Chương 64: 《 The Silence of The Lambs 》
Thời gian trôi đến tháng Tư, thời tiết ở thành phố Hâm Hải đã âm thầm ấm lên.
Trên các con phố, những cô gái xinh đẹp lần lượt cởi bỏ những bộ áo mùa đông dày cộm, thay vào đó là những trang phục mùa xuân tươi sáng, kiểu dáng thanh thoát.
Trong vườn hoa giữa phố trên đường Tình Vân ở phía nam thành phố, cây tử đằng leo đầy giàn, những chùm nụ hoa màu tím hồng căng mọng buông xuống trông như sắp nở rộ.
Sáng ngày 3 tháng 4, lúc 10 giờ, mặc dù là cuối tuần, nhưng đúng vào thời điểm đông đúc nhất, bên cạnh giàn hoa tử đằng lại đỗ vài chiếc xe cảnh sát.
Hai viên cảnh sát mặt mũi nghiêm nghị mặc đồng phục đứng trước dải băng cảnh báo phát sáng, ngăn cách những người dân hiếu kỳ tụ tập thành từng nhóm nhỏ, ngó nghiêng về phía tòa nhà xảy ra án mạng.
Hôm đó, Liễu Dịch theo thường lệ ngủ một giấc tự nhiên đến khi tỉnh dậy vì là ngày nghỉ anh không phải đi làm.
Tuy nhiên, chưa kịp thong thả ăn một bữa sáng tinh tế, anh đã nhận được liên lạc từ sở.
Họ báo rằng đã phát hiện một thi thể tại một căn hộ chung cư ở số 8 đường Tình Vân.
Pháp y được cử đến hiện trường còn khá non kinh nghiệm, sau khi xem xét thì thấy dấu vết vô cùng kỳ lạ nên đã liên hệ với cấp trên là trưởng khoa bệnh lý, nhờ Liễu Dịch đến xem qua một cái.
Thế là Liễu Dịch vội vã rửa mặt qua loa, không kịp chỉnh trang chỉ tùy tiện khoác chiếc áo khoác rồi lái xe thẳng đến hiện trường.
Căn hộ chung cư nơi phát hiện thi thể có tên là Hương Tuyết Các, là một tòa nhà cao tầng mới xây được năm năm, thiết kế theo kiểu căn hộ độc thân nhỏ dạng duplex đang rất thịnh hành hiện nay.
Phần lớn căn hộ ở đây đều có cấu trúc hai phòng ngủ, một phòng khách, một nhà bếp, một nhà vệ sinh và một ban công nhỏ.
Cư dân trong toà nhà chủ yếu là những thanh niên độc thân, có trình độ cao, thu nhập ổn định và đã tạo dựng được chỗ đứng ở thành phố Hâm Hải.
Với đối tượng khách hàng chủ yếu là những người trẻ tuổi, xung quanh khu căn hộ này có rất nhiều cửa hàng tiện lợi, quán trà sữa ăn vặt, cửa hang thức ăn nhanh, thậm chí là phòng tập gym, tạo thành một khu dân cư tiện lợi và an ninh tốt, được đánh giá khá cao trong giới thuê nhà.
Khi Liễu Dịch bước qua dải băng cảnh báo, anh giơ thẻ công tác của mình lên rồi đi theo một viên cảnh sát dẫn đường lên thang máy tới tầng 21.
Ngay khi cửa thang máy mở ra, anh lập tức ngửi thấy một mùi hôi thối nặng nề lan tỏa khắp hành lang, rồi anh thấy pháp y trẻ tuổi Tiểu Miêu của khoa mình cùng với nghiên cứu sinh Giang Hiểu Nguyên đang đứng ở hành lang, dáng vẻ như hai con cầy meerkat thò đầu ra chờ anh đến.
"Đã chết bao lâu rồi?"
Liễu Dịch cau mày, nhận lấy chiếc áo blouse trắng và găng tay Giang Hiểu Nguyên đưa cho, vừa mặc vào vừa trầm giọng hỏi.
Dù là pháp y kinh nghiệm phong phú đã rèn luyện để có thể chịu đựng mùi xác chết mà không thay đổi sắc mặt nhưng điều đó không có nghĩa là họ không cảm thấy ghê tởm.
Đặc biệt là khi bước vào hiện trường phát hiện thi thể, thông thường họ không được phép đeo khẩu trang.
Hơn hai mươi năm trước, khi khán giả xem các bộ phim điều tra hình sự của Mỹ, họ thường thấy các bác sĩ pháp y thoa một lớp dầu bạc hà dưới mũi trước khi vào hiện trường vụ án hoặc tiến hành khám nghiệm tử thi để che đi mùi hôi thối.
Nhưng trên thực tế, vì nhiều loại độc dược có mùi đặc trưng riêng, các bác sĩ pháp y thường phải tìm manh mối từ mùi vị của hiện trường.
Vì vậy, dù phải đối mặt với thi thể đã phân hủy nặng nề, họ thường phải cắn răng chịu đựng mùi hôi thối chứ đừng nói đến việc bôi một lớp dầu bạc hà nồng nặc, ngay cả khẩu trang y tế thông thường họ cũng cố gắng không đeo nếu có thể.
"Chắc khoảng năm, sáu ngày rồi..."
Giang Hiểu Nguyên nuốt khan, cố nén cảm giác buồn nôn trong lồng ngực.
"Xác cũng bắt đầu trương phình rồi..."
Liễu Dịch "ừm" một tiếng, đẩy cửa bước vào.
Mùi hôi thối càng nồng nặc hơn ập vào mặt như muốn làm người ta choáng váng.
Trong phòng, ruồi nhặng bay loạn xạ.
Khi bị tiếng động làm kinh động, chúng điên cuồng lao về phía trên cao.
Viên cảnh sát đi sau họ hai bước theo phản xạ lùi lại phía sau một bước, lấy tay bịt mũi, biểu cảm trên mặt như muốn nôn mửa.
Theo ghi chép điều tra của cảnh sát, dù thi thể đã phân hủy nghiêm trọng nhưng nạn nhân chắc chắn là người thuê căn hộ này, giám đốc ngân hàng đầu tư 28 tuổi tên là Tiêu Bân.
Dựa theo lời kể của hàng xóm gần đó, họ đã không nhìn thấy Tiêu Bân trong vài ngày qua, hơn nữa trong những ngày gần đây, mỗi lần đi qua hành lang họ luôn cảm thấy có một mùi hôi thối như mùi chuột chết, và mùi này ngày càng nặng.
Sáng nay, khi bạn trai của một cô gái trẻ ngoài 20 tuổi sống cạnh Tiêu Bân đến chơi, anh ta đã ngửi thấy mùi hôi thối bất thường trong hành lang, càng nghĩ càng cảm thấy có điều gì đó không ổn.
Chàng trai này cũng rất gan dạ và tinh ý, anh ta gõ cửa từng căn hộ để kiểm tra, khiến tất cả cư dân của tầng đó đều phải chú ý.
Cuối cùng, mọi người tụ tập trước căn hộ 2107 của Tiêu Bân, xác nhận được nguồn gốc của mùi hôi rồi gọi quản lý đến, phá khóa cửa đang bị khóa trái từ bên trong.
Như một điều tất yếu, khi mọi người mở cửa, họ bị sốc bởi mùi hôi thối nồng nặc và tiếng vo ve của ruồi bay loạn xạ trong phòng, khiến ai nấy đều mặt mày tái mét, không ai có đủ can đảm bước vào để tìm hiểu sự việc.
Thay vào đó, họ quyết định báo cảnh sát ngay lập tức.
Căn hộ dạng duplex này không quá rộng rãi, Liễu Dịch liếc mắt một cái đã thấy được thi thể nằm trên ghế sofa trong phòng khách.
"Đã xác nhận nhiều lần với quản lý của toà nhà rằng cửa phòng khi đó thực sự bị khóa trái từ bên trong, dường như không có dấu vết người khác ra vào," Giang Hiểu Nguyên vừa nói vừa vung tay xua đi con ruồi đang lao về phía mặt mình.
"Cảnh sát cũng đã đếm số lượng báo chưa lấy trong hòm thư của Tiêu Bân trước cửa, đúng sáu tờ, khớp với thời gian tử vong được ước tính ban đầu."
"Ừm, cửa sổ có hé một khe, đàn ruồi chắc là từ đó bay vào."
Liễu Dịch liếc qua cửa sổ sát đất dẫn ra ban công, rồi bước lại gần thi thể.
"Vậy đây là một vụ tự sát à?"
"Chuyện này... tuy thoạt nhìn có vẻ đúng là tự sát..."
Pháp y Tiểu Miêu, người đã gọi Liễu Dịch đến, vò đầu bứt tóc.
"Nhưng cách tự sát quái dị như thế này, tôi cứ thấy... thật là, không thể tưởng tượng nổi..."
Khi nhìn rõ thi thể nằm trên ghế sofa, Liễu Dịch ngay lập tức hiểu được cái "quái dị" mà bác sĩ pháp y Miêu đang nói đến.
Thi thể trên sofa sau nhiều ngày bị phân hủy và tàn phá bởi côn trùng đã hoàn toàn không còn nhận ra hình dạng ban đầu.
Tư thế của thi thể khá ngay ngắn, nằm ngửa với hai chân duỗi thẳng, hai tay đặt song song dọc theo cơ thể.
Thế nhưng, phần thân trên lại không mặc áo, các mô mềm vì khí gas sinh ra từ quá trình phân hủy đã phình to gấp đôi, phủ đầy dòi, khuôn mặt sưng vù và biến dạng, chỉ có thể nhận diện được đây là một người đàn ông qua các đặc điểm bên ngoài của cơ thể.
Điểm kỳ quái nhất chính là trên phần thân trần của thi thể có một tấm ván gỗ nặng đè lên.
Tấm ván gỗ hình chữ nhật, rộng khoảng nửa mét, dài đủ để che phủ từ dưới xương đòn đến trên rốn của người chết.
Trên ván có hơn hai mươi chiếc đinh với đầu đinh còn mới, chưa hề bị gỉ sét, có vẻ vừa được đóng vào gần đây.
Chính giữa tấm ván có một chiếc đinh móc, từ đó buộc một sợi dây nhựa màu hồng sậm, uốn lượn ra dài hơn ba mét.
Hiện tại, do thi thể phình to bởi khí phân hủy, cả tấm ván đã lún sâu vào trong máu thịt, trông như thể nó đã bị gắn chặt vào cơ thể người chết.
Liễu Dịch đưa tay ra nắm lấy một góc của tấm ván gỗ và nhấc lên một chút, quả nhiên thấy nhiều cây đinh dài xuyên qua tấm ván, từ phía sát với xác chết đâm ra, cắm vào trước ngực và bụng của thi thể người đàn ông.
"Chuyện này là sao đây?"
Anh không lập tức gỡ tấm ván ra khỏi thi thể, mà đứng dậy ra hiệu cho Giang Hiểu Nguyên chụp ảnh lưu bằng chứng.
Sau đó, Liễu Dịch nhìn quanh bốn phía, rất nhanh đã tìm thấy bằng chứng quan trọng.
Trên bàn trà có một lọ thuốc ngủ Serena Diazepam*, bên trong đã trống rỗng.
Cạnh đó là một cốc nước, chỉ còn lại một chút vừa đủ che đáy cốc.
(*舒乐安定: Diazepam là thuốc hướng thần nhóm benzodiazepin tác dụng kéo dài.
Diazepam được sử dụng trong những trạng thái lo âu, kích động, mất ngủ.)
Trên sàn gỗ trong phòng khách có những vết kéo rõ rang của một vật nặng.
Rõ ràng, chiếc ghế sofa nơi thi thể nằm đã bị ai đó kéo từ giữa phòng khách ra phía sau khoảng một mét, đến ngay bên dưới lan can cầu thang dẫn lên tầng hai của căn hộ duplex.
Cuối cùng, ở góc bên cạnh chiếc sofa của anh ta có một đĩa nhang muỗi đã cháy hết.
Bên cạnh đó là vài viên gạch được buộc lại bằng dây nhựa màu hồng đậm.
Chỗ thắt nút dây có một đoạn dây thừa kéo dài khoảng mười centimet với đầu dây bị nóng chảy co rút lại tạo thành một mũi nhọn hình nón.
Đỉnh của mũi nhọn có một vết cháy đen nhỏ, rõ ràng là bị đứt do gặp nhiệt.
"Đầu sợi dây buộc vào tấm ván gỗ cũng bị cháy đứt theo cách tương tự."
Liễu Dịch thở dài: "Phương pháp tự sát của vị này đúng là sáng tạo thật..."
Xem ra, có lẽ Tiêu Bân đã uống thuốc an thần trước, sau đó nằm ngủ trên chiếc sofa.
Ở phía trên đầu, anh ta treo một tấm ván gỗ đầy đinh nhọn bằng một sợi dây nhựa dễ cháy khi gặp nhiệt, rồi cố định gạch bên cạnh nhang muỗi.
Khi nhang muỗi cháy đến vị trí đó, nó sẽ làm nóng chảy và đứt sợi dây nhựa.
Khi dây đứt, tấm ván đinh sẽ rơi từ trên cao xuống, những chiếc đinh sắc nhọn sẽ đâm xuyên vào ngực và bụng, biến người chủ nhà đang ngủ say thành một con nhím.
Liễu Dịch lắc lắc đầu, lẩm bẩm: "Chẳng hiểu sao dạo gần đây những vụ tự sát kỳ quái thế này lại ngày một nhiều..."
&&& &&& &&&
Một tuần sau, Liễu Dịch hẹn Thích Sơn Vũ đến thăm đứa bé mà họ đã cứu ra khỏi dải cây xanh trước thềm năm mới.
Hai tháng trước, đứa bé đã tìm được cha mẹ nuôi và hiện tại em đã có một cái tên mới cùng một mái ấm mới.
Cha mẹ nuôi của bé là một cặp vợ chồng trung niên ngoài bốn mươi tuổi.
Người chồng là một giáo sư vật lý tại đại học, còn người vợ là một nhà tâm lý học chuyên về trị liệu chấn thương tinh thần, đặc biệt có nhiều kinh nghiệm và hiểu biết sâu sắc trong việc hỗ trợ trẻ em vượt qua các chấn thương tâm lý.
Cặp vợ chồng này đã kết hôn hơn mười năm, tình cảm ổn định và kinh tế đầy đủ, nhưng mãi vẫn chưa có con nên rất mong muốn được nhận nuôi một đứa trẻ.
Vì vậy, khi biết về hoàn cảnh của đứa bé, họ đã lập tức quyết định nộp đơn xin nhận nuôi.
Mà cơ quan phúc lợi sau khi xem xét hoàn cảnh đặc biệt của đứa bé, cũng nhận thấy cặp vợ chồng này — đặc biệt là người vợ với chuyên môn về tâm lý học trẻ em — thực sự có thể mang lại môi trường tốt hơn cho sự phát triển của đứa trẻ.
Do đó, đơn xin nhận nuôi đã được phê duyệt, và cuối cùng, em bé đã được đưa đến ngôi nhà mới của mình trước dịp Tết Nguyên Đán.
Liễu Dịch và Thích Sơn Vũ thực ra đã biết nơi ở mới của đứa bé ngay từ khi giấy tờ nhận nuôi được hoàn tất.
Nhưng họ đợi đến khi đứa bé ổn định tại gia đình mới mới liên lạc với cha mẹ nuôi để xin phép được đến thăm.
Cặp đôi giáo sư đại học và nhà tâm lý học này đều là những người cởi mở, hiếu khách và dễ gần.
Họ đã vui vẻ đồng ý ngay lập tức và hẹn mời cả hai đến nhà chơi vào cuối tuần này.
---Tác giả có lời muốn nói---
Về việc cập nhật: Mỗi tuần ít nhất sẽ có năm chương, cố gắng sẽ cập nhật nhiều nhất có thể ~
====================================
Chương 65: 《 The Silence of The Lambs 》
Cha mẹ nuôi của em bé đã mua một ngôi biệt thự có sân vườn nhỏ gần trường đại học nơi người chồng làm giảng viên.
Nó cách trung tâm thành phố khá xa, nếu tự lái xe từ nhà của Thích Sơn Vũ cũng phải mất một giờ đồng hồ, còn nếu chọn các phương tiện giao thông công cộng như tàu điện ngầm hay xe buýt thì còn tốn thời gian hơn.
Liễu Dịch đương nhiên rất chu đáo với vị cảnh sát trẻ Thích Sơn Vũ vẫn chưa có xe riêng nhà mình, hai người đã hẹn trước, anh sẽ lái xe đến đón và cùng đi đến đó.
Vì vậy, vào ngày hôm đó, Thích Sơn Vũ đúng giờ xuống tầng, vừa bước ra liền nhìn thấy Liễu Dịch đậu chiếc BMW màu champagne sặc sỡ, lấp lánh nổi bật ngay trước cổng khu nhà của hắn.
Khu nhà mà Thích Sơn Vũ sống từng là khu tập thể công an, các tòa nhà đã có tuổi đời gần ba mươi năm.
Nhóm cảnh sát già ngày xưa được phân công vào đây đã nghỉ hưu từ lâu, đa số họ chuyển đến những căn hộ cao cấp có thang máy, rộng rãi và thoải mái hơn để tận hưởng tuổi già.
Các căn nhà cũ giờ hầu như đã được chuyển nhượng cho các cặp vợ chồng trẻ tuổi cần tìm trường học ở khu vực trung tâm cũ, hoặc cho những người làm việc văn phòng gần đó thuê.
Ngay cả những cụ ông, cụ bà còn ở lại, họ cũng tuyệt đối không chọn những chiếc xe sang trọng với màu sắc và kiểu dáng quá nổi bật như vậy.
Vì vậy, chiếc xe của Liễu Dịch cực kỳ nổi bật khi đậu trước cổng khu nhà, giống như một vật trang trí dưới ánh đèn sân khấu khiến mọi người ngoảnh lại nhìn với tỷ lệ lên tới hơn 90%.
Các cư dân ra vào cổng đều không thể không hướng ánh mắt về biểu tượng hình tròn đồng tâm chữ thập xanh trắng nổi bật trên xe, rồi lại không kìm được ánh mắt hướng về phía người lái, muốn xem người lái xe rốt cuộc là ai.
Lúc này, trong xe, Liễu Dịch cũng nhìn thấy Thích Sơn Vũ đang đi về phía mình, vì vậy anh hạ cửa sổ xe xuống, nghiêng người tựa vào cửa, hất hàm nhẹ nhàng huýt sáo một tiếng, "Hi, anh chàng đẹp trai, lên xe đi."
Thích Sơn Vũ bị lời mời đầy trêu ghẹo đó làm cho mặt đỏ bừng, nhìn thấy bên cạnh đã có người đang dò xét ánh mắt về phía mình, hắn sợ Liễu Dịch lại nói ra những câu gì đó khiến người ta hiểu nhầm, liền vội vàng bước nhanh lên, mở cửa ghế phụ, vội vàng trốn vào trong xe.
"Được rồi, chúng ta đi thôi."
Ngày hôm nay, Liễu Dịch không mặc vest mà chọn một bộ trang phục thoải mái với áo trong màu đen kết hợp với áo khoác ngoài màu xanh đậm, màu sắc rất trang nhã, tóc cũng được chải chuốt gọn gàng, anh còn cố tình đeo một cặp kính mắt viền bạc mỏng, nhìn vô cùng có phong thái của một người thành đạt.
Khi anh nhướng mày và mỉm cười với Thích Sơn Vũ thì nét quyến rũ của anh gần như bùng nổ, đẹp đến mức khiến người ta trái tim đập loạn nhịp.
Thích Sơn Vũ cúi đầu thắt dây an toàn, qua đó chuyển hướng ánh mắt đi chỗ khác.
