Anh Ba Dư đã chết rồi.
Trời vừa mới tờ mờ sáng, Út Phương đã rụng rời tay chân khi nhận được tin dữ từ quê nhà: người anh trai cùng cha khác mẹ của cô đã bỏ mạng rồi.
Anh Hai lưỡng lự, băn khoăn không biết có nên để em gái mình một thân một mình hồi hương hay không, nhưng Út Phương đã trấn an, nhất định một mực phải đi một chuyến một mình.
Dẫu vậy, Anh Hai vẫn chẳng thể yên lòng nên trước khi đưa cô ra bến ga tàu hỏa, anh đã dặn dò từng lời kỹ lưỡng.
Út Phương gượng cười nhìn người anh, lòng dạ dấy lên cảm giác bồn chồn khó chịu phương phi một nỗi xúc động khôn tả.
Cô chỉ gật đầu mà thôi, chẳng hề thốt một lời cho Anh Hai hay biết, sợ rằng anh lại phải bận lòng thêm nữa.
Ga xe lửa nhỏ cuối tỉnh lẻ vừa tảng sáng đã chộn rộn người qua kẻ lại.
Ông cán bộ trực ga thét lên: “Chuyến tàu số Năm chạy về nông thôn sẽ nổ máy sau mười phút nữa!”
Anh Hai Hinh khệ nệ xách hành lý giúp Út Phương, thở hổn hển: “Trời đất ơi, con gái gì mà mang vác hệt như dọn nhà đi hẳn vậy chứ?”
Út Phương chỉ bật cười: “Không phải sao?
Đã hồi hương thì phải đem của cải về dằn mặt bà ta một phen chứ.”
Anh Hai liếc ngang va li da sưng húp, ước chừng phải nặng hơn ba mươi cân tây, anh chỉ biết thở dài song vẫn cứ thương yêu em gái: “Tàu mà chạy chậm chút nữa, chắc tao thành cái xe kéo chuyên chở hàng thuê cho mày luôn quá.”
Út Phương chủ động vỗ nhẹ vào vai anh Hai, nheo cặp mắt đầy tinh ranh: “Anh cứ an tâm đi.
Em đây mà đặt chân về tới làng rồi, bà ta chỉ còn là một cái tên lạc lõng mà thôi.”
Anh Hai chỉ kịp thốt lên cộc lốc: “Hừm!”
Hai anh em cười nói rộn ràng, chen chúc nhau vào khu vực sân ga.
Khách khứa đông nghẹt, phải chen lấn từng bước một.
Tiếng người rao bán hàng rong, tiếng gọi nhau í ới vang vọng ầm ĩ, hòa lẫn vào nhau tạo thành một âm thanh hỗn độn đặc trưng của chốn đông người.
Kẻ thì tay xách nách mang, người gánh gồng đủ thứ hàng hóa cồng kềnh: nào lồng gà, vịt kêu quang quác, nào thúng mủng, bao tải va chạm vào nhau kêu lách cách.
Út Phương xoay xoay tấm vé tàu, loay hoay mãi mà chưa tìm ra toa của mình.
Anh Hai Hinh tặc lưỡi chép miệng: “Đưa tao xem nào!
Tấm vé mày cầm ngược lộn đầu rồi đó chứ!”
“Ô hay!
Em cứ nghĩ toa ghế nào cũng hệt như nhau mà!”
“Thôi, mai mốt mày đừng có đi tàu nữa.
Cứ thuê xe lừa mà đi cho tiện, chứ không thì nó chạy vòng vèo khắp nơi đó con!”
Út Phương cười rũ rượi, giật phắt lấy tấm vé, đoạn chun mũi trêu ghẹo: “Anh Hai cứ yên chí!
Em mà nhỡ có đi vòng thì nhất định sẽ rủ anh mà đi cùng, để cho anh khỏi phải chạy bộ xách va li cồng kềnh này nữa chứ!”
Tàu hú còi vang lên, tiếng rít dài kéo theo làn khói trắng mỏng tang phả vào không trung.
Cô gấp gáp xách va li, quay lại nhìn Anh Hai Hinh.
