19 tháng 12 năm 1960
Trên tàu, lúc tàu vừa lăn bánh.
5 giờ sáng.
Nhà ga Hàng Cỏ vỡ trận.
Người đông nghịt, chen chúc như nêm cối.
Dù đang giữa mùa đông rét căm căm, nhưng cái hơi người, hơi nóng từ đầu máy xe lửa phả ra làm không gian đặc quánh, oi bức đến ngạt thở.
Mùi mồ hôi, mùi thuốc lá, mùi than đá khét lẹt trộn lẫn vào nhau tạo thành cái mùi đặc trưng của sự chia ly và lên đường.
Mình nhìn quanh.
Hàng nghìn người lính trẻ măng đang chen lấn để lên toa.
Có những anh to cao lừng lững, bắp tay cuồn cuộn, cười nói oang oang.
Nhưng cũng có đầy những anh gầy gò, ốm nhom ốm nhách, xương sườn chắc đếm được qua lớp áo mỏng, mặt mũi thư sinh trắng trẻo hệt như bọn mình.
Ấy thế mà lạ, chẳng thấy ai mặt ủ rũ cả.
Anh nào anh nấy miệng cười tươi rói, dõng dạc hét to với người nhà đứng dưới sân ga:
"Mẹ về đi!
Con đi đánh Mỹ như đi trẩy hội ấy mà!
Thống nhất con về con cưới vợ cho mẹ xem!"
Họ nói thế để người ở lại yên lòng, và cũng để lên dây cót cho chính mình.
Trong mắt họ, mình thấy rực lên một niềm tin kỳ lạ: Giải phóng.
Đang ngó nghiêng thì...
"Tiên sư cha chúng mày!
Đứng lại!"
Mình giật bắn mình.
Quay sang thì thấy bố thằng Tuấn, mẹ thằng Hải, rồi cả bố mẹ thằng Minh đang chạy hồng hộc lao tới, mồ hôi nhễ nhại, quần ống thấp ống cao.
Hóa ra các cụ biết tin, đuổi theo ra tận đây.
"Cái thằng giặc con này!
Mày trốn đi mà không bảo mẹ một câu à?"
- Mẹ thằng Hải vừa đấm thùm thụp vào lưng nó, vừa khóc nấc lên.
Bố thằng Tuấn thì túm cổ áo nó lắc lắc, miệng chửi đổng:
"Mày giỏi!
Mày giỏi lắm con ạ!
Bố láo bố lếu!"
Chửi thì chửi thế, nhưng tay ông run run sờ lên khuôn mặt thằng con trai độc nhất.
Ba thằng bạn mình, lúc nãy còn hùng hổ thề thốt, giờ đứng khóc tu tu như mấy đứa trẻ con bị đòn.
Nước mắt ngắn nước mắt dài, chúng nó ôm chầm lấy bố mẹ.
Các cụ vừa mắng, vừa dúi vội vào tay chúng nó mấy cái bọc lá chuối nóng hổi.
"Cầm lấy!
Xôi gấc đấy, ăn cho đỏ vận!"
"Con gà mẹ vừa luộc xong, còn chưa kịp chặt, cầm cả con mà gặm!"
"Ruốc mẹ làm hôm qua, nhớ ăn dè thôi không hết!"
Nhìn cảnh chúng nó vừa mếu máo nhai xôi, vừa nghe mẹ dặn dò, mình đứng trơ khấc ở giữa, lạc lõng kinh khủng.
Tự nhiên thấy sống mũi cay xè.
Tủi thân.
Mình nghĩ thầm:
"Chắc mẹ giận mình thật rồi.
Mẹ không ra đâu.
Mà không ra cũng tốt, đỡ bịn rịn..."
Mình quay mặt đi, cố len qua dòng người để trèo lên bậc lên xuống tàu, định bụng tìm một chỗ khuất để trốn cái cảm giác cô độc này.
Nhưng rồi, linh tính mách bảo thế nào, mình ngoái đầu lại nhìn về phía cổng soát vé lần cuối.
Và mình thấy Mẹ.
Mẹ không chạy hồng hộc như bố mẹ thằng Tuấn.
Mẹ đứng nép vào một cái cột sắt gần đó, lặng lẽ như một cái bóng.
Mẹ mặc cái áo bông cũ sờn màu nâu đất, cái khăn mỏ quạ trên đầu hơi xô lệch, lòa xòa mấy sợi tóc bạc xuống trán.
Tay mẹ xách một cái tay nải nhỏ xíu.
Mẹ không gào khóc, không gọi tên mình.
Mẹ chỉ đứng đó, đôi mắt trũng sâu đang dáo dác tìm kiếm giữa biển người mênh mông, cái dáng vẻ nhỏ bé, gầy guộc lọt thỏm giữa đám đông ồn ào.
Tim mình như ngừng đập.
Mình quên cả cái ba lô đang nặng trĩu trên vai, quên cả tiếng còi tàu đang hú giục giã.
Môi mình mấp máy không thành tiếng:
"Mẹ..."
