

    Clair lên thành phố sớm hơn thường lệ, trước khi đi ông ta còn bảo là có hai việc quan trọng phải làm và sẽ đem về cho cậu con trai nhỏ một hộp đồ chơi xếp hình.

    Tình cờ làm sao, cũng vào ngày hôm đó, khi ông ta mới đi chưa được bao lâu thì vợ ông ta nhận được một bức điện với nội dung là một gói bưu kiện nhỏ có giá trị đáng kể đúng như bà ta dự kiến hiện đang chờ bà đến nhận tại văn phòng của Công ty Vận tải Aberdeen.

    Nếu biết rõ London thì anh sẽ biết rằng văn phòng của công ty này nằm trên phố Presno, tách ra từ hẻm Upper Swandam là nơi anh đã gặp tôi tối nay.

    Dùng bữa trưa xong thì bà St.

    Clair bắt đầu lên khu City, mua sắm vài thứ rồi đi đến văn phòng của công ty vận tải, nhận gói bưu kiện xong thì vừa đúng 4 giờ 35 phút, bà ta đi qua hẻm Swandam để trở lại sân ga.

    Anh theo kịp lời tôi kể chứ?"

    "Rất rõ ràng."

    "Nếu anh còn nhớ thì hôm thứ hai vừa rồi là một ngày cực kì nóng bức, bà St.

    Clair bước đi chậm rãi, mắt nhìn quanh với hi vọng sẽ tìm thấy một chiếc xe ngựa vì bà ta không thích khu vực mà mình đang đi qua cho lắm.

    Trong khi đang đi xuôi theo con hẻm Swandam thì bà ta chợt nghe thấy một tiếng kêu hay một tiếng hét, bà ta giật mình đến lạnh toát sống lưng khi thấy chồng mình đang nhìn xuống và theo bà ta thì có vẻ như ông ta đang vẫy tay ra hiệu cho bà ta từ cửa sổ tầng ba.

    Cánh cửa sổ đang mở và bà ta trông thấy rõ mặt chồng mình, theo lời bà ta tả lại thì trông ông ta có vẻ lo lắng cực độ.

    Ông ta vẫy tay điên cuồng và rồi biến mất khỏi khung cửa sổ đột ngột như thể bị một lực khôn cưỡng kéo mạnh từ đằng sau.

    Một điểm kì lạ đập vào đôi mắt phụ nữ sắc bén của bà ta là chồng bà ta vẫn mặc chiếc áo khoác sẫm màu như khi ra khỏi nhà nhưng không còn đeo cổ cồn lẫn cà vạt.

    Tin chắc rằng đã có điều gì không hay xảy ra với chồng mình, bà ta hối hả lao xuống mấy bậc thềm - căn nhà đó chính là cái tiệm hút mà anh đã gặp tôi đêm nay - và sau khi chạy băng qua sảnh, bà ta định leo lên cầu thang.

    Thế nhưng, tại chân cầu thang bà ta gặp phải tên vô lại người Ấn mà tôi đã nhắc đến, hắn đẩy bà ta lại và với sự trợ giúp của một gã người Đan Mạch có vẻ là một phụ tá ở đó, hắn đã xô bà ta ra đường.

    Lòng tràn ngập nghi ngờ, bực bội lẫn sợ hãi, bà ta đâm bổ xuống con hẻm và nhờ một vận may hiếm có, bà ta đã gặp được một nhóm cảnh binh ở phố Fresno cùng một viên thanh tra, tất cả đều đang trên đường đến khu vực tuần tra.

    Viên thanh tra và hai người cảnh binh hộ tống bà ta quay lại, bất chấp sự chống đối của gã chủ nhà, họ vẫn xông được vào căn phòng mà ông St.

    Clair đã xuất hiện lần cuối.

    Không còn dấu vết gì của ông ta ở đó.

    Trên thực tế thì họ chẳng nhìn thấy ai trên khắp tầng lầu ngoại trừ một người xấu xí, tàn tật trông rất gớm ghiếc có vẻ như là người sống ở đó.

    Cả hắn lẫn gã người Ấn đều ra sức thề thốt rằng suốt buổi chiều hôm đó không hề có ai khác ở trong gian tiền phòng.

    Chúng phủ nhận quả quyết đến nỗi viên thanh tra hơi do dự và khi ông ta sắp tin rằng bà St.

    Clair đã nhìn lầm thì bà bỗng kêu lên một tiếng và lao về phía cái hộp nhỏ bằng gỗ thông nằm trên bàn và tháo tung nắp ra.

    Từ trong hộp văng ra những khối đồ chơi xếp hình của trẻ con.

    Đó là món quà mà chồng bà đã hứa sẽ đem về nhà.

    Phát hiện này cùng với vẻ bối rối lộ rõ ở gã què khiến cho viên thanh tra nhận ra mức độ nghiêm trọng của vấn đề.

    Mấy căn phòng được khám xét cẩn thận và mọi kết quả đều chỉ ra một tội ác đáng ghê sợ.

    Gian tiền phòng được trang bị đầy đủ như một căn phòng khách và dẫn vào một phòng ngủ nhỏ trông xuống phía sau một cầu tàu.

    Giữa cầu tàu và cửa sổ phòng ngủ là một dải đất hẹp vốn khô ráo khi triều xuống nhưng khi nước lên thì nó bị ngập trong nước ít nhất cũng bốn foot rưỡi.

    Cửa sổ phòng ngủ thì rộng và được mở ra từ bên dưới.

    Khi khám xét, người ta tìm thấy các vết máu trên bậu cửa sổ và vài giọt rớt xuống sàn gỗ của phòng ngủ.

    Tất cả quần áo của ông Neville St.

    Clair bị nhét vào phía sau một tấm rèm cửa của gian tiền phòng, ngoại trừ chiếc áo khoác.

    Đôi ghệt, đôi tất, chiếc mũ và cái đồng hồ của ông ta đều ở đó.

    Không hề có vết tích bạo hành trên bất kì món đồ nào và cũng không tìm thấy dấu vết nào của ông Neville St.

    Clair.

    Chắc chắn là ông ta đã biến mất qua đường cửa sổ vì người ta không thể tìm thấy bất cứ lối thoát nào khác, và những vết máu trên bậu cửa cho thấy khả năng ông ta có thể tự cứu mình bằng cách bơi đi là rất thấp vì con nước đang lên rất cao vào thời điểm xảy ra thảm kịch.

    Giờ thì ta sẽ nói về những kẻ bất lương dường như có liên quan trực tiếp đến vụ này.

    Gã người Ấn là một tên từng có nhiều tiền sự cực kì ghê gớm, thế nhưng theo lời kể của bà St.

    Clair thì người ta thấy hắn đứng ở chân cầu thang khi chồng bà ta xuất hiện ở cửa sổ chỉ trong vài giây ngắn ngủi, vì thế cùng lắm hắn cũng chỉ là kẻ tòng phạm trong tội ác này.

    Hắn luôn miệng cãi là chẳng biết gì và quả quyết rằng hắn không hề hay biết về những việc làm của tên Hugh Boone, là người thuê phòng trọ của hắn, cũng như không sao giải thích được lí do mớ quần áo của người đàn ông bị mất tích xuất hiện ở đó.

    Đó là tất cả những gì ta biết về gã quản lí người Ấn.

    Giờ đến lượt cái gã tàn tật xấu xí sống ở tầng ba của tiệm hút và chắc chắn là người cuối cùng nhìn thấy Neville St.

    Clair.

    Tên hắn là Hugh Boone và bộ mặt gớm ghiếc của hắn rất quen thuộc với bất kì ai thường ghé đến khu City.

    Hắn là một tên ăn mày chuyên nghiệp dù hắn giả vờ bán diêm để lách luật.

    Đi xuôi xuống phố Threadneedle một chút, nhìn sang bên trái, có lẽ anh cũng để ý thấy có một hốc tường nhỏ.

    Ngày nào hắn cũng đến đó ngồi khoanh chân, bày mớ diêm loe hoe trong lòng, và vì trông hắn rất thảm thương nên tiền bố thí cứ rơi như mưa vào cái mũ da bẩn thỉu nằm ngay cạnh hắn trên vỉa hè.

    Tôi đã quan sát hắn không chỉ một lần trước khi nghĩ đến chuyện làm quen với hắn với tư cách đồng nghiệp và tôi rất ngạc nhiên với số tiền mà hắn thu được chỉ trong một thời gian ngắn.

    Anh thấy đấy, bề ngoài của hắn rất khác thường nên không ai đi ngang qua mà không chú ý đến hắn.

    Mớ tóc đỏ bù xù, khuôn mặt tái nhợt bị biến dạng vì một vết sẹo khủng khiếp, chính vì vết sẹo đó mà da hắn co lại kéo mép ngoài của môi trên lên, cái cằm giống cằm chó bun và hai con mắt sẫm màu rất sắc bén tạo ra sự tương phản kì lạ với màu tóc, tất cả đều làm cho hắn nổi bật hẳn lên giữa đám ăn mày bình thường, đã thế hắn còn có tài hóm hỉnh, lúc nào cũng sẵn sàng đáp trả bất cứ lời trêu chọc nào của khách qua đường.

    Giờ thì ta đã biết hắn trọ ở tiệm hút và cũng là người cuối cùng nhìn thấy quý ông mà ta đang tìm kiếm."

    "Nhưng đó là một người tàn tật!"

    Tôi thốt lên.

    "Làm sao hắn có thể đơn thương độc mã đối phó với một người đàn ông đang độ sung sức?"

    "Nói là què quặt nhưng thật ra hắn chỉ bị khập khiễng thôi; còn về các mặt khác thì hắn hoàn toàn khỏe mạnh và ăn uống đầy đủ.

    Kinh nghiệm nghề nghiệp hẳn đã cho anh biết rằng nhược điểm ở một chân thường được bù đắp bởi sức khỏe hơn người ở những cơ quan khác."

    "Xin anh hãy kể tiếp."

    "Bà St.

    Clair đã ngất đi khi nhìn thấy vết máu trên cửa sổ và được cảnh sát đưa về nhà vì sự hiện diện của bà ta cũng không giúp được gì cho họ trong việc điều tra.

    Thanh tra Barton - người chịu trách nhiệm về vụ này - đã khám xét rất kĩ lưỡng căn nhà nhưng cũng không tìm thấy bất cứ điều gì có thể làm sáng tỏ vấn đề.

    Người ta đã phạm phải một sai lầm khi không bắt giữ Boone ngay lập tức vì hắn đã có được vài phút để trao đổi với tên bạn người Ấn Độ, nhưng sơ suất này đã được khắc phục nhanh chóng; hắn đã bị tóm và lục soát nhưng cũng chẳng tìm ra được điều gì có thể buộc tội hắn.

    Quả thật là có vài vết máu trên tay áo bên phải của hắn nhưng hắn đã chỉ ra ngay ngón áp út bị đứt ở chỗ giáp móng tay, và giải thích rằng vết máu từ đó mà ra, lại còn nói thêm là trước đó không lâu hắn có đứng bên cửa sổ nên chắc chắn là những vết máu quan sát được ở đó cũng bị dây ra từ ngón tay bị đứt.

    Hắn một mực không nhận là đã trông thấy ông Neville St.

    Clair và thề rằng cũng giống như cảnh sát, hắn hoàn toàn không biết gì về mớ quần áo ở trong phòng của hắn.

    Còn về việc bà St.

    Clair khẳng định rằng bà ta đã trông thấy chồng mình đứng bên cửa sổ thì hắn tuyên bố là nhất định bà ta bị điên hoặc đang nằm mơ.

    Hắn phản đối ầm ĩ khi bị giải tới đồn cảnh sát, trong khi viên thanh tra vẫn ở lại căn nhà với hi vọng là nước triều rút xuống có thể đem lại dấu vết mới.

    Và đúng thế thật, dù rằng vật được phát hiện trên bãi bùn không hẳn là thứ mà họ đã lo ngại.

    Chỉ có chiếc áo khoác của ông Neville St.

    Clair hiện ra khi nước rút đi chứ không phải xác ông ta.

    Và anh thử nghĩ xem họ đã thấy gì trong túi áo?"

    "Tôi không thể tưởng tượng ra."

    "Tôi không nghĩ là anh có thể đoán được.

    Mỗi túi áo đều được nhét đầy những đồng xu và đồng nửa xu - bốn trăm hai mươi mốt đồng xu và hai trăm bảy mươi đồng nửa xu.

    Thảo nào mà nó không bị nước triều cuốn đi.

    Nhưng một xác chết thì lại là vấn đề khác.

    Giữa bến tàu và tiệm hút có một dòng nước xoáy mạnh.

    Có vẻ như chiếc áo được dằn nặng thì nằm lại còn cái xác bị lột trần thì đã bị cuốn ra sông."

    "Nhưng theo như tôi hiểu thì toàn bộ những món quần áo khác lại được tìm thấy ở trong phòng.

    Chẳng lẽ xác chết chỉ được mặc có mỗi chiếc áo khoác?"

    "Không phải thế, nhưng bề ngoài các dữ kiện có vẻ tương đối ăn khớp.

    Giả sử gã Boone đó đã xô Neville St.

    Clair qua cửa sổ mà không ai nhìn thấy.

    Rồi hắn sẽ làm gì?

    Tất nhiên là ngay lập tức hắn phải nghĩ đến việc thủ tiêu mớ quần áo có thể làm cho tội lỗi của hắn bị bại lộ.

    Hắn đã lột được chiếc áo khoác ra và khi sắp sửa ném nó ra ngoài thì hắn chợt nghĩ rằng cái áo sẽ nổi lên chứ không chìm.

    Hắn chẳng còn bao nhiêu thì giờ vì đã nghe thấy tiếng xô đẩy ở dưới cầu thang khi người vợ tìm cách đi lên và có lẽ hắn cũng được gã tòng phạm người Ấn thông báo là cảnh sát đang đến.

    Không thể bỏ phí một giây phút nào.

    Hắn vội vã chạy đến một chỗ giấu của bí mật nào đó, là nơi mà hắn đã tích lũy thành quả của nghề ăn xin và nhét tất cả những đồng xu mà hắn kịp chụp lấy vào các túi của chiếc áo khoác để cầm chắc là nó sẽ chìm xuống.

    Hắn ném nó qua cửa sổ và đã định làm như thế với những món quần áo kia nếu như không nghe thấy tiếng bước chân hối hả bên dưới và chỉ kịp đóng cánh cửa sổ lại khi cảnh sát xuất hiện."

    "Nghe có vẻ hợp lí lắm."

    "Vâng, chúng ta sẽ tạm đưa ra giả thuyết như vậy trong khi chưa có giả thuyết nào tốt hơn.

    Tên Boone đã bị bắt và giải đến đồn cảnh sát, như tôi đã nói với anh, thế nhưng xưa nay chưa từng có tiền án gì cả.

    Hắn đã hành nghề ăn mày chuyên nghiệp nhiều năm nhưng cuộc sống riêng thì có vẻ rất lặng lẽ và trong sạch.

    Thế là tình hình ngưng trệ ở đó và vẫn còn nhiều câu hỏi cần phải được giải đáp - Neville St.

    Clair làm gì ở tiệm hút, điều gì đã xảy ra với ông ta ở đó, bây giờ ông ta đang ở đâu và Hugh Boone đã làm gì trong vụ việc ông ta mất tích - tất cả những câu hỏi này cho đến giờ vẫn chưa có lời giải.

    Phải thú nhận là trong số những vụ mà tôi đã giải quyết, tôi không thể nào nhớ ra có vụ nào mà lúc đầu thì trông rất đơn giản nhưng hóa ra lại ẩn chứa nhiều khó khăn đến vậy."

    Trong khi Sherlock Holmes trình bày chi tiết chuỗi sự kiện kì lạ này, chúng tôi đã phóng nhanh qua vùng ngoại ô thành phố.

    Những căn nhà cuối cùng nằm rải rác ven đường đã khuất dạng, lúc này hai bên đường xe chạy là những bờ giậu kiểu nông thôn.

    Khi anh vừa dứt lời thì chúng tôi đã đi qua hai ngôi làng thưa thớt vẫn còn vài ngọn đèn le lói qua cửa sổ.

    "Chúng ta đã đến ngoại vi của làng Lee", người bạn đồng hành của tôi giải thích.

    "Chúng ta đã đi qua ba hạt của nước Anh trong chuyến xe ngắn ngủi này, bắt đầu từ Middlesex, ngang qua một góc của Surrey và kết thúc tại Kent.

    Anh nhìn thấy ánh đèn giữa rặng cây kia chứ.

    Đó là biệt thự Tuyết Tùng và ngồi bên ngọn đèn là người phụ nữ mà tôi ngờ rằng đã nóng lòng dỏng tai chờ nghe tiếng vó ngựa lộc cộc của xe chúng ta."

    "Nhưng tại sao anh không chỉ đạo vụ này từ phố Baker?"

    Tôi hỏi.

    "Vì có nhiều câu hỏi cần phải được thẩm vấn ngay tại đây.

    Bà St.

    Clair đã rất tử tế dành hai căn phòng cho tôi tùy nghi sử dụng và anh có thể yên tâm rằng bà ta sẽ rất hoan hỉ đón tiếp người bạn và đồng sự của tôi.

    Watson này, tôi ngại gặp mặt bà ta khi chưa có tin tức gì của chồng bà ta.

    Chúng ta đến nơi rồi.

    Dừng lại đây, dừng lại nào!"

    Chúng tôi ghìm ngựa lại trước một ngôi biệt thự to lớn ở giữa khuôn viên.

    Một cậu bé giữ ngựa chạy đến trước đầu ngựa, tôi nhảy xuống xe và bước theo Holmes trên con đường nhỏ rải sỏi quanh co dẫn đến ngôi nhà.

    Khi chúng tôi đến gần, cánh cửa mở tung ra và một người phụ nữ tóc vàng nhỏ nhắn đang đứng bên cạnh cửa trong y phục bằng lụa mousseline có bèo nhún bằng vải chiffon màu hồng viền quanh cổ và hai cổ tay.

    Dáng hình bà ta nổi bật trong luồng ánh sáng hắt ra từ bên trong, một tay đặt lên cửa, tay kia giơ lên nửa chừng vẻ nôn nóng, thân hình hơi nghiêng về phía trước, đầu và mặt nhô ra với đôi mắt ngóng đợi và đôi môi hé mở như dò hỏi.

    "Sao?"

    Bà ta kêu lên.

    "Thế nào rồi?"

    Chợt nhận ra chúng tôi có hai người, bà ta thốt lên một tiếng reo hi vọng nhưng rồi tiếng reo chùng xuống thành tiếng rên khi bà ta trông thấy người bạn đồng hành của tôi lắc đầu và nhún vai.

    "Không có tin vui?"

    "Không."

    "Không có tin buồn?"

    "Không."

    "Tạ ơn Chúa.

    Nhưng hãy vào nhà đã nào.

    Hẳn là các ông mệt mỏi lắm rồi vì đã trải qua một ngày dài."

    "Đây là bạn tôi, bác sĩ Watson.

    Anh ấy đã giúp tôi rất nhiều trong một số lần phá án và nhờ vào một sự tình cờ may mắn mà tôi có thể được anh ấy đi cùng và phối hợp với anh ấy trong cuộc điều tra này."

    "Tôi rất vui khi được gặp ông", bà ta nói và nồng nhiệt bóp tay tôi.

    "Tai họa giáng xuống đầu chúng tôi đột ngột quá, nếu chúng tôi tiếp đón có gì thiếu sót mong ông niệm tình bỏ qua cho."

    "Thưa bà", tôi đáp, "tôi là người lính quen dãi dầu và cho dù không phải thế thì tôi cũng thấy rất rõ rằng bà không có gì phải xin lỗi cả.

    Nếu như tôi có thể giúp gì cho bà hoặc cho bạn tôi đây thì quả thật là tôi rất vui."

    "Ông Sherlock Holmes này", bà ta nói khi chúng tôi bước vào căn phòng ăn đèn thắp sáng trưng, trên bàn đã dọn sẵn một bữa ăn nhẹ, "tôi rất muốn hỏi thẳng ông một vài câu và tôi xin ông hãy trả lời thẳng thắn."

    "Chắc chắn rồi, thưa bà."

    "Ông đừng quá lo lắng về cảm xúc của tôi.

    Tôi không dễ bị kích động, cũng không hay bị ngất xỉu.

    Đơn giản là tôi chỉ muốn nghe ý kiến thật lòng của ông."

    "Về điều gì?"

    "Trong thâm tâm, ông có nghĩ rằng anh Neville hãy còn sống không?"

    Sherlock Holmes có vẻ bối rối vì câu hỏi này.

    "Xin ông hãy nói thật tình!"

    Bà ta vẫn đứng trên thảm, đôi mắt sắc bén nhìn xoáy vào Holmes lúc ấy đang ngả lưng vào chiếc ghế mây.

    "Thành thật mà nói thì tôi không nghĩ thế."

    "Ông cho rằng anh ấy đã chết?"

    "Tôi nghĩ thế."

    "Bị giết?"

    "Tôi không nói thế.

    Có lẽ là..."

    "Vậy thì anh ấy chết vào hôm nào?"

    "Ngày thứ hai."

    "Thế thì thưa ông Holmes, xin ông vui lòng giải thích làm thế nào mà hôm nay tôi lại nhận được một lá thư của anh ấy."

    Sherlock Holmes bật dậy khỏi chiếc ghế như thể bị điện giật

    "Sao!"

    Anh gầm lên.

    "Phải, ngay hôm nay."

    Bà ta đứng đó, mỉm cười, tay chìa ra một mảnh giấy nhỏ.

    "Tôi có thể xem chứ?"

    "Chắc chắn rồi."

    Anh vồ lấy tờ giấy từ tay bà ta với vẻ háo hức và sau khi trải nó lên mặt bàn, anh kéo ngọn đèn lại và chăm chú xem xét nó.

    Tôi cũng đứng dậy và nhìn chằm chằm vào nó qua vai anh.

    Phong bì bằng giấy rất thô và được đóng dấu bưu điện ở Gravesend, ngày gửi là hôm nay hay đúng hơn là hôm qua, vì lúc bấy giờ đã qua nửa đêm khá lâu rồi.

    "Nét chữ rất xấu", Holmes thì thầm.

    "Chắc chắn là không phải chữ viết của ông nhà, thưa bà."

    "Không phải, nhưng trong bức thư thì đúng."

    "Tôi cũng nhận thấy rằng ai đó ghi phong bì đã dừng bút để hỏi lại địa chỉ."

    "Sao ông có thể nói vậy?"

    "Bà xem, màu mực ở phần tên người nhận có màu đen tuyền vì nó tự khô đi, còn phần còn lại thì có màu hơi xám cho thấy người viết đã dùng đến giấy thấm.

    Nếu cả tên người nhận và địa chỉ được viết một mạch rồi thấm mực thì sẽ không có chữ nào có màu đen đậm.

    Người này đã viết phần tên rồi dừng lại một lúc trước khi viết tiếp phần địa chỉ, điều này chỉ có thể nói lên rằng ông ta không biết rõ địa chỉ.

    Tất nhiên đó chỉ là chuyện vặt, nhưng không có gì quan trọng bằng các chi tiết vặt vãnh.

    Giờ thì ta hãy xem đến bức thư.

    À!

    Có một vật gì đính kèm!"

    "Vâng, có một chiếc nhẫn.

    Là chiếc nhẫn đóng dấu của anh ấy."

    "Và bà chắc rằng đây chính là chữ viết của ông nhà?"

    "Là một trong những kiểu chữ viết của anh ấy."

    "Là một?"

    "Đây là kiểu chữ anh ấy viết trong lúc vội vã.

    Nó không giống với cách viết bình thường của anh ấy, thế nhưng tôi vẫn nhận ra."

    "Em thân yêu, đừng lo sợ nhé!

    Mọi chuyện sẽ tốt đẹp.

    Có một sai sót trầm trọng có thể phải mất một thời gian để sửa chữa.

    Hãy kiên nhẫn đợi nhé!

    Neville.

    - Được viết bằng bút chì trên trang gát của một cuốn sách khổ tám, không có hoa văn in chìm.

    Hừm!

    Được gửi vào ngày hôm nay từ Gravesend, người gửi có ngón tay cái bẩn.

    A!

    Và mép phong bì được dán bằng keo, nếu tôi không nhầm thì người này có nhai thuốc lá.

    Và bà dám chắc đây chính là chữ viết của ông nhà?"

    "Vâng.

    Chính anh Neville đã viết những chữ này."

    "Và chúng được gửi đi trong ngày hôm nay từ Gravesend.

    Vâng, thưa bà St.

    Clair, đám mây đã được soi sáng dù rằng tôi không dám nói là cơn nguy hiểm đã qua."

    "Nhưng chắc chắn là anh ấy vẫn còn sống, thưa ông Holmes."

    "Trừ phi đây là một sự giả mạo khôn ngoan để lừa chúng ta đi theo dấu hiệu giả.

    Xét cho cùng thì chiếc nhẫn chẳng chứng minh được điều gì.

    Nó có thể bị tước đoạt từ tay ông ấy."

    "Không, không phải thế, đó chính là nét chữ của anh ấy mà."

    "Rất đúng.

    Tuy nhiên, nó có thể đã được viết vào hôm thứ hai và đến hôm nay mới được gửi đi."

    "Có thể như thế!"

    "Nếu vậy thì, có thể rất nhiều chuyện đã xảy ra từ hôm đó đến nay?"

    "Ồ, đừng làm tôi ngã lòng, ông Holmes.

    Tôi biết rằng mọi chuyện vẫn tốt đẹp với anh ấy.

    Giữa chúng tôi có sự đồng cảm rất mãnh liệt nên nếu có điều rủi ro xảy đến với anh ấy thì tôi sẽ biết ngay.

    Vào đúng ngày tôi gặp anh ấy lần cuối, anh ấy bị đứt tay trong phòng ngủ và tôi thì đang ở trong phòng ăn, thế mà tôi chạy vụt lên cầu thang ngay tức khắc vì tin chắc rằng có chuyện gì đó đã xảy ra.

    Ông nghĩ rằng tôi có thể cảm ứng được một chuyện vặt vãnh như thế mà lại thờ ơ với cái chết của anh ấy hay sao?"

    "Tôi đã từng gặp rất nhiều sự việc nên phải thừa nhận rằng linh cảm của phụ nữ có thể có giá trị hơn cả kết luận của một nhà suy luận giỏi phân tích.

    Dĩ nhiên bức thư này là một bằng chứng rất chắc chắn ủng hộ cho quan điểm của bà.

    Nhưng nếu ông nhà hãy còn sống và có thể viết được thư từ thì tại sao ông ấy vẫn chưa về gặp bà?"

    "Tôi không thể hình dung ra.

    Chuyện này đúng là không sao hiểu nổi."

    "Hôm thứ hai ông ấy không nói gì trước khi đi chứ?"

    "Không."

    "Và bà đã ngạc nhiên khi thấy ông ấy ở hẻm Swandam?"

    "Hết sức kinh ngạc."

    "Cánh cửa sổ để mở?"

    "Vâng."

    "Vậy thì ông nhà có thể gọi bà?"

    "Có thể chứ."

    "Vậy mà theo tôi hiểu thì ông ấy chỉ thốt ra một tiếng kêu ú ớ?"

    "Vâng."

    "Một tiếng kêu cứu, bà có nghĩ thế không?"

    "Phải.

    Anh ấy vẫy tay."

    "Nhưng đó cũng có thể là tiếng kêu kinh ngạc.

    Sự ngạc nhiên khi bất ngờ trông thấy bà có thể khiến cho ông ấy giơ hai tay lên?"

    "Cũng có thể lắm."

    "Và bà cho rằng ông ấy bị kéo ra sau?"

    "Anh ấy biến mất rất đột ngột."

    "Có thể ông ấy nhảy ngược ra sau.

    Bà không nhìn thấy ai khác ở trong phòng chứ?"

    "Không, nhưng cái gã gớm ghiếc kia thú nhận là đã có mặt ở đó và tên Ấn thì đứng ở chân cầu thang."

    "Đúng vậy.

    Lúc bà nhìn thấy chồng bà thì ông ấy vẫn mặc bộ quần áo bình thường phải không?"

    "Nhưng không đeo cổ cồn hay cà vạt.

    Tôi trông thấy rõ cái cổ trần của anh ấy."

    "Có bao giờ ông nhà nói về hẻm Swandam không?"

    "Chưa bao giờ."

    "Có khi nào bà nhìn thấy những dấu hiệu cho thấy ông ấy hút thuốc phiện không?"

    "Không bao giờ."

    "Cảm ơn bà St.

    Clair.

    Đó là những điểm chính mà tôi muốn được làm rõ.

    Giờ thì chúng tôi sẽ ăn nhẹ một chút và sau đó thì đi nghỉ vì có thể ngày mai chúng tôi sẽ rất bận rộn."

    Một phòng ngủ rất rộng và tiện nghi có giường đôi đã được dành riêng cho chúng tôi, và tôi nhanh chóng chui vào trong chăn vì đã quá mệt mỏi sau một đêm đầy bất ngờ.

    Thế nhưng Sherlock Holmes là người mà khi có một vấn đề chưa giải quyết được đè nặng tâm trí thì anh có thể dành hàng ngày, thậm chí hàng tuần không nghỉ ngơi để cân nhắc, lật đi lật lại vấn đề, sắp xếp lại các dữ kiện, xem xét nó dưới từng góc nhìn cho đến khi đã hiểu cặn kẽ hoặc tin chắc rằng các dữ liệu của mình vẫn còn chưa đầy đủ.

    Chẳng mấy chốc tôi đã thấy rõ là anh đang chuẩn bị sẵn sàng để thức suốt đêm.

    Anh cởi áo khoác và gilet ra, mặc vào một chiếc áo choàng ngủ rộng màu xanh da trời rồi đi quanh phòng, thu nhặt mấy cái gối ở trên giường và những chiếc đệm lót từ ghế dài và ghế bành.

    Anh sắp xếp chúng thành một loại trường kỉ kiểu phương Đông rồi ngồi xếp bằng trên đó, trước mặt để một ounce thuốc lá sợi và một hộp diêm.

    Trong ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn, tôi thấy anh ngồi đó, miệng ngậm cái tẩu cũ bằng gỗ thạch nam, đôi mắt lơ đãng nhìn lên góc trần nhà, làn khói xanh uốn éo tỏa ra từ người anh, yên lặng và bất động, và ánh sáng chiếu rọi lên nét mặt sắc cạnh như chim ưng của anh.

    Anh ngồi yên như thế khi tôi chìm dần vào giấc ngủ và vẫn còn ngồi yên khi một tiếng kêu thình lình đánh thức tôi dậy và tôi thấy ánh nắng mùa hè đã chiếu sáng khắp phòng.

    Cái tẩu thuốc hãy còn trên môi anh, làn khói vẫn đang uốn éo bay lên và căn phòng thì dày đặc khói thuốc nhưng đống thuốc lá sợi mà tôi nhìn thấy vào đêm hôm trước chẳng còn sót lại sợi nào.

    "Anh dậy rồi hả, Watson?"

    Anh lên tiếng hỏi.

    "Rồi."

    "Đã sẵn sàng ngồi xe đi dạo buổi sáng chưa?"

    "Tất nhiên."

    "Thế thì mặc quần áo vào đi.

    Chưa ai dậy cả, nhưng tôi biết chỗ ngủ của cậu bé giữ ngựa và hành lí của chúng ta sẽ sớm được chuyển ra."

    Anh vừa nói vừa lặng lẽ cười với chính mình, hai mắt sáng lấp lánh và trông anh như đã hóa thành một người hoàn toàn khác so với con người trầm tư suy nghĩ đêm hôm trước.

    Trong lúc mặc quần áo, tôi liếc nhìn đồng hồ.

    Không có gì lạ khi vẫn chưa ai thức giấc.

    Mới 4 giờ 25 phút.

    Tôi vừa mới ăn mặc chỉnh tề xong thì Holmes đã trở lại, thông báo rằng cậu bé giữ ngựa đang thắng ngựa vào xe.

    "Tôi muốn kiểm tra một giả thuyết nhỏ", anh nói khi đang kéo đôi ghệt lên.

    "Tôi nghĩ thế này, Watson ạ, anh đang đứng trước mặt một trong những kẻ ngốc nghếch nhất Âu châu.

    Tôi đáng bị đá văng từ đây đến Charing Cross.

    Nhưng tôi nghĩ rằng giờ thì tôi đã nắm chắc trong tay chiếc chìa khóa của vụ này."

    "Vậy nó đang ở đâu?"

    Tôi mỉm cười hỏi.

    "Nó đang nằm trong nhà tắm", anh đáp.

    "Ồ, vâng, tôi không nói đùa đâu", anh nói tiếp khi nhìn thấy ánh mắt hoài nghi của tôi.

    "Tôi vừa mới đến đó để lấy nó ra rồi cho vào cái vali hai ngăn này.

    Đi nào, anh bạn, và chúng ta sẽ thấy nó có vừa khít với ổ khóa hay không."

    Chúng tôi lần mò xuống cầu thang thật khẽ khàng và bước ra ngoài trong ánh nắng rực rỡ của buổi bình minh.

    Con ngựa và hành lí của chúng tôi đã đứng sẵn trên đường, cậu bé giữ ngựa quần áo còn xộc xệch đang đợi bên đầu ngựa.

    Cả hai chúng tôi nhảy lên xe và phóng vụt đi xuôi theo đường London.

    Một vài chiếc xe bò vùng quê đang lăn bánh, chở rau quả về phía thủ đô nhưng những dãy biệt thự hai bên đường hãy còn yên lặng và vô hồn như một thành phố đang chìm trong mơ.

    "Trong vụ này có vài điểm lạ lùng", Holmes nói trong khi quất roi cho ngựa phi nước đại.

    "Phải thú nhận là tôi đã mù tịt nhưng học khôn thì muộn còn hơn không."

    Khi lên đến thị trấn, những người thức dậy sớm nhất cũng mới chỉ ngái ngủ nhìn ra cửa sổ khi xe chúng tôi đi ngang qua mấy con phố ở phía hạt Surrey.

    Lúc ngang qua đường Cầu Waterloo, chúng tôi băng qua sông và chạy nhanh lên phố Wellington, quay ngoặt về bên phải và dừng lại ở phố Bow.

    Sherlock Holmes là người quen với lực lượng cảnh sát và hai cảnh binh đang đứng ở cửa giơ tay chào anh.

    Một người giữ đầu con ngựa trong khi người kia đưa chúng tôi vào.

    "Ai đang trực vậy?"

    Holmes hỏi.

    "Thanh tra Bradstreet, thưa ông."

    "A, chào Bradstreet, ông khỏe chứ?"

    Một sĩ quan cao lớn, tráng kiện đội mũ kêpi và mặc áo khoác ngắn có dải khuy bắt ngang vừa bước xuống hành lang có lát đá.

    "Tôi muốn nói riêng với ông, ông Bradstreet."

    "Được chứ, ông Holmes.

    Mời ông vào phòng tôi".

    Đó là một căn phòng nhỏ bài trí kiểu văn phòng với một cuốn sổ cái to tướng nằm trên bàn và một cái điện thoại nhô ra trên tường.

    Viên thanh tra ngồi vào bàn.

    "Tôi có thể giúp được gì cho ông, ông Holmes?"

    "Tôi đến là vì gã ăn mày, gã Boone đấy, cái gã bị bắt là có liên quan đến vụ ông Neville St.

    Clair ở Lee mất tích."

    "Phải.

    Hắn được giải lên đây và bị tạm giam để tra hỏi thêm."

    "Tôi có nghe nói vậy.

    Hiện ông còn giữ hắn ở đây chứ?"

    "Trong nhà giam."

    "Hắn có ổn không?"

    "Ồ, hắn chẳng gây phiền toái gì cả.

    Nhưng người hắn dơ bẩn lắm."

    "Bẩn à?"

    "Phải, dù đã cố gắng hết sức nhưng chúng tôi cũng chỉ bắt được hắn rửa tay, còn mặt hắn vẫn đen như mặt thợ hàn vậy.

    Vâng, khi nào giải quyết xong vụ của hắn thì hắn sẽ phải tắm thường xuyên theo chế độ nhà tù; ông mà trông thấy hắn thì chắc ông cũng sẽ đồng ý với tôi."

    "Tôi rất muốn gặp hắn."

    "Thế à?

    Chuyện này dễ thôi.

    Mời đi lối này.

    Ông có thể để túi xách lại đây."

    "Không sao, tôi nghĩ rằng tôi sẽ cần đến nó."

    "Tốt thôi.

    Xin mời đi lối này."

    Ông ta dẫn chúng tôi đi dọc theo một hành lang, mở một cánh cửa có cài then, đi xuống cầu thang quanh co và đưa chúng tôi đến một hành lang quét vôi trắng, hai bên là những dãy cửa.

    "Hắn ở trong phòng thứ ba, bên tay phải", viên thanh tra nói.

    "Đây rồi!"

    Ông ta khẽ khàng đẩy một tấm ván ở phần trên cánh cửa và liếc nhìn vào.

    "Hắn đang ngủ", ông ta thông báo.

    "Ông có thể quan sát hắn."

    Cả hai chúng tôi ghé mắt vào tấm lưới sắt.

    Gã tù nhân đang ngủ say, nằm quay mặt về phía chúng tôi, hắn thở rất chậm và nặng nề.

    Đó là một người tầm thước, quần áo tồi tàn phù hợp với nghề của hắn, một chiếc áo màu lộ ra qua những lỗ thủng của cái áo khoác rách tả tơi.

    Đúng như lời của ông thanh tra, hắn dơ dáy kinh khủng nhưng lớp cáu ghét trên mặt hắn cũng không che giấu được vẻ xấu xí đáng sợ của bộ mặt đó.

    Một vết sẹo cũ nổi thành lằn rộng chạy xéo qua mặt từ mắt đến cằm, và vết sẹo co lại đã kéo một bên môi trên, vì thế mà ba cái răng bị phô ra khiến vẻ mặt lúc nào cũng như đang quạu quọ.

    Một mớ tóc rối bù màu đỏ rất chói rủ xuống ngang mắt và trán.

    "Hắn đẹp trai nhỉ?"

    Ông thanh tra nói.

    "Chắc chắn là hắn cần được tắm", Holmes nhận xét.

    "Tôi cũng hình dung được là hắn có thể phải rửa ráy nên đã mạn phép đem theo những thứ này."

    Vừa nói, anh vừa mở cái vali hai ngăn và lấy ra một miếng xốp bọt biển to trước sự kinh ngạc của tôi.

    "Ha ha!

    Ông quả là khôi hài", viên thanh tra cười tủm tỉm.

    "Giờ thì nếu ông vui lòng mở cánh cửa này thật nhẹ nhàng, chúng ta sẽ nhanh chóng chỉnh trang cho hắn có một hình hài đứng đắn hơn."

    "Phải, tại sao lại không nhỉ", viên thanh tra nói.

    "Trông hắn không xứng đáng với nhà lao phố Bow, đúng không?"

    Ông ta tra chiếc chìa khóa vào ổ và chúng tôi bước vào xà lim thật nhẹ nhàng.

    Kẻ đang ngủ trở mình rồi lại chìm vào giấc ngủ sâu.

    Holmes cúi người xuống bình nước, thấm ướt miếng bọt biển rồi chùi mạnh hai lần ngang dọc trên mặt tù nhân.

    "Xin được giới thiệu với các ông", anh nói to, "đây là ông Neville St.

    Clair ở làng Lee, hạt Kent."

    Trong đời tôi chưa bao giờ được trông thấy một cảnh tượng như thế.

    Khuôn mặt của người đàn ông bị tróc ra dưới miếng bọt biển như một mảnh vỏ bong ra khỏi thân cây.

    Màu da nâu bẩn thỉu biến mất.

    Cả vết sẹo gớm ghiếc nổi bật vắt ngang mặt và cái môi méo tạo ra vẻ mặt đáng ghét của hắn cũng chẳng còn tăm tích!

    Một cú giật mạnh kéo theo mớ tóc đỏ rối bù và giờ đây, ngồi trên giường là một người đàn ông khá đẹp trai, mặt tai tái đượm buồn, mái tóc đen và làn da nhẵn nhụi đang dụi mắt và nhìn quanh phòng với vẻ ngái ngủ, hoang mang.

    Rồi, bất chợt nhận ra là mình đang bị quan sát, anh ta hét lên một tiếng và buông mình nằm xuống, úp mặt vào gối.

    "Ôi trời!"

    Viên thanh tra kêu lên.

    "Đúng rồi, chính là người mất tích!

    Tôi biết mặt ông ta từ tấm ảnh."

    Gã tù nhân quay đầu lại với vẻ bất cần của một kẻ đã phó mặc mình cho số phận.

    "Cứ cho là vậy đi", hắn nói.

    "Hãy cho biết tôi bị cáo buộc về tội gì nào?"

    "Tội thủ tiêu ông Neville St...

    Ồ, khoan đã, ông không thể bị kết tội đó trừ phi họ coi đây là một vụ tự sát bất thành", ông thanh tra vừa nói vừa cười toe toét.

    "Ấy, tôi đã tham gia lực lượng hai mươi bảy năm nhưng đây quả là trường hợp đặc biệt."

    "Nếu tôi chính là ông Neville St.

    Clair thì rõ ràng là tôi chẳng phạm phải tội ác nào cả và vì thế, tôi đã bị giam giữ trái phép."

    "Không phạm phải tội ác nào nhưng ông đã phạm phải một lỗi lầm to lớn", Holmes nói.

    "Lẽ ra ông nên tin tưởng vợ mình hơn."

    "Vấn đề không phải là vợ tôi mà là các con tôi", người tù rên rỉ.

    "Lạy Chúa xin hãy cứu giúp con, tôi không thể nào để cho chúng phải xấu hổ vì cha mình.

    Chúa ơi!

    Thật là tai tiếng!

    Tôi có thể làm gì đây?"

    Sherlock Holmes ngồi xuống bên cạnh giường và ân cần vỗ vào vai anh ta.

    "Nếu để cho tòa án làm sáng tỏ vụ này", anh nói, "thì tất nhiên là ông khó mà tránh được việc phải xuất hiện trước công chúng.

    Ngược lại, nếu ông thuyết phục được cơ quan cảnh sát rằng không có ai kiện tụng ông thì tôi thấy chẳng có lí gì chuyện này lại đến tai báo chí.

    Nhưng tôi đoán chắc rằng thanh tra Bradstreet sẽ ghi chép lại tất cả những gì ông kể ra với chúng tôi và sẽ đệ trình lên các cơ quan có thẩm quyền thích đáng.

    Khi đó vụ này sẽ không bao giờ phải đưa ra tòa."

    "Cầu Chúa phù hộ cho ông!"

    Người tù xúc động kêu lên.

    "Chẳng thà tôi chịu bị bắt giam hay thậm chí bị hành hình còn hơn là để điều bí mật khốn khổ này trở thành vết nhục gia đình cho các con tôi.

    Các ông là những người đầu tiên được nghe kể câu chuyện của tôi.

    Cha tôi là một thầy giáo ở Chesterfield, tại đó tôi đã được tiếp nhận một nền giáo dục tuyệt vời.

    Khi còn trẻ, tôi thường ngao du đó đây, làm diễn viên, và cuối cùng trở thành phóng viên cho một tờ báo phát hành buổi chiều ở London.

    Một ngày kia, biên tập viên muốn có một loạt bài về đề tài ăn xin ở thủ đô và tôi tình nguyện cung cấp những bài báo ấy.

    Đó là khởi điểm cho mọi chuyến phiêu lưu của tôi.

    Để thu thập các dữ kiện cần thiết cho bài báo, tôi chỉ có một cách là thử ngồi xin tiền như một gã ăn mày nghiệp dư.

    Tất nhiên, khi còn là diễn viên, tôi đã học mọi bí quyết về hóa trang và khá nổi tiếng trong hậu trường về kĩ năng này.

    Thế là tôi áp dụng ngay các kiến thức đó.

    Tôi vẽ mặt và để làm cho mình trông đáng thương hại hết mức có thể, tôi đã tạo ra một vết sẹo và làm cho một bên môi trở nên méo mó bằng một miếng thạch cao nhỏ màu da người.

    Rồi với một mái tóc đỏ và bộ quần áo phù hợp, tôi ngồi ở khu thương mại của thành phố, bề ngoài làm ra vẻ là một người bán diêm nhưng thực chất là một kẻ ăn mày.

    Tôi hành nghề trong suốt bảy giờ và khi trở về nhà vào buổi tối, tôi rất ngạc nhiên khi thấy mình thu được không dưới hai mươi sáu shilling và bốn xu.

    Tôi viết mấy bài báo rồi quên dần chuyện này đi cho đến một thời gian sau, tôi phải bảo lãnh cho hóa đơn của một người bạn và bị nhận một trát đòi hai mươi lăm bảng.

    Đang không biết kiếm đâu ra tiền để trả thì tôi chợt nảy ra một ý tưởng.

    Tôi xin chủ nợ cho khất hai tuần, xin các sếp cho nghỉ phép và dành toàn bộ khoảng thời gian ấy để xin tiền ở khu City dưới lốt hóa trang.

    Trong mười ngày tôi đã có đủ tiền và trả dứt món nợ.

    Thế đấy, các ông có thể thấy tôi đã cảm thấy khó khăn thế nào khi phải bám víu lấy một công việc nặng nhọc với mức lương hai bảng mỗi tuần trong khi tôi biết rằng mình có thể kiếm được bấy nhiêu tiền chỉ trong một ngày bằng cách bôi bẩn lên mặt, đặt cái mũ lên nền đất và ngôi yên một chỗ.

    Đó là cuộc đấu tranh lâu dài giữa lòng kiêu hãnh và tiền bạc, nhưng cuối cùng thì đồng crown đã chiến thắng và tôi bỏ hẳn nghề phóng viên để ra ngồi ngày này sang ngày khác ở cái góc mà tôi đã chọn ngay từ hôm đầu, khơi gợi lòng thương hại bằng bộ mặt gớm ghiếc và nhét đầy những đồng xu vào túi.

    Chỉ có một người biết được bí mật của tôi.

    Hắn là chủ của cái tiệm hút rẻ tiền mà tôi vẫn thường thuê ở hẻm Swandam; mỗi buổi sáng tôi lại xuất hiện trong điệu bộ một tên ăn mày bẩn thỉu và chiều xuống thì trở về để hóa thân thành một người ăn mặc bảnh bao dạo phố.

    Gã người Ấn được tôi trả tiền thuê phòng hậu hĩ vì thế tôi biết rằng bí mật của tôi sẽ được hắn giữ kín.

    Chỉ một thời gian ngắn sau đó, tôi nhận ra mình đã dành dụm được một số tiền đáng kể.

    Tôi không có ý nói là mọi người ăn xin trên những con phố của London đều có thể kiếm được bảy trăm bảng một năm - mà chừng đó còn kém hơn mức thu nhập trung bình của tôi - nhưng tôi có những thế mạnh đặc biệt nhờ kĩ năng hóa trang và cả năng khiếu ứng đối lanh lẹ, những lợi điểm này ngày càng được cải thiện trong quá trình hành nghề và giúp tôi trở thành một nhân vật nổi bật trong khu City.

    Suốt cả ngày, một dòng suối tiền xu, có khi là những đồng bạc, cứ tuôn trào lên tôi và chỉ có những ngày tệ hại nhất tôi mới không kiếm đủ hai bảng.

    Khi trở nên giàu có hơn thì tôi cũng có thêm nhiều tham vọng, tôi mua một căn nhà ở vùng nông thôn và cuối cùng là cưới vợ mà không bị ai nghi ngờ về nghề nghiệp thật sự của mình.

    Người vợ yêu dấu của tôi cho rằng tôi có một công việc kinh doanh ở khu City.

    Nàng không biết nhiều lắm về việc đó.

    Hôm thứ hai vừa rồi, khi đã kết thúc một ngày kiếm tiền và đang thay quần áo trong căn phòng nằm bên trên tiệm hút thì tôi chợt nhìn ra ngoài cửa sổ và với sự kinh hoàng pha lẫn ngạc nhiên, tôi trông thấy vợ tôi đang đứng bên kia đường và chăm chú nhìn về phía tôi.

    Tôi thốt ra một tiếng kêu kinh ngạc rồi đưa tay lên che mặt và chạy vội đến chỗ người thân tín của mình, gã Ấn, để khẩn khoản nhờ hắn ngăn không cho bất cứ ai lên gặp tôi.

    Tôi nghe tiếng vợ mình dưới chân cầu thang nhưng tôi biết rằng nàng sẽ không thể lên được.

    Tôi bèn nhanh chóng cởi bỏ y phục và thay sang bộ quần áo ăn mày, vẽ màu lên mặt và đội bộ tóc giả lên.

    Ngay cả vợ tôi cũng bị lớp hóa trang hoàn hảo ấy qua mắt.

    Nhưng rồi tôi chợt nghĩ rằng người ta có thể sẽ lục soát căn phòng và mớ quần áo sẽ tố cáo tôi.

    Tôi bèn mở tung cửa sổ và do mạnh tay quá nên vết đứt tay ban sáng trong phòng ngủ lại bị toác ra.

    Rồi tôi chụp lấy cái áo khoác đã được dằn nặng bằng những đồng xu mà tôi vừa mới cho vào túi áo từ chiếc túi da đựng số tiền mình kiếm được trong ngày.

    Tôi ném mạnh chiếc áo qua cửa sổ và nó biến mất dưới dòng sông Thames.

    Những món quần áo khác cũng sắp sửa được ném theo thì ngay lúc đó có tiếng mấy tay cảnh sát hối hả chạy lên cầu thang và phải thú nhận rằng tôi nhẹ hẳn người khi không bị nhận diện là ông Neville St.

    Clair mà lại bị bắt giam vì tình nghi là đã sát hại ông ta.

    Tôi không biết phải giải thích gì thêm nữa.

    Tôi đã quyết định sẽ duy trì lớp hóa trang càng lâu càng tốt, vì thế mới giữ mãi bộ mặt dơ bẩn.

    Vì biết rằng vợ tôi sẽ vô cùng lo lắng, tôi đã nhân lúc cảnh sát không để ý, cởi chiếc nhẫn ra và trao cho gã Ấn kèm theo vài dòng chữ nguệch ngoạc cho nàng biết là không có gì đáng lo cả."

    "Bức thư đó mới đến tay bà nhà hôm qua", Holmes nói.

    "Trời ơi!

    Nàng đã phải lo sợ suốt cả tuần!"

    "Vì cảnh sát theo dõi tên Ấn", thanh tra Bradstreet giải thích, "nên cũng dễ hiểu là hắn khó lòng gửi được lá thư đó mà không bị để ý.

    Có thể hắn đã giao nó cho một thủy thủ nào đó là khách hàng của hắn và gã này đã quên phắt lá thư mất mấy ngày."

    "Đúng thế", Holmes nói và gật đầu tán thành.

    "Tôi không nghi ngờ gì về việc đó.

    Nhưng đã có khi nào ông bị phạt vì hành nghề ăn xin chưa?"

    "Đã nhiều lần rồi, nhưng phạt thì có nghĩa lí gì đối với tôi?"

    "Nhưng giờ thì phải chấm dứt ngay", ông Bradstreet nói.

    "Nếu muốn để cảnh sát bỏ qua chuyện này thì cái tên Hugh Boone phải biến mất nghe chưa?"

    "Tôi xin thề bằng những lời thề trang trọng nhất mà một người có thể viện dẫn."

    "Nếu thế thì tôi cho rằng không còn việc gì phải làm nữa.

    Nhưng nếu ông để mình bị phát hiện thêm một lần nữa thì mọi chuyện sẽ bị phanh phui.

    Ông Holmes này, quả thật là chúng tôi rất biết ơn ông vì đã làm sáng tỏ vụ án này.

    Ước gì tôi biết được bằng cách nào mà ông đạt được kết quả ấy."

    "Tôi đạt được kết quả là nhờ", anh bạn tôi đáp, "ngồi lên năm cái gối và hút hết cả một ounce thuốc lá.

    Này Watson, tôi cho là nếu khởi hành tới phố Baker ngay thì chúng ta có thể về kịp để ăn điểm tâm đấy."
     
    Sherlock Holmes Toàn Tập
    VIÊN THẠCH LỰU XANH (The Blue Carbuncle, 1892)


    Vào buổi sáng sau lễ Giáng sinh hai ngày, tôi ghé thăm anh bạn Sherlock Holmes với ý định chúc mừng anh nhân dịp lễ.

    Anh mặc áo choàng ngủ màu đỏ tía, nằm dài trên trường kỉ, một cái giá để tẩu thuốc nằm trong tầm với ở phía bên phải và một chồng báo buổi sáng nhàu nát, rõ ràng vừa mới đọc xong, nằm ngay sát người.

    Bên cạnh trường kỉ có một cái ghế gỗ và trên góc lưng ghế có một chiếc mũ nỉ cứng rất bẩn thỉu đã sờn rách và nứt rạn vài chỗ.

    Một cái kính lúp và một chiếc kẹp nằm trên mặt ghế cho thấy chiếc mũ được treo lên như thế nhằm mục đích quan sát.

    "Anh đang bận", tôi lên tiếng, "có lẽ tôi đã quấy rầy anh."

    "Không hề gì.

    Tôi rất mừng khi có một người bạn để có thể cùng bàn bạc về những kết quả.

    Vấn đề này vô cùng bình thường", anh chĩa ngón cái về phía chiếc mũ cũ kĩ, "nhưng lại có những điểm khá lí thú và thậm chí còn dạy cho ta một vài điều."

    Không đợi mời, tôi ngồi xuống chiếc ghế bành và hơ hai bàn tay trước ngọn lửa đang reo tí tách, vì sương giá lạnh buốt bắt đầu buông và những tinh thể băng đã kết dày trên cửa sổ.

    Tôi nhận xét, "tôi đoán rằng vật trông có vẻ giản dị này có liên quan đến một câu chuyện chết chóc, và nó chính là manh mối dẫn dắt anh tìm ra lời giải cho một vụ án bí ẩn và trừng phạt một tội ác nào đó."

    "Không phải đâu.

    Chẳng có tội ác nào cả", Sherlock Holmes đáp và cười phá lên.

    "Chỉ là một sự việc nho nhỏ kì dị sẽ xảy ra khi có đến bốn triệu con người chen chúc nhau trong một không gian vài dặm vuông thôi.

    Giữa những hành động và phản ứng của một đám đông người dày đặc như thế, mọi chuỗi kết hợp các sự kiện đều có thể xảy ra, từ đó nảy sinh nhiều vấn đề nho nhỏ có thể rất ấn tượng và kì dị mà không hề dính líu đến tội ác.

    Chúng ta đã có kinh nghiệm về những trường hợp như thế."

    "Nhiều là đằng khác", tôi nhận xét.

    "Trong số sáu vụ gần đây nhất mà tôi ghi chép lại thì có đến ba vụ hoàn toàn không vi phạm pháp luật."

    "Chính xác.

    Chắc anh muốn nói đến việc tôi tìm cách lấy lại các giấy tờ từ tay Irene Adler, vụ việc kì quặc của cô Mary Sutherland và việc làm táo bạo của gã đàn ông méo miệng.

    Đấy, tôi chắc chắn rằng vấn đề nhỏ mọn này rồi cũng sẽ thuộc loại vô thưởng vô phạt như thế.

    Anh biết Peterson, người gác cổng chứ?"

    "Biết."

    "Món chiến lợi phẩm này chính là của anh ta."

    "Đây là mũ của anh ta?"

    "Không, không phải thế, anh ta tìm thấy nó.

    Chủ sở hữu của chiếc mũ này là ai thì vẫn còn chưa rõ.

    Tôi mong anh đừng nhìn nó như một cái mũ quả dưa tơi tả, mà hãy coi nó như một vấn đề trí tuệ.

    Và trước tiên là nó đã đến đây như thế nào.

    Nó xuất hiện vào buổi sáng hôm Giáng sinh cùng với một con ngỗng béo ngon lành mà giờ này chắc là đang được quay trong lò lửa nhà Peterson.

    Sự thể là thế này: Khoảng 4 giờ sáng hôm Giáng sinh, Peterson, người mà anh biết là rất lương thiện, đi xuôi đường Tottenham Court về nhà sau một cuộc chè chén say sưa.

    Dưới ánh đèn khí, anh ta nhìn thấy trước mặt có một người đàn ông khá cao đang lảo đảo bước đi với một con ngỗng trắng nằm vắt trên vai.

    Khi anh ta đến góc phố Goodge thì thấy người đàn ông lạ mặt này đang cãi nhau với một đám du côn.

    Một đứa trong đám đánh văng chiếc mũ của ông ta, ông ta giơ gậy lên để phòng vệ và vì lỡ quơ nó cao quá đầu nên đã đập trúng tấm kính của cửa tiệm phía sau lưng.

    Peterson lao lên phía trước để bảo vệ người lạ trước đám côn đồ; nhưng do sợ hãi vì đã làm vỡ tấm kính và trông thấy một người mặc đồng phục có vẻ giống cảnh sát đang lao nhanh về phía mình nên người đàn ông này đã đánh rơi con ngỗng, bỏ chạy mất hút vào trong những con phố nhỏ rối rắm phía sau đường Tottenham Court.

    Đám du đãng cũng bỏ trốn khi nhìn thấy Peterson, vì vậy anh ta bị bỏ lại giữa bãi chiến trường cùng những chiến lợi phẩm gồm chiếc mũ méo mó này và một con ngỗng Giáng sinh không chê vào đâu được."

    "Hẳn là anh ta phải đem trả lại cho chủ nhân của chúng chứ?"

    "Anh bạn thân mến, vấn đề nằm ở chỗ đó.

    Quả thật là có một tấm thẻ nhỏ in mấy chữ 'Dành tặng bà Henry Baker' đeo ở chân trái con ngỗng, và trong lớp lót của chiếc mũ cũng có mấy chữ viết tắt H.B, rất rõ ràng, nhưng trong thành phố của chúng ta có đến hàng ngàn người mang họ Baker và hàng trăm người có tên Henry Baker, thật không dễ mà đem trả lại những thứ bị mất này cho bất cứ ai trong số họ."

    "Thế sau đó Peterson đã làm gì?"

    "Anh ta đem cả chiếc mũ lẫn con ngỗng đến chỗ tôi vào buổi sáng Giáng sinh vì anh ta biết rằng tôi quan tâm đến cả những vấn đề nhỏ nhặt nhất.

    Con ngỗng được chúng tôi giữ lại cho đến tận sáng nay, khi mà tuy trời khá lạnh nhưng đã xuất hiện những dấu hiệu cho thấy phải ăn thịt nó ngay chứ không thể chần chừ thêm nữa.

    Người vớ được nó đã đem hóa kiếp rồi, còn tôi vẫn giữ chiếc mũ của một quý ông vô danh đã đánh mất nó trong đêm Giáng sinh."

    "Ông ta có đăng thông báo không?"

    "Không."

    "Vậy anh đã tìm ra dấu vết gì để nhận dạng người đó hay chưa?"

    "Vô số thứ mà ta có thể suy luận ra."

    "Từ chiếc mũ này?"

    "Đúng thế."

    "Anh có đùa không đấy?

    Anh biết được gì từ chiếc mũ nỉ cũ kĩ tả tơi này?"

    "Đây là kính lúp của tôi.

    Anh đã biết phương pháp làm việc của tôi rồi đấy.

    Anh thử xem, tự mình có thể rút ra được gì về tính cách của người đã đội chiếc mũ này?"

    Tôi cầm cái vật tả tơi đó trong tay và lật đi lật lại với đôi chút thương xót.

    Đó là một chiếc mũ màu đen, kiểu dáng tròn rất bình thường, cứng và đã xơ mòn lắm rồi.

    Trước đây thì lớp lụa lót có màu đỏ nhưng giờ đã bạc phếch.

    Không thấy tên của nhà sản xuất nhưng như Holmes đã nhận xét, có những chữ viết tắt H.B nguệch ngoạc ở một bên.

    Vành mũ được đục lỗ để xỏ dây nhưng sợi dây bằng cao su đã bị mất.

    Nhìn chung, chiếc mũ đã sờn rách, rất bẩn thỉu và còn bị thủng vài chỗ, dù có vẻ như người chủ đã cố gắng che giấu những mảng bạc màu bằng cách bôi mực lên.

    "Tôi chẳng thấy gì cả", tôi nói rồi trao chiếc mũ lại cho anh bạn.

    "Ngược lại đấy, Watson, anh có thể nhìn thấy mọi thứ.

    Tuy nhiên anh đã quên không suy luận từ những gì anh trông thấy.

    Anh không đủ can đảm để rút ra kết luận."

    "Vậy xin anh hãy nói cho tôi nghe anh đã rút ra được gì từ chiếc mũ này?"

    Anh giơ nó lên và chăm chú nhìn với lối quan sát rất đặc biệt mà chỉ anh mới có.

    "Có thể là nó không gợi lên nhiều thứ như ta hi vọng", anh nhận định, "tuy vậy vẫn có vài kết luận rất dễ nhận thấy và một vài điều khác chí ít cũng có xác suất đúng là rất cao.

    Nhìn qua cũng thấy người này hiển nhiên là rất thông minh, và trong vòng ba năm trở lại đây đã có lúc ông ta khá giàu có, dù giờ đây ông ta đã rơi vào vận mạt.

    Ông ta là người lo xa, nhưng giờ thì kém hơn trước rồi, từ đó chỉ ra sự sa sút tinh thần, xét thêm sự giảm sút về của cải, điều này cho ta thấy dường như có một ảnh hưởng xấu nào đó đã tác động đến ông ta, có thể là rượu chè.

    Đó có lẽ là nguyên do dẫn đến sự thực hiển nhiên là người vợ đã không còn yêu thương ông ta nữa."

    "Trời đất, Holmes ơi!"

    "Tuy vậy, ông ta hãy còn giữ được đôi chút tự trọng", bạn tôi cứ tiếp tục nói, chẳng thèm đếm xỉa đến sự phản đối của tôi.

    "Ông ta là người chỉ thích ở trong nhà, rất ít khi ra ngoài, hoàn toàn không màng đến chuyện luyện tập thể thao, đang ở độ tuổi trung niên, mái tóc điểm bạc được cắt ngắn trong vài ngày gần đây và dùng một loại kem có mùi chanh để vuốt tóc.

    Đây là những dữ kiện tương đối rõ ràng có thể suy ra từ chiếc mũ.

    Còn nữa, rất có thể nhà ông ta không dùng khí đốt."

    "Chắc chắn là anh đang đùa cợt, Holmes."

    "Không hề.

    Lẽ nào tôi đã cho anh những kết quả như thế mà anh vẫn chưa hiểu tôi đã suy luận bằng cách nào?"

    "Tôi biết mình không được thông minh, phải thú nhận rằng tôi không thể nào theo kịp suy luận của anh.

    Ví dụ như, làm sao mà anh suy ra được rằng người đàn ông đó thông minh?"

    Holmes trả lời bằng cách ấn mạnh chiếc mũ lên đầu mình.

    Nó sụp xuống quá trán, tới tận sống mũi.

    "Đó là vấn đề dung tích", anh nói.

    "Một người đàn ông với bộ não to thế này thì phải có gì đó ở bên trong chứ."

    "Thế còn chuyện gia cảnh bị sa sút?"

    "Cái mũ này đã có từ cách đây ba năm.

    Kiểu mũ cổ vành phẳng và uốn cong ở mép thế này là rất mốt vào lúc đó.

    Đây là một chiếc mũ có chất lượng rất tốt.

    Hãy nhìn dải lụa gân này và lớp lót thượng hạng xem.

    Nếu người này có thể mua được một chiếc mũ đắt tiền như thế từ ba năm trước mà đến giờ vẫn chưa mua chiếc nào khác thì nhất định là cuộc đời của ông ta đã xuống dốc."

    "Được, khá rõ ràng rồi đấy, chắc chắn rồi.

    Nhưng còn chuyện phòng xa và sự sa sút tinh thần?"

    Sherlock Holmes cười ngất.

    "Tính lo xa thể hiện ở đây", anh vừa nói vừa đặt ngón tay lên cái lỗ tròn nhỏ và cái móc của sợi dây buộc mũ.

    "Người ta chẳng bao giờ bán những thứ này kèm theo mũ.

    Nếu người này đặt làm thêm như thế thì đó là dấu hiệu của tính lo xa vì ông ta đã cố gắng đề phòng bị gió thổi bay.

    Nhưng vì chúng ta thấy là sợi dây buộc mũ đã bị đứt và ông ta không buồn thay sợi khác vào, rõ ràng là giờ ông ta đã bớt thận trọng hơn, đó là bằng chứng hiển nhiên của sự xuống dốc về bản chất.

    Mặt khác, ông ta cố gắng che giấu một số vết bẩn trên lớp nỉ bằng cách bôi mực lên, đó là dấu hiệu cho thấy ông ta chưa hoàn toàn mất đi lòng tự tôn."

    "Lí lẽ của anh rất hợp lí."

    "Những điểm khác nữa như là ông ta thuộc độ tuổi trung niên, mái tóc của ông ta đã chớm bạc và mới cắt gần đây hay ông ta sử dụng kem vuốt tóc có mùi chanh, tất cả đều được suy luận ra khi nhìn kĩ phần dưới của lớp lót.

    Kính lúp đã soi được rất nhiều ngọn tóc được cắt gọn bằng kéo của thợ cắt tóc.

    Chúng có vẻ khá dính và dậy mùi kem vuốt tóc hương chanh.

    Anh sẽ thấy lớp bụi này không phải là loại bụi xám có sạn ở ngoài đường mà là bụi mịn, màu nâu ở trong nhà, nghĩa là nó đã được treo trong nhà suốt, còn những vết ẩm ở bên trong là bằng chứng cho việc chủ nhân của nó rất dễ đổ mồ hôi, và vì thế, ông ta khó có thể là người năng rèn luyện thân thể."

    "Nhưng còn vợ ông ta, anh nói rằng bà ấy không còn yêu ông ta nữa."

    "Đã nhiều tuần rồi cái mũ này chưa được chải.

    Watson thân mến, khi tôi trông thấy anh với lớp bụi tích tụ cả tuần lễ trên chiếc mũ anh đội và nếu vợ anh để anh ra đường trong tình trạng như thế thì tôi e rằng anh đã không còn được vợ quan tâm."

    "Nhưng biết đâu ông ta độc thân?"

    "Không, ông ta ôm một con ngỗng về để dàn hòa với bà vợ.

    Hãy nhớ đến tấm thẻ gắn ở chân con ngỗng."

    "Cái gì anh cũng tìm ra được lời giải.

    Nhưng làm thế nào mà anh suy ra được là nhà ông ta không dùng khí đốt?"

    "Nếu bị lấm một, hai vết mỡ nến thì có thể là tình cờ nhưng khi nhìn thấy không dưới năm vết thì tôi cho rằng nhiều khả năng là người này thường xuyên phải tiếp xúc với nó - như là đi lên cầu thang vào ban đêm một tay cầm mũ, một tay cầm nến.

    Dẫu sao đi nữa ông ta sẽ chẳng bao giờ bị dây vết mỡ từ đèn thắp bằng khí đốt.

    Anh đã hài lòng rồi chứ?"

    "Vâng, thật là tài tình", tôi vừa cười vừa nói, "nhưng như anh vừa nói, không có tội ác nào và cũng không có tổn thất nào ngoại trừ một con ngỗng bị mất, vậy tất cả những suy luận này chỉ làm phí sức của anh thôi."

    Sherlock Holmes vừa mở miệng định trả lời thì cánh cửa chợt mở tung, và Peterson, người gác cổng, lao vào căn hộ, hai má đỏ bừng, khuôn mặt sững sờ vì kinh ngạc.

    "Con ngỗng, ông Holmes này!

    Con ngỗng, thưa ông!"

    Anh ta thở hổn hển.

    "Gì vậy?

    Nó ra sao rồi?

    Nó sống lại và vỗ cánh bay mất qua cửa sổ bếp nhà anh chăng?"

    Holmes quay người lại trên chiếc ghế dài để nhìn rõ hơn khuôn mặt kích động của anh ta.

    "Hãy nhìn đây, thưa ông!

    Xem vợ tôi đã tìm thấy gì trong diều của nó."

    Anh ta chìa tay ra, để lộ một viên đá xanh lấp lánh rực rỡ giữa lòng bàn tay, tuy kích cỡ viên đá nhỏ hơn một hạt đậu nhưng tinh khiết và rất sáng đến độ nó tỏa ánh lấp lánh như một đốm điện trong lòng bàn tay anh ta.

    Sherlock Holmes bật dậy với một tiếng huýt sáo.

    "Ái chà, Peterson này", anh nói, "đây đúng là một kho báu!

    Hẳn là anh cũng biết mình đã tìm ra vật gì chứ?"

    "Thưa ông, chắc là một viên kim cương?

    Một viên đá quý.

    Nó cắt thủy tinh ngọt cứ như là bột mài kính vậy."

    "Không chỉ là một viên đá quý thông thường.

    Nó chính là viên đá quý có một không hai đấy!"

    "Không phải là viên thạch lựu xanh của nữ bá tước Morcar chứ?"

    Tôi thốt lên.

    "Chính là nó.

    Tôi gần như thuộc nằm lòng kích thước và hình dáng của viên ngọc này vì dạo gần đây, ngày nào tôi cũng thấy thông báo về nó đăng trên tờ Times.

    Đó là viên ngọc độc nhất vô nhị, và giá trị của nó chỉ có thể phỏng đoán, thế nhưng món tiền thưởng một ngàn bảng chắc chắn là không dưới hai mươi phần trăm giá trị của nó trên thị trường."

    "Một ngàn bảng!

    Lạy Chúa nhân từ!"

    Người gác cửa ngồi phịch xuống một cái ghế và trân trối nhìn bọn tôi từ người này sang người nọ.

    "Đó là món tiền thưởng, và tôi còn có cơ sở để biết thêm rằng vì những lí do quan trọng liên quan đến tình cảm ẩn sau viên ngọc này mà nữ bá tước sẵn sàng cho đi phân nửa gia sản của mình nếu bà có thể tìm lại được nó."

    "Nếu như tôi nhớ không lầm thì nó đã bị mất ở khách sạn Cosmopolitan", tôi nhận xét.

    "Chính xác là thế, vào ngày 22 tháng 12, chỉ mới năm ngày trước.

    John Horner, một người thợ sửa ống nước, đã bị kết tội đánh cắp hộp đựng nữ trang của bà bá tước.

    Bằng chứng buộc tội anh ta vững chắc đến nỗi vụ việc này đã được chuyển đến tòa đại hình.

    Tôi tin là có một bản tường thuật về vụ này ở đây."

    Anh lục lọi trong đống báo, liếc nhìn ngày tháng cho đến khi cuối cùng cũng vuốt phẳng một tờ, gấp đôi nó lại và đọc lên đoạn sau:

    Vụ mất trộm đồ trang sức ở khách sạn Cosmopolitan.

    John Horner, 26 tuổi, thợ sửa ống nước, đã bị đưa ra tòa vào ngày 22 tháng này với lời cáo buộc đánh cắp viên đá quý rất giá trị - viên thạch lựu xanh - từ hộp nữ trang của nữ bá tước Morcar.

    James Ryder, trưởng nhóm phục vụ của khách sạn khai rằng anh ta đã đưa Horner lên phòng trang điểm của nữ bá tước Morcar vào ngày xảy ra vụ trộm để hắn hàn lại thanh sắt thứ nhì bị lung lay của vỉ lò sưởi.

    Anh ta ở trong phòng cùng với Horner một lúc nhưng rồi được gọi đi.

    Khi quay trở lại thì anh ta thấy Horner đã biến mất, cái tủ có ngăn kéo bị mở tung và cái tráp bằng da dê thuộc trong đó, sau này được tiết lộ là nơi nữ bá tước thường để các món trang sức của mình, thì nằm trống trơn trên mặt bàn phấn.

    Ryder liền báo động ngay lập tức và Horner bị bắt vào buổi tối cùng ngày; nhưng viên đá thì không thể nào tìm thấy cả trên người hắn cũng như trong căn phòng hắn ở.

    Cô Catherine Cusack, người hầu gái của nữ bá tước, cũng khai rằng cô có nghe thấy tiếng kêu hoảng hốt của Ryder khi phát hiện ra vụ mất cắp.

    Cô đã chạy ào vào phòng và trông thấy cảnh tượng đúng như lời mô tả của nhân chứng cuối cùng.

    Thanh tra Bradstreet, phụ trách khu B, đã dựa vào lời khai này để bắt giữ Horner, hắn chống cự điên cuồng và nhất mực quả quyết là hắn vô tội với những lời lẽ hùng hồn nhất.

    Do nghi phạm đã có một tiền án trộm cắp, thẩm phán tòa sơ thẩm đã từ chối tuyên án mà chuyển vụ này sang tòa đại hình.

    Trong quá trình xét xử, Horner đã có dấu hiệu bị xúc động mạnh, hắn đã ngất xỉu khi nghe kết luận và được đưa ra khỏi tòa.

    "Hừm!

    Chẳng còn gì để nói về tòa án vi cảnh", Holmes đăm chiêu nói khi quẳng tờ báo sang một bên.

    "Lúc này, vấn đề chúng ta phải giải quyết là chuỗi sự kiện dẫn dắt từ hộp nữ trang bị lục lọi đến diều của con ngỗng ở đường Tottenham Court.

    Anh thấy đấy, Watson, những suy diễn nho nhỏ của chúng ta bỗng nhiên lại trở nên quan trọng hơn rất nhiều và còn có liên quan đến tội phạm nữa.

    Đây là viên ngọc; nó được lấy ra từ con ngỗng và con ngỗng là của ông Henry Baker, chủ nhân của cái mũ tả tơi và mang tất cả những đặc điểm mà tôi đã kể ra đến nỗi làm anh phát chán.

    Vậy thì bây giờ ta phải quyết tâm cao độ để tìm kiếm cho được quý ông này và tìm hiểu rõ ràng xem ông ta dự phần như thế nào trong câu chuyện bí ẩn này.

    Để làm được việc ấy, trước tiên chúng ta phải thử biện pháp đơn giản nhất là đăng một mẩu thông báo trên tất cả các báo ra vào buổi chiều tối, nhưng phải không gây ra bất kì sự ngờ vực nào.

    Nếu cách này thất bại thì tôi sẽ dùng đến những phương pháp khác."

    "Anh sẽ viết gì trong thông báo đó?"

    "Đưa hộ tôi cây bút chì và mảnh giấy kia.

    Đây, thế này: Tìm thấy ở góc đường Goodge một con ngỗng và một cái mũ nỉ màu đen.

    Ông Henry Baker có thể liên hệ vào lúc 6 giờ 30 tại số nhà 221B phố Baker để nhận lại.

    Rất rõ ràng và súc tích nhé."

    "Đúng vậy.

    Nhưng liệu ông ta có đọc được nó không?"

    "Ông ta chắc chắn sẽ để tâm theo dõi tất cả các báo, vì với một người nghèo thì mất mát như thế là khá nặng.

    Rõ ràng ông ta rất sợ hãi lúc lỡ tay làm vỡ tấm kính và khi Peterson chạy đến thì ông ta chẳng nghĩ ra được cách nào hơn là cắm đầu bỏ chạy, nhưng sau đó ắt hẳn ông ta sẽ rất hối hận vì đã quá hoảng sợ mà đánh rơi con ngỗng.

    Vả lại, việc nêu tên ông ta trong thông báo sẽ khiến cho ông ta phải đọc nó vì tất cả những ai quen biết ông ta đều sẽ báo cho ông ta biết.

    Đây, anh Peterson, anh hãy nhanh chân chạy đến văn phòng quảng cáo và cho đăng mẩu tin này trên các báo ra buổi chiều tối nhé."

    "Những báo nào, thưa ông?"

    "Ồ, báo Globe, Star, Pall Mall, St.

    James's Gazette, Evening News, Standard, Echo và bất cứ tờ báo nào khác mà anh nghĩ ra."

    "Rõ rồi, thưa ông.

    Thế còn viên đá quý này?"

    "À, phải, tôi sẽ giữ nó.

    Cảm ơn anh.

    Còn nữa, Peterson, trên đường quay lại, anh nhớ mua một con ngỗng và để nó ở đây cho tôi, vì chúng ta phải trả một con ngỗng cho người đàn ông nọ thay cho con mà nhà anh đang nhâm nhi."

    Khi người gác cổng đã đi khuất, Holmes lấy viên đá quý ra và giơ lên trước ngọn đèn.

    "Thật là một vật đẹp đẽ", anh nói.

    "Hãy xem nó lấp lánh và rực rỡ làm sao.

    Tất nhiên nó chính là trọng tâm và tiêu điểm của tội ác.

    Mọi viên đá quý đều thế cả.

    Chúng là những miếng mồi của quỷ sứ dụ người ta lầm đường lạc lối.

    Với những viên đá quý lớn và cổ xưa hơn thì mỗi mặt đá quý tượng trưng cho một tội ác đẫm máu.

    Viên đá này chưa đến hai mươi năm tuổi.

    Nó được tìm thấy trên bờ sông Hạ Môn ở miền Nam Trung Quốc và nó nổi bật vì hội đủ mọi đặc tính của một viên thạch lựu ngoại trừ đặc điểm là có sắc xanh thay vì đỏ như hồng ngọc.

    Mặc dù độ tuổi hãy còn non nhưng lai lịch của nó cũng đầy tăm tối.

    Đã từng có hai vụ giết người, một vụ tạt axít, một vụ tự tử và vài vụ cướp bóc xảy ra chỉ vì viên than kết tinh có trọng lượng bốn mươi grain này.

    Ai dám nghĩ rằng một món đồ chơi đẹp đẽ thế này lại là vật đưa lối dẫn đường người ta đến giá treo cổ và nhà tù kia chứ?

    Tôi sẽ cho viên đá này vào trong két sắt ngay bây giờ và gửi vài chữ cho bà bá tước để báo tin là chúng ta đã tìm được nó."

    "Anh có nghĩ rằng gã Horner này vô tội không?"

    "Tôi chưa thể nói được."

    "Còn một người nữa, Henry Baker, anh có cho rằng ông ta có liên quan đến vụ việc này không?"

    "Tôi nghĩ rằng, nhiều khả năng Henry Baker là một người hoàn toàn vô tội, ông ta không biết con ngỗng mà mình đang mang lại có giá trị hơn cả một con ngỗng đúc bằng vàng khối.

    Tuy nhiên, tôi sẽ xác định điều này bằng một thử nghiệm rất đơn giản nếu mẩu thông báo của chúng ta được hồi đáp."

    "Và anh chẳng thể làm gì từ giờ cho đến lúc đó?"

    "Ừ."

    "Vậy thì tôi sẽ tiếp tục đi thăm bệnh.

    Nhưng tối nay tôi sẽ quay lại đúng giờ anh đã dặn, vì tôi rất muốn xem anh giải quyết vụ việc rắc rối này ra sao."

    "Rất vui được gặp lại anh.

    Tôi sẽ dùng bữa tối lúc 7 giờ.

    Có món chim dẽ đấy, tôi nghĩ vậy.

    Nhân sự kiện vừa mới xảy ra, có lẽ tôi cũng nên dặn bà Hudson kiểm tra diều của con chim dẽ xem sao."

    Tôi bị một bệnh nhân giữ chân nên hơn 6 giờ 30 một chút mới quay lại phố Baker.

    Khi gần đến căn nhà thì tôi trông thấy một người đàn ông cao ráo đội mũ nồi Scotland và mặc áo khoác cài khuy lên tận cằm đang đứng đợi ở bên ngoài trong vầng sáng hình bán nguyệt hắt ra từ khung cửa sổ hình quạt.

    Cánh cửa mở ra khi tôi vừa bước đến và cả hai chúng tôi cùng được mời vào căn phòng của Holmes.

    "Xin chào ông Henry Baker, nếu tôi không nhầm", anh đứng lên khỏi chiếc ghế bành và đón người khách với vẻ ung dung, hòa nhã mà anh luôn thể hiện rất dễ dàng.

    "Mời ông ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh lò sưởi, thưa ông Baker.

    Tối nay lạnh quá và tôi nhận thấy rằng tuần hoàn máu của ông hợp với mùa hè hơn là mùa đông.

    À, Watson này, anh đến đúng lúc lắm.

    Có phải đây là chiếc mũ của ông không, ông Baker?"

    "Vâng, thưa ông, đây chắc chắn là mũ của tôi."

    Ông ta là một người to lớn, vai tròn, đầu khá to, khuôn mặt đầy đặn ánh lên nét thông minh và chòm râu nhọn màu nâu đã lốm đốm bạc.

    Một vết ửng đỏ hiện lên ở mũi và hai gò má, còn bàn tay dài hơn người bình thường của ông ta thì khẽ run, gợi cho tôi nhớ lại sự phỏng đoán của Holmes về những thói quen của ông ta.

    Chiếc áo khoác màu đen đã bạc màu dài tới gối được cài nút cẩn thận, cổ áo dựng lên, hai cổ tay gầy gò thò ra ngoài tay áo khoác mà không thấy cổ tay áo sơmi đâu cả.

    Ông ta nói bằng giọng hơi ngắt quãng và chậm rãi, dùng từ cẩn trọng và tạo ấn tượng về một người có học thức và trí tuệ nhưng số phận lại không may.

    "Chúng tôi đã giữ những thứ này trong vài ngày", Holmes nói, "vì chúng tôi cứ chờ xem có thông báo nào từ phía ông kèm theo địa chỉ không.

    Tôi không rõ vì sao ông lại không cho rao tìm."

    Người khách khẽ cười với vẻ ngượng ngùng.

    "Độ này tôi không còn dư dả tiền bạc như trước", ông ta nói.

    "Tôi cũng chắc mẩm rằng bọn du côn tấn công tôi đã đem cả chiếc mũ lẫn con ngỗng đi.

    Tôi không muốn phải chi tiền để thử làm một việc vô vọng là tìm kiếm hai món đó."

    "Tất nhiên rồi.

    À, nhân tiện nói về con ngỗng, chúng tôi buộc phải ăn thịt nó rồi."

    "Ăn thịt nó!"

    Ông khách nhổm nửa người khỏi chiếc ghế, vẻ kích động.

    "Phải, nếu chúng tôi không ăn thì nó cũng hỏng mất.

    Nhưng tôi cho rằng con ngỗng đang nằm trên cái tủ kia nặng tương đương và hoàn toàn tươi sống cũng sẽ đáp ứng được yêu cầu của ông."

    "Ồ, chắc chắn rồi", ông Baker đáp và thở phào nhẹ nhõm.

    "Tất nhiên là chúng tôi hãy còn giữ lại bộ lông, hai cái chân và diều của con ngỗng trước, nếu như ông muốn..."

    Ông ta vui vẻ cười phá lên.

    "Những thứ đó có thể dùng làm kỉ vật cho chuyến phiêu lưu của tôi", ông ta đáp, "nhưng ngoài ra thì tôi chẳng thấy ba cái thứ disiecta membra của anh bạn gia cầm quá cố kia có ích gì cho tôi.

    Không, thưa ông, nếu ông cho phép, tôi xin tập trung sự chú ý vào con ngỗng ngon tuyệt mà tôi trông thấy đang nằm trên đầu tủ kia."

    Sherlock Holmes đưa mắt liếc nhanh về phía tôi kèm theo một cái nhún vai kín đáo.

    "Vậy thì, đây là cái mũ của ông, và đây là con ngỗng của ông", anh nói.

    "Nhân tiện, nếu không phiền, xin ông vui lòng cho biết là ông đã mua con ngỗng trước ở đâu?

    Tôi cũng khá thích gia cầm và hiếm khi được thấy một con ngỗng nào béo tốt như thế."

    "Được chứ, thưa ông", ông Baker nói trong lúc đứng dậy và cắp vật sở hữu mới có được vào dưới nách.

    "Trong đám chúng tôi có người thường lui tới quán rượu Alpha, gần viện bảo tàng - chúng tôi có mặt suốt ngày ở viện bảo tàng, ông hiểu chứ?

    Năm nay ông chủ quán tốt bụng tên Windigate đã lập ra câu lạc bộ ngỗng, nếu góp vào đó vài xu mỗi tuần thì mỗi người chúng tôi sẽ được một con ngỗng vào dịp Giáng sinh.

    Tôi đã đóng tiền đều đặn và phần cuối câu chuyện thì như ông đã biết.

    Tôi vô cùng cảm kích, thưa ông, vì mũ nồi Scotland chẳng phù hợp chút nào với độ tuổi cũng như vẻ nghiêm trang của tôi."

    Với vẻ khoa trương rất khôi hài, ông ta long trọng cúi đầu chào chúng tôi rồi sải bước ra về.

    "Phần ông Henry Baker thế là xong", Holmes nói sau khi đóng cửa.

    "Rõ ràng là ông ta không biết gì về vụ này.

    Anh đã đói chưa, Watson?"

    "Cũng chưa đói lắm."

    "Thế thì tôi đề nghị là chúng ta hãy hoãn bữa tối lại và lần theo đầu mối mới này trong khi nó hãy còn nóng hổi."

    "Hoàn toàn đồng ý."

    Đêm đó trời lạnh cắt da vì thế chúng tôi mặc áo choàng dài và quấn khăn kín cổ.

    Bên ngoài, những vì sao lạnh lẽo tỏa sáng trên bầu trời không một gợn mây và hơi thở của khách qua đường phả ra như khói từ nhiều khẩu súng lục vừa nhả đạn.

    Bước chân của chúng tôi vang lên mạnh mẽ và giòn giã trên đường đi qua khu Thầy Thuốc tại phố Wimpole, phố Harley rồi phố Wigmore để đến phố Oxford.

    Trong vòng mười lăm phút chúng tôi đã đến được quán Alpha ở Bloomsbury, đó là một tiệm rượu nhỏ nằm ở góc một trong những con phố dẫn đến khu Holbom.

    Holmes đẩy cửa quầy bar kín đáo và gọi người chủ quán đeo tạp dề trắng có khuôn mặt hồng hào cho hai li bia.

    "Bia của ông hẳn là tuyệt lắm nếu chất lượng cũng được như mấy con ngỗng của ông", anh nói.

    "Ngỗng của tôi!"

    Ông chủ tiệm rượu có vẻ ngạc nhiên.

    "Phải.

    Cách đây nửa giờ tôi mới nói chuyện với ông Henry Baker, một thành viên trong câu lạc bộ ngỗng của ông."

    "À!

    Phải rồi, tôi hiểu rồi.

    Nhưng thưa ông, đấy không phải là ngỗng của chúng tôi."

    "Vậy à?

    Thế thì là của ai?"

    "Là thế này, tôi đã mua hai tá của một người lái buôn ở Covent Garden."

    "Ra thế!

    Tôi có biết vài người ở đó.

    Là ai vậy?"

    "Tên anh ta là Breckinridge."

    "Ồ!

    Tôi lại không biết anh ta.

    Nào, xin chúc sức khỏe ông chủ và chúc gia đình ông thịnh vượng.

    Chúc ngủ ngon."

    "Giờ ta đến chỗ ông Breckinridge", anh nói tiếp và cài lại khuy áo choàng khi chúng tôi bước ra ngoài trời giá rét.

    "Watson này, phải nói rằng dù ở đầu dây này ta có một vật khá tầm thường là con ngỗng nhưng ở đầu dây kia chính là một người rất có thể sẽ bị kết tội bảy năm tù khổ sai trừ phi chúng ta có thể chứng minh được sự vô tội của anh ta.

    Cũng có thể kết quả cuộc điều tra của chúng ta lại khẳng định rằng anh ta có tội; nhưng dù sao thì chúng ta cũng đã có được một đường dây điều tra mà cảnh sát đã bỏ sót và một cơ hội hiếm có đang nằm trong tay ta.

    Bất kể khó khăn gian khổ thế nào, hãy đi theo nó đến cùng.

    Hướng về phía nam, bước đều, bước!"

    Chúng tôi băng qua khu Holborn, đi xuống phố Endell và vượt qua một dãy nhà ổ chuột ngoằn ngoèo để đến chợ Covent Garden.

    Một trong những cửa tiệm lớn nhất có tên Breckinridge và chủ tiệm là một người có bộ mặt dài như mặt ngựa, đầy vẻ tinh ranh với bộ râu quai nón được xén tỉa gọn gàng đang giúp một thằng bé đóng cánh cửa chớp.

    "Xin chào ông.

    Tối nay lạnh quá nhỉ", Holmes lên tiếng.

    Người lái buôn gật đầu và ném ánh mắt dò xét về phía bạn đồng hành của tôi.

    "Ngỗng của ông chắc là đã bán hết rồi, phải không?"

    Holmes nói tiếp và chỉ tay về phía những phiến đá cẩm thạch trống trơn.

    "Nếu sáng mai ông quay lại thì đến năm trăm con cũng có ngay."

    "Thế thì trễ quá!"

    "Bên cửa tiệm có ngọn đèn khí đốt kia hãy còn một mớ đấy."

    "Ấy nhưng người ta lại giới thiệu cho tôi cửa tiệm của ông."

    "Ai thế?"

    "Chủ quán rượu Alpha."

    "À, phải, tôi đã gửi cho ông ta hai tá."

    "Chỗ ấy ngon đấy.

    Ông mua ở đâu vậy?"

    Tôi kinh ngạc khi thấy ông chủ tiệm nổi cáu trước câu hỏi đó.

    "Này, ông kia", ông ta kêu lên, đầu ngẩng cao và hai tay chống nạnh, "ông muốn gì đây?

    Nói thẳng ra xem."

    "Thì tôi đã nói khá rõ rồi còn gì.

    Tôi muốn biết ai đã bán cho ông những con ngỗng mà ông bán lại cho quán Alpha."

    "À, tôi không nói đấy.

    Sao nào?"

    "Ôi, cũng chẳng sao, nhưng tôi không hiểu tại sao ông lại nổi nóng đến thế chỉ vì một chuyện cỏn con."

    "Nổi nóng à?

    Ông cũng sẽ nổi nóng như thế nếu cứ bị quấy rầy như tôi.

    Khi tôi đã trả tiền đầy đủ cho một món hàng tốt thì coi như xong; đằng này lại còn hỏi han, 'Này, ngỗng đâu hết rồi?' rồi lại 'ông bán ngỗng cho ai đấy?' với cả 'ông bán ngỗng được bao nhiêu tiền?' Làm gì mà nhặng xị cả lên, ai nghe lại tưởng trên đời chỉ có bấy nhiêu ngỗng không bằng."

    "Ra thế, tôi thì chẳng có liên quan gì đến lũ người cứ thích tra hỏi vớ vẩn", Holmes lơ đễnh nói.

    "Nếu ông không thích nói thì thôi không cá cược gì nữa.

    Nhưng nói về gia cầm thì tôi luôn giữ ý kiến của mình, tôi dám cá năm bảng là con ngỗng tôi vừa ăn là ngỗng quê."

    "Thế thì ông thua mất năm bảng rồi, nó được nuôi ở thành phố", ông lái buôn gắt gỏng.

    "Không thể nào."

    "Tôi bảo thế đấy!"

    "Tôi vẫn không tin."

    "Ông nghĩ là ông rành về gia cầm hơn tôi, kẻ đã bán ngỗng từ khi còn bé chắc?

    Nói cho ông biết, tất cả số ngỗng bán cho quán Alpha đều được nuôi ở thành phố."

    "Còn lâu tôi mới tin."

    "Đánh cược nhé?"

    "Ông chỉ tốn tiền vô ích thôi vì tôi biết chắc là mình đúng.

    Nhưng tôi sẽ bỏ ra một đồng sovereign để dạy cho ông bớt cứng đầu."

    Ông chủ tiệm cười đắc ý.

