1.
Tại một thành phố mây mờ, hôm nay cũng như mọi ngày, bầu trời bao phủ lấy một màu xanh đen hòa quyện cùng tím bạc phản chiếu cái lạnh lẽo âm u của thành phố X những đêm đông.
Thành phố trên ngọn đồi cao, có lẽ chính vì thế mà không khí càng lạnh khi càng về cuối năm, và tại nơi cao nhất trên ngọn đồi, chính là gia tộc A – gia đình được coi là quyền lực gương mẫu bậc nhất thành phố, nơi ai nấy cũng đều tấm tắc không ngớt về bất cứ điều gì khi có một thành viên gia tộc A lướt qua.
Và cũng trong gia đình đó, có một bí mật mà không ai hay, cũng chẳng ai ngờ cho đến bây giờ
Tôi từng sống tại nơi cao nhất ấy, bắt đầu vào một đem đông lạnh không khác gì mấy với bây giờ – theo lời kể của bà, ngay từ lần đầu tiên cất tiếng khóc chào đời tôi đã chính thức bước chân dưới mái nhà này với tư cách là con gái út của gia tọc A.
Trải nghiệm nơi mà cái ăn cái mặc đều được đủ đầy, những quần áo mới và bó chặt, những bữa ăn và lịch trình xếp kín bưng sẵn sàng chờ tôi ở đó, "một gia đình mẫu mực" – một hình mẫu trên tít báo mà người người trong thành thị vẫn hay đọc với bức hình đại gia đình tươi cười trước ống kính.
Nhưng không ai thấy rằng trong khi nhìn thẳng vào mấy ảnh thì tay của ba và bà đặ lên vai tôi rất chặt, còn tôi thì nhìn xuống đôi giày da mình đang mang – mới, cứng và rất nhỏ.
Chẳng biết bí ẩn ấy bắt đầu từ lúc nào, chỉ là từ ngày hôm ấy thì thứ đó xuất hiện rất nhiều, đó là một bóng đen to lớn màu đen nhạt màu, phải để ý kĩ mới nhận ra, hiện hữu như một thứ chất lỏng di động đôi lúc sẽ xuất hiện bất thình lình trước mặt ai đó rồi lặng lẽ rời đi.
Nhưng kì lạ rằng chẳng ai nói đến việc ấy cả, những bữa ăn yên ắng, đôi lúc là một hai câu chuyện làm ăn, chuyện chính trị, những thứ được coi là "thiếu tính xây dựng" đều không được nhắc đến.
Và tôi thấy "thứ đó" càng nhiều, tự hỏi rằng không biết liệu có phải nó đã to hơn chăng, nhưng nó xuất hiện ngày càng nhiều và vẫn như thế, khựng lại trước một ai đó trong gia đình tôi, nó trông như hút lấy thứ gì đó và sau đó lẳng lặng lướt qua.
Những người ấy khi chạm trán cũng chẳng ai hoảng hốt, chẳng ai bỏ chạy, họ vẫn thở và mắt vẫn mở.
Nhưng những người ấy, ngay sáng hôm sau đều có chút khác đi, chỉ một chút, tôi nghĩ vậy, lắm lúc là một cái gật đầu, một câu nói ít đi, hay là ánh nhìn có chút gì đó khác, chỉ một chút, không nhiều, thậm chí rất khó nhận ra.
Và đúng thật là ngay chính bản thân họ cũng không nhận ra điều đó.
Ấn tượng nhất là một lần tôi đã từng hỏi cô tôi về cách làm một món ăn, nhưng tôi chỉ nhận được một câu nói ngắn gọn rằng "Sao con không để người giúp việc làm cái này?" rồi lạnh lùng rời đi
Một phản ứng khác lạ bất thường so với mọi khi.
Mọi khi cô sẽ là kiểu rất nhiệt tình hướng dẫn từng chút cho tôi, cho dù là bận bịu hay có nói tôi nhờ cậy người giúp việc cũng sẽ vui vẻ giải thích kĩ cho tôi trước, cũng bởi một phần cô ấy là con dâu trong gia đình nên cách cô ấy cư xử sẽ thường không lạnh lùng như nhưng người khác trong gia đình.
