Cập nhật mới

Khác Quân Gia Bút Ký

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
153,753
Điểm cảm xúc
0
Điểm thành tích
0
VNĐ
44,735
402624388-256-k912012.jpg

Quân Gia Bút Ký
Tác giả: ShoutaroPhilip
Thể loại: Bí ẩn
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Từ thuở xa xưa, đã có hai gia tộc song song tồn tại: một bên chuyên giữ gìn sự yên nghỉ cho người chết, một bên chuyên phá vỡ những giấc ngủ ngàn thu trong cổ mộ.

Gia tộc mai táng, với những kỳ nhân dị sĩ tinh thông phong thủy, tầm long điểm huyệt, dựng mộ và phong quan, được xem như người bảo hộ của âm phần.

Ngược lại, gia tộc trộm mộ, vì tham lam mà đào xới, vì khát vọng mà phá hoại, đã mang trên mình lời nguyền chết yểu và những kết cục thảm khốc.

Giữa hai dòng máu ấy là mối thù truyền đời, kéo dài qua bao thế hệ không thể hóa giải.

Mỗi cổ mộ được xây dựng là một chiến trường tiềm ẩn, mỗi bí mật được chôn giấu là một ngọn lửa tranh đoạt.

Và trong vòng xoáy ấy, một cô gái mang lời nguyền trường sinh bất lão - Tử Linh - cùng một chàng trai phàm nhân - Quân Ảnh Chiến - sẽ bước vào đây để viết tiếp chương mới cho cuộc chiến chưa từng có hồi kết.

Tác giả: 「Vụ Lý」(Trong sương mù)
Tác phẩm chỉ đăng duy nhất trên Wattpad và Wordpress, nếu có ở nơi khác thì chỉ sản phẩm ă-n c-ắ-p, xin cảm ơn vì đã đọc.

Link Wordpress cho ai muốn ghé qua: https://quangiabutky.wordpress.com/about/



bútký​
 
Quân Gia Bút Ký
Quyển 1 Bạch sơn Thần Lĩnh


Sơ lược quyển 1

Quân Ảnh Chiến và một cô gái bí ẩn tên Tử Linh cùng nhau lần theo những manh mối của một đoạn ký ức bị chôn vùi.

Hai mươi năm trước, một đội khảo cổ tiến vào núi Tà Lĩnh để nghiên cứu di tích cổ, nhưng những gì họ gặp phải lại vượt xa phạm vi khảo cổ thông thường và sự biến mất kỳ lạ của cả đoàn đã để lại một khoảng trống không lời giải.

Hai mươi năm sau, ký ức ấy được kể lại, kéo người nghe bước vào vòng xoáy định mệnh.

Những manh mối dồn dập dẫn thẳng về núi Tà Lĩnh, nơi sự thật vẫn còn bị phong kín sau cánh cửa đá khổng lồ.

Một hành trình đã kết thúc, nhưng cánh cửa định mệnh mới chỉ vừa hé mở...

Nếu thích thì bạn có thể đọc trên WordPress của mình nhé:

 
Quân Gia Bút Ký
Chương 1 Vật cũ trả chủ


"Quay về đi."

Giọng nói ấy vang lên như một hơi thở lạnh buốt giữa cơn bão tuyết gào thét, không rõ từ đâu vọng tới, như thể chính ngọn núi đang thì thầm.

"Không thể!

Tôi phải tìm họ!

Họ đang gặp nguy hiểm!"

Tôi hét lên, tiếng gào bị xé vụn bởi màn tuyết mịt mù, như thể chính gió tuyết và đất trời cũng đang nuốt lấy thanh âm của tôi.

"Quay về đi."

Lời cảnh báo ấy lặp lại, không hề có cảm xúc, không hề lay chuyển.

Tôi lao về phía cái bóng mờ đang đứng giữa màn tuyết, nhưng nó tan biến như chưa từng tồn tại.

Chỉ còn lại ngọn núi trắng xóa, hoang lạnh và tiếng gió rít như tiếng nức nở thất lạc bị chôn vùi.

Tôi mở mắt.

Cửa hiệu quen thuộc hiện ra, ánh nắng xuyên qua tấm rèm mỏng phấp phới.

Tôi tỉnh lại trong cửa hiệu của mình sau cơn mộng mị ngắn ngủi.

Đầu cổ hơi choáng váng đau nhức vì nằm nghiêng quá lâu.

Lượm lại chiếc quạt giấy đã rơi xuống đất từ khi nào, tôi khẽ phe phẩy thêm vài cái.

Duỗi chân một cái, tôi lấy quạt che mắt, lại chuẩn bị ngủ tiếp.

"Này!

Này!

Thằng oắt con, mày trông tiệm như thế hả?"

"Ôi!

Mẹ..."

Lời chửi thề vừa tính văng ra đành phải nuốt ngược lại.

Tôi vừa nhìn thấy ông lão đang tự mình rót trà ngồi trước mặt liền bật dậy khỏi ghế, cười ngu ngơ nhìn ông.

"Ông nội!

Sao nay thăm cháu mà lại không nói trước một tiếng chứ?"

"Ai thèm đến thăm cái thằng lười nhác nhà mày!

Ôi, cháu bà Lam còn vừa mới thăng chức phó tổng gì đó.

Bây giờ bả còn đang ra ngoài mà khoe với mấy ông bà già hàng xóm.

Đây là đứa cháu thứ ba rồi.

Hại ông già này tức chết đi được!"

"Ôi, ông ơi, ông đừng nóng mà.

Ông uống chén trà cho mát họng, rồi hàn huyên tâm sự gì với thằng cháu bất hiếu này cũng được."

"Khỏi cần mày nhắc!"

Ông cụ ngửa cổ uống trong tức tối, nhưng còn chưa kịp nuốt xuống đã phun hết cả ra ngoài.

"Trời ơi!

Bao lâu rồi mày còn chưa thay lá trà rồi hả!?"

Tôi chỉ biết gãi mặt cười ngu, giờ mà bảo với ông rằng ấm trà đó cả tuần không ai buồn rớ đến rồi thì ông xử bắn tôi tại chỗ luôn vẫn còn quá nhân từ.

"A Cát đâu?"

Ông hỏi.

Tôi nhìn về phía cửa, nơi cậu nhân viên thu ngân kiêm kế toán kiêm quét dọn thường hay ngồi thừ người ra chơi bài con nhện trên cái máy tính cổ lỗ sĩ hết chỗ nói.

"À."

Tôi giờ mới lờ mờ nhớ ra còn có cậu ta.

"Bảo là có việc nhà, xin nghỉ từ mấy hôm trước rồi."

Ông khẽ gật đầu rồi lại quay sang tôi nói: "Chiều nay đóng cửa tiệm sớm, đi qua chỗ ông ăn cơm."

Tôi thầm kêu rên trong bụng, lại nữa sao?!

Tôi không còn nhớ nổi tháng này là lần thứ bao nhiêu rồi.

Tối nay là yến tiệc linh đình của con trai cả nhà bà Hai hay con gái út nhà bà Ba đây!

"Dạ, cháu biết rồi."

Tôi cố gắng không tỏ vẻ miễn cưỡng mà rặn ra từng chữ.

"Lúc về thì mang theo cả cái này, quý lắm đó, làm hỏng một chút thôi là mày không xong với ông đâu!"

Tôi nhìn qua vai ông, phía sau có dựng một cái khung gỗ được bọc kín giống như tranh.

Hẳn lại là một món đồ cổ ông mới sưu tầm về.

Ngồi trên chiếc ghế thắp hương cao đến chín bậc, tôi vừa đóng đinh vừa chỉnh khung tranh cho thật cẩn thận.

Căn biệt phủ của ông nội như một cung điện thu nhỏ từ thời xưa cũ, toàn gỗ lim bóng loáng theo năm tháng, cửa chính chạm khắc tinh xảo bằng gỗ Hoàng Đàn quý hiếm.

Ánh nắng chiều lọc qua những ô cửa sổ lưới chạm rồng phượng phai màu, hắt bóng dài ngoằng trên sàn gạch Bát Tràng màu cam đất ấm áp.

Mùi gỗ cũ quyện lẫn khói hương thoang thoảng từ bàn thờ tổ, gió lùa qua khe cửa mang theo tiếng rít vi vu như lời thì thầm của những thế hệ đã qua.

Từng cánh cửa, từng khung rèm thêu đều mang dấu ấn bàn tay nghệ nhân xưa, sống động đến mức như thể chúng đang thở theo nhịp thời gian chậm rãi.

Trước cổng, đôi vòng đá hình sư tử mà ông khoe đồ cổ đấu giá từ người Hoa đủ khiến bất kỳ ai bước vào cũng phải cúi đầu trước sự xa xỉ cổ kính của chủ nhân nơi này.

Tôi là cháu đích tôn duy nhất của ông, gia đình giờ đây chỉ còn đơn chiếc hai ông cháu, họ hàng cũng không nhiều, cũng ít khi thăm hỏi nhau.

Nhà tôi khởi nghiệp kinh doanh tính tới đời tôi là đời thứ chín, nhưng tôi lại không có chí lớn gì, học xong đại học thì chỉ tiếp quản một cửa hàng nhỏ nhất nhà, hằng năm lợi nhuận chẳng bao nhiêu.

Ngày ngày sống ung dung tự tại đích thị một cậu ấm được cưng chiều.

Sáng sớm có cậu A Cát đúng giờ mở cửa, còn tôi - thân là ông chủ thì ngủ đến mức mặt trời quá đỉnh đầu, chiều chiều xem tí sổ sách rồi lại thiu thiu ngủ dưới bóng mát ngoài sân sau.

Thỉnh thoảng lại chạy ra ngoài xem mấy cụ già chơi cờ bên bờ hồ rười rượi gió thoảng, chỉ cụ phải tiến quân này phá trận cụ kia.

Đúng là sung sướng nhàn nhã còn hơn mấy tiên ông trên thiên đình.

Màn rèm che hạt châu gỗ dưới chân tôi khẽ lay động, có lẽ là có người đang đi qua.

Tôi chúi đầu xuống tính hỏi ông treo tranh như vậy đã được chưa thì liền khựng lại, mắt đối mắt với người xa lạ đang đứng bên dưới.

Chỉ vừa nhìn thấy người đó trong vài giây ngắn ngủi, tôi bỗng giật bắn mình.

Không thể nào!

Làm sao lại có thể như vậy?!

"Chiến, xong chưa đấy?"

