Khác [Series - Dã sử] QUÁN TRỌ PHÙ VÂN

[BOT] Wattpad

Administrator
25/9/25
59,383
0
0
195170126-256-k29756.jpg

[Series - Dã Sử] Quán Trọ Phù Vân
Tác giả: PhuongUyen286
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Thể loại: Cảm hứng lịch sử, cổ trang, tình cảm.

Mỗi chương là một câu chuyện hoàn toàn tách biệt về một nhân vật đã từng lừng lẫy.

Phần lớn diễn biến truyện là sáng tạo của tác giả, xin đừng đánh đồng với chính sử.

----------------

Người ta kể lại, trên đỉnh Bạch Vân Sơn có một quán trọ kỳ lạ, giúp khách qua đường thực hiện mọi điều mình muốn.

Cũng có người bảy lần lên núi tìm kiếm vẫn không tài nào biết quán trọ ấy ở đâu.

Trăm năm, ngàn năm, bao nhiêu kẻ mang theo sự luyến tiếc dở dang mong được một lần thỏa ý, mấy ai biết được mình là khách "hữu duyên"?

Chỉ biết, tại nơi bốn mùa mây phủ nọ, thi thoảng vọng lại tiếng sáo du dương và tiếng ca thánh thót.

Lời rằng:

"Đời người như áng phù vân
Ai không ở trọ hồng trần, rồi đi?"



viet​
 
Related threads
  • Trả test [Peach_Milk-Team]
  • Nhất Trung Mộ Anh-Trần Cảnh,Lý Chiêu Hoàng
  • [Series] Đạo Sĩ Thất Sơn
  • [Series truyện ngắn] QUÁI DỊ
  • [#REDDIT#NOSLEEP][SERIES TRUYỆN KINH DỊ CÓ THẬT]...
  • [SERIES] MỖI NGÀY MỘT CÂU CHUYỆN BÍ ẨN - TỐ NHI
  • [Series - Dã Sử] Quán Trọ Phù Vân
    Chương 1: Cách trời ba thước


    Ngày tàn, nắng tắt.

    Ông già râu bạc nhìn lên đỉnh non cao, mây trắng giăng giăng gợi một cảm giác quen thuộc mơ hồ.

    Hãy còn xa mới đến!

    Ông đưa tay xốc lại gùi hành lý trên lưng, bất chợt có cơn gió mạnh thổi bay chiếc mũ về phía xa, rơi xuống trước một mũi giày nhỏ.

    Ông già cúi xuống nhặt, không ngờ cô bé nọ đã nhanh tay hơn, cô cung kính cúi đầu gửi lại ông bằng cả hai tay, trong trẻo cất tiếng thưa:

    - Chào mừng khách quan đã đến với quán trọ Phù Vân!

    Ông già ngỡ ngàng, chưa đáp được lời nào, ông đã thấy chân mình đang bước theo cô gái trẻ băng băng lên sườn dốc rồi dừng lại ở giữa khung cảnh thần tiên.

    Một dãy nhà gỗ nằm giữa một vùng non xanh nước biếc, bầu trời sát gần mặt đất, tưởng như với tay là có thể chạm mây.

    Cô gái ban nãy vẫn giữ nụ cười ngọt như rót mật:

    - Phòng của ngài ở phía Đông, nếu có việc cần xin thổi cây sáo ngọc để trên thư án, tôi sẽ đến ngay. – Nàng toan quay đi, song vẫn còn điều chưa nói hết. – Nếu giữa đêm có bóng trắng đến tìm, ngài đừng sợ, đó chỉ là những linh hồn vô hại đến tìm người tâm sự thôi, không phải ma đâu!

    Cô gái đã đi mất hút, ông già vẫn mơ màng không hiểu.

    Từ làng chài ven biển, ông lên đường du sơn ngoạn thủy đã hơn một tháng, chưa một lần nghe nói đến quán trọ này.

    Tuy nhiên, ông vẫn tò mò bước đến gian phòng đã được chuẩn bị cho mình, cơm canh nóng sốt đã sẵn sàng.

    Ông sờ lại túi hành lý bên người, dẫu gì chắc ông cũng chi trả được, hôm nay ông đi nhiều cũng thấm mệt rồi.

    Nghĩ thế, ông khoan khoái ăn một bữa thật no rồi đánh một giấc ngon lành.

    Trong cơn mơ, ông nghe rõ tiếng gió lùa qua mành trúc, khua chiếc chuông gió bằng gỗ treo trên mái hiên tạo ra những tiếng lách cách lầm rầm như ai đang trò chuyện.

    Khi tỉnh dậy đã là sáng hôm sau, ông nhìn ra sân, những giọt nắng sớm hân hoan nhảy nhót trên bóng lá.

    Ông với tay lấy cây sáo nhỏ trên bàn, thổi một khúc, bên ngoài lập tức vọng đến tiếng gõ cửa.

    Không phải cô gái hôm qua, người đến là một chàng trai trẻ mặc y phục trắng, mái tóc đen dài và đôi mắt sáng trong yên ả như mặt hồ thu.

    Chàng điềm nhiên bước đến ngồi trước mặt ông, đặt xuống một bộ ấm chè.

    - Ngài ngủ có ngon không? – Giọng chàng trầm ấm.

    - Cậu là chủ nơi này? – Ông hỏi.

    Chàng trai khẽ gật đầu, nâng tay áo, rót chè mời.

    Hương nhài thoang thoảng tỏa theo làn khói khiến ông già thư thái lạ lùng.

    Hai bên im lặng thưởng chè, nghe chim hót ríu rít ngoài sân, đoạn chàng trai lên tiếng:

    - Ngài đến được quán trọ này ắt là người có duyên, xin cứ an tâm nghỉ lại! – Khóe môi chàng khẽ cong lên, đuôi mắt nheo nheo. – Hôm nay trời đẹp, sao ngài không ra hồ câu cá, chẳng phải đó là thú vui của ngài sao?

    Ông già ngạc nhiên vì chàng trai biết rõ sở thích của mình, nhưng loáng một cái người đã đi đâu mất.

    Ông bước ra sân, thả bộ xuống hành lang dài dẫn ra đình hồ.

    Không ngờ có người tới sớm hơn cả ông, người đó tuổi trạc chàng trai ban nãy nhưng thân hình rắn rỏi, đôi mắt sáng lấp lánh dưới hàng chân mày rậm.

    Chàng nhìn ông, khẽ gật đầu rồi lại chuyên tâm câu cá.

    Ông cũng rút một chiếc cần dựng ở góc đình, ngồi xuống một bên.

    Hôm nay có vẻ không phải ngày tốt để đi câu, nước trong veo khiến lũ cá sợ mồi nên mãi mà cần câu của hai bên đều không động.

    Tiếng bước chân khẽ khàng sau lưng làm cả hai đồng thời quay lại.

    Cô gái nhỏ đặt xuống bàn một khay đầy thức ăn và rượu, rót vào hai cốc rồi lại lễ phép cúi chào.

    Từ đầu đến cuối, cô không hề nói một câu.

    Hai người đàn ông cao lớn nhìn theo cô gái rồi lại nhìn nhau.

    Chần chừ một đỗi, cả hai ngồi xuống bên mâm thức ăn thịnh soạn.

    Người trẻ tuổi nâng ly ngang miệng:

    - Mời ngài!

    Ông già uống cạn ly rượu, một cơn gió mát lành thổi vào mái đình đưa theo hương sen dìu dịu.

    Ông hỏi ôn tồn:

    - Cậu đến quán trọ này mấy lần rồi?

    Chàng trai nhìn ông, hơi mở to mắt, đoạn phì cười:

    - Hóa ra ông cũng là một vị khách bất đắc dĩ như tôi. – Chàng nhìn lên những đám mây bềnh bồng là là trên mặt nước. – Nghe nói đây là nơi dành cho những người có nỗi khổ tâm không tháo gỡ được.

    - Cậu còn trẻ như vậy, có thể có nỗi khổ gì? – Ông già thắc mắc.

    Chàng trai nhìn ông, lại rót một cốc đầy rượu rồi uống cạn.

    Chàng nhìn ra phía hồ nước, lẩm bẩm như tự nói với chính mình:

    - Thời xưa, mỹ nhân dùng kế để lung lạc địch quân thì được người người ca ngợi hy sinh vì đất nước.

    Đổi lại, nếu người đó là nam nhi lại bị đời đời phỉ nhổ.

    Ông nói xem, đàn ông không có nước mắt sao?

    Ông già chăm chú lắng nghe, thỉnh thoảng đưa tay rót rượu cho chàng mà không nói một lời nào.

    Chàng nhìn những giọt rượu sóng sánh, khẽ thở dài:

    - Tôi biết, tôi dùng kế để ít tiêu hao binh lực nhất mà vẫn chiếm được thành trì tuy có công với đất nước tôi nhưng có tội với người xem tôi là chồng, tin tưởng tôi hết mực.

    Ông già hiểu được cảm giác trong lòng cậu.

    Tuy không rõ tại sao, nhưng ông nhớ mình cũng từng đắn đo giữa việc nhà và việc nước.

    - Nếu được làm lại lần nữa, cậu sẽ chọn thế nào? – Ông chân thành hỏi.

    Chàng suy nghĩ hồi lâu, tay nắm chặt thành đấm, trả lời đầy kiên quyết:

    - Tôi chưa từng hối hận.

    Ông không bất ngờ, vì chính ông cũng sẽ làm như vậy.

    Có cơn đau nhoi nhói lên trong dạ, ông già hít một hơi thật sâu để tự trấn tĩnh rồi nói với chàng trai:

    - Trong lòng cậu sớm đã phân nặng – nhẹ rồi.

    Đàn ông muốn làm việc lớn thì phải tàn nhẫn, mềm lòng chỉ tổ chuốc lấy đau thương.

    Tiếng sáo vi vu được gió xa đưa lại.

    Hai người trong đình nhìn về phía dãy nhà chính, thấy thấp thoáng một bóng áo trắng trang nhã.

    Cuộc rượu kéo dài trong im lặng đến tận giữa trưa.

    Trong váng vất hơi men, ông nhớ mình cũng từng có một thời vẫy vùng, một thời ngang dọc, một thời chém giết.

    Trớ trêu thay, ông không tài nào nhớ được gương mặt đối thủ, hoặc ông là ai, hoặc ông đã chiến đấu ở chiến trường nào.

    Ông lên núi này chỉ để ngao du hay đang đi tìm kẻ cựu thù?

    Khi ông già tỉnh rượu, trời đã về chiều.

    Mùi cháo thơm nức mũi giục ông mở mắt, một bóng dáng mảnh mai thoăn thoắt đi đi lại lại.

    Ông khẽ hỏi:

    - Cháu gái tên gì?

    Cô gái đang múc cháo ra bát dừng tay nhìn sang phía ông.

    Ông già thoáng kinh ngạc, đây không phải là cô bé ông đã gặp trước kia.

    Cô gái này lớn hơn vài tuổi, mặt đẹp như hoa, da trắng như bạch ngọc.

    Ông ngỏ ý mời cô cùng dùng bữa, cô lắc đầu nguầy nguậy.

    Cô ngồi cạnh bên, chống cằm nhìn ông xơi cháo, gương mặt hiện rõ sự thích thú.

    - Cháu làm ở đây lâu chưa? – Ông hỏi.

    - Không ạ, cháu là khách trọ. – Nàng nheo mắt cười thật hồn nhiên. – Cô bé kia nghịch dại bị bỏng tay nên nhờ cháu nấu và mang đến cho ông.

    Nụ cười này dường như ông đã gặp ở đâu rồi.

    - Cháu cũng có nỗi khổ tâm không giải được sao?

    Câu hỏi của ông khiến nụ cười trên mặt cô vụt tắt.

    Cô giương đôi mắt to tròn nhìn ông đăm đắm, lúc lâu sau, cô lại nở nụ cười buồn.

    - Cháu còn bé như vậy, buồn chuyện gia đình hay chuyện tình duyên? – Ông cố trêu.

    - Cháu lớn rồi, có chồng rồi đấy! – Đôi môi hồng cong lên như cánh hoa đào khiến ông già thấy vui lây.

    Rồi nụ cười kia bỗng méo xệch.

    - Ông ơi, yêu và tin chồng là có tội phải không ông?