Để chuẩn bị cho chuyến đi hôm nay, tối hôm qua Thích Sơn Vũ còn đặc biệt đi cắt tóc, cũng đã dành nhiều thời gian gấp mấy lần bình thường để chọn lựa trang phục ra ngoài, nhưng so với bộ đồ của Liễu Dịch, hắn cảm thấy mình thật sự quá qua loa.
Tuy nhiên, Liễu Dịch lại không lái xe ngay.
"Ai..."
Anh đột nhiên đưa tay ra, nhẹ nhàng vuốt qua phần tóc mai của Thích Sơn Vũ, "Cậu vừa cắt tóc phải không?"
Thích Sơn Vũ bị hành động bất ngờ của Liễu Dịch làm giật mình, đột ngột ngẩng đầu lên.
"Không tồi, rất đẹp."
Liễu Dịch mỉm cười, đôi mắt sau cặp kính không độ hơi cong lên, rạng rỡ như một đóa hoa, "Kiểu tóc này rất hợp với cậu."
Hai tai Thích Sơn Vũ càng đỏ hơn.
Hắn thực sự không biết từ khi nào mà da mặt mình lại mỏng như vậy.
Dường như chỉ cần Liễu Dịch thuận miệng khen một câu cũng đủ khiến hắn mặt đỏ tim đập, miệng khô lưỡi khô.
Trong lúc nhất thời hắn thậm chí không thể đáp được câu nào, chỉ có thể lúng búng "Ừ" một tiếng, rồi tiếp tục cúi đầu vặn cái chốt dây an toàn như thể nó còn khó hơn cả cửu liên hoàn.
Liễu Dịch nhìn tai của Thích Sơn Vũ đỏ bừng, nhẹ nhàng mỉm cười, rồi như thể cuối cùng cũng cảm thấy áy náy, không tiếp tục trêu chọc hắn nữa.
Anh đạp mạnh chân ga, hướng xe vào cao tốc vòng quanh thành phố.
Một giờ sau, chiếc xe đến nơi — Khu biệt thự Hoa Thành gần làng đại học của thành phố Hâm Hải.
Cặp vợ chồng nhận nuôi đứa trẻ, người chồng là giáo sư họ Đàm, còn vợ ông ấy họ Lạc, vì vậy đứa bé hiện tại đã có tên mới là Đàm Lạc Bảo.
Khi Liễu Dịch và Thích Sơn Vũ đến nơi, vợ chồng nhà họ Đàm đang bế em bé đứng ở cổng đợi họ.
Sau hai tháng được chăm sóc kỹ lưỡng và chu đáo, đứa trẻ vốn gầy gò đã có chút mũm mĩm, đôi má phúng phính, trông như một chiếc bánh bao thịt tròn vo.
Khi gặp người lạ, nó cũng không sợ hãi, yên lặng nằm trong lòng ba nhìn hai người chú đẹp trai một lúc, rồi bỗng nhiên mỉm cười, phát ra những tiếng cười vui vẻ "ì ì a a".
Liễu Dịch và Thích Sơn Vũ đều bị nụ cười của đứa trẻ làm cho trái tim suýt tan chảy.
Đây là lần đầu tiên họ thấy nụ cười của đứa trẻ, nghe thấy nó phát ra âm thanh có thể tương tác với người lớn.
Điều này cũng chứng minh rằng vợ chồng nhà họ Đàm thực sự rất yêu thương đứa con nuôi của họ, không chỉ tận tình chăm sóc nó trong cuộc sống mà còn tiến hành các bài huấn luyện ngôn ngữ và thính giác mà trước đây đứa trẻ luôn thiếu thốn.
Chỉ sau hai tháng, đứa trẻ gần như đã có thể phản ứng đúng với âm thanh giống như các em bé đồng trang lứa, hơn nữa còn có thể giao tiếp cảm xúc với người khác bằng nụ cười của mình.
Càng nhìn, Thích Sơn Vũ càng cảm thấy đứa bé thật đáng yêu, không nhịn được muốn bế lên ôm một cái.
Sau khi giáo sư Đàm nghe yêu cầu này của hắn liền giống như một người ba ngốc nghếch đang khoe con, cười một cách đắc ý, đặt quả bóng nhỏ mềm mại, béo múp vào tay của Thích Sơn Vũ.
Vậy là Thích Sơn Vũ ôm đứa bé vào nhà, suốt dọc đường đều ôm chặt trong tay và nghịch ngợm đùa giỡn, mãi không nỡ buông ra cho đến khi bà Đàm mời họ vào phòng sách và mang trà ngon vừa pha xong đến cho hai người, hắn mới chịu trao đứa bé lại cho giáo sư Đàm đang đứng bên cạnh chờ đợi từ lâu.
"Đã đến giờ cho bé bú sữa rồi, tôi đi cho bé bú trước, các cậu cứ từ từ trò chuyện."
Giáo sư Đàm nói xong liền bế đứa bé ra ngoài, đi lên lầu.
Liễu Dịch và Thích Sơn Vũ nhìn nhau, họ nhận ra rằng giáo sư Đàm đây là cố tình tránh mặt, nói cách khác, có vẻ như là bà Đàm có chuyện muốn nói riêng với họ.
Quả nhiên, bà Đàm ngồi xuống đối diện với hai người, nụ cười nhẹ nhàng trên mặt dần biến mất, thay vào đó là vẻ mặt nghiêm túc như thể có chuyện gì đó cần nói.
"Ừm, thật ra thì..."
Bà Đàm chuẩn bị một lúc, dường như đang suy nghĩ về cách mở lời như thế nào.
"Thật ra, là về vụ việc của thanh niên họ Tiêu tự sát mà báo chí đã đăng tuần trước, tôi có một số tình huống muốn chia sẻ với hai vị."
Nghe thấy bà Đàm nói vậy, Liễu Dịch và Thích Sơn Vũ lại nhìn nhau một cái.
Bọn họ đều biết rằng "thanh niên họ Tiêu" mà bà Đàm nhắc đến chính là Tiêu Bân, người đã chọn cách tự sát kỳ quái bằng phương pháp "Bảng đinh xuyên người".
Tiêu Bân dù còn trẻ nhưng đã là một nhân viên trung cấp tại ngân hàng đầu tư với mức lương trên 300,000 mỗi năm, cũng được xem là một người thành đạt.
Một thanh niên tài giỏi đẹp trai như vậy lại đột ngột tự sát, hơn nữa phương pháp tự sát của anh ta lại gây chú ý như vậy, đương nhiên không thể tránh khỏi sự chú ý của giới báo chí.
Lúc đó, tin tức đã xuất hiện trên nhiều tờ báo, và cũng thu hút không ít sự quan tâm trên các phương tiện truyền thông mạng.
Chỉ có điều, vì bảo vệ quyền riêng tư của người chết, mặc dù báo chí có đưa tin về vụ việc này nhưng lại giấu tên đầy đủ của nạn nhân, hơn nữa để tránh gây ra tác động tiêu cực đến xã hội, họ cũng không công khai phương pháp tự sát chi tiết, chỉ dùng cụm từ "phương pháp rất đau đớn" để miêu tả.
Liễu Dịch với vai trò là giám định pháp y chính đương nhiên hiểu rõ nội tình vụ tự sát này, còn Thích Sơn Vũ là cảnh sát hình sự tuyến đầu của sở cảnh sát thành phố, khi gặp phải vụ việc có sức hút lớn như vậy xảy ra tại thành phố mình, hắn cũng đã xem kỹ hồ sơ vụ án.
Tuy nhiên, cả hai đều không hiểu tại sao bà Đàm lại bỗng dưng nhắc đến vụ tự sát của Tiêu Bân.
"Thực ra, trước đó tôi đã nhờ người tìm hiểu và biết rằng vụ án của Tiêu Bân là do bác sĩ Liễu phụ trách khám nghiệm tử thi."
Bà Đàm hơi ngượng ngùng mỉm cười với Liễu Dịch.
Liễu Dịch gật đầu một cái.
Anh cũng không hề ngạc nhiên khi bà Đàm có thể dò hỏi được chuyện này.
Dù sao thì Viện Nghiên cứu Pháp y cũng chỉ có ngần ấy người, mà trong giới công tố - kiểm sát - tư pháp, ai mà chẳng có chút quan hệ gián tiếp với nhau.
Chỉ cần có ý định tìm hiểu, thì việc hỏi ra tên giám định pháp y chính cũng chẳng có gì khó.
"Bà có điều gì nghi vấn về vụ tự sát của Tiêu Bân sao?"
Những vụ án Liễu Dịch xử lý, anh đều nắm rõ.
Tuy cách thức tử vong của Tiêu Bân trông có vẻ kỳ dị, nhưng đúng là anh ta đã tự sát.
Căn hộ của người chết có hệ thống bảo vệ rất tốt, hành lang mỗi tầng đều được lắp camera giám sát, có thể ghi lại rõ ràng mọi người ra vào hằng ngày.
Cảnh sát đã kiểm tra camera giám sát, xác nhận rằng sáu ngày trước khi thi thể của người chết được phát hiện, anh ta đã một mình vào nhà.
Kể từ ngày hôm đó, cửa nhà luôn đóng kín, không có bất kỳ ai khác ra vào.
Hơn nữa, mặc dù cửa sổ dẫn ra ban công căn hộ của người chết không được đóng chặt, nhưng đừng nói là ban công của anh ta lại hướng ra đường lớn, ngay cả vào đêm hôm khuya khoắt cũng nằm trong phạm vi chiếu sáng của đèn neon.
Nếu có người leo trèo ra vào, rất khó để thoát khỏi tầm mắt của người qua đường.
Chưa kể, căn hộ của Tiêu Bân lại nằm ở tầng 21, trừ khi là Spider-Man tái thế, thật khó mà tưởng tượng ai lại mạo hiểm chọn cách leo vào phòng từ một nơi cao như vậy, khi mà rủi ro té xuống thành bãi thịt vụn là quá lớn.
"Không, tôi biết Tiêu Bân là tự sát."
Tuy nhiên, bà Đàm lại lắc đầu, suy nghĩ một lúc rồi từ từ giải thích: "Thực ra, trước đây Tiêu Bân là bệnh nhân của tôi, đã từng điều trị chứng trầm cảm ở chỗ tôi khoảng gần hai năm."
Theo lời bà Đàm, khoảng hai năm rưỡi trước, Tiêu Bân đã được chẩn đoán mắc chứng trầm cảm tại khoa tâm lý của bệnh viện X mà bà làm việc, và từ đó đến nay anh ta luôn được bà theo dõi điều trị.
Công việc của Tiêu Bân rất bận rộn và áp lực cực kỳ lớn, mối quan hệ với người thân cũng không tốt, vì vậy dưới áp lực đè nặng, anh ta cuối cùng đã phát bệnh trầm cảm nghiêm trọng.
Trong suốt hai năm điều trị với bà Đàm, tình trạng của Tiêu Bân lên xuống thất thường, không kiểm soát được ổn định, và về sau, anh ta bắt đầu xuất hiện các triệu chứng điển hình của bệnh tâm thần phân liệt như ảo thanh, ảo giác, và hoang tưởng bị hại.
Anh ta thậm chí còn có vài lần có khuynh hướng tự sát rõ ràng, vì vậy bà Đàm đặc biệt chú ý đến anh ta, hàng tháng đều theo dõi và yêu cầu anh ta đến tái khám và lấy thuốc đúng giờ.
"Sau đó, vào khoảng thời gian trước Tết Nguyên Đán, Tiêu Bân đột nhiên không đến tái khám nữa."
Bà Đàm nói tiếp: " Tôi thấy anh ta đã quá hạn hẹn tới tận hai tuần mà vẫn không đến, tôi rất lo lắng nên đã gọi điện cho anh ta.
Ban đầu, có khoảng bốn, năm lần, anh ta không chịu bắt máy.
Sau đó, có một đêm khuya, anh ta đột nhiên chủ động gọi điện lại cho tôi, tôi cảm thấy lúc đó anh ta có trạng thái rất kỳ lạ..."
Bà nghĩ một lúc rồi bổ sung thêm với lời mô tả chuyên môn hơn: "Có vẻ như anh ta đã uống quá liều thuốc an thần, giọng nói rất nhỏ và nhanh, từ ngữ thì mơ hồ, và giọng điệu có phần hưng phấn."
Bà Đàm nghiêm túc nhìn thẳng vào Liễu Dịch và Thích Sơn Vũ, nói:
"Lúc đó, anh ta nói với tôi, "Bác sĩ Lạc, tôi nói cho bà biết, tôi đã tìm được cách chuộc tội rồi — đó là đừng trốn tránh, chỉ cần xuống địa ngục trước thì sẽ giảm được hình phạt, sớm rửa sạch tội lỗi rồi sẽ được đầu thai chuyển thế."
"
====================================
Chương 66: 《 The Silence of The Lambs 》
"Địa ngục?"
Liễu Dịch nhíu mày.
Khi du học ở Anh, anh từng theo thầy hướng dẫn của mình tiếp xúc với một số hồ sơ vụ án liên quan đến tội phạm tôn giáo.
Những vụ án do thờ phụng Satan, tín ngưỡng cực đoan hay giáo lý tận thế gây ra thực chất không hiếm gặp ở khu vực Âu - Mỹ.
Tuy nhiên, ở Trung Quốc, những vụ án liên quan đến tôn giáo lại không nhiều, hơn nữa hình thức cũng tương đối đơn giản, đến mức hiếm có ai chuyên tâm nghiên cứu theo hướng này.
"Tôi vừa nhắc đến rồi, về sau Tiêu Bân xuất hiện một số triệu chứng của chứng tâm thần phân liệt."
Bà Đàm suy nghĩ một chút rồi nói tiếp: "Tuy tôi không chắc liệu chứng tâm thần phân liệt của anh ta có liên quan đến cách thức tự sát của anh ta hay không, nhưng vì triệu chứng của anh ta khá đặc biệt, tôi đã từng đưa nó vào trong bài luận văn của mình."
Vừa nói, bà tiện tay lấy từ trên bàn một tập san, lật đến bài viết của mình rồi đưa cho Liễu Dịch.
Liễu Dịch nhìn qua tiêu đề rồi nhanh chóng lướt qua phần tóm tắt, phát hiện đây là một bài viết nghiên cứu mối quan hệ giữa những phản ánh tâm lý đặc biệt của bệnh nhân tâm thần và tiến trình bệnh lý cũng như đánh giá hiệu quả điều trị.
"Hiệu quả điều trị bằng thuốc của Tiêu Bân luôn không tốt lắm, hơn nữa vì tính chất công việc, anh ta cũng từ chối điều trị nội trú.
Khoảng một năm trước, anh ta bắt đầu có xu hướng tự làm hại bản thân.
Khi ấy, tôi đã đưa ra một số lời khuyên để giúp anh ta phân tán sự chú ý, chẳng hạn như bật dây chun hoặc bóp xốp bong bóng nilon."
Bà Đàm khẽ lắc đầu một cái: "Tuy nhiên, phương pháp xả stress mà anh ta chọn lại là hành hạ động vật nhỏ."
"Hành hạ động vật nhỏ?"
Thích Sơn Vũ lặp lại cụm từ này.
Bà Đàm gật đầu.
"Anh ta thường xuyên mang những con mèo, chó hoang về nhà, rồi dùng những phương pháp rất tàn bạo để hành hạ chúng, sau đó chụp ảnh và đăng lên Weibo hoặc các diễn đàn để cư dân mạng tức giận chửi rủa anh ta bằng những lời lẽ độc ác, từ đó tìm kiếm một kiểu an ủi tinh thần gần như tự ngược đãi.
Hơn nữa, anh ta còn nói rằng mình thường thấy những con vật đã chết, toàn thân đẫm máu, vây quanh dưới chân, cả đêm nhìn chằm chằm không rời mắt khỏi anh ta."
Bà ngừng lại một chút rồi bổ sung: "Sau khi anh ta kể chuyện này cho tôi, tôi đã khuyên anh ta đừng làm như vậy, vì việc này không chỉ quá tàn nhẫn mà còn rất dễ bị dân mạng truy tìm danh tính, có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống hàng ngày của anh ta.
Sau đó, tôi đã điều chỉnh lại phác đồ điều trị cho anh ta, và lần sau hỏi đến, anh ta không muốn nhắc lại chuyện này nữa."
Liễu Dịch "Ừm" một tiếng, nghe rất chăm chú.
"Tôi nhớ khi Tiêu Bân kể với tôi về chuyện anh ta ngược đãi và giết chó mèo, anh ta còn nói rằng bà nội anh ta là một tín đồ Phật giáo sùng đạo, nhiều năm ăn chay niệm Phật, từng nói với anh ta rằng sát sinh là tội lớn."
Bà Đàm nhẹ nhàng thở dài một hơi.
"Khi ấy, Tiêu Bân nói rằng, một người như anh ta đã giết hại nhiều sinh linh vô tội như vậy, sau khi chết chắc chắn sẽ bị đày xuống Đao Sơn Địa Ngục, bị giam giữ suốt năm trăm bốn mươi tỷ năm."
Bà ngừng lại một chút, nhìn về phía Liễu Dịch và Thích Sơn Vũ: "Tôi từng hỏi thăm một cảnh sát mà tôi biết về chi tiết vụ tự sát của Tiêu Bân...
Không hiểu sao tôi cứ có cảm giác, liệu phương thức tự sát của anh ta có phải đang cố bắt chước khái niệm "xuống Đao Sơn" không?"
......
Liễu Dịch và Thích Sơn Vũ tiếp tục trò chuyện với bà Đàm về vụ án của Tiêu Bân thêm một lúc cho đến khi thời gian đã gần 11 giờ rưỡi.
Hai người nhìn nhau, cảm thấy nếu còn nán lại nữa thì chủ nhà sẽ phải giữ họ lại dùng cơm trưa, vì vậy cả hai liền vội vàng lấy cớ buổi chiều có việc khác để cáo từ.
Lúc này, giáo sư Đàm cũng bế đứa bé đi xuống lầu.
Đàm Lạc Bảo vừa bú sữa xong, đang trong trạng thái no bụng vui vẻ nhất.
Khi nhìn thấy Liễu Dịch và Thích Sơn Vũ, bé lập tức cười khanh khách, còn đưa tay nhỏ ra muốn chạm vào mặt Liễu Dịch.
Cả hai lập tức không thể di chuyển được nữa, nắm lấy bàn tay nhỏ mềm mại trắng trẻo của đứa bé chơi đùa một lúc.
Sau khi hẹn với vợ chồng nhà họ Đàm rằng sẽ đến thăm em bé vào dịp khác, họ mới luyến tiếc mà rời đi, bước được ba bước lại quay đầu lại nhìn.
Vừa ra đến trước cửa, Liễu Dịch chú ý thấy trên chiếc bàn trà nhỏ ở huyền quan có đặt một tấm thiệp mời, phần tiêu đề được in rõ ràng dòng chữ đậm: "Ứng dụng mới của phác họa tâm lý tội phạm trong thực tiễn điều tra hình sự."
"A, đúng rồi."
Bà Đàm chú ý đến ánh mắt của Liễu Dịch, như thể chợt nhớ ra điều gì đó, liền mỉm cười cầm tấm thiệp mời lên và đưa cho anh.
"Đây là một buổi tọa đàm chuyên đề do khoa Tâm lý học của Đại học X tổ chức vào thứ Bảy tuần sau.
Người diễn thuyết chính là một giáo sư mới từ Mỹ trở về, nghe nói từng được đào tạo chuyên sâu về tâm lý tội phạm tại FBI trong hai năm, rất lợi hại."
Bà nháy mắt với họ, lộ ra một chút vẻ tinh nghịch hiểu ý.
"Sáng hôm đó, bố đứa bé vừa đúng lúc có lớp, tôi phải ở nhà chăm con nên không thể đi được.
Nếu hai vị có thời gian thì cùng đi nghe cũng được."
"Được, vậy thì cảm ơn nhé."
