Cập nhật mới

Khác NAM QUỐC HẬU PHI - NHƯỢC BÍCH TIỂU TRUYỆN

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
39369953-256-k131829.jpg

Nam Quốc Hậu Phi - Nhược Bích Tiểu Truyện
Tác giả: minhbaofromthevault
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Hoàn thành


Giới thiệu truyện:

Tác giả: Minh Bảo a.k.a Mingbao Chan

Thể loại: Truyện ngắn cảm hứng lịch sử.

Bối cảnh: Triều Nguyễn.

Nhân vật chính: Tam giai Lễ Tần Nguyễn Nhược Bích – vua Tự Đức.

VĂN ÁN

“Năm tôi mười sáu tuổi, từng ước mình có được tình yêu của người thi sĩ tài hoa nhất thế gian, có lẽ ước nguyện từ lâu đã nên sự thật, chỉ là tôi không dám đối diện, không muốn nhìn ra mà thôi.

Tôi cũng sẽ dùng quãng thời gian còn lại của đời mình để hồi tưởng mà viết một thiên “Hạnh thục ca”, ghi lại những phần hạnh phúc và cả đau khổ mà tôi và nước nhà đã trải qua.

Trong những khúc ca ấy, tôi sẽ sống lại một phần đời đã mất, tôi giúp y gánh vác trọng trách non sông, thay y lo nghĩ cho đại cuộc.

Tôi chỉ dám thực hiện đại sự ấy trong thế giới riêng của mình.

Nhưng, tôi luôn có động lực để tiếp tục, bởi vì tôi biết lúc y còn tại thế, đã chịu không biết bao nhiêu mưu tính tranh giành, không biết bao nhiêu áp lực từ tiền triều và hậu cung.

Tôi cũng biết rằng, nếu tôi thật lòng chia sẻ gánh can trường này với y, ở nơi cửu tuyền xa xôi, y chắc chắn sẽ mỉm cười.”



viet​
 
Nam Quốc Hậu Phi - Nhược Bích Tiểu Truyện
Phần Thượng


Phật dạy rằng: "Kiếp trước phải ngoảnh mặt nhìn nhau năm trăm lần thì kiếp này mới đổi được một duyên tương ngộ."

Há chẳng phải tôi và y đã ân oán tình thù dây dưa suốt mười kiếp, thế nên kiếp này mới được gặp nhau, để tôi trở thành cung tần của y.

Nhưng, tận sâu trong thâm tâm, tôi không nghĩ rằng giữa tôi và y có duyên số tồn tại.

Trải qua ngần ấy năm tháng bên cạnh y, tôi nhận ra thứ mang chúng tôi đến bên nhau thì ra chính là một chữ "nợ".

Món nợ từ tiến kiếp như sương mù dai dẳng trên ngọn đồi Thiên Mụ, cứ bám víu lấy chúng tôi đến tận kiếp lai sinh, khiến tôi và y thân bất do kỷ, tuy cùng chung chăn gối, nhưng mãi mãi cũng không thể cùng nhau sắc cầm hoà hợp.

Tôi nói: "Bệ hạ và thần thiếp nào phải Lương Chúc(*).

Tình cảm giữa thiếp và người, có chăng cũng chỉ là tri âm tri kỷ mà thôi."

*Lương Sơn Bá và Chúc Anh Đài

Y nhìn tôi rất lâu, nói: "Nếu không là Lương Chúc, trẫm nguyện một đời làm Tử Kỳ, luôn lắng nghe khúc Cao sơn lưu thuỷ của Bá Nha là nàng."

Người vẫn luôn nhìn ta bằng ánh mắt ấy: nồng nàn có, trân trọng có, thấu hiểu có mà hờn dỗi cũng có.

Xa cách đã lâu, nhưng ánh mắt y luôn hiên hữu trong tiềm thức, trở thành nỗi ám ảnh mà tôi nửa muốn nhớ, nửa lại muốn quên.

Tự Đức.

Ngay trong những giấc chiêm bao, tôi vẫn muốn mơ thấy ký ức của tôi và y...

*****

Lần đầu tiên gặp y là năm Tự Đức nguyên niên, khi ấy tôi mười tám tuổi.

Tiên đế băng hà, tân đế kế vị.

Giang sơn được tiếp quản bởi một chủ nhân mới, chốn hậu cung cũng có thêm những con người mới, những câu chuyện mới...

Chỉ là không ngờ, tôi lại bị cuốn vào câu chuyện ấy.

Quê tôi ở Ninh Thuận, sinh ra là con gái nhà quan.

Cha tôi là một vị quan thanh liêm chính trực, tính tình khảng khái, lại còn rất thông tường kinh sử, am hiểu văn thơ.

Tôi là con gái duy nhất của cha, được cha rất mực yêu quý, nên từ nhỏ cha đẽ dạy cho tôi viết chữ, làm thơ.

Từ Kinh thi, Xuân thu, Nhạc phủ,... cho tới Tao đàn thi tập, Quốc âm thi tập,... thi phẩm nào tôi cũng được đọc, được khám phá hết cái hay, cái đẹp của con chữ, tứ thơ.

Niềm đam mê thi từ ca phú như ngọn lửa hồng ấm áp, nhen nhóm trong tôi từ tấm bé rồi bừng cháy soi rọi tâm hồn khi tôi đã trưởng thành.

Tôi còn nhớ có những buổi chiều gió lộng, cha vừa nhâm nhi tách trà, nghe tôi ngâm thơ, vừa gật gù tán thưởng: "Con gái của ta quả là tài nữ!"

Tôi khi ấy thẹn thùng đỏ mặt, nói với cha bằng giọng nhỏ như muỗi kêu: "Cha thật không tốt, chỉ khéo trêu con gái."

Năm tôi mười sáu tuổi, có lần mẹ dẫn tôi vào một ngôi cổ tự vùng Kinh Bắc xa xôi để cầu duyên.

Mẹ bảo rằng hôn sự là chuyện quan trọng của cả đời người, phải thành tâm khần nguyện mới mong yên bề gia thất.

Trong bầu không khí trang nghiêm trầm mạc, phảng phất hương trầm thanh nhã, tôi đã trịnh trọng cầu khấn, điều mà tôi cầu khấn chính là: được lấy người thông thạo thi thơ nhất trên hạ.

Tôi yêu văn thơ, người giỏi văn thơ hiển nhiên là người tôi yêu.

Tôi cứ chờ đợi người ấy sẽ xuất hiện trong đời mình, chờ người ấy nắm lấy tay tôi, dẫn tôi đến vùng trời thơ mộng, nơi mà chỉ có tôi, người ấy và những áng văn thơ bất hủ.

Tôi đã ôm ấp giấc mơ rất đỗi tươi đẹp ấy chỉ trong hai năm ngắn ngủi.

Bởi lẽ năm mười tám tuổi, tôi đã tiến cung.

Ngày tôi tiến cung ai cũng bảo là ngày đại cát.

Nắng trời vàng ươm như rót mật trên mái ngói âm dương của Tử Cấm Thành.

Mây trắng lững lờ trôi trên tầng không tạo cho đất kinh kì vẻ nên thơ hiếm có.

Ngày trước, tôi từng nghe hát rằng:

"Ngọ Môn năm của chín lầu

Một lầu vàng tám lầu xanh

Ba cửa thẳng hai cửa quanh

Sinh em ra là phận gái

Chớ nên hỏi chốn kinh thành mà làm chi."

Thâm cung sâu như bể, lòng người cũng như thâm cung, thâm sâu khó đoán.

Bước vào tam cung lục viện đó, lẽ nào chẳng phải là huỷ hoại cuộc đời mình?

Thế nhưng tôi vẫn cứ đi, tôi dửng dưng và xem đấy là vận số của mình, không thể trốn tránh.

Tôi kỳ thực tin rằng vận mệnh cả thảy đều nằm trong bàn tay mỗi người, ai có lòng sẽ tự khắc biết cách nắm lấy.

Nhưng tôi không thể làm chủ vận mệnh, bởi vì, chỉ khi tôi cam chịu phận đời nước chảy bèo trôi như thế, cha tôi mới được sống an nhiên quãng đời còn lại.

...

Mấy tháng trước, Phụ chính đại thần Lâm Duy Nghĩa đến phủ nhà tôi, nói chuyện với cha vài câu.

Tôi đứng ngoài phòng khách, nghe loáng thoáng câu chuyện.

Thứ đập vào tai tôi khi ấy chỉ có hai từ: "tiến cung".

Tôi nghe thấy tiếng cha tôi ho sù sụ.

Trong tiếng ho khàn đặc, cha cố gắng bật ra ba chữ: "Không thể được."

Không gian bỗng trở nên tịch mịch đến lạ lùng.

Mãi một lúc sau, tôi mới nge thấy giọng nói dứt khoác của vị đại thần họ Lâm: "Ông bây giờ tuổi cao sức yếu, chẳng thể đóng góp gì nhiều cho triều đình, ông tưởng rằng dễ dàng được thánh ân hậu đãi cả đời hay sao?"

Tim tôi như thắt lại.

Xung quanh tôi dừng như chỉ là cõi hư vô...

Suốt cuộc đời này tôi cũng sẽ không thể quên được ánh mắt của cha ngày đó, ánh mắt tràn đầy nỗi đau đớn và biệt ly.

Có người cha nào lại đan tâm gả nạp con gái vào cung để đổi lấy vinh hiển đâu chứ?

Tôi hiểu tấm lòng của cha, tôi cam tâm tình nguyện cũng vì chữ hiếu mà thôi.

...

Tân đế ngồi trên long ỷ, ánh mắt chăm chú nhìn tôi.

Đấy là một vị Hoàng đế trẻ tuổi, vóc dáng thư sinh mảnh khảnh, cả người toát lên khí chất tao nhã.

Y mặc thường phục màu vàng bằng lụa thêu hoa văn rồng bay, trong nắng sớm, ánh vàng hắt lên lấp lánh.

Hoàng cung này mọi thứ đều lạ lẫm, duy chỉ có khí chất tao nhã ấy của y làm tôi có cảm giác thân quen, thứ cảm giác tao nhân mặc khách mà cha tôi vốn có.

Y cất giọng hoà nhã: "Đời Trần, Nhân Tông Hoàng đế từng ngợi ca hoa mai rằng: Gan sắt dạ đồng như tuyết sớm, quần là khăn lụa đón gió đông.

Hoa mai từ cổ chí kim đã là bạn của thi khách.

Trẫm cũng muốn biết, tâm tư của nàng về người bạn này là như thế nào?"

Tôi mỉm cười, khẽ khàng đáp: "Bệ hạ chê cười rồi.

Thần nữ thấp hèn, sao dám nhận là thi khách, càng không dám sánh với Phật Hoàng.

Nhưng nói về hoa mai, kỳ thực thần nữ cũng có chút ý niệm."

Y gật đầu: "Nàng viết ra cho trẫm xem."

Tờ giấy điệp trắng ngà trải trên bàn gỗ liêm đen huyền trở nên rất nổi bật, chất điệp trong giấy ánh lên như trân châu quý giá, khiến người ta không khỏi cẩn trọng khi chấp bút.

Tôi nhẹ nhàng viết từng nét chữ khải ngay ngắn, dứt khoát.

Từng chữ từng chữ lần lượt hiện lên trên tấm giấy trắng ngọc ngà, uyển chuyển như chim hồng vỗ cánh.

Y cầm bài thơ tôi viết, khẽ gật gù.

Hồi lâu, y mỉm cười nhìn tôi, ánh mắt ánh lên muôn vàn tia rực rỡ: "Quả là tuyệt cú, tuyệt cú.

Hay cho câu: Nhược bằng dùng người như nêm vị, xin làm tôi giỏi giúp Thương triều.