    - Ai bảo cháu thế? – Ông sửng sốt.

    - Cha cháu ạ. – Mắt nàng hoe hoe đỏ.

    - Cha mẹ nào chẳng dạy con gái phải thờ chồng? – Ông già nhíu mày.

    - Nhưng cha cháu là vua, chồng cháu là hoàng tử nước láng giềng...

    - Giọng nàng càng lúc càng nức nở. – Cháu tin chồng nên tiết lộ bí mật quân cơ làm mất nước, bị cha cháu xem là giặc...

    Ông bối rối khi thấy cô gái nhỏ khóc òa, vội bước đến đưa tay lau nước mắt cho cô.

    Ông chợt nhớ mình từng có một đứa con gái nhỏ, nó cũng hay sà vào lòng ông nũng nịu thế này.

    Ông vỗ nhẹ lưng cô an ủi:

    - Ngoan nào, ngoan nào...

    Cô gái vẫn nấc lên từng tiếng:

    - Cháu không phải là giặc, cháu không phản bội đất nước đâu!

    - Ta biết!

    Ta biết chứ! – Ông sốt ruột như thể nàng đang trách móc mình.

    Cô gái khóc mệt, thiêm thiếp trong tay ông.

    Ông già suy nghĩ thật lâu rồi từ tốn nói:

    - Đành rằng cháu quá ngây thơ, nhưng cha cháu là vua một nước, đâu thể cả tin như cháu được.

    Gả cháu cho con của kẻ thù cũng là quyết định của ông ta, muốn lợi dụng cuộc hôn nhân chính trị này...

    Ta nghĩ ông ấy chỉ vì nóng giận một lúc, không thể chấp nhận được việc mình đã làm sai, thành thử, ông mới trút lên người cháu.

    Nước mắt cô gái rơi ướt đẫm đôi tay đầy vết chai của ông già:

    - Thật thế hả ông?

    - Thật!

    Có cha mẹ nào chẳng thương con? – Ông già đưa một tay xoa đầu, tay kia vẫn lau nước mắt cho cô. – Đợi ông ấy bình tĩnh lại sẽ biết mình quá lời thôi.

    Cô gái cố nén từng tiếng nấc, khẽ mỉm cười, đôi mắt nhìn ông tràn ngập yêu thương:

    - Ông biết tên cháu mà, ông nhỉ?

    Ông già tưởng như có ai cầm búa giáng mạnh lên ngực, bên tai vang rền tiếng sấm.

    Gương mặt xinh đẹp trên tay ông, rồi chiếc cổ thon, rồi bờ vai gầy, vòng eo mảnh bỗng hóa thành khối ngọc trắng.

    Ông già sửng sốt không kịp giữ, khối ngọc rơi xuống đất, đầu lìa khỏi cổ.

    Trước mắt ông bỗng tràn ngập một màu đỏ tươi, mùi máu tanh nồng xộc lên mũi, từng chuyện xưa lũ lượt kéo nhau về.

    Ông chợt nhớ ra vì sao mình lại đến đây.

    Yêu hận của ông thảy đều ở nơi này cả!

    Cánh cửa phòng xịch mở, cô bé ban sáng bước vào, nhẹ nhàng đặt một thanh kiếm lên bàn:

    - Đây là thanh kiếm quán trọ chúng tôi chuẩn bị cho ngài.

    Chỉ cần chém một nhát, kẻ thù của ngài sẽ mất máu cho đến chết.

    Cô bé đã đi rồi, ông già vẫn chôn chân tại chỗ.

    Không biết bao lâu sau đó, ông nhấc từng bước nặng như chì đến chỗ đầu bức tượng kia, run run ôm vào lòng dùng tay áo lau sạch bụi, cẩn thận từng chút một.

    Lúc con còn nhỏ, ta cũng tự tay tắm cho con biết bao lần, ông nghĩ.

    Dựng thân tượng lên, ông đặt chiếc đầu lên cổ nhưng không cách nào cố định được, ông già cứ loay hoay, không biết mặt mình đã ướt đẫm từ lâu.

    Đứa con gái đó, ông đã từng nâng niu như báu vật, đã từng thề sẽ đâm kiếm ngập tim kẻ nào khiến nàng rơi lệ.

    Đứa con gái đó, ông đã hân hoan nhìn nàng xinh đẹp lộng lẫy trong ngày cưới, sánh đôi với hoàng tử nước láng giềng.

    Đứa con gái đó, đứa con gái đó...

    Lần đầu tiên nó cất tiếng gọi "Cha", ông mừng hơn ai dâng tặng giang sơn gấm vóc.

    Lần cuối cùng nó gọi "Cha", ông len lén kiêu hãnh vì mình đã đặt quốc gia trên cả tình thân.

    Hôm ấy, lông ngỗng bay mù trời, máu nàng rơi đỏ như hồng mai nở trong tuyết trắng.

    Có ai... có ai cứu dùm con ông?

    Con gái ông, niềm vui của ông, máu thịt của ông...

    Ông già lắc mạnh đầu, cố ngăn dòng ký ức!

    Ông lục tung căn phòng tìm thuốc và băng gạc, cứ rời tay là đầu tượng rơi xuống đất.

    Ông bắt đầu hoảng loạn, miệng muốn gào lên cầu cứu nhưng âm thanh cứ nghẹn trong cổ họng, rồi mắt ông chạm đến thanh kiếm đặt trên bàn.

    ***

    - Ông chủ vào trước đi!

    Chàng trai áo trắng khẽ nhíu mày nhìn cô gái nhỏ.

    Sợ phật ý chủ, nàng vội vã thanh minh:

    - Cô công chúa kia lúc chết bị vua cha chém đầu mà...

    Chàng thư sinh cười nhẹ, đẩy cửa vào, cô bé rón rén theo sau.

    Ở giữa phòng, ông già vẫn ôm chặt bức tượng bằng ngọc trắng, cổ tay ông đặt đúng vị trí xưa kia bị nhát gươm của ông chém xuống.

    Mặt ông trắng bệch không còn sự sống, mắt khép hờ, những nếp nhăn giãn ra thanh thản, trên sàn, thanh kiếm nằm lăn lóc cạnh bên.

    Chàng trai chạm lên cổ bức tượng, không một vết xước.

    Ánh trăng chênh chếch rọi qua khe cửa, hắt trên gương mặt cô gái, khối ngọc sáng lấp lánh như đọng những giọt sương.

    Cô bé đứng cạnh níu chặt tay áo chủ, chàng đưa tay vuốt nhẹ mi mắt ông già, đoạn quay sang cô nói khẽ:

    - Sáng mai có thể xóa tên họ trong sổ khách được rồi.

    Ngoài cửa phòng, một bóng người như chết lặng.

    ***

    Rất lâu về sau, ở kinh thành nước Triệu, chàng vương tử một thời lừng lẫy trút hơi tàn trên giường bệnh.

    Khi xưa có người nguyền rủa chàng là kẻ vong ơn bội nghĩa, cũng có người đồn thổi chàng vì hối tiếc mà tự tận, nhưng chàng vẫn sống.

    Kiếp này, chàng đã làm tròn trách nhiệm một người con, một người dân, chàng chỉ có lỗi với một người.

    Nhìn ra khoảng trời bao la đỏ ánh tịch dương, chàng nghĩ đến câu chuyện lạ kỳ năm đó.

    Nhiều lần chàng đã cho người quay lại nước Nam, lên tận đỉnh núi mây phủ ấy tìm nhưng chẳng được dấu vết gì.

    Nghe nói quán trọ Phù Vân chỉ người hữu duyên nhìn thấy.
     
    [Series - Dã Sử] Quán Trọ Phù Vân
    CHƯƠNG 2: CÙNG TRÔNG LẠI MÀ CÙNG CHẲNG THẤY [1]


    Tịch dương như lửa.

    Cả khu rừng nhuộm một màu đỏ quạch.

    Những cánh chim xao xác bay về tổ cho kịp tối, rộn một góc trời chiều.

    Thiếu phụ đứng ngẩn ngơ bên sườn núi hồi lâu, dõi theo bóng ác tà, tưởng như mình đã trông thấy cảnh tượng này cả nghìn lần.

    Những tàn cây cao vút, đỉnh nhọn tựa mũi kiếm khắc vào chân trời, rạch vào lòng nàng một cảm xúc tiếc thương như đã đánh mất một điều gì trân quý.

    Nhưng điều ấy là gì, phải tìm lại ở đâu, nàng không cách nào nhớ được.

    Chỉ biết có một cảm giác lạ kỳ thôi thúc nàng phải lên núi, phải chứng kiến cảnh hoàng hôn dữ dội này.

    - Đêm xuống đã lâu, mời phu nhân vào nhà kẻo sương rơi lạnh.

    Thiếu phụ ngoảnh lại.

    Một cô gái nhỏ thướt tha y phục trắng, mái tóc đen dài, lễ phép chắp tay, cúi đầu:

    - Chào mừng khách quan đã đến quán trọ Phù Vân!

    Nhanh như cắt, cô gái nhỏ khoác lên vai nàng một chiếc áo choàng lớn, dìu tay nàng lên núi.

    Hai người lướt như bay, mây lần lần sà xuống thấp.

    Chẳng mấy chốc, thiếu phụ đã thấy mình đứng giữa một dãy trường lang.

    Dãy nhà gỗ có treo đèn lồng quả trám sáng rực gợi cảm giác ấm áp, dễ chịu lạ thường.

    Thoáng chốc, thiếu phụ quên hết những thắc mắc và ngạc nhiên, chỉ muốn ăn một bữa cơm nóng sốt rồi ngủ một giấc thật sâu.

    - Phòng của phu nhân ở bên này ạ, xin mời! – Thiếu nữ áo trắng đưa tay về dãy phòng phía đông, đoạn lại dìu nàng hướng đến một gian phòng nhỏ.

    Ngang qua khoảng sân rộng rợp bóng trúc xanh, giữa có một hồ sen lớn, thiếu phụ trông thấy hương án được bày trang trọng, có một bình hoa trắng hương thơm dìu dịu, có cả khay chè khói lan vấn vít.

    Nàng bỗng ngỏ ý:

    - Ta có thể thắp một nén hương không?

    - Xin theo ý phu nhân. – Cô gái nhỏ đáp, đoạn nhanh chân đến hương án thắp đèn.

    Trăng đã lên cao, dát bạc cả một vùng non xanh nước biếc.

    Hương trầm bảng lảng tỏa lên không.

    Thiếu phụ tựa cửa trông trăng.

    Gió lùa qua mành trúc, chiếc chuông gió bằng gỗ treo trên mái hiên khua động như đang thầm thì bầu bạn với nàng.

    Ban nãy, cô gái kia đã mang đến cho nàng một bát cháo nóng, dùng xong lại có chè ủ trong búp sen.

    Đã lâu rồi nàng không thấy thảnh thơi, thong dong đến thế.

    Mắt trông thấy cây sáo nhỏ bằng ngọc trắng đặt trên thư án, nàng bỗng thấy hứng thú, đặt lên môi thổi một khúc dân ca đã quên lời.

    Khúc ca vừa dứt, góc trường lang đã văng vẳng một giọng nam:

    "Sứ quân từ nam lại,

    Năm ngựa đứng chần chừ.

    Sứ quân gọi người hỏi,

    "Kia con gái nhà ai?"

    "Họ Tần có người đẹp,

    Tên gọi là La Phu."

    "La Phu nay bao tuổi?"

    "Hai mươi, còn chưa đủ,

    Mười lăm, lại hơi dư."

    Sứ quân hỏi La Phu:

    "Muốn chở nàng được chăng?"

    La Phu trước xe đáp..." [2]

    Thư sinh áo trắng nheo nheo đôi mắt sáng, thong thả bước đến chào nàng, đoạn ngồi xuống bên cạnh nhìn ra sân như chờ đợi.

    Cô gái nhỏ ban nãy thoăn thoắt bước đến, giọng nói trong veo có phần nũng nịu:

    "Sứ quân sao quên ư!

    Sứ quân đã có vợ,

    La Phu có trượng phu."

    Cô bé nguýt chàng trai rồi vẻ mặt liền trở lại dịu dàng, đặt một khay bánh trước mặt thiếu phụ.