“Anh Hai này…”
“Gì đó em?”
“Ở nhà nhớ giữ gìn sức khỏe, chớ có thức khuya mà sinh bệnh.”
“Tao biết rồi mà!”
“Vả lại nhớ ăn bữa sáng cho đàng hoàng.”
“Tao biết rồi mà!
Lắm lời quá!”
“À, quên!
Nhớ cho Quả Mít của em ăn uống đầy đủ nghe.”
Anh Hai Hinh cười lớn, lắc đầu nguầy nguậy: “Mày về làng để chịu tang hay mày tính về ở hẳn dưới đó luôn vậy trời đất!?”
Út Phương cười tủm tỉm, mắt híp lại, nhanh nhẹn nhảy phắt lên toa.
Khi tàu sắp sửa lăn bánh, vội vàng vàng thò đầu ra ô cửa sổ, hô lớn: “Anh Hai à!
Nhớ rửa hết chén nghen!”
Anh Hai Hinh giơ tay vẫy lia lịa, mặt đỏ gay lên: “Mày về tới làng nhớ gửi thư cho tao hay tin nhé!”
Tàu hú còi lần nữa, bánh sắt lăn đều trên đường ray.
Út Phương vẫn ngoái đầu ra, bàn tay vẫy lia lịa, miệng cười tươi rói như hoa nở.
Anh Hai Hinh đứng nhìn theo chuyến tàu từ từ khuất dạng, cười cười lắc đầu, chỉ khi toa đầu tiên khuất hẳn tầm mắt, anh mới yên lòng quay lưng rời đi.
Từ thành phố, Út Phương một mình bắt xe lửa để hồi hương về làng quê.
Cả đêm ròng rã không chợp mắt, cô chẳng thể giấu được vẻ mệt mỏi tiều tụy hiện rõ trên khuôn mặt.
Bên ngoài, tiếng bánh sắt nghiến lên đường ray ken két, rít dài qua từng khúc quanh.
Toa tàu cũ kỹ rung lên bần bật mỗi khi lăn qua cây cầu mục nát.
Cả khoang tàu ngập đầy mùi sắt gỉ, mùi khói thuốc lá rẻ tiền và hơi người nồng nặc xộc thẳng vào mũi.
Ngoài kia, trời đã ngả màu xám tro, bụi bặm bay táp vào mặt kính, dính thành vệt lem luốc.
Những kẻ buôn thúng bán bưng đẩy chiếc xe đầy thức ăn, nước uống chen chúc qua lối đi hẹp, rao hàng ầm ĩ.
Món ăn khó mà nuốt nổi, y như đồ ăn thừa bán tại quầy hàng nhà ga để qua đêm.
Mặc kệ khách đi đường có ưng hay không, có mua hay không, người ta vẫn phải lùa vào bụng mà nuốt xuống cho xong chuyện.
Mùi vị hôi tanh khó nuốt ấy làm cơn buồn nôn bỗng dâng trào trong cuống họng cô.
Trước mắt cô, món ăn có vẻ như đang chảy ra thành chất lỏng tối màu đặc quánh, dính nhớp.
Đôi mắt cô như bị phủ một lớp sương mù mỏng, cô hoàn toàn không có cách nào nuốt trôi được.
Cảm giác mùi hôi tanh ấy vẫn còn vương vấn ở chóp mũi, buộc cô phải đưa tay lên day day mũi để tìm lấy sự dễ chịu nhỏ nhoi.
Cô bèn đưa tay ra ra hiệu cho tay bán hàng rong, mua một cốc nước lọc.
Tay bán hàng niềm nở, bưng nước rót đầy vào cốc sành cũ kỹ đưa cho cô.
Út Phương cầm cốc nước ấy, tu một hơi cạn sạch.
Cô đặt cốc lên xe đẩy, đưa cho tay bán hàng ba xu bạc lẻ.
Tay bán hàng mỉm cười cảm ơn rối rít, đẩy xe hàng lách mình đi giữa các băng ghế đông đúc.