Khéo uốn nắn thi thơ như người ta uốn nắn hoa mai, tỏ rõ chí khí như Tể tướng Phó Duyệt.

Tiếc thay nàng là phận nữ nhi, nếu là trang nam tử, cho nàng chức vụ ấy, trẫm không lấy gì làm tiếc."

Tôi chỉ nhún nhường đáp lễ: "Bệ hạ quá lời."

Y suy tư hồi lâu rồi ôn tồn nói: "Nội cung nữ tử nhiều vô số, nhưng bên trẫm luôn thiếu một người cùng trẫm đàm đạo thơ từ, hầu hạ bút mực.

Hôm nay gặp được nàng, tinh thông thi phú, hoà nhã khiêm nhường, rất hợp ý trẫm.

Trẫm quyết định giữ nàng lại làm Tài nhân vị nhập giai, giao Thượng Nghi cục cho nàng quản lý."

Tôi nín lặng, mọi suy nghĩ trong đầu như đóng băng trong phút chốc.

Y thấy tôi như thế liền nói: "Nguyễn Nhược Sơn quả là biết cách dạy con gái.

Ban thưởng hậu hĩnh cho ông ta."

Tôi khẽ thở phào, xem như mình không làm cha phải thất vọng.

...

Tôi vừa vào cung được một ngày, chỉ mới là Tài nhân vị nhập giai ở Đoan Trang viện, lại được đặc ân phong chức Thượng Nghi Viên sự, chuyên lo nghi lễ nghi trượng chốn hậu cung.

Phi tần trong cung, người ngưỡng mộ có, kẻ dè bỉu cũng có, lời ong tiếng ve, bằng hữu hay thù địch đều khó phân biệt.

Tân đế Nguyễn Phúc Hồng Nhậm vừa đăng cơ chưa lâu, hậu cung cũng còn hãy thưa người.

Tam cung lục viện cả cả thảy cũng chưa quá hai mươi chủ nhân, hầu hết đều là con gái nhà quan lại tiến cung.

Phi tử trong chốn tường đỏ ngói xanh này, có ai là không đẹp, không nghiêng nước nghiêng thành cơ chứ?

Mỗi một giai nhân là một bông hoa tuyệt sắc.

Nhưng, ngàn vạn hoa đẹp lại cùng hội tụ ở một nơi, lại càng khiến nhau trở nên mờ nhạt.

Hiện tại, đắc sủng nhất có lẽ là ba bông hoa mẫu đơn kiều diễm: Cần Tần Vũ Thị Duyên, Cung Tần Nguyễn Thị Cẩm và Học Tần Nguyễn Thị Hương.

Họ đều là nữ tử xuất thân danh môn, mười phần xinh đẹp.

Dù đã hầu hạ đấng quân vương từ khi còn ở tiềm để, nhưng sủng hạnh của họ đều chẳng hề suy giảm.

Tôi tuy cũng là con gái quan lại được sung cung, nhưng dẫu sao cũng chỉ là cái bóng mờ nhạt bên họ.

Từ khi còn ở chốn khuê phong, tôi đã từng đọc biết bao bài "cung oán", vì lẽ gì chẳng biết cái gọi là Ân vua như nước chảy về Đông, đắc sủng âu lo thất sủng sầu?

Tôi chẳng có lý do gì để dấn thân vào những cuộc minh tranh ám đấu khốc liệt chốn hậu cung, không kết thân cũng chẳng thù hằn với ai, tôi chỉ là một loài cỏ hoa vô danh đơn độc giữa muôn hồng nghìn tía.

...

"Nàng bảo bọn họ là mẫu đơn?"

Tự Đức nhướn mày nhìn tôi, ánh mắt ánh lên chút khó hiểu.

Tôi mỉm cười: "Bệ hạ từng đọc nhiều sách, vậy thiếp xin hỏi người đã bao giờ nghe qua câu Mây mưa mấy giọt chung tình, đình trầm hương khoá một cành mẫu đơn chưa?"

Y hào hứng đáp lời: "Là Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều sao?"

"Dạ phải.

Bệ hạ đối với các vị lệnh bà có thể nói là thánh ân hậu đãi, tình sâu ý đậm.

Nói như lời thơ ban nãy, các vị lệnh bà há chẳng phải mẫu đơn sao?"

Mắt y sáng rực, loé lên tia hiếu kỳ: "Nàng nói xem, các nàng ấy là mẫu đơn, vậy nàng là gì?"

Tôi cúi người, khẽ khàng đáp: "Là... hoa sen trong giếng ngọc."

Y vỗ tay "bốp" một tiếng, ra chiều cao hứng, liền ngâm nga bài Ngọc tĩnh liên phú.

Giọng y trầm ấm ngân vang như tiếng chuông chùa Thiên Mụ buổi hoàng hôn, đọng lại trong lòng tôi dư âm ngọt ngào khó tả.

...

Cứ như thế, ngày lại qua ngày, Tự Đức vẫn thường hay di giá đến Đoan Trang viện tìm tôi, bình phẩm thì từ ca phú.

Bên chén trà thơm ngát hương sen hồ Tịnh Tâm, dưới những tán lá xanh rì của chốn hậu viện, trong cơn gió thoảng đưa muôn vàn tiếng chim véo von tự nơi nao vọng lại, chỉ có tôi, y và văn chương...

Nhiều lúc tôi tự hỏi, liệu điều ước năm tôi mười sáu tuổi bây giờ có phải đã thành hiện thực rồi không, Khi mà ngồi đối ẩm với tôi lúc nào cũng là đấng quân vương nhàn nhã tiêu sái, am tường thi ca.

Ánh mắt y nhìn tôi dịu dàng biết mấy, ấm áp biết mấy, khiến tôi nghĩ về mơ ước của một thời đã qua, bâng khuâng chẳng biết chân trời mơ mông của tôi ngày ấy có nằm trong thẳm sâu đôi mắt kia, trong khoảnh khắc này...

Nhưng, y là quân vương, là vị hoàng đế tôn kính của triều đình, là chồng chung của biết bao nữ tử chốn hậu cung.

Thực tế như một gáo nước lạnh dội thẳng xuống đầu tôi, khiến thần trí bỗng buốt giá rồi từ đó mà trở nên tỉnh táo, chẳng vấn vương chút mơ mộng nào.

Phải.

Y là quân vương, sao có thể là đấng trượng phu mà tôi hằng mong ước?

Cho dù y tinh thông văn thơ thế nào đi chăng nữa, cho dù tôi và y có tình ý gì với nhau đi chăng nữa, một mình tôi sao có thể khoả lấp được trái tim của đế vương, y sao có thể vì tôi mà chẳng ngó ngàng đến nữ tử khác?

Nhẹ nhàng như cơn gió thu trong lành mà lạnh lẽo cuốn theo chiếc lá ngô đồng bay về nơi xa ngái, chút tình ý của tôi mới đó đã chẳng còn chút gì vương sót.

Tôi thở dài.

Trong cung vàng điện ngọc này, thứ dù xa hoa diễm lệ đến đâu cũng có thể tồn tại, duy chỉ mỗi tấm chân tình là như gió thoảng mây bay...

...

Hai năm trôi qua, tôi tròn hai mươi tuổi.

Nếu không vì gia đình mà tiến cung, chắc bây giờ tôi đã tìm được lang quân như ý để mà nâng khăn sửa túi, biết đâu đã có con cái đề huề rồi cũng nên.

Suốt hơn bảy trăm ngày qua, cuộc sống đối với tôi vô cùng nhàn nhã, nhàn nhã đến chán chường.

Tôi chung quy cũng chì là Tài nhân vị nhập giai, là cung tần cấp thấp, thậm chí một danh phận để tự xưng là chủ nhân của người khác tôi cũng không có.

Bấy lâu, tôi đã chọn sống như một chiếc bóng thầm lặng, mặc cho bao người tranh sủng để rồi lên voi xuống chó, tôi vẫn đứng yên tại vị trí của mình, chẳng buồn thay dổi bất cứ thứ gì.

Tôi nghĩ, cuộc sống với tôi như thế là đủ: ngày ngày lo chuyện lễ nghi ở Thượng Nghi cục, thỉnh thoảng cùng Tự Đức bàn luận việc văn...

Trong mắt mọi người, có lẽ tình cảnh của tôi đã có thể gọi là vạn ngàn sủng ái, cho nên, tôi không có một lý do gì để tranh đấu, vả chăng, càng không có lòng mà tranh đấu!

Tôi đã nghĩ như thế, cho đến một ngày...

Học Tần đột nhiên cho người đến Thượng Nghi cục tìm tôi.

Nàng ta vốn là thiên kim nhà quyền quý, chức quan của cha nàng ta cao hơn cha của tôi.

Hơn nữa, luận địa vị, luận thời gian hầu hầu hạ thánh giá, tôi đều là kẻ dưới, thấp cổ bé họng.

Hơn nữa, nàng ta xinh đẹp lại đắc sủng, nên tính tình có phần ngang ngược, kiêu kỳ.

Vì vậy, tôi luôn kiêng dè nàng ta, càng tránh không giáp mặt với nàng ta.

Vậy mà hôm nay, nàng ta lại chủ động tìm tôi.

Tôi còn nhớ lần ấy tôi đến Đoan Huy viện của nàng ta, vừa mới hành lễ bái chào thì một vạt áo lụa hồng lướt qua mặt tôi, liền sao đó là một cái tát như trời giáng, đau đớn đến độ mặt như bỏng rát.

Tôi còn chưa hiểu chuyện gì xảy ra, Học Tần đã nhếch khoé môi, cười lạnh một tiếng: "Tiện tỳ Nguyễn Nhược Bích ngươi quả là to gan.

Vào cung chưa lâu đã giở trò hồ ly mê hoặc."

Tôi ngây người, giương mắt nhìn nàng ta.

Trên gương mặt xinh đẹp hiện lên nụ cười khinh bỉ đến chua chát cùng ánh mắt sắc như đao kiếm: "Ngươi rốt cuộc đã giở yêu thuật gì, sao bệ hạ hàng tháng cứ phải đến Đoan Trang viện tìm ngươi một lần?

Tiện tỳ như ngươi thật đáng chết, vừa vào cung đã giở trò hòng đắc sủng!"

Tôi nén cơn đau đang âm ỉ trên gương mặt, cố giữ bình tĩnh trước nàng ta: "Oan cho tần thiếp quá.

Một tháng ba mươi ngày, lệnh bà nghĩ rằng giữ chân thánh giá một ngày có thể coi là đắc sủng sao?"

Học Tần cười ha hả: "Thế nào là đắc sủng còn chẳng phân biệt được, lại còn khua môi múa mép với bản cung?"

Tôi thoáng giật mình vì lời nói của nàng ta.

Nhưng chuyện xảy ra sau đó, tôi chẳng buồn nhớ nữa.

Duy chỉ có câu nói của nàng ta, lúc tôi lê bước rồi khỏi Đoan Huy viện, là vẫn hằn sâu trong từng nếp nghĩ của tôi: "Ngươi thân là tiện nhân thấp kém thì chớ bao giờ nghĩ đến chuyện tranh đấu với bản cung.

Bản cung xuất thân danh môn, thân phận cao quý vô cùng.

Đâu như ngươi chứ.

Cha ngươi dù là quan thanh liêm ra sao, phủ nhà ngươi giàu có cỡ nào, trong mắt bổn cung chẳng qua cũng chì có hai chữ: bần tiện!"

Khi ấy bàn tay tôi đột nhiên đau rát.

Sau đó mới biết thì ra móng tay dài hai phân đã bấu vào lòng bàn tay mềm mại, lại còn bấu chặt đến bật cả máu.

Đó là lần đầu tôi thấy máu trong chốn hậu cung, lại chính là máu của bản thân mình.

