Cập nhật mới

Ngôn Tình Phế Hậu A Bảo - Đao Thượng Phiêu

[BOT] Dịch

Quản Trị Viên
Tham gia
24/9/25
Bài viết
386,381
Điểm cảm xúc
0
Điểm thành tích
0
VNĐ
361,707
AP1GczOltcOSGhTnRt4AVkite3pPnuZH4xWnmsEC05Q7Sw-9Z6Rmq5mgXzZBJ_uMM3Gwh8rjRuVS0tTQ_uUY10YiouTub9ya20NaQAcDTxwMUIcEe-tAQLxFzgcO8rV2dF9RCgM1qw9z33rhar_9KtSfa-tO=w215-h322-s-no-gm

Phế Hậu A Bảo - Đao Thượng Phiêu
Tác giả: Đao Thượng Phiêu
Thể loại: Ngôn Tình, Huyền Huyễn, Cổ Đại, Ngược
Trạng thái: Full


Giới thiệu truyện:

Thể loại: Ngôn tình | Cổ đại | Huyền huyễn | Ngược luyến | Góc nhìn nữ chính | Phi song khiết | HE

Văn án
Cuộc đời A Bảo là một chuỗi những câu chuyện kỳ bí.

Xuất thân từ đất Thục, từng làm khất cái, gian nan đến Dương Châu, trở thành con hát kỹ viện, may mắn là gặp gỡ Tuyên Vương nhất kiến chung tình với nàng, bỏ tiền chuộc nàng ra, cưới nàng về làm vợ.

Tuyên Vương đăng cơ, nàng được sắc lập làm Hoàng hậu, bị sử quan mắng, bị ngự sử mắng, bị người đời khắp thiên hạ mắng, kiếp sống bi thương, ngay cả một hàn lâm nhỏ nhoi cũng dám cự tuyệt vẽ tranh cho nàng, hại nàng trở thành trò cười lớn nhất trong cung.

Ngày ấy chết đi, cuối cùng A Bảo cũng được thở phào một hơi.

Được giải thoát rồi.

Nhưng vừa mở mắt ra ⎯⎯

Nàng trở thành cô hồn dã quỷ, ngày đêm nấn ná ở quanh một nam nhân, không rời đi được.

Dưới ánh nến nhìn thân ảnh gầy gò của người nọ cầm bút vẽ tranh, A Bảo lặng lẽ mắng câu ‘thô tục’.

**

Lương Hoằng, tự Nguyên Kính, xuất thân thi thư hiển tộc, giọng nói trong trẻo, mười lăm tuổi đã vang danh khắp thiên hạ, được nhận vào cục Hàn Lâm vẽ tranh, làm ngự dụng họa sư trong cung. Chàng mang vẻ đẹp tinh tế như hoa cỏ sông núi, thuần khiết như lông vũ như tre đá, cái gì cũng giỏi, giỏi nhất là cầm bút hoạ người, người đẹp vẽ gì cũng đẹp, hoạ bức nào cũng đều thành tuyệt phẩm, nói chung là hiếm có khó tìm.

Nhưng người đời không biết là, tác phẩm tâm đắc nhất trong đời này của Lương Nguyên Kính, là một bức mỹ nhân đồ được chàng dẹp sâu dưới đáy rương.

Mỹ nhân trong bức hoạ lấy quạt tròn che mặt, khuôn mặt xinh đẹp cười nhẹ, chính là phế hậu A Bảo năm đó.

**

Năm mười lăm tuổi, Lương Nguyên Kính du ngoạn đến Xuyên Thục, dưới núi Thanh Thành gặp được một tiểu cô nương bán nghệ đầu đường, gọi là A Bảo, tính tình đanh đá, thích ăn bánh ngọt, tay ôm đàn tỳ bà.

Sau đó đến nạn châu chấu, mấy chục vạn người thường biến thành lưu dân, mấy năm đó chàng đau khổ tìm nàng, trước sau không thu hoạch được gì.

Thẳng đến ngày vào Cấm Uyển hoàng gia, chàng phụng chỉ hoạ một bức cho tân hậu, một nữ tử đoan trang từ trong bụi hoa chậm rãi đi tới, gương mặt chàng thay đổi không ngừng, thị nữ bên cạnh gọi nàng ⎯

“Hoàng Hậu nương nương”.

Hoàng hậu mất sớm X Hoạ sư hiền hòa.

(A Bảo X Lương Nguyên Kính)

Truyện này còn có tên là《 Sau khi ta chết biến thành hồn ma bám vào người ta ghét nhất, phải làm sao bây giờ 》

**

Cần biết:

1. Nữ chính từng gả chồng, nên nam sạch nữ không, nhưng không cần quan tâm tới chồng trước đâu, gạt tra nam Hoàng Đế sang một bên đi.

2. Hư cấu dựa theo thời Tống, xin đừng nghiên cứu nguyên bản.

3. Nhân vật nữ chính tham khảo Chân Tông Hoàng Hậu Lưu Nga.

Một câu tóm tắt: Hoàng Hậu bớt giận, ta vẽ tranh nuôi nàng.

Lập ý: Ái nhân giả nhân hằng ái chi. *

* Ái nhân giả nhân hằng ái chi, kính nhân giả nhân hằng kính chi.

Câu nói này của Mạnh Tử nhấn mạnh tầm quan trọng của lòng nhân ái và sự tôn trọng trong các mối quan hệ giữa người với người. Nghĩa là khi chúng ta đối xử tốt với người khác, chúng ta sẽ nhận lại sự tốt đẹp tương tự.​
 
Phế Hậu A Bảo - Đao Thượng Phiêu
Chương 1: [Cung oán] Phế hậu


A Bảo mở cửa sổ ra, hơi gió lạnh lẽo từ ngoài thổi vào, trong gió hình như thoang thoảng mùi hoa.

Nàng nhắm hai mắt, cố sức ngửi ngửi, không xác định rõ.

Trong phòng quá nồng mùi thuốc, nàng đổ bệnh suốt cả mùa đông, cái mũi cũng đã bị mấy chén thuốc vừa đặc vừa đắng đó làm cho hỏng.

A Bảo chống người dậy, vươn nửa người ra cửa sổ, cật lực nghiêng đầu nhìn xem, mơ hồ thấy cây lê ở đình viện đã nở hoa, đoá hoa phấn trắng nở rộ trên nhánh cây, còn có vài cánh hoa phiêu tán bay trong gió.

Hoá ra đã là mùa xuân rồi.

Vào lúc A Bảo đang muốn vươn ra thêm, bỗng nhiên đằng sau có người túm cánh tay nàng lại, một tiếng ‘bang’, cửa sổ bị đóng lại.

Ngô thị mặt mũi không tán đồng nhìn nàng, nhíu mày khoa tay múa chân với nàng.

<i>Không được để trúng gió, sẽ bị cảm lạnh.</i>

A Bảo giải thích: “Ta chỉ mới mở thôi, thời gian còn chưa đầy nửa chén trà nhỏ.”

Ngô thị không cử động, tiếp tục nhìn nàng chằm chằm.

A Bảo lại năn nỉ nói: “Cho ta ngắm đi mà, bên ngoài hoa đều đã nở hết rồi.”

Ngô thị vẫn đứng bất động.

Bà là người câm, chứ không hẳn bị điếc, chỉ là có chút lãng tai. Đôi khi A Bảo nói chuyện với bà, bà có thể nghe thấy được, ngẫu nhiên còn sẽ làm cử chỉ trả lời lại. Chỉ có khi nào A Bảo đưa ra yêu cầu không hợp lý, bà mới như không nghe thấy, vì vậy A Bảo cảm thấy bà ấy đang cố ý giả vờ câm điếc.

Điều này thật sự giống tra tấn người khác, A Bảo thích náo nhiệt nhất, miệng không lúc nào nhàn rỗi, mỗi một khắc không ngừng tìm kiếm người để nói chuyện cùng.

Ngô thị điếc đã đành, ngày từ đầu thật sự nghẹn hỏng nàng rồi, đến bây giờ cũng thành thói quen, cái gì liên quan đến nàng đều lười biếng nói tới.

Nhất định là Triệu Tòng cố tình trừng phạt nàng.

Người này xưa nay rất ấu trĩ, lúc cãi nhau với nàng, luôn lệnh các cung nhân không được nghe theo nàng, phái người câm tới hầu hạ, thật là quá thích hợp.

A Bảo nhìn nếp nhăn trên mặt của Ngô thị, thở dài: “Đừng nghiêm túc vậy nữa… Nghiêm túc, khụ… khụ khụ…”

Lời còn chưa dứt, nàng đã ho khan kịch liệt.

Ngô thị vội vàng vỗ vỗ giúp nàng thuận khí, xong ôm tới mấy cái chăn gấm, từng lớp từng lớp đem nàng quấn lại.

Sau khi A Bảo ho khan được một lúc lâu mới ngừng, gương mặt tái nhợt cũng ửng hồng trở lại, kéo cánh tay Ngô thị thở d.ốc nói: “Đừng… Đừng quấn nữa, sắp thành cái bánh chưng rồi.”

<i>Tôi đi sắc thuốc.</i> – Ngô thị khoa tay múa chân.

“Có thể không uống không?” Vẻ mặt A Bảo đau khổ.

Xưa nay nàng thích ngọt sợ đắng, sợ nhất là uống thuốc, thật không hiểu vì sao đại phu trên đời này chế thuốc đắng đến vậy, nếu như thuốc được làm từ đường, nàng có thể tự uống được.

Trả lời lại nàng chính là bóng dáng vội vã rời đi của Ngô Thị.

Bà ấy rời đi không lâu, A Bảo lập tức nhảy khỏi chăn gấp, lần nữa mở cửa sổ ra.

Nàng tuỳ tay gỡ cây trâm ngọc xuống, gõ lên bệ cửa sổ, chậm rãi hát: “Song sa lần xế bóng chiều, Nhà vàng ai thấy giọt sầu thấm khăn. Sân không vắng vẻ tàn xuân, Hoa lê đầy đất mấy lần cửa sân.” [1]

<i>[1] Xuân oán – Lưu Phương Bình và bản dịch của Trần Trọng Kim, thivien.net.</i>

Đổ bệnh đã lâu, giọng nói đã trở nên mất tiếng khó nghe, còn nhớ rõ năm xưa lúc ở Minh Thuý phường, khúc ⟪lục châu ca đầu⟫ của nàng vang danh khắp Dương Châu, ngay cả Đại Từ Nhân Liễu Thuyền trứ danh còn hỏi nàng từ đâu đến, tán thưởng nàng “Giọng hát uyển chuyển, đương thời đệ nhất”.

A Bảo ho khan vài cái, tiếp tục hát “Chưa lạt má hồng, ơn đã dứt, Lò hương ngồi đến tận bình minh.”

<i>[2] Hậu cung từ – Bạch Cư Dị và bản dịch của Ngô Văn Phú, thivien.net.</i>

Nàng hát xướng một câu thêm một câu, lúc hát đến câu “Hà tất trân châu xoá tiêu điều” [3], xa xa trông thấy bên ngoài bức tường cung xuất hiện một màu đỏ trang nghiêm.

<i>[3] Nhất hộc châu – Giang Thái Tần và bản dịch của 17, thivien.net.</i>

Lãnh cung xa xôi hẻo lánh, sẽ không có quý nhân nào đi ngang qua, trừ phi là có người cố ý đến trước cửa bái phỏng.

Sau thời gian dài, A Bảo cũng đợi được vị khách này.

Nàng nghiêng người dựa trên giường, cũng không đứng dậy chào đón, chỉ lười nhác cười nói: “Tiết mỹ nhân, hiếm khi có khách, ngọn gió nào đã thổi ngươi tới đây vậy?”

“Làm càn! Dám vô lễ với Quý phi nương nương!” Một thị nữ nổi giận nói.

“Quý phi?”

A Bảo nhướng mày cười lạnh: “Ha, xem ra mới được thăng lên, lần này ngồi chắc vào, ngàn vạn đừng để rơi xuống, ngươi xem một khi hổ lạc Bình Dương, chó mèo gì cũng dám leo lên đằng đầu.”

“……”

Bị nàng chế giễu thành ‘chó mèo’ sắc mặt thị nữ sưng đến đỏ, đang muốn mắng lại thì bị Tiết Hành phất tay ngăn lại: “Không sao, ngươi lui xuống đi.”

Thị nữ tiếp nhận áo choàng trong tay nàng, vẻ mặt căm giận bất bình đi ra ngoài.

Tiết Hành tự mình tìm cái ghế bành đoan trang ngồi xuống, nhìn chằm chằm A Bảo một lát, đột nhiên nói: “Cô tiều tụy đi rất nhiều.”

“Phải không,” A Bảo nhàn nhạt nói, “Trong lòng thấy rất vui đi?”

Tiết Hành lắc đầu: “Cũng không phải.”

“Đừng như thế, làm người cũng phải có lúc thành thật, dù ngươi có cười thật to ta cũng sẽ không trách ngươi đâu.”

“……”

Tiết Hành quay đầu đánh giá bày trí trong phòng, ngược lại hỏi: “Mấy ngày ở đây, cô thấy sao?”

“Còn tốt,” A Bảo nói, “Chỉ là có chút nhàm chán, hầu hạ ta là một người câm, không nói chuyện được, hay là muội muội tới bồi ta đi? Ngươi cũng biết, tính tình ta không chịu ngồi yên mà.”

Tiết Hành nghe đến đó, chỉ nhấp môi cười: “Cô vẫn còn ghi hận tôi à?”

A Bảo lắc đầu, gõ nhẹ ngọc trâm trong tay: “Ân oán chúng ta đã giải quyết xong, ngươi hại ta mất đi một đứa con, ta cũng khiến ngươi mất đi một đứa con, coi như công bằng.”

Tiết Hành giương mắt, nhìn thẳng nàng hỏi: “Nếu tôi nói cho cô biết, người lúc trước làm mất đứa con kia của cô không phải tôi thì sao?”

“Răng rắc⎯”

A Bảo siết chặt tay, ngọc trâm gãy làm đôi.

Nàng nắm chặt bàn tay, cây trâm vỡ đâm thật sâu vào lòng bàn tay, máu trào ra, không kìm được đau đớn, đầu óc mơ màng, tất cả đều vì câu nói vừa rồi của Tiết Hành.

“Ngươi… Ngươi có ý gì? Vì sao không phải ngươi, năm đó là ta đã ăn đĩa bánh quế hoa ngươi đưa, cho nên ta mới…”

“Nên cô mới sinh non,” Tiết Hành bình tĩnh nối tiếp câu chuyện, “Đúng là tôi phái người đưa bánh quế hoa tới, nhưng cô có biết, là ai sai khiến tôi không?”

Là ai, ai mới có thể hạ lệnh được với cung phi ngũ phẩm này.

A Bảo nhấp chặt đôi môi, trên mặt không còn một giọt máu.

“Là quan gia.” Tiết Hành đưa ra đáp án cho nàng.

“Không, là ngươi đang gạt ta!”

Bỗng nhiên A Bảo từ sập mỹ nhân đứng lên, đẩy bộ trà cụ trên bàn xuống, tóc dài tán loạn, hai mắt đỏ hồng trừng mắt nữ nhân trước mặt.

“Ngươi cho rằng ta sẽ tin ngươi à? Ngươi cũng chỉ đang muốn đến xem trò cười của ta thôi! Cút! Cút cho ta! Ta không muốn nhìn thấy ngươi nữa!”

Nàng ném đoạn trâm trong tay lên người Tiết Hành.

Tiết Hành cúi đầu phủi vệt trà văng trúng váy, giọng bình thản nói: “Năm đó, cô đang mang thai, trong triều nói bào thai này của cô lai lịch không rõ ràng, sợ không phải là huyết mạch của quan gia. Bất luận lời đồn đãi là thật hay giả, tóm lại đều có lợi với tôi, vì sao tôi phải loại bỏ thai đó của cô? Cô hoài thai một ngày, sẽ chịu phỉ báng thêm một ngày, đối với tôi chỉ có chỗ tốt, không có chỗ hỏng.”

“Người thật sự không mừng đứa con kia của cô, chỉ có quan gia. Y càng nghi kỵ cô, nhưng không cách nào xuống tay với đứa bé, chỉ có thể mượn tay tôi, tôi gánh chịu tội ác này thay y. Từ Quý phi biếm xuống Mỹ nhân, cha tôi cũng vì vậy mà từ quan về hưu, với quan gia mà nói, là một công đôi việc.”

Tiết Hành ngẩng đầu, gằn từng chữ: “Hoàng Hậu nương nương, cô thật sự cho rằng tôi sẽ ngu xuẩn đến nỗi tặng đĩa điểm tâm có độc cho cô sao? Hết thảy cũng do sự bày mưu tính kế của quan gia thôi.”

Nói xong câu này, nàng tưởng đã thành công khiến A Bảo giận tím mặt, nhưng A Bảo chỉ hờ hững nhìn nàng, giữa môi lạnh lùng phun một chữ: “Cút.”

Tiết Hành hơi giật mình, thoáng chốc sáng tỏ, trong mắt mang theo tia thương tiếc.

“Cô biết, cô vẫn luôn biết được, chỉ là không dám thừa nhận.”

“Cút.”

A Bảo dồn dập thở d.ốc, hành động kịch liệt vừa rồi đã rút sạch sức lực ít ỏi còn lại của nàng.

Tiết Hành nghe lời đứng dậy, vừa ra đến trước cửa, nửa đầu quay lại, trong hư ảo nhẹ giọng nói: “Biết không, cô thực đáng thương.”

Cánh cửa mở ra đóng lại, mùi thuốc theo gió bay vào, A Bảo lấy khăn tay che lại mấy tiếng ho nặng nề, trong cổ họng nảy lên vị tanh ngọt, mở khăn tay ra, mặt khăn lấm tấm vài vết máu, giống hồng mai sau tuyết.

Một bóng người yên tĩnh dừng trước nàng.

<i>Uống thuốc.</i> – Ngô thị khoa tay múa chân với nàng

A Bảo ném đi khăn tay đã bẩn, ngẩng đầu nói với bà: “Đi kêu Triệu Tòng tới đây.”

Khuôn mặt luôn luôn vô biểu tình của Ngô thị cuối cùng cũng có chút gợn sóng, cho dù đã lâu như vậy, A Bảo vẫn theo thói quen gọi thẳng tên huý của Đế Vương.

A Bảo lạnh mặt nói: “Đừng giả vờ không nghe thấy, ta biết bà không bị điếc, cũng biết bà có thể tìm được hắn.”

Ngô thị nâng hai tay lên, tựa như muốn khoa tay múa cái gì đó.

A Bảo trực tiếp đánh gãy: “Bà đi nói cho hắn, nếu hắn không tới, ta lập tức treo cổ tự vẫn.”

Ngô thị: ……

“Ta nói thật.” A Bảo uy h**p.

Mấy lời giống vậy, nàng đã nói qua vô số lần, trước kia cãi nhau với Triệu Tòng, nàng luôn dùng chiêu này buộc hắn cúi đầu trước, Triệu Tòng mắc mưu rất nhiều lần, sau này biết nàng chỉ mạnh miệng, chiêu thức một khóc hai nháo ba thắt cổ càng ngày càng không dùng được.

Còn nhớ rõ ngày nọ, bọn họ không biết vì chuyện vặt gì kích động khoé miệng, Triệu Tòng nói không lại nàng, tức giận phất tay áo bỏ đi.

Nàng tìm lụa trắng treo lên trên cao, diễn lại trò mèo cũ.

Các cung tì nội thị ôm chân, lấy ghế, còng lưng quỳ rạp trên mặt đất, có người rống to, “Hoàng Hậu nương nương lại thắt cổ nữa rồi!”, còn có người tiến đến bẩm báo cho Triệu Tòng, trật tự rành mạch, không chút hoảng loạn.

Không ngờ Triệu Tòng biết được việc này, vẫn ung dung thong thả dùng xong cơm trưa mới đến, khiến A Bảo tức giận đến mức muốn bay lên trời, để Triệu Tòng ôm nàng, kêu rống thêm một lúc lâu mới nguôi giận.

Triệu Tòng còn từng mỉm cười nói, tẩm điện của nàng nhất định là cung điện được lau dọn sạch sẽ nhất, bởi vì lâu lâu thành nhà cao đã sớm bị nàng dùng lụa trắng lau khô.

Tốt lắm, A Bảo nghĩ thầm, hy vọng lúc này hắn đừng dùng xong bữa tối mới đến.

Ngô thị còn chần chờ, sắc mặt thay đổi liên tục, cuối cùng vẫn xoay người ra cửa, trước khi đi còn làm ra dấu với nàng.

<i>Nhớ uống thuốc.</i>

“Biết rồi, bà mau đi đi.”

A Bảo tùy ý vẫy vẫy tay, nhưng vừa chờ bà đi xong, mau chóng đem chén thuốc nóng vị khó uống kia đổ vào chậu mai gầy.

Hoa mai kia không biết đã bị nàng đổ bao nhiêu chén thuốc vào, rễ đã sớm hư muốn chết, căn bản không nở được hoa.

Chậu hoa này được Triệu Tòng phái người đưa tới vào đêm giao thừa.

A Bảo bỗng nhiên nhớ lại.

Nàng trào phúng lắc đầu, đi đến trước bàn trang điểm, thấy chính mình trong gương, đột nhiên hoảng sợ.

Nữ nhân trong gương tóc tai tán loạn, gầy trơ cả xương, hai hốc mắt lõm sâu, sắc mặt xanh trắng giống quỷ nữ, duy chỉ có đôi môi đỏ tươi, môi dưới còn sót lại chút máu, càng thêm vẻ quỷ quyệt tối tăm.

A Bảo: “……”

Vừa rồi nàng lấy cái phẩm hạnh này đi đối phó với Tiết Hành sao?

Ông trời ơi, Tiết Hành làm thế nào để không cười ra thành tiếng?

Lần đầu A Bảo cảm thấy những lời về Tiết gia tam nương tử “Ôn nhu hòa nhã, tiến lui vừa đủ, khuê nữ chi môn” có lẽ cũng không phải a dua nói quá sự thật.

Nàng nhặt lược gỗ lên chải mái tóc dài thẳng, sau đó cầm bút than qua loa vẽ vài nét mi. Bỗng nhiên mất hết hứng thú, ném bút than đi, mông lung nghĩ ngợi, không thú vị, tất cả đều vô nghĩa.

Nếu chờ Triệu Tòng tới đây, nàng còn có thể nói được gì đây?

Nàng và hắn, đã không còn gì để nói nữa rồi.

A Bảo ngửa đầu nhìn độ cao của xà nhà, đáy lòng đã quyết. Từ hòm xiểng lấy ra vài món áo cũ, đem ống tay áo thắt thành mấy cái nút thắt, thuần thục ném hoành lên trên. Dùng sức đo thử, đã chắc chắn, chiều dài cũng vừa vặn, quả nhiên nàng vẫn rất có kinh nghiệm làm điều này.

A Bảo chuyển cái ghế con qua, dẫm lên, sau đó đặt cằm vào, một chân đá văng ghế con.

Mất đi điểm tựa, hai chân A Bảo đạp lung tung giữa không trung, lụa trắng gắt gao thắt chặt xương cổ họng, khiến nàng muốn nôn mửa, cảm thấy rất thống khổ, nhưng dần dần nàng bắt đầu mất đi cảm giác đau đớn.

Trước mắt một mảnh mơ hồ, có lẽ gần chết nên sinh ra ảo giác, hoa lê bay tán loạn, nàng thế mà thấy được Triệu Tòng đem sắc mặt hoảng loạn, lảo đảo chạy tới chỗ nàng…

Đời này đến đây thôi, vĩnh biệt, Triệu Tòng.

A Bảo an yên nhắm hai mắt lại.

Mùa xuân Hi Hoà năm thứ tư, phế hậu qua đời, hưởng dương 26 tuổi.
 
Phế Hậu A Bảo - Đao Thượng Phiêu
Chương 2: Vong hồn


Ba năm sau, sông Biện Hà tuyết băng bắt đầu tan, chào đón mùa xuân quay trở lại.

Đô thành Đại Trần, số dân cư Đông Kinh đã nhiều đến trăm vạn, vải lụa trà sứ của Giang Nam đều nhập từ thuyền hàng Đại Vận Hà, nơi đây rộng lớn đông đúc nên hàng hoá được du nhập liên tục, cũng là lúc đô thành phồn thịnh náo nhiệt nhất.

Hoa đào nở rộ hai bên bờ sông, trong thành trở nên ấm áp, mỗi lần đến dịp Tết Thanh Minh, cảnh xuân trong thành không mấy tốt đẹp. cho dù là hoàng thân quốc thích hay hoạn quan, hay là bá tánh thường dân, đều tận dụng cảnh sắc dịp xuân khả quan hơn để mang cả gia đình ra khỏi thành đi đạp thanh thả diều.

Mọi người đều có việc đặc biệt để làm, không bao gồm Lương Nguyên Kính.

Khi còn ở độ tuổi niên thiếu hắn đã trải qua một đợt bệnh nặng, suýt chút nữa bỏ mạng, ảnh hưởng về sau hoàn toàn bình phục thì phổi bị tổn thương, lúc thì tốt lúc thì không. Tuy Đông Kinh cảnh sắc thanh bình hoa liễu rũ ven đê, nhưng mỗi khi xuân đến, hoa cỏ nảy mầm, gió thổi phấn hoa bay đầy, khiến yết hầu hắn phát ngứa liền ho khan không dứt.

Sắc trời hôm nay trở đẹp, hắn lại trốn trong nhà đọc sách.

Mới vừa lật qua một trang, A Bảo nhíu mày nhìn sách nói: “Ta còn chưa xem xong đâu.”

Lương Nguyên Kính ngoảnh mặt làm ngơ, tốc độ đọc nhanh như gió, đầu ngón tay nhẹ vê vê, lật qua thêm tờ nữa.

A Bảo duỗi tay chạm vào trang sách, cái gì cũng không sờ được, tay lập tức xuyên qua sách, thậm chí xuyên thấu qua cả án thư.

Được rồi.

Tình hình vẫn như cũ, so với ba ngày trước, không có chút biến hoá.

A Bảo vòng qua án thư, ngồi đối diện với nam nhân, tay phải quơ qua quơ lại trước mắt hắn: “Nè, Lương Hoằng, Lương Nguyên Kính, ngươi thấy được ta không?”

Lương Nguyên Kính rũ mắt chuyên chú đọc sách, vẻ mặt vẫn không dao động.

A Bảo chống cằm, đôi mắt chớp hờ nhìn chằm chằm hắn, đến khi mình biến thành gà chọi mắt, cũng không nhìn ra hắn có gì không đúng, đành phải mất hứng thu hồi tầm mắt.

Bỗng nhiên có tia sáng xẹt ngang đầu, nghĩ đến gì đó, hai tay chống lên bàn, nửa người chậm rãi tìm tòi Lương Nguyên Kính, một thước [1], nửa thước, ba tấc [2], hai tấc……

<i>[1] Đơn vị thước = ⅓ mét.</i>

<i>[2] Đơn vị tấc = 1 dm.</i>

Khoảng cách dần dần rút ngắn lại, Lương Nguyên Kính vẫn như cũ không có vết nứt.

“Còn bất động thì thôi.”

A Bảo giảo hoạt cười, đột ngột tiến lại sát vào.

Khoảng cách này khiến hai người gần như chạm vào nhau, mặt dán mặt, môi A Bảo kém chút nữa là có thể in lên môi hắn.

Trong chớp mắt, lông mi của Lương Nguyên Kính dường như hơi run lên.

A Bảo chưa thấy rõ, tư thế này của nàng, tầm nhìn bị giới hạn.

Nàng không thể không nới ra chút khoảng cách, không chắc chắn hỏi: “Ngươi mới vừa chớp mắt, đúng không?”

Vẻ mặt của Lương Nguyên Kính trước sau cũng không có gì khác biệt, vẫn như cũ hết sức chuyên chút đọc sách, tay chân cũng không hề trì trệ, phảng phất cái chớp mắt vừa rồi là do A Bảo ảo giác.

Xem ra là thật sự không nhìn thấy nàng nha.

A Bảo không biết vì sao, sâu dưới đáy lòng có chút mất mát.

Ba ngày trước, nàng tự mình trợn mắt trong mảnh đen hắc ám, bắt đầu thấy hoảng sợ bởi vì nàng nhớ rất rõ ràng mình đã chết, còn tưởng rằng sẽ xuống địa ngục, nàng thấy chỗ mình bị thu hẹp. Chật chội, ngay cả tay chân cũng không còn chỗ để, chỉ có thể khúm núm cuộn tròn lại, A Bảo còn cho rằng sau khi bản thân chết đi sống lại, bị nhốt vào trong quan tài.

Nhưng nghĩ lại thì thấy không đúng, bởi vì nàng không cảm nhận được hơi thở.

Ngay sau đó, A Bảo sởn tóc gáy phát hiện, nàng thế mà có thể không cần thở nữa, trong bụng cũng không thấy đói khát, tay chân cuộn tròn lâu như vậy cũng không có cảm giác tê dại đau nhức.

Nàng tuyệt đối không phải người còn sống, bởi vậy A Bảo hiểu được, nàng vẫn là đã chết, chẳng qua không biết vì sao lại bị nhốt ở một nơi đen tối u ám.

Nếu biết trước được sau khi chết gian nan thế này, nàng lập tức bất tử.

Bất quá nước đổ đi không hốt lại được, bất luận A Bảo hối hận nhường nào, người đã chết chính là đã chết, nàng ở trong bóng tối mơ màng hồ đồ trôi qua hơn sáu tháng. Tất nhiên, nàng không có khái niệm thời gian, sở dĩ biết được đại khái qua lâu như vậy là hoàn toàn thông qua tiếng gà gáy truyền đến.

Cho đến ba ngày trước, A Bảo gặp lại ánh sáng.

Người đầu tiên nhìn thấy được, không phải Lương Nguyên Kính mà là một ông lão, sau này mới biết vị này gọi là Dư lão, người hầu của Lương Nguyên Kính.

Trước ngày đó, thành Đông Kinh mưa liên miên suốt hơn một tháng, vất vả chờ đến trời trong trở lại, Lương Nguyên Kính ra cửa trước, sai Dư lão dọn tàng thư hoạ tác của hắn ra ngoài phơi nắng một phen, phòng ngừa phát sinh nấm mốc.

Cảm ơn trời đất, A Bảo nhờ dịp này mới có thể chân chính được giải thoát theo.

Hoá ra hồn phách nàng bám vào một bức hoạ của Lương Nguyên Kính, nàng bị vây khốn là vì tranh được cuộn đặt trong hòm xiểng. Chiếc hòm xiểng gỗ mun sơn kia, chế tác bốn góc, chất liệu hiếm có, chắc là đồ cổ lâu năm nên lớp sơn có hơi tróc vài mảng.

Dư lão lấy ra hoạ tác trong đó đều mở ra hết, riêng chỉ dư lại một cuộn tranh cuối cùng dưới đáy hòm, Dư lão cởi bỏ dải lụa, từ từ mở ra, lúc A Bảo đang muốn tiến nhanh tới nhìn kỹ hơn, Lương Nguyên Kính từ đâu chạy vọt vào.

Hắn vươn tay đoạt lấy bức hoạ trong tay Dư lão, một lần nữa cuốn kín lại, bởi vì chạy gấp tới, trên mặt còn có chút ửng hồng, đầu đổ lớp mồ hôi mỏng, hơi thở dồn dập nói: “Này thúc không cần phải xen vào!”

Đừng nói là Dư lão, ngay cả A Bảo lúc ấy cũng bị hắn làm cho ngây dại.

Nàng chưa từng gặp qua dáng vẻ thất thố như này của Lương Nguyên Kính, đến tột cùng trên bức hoạ đó vẽ cái gì, là người hay đồ vật mà có thể khiến hắn sốt ruột đến như vậy?

Khoan suy xét rõ ràng vấn đề này, A Bảo đặt ra nghi hoặc mới.

Không đúng nha!

Vì sao nàng biến thành quỷ hồn lại bám vào tranh của Lương Nguyên Kính chứ? Hai người bọn họ rõ ràng là mối quan hệ ‘hận không thể để ngươi chết ta sống’ mà!

**

Nếu muốn bàn sâu hơn về chuyện của A Bảo và Lương Nguyên Kính, còn phải nói lại từ giữa thu năm đầu tiên.

Năm kia, A Bảo lên làm Hoàng Hậu, triều dã ồn ào, quan Ngự Sử Đài đều điên hết rồi, tấu chương khuyên can liên tục bay tới như tuyết rơi, tất cả đều đang mắng A Bảo, dáng vẻ mắng của từng người đều khác biệt, mỗi người mỗi vẻ, nhưng A Bảo cảm thấy người muốn mắng nàng đều không gây thương tổn đến nàng lớn bằng Lương Nguyên Kính.

Bởi vì người này, chẳng qua cũng chỉ là một hàn lâm vẽ tranh địa vị thấp hèn mà thôi, thế mà dám lấy lý do thân thể không khỏe cự tuyệt vẽ tranh cho nàng.

Tân đế tân hậu ở cùng một chỗ, hoạ sư Hàm Lâm phụng chiếu chỉ nhập cung vẽ tranh cho đế hậu. Sau khi vẽ xong, tranh sẽ được treo lên nhập thần Đông Cung, để con cháu đời sau chiêm ngưỡng, đây vốn là chế độ cũ của Đại Trần. Trong lịch sử hoạ sư cung đình, chưa từng có tiền lệ hoạ sư cự tuyệt vì đế hậu vẽ tranh. Bởi vì vậy, A Bảo chịu đủ sự sỉ nhục, cũng là một nhánh trong lịch sử.

Cái tên Lương Nguyên Kính đáng chết này, hại nàng biến thành trò cười trong cung, không những vậy còn được tính là cười đến ngàn năm về sau!

Hiện tại nhớ tới chuyện này, nỗi hận của A Bảo không thể tiêu tan được, thậm chí hận đến nghiến răng nghiến lợi, nàng giơ tay lên thử thăm dò tát cho Lương Nguyên Kính một cái, tiếc là bàn tay xuyên qua mặt hắn.

A Bảo tâm cơ chợt nghĩ ra thử nhéo nhéo cái mũi cao thẳng của Lương Nguyên Kính, biến mũi hắn thì mũi heo, lại vỗ vỗ gương mặt của hắn, như cục bột xoa tới xoa lui.

Tuy xúc cảm không chân thật, nhưng nội tâm A Bảo quấy đến sảng, nhìn nhìn Lương Nguyên Kính mang vẻ mặt cương trực liêm minh, nhịn không được bật cười.

Ha ha ha, thật thú vị.

Thằng nhãi Lương Nguyên Kính này cũng có ngày rơi vào tay nàng.

Bất quá, lông mi của hắn rất dài nha, ờm… Nước da trắng nõn, bề ngoài thằng nhãi này được sinh ra không tồi, kỳ quái, sao trước kia lại không thấy vậy?

Hử…

Sao lại đỏ mặt, hôm nay trời nóng sao?

A Bảo liếc ra ngoài cửa sổ, nơi ở của Lương Nguyên Kính tại Đông Kinh rất nhỏ, chỉ có cửa ra vào, trong viện có cái giếng cổ, bên cạnh còn có một cây táo. Khí trời đã vào tháng cuối xuân, cây táo đã sớm đâm chồi cành xanh tươi, còn có một con hỉ thước cái đậu trên chạc cây, chim non trong tổ kêu chíp chíp chờ cha mẹ mang thức ăn về.

A Bảo lẩm bẩm nói: “Trời đẹp như vậy mà ngươi cũng không ra ngoài đi dạo, đúng là chán chết…”

Lương Nguyên Kính ngồi ngay ngắn, mặt mày điềm tĩnh, tiếp tục lật qua một trang sách.

A Bảo ghét bỏ bĩu môi: “Sách của ngươi có gì đẹp, không thú vị chút nào, đến chó cũng không thèm xem.”

“Lương Nguyên Kính, đừng đọc nữa, ra cửa đi đạp thanh đi.”

“Lương Nguyên Kính, ngươi đúng là đồ ngốc mà.”

“Lương Nguyên Kính……”

A Bảo ngáp một cái, không rõ lần thứ mấy kêu cái tên này, nàng nằm dài trên bàn, đem sườn mặt vùi vào cánh tay, rầu rĩ nói: “Chúng ta đi ngắm hoa đi, ngày ấy chết đi, hoa lê nở ta cũng chưa có cơ hội ngắm…”

‘Bang’, Lương Nguyên Kính khép cuốn sách trong tay lại.

A Bảo ngẩng đầu, có hơi ngốc nghếch, mặt đầy kinh ngạc: “Ngươi… Ngươi nghe thấy ta nói?”

Lương Nguyên Kính vẫn chưa nhìn về hướng nàng, ánh mắt A Bảo đuổi theo bóng dáng của hắn, chỉ thấy hắn đem theo một ít thuốc màu và dụng cụ vẽ tranh, cất vào một cái rương gỗ nhỏ, sau đó cổ quái buộc khăn lên cổ kéo khăn che đi nửa khuôn mặt, cầm thêm cây dù bước qua ngạch cửa đi ra sân.

A Bảo ngẩn ra, vội vàng đuổi theo phía sâu hô: “Nè, trời không đổ mưa, ngươi cầm dù theo làm gì…”

Lương Nguyên Kính giống như không nghe thấy, căng cây dù mặt trên vẽ hoa đào kia ra.

A Bảo ngẩng đầu nhìn ánh mặt trời rực rỡ, rồi lại nhìn nam nhân bung dù cõng dụng cụ vẽ tranh đi phía trước, không nhịn được lắc đầu: “Đúng là đồ ngốc mà, hây, ngươi muốn làm gì thì làm.”

Nàng nhẹ nhàng bước chân đuổi theo, sự chán chường ở đáy lòng trước đó tan vào hư không, thay vào đó chính là niềm hân hoan nhảy nhót, khoác đôi tay đi theo bên cạnh Lương Nguyên Kính, tung tăng chạy nhảy hỏi: “Chúng ta đi đâu vậy?”

Lương Nguyên Kính không nói lời nào, chỉ chừa lại cho nàng bóng người cao lớn.
 
Phế Hậu A Bảo - Đao Thượng Phiêu
Chương 3: Hoạ si


Nhà của Lương Nguyên Kính ở ngoài thành, dọc đường đi gặp rất nhiều người mang gia đình ra khỏi thành chơi xuân, cưỡi lừa hoặc ngựa, các nữ quyến thì ngồi kiệu.

A Bảo đã lâu không thấy cảnh tượng náo nhiệt như này, cộng thêm sắc xuân hợp lòng người, trong lòng không nói nên lời chỉ thấy phấn khởi. Nhìn cái gì cũng thấy mới mẻ, giống như đồ quê mùa mới lên thành nhìn đông nhìn tây.

“Nhìn nhà người ta sống kìa, Lương đại nhân, xem ra ngươi nghèo thật nha, hoạ viện chưa phát bổng lộc cho ngươi sao?”

Lương Nguyên Kính dường như không nghe thấy lời trêu chọc của nàng, đi đến trước một ông lão.

“Cần giúp đỡ không?”

Ông lão đang dùng con lừa để kéo xe cút kít chở than củi. Bởi vì sườn núi cao tốn nhiều sức lực, thấy Lương Nguyên Kính toàn thân ăn mặc như nhà văn, tuy loại vải may không tính là quý giá đẹp đẽ nhưng nhìn khí độ bất phàm, vội lo sợ nói: “Không dám làm phiền công tử.”

Lương Nguyên Kính lại kéo tay áo lên đi đến giúp ông đẩy xe cút kít.

A Bảo cười nhạt một tiếng: “Nhìn không ra ngươi còn biết ra vẻ làm người tốt nữa nha.”

Nàng không chút khách khí nhảy lên xe cút kít, gối cánh tay lười nhác dưa lên đống than củi, nhìn bầu trời đầy mây trắng lẩm bẩm câu đồng dao quê nhà.

Đi vào trong thành, lập tức cảm nhận được sự phồn hoa của thành Đông Kinh.

Hoa đào mới nở đầy hai bên bờ sông, xa xa lại nhìn thấy trời quang mây tạnh. Trên mặt sông thường có thuyền lui tới, trên cầu đông đúc như trẩy hội, có người bán hàng rong khiêng đòn gánh, có người bán dạo cưỡi lạc đà Tây Vực, cũng có phụ nhân dẫn con cái lên phố dạo chơi.

Dưới cầu, hai bên đầy ắp các quán rượu nằm san sát nhau, cờ xí đủ màu bay phấp phới, cửa chính ra vào dài hai tầng lầu cao thu hút khách hàng.

A Bảo nhanh phát hiện được Lương Nguyên Kính có nhân duyên rất tốt, hắn vừa mới tiến vào chợ liền nhận được nhiều lời tiếp đón từ đợt này đến đợt khác.

“Lương công tử, lâu rồi không thấy cậu tới nha, ra đây vẽ vời nữa đúng không?” Một vị phụ nhân cõng đứa nhỏ ngồi xổm bên kênh đào quay đầu lại nói.