Giọng của ông nội vang từ sau lưng, nhưng giây phút này miệng lưỡi giảo hoạt của tôi lại cứng đờ, lắp bắp không ra lấy chữ.

Trong tranh, người lữ khách đơn độc nhìn về phía ngọn núi tuyết xa xa trập trùng hiểm nguy, chiếc áo choàng đỏ rực như áng hoàng hôn phấp phới theo gió, mũ áo hơi nghiêng ngả theo để lộ ra nửa khuôn mặt nghiêng nghiêng.

Đôi mắt người ấy thật đặc biệt, như thể nó hoàn toàn tách biệt khỏi bức tranh mà hiện lên sống động trước mắt tôi.

Đôi đồng tử đen tuyền, sâu thẳm lắng đọng như vùng nước chết, tựa như đã nhìn thấy toàn bộ thế gian rực rỡ nhất cũng như tăm tối nhất.

Một ánh mắt không có niềm vui, không có đau khổ, không có lấy một tia sáng hi vọng.

Mọi thứ, mọi thứ cứ xoắn chặt trong con ngươi không thể nhìn thấu đó.

Cô ấy vừa bước ra từ trong bức tranh này.

Tôi tự hoảng hốt với suy nghĩ điên rồ ấy, chỉ biết trừng trừng nhìn từ bức tranh xuống người đang đứng dưới.

Phải hỏi, nhất định phải hỏi!

Vừa nghĩ thế tôi liền đứng lên theo phản xạ, nhưng vừa làm thế thì tôi mới nhớ ra mình đang ngồi trên cái ghế thang cao đến gần hai mét!

Đầu thì va thẳng vào khung tranh đau điếng, cơn choáng váng đến nổ đom đóm mắt làm tay chân tôi bủn rủn tê đi hết cả, cứ thế nghiêng người ngã thẳng xuống.

"Chiến!"

Ông nội hốt hoảng gọi to.

"A!"

Trong khoảnh khắc tưởng sẽ ăn sàn, tôi bỗng rơi vào vòng tay ai đó.

Tử Linh đã lao tới, lấy thân mình đỡ cả người tôi như một pha cứu giá trong phim hành động.

Một tay cô còn đưa lên phía trước, chặn đứng cái ghế thang nặng trịch đang lao tới, hoàn toàn mang phong thái anh hùng cô độc không ngại xả thân cứu... một chàng trai yếu ớt đáng thương là tôi đây.

Nàng tựa vào lồng ngực chàng, đôi mi ươn ướt giữ lại giọt lệ kiên cường không rơi xuống, ngước nhìn chàng như thể đang đóng cảnh cuối của một bộ phim truyền hình dài 120 tập.

Còn chàng - tức là cô ấy - hiệp khách cẩn mật lạnh lùng tiêu soái, không chút do dự... hất thẳng tôi ra khỏi vòng tay.

Bữa cơm tối nay của cả ba người trôi qua trong ngượng nghịu khó tả.

Ông nội không giới thiệu cô gái ấy lấy một lời, cũng chẳng tỏ ra ngạc nhiên khi thấy cô đã ngồi sẵn ở đó từ bao giờ, như thể sự hiện diện của cô là chuyện bình thường trong nhà.

Ông còn gắp thức ăn cho cô một cách tự nhiên, giọng nói dịu dàng hơn hẳn lúc mắng tôi: "Ăn thêm đi con."

Tôi ngồi đó mà đầu óc quay cuồng.

Cô ấy là ai chứ?

Sao ông nội lại đối xử thân thiết với một người lạ đến thế?

Hay là... người quen cũ nào đó mà ông chưa từng kể?

Nhưng nếu vậy thì sao không nói một câu với thằng cháu đích tôn duy nhất là tôi đây?

Tôi liếc nhìn ông, rồi lại len lén nhìn sang cô, cố tìm chút manh mối trên khuôn mặt ấy, nhưng chỉ nhận lại cái nhìn thoáng qua lạnh lẽo như gió đông.

Cô ấy là một cô gái khoảng ngoài hai mươi, nhưng đôi khi nhìn cô lại như một thiếu nữ còn đang tuổi học trò với gương mặt thanh tú, làn da trắng nhợt gần như trong suốt dưới ánh sáng mờ, khiến người ta liên tưởng đến những bức tượng ngọc lạnh lẽo trong cung điện cổ.

Mái tóc đen dài buộc hờ sau gáy rối tung một vẻ hoang dại.

Khuôn mặt cô sắc nét, sống mũi cao thẳng, đôi môi mỏng khép chặt không chút màu son, nhưng nổi bật nhất là đôi mắt đen sâu thẳm, đồng tử như vùng nước chết không gợn sóng đó.

Cô mặc áo khoác tối màu, vải dày cổ cao tay ôm gọn, toàn thân toát lên vẻ kín đáo lạnh lùng như bóng đêm.

Dáng ngồi thẳng lưng, không cứng nhắc nhưng cũng chẳng buông lơi, như một bức tượng sống giữa phòng.

Có gì đó ở cô khiến tôi cảm thấy thật lạ lùng, không giống người bình thường chút nào.

Khi tôi rót trà cho cô, tay run nhẹ vì ngượng ngùng, tôi lấy hết can đảm hỏi:

"À... cô tên là gì vậy?"

Cô không nhìn tôi, chỉ đáp gọn: "Tử Linh."

Tôi tự giới thiệu tên mình rồi đỏ mặt lí nhí cảm ơn chuyện vừa nãy, nhưng cô không phản ứng gì, như thể lời nói của tôi chưa từng tồn tại.

Tôi ngồi xuống, cố gắng không nhìn trộm nữa, nhưng ánh mắt vẫn cứ bị hút về phía cô.

Cô nâng chén trà lên, không uống ngay mà khẽ nghiêng nhẹ, quan sát màu nước dưới ánh đèn.

Rồi cô đưa tay gạt nắp, để hơi trà thoát ra, hít một hơi thật chậm.

Động tác ấy không phải kiểu làm màu, mà là thói quen của người đã quen sống với trà.

Cô không dùng thìa gạt bã như người bình thường, mà xoay nhẹ chén để bã lắng xuống một bên, rồi mới nhấp môi.

Mỗi động tác đều vừa đủ, như thể cô đã làm điều này cả nghìn lần.

Tĩnh lặng đến mức tôi tưởng mình đang nhìn một bức tranh chuyển động.

Tôi nhìn sang ông nội, ông vẫn đang tự mình dùng trà, ánh mắt rơi vào món đồ trên bàn mà xem xét.

Tử Linh đặt chén trà đã cạn xuống rồi khẽ đứng dậy, động tác gọn gàng cúi người chào ông tôi.

Có vẻ cô định rời đi.

"Khoan đã, Linh."

Giọng ông vang lên, không lớn nhưng đủ để dừng bước chân cô lại.

Âm điệu dịu dàng, như thể đang gọi một đứa cháu gái thân thiết trong nhà.

Ông đẩy món đồ trên bàn về phía trước, để tôi cũng nhìn thấy rõ hơn.

Đó là một thanh đao cổ, màu đen tuyền như được rèn từ bóng tối.

Ánh đèn hắt lên lưỡi đao khiến nó ánh lên một sắc lạnh lẽo, như thể đang thở.

Chuôi đao đã từng được thay mới, tôi có thể nhận ra điều đó ngay từ cái nhìn đầu tiên, nhưng không hề làm giảm đi giá trị hay sự cổ xưa bí ẩn của lưỡi đao.

Ngược lại, chính sự chắp vá ấy lại khiến nó như mang theo một câu chuyện chưa kể, một vết tích của thời gian.

Tôi nhìn sang ông, ánh mắt ông không rời khỏi Tử Linh.

Còn cô thì vẫn im lặng, nhưng ánh mắt khi nhìn thanh đao ấy không phải của người xa lạ.

Như thể cô đang gặp lại một phần ký ức cũ, một người bạn tri kỷ đã lâu không gặp.

Tử Linh đưa tay chạm vào thanh đao.

Tay cô hơi run, rất nhẹ, như một phản xạ vô thức.

Cô rút tay lại, khẽ nhíu mày.

Tôi không rõ vì sao, nhưng khoảnh khắc ấy khiến tôi thấy có gì đó vừa lay động trong cô.

Ông tôi nhìn cô, ánh mắt như đã chờ khoảnh khắc này từ rất lâu.

Ông nói chậm rãi, giọng trầm xuống như đang kể lại một chuyện xưa cũ:

"Có những thứ không còn nhớ, nhưng vẫn sẽ quay về.

Đao này từng có chủ, mà chủ lại chẳng nhớ mình từng có nó."

Ông đặt tay cô lên chuôi đao, rồi nhìn thẳng vào Tử Linh:

"Nó tên là Linh Ảnh."

Ngay khi nghe cái tên ấy, Tử Linh khựng lại.

Một thoáng choáng váng lướt qua ánh mắt cô, như thể vừa nghe lại một tiếng gọi từ quá khứ.

Nhưng chỉ trong chớp mắt, cô lấy lại vẻ bình thản, lặng lẽ mang theo nó rời đi.

Tôi nhìn theo con đường lát đá cô đi ra, nơi ánh trăng phủ một lớp bạc lên mái ngói cổ.

Trong đầu tôi, hình ảnh cô gái ấy và thanh đao ấy cứ xoắn chặt lấy nhau như một câu hỏi chưa lời giải.
 
Quân Gia Bút Ký
Chương 2 Chợ đồ cổ Hạ Khê


Tôi như con mèo bám màn cửa, nhoẻn nụ cười chuẩn đứa cháu hiếu thảo đáng yêu với ông cụ đang cau có nhìn ngược lại.

Cả tuần nay, tôi luôn hiện diện trong tầm mắt ông, mồm miệng nịnh nọt, giọng ngọt như rót mật nhưng bên trong là cả âm mưu dò hỏi.

Tôi tiến lại gần bàn, khom lưng châm trà, cố ý để ánh mắt ông chạm mặt tôi rồi mỉm cười như vừa phát hiện bí mật gì đó.

Trong bụng thầm nghĩ: "Ông già rồi, làm sao đấu lại thằng cháu tinh quái này chứ?"

Ông chậm rãi nhấp ngụm trà, vẻ mặt vẫn khoan thai như thường lệ, nhưng ánh mắt đã bớt lơ đãng khi thấy tôi tiến lại gần.

Mỗi lần tôi khẽ hỏi một câu, ông lại hắng giọng cố giữ vẻ bình thản, song những nếp nhăn nơi khóe mắt hằn sâu hơn đã tố cáo rằng ông chẳng thích bị dồn vào thế phải trả lời chút nào.