    "Đem mấy cuốn sổ đến đây, Bill", ông ta ra lệnh.

    Cậu bé đem đến một quyển sổ nhỏ mỏng dính và một quyển sổ to dính đầy dầu mỡ ở gáy, rồi đặt cả hai quyển dưới ngọn đèn treo.

    "Đây xin mời quý ông kiêu ngạo", ông lái buôn nói.

    "Tôi tưởng đã hết ngỗng rồi, ai ngờ hãy còn một con trong tiệm.

    Ông thấy quyển sổ nhỏ này chứ?"

    "Thì sao?"

    "Đây là danh sách những người giao ngỗng cho tôi.

    Ông thấy rồi chứ?

    Đây, trên trang này là những mối ở nông thôn và những con số nằm sau tên của họ là số trang có ghi tên của họ trong cuốn sổ to.

    Đây nhé, ông thấy trang viết bằng mực đỏ kia chứ?

    Đó là danh sách những nhà cung cấp ở thành phố.

    Đây, nhìn cái tên thứ ba này xem.

    Cứ đọc nó lên cho tôi nghe."

    "Bà Oakshott, 117 đường Brixton - 249", Holmes đọc.

    "Đúng thế.

    Giờ thì quay sang cuốn sổ to."

    Holmes lật đến trang được chỉ.

    "Đây rồi - Bà Oakshott, 117 đường Brixton, nhà cung cấp trứng và gia cầm."

    "Đấy, tiếp theo, hàng cuối cùng có ghi gì nào?"

    "Ngày 22 tháng 12.

    Hai mươi tư con ngỗng với giá bảy shilling sáu xu."

    "Đúng rồi đó.

    Còn hàng bên dưới?"

    "Bán cho ông Windigate ở quán Alpha với giá mười hai shilling."

    "Giờ thì ông nói sao?"

    Sherlock Holmes tỏ vẻ rất khó chịu.

    Anh móc từ trong túi ra một đồng sovereign, ném lên mặt quầy hàng rồi quay ngoắt đi như thể bực bội đến nỗi không nói được tiếng nào.

    Sau khi đi được vài yard, anh dừng lại dưới một cột đèn rồi cười vui vẻ mà không phát ra tiếng, vốn là kiểu rất riêng của anh.

    "Nếu anh gặp một người có bộ râu quai nón cắt tỉa kiểu như thế với một tờ pink 'un thò ra khỏi túi áo thì đảm bảo là anh sẽ dễ dàng khai thác được hắn ta bằng một vụ đánh cược", anh nói.

    "Tôi dám chắc cho dù có đặt một trăm bảng xuống trước mặt hắn thì hắn cũng không cung cấp đầy đủ thông tin bằng cái ý tưởng dụ cho hắn tin rằng hắn đang thắng tôi trong một vụ cá cược.

    Watson này, tôi cho rằng chúng ta đã gần đến đoạn kết của cuộc truy lùng rồi, và chỉ còn một điểm duy nhất cần phải quyết định là nên tiếp tục đến gặp bà Oakshott ngay tối nay hay là để dành việc đó sang ngày mai.

    Theo những gì cái gã thô lỗ đó nói thì rõ ràng ngoài chúng ta ra, còn có những người khác cũng đang nóng lòng về vụ này, và tôi sẽ..."

    Lời nhận xét của anh đột nhiên bị cắt ngang bởi tiếng ồn ào rất to vang lên từ cửa tiệm mà chúng tôi vừa đi khỏi.

    Khi quay lại nhìn, chúng tôi trông thấy một gã mặt chuột nhỏ con đứng giữa quãng ánh sáng màu vàng chiếu xuống từ ngọn đèn đang đu đưa qua lại, trong khi đó Breckinridge - ông chủ tiệm - đang đứng giữa khung cửa của gian hàng và hung tợn dứ dứ nắm đấm về phía con người khúm núm kia.

    "Ta đã chán ngấy lũ mi và mấy con ngỗng rồi", ông ta gào lên.

    "Mong sao tất cả đều bị quỷ bắt hết đi.

    Nếu mi còn đến đây quấy rầy ta với câu chuyện ngu xuẩn ấy nữa thì ta sẽ thả chó ra đấy.

    Cứ đưa bà Oakshott đến đây và ta sẽ trả lời bà ta, nhưng chuyện đó thì dính dáng gì đến mi?

    Ta có mua ngỗng của mi không?"

    "Không, nhưng dẫu sao thì một con trong số đó cũng là của tôi", người đàn ông nhỏ con rên rỉ.

    "Được, thế thì đi mà hỏi bà Oakshott."

    "Bà ta bảo tôi đến gặp ông."

    "Vậy thì cứ đi hỏi hoàng đế xứ Proosia ấy, ta đếch quan tâm.

    Ta đã chán ngấy chuyện đó rồi.

    Đi khỏi đây ngay!"

    Ông ta lao ra khỏi cửa một cách hung dữ và con người đến hỏi chuyện kia chuồn thẳng vào bóng đêm.

    "A!

    Có lẽ chuyện này sẽ giúp ta khỏi phải đến phố Brixton nữa", Holmes thì thầm.

    "Đi với tôi nào, để xem chúng ta có thể biết thêm được gì từ gã này."

    Chúng tôi sải bước qua những đám người rải rác đang la cà quanh những cửa tiệm đèn đóm sáng choang, anh bạn tôi nhanh chóng bắt kịp người đàn ông thấp bé và chạm vào vai hắn.

    Hắn quay phắt lại và trong ánh sáng của ngọn đèn khí đốt, tôi có thể thấy mặt hắn chẳng còn chút huyết sắc nào.

    "Ông là ai?

    Ông muốn gì?"

    Hắn hỏi với giọng run run.

    "Xin ông thứ lỗi", Holmes ôn tồn đáp, "nhưng tôi tình cờ nghe được những câu mà ông vừa hỏi chủ tiệm.

    Tôi nghĩ rằng mình có thể giúp được ông."

    "Ông ư?

    Nhưng ông là ai?

    Làm sao ông lại biết chuyện đó?"

    "Tôi tên là Sherlock Holmes.

    Công việc của tôi đòi hỏi phải tìm hiểu rõ những điều mà người khác không biết."

    "Nhưng làm sao ông biết gì được!"

    "Xin lỗi ông, tôi biết tất cả.

    Ông đang cố gắng lần theo dấu vết của những con ngỗng đã được bà Oakshott bán cho một người lái buôn tên là Breckinridge, sau đó ông này lại bán chúng cho ông Windigate ở quán Alpha và ông Windigate lại giao chúng cho một câu lạc bộ mà ông Henry Baker là một thành viên."

    "Ồ, thưa ông, ông chính là người mà tôi đang cần gặp", người đàn ông thấp bé kêu lên, hai bàn tay với ra và mấy ngón tay hơi run run.

    "Tôi không thể nói hết cho ông biết rằng tôi quan tâm đến việc đó như thế nào."

    Sherlock Holmes vẫy một cỗ xe ngựa bốn bánh đang phóng qua, "Nếu vậy chúng ta hãy bàn luận về việc này trong một căn phòng ấm áp thì hơn là giữa cái chợ lộng gió thế này", anh nói.

    "Nhưng trước khi chúng ta khởi hành, xin ông vui lòng cho biết tôi đang có hân hạnh được giúp ai đây?"

    Người đàn ông do dự một lúc rồi nói.

    "Tên tôi là John Robinson", anh ta đáp mà mắt liếc nhìn đi nơi khác.

    "Không, tôi muốn biết tên thật kia", Holmes nhẹ nhàng nói.

    "Bàn chuyện công việc bằng một cái tên giả thì lúc nào cũng cảm thấy lúng túng."

    Một vệt đỏ hiện lên trên hai gò má trắng nhợt của người lạ.

    "Thế thì..." anh ta nói, "tên thật của tôi là James Ryder."

    "Đúng vậy.

    Ông là trưởng nhóm phục vụ của khách sạn Cosmopolitan.

    Xin hãy vui lòng bước lên xe và tôi sẽ kể cho ông nghe những gì ông muốn biết."

    Người đàn ông thấp bé lần lượt nhìn từng người chúng tôi với ánh mắt nửa sợ hãi, nửa hi vọng như một người chưa biết mình sắp sửa nhận được một vận may bất ngờ hay lại là một tai họa.

    Rồi anh ta bước lên xe và ba mươi phút sau chúng tôi đã quay lại căn phòng khách ở phố Baker.

    Suốt dọc đường, chúng tôi chẳng ai nói với ai câu nào nhưng hơi thở rất mỏng manh của người đồng hành mới, cùng hai bàn tay anh ta hết đan vào nhau lại gỡ ra đã tiết lộ tâm trạng căng thẳng bồn chồn của anh ta.

    "Đã về đến nhà rồi!"

    Holmes phấn khởi reo lên khi chúng tôi lần lượt vào phòng.

    "Giữa thời tiết thế này mà được ngồi bên lò sưởi thì thật là tuyệt.

    Hẳn là ông rét lắm, ông Ryder.

    Xin mời ngồi vào chiếc ghế mây này.

    Tôi chỉ còn phải xỏ chân vào đôi dép đi trong nhà nữa là đã sẵn sàng để giải quyết vấn đề nho nhỏ mà ông đang quan tâm.

    Nào, chắc là ông muốn biết về tình trạng hiện giờ của mấy con ngỗng đó?"

    "Vâng, thưa ông."

    "Hay đúng hơn là về con ngỗng đó.

    Tôi cho rằng ông chỉ quan tâm đến một con thôi, là cái con màu trắng có một vệt đen vạch ngang qua đuôi."

    Ryder rùng mình vì xúc động, "ôi, thưa ông", anh ta kêu lên, "ông có thể cho tôi biết nó đã đi tới đâu không?"

    "Nó đã đến đây."

    "Ở đây?"

    "Đúng vậy, và là một con ngỗng rất khác thường.

    Tôi không hề ngạc nhiên nếu ông quan tâm đến nó.

    Sau khi chết, nó còn đẻ được một quả trứng, một quả trứng màu xanh nhỏ xíu sáng lấp lánh và tuyệt đẹp mà chưa ai từng thấy.

    Tôi hãy còn giữ nó trong bảo tàng của mình."

    Người khách của chúng tôi lảo đảo mấy bước và dùng tay phải bấu chặt lấy mặt lò sưởi.

    Holmes mở cái két và lấy ra viên ngọc màu xanh lấp lánh như một ngôi sao với những tia sáng lạnh lẽo, rực rỡ tỏa thành nhiều điểm lung linh.

    Ryder đứng nhìn trân trân vào viên đá quý với vẻ mặt u buồn, chưa biết nên nhận hay từ chối.

    "Trò chơi đã kết thúc rồi, ông Ryder", Holmes bình thản nói.

    "Cố mà đứng cho vững kẻo lại ngã vào lò sưởi đấy!

    Giúp hắn ngồi vào ghế đi, Watson.

    Hắn có gan làm mà không có gan chịu.

    Phiền anh lấy cho hắn một chút rượu mạnh.

    Đấy!

    Giờ thì trông hắn đã ra hồn người được một chút.

    Rõ là đồ hèn!"

    Hắn loạng choạng mất một lúc, gần như ngã quỵ, nhưng rồi hớp rượu mạnh đã đem lại chút khí sắc trên hai gò má hắn, và hắn ngồi xuống, nhìn chăm chú vào người cáo buộc mình bằng đôi mắt kinh hoàng.

    "Tôi đã nắm trong tay hầu hết mọi mắt xích và đầy đủ bằng chứng mà tôi có thể sẽ cần đến, vì thế ông chỉ cần nói rất ít thôi.

    Tuy vậy, bấy nhiêu đó cũng cần được làm sáng tỏ để khép lại vụ này.

    Ryder, ông đã nghe nói về viên thạch lựu xanh của nữ bá tước Morcar phải không?"

    "Catherine Cusack đã kể cho tôi nghe về nó", hắn nói bằng giọng run lập cập.

    "Tôi biết, đó là cô hầu của bà bá tước.

    Và việc trở nên giàu có một cách dễ dàng quá hấp dẫn ông, cũng như nó đã từng hấp dẫn nhiều người có phẩm cách tốt đẹp hơn cả ông; thế nhưng những biện pháp mà ông thực hiện không được cẩn thận cho lắm.

    Mà theo tôi thấy thì ông có tố chất của một kẻ bất lương đấy, Ryder.

    Ông biết rằng Horner, anh thợ sửa ống nước, trước đây từng dính líu đến vụ gì đó tương tự và người ta sẽ càng dễ dàng nghi ngờ anh ta.

    Thế rồi, ông đã làm gì?

    Ông đã tiến hành vài bước chuẩn bị nho nhỏ trong phòng của nữ bá tước - chính ông và kẻ đồng lõa, cô nàng Cusack - rồi ông thu xếp sao cho anh ta được gọi tới.

    Sau khi anh ta đi thì ông lục lọi cái hộp nữ trang và bấm chuông báo động rồi làm cho con người bất hạnh đó bị bắt giam.

    Sau đó, ông..."

    Đột nhiên Ryder buông phịch người xuống tấm thảm và níu chặt lấy đầu gối bạn tôi.

    "Vì Chúa, xin hãy thương xót!"

    Hắn gào lên, "xin hãy nghĩ đến cha tôi!

    Xin hãy thương hại mẹ tôi!

    Họ sẽ tan nát cõi lòng mất.

    Trước đây tôi chưa hề làm điều gì bậy bạ!

    Và tôi sẽ không bao giờ tái phạm nữa.

    Tôi xin thề.

    Tôi sẽ thề trước Kinh Thánh, ôi, xin ông đừng đưa tôi ra tòa.

    Vì Chúa, xin đừng làm điều đó!"

    "Hãy trở lại ghế của ông đi!"

    Holmes lạnh lùng nói.

    "Giờ thì ông quỳ lạy và van xin mới dễ dàng làm sao, nhưng trước đó ông có để tâm gì đến anh thợ Horner khốn khổ bị đưa ra tòa vì một tội lỗi mà anh ta chẳng hề hay biết đâu."

    "Tôi sẽ biến mất, thưa ông Holmes.

    Tôi sẽ rời khỏi nước Anh.

    Khi đó thì lời buộc tội anh ta sẽ trở nên vô hiệu."

    "Hừm!

    Ta sẽ bàn về điều đó sau.

    Giờ thì ông hãy giải thích tường tận cho chúng tôi nghe về sự việc xảy ra tiếp theo.

    Làm thế nào mà viên ngọc lại lọt vào bụng con ngỗng và nó bị đưa ra chợ bán ra sao?

    Hãy kể hết sự thật vì chỉ có sự trung thực mới đem lại cho ông tia hi vọng được an toàn."

    Ryder lè lưỡi liếm đôi môi khô khốc.

    "Tôi sẽ kể cho ông nghe đúng như những gì đã diễn ra, thưa ông." hắn nói.

    "Khi Horner bị bắt, tôi cho rằng tốt nhất là phải chuồn đi cùng với viên đá ngay lập tức vì tôi không biết khi nào thì cảnh sát nghĩ đến việc lục soát người tôi và tìm kiếm trong phòng tôi.

    Trong khách sạn không có chỗ nào an toàn cả.

    Tôi bèn ra ngoài, giả vờ như đang giải quyết công việc và đi về phía nhà chị tôi.

    Chị ấy lấy một người tên là Oakshott và sống ở đường Brixton, ở đó chị ấy vỗ béo gia cầm để đem ra chợ bán.

    Trên đường đi, nhìn thấy bất cứ ai tôi cũng tưởng là cảnh sát hay thám tử, và dù đêm đó trời rất lạnh, mồ hôi cứ túa ra khắp mặt tôi trước khi tôi đến được đường Brixton.

    Chị tôi hỏi có chuyện gì mà trông tôi xanh xao thế, nhưng tôi chỉ trả lời là do quá căng thẳng về vụ mất cắp nữ trang ở khách sạn rồi đi ra sân sau để hút một tẩu thuốc và suy nghĩ xem nên làm gì là tốt nhất.

    Tôi có một người bạn tên là Maudsley, đó là một kẻ sa ngã vừa mới hết hạn tù ở Pentonville.

    Một ngày nọ, hắn gặp tôi và kể về những mánh khóe của bọn trộm cùng với cách bọn chúng tống đi những món đồ đã trộm được.

    Tôi biết hắn sẽ thành thật với tôi vì tôi có biết vài điều về hắn, thế là tôi quyết định sẽ đi thẳng đến Kilburn là nơi hắn sinh sống và thổ lộ hết với hắn.

    Hắn sẽ chỉ cho tôi cách đổi viên đá lấy tiền.

    Nhưng làm thế nào để đến được chỗ hắn một cách an toàn?

    Tôi nghĩ đến sự căng thẳng tột độ mà mình đã trải qua trên đường từ khách sạn đến nhà chị gái.

    Tôi có thể bị bắt và lục soát bất cứ lúc nào mà viên đá thì vẫn còn nằm trong túi chiếc áo khoác tôi đang mặc.

    Lúc đó tôi đang tựa người vào tường và nhìn ngắm mấy con ngỗng đang lạch bạch đi quanh chân mình và đột nhiên một ý nghĩ vụt lóe lên trong đầu tôi, chỉ cho tôi cách để che mắt ngay cả viên thám tử giỏi giang nhất.

    Trước đó vài tuần chị tôi có nói rằng tôi có thể chọn một con trong bầy ngỗng của chị để làm quà Giáng sinh và tôi biết chị luôn giữ lời hứa.

    Tôi định chọn ra một con ngỗng và đem viên ngọc nằm trong bụng nó đến Kilburn.

    Trong sân có một cái chuông nhỏ và tôi lùa một con trong đàn ra phía sau chuồng - đó là một con ngỗng to đẹp, lông trắng, đuôi có một vạch đen.

    Tôi chộp lấy con ngỗng và cạy cho nó hé mỏ ra.

    Tôi ấn mạnh viên đá vào sâu trong cổ họng nó đến hết tầm ngón tay.

    Con ngỗng nuốt đánh ực một cái và tôi cảm thấy viên đá trôi qua họng rồi xuống đến diều của nó.

    Nhưng đột nhiên con vật vỗ cánh phành phạch, vùng vẫy chống cự và chị tôi chạy ra sân để xem chuyện gì đang xảy ra.

    Khi tôi quay lại nói chuyện với chị thì nó tuột khỏi tay tôi và đập cánh bay đến nhập hội với những con kia.

    'Chú đang làm gì với con ngỗng đó thế hả Jem?' Chị tôi hỏi.

    Tôi đáp, 'À, có lần chị bảo là sẽ cho em một con vào lễ Giáng sinh và em đang xem con nào béo nhất!'

    'Ồ', chị nói, 'anh chị đã chọn riêng cho chú một con rồi - con ngỗng của Jem, bọn chị đặt tên cho nó như thế.

    Đó là cái con to béo có bộ lông trắng ở tít đằng kia kìa.

    Có tất cả hai mươi sáu con, một con cho chú và một con cho bọn chị, còn lại hai mươi bốn con để đem ra chợ bán.'

    'Cảm ơn chị, Maggie', tôi nói, 'nhưng nếu chị thấy con nào cũng như con nào thì em thích cái con mà em vừa cầm trong tay hơn.'

    'Con kia nặng hơn những ba pound cơ', chị tôi thốt lên, 'và bọn chị đã nhồi nó để dành riêng cho chú đấy.'

    'Không sao.

    Em sẽ lấy con lúc nãy, em bắt nó đây', tôi nói.

    'Ừ, thì tùy chú,' chị tôi nói, có vẻ hơi bực bội.

    'Chú muốn con nào đây?'

    'Cái con lông trắng có vạch đen ở đuôi kia, ngay chính giữa đàn ấy!'

    'Được rồi!

    Giết nó đi rồi đem về.'

    Thế là tôi làm theo lời chị tôi, ông Holmes ạ, và đem con ngỗng đến tận Kilburn.

    Tôi kể cho bạn tôi nghe những gì mình đã làm vì hắn là người mà tôi có thể dễ dàng chia sẻ những chuyện như thế.

    Hắn cười sằng sặc rồi chúng tôi lấy một con dao và mổ bụng con ngỗng ra.

    Tim tôi như tan thành nước vì chẳng thấy dấu vết của viên đá đâu cả và tôi biết mình đã phạm sai lầm ghê gớm.

    Tôi bỏ con ngỗng lại, hối hả chạy về nhà chị tôi và lao vụt ra sân sau.

    Không còn con ngỗng nào ở đó nữa.

    'Chúng đâu hết cả rồi, chị Maggie?' Tôi gào lên.

    'Đến chỗ cửa tiệm rồi, Jem.'

    'Tiệm nào?'

    'Tiệm của ông Breckinridge ở chợ Covent Garden.'

    'Nhưng còn một con nữa cũng có vạch đen ở đuôi,' tôi hỏi, 'giống cái con mà em đã chọn phải không?'

    'Phải đấy, Jem.

    Có tất cả hai con có vạch đen ở đuôi, đến chị cũng không thể nào phân biệt được chúng.'

    Vậy là mọi chuyện đã rõ và tôi lấy hết sức chạy thật nhanh đến gặp tay lái buôn Breckinridge; thế nhưng hắn ta đã bán cả bầy cùng một lúc và không thèm nói cho tôi biết là đã bán chúng đi đâu.

    Lúc tối nay, chính tai ông cũng đã nghe hắn nói rồi đấy.

    Hắn cứ luôn miệng nói với tôi bằng cái giọng ấy.

    Chị tôi thì nghĩ rằng tôi sắp điên.

    Có đôi khi tôi cũng nghĩ chắc là mình điên thật.

    Còn bây giờ... tôi đã là một tên trộm thật sự, dù rằng tôi chưa hề chạm được đến sự giàu sang mà vì nó tôi đã bán mất thanh danh của mình.

    Ôi, xin Chúa cứu giúp con!

    Chúa hãy rủ lòng thương con!"

    Hắn bỗng òa khóc nức nở, vùi mặt vào hai bàn tay.

    Im lặng kéo dài mất một lúc, chỉ còn nghe thấy tiếng thở nặng nề của hắn và tiếng Sherlock Holmes đều đặn gõ mấy ngón tay lên cạnh bàn.

    Thế rồi bạn tôi đứng dậy và mở rộng cửa.

    "Đi đi!"

    Anh bảo.

    "Sao ạ, thưa ông?

    Ôi, cầu Chúa phù hộ cho ông!"

    "Không nói nữa.

    Đi ngay!"

    Và không cần phải nói thêm lời nào nữa.

    Vì chúng tôi đã nghe thấy tiếng chân bước hối hả xuống cầu thang, tiếng cánh cửa đóng sầm lại và tiếng giày khua nhanh dưới mặt đường.

    "Watson này", Holmes nói khi vươn tay ra để với lấy cái tẩu thuốc bằng gốm, "rốt cuộc thì tôi cũng không phải là người được cảnh sát thuê để bổ khuyết cho những thiếu sót của họ.

    Nếu như Horner gặp nguy hiểm thì lại là chuyện khác; nhưng gã này sẽ không ra làm chứng buộc tội anh ta đâu và thế là vụ án sẽ khép lại.

    Tôi có cảm giác mình đang giảm nhẹ một trọng tội, thế nhưng cũng có thể tôi đang cứu vớt một linh hồn.

    Gã này rồi đây sẽ không phạm thêm lỗi lầm nào nữa; hắn quá hoảng sợ mà.

    Nếu giờ ta tống giam hắn thì sẽ biến hắn thành một kẻ vào tù ra khám suốt đời.

    Ngoài ra, đây cũng là khoảng thời gian để dung thứ.

    Sự tình cờ đã xếp đặt trên đường ta đi một vấn đề vô cùng kì lạ và quái dị, và lời giải cho vấn đề đó cũng chính là phần thưởng.

    Bác sĩ này, nếu anh vui lòng bấm chuông hộ tôi, chúng ta sẽ bắt đầu một cuộc khám xét mới trong đó nhân vật chính cũng sẽ là một con vật có cánh."
     
    Sherlock Holmes Toàn Tập
    DẢI BĂNG LỐM ĐỐM (The Speckled Band, 1892)


    Trong khi đọc lướt qua những ghi chép về hơn bảy mươi vụ án mà trong tám năm gần đây tôi đã dùng làm tư liệu để nghiên cứu các phương pháp của anh bạn Sherlock Holmes, tôi tìm thấy rất nhiều tấn bi kịch, một số chuyện khôi hài, vô số trường hợp lạ lùng nhưng không có vụ nào tầm thường cả; bởi anh làm việc vì tình yêu với nghệ thuật của riêng mình chứ không phải vì của cải nên anh đã từ chối tham gia vào bất cứ vụ điều tra nào không có khuynh hướng bất thường và thậm chí là kì quái.

    Tuy vậy, trong tất cả những vụ án muôn màu muôn vẻ đó, tôi không thể nhớ ra được vụ nào mang nhiều yếu tố độc đáo hơn câu chuyện có dính líu đến dòng họ Roylott nổi tiếng ở Stoke Moran gần hạt Surrey.

    Những sự kiện ấy xảy ra vào thời điểm tôi mới hợp tác với Sherlock Holmes, khi chúng tôi còn là những anh chàng độc thân thuê chung căn hộ ở phố Baker.

    Đúng ra là tôi đã có thể đưa câu chuyện này vào bộ hồ sơ từ trước, nhưng vào thời gian đó tôi bị ràng buộc bởi một lời cam kết phải giữ bí mật và chỉ được phép công bố vào tháng vừa rồi sau cái chết yểu của người phụ nữ mà tôi đã hứa hẹn.

    Có lẽ bây giờ cũng nên đưa những sự kiện này ra ánh sáng vì tôi có nhiều lí do để tin rằng nhiều lời đồn đại đã lan truyền về cái chết của bác sĩ Grimesby Roylott khiến cho sự việc trở nên rùng rợn hơn thực tế.

    Chuyện xảy ra vào một buổi sớm tháng 4 năm 1883, khi tôi thức dậy thì đã thấy Sherlock Holmes đứng ở bên giường, quần áo chỉnh tề.

    Anh vốn là người dậy muộn, vậy mà cái đồng hồ trên mặt lò sưởi cho tôi thấy lúc ấy mới 7 giờ 15, tôi hấp háy mắt nhìn anh với vẻ ngạc nhiên và có lẽ kèm theo đôi chút bực bội vì tôi vốn là người có thói quen điều độ.

    "Vô cùng xin lỗi vì đã đánh thức anh dậy, Watson ạ", anh nói, "nhưng sáng nay cả nhà ta cùng chịu chung số phận.

    Bà Hudson bị tiếng gõ cửa dựng dậy, bà ấy trút nó lên tôi, còn tôi thì đổ lên anh."

    "Có chuyện gì vậy, cháy nhà sao?"

    "Không, một thân chủ.

    Có vẻ như một cô gái trẻ đã đến đây trong tình trạng rất kích động, cô ta nhất định đòi gặp tôi.

    Lúc này cô ta đang đợi trong phòng khách.

    Khi những người phụ nữ trẻ lên tận thủ đô vào lúc rạng sáng thế này và đánh thức những người còn đang ngái ngủ phải chui ra khỏi giường thì tôi đoán rằng họ cần phải nói điều gì đó rất khẩn cấp.

    Nếu đó là một vụ lí thú thì tôi tin chắc rằng anh sẽ rất muốn được theo dõi ngay từ đầu.

    Vì thế tôi nghĩ dù sao cũng nên gọi anh dậy và tạo cho anh cơ hội."

    "Bạn thân mến, tôi sẽ không đời nào chịu bỏ qua dịp này đâu."

    Đối với tôi thì không gì vui hơn là được theo chân Holmes trong những cuộc điều tra chuyên nghiệp của anh và thán phục những suy luận nhanh chóng, mau lẹ như được rút ra từ trực giác nhưng luôn dựa trên một cơ sở logic mà nhờ đó anh đã làm sáng tỏ những vấn đề được đưa đến cho anh.

    Tôi vội vã mặc quần áo và chỉ trong vài phút đã sẵn sàng đi xuống phòng khách cùng bạn mình.

    Một phụ nữ mặc y phục đen và đeo mạng che kín mặt đang ngồi bên cửa sổ, cô ta đứng dậy khi thấy chúng tôi bước vào.

    "Chào buổi sáng, thưa cô", Holmes vui vẻ nói.

    "Tôi là Sherlock Holmes.

    Còn đây là người bạn thân và cũng là cộng sự của tôi, bác sĩ Watson, cô có thể thoải mái nói chuyện trước mặt anh ấy cũng như với tôi vậy.

    Ha!

    Rất mừng vì bà Hudson đã tinh ý nhóm lửa.

    Xin mời cô ngồi gần lại lò sưởi, và tôi sẽ gọi cho cô một cốc cà phê nóng vì tôi nhận thấy là cô đang rét run."

    "Tôi run không phải vì lạnh", người phụ nữ khẽ đáp và dịch chiếc ghế lại theo lời đề nghị.

    "Thế thì vì lí do gì?"

    "Là nỗi sợ, ông Holmes ạ.

    Đó là một nỗi kinh hoàng."

    Cô vén tấm mạng lên trong khi nói và chúng tôi có thể thấy quả thật cô ta đang ở trong tình trạng lo lắng rất đáng thương, khuôn mặt buồn rầu và tái xám, đôi mắt lộ rõ nỗi khiếp đảm và bồn chồn, như mắt một con thú đang bị săn đuổi.

    Nét mặt và hình dáng cô ta trông chỉ mới độ ba mươi nhưng tóc đã sớm lốm đốm bạc còn giọng nói thì buồn bã và mệt mỏi.

    Sherlock Holmes nhìn lướt cô ta với ánh mắt tinh nhanh và thấu hiểu.

    "Cô đừng sợ", anh dịu dàng nói, hơi nghiêng người về đằng trước và vỗ nhẹ lên tay cô.

    "Tôi dám chắc là chúng tôi sẽ giải quyết vấn đề nhanh thôi.

    Tôi thấy rằng cô đã đến đây bằng chuyến tàu sáng."

    "Ông biết tôi chăng?"

    "Không, nhưng tôi nhìn thấy chiếc vé chiều về đang nằm trong chiếc găng bên trái của cô.

    Hẳn là cô đã phải khởi hành từ rất sớm và còn phải ngồi trong một cỗ xe ngựa hai bánh qua những đoạn đường mấp mô trước khi đến được nhà ga."

    Cô ta giật nẩy mình và nhìn bạn tôi chằm chằm với vẻ bối rối.

    "Không có gì là bí ẩn cả, thưa cô", anh mỉm cười và nói.

    "Cánh tay trái của chiếc áo ngoài cô đang mặc có không dưới bảy chỗ lấm bùn.

    Những dấu vết này hãy còn rất mới.

    Chỉ có xe ngựa hai bánh mới làm bùn bắn lên như thế và chỉ khi cô ngồi bên tay trái của người xà ích thôi."

    "Bất kể ông suy luận bằng cách gì nhưng ông hoàn toàn đúng", cô nói.

    "Tôi rời nhà đi từ trước 6 giờ, đến thị trấn Leatherhead lúc 6 giờ 20 và lên chuyến tàu đầu tiên đi Waterloo.

    Thưa ông, sự căng thẳng này quả thật vượt quá sức chịu đựng của tôi; tôi sẽ hóa điên mất thôi nếu tình trạng này cứ tiếp diễn.

    Tôi chẳng có ai để trông cậy...

    à không, ngoại trừ một người quan tâm đến tôi nhưng anh ấy, một chàng trai nghèo khó lại không giúp được gì nhiều cho tôi.

    Tôi có nghe nói về ông, thưa ông Holmes, tôi đã nghe bà Farintosh kể về ông, bà ấy đã được ông giúp đỡ vào lúc cần thiết nhất.

    Cũng nhờ bà ta mà tôi có được địa chỉ của ông.

    Ôi, thưa ông, ông có nghĩ rằng ông cũng có thể ra tay cứu giúp tôi, hay ít ra thì cũng soi rọi chút ánh sáng vào bóng tối dày đặc đang bao phủ quanh tôi?

    Lúc này đây tôi không có khả năng đền đáp sự giúp đỡ của ông, nhưng trong vòng một tháng hoặc sáu tuần nữa, khi tôi lấy chồng thì với quyền được kiểm soát thu nhập của riêng mình, có lẽ tôi sẽ không bị ông cho là kẻ vô ơn."

    Holmes quay lại bàn làm việc, mở ngăn kéo và lấy ra một cuốn sổ ghi chép mỏng rồi tra cứu trong đó.

    "Farintosh", anh nói.

    "À, vâng, tôi nhớ ra trường hợp này rồi, nó có liên quan đến một chiếc mũ miện đính ngọc mắt mèo.

    Tôi nghĩ rằng chuyện này đã xảy ra trước khi tôi gặp anh, Watson ạ.

    Thưa cô, tôi chỉ có thể nói rằng tôi rất sẵn lòng dành sự quan tâm cho trường hợp của cô như tôi đã làm trong trường hợp của bạn cô.

    Còn về sự đền đáp thì công việc của tôi tự nó đã là phần thưởng rồi; nhưng nếu cô muốn thì cô có thể thanh toán cho tôi bao nhiêu tiền và vào thời điểm nào thích hợp nhất cho cô cũng được.

    Và giờ thì xin cô hãy trình bày cho chúng tôi nghe tất cả những gì có thể giúp chúng tôi hình dung ra vấn đề."

    "Chao ôi!"

    Vị khách trả lời.

    "Điều kinh khủng nhất trong tình cảnh của tôi hiện nay lại nằm ở chỗ những nỗi lo sợ của tôi rất đỗi mơ hồ, và những mối nghi ngờ của tôi hoàn toàn dựa vào những điểm nhỏ nhặt mà có lẽ trong mắt người khác là rất tầm thường, đến nỗi ngay cả anh ấy - người duy nhất mà tôi có thể trông đợi sự giúp đỡ và những lời khuyên - cũng xem tất cả những điều tôi kể cho anh ấy nghe là sự tưởng tượng của một phụ nữ hay lo sợ.

    Anh ấy chẳng nói vậy đâu, nhưng tôi có thể đọc được ý nghĩ đó từ những câu trả lời trấn an và đôi mắt né tránh của anh ấy.

    Nhưng, thưa ông Holmes, tôi nghe nói ông có thể nhìn sâu vào sự độc ác muôn mặt của lòng dạ con người, ông có thể cho tôi lời khuyên làm thế nào để tránh né được những mối nguy đang vây quanh."

    "Tôi đang rất chăm chú lắng nghe đây, thưa cô."

    "Tôi tên là Helen Stoner và hiện đang sống với cha dượng, ông ấy là người cuối cùng còn lại của một trong những gia tộc Saxon lâu đời nhất của nước Anh, dòng họ Roylott xứ Stoke Moran, tại vùng giáp ranh phía tây hạt Surrey."

    Holmes gật đầu.

    "Tôi có biết cái họ đó", anh nói.

    "Đã có thời dòng họ này được xếp vào hàng giàu có bậc nhất nước Anh và những điền trang của họ trải dài qua các ranh giới đến tận Berkshire ở phía bắc và Hampshire ở phía tây.

    Tuy nhiên, đến thế kỉ vừa rồi, bốn thế hệ liên tiếp đã chơi bời phóng đãng và tiêu xài phung phí, để rồi cuối cùng dòng họ ấy hoàn toàn suy tàn bởi một con bạc trong thời kì Nhiếp chính."

    "Gia sản chẳng còn gì ngoại trừ vài mẫu đất và một căn nhà đã hai trăm năm tuổi, mà căn nhà này cũng đã đem ra cầm cố.

    Người điền chủ cuối cùng đã mòn mỏi sống cuộc đời thảm hại của một nhà quý tộc nghèo túng ở đó, nhưng người con trai duy nhất của ông, tức là cha dượng tôi, đã nhận ra mình phải thích nghi với hoàn cảnh mới.

    Ông được một người bà con cho vay một món tiền giúp ông học lên cao và lấy được tấm bằng bác sĩ rồi đi Calcutta, ở đó, nhờ vào tay nghề và tính cách mạnh mẽ, ông đã mở được một phòng khám lớn.

    Tuy nhiên, trong một lần cả giận mất khôn vì vài vụ trộm xảy ra trong nhà, ông đã đánh viên quản gia người bản xứ đến chết và suýt thì lĩnh án tử hình.

    Trong tình cảnh đó, ông phải chịu một án tù dài và sau đó thì quay về nước Anh, trở thành một người rầu rĩ và bất đắc chí.

    Khi còn ở Ấn Độ, bác sĩ Roylott đã kết hôn với mẹ tôi, bà Stoner, góa phụ trẻ của thiếu tướng Stoner thuộc sư đoàn pháo binh tại Bengal.

    Chị Julia và tôi là hai chị em sinh đôi, khi mẹ tôi đi bước nữa thì hai chị em tôi mới lên hai.

    Mẹ tôi có một món tiền khá lớn - không dưới một ngàn bảng lợi tức mỗi năm - và bà lập di chúc để lại toàn bộ món tiền này cho bác sĩ Roylott khi chúng tôi còn sống chung với ông với điều khoản là một phần lợi tức hằng năm này phải được chia cho chị em tôi khi chúng tôi kết hôn.

    Chỉ một thời gian ngắn sau khi quay về nước Anh thì mẹ tôi qua đời - bà mất trong một tai nạn xe lửa gần Crewe tám năm trước.

    Sau đó bác sĩ Roylott từ bỏ nỗ lực gây dựng sự nghiệp của mình ở London và đưa chị em tôi về sống cùng ông trong ngôi nhà do tổ tiên ông để lại ở Stoke Moran.

    Số tiền mẹ tôi để lại đủ để trang trải cho mọi nhu cầu của chúng tôi và có vẻ như chẳng còn điều gì ảnh hưởng đến cuộc sống hạnh phúc của gia đình tôi.

    Thế nhưng trong khoảng thời gian đó, cha dượng tôi đã thay đổi một cách đáng sợ.

    Thay vì làm quen và đáp lại những cuộc thăm viếng của những người hàng xóm lúc đầu tỏ ra rất vui mừng khi thấy một người của dòng họ Roylott ở Stoke Moran quay trở về ngôi nhà cũ thì ông lại suốt ngày ru rú ở trong nhà và rất ít khi bước ra ngoài, và hễ ra ngoài là gây gổ dữ dội với bất kì ai giáp mặt ông trên đường đi.

    Tính khí hung bạo đến mức gần như điên cuồng vốn là đặc tính di truyền của những người đàn ông trong dòng họ này, và tôi tin rằng với cha dượng tôi thì đặc tính ấy lại càng mạnh mẽ hơn do quãng thời gian dài sống ở miền nhiệt đới.

    Một loạt những vụ cãi lộn rất đáng xấu hổ đã xảy ra, trong đó có đến hai vụ kết thúc ở tòa vi cảnh, cho đến khi rốt cuộc ông trở thành nỗi kinh hoàng của cả làng và mọi người ai cũng lánh xa ông vì ông có sức khỏe hơn người và hoàn toàn không kiềm chế được mỗi khi lên cơn nóng giận.

    Tuần vừa rồi, cha dượng tôi đã quẳng người thợ rèn trong làng qua bờ tường thấp xuống suối và tôi đã phải chi hết số tiền mình dành dụm được thì mới có thể ngăn chặn tai tiếng lan khắp làng, ông chẳng có bạn bè nào ngoại trừ đám dân digan, và ông cho phép những kẻ du đãng ấy dựng lều trên vài mẫu đất chỉ có bụi mâm xôi mọc hoang là điền sản của dòng họ còn sót lại, và đổi lại ông được tiếp đón ân cần trong khu lều trại của họ, thỉnh thoảng còn lang thang cùng cả đám đến vài tuần, ông cũng đam mê những con thú có nguồn gốc Ấn Độ được một người bạn thường trao đổi thư từ gửi sang, lúc này thì ông đang nuôi một con báo ghêpa và một con khỉ đầu chó, cả hai được thả rông trong khu đất quanh nhà và dân làng cũng sợ chúng như sợ ông chủ của chúng vậy.

    Qua những gì tôi kể thì hẳn là ông cũng có thể thấy rằng chị Julia tội nghiệp và tôi chẳng có mấy niềm vui trong cuộc sống.

    Không có người hầu nào muốn làm cho chúng tôi và suốt một thời gian dài chị em tôi phải tự tay lo hết mọi việc trong nhà.

    Chị ấy mất khi mới ba mươi tuổi và lúc đó tóc của chị ấy đã bắt đầu bạc như tóc tôi."

    "Chị cô qua đời rồi à?"

    "Chị ấy mất hai năm trước và tôi muốn kể cho ông nghe về cái chết của chị ấy.

    Chắc ông cũng hiểu rằng với cuộc sống mà tôi đã miêu tả thì chị em tôi có rất ít cơ hội để gặp gỡ những người cùng trang lứa và địa vị.

    Tuy vậy, chúng tôi có một bà bác là chị gái của mẹ tôi, hãy còn độc thân, bác Honoria Westphail, sống gần Harrow và họa hoằn lắm chị em tôi mới được phép đến thăm nhà bác trong một thời gian ngắn.

    Hai năm trước, chị Julia đến đó vào dịp Giáng sinh và gặp một thiếu tá hải quân, rồi chị đính hôn cùng anh ta.

    Lúc chị trở về nhà thì cha dượng tôi biết được tin đó và ông cũng không tỏ ý phản đối cuộc hôn nhân này; thế nhưng trước ngày tổ chức đám cưới chưa đầy nửa tháng thì một biến cố khủng khiếp đã xảy ra và cướp mất người duy nhất bầu bạn với tôi."

    Nãy giờ Holmes vẫn dựa vào lưng ghế, mắt nhắm nghiền và đầu lún sâu vào một chiếc nệm, nhưng lúc này anh hé mắt và nhìn về phía vị khách.

    "Xin cô hãy kể lại chính xác đến từng chi tiết", anh nói.

    "Việc này rất dễ đối với tôi vì từng sự kiện trong khoảng thời gian đáng sợ đó đều khắc sâu vào kí ức tôi.

    Tòa dinh thự của trang viên, như tôi đã nói lúc nãy, rất xập xệ và chỉ còn một bên cánh là có người ở.

    Các phòng ngủ ở cánh này đều ở tầng một, phòng khách thì nằm ở khối giữa của tòa nhà.

    Trong các phòng ngủ thì phòng đầu tiên là của bác sĩ Roylott, phòng thứ nhì là của chị tôi còn tôi thì ở phòng thứ ba.

    Chúng không ăn thông với nhau nhưng có chung một hành lang.

    Tôi tả như thế có rõ ràng không, thưa ông?"

    "Rất rõ."

    "Các cửa sổ của ba phòng này trông xuống bãi cỏ.

    Vào cái đêm tai họa đó, bác sĩ Roylott về phòng từ sớm nhưng chúng tôi biết ông ấy chưa ngủ vì chị tôi cảm thấy khó chịu với mùi xì gà Ấn Độ rất nặng mà ông ấy thường hút.

    Do đó, chị rời phòng và sang phòng tôi một lát để tán chuyện về đám cưới sắp diễn ra.

    Đến 11 giờ khuya thì chị đứng dậy để về phòng, nhưng chị chợt dừng lại ở ngưỡng cửa và ngoảnh lại.

    'Em nói xem, Helen', chị ấy nói, 'có bao giờ em nghe thấy tiếng ai đó huýt sáo vào lúc đêm hôm không?'

    'Em chưa nghe thấy bao giờ', tôi đáp.

    'Chị nghĩ rằng em đâu thể huýt sáo trong khi ngủ, đúng không?'

    'Chắc chắn là không rồi.

    Nhưng sao chị lại hỏi vậy?'

    'Vì mấy đêm vừa rồi, cứ vào khoảng 3 giờ sáng là chị lại nghe thấy một tiếng huýt sáo khe khẽ nhưng rất rõ.

    Chị ngủ không sâu nên tiếng động đó làm chị thức giấc.

    Chị không thể khẳng định được nó phát ra từ đâu - có thể là từ phòng bên cạnh mà cũng có thể là từ phía bãi cỏ.

    Chị đã định hỏi xem em có nghe thấy hay không.'

    'Không, em không nghe thấy gì cả.

    Chắc là cái đám digan cùng mạt trong điền trang rồi.'

    'Có thể lắm.

    Tuy nhiên nếu nó vọng đến từ phía bãi cỏ thì chị thắc mắc là tại sao em lại không nghe thấy.'

    'À, nhưng em ngủ say hơn chị mà.'

    'Ừ, dù sao thì điều đó cũng không quan trọng lắm.' Chị mỉm cười với tôi rồi khép cửa phòng tôi lại và chỉ vài giây sau đó tôi nghe tiếng chị xoay chìa trong ổ khóa phòng chị."

    "Thế à", Holmes nói.

    "Các cô vẫn luôn khóa cửa phòng vào ban đêm à?"

    "Vâng, đêm nào cũng thế."

    "Tại sao?"

    "Tôi nghĩ tôi đã kể cho ông nghe là ông bác sĩ có nuôi một con báo ghêpa và một con khỉ đầu chó.

    Chỉ khi khóa cửa phòng lại thì chị em tôi mới thấy yên tâm."

    "Đúng thế.

    Xin cô hãy kể tiếp."

    "Đêm đó tôi không sao ngủ được.

    Cảm giác mơ hồ về một điều không may sắp xảy ra cứ in sâu trong đầu tôi.

    Hai chị em tôi, hẳn ông còn nhớ, là chị em sinh đôi và ông cũng biết rằng hai tâm hồn thân thuộc với nhau như thể được gắn kết với nhau bằng những mối liên hệ vi diệu đến mức nào.

    Đó là một đêm giông bão, bên ngoài gió cứ gào rít và mưa quất ràn rạt vào cửa sổ.

    Thình lình, giữa tiếng ồn ào của cơn bão chợt vang lên tiếng thét man dại của một người phụ nữ trong cơn kinh hoàng.

    Tôi nhận ra đó chính là tiếng của chị tôi.

    Tôi nhảy vụt khỏi giường, quấn khăn choàng vào người và chạy vội ra hành lang.

    Khi mở cửa ra, tôi cảm thấy dường như có tiếng huýt sáo nho nhỏ giống như chị tôi đã mô tả, và vài giây sau thì một âm thanh vang dội nổi lên giống như tiếng một khối kim loại rơi xuống.

    Lúc tôi chạy dọc theo hành lang thì nhìn thấy cửa phòng chị tôi không khóa và nó đang xoay chầm chậm quanh bản lề.

    Tôi khiếp sợ nhìn vào khung cửa, không biết điều gì sẽ hiện ra ở đó.

    Dưới ánh sáng của ngọn đèn trong hành lang, tôi trông thấy chị tôi xuất hiện ở khung cửa, mặt chị trắng bệch vì kinh hoàng, hai bàn tay dò dẫm tìm sự giúp đỡ, thân hình lảo đảo như say rượu.

    Tôi chạy đến bên chị và ôm chầm lấy chị, nhưng lúc đó hai đầu gối của chị như đã mềm nhũn và chị ngã xuống đất.

    Chị quằn quại như đang phải chịu một cơn đau đớn cực độ và chân tay co giật trông rất đáng sợ.

    Mới đầu tôi tưởng chị không nhận ra tôi, nhưng khi tôi cúi xuống thì chị đột nhiên hét lên bằng một giọng mà tôi sẽ không bao giờ quên được, 'Ôi, Chúa ơi!

    Helen!

    Có một băng!

    Một cái băng lốm đốm!' Chị còn muốn nói điều gì nữa và chỉ ngón tay về phía phòng của bác sĩ, nhưng một cơn co giật khác lại ập đến và bóp nghẹt lời chị.

    Tôi vùng chạy ra, gọi cha dượng thật to và trông thấy ông khoác áo choàng ngủ hấp tấp bước ra khỏi phòng.

    Khi ông bước đến bên chị tôi thì chị đã ngất đi và dù ông đổ rượu mạnh vào họng chị và cho gọi thầy thuốc trong làng đến nhưng mọi cố gắng đều vô ích vì chị tôi đã từ từ lả đi và tắt thở, không còn tỉnh lại được nữa.

    Người chị yêu dấu của tôi đã chết một cách khủng khiếp như thế."

    "Cho tôi hỏi một câu", Holmes nói, "cô có chắc là đã nghe thấy tiếng huýt sáo và tiếng vang của kim loại không?

    Cô có thể khẳng định dứt khoát chứ?"

    "Pháp y viên của hạt cũng hỏi tôi câu đó tại buổi thẩm vấn.

    Tôi có cảm giác rất rõ là mình đã nghe thấy những tiếng động ấy, tuy nhiên giữa tiếng ồn của cơn bão và những tiếng cót két phát ra từ căn nhà cũ thì cũng có thể tôi đã nghe lầm."

    "Lúc đó chị cô ăn mặc chỉnh tề chứ?"

    "Không, chị ấy đang mặc áo ngủ.

    Tay phải chị ấy cầm một mẩu diêm đã cháy còn tay trái thì cầm một hộp diêm."

    "Điều đó cho thấy chị cô đã quẹt diêm để xem xét chung quanh khi tiếng động phát ra.

    Chi tiết này rất quan trọng.

    Thế pháp y viên kết luận ra sao?"

    "Ông ấy điều tra vụ việc rất tỉ mỉ, vì hành vi của bác sĩ Roylott từ lâu đã khét tiếng trong cả hạt, thế nhưng ông ấy không sao tìm ra bất kì nguyên nhân thỏa đáng nào dẫn đến cái chết.

    Lời khai của tôi chỉ rõ cửa ra vào được cài chặt từ bên trong và các cửa sổ được che chắn bằng loại cửa chớp kiểu cũ có những thanh sắt to bản và cứ hễ tối đến, chúng tôi lại đóng chặt cửa.

    Các bức tường được kiểm tra kĩ lưỡng và cho thấy tất cả đều khá vững chắc.

    Người ta cũng khám xét toàn bộ sàn nhà và kết quả cũng vậy.

    Ống khói thì rộng nhưng đã được chắn bằng bốn thanh chắn lớn.

    Vì vậy, chắc chắn là chị tôi chỉ có một mình trước khi chết.

    Ngoài ra, cũng không tìm thấy những dấu vết bạo hành trên cơ thể chị."

    "Thế còn khả năng bị đầu độc thì sao?"

    "Các bác sĩ cũng đã khám nghiệm thi thể chị để tìm chất độc nhưng không thấy gì."

    "Vậy theo cô thì cô gái bất hạnh ấy chết vì lí do gì?"

    "Tôi nghĩ rằng chị mình đã chết vì quá hoảng sợ và chấn động thần kinh dù tôi không thể hình dung ra vật gì đã làm cho chị khiếp đảm đến thế."

    "Lúc đó, những người digan có ở trong điền trang không?"

    "Có, hầu như lúc nào cũng có mấy người ở đó."

    "À, thế cô có phỏng đoán gì từ lời ám chỉ đến cái băng lốm đốm?"

    "Đôi khi tôi nghĩ đó chỉ là lời nói lung tung trong cơn mê sảng, có lúc tôi lại nghĩ có lẽ đó là một băng nhóm, biết đâu chính là đám digan trong điền trang.

    Tôi không biết từ 'lốm đốm' mà chị nói có phải là để chỉ chính những chiếc khăn lốm đốm mà nhiều người trong đám ấy buộc trên đầu không."

    Holmes lắc đầu với vẻ không vừa ý chút nào.

    "Hãy còn nhiều bí ẩn sâu xa lắm", anh nói.

    "Mời cô kể tiếp."

    "Đã hai năm trôi qua kể từ đêm đó và cuộc sống của tôi càng hiu quạnh hơn bao giờ hết.

    Tuy vậy, vào tháng trước, một người bạn thân mà tôi quen biết nhiều năm đã ngỏ lời cầu hôn với tôi.

    Anh ấy tên là Armitage - Percy Armitage, là con trai thứ của ông Armitage ở Crane Water, gần Reading.

    Cha dượng tôi không phản đối cuộc hôn nhân này và chúng tôi sẽ làm lễ cưới vào giữa mùa xuân.

    Hai hôm trước, người ta bắt đầu sửa chữa cánh tây của tòa nhà, và tường phòng tôi đã bị đập thủng nên tôi phải sang ngủ trong căn phòng nơi chị tôi đã qua đời, và ngủ trên chính chiếc giường mà chị đã nằm.

    Ông thử tưởng tượng nỗi kinh hoàng của tôi đêm qua khi tôi đang nằm thức trắng, suy nghĩ về cái chết thảm thương của chị tôi thì giữa màn đêm tĩnh lặng chợt vang lên tiếng huýt sáo nho nhỏ vốn là điềm báo tử của chị ấy.

    Tôi vùng dậy khỏi giường và thắp đèn lên nhưng chẳng nhìn thấy gì trong phòng.

    Tuy thế tôi vẫn hoảng sợ quá nên không dám trở lại giường, thế là tôi mặc sẵn quần áo và đợi đến khi trời rạng sáng thì lẻn ra ngoài, bắt một cỗ xe ngựa hai bánh ở quán trọ Crown đối diện nhà và đi đến Leatherhead, từ đó tôi đi thẳng đến đây với mục đích duy nhất là tìm gặp ông và xin ông cho lời khuyên."

    "Cô đã hành xử rất đúng đắn", bạn tôi nhận xét.

    "Nhưng cô đã kể hết chưa?"

    "Thưa ông, hết rồi."

    "Không phải thế đâu, cô Roylott.

    Cô đang che giấu cho ông bố dượng."

    "Sao cơ, ý ông là gì?"

    Thay cho lời đáp, Holmes vén diềm chiếc găng trên bàn tay đang đặt trên đầu gối của cô.

    Trên cổ tay trắng ngần còn in rõ năm đốm nhỏ là dấu vết của năm ngón tay.

    "Cô đã bị ngược đãi", Holmes nói.

    Cô ta đỏ bừng mặt và che chỗ cổ tay bị thương.

    "Cha dượng tôi là một người khắc nghiệt", cô nói, "và có lẽ ông ấy không nhận thức được sức mạnh của mình."

    Cả ba chúng tôi cùng im lặng một lúc lâu, Holmes ngồi chống cằm và nhìn chăm chú vào ngọn lửa đang reo lách tách.

    "Đây là một vụ hết sức bí ẩn", cuối cùng anh cũng cất tiếng.

    "Có đến hàng ngàn chi tiết mà tôi mong muốn được hiểu rõ trước khi quyết định phương hướng hành động.

    Nhưng dẫu sao chúng ta cũng không còn nhiều thời gian để bỏ phí.

    Nếu chúng ta đến Stoke Moran ngay hôm nay, liệu chúng tôi có thể xem xét ba căn phòng đó mà không để cha dượng cô hay biết được không?"

    "Tình cờ làm sao, ông ấy có nói là hôm nay sẽ đi lên London để thu xếp một số công việc rất quan trọng.

    Có thể ông ấy sẽ phải vắng nhà cả ngày và sẽ chẳng có gì quấy rầy các ông.

    Hiện giờ chúng tôi có một người quản gia nhưng bà ấy đã già và rất ngờ nghệch, tôi có thể dễ dàng dụ bà ấy ra khỏi nhà."

    "Tuyệt lắm.

    Anh không từ chối chuyến đi này chứ, Watson?"

    "Tất nhiên là không rồi."

    "Thế thì cả hai chúng ta cùng đi.

    Cô có định làm gì nữa không?"

    "Tôi còn vài việc muốn làm nhân dịp vào thành phố.

    Nhưng tôi sẽ quay về bằng chuyến tàu lúc 12 giờ nên tôi sẽ có mặt ở nhà để chờ các ông đến."

    "Vậy thì có thể chúng tôi sẽ đến vào đầu giờ chiều.

    Tôi cũng còn vài việc vặt đang chờ.

    Cô nán lại một lát để dùng bữa điểm tâm với chúng tôi nhé?"

    "Ồ, không, tôi phải đi ngay.

    Đầu óc tôi đã nhẹ nhõm hẳn kể từ lúc thổ lộ được điều phiền muộn của mình với ông.

    Tôi rất mong được gặp lại các ông vào buổi chiều nay."

    Cô ta buông tấm mạng đen dày xuống che mặt và đi lướt ra khỏi phòng.

    "Anh nghĩ gì về tất cả những chuyện này hả Watson?"

    Sherlock Holmes hỏi khi tựa lưng vào ghế.

    "Với tôi thì có lẽ đây là một vụ rất mờ ám và hung hiểm."

    "Đúng là rất mờ ám và hung hiểm."

    "Tuy nhiên, nếu lời kể của cô gái đó về việc kiểm tra tường và sàn nhà và việc cửa ra vào, cửa sổ cùng với ống khói không thể xâm nhập được là đúng thì rõ ràng chị của cô ta đã ở một mình khi cái chết bí hiểm kia ập đến."

    "Vậy anh nghĩ thế nào về những tiếng huýt sáo trong đêm và những lời nói hết sức lạ lùng của chị cô ta lúc sắp chết?"

    "Tôi chưa thể nghĩ ra điều gì cả."

    "Khi liên kết các chi tiết tiếng huýt sáo trong đêm, sự hiện diện của một băng nhóm digan có mối quan hệ thân mật với lão bác sĩ già, việc lão là người được hưởng lợi nếu ngăn chặn đám cưới của cô con gái riêng của vợ, lời ám chỉ trước khi chết về một dải băng hoặc một băng nhóm và cuối cùng là chi tiết cô Helen Stoner nghe thấy tiếng vang rền của kim loại - có thể là do một trong những thanh chắn bằng sắt bảo vệ cánh cửa chớp phát ra khi nó rơi trở lại vị trí cũ, tôi cho là ta có cơ sở vững chắc để tin rằng bí ẩn này có thể được làm sáng tỏ dựa theo những đường hướng đó."

    "Thế thì những người digan đã làm gì?"

    "Tôi chưa thể hình dung ra."

    "Tôi thấy có rất nhiều yếu tố chống lại giả thuyết mà anh vừa nói."

    "Tôi cũng nghĩ vậy.

    Chính vì lí do đó mà hôm nay chúng ta sẽ đến Stoke Moran.

    Tôi muốn xem liệu những yếu tố chống lại giả thuyết của tôi có vững không hay ít nhất cũng hiểu rõ sự thể hơn.

    Nhưng gì kia, lại chuyện quái quỷ gì nữa..."

    Lời vừa thốt ra khỏi miệng bạn tôi thì cánh cửa đột nhiên bật tung ra và một người đàn ông lực lưỡng đã đứng ở khung cửa.

    Y phục của ông ta là sự kết hợp kì cục giữa cách ăn vận của viên chức và nông dân, gồm có một chiếc mũ chóp cao màu đen, áo măng tô dài đến gối và một đôi ghệt, trong tay ông ta lại còn vung vẩy một chiếc roi ngựa, ông ta cao đến nỗi cái mũ quệt cả vào khung cửa và bề ngang của ông ta gần như choán hết bề rộng khung cửa.

    Khuôn mặt to bè, hằn sâu vô số nếp nhăn, vàng sạm vì cháy nắng và khắc tạc từng nét dục vọng xấu xa đang hướng về phía chúng tôi, đảo từ người này sang người kia, còn đôi mắt trũng sâu và vàng khè cùng cái mũi cao mỏng lét khiến cho ông ta trông giống một con chim săn mồi già nua hung dữ.

    "Ai là Holmes?"

    Người mới xuất hiện hỏi.

    "Là tôi, thưa ông, vì ông đã biết tên tôi, vậy tên ông là gì?"

    Bạn tôi nhỏ nhẹ đáp lời.

    "Ta là bác sĩ Grimesby Roylott ở Stoke Moran."

    "Ra thế, chào bác sĩ", Holmes ôn tồn nói.

    "Xin mời ông ngồi."

    "Ta không thèm.

    Con gái ta vừa mới ở đây.

    Ta đã bám theo nó.

    Nó đã nói với các anh những gì?"

    "Mới tháng này mà trời đã khá lạnh nhỉ", Holmes nói.

    "Nó đã nói gì với bọn mi?"

    Ông già gầm lên giận dữ.

    "Nhưng tôi nghe nói hoa nghệ tây chắc sẽ nở rộ đấy", bạn tôi vẫn điềm tĩnh nói.

    "Ha!

    Định lảng tránh hả?"

    Ông khách mới đến vừa nói vừa bước lên phía trước một bước và vung cây roi ngựa lên.

    "Ta biết mi mà, tên vô lại.

    Ta đã từng nghe nói về mi.

    Mi chính là Holmes, kẻ chuyên nhúng mũi vào chuyện của người khác."

    Bạn tôi mỉm cười.

    "Holmes, kẻ lăng xăng!"

    Nụ cười của anh nở rộng hơn.

    "Holmes, kẻ vô danh tiểu tốt ở Sở Cảnh sát London mà cứ tưởng rằng ta đây ghê gớm lắm!"

    Holmes vui vẻ cười to.

    "Ông nói chuyện mới ngộ làm sao", anh nói.

    "Khi nào ông bước ra thì nhớ đóng cửa lại để tránh gió lùa vào nhà tôi."

    "Nói xong những gì cần nói là ta đi liền.

    Đừng có táo gan mà xen vào chuyện của ta.

    Ta biết rằng con Stoner đã đến đây.

    Ta đi theo nó mà!

    Đụng đến ta là nguy hiểm lắm đấy!

    Xem đây này."

    Ông ta bước nhanh về phía trước, chộp lấy que cời lửa và bẻ cong nó bằng đôi tay nâu sạm to tướng của mình.

    "Xem đấy, liệu mà tránh xa bàn tay của ta", ông ta gầm gừ và ném mạnh que cời cong queo vào lò sưởi rồi sải bước ra khỏi phòng.

    "Lão ta có vẻ là người rất dễ mến đây", Holmes vừa nói vừa cười lớn.

    "Tuy tôi không được to con cho lắm nhưng nếu lão ta còn ở lại đây thì tôi cũng có thể cho lão thấy tay tôi không hề yếu hơn tay lão."

    Vừa nói anh vừa nhặt que cời bằng thép lên và bất ngờ uốn thẳng nó trở lại.

    "Lão dám láo xược đánh đồng tôi với lực lượng thám tử nhà nước!

    Chuyện này làm cho cuộc điều tra của chúng ta thêm phần hứng thú đây, tuy nhiên, tôi hi vọng cô gái bé nhỏ sẽ không phải chịu hậu quả nào vì đã bất cẩn để cho lão cục súc này theo dõi.

    Watson này, giờ thì ta kêu dọn bữa điểm tâm lên thôi, rồi tôi sẽ đi xuống khu Dân Luật, mong rằng tôi sẽ kiếm được một ít tư liệu có thể giúp ích cho chúng ta trong vụ này."

    Khi Sherlock Holmes trở về thì đã gần 1 giờ trưa.

    Anh cầm trong tay một mảnh giấy màu xanh da trời viết nguệch ngoạc những dòng chữ và vài con số.

    "Tôi đã xem bản di chúc của người vợ quá cố", anh nói.

    "Để xác định chính xác ý nghĩa của nó tôi buộc phải tính toán thời giá của những khoản đầu tư có liên quan.

    Tổng lợi tức vào thời điểm bà ấy chết là gần 1.100 bảng và hiện giờ, nông sản sụt giá nên chỉ còn 750 bảng là cùng.

    Mỗi cô con gái có quyền đòi hỏi một khoản lợi tức là 250 bảng khi đi lấy chồng.

    Do đó, nếu cả hai cô đều lập gia đình thì rõ ràng số tiền hấp dẫn kia chẳng còn lại bao nhiêu, thậm chí chỉ một đám cưới thôi cũng làm cho lão bị thiệt hại đáng kể.

    Công việc tôi làm sáng nay chẳng hề vô ích vì nó đã chứng minh được là lão có những động cơ rất mạnh để ngăn chặn chuyện đó.

    Giờ thì sự việc nghiêm trọng lắm rồi nên không thể chậm trễ được, Watson ạ, đặc biệt là khi lão già đã biết chúng ta rất quan tâm đến việc của lão, do đó, nếu anh đã chuẩn bị xong thì ta sẽ gọi một cỗ xe và đi đến Waterloo.

    Tôi sẽ rất biết ơn nếu anh bỏ khẩu súng lục vào túi.

    Một khẩu Eleys số 2 là lí lẽ phù hợp để tranh luận với một quý ông có thể uốn cong que cời thép.

    Ta chỉ cần súng và bàn chải đánh răng, tôi cho là thế."

    ***

    Đến Waterloo, chúng, tôi may mắn bắt được luôn chuyến tàu đi Leatherhead, ở đó chúng tôi thuê một cỗ xe nhẹ hai bánh ở quán trọ của nhà ga và đi độ bốn, năm dặm qua những con đường mòn đẹp đẽ của hạt Surrey.

    Hôm đó là một ngày tuyệt đẹp, mặt trời tỏa sáng rực rỡ và chỉ có vài đám mây xốp nhẹ trôi lờ lững trên cao.

    Cây cối và những hàng giậu ven đường vừa mới nhú những chồi xanh đầu tiên, không khí thấm đẫm mùi đất ẩm dễ chịu.

    Riêng tôi thì lại thấy có một sự tương phản kì lạ giữa những dấu hiệu ngọt ngào của mùa xuân và cuộc điều tra nguy hiểm mà chúng tôi đang dấn thân vào.

    Bạn tôi ngồi ở phía trước xe, hai tay khoanh lại, mũ kéo sụp xuống ngang mắt và cằm tì sát ngực, anh đang đắm chìm trong những suy nghĩ sâu xa.

    Thình lình, anh choàng tỉnh dậy, vỗ vai tôi và chỉ về phía bên kia những bãi cỏ.

    "Anh nhìn kìa!"

    Anh bảo tôi.

    Một bãi đất có nhiều cây gỗ kéo dài lên một sườn dốc thoai thoải, và khi lên đến đinh đồi thì cây cối mọc rậm rạp thành rừng.

    Giữa những cành cây nhô lên những chóp mái màu xám và cái đòn nóc cao của một tòa biệt thự rất cổ kính.

    "Đó có phải là Stoke Moran không?"

    Anh hỏi.

    "Vâng, thưa ông, đó là nhà bác sĩ Grimesby Roylott", tay xà ích đáp.

    "Sắp đến một tòa nhà ở đằng kia", Holmes nói, "ta sẽ đến đó."

    "Kia là ngôi làng", tay xà ích nói và chỉ một cụm mái nhà nằm hơi xa một chút về bên trái, "nhưng nếu các ông muốn đến ngôi nhà ấy, hãy đi lên cái ụ đất này rồi theo con đường đất băng qua mấy cánh đồng thì đường sẽ gần hơn.

    Chỗ có người phụ nữ đang đi kia kìa."

    "Và người phụ nữ ấy, tôi đoán là cô Stoner", Holmes nhận xét khi đưa tay lên che mắt cho bớt chói.

    "Vâng, tôi nghĩ chúng tôi nên đi theo lối anh vừa chỉ thì hay hơn."

    Chúng tôi xuống trả tiền xe, rồi cỗ xe lại lọc cọc chạy về Leatherhead.

    "Tôi nghĩ như vậy là tốt", Holmes nói khi chúng tôi trèo lên ụ đất.

    "Chúng ta nên để tay xà ích nghĩ rằng chúng ta đến đây với tư cách là những kiến trúc sư hoặc là vì một công việc kinh doanh nào đó.

    Có thế anh ta mới khỏi ba hoa.

    Xin chào cô Stoner.

    Cô xem, chúng tôi giữ đúng lời hứa đấy chứ."

    Vị thân chủ đã gặp chúng tôi lúc sáng vội vã bước đến để gặp chúng tôi với vẻ mặt mừng rỡ.

    "Tôi đợi các ông mà nóng ruột quá", cô kêu lên và nồng nhiệt bắt tay chúng tôi.

    "Mọi chuyện đang rất xuôi chèo mát mái.

    Bác sĩ Roylott đã lên phố và chắc là ông ta khó mà về kịp trước tối nay?"

    "Chúng tôi đã có hân hạnh được làm quen với bác sĩ", Holmes nói, và kể vắn tắt những gì đã xảy ra.

    Nghe xong, mặt cô Stoner trắng bệch ra.

    "Lạy trời!"

    Cô kêu lên, "vậy là ông ta đã theo dõi tôi."

    "Có vẻ là thế."

    "Ông ta thật quỷ quyệt khiến tôi chẳng thể biết được khi nào mình mới thoát được ông ta.

    Về nhà ông ta sẽ nói sao đây?"

    "Lão sẽ phải cảnh giác vì có thể lão đã biết có người còn xảo quyệt hơn đang lần theo lão.

    Tối nay cô phải khóa cửa phòng mình để tránh gặp lão.

    Nếu lão giở trò hung bạo thì chúng tôi sẽ đưa cô đến nhà người bác ở Harrow.

    Giờ thì chúng tôi phải tận dụng tối đa thời gian, vì thế xin hãy vui lòng dẫn chúng tôi đến những căn phòng mà chúng tôi sẽ xem xét."

    Tòa nhà bằng đá xám, loang lỗ vết địa y, có phần giữa được xây cao và hai cánh uốn cong trông như càng cua xòe ra hai bên.

    Ở bên cánh, các cửa sổ đã bị vỡ và được bít lại bằng những tấm ván còn mái thì đã sụp ở vài nơi, rõ là một hình ảnh điêu tàn.

    Phần nhà giữa được sửa sang khá hơn đôi chút, nhưng khối nhà bên tay phải thì tương đối hiện đại với những tấm rèm buông ở cửa sổ và làn khói xanh bốc lên từ mấy ống khói cho thấy đó là nơi sinh hoạt của gia đình.

    Một bộ giàn giáo đã được dựng sát vào bờ tường cuối dãy và đá xây tường bị đục vỡ toang nhưng vào lúc chúng tôi đến xem thì chẳng thấy bóng dáng của anh thợ xây nào cả.

    Holmes chậm rãi đi đi lại lại trên bãi cỏ được xén nham nhở và xem xét rất chăm chú phần bên ngoài của mấy khung cửa sổ.

    "Tôi đoán rằng cái cửa sổ này thuộc về căn phòng ngủ trước đây của cô, căn ở giữa là phòng của chị cô và căn nằm kế bên tòa nhà chính là phòng ngủ của bác sĩ Roylott, đúng không?"

    "Đúng thế.

    Nhưng hiện giờ tôi ngủ trong căn phòng ở giữa."

    "Theo như tôi hiểu thì đó chỉ là tạm thời trong khi chờ sửa chữa.

    Tiện thể tôi xin hỏi, hình như không có gì cấp bách khiến ông bác sĩ buộc phải sửa chữa bức tường cuối dãy thì phải."

    "Không có gì cả.

    Tôi tin rằng đó chỉ là cái cớ để bắt tôi ra khỏi căn phòng của mình."

    "À!

    Điều này đáng lưu ý đây.

    Bây giờ ta sẽ xem đến hành lang chung của ba căn phòng này ở phía bên kia nhà.

    Tất nhiên là phía ấy cũng có cửa sổ, phải không?"

    "Vâng, nhưng những cửa sổ đó rất nhỏ.

    Quá hẹp nên chẳng ai có thể chui qua được."

    "Vì cả hai chị em cô đều khóa cửa phòng vào ban đêm nên không ai có thể vào phòng của các cô từ phía đó.

    Giờ thì mời cô bước vào phòng và cài cánh cửa chớp lại."

    Cô Stoner làm theo và sau khi xem xét kĩ lưỡng thông qua cánh cửa sổ để mở, Holmes gắng sức dùng đủ cách để thử mở cánh cửa chớp nhưng đều thất bại.

    Không hề có khe hở nào để có thể lách một con dao vào mà nhấc thanh chắn lên.

    Sau đó, anh xem xét mấy cái bản lề bằng kính lúp, nhưng chúng đều bằng sắt đặc và được gắn chặt vào bức tường.

    "Hừm!"

    Anh vừa nói vừa gãi cằm với vẻ lúng túng, "chắc chắn là giả thuyết của tôi đã gặp vài trở ngại.

    Khi mấy cánh cửa chớp này được cài then thì không ai có thể chui qua.

    Nào, ta hãy xem thử có thể làm sáng tỏ vấn đề từ bên trong hay không."

    Một cánh cửa nhỏ ở bên hông dẫn vào một hành lang quét vôi trắng chạy dọc theo ba căn phòng ngủ.

    Holmes không muốn xem xét căn phòng thứ ba cho nên chúng tôi đi thẳng đến căn thứ nhì, là căn phòng mà hiện giờ cô Stoner đang sử dụng và cũng là nơi trước đó chị cô đã qua đời.

    Đó là một căn phòng nhỏ ấm cúng, trần thấp và có một lò sưởi hở theo kiểu những ngôi nhà vùng quê thời xưa.

    Một chiếc tủ có ngăn kéo bằng gỗ nâu đặt trong một góc phòng, còn góc bên kia là chiếc giường hẹp phủ khăn trải giường trắng và một bàn trang điểm ở bên trái cửa sổ.

    Nếu không tính đến tấm thảm dày hình vuông nằm chính giữa phòng thì tất cả những thứ kể trên cùng với hai chiếc ghế nhỏ bằng gỗ liễu gai là tất cả đồ đạc trong phòng.

    Những tấm ván lát sàn và gỗ ốp tường bằng gỗ sồi màu nâu đã bị mọt ăn lỗ chỗ, rất cũ kĩ và bạc màu, có lẽ đã được dùng từ ngày ngôi nhà mới được dựng lên.

    Holmes kéo một chiếc ghế vào góc phòng và ngồi yên lặng tại đó, hai mắt dõi nhìn khắp phòng, từ trên xuống dưới, không bỏ sót một chi tiết nào.

    "Sợi dây chuông này dẫn đến đâu nhỉ?"

    Cuối cùng anh lên tiếng hỏi, chỉ vào sợi dây kéo chuông to dày treo thòng xuống bên cạnh giường, quả tua của nó còn nằm trên cái gối.

    "Nó dẫn đến phòng của bà quản gia."

    "Trông nó có vẻ mới hơn những đồ vật khác?"

    "Vâng, nó mới được đặt ở đó độ vài năm thôi."

    "Tôi đoán là do chị cô yêu cầu?"

    "Không, tôi chưa bao giờ nghe nói chị dùng đến nó.

    Chúng tôi đã quen tự đi lấy những thứ cần thiết rồi."

    "Nếu vậy thì có vẻ không cần phải neo một sợi dây chuông đẹp đẽ đến thế ở chỗ này.

    Xin cô chờ cho vài phút để tôi kiểm tra sàn phòng."

    Anh cầm kính lúp nằm sấp xuống, nhanh chóng trườn đi trườn lại, xem xét cặn kẽ từng khe hở giữa các tấm ván.

    Rồi đến gỗ ốp tường anh cũng kiểm tra như thế.

    Cuối cùng, anh bước lại gần chiếc giường và chăm chú nhìn nó một lúc rồi đưa mắt nhìn bức tường từ dưới lên trên.

    Sau rốt, anh nắm lấy sợi dây chuông và giật nhanh một phát.

    "Ồ, đây là một cái chuông giả", anh nói.

    "Nó không reo sao?"

    "Không, thậm chí nó còn không gắn vào một sợi dây nữa."

    "Thật là lạ lùng.

    Cô có thể thấy rằng nó được buộc vào một cái móc nằm ngay trên lỗ hổng nho nhỏ để thông gió."

    "Thật vô lí!

    Trước đây tôi chưa bao giờ để ý đến điều đó."

    "Quả là rất lạ!"

    Holmes vừa lẩm bẩm vừa kéo sợi dây.

    "Có một, hai điểm rất lạ lùng trong căn phòng này.

    Ví dụ như, chỉ có là một tay thợ xây ngu ngốc lắm mới mở lỗ thông gió vào một căn phòng khác trong khi cũng cùng một công đó anh ta có thể cho nó thông ra bên ngoài."

    "Cái lỗ đó cũng mới được làm gần đây thôi", cô gái cho biết.

    "Cùng lúc với sợi dây chuông chăng?"

    Holmes nhận định.

    "Vâng, đã có một vài thay đổi nho nhỏ được thực hiện trong khoảng thời gian đó."

    "Có vẻ như chúng đều có điểm kì lạ, dây chuông thì giả còn lỗ thông gió thì không hề thông hơi.

    Xin phép cô Stoner, bây giờ chúng tôi muốn kiểm tra bên trong căn phòng kế bên."

    Phòng ngủ của bác sĩ Grimesby Roylott rộng hơn phòng ngủ của cô stoner nhưng bài trí rất đơn sơ.

    Một chiếc giường xếp, một kệ gỗ nhỏ chứa đầy sách mà hầu hết đều là sách kĩ thuật, một chiếc ghế bành đặt cạnh giường, một cái ghế gỗ đơn giản kê sát tường, một chiếc bàn tròn và một cái tủ sắt lớn, đó là tất cả những đồ vật chính lọt vào tầm mắt.

    Holmes chậm rãi bước vòng quanh và xem xét từng thứ một, không bỏ sót món nào với sự quan tâm đặc biệt.

    "Trong này đựng món gì nhỉ?"

    Anh hỏi và gõ vào cái tủ sắt.

    "Giấy tờ công việc của ông ta."

    "Ồ!

    Vậy là cô đã nhìn thấy bên trong rồi?"

    "Chỉ một lần thôi, vài năm trước.

    Tôi nhớ là bên trong đầy những giấy là giấy."

    "Không có con thú nào trong đó chứ, một con mèo chẳng hạn?"

    "Không đâu.

    Thật là một ý nghĩ lạ lùng!"

    "Thế thì cô nhìn đây!"

    Anh nhấc lên một cái đĩa lót tách nhỏ đựng sữa trên nóc tủ.

    "Không, chúng tôi không nuôi mèo.

    Nhưng có một con báo ghêpa và một con khỉ đầu chó."

    "À, phải, tất nhiên rồi!

    Ừ nhỉ, một con báo ghêpa thì cũng chỉ là một con mèo to xác thôi, thế nhưng một đĩa sữa bé tí thì chẳng thấm tháp gì với nhu cầu của nó, tôi dám khẳng định như thế.

    Còn có một điểm mà tôi muốn làm rõ."

    Anh ngồi chồm hỗm trước chiếc ghế gỗ và khám xét mặt ghế với sự chú ý cao độ.

    "Cảm ơn cô.

    Thế là khá ổn rồi", anh vừa nói vừa đứng dậy và cất cái kính lúp vào túi.

    "Ái chà!

    Có một thứ hay ho đây!"

    Vật vừa lọt vào mắt anh là một ngọn roi đánh chó loại nhỏ treo trên một góc giường.

    Tuy vậy, ngọn roi này lại được cuộn lại và thắt thành một nút thòng lọng ở đầu dây.

    "Anh nghĩ gì về thứ này hả Watson?"

    "Chỉ là một ngọn roi khá bình thường.

    Nhưng tôi không hiểu sao nó lại được thắt nút."

    "Khá là bất thường, đúng không?

    Chà!

    Đây là một thế giới độc ác và đáng sợ nhất là khi một người thông minh sử dụng đầu óc của ông ta để phạm tội.

    Tôi cho rằng mình đã xem xét đủ rồi, cô Stoner, nếu cô đồng ý thì chúng tôi xin phép ra ngoài bãi cỏ."

    Tôi chưa bao giờ thấy bạn mình có vẻ mặt đáng sợ đến thế hay có khi nào đôi mày của anh nhíu chặt lại như khi chúng tôi rời khỏi hiện trường vụ điều tra này.

    Chúng tôi đi đi lại lại trên bãi cỏ đến vài lần và cả cô Stoner lẫn tôi đều không muốn cắt ngang dòng suy tưởng của anh trước khi anh dứt khỏi trạng thái trầm mặc.

    "Cô Stoner này, có một điều vô cùng hệ trọng là", anh nói, "cô phải tuyệt đối nghe theo lời khuyên của tôi đến từng chi tiết."

    "Chắc chắn là tôi sẽ làm theo."

    "Vấn đề đã hết sức nghiêm trọng nên ta không còn chần chừ được nữa.

    Tính mạng của cô phụ thuộc vào sự tuân thủ của cô đấy."

    "Xin bảo đảm là tôi sẽ phó thác tất cả cho ông."

    "Điều trước tiên, đêm nay cả tôi và bạn tôi phải ở lại trong phòng cô."

    Cô Stoner và tôi đều ngạc nhiên trố mắt nhìn anh.

    "Đúng vậy, bắt buộc phải làm như thế.

    Để tôi giải thích.

    Tôi nghĩ rằng đằng kia có một quán trọ phải không?"

    "Vâng, đó là quán Crown."

    "Rất tốt.

    Có thể nhìn thấy cửa sổ phòng cô từ chỗ đó chứ?"

    "Chắc chắn là được."

    "Khi cha dượng của cô quay về thì cô phải ở lì trong phòng, giả vờ như đang bị nhức đầu.

    Khi nào nghe thấy lão về phòng đi ngủ thì cô phải mở cánh cửa chớp ở cửa sổ, tháo móc khóa ra, đặt ngọn đèn lên đó để làm hiệu cho chúng tôi rồi nhẹ nhàng rời khỏi phòng, đem theo tất cả những gì có thể cần đến và đi sang căn phòng mà trước đây cô vẫn ngủ.

    Tôi chắc chắn cho dù nó đang được sửa chữa thì cô vẫn có thể thu xếp để ngủ ở đó một đêm."

    "Vâng, chuyện đó cũng dễ thôi."

    "Những chuyện khác cô cứ để chúng tôi lo."

    "Nhưng các ông sẽ làm gì?"

    "Chúng tôi sẽ ở trong phòng của cô đêm nay và tìm hiểu nguyên nhân gây ra tiếng động đã quấy rầy cô."

    "Thưa ông Holmes, tôi tin rằng ông đã có chủ định", cô Stoner nói và đặt tay lên tay áo bạn tôi.

    "Có thể là vậy?"

    "Vậy thì, xin ông hãy thương tình cho tôi biết nguyên nhân cái chết của chị tôi!"

    "Tôi muốn có thêm bằng chứng rõ ràng hơn trước khi nói ra."

    "Ít ra ông cũng có thể cho tôi biết tôi có nghĩ đúng hay không khi cho rằng chị ấy chết vì một nỗi kinh hoàng đột ngột."

    "Không, tôi không cho là thế.

    Tôi nghĩ rằng có thể có một nguyên nhân hữu hình hơn.

    Giờ thì, cô Stoner, chúng tôi phải chia tay cô vì nếu bác sĩ Roylott trở về và trông thấy chúng tôi thì chuyến đi này sẽ trở nên vô ích.

    Tạm biệt và hãy can đảm lên vì nếu cô làm đúng như những gì tôi dặn thì chúng tôi sẽ loại trừ được những mối nguy đang đe dọa cô."

    ***

    Sherlock Holmes và tôi dễ dàng thuê một phòng ngủ và một phòng khách tại quán trọ Crown.

    Hai phòng này nằm ở tầng trên và từ cửa sổ chúng tôi có thể quan sát được cổng vào từ con đường lớn và cánh dinh thự có người ở của trang viên Stoke Moran.

    Khi trời đã chạng vạng tối, chúng tôi trông thấy cỗ xe của bác sĩ Grimesby Roylott phóng qua, thân hình cao lớn của lão lù lù hiện ra bên cạnh vóc dáng nhỏ xíu của cậu bé đánh xe.

    Cậu ta khó nhọc mở những cánh cổng sắt nặng nề và chúng tôi nghe thấy giọng nói khàn khàn của bác sĩ và trông thấy lão dứ nắm đấm về phía cậu bé vẻ hung hãn.

    Cỗ xe độc mã vụt qua và chỉ vài phút sau chúng tôi đã nhìn thấy ánh sáng chợt bừng lên giữa những tán cây khi ngọn đèn được thắp lên ở một trong những phòng khách.

    "Anh biết không, Watson", Holmes nói khi chúng tôi ngồi với nhau trong bóng tối càng lúc càng dày đặc, "tôi vẫn còn đắn đo không biết đêm nay có nên đưa anh đi theo hay không.

    Nhất định là sẽ rất nguy hiểm."

    "Tôi có thể giúp được gì cho anh không?"

    "Sự hiện diện của anh là vô cùng quý giá."

    "Thế thì chắc chắn tôi sẽ đi."

    "Anh thật là tốt."

    "Anh vừa nói đến sự nguy hiểm.

    Rõ ràng anh đã nhìn thấy nhiều thứ hơn tôi trong những căn phòng đó."

    "Không phải vậy, nhưng có thể tôi đã suy luận được nhiều điều hơn anh.

    Tôi nghĩ tất cả những gì tôi nhìn thấy thì anh cũng nhìn thấy thôi."

    "Ngoại trừ sợi dây chuông thì tôi không thấy điều gì đáng chú ý cả, và sợi dây đó dùng để làm gì thì tôi phải thú nhận là mình không sao tưởng tượng ra."

    "Anh cũng đã nhìn thấy cái lỗ thông hơi, phải không?"

    "Phải, nhưng tôi không nghĩ một cái lỗ nhỏ thông giữa hai phòng lại là điều hết sức bất thường.

    Nó nhỏ đến nỗi một con chuột cũng khó mà chui lọt."

    "Từ trước khi đến Stoke Moran tôi đã nghĩ rằng thể nào chúng ta cũng sẽ tìm thấy một cái lỗ thông hơi."

    "Ôi, anh bạn Holmes thân mến của tôi!"

    "Ồ, thật đấy, tôi đã đoán như thế mà.

    Anh có nhớ lời kể của cô ấy là chị cô ấy có thể ngửi thấy mùi xì gà của bác sĩ Roylott không?

    Đấy, chi tiết đó cho thấy ngay là giữa hai phòng phải có một lỗ thông.

    Nó chỉ có thể là một lỗ nhỏ, nếu không thì nó đã được ghi nhận trong bản điều tra của pháp y viên rồi.

    Tôi suy ra đó là một cái lỗ thông hơi."

    "Nhưng trong đó có gì là nguy hiểm chứ?"

    "Ít ra cũng có sự trùng hợp lạ lùng về ngày tháng.

    Một cái lỗ thông hơi mới, một sợi dây chuông được treo lên và một cô gái ngủ trên giường rồi chết.

    Những chuyện đó không làm cho anh chú ý sao?"

    "Tôi vẫn chưa thể nhận ra có gì liên quan giữa những sự kiện đó."

    "Anh có thấy ở cái giường có điểm gì rất khác thường không?"

    "Không."

    "Nó bị gắn chặt vào sàn nhà.

    Anh đã bao giờ nhìn thấy một cái giường bị gắn chặt như thế chưa?"

    "Có lẽ là chưa bao giờ."

    "Cô gái không thể xê dịch cái giường được.

    Nó phải luôn nằm ở đúng một vị trí cân xứng với lỗ thông hơi và sợi dây, gọi là dây thôi vì rõ ràng nó chưa bao giờ là dây chuông cả."

    "Holmes này", tôi kêu lên, "có vẻ như tôi đã lờ mờ hình dung ra những gì anh muốn nói.

    Chúng ta đến vừa kịp lúc để ngăn ngừa một tội ác quỷ quyệt và đáng sợ."

    "Đúng là quỷ quyệt và đáng sợ.

    Khi một bác sĩ đi sai đường thì hắn sẽ thành tội phạm hàng đầu.

    Hắn có lòng can đảm và kiến thức.

    Palmer và Pritchard là những người xuất sắc nhất trong nghề nghiệp của họ đấy thôi.

    Gã bác sĩ này thậm chí còn ra đòn một cách thâm hiểm hơn, nhưng Watson này, tôi nghĩ chúng ta có khả năng giáng trả mạnh mẽ hơn thế.

    Nhưng trước khi đêm tàn, chúng ta sẽ phải nếm mùi kinh hoàng kha khá đấy; cho nên, vì Chúa, ta hãy thưởng thức một tẩu thuốc bình yên và hãy hướng tâm hồn mình đến một điều gì đó vui vẻ hơn trong vài giờ."

    Khoảng 9 giờ tối, ánh sáng giữa những tán cây vụt tắt và mọi vật ở hướng trang viên đã chìm trong bóng tối.

    Hai giờ nữa chậm chạp trôi qua và rồi đúng lúc chuông đồng hồ điểm 11 giờ thì đột nhiên một đốm sáng đơn độc lóe lên ngay trước mắt chúng tôi.

    "Tín hiệu cho chúng ta đấy", Holmes nói và đứng bật dậy, "nó phát ra từ cửa sổ giữa."

    Khi chúng tôi ra ngoài, anh trao đổi vài câu với chủ quán trọ để giải thích rằng chúng tôi có cuộc hẹn trễ với một người quen và có thể sẽ ngủ lại đó.

    Chỉ một giây sau, chúng tôi đã bước đi trên con lộ tối mù, một cơn gió lạnh buốt tạt vào mặt chúng tôi và ánh đèn vàng nhấp nháy phía trước xuyên qua bóng tối ảm đạm dẫn đường cho chúng tôi đi thực hiện nhiệm vụ của mình giữa đêm hôm khuya khoắt.

    Chúng tôi bước vào khu đất không mấy khó khăn vì bức tường của khuôn viên có những lỗ thủng rộng hoác không được tu sửa.

    Len lỏi giữa đám cây, chúng tôi đi đến bãi cỏ, băng qua đó và sắp sửa trèo vào phòng qua cánh cửa sổ thì bỗng có một sinh vật trông giống như một đứa trẻ xấu xí và dị dạng phóng ra từ bụi nguyệt quế rậm rạp gần bên rồi buông mình xuống cỏ, tứ chi co quắp rồi nhanh chóng băng qua bãi cỏ, biến mất vào bóng tối.

    "Chúa ơi!"

    Tôi thì thầm.

    "Anh có nhìn thấy nó không?"

    Holmes cũng giật mình giống như tôi.

    Trong lúc bối rối, bàn tay anh siết chặt cổ tay tôi như một gọng kìm.

    Rồi anh bật cười khe khẽ và ghé sát tai tôi.

    "Nhà này hay thật", anh thì thầm.

    "Đó là con khỉ đầu chó đấy mà."

    Tôi đã quên khuấy những con thú cưng kì dị mà lão bác sĩ nuôi, còn một con báo ghêpa nữa, có lẽ nó sẽ bấu lên vai chúng tôi bất cứ' lúc nào.

    Tôi phải thú nhận là mình cảm thấy yên tâm hơn sau khi bắt chước Holmes cởi giày ra và lao vào phòng ngủ.

    Người bạn của tôi nhẹ nhàng đóng cánh cửa chớp lại, dời ngọn đèn lên mặt bàn và đảo mắt nhìn khắp phòng.

    Mọi thứ vẫn y nguyên như khi chúng tôi nhìn thấy lúc ban ngày.

    Rồi anh rón rén bước lại gần tôi, khum bàn tay thành hình loa và thì thầm vào tai tôi thật khẽ khàng khiến tôi phải cố gắng lắm mới nghe được từng chữ: "Chỉ một tiếng động nhỏ nhất cũng làm cho kế hoạch của chúng ta bị đổ bể."

    Tôi gật đầu để biểu lộ rằng mình đã nghe thấy.

    "Chúng ta phải ngồi trong bóng tối.

    Lão có thể nhìn thấy ánh đèn qua lỗ thông hơi."

    Tôi lại gật đầu lần nữa.

    "Đừng có ngủ gật đấy nhé, tính mạng của anh phụ thuộc cả vào điều đó đấy.

    Hãy chuẩn bị khẩu súng sẵn sàng phòng khi ta cần đến nó.

    Tôi sẽ ngồi ở mép giường còn anh thì ngồi ở cái ghế đằng kia."

    Tôi lấy khẩu súng lục ra và đặt nó lên góc bàn.

    Holmes đã cầm theo một cây gậy dài, mảnh và đặt nó lên giường ngay sát bên mình.