Tôi thầm nhớ lại khoảnh khắc ngày hôm qua khi cô đứng khựng trước thứ kì dị màu đen đó rồi gục xuống, sau đó vài giấy lại thản nhiên đứng dậy và đi lại bình thường như không, không lẽ...
Đến cuối cùng tôi vẫn không biết đó là thứ gì hay rốt cuộc nó đã làm gì với gia đình chúng tôi.
Tôi thầm nghĩ lại lần đầu tiên chạm mặt nó.
Có lẽ năm tôi lên 6, hoặc có thể sớm hơn, khi đang đứng ngắm nhìn xuống thành phố qua khung cửa kính tại hành lang tòa nhà, tôi chợt thấy bóng hình của nó qua hình ảnh phản chiếu trên khung cửa sổ, to lớn và mờ mịt như làn khói đen tụ lại.
Nó không di chuyển, tôi cũng đứng sựng tợi đó, nhưng tôi có cảm giác như có thứ gì đó đang kéo tôi lại, như làn gió ngược và không khí đặc lại.
Tôi không la lên cũng không bỏ chạy.
Tôi đứng yên.
Mắt mở.
Tim đập chậm.
Và rồi... tôi bước về phía nó.
Không ai biết chuyện đó, cũng không ai hỏi.
Hôm sau, tôi ngồi vào bàn ăn cùng cả nhà như bình thường.
Người lớn bàn về những hợp đồng, về nhà trường, về các vị khách danh giá sẽ đến thăm.
Một người chú cười lớn, kể chuyện hôm qua ông ta đã gặp một khách hàng to lớn như thế nào khiến việc làm ăn của ông ta trở nên suôn sẻ.
Mọi người bật cười, rất to.
Nhưng âm thanh vang trong tai tôi như thể tôi đang ở dưới nước.
Tôi bắt đầu thấy nó thường xuyên hơn.
Không phải chỉ trong nhà.
Mà trong những giấc ngủ chập chờn.
Có lần, tôi thấy nó đứng giữa phòng khách khi cả nhà đang chụp hình kỷ niệm.
Không ai phản ứng.
Tôi tự hỏi liệu họ không thấy thật, hay họ thấy nhưng đã học được cách không phản ứng?
Lần đó, nó nhìn tôi.
Nó không có mặt, tôi chỉ cảm giác như vậy, cảm giác như toàn bộ thân thể nó chính là cái nhìn ấy.
Nhìn xuyên qua tôi.
Và tôi như lần đầu, thấy trong người mình có gì đó rời đi.
Nhẹ tênh.
Không có ai để kể.
Mọi người đều bận để sắm vai cuộc đời mình – chuẩn chỉnh, đúng đắn, đáng ghen tị.
Tôi nghĩ mình đã quên chuyện đó, cho đến khi tôi nhận ra tôi không phải là người duy nhất nhìn thấy nó, và có lẽ cũng chẳng ai là người cuối cùng.
2.
Có một quy tắc bất thành văn trong gia tộc tôi:
Những chuyện khó nói sẽ được đặt tên khác.
"Vấn đề" thì được gọi là "chuyện nhỏ".
"Mâu thuẫn" thì là "sự không đồng nhất tạm thời".
Còn nỗi sợ – nỗi sợ mà ai cũng cảm thấy – thì được gói gọn lại bằng một cụm từ duy nhất: "Không nên nhắc đến".
Cho đến một hôm, mọi người không thể không nhắc đến nó nữa
_
Buổi họp được tổ chức như mọi cuộc họp gia đình trước đó, nhanh chóng, đúng giờ và có phần bánh mặn kèm trà thảo mộc.
Ai ngồi vào vị trí của người nấy, như thể đã tập dượt từ nhỏ.
Người cô thứ ba là người lên tiếng đầu tiên.
"Tôi chỉ... tôi chỉ muốn hỏi.
Có ai gần đây cảm thấy... có gì đó không ổn không?"
Sự im lặng lập tức dày đặc, như có gì đó rơi vào giữa bàn, nặng và lạnh.