Tôi buông tiếng cười khẽ, mắt nheo lại, nghiêng đầu như đang cân nhắc một ý tưởng táo bạo.

"Ông ơi, Tử Linh thân thiết với ông lắm nhỉ?

Hai người biết nhau bao lâu rồi ạ?

Ông ơi, nói gì đi chứ, sao ông cứ ngượng ngùng lấp liếm thế này.

Hay là... bà nội kế của con hả ông?"

Nếu còn thời trai trẻ khỏe mạnh, ông chắc đã đè đầu tôi xuống bắt tạ tội với bà nội rồi.

Nghĩ đến đó, tôi chỉ hận không tự vả miệng mình một cái cho tỉnh.

Ông trợn mắt nhìn tôi, miệng vặn thành nụ cười mệt mỏi, khoé môi run run như cố nuốt lời chửi vào trong.

Tay ông dừng lại trên quai tách trà, rồi đặt xuống bàn chậm rãi.

"Thằng này... nói bậy."

Tôi đổi giọng, hạ thấp thành tiếng thì thầm mềm mại như mật ngọt đang rót vào tai.

Khuôn mặt thả lỏng, ánh mắt tròn xoe cố tạo vẻ ngây ngô dễ thương - một vai diễn quen thuộc tôi đã tập dượt bao lần.

"Ông thật sự không muốn kể sao?

Nếu ông chịu nói, cháu sẽ nấu cơm, dọn dẹp, thậm chí xoa bóp cho ông cả tháng.

Đảm bảo chu đáo hơn cả dì Thanh giúp việc nữa, cháu hứa đấy!"

Nụ cười tôi nở ra, vừa nịnh nọt vừa pha chút tinh quái, ngón tay khẽ vén lọn tóc bên má theo thói quen cũ.

Nghĩ bụng, thằng cháu bất hiếu này hứa suông cũng nhiều lần rồi, ông mà tin mới lạ.

Ông lấy tay gõ nhẹ lên trán tôi, cái gõ bâng quơ nhưng đủ để tôi biết ông đang mỉm cười thầm trong lòng.

Mắt ông cong lên vui vẻ, thoáng dịu đi rồi lại trở về nét nghiêm thường ngày.

"Cơm thì cứ nấu đi.

Còn chuyện kia, chưa đến lúc."

Giọng ông bình thản, như khẽ khép một cánh cửa nhỏ giữa hai người.

Tôi chưa chịu dừng lại.

Thay vì gặng hỏi thẳng, tôi thả một câu vu vơ như trò chuyện thường: "Cô ấy đứng ở sân sau, đúng chỗ bà hay ngồi ấy.

Người lạ mà hợp khí nhà mình ghê ha ông?"

Giọng tôi nhẹ như gió thoảng, nửa đùa nửa thật.

Tôi nghiêng đầu tựa lưng vào ghế, dáng vẻ ngoan hiền như đang tán gẫu vu vơ.

Nhưng sau lớp vỏ dịu dàng ấy, ánh mắt tôi vẫn sắc bén, lặng lẽ soi mói từng phản ứng nhỏ nhất trên gương mặt ông.

Ông nhìn thẳng vào tôi, ánh mắt lặng lẽ mà sâu thẳm, như người đã hiểu rõ mọi chuyện nhưng chọn cách im lặng.

Lần này ông thở dài, vết chân chim nơi khóe mắt hằn thêm một lớp thời gian.

"Có những chuyện, càng chạm vào càng trôi xa."

Lời ông rơi xuống chậm rãi, như tảng đá lăn nhẹ xuống hồ nước sâu không thấy đáy.

Tôi khẽ nhếch môi, làm ra vẻ chịu thua như đã bỏ cuộc.

Nhưng trong lòng, từng đường nét, từng chớp mắt, từng nhịp run nhẹ nơi khóe môi ông đều được tôi ghi nhớ cẩn thận.

Mỗi dấu hiệu nhỏ ấy quý giá như mảnh ghép trong bức tranh bí mật tôi đang lắp ghép.

Ông càng cố giữ vẻ bình thản, tôi càng nhẹ nhàng phủ thêm lớp giả vờ vô hại: một tiếng cười khẽ, ánh nhìn bâng quơ, vài câu đùa nửa thật nửa chơi.

Từng chút một, tôi gỡ dần lớp vỏ ông dựng lên, kiên nhẫn như người bóc vỏ hành để lộ phần lõi giấu kín nhất.

Đêm ấy, tôi mơ thấy sân sau dưới trăng.

Trăng bạc loang lổ trên mái ngói cổ, gió im phăng phắc, chỉ có tiếng lá xào xạc thì thầm như lời cổ ngữ.

Ánh sáng mờ ảo rọi xuống bóng một người đứng im lìm giữa sân.

Tử Linh tay cầm Linh Ảnh, lưỡi đao đen tuyền nuốt lấy ánh trăng, để lại vệt bóng lạnh lẽo trải dài trên nền đất.

Cô không nói gì, chỉ ngước nhìn trời cao, dáng đứng nghiêm cứng nhưng mong manh yếu ớt, lay động như bóng ma trong gió.

Tôi bước tới gần hơn.

Cô vẫn bất động.

Khi chỉ cách vài bước, cô chậm rãi quay lại.

Ánh mắt ấy trong mơ xa lạ đến lạnh người như thể tôi đang đối diện một người không hề thuộc về thế gian này.

Thanh đao nằm im trong tay cô, lặng lẽ như câu trả lời cho một câu hỏi tôi chưa kịp đặt.

Tôi giật mình tỉnh dậy giữa sáng sớm.

Căn bếp ngập sương nhẹ buổi mai, ánh sáng dịu dàng chảy qua khung cửa, và ngồi ở bàn là cô - Tử Linh thật sự, không còn là bóng hình mơ hồ nữa.

Cô khoanh chân, mải mê gọt táo, tay chuyển động chậm rãi nhưng chính xác đến lạ, từng lát vỏ mỏng rơi xuống như mảnh chạm khắc tinh xảo.

Ánh sáng chiếu lên mái tóc rối của cô, làm nổi bật những đường nét thanh tú trên khuôn mặt tái nhợt.

Nhìn cô ấy dưới buổi sáng yên bình thế này, tôi bất giác thấy tim như đập nhanh hơn một nhịp.

Tôi đặt nhẹ chiếc nắp nồi xuống rồi giả vờ vô tình hỏi: "Cô làm nghề điêu khắc à?"

Cô không ngẩng lên ngay.

Một lúc sau, cô buông dao, ngước nhìn tôi bằng ánh mắt vừa lạ lẫm vừa bình thản: "Không.

Tôi không nhớ mình từng làm gì."

Câu trả lời gọn gàng, giọng phẳng như mặt gương không gợn sóng.

Ánh mắt ấy khiến tôi vừa lạnh sống lưng vừa muốn lại gần hơn, dù biết chắc sẽ bị cái nhìn lạnh lẽo ấy đẩy ra xa.

Không khí bếp sáng sớm bỗng vừa đời thường vừa đầy khoảng trống im lặng, nơi những lời chưa nói cứ dày lên, chờ ai đó lấp đầy.

Bữa sáng hôm đó thật ấm áp.

Mùi cháo thơm nhẹ, hơi nước bốc lên quanh bát, quyện với mùi hành phi và tiêu rang, tạo thành một lớp hương mỏng như tấm chăn phủ lên căn bếp.

Tiếng muỗng chạm vào sứ vang lên đều đều, như một nhịp sống cũ đang được lặp lại.

Ông nội ngồi ở đầu bàn, tay chậm rãi khuấy cháo, ánh mắt lơ đãng nhưng vẫn để ý từng động tác của tôi.

Tử Linh ngồi đối diện, không nói gì, chỉ cúi đầu ăn từng thìa nhỏ.

Ánh sáng buổi sớm tràn qua khung cửa, rọi lên mặt bàn một vệt vàng nhạt.

Trên bàn là lọ tiêu gỗ cũ, một đĩa rau thơm và vài món ăn kèm được xếp ngay ngắn.

Tất cả đều mang dáng dấp của một buổi sáng đã lặp đi lặp lại hàng chục năm trong nhà tôi.

Nhưng hôm nay có gì đó khác.

Không phải vì món ăn, mà vì sự hiện diện của cô.

Cô không phá vỡ nhịp sống ấy, chỉ giống như một người khách lặng lẽ ngồi vào bàn.

Cô tựa như một ký ức trở về, vừa thuộc về nơi này vừa không hoàn toàn thuộc về nó.

Tử Linh đặt thêm một trái táo gọt sạch vào đĩa, vuốt nhẹ mép dao như thói quen cũ.

Tôi bất giác bị hút hồn vào, một động tác đơn giản như gọt táo sao lại đẹp và thuần thục đến thế, như thể cô đã làm điều này hàng nghìn lần trong một cuộc đời khác.

Rồi cô khẽ nói với ông: "Tôi muốn đi tìm một thứ."

Ông không hỏi đó là gì, chỉ cúi đầu mím môi giây lát, rồi hỏi đơn giản: "Đi đâu?"

"Chợ đồ cổ Hạ Khê."

Chợ Hạ Khê - khu chợ đồ cổ lớn nhất vùng, mà dân trong giới gọi đùa là "mê cung cổ vật".

Nó trải rộng hàng chục con phố cũ kỹ, hàng vạn quầy hàng san sát từ sáng đến khuya, từ những cửa tiệm lớn mặt tiền bóng loáng trưng bình sứ men lam, tượng gỗ lim, tranh thư pháp cuốn trục, đến những gian hàng nhỏ lén lút trong ngõ hẻm ngoằn ngoèo sâu hun hút.

Bề ngoài nhộn nhịp khách du lịch chen chúc mua kỷ niệm dưới mái ngói cong cổ kính, đèn lồng đỏ treo lủng lẳng, tiếng cười nói rộn ràng.

Nhưng bước sâu vào phía sau là cả một thế giới ngầm khác: hàng quán bí mật chất đầy đồ đồng xanh rỉ thời Đông Sơn, ngọc jade khắc tinh xảo, hoành phi câu đối triều Nguyễn, sách cổ mốc meo, đồ trang sức vàng son.

Thật giả lẫn lộn không kể xiết, giá cả từ vài đồng đến cả gia tài, chỉ một phút chủ quan là mất trắng.

Tôi khẽ thở ra, cố giữ vẻ bình thường: "Mấy nơi đó lắm kẻ lừa đảo.

Cô tính đi một mình sao?"