Máu nhuộm chiếc khăn lụa tôi cầm trên tay trở nên loang lỗ, đỏ thẫm như bức thuỷ mặc vẽ bằng chu sa.

Tôi tự hứa với lòng, sẽ chẳng bao giờ để người ta chà đạp tôi như vậy nữa, chẳng bao giờ để bản thân bị xem thường nữa!

...

Những ngày tháng sau đó với tôi là những chuỗi ngày dài tựa như không hồi kết, tìm kiếm một thứ gì đó vô nghĩa đến tận cùng.

Sao tôi có thể như thế, sao tôi có thể tranh giành tình cảm của Tự Đức khi lòng tôi sớm đã nguội lạnh?

Mọi hành động của tôi lúc này ví như cứ chăm bón cho một cây non vừa mới nhứ đã sớm khô héo, dẫu miễn cưỡng thế nào cũng chẳng làm nó xanh tươi.

Nhưng chẳng hiểu sao, mỗi lúc miễn cưỡng như vậy, tôi lại không hề cảm khó chịu.

Có lúc lại nghĩ, nếu như miễn cường lại thoái mái như vậy, tôi thà miễn cưỡng cả một đời.

Cung đình tựa như cái lồng son, con người thì tựa như chim trời bị nhốt, có ai vui sướng thật sự bao giờ?

Tự Đức cũng vậy, có những chuyện y không biết phải chia sẻ cùng ai.

Như y thân là quân vương, nhưng mọi sự hết thảy đều phải hỏi qua ý của Thái hậu.

Như y thân là phu quân của biết bao nữ tử, rốt cuộc lại là một cây không trái.

Y kể với tôi, năm đó y còn nhỏ, chẳng may bị mắc bệnh đậu mùa.

Trong cung biết bao thái y giỏi nhưng cũng không sao cứu chữa kịp thời, làm y mắc phải chứng vô sinh.

Từ đó, y luôn mang trong tâm thức sự mặc cảm, e dè thay cho khí khái oai phong uy vũ mà một vị vua nên có.

Đế vương một nước lại là cây không trái, còn gì đau đớn hơn?

Tôi chợt hiểu ra lời mà Học Tần nói với tôi hôm nào.

Không thể mang long chủng, phi tần chỉ còn biết lấy việc gặp gỡ quân vương làm ơn mưa móc.

Y thường xuyên tìm tôi cũng chính là ban cho tôi ân sủng.

Nỗi xúc động trong lòng tôi chợt trào dâng, tôi dịu dàng nhìn y, nói: "Con người cũng như cây cối, không nhất thiết phải nhiều hoa nhiều trái, quan trọng là cây ngay không sợ chết đứng, có bản lĩnh làm cây cao bóng cả để che chở cho thiên hạ vạn dân.

Bệ hạ nhìn xem, tùng bách cũng không hoa không trái, chẳng phải vẫn tươi tốt đó sao?"

Y ngây người, phóng tầm mắt nhìn về hàng tùng bách cao lớn xanh tươi mọc ở điện Thái Hoà.

Nội cung kỳ hoa dị thảo chẳng thiếu, vậy mà tùng bách vẫng ung dung vươn cao hơn cả, khẳng định cái uy dũng cùng tầm vóc lớn lao của mình.

Đôi mắt đen láy ẩn dưới hàng mày đậm bỗng bừng sáng, ánh nhìn ảm đạm khi nãy đã được thay thế bởi những tia trong trẻo, vui tươi.

Y từ phía sau ôm tôi thật chặt: "Cảm ơn nàng đã cho trẫm biết thêm một đạo lý làm người".

Hơi thở của y ấm áp phả vào tóc tôi, khiến tự trong sâu thẳm nơi cõi lòng tôi mông lung một chút dao động.

Y nói tiếp: "Nàng thật sự không chê trẫm là cây không trái sao?"

Tôi nghiêm túc nói: "Văn nhân mạc khách chỉ yêu chuộng tùng bách ngay thẳng, nào ưa những thứ hoa cỏ rực rỡ nhưng khí tiết tầm thường."

Y càng lúc càng ôm tôi chặt hơn.

Hương sen hồ Tịnh Tâm đã bay đến nơi nào xa biệt.

Trong không khí chỉ còn man mát một mùi hương thanh tao của tầm hương ngự dụng.

Trong phút tĩnh lặng đến tưởng chừng bánh xe tạo hoá như cũng ngừng luân chuyển, tôi cơ hồ nghe thấy tiếng con tim vang lên từng hồi, xao động.

Là tiếng lòng ai?

Của y, hay của tôi...?

Tôi loáng thoáng nhận ra giọng nói của y, dịu dàng và ấm áp: "Nhược Bích, trẫm thực sự rất thích gọi tên của nàng.

Tên cũng như người, đều giống như ngọc bích vậy."

Tôi cười: "Bệ hạ sai rồi.

Tên của thần thiếp là sao Bích trong thập nhị bát tú.

Khi có mang thần thiếp, mẹ đã từng mơ thấy sao Bích hạ phàm, chui vào bụng mẹ."

Y càng nói càng cao hứng: "Thì ra là Bích tinh hạ phàm, chả trách lại tài giỏi đến như vậy".

Y nắm tay tôi, trịnh trọng nói: "Nàng sinh ra đã là người tài hiếm có, trẫm tuân theo mệnh trời, giữ nàng lại trong cung.

Từ này nàng sẽ được nhập giai, trở thành Cửu giai Tài nhân của trẫm một cách đường hoàng."

Tôi không biết phải nói gì với y, liền thoát khỏi vòng tay y, quỳ xuống hành lễ: "Thần thiếp Nguyễn Nhược Bích, khấu tạ thánh ân."

...

Năm ấy không chỉ riêng tôi được tấn phong.

Cần Tần Vũ thị được thăng làm Cần Phi, Cung Tần Nguyễn thị cũng được thăng làm Chiêu Phi, cả hai vị lệnh bà cùng dọn về ở tại Trinh Minh điện, biệt điện dành cho phi tử.

Trong số ba đoá mẫu đơn chốn hậu cung, chỉ có Học Tần là không được tấn phong.

Tôi trộm nghĩ, lẽ nào Tự Đức đã biết được sự ngang ngược hống hách của nàng ta, nên mới không ban cho nàng ta ân điển?

Nhưng tất cả chỉ là suy đoán của riêng tôi, còn ý tứ của y thế nào, tôi thật sự không biết.

Lòng người thâm sâu, đế vương lại là rồng trong vạn người, ý tứ tất nhiên khó dò.

Nếu hiểu được lòng quân vương dễ dàng như bao người tưởng tượng, vì lẽ nào từ cổ chí kim, biết bao phi tần và quan lại đã dùng trăm phương ngàn kế hòng chiếm chút long ân nhỏ nhoi?

Huống chi tôi chỉ là một Tài nhân nhỏ bé.

Nhập giai thì đã sao, chưa nhập giai thì đã sao?

Tôi cơ bản vẫn không thể thấu hiểu được tâm ý của y, bởi lẽ, tôi không có lực cũng chẳng có tâm.

Bên cạnh y, tôi chỉ tuân đúng bổn phận của một cung tần, hoặc làm đúng vai trò của người bạn văn chương, ngoài ra, tôi không muốn đặt chút tâm ý nào lên y cả.

Nếu tôi quan tâm đến y quá nhiều, tôi sợ, sợ sẽ không thể sống thiếu y...!

Sống trong tam cung lục viện, từ nơi cao quý như cung Khôn Thái cho đến nơi tầm thường như viện Đoan Trang, có ai hết lòng hết dạ vì quân vương mà được yên ổn một đời chứ?

Học Tần vì tranh sủng mà toan toan tính tính, lòng dạ trở nên thâm sâu khó lường.

Chiêu Phi đoan trang hiền thục, cũng hết lần này đến lần khác vì Tự Đức mà đàn hát, xướng ca.

Nữ nhân đáng thương nhất của hậu cung cũng chính là người có phân vị cao nhất, Cần Phi.

Ai nói làm chủ Trinh Minh điện là được sủng ái hết mực?

Ai nói thân đứng đầu chúng phi thì tất được Tự Đức trân quý, yêu thương?

Với Cần Phi mà nói, có lẽ ngoài chữ "nghĩa" ra, nàng và y chẳng có gì khác.

Ngay cả đương kim Thái hậu, năm xưa từ ngôi Tần leo đến ngôi Hoàng quý phi, chắc gì đã yên lòng trong những đêm không được sủng hạnh?

Vậy nên, ngay từ đầu đừng xem y là cuộc đời mình, đừng vì y mà tranh đấu mới là sáng suốt nhất.

Những tháng ngày này, tôi có tranh sủng cũng chẳng phải vì bản thân,lại càng không phải vì yêu thích y, mà là vì gia đình tôi.

Với tôi, những con người đang sống ở phủ nhà tại Ninh Thuận xa xôi mới là điều quan trọng nhất trên thế gian này.

Ngày tháng chốn hậu cung lại cứ trôi qua nhứ thế, lúc thì giông tố đầy trời, lúc thì sóng yên gió lặng.

Muôn hồng nghìn tía nơi này vẫn cứ đua nhau khoe sắc, làm vừa lòng đẹp ý quân vương.

Tôi ban đầu chút ngạc nhiên.

Khi tiên đế Thiệu Trị còn tại thế, đối với phi tần, việc hạ sinh long duệ, khai chi tán diệp cho hoàng gia Nguyễn Phúc thị mới là điều quan trọng.

Đương kim hoàng đế vốn là cây không trái, sao nữ nhân nào cũng ra sức mà tranh giành sủng ái?

Dần dần, tôi phát hiện ra: Mọi thứ thuộc về đế vương đều bị nữ tử tam cung lục viện tranh giành, chiếm đoạt.

Dù cho đó chỉ là nụ cười, ánh mắt của vua, thậm chí là mùi trầm hương ngự dụng mong manh trong không khí, họ cũng sẽ vì đó mà tranh giành tới cùng và tự coi đó là tình ý quân vương giành riêng cho mình...

Nữ nhân trong cung làm sao có thể sống thiếu sự tranh đoạt?

Từ tận nơi sâu thẳm trong cõi lòng, tôi chẳng hề muốn sống một cuộc sống như vậy...
 
Nam Quốc Hậu Phi - Nhược Bích Tiểu Truyện
Phần Trung


Chớp mắt đã hai mươi năm...!

Hậu cung sóng gió chẳng dứt.

Phi tần hết thăng rồi giáng, người được sủng ái, kẻ bị ghẻ lạnh.

Có ai là thoát khỏi vòng xoáy đó được đâu?

Cần Phi được tấn làm Thuần Phi rồi thành Trung Phi, và hiện tại đã là Đệ nhất giai Hoàng quý phi, đứng đầu hậu cung, được ban cho Khôn Thái cung xa hoa diễm lệ.

Chiêu Phi được thăng làm nhất giai Thiện Phi.

Còn kẻ mà tôi căm ghét nhất, Học Tần, sớm đã ngồi vững trên ghế Nhị giai Học Phi.

Hai mươi năm nay với tôi mà nói, thật sự vô vị.

Ngày trước, khi còn là tiểu thư khuê các, tôi hay ngâm vịnh thơ từ với nhiều đề tài, trong lòng cũng tràn ngập cảm xúc, vui buồn yêu ghét cứ đan xen, hoà hợp với nhau, tạo thành nhiều cung bậc trong tâm thức.

Mới ngày nào còn là thiếu nữ mười tám tuổi, tâm cao khí ngạo...

Tài nhân vị nhập giai, Cửu giai Tài nhân, Bát giai Mỹ nhân, Thất giai Quý nhân...