“Lương công tử, bánh hấp mới ra lò đây, tới mua một phần đi?” Tiểu nhị tiệm bánh hấp nhà họ Vương hô.

“Lương công tử đi đường xa khát nước, ngồi xuống uống chén nước hồng thơm, vào bên trong nghỉ ngơi nhé.” Bà chủ b*n n**c hồng thơm nói.

Lương Nguyên Kính bung dù đi tới nho nhã lễ độ gật đầu: “Mới vừa tới… Ừm, cảm ơn, không cần, tôi không đói.”

A Bảo nhìn đến đỏ mắt, nắm ống tay áo hắn phát điên la lớn: “Ngươi không đói ta đói! Ta muốn mua!”

Hành động của Lương Nguyên Kính trì trệ trong một cái chớp mắt, vẫn như cũ từ chối lời mời nhiệt tình của bà chủ: “Đa tạ, tôi không khát.”

A Bảo tức giận vung tay áo hắn ra: “Đồ quỷ hẹp hòi!”

Cuối cùng Lương Nguyên Kính đi đến quán trà, hắn muốn uống trà, ngồi xuống dưới mái che ngoài quán, từ rương gỗ lấy dụng cụ vẽ tranh ra, bắt đầu vẽ.

A Bảo đang tức giận hắn cứng đầu, không muốn thấy bản mặt keo kiệt của hắn nữa. Sau đó giận dỗi một mình ngồi trên ngạch cửa quán trà, nàng không thể cách hắn quá xa, cùng lắm chỉ cách nhau năm trượng [1], không thể đi ra xa quá, cứ như bị một bức tường sắt vô hình ngăn cách vậy.

<i>[1] 1 trượng = 3,33m.</i>

Đến tột cùng tại sao lại như vậy, A Bảo đến giờ cũng không suy nghĩ kỹ càng, nhưng tưởng tượng về sau mỗi ngày đều phải đối mặt với Lương Nguyên Kính kia, nàng muốn chửi thêm vài câu nữa.

A Bảo gác má than thở.

Có một vị khách muốn nhấc chân đi vào trong quán, nàng vội nhích sang bên cạnh nhường đường, bỗng nhiên cảm thấy sai sai chỗ nào, ngẩng đầu lên thế mà đụng phải tầm mắt của Lương Nguyên Kính.

Kỳ quái, hắn đang nhìn mình sao?

A Bảo không nhịn được vẫy vẫy tay, Lương Nguyên Kính đã như không có việc gì thu hồi tầm mắt.

Rốt cuộc là thấy hay không thấy?

A Bảo nhíu mày, chung quy vẫn không chịu được nhàm chán, đứng dậy đi xem Lương Nguyên Kính đang vẽ vời cái gì.

Hắn là vẽ trên tấm lua ba thước, nội dung bức tranh hiện ra, chính là cảnh tượng ngay trước mắt. Có thuyền hàng đi trên sông, tiệm rượu hai bên bờ sông, người bán hàng rong, người dựa vào dưới cây nghỉ ngơi, ngay cả thuyền buồm chở hàng hay tiểu nhị đều được vẽ đến sinh động, phong cảnh trên giấy lụa như được rập khuôn với phong cảnh trước mắt.

A Bảo tấm tắc tán thưởng.

Tuy nàng không thích Lương Nguyên Kính, nhưng không thể phủ nhận, khả năng vẽ của người này đích thực xuất quỷ nhập thần. Tương truyền khi hắn còn nhỏ tuổi đã cực kỳ thích vẽ tranh, thường xuyên mất ăn mất ngủ vì tranh, cố gắng hết sức để vẽ ra được hình thái giống thật ngoài đời, thường hay ra ngoài vẽ cảnh vật. Đối với núi rừng hoang dã, chim trắng cát vàng, một khi vẽ là phát ngốc vài canh giờ, trong lúc vẽ nhịn ăn nhịn uống, không nói lời nào, giống như cây si nhỏ, vì vậy cái danh ‘Hoạ si’ của hắn từ đó truyền khắp làng trên xóm dưới.

Thông minh bẩm sinh, chịu được khổ nhọc, đến năm mười lăm tuổi, Lương Nguyên Kính quả nhiên vang danh khắp thiên hạ.

Hắn được nhóm quan lớn quý nhân truy lùng, thậm chí còn được coi là ‘ngàn vàng khó mua’, hoa cỏ núi non, lông vũ tre trúc, xe ngựa thuyền buồm, bích hoạ đạo Phật. Hắn không gì không giỏi, nhưng nếu như để nói đến thứ mà hắn am hiểu nhất, chắc là cầm bút vẽ chân dung người.

Lương Nguyên Kính rất giỏi vẽ chân dung, đặc biệt là mỹ nhân, mỹ nhân dưới ngòi bút của hắn, đứng hay ngồi, già hay trẻ, cắn răng tức giận hay quay đầu mỉm cười, hay cúi đầu lau nước mắt, nhíu mày ưu sầu, luôn có các điểm phong tình khác nhau.

Nếu không phải hắn hoạ mỹ nhân tốt đến mức đó, lúc trước cũng không tới phiên hắn tới vẽ cho nàng, cũng sẽ không khiến nàng bị tiền triều hậu cung nhạo báng.

Nhớ lại thù hận ngày xưa, A Bảo lại thấy bực mình, không chỉ mất hết hứng thú xem Lương Nguyên Kính vẽ tranh, ngược lại càng xem càng giận, lập tức chuyển tầm mắt đi nơi khác.

Chợt thấy phía trước bất ngờ trở nên xôn xao, một đội đeo bội kiếm ngọc, cùng với những tên nha dịch của phủ Khai Phong đang vung roi quất ngựa tiến đến. Trên tường có dán một tờ cáo thị, và họ đang lần lượt dán thêm những tờ khác.

Các bá tánh bốn phía tiến lên xem thử, rất nhanh tụ lại thành nửa vòng tròn, sôi nổi nghị luận.

Xem chừng chắc là đại sự trong triều.

A Bảo cân nhắc, sự kiện lớn nhất phỏng chừng chính tin nàng đã qua đời, bất quá trước khi chết đã bị phế, từ lúc đó tới nay, cũng không nghe thấy tiếng chuông báo tang, nói vậy chuyện nàng chết nhất định đã trở thành một loạt bí sự thâm cung, âm thầm xử lý.

A Bảo không có bất kỳ suy nghĩ gì, người chết như đèn tắt, hiện tại phiền não lớn nhất của nàng chính là làm thế nào thoát khỏi Lương Nguyên Kính, chứ không phải chuyện hậu sự của nàng được an bài ra sao.

Nhưng mà nàng vẫn muốn đi xem thử, xem xem trên cáo thị viết cái gì, tóm lại chắc không phải là tin Triệu Tòng ‘thăng thiên’ rồi đâu nhỉ.

A Bảo đứng dậy đi xem náo nhiệt, ngại ngùng quá, nàng phát hiện mình ở xa quá, quá xa, nàng duỗi dài cổ lại xem vẫn không thấy rõ trên cáo thị viết gì.

Hết cách, chỉ có thể vòng vèo đi tìm Lương Nguyên Kính, nhưng mà mới vừa quay đầu lại nàng lập tức ngẩn cả người.

Không thấy Lương Nguyên Kính nữa!

Không biết vì sao A Bảo cảm thấy như bị một cơn hoảng loạn cực lớn đánh úp, nàng đứng tại chỗ tay chân luống cuống đảo mắt nhìn khắp nơi xung quanh, bỗng nhiên ánh mắt dừng lại bóng người cao lớn ở tiệm sách đối diện.

Lương Nguyên Kính nâng một đĩnh nghiên mực châu, rũ mắt nghiêm túc nghe chưởng quầy giới thiệu.

“Nè! Ngươi sao bỏ đi một mình vậy! Không biết kêu ta nữa!”

A Bảo tức giận vọt tới, biết rõ hắn không nghe thấy, nhe răng trợn mắt hung dữ nổi điên la hét đánh loạn mấy quyền vào không khí.

Lương Nguyên Kính nhìn nghiêng mực, khoé miệng nhỏ đến mức khó phát hiện hơi trĩu xuống.

A Bảo tức giận xong rồi, lực chú ý lại bị cuốn sách trên giá gỗ câu đi, ánh mắt lướt qua nơi nào đó, bỗng nhiên kích đội gào tới:

“Nơi này lại có thoại bản! Lương Nguyên Kính, ngươi mua thêm vài quyển về đi! Mấy cuốn sách nhà ngươi, không phải tranh vẽ địa thế thì là địa lý du ký, nhàm chán muốn chết!”

Lương Nguyên Kính đương nhiên không có khả năng trả lời nàng.

A Bảo lưu luyến trước kệ sách, ánh mắt tràn ngập khát vọng lẫn hoài niệm.

Lúc trước còn ở trong cung làm Hoàng Hậu, Triệu Tòng mỗi ngày phải thượng triều, phải phê tấu chương, nghe kinh yến, phải bàn luận chuyện nước với các đại thần, căn bản không có nhiều thời gian thăm nàng. Nếu có dư ra chút thời gian, cũng là đến chỗ mấy nữ nhân khác trong hậu cung, một chuyến đến chỗ của Quý phi này, một chuyến ở chỗ Mỹ nhân nọ, còn Hoàng Hậu chân chính là nàng chỉ còn sót lại mấy đêm ít ỏi.

Ở lâu trong cung rất nhàm chán, dù sao A Bảo cũng phải tự tìm niềm vui cho mình, xem thoại bản chính là trò tiêu khiển nàng thích nhất, mỗi khi thị trường ra thoại bản nào mới, nàng sẽ sai thuộc hạ của mình đi vơ vét đem về hết.

Chỉ là chưa được tận hưởng niềm vui được bao lâu, lại bị đám quan Ngự Sử Đài biết được. Lập tức tiến hành công kích tập thể từ xuất thân của nàng, đến đức hạnh hành vi thường ngày của nàng, nói nàng “Phạm tội phỉ báng, làm trò tiểu nhân”, “Tính tình ngả ngớn, ngỗ ngược không xứng vị trí chủ hậu cung.”

Triệu Tòng đã trải qua vài trận tranh cãi, cuối cùng thể xác và tinh thần đều mệt mỏi, hạ lệnh đem đốt hết mấy thoại bản A Bảo có được, còn thay đổi toàn bộ người hầu hạ bên cạnh nàng, những nội thị vơ vét thoại bản cho nàng đứng ra mũi sào, bị đánh mấy trượng sau đó đuổi khỏi thành Đông Kinh.

Bởi vì chuyện này, A Bảo chiến tranh lạnh với hắn hơn ba tháng.

Hiện tại nhớ đến, nàng cùng Triệu Tòng hình như không khắc khẩu, thì là chiến tranh lạnh, cho dù có làm hoà cũng sẽ lại rơi vào vòng tuần hoàn đó, A Bảo lắc lắc đầu muốn đem mấy cái chuyện cũ năm xưa tống khứ đi hết.

Sau lưng tiếp tục có người đàm luận về cáo thị vừa rồi.

Chưởng quầy tiệm sách chỉ lo vội vàng bán buôn, chỉ thấy một đội nha dịch phủ Khai Phong đi ngang qua, không rõ làm cái gì, liền hỏi thăm các vị khách nhân.

Khách nhân nói: “Là tới dán cáo thị.”

Chưởng quầy hỏi: “Mọi người đọc chưa, trên đó ghi cái gì?”

“Đọc được rồi.” Một tiểu nhị bến tàu cười cười nói, “Là đại hỉ! Quan gia lập hậu! Hôm nay phát cáo thị khắp thiên hạ, thông báo cũng phát xuống rồi, rất nhanh thôi các châu huyện khác cũng sẽ biết.”

“Lập hậu à? Là vị nương tử nào vậy?”

“Còn có thể là vị nào?” Tiểu nhị không vui trừng mắt hắn một cái, “Đương nhiên là Tiết quý phi Tiết nương tử rồi!”

Hàng mi của A Bảo run lên.

Tiết Hành à, cuối cùng vẫn lên được vị trí này.

<i>“Biết không, cô thực đáng thương.”</i>

Ngày sắp chết đó, câu nói cuối cùng kia của nàng ta vẫn còn quanh quẩn bên tai A Bảo.

Đúng vậy, kẻ thất bại đều đáng thương.

Thắng làm vua thua làm giặc, đạo lý vẫn luôn là như thế.

Phía sau còn tiếp tục thảo luận ⎯⎯

“Phụ thân của Tiết tam nương tử, năm xưa chính là Tiết tướng công Tiết Phạm Thành, tổ phụ của nàng đã đi theo Thái Tổ gia trước lúc khoác lên hoàng bào, là anh em kết nghĩa, đi theo Thái Tổ nam chinh Lý Đường, tây phạt Ba Thục, ít nhiều gì cũng có cống hiến. Tiết tướng công còn từng cùng Thái Tông bắc ngự Khiết Đan, có thể nói là xuất thân danh môn, tiểu thư khuê các. Bảy năm trước, tôi từng có dịp thấy được mặt của vị Tiết tam nương tử, phải nói là tiên nữ hạ phàm đó nha.”

“Ôi, nhắc đến vị Tiết quý phi này, không thể không nhớ đến Phế hậu Lý thị năm đó…”

Ngươi này vừa nói ra khỏi miệng liền bị các bạn học lạnh giọng quát hắn im miệng.

“Nói cái gì đó? Không muốn sống nữa à? Không biết là không được nhắc đến người kia sao!”

“Tai vách mạch rừng, đừng tưởng rằng nơi này không có tai mắt của Sở Hoàng Thành.”

“Thật là! Anh chán sống rồi nhưng bọn tôi thì chưa đâu!”

**

Bọn họ còn nói gì nữa A Bảo không tiếp tục nghe nữa, vì nàng mờ mịt mất mát đi theo Lương Nguyên Kính ra khỏi tiệm sách.

Tại sao không thể nhắc đến nàng?

Chẳng lẽ nàng đã trở thành điều cấm kỵ của thành Đông Kinh thậm chí khắp thiên hạ rồi sao?

Triệu Tòng chán ghét nàng đến nông nỗi này, đây là điều nàng tuyệt đối không nghĩ tới, tuy rằng cuối cùng quan hệ của bọn họ đã có quãng thời gian chuyển biến xấu, thậm chí còn có lúc đến một câu cũng không thèm nói với nhau, nhưng tình cảm phu thê nhiều năm vẫn phải còn ở đó, Triệu Tòng hắn… Hắn…

Tim hắn được làm từ gì vậy?

A Bảo hoài nghi nhìn Vương bà bà đang bày biện điểm tâm.

“Khách quan, muốn mua điểm tâm mang về không? Nơi này bọn tôi có bánh mật ong, bánh táo và bánh khoai từ, ngài xem có muốn mua loại nào không?”

“Bánh mật ong! Bánh mật ong! Bánh mật ong!”

A Bảo nhảy một bước xa tới trước quầy bánh, nhìn bánh mật ong trắng mập mềm mại trong đó, nước miếng đã chảy xuống dài đến ba nghìn thước.

“Cho nửa cân bánh mật ong.” Lương Nguyên Kính nói.

“Còn có bánh táo! Bánh khoai từ nữa! Trừ bánh quế hoa ra, tất cả bánh trong tiệm này, ta! Đều! Muốn!”

“Đủ rồi.” Lương Nguyên Kính nói, “Ăn nhiều đồ ngọt không tốt cho răng.”

“Cái gì?”

Tiểu nhị đang lấy bánh ngạc nhiên nhìn hắn.

A Bảo cắn ngón tay, ánh mắt nhìn chằm chằm điểm tâm trên quầy hàng, cũng không ngẩng đầu lên nói: “Ngươi đừng nhọc lòng chuyện này, răng ta lúc nào cũng tốt.”

“………………”

“!!!!!!!!”

Cả người A Bảo kích động, cứng đờ xoay cổ lại, đụng phải đôi mắt lạnh lẽo như thạch ngọc của hắn chuẩn xác dừng ở trên mặt nàng.

**

Tác giả có chuyện nói:

Lương Nguyên Kính: Đi dạo phố mà không mua bánh sẽ không có vợ, hơn nữa…. Cuối cùng cũng được nói câu đầu tiên với vợ! Vui vẻ! Nhào lộn!! Nhảy lên!!

A Bảo: Ngươi gạt ta??
 
Phế Hậu A Bảo - Đao Thượng Phiêu
Chương 4: Bánh mật ong


Nửa canh giờ sau tại Lương gia, A Bảo vỗ bàn một cái thật mạnh.

“Ta biết ngay là ngươi thấy được ta mà!”

“Sao đây? Nói đi, sao ngươi lại rắp tâm giả vờ giả vịt với ta, hả?!”

Lương Nguyên Kính ngước mắt, chân thành hỏi: “Ăn bánh không?”

“Ăn.” A Bảo bất giác nói, bỗng nhiên cảm thấy sai sai chỗ nào đó, “Đừng đánh trống lảng với ta, hiện tại đang bàn tới chuyện ăn bánh sao? Tại sao ngươi giả vờ không nhìn thấy ta?”

Lương Nguyên Kính thở dài, nhẹ giọng nói: “Thần cứ tưởng rằng, đó là sự ảo tưởng của thần.”

A Bảo sửng sốt: “Cái gì?”

Được rồi, một người đã chết đột nhiên xuất hiện trước mặt mình, mà những người khác lại không thể thấy được, quả thật phản ứng đầu tiên đều sẽ tự cho mình bị ảo giác, hoặc cũng là đầu óc có vấn đề.

A Bảo lại hỏi: “Vậy còn bây giờ sao biết được đây không còn là ảo giác nữa?”

Lương Nguyên Kính im lặng một lát, đẩy điểm tâm trên bàn cho nàng: “Ăn không?”

“……”

A Bảo phát hiện, cái tên này chỉ cần gặp phải vấn đề không trả lời được sẽ dùng chiêu này để đối phó nàng.

Nàng thở hừ hừ nói: “Làm sao để ăn?”

Nàng không cầm điểm tâm lên được.

Lương Nguyên Kính nghĩ nghĩ nói: “Đốt xuống cho người?”

Sức khoẻ hắn không tốt, hàng năm phải cần được giữ ấm, tuy hiện giờ đã khai xuân, trong phòng có đốt chậu than, lấy giấy dầu bọc bánh mật để hết vào chậu than, lửa chạm giấy dầu lập tức cháy lớn bốc ra khói đen.

Lương Nguyên Kính che miệng ho khan vài tiếng, hỏi A Bảo: “Ăn được chưa?”

A Bảo cũng ngồi xổm bên chậu than, sau một lúc chờ mong lâu, cuối cùng mất mát lắc đầu: “Chưa được.”

Đừng nói là nếm thử hương vị, đến mùi vị nàng còn không ngửi thấy.

Lương Nguyên Kính nhìn xuống đôi mắt ảm đạm của nàng, nói: “Để thần nghĩ cách khác.”

“Thôi, người đã chết rồi, còn ăn uống gì nữa chứ, vả lại ta cũng không thấy đói bụng.”

Lương Nguyên Kính rũ mắt, không nói chuyện, ánh lửa hắt lên nửa bên mặt của hắn bừng đỏ, khuôn mặt vốn tuấn tú xưa nay đột nhiên trở nên hào nhoáng.

A Bảo đột nhiên hỏi: “Lương Nguyên Kính, ngươi có biết ta đã qua đời rồi không?”

Lương Nguyên Kính ngẩn ra một hồi lâu mới gật đầu: “Biết.”

Xem ra Triệu Tòng kia vẫn không có giấu dẹm tin nàng qua đời, chẳng qua…

“Ta vừa mới chết liền gấp không chờ nổi lập Tiết Hành làm hậu, hứ, chờ thêm chút không được chắc.” A Bảo trào phúng đầy mặt mỉa mai.

Lương Nguyên Kính ngơ ngác nhìn nàng, muốn nói lại thôi.

A Bảo không đủ kiên nhẫn la lên: “Ngươi muốn nói gì thì nói đi.”

Lương Nguyên Kính dừng một chút, nhìn nàng nói: “Hiện tại đã là Vĩnh Ninh năm thứ ba.”

“……”

“Vĩnh Ninh,” A Bảo nhìn ngọn lửa trong chậu than, lẩm bẩm nói, “Đây là niên hiệu mới sao?”

“Đúng vậy.”

“Lập vào năm nào?”

Lương Nguyên Kính chần chờ một lát, đáp: “Bốn năm trước.”

“Nói vậy là ta đã chết được ba năm.”

“Đúng vậy.”

A Bảo im lặng.

Vĩnh Ninh ba năm, tính thêm năm nàng mất, đã là mùa xuân thứ tư, hoa lê trong sân vừa mới nở rộ.

Trong mộng không biết mình mới là khách, chỉ trong chớp mắt, ba năm trôi qua, nàng thành cô hồn dã quỷ, tân Hoàng Hậu mà người khắp nơi ở thiên hạ sắp nghênh đón, là một vị Hoàng Hậu bọn họ đều tán thành.

A Bảo dò ra tay, ngọn lửa phùng lên đầu ngón tay của nàng nhưng nàng lại không cảm thấy nóng.

Nàng là một người đã chết, người chết rồi sẽ không thấy đau.

“Chúc mừng ngươi, Lương đại nhân.” A Bảo nhìn đôi tay xuyên qua ngọn lửa, hờ hững nói, “Sắc lập tân hậu, chắc quan gia sẽ tuyên ngươi vào cung, vì bức tranh của tân Hoàng Hậu.”

Lương Nguyên Kính rũ mắt xuống, không kiêu ngạo không siểm nịnh nói: “Vị trí của thần chỉ mới sơ cấp, hoạ viện nhân tài đông đúc, không đến lượt của thần.”

A Bảo cười lạnh: “Ngươi tốt nhất nên cầu nguyện thế đi, bằng không nếu ngươi cự tuyệt lần nữa, sẽ không còn vận may giữ mạng như lần trước đâu, Tiết Hành không giống ta.”

Lương Nguyên Kính chưa tiếp lời, nhìn màn đêm thâm trầm ngoài cửa sổ, nói: “Đêm đã khuya, mời nương nương đi ngủ thôi.”

“Đừng gọi ta là nương nương.” A Bảo vô cùng phiền chán, “Gọi ta là A Bảo.”

Lương Nguyên Kính giật mình, cung kính cúi đầu nói: “Dạ.”

“Cũng đừng cái gì mà ‘thần’ ‘thần’ nữa, nghe xa cách.”

“Dạ.”

Trong phòng chỉ một cái giường ngủ, đương nhiên là Lương Nguyên Kính nhường cho A Bảo ngủ, còn đổi chăn màn đệm gối hoàn toàn mới cho nàng. A Bảo ăn không ngồi rồi một bên nhìn, cũng không nhắc nhở hắn mình chỉ là quỷ hồn, căn bản không cần phải đi ngủ.

Sau khi Lương Nguyên Kính an trí hết thảy, dự định đi ra cửa phòng.

“Khoan.” A Bảo gọi hắn lại, “Ngươi làm gì vậy?”

Lương Nguyên Kính sửng sốt, nói: “Thần… Ta đi chỗ khác nghỉ tạm.”

“Đi đâu nghỉ?” A Bảo hỏi, “Nhà ngươi tổng cộng chỉ có ba gian phòng, ngươi một gian, người hầu của ngươi một gian, chỉ còn lại thư phòng, ngươi muốn ngủ ở thư phòng hay là muốn ngủ chung với người hầu?”

Lương Nguyên Kính do dự nói: “Chỗ của Dư lão…”

A Bảo cắt ngang lời hắn: “Phòng mình sao không ngủ, chạy tới giường người khác, ngươi khiến người ta nghĩ thế nào về ngươi?”

Trên mặt của Lương Nguyên Kính hiện lên tia rối rắm, căng căng môi, muốn nói chính mình đến thư phòng ngủ, nhưng không đợi hắn mở miệng, A Bảo không đồng ý nói: “Ngủ ở đây đi.”

Lương Nguyên Kính biến sắc, lập tức thề thốt cự tuyệt: “Không, không được! Như vậy không hợp lễ nghi.”

Cái tên ngốc này!

A Bảo nhanh chóng bị hắn chọc cho tức chết, không đúng, nàng đã chết rồi mà, là nhanh chóng bị hắn chọc tức muốn sống lại mới phải.

“Ta chết rồi! Còn có thể bị ngươi chiếm tiện nghi sao? Hay ngươi sợ ta chiếm tiện nghi của ngươi? Ngươi cùng quỷ nói không hợp cái gì lễ nghi, có tin ta đánh ngươi không hả!”

“……”

Cứ như vậy, do A Bảo dùng bạo lực uy h**p, Lương Nguyên Kính chỉ có thể ở lại phòng ngủ của mình, chỉ là có đánh chết hắn hắn cũng không dám ngủ cùng một giường với A Bảo. Trải đệm chăn dưới sàn, bên trong còn có tấm bình phong do chính tay hắn vẽ, chim hạc bay qua sông, mây trắng phủ núi, sông nước mênh mông, hai chim hạc xoay vòng trên không trung, một con giang cánh bay về trước, một con ngoảnh cổ nhìn lại.

Trăng lên giữa trời, chiếu sáng cả căn phòng.

A Bảo nằm trên giường, tay gối sau đầu, chân duỗi thẳng ra ngoài, không thấy buồn ngủ.

Quỷ hồn sẽ không ngủ, tất nhiên cũng sẽ không nằm mơ, nhưng nàng tự hỏi, còn có thể hồi tưởng ký ức, có lẽ là do cáo thị kia làm ảnh hưởng, A Bảo bất chợt nhớ lại năm đó mình được phong Hậu.

**

Mùng chín tháng tám Hi Hoà năm thứ nhất, A Bảo chính thức được sắc phong thành Hoàng Hậu.

Trước khi nàng được phong Hậu, Triệu Tòng đã trải qua một trận ác đấu với các triều thần, việc này phải được kể lại từ thời của Thái Tông hoàng đế, tức là phụ thân củ Triệu Tòng.

Trước khi Triệu Tòng lên ngôi đã được phong làm Tuyên Vương, hắn là nhi tử thứ ba của Thái Tông hoàng đế, ở trước hắn còn có hai vị huynh trưởng đã thành niên, nếu không phạm phải sai lầm, ngôi vị hoàng đế này đã không cách nào đến phiên hắn nằm giữ, chính hắn cũng không có dã tâm kế vị, chỉ muốn làm một người giàu có ăn no rảnh rỗi.

Chỉ là thế gian này luôn đầy rẫy biến cố bất ngờ.

Bảy năm sau, Thái Tông hoàng đế và Thái Tử không còn đồng tâm ý khởi nữa ,à biến thành khắc khẩu kịch liệt. Thái Tông dưới cơn thịnh nộ, ném đồ chặn giấy làm bằng ngọc thạch ra ngoài, vừa lúc quăng trúng thái dương của Thái Tử, máu chảy ra. Tuy không ảnh hưởng đến tính mạng nhưng Thái Tử nhu nhược bị phụ hoàng doạ sợ đến mức tâm ý hoảng loạn. Từ đó, miệng luôn nói mấy lời không bình thường, cuối cùng không xử lý được quốc sự nữa.

Sau khi Thái Tử phát điên, ngôi vị hoàng đế nên để Nhị hoàng tử Tĩnh Vương kế thừa. Chẳng qua là vị Vương gia này say mê nữ sắc, hơn nữa còn sủng ái thiếp thất đến mức khiến thiếp thất sinh ra mộng tưởng, âm mưu hạ độc Vương phi, ai ngờ đâu kịch độc rót nhầm vào bát canh của Tĩnh Vương, cứ như vậy chết đi.

Mất đi nhị tử làm Thái Tông hoàng đế chịu đả kích, sức khoẻ không bằng trước, vương triều không thể không có người kế thừa, ánh mắt cuối cùng dừng trên người tam tử Triệu Tòng.

Khi đó Triệu Tòng không còn gọi là Triệu Tòng nữa, mà là Triệu Thừa Tuấn, hắn là nhi tử của Miêu thị quá cố.

Năm ấy A Bảo gả cho hắn, đi theo hắn từ Dương Châu tới Đông Kinh, Triệu Tòng còn vì nàng giải tán hết cơ thiếp trong nhà, chiều chuộng nàng hết mực, nàng muốn hái sao trên trời hắn cũng bắt thang hái xuống cho nàng. Đó là quãng ngày tháng vui sướng nhất của A Bảo, cái gì cũng không muốn, chỉ muốn hưởng thụ sự sủng ái của Triệu Tòng dành cho nàng.

Chuyện thế gian đều là thế, âm thịnh dương suy, trải qua nhiều điều tốt đẹp liền sẽ rất mau nghênh đón sự suy bại.

Triệu Tòng không có thay lòng đổi dạ, nhưng ngôi vị hoàng đế đột nhiên ném lên đầu hắn, làm hắn ngoài ý muốn vô cùng vui vẻ, trên đời này không ai là không muốn làm hoàng đế cả, huống chi Triệu Tòng còn là con của hoàng đế.

Nhưng thực đáng tiếc, nếu hắn muốn làm hoàng đế, còn thiếu một điều kiện.

Hắn cần một vị thê tử xuất thân cao.

Từ khi Đại Trần vừa lập quốc tới nay, hai triều Thái Tổ Thái Tông, tổng cộng có sáu vị Hoàng Hậu, trong đó Thái Tổ hoàng đế có Hạ thị, Vương thị, cùng Tống thị, Thái Tông hoàng đế có Doãn thị, Phù thị cùng Lý thị. Sáu vị Hoàng Hậu này không ai là không xuất thân từ tướng phủ, đặc biệt Phù Hoàng Hậu càng tôn quý, phụ thân bà là Tuyên võ quân Tiết độ sứ, bắt đầu từ Nguỵ vương, trả qua Lương, Đường, Hán, triều thứ năm, có thể nói là nhiều đời công khanh chi tộc.

Như vậy cũng đặt ra tiêu chuẩn cơ bản các hoàng tử chọn thê, chính thê đều phải được lựa từ tướng phủ, để lôi kéo võ tướng, bảo vệ hoàng thất, giảm bớt yếu tố gây hại cho quốc gia.

Dựa vào tiêu chuẩn này, lúc trước A Bảo gả cho Triệu Tòng không hề dễ dàng, nàng chỉ là một ca kỹ trong thành Dương Châu, nếu là làm thiếp thất thì không sao, nhưng A Bảo không muốn. Triệu Tòng phải làm giấy tờ đổi thân phận cho nàng, kêu nàng nhận Tri châu Dương Châu Lý Kỳ làm cha nuôi, đổi tên thành Lý Uyển, ghi vào gia phả Lý gia, lấy thân phận dưỡng nữ Lý Kỳ xuất giá.

Nếu Triệu Tòng vẫn còn ở chức vị Vương gia nhàn tản, việc này không có vấn đề gì nghiêm trọng, nhưng trời xui đất khiến ngôi vị hoàng đế dừng ngay ở trên đầu hắn, tính chất câu chuyện hoàn toàn bị lật ngược.

Thân phận giả mạo của A Bảo nhanh chóng truyền đến tai của Thái Thông, Thái Tông hoàng đế hạ chiếu chỉ trách cứ Lý Kỳ, biếm đi chức Tri châu, cũng lệnh Triệu Tòng phải hưu thê, tuyển tam nữ nhi của Tiết Phạm Thành, chính là Tiết Hành làm vợ của hắn.

A Bảo tất nhiên thấy không vui, đại náo ở Vương phủ một hồi, Triệu Tòng muốn hưu nàng, nàng sẽ lập tức bay về lại Dương Châu, Triệu Tòng sau đó lại không muốn thả nàng rời đi, hai người giằng co qua lại hơn một năm trời, cuối cùng vẫn là A Bảo bất đắc dĩ thoả hiệp mới chịu chấm dứt.

Tháng ba Minh Quang năm đầu tiên, Triệu Tòng hưu vợ cả Lý thị, cưới Tiết Hành làm Tuyên Vương phi.

Tháng tám Minh Quang năm đầu tiên, Thái Tông hoàng đế đã tổ chức lễ lập trữ hơn trăm năm qua chưa làm, sắc lập Tam hoàng tử Thừa Tuấn làm Thái Tử, thay tên thành “Từ”, ban Khai Phong phủ.

Tháng chạp Minh Quang năm thứ ba, Thái Tông từ thế, Triệu Tòng đăng cơ làm hoàng đế, năm thứ hai tiến hành làm lễ.

Ngày tám tháng chín năm đầu tiên, Triệu Tòng lập Thái Tử Phi Tiết thị thành Quý phi, phế thê Lý thị làm Hoàng Hậu, triều dã ồn ào.
 
Phế Hậu A Bảo - Đao Thượng Phiêu
Chương 5: Tân hậu


Nếu có người còn nhớ, năm đầu tiên đó là một năm đầy biến động, triều dã xuất hiện không ít tin tức lớn.

Tiên đế mất, tân đế kế vị, sau khi ngôi vị vững vàng, các quan lại đều tấu chương đề nghị quan gia sắc lập Hoàng Hậu, Triệu Tòng từng vờ như vô ý để lộ ra ý tứ muốn lập A Bảo làm Hoàng Hậu, tất nhiên là bị phản đối kịch liệt.

Nguyên nhân phản đối cũng chỉ là những cái lý luận cũ rích nhai đi nhai lại xuất thân của A Bảo.

“Một nữ ca kỹ sao có thể trở thành quốc mẫu?”

“Vị ti vô kẻ dưới phục tùng, đức sơ vô lấy đảm nhiệm.” [*]

<i>[*] Câu này xuất phát từ Nho giáo, nôm na là người xứng đáng ngồi trên cao sẽ tự có người ở dưới phục tùng và ngược lại. Hiểu theo ý mình là A Bảo không xứng vị trí Hoàng Hậu, có lên làm Hậu cũng không ai phục</i>.

Có một số điều còn kỳ quặc hơn, A Bảo không muốn nhớ lại nhiều quá, nói tóm lại là mấy lão già đó mắng rất hăng, người này so với người kia càng lợi hại hơn, giống như bọn họ dành nhiều năm đọc sách thánh hiền chỉ để mắng người thôi vậy.

Sau khi Triệu Tòng thử nghiệm lần đầu tiên, đã biết ý kiến của triều thần không dễ dàng thay đổi như vậy, nên hắn đã suy nghĩ ra một phương pháp khác.

Nhóm quan lại nói A Bảo xuất thân bần hàn, hắn lập tức đổi xuất thân của A Bảo lại.

Quản lý phủ Khai Phong vừa đúng lúc mang họ Lý, xuất thân cao quý, thậm chí dưới thời Nguỵ Tấn tổ tiên Lý thị từng làm chức thị lang thư, về sau làm quan lớn, có gia phả chứng giám.

Triệu Tòng muốn để A Bảo ghi vào gia phả ông ta, còn ám chỉ ông ta chấp nhận cùng dòng họ với A Bảo, hắn sẽ ban chức quan tiền tài để báo đáp. Nhưng không ngờ Lý Nghiệp Trung nhất quyết cự tuyệt, làm cho Triệu Tòng vô cùng xấu hổ, bèn tìm cớ đẩy ông ta ra khỏi Đông Kinh, bảo toàn thanh danh của mình.

Sau đó, Triệu Tòng còn muốn tìm quan viên mang họ Lý để hợp tác, nhưng lần này A Bảo không đồng ý làm theo, những đại thần đó khinh thường nàng, nàng mới không muốn làm thân thích với họ đâu.

Triệu Tòng rơi vào đường cùng, đành tự tay viết chiếu thư lập hậu, đến lúc chiếu thư đưa tới Trung thư môn hạ, sau khi được Tể tướng Lữ Dật xem qua nội dung, tiện tay đốt luôn chiếu thư.

Không thể nghi ngờ gì nữa, các triều thần lần lượt phản kháng việc lập Lý thị làm hậu, chuyện này lập tức chọc giận Triệu Tòng.

Tháng bảy, Lữ Dật bãi tướng, liên luỵ đến mấy chục người bạn môn đệ cũ. Bắt đầu từ đó, miễn là quan lại nào trong triều phản đối chuyện lập hậu, đều có khả năng bị giáng chức. Tân đế dùng quyền lực trong tay chỉnh lại toàn bộ triều đình, làm cho chúng thần phải biết rằng thiên hạ này do ai làm chủ.

Trong lúc nhất thời, triều dã rầu rĩ, không còn ai dám hó hé thêm tiếng nào.

Triệu Tòng cuối cùng cũng được như ý nguyện lập A Bảo làm Hoàng Hậu, cùng lúc đó, cái danh ‘hồ ly tinh A Bảo’ cũng ngày càng truyền đi xa hơn. Nhân tài trong triều vì nàng mà biến mất dần, tội danh của nàng càng lớn hơn, còn rước thêm vào người tiếng chửi rủa từ người trong thiên hạ.

Khi đó A Bảo còn chưa ý thức được tính nghiêm trọng của vấn đề, nàng chìm đắm trong niềm vui sướng trở thành Hoàng Hậu hạnh phúc ở bên Triệu Tòng như thuở ban đầu, hai người ân ái tựa như tân hôn năm đó, trong mắt chỉ có người kia, Tiết Hành không tồn tại, mấy cái đại thần tiền triều khó ưa đó cũng không tồn tại. A Bảo tự cho như vậy rất hạnh phúc, cho đến khi người kia đến, hoàn toàn phá vỡ mộng đẹp của nàng.

Lương Nguyên Kính ở hàn lâm viện, lấy lý do cảm phong hàn, sức khoẻ không tốt, từ chối vẽ tranh cho tân hậu.

Tin tức truyền ra, tiền triều hậu cung, mỗi người ai nấy cũng đều vỗ tay ăn mừng.

**

Trăng như nước chảy, cả phòng yên tĩnh.

A Bảo nằm thẳng trên giường, mở mắt ra, bỗng nhiên phát hiện thêm một chuyện nữa, quỷ hồn không có nước mắt.

Nàng quay người nằm nghiêng, mặt nhìn tấm bình phong, phảng phất thấy được bóng dáng của Lương Nguyên Kính, sườn mặt của hắn khẽ nhấp nhô như sườn núi.

A Bảo vươn đầu ngón tay cách khoảng nhỏ di di theo đường cong kia, đột nhiên ngồi dậy, xuống giường, vòng qua bình phong đi đến trước người Lương Nguyên Kính, bởi vì quỷ hồn không có tiếng bước chân, cho nên không khiến hắn thức giấc.

Tư thế ngủ của Lương Nguyên Kính cũng phần nào tượng trưng cho con người của hắn, hết sức quy củ, hai bàn tay đan vào nhau đặt ở bụng, hắn cũng không phát ra tiếng, chỉ có khi áp tai lắng nghe mới có thể nghe thấy tiếng hít thở của hắn.

Dù trong phòng đã tắt đèn, nhưng có ánh trăng cũng đủ để chiếu sáng.

A Bảo ngồi xổm xuống, ôm đầu gối, cẩn thận quan sát vẻ đi ngủ của hắn.

Lương Nguyên Kính đúng là có dáng vẻ không tồi, mặt đẹp như ngọc, mũi cao thẳng, môi dịu dàng, bỏ qua thành kiến giữa cả hai người thì hắn cũng được coi là một vị công tử trang nhã cao quý hiếm có, dễ dàng được các tiểu nương tử ở thành Đông Kinh yêu thích.

Nhưng mà, Lương Nguyên Kính có thê thất gì chưa nhỉ?

A Bảo nhớ rõ lúc mới quen biết, hắn vẫn chưa có, không biết mấy năm nay đã cưới thê thiếp gì đó chưa? Có lẽ bức hoạ bảo bối không cho người khác chạm vào, chính là người trong lòng của hắn chăng?

Cái tên ngốc này mà cũng có người trong lòng nữa hả?

Nhất thời trong lòng A Bảo cảm thấy hơi lạ, không biết là cảm giác gì, nàng thử vươn tay thăm dò, muốn tát cho hắn hai cái, cuối cùng không biết vì sao không xuống tay nổi, chỉ như có như không chạm vào hàng mi nhỏ dài của Lương Nguyên Kính, lẩm bẩm nói: “Năm đó tại sao ngươi không chịu hoạ cho ta vậy?”

**

Quả nhiên đúng theo A Bảo dự liệu, ba ngày sau, Lương Nguyên Kính nhận được ý chỉ của gian gia, tuyên hắn vào cung vẽ tranh cho tân hậu.

A Bảo ngồi trên lưng con lừa, hai chân nhàn rỗi lắc tới lắc lui, giọng điệu chua chát nói: “Ta đã nói mà, còn viện cớ cái gì mà hoạ viên nhân tài đông đúc sẽ không đến lượt ngươi. Ha! Lương đại nhân, bị vả mặt có đau không? Ta khuyên ngươi mau chóng nghĩ lý do gì khác đi, đừng có dùng lại cái chiêu ‘sức khoẻ không tốt’ nữa, giả tạo!”