Người bác trưởng lắc đầu nhẹ, như phủi bụi.
"Ý cô là sao?" – Bác hỏi, giọng như người đã quen đối mặt với đơn kiện từ ngoài xã hội, nhưng chưa từng đối diện với cảm xúc thực.
Người cô chớp mắt.
Rồi nói, lần này nhỏ hơn:
"Tôi thấy một thứ...
ở trong nhà."
Vẫn không ai phản ứng.
Nhưng tôi nhìn quanh và thật kỳ lạ:
Không ai tỏ vẻ ngạc nhiên.
Không ai nói: "Thứ gì?"
Không ai hỏi: "Khi nào?"
Chỉ là những cái chớp mắt hơi chậm.
Một người dọn tay khỏi tách trà.
Một người khác đổi chân bắt chéo.
Rồi, như vỡ một cái bọc kín hơi, những tiếng thừa nhận bắt đầu vang lên.
Lác đác, thầm thì.
"Tôi cũng thấy."
"Nó... có đi qua phòng khách tuần trước.
Phải không?"
"Tôi cứ nghĩ mình đã nằm mơ ban ngày"
"Nó đứng ở đầu giường tôi.
Một lúc lâu đấy."
Căn phòng chao đảo.
Không theo nghĩa đen, mà theo cách mọi ánh mắt bắt đầu dao động.
Như thể tất cả đều đang đứng trên một sợi dây.
Một cảm giác khác lạ trong không khí khẽ trỗi dậy, không phải mùi, không phải tiếng mà là trọng lượng, không còn là sự tĩnh lặng, lạnh lẽo, mà là sự dao động.
Bà nội gõ nhẹ vào tách trà của mình.
Một âm thanh mỏng tang vang lên.
"Không cần thiết phải làm ầm lên như thế."
Câu nói đơn giản nhẹ nhàng.
Nhưng như một mệnh lệnh, lập tức có người gật đầu, người im lặng, người thu lại ánh mắt hoang mang như thể chưa từng nói gì cả.
"Có thể," bà nói tiếp, "đó là do chúng ta căng thẳng.
Ai cũng đang bận rộn cả, nên cũng có thể là một dạng... biểu hiện tâm lý tập thể."
Một người chú thêm vào:
"Chúng ta vẫn đang vận hành tốt.
Kinh tế, học hành, sức khoẻ,... mọi thứ đều ổn.
Chúng ta không có vấn đề gì cả đâu."
Câu "chúng ta không có vấn đề gì cả" ấy chính là tấm băng gạc họ dùng cho mọi vết thương.
Nhưng buổi tối hôm đó, vết thương bật máu.
Khi mọi người vẫn còn ngồi quanh bàn, khi những lời bàn bạc cuối cùng đang dần lắng xuống, thì thứ đó hiện ra, xuyên qua bức tranh nơi cuối căn phòng, Không ai báo trước, hông âm thanh báo hiệu, không có ai hét "kìa!".
Một bóng hình cực kì rõ ràng, cực kì to lớn, như thể nó đã hút lấy thứ gì đó từ những người ở đây để nuôi lớn sống qua ngày đến giờ.
Nó đứng đó, không động đậy.
Dù không có mặt, nhưng tất cả đều cảm thấy nó đang nhìn từng người một, một cách chậm rãi, như thế nhắc rằng nó đang hiện diện.
Bác cả – người từng bị nó "ghé thăm" một lần – đột ngột gục xuống bàn không một tiếng kêu.
Chỉ là cơ thể ông trượt về phía trước, như thể ai đó vừa rút mất linh hồn ra khỏi ông mà không để lại dấu vết.
Lúc đó, sự im lặng vỡ nát.
Tiếng la hét, ghế đổ, tách trà vỡ.
Một người cố kéo bác đứng lên, run rẩy.
Một người khác chạy ra cửa, nhưng dừng lại, như thể quên cách mở nó.
Mọi người chạy tán loạn phá vỡ trật tự vốn có của căn nhà này.
Còn tôi, tôi đứng yên, nhìn con quái vật.
Nó vẫn không cử động.