Liễu Dịch cũng không khách sáo, thoải mái nhận lấy thiệp mời rồi liếc nhìn một chút, tên người thuyết trình in trên đó rất đặc biệt — họ "Doanh", tên chỉ có một chữ "Xuyên".
Đằng sau còn kèm theo hai chức danh: "Phó giáo sư khoa Tâm lý học Đại học X" và "Cố vấn khách mời của Cục Công an thành phố Hâm Hải."
"Vừa vặn là chủ đề liên quan đến công việc của chúng ta, nhất định phải đi nghe thử."
Anh cất tấm thiệp vào túi, cảm ơn bà Đàm lần nữa rồi cùng Thích Sơn Vũ rời khỏi nhà vợ chồng họ Đàm.
Trên đường về, Liễu Dịch để Thích Sơn Vũ lái xe, còn mình thì ngồi ghế phụ, cúi đầu lướt điện thoại, không biết đang bận rộn với việc gì.
"Đúng rồi, anh Liễu, có chuyện này lúc nãy tôi không tiện nói trước mặt bà Đàm..."
Thích Sơn Vũ lái xe ra khỏi khu biệt thự, nhân lúc chờ đèn đỏ ở ngã tư, hắn quay sang nhìn Liễu Dịch đang ngồi bên cạnh.
Liễu Dịch không rời mắt khỏi màn hình điện thoại, chỉ ậm ừ một tiếng: "Ừ?"
"Anh còn nhớ báo cáo khám nghiệm tử thi mà anh làm nửa năm trước không?
Vụ cụ ông chết cóng ấy."
Đèn đỏ chuyển xanh, Thích Sơn Vũ đạp ga, lái xe hòa vào dòng phương tiện đang đi về phía đường cao tốc.
"Sau đó, chúng tôi đã điều tra và xác nhận rằng cụ ông đó đúng là đã tự sát trong tủ đông của siêu thị mà mình điều hành.
Người con trai thứ hai của ông ta vì muốn lừa tiền bảo hiểm nên đã chuyển thi thể của cha mình lên phòng nghỉ tầng hai, rồi giấu di thư của ông lão để dựng hiện trường giả như một cái chết do bệnh tật."
Thích Sơn Vũ dừng lại một chút rồi nói tiếp: "Vấn đề là, trong di thư của cụ ông để lại... tôi nhớ là cũng có nhắc đến từ "địa ngục" này."
Hắn chờ một lúc, không thấy Liễu Dịch phản ứng nên không nhịn được bèn liếc nhanh qua gương chiếu hậu để nhìn người ngồi bên cạnh.
Vậy mà hắn lại phát hiện ra anh Liễu lúc này đang quay đầu nhìn hắn với ánh mắt rất chăm chú.
Thích Sơn Vũ ngạc nhiên hỏi: "Sao vậy?"
"Không ngờ lần này cậu lại nghĩ giống tôi đấy."
Liễu Dịch cười ha ha, trêu chọc một cách đầy ẩn ý: "Đây có phải gọi là tâm linh tương thông không nhỉ?"
Chưa kịp để Thích Sơn Vũ đỏ mặt, anh lại lắc lắc màn hình điện thoại vẫn còn sáng trong tay, nhanh chóng quay lại chủ đề chính.
"Tôi vừa tra cứu một chút, trong "Mười tám tầng địa ngục" có một nơi gọi là "Hàn Băng Địa Ngục".
Một trong những tội danh của những kẻ bị đày xuống đó chính là — "Cờ bạc"."
Nghe vậy, Thích Sơn Vũ lập tức cau mày: "Phải rồi...
Cụ ông đó là một con bạc, nợ nần chồng chất."
Liễu Dịch đút điện thoại vào túi áo khoác, ánh mắt chuyển ra ngoài cửa sổ xe.
"Kẻ nghiện cờ bạc sẽ sớm bị đày xuống Hàn Băng Địa Ngục, còn kẻ ngược đãi động vật thì phải chết dưới hình phạt Đao Sơn..."
Anh nhìn dòng xe cộ tấp nập trên cao tốc, vẻ mặt nghiêm nghị, lẩm bẩm nói:
"Hai vụ tự sát kỳ quái liên tiếp xảy ra, chắc chắn không phải là sự trùng hợp, đúng không?"
&&& &&&
Thứ Ba, ngày 13 tháng 4.
Hôm đó, Liễu Dịch nhận được một thùng giấy lớn từ đơn vị cấp dưới gửi đến.
Mở ra xem, anh phát hiện bên trong là một hộp đầy xương.
"Làm việc năng suất thật đấy, vậy mà đã gửi đến rồi."
Liễu Dịch rút tờ giấy ủy thác giám định ra, cẩn thận xem xét.
Giang Hiểu Nguyên bưng bình trà, vui vẻ chạy lại: "Sếp, đây là gì vậy?"
Liễu Dịch đáp: "Là xương được đào lên ở Tân Trường Viên mấy ngày trước, cậu biết rồi chứ?"
Giang Hiểu Nguyên lập tức "ồ" một tiếng, gật đầu như gà mổ thóc.
Cái gọi là "Tân Trường Viên" trong lời Liễu Dịch chính là một khu phim trường đang được chính quyền thành phố Hâm Hải phối hợp với một nhà phát triển bất động sản nổi tiếng đầu tư xây dựng.
Nó nằm ở ngoại ô phía đông thành phố Hâm Hải, chiếm diện tích khoảng ba trăm mẫu, lấy một khu di tích thị trấn cổ làm trung tâm, xung quanh có những khu đất ngập nước với ao sen.
Kế hoạch xây dựng này đã được tuyên truyền trên báo chí từ lâu, chỉ chờ đến sau Tết để chính thức khởi công.
Thế nhưng, vào khoảng năm ngày trước, công nhân ở đó lại đào lên một bộ xương trắng tại công trường.
Không giống như những ngôi mộ vô chủ lâu năm thường xuyên được đào lên trong quá trình thi công, bộ xương này không có quan tài, chỉ được quấn trong một tấm thảm mỏng.
Đừng nói đến đồ tùy táng, ngay cả một bộ quần áo cũng không có.
Quản đốc của đội thi công là người khá tinh ý, ngay lập tức nhận ra có điều bất thường nên vội vàng ra lệnh cho các công nhân đang đào đất gần đó dừng lại, rồi nhanh chóng báo cảnh sát.
Sau khi cảnh sát đến hiện trường, họ nhanh chóng phát hiện dấu hiệu của một vụ giết người trên bộ hài cốt, và đã đưa hài cốt đi.
Vụ án đã được đưa tin ngay trong ngày hôm đó, dân tình đổ xô suy đoán về danh tính của bộ xương trắng, trong khi cảnh sát cũng kêu gọi người dân tích cực cung cấp manh mối.
Tuy nhiên, ban đầu bộ hài cốt được chuyển đến bộ phận pháp y của đồn cảnh sát ngoại ô phía đông thành phố chứ không gửi thẳng đến Viện Nghiên cứu Pháp y.
Giờ đây, sau năm ngày, bộ xương đã được xử lý sơ bộ, phần mô mềm còn sót lại trên xương được làm sạch hoàn toàn, đồng thời đã tiến hành xác định loài và giới tính, xác nhận bộ xương cơ bản là hoàn chỉnh và tất cả đều thuộc về một người đàn ông trưởng thành.
Lý do bộ xương này vẫn phải chuyển đến Viện Nghiên cứu Pháp y là để họ xác định độ tuổi cụ thể của nạn nhân.
"Ừ, dựa vào mức độ hoá xương, có thể suy đoán thi thể đã chết khoảng từ năm đến tám năm rồi?"
Liễu Dịch lật qua lại tờ giấy ủy thác và tài liệu vụ án kèm theo, ngón tay đặt dưới cằm, nhẹ nhàng gõ gõ, "Phạm vi khoảng thời gian được xác định có vẻ hơi rộng quá..."
Thời gian cần để quá trình hoá xương xảy ra sẽ thay đổi đáng kể tùy theo môi trường mà thi thể bị tác động.
Thông thường, một thi thể được chôn dưới đất để hoàn toàn hoá xương cần khoảng ba đến bốn năm, mất khoảng mười năm hoặc lâu hơn để mất đi các chất béo cùng trở nên khô cứng, và sau hơn ba trăm năm, nó sẽ trở nên nhẹ, dễ vỡ.
Còn đối với thi thể bị phơi bày trong không khí, thời gian để hoàn toàn hoá xương ngắn hơn rất nhiều.
Vào mùa hè, thời gian này chỉ cần khoảng mười ngày đến một tháng, vào mùa xuân và thu là khoảng năm đến sáu tuần, còn vào mùa đông thì lâu hơn một chút, khoảng vài tháng.
Và đối với thi thể bị ruồi hoặc các loài côn trùng ăn xác khác tấn công, quá trình hoá xương sẽ được đẩy nhanh hơn rất nhiều.
Tại một trang trại xác chết ở Mỹ đã từng tiến hành thí nghiệm liên quan, khi thời tiết nóng bức, ấu trùng ruồi chỉ mất khoảng một tuần để ăn sạch toàn bộ mô mềm trên thi thể của một người trưởng thành.
Bộ phận pháp y của đồn cảnh sát ngoại ô phía đông thành phố đã giả định rằng thi thể ban đầu hẳn là được chôn dưới đất.
Xét đến đất chôn thi thể có độ ẩm cao và xốp, hơn nữa vì lý do thành phố Hâm Hải nằm ở khu vực phía Nam, quanh năm khí hậu ấm áp, họ đã tính toán một hồi lâu với công thức hồi quy, cuối cùng đưa ra khoảng thời gian tử vong là "từ năm đến tám năm trước", một khoảng thời gian tương đối rộng.
====================================
Chú thích:
1.
Mức độ hoá xương/白骨化的程度/Skeletonization: Đây là thuật ngữ dùng để mô tả mức độ mà một thi thể đã phân hủy và chuyển hóa thành xương trắng do quá trình phân hủy tự nhiên hoặc tác động của môi trường.
Mức độ này có thể giúp xác định thời gian tử vong của người chết, vì quá trình này thường diễn ra trong một khoảng thời gian dài sau khi chết.
2.
Trang trại xác chết ở Mỹ: Người dân ở Knoxville gọi khu đất này là "Body-Farm", trang trại xác chết, vì ở đây những xác chết nằm thành từng hàng, được đánh dấu như rau cải trồng trên luống của một người làm vườn để tiêu khiển.
Ở đây, tại Trung tâm nghiên cứu pháp y - nhân loại học của Đại học Tennessee, các nhà khoa học hình sự có thể thí nghiệm với người chết như trong phòng thí nghiệm – và còn có thể tái tạo nhiều vụ án hình sự nữa. (Theo )
3.
Phân tích hồi quy: Phân tích hồi quy là một phương pháp thống kê được sử dụng để nghiên cứu mối quan hệ giữa một biến phụ thuộc (biến mục tiêu) và một hoặc nhiều biến độc lập (biến dự đoán).
Mục tiêu chính của phân tích hồi quy là dự đoán hoặc mô tả biến phụ thuộc dựa trên các biến độc lập.
Trong trường hợp bộ truyện này, các bác sĩ pháp y đã sử dụng một công thức hoặc mô hình thống kê để ước tính thời gian tử vong dựa trên các yếu tố như điều kiện môi trường, độ ẩm của đất, và nhiệt độ khu vực.
====================================
Chương 67: 《 The Silence of The Lambs 》
Hài cốt được chuyển đến tay Liễu Dịch đã được xử lý sơ bộ tại phòng pháp y của đồn cảnh sát ở ngoại ô phía đông thành phố.
Toàn bộ lớp bùn đất và mô mềm còn sót lại trên bộ xương đã được rửa sạch và chải kỹ.
Mặc dù chưa qua quá trình khử mỡ hay tẩy trắng, nhưng các phần xương đã được sắp xếp gọn gàng.
Những khúc xương dài và xương dẹt lớn được đặt trong hộp giấy, còn các mảnh nhỏ như xương bàn tay, bàn chân, đốt sống đều được phân loại cẩn thận trong các hộp tiêu bản.
Ngay cả hai ống tai ngoài của hộp sọ cũng được nhét bông để tránh làm rơi mất các xương nhỏ bên trong hốc sọ.
Liễu Dịch và Giang Hiểu Nguyên tìm một chiếc bàn giải phẫu trống và nhanh chóng ghép lại bộ xương thành hình người.
"Quả nhiên, rõ ràng là bị sát hại."
Sau khi bộ xương được lắp ráp hoàn chỉnh, bằng chứng cho thấy chủ nhân của nó chết do bị sát hại liền trở nên rõ ràng.
Họ phát hiện trên xương sườn, xương sống, hộp sọ, cũng như xương bàn tay hai bên và xương trụ có những vết gãy dạng đường thẳng hoặc lỗ với độ dài và độ sâu khác nhau, rõ ràng là dấu vết do vật sắc nhọn như dao chém hoặc đâm vào cơ thể gây ra.
Hơn nữa, rõ ràng hung thủ ra tay vô cùng tàn nhẫn, nhiều vết thương sâu đến mức xuyên qua da, cơ, mỡ, gân và để lại dấu vết trực tiếp trên xương, có thể thấy kẻ ra tay đã dùng lực rất lớn, hoàn toàn không có ý định nương tay.
Có thể tưởng tượng được cảnh tượng lúc nạn nhân tử vong — chắc hẳn lúc đó cơ thể toàn thân đẫm máu, trông vô cùng dữ tợn và đáng sợ.
"Hmm, có lẽ hung thủ là một người đàn ông trưởng thành."
Liễu Dịch vuốt nhẹ lên vết gãy hình chữ V trên cán xương ức, thấp giọng nói: "Nếu là phụ nữ, thông thường rất khó để chém sâu đến mức này."
Tuy nhiên, bằng chứng rõ ràng hơn về vụ giết người lại nằm trên đôi tay của nạn nhân.
Bộ xương bị thiếu tất cả các đốt giữa và đốt xa của ngón tay, và mười đốt gần cũng bị cắt đứt gọn gàng ở khoảng một phần ba phía dưới — Nói cách khác, mười ngón tay của nạn nhân khi đó hẳn đã bị ai đó chặt đứt tận gốc, và phần ngón tay bị cắt rời không được chôn cùng một chỗ với thi thể.
"Sếp à, anh nói xem nói thủ phạm giết người thì giết đi, cắt hết ngón tay làm gì chứ?"
Giang Hiểu Nguyên nhìn mười đoạn xương đứt gọn gàng, tưởng tượng ra cảnh tượng lúc đó chỉ cảm thấy rợn cả người.
Cậu ta ôm lấy cánh tay, rùng mình một cái: "Người cũng đã giết rồi, còn làm cái chuyện dư thừa này để làm gì chứ?
Có ý nghĩa gì đâu?"
Liễu Dịch nhún vai, "Ai mà biết được, có khi muốn giữ lại làm kỷ niệm cũng nên."
Anh cười với Giang Hiểu Nguyên, "Trong các bộ phim trinh thám chẳng phải hay diễn như vậy sao?"
Giang Hiểu Nguyên nghe vậy, tóc gáy dựng ngược, ra sức nghiến răng ken két, hoàn toàn không thể thưởng thức nổi kiểu hài hước rợn người không đúng lúc của sếp nhà mình.
"Và không chỉ có những vết thương do dao chém ngang dọc, trên bộ xương này còn có một số dấu vết cũng khá thú vị..."
Liễu Dịch nói xong, đặt miếng xương trong tay xuống, vỗ tay một cái.
"Được rồi, làm việc chính thôi, trước tiên xác định độ tuổi của người anh em này đã."
Đối với một bộ xương vô danh, những đặc điểm nhận dạng quan trọng nhất bao gồm thời gian tử vong, giới tính, tuổi tác, chiều cao và đặc điểm răng miệng, cùng với một loạt các bằng chứng khác.
Trong số đó, "giới tính" là yếu tố dễ xác định nhất.
Về nguyên tắc xác định giới tính, trước tuổi dậy thì cần xác định tuổi trước, sau đó mới xác định giới tính; trong khi sau tuổi dậy thì, quy trình hoàn toàn ngược lại, cần xác định giới tính trước, rồi mới xác định tuổi.
Toàn bộ sụn đầu xương của bộ hài cốt này đã bị hóa xương, cho thấy độ tuổi ít nhất là trên hai mươi lăm, rõ ràng đã vượt qua giai đoạn dậy thì nên việc xác định giới tính trở nên vô cùng đơn giản.
Đối với xác định giới tính của xương người trưởng thành, xương chậu là phần quan trọng nhất.
Ngoài ra, các xương đơn lẻ như xương hông, xương sọ, xương hàm dưới, xương ức cũng có thể được dùng để xác định giới tính, nhưng mức độ khó dễ và độ chính xác sẽ giảm dần.
May mắn thay, bộ hài cốt này được bảo tồn rất đầy đủ, chỉ cần quan sát xương chậu là đủ.
Bộ xương chậu này có tổng thể rất vững chắc, cơ gai rõ ràng, xương dày, đường kính dọc của eo chậu trên lớn hơn đường kính ngang, có hình dáng gần giống hình tim; khoang chậu cao và hẹp, trông như một cái phễu; eo chậu dưới nhỏ, gai ngồi phát triển; góc dưới xương mu có dạng chữ V với góc khá nhỏ; diện khớp trên của đốt sống cùng thứ nhất ở đáy xương cùng lớn, cánh chậu khá thẳng, cao và dày, diện loa tai lớn và thẳng.
Dù còn non nớt và chưa tinh thông nghề, ngay cả Giang Hiểu Nguyên cũng có thể nhận ra ngay rằng bộ hài cốt này thuộc về một người đàn ông trưởng thành.
Còn về chiều cao của bộ hài cốt vô danh này, nếu đã trưởng thành, thì thường cần xác định tuổi trước, rồi mới tiến hành suy đoán.
Chiều cao của con người sẽ chịu ảnh hưởng rõ rệt từ sự khác biệt về địa lý, chẳng hạn như người thuộc chủng tộc Caucasian và Negroid thường cao hơn so với người thuộc chủng tộc Mongoloid.
Còn đối với trường hợp của Trung Quốc, người dân ở khu vực Đông Bắc có chiều cao cao hơn so với khu vực phía bắc sông Hoàng Hà, trong khi người dân ở phía bắc sông Hoàng Hà lại cao hơn so với khu vực phía bắc sông Trường Giang, và người dân ở phía nam sông Trường Giang thì thường có chiều cao thấp hơn so với người ở phía bắc sông Trường Giang.
Vì vậy, chiều cao rất quan trọng trong việc tìm ra danh tính thật của thi thể vô danh, đôi khi nó có thể thu hẹp phạm vi quê quán của người đã chết.
Thực ra, đối với bộ xương hoàn chỉnh của thi thể vô danh mà nói, có thể đo tổng chiều cao của toàn bộ bộ xương, sau đó cộng thêm 5 cm độ dày mô mềm thì sẽ ra chiều cao của nạn nhân; cũng có thể đo tổng chiều cao của hộp sọ, chiều dài tổng cộng của các đốt sống, chiều dài sinh lý của xương đùi và xương chày, tổng chiều cao của xương cổ chân và xương gót chân, rồi sử dụng công thức để tính toán và xác định chiều cao của nạn nhân khi còn sống.
Tuy nhiên, vì chiều cao của người trưởng thành có liên quan mật thiết đến tuổi tác, chiều cao tối đa của một người thường đạt được vào khoảng 18 đến 20 tuổi, sau khi vượt qua 30 tuổi, chiều cao sẽ giảm khoảng 0.6 mm mỗi năm, tương đương với việc giảm 1.2 cm sau mỗi 20 năm.
Tổng hợp các yếu tố trên sẽ dẫn đến việc phương pháp ước tính chiều cao của người chết dựa trên xương có thể gặp phải một số sai số.
Phạm vi sai số này đôi khi có thể lên đến 10 cm, và chính sự sai lệch 10 cm này đôi khi sẽ có ảnh hưởng quan trọng trong việc điều tra phá án của cảnh sát.