Lương Nguyên Kính giữ chặt lừa trong tay, nghiêng đầu hỏi nàng: “Sao nàng đoán được?”

“Cái này không phải quá dễ đoán à?” A Bảo trợn trắng mắt, “Tiết Hành cung đấu với ta nhiều năm như vậy, hiện giờ nàng ta đắc thắng, ngồi trên vị trí Hoàng Hậu nàng ta hằng ao ước, tất nhiên sẽ so đo từng chuyện với ta rồi, năm đó người vẽ tranh cho ta là ngươi, nàng ta cũng sẽ tự nhiên tìm đến ngươi thôi.”

“Thì ra là thế.” Lương Nguyên Kính bừng tỉnh.

A Bảo nói: “Ngươi thông suốt rồi thì tốt, có nghĩ ra lý do kháng chỉ chưa?”

Lương Nguyên Kính kỳ quái liếc nàng một cái: “Vì sao ta phải kháng chỉ?”

“……” <i>(vì ngươi nên đọc tại trang chính chủ :v)</i>

A Bảo không thể hít hơi sâu hơn nữa, nhìn lên trời một hồi, suýt nữa lăn từ lưng con lừa lăn xuống, “Ngươi… Ngươi có ý tứ gì?! Ngươi quyết định vẽ tranh cho Tiết Hành sao?”

“Ý chỉ của quan gia, không thể không tuân.”

“……” <i>(đọc free tại nudepxinh.wordpress.com)</i>

Ý chỉ của quan gia? Mụ nội nó chứ ý chỉ của quan gia!

A Bảo bất lực, chân liên hoàn đá phía sau lưng hắn: “Lúc trước kêu ngươi vẽ cho ta, ngươi cũng đâu nói vậy! Vẽ cho ta, ngươi nói ‘sức khoẻ không tốt’, vẽ cho Tiết Hành, thì là ‘ý chỉ của quan gia, không thể không tuân’? Lương Nguyên Kính, ta với ngươi có thù oán sao? Là do ta không cho ngươi mượn tiền, hay lật mồ tổ tiên nhà ngươi lên vậy hả?”

Tuy nàng không thể đá trúng, Lương Nguyên Kính vẫn nghiêm túc đỡ đỡ mũ quan trên đầu: “Đều không phải.”

“……” <i>(hoặc Wattpad @nudepxinh cũm dc)</i>

A Bảo lập tức bị bộ dáng nghiêm túc này của hắn chọc cho điên lên rồi, dứt khoát hét lớn nói: “Ta mặc kệ! Ta không cho phép ngươi vẽ cho Tiết Hành, nếu ngươi dám vẽ cho nàng ta, ta… Ta sẽ…”

Nàng suy nghĩ rất lâu, không thể nghĩ ra được lý do gì dùng để uy h**p Lương Nguyên Kính, nàng chỉ là quỷ hồn, đánh cũng không đánh được hắn, nghĩ tới nghĩ lui, trong đầu chợt loé qua.

“Ta sẽ biến thành quỷ cái hù chết ngươi đó!” A Bảo le lưỡi giả mặt quỷ, hung tợn đe doạ nói.

Nàng là quỷ thắt cổ lận, rất dữ dằn đó nha.

Lương Nguyên Kính quay mặt đi, khóe miệng nhịn không được hơi hơi nâng lên.

“Có nghe không vậy hả?” A Bảo ở đằng sau chất vấn.

“Ồ.”

“Ồ có ý gì?”

“Biết rồi.” Nam nhân dịu dàng đáp lại.

Lúc này A Bảo mới từ bỏ, nằm trên lưng lừa ngắm trời xanh mây trắng.

Lúc đến cung Tuyên Đức, đã sớm có tiểu hoàng môn dẫn đường sớm đợi ngoài cổng, thấy Lương Nguyên Kính dắt con lừa không nhanh không chậm đi tới, chạy xanh vài bước xông lên nhận lấy dây thừng trong tay hắn: “Trời ạ, Lương tiên sinh, sao bây giờ ngài mới đến, có con lừa sao không cưỡi, Hoàng Hậu nương nương đã chờ đến sốt ruột rồi!”

A Bảo từ trên lưng con lừa phi xuống, tức giận nói: “Mắt ngươi mù hả, đương nhiên là vì nương nương nhà ngươi ta đây đang cưỡi lừa chứ sao.”

Trong mắt Lương Nguyên Kính hiện lên ý cười nhàn nhạt, nho nhã gật đầu với tiểu hoàng môn nói: “Phiền quý nhân trong cung đã đợi lâu.”

“Tiên sinh quá lời, mời ngài đi cùng tiểu nhân.”

**

Khôn Ninh Điện là nơi ở của Hoàng hậu, nằm sâu trong cấm cung, gần với cổng sau của hoàng thành, phía sau là ngự hoa uyển, phía tây là Duệ Tư Điện. Vốn là chỗ của Đại nội tàng thư, nhưng vì Thái Tông hoàng đế cần cù lo chính sự, đam mê đọc sách, thường xuyên ở lại đây đọc sách đến khuya, liền biến nơi này thành tẩm điện.

Đến khi Triệu Tòng làm hoàng đế, cũng thường xuyên ở lại nơi này, nhưng cũng không hẳn vì chăm đọc sách, mà là vì muốn ở gần A Bảo hơn một chút.

Sau đó quan hệ bọn họ chuyển biến xấu, hắn lập tức dọn đi nơi khác xa hơn đến Ngưng Huy Điện, A Bảo nghẹn cục tức, cũng không chủ động tìm hắn, nếu không có cung yến, hai người họ qua mười ngày nửa tháng cũng khó thấy được mặt nhau một lần.

Trở về chốn cũ, cũng không thấy thay đổi gì lớn, ngói xanh chu manh, cột cao chạm khắc, trưng bày đủ loại mẫu đơn.

A Bảo không quá ưa cái chỗ này, bởi vì ở đây nàng chỉ còn nhớ lại mấy lúc cãi nhau với Triệu Tòng.

“Lương tiên sinh đã đến.”

Một thị nữ vén màn trong suốt lên, vui vẻ ra mặt đón Lương Nguyên Kính vào đại điện, tự mình rót chung trà cho hắn.

Lương Nguyên Kính nói ‘đa tạ’, nghe thấy nàng ta cười nói: “Mời tiên sinh chờ một chút, Hoàng hậu nương nương còn đang trang điểm.”

Lương Nguyên Kính gật gật đầu, thuận tay gác chung trà sang một bên.

Có mấy tiểu nha đầu trốn sau bình phong nhìn lén hắn, thấy ánh mắt hắn nhàn nhạt quét tới, mấy tiểu nha đầu đó mặt đỏ bừng, ngươi xô ta đẩy hí hửng cười.

A Bảo hừ một tiếng, thu hồi tầm mắt, khẽ châm chọc nói: “Mặt mũi ngươi rất lớn nha, thị nữ vừa rồi bưng trà cho ngươi là người Tiết Hành mang từ nhà mẹ đẻ vào cung, đi theo nàng ta từ nhỏ đến lớn.”

Lương Nguyên Kính nghiêng đầu nói: “Phải không?”

A Bảo vừa há miệng muốn nói chuyện, sau đó trông thấy Tiết Hành ra tới thế là im bặt.

Tiết Hành đầu đội quan thoa long phượng hoa, trên đầu cài 24 cây trâm hoa lớn nhỏ, mặc trang phục do cục y lễ đo may, hai bên thêu chín đuôi trĩ, gác tay thị nữ chậm rãi đi tới.

Lương Nguyên Kính quỳ rạp trên đất, nhấc tay hành đại lễ.

Sau khi Tiết Hành kêu hắn bình thân, cẩn thận đánh giá hắn một lần, xong mỉm cười nói: “Nhiều năm không gặp, phong thái tiên sinh hơn hẳn so với năm đó.”

Lương Nguyên Kính gật đầu: “Nương nương tán thưởng.”

A Bảo càng nhìn càng thấy không đúng, chuyện gì đang xảy ra vậy, hai người này quen biết nhau à?

Ánh mắt hồ nghi của nàng quét tới quét lui giữa hai người bọn họ, Lương Nguyên Kính để ý.

Sau khi Tiết Hành ôn chuyện cũ với hắn, liền đề nghị nói: “Hôm nay trời đẹp, ở lì trong phòng sẽ lỡ mất cảnh xuân, nếu tiên sinh không chê phiền, vậy thì cùng ta đi đến ngự hoa uyển ngắm hoa đi.”

Lương Nguyên Kính cúi đầu tuân lệnh.

A Bảo nhanh chân đuổi theo, trong lòng không hiểu được, sao Tiết Hành muốn kéo hắn đi ngắm hoa? Chẳng lẽ vì muốn thân càng thêm thân? Nàng ta không chê mệt ư, cái mũ kia nặng bao nhiêu nàng đã từng đội qua rồi.

Chắc chắn là có gì đó khác thường sắp xảy ra, A Bảo cảm nhận được điềm xấu tới rồi.

Khí hậu cuối xuân, hoa thơm cỏ lạ ở ngự hoa uyển tranh đua khoe sắc, trừ một vài hoa đào đã nở vào đầu xuân ra, còn có một giàn hoa tử đằng nhìn từ xa sáng như khói ráng.

Tiết Hành được thị nữ đỡ cánh tay, vừa tản bộ vừa nói: “Nghe nói năm xưa lần đầu tiên sinh hoạ bức hoạ cho phế hậu Lý thị, cũng là ở ngự hoa uyển?”

Bốn chữ ‘phế hậu Lý thị’ vừa thốt ra, tất cả bọn thị nữ bên cạnh nàng ta đều lộ ra sự kinh sợ tột độ.

Thị nữ đỡ nàng ta cảnh giác nhìn xung quanh, muốn nói lại thôi: “Nương nương……”

Tiết Hành liếc mắt quét qua, điềm tĩnh nói: “Không sao, Lương tiên sinh không phải người ngoài.”

Nói xong lại nhìn về phía Lương Nguyên Kính, rõ ràng là đang đợi hắn xác nhận.

Dưới đáy lòng A Bảo cười nhạt, quả nhiên là Tiết Hành muốn đấu với nàng tới cùng, chẳng qua là nàng ta coi như hỏi sai người rồi, Lương đại nhân người ta mới không nhớ rõ loại chuyện nhỏ nhặt này đâu.

Bất ngờ là Lương Nguyên Kính khẽ ngẩng đầu lên, ánh mắt nhìn đám mây phía chân trời, nhẹ giọng nói: “Đúng vậy, là ngày mùng hai tháng mười năm đầu tiên.”

A Bảo bỗng dưng ngẩn ra.
 
Phế Hậu A Bảo - Đao Thượng Phiêu
Chương 6: Chuyện xưa


Năm đầu tiên, mùng hai tháng mười, ngày nhâm ngọ tháng quý hợi.

Tin tức Lương Nguyên Kính từ cự tuyệt vẽ tranh truyền ra ngoài, A Bảo nhanh chóng trở thành trò cười trong cung, nàng tức muốn điên, cảm giác đi bất kỳ chỗ nào cũng đều sẽ có người cười nhạo ở sau lưng.

Triệu Tòng phải vì nàng chọn một người khác ở hàn lâm tới vẽ cho nàng, A Bảo có làm gì cũng không chịu, càng muốn để Lương Nguyên Kính tự tay làm việc này cho nàng.

Khi ấy nàng vừa mới được sắc lập làm hậu không lâu, vào lúc đứng đầu ngọn gió, nhất cử nhất động đều có đôi mắt nhóm gián quan nhìn chằm chằm, Triệu Tòng khuyên nàng nên nhẫn nhịn đến lúc gió yên biển lặng.

A Bảo nhất quyết không chịu, nàng nhịn không được mấy cái miệng đó.

Triệu Tòng bị nàng làm loạn đến hết cách, chỉ đành tuyên Lương Nguyên Kính vào cung lần thứ hai.

Vào lần đó, hắn không từ chối nữa.

A Bảo còn nhớ rõ, đó là vào cái ngày thu khí hậu rất đẹp, vạn dặm không mây, vườn đan quế và hoa cúc đều đã nở, khung cảnh tươi đẹp, vô cùng náo nhiệt.

Sau khi nàng phái nhóm nội thị đưa Lương Nguyên Kính tới sau ngự hoa uyển, chính mình ngồi lại trong Khôn Ninh Điện, người giám sát hầu hạ nàng phụ trách thay nàng chạy đi nghe ngóng tin tức.

Lương Nguyên Kính đã được điều đến nơi xong rồi, người giám sát lập tức kêu hắn bắt đầu vẽ tranh, hạn vẽ là ba nén nhang, đề bài là vẽ Hoàng Hậu thưởng thức cảnh mùa thu.

Mục đích của đề bài này thực chất là muốn làm khó dễ Lương Nguyên Kính, bởi vì hắn chưa từng gặp qua Hoàng Hậu, tất nhiên cũng sẽ không thể hoạ lên được.

A Bảo rất tò mò bèn hỏi người giám sát phản ứng của hắn lúc nghe thấy đề bài.

Người giám sát nói: “Nương nương, ngài ấy không nói gì cả.”

Sao có thể vậy được?

A Bảo tụt hứng: “Chẳng lẽ hắn không hỏi Hoàng Hậu nương nương ở đâu sao?”

“Có hỏi.” Người giám sát đáp, “Thiếp cũng làm theo lời nương nương bảo, chỉ vào bụi hoa, nói ‘nương nương đang ở chỗ này, chẳng lẽ đại nhân không nhìn thấy sao’, ‘đại nhân sinh ra có bệnh ở mắt hay trong mắt ngài vốn không có nương nương?’”

“Hắn trả lời thế nào?” A Bảo vội vàng hỏi lại.

“Lương đại nhân cũng không nói gì nữa, chỉ cầm bút lên bắt đầu vẽ.”

A Bảo: “Hắn vẽ ra cái gì?”

“Cái này……” Người giám sát lộ vẻ khó xử, ăn ngay nói thật đáp, “Nương nương, thiếp chưa kịp xem nữa.”

A Bảo phất tay đuổi nàng ấy xuống: “Ghé đó xem thử, xong về báo lại cho ta!”

Người giám sát nhanh nhảu chạy đi, A Bảo tuốt cây tắc, vừa ngó xem nhóm tiểu nha đầu bên hông cửa đang phấn khởi cười nói cái gì mà sao mấy cái mặt đều đỏ như quả mận chín.

Họ đang nhìn cái gì vậy?

Không lẽ đang nhìn Lương Nguyên Kính kia? Hắn có gì đẹp?

A Bảo tò mò đến ruột gan cồn cào, rồi lại vì cái giá của vị trí Hoàng Hậu, làm bộ làm tịch ngồi đợi lâu ơi là lâu, cuối cùng không chịu nổi tính tình hiếu động bẩm sinh, ném cây tắc trong tay đi, châu đầu vào xem nhóm nha đầu rình mò cái gì.

“Nhìn gì đó?”

“Lương đại nhận thật là đẹp mắt, còn đẹp hơn nhiều so với vị Thám Hoa lần trước được quan gia khâm điểm kia.”

Tiểu nha đầu có má lúm đồng tiền một bên má đáp, quay đầu thấy người hỏi lại là A Bảo, nhất thời sợ tái mặt: “Nương… Nương nương, nô… Nô tỳ là nói……”

A Bảo phất phất tay, không trách tội nàng ấy, ánh mắt chỉ lo nhìn ra bên ngoài, muốn nhìn thử rốt cuộc vị Lương đại nhân đẹp hơn Thám Hoa lang trông như thế nào.

Bước vào ngự hoa uyển giữa trời thu.

Thấp thoáng đằng sau núi đá cứng, nàng chỉ thấy một bóng người mảnh khảnh mặc quan phục.

Hai triều Thái Tổ Thái Tông, quan viên ở cục vẽ tranh hàn lâm không cao, cũng lắm chỉ ngang ngửa với quan cửu phẩm, bổng lộc mỗi tháng chỉ tầm đâu đó mười ngàn, ban năm thước vải lụa xuân thu, mùa đông thưởng thêm hai mươi lượng. Khi thượng triều cũng đều phải đứng xếp hàng sau cục thư nghệ, đãi ngộ chỉ cao hơn bách công cầm cờ một chút.

Sau này đến Triệu Tòng, trước lúc đăng cơ hắn là vị Vương gia nhàn tản ưa ngắm cảnh sắc, cho rằng thi hoạ là công việc phong nhã, địa vị của hoạ viện mới tăng lên, đứng đầu bốn cục hàn lâm, không chỉ lương bổng được tăng mà còn cho phép quan viên hoạ viện đeo bội ngư bao.

Ngày ấy Lương Nguyên Kính mặc quan bào màu đỏ, eo đeo bội ngư bao, đầu đội khăn vấn vuông vức, chân mang tất, đi giày da, cổ áo trắng tinh tươm sạch sẽ.

A Bảo thu hồi ánh mắt, ra vẻ khinh thường nói: “Có gì đẹp, cũng chỉ mới thấy có bóng dáng chưa thấy mặt, sao các ngươi biết là đẹp hơn Thám Hoa lang?”

Nhóm tiểu nha đầu ‘ta nhìn ngươi, ngươi nhìn ta’ cười lên, không ai phản bác lời Hoàng Hậu nương nương nói.

Thời hạn ba nén nhang đã hết, mực vẽ chưa khô thì người giám sát đã trở lại.

A Bảo nhìn lướt qua, cho người thu lại, mặt cười cười nói: “Đi, chúng ta đi gặp Lương Nguyên Kính.”

Nàng đưa nhóm tiểu nha đầu manh động mới lớn tiến vào ngự hoa uyển, vừa lúc Lương Nguyên Kính đang đứng chờ dưới tàng cây đan quế, ngửa đầu ngắm nhìn con chim bay trên cành cây, nghe thấy có tiếng bước chân, hắn thong thả ung dung xoay người lại.

Tích thạch như ngọc, liệt tùng như thúy. [1]

<i>[1] Như đá tích thành ngọc, như thân cây tùng xanh. Ca ngợi vẻ đẹp thuần khiết phẩm chất thanh cao.</i>

Lần đầu tiên nhìn thấy gương mặt của hắn, A Bảo rõ ràng nghe được nhóm tiểu nha đầu phía sau hô to thành tiếng, không tệ, xác thật Lương Nguyên Kính tuấn tú phi phàm, so với Thám Hoa lang chỉ có hơn chứ không kém.

Chỉ là, nàng cũng không tới để xem mặt hắn.

Vừa thấy được người, A Bảo lập tức lớn tiếng doạ nạt, hỏi tội hắn.

“Bổn cung lệnh ngươi vẽ ta thưởng thức cảnh thu, sao chỉ thấy ngươi vẽ hoa cỏ sum suê, không thấy bổn cung đâu, từ ‘thưởng thức’ cũng mất dạng, Lương đại nhân, là mắt ngươi mù, hay do mắt ngươi cao hơn trán, không chứa nổi Hoàng Hậu là ta đây?”

Lời thoại này vốn do A Bảo suy nghĩ nát óc mới nghĩ ra được. Ngay cả xưng hô ‘Bổn cung’ kia cũng bắt chước theo mấy vở kịch diễn, quả nhiên ném ra tới rất hữu hiệu, khiến nàng vô cùng hài lòng. Kiên nhẫn chờ Lương Nguyên Kính biện minh thêm vài câu nữa nàng sẽ lập tức hét một tiếng thật lớn, quả phải tiến lên, đánh hắn tống vào thiên lao, giống như trong thoại bản vậy.

Không ngờ lệch khỏi trí tưởng tượng, đối thủ lại không diễn tiếp nàng được.

Lương Nguyên Kính đứng hình ngơ ngác nhìn nàng, hồi lâu sau cũng không nói một câu nào.

Lá rụng một mảng thổi qua, ngự hoa uyển đột nhiên trở nên yên tĩnh đến mức có thể nghe thấy tiếng kim rơi.

“……”

Sao lại thế này? Người này là một tên ngốc sao?

A Bảo dần dần mất kiên nhẫn, nhíu mày la: “Người đâu, đem hắn…”

“Ta có vẽ.”

Dưới tàng cây đan quế, nam nhân đang im lặng bỗng nhiên cất tiếng.

A Bảo sửng sốt: “Cái gì?”

Lương Nguyên Kính tựa hồ hít một hơi thật sâu, đáp lại: “Hoàng Hậu nương nương có ở trong bức tranh.”

“Ở đâu?” A Bảo bất giác hỏi, “Sao ta không thấy.”

Nhưng Lương Nguyên Kính nói xong câu kia thì không phát ra tiếng nào nữa, bày ra bộ dạng mặc nàng xử trí.

A Bảo thấy bực bội, thầm nghĩ ngươi dám khinh thường ta? Nói thêm một câu với ta thì đột tử chắc?

“Được rồi, nếu ta không tìm được, ta sẽ…”

Chưa kịp nói xong, tiểu nha đầu có má lúm đã kích động la lên: “Tìm thấy rồi! Ở đây này! Nương nương người xem!”

Là tiểu nha đầu má lúm lúc nãy, A Bảo nhìn theo hướng ngón tay nàng ấy chỉ, ánh mắt mở to.

Lương Nguyên Kính nói không sai, đúng là hắn có vẽ nàng.

Trong ngự hoa uyển, hương hoa toả ra, hoa thơm cỏ lạ đua nhau khoe sắc. Giữa bức hoạ còn có một hồ nước, bên hồ có thạch lâm, giữa hồ có một toà thuỷ tạ, bốn phía có màn che, lụa mỏng phiêu bạt theo gió. Trong đình thoắt ẩn thoắt hiện thấy được một mỹ nhân ngồi một mình dựa vào lan can, chỉ lộ ra một bên má trắng dịu dàng, đầu ngón tay miết đoá hoa cúc tím ngắm cảnh.

Người giám sát khen: “Vẽ cũng rất đẹp, nương nương, theo thiếp thấy, nên tha cho Lương đại nhân thôi.”

Nghe nàng ấy nói, nhóm tiểu nha đầu phụ hoạ theo sau, sôi nổi nói “Đúng vậy đúng vậy”, còn khen cái gì mà Hoàng Hậu nương nương khoan dung độ lượng, nhất định sẽ không so đo với Lương đại nhân.

A Bảo có lỗ tai mềm, thích nhất mấy lời này, bọn thị nữ có ánh mắt tinh tường, bắt lấy nhược điểm của nàng, một tràng lời nịnh nọt khiến nàng thấy thư thái cả người, A Bảo mau chóng xuống một bậc thang, tha tội cho Lương Nguyên Kính.

Lương Nguyên Kính tránh được một kiếp cũng không nói tạ ơn, vẫn ngơ ngác nhìn nàng như cũ, ánh mắt kia, có vài phần vô lễ.

A Bảo nhăn nhăn mày, có chút bất mãn, nghĩ thầm, người này quả thật là một tên ngốc.

**

Ha, hình như từ khi đó trở đi, nàng đã bắt đầu gọi Lương Nguyên Kính là đồ ngốc.

A Bảo đột nhiên nhớ lại.

Là thật sự rất ngốc nha, giống như con ngỗng ngốc, ngơ ngơ ngác ngác nhìn nàng không nói gì.

Lúc đó hắn nghĩ gì nhỉ?

A Bảo buồn cười, bỗng nhiên thấy khung cảnh phía trước, dừng bước chân.

Tiết Hành ở phía sau còn đang nói: “Đúng lúc cảnh xuân vừa tới, thỉnh tiên sinh ở chỗ này vẽ cho ta, tiên sinh thấy sao?”

Cách đó không xa, có một tầng hoa hải đường lớn, trên mặt đất trống có bày ra một cái án, trên án có đủ bút giấy nghiên mực với ít thuốc màu tất yếu, Tiết Hành không giống A Bảo năm đó đùa cợt Lương Nguyên Kính, vì vậy độ cao án thư vừa vặn, trên ghế gỗ còn lót một tấm đệm hoạ tiết hoa lê.

Lương Nguyên Kính thu hồi tầm mắt, nói: “Dạ.”

Khóe miệng tươi cười của A Bảo nháy mắt tiêu tan.

Dạ?

Dạ???

Ai khiến ngươi nghe lời dữ vậy?

Cái đồ lừa đảo!

Tiêu rồi tiêu rồi! Hắn chịu hoạ cho Tiết Hành, không chịu hoạ cho mình, A Bảo nhất định sẽ bị biến thành trò cười thiên cổ, ngàn năm về sau, sử sách sẽ ghi về nàng như thế nào? Đáng ghét! Tên này quả nhiên có thù oán với nàng!

A Bảo trừng mắt với Lương Nguyên Kính, hắn chỉ làm như không thấy, vén tay áo lên bắt đầu rửa tay, dáng vẻ nghiễm nhiên chuẩn bị vẽ tranh.

Tiết Hành đã thu xếp ổn thoả ngồi xuống ghế thái sư, thị nữ bên cạnh đang giúp nàng ta sửa sang lại y phục và lớp trang điểm.

A Bảo giận đến nhe nanh múa vuốt, nội tạng cháy nóng, hận không thể xông lên cào nát bản mặt kia của Lương Nguyên Kính, chạy vòng vòng hai vòng quanh đất trống, trốn sau bụi hải đường ngồi xổm giận dỗi.

Tiết Hành đoan trang nhã nhặn ngồi thẳng người, ánh mắt đặt trên người cúi đầu nghiêm túc vẽ tranh đằng trước, như đang suy tư gì đó: “Lương tiên sinh từng nhiều lần vẽ tranh cho Lý thị, có còn nhớ rõ khuôn mặt nàng ấy không?”

Lương Nguyên Kính dừng động tác hạ bút.

Bọn thị nữ xung quanh sợ hãi tức mức quỳ rạp xuống đất run bần bật.

Thị nữ bên người Tiết Hành kinh sợ nói: “Xin nương nương đừng nhắc tới người đó nữa, nếu để người bên cạnh quan gia biết…”

Thì sao nữa thị nữ không nói thẳng, nhưng nhìn sắc mặt xúc động của mỗi người ở đây, hiển nhiên đều biết kết cục là gì, vẫn sợ hãi như thường.

Tiết Hành xua tay: “Các ngươi lui xuống hết đi.”

Bọn thị nữ lui xuống, nàng ta mới giải thích cho Lương Nguyên Kính: “Tiên sinh ở xa kinh thành lâu ngày nên không biết, hiện giờ quan gia nghiêm ngặt hạ lệnh, cấm không được đàm luận về Lý thị, nếu có người vi phạm, phạt đánh chết.”

A Bảo sau vách tường nghe thấy: “…”

Làm gì tới nỗi này.

Nàng còn nhớ rõ trước khi Triệu Tòng không khắt khe với cung nhân như vậy. Hắn khoan dung nhân hậu, tính tình ôn hoà, mặc dù có lúc nội thị phạm phải sai lầm, cũng chỉ thuận miệng dạy dỗ lại một chút, hình phạt đánh chết dù là nghiêm hình lúc còn ở Thái Tổ triều đi chăng nữa thì cũng quá mức khắc nghiệt.

Tiết Hành nhàn nhạt nói: “Sau khi Lý thị qua đời, tính cách quan gia càng thêm khó nắm bắt, Lương đại nhân, ngươi cảm thấy đây là tại sao vậy?”

Lông mi Lương Nguyên Kính dường như hơi run lên, sau đó rũ mắt nói: “Thần không biết.”

A Bảo ở sau bụi hoa nhíu mày, hôm nay Tiết Hành bị cái gì toàn nói chuyện về nàng không vậy?

Bên môi của Tiết Hành hiện lên ý cười không rõ ràng, ánh mắt lạc lối, tựa như đắm mình vào hồi ức xưa.

“Năm đó lần đầu tiên gặp Lý thị, ta chỉ mới 16 tuổi, lúc đó vào dịp sinh nhật của Tuyên Vương, nương mang ta nhập vương phủ mừng thọ, nhân lúc có thị nữ bất cẩn làm văng rượu dính ướt váy ta, ta liền đi vào phòng cho khách thay quần áo. Tuyên Vương phủ quá lớn, ta lạc đường, sợ không kịp thời trở lại yến hội sẽ bị nương ta quở trách, gấp đến độ bật khóc, trong lúc đó ta mới nghe có tiếng người hỏi từ trên đỉnh đầu, ‘ngươi khóc gì vậy’.”

“Ta mới khiếp sợ, ngửa đầu nhìn xem, chỉ thấy một cô nương cao cao ngồi ở trên ngọn cây đang tò mò nhìn ta.”

“Ta lập tức khóc lóc nói cho nàng, ta lạc đường, nàng từ trên cây trượt xuống, cười nói ‘vậy thì có gì phải khóc’, sau đó hỏi ta muốn đi chỗ nào nàng dẫn ta đi.”

“Bọn ta cùng nhau đi được một đoạn, ta hỏi nàng, sao lại muốn leo cây, nàng quay đầu lại, cười nói nàng ngày đêm ngóng cây mận kết trái, mong mỏi nhiều ngày, hôm nay thấy quả mận bắt đầu đỏ, chạy nhanh đến hái, còn từ trong túi váy móc ra một quả mận đưa cho ta, kêu ta nếm thử xem có ngọt hay không.”

“Trước đây ở thành Đông Kinh, ta chưa bao giờ gặp qua người nào giống nàng ấy, trong lòng có chút buồn cười, đang tính từ chối thì thấy Tuyên Vương điện hạ từ xa xa đi tới, sắc mặt nôn nóng lại gần lôi kéo cô nương kia nhìn trái nhìn phải, thấy nàng không bị thương mới trách mắng không cho nàng trèo cây nữa.”

“Điện hạ mắng rất hăng, ta chưa từng nghĩ tới, một người hiền lành nho nhã như Tuyên Vương điện hạ cũng có lúc lạnh lùng sắc bén như vậy.”

“Nhưng cô nương kia lại không hề sợ hãi, cười cười giở chiếc túi đầy mận ra khoe y, nói đó là quà sinh nhật của nàng tặng y. Ban đầu điện hạ còn nghiêm túc, nghe xong lời này nhịn không được bật cười, nói tự nàng thèm ăn mới đi hái mận, vậy mà dám ăn vạ đổ lên đầu y, làm gì có đạo lý này.”

Tiết Hành nhoẻn miệng cười: “Khi đó ta mới biết, thì ra nàng mới là Tuyên Vương phi.”

**

Tác giả có chuyện nói:

Thời Tống nội thị không phẩm cấp mới xưng ‘nô tỳ’, chỉ có nữ quan mới xưng ‘thiếp’, người giám sát là phẩm cấp nữ quan nên tự xưng là ‘thiếp’.
 
Phế Hậu A Bảo - Đao Thượng Phiêu
Chương 7: Bỏng


Nghe Tiết Hành kể chuyện, A Bảo cũng nhớ tới năm xưa.

Hữu An năm thứ bảy, cũng vào lúc thời buổi rối ren, ở năm đó, Thái Tông lần lượt mất đi hai đứa con trai, vị trí hoàng trữ bỏ không, Tam hoàng tử Triệu Tòng bắt đầu rơi vào tầm ngắm của ông.

Năm đó, khoảng thời gian Triệu Tòng được sắc lập làm Thái Tử, nàng bị hưu thê, chỉ cách nhau một năm.

A Bảo cũng là sau này mới biết được, hoá ra ngày ấy thị nữ làm đổ rượu không phải vô ý, mà là cố tình tạo dịp cho Tiết Hành và Triệu Tòng có cơ hội gặp gỡ nhau, ai ngờ bị nàng đánh bậy hạ làm vỡ kế hoạch đó.

Có lẽ đúng là do ngẫu nhiên gặp được, ấn tượng đầu tiên nàng đối với Tiết Hành cũng không sai biệt lắm, cho nên sau đó nàng ta gả cho Triệu Tòng, A Bảo cũng không thấy hận, chỉ cảm thấy mình vẫn không còn nơi để đi trong vương phủ, gấp đến độ tiểu nương tử nước mắt phủ đầy mặt.

Đêm đại hôn đó, Triệu Tòng bởi vì sợ A Bảo nổi giận, nên hắn cũng không viên phòng với Tiết Hành, từ đó về sau mấy tháng liên tiếp, hắn đều ở lại thư phòng, không chạm vào một đầu ngón tay của nàng ta.

Nếu để việc này truyền ra ngoài, Tiết Hành chắc chắn sẽ biến thành trò cười của đám quý nữ kinh thành, chẳng qua là nàng ta cũng là một nữ nhân thông tuệ, không oán trách, cũng bởi vì nàng ta biết mấu chốt việc này không nằm trên người Triệu Tòng, mà là do A Bảo.

Vì thế nàng ta chọn ngày đẹp trời, thích hợp đến cửa chào hỏi A Bảo.

Nếu nàng ta chọn cách ương ngạnh, dựa vào vị trí Tuyên Vương phi áp đảo A Bảo đi vào khuôn khổ, A Bảo nhất định sẽ không chịu khuất phục, nhưng nàng ta chọn hạ mình, ép dạ cầu toàn, thậm chí còn khóc ra nước mắt, A Bảo lập tức hết cách, nàng tìm đến Triệu Tòng, cơ hồ cũng là đuổi hắn vào phòng của Tiết Hành.

Một ngày nọ, A Bảo che chăn khóc lóc cả một đêm, hôm sau tỉnh dậy, đôi mắt sưng thành hai quả thạch đào.

Có được đêm thứ nhất, sau này lại có vô số đêm, sau Tiết Hành còn có thêm Mỹ nhân, Tài tử, Chiêu nghi, Chiêu dung.

Nữ tử hậu cung quá nhiều, tính riêng danh hiệu đã có hẳn mười mấy cái, mấy chục phẩm cấp khác nhau, nếu A Bảo muốn ghen tuông từng cái từng cái, chỉ sợ đời này vẫn chưa xong, cho nên nàng dần dần trở nên im lặng, mạnh dạn, mỗi lần Triệu Tòng sủng hạnh nữ nhân khác, lập tức tặng lễ vật đến điện nàng, hắn càng dè chừng đối đãi, A Bảo càng thấy hắn phản cảm mâu thuẫn, rốt cuộc đến ngày Triệu Tòng chịu đựng không nổi nữa, hai người tranh cãi xong tan rã không vui.

Sau này A Bảo đấu đá với Tiết Hành, nàng ta là Hoàng Hậu do triều thần tuyển chọn, còn nàng không có gia thế chống lưng hay chức danh môn thục nữ gì cả, quan trọng hơn nữa, từ ngày nàng bắt đầu vào đây, nàng đã từng bước mất đi Triệu Tòng, mấy lần nóng giận nàng đều giận cá chém thớt trên người Tiết Hành, cho rằng ngay từ đầu do bản thân bị vẻ nhu nhược của nàng ta lừa gạt.

Nhưng kỳ thật, cũng không thể trách mỗi Tiết Hành được.

A Bảo ôm đầu gối nhìn trời, buông tiếng thở dài.

“Lương đại nhân cẩn thận!”

Phía sau truyền đến một tiếng hô lớn, A Bảo quay đầu lại, vừa lúc thấy Lương Nguyên Kính đụng phải thị nữ bưng trà, hắn duỗi tay đón một chút, trà vừa mới nấu xong từ bếp lò, nước trà nấu sôi cứ như vậy tạt hết lên mu bàn tay của hắn, thoáng chốc cả làn da ửng đỏ hết hồn.

A Bảo sửng sốt, chậm rãi đi qua.

Trước tiên Tiết Hành sai người thỉnh ngự y tới, sau đó nhíu mày trách mắng thị nữ: “Càng không ra thể thống gì! Mỗi việc bưng trà cũng không xong?”

Thị nữ bưng trà sợ tới mức vội quỳ gối trên mặt đất nhận tội: “Nương nương thứ tội, thực ra nô tỳ…”

Nàng ấy còn muốn nói rõ ràng bản thân đã dè chừng, ai ngờ Lương đại nhân đang vẽ bỗng nhiên lùi về sau một bước, lúc đó hai người mới đụng phải nhau.

“Còn dám nguỵ biện!” Một thị nữ khác lạnh giọng quát bảo nàng ấy ngậm miệng.

Lương Nguyên Kính cản lại: “Không cần trách cô ấy, là do tôi sai trước.”

Hắn nhìn bức hoạ mới vẽ chưa được một nửa kia, trên mặt đã bị nước trà bắn ướt, nhuộm đẫm một màu đen loang.

Tiết Hành lập tức nói: “Tiên sinh không cần phải nói giúp, chữa vết thương trước đi rồi nói sau.”

Lúc lâu sau, ngự y mới xách theo hòm thuốc thở hồng hộc chạy tới, Lương Nguyên Kính vươn tay phải, bề mặt đã nứt ra vài vết máu, ngự y dùng ngân châm tiêu độc c.ắm vào cho hắn trước, mới có thể rải thuốc bột lên trên.

Thao tác này thật sự quá mạnh tay, A Bảo nhìn mà tê tái đau, hít hà vài hơi, sắc mặt Lương Nguyên Kính lại thản nhiên, dường như không thấy đau, chọc đến nàng không nhịn được hỏi: “Không đau sao?”

“Đau.” Lương Nguyên Kính nói.

Ngự y thoa thuốc “Ô” một tiếng, nhìn Hoàng Hậu gần đó đang sốt ruột nhìn chằm chằm lại đây, giật mình hỏi: “Vậy tôi nhẹ tay chút nhé?”

“……”

A Bảo ở cạnh nhìn chốc lát, đột nhiên hỏi: “Này, có phải là ngươi cố ý không vậy?”

Lương Nguyên Kính nhìn nàng, trong mắt mang theo nghi hoặc.

A Bảo nhìn chằm chằm mũi giày, sờ sờ mũi nói: “Ta thấy, vốn dĩ sẽ không đụng phải thị nữ kia, đều tại ngươi bất ngờ lùi một bước về sau, Lương Nguyên Kính, ngươi… Có phải vì ta không cho ngươi vẽ bức hoạ cho nàng ấy, nên mới làm như vậy không?”

Lương Nguyên Kính buông ánh mắt xuống, không nói gì, khiến ngự y thấy rất áp lực, mồ hôi rơi đầy đầu, rõ ràng chỉ bị phỏng nhẹ thôi, sao còn khó khăn hơn trị bệnh cho quan gia nữa, như trong vô hình có thứ gì đó đang lăm le nhìn hắn vậy.

Ngự y quay đầu nhìn nhìn khắp nơi, lành lạnh sống lưng.

A Bảo bất động nhìn vết thương trên mu bàn tay của Lương Nguyên Kính, toàn thân người này đều đẹp giống nhau, tay cũng như kiện sứ tinh xảo, ngón tay thon dài, tinh tế, da thịt sáng ngời như thạch ngọc, là đôi tay trời sinh ra dùng để cầm bút, nhưng hiện tại lại bị xuất hiện vết bỏng.

A Bảo nhìn mà tim hơi ẩn ẩn nhói, thương tiếc trông như thấy kiện sứ quý giá vỡ nát vậy.

Chắc sẽ không để lại sẹo đâu nhỉ?

A Bảo mất tự nhiên dời tầm nhìn, giọng nói cực nhỏ nói: “Thật ra ngươi không cần phải vậy đâu.”

Gió xuân thổi hoa lan bay, ngự hoa uyển đìu hiu.

Ống tay áo to rộng của Lương Nguyên Kính phất động theo gió, vài sợi tóc rơi rụng bên cạnh, tầm mắt hắn dừng ở phía xa xa, trừ hắn ra ai cũng không nhìn thấy A Bảo cả, ánh mắt dịu dàng lưu luyến, mang theo một chút ý ôn nhu.

**

Trên đường đi về, A Bảo như cũ ngồi cưỡi trên lưng lừa, Lương Nguyên Kính dắt bộ cho nàng.

Bọn họ đi qua phố Phan Lâu náo nhiệt, A Bảo nhìn đông nhìn tây, chỗ này thật ồn ào, cuộc sống phố phường phồn hoa thịnh vượng như vậy nàng vĩnh viễn không chán ngán, còn nhớ rõ năm ấy nàng gả cho Triệu Tòng, theo hắn lên thuyền từ Dương Châu đến kênh đào phía bắc, đi đến thành Đông Kinh ‘Bát Hoang tranh thấu, vạn quốc hàm thông. Tập tứ hải chi hiếm quý, sẽ hoàn khu chi mùi lạ’ [1], thật sự tròng mắt xoay chuyển liên tục, Triệu Tòng còn cười trêu ghẹo nàng là đồ nhà quê mới lên thành phố.

<i>[1] Trích từ tác phẩm kinh điển《东京梦华录》miêu tả sự phồn vinh thịnh vượng của kinh thành thời Tống.</i>

A Bảo đam mê ăn uống, Triệu Tòng liền vơ vét hết mỹ thực ở kinh thành về cho nàng.