Tôi bây giờ đã là Nguyễn Nhược Bích ba mươi tám tuổi, là Lục giai Tiệp dư, đường đường chính chính được kẻ trên người dưới xung tụng hai tiếng "lệnh bà", từ Đoan Hoà viện chuyển sang Thuận Huy viện.

Ngoài tuổi tác và danh xưng, tôi hầu như chẳng thay đổi gì nhiều, ngay cả tâm tư dành cho y vẫn như vậy, chẳng buồn thay đổi dù chỉ một chút.

Mùa thu nữa lại sang, tiết trời dần se lạnh.

Nắng trời không gay gắt nữa, cứ hanh vàng, trong trẻo rọi xuống đền đài cung điện.

Tử Cấm Thành trông lung linh hệt như ai đó vừa mới phủ lên một lớp bụi vàng, lặng lẽ soi mình xuống dòng Hương Giang phẳng lặng như tờ.

Kinh đô trong mùa của lụi tàn vẫn chẳng hề mất đi phong thái hào hùng của nó, trái lại càng tăng thêm nét trầm mặc cổ kính của đất đế đô.

Tôi và y đứng dưới hàng cây ngô đồng trong Ngự uyển.

Một lá ngô đồng rụng, thiên hạ biết thu sang(*).

Trong buổi chiều tà, vài lá ngô đồng vàng khô buông mình theo con gió thu.

Cành cây vốn vắng sắc hồng từ cuối hạ lại càng thêm nét tiều tuỵ, não nùng.

Gió thu thổi từ hồ Tịnh Tâm, mang theo cả mùi sen thơm cuối hạ còn vương vít đâu đây.

*Nguyên văn: Ngô đồng nhất diệp lạc, thiên hạ cộng tri thu

Y trầm ngâm nhìn hàng cây ngô đồng một lúc lâu rồi khẽ kháng nói: "Hôm nay trẫm vừa nhận ba dưỡng tử, sách lập làm hoàng tử".

Thấy tôi có vẻ tò mò, y nói tiếp: "Một đứa là Ưng Ái con của Thoại Vương.

Hai đứa còn lại đều là con của Kiên Vương, tên là Ưng Kỷ và Ưng Đăng.

Trẫm giao Ưng Ái cho Hoàng quý phi nuôi dưỡng, nàng ấy thông minh, chắc chắn sẽ dạy nó nên người.

Ưng Kỷ sẽ do Thiện Phi nuôi nấng, còn Ưng Đăng nhỏ tuổi nhất, trẫm giao cho Học Phi."

Lòng tôi thoáng chấn động.

Người như Học Phi cũng có thể nuôi dưỡng hoàng tử thì chẳng biết đức trẻ Ưng Đăng sẽ có tương lai thế nào.

Chỉ hy vọng nàng ta sẽ không dùng hoàng tử để tranh sủng.

Tôi cũng có chút tiếc nuối.

Giá mà tôi cũng có một đứa con để nuôi dạy, tôi chắc chắn sẽ dạy cho nó những gì hay nhất, đẹp nhất mà tôi học được, để nó trở thành người hiểu lễ nghĩa, biết lẽ đời.

Y dường như nhìn thấu suy nghĩ đó trong tôi, vôi vàng nắm lấy tay tôi: "Hoàng tử do tam phi nuôi dưỡng là ý chỉ của Mẫu hậu, trẫm không thể không tuân theo".

Y thở một hơi dài: "Trong lòng trẫm, thật sự rất muốn cùng nàng... có một đứa con..."

Trái tim tôi đập liên hồi, trong lòng ngợp bao nỗi niềm khó có thể diễn tả thành lời.

Y muốn có con với tôi!

Y muốn giữa tôi và y có thêm một sơi dây liên kết nữa!

Niềm hoan lạc kết giao cùng nỗi sầu bi, tôi thật sự chẳng rõ bản thân nên vui hay nên buồn.

Bấy lâu nay, tôi chỉ xem chuyện đối tốt với y như một thứ công việc mà bản thân nhất định phải làm.

Tôi chưa bao giờ nghĩ sẽ yêu y thật sâu đậm.

Tôi cũng chưa từng nghĩ y đã xem trọng tôi như thế.

Tôi bất giác cảm thấy tội lỗi.

Y trong mắt tôi là cửu ngũ chí tôn, là chỗ dựa vững chắc để tôi sống yên ổn trong chốn hậu cung, tuyệt đối không phải đấng trượng phu mà tôi mong ước.

Nhưng có lẽ, tôi trong mắt y lại rất đặc biệt chăng, ít nhất là đặc biết hơn cách tôi nghĩ về y...?

Y nhìn tôi, ánh mắt đầy kỳ vọng: "Trong số ba dưỡng tử của trẫm, Ưng Kỷ là đứa thông minh sáng dạ nhất.

Một đứa trẻ thông minh như vậy cần có một người thầy giỏi để giúp nó phát huy.

Trẫm lệnh cho nàng giúp Thiện Phi kèm cặp Ưng Kỷ, răn dạy nó thật tốt".

Y trầm ngâm một lát rồi nói tiếp: "Nàng cứ xem nó là con của chúng ta, có được không?"

Lời y nói tựa như nắng ấm mùa xuân giữa tiết thu se lạnh, rất đỗi dịu dàng.

Từng chữ từng chữ như cơn mưa xuân rả rít phả vào cõi lòng tôi, khiến nới sâu thẳm tận cùng của trái tim trào dâng cảm giác vừa nồng ấm, lại vừa như giá buốt cả tâm can.

Thì ra suốt hai mươi năm qua, mặc cho tôi bao lần trốn tránh, tình cảm y dành cho tôi vẫn đong đầy như ngày nào.

Tôi không dám nhìn thẳng vào đôi mắt của y.

Tôi thấy bản thân mình quá ích kỷ.

...

Câu chuyện cuộc đời của tôi lại xuất hiện thêm một nhân vật mới, hoàng tử Nguyễn Phúc Ưng Kỷ.

Tự Đức ban cho tôi thêm chức Cung trung giáo tập, làm thầy dạy học Ưng Kỷ.

Ưng Kỷ quả thật là một đứa bé đáng yêu, rất ngoan ngoãn và biết vâng lời.

Điều tôi vừa ý nhất ở nó chính là đầu óc thông minh nhạy bén, học một hiểu mười.

Ưng Kỷ rất yêu mến tôi, sau mỗi giờ học đều đòi tôi dẫn đi dạo hoa viên, đòi nghe thêm nhiều về kinh sử.

"Tiệp dư phu tử sao lại thế này...?", "Tiệp dư phu tử sao lại thế kia...?"

Mỗi ngày của tôi đều bắt đầu và kết thúc như thế bên Ưng Kỷ.

Tôi than thở: "Sĩ tử Ưng Kỷ này quả là rất hiếu học, biết cách làm thầy của nó trở tay không kịp."

Thiện Phi nghe vậy liền phì cười: "Xem nó yêu mến người thầy như Tiệp dư còn hơn cả người mẹ nuôi là bản cung.

Bích Tiệp dư, cô đúng là có phúc."

Tôi nhẹ giọng phỉ phui: "Dù cho thầy có giỏi thế nào đi chăng nữa cũng chẳng thể sánh bằng tấm lòng người mẹ như Thiện Phi lệnh bà."

Từ ngày có Ưng Kỷ bên cạnh, tôi và Thiện Phi thường xuyên qua lại, trò chuyện cùng nhau, giúp nhau nuôi dạy thằng bé.

Đây cũng là một chuyện tốt.

Có một người chị em tính tình hoà nhã, hiền lành như Thiện Phi, tôi thật sự rất an tâm.Trong mắt của chúng tôi ngày đó, Ưng Kỷ là quan trọng nhất, là niềm vui duy nhất của chúng tôi nơi tam cung lục viện.

Tiếng cười nói của trẻ con như chu sa đỏ chói, điểm vào bức thuỷ mặc ảm đạm những nét tươi vui, mới lạ.

Mấy năm nay tôi sống khép mình, ít giao du.

Thân thiết với tôi cũng chỉ có Hoàng quý phi và Thiện Phi.

Phi tần làm bạn với nhau không phải chuyện dễ dàng.

Đối với hai vị phi tử mà nói, tôi chỉ là một tiệp dư nhỏ nhoi, sống ẩn dật, cuộc đời chỉ biết làm bạn cùng văn thơ chứ không chú tâm tranh sủng.

Thế nên, bọn họ đối đãi với tôi hết sức tử tế, hoàn toàn so tính hơn thua với tôi.

Chúng tôi bầu bạn với nhau, cùng nhau hầu hạ Thái hậu Từ Dụ.

Thời gian gần đây, tôi hay ghé sang Diên Thọ cung thỉnh an, tiện thể chép kinh Phật cho Thái hậu.

Thái hậu nhìn tôi nắn nót viết từng chữ, liền mỉm cười: "Chữ của con lúc này đã đẹp hơn rất nhiều.

Từng nét chữ đều hết sức ung dung, thư thái..."

Tôi kính cẩn thưa: "Là do con học tập Thái hậu, ngày ngày toạ thiền để tịnh tâm..."

Thái hậu ôn tồn nói: "Đôi khi tâm quá tịnh sẽ trở nên lãnh đạm.

Gần đây quốc sự bận rộn, Bệ hạ hết sức đau đầu, ngày nào cũng cùng quan viên triều thần bàn bạc công vụ ở Càn Thanh cung.

Già này thân làm mẹ, thấy con trai lao lực như vậy thật sự thương tâm".

Bà hướng mắt nhìn tôi, ánh mắt hiển hiện sự trông chờ, mong mỏi: "Già này biết Hồng Nhậm thương con nhất.

Con hãy thường xuyên bầu bạn cùng nó.

Ta cảm thấy, hình như dạo này hai con ít khi gặp mặt thì phải..."

Trong lòng tôi xuất hiện chút cảm giác hổ thẹn.

Lời Thái hậu nói chẳng sai nửa phần.

Từ cái ngày y giao Ưng Kỷ cho tôi dạy dỗ, tôi lúc nào cũng muốn tránh mặt y.

Những buổi đàm đạo thơ văn như ngày trước cũng thưa dần, thưa dần...

Tính đến bây giờ đã gần nửa năm tôi không trò chuyện cùng y.

Y nhiều lần di giá đến nơi ở của tôi ở Thuận Huy viện, nhưng lần nào tôi cũng viện cớ tránh mặt.

Tôi sợ phải đối mặt với sợi dây ràng buột giữa tôi và y.

Tôi thật chẳng biết đấy là thứ tình cảm gì, chỉ biết nó luôn àm tôi cảm thấy khó xử, thấy bản thân hổ thẹn đến vô cùng.

Gần nửa đời người đã qua, tôi không cho phép bản thân được phép níu kéo một thứ tình cảm như vậy.

...

Thế sự xoay vần, vận nước như cánh bèo lênh đênh trong song nước.

Y là người yêu văn thơ, rất mực tài hoa.

Tôi biết!

Tôi còn biết một điều, chính vì tài hoa như thế nên những chuyện khô khan như trị quốc, điều binh thật sự có phần quá sức với người như y.

Tôi hiểu rằng suy nghĩ này có phần khi quân phạm thượng, nếu y biết được có khi ra lệnh xử trảm tôi.

Nhưng tôi không thể phủ nhận rằng: giá như y chỉ là một vị vương gia nhàn tản, sống một đời không lo khong nghĩ thì tốt cho y biết mấy!

Xét cho cùng, ngồi trên ngai vàng, nhận lời xưng tụng "vạn tuế" của thiên hạ chưa chắc đã là điều đắc ý.

Tự Đức hoàng đế của tôi quả là rất đáng thương!

Chốn cung vàng điện ngọc này, ngoài tôi ra, vẫn tin rằng chẳng còn ai khác nữa thích hợp bầu bạn với y hơn tôi.