Út Phương chậm rãi từ trong túi áo lấy ra cái kính mắt mà đeo lên.
Thình lình, mọi vật trước mắt trở nên rõ ràng hơn.
Mặc dù món ăn đã lùa vào bụng, cơn khát cũng được giải tỏa, nhưng vận may thì chẳng hề mỉm cười.
Út Phương chẳng mua nổi vé hạng nhì đắt đỏ, đành phải chen chúc trên ghế gỗ cứng đơ trong toa tàu hạng ba chật hẹp.
Cô ngồi dựa vào cánh cửa sắt lạnh ngắt, áo khoác mỏng bết dính sau lưng, khuôn mặt lấm tấm mồ hôi như tắm.
Để kiếm chút hơi thở và có thêm không gian, cô ôm chặt túi hành lý vào lòng, dưới cặp mắt dò xét của mụ đàn bà trung niên.
Mụ ta khuôn mặt đen nhẻm khô cằn, đôi mắt léo xéo nhìn chằm chằm vào bao đồ của cô.
Bên cạnh mụ đàn bà ấy là cô gái trông tầm thường, đang mang bụng bầu khệ nệ, ra vẻ hết sức khó chịu khi phải ngồi quá sát vào người khác.
Phía bên tay trái Út Phương, gã trung niên với vẻ mặt bặm trợn, mặc cái áo bành tô dày cộp, đang gục dựa lưng xuống mặt bàn mà ngủ say.
Một chút nước dãi còn đọng lại nơi khóe mép gã, lấp loáng bóng nhẫy trên mặt bàn gỗ cáu bẩn.
Út Phương chẳng còn tâm trí để thu hồi cái nhìn nhàm chán ấy nữa.
Cô cố gắng xoay trở, né tránh sự dòm ngó bừng bừng của mụ đàn bà đối diện, quay ngoắt đầu nhìn ra ngoài cửa kính, cố vỗ mình vào giấc ngủ mỏng manh.
Cô ngồi chừng một lúc lâu thì một ông kiểm soát đội mũ cát két, tay cầm chiếc kìm bấm vé màu đồng, tiến bước đi dọc khoang tàu.
Giọng trầm đều của ông ta vang lên khắp lượt, trịnh trọng loan báo: “Xin mời xuất trình vé!”
Út Phương hé mở cặp mắt nhìn ra, níu chặt lấy người nhân viên phục vụ đang cố sức luồn lách xuyên qua cái đoàn người đang đứng kẹt cứng.
“Bao giờ thì có thể bán thêm vé ghế được vậy?”
“Chị đợi chốc lát đi, không thấy tôi đang vội lắm hay sao?”
Cô nhân viên gương mặt khó đăm đăm, giọng nói cáu kỉnh vang lên bất mãn.
“Thật đáng ghét!
Mấy người đi xe lửa đông nghẹt như vầy mà mang theo lũ gia cầm làm cái trò gì!”
Cô ta liếc nhìn đám người đang chen chúc đông nghịt trong khoang, hành khách trong toa chẳng mảy may chú ý lời cảnh báo của ả một chút nào, họ lại chăm chú quan sát các chỗ ngồi phía trên đầu, chờ chực cơ hội khi có kẻ nào đó đứng dậy để nhảy vào mà giành giật chỗ.
Toa tàu chật ních khách khứa, đông đến nỗi chẳng còn chỗ để đặt bàn chân.
Đàn bà tay ôm con thơ, cụ già lưng còng sát đất, lính trẻ vai mang súng, kẻ thương binh quấn băng chen chúc nhau trong khoang hẹp, có thể ngửi thấy mùi dầu hỏa nồng nặc, tanh tưởi phả ra bếp dầu đang cháy âm ỉ mà không thoát hơi vậy.
Út Phương liếc nhìn quanh khắp lượt toa, tầm mắt dừng lại ở chỗ ngồi phía trước, cách nàng độ ba hàng ghế.
Một tên du đãng đang nắm chặt cổ áo của một anh thanh niên trẻ tuổi.
Anh thanh niên đứng tựa vào cột đèn, chiếc mũ phớt cũ che khuất nửa khuôn mặt rám nắng.