    Thiếu phụ cầm một chiếc lên xem, hóa ra là bánh phu thê, nàng bỗng thấy vui vui, mơ hồ rung động, âu yếm nhìn hai con người trẻ tuổi trước mặt.

    Cô gái nhỏ lại ra vẻ tự hào, vỗ ngực hát tiếp:

    "Phía đông hơn ngàn ngựa,

    Có chồng thiếp dẫn đầu..."

    Thiếu phụ vô thức cắt lời nàng:

    "Sao nhận ra chồng thiếp?

    Bạch mã cùng ly câu.

    Tơ xanh buộc đuôi ngựa,

    Vàng quấn ở trên đầu..."

    Nước mắt bỗng tuôn ướt đẫm dung nhan đã nhuốm màu sương gió.

    Thiếu phụ bỗng thấy trong lòng rỗng tuếch, tang hoang như vừa có cơn bão đi qua.

    Nàng ngửa mặt trông trăng để ngăn nước mắt tiếp tục rơi.

    Hai người ở quán trọ vẫn yên lặng nhìn nàng, trên gương mặt cô gái nhỏ thoáng nét đau lòng.

    Cơn xúc động qua đi, thiếu phụ cũng nhìn họ, hồi lâu, nàng nở nụ cười buồn:

    - Dường như trước đây ta cũng từng có một mái nhà ấm cúng thế này, một chỗ dựa vững chắc thế này. – Nói đoạn, nàng lại nhìn trăng, thấp giọng như tự nói với mình. – Lại dường như, cuộc sống ấy vốn chỉ tồn tại trong mơ...

    - Phu nhân đến được nơi này hẳn là người hữu duyên, xin cứ yên tâm nghỉ lại đây. – Chàng thư sinh từ tốn nói. – Những việc không nhớ ra ắt là đáng quên, phu nhân chớ nặng lòng!

    - Hai người gọi ta là phu nhân, vậy...

    - Thiếu phụ bỗng dưng thấy tò mò.

    - Thưa, nếu khách quan phật ý, xin dạy cho phải gọi thế nào, quán trọ chúng tôi nhất định sẽ tuân theo. – Cô gái nhỏ lễ phép chắp tay, cúi đầu, mau mắn đáp.

    Ra là vậy, chỉ là nàng hy vọng từ họ mà biết được gì đó về quá khứ của mình.

    Thiếu phụ cười nhạt, phẩy tay áo:

    - Muộn rồi, nghỉ ngơi thôi!

    Hôm nay may là gặp được các người!

    Hai con người trẻ tuổi chào nàng rồi nhanh chóng rời đi.

    Thiếu phụ mệt mỏi ngả lưng xuống chiếc giường mềm mại thoảng mùi đàn hương lành lạnh.

    Cơn mộng kéo đến rất nhanh, nàng dường nghe thấy bên ngoài vẳng đến một giọng nói rất thân thương, à ơi chòng ghẹo:

    "Nước non một gánh chung tình,

    Nhớ ai ai có nhớ mình hay chăng?" [3]

    ***

    Thiếu phụ ngủ rất say, khi nàng tỉnh dậy, chiếc gối cạnh bên có vết lõm mờ, chiếu chăn còn vương hơi ấm.

    Bữa sáng đã được ai đó chu đáo đặt trên bàn.

    Nàng thong thả dùng rồi bước ra ngoài dạo một vòng.

    Ngang qua hồ sen, nàng trông thấy cô gái nhỏ đang ngồi thưởng chè cùng một chàng thiếu niên lạ mặt.

    Thiếu phụ biết rõ nghe lỏm chuyện người khác là việc sai trái, song nàng mơ hồ cảm thấy những điều hai người kia nói với nhau ít nhiều liên quan đến thứ nàng đang tìm kiếm.

    Nàng khẽ khàng nép mình vào một góc, chăm chú lắng nghe.

    - Cậu chỉ là nhóc con vắt mũi chưa sạch, oan ức gì mà đến được nơi này?

    Thiếu phụ suýt nữa bật cười.

    Trông đôi mắt lấp lánh vẻ tinh nghịch và cái trán cao ương bướng, nàng biết cô gái nhỏ kia chẳng phải thục nữ dịu dàng, chẳng qua vì phục vụ ở quán trọ này mới phải tỏ vẻ đoan trang mực thước đó thôi.

    - Thầy mẹ tôi vốn là người Giao Chỉ, nhưng vì cuộc sống lưu lạc, tôi bị sung vào quân của thái thú người Hán, nhiều lần phải chính tay đàn áp dân mình. – Cậu trai kia lí nhí đáp, đầu cúi thấp. – Tôi những mong có thể làm quan to, chừng ấy sẽ tìm cách để người dân bớt khổ...

    - Thời cuộc thay đổi, rất nhiều người không thể sống theo ý mình.

    Cậu mang ý tốt nhưng ý tốt ấy cần có thời gian.

    Miễn là, cậu đừng làm việc gì quá độc ác thì có gì phải ray rứt thế đâu? – Thiếu nữ tỏ vẻ người lớn, đưa tay xoa xoa đầu cậu.

    - Tôi vẫn tự an ủi mình như thế, nhưng đến một ngày, tôi bị bắt phải chính tay châm lửa thiêu một vị tướng quân Giao Chỉ. – Ngập ngừng một đỗi, cậu bé tiếp. – Tướng quân là hậu duệ của một vị Lạc tướng, vì căm phẫn sự tàn bạo của thái thú mà liên kết với quân đội ở các nơi nổi dậy.

    Khi ngài gặp nạn, vợ ngài ấy đã cùng em gái tiếp tục lãnh đạo dân chúng đấu tranh, tuy chẳng cầm cự được bao lâu.

    Phu nhân ấy là đàn bà chân yếu tay mềm mà vì nghĩa lớn, hô một tiếng có trăm vạn người theo.

    Còn tôi... còn tôi... lại tiếp tay cho giặc mang chồng bà ra uy hiếp...

    Cậu trai gục đầu khóc nấc, cô gái nhỏ ôm lấy vai cậu ta vỗ về.

    Thiếu phụ càng nghe càng thấy trời đất quay cuồng, vị tướng quân ấy...

    Đầu nàng bỗng đau như búa bổ.

    Nàng ôm trán toan rời đi thì giọng nói trong trẻo của cô gái nhỏ lại vang lên:

    - Cậu đừng buồn nữa.

    Tôi nghe nói thằng thái thú ấy cũng sắp qua đây. – Nụ cười thánh thiện mọi khi của cô bé bỗng tràn đầy sát khí. – Dưới hương án giữa sân có một thanh bảo kiếm, chỉ cần chém một nhát, kẻ thù của cậu sẽ mất máu cho đến chết.

    - Nơi này không có binh lính, không có quan quyền, giết người cũng chẳng ai buồn truy xét... – Cậu bé run rẩy tiếp lời.

    Thiếu phụ thờ thẫn hồi lâu, lê bước trở về phòng.

    Ngang qua khoảng sân lóng lánh ánh nắng xuyên qua tàn trúc, mắt nàng dán chặt vào hương án vẫn nghi ngút khói.

    ***

    Thiếu phụ giam mình trong phòng suốt một ngày dài.

    Ngực nàng âm ỉ nhói đau.

    Không hiểu sao khi nghe câu chuyện của cậu bé kia, nàng loáng thoáng nhớ ra, so với sự ray rứt của cậu ấy, nàng dường như còn phạm một lỗi tày trời hơn.

    Chính vì thế, nàng mới loanh quanh mãi mà không đến được nơi cần phải đến.

    Ánh ráng chiều chênh chếch hắt bên song.

    Bên ngoài lại vang lên tiếng chim gọi nhau về tổ.

    Trước cửa phòng nàng có ai lên tiếng gọi:

    - Phu nhân, mời dùng cơm tối.

    Là giọng nói của cậu trai bên hồ sen sáng nay.

    Thiếu phụ ngạc nhiên:

    - Cậu là khách, sao lại đến đưa cơm?

    - Thưa, cô bé kia không cẩn thận cắt vào tay, chủ quán đang bận giúp nàng ấy băng bó rồi ạ.

    Trưa nay phu nhân không dùng bữa nên họ nhờ tôi mang đến cho nóng sốt.

    - Cảm ơn cậu. – Thiếu phụ đáp, đoạn mở cửa. – Hay cậu mang ra đình hồ rồi ăn cùng ta...

    Cửa vừa mở, cậu trai nọ trông thấy nàng thì mặt cắt không còn hột máu, tay chân luống cuống suýt nữa đã đánh rơi cả khay cơm.

    Nàng vội đỡ lấy cậu:

    - Cậu không sao chứ?

    - Thưa...

    Thưa... không sao ạ! – Cậu bé hít sâu mấy lần để giữ bình tĩnh, mang khay cơm đặt lên bàn, đoạn vội vã ngồi xuống ghế. – Mời phu nhân dùng bữa.

    Bữa cơm chiều nay có lươn om chuối và đậu phụ.

    Mùi riềng thơm lựng khiến bụng nàng sôi réo, nàng liền xới cơm ra bát, tỏ ra vui vẻ mời thiếu niên kia một bát.

    Cậu bé lễ phép đón lấy bát cơm, đôi đũa ngập ngừng chạm đến đĩa thức ăn, ngần ngại một đỗi, cậu gắp một miếng đậu phụ to, cắm cúi ăn.

    Thiếu phụ trông thấy thế, bật cười:

    - Cậu ngại mấy con vật trơn láng không có chân phỏng?

    - Thưa, đâu có ạ! – Cậu bẽn lẽn cúi đầu.

    - Đừng sợ ta cười cậu là nam nhi mà sợ một con vật nhỏ!

    Ta từng biết một vị tướng quân lưng dài vai rộng, không sợ sống không sợ chết, thế mà cũng ngần ngại không dám thử món này.

    Nàng nói một hồi dài, dứt lời lại tự thấy lạ lẫm.

    Trước mắt nàng hiện lên một gương mặt dạn dày sương gió đang ngượng ngùng vì bị vợ trêu.

    Phía bên kia bàn, cậu bé kia đã hoảng sợ đến mức đánh vỡ bát cơm.

    Cậu sụp xuống lạy liên hồi:

    - Nữ vương tha tội!

    Con không biết bà đã nhớ ra chuyện cũ!

    Nữ vương tha tội!

    Hai tiếng "nữ vương" vang lên bên tai thiếu phụ như tiếng sấm.

    Nàng ôm lấy tai mình, nhưng những tiếng tung hô vẫn vang lên rõ mồn một, vọng khắp bốn bề.

    Có một thời gian rất dài, nàng thấy sợ mỗi khi nghe thấy danh hiệu ấy.

    Nhưng vì sao?

    Bao giờ?

    Nàng là nữ vương của xứ sở nào?

    Cố nhớ lại gương mặt thấp thoáng trong trí nhớ ban nãy, nàng chỉ thấy chàng mỉm cười tràn ngập yêu thương.

    Nàng chỉ thấy chàng oai phong trên lưng ngựa, lưu luyến ngoảnh lại nhìn nàng.

    Lúc ấy, nàng đã nói...

    Nàng đã nói gì với chàng, sao lúc này chẳng thể nhớ ra?

    Ngoài sân vọng đến tiếng trống sang canh, càng lúc càng to, càng rõ, càng dồn dập.

    Tim nàng cũng nảy lên từng hồi theo nhịp trống.

    Từng việc, từng việc đã xảy ra trong quá khứ như thác lũ kéo về.

    Hôm ấy, hoàng hôn đỏ như màu máu.

    Thái thú trói tướng quân trên thành, bên dưới chất đầy củi khô, ép nàng hạ lệnh lui binh.

    Hôm ấy, nàng không còn là người vợ bé nhỏ nép trong lòng tướng quân mà là nữ tướng uy nghi trên lưng voi, nắm trong tay sinh mệnh của nghìn quân, là đức tin của cả một dân tộc sắp suy tàn.

    Hôm ấy, nàng lạnh lùng hạ lệnh dựng hương án trước cổng thành, tế sống người bao năm đầu ấp tay gối.

    Vành khăn xô quấn lên mái tóc chàng từng âu yếm vuốt ve, cài lên những đóa hoa thơm ngát.

    Hôm ấy, tiếng trống mừng hôn lễ trước đó chẳng bao lâu trở thành trống trận, đánh thẳng vào lòng những người có mặt, thù nhà bỗng hóa thành nợ nước.