Tôi không hề tự phụ, coi mình tài giỏi.

Chỉ là tôi tin vào cái gọi là tri kỷ, tri âm.

Những ai am hiểu văn chương hoặc tinh thông âm luật thường xem tình tri kỷ là sợi dây vô hình, là mối tương giao bền chặt nối kết hai tâm hồn.

Tôi tin tôi và y sẽ giống như Bá Nha và Tử Kỳ, sẽ được cùng nhau chia sẻ.

Cũng giống như năm xưa, tôi lại một lần nữa ép mình phải tranh giành.

Nhưng lần này, tôi tranh giành là vì y.

Tôi không muốn nhìn thấy bóng y đơn độc trong tẩm cung quạnh quẽ, tôi càng không muốn thấy y chán nản gục đầu bên đống tấu chương cao như núi, bỏ bê trách nhiệm với nước với dân.

Theo như Nội Vụ phủ ghi chép, một tháng ba mươi ngày, đã có hơn mười ngày y đến Thuận Huy viện tìm tôi.

Mọi việc vẫn như xưa, vẫn là đàm đạo thơ văn, vẫn là thú vui tao nhã, có điều, tôi thường âm thầm thêm vào đó chút châm ngôn trị quốc của người xưa.

Y vốn dĩ thông minh, lời lẽ ý tứ mà tôi cố tình ẩn giấu đằng sau mỗi điển cố, sao lại không nhận ra?

Y cười với tôi: "Nàng làm thầy của Ưng Kỷ chưa đủ, còn muốn làm thầy của trẫm luôn sao?"

Tôi khẽ khàng đáp: "Thần thiếp nào dám.

Chỉ là thiếp hiểu rõ, việc quốc sự như chơi cờ vậy, người chơi thường không nhìn rõ hết được thế cuộc.

Thiếp chỉ mong những lời quê mùa của thiếp có thể giúp Bệ hạ chiếm thế thượng phong trên ván cờ trị quốc."

Y xúc động, môi mím chặt, không nói nên lời.

Y nắm tay tôi rất lâu, rất lâu.

Tôi cảm nhận được một thứ rung động mãnh liệt nơi bàn tay ấy.

"Những lời này, cả hoàng cung, ngoài Mẫu hậu ra, chỉ có nàng là dám nói với trẫm lời này.

Cũng chỉ có nàng là hiểu tâm ý trẫm nhất."

Tôi cười không đáp.

Chỉ biết, trong cả hậu cung này, nào có ai đam mê thi từ ca phú như tôi và y.

Y ôm tôi thật chặt, chặt như thể sợ vuột mất tôi, sợ xa tôi rồi thì y sẽ trở về với Càn Thanh cung nguy nga mà đơn độc.

Y nói: "Lê thị nhập cung sau nàng mấy năm, vậy mà trẫm đã phong nàng ấy làm Nhị giai Cung phi rồi..."

Ý tứ của y, tôi lẽ nào không hiểu.

Tôi từ tốn đáp lời: "Thần thiếp tài hèn đức mọn, đâu dám ở ngôi cao sang."

Y phả hơi thở nồng ấm vào mái tóc tôi, giọng nói nhẹ như cánh hoa rơi, tựa hồ đang mơ tưởng về một cái gì đó xa xôi vô tận: "Đợi qua một thời gian nữa, trẫm sẽ phong nàng lên làm Tần, không lâu sau đó sẽ nhanh chóng phong nàng làm Phi.

Trẫm thật sự rất nóng lòng chọn ra một phong hiệu đẹp cho nàng."

Tôi có chút tò mò: "Tin chắc Bệ hạ đã sớm tìm ra chữ phù hợp với thần thiếp."

Lời nói của y có chút chua chát: "Nàng tài năng hơn người, tình tình hoà nhã.

Những chữ Hiền, Đức,... lại quá tầm thường.

Chữ Văn có khí chất cao sang nhưng không hợp với nàng.Trẫm đã tìm thấy rồi, và nhận ra mình đã từng ban lầm phong hiệu.

Tâm tính như nàng ta, chữ Học không phù hợp chút nào.

Lẽ ra, nàng nên sớm làm Học Phi của trẫm..."

Tôi vội ngắt lời y: "Nhưng lời này lỡ như đến tai Học Phi, chị ấy chắc chắn sẽ rất buồn, không chừng còn oán giận thần thiếp.

Nhược Bích chẳng mong địa vị hay danh phận gì, chỉ mong Bệ hạ nhớ những lời thần thiếp đã nói, dốc sức vì xã tắc Đại Nam, chăm lo canh tân đất nước".

...

Lời nói của tôi dường như chỉ lọt vào tai y một nửa.

Từ năm Tự Đức thứ hai mươi cho đến nay đã có không biết bao nhiêu đại thần dâng tấu, khẩn xin y ban chiếu cải cách.

Nhưng hết thảy y đều để ngoài tai.

Tôi biết y đang hết sức bất an.

Ngai vàng có vững cách mấy, nhưng giang sơn đã lung lay thì còn ý nghĩa gì?

Đất nước cần canh tân, y không phải không biết và không muốn thực hiên, nhưng y lại thiếu sự quyết đoán.

Bè lũ gian thần nói vài lời giả dối, xu nịnh, y lại lấy đó làm an tâm, hoàn toàn chẳng hay biết gì về sự xoay vần của thế sự.

Tôi chỉ đành thở dài.

Thân phận nữ tử thấp cổ bé họng, nào có quyền bàn việc nước, việc quan!

Năm Tự Đức thứ ba mươi lăm, quân Đại Pháp tấn công Bắc Hà.

Đoàn quân Tây Dương ra tay tàn bạo, ra sức thảm sát, cướp bóc ở nhiều nơi.

Y bấy giờ mới ý thức được tình thế mấy năm qua rốt cuộc là cấp bách đến nhường nào.

Nhưng, tất cả đã quá muộn.

Suốt đêm ngày cùng quân thần họp bàn kế đối phó với địch gây cho y không biết bao nhiêu là áp lực.

Những lần gặp y, khí chất hoà nhã trước kia đã phôi pha đi nhiều.

Tự Đức hoàng đế trước mặt tôi là con người hay nòng giận, cáu gắt, thường xuyên quát nạt người trên kẻ dưới.

Một lần nọ, Hoàng quý phi hầu hạ y dùng cơm.

Hôm ấy trong cung nhiều việc, Ngự Thiện pòng nhất thời trễ nải, y liền bực tức, quát máng Hoàng quý phi hết sức thậm tệ.

Ngày hôm sau, y truyền chỉ thông cáo khắp tam chỉ lục viện, chê trách Hoàng quý phi Vũ thị tắc trách bất tài, khi quân phạm thượng, gián làm Nhất giai Trung Phi, tước đoạt quyền quản lý hậu cung.

Tin Vũ thị bị gián làm Trung Phi tựa như tiếng sấm trong đêm mưa bão, đùng một cái, cả hậu cung chết lặng.

Bởi lẽ, người vốn có địa vị và sủng ái như nàng ta lại đột nhiên bị thất sủng, bị gián chức, khiến người ta không khỏi hoảng sợ, bất an.

Tôi có đến Khôn Thái cung thăm Trung Phi vài lần.

Lần nào đến cũng vì sự đáng thương của nàng ta mà day dứt, mất ăn mất ngủ.

Thân là nữ tử chốn hậu cung, thật khó để tôi ngăn trái tim mình sinh lòng thương cảm.

...

Ngày hôm ấy, tôi một mình đến Càn Thanh cung.

Vừa gặp được y trong hậu điện, tôi lập tức quỳ xuống hành lễ.

Y lạnh lùng bảo tôi bình thân, song tôi vẫn ngoan cố quỳ ở đó, không hề đứng lên.

Đôi lông mày y cau lại, vẻ mặt dường như hết sức khó chịu.

Y noi, giọng hằn hộc: "Hay cho Nhược Bích nàng, hôm nay dám đến đây làm khó dễ trẫm!

Rốt cuộc nàng muốn gì?"

Tôi không chút do dự, thẳn thắn đáp lời: "Muôn tâu Bệ hạ.

Hôm nay thần thiếp mạo muội đến đây, là mong Bệ hạ mở lượng hải hà, khoan thứ cho Trung Phi."

"Nàng muốn cầu xin cho Vũ thị?"

Giọng y lạnh lùng, không chút cảm xúc.

Tôi khẽ đáp: "Vâng".

Y nhất thời tức giận, đập tay vào án thư.

Nghiên mực trên án bị chấn động mạnh, vài giọt chu sa bắn tung toé, loang lỗ cả trang tấu chương y phê còn dang dở.

Trong khoảnh khắc, cả Càn Thanh cung lặng như tờ.

Y rời khỏi án thư, hai tay chắp sau lưng, nặng nề tiến về phía tôi.

Càn Thanh cung nguy nga tráng lệ, là nơi tôn quý của đấng quân vương, là nơi của quyền lực tối thượng.

Vô số ánh vàng toát lên từ bảo toạ đế vương khiến người ta không khỏi cúi đầu trước sự uy nghi đường bệ.

Mặc cho tim tôi như ngừng đập vì lo sợ, ánh vàng ấy vẫn toả ra hơi lạnh buốt giá đến tột cùng.

Ánh vàng rực rỡ làm tôi trở nên nhỏ bé hơn, nhưng đồng thời cũng vừa làm bóng hình của một người trở nên cao vời, vũng chắc như Thái Sơn, lại vừa như che đi cả mắt môi, cả trái tim của người ấy.

"Bệ hạ".

Giọng nói của tôi trở nên thành khẩn và tha thiết: "Xin Bệ hạ niệm tìnhTrung Phi từ trước đến nay vẫn ân cần chu đáo, cẩn trọng hầu hạ mà miễn tội chị ấy".

Thần sắc của y vẫn không đổi làm tôi có chút run sợ.

Nhưng tôi vẫn có gắng giữ bình tĩnh, giọng nói càng tha thiết hơn bao giờ hết: "Bệ hạ xin hãy nghĩ lại tình cảm phu thê cùng công lao của Trung Phi suốt ngần ấy năm qua.

Dù gì chị ấy cũng là thê tử của người, là người chưởng quản tam cung lục viện.

Hơn nữa, chị ấy còn có công nuôi dưỡng hoàng tử Ưng Chân". (*)

*Nguyễn Phúc Ưng Ái sau được đổi thành Nguyễn Phúc Ưng Chân, tức vua Dục Đức

Trong tâm trí tôi chẳng lưu lại chút suy nghĩ nào ngoài vẻ lẻ loi, đơn độc của Trung Phi.

Ánh mắt y ngập tràn băng giá: "Vũ thị hầu hạ bên trẫm nhưng lại tắc trách, không làm tròn bổn phận của phi tử.

Trẫm giáng chức nàng ta, tước bỏ quyền quản lý hậu cung cũng là chuyện nên làm".

Trái tim tôi chịu một phen chấn động nặng nề.

Tự Đức!

Y rốt cuộc là con người thế nào?

Bên cạnh tôi, y tỏ ra hết sức ân cần, chu đáo, hoà nhã, chân thành.

Tôi những tưởng trái tim của y, con người của y vấn dĩ là như vậy và nhất định như vậy!

Nào ngờ, y đan tâm trách phạt, giáng chức thê tử của mình chỉ bởi hai tiếng "tắc trách".

Tôi tự hỏi, Vũ Thị Duyên với y tình sâu nghĩa đậm mà còn có kết cục như vậy, còn tôi, nếu không may đắc tội với y thì hậu quả sẽ ra sao?

Tôi thật lòng không dám nghĩ.

Dù cho trước kia tôi và y có gần gũi cách mấy, tình cảm của tôi với y thật sự không thể đem ra so sánh với Trung Phi.