    Cạnh đó, anh để một hộp diêm và một mẩu nến.

    Rồi anh tắt đèn và chúng tôi chìm vào bóng tối.

    Làm sao tôi quên được lần thức trắng khủng khiếp đó?

    Tôi không thể nghe được âm thanh nào, thậm chí cả một hơi thở, tuy thế tôi vẫn biết là chỉ cách đó vài bước chân, bạn tôi hãy còn chong mắt ngồi đợi và cũng chung tâm trạng căng thẳng như tôi.

    Những cánh cửa chớp đã che kín mọi nguồn ánh sáng và chúng tôi chờ đợi trong bóng đen tuyệt đối.

    Bên ngoài thỉnh thoảng vẳng đến tiếng kêu của một con chim ăn đêm, và có một lần, ngay bên ngoài cửa sổ phòng chúng tôi vang lên một tiếng gì đó kéo dài giống như tiếng mèo gào, cho chúng tôi biết chắc chắn là con báo ghêpa đã được thả ra.

    Từ xa xa vọng lại tiếng chuông đồng hồ giáo xứ trầm trầm, cứ mười lăm phút lại âm vang một lần.

    Những thời khắc đó sao mà kéo dài đến thế!

    Đồng hồ đã điểm 12 giờ, rồi 1 giờ, 2 giờ, 3 giờ, vậy mà chúng tôi vẫn ngồi lặng thinh chờ đợi cho dù bất kể điều gì có thể xảy ra.

    Đột nhiên ở phía bên kia lỗ thông gió có một tia sáng lóe lên trong chốc lát rồi tắt phụt, tiếp đó là mùi dầu cháy và mùi kim loại bị đốt nóng khét lẹt.

    Ai đó trong căn phòng kế bên đã thắp một cây đèn bão.

    Tôi nghe thấy tiếng di chuyển rất khẽ rồi tất cả lại chìm vào tĩnh lặng, tuy nhiên mùi khét càng lúc càng nồng hơn.

    Trong suốt nửa giờ, tôi ngồi yên lắng tai nghe ngóng.

    Thế rồi bất thình lình lại có một âm thanh khác vang lên, một thứ tiếng động rất khẽ, giống như luồng hơi nước nhỏ liên tục phụt ra từ một cái ấm đun nước.

    Ngay lúc tiếng động đó phát ra, Holmes đứng bật dậy khỏi giường, quẹt diêm lên và dùng cây gậy quất túi bụi vào sợi dây chuông.

    "Anh nhìn thấy nó chứ, Watson?"

    Anh kêu lên.

    "Anh nhìn thấy nó chứ?"

    Nhưng tôi chẳng nhìn thấy gì cả.

    Đúng lúc Holmes quẹt diêm lên thì tôi có nghe thấy một tiếng huýt sáo nhỏ và rõ nhưng vì ánh sáng chói lòa đột nhiên rọi thẳng vào cặp mắt mệt mỏi nên tôi chẳng thể nào biết được vật mà anh bạn tôi đang quất roi tới tấp vào là cái gì.

    Tuy nhiên, tôi có thể thấy được mặt anh tái nhợt như xác chết và chứa đầy vẻ kinh hoàng pha lẫn ghê tởm.

    Anh đã dừng tay và đang chăm chú nhìn về phía cái lỗ thông hơi, thì từ đó bất ngờ vang lên một tiếng hét vô cùng khủng khiếp mà tôi chưa bao giờ nghe thấy, phá tan sự tĩnh lặng của màn đêm.

    Tiếng hét càng lúc càng to, đó là một tiếng kêu khàn khàn đầy đau đớn hòa lẫn với nỗi sợ hãi và giận dữ thành một tiếng gào rú đáng sợ.

    Người ta kể lại rằng những người đang say ngủ trên giường ở tít cuối làng và thậm chí tại căn nhà của cha xứ đằng xa cũng phải bật dậy vì tiếng rú này.

    Nó làm tim chúng tôi lạnh buốt, tôi cứ đứng nhìn Holmes, còn anh thì nhìn tôi mãi đến khi những tiếng vọng cuối cùng của tiếng kêu đó chìm hẳn vào bầu không khí tĩnh lặng như lúc trước.

    "Chuyện gì vậy?"

    Tôi thở hổn hển hỏi.

    "Như thế nghĩa là mọi chuyện đã kết thúc", Holmes đáp.

    "Và suy cho cùng thì có lẽ nó đã kết thúc tốt đẹp.

    Hãy cầm lấy khẩu súng của anh và ta sẽ vào phòng bác sĩ Roylott."

    Với vẻ mặt nghiêm trọng, anh thắp đèn lên và dẫn đường ra hành lang.

    Anh đập cửa căn phòng đến hai lần mà bên trong vẫn không có tiếng đáp.

    Anh bèn vặn tay nắm cửa và bước vào, tôi đi theo sát gót anh với khẩu súng đã lên nòng cầm chắc trong tay.

    Một cảnh tượng kì lạ đập vào mắt chúng tôi.

    Nằm trên mặt bàn là một ngọn đèn bão che có tấm chắn gió để hở phân nửa, chiếu một luồng sáng lên cái tủ sắt có cánh cửa khép hờ.

    Bên cạnh cái bàn, trên chiếc ghế gỗ là bác sĩ Grimesby Roylott mặc áo choàng ngủ dài màu xám, hai mắt cá chân để trần của lão lộ ra bên dưới và hai bàn chân xỏ trong đôi dép Thổ Nhĩ Kì màu đỏ hở gót.

    Nằm vắt ngang trên đùi lão là ngọn roi dài có cán ngắn được thắt thành nút thòng lọng mà chúng tôi đã để ý thấy lúc ban ngày.

    Cằm lão hếch lên và đôi mắt bất động nhìn chằm chằm về một góc trần nhà với vẻ kinh hãi và cứng nhắc.

    Trên trán lão quấn một dải băng kì lạ màu vàng với những đốm nâu dường như bị buộc chặt quanh đầu lão.

    Khi chúng tôi bước vào, lão không hề động đậy mà cũng chẳng thốt ra tiếng nào.

    "Dải băng!

    Dải băng lốm đốm!"

    Holmes thì thầm.

    Tôi tiến lên một bước.

    Trong nháy mắt, chiếc khăn quấn đầu lão bắt đầu cựa quậy và từ trong mái tóc của lão ngóc lên cái đầu to bè hình thoi và cái cổ đang khò khè của một con rắn gớm ghiếc.

    "Đó là một con rắn hổ lục đầm lầy!"

    Holmes kêu lên.

    "Loài rắn độc nhất ở Ấn Độ.

    Lão đã chết trong vòng mười giây sau khi bị nó cắn.

    Đúng là gậy ông đập lưng ông, kẻ chủ mưu đào huyệt chôn người cuối cùng lại rơi vào huyệt.

    Chúng ta hãy tống con vật này trở lại hang của nó rồi đưa cô Stoner đến một nơi nương náu và báo cho cảnh sát địa phương biết chuyện đã xảy ra."

    Vừa nói anh vừa nhanh chóng kéo cái roi đánh chó đang nằm trong lòng xác chết, quăng cái thòng lọng ở đầu roi vào quanh cổ con rắn giật nó ra khỏi chỗ trú ẩn đáng sợ rồi ném nó vào trong tủ sắt và đóng cửa tủ lại.

    Đó là những sự kiện hoàn toàn chân thực về cái chết của bác sĩ Grimesby Roylott ở Stoke Moran.

    Tôi thấy không cần thiết phải kéo dài thêm câu chuyện vốn đã khá dài bằng những chi tiết như chúng tôi đã báo cho cô gái đang hoảng hốt biết tin buồn như thế nào, đưa cô lên chuyến tàu sáng đến nhà bà bác tốt bụng của cô ở Harrow ra sao, hay quá trình điều tra chính thức diễn ra chậm chạp thế nào để dẫn đến kết luận rằng bác sĩ đã chết do bất cẩn trong khi chơi đùa với một con thú cưng nguy hiểm.

    Có một chi tiết nhỏ của vụ án mà tôi chưa biết đã được Sherlock Holmes kể lại khi chúng tôi trở về nhà vào ngày hôm sau.

    "Watson thân mến", anh nói, "lúc đầu tôi đã rút ra một kết luận hoàn toàn sai lầm, từ đó có thể thấy việc suy luận khi chưa có đủ dữ kiện thật nguy hiểm biết chừng nào.

    Sự hiện diện của những người digan và từ 'băng' mà cô gái tội nghiệp sử dụng để giải thích cho những gì mà cô ấy chỉ thoáng trông thấy trong đốm sáng nhỏ nhoi của que diêm đã đủ để đưa tôi vào một hướng đi hoàn toàn sai lầm.

    Tuy nhiên, tôi có thể tự hào vì đã nhanh chóng xem xét lại luận điểm của mình khi cảm thấy rõ ràng rằng cho dù là gì đi nữa thì mối nguy hiểm đang đe dọa người ở trong phòng không thể nào đột nhập vào từ cửa sổ hay cửa ra vào.

    Sự chú ý của tôi nhanh chóng hướng tới, như tôi đã lưu ý với anh, cái lỗ thông gió và sợi dây chuông treo thòng xuống giường.

    Việc phát hiện ra đó chỉ là một sợi dây chuông giả và cái giường bị gắn chặt xuống sàn nhà lập tức khiến tôi nghi ngờ rằng sợi dây được đặt ở đó để làm cầu nối cho một vật gì đó đi từ lỗ thông hơi đến giường.

    Ý nghĩ về một con rắn liền nảy ra trong đầu tôi và khi tôi khớp nó với việc tôi được biết là có một nguồn cung cấp những con vật từ Ấn Độ cho lão bác sĩ, tôi cảm thấy có lẽ mình đã đi đúng hướng.

    Kế hoạch sử dụng một dạng độc chất không thể bị phát hiện bởi bất kì phương thức thử nghiệm hóa học nào là một ý tưởng mà chỉ một người thông minh, độc ác và có kiến thức về phương Đông mới nghĩ ra được.

    Từ quan điểm của lão ta thì loại chất độc phát tác nhanh như vậy cũng là một lợi thế.

    Thật vậy, phải là một pháp y viên có đôi mắt tinh tường lắm mới có thể nhận ra hai vết châm bé xíu có màu sẫm là nơi hai cái răng nọc của con rắn đã đưa chất độc vào.

    Thế rồi tôi nghĩ đến tiếng huýt sáo, tất nhiên là lão ta phải gọi con rắn về trước khi ánh nắng ban mai làm nó lộ ra trước mắt nạn nhân.

    Lão đã huấn luyện nó, có lẽ là bằng đĩa sữa mà chúng ta đã nhìn thấy, để nó quay trở lại khi được gọi về, lão sẽ đưa nó qua cái lỗ thông hơi vào thời điểm mà lão cho là thích hợp nhất, chắc chắn nó sẽ trườn xuống theo sợi dây và bò xuống giường.

    Có thể nó sẽ cắn người đang ngủ trên giường mà cũng có thể không, có lẽ là trong suốt cả tuấn lễ, đêm nào cô ấy cũng có thể thoát được nhưng sớm muộn gì cô ấy cũng sẽ trở thành nạn nhân.

    Tôi đã rút ra những kết luận này ngay từ trước khi vào xem phòng của lão.

    Khi xem xét cái ghế, tôi đã thấy lão thường đứng lên đó, tất nhiên là cần phải làm thế thì lão mới với tới cái lỗ thông hơi được.

    Rồi khi nhìn thấy cái tủ sắt, cái đĩa nhỏ đựng sữa và cái thòng lọng ở đầu chiếc roi, tôi đã có đủ bằng chứng để xua đi những nghi ngờ còn sót lại.

    Tiếng vang rền của kim loại mà cô Stoner nghe thấy hiển nhiên là do người cha dượng của cô vội vã đóng sập cánh cửa tủ sắt để nhốt con vật gớm ghiếc sống trong đó.

    Sau khi đã xác định rõ, anh biết là tôi thực hiện những bước tiếp theo như thế nào để kiểm chứng sự việc rồi đấy.

    Khi nghe tiếng con rắn kêu phì phì, và tôi chắc chắn rằng anh cũng nghe thấy, tôi bèn thắp đèn lên rồi tấn công nó."

    "Kết quả là anh đã xua nó quay trở về qua cái lỗ thông hơi."

    "Và cũng làm cho nó quay lại tấn công người chủ của nó ở phía bên kia.

    Vài cú đánh của tôi đã trúng đích và kích động bản tính hung dữ của loài rắn vì thế nó phóng ngay lên người đầu tiên mà nó trông thấy.

    Như vậy, rõ ràng là tôi đã gián tiếp gây ra cái chết của bác sĩ Grimesby Roylott, nhưng tôi không thể nói rằng điều đó đè nặng lên lương tâm tôi."
     
    Sherlock Holmes Toàn Tập
    NGÓN TAY CÁI CỦA NGƯỜI KĨ SƯ (The Engineer's Thumb, 1892)


    Trong tất cả những vụ được chuyển đến cho anh bạn Sherlock Holmes của tôi giải quyết trong suốt nhiều năm chúng tôi gắn bó với nhau, chỉ có hai vụ là do tôi giới thiệu đến anh - đó là vụ ngón tay cái của anh Hatherley và cơn điên của đại tá Warburton.

    Trong hai câu chuyện này thì chuyện thứ nhì thể hiện rõ hơn óc quan sát nhạy bén và sáng tạo của anh, nhưng câu chuyện đầu tiên thì lại có khởi đầu rất lạ lùng và các chi tiết đầy kịch tính khiến cho nó xứng đáng được ghi chép vào hồ sơ hơn, cho dù nó không đem lại cho bạn tôi nhiều cơ hội để vận dụng những phương pháp suy luận mà đã giúp anh đạt được những thành quả vô cùng rực rỡ.

    Tôi tin rằng câu chuyện đã được báo chí đưa tin không chỉ một lần, nhưng cũng giống như những bài tường thuật loại này, hiệu quả gây ấn tượng của nó kém hẳn đi khi đầu đuôi câu chuyện chỉ được trình bày en bloc trong nửa cột báo in so với lối kể tuần tự sao cho các sự kiện từ từ hé lộ trước mắt bạn và điều bí ẩn dần tan biến khi mỗi phát hiện mới là một bước tiến đến gần sự thật trọn vẹn.

    Vào thời điểm đó, tình huống của câu chuyện đã gây cho tôi một ấn tượng sâu sắc mà dẫu hai năm đã trôi qua vẫn không hề phai nhạt.

    Những sự kiện mà tôi đang tổng kết lại xảy ra vào mùa hè năm 1889, không lâu sau đám cưới của tôi.

    Tôi đã quay lại hành nghề bác sĩ và cuối cùng cũng đã bỏ Holmes lại một mình trong căn hộ thuê ở phố Baker, dù tôi vẫn thường xuyên ghé thăm và thậm chí thỉnh thoảng còn thuyết phục anh tạm bỏ những thói quen phóng túng cố hữu mà đến thăm vợ chồng tôi.

    Công việc ở phòng khám của tôi tiến triển đều đặn và thật tình cờ là nơi tôi ở lại cách nhà ga Paddington không quá xa nên tôi cũng có vài bệnh nhân là nhân viên của ga.

    Một người trong số đó sau khi được tôi chữa khỏi một căn bệnh gây đau đớn và dai dẳng đã tích cực quảng cáo cho tay nghề của tôi và luôn cố gắng giới thiệu cho tôi bất kì người bệnh nào mà anh ta có thể thuyết phục được.

    Một buổi sáng nọ, còn chưa đến 7 giờ, tôi đã bị đánh thức vì cô hầu gõ cửa báo cho tôi biết có hai người đàn ông đến từ ga Paddington đang ngồi đợi tôi ở phòng khám.

    Tôi vội vã thay quần áo và tất tả chạy xuống cầu thang vì kinh nghiệm cho biết những tai nạn đường sắt thường là những trường hợp nặng.

    Khi tôi xuống đến nơi thì bệnh nhân trung thành của tôi, là một bảo vệ, đã bước ra khỏi phòng và đóng chặt cửa lại.

    "Tôi đã đưa anh ta đến đây", anh ta thì thầm và chỉ ngón tay cái qua vai.

    "Anh ta ổn rồi!"

    "Có chuyện gì thế?"

    Tôi hỏi vì thái độ của anh ta cứ như vừa mới nhốt một sinh vật lạ vào phòng tôi vậy.

    "Đó là một bệnh nhân mới", anh ta thì thào.

    "Tôi cho rằng cần phải đích thân đưa anh ta đến đây, thế thì anh ta mới không chuồn đi đâu được.

    Giờ anh ta đã ở đây an toàn rồi, tôi phải đi thôi, thưa bác sĩ, tôi cũng có công việc của mình, giống như ông vậy."

    Thế là người giới thiệu khách đáng tin cậy bỏ đi, thậm chí còn không cho tôi kịp nói lời cảm ơn.

    Tôi bước vào phòng khám của mình và nhìn thấy một quý ông đang ngồi bên cạnh bàn.

    Anh ta ăn mặc kín đáo với bộ comlê bằng vải tuýt màu tía và một cái mũ vải mềm đặt trên chồng sách của tôi.

    Một bàn tay của anh ta được quấn trong chiếc khăn mùi soa lấm tấm máu.

    Anh ta hãy còn trẻ, không quá hai mươi lăm tuổi, khuôn mặt mạnh mẽ đầy nam tính nhưng sắc diện tái xanh, tạo cho tôi ấn tượng là anh ta đang bị xúc động ghê gớm và phải dồn toàn bộ nghị lực để kiềm chế.

    "Tôi xin lỗi vì đã gõ cửa sớm thế này, thưa bác sĩ", anh ta nói, "nhưng đêm qua tôi bị tai nạn vô cùng nghiêm trọng.

    Tôi đến đây bằng chuyến tàu sáng và khi hỏi thăm ở nhà ga Paddington để tìm bác sĩ thì một người rất tốt bụng đã tử tế đưa tôi đến đây.

    Tôi đã đưa tấm danh thiếp cho cô giúp việc nhưng tôi thấy cô ta để nó lại trên chiếc bàn cạnh tường kia."

    Tôi cầm tấm danh thiếp lên và đọc qua: Ông Victor Hatherley, kĩ sư thủy lực, 16A phố Victoria (tầng bốn).

    Đó là tên, chức danh và địa chỉ của người khách mới đến.

    "Tôi xin lỗi vì đã để ông chờ", tôi nói và ngồi xuống cái ghế gỗ đồng thời cũng là chiếc thang để lấy sách trên kệ cao.

    "Trông ông có vẻ chưa hoàn toàn hồi sức sau chuyến đi hồi đêm mà chắc là buồn tẻ lắm nhỉ?"

    "Ồ, với tôi đêm qua không thể nào gọi là buồn tẻ được", anh ta đáp và cười phá lên.

    Anh ta lớn tiếng cười vang đến nỗi phải ngả người ra sau và hai bên sườn rung lên bần bật.

    Bản năng thầy thuốc trong tôi trỗi dậy nỗi lo trước kiểu cười đó.

    "Dừng lại nào!"

    Tôi kêu to.

    "Bình tĩnh lại đi!"

    Rồi tôi rót cho anh ta một ít nước.

    Tuy vậy, việc đó cũng chẳng có tác dụng gì.

    Anh ta đã lả đi sau trận cười cuồng loạn thình lình bột phát mạnh mẽ thường tới sau khi một cơn khủng hoảng trầm trọng chấm dứt và tan biến.

    Chẳng mấy chốc, anh ta đã trở lại như cũ, vô cùng mệt mỏi và xanh xao.

    "Tôi khiến ông chê cười rồi", anh ta hổn hển nói.

    "Không sao.

    Ông hãy uống thứ này!"

    Tôi rót thêm một chút rượu mạnh vào li nước và vẻ hồng hào đã trở lại trên hai gò má tái nhợt của anh ta.

    "Đã tốt hơn rồi!"

    Anh ta nói.

    "Và bây giờ, thưa bác sĩ, có lẽ xin ông xem hộ ngón tay cái của tôi, hay đúng hơn là chỗ trước đây từng là ngón tay cái của tôi."

    Anh ta tháo chiếc khăn mùi soa và chìa bàn tay ra.

    Dù thần kinh đã được tôi luyện dạn dày, tôi cũng phải rùng mình trước cảnh ấy.

    Bàn tay anh ta có bốn ngón chĩa ra và một bề mặt lỗ chỗ đỏ loét đến đáng sợ thế chỗ cho ngón cái.

    Nó đã bị chặt mạnh hay cắt phăng đến tận gốc.

    "Lạy Chúa!"

    Tôi kêu lên.

    "Thương tích nặng đấy.

    Chắc là ông đã mất nhiều máu lắm."

    "Vâng, đúng thế.

    Tôi đã ngất đi khi chuyện đó xảy ra và tôi nghĩ mình đã nằm bất tỉnh khá lâu.

    Khi tỉnh lại, tôi thấy nó vẫn còn chảy máu, vì thế tôi cột thật chặt một đầu khăn tay của mình quanh cổ tay và dùng một nhánh cây nhỏ để xoắn cho nó chặt hơn."

    "Tuyệt vời!

    Lẽ ra ông phải làm bác sĩ ngoại khoa mới đúng."

    "Đó chỉ là vấn đề thuộc về thủy lực học, ông biết đấy, và là chuyên môn của tôi."

    "Ngón tay đã bị chặt bằng một vật nặng và sắc", tôi nói trong khi xem xét vết thương.

    "Một vật giống dao phay", anh ta đáp.

    "Tôi đoán hẳn là một tai nạn?"

    "Hoàn toàn không phải."

    "Sao?

    Một vụ tấn công giết người chăng?"

    "Giết người có chủ ý."

    "Ông làm tôi sợ đấy!"

    Tôi lau chùi vết thương, rửa sạch, bôi thuốc và cuối cùng băng nó lại bằng một miếng bông lót và băng có tẩm carbolic để sát trùng.

    Anh ta nằm xuống, không hề nhăn nhó dù môi luôn mím chặt.

    "Ông thấy trong người ra sao?"

    Tôi hỏi khi đã băng bó xong vết thương.

    "Tuyệt vời!

    Li rượu ông mời và bông băng của ông làm tôi thấy mình khác hẳn đi.

    Tôi đã kiệt sức nhưng đó là vì tôi đã phải trải qua quá nhiều chuyện."

    "Có lẽ ông không nên nói về chuyện đó nữa.

    Rõ ràng là nó làm cho thần kinh của ông căng thẳng."

    "Ồ, không, không phải lúc này.

    Tôi sẽ còn phải trình báo chuyện này cho cảnh sát; nhưng nói riêng với ông nhé, nếu không có chứng cứ thuyết phục là vết thương này thì tôi cũng sẽ rất ngạc nhiên nếu họ chịu tin lời tôi nói, vì chuyện này hết sức lạ thường và tôi cũng không có nhiều bằng chứng để củng cố cho lời kể của mình, và cho dù họ có tin tôi đi nữa, những manh mối mà tôi có thể cung cấp cũng khá là mơ hồ khiến tôi nghi ngờ không biết công lí có được thực hiện hay không?"

    "Ha!"

    Tôi kêu lên.

    "Nếu có vấn đề gì mà ông muốn được giải quyết rốt ráo, tôi thành thật khuyên ông nên đến gặp bạn tôi, ông Sherlock Holmes, trước khi tìm đến cảnh sát."

    "Ồ, tôi có nghe nói đến người này", vị khách của tôi đáp, "và tôi rất mừng nếu ông ấy chịu giải quyết vấn đề này, dù tất nhiên là tôi vẫn phải nhờ đến cảnh sát.

    Không biết ông có sẵn lòng giới thiệu tôi với ông ấy hay không?"

    "Tôi sẽ còn làm hơn thế nữa.

    Chính tôi sẽ đưa ông đến gặp ông ấy."

    "Tôi vô cùng biết ơn ông."

    "Chúng ta sẽ gọi một cỗ xe và cùng đi đến đó.

    Chúng ta sẽ đến vừa kịp lúc để dùng bữa điểm tâm với ông ấy.

    Ông thấy mình có đủ sức để đi không?"

    "Vâng, chừng nào tôi còn chưa kể ra được câu chuyện của mình thì tôi vẫn chưa yên lòng."

    "Thế thì cô hầu của tôi sẽ cho gọi một cỗ xe và tôi sẽ cùng đi với ông ngay lập tức."

    Tôi chạy nhanh lên cầu thang, giải thích ngắn gọn sự tình cho vợ tôi nghe và năm phút sau đã ngồi trong một cỗ xe ngựa hai bánh, cùng đi đến phố Baker với người mới quen.

    Đúng như tôi dự đoán, Sherlock Holmes vẫn mặc áo choàng ngủ và đang thơ thẩn trong phòng khách.

    Anh đang đọc mục tin nhắn của tờ Times và hút một tẩu thuốc trước bữa sáng, và trong tẩu sẽ nhồi nhét toàn bộ những bánh thuốc và xái thuốc còn lại từ những điếu thuốc ngày hôm trước, tất cả đều được sấy khô cẩn thận và dồn lại để ở một góc trên mặt lò sưởi.

    Anh đón tiếp chúng tôi với thái độ ân cần, điềm tĩnh vốn có, sau đó gọi lên món thịt muối và trứng rồi cùng chúng tôi dùng bữa rất thân mật.

    Khi ăn xong, anh mời vị khách mới quen nằm lên chiếc trường kỉ, kê gối dưới đầu anh ta và đặt một li rượu mạnh có pha nước trong tầm với của anh ta.

    "Có thể dễ dàng thấy rằng sự việc vừa mới xảy ra với ông không hề bình thường, ông Hatherley ạ", anh nói.

    "Xin ông cứ nằm đó và hoàn toàn tự nhiên như ở nhà.

    Ông hãy kể cho chúng tôi nghe những gì ông có thể nói ra nhưng cứ việc dừng lại khi thấy mệt và nhấp một chút rượu để lấy sức."

    "Cảm ơn ông", bệnh nhân của tôi đáp, "nhưng tôi thấy mình đã khỏe hơn rất nhiều sau khi được bác sĩ băng bó cho và tôi nghĩ bữa điểm tâm của ông đã hoàn tất việc chữa trị.

    Tôi sẽ cố gắng hết sức để không làm mất nhiều thì giờ quý báu của hai ông, vì vậy tôi sẽ bắt đầu kể lại câu chuyện kì lạ của mình ngay đây."

    Holmes ngồi xuống chiếc ghế bành to tướng của mình với vẻ mặt mệt mỏi và hai mí mắt nhắm hờ che giấu sự sốt sắng và háo hức trong lòng, còn tôi ngồi đối diện với anh và cùng yên lặng lắng nghe câu chuyện lạ lùng mà người khách tỉ mỉ kể lại.

    "Các ông cần biết rằng", anh ta nói, "tôi không còn cha mẹ và chưa lập gia đình, hiện đang sống một mình trong nhà trọ ở London.

    Tôi hành nghề kĩ sư thủy lực và đã thu được khá nhiều kinh nghiệm sau bảy năm tập sự cho Venner & Matheson, một công ty nổi tiếng ở Greenwich.

    Hai năm trước, khi đã hết thời gian tập sự và được hưởng một món tiền thừa kế kha khá sau khi cha tôi mất, tôi quyết định sẽ mở công ty riêng và thuê văn phòng hành nghề trên phố Victoria.

    Có lẽ khi mới khởi nghiệp một mình, thì bất cứ ai cũng phải trải qua một giai đoạn u ám.

    Với trường hợp của tôi thì lại càng đúng.

    Trong suốt hai năm mà tôi chỉ có được ba vụ tư vấn và một công việc nhỏ, đó là tất cả những gì mà nghề nghiệp đem lại cho tôi.

    Tổng doanh thu của tôi là hai mươi bảy bảng mười xu.

    Mỗi ngày, từ 9 giờ sáng đến tận 4 giờ chiều, tôi cứ ngồi đợi trong căn phòng nhỏ cho đến khi bao nhiêu nhiệt tâm rốt cuộc sụt giảm và tôi bắt đầu tin rằng mình sẽ không bao giờ có một khách hàng nào nữa.

    Tuy nhiên, hôm qua, khi tôi vừa nghĩ đến việc đóng cửa văn phòng thì viên thư kí bước vào, nói rằng có một quý ông đang đợi bên ngoài và muốn gặp tôi để bàn công việc.

    Anh ta còn đưa cho tôi một tấm danh thiếp in tên đại tá Lysander Stark.

    Ông đại tá cũng vào ngay sát gót anh ta, đó là một người cao hơn tầm vóc trung bình một chút nhưng lại rất gầy.

    Tôi nghĩ mình chưa bao giờ gặp người nào gầy đến thế.

    Khuôn mặt ông ta nhọn hoắt, chỉ thấy mũi và cằm, da trên má căng ra do xương gò má nhô cao.

    Tuy nhiên, có lẽ vẻ gầy mòn, hốc hác đó là thể tạng tự nhiên của ông ta chứ không phải là do bệnh tật, vì đôi mắt ông ta rất sáng, bước đi nhanh nhẹn và phong cách tự tin.

    Ông ta ăn mặc giản dị nhưng gọn gàng, còn về độ tuổi thì tôi đoán là ông ta khoảng gần bốn mươi.

    'Ông Hatherley phải không?' Ông ta nói, nghe giọng có lẽ là khẩu âm Đức.

    'Ông Hatherley, có người đã giới thiệu với tôi rằng ông không những rất thành thạo chuyên môn mà còn là người kín đáo và biết giữ bí mật.'

    Tôi cúi đầu chào và cũng như mọi chàng trai trẻ khác, cảm thấy rất hãnh diện trước một lời khen như thế.

    'Xin phép được hỏi là ai đã khen ngợi tôi như vậy?'

    'Ừm, có lẽ tôi không nên nói ra vào lúc này.

    Cũng chính người đó cho tôi biết rằng ông không còn cha mẹ, hiện vẫn độc thân và đang sống một mình ở London?'

    'Đúng thế', tôi đáp, 'nhưng xin ông thứ lỗi nếu tôi nói rằng tôi không thể nào hiểu được tất cả những chi tiết đó thì có liên quan gì đến năng lực chuyên môn của tôi.

    Tôi nghĩ rằng ông muốn nói chuyện với tôi về công việc chứ?'

    'Chắc chắn rồi.

    Nhưng ông sẽ thấy những gì tôi nói đều có liên quan đến chuyện đó.

    Tôi có một công việc cho ông nhưng điều kiện tối quan trọng là phải tuyệt đối giữ bí mật, tuyệt đối bí mật, ông hiểu chứ, và tất nhiên một người sống độc thân thường giữ bí mật tốt hơn là một người sống với gia đình.'

    'Nếu tôi hứa sẽ giữ bí mật', tôi đáp, 'thì ông có thể hoàn toàn tin tưởng ở tôi.'

    Ông ta chăm chú nhìn tôi khi tôi nói và tôi có cảm tưởng là chưa bao giờ thấy đôi mắt nào chứa đầy sự ngờ vực và nghi ngại đến thế.

    'Vậy ông hứa chứ?' Cuối cùng ông ta hỏi.

    'Vâng, tôi xin hứa.'

    'Tuyệt đối im lặng trước, trong và sau khi công việc kết thúc, được chứ?

    Không được nhắc tí gì đến việc đó dù là bằng lời nói hay chữ viết?'

    'Tôi đã hứa rồi kia mà.'

    'Rất tốt.' Ông ta đột ngột đứng dậy và băng qua căn phòng như một tia chớp rồi mở toang cánh cửa ra.

    Không hề có ai ở hành lang bên ngoài

    'Ổn rồi', ông ta nói khi quay trở lại.

    'Tôi biết có những người thư kí đôi lúc cũng tọc mạch về công việc của ông chủ.

    Giờ thì chúng ta có thể yên tâm nói chuyện.' Ông ta kéo chiếc ghế tới sát bên tôi và lại bắt đầu nhìn tôi bằng ánh mắt nghi ngại và thận trọng.

    Sự ác cảm và có gì đó gần như sợ hãi bắt đầu dâng lên trong tôi trước những trò quái đản của người đàn ông xương xẩu này.

    Thậm chí nỗi lo bị mất khách hàng cũng không ngăn được tôi biểu lộ sự khó chịu.

    'Tôi mong ông nói thẳng vào công việc, thưa ông', tôi nói.

    'Vì với tôi thời gian rất quý báu.' Cầu Chúa tha tội cho câu nói đó nhưng quả thật là từ ngữ cứ tự nhiên tuôn ra khỏi miệng tôi.

    'Thù lao năm mươi guinea một đêm ông thấy có phù hợp không?' Ông ta hỏi tôi.

    'Thế thì tuyệt quá!'

    'Tôi nói là một đêm nhưng thực chất là một giờ làm việc thì đúng hơn.

    Tôi chỉ cần ông cho biết ý kiến về một cỗ máy nén thủy lực bị trật bánh răng.

    Nếu ông chỉ cho chúng tôi thấy nó bị hư ở chỗ nào thì tự chúng tôi sẽ giải quyết nhanh chóng, ông nghĩ sao về công việc ấy?'

    'Có vẻ như công việc không nặng nhọc và được trả công hậu hĩ.'

    'Chính xác là thế.

    Chúng tôi muốn ông đến ngay đêm nay bằng chuyến tàu cuối cùng.'

    'Đến đâu?'

    'Đến Eyford ở Berkshire.

    Đó là một ngôi làng nhỏ nằm giáp ranh với Oxfordshire và cách Reading chừng bảy dặm.

    Có một chuyến tàu đi từ ga Paddington và nó sẽ đưa ông đến đó vào khoảng 11 giờ 15.'

    'Rất tốt!'

    'Tôi sẽ đi bằng xe ngựa đến đón ông.'

    'Lại còn phải đi thêm một cuốc xe ngựa nữa à?'

    'Phải, ngôi làng của chúng tôi nằm khá sâu trong vùng nông thôn.

    Nó cách ga Eyford đúng bảy dặm.'

    'Vậy thì chúng ta khó mà đến nơi trước nửa đêm.

    Chắc sẽ không có tàu về.

    Do đó, tôi buộc phải ở lại qua đêm thôi.'

    'Vâng, chúng tôi có thể dễ dàng thu xếp cho ông một cái giường tạm.'

    'Thế thì không được thoải mái cho lắm.

    Tôi đi vào giờ khác thuận tiện hơn không được sao?'

    'Chúng tôi thấy rằng ông đến vào lúc khuya là tốt nhất.

    Và để đền bù cho những điều bất tiện nếu có, chúng tôi sẽ trả cho ông, một người trẻ tuổi và không có tiếng tăm, số tiền thù lao ngang với mức tham vấn của những chuyên gia hàng đầu trong ngành của ông.

    Tuy vậy, nếu ông muốn rút khỏi công việc này thì tất nhiên là vẫn còn kịp.'

    Tôi nghĩ đến năm mươi guinea, với tôi khoản tiền đó giá trị biết chừng nào.

    'Không sao đâu', tôi đáp, 'tôi sẽ rất vui lòng thu xếp theo những yêu cầu của ông.

    Tuy nhiên, tôi muốn hiểu rõ hơn chút nữa về những gì ông muốn tôi làm.'

    'Đúng thế.

    Chúng tôi đòi hỏi ông phải giữ bí mật như vậy nên ông thấy tò mò là phải.

    Tôi cũng không muốn yêu cầu ông phải cam kết bất cứ điều gì mà ông chưa biết rõ.

    Chúng ta có thể hoàn toàn tin tưởng là không bị ai nghe trộm chứ?'

    'Tuyệt đối an toàn.'

    'Thế thì vấn đề là thế này.

    Hẳn là ông cũng biết đất tẩy màu là một sản phẩm rất có giá trị và chỉ có ở một, hai nơi trên nước Anh?'

    'Tôi có nghe nói thế.'

    'Thời gian gần đây, tôi có mua được một khu đất nhỏ, rất nhỏ, nằm cách Reading mười dặm.

    Tôi khá là may mắn khi phát hiện ra có một mô đất tẩy màu nằm ở một trong mấy mảnh ruộng của tôi.

    Tuy nhiên, khi xem xét kĩ thì tôi nhận thấy lớp trầm tích này tương đối nhỏ và nó tạo thành mạch nối giữa hai lớp to hơn nằm bên phải và bên trái - nhưng cả hai lớp ấy lại nằm trong phần đất của những người hàng xóm.

    Những người này hoàn toàn không hay biết gì về việc khu đất thuộc quyền sở hữu của mình có chứa một thứ có giá trị lớn như một mỏ vàng.

    Tất nhiên là tôi rất muốn mua lại mảnh đất của họ trước khi họ phát hiện ra giá trị thật của nó nhưng không may là tôi không có đủ vốn để làm được việc này.

    Thế nhưng tôi vẫn tiết lộ bí mật cho vài người bạn và họ đề nghị rằng chúng tôi cứ lẳng lặng và bí mật khai thác lớp trầm tích ít ỏi của chúng tôi, qua đó chúng tôi sẽ kiếm được tiền để có thể mua tiếp những mảnh ruộng của hàng xóm.

    Chúng tôi đã tiến hành việc này được một thời gian và để hỗ trợ cho công việc, chúng tôi có một máy nén thủy lực.

    Như tôi đã giải thích lúc nãy, cỗ máy bị hỏng và chúng tôi cần đến sự tư vấn của ông.

    Chúng tôi giữ bí mật hết sức nghiêm ngặt, tuy nhiên, nếu có ai biết là có một kĩ sư thủy lực được mời đến ngôi nhà nhỏ bé của chúng tôi thì tin đó sẽ nhanh chóng làm dấy lên những thắc mắc và rồi, nếu sự thật lộ ra thì xem như chúng tôi phải từ bỏ hi vọng mua được những mảnh ruộng này cũng như chuyện thực hiện kế hoạch của mình.

    Đó là lí do tôi yêu cầu ông hứa là sẽ không kể cho người nào biết chuyện ông sẽ đi Eyford tối nay.

    Tôi hi vọng mình đã giải thích mọi chuyện rõ ràng?'

    'Tôi đã nắm được rồi', tôi nói.

    'Điểm duy nhất mà tôi không hiểu là sao các ông lại dùng máy nén thủy lực để khai thác đất tẩy màu, vì theo như tôi biết thì chỉ cần đào hố moi ra thôi mà.'

    'À!' Ông ta thân mật nói.

    'Chúng tôi có cách riêng.

    Chúng tôi nén đất thành những viên gạch để có thể chuyển đi mà không làm lộ bản chất của chúng.

    Nhưng đó chỉ là một chi tiết.

    Tôi đã tiết lộ hoàn toàn chuyện bí mật của mình, ông Hatherley, và đã cho ông thấy là tôi tin tưởng ông đến mức nào.' Vừa nói ông ta vừa đứng dậy.

    'Vậy tôi sẽ đợi ông ở Eyford vào lúc 11 giờ 15 nhé!'

    'Chắc chắn là tôi sẽ có mặt ở đó.'

    'Và đừng hở ra một lời nào với bất cứ ai.' Ông ta nhìn tôi lần cuối thật lâu bằng ánh mắt dò xét và siết tay tôi trong bàn tay lạnh lẽo nhớp nháp của ông ta rồi vội vã bước ra khỏi phòng.

    Thế đấy, khi đã bình tĩnh suy nghĩ lại mọi chuyện, tôi hết sức ngạc nhiên, như các ông có thể hiểu, về công việc bất ngờ được giao phó này.

    Một mặt, tất nhiên là tôi vui mừng vì khoản thù lao ít nhất cũng cao gấp mười lần cái giá mà tôi có thể đặt ra cho phần việc của mình và biết đâu công việc này lại kéo theo nhiều công việc khác.

    Song bộ mặt và cách cư xử của ông khách gây ấn tượng không mấy dễ chịu với tôi và tôi nghĩ lời giải thích của ông ta về đất tẩy màu là chưa thỏa đáng để lí giải cho việc tôi cần phải tới đó lúc nửa đêm và sự lo lắng cực độ của ông ta về việc tôi có thể tiết lộ với ai đó về chuyến đi của mình.

    Tuy nhiên, tôi vứt bỏ mọi nỗi lo ngại, ăn một bữa tối ngon lành, lên xe đi đến ga Paddington và lên đường, nghiêm túc tuân thủ yêu cầu phải kín miệng.

    Khi đến Reading, tôi không những phải đổi toa mà còn phải đổi cả trạm.

    Tuy nhiên, tôi vẫn bắt kịp chuyến tàu cuối cùng đi Eyford và hơn 11 giờ khuya thì đến được nhà ga tối mờ ấy.

    Tôi là hành khách duy nhất xuống tàu đó và chẳng có ma nào trên sân ga, trừ một người phu khuân vác đang gà gật ngủ bên một ngọn đèn.

    Thế nhưng, khi tôi bước qua cánh cửa xếp thì đã trông thấy người khách ban sáng đang đứng đợi trong bóng tối phía bên kia cửa.

    Không nói một lời, ông ta chộp lấy tay tôi và vội vã đưa tôi lên một cỗ xe ngựa đã mở cửa sẵn.

    Ông ta kéo cửa sổ ở cả hai bên lên rồi vỗ vào thành xe, và thế là con ngựa kéo xe lao đi hết tốc lực."

    "Chỉ một con thôi à?"

    Holmes hỏi xen vào.

    "Vâng, chỉ một thôi."

    "Ông có để ý màu lông của nó không?"

    "Có, nhờ vào ánh đèn hiệu ở hai bên xe nên tôi có nhìn thấy nó khi bước vào trong xe.

    Nó có bộ lông màu hạt dẻ."

    "Trông nó mệt mỏi hay hãy còn sung sức?"

    "Ồ, rất khỏe khoắn và lông thì bóng mượt."

    "Cảm ơn ông.

    Xin lỗi vì đã xen ngang.

    Xin vui lòng kể tiếp câu chuyện hết sức thú vị của ông."

    "Chúng tôi lên đường và đi được ít nhất một giờ.

    Đại tá Lysander Stark nói là chỉ có bảy dặm nhưng tôi nghĩ, dựa vào tốc độ xe chạy và thời điểm chúng tôi khởi hành thì quãng đường phải lên đến gần mười hai dặm.

    Ông ta ngồi bên cạnh tôi và suốt chặng đường chẳng hề mở miệng, cứ mỗi lần liếc nhìn về phía ông ta, tôi lại thấy ông ta đang nhìn tôi với ánh mắt hết sức căng thẳng.

    Những con đường làng ở đoạn này có vẻ không được tốt lắm vì chúng tôi cứ bị lắc lư và xóc nẩy dữ dội.

    Tôi cố gắng nhìn ra ngoài cửa sổ để xem mình đang đi đến đâu nhưng kính cửa là loại thủy tinh đã mài mờ nên tôi chẳng phân biệt được gì ngoại trừ một vài vệt sáng lờ mờ thỉnh thoảng băng ngang qua.

    Có đôi lúc tôi đánh bạo đưa ra vài nhận xét để đánh tan sự đơn điệu của cuộc hành trình nhưng ông đại tá chỉ ậm ừ trả lời và cuộc đối thoại nhanh chóng trở nên nhạt nhẽo.

    Tuy vậy, cuối cùng thì đoạn đường dằn xóc cũng được thay thế bởi một lối đi rải sỏi êm ái và cỗ xe dừng lại.

    Đại tá Lysander Stark nhảy ra khỏi xe và khi tôi bước xuống theo thì ông ta nhanh chóng kéo tôi vào một cái cổng vòm đang mở rộng trước mặt chúng tôi.

    Vì cái cổng này nằm ngay sát cỗ xe ngựa và dẫn thẳng vào tiền sảnh nên tôi không có cơ hội để nhìn thoáng qua mặt tiền của căn nhà.

    Ngay khi tôi vừa bước qua ngưỡng cửa thì cánh cổng đã nặng nề đóng sập lại sau lưng và tôi chỉ loáng thoáng nghe thấy tiếng lọc cọc của bánh xe khi cỗ xe phóng đi.

    Trong nhà tối đen như mực, ông đại tá lần mò tìm diêm và nói thì thầm gì đó.

    Thình lình một cánh cửa mở ra ở cuối lối đi và một dải ánh sáng dài màu vàng tỏa về phía chúng tôi.

    Quầng sáng lớn dần lên và một người phụ nữ xuất hiện, giơ một ngọn đèn cao quá đầu.

    Bà ta ngấng mặt lên và chăm chú nhìn chúng tôi.

    Tôi có thể thấy rõ là bà ta khá đẹp và qua vẻ bóng mượt của bộ y phục sẫm màu được ánh sáng chiếu rọi, tôi biết đó là một loại vải đắt tiền.

    Bà ta nói vài lời bằng tiếng nước ngoài với ngữ điệu giống như một câu hỏi và khi người đi cùng tôi xẵng giọng trả lời thì bà ta giật mình khiến cho ngọn đèn suýt chút nữa tuột khỏi tay.

    Đại tá Stark bước đến gần bà ta, thì thào vào tai rồi đẩy bà ta trở lại căn phòng mà bà ta vừa bước ra, sau đó ông ta cầm đèn bước về phía tôi.

    'Có lẽ xin ông vui lòng đợi trong căn phòng này vài phút,' ông ta nói khi mở một cánh cửa khác.

    Đó là một căn phòng nhỏ yên tĩnh bài trí đơn giản, với một chiếc bàn tròn nằm giữa phòng, trên đó có để rải rác vài cuốn sách in bằng tiếng Đức.

    Đại tá Stark đặt ngọn đèn lên một chiếc đàn đạp hơi nằm bên cạnh cửa.

    'Tôi sẽ không để ông phải đợi lâu đâu', ông ta nói và biến mất vào bóng tối.

    Tôi liếc qua mấy cuốn sách nằm trên bàn và dù chẳng biết một chữ tiếng Đức, tôi vẫn có thể nhận ra hai trong số đó là những chuyên luận khoa học, còn mấy cuốn khác là những tập thơ.

    Rồi tôi bước lại gần cửa sổ, hi vọng sẽ được nhìn thấy khung cảnh đồng quê, thế nhưng một cánh cửa chớp bằng gỗ sồi với những chấn song chắc chắn đã che kín nó.

    Đó là một căn nhà rất tĩnh lặng.

    Ngoài một chiếc đồng hồ cũ kêu tích tắc ở đâu đó trong hành lang thì mọi thứ đều câm lặng như chết.

    Một cảm giác lo lắng mơ hồ bắt đầu len vào lòng tôi.

    Những người Đức này là ai, tại sao họ lại sống trong căn nhà lạ lùng, tách biệt này?

    Và đây là đâu?

    Tôi đang ở cách Eyford khoảng mười dặm, chỉ biết thế thôi, ngoài ra đang ở hướng bắc, nam, đông hay tây thì tôi hoàn toàn mù tịt.

    Về vấn đề này, xét cho cùng thì Readỉng và có lẽ là cả những thị trấn lớn khác nữa đều nằm trong tầm bán kính này nên có thể ngôi nhà cũng không đến nỗi quá hẻo lánh.

    Tuy nhiên, dựa vào sự tĩnh mịch tuyệt đối thì có thể biết chắc rằng chúng tôi đang ở một vùng nông thôn.

    Tôi đi đi lại lại trong phòng, ngân nga nho nhỏ một giai điệu để giữ vững tinh thần và cảm thấy như mình đã lĩnh trọn vẹn món thù lao năm mươi guinea rồi.

    Thình lình, giữa sự yên ắng tuyệt đối, cánh cửa từ từ mở ra mà không hề có tiếng động nào báo trước.

    Người đàn bà lúc nãy đang đứng trong khung cửa, sau lưng là hành lang tối om, ánh đèn vàng từ ngọn đèn của tôi làm nổi lên khuôn mặt xinh đẹp và nôn nóng của bà ta.

    Thoáng nhìn qua tôi đã thấy ngay là bà ta đang rất sợ hãi và cảnh tượng đó truyền đến tim tôi cảm giác ớn lạnh.

    Bà ta giơ ngón tay run rẩy lên để ra hiệu cho tôi im lặng rồi thì thầm với tôi vài từ tiếng Anh rời rạc, trong khi mắt lại liếc nhìn vào khoảng tối sau lưng, giống như đôi mắt của một người đang hoảng sợ.

    'Tôi sẽ đi', bà ta nói, tôi nghĩ có lẽ bà ta đang gắng sức để nói một cách điềm tĩnh.

    'Tôi sẽ đi.

    Tôi sẽ không ở lại đây.

    Ông ở lại đây cũng chẳng có gì tốt lành đâu.'

    'Nhưng, thưa bà,' tôi nói.

    'Tôi vẫn chưa thực hiện công việc mà tôi đã đến đây để làm.

    Tôi không thể bỏ đi khi chưa trông thấy cỗ máy.'

    'Không đáng để ông chờ đợi', bà ta nói tiếp, 'ông có thể đi ra qua cánh cửa, không có ai cản trở.' Rồi khi thấy tôi mỉm cười và lắc đầu, bà ta đột ngột vứt bỏ sự e dè và bước lên trước một bước, hai bàn tay siết chặt vào nhau.

    'Vì Chúa!' Bà ta thì thầm.

    'Xin hãy đi khỏi nơi đây trước khi quá trễ!'

    Nhưng tính tôi vốn bướng bỉnh và nếu gặp phải trở ngại nào đó thì tôi lại càng sẵn sàng bắt tay vào việc.

    Tôi nghĩ đến món tiền năm mươi guinea, đến chuyến đi mệt nhọc và cả đêm dài buồn tẻ như đã hiện ra trước mắt.

    Chẳng lẽ những sự cố gắng đó đều hóa thành công cốc hay sao?

    Tại sao tôi phải lẻn về khi chưa hoàn thành công việc được giao và cũng chưa được nhận món thù lao mà tôi xứng đáng được hưởng?

    Còn người đàn bà này, từ những gì tôi trông thấy nãy giờ, biết đâu bà ta bị hoang tưởng.

    Vì thế, dù thái độ của bà ta quả có làm tôi run sợ nhưng tôi vẫn lắc đầu quả quyết và bày tỏ ý định vẫn sẽ ở lại nơi này.

    Khi bà ta lại sắp khẩn nài lần nữa thì có tiếng cánh cửa đóng sập lại phía trên đầu và tiếng bước chân đi trên những bậc thang.

    Bà ta lắng nghe một lúc, giơ hai tay lên tỏ vẻ tuyệt vọng rồi biến mất cũng đột ngột và không một tiếng động như khi xuất hiện.

    Hai người mới bước vào là đại tá Lysander Stark và một người đàn ông mập lùn với bộ râu rậm mọc ra từ những nếp gấp trên cái cằm hai ngấn và được giới thiệu là ông Ferguson.

    'Đây là thư kí và cũng là quản lí của tôi', đại tá cho biết.

    'Mà này tôi nhớ là lúc nãy đã đóng cửa trước khi rời đi.

    Tôi sợ rằng ông có thể bị gió lùa.'

    'Trái lại', tôi đáp, 'chính tôi đã mở cửa vì cảm thấy trong phòng hơi ngột ngạt.'

    Ông ta ném một cái nhìn ngờ vực về phía tôi.

    'Có lẽ ta nên tiến hành công việc thôi', ông ta nói.

    'Ông Ferguson và tôi sẽ đưa ông lên xem cỗ máy.'

    'Tôi nghĩ có lẽ tôi nên đội mũ vào.'

    'Ồ, không cần đâu, nó nằm ở trong nhà mà.'

    'Sao, các ông đào đất tẩy màu ở ngay trong nhà à?'

    'Không, không phải.

    Đó chỉ là nơi chúng tôi nén đất.

    Nhưng đừng để tâm đến chuyện đó.

    Tất cả những gì chúng tôi muốn ông làm là kiểm tra cái máy và cho chúng tôi biết nó bị hỏng ở đâu.'

    Chúng tôi cùng nhau lên lầu, ông đại tá cầm đèn đi trước, người quản lí to béo và tôi đi theo sau.

    Ngôi nhà cũ giống như một mê cung ngoắt ngoéo với những hành lang, lối đi, những cầu thang ngoằn ngoèo chật hẹp và mấy khung cửa thấp bé mà ngưỡng cửa đã lõm xuống do bao thế hệ đã bước qua.

    Không có thảm mà cũng chẳng thấy dấu vết của đồ đạc bày trên nền nhà, còn vôi vữa trát tường tróc ra từng mảng và rêu mốc mọc lên từng mảng xanh rì, bẩn thỉu.

    Tôi cố hết sức để tỏ ra bình thản nhưng vẫn không quên những lời cảnh báo của người phụ nữ mặc dù trước đó đã xem thường chúng, đồng thời chú tâm quan sát hai người cùng đi.

    Ferguson có vẻ là người trầm lặng và ủ ê nhưng qua vài lời nói ngắn gọn chí ít tôi cũng nhận thấy đó là một đồng bào.

    Cuối cùng thì đại tá Lysander Stark cũng dừng lại trước một cánh cửa thấp và ông ta mở khóa cửa.

    Bên trong là một căn phòng vuông vức nhỏ xíu mà cả ba chúng tôi khó có thể cùng bước vào.

    Ferguson đứng ở bên ngoài còn đại tá dẫn tôi vào.

    Ông ta nói, 'Giờ thì chúng ta đã thực sự ở bên trong máy nén thủy lực và tình hình sẽ trở nên rất tệ hại nếu có ai đó mở máy lên.

    Trần của căn phòng nhỏ này chính là phần đáy của piston và nó sẽ ép xuống sàn nhà bằng kim loại này với một lực nặng đến hàng tấn.

    Phía ngoài có vài cột nước nhỏ đặt bên cạnh để tiếp nhận sức ép rồi truyền lực và nhân nó lên theo cơ chế ắt hẳn rất quen thuộc với ông.

    Cái máy này vận hành cũng khá dễ dàng nhưng trong lúc hoạt động thì nó lại bị rít và lực nén bị giảm mất một ít.

    Xin ông vui lòng kiểm tra nó và chỉ cho chúng tôi cách sửa chữa.'

    Tôi nhận lấy ngọn đèn từ tay ông ta và xem xét cỗ máy thật kĩ lưỡng.

    Nó quả là một cỗ máy hết sức vĩ đại và có thể tạo ra một lực ép khổng lồ.

    Tuy nhiên, khi bước ra ngoài và nhấn các cần điều khiển của máy thì nhờ vào một tiếng rít mà tôi lập tức nhận ra có một chỗ rò rỉ nho nhỏ khiến cho nước phun ngược trở lại qua một trong những xilanh ở bên.

    Kiểm tra qua một lần thì tôi thấy một trong những đai cao su quấn quanh đầu cần truyền động đã bị co lại khiến cho nó không khớp với cái lỗ mà nó tiếp xúc.

    Rõ ràng đây là nguyên nhân làm cho lực ép bị giảm đi và tôi chỉ cho mấy người bên cạnh, họ chăm chú lắng nghe nhận xét của tôi và còn đặt ra vài câu hỏi thiết thực như họ phải làm thế nào để sửa chữa.

    Khi đã giải thích cho họ hiểu rõ, tôi quay lại khoang chính của cỗ máy và xem xét thật kĩ lưỡng để thỏa mãn sự tò mò của mình.

    Chỉ cần nhìn qua cũng thấy rõ là câu chuyện về đất tẩy màu hoàn toàn là bịa đặt vì thiết kế một cỗ máy mạnh đến thế chỉ vì một mục đích chẳng hề tương xứng như vậy thì vô lí quá.

    Mấy bức tường thì bằng gỗ nhưng sàn lại là một máng sắt lớn và khi tôi bước đến xem thì có thể thấy một lớp vỏ kim loại phủ lên hết bề mặt của nó.

    Tôi cúi người xuống và cạo cạo để xem nó chính xác là gì thì chợt nghe một câu cảm thán khe khẽ bằng tiếng Đức và trông thấy bộ mặt tái nhợt của ông đại tá đang nhìn tôi.

    'Ông đang làm gì ở đó thế?' Ông ta hỏi.

    Tôi tức giận vì bị lừa gạt bởi câu chuyện tinh vi mà ông ta đã bịa ra.

    'Tôi đang ngắm nhìn mớ đất tẩy màu của ông', tôi đáp, 'tôi nghĩ mình có thể tư vấn tốt hơn cho ông về cỗ máy này nếu tôi được biết chính xác mục đích sử dụng của nó.'

    Vừa dứt lời, tôi chợt thấy hối hận ngay vì đã không suy nghĩ kĩ trước khi nói.

    Mặt ông ta đanh lại và đôi mắt xám lóe lên tia nhìn độc địa.

    'Được thôi', ông ta nói, 'ông sẽ được biết hết về cỗ máy.' Ông ta lùi lại một bước, đóng sầm cánh cửa nhỏ và xoay chìa trong ổ khóa.

    Tôi lao về phía cửa và kéo mạnh tay nắm nhưng nó quá chắc chắn, dù cho tôi có đá và đẩy đến thế nào thì cánh cửa vẫn không hề suy suyển.

    'Này!' Tôi hét to.

    'Ê!

    Đại tá!

    Thả tôi ra đi chứ!'

    Rồi thình lình, trong yên lặng, tôi nghe thấy một âm thanh khiến tim tôi như nhảy ra khỏi lồng ngực.

    Đó là tiếng lách cách của các cần điều khiển và tiếng róc rách của nước thoát ra khỏi cái xilanh bị rò rỉ.

    Ông ta đã khởi động cỗ máy.

    Ngọn đèn hãy còn ở trên sàn, chỗ tôi đã đặt nó để xem xét cái máng.

    Nhờ ánh đèn mà tôi nhìn thấy mảng trần nhà đen ngòm đang lừ đừ hạ xuống đầu tôi, từng nấc một, nhưng tôi biết rõ là chỉ trong một phút nữa, nó sẽ giáng xuống người tôi một lực đủ để nghiền nát tôi.

    Tôi lồng lộn xô vào cánh cửa, la hét và dùng móng tay cào ổ khóa.

    Tôi cầu xin ông đại tá hãy thả tôi ra nhưng tiếng lách cách tàn nhẫn của các tay đòn đã nhấn chìm tiếng kêu của tôi.

    Trần nhà chỉ còn cách đầu tôi chừng một hoặc hai foot và nếu giơ tay lên thì tôi có thể chạm vào bề mặt cứng rắn và thô ráp của nó.

    Rồi một ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu tôi, đó là cảm giác đau đớn khi chết sẽ phụ thuộc rất nhiều vào tư thế của tôi khi trần nhà chạm vào cơ thể.

    Nếu tôi nằm sấp thì trọng lượng của nó sẽ đè lên sống lưng tôi, và tôi rùng mình khi nghĩ đến tiếng răng rắc đáng sợ đó.

    Có lẽ nằm ngửa thì dễ chịu hơn; tuy nhiên, liệu tôi có đủ can đảm để nằm ngửa và nhìn cái bóng đen chết chóc đó lừ đừ hạ xuống người tôi?

    Đúng lúc tôi không còn đứng thẳng được nữa thì mắt tôi chợt trông thấy một thứ đem lại cho lòng tôi một tia hi vọng.

    Như tôi đã nói, dù trần nhà và sàn nhà được làm bằng sắt nhưng mấy bức tường lại làm bằng gỗ.

    Khi vội liếc nhìn quanh mình lần cuối tôi trông thấy một khe sáng màu vàng giữa hai tấm ván, khe sáng càng lúc càng mở rộng do một tấm ván nhỏ bị đẩy ra phía sau.

    Trong khoảnh khắc, tôi không thể tin được đây chính là cánh cửa dẫn tôi thoát khỏi cái chết.

    Chỉ sau một giây, tôi lao mình qua khe hở và nằm gần như bất tỉnh ở bên ngoài.

    Tấm ván đã khép lại sau lưng tôi nhưng tiếng ngọn đèn vỡ loảng xoảng và vài giây sau đó là tiếng hai khối kim loại va vào nhau vang rền cho tôi biết là mình đã thoát chết trong gang tấc.

    Một cú giật mạnh ở cổ tay khiến tôi sực tỉnh và thấy mình đang nằm trên nền đá của một hành lang hẹp, trong khi một người phụ nữ đang cúi xuống bên tôi, kéo tôi bằng tay trái của bà còn tay phải thì cầm một ngọn nến.

    Đó chính là người phụ nữ tốt bụng lúc nãy đã cảnh báo mà tôi lại ngu ngốc không chịu nghe theo.

    'Đến đây!

    Đến đây nhanh!' Bà ta kêu không ra hơi.

    'Bọn họ đến đây ngay bây giờ đấy.

    Họ sẽ thấy ông không còn ở đó nữa.

    Ôi, đừng phí phạm thời gian quý báu, hãy đến đây ngay!'

    Ít ra thì lần này tôi cũng không coi thường lời khuyên của bà ta.

    Tôi loạng choạng đứng dậy rồi theo chân bà ta chạy dọc theo hành lang và xuống một cầu thang xoắn.

    Cầu thang đó dẫn đến một lối đi rộng và khi chúng tôi vừa xuống đến nơi thì tôi nghe thấy tiếng bước chân chạy rầm rập và tiếng la hét của hai người đang đối đáp với nhau, một kẻ ở cùng tầng với chúng tôi còn một kẻ ở tầng dưới.

    Người dẫn đường cho tôi dừng lại và nhìn quanh như đã cùng đường.

    Rồi bà ta đẩy mạnh cánh cửa dẫn vào một căn phòng ngủ được ánh trăng chiếu rọi qua cửa sổ.

    'Đây là cơ hội duy nhất của ông', bà ta nói.

    'Hơi cao, nhưng có thể ông sẽ nhảy được.'

    Bà ta vừa dứt lời thì một chùm sáng hiện ra ở cuối hành lang và tôi nhìn thấy hình dáng gầy còm của đại tá Lysander Stark đang phăm phăm chạy lại một tay cầm đèn, tay kia cầm một loại vũ khí giống như con dao phay của người bán thịt.

    Tôi vội vã chạy băng qua phòng ngủ, mở tung cửa sổ và nhìn ra ngoài.

    Dưới ánh trăng, khu vườn bên dưới trông mới tĩnh lặng, êm đềm và trong lành làm sao, và nơi tôi đang đứng cách mặt đất không quá ba mươi foot.

    Tôi trèo lên bậu cửa nhưng do dự chưa nhảy ngay mà còn đợi nghe những lời qua tiếng lại giữa người cứu mạng và kẻ côn đồ đang đuổi theo tôi.

    Nếu bà ta bị đối xử tàn nhẫn thì bằng mọi giá tôi sẽ quyết tâm quay lại để bảo vệ bà ta.

    Ý nghĩ đó chỉ kịp thoáng qua trong đầu tôi thì hắn đã đến cửa phòng và xổ đẩy người phụ nữ để xông tới, nhưng bà ta đã dang hai tay ôm chặt lấy hắn và cố gắng giữ hắn lại.

    'Fritz!

    Fritz!' Bà ta kêu lên bằng tiếng Anh.

    'Hãy nhớ lại lời hứa của anh sau vụ lần trước.

    Anh đã nói là sẽ không để cho chuyện đó lặp lại nữa mà.

    Ông ta sẽ giữ im lặng!

    Ôi, ông ta sẽ kín miệng mà!'

    'Em điên rồi, Elise!' Hắn quát to, vùng vẫy để thoát khỏi bà ta.

    'Em sẽ phá hỏng chuyện của chúng ta.

    Hắn đã nhìn thấy quá nhiều.

    Để anh đi, anh đã nói rồi đấy!'

    Hắn xô mạnh bà ta sang một bên và xông về phía cửa sổ, chém tôi bằng thứ hung khí nặng nề của hắn.

    Tôi đã buông mình xuống và đang bám hai bàn tay vào bậu cửa sổ thì hắn chém xuống.

    Tôi lờ mờ thấy đau, bàn tay đang bám vào bệ cửa sổ buông lỏng và tôi rơi xuống khu vườn bên dưới.

    Tôi bị chấn động bởi cú ngã nhưng không bị thương; do đó tôi nhổm dậy và cố hết sức chạy vào giữa những bụi cây vì tôi biết mối nguy hiểm còn đang cận kề.

    Tuy nhiên, trong lúc đang chạy thì bất thình lình tôi bị choáng váng và buồn nôn kinh khủng.

    Tôi liếc nhìn xuống bàn tay hãy còn đang đau nhói và bấy giờ mới thấy ngón tay cái của mình đã bị cắt rời và máu đang tuôn ra từ vết thương.

    Tôi gắng sức buộc khăn mùi soa quanh chỗ bị thương nhưng tai tôi chợt ù đi và liền sau đó, tôi ngã xuống bất tỉnh giữa những bụi hoa hồng.

    Tôi không biết mình đã nằm mê man như thế bao lâu.

    Chắc phải là một quãng thời gian dài vì trăng đã lặn và bình minh đang ló dạng khi tôi tỉnh lại.

    Quần áo tôi ướt đẫm vì sương đêm và tay áo thấm đầy máu từ vết thương chỗ ngón tay cái.

    Cảm giác đau nhức ở đó lập tức gợi cho tôi nhớ lại mọi chi tiết của câu chuyện mạo hiểm đêm qua và tôi đứng bật dậy với cảm giác là mình vẫn chưa thoát khỏi những kẻ truy đuổi.

    Nhưng khi nhìn quanh quất thì tôi vô cùng ngạc nhiên khi chẳng hề thấy nhà cửa hay ruộng vườn gì cả.

    Tôi đang nằm trong một góc hàng rào sát đường cái và xuôi xuống dưới một chút là một tòa nhà dài mà khi bước tới gần thì tôi nhận ra đó chính là nhà ga mà tôi đã đến đêm qua.

    Nếu không nhìn thấy vết thương xấu xí trên bàn tay thì hẳn là tôi sẽ nghĩ rằng tất cả những gì mình đã trải qua trong những giờ phút kinh hoàng vừa rồi chỉ là một cơn ác mộng.

    Hơi sững sờ, tôi bước vào nhà ga và hỏi chuyến tàu buổi sáng, có một chuyến chạy đến Reading sẽ khởi hành trong vòng chưa đầy một giờ nữa.

    Tôi nhận ra người phu khuân vác đang làm việc chính là người tôi đã thấy ở sân ga lúc mới đến đêm qua.

    Tôi hỏi xem anh ta có bao giờ nghe nói đến đại tá Lysander Stark hay không.

    Cái tên đó hoàn toàn xa lạ với anh ta.

    Anh ta có nhìn thấy cỗ xe ngựa đợi tôi vào đêm trước hay không?

    Cũng không trông thấy gì.

    Gần đây có đồn cảnh sát nào không?

    Có một đồn cách đây khoảng ba dặm.

    Trong tình trạng yếu ớt và đau đớn thế này thì tôi không thể nào đi đến đó được.

    Tôi quyết định sẽ đợi đến khi quay trở lại thành phố mới trình báo câu chuyện cho cảnh sát.

    Khi tôi đến nơi thì đã hơn 6 giờ nên việc trước tiên là tôi tìm chỗ băng bó vết thương và sau đó thì vị bác sĩ này đã tốt bụng đưa tôi đến đây.

    Tôi xin để ông lo liệu vụ này và sẽ nhất nhất tuân thủ lời khuyên của ông."

    Cả hai chúng tôi cùng ngồi lặng đi mất một lúc sau khi nghe xong câu chuyện lạ thường này.

    Sau đó, Sherlock Holmes lôi từ giá sách xuống một quyển sách nặng nề và cũ kĩ trong đó anh kẹp những mẩu tin cắt ra từ báo chí.

    "Đây là một mẩu tin mà tôi nghĩ là các ông sẽ quan tâm", anh nói.

    "Nó đã được đăng trên tất cả các báo vào khoảng một năm trước.

    Lắng nghe nhé: Ông Jeremiah Hayling, hai mươi sáu tuổi, kĩ sư thủy lực đã mất tích ngày 9 tháng này.

    Rời khỏi phòng trọ lúc 10 giờ khuya rồi sau đó không còn tin tức gì.

    Lúc đi ông mặc... vân vân và vân vân.

    Ha!

    Mẩu tin này tương ứng với lần gã đại tá cần duy tu cỗ máy trước đây.

    Tôi nghĩ thế."

    "Lạy Chúa!"

    Bệnh nhân của tôi kêu lên, "điều này đã làm sáng tỏ những lời người phụ nữ đó nói."

    "Không còn nghi ngờ gì nữa.

    Rõ ràng tên đại tá đó là một kẻ máu lạnh và liều mạng, hắn tuyệt đối dứt khoát không để cho bất cứ thứ gì cản trở trò chơi nho nhỏ của hắn, giống như bọn cướp biển tuyệt đối không tha mạng ai một khi đã chiếm được tàu.

    Được, giờ thì mỗi một phút giây đều rất quý giá, nếu ông cảm thấy đủ sức lực thì chúng ta sẽ đi đến Sở Cảnh sát London ngay lập tức để chuẩn bị khởi hành đi Eyford."

    Khoảng ba giờ sau, tất cả chúng tôi đã cùng ngồi trên chuyến tàu chạy từ Reading đến ngôi làng nhỏ Berkshire.

    Đoàn chúng tôi gồm có Sherlock Holmes, anh kĩ sư thủy lực, thanh tra Bradstreet của Sở Cảnh sát London, một cảnh sát mặc thuờng phục và tôi.

    Bradstreet đã trải một tấm bản đồ chi tiết của hạt lên mặt ghế và bận rộn dùng compa vẽ một vòng tròn lấy tâm là Eyford.

    Ông ta nói, "Đây, vòng tròn này có bán kính là mười dặm tính từ ngôi làng.

    Ngôi nhà mà ta muốn tìm phải nằm ở đâu đó gần đường thẳng này.

    Ông đã nói là mười dặm, đúng không?"

    "Vâng, khoảng một giờ chạy xe tương đối nhanh."

    "Và ông nghĩ rằng bọn chúng đã đưa ông trở lại cả quãng đường đó trong khi ông hãy còn hôn mê?"

    "Chắc chắn là họ đã làm thế.

    Tôi nhớ mang máng là mình có được nhấc lên và đem đi đâu đó."

    "Tôi không thể nào hiểu được", tôi lên tiếng, "tại sao bọn họ lại tha cho ông khi trông thấy ông nằm bất tỉnh trong vườn.

    Phải chăng tên xấu xa đó đã mềm lòng trước những lời van xin của người phụ nữ nọ?"

    "Tôi không nghĩ vậy.

    Tôi chưa từng thấy ai có bộ mặt sắt đá như thế."

    "Ồ, rồi chúng ta sẽ làm sáng tỏ mọi chuyện thôi", Bradstreet nói.

    "Nào, tôi đã vẽ ra vòng tròn này và tôi chỉ mong sao xác định được đám người mà chúng ta đang tìm hiện đang ở điểm nào trong đó."

    "Tôi nghĩ rằng mình đã có thể chỉ ra được", Holmes lặng lẽ nói.

    "Thật chứ?"

    Viên thanh tra kêu lên.

    "Ông đã có nhận định rồi ư?

    Nào, để xem có ai cùng ý kiến với ông.

    Tôi nói nó nằm ở phía nam, vì vùng nông thôn ở đó hoang vắng hơn."

    "Còn tôi thì cho là ở phía đông", bệnh nhân của tôi lên tiếng.

    "Theo tôi thì nó nằm ở phía tây", người cảnh sát mặc thường phục nói.

    "Ở đó có vài ngôi làng nhỏ rất yên tĩnh."

    "Còn tôi thì nghĩ rằng nó ở phía bắc", tôi nói, "vì ở đó không có ngọn đồi nào, và người bạn của chúng ta đã nói rằng anh ấy không thấy xe phải leo dốc lần nào."

    "Xem nào", ông thanh tra kêu to và cười phá lên, "các ý kiến khá là khác biệt.

    Chúng tôi đã chọn hết bốn hướng.

    Ông sẽ bỏ phiếu cho ai nào?"

    "Tất cả các ông đều sai."

    "Nhưng không thể nào tất cả chúng tôi đều sai được."

    "Ồ, có chứ, có thể lắm.

    Đây là điểm tôi chọn."

    Anh đặt ngón tay vào chính giữa vòng tròn.

    "Đây là nơi ta sẽ tìm thấy bọn chúng."

    "Nhưng còn chuyến xe đi suốt mười dặm thì sao?"

    Hatherley hổn hển nói.

    "Năm dặm đi và năm dặm về.

    Không còn gì đơn giản hơn.

    Chính ông đã nói là con ngựa trông rất khỏe khoắn và bóng mượt khi ông bước lên xe còn gì.

    Làm sao nó có thể khỏe như thế khi phải vượt qua mười dặm đường gồ ghề?"

    "Quả thật khả năng chúng dùng thủ đoạn này cùng lớn lắm", Bradstreet thận trọng nhận xét.

    "Tất nhiên là không còn nghi ngờ gì về bản chất của băng đảng này!"

    "Nghi ngờ gì nữa", Holmes nói.

    "Chúng là bọn đúc tiền giả với quy mô lớn và đã dùng cỗ máy đó để tạo ra một hỗn hợp kim loại thay thế cho bạc."

    "Chúng tôi có biết về một băng đảng khôn khéo đang hoạt động", ông thanh tra nói.

    "Chúng đã sản xuất ra cả ngàn đồng nửa crown.

    Thậm chí chúng tôi đã từng lần theo dấu vết của chúng đến tận Reading nhưng không thể làm được gì hơn vì bọn chúng đã xóa dấu vết bằng những cách thức chứng tỏ chúng là những tay lão luyện.

    Nhưng giờ thì, nhờ vào dịp may này, tôi nghĩ rằng ta chắc chắn sẽ tóm được chúng."

    Thế nhưng ông thanh tra đã lầm, vì những tên tội phạm ấy đã thoát khỏi bàn tay của công lí.

    Khi chúng tôi đến ga Eyford thì trông thấy một cột khói khổng lồ bốc lên từ sau một lùm cây nhỏ ở gần đó nom như một chiếc lông đà điểu to tướng phất phơ trên cảnh trí của vùng này.

    "Cháy nhà à?"

    Bradstreet hỏi khi đoàn tàu lại nhả khói lên đường.

    "Vâng, thưa ông!"

    Người trưởng ga đáp.

    "Nó xảy ra từ lúc nào?"

    "Tôi nghe nói là vào ban đêm, thưa ông, nhưng lửa càng lúc càng to và toàn bộ ngôi nhà đã chìm trong biển lửa."

    "Nhà đó của ai thế?"

    "Của bác sĩ Becher."

    "Xin vui lòng cho tôi biết", anh kĩ sư chen vào, "có phải bác sĩ Becher là một người Đức rất gầy, mũi dài và nhọn không?"

    Người trưởng ga cười vui vẻ.

    "Không đâu, thưa ông, bác sĩ Becher là người Anh và trong cả giáo khu này chẳng ai có được cái áo gilet nào lót vải xịn như của ông ta.

    Nhưng có một ông ở cùng nhà với bác sĩ, theo tôi hiểu thì đó là một bệnh nhân người nước ngoài và trông bộ dạng người này thì chắc thịt bò Berkshire không hại gì cho ông ta."

    Trưởng ga còn chưa kịp nói dứt lời thì cả bọn chúng tôi đã vội vã lao về phía đám cháy.

    Con đường đi lên đỉnh một ngọn đồi thấp và một tòa nhà rộng lớn quét vôi trắng toát hiện ra trước mặt chúng tôi, lửa vẫn phun ra từ mọi khe hở và các cửa sổ, còn trong khu vườn phía trước nhà, ba chiếc xe cứu hỏa vẫn đang cố gắng kiểm soát ngọn lửa nhưng vô vọng.

    "Đúng là căn nhà đó!"

    Hatherley kêu lên trong niềm phấn khích cực độ.

    "Kia là con đường trải sỏi và kia là những bụi hồng tôi đã nằm bên.

    Còn cửa sổ thứ hai kia chính là nơi tôi đã nhảy xuống."

    Holmes nói, "Vậy thì ít ra ông cũng đã trả thù được chúng.

    Không còn nghi ngờ gì nữa, ngọn đèn dầu của ông khi bị cỗ máy ép vỡ đã khiến mấy tấm vách gỗ bắt lửa, lúc ấy chắc chắn bọn chúng đang mải truy đuổi ông nên không để ý.

    Giờ thì ông hãy cố mở to mắt tìm kiếm những người bạn của mình đêm qua trong đám đông kia, dù tôi e rằng đến lúc này bọn chúng đã cao chạy xa bay khỏi đây cả trăm dặm rồi."

    Và nỗi lo của Holmes quả không sai vì từ hôm đó đến nay không ai hay tin gì về người phụ nữ xinh đẹp, gã người Đức độc ác hay ông người Anh rầu rĩ.

    Sáng sớm hôm đó, một người nông dân đã nhìn thấy một cỗ xe ngựa chở vài người và một số rương hòm cồng kềnh đang phóng nhanh về hướng Reading, nhưng đến đó thì mọi dấu vết của những kẻ chạy trốn đều biến mất và ngay cả tài trí của Sherlock Holmes cũng không tìm ra được manh mối nào dù là nhỏ nhất về nơi ẩn náu của chúng.

    Những người lính cứu hỏa đã rất bối rối vì cấu trúc lạ lùng mà họ nhìn thấy bên trong căn nhà và lại càng lo sợ hơn khi phát hiện ra một ngón tay cái mới bị cắt lìa trên bậu cửa sổ tầng ba.

    Tuy vậy, đến khi mặt trời lặn thì những cố gắng của họ cuối cùng cũng đạt được kết quả và họ đã dập được ngọn lửa, nhưng trước đó mái nhà đã sập xuống và toàn bộ ngôi nhà chỉ còn là một đống đổ nát, ngoại trừ vài ống xilanh và ống sắt méo mó ra, chẳng còn lại chút dấu vết nào của cỗ máy đã khiến cho anh bạn xui xẻo của chúng tôi phải trả một cái giá quá đắt.

    Người ta phát hiện từng đống nickel và thiếc to đùng cất trữ trong một chái nhà phụ, nhưng không tìm được một đồng tiền nào, chẳng thế mà có người đã nhắc đến những rương hòm kếch xù trên cỗ xe ngựa của những kẻ trốn chạy.

    Còn việc người kĩ sư thủy lực được đưa từ khu vườn đến nơi mà anh ta tỉnh lại bằng cách nào thì có thể mãi mãi vẫn còn là bí mật nếu không có lớp đất tơi xốp tiết lộ cho chúng tôi một chuyện rất đơn giản.

    Rõ ràng là anh ta đã được hai người khiêng đi, một người có bàn chân rất nhỏ còn người kia thì có bàn chân to lớn bất thường.

    Tóm lại, rất có thể tay người Anh trầm lặng, vốn ít táo bạo hoặc không sẵn máu sát nhân như đồng bọn của hắn nên đã giúp người phụ nữ đưa nạn nhân đang bất tỉnh ra khỏi nơi nguy hiểm.

    "Chao ôi", anh chàng kĩ sư rầu rĩ nói khi chúng tôi lên tàu để trở về London, "công việc hay ho thế đấy!

    Tôi đã bị mất ngón tay cái, lại còn mất luôn món tiền thù lao năm mươi guinea, mà tôi có nhận được gì đâu?"

    "Kinh nghiệm", Holmes đáp và cười phá lên.

    "Nó có thể có giá trị một cách gián tiếp!

    Ông biết đấy, ông chỉ cần thuật lại câu chuyện là ông sẽ được tiếng là người bầu bạn lí tưởng suốt quãng đời còn lại."
     
    Sherlock Holmes Toàn Tập
    NHÀ QUÝ TỘC ĐỘC THÂN (The Noble Bachelor, 1892)


    Đám cưới của huân tước St.

    Simon và cái kết lạ lùng của nó, từ lâu đã không còn là đề tài gây hứng thú cho giới quý tộc mà chú rể giao du.

    Những vụ tai tiếng mới mẻ đã làm cho nó bị lu mờ và những chi tiết thú vị hơn trong các vụ này đã thu hút hết những lời đồn đại khiến người ta không còn bận tâm về tấn kịch từ bốn năm trước nữa.

    Tuy vậy, tôi có lí do để tin tưởng rằng những chi tiết chính thức chưa bao giờ được tiết lộ với công chúng và vì anh bạn Sherlock Holmes của tôi có đóng góp đáng kể trong việc làm sáng tỏ vụ này, nên tôi cảm thấy hồi kí về anh sẽ chẳng thể nào đầy đủ nếu thiếu đi vài nét phác họa về sự kiện đặc biệt này.

    Câu chuyện xảy ra trước đám cưới của tôi vài tuần, trong những ngày tôi còn ở chung với Holmes tại căn nhà trên phố Baker.

    Hôm ấy, anh trở về nhà sau chuyến đi dạo buổi chiều thì nhìn thấy một lá thư đang đợi mình trên bàn.

    Suốt cả ngày dài, tôi chỉ ngồi ở nhà vì trời đột ngột đổ mưa kèm theo những cơn gió thu thổi rất mạnh và vết thương do đạn súng hỏa mai mà tôi mang về như kỉ vật của cuộc chiến ở Afghanistan lại gây nhức nhối âm ỉ.

    Ngồi trên chiếc ghế bành, hai chân vắt lên một chiếc ghế khác, tôi vùi mình giữa một đống báo, mãi đến khi đã bão hòa với những tin tức trong ngày tôi mới quăng hết chúng đi và nằm bơ phờ, mắt nhìn vào hình vầng trăng khuyết to tướng và những chữ cái lồng vào nhau trên phong bì nằm ở bàn, uể oải tự hỏi không biết nhà quý tộc viết thư cho bạn mình là ai.

    "Đây là một bức thư rất kiểu cách", tôi nhận xét khi anh bước vào phòng.

    "Những lá thư đưa đến cho anh lúc sáng, nếu tôi nhớ không lầm, là của một người bán cá và một nhân viên thuế quan."

    "Phải, hẳn nhiên là thư từ của tôi có sự đa dạng rất thú vị", anh mỉm cười trả lời, "và thường thường những lá thư nào càng có vẻ khiêm nhường thì lại càng lí thú.

    Bức thư này trông giống như một cái thư mời xã giao không mong đợi, đòi hỏi người ta hoặc là phải chịu đựng sự chán chường khi đi dự, hoặc là phải nói dối để chối từ."

    Anh bóc dấu niêm phong và liếc sơ qua nội dung.

    "Ồ, xem này, rốt cuộc nó có vẻ khá lí thú đây."

    "Không phải thư mời xã giao à?"

    "Không, hoàn toàn là công việc."

    "Và từ một thân chủ có dòng dõi quý tộc?"

    "Một trong những người có địa vị cao nhất ở nước Anh."

    "Anh bạn thân mến, xin chúc mừng anh."

    "Nói thật lòng nhé, Watson, tôi cam đoan là tôi không quan tâm đến địa vị của khách hàng bằng sự thú vị trong vụ của ông ta.

    Tuy vậy, có thể vụ điều tra mới này cũng không thiếu đặc tính đó.

    Gần đây anh chăm đọc báo lắm, phải không nào?"

    "Có vẻ thế', tôi buồn rầu đáp và chỉ tay vào một chồng báo dày cộp nằm trong góc phòng.

    "Tôi chẳng còn việc gì khác để làm."

    "May nhỉ, vì như thế anh có thể cập nhật tin tức cho tôi.

    Tôi chẳng xem mục gì khác ngoài các tin tức về tội phạm và mục tin nhắn.

    Chuyên mục ấy luôn cung cấp cho ta nhiều tư liệu.

    Nhưng nếu anh theo dõi sát sao các sự kiện gần đây, hẳn là anh đã đọc tin về huân tước St.

    Simon và đám cưới của ông ta rồi chứ?"

    "Ồ, tôi đã đọc rồi, với sự quan tâm sâu sắc nhất."

    "Thế thì tốt.

    Lá thư tôi đang cầm đây là do huân tước St.

    Simon gửi đến.

    Tôi sẽ đọc cho anh nghe và đổi lại, anh phải xem lại chồng báo đó và kể cho tôi biết những gì có liên quan đến vấn đề này.

    Đây, ông ta viết thế này:

    Ông Sherlock Holmes thân mến!

    Huân tước Backwater cho tôi biết rằng tôi có thể hoàn toàn tin cậy vào tài xét đoán và sự kín đáo của ông.

    Vì vậy, tôi quyết định sẽ đến gặp và tham khảo ý kiến của ông về sự kiện vô cùng đau lòng vừa xảy ra có liên quan đến hôn lễ của tôi.

    Ông Lestrade của Sở Cảnh sát London đã bắt tay vào việc này, nhưng ông ta quả quyết với tôi rằng sẽ không phản đối nếu ông hợp tác và còn cho rằng sự phối hợp này có thể hỗ trợ phần nào cho công cuộc điều tra.

    Tôi sẽ đến chỗ ông lúc 4 giờ chiều nay và nếu ông đã có cuộc hẹn nào khác vào thời điểm đó thì tôi hi vọng là ông sẽ hoãn nó lại vì vấn đề này vô cùng quan trọng.

    Chân thành,

    ST.

    SIMON

    "Thư gửi từ lâu đài Grosvenor được viết bằng bút lông ngỗng và nhà quý tộc đã không may bị dính một đốm mực ở mặt ngoài của ngón út bên tay phải", Holmes nhận xét khi gấp bức thư lại.

    "Ông ta hẹn 4 giờ.

    Giờ đã là 3 giờ rồi.

    Ông ta sẽ đến sau một giờ nữa."

    "Vậy thì tôi vẫn còn thời gian để hiểu rõ vấn đề với sự hỗ trợ của anh.

    Phiền anh mở hộ tôi mấy tờ báo này và sắp xếp các mẩu tin theo thứ tự thời gian, trong lúc đó tôi sẽ xem qua vài thông tin về vị thân chủ của chúng ta."

    Anh lấy một cuốn bìa đỏ từ giá sách tham khảo bên cạnh mặt lò sưởi.

    "Phần nói về ông ta đây rồi", anh nói, rồi ngồi xuống và mở tài liệu, đặt lên đầu gối.

    "Huân tước Robert Walsingham de Vere St.

    Simon, thứ nam của quận công Balmoral.

    Hừm!

    Huy hiệu: Nền màu thiên thanh, có hình ba chiếc chông sắt bốn cạnh nằm trên một dải băng đen.

    Sinh năm 1846.

    Ông ta đã bốn mươi mốt tuổi, độ tuổi chín chắn để thành hôn, cựu thứ trưởng về các vấn đề tại thuộc địa.

    Ngài quận công, cha của ông ta đã có thời là bộ trưởng bộ Ngoại giao.

    Họ thừa hưởng dòng máu Plantagenet trực hệ và dòng máu Tudorvề bên ngoại.

    Ha!

    Chả có thông tin gì quan trọng trong cả mớ này.

    Watson này, tôi nghĩ là phải quay sang anh để xem có tìm được dữ liệu nào tốt hơn không."

    "Tìm thứ anh cần chẳng mấy khó khăn", tôi đáp, "vì các dữ kiện đều khá mới mẻ và vấn đề này gây ấn tượng đặc biệt với tôi.

    Tuy vậy, tôi ngại nói với anh về chuyện đó vì tôi biết lúc ấy anh đang vướng bận một cuộc điều tra và anh không thích bị xen ngang bởi những vụ việc khác."

    "Ồ, ý anh muốn nói đến vụ chiếc xe chở đồ ở quảng trường Grosvenor chứ gì?

    Vụ đó đã được làm sáng tỏ rồi - mà thật ra nó đã khá rõ ràng ngay từ đầu.

    Anh hãy đưa tôi xem những gì mà anh đã chọn ra từ đống báo đi nào."

    "Đây là mẩu tin đầu tiên mà tôi tìm thấy.

    Nó nằm trong mục tin riêng của tờ MorningPost và ngày đăng thì như anh thấy đấy, từ vài tuần trước: Một cuộc hôn nhân đã được sắp xếp, và nếu như lời đồn đại là đúng thì hôn lễ sẽ sớm diễn ra giữa huân tước Robert St.

    Simon, thứ nam của quận công Balmoral và cô Hatty Doran, ái nữ duy nhất của ngài Aloysius Doran ở San Francisco, California, Mỹ.

    Thế thôi."

    "Ngắn gọn và đi thẳng vào vấn đề," Holmes nhận xét trong khi duỗi đôi chân dài, gầy guộc về phía lò sưởi.

    "Một tờ báo đưa tin về xã hội thượng lưu cũng ra trong tuần đó có một đoạn nói rõ hơn về việc này.

    À, nó đây rồi: Chẳng bao lâu nữa, chúng ta sẽ cần có biện pháp bảo vệ thị trường cưới hỏi vì nguyên tắc tự do thương mại hiện nay có vẻ như đang gây bất lợi nặng nề cho các sản phẩm nội địa của chúng ta.

    Vai trò tề gia trong các dòng dõi quý tộc vương quốc Anh cứ lần lượt về tay những cô em họ xinh đẹp của chúng ta ở bên kia bờ Đại Tây Dương.

    Mới tuần rồi, lại thêm một cái tên quan trọng được bổ sung vào danh sách các chiến lợi phẩm bị những kẻ xâm lược duyên dáng này chiếm mất.

    Huân tước St.

    Simon, người đã kháng cự những mũi tên của thần ái tình trong hơn hai mươi năm qua, hiện đã tuyên bố dứt khoát về cuộc hôn nhân sắp tới với cô Hatty Doran, nàng ái nữ rất quyến rũ của một triệu phú ở California.

    Cô Doran có vóc dáng yêu kiều và khuôn mặt đầy ấn tượng từng thu hút rất nhiều sự chú ý tại lễ hội ở Westbury House, vốn là con một và theo những nguồn tin gần đây thì của hồi môn của cô sẽ lên đến hơn sáu chữ số với nhiều triển vọng hấp dẫn trong tương lai.

    Có một điều tế nhị mà ai cũng biết là trong vòng vài năm gần đây, quận công Balmoral đã buộc phải bán tranh của mình và huân tước St.

    Simon không có tài sản riêng nào ngoại trừ một dinh cơ nhỏ ở Birchmoor, vậy nên rõ ràng người nữ thừa kế đến từ California không phải là người duy nhất được lợi trong cuộc kết giao mà nhờ đó cô tiểu thư Cộng hòa dễ dàng trở thành một phu nhân quý tộc Anh."

    "Còn gì nữa không?"

    Holmes vừa hỏi vừa ngáp.

    "Ồ, còn nhiều chứ!

    Tiếp theo còn có một bài viết trên tờ Morning Post nói rằng hôn lễ sẽ cực kì kín đáo và được tổ chức tại nhà thờ St.

    George, quảng trường Hanover, chỉ có độ năm, sáu bạn hữu thân tình được mời, và sau đó tất cả sẽ trở về dự tiệc tại căn nhà đầy đủ tiện nghi ở Lancaster Gate mà ông Aloysius Doran mới mua.

    Hai ngày sau - tức là thứ tư vừa rồi - có một mẩu thông cáo ngắn gọn cho biết đám cưới đã diễn ra và họ sẽ trải qua tuần trăng mật tại điền trang của huân tước Backwater, gần Petersheld.

    Đó là tất cả các thông cáo được đăng trước khi cô dâu biến mất!"

    "Trước khi sao cơ?"

    Holmes giật mình hỏi lại.

    "Cô dâu biến mất."

    "Cô ta biến mất lúc nào?"

    "Tại bữa tiệc cưới."

    "Thế à?

    Chuyện này đúng là lí thú hơn ta tưởng, phải nói là khá kịch tính ấy chứ."

    "Phải, tôi có cảm giác nó không được bình thường cho lắm."

    "Người ta thường bỏ trốn trước lễ cưới và đôi khi là trong tuần trăng mật; nhưng tôi chưa bao giờ gặp trường hợp nào xảy ra nhanh như thế.

    Xin anh hãy cho tôi biết thêm chi tiết."