    Đoàn quân xông lên như thác lũ, cuốn sạch bọn xâm lăng.

    Giữa lúc chiến trận sục sôi, lòng yêu nước và chí anh hùng dễ dàng giúp nàng vượt qua nỗi đau phải tự tay hạ lệnh giết chồng.

    Nếu chàng ở vào vị trí của nàng, chàng nhất định sẽ làm như thế.

    Tuy hai người không thể sống bên nhau, nhưng họ có thể cùng nhau dùng máu mình vẽ nên một giấc mơ.

    Trong giấc mơ ấy, người người đều được cơm no áo ấm, không còn cảnh vợ khóc chồng, con khóc cha.

    Trong giấc mơ ấy, không ai phải sống hôm nay mà nơm nớp lo sợ ngày mai nữa.

    Giấc mơ ấy trọn vẹn được ba năm.

    Ba năm, với người dân bấy lâu sống trong tàn ngược là ngắn chẳng tày gang.

    Ba năm, với một người vùi mình vào chinh chiến để quên đi nỗi đau như nàng, dài đằng đẵng.

    Mỗi đêm, mỗi ngày, nàng đều tự trách mình không cứu được chồng, tự trách mình không tròn phận vợ.

    Sĩ tốt thấy mệnh lệnh tiến quân hôm ấy là sự hy sinh và một ý chí cứu quốc vĩ đại, đáng để họ tin tưởng phó thác tính mệnh cho nàng.

    Còn nàng chỉ thấy, để bước lên ngôi vị nữ vương cao quý hôm nay, nàng đã giẫm lên xác của chồng nàng, mỗi bước đi đều khiến chàng bật máu, đau đớn khôn lường.

    Tiếng trống bên ngoài vẫn vang lên đều đặn, thiếu phụ nghe như từng nhát dao cắm phập vào tim.

    Nàng che tai, ôm ngực, đau đớn thét lên.

    - Nữ vương...

    - Cậu trai kia vẫn run rẩy gọi. – Tôi biết tội mình khó thứ tha.

    Dẫu khi ấy tướng quân đã thác, tôi vẫn phải liều mạng bảo vệ, đưa về cho nữ vương thờ phụng mới phải đạo làm tôi!

    Đôi mắt đương mờ mịt của thiếu phụ bỗng mở to.

    Nàng vội ngồi xuống, xốc áo cậu bé hỏi dồn:

    - Cậu nói khi ấy tướng quân đã thác?

    Nghĩa là sao?

    Nghĩa là sao ?

    - Bẩm...

    - Cậu bé khóc òa. – Tướng quân sớm đã bị thái thú sát hại, hắn chỉ mang ngài ra để ép nữ vương rút quân thôi!

    Là tôi, là tôi đã hèn mọn tiếp tay cho hắn...

    Những lời của cậu bé như dòng nước chậm chạp thấm ướt cánh đồng đang khô quắt.

    Thiếu phụ thẫn thờ, ngồi sụp xuống ghế.

    Nước mắt vẫn không ngừng tuôn, hơi thở ngày một nặng nề, nàng đưa tay ôm lấy ngực.

    Rất lâu sau, nàng chầm chậm buông từng tiếng cười dài.

    ***

    Khi chàng thư sinh áo trắng và cô gái nhỏ luôn đi bên chàng trở lại căn phòng nọ, trăng đã lên cao.

    Trong phòng im lặng như tờ.

    - Mở cửa. – Chàng thư sinh lạnh lùng ra lệnh.

    Cửa phòng chậm chạp mở ra.

    Cậu bé mắt vẫn còn sưng húp ra đón hai người.

    - Ông chủ, nhiệm vụ lần này quả thật nguy hiểm quá.

    Lỡ như bà ấy nổi điên lên giết tôi thật thì sao? – Cậu buồn bã làu bàu.

    - Ta sẽ lo hậu sự chu toàn, cậu không cần lo lắng. – Ông chủ của cậu đáp bâng quơ, tiến đến chỗ thiếu phụ đang nằm như say ngủ. – Bà ấy có nói gì nữa không?

    - Thưa, phu nhân chỉ cười buồn, nói: "Thật may!"

    Thật may, nếu khi ấy nàng vì tình riêng mà mắc lừa thái thú, khiến những người theo nàng phải lâm nguy, hẳn nỗi ân hận còn lớn lao hơn.

    Thật may, khi ấy chàng không phải trông thấy nàng bị giằng co giữa tình và nghĩa, không phải chịu đựng nỗi dày vò cả tinh thần và thể xác.

    Thật may, nàng đã không phụ lòng chàng, đã thay chàng viết tiếp giấc mơ còn dang dở.

    Thật may, bây giờ dù là cõi niết bàn hay chốn a tì, nàng cũng có thể thanh thản theo chàng.

    Thiếu nữ áo trắng lặng lẽ bước đến gỡ thanh kiếm trong tay vị phu nhân nọ.

    Vết thương trên cổ tay thiếu phụ đã được cẩn thận lau sạch máu và băng bó lại, y phục sạch sẽ không một nếp nhăn.

    Ông chủ của nàng trịnh trọng vái chào, đoạn khẽ vuốt lên mi mắt người đã từng là nữ vương cao quý.

    Một bóng dáng đã lặng lẽ có mặt trong phòng tự lúc nào.

    Cả ba người của quán trọ lúc này mới cúi đầu thưa:

    - Thi tướng quân!

    Một nửa gương mặt của người đàn ông ấy đã bị lửa thiêu.

    Nửa còn lại, vẫn có thể thấy được đôi mắt sáng quắc và quai hàm cương nghị.

    Người ấy cũng khẽ gật đầu:

    - Cảm tạ các vị đã đồng ý giúp ta.

    Nói đoạn, ngài bước đến bên giường, sẽ sàng đỡ lấy thi thể hãy còn hơi ấm, thận trọng như sẽ làm nàng thức giấc.

    Ngài ôm thiếu phụ vào lòng, bước ra cửa.

    Ngang qua cô gái nhỏ, ngài nhanh tay cầm lấy thanh kiếm.

    Cô bé liền theo sau:

    - Tướng quân, người định sẽ thế nào?

    Bóng dáng cao lớn dừng lại, tướng quân không quay đầu, giọng nói ấm áp yêu thương:

    - Ta phải nhanh lên kẻo nàng ấy đợi.

    Nói rồi, khóe môi ngài cong lên rất dịu dàng.

    Ngài chợt nhớ đến bóng dáng mảnh mai nhưng kiêu hãnh gióng trống dưới tường thành hôm ấy, quật cường hệt như ngày nàng gạt nước mắt tiễn ngài đi.

    Tướng quân bỗng cao hứng cất giọng ngâm nga như một cô gái trẻ:

    "Và khuyên người chẳng tái hồi

    Cho nghìn năm được sống đời vọng phu." [4]

    Rồi tiếng cười sang sảng vang vọng khắp khoảng sân rộng lớn, lồng lộng cả tầng không.

    Tướng quân bước ra khỏi quán trọ, không một lần nhìn lại.

    Sau lưng ngài, dãy nhà lớn lại lẫn vào mây.

    Nghe nói, quán trọ Phù Vân chỉ tiếp những người có duyên, mang nặng nỗi khổ tâm không cách nào giải được.

    [1] Trích Chinh phụ ngâm khúc (Đặng Trần Côn), bản dịch của Đoàn Thị Điểm:

    "Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy

    Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu."

    [2] Bản dịch bài Mạch thượng tang (Hái dâu trên ruộng), thơ khuyết danh của Trung Hoa.

    Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn có đoạn nói về bài ca này:

    "Thanh thanh mạch thượng tang

    Mạch thượng tang, mạch thượng tang

    Thiếp ý quân tâm thùy đoản trường"

    ("Chỉ thấy ngàn dâu xanh xanh bên bờ.

    Ôi! ngàn dâu!

    Ngàn dâu xanh.

    Ý thiếp lòng chàng ai dài, ai ngắn?")

    [3] Ca dao.

    [4] Câu hát lấy cảm hứng từ ca dao trong bài Con đường cái quan của nhạc sĩ Phạm Duy.
     
    [Series - Dã Sử] Quán Trọ Phù Vân
    CHƯƠNG 3: NGANG TRỜI TIẾNG VẠC MẢNH MAI [1]


    Người đàn ông dừng chân trên sườn dốc, phóng mắt nhìn xuống phong cảnh phía xa.

    Ráng chiều nhuộm đỏ mặt sông rộng mênh mông, phủ màu phơn phớt lên sóng lúa đương dập dìu theo từng cơn gió.

    Càng lên cao, tầm mắt ngài càng thu vào muôn trùng núi sông hùng vĩ.

    Ngài muốn leo đến nơi cao nhất của dãy núi trùng điệp trông xa như đoàn tuấn mã kia.

    Rất lâu trước đây, ngọn núi ấy sớm sớm chiều chiều đã in bóng hình ngài, từ khi ngài còn là một đứa trẻ đầu để chỏm đến lúc trở thành người đàn ông nắm trong tay cả giang sơn.

    - Đường lên núi còn xa, mời quý khách ghé quán trọ nghỉ chân.

    Một cô gái có gương mặt ngây thơ, thướt tha y phục trắng bước ra từ sườn núi, cung kính chắp tay cúi chào ngài.

    Ngài không hỏi thêm, lẳng lặng đi về hướng cô gái đã xuất hiện.

    Thiếu nữ nép sang nhường đường rồi lặng lẽ bước sau.

    Chẳng mấy chốc, ngài đã thấy mình đứng trước một cánh cổng gỗ lớn, bên trên đề mấy chữ: "Quán trọ Phù Vân".

    Cô gái nhỏ nọ vẫn đứng một bên.

    Bước vào trong, ngài thấy phía bên kia khoảng sân rộng là một dãy phòng gỗ dài được thắp sáng bởi đèn lồng quả trám.

    Trong bóng hoàng hôn, thấp thoáng trên tàn trúc xanh, những cánh diều no gió thong thả chao nghiêng.

    Vị khách nở một nụ cười hiền hậu.

    - Phòng của ngài ở phía đông.

    Cơm tối đang được chuẩn bị ạ! – Thiếu nữ khẽ khàng thưa.

    Người đàn ông đi đến căn phòng dành cho ngài, ngang qua một đoạn hành lang.

    Sương bắt đầu rơi mang theo hương thơm của hoa quỳnh khiến bước chân ngài sững lại một ít lâu.

    Cơm tối không có những thức mỹ vị cao lương, chỉ có một phần cá kho gáo thơm nức mũi.

    Những khoanh cá ruộm màu cánh gián, bóng lên dưới ánh đèn dầu lạc.

    Tráng miệng có đĩa bánh trôi nhỏ thoảng mùi lá cúc và hoa bưởi.

    Vị khách ung dung thưởng thức từng món, vẻ hài lòng hiện rõ trên gương mặt.

    Tiếng sáo diều vẫn du dương lẫn trong tiếng lá xạc xào.

    Căn phòng được bày trí đơn giản, chỉ có một chiếc chõng tre và một thư án nhỏ.

    Vật trang trí duy nhất là chiếc bình gốm lớn đặt trong góc, cắm vài nhành cỏ lau.

    Người đàn ông cầm lấy cây sáo bằng ngọc trắng đặt trên thư án, thong thả đi ra hành lang tìm chỗ ngồi thoải mái, bắt đầu thổi một khúc đồng dao.

    - Bữa cơm ban nãy có vừa miệng người không? – Một giọng nói dịu dàng vang lên khi khúc nhạc đã dứt hồi lâu.

    Vị khách quay lại thì thấy một dáng hình mảnh mai như liễu.

    Thiếu phụ có mái tóc đã điểm sương, song dung nhan vẫn còn mặn mà, nụ cười mỉm cũng ngọt như rót mật.

    Người đàn ông khẽ gật đầu, tỏ ý cảm ơn.

    - Ngon lắm.

    - Cô bé làm trong quán trọ không cẩn thận bị thương ở cổ tay nên ta làm giúp. – Thiếu phụ tiếp lời.

    - Đã lâu lắm rồi ta mới được nếm lại hương vị đó. – Người đàn ông nói như chỉ để mình nghe thấy. – Phu nhân là chủ quán trọ này phỏng?