Tử Linh quay sang tôi, ánh mắt cảnh giác dò xét một thoáng.

Tôi vội tìm cớ, giọng hào hứng hơn dự định: "Ngại phiền à?

Không đâu.

Nếu cô muốn, tôi đi cùng cho tiện.

Tôi quen khu đó, biết mấy chỗ đáng tin, nhìn đồ cũng khá."

Trong lòng tôi háo hức không thôi, đây là cơ hội để hiểu thêm về cô ấy đây mà.

Ông nội đặt muỗng xuống, nhìn hai đứa chúng tôi giây lát rồi quyết luôn: "Để thằng này đi cùng cũng được.

Nó hay mò mẫm ở mấy chợ đồ cũ, có mắt nhìn, ít bị lừa hơn."

Tử Linh im lặng một chút, rồi gật đầu nhẹ.

Trước khi ra cửa, cô quay lại hỏi ông, giọng khẽ nhưng chắc chắn: "Nếu tôi không tìm được, có nên dừng lại không?"

Ông nhìn cô, đôi mắt thoáng dịu dàng, rồi trả lời chậm rãi, câu nói khiến tôi linh cảm ông đang giấu điều gì đó khỏi tôi: "Cái gì cần tìm sẽ sớm hiện ra.

Cứ cẩn trọng."

Chúng tôi bước vào chợ đồ cổ Hạ Khê, nơi mà từ thời Pháp thuộc đã là "thiên đường đồ cổ" nổi tiếng khắp vùng.

Ngày ấy, người Pháp đổ xô về đây săn lùng từ đồ châu Âu cũ kỹ lẫn Á Đông quý hiếm, giống như ở Chợ Lớn Sài Gòn hay phố Lê Công Kiều, nơi thương nhân người Việt-Hoa mang về đủ thứ gốm sứ men lam Trung Quốc, đồng hồ Pháp cổ xỉn màu, tượng gỗ lim Việt khắc tinh xảo hay ngọc phỉ thúy chạm rồng phượng từ các chuyến tàu xa xôi.

Đến nay, chợ vẫn giữ nguyên cái hồn ấy, chỉ thêm phần du khách nhộn nhịp và những câu chuyện đồn đại về món hàng "bị ám" từ thời thuộc địa.

Đám người mời chào dày đặc như ruồi vo ve quanh đống mật.

Chợ đồ cổ nơi đây vốn là một thế giới riêng với bề ngoài nhộn nhịp hàng quán hợp pháp, nhưng bên trong là những ngõ hẻm tối tăm đầy giao dịch ngầm, đồ thật đồ giả lẫn lộn.

Họ vừa nhìn thấy hai thanh niên trẻ như chúng tôi, kiểu "cậu ấm cô chiêu chẳng có mắt nhìn đồ", là lập tức tụ họp lại, giọng lè nhè ngọt như mật pha đường phèn:

"Cô ơi, vào xem chút đi, đồ này chắc hợp với cô lắm, hàng xịn từ thời nhà Trần đấy!"

"Đồ tốt đây anh, em bớt cho cô em nhé, giá hữu nghị thôi!"

Nhìn đám dân buôn này, tôi chợt nhớ lời ông nội từng kể về hồi ông còn trẻ, mới chập chững bước chân vào giới chơi đồ cổ.

Ngày ấy ông vẫn còn là tay mơ, ham của rẻ nên bị một gã người Hoa láu cá ở Triều Thiên Cung lừa cho một trận nhớ đời.

Ông mua trọn bộ đồ cổ giả tinh vi, về nhà mới tá hỏa nhận ra.

Có quay lại mấy lần cũng không tìm ra cái gã chết dẫm ấy.

Mỗi lần có gã nào dúi một món vào tay Tử Linh, tôi lại đứng ra chắn, lắng nghe chi tiết rồi sắc bén bác bỏ, tuy không to tiếng nhưng đủ để họ giật mình.

"Đồng mạ điện hiện đại thôi, vết khắc giả lộ liễu quá, máy CNC cắt nét thế này thì làm sao cổ được."

"Vỏ sơn giả màu ruồi đấy, chứ không phải sơn ta cổ.

Không tin thì ngửi kỹ đi, mùi hóa chất còn nồng nặc kìa, chứ sơn cổ phải thoang thoảng mùi nhựa thông mới đúng."

"Cái bình này men rạn giả, vết nứt đều tăm tắp như in luôn."

Cách tôi nói làm vài gã giật mình lùi lại, vài tên đỏ mặt lắp bắp chữa cháy, số khác vội chuyển hướng nịnh nọt thêm, cố duy trì bộ mặt "đáng tin cậy" của dân buôn chợ đen.

Nghĩ lại vẫn thấy buồn cười, gã người Hoa lừa ông nội năm xưa sau này còn liều sang Việt Nam tiếp tục hành nghề, rồi bị cảnh sát chìm người Việt bắt quả tang, giao về nước cho hắn bóc lịch vì tội buôn bán hàng giả.

Ông nội đọc báo hôm ấy hả hê lắm, vừa vỗ đùa vừa bảo "nghiệp quật đấy, thằng khốn!".

Đám mời chào vẫn dày đặc, nhưng tôi và Tử Linh tiếp tục lách qua, mắt cô lướt nhanh qua từng quầy hàng như đang tìm kiếm điều gì đó đặc biệt.
 
Quân Gia Bút Ký
Chương 3 Bật lửa cổ


Một gã trung niên ăn mặc giản dị bước tới, nụ cười lộ rõ chiếc răng vàng lóe sáng mỗi lần há miệng ra.

Gã nhặt sợi dây đứt rơi từ cổ Tử Linh từ lúc nào không hay, móc vào lòng bàn tay rồi đưa lên ngửi ngửi.

Mùi gỗ ngọc am đặc trưng thoang thoảng lan ra, xộc vào mũi tôi.

Gã cười nửa miệng, chiếc răng vàng lại lấp lánh.

"Đồ tốt đấy," gã nói, giọng nhừa nhựa vừa nịnh nọt vừa dò xét.

Ánh mắt gã liếc nhanh qua cổ tay cô, dừng lại ở vết sờn trên móng tay, rồi lướt xuống những vết sẹo mờ dần trên bàn tay - dấu tích quen thuộc của người từng phá giải hàng tá cơ quan tinh vi, kiểu chỉ thấy trong tiểu thuyết.

Những vết tróc da trên mặt cô gợi lên hình ảnh ai đó thường bò chui qua khe hẹp, lẩn mình trong bóng tối.

Gã nhếch môi: "Người quen mấy chuyện mộ cổ thường có dấu này.

Cô chắc không phải tay mơ."

Tôi nổi khùng: "Trộm mộ là thất đức.

Đừng có bôi nhọ cô ấy nghe chưa?"

Giọng tôi gắt gỏng, mặt nóng bừng vì tức giận.

Gã răng vàng hạ giọng xoa dịu, giơ tay làm hòa: "Ừ ừ, tao chỉ đoán thôi mà.

Dân trong nghề hay có kiểu đó.

Mà thôi, vào tiệm tao đi, thương tình lần đầu gặp, tao bớt giá cho.

Để tao coi kỹ, biết đâu còn đổi được cho cô bé này mấy món tương tự đẹp hơn."

Nghe có vẻ tử tế, nhưng cái thớ buôn bán láu cá quen tay của gã vẫn lộ rõ mồn một.

Tử Linh không trả lời ngay.

Cô rút nhẹ mảnh gỗ ngọc am từ tay gã, cất kỹ vào túi áo.

"Nó giống một chiếc bật lửa kim loại," cô nói, giọng điềm tĩnh.

"Khắc vài chữ lạ.

Và nó thơm."

Cách nói đơn giản mà đặc biệt của cô khiến gã cau mày, nét mặt chuyển từ nịnh nọt sang tò mò thật sự.

Gã dẫn chúng tôi vào một góc chợ tối tăm, nơi tiệm nhỏ chất đầy hộp đồ lẫn lộn, bụi bám dày đặc.

Gã bày ra bàn đầy những chiếc bật lửa kim loại cổ, mỗi chiếc khắc hoa văn khác nhau, ánh kim loại xỉn màu lấp lánh dưới ánh đèn mờ.

Tử Linh chạm vào từng cái một, chậm rãi.

Mỗi lần như thế, cô nhắm mắt giây lát, rồi gật đầu hoặc lắc đầu nhẹ.

Cô phân loại bằng cách lạ lùng: chạm nhẹ vào thân kim loại, đưa lên ngửi, rồi lắc khẽ lắng nghe tiếng vang bên trong.

Cái nào kêu độn hoặc không đúng ý, cô lặng lẽ gạt sang một bên.

Tôi đứng nhìn, mắt mở to không chớp.

Mỗi lần cô dừng lại nhắm mắt, tôi cảm giác đó không chỉ là nghề như gã nói, mà như một đứa trẻ đang tìm lại món đồ chơi cũ trong hộp ký ức bị lãng quên từ lâu.

Gã chủ tiệm răng vàng ghé sát thì thầm với tôi: "Mấy món này từ mấy chỗ nhạy cảm cả, người thu thập hay gặp chuyện lạ lắm.

Muốn giảm giá thì không thành vấn đề, nhưng mấy cô cậu cân nhắc kỹ đi."

Tôi chỉ đáp bằng nụ cười mỉm, cố kìm sự tò mò đang trào dâng, không muốn quấy nhiễu sự tập trung của cô.

Tử Linh xếp những món tương tự lại thành đống nhỏ, không nói lời nào, chỉ săm soi chúng như người đang dò tìm một tấm bản đồ cổ xưa.

Cách cô phân loại, những dấu khắc triện văn tinh xảo, mùi gỗ ngọc am thoang thoảng, cùng ánh mắt lăm le của gã răng vàng.

Tất cả đã phần nào rọi sáng lên thân phận mờ mịt của cô.

"Ở đây không có," Tử Linh khẳng định.

Gã răng vàng liếc cô một cái nhanh như tính toán, rồi ra dấu cho chúng tôi đi theo.

Gã khẽ vén tấm rèm vải cũ kỹ mốc meo, dẫn vào gian kho chật hẹp tối om.

Không gian bên trong đậm mùi cũ kỹ, mùi keo dán, mùi gỗ mục và lớp bụi mịn phủ dày như sương mù.

Gã lôi ra một chiếc hộp vuông, tám mặt dán kín giấy đỏ vẽ đầy ký tự ma quái quỷ dị.

Nhìn cái hộp ấy làm tôi bất giác lạnh sống lưng.

