Năm Thuận Hóa thứ ba, tiết đầu xuân Canh Ngọ (năm 1390).
Ta tỉnh dậy giữa rừng cây rì rào tiếng gió, trong một căn nhà gỗ đơn sơ thấp thoáng ánh sáng từ khe cửa sổ nhỏ bằng song tre.
Mùi khói bếp trộn lẫn hương nhựa thông, ngai ngái như gợi lại điều gì rất xa xăm – không, không phải quá khứ – mà là một hiện thực hoàn toàn khác.
Ta là Trần Thị Minh Anh, sinh năm 1997, từng là nhà nghiên cứu sử học và cố vấn chiến lược quốc phòng, đã sống và chết ở thế kỷ XXI.
Vụ tai nạn máy bay ở Trường Sa năm 2017 tưởng như đã kết thúc mọi thứ.
Nhưng không, ta mở mắt lần nữa và thấy mình trong cơ thể của một đứa bé gái năm tuổi, giữa năm 1390, thời kỳ suy vong của nhà Trần, đất nước chia cắt, lòng người ly tán.
Ta đã... trọng sinh.
Mỗi bước đi nhỏ trên nền đất sỏi trước sân nhà, ta cảm nhận đôi chân ngắn ngủn không vững vàng.
Đôi tay bé con run rẩy, nhưng trong ngực là trái tim dày dạn của một người phụ nữ từng trải qua chiến tranh, chính biến, và cả những lần đứng trước bản đồ quốc gia mà rơi nước mắt.
Ánh mắt của cha ta Trần Nguyên Hãn dừng lại nơi ta với một vẻ thương yêu pha lẫn cẩn trọng.
Ông ấy là người đàn ông mới chỉ 28 tuổi, đầy uy nghi và khí chất của một kẻ từng đọc thiên kinh vạn quyển, từng cầm quân ở phương Bắc.
Ông đang ngồi trên phản gỗ, tay cầm cuốn "Thái sử ký" mà lật từng trang trong ánh sáng nhập nhoạng.
Dáng ông mảnh khảnh, đường nét gương mặt cương nghị.
Tóc cột cao, khăn vấn đơn giản, y phục nâu sẫm – người không khoe quyền quý, mà để lại ấn tượng sâu sắc bằng khí chất của bậc sĩ đại phu.
Ta khẽ cất tiếng, giọng nói nhỏ nhẹ mà ngắt quãng: "Cha... con đọc cùng cha được không?".
Ông hơi ngạc nhiên, quay sang nhìn.
Ta biết là một đứa con gái chỉ mới năm tuổi không nên nói như vậy.
Nhưng ánh mắt của ông dịu lại.
Có lẽ, trong thâm tâm, ông cũng cảm nhận được điều gì đó khác thường trong ta.
"Minh Anh của cha... hôm nay con lớn quá rồi" ông nói, ánh mắt như dõi vào tận sâu linh hồn của ta.
Trong nhà còn có mẹ của ta tên là Lê Thị Bích, năm nay chỉ mới 25 tuổi, dung mạo hiền từ mà ánh lên vẻ sắc sảo.
Mái tóc dài đen ánh vấn gọn sau lưng, áo yếm đơn sơ màu mận chín, dáng người nhỏ nhắn mà nhanh nhẹn.
Bà vừa quét sân, vừa tay bế đứa bé gái mới chỉ 1 tuổi tên là Minh Tuyết, em gái ta.
Minh Tuyết còn quá nhỏ để hiểu điều gì đang xảy ra, nhưng đôi mắt đen lay láy của con bé như ghi lại tất cả.
Ta cúi nhìn em, nhẹ nhàng xoa đầu – không còn là cái vuốt tóc của một đứa chị trẻ con nữa, mà là sự vỗ về của một người đã từng mất đi em gái mình trong một thế giới khác.
"Chị sẽ bảo vệ em suốt đời, Minh Tuyết..." ta thầm thì nhìn đứa em gái.
Lời thề vang vọng như một lời thề máu, vượt qua cả hai kiếp người.
Thuận Hóa, năm 1390 là vùng đất đầy núi non, sông ngòi và hiểm trở.
Dân cư thưa thớt, phần lớn là lưu dân từ Bắc trốn giặc, cướp và sưu thuế nặng nề.
Nhà ta tọa lạc tại một thung lũng giữa rừng thông, gần sông Ô Lâu, nơi có thể dễ phòng thủ mà cũng dễ giao thương nếu biết đường.
Phía Nam là dãy Bạch Mã hùng vĩ, ngăn cách đất Chăm Pa với Đại Việt.
Phía Bắc là sông Giang, giáp ranh với các thôn trấn người Việt đang dần định cư.