Vì vậy, để cẩn trọng, đối với những bộ xương vô danh không rõ tuổi tác, thông thường sẽ yêu cầu xác định chính xác tuổi của người chết trước, sau đó so sánh với kết quả đo xương, từ đó đưa ra phán đoán tổng hợp.
Và tất cả những khó khăn này cuối cùng đều tập trung vào việc xác định độ tuổi của bộ xương.
Về cách xác định tuổi của bộ xương, trong nhân chủng học đã có một bộ phương pháp khá chi tiết được nghiên cứu và tổng kết — trong đó, bốn phương pháp phổ biến nhất là dựa vào mặt khớp mu, xương ức, hình thái xương sườn và mức độ mài mòn của răng hàm.
Tuy nhiên, độ mài mòn của răng hàm chịu ảnh hưởng lớn từ phong tục ăn uống vùng miền và thói quen ăn uống cá nhân; còn hình thái xương sườn sau độ tuổi 45 sẽ ít thay đổi, do đó phương pháp này sẽ có sai số rất lớn đối với các bộ xương của người chết có độ tuổi cao.
Vì vậy, trong thực tế, phương pháp được ưu tiên sử dụng là dựa vào mặt khớp mu làm chủ yếu, kết hợp với hình thái xương ức để làm phụ trợ, và dùng hai phương pháp này để đối chiếu, xác định chính xác độ tuổi thực của bộ xương.
Tuy nhiên, mặc dù lý thuyết là vậy, và mỗi giai đoạn đều có bảng hướng dẫn cách xác định cụ thể, nhưng sự thay đổi hình thái của xương không giống như các cấp bậc tu vi trong tiểu thuyết tu chân, mỗi khi thăng cấp lại bị trời đánh xuống từng đợt sấm sét, ranh giới rất rõ ràng minh bạch.
Nó chủ yếu phụ thuộc vào phán đoán chủ quan của người quan sát, vì vậy thường xuyên xảy ra trường hợp các bác sĩ pháp y khác nhau có thể đưa ra kết luận có sự chênh lệch tới cả mười năm.
Liễu Dịch đoán rằng, phòng pháp y của sở cảnh sát ngoại ô phía đông thành phố sẽ chuyển bộ xương này đến Viện Nghiên cứu Pháp y, có lẽ là vì họ không chắc chắn lắm về việc đánh giá độ tuổi dựa trên xương.
Liễu Dịch tự hỏi bản thân không thể sánh với những bác sĩ pháp y có kinh nghiệm thực chiến phong phú suốt nửa đời người, nhưng với tư cách là người đứng đầu khoa giám định bệnh lý, anh cũng có niềm tin vào khả năng của mình.
Niềm tin vào bản thân của anh, ngoài sự thông minh đặc biệt, cùng với trí nhớ, khả năng quan sát, phân tích và tổng hợp tương xứng với chỉ số IQ, còn đến từ sự siêng năng và chăm chỉ vượt trội hơn hẳn những người khác trong suốt quãng thời gian học tập.
Nhờ tính cách từ nhỏ luôn hiếu thắng và không chịu nhận thua bất cứ chuyện gì, từ khi học tiểu học cho đến khi hoàn thành hai bằng tiến sĩ, bất kể môn học nào, anh không học thì thôi, nhưng một khi đã học thì nhất định phải trở thành học sinh xuất sắc.
Vì vậy, trong khi những người đồng trang lứa đang tận hưởng tuổi trẻ, thả mình vào đam mê trong khuôn viên đại học, Liễu Dịch lại dành phần lớn thời gian của mình vào việc xây dựng mối quan hệ gần gũi, thân thiết với các thầy cô.
Anh từng ở trong phòng mẫu vật của Đại học Dundee ở Anh, cầm từng giỏ xương, so sánh và quan sát từng mảnh, một lần chạm vào là làm suốt nửa năm trời.
Cho đến mức sau khi bị giáo sư nhân chủng học của trường bắt gặp vài lần, ông còn rất chân thành mời anh, nói rằng liệu bạn học này có hứng thú sau khi tốt nghiệp sẽ thi vào phòng nghiên cứu của chúng tôi để chuyên nghiên cứu xương người không?
Tất nhiên, sau này Liễu Dịch không vào phòng nghiên cứu nhân chủng học của Đại học Dundee, nhưng nền tảng kiến thức vững chắc mà anh tích lũy được nhờ sự cần cù ấy, giờ đây đã phát huy tác dụng.
Liễu Dịch bắt đầu quan sát bề mặt khớp mu.
Vì khớp mu là một phần của cấu trúc xương chậu trong cơ thể người, nằm sâu bên trong và khá cố định, được sụn bao phủ và bảo vệ, không dễ dàng di chuyển, nên ít bị ảnh hưởng bởi thói quen sinh hoạt cá nhân.
Vì vậy, sự thay đổi hình thái của nó cũng gần với xu hướng biến đổi sinh lý bình thường của cơ thể hơn so với các xương khác có thể được dùng để xác định tuổi.
"Bề mặt khớp phẳng, không thấy mặt lõm xuất hiện...
Đoạn trên của bờ bên sườn đã hình thành, giới hạn ở đầu trên trở nên rõ rệt hơn, không thấy mở rộng về phía sau...
Giới hạn phía dưới có hình dạng góc nhọn...
Bờ khớp đã hoàn toàn hình thành."
Liễu Dịch vừa dùng kính lúp để quan sát tỉ mỉ bề mặt xương, vừa dùng bút ghi chú các dấu cộng và dấu x trên bảng ước lượng tuổi, đồng thời liệt kê hai hệ số bên cạnh.
Sau khi xem xong, anh lại nghiên cứu xương ức như là chứng cứ phụ trợ.
"Ranh giới kết hợp giữa xương ức và xương sườn bắt đầu hình thành các mấu nhô lên ở hai đầu trên và dưới...
Các mấu kết hợp với thân xương ức gia tăng rõ rệt, trong khi mặt sau của xương ức có kết cấu xương mịn màng, mật độ xương cao."
Anh nhìn kỹ hai bảng biểu đã điền xong của mình, xác nhận không có sai sót, rồi tính ra kết quả.
Kết quả từ hai phương pháp suy luận cơ bản là đồng nhất, tuổi được suy luận từ mặt khớp xương mu là 29,85 tuổi, trong khi tuổi được suy luận từ xương ức là 30,37 tuổi, trung bình của cả hai là 30,11 ± 2 tuổi.
"Tôi suy đoán, độ tuổi của người chết này nên khoảng 30 tuổi," Liễu Dịch khoanh tròn kết quả cuối cùng trên giấy và nói.
Giang Hiểu Nguyên nghe xong liên tục gật đầu, rồi đối chiếu với công thức chiều cao, nhanh chóng tính toán kết quả.
"Vì vậy, danh tính thực sự của bộ xương này hẳn là một người đàn ông trẻ cao khoảng 178 cm, độ tuổi khoảng 30, thời gian tử vong ước chừng từ 5 đến 8 năm trước, đúng không?"
Cậu ta nói xong, cảm giác như chính mình là người phân tích ra tất cả những điều này, gật đầu một cái đầy tự hào.
"Phạm vi đã thu hẹp đến mức này, việc tìm kiếm chắc chắn sẽ dễ dàng hơn rất nhiều!"
"Chưa dừng lại ở đó."
Liễu Dịch mỉm cười với Giang Hiểu Nguyên, giơ tay ra chỉ vào một mảnh xương đang nằm trên bàn giải phẫu.
"Người này, có lẽ là một vận động viên, và rất có thể là một vận động viên chuyên về các môn thể thao chủ yếu sử dụng chân."
====================================
Chú thích:
1.
Cán xương ức (xanh lá cây), thân ức (turquoise), mũi ức (tím):
2. 肌棘 mình tra thì ra棘肌/Spinalis/Cơ gai, cũng không hiểu rõ ý tác giả ở đây là sao.
Btw Cơ gai sống (Spinalis Muscle) bắt nguồn từ một gân rộng ở mặt sau của xương hông, mặt sau của xương cùng, dây chằng của khớp xương cùng trong quá trình hình thành đốt sống thắt lưng dưới.
Trong các cơ của cơ dựng sống, cơ gai sống là cơ gần nhất với cột sống và cũng là cơ nhỏ nhất trong các cơ dọc.
3. 骨盆入口/Pelvic inlet/eo chậu trên. 骨盆出口/Pelvic outlet/eo chậu dưới:
Mặt cắt eo chậu:
4. 坐骨棘/Spina ischiadica/gai ngồi/gai hông:
5.
Diện khớp với xương cùng:
6.
Xương chày:
7.
Xương cổ chân/Talus/距骨:
8.
Xương tay:
9.
Cách xác định chiều cao của vật chứng chủ qua xương:
Dùng chiều dài của xương chậu để tính chiều dài xương đùi, sau đó tính chiều cao người qua chiều dài xương đùi đo được bằng công thức của Trotter và Gleser:
Chiều cao người = 2,15 x Dài xương đùi + 72,57 (±3,80) Dùng chiều dài xương chậu để tính chiều cao người.
Hiện nay, trong giám định hỗn hợp Việt - Mỹ, khi tính chiều cao người bằng các xương dài, cả hai phía chuyên gia Việt nam và Mỹ đều thống nhất dùng các công thức của Trotter - Gleser (1952-1958).
Trên thực tế, những công thức này trong 15 năm qua đã cho kết quả tốt. (Theo DÙNG XƯƠNG CHẬU ĐỂ TÍNH CHIỀU DÀI XƯƠNG ĐÙI VÀ TÍNH CHIỀU CAO THÂN CỦA NGƯỜI VIỆT NAM.
Mã số : 3.01.14.
VŨ NGỌC THỤ, Viện trưởng Viện pháp y quân đội.
TRẦN ĐĂNG TRUYỀN, Giám định viên Viện pháp y quân đội)
Theo page Pháp Y – Pháp Chứng:
Xác định chiều cao vật chủ qua xương tính theo công thức của Trotter và Gleser
Điều kiện xác định : + 18 – 30 (tuổi) và Xương khô
Nam giới :
Chiều cao = 70.45 + (3.08 x chiều dài xương cánh tay ) +/- 4.05cm
Chiều cao = 79.01 + (3.78 x chiều dài xương quay ) +/- 4.32cm
Chiều cao = 74.05 + (3.70 x chiều dài xương trụ ) +/- 4.32cm
Chiều cao = 64.41 + (2.38 x chiều dài xương đùi ) +/- 4.27cm
Chiều cao = 78.62 + (2.52 x chiều dài xương chày ) +/- 4.37cm
Chiều cao = 71.78 + (2.68 x chiều dài xương mác ) +/- 4.29cm
Phụ nữ :
Chiều cao = 57.97 + (3.36 x chiều dài xương cánh tay ) +/- 4.45cm
Chiều cao = 54.93 + (4.47 x chiều dài xương quay ) +/- 4.24cm
Chiều cao = 57.76 + (4.27 x chiều dài xương trụ ) +/- 4.30cm
Chiều cao = 51.10+ (2.47 x chiều dài xương đùi ) +/- 4.72cm
Chiều cao = 61.53 + (2.90 x chiều dài xương chày ) +/- 4.66cm
Chiều cao = 59.621+ (2.93 x chiều dài xương mác ) +/- 4.72cm (
https://www.facebook .com/photo.php?fbid=434380850516973&id=373632339925158&set=a.435737643714627)
---Tác giả có lời muốn nói---
Tài liệu tham khảo của chương này: 《 Pháp Y Nhân Chủng Học/法医人类学 》 và 《 Sổ Tay Xương Người/人骨手册 》.
Khi viết chương này, tôi đã hồi tưởng lại những ngày tháng khó khăn khi học môn này
🙂з" ∠)
Khi gõ những dòng chữ cảm động lòng người, tôi không cần phải thật sự cầm một mảnh xương để phân tích, chỉ cần đưa ra kết luận là được.
---Editor có lời muốn nói---
Khi edit chương này, tui đã hồi tưởng lại những ngày tháng gặm quyển atlas giải phẫu người của Netter 7 năm trước
🙂з" ∠)
Khi gõ những dòng chữ cảm động lòng người, tui không cần phải thật sự lật quyển atlas nặng mấy kg để kiếm ảnh, chỉ cần ctrl C ctrl V chuột phải search Google for "..." và abcxyz + in english để tìm ra tên tiếng Việt của nó là được.
trời đựu moá lâu lắm rồi tui đã quên sạch rồi, xương cũng đã cầm rồi nma giờ khảo bài thì chịu. nma nói chứ làm bộ này xong ôn lại bài cũng hay hé
====================================
Chương 68: 《 The Silence of The Lambs 》
"Xương bánh chè?"
Giang Hiểu Nguyên nhìn theo hướng anh chỉ.
"Đúng vậy, chính là xương bánh chè."
Liễu Dịch cầm lấy xương bánh chè bên phải của bộ hài cốt đang nằm trên bàn giải phẫu, đưa cho Giang Hiểu Nguyên.
"Hãy chú ý quan sát, xương bánh chè này không còn nguyên vẹn, phần cực dưới bị thiếu một mảnh nhỏ, hơn nữa bề mặt gãy rất phẳng.
Đây có lẽ là hậu quả của một ca phẫu thuật cắt bỏ một phần sau khi xương bánh chè bị gãy, nhằm loại bỏ đoạn xương bị tổn thương ở đầu xa."
Giang Hiểu Nguyên cầm mảnh xương bánh chè trong tay, suy nghĩ một lúc rồi hơi do dự trả lời: "Mặc dù vận động đúng là một trong những nguyên nhân chính gây tổn thương xương bánh chè, nhưng..."
Cậu ta lo lắng nhìn Liễu Dịch: "Tuy nhiên, trong khu vực thành thị, gãy xương bánh chè do va chạm từ tai nạn giao thông hoặc té ngã cũng rất phổ biến mà."
Liễu Dịch không hề khó chịu khi Giang Hiểu Nguyên đặt nghi vấn về suy đoán của mình, ngược lại, anh còn cảm thấy rất vui vì học trò nhỏ của mình chịu khó suy nghĩ nghiêm túc.
"Đó đương nhiên là vì trên xương của vị tiên sinh này vẫn còn lưu lại những dấu vết khác."
Liễu Dịch vừa nói vừa lấy ra xương chày bên trái và xương mắt cá bên phải của bộ hài cốt vô danh.
"Nhìn kỹ đi, cả hai chỗ này đều có dấu vết gãy xương đã lành lại."
Ngón tay anh lướt qua một vết gồ ngắn, nghiêng ở đoạn giữa xương chày, rồi lại chỉ vào một vết lõm nông, nghiêng ở đầu dưới của xương mác.
"Mặc dù cả hai đều là vết gãy đã lành, nhưng mức độ tăng sinh xương không giống nhau, có lẽ là bị thương vào những thời điểm khác nhau."
"Thì ra là như vậy!"
Giang Hiểu Nguyên chợt hiểu ra: "Đúng nhỉ, nếu là tai nạn giao thông hay vô tình té ngã, ít khi nào xui xẻo đến mức liên tục gặp phải mấy lần như vậy.
Hơn nữa, nạn nhân lại còn rất trẻ, quả thật có vẻ giống như chấn thương do vận động thể thao lặp đi lặp lại!"
"Ừm, tuy nhiên chấn thương chủ yếu ở phần dưới cơ thể cũng rất đa dạng, như điền kinh, bóng rổ, bóng đá, đấu kiếm, thể dục dụng cụ, thậm chí cả khiêu vũ và huấn luyện quân sự cũng rất phổ biến."
Anh suy nghĩ một chút, rồi bổ sung: "Giờ còn có rất nhiều người mê tập gym, tự tập không đúng cách gây ra chấn thương cũng không hiếm thấy..."
Giang Hiểu Nguyên lại cảm thấy rất phấn khích: "Tuy nhiên, giới tính, độ tuổi, chiều cao thậm chí sở thích và những chấn thương trước đây của nạn nhân đều đã được kiểm tra ra, vậy đã có thể thu hẹp phạm vi điều tra rất lớn rồi đúng không?
Dùng hồ sơ mất tích dân cư để đối chiếu, rồi kiểm tra từng người thôi mà!"
"Đúng vậy."
Liễu Dịch mỉm cười với cậu ta: "Những việc còn lại, cứ để cảnh sát điều tra đi."
&&& &&& &&&
Bốn ngày sau, vào cuối tuần, chính là ngày diễn ra buổi tọa đàm mà Liễu Dịch nhận được thư mời từ bà Đàm.
Buổi toạ đàm hôm nay anh vốn định đi cùng Thích Sơn Vũ để hóng hớt một chút, tuy nhiên, cảnh sát Tiểu Thích lại là một người rất bận rộn, mấy ngày liên tiếp công tác ngoài trời, giờ đã không thể tìm thấy bóng dáng đâu nữa, chỉ tranh thủ nhắn một tin WeChat cho pháp y Liễu để xin lỗi rằng không thể đi cùng anh được.
Thế là Liễu Dịch đành thu dọn đồ đạc, một mình đến trường Đại học X.
Buổi tọa đàm với chủ đề《 Ứng dụng mới của phác họa tâm lý tội phạm trong thực tiễn điều tra hình sự 》được tổ chức tại hội trường của tòa nhà mới trong trường Đại học X.
Hội trường rất rộng, có thể chứa hơn năm trăm người, và rõ ràng là giáo sư Doanh Xuyên, người chủ trì buổi tọa đàm, cũng là một nhân vật khá nổi tiếng và được yêu mến trong trường.
Liễu Dịch đến không quá sớm, chỉ đến trước thời gian buổi hội thảo bắt đầu chưa đầy mười phút, lúc này hội trường gần như đã đầy người, còn có một số sinh viên trẻ tuổi lần lượt bước vào từ ngoài cửa.
Hai hàng ghế đầu của buổi hội thảo được dành riêng cho khách mời, Liễu Dịch cầm thư mời, ra hiệu với một người hướng dẫn đeo thẻ tên, rồi cứ thế đi theo anh ta một cách thoải mái đến ngồi ở hàng ghế đầu tiên, ngay gần bục diễn giả.
Người đàn ông cao lớn mặc vest đen ngồi bên cạnh anh lúc này đang cúi đầu lật xem một xấp giấy A4 in sẵn trong tay.
Liễu Dịch tuỳ ý liếc qua một cái, phát hiện trên giấy in đầy chữ, có vẻ như là một số tài liệu liên quan đến tâm lý học.
Người đàn ông mặc vest đen nhận ra có người vừa ngồi xuống bên cạnh mình, liền ngẩng đầu lên và chạm phải ánh mắt của Liễu Dịch.
Liễu Dịch nhận thấy người đàn ông mặc vest đen có một gương mặt rất đoan chính, tuổi tác có lẽ lớn hơn mình vài tuổi.
Dung mạo tuy không thể gọi là quá mức anh tuấn, nhưng mặt mày lại dịu dàng, sống mũi thẳng tắp, khí chất ngay thẳng chính trực, ngay cả tóc mai cũng được cắt tỉa gọn gàng.
Bộ vest mặc trên người thẳng thớm và vừa vặn, kết hợp với nút thắt Windsor chắc chắn, tạo cho người ta cảm giác rất đáng tin cậy, dễ dàng gây thiện cảm.
Người kia sau khi nhìn rõ diện mạo của Liễu Dịch thì thoáng sững sờ, sau đó cong môi, nở một nụ cười ôn hòa và thân thiện.
— Đáng tiếc thật, tuy người này trông khá điển trai, nhưng không phải gu của tôi, hơn nữa bây giờ tôi chỉ muốn ngủ với cảnh sát Tiểu Thích mà thôi.
Liễu Dịch lặng lẽ nghĩ trong lòng, khẽ mỉm cười đáp lại đối phương, rồi tự mình rút điện thoại ra, cúi đầu xem, không có ý định bắt chuyện với người lạ này.