Chợ Hạ Khê này đầy lời đồn về "đồ cổ bị ám" từ thời Pháp thuộc, có một câu chuyện khiến tôi đến giờ vẫn ám ảnh thế này.

Ngày xưa, có một ông thương nhân giàu có mua được một chiếc đỉnh đồng cổ đẹp lung linh.

Thứ đặc biệt là trong đỉnh có một loại bột hương thơm kỳ lạ, không cần đốt mà vẫn tỏa mùi ngát lạ thường, quyến rũ đến mê hoặc.

Ông ta mang về đặt ngay trong phòng ngủ, nghĩ rằng đó là bảo vật an thần, giúp vợ chồng ngủ ngon và bổ khí huyết.

Vợ ông thương nhân khi ấy vừa sinh con.

Ban đêm, hai vợ chồng cứ nghe tiếng trẻ con khóc thút thít vang lên từ đỉnh đồng.

Lúc chạy sang phòng vú em xem thì đứa nhỏ vẫn ngủ say sưa.

Cứ nhiều lần như vậy, nhà cửa bắt đầu lục đục: đồ đạc tự rơi vỡ, gia nhân bỏ việc, con cái ốm đau liên miên.

Hoảng quá, họ mời thầy phong thủy đến xem.

Cũng may, lúc ấy nhà có nhận một cặp thầy trò bốc mộ ở nhờ, họ đang làm việc dời mộ tổ cho ông thương nhân.

Người thầy biết chút phong thủy, thấy chủ nhà gặp chuyện cũng không nề hà gánh thêm việc.

Vừa bước vào phòng ngủ, thầy đã chú ý ngay đến chiếc đỉnh đồng.

Thầy mở nắp, ngửi qua một chút rồi lập tức biến sắc.

Người thương nhân thấy thế liền rối rít hỏi nguyên do.

"Thứ này là Cốt Tửu Tán!"

Thầy bốc mộ nói.

Đó là một loại bột man rợ làm từ thai nhi ngâm rượu thuốc.

Có những kẻ tin rằng thai nhi là "thần dược", nên chúng lấy chính các thai nhi đã thành hình để làm thuốc bổ.

Cốt Tửu Tán chia làm hai loại chính, một là loại thai bị sảy ra ngoài, loại ác độc hơn thì mổ sống sản phụ, lấy bào thai còn thoi thóp ngâm vào hũ rượu thuốc đặc chế.

Sau nhiều ngày, thai nhi kết đặc lại, đập hũ lấy ra nghiền nát thành bột mịn, đổ vào lư hương xông phòng.

Loại bột ấy càng để lâu càng thơm ngát, được những kẻ mê muội đến tàn ác coi là trân bảo bổ khí huyết, làm tăng tuổi thọ.

Nhưng đó là tội ác trời không dung đất không tha.

Pháp luật thời nay đã nghiêm cấm, trải qua nhiều đợt càn quét thị trường để tiêu hủy hết, không hiểu sao tới tận lúc đó vẫn còn sót lại một chiếc đỉnh đồng chứa Cốt Tửu Tán này.

Hai vợ chồng thương nhân nghe xong suýt ngất.

Ông ta chạy đi chất vấn chỗ bán, nhưng gã chủ kia cũng chẳng biết gì.

Nó lẫn trong lô hàng nhập từ nước ngoài, gã cũng tưởng nó hương an thần bình thường.

Sau này chiếc đỉnh đồng đó được xử lý thế nào thì chẳng ai biết cả.

Tôi cho rằng, một thứ như vậy chắc chắn đã không còn tồn tại trên đời.

Tôi rùng mình nhớ lại câu chuyện ấy, nhìn chiếc hộp trước mặt mà tim đập thình thịch.

Liệu thứ bên trong có phải cũng là một món đồ như thế?

Khi Tử Linh chạm tay vào nắp, chiếc hộp đột ngột rung lắc điên cuồng, tiếng động khô khốc vang lên như có thứ gì sống dậy bên trong khiến tôi giật bắn mình.

Cô lập tức phản ứng, thì thầm một câu lạ lùng như đọc chú cổ xưa, giọng nhỏ đến mức chỉ lọt vào tai những người đứng gần.

Gã răng vàng bỗng biến sắc, mặt tái mét, lùi lại một bước như gặp ma.

Không chần chừ, cô cắn mạnh đầu ngón tay.

Máu đỏ tươi bật ra, cô kéo ngón ấy qua nắp hộp, vẽ một vệt ngang dài như dấu ấn máu.

Chiếc hộp lập tức im bặt, ngừng rung như bị chính máu cô trấn áp hoàn toàn.

Tử Linh xé từng lá bùa một, bóc mép giấy đỏ phong kín lâu ngày với động tác thận trọng nhưng dứt khoát.

Khi tấm bùa cuối cùng rơi xuống thành những mẩu vụn tơi tả dưới đất, cô khẽ khàng dùng hai ngón tay nhấc nắp lên.

Nắp hộp bật mở với âm thanh nhỏ xíu, nghe như tiếng thở dài bị kìm nén quá lâu đột ngột thoát ra.

Một làn khí lạnh mỏng tỏa ra như từ đáy mộ sâu thẳm, thấm vào da thịt khiến tôi bất giác rùng mình.

Mùi lá trà ướp cổ lẫn mùi đồng cũ xộc lên nồng nặc, át đi bụi bặm kho hàng, mang theo cảm giác chết chóc khó tả.

Gã răng vàng lùi lại một bước, tay siết chặt trong vô thức, khớp ngón run lẩy bẩy lộ rõ sự kinh hãi.

Gã cúi gằm mặt, như sợ thứ trong hộp đang nhìn lại mình.

Bên trong quả nhiên là một chiếc bật lửa nhỏ xíu, chỉ lớn bằng hai ngón tay, viền bạc đã xỉn màu theo năm tháng.

Tử Linh cầm nó lên, lắc nhẹ như những lần kiểm tra trước.

Cô vặn cần, bật vài lần, bánh xe kêu khô khốc, tia lửa lóe lên chớp nhoáng nhưng không bén thành lửa.

Tôi nghĩ nhiên liệu đã cạn từ lâu, cái thứ người xưa thường đổ vào bật lửa kiểu này: dầu hỏa pha loãng, xăng thơm hay naphtha.

Mùi nồng ấy thoảng qua trong đầu tôi như ký ức về căn bếp già cỗi ngày xưa, nơi ông nội từng ngồi hút thuốc lào bên lò than đỏ.

"Đây chính là thứ tôi cần," cô nói bằng giọng chắc chắn.

"Ra giá thế nào?"

Tôi quay sang gã răng vàng định hỏi giá, nhưng chỉ thấy gã đã núp dưới gầm bàn từ bao giờ, chỉ ló ra chiếc răng vàng và cái mũ sờn, đôi mắt trợn tròn đầy hoảng loạn.

Thấy chúng tôi nhìn, gã vội chắp tay van xin:

"Hai vị cao thủ, lão già này có mắt như mù!

Hai người mang cái thứ ấy đi, mang đi đi!

Tiền bạc gì cũng không cần, quên hết đi...

Xin hai vị tha cho!"

Giọng gã run rẩy nửa van nài nửa khiếp hãi, ánh mắt vẫn dán chặt vào chiếc bật lửa như thể nó là con quái vật sống dậy, sẵn sàng lao vào xé xác gã nếu rời khỏi tay cô.

Tử Linh không đáp lời.

Cô nhét chiếc bật lửa vào túi áo, cử chỉ nhẹ nhàng như cất một viên ngọc quý vào hộp báu.

Rồi cô quay người, từ tốn bước ra khỏi tiệm, để lại gã răng vàng vẫn lảm nhảm van xin, co rúm dưới gầm bàn như gặp ma.

Vừa ra khỏi cửa hàng, Tử Linh đột ngột đứng sững, cơ thể căng cứng như dây đàn, mắt liếc nhanh khắp xung quanh đầy cảnh giác.

Tôi tò mò tiến lại gần, vừa mở miệng thì cô đã kéo tôi sát vào người khiến mặt tôi bất giác nóng ran, cô thì thầm gấp gáp: "Có người đang theo dõi chúng ta."

Tôi quay phắt đầu nhìn quanh biển người nhộn nhịp, nhưng giữa tiếng rao hàng ồn ào và quầy hàng chất chồng, mọi thứ hỗn loạn đến mức không thể phân biệt ai với ai.

Ai cơ?"

Tôi hỏi lại, giọng đầy nghi hoặc.

Cô không trả lời, chỉ ngoảnh phắt về phía sau một thoáng rồi đẩy mạnh tôi vào con hẻm tối gần nhất.

Còn một mình, cô lao thẳng vào đám đông như con thú đang thoát khỏi bầy chó săn.

Trong hẻm, không khí ngột ngạt như bị bóp nghẹt, ánh sáng lọt qua khe mái tôn tạo thành những vệt bạc loang lổ trên bức tường phủ đầy rêu phong.

Tôi đứng lặng, cố hít thở đều lại, tim đập thình thịch khi thoáng thấy mấy bóng người vụt qua đầu hẻm, chỉ kịp nhận ra áo mũ và những bước chân gấp gáp đuổi theo nhau.

"Chạy ngược lại!"

Tiếng cô vang lên giữa hỗn loạn.

Tôi chấn động, nửa muốn lao theo nhưng chẳng biết đường nào mà lần.

Con hẻm giữa hai tòa nhà hẹp đến mức phải hóp bụng, nhón chân đi ngang như con cua mới lọt.

Tay tôi bấu chặt vào tường gạch thô ráp, móng tay ghì sâu đến trắng bệch, mồ hôi túa ra dù không khí lạnh buốt.

Cuối cùng cũng chui ra được, tôi bất ngờ đâm sầm vào ai đó.

Định mở miệng xin lỗi thì chợt nhận ra khuôn mặt quen thuộc.

Gã răng vàng nhìn tôi bằng ánh mắt lấm lét, mặt dính đầy vụn bùa đỏ, miệng lắp bắp: "Mang nó đi đi...

Đi đi..."

Tôi cúi xuống nhìn tay mình, không biết từ lúc nào, chiếc bật lửa đã nằm gọn trong lòng bàn tay, lớp hoa văn lạnh ngắt ánh lên sắc bạc mờ ảo dưới ánh nắng chiều lọt qua khe ngõ.
 
Quân Gia Bút Ký
Chương 4 Cuộn da bí tự


Đã vài ngày trôi qua kể từ hôm ở chợ đồ cổ, nhưng tôi vẫn chưa thể trở lại nhịp sống thường ngày.