Đa phần nhà cửa ở thành Đông Kinh đều là cửa hàng buôn bán, ngọc dịch của tửu lâu Ngộ Tiên, thọ mi của Phàn Lâu, rượu ngon Phan Lâu, mỹ lộc của Lương gia viên, mùa đông còn có chùa Tướng Quốc nướng thịt da heo, còn có thịt chồn và thuỷ sản, ngày hè có kẹo đường cát; đá tuyết, nước tía tô hồng thơm, đồ uống làm từ quả vải mát lạnh, các loại trái cây, như trái anh đào, quả cây hoa hồng, lê tuyết Tây Kinh, đều là món yêu thích của A Bảo, còn có chợ đêm mở bán đến canh ba mới dẹp.

Sau đó tiến cung làm Hoàng Hậu, nàng cũng không còn có dịp nào ghé thành Đông Kinh dạo chơi nữa.

A Bảo có lúc nghĩ, rốt cuộc bản thân thèm đồ ăn, hay luyến tiếc quãng thời gian rong ruổi vô tư chơi đùa cùng Triệu Tòng.

Có lẽ là cả hai.

“Sao lại thở dài?” Lương Nguyên Kính bên cạnh chợt hỏi.

A Bảo quét mắt liếc hắn một cái, đóng vai người già trải đời nói: “Ngươi không hiểu.”

“?”

Lương Nguyên Kính nhìn nàng, ánh mắt mờ mịt khó hiểu.

A Bảo ngửa đầu xem bầu trời: “Ta đang nhớ lại trước kia, nghĩ xem đời trước chính mình đã làm ra bao nhiêu chuyện ngu ngốc.”

Quả nhiên mọi người đều nói, người càng già càng thích nhớ lại chuyện xưa, A Bảo chết đến nay, mới sáng tỏ được chút sự tình, ví dụ như trước đó mình hận Tiết Hành đến tận xương, giờ đây lại không còn cảm giác gì.

Lương Nguyên Kính dừng bước chân, bỗng nhiên ngẩng đầu nhìn chằm chằm đôi mắt của A Bảo, do dự một lát mới hỏi: “Nàng là như thế nào…”

Hắn chưa nói xong nhưng A Bảo đã đoán được: “Ngươi muốn hỏi ta chết như thế nào đúng không?”

Lương Nguyên Kính gật gật đầu.

Cuối cùng cũng hỏi đến vấn đề này, nàng còn tưởng hắn không hiếu kỳ đâu, A Bảo không vội trả lời, cười cười hỏi lại: “Bọn họ nói sao?”

“Bệnh chết.”

“Ha, không sai biệt lắm…” A Bảo nói, “Ta treo cổ tự vẫn.”

“……”

Lương Nguyên Kính như bị sét đánh, mặt đầy khiếp sợ, đôi mắt trừng lớn, thậm chí không tự giác lui lại nửa bước.

Phản ứng này của hắn, A Bảo ít nhiều gì cũng cảm thấy thất bại, che mặt nói: “Lương đại nhân, không cần phải kinh ngạc tới vậy mà, ta doạ ngươi sao? Yên tâm đi, ta sẽ không biến thành quỷ đâu, còn đang ban ngày ban mặt, nhìn đi, trời còn sáng đấy.”

Lại nói, hắn ở cạnh một hồn quỷ nhiều ngày như vậy sao không thấy gì, trì hoãn lâu tới giờ mới sợ?

Lương Nguyên Kính vươn tay về phía nàng, nhìn kỹ còn có chút run rẩy.

Đây là muốn làm gì?

A Bảo không thể hiểu được mà nhìn động tác của hắn, đáng tiếc tay của Lương Nguyên Kính chỉ duỗi đến bả vai nàng rồi rút lại.

Điều này làm A Bảo động tâm.

Không lẽ… Hắn muốn sờ cổ nàng?

A Bảo cầm lòng không đậu sờ lên cổ của mình, nơi đó không có dấu hiệu sưng vù, cũng không có cảm giác đau đớn, nhưng nàng còn nhớ rõ lúc sắp chết thấy rất đau khổ mà nhỉ, treo cổ tự vẫn không phải phương thức thoải mái gì cho cam, nếu có cơ hội được chọn lại, nàng nghĩ nàng sẽ đổi cách khác.

A Bảo hơi hé môi, muốn nói gì đó, rồi lại không biết nói gì.

Lương Nguyên Kính yên lặng một lát, đột nhiên hỏi: “Muốn ăn gì đó không?”

“……”

A Bảo hết nói nổi: “Ngươi có phải chỉ biết dùng mỗi thủ đoạn này để dỗ cô nương không?”

“Ăn không?’

“…… Ăn.”

Lương Nguyên Kính xoay người đi mua, A Bảo chợt gọi hắn lại: “Khoan đã, ta còn muốn ăn anh đào chiên.”

Hắn gật gật đầu: “Được.”

Xì, sao hôm nay dễ nói chuyện vậy? Bình thường còn vắt nước không lọt tay mà?

A Bảo không nhịn được ‘được đằng chân lên đằng đầu’: “Còn có quả mận?”

“Được.”

“Kẹo sư tử.” [2]

<i>[2] Tên do người Tống đặt, kẹo được làm chủ yếu bằng đường và rau củ trái cây.</i>

“Ừm.”

“Nếu có đá bào, có thể mua thêm một phần mang về.”

“Còn nữa không?”

“……” A Bảo không tin tưởng nhìn hắn, “Lương đại nhân, cho ta hỏi trước một câu, ngươi có tiền không?”

Lương Nguyên Kính lập tức móc túi tiền từ tay áo ra, đổ tiền đồng trong túi vào lòng bàn tay, đếm tới đếm lui mới khẳng định gật đầu: “Có.”

“À à,” A Bảo mặt vô biểu cảm, “Vậy ngươi đi đi.”

Nàng ngước mặt lên trời, che giấu mắt mũi chực trào của mình.

Lương Nguyên Kính hối hả ngược xuôi, cuối cùng mới mua toàn bộ đồ ăn nàng muốn về, được hắn dùng túi bao lại, cùng để vào túi treo trên con lừa, A Bảo nhìn ngón tay hắn lủng củng thắt dây, vết phỏng mu bàn tay đã được băng bó, tấm lấm vài vết máu mờ nhạt.

Tại giờ khắc này, trong lòng A Bảo thầm hạ quyết tâm, về sau nhất định phải đối xử tốt với Lương Nguyên Kính hơn một chút.
 
Phế Hậu A Bảo - Đao Thượng Phiêu
Chương 8: Ở yên trong nhà


Lại mười ngày nữa trôi qua, A Bảo rất mau vứt lời thề của mình ra sau đầu.

Bởi vì nàng thật sự hết! Nói! Nổi!

Lương Nguyên Kính là hoạ sư hàn lâm, việc làm mỗi ngày là đi đến hoạ viện, nghe giảng, nghiên cứu và giám định mấy danh tích thi hoạ cổ, lúc có lệnh triệu tập sẽ chờ đợi giao việc, vẽ tranh cho các quý nhân trong cung hoặc chấp bút thay Hoàng Thượng, chừng nào có những dịp quan trọng như dự cung yến, hắn cũng phải tham dự để vẽ lại khung cảnh lúc đó.

Ngoài ra, sau khi Triệu Tòng đăng cơ mở học viện hoạ tranh ở Quốc Tử Giám, hắn cũng có trách nhiệm đến đó giảng dạy.

Vào lúc rảnh rỗi, hắn thường xuyên đem dụng cụ vẽ ra ngoài vẽ tranh tả thực, sẽ hay ghé vào đường làng phố xá, hoặc thành trì nông thôn, hoặc cũng có thể là chùa cổ nằm sâu trong núi, phần lớn là vẽ chi chít những con buôn nhỏ, nông dân, tăng đạo.

Điều này hoàn toàn bất đồng với giới hội hoạ hiện nay, thậm chí là không phù hợp, tính từ năm năm cuối thời Đường cho đến nay, bất kể là chim hoa núi non hay hoạ người, nhóm hoạ sư đều sẽ vẽ theo lối tôn sùng xa hoa tráng lệ, cố gắng dùng lối vẽ tỉ mỉ phức tạp, đủ loại màu sắc tượng trưng cho vương triều thịnh thế khí phách, thường gọi là ‘Viện thể” [1].

<i>[1] 院体 là một thuật ngữ trong lĩnh vực nghệ thuật, đặc biệt là hội họa và thư pháp, xuất phát từ Trung Quốc. Dùng để chỉ phong cách nghệ thuật chính thống, được sáng tác và ủng hộ bởi các học viện hoặc cung đình thời xưa.</i>

Dưới ảnh hưởng của thời thế này, chủ thể trong tranh cũng phải là quý nhân quan lớn, văn nhân thi sĩ, hoặc là ẩn sĩ thoát tục núi sâu.

Người giống như Lương Nguyên Kính trực tiếp đưa dân tình bá tánh vào trong tranh, không phải không có, chỉ là hiếm hoi, khó trách thường ngày A Bảo thấy hắn ở hoạ viện đều ‘độc lai độc vãng’, ít khi giao thiệp với bạn đồng liêu, nếu vậy chắc ở trong mắt những người khác, hắn không phải người lạnh lùng khó gần, cũng là hành động khác người thường.

Có một lần A Bảo hỏi hắn, vì sao tranh của hắn không giống như những người khác.

Lương Nguyên Kính liền hỏi ngược lại nàng: “Tranh của người khác vẽ thế nào?”

A Bảo không có nhiều hiểu biết lắm về vẽ tranh, hao tâm tốn sức suy nghĩ rất lâu mới trả lời: “Không biết, dù sao cũng khác ngươi, tranh bọn họ toàn là quan lớn, phu nhân quyền quý, hoặc là đánh đàn cổ, lão nhân cầm quạt đi? Bên cạnh còn phải có mấy kẻ hầu hạ nữa.”

Lương Nguyên Kính nghe xong, hơi hơi mỉm cười: “Những vị đó tự có người khác vẽ họ, còn ta thì không.”

“Vậy ngươi vẽ cái gì?”

Lúc đó bọn họ còn đang ở trên cầu Biện Hà, bên dưới cầu thuyền hàng muốn đi qua cầu, những người chèo thuyền bò l*n đ*nh thuyền hạ cánh buồm xuống, còn có sáu gã to khoẻ phụ đứng ở đuôi thuyền, vài tiểu nhị áo quần ngắn đứng ở trên cầu hô hào, chỉnh dây cáp chuyển phương hướng của thuyền.

Lương Nguyên Kính nhìn cảnh tượng này, nhẹ giọng nói: “Họa hồng trần trung nhân.” [2]

<i>[2] Thường dùng để miêu tả cảnh tượng trong thế gian.</i>

A Bảo ngồi trên thành cầu, theo tầm mắt hắn nhìn xuống dưới, không khỏi khịt mũi coi thường: “Cũng chỉ là đám dân thường hạ đẳng mà thôi.”

Lương Nguyên Kính nhìn nàng chằm chằm, không nói gì.

A Bảo bị ánh mắt của hắn chọc giận, bực bội nói: “Nhìn cái gì? Có phải ngươi muốn nói ta cũng xuất thân thấp kém giống bọn họ chứ gì? Hứ, thấp kém thì sao, vận khí của ta không tốt, không sánh nổi các ngươi đầu thai thành đại lão gia, được nuôi trong bụng của quý nhân, sinh ra cũng chỉ lo hưởng phúc!”

Xuất thân luôn là nỗi đau vĩnh hằng của A Bảo.

Tuy mới đầu nàng cũng không thấy nó có vấn đề gì, lúc còn ở Dương Châu, nàng là bán nghệ không bán thân, dựa vào bản lĩnh nuôi sống bản thân, ngay cả Tri châu đại nhân còn mời nàng về phủ đàn tỳ bà, còn dùng lời hay ý tốt khen ngợi nàng nữa.

Sau khi vào thành Đông Kinh, thân phận ca nữ của nàng lại bị công kích hết lần này đến lần khác, còn biến thành phong trào.

A Bảo bị bọn họ mắng từ năm này sang năm nọ, tính tình cũng dần dần trở nên vặn vẹo, một mặt nàng không thấy mình có gì sai, mặt khác lại cấm đoán không cho ai nhắc về xuất thân của mình.

Rất đúng với câu kiêu căng tự đại nhưng lại tự ti sâu sắc.

Lương Nguyên Kính bất đắc dĩ thở dài, nói: “Ta không có ý đó.”

A Bảo ‘hừ’ một tiếng, ánh mắt quét tới mặt sông.

Giọng nói trong trẻo hiền hoà của Lương Nguyên Kính từ phía sau truyền đến: “Ta chỉ nghĩ, nếu bức tranh này có thể lưu truyền rộng rãi, để người đời ngàn năm về sau sẽ biết, thời đại của chúng ta sinh sống như thế nào thôi.”

A Bảo nghĩ thầm ngươi có mà nằm mơ đi, còn muốn tranh mình vẽ lưu truyền ngàn năm nữa chứ, đừng tưởng muốn là được, ai biết chừng đến cuối sẽ biến thành cái dạng gì.

Nàng chuẩn bị chê bai hắn một câu, nhưng khi quay đầu nhìn thấy thần sắc của Lương Nguyên Kính, lại lập tức im bặt.

Không biết vì sao, mỗi lần nói đến tranh vẽ, trên người Lương Nguyên Kính phảng phất phát ra cỗ khí chất, khiến người khác không thể khinh thường.

A Bảo nuốt lời định nói xuống: “Ha, vậy sao ngươi còn chưa vẽ xong?”

Có mỗi bức tranh, nàng thấy hắn đã vẽ rất lâu rồi.

Lương Nguyên Kính vừa mới dùng bút than vẽ xong bản thảo, đang tính phác hoạ đường nét lên trên, nghe vậy mỉm cười nói: “Ta muốn vẽ toàn bộ thành Biện Kinh.”

A Bảo nghẹn họng, thầm nghĩ khẩu khí của ngươi lớn lắm, nhịn không được hỏi: “Ngươi đã vẽ được bao lâu rồi?”

“Ba năm.”

“……”

**

Lúc Lương Nguyên Kính ra ngoài vẽ tranh, A Bảo mặc dù bị giam ở gần hắn không thể chạy loạn, nhưng tốt xấu gì cũng được ngắm nhìn phong cảnh, người qua lại, không đến mức quá nhàm chán.

Nhưng sau lần trước bị bỏng, hắn không thể vẽ tranh tiếp, quan gia ban ân điển, dặn dò hắn ở nhà chuyên tâm dưỡng thương, không cần phải đến hoạ viện điểm danh, thậm chí còn sai nội thị đưa đến thuốc mỡ mát lạnh do ngự dược cục đặc chế.

Suốt ngày bị nhốt trong nhà không đi ra ngoài, A Bảo rảnh rỗi trồng cây cỏ, Lương gia không quá lớn, nàng chuyển ra chuyển vào rất nhanh đã xong, cây táo trong viện kia kết bao nhiêu quả táo cũng đếm được rất rõ ràng.

Bởi vì nhàm chán, nàng liền kiếm chuyện với Lương Nguyên Kính, đầu tiên là quấn lấy đòi Lương Nguyên Kính mua mấy quyển thoại bản cho nàng, sau khi đọc đến chán lại ầm ĩ muốn đi ra cửa.

“Đi ra ngoài! Đi ra ngoài! Không ra khỏi cửa ta sẽ phát điên mất!”

A Bảo lăn qua lăn lại trên án thư, mấy ngày nay Lương Nguyên Kính đang bận sửa sang lại tập tranh, trên án bày không ít tranh chữ.

Lương Nguyên Kính thấy nàng có đuổi cũng không đi, lập tức cầm tới đao khắc và một loại ấn Kê Huyết Thạch, bắt đầu khắc con dấu.

A Bảo tận tình khuyên bảo nói: “Lương đại nhân, ngươi không đi ra ngoài vẽ vật thực nữa à? Không phải muốn vẽ toàn bộ thành Đông Kinh sao? Còn như vậy nữa, ngươi phải chờ đến ngày tháng năm nào mới vẽ xong hả?”

Lương Nguyên Kính nói: “Tay ta còn chưa lành.”

“Lừa quỷ chắc?” A Bảo trợn tròn mắt, “Ngươi có thể cầm đao khắc đá, sao không thể cầm bút được?”

Lương Nguyên Kính khắc đá, khóe miệng nhếch lên.

A Bảo biết hắn đang cười cái gì, ý tứ đúng là ‘không lừa được quỷ’.

Nàng bất lực ỉu xìu ngã xuống bàn sách, lăn qua lộn lại! Buồn chán quá đi! Buồn chết người! Buồn chết ma quỷ!

‘Cốc, cốc, cốc’ ngoài phòng bỗng nhiên truyền đén tiếng đập cửa.

A Bảo ngồi thẳng dậy: “Có người tới!”

Lương Nguyên Kính ngồi không nhúc nhích, tiếp tục khắc đá: “Dư lão sẽ ra đó xem.”

“Dư lão đi mua đồ ăn rồi!”

A Bảo tức giận nói, mỗi ngày hắn ngồi yên trong nhà, còn chưa biết nhiều chuyện bằng nàng đâu!

“Lương công tử có nhà không?” Người gõ cửa hỏi.

A Bảo lập tức nói: “Còn không mau ra mở cửa đi, có lẽ tìm mua bức tranh của ngươi.”

Lương Nguyên Kính có lúc sẽ vẽ chân dung cho vài người dân, mới đầu là do con trai út của nhà thương hộ chạy mất, phủ Khai Phong dán bố cáo hình vẽ khác xa không giống người thật cho lắm. Lão gia khẩn cầu chủ phủ Khai Phong tìm người khác đến vẽ lại, quan doãn [3] của phủ bị kiện tụng quấn thân, vốn dĩ không rảnh quan tâm chút việc nhỏ này, nói ông ta có bản lĩnh thì tự đi mà tìm.

<i>[3] Chức quan</i>.

Lúc đó hoạ sư dân gian phần lớn trình độ tầm thường, trong hoạ viện tuy chứa nhiều nhân tài, nhưng đa phần có tài sinh kiêu ngạo, cậy mình là quan viên chức, không muốn lui tới với thương nhân.

Hết cách, nghe hàng xóm nói Hàn Lâm Viện có nhân vật lương thiện tên Lương Nguyên Kính, lập tức ôm chút hi vọng tìm tới cửa.

Lương Nguyên Kính nghe vậy không nói hai lời, kêu ông ta miêu tả diện mạo của con trai út, lấy bút mực tới vẩy thành vài nét.

Một lát sau vẽ xong, thương nhân đi tới nhìn, quả thực giống hệt con mình.

Sau đó nhờ vào bức tranh này, ông ta thành công tìm thấy con trai, thương nhân tất nhiên cảm ơn hết lòng, muốn báo đáp lại ân tình của Lương Nguyên Kính bằng một số tiền lớn.

Lương Nguyên Kính không lấy một xu, thương nhân liền đau khổ cầu xin, hai bên đưa qua đẩy lại, cuối cùng Lương Nguyên Kính chỉ nhận lấy một quan tiền.

Từ sau chuyện này, thương nhân bạo dạn tuyên truyền ra ngoài, thế là dân gian mỹ danh ‘Lương Nhất Quán’ ra đời.

Bạn đồng liêu của Lương Nguyên Kính ở hoạ viện biết chuyện, ngấm ngầm chê cười hắn ‘không ngồi chung mâm’ ‘mua chuộc danh tiếng’, hoặc là ‘làm huỷ hoại giới hội hoạ’, dù đó có là lời thật lòng, cũng đều xuất phát từ lòng đố kỵ, Lương Nguyên Kính có thể không phải người giỏi nhất trong hoạ viện, nhưng nhất định là hoạ sư nổi tiếng nhất trong dân gian.

Về sau càng ngày càng có nhiều người tìm tới cửa nhờ hắn vẽ tranh, bất kể là hai nhà tìm làm mai, nhờ hắn vẽ tranh cho cô dâu, đến tết nhờ hắn vẽ hình búp bê, Chung Quỳ trừ tà, đạo quan chùa miếu mời hắn vẽ bích hoạ, hoặc giống như thương nhân, vẽ con cái đi lạc mất cũng có, thậm chí còn có kỹ nữ tìm đến nhờ vả hắn.

Chỉ cần là nhiệt tình muốn nhờ vả, Lương Nguyên Kính đa phần đều đáp ứng, kể cả đắt rẻ sang hèn, tiền thù lao đồng giá chỉ thu một quan tiền.

Bởi vì lo rằng có người tìm tới nhờ vẽ tranh thật nên Lương Nguyên Kính buông đao khắc xuống, ra ngoài thư phòng.

A Bảo thấy hắn mấy bữa nay mới có một lần ra khỏi cửa phòng, vô cùng phấn chấn, trèo qua đầu tường xem khách tới là ai, sau đó trở lại báo tin cho hắn: “Là một bà lão.”

Lương Nguyên Kính khựng bước: “Trên má có một nốt ruồi?”

Cái này A Bảo không chú ý đến, vì thế bay qua nhìn nhìn, rồi quay lại nói: “Đúng rồi, có một nốt ruồi rất lớn.”

“……”

Lương Nguyên Kính đứng bất động.

A Bảo ngạc nhiên nói: “Làm sao vậy?”

“Trong nhà có ai không?” Tiếng đập cửa lại vang lên.

“Không mở cửa sao?” A Bảo hỏi.

Sắc mặt Lương Nguyên Kính căng thẳng, bắt đầu nhìn trái phải khắp nơi.

Làm sao vậy? Đòi nợ tới cửa à?

A Bảo thiện chí nhắc nhở: “Ngươi có thể bò lên trên cây táo trốn.”

“……”

Lương Nguyên Kính đứng trong sân hoang mang lo sợ chạy tới chạy lui, A Bảo cũng đi theo sau hắn chạy tới chạy lui.

Phía sau cửa truyền đến cuộc đối thoại ⎯⎯

“Vương ma ma, sao bà lại tới đây?”

“Dư lão, mới mua đồ ăn về sao?”

“Đúng vậy, sao không đi vào?”

“Tôi gõ cửa nhưng không ai ra mở, có phải Lương công tử vắng nhà không?”

“Kỳ lạ,” Dư lão lẩm bẩm nói, “Lúc tôi ra cửa vẫn còn mà.”

Ngoài cửa vang lên tiếng “Tốt quá”, hình như hai người chuẩn bị đẩy cửa đi vào.

A Bảo cực kỳ đồng tình nhìn Lương Nguyên Kính: “Hay ngươi thử cách trốn trên cây đi.”

Lương Nguyên Kính chỉ chần chờ trông chớp mắt xong xoay người ôm thân cây, dự định bò lên trên.

Lúc này ‘kẽo kẹt’ cửa mở.

Dư lão mua đồ ăn trở về xách một túi thức ăn, một sọt cá, cùng lão phụ nhân trên má có nốt ruồi đen đứng chung một chỗ, mặt đầy khiếp sợ nhìn Lương Nguyên Kính đang ôm cây, vài phiến lá rụng bay qua, ba người một quỷ nhìn mặt nhau.

Dư lão: “….”

Phụ nhân: “………”

Lương Nguyên Kính: “………………”

A Bảo sờ sờ mũi, nói: “Xấu hổ quá đi mất.”

**

Tác giả có chuyện nói:

Ma ma ⎯⎯ Xưng hô đối với phụ nữ lớn tuổi thời Tống.

Khác:

Có thể sẽ có người cảm thấy, tranh của Lương Nguyên Kính ở đây đồng giá tiền không phù hợp với câu ‘ngàn vàng khó mua’ lần trước (chương 3).

Về cái này, tôi nghĩ vầy, Lương Nguyên Kính chưa từng bán tranh của hắn với giá cao, mà là được người ta nâng lên nên mới cao như vậy, mà những bức tranh quan to quý nhân thích, cũng là tranh phù hợp với phong cách hiện đại thời này.

Có người sẽ nghĩ, nếu bức tranh của Lương Nguyên Kính đáng giá tới vậy, vậy tôi vung tiền mua lại, sau đó chuyển nhượng với giá cao hơn có được hay không?

Đương nhiên không được, chỉ có thật lòng tới cửa nhờ vẽ, Lương Nguyên Kính mới chịu vẽ cho, chỉ là Lương Nguyên Kính người này ngây thơ dễ lừa, cũng đã bị lừa vài lần, nhưng không liên quan đến chính văn nên sẽ không đưa vào. <i>[tới đây thấy bùn cười vãi hí hí]</i>

Lại nói một chút, câu “Họa sĩ dân gian phần lớn trình độ tầm thường” tuyệt đối không giống với nguyên sử, trên thực tế rất nhiều danh gia hội họa đều đến từ dân gian, thậm chí bán tranh cả đời, đến già mới được triều đình nhìn trúng.

Chỗ này của tôi cố ý thiết lập như vậy, có thể lý giải thành hội họa lúc ấy là loại hoạt động tao nhã nhất, không phải phú quý trong nhà thì không thể bồi dưỡng, họa sư trình độ cao cũng chỉ có người giàu sụ mới mời được, mà Lương Nguyên Kính là một họa sĩ cung đình kỹ thuật vẽ tinh xảo, cũng khó có được không kiêu ngạo.
 
Phế Hậu A Bảo - Đao Thượng Phiêu
Chương 9: Làm mai


“Công tử nhà chúng tôi, ngày thường hay… Có thói quen leo cây rèn luyện sức khoẻ ấy mà.” Dư lão cười ha ha nói.

“Tôi hiểu, ngày thường tôi cũng vậy…” Vương thị gượng cười phụ hoạ.

“Cũng leo cây luôn sao?” Dư lão kinh ngạc hỏi.

“À…” Vương thị đổ đầy mồ hôi.

Còn sắc mặt của Lương Nguyên Kính thảm đến nỗi không nỡ nhìn.

A Bảo bụm mặt nói: “Đừng nói nữa mà, ta xấu hổ thay các ngươi.”

Dư lão nói: “Tôi đi nấu cơm.”

Nói xong liền gấp không chờ nổi chui vào trong phòng bếp, chỉ còn lại Lương Nguyên Kính và Vương thị đứng tại chỗ.

A Bảo nhìn Lương Nguyên Kính tai đỏ ửng, có lòng an ủi hắn: “Không sao đâu, ngươi chỉ bị bắt gặp một chút thôi, chuyện gì rồi cũng sẽ qua, đừng đứng như trời trồng nữa, mau mời khách vào uống trà đi.”

“Mời bà vào uống trà.” Lương Nguyên Kính đỏ mặt, ho nhẹ một tiếng nói.

“Được… được.”

Vương thị tay chân luống cuống cùng đi vào thư phòng với hắn, nghĩ thầm chắc Lương công tử sẽ không giết người diệt khẩu đâu nhỉ.

Sau nửa canh giờ, Vương thị nói rõ ý tứ đến đây, bà ấy vậy mà tới làm mai cho Lương Nguyên Kính.

Rốt cuộc A Bảo mới sáng tỏ vì sao vừa rồi hắn giống như thấy quỷ tới đòi mạng, ha ha há há, thì ra là sợ bà mối.

A Bảo ôm bụng, lăn lộn cười bể bụng.

Lương Nguyên Kính bất đắc dĩ trừng mắt với nàng một cái, nàng không những không thu liễm, ngược lại còn cười quá đáng hơn.

“Đừng cười nữa.” Lương Nguyên Kính nói.

“Già đâu có cười.” Vượng thị vẻ mặt khó hiểu.

“Không… Tôi không nói bà.” Lương Nguyên Kính bất lực muốn giải thích, nhưng rồi lại không biết phải giải thích như thế nào, chỉ có thể cam chịu gục đầu xuống, “Bỏ đi.”

Vương thị tuy không hiểu gì nhưng cũng không bám dai hỏi, dồn hết sức lực bày ưu điểm của việc cưới vợ vào cửa cho hắn: “Lương công tử à, cậu đã ba mươi tuổi rồi…”

“Cái gì?” A Bảo khiếp sợ nhìn Lương Nguyên Kính, “Ngươi đã già đến vậy rồi sao?”

Lương Nguyên Kính: “……”

Vương thị: “Người xưa có câu ‘tam thập nhi lập’ [1], cậu cũng nên thành gia lập thất, cưới một thê thử vào nhà, thứ nhất là có thể lo liệu việc nhà, may đồ giặt quần áo, thứ hai có thể chỉnh trang sửa soạn cho cậu, nếu cậu có chuyện gì nhọc lòng còn có nàng bên cạnh san sẻ ngày đêm không rời…”

<i>[1] Lời dạy của Khổng Tử: Đàn ông 30 tuổi, ở độ tuổi sung sức nhất của người đàn ông, suy nghĩ cũng trở nên chín chắn thành đạt.</i>

“Những thứ đó Dư lão cũng có thể làm được.” Lương Nguyên Kính nhỏ giọng phản bác.

Vương thị hết sức không đồng tình: “Dư lão có thể làm ấm giường cho cậu không? Có thể sinh con đẻ cái cho cậu, nối dõi tông đường không? Lương công tử à, cậu không thể thủ tiết cả đời cho một lão nô bọc, làm như vậy sao có thể ăn nói với cha mẹ cậu đây?”

Lương Nguyên Kính: “……”

A Bảo ôm bụng, đã cười đến độ không chịu nổi.

Tiếp theo đó, Vương thị còn giới thiệu vài người do bà ấy chọn, gì mà muội tử nhà Điền giáo đầu, nương tử đồng hương với Liễu viên ngoại, còn có khuê nữ nhà phú thương giàu có, A Bảo càng nghe càng thấy sai sai.

“Tên giáo đầu họ Điền này trong cấm quân mang tiếng là người dữ dằn nhất, ăn no say xỉn đánh chết người, ta ở trong cung từng nghe qua, để ngươi cưới em gái hắn, ngươi chịu nổi mấy quyền của người ta đây?”

“Gì nữa? Ở goá còn có đứa con trai? Người như vậy mà cũng dám làm mai cho ngươi, gả qua lập tức biến thành cha dượng… Cái gì mà con cái là phước phần chứ, cho bà bà có muốn không đó?”

“Nương tử nhà phú thương này đã hơn hai mươi tám tuổi mà chưa lấy chồng, coi chừng bị bệnh kín đó, không được không được.”

“Tuổi tác quá lớn không ổn, diện mạo tầm thường, tính tình hung ác càng không ổn, mặt có vết bớt càng không không ổn. Ui… Toàn giới thiệu dưa vẹo táo nứt không vậy, tiễn khách tiễn khách mau!”

A Bảo nghe được vô cùng tức giận, bà mối này cũng quá trời xằng bậy rồi.

So với nàng, Lương Nguyên Kính cũng không có phản ứng gì quá lớn, nhẫn nại nghe Vương thị luyên thuyên suốt nửa canh giờ sau mới đứng dậy tiễn khách.

Hắn tiễn người xong quay về, thấy A Bảo đang ngồi trên ghế hắn phát giận: “Về sau đừng để người này tới cửa, có tới cũng không mở! Thật là, làm mai toàn loại người gì đâu không…”

Lương Nguyên Kính khẽ mỉm cười, lấy dao khắc đặt trên bàn qua, tiếp tục khắc ấn Kê Huyết Thạch đang làm dang dở.

A Bảo bỗng hỏi hắn: “Chẳng qua, sao ngươi ở độ tuổi này rồi mà còn chưa thành hôn vậy?”

Đại Trần lấy nhân hiếu trị quốc, thành hôn sớm là tập tục, nam tử qua mười lăm đã có thể cưới vợ, nữ tử mười ba có thể xuất giá, giống năm đó A Bảo mười bảy tuổi gả cho Triệu Tòng đã được xem là thành hôn muộn, mà Lương Nguyên Kính cũng đã ba mươi tuổi vẫn còn lẻ loi một mình, cũng không nạp thiếp, thật sự là một chuyện kỳ lạ.

Lương Nguyên Kính dừng dao trong tay lại một chút, rũ mắt nói: “Không vì sao cả.”

A Bảo nhớ tới bức hoạ đáy rương kia, tò mò hỏi: “Có phải ngươi có người trong lòng không?”

Bất chợt Lương Nguyên Kính ngước mắt lên, kinh ngạc nhìn nàng, bộ dạng như bị người ta nói trúng tim đen.

Hoá ra là có thật nha.

A Bảo không biết sao trong lòng bỗng cảm thấy có chút không thoải mái, giống như chó nhà mình nuôi đã lâu đột nhiên chạy theo người khác vậy.

“Là tiểu nương tử nhà ai vậy? Người trong bức hoạ cất trong rương kia là nàng sao?”

Lương Nguyên Kính ngạc nhiên nói: “Nàng biết bức hoạ đó?”

“Đúng vậy, lần trước có thấy qua…”

“Nàng thấy được rồi?”

Lương Nguyên Kính lớn tiếng đánh gãy nàng, thần sắc khiếp sợ cực độ, dòm kỹ còn có chút sợ hãi.

Từ trước đến nay lúc hắn nói chuyện đều là ăn nói cẩn trọng, chưa từng bày ra vẻ thất thốt như bây giờ, A Bảo nhất thời khó hiểu: “Không thấy được bên trong tranh… Làm gì vậy? Ngươi hung dữ như vậy làm gì?”

“Thực xin lỗi.” Lương Nguyên Kính quay đầu đi, nhéo nhéo điểm giữa mày, mặt mũi mệt mỏi, “Ta hơi… mệt.”

A Bảo càng tò mò: “Rốt cuộc là tiểu cô nương nhà ai? Ta có quen không?”

Lương Nguyên Kính không đáp, tiếp tục công việc khắc con dấu.

A Bảo ‘đuổi cùng giết tận’ hỏi thăm, hắn lại như không có nghe, tựa như ba ngày đầu kia, cố ý vờ vịt không nghe thấy nàng.

Ánh mặt trời ngày xuân từ cửa sổ rọi vào, chiếu lên trên sườn mặt như ngọc của hắn, càng tôn lên màu da trắng nõn, mặt mày đẹp như tranh.

Bỗng nhiên A Bảo có chút buồn bực không nói nên lời: “Lương Nguyên Kính, ngươi cứ nhàm chán như vậy, sẽ không có tiểu nương tử nào thích ngươi đâu.”

Lương Nguyên Kính trượt tay, lưỡi dao khắc xẹt qua ngón trỏ tay trái hắn, máu tươi lập tức ứa ra.

Giọt máu nhỏ nhiễu trúng bức tranh trên bàn, bức tranh vẽ một cái bình sành, c.ắm vào hai ba cọng cỏ tranh, có một con mèo lưng vằn đang kiễng hai chân sau đứng vung móng trêu đùa cọng cỏ.

“Ngươi chảy máu kìa!” A Bảo hốt hoảng la.

Lúc này Lương Nguyên Kính mới hoàn hồn, nắm lấy ngón trỏ chảy máu, giọt máu nhỏ vào hình vẽ trong tranh hình thành một vòng xoáy nước nhỏ kỳ lạ, chỉ là hai người họ không ai kịp chú ý tới.

“Mau cầm máu đi!” A Bảo la, “Trong nhà có bột thuốc đắp không?”

Lương Nguyên Kính lục tung tìm thuốc cầm máu, A Bảo lo lắng đi theo sau hắn, đột nhiên trong cơ thể dậy lên một loại cảm giác kỳ dị, khiến thân thể nàng nóng hổi, choáng đầu hoa mắt, trông chốc lát như đang ở giữa cánh đồng bát ngát, chốc lát lại giống lúc về trở hòm xiểng chật hẹp u ám.

A Bảo nháy mắt đứng ngây ngốc tại chỗ, run rẩy la lên: “Lương… Lương Nguyên Kính.”

“Làm sao vậy?”

Lương Nguyên Kính dừng tay lại, chạy vọt tới trước người nàng.

A Bảo vốn định đỡ hắn, đôi tay lại xuyên qua cánh tay của hắn, nàng mờ mịt lẫn sợ hãi: “Không biết nữa… Có gì đó không ổn, ta có thể cảm nhận được, ta…”

Trong lúc nhất thời, hai người đều im lặng, bởi vì bọn họ đều nhìn thấy, đôi tay của A Bảo đang dần tan biến.

Tay… Sau đó đến khuỷu tay, nửa người trên… Thậm chí đến toàn thân.

Thời khắc cuối cùng tan biến, A Bảo thấy được Lương Nguyên Kính liều mạng nhào về phía nàng, hai mắt đỏ ngầu, đau khổ hét to: “A Bảo!”

Đây là lần đầu tiên hắn kêu tên mình.

Trước lúc mất đi ý thức, trong đầu A Bảo xẹt qua dòng suy nghĩ.

“A Bảo!”

Lương Nguyên Kính tìm kiếp khắp nơi trong thư phòng, ngay cả dưới án thư đã đều chui qua cũng không hề nhìn thấy bóng dáng của A Bảo, ánh mắt hắn mê mang quỳ trên mặt đất.

“Làm sao vậy? Có chuyện gì?”

Dư lão cầm vá canh từ bên ngoài chạy tới, thấy rõ dáng vẻ của hắn, không khỏi kinh hãi: “Công tử, cậu……”

“Tôi không sao.”

Lương Nguyên Kính hồn bay phách lạc từ trên mặt đất đứng dậy, hai mắt hiện lên mảnh tối đen, còn thấy hơi choáng váng.

Dư lão đỡ lấy hắn, vừa ‘ủa’ lên một tiếng: “Sao lại có mèo chạy tới chỗ nào?”

“Mèo gì?” Lương Nguyên Kính thất thần hỏi.

“Ở chỗ này có một con mèo vằn.” Dư lão nói.

“Lương Nguyên Kính.”

Giọng nữ quen thuộc vang lên trong phòng.

Sống lưng Lương Nguyên Kính cứng đờ, đột nhiên quay đầu lại, một con mèo lưng vằn tao nhã ngồi xổm ở đó, đôi mắt xanh biếc như hai viên phỉ thuý, sâu kín nhìn hắn chằm chằm.

<i>⎯ ⋆˚࿔ Hết quyển một «Cung oán»</i>

**

Cung oán – Nghê Long Phụ (?)

Thúy tụ vô hương kính hữu trần, nhất chi hoa sấu bất tàng xuân.

Mười năm không biết mặt quân vương, thủy tín thiền quyên giải lầm người.

<i>*Miêu tả nội tâm đau khổ của một người phụ nữ bị mắc kẹt trong thâm cung.</i>

Tác giả có chuyện nói:

Góc nhìn của bà mối Vương thị đối với Lương Nguyên Kính:

Nam thanh niên lớn tuổi độc thân chưa lập gia đình, thuê nhà một sảnh ba phòng, vị trí nhà ở ngoài thành, phương tiện đi lại là cưỡi lừa già (↔ chiếc Mazda second-hand), tiền lương không cao, tuy trong thể chế nhưng chức quan nhỏ, so với công tử quý tộc khắp kinh thành không tính là gì hết, có thể nói, trừ mặt ra cũng không có gì đặc biệt, hắn ở thị trường yêu đương và hôn nhân thật sự không có tính cạnh tranh xíu nào <i>(hic hic quay đi)</i>.

A Bảo tỏ vẻ: Mặt mũi đẹp là được.
 
Phế Hậu A Bảo - Đao Thượng Phiêu
Chương 10: [Tuý hoa âm] Hồi sinh


“Sao lại thành thế này?”

“Không thấy con mèo trên tranh nữa.”

Lương Nguyên Kính nhìn chằm chằm bức《Ly miêu hí thảo diệp đồ》trên bàn, sắc mặt ngưng trọng nói.

“Ta nhìn xem!”

A Bảo cố sức nhảy lên án thư, chẳng qua không có thói quen như loài mèo, thế là ngã chổng vó trên mặt đất, cũng may thịt mỡ dày cũng không đau lắm.

Lương Nguyên Kính thấy nàng nhảy lên không được, nói một tiếng “Đắc tội” rồi bế nàng lên trên án.

Hai tay của hắn xách phần nách của A Bảo, cảm giác vô cùng kỳ quái, nàng mất tự nhiên vặn người, cúi đầu nhìn con mèo trên bức hoạ.

“Thật sự không thấy nữa!”

A Bảo khiếp sợ quay đầu, động tác quá đột ngột, suýt chút nữa đã ngã xuống, Lương Nguyên Kính tinh tế đẩy đẩy nàng lại vào trong.

“Không… Không chỉ không có mèo, máu của ngươi cũng vậy…”

Lúc trước Lương Nguyên Kính bất cẩn cắt trúng tay, rõ ràng có máu chảy dính trên bức tranh, cả hai người họ đều thấy rõ như ban ngày, nhưng hiện tại không chỉ giấy Tuyên Thành sạch sẽ trắng tinh, mà ngay cả con mèo được vẽ trên đó cũng biến mất, trong hình chỉ còn lại bình sành cắm cỏ tranh, còn hồn phách của A Bảo lại biến thành y đúc con mèo trên giấy vẽ!

“……”

A Bảo cùng Lương Nguyên Kính đối mặt nhau một lát, rốt cuộc không nhịn được nữa kinh ngạc cảm thán: “Thế gian còn có chuyện kỳ lạ như vậy à?”

Lương Nguyên Kính im lặng, bởi vì đối với hắn mà nói, có thể thấy quỷ hồn đã là điều kỳ bí, gần đây bên người hắn xuất hiện quá nhiều chuyện lạ, dần dần cũng không còn bất ngờ nữa.