    - Ta cũng vừa đến đây ít ngày. – Thiếu phụ đáp. – Chủ quán trọ sáng nay vừa có việc rời đi rồi.

    Trước dãy trường lang là một khoảng sân rộng, trong sân có một ao sen nhỏ vừa đủ xinh.

    Giữa ao, một sân khấu nhỏ được dựng lên, bên trên là những hình người, hình thú bằng vải đủ màu dựng cảnh một nhóm trẻ con đang chơi trò đánh trận.

    Bọn trẻ ngồi trên lưng trâu, cầm cờ xanh đỏ lao vào nhau, tiếng hò hét, cãi vã làm rộn một góc trời.

    - Phu nhân đoán xem bên nào sẽ thắng? – Vị khách hất hàm, ra chiều thích thú theo dõi trận chiến.

    - Kẻ kia. – Thiếu phụ trỏ một đứa bé, ánh mắt đầy vẻ tự hào. – Chính nó là kẻ đã bày ra trò này rồi lại đứng yên một chỗ quan sát tình hình.

    Người đàn ông mỉm cười, đoạn không nói gì thêm, cả hai yên lặng theo dõi vở tuồng.

    Quả nhiên đứa trẻ ấy là kẻ chiến thắng sau cùng.

    Rèm buông.

    Từ sau sân khấu nhỏ, hai người trẻ tuổi xuất hiện rồi nhanh nhẹn tiến về phía hai vị khách.

    Một người là cô gái nhỏ đã đưa người đàn ông đến đây, người còn lại là một thiếu niên.

    Thân dưới cả hai đều ướt sũng vì dầm trong nước.

    Thiếu phụ vỗ tay tán thưởng vở tuồng.

    Người đàn ông nhướng mày nói với cô gái nhỏ:

    - Ta nghe nói tay cô bé bị thương, không ngờ vẫn có thể múa rối linh hoạt như thế!

    Thiếu nữ thoáng bối rối rồi lấy lại vẻ linh lợi rất nhanh:

    - Chỉ là vết thương nhỏ, do phu nhân đây quá lo lắng thôi ạ.

    Ngày mai, quán trọ chúng tôi lại diễn vở mới, mời hai vị ra xem.

    Nói đoạn, hai người trẻ tuổi đồng loạt cúi chào rồi lui đi.

    Một cơn gió thổi qua mang theo hơi nước.

    Mưa bắt đầu rơi lất phất, từng giọt như sương.

    Người đàn ông bỗng nhiên cao hứng bắt lấy một cánh hoa quỳnh chao theo gió, đưa cho thiếu phụ rồi cất giọng ca rằng:

    "Cô kia đội nón dưới mưa

    Cho tôi mượn đội một mùa chăn trâu

    Ra về mẹ hỏi nón đâu

    Nón đi qua cầu gió hất xuống sông."

    Thiếu phụ nhìn ngài không chớp mắt.

    Vị khách cũng điềm nhiên đối diện với ánh mắt nàng.

    Trong phút chốc, ngài thấy trong đôi mắt dịu dàng ấy có cả yêu thương, tiếc nuối và lảng tránh.

    Đoạn, thiếu phụ khẽ cúi chào ngài rồi quay lưng đi mất hút.

    - Đêm xuống rồi, ngài cũng nghỉ ngơi thôi.

    ***

    Sáng hôm sau, từ sớm tinh mơ, vị khách đã thức giấc bởi tiếng gió lùa qua mành trúc.

    Ngài dạo một vòng quanh sân, khoan khoái hít đầy lồng ngực cái không khí mát rượi thoảng mùi lúa mới.

    Ngang qua hồ sen, ngài thấy một người đàn ông trạc tuổi mình, râu tóc cũng hoa râm, bên lưng đeo kiếm, đang ngồi bên hồ tự thưởng chè.

    Trên phiến đá nhỏ kê làm bàn, một chén chè khác để phía đối diện hãy còn nghi ngút khói.

    Khói lẫn vào sương, gương mặt người đương độc ẩm ẩn hiện nửa hư nửa thực.

    - Ngài là chủ quán trọ phỏng? – Vị khách tự cho phép mình ngồi xuống, hỏi.

    Người kia liền đặt chén chè xơi dở trên tay xuống, đứng lên làm động tác mời.

    Chừng khi vị khách đã uống cạn chén, ông mới từ tốn rót lại một lượt nữa, đoạn thong thả đáp:

    - Tôi là khách, cũng tò mò về chủ quán trọ như ngài.

    Không ai nói thêm lời nào, chỉ im lặng thưởng chè, dõi mắt theo những chú cá đang bơi lội nhởn nhơ dưới tán lá sen.

    Hồi lâu, người đeo kiếm cảm thán:

    - Khung cảnh thanh bình thế này thật tốt.

    - Đã tốt được mấy năm rồi? – Vị khách hỏi.

    - Vùng đất này chưa khi nào được yên ổn quá lâu song chưa bao giờ khuất phục.

    Kể từ lập quốc đến nay, đổi họ cũng mấy lần.

    - Trời đất sinh núi đẻ sông đâu phải là cho một họ nào. – Vị khách nhếch mép cười.

    Câu chuyện của hai người đàn ông trung niên cứ kéo dài ra mãi, về những năm tháng mà máu xương đua nhau rơi xuống, về những lớp người nối tiếp đứng lên, càng nói càng hợp ý.

    Vị khách bỗng cao hứng:

    - Giá như có ít rượu thì thật là hay!

    - Ngài chẳng nói kẻ cầm quân phải giữ tỉnh táo, chỉ được uống rượu trong những dịp thật sự trọng đại sao? – Người đeo kiếm hỏi.

    - Giờ non nước đã thái bình, hai vị có thể nghỉ ngơi một chút được rồi ạ. – Thiếu nữ phục vụ trong quán trọ đã đến bên tự bao giờ, trên tay nâng một khay đầy thức ăn và một bình rượu lớn. – Đây là mấy món do vị phu nhân kia chính tay làm, tôi chỉ nhận lệnh mang ra thôi, xin mời ạ.

    Trong hơi lạnh buổi sớm mai, mùi thịt dê nướng càng thơm nức mũi khiến ai nấy phải trầm trồ.

    Khi đũa của vị khách vừa chạm đến miếng thịt dê, người đeo kiếm ngạc nhiên hỏi:

    - Giờ ngài không ngại mùi thịt dê nữa sao? – Thấy vị khách ngạc nhiên, ông ta ôn tồn giải thích. – Ta nhớ trước đây mỗi lần chúng ta dùng bữa cùng nhau, ngài đều cho người chuẩn bị vì đây là món khoái khẩu của ta, song ngài lại không bao giờ để mắt đến.

    - Trước đây...? – Vị khách thoáng ngập ngừng rồi lại đặt đũa xuống. – Xem ra ta đã già rồi, cả chuyện này cũng quên mất.

    - Kẻ hay quên đâu phải chỉ có một mình ngài. – Người đeo kiếm nhếch mép cười, kéo phần thịt dê lại gần mình, đưa những đĩa khác đến gần vị khách thêm một chút.

    Trên khay còn có một đĩa nộm cá nhệch trộn với rau thơm, quả sung và khế.

    Đây từng là món mà người khách luôn tán thưởng, nhưng ngài không thích vị của quả sung.

    Chỉ có kẻ còn lại gắp một đũa đầy đủ các thức lên miệng, nhoẻn cười rồi ăn rất ngon lành.

    Trong góc khuất của dãy trường lang, thiếu phụ thẫn thờ đứng lặng hồi lâu.

    Nàng đặt tay lên ngực mà tưởng ai cũng có thể nghe thấy tiếng tim mình đang đập mạnh.

    Nàng cố nhớ lại những bữa cơm từng chính tay nấu cho chồng, mãi mới nghĩ ra ngài ưa ăn rất nhạt, hoàn toàn khác hẳn với người kia thích món nào cũng thật đậm đà hương vị.

    Hóa ra kẻ đã quên mất chuyện xưa còn có cả người cứ tự cho mình là giữ lòng son sắt, như nàng.

    Khi chén rượu vừa chạm môi, vị khách kia dường như nhớ ra điều gì, ngài lại đặt chén xuống, trầm ngâm soi bóng lá sóng sánh theo từng giọt rượu.

    - Điện tiền chỉ huy sứ, lâu rồi không gặp. – Ngài chậm rãi buông từng tiếng.

    - Cuối cùng người đã nhớ ra. – Người đeo kiếm cười nhạt.

    - Đã nhớ.

    - Mọi chuyện?

    - Mọi chuyện. – Vị khách chậm rãi đứng lên, nâng chén rượu lên giữa hai người.

    Người đeo kiếm cũng đứng lên, mặt vẫn không biến sắc.

    Họ đã từng là quân – thần, đã từng cùng nhau vào sinh ra tử, đã lần lượt thay nhau chống đỡ giang sơn, làm chỗ dựa cho cùng một người đàn bà.

    - Chén rượu cuối cùng ta uống, có phải do chỉ huy sứ ban cho? – Vị khách cười mai mỉa, nói gằn từng tiếng, đoạn buông chén rượu rơi xuống đất vỡ giòn.

    - Bệ hạ. – Người đeo kiếm nhìn chăm chăm vào vị khách, tưởng như có ngàn lời muốn nói lại thôi. – Dù thần có phạm tội giết chúa như người ta đồn thổi hay không thì tiếng đoạt ngôi cũng không có cách nào xóa được.

    Nói rồi, vị thần tử tháo thanh kiếm đeo bên người, cúi thấp đầu cung kính dâng kiếm cho vua.

    Kẻ được gọi là hoàng đế chầm chậm cầm lấy thanh bảo kiếm:

    - Chính tay nàng ấy đã trao gươm này cho chỉ huy sứ phải không? – Ngài hỏi.

    - Tâu, phải. – Chỉ huy sứ vẫn cúi đầu. – Khi ấy hoàng tử còn nhỏ dại.

    Triều đình ngoài quan lại còn có quân đội đều ủng hộ thần.

    Việc nàng ấy có thể làm chỉ là tránh cho đất nước một cuộc nội loạn khi giặc Tống đang lăm le ngoài biên ải.

    Từng lời nói của chỉ huy sứ vẽ lại bức tranh mà thiếu phụ đã cố quên đi.

    Nàng từ thân phận con gái của một sứ quân đang cát cứ một vùng trời trở thành phu nhân của vị tướng quân đang từng bước thống nhất giang sơn.

    Từ vị hoàng hậu đứng trên muôn người phút chốc lâm vào cảnh mẹ góa con côi.

    Từ một người đàn bà bơ vơ trở thành nhân vật trọng yếu trong cuộc chuyển giao quyền lực giữa hai triều đại.

    Có người ca ngợi nàng, có người phê phán nàng, có người lợi dụng nàng, có người ức hiếp nàng.

    Những năm tháng ấy, nàng chỉ biết ôm đứa con còn thơ dại vào lòng, dùng cánh tay gầy yếu chắn gió che mưa cho nó, mặc kệ bao sông núi đang dời đổi ngoài kia.

    Cho đến ngày nàng gặp lại đức vua của nàng, người chồng duy nhất mà nàng muốn yêu thương và kính trọng.

    - Bệ hạ chẳng đã dạy thần phải thưởng đúng người, xử đúng tội đó sao? – Giọng chỉ huy sứ vẫn khảng khái. – Dù là việc nhà hay việc nước, bệ hạ cũng nên xuống tay rồi.

    - Phải. – Hoàng đế đáp.

    Ngài chầm chậm rút kiếm ra khỏi vỏ, chĩa về phía người thuộc hạ cũ vẫn đang ôm quyền đứng đợi lệnh.

    Chỉ huy sứ đứng yên, ánh mắt không hề né tránh.

    Mũi kiếm càng lúc càng gần, chạm vào ngực, từng chút từng chút cắm vào da thịt.

    Một giọt máu, rồi một dòng máu đỏ bắt đầu chảy xuống.

    Chỉ huy sứ vẫn không có ý định chạy đi hay chống trả.

    Hoàng đế rút kiếm ra, rồi nhanh như cắt, ngài đâm một nhát thật nhanh và mạnh.

    Chỉ huy sứ khép hờ mắt, đón nhận điều sắp đến.

    - Xin đừng!

    Mũi kiếm của hoàng đế vừa kịp dừng lại trước thân người thiếu phụ.