Cửa hàng mở đúng giờ nhờ A Cát lo liệu, bảng hiệu vẫn treo, và chẳng có bóng khách nào ghé qua như mọi ngày.

Tôi ngồi sau quầy, dưới ánh sáng vàng vọt từ bóng đèn cũ hắt xuống mặt bàn gỗ mộc mạc, tay cầm chiếc bật lửa, ngón cái vô thức lướt qua lớp hoa văn bạc đã xỉn màu theo năm tháng.

Chiếc bật lửa không hề thay đổi, nhưng tôi thì khác.

Tôi không chắc mình đang chờ đợi điều gì, một tín hiệu, một lời giải thích, hay chỉ đơn giản là một lần nữa được thấy Tử Linh.

Ly mì tôi pha từ sáng vẫn nằm nguyên đó, ban đầu còn bốc hơi nghi ngút, giờ đã nguội ngắt, sợi mì nở phồng trương lên như những cánh hoa úa tàn trong chậu nước cũ.

Tôi nhìn nó mà chẳng thấy đói, chỉ thấy thời gian trôi qua chậm chạp rì rì, nặng trịch như bánh răng đồng hồ cũ kỹ bị bụi thời gian bám đầy.

Trên sổ ghi chép cửa hàng, giữa những dòng chữ nguệch ngoạc về giá nhập và số lượng hàng tồn, tôi bất giác nhận ra mình đã vẽ một khuôn mặt từ bao giờ.

Đôi mắt hơi xếch, sống mũi thanh tú, mái tóc buộc hờ rối nhẹ.

Là Tử Linh.

Tôi không giỏi vẽ, nét bút run run vụng về, nhưng lại nắm bắt đúng thần thái bí ẩn lạnh lùng của cô, cái ánh mắt sâu thẳm khiến tim tôi bất giác đập nhanh hơn khi nhìn lại những đường nét ấy.

Tôi lật sang trang mới, rồi lại vẽ tiếp, như thể tay tôi nhớ cô nhiều hơn trí óc, nhớ đến mức không thể dừng bút.

Tôi ngồi đó, thất thần giữa cửa hàng vắng ngắt không một bóng khách, ly mì nguội ngắt chưa động đũa, cuốn sổ giờ chỉ toàn những nét vẽ vụng về về cô.

Chiếc bật lửa nằm trong tay, tôi cứ bật tắt liên hồi, những tia lửa lấp lánh tung tóe rồi vụt tắt như những mảnh ký ức về cô, luôn vụt mất trước khi kịp nhóm lên một ngọn lửa thực sự.

A Cát bỗng ló đầu vào, vẻ mặt nghiêm túc hơn thường lệ nói: "Có người muốn gặp ông chủ."

Tôi giật mình, vội gấp cuốn sổ giấu vào túi áo.

Nét vẽ Tử Linh vẫn in mờ trên giấy, lưu luyến trong tâm trí tôi đến mức tôi suýt không nỡ buông, nhưng giờ không phải lúc.

Tôi đứng dậy, bước ra phía trước tiệm.

Phúc An Trụ - cái tên nghe như một lời cầu nguyện giản dị.

"Phúc" là may mắn, vận lành mà ai cũng mong cầu trong đời.

"An" là bình yên, không phải tĩnh lặng tuyệt đối, mà là cảm giác được che chở giữa những biến động cuộc sống.

Còn "Trụ" là cây cột chống đỡ, điểm tựa vững chãi giữa những thứ đã cũ kỹ mòn mỏi nhưng vẫn chưa sụp đổ.

Tuy là cửa hàng nhỏ nhất nhà, nhưng đây vốn là sản nghiệp đầu tiên của ông cố tổ nhà họ Quân chúng tôi.

Nhờ nó mà cơ nghiệp mới lớn mạnh qua các đời con cháu.

Thế mà đến tay tôi thì lại thảm hại đến thế này.

Đôi khi chỉ đứng thắp hương trước bàn thờ tổ thôi, tôi cũng có cảm giác như ai đó đang gõ đầu mình, kiểu: "Mày làm ăn kiểu gì đấy hả con?".

Tiệm đồ cổ này có giấy tờ hợp pháp đàng hoàng, đóng thuế đầy đủ, khác hẳn với những giao dịch ngầm ngoài chợ đen.

May mà thế, chứ không thì cảnh sát ghé thăm thường xuyên hơn khách mất.

Đến lúc ấy chắc tiệm tôi đông vui hẳn, nhưng toàn "khách vip" mặc đồng phục thôi.

Vì vậy, đồ ở đây chủ yếu là món khách mua về làm kỷ niệm hoặc trang trí, hoặc những thứ ít sinh lời như đồ gia truyền linh tinh, kiểu mà tôi hay để phủ bụi trên kệ cả năm, chờ ngày nào đó "có duyên" mới chịu bán.

Nghề buôn đồ cổ vốn kỳ lạ lắm.

Người ta hay nói đùa: bán một món mà đủ ăn ba năm, có khi mở cửa một ngày rồi đóng cửa ba năm sau cũng chẳng sao.

Thời gian ở đây không chạy theo nhịp đồng hồ, mà trôi theo từng món đồ cũ kỹ.

Phải chờ đúng người, đúng lúc mới chịu "lên tiếng".

Tôi đã quen với sự chờ đợi ấy đến mức đôi khi tự hỏi mình có đang sống như một món đồ cổ trong chính tiệm nhà mình hay không.

Phủ bụi, lười biếng và chỉ tỉnh dậy khi có khách hoặc... khi ông nội gọi điện mắng.

Tôi bước ra quầy, ánh nắng ngoài trời hắt qua tấm kính mờ đục, chiếu lên những chiếc bình men rạn trên kệ, tượng gỗ đứng lặng, và chiếc đồng hồ quả lắc đã ngừng chạy từ bao giờ.

Người khách đứng đó, quay lưng lại, dáng người thấp bé, khoác áo gió màu xám tro phai nhạt.

Tôi hít một hơi sâu, tay đặt lên chiếc bật lửa trong túi để chắc chắn hơn nó vẫn còn ở đó, rồi tiến tới chào vị khách ấy một tiếng.

Người khách ấy quay lại nhìn tôi.

Anh ta trạc ngoài ba mươi, dáng người gầy nhưng không yếu, cơ thể như dây đàn thép bị kéo căng quá lâu.

Ánh mắt mệt mỏi thâm quầng như vừa trải qua một cuộc giằng co dài hơi với chính cuộc đời - kiểu người ta hay gọi là "vật lộn với số phận" mà vẫn chưa chịu thua.

"Anh cứ gọi tôi là Đăng," anh ta nói, giọng khàn khàn nghe khô khốc, rồi đặt lên mặt quầy một túi vải cũ kỹ, chậm rãi mở ra cuộn giấy da ngả màu vàng sậm, mép sờn cháy xém như vừa thoát khỏi một trận lửa.

Tôi cúi xuống nhìn kỹ hơn.

Những cuộn giấy da ấy rõ ràng thuộc về một bộ ghi chép cổ xưa nào đó, bề mặt vàng sậm như da động vật đã qua hàng thế kỷ, mỏng manh nhưng dai dẳng lạ thường.

Mép giấy sờn rách lởm chởm, vài chỗ cháy xém đen kịt như từng bị lửa liếm qua trong một trận hỏa hoạn xa xưa, vài chỗ khác loang lổ vết nước ngấm sâu, khiến thớ da co lại thành những nếp nhăn kỳ quái.

Trên bề mặt, những hoa văn uốn lượn được vẽ bằng mực đen đã nhòe mờ theo thời gian, nét bút sắc bén nhưng rối ren, không phải họa tiết trang trí thông thường mà giống như một thứ ngôn ngữ cổ xưa bị bóp méo với đường nét xoáy tròn, chấm nối chấm, gợi cảm giác lạnh lẽo như những con mắt đang nhìn lại từ quá khứ xa xăm.

Nội dung thì tôi đọc không hiểu nổi.

Đó là một loại cổ ngữ lạ lẫm, ký tự uốn éo như rễ cây ngoằn ngoèo dưới đất sâu, chưa từng thấy qua trong bất kỳ sách vở hay di vật nào tôi từng tiếp xúc.

"Thật sự không còn cách nào khác," anh Đăng nói, ánh mắt dò xét cảm xúc trên mặt tôi như muốn đo lường xem tôi có dễ bị thuyết phục không.

"Nhà tôi đang gặp chút khó khăn, nên mới bất đắc dĩ đem mấy món đồ của ông cố truyền cho ông nội mới mất đi bán."

Tôi không nói gì, chỉ liếc anh ta một cái.

Cái lý do "bất đắc dĩ" ấy nghe quen tai quá, kiểu lời biện minh mà người ta hay dùng để hợp lý hóa việc cắt đứt với quá khứ, như thể bán đi không chỉ là đồ vật mà còn là một phần ký ức.

Tôi không trách anh ta, ai mà chẳng có lúc cùng đường, nhưng cũng chẳng tin hoàn toàn.

Trong giới đồ cổ này, câu chuyện "đồ quý gia truyền" thường là màn mở đầu cho một cuộc mặc cả dài hơi.

"Đem đi mấy chỗ rồi," anh ta tiếp lời, giọng hơi run run như cố giấu nỗi thất vọng.

"Không ai nhận cả.

Chủ tiệm khác còn bảo là rác rưởi, vứt quách đi cho rồi.

Nhưng ông nội tôi lúc còn sống cứ luôn miệng khăng khăng đây là vật báu gia truyền."

Tôi lật một cuộn giấy da lên, để ánh sáng vàng vọt từ bóng đèn cũ hắt xuống mặt giấy.

Những đường nét mờ mịt lập tức hiện ra rõ hơn, như được đánh thức từ giấc ngủ dài.

Tay tôi vô thức chạm vào một đoạn hoa văn.

Những nét vẽ ấy mang một sức hút kỳ quái, lạnh lẽo đến thấu xương.

Chúng như những con mắt đang chậm rãi mở ra từ mặt giấy, nhìn thẳng vào tôi, khiến sống lưng tôi bất giác lạnh buốt dù không khí trong tiệm vẫn ấm áp như thường.

"Nó quả là vật báu," tôi nói, giọng không lớn nhưng đủ để anh ta nghe rõ.

Anh Đăng ngẩng lên nhìn tôi, ánh mắt thoáng ngạc nhiên xen lẫn hy vọng, rồi lại cúi xuống chờ tôi nói thêm.