Nhưng trong căn phòng đầy người, tôi cảm thấy như chỉ có tôi và nó.
Tối hôm đó là lần đầu tiên có người rời khỏi ngôi nhà.
Ngày hôm sau, thêm vài người nữa.
Một số xin chuyển công tác.
Một số chuyển trường cho con cái.
Một người bỏ đi giữa đêm không để lại lời nhắn.
Gia đình vẫn "ổn", vẫn có bữa ăn và vẫn có cuộc họp.
Nhưng căn nhà trước vốn đã lớn bắt đầu trống từng góc.
Những hành lang dài hơn, ghế trống nhiều hơn.
3.
Một người rời đi, thì gọi là chuyển nhà.
Hai người thì là trùng hợp.
Đến người thứ sáu, thì mọi người bắt đầu gọi tên khác cho nó.
"Cải tổ nhân sự."
"Điều chỉnh cơ cấu."
"Tạm thời giãn mật độ sinh hoạt."
Ngôi nhà bắt đầu có tiếng vọng.
Trần vẫn cao.
Tường vẫn sáng.
Nhưng mỗi bước chân bây giờ đều kéo theo một khoảng trống.
Những khung ảnh gia đình vẫn còn nguyên, nhưng bên trong đó có những người đã không còn sống ở đây nữa.
Có một người, tôi không nhớ rõ ấy là cô hay bác, lặng lẽ dọn đồ trong đêm, chỉ mang theo một vali và một chiếc khung ảnh bị gỡ mất kính.
Không nói lời tạm biệt cũng không để lại lời nhắn.
Bởi ô trống càng nhiều nên một sự biến mất càng khiến người ta để ý hơn.
Sáng hôm sau, khi tôi đi ngang qua phòng bà thì thấy chiếc giường được dọn gọn như trong khách sạn, không bụi, cũng không có dấu vết ngủ lại.
Không ai hỏi, cũng không ai nhắc, không ai được phép "gắn cảm xúc cá nhân" vào "quyết định cá nhân".
Đó là cách để những người còn lại tiếp tục sống, tiếp tục giữ cho ngôi nhà đứng thẳng.
Nhưng dần dà ai cũng biết rằng gia tộc A thật sự có chuyện gì đó rồi, có vẻ mọi người cũng đắt dấu hỏi cho cụm từ hình mẫu với gia tộc A bây giờ.
Tôi đã không rời đi ngay.
Tôi vẫn thức dậy lúc 6 giờ sáng, vẫn dùng bữa sáng với những người còn lại, vẫn ngồi vào đúng chỗ của mình trong bữa ăn, chiếc ghế giữa bà và cô hai.
Những người vẫn ở đây nhưng không còn hứng gì đối với bữa cơm gia đình hay cuộc gia tộc nữa cả.
Dù giờ chỉ còn mình tôi, cái ghế ấy vẫn là "của tôi".
Chỉ là mỗi ngay trôi qua, không khí của cả căn nhà càng ngày càng nặng nề, càng trống trải, nhưng thể vẫn có con quái vật hiện diện quanh đây.
Có một điều tôi chưa nói.
Tôi là không phải người đầu tiên thấy thứ kì dị đó, nhưng tôi biết nó xuất hiện từ lúc nào.
Có lẽ là đêm đó, khi tôi còn quá nhỏ để có thể nhớ rõ ràng từng chi tiết một, nhưng tôi nhớ hôm ấy vào buổi họp gia đình, có một người chú mà tôi rất hay thích chơi cùng nên hay bám đuôi theo, lúc ấy chú ấy đi ra ngoài và tôi đã lẻn theo sau, định mẩm sẽ nhảy ra hù chú ấy nhưng chú lại ngồi bịch xuống bậc thang phía ngoài cửa một cách mệt mỏi, mặt mày tối sầm được che lại bởi đôi bàn tay to lớn, theo sau là tiếng thở dài và giọng điều u sầu: "Chết tiệt, rốt cuộc mình phải sống như thế này đến bao giờ?", ấy cũng là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng tôi nghe đến cảm xúc của ai đó buồn đến thế để rồi đọng lại đến giờ là sự uất nghẹn khi không muốn sống cuộc sống như thế này một lần nào nữa.