Hắn chỉ để ý một chuyện: “Tại sao lại như thế?”

“Ta biết.” A Bảo nói.

“!”

Lương Nguyên Kính hơi hơi trợn to mắt nhìn nàng.

“Bút thần Mã Lương, [1]” A Bảo hỏi hắn, “Ngươi đã nghe qua câu chuyện này chưa?”

“….”

Câu chuyện ⟪Bút thần Mã Lương⟫ là chuyện dân gian xưa nhà nhà đều biết từ triều Đại Trần, ngay cả trẻ em chưa đi học cũng đều nghe qua, đương nhiên Lương Nguyên Kính không thể không biết.

<i>[1] Tóm tắt ⟪Cây bút thần của Mã Lương⟫: Câu chuyện kể về cậu bé tên Mã Lương đam mê vẽ vời nhưng do gia đình nghèo khó không có tiền mua nổi cây bút. Có lần, cậu đi chăn gia súc và thấy người khác đang vẽ tranh nên bước vào xin một cây bút để học vẽ. Nhưng người họa sĩ thấy cậu không có tiền nên không cho khiến Mã Lương rất tức giận. Từ đó cậu chăm chỉ học vẽ, đi đến đâu cũng cố học hỏi tìm tòi. Một ngày nọ, Mã Lương nhặt được một cây bút thần và bất cứ thứ gì cậu vẽ ra đều trở thành hiện thực. Mã Lương chỉ nhận vẽ cho người nghèo, vẽ ra bất kỳ thứ gì nhà nghèo cần. Chẳng bao lâu sau, viên quan này phát hiện ra và tìm đến đòi cậu vẽ ra những thỏi vàng. Mã Lương đã vẽ ngọn núi đầy vàng và đặt dưới biển sâu, khiến cho quan tham rơi xuống biển mà chết. (神笔马良 – có thể tìm đọc thêm)</i>

A Bảo hỏi: “Ngươi dùng bút gì vẽ?”

Lương Nguyên Kính lấy cây bút lông thỏ trông bình thường trên giá bút qua đưa cho nàng xem, trên đó có khắc dòng năm chữ ‘Tặng tiểu hữu Nguyên Kính’.

“Bút này là ai tặng cho ngươi?”

“Tiểu sư phụ Giác Minh ở chùa Tướng Quốc, y là bạn thân của ta, tháng chín năm ngoái, ta nhập kinh cùng y, trên đường đi y tặng ta cây bút này.”

A Bảo thầm nghĩ ngươi cái người này đến cửa còn không thích bước ra, thế mà còn làm bạn với hoà thượng.

“Bút này chắc chắn đã được khai quang.”

“……” Lương Nguyên Kính nói, “Ngày mai ta sẽ đến chùa Tướng Quốc hỏi xem.”

“Cũng chỉ có thể như vậy.”

Nhưng nàng cũng không muốn biến thành mèo vằn mà, A Bảo buồn bực đẩy tới đẩy lui bút lông thỏ, bỗng nhiên nàng ngẩng đầu, đôi mắt xanh biếc bỗng chốc giãn tròng.

“!!!”

Lương Nguyên Kính: “???”

A Bảo hô lớn: “Ta có thể chạm vào bút lông!”

Lương Nguyên Kính: “!”

“Ta có thể chạm vào đồ vật?”

A Bảo nhảy lên vai Lương Nguyên Kính, đệm thịt mèo vỗ lên má hắn, kích động hét lên: “Há! Là thật! Ta có thể sờ vào đồ vật!”

Sau đó nàng lại nhảy xuống án thư, hưng phấn nhảy tới nhảy lui, loạn xạ đụng giá bút trên án, nghiên cứu, bức hoạ cuộn tròn, sách vở, còn vô ý giẫm lên nghiên mực, bước đi trên giấy Tuyên Thành hiện lên đầy dấu hoa mai hình chân mèo.

“……”

“Được rồi, đừng quậy nữa.”

Lương Nguyên Kính hết nhịn nổi túm sau cổ nàng, lấy khăn chà lau móng vuốt đen nhánh của nàng sạch sẽ trở lại.

Tuy rằng ngoại hình chỉ là mèo, nhưng bị hắn bắt lấy chân chà lau vẫn cảm thấy hết sức lạ lẫm, A Bảo khó chịu muốn rút ra, lại bị Lương Nguyên Kính dùng thêm sức đè lấy.

“Chờ chút, sắp xong rồi.”

“……”

Có phải hắn đã quên bên trong con mèo còn chứa hồn phách của con người không hả?!

Mặt mèo A Bảo nóng hổi, hên là còn có lớp lông chống đỡ, nếu không thật sự sẽ mất đi cái mạng già.

Góc nhìn của mèo đối với người rất kỳ, khuôn mặt tuấn tú của Lương Nguyên Kính trước mắt nàng được phóng to lên mấy lần, cho đến hôm nay A Bảo mới phát hiện, người này thật sự rất đẹp nha, nước da trắng mịn như ngọc, không tỳ vết, đôi mắt sáng ngời, mũi cao thẳng, còn có đôi môi nhu thuận.

“Xong rồi.”

Lương Nguyên Kính buông nàng ra, hơi hơi mỉm cười, lúc hắn cười rộ lên gió xuân phất qua bờ dương liễu, trong veo vẫn ôn nhu.

Thình thịch, thình thịch.

Con tim trong lồng ng.ực A Bảo nảy lên vô cùng rõ rệt, thật giống với lúc nàng còn sống, thầm nghĩ bản thân đang làm sao vậy, bị bệnh sao, lại nhìn Lương Nguyên Kính đến mê mẩn.

Cũng không biết có phải thính giác của mèo đặc biệt nhạy bén hay không, nàng thậm chí còn có thể ngửi được mùi đàn hương nhàn nhạt trên người Lương Nguyên Kính nữa.

Đợi đã……

Nếu nàng có thể ngửi thấy mùi vị, cũng có thể chạm vào vật thể, vậy chẳng phải là…

Đôi mắt xanh biếc phát sáng b*n r* bốn phía, A Bảo ngẩng đầu, tỉnh táo phát ra bốn chữ: “Ta! Muốn! Ăn! Bánh!”

**

Cuối cùng cũng đến bữa trưa Lương gia, Lương Nguyên Kính không ra vẻ, xưa nay trong nhà thường là chủ tớ ngồi ăn chung một bàn.

Dư lão thấy hắn cất con mèo không biết từ đâu chui ra vào trong tay áo, còn chuẩn bị chén đũa, gắp miếng cá ướp muối cho nó, trông hình như là chuẩn bị bàn cơm với mèo.

“…..”

Dư lão khó nhịn nổi khuyên nhủ: “Công tử, mèo hoang từ đâu chạy tới đây, chỉ sợ không được sạch sẽ lắm.”

A Bảo đang thử dùng móng mèo cầm đũa, thật sự là quá khó nhằn, buộc phải từ bỏ, nghe thấy lời này, hết sức không vui nói: “Dư lão, ông nói thế làm ta buồn lắm đó, hôm qua ta còn mới nói chuyện với ông mà.”

Nàng ‘meo meo’ xong ngậm miếng cá vào trong miệng.

Lương Nguyên Kính lo lắng nhìn nàng: “Ăn được không? Có mặn quá không?”

Dư lão: “…………”

Cái quái gì đang diễn ra vậy?

Công từ vừa nói chuyện với mèo?

Lương Nguyên Kính khoé mắt thấy được biểu cảm hoảng sợ của ông ấy, bỗng nhiên phản ứng kịp thời, chỉ vào A Bảo hỏi: “Thúc nghe được nàng (nó) nói chuyện không?”

Dư lão: “………………”

Công tử vậy mà thật sự cho rằng mèo có thể nói chuyện!

Lại nhớ tới cử chỉ leo cây kỳ quái của hắn vào buổi sáng, cùng với bộ dạng hồn bay phách lạc trong thư phòng, đồng tử Dư lão lay động, tay cầm đũa bắt đầu run lên.

“Công tử, cậu không sao chứ? Có phải gần đây vẽ tranh quá mệt mỏi không?”

“Hình như ông ấy không nghe thấy ta nói chuyện.” A Bảo phun miếng cá ra.

Lương Nguyên Kính im lặng một lát mới nói: “Tôi không sao.”

“Tôi… Đột nhiên nhớ tới trong bếp còn đang hâm canh, để tôi đi lấy.”

Dư lão vội vã bỏ chạy, dạo gần đây công tử thật sự rất quái lạ nha, thường hay lẩm ba lẩm bẩm, có cần mời đại phụ đến khám không nhỉ.

Chờ lúc ông bưng canh cá hầm trở lại, chợt phát hiện con mèo vằn kia đã biến mất.

“Mèo đâu?” Dư lão tò mò hỏi.

Lương Nguyên Kính nhìn hồn phách A Bảo khôi phục lại bên tay phải mình, không nói gì.

Còn A Bảo đang ngơ ngác nhìn lát cá mới ăn được vài miếng rơi trên mặt đất mà lòng đau như cắt.

Màn đêm buông xuống.

A Bảo và Lương Nguyên Kính trước khi ngủ tổng kết lại ba chuyện.

Thứ nhất, là nhỏ máu vào tranh có thể chuyển sinh hồn phách A Bảo sống dậy theo vật vẽ trong đó, mối liên hệ với cây bút mà Giác Minh hoà thượng bạn thân tặng cho Lương Nguyên Kính, tạm tính là cây bút thần.

Thứ hai, A Bảo sống lại có thể nói tiếng người, nhưng ngoại trừ Lương Nguyên Kính ra, không còn ai nghe hiểu được cả.

Thứ ba, A Bảo không thể sống lại quá lâu, ước chừng tầm nửa canh giờ sẽ trở lại trạng thái ban đầu.

**

Tác giả có chuyện nói:

A Bảo: Xin hãy gọi ta là bậc thầy dọn bàn.

<i>Khác:</i>

<i>⟪Bút thần Mã Lương⟫ là câu chuyện ngụ ngôn do ông Hồng Thủy Đào sáng tác vào thập niên 50 của thế kỷ 20, ý chính là biểu hiện sự tham lam và sắc mặt vô liêm sỉ của giai cấp thống trị, có thể nói quan phủ cổ đại tuyệt đối sẽ không cho phép chuyện này xuất hiện, tôi mượn ở đây một chút, có thể coi nó là ⟪Bút thần Mã Lương⟫ phiên bản cổ đại.</i>
 
Phế Hậu A Bảo - Đao Thượng Phiêu
Chương 11: Đi chùa


Hôm sau, Lương Nguyên Kính mang A Bảo theo đi lên chùa Tướng Quốc tìm gặp Giác Minh hoà thượng.

Trên đường đi, A Bảo cưỡi trên lưng lừa hỏi hắn: “Ngươi là hoạ sư, sao lại kết bạn với hoà thượng vậy?”

Lương Nguyên Kính giữ dây thừng, đáp: “Lúc ta còn nhỏ, vì muốn nâng cao kỹ năng hội hoạ, từng đi thăm quan những ngọn núi lớn nổi tiếng, ngày nọ trên đường đến Vĩnh Châu tìm núi Cửu Nghi, đêm mắc trận mưa to, buộc phải tìm chỗ trú ở miếu thờ đổ nát…”

“Để ta đoán xem” A Bảo đầy hứng thú đánh gãy hắn, “Có phải trùng hợp vị hoà thượng đó là trụ trì miếu, sau đó các ngươi làm quen nhau?”

Lương Nguyên Kính mỉm cười lắc đầu: “Không phải thế, miếu thờ cũ kỹ đó cỏ khô héo úa, tượng thần đổ nát, trên ngói đọng lại nhiều mạng nhện, đã lâu rồi không có người vào ở. Tiểu sư phụ Giác Minh giống ta, là tăng nhân vân du [1], lúc đó tình cờ gặp y trở về từ nơi xa, ta vô cùng tò mò về phong tục tập quán nơi khác nên đã hỏi thăm y, y cũng thấy hiếu kỳ về núi non sông nước ta từng ghé qua, thế là bọn ta thắp nến tâm sự suốt cả đêm, đến tận gần sáng ngày hôm sau mới xong. Y nghe ta nói muốn lên phía bắc tham dự học viện Đại Bỉ năm đó, cũng nói y muốn đến Đông Kinh ngắm nhìn chùa Đại Tướng Quốc xem sao, và rồi hai người bọn ta tá túc trên chiếc thuyền hàng, cùng nhau lên đến phía bắc.”

<i>[1] Vân du thường chỉ hoà thượng, đạo sĩ đi đây đi đó không cụ thể địa điểm đi.</i>

“Ta biết rồi” A Bảo đung đưa chân nói, “Sau đó các ngươi ở trên thuyền, tiếp tục thắp nến tâm sự suốt một đêm, hắn tới Đông Kinh rồi, trở thành hoà thượng của chùa Đại Tướng Quốc, còn ngươi thi đậu hoa viện quốc triều, từ đó biến thành hoạ sư hàm lâm đãi chiếu, đúng không?”

Lương Nguyên Kính nén cười: “Cũng không khác biệt lắm.” <i>(đọc tại nudepxinh.wordpress.com)</i>

A Bảo ngó hắn, thầm nghĩ ngươi và đại hòa thượng kia thân mật quá ha, còn thắp nến tâm sự suốt đêm gì gì đó…

Nghĩ lại thì, sao mình lại để ý chuyện đó làm gì, đúng là lo chuyện bao đồng mà, hứ, nhìn mây trôi trên trời còn hơn.

**

Chùa Đại Tướng Quốc nằm ở phía nam của thành Đông Kinh, được xây dựng bởi cao tăng đại sư Tuệ Vân từ thời Đường, nghe đâu đây là nơi ở của Ngụy công tử nhà Tính Lăng quân xưa, tên ban đầu là chùa Kiến Quốc, vào Nguyên Hoà năm thứ nhất, Đường Duệ Tông hạ chiếu chỉ sửa chùa Kiến Quốc thành chùa Tướng Quốc, để kỷ niệm phong hào Tướng Vương trước khi ông lên ngôi, ông còn có tấm bảng đề ‘Chùa Đại Tướng Quốc’, chỉ có chùa Tướng Quốc mới có.

Tới khi nước Đại Trần ra đời, chùa Tướng Quốc đã trở thành chùa dành cho hoàng gia, hương khói ngày càng thịnh, mỗi tháng chỉ mở cửa đón khách đúng năm ngày cho người ngoài ghé thăm cúng bái.

Hôm nay vừa đúng ngày chùa mở, ngôi chùa ngày thường yên tĩnh giờ đây trở nên ồn ào nhộn nhịp, khách tới nhiều như mây, cách xa xa đã trông thấy cảnh tượng náo nhiệt.

A Bảo vừa nhìn thấy cảnh tượng này đã sớm vứt chuyện kia lên chín tầng mây, vươn cái cổ dài nhìn trong vô vọng, thấy Lương Nguyên Kính vẫn không nhanh không chậm buộc con lừa lên cây ngô đồng, không khỏi lên tiếng thúc giục: “Ngươi nhanh lên đi!”

Lương Nguyên Kính đang thắt nút thòng lọng, chợt nhìn nàng nói: “Hay là, nàng đừng đi vào, ở chỗ này chờ ta.”

“?”

A Bảo mặt đen như đáy nồi: “Ý của ngươi là sao? Chê ta phiền?”

“Không có” Lương Nguyên Kính vội nói, “Ta không có ý đó, nơi này là chùa chiền, hào quang Đức Phật soi khắp nơi, nàng là oan hồn, nếu để bị thương thì không hay lắm.”

A Bảo thở nhẹ nhõm, thì ra là ý này, xua xua tay nói: “Không sao đâu, lúc còn sống một là ta không làm việc ác, hai là không giết người…”

Nàng đột ngột khựng lại, nhớ tới đứa bé của Tiết Hành đã chết trong tay mình, nếu được may mắn sinh ra, chắc cũng được tính là một mạng ‘người’.

Nghĩ tới đó, tay của nàng đã sớm dính máu tanh, cũng không được sạch sẽ mấy.

A Bảo miễn cường cười cười, nói: “Thôi, ngươi vào đi.”

Lương Nguyên Kính dò hỏi nhìn nàng một cái, cuối cùng không nói gì.

Chùa Đại Tướng Quốc đình rộng viện sâu, đặc biệt trước cửa còn bán nhiều loài vật như chó mèo, chim chóc quý hiếm, đi vào chùa, trong đình có nhiều màn lụa, bàn ghế, bán ít dây cương cung tên, vài món đồ cổ quý hiếm… Hai bên hành lang còn có nhóm ni cô bán đồ thêu thùa, châu ngọc, trang sức, khăn vấn đầu, mũ mạo các loại, có cả hương dược thổ sản, sách tranh vẽ, cái gì cũng có.

A Bảo nhìn không chớp mắt, mỗi hàng đều phải nhìn bằng con mắt khác.

Dòng người đông đúc tấp nập vào chùa, người không hay ra mồ hôi như Lương Nguyên Kính đã chen đến ướt đẫm, còn A Bảo chỉ là một vong hồn, không cần chen chúc với người sống, vừa mới lơ đãng một chút nàng đã bay đi mất, làm hắn đau đầu không thôi, đành phải ăn nói khép nép cầu xin: “Đừng nhìn nữa, lo chuyện chính trước đã.”

A Bảo ngồi xổm trước quầy hàng, cũng không quay đầu lại nói: “Đợi chút, ta nhìn cá cẩm lý đuôi dài [2] này, chắc ăn ngon lắm, ngươi mua cho ta một con đi.”

<i>[2] Cẩm lý </i><i>锦鲤</i><i> là cá koi, nhưng mình tìm trên baidu thì có người giải thích nó giống như cá chép thông thường thôi.</i>

Lương Nguyên Kính biết nếu chịu mua lần này, nhất định sẽ có lần tiếp theo, nên kiên quyết không đồng ý.

A Bảo tức giận mắng to, sau đó khóc lóc lăn lộn trên mặt đất.

Lương Nguyên Kính quả thực không có biện pháp với nàng, đành xoay người bỏ đi, quả nhiên không được bao lâu, A Bảo mặt không tình nguyện đuổi theo kịp.

Đi vào chính điện, trên đài thờ một pho tượng giống phật Di Lặc cao tám thước làm bằng đồng mạ vàng, hai bên có treo bích hoạ của Ngô Đạo Tử, A Bảo ngửa đầu quan sát bức hoạ, Lương Nguyên Kính tới bắt chuyện với một sa môn tăng có quen biết, hỏi y Giác Minh có ở chùa không.

Sa môn tăng nói: “Thí chủ tới không đúng lúc, sư phụ tháng trước đã rời chùa vân du rồi.”

Lương Nguyên Kính vội hỏi: “Có nói khi nào trở về không?”

Sa môn tăng lắc đầu: “Sư phụ vân du, xưa nay không rõ ngày về, nếu thí chủ có việc gấp, đợi sư phụ trở về, tiểu tăng sẽ chuyển lời tới ngài ấy thay người.”

Tạm thời chỉ có thể như vậy, Lương Nguyên Kính nói câu “Làm phiền rồi” sau đó dẫn A Bảo ra ngoài chính điện.

A Bảo đi theo phía sau hắn, quay đầu nhìn đông nhìn tây, đột nhiên hỏi: “Lương Nguyên Kính, ngươi từng vẽ bích hoạ bao giờ chưa?”

Lương Nguyên Kính thất thần gật đầu nhẹ: “⟪Tịnh thổ Di Lặc hạ sinh⟫ của Văn Thù viện là do ta vẽ.”

Hai mắt A Bảo sáng lên, trộm hỏi: “Vậy ngươi có mang bút thần theo không?”

“Có mang theo.”

Trước khi đến chùa, cho rằng sẽ gặp được Giác Minh nên đặc biệt mang theo bút lông thỏ đến giải đáp nghi ngờ.

Lương Nguyên Kính chợt thấy không đúng, nghiêng đầu hỏi A Bảo: “Hỏi cái đó làm chi?”

A Bảo nhào tới bắt lấy cánh tay hắn van xin: “Lương công tử! Lương đại nhân! Ngươi vẽ tranh cho ta nha! Dùng bút thần vẽ! Nhỏ máu của ngươi! Giống như lần trước đó! Ta muốn được đi dạo một vòng!”

“……”

Lương Nguyên Kính rút cánh tay ra, vô cảm nói: “Không được.”

A Bảo trừng lớn đôi mắt: “Tại sao chứ?” <i>(đọc tại nudepxinh.wordpress.com)</i>

Lương Nguyên Kính nói: “Không tại gì cả, không được là không được.”

Hắn xoay người bỏ đi, A Bảo lập tức đuổi theo, tâm trạng ngũ vị tạp trần, thầm nghĩ Lương Nguyên Kính thật buồn cười, còn dám cự tuyệt nàng nữa chứ.

Suy nghĩ vừa nhảy ra, nàng lại thấy có chỗ không đúng.

Vì sao nàng cảm thấy Lương Nguyên Kính từ chối nàng là chuyện quá đáng? Căn bản là hắn không cần phải nghe nàng nói gì làm theo cái đó mà, nhưng trong thâm tâm A Bảo lại bất giác cảm thấy, Lương Nguyên Kính nên đáp ứng nàng mới phải, cho dù nàng yêu cầu cái gì không hợp lý, nếu hắn không làm được, thì hắn chính là đồ xấu xa nhất đỉnh của đỉnh.

A Bảo một bên cho rằng mình làm như vậy là không nên, một bên lại không ngừng hỏi ‘Tại sao không được’, Lương Nguyên Kính trả lời ‘Không tại gì cả’, ‘Không được’, hai người một trước một sau, vẫn luôn lặp đi lặp lại mấy lời vô tri, nhưng cũng không thấy nhàm chán xíu nào.

Đột nhiên, A Bảo thấy trong đám đông có một đứa nhỏ trong lòng đang ôm một con chó lông xù, bởi vì chạy trốn quá nhanh nên chân trái lỡ vướng vào chân phải, mặt mũi sắp ngã xuống mặt đất, tim A Bảo thắt lại, chạy nhanh đến muốn đỡ cậu, nhưng hai tay không còn chạm vào cái gì được nữa.

Phía sau vang lên ‘Oa’ tiếng gào khóc của đứa nhỏ đó.

A Bảo ngây ngốc xoay người lại, nhìn ngón tay trong suốt của mình.

Lương Nguyên Kính thở dài, đi tới bế đứa nhỏ lên, vỗ vỗ bụi bẩn trên người cậu, dò xét xem cậu có bị thương không, cuối cùng mới lấy khăn tay lau sạch mặt cho cậu, dịu dàng nói: “Đừng khóc, mẹ cháu đâu?”

Đứa nhỏ không ngừng khóc nức lên, chỉ vào nơi xa xa nói: “Chó… Con chó…”

Lương Nguyên Kính quay đầu lại nhìn, con chó bị ngã văng ra ngoài không chạy được, nó rất nhỏ như vừa mới sinh ra chưa lâu, vẫn còn là một chó con, liền ôm nó lại nhét vào ngực cậu nhóc kia.

Lúc này mẹ đứa nhỏ tìm tới, vừa thấy con đã mắng, hoá ra là cậu nhóc muốn con chó lông xù kia nhưng bị mẹ không cho, đứa nhỏ thích quá nên thừa dịp không ai chú ý thì ôm chó bỏ trốn.

Mẹ đứa nhỏ ngàn lần nói lời cảm ơn với Lương Nguyên Kính, sau đó nắm lỗ tai cậu nhóc kéo đi, mơ hồ còn nghe thấy cậu nhóc kia hít hít mũi đáng thương hỏi: “Tại sao không được ạ?”

Người mẹ nóng giận nói: “Không tại vì gì cả, không được là không được.”

A Bảo: “……”

Lương Nguyên Kính nghiêng đầu hỏi nàng: “Còn muốn đi dạo nữa không?”

A Bảo: “!!!”

Nửa canh giờ sau, Lương Nguyên Kính từ phía sau toà tháo hẻo lánh đi ra, còn có một nữ đồng đi theo hắn.

Đầu nữ đồng kia chải hai búi tóc dùng dải lụa hồng nhạt buộc lên, còn điểm xuyến thêm hai cái chuông vàng nhỏ, cô bé sinh ra có gương mặt tròn lung linh, đôi mắt đen lúng liếng, trông đáng yêu ngọc tuyết như đồng tử trên tranh Tết vậy, khiến người ta nhìn thấy mà vui vẻ, chỉ tiếc đôi mày cong như trăng khuyết hơi nhíu lại, sắc mặt còn có vẻ rất là mất kiên nhẫn.

“Ngươi vẽ ta thành dáng vẻ này làm gì hả?” A Bảo bất mãn túm váy bước đi.

Môi Lương Nguyên Kính treo ý cười nói: “Đi thôi.”

Nói xong, rốt cuộc vẫn không nhịn được, lặng lẽ xoa nhẹ đầu A Bảo.

**

Tác giả có chuyện nói:

Lịch trình một ngày của Lương Nguyên Kính:

Giác Minh lại bỏ đi chơi, lo lắng cho vợ quá ⎯ Nàng dám kêu ta lấy máu vẽ tranh cho nàng, quả nhiên không quan tâm ta xíu nào ⎯ Vợ buồn rồi, ôi, vậy tuỳ nàng đi ⎯ Vợ biến thành loli trông đáng yêu muốn nựng ⎯ Lại tiêu hết bạc nữa rồi (nước mắt).

A Bảo: …… Nội tâm ngươi diễn nhiều quá đó.
 
Phế Hậu A Bảo - Đao Thượng Phiêu
Chương 12: Cưỡi lừa chung


Mùng năm tháng năm là Tết Đoan Ngọ.

Vào ngày này, người dân của thành Đông Kinh đều phải treo lá cây ngải cứu, xương rồng, cành đào, cành liễu trước cửa để xua đuổi tà ma, còn phải bày biện bánh chưng [1], bánh bao ngũ sắc, trà rượu để cúng bái thần linh.

<i>[1] Bánh chưng Trung Quốc khác với bánh chưng truyền thống bên mình, của họ là hình tam giác còn bên mình là hình vuông.</i>
2934349b033b5bb57cd880733ad3d539b600bc34.webp


Đầu tháng năm sẽ có nha lại của phủ Khai Phong đến dán hoàng bảng lên các cửa thành, thông báo từ hôm nay trở đi Kim Minh Trì và Vườn Lâm Uyển sẽ mở cửa đối ngoại. Mời học giả dân thường vào trong thăm quan, vùng ngoại ô phía tây của thành nhất thời đông đúc tấp nập người ghé chơi.

Ngày Đoan Ngọ này, quan gia ngồi xa giá vui chơi đến Kim Minh Trì xem đua thuyền rồng, tổ chức tiệc tùng cùng quần thần.

Sự kiện trọng đại như vậy tất nhiên không thể thiếu nhóm quan viên Hoạ viện tham dự. Việc họ cần làm đó là sao chép lại cảnh vua và quân thần, nhân dân vui vẻ hân hoa trên tranh lụa, để thế hệ sau ghi nhớ về triều đại thái bình thịnh vượng như hôm nay.

Vết thương trên tay Lương Nguyên Kính đã sớm lành lặn nhờ thuốc mỡ thần kỳ do ngự dược cục điều chế, chỉ là trên mu bàn tay còn để lại sẹo có hình giống như một con chim yến.

Mỗi lần A Bảo nhìn thấy vết sẹo đỏ nhạt kia cũng đều phải thở dài, tay đẹp như vậy lại bị phá hư, ngược lại với Lương Nguyên Kính không để ý cho lắm.

Hắn cũng nằm trong hàng ngũ quan viên Hoạ viên phụng chỉ dự tiệc.

Kim Minh Trì nằm ngoài cổng Thuận Tiên phía tây thành, còn hắn thì ở phía đông ngoài thành, hai bên đông tây cách nhau cả một tòa thành Đông Kinh. Vì để kịp giờ tham dự chỉ có thể xuất phát từ canh năm, dắt lừa đi bộ vào thành trong sương mù sáng sớm.

Mặt trời vừa nhô, người đi đường cũng xuất hiện ngày càng nhiều.

Quan lại người ta cưỡi ngựa đi ra ngoài, nữ quyến cầm cành liễu hoa tươi ngồi kiệu, trước sau đều có đám nô bộc đi theo, bá tánh thường dân đa số là cưỡi lừa hoặc con la, người bán hàng rong trên vai gánh đòn hàng hoá.

Còn có thiếu niên phong lưu đội mũ lụa mỏng ti tiện cợt nhã cưỡi ngựa đuổi theo ca kỹ.

Trước đây, hầu hết kỹ nữ đều cưỡi lừa đen, tuy nhiên nhờ A Bảo, địa vị kỹ nữ đột nhiên được đề cao, đi ra ngoài phần lớn đều cưỡi ngựa son, mặc quần áo mùa hè, đầu đội vòng hoa, đeo khăn che mặt, toát ra loại ph.óng đ.ãng lả lơi.

Người đi đường thấy Lương Nguyên Kính có lừa mà không cưỡi còn chọn cách đi bộ, xôn xao hiếu kỳ nhìn nhìn hắn.

A Bảo bị nhìn ngó chằm chằm có chút mất tự nhiên, nàng nói với người đang dắt lừa: “Lương Nguyên Kính, ngươi ngồi cưỡi đi đi.”

Nàng chỉ là quỷ hồn, vốn không cần cưỡi lừa.

Lương Nguyên Kính hơi nghiêng đầu nhìn nàng, nói: “Không cần đâu.”

Mặt trời tháng năm có hơi gay gắt, cho nên mọi người đều muốn nhân ngày Đoan Ngọ dùng nước ngải thảo nấu sôi tắm gội, để phòng ngừa muỗi độc.

Ngay cả người ngồi ngựa cũng đã đổ mồ hôi ướt mấy cái khăn, chứ đừng nói gì là Lương Nguyên Kính đang đi bộ, hai bên tóc mai hắn đã ướt đẫm mồ hôi, rơi xuống trúng vào vài sợi tóc, gương mặt cũng ửng lên màu hồng nhạt, hiển nhiên đã nóng đến mức không chịu nổi.

A Bảo sớm chiều ở chung với hắn hơn hai tháng, biết hắn ưa thích sạch sẽ, luôn tắm gội mỗi ngày, chưa bao giờ có lúc chật vật như bây giờ.

“Ngươi lên đây mau!” A Bảo nóng người nói, “Còn không lên để người khác kêu ngươi là đồ ngốc à!”

Có ai lại để lưng lừa trống trơn, còn mình thì đi bộ không?

Lại nói, Kim Minh Trì xa như vậy, chỉ dựa vào hai chân của hắn có đi đến trời tối cũng chưa đến nơi nữa là.

Lương Nguyên Kính nghĩ ngợi nói: “Phía trước chắc sẽ có chỗ cho thuê ngựa, ta có thể…”

Sắc mặt A Bảo nghiêm trọng cắt ngang: “Ta hỏi lại lần cuối, ngươi có lên không?”

Lương Nguyên Kính: “……”

“Thất lễ.”

Hắn vén áo choàng lên, lưu loát leo lên lưng lừa, sau đó nắm dây thừng đuổi lừa đi tới.

A Bảo ngồi phía trước, tựa như bị hắn dùng hai cánh tay ôm vào trong lòng, hai má không khỏi ửng đỏ, không mấy tự nhiên xê dịch lên trước.

“Đụng phải nàng sao?” Bên tai vang lên giọng nói hoà nhã.

“Không… Không có……”

A Bảo hơi lắp bắp đáp lại, đáy lòng đồng thời phát điên hò hét, ngươi lắp ba lắp bắp cái quái gì? Nói chuyện với hắn có gì đến mức bị cà lăm chứ!

Tuy nàng nói không có, nhưng nàng vẫn cảm nhận được Lương Nguyên Kính hơi lùi về sau một chút, khoảng cách giữa bọn họ có thể chứa thêm một người ngồi vào.

A Bảo cảm thấy trống rỗng, dưới đáy lòng lại hò hét tiếp, ngươi lui cái gì mà lui hả? Lưng lừa có rộng bao nhiêu đâu, lát nữa ngã chết ngươi cho xem!

Nhưng mà cuối cùng Lương Nguyên Kính cũng không có ngã xuống, bình an lên đường đi đến Kim Minh Trì.

Trên đường đi tới đây A Bảo phát hiện, năm nay người tới xem đua thuyền rồng đông hơn trước rất nhiều, một đường xe ngựa ồn ào huyên náo, lọng che như mây, liếc mắt nhìn toàn thấy đầu người, ngay cả chỗ đặt chân nghỉ ngơi cũng không có.

“Sao nhiều người dữ vậy?” A Bảo kỳ lạ hỏi.

Lương Nguyên Kính nhìn theo hướng nàng nhìn, giải thích cho nàng: “Đây là lần đầu tiên Kim Minh Trì mở cửa trong hơn ba năm qua.”

“Sao chứ?” A Bảo trợn mắt to kinh ngạc nói, “Vậy chẳng phải là…”

Dù nàng chưa nói xong, nhưng Lương Nguyên Kính đã kịp hiểu ý nàng, gật đầu nói: “Đúng vậy.”

Dựa theo lệ thường, Kim Minh Trì, Vườn Lâm Uyển vào mùng một tháng ba sẽ mở cửa cho mọi người vào, Ngự Sử Đài không thể giám quan, chuyện vui này kéo dài đến lễ tắm Phật mùng tám tháng tư mới kết thúc, là sự kiện long trọng đáng mong chờ nhất trong một năm của cư dân thành Đông Kinh.

Tuy nhiên, kể từ Hi Hoà năm thứ tư sau khi phế hậu Lý thị qua đời, Kim Minh Trì và Vườn Lâm Uyển đóng cửa cho đến nay, ngay cả cuộc đua thuyền rồng dịp Đoan Ngọ hằng năm cũng bị bãi bỏ.

Phía triều đình đưa ra lời giải thích do sức khoẻ Thánh Thượng không tốt, tất cả hoạt động mang tính giải trí có thể miễn đều miễn, làm cho bá tánh không dám rêu rao quá mức, đã trải qua nhiều năm Tết Đoan Ngọ quạnh quẽ.

Đến năm nay cuộc đua thuyền rồng được khôi phục trở lại, chắc là vì ăn mừng sắc lập Tiết Hoàng Hậu, cho nên quan gia mới mang theo tất cả hậu phi đến Kim Minh Trì vui chơi, để dân chúng thiên hạ tận mắt nhìn thấy tân Quốc mẫu của Quốc triều.

Cũng vì nguyên nhân này nên các bá tánh tới bên ngoài Kim Minh Trì cũng không vội vào trong, mà chỉ chen chúc đứng ngoài Song Tinh Môn, chờ ngự giá kho bộ quan gia đi qua.

Bốn phía Kim Minh Trì xây bằng gạch mài nước, trên tường mỗi bên mở hơn mười cánh cửa, Song Tinh Môn là cửa chính, ngày thường hàng năm đều đóng cửa, đến ngày hội cũng chỉ cho phép ngự giá, hoàng thân quốc thích, đế cơ phò mã, với cả đại thần tể phụ đặc biệt được quan gia cho phép ra vào, còn thường dân bá tánh đều phải đi bằng cửa khác.

Lương Nguyên Kính đi đường chậm rì lâu lắc nên tới có hơi tương đối trễ, chờ lúc gần đến Song Tinh Môn đã bị dân chúng nơi đây chen chúc cản đường, trái phải trước sau đều không thể động đậy, chỉ có thể ngoài ý muốn xuống lừa đứng yên tại chỗ, chờ đám người giải tán mới đi vào.

Bỗng nhiên nghe thấy trong dòng người kêu lên: “Tới rồi! Ngự giá quan gia tới!”

Đám đông tức khắc ồ ạt, vạn dân duỗi dài cổ mòn mắt nhìn, chỉ thấy hai hàng cấm quân áo bào tơ vàng, khoác áo choàng gấm vóc đeo bảo kiếm đi trước mở đường, đi sau chính là quân dung thổi kèn, trống sắt cùng nghi trượng kho bộ, đến cuối cùng mới là xe ngọc của quan gia.

Quan gia ngồi trong màn ngọc, không nhìn thấy rõ mặt.

Các quân sĩ đẩy xe ngọc qua lại tới lui ba vòng, gọi là ‘gáy ngói xoay’, mục đích là để quân thần sĩ thứ thấy mặt thiên nhan.

Vị trí của Lương Nguyên Kính ở đằng sau, không thể giống với bá tánh đứng trước đó, thấy rõ ngự dung của quan gia, điều này cũng làm cho A Bảo yên lặng thở phào nhẹ nhõm.

Nàng chưa sẵn sàng đối mặt trực tiếp với Triệu Tòng.

Sau ngự giá quan gia chính là hậu phi cung quyến, cuối cùng mới là tất cả quan lại, đi đầu xa giá hậu phi, tất nhiên là phượng giá của Hoàng Hậu nương nương.

Lúc xa giá của Tiết Hoàng Hậu đi ngang qua, bá tánh thành Đông Kinh chấn động.

Tiếng hoan hô vang lên như sấm, ai ai cũng tranh nhau tiến về trước nhìn rõ dung nhan của Hoàng Hậu nương nương, suýt nữa tạo thành sự cố giẫm đạp, nhóm cấm quan kịch liệt ổn định trật tự hiện trường, liên tục quát lớn với đám đông đang xô đẩy nhau.

Nhìn một màn hỗn loạn này, A Bảo chỉ biết chua chát cười.

Năm xưa nàng làm Hoàng Hậu, cũng từng ngồi chung xe ngọc cùng Triệu Tòng giá hạnh Kim Minh Trì, lúc đến Song Tinh Môn, cũng có vạn dân đứng đó quan sát.

Chỉ có điều, bọn họ chủ yếu là đến để chê cười nàng.

Ngày hôm ấy, có một sĩ tử áo trắng đột nhiên xông ra từ trong đám đông, ngăn cản ngự giá, mượn danh chính nghĩa chỉ vào A Bảo, mắng nàng là ‘hoạ quốc gian hậu’.

Lưu loát mắng hơn 3000 chữ mới bị cấm quân kéo thẳng xuống, lúc bị kéo xuống miệng vẫn không ngừng mắng nhiếc, đến khi sùi bọt mép dẫn tới sự chú ý từ mọi người.

Khi đó A Bảo đã hoài thai được bảy tháng, tức giận đến mức ôm bụng đứng lên trong xe ngọc, hàm răng run lập cập, khớp ngón tay đỡ thành xe hiện ra màu xanh trắng, cuối cùng bị động thai khí, hai mắt nhắm tịt, ngất đi trong vòng tay Triệu Tòng.

Sau lại trải qua cuộc tra xét, mới biết tên sĩ tử áo trắng kia tên là Chúc An, vốn là học sinh ở viện Thái Học, xưa nay ngưỡng mộ Đức Dung Hành Chỉ của Đồng Bình chương sự Lữ Dật.

Lữ Dật bởi vì phản đối việc lập hậu nên bị bãi tướng, liên luỵ đến một số môn sinh bè đảng của ông, một nhóm quân thần can đảm gián tiếp khuyên can có cũng bị giáng chức, trục xuất, nhân tài trong triều trống mất một khoảng.

Bởi vì nhóm người này tất cả đều có chung mục đích triều chính, là phản đối Lý thị lập hậu, người đời lúc đó xưng là ‘phái phản Lý’, và do chuyện phát sinh vào năm Hi Hoá, nên còn được gọi là ‘đảng viên Hi Hoà’.

Chúc An bất mãn với tình thế triều chính lúc đó, liền mạo hiểm tức tối cản đường ngự giá, vì người trong thiên hạ đau đầu việc quan gia khăng khăng lập Lý thị làm hậu, nói hắn “Vì bao che cho một phụ nhân mà nhẫn tâm làm mất lòng các sĩ tử”, nói A Bảo là “Xuất thân ca nữ đất Thục, lưu lạc đến tận đây, một nữ hầu hai phu, thân trong sạch đã mất dạng rồi”, thậm chí còn xảo ngôn ám chỉ, đứa con trong bụng A Bảo không thuộc huyết mạch của quan gia, thẳng từng than “Trên đời chưa từng có chuyện hoang đường như này”.

Sau trận phong ba này, Chúc An cầu nhận được nhân, bởi vì phỉ báng triều chính đương thời, phê phán quân thượng, xử tội chết.

Trừng phạt như vậy không thể nói là không nặng, từ khi Thái Tổ lập quan từng nói, dạy người đời sau không được giết người đọc sách, Triệu Tòng làm vậy coi như đã vi phạm lời dạy của tổ tiên.

Quần thần thượng tấu cầu tình cho Chúc An, Triệu Tòng lại vì thế giáng chức nhóm quan viên cầu tình, cuối cùng giảm tội chết cho Chúc An, tước đi dân tịch, trục xuất khỏi kinh thành, vĩnh viễn không được bổ nhiệm, con cháu đời sau cũng không được tham gia khoa cử.

Tương đương với việc cắt đứt con đường làm quan triều chính.