Bộ áo sơ-mi trắng đã bạc màu và sờn cổ, nhưng vẫn được anh ta ủi phẳng phiu tề chỉnh.
Đôi mắt anh sâu và sáng, ánh lên vẻ cương nghị của người từng nếm đủ mùi cơ cực.
Bàn tay gầy, chai sạn nắm chặt cuốn sổ tay nhỏ, thoạt nhìn ai cũng biết đó là tài sản quý giá nhất của anh.
Trái ngược với anh thanh niên, tay du đãng trạc ba mươi tuổi, người tuy gầy nhưng rắn rỏi, cổ nổi gân xanh, đôi mắt ti hí sáng như mắt rắn đang rình mồi.
Áo sơ-mi bỏ ngoài quần, cúc cổ mở phanh ngực, để lộ sợi dây chuyền bạc đã xỉn màu.
Hắn ngậm điếu Bastos còn cháy dở, vừa nói vừa phả khói qua kẽ răng vàng khè.
Trên má trái, vết thẹo trắng hằn sâu, chạy dài đến tận cằm.
Bộ dạng hung tợn đến nỗi ai nấy cũng đều né tránh, chẳng kẻ nào dám đứng gần.
Út Phương đứng phắt dậy, bước độ hai bước chợt dừng chân.
Quay đầu nhìn lại, cô thấy chỗ ghế của mình đã bị kẻ khác chiếm mất rồi.
Thở dài thườn thượt, cô bèn sải bước đến chỗ anh thanh niên số khổ đang bị tên du đãng quấy nhiễu.
Út Phương chỉnh sửa giọng nói thành mềm mỏng dịu dàng, bình tĩnh ngước nhìn gã du đãng và cất lời: “Anh ơi, người thương của em đứng đây làm em phải đi tìm khắp nơi hoài vậy!”
Út Phương chẳng ngờ tình cảnh lại khó lường đến vậy: Bọn du côn trong toa tàu đã quen mặt cô từ chuyến đi trước.
Chúng thấy cô lủi thủi với chiếc va li cũ mèm, liền huýt sáo trêu chọc và cười khẩy bỡn cợt.
Một tên lưu manh râu ria xồm xoàm, đầu đội cái mũ nồi kiểu Tây, lừ đừ tiến lại gần, giọng nói lè nhè đầy vẻ trêu ngươi: “Này, cô em bé bỏng, cô tính đi chốn nào mà vội, mà vàng quá đỗi vậy chớ?
Sao cứ lủi thủi có một mình?”
Út Phương giật nảy mình, nhưng cố giữ cái vẻ mặt bình thản giả dối.
Cô nắm nhẹ vào cánh tay anh thanh niên, nghiêng đầu cười tươi mà cất lời: “Anh đi thôi, chỗ của mình đã bị mất từ bao giờ rồi đó.”
Tên du côn râu ria nhếch mép cười đểu, giọng nói lè nhè:
“Ô hay, tôi cứ tưởng cô em đi có một mình chớ.
Lần trước tôi gặp ở bến tàu đó, đâu có thấy ông anh này đâu nhỉ?”
Một tên khác, tóc húi cua, cánh tay xăm trổ hình con dao găm, cười hô hố: “Ờ, coi bộ ông anh đây may mắn ghê nghen.
Vừa mới bước lên tàu đã có đào đâu chạy tới mà ôm chầm!”
Anh thanh niên liếc Út Phương, lập tức hiểu ý, gượng cười mà đáp lời: “Anh tìm em nãy giờ đó mà.
Tưởng em đã tới chỗ ngồi rồi.”
Gã du đãng bước sát lại hơn, hơi rượu nồng nặc phả thẳng vào mặt cô: “Tụi anh chỉ muốn nói chuyện vài câu với cô em thôi mà.
Ông anh gắt gỏng quá vậy?”
Hành khách xung quanh đổ dồn ánh mắt nhìn Út Phương.
Cô mỉm cười nhưng giọng nói lạnh nhạt: “Các anh làm ơn để cho chúng tôi yên đi.