Tất cả những điều tốt đẹp từ trước đến giờ tồn tại giữa chúng tôi, đều chỉ giới hạn bởi hai tiếng "tri âm".

Một ý nghĩ chợt loé lên trong tâm trí tôi, sắc lạnh như lưỡi gươm đã mài dưới bóng trăng, làm người ta không khỏi run sợ.

Bấy lâu nay, tôi đã quên một điều, nam nhân mà tôi phải gắn bó cả đời ấy thật ra không hề đơn giản như tôi vẫn hình dung.

Dưới lớp mặt nạ của một thi sĩ tao nhã, tôi không rõ y đã che giấu bao nhiêu ý nghĩ, bao nhiêu tâm tư?

Y vốn không sáng suốt nhưng càng chẳng phải nhu nhược.

Năm xưa, để tranh đoạt hoàng vị, y đã bày ra cơ man những mưu sâu kế độc, người như thế lẽ nào tâm tính lại giản đơn?

Những điều này, sao bấy lâu nay tôi lại chẳng tỏ tường cơ chứ?

Y vốn là như vậy, tàn nhẫn hơn tôi tưởng, lạnh lùng hơn tôi tưởng.

Tôi chỉ hận bản thân mình đã sống quá tình cảm, dù không yêu nhưng vẫn luôn để tâm đến y.

Tâm tư đặt lên người nam nhân giống như cánh hoa vương trên vai áo, người không hữu tình hữu ý chắc chắn sẽ để rơi mất cánh hoa.

Đến giờ này tôi mới cay đắng nhận ra, hai tiếng "tri âm" mà tôi giành cho y cũng giống như cánh hoa kia vậy, đẽ bị y đánh rơi ở nơi nao mất rồi.

Sau một hồi im lặng, y đã bình tâm trở lại, giọng nói có phần êm dịu hơn trước: "Vũ thị theo trẫm lâu như vậy, nhưng chức Hoàng quý phi lại không đảm đương nỗi.

Trẫm định chọn ra một người ưng ý thay thế nàng ta."

Tôi tròn xoe mắt nhìn y: "Người Bệ hạ lựa chọn chẳng hay là Thiện Phi hay Học Phi?"

Y hướng mắt về phía tôi, lời nói hết sức nhẹ nhàng: "Hậu cung đông người như vậy, chỉ có Nhược Bích là hợp ý trẫm."

Một đợt sóng ngầm trào dâng dữ dội trong lòng tôi, mang theo cảm giác bất an đến khó tả.

Trước đây, y từng tỏ ý muốn lập tôi làm phi, tôi đã một mực khước từ.

Không ngờ, hôm nay y vẫn giữ nguyên ý định đó.

Tình cảm mà tôi dành cho y vốn không nhiều, không đủ để tôi vì y mà tận tâm tận lực, hầu hạ chu đáo.

Nếu ở ngôi Phi, có lẽ ngay từ khi dọn đến điện Trinh Minh, tôi đã lãnh ngay hai chữ "tắc trách" như Trung Phi đã từng.

Ngay cả trong những suy nghĩ liều lĩnh nhất, tôi cũng chẳng muốn đem tình cảm của mình ra đùa giỡn.

Bởi lẽ, với tôi mà nói, sống đúng với những gì con tim mách bảo mới cho tôi được cái cảm giác an nhiên ở chốn lắm thị phi, mưu mẹo này.

Tôi nghiêm túc nói với y: "Bệ hạ.

Tam cung lục viện rộng lớn, không thiếu những phi tần đức hạnh thâm dày, kinh nghiệm sâu sắc hơn tần thiếp.

Ngôi vị chủ tử chốn hậu cung, thần thiếp vốn không thể nhận lãnh".

Gương mặt y rợn ngập nét cười: "Nếu làm Hoàng quý phi, Nhược Bích sẽ ngày ngày ở bên cạnh trẫm, cùng trẫm đối ẩm mà ngâm thơ bình văn.

Như vậy chẳng phải là quá tốt sao?"

Tôi nhớ có lần tình cờ nghe được mấy vị đại thần bàn tán sau khi chầu vua về.

Họ bảo Tự Đức tình tình nhu nhược, tàn nhẫn nhưng không hề quyết đoán, dễ dàng vì nghe lời bùi tai của bọn gian thần mà phế truất hiền thần, ham mê văn chương mà xao nhãng triều chính, thật sự không phải đấng minh quân.

Mấy chữ "ham mê văn chương" tựa như ngàn vạn mũi tên nhọn hoắc, đâm xuyên qua trái tim tôi, để lại vết thương không sao chữa khỏi.

Ngày xưa, cổ nhân có câu "hồng nhan hoạ thuỷ" để chỉ cái hoạ nữ sắc gây khuynh đảo giang sơn.

Không ngờ hôm nay, văn chương lại có ngày trở thành "hoạ thuỷ"!

Tôi quả thật rất e ngại việc y vì tôi mà bỏ bê quốc sự.

Tôi kính cẩn nói với y: "Đàm luận văn chương vốn là thú vui tao nhã, nhưng xin Bệ hạ nhớ cho, thú an lạc của bậc minh quân chính là sự nghiệp an bang định quốc, kinh bang tế thế."

Y thoáng ngẩn người, ánh mắt như làn nước hồ thu trong cơn gió,xôn xao dao động.

Tôi biết tâm tư y nhất định đang có sự chuyển biến liền nhân đó mà dập đầu thưa: "Bệ hạ xin hãy chuyên tâm vào việc canh tân đất nước, đừng để Đại Nam phải chịu thua kém trước lân bang.

Nước nhà thái bình, dân cư no ấm.

Đó không chỉ là nỗi niềm vạn niên đại cát của bệ hạ, mà cũng chính là niềm vui của Nhược Bích.

Vì quốc gia mà từ bỏ ngôi Phi để Bệ hạ chú tâm trị quốc, Nhược Bích cam tâm tình nguyện."

Nhưng tôi đã lầm.

Tự Đức không hề vì mấy lời can gián của tôi mà bình tâm suy nghĩ, trái lại, y tỏ ra giận dữ, nổi trận lôi đình.

Y cúi xuống, kéo lấy tay tôi.

Bàn tay tôi bị y dùng sức nắm chặt, đau đớn đến nỗi hông nói nên lời.

Ánh mắt y như hòn lửa rực cháy, hàm răng nghiến chặt, tựa như muốn ăn tươi nuốt sống tôi.

Giọng y đanh lại, nói như quát vào tai tôi: "Nàng giỏi lắm.

Đến tiền triều, hết Nguyễn Trường Tộ rồi đến Phan Thanh Giản làm khó làm dễ trẫm.

Về hậu cung, đến nàng cũng chẳng buông tha cho trẫm.

Việc nước là việc của trẫm, trẫm muốn quản thế nào là ý của trẫm.

Nàng duy cho cùng cũng chỉ là cung tần nhỏ nhoi, nay lại dám lộng ngôn can chính!"

Tôi nhìn thẳng vào mắt y, lời nói thốt ra không hề do dự: "Bệ hạ.

Nước nhà cần có sự quan tâm của Bệ hạ, Thần thiếp không dám vì chút tình riêng mà khiến Bệ hạ tiếng xấu lưu danh thiên cổ.

Bệ hạ muốn xử trí tội của thần thiếp thế nào là do khí độ của Bệ hạ, thần thiếp không dám biện giải.

Nhưng Bệ hạ nên nhớ rằng, chừng nào vạn dân chưa an lạc, Nguyễn Nhược Bích thiếp thề không làm Phi!"

Y "hừ" một tiếng, giận dữ xô tôi ra.

Toàn thân đau đớn, tôi ngã nhoài trên chính điện Càn Thanh cung.

Mùi trầm hương từ lư đồng bốn phía xông lên, xộc thẳng vào mũi như nhắc tôi nhớ rằng, kẻ đứng trước mặt tôi chỉ là ông vua lâm vào đường cùng, ngàn vạn lần không phải là bạn tri âm mà tôi coi trọng

Y phất mạnh tay áo lụa thêu đồ án đoàn long, lạnh lùng bảo nội giám trong điện: "Tiệp dư Nguyễn Nhược Bích bất tuân thánh ý, cả gan bàn luận chính sự, thật không thích hợp bầu bạn cùng trẫm.

Niệm chút tình xưa nghĩa cũ, trẫm khoan hồng đại lượng, không phế ngôi Tiệp dư, song trong lòng lại vô cùng chán ghét.

Từ nay trở về sau, không có lệnh thì không được gặp mặt trẫm."

Y tuyên chỉ xong liền bỏ đi, không ngoảnh lại liếc tôi dù chỉ một lần.

Mọi hy vọng của tôi, mọi thành tâm thành ý của tôi, trong chốc lát đã tiêu tan.

Lòng nguội lạnh.

Lục giai tiệp dư thì sao chứ, quãng đời còn lại của tôi ở Thuận Huy viện chẳng khác nào chôn chân nơi lãnh cung, không sao thoát ra được.

Nhưng tại sao lại phải thoát ra chứ?

Tôi thà bị giam cầm mãi mãi cũng không muốn gặp y, con người xanh như lá, bạc như vôi(*).

*Lấy ý từ bài thơ Mời trầu của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.
 
Nam Quốc Hậu Phi - Nhược Bích Tiểu Truyện
Phần Hạ


Khôn Thái cung vắng lặng như tờ.

Thiếu đi sinh khí, toà lâu đài diễm lệ nhất nhì hoàng cung này giờ chỉ còn vẻ xác xơ tiêu điều của một kiếp hồng nhan tàn tạ.

Trung Phi Vũ thị ngồi trên sạp gỗ, ánh mắt hướng về phía tôi nhưng tâm trí đã đến nơi nào xa ngái, để lại một gương mặt u buồn đến thất thần.

Tôi khuyên nhủ nàng ta: "Xin lệnh bà chớ giày vò bản thân mình như thế, thật sự không đáng chút nào".

Nàng ta cười cay đắng: "Kẻ phải nói câu "không đáng" là Tiệp dư mới phải.

Tiệp dư không cần vì thương xót bản cung mà tự làm khổ mình.

Xem Tiệp dư bây giờ kìa, có khác gì bản cung đâu?"

Nàng ta nắm tay tôi vỗ nhẹ.

Hộ giáp mang trên ngón tay va vào nhau phát ra tiếng đinh đang.

Tôi lẳng lạng ngắm chậu cây vàng quả ngọc chưng ở góc phòng.

Ánh nắng mặt trời xuyên qua rèm của bằng sa mỏng, in bóng chậu cây vàng xuống sàn, một hình bóng mờ nhạt và yếu ớt.

Tôi cảm thán: "Thân là nữ nhân chốn hậu cung cũng giống như cây vàng kia vậy.

Rực rỡ cách mấy, lộng lẫy cách mấy, nếu không được lòng người thưởng lãm thì cũng chỉ trở thành vật vô giá trị, xếp xó nơi góc tối."

Trung Phi thở dài một tiếng: "Tiệp dư tuy bị trách phạt nhưng dẫu sao cũng là hồng nhân trong mắt Bệ hạ, cớ gì lại thốt ra mấy lời thương cảm này?"

Lòng tôi trống trãi u tịch, bất giác vì câu hỏi của nàng ta mà xót xa.

Tôi lặng lẽ cất lời: "Lệnh bà trước kia là Hoàng quý phi thân phận cao quý, nhưng kết cục chỉ nhận lạnh sự phế truất và ghẻ lạnh.

Tần thiếp thân là cung tần hèn mọn, càng thêm phần âu lo cho phận mình".

Ánh mắt nàng ta bỗng đỏ hoe.

Nơi khoé mi có cái gì đó lấp lánh chực trào.

Nước mắt.