Và cũng tại thời khắc đó tôi nhìn ra có một thứ sương mù u tối lạ thường xuất hiện bên cạnh chú ấy, không, nói một cách đúng hơn là làn sương đen kia tỏa ra từ phía chú ấy và tụ lại.
Lúc ấy tôi cứ ngỡ là ảo giác, nhưng hóa ra lại không, sững sờ mất một lúc, kí ức uất nghẹn của chú ấy đọng lại trong tôi khá lâu cho đến khi không còn bóng dáng ai ở phía cửa nữa, tôi mới lặng lẽ ló đầu ra ngoài, thứ sương đen kia vẫn lửng lơ tại đó, không biết vì điều gì mà tôi cảm thấy nó đang nhìn mình.
Tôi đoán, đó là lúc tôi bắt đầu lớn lên cùng với thứ đó.
Tôi đã không nhớ đến hối ức ấy cho đến khi vào bữa ăn hỗn loạn định mệnh kia, khi nhìn chằm chằm vào con quái vật kia, tôi mới nhận ra một hồi ức mình đã bỏ quên từ ngày xưa.
Tôi cũng không gặp chú ấy nữa sau lần đó, bởi, chú đã rời đi khỏi gia đình sau đó vài ngày, là rời đi một mình.
Đến tận giờ khi chợt nhớ và hoài niệm lại tôi mới nhận ra, có lẽ thứ này chính là nỗi lòng của nhiều người tích tụ lại, từ những nghẹn ngào khi phải sống một cuộc đời khuôn mẫu, hay những kẻ ra đi mà ôm mình những nguyện vọng không thành tắt ngúm từ khi ước nguyện mới lọt lòng, dần dà hình thành nên con quái vật trong lòng họ.
Chỉ là không ai ngờ rằng, sự tích tụ ấy lại lớn đến nhường vậy, cũng chẳng ai nghĩ rằng, chính nó là thứ khiến họ xé vai khỏi bức hình đại gia đình kia.
Có lẽ là bởi... không ai thật sự chịu cầm mình trong một vai diễn cả đời mà không cách nào thoát ra được.
Con quái vật không đến từ bóng tối.
Nó đến từ những điều không được nói ra.
Và nó sẽ còn ở đó, cho đến khi có người thật sự lắng nghe.
Dẫu nhiều người đã rời đi, những vẫn có những người còn ở lại, có lẽ bởi họ chấp nhận, bởi tài nguyên của gia tộc mới cho họ cuộc sống họ thật sự khao khát.
Con quái vật cũng vậy, nó vẫn ở đó, kể cả chiếc nhãn hình mẫu, chỉ là lớp vỏ đã nứt được một tí, cũng chẳng ăn thua gì.
Nhiều người đã chuyển chỗ, hơi tan tác, và cũng không chắc được liệu trong họ đã thoát hoàn toàn cái bóng tâm lí của sự hoàn hảo mà gia tộc áp lên họ hay chưa
"Vậy còn cô, cô đang sống ở đâu?"
Ai đó hỏi tôi, là một nhà báo đi mò tin tức về gia tộc.
Tôi mỉm cười nhẹ nhàng lấy lệ, vì làm sao có thể nói rằng tôi vẫn còn ở đó?
Không phải bằng cơ thể, mà bằng một phần gì đó trong tôi – phần đã bước về phía nó từ rất lâu, và không bao giờ quay lại.
4.
Tôi đã rời khỏi ngôi nhà ấy.
Tôi sống trong một căn phòng trọ cũ, ở tầng 4 của một chung cư thấp, có cửa sổ nhìn ra đường xe buýt.
Không có phòng ăn lớn. hay tủ kính đầy huy chương, cũng không có bàn họp hay người người sắp xếp đồ.
Chỉ có một bếp nhỏ, một quạt trần kêu khẽ, và chiếc gương treo lệch trên tường.
Lần đầu tiên, tôi được chọn màu ga giường cho mình.
Lần đầu tiên, tôi không cần phải mỉm cười khi không muốn.