Tôi không vội trả lời ngay, mà cúi xuống quan sát kỹ hơn.

Buôn đồ cổ dạy tôi một điều cơ bản này: đừng bao giờ tin vào vẻ ngoài.

Tôi lấy kính lúp nhỏ từ ngăn kéo quầy - món đồ ông nội bắt buộc phải mang theo từ thuở mới tiếp quản tiệm - rồi soi từng cuộn giấy da dưới ánh đèn vàng ấm.

Lớp da khô ráp dưới đầu ngón tay, không bóng loáng như giấy giả hiện đại, mà có độ xù nhẹ tự nhiên của da động vật già nua.

Mép giấy sờn đều, không sắc nét như cắt máy, vài chỗ cháy xém đen sì như từng bị lửa liếm qua.

Là dấu vết thời gian thật sự, chứ không phải làm giả bằng axit.

Tôi khẽ ngửi, mùi cũ kỹ thoang thoảng, lẫn chút da thuộc và mực cổ, không có mùi hóa chất mới tinh nào xen vào.

Soi ngược ánh sáng, tôi thấy mực thấm đều vào thớ da, phai mờ theo năm tháng chứ không nổi bật như in ấn.

Và rồi, tim tôi khựng lại.

Những hoa văn uốn lượn ấy... giống hệt như trên chiếc bật lửa trong túi tôi.

Không phải trùng hợp ngẫu nhiên, mà là cùng một kiểu ký tự lạ lùng, như được vẽ bởi cùng một bàn tay từ thời xa xưa.

A Cát đứng bên cạnh, mắt tròn xoe nhìn tôi làm việc, chắc cậu ta hiếm khi thấy ông chủ lười biếng nhà mình chịu khó đến thế.

Tôi đặt kính lúp xuống, mỉm cười với anh Đăng: "Đồ thú vị đấy.

Ta nói giá nhé?"

Tôi và anh Đăng thương lượng giá cả rất nhanh, không vòng vo, chẳng cò kè.

Tôi đưa ra con số vừa đủ để anh ta không nghi ngờ, nhưng cũng đủ cao khiến A Cát đứng bên trợn tròn mắt, như thể vừa chứng kiến ông chủ bán linh hồn cho quỷ dữ.

Anh Đăng thì khỏi phải nói, cười tít mắt đến miệng không khép nổi, còn vỗ vai tôi đánh bốp một cái như thể tôi vừa cứu vớt cả cuộc đời anh.

Chỉ hơn nửa giờ sau, bộ giấy da đã thuộc về tôi.

Anh cầm tiền, ngẩng cao đầu bước ra khỏi tiệm, dáng đi nhẹ nhàng như gió thoảng, không buồn ngoái lại.

Tôi còn nghe tiếng huýt sáo khoan khoái của anh vọng từ đầu ngõ, vui vẻ đến mức khiến tôi cũng bất giác mỉm cười theo.

A Cát lúc này mới chạy lại, mặt vẫn chưa hết ngơ ngác: "Ông chủ, cái này thật sự có giá trị vậy sao?"

Tôi không trả lời ngay.

Tay tôi chậm rãi vuốt phẳng cuộn giấy da, ánh mắt dán chặt vào những ký tự mờ nhòe dưới ánh đèn vàng.

Những nét vẽ ấy không giống bất kỳ loại chữ nào tôi từng gặp, không phải Nôm, không phải Hán hay Phạn, cũng chẳng phải ký hiệu quen thuộc của các bộ tộc cổ.

Chúng uốn lượn đan xen kỳ quái, như những sợi tơ nhện giăng mắc trong gió, mang một nhịp điệu lạ lùng.

Tựa hồ một bài hát cổ xưa bị cất giấu kỹ lưỡng trong hình hài ngôn ngữ đã chết từ lâu.

"Ừ," tôi đáp, giọng khó giấu nổi niềm vui, "anh ta đúng là không hiểu được giá trị của nó."

A Cát ngồi xuống bên cạnh, ánh mắt vẫn đầy nghi hoặc.

Tôi không trách cậu ta, người thường nhìn vào chỉ thấy đó là cuộn giấy cũ kỹ sờn mép mốc meo, chẳng khác gì rác rưởi.

Nhưng tôi thì khác.

Tôi đã thấy hoa văn trên chiếc bật lửa lạnh lẽo ấy, đã ở bên Tử Linh, cô gái bí ẩn hơn bất cứ ai tôi từng gặp trên đời, đã chạm vào những đường nét giống hệt nhau giữa hai vật tưởng chừng chẳng liên quan gì.

Và giờ đây, tôi đang cầm trong tay một mảnh ghép quan trọng, như thể số phận vừa thì thầm vào tai rằng mọi thứ đang bắt đầu kết nối.
 
Quân Gia Bút Ký
Chương 5 Hành trình Tà Lĩnh


Tôi tìm đến một căn nhà nhỏ nằm cuối con hẻm rợp bóng cây cổ thụ, nơi thầy Hồ sống lặng lẽ sau khi nghỉ hưu.

Căn nhà không lớn, chỉ đủ chỗ cho những kệ gỗ cao ngất đầy sách vở cũ kỹ, bản đồ địa hình cuộn tròn phủ bụi thời gian, vài món đồ cổ nằm im lìm trên giá như đang chờ ai đó chạm vào để kể lại câu chuyện xưa cũ của mình.

Mùi giấy mục lẫn gỗ lim thoang thoảng quyện với hương trà tàu quen thuộc, khiến không khí nơi đây vừa ấm áp vừa mang chút u hoài của những năm tháng đã qua.

Thầy Hồ năm nay đã ngoài bảy mươi, mái tóc bạc gần hết, khuôn mặt hằn sâu những nếp nhăn như vết khắc của thời gian và vô số chuyến đi xa vào rừng sâu núi thẳm.

Ông từng là giáo sư khảo cổ học danh tiếng, người đã dìu dắt cả cha lẫn mẹ tôi thời họ còn là sinh viên đại học.

Cả hai học chung trường, cùng ngành, và cùng một thầy - một sự trùng hợp mà tôi luôn cảm thấy như định mệnh đã sắp đặt từ lâu, như thể số phận muốn tôi hôm nay ngồi đây, ngay trước mặt ông, để lắng nghe những bí mật mà họ chưa từng kể ra.

Khi tôi nhắc đến cha mẹ mình, ánh mắt thầy Hồ thoáng chùng xuống, như một vết nứt cũ vừa hé mở trong lớp thời gian dày đặc.

Ông khẽ cười, giọng ấm áp nhưng mang chút u hoài: "Cứ gọi ông là ông Hồ cho thân mật đi cháu, giờ ông chỉ là một ông già về hưu, ở nhà đọc sách vở linh tinh với nghiên cứu mấy món đồ cũ kỹ thôi."

Nhưng tôi vẫn giữ thói quen tôn trọng mà gọi ông là "thầy", như những lần tôi tưởng tượng và hình dung cha mẹ thời sinh viên, ríu rít quây quanh ông trong giảng đường, ánh mắt sáng ngời vì những câu chuyện khảo cổ đầy mê hoặc.

Cái cách gọi ấy với tôi không chỉ là kính trọng, mà còn như một sợi dây mỏng manh kết nối tôi với những năm tháng họ từng sống, những con người vẫn cứ mãi trẻ trung như ngày nào.

Chúng tôi kể lại chuyện cũ về đội khảo cổ năm xưa mà cha mẹ tôi tổ chức dẫn đầu.

Hai mươi năm trước, nhóm của cha mẹ tôi, một đội khảo cổ trẻ đầy nhiệt huyết, đã phát hiện ra vài di tích cổ ở vùng ven núi phía Bắc.

Những dấu tích ấy chưa từng thấy trong bất kỳ sách vở hay tài liệu nào, như thể thuộc về một nền văn minh đã bị lãng quên từ hàng nghìn năm.

Nếu công bố đầy đủ, chúng có thể làm chấn động cả giới khảo cổ, có lẽ làm thay đổi hoàn toàn hiểu biết về lịch sử cổ đại Việt Nam, thậm chí liên kết với những truyền thuyết mà dân địa phương nơi đó vẫn thì thầm kể lại.

Nhưng cả nhóm không dừng lại ở đó.

Cha mẹ tôi cùng vài đồng đội thân cận quyết định đi sâu hơn vào vùng núi tuyết hoang vu - nơi mà dân bản xứ gọi là Tà Lĩnh.

Họ mang niềm tin rằng phía sau lớp tuyết dày là một di tích lớn lao hơn, có thể là thành trì hoặc cung điện bị chôn vùi của một triều đại thất lạc.

Từ đó về sau, không một ai quay trở lại.

Không tin báo, không có dấu vết nào được phát hiện.

Các đội cứu hộ sau đó chỉ tìm thấy vài dấu chân bị tuyết lấp kín, rồi biến mất như bị chính ngọn núi nuốt chửng.

Cảnh sát, quân đội, thậm chí các nhóm quốc tế cũng bó tay.

Chỉ còn lại những câu hỏi không lời giải đáp tới tận giờ đây.

Đã hai mươi năm trôi qua.

Tôi lớn lên trong sự im lặng của ông nội, trong những giấc mơ tuyết ám ảnh từ thuở nhỏ.

Những giấc mơ ấy như lời thì thầm từ cha mẹ, hoặc từ chính ngọn núi kia, vẫn chờ đợi ai đó tìm đến một lần nữa.

Thầy Hồ nhìn tôi như thể ông đang xuyên qua tôi để tìm thấy bóng dáng ai đó từ quá khứ xa xôi.

"Cháu có khuôn mặt giống cha cháu, cái nét ranh mãnh bất cần ấy."

Tôi bật cười khẽ trong lòng, nếu thầy đã nói vậy thì câu tiếp theo chắc chắn sẽ là: "Nhưng đôi mắt thì lại giống mẹ cháu, đó là một đôi mắt biết cười."

Quả nhiên, ông khẽ mỉm cười, giọng ấm áp xen chút u hoài thốt lên câu ấy.

Tôi im lặng, cảm giác như có gì đó nghẹn lại nơi cổ họng.

Lời thầy không chỉ là khen ngợi, mà như một cánh cửa hé mở về những năm tháng tôi chưa từng được chứng kiến.

Cha mẹ trẻ trung, nhiệt huyết, quây quần bên thầy trong những chuyến khảo cổ đầy mơ mộng.

Và giờ đây, chính tôi đang ngồi đây, mang theo khuôn mặt ấy, đôi mắt ấy, để nghe tiếp câu chuyện mà họ chưa kịp kể xong.