    Nàng đã lao ra chắn trước mặt chỉ huy sứ từ lúc nào, chính nàng cũng không rõ.

    Trước mặt là chồng nàng, sau lưng cũng là chồng nàng.

    Nàng đã sống với người trước mặt hơn mười năm lại không dám nghĩ đến hơn hai mươi năm tình nghĩa phía sau.

    Nàng đã sinh con cho người chồng trước mặt, nhưng người chồng sau lưng cũng đã cho nàng những đứa con, và chăm sóc cả đứa con của nàng cùng người cũ.

    Người chồng đang đối diện vẫn luôn tồn tại trước mắt nàng, trong tâm trí nàng.

    Còn kẻ phía sau, từ lúc nàng chấp nhận trở thành hoàng hậu của hắn, nhường ngôi vua của chồng cho hắn, nàng đã chưa từng nhìn lại hắn một lần.

    Người ta nói hắn là kẻ đã giết chồng nàng để đoạt ngôi.

    Dù không phải thế thì khi lập nàng làm hoàng hậu để thuận lợi lên ngôi, chắn hẳn hắn chỉ xem nàng như một con cờ.

    Nàng đã không nghĩ đến, khi người chồng đầu tiên ngỏ lời cầu thân với con gái một sứ quân như nàng, trong đầu ngài có bao nhiêu chân tình, mấy lần toan tính.

    Tháng tháng năm năm, sớm sớm chiều chiều, tình và nghĩa không đợi người ta phải chú tâm mới hiện hữu rồi bền chặt.

    Nàng đã quên những thứ cần quên song chưa nhớ đủ những việc cần phải nhớ.

    Chỉ là giờ khắc này nàng chợt nhận ra: nàng không nỡ giương mắt nhìn người ta giết hắn.

    Nước mắt rơi ướt đẫm gương mặt từng làm say lòng bao nhiêu khách anh hùng, thiếu phụ chỉ biết liên tục lắc đầu.

    - Tránh ra. – Hoàng đế nói, giọng lạnh như băng. – Nàng cũng căm hận hắn, không phải sao?

    - Thiếp có tội với người.

    Điện tiền chỉ huy sứ có tội với người.

    Nhưng...

    - Nàng bỗng nấc lên từng tiếng. – Nhưng ông ta không có tội với thiếp... không có tội với xã tắc của người.

    - Tránh. – Hoàng đế tỏ vẻ không kiên nhẫn.

    Thiếu phụ kiên quyết lắc đầu.

    Mũi kiếm của hoàng đế tiếp tục tiến gần.

    Nàng nhắm mắt đợi chờ cái chết.

    Đột nhiên, có cánh tay rắn như sắt như đồng ôm siết nàng từ phía sau.

    Bàn tay còn lại nắm lấy lưỡi kiếm, mặc kệ nỗi đau rách thịt rách da, kéo thanh kiếm về phía hai người, cắm sâu vào ngực nàng, xuyên qua thân thể mảnh mai, đâm cả vào lồng ngực rắn chắc nàng đang tựa vào, máu hòa vào máu.

    Đôi mắt hoàng đế mở to, thảng thốt.

    Mọi việc diễn ra chỉ trong chớp mắt.

    - Chúng thần chịu tội với người. – Chỉ huy sứ mỉm cười nói với hoàng đế.

    Mất một lúc lâu để nhận thức được việc vừa xảy đến, bàn tay hoàng đế buông thõng, thả chuôi kiếm ra.

    Hai người kia ngã về phía sau, máu tràn trên mặt đất.

    Hoàng đế lùi từng bước, khoát khoát tay như bảo mọi người đừng nói gì nữa, lùi đến khi khuất khỏi tầm mắt của hai kẻ sắp lìa đời.

    - Chúng thần chịu tội với người!

    Kẻ bị thương lặp lại lời vừa nói, rồi bỗng nhiên hắn cười lớn, vang vọng và thống khoái.

    Cười một lúc, cơn đau buộc tiếng cười của hắn đổi thành tiếng ho và tiếng thở khó nhọc.

    Hắn nằm bất động như đã chết.

    Hồi lâu, trong sân chỉ còn lại tiếng gió xạc xào.

    Cơn mưa lại bắt đầu rơi, thấm ướt mặt đất khô, mang theo từng chút máu và hơi thở của hai kẻ đang hấp hối.

    Thiếu phụ muốn quay lại nhìn người phía dưới nhưng thanh kiếm xuyên qua ngực khiến nàng không cách nào cử động.

    Nàng chỉ biết xoay mặt về phía hắn, cố nhìn hắn thêm một chút.

    Nước mắt nàng hòa với nước mưa, tuôn ướt đẫm vai áo hắn.

    Hơn hai mươi năm, dường như hắn đã nhiều lần yên lặng lắng nghe tiếng khóc của nàng như thế, nhiều lần để nàng tựa vào như thế.

    Nàng bỗng nhiên muốn nói với hắn thật nhiều, song nhận ra hắn vốn chẳng cần gì cả.

    Một đời danh tướng lẫy lừng, một đời đế vương kiêu hãnh.

    Hắn vốn không quan tâm đến miệng đời, càng không quan tâm phán quyết của hậu thế về sau.

    Chỉ cần nàng quen nấu món hắn thích ăn, che mũi kiếm cho hắn như hôm nay, là đã đủ rồi.

    Đã đủ rồi.

    Thiếu phụ nhận ra vòng tay đang ôm lấy mình ngày một lơi dần.

    Khi bàn tay hắn sắp trượt khỏi người nàng, nàng không kịp suy nghĩ, dùng hết sức giữ lấy bàn tay ấy, không buông ra nữa.

    Thiếu phụ không nhìn thấy, nhưng chỉ huy sứ đã mỉm cười.

    Một giọt nước chảy ra từ đôi mắt luôn sáng rực.

    Hắn gượng chút hơi tàn lau nước mắt trên gương mặt nàng, nắm lấy đôi bờ vai mỏng manh, dịu dàng vuốt ve rồi khe khẽ cất tiếng ru:

    "Nín đi thôi, nín đi thôi

    Một vai gánh vác... cả đôi sơn hà..."

    ***

    Khi cơn mưa dứt hẳn, trên mặt đất đã không còn lưu lại dấu vết nào.

    Kẻ được gọi là hoàng đế kia lại bước ra sân, ngẩng đầu lên nhìn trời, mắt nhắm hờ một lúc lâu.

    Khi ngài mở mắt ra, bầu trời đã lại trong vắt và vàng ruộm nắng.

    Hoàng đế đến bên ao sen soi mình dưới nước, đoạn đưa tay cởi lớp áo ngoài và chòm râu lốm đốm bạc.

    Trong chớp mắt, người đàn ông trung niên đã trở về là một thư sinh áo trắng, gương mặt thanh thản như mặt nước hồ.

    - Em vẫn không hiểu vì chúng ta đợi bao lâu, dùng bao cách cũng không mời được tiên hoàng đế đến đây, để ông chủ phải đóng giả thế này. – Thiếu nữ đón lấy y phục mà chủ quán trọ dùng để giả trang, hỏi nhỏ.

    - Chắc người sớm đã lên đường nhìn ngắm giang sơn, chỉ có hai người nọ vẫn mãi quẩn quanh nên mới tìm đến chúng ta. – Thư sinh vừa đáp vừa đi ra cửa.

    - Em nghe nói rất nhiều con hát cả gan vào vai quân vương đều yểu mệnh.

    Cũng may ông chủ vừa có thân phận tôn quý, vừa có đạo hạnh sâu dày...

    Thư sinh đưa tay cắt ngang lời cô gái.

    - Ta tin tiên hoàng sẽ hiểu mà không nỡ trách. – Dừng một đỗi, chàng như nhớ ra điều gì. – Tay của em thế nào rồi?

    - Lành hẳn rồi.

    Em đang nghĩ lần sau phải dùng cớ gì cho mới mẻ. – Cô gái giơ giơ tay, nheo mắt cười.

    Bên kia cổng quán trọ vẫn là một vùng nước biếc non xanh.

    Dãy núi trông như đoàn tuấn mã kéo nhau chạy mãi về biên ải.

    Phía trên, từng cụm mây lững lờ trôi, có lúc trông rất giống hình dáng của một viên dũng tướng.

    Nghe nói, đứng trên núi Mã Yên nhìn xuống sẽ hiểu tấm lòng của đế vương.

    Những kẻ có bản lĩnh một tay gầy dựng cơ đồ không dễ để tâm vướng bận những tình – thù bé mọn.

    Ngài từng dạy giang sơn là của vạn dân chứ không chấp nhất cho một họ nào thì với những dằn vặt của hai con người tội nghiệp kia, ngài càng không nặng lòng đến thế, miễn sao nàng và non nước này được bình yên.

    Song, đối mặt với kẻ không phải chồng mình mà không mảy may nghi ngờ, có lẽ vị hoàng hậu nọ cũng không nhận ra rằng nỗi nhớ thương sớm đã bị vùi sâu dưới lớp bụi dày.

    Thời gian tự có quy luật của nó, chỉ có lòng người còn mãi đa đoan.

    Thư sinh thong thả bước trên con đường mòn dẫn lên đỉnh núi, thiếu nữ cũng lặng lẽ đi sau.

    Từng cơn gió dịu dàng thổi mát, đưa tiếng sáo diều văng vẳng khắp nơi, lẫn với tiếng hát của thư sinh:

    "Nhân chi hữu thịnh hề hữu suy,

    Hoa chi hữu diễm hề hữu uỷ.

    Quốc chi hữu hưng hề hữu vong

    Thì chi hữu thái hề hữu bỉ

    Nhật chi hữu mộ hề hữu triêu..." [2]

    Khi hai bóng áo trắng đã khuất xa trên đỉnh núi, cánh cổng gỗ lớn dần dần lẫn vào mây rồi mất hút.

    Nghe nói quán trọ Phù Vân chỉ đón tiếp những vị khách có nỗi khổ tâm không cách nào giải được.

    HẾT.

    [1] Câu thơ trong bài "Cái đêm em ở với chồng" của Đồng Đức Bốn:

    "I.

    Cái đêm em ở với chồng

    Để ai hoá đá bên sông đợi đò

    Cái đêm hôm ấy gió mùa

    Tơ nhện giăng đến cổng chùa thì tan

    II.

    Cái đêm lành lạnh gió mùa

    Em trong chăn ấm có đùa với ai

    Ngang trời tiếng vạc mảnh mai

    Chém trăng đã đứt thành hai mảnh rồi

    Mảnh nào em để cho tôi

    Khi buồn chỉ đặt ngang môi làm kèn."

    Nguồn: Đồng Đức Bốn, Con ngựa trắng và rừng quả đắng (thơ), NXB Văn học, 1992

    [2] Trích bài thơ Trừu thần ngâm của Tuệ Trung Thượng sĩ:

    "Người đời có thịnh thì có suy,

    Hoa kia có tươi thì có héo.

    Quốc gia có hưng thì có vong

    Thời có thái thì có bĩ

    Ngày có hôm thì có mai."
     
    [Series - Dã Sử] Quán Trọ Phù Vân
    [QUÁN TRỌ PHÙ VÂN] CHƯƠNG 4: LÊNH ĐÊNH QUA CỬA THẦN PHÙ[1]


    Lại một hoàng hôn buông xuống dãy núi lẩn khuất trong mây.

    Lưng chừng sườn núi là một trang viện rộng lớn, hướng ra thung lũng.

    Từ đó nhìn ra, ngày có thể thấy bình minh rì rào hát khúc đồng dao trên đồng lúa xanh bạt ngàn, đêm có thể thấy trăng dát ánh vàng trên dòng sông uốn lượn về tận chân trời.

    Trước cổng lớn của trang viện có bảng gỗ đã ít nhiều rêu phong, trên đề mấy chữ: "Quán trọ Phù Vân".

    Không gian bên trong cánh cổng ấy bao giờ cũng thoang thoảng hương trầm từ thư phòng của chủ nhân quyện với hương sen dìu dịu toả ra từ hồ nước lớn giữa sân.

    Vài lần trong ngày, gió còn đưa lại vị chát chát, thanh thanh, dìu dịu của những búp chè non hoặc mùi thức ăn ấm sực.