    "Tôi báo trước cho anh biết là thông tin còn sơ sài lắm."

    "Biết đâu ta có thể cải thiện chút gì."

    "Các chi tiết đó được công bố trong một bài báo duy nhất trên một tờ báo ra vào sáng qua, tôi sẽ đọc cho anh nghe.

    Dòng tít của nó là:

    Sự cố lạ thường trong một đám cưới thượng lưu.

    Gia đình huân tước Robert St.

    Simon đã rơi vào tình cảnh vô cùng sửng sốt trước những sự cố lạ lùng và buồn phiền có liên quan đến hôn lễ của huân tước.

    Như đã được thông báo ngắn gọn trên báo chí ngày hôm qua, hôn lễ đã được cử hành vào buổi sáng hôm trước; nhưng đến bây giờ mới có thể khẳng định những lời đồn lạ lùng về sự kiện này là thực.

    Bất chấp những nỗ lực của các bạn hữu nhằm bưng bít sự cố đến thời điểm này, vụ việc trên đã thu hút quá nhiêu sự chú ý của công chúng nên dẫu có giả bộ phớt lờ câu chuyện mà dư luận đang bàn tán xôn xao e cũng là vô ích.

    Nghi lễ đã được cử hành rất kín đáo tại nhà thờ St.

    George, quảng trường Hanover.

    Những người có mặt bao gồm thân phụ của tân nương - ông Aloysius Doran, quận công phu nhân Balmoral, huân tước Backwater, huân tước Eustace và tiểu thư Clara St.

    Simon (em trai và em gái của tân lang) cùng với tiểu thư Alicia Whittington, ngoài ra không còn ai khác.

    Sau đó, toàn bộ tân khách đến nhà ông Aloysius Doran ở Lancaster Gate, tại đây tiệc cưới đã được dọn sẵn.

    Dường như một người phụ nữ hiện vẫn chưa rõ tên đã gây rắc rối bằng cách cố tình xông vào nhà sau bữa tiệc cưới và tuyên bố rằng cô ta có quyền đòi hỏi đối với huân tước St.

    Simon.

    Sau một hồi đôi co dữ dội và dai dẳng, viên quản gia cùng với người phục vụ mới tống được cô ta đi.

    May mà cô dâu đã vào nhà trước khi xảy ra sự gián đoạn không vui ấy, cô ngồi vào bàn dùng bữa với các thực khách rồi cho biết là mình đột nhiên cảm thấy khó ở và trở về phòng riêng.

    Việc cô vắng mặt quá lâu khiến mọi người bắt đầu bàn tán, cha cô bèn lên phòng tìm thì được người hầu gái cho biết là cô chỉ vào phòng trong chốc lát để lấy áo choàng và mũ rồi tất tả đi xuống hành lang.

    Một người hầu quả quyết là anh ta có nhìn thấy một người phụ nữ rời khỏi nhà trong y phục giống như thế nhưng lúc ấy anh ta lại không nghĩ đó là cô chủ vì cho rằng cô đang ngồi ăn cùng với mọi người.

    Khi biết chắc rằng con gái mình đã biến mất, ông Aloysius Doran cùng với chú rể lập tức báo cảnh sát, những cuộc điều tra hiện đang được tiến hành ráo riết có thể sẽ nhanh chóng làm sáng tỏ vụ việc hết sức kì lạ này.

    Tuy nhiên, mãi đến khuya hôm qua vẫn chưa tìm thấy manh mối nào cho biết người phụ nữ bị mất tích hiện đang ở đâu.

    Có tin đồn rằng trong vụ này chắc có âm mưu thâm độc gì đây, và nghe nói cảnh sát đã bắt giữ người đàn bà gây náo loạn lúc đầu vì tin rằng do ghen tuông hoặc một nguyên cớ nào khác mà cô ta có thể có liên quan đến vụ mất tích bí ẩn của cô dâu.

    "Tất cả chỉ có thế thôi ư?"

    "Chỉ có thêm một mẩu tin ngắn đăng trên một tờ báo buổi sáng khác, nhưng nó cũng gợi lên vài điều."

    "Điều đó là..."

    "Là cô Flora Millar, người phụ nữ gây rắc rối, hiện đang bị bắt giam.

    Hình như trước kia cô ta là một danseuse ở Allegro và đã quen biết với chú rể được vài năm.

    Ngoài ra không có gì cụ thể hơn, vậy là anh đã nắm được toàn bộ những gì báo chí đã công bố về vụ này."

    "Và đây có vẻ là một vụ cực kì lí thú.

    Không đời nào tôi bỏ qua đâu.

    Nhưng có tiếng chuông reo rồi kìa, Watson, đồng hồ chỉ đã hơn 4 giờ, tôi tin chắc đó chính là vị khách thượng lưu của chúng ta.

    Đừng nghĩ đến chuyện rời đi nhé, Watson, vì tôi rất muốn có một người chứng kiến, ít ra là để có thể kiểm tra xem mình nhớ có đúng không."

    "Huân tước Robert St.

    Simon", cậu bé giúp việc của chúng tôi thông báo khi mở toang cánh cửa.

    Một quý ông bước vào với khuôn mặt trí thức, ưa nhìn, sống mũi cao, da hơi xanh xao, khóe miệng có nét gì đó giống như là bực bội và đôi mắt mở to điềm tĩnh của một người có số sung sướng đã quen với việc ra lệnh và được người khác tuân theo, ông ta có tác phong nhanh nhẹn, tuy thế dáng vẻ bên ngoài lại có vẻ không phù hợp với độ tuổi vì ông ta hơi khom người về đằng trước và đầu gối hơi cong khi bước đi.

    Cả mái tóc nữa, khi ông ta nhấc chiếc mũ vành cong ra, có thể thấy tóc ông ta đã lốm đốm hoa râm và mỏng đi ở đỉnh đầu.

    Còn về y phục, cách ăn mặc của ông ta chỉn chu đến mức gần như quá chưng diện với áo cổ cao, măng tô đen, gilet trắng, găng tay vàng, giày da bóng và ghệt sáng màu.

    Ông ta chậm rãi bước vào phòng, quay đầu từ trái sang phải và bàn tay phải thì đung đưa sợi dây đeo kính gọng vàng.

    "Xin chào ngài, huân tước St.

    Simon", Holmes cất tiếng trong khi đứng lên và cúi chào.

    "Mời ngài ngồi vào chiếc ghế mây này.

    Đây là người bạn và cũng là cộng sự của tôi, bác sĩ Watson.

    Mời ngài xích lại gần lò sưởi một chút và chúng ta sẽ cùng bàn luận về vấn đề này."

    "Đó là vấn đề phiền muộn nhất đối với tôi, chắc là ông có thể dễ dàng hình dung ra, ông Holmes ạ.

    Tôi đau nhói đến tận tâm can.

    Tôi hiểu rằng ông đã xử lí nhiều vụ tế nhị tương tự, thưa ông, nhưng chắc là không thuộc cùng giai tầng xã hội."

    "Phải, lần này có thấp hơn trước."

    "Xin lỗi, tôi chưa nghe rõ?"

    "Thân chủ trước của tôi là một vị vua."

    "Ồ, thật vậy sao?

    Tôi không tưởng tượng được.

    Vị vua nào thế?"

    "Nhà vua xứ Scandinavia."

    "Sao?

    Hoàng hậu mất tích à?"

    "Chắc ngài cũng hiểu rằng", Holmes khéo léo nói, "tôi luôn giữ kín vấn đề riêng tư của các thân chủ khác, cũng như tôi hứa sẽ giữ kín chuyện của ngài."

    "Tất nhiên rồi!

    Rất đúng!

    Rất tốt!

    Xin ông bỏ qua cho câu hỏi đó.

    Còn về chuyện của tôi, tôi sẵn sàng cung cấp mọi thông tin có thể giúp ông hiểu tường tận vấn đề."

    "Cảm ơn ngài.

    Tôi đã biết tất cả tin tức trên báo chí, không cần thêm nữa.

    Tôi cho rằng bài báo này đã tường thuật đúng sự thực về việc cô dâu mất tích."

    Huân tước St.

    Simon liếc sơ qua.

    "Vâng, cho đến giờ thì sự việc xảy ra đúng như thế."

    "Nhưng trước khi có thể đưa ra ý kiến thì tôi cần thêm khá nhiều chi tiết bổ sung.

    Tôi nghĩ rằng cách trực tiếp nhất để có thể xác lập các dữ kiện là đặt ra vài câu hỏi với ngài."

    "Xin ông cứ hỏi."

    "Ngài gặp cô Hatty Doran khi nào?"

    "Ở San Francisco, một năm trước."

    "Trong chuyến du lịch của ngài đến nước Mỹ?"

    "Vâng."

    "Lúc ấy ngài đã đính hôn với cô ấy chưa?"

    "Chưa."

    "Nhưng hẳn là giữa hai người đã thiết lập mối quan hệ bạn bè?"

    "Tôi vui khi có nàng bên cạnh, và nàng cũng biết điều đó."

    "Cha của cô ấy rất giàu, có phải không?"

    "Người ta đồn rằng ông ấy giàu nhất vùng sườn dốc Thái Bình Dương"

    "Ông ta làm giàu bằng cách nào?"

    "Khai mỏ.

    Vài năm trước ông ấy còn chưa có gì cả.

    Rồi ông ấy đào được vàng, dùng vàng đó để đầu tư và giàu lên rất nhanh."

    "Vậy ngài có ấn tượng thế nào về tính cách của tiểu thư, vợ mới cưới của ngài?"

    Nhà quý tộc đung đưa cặp kính mắt nhanh hơn và nhìn thẳng vào ngọn lửa.

    "Ông Holmes này, ông thấy đấy", ông ta nói, "vợ tôi đã hai mươi tuổi trước khi cha nàng trở nên giàu có.

    Suốt thời gian đó, nàng tự do chạy nhảy quanh các trại mỏ và lang thang trong rừng núi, vì thế mà nàng học từ thiên nhiên nhiều hơn là từ các giáo viên.

    Con người của nàng là kiểu mà ở Anh chúng ta gọi là một cô gái hiếu động, với tính cách mạnh mẽ, hoang dã và tự do, không hề bị phép tắc lễ nghi trói buộc.

    Có thể nói nàng là một ngọn núi lửa mãnh liệt.

    Nàng luôn quyết định một cách lẹ làng và đã quyết là làm mà chẳng kiêng sợ gì.

    Mặt khác, tôi hẳn đã không trao tặng cho nàng cái thanh danh của dòng họ mà tôi có vinh dự được mang", ông ta hắng giọng một cách trịnh trọng, "nếu tôi không nhận thấy bản chất cao quý của nàng.

    Tôi tin rằng nàng có thể sẵn sàng hi sinh thân mình vì nghĩa và ghét bỏ bất cứ điều gì đáng hổ thẹn."

    "Ngài có bức ảnh nào của cô ấy không?"

    "Tôi có mang theo bên mình đây," ông ta mở một mặt dây chuyền có lồng ảnh và cho chúng tôi xem khuôn mặt chính diện của một người phụ nữ rất duyên dáng.

    Đó không phải là ảnh chụp mà là một bức tiểu họa màu ngà và người họa sĩ đã làm nổi bật trọn vẹn vẻ đẹp của mái tóc huyền bóng mượt, đôi mắt to đen và khóe miệng cực kì tinh tế.

    Holmes chăm chú ngắm nhìn với vẻ nghiêm túc.

    Rồi anh đóng mặt dây chuyền lại và trao trả cho huân tước St.

    Simon.

    "Thế rồi cô gái ấy đến London và hai người nối lại mối quan hệ?"

    "Phải, cha nàng đưa nàng đến London vào mùa xã giao vừa rồi.

    Tôi có gặp nàng vài lần, rồi cầu hôn và giờ thì đã cưới nàng."

    "Hẳn là cô ấy đã đem lại một món hồi môn đáng kể?"

    "Một món hồi môn kha khá.

    Cũng không nhiều hơn mức bình thường trong gia tộc tôi."

    "Và tất nhiên là món hồi môn đó vẫn thuộc về ngài, vì hôn sự được xem như fait accompli."

    "Tôi thật sự chưa hỏi han gì về vấn đề này!"

    "Đương nhiên rồi.

    Ngài có gặp cô Doran vào hôm trước đám cưới không?"

    "Có."

    "Lúc đó cô ấy vui vẻ chứ?"

    "Không thể nào vui vẻ hơn thế.

    Nàng nói luôn miệng về những việc chúng tôi sẽ làm trong cuộc sống sau này."

    "Quả vậy!

    Thật là thú vị.

    Thế còn buổi sáng hôm đám cưới thì sao?"

    "Nàng hết sức tươi tắn, ít ra thì cũng đến khi xong lễ."

    "Và sau đó ngài có để ý thấy sự thay đổi nào ở cô ấy không?"

    "À, nói thật thì lúc đó là lần đầu tiên tôi đã nhận thấy những dấu hiệu cho thấy tính khí hơi dễ nổi nóng của nàng.

    Tuy vậy, sự việc ấy quá nhỏ nhặt và có thể cũng chẳng liên quan gì tới chuyện này?"

    "Nhưng dù sao thì ngài cũng nên thuật lại cho chúng tôi nghe."

    "Ồ, chỉ là chuyện trẻ con thôi.

    Nàng đánh rơi bó hoa khi chúng tôi đi về phía phòng áo lễ.

    Lúc đó nàng đang đi ngang qua băng ghế dài ở hàng đầu và nó rơi vào băng ghế đó.

    Nàng dừng lại một chút, nhưng rồi quý ông ngồi ở hàng ghế đó đã trao bó hoa lại cho nàng và trông nó không hề có vẻ bị giập nát.

    Tuy nhiên, khi tôi nói với nàng chuyện ấy thì nàng lại đáp lời tôi cộc lốc; và lúc ngồi trong xe để về nhà thì nàng có vẻ căng thẳng đến vô lí về chuyện vặt vãnh ấy?"

    "Thế à?

    Ngài nói rằng có một người đàn ông ngồi ở băng ghế dài.

    Vậy là người ngoài cũng có mặt ở đó?"

    "Ồ, vâng.

    Không thể đuổi họ ra khi nhà thờ đã mở cửa."

    "Người đàn ông đó không phải là bạn của vợ ngài chứ?"

    "Không, không phải.

    Tôi gọi anh ta là quý ông chỉ vì lịch sự thôi chứ trông anh ta có vẻ là thường dân thôi.

    Tôi không để ý đến vẻ ngoài của anh ta lắm.

    Nhưng tôi nghĩ chúng ta đang đi xa vấn đề rồi."

    "Vậy là huân tước phu nhân St.

    Simon trở về từ lễ cưới trong trạng thái kém vui hơn lúc đi.

    Khi bước vào nhà cha mình thì cô ấy làm gì?"

    "Tôi nhìn thấy nàng nói chuyện với cô hầu."

    "Người đó là ai?"

    "Tên của cô ta là Alice.

    Cũng là người Mỹ và đến từ California cùng với vợ tôi."

    "Cô ta có phải là một người hầu thân tín không?"

    "Còn hơn thế nữa.

    Tôi cho rằng vợ tôi đã để cho cô ta suồng sã với nàng quá mức.

    Nhưng tất nhiên là ở Mỹ người ta có cách nhìn nhận khác về những chuyện như vậy."

    "Vợ ngài nói chuyện với Alice trong bao lâu?"

    "Ồ, chỉ vài phút thôi.

    Lúc ấy tôi còn đang bận tâm đến việc khác."

    "Ngài không nghe thấy họ nói chuyện gì à?"

    "Phu nhân St.

    Simon nói gì đó về việc 'chiếm đất'.

    Nàng đã quen sử dụng tiếng lóng như thế.

    Tôi không hiểu ý nàng là gì."

    "Đôi khi tiếng lóng ở Mỹ rất giàu biểu cảm.

    Sau khi nói chuyện xong với cô hầu thì vợ ngài làm gì?"

    "Nàng bước vào phòng tiệc."

    "Khoác tay ngài chứ?"

    "Không, đi một mình.

    Nàng rất độc lập trong những việc nhỏ nhặt như thế.

    Thế rồi, sau khi chúng tôi ngồi vào bàn độ mười phút thì nàng vội vã đứng dậy, thì thầm vài câu xin lỗi rồi rời khỏi phòng.

    Sau đó, nàng không bao giờ quay lại nữa."

    "Nhưng theo như tôi hiểu thì cô hầu Alice khai rằng vợ ngài đã đi lên phòng, khoác một chiếc áo choàng dài ra ngoài để che bộ váy cô dâu, đội mũ rồi đi ra ngoài."

    "Đúng thế.

    Sau đó người ta trông thấy nàng bước vào công viên Hyde cùng với Flora Millar, người phụ nữ hiện đang bị giam giữ và cũng là người đã gây náo loạn ở nhà ông Doran sáng hôm đó."

    "À, vâng.

    Tôi muốn biết một số chi tiết về người phụ nữ trẻ này và mối quan hệ giữa ngài với cô ta."

    Huân tước St.

    Simon nhún vai và nhướng mày.

    "Chúng tôi có mối quan hệ thân thiết trong vài năm - có thể nói là rất thân mật.

    Cô ta thường đến Allegro.

    Tôi đối xử với cô ta cũng không tệ và cô ta chẳng có lý do gì để than phiền về tôi, nhưng ông Holmes ạ, như ông biết đấy, phụ nữ là thế.

    Flora là một cô nàng xinh xẻo, dễ thương nhưng cực kì nóng nảy và cứ bám dính lấy tôi.

    Cô ta đã viết cho tôi những bức thư khủng khiếp khi nghe tin tôi sắp lấy vợ và, nói thật với ông, lí do tôi muốn tổ chức hôn lễ kín đáo là vì tôi sợ có thể xảy ra một vụ gây rối trong nhà thờ.

    Cô ta đã đến nhà ông Doran ngay sau khi chúng tôi quay về và gắng sức xông vào, thốt ra những lời lẽ thóa mạ hết sức nặng nề với vợ tôi, thậm chí còn đe dọa nàng, nhưng tôi đã đoán trước được khả năng xảy ra những chuyện như thế nên đã bố trí hai viên cảnh sát mặc thường phục đứng sẵn ở đó, họ đã nhanh chóng tống khứ được cô ta đi.

    Cô ta đã yên lặng khi thấy rằng có làm ầm ĩ cũng chẳng được gì."

    "Vợ ngài có nghe thấy chuyện này không?"

    "Không, ơn Chúa, nàng không hay biết gì."

    "Sau đó thì người ta nhìn thấy cô ấy đi cùng với chính người phụ nữ đó?"

    "Phải.

    Đó là điều mà ông Lestrade ở Sở Cảnh sát London xem là rất nghiêm trọng.

    Người ta nghĩ rằng Flora đã dụ dỗ vợ tôi ra ngoài và giăng một cái bẫy khủng khiếp để hại nàng."

    "Vâng, đó là một giả thuyết khả dĩ."

    "Ông cũng nghĩ vậy à?"

    "Tôi không nói chắc chắn là thế.

    Nhưng bản thân ngài không cho là vậy sao?"

    "Tôi không nghĩ Flora có thể làm đau dù chỉ một con ruồi."

    "Nhưng sự ghen tuông có thể làm biến đổi tính nết người ta đến lạ lùng.

    Xin ngài cho biết ý kiến của cá nhân ngài về việc đã xảy ra."

    "Hừm, thật ra tôi đến đây nhằm tìm kiếm một giả thuyết chứ không định đề xuất ý kiến của mình.

    Tôi đã cung cấp cho ông mọi dữ kiện.

    Tuy nhiên, vì ông đã hỏi, tôi xin trả lời rằng tôi chợt nghĩ có thể sự kích động khi ý thức được mình đã vượt qua một khoảng cách vô cùng lớn về địa vị xã hội đã khiến vợ tôi có chút rối loạn tinh thần."

    "Tóm lại, cô ấy đột nhiên trở nên loạn trí?"

    "À, thật ra thì, khi tôi suy nghĩ về việc vợ tôi quay lưng lại - không phải với tôi mà là với một cơ hội rất tốt mà biết bao người ao ước, tôi khó lòng tìm ra lời giải thích khác."

    "Vâng, tất nhiên đó cũng là một giả thuyết có thể chấp nhận được", Holmes mỉm cười nói.

    "Và giờ thì, thưa huân tước St.

    Simon, tôi cho rằng mình đã tiếp nhận gần như đầy đủ dữ liệu.

    Xin phép được hỏi ngài là khi ngồi ở bàn tiệc, ngài có thể nhìn ra ngoài cửa sổ không?"

    "Chúng tôi có thể nhìn thấy phía bên kia đường và công viên."

    "Được rồi.

    Tôi nghĩ mình không nên giữ chân ngài lâu hơn nữa.

    Tôi sẽ liên lạc với ngài sau."

    "Mong ông có thể giải quyết được vấn đề này", vị khách của chúng tôi vừa nói vừa đứng lên.

    "Tôi đã giải quyết xong."

    "Sao?

    Ông nói gì?"

    "Tôi nói là mình đã giải quyết được vấn đề."

    "Thế thì vợ tôi đang ở đâu?"

    "Đó là chi tiết mà tôi sẽ nhanh chóng cho ông biết."

    Huân tước St.

    Siinon lắc đầu.

    "Tôi e rằng việc đó cần đến những trí óc khôn ngoan hơn ông hoặc tôi", ông ta nhận xét rồi cúi chào theo kiểu cổ lỗ và trịnh trọng.

    "Thật vinh dự cho cái đầu của tôi khi được huân tước đặt ngang hàng với cái đầu của ông ta", Sherlock Holmes cười nói.

    "Tôi nghĩ là mình phải tự thưởng một cốc whisky pha soda và một điếu xì gà sau toàn bộ cuộc chất vấn này.

    Tôi đã rút ra kết luận cho vụ này trước cả khi vị thân chủ của chúng ta bước vào phòng."

    "Ôi trời!"

    "Tôi đã từng ghi chép một số trường hợp tương tự, dù như tôi đã nhận xét từ trước, không có vụ nào xảy ra nhanh đến thế.

    Toàn bộ cuộc chất vấn của tôi chỉ nhằm mục đích biến những điều phỏng đoán thành kết luận chắc chắn.

    Chứng cứ gián tiếp thỉnh thoảng rất có sức thuyết phục, giống như khi anh thấy cá hồi trong sữa, trích lời của Thoreau."

    "Nhưng anh cũng chỉ nghe được những gì tôi nghe được thôi mà."

    "Thế nhưng, anh lại không biết đến những vụ tương tự đã từng xảy ra, chính chúng đã giúp tôi rất nhiều.

    Có một ví dụ tương tự ở Aberdeen vài năm trước và một vụ rất giống như thế xảy ra ở Munich một năm sau cuộc chiến Pháp - Phổ.

    Đây là một trong những trường hợp như thế!

    Nhưng kìa, suỵt, Lestrade đến rồi!

    Xin chào ông Lestrade!

    Ông sẽ thấy một cốc vại to trên mặt tủ và mấy điếu xì gà trong hộp."

    Viên thám tử nhà nước mặc một cái áo vareuse và đeo cà vạt khiến cho ông ta trông giống hệt một viên thủy thủ, và trong tay ông ta là một cái túi vải đen.

    Sau lời chào ngắn gọn, ông ta ngồi xuống và châm điếu xì gà được mời.

    "Có chuyện gì thế?"

    Holmes hỏi với một tia lấp lánh trong mắt.

    "Trông ông có vẻ bất mãn."

    "Đúng là tôi đang bất mãn.

    Đó là vì cái đám cưới quái quỷ của ngài St.

    Simon.

    Tôi không thể hiểu được tí gì về vụ này."

    "Thật ư?

    Ông làm tôi ngạc nhiên đấy!"

    "Đã có ai từng nghe về một vụ phức tạp như thế chưa?

    Mọi manh mối xem ra đều đã tuột khỏi tay tôi.

    Tôi đã lăn lộn vì nó suốt cả ngày."

    "Và có vẻ như vụ án làm cho ông bị ướt sũng rồi kìa", Holmes nói và đặt tay lên ống tay áo của ông ta.

    "Phải, tôi đã mò vét ở hồ Serpentine."

    "Để làm gì cơ chứ?"

    "Tìm kiếm thi thể của huân tước phu nhân St.

    Simon."

    Sherlock Holmes tựa người vào ghế và cười ngặt nghẽo.

    "Thế ông đã mò tìm ở đài phun nước trên quảng trường Trafalgar chưa?"

    Anh hỏi.

    "Tại sao?

    Ông muốn nói gì?"

    "Vì khả năng ông tìm được xác của cô ấy ở đó cũng ngang bằng với khả năng ông tìm được xác của cô ấy ở hồ Serpentine đấy."

    Lestrade ném cho bạn tôi một cái nhìn tức tối.

    "Tôi cho rằng ông đã biết tất cả về chuyện này?"

    Ông ta gầm gừ.

    "Đúng thế, tôi vừa được nghe các dữ kiện nhưng tôi đã biết mình cần phải làm gì."

    "Ồ, vậy sao?

    Thế ông cho rằng hồ Serpentine chẳng dính dáng gì đến vụ này à?"

    "Tôi cho rằng không."

    "Vậy thì xin ông vui lòng giải thích tại sao chúng tôi lại tìm thấy những thứ này ở đó?"

    Ông ta vừa nói vừa mở cái túi và dốc ngược xuống sàn nhà một chiếc váy cưới bằng lụa vân, một đôi giày xatanh trắng, một vòng hoa đội đầu cùng với mạng che mặt cô dâu, tất cả đều đã bị ố màu và ướt đẫm.

    "Đấy", ông ta nói và đặt một chiếc nhẫn cưới còn mới nguyên lên đống quần áo.

    "Đây là một công việc hóc búa dành cho ông đấy, thưa ngài Holmes thông thái."

    "Ồ, đúng vậy!"

    Bạn tôi nói và nhả những vòng khói xanh lơ vào không khí.

    "Ông đã mò được chúng ở hồ Serpentine à?"

    "Không.

    Một người gác công viên đã nhìn thấy chúng nổi lềnh bềnh ở mép hồ.

    Chúng đã được xác nhận là y phục của cô ta và theo tôi, nếu quần áo được tìm thấy ở đó thì hẳn là thi thể cũng ở gần đấy thôi."

    "Dựa vào cái lập luận tài ba ấy thì hẳn là xác của mọi người đều được tìm thấy không xa tủ quần áo của họ.

    Xin ông vui lòng cho biết là ông hi vọng sẽ thu được điều gì từ những thứ này?"

    "Tìm ra bằng cớ chứng tỏ là cô Flora Millar có liên quan đến vụ mất tích."

    "Tôi e rằng ông sẽ khó mà tìm được."

    "Ông cho là thế thật ư?"

    Lestrade kêu lên với thái độ gay gắt.

    "Ông Holmes này, tôi e rằng ông không được thực tế cho lắm với cái mớ suy diễn và kết luận của ông.

    Chỉ trong chừng ấy phút mà ông đã phạm đến hai sai lầm ngớ ngẩn.

    Chiếc váy này thực sự có liên quan đến cô Flora Millar."

    "Như thế nào?"

    "Trên váy có một cái túi.

    Trong túi có một cái hộp nhỏ đựng danh thiếp.

    Bên trong cái hộp đó là một mảnh giấy.

    Và đây chính là mảnh giấy đó."

    Ông ta đập mạnh mảnh giấy lên mặt bàn.

    "Ông hãy nghe này: 'Cô sẽ gặp tôi khi mọi việc đã sẵn sàng.

    Đến ngay.

    F.H.M.' Ngay từ đầu, tôi đã đặt ra giả thuyết là phu nhân St.

    Simon đã bị Flora Millar dụ dỗ ra ngoài, và cô ta cùng với những kẻ đồng lõa, chắc chắn thế, phải chịu trách nhiệm về sự mất tích của cô dâu.

    Đây này, mảnh giấy được kí tắt bằng những chữ cái đầu trong tên của Flora Millar, chắc chắn nó đã được kín đáo nhét vào tay cô dâu ở cửa và nhử cô ta đi tới chỗ bọn kia."

    "Rất giỏi, ông Lestrade ạ", Holmes nói và cười phá lên.

    "Quả thật là ông rất tài giỏi.

    Đưa tôi xem mảnh giấy nào."

    Anh cầm nó lên với vẻ thờ nhưng chỉ trong phút chốc đã tập trung hoàn toàn vào mảnh giấy và thốt lên một tiếng kêu nho nhỏ tỏ ý hài lòng.

    "Mảnh giấy này thật sự rất quan trọng", anh nói.

    "Ha!

    Ông đã thấy rồi chứ?"

    "Vô cùng quan trọng.

    Tôi nhiệt liệt chúc mừng ông."

    Lestrade nhổm dậy với vẻ đắc ý và cúi đầu nhìn.

    "Sao", ông ta hét lên, "ông đọc nhầm mặt rồi!"

    "Ngược lại, mặt này mới đúng đấy."

    "Mặt đúng ư?

    Ông có điên không?

    Mấy lời nhắn được ghi bằng bút chì ở mặt kia cơ mà."

    "Còn mặt này có vẻ là một mảnh hóa đơn của khách sạn, chính điều đó mới khiến tôi quan tâm đặc biệt."

    "Chẳng có gì trong đó cả.

    Tôi đã xem rồi", Lestrade nói.

    "Tháng 10, ngày 4, tiền phòng tám shilling, ăn sáng hai shilling sáu xu, cocktail một shilling, ăn trưa hai shilling sáu xu, li rượu sherry tám xu - tôi chẳng thấy có gì quan trọng cả."

    "Trông thì không có gì.

    Ấy vậy mà nó lại tối quan trọng.

    Còn về lời nhắn, nó cũng quan trọng, ít ra là những chữ viết tắt, vì thế mà tôi chúc mừng ông thêm một lần nữa."

    "Tôi đã mất khá nhiều thì giờ rồi", Lestrade đứng lên và nói.

    "Tôi tin vào sự lao động vất vả chứ không tin vào việc ngồi bên lò sưởi để thêu dệt những giả thuyết hay ho.

    Chào nhé, ông Holmes, và chúng ta sẽ thấy ai tìm ra lời giải trước tiên."

    Ông ta thu dọn mớ quần áo, nhét vào trong túi và đi ra cửa.

    "Gợi ý cho ông này, Lestrade", Holmes kéo dài giọng trước khi đối thủ của anh đi mất.

    "Tôi sẽ nói cho ông biết lời giải thực sự của vụ này.

    Phu nhân St.

    Simon là một nhân vật tưởng tượng.

    Bây giờ và cả trước đây không hề có một người nào như thế."

    Lestrade buồn bã nhìn bạn tôi.

    Rồi ông ta quay sang tôi, gõ lên trán ba cái, lắc đầu một cách khoa trương rồi vội vã bước đi.

    Ông ta vừa mới khép cánh cửa lại thì Holmes đã đứng dậy và mặc áo khoác.

    "Ông ta có nói đôi điều về chuyện làm việc ngoài hiện trường", anh nhận xét, "vì thế, Watson ạ, tôi nghĩ rằng tôi phải để anh ngồi lại với đống báo một lúc."

    Sherlock Holmes bỏ đi lúc 5 giờ hơn, nhưng tôi không phải ngồi một mình lâu vì trong vòng một giờ đã có người của tiệm bánh kẹo mang đến một cái hộp dẹt rất to.

    Với sự giúp đỡ của một chàng trai trẻ đi cùng, ông ta mở cái hộp ra và chẳng mấy chốc, trước sự ngạc nhiên cực độ của tôi, một bữa ăn nhẹ gồm những món nguội tuyệt ngon bắt đầu được bày ra trên chiếc bàn gỗ gụ trong căn nhà thuê khiêm tốn của chúng tôi.

    Bữa ăn gồm có một đôi chim dẽ, một con chim trĩ, một cái bánh nướng nhân patê gan ngỗng và mấy chai rượu lâu năm sóng sánh.

    Sau khi bày biện xong những món ăn xa xỉ đó, hai vị khách biến mất giống như vị thần đèn trong truyện Ngàn lẻ một đêm mà không giải thích một tiếng nào trừ lời thông báo rằng những món này đã được thanh toán và có người yêu cầu đem đến địa chỉ này.

    Gần 9 giờ tối, Sherlock Holmes hối hả bước vào phòng.

    Nét mặt anh có vẻ nghiêm trọng nhưng tia sáng trong mắt anh khiến tôi nghĩ rằng anh hài lòng với những kết luận của mình.

    "À, họ đã dọn xong bữa ăn nhẹ rồi", anh vừa nói vừa xoa hai tay vào nhau.

    "Có vẻ như anh đang đợi khách Họ đã đem đến thức ăn cho năm người."

    "Phải, tôi cho rằng sẽ có vài người khách ghé qua", anh đáp.

    "Tôi lấy làm lạ là huân tước St.

    Simon vẫn chưa đến.

    A!

    Tôi nghĩ mình đã nghe thấy tiếng bước chân của ông ta trên cầu thang."

    Quả thật là vị khách lúc chiều đang vội vàng bước vào, tay vung vẩy chiếc kính mắt mạnh hơn bao giờ hết và trên khuôn mặt quý phái hiện rõ vẻ lo lắng.

    "Vậy là ngài đã nhận được lời nhắn của tôi?"

    Holmes hỏi.

    "Vâng, và tôi phải thú nhận là nội dung của nó làm tôi sửng sốt đến cực độ.

    Ông có đủ căn cứ vững chắc để nói vậy chứ?"

    "Những bằng chứng đanh thép nhất."

    Huân tước St.

    Simon ngồi xuống một chiếc ghế và đưa tay lên trán.

    "Ngài quận công sẽ nói gì đây", ông ta lẩm bẩm, "khi ngài biết được trong dòng họ có người phải chịu một nỗi nhục nhã đến thế?"

    "Đây chỉ là một tai nạn thuần túy.

    Tôi không thể chấp nhận việc ai đó cho rằng đây là một sự ô nhục."

    "À, vì ông nhìn nhận những điều này trên một lập trường khác."

    "Tôi không thấy ai đáng trách cả.

    Tôi cũng thấy người phụ nữ đó khó mà có cách hành động nào khác cho dù cách hành động vội vã của cô ấy rõ ràng là rất đáng tiếc.

    Vì không có mẹ nên cô ấy không có ai khuyên bảo trong cơn khủng hoảng."

    "Đó là một sự xúc phạm, thưa ông, một sự xúc phạm công khai", huân tước St.

    Simon vừa nói vừa gõ gõ mấy ngón tay trên mặt bàn.

    "Mong ngài xem xét đến hoàn cảnh của cô gái đáng thương đó, cô ấy đã bị đặt vào một tình thế chưa từng xảy ra."

    "Tôi sẽ chẳng xem xét gì cả.

    Quả thật là tôi đang rất giận, tôi đã bị lợi dụng một cách đáng hổ thẹn."

    "Tôi cho là có tiếng chuông reo", Holmes nói.

    "Đúng vậy, có tiếng bước chân ở đầu cầu thang.

    E rằng tôi không thể thuyết phục được ngài nhìn nhận vấn đề một cách khoan dung, thưa huân tước St.

    Simon, vì vậy tôi đã mời một người biện hộ đến đây, may ra người đó sẽ thành công hơn tôi."

    Anh mở cửa ra và dẫn một người phụ nữ cùng một người đàn ông vào.

    "Thưa huân tước", anh nói, "xin phép được giới thiệu với ngài đây là ông bà Francis Hay Moulton.

    Tôi tin rằng ngài đã từng gặp người phụ nữ này."

    Khi nhìn thấy những vị khách mới đến, thân chủ của chúng tôi nhảy bật dậy khỏi ghế và đứng thẳng đơ ra, hai mắt nhìn xuống đất và bàn tay thọc vào ngực áo măng tô, hiện thân của lòng tự trọng bị xúc phạm.

    Người phụ nữ bước nhanh lên trước một bước và đưa tay ra cho nhà quý tộc nhưng ông ta vẫn từ chối ngước mắt lên nhìn.

    Có lẽ ông ta làm vậy cũng để khỏi bị lung lay vì vẻ mặt van nài của cô thật khó mà cưỡng lại.

    "Hẳn anh đang giận lắm, Robert", cô ấy nói.

    "Vâng, em nghĩ anh giận là hoàn toàn có lí."

    "Xin đừng đưa ra bất cứ lời biện hộ nào với tôi", huân tước St.

    Simon cay đắng nói.

    "Vâng, em biết là mình đã cư xử rất tồi tệ với anh và lẽ ra em nên nói với anh trước khi bỏ đi; nhưng lúc đó em bối rối quá và từ khi gặp lại anh Frank đây là em không còn biết nên làm gì hay nói gì nữa.

    Không biết nhờ sức mạnh nào mà em mới không ngã quỵ và ngất đi ngay trước bàn thờ."

    "Thưa bà Moulton, có lẽ tôi và bạn tôi nên lánh đi trong khi bà giải thích vấn đề chăng?"

    "Nếu tôi được phát biểu", người đàn ông lạ mặt lên tiếng, "chúng tôi đã giữ bí mật chuyện này khá lâu rồi.

    Về phần tôi, tôi muốn cả Âu châu và châu Mỹ cùng nghe thực chất của vấn đề."

    Ông ta là một người nhỏ con nhưng dẻo dai, có nước da rám nắng, râu cạo nhẵn, gương mặt thông minh và cử chỉ lanh lợi.

    "Thế thì tôi sẽ kể câu chuyện của chúng tôi ngay bây giờ", người phụ nữ nói.

    "Anh Frank đây và tôi gặp nhau vào năm 1884 ở trại McQuire gần dãy núi Rock, nơi cha tôi đang khai thác trên vùng đất đã được cấp phép.

    Chúng tôi đã đính hôn với nhau; nhưng một ngày kia, cha tôi dò trúng một vỉa quặng chứa rất nhiều vàng và phất lên trong khi anh Frank đáng thương lại gặp phải một mỏ đã bị khai thác cạn kiệt và chẳng được gì.

    Cha tôi càng giàu lên thì anh càng nghèo đi; cuối cùng, cha tôi muốn hủy hôn ước của chúng tôi nên đã đưa tôi đến 'Frisco.

    Tuy nhiên, Frank không chịu bỏ cuộc, vì thế anh theo tôi đến đó và tìm đến tôi mà không để cho cha tôi hay biết.

    Nếu ông mà biết được thì sẽ nổi giận nên chúng tôi đành lén lút gặp gỡ nhau.

    Frank bảo rằng anh sẽ ra đi để tạo dựng cơ nghiệp và chỉ quay về để hỏi cưới tôi khi nào anh giàu bằng cha tôi.

    Thế là tôi hứa sẽ đợi anh trọn đời và thề với lòng mình rằng sẽ chẳng lấy ai khác một khi anh còn sống.

    'Tại sao chúng ta không cưới nhau ngay bây giờ?' Anh hỏi.

    'Như vậy thì anh sẽ yên tâm về em và anh chỉ tuyên bố là chồng của em khi nào anh trở về.' Vậy là chúng tôi bàn tính về hôn sự và anh đã dàn xếp rất tỉ mỉ với một ông mục sư đã chuẩn bị sẵn sàng cử tọa hôn lễ cho chúng tôi, rồi chúng tôi làm lễ cưới tại đó; sau đó anh Frank ra đi tìm vận may, còn tôi thì trở về với cha mình.

    Lần kế tiếp tôi nghe được tin của Frank là khi anh đang ở Montana, rồi sau đó anh đến thăm dò quặng ở Arizona, rồi tôi lại được nghe tin của anh từ New Mexico.

    Sau đó có một bài báo dài nói về việc trại của những người thợ mỏ đã bị những người da đỏ Apache tấn công, trong danh sách những người bị giết hại có tên của Frank.

    Tôi ngất lịm đi rồi ngã bệnh hàng tháng trời sau đó.

    Cha tôi cho rằng tôi bị suy nhược nên đưa tôi đến gặp phân nửa số bác sĩ tại 'Frisco để khám bệnh.

    Hơn một năm sau đó, tôi không nhận được tin tức gì của Frank nên tôi đoán chắc là anh ấy đã thực sự qua đời.

    Thế rồi huân tước St.

    Simon đến 'Frisco và chúng tôi đi London, rồi một đám cưới được sắp xếp, cha tôi rất vui mừng, nhưng tôi lúc nào cũng cảm thấy không một người đàn ông nào trên trái đất này có thể chiếm được địa vị trong trái tim tôi vốn đã được dành cho anh Frank tội nghiệp.

    Dù vậy, nếu tôi lấy huân tước St.

    Simon thì tất nhiên là nhờ ông ấy mà tôi sẽ làm tròn bổn phận của mình.

    Chúng ta không thể ra lệnh cho con tim nhưng ta có thể điều khiển hành động của mình.

    Tôi đến trước bàn thờ cùng ông ấy với ý định sẽ cố gắng trở thành người vợ tốt cho dù không có tình yêu.

    Nhưng các ông có thể hình dung được là tôi cảm thấy như thế nào khi vừa bước đến chỗ những tay vịn trước bàn thờ thì tôi liếc mắt ra sau và trông thấy anh Frank đang đứng nhìn tôi từ hàng ghế dài đầu tiên.

    Thoạt tiên, tôi tưởng đó là hồn ma của anh ấy; nhưng khi tôi nhìn lại thì thấy anh ấy vẫn còn đứng đó với ánh mắt dò hỏi, như thể muốn biết tôi vui mừng hay hổ thẹn khi trông thấy anh ấy.

    Tôi ngạc nhiên là mình đã không ngã quỵ vì tôi biết rằng mọi thứ xung quanh đang quay cuồng và những lời nói của vị linh mục nghe như tiếng ong vo ve trong tai tôi.

    Tôi không biết mình nên làm gì.

    Tôi có nên dùng buổi lễ và gây ra một cảnh náo loạn trong nhà thờ hay không?

    Tôi liếc nhìn anh ấy một lần nữa và có vẻ như anh ấy biết được tôi đang nghĩ gì vì anh ấy giơ ngón tay lên miệng để bảo tôi hãy im lặng.

    Rồi tôi nhìn thấy anh ấy ghi vội vàng lên một mảnh giấy, thế là tôi biết anh ấy đang viết cho tôi một bức thư ngắn.

    Trên đường ra khỏi nhà thờ, khi đi ngang qua hàng ghế của anh ấy, tôi giả vờ đánh rơi bó hoa xuống bên cạnh anh ấy và anh ấy dúi mẩu giấy vào tay tôi lúc trao lại bó hoa.

    Bức thư chỉ có một dòng dặn tôi đến gặp anh ấy khi nào anh ấy báo hiệu cho tôi biết.

    Tất nhiên là tôi chẳng hề nghi ngờ rằng bổn phận hàng đầu của tôi là phải nghe lời anh ấy và tôi quyết định sẽ thực hiện bất cứ điều gì anh ấy yêu cầu.

    Khi quay trở về nhà, tôi kể lại cho người hầu của tôi nghe, cô ấy cũng biết Frank hồi còn ở California và luôn là một người bạn của anh.

    Tôi yêu cầu cô ấy đừng nói gì cả mà chỉ thu xếp vài thứ và chuẩn bị sẵn chiếc áo choàng dài cho tôi.

    Tôi nghĩ rằng lẽ ra mình nên nói chuyện với huân tước St.

    Simon nhưng điều đó vô cùng khó khăn khi có mặt mẹ của ông ấy và tất cả những nhà quý tộc khác.

    Tôi đành quyết định bỏ trốn trước rồi sẽ giải thích sau.

    Tôi mới ngồi vào bàn chưa đến mười phút thì đã thấy Frank ở bên ngoài cửa sổ, phía bên kia đường.

    Anh vẫy tay ra hiệu cho tôi rồi bắt đầu đi vào trong công viên.

    Tôi lẻn ra ngoài, khoác vội chiếc áo choàng rồi đi theo anh ấy.

    Có một người phụ nữ bước đến nói với tôi đôi điều gì đó về huân tước St.

    Simon - qua vài chi tiết ít ỏi lọt vào tai tôi thì hình như ông ấy cũng có một bí mật nho nhỏ của riêng mình trước khi làm đám cưới - nhưng tôi tìm cách thoát khỏi cô ta và chỉ ít lâu sau đã bắt kịp Frank.

    Chúng tôi cùng nhau lên một cỗ xe ngựa và đi đến căn nhà trọ mà anh ấy thuê ở quảng trường Gordon, và đó mới thật sự là đám cưới của tôi sau ngần ấy năm chờ đợi.

    Frank đã bị những người da đỏ Apache bắt giữ nhưng anh ấy đã trốn thoát và đến 'Frisco; sau khi được biết là tôi cho rằng anh ấy đã chết và đã đi Anh, anh ấy lần theo tôi đến đây và cuối cùng cũng tìm được tôi vào đúng buổi sáng ngày cử hành hôn lễ thứ nhì của tôi."

    "Tôi đọc thấy tin đó trên một tờ báo", anh chàng người Mỹ giải thích.

    "Mẩu tin đó cho biết tên của cô dâu và nhà thờ nhưng không cho biết là cô ấy sống ở đâu."

    "Thế rồi chúng tôi bàn bạc với nhau xem nên làm gì, Frank muốn công khai tất cả, nhưng tôi lại quá xấu hổ về mọi chuyện nên cảm thấy là mình nên biến mất và không bao giờ gặp lại họ nữa - có lẽ chỉ nên gửi một dòng thư cho cha tôi để báo cho ông biết là tôi hãy còn sống.

    Tôi thấy thật kinh khủng khi nghĩ đến tất cả những người danh giá ngồi quanh bàn tiệc đang chờ tôi quay lại.

    Do đó, anh Frank bảo tôi bỏ bộ váy cưới của tôi và những thứ khác cuộn thành một bó, rồi anh ném chúng ở một nơi nào đó để không ai có thể tìm thấy chúng, nhằm giúp tôi không bị phát hiện.

    Đáng lí ra chúng tôi sẽ đi Paris vào ngày mai, chỉ có điều quý ông tốt bụng này, ông Holmes, đã ghé đến chỗ chúng tôi vào tối nay, dù tôi không tài nào nghĩ ra bằng cách nào mà ông ấy tìm được chúng tôi và ông ấy đã chỉ ra rất rõ ràng và tử tế rằng tôi đã sai và anh Frank đã suy nghĩ đúng, chúng tôi sẽ tự đưa mình vào rắc rối nếu cứ mãi lén lút như thế.

    Rồi ông ấy tạo cho chúng tôi một cơ hội để nói chuyện riêng với huân tước St.

    Simon và chúng tôi đi thẳng đến nhà ông ấy ngay lập tức.

    Anh Robert, giờ thì anh đã nghe hết rồi, em rất tiếc vì đã làm anh đau khổ, em hi vọng anh không đánh giá em là quá tồi tệ."

    Huân tước St.

    Simon vẫn giữ nguyên thái độ cứng rắn nhưng đã lắng nghe toàn bộ câu chuyện dài với đôi mày nhíu lại và hai môi mím chặt.

    "Xin thứ lỗi", ông ta nói, "nhưng tôi không có thói quen bàn bạc những chuyện riêng tư nhất của mình một cách công khai thế này."

    "Vậy là anh không tha thứ cho em sao?

    Anh không muốn bắt tay trước khi em ra đi ư?"

    "Ồ, dĩ nhiên là có chứ, nếu như điều đó làm em vui lòng."

    Ông ta chìa tay ra và lạnh lùng nắm lấy bàn tay cô.

    "Tôi hi vọng rằng", Holmes đề nghị, "ngài sẽ cùng chúng tôi dùng một bữa ăn thân mật."

    "Tôi e rằng ông đã yêu cầu quá nhiều", nhà quý tộc đáp.

    "Tôi có thể buộc lòng chấp nhận những diễn biến mới nhưng khó mà vui vẻ chúc tụng họ được.

    Nếu quý vị cho phép, tôi xin chúc tất cả một buổi tối tốt đẹp."

    Ông ta nghiêng người chào tất cả chúng tôi một vòng rồi hiên ngang bước ra khỏi phòng.

    "Vậy thì tôi hi vọng ít nhất các vị cũng ban cho tôi vinh dự được ngồi cùng các vị", Sherlock Holmes nói.

    "Tôi luôn rất vui khi được gặp một người Mỹ, ông Moulton ạ, vì tôi là người tin tưởng rằng sự dại dột của một vị quân chủ và sai lầm của một thủ tướng từ ngày xửa ngày xưa sẽ không ngăn trở con cháu chúng ta một ngày kia sẽ trở thành công dân của một quốc gia rộng khắp thế giới dưới ngọn cờ có một phần tư là quốc kì Anh với những ngôi sao và đường vạch của lá cờ Mỹ?

    ***

    "Vụ này thật hấp dẫn", Holmes nhận xét khi các vị khách đã ra về, "vì nó chỉ ra rất rõ ràng rằng một sự việc lúc đầu có vẻ không thể giải thích được hóa ra lại đơn giản đến không ngờ.

    Không có gì tự nhiên bằng chuỗi các sự kiện được người phụ nữ đó kể lại và cũng không có gì kì lạ hơn khi kết quả được xem xét dưới góc nhìn của người khác, chẳng hạn như của ông Lestrade ở Sở Cảnh sát London."

    "Anh không hề bị chệch đường phải không?"

    "Ngay từ đầu, có hai dữ kiện rất rõ ràng đối với tôi, thứ nhất là người phụ nữ đã tự nguyện tiến hành hôn lễ, thứ hai là cô ấy hối hận về việc đó chỉ trong vòng vài phút sau khi trở về nhà.

    Hiển nhiên là một việc gì đó xảy ra vào buổi sáng hôm đó đã làm cho cô ấy thay đổi suy nghĩ, điều đó là gì?

    Cô ấy không thể nào nói chuyện với bất cứ ai lúc ở bên ngoài vì đang ở cạnh chú rể.

    Vậy thì cô ấy đã nhìn thấy một người nào đó chăng?

    Nếu đúng là thế thì hẳn phải là một người từ nước Mỹ, vì cô ấy mới đến Anh một thời gian ngắn nên khó có người nào gây được ảnh hưởng sâu sắc với cô ấy đến mức khiến cho cô ấy thay đổi kế hoạch hoàn toàn khi mới chỉ trông thấy người ấy.

    Anh thấy đấy, sau một quá trình loại trừ, ta đã có được giả thuyết là cô ấy có thể đã nhìn thấy một người Mỹ.

    Người Mỹ đó là ai và vì sao anh ta lại có ảnh hưởng đến thế với cô ấy?

    Có thể đó là một người tình; cũng có thể là một người chồng.

    Tôi được biết là cô ấy đã từng sống ở những vùng hoang sơ trong những điều kiện lạ thường.

    Đến đây thì tôi đã nắm được tình hình trước khi nghe huân tước St.

    Simon kể chuyện.

    Khi ông ta thuật lại cho chúng ta nghe về một người đàn ông ở hàng ghế dài, sự thay đổi thái độ của cô dâu, cách nhận thư lộ liễu là giả vờ đánh rơi bó hoa, việc cô dâu nhờ vả cô hầu thân tín và lời ám chỉ đầy ý nghĩa về sự chiếm đất- theo cách nói của thợ mỏ thì từ đó có nghĩa là cướp đoạt quyền sở hữu của một người chủ trước - thế là toàn bộ tình huống trở nên hoàn toàn rõ ràng.

    Cô ấy đã bỏ đi cùng với một người đàn ông và người đó là người tình hoặc chồng cũ - có nhiều khả năng là trường hợp thứ nhì."

    "Rồi làm sao mà anh tìm ra họ?"

    "Việc đó có vẻ khó khăn, nhưng ông bạn Lestrade đã nắm được trong tay một thông tin vô cùng quý giá mà chính bản thân ông ta cũng không biết.

    Tất nhiên là những chữ viết tắt cũng rất quan trọng, nhưng điều có giá trị hơn thế là ta đã biết được trong vòng một tuần qua, người đàn ông đó đã thanh toán hóa đơn tại một trong những khách sạn đắt tiền nhất London."

    "Bằng cách nào mà anh suy ra được là khách sạn đó đắt tiền?"

    "Thông qua giá tiền.

    Tám shilling cho một giường ngủ và tám xu cho một li rượu sherry cho thấy đây là một trong những khách sạn sang trọng nhất.

    Ở London không có mấy khách sạn tính giá tiền đắt như thế.

    Khi tìm đến khách sạn thứ hai trong số đó nằm ở đại lộ Northumberland, tôi xem trong sổ thì thấy ông Francis H.

    Moulton, một quý ông người Mỹ, chỉ mới rời khỏi khách sạn vào ngày hôm trước và khi xem qua những mục ghi chép về ông ta thì tôi chợt thấy đúng những thứ mình đã nhìn thấy trong bản sao của tờ hóa đơn.

    Những thư từ của ông ta được gửi về số 226 quảng trường Gordon, thế là tôi đi đến đó và may mắn gặp được đôi uyên ương ở nhà.

    Tôi đánh bạo đưa ra cho họ vài lời khuyên kiểu cha chú và chỉ cho họ thấy điều hay lẽ phải trên mọi phương diện, đó là họ nên tiết lộ hoàn cảnh của mình trước công chúng và đặc biệt là với huân tước St.

    Simon.

    Tôi đã mời cả hai đến đây để gặp ông ta, và như anh thấy đấy, ông ta đã đến đúng hẹn."

    "Nhưng kết quả không được tốt cho lắm", tôi nhận xét.

    "Cách cư xử của ông ta chẳng mấy độ lượng."

    "À, Watson thân mến", Holmes cười nói, "có lẽ anh cũng khó mà độ lượng được nếu như sau bao công sức vất vả tán tỉnh và lo chuẩn bị đám cưới, anh chợt nhận ra là mình đã bị nẫng mất vợ và cả một gia tài trong nháy mắt.

    Tôi nghĩ rằng ta nên đánh giá huân tước St.

    Simon một cách khoan dung và hãy cảm ơn số phận vì chúng ta khó có thể lâm vào cảnh ngộ ấy.

    Kéo cái ghế của anh lại gần đây và đưa cho tôi cây vĩ cầm nào, vấn đề duy nhất còn lại mà ta phải giải quyết là làm sao cho chóng qua những buổi tối mùa thu lạnh lẽo này."
     
    Sherlock Holmes Toàn Tập
    CHIẾC MŨ MIỆN DÁT ĐÁ BERYL (The Beryl Coronet 1892)


    "Holmes này", tôi nói vào một buổi sáng khi đứng bên khung cửa sổ rồi nhìn xuống đường, "có một người điên đang đi bên lề đường.

    Thật là buồn khi thấy gia đình ông ta để mặc người bệnh lang thang một mình như thế."

    Bạn tôi uể oải rời khỏi chiếc ghế bành và đứng nhìn qua vai tôi, hai tay thọc vào túi áo choàng ngủ.

    Hôm đó là một buổi sáng tháng 2 sáng sủa và khô lạnh, lớp tuyết rơi xuống từ hôm trước vẫn còn đọng lại trên mặt đất, lấp lánh dưới ánh mặt trời mùa đông.

    Dọc theo chính giữa phố Baker, tuyết đã bị xe cộ xới lên thành một dải vụn xốp màu nâu, nhưng tuyết ở hai bên đường thì hãy còn trắng tinh như vừa rơi xuống.

    Vỉa hè màu xám đã được quét dọn sạch sẽ và cào bớt tuyết nhưng hãy còn khá trơn trượt và nguy hiểm nên vắng khách bộ hành qua lại hơn mọi ngày.

    Thật vậy, từ hướng nhà ga Metropolitan đến đây chẳng có một ai ngoại trừ người đàn ông đơn độc có hành vi kì quái khiến tôi phải chú ý đó.

    Ông ta khoảng năm mươi tuổi, cao to, bệ vệ, mặt to, đậm nét và dáng vẻ uy nghi, ông ta mặc một bộ y phục tối màu nhưng có kiểu dáng sang trọng, gồm một chiếc áo măng tô màu đen, cái mũ mới tinh, đôi ghệt màu nâu gọn gàng và chiếc quần màu xám ngọc trai cắt rất khéo.

    Thế nhưng hành vi của ông ta lại tương phản đến nực cười với vẻ ngoài đường hoàng ấy vì ông ta đang chạy rất nhanh, đôi lúc lại hơi tập tễnh như kiểu của một người rất mệt vì không quen bắt đôi chân làm việc.

    Vừa chạy ông ta vừa vung vẫy hai tay, lúc lắc cái đầu và khuôn mặt thì nhăn nhó trông vô cùng kì dị.

    "Không biết ông ta gặp phải chuyện quái quỷ gì vậy nhỉ?"

    Tôi hỏi, "ông ta cứ nhìn lên từng số nhà."

    "Tôi tin chắc ông ta sẽ đến đây", Holmes nói và xoa hai tay vào nhau.

    "Đến đây ư?"

    "Phải, tôi nghĩ là ông ta đang đến đây để hỏi ý kiến chuyên môn của tôi.

    Tôi nhận ra những biểu hiện này, Ha!

    Tôi đã nói với anh rồi mà, thấy chưa?"

    Trong lúc anh nói, người đàn ông đang thở hổn hển nọ đã lao nhanh đến cửa nhà chúng tôi và kéo mạnh dây chuông cho đến khi tiếng chuông vang rền khắp nhà.

    Chỉ vài giây sau, ông ta đã bước vào căn phòng chúng tôi đang ngồi, vẫn còn thở hổn hển và tay chân hãy còn vung vẩy nhưng ánh mắt đau khổ và tuyệt vọng của ông ta làm cho nụ cười trên môi chúng tôi trong phút chốc đã chuyển thành nỗi lo sợ và thương hại.

    Mất một lúc lâu ông ta vẫn chưa thốt ra lời mà chỉ lắc lư người và vò đầu bứt tóc như một người đã bị đẩy đến giới hạn tột cùng của lí trí.

    Thế rồi, đột nhiên ông ta nhảy chồm lên, đập đầu vào tường mạnh đến nỗi cả hai chúng tôi phải lao tới và kéo ông ta ra giữa phòng.

    Sherlock Holmes ấn ông ta vào chiếc ghế bành rồi ngồi xuống bên cạnh, vỗ nhẹ lên tay và trò chuyện với ông ta bằng giọng trấn an êm dịu mà anh sử dụng rất khéo léo.

    "Ông đến đây gặp tôi để kể câu chuyện của ông, có phải không?"

    Anh hỏi.

    "Ông đã mệt mỏi vì phải chạy vội vàng rồi.

    Xin ông hãy đợi một lúc để hồi phục lại rồi sau đó tôi sẽ rất vui khi được xem xét vấn đề mà ông muốn trình bày dù là chuyện nhỏ nhặt nhất."

    Người đàn ông ngồi xuống chừng một phút, ngực phập phồng, cố gắng kiềm chế cảm xúc, rồi ông ta đưa chiếc khăn tay lên lau trán, mím môi lại và quay mặt về phía chúng tôi.

    "Chắc hẳn các ông cho rằng tôi bị điên?"

    Ông ta nói.

    "Tôi thấy rằng ông đang gặp một rắc rối lớn", Holmes đáp.

    "Chỉ có Chúa mới biết tôi đang gặp phải một tai họa đủ làm tiêu tan lí trí, nó xảy đến thình lình và đáng sợ làm sao, Nỗi ô nhục trước bàn dân thiên hạ thì đã có lần tôi suýt phải chịu dù tên tuổi của tôi xưa nay chưa hề vấy một vết nhơ.

    Nỗi đau buồn riêng tư âu cũng là vận số không ai tránh khỏi; thế nhưng cả hai đồng thời ập đến một cách đáng sợ thế này thì tôi đến suy sụp thần kinh mất.

    Vả chăng, nào phải chỉ có mình tôi, nhân vật cao quý nhất trên lãnh thổ này cũng có thể phải gánh chịu trừ phi tôi tìm ra được cách nào đó để khắc phục sự việc kinh hoàng này."

    "Xin ông hãy bình tĩnh, thưa ông", Holmes nói, "và thuật lại rõ ràng cho tôi biết ông là ai và chuyện gì đã xảy đến với ông."

    "Tên tôi", ông khách trả lời, "hẳn các ông đã từng nghe đến.

    Tôi là Alexander Holder, thuộc Nhà băng Holder & Stevenson ở phố Threadneedle."

    Quả thật cái tên này rất quen thuộc đối với chúng tôi vì đó là tên của cổ đông góp vốn nhiều nhất trong nhà băng cổ phần tư nhân lớn hạng nhì ở khu City của London.

    Vậy chuyện gì đã xảy ra khiến cho một trong những công dân nổi tiếng nhất của London phải lâm vào hoàn cảnh đáng thương thế này?

    Cả hai chúng tôi đều hết sức tò mò chờ đợi cho đến khi ông khách gắng lấy lại tinh thần để kể lại câu chuyện của mình.

    "Tôi thấy thời gian thật quý giá biết bao", ông ta nói, "vì thế tôi vội vã đến đây sau khi được ông thanh tra cảnh sát gợi ý rằng tôi nên cầu viện sự trợ giúp của ông.

    Tôi đến phố Baker bằng tuyến đường sắt ngầm và hổi hả chạy bộ từ đó đến đây vì với lớp tuyết dày như thế này thì xe ngựa đi rất chậm.

    Đó là nguyên nhân tôi bị hụt hơi vì tôi vốn ít vận động.

    Giờ thì tôi đã cảm thấy khỏe hơn, và tôi sẽ cố hết sức để trình bày sự việc với các ông thật ngắn gọn mà vẫn rõ ràng.

    Hẳn các ông cũng biết rất rõ là việc kinh doanh nhà băng thành công không chỉ phụ thuộc vào năng lực tìm kiếm những khoản đầu tư có lợi cho ngân quỹ của mình mà còn phải trông vào việc tăng cường các mối quan hệ và số lượng khách gửi tiền.

    Một trong những hình thức đầu tư sinh lợi nhất của chúng tôi là cho vay nếu có vật thế chấp đáng tin cậy.

    Trong những năm qua, chúng tôi đã thực hiện rất nhiều vụ làm ăn theo hướng này, và có nhiều gia đình quý tộc đã được chúng tôi ứng cho những số tiền lớn với vật thế chấp là các bức họa nổi tiếng, sách hoặc bát đĩa quý.

    Sáng hôm qua, khi tôi đang ngồi trong văn phòng tại nhà băng thì một viên thư kí đem vào cho tôi một tấm danh thiếp.

    Khi nhìn qua tên tuổi ghi trên danh thiếp, tôi giật nẩy người vì đó không phải ai khác mà chính là... nhưng thôi, có lẽ ngay cả với ông tôi cũng chỉ nên nói rằng, đó là một cái tên lừng danh khắp nơi, một trong những cái tên cao sang nhất, quý phái nhất, đẹp đẽ nhất ở nước Anh.

    Khi người đó bước vào, tôi bị choáng ngợp trước niềm vinh dự này và đã định bày tỏ thành lời nhưng ngài đã đi thẳng vào công việc với thái độ mong chóng xúc tiến một công việc khó chịu cho xong.

    'Ông Holder này', ngài nói, 'ta được biết là nhà băng của ông vẫn có lệ ứng tiền.'

    'Đúng vậy miễn là vật thế chấp đáng tin cậy.' Tôi đáp.

    'Ta đang rất cần tiền,' ngài nói, 'ta cần năm mươi ngàn bảng ngay.

    Tất nhiên là ta có thể vay bạn bè một món tiền vặt vãnh lớn hơn con số vừa nói gấp mười lần, nhưng ta muốn giải quyết chuyện này dưới hình thức một vụ giao dịch và tự mình thực hiện hơn.

    Ở vào địa vị của ta thì hẳn là ông dễ dàng hiểu được việc mang ơn người khác là chẳng khôn ngoan chút nào.'

    'Liệu tôi có thể hỏi là ngài cần đến món tiền ấy trong bao lâu không?' Tôi hỏi.

    'Thứ hai tới ta sẽ được trả một món tiền lớn và khi đó chắc chắn ta sẽ hoàn lại món tiền ông đã ứng ra cùng với số tiền lãi mà ông coi là hợp lí.

    Nhưng điều cốt yếu nhất đối với ta là món tiền đó phải có ngay.'

    'Tôi rất sẵn lòng ứng món tiền đó từ túi riêng của mình mà không cần thương lượng gì nữa cả,' tôi đáp, 'chỉ hiềm một nỗi tôi lại không có đủ.

    Mặt khác, nếu tôi làm việc này với danh nghĩa của nhà băng, vậy nên để công bằng với cộng sự của mình, tôi buộc lòng phải yêu cầu rằng, cho dù là với trường hợp của ngài đi nữa thì chúng tôi vẫn phải thông qua mọi thủ tục đảm bảo.'

    'Ta cũng muốn như thế,' ngài nói và đưa ra một chiếc hộp lớn bằng da dê thuộc màu đen mà ngài vẫn đặt bên cạnh ghế của mình.

    'Hẳn là ông đã nghe nói về chiếc mũ miện dát đá beryl?'

    'Một trong những món quốc bảo quý giá nhất,' tôi đáp.

    'Chính xác.' Ngài mở hộp ra và kìa, trên lớp nhung mềm màu da là báu vật lộng lẫy mà ngài vừa nói đến.

    'Có ba mươi chín hạt beryl cỡ lớn', ngài nói, Và giá trị của riêng chiếc mũ miện bằng vàng chưa dát đá đã là không tính xuể rồi.

    Dù có định giá thấp nhất đi nữa thì chiếc mũ miện này cũng đáng giá gấp đôi số tiền mà ta hỏi vay.

    Ta sẵn sàng để lại nó cho ông làm vật thế chấp.'

    Tôi cầm chiếc hộp quý giá trong tay và bối rối hết ngắm nó lại nhìn sang vị khách danh giá của mình.

    'Ông nghi ngờ về giá trị của nó chăng?' Ngài hỏi.

    'Tôi không hề nghĩ thế.

    Tôi chỉ tự hỏi rằng...'

    'Ông nghi ngờ về tính hợp thức của việc để nó lại ở đây chứ gì?

    Ông có thể yên tâm.

    Ta sẽ không bao giờ nghĩ đến việc làm thế nếu như không tuyệt đối chắc chắn rằng mình có thể lấy lại nó trong bốn ngày.

    Đó hoàn toàn chỉ là vấn đề thủ tục.

    Vật thế chấp này đã đủ chưa?'

    'Quá dư, thưa ngài.'

    'Ông Holder này, ông hãy hiểu rằng ta đã đưa cho ông một bằng chứng có sức nặng về lòng tin cậy ta dành cho ông, dựa trên tất cả những điều ta đã được nghe kể về ông.

    Ta tin tưởng rằng ông không chỉ giữ kín và kiềm chế bàn tán về chuyện này mà hơn hết còn bảo quản chiếc mũ miện bằng mọi biện pháp có thể vì không cần cảnh báo chắc ông cũng biết một vụ tai tiếng đáng sợ sẽ bùng phát nếu như có bất kì tổn hại nào xảy đến với nó.

    Một vết trầy xước nhỏ cũng nghiêm trọng gần bằng việc đánh mất cả chiếc mũ miện, vì trên thế gian không có viên beryl nào có thể sánh bằng và thay thế được chúng.

    Tuy vậy, ta gửi lại cho ông với sự tin tưởng tối đa và đến sáng thứ hai thì đích thân ta sẽ đến để nhận lại nó.'

    Nhận thấy vị khách có vẻ sốt ruột muốn về, tôi không nói gì thêm nữa mà gọi người thủ quỹ vào, ra lệnh cho anh ta viết phiếu chi năm mươi ngàn bảng.

    Thế nhưng, khi chỉ còn lại một mình với chiếc hộp quý giá nằm ngay trước mặt, tôi không thể nghĩ được chuyện gì khác ngoài nỗi lo sợ về cái trách nhiệm hết sức nặng nề mà nó đã choàng lên vai tôi.

    Không còn nghi ngờ gì nữa, vì nó là một tài sản quốc gia nên nếu có chuyện xui xẻo xảy ra với nó thì sẽ nổ ra tai tiếng kinh khủng biết chừng nào.

    Tôi cảm thấy hối hận vì đã nhận lĩnh trách nhiệm.

    Thế nhưng đã quá muộn để đổi ý, vì thế tôi cất kĩ nó vào trong két sắt riêng của mình rồi quay trở lại với công việc.

    Khi chiều xuống, tôi cảm thấy nếu để lại một vật quý giá như thế ở văn phòng thì thật khinh suất.

    Trước đây đã từng xảy ra những vụ phá két sắt của nhà băng, vậy thì két sắt của tôi có thể chịu chung số phận lắm chứ?

    Nếu điều đó xảy ra, tôi sẽ lâm vào một tình thế thật khủng khiếp!

    Vì thế, tôi quyết định là trong những ngày tới tôi sẽ luôn kè kè đem theo chiếc hộp để nó không bao giờ ở ngoài tầm tay tôi.

    Với ý định đó, tôi gọi một cỗ xe ngựa và đi về nhà ở Streatham, đem theo món báu vật bên mình.

    Tôi chỉ có thể thở phào nhẹ nhõm sau khi đã đem nó lên lầu và khóa kĩ trong ngăn kéo tủ commốt ở phòng thay đồ của mình.

    Và giờ thì tôi sẽ nói vài lời về gia đình tôi, thưa ông Holmes, vì tôi muốn ông hiểu tình hình một cách thấu đáo.

    Người giữ ngựa và thằng bé giúp việc ngủ ở bên ngoài tòa nhà, vậy nên có thể không cần phải nhắc tới.

    Ngoài ra tôi còn có ba cô hầu gái đã phục vụ trong nhà nhiều năm và hoàn toàn đáng tin cậy.

    Một cô khác, Lucy Parr, tuy mới làm việc được vài tháng nhưng bản tính tốt và luôn khiến tôi rất hài lòng.

    Cô ta vô cùng xinh đẹp và lôi cuốn nhiều kẻ si mê thỉnh thoảng đến lảng vảng quanh nhà.

    Đó là điểm hạn chế duy nhất của cô ta, nhưng chúng tôi vẫn tin rằng đó là một cô gái tốt đẹp trên mọi phương diện.

    Thế là xong phần các gia nhân.

    Còn gia đình tôi thì chẳng có mấy người nên tôi sẽ không phải kể lể dài dòng.

    Tôi đã góa vợ và chỉ có một đứa con trai tên Arthur.

    Nó là nỗi thất vọng của tôi, ông Holmes ạ - một nỗi thất vọng khiến tôi vô cùng phiền não.

    Mà chính tôi mới là kẻ dáng trách.

    Ai cũng bảo rằng tôi đã quá nuông chiều nó.

    Và đúng thế thật.

    Khi người vợ yêu quý của tôi qua đời, tôi cảm thấy con trai mình là đối tượng duy nhất để tôi dồn hết tình thương yêu.

    Tôi không sao chịu dựng nổi khi thấy nụ cười héo úa đi trên khuôn mặt nó, dù chỉ trong khoảnh khắc.

    Chưa bao giờ tôi từ chối ý muốn nào của nó.

    Có lẽ nếu như tôi nghiêm khắc hơn thì sẽ tốt hơn cho cả hai cha con, nhưng tôi vẫn muốn dành những thứ tốt nhất cho nó!

    Tất nhiên là tôi có ý định để nó kế nghiệp tôi, nhưng nó lại không có thiên hướng kinh doanh.

    Nó là đứa ngông cuồng, bướng bỉnh và nói thật lòng với ông, tôi không thể tin tưởng nó trong việc quản lí những món tiền lớn.

    Hồi còn trẻ, nó tham gia vào một câu lạc bộ quý tộc và nhờ vào phong cách thanh lịch mà nó nhanh chóng trở thành bạn thân của những kẻ lắm tiền và ăn chơi xa xỉ.

    Nó nhiễm thói chơi những ván bạc thật lớn và vung tiền ở trường đua ngựa cho đến khi hết lần này đến lần khác phải tìm đến tôi và van nài tôi ứng trước tiền tiêu vặt để nó thanh toán những món nợ danh dự.

    Đã mấy lần nó cố gắng tách khỏi đám bạn nguy hiểm ấy nhưng rồi lần nào cũng bị kéo trở lại dưới ảnh hưởng mạnh mẽ của huân tước George Burnwell, bạn nó.

    Và thú thực, tôi không hề ngạc nhiên khi một người như huân tước George Burnwell có thể gây ảnh hưởng lên con trai tôi, vì nó thường xuyên đưa anh ta về nhà và chính tôi cũng thấy khó mà cưỡng lại sự lôi cuốn toát ra từ phong thái của chàng trai này.

    Anh ta lớn tuổi hơn Arthur, hết sức trải đời, đã từng đi khắp nơi, trông thấy mọi thứ, nói chuyện cuốn hút và lại rất đẹp mã.

    Tuy nhiên, những khi chàng trai đó không có mặt, khi không còn bị ảnh hưởng bởi sức hấp dẫn của anh ta và bình tâm nghĩ lại về những lời nói cay độc và ánh nhìn mà tôi bắt gặp trong mắt của anh ta, tôi tin chắc rằng đó là một người không thể nào tin tưởng được.

    Con bé Mary xinh xắn cũng nghĩ như tôi, nó có thế mạnh của phụ nữ là khả năng hiểu thấu tâm can người khác.

    Con bé chính là thành viên cuối cùng mà tôi cần mô tả cho các ông biết.

    Nó là cháu gái tôi, nhưng tôi đã nhận nuôi nó và luôn xem nó như con gái của mình từ khi em trai tôi mất cách đây năm năm và để lại nó một mình trên đời.

    Nó là một tia nắng trong gia đình tôi - tử tế, đằm thắm, xinh đẹp, có tài chăm nom nhà cửa và phụ trách tay hòm chìa khóa, lại còn dịu dàng, hòa nhã và hiền lành hết sức.

    Nó là cánh tay phải của tôi.

    Nếu không có nó thì tôi cũng chẳng biết mình có thể làm được gì.

    Trước giờ chỉ có mỗi một điều là nó làm trái với ý nguyện của tôi.

    Con trai tôi đã hai lần hỏi cưới nó vì thằng bé yêu nó hết lòng, nhưng lần nào con bé cũng từ chối.

    Tôi nghĩ là nếu có ai đó có thể kéo con trai tôi trở lại con đường sáng thì người đó chính là Mary, và có thể cuộc hôn nhân này sẽ làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời của con tôi; nhưng giờ thì, than ôi!

    Quá trễ, đã quá trễ rồi!

    Thế đấy, ông Holmes ạ, giờ thì ông đã biết hết về những người sống trong nhà tôi, và tôi sẽ kể tiếp cho ông nghe câu chuyện khốn khổ của mình.

    Tối hôm đó, khi chúng tôi đang dùng cà phê trong phòng khách sau bữa tối, tôi kể cho Arthur và Mary nghe về sự việc xảy ra trong ngày, về báu vật quý giá hiện đang nằm dưới mái nhà của chúng tôi, chỉ không nói gì về tên tuổi của vị khách.

    Lucy Parr sau khi bưng cà phê vào phòng đã ra ngoài, tôi chắc chắn thế, nhưng lại không thể nhớ rõ là cửa đã đóng chưa.

    Mary và Arthur rất quan tâm đến câu chuyện và mong muốn được nhìn ngắm chiếc mũ miện nổi tiếng này, nhưng tôi nghĩ rằng đừng đụng chạm đến nó thì tốt hơn.

    'Cha cất nó ở đâu?' Arthur hỏi.

    'Trong ngăn kéo tủ commốt của cha.'

    'Thế thì cầu Chúa cho ngôi nhà này không bị trộm tối nay.' Nó nói.

    'Ngăn kéo đã được khóa kĩ,' tôi đáp.

    'Cái ngăn kéo ấy thì chìa nào chẳng mở được.

    Hồi nhỏ, con đã từng mở nó bằng chìa khóa của cái tủ trong nhà kho đấy!'

    Nó vẫn thường ăn nói bừa bãi như thế nên tôi không quan tâm lắm.

    Tuy nhiên, tối hôm đó, nó bước theo tôi vào phòng riêng của tôi với vẻ mặt rất nghiêm trọng.

    'Cha', nó nói, hai mắt nhìn xuống đất, 'cha có thể cho con hai trăm bảng được không?'

    'Không, cha không cho!' Tôi gay gắt đáp.

    'Cha đã quá rộng rãi với con trong chuyện tiền bạc rồi.'

    'Đúng là cha đã rất tử tế,' nó nói tiếp, 'nhưng con phải có số tiền đó, nếu không, con không thể nào vác mặt đến câu lạc bộ nữa.'

    'Thế thì tốt quá!' Tôi hét lên.

    'Vâng, nhưng cha không thể để con ra khỏi câu lạc bộ vì thất tín,' nó nói tiếp.

    'Con không thể chịu nổi sự ô nhục.

    Con phải có bằng được số tiền đó, nếu cha không cho thì con phải dùng đến cách khác.'

    Tôi giận điên lên vì đó là lần thứ ba nó xin tiền trong tháng này rồi.

    'Mày đừng hòng xin được một xu nào nữa!' Tôi hét lên.

    Nghe thế, nó cúi đầu và bước ra khỏi phòng mà không nói tiếng nào.

    Khi nó đã đi khỏi, tôi mở khóa ngăn kéo tủ commốt ra để chắc chắn là báu vật vẫn an toàn rồi lại khóa lại.

    Sau đó, tôi bắt đầu đi vòng quanh nhà để kiểm tra tình hình an ninh - tôi vẫn thường giao phó cho Mary nhiệm vụ này nhưng đêm đó tôi nghĩ rằng tự mình làm thì tốt hơn.

    Khi tôi bước xuống cầu thang thì nhìn thấy Mary đang đứng cạnh cửa sổ ngách của gian sảnh, nó đóng cánh cửa lại và cài chốt khi tôi đến gần.

    'Thưa bác, xin bác cho cháu biết', nó nói, trông có vẻ hơi bồn chồn, tôi nghĩ thế, 'bác có cho phép cô hầu Lucy ra ngoài tối nay không?'

    'Chắc chắn là không.'

    'Chị ta vừa mới đi vào bằng lối cửa sau.

    Cháu biết chắc là chị ta chỉ đi đến chỗ cánh cửa bên hông nhà để gặp ai đó, nhưng cháu nghĩ rằng việc đó không được an toàn và cần phải chấm dứt.'

    'Sáng mai con phải nói chuyện đó với cô ta, hoặc là ta sẽ nói, nếu con muốn.

    Con chắc chắn là tất cả cửa nẻo đều đã được cài chặt rồi chứ?'

    'Chắc chắn ạ, thưa bác.'

    'Được rồi, chúc con ngủ ngon'.

    Tôi hôn con bé và đi lên phòng ngủ rồi nhanh chóng thiếp đi.

    Thưa ông Holmes, tôi đang gắng hết sức để thuật lại cho ông nghe mọi chuyện có thể có liên quan đến vụ việc này, nhưng xin ông cứ hỏi nếu có chi tiết nào tôi kể chưa được rõ ràng."

    "Ngược lại, cách trình bày của ông rất dễ hiểu."

    "Bây giờ, tôi sẽ kể đến một phần trong câu chuyện mà tôi mong sao nó cũng được rõ ràng, dễ hiểu.

    Tôi vốn không phải là người ngủ say và sự lo âu trong tâm trí càng làm tôi dễ tỉnh giấc hơn bình thường.

    Vào khoảng 2 giờ sáng, tôi bị đánh thức bởi một tiếng động trong nhà.

    Nó im bặt trước khi tôi hoàn toàn tỉnh táo nhưng có cảm giác như một cánh cửa sổ nào đó đã được đóng lại thật nhẹ nhàng.

    Tôi nằm yên, chăm chú lắng nghe.

    Thình lình, trong nỗi kinh hoàng, tôi nghe thấy rõ ràng tiếng bước chân di chuyển thật khẽ trong căn phòng kế bên.

    Tôi nhảy ra khỏi giường, tim đập thình thịch vì sợ hãi và liếc nhanh vào góc cánh cửa phòng thay đồ.

    'Arthur!' Tôi hét lên.

    'Thằng bất lương!

    Đồ trộm cắp!

    Sao mày dám đụng đến cái mũ miện hả?'

    Ngọn đèn khí đốt vẫn sáng ở mức vừa phải như lúc trước tôi đã chỉnh, và thằng con khốn nạn của tôi, trên người chỉ mặc áo sơmi và cái quần dài, đang đứng bên ngọn đèn, tay cầm chiếc mũ miện.

    Có vẻ như nó đang dùng hết sức để vặn mạnh hoặc bẻ cong món đồ.

    Nghe tiếng hét của tôi, nó buông rơi vật đó và tái mét đi như xác chết.

    Tôi chộp lấy cái mũ miện và xem xét.

    Một góc của phần khung bằng vàng cùng với ba hạt đá beryl trên đó đã biến mất.

    'Thằng đê tiện!' Tôi quát to, không còn kiềm chế được nữa vì quá tức giận.

    'Mày đã phá hủy nó!

    Mày làm ô danh tao suốt đời!

    Mày để mấy viên đá quý vừa đánh cắp ở đâu?'

    'Ăn cắp ư?' Nó hét lên.

    'Phải, thằng ăn cắp!

    Tôi gầm lên, nắm vai nó và lắc mạnh.

    'Chẳng có gì biến mất cả.

    Không thể mất thứ gì được', nó nói.

    'Ở đây thiếu mất ba viên đá.

    Và mày biết chúng đang ở đâu.

    Hay là mày muốn tao chửi rằng mày vừa là thằng nói láo vừa là quân ăn cắp?

    Không lẽ tao còn chưa nhìn thấy mày đang tìm cách bẻ thêm một miếng nữa hay sao?'

    'Cha chửi con như thế là đủ rồi đấy', nó nói.

    'Con sẽ không đứng đây chịu trận nữa đâu.

    Con cũng sẽ không nói thêm lời nào về chuyện này nữa vì cha đã nhục mạ con.

    Sáng mai con sẽ rời khỏi căn nhà này và sẽ tự lo lấy cuộc đời.'

    'Mày sẽ được cảnh sát áp tải ra khỏi nhà này!' Tôi hét lên, gần như điên dại vì đau khổ và căm phẫn.

    'Tao sẽ để họ điều tra vụ này đến cùng.'

    'Thế thì cha sẽ chẳng lấy được thông tin gì từ phía con', nó nói với vẻ giận dữ mà tôi chưa từng thấy ở con trai mình.

    'Nếu cha quyết định gọi cảnh sát thì cứ để họ tự đi mà tìm.'

    Đến lúc này thì cả nhà đã thức dậy vì tiếng quát tháo trong cơn giận dữ của tôi.

    Mary là người đầu tiên chạy vào phòng tôi, vừa trông thấy chiếc mũ miện cùng với vẻ mặt của Arthur là nó đã hiểu hết toàn bộ sự việc, nó kêu lên một tiếng rồi ngã quỵ xuống sàn nhà, bất tỉnh.

    Tôi sai một người hầu đi báo cảnh sát và giao cho họ điều tra ngay lập tức.

    Khi ông thanh tra và một viên cảnh sát bước vào nhà thì Arthur vẫn còn đứng đó với bộ mặt rầu rĩ và hai tay khoanh trước ngực, hỏi tôi rằng tôi có định cáo buộc nó về tội ăn cắp hay không.

    Tôi trả lời là vấn đề này không còn là chuyện riêng tư nữa mà đã trở thành một vấn đề chung vì cái mũ miện bị phá hủy là tài sản quốc gia.

    Tôi quyết định sẽ để pháp luật xử lí mọi việc.

    'Ít ra thì', nó nói, 'cha cũng đừng kêu họ bắt giam con ngay bây giờ.

    Nếu con được rời khỏi nhà trong vòng năm phút thì cả cha và con đều có lợi.'

    'Để mày trốn đi hoặc đem giấu những thứ mà mày vừa đánh cắp chứ gì', tôi trả lời.

    Và rồi, chợt nhận ra tình huống khủng khiếp mà mình đã bị đẩy vào, tôi van nài nó hãy nhớ lại rằng không chỉ mỗi uy tín của tôi mà cả danh dự của một người có vị thế cao hơn tôi gấp nhiều lần cũng đang bị đe dọa; và rằng ngài đã cảnh báo về khả năng xảy ra một vụ tai tiếng làm chấn động cả quốc gia.

    Nó có thể đẩy lui được những tai họa này nếu chịu cho tôi biết nó đã làm gì với ba viên đá quý bị mất.

    'Con nên đối mặt với vấn đề,' tôi nói.

    'Con đã bị bắt quả tang và việc thú tội không thể làm cho tội lỗi của con nặng hơn.

    Nếu con sửa sai bằng cách nói cho chúng ta biết những viên đá beryl hiện đang ở đâu thì mọi lỗi lầm của con đều sẽ được tha thứ và xóa bỏ.'

    'Cha hãy dành sự tha thứ ấy cho những kẻ cần đến nó', nó trả lời và quay lưng lại với tôi với nụ cười chế nhạo.

    Tôi thấy rằng con trai mình đã trở nên quá chai sạn và không một lời nào của tôi có thể tác động đến nó.

    Chỉ còn một cách duy nhất.

    Tôi gọi viên thanh tra vào và giao nó cho nhà chức trách.

    Một cuộc lục soát được tiến hành ngay lập tức, không chỉ trên người nó mà cả trong phòng của nó cùng với mọi nơi trong nhà có thể giấu những viên đá quý; nhưng chẳng thấy tăm hơi chúng đâu cả, mà thằng con đáng ghét của tôi cũng không hề mở miệng trước mọi lời thuyết phục hay đe dọa của chúng tôi.

    Nó đã bị giam vào xà lim lúc sáng nay, còn về phần tôi, sau khi làm xong mọi thủ tục theo yêu cầu của cảnh sát là tôi vội vã chạy đến gặp ông ngay để cầu xin ông đem tài năng của mình ra để làm sáng tỏ vấn đề.

    Cảnh sát cũng thẳng thắn thú nhận là vào lúc này họ chẳng thể làm được gì.

    Ông đòi thù lao bao nhiêu cũng được.

    Tôi đã treo giải thưởng là một ngàn bảng.

    Chúa ơi, con phải làm gì đây?

    Chỉ sau một đêm, con đã mất đi danh dự, những viên đá quý và cả con trai mình.

    Ôi, con nên làm gì đây?"

    Ông ta đưa hai tay lên ôm đầu và lắc lư thân hình, miệng lẩm bẩm với chính mình như một đứa trẻ đang đau khổ đến mức không nói nên lời.

    Sherlock Holmes ngồi yên mất vài phút, đôi mày nhíu lại và hai mắt đăm đăm nhìn vào ngọn lửa.

    "Ông có nhiều khách khứa không?"

    Anh hỏi.

    "Không, ngoài người cộng sự cùng với gia đình ông ta và một người bạn của Arthur là huân tước George Burnwell gần đây có ghé qua vài lần thì không có ai khác, tôi nghĩ vậy."

    "Gia đình ông có hay ra ngoài chơi không?"

    "Arthur thì có.

    Mary và tôi chỉ ở nhà.

    Cả hai chúng tôi đều không quan tâm lắm đến việc đó."

    "Một cô gái trẻ mà như thế thì lạ thật!"

    "Nó vốn trầm tính.

    Vả chăng, nó cũng không còn nhỏ.

    Đã hai mươi bốn tuổi rồi."

    "Vụ việc này, theo như lời ông kể, có vẻ cũng là một cú sốc đối với cô ta."

    "Rất kinh khủng!

    Nó còn bị sốc hơn cả tôi."

    "Cả ông và cô ấy đều tin rằng con trai ông có tội?"

    "Chúng tôi còn nghi ngờ gì được nữa khi chính mắt tôi nhìn thấy nó cầm chiếc mũ miện trong tay?"

    "Tôi khó có thể coi đó là bằng chứng quyết định.

    Có phải phần còn lại của chiếc mũ miện cũng bị tổn hại không?"

    "Vâng, nó bị vẹo đi."

    "Ông có cho rằng, có thể lúc đó anh ta đang cố gắng uốn cho nó thẳng lại không?"

    "Cầu Chúa phù hộ cho ông!

    Ông đang cố gắng tìm cách biện minh cho nó và cho cả tôi nữa.

    Nhưng đó là một nhiệm vụ quá khó khăn.

    Nó làm gì ở đó chứ?

    Nếu mục đích của nó là trong sáng thì tại sao nó lại không nói ra?"

    "Đúng thế.

    Còn nếu như đó là hành vi tội lỗi thì tại sao anh ta không bịa ra một lời nói dối?

    Theo tôi thì sự im lặng của anh ta có vẻ lập lờ.

    Trong vụ này có vài điểm kì lạ đây.

    Còn về tiếng động đã đánh thức ông dậy thì cảnh sát nghĩ sao?"

    "Họ cho rằng tiếng động đó có thể là do Arthur gây ra khi đóng cửa buồng ngủ của nó."

    "Kỳ lạ thật đấy!

    Đời nào lại có người đã rắp tâm thực hiện một trọng tội mà lại đóng sầm cửa để đánh thức cả nhà.

    Thế rồi, họ nói gì về việc ba viên đá quý bị mất?"

    "Họ vẫn còn đang kiểm tra ván lát sàn và sục sạo các đồ vật với hi vọng sẽ tìm ra chúng."

    "Họ có nghĩ đến việc tìm kiếm bên ngoài ngôi nhà không?"

    "Có, họ làm việc rất tích cực.

    Toàn bộ khu vườn đã được khám xét rất tỉ mỉ."

    "Thế này, thưa ông", Holmes nói, "lẽ nào ông không thấy rằng vấn đề này còn có ẩn tình sâu xa hơn rất nhiều so với những gì ông và cảnh sát nghĩ lúc đầu?

    Đối với các ông thì đây là một vụ đơn giản; với tôi thì lại có vẻ hết sức phức tạp.

    Ta hãy xem xét lại những chi tiết có liên quan đến giả thuyết của ông.

    Ông cho rằng con trai mình đã ra khỏi giường và vô cùng liều lĩnh đi vào phòng thay đồ của ông, mở ngăn kéo tủ commốt, lấy chiếc mũ miện ra, dùng sức bẻ gãy một mẩu, đi tới một chỗ khác để giấu ba trong số ba mươi chín viên đá quý khéo léo đến nỗi không ai có thể tìm thấy, rồi quay trở lại chỗ ba mươi sáu viên còn lại để rồi đặt mình vào tình thế rất dễ bị phát hiện.

    Giờ thì tôi hỏi ông, đó có phải là một giả thuyết vững chắc hay không?"

    "Nhưng còn có giả thuyết nào khác nữa?"

    Ông chủ nhà băng kêu lên với một cử chỉ biểu lộ sự tuyệt vọng.

    "Nếu động cơ của nó hoàn toàn trong sáng thì tại sao nó không giải thích rõ?"

    "Nhiệm vụ của chúng ta là tìm cho ra câu trả lời", Holmes đáp, "vì thế, thưa ông Holder, chúng ta sẽ cùng đi đến Streatham và bỏ ra một giờ để xem xét các chi tiết kĩ hơn chút nữa."

    Bạn tôi khăng khăng yêu cầu tôi phải đi cùng, và tôi hưởng ứng nhiệt tình vì câu chuyện vừa được nghe đã khuấy động sâu sắc trí tò mò và sự đồng cảm trong tôi.

    Thú thực, tôi cũng nhận thấy tội lỗi của anh con trai ông chủ nhà băng là hết sức hiển nhiên giống như người cha tội nghiệp của anh ta nghĩ, nhưng vì tin tưởng vào sự xét đoán của Holmes nên tôi thấy chắc phải có cơ sở vững chắc để hi vọng chừng nào anh hãy còn chưa bằng lòng với lời giải thích đã được công nhận.