Toa tàu này đông người, chớ có gây chuyện mà mang vạ.”
Tên râu ria nhếch mép cười đểu, nheo cặp mắt ti hí: “Đông người thì có làm sao?
Trong toa tàu này, kẻ nào dám động tới bọn tao chớ!”
Anh thanh niên nghiêng đầu, thầm thì vừa đủ cho Út Phương nghe thấy: “Cô cứ đi trước đi, chuyện này tôi lo liệu được.”
Cô lắc đầu: “Không, anh cứ đi, tôi sẽ theo.”
Gã râu ria chẳng hề yên phận, bèn đặt bàn tay hắn lên vai Út Phương.
Cô hít một hơi sâu, ánh mắt thờ ơ nhìn thẳng vào gã râu ria xồm xoàm.
Chẳng kịp suy tính gì thêm, Út Phương hất mạnh chiếc va li cũ mèm về phía tên du đãng đang áp sát.
Tiếng va chạm chan chát vang lên, gã rú lên một tiếng, lùi lại mất một bước, tay ôm chặt lấy mặt.
Một tên khác, tóc húi cua, cười hô hố, định lao vào tiếp ứng, nhưng Út Phương đã nhanh như chớp, đá mạnh vào bắp chân hắn ta.
Tên này ngã chúi xuống mặt sàn, kéo theo cả một mớ túi xách lộn xộn, rơi vãi.
Út Phương không dừng lại, cô cúi người nhặt phắt cây gậy của ông lão ngồi ở ghế bên cạnh.
Tay trái giữ chặt chiếc va li, tay phải vung gậy, cô di chuyển liên hồi, né tránh từng đòn thô bạo của bọn du côn hung hãn.
Tiếng hét chói tai, tiếng va chạm chan chát, mùi khói thuốc lá hôi hám, mùi mồ hôi chua lòm trộn lẫn vào nhau, khí thế toàn bộ toa sôi sục lên tận trời.
Tên râu ria xồm xoàm, sau cú húc thô bạo bằng va li kia, tức tối vung tay định đánh trả, nhưng Út Phương đã nhanh nhẹn nhảy phắt sang một bên.
Cô chộp phắt lấy ống tay áo hắn ta, xoay mạnh gã mất thăng bằng chao đảo, ngã nhào xuống sàn.
Các tay du côn còn lại kinh hãi, hoảng hốt lùi ra xa.
Út Phương thở hổn hển dồn dập, nhưng cặp mắt cô vẫn sáng quắc, đầy vẻ cương nghị.
Cô hăm dọa bọn chúng bằng giọng nói đanh thép: “Kẻ nào dám làm càn nữa, coi chừng mạng đó!”
Anh thanh niên đứng cách độ vài bước, cặp mắt lấp lánh thích thú khi ngắm nhìn cô, anh liếm môi.
Cẩn trọng đưa trả lại cây gậy cho ông cụ, Út Phương ném phắt chiếc va li lên vai, bỏ mặc anh thanh niên đứng trơ trọi tại chỗ, bước nhanh về phía quầy soát vé.
Cô cứ thế bỏ mặc bọn du đãng đang vừa xấu hổ, vừa tức tối thảm hại trên nền gạch lạnh lẽo của khoang tàu, không hề ngoảnh đầu lại nhìn.
Người xung quanh cũng run rẩy đứng dậy, mọi người đều thở phào nhẹ nhõm được một phen.
Có kẻ tò mò đánh giá anh thanh niên, cũng có người nhìn chằm chằm vào nàng.
Bỏ ngoài tai lời bàn tán xì xầm của thiên hạ, Út Phương sải bước tới quầy nhân viên của toa tàu, cẩn thận chỉnh sửa lại mũ và túi xách.
Giọng nói nhỏ nhẹ: “Chào ông, tôi muốn mua một vé ngồi, làm ơn.”
Ông nhân viên toa tàu, một người trung niên béo tốt, mặc bộ đồng phục kiểu Pháp rất mực chỉnh tề, nhướng cặp lông mày, gật gù: “À… vé ngồi à, bao nhiêu chỗ?”