    Chủ nhân của quán trọ là một thư sinh tao nhã, còn thiếu nữ phụ việc ở nơi này lại rất giỏi trong việc thưởng thức món ngon.

    - Ông chủ, người lúc nãy đi rồi. – Thiếu nữ bưng khay bánh đặt xuống chiếc bàn nhỏ cạnh thư án, đoạn ngồi xuống cạnh bên, dán mắt vào bức thư hoạ đang dần hiện ra dưới nét bút tài hoa của thư sinh. – Người thật sự mặc kệ y sao?

    - Lần thứ ba rồi phỏng? – Thư sinh vẫn điềm nhiên quan sát bức tranh, tìm ra điểm chấm phá thật ưng.

    - Bốn ạ. – Thiếu nữ đáp, đầu hơi ngoái về phía cổng. – Vẫn hệt mấy lần trước, không biết ai đã mách cho y lên đỉnh núi tìm.

    Đỉnh núi này vừa cao vừa nhỏ hẹp, ai lại xây nhà trên đó chứ.

    Thư sinh dừng bút, bước đến một góc hành lang khuất nhìn ra.

    Bóng người cưỡi ngựa đã gần đến chân núi, nhanh nhẹn nhảy xuống từng bậc đá.

    Tự cổ chí kim, những kẻ vượt đường xa lên núi cao bái phỏng chân nhân hoặc cầu đạo đều đi bộ từng bước, có người còn ba quỳ chín lạy để chứng tỏ lòng thành, đâu có ai ngông nghênh thúc ngựa chạy xồng xộc lên đỉnh núi như kẻ nọ.

    Ấy thế mà y đã quay lại những bốn lần, lướt qua quán trọ sừng sững mà không hề trông thấy, thảng hoặc nằm nghỉ chân ở mái đình xây trên mỏm đá ngay trước quán trọ vẫn không thấy.

    Không thấy song vẫn kiên trì tìm kiếm.

    Không thấy là vì đã thúc ngựa quá nhanh hay thực sự chẳng có duyên?

    Vị khách qua đường kia không khiến ông chủ quán bận tâm quá lâu, riêng thiếu nữ áo trắng lại rất tò mò.

    Nàng biết thân phận của y, song chưa từng nghĩ y cũng có nổi khổ tâm cần đến nơi này để giải oan.

    Sách sử thảy đều ghi rằng y không phải là người tốt.

    Dựa vào việc y không tìm thấy quán trọ Phù Vân, nàng càng tin vào đánh giá của người xưa.

    Nỗi khổ tâm của một người nổi tiếng tàn bạo, hoang dâm, ắt phải liên quan đến quyền lực hay nữ sắc.

    ***

    Lần thứ sáu nghe thấy tiếng vó ngựa vọng lên từ chân núi, thiếu nữ rụt rè hỏi chủ nhân quán trọ:

    - Em có thể ra hỏi thăm y mấy câu không ạ?

    - Tuỳ em. – Thư sinh đáp, mắt không rời quyển kinh Phật đang đọc dở.

    Thiếu nữ được lời như cởi tấm lòng, vội vã chạy ra ngoài.

    Nàng không kịp nghe mấy lời thư sinh nói thêm vào:

    - Chắc gì ngài ấy đã đi tìm quán trọ này.

    Chân vừa bước khỏi cổng, thiếu nữ lập tức lấy lại dáng vẻ đĩnh đạc, đoan trang.

    Nàng thơ thẩn bước lên núi, đưa tay chạm vào những bông cỏ lau mọc ra từ khe đá.

    Tiếng vó ngựa đạp trên nền đá sỏi mỗi lúc một gần.

    Thiếu nữ nghĩ thầm:

    - Ba, hai, một...

    - Xin hỏi, trên núi này có một quán trọ phải không? – Giọng nam trầm trầm vang lên.

    Thiếu nữ chậm rãi xoay người lại, mỉm cười:

    - Chào mừng khách quan đã đến quán trọ Phù Vân!

    Vị khách thoáng ngạc nhiên song vẫn thong thả xuống ngựa.

    Đó là một người trẻ tuổi hơn cả chủ nhân quán trọ, vóc dáng khoẻ mạnh, dong dỏng cao, đôi mắt sáng ngời.

    Thiếu nữ bước dần đến cổng chính, đưa tay mời khách vào.

    Song, vị khách vẫn ngơ ngác nhìn thiếu nữ chăm chăm, tiến đến mỗi lúc một gần.

    Thiếu nữ hoảng hốt, nhớ ngay đến tiếng xấu hoang dâm của người nọ.

    Lỡ như... lỡ như hắn thấy nhan sắc của nàng nên muốn giở trò thì hỏng.

    Nàng nhanh chóng đưa mắt tìm xung quanh xem có vật nào dùng làm vũ khí được không.

    - Quán trọ ở đâu? – Người khách hỏi.

    Thiếu nữ hết nhìn cánh cổng ngay sau lưng mình lại nhìn vẻ chân thành trên gương mặt người kia.

    Quả nhiên hắn không thể thấy...

    - Ở... kia ạ. – Thiếu nữ nhanh trí trỏ vào đình vọng cảnh trên mỏm đá. – Chốn hoang vu thế này, chỉ có thể tạm nghỉ ở đấy thôi.

    Vị khách khẽ nhếch mép cười, dắt ngựa đến cột vào một gốc cây rồi bước vào đình, khoan khoái duỗi người như sắp nằm cả ra ghế, ngửa mặt khoan khoái tận hưởng gió mát và hương thơm của lúa đồng.

    Thiếu nữ áo trắng cũng bước theo, ngồi một góc.

    Hồi lâu, nàng lên tiếng hỏi:

    - Ngài chú tâm lên núi này tìm một quán trọ hay lỡ đường cần chỗ nghỉ chân thôi ạ?

    - Ta nghe nói, quán trọ Phù Vân có thể thực hiện tâm nguyện giúp những linh hồn còn mang nỗi khổ tâm mà chưa siêu thoát được, phải không? – Chàng trai nhìn thiếu nữ, cười nhạt.

    - Ngài có oan tình muốn giải sao? – Thiếu nữ thấy người khách đã hỏi thẳng nên nàng cũng không vờ vịt làm gì nữa.

    Chàng trai không trả lời câu hỏi, cũng không màng đến ánh mắt đầy nghi hoặc và mai mỉa của nàng.

    Y nhoài người ra khỏi mái đình, đưa mắt xuống thung lũng bên dưới, phóng tầm nhìn về phía xa như muốn thu vào mắt muôn trùng cảnh vật.

    Chiếc áo choàng tung bay trong gió khiến bóng chàng trai trở nên to lớn và kiêu hãnh lạ thường, như thể một vị vua đang đứng trên cao nhìn xuống vạn dân.

    - Tả là Nho Quan, hữu là Gia Viễn. – Vị khách đưa tay trỏ từng nơi, giọng nói không giấu vẻ tự hào. – Dãy núi xa kia chính là tấm bình phong che chở cho kinh thành.

    Một lần được nhìn ngắm núi sông như hoạ thế này, còn gì đáng tiếc nữa đâu.

    Thiếu nữ đứng sau lưng người khách, lắng nghe từng lời.

    Ông chủ quán trọ cũng từng nói với nàng những lời giống hệt, chỉ cần có gió mát trăng thanh, non xanh nước biếc, một kiếp người đã chẳng còn thiếu thốn gì.

    Người khách im lặng hồi lâu tựa hồ suy nghĩ rất lung, đoạn thấp giọng:

    - Nhưng ta đã đứng ở một nơi cao, đẹp nhường này, mắt thấy tai nghe bao nhiêu tiếng kêu vang nghiêng trời lệch đất. – Nụ cười trên gương mặt người khách dần lạnh lẽo. – Cô đã từng nghe bọn tử tội kêu rú khi bị quấn cỏ gianh vào người mà đốt chưa?

    Cô từng thấy cảnh bọn tù binh bị nhốt trong cũi đặt dưới đáy sông, bất lực cầu cứu khi nước dâng cao xung quanh mình chưa?

    Tiếng thét la, hờn oán của bọn chúng chẳng khác bọn quỷ sai chốn âm ti là mấy.

    Bờ vai thiếu nữ khẽ run, nàng bất giác lùi lại vài bước.

    Người khách này khiến nàng cảm thấy rất bất an, vừa tao nhã đấy lại bạo tàn ngay đấy, không sao đoán định được.

    - Dưới chân núi bên kia có một hang động lớn. – Người khách trỏ tay về phía đông. – Khi vừa lập quốc, tiên hoàng đã cho xây dựng, trên bờ nhốt hổ, dưới ao nuôi cá sấu để trừng trị kẻ có tội.

    Phụ hoàng ta cũng từng dùng chốn ấy làm tù binh nhốt bọn xâm lược suốt mấy năm.

    Những việc này, thiếu nữ đều từng nghe ông chủ quán trọ kể qua.

    Song, trong phút chốc nàng chợt nhận ra một điều gì đó...

    - Buổi thay triều đổi đại, lẽ nào ta phải thỉnh chư tăng quỳ dưới núi tụng kinh rồi dụ hàng từng căn cứ của loạn quân?

    Nói đoạn, người khách bật cười.

    Tiếng cười sang sảng vọng vào đá núi.

    Y xoay người lên ngựa toan rời đi.

    Khi nghe ngựa hí vang một tiếng, thiếu nữ chợt tỉnh khỏi dòng suy nghĩ, vội vàng gọi với theo:

    - Nếu đã không cần giải oan tình, ngài tìm quán trọ Phù Vân làm gì?

    Người khách vẫn ngồi trên lưng ngựa, không ngoái đầu:

    - Cô từng gặp vị khách nào mang oán hận vì bị em trai giết khi chỉ mới lên ngôi được ba ngày chưa?

    - Chưa.

    Chưa có ạ. – Thiếu nữ chầm chậm đáp.

    Nàng không thấy nụ cười nhẹ như gió trên môi người khách lúc y thúc ngựa lao xuống núi.

    ***

    Thiếu nữ mang cuộc trò chuyện kỳ lạ ấy kể cho ông chủ quán trọ, song chàng chỉ nghe rồi ậm ừ, tiếp tục đọc kinh mà chẳng nói gì thêm.

    Rất nhiều ngày đã trôi qua, thiếu nữ để tâm đến mấy vẫn không nghe được tiếng vó ngựa bên ngoài, lật mở bao nhiêu sách sử vẫn không tài nào đoán được mục đích của vị khách kia.

    Không phải oan ức vì những hành vi tàn bạo bị người đời sau thêu dệt, càng không phải cái án giết anh cướp ngôi mà các sử gia đã gán cho.

    Những việc ấy, y đều không phủ nhận, càng không tỏ ra ân hận hay tiếc nuối.

    Thảo nào, y có tìm bao nhiêu lần vẫn không nhìn thấy quán trọ này.

    Lần thứ bảy thiếu nữ trông thấy bóng dáng cao cao của vị khách nọ, y không thúc ngựa lên đỉnh núi nữa mà thong thả phi nước kiệu rồi dừng chân bên đình vọng cảnh.

    Nàng tựa cửa nhìn ra bên ngoài, suy nghĩ hồi lâu rồi đi tìm ông chủ.

    - Chúng ta ghi tên anh trai của y vào sổ khách được không ạ? – Thiếu nữ hỏi.

    - Sổ kia chỉ dùng để mời người đến theo yêu cầu của khách trọ. – Thư sinh đáp. – Ngài ấy đã là khách của chúng ta đâu.

    Thiếu nữ thở dài, chầm chậm bước ra ngoài gặp chàng trai kia.

    Y không thắc mắc khi thấy nàng đột nhiên xuất hiện, dường như lần này y đến là để tìm nàng.

    - Người ta hỏi lần trước vẫn không đến phỏng? – Vị khách mỉm cười.

    Thiếu nữ khẽ gật đầu thay cho lời xác nhận.

    Vị khách không tỏ vẻ thất vọng, thong thả chống tay xuống ghế, nửa nằm nửa ngồi, thư thái như ở nhà mình.

    - Khi xưa mỗi lần thiết triều ngài cũng như thế sao? – Thiếu nữ buộc miệng hỏi. – Chẳng trách...

    - Chẳng trách thế nào? – Vị khách có vẻ tò mò.