    Suốt quãng đường đi đến vùng ngoại ô phía nam, anh hầu như không nói một lời nào mà chỉ ngồi tì cằm lên ngực, chiếc mũ kéo xuống ngang mắt và chìm đắm trong dòng suy tưởng sâu xa.

    Có vẻ như thân chủ của chúng tôi đã thấy nhẹ nhõm hơn trước tia hi vọng nhỏ nhoi vừa được nhen lên, thậm chí ông ta còn trò chuyện lan man với tôi về việc làm ăn của mình.

    Một đoạn đường xe lửa không dài và một cuốc đi bộ còn ngắn hơn thế đã đưa chúng tôi đến Fairbank, dinh thự giản dị của nhà tài phiệt.

    Fairbank là một tòa nhà vuông vắn khá đồ sộ xây bằng đá trắng, nằm hơi lùi lại một chút so với con đường.

    Một đoạn đường uốn lượn đủ rộng cho hai cỗ xe ngựa đi song song và một bãi cỏ phủ đầy tuyết chạy dài đến trước hai cánh cổng lớn bằng sắt chắn ngang lối vào.

    Ở phía bên phải là một cánh cửa nhỏ bằng gỗ dẫn vào một lối đi hẹp nằm giữa hai hàng giậu được xén tỉa gọn gàng, nối từ đường cái đến cửa nhà bếp và tạo thành lối đi dành cho người giao hàng.

    Còn bên tay trái là con đường mòn dẫn đến dãy chuồng ngựa, nó không thuộc về khu đất mà là lối đi chung của các nhà lân cận dù ít khi được dùng đến.

    Holmes để mặc chúng tôi đứng ở cửa và chậm rãi bước vòng quanh ngôi nhà, băng qua hết mặt tiền, đi dọc theo lối đi của người giao hàng và vòng qua khu vườn đằng sau để đi đến con đường mòn dẫn vào chuồng ngựa.

    Anh xem xét lâu đến nỗi ông Holder và tôi đành đi vào trong phòng ăn và ngồi bên lò sưởi đợi anh trở lại.

    Chúng tôi đang ngồi yên ở đó thì cửa mở và một cô gái trẻ bước vào.

    Cô ta cao hơn hẳn mức trung bình, vóc người mảnh dẻ, mái tóc và đôi mắt sẫm màu được tôn lên bởi làn da tái nhợt.

    Tôi chưa bao giờ thấy người phụ nữ nào có khuôn mặt xanh xao đến thế.

    Đôi môi của cô ta cũng không có chút huyết sắc nhưng cặp mắt thì đỏ hoe vì khóc nhiều.

    Khi cô ta nhẹ nhàng bước vào phòng, vẻ mặt của cô ta gây ấn tượng mạnh mẽ với tôi vì nó bộc lộ một nỗi đau buồn còn lớn hơn cả nỗi đau buồn của ông chủ nhà băng lúc sáng nay và ấn tượng đó lại càng sâu sắc hơn bởi rõ ràng đây là một người phụ nữ có cá tính mạnh với khả năng tự kiềm chế rất tốt.

    Chẳng đếm xỉa đến sự hiện diện của tôi, cô ta đi thẳng đến chỗ bác mình và vuốt ve mái đầu bằng một cử chỉ dịu dàng nữ tính.

    "Bác đã yêu cầu họ thả anh Arthur chưa, thưa bác?"

    "Chưa đâu, con gái, vấn đề cần phải được điều tra kĩ lưỡng."

    "Nhưng cháu chắc chắn anh ấy vô tội.

    Bác cũng hiểu rõ trực giác của phụ nữ mà.

    Cháu biết anh ấy không làm điều gì sai quấy và bác sẽ hối tiếc vì đã hành động khắt khe đến thế."

    "Thế thì tại sao nó lại im lặng nếu quả thực vô tội?"

    "Nào ai biết được.

    Có lẽ anh ấy giận vì bác đã nghi ngờ anh ấy chăng?"

    "Làm sao mà ta không nghi ngờ nó cho được khi chính mắt ta trông thấy nó cầm chiếc mũ miện trong tay?"

    "Ồ, nhưng anh ấy chỉ cầm nó lên để ngắm nghía thôi.

    Ôi, xin bác hãy tin lời cháu rằng anh ấy vô tội.

    Hãy bỏ qua chuyện này và đừng nói gì nữa.

    Thật đáng sợ khi nghĩ đến việc anh Arthur thân yêu của chúng ta đang ở trong tù!"

    "Ta sẽ không bao giờ bỏ qua cho đến khi tìm được mấy viên đã quý, không bao giờ đâu, Mary!

    Tình cảm của con dành cho Arthur đã làm con không nhận ra những hậu quả đáng sợ sẽ đến với ta.

    Chẳng những không bưng bít vụ này mà ta còn mời về đây một nhà thám tử từ London để tìm hiểu vấn đề sâu hơn."

    "Quý ông này chăng?"

    Cô ta hỏi và quay mặt về phía tôi.

    "Không phải, ông đây là bạn của ông ta.

    Ông ấy muốn chúng ta để ông ấy xem xét một mình.

    Giờ thì ông ấy đang vòng theo lối đi đến chuồng ngựa."

    "Lối đi vào chuồng ngựa ư?"

    Cô ta nhướng đôi mày đen thẫm lên.

    "Ông ta hi vọng tìm được gì ở đó chứ?

    À, đây, cháu cho rằng đây chính là ông thám tử ấy.

    Thưa ông, tôi mong rằng ông sẽ thành công trong việc chứng minh điều mà tôi chắc chắn là sự thật, đó là anh họ Arthur của tôi không hề dính dáng đến vụ mất trộm này!"

    "Tôi hoàn toàn đồng ý với cô và tôi hi vọng rằng, cùng với cô, chúng tôi sẽ chứng minh được điều đó", Holmes quay lại và đi đến tấm thảm chùi chân để giũ sạch tuyết khỏi đôi giày.

    "Tôi tin rằng mình đang được hân hạnh nói chuyện cùng cô Mary Holder.

    Cô có thể cho phép tôi được hỏi vài câu chứ?"

    "Xin ông cứ hỏi, nếu điều đó có thể giúp ông làm sáng tỏ sự việc kinh khủng này!"

    "Đêm qua cô không hề nghe thấy gì cả, đúng không?"

    "Vâng, mãi đến khi bác tôi đây bắt đầu to tiếng, tôi mới nghe được và đi xuống nhà."

    "Tối hôm qua cô đã đóng các cửa sổ và cửa ra vào.

    Cô có cài chặt tất cả các cửa sổ không?"

    "Có."

    "Đến sáng nay thì chúng hãy còn cài then đầy đủ chứ?"

    "Vâng."

    "Trong nhà có một cô hầu có tình nhân phải không?

    Tôi nghe đêm qua cô đã lưu ý cho bác mình biết rằng cô ấy đã ra ngoài để gặp anh ta?"

    "Vâng, và chị ta chính là người đã đợi trong phòng khách, và có thể đã nghe thấy bác tôi nói chuyện về cái mũ miện."

    "Tôi hiểu.

    Cô suy ra rằng có lẽ chị ta đã ra ngoài để kể cho tình nhân nghe và rồi cả hai sắp đặt kế hoạch đánh cắp chiếc mũ miện."

    "Nhưng những giả thuyết mơ hồ đó thì có ích gì", ông chủ nhà băng sốt ruột kêu lên, "khi tôi đã nói với ông rằng chính mắt tôi trông thấy Arthur cầm cái mũ miện trong tay?"

    "Xin hãy đợi một lát, thưa ông Holder.

    Chúng ta sẽ quay lại chi tiết đó sau.

    Về cô người hầu đó, thưa cô Holder.

    Cô trông thấy cô ấy trở vào nhà qua lối cửa bếp, có đúng không?"

    "Vâng, khi tôi đến xem cánh cửa ra vào đã được cài chốt vào ban đêm hay chưa thì trông thấy chị ta lẻn vào.

    Trong bóng tối, tôi cũng nhìn thấy tình nhân của chị ta."

    "Cô có biết anh ta không?"

    "Ồ, có chứ!

    Anh ta là người bán rau quả hay tới giao hàng cho chúng tôi.

    Tên anh ta là Francis Prosper."

    "Có phải là", Holmes hỏi tiếp, "anh ta đứng ở bên trái cánh cửa, tức là hơi xa một chút về phía lối đi chứ không phải là ở gần cánh cửa bếp?"

    "Vâng, đúng thế."

    "Và người đó có một cái chân gỗ?"

    Một nét gì đó giống như nỗi sợ hãi thoáng qua trong đôi mắt đen biểu cảm của cô gái.

    "Ông cứ như thầy phù thủy vậy", cô ta nói.

    "Làm thế nào mà ông biết được?"

    Cô ta mỉm cười, nhưng không hề có nụ cười đáp lại trên khuôn mặt gầy gò, sốt sắng của Holmes.

    "Tôi muốn lên lầu", anh nói.

    "Tôi cũng sẽ phải kiểm tra phía bên ngoài của ngôi nhà một lần nữa.

    Có lẽ tôi nên xem xét những cánh cửa sổ ở tầng dưới trước đã."

    Anh nhanh chóng đi một lượt qua các cửa sổ, chỉ dừng lại ở cánh cửa lớn trông xuống lối đi dẫn đến chuồng ngựa.

    Anh mở nó ra và khám xét kĩ lưỡng bệ cửa với chiếc kính lúp có độ phóng đại cao.

    Cuối cùng anh nói, "Giờ thì chúng ta lên lầu."

    Phòng thay quần áo của ông chủ nhà băng là một căn phòng nhỏ, trần thiết kế rất đơn giản, trải thảm màu xám, có một chiếc tủ commốt lớn và một tấm gương dài.

    Holmes bước đến bên chiếc tủ commốt trước tiên và chăm chú nhìn vào ổ khóa.

    "Chiếc chìa khóa nào đã được dùng để mở nó?"

    Anh hỏi.

    "Là cái chìa mà con trai tôi đã nói đến - chìa khóa của cái tủ để trong phòng chứa đồ tập tàng."

    "Hiện ông có nó ở đây không?"

    "Nó đang nằm trên mặt bàn kia."

    Sherlock Holmes nhặt nó lên và mở ngăn kéo tủ commốt ra.

    "Ổ khóa không phát ra tiếng động nào", anh nói.

    "Thảo nào nó không đánh thức ông dậy.

    Tôi đoán là cái hộp này đựng chiếc mũ miện.

    Chúng ta phải xem thử."

    Anh mở hộp ra và cầm lấy chiếc vương miện để lên mặt bàn.

    Đó là một mẫu vật lộng lẫy của nghệ thuật kim hoàn và ba mươi sáu viên đá là những viên châu ngọc đẹp nhất mà tôi từng được thấy, ở một bên của chiếc mũ miện có một đường gờ bị nứt gãy, đó chính là góc dát ba viên đá đã bị bẻ đi.

    "Thưa ông Holder", Holmes nói, "đây là góc tương ứng với mảnh mũ miện đã xui xẻo bị đánh cắp.

    Tôi có thể nhờ ông bẻ thử được không?"

    Ông chủ nhà băng sợ hãi lùi lại.

    "Nằm mơ tôi cũng không dám thử", ông ta nói.

    "Thế thì tôi sẽ thử."

    Holmes đột nhiên dồn hết sức để bẻ nó, nhưng vật đó không hề hấn gì.

    "Tôi cảm thấy nó chỉ hơi cong đi", anh nói, "tuy ngón tay tôi cực khỏe nhưng cũng phải mất rất nhiều thời gian họa may mới bẻ nổi nó.

    Người bình thường không thể nào làm gãy nó được.

    Giờ thì ông nghĩ điều gì sẽ xảy ra khi tôi bẻ nó, thưa ông Holder?

    Nó sẽ phát ra tiếng động to như một phát súng nổ.

    Ông nghĩ tiếng nổ ấy phát ra chỉ cách giường ông có vài yard mà ông không nghe thấy gì sao?"

    "Tôi không biết phải nghĩ gì nữa.

    Mọi thứ đều mơ hồ quá."

    "Nhưng có lẽ nó sẽ rõ ràng hơn nếu ta tiếp tục.

    Cô nghĩ sao, thưa cô Mary Holder?"

    "Tôi thú nhận là tôi cũng bổi rối như bác mình."

    "Con trai ông không đi giày dép gì lúc ông nhìn thấy anh ta phải không?"

    "Trên người nó chỉ có cái quần dài và chiếc áo sơmi, ngoài ra chẳng có thứ gì khác."

    "Cảm ơn ông.

    Chắc chắn là chúng ta đã được ban một vận may lạ thường trong suốt cuộc điều tra này, và nếu như ta không giải quyết nổi vấn đề thì đó hoàn toàn là lỗi của chúng ta.

    Nếu ông cho phép, thưa ông Holder, bây giờ tôi sẽ tiếp tục điều tra ở bên ngoài."

    Theo yêu cầu của Sherlock Holmes, anh đi ra ngoài một mình vì anh giải thích rằng bất kì dấu chân không cần thiết nào cũng sẽ làm cho công việc của anh thêm khó khăn.

    Sau khoảng một giờ làm việc, cuối cùng anh cũng quay vào với đôi chân phủ đầy tuyết nặng trịch và vẻ mặt bí hiểm như thường thấy.

    "Thưa ông Holder, tôi nghĩ rằng mình đã thấy tất cả những điều cần thiết", anh nói, "bây giờ tôi quay về là tốt nhất."

    "Nhưng còn mấy viên đá quý thì sao hả ông Holmes?

    Chúng đang ở đâu?"

    "Tôi chưa thể nói được."

    Ông chủ nhà băng vò đầu bứt tai.

    "Thế là tôi chẳng bao giờ còn nhìn thấy chúng nữa!"

    Ông ta bật khóc.

    "Còn con trai tôi thì sao?

    Ông đã làm cho tôi hi vọng mà?"

    "Ý kiến của tôi về cậu ta vẫn không thay đổi."

    "Thế thì, vì Chúa, sự việc đen tối đã xảy ra trong nhà tôi đêm hôm qua là sao?"

    "Nếu ông có thể đến nhà tôi ở phố Baker vào khoảng từ 9 đến 10 giờ sáng mai thì tôi sẽ rất sẵn lòng làm tất cả những gì có thể để sự việc trở nên rõ ràng hơn.

    Tôi nhớ rằng ông đã cho tôi carte blanche để điều tra việc này giúp ông, miễn là tôi thu hồi được mấy viên đá quý và ông không đặt ra giới hạn nào về thù lao của tôi."

    "Tôi sẽ trao cho ông cả một gia tài để đổi lấy chúng."

    "Rất tốt.

    Từ giờ đến lúc đó tôi sẽ tiếp tục xem xét sự việc.

    Tạm biệt, cũng có thể tôi sẽ quay lại đây trước khi trời tối."

    ***

    Tôi có thể thấy rõ là hiện giờ bạn tôi đã xác định được hướng giải quyết cho vụ này, dù rằng có cố gắng đến mấy tôi vẫn chưa thể hình dung nổi những kết luận của anh.

    Trên đường trở về nhà, đã đôi lần tôi cố tình thăm dò ý kiến của anh nhưng anh luôn đánh trống lảng, cho đến khi tôi đành thất vọng bỏ cuộc.

    Khi chúng tôi về đến nhà thì vẫn chưa đến 3 giờ.

    Anh vội vã chạy lên phòng mình và chỉ vài phút sau lại bước xuống, ăn mặc như một gã ma cà bông.

    Với cổ áo dựng đứng, chiếc áo choàng ngoài bằng vải sần đã mòn bóng, chiếc cà vạt màu đỏ và đôi giày ống cũ kĩ, trông anh đúng là hình mẫu tiêu biểu của hạng người đó.

    "Tôi nghĩ ăn mặc thế này là được", anh nói khi ngắm nghía mình trong chiếc gương treo bên trên lò sưởi.

    "Tôi chỉ ước sao có anh đi cùng, Watson ạ, nhưng lại sợ rằng như thế không ổn.

    Có thể tôi đã lần ra dấu vết, cũng có thể tôi đã bị đánh lạc hướng, nhưng tôi sẽ sớm biết được mình đúng hay sai.

    Tôi hi vọng sẽ có thể quay về sau vài giờ."

    Anh cắt một lát thịt bò từ tảng thịt to đặt trên tủ, kẹp nó vào giữa hai khoanh bánh mì và nhét bữa ăn đơn giản đó vào túi rồi bắt đầu chuyến thám hiểm.

    Khi tôi vừa xong bữa trà chiều thì anh trở về, rõ ràng là rất phấn khởi, tay vung vẩy một chiếc giày cao cổ đã cũ có mặt bên co giãn.

    Anh quẳng nó vào góc phòng và tự rót cho mình một tách trà.

    "Tôi chỉ ghé qua nhà một chút khi đi ngang qua", anh nói.

    "Tôi lại đi tiếp ngay đây."

    "Anh đi đâu?"

    "Ôi, ở mãi bên kia khu West End.

    Có thể còn lâu tôi mới về.

    Đừng đợi tôi nếu tôi về muộn."

    "Công việc trôi chảy chứ?"

    "Ồ, cũng tàm tạm.

    Không có gì đáng kêu ca.

    Kể từ lúc chia tay anh tôi có đến Streatham nhưng không vào nhà ông Holder.

    Vụ án nho nhỏ này rất hấp dẫn và tôi nhất định sẽ không bỏ qua.

    Tuy nhiên, tôi không thể ngồi đây tán chuyện mãi được mà phải cởi bộ đồ tệ hại này ra để trở lại với con người đàng hoàng của tôi."

    Tuy ngoài miệng chỉ nói bóng gió như thế nhưng qua thái độ của anh, tôi có thể đoán được là anh có đầy đủ lí do để hài lòng.

    Đôi mắt anh sáng lấp lánh và thậm chí trên hai gò má tai tái còn hiện lên chút khí sắc.

    Anh vội vã lên lầu và chỉ vài phút sau tôi đã nghe tiếng cánh cửa tiền sảnh đóng sập lại, cho biết anh đã lại ra ngoài để tiếp tục cuộc săn lùng mà anh đang rất tâm đắc.

    Tôi đợi đến nửa đêm mà vẫn chưa thấy anh trở về nên đành quay về phòng mình.

    Việc anh đi biền biệt suốt nhiều ngày đêm khi bám theo một dấu vết vốn là chuyện hết sức bình thường, do đó tôi cũng chẳng ngạc nhiên nếu anh về muộn.

    Không biết là mấy giờ anh mới về nhưng sáng hôm sau, khi tôi xuống nhà để dùng bữa điểm tâm thì anh đã có mặt ở đó, một tay cầm tách cà phê còn tay kia cầm tờ báo, trông rất tươi tỉnh và gọn gàng.

    "Xin lỗi vì đã bắt đầu bữa sáng mà không đợi anh, Watson", anh nói, "nhưng anh hãy nhớ rằng ta có một cái hẹn khá sớm với thân chủ của ta vào sáng nay."

    "Sao, đã hơn 9 giờ rồi," tôi đáp.

    "Tôi sẽ chẳng ngạc nhiên nếu ông ta đã đến.

    Tôi nghe như có tiếng chuông reo."

    Quả thật, đó là ông bạn tài phiệt của chúng tôi.

    Tôi bàng hoàng vì sự thay đổi rõ rệt ở ông ta, vì khuôn mặt vốn to rộng và nặng nề của ông ta giờ đây đã héo hon và co rúm lại, còn mái tóc thì có vẻ bạc hẳn đi.

    ông ta bước vào phòng với vẻ mệt mỏi và bơ phờ, trông còn thương tâm hơn cả trạng thái quá khích sáng hôm qua, và nặng nề buông người xuống chiếc ghế bành mà tôi đẩy ra cho ông ta.

    "Không biết tôi đã làm gì để mà giờ đây bị thử thách nặng nề đến thế!"

    Ông ta nói.

    "Mới hai ngày trước tôi hãy còn là một người hạnh phúc và thành đạt, vô lo vô nghĩ.

    Vậy mà bây giờ tôi lại bị bỏ rơi trong tuổi già cô độc và nhục nhã.

    Họa vô đơn chí.

    Cháu gái tôi, con bé Mary, nó đã bỏ tôi mà đi."

    "Bỏ rơi ông?"

    "Phải.

    Sáng nay giường ngủ của nó phẳng phiu như chưa hề có ai nằm lên, trong phòng trống trơn và trên mặt bàn ở hành lang có một bức thư viết cho tôi.

    Tối hôm qua tôi có nói với nó, do đau buồn chứ không hề giận dữ, rằng nếu nó chịu cưới con trai tôi thì mọi chuyện hẳn là đã ổn thỏa với thằng bé.

    Có lẽ tôi đã thiếu suy nghĩ khi nói thế.

    Nó có nhắc đến lời nói đó trong lá thư này:

    GỬI BÁC YÊU DẤU NHẤT ĐỜI CỦA CHÁU!

    Cháu cảm thấy mình đã đem rắc rối đến cho bác và nếu cháu hành động khác đi thì hẳn là nỗi bất hạnh đáng sợ đó đã chẳng bao giờ xảy ra.

    Vài ý nghĩ đó cứ luẩn quẩn trong đầu thì cháu sẽ không thể nào còn cảm thấy hạnh phúc dưới mái nhà của bác, và cháu thấy rằng mình phải ra đi mãi mãi.

    Bác đừng lo lắng về tương lai của cháu vì nó đã được lo liệu đầy đủ, và nhất là đừng đi tìm cháu vì sẽ phí công vô ích và chẳng đem lại điều gì tốt đẹp cho cháu.

    Cho dù sống hay chết, cháu vẫn mãi là đứa cháu thương yêu của bác.

    MARY.

    "Nó muốn nói gì qua lá thư này hả ông Holmes?

    Ông có nghĩ rằng nó ám chỉ đến việc tự tử không?"

    "Không, không phải đâu.

    Có lẽ đây là giải pháp tốt nhất.

    Ông Holder ạ, tôi tin rằng những rắc rối của ông sắp chấm dứt rồi."

    "Hả!

    Ông nói thế là sao?

    Ông đã nghe được điều gì đó chăng, ông Holmes?

    Ông đã biết được chuyện gì?

    Những viên đá quý đang ở đâu?"

    "Ông có cho rằng một ngàn bảng mỗi viên là một cái giá quá đắt cho chúng không?"

    "Tôi sẽ trả đến mười ngàn."

    "Không cần cao đến thế đâu.

    Ba ngàn bảng là đủ rồi.

    Và một món tiền thưởng nho nhỏ nữa, tôi nghĩ thế.

    Ông có đem theo sổ chi phiếu chứ?

    Bút đây.

    Tốt hơn là ghi lên thành bốn ngàn bảng."

    Với bộ mặt sững sờ, ông chủ nhà băng viết tờ chi phiếu theo yêu cầu.

    Holmes bước lại bàn làm việc của anh, lấy ra một mảnh vàng nhỏ hình tam giác có dát ba viên đá quý và thảy lên mặt bàn.

    Thân Chủ của chúng tôi reo lên vui sướng chộp lấy nó.

    "Ông đã lấy lại được!"

    Ông ta hổn hển.

    "Tôi thoát nạn rồi!

    Tôi thoát nạn rồi!"

    Phản ứng vui mừng của ông ta cũng mãnh liệt như nỗi buồn trước đó, và ông ta ôm những viên đá quý vừa tìm được vào trước ngực.

    "Ông còn mắc nợ một món nữa đấy, ông Holder", Holmes nói với vẻ khá nghiêm nghị.

    "Mắc nợ sao!"

    Ông ta cầm bút lên.

    "Hãy cho tôi biết số tiền là bao nhiêu và tôi sẽ trả ngay."

    "Không, ông không nợ tôi.

    Ông còn thiếu một lời xin lỗi thật chân thành với chàng trai cao thượng đó, chính là con trai của ông.

    Tôi mà có con trai thì tôi sẽ rất tự hào nếu nó cư xử được như anh ta trong vụ này?"

    "Vậy Arthur không phải là người đã đánh cắp mấy viên đá quý?"

    "Hôm qua tôi đã nói với ông rồi và hôm nay tôi sẽ nhắc lại rằng không phải anh ta."

    "Ông chắc chứ?

    Thế thì chúng ta mau đi gặp nó ngay để báo cho nó biết rằng sự thật đã được phơi bày?"

    "Anh ta đã biết rồi.

    Khi đã làm sáng tỏ vụ này, tôi có nói chuyện với anh ta và khi thấy anh ta sẽ không chịu thuật lại sự việc, tôi đã kể câu chuyện cho anh ta nghe, anh ta bèn thừa nhận là tôi nói đúng và bổ sung thêm vài chi tiết mà tôi vẫn chưa hiểu rõ.

    Thế nhưng, tin tức ông đem lại sáng nay có thể sẽ làm cho anh ta chịu mở miệng."

    "Lạy Chúa, xin hãy nói cho tôi biết về bí ẩn phi thường đó!"

    "Tôi sẽ nói ngay và sẽ chỉ cho ông thấy những bước mà qua đó tôi đã tìm ra sự thật.

    Và trước tiên, xin được nói ra điều mà đối với tôi là khó nói nhất và đối với ông là khó nghe nhất: Huân tước George Burnwell đã thông đồng với cháu gái của ông, cô Mary.

    Họ đã cùng nhau bỏ trốn."

    "Con bé Mary của tôi?

    Không thể nào!"

    "Thật đáng tiếc là điều này không những có thể xảy ra mà là đích thực đã xảy ra.

    Cả ông lẫn con trai ông đều không biết được bản chất thực sự của kẻ mà các ông đã cho phép bước vào gia đình mình.

    Hắn là một trong những kẻ nham hiểm nhất nước Anh - một con bạc đã phá sản, một gã côn đồ liều mạng, một con người không có trái tim hoặc lương tâm.

    Cháu gái của ông không hay biết gì về con người đó.

    Khi hắn thề thốt với cô ta, như đã từng nói với cả trăm cô gái khác trước đó, cô ta đã tự mãn tưởng rằng chỉ có mình mới làm cho trái tim hắn rung động.

    Có quỷ sứ mới biết được hắn đã nói những gì, nhưng ít ra thì cô ta đã trở thành công cụ trong tay hắn và còn nhiễm thói gặp gỡ hắn gần như mỗi đêm."

    "Không, không thể và sẽ chẳng bao giờ tôi tin chuyện đó!"

    Ông chủ nhà băng kêu to, mặt tái đi.

    "Vậy thì tôi sẽ kể cho ông nghe chuyện đã xảy ra trong nhà ông đêm hôm trước.

    Khi nghĩ rằng ông đã trở về phòng, cháu gái của ông bèn lẻn xuống cầu thang và nói chuyện với tình nhân qua cánh cửa sổ hướng ra lối đi dẫn đến chuồng ngựa.

    Những dấu chân của hắn đã in sâu xuống tuyết trong suốt thời gian dài hắn đứng ở đó.

    Cô ta đã kể cho hắn nghe về chiếc mũ miện.

    Nghe tin này, lòng tham xấu xa của hắn nổi lên và hắn bắt cô ta phải làm theo ý hắn.

    Tôi chắc chắn rằng cô bé rất thương yêu ông nhưng có những người đàn bà luôn bị tình yêu trai gái lấn át tất cả những tình cảm khác, và tôi nghĩ rằng Mary thuộc loại phụ nữ ấy.

    Vừa mới nghe xong những lời dặn của hắn thì cô ta trông thấy ông bước xuống cầu thang, thế là cô ta lập tức đóng vội cánh cửa sổ lại và kể cho ông nghe về sự dan díu của một cô hầu với người tình mang chân gỗ của chị ta, và điều này thì hoàn toàn đúng.

    Arthur, con trai ông, đã trở về giường mình sau cuộc nói chuyện với ông, nhưng anh ta trằn trọc không ngủ được vì lo lắng về những món nợ ở câu lạc bộ.

    Đến nửa đêm, anh ta nghe có tiếng bước chân đi thật nhẹ ngang qua cửa phòng mình, vì thế anh ta nhổm dậy và vô cùng ngạc nhiên khi trông thấy cô em họ đang lén lút đi dọc theo hành lang rồi biến mất vào phòng thay đồ của ông.

    Kinh ngạc đến sững sờ, chàng trai mặc vội quần áo và nấp trong bóng tối, chờ xem sự việc kì lạ này sẽ đi đến đâu.

    Chỉ một lúc sau, cô gái lại từ trong phòng bước ra và dưới ánh sáng của ngọn đèn ở hành lang, con trai ông nhìn thấy cô ta cầm trong tay chiếc mũ miện quý giá.

    Khi cô ta đi xuống cầu thang, anh ta liền hớt hải chạy theo và ẩn mình vào sau tấm rèm ở gần cửa phòng ông, từ chỗ đó anh ta có thể trông thấy những gì xảy ra ở hành lang của tầng dưới.

    Anh ta thấy cô gái rón rén mở cửa sổ và đưa chiếc mũ miện cho ai đó trong bóng tối, rồi đóng cửa sổ lại và vội vã trở về phòng.

    Trên đường quay lại, cô ta đi sát qua chỗ chàng trai đang nấp sau tấm rèm.

    Khi cô ta còn ở đó thì chàng trai không thể làm gì vì sợ phơi bày ra sự thật xấu xa của người thiếu nữ anh ta đang yêu.

    Nhưng vào giây phút cô ta đi khuất thì anh ta chợt nhận thức được tai họa này đối với ông nghiêm trọng biết bao và việc cứu vãn tình hình quan trọng biết chừng nào.

    Anh ta mặc nguyên bộ đồ phong phanh và chạy chân trần xuống cầu thang, mở cánh cửa sổ rồi phóng ra ngoài nền đất tuyết và chạy xuống con đường mòn, ở đó anh ta có thể trông thấy một bóng đen dưới ánh trăng.

    Huân tước George Burnwell gắng sức bỏ chạy nhưng Arthur đã tóm được hắn và một cuộc vật lộn đã diễn ra giữa hai người, con trai ông giật mạnh một bên của chiếc mũ miện còn đối thủ của anh ta thì nắm chặt phía bên kia.

    Trong trận ẩu đả, con trai ông đã giáng một cú trúng huân tước George và cào vào mắt hắn.

    Bỗng một tiếng 'rắc' vang lên, con trai ông nhận thấy chiếc mũ miện đã nằm trong tay mình bèn hổi hả trở về, đóng cửa sổ lại, chạy lên phòng ông và khi anh ta vừa mới nhận ra là chiếc mũ miện đã bị bẻ cong trong cuộc giằng co và đang cố gắng uốn cho nó thẳng lại thì ông bước vào."

    "Có thể nào lại là thế?"

    Ông chủ nhà băng hổn hển.

    "Thế rồi ông làm cho anh ta nổi giận khi chửi mắng anh ta bằng những lời lẽ tồi tệ vào đúng lúc anh ta nghĩ mình xứng đáng được nhận những lời cảm ơn nồng nhiệt nhất.

    Anh ta không thể nào giải thích thực chất của vấn đề vì sợ phản bội lại con người mà rõ ràng là không xứng đáng với sự quên mình của anh ta.

    Nhưng vì hào hiệp, anh ta đã giữ kín bí mật của cô gái."

    "Vậy ra đó là lí do con bé gào lên và ngất xỉu khi trông thấy chiếc mũ miện", ông Holder kêu to.

    "Ôi, Chúa ơi!

    Tôi thật là một lão ngốc mù quáng!

    Con trai tôi còn cầu xin tôi cho nó ra ngoài năm phút thôi nữa chứ!

    Thằng bé đáng quý muốn tìm xem mảnh bị mất có còn nằm ở chỗ chúng đã đánh nhau hay không.

    Tôi đã đánh giá sai nó một cách tàn nhẫn làm sao!"

    "Khi đến nhà ông", Holmes nói tiếp, "tôi lập tức đi vòng quanh nhà để quan sát xem có còn vết tích nào trên tuyết có thể giúp ích cho mình hay không.

    Tôi biết rằng tuyết không rơi thêm từ đêm hôm trước và sương giá sẽ giữ lại nguyên vẹn mọi dấu vết.

    Tôi lần theo lối đi của người giao hàng nhưng nhận thấy các dấu vết đã bị giẫm đạp lên và không còn phân biệt được nữa.

    Tuy vậy, ngay phía trước, ở bên ngoài cánh cửa bếp, có một phụ nữ đã đứng trò chuyện với một người đàn ông, những vết tròn ở một bên chân cho biết anh ta có một chân bằng gỗ.

    Thậm chí tôi còn có thể nhận ra rằng cuộc nói chuyện của họ đã bị gián đoạn vì người phụ nữ đã vội vàng chạy về phía cửa, điều đó được thể hiện rõ qua việc ngón chân cái của cô ta in sâu xuống còn những dấu vết của gót chân thì nông hơn, trong khi đó anh chàng chân gỗ đứng đợi một lúc rồi bỏ đi.

    Lúc đó tôi nghĩ rằng hai người này có thể là cô hầu và người yêu của cô ta mà ông đã nói với tôi và cuộc điều tra cũng cho thấy là đúng như vậy.

    Tôi đi vòng quanh khu vườn song không nhìn thấy gì ngoài những dấu vết rải rác mà tôi cho là dấu chân của cảnh sát; nhưng khi tôi bước vào con đường mòn dẫn đến chuồng ngựa thì có một câu chuyện dài và phức tạp được viết trên tuyết ngay trước mắt tôi.

    Có hai hàng dấu chân của một người đàn ông đi giày và hai hàng dấu chân khác mà tôi vui mừng nhận ra là thuộc về một người đàn ông đi chân trần.

    Từ lời kể của ông, tôi lập tức tin chắc rằng người thứ hai chính là con trai ông.

    Người thứ nhất đi bộ theo cả hai chiều còn người thứ hai thì chạy vội vã và vì dấu chân của anh ta in lên những dấu giày lõm xuống, rõ ràng là anh ta đã chạy theo người kia.

    Tôi lần theo những dấu chân này và thấy chúng dẫn đến cánh cửa sổ nhìn ra con đường mòn, là nơi mà kẻ đi giày đã đạp tuyết lún xuống trong khi chờ đợi.

    Rồi tôi bước đến đầu kia của con đường mòn, cách đó gần một trăm yard.

    Tại đây, tôi nhìn thấy kẻ mang giày đã quay mặt lại và tuyết bị giẫm nát như thể đã xảy ra một cuộc vật lộn và cuối cùng thì có vài giọt máu rơi trên tuyết cho tôi thấy là mình đã không lầm.

    Sau đó, kẻ đi giày đã chạy xuôi theo con đường mòn và một vết máu nhỏ khác cho biết hắn đã bị thương.

    Khi hắn đi đến chỗ tiếp giáp với đường cái thì tôi nhận thấy vỉa hè đã được quét sạch, vậy là dấu vết kết thúc ở đó.

    Tuy nhiên, khi trở vào nhà, như ông còn nhớ, tôi đã dùng kính lúp xem xét kĩ bệ cửa và khung cửa sổ nhìn ra con đường mòn và lập tức biết rằng có ai đó đã đi qua lối này.

    Tôi có thể nhận ra hình dáng của lòng bàn chân nơi bàn chân ướt đã đặt lên khi bước vào.

    Khi đó tôi bắt đầu hình dung sự việc đã xảy ra như sau: Một người đàn ông đứng đợi bên ngoài cửa sổ; ai đó đem vật trang sức bằng đá quý đến; hành động đó bị con trai ông trông thấy; anh ta đuổi theo kẻ trộm; đánh nhau với hắn; người nào cũng giằng mạnh chiếc mũ miện, sức lực của cả hai người cộng lại khiến cho nó gãy lìa mà nếu chỉ một mình thì không ai có thể làm được.

    Con trai ông mang chiến lợi phẩm quay trở vào nhà nhưng đã để lại một mảnh trong tay của đối thủ.

    Đến đây thì tôi đã hiểu rõ.

    Vấn đề đặt ra bây giờ là, kẻ đó là ai và ai đã đem chiếc mũ miện đến cho hắn?

    Tôi có một phương châm là: Sau khi loại trừ được những gì không thể thì điều gì còn lại, dù có khó xảy ra đến đâu, ắt phải là đáp án chân thực.

    Tôi biết ông không phải là người đã đem nó xuống nhà, vậy thì chỉ còn lại cháu gái của ông và mấy người hầu.

    Nhưng nếu đó là những cô hầu thì tại sao con trai ông lại chấp nhận bị kết tội thay?

    Không có lí do nào cả.

    Tuy vậy, vì anh ta yêu người em họ của mình nên đó chính là cái cớ tuyệt vời để giải thích cho việc anh ta giữ kín bí mật của cô ta - nhất là khi bí mật đó là một điều ô nhục.

    Khi tôi nhớ lại là ông đã nhìn thấy cô ta đứng bên cửa sổ, và cô ta đã ngất xỉu khi trông thấy chiếc mũ miện xuất hiện trở lại thì điều phỏng đoán của tôi đã trở nên chắc chắn.

    Và kẻ đồng lõa của cô ta có thể là ai?

    Đương nhiên đó phải là một người tình vì còn ai khác có thể có ảnh hưởng mạnh mẽ hơn tình thương yêu và lòng biết ơn của cô ta đối với ông kia chứ?

    Tôi biết rằng ông ít khi ra khỏi nhà và quan hệ bạn bè cũng rất hạn chế.

    Nhưng trong số đó có huân tước George Burnwell.

    Trước đây, tôi đã từng nghe nói hắn là một gã có nhiều tai tiếng đối với phụ nữ.

    Kẻ đi giày và giữ những viên đá bị mất chính là hắn.

    Cho dù biết rằng mình đã bị Arthur phát hiện, hắn vẫn hi vọng sẽ được an toàn vì chàng trai sẽ không thể tiết lộ một lời nào vì sợ làm tổn hại đến gia đình.

    Trong hoàn cảnh đó, hẳn óc xét đoán của quý vị cũng sẽ nghĩ ra được biện pháp kế tiếp mà tôi sử dụng.

    Tôi đến nhà của huân tước George Burnwell trong bộ dạng của một kẻ lang thang, tìm cách làm quen với người đầy tớ của hắn và được biết là ông chủ của anh ta có bị thương ở đầu vào đêm trước, và cuối cùng với một món tiền là sáu shilling, tôi mua lại một đôi giày đã hỏng của chủ anh ta để kiểm tra lại cho chắc chắn.

    Tôi mang đôi giày đó đến Streatham để ướm thử và thấy rằng chúng vừa khít với những dấu chân."

    "Tôi có trông thấy một tên du đãng ăn mặc lôi thôi lếch thếch trên đường mòn tối qua", ông Holder nói.

    "Chính xác.

    Kẻ đó là tôi.

    Nhận thấy mình đã tìm ra tên trộm, tôi trở về nhà và thay quần áo.

    Đã đến lúc tôi phải thử diễn phần tế nhị của vở kịch vì tôi thấy rằng không nên khởi tố để tránh xảy ra tai tiếng và tôi cũng biết một kẻ bất lương rất tinh ranh như hắn cũng sẽ đoán được chúng ta đều bị vấn đề này trói buộc.

    Tôi đến gặp hắn.

    Tất nhiên là lúc đầu hắn phủ nhận tất cả.

    Nhưng khi tôi kể cho hắn nghe từng chi tiết đã xảy ra, hắn bèn thử hăm dọa và lấy vũ khí phòng thân treo trên tường xuống.

    Tuy nhiên, tôi vốn biết rõ đối thủ của mình nên đã gí súng vào đầu hắn trước khi hắn kịp ra đòn.

    Thế là hắn trở nên biết điều hơn.

    Tôi bảo hắn rằng chúng ta sẽ trả cho hắn một khoản tiền để lấy lại những viên đá quý mà hắn đang giữ, một ngàn bảng cho mỗi viên.

    Nghe vậy, mặt hắn liền lộ ra những dấu hiệu tiếc nuối.

    'Sao, mẹ kiếp!' Hắn nói, 'tôi đã bán chúng với giá sáu trăm cho cả ba viên!' Tôi nhanh chóng xoay xở để có được địa chỉ của kẻ tàng trữ đồ trộm cắp đang giữ chúng bằng cách hứa sẽ không đưa hắn ra tòa.

    Rời khỏi nhà hắn, tôi chạy thẳng đến nhà người mua và sau một hồi lâu cò kè mặc cả, tôi đã có trong tay ba viên đá quý với giá một ngàn bảng mỗi viên.

    Rồi tôi ghé thăm con trai ông, báo cho anh ta biết là mọi việc đã ổn, cuối cùng là lên giường đi ngủ vào khoảng 2 giờ sáng sau một ngày làm việc mà tôi có thể nói là cực nhọc."

    "Và là ngày giải cứu Anh quốc khỏi một vụ tai tiếng trầm trọng", ông chủ nhà băng nói thế rồi đứng lên.

    "Thưa ông, tôi không thể tìm ra lời nào xứng đáng để cảm ơn ông, nhưng ông sẽ thấy rằng tôi không phải là kẻ vô ơn sau những gì ông đã làm cho tôi.

    Quả thật là tài năng của ông đã vượt quá tất cả những gì tôi được nghe kể.

    Giờ thì tôi phải chạy ngay đi gặp đứa con trai thân yêu để xin lỗi nó về sai lầm mà tôi đã phạm phải.

    Còn về những gì ông nói cho tôi biết về con bé Mary, nó làm tôi đau thấu tim gan.

    Phải chăng ngay cả tài năng của ông cũng không thể cho tôi biết nó đang ở đâu?"

    "Tôi nghĩ chúng ta có thể đoán chắc rằng", Holmes đáp, "huân tước George Burnwell ở đâu thì cô ta ở đó.

    Và còn một điều chắc chắn nữa, cho dù cô ta đã phạm những tội lỗi gì, thì cô ta cũng sẽ sớm chịu sự trừng phạt còn hơn cả thích đáng."
     
    Sherlock Holmes Toàn Tập
    TRANG TRẠI SỒI ĐỎ (The Copper Beeches, 1892)


    "Đối với người yêu nghệ thuật và vị nghệ thuật", Sherlock Holmes nói và quẳng trang quảng cáo của tờ Daily Telegraph sang một bên, "thì niềm vui thích mãnh liệt nhất nhiều khi lại xuất phát từ những hình thức thể hiện khiêm nhường và nhỏ mọn nhất.

    Watson này, tôi rất vui khi thấy cho đến nay anh đã hiểu thấu được chân lí này trong những bài tường thuật ngắn về các vụ án của chúng ta mà anh đã tử tế ghi chép lại, và đôi khi còn tô điểm thêm, anh không chú trọng quá nhiều vào causer célèbres và những vụ án giật gân tôi đã tham gia, mà lại chú ý nhiều đến những vụ tuy không mấy quan trọng nhưng lại tạo ra nhiều cơ hội cho những khả năng suy diễn và tổng hợp logic vốn là sở trường của tôi."

    "Ấy thế mà", tôi mỉm cười nói, "tôi vẫn không được miễn cho cái tội giật gân những ghi chép của mình."

    "Có lẽ anh đã lầm", anh vừa nói vừa gắp một viên than cháy dở đỏ rực để châm cái tẩu thuốc dài bằng gỗ anh đào mà anh quen dùng thay cho cái tẩu gốm mỗi khi có hứng tranh luận, "Có lẽ là anh đã lầm khi cố tình lồng màu sắc và sự sinh động vào lời kể trong khi lẽ ra chỉ nên thuật lại quá trình suy luận thuần túy từ nguyên nhân đến kết quả, vốn là nét đáng quan tâm duy nhất của vụ việc."

    "Về việc đó thì có vẻ như tôi đã dành cho anh sự phản ánh xứng đáng đấy chứ", tôi trả lời, giọng nói có chút lạnh lùng, vì tôi cảm thấy khó chịu bởi tính tự cao tự đại mà đã hơn một lần tôi nhận ra là nhân tố mạnh mẽ trong tính cách kì lạ của bạn tôi.

    "Không phải thế, đó không phải là sự ích kỉ hay kiêu ngạo", theo thói quen, anh nói như trả lời suy nghĩ trong đầu tôi chứ không phải với những lời tôi nói ra.

    "Nếu tôi yêu cầu sự đánh giá xứng đáng cho nghệ thuật phá án của mình thì cũng vì đó là một thứ không của riêng ai, một thứ nằm ngoài bản thân tôi.

    Tội phạm thì đầy rẫy.

    Logic lại hiếm hoi.

    Do đó anh nên nhấn mạnh vào logic hơn là tội phạm.

    Cái đáng ra nên là một loạt bài giảng thì anh lại hạ thấp xuống thành truyện kể."

    Hôm đó là một buổi sáng đầu xuân lạnh lẽo, sau khi dùng xong bữa điểm tâm, chúng tôi ngồi mỗi người một bên ngọn lửa đang reo lách tách trong căn phòng cũ ở phố Baker.

    Một màn sương dày đặc đang lơ lửng giữa những dãy nhà xám xịt và mấy cánh cửa sổ nhà đối diện hiện ra lờ mờ qua những tán lá vàng nặng nề như những vệt nhòe u tối không rõ hình dáng.

    Ngọn đèn khí đốt trong nhà chúng tôi đã được thắp sáng và chiếu lên tấm khăn trải bàn trắng cùng mấy chiếc đĩa sứ và dao nĩa kim loại vì bàn ăn vẫn chưa được dọn đi.

    Sherlock Holmes ngồi yên lặng suốt cả buổi sáng, cứ đắm chìm mãi vào những cột rao vặt của nhiều số báo liên tiếp cho đến khi có vẻ không muốn tìm kiếm nữa, anh mới ngẩng lên với một tâm trạng không mấy vui vẻ để phê bình tôi về những thiếu sót trong các bài viết của tôi.

    "Tuy nhiên", anh nhận xét sau một lúc tạm ngừng để ngồi hút tẩu thuốc dài và nhìn chăm chú vào ngọn lửa, "tôi khó có thể chỉ trích anh thích gây giật gân, vì trong số những vụ mà anh đã có lòng tốt để mắt tới, còn một tỉ lệ khá lớn các bài viết không đề cập tới tội phạm theo nghĩa pháp lí.

    Vụ tôi giúp nhà vua xứ Bohemia, sự kiện lạ lùng xảy ra với cô Mary Sutherland, sự việc rắc rối có liên quan tới gã đàn ông méo miệng và câu chuyện bất ngờ của nhà quý tộc độc thân, tất cả những vụ này đều nằm ngoài phạm vi của luật pháp.

    Nhưng để tránh gây giật gân, tôi e rằng có thể anh đã quá chú ý đến những vụ việc nhỏ nhặt."

    "Có thể đoạn kết đúng là thế", tôi đáp, "nhưng tôi luôn trung thành với những phương pháp mới lạ và hấp dẫn."

    "Chao ôi, anh bạn thân mến ơi, công chúng, cái đám công chúng đông đảo mù mờ, chẳng thể nào nhận ra một người thợ dệt dựa vào cái răng của anh ta hay một người thợ sắp chữ bằng ngón tay cái bên trái, họ có quan tâm gì đến những sắc thái vi tế của việc phân tích và suy luận chứ!

    Nhưng, quả thật, nếu anh quan tâm đến những vụ nhỏ nhặt thì tôi không thể trách cứ anh được vì thời của những vụ án lớn đã qua rồi.

    Con người, hay ít nhất là bọn tội phạm, đã đánh mất hết sự táo bạo và tính độc đáo.

    Còn văn phòng thám tử khiêm tốn của tôi có vẻ đã bị biến thành một trung tâm chuyên tìm lại những cây bút chì thất lạc và tư vấn cho những cô nữ sinh trường nội trú.

    Tôi tin rằng rốt cục thì mình đã rơi đến đáy rồi.

    Tôi nghĩ là bức thư tôi nhận được sáng nay đã cho tôi điểm 0.

    Anh hãy đọc đi!"

    Anh ném cho tôi một bức thư bị vò nát.

    Bức thư được gửi đến từ khách sạn Montague Place vào tối hôm qua với nội dung như sau:

    THƯA ÔNG HOLMES

    Tôi rất nóng lòng muốn hỏi xin ý kiến của ông về việc tôi có nên nhận công việc gia sư dạy trẻ mà người ta đề nghị với tôi hay không.

    Tôi sẽ đến gặp ông vào lúc 10 giờ 30 sáng mai nếu ông không phiền.

    Chân thành,

    VIOLET HUNTER

    "Anh có biết cô gái trẻ này không?"

    Tôi hỏi.

    "Không."

    "Giờ đã 10 giờ 30 rồi."

    "Phải, và tôi tin chắc rằng cô ta đang bấm chuông đó."

    "Biết đâu câu chuyện lại lí thú hơn anh tưởng.

    Anh còn nhớ vụ Viên thạch lựu xanh chứ?

    Lúc đầu nó có vẻ chỉ đơn thuần là một chuyện vặt, vậy mà lại trở thành một cuộc điều tra nghiêm túc.

    Biết đâu vụ này cũng thế."

    "Ừ, ta hãy hi vọng thế.

    Nhưng những mối nghi ngờ của ta sẽ nhanh chóng được giải quyết thôi, bởi vì, nếu như tôi không lầm thì đây chính là cô gái ta đang nói đến."

    Anh vừa dứt lời thì cánh của mở ra và một cô gái trẻ bước vào.

    Cô ta ăn mặc giản dị nhưng gọn gàng, khuôn mặt lanh lợi, sáng sủa, lấm tấm tàn nhang như trứng chim choi choi, và có phong thái nhanh nhẹn của một người phụ nữ luôn phải tự xoay xở trong cuộc sống.

    "Tôi hi vọng ông sẽ thứ lỗi cho sự quấy rầy này", cô ta nói khi bạn tôi đứng lên chào, "nhưng có một sự việc rất lạ lùng đã xảy ra với tôi mà tôi lại chẳng có cha mẹ hay người thân nào để có thể hỏi ý kiến, vậy nên tôi mới nghĩ có lẽ ông sẽ vui lòng chỉ bảo cho tôi biết mình nên làm gì."

    "Xin mời cô ngồi, cô Hunter.

    Tôi sẽ rất vui nếu giúp được cô."

    Tôi có thể thấy rằng Holmes có ấn tượng tốt với phong thái và ngôn từ của vị thân chủ mới.

    Anh quan sát cô ta bằng con mắt tinh tế của mình rồi điềm tĩnh lắng nghe câu chuyện của cô ta, mi mắt cụp xuống và các đầu ngón tay chụm vào nhau.

    "Tôi làm gia sư dạy trẻ đã được năm năm", cô ta kể, "trong gia đình đại tá Spence Munro, nhưng hai tháng trước, ông đại tá được bổ nhiệm đến Halifax, Nova Scotia và đưa mấy đứa trẻ cùng đi Mỹ, thế là tôi thất nghiệp.

    Tôi mới đăng báo tìm việc và cũng hồi đáp những mẩu tin tìm người nhưng đều thất bại.

    Cuối cùng thì món tiền khiêm tốn mà tôi dành dụm được bắt đầu cạn dần và tôi hoang mang không biết mình nên làm gì.

    Ở khu West End có một công ty nổi tiếng chuyên môi giới việc làm cho các nữ gia sư tên là Westaway's, và tôi thường đến đó mỗi tuần một lần để xem có công việc nào phù hợp với mình không.

    Westaway là tên của người sáng lập công ty nhưng thực ra người điều hành nó lại là cô Stoper.

    Cô ta ngồi trong văn phòng nhỏ còn những người phụ nữ đến tìm việc thì ngồi đợi ở một phòng chờ rồi lần lượt vào, còn cô ta sẽ tra cứu các cuốn sổ xem có việc gì thích hợp với họ hay không.

    Khi đến đó vào tuần vừa rồi, tôi được dẫn vào văn phòng nhỏ như thường lệ, nhưng tôi thấy không chỉ có mình cô Stoper ngồi ở đó.

    Một người đàn ông to béo có khuôn mặt tươi cười và cái cằm nhiều ngấn chảy xệ xuống tận cổ đang ngồi cạnh cô ta với cặp kính trên mũi, chăm chú nhìn những người phụ nữ bước vào.

    Khi đến lượt tôi thì ông ta nhảy chồm lên và quay phắt sang cô Stoper.

    'Được rồi', ông ta nói, 'tôi không còn đòi hỏi gì hơn nữa.

    Tuyệt vời!

    Xuất sắc!' Ông ta có vẻ rất hăng hái và xoa hai bàn tay vào nhau với điệu bộ rất vui vẻ.

    Diện mạo của ông ta trông khá dễ chịu nên cũng tạo được thiện cảm cho người đối diện.

    'Cô đang tìm việc phải không, thưa cô?' Ông ta hỏi.

    'Vâng, thưa ông.'

    'Cô làm gia sư chứ?'

    'Vâng.'

    'Cô muốn mức lương bao nhiêu?'

    'Tôi được trả bốn bảng mỗi tháng ở chỗ làm cũ là nhà đại tá Spence Munro.'

    'Ôi, chậc chậc!

    Đồng lương rẻ mạt... rẻ mạt quá!' Ông ta kêu lên và vung hai bàn tay mập mạp lên trời như đang giận dữ.

    'Làm sao mà người ta có thể trả một mức lương nhỏ mọn đến thế cho một quý cô hấp dẫn và giỏi giang như cô chứ?'

    'Về mặt giỏi giang, thưa ông, có lẽ là kém hơn so với ông nghĩ', tôi nói.

    'Tôi chỉ biết một chút tiếng Pháp, một chút tiếng Đức, âm nhạc và vẽ..!

    'Ôi dào', ông ta lại tặc lưỡi và kêu lên.

    'Tất cả những chuyện đó chỉ là vặt vãnh.

    Vấn đề là, cô có phong cách và cử chỉ của một quý cô hay không?

    Tất cả chỉ tóm gọn lại có bấy nhiêu thôi.

    Nếu không thì cô không thích hợp để dạy dỗ một đứa trẻ mà ngày nào đó có thể sẽ giữ một vai trò quan trọng trong lịch sử nước nhà.

    Nhưng nếu có thì tại sao người ta có thể yêu cầu cô hạ mình nhận một số tiền dưới ba con số?

    Thưa cô, làm việc cho tôi thì mức lương khởi điểm của cô sẽ là một trăm bảng mỗi năm.'

    Thưa ông Holmes, chắc ông có thể hình dung ra rằng đối với người nghèo túng như tôi, thì lời đề nghị ấy có vẻ tốt đến không tin nổi.

    Tuy nhiên, có lẽ ông ta nhận thấy vẻ hoài nghi trên mặt tôi nên đã mở ví tiền và lấy ra một tờ giấy bạc.

    'Tôi còn có thói quen,' ông ta nói và cười vui vẻ đến mức hai mắt chỉ còn là hai đường kẻ nhỏ lấp lánh giữa những nếp nhăn trên khuôn mặt, 'luôn ứng trước cho các cô gái trẻ phân nửa tiền lương, như thế họ có thể trang trải vài món chi phí nhỏ về việc đi lại và mua ít quần áo mới.' Có vẻ như tôi chưa bao giờ được gặp một người thú vị và tâm lí như ông ta.

    Vì tôi đang mắc nợ mấy người giao hàng nên món tiền ứng trước này đến thật đúng lúc, tuy nhiên vụ giao dịch này vẫn còn có điều gì đó bất thường cho nên tôi muốn tìm hiểu thêm đôi chút trước khi đồng ý, 'Cho phép tôi hỏi là gia đình ông sống ở đâu, thưa ông?' Tôi hỏi.

    'Ở Hampshire.

    Một vùng thôn dã rất đẹp.

    Trang trại Sồi Đỏ, cách Winchester năm dặm.

    Đó là vùng nông thôn tuyệt vời nhất, cô gái thân mến ạ, và là trang viên cổ kính đáng yêu nhất.'

    'Thế còn phận sự của tôi, thưa ông?

    Tôi muốn được biết cụ thể.'

    'Một đứa bé - một đứa bé xinh xắn, dễ thương mới lên sáu.

    Ôi, giá mà cô trông thấy cách thằng bé đập chết mấy con gián bằng một chiếc dép!

    Chát!

    Chát!

    Chát!

    Ba con tiêu đời trong nháy mắt!' Ông ta dựa lưng vào ghế và cười phá lên khiến cho đôi mắt híp lại.

    Tôi hơi giật mình trước thú tiêu khiển của cậu bé, nhưng tiếng cười của ông bố khiến tôi nghĩ rằng có lẽ ông ta đang nói đùa.

    'Vậy, phận sự duy nhất của tôi là,' tôi hỏi, 'chăm sóc cho mỗi đứa bé thôi?'

    'Không, không phải thế, không phải chỉ mỗi việc đó thôi đâu, tiểu thư thân mến', ông ta kêu to.

    'Tôi chắc chắn cô cũng đoán được rằng bổn phận của cô là tuân theo bất kì mệnh lệnh vặt vãnh nào mà vợ tôi đưa ra, miễn sao những yêu cầu đó phải đúng mực.

    Hẳn cô cũng thấy đâu có gì khó khăn, đúng không?'

    'Tôi rất mong là mình có thể làm tốt.'

    'Hẳn rồi.

    Ví dụ như vấn đề trang phục.

    Chúng tôi là những người khá lập dị, cô biết đấy, lập dị nhưng tốt bụng.

    Nếu chúng tôi yêu cầu cô mặc một bộ y phục nào đó do chúng tôi đưa ra, cô sẽ không phản đối ý thích nhỏ nhặt đó chứ hả?'

    'Không', tôi đáp và khá kinh ngạc trước những lời nói của ông ta.

    'Hoặc là ngồi ở chỗ này hay chỗ kia, cô không phiền chứ?'

    'Ồ, không đâu.'

    'Hay là bắt cô cắt tóc ngắn trước khi đến chỗ chúng tôi?'

    Tôi không thể tin vào tai mình.

    Như ông thấy đấy, thưa ông Holmes, tóc của tôi khá dày và có màu hạt dẻ khá lạ.

    Nhiều người khen là tôi có mái tóc đẹp.

    Tôi không hề có ý định tự dưng cắt phăng nó đi.

    'Tôi e rằng không được', tôi nói.

    Ông ta đang hăm hở nhìn tôi qua đôi mắt ti hí và tôi có thể nhận thấy mặt ông ta sẩm xuống khi nghe tôi nói vậy.

    'Tôi e rằng điều này khá quan trọng,' ông ta nói.

    'Đó là một sở thích nho nhỏ của vợ tôi, mà những sở thích của phụ nữ thì cô cũng biết rồi đấy, ta buộc phải nghe theo thôi.

    Vậy là, cô không chịu cắt tóc phải không?'

    'Không, thưa ông, thật tình thì tôi không thể.' Tôi kiên quyết trả lời.

    'À, tốt thôi.

    Vậy là xong.

    Thật đáng tiếc vì về những mặt khác thì cô đáp ứng rất tốt.

    Trong trường hợp này thì tốt hơn là tôi nên gặp thêm vài cô gái khác vậy, thưa cô Stoper.'

    Nãy giờ cô quản lí vẫn ngồi yên và chăm chú xem mớ giấy tờ của mình mà không nói với chúng tôi một lời nào, nhưng lúc này thì cô ta liếc nhìn tôi với vẻ khó chịu hiện rõ trên mặt khiến tôi không thể không nghi ngờ rằng lời từ chối của tôi đã làm cho cô ta bị mất đi một món tiền hoa hồng hậu hĩ.

    'Cô vẫn muốn lưu tên mình trong sổ chứ?' Cô ta hỏi.

    'Xin cô cứ để lại, thưa cô Stoper.'

    'Thật sao?

    Có vẻ cũng vô ích thôi vì cô đã từ chối một lời đề nghị tuyệt vời như thế,' cô ta lạnh lùng đáp.

    'Cô khó có thể mong đợi rằng chúng tôi sẽ nỗ lực tìm kiếm cho cô một cơ hội tốt khác.

    Chào cô, cô Hunter.' Cô ta gõ vào một cái chuông ở trên bàn và cậu bé phục vụ dẫn tôi ra.

    Thế đấy, thưa ông Holmes, khi tôi trở về căn phòng trọ của mình, trông thấy chỗ thức ăn ít ỏi trong tủ và hai, ba tờ hóa đơn nằm trên bàn, tôi bắt đầu tự hỏi có phải mình đã làm một việc rất ngu xuẩn hay không.

    Xét cho cùng, dù những người đó có vài sở thích kì lạ và muốn người khác tuân theo một số đòi hỏi khác thường nhất đi chăng nữa, ít ra họ cũng sẵn sàng trả tiền cho tính lập dị của mình, ở Anh quốc này chẳng có mấy cô gia sư nhận được một trăm bảng mỗi năm.

    Vả lại, mái tóc có giúp được gì cho tôi đâu?

    Nhiều người trông còn đẹp hơn khi cắt tóc ngắn và có lẽ tôi cũng sẽ giống như họ.

    Sang đến ngày hôm sau, tôi nghĩ rằng mình đã làm một điều dại dột và ngày hôm sau nữa thì tôi lại càng chắc chắn về điều đó.

    Đến lúc tôi hầu như đã dẹp bỏ lòng kiêu hãnh để quay lại công ty môi giới và hỏi xem công việc đó còn trống hay không thì nhận được lá thư do chính ông kia gửi đến.

    Tôi có đem nó theo đây và sẽ đọc cho ông nghe:

    Trang trại Sồi Đỏ, gần Winchester

    THƯA CÔ HUNTER!

    Cô Stoper đã rất tốt bụng cho tôi địa chỉ của cô và tôi viết thư này từ trang trại để hỏi xem cô đã xem xét lại quyết định của mình hay chưa, vợ tôi rất muốn cô đến đây vì qua lời mô tả của tôi, bà ấy rất thích cô.

    Chúng tôi sẵn sàng trả ba mươi bảng mỗi quý, tức là một trăm hai mươi bảng mỗi năm để bù đắp cho vài điều bất tiện nho nhỏ mà những ý thích kì quặc của chúng tôi có thể gây ra cho cô.

    Dù sao thì chúng cũng không quá đáng lắm.

    Vợ tôi đặc biệt ưa thích màu xanh cobalt và muốn cô mặc áo màu ấy ở trong nhà vào buổi sáng.

    Tuy nhiên, cô không cần phải mua vì chúng tôi có một cái áo của cô con gái thân yêu tên Alice (hiện đang ở Philadelphia) mà tôi nghĩ sẽ rất vừa với cô.

    Còn về việc ngồi ở chỗ này hay chỗ nọ và tươi cười theo yêu cầu thì sẽ không gây phiền toái cho cô đâu.

    Về mái tóc của cô, quả là rất tiếc, đặc biệt là trong buổi nói chuyện ngắn ngủi của chúng ta, tôi buộc phải công nhận rằng tóc cô rất đẹp, nhưng tôi e rằng tôi phải giữ nguyên đề nghị này, hi vọng việc nâng mức lương có thể đền bù cho cô về sự thiệt hại này.

    Phận sự của cô có liên quan đến đứa bé thì rất nhẹ nhàng.

    Cô hãy đến và tôi sẽ đón cô ở Winchester bằng xe ngựa.

    Hãy báo cho tôi biết cô đi chuyến tàu nào.

    Kính thư,

    JEPHRO RUCASTLE

    "Đó là bức thư mà tôi mới nhận được, thưa ông Holmes, và tôi định nhận lời.

    Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng trước khi đưa ra quyết định cuối cùng thì tôi nên nhờ ông xem xét toàn bộ vấn đề."

    "Thế này, cô Hunter, nếu cô đã quyết định thì vấn đề đã xong", Holmes đáp và mỉm cười.

    "Nhưng ông không khuyên tôi từ chối sao?"

    "Tôi thừa nhận rằng đó không phải là công việc mà tôi muốn cô em gái của mình nhận làm."

    "Điều đó có nghĩa là gì, thưa ông Holmes?"

    "À, tôi không có dữ kiện nào nên không thể nói gì.

    Có lẽ bản thân cô đã có ý kiến riêng rồi?"

    "Vâng, có vẻ như tôi chỉ có một đáp án khả dĩ duy nhất.

    Trông ông Rucastle cũng có vẻ tử tế và tốt bụng.

    Lẽ nào vợ ông ta bị điên và ông ta muốn giữ kín chuyện này vì sợ rằng bà ta có thể bị đưa vào nhà thương điên và ông ta chiều theo mọi ý thích của bà ta để tránh cho bà ta lên cơn chăng?"

    "Đó có thể là một đáp án - xét tình hình thực tế thì nó là đáp án có vẻ khả dĩ nhất.

    Nhưng dù sao thì đó cũng không phải là một gia đình dễ chịu đối với một cô gái trẻ."

    "Nhưng còn vấn đề tiền nong, thưa ông Holmes!"

    "Phải, tất nhiên là mức lương khá cao - quá cao là khác.

    Chính điều đó làm tôi thấy nghi ngại.

    Tại sao họ lại trả cho cô đến một trăm hai mươi bảng mỗi năm trong khi họ vẫn có thể chọn được những người khác với mức lương chỉ bốn mươi bảng?

    Chắc chắn phải có một lí do quan trọng ẩn sau chuyện đó."

    "Tôi nghĩ rằng nếu tôi kể cho ông nghe về tình huống này, ông sẽ hiểu được nếu ngày sau tôi cần đến sự giúp đỡ của ông.

    Tôi sẽ vững lòng hơn rất nhiều nếu có ông đứng sau hỗ trợ."

    "Ồ, cô cứ yên tâm.

    Tôi cam đoan với cô rằng vấn đề của cô có thể sẽ là việc lí thú nhất mà tôi được biết trong mấy tháng gần đây.

    Một số chi tiết có vẻ rất lạ kì.

    Nếu cô có gì nghi ngờ hoặc gặp nguy hiểm..."

    "Nguy hiểm!

    Ông thấy trước được mối nguy hiểm nào chăng?"

    Holmes nghiêm túc lắc đầu.

    "Nếu ta có thể đoán ra được thì nó chẳng còn là nguy hiểm nữa", anh nói.

    "Nhưng bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, chỉ cần một bức điện tín của cô là tôi sẽ đến giúp cô ngay."

    "Thế là đủ rồi."

    Cô gái nhanh nhẹn đứng dậy và mọi lo lắng đã biến mất khỏi gương mặt cô.

    "Giờ thì tôi sẽ đi xuống Hampshire với tâm trạng khá là nhẹ nhõm.

    Tôi sẽ viết thư cho ông Rucastle ngay lập tức, hi sinh mái tóc tội nghiệp ngay tối nay và khởi hành đi Winchester vào ngày mai."

    Sau khi nói vài lời cảm ơn với Holmes, cô ta chào từ biệt cả hai chúng tôi rồi hối hả bước đi.

    "Ít ra thì", tôi lên tiếng khi nghe tiếng bước chân nhanh nhẹn và vững chắc của cô gái đi xuống cầu thang, "cô ta có vẻ là một thiếu nữ rất biết cách tự chăm lo cho mình."

    "Và cô ta cần phải như thế," Holmes nói với vẻ nghiêm trọng.

    "Nếu tôi không lầm thì chúng ta sẽ sớm nhận được tin của cô ta."

    ***

    Chẳng bao lâu sau, lời dự báo của bạn tôi đã thành hiện thực.

    Hai tuần lễ trôi qua, đầu óc tôi thường nghĩ đến cô gái nọ và băn khoăn không biết người phụ nữ đơn độc ấy đã lạc bước vào ngõ ngách lạ lùng nào giữa muôn vạn ngả đời.

    Một mức lương cao bất thường, những điều kiện lạ lùng, công việc nhẹ nhàng, tất cả đều cho thấy một điều gì đó không bình thường, liệu đó chỉ là một sở thích kì quặc hay là một âm mưu, gã đàn ông đó là một người nhân đức hay một kẻ bất lương, tôi không đủ năng lực để xác định điều đó.

    Còn về phía Holmes, tôi nhận thấy anh thường ngồi đến nửa giờ liền, đôi mày nhíu lại và vẻ mặt lơ đãng, nhưng nếu tôi đề cập đến vấn đề này thì anh sẽ huơ tay xua đi ngay.

    "Dữ kiện!

    Dữ kiện!

    Dữ kiện!"

    Anh nóng nảy kêu lên.

    "Không có bột sao gột nên hồ."

    Thế nhưng cuối cùng anh luôn lẩm bẩm rằng anh sẽ chẳng bao giờ để cho em gái mình nhận một công việc như thế.

    Cuối cùng thì một đêm nọ chúng tôi cũng nhận được bức điện vào lúc tôi vừa định đi ngủ còn Holmes thì đang thực hiện một trong những nghiên cứu hóa học kéo dài cả đêm mà anh thường ham mê đến mức vào buổi tối khi đi ngủ tôi thấy anh đang cắm cúi với cái bình cổ cong và ống nghiệm thế nào thì đến sáng, khi tôi bước xuống nhà để dùng điểm tâm cũng vẫn thấy anh đang ở tư thế đó.

    Anh mở cái phong bì màu vàng, liếc sơ qua nội dung bức điện rồi thảy nó sang cho tôi.

    "Anh tra giờ tàu chạy trong cuốn Bradshaw nhé", nói rồi anh quay lại với công trình hóa học của mình.

    Lời nhắn chỉ ngắn gọn vài chữ và rất khẩn thiết:

    Vui lòng có mặt ở khách sạn Black Swan tại Winchester lúc trưa mai.

    Xin hãy đến!

    Tôi không biết phải xoay xở ra sao.

    HUNTER

    "Anh đi cùng tôi chứ?"

    Holmes ngước lên hỏi.

    "Tôi rất muốn đi."

    "Vậy thì anh tra giờ tàu chạy đi."

    "Có một chuyến lúc 9 giờ 30", tôi đáp sau khi nhìn lướt qua cuốn Bradshaw.

    "Sẽ đến Winchester lúc 11 giờ 30."

    "Rất tốt.

    Vậy có lẽ tôi nên gác lại việc phân tích chất acetone, vì sáng mai chúng ta cần có phong độ tốt nhất."

    Khoảng 11 giờ sáng hôm sau, chúng tôi đã gần đến cố đô của Anh quốc.

    Suốt dọc đường, Holmes cứ cắm cúi vào mấy tờ báo buổi sáng, nhưng khi chúng tôi đi vào địa phận Hampshire thì anh quẳng chúng xuống và bắt đầu ngắm cảnh.

    Hôm đó là một ngày xuân tuyệt đẹp, bầu trời xanh lơ điểm xuyết vài đám mây nhỏ trắng xốp đang lờ lững trôi từ tây sang đông.

    Mặt trời tỏa nắng rực rỡ, không khí mát lạnh như làm tăng thêm sinh lực cho mỗi người.

    Trên khắp vùng quê, trải dài đến những ngọn đồi uốn lượn quanh thị trấn Aldershot, những mái ngói nhỏ xinh màu đỏ và xám của các trang viên ló ra từ giữa những rặng cây đang khoác màu xanh của lá mới.

    "Cảnh vật thật là tươi mát và xinh đẹp, phải không nào?"

    Tôi thốt lên với tất cả sự hăng hái của một người vừa mới thoát khỏi màn sương mù dày đặc của phố Baker.

    Nhưng Holmes chỉ lắc đầu với vẻ nghiêm trọng.

    "Anh có biết không, Watson", anh nói, "những người có thiên hướng như tôi mắc phải một lời nguyền khiến mỗi khi nhìn thấy một vật gì tôi cũng phải liên hệ đến vụ án đang đeo đuổi.

    Anh nhìn ngắm những ngôi nhà nằm rải rác kia và xúc động vì vẻ đẹp của chúng.

    Còn ý nghĩ duy nhất hiện ra trong đầu tôi khi nhìn thấy chúng là cảm giác về sự biệt lập và khả năng thủ phạm thoát khỏi lưới pháp luật nếu một tội ác xảy ra ở đó."

    "Trời ơi!"

    Tôi kêu lên.

    "Ai lại đi liên tưởng giữa tội phạm với những trang viên cổ kính đáng yêu này?"

    "Mỗi khi trông thấy chúng là một nỗi khiếp sợ lại chiếm trọn tâm hồn tôi.

    Watson này, dựa trên kinh nghiệm riêng của mình, tôi tin rằng những con hẻm nghèo hèn và gớm ghiếc nhất ở London cũng không chứa nhiều tội lỗi bằng vùng quê tươi đẹp này."

    "Anh làm tôi đâm sợ đấy."

    "Nhưng nguyên nhân lại rất rõ ràng.

    Ở thành thị, áp lực của dư luận có thể làm được điều mà pháp luật không kham nổi.

    Không có con hẻm nào tôi tệ đến mức tiếng khóc thét của một đứa bé bị ngược đãi hay tiếng đấm huỳnh huỵch của một gã say rượu lại không làm nảy sinh sự thương cảm và phẫn nộ ở những người hàng xóm, vả lại, cỗ máy tư pháp nằm ngay sát bên nên chỉ cần một tiếng than phiền cũng có thể làm cho nó hoạt động và giữa tên tội phạm với chiếc ghế bị cáo chỉ cách nhau có một bước chân.

    Nhưng anh hãy nhìn những ngôi nhà lẻ loi này đi, mỗi căn nằm trong một khuôn viên, ở đó hầu hết là những kẻ ngu dốt, nghèo khó chẳng biết gì mấy về pháp luật.

    Hãy nghĩ đến những trò xấu xa, độc ác, sự đồi bại bị che giấu hết năm này sang năm khác ở những nơi như thế mà chẳng ai hay biết.

    Nếu cô gái cầu cứu chúng ta đến sống ở Winchester thì tôi chẳng bao giờ phải lo lắng cho cô ta.

    Chính vùng thôn dã nằm cách đó đến năm dặm mới ẩn tàng nguy hiểm.

    Tuy vậy, chắc chắn là bản thân cô ta vẫn chưa bị đe dọa."

    "Đúng vậy.

    Nếu cô ta có thể đến Winchester để gặp chúng ta thì cô ta cũng có thể bỏ trốn."

    "Hẳn rồi.

    Cô ta hãy còn tự do."

    "Vậy vấn đề có thể là gi?

    Anh có lí giải được không?"

    "Tôi đã nghĩ ra đến bảy cách lí giải khác nhau, mỗi cách đều phù hợp với những dữ kiện mà ta có được cho đến giờ.

    Nhưng để xác định được cách lí giải nào trong số đó là đúng thì ta chỉ có thể dựa vào những thông tin mới đang chờ đợi chúng ta.

    Ngọn tháp nhà thờ kia rồi và chúng ta sắp biết được cô Hunter định kể điều gì."

    Black Swan là một khách sạn nhỏ có tiếng nằm trên đại lộ, cách nhà ga không xa lắm và chúng tôi thấy cô gái trẻ đang đợi chúng tôi ở đó.

    Cô ta thuê một phòng khách và bữa trưa đã được dọn sẵn chờ đợi chúng tôi ở trên bàn.

    "Tôi rất mừng khi thấy các ông đến", cô ta vồn vã nói.

    "Cả hai ông đều thật tử tế, quả thực là tôi không biết mình nên làm gì.

    Lời khuyên của các ông sẽ rất quý giá đối với tôi."

    "Xin hãy kể cho chúng tôi nghe chuyện gì đã xảy ra với cô."

    "Tôi sẽ kể ngay và kể thật nhanh vì tôi đã hứa với ông Rucastle là sẽ quay về trước 3 giờ.

    Ông ta đã cho phép tôi lên thị trấn sáng nay dù chẳng biết rõ tôi đi để làm gì."

    "Cô hãy kể cho chúng tôi đầu đuôi mọi chuyện."

    Holmes duỗi đôi chân dài gầy gò về phía lò sưởi và bình tĩnh lắng nghe.

    "Trước hết, tôi có thể nói rằng nhìn chung thì tôi không hề bị ông bà Rucastle đối xử tệ bạc.

    Sự thực là thế.

    Nhưng tôi không thể nào hiểu họ và không yên tâm lắm về họ."

    "Cô không hiểu những gì?"

    "Những nguyên nhân dẫn đến hành động của họ.

    Nhưng từ từ rồi ông sẽ được nghe hết.

    Khi tôi đến, ông Rucastle đón tôi ở đây và đánh cỗ xe ngựa hai bánh đưa tôi về trang trại Sồi Đỏ.

    Đúng như ông ta nói, đó quả là một vùng rất tuyệt vời, nhưng căn nhà thì không đẹp vì đó là một khối nhà lớn hình vuông, quét vôi trắng nhưng tất cả các bức tường đều loang lổ và đầy vết bẩn do ẩm ướt và thời tiết xấu.

    Xung quanh nhà là đất đai vườn tược, rừng cây chiếm hết ba phía, phía còn lại là một cánh đồng đổ xuống đại lộ đi Southampton, con đường này vòng lại cách cổng trước khoảng một trăm yard.

    Mảnh đất phía trước thuộc về ngôi nhà nhưng những cánh rừng xung quanh lại là một phần khu săn bắn của huân tước Southerton.

    Do có một đám sồi mọc lên ngay trước cổng nên trang trại này được gọi tên như thế.

    Ông chủ đánh xe đưa tôi đi ngang qua những nơi đó, ông ta vẫn tử tế như trước và đến tối hôm đó thì tôi được ông ta giới thiệu với bà vợ và đứa con nhỏ.

    Sự phỏng đoán mà chúng ta đã nghĩ là có vẻ hợp lí lúc còn ở phòng khách nhà ông tại phố Baker thật chẳng đúng chút nào, ông Holmes ạ.

    Bà Rucastle không hề điên.

    Theo tôi nhận xét thì bà ta là một phụ nữ trầm lặng, xanh xao, trẻ hơn ông chồng rất nhiều, chưa quá ba mươi, tôi nghĩ thế, trong khi ông ta phải ngoài bốn mươi lăm.

    Từ cách họ nói chuyện với nhau, tôi suy ra rằng họ đã cưới nhau được chừng bảy năm, trước đó ông ta đã góa vợ và người con duy nhất của ông ta với bà vợ đầu tiên chính là cô con gái đang ở Philadelphia.

    Ông Rucastle nói riêng với tôi lí do cô ta rời đi là vì một mối ác cảm vô cớ với bà mẹ kế.

    Vì cô ta chắc đã ngoài hai mươi nên tôi có thể dễ dàng hình dung ra cuộc sống không thoải mái của cô ta với người vợ trẻ của ông bố.

    Theo tôi nhận xét thì bà Rucastle có vẻ là một người nhạt nhẽo từ ngoại hình đến tính cách.

    Bà ta gây ấn tượng không tốt cũng chẳng xấu với tôi.

    Chỉ là một con người bình thường.

    Có thể dễ dàng nhận thấy là bà ta hết lòng tận tụy với chồng và đứa con trai nhỏ.

    Đôi mắt màu xám nhạt của bà ta hết nhìn chồng lại nhìn con, ghi nhận từng nhu cầu nhỏ nhặt và đáp ứng ngay nếu có thể.

    Ông ta cũng đối tốt với bà ta một cách chất phác và ồn ào, nhìn chung thì họ là một cặp hạnh phúc.

    Thế mà người phụ nữ ấy lại có một nỗi buồn bí mật.

    Bà ta thường đắm chìm trong suy tư với vẻ buồn rầu hiện rõ trên mặt.

    Đã hơn một lần tôi bắt gặp bà ta đang khóc.

    Đôi khi tôi nghĩ là do bà ta phiền lòng vì tính khí của đứa trẻ vì tôi chưa bao giờ gặp đứa bé nào hư hỏng và xấu tính như nó.

    Vóc dáng nó nhỏ hơn những đứa trẻ cùng tuổi nhưng cái đầu lại quá to, hoàn toàn không cân đối với cơ thể.

    Hình như nó chỉ có hai trạng thái luân phiên là những thú ham mê tàn ác và những cơn hờn dỗi buồn rầu vô cớ.

    Hành hạ bất cứ sinh vật nào yếu hơn có vẻ là thú tiêu khiển duy nhất của nó và nó bộc lộ tài năng khá xuất sắc trong việc lập kế hoạch bắt chuột, bẫy chim và tóm lũ côn trùng.

    Nhưng tôi không nên nói về thằng bé này, ông Holmes ạ, vì thật ra nó cũng không dính dáng nhiều đến câu chuyện của tôi."

    "Tôi sẵn lòng nghe mọi chi tiết", bạn tôi nhận xét, "cho dù cô cảm thấy chúng có liên quan đến cô hay không."

    "Tôi sẽ cố không để sót chi tiết nào quan trọng.

    Điều duy nhất mà tôi không thích trong ngôi nhà này, cũng là điều khiến tôi phải chú ý ngay lập tức, chính là diện mạo và cách cự xử của những người đầy tớ.

    Chỉ có hai người thôi, đó là một cặp vợ chồng, ông chồng, tên Toller là một người lỗ mãng, cộc cằn với mái tóc hoa râm và để râu quai nón, lúc nào cũng sặc mùi rượu.

    Từ khi tôi đến đó, ông ta đã hai lần say bí tỉ, vậy mà ông Rucastle có vẻ chẳng hề để tâm.

    Bà vợ rất cao và khỏe mạnh với bộ mặt đanh đá và cũng im ỉm như bà Rucastle nhưng kém thân thiện hơn rất nhiều.

    Họ đúng là một cặp vợ chồng khó chịu, nhưng may là hầu hết thời gian tôi đều ở trong phòng trẻ và phòng riêng của tôi, vốn nằm cạnh nhau trong một góc của tòa nhà.

    Trong hai ngày đầu tiên ở trang trại Sồi Đỏ, cuộc sống của tôi rất bình lặng; đến ngày thứ ba thì bà Rucastle bước xuống nhà ngay sau bữa điểm tâm và thì thầm gì đó với ông chồng.

    'Ồ, phải rồi', ông ta kêu lên và quay sang phía tôi, 'cô Hunter này, chúng tôi rất cảm ơn cô vì cô đã chiều theo ý chúng tôi mà cắt tóc ngắn.

    Tôi cam đoan với cô là kiểu tóc mới này không hề làm giảm đi vẻ đẹp của cô.

    Giờ thì chúng tôi muốn xem chiếc áo màu xanh cobalt hợp với cô đến mức nào.

    Cô sẽ thấy nó được đặt trên chiếc giường trong phòng ngủ của cô và chúng tôi sẽ rất vui nếu cô sẵn lòng mặc nó.'

    Cái áo mà người ta sắp sẵn cho tôi có sắc xanh rất kì.

    Nó được may bằng một loại vải giống như vải len thượng hạng nhưng có những dấu vết rất rõ là đã có người từng mặc qua.

    Nó vừa khít như được cắt đo riêng cho tôi vậy.

    Cả hai vợ chồng ông bà Rucastle đều tỏ ra thích thú khi thấy tôi mặc chiếc áo đó và biểu hiện của họ có vẻ hơi quá lỗ.

    Họ đang đợi tôi trong phòng khách, đó là một căn phòng rất rộng, trải dọc toàn bộ mặt tiền của tòa nhà với ba cửa sổ dài đến sát sàn nhà.

    Một chiếc ghế đã được đặt sẵn gần ô cửa sổ ở giữa, lưng ghế hướng ra bên ngoài.

    Họ yêu cầu tôi ngồi lên chiếc ghế đó rồi ông Rucastle bước qua bước lại phía bên kia phòng, bắt đầu kể cho tôi nghe một loạt truyện cười khôi hài nhất mà tôi chưa bao giờ nghe.

    Các ông không tưởng tượng được trông ông ta ngộ đến mức nào đâu, và tôi cứ ôm bụng cười rũ.

    Thế nhưng rõ ràng là bà Rucastle chẳng biết hài hước là gì, bà ta chẳng hề hé một nụ cười mà chỉ ngồi yên, hai bàn tay đặt trong lòng và mặt lộ vẻ buồn bã, lo âu.

    Sau khoảng một tiếng, đột nhiên ông Rucastle bảo đã đến giờ làm việc và tôi có thể thay chiếc áo ra để đến gặp thằng bé Edward ở phòng trẻ.

    Hai ngày sau, cảnh đó lại tái diễn cũng trong tình huống giống hệt như thế.

    Một lần nữa, tôi lại thay áo, lại ngôi bên cửa sổ và ôm bụng cười rũ rượi khi nghe cả một kho chuyện hài hước mà ông chủ tôi kể với phong cách độc đáo không sao bắt chước được.

    Sau đó, ông ta trao cho tôi một quyển truyện có bìa màu vàng và dời cái ghế của tôi sang bên cạnh một chút để trang giấy không bị sấp bóng của chính tôi, rồi yêu cầu tôi đọc to lên cho ông ta nghe.

    Tôi đọc được độ mười phút, bắt đầu vào giữa chương thì đột nhiên ông ta ngắt lời tôi, bảo tôi ngừng lại và thay áo.

    Thưa ông Holmes, ông có thể hình dung ra tôi tò mò biết bao về ý nghĩa của màn trình diễn lạ lùng này.

    Tôi để ý thấy họ lúc nào cũng rất thận trọng để tôi ngồi quay lưng lại cửa sổ, thế là toàn bộ tâm trí tôi bị giày vò bởi mong muốn nhìn xem chuyện gì xảy ra ở đằng sau.

    Lúc đầu thì chuyện này có vẻ bất khả thi, nhưng rồi tôi nhanh chóng nghĩ ra một cách.

    Cái gương cầm tay của tôi bị vỡ, thế là tôi giấu một mảnh gương vào trong chiếc khăn tay.

    Trong lần nghe kể chuyện hài tiếp theo, giữa lúc đang cười, tôi đưa khăn tay lên chùi mắt và với một chút khéo léo, tôi có thể nhìn thấy tất cả những gì ở đằng sau.

    Tôi thú nhận là mình rất thất vọng.

    Chẳng có gì cả, ít ra đó cũng là ấn tượng ban đầu của tôi.

    Tuy nhiên, đến lần thứ nhì thì tôi thấy có một người đàn ông đang đứng trên đường Southampton, đó là một người đàn ông nhỏ con, có râu, mặc một bộ quần áo màu xám, có vẻ như đang nhìn về phía tôi.

    Con đường ấy là một con lộ chính và thường có rất nhiều người qua lại.

    Thế nhưng, người đàn ông này lại đứng tựa người vào những rào chắn viền quanh khu đất của trang viên và trông lên với vẻ tha thiết.

    Tôi hạ thấp chiếc khăn tay xuống và liếc nhìn bà Rucastle thì thấy bà ta đang dán mắt vào tôi với vẻ dò xét.

    Bà ta không nói gì nhưng tôi tin rằng bà ta đã đoán được là tôi có một mảnh gương trong tay và đã nhìn thấy những gì ở sau lưng.

    Bà ta đứng dậy ngay lập tức.

    'Anh Jephro', bà ta nói, 'ở dưới đường có một gã láo xược đang nhìn chòng chọc vào cô Hunter.'

    'Không phải là bạn của cô chứ, cô Hunter?' Ông ta hỏi.

    'Không, tôi chẳng quen biết ai ở đây cả.'

    'Trời ơi!

    Thật xấc láo!

    Xin cô hãy quay lại và ra dấu đuổi hắn đi.'

    'Ta cứ giả vờ như không quan tâm đến thì hay hơn.'

    'Không, không được, làm thế thì chúng ta sẽ khiến cho hắn cứ quanh quẩn ở đây mãi.

    Xin cô vui lòng quay lại và xua tay đuổi hắn như thế này...' Tôi làm theo và bà Rucastle kéo rèm xuống ngay lập tức.

    Chuyện đó xảy ra cách đây một tuần và từ đó đến giờ tôi không còn ngồi sát cửa sổ, không mặc chiếc áo xanh đó và cũng không trông thấy người đàn ông ở trên đường nữa."

    "Xin cô cứ kể tiếp", Holmes giục.

    "Câu chuyện cô kể có vẻ rất thú vị."

    "Tôi e là ông sẽ thấy nó khá rời rạc và có vẻ như những sự việc tôi kể không liên quan gì đến nhau.

    Vào ngày đầu tiên tôi đến trang trại Sồi Đỏ, ông Rucastle dẫn tôi đến một gian nhà phụ gần cửa nhà bếp.

    Khi chúng tôi đến gần, tôi nghe có tiếng rổn rảng của một sợi xích và tiếng một con thú to lớn đang đi đi lại lại.

    'Cô hãy nhìn vào đây!' Ông Rucastle nói và chỉ cho tôi một khe hở giữa hai tấm ván.

    'Trông nó có đẹp không nào?'

    Tôi nhìn vào và trông thấy một cặp mắt sáng rực và một hình thù lờ mờ nằm cuộn tròn trong bóng tối.

    'Đừng sợ!' Ông chủ của tôi bảo và cười phá lên khi thấy tôi giật nẩy người.

    'Đó chỉ là Carlo, con chó tai cụp của tôi.

    Dù tôi gọi nó là của tôi nhưng thật ra thì lão Toller, người trông ngựa của tôi mới là người duy nhất có thể tiếp xúc với nó.

    Chúng tôi cho nó ăn một bữa mỗi ngày và không cho ăn nhiều quá, vì thế lúc nào nó cũng rất hung hăng.

    Lão Toller thả nó ra ngoài mỗi đêm và nếu có kẻ lang thang nào đó xâm nhập vào nhà thì chỉ có Chúa mới che chở được cho hắn nếu hắn giáp mặt với những chiếc răng nanh của con chó. vì Chúa, cô chớ có bao giờ đặt chân ra khỏi cửa vào ban đêm vì bất cứ lí do gì, vì mạng sống của cô rất đáng giá đấy.'

    Lời cảnh báo ấy không phải là đe dọa suông vì hai đêm sau, khoảng 2 giờ sáng, tôi tình cờ nhìn ra ngoài cửa sổ phòng mình.

    Đó là một đêm trăng tuyệt đẹp, bãi cỏ phía trước nhà như được rải bạc khắp nơi và sáng gần như ban ngày.

    Tôi đang đứng đó, say sưa ngắm nhìn vẻ đẹp thanh bình của cảnh vật thì trông thấy gì đó đang di chuyển dưới bóng của đám cây sồi.

    Khi nó đi vào vùng được ánh trăng chiếu rọi thì tôi nhận ra nó.

    Đó là một con chó khổng lồ, to như một con bê với bộ lông màu vàng nâu, hàm dưới má xệ, mõm đen và những chiếc xương to lớn lồi ra.

    Nó đang chậm rãi bước ngang qua bãi cỏ và biến mất vào bóng tối ở phía bên kia vườn.

    Con vật canh nhà khủng khiếp này làm cho tim tôi lạnh buốt, nếu mà có kẻ trộm nào xuất hiện vào giờ này thì chắc cũng không làm tôi sợ hãi đến thế.

    Và giờ thì tôi có một chuyện rất lạ kì để kể cho ông nghe.

    Như ông đã biết, tôi đã cắt tóc ở London và xếp mớ tóc đó thành một lọn lớn ở đáy rương.

    Một tối nọ, khi thằng bé đã ngủ, tôi bắt đầu tiêu khiển bằng cách xem xét các đồ vật trong phòng và sắp xếp lại mấy món đồ ít ỏi của mình.

    Trong phòng có một cái tủ ngăn kéo cũ, hai ngăn trên hãy còn trống và để mở, ngăn dưới thì bị khóa chặt.

    Tôi đã xếp mớ quần áo vào hai ngăn trên và vì hãy còn khá nhiều thứ để xếp vào tủ nên dĩ nhiên là tôi bực bội vì không dùng được cái ngăn kéo thứ ba.

    Tôi cho rằng có lẽ người ta quên không mở khóa ra nên mới lấy xâu chìa khóa của mình ra để thử.

    Ngay chiếc chìa đầu tiên đã vừa khít với ổ khóa và tôi kéo ngăn tủ ra.

    Trong đó chỉ có duy nhất một thứ, nhưng tôi chắc chắn ông không thể nào đoán được: Chính là lọn tóc của tôi.

    Tôi nhặt nó lên và xem xét.

    Cũng cùng một màu tóc đặc biệt và dày dặn như thế.