Út Phương nhíu cặp mày thanh tú, cố gắng diễn đạt sao cho phải lẽ: “Hai vé cho tôi và một vé cho người bạn của tôi, làm ơn.”
Ông nhân viên cười nhẹ một cái, lấy cuốn sổ rà vé ra trước mặt cô: “Được rồi, tổng cộng là mười lăm piastre…”
Cô hơi lúng túng thò tay móc tiền, nhưng nụ cười trên môi vẫn rạng rỡ: “Cảm ơn ông rất nhiều.”
Xem xét qua danh sách hành khách trong toa, ông nhân viên ái ngại nói: “Xin vui lòng chờ trong giây lát, hiện tại không còn chỗ ngồi trống.”
Út Phương gật đầu, bước tới nắm chặt tay vịn của toa tàu.
Lòng bàn tay nàng ướt lạnh vì lo lắng.
Toa tàu lắc mạnh một cái, anh thanh niên kia đứng bên cạnh cô từ bao giờ không rõ, bất ngờ ngã dúi vào vai cô.
Anh ta lúng túng cất lời xin lỗi, giọng nói khàn khàn:
“Xin lỗi cô… tôi thật lòng không cố ý.”
Út Phương chỉ gật đầu nhẹ một cái, không hề cất lời.
Anh thanh niên nhìn cô đăm chiêu.
Anh ta ngượng ngùng cười cười, đưa qua một mảnh giấy nhỏ.
Trên mảnh giấy viết: cảm ơn.
Út Phương chỉ cười cười, xem như đã đáp lại lời cảm tạ.
Ông nhân viên toa tàu tiến bước nhanh tới, chỉnh lại cái mũ cát két, giọng nói nghiêm nghị nhưng vẫn rất mực lịch sự: “Chào cô, xin mời đi theo tôi.
Chỗ ngồi của cô đã sẵn sàng.”
Út Phương hơi nghiêng đầu: À… cảm ơn ông, là cho hai người, đúng vậy…”
Anh thanh niên đã đi bên cạnh, thì thầm vào tai cô: “Đúng là chỗ ghế trống đây rồi!”
Ông nhân viên gật gù một cái, dẫn hai người băng qua lối đi chật hẹp để tới toa phía cuối của khoang: Đi theo đây nhanh lên, tàu sẽ chạy nhanh sớm thôi.
Chỗ ngồi bây giờ đã trống.”
Út Phương đưa mắt nhìn quanh, mỉm cười nhẹ nhõm: “Thật là may mắn quá đỗi, còn ghế trống đây rồi.
Tôi tưởng rằng phải chờ đợi thêm một hồi lâu lắm cơ.”
Ông nhân viên nhấn giọng: “Đừng lo lắng, cô à.
Mọi thứ đã sẵn sàng cho chuyến đi của cô, chỗ ngồi của cô đã được đặt.”
Bọn họ bước toa tàu, mỗi bước đều nghe rõ tiếng bánh xe lửa lạch cạch, mùi dầu máy hăng nồng và hơi khói nhẹ phả ra từ toa cuối.
Khi vừa tới toa ghế đã được đặt, ông nhân viên mở cánh cửa, mỉm cười hài lòng: “Đây là chỗ ngồi của cô.
Mọi thứ đều trống, xin hãy tận hưởng chuyến đi.”
Út Phương gật đầu, bước tới chiếc ghế trống mà ngồi xuống.
Cô đặt hành lý gọn ghẽ bên cạnh, khép nhẹ mí mắt lại.
Anh thanh niên đứng nhìn cô một lúc lâu, mới tiến lại gần ngồi xuống ngay cạnh bên cô.
Toa tàu rung chuyển nhẹ trước khi dừng lại hẳn ở ga xép ngoài huyện thành.
Tiếng còi tàu kéo dài thê thiết một hồi lâu, chói tai và đầy vẻ ai oán, xé toang sự yên tĩnh vốn có của buổi sáng đầu ngày.