Mười giờ đúng, buổi tọa đàm chính thức bắt đầu.
Một nữ MC xinh đẹp trông như trợ giảng bước lên sân khấu.
Cô giới thiệu sơ lược về thành tích học thuật và lý lịch của diễn giả chính, rồi trong tiếng vỗ tay nhiệt liệt của cả ngàn người, mời giáo sư Doanh Xuyên lên sân khấu.
Mỗi chỗ ngồi trong khu vực khách mời đều được đặt một túi giấy tinh xảo, bên trong có một cuốn sổ tay lò xo mới, cùng với một bộ ba bút bi màu đỏ, xanh dương và đen.
Liễu Dịch chống cằm bằng tay trái, quyển sổ mở sẵn trên bàn, tay phải cầm một cây bút, vô thức xoay nó từ ngón trỏ sang ngón út, rồi lại xoay ngược lại từ ngón út về ngón trỏ.
Anh đang nghiền ngẫm dãy chức danh và lý lịch vừa nghe được, cảm thấy kinh nghiệm của người này có vẻ khá giống với của mình.
Người tên Doanh Xuyên này có hai bằng tiến sĩ liên quan đến tâm lý học từ đại học Yale ở Mỹ, có thể xem là một chuyên gia có danh tiếng trong lĩnh vực tâm lý học tội phạm và tâm lý học dị thường, những lĩnh vực còn khá khan hiếm tại Trung Quốc hiện nay.
Hiện tại, anh ta đang giữ chức vụ cố vấn khách mời của Cục Cảnh sát Thành phố, thường xuyên tham gia vào các vụ án thực tế, hỗ trợ cảnh sát trong việc phác họa chân dung tội phạm.
Chiếc bút đang chuyển động trong tay Liễu Dịch khựng lại, anh viết một con số "35" vào góc trang giấy.
Với thành tích học thuật của giáo sư Doanh Xuyên mà nói, ba mươi lăm tuổi mà đạt được vị trí này thì quả là rất trẻ.
Lúc này, tiếng vỗ tay như sấm rền trong hội trường vẫn chưa dứt.
Liễu Dịch hơi kinh ngạc khi thấy người đàn ông mặc vest đen ngồi bên cạnh mình đột nhiên lại đứng dậy.
Đối phương khẽ mỉm cười với anh, đồng thời hơi nâng tay phải lên một chút, ý muốn nhờ anh nhường đường.
Lúc này Liễu Dịch mới nhận ra có lẽ mình đã vô tình ngồi nhầm vào chỗ dành cho nữ MC ban nãy, đành phải đứng dậy, bước sang một bên để nhường lối cho vị diễn giả bị mình chắn đường.
Doanh Xuyên nghiêng người đi qua dãy ghế, nhưng không lập tức lên sân khấu ngay mà thay vào đó, anh ta đặt tay mình lên cánh tay Liễu Dịch, nói một câu "Cảm ơn", rồi ra hiệu "Mời ngồi", ý bảo Liễu Dịch không cần phải tìm chỗ khác mà cứ ngồi lại vị trí cũ là được.
Lúc này, gần như toàn bộ ánh mắt trong hội trường đều dồn về phía họ.
Liễu Dịch cũng không tiện đổi chỗ nữa, chỉ gật đầu khách sáo với Doanh Xuyên, rồi ngồi trở lại.
Rõ ràng, vị giáo sư Doanh Xuyên này là người làm việc và nói năng dứt khoát, không phí thời gian vào những màn dạo đầu vô nghĩa.
Anh ta mở slide, dùng một lời dẫn ngắn gọn để vào thẳng chủ đề, và trực tiếp bắt đầu bài giảng hôm nay của mình.
Buổi tọa đàm kéo dài suốt một giờ đồng hồ.
Đối với một buổi toạ đàm diễn ra liên tục kéo dài lâu như vậy, người nghe rất dễ cảm thấy mệt mỏi, nhưng nội dung chủ đề lại thú vị hơn so với những gì Liễu Dịch tưởng tượng.
Đến khi giáo sư Doanh Xuyên tuyên bố đến phần hỏi đáp tự do, anh vẫn không thấy nhàm chán, mà thậm chí còn vô thức ghi chép kín ba trang giấy.
Có lẽ là vì vị trí của anh ở ngay trung tâm hàng đầu tiên, trong suốt buổi giảng, Liễu Dịch nhận ra Doanh Xuyên thường xuyên nhìn về phía mình.
Họ đã có mười mấy lần ánh mắt chạm nhau.
Mỗi lần như vậy, đối phương đều nở một nụ cười nhẹ nhàng, sau đó tự nhiên dời mắt đi, tiếp tục bài giảng của mình.
Trong suốt quá trình đó, bài giảng của Doanh Xuyên vẫn mạch lạc, không hề có chút ngập ngừng nào.
Vì vậy, dù ánh mắt hai người giao nhau có phần hơi thường xuyên, nhưng người ngoài hoàn toàn không thể nhận ra, chỉ có hai người họ biết mà thôi.
Sau khi buổi tọa đàm kết thúc, Liễu Dịch cố tình thong thả thu dọn đồ đạc, nán lại thêm một lúc để quan sát.
Xem ra giáo sư Doanh thực sự rất được sinh viên yêu thích — đặc biệt là nữ sinh.
Lúc này, xung quanh bục giảng đã chật kín người, ai nấy đều líu ríu đặt ra những câu hỏi mà họ chưa kịp hỏi trong phần hỏi đáp vừa rồi.
Liễu Dịch vốn cũng có hai câu hỏi muốn hỏi giáo sư Doanh, nhưng thấy tình hình trước mắt thế này, e rằng không biết phải đợi đến bao giờ nên anh chỉ khẽ cười cười rồi thôi.
Anh nhét cuốn sổ ghi chép vào túi rồi quay người rời khỏi hội trường lớn.
Là một trong những trường đại học danh tiếng hàng đầu của Hâm Hải, dĩ nhiên Đại học X có diện tích không hề nhỏ.
Tòa nhà nơi diễn ra buổi tọa đàm là công trình mới được xây cách đây hai năm, nằm ở phía nam của khuôn viên trường.
Từ đây đến bãi đỗ xe cổng bắc, nơi Liễu Dịch đỗ xe, có một quãng đường khá xa, đi bộ mất khoảng nửa tiếng.
Lúc này đã gần trưa, nhưng Liễu Dịch lại không vội đến bãi đỗ xe lấy xe rời đi.
Anh nghĩ bụng dù sao buổi chiều cũng chẳng có việc gì quan trọng, hơn nữa anh cũng rất ít khi ghé qua khu Đại học X.
Vừa hay hôm nay trời nắng đẹp, thời tiết ấm áp, vậy thì cứ đi dạo loanh quanh một chút, tiện tìm một quán ăn mà người ngoài cũng có thể vào dùng bữa, giải quyết bữa trưa trước rồi hẵng về căn hộ cũng chưa muộn.
Nghĩ vậy, Liễu Dịch cứ thế chậm rãi tản bộ men theo con đường rợp bóng cây trước tòa nhà hội trường.
Khuôn viên trường Đại học X được quy hoạch cây xanh rất tốt, khắp nơi rợp bóng cây, xen lẫn với đủ loại hoa cỏ khoe sắc.
Mùa xuân đến mang theo tiết trời ấm áp, cây cối, hoa lá, dây leo cũng thi nhau đâm chồi nảy lộc.
Trên đường dạo bước, Liễu Dịch thấy không ít du khách từ bên ngoài cũng thảnh thơi dạo quanh khuôn viên trường giống mình.
Hễ bắt gặp vài cây mộc lan hoặc giàn hoa tử đằng đang khoe sắc, họ liền tụ tập dưới tán cây, háo hức chụp ảnh lưu niệm cùng nhau.
Khi đi ngang thư viện, Liễu Dịch nhìn thấy trước cửa thư viện có trồng một cây phượng vĩ.
Anh ngẩng đầu nhìn những chùm hoa đỏ rực tựa như ngọn lửa đang cháy trên cành, chợt bật cười, rồi cũng giống như những du khách kia, anh lấy điện thoại ra, chụp một bức ảnh hoa nở rộ trên cành, sau đó mở WeChat và gửi cho Thích Sơn Vũ.
Sau khi tin nhắn gửi đi thành công, anh chờ một lát nhưng không nhận được hồi âm của cảnh sát Tiểu Thích.
Có lẽ đối phương vẫn đang bận rộn, không rảnh để ý đến mấy điều lãng mạn vụn vặt này của anh.
Liễu Dịch cũng chẳng thấy sốt ruột hay thất vọng, chỉ nhét điện thoại lại vào túi áo khoác ngoài.
"Hi."
Lúc này, Liễu Dịch cảm giác có người đứng sau lưng mình, vươn tay vỗ nhẹ lên vai anh.
====================================
Chú thích:
1.
Nút thắt Windsor: Kiểu thắt truyền thống Windsor tạo nên một nút tam giác cân đối, vững chắc, và rất phù hợp khi mặc với áo có cổ rộng.
2. 变态心理学/Abnormal psychology/Tâm lý học dị thường: Tâm lý học dị thường nghiên cứu về tâm bệnh học (psychopathology) và các hành vi bất thường.
Các chuyên gia sức khỏe tâm thần đánh giá, chẩn đoán và điều trị nhiều loại rối loạn tâm lý, bao gồm lo âu và trầm cảm.
Các nhà tư vấn, nhà tâm lý học lâm sàng và trị liệu tâm lý thường trực tiếp làm việc trong lĩnh vực này.
====================================
Chương 69: 《 The Silence of The Lambs 》
Liễu Dịch quay đầu lại, thấy Doanh Xuyên đang cười tủm tỉm đứng sau anh.
Giữa hai người họ duy trì một khoảng cách an toàn hơn một mét.
Biểu cảm và ngôn ngữ cơ thể của người kia đều vừa vặn đến mức hoàn hảo — vừa không khiến người ta cảm thấy vượt quá giới hạn, lại vừa không mang đến sự xa lạ hay gượng gạo của một cuộc trò chuyện lần đầu.
"Giáo sư Doanh?"
Liễu Dịch có chút ngạc nhiên.
Khi anh rời khỏi hội trường, Doanh Xuyên vẫn bị vây quanh bởi bảy tám sinh viên, nhìn sao cũng không thể thoát ra ngay lập tức.
Liễu Dịch nghĩ, mặc dù mình đang dạo bước trong khuôn viên trường với tốc độ thong thả, bước chân không nhanh, nhưng mới chỉ qua mười mấy phút thôi mà đã bị đuổi kịp, và người này còn chủ động chào hỏi một người hoàn toàn xa lạ như anh.
Mặc dù Liễu Dịch biết ngoại hình và khí chất của mình khá nổi bật, nhưng anh cũng không tự luyến đến mức cho rằng chỉ vì "giữa đám đông nhiều người, tôi vô tình liếc nhìn anh một cái" mà có thể khiến một nhân vật thành đạt, từng trải như giáo sư Doanh cứ mãi nhớ thương mình.
Anh nheo mắt, suy nghĩ một chút rồi hỏi: "Chúng ta đã gặp nhau trước đây sao?"
Doanh Xuyên mỉm cười lắc đầu.
"Thật ra, lúc nãy thấy anh ngồi xuống bên cạnh tôi, tôi đã thắc mắc — tại sao anh lại đến nghe buổi toạ đàm của tôi?"
Liễu Dịch cất điện thoại, đi về phía bãi đỗ xe cổng Bắc, Doanh Xuyên cũng tự nhiên đi theo bên cạnh anh, vừa đi vừa nói: "Thư mời cho khu khách mời đều do tôi nhờ sinh viên giúp điền thông tin.
Những người được mời về cơ bản đều là các chuyên gia, giáo sư trong lĩnh vực tâm lý học.
Tôi nắm rõ danh sách ấy, trong đó tuyệt đối không có..."
Nói đến đây, anh ta dừng lại một chút, ánh mắt quan sát từ đầu đến chân Liễu Dịch, khóe mắt chứa đầy ý cười.
"...trong đó tuyệt đối không có một nhân vật trẻ tuổi và xuất chúng như anh."
Liễu Dịch nghiêng đầu, nhướn mày: "Nghe ý của anh, có vẻ như đang chê tôi là kẻ không mời mà đến rồi?"
Doanh Xuyên cười ha hả.
"Đâu có đâu có, tôi còn thấy vinh hạnh không kịp ấy chứ!"
Cách nói chuyện của anh ta rõ ràng rất có kỹ xảo.
Giọng nói mang theo chút khàn nhẹ kiểu người hay hút thuốc, ngữ điệu trầm ổn, biểu cảm tinh tế vừa đủ.
Trên người thoang thoảng mùi nước hoa gỗ rừng hòa lẫn với chút hương thuốc lá, phối hợp với bộ vest đen hai hàng khuy hôm nay, tự nhiên tạo ra một cảm giác chững chạc và đáng tin cậy vượt xa độ tuổi thực tế, thậm chí ngay cả lời khen cũng nghe rất chân thành, dễ khiến người khác cảm thấy tin tưởng.
Tuy nhiên, Liễu Dịch không dễ bị mắc mưu, anh hỏi ngược lại một câu: "Vinh hạnh?
Sao lại nói vậy?"
"Vậy để tôi đoán thử nhé."
Ánh mắt Doanh Xuyên quét qua khuôn mặt thanh thoát xinh đẹp của Liễu Dịch, đặc biệt là dừng lại vài giây ở đuôi mắt dài và đôi môi mỏng mềm mại của anh.
"Việc anh có thể nhận được thư mời chứng tỏ rằng anh có mối quan hệ tốt với các chuyên gia trong lĩnh vực tâm lý học và bản thân lại quan tâm đến nội dung của buổi toạ đàm.
Vậy thì ít nhất anh phải là người đã được giáo dục tốt, đủ khả năng hiểu rõ nội dung của buổi nói chuyện này."
Liễu Dịch phát ra một tiếng cười khẽ.
"Giáo sư Doanh, bài giảng của anh vừa rồi đâu phải là hội thảo nghiên cứu học thuật gì cao siêu.
Nếu phải nói, nó gần như ở mức độ "phổ cập khoa học", cho dù là một sinh viên không chuyên về tâm lý học thì cũng chẳng có gì khó hiểu.
Tôi không nghĩ là cần có trình độ học vấn cao để có thể hiểu được."
"Đây chính là điểm thứ hai tôi muốn nói."
Doanh Xuyên không hề khó chịu với phản bác của Liễu Dịch, trái lại, anh ta tỏ ra vô cùng hứng thú: "Vừa rồi trong buổi toạ đàm, tôi thấy anh có ghi chép."
Liễu Dịch gật đầu, trong lòng nghĩ quả nhiên không phải do mình quá nhạy cảm, người này thực sự chú ý đến mình.
"Trên thực tế, có khá nhiều người ghi chép trong buổi toạ đàm nhưng sinh viên bình thường thì chỉ ghi chép theo bảng, tốc độ ghi chú khá chậm, thường chỉ ghi những tiêu đề tổng quát lý thuyết mà thôi.
Nhưng anh thì khác..."
Anh ta mỉm cười với Liễu Dịch.
"Tôi chú ý thấy, khi anh ghi chép, phần lớn là lúc tôi phân tích các trường hợp thực tế, và một số số liệu thống kê mới gần đây, anh cũng ghi lại.
Hơn nữa, anh không chỉ ghi lại số liệu mà còn chú ý đến nguồn tài liệu trích dẫn của tôi.
Tôi nghĩ, anh chắc hẳn định tự mình xem lại tài liệu gốc sau đúng không?"
Doanh Xuyên kết luận.
"Vì vậy, anh không chỉ được giáo dục tốt, rất quen thuộc với mô hình nghiên cứu khoa học học thuật, mà còn là người chú trọng tính thực tiễn, giỏi suy nghĩ độc lập và tổng hợp kết quả để phát hiện thông tin mới.
Hơn nữa, vẻ tự tin điềm đạm của anh không phải là thứ mà những người nghiệp dư có thể giả vờ được."
Anh ta vừa nói, vừa chú ý đến những thay đổi nhỏ trong biểu cảm của Liễu Dịch.
"Tôi dám chắc, anh cũng là người đứng đầu trong lĩnh vực chuyên môn của mình, đúng không?"
Liễu Dịch quay đầu lại, nhìn chằm chằm vào Doanh Xuyên, một lúc sau, anh bất ngờ cười lên: "Vậy anh nghĩ tôi là chuyên ngành gì?"
"Chuyện này à, thực ra cũng không khó đoán."
Doanh Xuyên thấy Liễu Dịch gián tiếp thừa nhận suy đoán của mình, nụ cười trên môi càng trở nên rõ rệt hơn.
"Tôi vừa mới nói, anh có thể nhận được thiệp mời, lại còn ghi chép lại một số án lệ tôi phân tích, điều này cho thấy trong lĩnh vực của anh, anh có thể tiếp cận với các chuyên gia tâm lý học, và anh cũng có thể sử dụng được những kiến thức liên quan đến tâm lý học tội phạm."
Liễu Dịch gật đầu: "Ừ, điều này tôi không phủ nhận, anh nói đúng."
Doanh Xuyên lại cười lớn.
"Thêm nữa, tôi vừa chú ý đến một chi tiết.
Trong tài liệu bài giảng, tôi đã đưa vào một số bức ảnh hiện trường vụ án, mặc dù không đến mức quá máu me, nhưng cũng không bị làm mờ.
Những sinh viên bình thường, chỉ đến để tham gia cho có, khi lần đầu nhìn thấy những bức ảnh này, không nói là họ sợ hãi hay không dám nhìn thẳng, nhưng gần như tất cả đều có một khoảnh khắc quay mắt đi, có người còn nghiêng đầu, nhíu mày, thậm chí là đưa tay ra che để phản kháng, tất cả đều là phản ứng tâm lý né tránh và ghét bỏ một cách vô thức."
Anh ta giơ tay trái lên, nhẹ nhàng khua tay múa chân chỉ về phía Liễu Dịch.
"Nhưng anh thì khác, khi nhìn thấy những bức ảnh đó, không những anh không quay đi mà ngược lại anh còn tỏ ra rất tập trung, thậm chí có những động tác như nghiêng tai, nghiêng đầu, tất cả đều là biểu hiện anh rất quan tâm đến những gì mình đang nghe và nhìn."
Doanh Xuyên thấy mắt Liễu Dịch hơi mở to, vì vậy anh ta hài lòng tiếp tục hoàn thiện phần phân tích tâm lý của mình.
"Nếu chỉ đơn giản là không sợ máu me thì có thể là bác sĩ, nhưng bác sĩ bình thường lại không cần sử dụng kiến thức tâm lý học tội phạm này; còn nếu nói đến những người cần tâm lý học tội phạm nhất là cảnh sát, thì phong thái của anh lại quá đậm chất học giả, không giống như những cảnh sát hình sự tuyến đầu, họ thường vô thức mang theo cái khí thế áp đảo..."
Anh ta cười cười, đưa ra kết luận, "Vậy tôi đoán, anh là một pháp y?"
Liễu Dịch dừng bước, ánh mắt mang theo sự tìm tòi, nhìn kỹ Doanh Xuyên ba lần liên tiếp.
"Nếu như không phải vì trên tay anh đeo nhẫn cưới..."
Anh nhìn vào ngón áp út của Doanh Xuyên đang giơ lên, mỉm cười có chút ẩn ý, "Tôi suýt nghĩ là anh định tán tỉnh tôi đấy."
"Ha ha ha ha!"
Doanh Xuyên có vẻ như bị lời nói của Liễu Dịch chọc cười, đột nhiên cười lớn thành tiếng.
"Xin lỗi xin lỗi, thực ra phần phân tích trước đó, tôi đã gian lận một chút."
Sau một hồi cười lớn, anh ta lấy một bao thuốc ra từ túi trong của áo vest, lắc ra một điếu, đưa đến trước mặt Liễu Dịch, "Thật ra tôi đã nhận ra anh ngay khi anh ngồi xuống bên cạnh tôi, pháp y Liễu."