    Nhưng rồi sự việc quá vô lí khiến cho tôi phải suy nghĩ lại.

    Làm sao mà tóc của tôi lại được cất kín trong cái ngăn kéo này?

    Hai bàn tay run rẩy, tôi mở cái rương của mình, dốc hết đồ và lấy lọn tóc từ đáy rương ra.

    Tôi đặt hai lọn tóc bên cạnh nhau và tôi cam đoan với ông rằng trông chúng giống hệt nhau.

    Thế chẳng phải là điều lạ thường sao?

    Tôi cứ suy nghĩ mãi mà vẫn không thể đoán ra được chuyện này là sao.

    Tôi cất lọn tóc 'lạ' vào ngăn kéo và không hề nói tiếng nào với gia đình Rucastle vì cảm thấy mình đã sai khi mở cái ngăn kéo mà họ đã khóa.

    Tôi có bản tính hay quan sát, có lẽ ông cũng đã nhận thấy, thưa ông Holmes, và chẳng mấy chốc đầu óc tôi đã nhớ kĩ cách bố trí của toàn bộ ngôi nhà.

    Tuy nhiên, một bên của tòa nhà có vẻ như chẳng có ai ở.

    Đối diện với cánh cửa dẫn vào chỗ ở của ông bà Toller là một cánh cửa mở sang bên đó nhưng lúc nào nó cũng bị khóa trái.

    Thế nhưng, một ngày kia, khi đi lên cầu thang, tôi trông thấy ông Rucastle bước ra từ cánh cửa đó, tay còn cầm chùm chìa khóa và vẻ mặt ông ta trông khác hẳn với con người tròn trịa, vui tính mà tôi đã quen.

    Hai gò má ông ta đỏ bừng, đôi lông mày nhíu lại vẻ giận dữ và những mạch máu nổi lên ở hai bên thái dương, ông ta khóa cửa lại và vội vàng đi ngang qua tôi mà không nói tiếng nào, cũng chẳng thèm ghé mắt nhìn sang.

    Điều này làm cho sự tò mò trong tôi trỗi dậy, vì thế khi đi dạo trong vườn với thằng bé, tôi đi vòng đến bên hông nhà để từ đó có thể nhìn thấy các cửa sổ của cánh đó.

    Có bốn cửa sổ thẳng hàng nhau, trong đó có ba ô cửa trông có vẻ bẩn thỉu, còn ô cửa thứ tư thì được gắn thêm cửa chớp.

    Rõ ràng là chúng đều bị bỏ hoang.

    Khi tôi đang đi lang thang quanh đó, thỉnh thoảng ngước nhìn lên mấy ô cửa sổ thì ông Rucastỉe đi về phía tôi với vẻ dễ chịu, vui tính như trước.

    'À!' Ông ta nói, 'cô đừng nghĩ là tôi thô lỗ nếu tôi đi ngang qua cô mà không nói tiếng nào nhé, cô gái thân mến.

    Tôi mải lo lắng việc làm ăn mà.'

    Tôi trấn an ông ta rằng việc đó không làm tôi bận lòng.

    'Nhân tiện', tôi nói, 'có vẻ như ông có cả một dãy phòng để trống ở trên kia và một trong các phòng đó còn được lắp cửa chớp.'

    Ông ta tỏ vẻ ngạc nhiên và tôi thấy hình như ông ta còn hơi giật mình vì lời nhận xét ấy.

    'Nhiếp ảnh là một trong những sở thích của tôi', ông ta đáp.

    'Tôi đã lập một phòng tối ở đó.

    Nhưng, trời ơi!

    Chúng tôi gặp được một cô gái có đôi mắt đến là sắc sảo!

    Có ai nói vậy với cô chưa?

    Có ai đã từng nói vậy không?' Ông ta nói bằng giọng vui đùa nhưng khi nhìn tôi thì trong mắt ông ta chẳng có vẻ gì là đùa cợt.

    Tôi nhận thấy trong đó chỉ có sự nghi ngờ và khó chịu.

    Đấy, thưa ông Holmes, từ lúc biết được rằng ở dãy phòng nọ có điều gì đó mà tôi không được phép tìm hiểu, tôi rất nóng lòng muốn đến đó xem xét.

    Cảm giác ấy không hoàn toàn là sự tò mò, dù rằng cũng có đôi chút.

    Nó giống với cảm giác về bổn phận hơn - tôi có cảm tưởng là sẽ làm được điều gì đó tốt đẹp nếu tôi đột nhập được vào chỗ đó.

    Người ta hay nói về bản năng của phụ nữ, có lẽ bản năng đó đã đem lại cho tôi cảm giác này.

    Dù sao đi nữa, nó vẫn còn đó và tôi kiên trì tìm kiếm cơ hội để vượt qua cánh cửa cấm ấy.

    Mãi đến ngày hôm qua tôi mới có cơ hội.

    Phải nói với ông rằng, ngoài ông Rucastle ra thì cả hai vợ chồng ông bà Toller cũng có việc để làm trong dãy phòng bỏ hoang và đã có lần tôi nhìn thấy ông ta cầm một cái túi to bằng vải lanh màu đen từ bên trong cửa bước ra.

    Gần đây ông ta uống rượu nhiều lắm và tối hôm qua thì say khướt, khi tôi lên lầu thì chìa khóa hãy còn cắm ở cửa.

    Rõ ràng là ông ta đã quên rút ra.

    Cả hai vợ chồng ông bà Rucastle đều đang ở dưới nhà cùng với đứa bé, thế là tôi có một cơ hội tuyệt vời.

    Tôi nhẹ nhàng xoay chìa, mở cửa ra và lẻn vào.

    Trước mặt tôi là một lối đi hẹp, không có giấy dán tường mà cũng chẳng trải thảm, nó ngoặt sang bên phải ở cuối hành lang.

    Khi rẽ ở góc ấy thì tôi thấy có ba cánh cửa liên tiếp, cánh cửa thứ nhất và thứ ba để mở.

    Mỗi cánh cửa dẫn vào một căn phòng trống đầy bụi bặm và âm u, một phòng có hai cửa sổ còn phòng kia thì chỉ có một, tất cả đều bám bụi dày nên ánh sáng lờ mờ của ban đêm chỉ có thể xuyên qua một cách yếu ớt.

    Cánh cửa ở giữa thì đóng kín và mặt ngoài còn được chắn thêm một thanh sắt to bản lấy ra từ một cái giường sắt, một đầu thanh sắt khoá chặt vào một cái vòng trên tường, còn đầu kia thì được buộc bằng một sợi thừng to chắc.

    Cánh cửa cũng được khóa kín và không thấy chìa khóa ở đó.

    Rõ ràng là cánh cửa được rào chắn cẩn thận này tương ứng với ô cửa sổ được che chắn thêm cửa chớp ở mặt ngoài, tuy vậy, nhờ vào chút ánh sáng lờ mờ hắt ra từ bên dưới, tôi có thể thấy rằng trong phòng không hoàn toàn tối đen.

    Chắc chắn là có một giếng trời để cho ánh sáng lọt vào từ bên trên.

    Khi tôi đang đứng trên hành lang, chăm chú nhìn vào cánh cửa hắc ám đó và tự hỏi nó đang che giấu bí mật gì thì chợt nghe thấy tiếng bước chân bên trong phòng và trông thấy một cái bóng đang lướt qua lướt lại chỗ cái khe hẹp hắt ra chút ánh sáng lờ mờ bên dưới cánh cửa.

    Khi trông thấy cảnh tượng đó, một nỗi sợ kinh hồn không sao giải thích nổi bùng lên trong tôi, ông Holmes ạ.

    Thần kinh căng thẳng quá mức khiến tôi đột nhiên mất hết tinh thần, tôi quay phắt lại rồi bỏ chạy - cắm đầu cắm cổ như có một bàn tay khủng khiếp đang chực tóm lấy vạt váy tôi từ phía sau.

    Tôi lao như bay dọc theo hành lang, băng qua cánh cửa và đâm thẳng vào vòng tay của ông Rucastle đang đợi sẵn ở bên ngoài.

    'Nào', ông ta mỉm cười nói, 'ra là cô.

    Trông thấy cánh cửa mở tôi biết ngay là cô.'

    'Ôi, tôi sợ quá!' Tôi hổn hển nói.

    'Cô gái thân mến!

    Cô gái đáng yêu!' Ông không thể hình dung được thái độ của ông ta âu yếm và dịu dàng đến mức nào đâu.

    'Vậy điều gì đã làm cô sợ, hả cô gái?' Nhưng giọng nói của ông ta có phần ngọt ngào thái quá, ông ta đã cường điệu quá.

    Tôi tỉnh táo cảnh giác với ông ta.

    'Tôi thật dại dột khi đi vào khu vực trống trong nay,' tôi đáp.

    'Cảnh vật ở đó thật vắng vẻ và kì quái trong ánh sáng lờ mờ khiến tôi sợ quá và chạy trở ra ngay.

    Ôi, bên trong tĩnh lặng đến rợn người!'

    'Chỉ có thế thôi sao?' Ông ta hỏi và nhìn tôi với cặp mắt sắc bén.

    'Sao, ông còn muốn gì nữa?' Tôi hỏi lại.

    'Theo cô nghĩ thì tại sao tôi lại khóa cánh cửa này?'

    'Tôi chẳng biết lí do là gì.'

    'Đó là để ngăn những ai không có phận sự đi vào đó.

    Cô hiểu rồi chứ?' Ông ta vẫn tươi cười với thái độ nhã nhặn nhất.

    'Nếu mà tôi biết trước..!'

    'Thôi, giờ thì cô đã hiểu.

    Nếu cô còn đặt chân qua ngưỡng cửa này một lần nữa...' trong nháy mắt, nụ cười của ông ta sắt lại như đang nhe răng thịnh nộ và ông ta trừng mắt nhìn tôi với bộ mặt như quỷ dữ, 'tôi sẽ ném cô cho con chó nhai xương.'

    Tôi kinh hoàng đến nỗi không biết lúc ấy mình đã làm gì.

    Chắc tôi đã vội vã đi qua ông ta để về phòng.

    Tôi không nhớ gì cả cho đến khi thấy mình đang nằm trên giường run lẩy bẩy.

    Thế rồi tôi nghĩ đến ông, ông Holmes ạ.

    Tôi không thể tiếp tục sống ở đó nếu không được ông chỉ bảo.

    Tôi kinh hãi căn nhà đó, ông chủ, bà chủ, các gia nhân, thậm chí cả đứa bé.

    Tất cả bọn họ đều thật khủng khiếp.

    Nếu tôi có thể đưa ông đến đấy thì mọi chuyện sẽ ổn thỏa.

    Tất nhiên là tôi có thể bỏ trốn khỏi đó nhưng tính tò mò của tôi cũng mãnh liệt không thua gì sự sợ hãi.

    Tôi đã nhanh chóng quyết định sẽ đánh điện cho ông.

    Tôi đội mũ và mặc áo khoác rồi đi đến bưu điện cách nhà độ một dặm và khi trở về thì cảm thấy lòng mình nhẹ nhõm hơn rất nhiều.

    Một nỗi ngờ vực đáng sợ hiện lên trong đầu tôi khi tôi bước đến gần cửa vì lo rằng con chó có thể đã được thả ra, nhưng rồi tôi nhớ ra là tối đó ông Toller đã uống rượu say bí tỉ và trong nhà chỉ có mỗi ông ta là điều khiển được nó và dám thả nó ra.

    Tôi lẻn vào nhà an toàn và suốt đêm cứ nằm thao thức trên giường, không sao ngủ được vì vui mừng với ý nghĩ sắp được gặp ông.

    Tôi chẳng gặp chút khó khăn nào khi xin phép đi Winchester lúc sáng nay nhưng tôi phải trở về nhà trước 3 giờ vì ông bà Rucastle sắp sửa đi thăm ai đó và sẽ vắng nhà suốt buổi tối cho nên tôi phải trông nom thằng bé.

    Giờ thì tôi đã kể hết vụ mạo hiểm của mình rồi, thưa ông Holmes, và tôi sẽ rất vui mừng nếu ông cho tôi biết toàn bộ câu chuyện có ý nghĩa gì và điều quan trọng nhất là tôi nên làm gì."

    Cả Holmes và tôi đều bị cuốn theo câu chuyện kì lạ của cô Hunter.

    Lúc này thì bạn tôi đã đứng dậy và sải bước qua lại trong phòng, hai tay nhét vào túi quần và trên mặt hiện rõ vẻ cực kì nghiêm trọng.

    "Ông Toller hãy còn say chứ?"

    Anh hỏi.

    "Vâng.

    Tôi nghe thấy bà vợ ông ta nói với bà Rucastle là bà ta chẳng thể làm được gì với ông ta."

    "Thế thì tốt.

    Và tối nay ông bà Rucastle sẽ đi vắng phải không?"

    "Vâng."

    "Trong nhà có tầng hầm với ổ khóa chắc chắn chứ?"

    "Vâng, có hầm rượu."

    "Tôi nhận thấy rằng xuyên suốt sự việc này cô đã hành động rất can đảm và sáng suốt, cô Hunter ạ.

    Cô có nghĩ rằng mình có thể lập thêm một kì công nữa không?

    Tôi sẽ không yêu cầu cô làm thế nếu tôi không nghĩ cô là một người phụ nữ xuất chúng."

    "Tôi sẽ cố.

    Đó là việc gì vậy?"

    "Tôi và bạn tôi sẽ đến trang trại Sồi Đỏ lúc 7 giờ.

    Vào giờ đó thì ông bà Rucastle sẽ vắng nhà và hi vọng là ông Toller hãy còn say mèm.

    Chỉ còn bà Toller là có thể báo động.

    Nếu như cô có thể viện cớ gì đó để dụ được bà ta vào hầm rượu rồi khóa cửa hầm nhốt bà ta lại thì công việc sẽ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều."

    "Tôi sẽ lo việc đó."

    "Tuyệt lắm!

    Đến lúc đó ta sẽ xem xét thấu đáo vấn đề.

    Tất nhiên là chỉ có một lời giải thích hợp lí.

    Cô được đưa đến đó để đóng giả làm ai đó còn bản thân người đó thì đang bị nhốt bên trong căn phòng nọ.

    Rõ ràng là thế.

    Còn về việc người bị giam cầm đó là ai thì tôi đoán chắc chính là cô con gái mà họ nói là đã đi Mỹ, cô Alice Rucastle, nếu tôi nhớ không lầm.

    Cô được chọn chắc chắn là vì rất giống cô ta về chiều cao, vóc dáng và màu tóc.

    Mái tóc của cô ta đã bị cắt ngắn, rất có thể là do trải qua một cơn bệnh, vì thế tất nhiên là cô cũng buộc phải hi sinh mái tóc.

    Do một lần tò mò, cô đã trông thấy lọn tóc của cô ta.

    Người đàn ông đứng bên đường chắc chắn là một người bạn của cô gái đó - có thể là chồng sắp cưới của cô ta - và không còn nghi ngờ gì nữa, vì trông cô rất giống cô gái đó khi mặc chiếc áo của cô ta và mỗi khi anh ta nhìn cô thì đều thấy cô cười, sau đó lại thấy cử chỉ xua đuổi của cô nên anh ta tin rằng cô Rucastle đang hoàn toàn hạnh phúc và không còn yêu anh ta nữa.

    Con chó được thả ra mỗi tối để ngăn chàng trai gắng sức liên lạc với cô ta.

    Mọi chuyện đã khá rõ ràng.

    Điểm nghiêm trọng nhất trong vụ này chính là tính khí của đứa bé."

    "Chuyện đó thì có gì quan trọng?"

    Tôi thốt lên.

    "Watson thân mến, với tư cách là một bác sĩ, hẳn anh cũng biết có thể dựa vào tính cách của cha mẹ để lí giải những khuynh hướng của một đứa trẻ.

    Anh không thấy rằng điều ngược lại cũng rất hợp lí sao?

    Tôi thường hiểu thấu tính cách của các cặp cha mẹ trước hết bằng cách quan sát con cái của họ.

    Tính khí của thằng bé này độc ác bất thường, đơn thuần chỉ để thỏa mãn sự độc ác, và cho dù nó kế thừa đặc tính này từ người cha xởi lởi, như tôi nghi ngờ, hay từ người mẹ, thì điều đó đều báo trước một tình cảnh thê thảm cho cô gái tội nghiệp đang nằm trong tay họ."

    "Tôi dám chắc là ông đã nghĩ đúng, thưa ông Holmes", vị thân chủ của chúng tôi kêu lên.

    "Tôi có thể hồi tưởng lại cả ngàn chi tiết khiến tôi tin chắc rằng ông đã đoán đúng.

    Ồ, ta nên đi cứu cô gái tội nghiệp đó ngay, đừng chần chừ nữa!"

    "Chúng ta phải thận trọng vì ta đang đối phó với một con người hết sức xảo quyệt.

    Từ giờ cho đến 7 giờ thì ta không thể làm gì được.

    Đến đúng thời điểm đó, chúng tôi sẽ đến trang viên gặp cô và chẳng mấy chốc ta sẽ giải quyết được vấn đề."

    ***

    Y hẹn, chúng tôi đến trang trại Sồi Đỏ vừa đúng 7 giờ sau khi để hành lí ở một quán rượu ven đường.

    Dưới bóng hoàng hôn, đám cây sồi với tán lá sẫm màu sáng loáng như được làm bằng kim loại đánh bóng, đủ giúp chúng tôi nhận ra căn nhà kể cả nếu không có cô Hunter tươi cười đứng đợi ở ngưỡng cửa.

    "Cô đã thu xếp xong rồi chứ?"

    Holmes hỏi.

    Một tiếng 'thịch' lớn vang lên từ đâu đó ở tầng dưới.

    "Đó là bà Toller đang ở trong hầm rượu", cô đáp.

    "Chồng bà ta đang nằm ngáy trên tấm thảm trong bếp.

    Đây là xâu chìa khóa của ông ta, chúng được đánh lại từ chùm chìa khóa của ông Rucastle."

    "Quả thật là cô đã chuẩn bị rất tốt!"

    Holmes hăng hái kêu lên.

    "Nào, cô hãy dẫn đường và chúng ta sẽ nhanh chóng được chứng kiến sự kết thúc của câu chuyện xấu xa này."

    Chúng tôi đi lên lầu, mở cánh cửa ra, đi theo hành lang đến trước cánh cửa được rào chắn mà cô Hunter đã mô tả.

    Holmes cắt sợi dây và kéo thanh sắt ra.

    Rồi anh thử tra vài chiếc chìa khác nhau vào ổ khóa nhưng không chiếc nào vừa.

    Bên trong không có tiếng động nào và sự yên lặng làm cho mặt Holmes sẩm xuống.

    "Mong rằng chúng ta không đến quá trễ", anh nói.

    "Tôi nghĩ thế này, cô Hunter, cô không nên theo chúng tôi vào thì tốt hơn.

    Nào, Watson, kê vai vào đây và chúng ta sẽ xem có mở được lối vào hay không."

    Cánh cửa đã cũ và ọp ẹp nên mở ra ngay trước sự hợp lực của hai chúng tôi.

    Chúng tôi cùng hối hả bước vào phòng.

    Bên trong trống rỗng.

    Ngoài một chiếc giường hẹp và cứng, một cái bàn nhỏ và một giỏ đầy quần áo ra thì không có đồ đạc nào khác.

    Giếng trời trên mái mở toang và người bị giam cầm ở đây đã biến mất.

    "Thủ phạm đã đến đây", Holmes nói, "hắn đã đoán ra ý định của cô Hunter và đem nạn nhân của mình đi mất rồi."

    "Nhưng bằng cách nào?"

    "Qua giếng trời.

    Chúng ta sẽ thấy ngay hắn đã xoay xở ra sao."

    Anh đu người lên mái nhà.

    "A, phải rồi", anh kêu lên, "ở đây có một cái thang dài kê sát vào mái hiên.

    Hắn đã đưa người đi bằng cách đó."

    "Không thể nào", cô Hunter nói, "lúc ông bà Rucastle đi thì cái thang không nằm ở đó."

    "Hắn đã quay trở lại và dựng nó vào đó.

    Tôi đã nói với cô rằng hắn là một kẻ rất thông minh và nguy hiểm mà.

    Tôi sẽ chẳng hề ngạc nhiên nếu những bước chân mà tôi nghe thấy đang đi lên cầu thang chính là của hắn.

    Watson này, tôi nghĩ anh cũng nên sẵn sàng rút súng ra đi."

    Anh vừa dứt lời thì một người đàn ông xuất hiện ở cửa phòng, trông ông ta rất béo mập và vạm vỡ, tay cầm một cây gậy to nặng.

    Cô Hunter rú lên và nép sát người vào bức tường khi vừa trông thấy ông ta, nhưng Sherlock Holmes đã nhảy ra, đối mặt.

    "Này, tên gian ác!"

    Anh kêu lên.

    "Con gái lão đâu rồi?"

    Người đàn ông to béo đưa mắt nhìn quanh rồi ngước lên nhìn cánh cửa giếng trời đang mở tung.

    "Chính ta mới có quyền hỏi các người câu đó", ông ta hét lên, "bọn ăn cắp!

    Quân gián điệp, đồ trộm cướp!

    Ta đã bắt được bọn bay, đúng không?

    Bọn bay đã nằm trong tay ta.

    Ta sẽ cho bọn bay biết mùi!"

    Ông ta quay lại và chạy hết tốc lực xuống cầu thang.

    "Ông ta đi thả chó ra đấy!"

    Cô Hunter kêu lên.

    "Tôi có súng đây", tôi nói.

    "Đóng cửa trước lại thì tốt hơn", Holmes kêu to và tất cả chúng tôi cùng chạy xuống cầu thang.

    Khi chúng tôi vừa chạy đến tiền sảnh thì đã nghe tiếng chó sủa rồi tiếp đó là một tiếng kêu đau đớn rất đáng sợ làm cho ai nghe thấy cũng rợn người.

    Một ông già mặt đỏ gay và hai chân run lẩy bẩy sửng sốt bước ra từ một cánh cửa hông.

    "Trời ơi!"

    Ông ta kêu lên.

    "Ai đó đã thả con chó ra.

    Nó chưa được ăn gì suốt hai ngày nay.

    Nhanh lên, mau, không thì trễ mất!"

    Holmes và tôi chạy ào ra, vòng qua hông nhà với ông lão Toller gấp rút theo sau.

    Chúng tôi trông thấy con vật to xác bị bỏ đói đang vục cái mõm đen ngòm vào cổ họng ông Rucastle trong khi ông này quằn quại và la hét trên mặt đất.

    Tôi chạy lên và bắn vỡ sọ nó, con vật ngã lăn ra mà mấy chiếc răng nanh trắng ớn bén ngót hãy còn bập vào ngấn mỡ ở cổ ông ta.

    Phải khó khăn lắm chúng tôi mới tách được người và thú ra rồi đưa ông ta vào nhà trong tình trạng bị thương trầm trọng.

    Chúng tôi để ông ta nằm lên chiếc trường kỉ trong phòng khách và phái ông lão Toller lúc này đã tỉnh táo đi báo tin cho bà chủ, trong lúc đó tôi dốc hết sức mình để làm cho ông ta bớt đau đớn.

    Khi tất cả chúng tôi đang xúm xít quanh ông ta thì cánh cửa bật mở và một người phụ nữ cao gầy, vẻ mặt hốc hác bước vào phòng.

    "Bà Toller!"

    Cô Hunter kêu lên.

    "Phải, thưa cô.

    Ông Rucastle đã thả tôi ra khi ông ấy quay trở lại trước khi đi lên tìm các người.

    À, cô gái, thật tiếc là cô đã không cho tôi biết cô định làm gì, vì nếu biết thì tôi sẽ cho cô hay là các người đã phí công vô ích."

    "Ha!"

    Holmes thốt lên và chăm chú nhìn bà ta.

    "Rõ ràng là bà Toller biết rõ câu chuyện này hơn bất cứ ai."

    "Phải, thưa ông, tôi biết và sẵn sàng kể lại những gì mình nắm được."

    "Thế thì, xin mời bà ngồi và hãy thuật lại cho chúng tôi nghe vì tôi phải thú nhận là hãy còn vài điểm mà tôi vẫn còn mù mờ."

    "Tôi sẽ nói cho ông rõ ngay thôi", bà ta nói, "lẽ ra tôi đã thuật lại sớm hơn nếu có thể thoát ra khỏi hầm rượu.

    Nếu chuyện này bị đưa ra tòa án vi cảnh thì các ông hãy nhớ hộ là tôi đứng về phía các ông và tôi cũng là bạn của cô Alice.

    Cô Alice chẳng bao giờ được sung sướng trong căn nhà này kể từ khi cha cô ấy cưới vợ mới.

    Cô ấy bị coi thường và không được bày tỏ ý kiến về bất cứ chuyện gì, nhưng đến khi cô ấy gặp ông Fowler ở nhà một người bạn thì tình hình mới thực sự tệ hại.

    Theo như tôi được biết thì cô Alice có quyền sở hữu theo di chúc nhưng cô ấy quá cam chịu và nhẫn nại, vì thế cô ấy chẳng bao giờ nói gì về quyền lợi của mình mà để mặc cho ông Rucastle nắm hết trong tay.

    Ông ta biết rằng con gái mình sẽ để yên nhưng một khi cô ấy có chồng thì người này sẽ đòi lại tất cả những quyền lợi hợp pháp, vì thế ông ta nghĩ rằng đã đến lúc phải ngăn chặn chuyện đó.

    Ông ta muốn cô ấy kí tên vào một văn tự để cho dù cô ấy có lấy chồng hay không thì ông ta vẫn có thể sử dụng tiền của con gái mình.

    Khi cô ấy từ chối không chịu kí thì ông ta đày đọa cô ấy cho đến khi cô ấy bị bệnh viêm não đến mức thập tử nhất sinh suốt sáu tuần liền.

    Cuối cùng thì cô ấy cũng bình phục, gầy yếu như một cái bóng và phải cắt đi mái tóc đẹp đẽ; nhưng chuyện ấy không hề lay chuyển tình cảm của chàng trai trẻ và anh ta vẫn gắn bó với cô ấy bằng cả tấm lòng."

    "À", Holmes kêu lên, "tôi nghĩ rằng những gì bà vừa tử tế kể cho chúng tôi nghe đã khiến cho vấn đề trở nên hết sức rõ ràng và tôi có thể suy ra phần còn lại.

    Tôi đoán là sau đó ông Rucastle nhốt cô ta vào căn phòng này, đúng không?"

    "Vâng, thưa ông."

    "Và đưa cô Hunter từ London xuống đây để tống khứ anh chàng Fowler dai dẳng đến khó chịu kia đi."

    "Đúng thế, thưa ông."

    "Nhưng anh Fowler vốn là người kiên trì, đúng như phẩm chất của một thủy thủ lão luyện, nên đã bám riết căn nhà và tìm cách gặp bà, rồi bằng những lí lẽ rắn rỏi hoặc mềm mỏng, anh ta đã thuyết phục được bà thấy rằng quyền lợi của bà cũng gắn liền với quyền lợi của anh ta."

    "Ông Fowler là một quý ông ăn nói rất tử tế và hào phóng", bà Toller bình thản đáp.

    "Và bằng cách đó, anh ta đã sắp xếp sao cho chồng bà say mèm và một cái thang được kê sẵn đúng lúc ông chủ đi vắng."

    "Ông đã nắm được câu chuyện đúng như nó diễn ra, thưa ông."

    "Chúng tôi còn nợ bà một lời xin lỗi, bà Toller," Holmes nói, "vì bà đã làm sáng tỏ mọi vấn đề vốn nan giải với chúng tôi.

    À bác sĩ và cả bà Rucastle đã đến rồi đây, thế thì Watson này, tốt nhất là ta nên hộ tống cô Hunter trở về Winchester thôi vì tôi đoán chắc chúng ta không cần trình diện trước tòa đâu."

    Và thế là bí ẩn về ngôi nhà hung hiểm với rặng sồi trước cửa đã được làm sáng tỏ.

    Ông Rucastle được cứu mạng nhưng lâm vào tình trạng tàn phế đến hết đời, may nhờ sự chăm sóc của người vợ tận tụy nên mới sống được.

    Họ vẫn sống cùng với những gia nhân cũ, có lẽ vì những người này đã biết khá nhiều về quá khứ của ông Rucastle nên ông ta khó mà đuổi họ đi.

    Anh Fowler và cô Rucastle đã cưới nhau ở Southampton ngay sau ngày họ đến nơi bằng một giấy phép đặc biệt, giờ thì anh ta đã được bổ nhiệm một chức vụ tại đảo Mauritius.

    Còn về cô Violet Hunter, tôi khá là thất vọng vì anh bạn Holmes của mình chẳng buồn quan tâm đến cô khi cô không còn là trung tâm của một trong những vụ án của anh nữa, và hiện cô đang là hiệu trưởng một trường tư ở Walsall, tôi tin rằng cô sẽ gặt hái được nhiều thành công ở đó.
     
    Sherlock Holmes Toàn Tập
    NGỌN LỬA BẠC (Silver Blaze, 1892)


    "Watson này, e rằng tôi phải đi thôi", Holmes nói khi chúng tôi đang dùng điểm tâm với nhau vào một sáng nọ.

    "Đi ư!

    Anh đi đâu?"

    "Đi Dartmoor, đến King's Pyland."

    Tôi không bất ngờ.

    Thật vậy, tôi chỉ băn khoăn một nỗi là sao anh chưa bị cuốn vào vụ án lạ thường đang gây xôn xao dư luận khắp Anh quốc này.

    Cả một ngày trời, bạn tôi cứ đi lại trong phòng, cằm chúi xuống ngực và lông mày nhíu lại, liên tục nhồi loại thuốc lá đen nặng nhất vào tẩu và hoàn toàn làm thinh trước bất kì câu hỏi hay nhận xét nào của tôi.

    Những ấn bản mới nhất của mọi tờ báo, do người giao báo đem tới, anh cũng chỉ liếc qua rồi ném vào một góc.

    Tuy nhiên, mặc dù anh yên lặng thế, tôi biết rõ bạn mình đang ngẫm nghĩ điều gì.

    Chỉ có một vấn đề thời sự có thể thách thức tài phân tích của anh, đó là vụ mất tích kì lạ của con ngựa ứng cử viên vô địch giải Wessex cùng án mạng bi thảm của người huấn luyện nó.

    Do vậy, khi anh đột ngột thông báo ý định đi đến hiện trường của tấn bi kịch ấy thì đó cũng chính là điều tôi đã dự kiến và mong đợi.

    "Tôi rất mong được đi cùng anh đến đó nếu như tôi không gây cản trở", tôi nói.

    "Watson thân mến, có anh đi cùng thì quý hóa quá.

    Và tôi nghĩ rằng anh cũng không phí thì giờ vì có những điểm cho thấy vụ này sẽ vô cùng đặc biệt.

    Theo tôi thì ta có vừa đủ thời gian để đón tàu tại Paddington và trên đường đi tôi sẽ nói tiếp về vấn đề này.

    Anh hãy giúp tôi đem theo cái ống nhòm tuyệt vời của anh nhé."

    Và thế là, chỉ độ một giờ sau tôi đã ngồi trong góc một toa hạng nhất của con tàu đang lao vun vút về Exeter, trong khi Sherlock Holmes, với gương mặt góc cạnh, hăm hở, đội mũ săn hươu, đang xem lướt qua tập báo mà anh kiếm được ở Paddington.

    Khi chúng tôi đã rời xa Reading, anh nhét tờ báo cuối cùng xuống dưới ghế và chìa hộp xì gà ra mời tôi.

    "Chúng ta đi nhanh đấy chứ", anh nói khi nhìn ra ngoài cửa sổ và liếc vào đồng hồ.

    "Tốc độ hiện giờ là năm mươi ba dặm rưỡi mỗi giờ."

    "Tôi có thấy cột cây số nào đâu", tôi nói.

    "Tôi cũng không thấy.

    Nhưng những cột điện tín trên tuyến đường này được trồng cách nhau khoảng năm mươi lăm mét nên tính ra cũng dễ thôi.

    Tôi đoán là anh đã xem xét vụ án mạng John Straker và chuyện con Ngọn Lửa Bạc bị mất tích rồi chứ?"

    "Tôi đã đọc tin tức đăng trên hai tờ Telegraph và Chronicle."

    "Đấy là một trong những vụ án mà kĩ năng của người suy luận nên được sử dụng vào việc sàng lọc các chi tiết hơn là để thu thập các bằng chứng mới.

    Tấn bi kịch khá là khác thường, quá hoàn hảo và có tầm quan trọng cá nhân với quá nhiều người, chính vì thế có quá nhiều phỏng đoán, giả định và giả thuyết được đưa ra.

    Cái khó là phải tách lấy cốt lõi của sự thật - sự thật hoàn toàn không phủ nhận được - ra khỏi sự thêm thắt của các nhà lí luận và phóng viên.

    Rồi sau khi thiết lập được nền tảng vững chắc này, nhiệm vụ của chúng ta là xem có thể rút ra những gì và đâu là những mấu chốt đặc biệt trong toàn bộ diễn tiến vụ bí ẩn này.

    Vào tối thứ ba tôi đã nhận được điện mời hợp tác từ cả đại tá Ross, người chủ con ngựa, lẫn thanh tra Gregory là người đang giải quyết vụ án."

    "Tối thứ ba!"

    Tôi kêu lên.

    "Và hôm nay đã là sáng thứ năm.

    Tại sao hôm qua anh không đi ngay đến đó?"

    "Vì tôi đã phạm phải một sai lầm!

    Watson thân mến, tôi e mình phạm sai lầm nhiều hơn người ta vẫn tưởng nếu họ chỉ biết đến tôi qua những trang hồi ức của anh.

    Chẳng là tôi không thể nào tin việc che giấu con ngựa nổi tiếng nhất nước Anh lại có thể kéo dài được, đặc biệt là ở một vùng dân cư thưa thớt như miền bắc Dartmoor.

    Suốt ngày hôm qua tôi cứ ngóng trông người ta báo tin đã tìm thấy nó và tên trộm con ngựa cũng là kẻ đã sát hại John Straker.

    Thế nhưng, lại một đêm nữa trôi qua và tôi thấy ngoài việc bắt giữ anh chàng Fitzroy Simpson ra thì người ta vẫn giậm chân tại chỗ, tôi cho là đã đến lúc phải hành động.

    Tuy vậy, xét trên vài khía cạnh tôi vẫn thấy hôm qua không phải là một ngày lãng phí."

    "Anh đã có giả thuyết gì chăng?"

    "Ít ra thì tôi đã nắm được vài tình tiết chính của vụ án này.

    Tôi sẽ liệt kê cho anh nghe, vì không việc gì giúp ta làm rõ một vụ án hơn là trình bày cho một người khác và tôi khó mà mong có được sự cộng tác của anh nếu không cho anh thấy xuất phát điểm của chúng ta."

    Tôi ngả lưng dựa vào mấy tấm nệm, hút điếu xì gà trong khi Holmes chúi người về phía trước, ngón tay trỏ thon dài vạch từng điểm vào lòng bàn tay trái để tóm lược cho tôi những sự kiện dẫn đến chuyến đi này.

    "Con ngựa Ngọn Lửa Bạc", anh nói, "là nòi con Isonomy và cũng nắm giữ một kỉ lục xuất sắc như tổ phụ nổi tiếng của nó.

    Năm nay nó được năm tuổi và đều đặn gom về mọi giải thưởng ở trường đua cho đại tá Ross, người chủ may mắn của nó.

    Cho đến trước khi xảy ra tai họa thì nó vẫn được xem là ứng cử viên sáng giá nhất cho cúp Wessex với tỉ lệ cá cược ba ăn một.

    Tuy nhiên, vì luôn được những người mê đua ngựa ưa thích nhất và chưa bao giờ khiến cho họ phải thất vọng, nên dù với tỉ lệ cược này, nhiều món tiền khổng lồ đã được đặt vào nó.

    Vì thế, rõ ràng là cũng có nhiều người rất muốn ngăn trở con Ngọn Lửa Bạc có mặt ở giải vào thứ ba tới.

    Tất nhiên là ở King's Pyland, nơi đặt trại huấn luyện ngựa của đại tá, người ta thừa hiểu điều này.

    Mọi biện pháp đề phòng đều được thực hiện nhằm bảo vệ cho ứng cử viên của chức vô địch.

    Người huấn luyện, John Straker, là một nài ngựa đã giải nghệ từng thi đấu trong đội của đại tá cho đến khi quá cân.

    Ông ta đã phục vụ cho đại tá trong năm năm với vai trò là nài ngựa và bảy năm với chức danh huấn luyện viên và luôn tỏ ra là một nhân viên hăng hái và trung thực.

    Dưới quyền ông ta có ba cậu trai; vì quy mô trại cũng nhỏ, tổng cộng chỉ có bốn con ngựa.

    Hằng đêm, một trong ba cậu sẽ ngồi canh ở trại ngựa trong khi những người kia ngủ ở tầng xép.

    Tính cách của cả ba đều rất đàng hoàng.

    John Straker có vợ và sống trong một biệt thự nhỏ cách trại ngựa khoảng hai trăm yard.

    Ông ta không có con, trong nhà có một cô người hầu và họ sống khá sung túc.

    Vùng nông thôn này rất vắng vẻ, nhưng khoảng nửa dặm về phía bắc có vài biệt thự do một nhà thầu ở Tavistock xây làm khu an dưỡng cho người bệnh và những ai muốn hít thở không khí trong lành của Dartmoor.

    Thị trấn Tavistock thì nằm cách đó hai dặm về phía tây, còn bên kia trảng cỏ, cũng cách đó hai dặm là một trại huấn luyện ngựa khác lớn hơn, trại Capleton thuộc về huân tước Backwater và do Silas Brown quản lí.

    Còn theo các hướng khác thì trảng cỏ hoàn toàn hoang vu, chỉ có một số người digan lang thang sinh sống.

    Đó là tình hình khái quát vào tối thứ hai vừa rồi khi tấn thảm kịch xảy ra.

    Tối hôm đó, sau khi đàn ngựa được tập luyện và uống nước như thường lệ, trại ngựa được khóa lại lúc 9 giờ.

    Hai trong số các cậu bé đi lên nhà của huấn luyện viên để ăn tối trong bếp, trong khi cậu thứ ba tên là Ned Hunter thì ở lại canh gác.

    Quá 9 giờ một chút, cô người hầu tên là Edith Baxter xuống trại ngựa đem bữa tối cho cậu ta là một đĩa cà ri cừu.

    Cô ta không đem theo nước uống vì tại trại ngựa có sẵn một vòi nước và đã có quy định là khi canh gác thì không được uống bất cứ thứ gì khác.

    Cô hầu cầm theo một chiếc đèn vì trời rất tối và đường đi xuyên qua trảng cỏ trống.

    Khi Edith Baxter chỉ còn cách trại ngựa khoảng hai mươi bảy mét thì một người đàn ông hiện ra từ bóng tối và kêu cô dừng bước.

    Khi anh ta bước vào vòng ánh sáng vàng rọi ra từ ngọn đèn thì cô ta thấy đó là một người có dáng dấp lịch sự, mặc một bộ comlê xám bằng vải tuýt và đội mũ cát két.

    Anh ta đi ghệt và cầm một cây gậy nặng có tay nắm tròn.

    Tuy nhiên, điều gây ấn tượng mạnh nhất cho cô ta là gương mặt rất xanh xao và thái độ bồn chồn của anh ta.

    Theo như cô ta đoán thì người này phải ngoài ba mươi tuổi chứ không ít hơn.

    'Cô có thể cho tôi biết đây là đâu không?' Anh ta hỏi.

    'Tôi đã chắc là mình sẽ phải ngủ lại trong trảng cỏ thì trông thấy ánh đèn của cô.'

    'Ông đang ở gần trại luyện ngựa King's Pyland đấy', cô ta đáp.

    'Ồ, thật vậy sao!

    May mắn quá!' Anh ta reo lên.

    'Tôi biết rằng đêm nào cũng có một cậu trai ngủ một mình ở đó.

    Có lẽ cô đang đem bữa tối đến cho cậu ta.

    Tôi chắc là cô sẽ không từ chối một món tiền ngang với chiếc váy mới, đúng không?' Anh ta lấy ra từ trong túi áo gilet một mảnh giấy trắng đã gập lại.

    'Làm sao cho cậu bé nhận được cái này thì cô sẽ có một bộ váy đẹp nhất.'

    Cô ta kinh hoảng bởi cách nói thẳng thừng của anh ta, và chạy ào qua mặt anh ta đến cánh cửa sổ mà cô vẫn thường đưa bữa ăn qua đó.

    Cánh cửa đã mở sẵn và Hunter đang ngồi ở chiếc bàn nhỏ bên trong.

    Khi cô bắt đầu kể cho cậu bé nghe về chuyện vừa xảy ra thì người lạ mặt lại xuất hiện.

    'Xin chào', anh ta lên tiếng, mắt nhìn qua cửa sổ.

    'Tôi muốn nói chuyện với cậu một chút.' Cô gái thề rằng khi đó, cô nhìn thấy góc một gói giấy ló ra từ bàn tay nắm lại của anh ta.

    'Ông đến đây có việc gì?' Cậu bé hỏi.

    'Là việc có thể nhét thêm gì đó vào túi của cậu', người kia nói.

    'Cậu có hai con ngựa dự tranh giải Wessex - là con Ngọn Lửa Bạc và con Bayard.

    Hãy mách thật cho tôi và cậu sẽ không bị thiệt đâu.

    Có đúng là với trọng lượng hiện giờ thì cùng chạy một cây số, con Bayard có thể bỏ xa con kia một trăm mét và trại của mình đã đặt cược lên nó không?'

    'Vậy ra ông là một trong những tên mách nước cá ngựa khốn kiếp đó!' Cậu trai hét lên.

    'Tôi sẽ cho ông biết ở King's Pyland này người ta đối xử ra sao với bọn chúng.' Cậu ta nhảy dựng lên và phóng vào trại ngựa để thả chó.

    Cô gái chạy vội về nhà nhưng khi chạy đi cô còn ngoái đầu lại và nhìn thấy gã đàn ông lạ mặt đang cúi người vào khung cửa sổ.

    Thế nhưng, một phút sau, khi Hunter lao ra cùng với con chó thì hắn ta đã đi mất và dù cho cậu chạy khắp xung quanh vẫn chẳng thấy chút dấu vết nào của gã."

    "Đợi một chút", tôi hỏi.

    "Có phải khi chạy ra ngoài cùng với con chó thì cậu bé chăm ngựa đã để cửa trại mở hay không?"

    "Tuyệt, Watson, rất tuyệt!"

    Bạn tôi lẩm bẩm.

    "Tôi cũng thấy điểm này cực kì quan trọng nên hôm qua tôi đã gửi một bức điện khẩn đến Dartmoor để làm rõ vấn đề.

    Cậu bé đã khóa cửa trại trước khi ra ngoài.

    Còn cánh cửa sổ, tôi có thể bổ sung là nó không đủ rộng để một người đàn ông có thể lọt qua.

    Hunter đợi đến khi các bạn quay về rồi mới nhắn cho huấn luyện viên và báo cho ông ta biết chuyện đã xảy ra.

    Khi được tin, Straker rất bồn chồn dù có vẻ như ông ta chưa nhận thức hết mức độ quan trọng của sự việc.

    Thế nhưng, nó cũng gây cho ông ta một nỗi lo lắng mơ hồ, và khi bà vợ tỉnh giấc vào 1 giờ sáng thì thấy ông ta đang mặc quần áo.

    Đáp lại những câu hỏi của vợ mình, ông ta nói rằng không sao ngủ được vì lo lắng cho mấy con ngựa và ông ta cho biết muốn đi xuống trại ngựa để xem mọi chuyện có ổn không.

    Bà ta năn nỉ chồng hãy ở nhà vì đã nghe thấy tiếng mưa gõ lộp độp vào cửa sổ nhưng mặc cho vợ khẩn nài, ông ta vẫn khoác chiếc áo mưa rộng lên người rồi ra khỏi nhà.

    Bà vợ Straker thức dậy lúc 7 giờ sáng và thấy chồng vẫn chưa quay về.

    Bà ta vội vàng mặc quần áo, gọi cô hầu và ra trại ngựa.

    Cửa đã mở tung; còn bên trong là Hunter đang thu mình trên một chiếc ghế và chìm trong trạng thái mê man hoàn toàn, chuồng của con ngựa ứng cử viên chức vô địch trống trơn và người huấn luyện thì chẳng thấy đâu.

    Hai cậu trai đang ngủ trong tầng xép chất rạ phía trên gian để yên cương nhanh chóng được đánh thức dậy.

    Chúng chẳng nghe thấy gì trong đêm vì cả hai đều ngủ say.

    Rõ ràng là Hunter đang bị tác động của một loại thuốc rất mạnh, vì chẳng hỏi gì được cậu nên họ để cậu ngủ cho rã thuốc trong khi hai cậu kia cùng hai phụ nữ chạy ra ngoài để tìm kiếm người mất tích.

    Họ vẫn hi vọng rằng vì một lí do nào đó ông ta đã đưa con ngựa đi tập sớm, nhưng khi leo lên một cái gò gần nhà nơi có thể trông thấy những trảng trống xung quanh, không những họ chẳng thấy dấu vết nào của con ngựa bị mất tích mà còn nhận ra một điều báo hiệu tấn bi kịch đã xảy ra.

    Cách trại ngựa khoảng một phần tư dặm người ta thấy cái áo mưa của John Straker đang phấp phới trên một bụi kim tước.

    Ngay sau chỗ đó là vùng trảng cỏ trũng xuống thành một hố lớn và dưới đáy là thi thể của người huấn luyện xấu số.

    Đầu nạn nhân bị đập vỡ bởi một cú đập mạnh bằng một loại vũ khí nặng và ông ta còn bị thương ở đùi, đó là một vết cắt dài và ngọt, chắc chắn là do một dụng cụ rất sắc gây ra.

    Tuy nhiên, có thể thấy rõ rằng Straker đã chống cự dữ dội với kẻ tấn công mình vì bàn tay phải của ông ta còn cầm một con dao nhỏ mà máu đông lại đến tận cán, còn tay trái thì nắm chặt một chiếc cà vạt lụa có hai màu đỏ và đen mà cô hầu nhận ra là đã trông thấy người lạ mặt đeo khi đến trại ngựa vào tối hôm trước.

    Hunter, khi hồi tỉnh lại cũng khẳng định về chủ nhân của chiếc cà vạt.

    Cậu cũng tin chắc rằng chính người lạ mặt đó khi đứng cạnh cửa sổ đã lén bỏ thuốc mê vào món cà ri cừu của cậu khiến cho trại ngựa không còn ai canh gác.

    Còn về con ngựa bị mất, có rất nhiều dấu vết trong bùn dưới đáy cái hồ chết chóc nọ cho thấy nó cũng ở đó vào thời điểm xảy ra cuộc vật lộn.

    Nhưng kể từ sáng hôm đó con ngựa đã mất tích và dù người ta đã treo một số tiền thưởng lớn và thông báo đến tất cả những người digan sống trong vùng Dartmoor song vẫn chẳng có tin tức gì về nó.

    Cuối cùng, kết quả phân tích cho thấy đồ ăn thừa từ bữa tối của cậu bé chăm ngựa chứa một lượng thuốc phiện đáng kể, trong khi những người trong nhà cũng ăn cùng một món vào buổi tối hôm đó thì không bị sao cả.

    Đó là những dữ kiện chính của vụ án, sau khi đã loại bỏ đi mọi phỏng đoán và được trình bày hết sức sáng sủa.

    Tiếp theo tôi sẽ tóm tắt lại những gì cảnh sát đã làm.

    Thanh tra Gregory, người được giao phó xử lí vụ này, là một cảnh sát rất thạo việc.

    Giá mà ông ta được trời cho thêm óc tưởng tượng thì có thể sẽ đạt đến đỉnh cao trong sự nghiệp.

    Vừa đến nơi, ông ta đã lập tức tìm thấy và bắt giữ kẻ đương nhiên bị tình nghi.

    Tìm kiếm hắn ta chẳng khó khăn mấy vì hắn sống ở một trong những biệt thự mà tôi đã đề cập.

    Có vẻ như tên hắn là Fitzroy Simpson.

    Hắn có xuất thân và giáo dục rất tốt, song đã đốt cả một gia tài vào những cuộc đua ngựa và giờ thì kiếm sống bằng cách làm một nhà cái nho nhỏ chuyên nhận cược của dân thượng lưu trong những câu lạc bộ thể thao ở London.

    Khi kiểm tra cuốn sổ cá ngựa của hắn thì thấy hắn đã ghi những khoản cược lên tới năm ngàn bảng là con Ngọn Lửa Bạc sẽ thua.

    Lúc bị bắt, hắn tự nguyện khai là đã đến Dartmoor với hi vọng sẽ kiếm được thông tin về mấy con ngựa của trại King's Pyland cũng như về con Desborough, là con ngựa đứng nhì về triển vọng đoạt giải, đang được Silas Brown huấn luyện ở trại Capleton.

    Hắn không chối bỏ là đã hành động như đã được mô tả vào tối hôm trước, nhưng lại khẳng định là không có ý xấu và đơn giản chỉ muốn có được thông tin trực tiếp.

    Khi chiếc cà vạt được đưa ra thì mặt hắn xanh mét và hắn hoàn toàn không thể giải thích vì sao nó lại nằm trong tay người chết.

    Bộ quần áo bị ướt của hắn cho thấy hắn đã ở ngoài trời trong cơn mưa đêm trước, còn cây gậy của hắn, một cây gậy Penang đúc chì, rất có thể là thứ hung khí đã liên tiếp giáng xuống gây ra những chấn thương khủng khiếp hạ gục người huấn luyện ngựa.

    Tuy nhiên, trên người hắn không có vết thương nào, mà con dao của Straker lại cho thấy ít nhất phải có một kẻ hành hung ông ta đã lãnh thương tích trên người.

    Tóm lại là như thế, Watson, và nếu anh có thể soi rọi cho tôi đôi chút thì tôi sẽ biết ơn anh rất nhiều."

    Tôi lắng nghe hết sức chăm chú lời kể rõ ràng đúng kiểu đặc trưng của Holmes.

    Dù hầu hết các sự kiện đều đã quen thuộc đối với tôi, tôi vẫn chưa hiểu rõ đầy đủ mức độ quan trọng của chúng, cũng như mối liên quan giữa chúng với nhau.

    "Không lẽ", tôi gợi ý, "vết thương sâu trên người Straker là do chính con dao của ông ta gây ra trong cơn co giật do bị tổn thương não?"

    "Còn hơn cả có lẽ nữa, đó là một khả năng đáng kể", Holmes nói.

    "Trong trường hợp đó thì một trong những điểm chính biện hộ cho bị can đã không còn."

    "Tuy thế", tôi nói, "thậm chí đến giờ tôi vẫn chưa biết giả thuyết của cảnh sát là gì."

    "Tôi e rằng dù chúng ta có đưa ra bất kì giả thuyết nào đi nữa thì cũng sẽ gặp nhiều luận điểm phản bác mạnh mẽ", bạn tôi quay lại.

    "Theo tôi nghĩ thì cảnh sát hình dung rằng Fitzroy Simpson, sau khi đánh thuốc mê cậu bé chăm ngựa và bằng cách nào đó có được chiếc chìa khóa cửa đánh lại y hệt, đã mở cửa trại ngựa và dắt con ngựa đi, rõ ràng là với ý định trộm nó.

    Bộ yên cương của con ngựa đã biến mất nên chắc Simpson đóng cương vào cho nó.

    Sau khi bỏ ngỏ cửa trại, hắn dẫn con ngựa đi ra trảng trống, đúng lúc đó thì gặp người huấn luyện hoặc là bị ông ta đuổi kịp.

    Tất nhiên là phải xảy ra ẩu đả.

    Simpson đập cây gậy to nặng của hắn vào đầu người luyện ngựa mà không bị con dao nhỏ Straker dùng để tự vệ gây thương tích gì, rồi sau đó hoặc là tên trộm dẫn con ngựa đến một nơi giấu bí mật, hoặc là nó đã chạy thoát trong khi hai bên ẩu đả và giờ đang lang thang trên những trảng cỏ.

    Đó là vụ án dưới con mắt cảnh sát, dù nó không vững chắc song mọi cách giải thích khác càng kém thuyết phục hơn.

    Tuy nhiên, tôi sẽ nhanh chóng kiểm tra vấn đề ngay khi đến hiện trường và từ giờ cho đến lúc đó thì thật tình là tôi không thể đi xa hơn là mấy."

    Trời đã về chiều trước khi chúng tôi đến thị trấn nhỏ Tavistock nằm giữa vòng tròn rộng lớn là vùng Dartmoor, tựa như núm của một chiếc khiên.

    Hai người đàn ông đang đợi chúng tôi ở sân ga - một người cao ráo, đẹp trai với mái tóc như bờm sư tử, để râu quai nón, mắt xanh nhạt sắc sảo đầy dò xét; người còn lại thì bé nhỏ, lanh lợi, rất gọn gàng và lịch thiệp trong chiếc măng tô và đôi ghệt, tóc mai tỉa gọn và đeo chiếc kính một mắt.

    Đó là đại tá Ross, nhà thể thao nổi tiếng, còn người kia là thanh tra Gregory, đang nổi danh nhanh chóng trong giới thám tử Anh quốc.

    "Tôi rất vui vì ông đã xuống đây, thưa ông Holmes", ông đại tá cất tiếng chào.

    "Ông thanh tra đây đã thực hiện tất cả những gì có thể nhưng tôi không muốn bỏ sót điều gì nhằm hết sức phục thù cho Straker đáng thương và tìm lại con ngựa."

    "Đến giờ đã có tiến triển nào mới chưa?"

    Holmes hỏi.

    "Tôi rất buồn khi phải nói rằng chúng tôi vẫn chưa tiến thêm được bao nhiêu", viên thanh tra đáp.

    "Chúng tôi có một cỗ xe mui xếp đang đợi bên ngoài, hẳn là các ông muốn xem hiện trường trước khi trời tối nên có lẽ chúng ta sẽ nói chuyện về vụ án trên đường."

    Một phút sau chúng tôi đã ngồi trong cỗ xe bốn bánh mui xếp tiện nghi và lọc cọc chạy qua thị trấn cổ xinh đẹp thuộc tỉnh Devonshire này.

    Thanh tra Gregory toàn nói về vụ án và tuôn ra hàng loạt nhận định, còn Holmes lâu lâu mới hỏi một câu hay nói xen vào.

    Đại tá Ross ngả người ra sau, khoanh tay lại, mũ sụp quá mắt, còn tôi thì thích thú lắng nghe cuộc đối thoại của hai người kia.

    Gregory đang trình bày giả thuyết của mình gần như giống hệt những gì Holmes đã nói khi còn ngồi trên xe lửa.

    "Mẻ lưới đã khép lại khá chặt xung quanh Fitzroy Simpson", ông ta nhận xét, "và bản thân tôi tin tưởng rằng hắn chính là hung thủ.

    Nhưng đồng thời, tôi cũng phải thừa nhận rằng chứng cứ hoàn toàn mang tính gián tiếp và nếu có diễn tiến mới có thể sẽ lật đổ nó."

    "Thế còn con dao của Straker thì sao?"

    "Chúng tôi gần như đã đi đến kết luận là ông ta tự gây thương tích cho mình khi ngã xuống."

    "Anh bạn Watson của tôi cũng đưa ra ý kiến đó khi chúng tôi trên đường xuống đây.

    Nếu đúng vậy thì chi tiết đó sẽ bất lợi cho gã Simpson này."

    "Không còn nghi ngờ gì nữa.

    Hắn không có dao mà cũng chẳng bị thương vết nào.

    Bằng chứng chống lại hắn rất vững chắc.

    Hắn sẽ có lợi lớn khi con ngựa biến mất.

    Hắn bị tình nghi đã bỏ thuốc phiện cho cậu bé chăm ngựa, chắc chắn là hắn đã ở ngoài trời trong cơn mưa đó, lại còn đem theo một cây gậy nặng và chiếc cà vạt của hắn thì được tìm thấy trong tay nạn nhân.

    Tôi thật sự tin rằng ta đã có đủ chứng cứ để ra trước bồi thẩm đoàn."

    Holmes lắc đầu.

    "Một luật sư giỏi sẽ đập tan những lập luận đó", anh nói.

    "Tại sao hắn lại phải dắt con ngựa ra khỏi trại?

    Nếu muốn làm nó bị thương thì sao hắn lại không thể thực hiện ở đó?

    Đã tìm thấy chìa khóa sao lại trong người hắn chưa?

    Người bán thuốc nào đã cung cấp bột thuốc phiện cho hắn?

    Đặc biệt là, một người mới đến đây như hắn thì có thể giấu được con ngựa ở chỗ nào, mà lại là một con ngựa đặc biệt đến thế?

    Hắn giải thích thế nào về mảnh giấy mà hắn muốn cô hầu chuyển đến cho cậu bé chăm ngựa?"

    "Hắn khai đó là một tờ mười bảng.

    Trong ví tiền của hắn có một tờ mười bảng thật.

    Nhưng những trở ngại khác mà ông nêu không đến nỗi ghê gớm lắm.

    Hắn không phải là người hoàn toàn xa lạ với vùng này.

    Hắn đã nghỉ hè hai lần ở Tavistock.

    Thuốc phiện có lẽ được mang từ London.

    Chiếc chìa khóa thì có thể là hắn đã vứt đi sau khi dùng xong.

    Con ngựa có thể đang ở đáy hồ hay một cái mỏ cũ nào đấy trong trảng."

    "Thế hắn nói gì về cái cà vạt?"

    "Hắn thừa nhận là của mình và tuyên bố là đã làm mất.

    Nhưng vừa có thêm một yếu tố mới trong vụ này có thể giải thích cho việc hắn dắt con ngựa ra khỏi trại."

    Holmes chăm chú nghe.

    "Chúng tôi đã tìm ra những dấu vết cho thấy vào tối thứ hai có một nhóm dân digan đã cắm trại cách vị trí xảy ra án mạng một dặm.

    Sang thứ ba thì bọn họ rời đi.

    Giờ thì giả sử rằng Simpson đã thông đồng với những người digan, phải chăng khi bị bắt kịp có thể hắn đang dắt nó đến chỗ họ và biết đâu hiện giờ họ đang giữ nó?"

    "Tất nhiên là có thể."

    "Chúng tôi đã lùng sục trong trảng cỏ để tìm những người digan này.

    Tôi cũng đã khám xét mọi chuồng ngựa và nhà phụ ở Tavistock trong vòng bán kính mười dặm."

    "Tôi nghe nói có một trại ngựa khác cũng gần đây?"

    "Phải, và chắc chắn chúng tôi không thể bỏ qua yếu tố đó.

    Vì con Desborough có tỉ lệ đặt cược thứ hai nên họ cũng được lợi nếu ứng cử viên cao nhất mất tích.

    Được biết là Silas Brown, người huấn luyện đã đặt một món tiền lớn trong cuộc đua và ông ta cũng không mấy thân thiện với Straker tội nghiệp.

    Tuy vậy, chúng tôi đã khám xét các chuồng ngựa ở đó và không thấy điều gì chứng tỏ ông ta có dính líu đến vụ này."

    "Và cũng không có mối liên hệ nào giữa gã Simpson với các quyền lợi của trại Capleton?"

    "Không hề."

    Holmes ngả người dựa vào lưng ghế và cuộc đối thoại chấm dứt.

    Vài phút sau, người xà ích ghìm cương trước một biệt thự xinh xắn xây bằng gạch đỏ có mái chìa ra ngay bên đường.

    Cách đó một khoảng, phía bên kia bãi quây ngựa, là một dãy nhà phụ dài lợp ngói xám.

    Khắp xung quanh, trảng cỏ thấp nhuốm màu đồng của đám dương xỉ đang tàn héo uốn lượn trải dài đến tận chân trời, chỉ thỉnh thoảng mới thấy nhô lên những tháp chuông của Tavistock và một cụm nhà nằm cách xa về phía tây cho biết đó là trại luyện ngựa Capleton.

    Tất cả chúng tôi đều nhảy xuống xe, riêng Holmes vẫn ngồi dựa vào lưng ghế, mắt dán vào bầu trời trước mặt, hoàn toàn chìm trong suy nghĩ.

    Mãi đến khi bị tôi chạm nhẹ vào tay anh mới giật mình đứng dậy và bước ra khỏi xe.

    "Xin thứ lỗi", anh quay lại nói với đại tá Ross khi ông này đang nhìn anh với vẻ ngạc nhiên.

    "Tôi đang mơ màng."

    Thấy mắt anh sáng lên và thái độ phấn khích có kìm nén quen thuộc, tôi tin rằng anh đã gần chạm đến một manh mối nào đó, dù tôi không thể hình dung ra anh đã tìm thấy nó ở đâu.

    "Có lẽ ông muốn đi ngay đến hiện trường chứ, ông Holmes?"

    Gregory hỏi.

    "Tôi muốn ở lại đây một lúc và xem xét một vài chi tiết.

    Theo tôi nghĩ thì Straker đã được đem về đây, có đúng không?"

    "Phải, ông ta đang nằm ở trên lầu.

    Việc khám nghiệm sẽ được tiến hành vào ngày mai."

    "Ông ta đã làm việc cho ông vài năm phải không, đại tá Ross?"

    "Ông ta luôn là một người giúp việc rất đắc lực của tôi."

    "Tôi nghĩ rằng ông đã cho kiểm kê những gì ông ta có trong túi lúc chết rồi chứ, ông thanh tra?"

    "Những thứ đó đang ở trong phòng khách, nếu ông muốn xem."

    "Tôi rất vui lòng."

    Tất cả chúng tôi đi vào phòng khách và ngồi quanh chiếc bàn đặt ở giữa phòng trong khi người thanh tra mở khóa một cái hộp vuông bằng thiếc và lấy ra một đống thứ trong đó.

    Chúng gồm một hộp diêm, một đoạn nến mỡ dài độ năm phân, một cái tẩu thạch nam hiệu A.D.P, một cái túi bằng da hải cẩu đựng nửa ounce thuốc lá Cavendish sợi dài, một đồng hồ bạc có dây đeo bằng vàng, năm đồng sovereign, một hộp bút chì nhôm, mấy tờ giấy, và một con dao cán ngà có lưỡi cứng, mảnh có khắc tên hiệu Weiss & Ca, London.

    "Đây là một con dao đặc biệt", Holmes nhận xét khi nhấc nó lên và xem xét tỉ mỉ.

    "Dựa vào vết máu còn bám trên lưỡi dao, tôi đoán rằng đây chính là con dao đã tìm thấy trong tay người chết.

    Watson này, chắc hẳn con dao này quen thuộc với anh?"

    "Bác sĩ chúng tôi gọi đây là dao mổ mắt", tôi đáp.

    "Tôi cũng nghĩ thế.

    Một lưỡi dao rất mảnh được chế riêng cho một công việc đòi hỏi sự khéo léo.

    Kể cũng lạ khi có người lại đem nó theo trong một cuộc truy đuổi gian khổ, đặc biệt là nó không gấp lại được khi để trong túi."

    "Mũi dao được bọc trong một khoanh bần mà chúng tôi tìm thấy bên cạnh thi thể nạn nhân", ông thanh tra nói.

    "Bà vợ ông ta cho chúng tôi biết là con dao này vốn được đặt trên bàn trang điểm và ông ta đã cầm lấy nó khi bước ra khỏi phòng.

    Nó là một vũ khí tồi nhưng có lẽ đây là thứ tốt nhất mà ông ta có được vào lúc đó."

    "Rất có thể.

    Thế còn những tờ giấy này?"

    "Ba tờ trong số đó là các hóa đơn của những nhà cung cấp cỏ khô.

    Một tờ là giấy ghi những chỉ thị của đại tá Ross.

    Tờ kia là hóa đơn của người thợ may trang phục nữ với số tiền là ba mươi bảy bảng mười lăm xu do bà Lesurier ở phố Bond viết và gửi cho ông William Derbyshire.

    Vợ của Straker cho chúng tôi biết ông Derbyshire là một người bạn của chồng bà ta và thỉnh thoảng ông này dùng địa chỉ nhà họ để nhận thư từ."

    "Bà Derbyshire có sở thích khá tốn kém", Holmes nhận xét khi liếc qua tờ hóa đơn.

    "Hai mươi hai guinea cho một bộ y phục phụ nữ thì hơi đắt.

    Tuy nhiên có vẻ như ở đây cũng chẳng còn gì để xem xét nữa và giờ thì ta có thể đi đến hiện trường vụ án."

    Khi chúng tôi bước ra khỏi phòng khách thì đã có một người phụ nữ đang đợi ở hành lang, bà bước đến và đặt tay lên tay áo ông thanh tra.

    Gương mặt bà ta phờ phạc, gầy mòn, nóng ruột và in rõ nỗi kinh hoàng mới xảy ra.

    "Ông đã bắt được chúng chưa?

    Ông đã tìm ra bọn chúng chưa?"

    Bà ta hổn hển hỏi.

    "Chưa, thưa bà Straker.

    Nhưng ông Holmes đây đã từ London đến để giúp chúng ta, và chúng tôi sẽ làm hết sức mình."

    "Có lẽ tôi đã gặp bà ở Plymouth trong một bữa tiệc ngoài vườn mới đây, thưa bà Straker?"

    Holmes nói.

    "Không, thưa ông.

    Ông đã lầm."

    "Trời ơi!

    Sao lại thế được, tôi có thể chắc chắn mà.

    Hôm đó bà mặc một bộ váy lụa màu xanh xám óng ánh đính lông đà điểu."

    "Tôi chưa bao giờ có bộ y phục nào như thế cả, thưa ông", người phụ nữ trả lời.

    "À, vậy thì bỏ qua chuyện ấy", Holmes nói.

    Anh xin lỗi rồi bước theo viên thanh tra ra ngoài.

    Chỉ một đoạn đi bộ ngắn băng qua trảng là chúng tôi đã đến chỗ cái hố là nơi người ta đã tìm ra thi thể nạn nhân.

    Bên miệng hố có một bụi kim tước là nơi chiếc áo mưa nằm lại

    "Đêm đó trời không có gió, theo như tôi đoán", Holmes nói.

    "Phải, nhưng mưa rất to."

    "Vậy thì chiếc áo mưa không bị gió thổi vào bụi cây mà được đặt lên đó."

    "Vâng, nó được vắt ngang qua bụi cây."

    "Ông khiến tôi quan tâm đấy, tôi nhận thấy là mặt đất đã bị giẫm đạp khá nhiều.

    Chắc chắn là từ đêm thứ hai đến nay đã có nhiều người bước đến đây."

    "Chúng tôi đã đặt một tấm thảm bên cạnh và đều đứng trên đó."

    "Tuyệt vời."

    "Trong chiếc túi này tôi có để một chiếc ghệt mà Straker đã đi, một chiếc giày của Fitzroy và một cái móng đúc của con Ngọn Lửa Bạc."

    "Ông thanh tra thân mến, lần này ông tiến bộ vượt bậc!"

    Holmes cầm lấy cái túi và bước xuống hố, anh dịch tấm thảm vào gần giữa.

    Sau đó anh nằm sấp xuống và tựa cằm lên hai tay, xem xét kĩ lưỡng vũng bùn bị giẫm nát trước mặt.

    "Ái chà!"

    Bất chợt anh kêu lên.

    "Cái gì đây?"

    Đó là một que diêm cháy dở và bám đầy bùn khiến cho thoạt nhìn trông nó chỉ như một mẩu gỗ nhỏ.

    "Không hiểu sao tôi lại bỏ sót nó", viên thanh tra nói, vẻ bực bội.

    "Nó gần như vô hình lại còn bị lẫn trong bùn.

    Tôi nhìn thấy chỉ vì tôi đã để mắt tìm kiếm thôi."

    "Sao!

    Ông đã lường trước là sẽ tìm thấy nó à?"

    "Tôi cứ sợ là không tìm được."

    Anh lấy mấy chiếc ghệt và giày ra khỏi túi rồi so với các dấu vết trên nền đất.

    Sau đó anh trèo lên mép hố và bò dọc theo đám dương xỉ và những bụi cây.

    "Tôi e rằng không còn dấu vết nào nữa", viên thanh tra nói.

    "Tôi đã xem xét mặt đất rất kĩ trong vòng bán kính một trăm mét quanh đây."

    "Đúng thế thật!"

    Holmes nói, rồi đứng dậy.

    "Ông đã nói vậy lẽ nào tôi còn vô lễ mà khám xét thêm lần nữa.

    Nhưng tôi muốn đi quanh trảng cỏ này trước khi trời tối, như thế thì đến sáng mai có thể tôi có được nhận định chung và có lẽ tôi phải cho cái móng ngựa này vào túi để lấy hên."

    Đại tá Ross tỏ ra sốt ruột vì cách làm việc lặng lẽ và hệ thống của bạn tôi, liếc vào đồng hồ.

    "Mong rằng ông sẽ đi về với tôi, ông thanh tra ạ", ông ta nói.

    "Tôi muốn xin lời khuyên của ông về vài điểm, nhất là liệu ta có bổn phận với công chúng là phải rút tên con ngựa ra khỏi danh sách tranh giải hay không."

    "Chắc chắn là không", Holmes quả quyết kêu lên.

    "Nếu là tôi thi tôi sẽ để nguyên tên nó."

    Viên đại tá cúi chào.

    "Tôi rất mừng được nghe ý kiến của ông, thưa ông", ông ta nói.

    "Đi dạo xong các ông cứ quay lại nhà Straker bất hạnh là gặp chúng tôi và ta sẽ cùng ngồi xe về Tavistock."

    Ông ta quay đi cùng với ông thanh tra trong khi Holmes và tôi thả bước ngang qua trảng cỏ.

    Mặt trời đã bắt đầu lặn đằng sau trại ngựa Capleton và vùng bình nguyên thoải dốc trải dài trước mặt chúng tôi đã nhuốm vàng và đậm lên thành màu nâu đỏ nơi ráng chiều rọi tới những đám dương xỉ và bụi mâm xôi khô héo.

    Nhưng cảnh tượng huy hoàng ấy chẳng có ý nghĩa gì trước mắt bạn tôi khi anh đang chìm vào suy tư sâu lắng.

    "Thế này nhé, Watson", cuối cùng anh cũng lên tiếng.

    "Chúng ta có thể tạm gác lại câu hỏi ai đã giết Straker sang một bên và hãy tập trung vào việc tìm ra chuyện gì đã xảy ra với con ngựa.

    Giả sử nó thoát đi trong hoặc là sau tấn thảm kịch thì nó có thể chạy đi đâu?

    Ngựa là loài vật bầy đàn.

    Nếu chỉ còn có một mình thì theo bản năng nó sẽ quay về King's Pyland hoặc là đến trại Capleton.

    Can cớ gì mà nó lại chạy rông trên trảng cỏ?

    Nếu thế thì người ta đã trông thấy nó rồi.

    Và tại sao lại nghĩ là những người digan đã bắt nó?

    Họ luôn tránh xa khi nghe có chuyện rắc rối vì họ không muốn bị cảnh sát quấy rầy.

    Họ cũng chẳng thể hi vọng bán được con ngưa ấy.

    Bắt nó họ sẽ chuốc lấy nhiều rủi ro và chẳng thu được gì.

    Chắc chắn là thế."

    "Vậy thì nó ở đâu?"

    "Tôi đã nói rằng nó phải chạy về King's Pyland hoặc là đến Capleton.

    Ta đã không thấy nó ở King's Pyland.

    Thế thì nó phải ở Capleton.

    Ta hãy tạm giả định như vậy và xem nó sẽ dẫn đến đâu.

    Phần trảng này, theo nhận xét của ông thanh tra, thì rất cứng và khô.

    Nhưng nó thấp dần về phía Capleton, và từ chỗ này anh có thể nhìn thấy có một đoạn trũng dài ở đằng kia mà hẳn rất ẩm ướt vào đêm thứ hai.

    Nếu như giả thiết của ta là đúng thì con ngựa phải băng qua đó và đó là nơi ta sẽ tìm kiếm dấu vết của nó."

    Chúng tôi rảo bước trong khi nói chuyện và chỉ vài phút sau đã đến chỗ đất trũng cần xem xét.

    Theo đề nghị của Holmes, từ trên bờ tôi đi xuống phía bên phải còn anh sang phía trái, nhưng khi tôi đi chưa quá năm chục bước thì đã nghe tiếng anh reo to và thấy anh đang vẫy tay gọi tôi đến.

    Dấu vết của một con ngựa hiện lên rõ ràng trên nền đất mềm phía trước mặt anh và cái móng mà anh lấy ra từ trong túi vừa khít với dấu chân ngựa.

    "Anh thấy giá trị của trí tưởng tượng chưa", Holmes nói.

    "Đó là một phẩm chất mà Gregory không có.

    Chúng ta hình dung điều có thể xảy ra, hành động dựa trên giả thiết ấy và tự chứng minh.

    Ta hãy tiếp tục nào."

    Chúng tôi băng qua đáy hố bùn lầy và sau đó vượt qua một phần tư dặm trên mặt đất khô cứng.

    Một lần nữa mặt đất lại dốc xuống và chúng tôi lại nhìn thấy những dấu chân ấy.

    Sau đó thì chúng tôi bị mất dấu độ nửa dặm và mãi đến khá gần trại Capleton mới bắt gặp lại dấu vết.

    Chính Holmes đã tìm ra chúng trước và anh đứng lại, chỉ cho tôi thấy với vẻ đắc thắng hiện rõ trên mặt.

    Bên cạnh dấu chân ngựa còn có thể thấy dấu chân của một người đàn ông.

    "Trước đó thì con ngựa chỉ có một mình", tôi reo lên.

    "Đúng thế.

    Trước đó thì nó chỉ có một mình.

    Này, cái gì đây nhỉ?"

    Vết chân của người và thú đột nhiên đổi chiều và quay về phía King's Pyland.

    Holmes huýt sáo và cả hai chúng tôi cùng đi theo dấu vết.

    Đôi mắt anh dõi theo hướng đi của các dấu chân này nhưng tôi tình cờ nhìn thấy bên cạnh chúng còn có một vết mờ hơn và ngạc nhiên khi nhận ra cũng là những vết chân đó nhưng chúng lại đi ngược về hướng đối diện.

    "Anh ghi một điểm đấy, Watson", Holmes nói khi tôi chỉ cho anh thấy.

    "Nhờ anh mà chúng ta không phải đi thêm một quãng dài mà chắc sẽ quay lại điểm xuất phát.

    Ta hãy đi theo chiều trở lại của chúng."

    Chúng tôi không phải đi xa.

    Những dấu vết đó kết thúc ở mặt đường tráng nhựa dẫn thẳng vào cổng trại Capleton.

    Khi chúng tôi lại gần thì một cậu chăm ngựa chạy từ trong ra.

    "Chúng tôi không thích ai quanh quẩn ở đây", cậu ta nói.

    "Tôi chỉ muốn hỏi một câu thôi", Holmes nói và thọc tay vào túi áo gilet.

    "Nếu muốn gặp chủ của anh, ông Silas Brown, vào 5 giờ sáng mai thì có sớm quá không?"

    "Cầu Chúa phù hộ, thưa ông, nếu ông có gặp ai vào giờ đó thì chính là ông chủ, vì ông ấy luôn là người dậy sớm nhất.

    Mà kìa, thưa ông, ông chủ đã đến rồi, ông ấy sẽ đích thân trả lời ông.

    Ồ, không, thưa ông; nếu để cho ông chủ thấy tôi cầm tiền của ông thì tôi bị đuổi việc là cái chắc.

    Để sau vậy, nếu ông muốn."

    Khi Sherlock Holmes nhét trở lại đồng nửa crown mà anh vừa lấy ra từ trong túi thì một người đàn ông lớn tuổi trông dữ tợn từ sau cổng bước nhanh ra với cái roi ngựa vung vẩy trong tay.

    "Gì thế, Dawson!"

    Ông ta hét lên.

    "Không nhiều chuyện!

    Đi lo công việc của mi đi.

    Còn anh kia, muốn cái quái gì ở đây?"

    "Mười phút nói chuyện với quý ông", Holmes nói bằng giọng thân thiện nhất.

    "Ta không có thời gian nói chuyện với bọn lang thang.

    Ở đây không ai cần đến những kẻ lạ mặt cả.

    Cút đi, không ta thả chó ra đấy."

    Holmes nghiêng người ra trước và thì thầm gì đó vào tai nhà huấn luyện ngựa.

    Hắn giật nảy mình và mặt thì đỏ bừng đến tận mang tai.

    "Nói láo!"

    Lão hét lên, "Nói láo hết!"

    "Rất tốt.

    Ta sẽ tranh cãi về điều đó ngay tại đây trước mặt mọi người hay là nói chuyện riêng trong phòng khách của ông?"

    "Ồ, xin mời vào, nếu ông muốn."

    Holmes mỉm cười.

    "Tôi sẽ không để anh phải đợi quá vài phút đâu, Watson ạ", anh nói.

    "Nào, ông Brown, tôi đã sẵn sàng tuân theo lời ông."

    Cuộc nói chuyện kéo dài đến hai mươi phút và trước khi Holmes cùng tay huấn luyện xuất hiện trở lại thì quang cảnh nhuốm sắc đỏ đã ngả hết sang màu xám.

    Chưa bao giờ tôi thấy ai thay đổi nhanh chóng như Silas Brown trong một khoảng thời gian ngắn ngủi như vậy.

    Mặt lão tái nhợt, những giọt mồ hôi lấp lánh trên lông mày và hai bàn tay thì run lẩy bẩy đến nỗi cái roi ngựa cứ đung đưa như một cành cây trong gió.

    Thái độ hống hách dọa nạt của lão hoàn toàn biến mất và lão khúm núm đi cạnh bạn tôi như một con chó bám theo chủ.

    "Những mệnh lệnh của ông sẽ được thực hiện.

    Tất cả đều sẽ được thi hành", lão nói.

    "Không được để xảy ra sai lầm nào đấy nhé", Holmes nói và đưa mắt nhìn quanh tay huấn luyện ngựa.

    Lão nhăn mặt như nhận ra sự đe dọa trong mắt anh.

    "Ồ, không đâu, sẽ không có sơ suất nào cả.

    Nó sẽ có mặt ở đó.

    Tôi có nên thay đổi cho nó trước hay không?"

    Holmes suy nghĩ một lúc rồi phá lên cười.

    "Không cần", anh nói tiếp, "tôi sẽ nhắn bảo ông về chuyện đó.

    Không được giở trò đấy, nếu không thì..."

    "Ồ, ông cứ tin tôi, ông cứ tin tôi!"

    "Phải, tôi nghĩ có thể tin được ông.

    Thôi được, ngày mai ông sẽ nhận được tin của tôi."

    Anh quay gót, không để mắt đến bàn tay run rẩy mà kẻ kia chìa ra cho anh và chúng tôi trở về King's Pyland.

    "Tôi hiếm khi gặp kẻ nào vừa hống hách lại hèn nhát và xảo trá như lão Silas Brown này", Holmes nhận xét khi chúng tôi bước đi cùng nhau.

    "Lão đang giữ con ngựa chăng?"

    "Lão cố lấp liếm chuyện đó nhưng tôi đã miêu tả chính xác những hành động của lão vào buổi sáng hôm đó đến nỗi lão tin rằng tôi đã theo dõi lão.

    Tất nhiên là anh đã nhìn thấy phần mũi giày vuông rất đặc biệt in dấu trên nền đất và đôi ghệt của lão hoàn toàn khớp với những dấu vết đó.

    Vả lại tất nhiên là người dưới quyền lão đâu dám làm chuyện đó.

    Tôi miêu tả cho lão nghe, do thói quen thức dậy sớm, lão đã trông thấy một con ngựa lạ đang lang thang trên trảng trống.

    Lão đã lại gần con ngựa như thế nào, và ngạc nhiên ra sao khi dựa vào vệt trắng trên trán khiến con ngựa được đặt tên Ngọn Lửa Bạc, lão nhận ra trời đã trao cho lão đối thủ duy nhất có thể đánh bại con ngựa mà lão đặt cược.

    Tiếp theo, tôi tả lại phản ứng ban đầu của lão là dắt con ngựa trở về King's Pyland như thế nào, sau đó quỷ dữ đã xui lão che giấu con ngựa cho đến khi cuộc đua kết thúc ra sao, và lão đã dắt nó quay lại và giấu ở trại Capleton như thế nào.

    Khi nghe tôi kể lại từng chi tiết lão đành chịu thua và chỉ còn nghĩ sao cho được yên thân."

    "Nhưng người ta đã lục soát các chuồng ngựa của lão rồi kia mà?"

    "Ồ, một kẻ bịp ngựa lão luyện như lão thì có nhiều mánh lới lắm."

    "Anh dám để con ngựa lại trong tay lão sao, vì lão rất muốn gây thương tích cho con vật?"

    "Bạn thân mến, lão sẽ phải bảo vệ con ngựa như con ngươi của mình.

    Lão biết rằng hi vọng duy nhất để được xá tội là phải giữ cho nó được an toàn."

    "Dẫu sao thì đại tá Ross cũng không có vẻ là người sẵn sàng xá tội cho kẻ khác."

    "Vấn đề không phải là đại tá Ross.

    Tôi làm theo những cách riêng của mình và nói nhiều hay ít là do tôi chọn.

    Đó là lợi thế của kẻ phi chính quy.

    Tôi không biết anh có để ý không, Watson ạ, nhưng trong mắt tôi thì cung cách của đại tá chẳng hơn gì một tay kị mã tầm thường.

    Tôi muốn để ông ta chịu thiệt chút chơi.

    Đừng nói gì với ông ta về con ngựa nhé."

    "Chắc chắn là không rồi, nếu chưa được anh cho phép."

    "Và tất nhiên đây chỉ là một chuyện nhỏ so với vấn đề ai đã thủ tiêu John Straker."

    "Và anh sẽ dồn hết sức vào việc đó?"

    "Ngược lại, cả hai chúng ta sẽ đi chuyến tàu đêm quay về London."

    Tôi sững sờ trước câu trả lời của bạn mình.

    Chúng tôi chỉ mới đến Devonshire có vài giờ vậy mà anh đã bỏ ngang cuộc điều tra mà anh vừa bắt đầu một cách tài tình đến nỗi tôi chẳng hiểu chút gì.

    Mãi cho đến khi trở về nhà của người huấn luyện ngựa tôi vẫn chẳng moi được ở anh thêm một tiếng nào.

    Đại tá và viên thanh tra đang đợi chúng tôi ở phòng khách.

    "Bạn tôi và tôi sẽ trở về London bằng chuyến tàu tốc hành nửa đêm", Holmes thông báo.

    "Chúng tôi đã được hít thở đôi chút bầu không khí quyến rũ của Dartmoor các ông."

    Viên thanh tra mở to mắt và ông đại tá thì nhếch môi khinh miệt.

    "Vậy là ông đã hết hi vọng bắt giữ hung thủ giết hại Straker tội nghiệp rồi sao", ông ta nói.

    Holmes nhún vai.

    "Trong vụ này có một số khó khăn thực sự", anh nói.

    "Tuy nhiên, tôi đầy hi vọng là con ngựa của ông sẽ dự giải vào hôm thứ ba và mong là ông hãy cho nài chuẩn bị sẵn sàng.

    Tôi có thể xin một tấm hình của ông John Straker được không?"

    Viên thanh tra lấy từ trong một chiếc phong bì ra một tấm ảnh và trao cho bạn tôi.

    "Ông Gregory thân mến, ông đã đoán trước mọi yêu cầu của tôi.

    Các ông vui lòng ngồi đây đợi tôi một chút, tôi muốn gặp cô hầu để hỏi một câu."

    "Tôi buộc lòng phải nói rằng tôi khá thất vọng về vị cố vấn đến từ London của chúng ta", đại tá Ross nói toạc ra khi bạn tôi rời khỏi phòng.

    "Tôi chẳng thấy tiến triển gì từ khi ông ta đến đây."

    "Ít ra thì anh ấy cũng đảm bảo là con ngựa của ông sẽ dự giải", tôi lên tiếng.

    "Phải, tôi được một lời đảm bảo", ông đại tá nhún vai nói.

    "Nhưng tôi muốn có con ngựa cơ."

    Tôi sắp sửa thốt ra vài câu bênh vực bạn mình thì anh đã lại bước vào phòng.

    "Giờ thì, thưa các ông", anh nói, "tôi đã sẵn sàng trở lại Tavistock."

    Một cậu bé chăm ngựa mở cửa khi chúng tôi bước vào xe.

    Dường như một ý tưởng đột nhiên nảy ra trong đầu Holmes vì anh nghiêng người ra trước và chạm vào tay áo cậu bé.

    "Tôi thấy trong bãi quây ngựa có vài con cừu", anh nói.

    "Ai chăm sóc chúng thế?"

    "Là tôi, thưa ông."

    "Cậu có thấy gần đây chúng có gì không ổn không?"

    "Dạ, thưa ông, cũng chẳng đáng kể, nhưng có ba con bị què."

    Tôi có thể thấy là Holmes hết sức hài lòng vì anh cười thầm và xoa hai tay vào nhau.

    "Ăn may thôi, Watson ạ, tôi chỉ hỏi hú họa ấy mà."

    Anh nói và bấm tay tôi.

    "Này Gregory, xin phép được lưu ý ông về chuyện kì lạ xảy ra với đàn cừu.

    Ta đi thôi, xà ích!"

    Đại tá Ross vẫn tỏ vẻ coi thường năng lực của bạn tôi ra mặt nhưng nhìn mặt viên thanh tra có vẻ rất chú ý.

    "Ông cho rằng điều đó quan trọng sao?"

    Ông ta hỏi.

    "Vô cùng quan trọng."

    "Còn điểm nào khác mà ông muốn tôi phải lưu ý nữa?"

    "Biểu hiện bất thường của con chó vào đêm đó."

    "Con chó chẳng có biểu hiện gì trong đêm đó cả."

    "Thế mới là biểu hiện bất thường", Sherlock Holmes nhận xét.

    ***

    Bốn ngày sau, Holmes và tôi lại đi tàu tới Winchester để xem cuộc đua ngựa tranh giải Wessex.

    Như đã hẹn, đại tá Ross gặp chúng tôi ở bên ngoài sân ga và đưa chúng tôi đến trường đua ở ngoài thị trấn bằng cỗ xe tứ mã của mình.

    Mặt ông ta trầm trọng và thái độ cực kì lạnh lùng.

    "Tôi vẫn chẳng thấy tăm hơi con ngựa đâu cả," ông ta nói.

    "Tôi nghĩ ông sẽ nhận ra khi nhìn thấy nó chứ?"

    Holmes hỏi.

    Ông đại tá giận dữ.

    "Tôi đã ở trường đua hai mươi năm nay mà chưa bao giờ bị ai hỏi thế," ông ta nói.

    "Đến một đứa trẻ con cũng nhận ra được con Ngọn Lửa Bạc với vệt trắng trên trán và cái chân trước bên phải có đốm."

    "Tỉ lệ cá cược thế nào rồi?"

    "Ừm, chuyện đó mới là kì lạ.

    Hôm qua thì ông có thể đặt mười lăm ăn một nhưng tỉ lệ cứ sụt giảm, cho đến giờ thì khó mà được ba ăn một."

    "Hừm!"

    Holmes nói.

    "Ai đó đã biết được điều gì rồi, rõ là thế."

    Khi cỗ xe tứ mã dừng lại ở khu đất quây rào gần khán đài, tôi liếc qua tờ chương trình để xem tên những con ngựa dự thi.

    GIẢI ĐĨA BẠC WESSEX:

    Cược mất nửa 50 sovereign, cộng thêm 1.000 sovereign nếu ngựa từ bốn đến năm tuổi.

    Hạng nhì, 300 bảng.

    Hạng ba 200 bảng.

    Vòng đua mới (hai cây số rưỡi).

    1.

    Con Ô Mã của ông Health Newton (nài mũ đỏ, áo nâu).

    2.

    Con Võ Sĩ của đại tá Wardlaw (nài mũ hồng áo xanh và đen).

    3.

    Con Desborough của huân tước Backwater (nài mũ vàng và áo có tay).

    4.

    Con Ngọn Lửa Bạc của đại tá Ross (nài mũ đen, áo đỏ).

    5.

    Con Diên Vĩ của công tước Balmoral (nài áo sọc vàng đen).

    6.

    Con Thợ Bào của huân tước Singleford (nài mũ tím, tay áo đen).

    "Chúng tôi đã xóa tên con kia và đặt hết hi vọng vào những gì ông nói", đại tá nói.

    "Sao, cái gì kia?

    Con Ngọn Lửa Bạc có cơ về nhất sao?"

    "Năm ăn bốn cho Ngọn Lửa Bạc!"

    Dân cá ngựa reo hò.

    "Năm ăn bốn cho Ngọn Lửa Bạc!

    Mười lăm ăn năm cho Desborough!

    Năm ăn bốn ngay tại trường đua!"

    "Số đã được lên rồi kìa", tôi kêu to.

    "Có tất cả sáu số."

    "Tất cả sáu số?

    Thế thì con ngựa của tôi cũng sắp sửa đua", ông đại tá bối rối kêu lên.

    "Nhưng tôi có thấy nó ở chỗ nào đâu.

    Tôi chưa thấy màu áo nhà mình đi qua."

    "Mới có năm con đi qua thôi.

    Con kia chắc là nó rồi."

    Trong khi tôi nói thì một con ngựa cường tráng màu nâu đỏ lao ra từ khu cân nài và chạy nước kiệu ngang qua chỗ chúng tôi, trên lưng là nài ngựa hai màu đen đỏ nổi tiếng của đại tá.

    "Đó không phải ngựa của tôi", vị chủ nhân la lên.

    "Con vật này chẳng hề có đến một sợi lông trắng.

    Ông giở trò gì đây, ông Holmes?"

    "Từ từ đã nào, để xem nó chạy ra sao đã", bạn tôi điềm tĩnh nói.

    Anh nhìn chăm chú qua chiếc ống nhòm của tôi đến vài phút.

    "Xuất sắc!

    Xuất phát tuyệt vời!"

    Thình lình anh reo lên.

    "Chúng đây rồi, sắp vòng qua chỗ ngoặt!"

    Từ chiếc xe tứ mã, chúng tôi có góc nhìn rất tốt khi lũ ngựa chạy đến khúc thẳng của đường đua.

    Sáu con phi sát bên nhau đến nỗi một tấm thảm có thể phủ lên chúng, nhưng ở nửa khúc đầu thì màu áo vàng của trại Capleton dẫn đầu.

    Tuy nhiên, trước khi chúng chạy qua chỗ chúng tôi thì bước chạy của còn Desborough đuối dần và con ngựa của đại tá bứt lên với một quãng nước rút, đã vượt qua cột đích trước đối thủ của nó đến tận sáu thân ngựa, con Diên Vĩ của công tước Balmoral về hạng ba.

    "Thôi dù thế nào thì tôi cũng thắng", ông đại tá hổn hển nói và đưa tay vuốt cặp mắt.

    "Tôi phải thú nhận rằng tôi chẳng hiểu gì hết.

    Ông giữ bí mật thế là đủ lâu rồi chứ, ông Holmes?"

    "Chắc chắn rồi, đại tá, ông sẽ biết hết mọi chuyện.

    Tất cả chúng ta hãy cùng đi quanh và xem con ngựa.

    Nó đây rồi", anh nói tiếp, khi chúng tôi đi vào bãi cân nài là nơi dành riêng cho chủ ngựa và bạn bè.

    "Ông chỉ việc dùng rượu để rửa mặt và chân của nó là sẽ thấy nó chính là con ngựa Ngọn Lửa Bạc thân quen xưa nay."