Trên thực tế, có người vẫn cảm thấy phán quyết như vầy vẫn quá nặng, nhưng cũng không ai dám dâng thư phân xử cho Chúc An, dưới uy nghiêm của quan gia, ai ai cũng im như ve sầu mùa đông, chỉ có thể tự lo cho bản thân mình, không rảnh bận tâm ai khác.

Sau này Chúc An vẫn được xem là ‘Đảng viên Hi Hoà’, được người đời xưng là ‘Quân tử’.

A Bảo có lúc tự hỏi, dựa vào đâu một người nhục mạ thai phụ ngoài đường còn có thể được xưng làm ‘Quân tử’?

Nếu có ai đó trên phố ngăn một thai phụ lại, đặc biệt mắng nhiếc, nếu vậy người ra tay bênh vực cứu giúp có lẽ sẽ không ít, nhưng vì sự tình phát sinh ở trên người nàng, nên tất cả đều do nàng sai sao?

Nghĩ tới nghĩ lui, chỉ có một nguyên nhân.

Đó là người dân của thành Đông Kinh không thích nàng, tất cả quan lại không thích nàng, phi tần hậu cung không thích nàng, người đọc sách khắp thiên hạ cũng không thích nàng.

Người duy nhất thích nàng, chỉ có Triệu Tòng, hắn làm phật lòng nhiều người đến vậy, cũng chỉ có thể nói do nàng là ngọn nguồn của sự việc.

Hoàng Hậu không chỉ là thê tử của hắn, còn là quốc mẫu của người người trong thiên hạ, lập hậu phải là chọn hậu cho thiên hạ, hắn không thể chỉ chọn người mình thích.

Sau này, hắn cũng không còn thích A Bảo nữa.

Cho nên A Bảo đành phải chọn cái chết, bây giờ ngẫm nghĩ lại, A Bảo cảm thấy đời mình thật sự quá đau thương, là Hoàng Hậu của một nước thì sao, đứng trên cao thì thế nào, tóm lại nàng cũng chỉ là một nữ nhân không ai yêu mà thôi.
 
Phế Hậu A Bảo - Đao Thượng Phiêu
Chương 13: Thần kỹ


<i>[Giải thích tên chương] Gốc 神技 /shén jì/: Kỹ năng thần thánh, siêu phàm – thường được dùng để miêu tả những kỹ năng, tài năng hoặc khả năng đặc biệt xuất chúng, vượt xa mức bình thường, gần như không thể tin được.</i>

**

Kim Minh Trì trong phạm vi chín dặm, liễu rũ chấm nước, cây yên thảo phủ bờ đê, được xây dựng vào năm thứ bảy sau Chu Hiện Đức, nguồn gốc là để Chu Thế Tông diễn tập thuỷ quân, sau nhiều lần tu sửa đã mất đi tác dụng ban đầu, trở thành nơi chơi xuân của Hoàng đế xem thuỷ hí.

Bờ nam có tòa thuỷ điện nằm hướng bắc, đi sâu vài thước vào trong lòng nước, bên ngoài trải nguyệt đài, là nơi quan gia bày yến tiệc cùng quần thần. Bên bờ có lều màu, hoàng thân quốc thích, cung quyến hậu phi, tể chấp đại thần và gia quyến đều nghỉ ngơi ở đây.

Lương Nguyên Kính và đồng liêu hoạ viện cũng được phân vào một cái lều, ở giữa là tể chấp nhị phẩm và kinh quan lục phẩm.

Ở chỗ này, cũng không quan trọng phẩm cấp bọn họ cao đến đâu, hoàn toàn là vì khu vực này có lợi cho việc nhìn thấy rõ tình cảnh mặt hồ, thuận tiện để bọn họ vẽ tranh mà thôi.

Hoạ viện Hàn Lâm gồm Lương Nguyên Kính đang ở bên trong, Họa Học Chính, Đãi Chiếu, Nghệ Học, Chỉ Hầu, Nghệ Nhân… tổng cộng có sáu người. [1]

<i>[1] Hệ thống phân cấp các hoạ sĩ cung đình thời Bắc Tống bao gồm (từ cao đến thấp): Họa Học Chính – Đãi Chiếu – Nghệ Học – Chỉ Hầu – Nghệ Nhân – Hoạ học sinh.</i>

Sáu người này phụ trách vẽ tranh cho ngày hôm nay, nhưng cũng không phải tranh ai cũng sẽ may mắn được thu vào kho hoạ thi trân quý trong cung.

Sau khi bức tranh hoàn thành, đều phải cùng trình lên ngự tiền, được quan gia khâm điểm “Tuyệt phẩm” mới có vinh dự này, vì vậy sáu người họ tuy là đồng liêu, thậm chí còn có người là quan hệ cấp trên cấp dưới, nhưng vẫn mang theo chút ý tứ cạnh tranh nhau.

Những người còn lại đều là hoạ học sinh, bọn họ không cần vẽ tranh, chỉ có mặt ở đây quan sát, học hỏi kỹ xảo từ sáu người vẽ tranh.

Ngoài ra trong trướng còn có vài tên tiểu hoàng môn tỉnh nội thị, phụ trách việc hầu bút mực khi họ vẽ tranh, chờ được sai khiến.

A Bảo thấy cảnh tượng rầm rộ ở Song Tinh Môn đã bay sạch hứng thú, ngơ ngác ngồi trên chiếc ghế tròn, nhìn thuỷ hí trên mặt hồ gần đó.

Thuỷ hí của thành Đông Kinh là đẹp nhất, có ‘Vũ sư vũ báo’, ‘Rơi đao man bài, ‘Rối nước’, ‘Đu dây nước’.

Trừ mấy màn phía trước, phải nói đến màn A Bảo thích xem nhất, chính là ‘Đu dây nước’.

Ở trên thuyền nhất xích đu lên, một người đứng trên đó, càng đu càng cao, cho đến khi đu đến chỗ cao nhất của giá bằng phẳng, sau đó đột nhiên buông tay, người bay nghiêng ra bên ngoài, trong không trung nhào lộn mấy cái xong đâm đầu vào trước, trình diễn đầy mạo hiểm kí.ch th.ích người xem toát cả mồ hôi.

Năm xưa nghệ nhân chơi ‘Đu dây nước’ hay nhất kinh thành, phải là Tống Khang Bảo, biệt danh là ‘Nhất thân đảm’. [2]

<i>[2] 一身胆 ‒ 胆 /dǎn/ ‘đảm’ có nghĩa là gan dạ, táo bạo</i>

Y có kinh nghiệm phong phú, kỹ thuật cao siêu, không chỉ nhảy cao nhất, mà tư thế nhào lộn rất hoàn mỹ, lúc nhảy vào nước cũng làm văng ít bọt nước nhất, làm người ta thán phục không thôi.

Năm đó A Bảo thích xem y trình diễn nhất, còn từng triệu kiến gặp mặt thưởng cho y một thỏi bạc.

‘Nhất thân đảm’ giờ đây cũng không biết ở đâu, người đang đu dây nước không phải y.

A Bảo chống má lơ đãng, có làm sao cũng không thấy hứng thú chút nào.

Chợt nghe có người hỏi bên tai: “Vì sao không vui?”

A Bảo nhếch môi cười, thầm nghĩ sao ngươi biết? Cố ý mạnh miệng nói lại: “Con mắt nào của ngươi thấy ta không vui?”

Lương Nguyên Kính vốn đang cầm bút vẽ tranh, lúc này khựng lại, nghiêm túc liếc mắt đánh giá nàng, hỏi: “Thuỷ hí không đặc sắc sao?”

“Tàm tạm, không hay bằng năm đó.” A Bảo nhún chân nhận xét.

Lương Nguyên Kính gật gật đầu, tiếp tục công tác vẽ tranh.

A Bảo không hề xem thuỷ hí, mà là phát ngốc nhìn chằm chằm sườn mặt của hắn, thầm nghĩ thuỷ hí còn không đẹp bằng Lương Nguyên Kính.

Suy nghĩ này vừa hiện ra, A Bảo liền bị tự mình chọc cuời, bởi vì trong đầu nàng đang tưởng tượng bộ dạng Lương Nguyên Kính khi đu dây nước, sức khoẻ hắn có hạn như vậy, chỉ sợ sẽ bị gió thu lạnh thổi cho run lẩy bẩy mất.

Nhưng nếu năm đó, đúng thật là hắn trình diễn đu dây nước, A Bảo cảm thấy, cho dù tài nghệ của hắn không được tốt, chỉ sợ nàng cũng sẽ thưởng hắn bạc, nói không chừng còn thưởng nhiều thêm mấy thỏi nữa, dựa vào mặt mũi trên gương mặt này của hắn.

Nghĩ cảnh hai tay Lương Nguyên Kính ôm vài thỏi bạc, bộ dạng quỳ rạp trên mặt đất mang ơn mình, A Bảo càng nghĩ càng vui, khó nhịn nổi bật cười ‘xì’ một tiếng.

“Cười gì vậy?” Lương Nguyên Kính dời tầm mắt tới.

“Liên quan gì đến ngươi.”

A Bảo thầm nghĩ ngươi cũng quản nhiều quá đi, ta không vui ngươi cũng hỏi, có cười ngươi cũng hỏi, lại nói ngươi không cần vẽ tranh nữa sao, người ta đã vẽ được một nửa rồi, còn ngươi giờ mới bắt đầu.

Nhưng mà người đã mắc cười rồi, thì lại giống như bị chọc lét cười không ngừng được.

A Bảo càng cười càng sảng khoái, dù sao trừ Lương Nguyên Kính ra cũng không ai nghe thấy nàng, cuối cùng cười đến mức té ra khỏi ghế tròn, mông đáp mặt đất, sau đó tiếp tục bị chính mình chọc, càng cười lớn tiếng hơn, liên luỵ Lương Nguyên Kính không vẽ tiếp được, liên tục nhìn về phía nàng, vẻ mặt khó hiểu.

A Bảo cười đến đau bụng, nghĩ rằng điên rồi điên rồi, mình thật sự không khác gì với bị điên.

Nhưng kỳ thật hôm nay, nàng vốn có chút khổ sở, đặc biệt là vào lúc thấy Tiết Hành được cư dân thành Đông Kinh hoan nghênh đón nhận.

Nhưng Lương Nguyên Kính hoàn toàn xoay chuyển tâm tình tệ này của nàng, cẩn thận nghĩ lại, hắn cũng chưa làm ra cái gì, chỉ có hỏi nàng một câu “Vì sao không vui” mà thôi.

Nói vậy, khiến đáy lòng của A Bảo thật sự thấy thoải mái, để cho nàng biết được, cho dù người khắp thiên hạ không thích nàng, nhưng ít ra vẫn còn có một người nào đó, sẽ quan tâm đến tâm tình nàng tốt hay xấu.

Người đó chính là Lương Nguyên Kính, người mà nàng từng ghét hận nhất trên đời.

Vận mệnh thật luôn kỳ diệu như thế, A Bảo nàng sau khi biến thành cô hồn dã quỷ, đâu cũng không đi, cố tình ở bên người Lương Nguyên Kính, chắc có lẽ đây là ý trời.

Bỗng nhiên A Bảo nảy sinh tò mò, đến sát bên cạnh Lương Nguyên Kính gọi hắn: “Nè, Lương Nguyên Kính.”

“Hử?” Hắn hơi hơi nghiêng đầu, ánh mắt chuyên tâm lẫn dịu dàng.

“Hỏi ngươi một chuyện.”

“Nàng nói đi.”

“Ta với Tiết Hành, ngươi thấy ai đẹp hơn?” A Bảo chờ mong hỏi.

“……”

Môi Lương Nguyên Kính giật giật đang định lên tiếng, A Bảo đột nhiên cảm thấy sợ sệt.

Lỡ đau đáp án không phải kỳ vọng của nàng thì sao bây giờ?

Chỉ sợ nàng sẽ phát hoả, vì chút chuyện nhỏ này nổi giận đùng đùng, cũng có chút xấu hổ.

A a a, mình không nên hỏi chuyện này!

“Ngươi đừng nói!” A Bảo cướp lời Lương Nguyên Kính ngăn cản nói, “Ngươi đừng nói gì hết!”

Lương Nguyên Kính do dự: “Thật ra…”

“Ta không nghe!” A Bảo bịt tai lại nhanh chóng lui về sau, “Ta không nghe! A ô a ô a! Ta không nghe thấy gì hết!”

Lương Nguyên Kính: “…………”

“A Bảo…”

“Ngươi đừng nói chuyện với ta!” A Bảo nói, “Sẽ có người thấy ngươi kỳ quái đó!”

Tiểu hoàng môn đứng hầu sau lưng Lương Nguyên Kính đã nghi ngờ nhìn hắn rồi, đang không hiểu ra sao.

Trên thực tế, Lương Nguyên Kính thường xuyên nói chuyện với A Bảo, người ngoài nhìn vào như đang lầm ba lầm bầm, hơn nữa hắn luôn yên lặng mất tập trung nhìn về một phía, loạt cử chỉ khác thường này đã thu hút sự chú ý từ vài người khác, ngay cả Dư lão trong nhà gần đầy cũng phát hiện ra công tử có vài chỗ lạ thường.

A Bảo không mong hắn sẽ biến thành kẻ điên trong mắt mọi người, lập tức di dời sang vị trí cách hắn xa nhất ngồi xuống.

Năm người còn lại đã vẽ được kha khá, chỉ còn lại vài chi tiết cuối cùng, dù sao A Bảo cũng không đánh giá ra là vẽ tốt hay xấu, chỉ thò đầu lại gần nhìn nhìn.

Ngó tới ngó lui, rốt cuộc vẫn thấy Lương Nguyên Kính vẽ tốt nhất.

Vả lại A Bảo còn phát hiện ra, tranh hắn vẽ hoàn toàn khác biệt so với người khác.

Bởi vì giấy Tuyên Thành hay thước lụa đều không dễ sửa đổi, cho nên người đương thời vẽ tranh, đều sử dụng bút than phác thảo, sau đó phác hoạ ra dáng hình mới tô màu từng cái.

Một bức tranh hoàn chỉnh tỉ mỉ phải trải qua nhiều công đoạn phức tạp, như tô màu phẳng, nhuộm đồng nhất, nhuộm phân chia, nhuộm nhấn, nhuộm phủ [3] trước khi hoàn thành nó.

<i>[3] Lần lượt 平涂 (Bình đồ: tạo lớp nền cơ bản), 统染 (Thống nhiễm: tạo sự thống nhất về màu và không gian tranh), 分染 (Phân nhiễm: tạo chiều sâu các chi tiết), 提染 (Đề nhiễm: tạo điểm nhấn và sự tương phản trong tranh), 罩染 (Cháo nhiễm: cân bằng màu sắc tổng thể tranh).</i>

Mà Lương Nguyên Kính lại bắt chước vẽ theo Từ Hi thời Ngũ Đại, không cần phác thảo, trực tiếp sử dụng bút pháp không xương [4] để thể hiện hình dáng vật thể bằng màu sắc, không chỉ khiến quá trình vẽ trở nên đơn giản hơn, thời gian vẽ ngắn hơn, mà còn vẽ vật thể thành nhiều mặt, đặc biệt thú vị.

<i>[4] Từ Hi 徐熙 thời Ngũ Đại 五代 (907-960) thường sử dụng bút pháp không xương 没骨法 tức không phác thảo hình dáng trước, thay vào đó sẽ trực tiếp tạo hình ảnh bằng màu vẽ và độ đậm nhạt của mực thiên về thần thái cảm xúc, để vẽ chim và hoa trên mặt nước sông hồ.</i>

Các hoạ học sinh trong lều vốn đang tụm ba tụm năm lại phân tán ở bên cạnh sáu vị hoạ sư, từng người quan sát học tập, thỉnh thoảng còn tấm tắc giao lưu với nhau, bình phẩm về kỹ thuật vẽ.

Nhưng không biết bắt đầu từ lúc nào, những người này đã tụ lại xung quanh Lương Nguyên Kính, dẫn tới cảnh năm hoạ sư còn lại phải cô đơn lẻ bóng, sắc mặt đồng loạt khó coi tới cực hạn.

Đặc biệt trong đó có vị hoạ học chính họ Tần có sắc mặt khó coi nhất, râu ria tức tối vểnh lên.

A Bảo nghĩ thần, cái cấp trên này của hắn, dưới tay có cấp dưới xinh đẹp giỏi giang như Lương Nguyên Kính đây, thoáng chốc đã bị đoạt hết nổi bật, cũng không biết đây là phước hay nghiệp nữa.

Sau một nén nhang, nội thị cục thư hoạ Hàn Lâm tiến vào thu lấy tranh của sáu người đã vẽ xong.

Đúng lúc Lương Nguyên Kính cũng xong nét bút cuối cùng, nét bút kia trông nhẹ nhàng lả lướt, vô cùng nhuần nguyễn, quả thực đã đem trình độ vẽ tranh bẩm sinh của hắn lên một tầng cao mới.

Các hoạ sinh ngắm nhìn đến không chớp mắt, trán đồ đầy mồ hôi, không hẹn mà cùng nhau hô tô kêu lên: “Đẹp quá!”

Lương Nguyên Kính đặt bút xuống, lui về sau một bước, sắc mặt điềm tĩnh đứng yên, trước sau đều là tư thái của quân tử nhã nhặn khiêm tốn.

“……”

Không biết người khác thế nào, dù sao A Bảo cũng nhìn đến ngây người.

Sau khi quan sai lấy sáu bức tranh đi, Lương Nguyên Kính ngay cả thời gian ngồi xuống nghỉ ngơi uống chén trà cũng không có, đã bị các hoạ sinh vây quanh lĩnh giáo tài nghệ.

Còn năm tên hoạ sư thừa lại kia không có lấy một người tới hỏi, càng thêm xấu hổ, từng người chỉ có thể mượn bình phẩm trà che đậy.

Chợt nghe thấy trong đám hoạ sinh có người kinh ngạc cảm thán: “Đây đúng là thần kỹ mà!”

Cái này không khỏi thổi phồng quá mức đi.

Lời này vừa mới rơi xuống, trong góc liền có người nặng nề hừ một tiếng, một người cùng là Đãi Chiếu hoạ viện không cho đó là đúng nói: “Kỹ năng thần thánh gì chứ? Cùng lắm chỉ là một kẻ hèn thôi miên đồ đệ mà thôi.”

Trong năm người, do người này ra mắt nên thu được sự chú ý.

Thứ nhất, y là Đãi Chiếu, cùng phân cấp với Lương Nguyên Kính, nếu lời này do nghệ thuật học hay thậm chí là Hàn lâm nói ra, đều sẽ phát sinh thêm hiềm nghi. Nhưng nếu do cấp trên hay học sinh nói ra, sẽ bị nghi ngờ là ghen ghét người tài, không bao dung cấp dưới, sẽ huỷ đi thanh danh của hắn, cho nên vẫn là để người cấp Đãi Chiếu nói ra mới thích hợp.

Y là quan liêu hoạ viện, nhóm học sinh không dám thẳng thừng phản bác, nhưng cũng có người hứ hứ giọng nhỏ như muỗi nói: “Thôi miên đồ đệ ít ra còn có kỹ năng để làm, không phải sao?”

“Phải đó! Nói rất đúng!”

A Bảo to tiếng phụ hoạ người này, tiếc là mặc nàng có lớn tiếng cỡ nào, trừ Lương Nguyên Kính ra cũng không ai nghe thấy.

Nàng không kiềm chế nổi hỏi Lương Nguyên Kính: “Sao ngươi không phản bác lại đám người đó hả? Hiện giờ bọn họ đang nói ngươi mua chuộc danh tiếng, hoạ kỹ vụng về kia kìa!”

Lương Nguyên Kính thưởng trà, mỉm cười nói: “Không cần, hoạ kỹ của ta như thế nào, trong lòng đều biết rõ, người khác nghĩ gì ta không quan tâm.”

“……”

Có đôi khi tính nết của cái người này thật sự quá hiền hoà, cũng rất khó để nói rốt cuộc người này có biết nổi giận hay không, dường như hắn luôn luôn vui vẻ mỉm cười, dáng vẻ vạn sự đều không liên quan đến ta.

A Bảo tức giận thay hắn.

Lúc này trong lều đã nổi lên trận tranh cãi đến tột cùng là phương pháp công bút của cha con Hoàng Thuyên và Hoàng Cư Thái tốt [5], hay là bút pháp không xương của Từ Hi ưu việt hơn.

<i>[5] Hoàng Thuyên 黄筌 (cha) và Hoàng Cư Thái 黄居寮 (con trai – là một hoạ sĩ tài ba nổi tiếng trong lịch sử hội hoạ TQ, cùng thời với Từ Hi) nổi tiếng với phương pháp công bút 工笔 (hay còn được gọi tranh công bút 工笔画) đặc trưng bởi nét vẽ tỉ mỉ, chính xác thiên về kỹ thuật, chi tiết.</i>

Bọn họ cãi nhau túi bụi, còn bản thân Lương Nguyên Kính khởi nguồn sự tình lại yên tĩnh ngồi phẩm trà.

A Bảo nghe đến dốt đặc cán mai, nhưng cũng muốn chen ngang một chân xen vào, vọt tới rống to một câu: “Đừng có xạo sự nữa! Nghe ta nói nè! Lương Nguyên Kính vẽ đẹp nhất, hoạ kỹ của hắn bỏ xa các ngươi tận mười tám con phố lận!”

Lương Nguyên Kính nghe xong, suýt chút ‘Phụt’ một tiếng, phun hết trà trong miệng ra ngoài.

Vào lúc đang ầm ĩ tới đỏ mặt tía tai, nội thị Phùng Ích Toàn hầu hạ bên người quan gia đi vào, theo sau còn có vài tên tiểu hoàng môn, tay mang bàn sơn đều được phủ bằng lụa đỏ.

A Bảo vừa thấy liền biết, dưới lớp vải đỏ chính là nén bạc dùng để ban thưởng.

Nàng lặng lẽ bay tới cạnh Lương Nguyên Kính, ghé vào tai hắn nói: “Chúc mừng ngươi nha, Lương đại nhân, ngươi sắp phát tài rồi.”

Nhưng cuối cùng nén bạc đó không có đưa xuống cho Lương Nguyên Kính.

Phùng Ích Toàn híp mắt cười: “Quan gia khẩu dụ, tuyên Hàn Lâm Đãi Chiếu Lương Hoằng vào trong điện yết kiến, Lương đại nhân, mời đi cùng tôi?”

“………………”

Trước khi A Bảo đi ra khỏi lều, có quay đầu lại nhìn đám người kia một cái, chỉ thấy năm tên hoạ sư đang trợn mắt há hốc mồm, sắc mặt đều không nỡ để nhìn thẳng, đặc biệt là tên lão nhân họ Tần, râu hoa râm cũng đang run rẩy.

Ôi, làm cấp trên của Lương Nguyên Kính thật sự quá đáng thương mà.

Đáy lòng A Bảo tỏ vẻ đồng tình sâu sắc.

**

Tác giả có chuyện nói:

Thuỷ hí 水戏, Kim Minh Trì 金明池, tài liệu tham khảo ⟪ Đông Kinh mộng hoa lục⟫, phần kỹ thuật vẽ (hoạ kỹ) lấy từ nguồn Bách khoa Baidu.
1.png

<i>Kim Minh Trì (nguồn: Baidu)</i>
 
Phế Hậu A Bảo - Đao Thượng Phiêu
Chương 14: Gặp vua


Ở một khắc trước A Bảo còn đồng tình với người khác, rất mau lại đến phiên nàng, chỉ vì nàng bỗng ý thức được một việc.

Nếu tranh của Lương Nguyên Kính được chọn làm tuyệt phẩm, có nghĩa là hắn phải gặp mặt hoàng đế, đồng thời nàng cũng phải đối mặt trực tiếp với Triệu Tòng!

Ngày này tới nhanh vậy, nhanh đến nỗi A Bảo còn chưa biết nên phản ứng thế nào thì Triệu Tòng lập tức xuất hiện trước mắt nàng, chứa đựng ý cười nhạt nhẽo, hỏi Lương Nguyên Kính: “Lương khanh, tay đã tốt hơn chưa?”

Triệu Tòng gầy.

Đó là cảm nhận rõ rệt nhất từ lúc A Bảo nhìn thấy hắn.

Dường như hắn gầy đi, hai bên gò má hơi hóp vào trong, xương gò má cũng lộ rõ, mặc một thường phục tay áo bào đỏ sẫm, cổ áo tròn màu vàng nhạt của đế vương, lại có chút suy nhược không tả xiết.

Nhưng khi hắn cười vẫn rộ lên vẻ anh tuấn như xưa.

Trước kia, A Bảo thích nhất là ngắm nhìn nụ cười của hắn, bởi vì lúc cười, khoé môi cong lên một đường rất hiền hòa, nhưng từ sau khi làm hoàng đế, hắn cũng rất ít khi cười tươi giống vậy.

A Bảo ngơ ngác, không nói rõ đây là loại cảm thụ gì, nói hận cũng không đúng, nói yêu cũng không phải.

Lương Nguyên Kính liếc nàng một cái, mới cẩn thận đáp: “Đa tạ quan gia lo lắng, nhờ thuốc được quan gia ban thưởng, tay của thần đã tốt lên rất nhiều.”

Triệu Tòng cười nói: “Ngươi cảm ơn sai người rồi, nên cảm ơn Hoàng hậu mới đúng, nhờ ngày ấy nàng nhắc nhở trẫm, lệnh ngự dược cục đi chế thuốc mỡ đưa cho ngươi.”

Lương Nguyên Kính đang muốn hướng đến Hoàng Hậu để tạ ơn.

Tiết Hành lại ngăn cản nói: “Nếu không phải do nô tỳ trong điện thần thiếp vô dụng, tay của Lương tiên sinh cũng sẽ không bị bỏng, đây cũng là chuyện thiếp nên làm, nếu tiên sinh còn muốn cảm ơn, đó mới là làm khó thần thiếp.”

“Nói cũng phải,” Triệu Tòng nói giỡn, “Đôi tay của Lương khanh là danh thủ quốc gia, dù có ngàn lượng vàng cũng không đổi được, Hoàng hậu à, chuyện này coi như nàng lấy công chuộc tội.”

Tiết Hành đỏ mặt, cười giận liếc mắt: “Quan gia lại trêu ghẹo thần thiếp.”

Các cung quyến phi tần, hoàng thân quốc thích, đại thần tể tướng đều hiểu ý cười một tiếng, nhìn đế hậu liếc mắt đưa tình.

Sau đó mọi người đều cùng quan gia đi đến bên cạnh ngự án, bình luận bức vẽ ⟪Kim Minh Trì thủy diễn đồ⟫ của Lương Nguyên Kính.

A Bảo ngơ ngác xuất thần, lỗ tai ong ong, cái gì cũng không nghe rõ.

Lương Nguyên Kính nhân lúc không ai chú ý, lo lắng lại gần nhìn nàng: “Không sao chứ?”

Lúc này A Bảo mới hoàn hồn, nghiêm túc dặn dò hắn: “Đừng nói chuyện với ta, lúc nói chuyện với ngự tiền ngươi phải tập trung cao độ, đừng để xảy ra sự cố, nếu bị Ngự Sử Đài buộc tội không phải chuyện đùa, mỗi người một ngụm nước bọt cũng có thể dìm chết ngươi đó.”

Lương Nguyên Kính sâu kín nhìn nàng, xong quay trở lại bên ngự án.

Mọi người bàn luận sôi nổi một hồi sau, có quân sĩ Điện Tiền Ty vào bẩm báo: “Quan gia, giờ lành đua thuyền rồng đã đến.”

Triệu Tòng gật đầu một cái, phân phó người lui xuống chuẩn bị, sau đó nghiêng đầu nhìn Lương Nguyên Kính: “Lương khanh, đi theo trẫm.”

Là vinh hạnh đặc biệt ban cho hắn được bầu bạn với quan gia.

Đó là đặc quyền mà quan thị tòng của Hoàng đế và hai phủ Tể tướng mới có được, giờ phút này lại dừng ngay trên đầu của một Đãi chiếu nho nhỏ của cục vẽ tranh Hàn lâm, không khỏi khiến mọi người nghẹn họng trân trối nhìn nhau.

Ngay cả bản thân của Lương Nguyên Kính cũng lắp bắp kinh hãi, may là từ trước đến nay hắn không để lộ cảm xúc, chỉ kính cẩn đáp “Dạ”, ngay sau đó hơi lùi về sau, đứng ở bên phải của Triệu Tòng.

Địa điểm tốt nhất để quan sát đua thuyền rồng, là Ngũ điện Đông Tây Nam Bắc ở trung tâm mặt nước Kim Minh Trì.

Năm toà cung điện này nằm xa xa đối diện với Thuỷ điện, lại có thêm một cây cầu tiên nối liền toà Bảo Tân Lâu ở bờ bắc. Cầu có ba nhịp, phần giữa nhô cao lên, được sơn màu đỏ tươi, trông giống như cầu vồng lượn, được người đương thời gọi là “Lạc Đà Hồng”.

Dưới cầu có 25 cột hình chim nhạn xếp thành hàng, khi cuộc đua bắt đầu, mấy chiếc thuyền rồng sẽ phải uốn lượn lèo lách qua những khe hẹp giữa các cột, đòi hỏi người chỉ huy phải dày dặn kinh nghiệm và sự phối hợp ăn ý giữa các tay chèo. Đây cũng là phần hấp dẫn nhất trong toàn bộ cuộc đua thuyền rồng.

Tham dự đua thuyền rồng tổng cộng có hai đội ngũ.

Một đội là do binh sĩ xuất ngũ tạo thành đội ngũ quân sĩ ⎯ “Đội Hổ Dực”, tiền thân của đội này là quân thuỷ Hổ Dực thuộc quân đội nhà Trần, nhưng vì tình hình phòng phủ đường thuỷ thời đó bị lơi là, nên mặc dù danh hiệu đội chưa xoá bỏ thì cũng bị mất đi tác dụng ban đầu, chỉ còn lại một đội đua thuyền rồng mang tính biểu diễn thi đấu trong các dịp lễ hội.

Nhưng dù có thế nào, thành viên Hổ Dực vẫn xuất thân từ quân ngũ, ngày thường cũng thường đến Kim Minh Trì tập luyện chèo thuyền, thực lực vẫn không thể xem thường.

Về đội còn lại là được thành lập bởi con em thế gia.

Những người này phần lớn là con cháu nhà quyền quý, dựa vào ông cha mới có được chức quan trong triều, hoặc giữ chức chỉ huy thiêm sự ở Điện Tiền Ty. Bọn họ đều là những kẻ bất tài, ăn chơi trác táng, mỗi ngày ở thành Đông Kinh diễu võ dương oai, kết bè kéo cánh, chuyên làm những việc vô bổ.

Riêng trình độ bọn họ có lẽ chẳng ra gì, dưới tay lại có đám gia nô hùng hậu dốc sức phục vụ, nên quan gia cũng ban cho bọn họ một cái tên chính thức, gọi là “Đội Long Tường”.

Điểm xuất phát cuộc đua nằm ở bờ tây vắng vẻ, còn đích đến nằm ở mặt nước gần điện Lâm Thuỷ. Tại đó có một chiếc thuyền sặc sỡ, trên thuyền có quân sĩ cầm cây tre, trên đỉnh có treo những thứ như cúp vàng, bát bạc, châu báu, gấm vóc, đó chính là phần thưởng dành cho đội chiến thắng.

Quãng đường đua dài khoảng bốn dặm, mỗi đội cử ra mười chiếc thuyền để thi đấu, thuyền của đội Hổ Dực là thuyền đầu hổ, còn đội Long Tường là thuyền rồng nhỏ.

Trong phòng kho bờ nam, còn neo đậu của một chiếc thuyền rồng lớn, nó dài khoảng ba bốn mươi trượng, rộng tầm ba bốn trượng, đầu thuyền có hình đầu rồng, đuôi thuyền là đuôi rồng, hoa văn trên thân thuyền được chạm khắc những vảy rồng vàng lấp lánh, thân thuyền rất rộng, tương truyền rằng đây là do vua Ngô Việt tiền Thục dâng lên khi quy phục triều đình.

Trên nóc lầu truyền, có một quân sĩ Điện Tiền Ty đứng canh, khi y huy động phất cờ đỏ ra hiệu lệnh, hai mươi chiếc thuyền của hai đội Hổ Dực và Long Tường lập tức chèo mái chèo, đồng loạt vượt qua vạch xuất phát được đánh dấu bằng phao, lao về phía cột mốc ở đích đến.

Chỉ trong chốc lát, tiếng hoan hô của người dân hai bên bờ vang lên như thuỷ triều vỗ sóng, vươn cổ quan sát, cổ vũ ủng hộ đội mình thích.

Còn có nhà cái mở cá cược kết quả đua thuyền, thu hút du khách đến đặt cược, thông thường quan phủ sẽ nghiêm cấm nhân dân tụ tập đánh bạc, nhưng riêng hôm nay thì khác, thậm chí có vài đại thần tể phụ, cung quyến hậu phi cũng sẽ náo nức đánh thử một lần, đều vì vui thích mà thôi.

Lương Nguyên Kính đang vui đầu vào tác phẩm ⟪Tranh đua thuyền Kim Minh Trì⟫, Triệu Tòng quay đầu hỏi hắn: “Khanh đặt cược bên nào?”

Mũi bút Lương Nguyên Kính khựng lại, chần chờ nói: “Thần…”

“Đội Long Tường.” A Bảo thình lình lên tiếng.

Đây là lời nói đầu tiên của nàng sau khi vào giữa hồ điện, Lương Nguyên Kính không khỏi nhìn nàng một cái, sau đó nói ngay: “Thần cược đội Long Tường.”

“Được.” Long tâm Triệu Tòng hết sức vui mừng, “Lấy bức ⟪Tranh đua thuyền⟫ của khanh làm phần cược đi, trẫm chọn đội Hổ Dực, bọn họ là đội quân ưu tú, Lương khanh phải cẩn thận đó.”

Nói xong, lại tháo ngọc bội dương chi có khắc hình tường vân long văn, tiện tay ném vào mâm sơn được nâng trong tay nội thị.

Có quan gia làm mẫu, các đại thần hậu phi đều sôi nổi đặt theo, ai nấy cũng tháo vật tuỳ thân của mình xuống, kể cả Tiết Hành cũng tháo chiếc vòng ngọc tuỷ hình phượng trên cổ tay, nàng ấy đặt cho đội Long Tường.

“Đừng lo, ngươi sẽ thắng.” A Bảo nhàn nhạt nói.

Lương Nguyên Kính nghi hoặc nhìn nàng, dù chưa mở miệng, nhưng ý tứ rõ ràng đang hỏi: Sao nàng biết?

A Bảo không nói chuyện.

Nguyên nhân rất đơn giản, bởi vì nàng đã nhiều năm xem đua thuyền rồng, mỗi năm đều như vậy, đội Long Tường sẽ thắng.

Điều này không có nghĩa rằng, trình độ đội Long Tường cao hơn đội Hổ Dực.

Trên thực tế, đội Hổ Dực quanh năm tập luyện, tuổi tác thành viên đều là đại hán tầm 40 tuổi, bọn họ có sức lực khỏe khoắn, kinh nghiệm dày dặn, trình độ rõ cao hơn đám chỉ biết hưởng thụ kia bên đội Long Tường.

Nhưng cũng bởi vì đối phương lo ăn chơi trác táng, trong nhà không giàu cũng có quyền thế, lại nhậm nhiều chức vụ trong Điên Tiền Ty, là quân du côn danh bất hư truyền. Nếu đắc tội với bọn họ, các quân sĩ giải ngũ đội Hổ Dực không quyền không thế, khỏi cần nói cũng biết sẽ không đạt được kết quả tốt.

Cho nên dù mấy chiếc thuyền rồng chưa xuất phát đi chăng nữa, kết quả cũng đã được định trước rồi, đội Hổ Dực chỉ còn nước thua, không thể thắng, hơn nữa vì có nhiều khán giả xem, thua cũng phải thua cho đẹp để tránh tạo ra hiềm nghi.

Dần dà, đội Hổ Dực đã sớm luyện được một phen “Thua” đầy bản lĩnh.

Đương nhiên cũng sẽ có người hỏi, nếu kết quả được định sẵn như vậy, mở đánh cược còn có nghĩa lý gì đâu?

Vấn đề ngốc nghếch như thế, A Bảo cũng từng hỏi qua Triệu Tòng.

Khi đó Triệu Tòng vẫn còn là vị Vương gia phong lưu nhàn tản, hắn giải thích cho nàng, bởi vì hoàng đế tuyệt đối không thích nhìn cục diện nghiêng hẳn về một bên, cho nên dù quần thần biết trước kết quả thi đấu, cũng sẽ đặt cho đội thua, ngay cả bản thân hoàng đế, đôi lúc sẽ đặt giống bọn họ.

Đánh cược, tất nhiên phải có lúc thắng lúc thua mới hay, nếu nghiêng hoàn toàn về một bên, vậy không còn gì thú vị nữa.

Lúc đó A Bảo mờ mịt khó hiểu, nói: “Nhưng thua phải chung tiền mà.”

Triệu Tòng vì sự ngây thơ ngờ nghệch của nàng mà buồn cười: “Thua mấy quan tiền thôi mà có thể lấy được niềm vui của hoàng đế, Uyển Nương à, em nói xem vụ làm ăn này là lời hay lỗ?”

A Bảo nhíu nhíu mày, nói: “Em vẫn muốn thắng tiền thì hơn.”

Triệu Tòng cười vuốt mũi nàng: “Em nha cái đồ tham tiền.”

Một lát sau, hắn phe phẩy cái quạt, bỗng nhiên hỏi tiếp: “Uyển Nương này, em có biết vì sao người trong thiên hạ, ai ai cũng muốn leo lên thật cao không?”

A Bảo lắc đầu: “Không biết.”

Triệu Tòng cong môi cười, nói: “Bởi vì chỉ khi ngồi ở trên cao rồi, mới có người vì khiến em vui lòng mà vắt óc suy nghĩ, tranh giành đến đầu rơi máu chảy mới thôi.”

A Bảo cẩn thận nghĩ ngợi, đột nhiên nói: “Nếu dựa theo chàng nói, vậy người trong thiên hạ muốn làm nhất không hẳn là vị trí Hoàng đế, mà là Hoàng hậu mới phải, bởi vì người nào cũng muốn Hoàng đế vui vẻ, còn Hoàng đế lại muốn có được niềm vui của Hoàng hậu, giống như chàng mỗi ngày đổi cách này cách nọ để lấy lòng em vậy đó.”

“……”

Triệu Tòng sửng sốt mất một lúc lâu, nhưng cũng không nói gì thêm, cuối cùng lại bị nàng chọc cười mà ngã xuống lan can màu son, quạt xếp gõ trúng đầu nàng, cố gắng nhịn cười nói: “Đúng vậy, em nói đúng, sau này nếu ta lên làm quan gia, Uyển Nương nhất định phải là Hoàng hậu của ta, người trong thiên hạ ai nấy cũng muốn làm ta vui, mà ta chỉ muốn lấy lòng em là đủ rồi.”

Chỉ là một câu đùa vu vơ ở Kim Minh Trì năm xưa, ai ngờ sẽ biến thành sự thật, sau này hắn quả thực lên làm quan gia, A Bảo cũng như ý nguyện trở thành Hoàng Hậu, chỉ tiếc là niềm vui của nàng, lại không còn dễ lấy như vậy nữa.

A Bảo nheo nheo khoé mắt, lúc này mới nhớ ra, quỷ hồn không có nước mắt.

Chỉ là trái tim lại rất đau, quặn đau từng cơn, hoà ra cho dù có là người chết, tâm vẫn sẽ đau như vậy.

“Đừng buồn.”

Trong gió truyền đến một tiếng thở dài nhè nhẹ, còn có giọng nói trong trẻo như nước mùa xuân.

“Ta không có buồn.” A Bảo mạnh miệng nói.

Cuộc đua thuyền rồng kết thúc, kết quả thi đấu không hề bị chậm trễ, đội thắng là đội Long Tường.
 
Phế Hậu A Bảo - Đao Thượng Phiêu
Chương 15: Mỹ nhân


Hoạt động cuối cùng của ngày hôm nay là quan gia ngự giá đến Bảo Tân Lâu, nơi các quân đội trình diễn tạp kỹ, còn có số ít nghệ sĩ dân gian thành Đông Kinh may mắn được biểu diễn trước mặt ngự tiền.

Các tiết mục bao gồm múa lân múa cờ; hơn một trăm quân sĩ trong quân đội cầm gậy và khiên chia thành cặp đấu tay đôi với nhau; cũng có nghĩ sĩ dân gian mang mặt nạ có mặt mũi hung tợn, tóc xõa tung, tụ tập lại nhảy múa để thỉnh mời thần linh và xua đuổi ma quỷ, thỉnh thoảng còn phun lửa bằng miệng; ngoài ra còn có bắn cung, cưỡi ngựa, và thi đấu đánh cầu.