Trên tàu, cách trung tâm Ga Hàng Cỏ khoảng 300m
Lúc nhìn thấy mẹ đứng nép bên cái cột sắt, tai mình ù đi.
Tiếng còi tàu hú lên một hồi dài, chói tai, báo hiệu tàu sắp rời bến.
Bánh xe sắt bắt đầu rùng mình, kêu ken két.
Mình không nghĩ được gì nữa.
Mình quăng toẹt cái ba lô vào người thằng Tuấn: "Cầm hộ tao!" rồi bất chấp tất cả, nhảy phắt từ bậc lên xuống xuống sân ga, lao ngược dòng người đang chen chúc.
"Mẹ!
Mẹ ơi!"
Mình gào lên, giọng lạc cả đi.
Mình xô vào người này, húc vào người kia.
Mấy bà đi buôn chửi với theo, nhưng mình mặc kệ.
Mẹ nhìn thấy mình.
Đôi mắt đang dáo dác bỗng sáng rực lên, rồi ngay lập tức ầng ậng nước.
Mẹ không đứng yên nữa, mẹ lập cập chạy về phía mình, cái dáng gầy guộc liêu xiêu muốn ngã.
Hai mẹ con va vào nhau giữa đám đông hỗn loạn.
Mình ôm chầm lấy mẹ.
Người mẹ gầy quá, chỉ còn da bọc xương, lọt thỏm trong vòng tay mình.
Mùi trầu không, mùi khói bếp, mùi mồ hôi chua nồng quen thuộc xộc vào mũi làm mình muốn khóc òa lên như đứa trẻ con 3 tuổi.
"Mẹ... con tưởng mẹ không ra..."
Mình hổn hển.
Mẹ không nói, bàn tay nhăn nheo, thô ráp vuốt vội lên mặt mình, lên tóc mình.
Mẹ dúi mạnh cái tay nải vào ngực mình, giọng mẹ run rẩy nhưng rành rọt từng tiếng:
"Cầm lấy!
Mẹ không giận.
Mẹ ra để đưa cái này cho anh."
Mình cúi xuống.
Trong cái tay nải bằng vải nâu là một gói xôi đỗ to tướng còn nóng hổi, bọc trong lá sen thơm lừng.
Và bên cạnh gói xôi... là chiếc khăn len màu xám tro.
Đó là chiếc khăn của Bố.
Chiếc khăn bố quàng ngày đi kháng chiến năm 46, mẹ đã cất kỹ dưới đáy hòm bao nhiêu năm nay, không ai được động vào.
"Bố anh phù hộ cho anh.
Đi chân cứng đá mềm con nhé.
Đừng lo cho mẹ."
"Tu hú... tu hú..."
Còi tàu rít lên hồi cuối.
Đoàn tàu giật mạnh một cái rồi bắt đầu trôi từ từ.
Tiếng thằng Tuấn, thằng Minh gào lên từ cửa toa:
"Cường ơi!
Tàu chạy rồi!
Chạy đi!!"
Mình hoảng hốt buông mẹ ra.
"Con đi đây!
Mẹ về đi!
Mẹ giữ gìn sức khỏe!"
Mình quay lưng, cắm đầu chạy đuổi theo toa tàu đang lướt qua.
"Nhanh lên Cường ơi!"
Thằng Hải nhoài cả nửa người ra ngoài cửa toa, tay với với về phía mình.
Mình dồn hết sức bình sinh, guồng chân chạy đua với bánh xe sắt.
Gió tạt mạnh vào mặt.
Mình vứt cái tay nải lên sàn tàu trước, rồi rướn người nhảy lên, túm lấy tay vịn cửa.
Ba bốn cánh tay của lũ bạn cùng lôi, cùng kéo, giật ngược mình vào trong toa.
Mình ngã dúi dụi xuống sàn tàu bẩn thỉu.
Nhưng mình bật dậy ngay, lao ra cửa sổ.
Sân ga lùi lại phía sau.
Những gương mặt, những cánh tay vẫy vùng nhòa đi.
Nhưng mình vẫn thấy Mẹ.
Mẹ vẫn đứng ở cái cột sắt ấy, giờ chỉ còn là một chấm nhỏ xíu màu nâu giữa sân ga vắng dần.
Mẹ giơ vạt áo lên chấm mắt.
Mình ôm chặt gói xôi và chiếc khăn len của bố vào lòng, cảm nhận hơi ấm của mẹ vẫn còn vương lại.
Mình ngồi bệt xuống sàn tàu, mặc kệ xung quanh ồn ào.
Nước mắt cứ thế tuôn ra, mặn chát.
Mình lấy cái khăn len quàng lên cổ.
Một cảm giác an toàn kỳ lạ bao phủ lấy mình.
Giống như Bố đang ở đây, và Mẹ đang ôm mình.
Tàu xình xịch lao vào màn đêm, bỏ lại Hà Nội, bỏ lại tuổi thơ sau lưng.
Giờ thì mình đã là lính rồi.
Thực sự là lính rồi.