    "Ông làm tôi kinh ngạc quá đấy."

    "Tôi đã tìm ra nó trong tay một kẻ lừa bịp và mạn phép cho nó thi đấu dưới bộ dạng như thế."

    "Ông thám tử thân mến, ông đã lập nên kì công.

    Con ngựa trông rất khỏe mạnh.

    Nó chưa bao giờ chạy hay đến thế.

    Tôi nợ ông hàng ngàn lời xin lỗi vì đã nghi ngờ năng lực của ông.

    Ông đã giúp cho tôi một việc rất lớn là tìm lại được con ngựa, thế nhưng ông sẽ làm cho tôi một việc lớn hơn nữa nếu có thể tóm được kẻ đã sát hại John Straker."

    "Việc ấy tôi cũng đã làm rồi", Holmes bình thản nói.

    Cả ông đại tá và tôi cùng ngạc nhiên giương mắt lên nhìn anh.

    "Ông đã bắt được hắn!

    Thế hắn đâu rồi?"

    "Hắn đang ở đây."

    "Ở đây!

    Hắn đâu?"

    "Hiện giờ hắn đang đứng cùng với tôi."

    Ông đại tá đỏ mặt giận dữ.

    "Ông Holmes này, tôi công nhận rằng mình phải mang ơn ông", ông ta nói, "nhưng tôi buộc phải xem những gì ông vừa nói hoặc là một câu đùa rất dở hoặc là một sự sỉ nhục."

    Sherlock Holmes cười phá lên.

    "Tôi đảm bảo với ông rằng tôi không ám chỉ ông là tên tội phạm", anh nói.

    "Kẻ sát nhân thực sự đang đứng ngay sau lưng ông."

    Anh bước sang một bên và đặt tay lên cái cổ bóng loáng mồ hôi của con ngựa nòi.

    "Là con ngựa!"

    Cả ông đại tá và tôi cùng kêu to.

    "Phải, là nó.

    Và nó có thể được giảm án nếu tôi tuyên bố rằng nó làm thế để tự vệ và chính John Straker mới là kẻ hoàn toàn không xứng đáng với lòng tin của ông.

    Nhưng kìa, chuông đã reo rồi, tôi có thể sẽ thắng một ít trong vòng đua sắp tới nên phải hoãn lời giải thích dài dòng này đến lúc thích hợp hơn."

    ***

    Tối hôm đó chúng tôi chiếm một góc trong toa xe lửa hạng sang Pullman trên đường trở về London, và tôi nghĩ rằng đây là một chuyến đi ngắn đối với đại tá Ross cũng như với tôi vì chúng tôi đều lắng nghe bạn tôi thuật lại những sự kiện đã xảy ra tại trại huấn luyện ngựa ở Dartmoor vào đêm thứ hai và những cách thức mà anh đã dùng để làm sáng tỏ chúng.

    "Tôi phải thú nhận rằng", anh nói, "các giả thuyết tôi đặt ra dựa theo các bản tin trên báo chí đều hoàn toàn sai lầm.

    Tuy thế trong các bài báo vẫn có những chỉ dẫn tuy đã bị những chi tiết khác che khuất mất tầm quan trọng thực sự của chúng.

    Lúc đến Devonshire tôi cũng tin rằng Fitzroy Simpson chính là thủ phạm, mặc dù tôi thấy bằng chứng chống lại anh ta hoàn toàn không chặt chẽ.

    Khi ngồi trong xe, lúc chúng ta vừa đến nhà của người huấn luyện ngựa, thì tầm quan trọng lớn lao của món cà ri cừu xuất hiện trong đầu tôi.

    Hẳn các ông còn nhớ là lúc đó tôi có vẻ lơ đãng và cứ ngồi yên trong xe sau khi các ông đều đã bước xuống.

    Tôi ngạc nhiên vì sao mình lại bỏ sót một đầu mối rõ ràng đến thế."

    "Tôi thú nhận rằng", ông đại tá nói, "cho đến giờ tôi vẫn không thể hiểu được món cà ri ấy giúp chúng ta như thế nào."

    "Đó là mắt xích đầu tiên trong chuỗi lập luận của tôi.

    Bột thuốc phiện không phải hoàn toàn không có mùi vị.

    Vị của nó thì không khó chịu nhưng có thể nhận ra.

    Nếu nó được trộn với món ăn bình thường thì khi ăn vào, người ta chắc chắn sẽ phát hiện ra và có thể sẽ không ăn nữa.

    Món cà ri chính là phương tiện giúp che đậy vị thuốc phiện.

    Một người lạ như Fitzroy Simpson không thể nào sắp xếp để đưa món cà ri vào bữa ăn của gia đình người huấn luyện ngựa vào tối hôm đó, và nếu giả định rằng hắn tình cờ mang theo bột thuốc phiện vào đúng buổi tối mà tình cờ lại có món ăn có thể át đi mùi vị đó thì quả là một sự trùng hợp quái lạ.

    Điều đó là không tưởng.

    Do đó Simpson được loại ra khỏi vụ án và sự chú ý của tôi tập trung vào Straker cùng vợ ông ta, là hai người có thể chọn món cà ri cừu cho bữa ăn tối hôm đó.

    Thuốc phiện được cho vào sau khi thức ăn của cậu bé chăm ngựa đã được múc ra đĩa vì những người khác cũng ăn món đó nhưng lại không bị sao cả.

    Vậy thì trong số họ, ai là người đã tiếp cận được với đĩa thức ăn đó mà không bị cô người hầu trông thấy?

    Trước khi giải đáp câu hỏi này, tôi lại nhận thấy tầm quan trọng của việc con chó im lặng, vì một kết luận đúng đắn luôn gợi đến những kết luận đúng đắn khác.

    Vụ rắc rối của Simpson cho tôi thấy là có một con chó được nhốt trong trại ngựa, thế mà có người lẻn vào và dắt một con ngựa đi, nó vẫn không sủa váng lên để đánh thức hai cậu bé trên gác xép.

    Rõ ràng vị khách lúc nửa đêm là một người thân quen với con chó.

    Tôi đã tin rằng, hay gần như tin rằng John Straker đi xuống trại ngựa lúc nửa đêm và dẫn con Ngọn Lửa Bạc đi.

    Hắn làm thế để làm gì?

    Vì một mục đích bất lương, chắc chắn là thế, vì nếu không tại sao hắn lại đánh thuốc mê cậu bé chăm ngựa?

    Tuy nhiên, tôi vẫn không biết tại sao.

    Trước đây đã từng có những vụ mà người luyện ngựa muốn kiếm được một món tiền lớn bằng cách thông qua các trung gian đặt cược ngựa của mình thua rồi dùng thủ đoạn gian lận để con ngựa đó không thắng cuộc.

    Có khi là nài chơi gian, có khi lại dùng những mánh khóe kín đáo hơn và chắc ăn hơn.

    Trong trường hợp này thì là gì?

    Tôi hi vọng rằng những món đồ trong túi hắn có thể giúp tôi đưa ra kết luận.

    Và quả đúng như thế.

    Chắc chắn các ông chưa quên con dao kì lạ được tìm thấy trong tay người chết, một con dao mà không người bình thường nào chọn để làm vũ khí.

    Như bác sĩ Watson đã cho ta biết, đó là dao dùng trong những phẫu thuật tinh vi nhất của ngoại khoa.

    Và đêm đó nó cũng suýt được dùng cho một ca phẫu thuật tinh vi.

    Đại tá Ross, với vốn hiểu biết rộng về những vấn đề ở trường đua chắc ông biết rằng người ta có thể khía một vết vào gân ở đùi ngựa và làm bên dưới da để hoàn toàn không lưu lại chút dấu vết nào.

    Một con ngựa bị thế sẽ hơi khập khiễng giống như là bị căng cơ trong khi tập luyện hay là bị thấp khớp nhẹ chứ không ai nghĩ đến việc bị chơi bẩn."

    "Thằng đểu cáng!

    Tên vô lại!"

    Ông đại tá hét lên.

    "Đến đây ta đã có lời giải thích vì sao John Straker muốn đưa con ngựa ra trảng cỏ.

    Vì khi bị dao châm thì một con vật mạnh mẽ như thế sẽ đánh thức đến cả những người ngủ say nhất.

    Bắt buộc phải thực hiện việc đó ở ngoài trời."

    "Tôi thật là mù quáng!"

    Ông đại tá kêu lên.

    "Tất nhiên vì thế mà hắn cần đến nến và đã đánh diêm lên."

    "Rõ ràng là thế.

    Nhưng khi xem xét những đồ vật của hắn, tôi khá may mắn phát hiện ra không những cách thức phạm tội mà cả những động cơ nữa.

    Đại tá này, là một người từng trải, hẳn ông cũng biết rằng đàn ông không giữ hóa đơn của người khác trong túi.

    Với hầu hết chúng ta thì việc thanh toán các hóa đơn của bản thân đã quá đủ rồi.

    Ngay lập tức, tôi kết luận rằng Straker che giấu một cuộc sống khác và hắn có một cơ ngơi thứ hai.

    Bản chất của tờ hóa đơn cho thấy có một người phụ nữ trong vụ này và người đó có những sở thích tốn kém.

    Cho dù ông rất hào phóng với người làm thì ta cũng khó mà tin được là họ có thể mua những bộ trang phục dạo phố trị giá đến hai mươi guinea cho vợ.

    Tôi đã hỏi bà vợ của Straker về bộ y phục mà bà ta không biết và tôi đã thỏa mãn khi biết là bộ áo váy đó không bao giờ đến tay bà ta.

    Tôi ghi lại địa chỉ của thợ may đồ nữ và thấy rằng chỉ cần mang một tấm ảnh của Straker đến đó là tôi có thể dễ dàng giải quyết được nhân vật tưởng tượng Derbyshire.

    Kể từ đó mọi chuyện trở nên đơn giản.

    Straker đã dắt con ngựa đến cái hố là nơi không ai thấy được ánh đèn.

    Simpson, trong khi bỏ chạy, đã đánh rơi cà vạt và Straker nhặt lấy nó - có lẽ là định dùng nó để buộc chân con ngựa.

    Khi ở trong cái hố, hắn đứng đằng sau con ngựa và đánh diêm lên; nhưng con vật hoảng sợ vì ánh sáng lóe lên đột ngột và bản năng kì lạ của loài thú đã mách bảo rằng có một âm mưu xấu xa nhằm vào nó, thế là nó bất ngờ đá một cú và cái móng thép đã đập trọn vào trán Straker.

    Lúc đó hắn đã cởi áo mưa ra, cho dù trời đang mưa, để thực hiện công việc tinh vi ấy, thế nên khi ngã xuống lưỡi dao đã rạch một vệt dài và sâu lên đùi hắn.

    Tôi trình bày có rõ ràng không?"

    "Rất tuyệt!"

    Ông đại tá reo lên.

    "Thật tuyệt vời!

    Như thể ông có mặt ở đó vậy!"

    "Cú ghi điểm cuối cùng, tôi phải thú nhận là cực kì ăn may.

    Tôi chợt nảy ra ý nghĩ là một kẻ khôn ngoan như Straker sẽ không thực hiện việc khía gân tinh vi như thế mà không thực tập trước.

    Hắn sẽ tập dượt trên đối tượng nào?

    Mắt tôi bắt gặp đàn cừu và tôi hỏi một câu mà, ngạc nhiên làm sao, đã cho thấy phỏng đoán của tôi là chính xác.

    Khi trở về London, tôi ghé đến nhà người thợ may đồ nữ và người ấy nhận ra Straker là vị khách giàu có với cái tên Derbyshire, có bà vợ đỏm dáng rất mê những bộ y phục đắt tiền.

    Tôi không nghi ngờ gì chính người phụ nữ này đã đẩy Straker vào cảnh nợ nần ngập đầu dẫn hắn đến âm mưu khốn nạn này."

    "Ông đã giải thích tất cả chỉ trừ một điểm", ông đại tá nói to.

    "Con ngựa đã ở đâu?"

    "À, nó chạy trốn và được một người hàng xóm của ông chăm sóc.

    Về chuyện này thì tôi cho rằng ta phải bỏ qua thôi.

    Ga đầu mối Clapham kia rồi, nếu như tôi không lầm thì chưa đến mười phút nữa chúng ta sẽ tới Victoria.

    Đại tá này, nếu ông bằng lòng hút một điếu xì gà trong nhà tôi, tôi sẽ vui lòng kể lại bất cứ chi tiết nào ông quan tâm."
     
    Sherlock Holmes Toàn Tập
    BỘ MẶT VÀNG VỌT (The Yellow Face, 1893)


    BỘ MẶT VÀNG VỌT

    (The Yellow Face, 1893)

    Khi xuất bản những hồi ức dựa trên rất nhiều vụ án trong đó tài năng khác thường của Holmes đã biến chúng tôi thành người nghe, và rốt cuộc thành các diễn viên trong những tấn kịch lạ lùng, lẽ tự nhiên tôi kể về những vụ thành công nhiều hơn là thất bại.

    Đó không phải là để bảo vệ danh tiếng của anh - bởi sự thật là khi anh bị dồn vào đường cùng thì năng lực và tài ứng biến của anh càng được thể hiện một cách đáng khâm phục - mà vì khi anh thất bại thì thường là cũng không ai thành công và thế là câu chuyện sẽ bị bỏ lửng không kết thúc.

    Tuy nhiên, cũng có lúc ngay cả khi anh đã phạm sai lầm nhưng ngẫu nhiên sự thật vẫn được khám phá.

    Tôi đã ghi chép được nửa tá trường hợp như thế và trong số đó câu chuyện Nghi thức gia tộc Musgrave và chuyện mà tôi sắp kể lại đây là hai vụ điển hình.

    Sherlock Holmes hiếm khi tập luyện thể lực chỉ để mà tập.

    Hiếm có ai vượt được anh về sức mạnh cơ bắp và anh chắc chắn là một trong những võ sĩ quyền Anh mạnh nhất trong hạng cân của mình mà tôi từng biết; nhưng anh xem việc huy động thể lực không mục đích là phí phạm năng lượng và hiếm khi nào anh chịu vận động trừ khi là vì công việc.

    Khi đó anh hoàn toàn sung sức và không biết mỏi mệt là gì.

    Việc anh duy trì thể lực trong những tình huống như thế thật đáng nể, thế nhưng chế độ dinh dưỡng của anh thường vô cùng thanh đạm, còn thói quen sinh hoạt thì giản tiện đến mức gần như khổ hạnh.

    Ngoại trừ một vài lần dùng cocaine, còn lại thì hầu như anh chẳng có thói xấu nào và anh chỉ quay sang ma túy để chống chọi với sự đơn điệu những khi không có vụ án nào và báo chí thì tẻ ngắt.

    Một ngày đầu xuân, trong tâm trạng thư thái, anh cùng tôi đi dạo trong công viên, ở đó những búp xanh mong manh đang nhú trên hàng du và các chồi dẻ non còn đẫm nhựa vừa bung ra thành những chiếc lá.

    Suốt hai giờ liền chúng tôi tản bộ bên nhau, phần lớn thời gian chỉ yên lặng đúng như hai người đàn ông đã quá hiểu nhau.

    Khi chúng tôi trở về phố Baker thì đã gần 5 giờ.

    "Xin lỗi ông", cậu bé giúp việc nói khi mở cửa.

    "Có một quý ông vừa đến đây để gặp ông, thưa ông."

    Holmes đưa mắt nhìn tôi với vẻ trách móc.

    "Chúng ta đi lâu quá!"

    Anh nói.

    "Ông khách đã đi rồi à?"

    "Vâng, thưa ông."

    "Cháu có mời ông ta vào nhà không?"

    "Thưa có, ông ta có vào."

    "Thế ông ấy đợi bao lâu?"

    "Nửa tiếng, thưa ông.

    Ông ấy rất bồn chồn, cứ đi tới đi lui mãi suốt thời gian ở đây.

    Cháu đứng đợi ở bên ngoài mà vẫn nghe tiếng bước chân, ông ạ.

    Cuối cùng thì ông ấy bước ra ngoài hành lang và kêu lên: 'Ông ta có chịu về cho không?' Ông ta nói đúng như thế, thưa ông.

    Cháu mới đáp rằng, 'Ông chịu khó đợi thêm một tí nữa thôi.' 'Thế thì ta sẽ ra ngoài đợi vậy, vì ta thấy hơi khó thở', ông ấy nói thế.

    'Ta sẽ sớm quay lại.' Nói vậy rồi ông ta đi luôn và cháu có nói gì cũng không giữ được ông ta ở lại."

    "Được rồi, cháu đã làm hết sức", Holmes nói khi chúng tôi bước vào phòng.

    "Dù vậy tôi vẫn thấy khó chịu, Watson ạ.

    Tôi đang rất cần làm việc và cứ xét cái vẻ sốt ruột của người đó thì xem ra vụ này quan trọng đây.

    Ái chà!

    Cái tẩu ở trên bàn đâu phải của anh.

    Hẳn là ông ta đã để quên nó ở đây.

    Một cái tẩu cũ, đẹp bằng gỗ thạch nam với phần ống rất tốt mà giới nghiện thuốc gọi là hổ phách đây.

    Tôi thắc mắc ở London có bao nhiêu cái tẩu có đót bằng hổ phách thật?

    Có người cho rằng nếu có một con ruồi ở bên trong thì là đồ thật.

    Chắc là ông ta phải bất an lắm nên mới để quên cái tẩu mà rõ ràng là ông ta rất quý!"

    "Sao anh biết là ông ta quý nó?"

    Tôi hỏi.

    "À, tôi ước lượng giá ban đầu của nó là bảy shilling sáu xu.

    Còn bây giờ thì anh xem, nó đã được sửa lại hai chỗ, một lần ở phần gỗ và một lần ở phần hổ phách.

    Như anh thấy, mỗi chỗ vá đều được bịt bạc này chắc chắn tốn tiền hơn giá cái tẩu.

    Người này chịu sửa lại cái tẩu chứ không mua một cái mới ngang giá thì hẳn là ông ta phải quý nó lắm."

    "Còn chi tiết nào khác không?"

    Tôi hỏi vì Holmes đang xoay cái tẩu trong tay và chăm chú nhìn nó với vẻ trầm ngâm rất đặc biệt của mình.

    Anh giơ cái tẩu lên và dùng ngón tay trỏ thon dài gõ nhẹ vào nó như một giáo sư đang giảng về một cái xương.

    "Đôi khi những chiếc tẩu cũng rất đáng chú ý", anh nói.

    "Có lẽ ngoài đồng hồ và dây giày ra thì chẳng vật nào thể hiện cá tính chủ nhân bằng tẩu thuốc.

    Thế nhưng, những dấu hiệu ở đây thì không rõ nét mà cũng không quan trọng cho lắm.

    Người chủ của nó chắc chắn là một người cơ bắp rắn chắc, thuận tay trái, có hàm răng rất tốt, có thói cẩu thả và không cần tiết kiệm."

    Bạn tôi cứ thao thao tuôn ra các thông tin nhưng tôi nhận thấy anh vẫn đưa mắt nhìn sang để xem tôi có theo kịp lập luận của anh hay không.

    "Anh nghĩ rằng ông ta sống phong lưu vì sở dụng một cái tẩu trị giá bảy shilling à?"

    Tôi hỏi.

    "Đây là loại thuốc trộn Grosvenor có giá tám xu một ounce", Holmes trả lời và gõ nhẹ chút thuốc ra lòng bàn tay.

    "Ông ta có thể hút loại thuốc hảo hạng bằng nửa giá loại này, thế nghĩa là ông ta không cần tiết kiệm."

    "Còn gì nữa không?"

    "Ông ta có thói quen châm tẩu thuốc bằng đèn.

    Anh có thể thấy là nó bị ám đen ở một bên.

    Tất nhiên là nếu châm bằng diêm thì không thể có vết như thế.

    Người ta việc gì phải giữ diêm lệch về một bên chiếc tẩu?

    Nhưng anh không thể nào châm tẩu bằng đèn mà giữ cho phần bầu của nó không bị ám.

    Và tất cả đều nằm về phía bên phải của cái tẩu.

    Do đó tôi suy ra là ông ta thuận tay trái.

    Anh thử đưa cái tẩu của mình lại gần ngọn đèn và sẽ thấy một người thuận tay phải như anh thì tự nhiên sẽ đưa bên trái cái tẩu vào sát ngọn lửa.

    Có thể đôi khi anh làm ngược lại nhưng điều đó là không thường xuyên.

    Cái tẩu này luôn được cầm về một bên như thế.

    Còn nữa, ông ta thường cắn vào đót hổ phách.

    Để làm được như thế phải là một người khỏe mạnh, cơ bắp rắn chắc và có hàm răng tốt.

    Nhưng nếu như tôi không lầm thì đã nghe thấy tiếng ông ta đang bước lên cầu thang, vậy là ta sắp được tìm hiểu điều gì đó thú vị hơn chiếc tẩu thuốc của ông ta."

    Ngay sau đó cánh cửa phòng mở ra và một người đàn ông trẻ tuổi cao ráo bước vào.

    Anh ta ăn mặc tề chỉnh nhưng khá giản dị trong bộ comlê xám đậm và cầm mũ dạ rộng vành màu nâu.

    Tôi ước chừng anh ta khoảng ba mươi tuổi, dù thực tế, anh ta lớn tuổi hơn.

    "Xin các ông thứ lỗi", anh ta nói với vẻ hơi ngượng ngập, "lẽ ra tôi phải gõ cửa.

    Vâng, tất nhiên là tôi nên gõ cửa.

    Vấn đề là tôi hơi lo lắng và mong các ông hãy hiểu rằng đó là nguyên nhân."

    Anh ta đưa tay vuốt trán như một người đang bị choáng váng rồi buông phịch người xuống ghế.

    "Tôi có thể thấy là ông đã mất ngủ một, hai đêm rồi", Holmes nói với vẻ ân cần, dễ chịu.

    "Điều đó làm cho thần kinh của ta mệt mỏi hơn là công việc và thậm chí còn hơn cả vui thú.

    Tôi có thể giúp được gì cho ông?"

    "Tôi cần đến lời khuyên của ông, thưa ông.

    Tôi không biết mình nên làm gì và dường như đời tôi đã tan nát."

    "Ông muốn thuê tôi làm thám tử tư vấn chăng?"

    "Không chỉ thế.

    Tôi muốn được một người khôn ngoan sáng suốt, một người từng trải như ông cho ý kiến.

    Tôi muốn biết tiếp theo mình nên làm gì.

    Tôi cầu Chúa rằng ông có thể chỉ bảo tôi."

    Anh ta nói từng đoạn ngắn, đanh, đứt quãng, và tôi có cảm giác là nội việc nói ra cũng rất đau đớn đối với người đàn ông này và suốt từ đầu đến giờ anh ta đã phải dùng ý chí để áp chế mong muốn của mình.

    "Đây là chuyện rất tế nhị", anh ta nói.

    "Người ta thường không muốn đem những việc trong nhà ra kể cho người lạ nghe.

    Thật là tồi tệ khi phải bàn luận về hành vi của vợ mình với hai người đàn ông mà trước đây tôi chưa hề gặp.

    Phải làm việc đó thì thật kinh khủng.

    Nhưng tôi đã chịu đựng hết nổi rồi và cần được một lời khuyên."

    "Ông Grant Munro thân mến", Holmes mở lời.

    Vị khách của chúng tôi bật dậy khỏi ghế.

    "Cái gì!"

    Anh ta kêu lên, "ông biết tên tôi à?"

    "Nếu ông muốn giữ kín lai lịch", Holmes mỉm cười nói, "thì tôi nghĩ ông không nên viết tên mình lên lớp vải lót mũ hoặc là nên xoay chóp mũ về phía người đang nói chuyện cùng.

    Tôi định nói rằng trong căn phòng này bạn tôi và tôi đã được nghe kể biết bao bí mật lạ lùng và chúng tôi đã có may mắn đem lại sự bình yên cho nhiều tâm hồn phiền muộn.

    Tôi tin rằng chúng tôi cũng có thể làm được như thế cho ông.

    Tôi xin phép nhắc ông rằng thời gian rất là quý giá, mong ông hãy sớm cho tôi biết các điểm chính trong câu chuyện của ông, được chứ?"

    Vị khách của chúng tôi lại đưa tay vuốt trán như thể nói ra là việc vô cùng khó khăn đối với anh ta.

    Từ các cử chỉ và biểu hiện tôi có thể thấy rằng anh ta là một người kín đáo, tự chủ và có đôi chút kiêu hãnh, thường che giấu những vết thương lòng hơn là bộc lộ chúng ra.

    Rồi đột nhiên, anh ta vung mạnh bàn tay nắm chặt như vứt bỏ hết sự dè dặt và bắt đầu kể.

    "Sự việc là thế này, thưa ông Holmes", anh ta nói.

    "Tôi đã lập gia đình được ba năm.

    Trong thời gian đó, tôi và vợ tôi yêu nhau say đắm và sống bên nhau thật hạnh phúc như những đôi vợ chồng mới cưới khác.

    Chúng tôi không hề có một bất đồng nào cả dù là trong ý nghĩ hay lời nói và cả hành động.

    Vậy mà kể từ thứ hai vừa rồi, đột nhiên lại xuất hiện một hàng rào ngăn cách giữa hai chúng tôi và tôi nhận thấy có điều gì đó trong cuộc đời và trong suy nghĩ của nàng mà tôi chẳng biết gì cả, tựa như nàng là một phụ nữ đi ngang qua tôi ngoài đường.

    Chúng tôi thành ra xa cách và tôi muốn biết tại sao.

    Tôi muốn nhấn mạnh với ông một điều trước khi tôi kể tiếp, ông Holmes ạ.

    Đó là Effie yêu tôi.

    Xin đừng nghi ngờ điều đó.

    Nàng yêu tôi bằng trọn vẹn con tim lẫn tâm hồn và chưa bao giờ tình cảm ấy sâu đậm như hiện tại.

    Tôi biết điều đó.

    Tôi cảm nhận được nó.

    Tôi không muốn tranh luận về điều đó.

    Một người đàn ông có thể dễ dàng biết là mình đang được một người phụ nữ thương yêu.

    Thế nhưng cái điều bí mật đó lại chắn ngay chính giữa và chúng tôi không bao giờ có thể quay lại như cũ trừ phi làm sáng tỏ được điều ấy!"

    "Xin vui lòng cho tôi biết chuyện, ông Munro", Holmes nói với vẻ hơi sốt ruột.

    "Tôi sẽ kể cho ông những gì tôi biết về đời tư của Effie.

    Khi tôi gặp nàng lần đầu tiên thì nàng đã là một góa phụ dù hãy còn rất trẻ - mới hai mươi lăm.

    Lúc đó nàng là bà Hebron.

    Nàng đến nước Mỹ khi hãy còn nhỏ và sống ở thành phố Atlanta là nơi mà nàng đã cưới ông Hebron, một luật sư có sự nghiệp vững vàng.

    Họ có một đứa con nhưng dịch sốt vàng da đã bùng phát trong vùng và cả người chồng lẫn đứa con đều chết vì căn bệnh ấy.

    Tôi đã thấy giấy chứng tử của ông ta.

    Sự kiện đó khiến cho nàng kinh sợ nước Mỹ và trở về ở cùng với một bà dì không chồng không con tại Pinner trong vùng Middlesex.

    Nhân tiện tôi có thể nói là chồng nàng đã để lại cho nàng một cuộc sống dư dật và nàng có một số vốn vào khoảng bốn ngàn năm trăm bảng mà ông ta đã đầu tư rất khôn khéo khiến cho nó sinh lợi khoảng bảy phần trăm.

    Lúc chúng tôi gặp nhau ở Pinner thì nàng chỉ mới sống ở đó được sáu tháng; chúng tôi yêu nhau và vài tuần sau thì làm đám cưới.

    Tôi là một thương nhân buôn hoa bia và vì tôi có thu nhập bảy đến tám trăm bảng, chúng tôi sống khá phong lưu và thuê một căn biệt thự đẹp đẽ ở Norbury với giá tám mươi bảng mỗi năm.

    Nơi chúng tôi ở rất đậm màu thôn dã dù khá gần thành phố.

    Có một quán trọ và hai ngôi nhà nữa nằm phía trên nhà chúng tôi một chút, và một căn nhà thôn dã nằm đơn độc ở phía bên kia cánh đồng đối diện với nhà chúng tôi, ngoài ra chẳng còn nhà cửa nào khác cho đến khi đi được nửa quãng đường tới nhà ga.

    Công việc khiến tôi phải lên thành phố vào vài mùa nhất định trong năm nhưng đến mùa hè thì tôi rảnh rỗi hơn và những lúc đó hai vợ chồng tôi sống hạnh phúc như mộng trong ngôi nhà thôn quê của mình.

    Xin khẳng định với ông rằng chẳng hề có uẩn khúc gì giữa hai chúng tôi cho đến khi sự việc đáng nguyền rủa đó xảy ra.

    Có một chuyện tôi phải nói cho ông biết trước khi kể tiếp.

    Khi chúng tôi cưới nhau, vợ tôi chuyển giao toàn bộ tài sản của nàng cho tôi - điều đó có phần ngược lại với ý muốn của tôi vì tôi sợ là tình hình sẽ rất khó khăn nếu công việc kinh doanh của tôi thất bại.

    Thế nhưng, nàng muốn thế và ý định đó đã được thực hiện.

    Thế rồi cách đây sáu tuần nàng nói:

    'Jack này, khi anh nhận tiền của em, anh có nói rằng khi nào em cần bao nhiêu tiền thì cứ việc báo anh biết.'

    'Chắc chắn rồi', tôi đáp.

    'Tất cả đều là của em mà.'

    'Vậy thì', nàng nói, 'em cần một trăm bảng.'

    Tôi hơi ngạc nhiên về số tiền đó vì tôi cứ nghĩ đơn giản chỉ là mua một bộ áo váy mới hay thứ gì đó mà nàng mong muốn.

    'Để làm gì vậy?' Tôi hỏi.

    'Ồ', nàng trả lời với vẻ khôi hài, 'anh đã bảo em rằng anh chỉ là ông chủ nhà băng của em mà nhà băng thì đâu bao giờ lại hỏi.'

    'Nếu em muốn thì tất nhiên là em sẽ nhận được tiền', tôi nói.

    'Vâng, em thực sự muốn mà.'

    'Và em không nói cho anh biết em cần số tiền đó để làm gì?'

    'Một ngày nào đó, có lẽ thế, nhưng không phải lúc này, Jack ạ.'

    Vậy là tôi đành phải chấp nhận dù đó là lần đầu tiên có một bí mật xuất hiện giữa hai chúng tôi.

    Tôi viết cho nàng một tấm chi phiếu và cũng không bao giờ nghĩ về chuyện đó nữa.

    Cũng có thể là không có mối liên quan nào giữa việc đó với điều sẽ xảy ra về sau nhưng tôi cho rằng cứ nên thuật lại thì hơn.

    Như tôi vừa kể với ông rằng có một căn nhà thôn dã nằm không xa nhà của chúng tôi.

    Chỉ có một cánh đồng giữa nhà tôi và căn nhà đó nhưng để đến được đó thì phải đi ra ngoài đường rồi rẽ vào một lối mòn.

    Ngay phía sau căn nhà đó là những lùm linh sam rất đẹp và tôi thường đi dạo qua đó vì cây cối luôn gần gũi thân thiết với ta.

    Căn nhà đã bị bỏ trống suốt tám tháng nay và thật đáng tiếc vì nó là một căn nhà hai tầng rất đẹp với hàng hiên kiểu cổ và cành lá kim ngân bao quanh.

    Đã nhiều lần tôi đứng ngắm và nghĩ thầm căn nhà này sẽ là một tổ ấm xinh xắn.

    Thế rồi, chiều thứ hai vừa rồi khi tôi đi dạo tới đó thì gặp một chiếc xe tải trống chạy ngược lại trên con đường mòn và thấy một đống thảm cùng với đồ đạc nằm trên bãi cỏ cạnh hiên nhà.

    Rõ ràng là căn nhà đã có người thuê.

    Tôi bước ngang qua và tự hỏi không biết những người mới đến sống cạnh chúng tôi là người thế nào.

    Và khi tôi ngó vào thì đột nhiên nhận ra có một khuôn mặt đang nhìn tôi từ một trong những ô cửa sổ ở tầng trên.

    Tôi không trông rõ khuôn mặt ấy, ông Holmes ạ, nhưng dường như nó gây cho tôi một cảm giác ớn lạnh dọc sống lưng.

    Vì tôi đứng hơi xa nên không nhìn ra những đường nét của bộ mặt đó nhưng nó có gì không tự nhiên và phi nhân tính.

    Điều đó gây ấn tượng mạnh cho tôi nên tôi bước ngay tới để nhìn gần hơn kẻ đang theo dõi mình.

    Nhưng khi tôi dợm bước tới thì bộ mặt đó đột nhiên biến mất, nhanh đến nỗi như bị ai đó kéo mạnh vào trong bóng tối của căn phòng.

    Tôi đứng đó đến năm phút để suy nghĩ về sự việc và cố gắng phân tích cảm giác của mình.

    Tôi không thể xác định được bộ mặt đó là của đàn ông hay đàn bà.

    Nó cách tôi quá xa để nhận ra.

    Nhưng chính màu sắc của khuôn mặt mới gây cho tôi ấn tượng mạnh nhất.

    Nó vàng vọt thâm ngoét với những đường nét bất động và đơ cứng trông cực kì quái đản.

    Lúc đó tôi hoang mang đến nỗi quyết định tìm hiểu thêm đôi chút về những người hàng xóm mới đến ở ngôi nhà này.

    Tôi bước lại gần và gõ cửa, ngay lập tức một người phụ nữ cao gầy có vẻ mặt cay nghiệt, gớm ghiếc mở cửa.

    'Ông cần gì?' Bà ta hỏi, giọng phương Bắc.

    'Tôi là hàng xóm của bà, ở phía đằng kia,' tôi đáp và hất đầu về phía nhà mình.

    'Tôi thấy bà mới dọn đến nên nghĩ có thể giúp được gì chăng...'

    'À, chúng tôi sẽ nhờ đến ông khi nào cần', bà ta nói thế rồi đóng sầm cửa trước mặt tôi.

    Cảm thấy bực mình vì bị từ chối một cách thô lỗ, tôi quay lưng đi về nhà.

    Suốt buổi tối hôm đó dù cho tôi cố gắng nghĩ đến những chuyện khác nhưng đầu óc tôi vẫn cứ quay về bóng ma bên cửa sổ và thái độ thô lỗ của người đàn bà đó.

    Tôi quyết định không nói gì với vợ mình về bộ mặt đó vì nàng hay lo lắng, lại rất dễ bị căng thẳng và tôi không muốn nàng phải chia sẻ với tôi cảm giác khó chịu này.

    Tuy nhiên trước khi đi ngủ, tôi cũng kể cho nàng nghe là căn nhà thôn dã đó giờ đã có người ở, nhưng nàng không nói gì.

    Bình thường thì tôi ngủ rất say.

    Trong gia đình mọi người vẫn đùa là không chuyện gì có thể đánh thức tôi dậy trong đêm.

    Song thế nào mà trong cái đêm đặc biệt đó, không biết có phải do chút xốn xang vì chuyện buổi chiều hay không mà tôi ngủ tỉnh hơn bình thường rất nhiều.

    Trong khi đang mơ màng thì tôi lờ mờ nhận thấy có điều gì đó đang diễn ra trong phòng, rồi dần dần tôi nhận ra vợ mình đã mặc quần áo xong, đang khoác vội chiếc áo choàng và đội mũ.

    Môi tôi vừa hé ra định lầm bầm vài tiếng ngái ngủ biểu lộ sự ngạc nhiên hay phàn nàn về sự ăn vận không hợp lúc này, thì đột nhiên đôi mắt mở hé của tôi dừng lại trên khuôn mặt nàng đang được ngọn nến chiếu sáng và sự ngạc nhiên khiến tôi lặng người đi.

    Nàng có những biểu hiện mà từ trước đến giờ tôi chưa từng thấy, thậm chí tôi còn nghĩ là không thể có ở nàng.

    Trông nàng tái nhợt và thở dồn dập, mắt liếc về phía giường trong khi thắt đai chiếc áo choàng để xem liệu có đánh thức tôi dậy.

    Rồi khi đã chắc là tôi vẫn đang ngủ, nàng lặng lẽ lẻn ra khỏi phòng và ngay sau đó tôi nghe tiếng cót két chói tai chỉ có thể được phát ra từ bản lề của cánh cửa trước.

    Tôi ngồi dậy và gõ tay vào thành giường để chắc rằng mình tỉnh chứ không mơ.

    Sau đó tôi lấy đồng hồ từ dưới gối ra.

    Lúc đó là 3 giờ sáng.

    Vào giờ này thì vợ tôi có thể làm cái quỷ gì ngoài đường chứ?

    Tôi ngồi đó khoảng hai mươi phút suy nghĩ nát óc về việc này và cố gắng tìm ra một lời giải thích hợp lí.

    Càng nghĩ tôi càng thấy việc đó kì lạ và phi lí.

    Trong khi vẫn còn đang bối rối về vấn đề đó thì tôi nghe tiếng cánh cửa nhẹ nhàng khép lại và tiếng chân nàng trên cầu thang.

    'Nãy giờ em đi đâu thế, Effie?' Tôi hỏi khi nàng bước vào.

    Nàng giật nẩy người, kêu lên hốt hoảng khi nghe tôi hỏi và phản ứng đó còn làm cho tôi buồn phiền hơn cả vì nó toát lên vẻ tội lỗi khôn tả.

    Vợ tôi vốn luôn thành thật và cởi mở, vậy mà giờ đây nàng lại lén lút đi vào phòng mình, thảng thốt kêu lên và co rúm lại khi chồng nàng hỏi chuyện, những điều đó làm tôi rùng mình ớn lạnh.

    'Anh đã thức rồi à, Jack?' Nàng nói to kèm tiếng cười mang vẻ lo lắng.

    'Vậy mà em cứ tưởng là không điều gì có thể làm anh thức giấc.'

    'Em đã đi đâu?' Tôi hỏi, dằn giọng hơn.

    'Em không lấy làm lạ khi thấy anh ngạc nhiên', nàng nói và tôi có thể thấy mấy ngón tay nàng run rẩy khi cởi đai áo choàng.

    'Tại sao, vì em nhớ là từ trước đến giờ mình chưa bao giờ làm thế.

    Sự thật là em cảm thấy khó thở và rất thèm được hít chút không khí trong lành.

    Em thật sự nghĩ rằng mình sẽ ngất xỉu nếu không ra ngoài.

    Em đứng ở cửa vài phút và giờ thì em đã thấy khỏe lại.'

    Trong suốt thời gian kể tôi nghe chuyện đó nàng chẳng hề nhìn về phía tôi và giọng nói của nàng hoàn toàn khác với bình thường.

    Tôi thấy rõ những gì nàng nói đều là giả dối.

    Tôi không trả lời mà chỉ quay mặt vào tường, đau đớn trong lòng với hàng ngàn nỗi nghi ngờ giằng xé.

    Vợ tôi đang giấu tôi chuyên gì?

    Nàng đã đến đâu trong chuyến đi dạo kì lạ vừa rồi?

    Tôi cảm thấy rằng chỉ đến khi biết được điều đó thì tâm hồn tôi mới được bình yên, thế nhưng tôi lại lưỡng lự không muốn hỏi nàng nữa sau khi đã nghe lời giải thích dối trá của nàng.

    Suốt đêm đó tôi cứ trở mình trằn trọc nghĩ ra hết giả thuyết này đến lời giải thích nọ mà chẳng đâu vào đâu.

    Ngày hôm đó lẽ ra tôi phải lên khu City nhưng vì tâm trí tôi rồi bời nên chẳng còn đầu óc nào tập trung cho công việc.

    Vợ tôi có vẻ cũng lo lắng như tôi và qua những ánh mắt dò hỏi mà nàng cứ hướng về mình, tôi có thể nhận thấy rằng nàng cũng hiểu là tôi không tin vào lời giải thích và nàng không còn biết phải làm gì.

    Suốt bữa điểm tâm, chúng tôi gần như không nói với nhau lời nào và ăn xong tôi liền bước ra ngoài đi dạo với hi vọng là không khí mát mẻ buổi sáng sẽ giúp tôi nghĩ ra vấn đề.

    Tôi đi đến tận khu Crystal Place và ở đó một giờ đồng hồ rồi trở lại Norbury lúc 1 giờ trưa.

    Tình cờ tôi lại đi ngang qua căn nhà thôn dã và dừng lại một lúc để nhìn lên mấy khung cửa sổ để xem có thoáng trông thấy bộ mặt lạ lùng đã nhìn tôi hôm qua hay không.

    Khi tôi đứng đó, thì, ông Holmes ạ, ông hãy thử hình dung tôi ngạc nhiên biết bao khi bất chợt cánh cửa bật mở và tôi trông thấy vợ mình từ trong đó bước ra.

    Tôi lặng người vì kinh ngạc khi nhìn thấy nàng; nhưng cảm xúc của tôi chẳng là gì so với những gì bộc lộ trên mặt nàng khi bốn mắt chúng tôi gặp nhau.

    Trong một khoảnh khắc có vẻ như nàng muốn lùi trở lại vào bên trong căn nhà; và rồi nhận ra là có trốn cũng vô ích, nàng tiến lên phía trước với một khuôn mặt trắng bệch và đôi mắt khiếp đảm tương phản với nụ cười trên môi.

    'À, Jack,' nàng nói, 'em vừa mới vào nhà này để xem có thể giúp được gì cho những người hàng xóm mới của ta không.

    Sao anh lại nhìn em như thế hả Jack?

    Anh không giận em đấy chứ?'

    'Vậy là,' tôi nói, 'đây là nơi cô đã đến tối qua.'

    'Anh nói gì thế?' Nàng kêu lên.

    'Cô đã đến đây.

    Tôi dám chắc như thế.

    Những người này là ai mà cô lại thăm viếng vào cái giờ kì cục thế?'

    'Lúc trước em chưa hề đến đây.'

    'Làm sao cô có thể nói với tôi cái điều mà chính cô cũng biết là dối trá?' Tôi hét to.

    'Chính giọng nói của cô cũng thay đổi khi cô nói.

    Từ bao giờ cô bắt đầu giấu giếm bí mật với tôi vậy?

    Tôi sẽ đi vào căn nhà này và sẽ điều tra cho tường tận vấn đề.'

    'Không, đừng mà anh Jack, vì Chúa!'

    Nàng nói gấp gáp, vẻ xúc động không kìm nén được.

    Rồi, khi tôi bước lại gần cánh cửa, nàng nắm lấy tay áo tôi và kéo tôi ngược trở lại với sức mạnh bất ngờ.

    'Em xin anh đừng làm thế, Jack', nàng khóc nức nở.

    'Em thề rằng một ngày nào đó sẽ kể hết cho anh nghe nhưng nếu anh bước vào ngôi nhà này bây giờ thì chỉ sinh ra đau khổ mà thôi.' Sau đó, mặc cho tôi cố sức đẩy nàng ra, nàng vẫn bám chặt lấy tôi van xin điên cuồng.

    'Hãy tin em, Jack!' Nàng khóc to.

    'Hãy tin em một lần này thôi.

    Anh sẽ không bao giờ phải hối tiếc vì điều đó.

    Anh biết là em không giấu anh điều gì trừ phi là có lợi cho anh.

    Cả cuộc đời chúng ta phụ thuộc vào việc này.

    Nếu anh đi về nhà cùng em thì mọi chuyện đều tốt đẹp.

    Nếu anh nhất quyết xông vào ngôi nhà này thì giữa chúng ta chẳng còn gì nữa.'

    Trong thái độ của nàng có một vẻ thành khẩn pha lẫn tuyệt vọng khiến cho lời nói của nàng đã làm tôi dừng lại và tôi phân vân đứng trước cửa.

    'Tôi sẽ tin cô với một điều kiện, và chỉ một điều kiện duy nhất', cuối cùng tôi lên tiếng.

    'Đó là chuyện này phải kết thúc ngay từ bây giờ.

    Cô cứ giữ bí mật của mình nhưng phải hứa với tôi là sẽ không còn những chuyến thăm viếng nửa đêm, không làm gì giấu giếm tôi.

    Tôi sẵn lòng quên đi những gì đã xảy ra nếu cô hứa rằng sau này chúng không tái diễn nữa.'

    'Em biết chắc rằng anh sẽ tin em mà,' nàng kêu lên và thở phào nhẹ nhõm.

    'Mọi chuyện sẽ như anh mong muốn.

    Ta đi nào, đi về nhà thôi.'

    Nàng nắm lấy tay áo dẫn tôi ra khỏi ngôi nhà đó.

    Khi chúng tôi bước đi, tôi liếc nhìn lại và trông thấy bộ mặt vàng vọt xám ngoét như chết đó đang quan sát chúng tôi qua khung cửa sổ tầng trên.

    Liệu có mối liên hệ nào giữa con người ấy và vợ tôi hay không?

    Hay người đàn bà thô lỗ cộc cằn mà tôi nhìn thấy hôm trước có liên quan thế nào với nàng?

    Đó là một vấn đề lạ lùng và tôi biết rằng chừng nào chưa giải quyết được nó thì đầu óc tôi chẳng thể thoải mái.

    Suốt hai ngày sau đó tôi đều ở nhà và có vẻ như vợ tôi chịu tuân thủ lời cam kết vì tôi thấy nàng không hề bước ra khỏi nhà.

    Thế nhưng, đến ngày thứ ba thì tôi có nhiều bằng chứng cho thấy lời hứa trang trọng hôm trước không đủ sức giữ nàng thoát được ảnh hưởng của bí mật nọ nên nó đã kéo nàng ra khỏi người chồng và cam kết của mình.

    Hôm đó tôi đi lên thành phố nhưng quay trở lại bằng chuyến tàu lúc 2 giờ 40 thay vì chuyến 3 giờ 36 như thường lệ.

    Khi tôi bước vào nhà thì chị người hầu chạy vào sảnh với vẻ luống cuống.

    'Bà chủ đâu rồi?' Tôi hỏi.

    'Tôi nghĩ bà đã ra ngoài đi dạo,' chị ta trả lời.

    Ngay lập tức nghi ngờ nảy sinh trong đầu tôi.

    Tôi vội vã chạy lên tầng trên để chắc rằng nàng không có nhà.

    Khi ở trên lầu, tôi vô tình nhìn qua một trong mấy cánh cửa sổ thì trông thấy chị người hầu vừa mới nói chuyện với tôi lúc nãy đang chạy băng qua cánh đồng về phía căn nhà nọ.

    Tất nhiên tôi hiểu ra tất cả.

    Vợ tôi đã đi đến đó và nhờ chị người hầu đến báo cho nàng biết nếu tôi trở về.

    Tức điên người, tôi chạy ào xuống nhà và hối hả băng ngang cánh đồng, nhất quyết sẽ kết thúc vấn đề này cho dứt điểm.

    Tôi nhìn thấy vợ tôi và chị người hầu đang vội vã chạy ngược trở lại trên con đường mòn nhưng tôi không dừng lại để nói chuyện với họ.

    Điều bí mật đang phủ bóng đen lên cuộc đời tôi nằm trong căn nhà thôn dã đó.

    Tôi thề cho dù có thế nào thì nó sẽ không còn là bí mật nữa.

    Thậm chí khi đã đến căn nhà tôi không gõ cửa mà chỉ xoay tay nắm rồi chạy xộc vào hành lang.

    Tầng một hoàn toàn tĩnh lặng.

    Ấm nước đang reo trong bếp và một con mèo đen to nằm cuộn tròn trong cái giỏ nhưng không hề thấy bóng dáng của người phụ nữ mà tôi từng gặp.

    Tôi chạy vào một căn phòng khác, nhưng nó cũng trống trơn.

    Thế là tôi lao lên cầu thang và chỉ thấy hai căn phòng khác của tầng trên cũng bỏ trống.

    Trong cả căn nhà chẳng có lấy một bóng người.

    Đồ đạc và tranh ảnh đều thuộc loại phổ thông và bình thường, chỉ trừ căn phòng qua cửa sổ tôi đã nhìn thấy khuôn mặt lạ lùng.

    Nó được trang bị tiện nghi và trang nhã, thế rồi tất cả những mối nghi ngờ của tôi chợt bùng lên thành một ngọn lửa sôi sục và cay đắng khi tôi trông thấy trên mặt lò sưởi có bày một tấm ảnh toàn thân của vợ tôi, mới chụp từ ba tháng trước theo đề nghị của tôi.

    Tôi nán lại đủ lâu để chắc chắn rằng căn nhà hoàn toàn trống vắng.

    Rồi tôi rời đi, cảm thấy tim mình nặng trĩu, một cảm giác mà tôi chưa từng biết.

    Vợ tôi đã bước ra tiền sảnh khi tôi đi vào nhà mình nhưng tôi đang quá đau khổ và giận dữ nên không buồn nói gì mà chỉ gạt nàng sang một bên để về thư phòng.

    Thế nhưng, nàng đã kịp vào theo trước khi tôi có thể đóng cửa.

    'Jack, em xin lỗi vì đã không giữ được lời hứa', nàng nói, 'nhưng nếu anh hiểu được toàn bộ hoàn cảnh thì chắc là anh sẽ tha thứ cho em.'

    'Vậy thì cô hãy kể cho tôi nghe hết mọi chuyện,' tôi nói.

    'Không thể được, Jack, em không thể nào kể được,' nàng khóc.

    'Khi nào cô còn chưa nói cho tôi biết ai đang sống trong căn nhà đó và cô đã tặng bức hình của mình cho ai thì không thể nào có sự tin tưởng giữa chúng ta với nhau', tôi nói và bỏ nàng lại, đi khỏi nhà.

    Đó là chuyện ngày hôm qua, ông Holmes ạ, và tôi không gặp nàng từ đó đến giờ, cũng không biết gì thêm về câu chuyện kì lạ này.

    Đó là bóng đen đầu tiên xen vào giữa vợ chồng tôi và nó làm tôi bàng hoàng đến nỗi không biết nên làm gì.

    Thình lình sáng nay một ý nghĩ nảy ra trong đầu tôi rằng ông chính là người sẽ cho tôi lời khuyên, vì thế tôi vội vã đến gặp ông và giao phó hết vào tay ông mà chẳng hề dè dặt.

    Nếu có điểm nào tôi tường thuật chưa được rõ xin ông cứ hỏi lại.

    Nhưng, điều quan trọng hơn hết, xin ông hãy nhanh chóng chỉ bảo tôi nên làm gì vì điều bí mật này đã quá sức chịu đựng của tôi."

    Cả Holmes và tôi cùng lắng nghe hết sức chăm chú câu chuyện khác thường này qua lời kể rời rạc, đứt quãng của người đàn ông đang bị những cảm xúc mạnh mẽ chi phối.

    Bạn tôi ngồi yên một lúc, cằm tựa lên bàn tay và đắm chìm trong suy nghĩ.

    "Ông hãy cho biết", cuối cùng thì anh lên tiếng, "ông có thể thề rằng khuôn mặt mà ông nhìn thấy ở cửa sổ là mặt của một người đàn ông?"

    "Mỗi lần tôi nhìn thấy nó thì đều cách khá xa do đó không thể nói chắc."

    "Tuy vậy, có vẻ như nó gây cho ông một ấn tượng khó chịu."

    "Dường như nó có màu sắc không tự nhiên với những đường nét cứng nhắc rất kì lạ.

    Khi tôi tiến lại gần thì nó đột ngột biến mất."

    "Bà nhà hỏi xin ông một trăm bảng cách đây bao lâu?"

    "Gần hai tháng."

    "Ông đã bao giờ nhìn thấy bức hình nào của người chồng trước của bà ấy chưa?"

    "Chưa.

    Một trận hỏa hoạn lớn đã xảy ra ở Atlanta ngay sau cái chết của ông ấy và tất cả mọi thứ giấy tờ của vợ tôi đều đã bị thiêu hủy."

    "Vậy mà bà ấy còn giữ được tờ chứng tử.

    Ông nói rằng ông đã nhìn thấy nó."

    "Phải, nàng đã xin một bản sao sau vụ cháy."

    "Ông đã từng gặp bất cứ ai quen biết bà ấy ở Mỹ chưa?"

    "Chưa."

    "Bà ấy có bao giờ nói đến việc về thăm lại nơi đó không?"

    "Không."

    "Hoặc là nhận được thư từ bên đó?"

    "Không."

    "Cảm ơn ông.

    Giờ thì tôi muốn suy nghĩ một chút về vấn đề.

    Nếu hiện giờ căn nhà thôn dã đó đã bị bỏ trống hẳn thì có thể chúng ta sẽ gặp một chút khó khăn.

    Còn ngược lại, tôi nghĩ khả năng này cao hơn, tức là những người sống trong đó đã được cảnh báo là ông sắp đến và ngày hôm qua họ đã rời khỏi nhà trước khi ông bước vào, thế thì bây giờ có thể họ đã quay trở về và chúng ta sẽ dễ dàng làm sáng tỏ mọi việc.

    Vậy, tôi khuyên ông hãy quay về Norbury và tiếp tục quan sát các cửa sổ của căn nhà đó.

    Nếu ông tin chắc rằng có người ở thì đừng xông vào mà hãy đánh điện cho bạn tôi và tôi.

    Nhận được điện, chúng tôi sẽ đến gặp ông trong vòng một giờ và chúng ta sẽ nhanh chóng tìm ra nguyên nhân sâu xa của sự việc."

    "Thế nếu như nó vẫn còn trống thì sao?"

    "Nếu vậy, ngày mai tôi sẽ đến và cùng ông thảo luận.

    Tạm biệt, và hãy nhớ điều quan trọng nhất là đừng lo nghĩ cho đến khi biết chắc nguyên nhân."

    "Watson này, tôi e rằng đây là một vụ tồi tệ", bạn tôi nói sau khi đã tiễn Grant Munro ra cửa.

    "Anh nghĩ sao về việc này?"

    "Có vẻ không hay ho", tôi đáp.

    "Phải.

    Nếu tôi không lầm thì đây là một vụ tống tiền."

    "Ai là kẻ tống tiền?"

    "Chắc chắn là kẻ sống trong căn phòng tiện nghi duy nhất của ngôi nhà và là kẻ đặt bức hình của người vợ trên lò sưởi.

    Thật sự là, Watson ạ, có điều gì đó rất hấp dẫn về khuôn mặt xám ngoét ở cửa sổ và tôi sẽ không bỏ qua chuyện này đâu."

    "Anh đã có giả thuyết nào rồi à?"

    "Phải, chỉ là một giả thuyết tạm thời thôi.

    Nhưng tôi sẽ rất ngạc nhiên nếu nó không đúng.

    Ông chồng trước của người phụ nữ này đang sống trong căn nhà đó."

    "Sao anh lại nghĩ thế?"

    "Thì ta còn cách nào khác để giải thích tại sao cô ta lại lo lắng đến mức điên cuồng, không để người chồng sau bước vào căn nhà đó?

    Tôi xin diễn giải các tình tiết như sau: Người phụ nữ này đã lấy chồng ở Mỹ.

    Người chồng này trở nên đáng ghét hoặc ta có thể giả định là ông ta mắc phải một căn bệnh đáng sợ nào đó, chẳng hạn bị hủi hay mất trí?

    Rốt cuộc thì cô ta quay về Anh để bỏ trốn ông ta, thay đổi tên họ và bắt đầu cuộc đời lại từ đầu, như cô ta nghĩ.

    Cô ta lấy chồng được ba năm và tin rằng địa vị của mình đã hoàn toàn vững chắc nên đã đưa cho người chồng mới xem một bản khai tử giả là của chồng trước, thì đột nhiên chỗ ở mới của cô ta bị người chồng trước, hay ta có thể giả sử là do một người đàn bà bất lương nào đó có quan hệ gắn bó với người chồng bệnh tật này, phát hiện ra.

    Họ viết thư cho cô ta, đe dọa sẽ đến và vạch trần mọi chuyện.

    Cô ta xin chồng một trăm bảng và cố gắng mua chuộc bọn họ.

    Tuy nhiên, họ vẫn cứ đến và khi người chồng tình cờ kể cho vợ nghe là có những người mới dọn đến căn nhà thôn dã, cô ta biết rằng đó chính là những người đang bám theo mình.

    Cô đợi đến khi chồng ngủ say bèn vội vã tới đó, cố gắng thuyết phục bọn chúng để cô ta được yên.

    Không thành công, sáng hôm sau cô ta quay trở lại đó và khi bước ra khỏi nhà thì bị người chồng nhìn thấy như anh ta đã kể cho chúng ta nghe.

    Cô ta hứa với chồng là sẽ không đến đó nữa nhưng hai ngày sau vì mối hi vọng có thể dứt bỏ được những kẻ hàng xóm đáng sợ này trở nên mạnh mẽ hơn nên cô ta thử thêm một lần nữa, đem theo bức hình có lẽ là theo đòi hỏi của chúng.

    Trong khi đang nói chuyện thì chị người hầu chạy đến báo cho biết là người chồng đã trở về, nghe thế người vợ biết rằng anh ta sẽ đi thẳng đến căn nhà, bèn giục những người sống trong đó thoát ra bằng lối cửa sau, có lẽ là ra phía mấy lùm linh sam mọc gần đó như đã được nói đến.

    Vì thế mà anh ta thấy căn nhà trống vắng.

    Tuy nhiên, tôi sẽ rất ngạc nhiên nếu tối nay anh chồng đến đó thăm dò mà vẫn không có ai ở đó.

    Anh nghĩ sao về ý kiến của tôi?"

    "Tất cả đều là phỏng đoán."

    "Nhưng ít ra nó cũng phù hợp với mọi dữ kiện.

    Khi ta biết thêm các thông tin mới không khớp với giả thuyết này thì vẫn còn đủ thời gian để xem xét lại.

    Từ giờ cho đến khi nhận được tin nhắn của anh bạn ở Norbury thì chúng ta không thể làm gì hơn."

    Nhưng chúng tôi không phải đợi lâu.

    Chúng tôi vừa dùng xong bữa trà thì bức điện đã đến - Ngôi nhà vẫn có người, nội dung bức điện như sau: Lại nhìn thấy khuôn mặt ở cửa sổ.

    Sẽ đợi chuyến tàu 7 giờ và không làm gì chừng nào ông chưa đến.

    Khi chúng tôi xuống tàu thì anh ta đang đợi trên sân ga và dưới ánh sáng của ngọn đèn ở nhà ga chúng tôi có thể thấy anh rất nhợt nhạt và đang run lên vì kích động.

    "Họ vẫn còn ở đó, ông Holmes ạ", anh ta nói và bấu lấy tay áo bạn tôi.

    "Tôi trông thấy ánh sáng trong căn nhà khi tôi đi ngang qua.

    Chúng ta sẽ giải quyết dứt điểm việc này một lần cho xong."

    "Vậy kế hoạch của ông ra sao?"

    Holmes hỏi khi chúng tôi bước vào con đường tối đen có cây cối mọc hai bên.

    "Tôi sẽ xông vào và tận mắt nhìn xem ai đang ở trong nhà.

    Tôi mong rằng cả hai ông sẽ có mặt ở đó để làm nhân chứng."

    "Ông nhất định làm thế, dù vợ ông đã cảnh báo rằng không nên đụng đến bí mật ấy?"

    "Phải, tôi quyết tâm rồi."

    "Được, tôi nghĩ rằng ông có lí.

    Dù sự thật là gì thì cũng hay hơn là cứ mãi nghi ngờ.

    Tốt hơn là chúng ta tới đó ngay.

    Tất nhiên là về mặt pháp lí thì rõ ràng chúng ta sắp sửa hành động sai quấy; nhưng tôi nghĩ rằng điều đó cũng đáng làm."

    Đêm hôm ấy trời tối đen và một cơn mưa nhỏ bắt đầu rơi khi chúng tôi từ đường lớn rẽ vào một lối mòn hẹp có nhiều vết bánh xe lún sâu và hàng giậu rậm rạp ở hai bên đường.

    Tuy nhiên, ông Grant Munro vẫn nóng ruột lao về phía trước và chúng tôi đành cố hết sức loạng choạng theo sau.

    "Kia là ánh đèn nhà tôi", anh ta thì thầm và đưa tay chỉ về một tia sáng le lói giữa đám cây.

    "Và đây là căn nhà mà chúng ta sắp sửa xông vào."

    Khi anh ta nói đến đó thì chúng tôi đến lối rẽ của con đường mòn và trông thấy một căn nhà nằm sát bên.

    Một dải sáng vàng hắt lên nền đất đen phía trước cho thấy cánh cửa chỉ khép hờ và một khung cửa sổ ở tầng trên hãy còn sáng đèn.

    Khi ngước nhìn lên, chúng tôi trông thấy một bóng đen di chuyển dọc theo rèm cửa.

    "Chính là nó đấy!"

    Grant Munro hét lên.

    "Chính các ông cũng thấy là có người ở đó.

    Hãy theo tôi và chúng ta sẽ sớm biết tất cả."

    Chúng tôi tiến đến cánh cửa nhưng thình lình từ trong bóng tối một phụ nữ tiến vào vùng sáng vàng phát ra từ ngọn đèn.

    Tôi không thấy rõ mặt nhưng hai cánh tay cô đưa ra như van lơn.

    "Vì Chúa, đừng mà Jack!"

    Cô ta kêu lên.

    "Em đã linh cảm rằng tối nay anh sẽ đến.

    Hãy nghĩ lại đi, anh thân yêu!

    Xin anh hãy tin em thêm một lần nữa và anh sẽ không bao giờ phải hối hận vì điều đó."

    "Tôi đã tin cô lâu quá rồi, Effie", anh ta quát lên với vẻ cương quyết.

    "Hãy buông tôi ra!

    Tôi phải vào đó.

    Các bạn tôi và tôi sẽ giải quyết vấn đề này một lần cho xong!"

    Anh ta gạt cô ta qua một bên và chúng tôi bước sát theo sau.

    Khi anh ta đẩy cánh cửa mở tung ra thì một bà già chạy đến trước mặt anh và cố gắng chắn ngang lối vào nhưng anh ta đã xô bà ta ra sau, rồi ngay sau đó chúng tôi bước lên cầu thang.

    Grant Munro chạy vào căn phòng có ánh đèn ở trên lầu và chúng tôi tiến vào ngay sát gót.

    Đó là một căn phòng ấm cúng và đầy đủ tiện nghi với hai cây nến đang thắp sáng trên bàn và hai cây khác trên mặt lò sưởi.

    Ở góc phòng, dường như có một bé gái đang cúi xuống bàn.

    Lúc chúng tôi bước vào thì khuôn mặt của cô bé đang quay sang hướng khác nhưng cũng có thể thấy bé đang mặc một chiếc váy đỏ và đeo đôi găng dài màu trắng.

    Khi cô bé quay qua, tôi buột miệng thốt lên một tiếng kêu ngạc nhiên và kinh hoàng.

    Khuôn mặt của bé có sắc xám ngoét vô cùng kì lạ và những đường nét thì hoàn toàn không chút biểu cảm.

    Ngay lập tức bí ẩn đã được giải thích.

    Holmes bật cười, đưa tay ra sau tai cô bé và một cái mặt nạ bị lột ra: Một bé gái da đen như than với hai hàm răng trắng sáng đang phô hết vẻ thích thú trước những khuôn mặt sửng sốt của chúng tôi.

    Tôi bật cười vì bị lây sự vui vẻ của cô bé; nhưng Grant Munro thì đứng nhìn chòng chọc, một bàn tay tóm chặt lấy cổ họng.

    "Chúa ơi!"

    Anh ta kêu lên.

    "Thế này là thế nào?"

    "Em sẽ giải thích cho anh biết", người phụ nữ nói to và lao vào phòng với vẻ mặt kiêu hãnh pha lẫn nghiêm trang.

    "Cho dù em không muốn nhưng anh cứ buộc em phải nói và giờ cả hai chúng ta phải cùng dàn xếp sự việc sao cho ổn thỏa nhất.

    Chồng trước của em đã chết ở Atlanta nhưng con em hãy còn sống."

    "Con của em?"

    Cô ta rút từ trong ngực áo ra một cái mặt dây chuyền lớn bằng bạc.

    "Anh chưa bao giờ nhìn thấy bên trong mặt dây chuyền này."

    "Anh tưởng rằng cái đó không mở được."

    Cô bấm vào một cái lò xo và nắp trước mặt dây chuyền bật mở.

    Bên trong có bức chân dung của một người đàn ông trông rất đẹp trai và thông minh nhưng trong khuôn mặt có những nét không thể nào lầm được về dòng giống châu Phi.

    "Đây là John Hebron ở Atlanta", người phụ nữ giải thích, "và là người đàn ông cao quý nhất trên đời.

    Em đã tách khỏi chủng tộc mình để cưới anh ấy nhưng trong thời gian chung sống em chưa hề có phút giây nào hối tiếc về điều đó.

    Điều không may cho vợ chồng em là đứa con duy nhất lại giống bên nội nhiều hơn.

    Những chuyện như thế vẫn thường xảy ra trong các cuộc hôn nhân khác chủng tộc và bé Lucy còn đen hơn cha nó nhiều.

    Nhưng cho dù màu da có đen hay trắng thì con bé vẫn là con gái bé nhỏ yêu dấu của em."

    Nghe thế, cô bé chạy băng qua phòng và rúc vào váy của người phụ nữ.

    "Khi em để bé lại nước Mỹ," cô nói tiếp, "chỉ tại vì nó quá yếu và sự thay đổi có thể gây nhiều bất lợi cho bé.

    Em đã giao phó bé cho bà giúp việc trung thành người Scotland vẫn phục vụ vợ chồng em ngày trước.

    Không một giây phút nào em nghĩ đến việc từ bỏ nó.

    Nhưng khi tình cờ gặp anh, Jack ạ, em biết là em đã yêu anh và em không dám nói cho anh biết về đứa con này.

    Xin Chúa tha thứ!

    Em sợ sẽ mất anh và vì thế không đủ can đảm để kể anh nghe sự thật.

    Em buộc phải chọn lựa giữa anh và con, và vì quá yếu mềm, em đã ngoảnh mặt với đứa con bé bỏng.

    Trong suốt ba năm em đã giấu kín anh về sự tồn tại của bé nhưng em vẫn nhận được tin tức từ người vú nuôi và biết rằng mọi chuyện vẫn ổn.

    Thế nhưng, cuối cùng thì mong muốn được gặp bé một lần nữa trở nên quá mạnh.

    Em đã cố kìm nén nhưng thất bại.

    Mặc dù biết là rất liều lĩnh nhưng em vẫn quyết định đón bé sang đây dù chỉ vài tuần.

    Em đã gửi một trăm bảng cho người vú nuôi và chỉ dẫn cho bà về căn nhà này để bà có thể đến ở như một người hàng xóm mà vẫn không để lộ ra mối quan hệ giữa em và con bé.

    Em còn thận trọng đến mức đã ra lệnh cho bà giữ rịt con bé trong nhà vào ban ngày và luôn che mặt cùng hai tay của nó để cho lỡ có ai nhìn thấy nó bên cửa sổ cũng sẽ không đi đưa chuyện rằng: Có một đứa trẻ da đen trong vùng.

    Giá mà em bớt cẩn trọng đi một chút thì có lẽ em đã khôn ngoan hơn, nhưng em đã gần như phát điên vì lo sợ anh phát hiện ra sự thật

    Chính anh là người đã báo cho em biết ngôi nhà này đã có người đến ở.

    Lẽ ra em nên đợi đến sáng hãy đến thăm con, nhưng em không sao ngủ được do quá vui mừng nên cuối cùng em đã lẻn ra ngoài vì biết rằng anh thường ngủ rất say.

    Nhưng anh đã nhìn thấy em ra khỏi nhà và đó là nguồn cơn của những rắc rối sau này.

    Đến ngày hôm sau thì anh hoàn toàn có thể lật tẩy bí mật của em, nhưng anh đã cao thượng mà kiềm chế mình không xông vào nhà.

    Thế nhưng, ba ngày sau đó, người vú nuôi và con bé chỉ vừa kịp thoát ra khỏi nhà bằng lối cửa sau khi anh ập vào đến cổng.

    Và đến tối nay, cuối cùng anh cũng đã biết hết mọi chuyện, vậy em muốn hỏi anh là sẽ định thế nào về quan hệ của chúng ta, đứa bé và em?"

    Cô ta đan hai bàn tay vào nhau và chờ đợi câu trả lời.

    Mười phút dài dằng dặc trôi qua trước khi Grant Munro phá vỡ bầu không khí yên lặng và tôi nhớ mãi lúc anh ta đưa ra câu trả lời.

    Anh bế đứa bé lên, hôn nó và vẫn ôm nó trong tay, anh chìa bàn tay kia ra với vợ mình và quay bước về phía cửa.

    "Chúng ta có thể bàn về chuyện này thoải mái hơn khi ở nhà", anh ta nói.

    "Anh không tốt bụng lắm, Effie ạ, nhưng anh nghĩ rằng mình khá hơn so với những gì mà em nghĩ đấy."

    Holmes và tôi bước theo họ trên con đường mòn và bạn tôi kéo tay áo tôi lại khi chúng tôi ra đến đường lớn.

    "Tôi nghĩ rằng", anh nói, "ở London chúng ta sẽ có ích hơn là ở Norbury này!"

    Rồi anh không nói thêm một lời nào nữa về chuyện này cho đến tận khuya khi anh cầm nến đi về phòng ngủ.

    "Watson này", anh nói, "nếu có khi nào anh cảm thấy là tôi hơi quá tự phụ vào năng lực của mình hoặc tỏ ra lơ là với một vụ án, xin anh hãy nói nhỏ vào tai tôi cái tên 'Norbury', tôi sẽ biết ơn anh nhiều lắm."
     
    Sherlock Holmes Toàn Tập
    NGƯỜI NHÂN VIÊN CÔNG TY CHỨNG KHOÁN (The Stock Broker's Clerk, 1893)


    Chỉ ít lâu sau ngày cưới, tôi mua lại được một phòng mạch tư ở khu Paddington.

    Ông lão Farquhar, người để nó lại cho tôi, từng là một bác sĩ đa khoa xuất sắc nhưng vì tuổi tác và chứng múa giật mà ông mắc phải nên đã mất rất nhiều bệnh nhân.

    Đương nhiên người ta nghĩ rằng một bác sĩ muốn chữa được bệnh cho những người khác thì bản thân ông ta phải khỏe mạnh và họ nghi ngờ năng lực chữa bệnh của một người không thể trị bệnh cho bản thân.

    Vì thế, khi người chủ trước của phòng khám này ốm yếu đi thì sự nghiệp của ông cũng sa sút theo và cho đến lúc tôi mua lại từ tay ông thì thu nhập của nó đã giảm từ một ngàn hai trăm xuống chỉ còn hơn ba trăm bảng mỗi năm.

    Thế nhưng, tôi tự tin vào tuổi trẻ cũng như năng lực của mình và tin rằng chỉ sau vài năm thì phòng khám sẽ lại thịnh vượng như trước.

    Suốt ba tháng sau khi tiếp nhận phòng mạch, tôi bị cuốn vào công việc và ít khi gặp anh bạn Sherlock Holmes vì tôi quá bận rộn không về thăm lại căn nhà ở phố Baker được, còn anh thì hiếm khi tự đi đâu trừ phi vì công việc.

    Do đó, vào một buổi sáng tháng 6, khi đang ngồi đọc tờ British Medical Journal sau bữa điểm tâm, tôi rất ngạc nhiên khi nghe thấy chuông reo, tiếp theo là giọng nói to đến chói tai của người bạn cũ.

    "A, anh Watson thân mến", anh nói khi bước nhanh vào phòng, "tôi rất vui được gặp anh!

    Chắc bà Watson giờ đã hoàn toàn bình phục sau những biến động nho nhỏ trong vụ Dấu bộ tứ của chúng ta rồi chứ."

    "Cảm ơn anh, cả hai vợ chồng tôi đều mạnh khỏe", tôi đáp và nồng nhiệt bắt tay anh.

    "Và tôi cũng hi vọng rằng", anh nói tiếp khi ngồi xuống chiếc ghế bập bênh, "công việc ở phòng mạch không tước đi hoàn toàn mối quan tâm trước đây anh vẫn dành cho những vấn đề suy luận nho nhỏ của chúng ta."

    "Ngược lại là khác", tôi trả lời, "mới tối hôm qua tôi hãy còn xem lại những ghi chép lúc trước của mình và phân loại một số vụ đã hoàn thành."

    "Tôi hi vọng rằng anh không nghĩ đến việc kết thúc bộ sưu tập của mình chứ!"

    "Không hề.

    Tôi chẳng mong gì hơn là được có thêm một vài trải nghiệm tương tự."

    "Hôm nay thì sao?"

    "Hôm nay thì được nếu anh thích."

    "Và ở tận Birmingham?"

    "Chắc chắn, nếu anh muốn."

    "Thế còn công việc ở phòng khám?"

    "Tôi từng giúp anh hàng xóm vài việc khi anh ta đi vắng và anh ta luôn sẵn sàng trả món nợ đó."

    "Ha!

    Thế thì không còn gì bằng", Holmes nói khi tựa người vào lưng ghế và nhìn tôi với ánh mắt sắc bén dưới cặp mi khép hờ.

    "Tôi nhận thấy là gần đây anh không được khỏe.

    Bị cảm vào mùa hè bao giờ cũng gây khó chịu."

    "Tuần rồi tôi đã phải ngồi nhà suốt ba ngày vì bị cảm nặng.

    Tuy nhiên, tôi nghĩ mình đã rũ sạch mọi dấu vết của cơn bệnh rồi kia mà."

    "Anh đã bình phục.

    Trông anh rõ ràng là rất khỏe mạnh."

    "Thế sao anh biết được là tôi vừa mới ốm dậy?"

    "Bạn thân mến, anh biết các phương pháp của tôi rồi đấy."

    "Anh suy luận ra phải không?"

    "Chắc chắn rồi."

    "Từ điều gì?"

    "Từ đôi giày của anh."

    Tôi liếc xuống đôi giày da bóng còn mới đang đi dưới chân.

    "Làm sao anh có thể..." tôi nói chưa dứt câu thì Holmes đã trả lời trước.

    "Đôi giày của anh hãy còn mới", anh nói.

    "Chắc chắn là anh vừa đi được vài tuần.

    Tôi thấy dưới đế giày hiện giờ có vài vết xém nhẹ.

    Thoạt đầu tôi nghĩ là chúng đã bị trớt và khi hong khô thì bị cháy.

    Nhưng ở gần mu giày hãy còn lưu lại một mẩu giấy tròn nhỏ có những kí hiệu của chủ tiệm.

    Tất nhiên là hơi ẩm đã làm bong nó ra.

    Vậy là anh đã ngồi duỗi chân về phía lò sưởi, mà một người đàn ông mạnh khỏe thì không việc gì làm thế cho dù đang vào tiết tháng sáu ẩm ướt này."

    Cũng như mọi suy luận khác của Holmes, sự việc xem ra có vẻ đơn giản một khi đã được giải thích.

    Anh đọc được suy nghĩ ấy trên mặt tôi và nụ cười của anh nhuốm chút tiếc nuối.

    "Tôi e rằng mình đã lộ hết khi giải thích", anh nói.

    "Kết quả mà không có nguyên nhân thì sẽ ấn tượng hơn rất nhiều.

    Vậy anh sẵn sàng đi Birmingham chứ?"

    "Chắc chắn rồi.

    Mà vụ nào thế?"

    "Anh sẽ nghe kể toàn bộ câu chuyện khi ta lên tàu.

    Thân chủ của tôi đang đợi trong xe ngựa bên ngoài.

    Anh có thể đi ngay bây giờ được không?"

    "Đợi tôi một lát."

    Tôi viết vội vài chữ cho người hàng xóm và chạy nhanh lên lầu để giải thích vấn đề cho vợ rồi xuống gặp Holmes ở ngưỡng cửa.

    "Hàng xóm của anh cũng là bác sĩ", anh nói và hất hàm về phía tấm biển bằng đồng.

    "Phải, anh ta cũng mua lại một phòng khám giống như tôi."

    "Một phòng khám cũ?"

    "Cũng giống như phòng mạch của tôi vậy.

    Cả hai phòng khám đã cùng hoạt động từ khi dãy nhà này được xây lên."

    "Ra thế!

    Vậy là trong số hai phòng khám này thì anh mua cái đông khách hơn."

    "Tôi nghĩ thế.

    Nhưng làm thế nào mà anh biết?"

    "Dựa vào các bậc cửa bạn ạ.

    Những bậc ở bên anh thì mòn hơn bên kia đến bảy phân.

    Nhưng đây rồi, người đang ngồi trong xe ngựa kia là thân chủ của tôi, anh Hall Pycroft.

    Để tôi giới thiệu anh với anh ta.

    Cho ngựa chạy đi, bác xà ích, chúng tôi chỉ còn vừa đủ thời gian để lên tàu."

    Ngồi đối diện với tôi là một chàng trai tráng kiện có nước da tươi tắn, một khuôn mặt chân thật, thẳng thắn, để ria mép mảnh màu vàng hơi xoăn.

    Anh ta đội mũ chóp cao bóng loáng và mặc một bộ comlê màu đen nhã nhặn, chỉnh tề, bộc lộ rõ địa vị xã hội - một chàng trai sáng láng của khu City, thuộc một tầng lớp bị gán mác "dân phố dặt dẹo", nhưng cũng chính họ lại sản sinh ra những đoàn quân tình nguyện thiện chiến và những vận động viên giỏi giang hơn bất cứ vùng nào trên đảo quốc này.

    Khuôn mặt tròn, hồng hào của anh ta tràn đầy vẻ hứng khởi tự nhiên nhưng tôi lại thấy hai khóe miệng có vẻ trễ xuống như đang lâm phải một nghịch cảnh trớ trêu.

    Dẫu vậy, phải đến khi tất cả chúng tôi đã yên vị trong khoang hạng nhất và khởi hành suôn sẻ đi Birmingham, tôi mới được biết điều rắc rối đã khiến anh ta phải gặp Sherlock Holmes.

    "Chúng ta sẽ ngồi xe lửa một mạch bảy mươi phút", Holmes cho biết.

    "Anh Hall Pycroft, tôi muốn anh kể cho bạn tôi nghe trải nghiệm thú vị của anh chính xác như đã kể với tôi, hoặc bổ sung thêm vài chi tiết nếu có thể.

    Được nghe lại trình tự các sự kiện cũng rất có lợi cho tôi.

    Anh Watson này, vụ này có thể có uẩn khúc hoặc không, nhưng ít ra nó cũng có những đặc điểm bất thường và kì lạ mà anh cũng như bản thân tôi đều ưa thích.

    Và giờ, anh Pycroft, tôi hứa sẽ không làm gián đoạn câu chuyện của anh nữa."

    Người bạn đồng hành trẻ tuổi nhìn tôi với ánh mắt lấp lánh.

    "Phần tồi tệ nhất của câu chuyện này là", anh ta nói, "tôi đóng một vai trò ngớ ngẩn đến bẽ mặt.

    Tất nhiên là nó có thể kết thúc ổn thỏa và tôi cũng nghĩ mình đã không thể làm khác; nhưng nếu như tôi bị mất việc mà đổi lại không được gì thì tôi thấy mình kém cỏi quá.

    Tôi không giỏi kể chuyện, bác sĩ Watson ạ, nhưng sự việc xảy ra với tôi là như thế này:

    Trước đây tôi làm tại Công ty Coxon & Woodhouse, ở Draper's Gardens, nhưng đầu xuân vừa rồi họ bị vướng vào vụ khủng hoảng nợ tại Venezuela, mà chắc chắn là các ông hãy còn nhớ, và lâm vào cảnh bết bát.

    Tôi đã làm việc cho họ được năm năm và khi vụ đổ vỡ này xảy ra thì ông lão Coxon cho tôi một giấy xác nhận năng lực cực tốt nhưng tất nhiên là cả bọn nhân viên hai mươi bảy người chúng tôi đều bị tống ra đường.

    Tôi đã thử xin việc chỗ này chỗ nọ nhưng có hàng đống những gã khác cũng đang trong tình trạng như tôi, và thế là thất nghiệp suốt một thời gian dài.

    Trước đây tôi lĩnh lương ba bảng mỗi tuần ở Coxon và đã dành dụm được khoảng bảy mươi bảng nhưng món tiền đó nhanh chóng vơi đi và cuối cùng cũng cạn.

    Sau cùng thì tôi gần như sạch túi và khó lòng mua nổi tem và phong bì để hồi đáp các mẩu tin tuyển người.

    Tôi đã leo cầu thang các văn phòng đến mòn giày, thế mà dường như với tôi cơ may kiếm được chỗ làm ngày càng trở nên xa vời.

    Cuối cùng tôi thấy có một chỗ trống ở Công ty Mawson & Williams, công ty chứng khoán lớn ở phố Lombard.

    Tôi dám chắc là các ông không mấy để tâm tới khu vực E.C nên tôi xin nói để các ông biết: Công ty tôi ứng tuyển làm ăn phát đạt nhất London đấy.

    Thông tin tuyển người chỉ chấp nhận trả lời bằng thư.

    Tôi gửi giấy xác nhận năng lực cùng với đơn xin việc nhưng chẳng có chút hi vọng nào là sẽ được tuyển.

    Rồi tôi nhận được thư phúc đáp nói rằng nếu tôi đến trình diện vào thứ hai tới thì tôi có thể vào làm luôn với điều kiện diện mạo của tôi phải dễ coi.

    Không ai biết tại sao có thể như thế.

    Có người nói rằng ông giám đốc chỉ thọc tay vào đống đơn xin việc và bốc đại một cái.

    Dẫu sao đây cũng là một cơ hội tốt và tôi không mong gì hơn.

    Tiền lương thì cao hơn một bảng so với bên Coxon và cộng việc thì cũng giống như vậy.

    Và bây giờ tôi xin kể phần kì lạ của câu chuyện.

    Tôi trọ ở đường Hampstead, số 17 Potter's Terrace.

    Ngay tối hôm tôi nhận được thư hẹn đó, khi tôi đang ngồi hút điếu thuốc thì bà chủ nhà đem lên một tấm danh thiếp in tên: Arthur Pinner, môi giới tài chính.

    Tôi chưa bao giờ nghe đến cái tên này và không thể hình dung được người này muốn gì ở tôi; nhưng tất nhiên là tôi vẫn nhờ đưa ông ta lên.

    Vị khách bước vào là một người đàn ông trung niên có mái tóc và cặp mắt sẫm màu, bộ râu đen với cái mũi có nét Do Thái, ông ta có tác phong nhanh nhẹn và nói năng thẳng thắn, đúng như một người ý thức được giá trị của thời gian.

    'Hẳn anh là Hall Pycroft?' Ông ta hỏi.

    'Đúng vậy, thưa ông', tôi đáp và đẩy một cái ghế về phía ông ta.

    'Trước anh làm việc cho Công ty Coxon & Woodhouse?'

    'Vâng, thưa ông.'

    'Và hiện giờ là nhân viên của Mawson.'

    'Hoàn toàn đúng.'

    'Thế này', ông ta nói, 'tôi có nghe được một số chuyện cực kì nổi trội về năng lực của anh trong ngành tài chính.

    Anh còn nhớ ông Parker, trước là giám đốc của Coxon chứ?

    Ông ta khen anh hết lời.'

    Tất nhiên là tôi rất vui khi nghe thế.

    Trước đây tôi làm việc khá tốt nhưng chưa bao giờ mơ đến việc được nghe khen ngợi như thế ở khu City.

    'Trí nhớ của anh có tốt không?' Ông ta hỏi.

    'Cũng khá,' tôi khiêm tốn đáp.

    'Dù thất nghiệp nhưng anh vẫn quan tâm tới thị trường chứng khoán chứ?' Ông ta hỏi tiếp.

    'Vâng.

    Sáng nào tôi cũng đọc danh sách niêm yết chứng khoán.'

    'Quả là cần mẫn!' Ông ta reo lên.

    'Đó là cách để ta thành công!

    Anh không phiền nếu tôi hỏi kiểm tra vài câu chứ?

    Xem nào.

    Cổ phiếu của Ayrshires?'

    'Một trăm lẻ sáu phẩy hai lăm giảm còn một trăm lẻ năm phẩy bảy mươi tám.'

    'Còn giá trái phiếu hợp nhất của New Zealand?'

    'Mộ trăm lẻ bốn.'

    'Còn của British Broken Hills?'

    'Là bảy lên bảy phẩy sáu.'

    "Tuyệt quá!' Ông ta reo lên và vung hai tay.

    'Quả là đúng như những gì tôi được nghe.

    Anh giỏi thế mà chịu làm nhân viên quèn của Mawson thôi sao!'

    Chắc các ông cũng hiểu lời tâng bốc nhiệt tình này làm tôi khá ngạc nhiên, tôi đáp, 'những người khác không đánh giá tôi cao như ông, ông Pinner ạ.

    Tôi đã rất chật vật mới tìm được công việc này và tôi rất mừng khi được nhận vào làm.'

    'Thật vớ vẩn, chàng trai, anh nên mơ cao hơn thế.

    Anh chưa ngồi đúng chỗ của mình đâu.

    Để tôi nói anh biết làm với tôi thì sẽ thế nào.

    Vị trí tôi đề nghị còn chưa xứng với năng lực của anh nhưng nếu đem so sánh với bên Mawson thì đúng là một trời một vực.

    Để xem nào.

    Khi nào anh sẽ đi làm ở Mawson?'

    'Thứ hai.'

    'Ha, ha!

    Tôi nghĩ tôi sẽ mạo hiểm bỏ ra một khoản nho nhỏ để anh không tới đó nữa!'

    'Không đến Mawson sao?'

    'Không, thưa anh.

    Vào ngày đó anh sẽ là giám đốc kinh doanh của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đồ gia dụng Franco Midland với một trăm ba mươi tư chi nhánh trên khắp các tỉnh thành và làng mạc nước Pháp, đó là chưa kể đến một chi nhánh ở Brussels và một ở San Remo!'

    Điều này khiến tôi như ngừng thở.

    'Tôi chưa bao giờ nghe tên công ty này,' tôi nói.

    'Tất nhiên là chưa rồi!

    Công ty được giữ kín vì toàn bộ nguồn vốn đều do tư nhân đóng góp và là món hời cho công chúng nhảy vào.

    Anh trai tôi, Harry Pinner, là người đồng sáng lập và sau khi phân chia công việc thì đảm nhận vị trí tổng giám đốc.

    Anh ấy biết rằng tôi có nhiều quan hệ ở đây nên yêu cầu tôi tìm chọn một người có năng lực nhưng chưa gặp thời.

    Một chàng trai trẻ mạnh mẽ và nhiệt huyết.

    Ông Parker có nói với tôi về anh và vì thế tối nay tôi đã đến đây.

    Chúng tôi chỉ có thể đề nghị với anh một mức lương khiêm tốn khởi đầu là năm trăm bảng.'

    'Năm trăm mỗi năm!' Tôi hét lên.

    'Chỉ là ban đầu thôi; nhưng anh sẽ nhận một khoản hoa hồng rất khá là một phần trăm trên tất cả mọi thương vụ do các đại lí của anh thực hiện thành công, và anh có thể tin rằng món tiền đó còn hơn cả tiền lương đấy!'

    'Nhưng tôi chẳng biết gì về ngành hàng gia dụng cả.'

    'Ôi dào, anh bạn ơi.

    Anh biết về những con số là được rồi!'

    Đầu tôi ong lên, và tôi thấy mình như ngồi không vững trên ghế.

    Nhưng đột nhiên một thoáng nghi ngờ lạnh toát nảy ra trong đầu tôi.

    'Phải nói thật với ông', tôi nói, 'Mawson chỉ trả tôi có hai trăm thôi nhưng chỗ đó thì đảm bảo.

    Thật vậy, tôi chẳng biết gì nhiều về công ty của ông nên...'

    'À, thông minh đấy, rất thông minh!' Ông ta kêu to, có vẻ hào hứng cực độ.

    'Anh đúng là người chúng tôi cần.

    Không thể nói suông với anh được, và thế là phải.

    Nào, đây là một trăm bảng và nếu anh nghĩ rằng ta có thể hợp tác với nhau thì hãy nhét nó vào túi như món tạm ứng trước cho tiền lương của anh.'

    'Ông thật là hào phóng', tôi nói.

    'Khi nào thì tôi bắt đầu công việc?'

    'Ngày mai anh hãy có mặt ở Birmingham vào lúc 1 giờ', ông ta đáp.

    'Trong túi tôi còn có một phong thư mà anh phải đưa cho anh trai tôi.

    Anh sẽ gặp anh ấy ở số 126B phố Corporation là nơi công ty đặt văn phòng tạm.

    Tất nhiên là anh ấy sẽ phải xác nhận lại việc tuyển dụng nhưng nói riêng với anh đó chỉ là hình thức thôi.'

    'Thật vậy sao, tôi không biết phải nói gì để tỏ lòng biết ơn với ông, ông Pinner,' tôi nói.

    'Có gì đâu, anh bạn.

    Anh chỉ nhận được những gì xứng đáng thôi.

    Còn một vài chuyện nhỏ nữa - chỉ đơn thuần là thủ tục mà tôi cần phải thu xếp với anh.

    Anh đã có sẵn giấy ở bên cạnh.

    Vui lòng viết thế này: Tôi hoàn toàn chấp nhận vị trí giám đốc kinh doanh của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đồ gia dụng Franco Midland với mức lương tối thiểu là 500 bảng'.

    Tôi làm theo yêu cầu của ông ta và ông ta cất tờ giấy vào túi.

    'Còn một chi tiết nữa,' ông ta nói.

    'Anh định thế nào với Mawson?'

    Trong niềm vui sướng, tôi quên khuấy mất bên Mawson.

    'Tôi sẽ viết một bức thư từ chối', tôi đáp.

    'Chính đó là điều mà tôi chẳng muốn chút nào.

    Tôi và giám đốc của Mawson đã tranh cãi với nhau về anh.

    Tôi đã gặp ông ta để hỏi về anh và ông ta rất khó chịu, buộc tội tôi là dụ dỗ anh bỏ công việc ở chỗ ông ta.

    Cuối cùng thì tôi mất bình tĩnh.

    'Nếu ông muốn có nhân viên giỏi thì ông hãy trả lương cao cho họ', tôi bảo ông ta.

    'Anh ta chẳng thà chấp nhận lương thấp ở công ty chúng tôi còn hơn là ở bên các ông với mức lương cao', ông ta bảo thế.

    'Tôi sẽ cược năm bảng', tôi nói với ông ta, 'rằng khi anh ta nhận được lời mời của tôi thì ông sẽ chẳng bao giờ nhận được tin tức gì từ anh ta nữa.' 'Được!

    Ông ta đồng ý, 'Chúng tôi đã kéo thằng cha đó lên từ cống rãnh nên hắn không bỏ chúng tôi dễ thế đâu.' Đấy là những gì ông ta nói.'

    'Đồ dối trá trơ trẽn!' Tôi hét lên.

    'Tôi thậm chí còn chưa bao giờ gặp hắn.

    Tại sao tôi lại phải để tâm đến hắn?

    Nếu ông không thích thì chắc chắn là tôi sẽ không viết thư.'

    'Tốt!

    Hứa thế nhé', ông ta nói rồi đứng dậy khỏi ghế.

    'Tôi rất vui vì đã tìm được một nhân viên rất giỏi cho anh tôi.

    Đây là món tiền một trăm bảng tạm ứng trước cho anh, còn đây là lá thư.