Nhưng nàng ta đã nhanh chóng dùng khăn lụa lau những giọt ưu tư cay đắng ấy đi, gượng cười với tôi: "Bệ hạ trước giờ trước mặt tần phi đều khen ngợi Tiệp dư thông mình có tài.

Trong mắt Bệ hạ, tử đầu đến cuối chỉ có mỗi hình bóng của Tiệp dư mà thôi."

Tôi lắc đầu buồn bã.

Nàng ta thấy thế liền ghé vào tai tôi nói nhỏ: "Lúc mới nhập cung, Tiệp dư từng bị Học Phi hiếp đáp đủ điều.

Nhưng từ sau đó trở đi, mọi mưu tính của nàng ta nhắm vào Tiệp dư hầu hết đều thất bại, tất cả là do sự sắp đặt của Bệ hạ."

Dù có chút ngạc nhiên nhưng tôi vẫn giữ trên khuôn mặt mình nét lãnh đạm, bất cần.

Điều ấy, nếu là trước đây tôi sẽ vô cùng cảm kích, nhưng trong giờ khắc này, đối với tôi chỉ là những câu chữ dư thừa vô vị.

Tôi nắm tay của Trung Phi thật chặt.

Hai chúng tôi nhìn nhau, nở nụ cười gượng gạo nhưng có phần thấu hiểu và cảm thông.

Tôi và nàng ta chung quy lại chỉ là hai trong số vô vàn kiếp hồng nhan đa truân ở chốn này...

...

Tôi cứ thế sống trong những tháng ngày tịch mịch, một mảnh tình riêng ta với ta.

Tôi từng nghĩ rằng, bản thân sẽ không thể nào vượt qua được nỗi đau đã từng chịu đựng, thứ nỗi đau giày vò tâm can tôi khi niềm tin vào con người đó bỗng hoàn toàn sụp đổ rồi tan biến không lưu chút dấu vết, tựa hồ niềm tin ấy là chưa hề tồn tại.

Hụt hẫng.

Chơi vơi.

Đơn độc.

Những thứ mùi vị khó chịu của cuộc sống tôi đều nếm trải cả rồi.

Nếm nhiều nên nhận ra rằng cuộc sống vốn dĩ rất chua cay và đắng chát, chứ chẳng hề ngọt ngào như người ta vẫn hay tưởng tượng và mơ mộng.

Tôi muốn thoát khỏi những mùi vị của thế thái nhân sinh.

Tôi muốn bản thân được an nhiên mà sống tiếp nửa đời còn lại một cách âm thầm như chiếc bóng dưới ngọn nến lập loè.

Tôi tìm đến kinh văn và Phật pháp, ngày đêm hầu hạ Thái hậu tụng niệm, chép kinh cầu phúc.

Thái hậu từ lâu đã xem tôi như tâm phúc, rất yêu thương và quan tâm tôi.

Mỗi lần hầu hạ bên bà, bà chỉ nhìn tôi rồi lắc đầu, ánh mắt mười phần thương cảm: "Đi qua nửa đời người đầy phong quang, đến cuối cùng lại phải cùng già này tụng kinh niệm Phật."

Tôi không đáp lời, chỉ mỉm cười với Thái hậu.

Vả chăng, cuộc sống tịnh tu này đối với tôi cũng là phúc, tôi chẳng cần phải giáp mặt y nữa.

Không giáp mặt thì không phải suy nghĩ nhiều, tôi hoàn toàn ung dung, tự do tự tại.

Tôi đã nhiều lần thắc mắc, sự tự do này rốt cuộc sẽ kéo dài đến bao lâu?

Không ai hay biết câu trả lời, chỉ có thời gian là thầm hứa sẽ dần dần giải đáp mọi thắc mắc của nhân gian.

...

Tôi biết sinh-lão-bệnh-tử vốn là nấc thang cuộc đời của mỗi con người, không ai có thể né tránh.

Chỉ là, tôi không ngờ cái kết của cuộc đời y lại đến quá nhanh như vậy.

Năm Tự Đức ba mươi sáu, Tự Đức đau ốm triên miên, bệnh mãi không khỏi.

Từ mấy tháng trước y đã tuyên chỉ sắc phong dưỡng tử Nguyễn Phúc Ưng Chân làm trữ quân, kế thừa giang sơn xã tắc.

Tôi vẫn còn nhớ ngày hôm đó, kinh đô đang vào mùa mưa bão.

Dòng Hương Giang hiền hoà bị vô số mưa giông càn quét, không gian tịch mịch hai bên bờ thêm phần xác xơ, tiều tuỵ.

Kinh thành Huế trầm mạc trong mưa gió như thể vận nước đã tới hồi bĩ cực.

Tôi đang ngồi chép kinh Phật trong Thuân Huy viện.

Ngoài sân, mưa rào xối xả như rút nước.

Đền đài cung điện bị một màn trắng xoá che phủ, trở nên mông lung đến lạ thường.

Có tiếng gõ cửa, theo sau đó là giọng cung như nói như gào thét, như thi gan cùng tiếng mưa ào ạt đén long trời lở đất: "Tiệp dư!

Bệ hạ không hay rồi!"

Bàn tay tôi bất giác vô lực.

Cây bút trên tay rơi xuống, mực đen bắn lên trang giấy trắng tạo thành những đốm bi thương.

Tôi cơ hồ nói không nên lời, vội vã gạt hết mọi thứ sang một bên, định xông thẳng ra ngoài trời đang mưa giông vần vũ.

Nhưng, câu nói ngày nào của y khiên tôi chùn bước.

Không có lệnh thì không được gặp!

Lòng tôi bất ngờ trào dâng một sự tàn nhẫn.

Bấy lâu nay, cái tâm tàn nhẫn này ẩn nấp đâu đó trong con tim tôi.

Giờ đây, khi đứng trước giờ khắc sinh ly tử biệt, nó lại xuất hiện, khơi dậy trong tôi bao nỗi hơn giận, căm ghét.

Y đã không muốn gặp, cớ sao tôi phải đi?

Ngoài trời vẫn mưa không ngớt...

Một viên thái giám xuất hiện, dập đầu thưa: "Kính mong Tiệp dư mau lên kiệu loan di giá đến gặp mặt Bệ hạ lần cuối.

Bệ hạ hết sức mong nhớ Tiệp dư!"

Hết sức mong nhớ...!

Trái tim tôi như vô số hạt nước từ trên cao rơi xuống ngoài kia, vụn vỡ, tan vào trong bức màn trắng mênh mông vây kín Tử Cấm Thành.

Tôi bỏ mặc tất cả, vùng dậy, chạy thật nhanh, lao thẳng ra màn mưa trắng xoá.

Tiếng thái giám và cung nữ gọi tôi đến thất thanh bị nhấn chím trong âm thanh bi thương của đất trời, đến tai tôi nhưng chẳng đến được tim tôi.

Tôi cứ thế chạy, chỉ biết nhắm thẳng về tẩm điện của y mà chạy.

Sét rạch ngang bầu trời những đường ngoằn ngoèo giận dữ, hệt như ai đó dùng lưỡi kiếm đem vào con tim.

Sấm rền vang như thay người gào thét, thương cho phận người, bi phẫn cho số kiếp.

Gặp được nhau là duyên số.

Ở bên nhau là kiếp số.

Tôi với y vừa có kiếp vừa có duyên, mà sao....?

Con tim tôi vỡ oà những dòng cảm xúc khó tả khi thấy mái ngói Càn Thanh cung ẩn hiện sau ngàn vạn những giọt mưa tung toé.

Chân tôi rã rời, cả người không chút sức lực.

Áo lụa tím thêu hoa bị mưa làm ướt sũng.

Khăn vành đội cùng trâm cài tóc đánh rơi đâu mất, mái tóc tôi xoã dài, khiến thần sắc càng thêm nét bi ai, thêm phần tiểu tuỵ.

Tôi lê bước đến thềm tẩm điện của y.

Một bước...

Tôi nhập cung được bốn năm, cha tôi đã mất.

Tôi khóc thương cha đến cạn nước mắt.

Là y đã dùng vạt hoàng bào lau nước mắt cho tôi.

Ôm tôi rất lâu, rất lâu...

Hai bước...

Thức ăn của tôi bị người ta lén giở trò, y âm thầm điều tra biết được là người của Học Phi gây ra.

Y bày mưu tính kế cho Thiện Phi giăng bẫy thủ hạ của Học Tần.

Y giết gà doạ khỉ, răn đe vị phi tần kiêu ngạo.

Ba bước...

Y bình phẩm thi thơ cùng tôi.

Trong lúc cao hứng, y nói sẽ đưa tôi đến Khiêm Cung, chỉ mình tôi mà thôi.

Bốn bước...

Y nói rằng muốn lập tôi làm phi.

Y tin yêu tôi, vậy mà tôi nỡ từ chối...

Năm bước...

Y giao Ưng Kỷ cho tôi nuôi dạy.

Y nói muốn có con với tôi, muốn tôi xem Ưng Kỷ là con của tôi và y...

Mỗi bước đi là mỗi lần động lòng, là mỗi lần trái tim rung động.

Thì ra, thẳm sâu trong tâm thức, sâu hơn cả bao mưu kế tâm cơ, sâu hơn cả oán thù tàn nhẫn, vẫn tồn tại những tình cảm tốt đẹp về y, những khoảnh khắc tưởng một thời tưởng như bình thường mà giờ đây đã thành kỷ niệm quý giá.

Nếu y khoẻ lại và muốn tôi làm phi tử đường đường chính chính của y, tôi sẽ nói...

...

Cánh cửa chính điện mở ra.

Trung Phi Vũ thị dường như người mất hồn, hớt hãi chạy ra, ánh mắt hoang mang tột độ.

Trong tay nàng ta cầm theo một túi gấm nhỏ màu đỏ tươi.

Gấm đỏ giữa màng mưa trông nổi bật hệt như hàn mai ngạo tuyết.

Hoa mai.

Lần đầu tiên tôi gặp y, bài thơ tôi làm chính là Vịnh hoa mai!

Trung Phi ngã quỵ xuống thềm điện, hét to như thể muốn xua tan bao nỗi ưu tư trong cõi lòng.

Nhưng nàng ta có ngờ đâu, tiếng hét ai oan ấy lại làm cả hoàng cung trở nên âm u hơn bao giờ hết.

"Bệ hạ băng hà!

Bệ hạ băng hà!"

...

"Nhược Bích nguyện ý".

Lời cuối cùng này, tôi chẳng thể nói cho y nghe nữa rồi...!

...

Màu trắng khăn tang phủ khắp nội cung.

Quốc gia có đại tang, cả nước ai nấy đều biết.

Mỗi lần sắc trắng xuất hiện trong Tử Cấm Thành đều báo hiệu sắc đỏ sắp đến. màu đỏ là màu hỷ sự, tân đế đăng cơ, có việc vui nào bằng!

Nhưng những năm ấy, và có lẽ về sau này vẫn như vậy, sắc đỏ trở thành màu của máu, màu của binh biến và loạn lạc.

Ưng Chân kế thừa đế vị.

Phi tần của Tự Đức đều trở thành Thái phi, Thái tần, dọn đến Diên Thọ cung.

Từ Dụ Hoàng thái hậu được tôn phong làm Từ Dụ Thái hoàng thái hậu.

Trung Phi Vũ thị, dưỡng mẫu của tân đế được tôn phong Trang Ý Hoàng thái hậu.

Hai vị lệnh bà được xưng tụng với mỹ danh "Lưỡng tôn cung."

Thế nhưng, thế sự đổi thay nào có ai ngờ.

Bấy giờ trong triều, Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường nắm quyền phụ chính.