Ông chỉnh lại gọng kính trên sống mũi, động tác chậm rãi như cố kéo dài thời gian trước khi đối diện với điều sắp tới.

Rồi ông cẩn thận mở cuộn giấy da tôi mang đến, ngón tay run nhẹ, tỉ mỉ chạm vào như một người thợ lành nghề đang nâng niu di vật từ quá khứ sâu thẳm.

Ánh mắt ông dừng lại trên những ký tự lạ lùng, những hoa văn uốn lượn bí hiểm như rễ cây ngoằn ngoèo dưới đất sâu, hoặc như những con mắt đang chậm rãi hé mở từ mặt giấy vàng sậm cháy xém.

Tôi nhận ra ánh mắt thầy Hồ dừng lại lâu hơn trên một đoạn ký tự ở mép giấy, ngón tay ông khẽ run khi chạm vào đó, như thể vừa chạm phải một vết thương cũ chưa lành.

Ông không nói gì ngay, chỉ lặng lẽ tháo kính xuống, lau nhẹ bằng góc áo đã sờn theo năm tháng rồi đeo lại.

Cử chỉ ấy như cần một lớp nhìn khác rõ ràng hơn để đối diện với điều đang hiện ra trước mắt, điều mà có lẽ ông đã chờ đợi, hoặc sợ hãi từ rất lâu.

"Những ký tự này..." thầy Hồ nói, giọng trầm xuống như từ đáy vực sâu, "từng xuất hiện trên một bản khắc đá mà nhóm khảo cổ của cha mẹ cháu tìm thấy.

Năm ấy, họ gửi về cho tôi một bản chụp mờ, tôi còn nhớ rõ mồn một.

Ban đầu, chúng tôi tưởng đó chỉ là ký hiệu của một bộ tộc cổ chưa được ghi nhận.

Nhưng càng nghiên cứu, càng thấy chúng không giống bất kỳ hệ chữ nào loài người từng biết đến."

Tôi ngồi im thin thít, không dám chen ngang, chỉ cảm thấy từng lời thầy nói như rút dần hơi ấm khỏi căn phòng, để lại không khí lạnh lẽo len lỏi vào da thịt.

Thầy Hồ tiếp tục, ánh mắt xa xăm như đang nhìn xuyên qua hai mươi năm thời gian:

"Sau khi nhóm của họ mất tích, vài người trong giới vẫn cố gắng giải mã.

Trong đó có một đồng nghiệp của tôi ở Viện Khảo Cổ phía Bắc, và một người bạn ở Đại học Văn hóa.

Cả hai đều biến mất trong vòng chưa đầy một năm.

Trước khi mất tích, họ từng thì thầm với tôi rằng: 'Có thứ gì đó không muốn chúng ta hiểu.

Không phải vì quá phức tạp... mà vì nó không thuộc về thế giới này.'"

Tôi cảm thấy sống lưng lạnh buốt như có gió tuyết từ Tà Lĩnh thổi vào phòng.

Những ký tự trên giấy da bỗng như đang sống dậy, thở nhẹ, những con mắt mờ ảo chậm rãi mở ra từ mặt giấy vàng sậm, nhìn thẳng vào tôi với ánh nhìn xa xăm từ một kiếp khác.

Thầy Hồ đứng dậy, bước chậm rãi đến giá sách gỗ lim cũ kỹ, tay lần mò giữa những cuốn sách phủ bụi thời gian.

Ông lục lọi một hồi rồi lấy ra một cuốn sổ bìa da sờn rách, trang giấy vàng ố như đã ngấm bao năm tháng ẩm mốc.

Ông mở đến trang giữa, đưa cho tôi xem mà không nói lời nào.

Trên đó là những nét vẽ nguệch ngoạc, run rẩy, lặp đi lặp lại một kiểu hoa văn uốn lượn kỳ quái.

Chúng xoáy tròn như mắt bão, chấm nối chấm như mạch máu khô, giống hệt những ký tự trên tấm giấy da cổ mà tôi vừa mang đến.

Những nét bút dồn dập, chồng chéo lên nhau, như thể người vẽ đã bị ám ảnh đến mức không thể dừng tay, như đang cố khắc ghi một bí mật kinh hoàng trước khi nó nuốt chửng lấy lý trí.

"Người vẽ những thứ này là một người may mắn sống sót duy nhất sau khi đến vùng núi tuyết ấy," thầy Hồ nói, giọng trầm xuống như từ đáy vực.

"Nhưng ông ta không còn tỉnh táo nữa, cứ lang thang khắp nơi, chỉ biết vẽ.

Vẽ suốt hai mươi năm, ngày nào cũng vậy."

Tôi nhìn cuốn sổ, rồi ngẩng lên nhìn thầy Hồ, tim đập thình thịch.

Ông gật đầu chậm rãi, ánh mắt nghiêm nghị hơn bao giờ hết: "Nếu cháu thật sự muốn biết sự thật, thì chỉ còn cách gặp ông ta.

Tôi sẽ đưa cháu đi."

Chỉ trong vài ngày sau đó, tôi thu xếp cho A Cát trông tiệm rồi đặt hai vé máy bay đi gấp, vừa xuống sân bay liền chuyển sang tàu hỏa, rồi lại xe khách đường dài.

Hành trình dài dằng dặc, hầu hết thời gian chúng tôi chỉ ngủ vùi trên xe giường nằm, đầu óc lơ mơ giữa những điểm dừng lạ lẫm không kịp nhớ tên.

Tôi lo cho sức khỏe thầy Hồ, ông cụ có thân hình gầy guộc đến mức tôi sợ gió núi thổi mạnh một cái là ông bay mất, nên nhiều lần đề nghị dừng lại nghỉ ngơi.

Nhưng thầy luôn lắc đầu, ánh mắt đầy lo lắng xen lẫn quyết tâm:

"Lâu như vậy... có khi ông ấy không còn nữa."

Giọng thầy khàn đi, không phải vì tuổi tác mà vì nỗi gấp gáp khó tả, như thể thời gian đang trôi qua kẽ tay, kéo theo những bí mật sắp sửa chôn vùi mãi mãi dưới lớp tuyết dày của Tà Lĩnh.

Tôi không còn cách nào khác, đành theo ông thiếp đi trong những chuyến xe lắc lư qua đèo núi, bánh xe nghiến ken két trên đường đá gồ ghề, rung lắc đến mức xương cốt như muốn rời ra.

Và chính trong những giấc ngủ chập chờn ấy, giữa tiếng động cơ gầm gừ và gió rít ngoài cửa sổ, tôi bắt đầu mơ thấy những cảnh tượng kỳ lạ như có ký ức của ai đó xa xôi đang len lỏi, truyền sang tôi từng mảnh vụn lạnh lẽo.

Cảm giác lạnh buốt thấm vào tận xương tủy, như tuyết ngàn năm đang tan chảy dưới da thịt.

Tiếng gió hú vang vọng từ nơi xa xăm, gọi tên tôi bằng giọng thì thầm méo mó, nửa quen thuộc nửa xa lạ, khiến tôi giật mình trong mơ mà không tỉnh nổi.

Có lần, tôi thấy cha mẹ mình đứng giữa biển tuyết trắng xóa, dáng người mờ ảo trong bão tố, không nói một lời nào, chỉ nhìn tôi bằng ánh mắt sầu thảm man mác, như thể họ đang cố níu kéo tôi khỏi bước chân đang tiến gần hơn đến vực thẳm.

Có lần khác, tôi thấy chính mình ngồi giữa căn phòng tối om, lạnh lẽo, tay cầm bút vẽ những ký tự uốn lượn trên một tấm giấy da cũ kỹ.

Nét bút run rẩy nhưng dồn dập, lặp đi lặp lại không ngừng, như bị một bàn tay vô hình thôi miên, ép buộc phải khắc ghi mãi mãi những hoa văn ấy.

Tôi giật mình ngồi dậy, mắt còn mờ vì ngủ, đầu óc lùng bùng giữa thực tại và những hình ảnh trong mơ.

Trong khoang xe giường nằm rung lắc, ánh đèn mờ vàng hắt lên hàng ghế trước, tôi thoáng thấy một bóng người khoanh tay ngồi ngủ, chiếc áo khoác trùm mũ kín đầu, dáng hình gầy gò quen thuộc đến lạ.

Trong cơn mơ màng mới tỉnh, không suy nghĩ nhiều, tôi sỗ sàng bước tới, đưa tay nắm nhẹ vai người ấy, thì thầm gọi tên cô.

Người đó giật mình tỉnh giấc, mũ áo khoác tuột xuống lộ ra khuôn mặt lạ hoắc.

Đó là một anh chàng trẻ tuổi, tóc ngắn rối bù, ánh mắt ngái ngủ nhìn tôi đầy ngạc nhiên.

Cậu thanh niên đeo kính ngồi ở ghế trong rời mắt khỏi tấm bản đồ trên tay, ngẩng đầu nghi hoặc nhìn tôi.

Tôi cứng đờ người, mặt nóng bừng vì xấu hổ, vội buông tay lùi lại: "Xin lỗi, tôi nhầm người rồi."

Anh chàng xua tay tỏ vẻ không sao, còn vỗ nhẹ lên đùi cậu thanh niên ngồi bên cạnh như ý bảo "không có gì đâu".

Cậu thanh niên đeo kính có vẻ cũng không quan tâm nữa, chỉ khẽ nhún vai rồi gọi anh chàng mặc áo trùm mũ: "Mấy chỗ này anh thấy sao?"

Giọng cậu ta nhỏ nhẹ, mắt lại dán vào tấm bản đồ trải trên đùi, ngón tay chỉ chỉ vào những dấu đỏ mới đánh dấu, như thể cuộc trò chuyện ngắn ngủi vừa rồi chỉ là gió thoảng qua.

Anh chàng áo trùm mũ cười xòa, kéo mũ lên một chút rồi ghé đầu vào xem, hai người nhanh chóng chìm vào cuộc bàn luận riêng của họ.

Tôi lặng lẽ trở về chỗ ngồi, mặt vẫn đỏ bừng vì xấu hổ.

Thầy Hồ bên cạnh không hay biết gì vẫn ngủ say sưa.

Tôi rút chiếc bật lửa ra khỏi túi, cầm chặt trong tay, thất thần nhìn nó thật lâu dưới ánh đèn xe mờ ảo.

Lớp hoa văn bạc xỉn màu lấp lánh yếu ớt, như đang thì thầm những bí mật mà chỉ mình tôi nghe thấy.
 
Back
Top Bottom