Liễu Dịch nhận thuốc, liếc nhanh qua bao thuốc và nhận thấy đó là một thương hiệu rất hợp với phong cách của Doanh Xuyên, Marlboro, "Sao anh lại biết tôi?"
Doanh Xuyên không trả lời ngay mà thay vì vậy, anh ta châm thuốc cho Liễu Dịch trước, rồi tự mình cũng lấy một điếu, thuần thục hút một hơi.
"Trước đây trong vụ bắt cóc con trai độc nhất của Lưu Dương, ảnh của anh tràn ngập trên các phương tiện truyền thông."
Anh ta trả lời, "Vẻ ngoài của anh rất dễ nhận ra, ai nhìn một lần cũng nhớ."
Liễu Dịch chỉ "Ồ" một tiếng, thể hiện rằng anh hiểu.
Khi Lưu Lăng Tiêu bị giết, anh vì khăng khăng phải tiến hành khám nghiệm thi thể của nạn nhân mà bị Lưu Dương tức giận đánh một cú.
Chuyện này cũng không biết làm sao mà lại bị các phóng viên đang mai phục bên ngoài biết được, ngay lập tức nó đã bị đưa lên các phương tiện truyền thông, lan truyền ầm ĩ.
Ảnh thẻ chân dung nền trắng của anh treo trên trang web nội bộ của Viện Nghiên cứu Pháp y cũng bị lôi ra, cùng với các tài liệu khác của vụ án, đã được chia sẻ hàng chục nghìn lần trên Weibo.
Sau đó, dù đã nhờ cảnh sát mạng dọn dẹp một lượt, nhưng chỉ cần ai đó cố gắng tìm kiếm, đến giờ vẫn có thể tìm thấy dấu vết.
"Rất vui được gặp anh."
Doanh Xuyên đưa tay phải không cầm điếu thuốc về phía Liễu Dịch, nói: "Rất vui vì anh đã đến nghe buổi toạ đàm của tôi."
Anh ta bắt tay với Liễu Dịch, nhướng cằm về phía một con đường nhỏ trong khu vườn phía trước, cười rất chân thành, "Ở bên kia có một nhà hàng Nhật, đồ ăn khá ngon, anh có muốn cùng tôi ăn trưa không?"
&&& &&& &&&
Quán ăn Nhật Bản "Hòa Điền Cư", là một địa điểm khá nổi tiếng trong khuôn viên trường Đại học X.
Quán ăn này đã thuê một mảnh đất trống bên cạnh nhà kính của Khoa Nông nghiệp, xây dựng một khu vườn bán mở dạng nhà kính, dọc theo hàng rào tre trồng rất nhiều hoa tường vi và tử đinh hương, không gian ăn uống được trang trí rất tinh xảo và đẹp mắt.
Tuy nhiên, để duy trì một khu vườn thanh nhã như vậy, chi phí chắc chắn không hề thấp, vì vậy giá cả món ăn ở "Hòa Điền Cư" cũng khá đắt đỏ.
Ngày thường, tất nhiên số lượng sinh viên nghèo đến đây ăn uống không nhiều bởi vì đối tượng khách hàng chính của quán là những du khách đến các nhà hàng trong trường vào dịp lễ hoặc khi đi dạo, tiện thể thưởng thức không khí thư thái, sang trọng.
Mặc dù là giờ ăn vào dịp lễ tết, nhưng khi Liễu Dịch đi theo Doanh Xuyên bước vào quán, anh chỉ thấy trong khu nhà kính có ba bàn khách, và mỗi bàn đều cách nhau một khoảng khá xa, đủ để đảm bảo không làm phiền nhau.
"Bên này."
Doanh Xuyên có vẻ là khách quen của quán này, anh ta thuần thục dẫn Liễu Dịch đến một bàn riêng trong góc.
Vị trí này rất kín đáo, yên tĩnh, hơn nữa từ phía Liễu Dịch, anh có thể nhìn xuyên qua tường kính để thấy vườn hoa trong sân với những cây hoa phù tô* đang nở rộ và shishi-odoshi đang nhỏ nước, cảnh vật thực sự rất đẹp mắt.
(*Hoa phù tô/扶苏花)
Một nữ phục vụ xinh đẹp mặc yukata nhanh chóng mang thực đơn đến cho họ.
Mặc dù Liễu Dịch không phải là người quá thích ăn đồ Nhật, đặc biệt là các món sống như sashimi, nhưng thỉnh thoảng ăn một lần cũng không sao.
Cả hai nhanh chóng quyết định món ăn, rồi vừa thưởng thức trà vừa đợi món được mang ra.
Lúc này, Doanh Xuyên mỉm cười với Liễu Dịch, "À, pháp y Liễu, lúc nãy tôi chưa kịp hỏi, anh cảm thấy thế nào về bài giảng của tôi?"
====================================
Chú thích:
1.
Hoa phù tô/扶苏花: Phù Tô là tên của một loài cây nhỏ, cũng được dùng để chỉ tên một loài hoa.
Trong bài thơ Sơn hữu phù tô của Trịnh Phong thuộc thể thơ Kinh thi có câu "Sơn hữu phù tô,
Thấp hữu hà phô (hoa)."
Có nghĩa là "Trên núi có cây phù tô,
Dưới thấp có hoa sen."
Trong Kinh thi, Phù Tô ám chỉ cây đường đệ/唐棣 (một thứ cây nói trong sách cổ).
Tuy nhiên, trong các tiểu thuyết võ hiệp, tiểu thuyết tình cảm hoặc các tác phẩm hội họa, Phù Tô thường được miêu tả như một hình ảnh hoa đỏ lớn.
2.
Shishi-odoshi/鹿威: (nghĩa đen: "dọa huơu" hay "dọa lợn rừng") là một dụng cụ tự chế của Nhật Bản để xua đuổi các loài vật hoang dã phá hoại mùa màng.
Thông thường, shishi-odoshi bao gồm hai ống nước và một bồn chứa ở dưới.
Ống nước có thể là ống tre hoặc hiện nay có thể dùng một số chất liệu khác như nhôm, nhựa.
Một ống được cố định để dẫn nước, ống còn lại lắp vào một giá đỡ linh hoạt.
Khi chưa có nước, ống này hướng lên trên, khi đầy nước, ống nặng và đổ xuống bồn phía dưới, đổ hết nước, ống quay lại vị trí ban đầu.
Bồn chứa bên dưới có thể để trống hoặc phủ sỏi để tăng tính thẩm mỹ.
Mỗi khi đổ xuống và quay lại vị trí cũ, ống đập vào giá đỡ và gây ra tiếng động đuổi động vật
====================================
Chương 70: 《 The Silence of The Lambs 》
"Quả thật rất xuất sắc, có thể thấy, anh xứng đáng với danh hiệu chuyên gia trong lĩnh vực tâm lý học tội phạm dị thường."
Ngón tay của Liễu Dịch nhẹ nhàng lướt trên thành cốc trà làm bằng gốm thô, suy nghĩ một lúc, rồi nói tiếp: "Đặc biệt là phần thảo luận về rối loạn nhân cách phản xã hội, tôi thấy rất thú vị."
"Ồ?"
Doanh Xuyên tỏ ra rất vui, "Anh đã chú ý đến à?"
"Ừm."
Liễu Dịch suy nghĩ một lúc rồi nói: "Nếu tôi nhớ không nhầm, trong một số tài liệu tôi đã từng xem qua, có một bộ tiêu chuẩn chẩn đoán về rối loạn nhân cách phản xã hội với ranh giới là tuổi trưởng thành.
Sau khi có một số hành vi rối loạn nhân cách và vi phạm các chuẩn mực xã hội, người ta mới được xác định là có khuynh hướng phản xã hội."
"Đúng."
Doanh Xuyên gật đầu, "Theo tiêu chuẩn hiện hành của CCMD*, đúng là như vậy."
(*CCMD/Chinese Classification of Mental Disorders/Phân loại Rối loạn Tâm thần Trung Quốc: Đây là một hướng dẫn lâm sàng được sử dụng ở Trung Quốc để chẩn đoán các rối loạn tâm thần.)
Anh ta dừng lại một chút, rồi tiếp tục nói: "Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng bộ tiêu chuẩn chẩn đoán này đã hơi lạc hậu rồi."
Liễu Dịch cười, "Lúc nãy trong bài giảng, anh nói còn nhẹ nhàng hơn nhiều."
"Đúng vậy, dù sao hôm nay cũng có không ít tiền bối chịu đến nghe tôi lải nhải, nên cũng phải giữ thể diện cho họ, những câu nói quá sốc vẫn nên tránh không cần nói ra."
Doanh Xuyên nhún vai, "Vả lại, hiện tại đề tài nghiên cứu của tôi cũng không tiến triển gì mấy, từ chứng cứ thống kê mà nói, vẫn còn quá ít để làm thay đổi bộ tiêu chuẩn chẩn đoán đã tồn tại gần ba mươi năm nay."
Liễu Dịch nghe ra từ khóa, "Đề tài không tiến triển thuận lợi sao?"
Lúc này, người phục vụ mang món salad và các món khai vị lên bàn, rồi rót rượu sake đã làm ấm cho cả hai người.
Họ ngừng cuộc trò chuyện, đợi người phục vụ cúi người rời đi, Doanh Xuyên mới tiếp tục nói: "Thực ra không phải là không thuận lợi, chỉ là điều kiện quốc gia khác nhau, ở Trung Quốc, số vụ án cho phép các chuyên gia tâm lý tội phạm tham gia điều tra rất ít, quy trình điều tra và thu thập chứng cứ cùng với phân tích tâm lý của hệ thống Mỹ rất khó có thể áp dụng ở đây."
"Dù sao thì cũng là cảnh sát Voodoo* mà!"
(*Voodoo là một tôn giáo dân gian từ Tây Phi, phát triển ở Haiti và một số khu vực khác.
Trong câu này, "巫毒警察" có thể ám chỉ cảnh sát sử dụng phương pháp điều tra kỳ lạ hoặc không chính thống(?).)
Liễu Dịch mỉm cười khi nhắc đến biệt danh của các nhà nghiên cứu tâm lý học tội phạm Mỹ, rồi nâng chén rượu sake trước mặt lên, thử một ngụm nhỏ.
Anh nhận ra rằng rượu ấm này hơi chua, nhưng khi uống vào lại rất dễ uống, vừa vặn làm dịu đi cảm giác lạnh từ salad và món khai vị, thật bất ngờ lại hợp khẩu vị của anh, nên anh liền ngửa đầu, một hơi uống cạn hết chén rượu.
"Quả thực, cảnh sát Voodoo."
Doanh Xuyên cầm chai rượu sứ trắng đã được ủ trong nước nóng lên, lại rót đầy chén của Liễu Dịch, sau đó nâng chén của mình lên, nhẹ nhàng chạm vào chén của Liễu Dịch.
Liễu Dịch rất tinh tế, uống cạn một hơi, rồi lại rót rượu cho người cùng bàn.
"Tôi thấy, lý thuyết mà anh vừa nói khá thú vị."
Liễu Dịch không mấy hứng thú với các món khai vị trên bàn, nhưng lại rất thích vị của rượu, chỉ là anh không muốn tỏ ra quá thích uống rượu, nên không rót thêm nữa, nhưng ngón tay vẫn không ngừng xoa xoa chiếc chén rượu sứ trắng nhỏ, "Ý tôi là phần biểu hiện ẩn giấu của những người có nhân cách phản xã hội hiện nay."
Doanh Xuyên là một chuyên gia tâm lý học, đương nhiên anh ta nhận thấy được nhu cầu được bộc lộ qua những động tác của ngón tay Liễu Dịch.
Vì vậy, anh ta làm như vô tình rót đầy rượu cho cả hai, rồi tự mình nhấc chén lên và nhấp một ngụm trước.
"Thực ra, đặc biệt là một bộ phận những người mắc rối loạn nhân cách phản xã hội chỉ được phát hiện sau khi phạm tội ở tuổi trưởng thành, tính ẩn giấu của họ lớn hơn rất nhiều so với các chỉ tiêu đánh giá trong phân loại nhân cách."
Anh ta suy nghĩ một lúc, rồi lấy ví dụ: "Chẳng hạn như khi chúng ta đọc các bản báo cáo vụ án, thường xuyên nghe những người hàng xóm, đồng nghiệp, người thân của những tội phạm vô cùng hung ác nói rằng "Anh ta bình thường trông có vẻ là một người tốt", tôi nghĩ đây cũng là một biểu hiện của tính ẩn giấu của nhân cách phản xã hội."
Lúc này, người phục vụ mang vài đĩa món chính lên, sắp xếp chúng thành hình hoa mai tinh xảo trên bàn giữa hai người.
Ngay khi Liễu Dịch cầm đũa lên, đang định động đũa thì điện thoại của anh đột nhiên vang lên.
Anh lấy điện thoại từ trong túi ra, nhìn vào màn hình hiển thị cuộc gọi, không ngờ lại là nữ bác sĩ pháp y duy nhất trong khoa, Phùng Linh gọi đến.
Liễu Dịch nhớ rằng, cuối tuần này Phùng Linh sẽ trực.
Phùng Linh là cấp dưới của anh, mặc dù bình thường nói chuyện có phần cay nghiệt nhưng rất có nghĩa khí, cực kỳ tài giỏi, năng lực công tác thì tuyệt đối không có gì để chê trách.
Vậy mà cô lại gọi điện cho anh vào lúc này, tám chín phần mười là có chuyện lớn mà ngay cả cô ấy cũng không thể giải quyết một mình.
Anh cười tỏ vẻ xin lỗi với Doanh Xuyên, đứng dậy, đi vài bước sang một bên, tìm chỗ vắng người rồi bắt máy: "Alo?"
"Này, chủ nhiệm Liễu."
Ở đầu dây bên kia, giọng nói của Phùng Linh vang lên, cô đi thẳng vào vấn đề: "Tôi có một vụ án ở khu Bách Lệ, tôi cảm thấy rất cần thiết để cậu cũng đến xem."
"Sao vậy?"
Liễu Dịch nghe vậy, nhíu mày, "Tình hình hiện trường phức tạp lắm sao?"
"Phức tạp thì rất phức tạp."
Phùng Linh trả lời: "Nhưng quan trọng nhất là, nạn nhân thiếu mất mười ngón tay."
Liễu Dịch nhíu chặt mày hơn nữa: "Thiếu mười ngón tay?"
Giọng nói điềm tĩnh của Phùng Linh truyền qua ống nghe: "Đúng vậy, đúng như cậu nghĩ, mười ngón tay đều bị dao sắc chặt đứt hết, mà tại hiện trường án mạng không tìm thấy các ngón tay bị đứt."
Cô dừng lại vài giây, rồi tiếp tục nói: "Tôi cảm thấy vụ này có vẻ giống hệt với bộ xương mà cậu mới nhận được mấy hôm trước."
"Được, tôi biết rồi."
Liễu Dịch trả lời: "Nửa tiếng nữa, tôi sẽ đến ngay."
Nói xong, anh cúp máy, quay lại bàn, xin lỗi Doanh Xuyên vì mình đột nhiên có việc gấp cần phải đi ngay.
Trong mắt của Doanh Xuyên thoáng qua một tia sáng, nhưng ngay lập tức điều chỉnh lại biểu cảm, người khác khó mà nhận ra.
"Không sao, anh cứ đi đi, hẹn gặp lại lần sau."
Anh ta lịch sự đứng dậy bắt tay với Liễu Dịch.
&&& &&& &&&
Liễu Dịch rời khỏi quán ăn Nhật Bản, đi thẳng đến cổng trường gần nhất của Đại học X.
Xe của anh vẫn đậu ở bãi đỗ xe cổng Bắc, nhưng một là nó khá xa so với vị trí hiện tại, hai là anh vừa uống hai ly sake, không tiện tự lái xe, mà bây giờ cũng không có thời gian đợi tài xế đến thay anh lái xe.
Anh ra khỏi cổng trường, bắt một chiếc taxi gần đó, một mạch chạy về khu dân cư Bách Lệ.
Lúc này, anh mới nhớ ra một chuyện.
Mặc dù Doanh Xuyên đã nói "hẹn gặp lại lần sau", nhưng thực ra hai người còn chưa trao đổi bất kỳ thông tin liên lạc cá nhân nào.
Dĩ nhiên, dù sao thì anh cũng biết nơi làm việc và tên của Doanh Xuyên, nếu muốn liên lạc với đối phương thì cũng chỉ cần tốn một chút công mà thôi.
Liễu Dịch suy nghĩ, mặc dù bữa ăn vừa rồi anh gần như không ăn gì, nhưng nghĩ lại, anh vẫn nợ Doanh Xuyên một bữa ăn, nên nếu có dịp rảnh rỗi thì nhất định phải trả lại.
Khi nghĩ đến hai chữ "ăn cơm", Liễu Dịch không kìm được mà dùng tay ấn nhẹ vào bụng mình.
Lúc này đã gần một giờ trưa, bữa sáng của anh chỉ ăn qua loa, pha một cốc sữa rồi cho thêm một gói yến mạch ăn liền để qua chuyện, chút đồ đó giờ cũng đã tiêu hóa xong từ lâu.
Vì không thích cảm giác của thức ăn lạnh, anh chỉ động đũa một chút cho có lệ, trong dạ dày không có gì lót dạ, lại uống thêm hai ly rượu nhỏ, giờ đây anh cảm thấy dạ dày trống rỗng, vừa lạnh vừa đói, mặc dù không đến mức không thể chịu đựng được, nhưng cảm giác rất khó chịu.
"Thưa anh, đến khu Bách Lệ rồi."
Chiếc taxi dừng lại bên đường, chỉ tay về phía khu nhà ở phía trước, rồi quay lại hỏi anh: "Đường trong đó rất hẹp, tôi không vào được, dừng đây có được không?"
Liễu Dịch nhìn con đường hẹp đến mức có thể gọi là "ngõ" này, e là ngay cả hai chiếc xe đi song song cũng khó khăn, vì vậy anh cũng không làm khó tài xế, trả tiền rồi xuống xe, lập tức đi vào con phố cổ chật hẹp.
Từ bản đồ nhìn lại, khu dân cư Bách Lệ này nằm ở phía bắc của thành phố Hâm Hải, trong một trong những khu vực hành chính lâu đời nhất của thành phố, các tòa nhà trong khu hầu hết đều là các căn hộ kiểu cũ đã hơn ba mươi năm tuổi.
Hai năm trước, khu vực này vừa được cải tạo đô thị, các tòa nhà gần con phố đều được sửa chữa lại mặt tường, dán gạch tường màu vàng kem sáng sủa, trông rất gọn gàng và mới mẻ.
Nhưng khi Liễu Dịch đi vào trong, anh lại phát hiện những ngôi nhà phía sau có vẻ rất cũ kỹ, một số bức tường sơn đã bị bong tróc lớp sơn, để lộ ra phần tường bê tông thô ráp màu xám nâu bên dưới.
Anh mất một chút thời gian để tìm thấy tòa nhà nơi xảy ra vụ án, sau khi trình giấy chứng nhận cho cảnh sát đứng canh ở cửa cầu thang, anh lập tức đi thẳng lên tầng sáu.
Tầng sáu đã được phong tỏa, hành lang chật hẹp đầy những cảnh sát mặc đồng phục, nhìn tình hình này có thể thấy vụ án rất nghiêm trọng.
"Liễu... pháp y Liễu."
Thích Sơn Vũ rõ ràng biết Liễu Dịch sẽ đến, hắn đứng ngay trước cửa căn hộ xảy ra vụ việc đợi sẵn, nhìn thấy Liễu Dịch lên đến tầng, ánh mắt lập tức sáng lên, suýt nữa gọi "anh Liễu", nhưng nghĩ đến đây là nơi làm việc nên hắn đã đổi thành cách xưng hô nghiêm túc.