    - Không có gì ạ. – Nàng nói tránh đi. – Thế ngài năm lần bảy lượt đi tìm quán trọ vì nghĩ người kia sẽ đến đây để giải oan nên muốn đến gặp phỏng?

    - Ừm. – Vị khách gật gù. – Cũng không nhất thiết phải gặp, nên ta chợt nghĩ có khi cô sẽ giúp được ta.

    - Tôi? – Thiếu nữ trỏ mặt mình. – Tôi có thể làm gì?

    - Giúp ta chuyển một món quà cho anh ấy. – Vị khách đáp. – Ta cứ lên xuống núi mãi cũng không phải cách, chi bằng cứ gửi cho cô.

    Ta nghĩ anh ấy cũng chẳng muốn thấy mặt ta đâu.

    - Tôi không ngại giúp ngài. – Nàng thật thà. – Nhưng từ lần đầu tiên ngài tìm đến nơi này cũng đã hơn nửa năm rồi, tôi nghĩ người mà ngài muốn tìm sẽ không đến đây đâu.

    - Nếu ba tháng nữa vẫn không gặp, cô cứ tuỳ nghi xử lý.

    Vị khách khoát khoát tay, đoạn đi ngang qua mặt thiếu nữ, nói gọn lỏn:

    - Đa tạ.

    Y nhanh chóng bước khỏi mái đình, nhắm đường xuống núi mà đi.

    Thiếu nữ vội bước theo:

    - Này!

    Ít nhất ngài phải đưa vật muốn chuyển cho tôi chứ!

    Người khách dừng chân.

    Y quay lại nhìn thiếu nữ, khẽ chau mày rồi đưa tay chỉ vào gốc cây cạnh mái đình.

    - Con ngựa... này á? – Nàng sửng sốt.

    - Phải. – Người khách đáp.

    Thiếu nữ đến giờ mới thận trọng quan sát chú ngựa chiến đã mấy lần phi như bay từ chân núi lên đến đỉnh.

    Toàn thân nó trắng muốt như mây, lông mượt như tơ, dưới bốn chân có cựa.

    - Lúc bọn ta còn rất nhỏ...

    - Vị khách thấp giọng như đang tự kể chuyện cho chính mình nghe. – Nghe phụ hoàng kể về những con chiến mã của các danh tướng thời xưa, ai nấy cũng háo hức, bảo lớn lên sẽ cố luyện kiếm cung và tìm một con ngựa uy dũng xứng đáng.

    Ta thích ngựa ô, còn anh trai ta lại luôn mong ước có một con ngựa trắng...

    - Anh em các ngài từng thân thiết, yêu thương nhau sao? – Thiếu nữ hỏi.

    - Trẻ con mà. – Người khách bất giác bước đến xoa bờm ngựa, ánh mắt lấp lánh niềm vui. – Bọn ta lúc thì cùng một phe đánh nhau với con cái của mấy vị đại thần, lúc không có người ngoài lại chia phe choảng nhau inh ỏi.

    Nhưng ban ngày có đánh nhau sứt đầu mẻ trán, tay chân xây xát thì đến đêm lại ôm nhau ngủ cùng một giường, rúc rích đùa giỡn đến khi bị mắng mới thôi.

    Ánh sáng trong mắt người khách vụt tắt rất nhanh.

    Y nói tiếp:

    - Ai biết được khi trưởng thành, đều là con nhà đế vương, đều mang tham vọng bước lên ngôi cao, ngươi không chết thì ta chết.

    Thái tử thác, phụ hoàng băng, bốn anh em ta lại diễn tuồng tứ long tranh châu suốt gần một năm ròng. – Giọng nói của vị khách càng lúc càng thấp. – Lúc lúc ấy xung quanh chỉ toàn lửa, khói và máu.

    Mãi đến khi có kẻ dưới dâng lên con chiến mã này, ta mới nhận ra họ đều đã đi rồi.

    Bàn tay người khách xoa mãi chiếc bờm trắng của con ngựa, hồi lâu mới rời đi như thể còn luyến tiếc điều gì.

    Thiếu nữ khẽ hỏi:

    - Ngài ân hận sao?

    Vị khách bật cười.

    - Mấy chữ ấy để sắp vãn tuồng diễn cho bọn trẻ nó xem.

    Nói đoạn, vị khách ngoái nhìn khung cảnh cả vùng núi non hùng vĩ một lần nữa rồi phất áo choàng kiên quyết bước đi.

    - Thế nhé.

    Nhờ cô!

    Chân vừa chạm đến những bậc thang bằng đá, bỗng có viên ngói từ đâu rơi xuống, y nhanh nhẹn xoay người tránh, đoạn lại ung dung tiếp tục hành trình, không ngoảnh đầu lại thêm lần nào nữa.

    Trái ngược với bầu trời vẫn lộng lẫy vũ điệu của mây và những ánh nắng cuối ngày.

    Phía chân núi, bóng đêm dường như đang chạy đua với người xem ai đến trước.

    Đích đến của người khách càng lúc càng tối sầm lại, thỉnh thoảng loé lên những đốm sáng lập loè và những âm thanh quỷ dị.

    ***

    Khi thiếu nữ trở vào bên trong quán trọ, ông chủ của nàng đang đứng ở hành lang cao nhất.

    Trầm ngâm nhìn ra khung cảnh bên ngoài.

    - Em đoán y sẽ không quay lại nữa. – Thiếu nữ bước đến ngồi tựa cằm bên thư án.

    Thư sinh không đáp.

    Chàng bước đến kệ sách tìm mấy tấm địa đồ, thong thả trải ra trước mặt thiếu nữ, điềm nhiên kể:

    - Ngày xưa, dân gian truyền rằng mỗi lần có người qua sông này đều bị nước cuốn trôi.

    Ngài ấy đã cho người bơi lội qua lại mấy lần rồi ra chiếu đóng thuyền lớn để chở người qua lại.

    Thư sinh giở một tấm địa đồ khác, vẽ vùng biên giới giữa Đại Việt và phương bắc:

    - Ngài ấy từng yêu cầu vua phương bắc cho đặt người coi việc tại chợ ở đây. – Chàng trỏ vào một vùng đất rất xa, sâu trong đất bạn. – Song vua xứ ấy chỉ cho mua bán ở những vùng lân cận biên giới thôi.

    Thiếu nữ còn chưa kịp nói gì, thư sinh đã tiếp:

    - Bộ kinh Đại Tạng em hay chép cũng là do ngài ấy sai người thỉnh về từ phương bắc đấy, ngạc nhiên không?

    Thiếu nữ đưa tay che miệng, nghĩ mãi vẫn không hiểu được:

    - Nếu y đã làm được nhiều việc tốt như thế, sao lại không thể trông thấy quán trọ của chúng ta?

    Lẽ nào...

    - Nàng chợt nhớ ra nên ngập ngừng. – Lẽ nào vì tội xúc phạm đến cao tăng nhà Phật, vì năm xưa y đã sai người róc mía trên đầu một vị sư rồi lỡ tay làm chảy máu...?

    Thư sinh xoa đầu thiếu nữ rất bao dung, đoạn chầm chậm gấp địa đồ trả về chỗ cũ.

    Chàng cầm cây sáo bằng ngọc trắng bước ra hành lang, bắt đầu thổi một khúc ca.

    "Mê khứ sinh không sắc,

    Ngộ lai vô sắc không.

    Sắc không mê ngộ giả,

    Nhất lý cổ kim đồng..."

    Thiếu nữ ngồi cạnh chàng, nhìn mãi dòng sông uống lượn như con rồng vàng lấp lánh ánh ráng chiều dưới thung lũng.

    Đến khi tiếng sáo đã ngưng bặt từ lâu, thư sinh mới khẽ cười, hỏi nàng:

    - Cho là ngài ấy không tìm ra quán trọ của chúng ta, sao lại trông thấy em?

    Thiếu nữ chết lặng.

    Đoạn, thư sinh hất hàm về phía đình vọng cảnh:

    - Mái đình ấy được xây cùng chất liệu với quán trọ này, sao ngài ấy có thể đến ngồi?

    Thiếu nữ ngẩn ngơ nhìn nụ cười nhàn nhạt trên gương mặt thấu suốt hồng trần của chủ nhân quán trọ.

    Rất lâu sau, nàng mới mấp máy được một câu:

    - Vậy... sao y lại vờ như không thấy?

    Thư sinh cười hiền:

    - Nếu ngài ấy bước vào đây, em sẽ chào đón hay không chào đón?

    Từ trước đến nay, khách trọ của quán Phù Vân luôn là những bậc anh hùng hoặc ít nhất cũng là người lương thiện.

    Người này lại bị sử xanh đời đời phỉ nhổ, ác nghiệp khôn kể, thần nhân oán giận.

    Ấy là chưa nói đến, những người trong quán trọ đều một lòng kính Phật.

    Cho phép một kẻ từng gây ác nặng nề với cả sư sãi như thế bước vào, giúp hắn giải oan, dù Phật có từ bi thì bản thân mỗi người sẽ tự thấy mình đã làm thiện hay gieo ác đây?

    Sở dĩ thiếu nữ tò mò và hồ hởi tiếp cận người khách nọ mà chẳng hề suy nghĩ về những việc này là bởi nàng tin chắc có mời y cũng không vào được.

    - Đó... là hạng người gì? – Thiếu nữ bỗng nhiên thấy trong lòng vô cùng khó chịu. – Rốt cục, hậu thế đã hiểu đúng về ông ta được mấy phần?

    - Là một người thông suốt. – Thư sinh đáp.

    Không ai nói thêm một lời nào.

    Rất lâu sau đó, thiếu nữ buồn bã đứng lên, hỏi:

    - Em nên làm gì với con ngựa ông ta để lại đây?

    - Để nó tự do đi.

    Thư sinh nói thế rồi lại im lặng nhìn ra ngoài.

    Bạch mã khi được tháo cương thì lồng lên, hí vang một tiếng rồi tung vó chạy lên mỏm đá nhô ra trên đỉnh núi, khí thế và vui vẻ hệt như mấy anh em của người khách mỗi lần được vua cha đưa lên nơi cao nhất ngắm nhìn phong cảnh giang sơn hùng vĩ.

    Ngựa chiến dựng vó, đứng sừng sững trên nền trời đỏ oạch, chiếc bờm trắng như nhuộm đẫm màu hoàng hôn, sợi vàng, hồng, tím lẫn vào nhau.

    Nó hí vang rồi phóng ra ngoài, hoà vào dãy núi trùng trùng như đoàn tuấn mã đang rong ruổi đường vạn lý ra tận biển khơi, mất hút.

    Lúc vị khách kia dừng chân bên đình vọng cảnh, thư sinh đã biết y trông thấy quán trọ song lại vờ như không thấy.

    Thế nên, để kiểm chứng suy đoán của mình, chàng bèn ném một viên ngói của quán trọ xuống chỗ y.

    Khoảnh khắc người nọ xoay người tránh viên ngói, ánh mắt hai người đã chạm nhau.

    Thư sinh khẽ gật đầu, người nọ cũng gật đầu, thoáng ý cười.

    Chấp nhận quy luật "thành vương bại khấu", sẵn sàng xuống tay với ruột thịt thì cũng sẵn sàng đón nhận ngàn tiếng tàn bạo về sau, không giãi bày, không oán trách.

    Chấp nhận vòng nhân quả, luân hồi, hiên ngang gánh chịu tội nghiệp mà mình đã gây ra, không cầu siêu thoát, không làm khó kẻ tu hành.

    Có lẽ lúc sinh thời, những lời y nói ra suy nghĩ của mình cả đời cộng lại cũng không nhiều như những gì thiếu nữ đã nghe.

    Thư sinh nói, đó là một người hiểu đời, hiểu đạo.

    Đất nước này đã từng có một con người như thế.

    Quán trọ Phù Vân chỉ có người hữu duyên nhìn thấy, cũng từng đón tiếp một con người như thế.

    Ca dao:

    "Lênh đênh qua cửa Thần Phù

    Khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm."

    Trích bài thơ Mê ngộ bất dị của Tuệ Trung thượng sĩ.

    Dịch nghĩa:

    "Lúc mê sinh ra "không" và "sắc",

    Khi ngộ không còn "sắc", không, mê, ngộ.

    "Sắc", "không", với "mê", "ngộ",

    Xưa nay vẫn chung nhau ở một lẽ."
     
    Back
    Top Dưới