Không phải trả lời "dạ" hay "vâng" chỉ để tránh "làm không khí căng thẳng".
Tôi tưởng thế là xong.
Tôi tưởng rằng, chỉ cần bước ra khỏi cái khung đó, cái bóng kia sẽ tan đi như hơi nước.
Nhưng không, một vài điều... vẫn còn đi theo.
Tuần đầu tiên, tôi không thể ngủ tròn giấc, không phải vì ác mộng gì như trước đây, mà là bởi mỗi khi tôi nhắm mắt, tôi cảm thấy căn phòng không còn trống, cứ như thể còn thứ gì đó khác ở đây mà tôi chưa phát giác.
Không khí không chuyển động, nhưng có tiếng thở nhẹ.
Không có tiếng bước, nhưng nền gạch vẫn vang lên tiếng động mơ hồ, như ai đó đang bước khẽ quanh đây.
Tôi bật đèn suốt đêm.
Cửa sổ không đóng.
Tôi nghĩ có thể do mình quen sống ở nơi quá im lặng, quá đúng giờ, nghĩ thầm có thể là do đầu óc vẫn chưa thoát khỏi cái nhịp sinh hoạt đó.
Nhưng rồi, một buổi tối nọ, tôi nghe tiếng cười.
Tiếng rất nhỏ, khi không gian tĩnh mịch về đêm chú ý thì mới nghe ra.
Ấy không phải tiếng cười ghê rợn như phim, mà là tiếng bật cười như một người đang tự giễu mình.
Nhỏ, trầm, như vang lên từ cổ họng của chính tôi.
Tôi đứng dậy, soi gương.
Gương không vỡ, không đổi hình hay nói chuyện, không có dấu hiệu khác lạ gì như tôi tưởng tượng, hoặc là tôi đã nghĩ vậy.
Chỉ là... tôi nhìn thấy mình, nhưng khi nhìn kĩ hơn, sau trong mắt mình, trong con ngươi đen láy kia, cảm giác như có ai đó khác.
Không phải là hình ảnh khác thường, cũng không phải ma, mà là cảm giác mình đang bị quan sát từ bên trong.
Ngày thứ mười ba kể từ khi rời khỏi nhà, tôi ra quán cà phê gần trọ, định viết vài dòng như một thói quen mới.
Tôi chọn bàn sát tường, mở sổ, và viết:
'Tôi từng thấy một con quái vật sống trong nhà tôi.
Nó không còn ở đó nữa.
Nhưng có thể, nó không chỉ ở trong nhà ấy.'
Tôi ngẩng lên, và thấy một cô gái đang ngồi bên kia phòng.
Cô mặc áo len xanh lông vịt, tóc buộc hờ, mặt bình thản.
Không ai để ý cô, kể cả tôi, cho đến lúc đó.
Chỉ trong một khoảnh khắc, tôi để ý trên vai cô, có một con bướm đen nhỏ đậu xuống, rất nhẹ, như thể không có thật.
Cô gái không phản ứng, cũng không chạm vào nó, như trong khoảnh khắc ấy không biết đến hiện diện của côn trùng kia.
Nhưng ánh mắt cô, chỉ trong một giây, trở nên đục lại, rồi sau đó sáng lên như cũ, như thể chưa từng có gì xảy ra.
Tôi chớp mắt.
Con bướm biến mất.
Lúc ấy tôi đã nghĩ có thể mình đang tưởng tượng, có thể bởi vẫn còn dư âm từ căn nhà cũ.
Nhưng ngày hôm sau, tôi lại thấy một con bướm khác, lần này đậu trên vai một cậu bé đang ngồi đợi mẹ ở trạm xe buýt.
Rồi một lần khác, trong thư viện, trên gáy một người đàn ông đang lật sách.
Chúng xuất hiện như dấu chấm câu cuối một câu chuyện chưa viết xong.
Không ai khác để ý, chỉ có tôi.
Tôi không biết điều gì đang bắt đầu.
Chỉ biết rằng, khi một người đã từng sống cùng với quái vật, thì họ biết cách nhận ra bóng của nó ở bất cứ đâu.