"Ừ, cảnh sát Thích."
Liễu Dịch mỉm cười gật đầu với hắn, "Tình huống bên trong như thế nào?"
"Chủ căn hộ số 604, khoảng hai giờ trước, đã được phát hiện đã chết trong nhà."
Thích Sơn Vũ vừa trả lời, vừa dẫn anh vào trong nhà.
Khi lại gần Liễu Dịch, hắn mới ngửi thấy mùi thuốc lá và rượu thoang thoảng từ người đối phương.
Mùi này tuy rất nhẹ, nhưng Thích Sơn Vũ hoàn toàn chắc chắn mình không hề ngửi lầm.
Ánh mắt của hắn không kìm được mà dò xét người bên cạnh.
...Không phải là lúc nãy Liễu Dịch đi nghe buổi toạ đàm về tâm lý học ở Đại học X sao?
Sao lại có mùi thuốc lá và rượu trên người vậy?
Căn nhà không lớn, chỉ khoảng bảy tám mươi mét vuông, vì là căn nhà cũ đã có từ khá lâu và lại hướng nam bắc, nên dù là giữa trưa, đèn cũng đã bật lên nhưng trong phòng vẫn có vẻ hơi u tối.
Tuy vậy, Liễu Dịch vẫn lập tức nhìn thấy thi thể máu thịt be bét nằm ngửa trên sàn phòng khách.
"Ai, chủ nhiệm, cuối cùng anh cũng đến."
Lúc này, Phùng Linh xách theo hộp chứng cứ bước ra từ một căn phòng bên tay phải, sau lưng cô là trợ lý và học trò của cô.
"Tình hình thế nào rồi?"
Liễu Dịch vừa nói, vừa mang giày bảo hộ, cẩn thận tránh các vết máu và dấu chân trên sàn, đi vào trong.
Nghiên cứu sinh của anh, Giang Hiểu Nguyên, vẫn chưa đến nên giờ chẳng có ai mang đồ bảo hộ cho anh, tuy nhiên trong hộp chứng cứ có bộ đồ mỏng dùng một lần làm từ vải không dệt, tạm thời cũng có thể sử dụng.
Liễu Dịch nhanh chóng mặc xong đồ, đội mũ và đeo găng tay, trong chớp mắt, anh từ một công tử phong độ lịch lãm trở thành một chuyên gia giám định với biểu cảm nghiêm túc và ánh mắt sắc bén, bước nhanh đến bên thi thể.
Rồi sau đó, ngay cả anh cũng không kìm được mà hít một hơi lạnh.
---Tác giả có lời muốn nói---
Tác giả vì quá yếu đuối nên không chịu nổi đợt lạnh này, bị cảm cúm rồi, nghỉ ngơi suốt cả ngày, xin lỗi vì cập nhật muộn
🙂з"∠)
Chúc mọi người năm mới 9012 vui vẻ nha!
---Editor có lời muốn nói---
Người ta ngửi thấy mùi thuốc lá với mùi rượu, chứ tui ngửi thấy 10 xe containers giấm đổ đâu đây ấy nhỉ
====================================
Chương 71: 《 The Silence of The Lambs 》
Đây là một thi thể nam giới.
Thi thể có chiều cao trung bình, thân hình cũng không thể xem là cường tráng, mái tóc nhuộm nâu nhạt dài gần chạm vai.
Từ phần đuôi tóc uốn nhẹ và một lọn tóc mái được nhuộm ánh kim, có thể thấy rõ người này theo phong cách nam thần tượng được chăm chút tỉ mỉ, mang đậm dấu ấn Hàn - Nhật.
Thế nhưng, vào lúc này, tóc của nạn nhân đã bị cắt xén tán loạn, rơi rụng xung quanh đầu.
Những lọn tóc dính đầy máu, bết chặt lại thành từng mảng màu nâu sẫm.
Cùng chung cảnh ngộ bị tàn phá, còn có cả khuôn mặt của nạn nhân.
Hai nhãn cầu đã bị đâm thủng rồi móc ra, phần còn sót lại nằm vương vãi trên sàn nhà.
Mũi, tai, môi, tất cả những mô mềm lớn trên khuôn mặt hầu như đều bị cắt sát tận gốc, những mảnh vụn rơi lả tả quanh đầu nạn nhân.
Làn da trắng nõn nguyên bản của cậu ta giờ đây chằng chịt vết cắt, dày đặc đến hai, ba chục nhát, hoàn toàn phá hủy khuôn mặt.
Máu từ những vết thương tuôn tràn, nhuộm đỏ cả đầu.
Ngay cả với kinh nghiệm của mình, Liễu Dịch cũng không thể nào hình dung nổi diện mạo của nạn nhân trước khi chết.
"Phải hận thù đến mức nào... mới hủy hoại gương mặt như vậy chứ..."
Liễu Dịch không kìm được, thấp giọng thốt lên.
Phần thân trên của nạn nhân vẫn còn khá chỉnh tề, mặc một chiếc sơ mi bó sát kẻ sọc màu vàng nhạt, cổ đeo cà vạt dài màu cam chấm đen.
Thế nhưng, chiếc cà vạt rực rỡ và phong cách ấy giờ đây lại siết sâu vào làn da cổ, rất có thể chính là nguyên nhân dẫn đến cái chết.
Ngoại trừ vết máu, quần áo phần trên không có dấu hiệu rách nát rõ ràng.
Tuy nhiên, nửa dưới của thi thể lại là một cảnh tượng điển hình của bạo lực xâm hại.
Hiện trường quá mức chấn động, mang tính đặc trưng cao, đến mức dù không phải những chuyên gia pháp y dày dạn kinh nghiệm như Liễu Dịch hay Phùng Linh, mà chỉ cần có chút ý thức điều tra hình sự, ai cũng có thể nhìn ra nạn nhân đã phải trải qua điều gì.
Nhưng... tất cả những điều trên vẫn chưa phải là chi tiết kinh hoàng nhất.
Ngoài khuôn mặt bị hủy hoại thê thảm, đôi tay của nạn nhân bị đặt ngay ngắn trước ngực, mười ngón tay bị chặt đứt gọn gàng.
Máu từ vết cắt chảy ướt đẫm phần thân áo.
Phần chân lộ ra ngoài cũng đẫm máu — vật tượng trưng cho giới tính của cậu ta, bao gồm cả những bộ phận liên quan, đã bị cắt bỏ tận gốc.
"Kẻ giết người không mang đi 'thứ đó' của nạn nhân."
Phùng Linh nhận thấy ánh mắt của Liễu Dịch dừng trên vết thương phía dưới, bèn chỉ tay về một vòng phấn trắng cách đó nửa mét, nơi có một vệt máu.
"Chỉ bị vứt ngay trên sàn.
Tôi đã thu vào túi vật chứng rồi."
Liễu Dịch nhíu mày.
Anh nhớ rõ, trong cuộc điện thoại trước đó, Phùng Linh đã nói rằng không tìm thấy mười ngón tay của nạn nhân tại hiện trường.
"Thật thú vị..."
Liễu Dịch trầm ngâm.
"Không mang đi cơ quan sinh dục, nhưng lại lấy đi cả mười ngón tay...
Rốt cuộc có ý nghĩa gì đây?"
Xét theo kiến thức phổ thông về tâm lý tội phạm, trong các vụ án giết người bất thường từ xưa đến nay, việc hung thủ phá hủy đặc điểm giới tính thứ cấp của nạn nhân không phải hiếm gặp.
Điều này phần lớn cho thấy rằng việc lựa chọn nạn nhân, cũng như quá trình ra tay và hủy hoại thi thể, đều chứa đựng những cảm xúc méo mó nhằm thỏa mãn ham muốn lệch lạc của hung thủ.
Ví dụ như Jack the Ripper — sát nhân khét tiếng của Luân Đôn, đã từng nhiều lần cắt nát ngực các nạn nhân nữ.
Hoặc cặp anh em người Úc từng giam cầm, hành hạ và sát hại nhiều phụ nữ, cũng thường hủy hoại toàn bộ nửa thân dưới của họ trước khi phi tang xác.
Vậy nên, theo nhận thức thông thường trong tâm lý tội phạm, ý nghĩa tượng trưng của những đặc điểm sinh lý bên ngoài của nạn nhân quan trọng hơn nhiều so với những "bộ phận" không có gì đặc biệt như "ngón tay".
Nếu hiện trường vụ án trong căn phòng này hoàn toàn phù hợp với đặc điểm của một vụ án bạo lực tình dục, vậy thì tại sao sau khi cắt bỏ cơ quan đặc thù của nạn nhân, hung thủ lại chọn mang đi mười ngón tay của người chết?
"Người này đã chết bao lâu rồi?"
Liễu Dịch suy nghĩ một chút, rồi quay đầu nhìn về phía Phùng Linh.
"Vết hoen tử thi đã bước vào giai đoạn cố định."
Phùng Linh ngồi xổm xuống, dùng ngón tay ấn lên một mảng tử ban trên đùi trần của nạn nhân.
"Dùng tay ấn không phai màu."
Cái gọi là giai đoạn cố định của vết tử thi, tức là khi vết hoen tử thi đã cố định, dùng ngón tay hoặc kẹp ấn vào cũng không làm nó biến mất, thay đổi vị trí thi thể cũng không khiến vết hoen tử thi xuất hiện ở vùng thấp mới, và các vết hoen tử thi ban đầu cũng không phai đi.
Thông thường, thi thể bước vào giai đoạn này trong khoảng từ tám đến mười giờ nếu nhanh, còn trong điều kiện bình thường thì khoảng mười hai giờ.
Sau đó, cô chỉ vào sàn nhà gần đầu thi thể, nơi còn hai nhãn cầu vỡ chưa được thu dọn.
"Giác mạc đã đục, nhưng đồng tử vẫn có thể miễn cưỡng phân biệt được."
Phùng Linh ngừng lại một chút, rồi tiếp tục nói: "Hơn nữa, thi thể đã xuất hiện hiện tượng cứng đơ toàn thân.
Ngoài ra, khi tôi vừa đến, tôi đã đo nhiệt độ thi thể, nhiệt độ trực tràng vào khoảng 24℃.
Tính đến bây giờ cũng đã qua khoảng một giờ...
Vì vậy, tôi suy đoán rằng người này có lẽ đã chết được khoảng mười ba đến mười lăm giờ."
"Ừm, vậy tức là án mạng xảy ra vào tối hôm qua?"
Liễu Dịch cúi đầu nhìn đồng hồ, tính toán thời gian ngược lại.
"Khoảng 8, 9 giờ tối, hẳn là vẫn còn khá náo nhiệt nhỉ?"
Vừa nói, anh vừa ngẩng đầu quan sát xung quanh.
"Tôi thấy cách âm của căn nhà cũ này cũng không tốt lắm đâu?
Chẳng lẽ không có hàng xóm nào nghe thấy động tĩnh gì sao?"
"Về điểm này..."
Trên mặt Thích Sơn Vũ lộ ra một biểu cảm khá khó diễn tả.
"Công việc của người chết... khá đặc biệt, danh tiếng trong khu dân cư cũng không được tốt lắm.
Thế nên bình thường, dù có phát ra âm thanh gì từ nhà hắn, cũng rất ít người để ý."
"Ồ?"
Liễu Dịch tỏ vẻ hứng thú.
"Thân phận của nạn nhân đã được xác định chưa?
Chắc chắn là chủ nhân của căn nhà này chứ?"
"Chuyện này thì vẫn chưa thể khẳng định hoàn toàn, dù sao khuôn mặt đã bị hủy thành như vậy, căn bản không thể nhận diện."
Anh tiếc nuối nhìn gương mặt máu thịt be bét, hốc mắt sụp xuống, răng lộ ra trông cực kỳ dữ tợn của nạn nhân, rồi nói tiếp: "Nhưng dựa trên những bằng chứng hiện có, khả năng cao là chính hắn."
Nói rồi, Thích Sơn Vũ mở điện thoại, chọn một bức ảnh trong album rồi đưa đến trước mặt Liễu Dịch.
Liễu Dịch chăm chú nhìn, phát hiện đó là một bức ảnh chân dung cận mặt không đội mũ.
Nhưng khác với những bức ảnh thẻ thông thường, chàng trai trẻ trong ảnh lại mang một biểu cảm vô cùng tinh nghịch.
Màu tóc của cậu ta giống hệt thi thể trên mặt đất — màu nâu nhạt.
Cậu ta hơi nghiêng mặt 45 độ vào ống kính, làn da qua chỉnh sửa trông càng mịn màng trắng trẻo.
Một mắt cậu ta hơi nheo lại, khóe miệng cong lên theo kiểu tà mị phóng khoáng, dường như đang nháy mắt đưa tình với ống kính.
Tay phải giơ lên bên mặt, ngón cái và ngón trỏ bắt chéo tạo thành hình trái tim.
Bên dưới bức ảnh còn có một dòng chữ viết hoa mạ vàng, ghi "Franco", có lẽ là nghệ danh hoặc thứ gì đó tương tự.
"Vậy, nghề nghiệp của người này rốt cuộc là gì?"
Trong lòng Liễu Dịch đã lờ mờ đoán được, nhưng anh vẫn chờ Thích Sơn Vũ giải thích.
"Người trong ảnh này, tên thật là Hoàng Tử Tường, năm nay 22 tuổi, cha mẹ đều đã mất.
Căn nhà này chính là tài sản thừa kế mà cha mẹ cậu ta để lại."
Thích Sơn Vũ đáp: "Còn về bản thân cậu ta, hai năm trước bỏ dở chương trình cao đẳng, từ đó đến nay luôn làm việc tại một hộp đêm trong khu phố quán bar cách đây hai cây số.
Ở đó, cậu ta dùng nghệ danh Franco.
Trên danh nghĩa, cậu ta là một nhân viên tiếp tân, nhưng thực tế thì chủ yếu làm nghề rót rượu và phục vụ khách theo yêu cầu."
"Vậy tức là, cậu ta thực chất là một trai bao, đúng không?"
Liễu Dịch nói thẳng ra từ đó.
Thích Sơn Vũ có chút ngượng ngùng gật đầu: "Theo lời đồng nghiệp của cậu ta ở quán, khách hàng mà Hoàng Tử Tường phục vụ chủ yếu là những quý bà giàu có, nhưng nếu gặp được đối tượng ưng ý, cậu ta cũng không ngại nhận khách là nam giới."
Hắn dừng lại một chút rồi bổ sung: "Chúng tôi đã hỏi hàng xóm của cậu ta.
Mấy gia đình sống gần đây đều cho biết, bọn họ đoán được phần nào tính chất công việc của cậu ta, cũng thường xuyên bắt gặp cậu ta đưa đàn ông hoặc phụ nữ về nhà.
Có những lúc, nhà cậu ta ồn ào đến tận khuya, rất gây phiền phức cho hàng xóm.
Vì thế, mọi người xung quanh đều không có thiện cảm với cậu ta và hầu như chẳng ai muốn qua lại."
Liễu Dịch đan tay vào nhau, ngón trỏ tay phải nhịp nhẹ lên mu bàn tay trái theo một nhịp điệu đều đặn: "Ra vậy, vì hàng xóm đã quen với việc cậu ta đưa khách về qua đêm, nên dù trong nhà có ầm ĩ đến đâu, họ cũng sẽ không bận tâm, có phải thế không?"
"Không hẳn vậy."
Thích Sơn Vũ lại lắc đầu: "Chúng tôi đã hỏi kỹ hai hộ gia đình ở sát vách.
Họ nói rằng, tuy trước đây vẫn thường nghe thấy những âm thanh không mấy hay ho vọng ra từ nhà cậu ta, có lúc còn rất ồn ào... nhưng, sau khi cố gắng nhớ lại, cả hai gia đình đều khẳng định rằng, tối hôm qua, họ không hề nghe thấy một tiếng động nào phát ra từ căn nhà này."
"Vậy thì, chuyện này đúng là bắt đầu thú vị rồi đây."
Liễu Dịch nhìn sang Phùng Linh bên cạnh, chỉ vào chiếc cà vạt màu cam rực trên cổ thi thể: "Nguyên nhân tử vong đã xác định là bị siết cổ chưa?"
Phùng Linh đáp gọn: "Tạm thời chưa phát hiện vết thương chí mạng nào khác.
Hơn nữa, dựa vào vết xuất huyết trên da cổ và kết mạc mắt của nạn nhân, có thể xác định cậu ta chết do ngạt cơ học."
"Vậy, việc cả mười ngón tay của cậu ta bị cắt bỏ, liệu có khả năng là do trong lúc bị siết cổ, cậu ta đã vùng vẫy, cào cấu hung thủ?
Còn hung thủ, lại là kẻ có hiểu biết nhất định về điều tra hình sự, nên để tránh để lại dấu vết ADN của mình trong móng tay nạn nhân, hắn dứt khoát chặt đứt rồi mang theo mười ngón tay đó?"
"Ừm, đúng là có khả năng này."
Phùng Linh tán đồng: "Tôi đã làm xét nghiệm nhanh, tuy nạn nhân có dấu hiệu từng bị xâm hại, nhưng trong trực tràng không phát hiện tinh dịch.
Không biết là do hung thủ chưa kịp lên đỉnh, hay là đã mang theo bao cao su đã sử dụng rời đi rồi."
"Lúc nãy, tôi còn nghĩ đây có thể là một vụ án mô phỏng nữa kìa..."
Ánh mắt Liễu Dịch lướt chậm rãi qua thi thể, chăm chú quan sát từng vết thương dữ tợn trên đó.
"Nhưng bây giờ xem ra, có lẽ... chỉ là trùng hợp?"
"Án mô phỏng?"
Thích Sơn Vũ bắt được từ khóa trong lời anh: "Ý anh là, bộ hài cốt vô danh được đào lên trong phim trường Tân Trường Viên?"
Liễu Dịch gật đầu: "Ừ, chính là vụ đó."
"Nhưng mà, tình tiết của vụ án đó chưa từng được đăng báo, cũng không thể rò rỉ ra ngoài qua các kênh truyền thông khác."
Thích Sơn Vũ tỏ vẻ không đồng tình.
Dù sao thì, khi công nhân đào được bộ hài cốt tại công trường, vụ việc đã gây chấn động dư luận và nhanh chóng được đưa tin.
Nhưng đám công nhân vốn chẳng có kiến thức điều tra hình sự, sao có thể nhìn ra thi thể vẫn còn nằm sâu trong lòng đất kia bị chặt mất tay chân hay bị cắt sạch mười ngón tay chứ?
Vì vậy, vụ án đó chỉ được đưa tin với tiêu đề "Phát hiện bộ hài cốt vô danh ở Tân Trường Viên" như một chiêu trò thu hút sự chú ý mà thôi.
Còn về những chi tiết cụ thể hơn, trừ khi là người trong cuộc, nếu không thì người ngoài rất khó mà biết được.
Dù có muốn bắt chước, để làm giống hệt như vậy cũng là chuyện vô cùng khó khăn.
====================================
Chú thích:
1.
Đặc điểm giới tính thứ cấp/第二性征 (hay nhị cấp) là những đặc điểm sinh lý phát triển trong quá trình dậy thì, giúp phân biệt nam và nữ nhưng không trực tiếp liên quan đến sinh sản.
Ví dụ:
Ở nam giới: Giọng nói trầm hơn, râu mọc, cơ bắp phát triển, vai rộng.
Ở nữ giới: Ngực phát triển, hông nở, phân bố mỡ dưới da mềm mại hơn.
Những đặc điểm này khác với đặc điểm giới tính sơ cấp, là những cơ quan sinh sản có từ khi sinh ra (như tinh hoàn, buồng trứng, tử cung...).
---Tác giả có lời muốn nói---
Nhờ có độc giả nhắc nhở, mình đã bổ sung một chi tiết nhỏ vào câu chuyện ~⊙▽⊙
Hôm nay trễ quá rồi, chương sau sẽ cùng lúc trả lời bình luận của ba chương trước nhé.