Cha ta được Hồ Quý Ly bổ nhiệm làm An phủ sứ Thuận Hóa, nhưng kỳ thực là một hình thức đày ải có văn vẻ.
Là thân tộc họ Trần, lại không thuộc phe Hồ, cha bị đưa vào vùng đất hoang hóa này với nhiệm vụ "bình định dân chúng", "ổn định biên cương".
Nhưng ta biết rõ – đây là cơ hội.
"Cha..." ta ngập ngừng rồi nói tiếp "cha có nghĩ rằng...
Thuận Hóa có thể trở thành một nơi dựng nghiệp không?".
Ông ngẩng đầu, ánh mắt bất ngờ sắc bén như một lưỡi kiếm chưa rút khỏi vỏ rồi cất lời: "Con nói gì vậy?".
Ta im lặng một lúc rồi đáp, không nhìn thẳng mà nhìn ra cánh rừng rậm: "Ở đây... rừng sâu, sông rộng, dân chưa yên.
Nhưng chính vì thế mà dễ làm lại từ đầu.
Nếu có lúa gạo, có kẻ sĩ, có quân lính trung thành... thì có thể dựng thành trì, lập căn cứ...".
Ông đứng bật dậy, bước tới nhìn ta chăm chăm cất lời: "Con... năm nay mới năm tuổi.
Ai dạy con điều đó?".
Ta nhìn cha không chớp, trong đầu tính toán xem có nên bộc lộ một phần sự thật.
Nhưng rồi ta chỉ cúi đầu: "Con hay mơ.
Trong mơ con thấy nước mất nhà tan.
Con sợ..."
Ánh mắt ông dịu xuống.
Ông ngồi xuống, ôm ta vào lòng, giọng ấm áp mà trĩu nặng: "Cha cũng sợ như con.
Nhưng một ngày nào đó... chúng ta sẽ phải quyết định: hoặc sống âm thầm, hoặc đứng lên thay đổi".
Tối hôm ấy, ta được mẹ ru ngủ bằng bài dân ca cũ.
Ta nằm trong chiếc chõng tre, trăng rọi qua vách gỗ, lòng không yên.
Ta cũng nghĩ về những điều cần làm là đầu tiên giữ vững vùng Thuận Hóa này, tổ chức lại nông nghiệp, củng cố quân sự địa phương.
Sau đó nên kết thân với các tộc bản địa, học ngôn ngữ và văn hóa Chăm để từ từ hoà nhập và chiêu dụ.
Ngoài ra phải dạy chữ và sách sử cho trẻ em và dân trong vùng, dựng lại một tầng lớp trí thức bản địa trung thành.
Mặc khác phải ghi chép lại mọi biến động của triều đình, chuẩn bị cho cuộc biến loạn của Hồ Quý Ly và sự sụp đổ của nhà Trần.
Cuối cùng phải tìm kiếm những nhân tài lưu lạc, những người có thể là trụ cột trong cuộc thay đổi lịch sử sắp tới.
Ta hiện tại trong thân xác một đứa trẻ phải bước đi trên một con đường dài, âm thầm nhưng dứt khoát.
Không thể để Đại Việt lặp lại bi kịch phương Bắc áp bức, phương Nam ly khai, dân tình khốn khổ.
Nếu phải dùng bàn tay một đứa con gái để xoay chuyển bánh xe lịch sử, ta sẽ làm.
"Một đứa trẻ năm tuổi" ta thì thầm trong đêm, "nhưng với hai kiếp người".
Mấy ngày sau, trong một buổi họp nhỏ giữa cha và các chức sắc địa phương, ta ngồi trong góc nghe lỏm.
Một người áo vải, râu rậm, dáng xăm xăm bước lên: "Thưa An phủ sứ, người Chăm phía Nam ngày một lấn tới.
Họ muốn chiếm bến Tư Dung".
Cha gật đầu, chưa nói.
Ta lên tiếng, nhẹ nhàng: "Chúng ta nên cho họ tưởng là họ chiếm được.
Nhưng chỉ cần họ vượt giới, ta dùng cung thủ mai phục trên bờ...".
Cả gian phòng quay lại nhìn ta.
Vài người cười phá lên.
Nhưng cha không.
Ông nói: "Minh Anh... lại mơ nữa à?".
Ta gật đầu, miệng mỉm cười: "Mơ... nhưng là mộng thấy tương lai".
Cha nhìn ta hồi lâu.
Rồi, ông quay sang người kia: "Làm như con bé nói".
Từ giây phút đó, mọi người bắt đầu gọi ta là "cô bé tiên tri".
Ta biết với danh hiệu ấy sẽ còn theo ta rất lâu.
Nhưng chẳng sao.
Bởi vì ta không cần lời khen.
Ta cần thời gian.
Và thời gian... bắt đầu đếm ngược.