Bên cạnh đó các nữ quan trong cung ăn mặc như con trai, tô son trát phấn, mặc quần áo lộng lẫy, cưỡi ngựa phi nước đại trên sân, dáng người thướt tha nhẹ nhàng, tạo nên những làn gió thơm ngát.

Từng tiết mục trước khi lên sân khấu, đều sẽ có người đốt pháo, phát ra một tiếng nổ vang trời, khói thuốc tan dần, tới lượt đội biểu diễn tiếp theo lên sân khấu.

Năm xưa, lúc A Bảo còn ở trong cung, nàng rất thích xem những tiết mục thế này, nhưng giờ đây nàng chẳng còn thấy thế nữa.

Có lẽ rốt cuộc nàng đã sáng tỏ, vui thích náo nhiệt chỉ là nhất thời, đợi khi pháo hoa tan hết, yến tiệc kết thúc, cảm giác cô đơn quạnh quẽ càng thêm rõ rệt.

Sau bữa tiệc, ngự giá hồi cung.

Quan gia không ngồi kiệu ngọc như lúc mới đến, hắn chỉ dắt con ngựa xanh của mình, quyết định đi dạo thêm chút mới trở về cung. Hắn để người khác ở lại đi phía xa xa, chỉ khâm điểm Lương Nguyên Kính đi cùng mình.

Quyết định này chắc chắn sẽ khiến chúng quan lại kinh ngạc.

Hôm nay, quan gia dường như đặc biệt ưu ái vị hoạ sư hàn lâm này, không chỉ lệnh hắn ở bên hầu hạ suốt buổi, lúc còn xem đua thuyền rồng cũng chủ động mời hắn đặt cược. Thậm chí còn tự mình thưởng cho Lương Nguyên Kính một đoá hoa tử đinh hương, để hắn cài lên trên mũ quan.

Thời đó, triều đình ưa chuộng màu tím. Các quan từ tam phẩm trở lên mới được phép mặc đồ tím đeo túi cá vàng, ngũ quan trở lên mặc đồ đỏ mới đeo túi cá bạc, bởi vậy mới có câu “Dịch tử yêu kim” [1], ý chỉ chức vụ tể tướng.

<i>[1] 曳紫腰金 nghĩa là kéo áo tím đeo túi vàng.</i>

Mà hoa tử đinh hương tím là loại đột biến từ hoa mẫu đơn Lạc Dương, cánh hoa ngàn lá, mang sắc tím, lá dày đều rang như được cắt tỉa gọn gàng. Vì vậy mới được gọi là ‘bình đầu tử’ [2].

<i>[2] Gốc 平头紫 (hình ảnh minh hoạ)</i>
20150813222842_tz4vl.thumb_.1000_0.jpeg


Bởi vì màu sắc đặc thù của nó, người đương thời liền cho rằng ý nghĩa có số làm quan, ngày sau có thể một bước lên mây, thậm chí đạt đến chức vụ cao nhất như tể tướng. Vì thế các thí sinh được xướng danh trong điện Tập Anh, họ thường cài hoa này lên tóc rồi cưỡi ngựa đi quanh con phố, thể hiện phong thái đầy tự hào và hân hoan.

Hôm nay quan gia ban bình đầu tử cho Lương Nguyên Kính, quả thật là ân sủng quá mức, hành động này có hàm ý gì, tránh không khỏi suy nghĩ sâu xa.

Mặc kệ người khác phỏng đoán tâm ý của quan gia như thế nào, Lương Nguyên Kính vẫn không hề hay biết. Thậm chí còn chẳng để bụng, hắn đang thong thả bình tĩnh đi theo bên cạnh quan gia, chỉ chậm lại một bước chân.

Bên Kim Minh Trì châm đốt pháo hoa, tiếng ‘phực’ vang lên, khói lửa lộng lẫy bay lên bầu trời, hoa lệ nở rộ giữa màn đêm, trong giây lát rồi lại tan biến.

Đột nhiên Triệu Tòng dừng bước, chắp tay nhìn lên bầu trời đêm, Lương Nguyên Kính ở phía sau cũng dừng lại, im lặng không nói lời nào.

“Nếu có nàng ở đây, chắc hẳn lại cười to vừa nhìn vừa vỗ tay.”

Từ <i>nàng</i> này chỉ ai, hắn cũng không nói rõ, Lương Nguyên Kính cũng chỉ yên lặng lắng nghe, không đáp lại.

Chỉ có A Bảo ở một bên hờ hững nói: “Nói sai rồi, ta không có vỗ tay cười to đâu.”

“Uyển Nương nàng ấy, thích nhất loại giải trí náo nhiệt, đầy màu sắc rực rỡ như này.”

Khoé môi Triệu Tòng mỉm cười, quay đầu nhìn Lương Nguyên Kính, ánh mắt hơi lơ đãng lại như vô tình chạm phải A Bảo đang đi theo phía sau.

Trong lòng A Bảo cứng lại, chỉ mơ màng cảm thấy hắn vẫn là vị Vương gia phong lưu nho nhã, ôn tồn lễ độ kia ở thành Dương Châu năm đó, cưỡi con ngựa đẹp mặc y phục mùa xuân, đứng ở hành lang dài của Minh Thuý phường, cùng nàng đứng trên lầu hai xa xa nhìn nhau, một cái liếc mắt ngỡ đâu muôn đời.

Pháo hoa biến mất, màn đêm yên tĩnh trở lại.

Triệu Tòng thu hồi ánh mắt, chợt hỏi Lương Nguyên Kính: “Năm đó khanh vẽ không ít bức hoạ cho Uyển Nương, có còn nhớ rõ diện mạo của nàng không?”

Lương Nguyên Kính vẫn không đáp.

Triệu Tòng cũng không ngại, chỉ hơi mỉm cười, thấp giọng nói: “Ta à, đã sắp quên mất dáng vẻ của nàng rồi.”

A Bảo im lặng rũ mắt, thầm nghĩ, quên thì quên thôi, bây giờ nói lời này còn có nghĩa lý gì đâu?

Nàng không muốn nghe nữa, đi đến tảng đá lớn bên cạnh hồ, ngồi trên đó chống cằm ngơ ngẩn nhìn nước trong hồ.

Triệu Tòng ở đằng sau chợt nói: “Không biết Lương khanh có đồng ý vẽ lại Uyển Nương cho trẫm một bức được không? Mấy hoạ sư trong cung, nếu nói ai có thể vẽ dáng hình nàng một cách sinh động nhất, trừ khanh ra cũng không còn ai khác.”

A Bảo: “……”

Hà tất gì chứ?

Lúc còn sống thì ầm ĩ đến long trời lở đất, hai bên ai nấy đều hận không thể b.óp c.hết đối phương, đợi lúc chết rồi mới biết hoài niệm về nàng.

A Bảo không biết nên nói gì cho phải.

Nhưng mà nàng đã đợi được một hồi lâu, cũng chưa nghe thấy Lương Nguyên Kính trả lời.

Làm gì đó? Cái đồ ngốc này!

Không phải đã nói hắn lúc nói chuyện với ngự tiền cần phải chuyên tâm sao?

A Bảo nghi hoặc nhìn lại thì thấy Lương Nguyên Kính lui về sau một bước, chắp tay nói: “Thần…”

Chẳng lẽ hắn muốn kháng chỉ?!

A Bảo cả kinh đổ đầy mồ hôi lạnh, vội vàng bay qua la to: “Mau đáp ứng hắn đi! Cái tên ngốc này!”

Lương Nguyên Kính ngẩn ra.

“Nghe lời đi!”

Mặt mũi A Bảo giận dữ, bay qua bay lại quanh người hắn, hận không thể xách tai hắn lên réo to: “Đồ ngốc! Ngươi có mấy cái mạng dám kháng chỉ hả? Ta còn muốn ăn điểm tâm nhà Vương bà bà nữa, nếu ngươi chết rồi, ta đi đâu để ăn đây?!”

Lương Nguyên Kính mím môi, ánh mắt đượm buồn, khom người nói: “Thần tuân chỉ.”

Triệu Tòng trông thấy trước đó hắn có chần chờ hồi lâu, tỏ vẻ hiểu ý nói: “Khanh có chuyện gì khó xử, cứ nói ra đi, trẫm…”

Lời còn chưa dứt, đã nghe thấy sột soạt áo lụa lướt trên mặt đất, hình như có người đi ngang qua.

Triệu Tòng lập tức im miệng, đồng thời cho Lương Nguyên Kính ánh mắt ra hiệu, mang ý chớ có để lộ ra ngoài, hình như không muốn có người phát hiện hắn đang ở đây.

Lương Nguyên Kính yên tĩnh đứng sang một bên.

Bóng đêm bao trùm toàn bộ Kim Minh Trì, đêm nay có sao không có trăng, bọn họ đứng trong bóng tối bên cạnh núi giả, im lặng như hai bức tượng đá.

Dù sao A Bảo cũng không bị ai phát hiện, nàng bay đến bên cạnh núi giả, chỉ thấy có một cung phi dẫn theo thị nữ đang đứng đợi xe giá.

Thị nữ kia mặc áo màu vàng nhạt, phía dưới mặc váy màu trắng, trên tay cầm một ngọn đèn lưu ly trong cung, nói với vị cung phi kia: “Nương tử, thứ cho thiếp nói thẳng, hôm nay người có hơi quá, Hoàng hậu thưởng cho người đĩa bánh sơn trà, nếu người không thích ăn cứ qua loa cắn một miếng là được, cần gì thẳng thừng nói người không thể ăn, từ chối ý tốt của cô ấy, nếu để việc này truyền ra ngoài, e là thể diện Hoàng hậu nương nương không được tốt lắm.”

“Ý tốt à?”

Vị cung phi kia khinh thường hừ một tiếng: “Chỉ sợ do ngươi mới vào cung chưa lâu nên không biết vị Hoàng hậu nương nương này của chúng ta đã làm ra chuyện gì. Năm xưa, lúc phế hậu Lý thị còn tại vị, cũng từng mang thai, nhưng chỉ vì ăn trúng đĩa bánh quế hoa của Hoàng hậu, nên thai nhi hơn bảy tháng cứ như vậy máu chảy không ngừng dẫn đến sảy thai, nghe nói còn là mang thai con trai đó. Hừ, ngươi nói xem, có vết xe đổ đó, ta làm sao dám ăn đĩa điểm tâm kia?”

Thị nữ kinh hãi vội vàng nhìn khắp trái phải, thì thầm nói: “Nương tử! Người đã quên lệnh cấm của quan gia? Không thể nhắc đến vị kia…”

“Ta biết,” Cung phi kia nôn nóng xen ngang, nhưng âm thanh cũng tự động thu nhỏ lại, “Nơi này không phải chỉ có ngươi thôi sao? Làm gì có ai nghe thấy nữa.”

A Bảo: “…………”

Úi, nơi này còn có hai người đàn ông một con ma nghe thấy nữa đó nha.

Ban đầu A Bảo không biết vị cung phi này mang thai, giờ đây nhìn kỹ mới phát hiện đúng thật phần bụng nhỏ của nàng ta có hơi nhô lên.

Triệu Tòng có thêm một đứa con.

Không biết vì sao khi biết được tin này, nội tâm A Bảo lại vô cùng bình tĩnh, không còn nóng nảy hít thở không thông hay tim gan muốn nổ tung như trước kia.

Thậm chí nàng còn rất thản nhiên chầm chậm quan sát vị cung phi này, chỉ thấy nàng ta rất lạ mặt, trong trí nhớ của nàng không có người này, chắc là người mới tiến cung sau khi nàng mất.

Nhưng mà nom mặt mũi lại có hơi đỗi quen thuộc, chỉ là nhất thời A Bảo không nhớ ra nàng ta trông giống ai.

Cũng không biết nàng ta có phẩm vị gì, nhưng thấy người ta mặc váy đỏ thêu kim tuyến, khoác trên người là tấm lụa mỏng như cánh ve sầu, đầu đội chiếc mũ làm bằng ngà voi, còn được khảm những hạt châu quý do Nam Bang tiến công, nghĩ chắc phẩm cấp không thấp đâu nhỉ.

Thị nữ kia tuy biết chút ít chuyện bí mật trong cung, nhưng vẫn thấy sốt ruột lo lắng nói: “Tuy là vậy, nhưng Hoàng hậu vẫn là Hoàng hậu, nương tử à, người hạ thấp thể diện cô ấy như vậy, nếu lỡ truyền tới tai của quan gia…”

“Nếu để quan gia biết sẽ ra sao đây?”

Cung phi kia bất mãn khinh miệt, tựa như không để ý chút nào nói: “Ngươi nghĩ quan gia sẽ chịu cho Hoàng hậu mấy phần thể diện? Sau khi Lý thị qua đời, ngôi vị hoàng hậu bỏ trống ba năm, nếu không phải do đám quan lại tiền triều tranh nhau dâng sớ, tấu thỉnh quan gia lập hậu, mà Hoàng hậu kia còn có cha từng làm Khu mật sứ, vị trí trung cung này á, ta nghĩ chắc không tới lượt cô ta ngồi vào đâu.”

“Vậy thì ý của ngươi là, vị trí đó vốn nên để cho ngươi sao Chúc mỹ nhân?”

Triệu Tòng từ sau núi giả thong thả vòng ra tới, Lương Nguyên Kính không nói lời nào đi theo phía sau hắn.

A Bảo nghẹn họng trân trối nhìn, Mỹ nhân?

Chỉ mới là Mỹ nhân thôi á?

Nhìn cách nàng ta ăn mặc xinh đẹp chỉnh tề như vậy, nàng còn tưởng ít nhất phải là chức Phi đó.

Quái lạ, Tiết Hành thế mà có thể chịu đựng cung phi dưới tay vượt quá giới hạn đến mức này à, gần như lấn át cả uy phong làm Hoàng hậu của mình nữa, coi bộ so với tính tình lúc còn đấu đá với nàng thì đã tốt lên rất nhiều.

Chúc mỹ nhân ngàn vạn lần không ngờ tới nơi này còn có người khác, thấy người tới còn là quan gia, sợ tới mức khuôn mặt nhỏ trắng bệch, khăn lụa trong tay suýt chút bị nàng ta xé ra thành hai mảnh.

“Quan… Quan gia ạ?”

Triệu Tòng cười khẽ, liếc mắt đánh giá cái bụng nhô lên kia một cái, nói: “Xem ra, ngươi rất để tâm đến đứa con trong bụng.”

“Hậu duệ hoàng gia, thần… Thần thiếp không dám không cẩn thận.”

“Ừ, nói đúng lắm,” Triệu Tòng gật đầu sau đó nhìn nàng ấy nói, “Đã vậy, trong mười tháng mang thai này, không có việc gì ngươi không cần ra cửa, dưỡng thai quan trọng hơn, mọi thứ phải hết sức cẩn trọng.”

Lời này có nghĩa là muốn cấm túc nàng ta.

Chúc mỹ nhân hốt hoảng ngẩng đầu, không dám tin: “Quan gia⎯”

Sắc mặt Triệu Tòng chợt trầm xuống, ánh mắt đầy vẻ hung ác, thậm chí còn không màng Chúc mỹ nhân đang nắm lấy tay áo mình, giật ra phủi tay bỏ đi ngay lập tức.

Lúc đi tới bên vách đá, bỗng nhiên quay đầu lại, trong bóng đêm nửa sáng nửa tối đó, ý vị thâm trường cười: “Phải rồi, về việc còn lại, ngươi yên tâm, Hoàng hậu sẽ chăm sóc tốt cho ngươi.”

Chúc mỹ nhân nghe vậy, tuyệt vọng ngã quỵ trên mặt đất.

Thị nữ đỡ nàng ta, cũng đầy mặt không đành lòng.

“Hắn thay đổi,” A Bảo đi theo sau Lương Nguyên Kính bỗng nói, “Thay đổi rất nhiều.”

Triệu Tòng trước kia, mỗi lần cười rộ lên sẽ như trăng thanh gió mát, tuyệt đối không giống với vừa rồi, âm u tàn nhẫn, khiến ai nấy nhìn vào phải ớn lạnh khắp cả người.

A Bảo bỗng nhớ tới, có lẽ từ trước đến nay bản thân chưa từng thật sự hiểu rõ hắn.

Lương Nguyên Kính không nói gì chỉ nghiêng đầu nhìn nàng một cái.
 
Phế Hậu A Bảo - Đao Thượng Phiêu
Chương 16: Về đêm


“Ta thấy Chúc mỹ nhân kia có hơi quen mắt, ngươi có biết cô ta là nương tử nhà vị đại nhân nào không?”

Trên đường về nhà, A Bảo ở đằng sau hỏi Lương Nguyên Kính.

Thật ra nàng cũng không kỳ vọng Lương Nguyên Kính có thể đưa ra đáp án, trông hắn cũng không giống người sẽ biết rõ mấy chuyện này.

Không ngờ Lương Nguyên Kính lại nhắc nhở nàng một câu: “Cô ấy họ Chúc.”

A Bảo vừa nói “Ta biết mà” vừa tỉ mỉ kiếm tìm trong triều có quan lớn ngũ phẩm trở lên nào họ Chúc hay không.

Nàng trước kia không nhớ mấy cái này, chỉ là do bị mắng nhiều quá nên mới cố tình tìm hiểu chút chút về thế lực trong triều.

Quan viên nào cùng phái với nhau, quan viên nào có quan hệ thông gia, quan viên nào là thầy trò đặc biệt, quan viên nào nhìn thì hoà hợp nhưng sau lưng lại ngầm đấu đá.

Hiểu biết càng sâu mới hay, phe phái trong triều vô cùng rắc rối, trong anh có tôi trong tôi có anh, mãi mãi không thể phân định rõ ràng.

A Bảo nghĩ tới nghĩ lui, trong kinh quan không có vị nào họ Chúc cả. Nhưng thật ra nàng chợt nhớ tới một vị họ Chúc nọ không phải làm quan, cũng không phải trưởng quan của châu huyện nào.

Chính xác hơn, người nọ không phải quan mà là một thứ dân.

“Chúc An?” A Bảo hỏi.

“Ừ.” Âm thanh trầm ấm của Lương Nguyên Kính truyền đến, “Tháng hai năm ngoái, Chúc An bệnh chết ở Hàng Châu, quan gia hạ chiếu giải trừ lệnh cấm tham gia thi cử của Chúc thị, còn phong chức quan cho vài đứa con đứa cháu của hắn.”

“Vậy Chúc mỹ nhân là?”

“Em họ của hắn.”

A Bảo im lặng trong chốc lát mới nói tiếp: “Ta còn nhớ rõ diện mạo của Chúc An, hắn với cô em họ lớn lên không giống nhau lắm nhỉ.”

Lương Nguyên Kính hai tay giữ chặt dây buộc con lừa, nhàn nhạt nói: “Chúc mỹ nhân không phải giống hắn.”

“Vậy giống ai?”

“Nàng.”

“……”

A Bảo rất lâu sau vẫn chưa nói thêm được câu nào, cuối cùng nghiêng đầu lạc giọng nói: “Ngươi đùa đấy à?”

“Là sự thật.”

Lương Nguyên Kính nghiêm túc giải thích cho nàng, còn khua khua tay trái vẽ vời chút hình dáng trên không trung.

“Lông mày của hai người rất giống nhau, đều là mày cong như trăng non, đôi má tròn đầy, dáng mắt hạnh nhân, môi trên mỏng hơn môi dưới, ở giữa môi còn có…”

“Được rồi được rồi, không cần nói nữa.”

A Bảo vội vàng ngắt lời hắn, làm hoạ sư có điểm này không tốt, cái gì cũng quan sát tỉ mỉ rồi lại tự tạo hình ở trong đầu.

Được rồi, nàng thừa nhận Chúc mỹ nhân có hơi giống mình vài phần.

Vậy thì vấn đề.

Chúc An có biết đường muội của y giống nàng không? Do từ nhỏ y có thù oán với đường muội nên ngày đó trước Song Tinh Môn mới nhảy ra ngăn xe nhục mạ nàng?

Nói đi cũng phải nói lại, vị Chúc sĩ tử này khi nhìn thấy một khuôn mặt tương tự em họ mình mà cũng có thể nhục mạ, mắng chửi hung hăng đến vậy, mắng đến mức sùi bọt mép. Cái này không thể nói y và đường muội không thù không oán gì nha.

Trong lòng A Bảo cười lạnh.

Còn về phần Triệu Tòng sau khi nàng chết liền ân xá cho cả nhà Chúc thị, nạp cả em gái Chúc An phong làm Mỹ nhân nữa, thậm chí nàng không thấy tức giận gì, còn cảm thấy loại ghê tởm vi diệu. Nhớ lại buổi sáng bản thân thấy Triệu Tòng trở nên ốm nhom thì trong lòng đột nhiên nảy sinh loại khó chịu đau lòng, thật là nực cười mà!

Hắn cần đau lòng đến thế không?

Trái ôm phải ấp như vậy, nữ nhân hết nạp người này đến người khác, còn sinh nở con cái cho hắn nữa. Cuộc sống trôi qua rất tốt, cần gì phải đau lòng cho người đã chết là nàng chứ?

A Bảo phẫn nộ đến mức tự tát cho mình hai cái. Đương nhiên là đánh không trúng, bàn tay xuyên hẳn qua mặt.

Lương Nguyên Kính: “……”

“Làm sao vậy?” Hắn dịu dàng hỏi.

“Không sao hết!” A Bảo tức giận nói, “Chỉ là thấy bản thân ngốc quá! Ngốc muốn chết! Phải! Là ngốc chết mất!”

“……”

Lương Nguyên Kính thở dài: “Nào có ai tự mắng mình ngốc chứ?”

Giọng nói hắn mềm mại, ôn hoà tựa như tuyết rơi tháng ba hàng năm ở Biện Kinh. Bởi vì rơi vào mùa hoa đào nở, nên được gọi là ‘Tuyết hoa đào’, rơi xuống đất không phát ra tiếng động, yên tĩnh ôn hoà, lập tức hoá giải oán khí trong lòng A Bảo đang tức tối dễ như trở bàn tay.

Thâm tâm A Bảo thấy ngứa ngáy.

Nàng rất muốn lăn một vòng vào lòng của Lương Nguyên Kính, hoặc cọ cọ hắn, hoặc là nhảy lên trên lưng hắn, cắn một cái ở đầu vai hắn, hoặc làm rối búi tóc đã được hắn chải chuốt cẩn thận.

Tại sao lại như vậy? Hay do lần bị biến thành con mèo vằn? Bị nhiễm chút tính mèo trong người?

Nhưng mà… Nhưng mà……

Nhưng mà Lương Nguyên Kính tên này thật sự rất rất tốt đó!

Sao hắn có thể tốt tới vậy nhỉ? Ôi! Hắn tốt đến mức làm nàng thấy có chút tức giận!

A Bảo xoay tới xoay lui ở trên lưng lừa. Lương Nguyên Kính sợ nàng ngã xuống, đành lấy tay phải đỡ nàng, nói: “Ngồi yên, đừng cựa quậy nữa, coi chừng té.”

A Bảo muốn nói có té cũng chả sao, nàng sẽ không thấy đau, không biết tại sao, Lương Nguyên Kính luôn quên mất chuyện nàng chỉ là mỗi cái quỷ hồn. Nhưng nghĩ lại, vẫn khỏi cần nhắc nhở hắn.

Chắc có lẽ chịu ảnh hưởng bởi vị Chúc mỹ nhân kia, làm nàng nhớ tới một câu chuyện xưa.

“Nè, Lương Nguyên Kính.” Nàng lấy khuỷu tay chọc chọc sau lưng hắn.

“Hả?”

“Ngươi còn nhớ đứa bé kia của ta không?”

Mây tạnh sương tan, trăng sáng ẩn mình sau tầng mây rốt cuộc cũng xuất hiện. Tối nay sao thưa trăng sáng, ánh trăng trong vắt rọi khắp nẻo đường, khiến cảnh vật trở nên tinh khiết như tuyết. Nhân gian đã vào tiết trời giữa hạ, trên con đường nhỏ rộng lớn có lác đác hai ba người đang trở về nhà, trong bụi cỏ còn truyền đến tiếng dế kêu.

Ồn ào xôn xao như thế, lại như yên tĩnh tẻ nhạt.

Người nọ im lặng rất lâu, xong vào lúc A Bảo cho rằng hắn sẽ không trả lời mình thì lại nghe thấy tiếng nói hiền từ dễ nghe đó: “Nhớ rõ.”

A Bảo nghiêng đầu, mỉm cười nói: “Ta cũng nhớ, ngày đó là ngươi ôm ta đến ngự dược cục.”

**

Thời điểm A Bảo vừa hoài thai.

Tin tức nàng mang thai là được chẩn đoán vào ngày năm tháng mười năm Hi Hoà thứ nhất, chính là ngày thứ ba sau khi nàng triệu Lương Nguyên Kính vào cung cười cợt một phen ở Ngự hoa uyển.

Sáng sớm hôm đó A Bảo cảm thấy thân mình không thoải mái lắm. Lúc dùng bữa sáng còn nôn mửa tới năm lần bảy lượt, khiến Triệu Tòng ở lại dùng bữa với nàng sau khi hạ triều sợ hãi quá mức, liên tục gọi người mời ngự y tới đây.

Chờ ngự y tới rồi thì chẩn ra đã mang thai được hơn hai tháng.

Triệu Tòng hoảng đến ngây người, sau đó vui mừng khôn xiết, vừa ôm A Bảo vào ngực vừa nói liên tiếp ba chữ “Thưởng” với ngự y.

Không thể trách hắn làm lố, thật sự đứa nhỏ này tới rất kịp thời.

Lúc đó quan viên triều chính bất mãn với quyết định lập hậu của hắn, phe ‘ủng Lý’ và ‘phản Lý’ mỗi ngày ở trên triều đều như nước với lửa, ồn ào ầm ĩ liên miên. Càng đừng nhắc đến mấy bức thư can gián chất đầy trên ngự án của hắn, làm hắn tinh thần lẫn thể xác đều mệt mỏi. Thậm chí còn nổi lên nghi hoặc có thật mình không nên lập A Bảo làm hậu hay không.

Nhưng Hoàng hậu của một đất nước, sao có thể lập rồi phế dễ dàng vậy được?

Triệu Tòng tiến không được lùi cũng không xong, thật sự là tiến thoái lưỡng nan, nhưng đứa nhỏ trong bụng A Bảo lại kịp thời tới cứu hắn ra khỏi như lửa sém lông mày!

Có đứa nhỏ sẽ giúp A Bảo ngồi chắc hậu vị hơn chút đỉnh.

Thực tế cũng được xem là vậy.

Sau khi công bố tin vui A Bảo có thai, phe phái ‘phản Lý’ đang xôn xao lập tức câm miệng.

Lúc đó Triệu Tòng 27 tuổi, đang vào độ tuổi tinh lực mạnh mẽ, nếu dưới gối không có đứa con nào, đế vương không con, nền tảng lập quốc liền không xong. Cái thai này của A Bảo thật sự quá mức trọng yếu. Trong lúc nhất thời không ai tiếp tục tranh chấp vấn đề lập hậu nữa, trong ngoài triều dã cuối cùng khôi phục lại thời kỳ an yên.

Đáng tiếc, ngày vui chóng tàn.

Vào những ngày gần cuối năm, trong dân gian liên tục xuất hiện lời đồn đãi. Nói rằng cái thai này của Hoàng hậu có lai lịch không rõ ràng, sợ không phải huyết mạch của quan gia.

Mà tất cả những lời này, lại phải nói từ năm ấy, năm Triệu Tòng còn chưa được sắp lập làm Thái Tử.

**

Hữu An năm thứ bảy, Thái tử phát điên, Tĩnh Vương chết bất đắc kỳ tử.

Thái Tông hoàng đế mất liên tiếp hai đứa con trai, trong vòng một đêm trông già nua thấy rõ.

Triệu Tòng liền tiến vào tầm mắt của ông, ông bắt đầu bồi dưỡng đứa con trai thứ ba này coi như người thừa kế ngôi vị hoàng đế. Với một điều kiện quan trọng nhất, đó là phải hưu thê, trữ quân một nước, không thể cưới thê tử có xuất thân ca kỹ.

Một bên là ngôi vị hoàng đế trong tầm tay, một bên là vợ chồng son mới cưới. Bên nào nặng bên nào nhẹ, trong lòng Triệu Tòng đã sớm đưa ra quyết định.

Hắn dỗ dành A Bảo, chỉ tay lên trời thề rằng hắn chỉ yêu mỗi nàng, trong lòng chỉ có mình nàng. Nhưng chỉ cần nàng chịu chút hy sinh nho nhỏ, đợi mai sau lên ngôi rồi, hắn nhất định vẻ vang đón nàng về, lập nàng làm Hoàng hậu.

A Bảo quấy khóc không thôi, náo loạn đòi về Dương Châu.

Nàng không phải không biết hưu thê là loại ý tứ gì. Lúc trước ở Dương Châu đã từng nói, A Bảo nàng vĩnh viễn không làm thiếp, nếu hắn muốn lấy nàng, phải cưới hỏi đàng hoàng, mời nàng về làm vợ. Triệu Tòng muốn hưu nàng, nàng không phản đối, vậy để nàng quay về Dương Châu là được rồi.

Triệu Tòng lại thế nào cũng không chịu. Sau khi dùng hết mọi thủ đoạn mềm dẻo đến cứng rắn đều không có tác dụng, thậm chí hắn còn quỳ gối xuống để cầu xin A Bảo, xin nàng đừng rời khỏi hắn.

Hai người họ cứ nửa hoà hợp nửa giận dỗi như vậy hơn một năm trời. Cuối cùng là A Bảo chịu thỏa hiệp.

A Bảo hết cách rồi, Triệu Tòng không cho nàng đi, mà nàng cũng còn luyến tiếc hắn nữa.

Tình nghĩa phu thê nửa năm, đã đòi sao thì không đưa trăng tới, sủng ái chiều chuộng che chở hết mực. Nàng lại không phải người có ý chí sắt đá, luôn dễ dàng bị lay động như vậy đó.

Tháng ba, Minh Quang năm thứ nhất, A Bảo bị bỏ rơi giữa đường, đón tiếp Tiết gia tam nương tử vào cửa, trở thành nữ chủ nhân mới của phủ Tuyên Vương.

Sau khi bị hưu, A Bảo cũng không có dọn ra vương phủ, mà vẫn ở lại cái sân viện nhỏ của nàng.

Nàng vẫn không rõ mình được tính là gì nữa. Cuộc sống so với lúc trước không khác biệt gì mấy, ngoại trừ đêm đại hôn đó, mỗi đêm Triệu Tòng đều đến dỗ nàng ngủ. Lúc nàng đi lại trong phủ, cũng chưa từng gặp qua vị tân Vương phi kia.

Lúc đó nàng không biết được, cuộc sống bình yên của nàng là được xây dựng trên máu tươi nước mắt của người khác.

Đến tận đêm khuya ngày đông chí tuyết lớn, Tiết Hành khoác áo choàng ghé thăm, khóc lóc cầu xin nàng chừa cho một con đường sống.

A Bảo mới biết, lúc nàng đi lại trong phủ không thấy được vị tân Vương phi đó, không phải vì người vợ mới này của Triệu Tòng tính tình lười biếng không thích đi dạo. Mà là vì trước đó Triệu Tòng có dặn dò nàng ta không được tự tiện ra ngoài, cũng không cho nàng ta thăm nom A Bảo gì hết, càng không được đến cửa quấy rầy nàng.

Đêm đó, Tiết Hành đội gió tuyết ghé thăm, thật ra cũng mạo hiểm chọc giận Triệu Tòng.

A Bảo vẩy vẩy, vừa đánh vừa mắng đuổi Triệu Tòng vào phòng của nàng ta. Xong lúc đi dọc theo con đường về lại sân viện, gió bắc gào thét, nàng ôm lấy ngực mình, lòng đau như cắt.

Nàng rất muốn rất muốn quay lại Dương Châu của nàng, vừa ôm đàn tỳ bà vừa hát ca. Nếu không gặp được Triệu Tòng thì tốt rồi, nếu không theo hắn đến Đông Kinh thì tốt rồi.

Tại một khắc kia, A Bảo hối hận không thôi. Nhưng đời người như nước chảy, chuyện gì qua đã là quá khứ, khó mà quay đầu lại.
 
Phế Hậu A Bảo - Đao Thượng Phiêu
Chương 17: Ngày xưa


Thái Tông hoàng đế biết chuyện A Bảo còn ở phủ Tuyên Vương rất nhanh. Ông lấy vị trí Thái tử ra uy h**p, bức Triệu Tòng đuổi A Bảo ra khỏi phủ.

Mùa xuân Minh Quang năm thứ hai, A Bảo dọn ra phủ Tuyên Vương.

Triệu Tòng lo sợ một khi nàng rời khỏi tầm mắt hắn sẽ quay về Dương Châu. Sau đó sắp xếp cho nàng ở lại nhà của tâm phúc Trương Ngu Thần, ngoài trách nhiệm chăm sóc ra còn phải giám sát thật chặt chẽ.

Tuy là vậy, A Bảo lại ở chung với cả nhà Trương gia rất tốt, nàng đi theo Trương phu nhân học nữ hồng may vá, đi theo Trương Ngu Thần đọc sách viết chữ. Nàng còn cùng cô con gái nhỏ Trương gia chơi trò tung tiền, đánh cầu, dạy cô bé đàn tỳ bà, hát những điệu nhạc nhỏ đất Thục, cả nhà Trương gia đều cực kỳ yêu thích nàng.

Lúc Triệu Tòng nhậm chức ở phủ Khai Phong, còn phải thường xuyên vào cung phụ giúp Thái Tông xử lý chính sự, công việc bận rộn. Nhưng nếu có lúc nhàn rỗi, hắn sẽ len lén bỏ lại người theo dõi, đi đến Trương gia thăm A Bảo.

Lúc đầu A Bảo còn cáu kỉnh, không chịu để ý tới hắn, làm bộ không quen biết, hắn cũng không tức giận, còn giỡn mặt tới giúp nàng làm việc nhà, hoặc mặt dày đòi lấy túi tiền mà nàng tự tay thêu vá.

A Bảo có mắng hắn, hắn vẫn thản nhiên nghe mắng. Đóng cửa phòng không để ý tới hắn, hắn sẽ yên lặng đứng ngoài cửa nói chuyện cùng nàng đôi ba câu.

Dần dà, tảng băng trong lòng A Bảo cũng bị hắn ấp cho tan, hai người cứ ở bên nhau một cách khó khăn, thi thoảng mới được một lần gặp mặt. Cho đến mùa đông Minh Quang năm thứ ba, Thái Tông băng hà, Triệu Tòng chính thức đăng cơ.

Sau khi hắn lên làm hoàng đế, cũng không đón A Bảo vào cung ngay mà phải chờ đến lúc thế cục vững vàng mới lập A Bảo lên làm hậu, khiến đám quần thần trở tay không kịp.

Lời đồn đãi bắt đầu từ đó mà ra.

Tháng chín A Bảo mới vào cung, đầu tháng mười chẩn đoán có thai, theo mạch tượng là hoài thai hơn hai tháng.

Điều này có nghĩa là trước khi tiến cung nàng đã mang thai ở Trương gia rồi.

Từ sau khi Triệu Tòng đăng cơ, A Bảo được sắp lập làm Hoàng hậu, người nhà Trung Ngu Thần liên tục khoe khoang chuyện Hoàng hậu nương nương từng ở nhà mình ra khắp phố phường. Còn nói Hoàng hậu có quan hệ vô cùng thân mật với chủ nhà, còn được Trương đại nhân dạy cho đọc sách viết chữ, Trương nương tử cầm tay chỉ nàng thêu thùa.

Lời đồn ngày càng trở nên nghiêm trọng, truyền càng xa càng sai lệch. Thế nào lại nói rằng Trương Ngu Thần cầm tay dạy A Bảo viết chữ, hai người họ giấu đầu lòi đuôi, cái thai này trong bụng Hoàng hậu không phải long tử của quan gia, mà là nghiệt chủng của Trương đại nhân Trương Ngu Thần.

Lời đồn lan rộng đến triều đình. Triệu Tòng giận dữ, biếm cả nhà Trương Ngu Thần đến Vi Châu, bắt bỏ tù mấy kẻ hầu trong nhà, nhưng vì thiên tử tức giận lôi đình, đổi lại lời đồn càng mất khống chế hơn.

Vào thời điểm đang sứt đầu mẻ trán vì tai tiếng, A Bảo lại không có cảm thụ gì quá lớn, thứ nhất là bởi vì Triệu Tòng che giấu rất tốt, không để lời đồn truyền tới tai nàng. Thứ hai là nàng tin tưởng Triệu Tòng, tin tưởng hắn có thể xử lý ổn thoả mọi chuyện.

Về phần thứ ba chỉ có mỗi mình nàng mới biết.

Nàng đang lừa mình dối người. Cho dù ai ai cũng phỉ báng nàng, nói nàng không còn trong sạch, nàng cũng cảm thấy Triệu Tòng sẽ không tin bọn họ.

Nhưng sự thật lại quá rõ ràng.

Cho dù Triệu Tòng không quá tin, nội tâm đại khái cũng xuất hiện vài nghi vấn. Nếu không tại sao biến một người ôn hoà như hắn, có thể giận tím người biếm cả nhà Trương Ngu Thần đến Vi Châu xa xôi như vậy, còn giam giữ nhiều người trong ngục nữa. Nếu không phải bị người ta chọc trúng, cần gì phải thẹn quá giận đến mức đó?

Đối với chuyện này, nội tâm A Bảo rất rõ ràng, đúng như lời Tiết Hành từng nói, nàng biết, nàng vẫn luôn biết, chỉ là không dám thừa nhận mà thôi.

Nàng vừa tình nguyện sống trong sự hạnh phúc giả tạo tự mình vẽ ra, vừa sẵn lòng tin tưởng, chỉ cần bản thân hạ sinh hài tử là được. Một khi em bé chào đời, bọn họ sẽ phát hiện đứa con lớn lên giống ai, lời đồn tự khắc sập đổ.

Có suy nghĩ này rồi, nàng liền trở thành vị mẫu thân trông ngóng con mình ra đời hơn bất kỳ người mẹ nào hết.

Nàng trong hậu cung không có bằng hữu, chỉ có thể đem hết niềm vui sướng và chờ mong nói cho Lương Nguyên Kính nghe. Khi đó nàng còn mượn cớ vẽ tranh mình, thường tuyên Lương Nguyên Kính vào cung.

Tại sao lại là hắn mà không phải ai khác?

Nói đại là vì Lương Nguyên Kính đặc biệt không thích nàng đi.

Người này chưa bao giờ xem nàng là Hoàng hậu sẽ cung kính vài phần với nàng, ngược lại, hắn còn có chút ‘Đại bất kính’ với nàng nữa cơ.

Tỷ như hắn sẽ hay thất thần nhìn mặt nàng, rất ít khi gọi nàng “Hoàng hậu nương nương”, lâu lâu mới gọi một tiếng một cách không tình nguyện chẳng hạn, tựa như bài xích cách gọi đó từ trong hàm của mình vậy.

A Bảo biết, hắn cũng giống như mấy vị đại thần tiền triều, cũng không tán thành vị trí Hoàng hậu này của nàng. Nhưng ít nhất những người đó chỉ thầm mắng nàng trong lòng chứ không thể hiện ngoài mặt, còn vị Lương đại hoạ sư này á, lại biểu hiện rất rõ ràng rành mạch lên mặt mình.

Cái này làm cho A Bảo thấy tức giận không thôi. Thầm tính toán trong lòng, càng muốn triệu Lương Nguyên Kính tiến cung, càng muốn bày ra vẻ làm Hoàng hậu trước mặt hắn, để xem rốt cuộc hắn có chịu thừa nhận vị Hoàng hậu này hay không.

Về sau, ngay cả nàng cũng không rõ, cuối cùng là nàng muốn tra tấn Lương Nguyên Kính hay thật sự coi hắn là bạn bè đây?

Có khi vẽ tranh, nàng sẽ hỏi Lương Nguyên Kính xem cái thai này của mình là trai hay gái.

Lương Nguyên Kính đáp không biết.

Nàng nói không được bắt hắn phải chọn một cái.

Lương Nguyên Kính nghĩ nghĩ, xong nói: “Bé gái.”

A Bảo lại vỗ về bụng mình, cúi đầu cười nói: “Ta thì mong là một tiểu lang quân, muốn nó lớn lên giống cha mới tốt.”

Lương Nguyên Kính không nói nữa.

Nàng lại đòi hắn vẽ hình để thêu thùa, muốn tự may áo yếm cho đứa con chưa ra đời này.

Lúc đó Lương Nguyên Kính không trả lời, nàng còn tưởng hắn đang cự tuyệt. Ai ngờ đâu lần vào cung tiếp theo, hắn đã mang theo một xấp bản thảo lại đây.

Có hình hoa cỏ bốn màu, hình long phượng biểu tượng cho sự may mắn, còn có hình con hổ nhỏ vừa uy phong vừa đáng yêu đang chơi đùa với quả tú cầu ngũ sắc. Chỉ vì Lương Nguyên Kính nói, nếu hài tử nàng sinh ra, chắc sẽ cầm tinh con hổ.