Khách đi tàu hì hục cố định lại đống hành lý lỉnh kỉnh còn bị xô nghiêng ngổn ngang.
Vài đứa trẻ hiếu kỳ tíu tít nhô đầu tựa sát vào ô cửa kính mà nhìn ra ngoài sân ga.
Út Phương nhắm nghiền cặp mí mắt tĩnh tâm chừng một lúc, mở ra, đăm đăm quan sát quanh quất qua thanh cửa đã rỉ sét cáu bẩn kia.
Cả dòng người bán hàng rong đang tụ tập xúm xít gần sân ga, mùi bánh mì nướng thơm phức hòa lẫn mùi khói than đặc trưng lan tỏa khắp nơi.
Anh thanh niên ngồi ngay cạnh bên cũng cô đưa mắt nhìn ra, vẻ mặt tò mò pha chút thích thú.
Đợi cho người đi tàu đi xuống gần hết, cô mới xách lấy hành lý của mình.
Cô bước nhanh qua các toa, tay vẫn ôm chặt chiếc va li, cặp mắt cô liếc nhìn dòng người đang chen chúc hỗn độn trên sân ga.
Anh thanh niên vẫn ngồi im tại chỗ, cặp mắt thoáng chút mệt mỏi dãi dầu, nhưng vẫn đăm đăm quan sát quanh quất với vẻ điềm tĩnh kỳ lạ.
Út Phương bước ngang qua, ánh mắt họ chạm nhau trong giây lát, sự giao cảm diễn ra giữa hai người, không biết từ bao giờ mà sợi dây vô hình đã buộc chặt họ lại giữa cái biển người đang hỗn độn xô bồ.
Trên sân ga, bà con thân thích kéo tay, gọi to tên người đi tàu đang bước xuống tàu.
Một bà cụ lụ khụ đang rảo mắt tìm cháu, miệng lắp bắp gọi hoài, trong khi một vài đứa trẻ vừa mới bước chân khỏi tàu đã vội chạy theo bóng mẹ mình.
Út Phương lách mình qua giữa đám đông, cảm thấy hơi choáng ngợp nhưng cũng tò mò khi nhìn thấy những gương mặt hối hả, những cái ôm gấp gáp, những nụ cười và những tiếng than phiền xen lẫn nhau đang vây quanh.
Sau hằng giờ chen chúc, cô cũng đã nhìn thấy cổng ra của sân ga, chiếc xe bò kéo đang chờ sẵn để chở hành lý và đưa người khách về trung tâm thị trấn.
Út Phương thở phào một hơi nhẹ nhõm, bước ra khỏi đám đông ồn ã, cảm giác vừa mệt mỏi dãi dầu vừa háo hức đã phơi phới dâng lên.
Không có chuyến xe ngựa nào về làng mà cô mong đợi, chỉ duy nhất một chiếc xe bò đang đỗ kia là chuẩn bị về làng.
Chiếc xe bò ấy lao đi vun vút xuyên qua cái làn người nơi ngã tư đông đúc, chạy thục mạng thẳng theo một hướng nhất định.
Bên trong chiếc xe bò , có người đang ngồi cong chiếc lưng gầy guộc, đôi mắt đã bị mảnh vải đen che kín hoàn toàn, im lặng chẳng hề mở miệng nói một lời nào.
Ba người thanh niên trẻ tuổi còn lại, nhìn bộ dáng là kẻ từ thành phố về địa phương để giáo dục tư tưởng, chưa quen ngồi trong chiếc xe rơm, khuôn mặt cứ lúc xanh, lúc tím vì khó chịu.
Út Phương ngáp dài, lưng dựa hẳn lên ghế, mắt nhắm hờ chợp mắt.
Chiếc xe bò thô sơ dừng lại ngay trước cổng làng Hạ.
Bước xuống xe, cô hít một ngụm không khí thật sâu.
Gửi cho chủ xe độ mười xu, anh ta giật cương ngựa, đánh chiếc xe bò băng băng trên con đường đất, để lại làn khói bụi mịt mù.
Út Phương đưa tay lên che kín miệng, ho khù khụ mấy tiếng.