Yêu các bạn nhiều!
Mua~ 💕
====================================
Chương 72: 《 The Silence of The Lambs 》
"Đúng vậy, trước khi có thêm bằng chứng, tốt nhất là không nên vội vàng kết luận...
Đợi đã!"
Lúc này, Liễu Dịch vốn đang chăm chú nhìn thi thể nằm trên mặt đất, đột nhiên mở to mắt, lập tức ngừng lời, bước nhanh về phía trước hai bước, quỳ một gối ngay sát đầu người chết, rồi đưa tay về phía Phùng Linh: "Đưa tôi đèn pin."
Phùng Linh dù không biết Liễu Dịch phát hiện ra điều gì, nhưng vẫn lập tức lấy đèn pin từ túi trước ngực, cùng với một chiếc nhíp nhỏ, đưa cho cấp trên của mình.
Liễu Dịch dùng đầu nhíp cẩn thận vén nút áo sơ mi đầu tiên ngang bằng với xương quai xanh của nạn nhân, sau đó kẹp lấy phần cổ áo bên trái, từ từ kéo ra ngoài.
Khuôn mặt của người chết chằng chịt vết thương, bị rạch đến mức hoàn toàn biến dạng.
Hai bàn tay đặt trước ngực cũng bị chặt hết mười ngón, khiến máu từ vết thương không ngừng tuôn ra.
Đầu của nạn nhân trông như vừa được vớt lên từ một vũng máu, đỏ thẫm và nhầy nhụa.
Máu loang lổ xuống tận cổ và vạt áo, thấm ướt toàn bộ phần trước ngực.
Theo thời gian, vết máu dần khô cứng, bám chặt vào lớp vải sơ mi, khiến nó trở nên cứng đờ.
Khi kéo cổ áo ra, những mảng máu khô đen sẫm liền rơi lả tả xuống.
"Nhìn đây, chỗ cổ áo này."
Liễu Dịch chỉnh ánh sáng của đèn pin lên mức mạnh nhất, rọi vào cổ áo: "Chú ý đến màu sắc của vết máu."
Phùng Linh cùng một pháp y khác trong tổ của cô và sinh viên thực tập mà cô dẫn theo đồng loạt ghé sát lại từ bên trái, bên phải và cả ngay phía trên đầu của Liễu Dịch, lập tức chắn kín mọi góc nhìn.
Thích Sơn Vũ không còn cách nào khác, cũng không tiện chen vào, đành phải đứng bên cạnh chờ mấy vị pháp y xem xong rồi mới tính tiếp.
Điều Liễu Dịch muốn họ chú ý là một vết máu loang lổ trên cổ áo của nạn nhân, đường viền mờ nhòe.
Sau hơn mười tiếng, máu trên đó đã khô hoàn toàn, vùng máu loang có màu nâu hơi ngả đỏ ở điểm xuất phát, đậm nhạt đồng đều, càng về phía cuối thì càng nhạt dần thành đỏ sẫm.
Thế nhưng, dưới ánh đèn pin của Liễu Dịch, mọi người lập tức nhận ra một khu vực hình bán nguyệt có đường kính khoảng một centimet ở cổ áo nạn nhân, nơi đó vết máu nhạt hơn những chỗ khác một tông màu.
"Chuyện này..."
Phùng Linh suy nghĩ một chút rồi nói: "Lẽ nào trên áo cậu ta đã dính phải thứ gì đó trước, sau đó máu mới thấm vào, nên mới để lại dấu vết như thế này?"
Liễu Dịch gật đầu, rồi lấy một tăm bông, chà sát nhiều lần lên vùng bán nguyệt màu nhạt kia, sau đó đưa lên mũi ngửi thử.
"Mùi máu nặng quá, không ngửi ra được gì, tạm thời chưa thể xác định đây là loại chất lỏng nào.
Đợi về phòng thí nghiệm rồi tính tiếp."
Đúng lúc này, cánh cửa vang lên vài tiếng gõ "cộc cộc cộc" có nhịp điệu.
Mọi người quay đầu lại, liền thấy An Bình Đông, cộng sự của Thích Sơn Vũ, đang đứng ngoài cửa, bên cạnh còn có nghiên cứu sinh của Liễu Dịch, Giang Hiểu Nguyên.
"Các cậu ngồi xổm ở đó làm gì thế?"
An Bình Đông nhanh nhẹn thay xong bao giày, bước đến bên cạnh mấy người đang vây quanh thi thể: "Phát hiện ra gì à?"
"Giờ chưa thể nói chắc, cũng không biết có giá trị hay không."
Liễu Dịch đứng dậy, gật đầu với An Bình Đông, rồi liếc sang tên học trò đến muộn tận hai mươi phút.
Giang Hiểu Nguyên nhận được ánh mắt lạnh lẽo mà Liễu Dịch quăng qua, rùng mình một cái, vô thức lùi một bước, trốn sau dáng người cao lớn của An Bình Đông.
"Cảnh sát An sao giờ mới lên?
Còn phiền anh tiện thể đưa luôn tên đồ đệ vô dụng của tôi theo nữa chứ."
Liễu Dịch hỏi với giọng khách sáo.
"Tôi vừa xuống dưới hỏi chuyện người phát hiện thi thể đầu tiên."
An Bình Đông hắng giọng: "Thằng nhóc đó sợ đến mức chết khiếp, run rẩy chẳng khác gì con cút dính mưa, nhìn mà thấy tội.
Thế nên tôi bảo nó cứ ở dưới lầu, tìm chỗ nào ngồi xuống nói chuyện, tránh để lỡ mà ngất xỉu thì còn phiền phức hơn."
"Phải rồi, tôi còn chưa hỏi, thi thể này được phát hiện thế nào?"
Liễu Dịch vừa nghe xong thì bừng tỉnh, chợt nhớ ra bản thân lại quên mất chuyện này.
"Ha, vụ này, nói ra cũng thú vị lắm đấy."
An Bình Đông nhấn mạnh ba chữ "thú vị lắm", nghe có vẻ nghiến răng nghiến lợi.
"Người phát hiện ra thi thể là một thằng nhóc giao đồ ăn..."
Dựa theo những gì An Bình Đông hỏi được, người đầu tiên phát hiện ra thi thể là một anh chàng nhân viên giao hàng của một nền tảng chuyên giao đồ ăn cho một quán hải sản nướng trong thành phố.
Thời gian đặt đơn được in trên hóa đơn là 11 giờ 32 phút tối ngày 16 tháng 4, tức là tối hôm qua.
Trong đơn hàng có tổng cộng bốn món lớn, giá hơn 400 tệ, thời gian giao được hẹn vào khoảng 11 giờ 30 đến 12 giờ trưa hôm nay.
Cậu nhân viên giao hàng nói rằng cậu ta đã đến sớm hơn thời gian giao hàng dự kiến khoảng hơn mười phút.
Cậu ta đứng ngoài cửa nhấn chuông rất lâu nhưng không có ai trả lời, vì vậy bèn gọi vào số điện thoại ghi trên đơn hàng.
Thế nhưng, cậu ta lại nghe thấy tiếng chuông điện thoại vọng ra từ trong nhà, hơn nữa, vị trí phát ra âm thanh dường như rất gần cửa ra vào.
Lúc đó, cậu nhân viên giao hàng cảm thấy có chút bực mình, liền thử đưa tay kéo cửa chống trộm một cái, lập tức phát hiện ra cửa chỉ khép hờ.
Cậu ta bèn tự tay đẩy cửa mở ra, rồi thử xoay tay nắm cửa gỗ bên trong, ai ngờ chỉ cần vặn nhẹ một cái là mở được ngay.
Tiếp theo, tất nhiên là cậu nhân viên giao hàng vừa nhìn vào phòng khách đã thấy ngay một thi thể nam giới, nửa người trần trụi, bê bết máu, nằm chình ình ở vị trí dễ thấy nhất.
Cảnh tượng này khiến cậu ta hoảng hồn đến mức hồn bay phách lạc, ngay cả hộp cơm trên tay cũng quăng đi, vội vàng bỏ chạy, vừa lăn vừa bò xuống cầu thang, chạy thẳng ra khỏi tòa nhà, lúc này mới nhớ ra phải báo cảnh sát.
Sau khi cảnh sát nhận được tin báo và đến hiện trường, cậu nhân viên giao hàng này nhất quyết không chịu theo họ lên tầng để xác nhận lại hiện trường.
Sau đó, ngay cả khi An Bình Đông tìm cậu ta để hỏi chuyện, cậu ta cũng rúm ró như một con thỏ hoảng sợ quá độ, co ro nơi bậc cầu thang, vừa run rẩy vừa thuật lại trải nghiệm kinh hoàng khi đi giao đồ ăn.
"Này, điện thoại ở đằng kia, lúc chúng tôi vào kiểm tra, nó vẫn còn đang cắm sạc."
Kể đến đây, An Bình Đông giơ tay chỉ về phía tủ giày ở lối vào căn hộ.
"Chúng tôi đã kiểm tra rồi, số điện thoại đặt hàng và tài khoản thanh toán đều thuộc về chủ nhà, Hoàng Tử Tường."
Mọi người theo hướng anh ta chỉ nhìn sang, quả nhiên thấy trên nóc tủ giày nhỏ hẹp có một dấu phấn ghi chú, hẳn là vị trí đặt chiếc điện thoại khi đó.
"Tôi đã hỏi bác sĩ pháp y Phùng, cô ấy cho biết thời gian tử vong của nạn nhân ước chừng vào khoảng tám, chín giờ tối.
Nhưng đơn đặt hàng trên nền tảng giao đồ ăn lại được tạo vào hơn mười một giờ khuya.
Vậy nên, tôi nghĩ rằng người đặt đơn vào thời điểm đó, khả năng cao chính là hung thủ vẫn còn đang ở trong phòng."
Anh ta dừng lại một chút, rồi bổ sung: "Tôi đoán, hắn làm vậy là để đến trưa hôm sau, thi thể sẽ được cậu nhân viên giao đồ ăn phát hiện ra."
"Thảo nào cảnh sát Tiểu Thích bảo tôi rằng các người cho rằng nạn nhân rất có thể chính là Hoàng Tử Tường."
Hiện nay, hầu hết các dòng smartphone đều có thể mở khóa và thanh toán bằng vân tay.
Hệ thống nhận diện vân tay của điện thoại không quan tâm đến việc chủ nhân còn sống hay đã chết, chỉ cần ngón tay đặt lên là có thể sử dụng.
Hơn nữa, với con người hiện đại, điện thoại gần như là vật bất ly thân suốt hai mươi tư giờ mỗi ngày.
Điều này có nghĩa là, trong vụ án này, dù khuôn mặt của nạn nhân đã bị phá hủy nghiêm trọng, nhưng thi thể lại có chiều cao, thể hình và màu tóc tương đồng với chủ nhà Hoàng Tử Tường.
Ngoài ra, điện thoại tại hiện trường cũng thuộc về nạn nhân, rất có thể đã bị kẻ nào đó dùng đặc điểm sinh học của nạn nhân để mở khóa.
"Lúc đầu, tôi cũng từng nghi ngờ rằng hung thủ cố tình hủy hoại diện mạo của thi thể, còn chặt bỏ cả mười ngón tay, có thể là để dùng thi thể người khác giả làm chủ nhà Hoàng Tử Tường.
Nhưng giờ xem ra, làm vậy cũng chẳng đáng tin chút nào."
An Bình Đông nói.
Liễu Dịch khẽ "ừ" một tiếng.
Trong các vụ án xảy ra khắp nơi, trường hợp hung thủ vì nhiều lý do khác nhau mà muốn che giấu danh tính thực sự của nạn nhân thực sự rất phổ biến.
Những kẻ phạm tội này thường áp dụng các biện pháp như hủy hoại khuôn mặt, đốt cháy dấu vân tay, hoặc thậm chí thiêu rụi cả thi thể.
Một số khác thì lột sạch quần áo, hoặc lấy đi điện thoại, giấy tờ tùy thân và các vật dụng có thể xác định danh tính nạn nhân.
Tuy nhiên, trong những vụ án như vậy, thi thể gần như luôn được tìm thấy ở nơi hoang vắng hoặc những khu vực công cộng ít người qua lại.
Tệ nhất cũng chỉ là những nhà trọ nhỏ hoặc homestay với hệ thống quản lý lỏng lẻo, chứ hiếm khi xảy ra trường hợp như hiện tại — thi thể lại bị vứt thẳng vào nhà của một người có tiếng.
Dù sao thì với trình độ pháp y hiện nay, công nghệ nhận dạng cá nhân đã có những bước tiến vượt bậc, từ lâu đã không còn là thời đại mà Jack the Ripper có thể hoành hành trong sương mù Luân Đôn nữa.
Ví dụ như trong vụ án này, giả sử hung thủ thực sự muốn dùng thi thể của một người khác để giả mạo thành chủ nhà Hoàng Tử Tường, thì dù có hủy hoại khuôn mặt của nạn nhân, chỉ cần hộp sọ còn nguyên, các pháp y chỉ cần lấy một bức ảnh chính diện gần đây của Hoàng Tử Tường, rồi sử dụng kỹ thuật chồng ghép sọ mặt.
Sau đó dựa theo 8 đường dấu cơ bản, 34 điểm đánh dấu, 9 đường nét viền, cùng với độ dày mô mềm của 13 điểm quan sát, tổng cộng 64 chỉ số, là có thể xác định được liệu hai người có phải là một hay không.
"Đúng vậy, bọn tôi cũng cảm thấy chuyện này không giống như hành vi phá hủy thi thể để che giấu danh tính."
An Bình Đông vò mái tóc rối bù của mình, nói: "Nếu không phải để phá hủy thi thể, vậy thì chỉ có thể là để trút giận."
Anh ta chậc lưỡi một cái, "Tên hung thủ này phải căm hận nạn nhân đến mức nào chứ, mới giết trước cưỡng bức sau, lại còn tàn phá thi thể đến mức này..."
... ...
...
Mọi người lại bận rộn thêm một lúc lâu, cuối cùng cũng hoàn tất việc khám nghiệm hiện trường vụ án mạng, chụp ảnh thì đã chụp, lấy mẫu thì đã lấy, thi thể cũng được đóng gói cẩn thận, trực tiếp đưa về viện pháp y.
Xe của Liễu Dịch vẫn còn bỏ ở bãi đỗ xe cổng bắc của trường Đại học X.
Nhưng bây giờ vừa xảy ra một vụ án lớn với thủ đoạn tàn nhẫn như vậy, việc khám nghiệm tử thi tất nhiên không thể trì hoãn.
Anh không có thời gian đi lấy xe, dứt khoát đi nhờ xe cảnh sát của An Bình Đông quay về.
"Nhóc con, không phải cậu nói hôm nay ở Viện Pháp y viết luận văn sao?
Sao lúc nãy lại đến trễ như vậy?"
Lên xe rồi, Liễu Dịch vươn tay định túm lấy tai Giang Hiểu Nguyên.
"Ây ây ây, sếp tha mạng!"
Giang Hiểu Nguyên ôm đầu, ép sát vào cửa xe, liên tục cầu xin tha thứ, vừa nói vừa dùng ánh mắt oán thán liếc nhìn sếp của mình: "Lúc em ra ngoài thì bị Lý Cẩn chặn lại, cậu ta cứ bám lấy em đòi xin số điện thoại của anh!"
"À?"
Liễu Dịch cảm thấy cái tên "Lý Cẩn" này nghe có chút quen tai, nhưng nhất thời không thể nhớ ra đó là ai.
Ngược lại, ánh mắt Thích Sơn Vũ đang ngồi ở ghế phụ phía trước lại lóe lên, liếc nhìn về phía hàng ghế sau qua gương chiếu hậu.
"Chính là cậu thực tập sinh từng ở khoa chúng ta nửa năm trước ấy!"
Giang Hiểu Nguyên lập tức giải thích liên hồi: "Cậu ta nói anh vẫn chưa viết xong đánh giá kết thúc thực tập cho cậu ta, cứ bám lấy em hỏi xem tuần sau anh sẽ có mặt ở khoa vào ngày nào.
Em bảo làm sao em biết được lịch trình của sếp chứ?
Thế là cậu ta cứ bám riết lấy em, bảo thôi thì cứ đưa số điện thoại của anh để tự liên hệ cho tiện.
Nhưng em nghĩ, thế đâu có được!
Sao có thể tùy tiện đem số điện thoại của sếp truyền lung tung chứ, đúng không?"
Nghe Giang Hiểu Nguyên nói vậy, Liễu Dịch cuối cùng cũng nhớ ra "Lý Cẩn" là ai.
Sau đó, anh lập tức nhận ra, hình như người đó là bạn trai cũ của cảnh sát Tiểu Thích thì phải?
Thế là anh không nhịn được mà liếc nhìn về phía ghế trước.
Nhưng từ góc độ của anh, chỉ thấy bóng lưng ngay ngắn của Thích Sơn Vũ đang ngồi ngay ngắn, hoàn toàn không nhìn ra biểu cảm gì.
"Cậu có ngốc không vậy!"
Liễu Dịch không chút nể nang, lập tức công kích chỉ số thông minh của học trò mình: "Chỉ là một bản đánh giá kết thúc thực tập thôi mà, từ bao giờ lại cần tôi đích thân viết nữa rồi?
Cậu cứ tùy tiện viết vài dòng, đóng dấu lên là xong chứ gì!"
"Em cũng đã trả lời như vậy rồi mà!"
Giang Hiểu Nguyên lập tức thanh minh: "Em bảo cậu ta cứ để sổ thực tập lại, hai ngày nữa quay lại lấy là được.
Nhưng cậu ta không chịu, cứ nhất quyết đòi anh tự tay ký tên cơ!"
— Thế này thì cố chấp quá mức rồi còn gì!
Liễu Dịch thật sự không hiểu nổi cậu thực tập sinh kia rốt cuộc đang nghĩ gì, nhưng anh cũng không muốn phí lời vì một chuyện nhỏ nhặt thế này, thế nên chỉ tùy tiện phất tay: "Kệ cậu ta đi, lần sau mà cậu ta lại đến, cậu cứ ký hộ tôi luôn, cứ bảo là ý của tôi là được."
====================================
Chú thích:
1. 颅像重合/Facial image imposition (áp đặt hình ảnh khuôn mặt) là một kỹ thuật trong pháp y, thường được sử dụng để nhận dạng hoặc khớp nối khuôn mặt với hộp sọ trong các trường hợp điều tra tội phạm hoặc xác định danh tính thi thể vô danh.
Trong pháp y, phương pháp này thường được gọi là craniofacial superimposition (chồng ghép hình ảnh sọ mặt).
Kỹ thuật này bao gồm việc đặt hình ảnh của một khuôn mặt (thường là ảnh chụp trước khi mất của nạn nhân) lên trên hình ảnh hoặc mô hình của hộp sọ để kiểm tra xem các đặc điểm giải phẫu có khớp nhau không.
Khi thực hiện, các chuyên gia sẽ căn cứ vào:
Các điểm mốc giải phẫu trên hộp sọ và khuôn mặt (ví dụ: vị trí của hốc mắt, sống mũi, đường viền hàm...).
Độ dày mô mềm tại các vị trí quan trọng.
Tỷ lệ và góc độ của hình ảnh để đảm bảo sự khớp nối chính xác.
Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong nhận dạng pháp y nhưng có độ chính xác hạn chế nếu không có dữ liệu bổ sung như ADN hoặc hồ sơ nha khoa để đối chiếu.
---Editor có lời muốn nói---
Tin vui là tui quay lại rồi đây, từ chương này trở đi sẽ up từng chương thay vì up theo chuỗi.
Tin không vui là tui mất tiêu cái sheet chứa name rồi
🙂 quên bà nó mấy cái ngôi xưng của mấy nhân vật lâu rồi tui chưa gặp
Tui sẽ tạo lại 1 sheet sau vậy hén