A Bảo vừa mừng vừa sợ, thích xấp bản thảo đến mức không buông tay.

“Đa tạ đa tạ,” Nói xong chợt liếc nhìn hắn một cái, cười nói, “Hoá ra ngươi cũng không phải là người đáng ghét tới vậy.”

Lương Nguyên Kính mím môi, yên lặng rũ mắt đứng hầu bên cạnh, trên mặt không lộ rõ đang vui hay buồn.

Sau khi xấp bản thảo bị A Bảo đem về, nàng dựa theo hình vẽ đa dạng đó, mỗi bức may thành mỗi cái yếm.

Triệu Tòng thấy được mới hết sức khó hiểu: “Cái này có cung nhân làm, em cần gì bận bịu như vậy, vừa tốn sức vừa đau mắt.”

Lúc đó A Bảo đang thêu yếm hình lão hổ chơi tú cầu, nghe vậy mới dụi dụi đôi mắt chua xót nói: “Tự tay mẹ nó may sao có thể giống với mấy cái cung nhân làm chứ?”

Triệu Tòng cướp lấy khung căng vải thêu trong tay ra: “Đừng thêu nữa, mắt em đỏ lên hết rồi kìa.”

A Bảo đoạt lại vừa tiếp tục thêu vừa nói: “Hình cuối rồi, nếu chàng mệt thì ngủ trước đi, để em thêu xong là được rồi.”

Triệu Tòng không đi ngủ mà là ngồi ở bên cạnh nàng, im lặng hồi lâu, thẳng đến khi A Bảo thêu xong, mới buồn ngủ ngáp một cái, đột nhiên hắn thấp giọng hỏi: “Vì sao em muốn thêu nhiều như vậy?”

A Bảo duỗi duỗi thắt lưng, khó hiểu liếc hắn, đạo lý đơn giản như vầy sao hắn còn chưa hiểu.

“Con sẽ lớn nhanh thôi, thêu thêm vài cái thay phiên mặc.”

Cuối cùng cả đêm hôm đó, Triệu Tòng vẫn không nói thêm câu nào nữa.

Đang mơ mơ màng màng ngủ, A Bảo cảm giác có vật nặng nào đó bò trên bụng mình, đè nàng tới mức thấy không thoải mái. Nàng mất kiên nhẫn đá đá chân đuổi cái vật ấy đi.

Sáng sớm hôm sau tỉnh lại, Triệu Tòng đã vào triều rất sớm, không còn ở lại chỗ nàng nữa. Lúc cúi đầu nàng bỗng nhiên phát hiện, trên vạt áo ngủ còn lấm tấm vài vệt thấm nước chưa khô.

Sau này A Bảo nhớ lại, chắc là đêm đó Triệu Tòng chính thức hạ quyết tâm bỏ đi đứa nhỏ này.

Nàng một lòng chờ đợi đứa con bình an chào đời, khoẻ mạnh lớn lên, cẩn thận may vài cái yếm lúc nhỏ đến chút quần áo khi lớn cho nó mặc, nhưng Triệu Tòng lại không cho nàng cơ hội sinh đứa nhỏ ra.

Ngày đó là ngày hai mươi tháng ba, cách ngày nàng bị Chúc An ngăn trước Song Tinh Môn mắng nhiếc làm trò cười trước mặt thiên hạ không lâu, Tiết Hành tống cổ người đưa đĩa bánh quế hoa tới.

Lúc đó Lương Nguyên Kính cũng có mặt. Hắn ở trong ngự hoa uyển vẽ tranh cho nàng, thấy nàng cầm khối bánh quế hoa tính đưa vào trong miệng, đột nhiên nói: “Đừng ăn.”

Ngày thường đang vẽ tranh hắn rất ít khi chủ động mở miệng, bởi vậy A Bảo mới có hơi giật mình: “Hả?”

Lương Nguyên Kính nhìn bụng nàng, lại nhìn thị nữ bị Tiết Hành sai đưa điểm tâm tới, thấp giọng nói: “Không an toàn.”

Lời vậy mà hắn cũng dám nói, A Bảo nửa kinh ngạc nửa thấy buồn cười.

“Ngươi cho rằng Tiết Hành sẽ hạ độc vào đây à?” Nàng cười liếc hắn, “Yên tâm đi, Tiết Hành không ngu xuẩn tới mức đó đâu.”

Dứt lời, cắn một miếng bánh quế hoa trong tay, sau đó nhanh nuốt xuống.

Lương Nguyên Kính cản không kịp, chỉ có thể trơ mắt nhìn nàng ăn nó.

A Bảo bị thần sắc lo sốt vó của hắn chọc cười: “Làm gì đó? Y như nhìn thấy người sắp chết vậy, Lương đại nhân, vẽ tranh của ngươi tiếp đi, ta sẽ không sao đâu.”

Nhưng mà nửa nén hương trôi qua, từ bụng lại truyền đến cơn đau nhức dữ dội.

A Bảo ôm bụng té lăn ra đất, trán đổ đầy mồ hôi lạnh, thị nữ bên cạnh hét lên rất to, biến thành một mớ hỗn độn.

A Bảo đau đến độ không mở mắt ra nổi, vẫn nhớ rõ trong tầm mắt mờ mịt, Lương Nguyên Kính ném bút không màng tất cả chạy tới chỗ nàng.

“Đứa nhỏ…”

Nàng nắm lấy cổ áo hắn, kiệt sức nói ra hai chữ.

“Ta biết! Ta hiểu! Nàng đừng nói chuyện!”

Lương Nguyên Kính la lớn ở bên tai nàng, đôi tay có sức mạnh tóm lấy bắp chân nàng, ôm cổ nàng nâng lên.

Rõ là người mảnh khảnh như vậy, rõ là một đôi tay chỉ biết cầm bút. Nhưng sức lực lại không nhỏ tẹo nào, đôi tay cũng có lực ổn định có thể bế ngang nàng đang hoài thai bảy tháng dễ như trở bàn tay.

“Máu…”

A Bảo nghe tiếng kêu khiếp sợ của thị nữ.

“Con… Con của ta, có phải không…”

Nước mắt A Bảo chảy dài từ nơi khoé mắt, làm ướt quan bào màu đỏ của Lương Nguyên Kính, tạo thành dấu vết sẫm màu.

“Con của nàng rất ổn! Nàng đừng sợ! Ta mang nàng đi tìm đại phu!” Lương Nguyên Kính dùng giọng điệu trầm lắng bình tĩnh nói vào tai nàng. Sau đó quát hỏi bọn thị nữ đang hoảng loạn kia, “Ngự dược cục ở hướng nào?”

Có thị nữ nói: “Tôi biết! Lương đại nhân, mời đi theo tôi!”

“Lương Nguyên Kính……”

A Bảo dùng chút sức lực cuối cùng, hô tên Lương Nguyên Kính, chưa kịp nói xong nhưng nàng biết, Lương Nguyên Kính nhất định sẽ hiểu.

Hắn sẽ hiểu câu nói nửa chừng kia của nàng, là cầu xin hắn cứu mạng con nàng. Nàng biết xưa nay mình đối xử khắc nghiệt với hắn, luôn thích trêu chọc hắn. Nàng sai rồi, xin hắn cứu đứa con của nàng, có thể để nó bình an chào đời, A Bảo nàng sẽ cảm kích hắn cả đời, sẽ báo đáp hắn.

Chờ sau khi lý trí hoàn toàn biến thành màu đen, ngón tay A Bảo vẫn luôn nắm chặt vạt áo của Lương Nguyên Kính.

Tay nàng nắm rất chặt thế nên quan y ngự dược cục phải cắt lấy mảnh vải nhỏ áo choàng trước ngực Lương Nguyên Kính xuống. Cho đến khi Triệu Tòng ở Sùng Chính Điện hay tin. Lúc vội vàng tới đây, trong tay A Bảo còn giữ chặt miếng vải đỏ nho nhỏ đó không buông.

Nhưng cuối cùng nàng vẫn mất đi đứa bé kia, đứa con đầu tiên của nàng.

Cũng là đứa con duy nhất nàng từng mang thai.
 
Phế Hậu A Bảo - Đao Thượng Phiêu
Chương 18: Khách đến thăm


“Lương Nguyên Kính, đường từ ngự hoa uyển đến ngự dược cục ấy, có xa không?”

Đột nhiên A Bảo hỏi.

Lương Nguyên Kính ngẩn ra mới thấp giọng thở dài: “Xa.”

Quá xa, là khoảng cách xa xôi nhất trong cuộc đời của hắn, dường như điểm cuối nằm ở phía chân trời, có chạy như thế nào cũng không tới, hai tay của hắn, đều bị máu của nàng chảy ra nhuộm đỏ.

A Bảo lại hỏi: “Năm đó, vì sao ngươi rời Đông Kinh?”

Một năm đó, nàng mất con nhưng bởi vì thai nhi bảy tháng đã lớn, chỉ có thể phá, thân thể bị tổn thương nghiêm trọng.

A Bảo cũng không biết mình vòng một vòng từ quỷ môn quan về lại như nào, chỉ là sau khi tỉnh dậy nghe người ta nói, ngày ấy Triệu Tòng ở ngự dược cục long uy nổi điên, nói rằng nếu không thể cứu mạng Hoàng hậu sẽ để cả ngự dược cục chôn cùng vân vân.

Nhóm y quan ở ngự dược cục bị uy h**p lên tính mạng nên đã hao tốn vô số dược liệu quý hiếm, ai nấy cũng đều cố phát huy trình độ cao nhất của mình, lúc này mới nơm nớp lo sợ cứu A Bảo sống lại, tuy là thế nhưng thân thể A Bảo vẫn bị tổn hại rất lớn, đã không thể sinh con nối dõi được nữa.

Trừ bỏ xuất thân ra, cuối cùng A Bảo đã có thêm lý do chính đáng bị phế, một nữ nhân không thể sinh con đẻ cái sao có thể làm Hoàng hậu?

Đáng tiếc lần này cho dù quần thần có khuyên can ra sao, Triệu Tòng đều nhất quyết không chịu phế hậu.

Cho tới bây giờ A Bảo mới biết được, hoá ra đó là sự đền bù Triệu Tòng cho mình, cái vị trí Hoàng hậu lạnh như băng để đổi lấy đứa con chết trong tay hắn.

Chỉ là nàng khi đó đã không quan tâm đến ai làm Hoàng hậu nữa rồi.

Nàng kéo lê thân thể bị tàn phá, mỗi ngày ở Khôn Ninh Điện ôm những cái áo yếm đó khóc lóc đau thương, còn Triệu Tòng suốt ngày làm bạn với nàng, an ủi nàng cũng không tác dụng, nàng đã giam hãm mình sâu trong bi thương, không thoát được.

Hi Hoà năm thứ hai trôi qua như vậy.

Triệu Tòng vốn tưởng rằng theo thời gian A Bảo sẽ từ từ tốt lên, nhưng mà nàng thì không, thiếu nữ xinh đẹp thích cười ngày xưa đã biến mất tăm rồi, thay vào đó là một A Bảo cõi lòng đầy oán hận, sinh ra gai nhọn, đã khắc nghiệt lại còn hay nói móc người khác.

Nàng nhìn bằng mắt thường cũng thấy được mình đã ốm đi rất nhiều, vả lại còn bị chứng băng huyết, quỳ thuỷ mỗi tháng một là không tới, hai là chảy máu không ngừng, nổi cơn đau bụng kinh đến nỗi khiến nàng muốn tự cầm dao mổ bụng mình.

Nàng không hề thị tẩm, cũng từ chối sự thân mật của Triệu Tòng, thậm chí còn không cho phép hắn bước vào tẩm điện của mình.

Đến cuối cùng Triệu Tòng mất hết sự kiên nhẫn đối với nàng, có lần hắn đòi hỏi bị cự tuyệt đã giận tái mặt dùng tới bạo lực, gặp ngay A Bảo với lấy bình hoa nhỏ trên giàn hoa đập cho chảy máu đầu.

“Là do ta đã quá nuông chiều ngươi.”

Triệu Tòng ôm trán đang chảy máu không ngừng, lạnh lùng nhìn nàng.

Màn đêm buông xuống, hắn nghênh ngang bỏ đi, từ đó về sau không còn đặt chân đến Khôn Ninh Điện của A Bảo nữa.

Có lẽ xuất phát từ lòng trả thù, sau này hắn nạp thêm rất nhiều mỹ nhân, hậu cung đông đúc, lại có thêm nữ nhân bụng nhô lên, số trời mà. A Bảo thích ăn giấm lại như không nhìn thấy.

Rồi đến khi nàng nghe tin Tiết Hành bị biếm xuống Mỹ nhân cũng có hỉ, nàng mất lý trí liều mạng nhảy vào tẩm các của Tiết Hành, căm phẫn đẩy nàng ta ngã xuống đất, dồn hết sức lực đánh vào bụng nàng ta.

“Ta mất con, dựa vào đâu ngươi có được?”

Cung nhân có mặt ở hiện trường nói, lúc ấy thái độ nàng điên cuồng, trong miệng luôn lặp đi lặp lại câu nói đó.

Tiết Hành sinh non, đứa bé trong bụng nàng ta vẫn chưa tới hai tháng, đến nỗi A Bảo liền bị Triệu Tòng hạ lệnh cởi bỏ phục chế Hoàng hậu, phế thành thứ dân.

Năm này đã là mùa xuân Hi Hoà năm thứ ba, cách một năm tới ngày nàng chết đi.

Năm đó mất con nhỏ, ý chí tinh thần sa sút, A Bảo không phải không tính tuyên Lương Nguyên Kính vào cung, cung nhân hầu hạ nàng đọc thoại bản đã bị đuổi thay người mới, những người mới đến nàng không quen biết ai hết, nàng ở trong cung không có bạn chơi, nữ nhân hậu cung xem thường nàng, coi nàng là trò cười.

A Bảo bấm đốt ngón tay tính đi tính lại, ở thành Đông Kinh rộng lớn như vậy, nếu hỏi người bạn chân chính có thể nói chuyện với mình được thế mà chỉ có mỗi Lương Nguyên Kính, nàng còn chưa cảm ơn lần hắn đưa nàng đến ngự dược cục, tuy rốt cuộc không giữ được đứa bé, nàng vẫn nên cảm tạ hắn mới phải.

Chỉ là theo lời như cung nhân nói, lúc nàng đi tuyên Lương Nguyên Kính vào cung vẽ tranh, bọn họ đều ngạc nhiên nói: “Nương nương, ngài chưa biết sao?”

“Biết gì?”

“Lương đại nhân đã rời khỏi Đông Kinh rồi ạ.”

“……”

A Bảo há miệng, mịt mờ một lúc rất lâu sau đó mới nghe rõ người đó nói gì.

“Rời đi rồi?” Nàng lẩm bẩm, “Rời đi, rời đi cũng tốt…”

Qua một lúc sau chợt hỏi cung nhân kia: “Y đi đâu vậy?”

Cung nhân khó xử lắc đầu: “Cái này nô tỳ không biết ạ, chắc là về quê rồi.”

“Về quê?”

A Bảo lại muốn hỏi, quê nhà của Lương Nguyên Kính ở đâu, nhưng nếu có hỏi chắc cũng không biết nên đành phải ngậm miệng.

Sau đó vào lãnh cung hẻo lánh, bên cạnh chỉ có mỗi người câm bầu bạn, lúc A Bảo bệnh tật triền miên nằm trên giường, thường nghĩ nếu Lương Nguyên Kính còn ở đây mình có suy bại đến nước này không nhỉ?

Chắc sẽ không đâu.

Tên Lương Nguyên Kính kia chắc chắn sẽ dùng ánh mắt khiến người ta chán ghét nhìn thẳng vào nàng, nói cái gì mà “Ngươi không thể làm vậy”, thật giống như nàng nên nghe lời hắn, căn bản không thèm đem Hoàng hậu nàng đặt vào mắt.

Nhưng A Bảo cảm thấy nếu Lương Nguyên Kính thật sự còn ở đây, nếu hắn dám nói những câu người khác ngại nói, có lẽ nàng sẽ thật sự sẽ nghe theo hắn.

Bởi vì nàng không muốn người bạn duy nhất của nàng trên thế gian này, cũng trở nên chán ghét nàng.

Chỉ tiếc là không còn Lương Nguyên Kính nữa.

**

“Vì sao ngươi rời Đông Kinh?”

A Bảo hỏi lại lần nữa, vấn đề này nàng muốn hỏi từ lâu rồi.

Lương Nguyên Kính yên lặng chốc lát mới nói: “Năm ấy, phụ thân ta mắc bệnh nên gửi thư kêu ta trở về chăm sóc.”

“À,” A Bảo nói, “Cha ngươi bệnh nên về là phải ha, giờ ông ấy đã khoẻ hơn chưa?”

“Năm Hi Hoà thứ tư đã đi rồi.”

“……”

A Bảo im bặt một hồi: “Nén bi thương.”

“Đều đã qua.”

Lương Nguyên Kính dừng lừa lại, từ trên lưng nó leo xuống, nhìn A Bảo nói: “Sắp đến nhà rồi, ta dẫn nàng vào.”

A Bảo gật gật đầu.

Lương Nguyên Kính vẫn như thường ở đằng trước dắt lừa cho nàng, A Bảo ngồi một mình trên lưng lừa, bỗng nhiên kêu: “Lương Nguyên Kính.”

“Hử?” Hắn không quay đầu lại đáp.

“Vừa nãy còn ở Kim Minh Trì, ngươi muốn kháng chỉ hả?”

Bước chân của Lương Nguyên Kính hơi khựng lại chút xíu, rất nhanh đã trở lại bình thường như không có việc gì, chưa trả lời chỉ hỏi ngược lại: “Nàng hy vọng ta sẽ vẽ bức tranh nàng sau đó giao cho hắn?”

Chữ <i>hắn</i> này tất nhiên nói Triệu Tòng.

A Bảo lắc đầu: “Này không phải vấn đề ta muốn, Lương Nguyên Kính, hình như ngươi đã quên mất một chuyện.”

“Chuyện gì?”

A Bảo hít sâu một hơi, bình tĩnh nói: “Ta chết rồi.”

Lần này Lương Nguyên Kính mới thật sự dừng bước, hắn không quay đầu lại, bóng hình cô đơn cô tịch, để lại cái bóng dài nghiêng trên mặt đất.

A Bảo không thấy sắc mặt của hắn, tất nhiên nàng có thể bay đến trước để nhìn thử xem sao.

Nhưng mà lúc này đây, A Bảo không muốn làm vậy.

Nàng nói: “Ta hy vọng thời khắc này đây ngươi sẽ nhớ kỹ, ta chết rồi, muốn làm gì hay quyết định cái gì, không cần phải dè chừng ta mà hãy ưu tiên suy xét chính mình trước đã. Ví dụ như chuyện hôm nay đi, giả sử ngươi cự tuyệt ý chỉ của Triệu Tòng, với ta mà nói không có chút tác dụng gì hết, còn với ngươi là khó thoát tội chết, không còn cơ hội để về nhà nữa đâu.”

A Bảo ngóng nhìn sao trời trên cao, trùng hợp thay bọn họ đã đi qua cây hoè già, sương sớm kết trên phiến lá, gió đêm thổi tới, cành lá rung rinh, mấy giọt sương từ trên đầu rơi xuống, không có dừng ở giữa mày A Bảo, mà là xuyên hẳn qua đầu nàng.

A Bảo cười tự giễu, nói: “Lương Nguyên Kính, ta chết rồi, có biết người chết là như nào không? Là sẽ không khóc, sẽ không đau, sẽ không nằm mơ, cũng sẽ không đói không khát. Ta sẽ không ngã khỏi lưng con lừa, dù có té xuống, cũng sẽ không thấy đau đớn, ngươi xem.”

Nàng cố ý ngả nghiêng sang một bên, ngã xuống khỏi lưng lừa.

Lương Nguyên Kính hết sức kinh ngạc, theo bản năng duỗi tay đỡ đần, nhưng hai tay của hắn lại xuyên qua thân thể của A Bảo.

Hắn ngây ngốc tại chỗ.

A Bảo tận lực xem nhẹ khoảng khắc thất thần trong mắt hắn, tỏ vẻ không sao hết bay từ dưới đất ngồi lên lại lưng con lừa, nói: “Ngươi mua mấy món điểm tâm cho ta, ta cũng không thể ăn, sở dĩ để ngươi mua chỉ bởi vì ta thấy rất hoài niệm hương vị của nó mà thôi.”

Nàng nhẹ nhàng thở dài một hơi: “Ngươi xem đi, Lương Nguyên Kính, đây mới là người chết ấy.”

“Nàng ăn được.”

Giữa đôi mày tuấn tú phong độ bỗng xuất hiện nỗi cố chấp không thích hợp với tính tình hắn, hắn mấp môi nói: “Chỉ cần ta lấy máu vẽ tranh thì nàng sẽ có thể sống lại.”

“À, thiếu chút nữa quên cái này.”

A Bảo cười: “Đúng ha, nói vậy là ta vẫn có thể sống lại, nhưng mà…”

Nàng chuyển đề tài, cụp mắt nhìn chằm chằm đầu ngón tay trong suốt, nụ cười dần trở nên ảm đạm.

“Ta vẫn là người đã chết thôi.”

Còn lại một quãng đường ngắn, hai người họ đều không nói thêm lời nào nữa.

A Bảo cưỡi ở trên lưng lừa, nhìn bóng dáng gầy guộc Lương Nguyên Kính đang dắt lừa đi trước, đáy lòng chợt nảy sinh nỗi niềm khổ sở.

Nàng nghĩ, nàng không nên khi dễ Lương Nguyên Kính, mặc kệ là trước đây hay hiện tại.

Lương Nguyên Kính ấy, hắn là cái người siêu siêu siêu tốt luôn.

Nếu bản thân không chết thì tốt rồi, nếu mình không chết đi, nhất định nàng sẽ……

Sẽ như nào nhỉ?

A Bảo chưa cẩn thận suy nghĩ, bỗng nhiên phát hiện con lừa đã dừng lại.

Nàng đang muốn hỏi Lương Nguyên Kính làm sao vậy, ngẩng đầu lại thấy có người đứng kế cửa nhà Lương gia, người nọ thân mặc tăng bào, đầu đội nón cói, lưng đeo hồ lô, yên lặng đứng dưới ánh trăng trong vắt, bên má phải còn có cái lúm đồng tiền sâu, khẽ mỉm cười nhìn Lương Nguyên Kính.

Đêm hè tĩnh lặng, không biết chó nhà nào đang sủa.

Hoà thượng đứng cách rất xa, cười vang nói: “Tiểu hữu Nguyên Kính, từ lần từ biệt ở phàn lâu đến nay, đã lâu không gặp, cậu khoẻ không?”

**

[Thơ Đường] Phùng tuyết túc Phù Dung sơn chủ nhân – Lưu Trường Khanh

Hoàng hôn núi trải xa mờ,

Ngôi nhà trời lạnh trống trơ nỗi nghèo.

Cửa xiêu chó sủa vọng veo,

Đêm đông tuyết lạnh người theo quay về.

<i>(bản dịch của Thien Thanh, thivien net)</i>

<i>⎯ ⋆˚࿔ Hết quyển hai «Tuý hoa âm»</i>

**

Tác giả có chuyện nói:

Các cơ quan thai nhi bảy tháng về cơ bản đã phát triển hoàn toàn, có mắt mũi hết rồi, nếu sinh vào lúc này đã tính thành sinh non, dù dựa vào trình độ tiên tiến thời giờ cũng còn rất nguy hiểm, dựa vào thời cổ đại thì, xác suất có thể một xác hai mạng.

Tôi tính viết còn năm tháng thôi, nhưng như vậy thì thời gian không khớp nhau, chỗ này chúng ta cứ đặt giải thiết các ngự y đã cố gắng hết sức đi, chứ nếu không chạy chữa được là chết rồi. (rớt nước mắt)<i>editor cũm thía</i>
 
Phế Hậu A Bảo - Đao Thượng Phiêu
Chương 19: [Dương Châu mạn] Hoà thượng


“Chuyến này tôi xuôi về phía nam, vân du Cô Tô, đầu tiên là đến Thừa Thiên Tự ở Tô Châu, sau đó đi Tây Hồ Hàng Châu, bái yết chùa Linh Ẩn, Phi Lai Phong, phong cảnh Giang Nam quả nhiên khác biệt so với phía bắc, tiểu hữu Nguyên Kính nè, nơi này khác nhau ra sao nhất định tôi phải tỉ mỉ nói với cậu, đêm nay chúng ta lại thắp nến tâm sự suốt đêm…”

Giác Minh hoà thượng vừa vào phòng đã nói năng không ngừng nghỉ, y như muốn kể hết những gì y từng đi qua vậy.

Lương Nguyên Kính thắp sáng đèn dầu xong xoay người lựa lời nói: “Tiểu sư phụ, cái đó sau này chúng ta từ từ nói, tôi có chuyện…”

“À, phải phải phải,” Giác Minh chen lời chàng, “Tôi trở lại chùa thì có người nói tháng trước cậu tới tìm gặp tôi, cho nên tôi mới ‘vó ngựa lao nhanh’ lập tức đến nhà tìm cậu, cậu tìm tôi có chuyện gì vậy?”

Lương Nguyên Kính cùng A Bảo đưa mắt với nhau, nhìn hòa thượng nói: “Cậu có thấy cái gì khác trong phòng này không?”

Giác Minh há mồm: “Cái đèn, cái giường, bàn ghế, bình phong… Ủa, sao sau tấm bình phong còn có thêm cái giường nữa vậy? Tiểu hữu Nguyên Kính, chắc cậu đoán trước hôm nay tôi sẽ đến tá túc nhà cậu đúng không? Úi xời! Khách sáo quá đó! Tôi và cậu ngủ cùng sập là được rồi, cần gì phiền phức thế đâu!”

Hoà thượng mặt mày vui mừng.

Lương Nguyên Kính: “……”

A Bảo: “……”

Tầm mắt nàng hoài nghi quét qua quét lại trên mặt hai người họ, có thật sự chỉ là bạn bè hay không vậy? Nghe có vẻ không đơn giản lắm nha.

Lương Nguyên Kính đỡ trán nói: “Không phải mấy cái đó, là người, cậu có thấy ai không?”

Giác Minh nói: “Cậu.”

Lương Nguyên Kính: “Trừ tôi ra.”

Giác Minh chỉ vào mình: “Tôi.”

“………………”

“Y không thấy tôi.” A Bảo nói, “Thôi, đừng hỏi nữa.”

Lương Nguyên Kính nhìn nàng một cái, hít một hơi sâu, chỉ vào vị trí nàng đứng nói với Giác Minh: “Chỗ này có một quỷ hồn, cậu không thấy hả?”

Giác Minh hoà thượng hoảng sợ lùi về sau một bước, nói: “Ai đâu? Quỷ hồn của ai?”

A Bảo trừng mắt với Lương Nguyên Kính: “Đã trễ thế này, anh cần gì hù y?”

Lương Nguyên Kính rũ mắt nói: “Của Hoàng hậu.”

Nói xong, có lẽ nhớ tới Tiết Hoàng hậu quốc triều mới lập, lại bổ sung thêm: “Vị trước kia.”

Giác Minh tức khắc thở phào nhẹ nhõm, nhíu mày nói: “Sao cậu còn…”

Còn?

Còn gì thế?

A Bảo không hiểu gì, nhưng Giác Minh hoà thượng lại không nói tiếp, chỉ thở dài nhìn Lương Nguyên Kính, chân thành nói: “Hay vầy đi, chỗ tôi có hai cuốn kinh thư, cậu cầm lấy mỗi ngày chép ba lần, nhưng cần phải bình tâm tĩnh khí, buông bỏ những điều không nên có…”

“Cây bút cậu tặng tôi,” Lương Nguyên Kính đột nhiên hỏi, “Là từ nơi nào có được?”

A Bảo gấp muốn chết, thầm nghĩ anh đừng cắt ngang y nữa mà, nàng chỉ nghe được phần đầu, buông bỏ cái gì? Điều gì không nên có?

Giác Minh sửng sốt: “Hả? Cậu nói tới cây bút tôi đưa cho cậu lúc cùng nhau nhập kinh vào tháng chín năm ngoái á?”

Lương Nguyên Kính gật đầu: “Đúng vậy.”

Giác Minh gãi gãi cái đầu trọc, hết sức hoang mang nói: “Cây bút đó? Hình như là vị huyện thừa Hồ Châu tặng tôi, cậu biết nơi đó sản xuất bút tốt nhất mà, thông thường xưa nay cậu đâu yêu thích cái gì ngoài sưu tầm văn phòng tứ bảo, nên tôi mới mượn hoa dâng phật, lấy nó tặng cậu. Sao vậy, bút đó có vấn đề gì à?”

Lương Nguyên Kính nhìn về phía A Bảo.

A Bảo thở dài: “Nói cho y đi.”

Nửa canh giờ sau.

Giác Minh hoà thượng uống xong ngụm trà trong chén mới nói: “Cậu nói, cậu có thể thấy quỷ hồn của Hoàng hậu nương nương, nếu lấy máu nhỏ vào nghiên mực, sau đó vẽ bằng bút thần, hồn phách của Hoàng hậu nương nương sẽ nhập vào vật sống trong tranh, có thể cải tử hoàn sinh?”

Lương Nguyên Kính nghiêm trọng gật đầu: “Đúng vậy.”

A Bảo che mặt lại: “Lương Nguyên Kính, nghe như anh bị điên sao ấy.”

Không ngờ còn có người điên hơn cả Lương Nguyên Kính, đột nhiên Giác Minh hoà thượng đứng dậy, cúi người vái chào, chấp tay hành lễ, miệng niệm phật nói: “A di đà phật, tiểu tăng pháp hiệu Giác Minh, ở đây xin bái kiến Hoàng hậu nương nương.”

“……”

A Bảo: “Tôi bên này.”

Lương Nguyên Kính nhắc nhở: “Nàng ở bên phải cậu.”

Giác Minh liền thay đổi phương hướng, vẫn cúi người bái lạy: “Tiểu tăng bái kiến Hoàng hậu nương nương.”

“Cảm ơn nha, là tiền Hoàng Hậu, nếu không ngại cứ gọi tôi là A Bảo.”

A Bảo nhìn về phía Lương Nguyên Kính, ý tứ là thay tôi truyền đạt lại cho y đi.

Lương Nguyên Kính mím môi, nói: “Nàng kêu cậu gọi nàng là A Bảo.”

Quay lại đề tài cải tử hoàn sinh.

Lương Nguyên Kính hỏi Giác Minh: “Cậu thấy nguyên nhân do đâu? Cây bút cậu tặng tôi là bút thần thật à?”

Giác Minh lắc đầu, sắc mặt hơi suy sụp: “Nó chỉ là cây bút phổ thông bình thường không có gì đặc biệt cả!”

“Vậy sao……”

“Khoan nói này đã,” Giác Minh xen vào, “Tiểu hữu Nguyên Kính à, tôi chỉ muốn hỏi cậu một chuyện, cậu có từng thử dùng cây bút khác vẽ tranh để Hoàng… tiểu nương tử A Bảo sống lại chưa?”

“Thử rồi,” Lương Nguyên Kính nhíu mày, “Không được.”

“Từng nhỏ máu vào luôn sao?”

Lương Nguyên Kính ngẩn ra.

A Bảo âm thầm nói: “Không có.”

Từ sắc mặt của chàng Giác Minh cũng đã suy đoán ra đáp án, tay trái nắm lại đập vào lòng bàn tay một cái: “Cậu xem, chuyện này không phải rất rõ ràng sao, chuyện cải tử hoàn sinh không liên quan đến cây bút tôi tặng, mà là liên quan đến máu của cậu đó, dù cậu có vẽ bằng bút gì đi chăng nữa, chỉ cần nhỏ máu vào, linh hồn tiểu nương tử A Bảo sẽ sống lại, không tin cậu cứ thử xem.”

Lương Nguyên Kính ngây ngốc cả người.

A Bảo quay đầu nói với chàng: “Thử xem sao đi.”

Sau một nén nhang, toàn thân A Bảo lại nóng hổi, cảm thấy chóng mặt hoa mắt.

Ngay sau đó, nàng cảm nhận được bản thân đang từ từ lùn xuống, tầm mắt nàng thấy dáng người của Lương Nguyên Kính và Giác Minh càng trở nên cao lớn dị thường, đồ vật bày biện trong phòng cũng vô cùng kỳ quái, hình như mấy món đó bị phóng to ra gấp mười lần lận.

Lạ quá, Lương Nguyên Kính vẽ nàng thành cái gì vậy?

A Bảo lắc lắc đầu, cử động tứ chi.

Miệng Giác Minh há to ra, ngạc nhiên không thôi chỉ vào nàng: “Quào! Chó kìa!”

A Bảo: “…………”

Chó?

Chó á??

Lương Nguyên Kính vẽ nàng biến thành một con chó???

A a a! Nực cười!! Nàng cắn chết chàng!!!

A Bảo phi thẳng qua, bám lên chân trái của Lương Nguyên Kính, ẳng ẳng một tiếng.

Lương Nguyên Kính cười bế chú chó nhỏ đen trắng lên, bắt lấy hai chân trước của nàng: “Đừng giận, thời gian có hạn chỉ có thể vẽ được như này thôi.”

Ẳng ẳng! Tôi mặc kệ anh!

Chân sau của A Bảo điên cuồng đạp loạn trong không khí, đáng tiếc chân quá ngắn, không thể đá tới cái bản mặt khó ưa của Lương Nguyên Kính.

Lương Nguyên Kính ôm nàng vào lòng ngực, một lần nữa cầm bút lên:

“Tôi vẽ bức khác cho em.”

“Vẽ cho đàng hoàng!” A Bảo tức giận nói, “Lại vẽ thành con chó con mèo nào khác đi, coi tôi có cắn chết anh không!”

Lương Nguyên Kính nâng môi cười nhạt, múa bút vẩy mực.

A Bảo hờn dỗi chốc lát cũng từ từ hết giận, ngửi thấy mùi hương bạch đàn dễ chịu từ trên cổ chàng sinh ra chút mê mang.

Ui cha, thơm quá vậy, trên người Lương Nguyên Kính thơm quá, lại ấm nữa, nàng tự động cọ qua cọ qua trong lòng ngực chàng, ủn tới ủn lui cho tới khi vạt áo chàng nhăn nhúm.

“Đừng quậy.”

Lương Nguyên Kính vừa vẽ vời vừa lấy tay chụp cái đầu cún của nàng lại.

Oa, xúc cảm chàng sờ đầu nàng sướng quá đi.

A Bảo nỗ lực dúi dúi vào bàn tay chàng, Lương Nguyên Kính liền thuận thế xoa xoa đầu nàng, còn dùng ngón tay vu.ốt ve dọc phần lưng cho nàng.

Giác minh: “………………”

Là y bị ảo giác sao?

Vì sao y cảm thấy ánh mắt chú chó này say đắm dữ vậy?

“Đúng là thế gian rộng lớn, chuyện gì cũng có thể xảy ra mà.” Hoà thượng khẽ cảm thán, “Tiểu hữu Nguyên Kính, không giấu gì cậu, lúc nãy nghe cậu nói gì mà hồn nhập tranh sống lại tôi chỉ dám tin ba phần, giờ lại tận mắt chứng kiến chó con trong tranh xuất ra ngoài phòng mới biết thiên hạ cũng có chuyện kỳ diệu như này!”

Lương Nguyên Kính ngừng bút trong tay, thở dài: “Ban đầu tôi cũng không dám tin mà.”

A Bảo chán chường dúi đầu vào tay chàng, sờ tiếp coi! Đừng có ngừng mà!

Lương Nguyên Kính lập tức trấn an vuốt vuốt lông nàng, tiếp tục vẽ tranh, qua hồi lâu sau mới vẽ xong.

“Vẽ xong rồi?” Giác Minh thò người lại nhìn, không khỏi oà lên, “Đây là…”

Là cái gì?

Sao hoà thượng này hay úp úp mở mở quá vậy?

A Bảo đang ăn vạ lim dim sắp ngủ trong lòng ngực của Lương Nguyên Kính, giờ cố chống mí mắt lên nhìn bức tranh, mắt chó tức khắc mở to.

Trên tranh…

Là nàng mà.

À đâu… Cũng không thể hoàn toàn nói là nàng, người trong tranh có mặt mũi dáng người tương tự nàng, nhưng lại có hơi không khớp lắm, so phong thái năm xưa của nàng thì có vẻ ngây thơ non nớt hơn, giống như…

A Bảo thời thiếu niên.

Kỳ lạ, khi đó Lương Nguyên Kính đã quen biết mình rồi à? Sao vẽ giống tới vậy được nhỉ?

A Bảo đang muốn tiến lên nhìn kỹ hơn thì Lương Nguyên Kính đã dùng con dao nhỏ trên bàn cắt nhát vào bàn tay mình, tay nắm thành quyền, từng giọt máu tươi rớt xuống, như giọt nhỏ xuống giữa mày mỹ nhân trong tranh, tạo thành hình xoáy nước, máu tươi nhanh chóng chảy vào đó, sau khi ánh đỏ hồng chợt loé, tính luôn cả mỹ nhân đang dạt dào ý cười dần dần biến mất.

Tuy lúc nãy đã xem qua một lần, Giác Minh vẫn phải trợn mắt há hốc mồm.

Thanh tao như nước mùa thu, quý phái từ trong xương cốt.

Mày cong như trăng non, mắt sáng như vì sao, môi đỏ thắm như son.

Lương Nguyên Kính không hổ danh là họa sư vẽ mỹ nhân giỏi nhất thế gian, không biết từ bao giờ, vị tuyệt sắc giai nhân đã xuất hiện, trên mặc chiếc áo lụa mỏng màu xanh ngọc nhạt, dưới mặc chiếc váy dài thướt tha màu đỏ sẫm điểm hoa trắng, cánh tay choàng áo lụa son, trang sức trên tóc lấp lánh, eo đeo ngọc bội, cổ tay trắng nõn đeo ba chiếc vòng bạc, ánh mắt buông lơi, yên lặng đứng giữa ánh nến.

“A Bảo.”

Ánh mắt Lương Nguyên Kính chuyên chú khẽ gọi tên nàng.

A Bảo cúi đầu lật tay mình lên xuống, hoảng hốt một hồi mới hoàn hồn trở lại

Nàng ngẩng đầu cười: “Xin lỗi nhiều, lâu rồi chưa làm người sống, lại y đúc như trước kia, tôi có chút… Không quen lắm. Chỉ là… Sao anh biết tôi có ba chiếc vòng bạc này vậy? Đó là vòng a ca làm cho tôi, sau này phải cầm cố, tôi muốn tìm lại cũng không được.”

Lương Nguyên Kính dời mắt: “Tôi vẽ đại thôi, cũng không biết em có.”

“Thật không?” A Bảo có hơi nghi ngờ, “Nhưng mà giống lắm, thực sự giống y như đúc.”

Kể cả hoa văn được khắc trên đó cũng giống nữa.

Giác Minh hoà thượng gượng cười vài tiếng, nói: “Phàm là nữ tử khuê các Đại Trần ai cũng thích mang trang sức bạc thôi, trưởng bối trong nhà cũng thường chế tạo bạc làm của hồi môn gả con gái, là chuyện bình thường có gì lạ đâu, ha ha, chả có gì lạ.”

Cũng phải, nhớ rõ năm xưa còn ở nhà Trương Ngu Thần, trên cổ tiểu nương tử nhà ông ấy cũng có một cái khóa như ý làm bằng bạc [1], nghe nói là đã đeo từ nhỏ cơ.

<i>[1] Hình ảnh minh hoạ (nguồn: Baidu)</i>
u33560138583720813786fm224app112fjpeg.jpeg


A Bảo cũng không nói gì nữa.

Lương Nguyên Kính quay đầu hỏi Giác Minh: “Cậu thấy vì sao lại như vậy?”

Giác Minh đứng lên, đi đi lại lại trong vòng vài bước, giữa mày nhíu chặt: “Lấy máu vẽ tranh hồn phách sống lại là chuyện thần kỳ, tôi chưa nghe nói bao giờ, cũng không hiểu được nguyên nhân, có lẽ phải chờ sau khi tôi về chùa, lật kinh thư ra đọc xong mới biết được, chẳng qua…”

“Chẳng qua gì?” Lương Nguyên Kính truy hỏi.

Giác Minh nhìn ngược về phía A Bảo, trên mặt chất chứa vẻ thương xót, nói a di đà phật: “Chẳng qua, thân xác của tiểu nương tử A Bảo đã tiêu tan mà hồn vẫn còn lưu lạc trên trần gian này, không vào được sáu cõi luân hồi , nếu vậy, chắc là sinh thời còn tâm nguyện chưa làm xong.”

A Bảo chợt ngẩn người.

Tâm nguyện… Chưa làm xong?
 
Back
Top Bottom