Bọn họ dâng sớ lên Lưỡng tôn cung buộc tôi Ưng Chân sửa đổi di chiếu, bất tuân tang chế, xa hoa truỵ lạc, hòng ép Lưỡng tôn cung phế Ưng Chân.

Trang Ý lại một lần nữa trắng tay, đành đưa mắt nhìn đứa con mình nuôi dưỡng bao năm bị buộc phải rời bỏ ngai vàng.

Ưng Chân bị truất ngôi giam vào ngục chỉ sau khi đăng cơ ba ngày.

Triều đình bàn bạc, tiếp tục chon ra trữ quân mới.

Học Phi Nguyễn thị cấu kết triều thần, truất tân đế Hiệp Hoà, lập con nuôi của mình lên làm vua, lấy hiệu là Kiến Phúc.

Nhưng vận số của Kiến Phúc chẳng mấy thâm dày, lên ngôi tám tháng đã băng hà, lúc ấy chỉ mới mười sáu tuổi.

Học Phi chỉ biết khóc hận cho số mệnh của mình.

Toan toan tính tính cả một đời, rốt cuộc lại nhận lấy kết quả quá đỗi tàn nhẫn, tàn nhẫn như chính những tâm cơ mà nàng ta đã ôm trong lòng bao nhiêu năm qua vậy.

Tứ nguyệt tam vương (*), nước nhà nguy biến.

Triều thần làm loạn, Pháp quốc xâm lăng.

Vận nước đã suy vong, làm gì có ai tránh khỏi?

Rồi cũng đến lúc Ưng Kỷ của tôi lên ngôi vua, lấy hiệu Đồng Khánh.

Đồng Khánh vốn thông minh, từ nhỏ đã theo tôi học chữ, nên cũng tài hoa chẳng kém gì Tiên hoàng Tự Đức.

Đồng Khánh và Tự Đức tuy là cha con nuôi nhưng lại hết sức giống nhau, nhất là yếu điểm lòng dạ quá yếu mềm.

Đồng Khánh sáng suốt hơn Phụ hoàng của mình ở chỗ nhận ra được rằng mình không thích hợp để làm vua.

*Bốn tháng có ba vị vua bị phế truất: Dục Đức, Hiệp Hoà và Kiến Phúc.

Năm ấy, dưỡng tử của tôi tuần du ra Bắc Hà khuyên người anh em ruột của nó là Phế đế Hàm Nghi hồi kinh.

Không may thay, sức khoẻ của Đồng Khánh vốn yếu, đang đi tàu đến Quảng Bình thì phát bệnh.

Về kinh, ngự y chạy chữa cũng không sao khỏi được.

Cuối năm ấy, Đồng Khánh băng hà.

Trước khi theo Phụ hoàng về với tiên tổ gia tộc Nguyễn Phúc, Đồng Khánh nắm lấy tay tôi, thều thào nói: "Tiệp dư phu tử.

Ưng Kỷ bất tài, đã phụ tấm lòng của Phu tử và Mẫu phi..."

Tôi và Thiện Thái phi ôm nhau khóc hết nước mắt.

Nỗi đau đớn theo dòng lệ nóng hổi chảy ngược vào tim.

Nước mất nhà tan.

Đứa con nuôi và cũng là người học trò yêu quý đã bỏ tôi mà đi, tôi không biết cuộc đời mình còn ý nghĩa gì nữa.

Nhưng tôi không muốn kết thúc cuộc đời của mình một cách đầy đau thương và tuyệt vọng.

Tôi phải sống tiếp tục để chứng kiến cảnh nước non sạch bóng quân thù, để lưu giữ trong tim những ký ức đẹp nhất về một thời đã qua.

Trong những dòng hồi tưởng, sẽ có tôi của ngày xưa, có Ưng Kỷ yêu quý, và có cả y, người tri âm của tôi nữa.

Còn nhớ những năm Nội cung bạo loạn, Tôn Thất Thuyết phò Hàm Nghi chạy lên Quảng Trị.

Tôi cùng Thiện Thái phi và Lưỡng tôn cung cũng được hộ giá đến Quảng Trị.

Nhưng binh đao biến động khôn lường, chúng tôi chẳng đến được Quảng Trị, đành quay về kinh đô.

Suốt chặng đường ấy, tôi đã hai lần đến Khiêm Cung.

Khiêm Cung bây giờ đã là Khiêm Lăng rồi, chính là nơi an nghỉ của y, Tự Đức.

Tôi chưa từng cùng y đến đây lần nào, nhưng mỗi cảnh vật nơi đây với tôi dường như rất quen thuộc.

Bởi lẽ, tôi tìm thấy ở nơi ấy có hơi thở của y, có chút hình bóng của y còn vương sót lại đâu đó, thật gần nhưng cũng thật xa.

Nhiều năm trước, chính tại nơi đây, Trang Ý Hoàng thái hậu Vũ thị được tôn phong Khiêm Cung Hoàng hậu.

Nơi này thật sự là nên thuộc về Trang Ý, người vợ hiền đã hết lòng vì y trong những năm y còn tại thế.

Còn tôi chẳng dám mơ xa, xin được giữ lại những gì đẹp nhất của mình về y qua những áng thi ca, qua những dòng hồi ức...

...

Năm Thành Thái thứ tư, Từ Dũ Thái hoàng thái hậu triệu tôi đến tẩm cung của bà.

Chúng phi của Tự Đức năm xưa hết thảy đều tề tựu đông đủ.

Bao năm qua, kẻ thăng người giáng, ngươi sinh ta tử, chị em chung chồng năm ấy giờ còn lại có mấy ai!

Từ Dụ nhìn tôi, mỉm cười hiền hậu: "Bích Tiệp dư bao năm qua vì hoàng gia Nguyễn Phúc thị mà lao tam khổ tứ không ít.

Hôm nay đã đến lúc tấm lòng trung trinh của con được đáp đền.

Ta sẽ ban ý chỉ, tôn phong con làm Phi.

Con thấy thế nào?"

Xung quanh tôi là tiếng chúc tụng rôm rả.

Tôi cảm tạ mọi người xong, liền kính cẩn thưa với Từ Dụ: "Những chuyện Nhược Bích đã làm đều là bổn phận của tần phi với hoàng gia, sao Nhược Bích dám kể công.

Huống chi Nhược Bích vô phúc lại bất tài, vốn là không có phúc ở ngôi Phi."

Trong lòng tôi thầm nghĩ, được phong Phi lúc này, chẳng qua danh phận hiện tại của tôi sẽ thành Thái phi, hoàn toàn không có gì tahy đổi.

Nhưng cuộc đời của một phi tử kết thúc ngay khi quân vương băng hà.

Tự Đức, y đã tạ thế nhiều năm, tôi còn mong danh phận này làm gì nữa.

Quan trọng nhất là, tôi muôn giữ lời thề không làm Phi từng thốt với ý năm ấy.

Giờ đây nhìn lại, lời thề ấy là sợi dây duy nhất còn tồn tại kết nối giữa tôi và y.

Bằng mọi giá tôi phải gìn giữ mọi thứ thuộc về tôi và y, cho dù là những gì vụn vặt nhất.

Từ Dụ ôn tồn nói: "Nếu con một mực từ chối như vậy, ta cũng không muốn làm con khó xử.

Nhưng mọi việc phải phân minh.

Có tội phải phạt, có công thì nên thưởng.

Vậy ta phong con lên làm Tam giai Tần vị.

Con có bằng lòng không."

Tôi khấu đầu tạ ơn.

Từ Dụ chưa dứt lời, vẫn ung dung nói tiếp: "Còn phong hiệu cho con thì..."

Khiêm Cung Hoàng hậu ngồi bên cạnh Thái hoàng thái hậu, bây giờ dâng cho bà một túi gấm màu đỏ.

Tôi sửng sốt một phen, nhất thời không nói nên lời.

Thì ra là chiêc túi gấm năm đó.

Từ Dụ trao chiếc túi cho tôi, không quên giải thích: "Năm xưa lúc Hồng Nhậm sắp lâm chung, rất muốn gặp con để trao cho con vật này.Chỉ tiếc là, nó không thể chờ con đến gặp nó lần cuối, đành nhờ Hoàng hậu cất giữ chiếc túi này giúp con, bảo khi nào tôn phong con làm Phi, thì hãy mở túi này ra..."

Bàn tay tôi run run.

Dòng cảm xúc khiến tôi xao xuyến bồi hồi không sao tả xiết.

Mở nút dây của tui gấm dương như cũng là cách tôi mở cánh cửa đưa mình về quá khứ, khoảng trời chỉ có tôi, y và văn chương.

Bên trong lớp vải gấm đỏ đã úa màu thời gian là một thẻ bài bằng bạc, bên trên khác một chữ triện lớn.

"Lễ."

Hoàng hậu mỉm cười với tôi: "Năm xưa Tiên đế vẫn thường khen Tiệp dư có tài văn thơ.

Sách nói: Văn tịnh hữu lễ.

Chữ Lễ quả thật làm người ta hình dung ra phong thái của bậc tài nữ tứ đức vẹn toàn".

Nàng ta thoáng xúc động, giọng nói trở nên tha thiếti: "Lễ Tần.

Bản cung năm ấy đã bảo Tiên đế yêu thương cô nhất".

Lời nói ấy nhẹ nhàng nhưng lại khiến người ta rất đỗi xót xa...

*****

Có lẽ, tôi sẽ mãi sống với những kỷ niệm đẹp của cuộc đời mình, từ từ mà thưởng thức, mà nghiền ngẫm lại mọi dư vị của cuộc đời.

Năm tôi mười sáu tuổi, từng ước mình có được tình yêu của người thi sĩ tài hoa nhất thế gian, có lẽ ước nguyện từ lâu đã nên sự thật, chỉ là tôi không dám đối diện, không muốn nhìn ra mà thôi.

Tôi cũng sẽ dùng quãng thời gian còn lại của đời mình để hồi tưởng mà viết một thiên "Hạnh thục ca", ghi lại những phần hạnh phúc và cả đau khổ mà tôi và nước nhà đã trải qua.

Trong những lời thơ ấy, tôi sẽ sống lại một phần đời đã mất, tôi giúp y gánh vác trọng trách non sông, thay y lo nghĩ cho đại cuộc.

Tôi chỉ dám thực hiện đại sự ấy trong thế giới riêng của mình.

Nhưng tôi luôn có động lực để tiếp tục thực hiện, bởi vì tôi biết lúc y còn tại thế, đã chịu không biết bao nhiêu mưu tính tranh giành, không biết bao nhiêu áp lực từ tiền triều và hậu cung.

Tôi cũng biết rằng, nếu tôi thật lòng chia sẻ gánh can trường này với y, ở nơi cửu tuyền xa xôi, y chắc chắn sẽ mỉm cười.

Tôi sẽ viết "Hạnh thục ca", cho đến cuối cuộc đời...

Tôi luôn mơ ước rằng, khi tôi dừng bút, tôi sẽ trở lại là tôi mười tám tuổi, tâm cao khí ngạo.

Và tôi sẽ lại gặp y, vị quân vương trẻ tuổi nhưng rất đỗi tài hoa.

Tôi và y sẽ sống trong một quãng trời mơ mộng, chỉ có chúng tôi và những áng thi thư bất hủ đến ngàn đời...

Nhưng, tiếng súng giặc Pháp đã nổ rung trời.

Tử Cấm Thành, máu chảy nhuộm cả đền đài cung điện sắc đỏ bi ai đến ghê sợ.

Đất nước còn chưa thoát khỏi gông xiềng giặc dữ, sao tôi dám về gặp y...?

HOÀN

Vậy là hoàn rồi **tung bông**

Cảm ơn bạn nhiều lắm vì đã xem đến những dòng cuối cùng này.

Hãy cho mình biết cảm nhận của bạn nhé!
 
Back
Top Bottom