    Ghi lại địa chỉ nhé, 126B phố Corporation và nhớ giờ hẹn gặp là 1 giờ chiều mai đấy.

    Tạm biệt và chúc anh gặp nhiều may mắn mà anh xứng đáng được hưởng.'

    Đó là những gì xảy ra giữa tôi và ông ấy như tôi còn nhớ được.

    Bác sĩ Watson à, có thể ông cũng tưởng tượng được là tôi vui mừng biết chừng nào khi gặp cơ may lạ lùng đến thế.

    Tôi thức đến tận nửa đêm với niềm thích thú đó và đến ngày hôm sau thì tôi đi Birmingham trên một chuyến xe lửa đưa tôi đến sớm hơn giờ hẹn rất nhiều.

    Tôi đem hành lí đến một khách sạn ở New Street và sau đó đi đến địa chỉ mà ông khách đã cho.

    Tôi đến sớm mười lăm phút nhưng tôi nghĩ cũng chẳng quan trọng gì.

    126B là một lối đi nằm giữa hai cửa tiệm lớn, dẫn đến một cầu thang xoáy trôn ốc bằng đá, từ đó đi lên nhiều dãy phòng cho các công ty hoặc tư nhân thuê lại.

    Tên của những người thuê được sơn ở phía dưới tường nhưng không hề thấy cái tên Công ty trách nhiệm hữu hạn Đồ gia dụng Franco Midland đâu cả.

    Tôi đứng đó mất vài phút, cảm thấy tim mình như sa xuống dưới chân, tự hỏi có phải toàn bộ chuyện này là một cú lừa tinh vi hay không thì một người đàn ông bước tới và hỏi chuyện.

    Trông ông ta rất giống với người mà tôi đã gặp tối hôm trước, cũng vóc dáng và giọng nói đó nhưng ông này thì mặt mày nhẵn nhụi và màu tóc sáng hơn.

    'Chắc anh là Hall Pycroft?' Ông ta nói.

    'Vâng,' tôi đáp.

    'Ồ, tôi đang đợi anh đây, nhưng anh đến hơi sớm một chút.

    Sáng nay tôi vừa nhận được một bức thư từ em trai tôi trong đó ca ngợi anh hết lời.'

    'Tôi đang tìm văn phòng công ty thì ông đến.'

    'Chúng tôi vẫn chưa sơn tên công ty vì mới tìm được chỗ này tuần trước.

    Chúng ta đi lên nào và ta sẽ bàn về công việc.'

    Tôi đi theo ông ta lên đến cuối cầu thang cao ngất, ở đó, ngay bên dưới mái nhà là hai căn phòng nhỏ trống trơn phủ đầy bụi, chẳng có thảm mà cũng chẳng có rèm, ông ta đưa tôi vào đó.

    Tôi đã tưởng tượng về một văn phòng to rộng cùng bàn ghế sáng loáng với từng dãy nhân viên như nơi tôi làm trước đây và tôi dám nói rằng mình cứ nhìn chòng chọc vào hai cái ghế bằng gỗ thông, một cái bàn nhỏ, một cuốn sổ với một cái giỏ đựng giấy vụn là toàn bộ đồ đạc trong phòng.

    'Đừng vội nản lòng, anh Pycroft ạ,' con người mà tôi mới quen biết lên tiếng khi nhìn thấy bộ mặt chảy dài của tôi.

    'Thành Rome đâu có xây xong trong một ngày, và mặc dù không chi nhiều vào việc trang bị văn phòng, nhưng chúng tôi có rất nhiều tiền trong két.

    Xin mời ngồi và cho tôi xem lá thư.'

    Tôi trình lá thư và ông ta đọc nó thật kĩ.

    'Có vẻ như anh đã gây ấn tượng rất mạnh với Arthur, em trai tôi', ông ta nói, 'và tôi biết rằng cậu ấy là người xét đoán khá sắc sảo.

    Cậu ta thì tin tưởng người London còn tôi thì tôi thích Birmingham như anh đã biết; nhưng lần này thì tôi sẽ nghe theo lời khuyên của em mình.

    Coi như anh đã chắc chắn được tuyển dụng.'

    'Công việc của tôi là gì?' Tôi hỏi.

    '

    Sau này, anh sẽ quản lí kho chứa hàng lớn ở Paris, đó là nơi sẽ xuất hàng loạt bát đĩa của Anh đến các cửa hàng của một trăm ba mươi tư đại lí ở Pháp.

    Việc mua hàng sẽ hoàn tất trong một tuần nữa và trong thời gian đó anh sẽ ở lại Birmingham và hỗ trợ cho công ty.'

    'Bằng cách nào?'

    Để trả lời, ông ta lấy ra khỏi ngăn kéo một cuốn sách to màu đỏ.

    'Đây là cuốn danh bạ Paris', ông ta nói, 'với nghề nghiệp được ghi sau tên người.

    Tôi muốn anh đem nó về nhà và chọn ra tất cả những người buôn bán hàng gia dụng cùng với địa chỉ của họ.

    Bản danh sách đó sẽ giúp ích rất nhiều cho tôi.'

    'Tôi nghĩ là đã có những danh sách phân loại rồi chứ?' Tôi gợi ý.

    'Chúng không đáng tin tưởng.

    Hệ thống phân loại của họ khác với của chúng ta.

    Anh cứ bám vào danh bạ và trình cho tôi các danh sách vào lúc 12 giờ sáng thứ hai.

    Tạm biệt, anh Pycroft, nếu anh chứng tỏ được lòng nhiệt tình và trí óc của mình thì anh sẽ thấy công ty đãi ngộ rất tốt.'

    Tôi trở về khách sạn với cuốn sách to kẹp dưới nách và những cảm giác vô cùng mâu thuẫn đè nặng trong ngực.

    Một mặt, tôi đã chắc chắn được tuyển dụng và có một trăm bảng trong túi; mặt khác, vẻ tồi tàn của văn phòng, rồi không có tên công ty trên tường cũng như việc người kia chả có nét gì giống một doanh nhân đã để lại trong tôi ấn tượng xấu về địa vị các ông chủ của mình.

    Tuy nhiên, dù gì đi nữa, tôi đã có tiền, do đó tôi bắt tay vào công việc.

    Suốt cả ngày chủ nhật tôi cắm cúi làm việc vậy mà đến thứ hai tôi mới chỉ phân loại đến vần H.

    Tôi đến gặp ông chủ cũng trong căn phòng trơ trụi đó và ông ta bảo tôi cứ tiếp tục làm đến ngày thứ tư rồi quay trở lại.

    Đến hôm thứ tư tôi vẫn chưa làm xong vì thế tôi tiếp tục cố gắng làm đến ngày thứ sáu - tức là hôm qua.

    Sau đó, tôi đem nó đến cho ông Harry Pinner.

    'Cảm ơn anh rất nhiều', ông ta nói.

    'Tôi sợ rằng mình đã đánh giá thấp mức độ khó khăn của việc này.

    Bản danh sách sẽ rất có ích cho tôi.'

    'Quả là nó đã chiếm khá nhiều thì giờ', tôi nói.

    'Giờ thì', ông ta bảo, 'tôi muốn anh lập ra một danh sách các cửa tiệm bán đồ nội thất vì họ cũng bán bát đĩa.'

    'Được ạ.'

    'Và tối mai, lúc 7 giờ, anh hãy đến đây để cho tôi biết đã làm được đến đâu.

    Đừng có gắng sức quá.

    Sau giờ làm việc nếu có đi nghe nhạc vài giờ ở phòng hòa nhạc Day's Music thì cũng không hại gì đâu.' Ông ta vừa cười vừa nói và tôi rùng mình khi nhìn thấy cái răng thứ hai phía bên trái được bịt vàng trông đến là khó coi của ông ta."

    Sherlock Holmes xoa tay vào nhau tỏ vẻ thích thú còn tôi thì kinh ngạc nhìn chằm chằm người khách.

    "Hẳn là ông rất ngạc nhiên, bác sĩ Watson, nhưng sự tình là thế này", anh ta nói.

    "Khi tôi nói chuyện với người kia ở London, lúc ông ta cười khi nghe ý định của tôi là sẽ không đến trình diện ở Mawson, tôi tình cờ nhìn thấy răng của ông ta cũng bịt cùng một kiểu giống hệt.

    Mỗi lần như thế, ánh vàng lấp lánh đều khiến tôi chú ý, ông hiểu chứ.

    Khi liên hệ điều đó với giọng nói và vóc dáng giống nhau cùng những khác biệt mà dễ dàng thay đổi bằng dao cạo hay bộ tóc giả thì tôi đã đoán chắc rằng đó chỉ là một người.

    Tất nhiên là ông nghĩ rằng hai anh em cũng có thể giống nhau nhưng họ không thể có cùng một cái răng bịt theo cùng một kiểu, ông ta cúi chào tiễn tôi và tôi thấy mình ở ngoài đường, không biết là đang đứng bằng chân hay bằng đầu nữa.

    Tôi trở về khách sạn, nhúng đầu vào bồn nước lạnh và cố gắng suy nghĩ.

    Tại sao ông ta lại phái tôi từ London đến Birmingham?

    Tại sao ông ta lại đến đó trước tôi?

    Và tại sao ông ta lại tự viết cho mình một lá thư?

    Những điều đó thật quá sức với tôi và tôi chẳng hiểu gì cả.

    Và đột nhiên tôi nhớ ra rằng những gì mù mịt đối với tôi thì có thể là rất rõ ràng với ông Sherlock Holmes.

    Tôi có vừa đủ thời gian để đi lên thành phố để gặp ông ấy sáng nay và đưa cả hai ông cùng xuống Birmingham với tôi."

    Khi người nhân viên công ty chứng khoán kết thúc câu chuyện kì lạ của anh ta, chúng tôi im lặng mất một lúc.

    Rồi Sherlock Holmes đưa mắt nhìn tôi và tựa lưng vào nệm phía sau với vẻ mặt hài lòng pha lẫn phán xét giống như một người sành sỏi vừa nếm xong ngụm vang sao chổi đầu tiên.

    "Khá hay đấy, Watson, phải không nào?"

    Anh nói.

    "Vụ này có những điểm tôi rất thích.

    Tôi nghĩ anh sẽ đồng ý với tôi rằng một buổi gặp mặt ông Arthur Harry Pinner trong văn phòng tạm của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đồ gia dụng Franco Midland sẽ là một kinh nghiệm khá lí thú cho hai chúng ta."

    "Nhưng ta gặp thế nào được?"

    Tôi hỏi.

    "Ồ, dễ thôi", Hall Pycroft vui vẻ xen vào.

    "Các ông là hai người bạn của tôi, đang cần tìm việc và còn gì tự nhiên hơn khi tôi đưa hai ông đến gặp vị giám đốc điều hành này?"

    "Đúng thế, tất nhiên rồi", Holmes nói.

    "Tôi muốn nhìn qua ông ta một chút và xem thử mình có thể hiểu được gì từ trò vui nho nhỏ của ông ta.

    Anh bạn ạ, anh có phẩm chất gì mà được đánh giá cao đến thế?

    Hay là..."

    Anh bắt đầu cắn móng tay và nhìn mông lung ra ngoài cửa sổ.

    Từ đó cho đến khi chúng tôi đến New Street thì hầu như không moi được lời nào từ miệng anh.

    Vào 7 giờ tối hôm đó, cả ba chúng tôi cùng cuốc bộ xuống phố Corporation để đến văn phòng công ty.

    "Ta chẳng cần phải đến sớm làm gì", thân chủ của chúng tôi cất lời.

    "Rõ ràng là ông ta chỉ đến đó để gặp tôi, vì văn phòng luôn trống cho đến giờ ông ta hẹn."

    "Chi tiết này rất có ý nghĩa", Holmes nhận xét.

    "Ái chà, tôi đã nói với các ông rồi!"

    Anh chàng kêu lên, "ông ta đang đi phía trước chúng ta kìa."

    Anh ta chỉ vào một người đàn ông nhỏ con có nước da nâu, ăn mặc nhã nhặn đang hối hả đi trên vỉa hè phía bên kia.

    Khi chúng tôi còn đang quan sát thì ông ta nhìn ngang qua đường về phía thằng bé bán báo đang gân cổ rao số báo chiều mới ra, rồi ông ta chạy băng qua giữa những cỗ xe ngựa và xe ngựa công cộng để mua một tờ.

    Sau đó, kẹp chặt nó trong tay, ông ta biến mất sau một khung cửa.

    "Ông ta lên đó đấy!"

    Hall Pycroft kêu lên.

    "Chỗ ông ta bước vào là văn phòng của công ty.

    Các ông cứ đi với tôi và tôi sẽ cố gắng lo liệu mọi việc thật ổn thỏa."

    Đi theo anh ta, chúng tôi leo qua năm tầng lầu cho tới khi đến trước một cánh cửa mở hé thì thân chủ của chúng tôi gõ cửa.

    Từ bên trong vọng ra một giọng nói mời vào, thế là chúng tôi đi vào một căn phòng chẳng có đồ đạc gì đúng như Hall Pycroft đã mô tả.

    Đang ngồi tại chiếc bàn đơn là người đàn ông mà chúng tôi vừa thấy ngoài đường lúc nãy với tờ báo buổi chiều trải trước mặt.

    Khi ông ta ngước lên nhìn chúng tôi, tôi có cảm giác chưa bao giờ trông thấy khuôn mặt nào bộc lộ nỗi đau thương như thế, và còn hơn cả đau thương - một nỗi kinh hoàng mà rất ít người gặp phải trong đời.

    Trán ông ta ướt đẫm mồ hôi, hai gò má trắng nhợt như bụng cá chết và cặp mắt lộ ra tia nhìn man dại.

    Ông ta nhìn nhân viên của mình như thể không nhận ra và dựa vào vẻ ngạc nhiên hiện rõ trên mặt người dẫn đường của chúng tôi, tôi có thể biết rằng đây không phải là diện mạo hằng ngày của chủ anh ta.

    "Trông ông yếu lắm, ông Pinner!"

    Anh ta thốt lên.

    "Phải, tôi không được khỏe", người đó trả lời và cố hết sức trấn tĩnh lại, ông ta liếm đôi môi khô trước khi nói tiếp.

    "Hai ông đi cùng đây là ai thế?"

    "Một người là Harris ở Bermondsey và người kia là ông Price sống ở thành phố này", anh nhân viên liến thoắng.

    "Họ là bạn tôi và đều có kinh nghiệm nhưng đã thất nghiệp một thời gian và họ hi vọng rằng biết đâu ông có thể tìm được một việc làm trong công ty cho họ."

    "Có thể lắm chứ!

    Rất có thể!"

    Ông Pinner kêu lên và nở một nụ cười khổ sở.

    "Đúng thế, tôi tin chắc rằng chúng tôi có thể làm được gì đó giúp các ông.

    Chuyên môn của ông là gì thưa ông Harris?"

    "Tôi là kế toán", Holmes trả lời.

    "À phải, công ty sẽ cần một người như thế.

    Thế còn ông, ông Price?"

    "Tôi là nhân viên văn phòng", tôi đáp.

    "Tôi nghĩ rằng có nhiều khả năng công ty sẽ giúp đỡ được các ông.

    Tôi sẽ báo tin cho các ông biết ngay khi công ty có quyết định.

    Và bây giờ tôi xin phép mời các ông ra ngoài.

    Vì Chúa, xin hãy để tôi được yên."

    Những lời cuối cùng bật ra từ miệng ông ta như thể sự đè nén mà rõ ràng là ông ta đã cố khuôn mình vào đột nhiên vỡ bung ra.

    Holmes và tôi liếc nhìn nhau còn Hall Pycroft thì bước về phía chiếc bàn.

    "Ông Pinner, ông quên rằng đã hẹn tôi đến đây để nhận chỉ thị của ông", anh ta nói.

    "Hoàn toàn đúng, anh Pycroft ạ, chắc chắn rồi", người kia đã lấy được giọng bình tĩnh hơn.

    "Anh vui lòng đợi ở đây một lát, và các bạn của anh đợi cùng cũng không sao.

    Tôi sẽ dành toàn bộ thời gian cho anh sau ba phút nữa nếu anh đủ kiên nhẫn."

    Ông ta đứng dậy với dáng vẻ rất lịch sự và cúi chào chúng tôi rồi bước qua một cánh cửa ở cuối căn phòng và khép lại sau lưng.

    "Có chuyện gì vậy nhỉ?"

    Holmes thì thầm.

    "Liệu hắn ta có định chuồn đi không?"

    "Không thể được", Pycroft nói.

    "Tại sao?"

    "Cánh cửa này dẫn vào căn phòng bên trong."

    "Không có lối thoát à?"

    "Không."

    "Căn phòng đó có được trang bị gì không?"

    "Hôm qua thì nó hãy còn trống trơn."

    "Vậy hắn có thể làm trò gì trong đó nhỉ?

    Trong thái độ của hắn có vẻ gì đó mà tôi không sao hiểu được.

    Nếu ai đó có đến ba phần điên dại lại thêm khiếp sợ nữa thì hẳn chỉ có gã Pinner này thôi.

    Điều gì đã làm cho hắn run sợ thế nhỉ?"

    "Hay là hắn nghi ngờ chúng ta là thám tử", tôi thử gợi ý.

    "Đúng thế!"

    Pycroft reo lên.

    Holmes lắc đầu.

    "Mặt hắn không tái đi khi thấy chúng ta mà nó đã xanh mét từ trước khi ta bước vào phòng", anh nói.

    "Chỉ có thể là..."

    Lời nói của anh bị cắt ngang bởi tiếng cạch cạch đanh gọn phát ra từ căn phòng bên trong.

    "Hắn tự gõ vào cánh cửa phòng mình làm quái gì nhỉ?"

    Người nhân viên kêu to.

    Tiếng cạch cạch lại vang lên và lần này còn to hơn nhiều.

    Chúng tôi cùng chăm chú nhìn về phía cánh cửa chờ đợi.

    Nhìn sang Holmes, tôi thấy mặt anh đanh lại và anh chúi người ra trước trong trạng thái hưng phấn mãnh liệt.

    Rồi thình lình vọng ra một tiếng ằng ặc, òng ọc khe khẽ và những tiếng gõ dồn dập lên mặt gỗ.

    Holmes phóng qua căn phòng và xô mạnh vào cánh cửa.

    Nó đã được cài chặt từ bên trong.

    Bắt chước anh, chúng tôi cùng xông lên xô hết sức vào cánh cửa.

    Một cái bản lề bị gãy lìa, rồi tiếp theo một cái nữa và cánh cửa đổ xuống đánh sầm một tiếng.

    Chúng tôi lao vào và thấy mình đang đứng ở căn phòng bên trong.

    Nó hoàn toàn trống trơn.

    Nhưng chỉ một giây sau chúng tôi nhận ra là mình đã lầm.

    Ở một góc phòng, góc gần sát với căn phòng bên ngoài mà chúng tôi vừa rời khỏi, còn có một cánh cửa khác nữa.

    Holmes nhảy vọt đến đó và kéo nó mở ra.

    Một chiếc áo khoác và áo gilet đang nằm trên sàn, và lủng lẳng trên cái móc sau cánh cửa là gã tổng giám đốc Công ty Đồ gia dụng Franco Midland với sợi dây đeo quấn tròng quanh cổ.

    Hai đầu gối hắn ta co lên cao, đầu gục xuống thân một cách quái dị và tiếng hai gót giày va chạm vào cánh cửa chính là tiếng động đã cắt ngang cuộc trò chuyện của chúng tôi lúc nãy.

    Ngay lập tức, tôi ôm ngang hông hắn và giữ người hắn cao lên trong khi Holmes và Pycroft gỡ các dải đeo quấn co dãn đã lẩn sâu vào những nếp da thâm tím.

    Sau đó chúng tôi khiêng hắn sang căn phòng kia và đặt hắn nằm đó, mặt đã ngả màu đất sét và đôi môi thâm tím mấp máy theo từng hơi thở - cái thân xác tàn tạ mà mới năm phút trước còn ra dáng con người.

    "Anh nghĩ sao về tình trạng của hắn, hả Watson?"

    Holmes hỏi.

    Tôi cúi xuống hắn và kiểm tra kĩ càng.

    Mạch của hắn rất yếu và đứt đoạn nhưng hơi thở đã sâu hơn và mí mắt đã khẽ mấp máy để lộ một khe nhỏ màu trắng của nhãn cầu bên dưới.

    "Hắn vừa suýt bỏ mạng", tôi nói, "nhưng giờ thì sống rồi.

    Làm ơn mở cửa sổ và đưa hộ tôi bình nước."

    Tôi mở cổ áo hắn ra, đổ một ít nước lên mặt hắn và nâng lên hạ xuống hai cánh tay hắn cho đến khi hơi thở điều hòa.

    "Giờ thì chỉ còn là vấn đề thời gian", tôi nói và lùi ra.

    Holmes đứng bên cạnh bàn, hai tay thọc sâu vào túi quần còn cằm thì gục xuống ngực.

    "Tôi nghĩ giờ thì ta nên báo cảnh sát", anh nói.

    "Thế nhưng tôi phải thú nhận rằng tôi vẫn muốn giao cho họ một vụ hoàn chỉnh khi họ đến đây."

    "Đây là một bí mật quỷ quái đối với tôi", Pycroft gãi đầu kêu lên.

    "Không hiểu bọn họ muốn gì khi đưa tôi đến đây bằng mọi cách, rồi cuối cùng..."

    "Hừ!

    Tất cả đều rõ ràng", Holmes sốt ruột nói.

    "Chỉ trừ mỗi hành động bất ngờ cuối cùng này."

    "Tức là ông hiểu những việc còn lại?"

    "Tôi nghĩ rằng nó cũng khá rõ ràng.

    Còn anh, Watson?"

    Tôi nhún vai.

    "Tôi buộc phải thú nhận rằng điều đó là quá khả năng của tôi", tôi đáp.

    "Ồ, chắc chắn là nếu anh xem xét mọi sự kiện từ đầu thì chúng đều hướng đến một kết luận."

    "Vậy đó là gì?"

    "Thế này, toàn bộ sự việc đều xoay quanh hai điểm.

    Điểm thứ nhất là chúng yêu cầu Pycroft viết một bản tuyên bố xác nhận làm việc cho cái công ty vớ vẩn này.

    Anh không nhận thấy chi tiết đó rất có ý nghĩa sao?"

    "Tôi e rằng mình đã bỏ sót điểm này!"

    "Đấy, vì sao bọn chúng muốn anh ta làm thế?

    Đó không phải là thủ tục công việc, vì những thỏa thuận như thế thường chỉ là giao trước miệng và chẳng có lí do gì mà trường hợp này lại là ngoại lệ.

    Này anh bạn trẻ, anh không thấy rằng, bọn chúng chỉ nôn nóng muốn có mẫu chữ viết của anh, và ngoài cách đó ra thì chẳng còn cách nào khác để đạt được điều đấy?"

    "Tại sao?"

    "Đúng thế.

    Tại sao?

    Chỉ cần trả lời được câu hỏi này, ta sẽ tiến thêm một bước trong vụ này.

    Tại sao?

    Chỉ có thể có một lí do thỏa đáng.

    Ai đó cần bắt chước chữ viết của anh và vì thế trước hết phải thu thập được mẫu chữ.

    Và giờ nếu chuyển sang điểm thứ nhì thì ta sẽ thấy rằng hai điểm này chiếu rọi cho nhau.

    Điểm thứ nhì là Pinner yêu cầu anh không nên từ chối vị trí của mình mà cứ để cho giám đốc công ty lớn này vẫn tưởng rằng anh Hall Pycroft, một người mà ông ta chưa hề gặp mặt bao giờ, sẽ đến văn phòng vào sáng thứ hai."

    "Lạy Chúa!"

    Thân chủ của chúng tôi kêu lên.

    "Tôi mới mù quáng làm sao!"

    "Vậy thì anh sẽ hiểu điểm chữ viết.

    Giả sử có ai đó xuất hiện thế vào chỗ của anh nhưng lại có kiểu chữ hoàn toàn khác biệt với kiểu chữ của anh trong lá đơn xin việc thì trò này coi như xong.

    Thế nhưng nếu trong khoảng thời gian trước khi vào làm, kẻ giả mạo đó bắt chước được chữ viết của anh thì vị trí của hắn sẽ được đảm bảo, vì tôi đoán là không một ai trong công ty từng gặp mặt anh."

    "Chẳng ai cả", Hall Pycroft rên rỉ.

    "Rất tốt.

    Tất nhiên việc tối quan trọng là làm sao ngăn anh hiểu rõ hơn về điều ấy và đồng thời cũng ngăn anh tiếp xúc với bất kì ai có thể cho anh biết rằng có kẻ đóng vai của anh đang làm việc tại Mawson.

    Vì thế chúng đưa cho anh một món tạm ứng khá lớn và điều anh đi đến tận Midlands, chúng bắt anh làm khá nhiều việc nhằm ngăn không cho quay lại London nơi anh có thể phá hỏng cuộc chơi của chúng."

    "Nhưng sao gã đó lại đóng giả làm anh ruột mình?"

    "Điểm này cũng khá rõ.

    Hiển nhiên là trong việc này chỉ có hai tên.

    Gã kia giả làm anh ở công ty.

    Tên này đóng vai trò người tuyển dụng anh, sau đó hắn nhận thấy không thể tìm ra người nào làm sếp của anh mà lại không cho tham gia vào âm mưu này, đó là điều mà hắn không hề mong muốn.

    Hắn đã cố hết sức thay đổi ngoại hình và tin rằng vẻ bề ngoài giống nhau mà chắc chắn anh sẽ nhận thấy có thể được quy là sự giống nhau của anh em một nhà.

    Nhưng nếu không nhờ cái răng bịt vàng thì hẳn anh sẽ chẳng bao giờ nghi ngờ."

    Hall Pycroft vung hai nắm tay lên.

    "Trời ơi!"

    Anh ta kêu.

    "Trong khi tôi bị lừa thế này thì gã Hall Pycroft kia đang làm gì tại Mawson?

    Chúng ta nên làm gì hả ông Holmes?

    Xin hãy cho tôi biết cần phải làm gì?"

    "Chúng ta phải đánh điện đến Mawson."

    "Họ đóng cửa từ trưa thứ bảy."

    "Không sao.

    Có thể có người gác cửa hay bảo vệ."

    "Ồ, phải, ở đó luôn có một bảo vệ vì các cổ phiếu mà công ty đang nắm giữ rất có giá trị.

    Tôi nhớ là khu City người ta vẫn đồn như thế."

    "Rất tốt, chúng ta sẽ đánh điện cho anh ta để xem mọi chuyện có ổn thỏa không, và gã nhân viên mang tên anh có đang làm việc ở đó hay không.

    Vậy là khá đủ rồi, nhưng vẫn còn một điều mà tôi chưa hiểu là tại sao vừa trông thấy chúng ta thì một trong hai kẻ giả mạo này lại bỏ vào trong ngay tức khắc rồi tự treo cổ."

    "Tờ báo!"

    Một giọng nói khàn đục vang lên từ sau lưng chúng tôi.

    Gã kia đã ngồi lên, tái nhợt như xác chết, đôi mắt đã có hồn trở lại và hai tay không ngừng xoa vuốt lên lằn đỏ rộng vẫn còn hằn quanh cổ.

    "Tờ báo!

    Tất nhiên rồi!"

    Holmes reo lên trong cơn phấn khích.

    "Sao mà tôi ngốc thế!

    Tôi cứ mải nghĩ về việc chúng ta đến đây mà quên khuấy đi tờ báo.

    Chắc chắn là điều bí mật nằm ở trong này!"

    Anh trải tờ báo lên bàn và bật lên tiếng reo chiến thắng.

    "Nhìn xem này, Watson", anh kêu lên.

    "Đây là một tờ báo xuất bản ở London, ấn bản sớm của tờ Evening Standard.

    Còn đây là điều chúng ta cần.

    Hãy nhìn những dòng tít này xem: Tội phạm ở khu City.

    Án mạng tại Công ty Mawson & Williams.

    Một vụ cướp lớn bất thành.

    Đã bắt được tội phạm.

    Đây, Watson, chúng tôi đều nôn nóng muốn nghe, xin anh hãy vui lòng đọc to lên."

    Từ vị trí của bài báo ta có thể đoán đây là một sự kiện quan trọng ở thủ đô, và nội dung của nó như sau:

    Trưa nay, một vụ cướp liều lĩnh đã xảy ra ở khu City, kết cục là một nạn nhân tử vong và kẻ phạm tội đã bị bắt giữ.

    Mới đây, công ty tài chính nổi tiếng Mawson & Williams đã nhận giám hộ số cổ phiếu có tổng giá trị lên tới hơn một triệu sterling.

    Ý thức rõ trách nhiệm đè nặng lên vai mình nếu như khối tài sản rất lớn này bị đe dọa, giám đốc công ty đã cho lắp đặt những chiếc két an toàn tối tân đồng thời cắt đặt một nhân viên bảo vệ trang bị vũ khí canh gác cả ngày lẫn đêm trong tòa nhà.

    Tuần vừa qua, công ty mới tuyển một nhân viên mới tên là Hall Pycroft.

    Có vẻ như người này chính là Beddington, một tội phạm phá két và giả mạo giấy tờ lừng danh, tên này và anh trai vừa mãn hạn năm năm tù khổ sai.

    Chưa rõ bằng cách nào hắn có được chỗ làm chính thức trong công ty này dưới một cái tên giả và đã lợi dụng vị trí đó để lấy khuôn nhiều ổ khóa và biết rõ vị trí phòng an toàn và các két sắt.

    Thông thường các nhân viên của Mawson tan làm vào trưa thứ bảy.

    Do đó, trung sĩ Tuson, thuộc đồn cảnh sát khu City, hơi ngạc nhiên khi thấy một người cầm túi du lịch đi xuống cầu thang vào lúc 1 giờ 20.

    Ông sinh nghi và theo dõi tên này, rồi cùng với sự hỗ trợ của cảnh sát viên Pollock đã tóm được hắn sau khi bị kháng cự kịch liệt.

    Ngay lập tức người ta đã phát hiện ra một vụ cướp táo bạo và tầm cỡ vừa được thực hiện.

    Số trái phiếu của công ty đường sắt Mỹ lên đến gần một trăm ngàn bảng cùng một lượng lớn tín phiếu của các hầm mỏ và các công ty khác đã được tìm thấy trong chiếc túi.

    Khi kiểm tra tòa nhà người ta phát hiện ra xác chết của người bảo vệ xấu số bị gập lại và nhét vào chiếc két sắt lớn nhất mà nếu không có hành động kịp thời của trung sĩ Tuson thì phải đến sáng thứ hai người ta mới phát giác.

    Sọ của nạn nhân bị đập vỡ từ phía sau bằng thanh cời lò.

    Rõ ràng là Beddington đã vờ như bỏ quên vật gì đó để vào tòa nhà và đã sát hại người bảo vệ, sau đó hắn nhanh chóng cuỗm hết mọi thứ trong chiếc két to đó rồi bỏ trốn cùng với tài sản cướp được.

    Đến nay, người anh thường cộng tác cùng hắn vẫn chưa xuất hiện trong vụ này, mặc dù vậy cảnh sát vẫn đang nỗ lực tìm kiếm những nơi tên này ẩn náu.

    "Thế là chúng ta có thể giúp cho cảnh sát tránh được một rắc rối nho nhỏ trong vụ này", Holmes nói và liếc nhìn thân hình phờ phạc đang ngồi thu lu bên cửa sổ.

    "Bản chất con người là một sự pha trộn rất kì lạ, Watson ạ.

    Anh xem, đến một tên tội phạm và là kẻ sát nhân mà còn được anh trai yêu mến đến nỗi tự tử khi nghe tin hắn phải lãnh án tử hình.

    Thế nhưng ta đâu còn chọn lựa nào khác.

    Bây giờ thì bác sĩ và tôi sẽ ở đây canh chừng hắn, còn anh thì hãy vui lòng đi báo cảnh sát hộ, anh Pycroft ạ."
     
    Sherlock Holmes Toàn Tập
    CON TÀU GLORIA SCOTT (The Gloria Scott, 1893)


    Vào một đêm đông, khi chúng tôi đang ngồi hai bên lò sưởi thì anh bạn Sherlock Holmes nói, "Tôi có một ít giấy tờ mà tôi thật sự nghĩ rằng đáng để anh xem qua, Watson ạ.

    Đó là những tài liệu về vụ án lạ lùng liên quan đến con tàu Gloria Scott, và đây là lá thư đã khiến cho thẩm phán Peace Trevor phải chết vì kinh hoàng khi đọc nó."

    Anh lấy từ ngăn kéo ra một cuộn giấy đã ngả màu, tháo dây buộc rồi trao cho tôi một lá thư ngắn viết nguệch ngoạc trên nửa tờ giấy màu xám:

    Kết quả là cuộc săn tới rồi.

    Quản rừng Hudson báo cáo đã sẵn sàng khai hỏa, bắn hết gà lôi.

    Mau đừng để thoát con nào đi mất.

    Khi ngước lên sau khi đọc xong lá thư bí ẩn này, tôi thấy Holmes đang cười thầm về biểu hiện trên mặt tôi.

    "Trông anh có vẻ hơi bối rối", anh nói

    "Tôi không thể nào hiểu được làm sao một bức thư như thế này lại có thể khiến cho ai đó phải kinh hoàng.

    Đối với tôi thì nó có phần lố bịch."

    "Đúng thế.

    Nhưng sự thực là vì nó mà người đọc, một người đàn ông đứng tuổi khỏe mạnh, tráng kiện đã bị hạ gục ngay tại chỗ như thể bị giáng cho một báng súng."

    "Anh làm tôi tò mò đấy", tôi nói.

    "Nhưng sao vừa lúc nãy anh lại bảo là tôi nên xem xét vụ án này vì những lí do vô cùng đặc biệt?"

    "Bởi vì đó là vụ đầu tiên mà tôi tham gia."

    Trước đây tôi vẫn thường cố gắng gợi cho bạn mình nói ra bước ngoặt đầu tiên khiến anh chuyển sang công việc nghiên cứu tội phạm nhưng chẳng bao giờ thấy anh trong tâm trạng cởi mở.

    Lúc này anh ngồi trên ghế bành, người hơi chúi ra trước và trải các tài liệu kia lên đùi.

    Rồi anh châm tẩu thuốc và yên lặng một hồi, vừa hút thuốc vừa lật những trang giấy.

    "Hẳn là anh chưa bao giờ nghe tôi kể về Victor Trevor?"

    Anh nói.

    "Anh ấy là người bạn duy nhất của tôi trong suốt hai năm đầu đại học.

    Tôi không phải là người hay giao du kết bạn, Watson ạ, chỉ thích ru rú trong nhà và phát triển các phương pháp tư duy nho nhỏ của mình, vì vậy mà tôi ít giao thiệp với các bạn đồng khóa.

    Ngoài đấu kiếm và quyền Anh tôi cũng ít các sở thích thể thao, rồi sau tôi chọn ngành học khác hoàn toàn so với các sinh viên khác, do đó chúng tôi chẳng có điểm nào chung.

    Trevor là người duy nhất tôi quen và chúng tôi chỉ biết nhau sau sự cố con chó sục bun của anh ấy ngoặm cứng vào mắt cá chân tôi khi tôi trên đường đến nhà thờ.

    Đó là một cách kết bạn chẳng mấy thú vị nhưng hiệu quả.

    Vì cái gót chân bị thương mà tôi phải nằm một chỗ đến mười ngày nhưng Trevor vẫn thường xuyên đến thăm hỏi.

    Đầu tiên thì chỉ chuyện trò khoảng một phút, nhưng sau đó thì những cuộc viếng thăm kéo dài hơn và trước khi tôi bình phục thì chúng tôi đã trở thành hai người bạn thân.

    Anh ấy là một chàng trai cường tráng và sôi nổi, tràn đầy năng lượng và sức sống, trái ngược với tôi gần như mọi mặt, nhưng chúng tôi cũng có một số điểm chung, và chúng tôi thân nhau khi tôi phát hiện ra rằng cũng giống như tôi, anh ấy chẳng có người bạn nào.

    Cuối cùng thì anh ấy mời tôi đến thăm nhà cha anh ở Donnithorpe, vùng Norfolk và tôi đã đón nhận lòng mến khách của anh bằng cách về đó một tháng trong kì nghỉ dài.

    Ông lão Trevor rõ là một người giàu có và chu đáo, một thẩm phán hòa giảiđồng thời cũng là một điền chủ.

    Donnithorpe là một ngôi làng nhỏ nằm ở ngay phía bắc Langmere, trong vùng Broads.

    Ngôi nhà ấy có tường gạch, rầm xà bằng gỗ sồi, xây rộng rãi theo kiểu cổ, có một con đường lớn lát đá vôi rất đẹp dẫn thẳng đến nhà.

    Ở đó có bãi săn vịt trời lí tưởng, có nơi câu cá rất tốt, một thư viện tuy nhỏ nhưng chọn lọc, theo như tôi được biết, do một người chủ cũ để lại, và một đầu bếp tạm ổn, nên ai không tận hưởng được kì nghỉ dài một tháng ở đây thì hẳn là một người khó tính.

    Ông cụ Trevor đã góa vợ và bạn tôi là con trai duy nhất.

    Tôi nghe nói là còn có một cô con gái nữa nhưng đã chết vì bệnh bạch hầu trong một lần đến Birmingham chơi.

    Ông Trevor là người thú vị.

    Ông ấy không phải người có văn hóa cao nhưng lại có sức mạnh đáng nể cả về thể chất lẫn tinh thần.

    Ông ấy chẳng biết mấy về sách vở nhưng đã đi đây đi đó và trải nghiệm nhiều.

    Và ông vẫn còn nhớ tất cả những gì mình đã học hỏi được.

    Về vóc dáng thì ông ấy là một người lực lưỡng, chắc nịch, tóc dày đã hoa râm, gương mặt sạm nâu dãi dầu sương gió, mắt xanh hơi dữ tợn.

    Tuy nhiên, ông lại nổi tiếng khắp vùng về lòng tốt, sự nhân hậu và được ghi nhận là một thẩm phán với những bản án khoan dung.

    Một tối nọ, khi tôi về đó chưa lâu, chúng tôi đang ngồi uống rượu vang đỏ sau bữa tối thì anh Trevor bắt đầu nói về những thói quen quan sát và suy luận mà tôi đã lập thành một hệ thống, dù rằng lúc đó tôi chưa đánh giá được vai trò của chúng trong cuộc đời mình.

    Rõ ràng là ông bố nghĩ rằng con mình đã phóng đại lên khi mô tả một vài thành tích nho nhỏ mà tôi đã thực hiện.

    'Này, Holmes', ông vừa cười vui vẻ vừa nói.

    'Nếu như cháu có thể suy đoán được điều gì từ ta, thì ta cũng là một đối tượng thú vị đấy.'

    'Cháu sợ không được nhiều cho lắm,' tôi đáp, 'chỉ có thể đoán rằng trong vòng mười hai tháng trở lại đây bác đang lo lắng về một vụ tấn công mang tính cá nhân.'

    Nụ cười tan dần trên môi ông lão và ông hết sức ngạc nhiên nhìn tôi chăm chú.

    'Ồ, thế mà lại đúng', quay sang phía con trai mình, ông nói.

    'Con biết không, Victor, khi cha cùng các đồng nghiệp giải tán đám săn trộm, chúng thề là sẽ cho bọn ta biết mùi lưỡi dao của chúng và đúng là ngài Edward Holby đã bị tấn công.

    Từ lúc đó, cha lúc nào cũng chú tâm đề phòng, nhưng cha không hiểu sao các con lại biết chuyện này!'

    'Bác có một cây gậy rất đẹp', tôi trả lời.

    'Căn cứ theo hàng chữ khắc trên gậy mà cháu nhìn thấy thì bác mới có nó khoảng một năm.

    Nhưng bác đã dụng công khoan một lỗ ở đầu gậy và đổ chì vào đó để biến nó thành một thứ vũ khí đáng sợ.

    Cháu suy ra rằng nếu không vì lo ngại một mối nguy hiểm nào đó thì bác đã chẳng phải đề phòng đến thế.'

    'Còn gì nữa không?' Ông mỉm cười hỏi tiếp.

    'Khi còn trẻ bác đã tập quyền Anh khá thường xuyên.'

    'Lại nói đúng nữa.

    Làm sao mà cháu biết nhỉ?

    Có phải vì mũi của ta bị đấm hơi vẹo chăng?'

    'Không,' tôi đáp.

    'Đó là vì tai của bác.

    Chúng bị bẹt và dày lên rất khác thường, đó là những dấu hiệu của một võ sĩ quyền Anh.'

    'Còn gì nữa?'

    'Bác đã đào xới đất rất nhiều, dựa vào những vết chai.'

    'Tất cả tiền bạc của ta đều từ các mỏ vàng.'

    'Bác từng sống ở New Zealand.'

    'Cũng đúng.'

    'Đã đi Nhật Bản.'

    'Hoàn toàn đúng.'

    'Và bác từng có quan hệ rất thân thiết với một người có tên viết tắt là J.

    A và sau đó bác lại muốn quên hẳn người đó đi.'

    Ông lão Trevor từ từ đứng dậy và dán chặt đôi mắt to xanh vào mặt tôi với một cái nhìn trừng trừng man dại, rồi đổ nhào ra trước, mặt gục vào đám vỏ hạt rải rác trên tấm khăn trải bàn, và ngất xỉu.

    Anh có thể hình dung, Watson ạ, là cả con trai ông ta và tôi hoảng sợ đến mức nào.

    Tuy nhiên, cơn choáng của ông ấy không kéo dài vì khi chúng tôi mở cổ áo cho ông và lấy nước từ chậu rửa tay vẩy lên mặt, ông thở hắt một hai hơi rồi ngồi lên.

    'À, các cậu trai', ông nói và cố nặn một nụ cười, 'ta hi vọng rằng đã không làm các con sợ.

    Dù trông khỏe mạnh thế này, nhưng ta có một khiếm khuyết ở tim và nó dễ dàng hạ gục ta.

    Holmes này, ta không biết bằng cách nào mà cháu biết được những điều đó, nhưng dường như với ta thì tất cả các thám tử cả ngoài đời lẫn trong truyện đều chỉ là trẻ ranh khi đem so với cháu.

    Đó là công việc của đời cháu đấy, chàng trai, và cháu có thể tin lời một người đã có chút từng trải.'

    Và lời khuyên ấy, cùng lời khen mào đầu có phần phóng đại năng lực của tôi, Watson ạ, không biết anh có tin không, chính là cơ sở đầu tiên khiến tôi cảm thấy có thể lập nghiệp từ những gì mà cho đến lúc đó chỉ đơn thuần là thú vui.

    Tuy nhiên, vào thời điểm ấy, tôi quá lo lắng đến bệnh tình đột ngột của chủ nhà nên không còn đầu óc nào nghĩ đến những chuyện khác.

    'Cháu hi vọng là đã không nói điều gì khiến bác đau lòng?' Tôi nói.

    'Tất nhiên là cháu đã chạm đến một điều khá là tế nhị.'

    'Ta có thể hỏi làm thế nào mà cháu biết được chuyện đó không?

    Và cháu biết đến mức độ nào?' Lúc này thì ông đã nói với vẻ đùa cợt nhưng trong đáy mắt hãy còn phảng phất nét kinh hoàng.

    'Chuyện đó vốn dĩ đơn giản', tôi trả lời.

    'Khi bác xắn tay áo lên để kéo con cá vào thuyền cháu nhìn thấy hai chữ J.A được xăm ở mặt trong khuỷu tay.

    Những chữ này vẫn còn đọc được nhưng vì trông chúng đã mờ đi và phần da xung quanh bợt màu, nên có thể thấy rất rõ là bác đã cố gắng xóa chúng.

    Vậy có thể hiểu đã có lúc những chữ cái viết tắt ấy rất thân thuộc với bác và rồi sau đó bác lại muốn quên chúng đi.'

    'Đôi mắt cháu mới tinh tường làm sao!' Ông reo lên với vẻ nhẹ nhõm.

    'Đúng như những gì cháu nói.

    Nhưng thôi, ta đừng nhắc đến chuyện đó nữa.

    Trong tất cả các hồn ma thì bóng ma của những người tình xưa là đáng sợ nhất.

    Hãy đi vào phòng bi-a và làm một điếu xì gà thư giãn.'

    Kể từ ngày hôm đó, mặc dù vẫn thân mật, nhưng đã có đôi chút nghi ngờ trong cách ông lão cư xử với tôi.

    Ngay cả con trai của ông cũng nhận xét thế này: 'Anh đã khiến ông già sốc đến nỗi', anh nói tiếp, 'ông cụ sẽ chẳng bao giờ còn dám chắc là anh biết chuyện gì hay không biết chuyện gì.'

    Tôi biết chắc ông cụ không định tỏ ra như thế, nhưng nó đã hằn sâu trong tâm trí ông đến nỗi lộ ra trong từng hành động.

    Cuối cùng thì tôi tin rằng tôi đã gây lo lắng cho ông nên nghĩ mình cần kết thúc chuyến thăm này.

    Thế nhưng, vào đúng hôm trước ngày tôi đi thì xảy ra một việc mà sau này mới thấy là quan trọng.

    Trong lúc cả ba chúng tôi đang ngồi trên ghế trong vườn, sưởi nắng và ngắm nhìn phong cảnh vùng Broads trải dài trước mắt thì một người hầu bước vào cho biết có một người đàn ông đang ở trước cửa muốn gặp ông Trevor.

    'Tên ông ta là gì?' Ông chủ nhà hỏi.

    'Ông ấy không chịu nói.'

    'Thế thì ông ta muốn gì?'

    'Ông ấy nói rằng ông chủ biết ông ấy và ông ấy chỉ muốn nói chuyện một chút thôi.'

    'Đưa ông ta vào đây.'

    Chỉ một lúc sau đã thấy một người đàn ông quắt queo xuất hiện với điệu bộ khép nép và có dáng đi kéo lê chân.

    Gã mặc áo khoác không cài khuy có một vết nhựa đường ở tay áo, áo sơmi kẻ ô hai màu đỏ và đen, quần bằng vải thô và đi một đôi ghệt nặng nề rách nát.

    Mặt gã gầy gò và nâu sạm trông có vẻ xảo trá, miệng lúc nào cũng cười để lộ những chiếc răng vàng ệch lô nhô, còn hai bàn tay nhăn nheo của gã thì luôn nắm hờ, rất đặc trưng của thủy thủ.

    Khi gã lù rù đi qua bãi cỏ, tôi nghe như ông Trevor nấc nhẹ một tiếng trong cổ họng và bật dậy khỏi ghế để chạy vào nhà.

    Chỉ một thoáng sau ông đã quay trở ra và tôi ngửi thấy mùi rượu mạnh nồng nặc khi ông đi ngang qua tôi.

    'Sao, anh bạn', ông cất tiếng hỏi, 'tôi có thể làm được gì cho anh đây?'

    Gã thủy thủ đứng nhìn ông qua đôi mắt nheo lại và mặt vẫn hiện lên điệu cười trễ nải.

    'Anh không nhận ra tôi sao?' Gã hỏi lại.

    'Trời ơi, khốn khổ thân tôi, anh chính là Hudson', ông Trevor nói với giọng ngạc nhiên.

    'Là Hudson đây, anh ạ,' gã thủy thủ nói tiếp.

    'Ôi trời, đã hơn ba mươi năm không gặp rồi.

    Anh thì có nhà cửa còn tôi thì vẫn phải bốc thịt muối từ thùng tônô.'

    'Đâu nào, anh sẽ thấy là tôi vẫn chưa quên những ngày xưa ấy'.

    Ông Trevor kêu lên và bước lại gần gã thủy thủ rồi nói nhỏ một câu gì đó, rồi ông lại cao giọng, 'Hãy đi vào nhà bếp và anh sẽ có đồ ăn và thức uống.

    Chắc chắn là tôi sẽ tìm cho anh một công việc.'

    'Cảm ơn, ông bạn', gã đáp và đưa tay sờ mớ tóc trước trán.

    'Tôi vừa mới xong hai năm làm trên một con tàu chở hàng chạy tám hải lí một giờ lúc nào cũng thiếu người, nên giờ tôi chỉ muốn nghỉ ngơi.

    Tôi nghĩ có lẽ mình sẽ ở với Beddoes hoặc là với anh.'

    'Vậy à!' Ông Trevor kêu lên.

    'Anh biết Beddoes sống ở đâu sao?'

    'Chúa phù hộ cho anh, bạn bè cũ ở đâu tôi đều biết hết', gã nói cùng với một nụ cười nham hiểm rồi lù rù đi theo cô hầu xuống bếp.

    Ông Trevor lẩm bẩm điều gì đó với chúng tôi về việc từng làm chung trên một con tàu với người kia hồi đào vàng và sau đó, để chúng tôi lại trên bãi cỏ, ông đi vào nhà.

    Một giờ sau, khi chúng tôi bước vào thì thấy ông đã say bí tỉ nằm dài trên chiếc trường kỉ trong phòng ăn.

    Toàn bộ sự việc để lại trong tôi một ấn tượng rất xấu và ngày hôm sau tôi rời Donnithorpe đi mà chẳng thấy có lỗi gì vì tôi thấy rằng sự hiện diện của tôi chắc chắn sẽ làm cho bạn mình ngượng nghịu.

    Tất cả những sự việc trên xảy ra trong tháng đầu của kì nghỉ dài.

    Tôi về nhà mình ở London và nghiên cứu vài thí nghiệm hóa hữu cơ trong bảy tuần.

    Thế nhưng, vào một ngày đã qua độ giữa thu và kì nghỉ cũng gần hết thì tôi nhận được một bức điện từ bạn tôi nài nỉ tôi quay trở lại Donnithorpe và bảo rằng anh đang rất cần đến lời khuyên và sự trợ giúp của tôi.

    Tất nhiên là tôi bỏ ngang tất cả và lại lên đường đi miền bắc.

    Anh ấy đón tôi ở sân ga bằng một cỗ xe ngựa hai bánh và chỉ thoáng qua tôi thấy ngay anh ấy đã phải trải qua hai tháng rất cam go.

    Anh gầy đi và tiều tụy, điệu bộ vui vẻ sôi nổi rất đặc trưng của anh đã biến mất.

    'Cha tôi đang hấp hối', lời đầu tiên anh nói khi gặp tôi.

    'Không thể nào!' Tôi kêu lên.

    'Có chuyện gì vậy?'

    'Bị đột quỵ.

    Vì một cú sốc thần kinh.

    Cả ngày hôm nay thần chết cứ cận kề bên cha tôi.

    Tôi không biết là ông có còn sống để gặp ta hay không.'

    Watson ạ, hẳn là anh cũng hiểu, tôi đã choáng váng vì tin tức bất ngờ ấy.

    'Nguyên nhân là gì?' Tôi hỏi.

    'À, đó mới là điều cần nói.

    Lên xe đi rồi chúng ta sẽ nói về chuyện đó trên đường đi.

    Anh còn nhớ gã đàn ông đã xuất hiện vào buổi chiều hôm trước khi anh đi chứ?'

    'Nhớ rất rõ.'

    'Anh có biết kẻ mà cha con tôi đã cho vào nhà hôm ấy là ai không?'

    'Tôi không biết!'

    'Đó là một con quỷ, Holmes,' anh kêu lên.

    Tôi ngạc nhiên chăm chú nhìn anh.

    'Phải, hắn chính là một con quỷ.

    Kể từ giờ phút đó chúng tôi chẳng được một giờ nào bình yên - không một chút nào.

    Cũng từ chiều hôm đó ông già chẳng bao giờ ngẩng cao đầu và giờ thì cuộc sống ấy đã nghiền nát cha tôi, ông lên cơn đau tim, tất cả đều là do tên Hudson đáng nguyền rủa này!'

    'Hắn có quyền năng gì mà ghê gớm thế?'

    'À, đó là điều mà dù có phải tốn kém bao nhiêu tôi cũng muốn biết.

    Làm thế nào mà ông già tử tế, nhân hậu lại có thể sa vào nanh vuốt của một tên vô lại như thế!

    Nhưng tôi rất mừng là anh đã đến, Holmes ạ.

    Tôi rất tin tưởng ở sự đánh giá và tài suy xét của anh, tôi biết rằng anh sẽ cho tôi những lời khuyên tốt nhất.'

    Xe chúng tôi phóng đi trên con đường quê bằng phẳng mang sắc trắng và trước mặt chúng tôi là cả một vùng sông hồ trải dài lấp lánh trong sắc đỏ của mặt trời đang lặn.

    Từ khoảnh rừng nằm phía bên trái tôi có thể nhìn thấy những ống khói cao và cái cột cờ cho biết đó là nhà ở của người điền chủ.

    'Cha tôi cho hắn coi sóc vườn tược', bạn tôi nói tiếp.

    'Và sau, vì công việc đó chưa vừa ý hắn, ông lại nâng hắn lên làm quản gia.

    Ngôi nhà như được phó thác hoàn toàn cho hắn, hắn sục sạo khắp nơi và tha hồ làm những gì hắn muốn.

    Mấy cô hầu than phiền về thói rượu chè và cách ăn nói thô bỉ của gã.

    Cha tôi bèn tăng lương cho tất cả bọn họ để bù đắp cho sự khó chịu đó.

    Hắn còn lấy thuyền và khẩu súng tốt nhất của cha tôi để tự ban cho mình những chuyến đi săn ngắn ngày.

    Hắn làm tất cả những việc ấy với vẻ mặt giễu cợt, đểu cáng và xấc láo khiến tôi muốn đập cho hắn đến hai mươi trận nếu như hắn cỡ tuổi tôi.

    Tôi nói anh nghe, Holmes ạ, tôi đã phải tự kiềm chế và giờ thì tôi tự hỏi rằng nếu tôi tự do làm theo ý mình một chút thì có phải là khôn ngoan hơn không.

    Mọi chuyện cứ càng lúc càng xấu đi với chúng tôi, và tên súc vật Hudson đó ngày càng quá quắt, đến nỗi rốt cuộc, một ngày nọ, tôi đã túm lấy vai hắn và tống ra khỏi phòng khi hắn đối đáp hỗn xược với cha tôi ngay trước mặt tôi.

    Hắn lủi đi, mặt lộ vẻ căm giận và cặp mắt hiểm độc toát lên sự đe dọa còn hơn cả miệng lưỡi của hắn.

    Tôi không biết sau đó đã xảy ra chuyện gì giữa hắn và người cha tội nghiệp của tôi nhưng ngày hôm sau thì cha tôi đến gặp tôi và hỏi tôi liệu có chịu xin lỗi Hudson hay không.

    Hẳn là anh cũng có thể hình dung được, tôi từ chối và hỏi lại cha tôi làm sao ông có thể để cho một kẻ đê tiện như thế lộng hành với chính ông và gia đình của ông.

    'À, con trai,' ông đáp, 'tất cả những chuyện này rất nên nói ra, nhưng con không hiểu tình huống của cha hiện giờ ra sao đâu.

    Nhưng rồi một ngày kia con sẽ biết, Victor ạ.

    Cha sẽ cho con biết, cho dù có thế nào.

    Con sẽ không nghĩ xấu về người cha tội nghiệp của con chứ, con trai?'

    Trông cha tôi rất xúc động, sau đó ông nhốt mình trong thư phòng cả ngày, qua khung cửa sổ tôi có thể thấy ông luôn tay viết lách.

    Buổi tối hôm đó diễn ra một việc có vẻ như giải tỏa cho tôi rất nhiều, vì Hudson nói rằng hắn sắp sửa ra đi.

    Hắn bước vào phòng ăn khi chúng tôi đang ngồi lại sau bữa tối và bằng giọng ngà ngà say, hắn lí nhí cho chúng tôi biết ý định của hắn.

    'Tôi đã ở Norfolk đủ rồi,' hắn nói.

    'Tôi sẽ đi xuống Hampshire để gặp Beddoes.

    Anh ta cũng sẽ vui mừng được gặp lại tôi giống như anh vậy, tôi dám chắc như thế.'

    'Dù có như thế nào tôi cũng mong là anh đừng bỏ đi, Hudson,' cha tôi nói với vẻ rụt rè khiến tôi giận sôi lên.

    'Tôi vẫn chưa được xin lỗi,' hắn hờn dỗi nói và đưa mắt liếc về phía tôi.

    'Victor, con hãy thừa nhận là đã cư xử thô lỗ với con người đáng trọng này,' cha tôi quay sang tôi nói.

    'Ngược lại là đằng khác, con nghĩ rằng cả hai cha con ta đã tỏ ra vô cùng nhẫn nại đối với hắn,' tôi trả lời.

    'À, kiên nhẫn, đúng không?' Hắn gầm gừ.

    'Rất tốt, anh bạn.

    Rồi ta sẽ xem!'

    Hắn lù rù bước ra khỏi phòng và nửa giờ sau thì bỏ đi, để lại cha tôi trong tâm trạng lo lắng rất tội nghiệp.

    Đêm nào cũng thế, tôi cứ nghe tiếng ông đi đi lại lại trong phòng và đúng vào lúc ông vừa mới tự tin trở lại thì cuối cùng bị giáng một đòn.'

    'Chuyện xảy ra thế nào?' Tôi nóng ruột hỏi.

    'Theo một cách vô cùng kì lạ.

    Tối hôm qua cha tôi nhận được một bức thư mang dấu bưu điện Fordingham?

    Ông đọc nó xong thì dùng hai tay đập lên đầu, rồi bắt đầu chạy vòng vòng quanh phòng như bị mất trí.

    Cuối cùng khi tôi kéo ông lại đặt nằm lên trường kỉ thì miệng và hai mí mắt của ông đã bị méo xệch sang một bên và tôi nhận ra cha mình bị đột quỵ.

    Bác sĩ Fordham được mời đến ngay lập tức.

    Chúng tôi đặt cha tôi lên giường nhưng ông đã bị liệt, không còn chút dấu hiệu nào của sự tỉnh táo và tôi sợ rằng khi ta về tới nhà có lẽ ông đã không còn.'

    'Anh làm tôi sợ quá, Trevor!' Tôi kêu lên.

    'Vậy thì bức thư đó nói gì mà lại gây ra hậu quả khủng khiếp đến thế?'

    'Chẳng có gì đặc biệt.

    Chính thế mới khó hiểu.

    Nội dung tin nhắn rất là ngớ ngẩn và chẳng có gì đáng chú ý.

    Ôi, lạy Chúa, đây chính là điều mà tôi lo sợ!'

    Khi anh ấy nói đến đó thì xe chúng tôi đã quẹo qua chỗ rẽ của con đường và trong ánh chiều gần tàn chúng tôi thấy tất cả rèm cửa đều đã được buông xuống.

    Lúc xe phóng nhanh đến sát cửa, nét mặt bạn tôi co rúm lại vì đau buồn, một người mặc quần áo đen bước ra từ ngưỡng cửa.

    'Cha tôi đi từ lúc nào thế bác sĩ?' Trevor hỏi.

    'Gần như ngay lúc anh vừa đi.'

    'Ông có tỉnh lại không?'

    'Có tỉnh một lúc trước khi tắt thở.'

    'Ông có nhắn gì lại cho tôi không?'

    'Chỉ nói rằng giấy tờ nằm trong ngăn kéo sau của chiếc tủ Nhật Bản.'

    Bạn tôi cùng với ông bác sĩ lên cầu thang để đi đến phòng người chết trong khi tôi ở lại thư phòng, lật đi lật lại toàn bộ vấn đề trong đầu và chưa bao giờ cảm thấy buồn như thế.

    Quá khứ của ông lão Trevor ra sao, một võ sĩ quyền Anh, một nhà du hành, một người đào vàng và vì sao mà ông lại để tên thủy thủ có vẻ mặt ác nghiệt ấy điều khiển?

    Và nữa, tại sao ông lại ngất xỉu khi nghe những lời ám chỉ về những chữ viết tắt đã bị xóa gần mờ trên cánh tay và chết vì khiếp sợ khi nhận được một lá thư từ Fordingham?

    Rồi tôi nhớ ra rằng Fordingham nằm ở Hampshire và ông Beddoes, người mà tên thủy thủ đã đến thăm và có lẽ để đe dọa, cũng được đề cập là đang sống ở Hampshire.

    Vậy thì, bức thư đó có thể là do Hudson gửi đi để báo cho biết hắn đã tiết lộ điều bí mật tội lỗi có vẻ như từng xảy ra, hoặc là do ông Beddoes gửi nhằm cảnh báo một đồng đạo cũ rằng một sự tiết lộ sắp sửa xảy ra.

    Đến giờ thì mọi chuyện có vẻ đã rõ ràng.

    Nhưng nếu như thế thì tại sao lá thư đó lại có nội dung vớ vẩn và quái gở như người con trai đã miêu tả?

    Chắc là anh ấy đã hiểu sai.

    Nếu vậy thì nó hẳn là một thứ mật mã tinh vi ẩn chứa nội dung gì đó dưới vẻ ngoài.

    Tôi phải xem lá thư đó.

    Nếu nó có một ý nghĩa ẩn giấu nào đó, tôi tự tin là mình có thể tìm ra.

    Suốt một giờ liền tôi ngồi suy nghĩ về điều ấy trong bóng tối mãi đến khi một cô người hầu mặt đầm đìa nước mắt bưng đến một ngọn đèn và Trevor cũng bước vào ngay sau cô ta, nhợt nhạt nhưng điềm tĩnh, tay nắm chặt những tờ giấy hiện đang nằm trên đùi tôi đây.

    Anh ngồi xuống trước mặt tôi, kéo ngọn đèn ra phía mép bàn và trao cho tôi một lá thư ngắn viết trên tờ giấy màu xám mà anh đã đọc.

    Kết quả là cuộc săn tới rồi.

    Quản rừng Hudson báo cáo đã sẵn sàng khai hỏa, bắn hết gà lôi.

    Mau đừng để thoát con nào đi mất.

    Tôi dám nói rằng lần đầu đọc lá thư này trông mặt tôi cũng bối rối giống hệt anh bây giờ.

    Sau đó tôi đọc lại thật kĩ.

    Đúng như tôi đã nghĩ, lá thư này phải có một ẩn ý nào đó đằng sau sự kết hợp từ ngữ kì lạ ấy.

    Có thể một số cụm từ như gà lôi và khai hỏa đã được ấn định sẵn ý nghĩa gì đó rồi chăng?

    Nhưng nếu thế thì chỉ có thể võ đoán chứ không có cách nào suy luận được ý nghĩa của thông điệp.

    Tuy nhiên, tôi không muốn tin vào khả năng này, vả lại từ Hudson trong đó cho thấy dường như thông điệp này có chủ đề đúng như tôi dự đoán và là do Beddoes gửi đi chứ không phải tên thủy thủ.

    Tôi thử đọc ngược những cụm từ gà lôi hết nhưng chẳng gợi lên điều gì.

    Sau đó, tôi thử áp dụng quy luật cứ bỏ cách một chữ lại lấy một chữ, nhưng kết là săn hay quả cuộc tới đều không hứa hẹn đem lại kết quả.

    Thế rồi, trong khoảnh khắc, lời giải của câu đố vụt hiện ra, và tôi nhận thấy rằng nếu chỉ lấy chữ đầu ở từng cụm ba chữ liền nhau thì khi ghép lại, ta được một thông điệp rất có thể đã đẩy ông lão Trevor vào bước đường cùng.

    Nội dung thông điệp hết sức ngắn gọn, đó là một lời cảnh báo mà bấy giờ tôi đã đọc lên cho bạn tôi nghe: Kết cuộc rồi.

    Hudson đã khai hết.

    Mau thoát đi.

    Victor Trevor vùi mặt vào hai bàn tay run rẩy.

    'Tôi nghĩ là đúng thế rồi', anh nói.

    'Điều này còn tệ hơn cả cái chết vì đó là sự nhục nhã.

    Nhưng những từ quản rừng và gà lôi có nghĩa gì?'

    'Nó không có nghĩa gì trong thông điệp, nhưng lại mang nhiều ý nghĩa với chúng ta nếu không có phương tiện nào khác để tìm ra người gửi.

    Anh thấy rằng, ban đầu người này viết thông điệp ra trước Kết... cuộc... rồi... cho đến hết.

    Sau đó để hoàn chỉnh cái mật mã sắp sẵn này, ông ta điền thêm vào mỗi chỗ trống hai từ bất kì.

    Lẽ tự nhiên là ông ta sẽ dùng những từ nào xuất hiện trong đầu trước tiên và nếu trong số đó có nhiều từ liên quan đến săn bắn thì anh có thể khá chắc rằng người viết này là một người ham săn bắn.

    Anh có biết gì về ông Beddoes này không?'

    'Ồ, anh nhắc tôi mới nhớ', anh nói, 'người cha tội nghiệp của tôi vẫn thường được ông ấy mời đến săn ở khu săn bắn của ông ta vào mùa thu.'

    'Thế thì không còn nghi ngờ gì nữa, bức thư này do ông ta gửi đến', tôi nói.

    'Chúng ta chỉ còn việc tìm ra bí mật mà có vẻ như tên thủy thủ Hudson đã lợi dụng để đe dọa hai người giàu có và đáng kính này.'

    'Chao ôi, anh Holmes, tôi e rằng đó là một tội lỗi đáng xấu hổ!' Bạn tôi kêu lên.

    'Nhưng tôi sẽ không giấu giếm điều gì với anh.

    Đây là lời kể do chính tay cha tôi viết ra khi ông biết rằng mối nguy từ Hudson sắp đến.

    Tôi tìm thấy mấy tờ giấy này trong chiếc tủ Nhật Bản theo lời cha tôi dặn bác sĩ.

    Anh hãy cầm lấy và đọc lên cho tôi nghe vì tôi chẳng còn đủ sức lực cũng như lòng can đảm để mà tự đọc.'

    Đây chính là những tờ giấy anh ấy trao cho tôi, Watson ạ và tôi sẽ đọc chúng cho anh nghe như đã từng đọc lên cho anh ấy trong thư phòng cũ đêm đó.

    Như anh đã thấy, phía bên ngoài xấp giấy có ghi: Một số chi tiết về chuyến hải trình của con tàu Gloria Scott, từ khi khởi hành ở cảng Falmouth vào ngày 8 tháng 10 năm 1855, cho đến khi bị nổ tung tại 15° 20' vĩ độ Bắc, 25° 14' kinh độ Tây vào ngày 6 tháng 11.Nó được viết với hình thức một bức thư và có nội dung như sau:

    Con rất thương yêu của cha, vì sự ô nhục đang đến dần và bắt đầu làm u tối những năm cuối cùng của đời cha, cha có thể viết ra với tất cả sự thật và lòng trung thực rằng điều làm cha đau đớn trong tim không phải vì sự sợ hãi luật pháp hay lo mất địa vị trong hạt, cũng không phải vì sợ sụp đổ hình ảnh trong mắt những ai đã quen biết cha mà chính là ý nghĩ rằng con sẽ phải hổ thẹn vì cha - đứa con luôn yêu thương cha và xưa nay hiếm khi có lí do để không kính trọng cha, cha hi vọng thế.

    Nhưng nếu tai họa lâu nay vẫn đe dọa cha giáng xuống, thì cha mong rằng con hãy đọc lá thư này, để chính cha cho con biết cha đáng phải chịu tội đến mức nào.

    Còn ngược lại, nếu mọi chuyện đều diễn tiến tốt lành (cầu Chúa vạn năng phù hộ!) thì nếu tình cờ mà lá thư này vẫn chưa bị hủy và lọt vào tay con thì cha xin con, vì những điều thiêng liêng, vì kí ức với người mẹ thân yêu của con và vì tình thương yêu giữa cha con ta, hãy ném nó vào lửa và đừng bao giờ bận tâm đến nó nữa.

    Vậy nếu con đã đọc đến dòng này, cha biết rằng tội lỗi của mình đã bị phơi bày và cha đã bị giải đi, hoặc khả năng cao hơn là cha đã chết vì con biết là cha vốn yếu tim.

    Dù sao thì cố che giấu cũng không còn ích gì nữa, và từng lời cha kể đều là sự thật và cha xin thề như thế, cha mong con sẽ tha thứ.

    Con thân yêu, họ của cha không phải là Trevor.

    Lúc còn trẻ, cha mang tên James Armitage, giờ thì con có thể hiểu được cú sốc của cha cách đây vài tuần khi người bạn học của con nói với cha những lời tựa như ám chỉ rằng cậu ấy đã nắm được bí mật của cha.

    Khi còn là Armitage, cha vào làm việc cho một nhà băng ở London và cũng dưới cái tên này cha đã bị buộc tội phạm pháp và bị kết án phát vãng.

    Đừng vội lên án cha, con ạ.

    Có một món nợ danh dự, cứ tạm gọi như vậy, mà cha phải trả và cha đã mượn tạm số tiền vốn không phải của cha để trả vì tin chắc rằng mình có thể hoàn lại trước khi người ta phát hiện ra là đã mất số tiền đó.

    Thế nhưng cha gặp phải vận rủi.

    Số tiền mà cha dự định sẽ thu được chẳng bao giờ đến tay cha, và một đợt kiểm toán trước thời hạn đã khiến khoản thâm hụt bị lộ.

    Trường hợp này có thể được xử nhẹ nhưng vì ba mươi năm trước luật pháp nghiêm khắc hơn bây giờ, nên vào ngày sinh nhật thứ hai mươi ba, cha đã bị xiềng như một trọng phạm cùng với ba mươi bảy tù nhân khác dưới hầm con tàu ba buồm Gloria Scott hướng tới nước Úc.

    Đó là năm 1855 khi cuộc chiến tranh Crimea bước vào giai đoạn khốc liệt và phần lớn những con tàu chờ tù cũ đều được trưng dụng để chuyên chở ở Hắc Hải.

    Do đó, chính quyền buộc phải dùng đến những tàu thuyền không phù hợp và nhỏ hơn để chở tù nhân.

    Trước đó Gloria Scott là tàu buôn trà Trung Quốc nhưng nó là tàu mũi nặng, thân bè kiểu cũ đã bị những con tàu buồm mới bấy giờ qua mặt.

    Tàu có trọng tải năm trăm tấn và ngoài ba mươi tám tên tù còn có thủy thủ đoàn gồm hai mươi sáu người, mười tám lính, một thuyền trưởng, ba thuyền phó, một viên y sĩ, một cha tuyên úy và bốn cai ngục.

    Tổng cộng có tất cả gần một trăm sinh mạng trên con tàu khi nó căng buồm khởi hành từ Falmouth.

    Những bức vách ngăn giữa các xà lim nhốt tù khá mỏng manh chứ không được làm bằng gỗ sồi dày dặn như vẫn thường thấy ở các tàu chở tù.

    Người tù kế bên cha, ở phía cuối tàu, là một người mà cha đã đặc biệt chú ý khi cả bọn được giải xuống cầu tàu.

    Đó là một gã trai trẻ với khuôn mặt sáng sủa không để râu, mũi thanh và dài, cằm khá nhọn.

    Đầu anh ta ngẩng cao ngạo nghễ, dáng đi kiêu hãnh và nổi bật hơn cả là chiều cao vượt trội.

    Cha nghĩ rằng cả bọn chẳng có ai đứng cao đến vai anh ta và cha dám chắc là chiều cao của anh ta phải gần đến sáu foot rưỡi.

    Thật lạ khi giữa những bộ mặt buồn thảm và mệt mỏi lại thấy một gương mặt cương quyết tràn đầy năng lượng.

    Đối với cha thì hình ảnh đó như là một ngọn lửa giữa cơn bão tuyết.

    Thế rồi cha rất vui khi biết anh ta ở trong xà lim kế bên và còn mừng hơn nữa khi vào nửa đêm, nghe thấy một tiếng thì thầm bên tai và nhận ra anh ta đã xoay xở đục được một lỗ trên tấm ván ngăn hai buồng giam.

    'Chào anh bạn!' Anh ta cất tiếng.

    'Anh tên gì, vì tội gì mà phải ở đây?'

    Cha trả lời anh ta và cũng hỏi lại anh ta như thế.

    'Tôi tên Jack Prendergast', anh ta nói, 'và thề có Chúa, anh sẽ biết đường tôn kính tên tôi trước khi xong việc với tôi đấy.'

    Cha nhớ là đã nghe nói về vụ án của anh ta, một vụ đã gây chấn động ghê gớm khắp cả nước trước khi cha bị bắt ít lâu.

    Anh ta xuất thân từ một gia đình tử tế, nhưng lắm tài nhiều tật.

    Bằng những cách thức lừa đảo tinh vi, anh ta đã chiếm được số tiền khổng lồ của những thương gia hàng đầu London.

    'Ha, ha!

    Anh còn nhớ vụ án của tôi cơ à!' Anh ta tự hào nói.

    'Còn nhớ rất rõ là khác.'

    'Thế thì hẳn là anh còn nhớ một chi tiết kì lạ trong vụ đó chứ?'

    'Chi tiết nào?'

    'Tôi đã có gần hai lăm vạn, đúng không?'

    'Thấy nói là như thế.'

    'Nhưng chẳng ai thu hồi được đồng nào cả, đúng không?'

    'Đúng.'

    'Đấy, anh nghĩ xem chúng đang ở đâu?' Anh ta hỏi cha.

    'Tôi chịu', cha đáp.

    'Ngay giữa ngón trỏ và ngón cái của tôi đây này', anh ta kêu lên.

    'Lạy Chúa!

    Số đồng bảng tôi sở hữu còn hơn cả số tóc trên đầu anh.

    Anh bạn ạ, nếu anh có tiền lại biết cách sử dụng và rải chúng ra thì anh có thể làm được bất cứ chuyện gì.

    Anh nghĩ mà xem một người có thể làm bất cứ chuyện gì lại chịu mài đũng quần trong cái hầm hôi hám của chiếc quan tài đầy chuột bọ, ẩm mốc trên con tàu buôn hàng Trung Hoa này sao!

    Không đâu, thưa ngài, một người như thế sẽ tự lo cho hắn và cả bạn bè của hắn.

    Anh cứ tin là thế!

    Hãy cứ bám lấy hắn và anh có thể tạ ơn Chúa là hắn sẽ dẫn anh ra khỏi đây!'

    Đó là kiểu nói năng của anh ta, ban đầu cha nghĩ những lời lẽ đó chẳng có ý gì nhưng một lát sau, khi đã thử thách cha và bắt cha phải thề thốt thật long trọng thì anh ta mới cho cha biết là quả thật có một âm mưu chiếm con tàu.

    Mười hai tù nhân đã ấp ủ mưu đồ đó từ trước khi lên tàu, Prendergast chính là chủ mưu và tiền của anh ta là động lực.

    'Tôi có một cộng sự', anh ta nói, 'một gã tốt hiếm thấy, trung thành như báng gắn với nòng.

    Hắn lại có tiền, và anh có biết hiện giờ hắn đang ở đâu không?

    Chính là cha tuyên úy, là cha tuyên úy đấy nhé, chứ không phải thằng cha vơ chú váo nào!

    Hắn ta lên tàu, khoác áo choàng đen và giấy tờ đàng hoàng, trong hòm có đủ tiền để mua cả con tàu.

    Thủy thủ đoàn cũng là người của hắn, cả thân xác lẫn linh hồn.

    Hắn đã bỏ một khoản tiền lớn mua cả bọn kèm chiết khấu và đã trả tiền trước cả khi bọn chúng kí giao kèo.

    Hắn còn mua chuộc hai cai ngục và thuyền phó Mereer, và còn định mua cả thuyền trưởng nếu tay đó đáng tiền!'

    'Chúng ta sẽ làm gì?' Cha hỏi.

    'Anh nghĩ sao chứ?' Anh ta nói tiếp.

    'Ta sẽ nhuộm đỏ áo vài tên lính còn hơn cả thợ may!'

    'Nhưng bọn chúng có vũ trang', cha thắc mắc.

    'Thì chúng ta sẽ có chứ, chú em.

    Mỗi thằng bọn mình sẽ được phát một cặp súng lục, lại có bọn thủy thủ chống lưng vậy nếu không cướp được con tàu này thì cứ tống cả bọn chúng ta vào trường nữ sinh đi cho rồi.

    Tối nay anh hãy nói chuyện với đứa ở ngăn bên trái xem hắn có đáng tin hay không!'

    Cha cứ y lời anh ta mà làm và nhận ra người ở ngăn bên kia là một chàng trai trẻ cũng có hoàn cảnh rất giống cha, phạm tội giả mạo giấy tờ.

    Tên anh ta là Evans nhưng sau đổi tên khác cũng như cha vậy, và nay đã là một người giàu có và thành đạt ở miền nam nước Anh.

    Anh ta cũng sẵn sàng dự phần vào âm mưu này vì đó là cách duy nhất để tự cứu mình, cứ thế cho đến khi bọn cha sắp vượt qua vịnh thì chỉ còn có hai người tù không tham gia vào bí mật này.

    Một trong hai người đó thì nhu nhược nên bọn cha không dám tin tưởng vào anh ta, còn người kia đang bị bệnh vàng da và không giúp gì được.

    Quả là ngay từ lúc đầu chẳng có điều gì ngăn trở bọn cha chiếm tàu.

    Thủy thủ đoàn là một đám lưu manh được tuyển lựa riêng cho công việc này.

    Cha tuyên úy giả mạo thì đi vào các buồng giam để khích lệ bọn cha, cầm theo một cái túi đen trông như chứa đầy Kinh Thánh và đến thăm tù nhân thường xuyên đến nỗi sang ngày thứ ba thì mỗi người bọn cha đã giấu dưới chân giường một cái giũa, một cặp súng lục, nửa pound thuốc súng và hai mươi viên đạn.

    Hai trong số các cai ngục là người của Prendergast và viên thuyền phó thứ nhì là trợ thủ đắc lực của anh ta.

    Viên thuyền trưởng, hai thuyền phó, hai cai ngục, đại úy hải quân Martin cùng mười tám lính của ông ta và viên y sĩ nữa là tất cả những người thuộc về phe kia.

    Tuy nhiên, để cho chắc ăn, bọn cha quyết định sẽ không lơ là đề phòng và sẽ đột ngột tấn công vào ban đêm.

    Vậy mà, sự việc lại xảy ra sớm hơn dự định.

    Một chiều nọ, vào khoảng tuần thứ ba sau khi nhổ neo, viên y sĩ đi xuống khám bệnh cho một tù nhân bị ốm và khi đặt tay xuống dưới giường thì ông ta sờ thấy súng.

    Nếu cứ giữ yên lặng thì ông ta đã có thể khiến cho toàn bộ âm mưu bị bại lộ, nhưng ông ta lại nhát gan nên đã bật ra một tiếng kêu ngạc nhiên và tái xanh mặt mày khiến cho người tù hiểu ra ngay lập tức và tóm lấy ông ta.

    Trước khi viên y sĩ kịp báo động thì ông ta đã bị bịt miệng và trói chặt vào giường.

    Vì ông ta đã mở khóa cánh cửa dẫn lên boong nên bọn cha vội vã vượt ra.

    Hai lính gác bị bắn gục và một hạ sĩ chạy đến xem chuyện gì xảy ra cũng chịu chung số phận.

    Còn hai người lính nữa đang đứng ở cửa cabin hạng nhất và súng hỏa mai của họ có vẻ như không được nạp đạn vì họ chẳng hề bắn vào bọn cha, thế là họ cũng bị bắn ngã khi đang cố gắng lắp lưỡi lê vào nòng súng.

    Sau đó bọn cha lao vào cabin thuyền trưởng, nhưng khi vừa mới đẩy cửa phòng thì có một tiếng nổ từ bên trong và trông thấy ông ta nằm đó, óc văng lên tấm hải đồ Đại Tây Dương ghim trên bàn, trong khi cha tuyên úy hãy còn đứng bên, tay cầm một khẩu súng lục đang bốc khói.

    Cả hai thuyền phó đã bị thủy thủ đoàn bắt giữ và có vẻ như toàn bộ sự việc đã được giải quyết xong.

    Cabin hạng nhất nằm sát bên cabin thuyền trường, bọn cha tụ tập lại đó và buông người xuống ghế trò chuyện rôm rả với nhau vì ai cũng như phát điên với cảm giác được tự do trở lại.

    Khắp dọc tường đều có những ngăn tủ và Wilson, cha tuyên úy giả, đập vỡ một ngăn và lấy ra một tá rượu sherry nâu.

    Bọn cha phạt ngang cổ chai, trút rượu vào các cốc và còn đang mải nốc cạn thì chỉ trong một khoảnh khắc bất ngờ tiếng súng hỏa mai dội vào tai mọi người và trong phòng tràn ngập khói súng đến nỗi không thể nhìn thấy gì phía bên kia bàn.

    Khi khói tan thì khắp phòng đều tan hoang.

    Wilson và tám người khác đang quằn quại nằm đè lèn nhau trên sàn nhà, máu và rượu chảy tràn lan trên mặt bàn đến giờ vẫn còn làm cho cha buồn nôn khi nhớ lại.

    Cảnh tượng ấy làm cho bọn cha sợ hãi đến nỗi cha nghĩ rằng cả bọn sẽ đầu hàng nếu không có Prendergast.

    Anh ta rống lên như một con bò đực và xông ra cửa, những người còn sống sót thì bám sát theo.

    Bọn cha chạy ra và trông thấy viên đại úy hải quân cùng với mười thuộc hạ đang đứng ở nóc cabin.

    Những cánh cửa lật ở nóc đã được mở hé ra và họ bắn vào bọn cha qua các khe này.

    Bọn cha xông lên trước khi họ kịp nạp đạn song họ vẫn kháng cự mãnh liệt, nhưng bên cha đông hơn và chỉ trong năm phút là trận chiến đã kết thúc.

    Lạy Chúa!

    Cảnh tượng trên tàu còn kinh khủng hơn một lò sát sinh!

    Prendergast như một con quỷ điên cuồng cứ nhấc từng người lính lên như thể họ chỉ là con nít và quẳng họ qua mạn tàu bất kể họ còn sống hay đã chết.

    Có một trung sĩ dù trọng thương nhưng vẫn cố bơi một lúc thật lâu cho đến khi có người thấy tội nghiệp mới bắn một phát vào sọ anh ta.

    Khi cuộc chiến đã kết thúc, bên phía địch chỉ còn lại hai cai ngục, hai thuyền phó và viên y sĩ.

    Bọn cha tranh cãi rất găng về số phận của những người này.

    Rất nhiều người vui mừng vì đã giành lại được tự do và không muốn giết chóc.

    Việc hạ gục những người lính có súng hỏa mai trong tay là một chuyện, còn cứ đứng yên thản nhiên nhìn người khác bị giết lại là chuyện khác.

    Tám người bọn cha gồm có năm tù nhân và ba thủy thủ đều nói rằng không muốn chứng kiến điều đó.

    Nhưng không ai có thể lay chuyển được Prendergast và những người theo phe hắn.

    Muốn an toàn thì cả bọn chỉ có một cách là dọn dẹp cho sạch sẽ, hắn nói, và không để sót một cái lưỡi nào còn ngo ngoe được để làm nhân chứng.

    Những người không đồng tình như cha đã suýt phải chịu chung số phận với các tù nhân nhưng đến phút cuối thì hắn lại nói rằng nếu muốn thì bọn cha có thể lấy một chiếc xuồng và thoát đi.

    Bọn cha chớp lấy cơ hội này vì đã chán ngán những điều tàn bạo lắm rồi và việc giết chóc này còn tồi tệ hơn cả những gì đã làm trước đó.

    Chúng cấp cho bọn cha mỗi người một bộ quần áo thủy thủ, một thùng nước, một thùng thịt muối và một thùng bánh quy cùng một cái la bàn.

    Prendergast quẳng cho bọn cha một tấm hải đồ và dặn phải nói rằng mình là những thủy thủ bị chìm tàu ở 15° vĩ độ Bắc và 25° kinh độ Tây, sau đó hắn cắt dây néo và thả cho bọn cha trôi đi.

    Giờ thì cha sắp kể đến phần đáng kinh ngạc nhất đây, con yêu.

    Trong khi nổi dậy, đám thủy thủ đã thu buồm lại, nhưng bây giờ khi bọn cha rời tàu thì họ lại căng nó lên và vì gió thổi nhẹ từ phía bắc và phía đông nên con tàu bắt đầu từ từ rời xa bọn cha.

    Chiếc xuồng của bọn cha cứ nhấp nhô lên xuống theo những đợt sóng êm dài, và Evans cùng cha là hai người có học hơn cả nên ngồi ở chỗ dây lèo để xác định vị trí và lên kế hoạch nên đi về phía bờ biển nào.

    Đó là một vấn đề đòi hỏi phải chính xác vì mũi de Verds cách bọn cha khoảng năm trăm dặm nằm về phía bắc và bờ biển châu Phi thì cách bảy trăm dặm về phía đông.

    Xét mọi mặt thì vì gió lại đang thổi vòng lên phía bắc nên bọn cha nghĩ rằng đi về Sierra Leone là tốt nhất và đã quay đầu về hướng đó.

    Lúc đó con tàu đã gần khuất dạng về phía mạn phải xuồng của bọn cha.

    Thình lình, khi bọn cha nhìn về phía nó thì trông thấy một đám khói đen dày đặc bốc lên từ đó và lơ lửng như một cái cây quái dị trên đường chân trời.

    Chỉ vài giây sau một tiếng nổ như sấm dội vào tai bọn cha và khi đám khói dần tan thì chẳng còn nhìn thấy dấu vết của con tàu Gloria Scott đâu cả.

    Ngay lập tức bọn cha quay xuồng lại và chèo cật lực về vị trí đó, nơi có đám khói hãy còn chưa tan trên mặt nước đánh dấu địa điểm xảy ra tấn thảm kịch.

    Phải mất cả giờ bọn cha mới đến được con tàu, lúc đầu cả bọn sợ rằng mình đã đến quá trễ, không còn kịp cứu được một ai.

    Một chiếc xuồng vỡ, vài chiếc thùng cùng những mảnh cột buồm dập dềnh trên sóng cho biết nơi con tàu bị đắm; nhưng không có dấu vết nào của sự sống và khi bọn cha thất vọng quay trở lại thì nghe thấy một tiếng kêu cứu và nhìn thấy ở đằng xa có một mảnh thân tàu với một người đang nằm vắt ngang bên trên.

    Khi bọn cha kéo anh ta lên xuồng thì nhận ra đó là một thủy thủ trẻ tên là Hudson, anh ta đã bị bỏng và kiệt sức đến nỗi phải đến sáng hôm sau mới có thể kể lại được điều gì đã xảy ra với con tàu.

    Có vẻ như sau khi bọn cha rời đi thì Prendergast và đồng bọn tiếp tục ra tay sát hại năm người còn lại.

    Hai cai ngục bị bắn và bị ném xuống biển, viên thuyền phó thứ ba cũng cùng chung số phận.

    Sau đó, Prendergast đi xuống hầm tàu và tự tay cắt cổ viên y sĩ bất hạnh.

    Chỉ còn mỗi thuyền phó thứ nhất, vốn là một người gan dạ và nhanh nhẹn, còn sống sót.

    Khi thấy tên tù cầm con dao đẫm máu tiến lại gần, ông ta bèn giật tung mớ dây trói mà không biết bằng cách nào đã nới lỏng được, chạy xuống boong tàu rồi phóng vào hầm tàu.

    Một tá tù nhân lăm lăm súng trong tay xuống tìm ông ta và trông thấy ông ta cầm một hộp diêm đang ngồi cạnh một thùng thuốc súng đã mở, vốn chỉ là một trong số hàng trăm thùng được chuyên chở trên tàu, và thề rằng sẽ cho nổ tung tất cả nếu bị tấn công.

    Chỉ một giây sau thì vụ nổ xảy ra, nhưng Hudson nghĩ rằng nguyên nhân là một viên đạn lạc mà một tên trong đám tù bắn ra chứ không phải hộp diêm của ông thuyền phó.

    Dù sao thì đó cũng là kết cục của con tàu Gloria Scott cùng đám đê tiện đang nắm quyền chỉ huy nó.

    Con thân yêu, cha đã kể ngắn gọn với con câu chuyện về sự kiện kinh khủng mà cha đã dính líu vào.

    Đến ngày hôm sau thì bọn cha được chiếc tàu hai buồm Hotspur đang trên đường đi Úc vớt lên và thuyền trưởng con tàu này dễ dàng tin rằng bọn cha là những người sống sót từ một con tàu chở khách bị đắm.

    Con tàu chở hàng Gloria Scott thì được bộ Hải quân ghi chép lại là đã mất tích trên biển và từ đó đến nay chưa hề rỉ ra một lời nào về số phận thực sự của nó.

    Sau chuyến hải hành tuyệt vời, con tàu Hotspur cập bến và bọn cha lên bờ ở Sydney, tại đó Evans và cha thay đổi họ tên và tìm đường đến các mỏ vàng, giữa đám giang hồ tứ chiếng ở đó, bọn cha dễ dàng rũ bỏ lai lịch quá khứ của mình.

    Phần còn lại của câu chuyện chắc cha không cần thuật lại.

    Bọn cha giàu lên, đi đó đây, trở về nước Anh trong vai những thực dân giàu có và mua sắm điền trang ở nông thôn.

    Hơn hai mươi năm qua, bọn cha đã trải qua một cuộc sống bình yên, hữu ích và hi vọng rằng dĩ vãng của mình đã được vùi sâu.

    Do đó, con hãy tưởng tượng mà xem cảm giác của cha ra sao khi tên thủy thủ tìm đến nhà ta và ngay lập tức cha đã nhận ra hắn chính là kẻ đã được cứu vớt từ con tàu đắm.

    Bằng cách nào đó hắn đã lần theo dấu vết bọn cha và quyết tâm lợi dụng sự sợ hãi của bọn cha.

    Giờ thì con đã hiểu tại sao cha phải cố gắng hòa hoãn với hắn, và trong chừng mực nào đó con sẽ thông cảm cho cha về nỗi sợ hãi đã chiếm trọn con người cha vì hắn đã bỏ cha để tìm đến nạn nhân khác kèm theo những lời đe dọa.

    Phần bên dưới nét chữ run rẩy nên rất khó đọc:

    Beddoes đã dùng mật mã báo cho cha biết rằng H.

    đã khai báo tất cả.

    Cầu Chúa nhân từ hãy tha thứ cho linh hồn chúng con!

    "Đó là câu chuyện tôi đã đọc cho chàng thanh niên Trevor nghe vào đêm đó và tôi cho rằng trong những hoàn cảnh như thế, đây là một câu chuyện bi thương, Watson ạ.

    Chàng trai ấy đã vì câu chuyện này mà tan nát cõi lòng và đi sang vùng trồng chè Terai, tôi nghe nói là anh ấy rất phát đạt ở đó.

    Còn về tên thủy thủ và Beddoes thì chẳng có tin gì về họ nữa từ sau cái ngày bức thư cảnh báo được viết ra.

    Cả hai đều biến mất hoàn toàn.

    Cảnh sát không nhận được cáo buộc vì thế có lẽ cụ Trevor đã lầm tưởng rằng lời đe dọa đã biến thành hành động.

    Có người thấy Hudson lẩn trốn đâu đó và cảnh sát tin rằng hắn đã giết Beddoes rồi bỏ trốn.

    Còn về phần mình thì tôi tin rằng sự thật hoàn toàn ngược lại.

    Tôi nghĩ rất có thể là khi bị dồn vào chân tường và tin rằng mình đã bị bán đứng, Beddoes liền ra tay khử Hudson để trả thù rồi bỏ trốn ra nước ngoài với toàn bộ số tiền của ông ta.

    Diễn biến vụ này là thế, bác sĩ ạ, nếu anh định đưa nó vào bộ sưu tập thì tôi tin là các tình tiết ấy sẽ rất vinh dự được giúp ích cho anh."
     
    Back
    Top Dưới